Category: Quản Trị Kinh Doanh

  • Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Chính sách tiền tệ và các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-ph%C6%B0%C6%A1ng-h%C6%B0%E1%BB%9Bng-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-trong-doanh-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

    MỞ ĐẦU

    1. TÝnh cÊp thiÕt:

    Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm tạo thế đứng cho doanh nghiệp mình đang ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt. Để có thể đứng vững trong môi trường đó, doanh nghiệp cần phải tạo ra được những ưu thế riêng có của mình như: Chất lượng sản phẩm, giá cả, mẫu mã, tính hiện đại tiện dụng…

    Để có được những ưu thế trên, ngoài yếu tố khoa học kĩ thuật, công nghệ và trình độ quản lý kinh doanh thì điều kiện tối cần thiết để doanh nghiệp đứng vững và có uy tín trên thị trường chính là việc quản lý nguyên vật liệu hiệu quả. Đảm bảo quản lý nguyên vật liệu cho sản xuất là một yêu cầu khách quan, thường xuyên của mọi đơn vị sản xuất và nó có tác động rất lớn tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ, đồng bộ, đúng chất lượng là điều kiện quyết định khả năng tái sản xuất mở rộng và góp phần đảm bảo tiến độ sản xuất trong doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất, nguyên vật liệu là bộ phận trực tiếp tạo nên sản phẩm, nó chiếm 60-70% trong cơ cấu giá thành sản phẩm. Do đó, nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm.

    Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của nguyên vật liệu cũng như công tác quản lý nguyên vật liệu như đã nêu trên, tôi chọn đề tài: “Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp” và thực hiện tại công ty Vật Liệu Xây Dựng Bưu Điện Hà Nội với mong muốn mở rộng tầm nhìn thực tế và hiểu biết thêm về mô hình quản lý của

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                1

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề án được trình bày qua 3 chương:

    Chương I: Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    Chương II: Thực trạng công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    Chương III: Một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng Bưu Điện Hà Nội.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                2

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương I

    Nguyên vật liệu và quản lý nguyên vật liệu.

    1.1 Khái niệm và vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.1.1 Khái niệm:

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh, sản xuất hiệu quả thì phải chú trọng tới nhiều yếu tố. Nhóm yếu tố quan trọng đầu tiên là nhóm yếu tố đầu vào.

    Trong đó nguyên vật liệu là yếu tố đáng chú ý nhất vì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn hoặc không tiến hành được. Nguyên vật liệu là từ tổng hợp dùng để chỉ chung nguyên liệu và vật liệu. Trong đó, nguyên liệu là đối tượng lao động, nhưng không phải mọi đối tượng lao động đều là nguyên liệu. Tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa nguyên liệu và đối tượng lao động là sự kết tinh lao động của con người trong đối tượng lao động, còn với nguyên liệu thì không. Những nguyên liệu đã qua công nghiệp chế biến thì được gọi là vật liệu.

    Nguyên vật liệu trong quá trình hình thành nên sản phẩm được chia thành nguyên vật liệu chính và nguyên vật liệu phụ. Nguyên vật liệu chính tạo nên thực thể sản phẩm, ví dụ như bông tạo thành sợi để từ sợi tạo nên thực thể vải hay kim loại tạo nên thực thể của máy móc thiết bị… Vật liệu phụ lại bao gồm nhiều loại có loại thêm vào nguyên liệu chính để làm thay đổi tính chất của nguyên liệu chính nhằm tạo nên tính chất mới phù hợp với yêu cầu của sản phẩm. Có loại lại dùng để tạo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của tư liệu lao động và hoạt động của con người…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                3

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc phân chia như thế này không phải dựa vào đặc tính hoá học hay khối lượng tiêu hao mà căn cứ vào sự tham gia của chúng vào quá trình tạo ra sản phẩm. Vì vậy, mỗi loại nguyên vật liệu lại có vai trò khác nhau đối với đặc tính của sản phẩm.

    1.1.2 Vai trò của nguyên vật liệu.

    Là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm, do vậy, chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ về số lượng chất lượng chủng loại… có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cho sản xuất còn là một biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Nguyên vật liệu liên quan trực tiếp tới kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, cung ứng nguyên vật liệu kịp thời với giá cả hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Xét cả về mặt hiện vật lẫn về mặt giá trị, nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu trong bất kì quá trình sản xuất nào, là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động. Chính vì vậy, quản lý nguyên vật liệu chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.

    1.1.3 Phân loại nguyên vật liệu.

    Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau. Để có thể quản lý nguyên vật liệu một cách chặt chẽ thì nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp cần thiết phải phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Phân loại nguyên vật liệu là sắp xếp nguyên vật liệu thành từng loại, từng nhóm khác nhau căn cứ vào tiêu chuẩn phân loại

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                4

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài). Đối với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm như sắt, thép chế tạo nên máy cơ khí, xây dựng cơ bản… Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trinh sản xuất sản phẩm ví dụ như sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được gọi là nguyên vật liệu chính.
    • Nguyên vật liệu phụ: cũng là đối tượng lao động nhưng chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất được sử dụng cùng với nguyên vật liệu chính để làm thay đổi một số tính chất lí hoá của nguyên vật liệu chính (hình dáng, màu sắc, mùi vị…) hoặc phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động, phục vụ cho lao động của công nhân viên chức, phục vụ cho công tác quản lý.
    • Nguyên vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn hay phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định.

    Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý mà từng loại nguyên vật liệu lại được chia thành từng nhóm, từng thứ quy cách một cách chi tiết, cụ thể hơn. Việc phân loại cần lập thành sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu, trong đó mỗi nhóm được sử dụng một ký hiệu riêng.

    1.2 Bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.

    1.2.1 Công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu.

    1.2.1.1 Bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    1.2.1.1.1 Các quan điểm và chỉ tiêu đánh giá nguyên vật liệu trong sản xuất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                5

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động), nội dung cơ bản của đối tượng lao động là nguyên vật liệu. Nếu xét về mặt vật chất thì nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chất lượng sản phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Xét về mặt giá trị thì tỷ trọng các yếu tố nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Còn xét về lĩnh vực vốn thì tiền bỏ ra mua nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của các doanh nghiệp. Do đó, việc đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với mọi đơn vị sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

    • Đảm bảo cung cấp kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất. Tính kịp thời là yêu cầu về mặt lượng của sản xuất. Phải luôn đảm bảo để không xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.
    • Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, chủng loại và quy cách của nguyên vật liệu. Tính kịp thời phải gắn liền với đủ về số lượng và đúng về chất lượng. Đây là một yêu cầu của công tác phục vụ. Nếu cung cấp kịp thời nhưng thừa về số lượng và chất lượng không đảm bảo thì hiệu quả sản xuất sẽ không cao. Về mặt quy cách và chủng loại cũng là yếu tố quan trọng, nếu cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng nhưng sai quy cách và chủng loại sẽ gây nhiều thiệt hại cho sản xuất, thậm chí sản xuất còn bị gián đoạn.
    • Đảm bảo cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ trong cung cấp cũng có ý nghĩa tương tự như tính cân đối trong sản xuất. Tính đồng bộ hoàn toàn không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm quyết định. Ví dụ định mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất một máy tiện T616 thì cần 2188 Kg gang, 540 Kg thép và 0,4 Kg kim loại màu. Như vậy, nếu sản xuất 10 máy thì đòi hỏi phải cung cấp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                6

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.1.1.2 Vai trò của công tác bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp. Thước đo để đánh giá trình độ bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất chính là mức độ đáp ứng của 3 yêu cầu: cung cấp kịp thời, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại và cung cấp đồng bộ.

    Việc đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, đồng bộ, kịp thời là điều kiện tiền đề cho sự liên tục của quá trình sản xuất, cho sự nhịp nhàng đều đặn của quá trình sản xuất. Đó chính là cơ sở để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu của thị trường về mặt số lượng. Bất cứ một sự không đầy đủ, kịp thời và đồng bộ nảo của nguyên vật liệu đều có thể gây ra ngừng trệ sản xuất, gây ra sự vi phạm các quan hệ kinh tế đã được thiết lập giữa các doanh nghiệp với nhau, gây ra sự tổn thất trong sản xuất kinh doanh.

    Nguyên vật liệu được đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó mà tăng doanh thu, tăng quỹ lương và đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện.

    Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là vấn đề quan trọng để đưa các mặt quản lý đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao như quản lý lao động, định mức, quỹ lương, thiết bị, vốn… Đảm bảo sản xuất kinh doanh có lợi, tăng khả năng sinh lời

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                7

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Như vậy, công tác bảo đảm trong sản xuất có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất. Việc đảm bảo này ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm đầu tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.

    1.2.1.1.3 Nội dung của công tác đảm bảo nguyên vật liệu.

    • Lập kế hoạch mua nguyên vật liệu:

    Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kĩ thuật-tài chính của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu bảo đảm yếu tố vật chất để thực hiện các kế hoạch khác, còn các kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng mua sắm nguyên vật liệu. Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hoạt động dự trữ, tiêu thu, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Trước hết phải xác định lượng vật liệu cần dùng. Lượng vật liệu cần dùng là lượng vật liệu được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch (thường là 1 năm). Lượng vật liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật liệu cho chế thử sản phẩm mới, tự trang tự chế, sửa chữa máy móc thiết bị…Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại theo quy cách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho toàn doanh nghiệp. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại nguyên vật liệu, từng loại sản phẩm, đặc

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                8

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu chính cần dùng được tính theo công thức:

    Vcd = Σ [(Si*Dvi)(1+Kpi)(1-Kdi)]

    Trong đó:

    Vcd: lượng vật liệu cần dùng.

    Si: số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch.

    Dvi: định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i.

    Kdi: tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    Kpi: tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.

    • Xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ. Để đảm bảo cho quá trình tiến hành được liên tục, hiệu quả đói hỏi phải có một lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý. Lượng nguyên vật liệu dự trữ (còn gọi là định mức dự trữ nguyên vật liệu) là lượng nguyên vật liệu tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và bình thường. Căn cứ vào tính chất, công dụng, nguyên vật liệu dự trữ được chia thành ba loại: dự trữ thường xuyên, dự trữ theo mùa và dự trữ bảo hiểm.

    + Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa hai lần mua sắm nguyên vật liệu.

    Công thức xác định:

    Vdx = Vn*tn

    Trong đó:

    Vdx: lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên lớn nhất.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    tn: thời gian dự trữ thường xuyên.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                                9

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu dùng bình quân tuỳ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp còn thời gian dự trữ tuỳ thuộc vào thị trường mua, nguồn vốn lưu động và độ dài của chu kỳ sản xuất.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm: là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường.

    Công thức xác định:

    Vdb = Vn*N.

    Trong đó:

    Vdb: lượng vật liệu dự trữ bảo hiểm.

    Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.

    N: số ngày dự trữ bảo hiểm.

    Số ngày dự trữ bảo hiểm được tính bình quân, số ngày lỡ hẹn mua trong năm.

    • Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa: trong thực tế có những loại nguyên vật liệu chỉ mua được theo mùa như mía cho doanh nghiệp đường, trái cây cho doanh nghiệp thực phẩm đồ hộp… Hoặc có những loại nguyên vật liệu vận chuyển bằng đường thuỷ, mùa mưa bão không vận chuyển được thì cũng phải dự trữ theo mùa.

    Công thức xác định:

    Vdm = Vn*tm.

    Trong đó:

    Vdm : Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa .

    Vn : Lượng nguyên vật liệu tiêu hao bình quân .

    Tm : Số ngày dự trữ theo mùa .

    Xác định lượng nguyên vật liệu cần mua để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch vốn lưu động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán chính xác lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm. Lượng nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm phụ thuộc vào ba yếu tố:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             10

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Lượng nguyên vật liệu cần dùng (Vcd).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ (Vd1).

    Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ (Vd2).

    Công thức xác định:

    Vc = Vcd + Vd2 – Vd1

    Với Vc là lượng nguyên vật liệu cần mua. Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ được tính theo công thức:

    Vd1 = (Vk+Vnk)-Vx.

    Trong đó

    Vk là lượng nguyên vật liệu tồn kho ở thời điểm kiểm kê.

    Vnk: lượng nhập kho từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáo.

    Vx: lượng xuất cho các đơn vị sản xuất từ sau kiểm kê đến cuối năm báo

    cáo.

    Đối với các doanh nghiệp không có dự trữ theo mùa, lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối năm kế hoạch chính là lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên và lượng nguyên vật liệu bảo hiểm.

    –      Xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu.

    Sau khi đã xác định được lượng nguyên vật liệu cần dùng, cần dự trữ và cần mua trong năm, bước tiếp theo là phải xây dựng kế hoạch tiến độ mua. Thực chất của kế hoạch này là xác định số lượng, chất lượng, quy cách và thời điểm mua của mỗi lẫn. Khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu phải căn cứ trên các nguyên tắc sau:

    • Không bị ứ đọng vốn ở khâu dự trữ.
    • Luôn đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng chất lượng và quy cách.
    • Góp phần nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
    • Khi tính toán phải tính riêng cho từng loại, mỗi loại tính riêng cho từng thứ.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             11

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xuất phát từ những nguyên tắc trên, khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm phải dựa vào các nội dung sau:

    • Kế hoạch tiến độ sản xuất nội bộ.
    • Hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm.
    • Các hợp đồng mua bán vật tư và giao nộp sản phẩm cho khách hàng.
    • Mức độ thuận tiện và khó khăn của thị trường mua, bán vật tư.
    • Các chỉ tiêu của kế hoạch mua nguyên vật liệu trong năm.
    • Phương tiện vận chuyển và phương thức thanh toán.
    • Hệ thống kho tàng hiện có của đơn vị.

    Phương pháp xây dựng tiến độ mua sắm: Với nội dung kế hoạch tiến độ đã trình bày ở trên, việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện theo 2 phương pháp:

    • Đối với các loại nguyên vật liệu đã có định mức tiêu hao thì tính trực tiếp: Lấy số lượng sản phẩm nhân với định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm đó.
    • Đối với những loại nguyên vật liệu chưa xây dựng được định mức thì dùng phương pháp tính gián tiếp. Lấy mức tiêu hao kỳ trước làm gốc nhân với tỷ lệ tăng sản lượng của kỳ cần mua sắm.
    • Tiến hành mua nguyên vật liệu.

    Sau khi có kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu, công tác mua và vận chuyện về kho của doanh nghiệp do phòng vật tư (thương mại hoặc kinh doanh) đảm nhận. Giám đốc hoặc các phân xưởng có thể ký các hợp đồng với phòng vật tư về việc mua và vận chuyển nguyên vật liệu. Hợp đồng phải được xác định rõ số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách mua, giá và thời gian giao nhận. Hai bên phải chịu bồi thường về vật chất nếu vi phạm hợp đồng. Phòng vật tư chịu trách nhiệm cùng cấp kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho các đơn vị sản xuất. Nếu vì lý do gì đó không cung cấp kịp, phòng vật tư phải báo cáo với giám

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             12

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    1.2.2 Công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp:

    Việc quản lý nguyên vật liệu là cần thiết khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý nguyên vật liệu cũng khác nhau. Làm thế nào để cùng một khối lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc quản lý nguyên vật liệu có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trách nhiệm của cán bộ quản lý. Để quản lý nguyên vật liệu một cách có hiệu quả còn phải xem xét trên các khía cạnh sau:

    1.2.2.1 Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    Tiếp nhận nguyên vật liệu là một khâu quan trọng và là khâu mở đầu của việc quản lý. Nó là bước chuyển giao trách nhiệm trực tiếp bảo quản và đưa vật liệu vào sản xuất giữa đơn vị cung ứng và đơn vị tiêu dùng. Đồng thời nó là ranh giới giữa bên bán và bên mua, là cơ sở hạch toán chính xác chi phí lưu thông và giá cả nguyên vật liệu của mỗi bên. Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho người quản lý nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại, theo dõi kịp thời tình trạng của nguyên vật liệu trong kho từ đo làm giảm những thiệt hại đáng kể cho hỏng hóc đổ vỡ, hoặc biến chất của nguyên vật liệu. Do tính cấp thiết như vậy, tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ:

    Một là, tiếp nhận một cách chính xác về chất lượng, số lượng, chủng loại nguyên vật liệu theo đúng nội dung, điều khoản đã ký kết trong hợp đồng kinh tế, trong hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển…

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             13

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hai là, phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đưa nguyên vật liệu từ địa điểm tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp tránh hư hỏng, mất mát và đảm bảo sẵn sàng cấp phát kịp thời cho sản xuất.

    Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này công tác tiếp nhận phải tuân thủ những yêu cầu sau:

    • Nguyên vật liệu khi tiếp nhận phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ tuỳ theo nguồn tiếp nhận khác nhau trong ngành, ngoài ngành hay trong nội bộ doanh nghiệp.
    • Nguyên vật liệu khi nhập phải qua đủ thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm. Phải xác định chính xác số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc phải làm thủ tục đánh giá, xác nhận nếu có hư hỏng mất mát.
    • Nguyên vật liệu sau khi tiếp nhận sẽ được thủ kho ghi số thực nhập và người giao hàng cùng với thủ kho ký vào phiếu nhập kho. Phiếu nhập kho sẽ được chuyển cho bộ phận kế toán ký nhận vào sổ giao nhận chứng từ. Trong cơ

    chế mới, các doanh nghiệp được phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.

    Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận, cung ứng thẳng hay qua kho của doanh nghiệp. Những vật tư mẫu theo kế hoạch hoặc hợp đồng đặt hàng thì theo quy định “ Những xí nghiệp có nhu cầu vật tư ổn định, trước hết là những hộ tiêu thụ lớn được nhân thẳng hợp đồng dài hạn về mua bán vật tư “.

    1.2.2.2. Tổ chức quản lý kho :

    Kho là nơi tập trung dự trữ nguyên vạt liệu , nhiên liệu , thiết bị máy móc , dụng cụ chuẩn bị cho quá trình sản xuất , đồng thời cũng là nơi thành phẩm của công ty trước khi tiêu thụ.Do tính chất đa dạng và phức tạp của nguyên vật liệu nên hệ thống kho của doanh nghiệp phải có nhiều loại khác nhau phù hợp với

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             14

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Do vậy, tổ chuéc quản lý kho phải thực hiện những nhiệm bụ sau :

    • Bảo quản toàn ven số lượng, nhuyên vật liệu, hạn chế ngăn ngừa hư hỏng , mất mát đến mưc tối thiểu.
    • Luôn nắm chắc tình hình nguyên vật liệu vào bất kỳ thời điểm nào nhằm đáp ứng một cách nhanh nhất cho sản xuất.
    • Bảo đảm thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm tra bất cứ lúc nào.
    • Bảo đảm hạ thấp chi phí bảo quản , sử dụng hợp lý và tiết kiêm diện tích kho

    .

    Để thực hiện những nhiệm vụ trên công tác quản lý bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

    • Công tác sắp xếp nguyên vật liệu : dựa vào tính chất , đặc điểm ngyên vật liệu và tình hình cụ thể của hệ thống kho để sắp xếp nguyên vật liệu một cách hợp lý, khoa hoc, đảm bảo an toàn ngăn nắp , thuân tiện cho việc xuất nhập kiểm kê.Do đó, phải phâm khu , phân loại kho , đánh số , ghi ký hiệu các vị trí nguyên vật liệu một cách hợp lý .
    • Bảo quản nguyên vật liệu : Phải thưc hiện đúng theo quy trình , quy phạm nhà nước ban hành để đảm bảo an toàn chất lượng nguyên vật liệu
    • Xây dựng và thực hiện nội quy về chế độ trách nhiệm và chế độ kiểm tra trong việc bảo quản nguyên vật liệu .

    1.2.2.3 . Tổ chức cấp phát nguyên vật liệu:

    Cấp phát nguyên vật liệu là hình thức chuyển nguyên vật liệu từ kho xuống các bộ phận sản xuất. V iệc cấp phát một cách nhanh chóng , kịp thời , chính xác và khoa học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tận dụng có hiệu quả cao năng xuất lao động của công nhân ,máy móc thiết bị làm cho sản xuất được tiến hành liên

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             15

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Việc cấp phát nguyên vật liệu có thể tiến hành theo các hình thức sau:

    + Cấp phát theo yêu cầu của các bộ phận sản xuất.

    Căn cứ vào yêu cầu của nguyên vật liệu của từng phân xưởng , bộ phận sản xuất đã báo trước cho bộ phận cấp phát của kho từ một đến ba ngày để tiến hành cấp phát . Số lượng nguyên vật liệu được yêu cầu được tính toán dựa trên nhiệm vụ sản xuất và hệ thống định mức tiêu dùng nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã tiêu dùng.

    • Ưu điểm: đáp ứng kịp thời tiến độ sản xuất đối với từng bộ phận của doanh nghiệp , tránh những lãng phí và hư h ỏng không cần thiết .
    • Hạn chế : bộ phận cấp phát của kho chỉ biết được yêu cầu của bộ phận trong thởi gian ngắn, việc cấp phát kiểm tra tình hình sử dụng gặp nhiều khó khăn , thiếu tính kế hoạch và chủ động cho bộ phận cấp phát.
    • Cấp phát theo tiến độ kế hoạch.( cấp phát theo hạn mức):

    Đây là hình thức cấp phát quy định cả số lượn và thời gian nhằm tạo sự chủ động cho cả bộ phận sử dụng và bộ phận cấp phát.Dựa vào khối lưọng sản xuất cũng như dựa vào định mức tiêu dùng nguyên vật liệu trong kỳ kế hoạch, kho cấp phát nguyên vật liệu cho các bộ phận sau từng kỳ sản xuất doanh nghiệp quyết toán vật tư nội bộ nhằm so sánh số sản phẩm đã sản xuất ra với số lượng nguyên vật liệu đã tiêu dùng . Trưòng hợp thừa hay thiếu sẽ đựoc giải quuyết một cách hợp lý và có thể căn cứ vào một số tác đọnh khách quan khác. Thực tế cho thấy hình thưc cấp phát này đạt hiệu quả cao, giúp cho việc giám sát hạch toán tiêu dùng nguyên vật liệu chính xác , bộ phận cấp phát có thể chủ động triến khai việc chuẩn bị nguyên vật liệu một cách có kế hoạch, giảm bớt giấy tờ , đỡ thao tác tính toán . Do vậy , hình thức cấp phát này đạt hiệu qủa cao và được áp dụng

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             16

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ngoài hai hình thức cơ bản trên , trong thực tế còn có hình thức : “bán nguyên vật liệu mua thành phẩm ”. Đây là bước phát triển cao cùa công tác quản lý nguyên vật liệu nhằm phát huy đầy đủ quyền chủ dộng sáng tạo trong các bộ phận sử dụng vật tư , hạch toán chính xác, giảm sự thất thoát đến mức tối thiểu .

    Với bất kỳ hình thức nào muốn quản lý tốt nguyên vật liệu cần thực hiện tốt công tác ghi chép ban đầu , hạch toán chính xácviệc cấp phát nguyên vật liệu thực hiện tốt các quy định của nhà nước và của doanh nghiệp .

    1.2.2.4. Thanh , quyết toán nguyên vật liệu :

    Đây là bước chuyển giao trách nhiệm giữa các bộ phận sử dụng và quản lý nguyên vật liệu . Đó là sự đối chiếu giữa lượng nguyên vật liệu nhận về với số lượng sản phẩm giao nộp , nhờ đó mới đảm bảo được việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu bảo đảm hạch toán đầy đủ chính sách nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm . Khoảng cách và thời gian để thanh quyết toán là tuỳ thuộc vào chu kỳ sản xuất , nếu chu kỳ sản xuất dài thì thực hiên một quý một lần , nếu ngắn thì được thanh quyết toán theo từng tháng .

    Nếu gọi :

    A            : Lượng nguyên vật liệu đã nhận về trong tháng .

    Lsxsp : Lượng nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm trong tháng.

    Lbtp  : Lượng nguuyên vật liệu bán thành phẩm kho .

    Lspd  : Lượng nguyên vật liệu trong sản phẩm dở dang .

    Ltkp  : Lượng nguyên vật liệu tồn kho phân xưởng .

    Theo lý thuyết ta có :

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             17

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    A = Lsxsp + Lbtp +Lspd + Ltkpk

    Trong thực tế , nếu A > tổng trên thì tức là có hao hụt . Do vậy , khi thanh toán phải làm rõ lượng hao hụt , mất mát này . Từ đó đánh giá dược tình hình sử dụng nguyên vạt liệu và có các biện pháp khuyến khích hay bắt bồi thường chính đáng .

    1.2.2.5 .Sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu :

    Có thể nói , sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu đã trở thành một nguyên tắc , một đạo đức , một chính sách kinh tế của các doanh nghiệp .Việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp được thực hiện theo những phương hướng và biện pháp chủ yếu sau :

    • không ngừng giảm bớt phế liệu , phế phẩm , hạ thấp định mức tiêu dùng nguyên vật liệu . Giảm mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm là yếu tố quan trọng đề tiết kiệm vật tư trong quá trình sản xuất song khi muốn khai thác triệt để yếu tố này cần phải phân tích cho được các nguuyên nhân làm tăng , giảm mức tiêu hao vật tư trong sản xuất . Từ đó đè ra các biện pháp cụ thể nhằm tiết kiệm dượcnhiều vật tư trong sản xuất . Mức tiêu hao vật tư trong một đơn vị sản phẩm thường bị tác động bởi nhiều nhân tố như: Chất lượng vật tư , tình hình trang bị kỹ thuật cho sản xuất , trình độ lành nghề của công nhân , trọng lượng thuần túy của sản phẩm .

    Để thực hiện có hiệu quả phương hướng này , doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề :

    • Hợp lý hoá sản xuất , cải tiến kỹ thuật , nâng cao trình độ tay nghề của công nhân , thực hiện đúng các chế độ về bảo quản sử dụng máy móc thiết bị , coi trọng hạch toán nguyên vật liệu , xây dựng chế độ thưởng phạt nhằm kích thích sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu .

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             18

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Xoá bỏ mọi hao hụt mất mát , hư hỏng nguyên vật liệu do nguên nhân chủ quan gây ra .

    Để thực hiện tốt phương hướng này cần nâng cao trách nhiệm trong công tác thu mua , vận chuyển , bao gói , bốc dở, kiểm nghiệm nguyên vật liệu trong kho và cấp phát nguyên vật liệu cho sản xuất .

    • Cải tiến quy trình công nhgệ , đổi mới máy móc thiết bị , tổ chức sản xuất hợp lý cũng góp phần giảm các tổn thất trong quá trình sản xuất.

    +Tăng cường giáo dục về ý thức tiết kiệm ,lợi ích của tiết kiệm đối với xí nghiệp, đối với từng người.

    • Nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ , trình độ tay nghề của công nhân.
    • Có các biện pháp khuyến kh ích vật chất, tinh thần thích đáng, kịp thời đối với việc tiết kiệm.
    • Sử dụng nguyên vật liệu thay thế : Việc lựa chọn nguyên vật liệu thay thế đựoc tiến hành cả trong khâu cung ứng và thiết kế chế tạo sản phẩm . Đây là một biện pháp quan trong, nó cho phép sử dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong nước và từ đó giảm bớt việc thay thế phải đảm bảo tính hiệu quả king tế của doanh nghiệp vạ đặc biệt là vẫn phải b ảo dảm chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của công nghệ sản xuất.
    • Sử dụng lại phế liệu – phế phẩm: tức là sử dụng tối đa vật liệu tiêu dùng trong sản xuất . thu hồi và tận dụng phế liệu – phế phẩm không những là yêu cầu trước mắt mà còn là yêu cầu lâu dài của doanh nghiệp .Việc tận dụng sẽ góp phần làm giảm định mức tiêu dùng nguyên vật liệu và hạ giá thành sản phẩm . Nó cũng có thể đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp nếu thực hiện bán phế liệu , phế phẩm cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp .

    Như vậy, để đảm bảo quản lý nguyên vật liệu trong xí nghiệp một cách có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quản lý thu mua sao cho đúng chủng loại , chất lượng theo yêu cầu sử dụng với giá mua hợp lý , tránh thất thoát vật liệu để hạ thấp gíá

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             19

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             20

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Chương II

    Thực trạng công tác bảo đảm , quản lý nguyên vật liệu tại công ty vật liệu xây dựng bưu điện.

    2.1. Giíi thiÖu chung vÒ c«ng ty

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

     

    Tiền thân của Công ty Vật liệu xây dựng Bưu điện là xưởng sản xuất cột bê

    tông thuộc Công ty công trình Bưu điện được thành lập theo quyết định số 834 ngày 13 / 5 / 1959 . Xưởng được khởi công xây dựng từ năm 1959 và đi vào sản xuất năm 1961 với sản phẩm chủ yếu là cột bê tông để trang bị cho các đường dây thông tin .

    Sau khi đòi hỏi của thị trường cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp được mở rộng không chỉ phục vụ cho ngành Bưu điện mà còn phục vụ cho ngành khác . Để phù hợp với sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường thay đổi .Ngày 21 /10 1989 , xưởng sản xuất cột bê tông đổi tên thành xí nghiệp bê tông và xây lắp bưu điện .Trong giai đoạn này , xí nghiệp sản xuất các sản phẩm chính là cột điện bê tông , tấm lợp nhà , gạch lát hoa , tấm đan … Nhận các công trình trong và ngoài ngành bưu điện .

    Từ đây xí nghiệp đã chuyển sang một giai đoạn mới trong quá trình sản xuất kinh doanh . Hoạt động sản xuất cũng như tiêu thụ của xí nghiệp đã từng bước hoà nhập cơ chế thị trường . Năm 1955 ,xí nghiệp có sự chuyển đổi nhiệm vụ sản xuất và thay đổi quy mô sản xuất . Ngoài những sản phẩm truyền thông như cống cáp thông tin, cột điện bê tông các loại, tấm panen… Xí nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất ống nhựa với các sản phẩm như ống DSF (ống nhựa PVC 3 lớp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             21

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện đã được phê duyệt theo quyết định số 357/QĐ-TCCP/HĐQT ngày 26/11/1996 của hội đổng quản trị tổng công ty Bưu chính Việt Nam.

    Trong thời kỳ này tốc độ tăng trưởng của công ty rất lớn. Năm 1996 công ty đầu tư thêm dây chuyền sản xuất ống nhựa thứ hai. Đầu tư thêm dây chuyền ống nhựa ф34, ống hai nửa.

    Mấy năm gần đây tuy tốc độ phát triển có chậm lại nhưng hàng năm công ty vẫn hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đặt ra.

    Sự phát triển và trưởng thành của công ty vật liệu xây dựng Bưu điện trong những năm gần đây được thể hiện qua một số chỉ tiêu cơ bản sau:

    STT Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
             
    1 Doanh thu thuần 71.486.783.212 84.634.222.957 87.850.714.250
             
    2 Tổng chi phí 62.060.856.360 64.213.290.988 66.127.547.699
             
    3 Nộp ngân sách 3.378.849.708 3.071.569.744 3.529.509.988
             
    4 Tổng lợi nhuận 6.047.077.802 7.734.936.223 7.989.621.573
             
    5 Thu nhập bình quân 1.100.000 1.200.000 1.250.000
             

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             22

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.1.2. Một số đặc điểm của công ty.

    2.1.2.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất:

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện là một doanh nghiệp có qui mô vừa chuyên ngành sản xuất các sản phẩm phục vụ cho ngành Bưu điện và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước.

    Công ty vật liệu xây dựng Bưu điện có bốn thành viên và một văn phòng đại diện khu vực phía nam: Xí nghiệp nhựa, xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III, xí nghiệp xây lắp I. Các xí nghiệp có trụ sở tại các địa bàn khác nhau trừ xí nghiệp nhựa nằm trên cùng địa bàn với công ty. Các xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ sản xuất như sau: xí nghiệp bê tông Bưu điện II, xí nghiệp bê tông Bưu điện III chuyên sản xuất các cần cẩu kiện bê tông, xí nghiệp xây lắp I – xây dựng và lắp đặt các công trình Bưu điện, các công trình dân dụng. Xí nghiệp nhựa chuyên sản xuất các sản phẩm bằng chất dẻo. Văn phòng đại diện giao dịch bán các sản phẩm của công ty tại khu vực phía nam.

    Dưới đây là sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất ống nhựa dẫn cáp tại xí nghiệp nhựa thuộc công ty vật liệu xây dựng Bưu điện.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             23

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Vật liệu chính            
          Phụ gia ổn định, tự
    PVC 800.1000         gia công
                   
                   
                   
          Sấy trộn     Cần pha chế  
               
                   

    Lập chương trình

    máy điều khiển   Điện trên máy

    tốc độ, nhiệt độ

    Địa hình chân không

    Làm mát sản phẩm

    In nhận sản phẩm

    Cắt thành hình bán sản phẩm

    Nong đầu, tạo khớp nối

    Kiểm tra ngoại quang, trọng lượng, kích thước, cơ lý, phân loại sản phẩm

    Nhập kho

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             24

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Xem xét qui trình công nghệ thấy chu kì sản xuất ngắn, qui trình sản xuất hàng loạt lớn. Không có bán thành phẩm, không có sản phẩm dở dang do đó việc cung ứng, dự trữ và sử dụng vật tư có thể tính toán trước được.

    2.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý.

    Do đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty nên bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo hình thức trực tuyến chức năng. Mỗi xí nghiệp có bộ máy quản lý riêng và chịu sự lãnh đạo của bộ máy quản lý Công ty. Cơ cấu lãnh đạo của bộ máy Công ty bao gồm: Giám đốc, ba phó giám đốc và sáu phòng quản lý, nghiệp vụ.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

    Ban giám đốc Công ty

    Phòng tổ   Phòng kinh   Phòng KH   Phòng   Phòng   Phòng
    chức hành   doanh   thị trường   kĩ thuật   cung ứng   kế toán
    chính               vật tư   TC
                         

    Sơ đồ tổ chức

    Công ty Vật liệu xây

    dựng Bưu điện

      Xí nghiệp     Xí nghiệp       Xí nghiệp            
                  Xí nghiệp   Văn phòng đại   25
      SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2 bê tông      
      nhựa bưu     bê tông           xây lắp I   diện tại MN    
      điện     BĐII         BĐIII        
                             
                                   

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             26

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Giám đốc: Ngoài phụ trách chung, trực tiếp phụ trách lĩnh vực tổ chức cán bộ, lao động và lĩnh vực tổ chức kinh doanh.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh tế: Phụ trách toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kỹ thuật.
    • Phụ trách lĩnh vực theo dõi, quản lý máy móc, thiết bị, xác định mức tiêu hao vật tư cho từng loại sản phẩm, xác định vật tư kỹ thuật cho mỗi công trình.
    • Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực tiếp thị: Phụ trách việc giao dịch tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm nghiên cứu, xây dựng các phương thức bán hàng và tổ chức thực hiện.
    • Các phòng nghiệp vụ.
    • Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, bổ trì cán bộ sắp xếp lao động, tuyển dụng và cho lao động nghỉ việc theo chế độ.
    • Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý về công tác tổ chức kế toán, thống kê của các xí nghiệp và của Công ty, cung cấp số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra và phân tích hoạt động kế toán, tài chính, phục vụ công tác lập, theo dõi và thực hiện kế hoạch phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế.
    • Phòng kế hoạch thị trường: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
    • Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các phương thức bán hàng, đôn đốc, tổ chức thực hiện các hợp đồng bán sản phẩm của Công ty.
    • Phòng kỹ thuật: Nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, thực hiện các qui trình qui phạm trong sản xuất và an toàn lao động, kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             27

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • Phòng cung ứng vật tư: Có nhiệm vụ giúp giám đốc lập kế hoạch cung ứng vật tư cho hoạt động sản xuất (chủ yếu cho xí nghiệp nhựa). Kiểm tra thực hiện, cân đối định mức vật tư cho sản phẩm, theo dõi số lượng vật tư tồn kho.

    2.2. T×nh h×nh qu¶n lý vμ sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt

    liÖ x©y dùng b−u ®iÖn

    2.2.1. Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu.

    2.2.1.1. Đặc điểm nguyên vật liệu

    Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện có 4 xí nghiệp thành viên nhưng chỉ có xí nghiệp nhựa chịu sự chỉ đạo sản xuất của Công ty, còn các xí nghiệp kia hạch toán đối lập. Vì vậy Công ty chỉ quản lý và cung cấp nguyên vật liệu cho xí nghiệp nhựa: sản phẩm nhựa của Công ty gồm các loại ống nhựa phục vụ ngành Bưu điện là chủ yếu và một số ngành khác như điện lực, cấp thoát nước. Nguyên vật liệu sử dụng ở Công ty rất đa dạng và phong phú được sử dụng với khối lượng lớn. Có tới 30 loại nguyên vật liệu chính và hơn 3000 loại phụ tùng, công cụ dụng cụ. Mỗi chủng loại nguyên vật liệu lại bao gồm hàng chục loại khác nhau. Có thể kể đến những loại nguyên vật liệu chính của Công ty như bọt PVC – 1000, bọt PVCP 800, bọt AC – 629A, CA – ST, DBL, ILS, bọt hoá chất CaCO3, các loại vật liệu phụ như: dung môi, bột màu, mực in, keo dán. Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài, một số bột hoá chất phải nhập từ nước ngoài.

    Hiện nay, chi phí về nguyên vật liệu chiếm khoảng 80% trong giá thành sản phẩm. Vì vậy muốn hạ giá thành sản phẩm Công ty phải có biện pháp giảm chi phí về nguyên vật liệu nhưng lại không được làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             28

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Từ những đặc điểm trên cho thấy việc quản lý nguyên vật liệu tại Công ty phải được thực hiện chặt chẽ chỉ ở tất cả các khâu thu mua, bảo quản, dự trưc, sử dụng, để đảm bảo tính hiệu quả tính tiết kiệm, hạn chế tới mức thấp nhất việc hư hỏng mất mát.

    2.2.1.2. Phân loại nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu (xí nghiệp nhựa) được phân loại như sau:

    • Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty khi tham gia vào quá trình sản xuất là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể

    của sản phẩm bao gồm: Bọt PVC – P1000, bọt PVC – P800, AC – AT, DBL, AD/PP hạt, bọt hoá chất STA, CaCl3.

    • Nguyên vật liệu phụ: góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản

    phẩm bao gồm: dung môi, hạt màu, mực in, nước rửa…

    • Nhiên liệu: xăng dầu.
    • Vật liệu, thiết bị máy móc: trục vít, dòng can nhiệt, rơle
    • Phế liệu thu hồi: ống hỏng, bột quét kho sản xuất.

    *Nguồn nhập, mục đích xuất nguyên vật liệu.

    Tất cả các loại nguyên vật liệu của Công ty đều được mua ngoài. Và đều được sản xuất ra để phục vụ cho sản xuất sản phẩm, phục vụ công tác quản lý, bán hàng, xây dựng cơ bản tại Công ty.

    Vật tư của Công ty do phòng cung ứng vật tư và nhân viên làm việc tại kho chịu trách nhiệm quản lý. Công ty có hệ thống kho gồm kho nguyên vật liệu chính (kho Công ty và kho xí nghiệp nhựa) và một kho phụ tùng, CCDC.

    Phòng cung ứng vật tư căn cứ vào định mức vật tư kỹ thuật để dự trữ, cấp phát vật tư. Định mức vật tư do phòng kỹ thuật xây dựng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             29

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    2.2.1.3. Đánh giá nguyên vật liệu.

    • Đối với nguyên vật liệu nhập kho, nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu là mua ngoài, chỉ có một phần nhỏ thu hồi từ sản xuất (Công ty áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ).

    – Đối với nguyên vật liệu mua ngoài nhập kho.

    Giá thực tế nguyên vật liêu nhập kho = giá mua ghi trên hoá đơn (không có thuế GTGT)

    Chi phí thu mua được phân bỏ vào chi phí sản xuất trong kỳ. Do chi phí thu mua thường nhỏ hoặc không có do giá trị của nguyên vật liệu mua là giá giao tại kho của Công ty nên các chi phí vận chuyển, bốc dỡ và các chi phí khác đều do bên bán chịu. Ví dụ:

    Ngày 8/2/2002: Nhập kho 99.000kg bột PVC – S65 theo hoá đơn ngày 29/1/2002 – giá đơn vị (chưa có thuế GTGT) ghi trên hoá đơn là 14200/kg.

    + Giá thực tế

    Bọt PVC = S65 = 99.000 x 14.200 = 1.405.800.000đ.

    • Đối với phế liệu thu hồi nhập kho: Phế liệu thu hồi là nhựa thu hồi từ sản xuất mà đơn vị đem đi tạo hạt lại để tiếp tục sử dụng. Giá thực tế của phế liệu do phòng cung ứng vật tư xác định và đưa ra cho một kỳ hạch toán chỉ có một đơn vị cho tất cả các loại phế liệu thu hồi.
    • Đối với nguyên vật liệu xuất kho: tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện, giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính theo phương pháp nhập trước xuất trước, lô hàng nào nhập kho trước sẽ được xuất trước.

    2.2.2. Tổ chức quản lý và sử dụng nguyên vật liệu tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện.

    2.2.2.1. Công tác bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất.

    • Về mặt kịp thời:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             30

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Điều kiện quan trọng để đảm bảo cho sản xuất của xí nghiệp hoàn thành tốt và nhịp nhàng là phải bảo đảm cho nó những loại vật tư cần thiết một cách kọp thời trong cả một thời gian dài (năm hay quý). Xí nghiệp luôn đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, không để xảy ra tình trạng thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.

      Ngày Số lượng Bảo đảm nhu cầu Còn lại không  
    Nguồn NVL trong tháng
    dùng trong  
    nhập (m) Tính bằng  
      (m) tháng  
          ngày
               
    Tồn đầu 1/4 5578 (1/4-12/4) 5578    
    tháng            
                 
    Nhập lần 1 13/4 387.7 13/4-22/4 387.7    
                 
    Nhập lần 2 23/4 3786.5 (23/4-30/4) 300 3486.5  
                 
    Tổng   9752.2 30 6265.7 3486.5  
                 

    Qua bảng trên ta thấy tồn đầu tháng tư là 5578m, có thể tiêu dùng đến 12 ngày và sau đó ngày 13/4 nhập 387.7m. Như vậy việc nhập nguyên vật liệu một cách kịp thời đã không làm gián đoạn sản xuất. Với số lượng nhập như trên đã đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất tiến hành được liên tục, điều đó có nghĩa là xí nghiệp đã hoàn thành kế hoạch về mặt kịp thời. * Về mặt đồng bộ.

    Để đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, xí nghiệp đã thực hiện tương đối tốt yêu cầu cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ không phải là sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm. quyết định. Trong quá trình thực hiện kế hoạch nếu có loại nguyên vật liệu nào đó không đảm bảo yêu cầu thì các nguyên vật liệu khác hoặc là không thể sử dụng được hoặc là sử dụng một phần tương xứng với tỷ lệ loại nguyên vật liệu nhập không đảm bảo yêu cầu với tỷ lệ thấp nhất.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             31

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             32

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tình hình thực hiện kế hoạch nguyên vật liệu về mặt đồng bộ.

    Tên nguyên Đơn Kế Thực Hoành Số sử dụng được  
    vật liệu vị hoạch nhập thành kế      
    % Số lượng  
             
      tính nhập   hoạch      
                   
    Đồng ф 46 Kg 135 158 117.03 105.5 142.43  
                   
    Đồng ф 42 Kg 180 191 106.10 105.5 190  
                   
    Nhựa kíp Kg 468.6 104.16 104.16 105.5 162.04  
                   
    Tổng     509 108.60 105.5 494.47  
                   

    Qua đó ta thấy tình hình nhập vật tư vào xí nghiệp đã đảm bảo được tính đồng bộ. Đây là thành tích chủ quan của xí nghiệp, gãp phần giải quyết tình trạng ứ đọng nguyên vật liệu ở xí nghiệp, tạo vốn cho sản xuất.

    2.2.2.2. Công tác mua sắm nguyên vật liệu của Công ty.

    Thủ tục nhập nguyên vật liệu, ở Công ty là mua ngoài. Đối với những lô hàng có giá trị lớn, Công ty tổ chức đấu thầu. Còn với những lô hàng có giá trị nhỏ, số lượng ít, Công ty uỷ quyền cho phòng vật tư mua.

    Khi vật tư mua về đến kho, phòng cung ứng vật tư căn cứ vào hoá đơn, hợp đồng kinh tế tiến hành làm phiếu nhập hàng, phiếu nhập kho theo biểu 01 – VT. Phiếu nhập kho được ghi đầy đủ các thông tin cần thiết và số lượng nhập kho trên chứng từ có liên quan. Phiếu nhập kho, phiếu nhập hàng và các chứng từ có liên quan được chuyển xuống kho nhập hàng, thủ kho căn cứ vào các chứng từ trên kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, chất lượng và quy cách của vật tư, sau đó tiến hành nhập kho. Thủ kho ghi vào phiếu nhập kho số lượng vật tư thu nhập, đồng thời tiến hành ghi thủ kho. Phiếu nhập kho và các chứng từ có liên quan được chuyển lên phòng kế toán.

    VD: Ngày 8/2/2002, Công ty nhập bọt nhựa PVC – S65 theo hợp đồng kinh tế đã ký vởi Công ty cổ phần hoá chất nhựa.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             33

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    MÉu ho¸ ®¬n:            
      Biểu số 1:            
            HOÁ ĐƠN Mẫu số: 01GTKT – 3LL.
            Ngày 29 tháng 1 năm 2002 N0: 034214
                   
    Đơn vị bán hàng: Công ty cổ phần hoá chất nhựa.      
    Địa chỉ: Số 7 Vọng đức – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội – Số tài khoản…
    Điện thoại: 8247087.            
    Mã số: 0 1   0 0 9 4 2 2 0 5 1        
    Họ và tên người mua hàng: Đặng Quang Vinh.      
    Đơn vị: Công ty VLXD            
    Đơn chỉ: Phú Diễn – Từ Liêm … Số tài khoản.      
    Hình thức thanh toán: HĐKT 081638 ngày 5 tháng 1 năm 2002.
    Mã số:  0 1    0 0 6 8 7 1 8 5 1        
                     
      TT Tên hàng hoá, Đơn vị Số lượng   Đơn giá Thành tiền  
        dịch vụ tính    
                   
      A   B C 1   2 3=1×2  
                   
    1 Bột PVC kg 99.000   14.200 1.405.800.000  
        (Indonesia)            
                       
          Cộng tiền hàng:     1.405.800.000  
             
          Thuế suất GTGT: 10T: Tiền thiếu GTGT:    140.580.000  
               
          Tổng cộng tiền thanh toán: 1.546.380.000  
           
        Số tiền viết bằng chữ: Một tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu ba trăm  
            tám mươi ngàn đồng chẵn.    
    Người mua hàng kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, họ tên)

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             34

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Trên đây cơ sở hợp đồng kinh tế và hoá đơn trên phòng vật tư tiến hành lập phiếu nhập hàng và phiếu nhập kho.

    2.2.2.3. Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.

    • xí nghiệp, mua cũng như bán vật tư, bán thành phẩm và thành phẩm phải thông qua hợp đồng kinh doanh. Giám đốc giao hàng cho phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng kế hoạch chuẩn bị hợp đồng. Các trưởng phòng phải kiểm tra hợp đồng về quy cách, số lượng, chất lượng, chủng loại và giá cả cũng như thời hạn giao nhận. Tất cả các hợp đồng kinh tế do giám đốc ký, phòng kế toán, phòng kinh doanh có trách nhiệm theo dõi để kiểm tra việc thực hiện và thanh lý hợp đồng. Các hoá đơn vật tư hàng hoá mua về đều có hoá đơn đỏ của bộ tài chính. Tuỳ từng loại vật liệu mà có những hình thức cân, đong, đo đếm khác nhau.

    Việc kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu được tiến hành từ thấp đến cao, từ ngoài vào trong. Trước hết, nhân viên tiếp nhận xem xét kích thước, tình hình bao bì và những ký hiệu ghi trên bao bì có phù hợp với những điều kiện quy định trong hợp đồng giao hàng hay không.

    Do có sự thống nhất trong hợp đồng nên khi giao hàng diễn ra hết sức thuận lợi.

    Khi kiểm tra số lượng và chất lượng xong, nếu là những loại nguyên vật liệu có giá trị lớn thì xí nghiệp kiểm nghiệm và lập “Biên bản kiểm kê”.

    Ví dụ:

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             35

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ

    Hôm nay, ngày 31/12/2002 – tại Công ty Vật liệu xây dựng Bưu Điện (Phú

    Diễn – Từ Liêm). Chúng tôi gồm:

    1. Đại diện phòng kế toán – tài chính.
    1. Bà Hoàng Thị Minh – Phó phòng kế toán – tài chính
    1. Bà Vũ Thị Minh Nguyệt – Kế toán vật liệu.
    1. Đại diện phòng vật tư.
    1. Bà Vũ Thị Xuân – Phó phòng vật tư.
    1. Bà Nguyễn Hoài Phương – Thủ.
    • Đại diện xí nghiệp nhựa.
    1. Ông Bùi Văn Xã – giám đốc xí nghiệp.
    1. Bà Nguyễn Thị Thu – kế toán xí nghiệp.
    1. Bà Đoàn Thị Thuỷ – thủ kho xí nghiệp.

    Chúng tôi cùng nhau kiểm kê kho vật liệu chính ở kho xí nghiệp và kho Công ty, kiểm kê phụ tùng, công cụ dụng cụ ở kho Công ty, số liệu cụ thể như sau: *Vật liệu chính:

    TT Tên nguyên ĐVT Số lượng Tổng cộng
      liêu, vật liệu       kiểm kê
          Kho công Kho xí  
          ty nghiệp  
    1 AC-5000F Kg 2250,0 58,85 2308,85
    2 VV-10506 Kg 325,0 10,00 335,0
    3 DBL Kg 1800 196,85 1996,85
    4 STA-2718 Kg 6800 409,3 7209,3
    5 PP hạt Kg 2775 0 2755,0
    6 AID Kg 9800 194,84 9994,84
    7 Bột vàng Kg 125 158,6 283,6
    8 HIPS Kg 4900 0 4900
    9 TLS Kg 1575 372,65 1947,65
    10 CA-ST Kg 925 142,6 1067,6
    …..

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             36

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¨n cø vμo biªn b¶n kiÓm nghiÖm nÕu nguyªn vËt liÖu ®ñ tiªu chuÈn nhËp kho th× phßng kÕ ho¹ch kü thuËt sÏ tiÕn hμnh lËp phiÕu nhËp kho . Thñ kho kh«ng ®−îc tù ý nhËp sè nguyªn vËt liÖu trªn nÕu ch−a cã ý kiÕn cña phßng kinh doanh . Do thñ kho thuéc phßng kinh doanh nªn mäi nhu cÇu nhËp xuÊt ®Òu t¹i phßng kinh doanh ®Ó tiÖn cho viÖc qu¶n lý . PhiÕu nhËp kho ®−îc lËp thμnh ba liªn :

    • Phßng kinh doanh l−u mét liªn .

     

    • Thñ kho gi÷ mét liªn ®Ó ghi thÎ kho , sau ®ã chuyÓn cho kÕ to¸n vËt t−.

     

    • Mét liªn do ng−¬i ®i mua gi÷ ho¸ ®¬n mua giao l¹i cho kÕ to¸n lam c¬ s¬ thanh to¸n sau nμy .

    C¨n cø ®Ó viÕt phiÕu nhËp kho cña xÝ nghiÖp nhËp t¹i kho cña xÝ nghiÖp lμ

    c¸c ho¸ ®¬n b¸n hμng cña nhμ cung cÊp . Ho¸ ®¬n nμy ph¶i cã ®ãng dÊu cña bé tμi chÝnh vμ dÊu cña ®¬n vÞ b¸n , ®ång thêi ph¶i cã x¸c nhËn cña thñ kho lμ hμng ®· nhËp kho .

    VÝ dô :

    PhiÕu nhËp kho                                   MÉu sè : 01 – VT

    Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002  Q§ Sè 1141 TC/ Q§ / C§KT

    Sè : 22                                   Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

    Nî :TK 152

    Cã : TK 331

    Hä tªn ng−êi giao hμng : §Æng Quang Vinh

    Theo: .H§. Sè 034214. Ngμy 29/1/2002 cña C«ng ty cæ phÇn ho¸ chÊt nhùa.

    Tªn nh·n   Sè l−îng   §¬n  
    hiÖu, quy §VT Theo chøng tõ   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt tr×nh vËt t−       gi¸
             
      (SP hμng ho¸)              
    A B C D 1   2 3 4
                     
    1 Bét PVC-S65   Kg 99.000   99.000 14.200 1.405.800.000
                     

    Céng tiÒn hμng: 1.405.800.000

    ThuÕ suÊt GTGT: 10% tiÒn thuÕ thuÕ GTGT:140.580.000

    Tæng céng tiÒn thanh to¸n: 1.546.380.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Mét tû n¨m tr¨m bèn m−¬i s¸u triÖu ba tr¨m t¸m m−¬i ngh×n ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             37

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng  Thñ kho              KÕ to¸n tr−ëng        Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                  

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.4. Qu¶n lý kho :

    Tuú theo ®Æc ®iÓm vμ tÝnh chÊt cña tõng lo¹i nguyªn vËt liÖu khi nguyªn vËt liÖu ®−îc nhËp kho vÒ xÝ nghiÖp nã sÏ ®−îc ®−a vμo c¸c kho kh¸c nhau nh»m ®¶m b¶o an toμn mét cÊch tèi ®a cho nguyªn vËt liÖu .

    Nh×n chung , nguyªn vËt liÖu trong kho cña xÝ nghiÖp ®−îc s¾p xÕp khoa häc , theo dóng quy c¸ch , thùc hiÖn khÈu lÖnh dÔ t×m , dÔ thÊy , dÔ lÊy ,dÔ kiÓm tra ph¸t hiÖn nh»m thuËn lîi cho viÖc thùc hiÖn nguyªn t¾c : NhËp tr−íc xuÊt tr−íc, nhËp sau xuÊt sau . Víi nh÷ng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn nay th× viÖc qu¶n lý nguyªn vËt liÖu lμ rÊt dÔ dμng v× do c¸c nguyªn vËt liÖu kh«ng bÞ hao hôt , nguyªn vËt liÖu dÔ mua nªn khèi l−îng nguyªn vËt liÖu tån kho Ýt . Kho lμ ®iÓm xuÊt ph¸t vμ lμ ®iÓm cuèi cïng cña qu¸ tr×nh s¶n xuÊt .Do ®ã viÖc tæ chøc vμ b¶o qu¶n kho nguyªn vËt liÖu, b¸n thμnh phÈm cña xÝ nghiÖp ®Òu ®−îc ghi theo v¨n b¶n .

    Khi nhËp hay xuÊt kho , thñ kho ph¶i kiÓm nhËn theo chøng tõ . B¸n , xuÊt vËt t− ra ngoμi xÝ nghiÖp ph¶i th«ng qua gi¸m ®èc ký duyÖt . Cßn xuÊt trong néi bé th× gi¸m ®èc uû quyÒn cho phã gi¸m ®èc ký .

    Phßng kinh doanh cña xÝ nghiÖp liªn kÕt chÆt chÏ víi phßng b¶ovÖ ®Ó qu¶n lý nguyªn vËt liÖu . Hμng ngμy , b¶o vÖ ph¶i më sæ theo dâi kh¸ch ®i ®Õn xÝ nghiÖp hoÆc c¸c lo¹i vËt t− hμng ho¸ xÝ nghiÖp ra vμo ®¬n vÞ ghi râ thêi gian , sè l−îng , chñng lo¹i vμ ph−¬ng tiÖn vËn chuyÓn .

    TÊt c¶ c¸c kho tμng cña xÝ nghiÖp ®Ìu ®−îc dïng hai kho¸ ®Ó ®¶m b¶o ®é ch¾c ch¾n , thñ kho qu¶n lý mét ch×a , b¶o vÖ qu¶n lý mét ch×a . §Ó ®¶m b¶o ®é an toμn , mçi quý xÝ nghiÖp thay kho¸ mét lÇn .Trong xÝ nghiÖp cã hμnh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             38

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    • trém c¾p nguyªn vËt liÖu th× mäi ng−êi ®Òu cã ý thøc tr¸ch nhiÖm ®Êu tranh c¸c hμnh vi tiªu cùc .

     

    xÝ nghiÖp cã mét hÖ thèng néi quy an toμn , quy chÕ kho nh− néi quy ra vμo , néi quy b¶o qu¶n , néi quy xuÊt nhËp , néi quy phßng ch¸y næ . V× thÕ c«ng t¸c b¶o qu¶n kho ®i vμo nÒn nÕp chÆt chÏ ë cöa kho cã biÓn kh«ng cã nhiÖm vô tuyÖt ®èi kh«ng ®−îc vμo kho .

     

    Thñ kho lu«n n¾m ch¾c sè l−îng , chÊt l−îng , chñng lo¹i tõng nguyªn vËt liÖu , tuyÖt ®èi gi÷ bÝ mËt vμ chØ cung cÊp sè liÖu cho nh÷ng ng−êi ®−îc gi¸m ®èc ®ång ý . Hμng ngμy , thñ kho ghi mét c¸ch chónh x¸c sè l−îng xuÊt – nhËp tån .

     

    Hμng n¨m xÝ nghiÖp tiÕn hμnh kiÓm kª ®¸nh gi¸ ®Þnh kú t×nh h×nh nguyªn vËt liÖu , viÖc b¶o qu¶n vμ cÊp ph¸t t¹i kho. Tõ biªn b¶n kiÓm kª , c¸c phßng chøc n¨ng cã quyÕt ®Þnh xö lý mét c¸ch hîp lý ®èi víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu thõa , thiÕ hay h− háng hoÆc hÕt h¹n sö dông .

    2.2.2.5. CÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu:

    ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu chÝnh x¸c, kÞp thêi sÏ ®¶m b¶o cho s¶n xuÊt cña xÝ nghiÖp tiÕn hμnh nhÞp nhμng, gãp phÇn n©ng cao n¨ng suÊt lao ®éng, gi¶m gi¸ thμnh s¶n phÈm, tiÕt kiÖm ®−îc nguyªn vËt liÖu vμ n©ng cao ®−îc søc c¹nh tranh cña s¶n phÈm. NhËn thøc ®−îc tÇm quan träng ®ã, xÝ nghiÖp lu«n ®¶m b¶o cÊp ph¸t c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu cho c¸c ph©n x−ëng ®−îc ®ång bé, ®ñ sè l−îng, ®óng quy c¸ch, phÈm chÊt vμ kÞp vÒ thêi gian ViÖc tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp ®−îc tiÕn hμnh theo møc, ngo¹i trõ mét sè dông cô kh¸c lμ cÊp ph¸t theo h×nh thøc: B¸n vËt t− Mua thμnh phÈm . Hμng th¸ng, phßng KÕ ho¹ch kü thuËt vμ phßng kinh doanh tiÕn hμnh ®èi chiÕu gi÷a l−îng vËt t− nhËn vÒ vμ l−îng s¶n phÈm giao

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             39

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    nép. C¨n cø vμo hÖ thèng ®Þnh møc ®· cã, hai bªn cã thÓ tÝnh to¸n vμ biÕt ®−îc t×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong th¸ng ®Ó tõ ®ã cã kÕ ho¹ch s¶n xuÊt trong th¸ng.

    C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt vμ hÖ thèng ®Þnh møc tiªu dïng do phßng kü thuËt thùc hiÖn, c¸n bé ®Þnh møc cña xÝ nghiÖp lËp tøc göi ®Þnh møc vμ s¶n l−îng kÕ ho¹ch xuèng c¸c ph©n x−ëng, theo ®ã c¸c ph©n x−ëng cö c¸n bé xuèng kho lÜnh vËt t−. Hμng ngμy, tuú theo yªu cÇu cña s¶n xuÊt vμ yªu cÇu dù tr÷ mμ c¸n bé c¸c ph©n x−ëng trùc tiÕp lªn phßng kinh doanh viÕt ho¸ ®¬n, dïng ho¸ ®¬n xuèng kho ®Ó lÜnh vËt t−. Thñ kho cã tr¸ch nhiÖm cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu theo ®óng sè l−îng, chñng lo¹i, chÊt l−îng ®· ghi theo ho¸ ®¬n xuÊt kho.

     

    VÝ dô:  
    §¬n vÞ: PhiÕu xuÊt kho
    §Þa chØ: Ngμy 8 th¸ng 2 n¨m 2002

    Sè 49A MÉu sè C123 H

    Q§ sè 999 TC/Q§KT Ngμy 1/11/1995 cña bé TC

     

    Hä tªn ng−êi nhËn hμng: §oμn ThÞ Thuý – §Þa chØ: (bé phËn) XN nhùa

    Lý do xuÊt kho: S¶n xuÊt hμng th¸ng 2/2002

    XuÊt t¹i kho: C«ng ty

    Tªn nh·n hiÖu,   Sè l−îng §¬n  
    quy tr×nh vËt t− §VT Theo chøng   Thu nhËp Thμnh tiÒn
    tt (SP hμng ho¸)   gi¸  
             
    A B C   D 1 2 3 4
    1 Bét PVC  K66 Kg 750 750 10.800 8.100.000
    2 Bét PVC  S65 Kg 28.500 28.500 14.200 404.700.000
      Céng         412.500.000

    Sè tiÒn b»ng ch÷: Bèn tr¨m m−êi hai triÖu t¸m tr¨m ngμn ®ång ch½n

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             40

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Phô tr¸ch cung          Ng−êi giao hμng        Thñ kho           KÕ to¸n tr−ëng       Thñ tr−ëng ®¬n

    tiªu                                                                                                                                                                                    

    (Ký, hä tªn)                (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)          (Ký, hä tªn)               (Ký, hä tªn)

    2.2.2.6. T×nh h×nh dù tr÷ – cung øng              sö dông vËt t− cña c«ng ty:

    VËt t− cña c«ng ty do phßng vËt t− vμ nh©n viªn lμm viÖc t¹i kho chÞu tr¸ch nhiÖm qu¶n lý. HiÖn nay, hÖ thèng kho cña c«ng ty gåm hai kho:

    • Kho nguyªn vËt liÖu chÝnh

     

    • Kho nguyªn vËt liÖu phô, phô tïng vμ CCDC

    2.2.6.1. T×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, CCDC

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             41

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    B¶ng 1:

    ChØ tiªu Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    Danh ®iÓm møc   hiÖn
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 2924378304 3070597219 105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 195945591 2055742871 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 194024442 201785420 104%
           
    4. PhÕ liÖu 114673267 115820000 101%
           
    5. C«ng cô dông cô 181660243 182593448 102%
           
    Céng 3610681847 3779238958  
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh dù tr÷ nguyªn vËt liÖu, c«ng cô dông cô cña c«ng ty t−¬ng ®èi s¸t víi ®Þnh møc vËt t− kü thuËt do c«ng ty x©y dùng nªn. Do vËy ®¶m b¶o ®ñ nguyªn liÖu cho ®Çu kú s¶n xuÊt sau ®ång thêi tr¸nh t×nh tr¹ng bÞ ®äng vèn trong dù tr÷ qu¸ nhiÒu. Nguyªn vËt liÖu, CCDC dù tr÷ cuèi n¨m 2002 ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ ®Ó cung cÊp cho ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña c«ng ty vμo ®Çu n¨m 2003. C«ng ty kh«ng dù tr÷ nhiªn liÖu.

    Ngoμi ra c«ng ty ®· x¸c ®Þnh ®−îc møc dù tr÷ tõng lo¹i vËt liÖu trong kho. §èi víi vËt liÖu trong n−íc s¶n xuÊt, møc dù tr÷ ®ñ cung øng cho s¶n xuÊt 15 ngμy, 30 ngμy víi vËt liÖu nhËp kho.

    2.2.6.2. T×nh h×nh thùc hiÖn cung øng vËt t−:

    ViÖc tæ chøc cung øng vËt t− t¹i c«ng ty lu«n ®Çy ®ñ kÞp thêi theo ®óng tiÕn ®é s¶n xuÊt, ®¶m b¶o vÒ sè l−îng còng nh− chÊt l−îng. C¨n cø vμo kÕ ho¹ch s¶n xuÊt kinh doanh n¨m tiÕp theo, phßng vËt t− lËp kÕ ho¹ch thu mua.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             42

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Danh ®iÓm Dù tr÷ theo ®Þnh Dù tr÷ thùc tÕ Tû lÖ thùc
    møc   hiÖn
       
           
    1.Nguyªn vËt liÖu chÝnh 4685185957   105%
           
    2. Nguyªn vËt liÖu phô 3141850659 47326740546 105%
           
    3. Phô tïng thay thÕ 1773131356 1778450750 104%
           
    4. PhÕ liÖu 1267764301 1280441944 100,3%
           
    5. C«ng cô dông cô 1433124862 1440290436 101%
           
    Céng 54474030135 55123866917 100,5%
           

    Qua b¶ng trªn cho thÊy t×nh h×nh cung øng vËt t− cña c«ng ty n¨m 2003 ®−îc thùc hiÖn rÊt tèt.

    2.2.6.3.T×nh h×nh sö dông nguyªn vËt liÖu trong s¶n xuÊt s¶n phÈm cña c«ng ty:

    Phßng kÕ ho¹ch kü thuËt, phßng vËt t− ®· x©y dùng ®Þnh møc tiªu hao vËt t− cho ®óng lo¹i s¶n phÈm. Tõ ®ã lμm c¨n cø x¸c ®Þnh sè l−îng nguyªn vËt liÖu, CCDC xuÊt cho s¶n xuÊt

    T×nh h×nh thùc hiÖn kÕ ho¹c vÒ sö dông nguyªn vËt liÖu n¨m 2002

    ChØ tiªu KÕ ho¹ch Thùc hiÖn Tû lÖ % hoμn thμnh
           
    1. Chi phÝ vÒ NVL 54878936323 54269780130 98,089%
           
    2. Tæng chi phÝ 6693741344 66127547699 98,79%
           

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             43

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Tû lÖ hoμn thμnh   Tæng møc NVL sö dông thùc tÕ
    kÕ ho¹ch sö dông =
    NVL  
     
    (Cã liªn hÖ kÕt qu¶   Tæng møc NVL Sö dông KH x Error!
    SX)  
       

    ViÖc sö dông NVL, CCDC ë c«ng ty ®· hoμn thμnh tèt so víi kÕ ho¹ch. Chi phÝ vÒ NVL gi¶m t−¬ng øng víi tæng chi phÝ gi¶m nh−ng tæng gi¸ trÞ s¶n l−îng thùc tÕ t¨ng so víi kÕ hoach chøng tá hiÖu qña sö dông NVL ®−îc n©ng lªn

    2.2.2.7. C«ng t¸c thanh quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu:

    C«ng t¸c quyÕt to¸n NVL ®−îc xÝ nghiÖp thùc hiÖn mét c¸ch ®Òu ®Æn theo hμng quý. ViÖc quyÕt to¸n nguyªn vËt liÖu cã ý nghÜa quan träng trong viÖc qu¶n lý sö dông vËt t− trong s¶n xuÊt

    C¬ së ®Ó tiÕn hμnh quyÕt to¸n vËt t− cho c¸c s¶n phÈm ®−îc xÝ nghiÖp dùa trªn:

    • Þnh møc chi phÝ vËt t−: nguyªn, nhiÖn liÖu do mét ®¬n vÞ s¶n phÈm mμ xÝ nghiÖp ®· ban hμnh trong kú tr−íc.

     

    • C¨n cø vμo t×nh h×nh s¶n xuÊt thùc tÕ cña xÝ nghiÖp, bao gåm t×nh tr¹ng m¸y mãc thiÕt bÞ, vËt t− ®−a vμo s¶n xuÊt.

     

    2.3. §¸nh gi¸ chung vÒ t×nh h×nh qu¶n lý vμo sö dông nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty vËt liÖu x©y dùng

    2.3.1. Nh÷ng thμnh tÝch ®¹t ®−îc trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i c«ng ty:

    Qua thêi gian thùc tËp ë c«ng ty em nhËn thÊy c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu nh×n chung tiÕn hμnh nÒn nÕp, chÊp hμnh ®óng c¸c quy ®Þnh. C¸c phßng ban xÝ nghiÖp còng phèi hîp chÆt chÏ víi phßng kÕ to¸n, ®¶m b¶o viÖc h¹ch

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             44

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    to¸n, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu diÔn ra ®Òu ®Æn, nhÞp nhμng phï hîp víi ®iÒu kiÖn cña c«ng ty, ®¸p øng ®−îc yªu cÇu cña c«ng t¸c qu¶n lý.

    C«ng ty ®· x©y dùng ®−îc hÖ thèng ®Þnh møc vËt t− cho tõng lo¹i s¶n phÈm t−¬ng ®èi chÝnh x¸c. §©y lμ −u ®iÓm rÊt lín cña c«ng ty trong c«ng t¸c qu¶n lý vμ h¹ch to¸n nguyªn vËt liÖu. Qua ®ã, c«ng ty cã thÓ tÝnh to¸n ®−îc møc thu mua, dù tr÷ sö dông vËt liÖu, gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ nguyªn vËt liÖu, CCDC.

    Do ®Æc ®iÓm cña nguyªn vËt liÖu s¶n xuÊt s¶n phÈm nhùa lμ dÔ biÕn chÊt, dÔ ch¸y nªn c«ng ty ®· x©y dùng kho vËt t− ®¶m b¶o ®Çy ®ñ tiªu chuÈn quy ®Þnh vÒ b¶o qu¶n vËt liÖu. HÖ thèng kho ®−îc bè trÝ phï hîp víi ®Þa bμn s¶n xuÊt. C«ng ty ®· cã sù ph©n c«ng qu¶n lý râ rμng, ®éi ngò c¸n bé c«ng nh©n viªn cã tinh thÇn tr¸ch nhiÖm cao. Do vËy viÖn b¶o qu¶n dù tr÷ nguyªn vËt liÖu ®−îc tiÕn hμnh kh¸ tèt.

    VÒ tr×nh tù lu©n chuyÓn chøng tõ ®−îc thùc hiÖn chÆt chÏ; chøng tõ lu©n chuyÓn theo ®óng chu tr×nh.

    Trong c«ng t¸c qu¶n lý kho, do s¾p xÕp mét c¸ch cã hÖ thèng vμ hîp lý nªn gi¶m bít ®−îc diÖn tÝch kho, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cho viÖc nhËp xuÊt nguyªn vËt liÖu, ®¶m ®¶m b¶o dÔ t×m, dÔ thÊy, dÔ lÊy, s½n sμng cÊp ph¸t kÞp thêi theo nhu cÇu s¶n xuÊt. ViÖc thùc hiÖn kiÓm kª th−êng xuyªn vμ xö lý thõa thiÕu nguyªn vËt liÖu kÞp thêi gãp phÇn qu¶n lý chÆt chÏ, h¹n chÕ l−îng nguyªn vËt liÖu h− háng, mÊt m¸t.

    XÝ nghiÖp sö dông ph−¬ng thøc giao vËt t− t¹i n¬i lμm viÖc, ®©y lμ ph−¬ng thøc tiÕn bé, t¹o ®iÒu kiÖn cho ng−êi l·nh ®¹o tËp trung søc lùc vμ thêi gian vμo viÖc ch¨m lo s¶n xuÊt, t¹o ®iÒu kiÖn cho tæ chøc nhËp, xuÊt kho mét c¸ch khoa häc, lμm cho phßng kinh doanh vμ phßng kÕ ho¹ch kü thuËt ®iÒu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             45

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    khiÓn s¶n xuÊt ®i s¸t s¶n xuÊt h¬n, hiÓu râ nhu cÇu cña c¸c ph©n x−ëng ®Ó tõ ®ã tæ chøc cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu ®−îc tèt h¬n.

    2.3.2.Mét sè thiÕu sãt, tån t¹i cÇn kh¾c phôc:

    Ngoμi nh÷ng −u ®iÓm trªn, c«ng ty vÉn cßn mét sè thiÕu sãt tån t¹i cÇn kh¾c phôc ®Ò hoμn thiÖn c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. – VÒ c«ng t¸c nhËp kho nguyªn vËt liÖu

    viÖc kiÓm tra sè l−îng, quy c¸ch, phÈm chÊt cña vËt t− kh«ng ®−îc ghi vμo

    v¨n b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− do ®ã sÏ khã trong viÖc quy hÕt tr¸ch nhiÖm

    trong viÖc b¶o qu¶n vμ thanh to¸n.

    – VÒ hÖ thèng sæ kÕ to¸n:

    hÖ thèng sæ kÕ to¸n t−¬ng ®èi ®Çy ®ñ theo quy ®inh. Tuy nhiªn, nh×n chung c«ng ty ch−a më sæ: Sæ ®¨ng ký chøng tõ, ghi sæ c¸c nghiÖp vô kinh tÕ ph¸t sinh theo thêi gian (NhËt ký). Do ®ã viÖc qu¶n lý l−îng chøng tõ ghi sæ vÉn ch−a chÆt chÏ. Khi nhËp l¹i nguyªn vËt liÖu xuÊt thõa kh«ng dïng hÕt ph¶i lËp riªng mét chøng tõ ghi sæ.

    • VÒ ý thøc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu: C«ng nh©n vÉn ch−a cã ý thøc tiÕt kiÖm triÖt ®Ó nguyªn vËt liÖu, do ®ã vÉn cßn g©y l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             46

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Ch−¬ng 3

    Mét sè ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p nh»m t¨ng c−êng

    c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i

    C«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn

    • Ó n©ng cao hiÖu qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn ph¸t huy nh÷ng −u ®iÓm s½n cã cña m×nh ®ång thêi kh¾c phôc nh÷ng ®iÓm cßn tån t¹i trong c«ng t¸c b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu. §Ó nh»m t¨ng c−êng, hoμn thiÖn c«ng t¸c b¶o ®¶m, qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ë xÝ nghiÖp s¶n xuÊt vμ cung øng vËt t−, t«i xin ®−a ra mét sè ý kiÕn ®Ò xuÊt vÒ ph−¬ng h−íng vμ gi¶i ph¸p sau:

    3.1. KiÕn nghÞ 1: hoμn thiÖn c«ng t¸c lËp sæ danh ®iÓm vËt t−

    Víi sù ®a d¹ng, phong phó cña nguyªn vËt liÖu vÒ chñng lo¹i. ViÖc ch−a lËp sæ g©y khã kh¨n trong c«ng viÖc sö dông nguyªn vËt liÖu vμ trong c«ng t¸c kiÓm kª cuèi th¸ng. §Ó kh¾c phôc mÆt h¹n chÕ nμy, xÝ nghiÖp nªn lËp sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu ®Ó gióp cho viÖc qu¶n lý vËt t− ®−îc thuËn lîi.

    Mçi nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ®−îc ghi trªn mét trang sæ, trong ®ã nhãm nguyªn vËt liÖu sÏ ghi ®Çy ®ñ c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu nhãm ®ã. vÝ dô: nguyªn vËt liÖu chÝnh ®ång = 1521.01

    sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu nμy ®−îc x¸c ®Þnh trªn c¬ së sè liÖu cña lo¹i nguyªn vËt liÖu, nhãm nguyªn vËt liÖu, chñng lo¹i nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp. Sæ nμy sÏ ®−îc chia thμnh tõng phÇn mçi phÇn dμnh riªng mét sè trang nhÊt ®Þnh ®Ó ghi sè d− vËt liÖu cña xÝ nghiÖp hiÖn cã, mçi nhãm nguyªn vËt liÖu ®uîc m· ho¸ theo sè hiÖu riªng.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             47

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    C¸ch x¸c ®Þnh sæ danh ®iÓm nguyªn vËt liÖu vÒ phæ biÕn lμ kÕt hîp gi÷a sè liÖu tμi kho¶n vμ viÖc ph©n chia vËt t− cho mçi lo¹i ®−îc ®¸nh sè liªn tôc theo quy −íc cña lo¹i ®ã. Gi÷a c¸c lo¹i ®Ó trèng phßng khi cã c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu míi ghi bæ sung. Víi nguyªn t¾c nμy sÏ gióp cho kÕ to¸n nhËn biÕt ®−îc nguyªn vËt liÖu mét c¸ch nhanh chãng th«ng qua sæ danh ®iÓm vËt t−.

    Sæ danh ®iÓm ®−îc sö dông thèng nhÊt trong ph¹m vi toμn xÝ nghiÖp ®¶m b¶o cho c¸c bé phËn trong xÝ nghiÖp phèi hîp chÆt chÏ trong c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu ®−îc dÔ dμng, thuËn tiÖn.

    3.2. KiÕn nghÞ 2: LËp biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t−

    KÕt qu¶ cña viÖc kiÓm nghiÖm vËt t− ph¶i ®−îc ghi vμo Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− ®Ó lμm c¨n cø quy tr¸ch nhiÖm trong thanh to¸n vμ b¶o qu¶n. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− th−êng ®−îc ¸p dông cho c¸c lo¹i vËt t− kiÓm nghiÖm trong nh÷ng tr−êng hîp sau:

    • NhËp kho víi sè l−îng lín
    • c¸c lo¹i vËt t− cã tÝnh chÊt lý ho¸ phøc t¹p
    • C¸c lo¹i vËt t− quý hiÕm

    Ban kiÓm nghiÖm ph¶i ghi râ sè l−îng, chÊt l−îng cña tõng thø, lo¹i vËt liÖu vμo. Biªn b¶n kiÓm nghiÖm vËt t− , ghi râ ý kiÕn vÒ sè l−îng, chÊt l−îng, nguyªn nh©n ®èi víi vËt t− kh«ng ®óng vÒ sè l−îng, quy c¸ch phÈm chÊt vμ ®−a ra c¸ch xö lý.

    3.3. KiÕn nghÞ 3: VÒ c«ng t¸c qu¶n lý kho

    C«ng t¸c s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu ch−a gän gμng, kh«ng cã lèi tho¸t ngang do ®ã thñ kho ph¶i s¾p xÕp nguyªn vËt liÖu mét c¸ch hîp lý, khoa häc, ®¶m b¶o an toμn ng¨n n¾p, thuËn tiÖn cho viÖc xuÊt – nhËp – kiÓm kª. xÝ nghiÖp nªn mua nhiÒu gi¸ ®Ó ®ùng hμng, tr¸nh ®Ó hμng ho¸ xuèng ®Êt v× do ®Æc ®iÓm cña mét sè nguyªn vËt liÖu nh− nhùa b¹t PVC, ®ång, s¾t thÐp dÔ

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             48

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Èm −ít, hao mßn do ®ã sÏ ¶nh h−ëng ®Õn qu¸ trinh s¶n xuÊt. Thùc tÕ hiÖn nay, nhμ kho ®ang bÞ xuèng cÊp trÇn nhμ phÝa ngoμi bÞ hë, t−êng bong v«i do ®ã xÝ nghiÖp cÇn ph¶i söa sang l¹i ®Ó tr¸nh hao hôt, h− háng nguyªn vËt liÖu.

    Cã thÓ nãi viÖc sö dông chung nguyªn vËt liÖu nhËp vÒ, nguyªn vËt liÖu dù tr÷ cïng mét kho ®· g©y kh«ng Ýt khã kh¨n cho xÝ nghiÖp. Bëi vËy, xÝ nghiÖp nªn cã kho dù tr÷ ®Ó tr¸nh lÉn lén víi nh÷ng nguyªn vËt liÖu kh¸c, t¹o ®iÒu kiÖn thuËn lîi cÊp ph¸t nguyªn vËt liÖu khi cÇn thiÕt. ViÖc dù tr÷ hμng ho¸ gióp cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh mét c¸ch liªn tôc.

    Dù tr÷ kh«ng cã nghÜa lμ dÉn ®Õn t×nh tr¹ng ø ®äng nguyªn vËt liÖu, ø ®äng vèn. §Ó ®¶m b¶o ®ñ nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt vμ tr¸nh t×nh tr¹ng d÷ tr÷ qu¸ nhiÒu, xÝ nghiÖp cÇn ph¶i tiÕn hμnh ®Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt. §Þnh møc dù tr÷ s¶n xuÊt lμ sù quy ®Þnh ®¹i l−îng vËt t− cÇn thiÕt ph¶i cã theo kÕ ho¹ch ë xÝ nghiÖp ®Ó ®¶m b¶o cho qu¸ tr×nh s¶n xuÊt ®−îc tiÕn hμnh liªn tôc vμ ®Òu ®Æn. ViÖc quy ®Þnh ®óng ®¾n møc dù tr÷ cã ý nghÜa rÊt lín, nã cho phÐp gi¶m c¸c chi phÝ vÒ b¶o qu¶n hμng ho¸, gi¶m hao hôt mÊt m¸t.

    3.4. KiÕn nghÞ 4: T¨ng c−êng sö dông hîp lý – tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu. Sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ®· trë thμnh mét nguyªn

    t¾c, ®¹o ®øc, mét chÝnh s¸ch kinh tÕ cña xÝ nghiÖp. Song viÖc sö dông hîp lý

    • tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cña xÝ nghiÖp ch−a ®−îc thùc hiÖn mét c¸ch triÖt ®Ó, s©u s¸t. TiÕt kiÖm ph¶i ®−îc thùc hμnh ë mäi kh©u trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt vμ biÖn ph¸p quan träng nhÊt ®Ó thùc hμnh tiÕt kiÖm lμ biÖn ph¸p c«ng nghÖ tiªn tiÕn.

    Tr−íc hÕt, xÝ nghiÖp ph¶i kh«ng ngõng gi¶m bít phÕ liÖu, phÕ phÈm, h¹ thÊp ®Þnh møc tiªu dïng nguyªn vËt liÖu. Gi¶m møc tiªu hao vËt t− cho mét ®¬n vÞ s¶n phÈm lμ yÕu tè quan träng ®Ó tiÕt kiÖm vËt t− trong qu¸ tr×nh

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             49

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    s¶n xuÊt. Song muèn khai th¸c triÖt ®Ó yÕu tè nμy ph¶i ph©n tÝch cho ®−îc c¸c nguyªn nh©n lμm t¨ng, gi¶m møc tiªu hao vËt t−, tõ ®ã ®Ò ra c¸c biÖn ph¸p cô thÓ nh»m tiÕt kiÖm ®−îc nhiÒu vËt t− trong s¶n xuÊt.

    XÝ nghiÖp ®· x©y dùng c¸c ®Þnh møc tiªu hao vËt liÖu song khi ®i vμo s¶n xuÊt ch−a kiÓm tra chÆt chÏ c«ng nh©n cã thùc hiÖn ®óng víi møc ®Ò ra ch−a, bëi vËy cßn g©y ra l·ng phÝ nguyªn vËt liÖu. Do ®ã, trong thêi gian tíi, c¸c qu¶n ®èc ph©n x−ëng cÇn theo dâi chÆt chÏ h¬n t×nh h×nh thùc hiÖn møc trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt cña c¸c c«ng nh©n. Ng−êi c«ng nh©n lμ ng−êi trùc tiÕp sö dông c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu trong qu¸ tr×nh s¶n xuÊt, hä biÕt râ gi¸ trÞ cña c¸c lo¹i nguyªn vËt liÖu vμ c«ng dông cña chóng. V× vËy, cÇn ¸p dông h¬n n÷a c¸c biÖn ph¸p sau:

    • T¨ng c−êng gi¸o dôc vÒ ý thøc tiÕt kiÖm, lîi Ých tiÕt kiÖm ®èi víi tõng ng−êi. Hμng th¸ng xÝ nghiÖp nªn tæ chøc c¸c buæi nãi chuyÖn, th¶o luËn, ®Ò cao tÇm quan träng cña viÖc tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu cho c«ng nh©n ®Ó hä hiÓu râ h¬n tõ ®ã hä lμm viÖc cã ý thøc h¬n.
    • Bªn c¹nh ®ã, xÝ nghiÖp nªn cã biÖn ph¸p khuyÕn khÝch vÒ vËt chÊt vμ tinh thÇn thÝch ®¸ng, kÞp thêi ®èi víi viÖc tiÕt kiÖm. Khi tæ s¶n xuÊt hay c¸ nh©n nμo ®ã ph¸t huy ý thøc tiÕt kiÖm trong s¶n xuÊt th× qu¶n ®èc ph©n x−ëng, gi¸m ®èc cã thÓ th−ëng cho hä tiÒn, biÓu d−¬ng tr−íc xÝ nghiÖp .
    • N©ng cao tr×nh ®é tay nghÒ cho mäi c«ng nh©n b»ng c¸ch häc hái tõ nh÷ng thî bËc cao hay tæ chøc thi tay nghÒ cho hä. Thùc tÕ hiÖn nay ë xÝ nghiÖp cã mét sè m¸y mãc ®· ë t×nh tr¹ng l¹c hËu, cò kü do ®ã xÝ

    nghiÖp nªn ®Çu t− mua thªm m¸y míi ®Ó s¶n xuÊt ®−îc tèt h¬n.

    3.5. KiÕn nghÞ 5: Sö dông hiÖu qu¶ nguån vèn ®Ó ®¸p øng kÕ ho¹ch mua s¾m nguyªn vËt liÖu

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             50

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕ ho¹ch mua s¾m vËt t− lμ mét bé phËn quan träng cña kÕ ho¹ch s¶n xuÊt – kü thuËt – tμi chÝnh cña doanh nghiÖp. Vèn cã t¸c ®éng rÊt lín ®èi víi viÖc mua s¾m nguyªn vËt liÖu. Thùc tÕ hiÖn nay, c«ng t¸c tμi chÝnh cña xÝ nghiÖp ch−a lμm tèt xÝ nghiÖp lu«n trong t×nh tr¹ng thiÕu vèn. C¸c kho¶n nî ph¶i thu vμ nî ph¶i tr¶ cßn nhiÒu lμm ¶nh h−ëng ®Õn kh¶ n¨ng thanh to¸n. ViÖc thiÕu vèn ¶nh h−ëng ®Õn c«ng t¸c mua s¾m nguyªn vËt liÖu, ®Õn kÕt qu¶ kinh doanh. NhiÒu khi xÝ nghiÖp vÉn mua chÞu nguyªn vËt liÖu cña b¹n hμng, ®iÒu nμy cã thÓ ¶nh h−ëng ®Õn uy tÝnh cña xÝ nghiÖp, ®Õn kh¶ n¨ng cung øng nguyªn vËt liÖu.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             51

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    VÝ dô:

    ChØ tiªu N¨m 2001 N¨m 2002 So s¸nh 2001/2002
           
    Tû  lÖ  ph¶i  tr¶/Tæng  tμi 94 85 (-9)
    s¶n(%)      
           
    Kh¶ n¨ng thanh to¸n      
           
    – TSL§/Nî NH(%) 93 84 (-9)
           
    – TiÒn hiÖn cã/ Nî NH 0.4 1 0.6
           
    • Ó n©ng cao chÊt l−îng hiÖu qu¶ c«ng t¸c qu¶n trÞ vèn, trong thêi gian tíi, xÝ nghiÖp cÇn:
    • T¨ng c−êng h¬n n÷a c«ng t¸c thu håi c«ng nî vμ coi ®©y lμ biÖn ph¸p chÝnh ®Ó ®¶m b¶o vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh.
    • a d¹ng ho¸ c¸c biÖn ph¸p thu håi c«ng nî nh− thu håi qua c«ng ty hay thu trùc tiÕp.
    • ¦u tiªn vèn cho s¶n xuÊt kinh doanh mét c¸ch hîp lý kh«ng ®Ó vËt t− hμng ho¸ ø ®äng hoÆc chËm lu©n chuyÓn.
    • Thùc hμnh tiÕt kiÖm vμ chi tiªu hîp lý

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             52

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    KÕt luËn

    Qua thêi gian thùc tËp t¹i xÝ nghiÖp Bª t«ng c«ng ty vËt liÖu x©y dùng b−u ®iÖn, t«i thÊy ®−îc t×nh h×nh b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu cho s¶n xuÊt lμ mét yªu cÇu kh¸ch quan, cã t¸c ®éng rÊt lín tíi kÕt qu¶n ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cña xÝ nghiÖp. ViÖc sö dông hîp lý vμ tiÕt kiÖm nguyªn vËt liÖu ¶nh h−ëng trùc tiÕp ®Õn hiÖu qu¶ sö dông vèn kinh doanh cña xÝ nghiÖp. Nguyªn vËt liÖu ®−îc ®¶m b¶o ®Çy ®ñ, ®óng chÊt l−îng, ®ång bé lμ ®iÒu kiÖn quyÕt ®Þnh kh¼ng n¨ng t¸i s¶n xuÊt më réng. C«ng ty ®· tæ chøc c«ng t¸c qu¶n lý nguyªn vËt liÖu kh¸ tèt sö dông nguyªn vËt liÖu hîp lý – tiÕt kiÖm – hiÖu qu¶. Víi sù nç lùc kh«ng ngõng cña ban l·nh ®¹o xÝ nghiÖp vμ tËp thÓ c¸n bé c«ng nh©n viªn trong toμn xÝ nghiÖp, viÖc b¶o ®¶m qu¶n lý nguyªn vËt liÖu t¹i xÝ nghiÖp ngμy cμng ®−îc t¨ng c−êng vμ hoμn thiÖn, gãp phÇn n©ng cao kÕt qu¶ s¶n xuÊt kinh doanh, c¶i thiÖn ®êi sèng cho CBCNV, thùc hiÖn ®Çy ®ñ nghÜa vô cña m×nh víi nhμ n−íc. Song, bªn c¹nh nh÷ng thμnh tÝch ®· ®¹t ®−îc, xÝ nghiÖp vÉn cßn tån t¹i mét sè h¹n chÕ nh− ®· tr×nh bμy trong bμi kho¸ luËn nμy. Em xin m¹nh d¹n ®−a ra mét sè ý kiÕn nh− trªn nh»m gãp phÇn kh¾c phôc nh÷ng thiÕu sãt, tån t¹i cña xÝ nghiÖp. Tuy nhiªn, do thêi gian t×m hiÓu thùc tÕ vμ tr×nh ®é cßn cã h¹n nªn kh«ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt, em mong r»ng sÏ nhËn ®−îc c¸c ý kiÕn ®ãng gãp cña c¸c c« chó trong xÝ nghiÖp vμ ®−îc sù h−íng dÉn cña thÇy NguyÔn H÷u ChÝ ®Ó bμi b¸o c¸o ®−îc hoμn thiÖn h¬n .

    Cuèi cïng em xin ch©n thμnh c¶m ¬n sù h−íng dÉn nhiÖt t×nh cña thÇy gi¸o vμ c¸c c« chó trong c«ng ty.

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             53

     

    Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp

    Hμ Néi, th¸ng 5 n¨m 2004

    Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Kim Th−

    SV: Ph¹m ThÞ Kim Th− – Q8T2                                                                                                             54


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BA%A9y-m%E1%BA%A1nh-ti%C3%AAu-th%E1%BB%A5-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-TNHH-%C3%9AC-%C4%90%E1%BA%A0I-L%E1%BB%A2I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết. Đối với một doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ thì việc duy trì hoạt động và kinh doanh có lãi là vô cùng khó khăn.

    Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả là do không tìm được đầu ra hay còn hạn chế trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Yếu kém trong việc tiêu thụ sản phẩm không những ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn làm gián đoạn quá trình lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng tới việc sản xuất hàng hoá, kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước.

    Trong bối cạnh tranh gay gắt đó, công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  cũng gặp rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển. Tuy hàng năm doanh thu của công ty vẫn tăng với tỷ lệ khá nhưng vẫn còn một số hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm. Đây là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh và là khâu giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, giúp công ty có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.

    Vậy làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản trị công ty cũng như sinh viên khoa Quản trị kinh doanh. Do đó trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI em đã chọn đề tài:

    Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI“  làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp.

    Em hy vọng với đề tài này sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty và giải đáp thắc mắc bấy lâu của mình.

    Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm có 3 chương:

    Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Chương II: Khảo sát và phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Chương III: Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    CHƯƠNG  I

            NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ

    SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG  NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    I.  VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP.

    1/ Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm.

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

    * Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh  và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.

    Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp. Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó. Doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầu thị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp phá sản.

    * Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng đồng thời thu tiền về.

         Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội.

    Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    2.  Vai trò của tiêu thụ sản phẩm.

    2.1. Đối với doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhờ tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra thường xuyên liên tục, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp bù đắp dược những chi phí, có lợi nhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng.

    Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Bởi khi khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình quân của một đơn vị sản phẩm giảm từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanh nghiệp càng cao.

    Thông qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu của xã hội trong thời gian tới.

    2.2. Đối với xã hội.

    Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất với những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi trảy tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.

    3. Thị trường và chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hóa.

    3.1. Khái niệm về thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường qua cách hiểu cổ điển là nơi diễn ra các quá trình trao đổi buôn bán.

    Theo Marketing thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.

    Theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số người có cùng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập lượng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.

    Theo khái niệm mà các nhà kinh doanh thường dùng thì thị trường chứa tổng cung, tổng cầu về một loại hàng hóa hay một nhóm hàng hóa nào đó. Trên thị trường luôn luôn diễn ra các hoạt động mua bán và các quan hệ hàng hóa, tiền tệ.

    Tái sản xuất hàng hóa bao gồm các khâu sản xuất phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa, thị trường chỉ mất đi khi hàng hóa không còn. Thị trường là một phạm trù riêng của sản xuất  hàng hóa, hoạt động cơ bản của thị trường được biểu hiện qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ mật thiết đó là nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, cung ứng hàng hóa và dịch vụ và giá cả hàng hóa. Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua người bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc quyết định có nên mua hay không do cung cầu quyết định. Từ đó ta thấy rằng thị trường là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữ hai khâu: sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    3.2. Các chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường được coi là phạm trù trung tâm vì qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả. Thị trường tồn tại khách quan, mỗi doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thi trường và xã hội cũng như thế mạnh của mình trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa để có chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường và xã hội. Thị trường có vai trò to lớn như vậy vì do nó có những chức năng chủ yếu sau.

    3.2.1. Chức năng thừa nhận.

    Chức năng này thể hiện hàng hóa của doanh nghiệp có bán được không, nếu bán được có nghĩa là thị trường chấp nhận, có nghĩa là người mua chấp nhận và quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện. Thị trường thừa nhận giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa, sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói nên sự thừa nhận của thị trường.

    3.2.2. Chức năng thực hiện.

    Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua và bán hàng hóa. Người bán cần bán giá trị của hàng hóa còn người mua cần lại cần giá trị sử dụng của hàng hóa. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hóa hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

    3.2.3. Chức năng điều tiết và kích thích.

    Chức năng này được thể hiện ở chỗ nó cho phép người sản xuất bằng nghệ thuật kinh doanh của mình tìm được nơi tiêu thụ hàng hóa với hiệu quả hay lợi nhuận cao và cho phép người tiêu dùng mua được những hàng hóa có lợi cho mình.

    3.2.4. Chức năng thông tin.

    Chức năng này chỉ cho người sản xuất biết nên sản xuất hàng hóa nào, khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường ở thời điểm nào là thích hợp nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những hàng hóa nào ở thời điểm nào có lợi cho mình. Chức năng này có được do trên thị trường chứa đựng thông tin về: Tổng số cung, tổng số cầu đối với từng loại hàng hóa, chất lượng sản phẩm hàng hóa, các điều kiện tìm kiếm hàng hóa.

    II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP.

    Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập và phải tự mình giải quyết ba vấn đề trung tâm cơ bản của tổ chức kinh tế. Lợi nhuận là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp. Muốn có lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa, sản phẩm của doanh tnghiệp phải phù hợp với nhu cầu của thị trường. Vì vậy để tồn tại và phát triển lâu dài thì mỗi doanh nghiệp cần xác định được chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    Chiến lược tiêu thụ là định hướng hoạt động có mục đích của doanh nghiệp và hệ thống các giảI pháp, biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong tiêu thụ. Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ thường bao gồm: mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.

    Chiến lược tiêu thụ của một doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng từ đó chủ động đối phó với mọi biến động của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường mới, kế hoạch hóa về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giữ vai trò quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh và bao gồm các bước sau:

    1. Nghiên cứu thị trường.

    Để thành công trên thương trường, đòi hỏi bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện công tác nghiên cứu thăm dó và xâm nhập thị trường của doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu mà doanh nghiệp cần thoả mãn cũng như khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tìm kiếm các giải pháp nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường, đây là công việc hết sức cần thiết khi sản xuất kinh doanh một hàng hóa nào đó.

    Trước hết nghiên cứu thị trường là việc xác định nhu cầu thị trường, xác định những sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp cần sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp xác định chính xác nhu cầu thị trường thì sẽ có những quyết định sản xuất kinh doanh hợp lí mang lại hiệu quả kinh tế cao, vì khi đó sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận. Ngược lại, khi sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hóa không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, thì không thể tiêu thụ được doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và có thể thất bại nặng nề. Điều này cũng có nghĩa là ‘‘Chúng ta phải bán những thứ mà thị trường cần, chứ không phải bán những thứ mà chúng ta có’’.

    Nội dung của nghiên cứu thị trường bao gồm:

    –    Nghiên cứu các nhân tố môi trường để phân tích được các ràng buộc ngoài tầm kiểm soát của công ty cũng như những thời cơ có thể phát sinh.

    –    Thu thập thông tin khái quát về qui mô thị trường chủ yếu qua các tài liệu thống kê về tiêu thụ và bán hàng giữa các không gian thị trường.

    –    Nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân cư và sức mua, vị trí và sức hút, cơ cấu thị trường người bán hiện hữu của thị trường.

    –    Nghiên cứu động thái và xu thế vận động của thị trường ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh.

    Từ những kết quả phân tích các nội dung trên, doanh nghiệp có đánh giá tiềm năng thị trường tổng thể, đo lường thị phần và tập khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải chú ý tới việc nghiên cứu khách hàng tiềm năng. Nghiên cứu tập tính và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn của khách hàng và nghiên cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng.

    2. Chiến lược sản phẩm hàng hóa.

    2.1. Khái niệm.

    Chiến lược sản phẩm là phương thức kinh doanh hiệu quả, dựa trên cơ sở bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.2. Vai trò của chiến lược sản phẩm.

    Chiến lược sản phẩm hàng hóa có vai trò quan trọng được coi là xương sống của chiến lược tiêu thụ. Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chiến lược sản phẩm hàng hóa càng trở nên quan trọng. Chiến lược sản phẩm không những chỉ bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm.

      2.3. Nội dung của chiến lược tiêu thụ sản phẩm .

    + Chiến lược thiết lập chủng loại giữ vị trí vốn có của sản phẩm trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp đạt được. Chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức được các sản phẩm hiện có tương ứng với khúc thị trường nào và sản phẩm có phù hợp với sự đòi hỏi của khúc thị trường đó hay không. Nếu đáp ứng được thiết lập chủng loại đó, giữ vị trí vốn có của sản phẩm đó trên khúc thị trường hiên có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến sản phẩm.

    + Chiến lược hoàn thiện sản phẩm, cải tiến các thông số của chất lượng sản phẩm theo định kỳ, chiến lược này được thực hiện theo các phương án sau.

    • Cải tiến về chất lượng nhằm làm tăng độ tin cậy, độ bền và các tính năng khác của sản phẩm.
    • Cải tiến kiểu dáng sản phẩm bằng cách thay đổi mầu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu của sản phẩm.
    • Cải tiến các tính năng của sản phẩm, bổ sung thêm tính năng sử dụng của sản phẩm.

    + Chiến lược phát triển sản phẩm mới: phát triển sản phẩm mới ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Yêu cầu phải nghiên cứu sản phẩm mới xuất phát từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và cạnh tranh trên thị trường có xu hướng ngả sang cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm hiện có thì mới giành được lợi thế trong cạnh tranh. Mặt khác, mỗi loại sản phẩm có chu kì sống nhất định, khi sản phẩm cũ đã bước sang giai đoạn suy thoái thì doanh nghiệp phải có sản phẩm mới thay thế nhằm đản bảo tính liên tục của qua trình sản xuất kinh doanh.

    3. Chiến lược giá cả.

       3.1. Khái niệm.

    Chiến lược giá là đưa ra các loại giá cho một loại sản phẩm hàng hóa, tương ứng với thị trường, tương ứng với từng thời kỳ để bán được nhiều nhất và lãi cao nhất.

    Mức giá doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận nhưng lại phù hợp với người tiêu dùng và người tiêu dùng chấp nhận được. Mức giá đó sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm vì thế doanh nghiệp cần nhận thức một cách chính xác để có thay đổi hợp lí nhất. 

    3.2. Vai trò của chiến lược giá.

    Mặc dù trên thi trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá đã nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng và dịch vụ nhưng giá cả vẫn có vai trò quan trọng nhất định. Giá cả vẫn còn quan trọng trong việc xác định lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua. Nếu chiến lược sản phẩm định hướng cho việc sản xuất thì chiến lược giá cả định hướng cho việc tiêu thụ.

    Chiến lược giá có mối quan hệ mật thiết với chiến lược sản phẩm hàng hóa. Chiến lược sản phẩm dù rất quan trọng và đã được xây dựng một cách chu đáo sẽ không đem lại hiêụ quả cao nếu không có chiến lược giá hoặc chiến lược giá mang nhiều thiếu sót.

    Các doanh nghiệp mới thành lập hay thâm nhập thị trường mới thường áp dụng chiến lược giá cả để thu hút khách hàng về phía mình để chiếm lĩnh một phần thị trường. Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập dân cư còn thấp, yêu cầu vè chất lượng sản phẩm chưa cao thì cạnh tranh bằng chiến lược giá vẫn còn là vũ khí lợi hại. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vào việc cạnh tranh bằng giá vì nó có thể phản tác dụng gây tổn hại cho doanh nghiệp.

      3.3. Phân loại chiến lược giá.

    Doanh nghiệp có thể lựa chọn các chiến lược giá khác nhau để thực hiện mục tiêu của mình.

    • Chiến lược ổn định giá: là chiến duy trì bằng được mức giá hiện đang bán. chiến lược này áp dụng khi giá bán đã đáp ứng được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp.
    • Chiến lược tăng giá: là chiến lược đưa giá lên cao hơn các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi hàng hóa của doanh nghiệp đang được ưa chuộng về chất lượng kiểu dáng và các dịch vụ bán hàng của doanh nghiệp.
    • Chiến lược giảm giá: là chiến lược hạ thấp các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi xuất hiện dấu hiệu giảm cầu hay có sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh.

     

    3.4. Nội dung của chiến lược giá.

    3.4.1. Căn cứ vào mục tiêu của định giá có thể sử dụng hai chiến lược sau:

    Chiến lược giá hướng vào doanh nghiệp: có nghĩa là hướng vào mục tiêu nội tại của doanh nghiệp, vào chi phí và lợi nhuận.

    Chiến lược giá hướng ra thị trường : chiến lược này dựa trên 2 yếu tố quan trọng tiềm năng thị trường về nhu cầu, sự giãn nở nhu cầu cạnh tranh, về giá sản phẩm hàng hóa cạnh tranh, so sánh các chi phí dịch vụ của các doanh nghiệp, lấy giá thị trường làm chuẩn để định giá hướng ra thị trường.

    3.4.2.  Philip Kotler đã đưa ra các chiến lược hình thành giá như sau:

    Xác định giá cho hàng hóa mới bao gồm xác định giá cho sản phẩm mới thực sự thì có thể chọn hoặc là chiến lược “Hốt phần ngon” hoặc là chiến lược bám chắc thị trường.

    Chiến lược “hốt phần ngon’’: là chiến lược định giá cao do tạo ra sản phẩm mới được cấp bằng sáng chế.

    Chiến lược bám chắc thị trường: là chiến lược định giá thấp cho sản phẩm mới  nhằm thu nhiều người mua và giành được thị phần.

    Định giá theo nguyên tắc địa lý là chiến lược định giá khác nhau cho người tiêu dùng ở những vùng địa lý khác nhau.

    Xác định giá có chiết khấu bù trừ để thưởng cho người tiêu dùng vì những hành động nhất định như thanh toán sớm các hoá đơn, mua một khối lượng lớn hàng hóa hay mua trái mùa vụ.

    Xác định giá khuyến khích tiêu thụ trong những hoàn cảnh nhất định, các công ty, tạm thời định cho sản phẩm của mình những giá thấp hơn giá ghi trong bảng, và đoi khi thậm chí còn thấp hơn cả giá thành.

    4. Chiến lược phân phối.

     4.1. Khái niệm.

    Chiến lược phân phối sản phẩm dịch vụ là phương hướng thể hiện cách mà doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàngcủa mình trên thị trường lựa chọn.

      

    4.2. Vai trò của chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Mỗi chiến lược phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng.

    Chiến lược phân phối có liên hệ chặt chẽ với chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả, một mặt nó chịu ảnh hưởng của chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả. Nhưng mặt khác nó cũng tác động trở lại đối với việc xây dựng và triển khai các chiến lược trên.    

    4.3. Phân loại chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có thể  được phân thành nhiều loại khác nhau:

    * Căn cứ vào sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng

    Chiến lược phân phối trực tiếp: là chiến lược phân phối mà người sản xuất bán thắng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua bất cứ một khâu trung gian nào. Chiến lược này làm cho người sản xuất kinh doanh biết rõ nhu cầu của thị trường, tạo cơ hội thuận lợi cho người sản xuất nâng cao uy tín và ứng phó kịp thời sự thay đổi có thể có của thị trường, tuy nhiên nó làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa chậm lại.

      Chiến lược phân phối gián tiếp: là chiến lược được tiến hành thông qua một số khâu trung gian.

    * Căn cứ vào hình thức bán hàng:

     Chiến lược phân phối theo hình thức bán lẻ: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Chiến lược này do người sản xuất hoặc người đại lý bán lẻ thực hiện.

    Chiến lược phân phối theo hình thức bán buôn: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người mua để bán lại.

      4.4. Nội dung của chiến lược phân phối.

    Xác định mục tiêu của chiến lược phân phối: chiến lược phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng có bốn mục tiêu chính là; bảo đảm phân phối nhanh chóng; tiêu thụ được khối lượng lớn sản phẩm dịch vụ;đảm bảo chất lượng hàng hóa; chi phí thấp. Tùy thuộc vào mục tiêu tổng quát trong chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những nục tiêu chủ yếu là cơ sở xây dựng chiến lược phân phối.

           Lựa chọn căn cứ xây dựng chiến lược phân phối:

    Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa có thể chia thành ba nhóm: những hàng hóa khó bảo quản rễ hư hỏng đòi hỏi phải tiếp cận thị trường trực tiếp; những hàng hóa đơn chiếc; những hàng hóa có kỹ thuật đặc biệt cần phả bán trực tiếp; những hàng hóa muốn bán với khối lượng lớn phải qua các khâu trung gian.

    Căn cứ vào đặc điểm khách hàng: khách hàng đông hay lẻ tẻ, tập chung hay phân tán, mức độ ổn định trong tiêu dùng.

    Xác định kênh phân phối: nội dung quan trọng của chiến lược phân phối là phải chọn kênh phân phối phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng, nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu của chiến lược phân phối.

    5. Chiến lược giao tiếp khuếch trương.

    Chiến lược giao tiếp khuếch trương là chiến lược sử dụng kỹ thuật yểm trợ bán hàng nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động tiêu thụ. Trong nền kinh tế chỉ huy, người sản xuất không cần quan tâm xây dựng chiến lược giao tiếp khuếch trương, bởi lẽ họ là người giao nộp chứ không phải người bán. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người bán là lợi nhuận, do vậy phải thu hút khách hàng, thực hiện các hoạt động yểm trợ bán hàng. Vì vậy, vai trò của chiến lược giao tiếp khuếch trương trở nên cực kỳ quan trọng trong chiến lược tiêu thụ. Chiến lược giao tiếp khuếch trương là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối.

           Chiến lược giao tiếp khuếch trương bào gồm những chiến lược sau:

    Chiến lược quảng cáo: là chiến lược sử dụng các phượng tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm hàng hóa hoặc cho người trung gian, hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

    Chiến lược xúc tiến bán hàng : là chiến lược sử dụng những kỹ thuật đặc thù nhằm gây ra một sự gia tăng nhanh chóng  nhưng tạm thời trong doanh số bán bằng việc cung cấp một lợi ích ngoại lệ cho người mua. Xúc tiến bao gồm những kỹ thuật như; bán hàng có thưởng, khuyến mại, giảm giá tức thì, giảm giá nhân ngày lễ, khai trương…

    Chiến lược yểm trợ bán hàng: là chiến lược hoạt động của người bán hàng nhằm gắn bó chặt chẽ với người mua hoặc gắn những ngưoừi sản xuất kinh doanh với nhau thông qua việc sử dụng hoạt động của hiệp hội kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hội nghị khách hàng, hội chợ…

    III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP.

    1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.

      1.1. Giá cả hàng hóa.

    Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động tới hoạt động tiêu thụ – Giá cả hàng hóa có thể kích thích hay hạn chế cung cầu trên thị trường và do đó ảnh hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ  thu hút được khách hàng đảm bảo khả năng tiêu thụ thu được lợi nhuận cao nhất hay tránh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Tuỳ từng môi trường, từng đoạn thị trường mà các doanh nghiệp nên đặt giá cao hay thấp để có thể thu hút được nhiều khách hàng, và do đó sẽ bán được nhiều hàng hóa, tăng doanh số bán hàng cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa giá cả phải được điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn kinh doanh, từng thời kỳ phát triển hay chu kỳ kinh doanh để nhằm thu hút khách hàng và kích thích sự tiêu dùng của họ, làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Giá cả ảnh hưởng mạnh tới hoạt động tiêu thụ do vậy nó cũng được sử dụng như một vũ khí trong cạnh tranh nhất là trong đIều kiện thu nhập của người dân còn thấp. Tuy nhiên trong cạnh tranh nếu lạm dụng vũ khí gía cả nhiều trường hợp “ gậy ông sẽ đập lưng ông” không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà còn bị thiệt hại. Do đó phải hết sức thận trọng trong việc cạnh tranh bằng giá, việc định hướng, xây dựng kế hoạch đúng đắn về giá cả là một đIều kiện quan trọng cho việc tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp hiện nay.

    1.2. Chất lượng sản phẩm

    Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội.

    Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng “chiến thắng vững chắc”. Đây cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất. Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình. Khi khách hàng biết đến chất lượng sản phảm hàng hóa của doanh nghiệp và tin vào chất lượng thì họ sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được  thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

    Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    1.3. Cơ cấu mặt hàng.

    Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp bởi vì nhu cầu tiêu dùng trên thị rất đa dạng, phong phú, như vậy để đáp ứng nhu cầu hơn nữa và tăng tốc độ tiêu thụ của đoanh nghiệp cần có cơ cấu mặt hàng hợp lí, đủ chủng loại. Hơn nữa, một cơ cấu mặt hàng hợp lí sẽ dễ dàng đáp ứng sự thay đổi nhanh của nhu cầu thị trường và giảm rủi ro cho doanh nghiệp.

    1.4. Các biện pháp quảng cáo.

    Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay quảng cáo đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.

    Do quảng cáo là rất tốn kém vì thế để đảm bảo quảng cáo có hiệu quả cần thuê công ty quảng cáo để soạn thảo chương trình quảng cáo, thuê chuyên gia phân tích, kích thích tiêu thụ để xây dựng các chương trình quảng cáo, khuyến mãi để tạo hình ảnh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quảng cáo trên báo chí, truyền hình, truyền thanh dùng thư chào hàng .v.v  để quảng cáo sản phẩm của mình cho phù hợp nhất.

    Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo tốt đã tăng nhanh doanh số bán và có những doanh nghiệp chi rất nhiều tiền cho quảng cáo nhưng nội dung quảng cáo không hợp lí dẫn đến tình trạng người tiêu dùng không những không mua sản phẩm mà họ còn phản đối quyết liệt. Vì vậy khi xây dựng chương trình quảng cáo doanh nghiệp phải hết sức thận trọng để hoạt động quảng cáo thúc đẩy nhanh mức tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.5. Mạng kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng.

    Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cuả các doanh nghiệp, kênh phân phối bao gồm mạng lưới bán buôn, bán lẻ, đại lý được tổ chức một cách hợp lý khoa học sẽ chiếm lĩnh được không gian thị trường, tạo điều kiện thuận cho người tiêu dùng và kích thích hơn nữa nhu cầu của họ. Doanh nghiệp thường sử dụng ba loại kênh tiêu thụ sau:

         Kênh cực ngắn: đây là kênh phân phối trực tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không qua trung gian, doanh nghiệp tự tổ chức tiêu thụ qua các cửa hàng bán lẻ của mình.

        Kênh ngắn: là kênh trong đó doanh nghiệp sử dụng một người trung gian là người bán lẻ.

       Kênh dài: là kênh có từ hai người trung gian trở nên trong phân phối.

    Thiết lập mạng lưới kênh tiêu thụ cần căn cứ vào chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, vào nguồn lực của doanh nghiệp, vào đặc tính của khách hàng, thói quen tiêu dùng và các kênh của đối thủ cạnh tranh.

    Để làm tốt việc phân phối doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh lịch sự, đúng hẹn trong giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng tới mua hàng. hơn nữa phải linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm bảo hai bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng. ngoài ra những dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa, làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng sảncủa doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và nhiều hơn làm tăng việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

     2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

    2.1. Các yếu tố kinh tế.

        Thu nhập bình quân đầu người (GNP): Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng, GNP càng tăng cao sẽ kéo theo sự tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng loại, chất lượng, thị hiếu.v.v.. Làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp tăng lên.

    Yêú tố lạm phát: Lạm phát tăng làm tăng giá cả của yếu tố đầu vào, làm tăng giá bán hạn chế mức tiêu thụ.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh tăng dẫn đến giá bán tăng và tiêu thụ giảm.

    Chính sách thuế: Thuế tăng làm giá thành hàng hóa tăng, tiêu thụ giảm.

     

    2.2. Số lượng các đối thủ cạnh tranh.

    Kinh doanh trên thi trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với nhau. Tốc độ tiêu thụ hàng hóa một phần phụ thuộc vào quy mô, số lượng đối thủ cạnh tranh. Nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Ngoàira tốc độ tiêu thụ còn phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ thị phần của doanh nghiểp trên thị trường.

    2.3. Thị hiếu của người tiêu dùng.

    Sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có như vậy mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu thụ. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường. Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu đối với họ.

    IV. SỰ  CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.

    1.Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo tăng doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Đây là yêu cầu biểu hiện mặt kinh tế và biểu hiện mặt lượng kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Lợi nhuận cao là mục tiêu trực tiếp của doanh nghiệp, giưa tăng doanh số và tăng lợi nhuận không phải luôn luôn đồng hướng . Nói chung tốc độ tăng của lợi nhuận và doanh số không luôn luôn cùng tỷ lệ. Thật vậy doanh số không chỉ phụ thuộc vào khối lượng tiêu thụ mà còn phụ thuộc vào chính sách bán hàng và giá thành sản phẩm hàng hóa. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường, cái mà doanh nghiệp cần, quan tâm hàng đầu không phải là mức lợi nhuận tối đa trong một đơn vị sản phẩm mà là tổng lợi nhuận. Mặt khác doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm hàng hóa nó tiêu thụ, vào các chính sách kinh tế vỉ mô của nhà nước.

    2. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo phát triển thị phần của doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa nhằm mở rộng thị trường, khám phá những thị trường mới, thị trường tiềm năng. Mức độ thực hiện yêu cầu này còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó tập trung nhất là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thật vậy, để tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa trên thị trường, mở rộng thị trường cho mình và loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp cần phải có những lợi thế so với đối thủ cạnh tranh của mình: Lợi thế chi phí, lợi thế kinh nghiệm, lợi thế về quy mô, mẫu mã , kiểu dáng, giá bán. Khi doanh nghiệp đã có những lợi thế đó thì cần phải phát huy một cách tối đa trước đối thủ cạnh tranh và không ngừng hạn chế hay đi trước lợi thế cạnh tranh của đối thủ, có như vậy mới ngày càng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa cuả doanh nghiệp. Từ đó làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thi trường.

    3. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo tăng tài sản vô hình cho doanh nghiệp.

    Tài sản vô hình của doanh nghiệp ở đây tập trung vào việc làm tăng uy tín, tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở nhiều yếu tố trong đó biểu hiện trực tiếp ở hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp và phù hợp của sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra với yêu cầu của khách hàng: gồm mạng lưới bán, chất lượng sản phẩm, thái độ bán hàng, cách thức bán hàng, trách nhiệm đến đâu khi hàng hóa đã được bán. Khách hàng sẽ có thiện cảm hay ác cảm đối với sản phẩm của doanh nghiệp, mỗi khi nhắc tới doanh nghiệp. Xét về lâu dài, chính nhờ xây dựng phát triển tài sản vô hình đã tạo nên cơ sở nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    4. Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo dịch vụ đối với khách hàng.

    Khi tiêu thụ song hàng hóa, không có nghĩa doanh nghiệp hết trách nhiệm đối với hàng hóa đó. Việc tiêu thụ hàng hóa kế tiếp có thuận lợi hay không phụ thuộc vào việc thực hiện các dịch vụ đối với khách hàng đến đâu. doanh nghiệp phục vụ khách hàng đảm bảo về chất lượng hàng hóa chủng loại, số lượng, phong cách phục vụ và ngày càng đáp ứng tốt hơn cho những yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Khi hàng hóa được tiêu thụ nhiều có nghĩa là doanh nghiệp đã thực hiện tốt dịch vụ đối với khách hàng, tạo niềm tin đối với khách

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II

    PHÂN TÍCH

    TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI

    CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI  LỢI

    I. QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI được thành lập theo quyết định               số 2897/TL – DN do uỷ ban thành phố Hà Nội cấp. Đăng ký kinh doanh          số 44410 ngày 15/1/2000 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI có tên gọi tắt là: UDL– CO – LTD. Có trụ sở đặt tại 72 NGÔ QUYỀN– HÀ NỘI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do hai thành viên sáng lập lên. Đây là một Công ty vừa và nhỏ chuyên sản xuất các mặt hàng polime (chủ yếu là bộ đồ đi mưa) đồng thời kinh doanh các mặt hàng khác như hàng điện máy, tư liệu tiêu dùng và một số hàng hoá khác.

    Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty cũng trải qua những khó khăn bởi sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường.Tuy nhiên do sự năng động của ban lãnh đạo đã đưa Công ty phát triển đúng hướng, phù hợp với năng lực và sực mạnh của mình. Đặc biệt lãnh đạo, công nhân viên luôn gắn bó sát cánh bên nhau, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn vươn lên phía trước.

    Năm 2000 do mới thành lập cho nên hoạt động kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn, doanh thu cả năm đạt  923 triệu đồng, doanh thu từ sản xuất là 393 triệu, doanh thu từ thương mại là 530 triệu, tổng lợi nhuận  chỉ có 43,8 triệu đồng.

    Năm 2001 hoạt động của Công ty đã đi vào thế ổn định, vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm khả quan hơn rất nhiều. Trong năm 2001 doanh thu của Công ty tăng rất mạnh đạt 2548 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 1045 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 1503 triệu, tổng lợi nhuận đạt 197,2 triệu.

    Năm 2002 hoạt dộng kinh doanh của  Công ty tiếp tục phát triển,  ông ty đã kinh doanh thêm một số mặt hàng mới và mở rộng cơ sở của mình. Trong năm này doanh thu của Công ty là 4196 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2003 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 2196 triệu, với tổng lợi nhuận đạt 543 triệu.

    Năm 2003 hoạt động kinh doanh của Công ty  gặp khó khăn, nguyên nhân chính là do Công ty đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, bên cạnh đó Công ty chưa có những thay đổi mạnh cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, vì thế mức răng trưởng chậm và có nguy cơ suy giảm. Tuy nhiên doanh thu của Công ty vẫn tăng đạt 4621 triệu đồng,với 2134 triệu từ hoạt động sản xuất và 2487 triệu từ hoạt động thương mại, lợi nhuận thu được là 628 triệu đồng.

    Năm 2004 Công ty đã có những thay đổi nhất định vì vậy hoạt động kinh doanh đã có bước tiến triển, doanh thu đã bắt đầu tăng mạnh trở lại đạt    5837 triệu đồng, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2975 triệu, doanh thu  từ hoật động thương mại là 2862 triệu, đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất cao hơn doanh thu từ hoạt động thương mại, tổng lợi nhuận Công ty đạt được là 768 triệu đồng .

    II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG TỚI TỐC ĐỘ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Sản phẩm của Công ty.

    1.1Sản phẩm sản xuất của Công ty.

    Công ty chuyên sản xuất các loại quần áo đi  mưa với tổng sản lượng 171500 sản phẩm năm 2004.

    Biểu 1: Danh mục sản phẩm Công ty sản xuất năm 2004.

    TT          Tên sản phẩm Sản lượng (cái)
    1. Bộ quần áo đi mưa. 16600
    2. Aó đi mưa có tay 15700
    3. Aó đi mưa không có tay 49350
    4. Aó đi mưa có hai mũ 20500
    5. Aó đi mưa mỏng 69300

    + Bộ quần áo đi mưa là sản phẩm sản xuất ít nhất nhưng lại có giá trị cao tạo ra doanh thu lớn cho công ty. Đây là sản phẩm rất tiện dụng cho người đi xe máy, tuy nhiên giá thành của nó còn cao nên mức tiêu thụ không lớn nắm.

    + Aó đi mưa có tay là loại áo mưa thông dụng nhất tiện lợi cho người sử dụng. Công ty sản xuất nhiều loại áo có tay với chất lượng và mẫu mã khác nhau nhằm phục vụ thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng.

    + Aó đi mưa không có tay là loại áo sản xuất từ thời kì đầu có ưu điểm là kín do không phải thò tay ra ngoài, nhưng nó rất bất tiện và khó khăn khi phải làm một việc gì đó bằng tay. Chính vì thế nhu cầu loại áo này ngày càng giảm, tuy nhiên do giá cả của nó rẻ nên phù hợp với một bộ phận người dân ở những vùng nông thôn.

    + Aó đi mưa dành cho hai người là loại áo mưa có tay được cải tiến để có thể cùng một lúc hai người cùng sử dụng được. Loại áo này có hai mũ do đó rất tiện cho hai người khi đi xe máy, loại áo này ra đời đánh dấu sự phát triển của Công ty và đem lại nguồn  doanh thu đáng kể.

    + Aó mưa mỏng là loại áo dùng tạm thường chỉ sử dụng một vài lần là rách, đây là loại áo rẻ tiền nhất, thoả mãn nhu cầu của những người đi đường khi gặp những cơn mưa bất chợt .

    Danh mục sản phẩm nhằm duy trì phát triển sản xuất của công ty, phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong xã hội.

    1.2. Những hàng hóa Công ty kinh doanh.

    Công ty kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận

    Biểu 2: Hàng hóa công ty kinh doanh.

    TT Tên hàng hóa Công ty kinh doanh
    1. Hàng điện máy (phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới..)
    2. Hàng tư liệu tiêu dùng (vải ra, vải bạt, dây điện, quạt điện,
    3. Hàng hóa khác

    Hàng điện máy là nhóm hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty được công ty nhập về từ các đơn vị khác nhau và bán lại cho khách hàng có nhu cầu. Đây chủ yếu là các phụ tùng dùng để thay thế, ngoài ra có một số thiết bị thi công dùng cho xây dựng loại nhỏ và có giá trị không lớn.

    Hàng tư liệu tiêu dùng gồm có nhiều loại như vải ra, vải bạt cung cấp cho các đơn vị  sản xuất kinh doanh khác, còn dây điện,quạt điện cung cấp cho người tiêu dùng.

    Hàng hóa khác gồm nhiều loại khác nhau với khối lượng tiêu thụ nhỏ và có giá trị nhỏ.

    2. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

     2.1. Chức năng của Công ty.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là doanh nghiệp ngoài quốc doanh với chức năng chủ yếu là sản xuất quần áo đi mưa với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau.

    Ngoài ra Công ty còn có chức năng thương mại với việc kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau như :

    • Hàng tư liệu sản xuất: Chủ yếu là vật tư thiết bị phụ tùng ô tô, máy, thiết bị thi công cơ giới.
    • Hàng tư liệu tiêu dùng: Vải da, vải bạt, dây điện, quạt điện.
    • Mua bán kí gửi hàng hóa khác:
    •  

    2.2.  Nhiệm vụ của công ty.

    Công ty cần xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng của mình đã đăng kí.

    Tìm mọi biết pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.

    T ổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

    Công ty phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ do nhà nước quy định.

    2.3.  Loại hình tổ chức của công ty: Bộ máy của UĐV – CO – LTD được tổ chức theo kiểu kết hợp trực tuyến và chức năng. Một mặt giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của toàn công ty, không qua cấp quản trị trung gian. Mặt khác các phòng chức năng có chức năng tham mưu cho giám đốc để quản trị các lĩnh vực chuyên sâu trong Công ty.

    Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty.

     
       

         Giám đốc: Là một trong những sáng lập viên đầu tiên, chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty, ban hành quy định và các quyết định cuối cùng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty.

    Phòng kinh doanh: Chức năng xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty dựa trên các hợp đồng đã ký.

          Nhiệm vụ:

    • Lập kế hoạch sản xuất tiêu thụ các sản phẩm của Công ty.
    • Dự thảo và chỉnh lý các hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật, quản lý và theo dõi thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
    • Tổ chức làm tốt công tác thống kê báo cáo .

        Phòng kế toán: Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế  độc lập được tổ chức theo mô hình hạch toán tập trung, trước nó không có các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Vì thế phòng kế toán có chức năng quản lý sự vận động của vốn, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ hạch toán kế toán.

         Nhiệm vụ:

    • Thực hiện tốt điều lệ kế toán trưởng và pháp lệnh thống kê do nhà nước ban hành.
    • Tổ chức hạch toán các dịch vụ và đề xuất các giải pháp giải quyết công tác sản xuất có hiệu quả kinh tế cao.
    • Giao dịch, quan hệ đảm bảo đủ vố từ các nguồn để phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
    • Giữ bảo toàn và phát triển vốn, đề xuất các biện pháp đưa vốn vào sản xuất kinh doanh đúng pháp luật.

    Phòng vật tư: Tổ chức thu mua hàng hóa, nguyên vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất và quá trình bán hàng của doanh nghiệp.

           Nhiệm vụ:

    • Tạo được mối quan hệ với bạn hàng, đảm bảo nguyên liệu và hàng hóa ổn định về chất lượng quy cách và chủng loại.
    • Phối hợp đồng bộ với phòng kinh doanh khi thực các hiện hợp đồng nhằm đáp ứng kịp thời hàng hoá nguyên vật liệu.

    Phòng marketing: Tìm các biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.

     

        Nhiệm vụ:

    • Tìm kiếm thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới cho Công ty.
    • Tìm hiểu nhu cầu thị trường, phân tích thị trường của Công ty.
    • Khuyếch trương sản phẩm của Công ty, nâng cao uy tín của Công ty.

    Phân  xưởng: là nơi tổ chức sản xuất hàng hoá.

    3. Các yếu tố sản xuất.

    3.1. Đặc điểm lao động của Công ty.

    Tổng số lao động của Công ty là 41 người (trong đó nữ là 29 người).

    Lao động gián tiếp là 10 người, lao động trực tiếp là 31 người chiếm 75,6% lao động của Công ty.

    Trong tổng số lao động của công ty chỉ có 5 người có trình độ đại học chiếm 12% lao động của Công ty còn lại đa phần là công nhân bình thường. Như vậy có thể tỷ lệ lao động tri thức trong công ty còn thấp, công ty cần tuyển chọn thêm lao động có trình độ để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển. Có như vậy chất lượng lao động của công ty mới tăng lên và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cuả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với những đòi hỏi khắt khe  của thị trường.

    3.2. Đặc điểm nguyên liệu của Công ty.

    Nguyên liệu sản xuất chủ yếu của Công ty là các loại nhựa polime đă chế biến, có nghĩa là các loại nhựa này không còn ở dạng thô nữa mà đă được tạo ra thành các tấm mỏng. Chính vì thế giá sản xuất đầu vào của Công ty vẫn còn cao, gây khó khăn cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác giá cả nguyên vật liệu thường xuyên biến độngvà đôi khi chịu ảnh hưởng của những cơn sốt giá, điều này làm cho Công ty bị phụ thuộc, bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sang năm 2005 Công ty dự định nhập dây chuyền sản xuất hiện đại để có thể tạo ra các tấm polime từ nguyên liệu thô để giảm bớt chi phí đầu vào và chủ động nguyên liệu cho sản xuất, tạo thêm việc làm cho công nhân.

    89

     

    3.3. Đặc điểm máy móc của Công ty.

    Hệ thống máy móc thiết bị của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do Việt Nam sản xuất chế tạo. Tuy nhiên phần lớn máy móc của Công ty là máy cũ và đã lạc hậu, điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm tăng cường hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm.

    Hiện nay, việc hiện đại hóa máy móc thiết bị phục vụ sản xuất là phương châm hành động của lãnh đạo công ty nhằm tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Tạo điều kiện cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa phát triển tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho công ty.

    Biểu 3: Máy móc của công ty.

           Tên máy móc thiết bị         Số lượng (cái)
    1.Máy cắt

     

    –         Máy cắt thẳng lớn

    –         Máy cắt nhỏ

    –         Máy cắt vòng

    6

     

    1

    4

    1

    2.Máy hàn

     

    –         Máy hàn ép

    –         Máy hàn trơn

    –         Máy hàn ống

    12

     

    6

    4

    2

    3.Máy đột khuy 5
    4.Máy may 1
    5.Máy in lưới 1

    Với điều kiện máy móc như vậy có thể thấy hoạt động sản xuất của Công ty chưa được hiện đại hoá cao, mọi hoạt động vẫn dựa vào con người là chủ yếu. Tuy nhiên các máy móc của Công ty được bảo dưỡng thường xuyên nên vẫn hoạt động tốt, đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra bình thường.

     

     

    III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Kết quả hoạt động  tiêu thụ hàng hóa là toàn bộ doanh thu từ các mặt hàng của Công ty sau một năm hoạt động. Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất để đánh giá dự thành công hay thất bại của Công ty trong hoạt động kinh doanh. Doanh thu của Công ty càng cao có nghĩa là hoạt động tiêu thụ sản phẩm đang rất tốt, còn nếu doanh thu năm sau thấp hơn năm trước thì hoạt động tiêu thụ đang suy giảm cần có biện pháp khắc phục.

    Phân tích hoạt động tiêu thụ hàng hóa giúp nhà quản trị biết được thế mạnh của Công ty, cũng như những hạn chế yếu kém mà Công ty cần giải quyết khắc phục. Qua đó ban lãnh đạo Công ty sẽ có chiến lược kinh doanh thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo tái đầu tư mở rộng tăng thị phần.

    Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH.Công tác thiết lập và ký kết hợp đồng kinh tế đàm phán do ban giám đốc và phòng kinh doanh đảm nhiệm với hai kênh tiêu thụ chủ yếu:

    Công ty                Người bán buôn               Bán lẻ            Người tiêu dùng

    Công ty                       Đại lý                      Người tiêu dùng

    1. Phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    1.1 Đánh giá tốc độ tăng giảm của tổng doanh thu qua các năm từ 2000 – 2004.

    Phân tích tốc độ phát triển doanh thu qua các năm để thấy được sự biến động và xu hướng phát triển của doanh thu bán hàng làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch trung hạn hoặc dài hạn của Công ty.

                     

     

     

     

     

          Biểu 4: Tốc độ phát triển chỉ tiêu doanh thu      

                                                                                             (Trích năm 2004)                            

    Năm Mi Ip Moi Ti Toi
    2000 923 1,00 923 100 100
    2001 2548 1,21 2105,78 228,14 228,14
    2002 4196 1,12 3746,43 177,91 405,88
    2003 4621 1,09 4239,45 113,16 459,29
    2004 5837 1,10 5306,36 125,16 574,85
    • Mi là doanh thu bán hàng kì i của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.
    • Ip chỉ số giá so với năm gốc.
    • Moi doanh thu bán hàng theo giá kì (i-1).
    • Ti là tỷ lệ phát triển liên hoàn.
    • Toi là tỷ lệ phát triển định gốc.

    Ta có tỉ lệ phát triển bình quân 5 năm: 154,84%

    Doanh thu bán hàng của Công ty qua các năm luôn luôn tăng trưởng, tỷ lệ tăng thấp nhất là 13,16%, cao nhất là 128,14%, tỷ lệ tăng bình quân 54,84%. Điều đó đã giúp Công ty ngày càng phát triển và có vị thế trên thị trường.

    1.2. Đánh giá mức tăng giảm của doanh thu bán hàng trong  Công ty qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

     

    Biểu 5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Các chỉ   tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so    với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

         Tổng

     doanh thu

    4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    DT từ hoạt động sản

    xuất

    2003 47,67 2134 46,18 2975 50,96 134 6,7 841 39,41
    DT từ hoạt

     

    động kinh

    doanh TM

    2196 52,33 2487 53,82 2862 49,04 281 13,25 375 15,08

    Qua bảng số liệu ta có thể thấy:

    Năm 2003 tổng doanh thu của Công ty là 4621 triệu đồng tăng 425 triệu đồng tỷ lệ tăng là 10,13% so với năm 2002.đây là một sự tăng trưởng rất tốt nhằm củng cố và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Có được kết quả khả quan như vậy là do Công ty đã phát triển được cả hoạt động sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh thương mại của mình.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu tăng 134 triệu đồng với tỷ lệ tăng 6,7% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 46,18% làm cho tổng doanh thu tăng 134 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng là do thời kì này công ty sản xuất thêm một số sản phẩm có mầu sắc khác nhau, thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm, vì thế sản phẩm sản xuất ra  tăng rất nhiều . Ngoài ra trong năm này công ty áp dụng hình thức bán hàng trả chậm, đây là hình thức bán hàng mới kích thích việc tiêu thụ hàng hóa, nhưng mới chỉ áp dụng cho những khách hàng quen, thân thiết của Công ty.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2487 triệu tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng 13,25% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 53,82% làm cho doanh thu của Công ty tăng 281 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng mạnh với tỷ lệ tăng là 13,25% là do thời kì này nhu cầu về một số mặt hàng Công ty kinh doanh tăng mạnh như phụ tùng ô tô, thiết bị thi công cơ giới, dây điện. Ngoài nhu cầu của thị trường tăng nên thì Công ty cũng có thêm một số bạn hàng mới, làm cho việc tiêu thụ hàng hóa tăng cao đem lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2004 so với năm 2003 tổng doanh thu tăng 1216 triệu đồng tỷ lệ   tăng  là 26,31%. Đây là một tỷ lệ tăng rất nhanh chứng tỏ hoạt động sản xuất cũng như việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty rất tốt đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu tăng 841 triệu tỷ lệ tăng là 39,41%, chiếm tỷ trọng 50,96% tăng 4,78% (46,18% – 50,96%) so với 2003 làm cho tổng doanh thu của Công ty tăng 841 triệu. Đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất vượt qua doanh thu từ hoạt động thương mại. Điều này chứng tỏ rằng sản phẩm của Công ty đang chiếm lĩnh được thị trường tiêu thụ, đây là một dấu hiệu rất tốt bởi sản xuất là hoạt động chính của Công ty, là lợi thế để công ty giành thế chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    Năm 2004 có thể nói là năm hoạt động sản xuất phát triển rất nhanh kể từ khi thành lập Công ty, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt trong năm 2004 nhờ sự nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng, Công ty đã cho sản xuất loại áo mưa dùng cho hai người khi đi xe máy. Đây là loại áo mưa rộng, có hai mũ có khả năng che kín hai người khi đi trời mưa vì thế được người tiêu dùng ưa chuộng. Loại áo mưa này tuy mới được sản xuất nhưng khối lượng tiêu thụ rất cao mang lại nguồn doanh thu lớn cho Công ty. Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng nhanh với tỷ lệ tăng là 39,41%

    Tuy nhiên do khả năng tiêu thụ còn hạn chế vì thế chưa phát huy được hết năng lực sản xuất của công ty. Công ty chỉ mới sản xuất 85% năng lực của mình mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của tiêu thụ, thậm chí vẫn còn dự trữ. Nhất là sang năm 2005 công ty dự định đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại thì việc đẩy mạnh tiêu thụ là hết sức cần thiết, như vậy mới có thể tận dụng được hết năng lực sản xuất của mình.

    Đối với hoạt động kinh doanh thương mại năm 2004 cũng đạt được những thành công to lớn góp phần vào việc phát triển của Công ty. Trong năm 2004 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2862 triệu đồng tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng là 15,08% so với năm 2003 chiếm tỷ trọng 49,04% làm tổng doanh thu của công ty tăng 281 triệu đồng. Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng là do Công ty luôn đảm bảo chất lượng hàng hóa, giao hàng đúng hẹn, nhất là mức giá của công ty luôn hấp dẫn hơn so với các đơn vị khác vì thế việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty vẫn diễn ra tốt đẹp. Tuy nhiên, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động thương mại sẽ có xu hướng giảm dần trong tổng doanh thu của Công ty vì hoạt động sản xuất của Công ty vẫn là chính và Công ty sẽ tập chung mạnh vào lĩnh vực này.

    Ta có thể thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là một Công ty kinh doanh tổng hợp vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại. Cả hai nghiệp vụ kinh doanh chiếm tỷ trọng tương đương nhau không quá chênh lệch về phía nào. Tuy nhiên trong tương lai Công ty dự định đầu tư mạnh vào sản xuất vì đây là thế mạnh của công ty, lúc đó chắc chắn hoạt động sản xuất sẽ mạnh mẽ hơn và chiếm tỷ trọng cao hơn.

    2. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo cơ cấu mặt hàng của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

         Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty để thấy được cơ cấu sản phẩm, sản lượng tiêu thụ của mỗi loại cũng như ảnh hưởng của các loại sản phẩm tới việc tăng doanh thu trong hoạt động sản xuất của Công ty.Ta sẽ biết được được đâu là sản phẩm chủ chốt, sản phẩm chiến lược, đâu là sản phẩm lạc hậu, sản phẩm cần cải tiến từ đó có biện pháp thích hợp để xử lý đảm bảo hoạt động sản xuất luôn ổn định phát triển.

     

     

      Biểu 6: Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty.   

                                                                                                          

    Mặt hànag Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003
    SL % SL % SL % SL % SL %
    Bộ quần áo  đi mưa 12,8 9,67 13,5 9,16 16,65 9,71 0,7 5,47 3,15 23,33
    Aó mưa không tay 27,4 20,7 25,6 17,37 15,7 9,15 -1,8 -6,57 -9,9 -38,6 7
    Aó mưa có tay 42,7 32,3 45,9 31,14 49,35 28,77 3,2 7,49 3,45 7,52
    Aó  cho hai người 20,5 11,95 20,5  
    Aó mưa mỏng 49,4 37,33 62,4 42,33 69,3 40,41 13 26,31 6,9 11,06

    Tổng sản lượng

    132,3 100 147,4 100 171,5 100 15,1 11,41 24,1 16,35

    Qua bảng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI ta thấy doanh thu bán sản phẩm của công ty liên tục tăng qua các năm, làm cho tổng doanh thu của công ty tăng lên.

    Năm 2002 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2003 triệu đồng với mức sản lượng tiêu thụ là 132,3 nghìn sản phẩm.

    Năm 2003  với mức sản lượng tiêu thụ là 147,4 nghìn sản phẩm tăng 15,1 nghìn sản phẩm, đã tạo ra doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu đồng tăng 134 triệu so với năm 2002.

    Năm 2004 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu đồng so với kế hoạch là 2500 triệu, bằng 119% so với kế hoạch. Năm 2004 sở dĩ doanh thu từ việc tiêu thụ sản phẩm của công ty tăng nhanh như vậy là do Công ty đã sản xuất thêm một loại áo đi mưa mới rất tiện lợi cho hai người khi đi xe máy. Với việc sản xuất thêm loại sản phẩm mới này đã thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty, năm 2004 công ty đã tiêu thụ được 171,5 nghìn sản phẩm tăng 24,1 nghìn cái với tỷ lệ tăng là 16,35%.

    Có được kết quả cao như vậy là do Công ty đã phát huy được khả năng của mình, tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, luôn tận dụng tốt mọi cơ hội có được. Ngoài ra Công ty luôn chú trọng tới việc tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ.

    Đối với bộ quần áo đi mưa, đây là sản phẩm truyền thống của Công ty và đem lại doanh thu khá lớn trong tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất do giá trị sử dụng của nó cao. Tuy nhiên khối lượng tiêu thụ của loại sản phẩm này lại thấp hơn so với các mặt hàng khác. Năm 2002 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 12,8 nghìn sản phẩm, năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 13,5 nghìn sản phẩm tăng 0,7 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng là 5,47% so với năm 2002, chỉ đạt được 95,2% so với kế hoạch đặt ra. Tuy nhiên đến năm 2004 do nhu cầu về sản phẩm trên thị trường tăng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Năm 2004 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 16,65 nghìn sản phẩm tăng 3,15 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng 23,33% so với 2003, vượt mức kế hoạch đề ra bằng 110% so với kế hoạch đề ra.

    Đây là sản phẩm có vị trí quan trọng vì thế cần giữ vững, phát huy khả năng tiêu thụ nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận cho Công ty.

    Đối với áo mưa không có tay, đây cũng là một sản phẩm Công ty sản xuất từ khi thành lập và đã từng là sản phẩm chủ chốt của Công ty. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm này đã lạc hậu không được người tiêu dùng ưa chuộng nữa nhất là người dân thành thị. Chính vì thế mức độ tiêu thụ ngày một giảm sút ảnh hưởng đáng kể tới doanh thu của Công ty.

    Năm 2002 loại áo đi mưa không có tay tiêu thụ được 27,4 nghìn chiếc chiếm 20,71% sản lượng tiêu thụ. Đến năm 2003 sản lượng tiêu thụ chỉ đạt 25,6 nghìn sản phẩm giảm 1,8 nghìn chiếc với tỷ lệ giảm là 6,57%. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ của loại áo mưa không có tay tiếp tục giảm mạnh, trong năm 2004 sản lượng tiêu thụ chỉ còn 15,7 nghìn sản phẩm giảm 9,9 nghìn sản phẩm, với tỷ lệ giảm là 38,67%. Có lẽ đây đang là thời kì suy thoái của loại sản phẩm này trong chu kì sống của nó, do vậy Công ty cần có biện pháp thích hợp để sử lí, tốt nhất Công ty nên hạn chế sản xuất loại sản phẩm này để giảm bớt chi phí cũng như tránh việc tồn kho hàng hóa.

    Đối với loại áo mưa có tay đây là loại sản phẩm Công ty bắt đầu sản xuất từ năm 2001, nhưng tốc độ tiêu thụ của nó là khá cao bởi đây là loại áo mưa phổ biến nhất đối với người tiêu dùng. Công ty sản xuất loại áo mưa này với nhiều chủng loại mầu sắc, chất lượng cũng như giá cả khác nhau nhằm thoả mản nhu cầu của mọi khách hàng khác nhau. Chính vì thế nhu cầu về loại áo mưa này là rất lớn, tạo nên sự  phát triển sản xuất ổn định cũng như mang lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2002 sau một năm loại sản phẩm này được sản xuất khối lượng tiêu thụ của nó là rất cao đạt 42,7 nghìn chiếc đạt 142% so với kế hoạch, tạo nên doanh thu không nhỏ cho Công ty. Sang năm 2003 sản lượng tiêu thụ áo đi mưa có tay tiếp tục tăng với việc cải tiến chất lượng tạo nên một loại áo mưa mềm, dầy rặn và rất bền. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 45,9 nghìn chiếc tăng 3,2 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng là 7,49% so với năm 2002. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ tiếp tục tăng đạt 49,35 nghìn chiếc  tăng 3,45 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 7,52% so với năm 2003 nhưng chỉ đạt 98,4% so với kế hoạch đề ra. Có thể thấy đây là loại sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh, vì thế Công ty cần tập trung khai thác thị trường, để  nâng cao sản lượng tiêu thụ thúc đẩy sự phát triển của Công ty.

    Đối với loại áo mưa dùng cho hai người, đây là loại sản phẩm cải tiến của Công ty dược sản xuất năm 2004 có ưu điểm rất lớn đó là có hai mũ và rộng hơn rất nhiều áo mưa bình thường, vì thế có thể cùng một lúc hai người sử dụng vẫn thoải mái. Tuy mới được sản xuất nhưng phù hợp với người tiêu dung, đặc biệt cho những người đi xe máy nên khối lượng sản phẩm tiêu thụ là rất khả quan. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ đạt 20,5 nghìn sản phẩm và được coi là sự thành công lớn trong việc phát triển sản phẩm mới. Nhờ việc phát triển sản phẩm mới này công ty đã tạo thêm việc làm cho người lao động, ổn định sản xuất. Loại áo mưa dùng cho hai người được coi là sản phẩm chiến lược của Công ty trong thời gian tới vì thế công ty đang tập chung nhằm hoàn thiện hơn nữa sản phẩm của mình, tạo ra một sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường.

    Đối với loại áo mưa mỏng, đây có thể coi là loại áo mưa tạm thời đối với người sử dụng, vì loại áo mưa này chỉ dùng một vài lần là rách, người tiêu dùng mua khi họ gặp mưa bất chợt không có sự chuẩn bị. Tuy nhiên loại áo mưa này có giá trị rất nhỏ vì thế khối lượng tiêu thụ là rất lớn, mang lại một phần doanh thu cho Công ty. Năm 2002 sản lượng tiêu thụ loại áo mưa mỏng này là 49,4 nghìn sản phẩm. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ tăng rất mạnh do nhu cầu người tiêu dùng là rất lớn, đạt 62,4 nghìn chiếc tăng 13 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 26,3% so với năm 2002 đạt 135% so với kế hoạch đề ra. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ mặt hàng này tiếp tục tăng mạnh đạt 69,3 nghìn chiếc tăng 6,9 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 11,06% so với 2003.

    3. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm ( 2002, 2003, 2004).

    Hoạt động kinh doanh thương mại là lĩnh vực kinh doanh bổ trợ có tính chất không thường xuyên liên tục. Tuy nhiên do tính chất của hàng hóa là có giá trị cao, lên doanh thu từ hoạt động thương mại cũng rất cao thậm chí cao hơn doanh thu từ hoạt động sản xuất. Điều đó có nghĩa là kết quả từ hoạt động kinh doanh thương mại có ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ Công ty. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại sẽ biết được những mặt hàng Công ty kinh doanh và những đặc điểm của nó.

     

     

     

     

     

     

    Biểu 7: Kết quả hoạt động kinh doanh thương mại của công ty.

    Mặt hànag Năm 2002

    Năm 2003

    Năm 2004

    Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    DT từ thương mại 2196 100 2487 100 2862 100   281 13,25   375 15,08

    Hàng   Điện máy

    1210  55,1 1563 62,85 1821 63,62 353 29,17 258 16,51
    Tư liệu tiêu dùng 756 34,42 650 26,13 900 31,45 -106 -14,1 250 38,46

    Hàng hóa khác

    230 10,47 274 11,02 141 4,93 44 19,13 -133 -48,5 4

    Theo số liệu ở bảng ta có thể thấy Công ty kinh doanh ba nhóm hàng khác nhau là: Hàng điện máy, hàng tư liệu tiêu dùng và một số hàng hóa khác. Mỗi nhóm hàng lại có những mặt hàng khác nhau đảm bảo việc đa dạng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

    * Hàng điện máy bao gồm các loại phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới. Nhóm hàng này có ảnh hưởng rất tới hoạt động kinh doanh thương mại bởi nó chiếm phần lớn doanh thu từ hoạt động này.

    Năm 2002 hàng điện máy đạt doanh thu 1210 triệu đồng chiếm 55,1% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu là 1563 triệu tăng 29,17% so với năm 2002 làm doanh thu từ hoạt động thương mại tăng 353 triệu đồng. Doanh thu hàng điện máy tăng nhanh là do nhu cầu về loại hàng này năm 2003 tăng mạnh nhất là phụ tùng ôtô và thiết bị thi công xây dựng. Đặc biệt, do Công ty đã liên tục đi thăm dò thị trường chào mời khách hàng mua hàng  hóa của mình, lên tốc độ tiêu thụ mặt hàng này rất tốt  mang lại hiệu quả cao.

    Năm 2004 doanh thu tiếp tục tăng đạt 1821 triệu đồng chiếm 63,6% doanh thu từ hoạt động thương mại, tăng 258 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 16,5% so với năm 2003. Có được kết quả tốt như vậy là do Công ty luôn bám sát thị trường để có thể mua hàng với mức gía hợp lí, giảm được mức giá đầu ra lên kích thích được tiêu thụ. Công tác tiếp thị của Công ty ngày một tốt hơn đem lại hiệu quả cao hơn.

    *   Hàng tư liệu tiêu dùng bao gồm một số mặt hàng vải bạt, dây điện, quạt điện có doanh thu tương đối, nhưng tốc độ tiêu thụ không đều lên phần nào gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.

    Năm 2002 doanh thu từ mặt hàng này đạt 756 triệu đồng chiếm 34,42% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu chỉ đạt 650 triệu giảm 106 triệu với tỷ lệ giảm 14,1% so với năm 2002. Doanh thu giảm là do hàng vải ra, vải bạt trong năm này tiêu thụ rất khó khăn bởi cung vượt cầu quá nhiều trên thị trường. Doanh thu giảm làm cho doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 106 triệu.

    Năm 2004 doanh thu mặt hàng này đột ngột tăng vọt đạt 900 triệu đồng tăng 250 triệu với tỷ lệ tăng là 38,46% so với 2003, chiếm tỷ trọng 31,45% tổng doanh thu từ hoạt động thương mại làm cho doanh thu từ hoạt động này tăng 250 triệu đồng. Doanh thu tăng đột ngột là do mặt hàng quạt điện tiêu thụ mạnh, nhất là loại quạt thông gió công suất lớn  lắp đặt tại các xưởng sản xuất. Bên cạnh đó hàng vải bạt, vải ra đã có sự tiêu thụ trở lại nhưng còn rất chậm, vì vậy năm 2005 Công ty cần có những giản pháp thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ một cách ổn định.

    *  Một số hàng hóa khác như thiếc, đồng lá, thiết bị cách nhiệt, cách điện…có doanh thu thấp lên không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh. Năm 2002 doanh thu từ hàng hóa này đạt 230 triệu chiếm 10,47%, năm 2003 doanh thu là 247 triệu tăng 44 triệu so với 2002, làm tổng doanh thu từ thương mại tang 44triệu. Năm 2004 doanh thu giảm mạnh chỉ đạt 141 triệu đồng tỷ lệ giảm 48,54% làm doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 133 triệu đồng, đây là mức giảm tương đối lớn vì thế Công ty cần khắc phục để tránh đánh mất mặt hàng kinh doanh trên thị trường.

    Qua việc phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa tại UDL– CO – LTD ta thấy hoạt động kinh doanh thương mại của công ty cũng khá phát triển, doanh thu tăng mạnh qua các năm.

    Trong các mặt hàng Công ty kinh doanh thì mặt hàng điện máy luôn chiếm tỷ trọng cao nhất 63,62% đạt doanh thu 1821 triệu đồng năm 2004. Hàng điện máy chủ yếu được nhập theo đơn đặt hàng của khách hàng, có nghĩa là khi nào có khách hàng cần mua hàng loại nào thì Công ty mới nhập về, do đó giảm được chi phí bảo quản cũng như chi phí do tồn đọng vốn. Tuy nhiên việc kinh doanh như vậy Công ty sẽ không chủ động được trong kinh doanh dễ bị nhà cung cấp gây khó khăn khi hàng hóa khan hiếm.              Trong tổng doanh thu từ hàng điện máy thì doanh thu là từ việc bán thiết bị thi công cơ giới chiếm khoảng 70%, doanh thu phụ tùng máy công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất chỉ có khoảng 9%.

    4. Phân tích tiêu thụ theo phương thức bán trong 3 năm (2002, 2003, 2004).

    Việc bán hàng trong Công ty được thực hiện bằng những phương thức khác nhau: Bán buôn, bán đại lí và bán trả chậm. Mỗi phương thức bán có đặc đIểm kinh tế kỹ thuật khác nhau và có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    Phân tích doanh thu bán hàng theo phương thức bán nhằm mục đích đánh giá tình hình và khả năng đa dạng hóa các phương thức bán hàng của Công ty, qua đó tìm ra những phương thức bán hàng thích hợp để vừa đẩy mạnh bán hàng tăng doanh thu vừa đảm bảo lợi nhuận cho Công ty.

    Biểu 8: Kết quả bán hàng theo phương thức bán.

    Các chỉ

     

    tiêu

    Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so   với 2003

    SL

    % SL % SL % SL % SL %
    DT bán buôn 2415 57,6 2178 47,1 2963 50,8 -237 -9,81 785 36,04
    Bán đại lí 661 15,7 760 16,5 725 12,4 99 14,98 -35 -4,6
    Bán trả chậm 1120 26,7 1683 36,4 2149 36,8 563 50,27 466 27,69
    Tổng cộng 4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    Từ bảng tổng hợp số liệu trên ta thấy:

    *  Năm 2003 so với 2002 doanh thu bán buôn giảm 237 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 9,81%, chiếm tỷ trọng 47,1% giảm 10,5% (57,6% – 47,1%). Doanh thu bán đại lí tăng 99 triệu tỷ lệ tăng 14,98%, chiếm tỷ trọng 16,5% tăng 0,8% (15.7% – 16,5%). Doanh thu hàng bán trả chậm tăng 563 triệu tỷ lệ tăng 50,27%, chiếm tỷ trọng 36,4% tăng 9,7% .

    *  Năm 2004 so với 2003 doanh thu bán buôn tăng 785 triệuđồng tỷ lệ tăng là 36,04%, chiếm tỷ trọng 50,8% tăng 3,7% (47,1% – 50,8%). Doanh thu bán đại lí giảm 35 triệu, tỷ lệ giảm 4,6%, chiếm tỷ trọng 12,4% giảm 4,1% (16,5% – 12,4%). Doanh thu bán trả chậm tăng 466 triệu tỷ lệ tăng 27,69%, chiếm tỷ trọng 36,8% tăng 0,4% (36,4% – 36,8%).

    + Nhận xét: Trong các hình thức bán hàng của doanh nghiệp thì doanh thu bán buôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có sự tăng giảm qua các năm.

    Bán buôn là hình thức bán hàng chủ yếu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa với khối lượng lớn và thu hồi vốn nhanh. Năm 2004 doanh thu bán buôn đạt 2968 triệu góp phần lớn vào việc tiêu thụ hàng hóa. Những khách hàng mua buôn luôn được hưởng mức giá ưu đãi tuỳ thuộc vào lượng hàng họ mua, khách hàng mua từ 50 – 100 triệu được giảm giá 5%, khách hàng mua từ 100 – 200 triệu được giảm giá 7% và mua từ 200 triệu trở nên được giảm 10% giá trị của hàng hóa. Chính vì thế những khách hàng lớn luôn muốn mua buôn để được hưởng mức giá ưu đãi

    Bán đại lí chiếm tỷ trọng thấp nhất và có doanh thu giao động qua các năm. Các đại lí này không thuộc công ty mà chủ yếu là của các hộ tư nhân, công ty liên hệ nhờ họ làm đại lí. Các đại lí này được hưởng hoa hồng là 15% doanh thu bán hàng và có nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm của công ty. Vì chi phí cho đại lí là khá lớn nên Công ty chỉ liên hệ ba đại lí với hai đại lí ở phía Bắc và một ở miền Trung. Năm 2002 doanh thu từ các đại lí này là 661 triệu đồng, năm 2003 doanh thu là 760 triệu đồng tăng 99 triệu với tỷ lệ tăng là 14,98% so với năm 2002, năm 2004 doanh thu từ các đại lí là 725 triệu đồng giảm 35 triệu với tỷ lệ giảm là 4,6% so với năm 2003. Bán hàng thông qua các đại lí tuy không trực tiếp với Công ty và Công ty phải bỏ ra một lượng chi phí, nhưng nó có ưu điểm là có thể mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của Công ty, và phản hồi nhanh chóng những góp ý của khách hàng. Cho nên Công ty cần giữ vững những đại lí này và có thể mở rộng thêm các đại lí khác nhằm khuyếch trương sản phẩm của Công ty.

    Đặc biệt là bán trả chậm, đây có thể coi là một biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa. Doanh thu bán trả chậm khá cao và tăng mạnh qua các năm, tuy nhiên nó cũng gây tình trạng tồn đọng vốn khá lớn. Bán trả chậm chỉ áp dụng đối với khách hàng thân thiết và có uy tín đối với Công ty với lượng hàng có giá trị không quá 100 triệu, nhằm tránh hiện tượng thất thoát vốn của Công ty. Những khách hàng trả chậm sẽ không được hưởng mức giá ưu đãi của Công ty và phải thanh toán tiền đầy đủ như cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên đối với khách hàng có lượng vốn hạn chế thì việc mua hàng trả chậm luôn là phương thức mua hàng được lựa chọn. Chính vì thế doanh thu từ hình thức bán hàng trả chậm là khá cao và tăng mạnh qua các năm. Năm 2002 doanh thu là 1120 triệu đồng thì năm 2003 doanh thu từ hình thức này đã là 2683 triệu đồng tăng 563 triệu với tỷ lệ tăng là 50,27% so với năm 2002. Năm 2004 doanh thu từ hình thức bán này đã tăng nên 2149  triệu đồng tăng 466 triệu với tỷ lệ tăng 27,69% so với năm 2003.

    Tuy hình thức bán hàng này thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa nhưng việc tồn đọng vốn là khá cao tạo nên sự thiếu hụt vốn trong hoạt động kinh doanh của Công ty, bên cạnh đó khả năng thất thoát vốn là khá lớn cho nên Công ty cần tính toán sao cho hợp lí để vừa thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa vừa bảo toàn vốn kinh doanh.

    IV. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Biểu 9: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004      2003   so với 2002      2004    so với 2003
    SL % SL %
    Tổng doanh thu 4196 4621 5837 425 10,13 1216 26,31
    Tổng chi phí 3653 3993 5069 340 9,31 1076 26,95
    LN trước thuế 543 628 768 85 15,65 140 22,29
    Nộp ngân sách 173,76 200,96 245,76 27,2 15,65 44,8 22,29
    LN sau thuế 369,24 427,04 522,24 57,8 15,65 95,2 22,29
    Tổng quỹ lươnag 175,25 202,93 253,57 27,68 15,79 50,64 24,95
    Mức lương bình quân 0,4868 0,4973 0,5154 0,0105 2,157 0,0181 3,639

    Nhờ quá trình phát triển đa dạng hóa sản phẩm với nhiều chủng loại áo đi mưa khác nhau đã thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng mạnh qua các năm. Bên cạnh sự thành công của hoạt động sản xuất , hoạt động kinh doanh thương mại cũng rất thành công bởi sự năng động của phòng kinh doanh cũng như của lãnh đạo Công ty. Từ kết quả đó làm cho tổng doanh thu của Công ty liên tục tăng qua các năm.

    Năm 2004 doanh thu của công ty đạt 5837 triệu đồng tăng 1216 triệu đồng  với tỷ lệ tăng 26,31%. Như vậy doanh thu của công ty đã có sự tăng nhanh trở lại, đây là một dấu hiệu rất tốt chứng tỏ rằng Công ty có khả năng đứng vững trên thị trường. Có được sự thành công như vậy là do có sự lỗ lực cố gắng rất lớn của lãnh đạo Công ty cũng như của công nhân viên. Lãnh đạo Công ty đã không ngừng tìm kiếm thị trường, phát triển sản phẩm mới, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

    Mặc dù doanh thu của Công ty liên tục tăng nhưng chi phí của Công ty cũng tăng đáng kể, làm giảm lợi nhuận của Công ty. Chi phí bao gồm chi phí mua nguyên liệu, chi phí mua hàng hóa, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng .v.v…

    Năm 2003 tổng  chi phí của Công ty là 3993 triệu đồng tăng 340 triệu so với năm 2002, tuy nhiên tỷ lệ tăng chi phí là 9,31% thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu vì vậy việc quản lí chi phí của Công ty là tốt không bị lãng phí.

    Năm 2004 tổng chi phí của Công ty là 5069 triệu đồng  tăng 1076 triệu so với 2003. Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí mạnh như vậy là do năm 2004 Công ty sản xuất thêm mặt hàng mới, đó là loại áo mưa dành cho hai người. Tuy nhiên tỷ lệ tăng tổng chi phí trong năm này là rất cao đạt 26,95% cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu chứng tỏ rằng Công ty đã gây lãng phí trong hoạt động kinh doanh của mình. Lãnh đạo Công ty cần xem xét lại và có biện pháp thích hợp sử lí để hoạt động kinh doanh đem lại kết quả cao nhất.

       Do tổng doanh thu có xu hướng tăng mạnh trở lại vì thế các khoản nộp ngân sách cho nhà nước vẫn tăng đều qua các năm. Năm 2003 Công ty nộp ngân sách 200,96 triệu, tăng 27,2 triệu đồng với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 Công ty nộp ngân sách 245,76 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng 22,29%. Đây là năm Công ty nộp thuế cao nhất cho ngân sách nhà nước.

    Do doanh thu của Công ty tăng cho lên mức lương bình quân của Công nhân cũng tăng. Năm 2004 mức lương bình quân tính theo đầu người / tháng là 515.000 đồng tăng 18100 đồng so với năm 2003. Tuy nhiên tỷ lệ tăng mức lương bình quân là khá thấp so với tỷ lệ tăng doanh thu, tỷ lệ tăng lương chỉ đạt 3,639% trong khi đó tỷ lệ tăng doanh thu là 26,31%. Đây cũng là một mức lương không cao nắm so với tình hình lương thực tế trong xã hội,rất có thể trong năm sau mức lương bình quân của công nhân sẽ được cải thiện nhiều hơn để có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động.

    Về chỉ tiêu lợi nhuận hàng năm của Công ty không ngừng tăng lên tạo đIều kiện cho Công ty phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh. Năm 2003 lợi nhuận sau thuế của Công ty là 427,04 triệu tăng 57,8 triệu với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 lợi nhuận đạt được là 522,24 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29%. Điều này cho thấy Công ty không những bảo toàn được vốn mà còn có lãi với tỷ lệ tăng khá cao. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào số tuyệt đối của chỉ tiêu lợi nhuận thì không thể nói khi con số tăng thì hiệu quả kinh doanh của Công ty tăng và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng được. Bởi vì khi doanh thu của Công ty hàng năm lớn nhưng chi phí cũng tăng tương ứng hay tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng doanh thu thì số tuyệt đối lợi nhuận tăng nhưng rõ ràng không hiệu quả. Vì thế ta phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận/ doanh thu để đánh giá, thì hiệu quả sử dụng vốn của Công ty năm 2003 tốt hơn năm 2002, nhưng hiệu quả sử dụng vốn năm 2004 kém hơn năm 2003.

    Như vậy sau hơn 5 năm thành lập và hoạt động trong nền kinh tế thị trường Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã từng bước khẳng định dược vị trí của mình, tổng doanh thu cũng như lợi nhuận của Công ty liên tục tăng qua các năm. Đây cũng là thành tích phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của Công ty.

    2. Những thành tựu đạt được của Công ty.

    Qua biểu phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ta thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã đạt được những thành tựu to lớn tạo điều kiện cho Công ty phát triển cũng như nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường.

    * Đối với Công ty

    Qua 5 năm thành lập doanh thu bán hàng của Công ty liên tục tăng, làm cho lợi nhuận của Công ty cũng tăng mạnh.

    • Năm 2000 lợi nhuận của Công ty chỉ có 43,8 triệu đồng đây là năm công ty có lợi nhuận thấp nhất.
    • Năm 2001 lợi nhuận là 197,2 triệu đồng tăng 153,4 triệu đồng so với năm 2000
    • Năm 2002 lợi nhuận là 543 triệu đồng.
    • Năm 2003 lợi nhuận là 628 triệu đồng .
    • Năm 2004 là năm có lợi nhuận cao nhất của Công ty đạt 768 triệu.

    + Nhờ có được mức lợi nhuận cao như vậy nên công ty đã có những đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động sản xúât kinh doanh của mình, làm cho quy mô kinh doanh ngày càng được mở rộng, sản phẩm sản xuất của Công ty ngày càng được nâng cao về chất lượng,  hàng hóa của Công ty ngày càng đa dạng về mẫu mã và chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tăng doanh thu của Công ty.

    + Từ đầu năm 2004 nhờ tăng cường công tác tiêu thụ hàng hóa, Công ty đã kí thêm một số hợp đồng với những khách hàng ở Miền Trung nên đã thúc đẩy khả năng  tiêu thụ của Công ty.

    + Do công ty liên tục cải tiến mẫu mã sản phẩm cũng như đảm bảo về chất lượng hàng hóa cho nên khách hàng hết sức tin tưởng vào Công ty, hay Công ty đã tạo được uy tín của mình trên thị trường.

    + Có được thành quả như ngày hôm nay là nhờ vào sự nỗ lực rất lớn của lãnh đạo công nhân viên toàn Công ty. Họ luôn đoàn kết gắn bó tạo ra nội bộ doanh nghiệp vững mạnh là điểm tựa vững chắc đưa Công ty phát triển đi lên.

    * Đối với xã hội.

    Thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Công ty đã tạo ra một loại sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu của người dân, nâng cao đời sống vật chất của người dân trong xã hội.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty góp phần vào việc phát triển sản xuất của xã hội, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI tuy là một Công ty nhỏ nhưng cũng tạo ra việc làm ổn định cho một bộ phận người lao động, nhờ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội cũng như tạo ra cuộc sống ổn định của một số hộ gia đình. Bên cạnh đó Công ty còn tham gia vào các hoạt động xã hội khác như bảo vệ môi trường, các phong trào hoạt động của phường nơi Công ty hoạt động

    * Đối với Nhà nước.

    Thành tựu quan trọng nhất của Công ty đối với Nhà nước là việc Công ty ngày càng phát triển, doanh thu từ hoạt động sản xuất ngày càng cao. Nhờ  đó Công ty nộp thuế cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng, năm 2002 Công ty nộp ngân sách  là 173,76 triệu đồng, năm 2003 nộp ngân sách là  200,96 triệu đồng tăng 27,2 triệu so với năm2002, năm 2004 Công ty nộp thuế cho ngân sách tiếp tục tăng cao đạt 245,76 triệu đồng tăng 44,8 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29% so với năm 2003.

    Với việc nộp thuế ngày càng tăng Công ty đă góp phần vào việc tăng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển của nhà nước

    3. Những tồn tại và nguyên nhân.

      3.1. Những tồn tại cần khắc phục.   

    Ngoài những thành tựu to lớn mà Công ty đã đạt được ta vẫn thấy còn có những tồn tại khó khăn  nhất định mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai.

    + Công ty chưa đầu tư  thích đáng vào việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, do đó thông tin về nhu cầu đối với sự phát triển của Công ty có được là rất hạn chế . Nhất là kể từ khi thành lập đến nay Công ty chưa sử dụng bất kì hình thức quảng cáo nào để giới thiệu sản phẩm hàng hóa của mình. Do vậy sản phẩm hàng hóa của Công ty không được người tiêu dùng nhận thức đầy đủ nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tiêu thụ hàng hóa.

    Công ty vẫn còn hạn chế trong việc xác định thị phần của mình trên thị trường và của đối thủ cạnh tranh, chưa nắm rõ được điểm mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Do vậy rất khó khăn trong việc xác định được chiến lược chiếm lĩnh thị trường hạn chế sự cạnh tranh của đối thủ

    Năm 2004 sản phẩm hư hỏng tuy đã giảm nhưng vẫn còn cao làm chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Khâu mua hàng vẫn chưa thật sự tốt, nhất là việc bảo quản hàng hóa lên vẫn gây tình trạng lãng phí không đáng có, vì thế cần phải khắc phục.

    Vẫn cồn tình trạng giao hàng chậm cho khách, đặc biệt là vào mùa mưa lượng tiêu thụ hàng quần áo đi mưa tăng mạnh. Điều này ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.

       3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên.

    Công ty mới thành lập tiềm lực kinh tế cũng như kinh nghiệm còn ít không thể cùng một lúc thực hiện được tất cả mọi việc một cách suôn sẻ.

    Hệ thống máy móc thiết bị nhà xưởng của Công ty còn lạc hậu và nhỏ hẹp, hệ thống thu mua và phân phối hàng hóa đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nên không thể tránh được thiếu sót.

    Vốn cho sản xuất và đầu tư đổi mới trang bị còn bị hạn chế. Trên thực tế đây là nguyên nhân quan trọng nhất làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Trình độ của công nhân còn hạn chế do chưa được đào tạo và thời gian làm việc chưa nhiều.

     

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Dự báo nhu cầu sản phẩm của công ty năm 2005.

    Theo dự đoán của phòng Marketing thì nhu cầu về sản phẩm của công ty năm 2005.

    Năm 2005 nhu cầu sản phẩm của Công ty tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ tăng sẽ chậm lại do có sự cạnh tranh ngày càng tăng.

    Dự kiến sản phẩm áo đi mưa mỏng vẫn đạt sản lượng cao nhất khoảng 72003 sản phẩm tăng 3,8%, áo đi mưa cho hai người dự định có tốc độ tăng cao nhất đạt 30000 sản phẩm tăng 46,3% so với năm 2004, áo đi mưa có tay đạt 50000 sản phẩm tăng 1,3%, áo đi mưa không tay tiếp tục có xu hướng giảm đi, dự kiến chỉ có thể tiêu thụ được 10000 sản phẩm giảm 36,3% so với năm 2004.

    Về sản phẩm của Công ty có xu hướng tăng trưởng chậm lại do hiện tại Công ty cũng gặp một số khó khăn do bị cạnh tranh. Bên cạnh đó chi phí mua hàng còn khá lớn làm cho giá bán bị nâng cao. Mặt khác nếu không có sự thay đổi nhất định Công ty sẽ không  chủ động được trong việc mua hàng, như vậy sẽ hạn chế việc tiêu thụ hàng hóa.

    2. Kế hoạch mua hàng, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    Việc mua nguyên vật liệu cũng như mua hàng cần phải có kế hoạch cụ thể và phải có sự tính toán chi tiết để mua được hàng hóa với giá phù hợp hạn chế được chi phí mua hàng, thiết lập hệ thống thu mua hợp lí, tăng hiệu quả.

    Sản xuất: Dự tính trong năm 2005 Công ty sẽ đầu tư mở rộng nhà xưởng để lắp đặt dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc, nhằm nâng cao  năng suất chất lượng của mặt hàng quần áo đi mưa và có thể sản xuất thêm một số măt hàng khác như đồ dùng bằng nhựa. Từ đó có thể nâng cao doanh thu bán sản phẩm lên hơn 3000 triệu đồng.

    Mục tiêu kế hoạch năm 2005:

    *Doanh thu đạt 6500 triệu đồng tăng 11,36% so với thực hiện năm 2004.

    • Doanh thu từ bán sản phẩm là 3400 triệu tăng 14,28% so với 2004.
    • Doanh thu từ bán hàng hóa là 3100 triệu tăng 8,32% so với 2004.

    II. CÁC BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Các biện pháp công ty đã và đang áp dụng để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty.

    1.1.Công tác nghiên cứu thị trường của Công ty TNHH  ÚC ĐẠI LỢI.

    Trong nền kinh tế thị trường , nền kinh tế của sản xuất hàng hóa, cung luôn luôn lớn hơn cầu, thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ trong tất cả các ngành nghề khác nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI cũng vậy có rất nhiều các doanh nghiệp khác nhau cùng tham gia hoạt động. Chính vì thế việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty mình là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Với phương châm “ Chủ động tìm người mua để bán hàng và tìm nơi có nhu cầu để kí kết hợp đồng “ ban giám đốc và phòng Marketing đã đi nhiều nơi nhằm duy trì khách hàng cũ khai thác khách hàng mới, vì thế năm 2004 công ty đã kí thêm được 6 hợp đồng cung cấp sản phẩm thường xuyên trong đó có 2 hợp đồng trị giá trên 100 triệu đồng.

    Phòng marketing có chức năng quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm cuả Công ty. Các nhân viên của phòng marketing thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của thị trường, tìm kiếm những thị trường mới còn bỏ ngỏ hay những thị trường có sức cạnh tranh không cao, để có thể đưa sản phẩm của Công ty vào tiêu thụ một cách hiệu quả nhất. Từ việc nghiên cứu thị trường Công ty sẽ nắm bắt được những thông tin phản hồi để từ đó cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, mầu sắc cũng như cung cấp những hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàng.

    Nhờ quá trình nghiên cứu thị trường, tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty ngày một tăng đem lại hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động kinh doanh. Đặc biệt năm 2004 nhờ quá trình nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng Công ty đã cảo tiến sản phẩm, cho ra đời một sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, tạo nên sự phát triển mới cho hoạt động sản xuất cũng như tạo lên một sức cạnh tranh mạnh mẽ cho Công ty.

    Tuy nhiên nếu đánh giá một cách  toàn diện thì việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của Công ty chưa được cao nắm, hay Công ty chưa đầu tư xứng đáng cho việc khuyếch trương sản phẩm, thúc đẩy tiêu thụ. Hiện tại Công ty mới chỉ có các đại lí tiêu thụ nhưng lại không phải trực tiếp của Công ty, Công ty chưa có các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của chính mình, vì thế việc tiếp xúc với khách hàng cũng như tạo ra các mối quan hệ lâu dài thường xuyên và ổn định là rất khó khăn, từ đó việc giới thiệu sản phẩm cũng như thu thập ý kiến phản hồi của người tiêu dùng còn thấp.

    Với hai kênh tiêu thụ như vậy giúp công ty tiêu thụ sản phẩm hàng hóa một cách nhanh chóng, đảm bảo việc quay vòng vốn nhanh chóng cũng như thúc đẩy sản xuất.

    1.2 Bán hàng trả chậm và bán hàng với giá ưu đãi.

    *   Bán hàng trả chậm: Là phương thức bán hàng mà người mua có thể thanh toán tiền hàng sau một thời gian nhận hàng theo sự thỏa thuận trong hợp đồng. Phương thức này đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty bởi vì người mua hàng chưa có tiền hoặc thiếu tiền nhưng vẫn có thể mua được hàng hóa của Công ty, sau đó họ bán hết  hàng mới đến thời gian phải thanh toán. Như vậy họ đã nhờ vào vốn của Công ty để kinh doanh và thu lợi nhuận, lên có nhiều khách hàng muốn mua hàng theo phương thức này. Tuy nhiên, những khách hàng này thường phải chịu một mức giá cao hơn so với mức giá bình thường và do việc bán hàng theo phương thức này gặp nhiều rủi ro, nên Công ty chỉ áp dụng đối với khách hàng quen thuộc và có uy tín cao.

    *  Bán hàng với giá ưu đãi : Là phương thức bán hàng với mức giá thay đổi theo doanh số bán. Tức là nếu người mua hàng mua với khối lượng lớn trở lên và thanh toán ngay sau khi giao hàng sẽ được hưởng phần trăm theo doanh số bán, với khách hàng mua 50 – 100 triệu thì được giảm giá 5%, với khách hàng mua từ 100 – 200 triệu thì được giảm giá 7%, còn với        khách hàng mua từ 200 triệu trở lên sẽ được giảm giá 10%. Phương thức bán hàng này kích thích nhu cầu người tiêu dùng, nhất là những khách hàng có tiềm lực tài chính vì khi mua hàng họ được hưởng một khoản lợi không nhỏ. Phương thức bán này vừa kích thích được nhu cầu vừa giúp Công ty quay vòng vốn nhanh hơn, tuy nhiên Công ty cũng phải chịu thiệt do giảm giá bán.

    1.3. Đảm bảo chất lượng sản phẩm tạo lòng tin cho khách hàng.

    Uy tín của công ty là một yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bàn vững của Công ty. Vì vậy Công ty luôn cố gắng làm sao chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình được đảm bảo, như vậy khách hàng luôn yên tâm khi quyết định mua sản phẩm của Công ty. Tạo được uy tín đối với khách hàng sẽ giữ được  khách hàng truyền thống và lôi kéo khách hàng mới đến với Công ty, và Công ty sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm  hàng hóa hơn. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình trước hết công ty luôn chú trọng tới việc mua hàng hoá và nguyên vật liệu. Lãnh đạo công ty chỉ đạo trực tiếp cho phòng cung ứng vật tư bất cứ giá nào cũng phải đảm bảo nguyên vật liệu cả về số lượng cũng như chất lượng nhằm đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất.

    Khâu sản xuất cũng có tính chất quyết định tới chất lượng của sản phẩm. Tuy máy móc của công ty còn lạc hậu yếu kém, nhưng nhờ có sự chỉ đạo tích cực của cấp trên lên công nhân viên của công ty làm việc rất có trách nhiệm, cho lên những sản phẩm bị lỗi đều được loại bỏ để xử lí sau, đảm bảo sản phẩm suất xưởng luôn đảm bảo chất lượng.

    Việc bảo quản sản phẩm hàng hóa cũng là khâu quan trọng trước khi đưa ra thị trường. Với tính chất của hàng hóa công ty cho bảo quản trong những kho khô và mát để tránh cho sản phẩm khỏi bị huỷ hoại.

    Nhờ những lỗ lực và tinh thần trách nhiệm to lới, sản phẩm hàng hóa của công ty luôn đảm bảo chất lượng tạo lòng tin cho khách hàng , cũng có nghĩa tốc độ tiêu thụ của công ty ngày một tăng lên.

    1.4.  Đảm bảo dịch vụ trong và sau bán hàng.

    Trong nền kinh tế thị trường dịch vụ trong và sau bán có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Do nhận thúc đúng đắn được vấn đề này mà Công ty rất chú trọng tới công tác phục vụ khách hàng. Trong quá trình bán hàng Công ty luôn hướng dẫn khách hàng cách bảo quản hàng hóa một cách chi tiết để giữ cho sản phẩm hàng hóa không bị hư hại, đối với khách hàng ở gần Công ty luôn phục vụ vận chuyển một cách tận tình đến tận nơi cho khách, đối với khách hàng ở xa nếu không phục vụ được Công ty sẽ đảm bảo gửi hàng đến tận nơi cho khách. Đối với sản phẩm chủa Công ty nếu có sự hư hỏng, rách nát Công ty sẽ chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, còn với hàng hóa nếu hư hỏng do phía công ty thì công ty sẽ có trách nhiệm đổi lại. Tuy nhiên việc phải đổi đi đổi lại sản phẩm hàng hóa rất hiếm khi sẩy ra vì công ty luôn kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình. Nhờ đảm bảo dịch vụ cho khách hàng nên khách hàng rất yên tâm khi mua hàng, đồng thời kích thích được nhu cầu người tiêu dùng, tăng khả năng tiêu thụ của công ty.

    2. Một số ý kiến của em để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Ngoài việc Công ty tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp đã và đang áp dụng nhằm củng cố việc tiêu thụ, Công ty lên áp dụng một số biện pháp sau để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    2.1. Đối với hoạt động sản xuất.

    Hoạt động sản xuất có thể coi là hoạt động chính của Công ty vì thế việc mở rộng quy mô sản xuất là đIều kiện hết sức cần thiết đối với sự phát triển của Công ty. Để có thể mở rộng quy mô sản xuất thì khâu tiêu thụ phải được đảm bảo để tránh ứ đọng hàng hóa. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa ta có thể sử dụng một số biện pháp sau:

    2.1.1. Tăng cường hoạt động quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới.

    Kể từ khi thành lập đến nay Công ty hầu như chưa sử dụng một biện pháp quảng cáo nào cho sản phẩm của mình, bởi vì chi phí cho hoạt động quảng cáo là khá cao mà tiềm lực Công ty còn hạn hẹp.

    Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay Công ty phải đương đầu với khá nhiều đối thủ cạnh tranh.Vì thế để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa Công ty nên áp dụng một số biện pháp quảng cáo dù là rất đơn giản để có thể giới thiệu rộng rãi sản phẩm ra thị trường.

    Với đặc điểm hàng hóa của mình Công ty cũng không cần phải quảng cáo trên truyền hình hay rađio cho tốn kém, mà Công ty chỉ cần áp dụng một số biện pháp quảng cáo đơn giản như dùng catalô, khuếch trương khuyến mại, đặc biệt là dùng biện pháp chào hàng. Chào hàng có thể nói là một biện pháp thích hợp nhất để quảng bá sản phẩm của Công ty. Ta có thể chào hàng  cho các nhà buôn ở các tỉnh thành phố cũng có thể chào hàng cho các cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội. Các cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội rất nhiều, nhân viên của Công ty có thể mang sản phẩm của mình đến chào bán với mức giá thích hợp để có thể cạnh tranh với các sản phẩm khác. Đây sẽ là cơ hội để Công ty tìm kiếm thêm bạn hàng và thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của mình.

    Nhờ có quảng cáo Công ty sẽ tăng thêm niềm tin của khách hàng giữ vững được thị trường hiện có đồng thời qua đó sẽ có những khách hàng biết đến Công ty và việc mở rộng thị trường là đương nhiên.

    Công ty nên thiết lập một số cửa hàng nhằm giới thiệu và bán sản phẩm và nắm bắt nhanh được ý kiến của khách hàng đồng thời phục vụ khách hàng được tốt hơn.

    2.1.2. Đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn.

    Đổi mới trang thiết bị thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp đem lại niềm tin cho khách hàng. Bởi vì khi Công ty đầu tư trang thiết bị sản xuất hiện đại cho thấy Công ty đang trên đà phát triển, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi giao dịch với Công ty, họ yên tâm về chất lượng sản phẩm, yên tâm về số lượng hàng hóa Công ty cung ứng. Nhờ đầu tư thiết bị hiện đại sẽ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao hơn mang lại uy tín cho Công ty và khách hàng trung thành với sản phẩm của Công ty.

    Trước đây với máy móc lạc hậu thì có rất nhiều sản phẩm hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất, nếu được đầu tư hiện đại sẽ giảm bớt lượng hàng hóa hư hỏng, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm sản xuất, việc tiêu thụ rễ ràng hơn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Theo như dự định năm 2005 công ty sẽ nhập dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc. Đây là một dấu hiệu rất tốt trong việc đầu tư phát triển sản xuất của Công ty. Tuy nhiên Công ty cần tập trung tạo mọi nguồn lực của mình để có thể nhanh chóng thực hiện được những kế hoạch đề ra.

    2.1.3. Cần đa dạng hóa sản phẩm.

    Đa dạng hóa sản phẩm luôn là biện pháp tích cực để mở rộng sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, nâng cao khả năng tiêu thụ của Công ty. Hiện nay, sản phẩm của Công ty còn đơn chiếc do vậy rất rễ gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, chính vì vậy việc đa dạng hóa sản phẩm là một việc cần thiết và phải được ưu tiên hàng đầu, có như vậy hoạt động tiêu thụ mới phát triển mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh mới ổn định.

    Hiện tại Công ty có thể phát triển thêm những sản phẩm cũng thuộc hàng polime như túi ninon. Đây là mặt hàng cũng rất đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau. Đặc biệt sức tiêu thụ của mặt hàng này  trên thị trường là rất lớn, vì thế Công ty sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của mình.

    Ngoài ra trong tương lai khi sự phát triển của công ty mạnh lên công ty có thể đầu tư sản xuất các mặt hàng bằng nhựa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Đây là mặt hàng cũng rất được người tiêu dùng ưa chuộng và hứa hẹn nhiều thành công khi Công ty tham gia vào sản xuất.

    Như vậy đa dạng hoá sản phẩm  là cơ sở để Công ty phát triển hoạt động sản xuất cũng như nâng cao tốc độ tiêu thụ của mình.

    .  Đối với hoạt động thương mại.

    Hoạt động kinh doanh thương mại cũng có ảnh hưởng rất mạnh tới hoạt động của toàn Công ty. Do vậy việc đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa là rất cần thiết nhất là khi cạnh tranh trong các doanh nghiệp cùng ngành ngày càng mạnh mẽ.

    2.2.1. Hoàn thiện hơn nữa khâu cung ứng hàng hóa.

    Công tác mua hàng có ý nghĩa rất lớn tới việc tiêu thụ hàng hóa, mua hàng tốt giúp cho việc bán hàng thuận lợi hơn rất nhiều, đảm bảo nâng cao tốc độ tiêu thụ. Bởi vì tổ chức tốt việc cung ứng sẽ đảm bảo chất lượng, số lượng chủng loại hàng hóa cung ứng ra thị trường, ngoài ra Công ty sẽ giảm tối thiểu chi phí mua hàng nhờ vậy có thể giảm được giá thành tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

    Hoàn thiện khâu cung ứng hàng hóa trước hết công ty cần lựa chọn nhiều nhà cung ứng và là những nhà cung ứng có uy tín cao. Như vậy đảm bảo cho hàng hóa không bị thiếu cũng như lựa chọn được hàng hóa có chất lượng cao và gía thành thấp nhất.

    Ngoài ra những người được giao nhiệm vụ đi mua hàng phải là những người có trình độ hiểu biết về hàng hóa mình đi mua, như vậy mới có thể biết được những hàng hóa tốt nhất mua về cho Công ty.

    Việc vận chuyển hnàg hóa cũng là một yếu tố quan trong ảnh hưởng tới chi phí đầu vào. Cần lựa chọn phương tiện vận chuyển phù hợp với hàng hóa mua về để tiết kiệm chi phí.

    Nếu hoàn thiện được khâu cung ứng chắc chắn hàng hóa của Công ty bán ra thị trường có chất lượng tốt giá thành hạ đảm bảo cho cạnh tranh thúc đẩy tiêu thụ.

    2.2.2. Thiết lập cửa hàng chuyên bán hàng hóa của  Công ty.

    Công ty nên mở cho mình một cửa hàng để có thể tiếp cận nhanh chóng với người tiêu dùng . Công ty sẽ nắm bắt được nhũng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng, là cơ hội để Công ty phát triển thêm hàng hóa của mình, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu. Thông qua cửa hàng Công ty vừa bán buôn vừa có thể bán lẻ được hàng hóa, bán lẻ tuy số lượng mỗi lần bán ít nhưng bán lẻ cho nhiều người thì doanh thu cũng không phải nhỏ.

    Như vậy mở cửa hàng trực tiếp cũng là một biện pháp thích hợp để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    III. NHỮNG KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC.

    1. Cần có chính sách vay vốn với mức lãi suất hợp lí.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước. Với một mức lãi suất hợp lí sẽ kích thích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Bởi vì nó giúp các doanh nghiệp vay vốn hạ được chi phí sản xuất từ đó giảm giá thành sản phẩm kích thích tiêu dùng, tăng doanh thu tăng lợi nhuận.

    Ngoài ra nhà nước cần có chính sách vay vốn thông thoáng tránh rườm rà, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn một cách nhanh nhất, giúp họ nắm bắt được cơ hội kinh doanh.

    2. Cần có sự điều chỉnh chính sách thuế cho hợp lí.

    Tránh tình trạng các doanh nghiệp bị đánh thuế chồng chéo ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó các doanh nghiệp yên tâm hoạt động sản xuất và đóng góp cho ngân sách theo đúng luật định đảm bảo thoả mãn nhu cầu cả hai bên.

    Các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất.

    3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường sản xuất kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

    Tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ như Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI. Môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp các công ty yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy lợi thế của mình. Tránh tình trạng Công ty lớn lấn áp Công ty bé dẫn đến độc quyền sản xuất, mua, bán hàng hóa, làm mất ổn định nền kinh tế và gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  được tiếp xúc với những người làm công tác quản lí, em càng hiểu rõ hơn về sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài đòi hởi phải giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hay đầu ra của doanh nghiệp. Sản phẩm tung ra thị trường không phải lúc nào cũng được thị trường chấp nhận, chỉ có những hàng hóa mà” thượng đế” có cầu về nó mới chấp nhận. Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp ngày càng phát triển song cũng có những doanh nghiệp có hàng hóa tồn đọng hàng tỷ đồng, làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp, hạn chế khả năng quay vòng vốn dẫn tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp. Vậy giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp.

    Để tăng cường hơn nữa công tác tiêu thụ sản phẩm của mình , một trong các giải pháp được giới thiệu là: tăng cường công tác nghiên cứu thị trường ; tăng cường hoạt động quảng cáo giới thiệu sản phẩmvà giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới ; đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn, hoàn thiện khâu cung ứng hàng hoá. Có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh đưa doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Đây sẽ là cơ sở để phát triển nền kinh tế, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Đất nước.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Kinh tế doanh nghiệp Thương Mại – ĐH KTQD – 2002.
    • Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp TM – DV – ĐHTM.
    • Giáo trình thương mại doanh nghiệp – Quản trị tiêu thụ sản phẩm và quản trị vật tư- ĐHKTQD – 2001.
    • Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường – NXB Giáo dục – 1999.
    • Nghệ thuật bán hàng – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 2002.
    • Lựa chọn tối ưu phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – NXB Chính trị Quốc gia – 1995.
    • Marketing căn bản – Philip Kotle – NXB Thống kê – 2000.
    • Quản trị sản xuất và tác nghiệp – NXB Giáo dục – 2002.
    • Marketing trong quản trị kinh doanh – NXB Thống kê – 2001.

    10- Giáo trình quản trị hoạt động thương mại trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    11- Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    12- Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh qua các năm 2000 – 2004 của Công ty TNHH.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, toàn cầu hoá đang trở thành xu hướng phổ biến thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Để có thể vực dậy và phát triển một nền kinh tế với một cơ sở hạ tầng yếu kém về mọi mặt, để có thể thắng được trong cạnh tranh, chúng ta cần có rất nhiều vốn. Kênh dẫn vốn trong nước quan trọng nhất cho nền kinh tế là hệ thống ngân hàng. Để có thể thu hút được nhiều vốn thì một trong những điều cần phải làm là làm tốt công tác tạo đầu ra, tức là cấp tín dụng cho nền kinh tế.

    Tín dụng Ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế. Nghiệp vụ này không chỉ có ý nghĩa với nền kinh tế mà nó còn là nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của từng ngân hàng. Chính vì vậy, làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng là điều mà trước đây, bây giờ và sau này đều được các nhà quản lý Ngân hàng, các nhà chính sách và các nhà nghiên cứu quan tâm.

    Với Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, hoạt động tín dụng trong những năm gần đây là khá tốt, dư nợ qua các năm tăng cao, tỷ lệ nợ quá hạn giảm. Tuy nhiên, kết quả hoạt động tín dụng vẫn chưa cao như mong muốn. Chúng ta sẽ thấy rõ điều đó trong phần thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội được đề cập ở chương 2 của chuyên đề này. Trước xu thế hội nhập và cạnh tranh Ngân hàng cần nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội” nhằm mục đích đưa ra những giải pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn, góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam, hoạt động tín dụng bao gồm nhiều hoạt động như chiết khấu, bảo lãnh, cho vay, cho thuê… Song trong bản đề án này em chỉ đề cập tới chất lượng tín dụng ở góc độ cho vay.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    BẢN CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC CHIA LÀM 3 CHƯƠNG

    Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.

    Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội.

    Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội.

    4

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    chương i

    Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của

    ngân hàng thương mại

    1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1.1. Khái niệm hoạt động tín dụng

    Ngân hàng là nơi biểu hiện tập trung nhất mọi hoạt động kinh tế của đất nước. Những thông tin có liên quan đến hoạt động ngân hàng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, chính phủ và các tầng lớp dân cư.

    Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ. Trong đó, hoạt động tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm (tín dụng) là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại. Qui mô, chất lượng tín dụng ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

    Tín dụng ngân hàng là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay. Trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng một lượng giá trị (thường dưới hình thái tiền) trong một thời gian nhất dịnh theo những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận (thời gian, phương thức thanh toán lãi- gốc, thế chấp…)

    Qua đó ta thấy:

    Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin- người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ. Với ngân hàng, để có thể tin được vào khách hàng, ngân hàng luôn thẩm định định giá khách hàng trước khi cho vay. Nếu khâu này thực hiện một cách khách quan, chính xác thì việc cho vay của ngân hàng gặp ít rủi ro và ngược lại.

    Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Đặc trưng này của tín dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngân hàng xác định thời hạn cho vay dựa vào quá trình luân chuyển vốn của khách hàng và tính chất vốn của ngân hàng. Nếu ngân hàng

    5

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    định kỳ hạn nợ một cách phù hợp với khách hàng thì khả năng trả nợ đúng hạn cao và ngược lại.

    Tín dụng dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Sở dĩ như vậy là vì vốn hoạt động của ngân hàng chủ yếu là huy động từ bên ngoài, vốn chủ sở hữu ít khi được sử dụng để sản xuất kinh doanh mà được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài sản cố định. Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định ngân hàng phải trả lại cho người gửi ngân hàng. Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí như trả lương, khấu hao… Do đó, người vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi. Đó là nguồn thu nhập chính của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn tại và phát triển.

    Khi cho vay, cái mà ngân hàng thu được là lợi nhuận sau khi đã trừ đi tất cả các khoản phí. Đồng thời đi kèm với lợi nhuận dự kiến có rủi ro. Rủi ro tín dụng sẽ xảy ra khi khách hàng không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng (Không trả đúng hạn hoặc không trả). Ngân hàng luôn phải xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro để định ra một mức lãi suất phù hợp. Rõ ràng, với một dự án có độ rủi ro cao hơn thì chi phí nợ của doanh nghiệp đó phải cao hơn và ngược lại.

    1.1.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng

    Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Trong quá trình phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:

    1.1.2.1.Theo mục đích sử dụng tiền vay và của người vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Tín dụng đối với người sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại cấp tín

    dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nguồn trả nợ của hoạt động này là kết quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy Ngân hàng cần phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình, về phương án sản xuất kinh doanh của họ.

    6

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu

    cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá lâu bền như máy giặt, điều hoà, tủ lạnh. …ở đây, nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người vay.

    Với cách phân loại này, ngân hàng sẽ có quy trình nghiệp vụ cụ thể để đảm bảo ngân hàng có đủ tiền để cho vay và thu hồi nợ theo đánh giá mức độ rủi ro và mức lãi xuất được đặt ra cho từng loại.

    1.1.2.2. Theo thời hạn sử dụng tiền vay của người vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng mà thời điểm trả nợ được xác định cụ thể. Đó có thể là một năm, hai năm,….

     

    +Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh

    nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được.

    +Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.

    +Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường xá, bến cảng, sân bay… ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lường trước được.

    • Tín dụng không thời hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn hoàn trả tiền vay không được xác định khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là điều kiện về

    việc thu hồi khoản tiền cho vay của ngân hàng hoặc việc trả nợ của người vay. Ví dụ ngân hàng không thu gối theo thời hạn nhất định mà chỉ thu lãi; người

    7

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    vay sẽ trả nợ cho Ngân hàng khi nhu cầu vay thêm không cần thiết nữa do quy mô sản xuất giảm hoặc doanh nghiệp lấy nguồn khác để tự bổ xung; ngân hàng muốn thu hồi gốc phải báo trước cho người vay. Như vậy khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ đi vay không thời hạn (vì hết tiền đầu tư cho chu kỳ sản xuất kinh doanh này lại cần tiếp).

    1.1.2.3. Theo điều kiện đảm bảo

    Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:

    • Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như

    thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng. Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tín dụng này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.

    • Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế

    chấp, cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải đánh giá hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng không được phép giao dịch với bất kỳ ngân hàng nào khác. Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo.

    1.1.2.4. Theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay

    Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:

    • Cho vay bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho

    khách hàng bằng VND. Nước ta quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được vay bằng VND.

    Cho vay bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho nhập khẩu; đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì Ngân

    8

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng cho vay bằng ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND đi mua hàng xuất khẩu.

    1.1.2.5. Theo đối tượng tín dụng

    Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

    • Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại tín dụng được

    sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên Ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn.

    • Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định: Là loại tín dụng được

    sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới. Hình thức tín dụng này thường có mức độ rủi ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn.

    1.1.2.6. Ngoài ra tín dụng còn được phân chia theo các cách sau

    Theo xuất xứ của tín dụng có:

    • Tín dụng gián tiếp.
    • Tín dụng trực tiếp.
    • Tín dụng cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác vay.
    • Tín dụng cho nhà nước vay.

     

    • Tín dụng cho người tiêu dùng vay.

    Dựa vào các cách phân loại trên, các nhà phân tích sẽ biết được kết cấu tín dụng của từng loại tín dụng (là tỷ trọng của từng loaị tín dụng trên tổng dư nợ). Từ kết cấu tín dụng đó, so sánh với kết cấu nguồn huy động, so với nhu cầu của nền kinh tế, sẽ giúp cho các nhà phân tích đánh giá, xem xét kết cấu tín dụng đã phù hợp với ngân hàng chưa. Từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp.

    1.1.3. Vai trò của hoạt động tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế

    Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnh

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tranh…. Các doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải

    có vốn để đầu tư và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp có thể khai thác. Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển. Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường. Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện trên các khía cạnh sau:

    • Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.

    Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất. Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án.

    Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.

    • Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong

    nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.

    Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi

    10

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.

    Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả.

    • Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ.

    Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.

    • Thứ tư: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng

    mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.

    Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài. Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

    Để đánh giá hoạt động tín dụng của một Ngân hàng thương mại có tốt hay không, cần xem xét chất lượng tín dụng.

    11

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng

    Chất lượng, giá cả và lượng hàng hoá là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm là điều tất yếu. Các nhà kinh tế nói đến chất lượng bằng nhiều cách: Chất lượng là “Sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng”, là” một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hay chất lượng là” năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”.

    Với cách đề cập như vậy, thì chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội.

    Để có thể hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng, ta xem xét sự thể hiện chất lượng tín dụng trên các khía cạnh sau:

    • Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ số tiền

    mà Ngân hàng cho vay phải có lãi xuất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.

    • Đối với Ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở

    phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Đối với một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định để thoả mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.

    • Đối với Chính phủ, với sự phát triển kinh tế xã hội: Chất lượng tín

    dụng được thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.

    12

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

    Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh độ thích nghi của Ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, để đánh giá được ngân hàng đó mạnh hay yếu thì phải đánh giá được chất lượng tín dụng. Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng, có chỉ tiêu mang tính định lượng có chỉ tiêu mang tính định tính.

    1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính

    Cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng nếu Ngân hàng có bảo vệ, có bãi gửi xe, có nhân viên trông xe không thu lệ phí thì Ngân hàng sẽ tạo được một ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp trong lòng khách hàng.

    Nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàng không bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian. Từ đó khách hàng sẽ có ấn tượng tốt về Ngân hàng.

    Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhân viên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng mới.

    Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nước ngoài, ngân hàng cổ phần trong nước vào Việt Nam không lâu nhưng phong cách làm việc, thái độ phục vụ khách hàng của họ là rất tốt. Trong số này có thể kể đến ngân hàng ANZ, là một ngân hàng của úc mới vào Việt Nam từ năm 1992. Khách hàng khi đến giao dịch với ANZ bao giờ cũng rất yên tâm và thoải mái bởi ở đây có một đội ngũ nhân viên bảo vệ rất chuyên nghiệp, một ban lễ tân niềm nở và hướng dẫn khách hàng tận tình, chu đáo, một không khí làm việc nghiêm túc. Tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên uy tín của ngân hàng ANZ ở Việt Nam.

    Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng

    1.2.2.2.1. Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

    Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu.

    Chỉ tiêu tổng dư nợ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, sự uy tín của Ngân hàng đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.

    Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.

    1.2.2.2.2. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn

    Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đúng hạn.

    Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

    Tỷ lệ nợ   Nợ quá hạn  
      =    
    Quá hạn Tổng dư nợ  
     

    Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    không được trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ quá hạn càng cao, chất lượng tín dụng càng thấp.

    Mặt khác, để đánh giá chính xác hơn chỉ tiêu này người ta chia tỷ lệ nợ quá hạn ra làm hai loại:

    Tỷ lệ nợ quá hạn   Nợ quá hạn có khả năng thu hồi  
      =    
    có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn  
     
    Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi  
      =    
    không có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn  
     

    Hai chỉ tiêu này cho chúng ta biết được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không có khả năng thu hồi. Do vậy sử dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng.

    1.2.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

    Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    Vòng quay vốn   Doanh số thu nợ  
      =      
    tín dụng Dư nợ bình quân  
     

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.

    1.2.2.2.4. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng

    Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay.

    Thu nhập từ   Lãi từ hoạt động tín dụng  
      =    
    hoạt động tín dụng Tổng thu nhập  
     

    Ta thấy rằng nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

    1.2.2.2.5. Chỉ tiêu doanh số cho vay

    Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của gân hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm

    1.2.2.2.6. Chỉ tiêu các thông số quy định

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngoài các chỉ tiêu trên thì chất lượng tín dụng còn được đánh giá thông qua việc đảm bảo các quy chế thể lệ tín dụng như cho vay một khách hàng, hệ số an toàn vốn tối thiểu 8%.

    • Giới hạn cho vay một khách hàng: Để đảm bảo khả năng thanh toán,

    bất cứ một Ngân hàng thương mại nào cũng chỉ được cấp tín dụng cho một khách hàng không quá 15% vốn tự có.

    • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số Cook): Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn tự có bảo vệ cho bao nhiêu đồng tài sản có rủi ro của Ngân hàng

    thương mại. Nó được tính bằng công thức sau:

    Tỷ lệ an toàn   Vốn tự có  
      =    
    vốn tối thiểu Tài sản có rủi ro qui đổi  
     
    • Dư nợ của 1 khách hàng không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ. Trên đây là các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Dựa vào

    các chỉ tiêu đó ta có thể nhận định được chất lượng tín dụng ngân hàng cao hay thấp. Tuy nhiên chất lượng tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác.

    1.2.2.2.7. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

    Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.

    Hiệu suất   Tổng dư nợ
      =  
    sử dụng vốn   Tổng vốn huy động

    1.2.2.2.8.Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của người vay

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Về nguyên tắc, nguồn trả nợ cho ngân hàng chính là tiền bán hàng (với tín dụng ngắn hạn), là khấu hao tài sản cố định của tài sản cố định được đầu tư bằng nguồn vốn vay đó, lợi nhuận sau thuế có thể từ tài sản đó hoặc tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh (đối với tín dụng trung và dài hạn).

    Tuy vậy, có nhiều trường hợp do sử dụng vốn kém hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản. .. nên người vay phải bán tài sản thế chấp (có thể do tự nguyện hoặc bắt buộc) để trả nợ Ngân hàng. Tỷ lệ này được xác định như sau:

    Tỷ lệ thanh toán nợ do Số tiền thu nợ do bán tài sản thế chấp
    =   *100%
     
    bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
    1.2.2.2.9. Lãi treo    

    Lãi treo là lãi tính trên nợ gốc và các khoản cho vay của ngân hàng nhưng chưa thu hồi được.

    Tổng các khoản lãi treo trên các món nợ càng thấp càng tốt. Lãi treo càng cao phản ánh rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn, ngân hàng có khả năng mất cả vốn lẫn lãi. Từ đó chất lượng tín dụng giảm và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Trên đây là các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng, tuy nhiên để đánh giá một cách chính xác cần xem xét các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

    1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

    Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của một ngân hàng, hoạt động tín dụng phát triển cũng kéo theo các hoạt động khác của ngân hàng phát triển. Nâng cao chất lượng tín dụng đã, đang, và sẽ là cái đích mà tất cả các ngân hàng thương mại hướng tới. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Bên cạnh các nhân tố từ chính ngân hàng, còn có những nhân tố từ khách hàng của ngân hàng và các nhân tố khách quan khác.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.Các nhân tố từ phía Ngân hàng

    1.3.1.1. Chính sách tín dụng của Ngân hàng

    Chính sách tín dụng của là một trong những chính sách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là yếu tố đầu tiên tác động dến việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    Chính sách tín dụng được hiểu là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo, liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Chính sách tín dụng bao gồm: hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi suất cho vay và mức lệ phí, các loại cho vay được thực hiện. Các điều khoản của chính sách tín dụng được xây dựng dựa trên nhiều yếu tố khác nhau như các điều kiện kinh tế, chính sách tiền tệ và tài chính của ngân hàng Nhà nước, khả năng về vốn của ngân hàng và nhu cầu tín dụng của khách hàng. Khi các yếu tố này thay đổi, chính sách tín dụng cũng thay đổi theo. Đối với mỗi khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách khác nhau cho phù hợp. Ví dụ như với các khách hàng có uy tín với ngân hàng thì ngân hàng có thể cho vay không có tài sản đảm bảo, có hạn mức cao hơn, lãi suất ưu đãi hơn; còn đối với các khách hàng khác, việc có tài sản đảm bảo là cần thiết.

    Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như của thị trường.

    1.3.1.2. Quy trình tín dụng

    Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó bao gồm các bước bắt đầu từ khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay cho đến khi thu hồi được nợ.

    Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng (khách hàng nhập hồ sơ vay vốn ). Bao gồm 3 giai đoạn: khai thác và tìm kiếm khách

    19

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng; hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và thành lập hồ sơ vay; phân tích thẩm định khách hàng và phương án, dự án vay vốn. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc nhiều vào chất lượng công tác thẩm định và quy định về điều kiện, thủ tục cho vay của từng ngân hàng thương mại.

    Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng, nói cách khác sẽ nâng cao chất lượng tín dụng.

    Thu hồi và giải quyết nợ là khâu quyết định đến chất lượng tín dụng. Sự nhạy bén của ngân hàng trong việc kịp thời phát hiện những biểu hiện bất lợi xảy ra đối với khách hàng cũng như những biện pháp xử lý kịp thời, tư vấn cho khách hàng sẽ giảm thiểu được những khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động tín dụng.

    Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là công tác thu thập thông tin. Thông tin tín dụng càng nhanh, càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng chống rủi ro tín dụng càng tốt. Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn: từ trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, từ phòng thông tin tín dụng của các ngân hàng thương mại, qua báo chí, các tổ chức nghề nghiệp, qua việc cán bộ tín dụng trực tiếp thu thập tại cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, qua báo cáo tài chính của khách hàng.

    Quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc. Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt,thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Ví dụ như đối với các dự án lớn, bước phân tích là rất quan trọng. Thậm chí có trường hợp quá phức tạp, ngân hàng phải thành lập tổ thẩm định riêng. Đối với những món vay tiêu dùng, việc giám sát mục đích sử dụng vốn cần được chú trọng nhiều hơn.

    20

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.3. Công tác tổ chức ngân hàng

    Tổ chức của ngân hàng cần cụ thể hoá và sắp xếp có khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc đã quy định.

    Ngân hàng được tổ chức một cách có khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban, giữa các ngân hàng với nhau trong toàn hệ thống cũng như với các cơ quan liên quan khác. Qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng, quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng, phát hiện và giải quyết kịp thời các khoản tín dụng có vấn đề, từ đó nâng cao chất lượng tín dụng.

    1.3.1.4. Phẩm chất và trình độ cán bộ

    Chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói riêng. Sỡ dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng.

    Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng. Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo taì chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều nơi..) từ đó phân tích được khả năng quản lý và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không.

    Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trưòng kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị trường…dự đoán trước được những biến động có thể xẩy ra từ đó tư vấn lại cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp.

    21

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.1.5. Kiểm soát nội bộ

    Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra; phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời.

    Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.

    1.3.1.6. Tình hình huy động vốn

    Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.Vốn huy động ngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn, vốn huy động trung dài hạn là nguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn. Vốn huy động càng lớn, ngân hàng thương mại càng có khả năng cho vay, mở rộng hoạt động tín dụng. Nếu

    • ngân hàng không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn huy động và cho vay mà không dự kiến dược nguồn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra.

    1.3.2. Các nhân tố từ phía khách hàng

    Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và sau khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh. Vì vậy, khách hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

    1.3.2.1. Năng lực của khách hàng

    Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không.

    Nếu năng lực của khách hàng yếu kém, thể hiện ở việc không dự đoán được những biến động lên xuống của nhu cầu thị trường; không hiểu biết nhiều trong việc sản xuất, phân phối và khuyếch trương sản phẩm …thì sẽ dễ dàng bị gục ngã trong cạnh tranh. Từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng. Và ngược lại năng lực của khách hàng càng cao thì khả năng cạnh tranh trên thị trường càng lớn, vốn vay càng được sử dụng có hiệu quả.

    22

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    1.3.2.2. Sự trung thực của khách hàng

    Sự trung thực của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng

    Nếu các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng không cung cấp các số liệu trung thực, vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành thì sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của khách hàng để qua đó có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn.

    Nếu khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục dích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ dúng hạn.

    1.3.2.3. Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng

    Rủi ro là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những biến cố (sự kiện) xảy ra ngoài mong muốn và đem lại hậu quả xấu. Rủi ro trong kinh doanh là một yếu tố tất yếu như người ta thường nói” rủi ro là người bạn đồng hành của kinh doanh”. Rủi ro phát sinh muôn màu muôn vẻ và là hệ quả của những nhân tố chủ quan hay khách quan, nhưng chủ yếu là những nhân tố khách quan ngoài dự đoán của doanh nghiệp.

    Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình thái khác nhau: do thiên tai, hoả hoạn, do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, là nạn nhân của sự thay đổi chính sách của nhà nước, do bị lừa đảo, trộm cắp…Ví dụ như giá bán nguyên vật liệu tăng vọt nhưng giá bán sản phẩm không thay đổi sẽ làm lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, ảnh hưởng đến việc trả nợ Ngân hàng. Nếu doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm lên thì sẽ bị khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, khả năng thu hồi vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ Ngân hàng về mặt thời hạn.

    1.3.2.4. Tài sản đảm bảo

    Quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng (có thể là tài sản đảm bảo hoặc tín chấp). Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều tài sản của các pháp nhân và cá nhân không có giấy chứng nhận sỡ hữu. Tài

    23

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    sản cố định phần lớn là nhà xưởng, máy móc, thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp. Trong khi đó nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Như vậy nếu cho vay theo đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ điều kiện để cho vay hoặc được cho vay nhưng không đáng kể

    1.3.2.5. Sự không theo kịp với quá trình đổi mới

    Nhiều doanh nghiệp nhà nước thường có thói quen dựa dẫm trông chờ vào nhà nước. Vốn tự có của họ ít nhưng lại được giao những nhiệm vụ sản xuất kinh doanh lớn. Hơn nữa, do đã quen với kiểu làm ăn bao cấp nên khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh, họ vay vốn ngân hàng để kinh doanh nhưng khi thua lỗ vẫn trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước như trước đây. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đặc biệt là chất lượng tín dụng trung dài hạn.

    1.3.3. Các nhân tố khác

    1.3.3.1. Môi trường kinh tế

    Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại. Hoạt động của ngân hàng thương mại có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng- đặc biệt là hoạt động tín dụng.

    Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao. Tức là các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng thất thường ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chu kỳ kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong thời kỳ suy thoái, sản xuất vượt quá nhu cầu dẫn tới hàng tồn kho lớn, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp không phát triển được. Hơn nữa nếu ngân hàng bỏ qua các nguyên tắc tín dụng thì lại càng làm giảm chất lượng tín dụng. Ngược lại trong thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu tín dụng tăng và rủi ro ít, do đó chất lượng tín dụng cũng tăng. Tuy nhiên trong thời kỳ này có những khoản vay vượt quá quy mô sản xuất cũng như khả năng quản lý của khách hàng nên những khoản vay này vẫn gặp rủi ro.

    1.3.3.2. Những nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước

    Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất lượng tín dụng. Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây trở ngại cho ngân hàng khi thu hồi nợ và ngược lại.

    Hệ thống pháp luật là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế. Nếu hệ thống pháp luật không đồng bộ, hay thay đổi sẽ làm cho hoạt động kinh doanh gặp khó khăn. Ngược lại nếu nó phù hợp với thực tế khách quan thì sẽ tạo một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt kết quả cao.

    1.3.3.3. Môi trường xã hội

    Quan hệ tín dụng được thực hiện trên cơ sở lòng tin. Nó là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng. Đạo đức xã hội ảnh hưởng tói chất lượng tín dụng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo sẽ làm giảm chất lượng tín dụng. Hơn nữa trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng sẽ làm giảm chất lượng tín dụng.

    1.3.3.4. Môi trường tự nhiên

    Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…), hoả hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản.Vì vậy khi môi trường tự nhiên không

    25

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

    Trên đây là những nhân tố chính tác động tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Để nâng cao chất lượng tín dụng, chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức đúng đắn các yếu tố trên, cùng với kết quả hoạt động thực tiễn của các Ngân hàng thương mại, để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục có tính khả thi cao.

    26

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chương II

    Thực trạng chất lượng tín dụng tại

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.1.1 Lịch sử hình thành và chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội được thành lập theo quyết định số 177/NHQD ngày 22/12/1984 của Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Chi nhánh chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/03/1985, trụ sở chính đặt tại 78 Nguyễn Du Hà Nội là đơn vị thành viên trực thuộc Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.

    Ban đầu thành lập, cơ sở vật chất của Ngân hàng rất thiếu thốn, số cán bộ của Ngân hàng chỉ có 15 người được điều chuyển từ Ngân hàng ngoại thương Việt Nam về. Đến nay số cán bộ công nhân viên đã lên đến gần 150, trình độ trên đại học, đại học chiếm 90%, cơ sở vật chất hiện đại và là một trong những Ngân hàng có công nghệ tiên tiến nhất hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội.

    Trong năm 2001, để đáp ứng nhu cầu phục vụ khách hàng, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã xây dựng thêm chi nhánh ngân hàng ngoại thương Thành Công (đặt tại 30-32 Láng hạ Hà Nội). Tuy mới thành lập được hơn 1 năm, nhưng Ngân hàng ngoại thương Thành Công đã đạt được những thành công đáng kể. Hiện nay, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đang tiến hành xây dựng thêm một chi nhánh cấp hai nữa, chi nhánh này đặt tại 147 Hoàng Quốc Việt với tên giao dịch là Ngân hàng ngoại thương Cầu Giấy. Sự ra đời của các chi nhánh này nhằm giải quyết các mặt như: giảm nhẹ gánh nặng công việc cho Ngân hàng mẹ là Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, tận dụng lao động tại Ngân hàng và đặc biệt nó còn là một điểm giao dịch mới cho khách hàng, rất thuận tiện cho các khách hàng trong khu vực và các khu vực lân cận.

    27

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ là phục vụ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất nhập khẩu và tiêu dùng trong nước tại thủ đô Hà Nội, các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Việt kiều về thăm quê hương, các đoàn khách nước ngoài vào tham quan du lịch Việt Nam, huy động tiền nhàn rỗi của dân cư (cả đồng Việt Nam và ngoại tệ), cung cấp các dịch vụ Ngân hàng như: dịch vụ Vietcombank ON-LINE, mô hình Ngân hàng bán lẻ.

    2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng ngoại thương Hà Nộí

    Sau 19 năm hoạt động và phát triển Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đãcó một đội ngũ cán bộ dầy dạn kinh nghiệm, lành nghề một tổ chức với nhiều phòng ban khác nhau. Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như sau:

    Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh Hà Nội

    Giám đốc

                                                         
                                                         
                                        Phó Giám đốc        
                                                         
                                                         
    Phòng   Phòng     Phòng                                  
                    Phòng   Phòng     Phòng
    tín   NSự     KTra                
    dụng   hàng     kiểm           dịch vụ   Kế     Ngân
          chính     toán NB                   toán     quỹ
                                                         
                                                         
                                                     
                                               
                  Phó Giám đốc               Phó Giám đốc  
                                 
                                                         
                                                         
    Phòng   Phòng   Phòng   Phòng
    ttoán   Giao   tin học   PT
    XNK   dịch       mạng
                lưới
                 

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.1.2.1. Phòng tín dụng tổng hợp

    Đây là phòng tập trung những hoạt động chính của Ngân hàng, quyết định phần lớn kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Phòng tín dụng tổng hợp được giao các nhiệm vụ sau đây: cho vay đối với các thành phần kinh tế theo luật Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, mở tài khoản cho vay và theo dõi các hợp đồng tín dụng, tính lãi theo định kỳ, điều hoà vốn nội và ngoại tệ, làm báo cáo và tập hợp báo cáo gửi Ngân hàng cấp trên, làm một số nghiệp vụ khác được giao.

    2.1.2.2. Phòng kế toán tài chính

    Quản lý toàn bộ các tài khoản khách hàng và các tài khoản nội bộ trong ngoài bảng cân đối kế toán: mở tài khoản tiền gửi, thanh toán các loại séc, ngân phiếu – thực hiên thanh toán nội bộ, thanh toán qua hệ thống điện tử và thanh toán bù trừ.

    Trưởng phòng kế toán chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội chịu trách nhiệm trước giám đốc về việc kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ thanh toán, về các quyết định chuyển tiền đi cũng như hạch toán và các tài khoản thích hợp. Tổ điện toán cung cấp số liệu nhanh chóng, chính xác và đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho ban lãnh đạo trong công tác quản lý điều hành đạt được hiệu quả cao.

    2.1.2.3. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu

    Thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của khách hàng. Bao gồm các nghiệp vụ mở, thông báo, thanh toán L/c, nhờ thu và chuyển tiền.

    2.1.2.4. Phòng hành chính nhân sự

    Giúp cho ban giám đốc trong việc bố trí, điều động, khen thưởng hay kỷ luật kịp thời; tuyển mộ, tuyển dụng cán bộ thuộc diện quản lý của chi nhánh, quản trị xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, vật liệu, thực hiên hơp đồng về điện, nước, điện thoại, sửa chữa và xây dựng cơ quan.

    29

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.1.2.5. Phòng ngân quỹ

    Công việc chủ yếu của phòng ngân quỹ là thu- chi tiền đồng Việt Nam, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ, chuyển tiền mặt và séc du lịch đi tiêu thụ nước ngoài thông qua Ngân hàng ngoại thương Việt Nam; quản lý kho tiền và quỹ, tài sản thế chấp và các chứng từ có giá.

    2.1.2.6. Phòng tin học

    Thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ ngân hàng, cải tiến bổ sung các chương trình phần mềm hiện có và lập các chương trình phần mềm mới phục vụ cho hoạt động của chi nhánh.

    2.1.2.7. Phòng dịch vụ Ngân hàng

    Tiếp nhận và mở hồ sơ khách hàng mới, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho khách hàng, phản ánh tình hình giao dịch và đề xuất chính sách thu hút khách hàng, xử lý toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản tiền gửi của mọi đối tượng khách hàng với các loại tiền.

    2.1.2.8. Phòng giao dịch

    Hiện nay chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có 3 phòng giao dịch, Phòng giao dịch số I đặt tại số 2 Hàng Bài, phòng giao dịch số II đặt tại

    • Trần Bình Trọng, phòng giao dịch số III đặt tại 1 Hàng Đồng.

    Phòng giao dịch có nhiệm vụ xử lý nghiệp vụ mua, chuyển đổi ngoại tệ, séc du lịch bằng mọi hình thức tiếp nhận và mở các hồ sơ khách hàng mới, kiểm tra tính hợp lý chứng từ của khách hàng và xử lý.

    2.1.2.9. Tổ kiểm tra và kiểm toán nội bộ

    Lập kế hoạch định kỳ và đột xuất về kiểm tra, kiểm toán nội bộ; trình giám đốc duyệt và tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ, hoạt động kinh doanh và quy chế an toàn kinh doanh theo đúng quy định.

    Chi nhánh cấp 2 Thành Công hoạt động với phạm vi nhỏ hơn. Nó có nhiệm vụ như một phòng ban thông thường nhưng được chỉ đạo hoạt động từ

    30

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    xa thông qua hệ thống máy tính, điện thoại và fax của cơ quan. ở Ngân hàng ngoại thương Thành Công có 4 phòng: phòng giám đốc điều hành mọi hoạt động của chi nhánh; phòng tín dụng và tài trợ xuất nhập khẩu được gộp chung thành một phòng chuyên đảm nhận các nghiệp vụ cho vay, tài trợ xuất nhập khẩu thông qua các hình thức tín dụng chứng từ; phòng kế toán và dịch vụ ngân hàng được gộp thành một phòng chuyên đảm nhận công việc phân tích, xử lý thông tin, tính toán, cung cấp thông tin cho ngân hàng quản lý là Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, đồng thời phòng dịch vụ cùng với phòng hành chính quản trị tin học và ngân quỹ thực hiện chức năng thu- chi, kiểm tiền theo nghiệp vụ được giao của Ngân hàng quản lý.

    Nhìn chung, ở Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có bộ máy tổ chức gọn, cán bộ có trình độ kiến thức cần thiết để đảm bảo công tác chuyên môn, kỷ luật lao động nghiêm túc, phong cách phục vụ khách hàng luôn luôn được chú ý nâng cao. Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và sự cố gắng nỗ lực của ban giám đốc, của toàn thể cán bộ nhân viên trong chi nhánh đã đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ.

    2.2. CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    Hoạt động Ngân hàng là một mắt xích quan trọng, vận động nhịp nhàng với nền kinh tế. Cùng với sự chuyển đổi cơ chế của đất nước hệ thống Ngân hàng cũng chuyển mình cho phù hợp với sự đổi mới đó, kìm chế lạm phát, ổn định lưu lượng tiền, đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và quốc tế.

    Các nhà kinh tế học đã thường gọi Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt, là hệ thần kinh, là trái tim của nền kinh tế. Sở dĩ như vậy vì Ngân hàng mạnh thì nền kinh tế sẽ mạnh, ngược lại Ngân hàng yếu thì nền kinh tế sẽ yếu kém. Thậm chí nếu Ngân hàng đổ vỡ, nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ. Mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với các

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhân tố kinh tế xã hội là mối quan hệ biện chứng hai chiều. Ngân hàng ngoại thương Hà nội cũng không nằm ngoài điều đó.

    Các nhân tố kinh tế thế giới, kinh tế trong nước và khu vực cũng như tình hình chính trị xã hội đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà nội.

    2.2.1. Môi trường kinh tế

    2.2.1.1. Vài nét về địa bàn hoạt động của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội.

    Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ ở địa bàn Hà Nội – Thủ đô của nươc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là nơi tập trung khá nhiều các doanh nghiệp, đặc biệt trụ sở của các tổng công ty lớn cũng được đặt phần nhiều. Trong thời gian qua, Hà Nội là một trong những địa bàn có tốc độ tăng trương lớn nhất trên toàn quốc. Tốc độ đầu tư đổi mới sản xuất và đầu tư xây dựng cơ bản tăng mạnh trong những năm gần đây. Vì thế, nhu cầu vốn nói chung và nhu cầu vay vốn Ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp khá lớn. Điều này là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng đóng trên địa bàn Hà Nội.

    Bên cạnh đó, năm 2000 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành luật doanh nghiệp, tạo nhiều điều kiện thuận lợi và môi trường thông thoáng cho sự hình thành và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Quy mô hoạt động của các doanh nghiệp thuộc loại hình này chưa lớn, song các doanh nghiệp này lại rất nhạy bén và đa dạng trong lĩnh vực kinh doanh. Sự ra đời của các doanh nghiệp này đã góp phần lấp các khoảng trống về nhu cầu tiêu dùng mà các doanh nghiệp lớn của Nhà nước chưa giải quyết được, cũng như đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của Thủ đô và cả nước. Nhìn chung khả năng về vốn của các Doanh nghiệp thuộc loại hình này chưa lớn, vì vậy rất cần có sự trợ giúp của các Ngân hàng trong quá trình phát triển. Đây cũng là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động của các Ngân hàng. Tuy nhiên do sự thông thoáng của luật doanh nghiệp nên đã có rất nhiều doanh nghiệp “Ma” ra đời. Để hoạt động của Ngân hàng có hiệu quả

    32

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    và an toàn thì yêu cầu đặt ra đầu tiên là phải thẩm định kỹ tư cách pháp lý của doanh nghiệp.

    Mức sống và thu nhập của người dân trên địa bàn Hà nội là tương đối cao so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại; nâng cao khả năng huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư nhu các khoản tiền gửi tiết kiệm.

    Trên địa bàn Hà Nội cũng là nơi tập trung khá nhiều các Ngân hàng (Có hơn 80 Ngân hàng gồm các Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài). Các Ngân hàng cạnh tranh nhau rất quyết liệt trong việc đưa ra các mức lãi suất hấp dẫn, loại hình dịch vụ mới, phong cách cán bộ Ngân hàng,…. Điều

    này làm cho tính cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng ở Hà Nội cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước. Để hoạt động có hiệu quả và thắng được trong cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đa dạng các hoạt động của mình, hạ lãi suất cho vay, mở rộng khách hàng, hạ biểu phí dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ,…, lúc đó Ngân hàng mới tồn tại và phát triển.

    2.2.1.2. Môi trường kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Ngân hàng.

    Như đã nói ở trên, môi trường kinh tế ảnh hưởng mạnh đến hoạt động Ngân hàng nói chung và Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    • Xét về cơ chế hoạt động của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam:

    Các đơn vị thành viên của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam như : Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, Ngân hàng Ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh,…đều hạch toán phụ thuộc. Điều này làm giảm tính tự chủ của các đơn vị. Kết quả kinh doanh dù lỗ hay lãiđều chuyển hết lên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Điều này làm cho các đơn vị thành viên của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không muốn cố gắng hết sức mình. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội không có nhiều tính tự chủ trong kinh doanh, tất cả mọi hoạt động đều chịu sự chi phối của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Về địa bàn hoạt động, hạn mức tín dụng, cơ chế khen thưởng cán bộ). Điều đó phần

    33

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nào làm hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    • Xu thế hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá luôn kèm theo sự cạnh tranh gay gắt, khốc liệt trên phạm vi quốc tế. Điều này làm ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của các Ngân hàng thương mại nói riêng. Các doanh nghiệp để có thể thắng được trong cạnh tranh trên trường quốc tế đòi hỏi phải có đầu tư chiều sâu vào nhu cầu thị trường, có trang thiết bị hiện đại, có phong cách làm việc khoa học và nhanh chóng. Tất cả những điều đó đòi hỏi phải có vốn và công nghệ phục vụ nó. Theo đó Ngân hàng thương mại phải đứng ra với vai trò là người cung cấp vốn, là nơi để các doanh nghiệp giao dịch với bên ngoài. Nói một cách khác, xu thế hội nhập buộc các Ngân hàng thương mại phải thay đổi phong cách làm việc, trang thiết bị công nghệ Ngân hàng.

    Về vấn đề này, có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là Ngân hàng thương mại quốc doanh có trang thiết bị vật chất tốt nhất so với các Ngân hàng TM quốc doanh còn lại. Giờ đây, nhắc đến Vietcombank, cụm từ thẻ ATM, thẻ Master, thẻ Visa của VCB đã không còn xa lạ đối với mọi người. Bên cạnh đó, thế mạnh của VCB trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà Nội là thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu. Khi mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài, các doanh nghiệp tìm đến VCB ngày càng nhiều hơn.

    • Sự hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng nói chung và của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    Thị trường chứng khoán ra đời đã mở ra nhiều cơ hội mới cho hoạt động Ngân hàng. Đó là một nơi để các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư thay vì cho vay các doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại có thể mua trái phiếu chính phủ với độ rủi ro thấp, có thể mua cổ phiếu doanh để trở thành Ngân hàng sở hữu doanh nghiệp, có thể mua trái phiếu doanh nghiệp để đầu tư kiếm lời với độ rủi ro thấp hơn khi mua cổ phiếu. Thị trường chứng khoán hoạt động với cơ chế thông tin công khai, điều này sẽ giúp Ngân hàng thu thập được thông tin

    34

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    về khách hàng của mình. Sự ra đời của thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện cho việc Ngân hàng thương mại có thể chứng khoán hoá các khoản nợ, làm tăng tính thanh khoản của khoản cho vay để khi cần chuyển đổi thì chuyển đổi ngay.

    Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán ra đời đã tạo ra nhiều thách thức đối với các Ngân hàng thương mại. Bởi vì khi cần vốn, doanh nghiệp có thể không vay Ngân hàng mà thay vào đó là huy động trên thị trường chứng khoán. Điều này buộc các Ngân hàng thương mại phải quan tâm đến hoạt động của mình, giảm chi phí tài chính.

    • Môi trường kinh tế trong nước không ổn định: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực của việc cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế, sự kiện khủng bố ngày 11-09 của Mỹ cộng với một nền kinh tế chưa phát triển ở Việt Nam. Vì vậy, những năm qua ở nước ta mức tiêu thụ hàng hoá chậm làm giảm sức hấp thụ vốn của nền kinh tế, gây khó khăn cho đầu tư tín dụng của Ngân hàng. Chính vì môi trường trong nước như vậy nên mặc dù huy động nhiều ngoại tệ nhưng lượng ngoại tệ cho các doanh nghiệp vay ít, Ngân hàng ngoại thương chủ yếu gửi ngoại tệ ra Ngân hàng nước ngoài để lấy lãi.
    • Hiệp hội Ngân hàng tuy đã được thành lập nhưng không phát huy được vai trò của mình. Bốn Ngân hàng thương mại quốc doanh của Việt Nam là Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng công thương, Ngân hàng Nông nghiệp đều có mặt trong hiệp hội Ngân hàng. Nhiệm vụ của hiệp hội là giúp đỡ các Ngân hàng trong nước cùng phát triển, điều tiết hoạt động của Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng cổ phần, tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các

    Ngân hàng. Tuy nhiên, ngay từ hiệp ước đầu tiên về lãi suất bị phá bỏ, việc điều tiết ngân hàng nước ngoài và cổ phần không làm được, mối quan hệ giữa các Ngân hàng lỏng lẻo. Với một cơ chế hoạt động như vậy, đã gây khó khăn cho các Ngân hàng nói chung và Ngân

    35

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng trong việc mở rộng hoạt động của mình.

    2.2.2. Những nhân tố thuộc về vĩ mô của Nhà nước

    Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường nên các chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện. Sản xuất kinh doanh trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng lậu và hàng ngoại nhập. Trong điều kiện này, có nhiều doanh nghiệp không theo kịp sự thay đổi của cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước hoặc không điều chỉnh kịp thời nên gặp khó khăn thua lỗ trong kinh doanh, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng. Đặc biệt trong hoạt động tín dụng, môi trường pháp lý cho nó nói chung chưa đồng bộ. Các văn bản liên quan đến thế chấp, cầm cố tài sản vay vốn Ngân hàng chưa đầy đủ, thống nhất. Đặc biệt là thiếu văn bản hướng dẫn hoặc có hướng dẫn nhưng chưa đầy đủ nên quá trình thực hiện còn nhiều khó khăn.

    Trong các năm 2000 đến 2003, Chính phủ, thành phố Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế chính sách, đồng thời đưa ra nhiều giải pháp mới và tích cực để điều hành kinh tế vĩ mô nhằm tạo môi trường pháp lý và kinh tế thuận lợi cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Những cơ chế, chính sách về tín dụng, đảm bảo tiền vay, quản lý ngoại hối và vàng, tỷ giá, lãi suất, đã được triển khai nhưng vẫn thiếu đồng bộ. Điều này làm giảm tính hiệu lực và hiệu quản của không ít cơ chế, chính sách trong thực tiễn gây tâm lý e dè cho các Ngân hàng trong hoạt động nhất là hoạt động tín dụng.

    2.2.3. Môi trường xã hội

    Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian, chiếc cầu nối giữa Ngân hàng và khách hàng chính là lòng tin. Khi Ngân hàng có nhiều uy tín với khách hàng thì càng thu hút được nhiều khách hàng đến với mình. Khách hàng càng có sự tín nhiệm với Ngân hàng thì càng được Ngân hàng ưu đãi trong quan hệ vay vốn.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã tạo được vị trí và uy tín trong lòng khách hàng, ngày càng có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng hơn.

    Đạo đức xã hội cũng ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Trong trường hợp đạo đức xã hội không tốt, lợi dụng lòng tin để lừa đảo thì sẽ làm giảm kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

    Trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết về hoạt động ngân hàng cũng làm giảm thu nhập của Ngân hàng. Hà nội là nơi tập trung dân cư có trình độ dân trí cao. Đó là một địa bàn tốt để các Ngân hàng ở đây cơ thể cung cấp dịch vụ Ngân hàng hiện đại và Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cũng không nằm ngoài lợi thế đó.

    2.2.4. Môi trường tự nhiên

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có địa bàn hoạt động là thành phố Hà Nội, nơi đây ít xảy ra thiên tai nên hoạt động của các doanh nghiệp ít gặp rủi ro hơn do nguyên nhân này.

    2.3. CÁC KẾT QUẢ KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    Trong những năm qua, hoạt động Ngân hàng diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu phục hồi, kinh tế trong nước phát triển chưa ổn định và chịu những tác động của các yếu tố bên ngoài. Để thực hiện tốt các chương trình hành động của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đề ra, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã triển khai tích cực các mặt hoạt động đóng góp vào các kết quả chung của toàn hệ thống. Các kết quả kinh doanh chủ yếu qua 3 năm 2000, 2001, 2002 được thể hiện trên các mặt sau:

    2.3.1 Về huy động vốn

    Huy động vốn là công việc đầu tiên, làm nền tảng cho những hoạt động tiếp theo của quá trình kinh doanh Ngân hàng. Trong 3 năm gần đây đặc biệt là năm 2001 và năm 2002, thị trường tài chính trong nước rất sôi động. Trên địa

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    bàn Hà Nội, các ngân hàng thương mại cạnh tranh gay gắt bằng việc đưa ra các mức lãi suất và hình thức huy động hấp dẫn.

    Với vị trí và uy tín đã tạo dựng qua nhiều năm, chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã hoàn thành tốt công tác huy động vốn theo kế hoạch đã xây dựng, đóng góp vào thành tích huy động vốn chung của toàn hệ thống Ngân hàng ngoại thương. Các kết quả đạt được trong công tác huy động vốn của chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội được thể hiện qua bảng sau:

    Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội

    Đơn vị: Tỷ đồng

      Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 So sánh 01/00 So sánh 02/01
                           
        Số % Số tiền % Số % Số % Số %
        tiền       tiền   tiền   tiền  
                         
    Tổng nguồn huy động 2.757 100 3.269 100 3.996 100 512 118,51 727 122,2
                         
    Phân theo đối tượng khách                    
      hàng                    
                           
    1. Tiển gửi của các tổ 403 14,6 558 17,1 740 18,5 155 138,5 182 113
    chức kinh tế                    
                           
    2. Tiền gửi của dân 2318 84,4 2.661 81,4 3.237 81 343 114,8 576 124
                       
                         
    3. Các nguồn khác 34 1,3 50 1,5 19 0,5 16 147 -31 38
                           
      Phân theo loại tiền                    
                           
    1. Tiền gửi VNĐ 520 18,9 645 19,7 1160 29 125 124 515 179,8
                           
    2. Tiền gửi USD 2.237 81,1 2.624 80,3 2.836 71 387 117,3 212 111,8
                           

    (Nguồn báo cáo tổng kết của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm)

    Bảng số liệu cho thấy trong công tác huy động vốn, mặc dù luôn có sự cạnh tranh quyết liệt giữa các Ngân hàng thương mại trong việc đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, nhưng do thường xuyên coi trọng chất lượng dịch vụ, kết hợp tốt chính sách khách hàng nên nguồn vốn huy động của chi nhánh đều tăng, giữ ổn định và cân đối vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có xu hướng tăng nhưng không lớn

    và tỷ trọng trong tổng nguồn gửi cũng không cao. Điều đó là do các doanh nghiệp gửi tiền vào Ngân hàng chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu thanh toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn cần quay vòng vốn nên không để nhiều vốn trong Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn luôn cố gắng để ngày càng nhiều doanh nghiệp hợp tác với

    38

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng nên tuy tăng không nhiều nhưng qua các thời kỳ thì vốn huy động được từ các tổ chức kinh tế vẫn có xu hướng tăng.

    Trong tổng vốn huy động từ khách hàng của chi nhánh, huy động từ dân cư chiếm tỷ trọng lớn. Xu hướng trên thể hiện trạng thái dư tiền trong dân do đời sống kinh tế tăng, thu nhập của dân cư tăng, nên tỷ lệ tiết kiệm trong dân cư tăng. Mặt khác, đó còn là do trong thời gian qua chúng ta đã kiểm soát được

    tốc độ lạm phát giữ cho đồng tiền ổn định không bị trượt giá nhiều nên dân chúng đã tin tưởng vào giá trị đồng tiền và dần chuyển từ hình thức tiết kiệm vàng sang hình thức gửi tiết kiệm ngân hàng. Đặc biệt trong năm 2002, với việc ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại theo mô hình ngân hàng bán lẻ và rút ngắn thời gian giao dịch cho khách hàng, việc quảng cáo các tiện ích của các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng cùng với việc bố trí đội ngũ giao dịch viên trẻ trung năng động, được đào tạo về kỹ năng giao tiếp văn minh đã góp phần tăng trưởng vốn hoạt động của chi nhánh.

    Trong năm 2000, tốc độ tăng trưởng của vốn huy động ngoại tệ nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng vốn huy độngVNĐ, đó là do tỷ giá USD tăng lên nhiều đã kích thích dân cư chuyển hoá từ VNĐ sang mua bán ngoại tệ gửi Ngân hàng.Trong năm 2001, 2002 tình hình thế giới có nhiều biến động lớn, nền kinh tế Mỹ suy giảm và việc cắt giảm liên tục lãi suất USD trên thế giới buộc Ngân hàng ngoaị thương cũng phải hạ lãi suất huy động USD nên đã dẫn đến tốc độ tăng vốn huy động ngoại tệ của chi nhánh chậm hơn tốc độ tăng vốn VNĐ. Mặc dù vậy, công tác huy động vốn của chi nhánh có hiệu quả cao đã có tác dụng tích cực trong việc giữ được ổn định và cân đối vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

    Nói chung, công tác huy động vốn của chi nhánh là khá tốt, tạo ra một nguồn dồi dào để Ngân hàng không những có thể thực hiện cung cấp tín dụng cho nền kinh tế mà còn dùng để điều hoà vốn trong toàn hệ thống.

    2.3.2 Về sử dụng vốn

    Song song với việc hoạt động huy động vốn là hoạt động sử dụng vốn.

    Trong hoạt động này cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hoạt động cho vay là hoạt động đóng vai trò quan trọng quyết định phần lớn hiệu quả kinh doanh cuả chi nhánh. Ngân hàng cho vay ngoài các dự án trong nước còn có các dự án lớn liên kết với nước ngoài. Với uy tín của mình, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội có rất nhiều khách hàng truyền thống làm ăn có hiệu quả và thường xuyên giao dịch với ngân hàng như: Công ty Giầy Thượng Đình, Công ty dệt 19-5, Công ty XNK Hà Nội, Công ty Machinoimport, Công ty dệt len mùa đông,… Hoạt động cho vay của Ngân hàng được trình bày trên bảng 2.2.

    Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm

    Đơn vị: Tỷ đồng

        Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 So sánh 01/00 So sánh 02/01
      Chỉ tiêu                    
      Số % Số tiền % Số tiền % Số tiền % Số tiền %
        tiền
                         
                           
    1. Doanh số cho 1.872 100 2.200 100 3.370 100 328 117,5 1.170 153,2
    vay                    
                           
    2. Doanh số thu 1.810 100 2.010 100 3.009 100 200 111,0 999 149,7
    nợ                    
                           
    3. Dư nợ 473 100 648 100 937 100 175 137 289 144,6
                       
                           

    (Nguồn báo cáo tổng kết của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội qua các năm)

    Qua bảng số liệu trên cho thấy doanh số cho vay, doanh số thu nợ của Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội tăng qua các năm. Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng doanh số cho vay.

    Nhìn chung năm 2000 hoạt động tín dụng của chi nhánh tương đối an toàn tuy nhiên có một đơn vị khó khăn tồn tại từ những năm cũ, cuối năm 1999 chi nhánh đã ngừng cho vay nên sang năm 2000 đã phát sinh nợ quá hạn. Chi nhánh luôn bám sát các đơn vị có nợ quá hạn và cấp chủ quản của đơn vị để bàn biện pháp xử lý tài sản trả nợ ngân hàng.

    Năm 2001, hoạt động đầu tư tín dụng vẫn tiếp đứng trước tình hình khó khăn chung của ngành Ngân hàng: Cơ chế chính sách tuy đã có nhiều thay đổi để đáp ứng thực trạng kinh tế của Việt Nam song vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa thực sự thông thoáng kịp thời, hạ tầng kinh tế của nhiều doanh nghiệp còn thấp, sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại trên địa bàn,

    40

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    đã gây áp lực lớn đến công tác tín dụng của ngành Ngân hàng, trong đó có Ngân hàng ngoại thương Hà Nội. Sở dĩ như vậy là vì hầu hết các doanh nghiệp là đơn vị kinh tế địa phương với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng hấp thu vốn thấp. Trong bối cảnh như vậy, ngay từ đầu năm Giám đốc đã đề ra nhiều biện pháp để mở rộng tính dụng và phương châm an toàn, hiệu quả.

    Năm 2002 có thể nói là năm thắng lợi lớn của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội trong việc mở rộng tín dụng và giải quyết nợ quá hạn

    Để đạt được kết quả trên trước hết là do nhu cấu vốn của các doanh nghiệp tăng để mở rộng kinh doanh và chuẩn bị quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, mặt khác với sự đổi mới của cơ chế thị trường hơn của ngành Ngân hàng như cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất thoả thuận. Bên cạnh đó, có sự nỗ lực phấn đấu của chi nhánh đã đưa hoạt động tín dụng của chi nhánh phát triển.

    Qua những phân tích ở trên ta rút ra nhận xét sau:

    Thứ nhất: Về cơ cấu cho vay, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Tỷ lệ cho vay cũng như dư nợ đối với cho vay ngắn hạn luôn chiếm phần lớn (74,8% – 98,9%), tỷ lệ này giảm từ năm 2000 đến năm 2001 và tăng trong năm 2002.

    Thứ hai: Có thể nói Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã thành công trong việc mở rộng tín dụng. Cụ thể doanh số cho vay cũng như dư nợ đều tăng qua các năm, đặc biệt là năm 2002.

    Cùng với nghiệp vụ cho vay, Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã sử dụng vốn bằng nhiều hình thức linh hoạt như mua bán trái phiếu kho bạc, gửi có kỳ hạn VCBTW, mua kỳ phiếu của các tổ chức tín dụng khác. Trong năm 2000 tỷ lệ này là 81%, năm 2001 là 78%. Năm 2002 là 70%. Sở dĩ như vậy là năm 2000, 2001 môi trường đầu tư trực tiếp chưa thuận lợi.

    41

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    2.3.3 Các công tác khác

    Công tác thanh toán xuất nhập khẩu.

    Công tác thanh toán thanh toán xuất nhập khẩu luôn được coi là thế mạnh của Ngân hàng ngoại thương. Phát huy uy tín và thương hiệu bền vững đã tạo dựng được trên trường quốc tế của toàn hệ thống, Chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đã thực sự trở thành địa chỉ tin cậy cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn.

    Chất lượng công tác thanh toán xuất nhập khẩu luôn được duy trì đáp ứng phục vụ khách hàng an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó công tác khách hàng cũng được coi trọng, ngoài việc tiếp nhận và giải quyết nhu cầu của khách hàng với tinh thần văn minh, nhiệt tình, chi nhánh còn tổ chức việc nhận chứng từ ngoài giờ và trực tiếp đến đơn vị có hàng xuất để nhận chứng từ, kiểm tra và tư vấn thanh toán quốc tế cho các doanh nghiệp.

    • Kết quả kinh doanh Ngân hàng.

    Kết quả kinh doanh của Ngân hàng được thể hiện ở bảng sau:

    Bảng 2.3: Thu nhập – Chi phí

                Đơn vị tính: Tỷ đồng
                     
          Năm 2001   Năm 2002  
    Chỉ tiêu Năm 2000              
    Số tiền So với năm Số tiền So với năm  
        2000 2001  
                 
                     
    Thu nhập 132 160   121 145   -15  
                     
    Chi phí 97 130   135 117   -13  
                     
    Lợi nhuận 35 30   -5 28   -2  
                     

    (Nguồn báo cáo của Ngân hàng ngoại thương Hà nội qua các năm)

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Năm 2001, tổng thu và tổng chi đều tăng hơn so với năm 2000, đó là do có nhiều khó khăn trong lĩnh vực đầu tư và chi nhánh đã chi cho tài sản văn phòng nhiều (tăng 18% so với năm 2000). Điều đó dẫn đến lợi nhuận bị giảm.

    Năm 2002 lợi nhuận của chi nhánh tiếp tục giảm. Đó là vì, tuy hoạt động tín dụng và dịch vụ ngân hàng tăng mạnh nhưng do lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh tại VCBTW chiếm 60%-70% trong nguồn huy động. Mặt khác, do chi nhánh mở rộng phát triển mạng lưới nên chi phí tài sản tăng.

    Công tác ngân quỹ

    Trong các thời kỳ này, tình hình thu chi các loại tiền đều tăng hơn so với năm trước.

    Bộ phận ngân quỹ đã phát hiện được nhiều tiền giả và trả lại tiền thừa cho khách hàng. Công tác ngân quỹ của chi nhánh đã đảm bảo an toàn và tuân thủ đầy đủ các quy trình thu chi tiền mặt theo đúng các quy định, tổ chức tốt việc điều hoà tiền mặt, đáp ứng nhanh chóng, chính xác nhu cầu tiền mặt cho sản xuất và đời sống, giải phóng khách hàng nhanh.

    Công tác phát triển mạng lưới

    Chi nhánh đã thực hiện việc triển khai kế hoạch mở rộng và phát triển mạng lưới chi nhánh đến 2005. Tháng 12/2001, chi nhánh đã thành lập chi nhánh cấp 2 Thành Công. Tháng 5/2002, Phòng giao dịch số 2 Trần Bình Trọng. Chuẩn bị khai chương Chi nhánh cấp 2 Cầu Giấy và Phòng giao dịch số 3 Hàng Đồng.

    2.4. THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.4.1. Các văn bản nghiệp vụ tín dụng mà Ngân hàng ngoại thương Hà Nội đang áp dụng

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội là một chi nhánh của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, hoạt động tín dụng cũng như kinh doanh của chi nhánh phải tuân thủ theo các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam và Ngân hàng

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngoại thương Việt nam. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội phải chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ để cho vay và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình. Hiện nay, Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đang áp dụng các văn bản nghiệm vụ tín dụng sau:

    • Quyết định số 407/QĐ-NHNT-HĐQT ngày 29/03/2002 của Hội đồng

    quản trị Ngân hàng Ngoại thương về việc ban hành hướng dẫn của Ngân hàng Ngoại thương về quy chế cho vay đối với khách hàng.

    • Quyết định số 408/QĐ-NHNT ngày 29/03/2002 của Tổng giám đốc

    Ngân hàng Ngoại thương Việt nam về xác đinh giới hạn tín dụng đối với khách hàng.

    Theo quyết định này thẩm quyền giới hạn tín dụng đối với 01 khách hàng ở chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là 80 tỷ đồng. Trường hợp xét thấy có thể xác định giới hạn tín dụng lớn hơn mức thẩm quyền của chi nhánh, chi nhánh gửi hồ sơ cho Trung ương xin phê duyệt, trong đó có ý kiến của chi nhánh sau khi thẩm định tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng.

    • Quyết định số 409/QĐ-NHNT ngày 29/03/2002 của Tổng giám đốc Ngân

    hàng Ngoại thương Việt nam về quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng tín dụng.

    Hội đồng tín dụng hoạt động nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong việc xây dựng chính sách tín dụng; xét duyệt giới hạn tín dụng đối với một khách hàng; ra quyết định cấp tín dụng và các vấn đề liên quan khác như xử lý tài sản đảm bảo, ra hạn nợ, các biện pháp thu hồi vốn vay, … của hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.

    Hội đồng tín dụng thành lập tại hội sở chính (gọi là hội đồng tín dụng Trung ương), thành lập tại chi nhánh (gọi là Hội đồng tín dụng cơ sở).

    – Quyết định số 30/QĐ-NHNT-QLTD ngày 21/02/2002 của Tổng giám đốc Ngân hàng Ngoại thương về hạn mức cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với chi nhánh.

    Theo quyết định này, mức dư nợ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là 95%.

    44

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    – Quyết định số 133/QĐ-Ngân hàng NT ngày 31/12/2001 ban hành quy định khu vực đầu tư của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.

    Theo quyết định này, khu vực đầu tư của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là địa giới hành chính của Thủ đô Hà nội. Chi nhánh chỉ được phép thực hiện cho vay, bảo lãnh ngoài khu vực đầu tư được phân định trong trường hợp được tổng giám đốc giao thực hiện hoặc chấp nhận và phải phối hợp với các chi nhánh sở tại thực hiện.

    – Quyết định số 1627/QĐ-Ngân hàng NN ngày 31/12/2001 của thống đốc Ngân hàng Ngoại thương về quy chế cho vay đối với khách hàng. Quyết định này thay thế quyết định 284/QĐ-Ngân hàng NN ngày 25/08/2000.

    So sánh 02 quyết định này, ta thấy QĐ1627 có rất nhiều điểm khác biệt so với QĐ 284. Ví dụ như tại điều 1, QĐ 1627 mở rộng thêm đối tượng pháp nhân và cá nhân người nước ngoài, tại điều 11, lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Ngoại thương, lãi suất quá hạn do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng; tại điều 13, kỳ hạn trả nợ lãi vốn vay có thể cùng kỳ hạn trả nợ gốc có thể theo kỳ hạn riêng, khi đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi nếu khách hàng không trả nợ đúng hạnvà không điều chỉnh kỳ hạn nợ gốc hoặc lãi hoặc không được gia hạn nợ gốc hoặc lãi thì chuyển toàn bộ dư nợ sang dư nợ quá hạn,…

    2.4.2. Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà nội theo các chỉ tiêu định tính

    Ngân hàng Ngoại thương Việt nam đã được tạp chí The banker thuộc tập đoàn Financial Times (Anh Quốc), một tạp chí có uy tín hàng đầu trong giới tài chính quốc tế bình chọn và trao tặng danh hiệu Ngân hàng Việt nam tốt nhất 03 năm liên tiếp (2000, 2001, 2002). Trong thành công đó, có sự góp phần không nhỏ của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Có thể nói, trên địa bàn thành phố Hà nội, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có uy tín rất lớn đối với khách hàng. Điều này ngày càng làm cho có nhiều khách hàng đến với Ngân hàng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Khi đến với Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội để giao dịch, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm bởi vì ở đây tài sản của khách hàng luôn được trông coi cẩn thận (có phòng bảo vệ, có bãi để xe và không thu lệ phí). Khách hàng mới sẽ không mất nhiều thời gian để tìm phòng tín dụng bởi ở ngay trước cửa có bảng chỉ dẫn. Hệ thống cửa tự động cùng với trang thiết bị Ngân hàng hiện đại đã giúp cho khách hàng có ấn tượng tốt về Ngân hàng ngay từ đầu. Có thể nói Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có phong cách phục vụ tốt nhất trong các Ngân hàng của Việt Nam.

    Trong phòng tín dụng, cách bài trí trong phòng rất đẹp. Đặc biệt là thái độ của các nhân viên, các cán bộ tín dụng ở đây rất lịch thiệp, cởi mở, tạo một bầu không khí thoải mái giữa khách hàng và cán bộ Ngân hàng.

    Tất cả những điều đó đã đóng góp rất nhiều vào việc nâng cao chất lượng tín dụng ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    2.4.3. Đánh giá chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội theo các chỉ tiêu định lượng

    ở phần kết quả kinh doanh của Ngân hàng, chúng ta đã biết khái quát về tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh cả Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội. Nhìn chung, hoạt động tín dụng đạt kết quả khá tốt. Nhưng để đánh giá chính xác hơn về hoạt động tín dụng, chúng ta cần tìm hiểu những vấn đề liên quan đến các chỉ tiêu định lượng đánh giá chất lượng tín dụng.

    2.4.3.1. Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

    Nhìn chung, trong mấy năm gần đây tín dụng tăng trưởng khá nhanh. Nếu dư nợ cho vay năm 2000 là 473 tỷ đồng thì cho đến cuối năm 2002, dư nợ lên tới 937 tỷ đồng, tăng 464 tỷ, tương ứng với tốc độ tăng là 98,1%. Đây là một kết quả khá tốt, cho thấy Ngân hàng ngày càng hoạt động tín dụng mạnh mẽ. Kết cấu dư nợ được mô tả trong bảng sau:

    Bảng 2.4: Tình hình dư nợ.

    (Đơn vị: Tỷ đồng)

    Dư nợ 2000   2001 2002  
             
      Số tiền % Số tiền % Số tiền %
                 

    – Theo kỳ hạn

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngắn hạn 357 75,5 485 74,8 762 81,3
    Trung dài hạn 116 24,5 163 25,2 175 18,7
                 
    Theo TPKT            
                 
    KTQD 426 90,1 594 91,7 871 93
    KTNQD 47 9,9 54 9,3 66 7
                 
    Theo tiền tệ            
                 
    VNĐ 263 55,6 450 69,4 572 61,1
    Ngoại tệ quy đổi 210 44,6 198 30,5 365 38,9
                 
    Tổng 473 100 648 100 937 100
                 

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm)

    Theo bảng trên ta thấy:

    • Khi xem xét dư nợ theo kỳ hạn, năm 2000 dư nợ ngắn hạn là 357 tỷ chiếm 79.5% đến năm 2001 là 79.8% và đến năm 2002 là 81%. So sánh với nguồn huy động ngắn hạn ta thấy dư nợ ngắn hạn ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như vậy là phù hợp, bởi nguồn ngắn hạn được sử dụng chủ yếu cho vay ngắn

    hạn. Mặt khác, với bất kỳ một ngân hàng thương mại, yếu tố quay vòng vốn nhanh là rất cần thiết, tỷ trọng cho vay ngắn hạn cao là tốt. Mặc dù cho vay trung dài hạn theo các năm đã tăng lên nhưng tỷ trọng còn bé. Nguyên nhân của thực trạng này là do thời gian gần đây hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam và các chi nhánh do mắc phải một số sai lầm như đầu tư quá lớn vào một số khách hàng, cán bộ tín dụng nói riêng và lãnh đạo Ngân hàng móc ngoặc cho vay xuất phát từ lợi ích cá nhân đã làm thất thoát hàng tỷ đồng. Từ thực trạng đó đã đem lại cho Ngân hàng Ngoại thương Việt nam một số bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá. Rút từ bài học đó, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã lấy hiệu quả an toàn làm mục tiêu hàng đầu với phương tâm cho vay ít mà an toàn còn hơn chạy theo số lượng. Tuy nhiên, chính sách thận trọng quá mức đó của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi nó thoả mãn cả ba chủ thể: Ngân hàng, khách hàng và chính phủ. ở đây để an toàn Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội không cho vay trong nước nhiều mà chủ yếu gửi các Ngân hàng nước ngoài – Điều này làm cho Ngân hàng hài lòng nhưng khách hàng sẽ không hài lòng vì không được Ngân hàng cung cấp vốn, Thành phố Hà Nội sẽ không hài lòng vì tiền huy động được từ người dân thành phố lại bị gửi ở nước ngoài thay vì đầu tư phát triển ở thành phố. Chính vì thế,

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng ngoại thương Hà nội cần mở rộng cho vay hơn nữa, nâng cao khả năng tư vấn để tư vấn cho doanh nghiệp các phương án, dự án kinh doanh có hiệu quả. Có như vậy, chất lượng tín dụng mới được nâng cao theo đúng nghĩa của nó.

    Các mặt hàng cho vay chủ yếu vẫn tập trung ở phần bón, sắt thép, xăng dầu, phục vụ nhu cầu nhập khẩu và thuỷ sản, gạo, cà phê phục vụ nhu cầu xuất khẩu. Cho vay để xuất khẩu có rủi ro cao, đó là vì việc xuất khẩu hàng hoá sang các nước khác còn phụ thuộc nhiều vào quan hệ kinh tế giữa các nước, vào thị trường, vào tỷ giá. Với một nguồn vốn huy động nhiều, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nên mở rộng cho vay sang các doanh nghiệp kinh doanh trong nước.

    • Khi xem xét dư nợ theo thành phần kinh tế, ta thấy dư nợ vẫn tập trung

    chủ yếu ở thành phần kinh tế quốc doanh và tỷ trọng của nó tăng dần theo các năm. Đặc biệt năm 2002 chiếm 93% tổng dư nợ. Tương ứng thì cho vay kinh tế ngoài quốc doanh giảm dần và chiếm tỷ trọng rất nhỏ (7 à 9,9%). Qua đó ta thấy doanh nghiệp quốc doanh vẫn là khách hàng truyền thống của ngân hàng, phần nào các doanh nghiệp quốc doanh được nhà nước bảo đảm và quan điểm của ngân hàng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa được cải thiện nhiều. Tuy nhiên trong thời gian tới các doanh nghiệp Nhà nước sẽ bị thu hẹp do chính sách cổ phần hoá, do chuyển sang Công ty TNHH một thành viên. Tương ứng với nó là tăng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Vì thế, ngay từ bây giờ Ngân hàng ngoại thương Hà Nội nên chú trọng tới đối tượng khách hàng này.

    • Khi xem xét dư nợ theo tiền tệ, ta thấy dư nợ bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ

    trọng lớn (từ 55,6 à 69,4%). Đặc biệt năm 2001, dư nợ bằng ngoại tệ (quy đổi VNĐ) bị giảm nhiều (chỉ còn 30,5%). Nguyên của thực trạng này là do năm 2000, 2001 tỷ giá của đồng Dolla tăng liên tục nên một số các đơn vị sản xuất kinh doanh gắn với nhập khẩu nguyên liệu đã chuyển sang vay VNĐ. Năm 2002, cho vay bằng ngoại tệ (quy đổi ra VNĐ) đã tăng (167 tỷ so với năm 2001 và 155 tỷ so với năm 2002), đó là do trong năm 2002, chi nhánh đã thực hiện cho vay USD để thu mua và làm tăng hàng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi nhằm hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của thành phố Hà Nội.

    48

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Nhìn chung, chỉ tiêu dư nợ của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đạt kết quả khá tốt, tăng đều trong các năm; nhưng vẫn còn tập trung chủ yếu ở ngắn hạn, kinh tế quốc doanh và VNĐ.

    2.4.3.2 Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn

    Để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, ta cần xem xét chính xác về nợ quá hạn, tình hình diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn từ năm 2000 đến năm 2002 được phản ánh trên bảng số liệu sau:

    Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ quá hạn

    Chỉ tiêu 2000 2001 2002
           
    Tỷ lệ nợ quá hạn 4,68 3,13 0,6
           
    Theo kỳ hạn      
    +Ngắn hạn 7,5 4,1 0,8
    +Trung dài hạn
           
    Theo TP Kinh tế      
    +KT QD 5,16 3,42 0,66
    +KTNQD
           
    Theo Tiền tệ      
    +VNĐ 2,28 1,1 0
    +Ngoại tệ quy đổi 14 8,9 1,7
           

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Dựa vào bảng số liệu trên ta có thể thấy rằng Ngân hàng Ngoại thương Hà nội thành công trong việc đảm bảo an toàn đối với các khoản vay. Trong

    khi tổng dư nợ đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân tăng thì tỷ lệ nợ quá hạn lại giảm. Năm 2000, tỷ lệ nợ quá hạn là 4,68%, đến năm 2002 chỉ còn 0,6%. Có được điều này là do trong những năm vừa qua Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã tích cực giám sát các khoản vay và thu nợ đầy đủ, đúng tiến độ, sát sao giải quyết trong công tác thu hồi nợ quá hạn khó đòi còn tồn đọng, trình cấp trên xét duyệt xử lý. Đặc biệt, thực hiện đề án tái cơ cấu laị Ngân hàng Ngoại thương của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, nợ quá hạn đã được bù đắp

    49

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    bằng quỹ dự phòng rủi ro, dư nợ quá hạn ra theo dõi ngoại bảng để làm sạch bảng cân đối kế toán. Tất nhiên, đó không phải là xoá nợ cho khách hàng mà đó vẫn là khoản phải thu. Cụ thể vào cuối năm 1999 chi nhánh đã ngừng cho vay một đơn vị khó khăn từ những năm cũ nên phát sinh nợ quá hạn vào năm 2000. Năm 2001 Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã bàn với cấp chủ quản để đưa ra biện pháp xử lý tài sản cuả đơn vị có nợ quá hạn; kết quả là Tổng cục du lịch đã quyết định cho Công ty thiết bị vật tư du lịch là đơn vị nợ quá hạn cao nhất cho thuê nhà dài hạn để trả nợ. Năm 2002, chi nhánh đã thực hiện phân loại nợ, đánh giá thực chất nợ xấu để trích dự phòng rủi ro và đảm bảo thực hiện lành mạnh hoá tài chính.

    Tuy nhiên kết quả nợ quá hạn vẫn còn nhiều điều đáng bàn

    • Xét tỷ lệ nợ qúa hạn theo kỳ hạn, cơ cấu nợ quá hạn theo kỳ hạn, cơ cấu nợ quá hạn phần lớn rơi vào ngắn hạn. Sở dĩ như vậy là do Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, dư nợ chủ yếu tập trung ở ngắn hạn nên nợ quá hạn ngắn hạn là chủ yếu, dư nợ trung dài hạn ít nên hầu như không có nợ quá hạn trung dài hạn. Mặt khác trước đây khi cho vay theo nghị định 284 thì gốc quá hạn không kéo theo lãi quá hạn, từ khi cho vay theo nghị định 1627 thì gốc quá hạn sẽ kéo theo lãi cũng là quá hạn làm cho nợ quá hạn ngắn hạn nhiều. Bên cạnh đó Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cho vay một số khách hàng theo phương thức L/C trả chậm, khi đã thu được tiền về nhưng khách hàng vẫn chưa trả cho Ngân hàng điều này cũng làm tăng nợ quá hạn ngắn hạn.
    • Xét tỷ lệ nợ quá hạn theo thành phần kinh tế, ta thấy những khoản cho vay ngoài quốc doanh có độ an toàn hơn khi cho vay quốc doanh (100% dư nợ quá hạn là chủ nợ của các doanh nghiệp quốc doanh). Điều nàylà do:
      • Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, thông thường đó là các khách hàng truyền thống của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, đã có mối quan hệ

    với ngân hàng từ lâu. Nên hoạt động tín dụng, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thường áp dụng các chính sách ưu đãi với các khách hàng này. Do vậy, đôi khi dẫn tới tình trạng Ngân hàng quá tin tưởng vào doanh nghiệp, chưa quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp này, chưa kiểm duyệt chặt

    50

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    chẽ phương án kinh doanh khi cho vay. Vì vậy, có một số doanh nghiệp đã không thực hiện đã không thực hiện được các phương án kinh doanh một cách khả thi dẫn đến thua lỗ, mất khả năng trả nợ Ngân hàng.

    • Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thông thường khi cho vay đều có tài sản thế chấp hoặc ngân hàng kiểm soát chặt chẽ các khoản vay đối

    với các đối tượng này. Vì vậy, tình trạng nợ quá hạn hầu như không xảy ra đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

    Tóm lại, chỉ tiêu nợ quá hạn của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội trong những năm qua là tương đối đạt yêu cầu. Song xét về cơ cấu ta thấy nợ quá hạn chủ yếu tập trung vào cho vay quốc doanh. Đây là vấn đề mà Ngân hàng cần xem xét để nâng cao hiệu quả cho vay nhiều hơn nữa.

    2.4.3.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

    Vòng quay vốn tín dụng của Ngân hàng qua các năm được thể hiện ở bảng sau:

    Bảng 2.6: Vòng quay vốn tín dụng

          Đơn vị: Tỷ đồng
    Chỉ tiêu 2000 2001 2002  
             
    Doanh số thu nợ 1810 2010 3009  
    Dư nợ bình quân 490 623 940  
    Vòng quay vốn tín dụng 3,96 3,1 3,2  
             

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Qua đó ta thấy năm 2002 vòng quay vốn tín dụng cao hơn so với năm

    2000 và năm 2001. Đó là do tốc độ tăng của doanh số thu nợ lớn hơn tốc độ tăng của dư nợ bình quân.

    2.4.3.4. Chỉ tiêu doanh số cho vay

    Bảng 2.7: Doanh số cho vay

    (Đơn vị: Tỷ đồng)

    Chỉ tiêu 2000   2001   2002   SS01/02 SS02/01
                               
      ST   % ST   % ST   % ST % ST %
                               
    Theo kỳ hạn                          
    +Ngắn hạn 1813   96,8 2113   96 3264   96,9 300 116,5 1151 145,4
    +Trung dài hạn 59   3,2 87   4 106   3,1 2,8 147,5 19 121,8
                               
    Theo TP Kinh tế                          
    +KT QD 1613   86,2 1870   85 2939   87,2 257 115,9 1069 157,1
    +KTNQD 259   13,8 330   15 431   12,8 71 127,4 101 130
                               

    51

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Theo Tiền tệ                    
    +VNĐ 1279 68,4 1736 79 2570 76,3 457 135,7 834 148
    +NT quy đổi 593 31,6 464 21 800 23,7 -129 87,2 336 172,4
                         
    Tổng 1872 100 2200 100 3370 100 328 117,5 1170 153,2
                         

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm) Dựa vào bảng phân tích số liệu trên, ta thấy doanh số cho vay năm sau đều tăng hơn năm trước kể cả về số tuyệt đối lẫn số tương đối. Năm 2001 tăng

    hơn năm 2000 là 328 tỷ đồng (117,5%), năm 2002 tăng hơn so với năm 2001 là 1170 tỷ đồng (153,2%). Tuy nhiên, so với nguồn huy động được thì doanh số cho vay vẫn chiếm một tỷ trọng nhỏ. Trong khi nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là lớn nhưng vẫn không được Ngân hàng Ngoại thương Hà Nôị cho vay do chính sách thận trong trong cho vay. Hạn mức tín dụng cho mỗi khách hàng tối đa là 80 Tỷ khi đem so với tổng doanh số cho vay năm cao nhất là 3.370 tỷ, ta thấy nếu cho vay mỗi khách hàng hết hạn mức thì số khách hàng của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội mới chỉ dừng lại ở 42 khách hàng. Như vậy, tuy rằng doanh số cho vay đã tăng nhưng Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn còn quá thận trọng, không cho vay nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của doanh nghiệp cũng như chưa cho vay hết đến hạn mức được duyệt. Nói cách khác, Ngân hàng chưa xây dựng được tổng hạn mức tín dụng cung cấp cho cả nền kinh tế là bao nhiêu.

    • Khi xem xét doanh số cho vay theo kỳ hạn, ta thấy chủ yếu là cho vay ngắn hạn (chiếm từ 96 à 97%), cho vay trung dài hạn tuy có tăng một chút ở năm 2001 nhưng lại giảm nhẹ vào năm 2002 (xét về số tương đối). Điều này cho thấy Ngân hàng vẫn còn thiếu các dự án có khả năng hấp thu vốn lớn, thời

    hạn cho vay dài. Một nguyên nhân nữa của tình trạng này, đó là do Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cho vay đối với các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại vẫn chiếm tỷ trọng lớn, cho vay đối với các ngành nghề như công nghiệp chế biến nông lâm nghiệp, thuỷ sản ít hơn. Ngành thương mại là khu vực kinh tế có khả năng sinh lời cao, thời gian thu hồi vốn nhanh; tất nhiên là ở khu vực kinh tế này có chứa đựng nhiều rủi ro về mặt giá cả, thị trường.

    • Xem xét doanh số cho vay theo thành phần kinh tế ta thấy doanh số cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có thăng về số tương đối

    52

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhưng rất chậm, điều này xảy ra có thể là do Ngân hàng chưa chú trọng cho vay đối với khu vực này.

    • Xem xét doanh số cho vay theo ngoại tệ, ta thấy cho vay bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Đó là do hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn phụ thuộc vào thị trường khi tỷ giá USD/VNĐ tăng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với nhập khẩu nguyên liệu đã chuyển sang vay VNĐ.

    2.4.3.5. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh

    Tình hình thu nhập năm 2000, 2001, 2002 được thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Bảng 2.8: Thu nhập

    Đơn vị: Tỷ đồng

    Chỉ tiêu   2000   2001   2002
                     
      Số tiền % Số tiền   % Số tiền   %
                     
    Tổng thu nhập 132 100 160   100 145   100
                     
    Thu lãi cho vay 31,68 25 30,4   19 33,5   23
    Thu lãi tiền gửi 91,08 69 110,2   69 86,5   60
    Thu lãi dịch vụ 7,92 6 19,4   12 25   17
                     

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội qua các năm)

    Qua bảng số liệu trên ta thấy, thu nhập từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn chiếm tỷ lệ bé so với thu lãi tiền gửi (gửi có kỳ hạn VCBTW, mua trái phiếu kho bạc, mua kỳ phiếu của các ngân hàng TM quốc doanh).

    Tóm lại, thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm dần qua các năm. Đó là do Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội quá thận trong trong việc xem xét cấp tín dụng, chủ yếu gửi ngoại tệ ra nước ngoài và mua chứng khoán của Chính phủ để lấy lãi. Vấn đề đặt ra là Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải mở rộng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Lãi suất đặt ra cho các khoản vay là thu nhập của Ngân hàng. ở Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội, đã có một chính sách lãi suất rõ ràng

    53

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cho các khách hàng loại I, khách hàng loại II, cho Vietnam đồng và cho Ngoại tệ. Tuy nhiên điều đáng bàn ở đây là việc phân loại khách hàng loại I, loại II, còn phụ thuộc vào người phân loại yếu tố cảm tính dễ dàng làm cho việc phân loại khách hàng không được đúng.

    2.4.3.6. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn tín dụng

    Bảng 2.8: Hiệu suất sử dụng vốn

          Đơn vị: Tỷ đồng
             
    Chỉ tiêu 2000 2001 2002  
             
    Tổng dư nợ 473 648 937  
    Tổng vốn huy động 2757 3270 3996  
    Hiệu suất sử dụng 17,1 19,85 23,5  
    vốn        
             

    Qua đó ta thấy, vốn huy động được dùng vào việc cho vay còn bé. Chủ yếu là được dùng vào việc gửi vốn điều hòa tại VCBTW, mua kỳ phiếu của các Ngân hàngTM quốc doanh, mua trái phiếu kho bạc.

    Như vậy là, mặc dù có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cơ cấu cho vay bắt đầu có sự chuyển dịch, nhưng tỷ trọng cho vay trên thị trường cấp I (thị trường quan hệ với khách hàng) vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp so với cho vay trên thị trường cấp II (thị trường quan hệ với các tổ chức tín dụng) và chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội.

    2.5. CÁC BIỆN PHÁP MÀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI ĐÃ ĐỀ RA NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

    Thực hiện các văn bản chế độ của ngành và quy trình cho vay 1 cách nghiêm túc mà không coi nhẹ hay bỏ qua những thủ tục cần thiết và đi đúng hướng chỉ đạo của cấp trên.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà nội coi trọng và đặt lên hàng đầu về đảm bảo chất lượng tín dụng, tiến hành kiểm tra đánh giá khách hàng trước khi cho vay một cách chặt chẽ. Thường xuyên phân tích tình hình tài chính của khách

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    hàng và phân loại khách hàng nhằm duy trì và phát triển quan hệ tín dụng đối với những đơn vị kinh tế lớn, kinh doanh có hiệu quả và có uy tín từ nhiều năm. Mở rộng, thu hút đầu tư tín dụng đối với các đơn vị của tổng công ty trong ngoài địa bàn, đồng thời giảm dư nợ đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và cương quyết không đầu tư đối với những dự án không có tính khả thi.

    Kiểm tra sử dụng vốn vay thường xuyên để kịp thời phát hiện những sai phạm và xử lý kịp thời các khoản nợ quá hạn, đặc biệt là nợ khó đòi, Ngân hàng đã xử lý dứt điểm những tài sản bắt nợ bằng các biện pháp như: Phân loại nợ quá hạn, phân tích thực trạng từng món nợ, nguyên nhân phát sinh và khả năng thu hồi, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để có biện pháp phù hợp đạt hiệu quả.

    Tổ chức tạo ra các lớp nghiệp vụ ngắn hạn: Ngoại ngữ, tin học và quản lý điều hành để nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn.

    Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đã tiến hành phân loại khách hàng vay vốn, từ đó có chính sách ưu đãi lãi suất đối với từng khách hàng.

    Khách hàng loại I, khách hàng loại II, được giảm lãi suất tiền vay đồng Việt nam và ngoại tệ. Các hợp đồng vay có giá trị lớn cũng được hưởng ưu đãi về lãi suất tuỳ theo giá trị của hợp đồng. Đặc biệt hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đang thực hiện ưu đãi lãi suất đối với cho vay ngắn hạn bằng USD để thu mua hàng xuất nhập khẩu và trả nợ bằng USD.

    2.6. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    2.6.1. Những kết quả đạt được

    Mặc dù môi trường cho hoạt động tín dụng của các Ngân hàng TM quốc doanh còn gặp nhiều khó khăn. Song được sự chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành từ TW đến địa phương, sự giúp đỡ của các cơ quan hữu quan và sự nỗ lực của toán bộ nhân viên trong Ngân hàng, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả sau trong hoạt động tín dụng:

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Một là: Công tác phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới thích hợp với nền kinh tế thị trường. Phong cách phục vụ, giao dịch, văn minh lịch sự tạo được ấn tượng, uy tín đối với khách hàng, tăng được số lượng khách hàng, mở rộng thị phần.

    Hai là: Doanh số cho vay ở Ngân hàng năm sau luôn cao hơn năm trước, quy mô dư nợ không ngừng tăng trưởng. Cơ cấu cho vay không chỉ bó hẹp trong khu vực doanh nghiệp quốc doanh mà còn mở sang cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội có thế mạnh cho vay trung dài hạn bằng ngoại tệ

    Ba là: Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi đã được chú trọng đúng mức, phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm theo từng năm. Đó là một thành công lớn của Ngân hàng trong những năm qua.

    Bốn là: Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn.

    Năm là: Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập,… của khách hàng trong phạm vi cho phép.

    Sáu là: Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ tài năng, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác và phòng tín dụng, tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.

    2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân

    2.6.2.1. Những hạn chế về chất lượng tín dụng

    Như đã nói ở trên, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội là một Ngân hàng có chất lượng tín dụng khá tốt. Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn một số hạn chế. Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cần các biện pháp nhằm duy trì các chỉ tiêu đồng thời xử lý những chỉ tiêu hạn chế để

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của mình trong giai đoạn tới. Những hạn chế đó là:

    Thứ nhất: Với đối tượng cho vay: Ngân hàng Ngoại thương Hà nội vẫn chưa có chiến lược đa dạng khách hàng. Ngân hàng chỉ mới chú trọng đến các doanh nghiệp Nhà nước và một số khách hàng truyền thống mà bỏ qua một số khách hàng làm ăn có hiệu quả. Tuy nhiên Ngân hàng đã cho vay vốn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh những số món vay còn ít và quy mô nhỏ. Đây là một điều đáng tiếc vì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng có tiềm lực và nhu cầu về vốn là rất lớn. Hơn nữa, Nhà nước rất khuyến khích cho vay công bằng đối với các thành phần kinh tế nhằm tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế cùng phát triển. Vì vậy, nếu Ngân hàng mở rộng cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh sẽ vừa có tác dụng tốt với nền kinh tế và vừa giúp Ngân hàng tăng thêm thị phần, tăng thêm thu nhập, cũng như thực hiện đúng chủ trương mà Nhà nước đề ra.

    Mặt khác, khách hàng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội tập trung phần lớn là thuộc ngành thương mại và các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thuỷ sản, gạo, cà phê, phân bón, sắt thép, xăng dầu,… Chính vì vậy, cho vay của Ngân hàng có chứa đựng nhiều rủi ro về giá cả về thị trường về tỷ giá,…

    Thứ hai: Xét về mức cho vay ra so với mức vốn huy động được thì mức cho vay ra mới chỉ bằng 1/5, trong đó lại chủ yếu là cho vay đối với các khu vực kinh tế quốc doanh, cho vay VNĐ, cho vay ngắn hạn. Đây là điều mà Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cần lưu ý bởi khi tín dụng được mở rộng sẽ kéo theo hàng loạt các hoạt động khác như thanh toán, nghiệp vụ kế toán phát triển theo. Ngân hàng ngoại thương vẫn còn quá thận trọng trong cho vay, chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp và Chính phủ.

    Thứ ba: Nguồn thông tin mà Ngân hàng cần để đánh giá, phân tích còn thiếu, không kịp thời và chất lượng không cao. Vì vậy, cán bộ tín dụng thường phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tự đi điều tra trong khi chi phí cho hoạt động nàylại rất ít hoặc không có.

    Thứ tư: Công tác Marketing Ngân hàng tuy bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu còn có những hạn chế, điều này ít nhiều cũng hạn chế tăng trưởng dư nợ.

    57

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Thứ năm: Trình độ của cán bộ chuyên môn còn có nhiều bất cập: Đội ngũ cán bộ có trình độ, nhanh nhẹn, nhiệt tình, hăng hái học hỏi nhưng còn thiếu kinh nghiệm, không lường hết được rủi ro trong hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn thiếu cán bộ được đào tạo theo chuyên ngành chuyên môn kỹ thuật để thẩm định tính khả thi hiệu quả của dự án. Khâu kiểm tra, kiểm soát nội bộ của Ngân hàng vẫn chưa được thực hiện đúng mức, cán bộ làm công tác thanh tra còn thiếu về số lượng, kinh nghiệm thực tế và trình độ chuyên môn.

    Thứ sáu: Ngân hàng ngoại thương Hà Nội vẫn chưa có một cơ chế động viên khuyến khích cán bộ tín dụng, chưa có một cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Định mức giao cho một cán bộ tín dụng, ví dụ: 5 tỷ nếu cho vay đến 20 tỷ cũng không được khen thưởng gì, nhưng nếu có phát sinh nợ quá hạn lại bị chỉ trích, phê bình. Trong khi rõ ràng, khả năng phát sinh nợ quá hạn của một khoản vay 20 tỷ sẽ lớn hơn nhiều so với món vay 5 tỷ. Cơ chế thưởng phạt chưa rõ ràng đã làm giảm động lực làm việc cho cán bộ tín dụng.

    2.6.2.2. Nguyên nhân.

    Những hạn chế trên đây về chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra.

    Thứ nhất: Nguyên nhân từ phía Ngân hàng.

    • Xét về chính sách tín dụng: sau các vụ án kinh tế lớn như Tamexco,

    Minh Phụng, hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Ngoại thương Hà nội nói riêng có xu hướng thận trọng trong việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tâm lý của các cán bộ tín dụng cho rằng, cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là mạo hiểm, có tỷ lệ rủi ro cao, điều này làm giảm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Mặt khác do đặc điểm riêng của kinh tế ngoài quốc doanh nên doanh số cho vay không lớn, lợi nhuận mang lại ít hơn so với cho vay các tổng công ty trong khi vốn tự có của nó lại thấp. Vì vậy, khách hàng thuộc các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là đối tượng chủ yếu của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội.

    58

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Xét về quy trình tín dụng: cán bộ Ngân hàng tuy đều được phổ biến một cách cụ thể về quy trình tín dụng nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn một số hạn chế nhất định.

    Công tác thu nhập thông tin thường dựa và số liệu do khách hàng cung cấp và cũng có tham khảo thêm một số thông tin thu thập từ bên ngoài. Nhưng nhiều khi công tác này chưa tốt, dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng giữa Ngân hàng Ngoại thương Hà nội và Ngân hàng Ngoại thương Việt nam cũng như với Ngân hàng Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu, sự phối hợp trao đổi thông tin giữa các Ngân hàng thương mại trong việc xét duyệt cho vay và quản lý vốn vay đối với các khách hàng vay vốn chưa tốt, thiếu các thông tin trung thực cần thiết về tình trạng nợ nần, hiệu quả kinh doanh của khách hàng nên không tránh được rủi ro. Mặc dù Ngân hàng Ngoại thương Hà nội đã có phòng chuyên trách thông tin phòng ngừa rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng nhưng đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực sự là công cụ tốt để ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong Ngân hàng.

    Công tác đánh giá tài sản thế chấp: Việc đánh giá tài sản thế chấp cả về giá trị và tính pháp lý của tài sản đôi khi chưa được chính xác dẫn đến việc làm giảm chất lượng tín dụng. Ngân hàng Ngoại thương Hà nội định giá tài sản thế chấp theo quy định chung, có tham khảo thêm giá tài sản đó trên thị trường tại thời điểm định giá. Các tài sản thế chấp mà doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo tiền vay của Ngân hàng Ngoại thương Hà nội chủ yếu là đất đai, nhà ở, máy móc thiết bị. Mức giá của các loại tài sản này thường không ổn định nên việc định giá đúng là rất khó khăn. Đối với các tài sản thế chấp thuộc loại hình máy móc thiết bị thì theo quy định, Ngân hàng yêu cầu không phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhưng trên thực tế, các loại máy móc này thường được mua đi bán lại nhiều lần nên các doanh nghiệp thường không có giấy tờ sở hữu các tài sản đó. Điều này làm ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng của Ngân hàng.

    Công tác kiểm tra giám sát khi cho vay đôi khi còn mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những sai phạm hoặc có phát hiện nhưng chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu. Đó cũng là nguyên nhân gây phát sinh nợ quá hạn.

    59

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Xét về hoạt động Marketing Ngân hàng: Ngân hàng chủ yếu chỉ tập trung vào các hoạt động bề nổi như quảng cáo, khuyếch trương, còn việc vận dụng Marketing nhằm nghiên cứu khách hàng, xác định thị trường mục tiêu, định vị hình ảnh, nâng cấp chất lượng dịch vụ, còn chưa tốt. Ngân hàng cũng chưa có những biện pháp tích cực để lôi kéo khách hàng.
    • Xét về trình độ cán bộ: ở Ngân hàng Ngoại thương Hà nội còn một số cán bộ chưa nắm bắt được nhu cầu và sự thay đổi của thị trường, chưa đủ khả năng kinh nghiệm đánh giá tính hiệu quả và mức độ rủi ro của khoản vay từ khi xét duyệt và cho vay.
    • Ngân hàng chưa có chế độ đãi ngộ, thưởng phạt hợp lý đối với các cán bộ ở các vị trí khác nhau và cường độ làm việc khác nhau. Điều này dẫn đến hiện tượng có một số cán bộ tín dụng ngại cho vay, sợ trách nhiệm và chưa tâm huyết với công việc.

    Thứ hai: Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn.

    • Do trình độ quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế nên thường thua thiệt trong kinh doanh, làm thất thoát vốn và những chi phí không cần thiết dẫn đến không đủ sức đứng vững trong sự cạnh tranh găy gắt của nền kinh tế thị trường.
    • Khách hàng cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh,về tài chính không đầy đủ, nếu có thì không kịp thời và sai lệch so với thực tế. Điều này gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng.
    • Vốn tự có của các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thấp. Trong khi tín dụng trung – dài hạn tỷ lệ vốn tự có của doanh nghiệp tham gia đầu tư phải đảm bảo từ 30-50% tổng vốn đầu tư của dự án, Ngân hàng chỉ cho vay phần vốn còn thiếu, tức là từ 50-70% vốn đầu tư của dự án. Do không đáp ứng đủ các điều kiện về vốn tự có, về tài sản thế chấp, về tính khả thi của dự án nên không đủ điều kiện để

    Ngân hàng có thể cho vay.

    Thứ ba: Các nguyên nhân khác.

    60

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Sự không ổn định của môi trường kinh tế trong nước và trên thế giới đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt nam. Đặc biệt là thị trường xuất khẩu (nhất là giá một số mặt hàng nông sản giảm mạnh), sự cắt giảm liên tục lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế, sự kiện kinh tế ngày 11/09/2002, đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu.
    • Hệ thống pháp lụât quốc gia với các bộ luật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý cũng như môi trường pháp lý cho kinh doanh tín dụng chưa được hoàn thiện nên không đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động của kinh tế. Mặt khác, sự thay đổi trong cơ chế, chính sách của nhà nước đã khiến cho hoạt

    động tín dụng còn gặp nhiều khó khăn.

    Những phân tích về thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian qua cho thấy những kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động tín dụng. Qua đó cũng khẳng định được vai trò, những đóng góp quan trọng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cần có những gải pháp nâng cao và mở rộng hoạt động tín dụng, để đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

    Chương III

    Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại

    Ngân hàng ngoại thương hà nội.

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI.

    3.1.1. Dự báo các yếu tố tác động tới hoạt động tín dụng trong thời gian tới

    Sự sụt giảm xuất khẩu nghiêm trọng:

    61

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới đi xuống đã tác động không thuận với xuất khẩu của nước ta. Cung vượt cầu của hầu hết các hàng hoá và dịch vụ diễn ra phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các sản phẩm điện tử & và công nghệ cao dẫn đến thị trường hàng hoá và dịch vụ bị thu hẹp, giá cả hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu liên tục giảm chưa có dấu hiệu phục hồi, nhất là nông sản các loại. Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO, điều này sẽ đặt xuất khẩu của nước ta vào tình thế bất lợi hơn do cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc không khác nhiều so với cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta, hàng hoá của Trung Quốc lại có sức cạnh tranh cao hơn. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thuộc hệ thống Ngân hàng ngaọi thương Việt nam là Ngân hàng TM hàng đầu của Việt nam trong lĩnh vực thanh toán và tài trợ xuất nhập khẩu, vì vậy sự sụt giảm nhập khẩu chắc chắn sẽ có tác động không tốt đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội năm 2003 và những năm tiếp theo.

    Lãi xuất trên thị trường quốc tế giảm liên tục:

    Trong những năm gần đây, cục dự trữ liên bang Mỹ đã liên tục hạ lãi xuất. Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chiếm đến 70% là ngoại tệ. Hơn nữa, do hệ số sử dụng vốn thấp nên số tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài là rất cao. Nguồn thu từ lãi tiền gửi ngoại tệ vì vậy luôn chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng cơ cầu thu nhập của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong những năm 2003. Một trong những giải pháp của vấn đề này là tăng cường cho vay trong nước.

    Xuất hiện nhân tố thuận lợi các doanh nghiệp Việt nam & các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:

    Tình hình chính trị và trật tự xã hôi tại Việt nam hiện nay đang được đánh giá là an toàn cao trong khu vực, tốc độ phát triển kinh tế đạt mức tăng trưởng cao liên tục qua các năm, đảm bảo các điều kiện làm ăn yên ổn lâu dài. Chính vì vậy, rất có khả năng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển dịch vùng đầu tư từ các nước kém an toàn hơn như Philipin, Malayxia, inđonexia, Thái lan, ấn độ sang Việt nam. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức AFTA, WTO và ký kết hiệp

    62

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    định thương mại Việt – Mỹ chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt nam, đặc biệt là dệt may, giày da và thuỷ sản.

    Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi:

    Dự báo trong những năm 2003 và các năm tiếp theo, thành phần kinh tế tư nhân sẽ dần chiếm tỷ trọng cao hơn sở dĩ như vậy là do các nguyên nhân sau Đảng và chính phủ chủ trương phát triển thành phần kinh tế tư nhân, luật doanh nghiệp ra đời 1/1/2000 đã tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi nhất cho thành phần kinh tế tư nhân phát triển. Quyết tâm đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá nhà nước của chính phủ. Chủ trương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Như vậy nhằm kịp thời đón bắt thời cơ mới, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần nhanh chóng tiếp cận và mở rộng giao dịch với các nhóm doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tư nhân.

    Chính sách ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu của chính phủ: Thời gian vừa qua, Chính Phủ đã thực thi hàng loạt các giải pháp như giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ lãi xuất sau đầu tư, và thành lập quỹ hỗ trợ tín dụng xuất khẩu. Theo đó hàng loạt các mặt hàng truyền thống chiếm tỷ trọng cho vay lớn của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian qua như hàng thuỷ sản, mỹ nghệ, nông sản, đều nằm trong danh mục được vay vốn có ưu đãi. Như vậy định hướng ưu tiên đẩy mạnh XK của chính phủ một mặt có tác động tốt đến nền hoạt động đầu tư của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong lĩnh vực xuất khẩu, song đồng thời cũng là thách thức vì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc chuyển dời vay vốn của các doanh nghiệp xuất khẩu sang quỹ hỗ trợ phát triển. Thị phần cho vay và thanh toán xuất khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

    Chủ trương nâng cao quyền tự quyết, tự chịu trách nhiệm của các

    Ngân hàng TM trong đầu tư cho vay:

    Các quy định về cho vay nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của các Ngân hàng TM chắc chắn sẽ được thay đổi một cách căn bản theo hướng tự quyết định và tự chịu trách nhiệm. Như vậy định hướng đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá danh mục đầu tư của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ có điều kiện tốt để triển khai. Tuy nhiên cũng cần có nghiên cứu cân

    63

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    nhắc nhằm đảm bảo quản lý và kiểm soat tốt hoạt động tín dụng, trong khuôn

    khổ an toàn cho phép.

    Nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn:

    Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, các nghành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, điện lực, viễn thông, đều đang triển khai các dự án lớn. Nhu cầu vốn lên đến hàng tỷ USD. Do môi trường kinh doanh đươc cải thiện nên thành phần kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỏ ra yên tâm hơn trong đầu tư. Nhu cầu vốn tăng lên nhanh chóng.

    Nhu cầu của dân cư về nhà ở, phương tiện đi lại, học hành, đang ngày càng nâng cao trong khi nguồn thu nhập còn hạn chế. Chính vì vậy, các Ngân hàng TM có điều kiện tốt để mở rộng cho vay.

    Mức độ cạnh tranh trong cho vay giữa các Ngân hàng Thương mại ngày càng trở nên gay gắt:

    Mặc dù nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn, song nhìn chung do tình hình tài chính của các doanh nghiệp chưa thực sự mạnh, phát triển sản xuất kinh doanh chưa ổn định, năng lực quản lý còn yếu kém. Vì vậy số lượng các dự án và phương án kinh doanh khả thi không nhiều. Trong khi đó, số vốn huy động của các Ngân hàng Thương mại lại khá cao, nên xuất hiện tình trạng cạnh tranh gay gắt, thậm chí đôi khi còn thiếu lành mạnh giữa các Ngân hàng Thương mại.

    Đó là các nhân tố tác động đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong thời gian tới.

    3.1.2. Phương hướng và nhiệm vụ của tín dụng trong năm 2003

    Phát huy các thành tích đã đạt được, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ tiếp tục mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng theo những định hướng sau:

    • Tiếp tục bám sát định hướng phát triển của Ngân hàng Ngoại thương

    Việt nam cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố.

    • Mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng bằng nhiều

    biện pháp và luôn đảm bảo phương châm an toàn hiệu quả. Tăng thị phần tín dụng trong tổng sử dụng vốn sinh lời của Ngân hàng, đặc biệt là các tín dụng

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    ngoại tệ thông qua các chính sách lãi xuất hấp dẫn, chính sách khách hàng, tăng cường đội ngũ cán bộ tín dụng để có điều kiện bám sát các đơn vị hiện có, đồng thời tìm kiếm các khách hàng và các dự án tiềm năng mới. Mở rộng công tác cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ các đơn vị làm hàng xuất khẩu.

    Kế hoạch tăng trưởng tín dụng đến cuối năm 2003 tăng 26% so với năm

    2002

    • Tiếp tục thực hiện chương trình tái cơ cấu, cơ cấu lại bộ máy điều hành hoạt động tín dụng gọn nhẹ hơn, năng động hơn và hiệu quả nhằm đáp ứng được yêu cầu của chi nhánh cấp hai và tình hình mới, công tác kiểm tra giám

    sát trực tiếp và giám sát từ xa. Thực hiện việc kiểm tra và kiểm toán nội bộ.

    • Triển khai việc cải tạo sửa chữa nhà 344 Bà Triệu để chuyển hoạt động

    của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội về đây và triển khai dự án xây dựng mới lại trụ sở 78 Nguyễn Du.

    3.2. SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    Ngân hàng là ngành kinh tế đặc thù trong nền kinh tế quốc dân, nhiệm vụ chủ yếu của nó là tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, phục vụ sản xuất kinh doanh, hoạt động ngân hàng có liên quan đến mọi lĩnh vực, đời sống, kinh tế, xã hội. Sự ổn định và phát triển của hệ thống Ngân hàng có liên quan đến sự ổn định của nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng phải được đảm bảo an toàn và hiệu quả. Nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa rất lớn đối với ngân hàng nói chung cũng như ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nói riêng.

    Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá với những đặc trưng nổi bật là tự do hóa thương mại và tự do hoá tài chính ngày càng rộng khắp và mạnh mẽ đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của hệ thống tài chính ngân hàng từng quốc gia. Điều đó tạo cho Ngân hàng những cơ hội cũng như thách thức để mở rộng và nâng cao hoạt động của mình. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế, các Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển, nâng cao vị thế của mình trên thị trường thì một trong những điều kiện tiên quyết là

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    phải nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động tín dụng.

    Ngân hàng ngoại thương Hà Nội cũng vậy, bởi vì:

    • Hoạt động kinh doanh ngân hàng là 1 lĩnh vực đặc biệt bởi hàng hoá và tiền tệ có sức nhạy cảm và sức cuốn hút. Vì vậy mà rủi ro trong Ngân hàng rất

    lớn và đa dạng. Nó ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động của Ngân hàng, chính vì vậy mà cần phải giảm rủi ro. Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần làm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, làm lành mạnh tình hình tài chính của ngân hàng thương mại, giúp Ngân hàng thương mại ổn định và phát triển lâu dài.

    • Trong hoạt động kinh doanh ở bất kỳ lĩnh vực nào, doanh nghiệp hay các đơn vị kinh tế đều nhằm mục đích là tối đa hoá giá trị tài sản chủ sở hữu. Ngân hàng thương mại cũng là một đơn vị kinh doanh trong nền kinh tế nên hoạt động kinh doanh có lãi là điều mà bất cứ một ngân hàng thương mại nào cũng mong muốn. Nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần làm tăng khả năng

    sinh lợi của ngân hàng thông qua việc tăng dư nợ tín dụng, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn vay từ đó tăng thu lãi về hoạt động tín dụng cho Ngân hàng.

    • Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần làm tăng thêm các hoạt động

    dịch vụ của Ngân hàng thương mại do tạo thêm nhiều nguồn vốn từ việc tăng cường vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, và tạo ra hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng.

    Ngoài ra nâng cao chất lượng tín dụng góp phần củng cố các mối quan hệ xã hội của Ngân hàng, điều đó cũng có ý nghĩa là tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của Ngân hàng. chất lượng tín dụng cho phép Ngân hàng có thêm nhiều khách hàng trung thành và những khoảng lợi nhuận bổ sung cho vốn đầu tư. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng giúp cho Ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững ngoài ra Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội hoạt động trên địa bàn Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị của các nước, đồng thời cũng là nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt nên để có một vị trí vững chắc trên thị trường, để thắng thế trong cạnh tranh thì Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội

    66

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    cần phải nâng cao hơn nữa hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là nâng cao chất lượng tín dụng.

    Hơn nữa, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong những năm vừa qua mặc dù vẫn tốt, vẫn đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Song với xu thế hiện nay thì nó vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của nền kinh tế. Do vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải tích cực hơn nữa nâng cao chất lượng hoạt động hơn nữa để có thể theo kịp với xu thế hiện nay.

    Tóm lại, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh của mình, là sự cần thiết và khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của Ngân hàng.

    3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

    Xuất phát từ những hạn chế, vướng mắc và phương hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian tới, từ những hiểu biết của bản thân, em xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao CLTD tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội như sau:

    3.3.1. Chính sách tín dụng.

    Có thể nói chính sách tín dụng là nhân tố đầu tiên quyết định hướng chiến lược kinh doanh của Ngân hàng. Để xây dựng một chính sách tín dụng phù hợp, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần xem các vấn đề sau.

    Thứ nhất: về chính sách khách hàng.

    Trong nền kinh tế thị trường, các khách hàng ngày càng có sự lựa chọn rộng hơn, đòi hỏi chất lượng cao hơn và mong muốn nhận được giá trị lớn hơn cho đồng tiền mà họ bỏ ra. Chính vì vậy, Ngân hàng phải ngày càng quan tâm đến việc phát triển mối quan hệ với khách hàng thay vì khách hàng tự tìm đến Ngân hàng như trước đây. Hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đang thực hiện chính sách khách hàng để khuyếch trương quảng bá hình ảnh của mình. Các nhân viên của Ngân hàng đồng thời là nhân viên marketing, họ vừa cung ứng sản phẩm, dich vụ vừa thu hút khách hàng trong thái độ niềm nở và

    67

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    sự hiểu biết về sản phẩm của chính Ngân hàng cũng như về xã hội, nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng đến với Ngân hàng. Chính sách này đã và đang phát huy hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội dư nợ tín dụng tăng, thị phần tín dụng trên địa bàn tăng. .. Tuy nhiên Ngân hàng chưa có phòng chuyên trách, các cán bộ chuyên sâu về công tác khách hàng và tiếp thị quảng cáo sản phẩm, tiếp cận thị trường. Trong các chính sách khách hàng, đối tượng chủ yếu mà Ngân hàng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tín dụng của khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Còn lại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chưa đáp ứng đầy đủ và bỏ lỡ nhiều nhu cầu tín dụng khác của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp kinh doanh ngoài lĩnh vực xuất nhập khẩu… Do vậy để hoàn thiện hơn nữa chính sách khách hàng hợp lý, Ngân hàng nên tăng cường công tác khách hàng, mở rộng các đối tượng khách hàng bằng các cách sau:

    • Tổ chức hội nghị khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn Hà nội,

    hội nghị khách hàng truyền thống. Qua đó Ngân hàng có thể rút ra được kinh nghiệm từ những ý kiến đóng góp của khách hàng, tuyên truyền sâu rộng về Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội và lợi ích của khách hàng khi đến vay vốn tại Ngân hàng, cũng như tiếp cận các khách hàng mới.

    • Mở rộng đối tượng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Hiện nay, cho vay ngoài quốc doanh mới chiếm khoảng 10% tổng dư nợ. Đây là một con số quá nhỏ bé và ngày càng thu hẹp để tránh những rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên làm như vậy là Ngân hàng tự thu hẹp thị trường của mình bởi muốn hạn chế rủi ro thì phải có biện pháp giải quyết từ khâu thẩm định dự án, phương án, khâu giám sát sau khi cho vay,.. Mặc dù quy định về cho vay đòi hỏi rất cao và chặt chẽ nhưng không phải vì thế mà Ngân hàng không cho vay, thờ ơ với khách hàng. Hiện nay ở nước ta các doanh nghiệp quốc doanh hầu như không có đầy đủ các điều kiện về tài chính và tài sản đảm bảo trong quy trình nghiệp vụ tín dụng. Điều mà Ngân hàng cần quan tâm đối với khối doanh nghiệp này để nâng cao chất lượng tín dụng là phương án kinh doanh, uy tín của họ đối với khách hàng và Ngân hàng chứ không chỉ dựa vào

    68

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tài sản đảm bảo. Thực hiện cơ chế tín dụng linh hoạt này là điều cần thiết bởi vì khu vực này còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác và triển vọng của hoạt động sẽ có hiệu quả.

    Tóm lại, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cần được Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội quan tâm nhiều hơn do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân; đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều; sự phát triển kinh tế của các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Hà Tây, Hải Dương. Mặt khác, khu vực quốc doanh sẽ giảm mạnh do cải cách doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên. Bên cạnh đó, mở rộng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng sẽ góp phần đa dạng hoá hoạt động tín dụng, tăng thu nhập cho Ngân hàng, thoả mãn nhu cầu của doanh nghiệp và thực hiện đúng chủ trương đường lối của Nhà nước.

    • Tiếp tục củng cố, tăng cường và mở rộng hoạt động tín dụng đối với

    các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các khách hàng truyền thống trên địa bàn. Đó là những khách hàng có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, có nhu cầu đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất thường xuyên.

    Thứ hai: Chính sách lãi xuất.

    Lãi xuất là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các khoản cho vay của Ngân hàng Thương mại. Một chính sách lãi suất phù hợp sẽ thu hút được khách hàng và tăng dư nợ tín dụng, tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho Ngân hàng. Để có được một chính sách lãi xuất cho vay có hiệu quả, cán bộ Ngân hàng phải nắm được thực tế lãi suất và xu hướng biến động của lãi suất cho vay hợp lý. Trong những năm qua, Ngân hàng đã và đang áp dụng chính sách lãi suất một cách linh hoạt đối với các đối tượng khách hàng vay vốn và quy mô các khoản vay, ví dụ như có ưu đãi lãi suất cho khách hàng loại một, khách hàng loại hai có giảm lãi suất cho những món vay có giá trị lớn. Tuy nhiên, chính sách lãi suất của Ngân hàng vẫn còn những điều chưa linh hoạt. Vì thế Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nên mở rộng các mức lãi suất đa dạng theo thời gian và đối tượng khách hàng, mức độ sử dụng sản phẩm của Ngân hàng, có chính sách khuyến khích về lãi suất cho các khách hàng mới. Bên canh đó căn cứ vào tính chất, đặc điểm từng nghành nghề kinh doanh mà

    69

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có thể áp dụng các mức lãi suất khác nhau. Ví dụ như đối với các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng xuất nhập khẩu được nhà nước khuyến khích như thực phẩm, may mặc, giày dép. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội có thể áp dụng một mức lãi suất khác, phù hợp hơn so với việc cho vay để sản xuất thông thường. Điều này không những tạo ra những điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt hơn mà còn giúp cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thiết lập, mở rộng quan hệ với khách hàng. Với một chính sách lãi suất phù hợp, linh hoạt chắc chắn Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ có càng nhiều khách hàng đến với mình.

    Thứ ba :Về phương thức cho vay vốn.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà nội cần đa dạng hoá các phương thức cho vay, cho vay theo nhu cầu, gắn với đặc điểm sản xuất kinh doanh của khách hàng. Với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hiện nay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chủ yếu áp dụng theo phương thức cho vay từng lần. Điều này trong một chừng mực nào đó có thể gây ra những thủ tục phiền hà cho cả khách hàng và cán bộ tín dụng. Giải pháp ở đây là Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội nên cho vay theo hạn mức đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay trả thường xuyên, ổn định. Vấn đề đặt ra là hạn mức tín dụng đặt ra cho mỗi khách hàng là bao nhiêu? theo tôi, dựa vào tình hình SXKD và tài sản đảm bảo mà khách hàng và ngân hàng cùng thoả thuận một mức dư nợ tối đa trong thời hạn nhất định. Căn cứ vào mức dư nợ đó, khách hàng chỉ phải làm một lần các thủ tục cần thiết như hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh các hồ sơ pháp lý khác…những lần tiếp theo khách hàng chỉ cần làm giấy nhận nợ và giấy rút tiền. Như vậy cho vay theo hạn mức sẽ tiết kiệm được chi phí và thời gian cho khách hàng. Với Ngân hàng, Ngân hàng có thể biết được khách hàng đang gặp thuận lợi hay khó khăn gì để cùng khách hàng tháo gỡ. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cần hướng tới đối tượng là dân cư. Nhu cầu vay vốn trong dân cư để phát triển sản xuất các hệ thống kinh doanh cá thể là rất lớn. ở các nước Âu, Mỹ và các nước công nghiệp mới nổi như Thái lan và Malayxia, cho vay tiêu dùng đặc biệt là vay trả góp chiếm tỷ trọng tương đối cao trong các ngân hàng. Vì vậy Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần mở rộng

    70

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    dich vụ cho vay tiêu dùng, cho vay thông qua dịch vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nhằm mở rộng cho vay đối với cá thể.

    Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội là một trong số ít các Ngân hàng đạt được những thành quả trong lĩnh vực cho vay đồng tài trợ. Đây là hình thức cho vay giảm được nhiều rủi ro vì các Ngân hàng tham gia cho vay đều thẩm định rất kỹ.Vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần phải tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được trong lĩnh vực đồng tài trợ.

    Thú tư :Về chính sách đảm bảo tiền vay.

    Thông thường từ trước đến nay, đối với thành phần kinh tế quốc doanh, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội thường cho vay tín chấp đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản thế chấp. Theo tôi với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, Ngân hàng cũng có thể cho vay bằng tín chấp. Hình thức bảo đảm này sẽ được áp dụng cho những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, có tài sản cố định và tài sản lưu động, sản xuất kinh doanh các mặt hàng không rủi ro và ổn định trên thị trường có quan hệ tốt với Ngân hàng. Thời gian cho vay không nên quá dài và mức cho vay không nên vườt quá vốn lưu động thực tế của người vay. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng cần xem xét cho vay thông qua việc triết khấu, thương phiếu. Năm 2000 pháp lệnh thương phiếu ra đời thừa nhận việc mua bán chịu giữa các doanh nghiệp. Đó là có sở để thực hiện việc chiết khấu thương phiếu, nhưng trên thực tế thì Ngân hàng chưa áp dụng hình thức này mà mới áp dụng hinh thức cho vay có bảo đảm bằng chứng từ. Nguyên nhân của việc này thì có nhiều trong đó chủ yếu là có rất ít các doanh nghiệp Việt nam sử dụng thương phiếu.

    3.3.2. Về quy trình tín dụng.

    Để hạn chế tối đa các yếu tố chủ quan và các biểu hiện tiêu cực trong việc thẩm định xét duyệt cho vay, đảm bảo tính khách quan, kịp thời phát hiện các khách hàng kém hiệu quả, dự án kém khả thi. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cần cải tiến và đổi mới quy trình xét duyệt thẩm định và cho vay, kiểm tra giám sát tình hình luân chuyển vốn vay.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Theo quy trình tín dụng, hồ sơ cho vay trước khi trình lãnh đạo ký duyệt cần phải được kiểm tra, xem xét toàn diện, chính xác và khách quan từ khâu lập hồ sơ, phân tích năng lực điều hành quản lý của chủ doanh nghiệp, tính khả thi của dự án, giá trị tài sản thế chấp, biện pháp thu hồi nợ. Do vậy nếu để cho một cán bộ tín dụng đảm nhiệm tất cả các khâu như hiện nay thì không tránh khỏi những sai sót do trình độ nghiệp vụ, yếu tố chủ quan kinh nghiệm của mỗi cán bộ tín dụng là khác nhau. Vì vậy, phòng tín dụng nên chia ra hai bộ phận.

    Bộ phận một :Bộ phận quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm thủ tục và điều kiện vay vốn, tiếp nhận các hồ sơ vay vốn của khách hàng, phân loại hồ sơ để xem xét và đánh giá. Bộ phận này chuyên quản lý doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, tài sản thế chấp, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, những thuận lợi, khó khăn để từ đó đề xuất ý kiến, biện pháp giải quyết đối với từng phương án vay vốn. Bộ phận này thường xuyên xuống nơi làm việc để nắm rõ tình hình thực tế về báo cáo cho lãnh đạo và bộ phận thẩm định để theo dõi và chỉ đạo.

    Bộ phận hai :Bộ phận thẩm định tín dụng hoạt động độc lập với bộ phận trên. Bộ phận này chủ yếu làm việc tại Ngân hàng, có nhiệm vụ phân tích xem xét dự án vay vốn về mọi mặt, phân tích khả năng trả nợ của khách hàng. Bộ phận này có thể xuống doanh nghiệp nắm tình hình thực tế và kiểm tra tài sản thế chấp cầm cố khi thẩm định dự án, căn cứ vào ý kiến đề xuất của bộ phận quản lý doanh nghiệp để đưa ra các phương án xử lý các vụ việc liên quan đến vốn vay. Trong bộ phận này Ngân hàng nên tuyển thêm một số cán bộ hiểu sâu về một số lĩnh vực cụ thể như điện, máy móc, thiết bị giao thông. ..để giúp cho công tác thẩm định đánh giá về các yếu tố kỹ thuật được đúng đắn và chính xác, nhanh chóng.

    Hai bộ phận này cần có sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng vì nếu như một công đoạn nào đó thực hiện không đúng quy định sẽ ảnh hưởng đến công đoạn sau và kết quả của toàn bộ công việc.

    Trong quy trình tín dụng, Ngân Hàng Ngoại thương Hà Nội cần tập trung vào bước thẩm định dự án và kiểm soát vốn sau khi vay

    72

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    3.3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định

    Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả cho vay sau này vì kết thúc khâu thẩm định sẽ đa ra kết quả là có chấp nhận cho khách hàng vay hay không. Thẩm định gồm hai bước cơ bản là thu thập thông tin và xử lý thông tin

    Thứ nhất: Thu thập thông tin

    Việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như phỏng vấn người xin vay, sổ sách của ngân hàng, các nguồn thu thập từ các doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, các nguồn thông tin từ dịch vụ, các cơ quan cung ứng thông tin và từ các nguồn khác… Hiện nay có nhiều nguồn thông tin với độ chính xác lẫn lộn nhau. Vì vậy, ngân hàng chọn lựa thông tin nào là chính xác là rất khó. Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội chủ yếu thu thập thông tin từ phía khách hàng thông qua phỏng vấn trực tiếp, báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh doanh và cũng có trường hợp ngân hàng cử cán bộ tới tận nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên nếu chỉ thu thập nguồn tin từ phía khách hàng thì không có độ tin cậy cao vì chúng ta biết rằng khách hàng luôn muốn vay Ngân hàng một cách nhanh chóng nên thường xuyên xảy ra hiện tượng thiếu trung thực khi đưa ra những thông tin về mình. Vì vậy, ngân hàng cần mở rộng phạm

    • thu thập những nguồn thông tin khác nhưng phải biết chọn lọc để tránh hiện tượng “ loãng thông tin”. Ngân hàng cần chú ý tới những nguồn sau:
      • Cần chú trọng tới việc cử cán bộ có kiến thức nghiệp vụ Ngân hàng và có kiến thức chuyên môn của ngành nghề lĩnh vực mà khách hàng đang kinh doanh, đến tận địa bàn sản xuất của doanh nghiệp. Kết hợp với những thông

    tin do khách hàng cung cấp như báo cáo tài chính tình hình sản xuất kinh doanh.

    • Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi những thông tin được cung cấp

    từ hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng nhà nước Việt Nam, của ngân hàng ngoại thương Việt Nam. Hệ thống thông tin này được đánh giá là đáng tin cậy vì do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, hệ thống này mới được thành lập nên chưa hoàn thiện và đầy đủ cả về số lượng và chất lượng. Thông tin thu

    73

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    được từ nguồn này mới chỉ có về tình hình dư nợ và nợ quá hạn phải thanh toán của doanh nghiệp tại các ngân hàng ngoại thương, các thông tin về thị trường, về kinh tế, xã hội… đều không có. Bên cạnh đó, các Ngân hàng còn chưa thực sự tuân thủ chặt chẽ yêu cầu cung cấp thông tin.

    • Ngân hàng cần có bộ phận riêng quản lý các hồ sơ giấy tờ của khách

    hàng kể cả với những khách hàng tạm thời không có quan hệ tín dụng với Ngân hàng. Đây cũng sẽ là nguồn thông tin quan trọng trong nhiều trường hợp cần thiết.

    • Chú trọng nguồn thông tin đại chúng vì đây là nguồn thông tin khách

    quan nhất. Mặt khác, Ngân hàng cần có sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với những tổ chức tín dụng khác, các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương và giữ tốt mối quan hệ với khách hàng vì đôi khi họ có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quý báu.

    Để có thể thu thập các thông tin, tôi xin đề xuất một số phương pháp thu thập thông tin sau:

    – Phương pháp thu tin qua mạng máy tính nối với các tổ chức tín dụng

    khác.

    • Phương pháp thu tin từ các biểu báo cáo ( áp dụng với các tổ chức tín

    dụng chưa có máy tính hoặc chưa có điều kiện nối mạng máy tính. ở Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đã có các máy tính nối mạng nhưng ở các phòng giao dịch hệ thống máy tính chưa được nối mạng nên tại phòng giao dịch nên áp dụng biện pháp này).

    • Thu tin qua đường công văn từ các cơ quan quản lý của nhà nước hoặc

    chính quyền địa phương thuộc địa bàn hoạt động của Ngân hàng.

    • Phương pháp thu tin trực tiếp từ doanh nghiệp, gặp gỡ trực tiếp để

    phỏng vấn lãnh đạo doanh nghiệp hoặc gián tiếp qua điện thoại, fax, tìm hiểu trực tiếp tại địa điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để chuyển đến doanh nghiệp gửi về Ngân hàng các thông tin dưới dạng văn bản.

    • Thu thập thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân

    hàng nhà nước, phòng thông tin tín dụng của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam: đây là đầu mối thu thập các thông tin tín dụng liên quan đến khách hàng của các Ngân Hàng Thương Mại.

    74

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Phương pháp thu thập thông tin từ các cơ quan thông tin báo chí, đây là phương pháp đơn giản nhưng rất hữu hiệu, thông tin có nguồn gốc xác thực, đa dạng, phong phú.
    • Phương pháp thu thập thông tin qua các mạng thông tin điện tử như

    mạng Internet, Vinanet, mạng trí tuệ Việt Nam của FPT, tin tueter…

    Như vậy, công việc thu thập thông tin rất phức tạp, vì vậy, Ngân hàng nên thiết lập một bộ phận thông tin tín dụng cho riêng mình. Điều này không chỉ làm tốt cho khâu thẩm định mà giúp ích cho cả quá trình cho vay của Ngân hàng, trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao hiệu quả công tác cho vay.

    Thứ hai: Phân tích thông tin tín dụng

    Khi có được các thông tin cần thiết thì việc lựa chọn khách hàng là rất quan trọng. Lâu nay trong thực tế thường chỉ có khách hàng lựa chọn Ngân hàng, Ngân hàng thực hiện tín dụng đối với hầu hết các khách hàng đến với mình. Thực ra ở đây phải là quan hệ hai chiều: Khách hàng lựa chọn Ngân hàng và Ngân hàng lựa chọn khách hàng. Điều này rất quan trọng vì nó hạn chế rủi ro cho Ngân hàng, đảm bảo vốn cho vay ra thu hồi đầy đủ, đúng hạn và có lãi, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Khi lựa chọn khách hàng, Ngân hàng cần chú ý chọn khách hàng có hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm ăn có uy tín và sẵn lòng trả nợ đúng hạn. Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các tổ chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh gía mức độ, uy tín của khách hàng.

    Việc lựa chọn khách hàng phải được thực hiện một cách chủ động (nghĩa là nếu biết đơn vị kinh tế nào làm ăn có hiệu quả và có uy tín thì Ngân hàng có thể chủ động đến đặt quan hệ tín dụng với đơn vị đó). Ngân hàng không nên ở thế bị động, ngồi chờ khách hàng đến gõ cửa xin vay, khi đó Ngân hàng mới xem xét có cho khách hàng vay hay không. Việc lựa chọn khách hàng phải áp dụng cho mọi thành phần kinh tế, tránh tình trạng đối với thành phần kinh tế quốc doanh, Ngân hàng cứ cho vay mà không xem xét đơn vị đó kinh doanh có hiệu quả hay không.

    Để việc lựa chọn khách hàng được khoa học, Ngân hàng nên tiến hành phân tích và xếp loại các doanh nghiệp theo bốn nhóm tiêu thức: quy mô

    75

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    doanh nghiệp, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể:

    Quy mô doanh nghiệp được phân thành ba loại: doanh nghiệp quy mô lớn, vừa và nhỏ. Dựa trên các tiêu thức mức vốn điều lệ, số nhân viên, doanh số hoạt động.

    Đánh giá khả năng thanh toán phân thành ba loại: doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, trung bình và kém. Dựa trên cơ sở tính toán, phân tích khả năng tài chính doanh nghiệp, báo cáo ngân quỹ.

    Đánh giá về quan hệ tín dụng của doanh nghiệp đợc phân thành năm loại: A, B, C, D, O trong đó bốn loại: A, B, C, D đợc xếp loại khoản vay tương ứng nhóm A có dư nợ tốt (khoản vay trong hạn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, các khoản vay đã gia hạn nợ có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn); nhóm B có dư nợ có vấn đề gồm các khoản nợ quá hạn<= 180 ngày; nhóm C là nhóm dư nợ tồi gồm các khoản nợ quá hạn trong 181- 359 ngày; nhóm D là nhóm dư nợ rất tồi, các khoản nợ quá hạn > 360 ngày; nhóm O là doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng.

    Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh được phân thành hai loại: doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận, dựa trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ để đánh giá.

    Ngoài ra, Ngân hàng có thể tiến hành xếp loại người lãnh đạo quản lý, điều hành doanh nghiệp đang có quan hệ tín dụng tại các tổ chức tín dụng. Việc xếp loại này dựa trên tiêu thức kỹ năng và kinh nghiệm của các nhà quản lý.

    Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định cần có sự phối hợp giữa các chuyên gia, những cán bộ tư vấn về các lĩnh vực như giá cả, kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm…

    3.3.2.2. Nâng cao hoạt động kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng

    Nâng cao vai trò của công tác thanh tra, kiểm soát là công việc rất quan trọng để đảm bảo chất lượng cho vay. Do đó, khi Ngân hàng mở rộng đầu tư

    76

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    tín dụng để nâng cao chất lượng tín dụng thì vai trò của công tác thanh tra, kiểm soát phải được nâng lên ở mức tương xứng.

    Thông qua quá trình kiểm tra, giám sát vốn cho vay, Ngân hàng phải thường xuyên đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng. Nếu phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm… thì Ngân hàng phải thực hiện xử lý theo quyền và nghĩa vụ của mình theo quyết định của pháp luật. Điều này là rất cần thiết bởi vì trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng còn có thể qua nhiều thời gian mới bộc lộ những khuyết điểm nhất định. Vì thế phải giám sát khách hàng vay vốn theo dõi kịp thời khả năng rủi ro có thể xảy ra để có biện pháp đối phó thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

    Trong thực tế, việc giám sát vốn vay của khách hàng lại tuỳ thuộc vào khả năng, trình độ và từng điều kiện cụ thể của cán bộ tín dụng. Nhất là trong điều kiện hiện nay báo cáo số liệu của các khách hàng ngoài quốc doanh thường có độ tin cậy thấp ngoài vòng kiểm soát của cơ chế hiện hành thì việc giải quyết khoa học thông tin sai sự thật một cách hữu hiệu là một vấn đề còn nhiều lúng túng. Có chăng đây chỉ một biện pháp tình thế. Bởi vì, hiện nay ta chưa có biện pháp tích cực buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng luật kế toán- thống kê và thức hiện kiểm toán bắt buộc hàng năm đối với tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy phải tăng cường hiệu quả của giám sát vốn vay trong hoạt động của Ngân hàng với yêu cầu phải có chương trình giám sát riêng, cán bộ của bộ phận này phải có năng lực về đánh giá hoạt động tín dụng ở cả hai phía khách hàng và Ngân hàng. Những người làm công tác này không liên quan đến hoạt động cho vay, thu nợ. Nhiệm vụ của bộ phận này là đánh giá tình hình hoạt động tín dụng nói chung, chất lượng tín dụng nói riêng để kiến nghị với các cấp lãnh đạo các biện pháp nhằm thiết lập hệ thống phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mình.

    Ngoài ra, Ngân hàng cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát nội bộ Ngân hàng nhằm thanh lọc những cán bộ tín dụng mất phẩm chất, tiêu cực, gây thất thoát tài sản và làm mất uy tín của Ngân hàng.

    77

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    3.3.3. Chứng khoán hoá các khoản nợ

    Để hạn chế rủi ro do biến động về tỷ giá, tăng gánh nặng trả nợ cho khách hàng, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nên khuyến khích các doanh nghiệp tham gia các giao dịch về ngoại tệ khi vay vốn. Khách hàng có thể tham gia các giao dịch kỳ hạn, giao dịch trên thị trường tương lai, giao dịch trên thị trường quyền chọn.

    Khi tham gia các giao dịch về ngoại tệ, doanh nghiệp hạn chế, xác định trước được mức lỗ tối đa của doanh nghiệp khi có biến động về tỷ giá. Trong trường hợp dự đoán chính xác, doanh nghiệp có thể thu lời từ hoạt động này.

    Để khuyến khích khách hàng tham gia vào các giao dịch về ngoại tệ, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nên chủ động giới thiệu chi tiết, rõ ràng cho khách hàng về cách thức, nội dung, bản chất của giao dịch đồng thời tham gia mạnh mẽ vào thị trường tài chính quốc tế.

    3.3.4. Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên, có định hướng phát triển nguồn nhân lực

    Con người luôn là nhân tố có tính chất quyết định trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và trong hoạt động cho vay nói riêng. Toàn bộ những quyết định cho vay, tiến trình thực hiện cho vay, thu hồi nợ không có máy móc hay một công cụ nào khác ngoài cán bộ tín dụng đảm nhiệm. Vì vậy, kết quả cho vay phụ thuộc rất lớn vào trình độ nghiệp vụ, tính năng động sáng tạo và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng. Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội là Ngân hàng có đại đa số đội ngũ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, tại chức và trên đại học đã được đào tạo về chuyên môn Ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế do tính chất phức tạp của nền kinh tế thị trường, sự phức tạp và đầy khó khăn trong công tác cho vay thì với đội ngũ cán bộ như hiện nay chưa thể đáp ứng kịp thời. Thực tế đòi hỏi cán bộ tín dụng luôn phải học hỏi, trau dồi kiến thức nghiệp vụ và cả những kiến thức tổng hợp khác một cách thường xuyên. Do đó để nâng cao chất lượng tín dụng, Ngân hàng cũng nên đề ra chính sách phát triển nguồn nhân lực và chăm lo việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ với một số biện pháp như:

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Chuyên môn hoá cán bộ tín dụng: Mỗi cán bộ tín dụng sẽ được giao

    phụ trách một nhóm khách hàng nhất định, có những đặc điểm chung về ngành nghề kinh doanh hoặc loại hình doanh nghiệp. Việc phân nhóm tuỳ theo năng lực, sở trường, kinh nghiệm của từng cán bộ tín dụng. Qua đó, cán bộ tín dụng có thể hiểu biết khách hàng một cách sâu sắc, tập trung vào một công việc của mình và giảm chi phí trong điều tra, tìm hiểu khách hàng, giảm sai sót trong quá trình thẩm định, góp phần nâng cao chất lợng tín dụng.

    • Đào tạo các kỹ năng: Ngân hàng cần đào tạo cán bộ tín dụng theo các

    kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kĩ năng điều tra, kĩ năng phân tích, kĩ năng viết, kĩ năng đàm phán…

    • Có cơ chế khen thưởng, đãi ngộ hợp lý đối với các cán bộ tín dụng, thưởng phạt nghiêm minh: những cán bộ tín dụng thiếu tinh thần trách nhiệm,

    làm thất thoát vốn, vi phạm cơ chế cần được xử lý nghiêm khắc, đặc biệt đối với những cán bộ tín dụng có hành vi tiêu cực làm ảnh hởng đến lợi ích của Ngân hàng. Tuỳ theo mức độ có thể áp dụng các hình thức xử lý, kỷ luật như: chuyển công tác khác, tạm đình chỉ, sa thải…Ngoài việc nâng cao trách nhiệm của cán bộ Ngân hàng phải có chế độ khen thưởng đối với những cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt động tín dụng. Đây là việc làm quan trọng nhằm giải quyết tình trạng cán bộ tín dụng “ ngại” cho vay. Do yếu tố tâm lý cán bộ tín dụng cho rằng nếu cho vay thu nợ hàng trăm tỷ cũng không được khen tặng, tăng lương nhưng chỉ cần một phát sinh quá hạn là bị chỉ trích, xử lý và bị coi là yếu kém

    3.4. KIẾN NGHỊ

    3.4.1. Kiến nghị đối với Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

    • Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên dành cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cũng như các chi nhánh của mình nhiều quyền quyết định hơn nhằm nâng cao tính tự chủ của các chi nhánh.

    Hiện nay, cơ chế hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là hạch toán phụ thuộc, điều này đã làm đã làm giảm tính tự chủ trong hoạt động của các đơn vị thành viên. Cụ thể, về địa bàn hoạt động của các chi nhánh, chi nhánh chỉ được quyền cho vay đối với các đơn vị sản xuất

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    kinh doanh trên địa bàn, nếu muốn cho vay với các doanh nghiệp khác địc bàn thì phải được sự đồng ý của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và phải kết hợp với Ngân hàng ngoại thương trên địa bàn đó. Như vậy, tính cạnh tranh ngay trong hệ thống Ngân hàng ngoại thương đã không có, các chi nhánh không nỗ lực tìm kiếm khách hàng. Mặt khác, do nhu cầu của các doanh nghiệp, trụ sở chính là ở một nơi nhưng văn phòng đại diện, chi nhánh thì có ở rất nhiều nơi, theo đó khách hàng của doanh nghiệp cũng ở rất nhiều nơi. Nhu cầu đặt quan hệ với nhiều Ngân hàng của một doanh nghiệp là rất lớn. Nếu theo cơ chế hiện nay thì nhu cầu của doanh nghiệp không được đáp ứng. Chính vì vậy, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên cho phép chi nhánh mở rộng địa bàn hoạt động của mình.

    Về hạn mức tín dụng tối đa của một khách hàng, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phép Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội cấp tín dụng tối đa cho một khách hàng là 80 tỷ VNĐ. Khi có một khách hàng có tổng nhu cầu vay lớn hơn 80 tỷ thì Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội sẽ không mặn mà khi cho vay vì thủ tục rất phiền hà. Trong khi ở Hà Nội, các khu chế xuất, khu trang trại đang trên đà phát triển nên nhu cầu vay vồn Ngân hàng là rất nhiều. Vì vậy, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam nên xem xét tăng hạn mức tín dụng đối với một khách hàng cho Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội.

    Tóm lại, cơ chế hạch toán phụ thuộc làm cho các chi nhánh không có nhiều động lực trong hoạt động của mình vì lỗ hay lãi đều chuyển lên trên. Xu hướng hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nên chuyển sang hoạt động theo cơ chế tập đoàn, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của các chi nhánh mà chỉ nên tham gia góp vốn.

    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề tín dụng để cho các cán bộ tín dụng của các chi nhánh có điều kiện trao đổi kinh nghiệm công tác và nâng cao trình độ của mình.
    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên nghiên cứu tạo ra hành lang

    pháp lý để bảo vệ cán bộ tín dụng.

    80

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam nên tiếp tục phát huy việc sử

    dụng mạng vi tính để thu nhận số liệu báo cáo, hạn chế làm báo cáo bằng tay để cán bộ tín dụng tập trung thời gian vào chuyên môn hơn.

    • Triển khai kịp thời, hướng dẫn cụ thể các văn bản, quyết định của Ngân hàng Nhà nước.
    • Để phục vụ khách hàng vay vốn một cách thuận lợi, nhanh chóng, đề

    nghị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cho phép bỏ những thủ tục giấy tờ không cần thiết. Hiện nay, đã có rất nhiều khách hàng là các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ sản xuất kinh doanh phàn nàn rằng để vay vốn của Ngân hàng thì cần phải có quá nhiều điều kiện liên quan đến nhiều loại giấy tờ không cần thiết và tốn rất nhiều thời gian.

    • Đặc biệt đối với chiết khấu giấy tờ có giá Ngân hàng Ngoại thương

    Việt Nam phải có hướng dẫn cụ thể với thủ tục gọn nhẹ, giải quyết cho vay nhanh chóng để thu hút được khách hàng.

    • Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để tổ chức có hiệu quả chương trình thông tin tín dụng, nâng cao chất lượng và mở rộng phạm vi

    thông tin, giúp các chi nhánh phòng ngừa rủi ro một cách tốt nhất.

    • Tăng cường hoạt động thanh tra kiểm soát nội bộ trong toàn hệ thống

    nhằm chấn chỉnh các hoạt động của chi nhánh và đội ngũ nhân sự.

    3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

    Thứ nhất: Cần nâng cao chất lượng công tác thông tin tín dụng

    Ngân hàng thương mại khi cho bất cứ một khách hàng nào vay thì đều cần phải có thông tin về khách hàng đó để có quyết định cho vay đúng đắn. Hoạt động tín dụng muốn đạt hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ công tác này. Nhận thức rõ vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh Ngân hàng, ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã sớm cho chủ trương xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng mà sau này đã trở thành hệ thống thông tin tín dụng (gọi tắt là CIC) của Ngân hàng.

    Hệ thống CIC đã phần nào cải thiện tình trạng thiếu thông tin tín dụng phục vụ công tác cho vay của các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Tuy nhiên, do mới được thành lập, còn đang trong giai đoạn củng cố và hoàn thành nên CIC vẫn còn phải đương đầu với nhiều khó khăn trong việc thu thập và xử lý thông tin. Việc thu thập và cập nhật các thông tin biến động của CIC thực hiện vẫn chưa có hiệu quả. Các số liệu cập nhật không kịp thời, độ tin cậy thấp đã khiến cho Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thường ít sử dụng tài liệu do CIC cung cấp. Một trong số những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là: thông tin của CIC phần lớn là do các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cung cấp. Thông tin này thường phản ánh sai lệch do các doanh nghiệp chưa thực hiện đúng và đầy đủ pháp lệnh về kế toán thống kê, việc cung cấp thông tin không kịp thời làm cho các thông tin thường bị lạc hậu so với thời điểm cung cấp. Về phía các tổ chức tín dụng, chưa tuân thủ đúng các quy định về cung cấp thông tin, xác nhận dư nợ của khách hàng, thiếu tinh thần hợp tác với nhau để cho vay một khách hàng mà có khi còn bí mật thông tin về khách hàng mà mình biết để đảm bảo quyền lợi cho mình.

    Chính vì vậy, đề nghị Ngân hàng Nhà nước cần sớm có giải pháp để hoạt động của trung tâm này phát huy hiệu quả. Cần bắt buộc các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động của hệ thống CIC, coi đó như một quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

    Thứ hai: Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện các quy chế, quy định và môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng. Cụ thể:

    • Công ty mua bán nợ đã được thành lập song đến nay thì công ty này hoạt động không có hiệu quả, chưa thực hiện được nhiệm vụ xử lý nợ đóng băng của các Ngân hàng. Công ty mua bán nợ cần mua lại các khoản nợ khó đòi của các Ngân hàng thương mại sau đó tiến hành phân loại trên cơ sở cơ cấu

    lại để nâng cao giá trị đem bán cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các công ty này là một bộ phận trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nên hoạt động có tính chất như một doanh nghiệp nhà nước.

    • Ngân hàng Nhà nước cần đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng về

    việc trích lập quỹ dự phòng ruỉ ro, các mức trích lập cũng như danh mục nội dung cần trích lập để các tổ chức tín dụng chủ động trong vấn đề giải quyết các khoản nợ có vấn đề của mình.

    82

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Có những vướng mắc trong việc thực hiện quy định của pháp luật như

    luật các tổ chức tín dụng, điều 52, khoản 2 có nói rõ là các tổ chức tín dụng có quyền bán tài sản cầm cố thế chấp để thu hồi nợ hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện trách nhiệm hoặc có quyền khởi kiện nếu khách hàng không trả nợ được. Nhưng theo nghị định 86/ CP thì Ngân hàng không có quyền bán đấu giá tài sản cầm cố thế chấp

    Thứ ba: Thành lập công ty bảo hiểm tín dụng

    • Khi doanh nghiệp gặp rủi ro dẫn đến tình trạng không có khả năng

    thanh toán với Ngân hàng, tuỳ theo tính chất của từng loại rủi ro và tình hình tài chính của doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại có thể sử dụng các biện pháp như: trích chuyển tài khoản tiền gửi của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại, gia hạn các khoản tín dụng, bán tài sản thế chấp, khoanh nợ và cuối cùng là bù đắp bằng quỹ rủi ro. Quỹ rủi ro không phải bao giờ cũng là cái phao cứu sinh của các Ngân hàng, bởi quỹ này có những hạn chế nhất định:

    • Quy mô của quỹ nhỏ (chỉ được trích 10% lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng thương mại cho tới khi bằng vốn điều lệ) cho nên không có khả năng bù đắp khi có rủi ro lớn.
    • Quỹ này hình thành từ lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại nên không phát huy được tính tương trợ giữa các Ngân hàng thương mại trong

    cùng hệ thống.

    • Bên cạnh việc hình thành quỹ bù đắp rủi ro là tất yếu, để khắc phục

    hạn chế của quỹ này, các Ngân hàng thương mại có thể tham gia bảo hiểm với các khoản cấp tín dụng, bảo hiểm tín dụng có ưu điểm rất lớn như sau:

    • Bảo hiểm tín dụng có nghĩa vụ bồi thường cho Ngân hàng thương

    mại khi có rủi ro xảy ra theo luật định, ngoài ra bảo hiểm tín dụng còn có nghĩa vụ phối hợp với các ngành hữu quan tổ chức các biện pháp đề phòng, ngăn chặn, hạn chế các tổn thất xảy ra đảm bảo an toàn cho các công ty bảo hiểm cũng như an toàn cho các Ngân hàng thương mại.

    • Bảo hiểm tín dụng thu hút được nhiều khách hàng tham gia bảo

    hiểm nên có khả năng thanh toán nhanh, kịp thời bù đắp khi có tổn thất lớn đồng thời phát huy được tính cộng đồng, tính tương trợ giữa các Ngân hàng.

    83

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    – Trên thế giới hiện nay tồn tại hai hình thức của công ty bảo hiểm tín

    dụng:

    • Một là thành lập công ty bảo hiểm trực thuộc ngành Ngân hàng. Việc thành lập công ty bảo hiểm tương tự như đối với các doanh nghiệp, vốn

    tự có do ngân sách nhà nước cấp hoặc do các cổ đông đóng góp ( phần lớn là các Ngân hàng thương mại). Hoạt động của công ty này chỉ kinh doanh trên lĩnh vực bảo hiểm đối với hoạt động của ngân hàng, cả tiền gửi và tiền cho vay.

    • Hai là các công ty bảo hiểm tín dụng độc lập.

    Phương thức thứ nhất phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Theo hướng đó, công ty bảo hiểm này hoạt động dưới sự điều tiết can thiệp của Ngân hàng nhà nước, các Ngân hàng thương mại đều tham gia nên phí rẻ hơn, góp phần đảm bảo an toàn trong kinh doanh của từng Ngân hàng thương mại cũng như an toàn trong hệ thống ngân hàng.

    3.4.3. Kiến nghị đối với Nhà nước

    • Chính phủ cần hoàn chỉnh đề án nghiên cứu cải tiến cách định giá tài sản đảm bảo bằng việc xem xét khung giá đối với quyền sử dụng đất sao cho

    phản ánh được giá cả thị trường và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách trong việc đánh giá bất động sản.

    • Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên cơ chế bảo lãnh một phần nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng thông

    qua việc gánh chịu một phần rủi ro tín dụng. Mục tiêu trọng tâm của quỹ này là bảo lãnh cho các doanh nghiệp có các dự án, phương án hiệu quả, nhưng không có đủ tài sản đảm bảo.

    • Sớm ban hành luật sở hữu tài sản để thống nhất các chuẩn mực về giấy

    tờ sở hữu tài sản của tất cả các thành phần kinh tế. Thông qua đó thúc đẩy việc chuyển quyền sở hữu tài sản nhanh chóng, dễ dàng, tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại trong việc nhận tài sản đảm bảo và phát mại tài sản đảm bảo.

    • Cải tiến công tác toà án, thi hành án, sớm chỉnh sửa pháp lệnh thi hành

    án để nâng cao hiệu lực pháp lý của các bản án đã có hiệu lực thi hành, rút ngắn thời gian tố tụng, thời gian thi hành án.

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    • Phát triển thị trường chứng khoán hơn nữa cho tương xứng với vai trò của nó, tạo kênh huy động vốn dài hạn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho Ngân hàng tham gia kinh doanh, tìm kiếm thông tin trên thị trường chứng khoán.

    LỜI CẢM ƠN

     

    Lời đầu tiên của chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo-tiến sĩ Trần Đăng Khâm- khoa Ngân hàng- Tài chính, trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.

    Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo ở khoa Ngân hàng- Tài chính, trường Đại học Kinh tế quốc dân- Hà Nội đã dạy dỗ đào tạo và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường.

    Trong thời gian thực tập và hoàn thành bản chuyên đề này, em cũng nhận được những ý kiến góp ý, các tài liệu cần thiết và các thông tin sát thực về thực tiễn tác nghiệp của các cán bộ phòng tín dụng tổng hợp và thanh toán quốc tế- Ngân hàng thương mại Thành Công thuộc Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội. Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo nhiệt tình này.

    85

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2003

    Sinh viên lớp TCDN B- K41

    Lê Thị Hồng Vân

    86

    LuËn V¨n tèt nghiÖp

    Kết luận

    Chất lượng tín dụng chưa và không bao giờ là vấn đề cũ đối với từng Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nói riêng. Nó luôn đòi hỏi phải được nâng cao trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng. Chuyên đề này đã hệ thống hoá các lý luận cơ bản về tín dụng, chất lượng tín dụng, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng. Từ nghiên cứu lý luận, đã soi rọi vào thực tiễn hoạt động của Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội, phân tích đánh giá chất lượng tín dụng để từ đó tìm ra nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Từ lý luận và thực tiễn, chuyên đề đã đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện hiện nay của Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nhằm nâng cao chất lợng tín dụng.

    Cho đến nay trong công tác tín dụng, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy rằng không phải là không còn hạn chế. Hy vọng rằng trong tương lai Ngân hàng sẽ vẫn duy trì và phát triển hơn nữa những thành quả đó, góp phần cấp vốn một cách có hiệu quả cho kinh tế Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.

    87


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%E1%BB%9F-X%C3%AD-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-Binh-%C4%91o%C3%A0n-11.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận vẫn luôn là mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp, nó chịu sự chi phối đến mọi hoạt động của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp cũng luôn tìm và thực thi những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhưng để làm được điều này thì không hề đơn giản, nó đòi hỏi phải tìm được hướng đi đúng cho doanh nghiệp của mình và một chế độ kế toán hợp lý. Việc hạch toán chi phí để tính giá thành sản phẩm quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và việc tăng hay giảm chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu kinh tế khác.

    Thấy rõ tầm quan trọng trên cùng với quá trình học tại trường, em đã tập trung phân tích và nghiên cứu đề tài:

    Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11“.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề chia thành 3 phần như sau:

    Phần I: Lý luận chuyên về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng, xây lắp.

    Phần II: Tình hình thực tế kế toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp – Binh đoàn 11.

    Phần III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng – Binh đoàn 11.

    Vì thời gian và trình độ có hạn nên trong quá trình viết chuyên đề, em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong thầy cô góp ý để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Đồng thời em xin cảm ơn cô Lê Thị Bình đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề này.

     

    PHẦN THỨ NHẤT

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM XÂY LẮP TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp trong ngành xây dựng

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, quôc phòng, tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Một đất nước có một cơ sở hạ tầng vững chắc thì đất nước đó mới có điều kiện phát triển. Như vậy việc xây dựng cơ sở hạ tầng bao giờ cũng phải tiến hành trước một bước so với các ngành khác.

    Muốn cơ sở hạ tầng vững chắc thì xây dựng là một ngành không thể thiếu được. Vì thế một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng, cùng với vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài có trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

    Sản phẩm xây dựng là các công trình sản xuất, hạng mục công trình, công trình dân dụng có đủ điều kiện đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản luôn được gắn liền với một địa điểm nhất định nào đó. Địa điểm đó là đất liền, mặt nước, mặt biển và có cả  thềm lục địa. Vì vậy ngành xây dựng cơ bản là một ngành khác hẳn với các ngành khác. Các đặc điểm kỹ thuật đặc trưng được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây  lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng được thể hiện cụ thể như sau:

    Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng dài, có giá trị rất lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất ra sản phẩm đồng thời là nơi sản phẩm hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Nó mang tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự đoán riêng biệt và tại một địa điểm nhất định. Điều đặc biệt sản phẩm xây dựng mang nhiều ý nghĩa tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, kỹ thuật, mỹ thuật…

    Quá trình từ khởi công xây dựng cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công thường được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau. Khi đi vào từng công trình cụ thể, do chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất và làm giảm tiến độ thi công công trình. Sở dĩ có hiện tượng này vì phần lớn có các công trình đều thực hiện ở ngoài trời do vậy mà điều kiện thi công không có tính ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công trình.

    Các công trình được ký kết tiến hành đều được dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp. Cho nên phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.

    2. Yêu cầu của công tác quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Do đặc thù của xây dựng và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản có khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Chính vì thế trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng cơ bản phải đáp ứng yêu cầu sau:

    – Công tác quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế.

    – Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

    – Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài nguyên đất đai và mọi tiềm lực khác nhằm khai thác hết tiềm năng của đất nước phục vụ cho quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo bền vững mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng nhằm đáp ứng công nghệ tiên tiến bảo đảm chất lượng và thời gian xây dựng với chi phí và việc thực hiện bảo hành công trình. (Trích điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, ban hành kèm theo nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ).

    Từ trước tới nay, XDCB là một “Lỗ hổng lớn” làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Để hạn chế sự thất thoát này nhà nước thực hiện việc quản lý giá xây dựng thông qua ban hành các chế độ chính sách về giá, các phương pháp nguyên tắc lập dự toán và các căn cứ (định mức kinh tế kỹ thuật đơn giá XDCB, xuất vốn đầu tư) để xác định tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán công trình và cho từng hạng mục công trình.

    Giá thành công trình là giá trúng thầu, các điều kiện ghi trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và đơn vị xây dựng. Giá trúng thầu không vượt quá tổng dự đoán được duyệt.

    Đối với doanh nghiệp xây dựng, đảm bảo thi công đúng tiến độ, kỹ thuật, đảm bảo chất lượng các công trình với chi phí hợp lý. Bản thân các doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức quản lý sản xuất, quản lý chi phí sản xuất chặt chẽ hợp lý có hiệu quả.

    Hiện nay trong lĩnh vực XDCB chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Để trúng thầu các doanh nghiệp phải xây dựng một giá đấu thầu hợp lý cho công trình dựa trên cơ sở các định mức đơn giá XDCB do  nhà nước ban hành trên cơ sở giá cả thị trường và khả năng của doanh nghiệp. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.

    Để thực hiện các yêu cầu trên, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý chi phí sản xuất – giá thành, trong đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thánh sản phẩm.

    3. Nhiệm vụ của công tác quản lý, tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp, chi phí và tính giá thành một cách khoa học kỹ thuật hợp lý đảm bảo cung cấp một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các số liệu cần thiết cho công tác quản lý. Cụ thể là:

    – Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp đồng thời xác định đúng đối tượng tính giá thành.

    – Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh.

    – Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công sử dụng máy thi công… và các dự toán chi phí khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất để ngăn chặn kịp thời.

    – Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm là lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.

    – Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm… vạch ra khả năng và các mức hạ giá thành hợp lý, hiệu quả.

    – Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo quy định.

    – Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất… trong từng thời kỳ nhất định. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp. Cung cấp chính xác, nhanh chóng các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp.

    4.Vai trò, ý nghĩa của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng hiện nay

    4.1. Vai trò

    Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, động viên các nguồn dự trữ nội bộ của doanh nghiệp và đảm bảo tích luỹ tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi của quần chúng lao động.

    Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành các kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị, chấp hành nghiêm túc các tiêu chuẩn đã quy định về tài chính.

    Đối với doanh nghiệp xây lắp việc hạch toán sẽ cung cấp các số liệu một cách chính xác, kịp thời đầy đủ phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đề ra các biện pháp quản lý và tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu hạch toán.

    Hạch toán kế toán là vấn đề trung tâm của công tác hạch toán trong xây lắp. Tập hợp chi phí sản xuất giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình hình thực tế so với kế hoạch là bao nhiêu, từ đó xác định được mức tiết kiệm hay lãng phí để có giải pháp khắc phục. Việc tính giá thành thể hiện toàn bộ chất lượng hoạt động kinh doanh và quản lý kinh tế tài chính của đơn vị.

    4.2. Ý nghĩa

    Giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước.Đáp ứng yêu cầu quản lý thông qua việc cung cấp đầy đủ chính xác các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

    1. Khái niệm – phân loại chi phí sản xuất và quản lý chi phí sản xuất

    1.1. Khái niệm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

    Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá đã chi ra để tiến hành hoạt động kinh doanh trong thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng tiền.

    Giá trị của sản phẩm xây lắp được biểu hiện:

    GXL = C + V + m

    Trong đó:

    GXL    : Giá trị sản phẩm xây lắp

    C       : toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất tiêu hao trong

    quá trình tạo ra sản phẩm

    V       : Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho

    người lao động tham gia

    m       : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình

    tạo ra sản phẩm

    Về mặt lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố:

    – Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp ở một thời kỳ nhất định.

    – Giá tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.

    Trong điều kiện giá cả thường xuyên thay đổi như hiện nay thì việc tính toán đánh giá chính xác chi phí sản xuất là một điều khá quan trọng. Nhât là trong điều kiện hiện nay doanh nghiệp phải tự chủ trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh phải có lãi và bảo toàn được vốn.

    1.2. Phân loại chi phí sản xuất

    Trong doanh nghiệp xây lắp, các chi phí sản xuất bao gồm có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau. Yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau, vì vậy việc quản lý sản xuất, tài chính, không những dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng công trình, hạng mục công trình trong từng thời kỳ nhất định.

    Không phân loại chi phí một cách chính xác thì việc tính giá thành không thể thực hiện được. Việc phân loại đựơc tiến hành theo các tiêu thức sau:

    1.2.1. Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế.

    Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu gồm toàn bộ chi phí về đối tượng lao động như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu thiết bị xây dựng.

    – Chi phí nhân công là toàn bộ tiền công, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ và các khoản khác phải trả cho người lao động.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ phải trích khấu hao, trích trước chi phí sửa chữa lớn trong tháng đối với tất cả các loại TSCĐ có trong doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài phục vụ cho việc sản xuất như chi phí thuê máy, tiền nước, tiền điện…

    – Chi phí khác bằng tiền là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí nói trên như chi phí bằng tiền mặt, chi phí tiếp khách.

    Phân loại theo tiêu thức này giúp ta hiểu được kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.

    1.2.2. Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí.

    Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đựơc chia thành:

    * Chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm là toàn bộ chi phí liên quan đến việc xây lắp, chế tạo sản phẩm cũng như chi phí liên quan đến hoạt động quản lý và phục vụ sản xuất trong các phân xưởng, tổ đội sản xuất. Nó được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

    + Chi phí trực tiếp là những chi phí trực tiếp liên quan đến việc chế tạo sản phẩm xây lắp gồm chi phí nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công.

    * Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu vật liệu luân chuyển (cốp pha, giàn giáo…) bán thành phẩm… cần thiết để tạo ra sản phẩm.

    * Chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương. Với khoản chi phí tiền lương của công nhân điều khiển máy tính trong đơn giá XDCB cũng tính vào chi phí nhân công trực tiếp. Còn chi phí tiền lương của cán bộ quản lý công trình (bộ phận gián tiếp) được tính vào chi phí sản xuất chung chứ không phải là chi phí nhân công trực tiếp.

    *Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương cơ bản, các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, KPCĐ cho nhân viên quản lý, các khoản chi phí khác bằng tiền hoặc công cụ, dụng cụ cũng tính vào chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp.

    *Chi phí sử dụng máy thi công gồm tiền lương, các khoản phải trích theo lương của nhân viên điều khiển máy, chi phí khấu hao máy và vật liệu.

    + Chi phí gián tiếp (chi phí sản xuất chung) là những chi phí phục vụ cho việc quản lý sản xuất phát sinh trong quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm hoặc thực hiện các đòi hỏi ở bộ phận tổ đội sản xuất.

    * Chi phí quản lý doanh nghiệp  là toàn bộ chi phí quản lý chung các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, quản lý hành chính và các chi phí khác.

    * Chi phí hoạt động khác là chi phí phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí về hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường.

    Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phó có tác dụng xác định số chi phí đã chi cho từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp, làm cơ sở để tính giá thành và kết quả hoạt động sản xuất. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất chế tạo ra sản phẩm sẽ là những chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm khi hoàn thành.

    Ngoài ra có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng hai cách phân loại trên được sử dụng nhiều hơn cả bởi vì trong dự toán công trình xây lắp thì chi phí sản xuất được phân công theo từng khoản mục.

    2. Giá thành sản phẩm xây lắp

    2.1. Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng

    Để xây dựng một công trình hoàn thành thì doanh nghiệp xây dựng phải đầu tư vào quá tình sản xuất thi công một lượng chi phí nhất định, những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra sẽ tham gia cấu thành quá trình đó. Vậy giá thành sản phẩm xây lắp và toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu, nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác… tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã nghiệm thu bàn giao và được chấp nhận thanh toán thì giá thành mang tính chất cá biệt. Vì vậy mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành đều có giá thành riêng.

    Biết được giá bán trước khi sản phẩm hoàn thành và giá thành thực tế quyết định tới lỗ lãi của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong điều kiện hienẹ nay để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh được sự cho phép của nhà nước, một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng một số công trình có quy mô nhỏ sau đó bán lại với một giá cả hợp lý thì giá thành sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng xác định nên giá bán.

    2.2. Bản chất – chức năng của giá thành sản phẩm.

    Các chi phí sản xuất chế tạo sản phẩm luôn được biểu hiện ở mặt định tính và mặt định lượng. Mục đích bỏ ra chi phí của doanh nghiệp là tạo nên giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp xây lắp nói riêng luôn quan tâm tới hiệu quả của chi phí bỏ ra là ít nhất, thu được giá trị lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp để hạ giá thành nhằm thu lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá thành là chỉ tiêu đáp ứng được nội dung  trên.

    Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có của nó là chi phí sản xuất đã chi ra và lượng giá trị sử dụng thu hồi được cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành. Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp nhất định đã hoàn thành.

    Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá.

    Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lượng công tác xây lắp, một công trình hay hạng mục công trình phải được bù đắp bằng chính số tiền thu về do quyết toán công trình, hạng mục công trình. Việc bù đắp này nhằm bảo đảm quá trình sản xuất giản đơn. Mục đích đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất phải có lãi.Trong cơ chế thị trường giá bán sản phẩm phụ thuộc nhiều vào quy luật cung cầu và sự thoả thuận giữa doanh nghiệp với khách hàng. Giá bán của sản phẩm xây dựng là giá nhận thầu. Vậy giá nhận thầu là biểu hiện giá trị của công trình hạng mục công trinh phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định thông qua việc bán sản phẩm. Còn giá bán sản phẩm lao vụ là biểu hiện giá trị của sản phẩm phải dựa trên cơ sở giá thành sản phẩm để xác định. Thông qua giá bán sản phẩm mà đánh giá được mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả chi phí.

    2.3. Các loại giá thành sản phẩm công tác xây lắp.

    2.3.1. Giá thành dự toán.

    Sản phẩm XDCB là thời gian thi công dài do đó mỗi công trình hạng mục công trình đều có giá trị dự toán để xác định giá thành dự toán.

    =  + Lãi định mức

    Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Lãi định mức

    Với lãi định mức là số phần trăm trên giá thành xây lắp do nhà nước quy định đối với từng loại hình xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây lắp cụ thể. Giá trị dự đoán của công trình, hạng mục công trình được xác định trên cơ sở định mức đánh giá của cơ quan thẩm quyền ban hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trường. Nó chính là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với đơn vị chủ thầu đầu tư.

    2.3.2. Giá thành kế hoạch

    Dựa trên những định mức của nội bộ xí nghiệp, giá thành kế hoạch là cơ sở phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn kế hoạch. Nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp.

    =  –

    2.3.3. Giá thành thực tế

    Biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành một đối tượng xây lắp nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế phát sinh không nằm trong kế hoạch do nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.

    Giữa 3 loại giá thành trên có mối quan hệ về mặt số lượng được thể hiện như sau:

    Giá thành dự toán > giá thành kế hoạch> giá thành thực tế.

    Việc so sánh này được thể hiện trên cùng một đối tượng tính giá thành nhất định.

    Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây dựng. Giá thành công tác xây lắp hoàn chỉnh và giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao đựơc chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công trọn vẹn một công trình hay một hạng mục công trình.

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định được giá thành khối lượng xây lắp quy ước (nếu quy định thanh toán khối lượng hoàn thành theo quy ước).

    Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện sau:

    – Phải đảm bảo theo thiết kế và chất lượng kỹ thuật.

    – Khối lượng này phải được xác định cụ thể và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.

    – Phải đạt được điểm dừng kỹ thuật hợp lý giá thành khối lượng sản phẩm hoàn thành quy ước. Phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây lắp giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp.

    2.4. Phân biệt giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

    Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm. Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự khác biệt, sự khác biệt đó thể hiện như sau:

    – Về phạm vi: chi phí sản xuất chỉ tình trong từng thời kỳ, còn giá thành sản phẩm lại bao gồm cả chi phí khối lượng xây lắp dở dang kỳ trước chuyển sang nhưng lại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ.

    – Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành xây dựng là chi phí  sản xuất được tính cho công trình hạng mục hay một công trình hoàn thành.

    Nhưng giữa chúng cũng có điểm giống nhau bởi vì chúng có cùng bản chất đó là điều phản ánh những chi phí hao phí trong quá trình sản xuất. Giá thành xây lắp và chi phí sản xuất thống nhất về mặt lượng trong trường hợp: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành hay giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ bằng giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.

    III. NỘI DUNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.

    1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp

    Theo thông tư số 23 BXDNKT ngày 15/12/1994 của Bộ xây dựng thì dự toán xây lắp gồm các khoản mục: chi phí vật liệu,  nhân công, máy thi công, chi phí chung, thuế và lãi.

    Vì vậy khi xác định đối tượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp cần căn cứ vào tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, địa điểm phát sinh quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất…Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản lý, hạch toán của doanh nghiệp. Cho nên việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đúng và phù hợp có ý nghĩa rất lớn trong việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.

    1.2. Đối tượng giá thành.

    Là các loại sản phẩm, công trình… do DN xây lắp sản xuất ra đòi hỏi phải tính được giá thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp là công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao các sản phẩm khác đã hoàn thành (nếu có).

    1.3. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng giá thành sản phẩm xây lắp.

    Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết, tổ ghi chép ban đầu tập hợp chi phí sản xuất chi tiết cho từng hạng mục công trình. Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành theo đối tượng tính giá thành.

    Đó là những đặc điểm khác nhau song giữa chúng lại có một mối quan hệ mật thiết với nhau. Về bản chất chúng đều là phạm vi giới hạn để tập hợp số liệu sản xuất trong kỳ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành. Trong DN xây lắp chúng thường phù hợp với nhau.

    2. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.

    2.1. Các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.

    2.1.1. Phương pháp trực tiếp

    Được áp dụng với những chi phí trực tiếp, là những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Khi có chi phí phát sinh thì căn cứ vào các chứng từ gốc ta tập hợp từng chi phí cho từng đối tượng sản xuất.

    Trường hợp doanh nghiệp xác định đối tượng tập hợp chi phí là công trình hay hạng mục công trình thì hàng tháng căn cứ vào các chi phí phát sinh có liên quan đến công trình hay hạng mục công trình nào thì tập hợp chi phí cho công trình đó.

    2.1.2. Phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Được áp dụng với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Vì vậy phải xác định theo phương pháp phân bổ gián tiếp.

    Để phân bổ cho các đối tượng phải chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ chi phí.

    Công thức: H = C/T

    Trong đó:    H: Hệ số phân bổ chi phí

    C: Tổng chi phí cần phân bổ

    T: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ

    Mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng tính theo công thức sau:

    Ci = H x Ti

    Trong đó:    Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng i

    Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng i

    Trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là đội thi công hay công trường thì chi phí sản xuất phải tập hợp theo đội thi công hay công trường. Cuối kỳ tổng số chi phí tập hợp phải được phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình để tính giá thành sản phẩm riêng.

    2.2. Trình tự kế toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp.

    2.2.1. Kế toán chi phí vật liệu trực tiếp.

    Chi phí nguyên liệu, vật liệu cho công trình gồm nhiều loại khác nhau như giá trị thực tế của vật liệu chính (gạch, đá, vôi, cát, xi măng…) vật liệu phụ như sơn, công cụ dụng cụ… nó chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm.

    Giá trị hạch toán được tính vào khoản mục này, ngoài giá trị thực tế ngoài người bán cung cấp còn có chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua tới nơi nhập kho hay xuất thẳng tới công trình.

    Vật liệu sử dụng cho xây dựng công trình, HMCT nào thì phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc, theo giá thực tế vật liệu và theo số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng.

    Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thì không thể hạch toán trực tiếp vào các đối tượng thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân bổ có thể là định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hay theo khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành.

    = + –  –

    Phương pháp được hạch toán cụ thể được phản ánh bằng sơ đồ:

    Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    (1)     : Tập hợp chi phí VLTT

    (2a)   : Vật liệu chờ phân bổ

    (2b)   : Phân bổ dần

    (3)     : Phế liệu thu hồi, VL sử dụng không hết nhập lại kho

    (4)     : Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí VLTT để tính giá thành.

    2.2.2. Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp

    Là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất, thi công như tiền lương, các khoản tiền phụ cấp…

    Việc hạch toán tiền lương của công nhân trong DN thì dựa trên bảng chấm công, theo dõi cho từng tổ sản xuất, đội xây dựng. Bảng chấm công cho biết ngày giờ làm việc thực tế, sóo ngày nghỉ của từng người sau khi đã được kiểm tra và chuyển lên phòng lao động để ghi chép, theo dõi sau đó để làm cho phòng kế toán có căn cứ tính lương và phân bổ tiền lương.

    Về nguyên tắc chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ có thể là tiền công, giờ công, định mức hợac giờ công thực tế,.

    Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    (1)     : Tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất

    (2)     : Các khoản trích BHXH, BHYT, CPCĐ

    (3)     : Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp để tính giá thành

    2.2.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công

    Tài khoản 623  dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp.

    Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối với doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp (vừa thủ công vừa kết hợp máy móc).

    Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy thì không sử dụng tài khoản 623 mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.

    Không hạch toán vào tài khoản 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy móc thi công

    2.2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Là những chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí tiền lương cho nhân viên quản lý phân xưởng, khấu hao TSCĐ…

    Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng địa điểm phát sinh chi phí phân xưởng, tổ đội sản xuất sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan. Việc phân bổ cũng được tiến hành dựa trên các tiêu thức phân bổ hợp lý như định mức chi phí sản xuất chung, chi phí trực tiếp phân bổ theo từng loại chi phí.

    Kế toán chi phí sản xuất chung.

     
       

    (1)     : Chi phí nhân viên

    (2)     : Chi phí vật liệu, CCDC

    (3)     : Chi phí khấu hao TSCĐ, dịch vụ bên ngoài

    (4)     : Chi phí khác bằng tiền

    (5)     : K/c hoặc phân bổ CFSXC để tính giá thành.

    3. Đánh giá sản phẩm dở dang trong DN xây lắp

    Sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hoặc bên chủ đầu tư chưa nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.

    Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán, xác định phần chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định. Muốn đánh giá một cách chính xác trước hết  phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện tổn thất trong quá trình thi công.

    Chất lượng công tác kiểm kê khối lượng xây lắp có ảnh hưởng đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành. Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp nên việc xác định đúng mức độ hoàn thành của nó rất khó. Khi đánh giá kế toán cần phải kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật, bộ phận tổ chức lao động để xác định độ hoàn thành của khối lượng xây lắp dơ dang một cách chính xác. Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm dở dang đã tập hợp được kế toán tiến hành đánh giá sản phẩm làm dở.

    Đối với các doanh nghiệp thường áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm sau:

    3.1. Phương pháp đánh giá theo chi phí dự toán

    CPKLXLHT

     

    bàn giao

    trong kỳ

    CPKLXLDD

     

    cuối kỳ theo dự toán

    CP thực tế

     

    KLXL  thực hiện trong kỳ

    Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng xây lắp  dở dang cuối kỳ được xác định theo công thức:

    +

    =  x                           +  ++

    3.2. Phương pháp đánh giá theo tỷ lệ hoàn thành tương đương

    Chủ yếu áp dụng đối với việc đánh giá sản phẩm làm dở của  công tác lắp đặt máy móc thiết bị. Nó được xác định bởi công thức:

    CPTTKLXL

     

    thực hiện trong kỳ

    Giá trị DTKLXLHT bàn giao

     

    trong kỳ

    Giá trị DTKLXL DD cuối kỳ
    +
    +

    =  +

    3.3. Phương pháp đánh giá theo trị giá dự toán

    Theo phương pháp này chi phí thực tế khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định như sau:

    =

    Ngoài ra đối với một số công việc sửa chữa, hoàn thiện hoặc xây dựng các công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành.

    Lúc này giá trị sản phẩm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá.

    4. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp.

    Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí xây lắp để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm xây lắp. Phương pháp tính giá thành này sử dụng cho những sản phẩm đã hoàn thành theo các khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định. Trong đó thời kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tính giá thành cho các công trình, hạng mục công trình.

    Tùy theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp thích hợp để tính giá thành cho một hay nhiều đối tượng và ngược lại. Trong quá trình DN xây lắp thường sử dụng các phương pháp sau:

    4.1. Phương pháp giản đơn (phương pháp tính trực tiếp)

    Phương pháp này được phổ biến rộng rãi trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí phù hợp với đối tượng tính. Hơn nữa việc sử dụng phương pháp cho phép cung cấp kịp thời các số liệu giá thành cho mỗi kỳ báo cáo và cách tính thì đơn giản, dễ hiểu.

    Theo phương pháp này tập hợp tất cả các chi phí phát sinh trực tiếp cho một công trình hay HMCT từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thực tế của công trình hay HMCT đó. Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm hoặc hệ số kinh tế kỹ thuật cho từng công trình, HMCT nhằm tính giá thành thực tế cho HMCT đó.

    Trong trường hợp công trình, HMCT chưa hoàn thành mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao thì cần phải tính giá thành thực tế.

    *  =  +  –

    *  =

    Nếu các công trình, HMCT có thiết kế, dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên cùng địa điểm do một đơn vị công trình sản xuất đảm nhiệm và không có điều kiện quản lý, theo dõi công việc sử dụng các loại chi phí khác nhau thì từng loại chi phí tập hợp trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng HMCT đó.

    Khi đó giá thành thực tế của HMCT:

    ZH = Gdti x H

    Trong đó: H: Tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế H = [(TC, TGdt) x 100%]

    Gdt: Giá thành dự toán của hạng mục công trình

    TC: tổng chi phí thực tế của HMCT

    TGdt: Tổng dự toán của tất cả HMCT.

    4.2. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

    Áp dụng cho các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà là khi đơn đặt hàng hoàn thành. Đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành.

    Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành thì chi phí sản xuất theo đơn tập hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng.

    Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều HMCT, công trình đơn nguyên khác nhau thì phải tính toán, xác định chi phí của từng HMCT,  công trình đơn nguyên liên quan đến đơn đặt hàng. Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào HMCT, công trình đơn nguyên thì cần phải phân bổ theo tiêu thức hợp lý.

    4.3. Phương pháp tính theo định mức.

    Gồm 3 bước:

    + Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp.

    + Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức

    = Định mức cũ – Định mức mới.

    + Bước 3: Xác định chênh lệch thoát ly định mức, nguyên nhân gây ra chênh lệch đó.

    =  –

    Việc áp dụng phương pháp này có tác dụng lớn cho việc kiểm tra tình hình định mức, dự toán chi phí sản xuất, tính sử dụng hợp lý tiết kiệm hay lãng phí ngay cả khi chưa có sản phẩm hoàn thành. Ngoài ra nhằm giảm bớt khối lượng tính toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong doanh nghiệp.

    5. Sổ kế toán

    5.1. Hình thức sổ kế toán nhật ký chung.

    Tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải ghi vào sổ nhật ký mà trọng tâm là sổ nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ nhật ký để ghi vào sổ cái theo tưng nghiệp vụ phát sinh.

    – Sổ nhật ký chung

    – Sổ cái

    – Các sổ kế toán chi tiết (thẻ nếu có)

    5.2. Hình thức sổ kế toán nhật ký sổ cái

    Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái.

    Căn cứ để ghi vào nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.

    – Nhật ký sổ cái.

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    5.3. Hình thức sổ nhật ký chứng từ ghi sổ.

    Căn cứ trực tiếp để ghi là chứng từ ghi sổ, việc ghi bao gồm:

    * ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    *Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái

    Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp cùng loại cùng nội dung kinh tế.

    – Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    – Sổ cái

    – Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA XÍ NGHIỆP XÂY DỰNG

    1. Quá trình hình thành và phát triển

    Công ty được thành lập ngày 7/7/1960 với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng trong phạm vi cả nước. Đến ngày 18/3/1977 công ty đổi tên thành Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng. Nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian này là xây dựng các công trình phúc lợi và cũng trong thời gian này công ty đã được nhà nước trao huân chương lao động hạng ba.

    Công ty bao gồm nhiều xí nghiệp trực thuộc có quy mô lớn. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn của xây dựng công ty lần lượt ra quyết định tách ba xí nghiệp thuộc công ty thành các công ty trực thuộc.

    + Năm 1984 tách xí nghiệp 104 thành công ty xây dựng số 2

    + Năm 1986 tách xí nghiệp trực thuộc 106  thành công ty xây dựng Tây Hồ.

    + Năm 1992 tách xí nghiệp hoàn thiện trực thuộc thành công ty xây dựng số 5.

    Là một đơn vị thành lập từ sớm, từ khi còn đóng ở tại trung tâm thủ đô và gần cơ quan chủ quản nên có điều kiện phát triển, có nhiều điều kiện để thi công các công trình có quy mô và áp dụng sớm các thành tựu KHKT, công nghệ tiên tiến cho nên công ty có đội ngũ kỹ thuật vững mạnh, công nhân có tay nghề cao. Tuy nhiên khó khăn mà công ty gặp cũng không ít như thời bao cấp kéo dài, công ty không chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đội ngũ cán bộ công nhân viên đông.

    Từ khi thành lập đến nay công ty thi công và bàn giao nhiều công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp có chất lượng cao, bàn giao đúng tiến độ. Công ty ngày càng có uy tín trên thị thị trường và đóng góp một phần không nhỏ cho ngân sách nhà nước, tạo được công ăn việc làm cho người lao động và đã giúp đời sống người lao động phần nào nâng cao. Trong quá trình hoạt động công ty luôn là một đơn vị mạnh và đã nhận được nhiều huân huy chương của nhà nước.

    – Ngày 21/8/1979 nhận huân chương lao động hạng 3

    – Ngày 15/8/1983 nhận huân chương lao động hạng 2

    – Ngày 17/11/1985 nhận huân chương lao động h ạng 1

    – Ngày 21/9/1994 theo quyết định 1219 công ty được công nhận là doanh nghiệp hạng 1

    Hiện nay công ty đã có 16 xí nghiệp đội trực thuộc, trong đó xí nghiệp binh đoàn 11 là một trong những đơn vị mạnh nhất. Thành lập từ năm 1978 nhưng chính thức ra đời vào ngày 13/7/1998 với chức năng chủ yếu là xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp trong phạm vi cả nước.

    Xí nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của công ty bằng các dự án lớn đạt chất lượng cao mà xí nghiệp đã thi công như: Viện kiểm soát nhân dân tối cao, khách sạn quốc tế… Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của xí nghiệp nói riêng và của công ty nói chung như ngày hôm nay chính là sự nhạy bén với cái mới, cạnh tranh bằng chất lượng và tiến độ thi công, áp dụng công nghệ cao và các thiết bị thi công tiên tiến, hiện đại cùng đội ngũ công nhân viên có trình độ lành nghề.

    2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của công ty

    Hiện nay công ty gồm 6 xí nghiệp trực thuộc.Đây là công ty có quy mô lớn, địa bàn hoạt động rộng nên việc tổ chức lao động thành các xí nghiệp trực thuộc tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý và phân công lao động ở nhiều điểm thi công khác nhau với nhiều công trình khác nhau một cách hiệu quả.

    Từ trước 1/1/1995 công ty tổ chức hạch toán kế toán phân tán, các xí nghiệp trực thuộc tổ chức hạch toán riêng, các công ty kế toán xử lý chứng từ ban đầu đến lập báo cáo gửi về công ty do bộ phận kế toán xí nghiệp thực hiện, trên cơ sở đó phòng kế toán tập hợp báo cáo chung toàn công ty.

    Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty gồm có: Giám đốc, phó giám đốc, các phòng ban chức năng và các xí nghiệp trực thuộc.

    – Đứng đầu là giám đốc chỉ đạo điều hành chung mọi hoạt động của công ty, đại diện pháp nhân của công ty trước pháp luật, … Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc: phụ trách kế hoạch tiếp thị và hai phó giám đốc kỹ thuật thi công có điện. Trong trường hợp giám đốc đi vắng phó giám đốc thay mặt điều hành hoạt động của công ty.

    – Bí thư Đảng uỷ, chủ tịch công đoàn, đoàn thanh niên giúp cho ban giám đốc quản lý các hoạt động có hiệu quả.

    – Các phòng  chức năng công ty có trách nhiệm hướng dẫn đôn đốc thực hiện thi công, đảm bảo chất lượng công trình, lập và kiểm tra các định mức kỹ thuật, chế độ bảo quản của công ty. Đồng thời lập kế hoạch nghiên cứu thị trường, tìm bạn hàng cung cấp số liệu, phân tích tình hình sản xuất giúp giám đốc có biện pháp quản lý thích hợp. Mặt khác giải quyết mọi công tác liên quan đến nhân sự, chính sách lao động tiền lương cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.

    Dưới đây là các phòng ban trong công ty và nhiệm vụ chủ yếu của từng phòng:

    + Phòng kỹ thuật thi công cơ điện có nhiệm vụ giám sát chất lượng mỹ thuật, an toàn, tiến độ thi công các công trình. Tham gia nghiên cứu tính toán các công trình đấu thầu, khảo sát, thiết kế, tính khối lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình nội bộ.Theo dõi số lượng, chất lượng toàn bộ thiết bị, thu thapạ thông tin và phổ biến các quy trình toàn bộ thiết bị, thu thập thông tin và phổ biến các quy trình quy phạm mới…

    + Phòng kế toán tìa chính thống kê gồm 4 nhiệm vụ chính:

    * Nhiệm vụ công tác tài chính tham mưu cho lãnh đạo.

    * Nhiệm vụ công tác thống kê.

    * Nhiệm vụ giúp giám đốc soạn thảo hợp đồng giao khoán chi phí sản xuất cho các đơn vị trực thuộc và xây dựng quy chế phân cấp về công tác tài chính kế toán của công ty cho các đơn vị.

    * Nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát.

    + Phòng kế hoạch vật tư tiếp thị gồm 3 nhiệm vụ chính:

    * Công tác kế hoạch gồm lập kế hoạch, giao kế hoạch triển khai, hướng dẫn và kiểm tra các đơn vị thực hiện kế hoạch.

    * Công tác vật tư gồm xác định mặt bằng giá chuẩn cho từng loại vật liệu ở từng thời điểm, tìm nguồn hàng, kiểm tra giám sát việc quản lý vật liệu.

    * Công tác tiếp thị: Có các cơ quan thường xuyên với cơ quan cấp trên, các cơ quan hữu quan, khách hàng…

    + Phòng quản lý khối lượng có nhiệm vụ tính toán khối lượng các công trình. Lập tổng dự án thi công các công trình, phối hợp với phòng kế toán tài chính thống kê, phòng kế hoạch và các đơn vị trực thuộc, thực hiện công tác thanh quyết thu hồi vốn  đối với A.

    + Phòng hành chính y tế chịu trách nhiệm về công tác hành chính, quản trị, văn thư và đời sống y tế.

    – Dưới các xí nghiệp trực thuộc lại phân ra thành các bộ phận chức năng: kỹ thuật, tài vụ, lao động tiền lương, an toàn các đội sản xuất. Trong các đội sản xuất phân ra thành các tổ sản xuất chuyên môn hóa như tổ sắt, tổ mộc… Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc điều hành xí nghiệp chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp mình.

    Sơ đồ quản lý và tổ chức sản xuất ở công ty xây dựng binh đoàn 11

    Với cách tổ chức lao động, quản lý ở công ty xây dựng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ các mặt kinh tế kỹ thuật ở từng xí nghiệp đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, đem lại hiệu quả cao.

    Đặc điểm của sản phẩm xây lắp có ảnh hưởng lớn đến tổ chức quản lý và  sản xuất trong  doanh nghiệp xây dựng. Các công trình xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, sản phẩm đơn chiếc thời gian thi công lâu dài đòi hỏi một quy mô lớn các yếu tố đầu vào. Các công trình đều đòi hỏi phải lập dự toán công trình, các công trình cố định tại nơi sản xuất nên chịu ảnh hưởng của nơi đặt công trình như địa hình, thời tiết, giá cả thị trường… các điều kiện sản xuất như máy móc thiết bị, người lao động phải di chuyển tới địa điểm sản phẩm, điều này, làm cho công tác quản lý sử dụng tài sản của công ty rất khó khăn.

    Công tác tổ chức quản lý sản xuất của công ty luôn tuân thủ theo quy trình công nghệ xây lắp sau:

    3. Đặc điểm quy trình công nghệ và cơ chế quản lý giữa công ty với các xí nghiệp.

    3.1. Đặc điểm quy trình công nghệ

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên quy trình sản xuất các loại sản phẩm chủ yếu của công ty có đặc điểm: sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau (điểm dừng kỹ thuật) mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Do vậy qui trình công nghệ sản xuất của các công trình thường như nhau: giai đoạn khảo sát thiết kế, giai đoạn san nền, giải quyết mặt bằng thi công, đào đất, làm móng, giây đoạn xây trát, trang trí nội thất. Mỗi giai đoạn tiêu hao định mức nguyên vật liệu hao phí phân công là khác nhau.

    3.2. Cơ chế quản lý giữa công ty và xí nghiệp.

    Khi nhận thầu một công trình, do công ty hay xí nghiệp tìm kiếm được thực hiện cơ chế khoán thông qua hợp đồng giao khoán giữa công ty và xí nghiệp trực thuộc theo quy chế tạm thời có nội dung sau:

    + Mức khoán với tỷ lệ 97,5 đến 98% giá trị quyết toán được duyệt.

    + Số còn lại công ty chi cho các khoản sau:

    * Nộp thuế doanh thu thuế lợi tức.

    *Tiền sử dụng vốn ngân sách và lãi vay ngân hàng của số vốn công ty định mức cho xí nghiệp.

    * Phụ cấp trên và các khoản chi phí quản lý công và trích lập các quỹ của xí nghiệp.

    + Các công trình khác nhau sẽ có mức khoán khác nhau.

    + Trong tỷ lệ khoán nếu xí nghiệp có lãi được phân phối như sau:

    * Nộp 25% thuế thu nhập doanh nghiệp

    *Xí nghiệp được sử dụng 75%lập quỹ khen thưởng. Trong đó giám đốc xí nghiệp và phụ trách kế toán được hưởng 10%.

    + Nếu bị lỗ xí nghiệp phải tự bù đắp, giám đốc và phụ trách kế toán phải chịu trách nhiệm trước công ty.

    Cơ chế khoán trên đã tác động đến công tác hạch toán kế toán nhất là phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở công ty, góp phần nâng cao trách nhiệm và quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất.

    4. Tình hình chung về công tác kế toán ở công ty xây dựng binh đoàn 11.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung và tổ chức bộ máy kế toán tập trung. Phòng kế toán được trang bị máy vi tính, toàn bộ kế toán tổng hợp và một phần kế toán phân tích đều được thực hiện trên máy. Với phần mềm kế toán đã được nâng cấp và đội ngũ nhân viên kế toán có tay nghề, trình độ cao, công tác kế toán ngày càng hoàn thiện hơn.

    Phòng tài chính kế toán có 11 người được tổ chức theo sơ đồ sau đó mỗi người đều được phân công công việc cụ thể.

    + Kế toán trưởng chịu trách nhiệm hướng dẫn chỉ đạo, kiểm tra công việc do nhân viên kế toán thực hiện. Tổ chức lập báo cáo theo yêu cầu quản lý, tổ chức nhân viên phân công trách nhiệm cho từng người. Chịu trách nhiệm trước giám đốc, cấp trên và nhà nước về các thông tin kế toán.

    + Kế toán trưởng (phòng) giữ vai trò trợ lý giúp đỡ kế toán trưởng phụ trách công tác tổng hợp, kế toán tài chính.

    + Kế toán tổng hợp vật tư kiêm thủ quỹ quản lý tiền mặt căn cứ vào các chứng từ hợp lệ để ghi sổ đồng thời ghi chép sổ kế toán về vật liệu.

    + Kế toán thống kê thu vốn căn cứ chứng từ báo cáo sản lượng của các xí nghiệp để thống kê toàn bộ sản lượng của công ty. Căn cứ vào quyết toán được A chấp nhận thanh toán, làm thủ tục thu vốn.

    + Kế toán ngân hàng và BHXH dựa vào chứng từ, giấy báo nợ có, bảng sao kê ngân hàng để ghi vào sổ nhật ký chung. Chị trách nhiệm theo dõi các khoản BHXH, thanh toán các khoản chế độ… hàng tháng, cuối quý tổng hợp quyết toán với đơn vị cấp trên.

    + Kế toán TSCĐ chịu trách nhiệm phản ánh số lượng hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có. Phản ánh kịp thời hao mòn TSCĐ trong quá trình sử dụng.

    + Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất của xí nghiệp căn cứ vào chi phí thực tế và chi phí dự toán tiến hành kết chuyển lỗ lãi của quá trình kinh doanh (gồm 2 người).

    + Kế toán thanh toán và tiền lương có nhiệm vụ tập hợp chi phí nhân công tiến hành phân bổ vào các đối tượng chịu chi phí. Căn cứ vào chứng từ gốc hợp lệ để viết phiếu thu chi (gồm 2 người).

    Hệ thống kế toán áp dụng là hệ thống tài khoản áp dụng chung cho các doanh nghiệp ban hành theo quyết định 1141 TC/CĐKT ngày 1/11/1995.

    Hàng tháng kế toán căn cứ chứng từ gốc, kiểm tra tính hợp pháp ghi vào số nhật ký chung, số và thẻ chi tiết theo trình tự thời gian. Từ nhật ký chung tổng hợp số liệu để ghi vào sổ cái, cuối tháng căn cứ vào số liệu ở sổ cái lập bảng tổng hợp số liệu và báo cáo tài chính.

    Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung

     
       

    Ghi chú:

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Quan hệ đối chiếu

    Hàng ngày căn cứ vào chứng từ kế toán được dùng làm căn cứ ghi sổ như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu thu chi… Trước hết kế toán tiến hành ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung, sau đó căn cứ vào số liệu đã ghi trên sổ nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Do đơn vị có mở sổ kế toán chi tiết nên đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán ghi các nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký đặc biệt có liên quan. Định kỳ 5 ngày tổng hợp từng sổ nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi lại vào các tài khoản phù hợp trên sổ cái. Cuối tháng, (quý hay năm) cộng số liệu ghi trên sổ cái và bảng cân đối kế toán.

    Sau khi đã kiểm tra, đối chiếu khớp đúng với số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ kế toán chi tiết), kế toán tiến hành lập báo cáo tài chính.

    Ngoài ra công ty còn thực hiện đầy đủ các chế độ báo cáo do Bộ tài chính quy định bao gồm:

    – Bảng cân đối kế toán lập hàng quý.

    – Kết quả sản xuất hoạt động kinh doanh lập hàng quí.

    – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lập 6 tháng 1lần

    – Bảng thuyết minh báo cáo tài chính lập hàng năm.

    Để phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh tương đối lớn, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường xuyên, liên tục. Do vậy công tác tập hợp chi phí và tính giá thành snả phẩm đã được công ty phân loại thành 4 khoản mục chi phí như sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    – Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí sử dụng máy thi công (TK 623)

    – Chi phí sản xuất chung (TK 627)

    Phương pháp phân loại chi phí theo từng khoản mục của công ty nhằm quản lý chặt chẽ toàn diện, liên tục mọi khoản vật tư, tài sản, lao động, tiền vốn… Đồng thời cũng tạo điều kiện cho công tác tính giá thành và định mức sản xuất cho kỳ sau.

    II.THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở BINH ĐOÀN 11 – CÔNG TY XÂY DỰNG

    A. Kế toán chi phí sản xuất

    Để có thể nghiên cứu, phân tích, đánh giá cao nghiệp vụ kinh tế kế toán một cách cụ thể. Trong bài viết này em xin được chọn công trình: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, như vậy công trình này chính là đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm. Đây là công trình tiêu biểu do xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11 thuộc công ty xây dựng thi công.

    Dưới đây em xin trình bày công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất ở giai đoạn cuối (quý 4/2004)

    1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Thông thường đối với các công trình xây dựng thì chi phí nguyên vật liệu là loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn, thường từ 70% đến 80% (tùy theo kết cấu công trình) trong giá thành sản phẩm.Từ thực tế phải đòi hỏi tăng cường công tác quản lý vật tư, công tác kế toán vật liệu góp phần đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vật tư nhằm hạ thấp chi phí sản xuất.

    Để tạo điều kiện cho quá trình sản xuất thi công, tránh việc vận chuyển tốn kém nên hiện nay xí nghiệp tổ chức mở kho vật liệu ngay ở mỗi công trình, nhân viên đội vác, thủ kho tiến hành kiểm tra về số lượng và chất lượng.Sau đó lập phiếu nhập kho làm 2 liên (1 liên thủ kho giữ và 1 liên lưu tại ở phòng kế toán).  Khi có nhu cầu sử dụng vật tư chủ nhiệm công trình (đội trưởng) viết phiếu xuất kho có chữ ký của  thủ trưởng đơn vị chuyển cho thủ kho xuất vật tư thi công giá vật tư xuất kho được xí nghiệp sử dụng theo phương pháp nhập trước, xuất trước. Trường hợp vật tư mua về không thông qua kho mà chuyển thẳng tới chân công trình theo tiến độ thi công thì giá vật tư sử dụng cho việc  tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp của công trình chính là giá thực tế của vật liệu.

    Có thể nói chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có vị trí chủ chốt và rất quan trọng trong quá trình thi công cũng như tổng giá thành công trình. Chínhvì vậy kế toán xí nghiệp cần phải tính toán, phản ánh chính xác đầy đủ số lượng và giá trị từng loại vật tư nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho bộ phận quản lý tiến hành các biện pháp làm giảm tiêu hao nguyên vật liệu và định mức tiêu hao, định mức dự trữ vật liệu. Đó chính là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho xí nghiệp.

    Hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp tại xí nghiệp

    Hàng ngày kế toán căn cứ vào phiếu nhập kho, xuất kho vật tư để ghi vò sổ Nhật ký chung và Sổ Cái các tài khoản liên quan.

    – Đối với vật tư mua về nhập kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Có TK 111, 112, 331…

    – Vật tư xuất thẳng để thi công công trình

    Nợ TK 621 (chi tiết từng đối tượng)

    Nợ TK 133

    Có TK 111, 112, 331…

    Căn cứ vào các chứng từ gốc là phiếu xuất kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, các giấy thanh toán tiền tạm ứng… kế toán vật liệu lập bảng tổng hợp xuất vật tư công cụ, dụng cụ trong tháng.

     

    GIẤY ĐỀ NGHỊ TẠM ỨNG

    Ngày 1/5/2005

    Kính gửi: Giám đốc Công ty xây dựng – Binh đoàn 11

    Tên tôi là: Lê Việt Hoà

    Địa chỉ: Đội cầu

    Đề nghị tạm ứng số tiền là: 100.000.000

    Bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn.

    Lý do tạm ứng: Mua vật liệu thi công công trình.

    Thời hạn thanh toán: Trừ vào sản lượng.

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Phụ trách bộ phận Người đề nghị tạm ứng

    Tại Công ty hầu hết vật liệu mua về được xuất thẳng đến công trình không qua kho nhưng khi vật tư mua về hạch toán vẫn hạch toán lượng vật liệu này nhập kho, sau lại lập phiếu xuất kho.

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định: 1141-TC/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU NHẬP KHO

    Ngày 45/2005

    Tên người giao hàng: Lê Việt Hoà- Đội Cầu

    Theo 01 hoá đơn + HĐ077181 ngày 20-5-2005 của Công ty thép và vật tư công nghệ SIMCO.

    Nhập tại kho: Làm QL 1A (gồm hợp đồng đỏ – TLHĐ/đỏ – đen)

    STT Tên nhãn hiệu, qui cách vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
      Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
                  89.296.135
      Thuế GTGT = 5%           4.464.807
      Cộng           93.760.942

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Mẫu số 01/GTKT-3CL

    CS/99-13

    HOÁ ĐƠN GTGT

    Liên 2 (giao khách hàng)

    Tháng 5/2005

    No: 077181

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép và vật tư công ty SIMCO

    Địa chỉ: 198 Trần Phú – Hà Tĩnh                 Số TK 431130 000 50

    Điện thoại: 039885546 – Mã số: 01.009029225

    Họ tên người mua hàng: Lê Việt Hoà

    Đơn vị: Công ty xây dựng binh đoàn 11

    Địa chỉ:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                  0100193211

    STT Tên hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    A B C 1 2 3 = (1×2)
    1 Thép tròn gai LD        
      D12 – L = 11,7m Kg 3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m Kg 267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m Kg 6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m Kg 7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m Kg 4290 4152,38 17.813.710
      Cộng thành tiền       89.296.135
      Thuế VAT: 5%       4.464.807
              93.760.942

    Viết bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Người mua hàng             Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Địa chỉ:

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    PHIẾU XUẤT KHO

    Số 212/VT

    Tháng 5/2005

    Họ tên người nộp tiền: Lê Việt Hoà – Đội Cầu

    Lý do xuất kho: Làm quốc lộ 1A

    Xuất tại kho: DN220/VT + 01BC + 01HĐ

    STT Tên nhãn hiệu quy cách, vật tư Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo chứng từ Thực nhập
    A B C D 1 2 3 4
    1 Thép tròn gai LD            
      D12 – L = 11,7m   Kg   3117 4300 13.091.400
      D10 – L = 11,7m   Kg   267 4200 1.121.400
      D19 – L = 11,7m   Kg   6028 4152,38 25.030.547
      D16 – L = 11,7m   Kg   7764 4152,38 32.239.078
      D20 – L = 11,7m   Kg   4290 4152,38 17.813.710
      Cộng tiền hàng           89.296.135

    Cộng tiền bằng chữ: Chín ba triệu bảy trăm sáu mươi ngàn chín trăm bốn mươi hai đồng.

    Cụ thể làm căn cứ vào phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, hoá đơn GTGT mà kế toán ghi vào Nhật ký chung như sau:

    Nợ TK 152: 89.296.135

    Nợ TK 133 (1331): 4.464.807

    Có TK 111: 93.760.942

    Sau đó phản ánh hàng xuất kho như sau:

    Nợ TK 621: 89.296.135

    Có TK 152: 89.296.135

    Đơn vị: Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đội Cầu

    Mẫu số: 01

     

    Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT

    Ngày 1/11/1995 của BTC

    TRÍCH SỔ NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải Đã ghi Sổ Cái TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    89.296.135 82.296.135
    05/6 222 05/6 Xuất kho vật liệu (cát đen) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    55.052.400 55.052.400
    30/6 351 30/6 Xuất kho vật liệu (đá) làm đường QL1A x

     

    x

    621

     

    152

    18.815.534 18.815.534
    30/6 385 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QK91 Hương Sơn x

     

    x

    621

     

    152

    50.000.000 50.000.000

    Đồng thời máy cũng lựa chọn số liệu vào sổ cái TK621 và sổ chi tiết TK621. Chi phí vật liệu phát sinh ở công trình nào thì tập hợp ghi vào sổ chi tiết TK621 của công trình đó. Số được mở riêng cho từng công trình và ghi theo thứ tự của chứng từ ghi sổ. Trước tiên căn cứ vào từng nghiệp vụ phát sinh mà vào Sổ Cái dựa trên sổ Nhật ký chung.

    Công ty xây dựng Binh đoàn 11

     

    Đơn vị: Đội Cầu

     

    TRÍCH SỔ CÁI – CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền phát sinh
    Số Ngày Nợ
    212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    222 05/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    351 30/6 Xuất kho vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
      31/6
        Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp quý II/2004 sang chi phí SXKKDD 1541   4.591.716.789

    Căn cứ vào số liệu trên các chứng từ ghi sổ mà số liệu cho sổ chi tiết TK621, tập hợp theo từng công trình.

    Ta có sổ chi tiết TK621 – chi tiết làm đường quốc lộ 1A như sau:

     

    SỔ CHI TIẾT TK621

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NT GS Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    04/6 212 04/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 89.296.135  
    05/6 222 05/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 55.052.400  
    30/6 351 30/6 Xuất vật liệu làm đường QL1A 152 18.815.534  
    31/6   31/6 Kết chuyển chi phí vật liệu quý II/2005 vào sản phẩm dở dang 1541   3.017.331.917
          Tổng cộng   3.017.331.917 3.017.331.917

    Cuối kỳ căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào giá thành sản phẩm theo định khoản.

    Nợ TK 154 (1541): 3.017.331.917

    Có TK 621: 3.017.331.917

    1. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí trực tiếp ở xí nghiệp và gắn liền với lợi ích của người lao động. Do vậy việc hạch toán đúng, đủ, chi phí nhân công có ý nghĩa quan trọng trong việc tính lương, trả lương chính xác, kịp thời cho người lao động. Nó có tác dụng tích cực góp phần khích lệ người lao động nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm…

    Chi phí nhân công ở xí nghiệp gồm:

    + Tiền lương công nhân trong danh sách

    + Tiền lương công nhân thuê ngoài

    + Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hiện nay lực lượng lao động ở xí nghiệp gồm 2 loại: công nhân viên chức trong danh sách (trong biên chế) và công nhân viên chức ngoài danh sách.

    Công nhân viên chức trong biên chế chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng là lực lượng nòng cốt, thực hiện những công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao còn lại là lao động theo hợp đồng. Điều này làm cho cơ cấu của xí nghiệp trở nên gọn nhẹ, giảm bớt chi phí quản lý.

    Bộ phận công nhân viên chức ngoài danh sách gồm công nhân trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp (nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, quản lý hành chính).

    + Đối với công nhân lao động gián tiếp áp dụng trả lương khoán theo công việc của từng người (có quy chế trả lương theo cấp bậc, năng lực, công việc thực tế của mỗi người).

    + Đối với công nhân lao động trực tiếp xí nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm.

    + Đối với bộ phận CNVC trong danh sách xí nghiệp tiến hành trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo đúng quy định hiện hành. Cụ thể là:

    – 15% BHXH tính theo lương cơ bản

    – 2% BHYT tính theo lương cơ bản

    – 2% KPCĐ tính theo lương thực tế

    + Đối với bộ phận CNVC ngoài danh sách xí nghiệp không tiến hành trích BHXH, BHYT theo tháng (quý) mà tính trong đơn giá nhân công trả trực tiếp cho người lao động. Còn khoản KPCĐ thì xí nghiệp vẫn trích như CNVC trong danh sách.

     

    Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     
       

    Chứng từ ban đầu để xác định tiền lương là bảng chấm công, các hợp đồng làm khoán…Hợp đồng làm khoán được ký theo từng công việc hay tổ hợp công việc và thời gian thực hiện hợp đồng. Do vậy, không nhất thiết phải trả lương theo từng tháng mà có thể trả theo khối lượng công việc hoàn thành trong hợp đồng.

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ______________

    HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

    Tên công trình: Đường quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà

    Tên tổ trưởng: Nguyễn Tiến Dũng

    Tên kế toán trưởng:Phan Hồng Nga

    STT Nội dung công việc ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đào đất

     

    Vận chuyển

    m2

     

    m3

    1500

     

    300

    4500

     

    3000

    6.750.000

     

    900.000

      Cộng       7.650.000

    Như vậy theo biên bản của hợp đồng giao khoán thì  tính tiền công đào đất cho công nhân sẽ là:

    Đơn giá :4500đ/m2

    Khối lượng thi công:1.500m 2

    Vậy tiền công đào đất sẽ là:4500×1500 =6.750.000

    Có nghĩa là lương công nhân đào đất và vận chuyển sẽ được tính trên cơ sở bảng chấm công và hợp đồng chính khoán – ứng với số ngày làm việc trong tháng để quy ra số công được hưởng lương theo sản phẩm rồi trên cơ sở kết hợp với hợp đồng giao khoán và thanh toán.

    Bảng chấm công và chia lương và  hợp đồng thuê ngoài có dạng như sau.

    HỢP ĐỒNG THUÊ KHOÁN NGOÀI – SỐ 7

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Tên đội trưởng: Lê Việt Hoà – đội cầu

    Nội dung công việc ĐVT Giao khoán Khối lượng Thành tiền Kết thúc Ký xác nhận
    K lượng Đơn giá Bắt đầu kết thúc
    Bốc xúcđất m2 740,3 10.000 5/6 20/6 740,3 7403159 20/6

     

    17/6

     
    Đổ bê tông m2 100 45.000 8/6 20/6 100 4500.000    
    cộng             11903159    

     

     

    BẢNG CHẤM CÔNG VÀ CHIA LƯƠNG

    Tháng 5/2005.

    STT Họ và tên Số ngày làm việc trong  tháng Tổng số ngày

     

    cộng

    Tổng số tiền được lĩnh
    1 2 3 31
    1

     

    2

    3

    Nguyễn Đình Cường

     

    Vũ Văn Hoàn

    Phạm Danh Lam

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

    x

     

    x

    x

     

      30

     

    30

    29

    925,116

     

    925,116

    894,279

      Cộng           386 11.903,159

    Từ công thức:

    = Đơn giá khoán   x

    Suy ra:  =     x

    Nên theo bảng có:

    =  x 30 = 925,116 đồng

    Nếu hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán ngay thì kế toán tiến hành hạch toán vào TK 622 qua TK đối ứng 331

    Nợ TK 622: 11.903,159

    Có TK 331: 11.903,159

    Cuối tháng các hợp đồng làm khoán chưa được thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sẽ được tập hợp vào bảng kê hợp đồng làm khoán.

     

    BẢNG KÊ HỢP ĐỒNG LÀM KHOÁN

    Tháng 5/2005

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Đội trưởng: Bùi Quốc Thắng

    Số hợp đồng Diễn giải Chi phí sản xuất – TK622
    Hợp đồng làm khoán số 7 Đào đất, vận chuyển đất đá, đổ bê tông 11.903,159
    Hợp đồng làm khoán số 11 Đổ bê tông 2.973,145
      Cộng 17.482,170

    Từ bảng kê hợp đồng làm khoán kế toán sẽ lập chứng từ ghi sổ cho phần nợ công nhân lao động thuê ngoài mà công ty phải trả.

      CHỨNG TỪ GHI SỔ          MS: 01.SKT

    Ngày 31/5/2005

    Kèm theo 01 chứng từ gốc

    STT Trích yếu Số hiệu tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
      K/c chi phí nhân công trực tiếp tháng 5/2005 cho công trình QL1A 622 331 17.482,170 17.482,170
      Cộng     17.482,170 17.482,170

    Nếu hợp đồng làm khoán thanh toán ngay bằng tiền tạm ứng của đội thì kế toán sẽ hạch toán vào TK622 qua TK đối ứng 141

    Nợ TK 622: …

    Có TK 141: …

    Cùng với chứng từ ghi sổ, bảng chấm công, bảng thanh toán lương cùng các chứng từ khác có liên quan kế toán tiến hành ghi sổ nhật ký chung.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi vào sổ TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6 231 31/6 Thanh toán tiền công nhân thuê ngoài QL1A x

     

    x

    622

     

    141

    17.842,170 17.842170

    Sau đó máy sẽ chuyển số liệu vào sổ TK 622 và ghi sổ chi tiết chi phí nhân công trực tiếp cho từng công trình.

    SỔ CÁI TK622

    Quý II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    231 31/6 Chi phí nhân công thuê ngoài QL1A 331 17.842,170  
    K/c chi phí NCTT vào sản phẩm dở dang 1542   309.277.432
        Cộng số phát sinh   309.277.432 309.277.432

     

    SỔ CHI TIẾT TK 622

    Công trình: Quốc lộ 1A

    STT

     

    GS

    Chứng từ Diễn giải TKĐƯ Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    31/6

     

    31/6

      31/6

     

    31/6

    Thanh toán tiền nhân công thuê ngoài

     

    K/c chi phí nhân công trực tiếp vào sản phẩm dở dang

    331

     

    1542

    17.482,170  
              309.277.432 309.277.432

    Sau khi lên sổ chi tiết TK 621 – chi phí nhân công trực tiếp từng công trình máy sẽ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 theo điều khoản.

    Nợ TK (1542)       :309.277.462 (Đường QL 1A)

    Có TK 622 : 309.277.432 (Đường QL 1A)

    3- Kế toán chi phí máy thi công

    Theo chế độ áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp được bộ tài chính bn hành chính thức quyết định sô 1864 QĐ/BTS ngày 16/12/98, xí nghiệp đã mở thêm TK 623 dùng để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công.

    Cũng như các doanh nghiệp xây lắp khác máy thi công bao gồm các phương tiện, máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công. Đây là một trong những bộ phận không thể thiếu được trong quá trình thi công và chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng giá trị tài sản của công ty. Không những thế nó còn giúp công ty đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng công trình cũng như giảm một lượng hao phí nhân công đáng kể.

    Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công

     
       

    Ngoài ra TSCĐ của Công ty gồm một số thiết bị, dụng cụ phục vụ cho quản lý và nhà xưởng khác. Trong một tháng máy thi công có thể phục vụ hoạt động cho nhiều công trình do vậy công ty giao máy cho các tổ đội để tạo điều kiện chủ động cũng như nâng cao chất lượng quản lý. Đồng thời các đội phải có trách nhiệm bảo quản máy móc thông qua các chứng từ ban đầu là “qui định điều động xe (máy). Đến cuối tháng phiếu này cùng các giấy tờ có liên quan sẽ được chuyển về phòng kế toán làm căn cứ ghi sổ và phân bổ cho từng đối tượng sử dụng. Chi phí sử dụng máy thi công có liên quan đến công trình nào thì hạch toán cho công trình đó. Trường hợp phải thuê máy thì đội trưởng đội thi công và đơn vị cho thuê phải làm hợp đồng thuê máy như sau:

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    HỢP ĐỒNG THUÊ MÁY THIẾT BỊ

    Hôm naylà ngày ……. hai bên chúng tôi gồm:

    Bên cho thuê máy (bên A): Công ty vật tư thiết bị giao thông

    Địa chỉ:

    Điện thoại:

    Bên thuê máy (bên B) : Công ty xây dựng ….

    Địa chỉ

    Điện thoại:

    Hai bên cùng thoả thuận thuê thiết bị với những điều khoản sau:

    Điều 1: Bên A đồng ý cho bên B thuê một máy trộn bê tông phục vụ thi công công trình quốc lộ 1A.

    – Thời gian: từ ngày 20/5/2005 đến khi xong

    – Địa điểm: tại quốc gia 1A

    Điều 2: Đơn giá và hình thức thanh toán

    – Đơn giá: 300.000đồng/1 giờ máy

    – Hình thức thanh toán: Hàng tháng hai bên xác nhận và thanh toán theo số giờ máy thực tế hoạt động, trả bằng tiền mặt.

    Điều 3: Trách nhiệm bên A

    Điều 4: Trách nhiệm bên B

     

    BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ KHẤU HAO MÁY THI CÔNG

    Máy san – Quý II/2005

    Tổng nguyên giá Thời gian sử dụng Thời sử dụng Mức thu khoán
    144.000.000 3 1,5

     

    1

    0,5

    Đội 2=72.000.000

     

    Đội 3= 48.000.000

    Đội cầu=24.000.000

    Căn cứ vào bảng phân bổ chi phí khấu hao máy thi công kế toán phân bổ như sau:

    Máy san:

    – Nguyên giá: 24.000.000

    – Số tháng sử dụng: 3 tháng trong đó:

    + Đội 2 sử dụng là 1,5 tháng

    + Đội 3 sử dụng là 1 tháng

    + Đội cầu là 0,5 tháng

    Vậy ta có:

    Mức thu khoán của đội 2 =  = 12.000.000đ

    Mức thu khoán của đội 3 =  = 8.000.000đ

    Mức thu khoán của đội cầu =  = 4.000.000đ

    Sau khi thi công xong đội phải có trách nhiệm lập bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005 như sau:

    Công ty  xây dựng cầu đường  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    Binh đoàn 11                           Độc lập -Tự do – Hạnh phúc

    Bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy thiệt bị của công ty XDCĐ cho đội cầu. Hai bên thống nhất thanh toán sử dụng thiết bị quý II/2005 đường quốc lộ 1A như sau:

    STT Tên tài sản Định mức sử dụng Thời gian ngừng việc Thời gian hoạt động Thành tiền
    Số ca Lý do Số ca ĐG/ca
    1 Máy lu 22 ca/T 22 ca Bão lụt   280.000
    2 Máy ủi 22 ca/T 60 ca Bão lụt   400.000 17.000.000
    3 Máy san 22 ca/T 22 ca Bão lụt   500.000 24.000.000
      Cộng           41.600.000

    Dựa trên cơ sở bản thanh toán giao khoán thiết bị xe, máy năm 2005kế toán điều khiển tiền khấu hao máy thi công như sau:

    Nợ TK 623(4)                : 41.600.000

    Có TK 141 (3)      : 41.600.000

    Đây chính là cơ sở để vào nhật ký chung và sổ cái TK 623 và TK có liên quan đồng thời vào sổ chi tiết TK 623 và kết chuyển vào TK 154.

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường 8 – Hương Sơn x

     

    x

    6232

     

    152

    143.600 143.600
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy đường quốc lộ 1 x

     

    x

    6232

     

    152

    125.000 125.000
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy trộn bê tông đường QL1A TGTGT dồn vào trả bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    x

    x

    6237

     

    141

    1331

    141

    8.500.000

     

    850.000

    8.500.000

     

    850.000

    31/6 214 31/6 Số tiền thuê CN điều khiển máy đường QL1A x

     

    x

    6231

     

    331

    2.228.500 2.228.500
        31/6 Tiền khấu hao máy TC thanh toán bằng tiền tạm ứng x

     

    x

    6234

     

    1413

    14.470.750 14.470.750

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN 623

    Quý II/2005
    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 230 15/6 Xuất vật liệu làm đường 8 – Hương sơn 152 143.600  
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy QL 1A 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền trộn bê tông đường 1A – tạm ứng 141 8.500.000  
    31/6 214 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy đường QL1A 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền khấu hao máy thi cong QL1A 1413 11.600.000  
          K/c chi phí sử dụng máy thi công vào sản phẩm dở dang 154   3563465.878
          Cộng   356.465.878 356.465.878

     

    SỔ CHI TIẾT TK623

    Công trình: Đường quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    15/6 231 15/6 Xuất vật liệu chạy máy 152 125.300  
    30/6 35 30/6 Thanh toán tiền thuê máy 141 8.500.000  
    31/6 44 31/6 Thanh toán tiền CN điều khiển máy 331 2.228.500  
    31/6   31/6 Tiền KH máy thi công 1413 11.600.000  
          K/C chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang 1543   206.582.621
          Cộng số phát sinh   206.582.621 206.582.621

    Ta có điều khiển như sau với việc kết chuyển chi phí máy thi công vào sản phẩm dở dang sau khi lên sổ:

    Nợ TK 154           : 206.582.621

    Có TK 623 : 206.582.621

    1. Chi phí sản xuất chung

    Đi thi công công trình ngoài những khoản chi phí trên còn các khoản chi phí sản xuất chung phục vụ sản xuất, các khoản chi phí này phát sinh vừa được hạch toán vào TK 627 bao gồm chi phí sau:

    + Tiền lương,các khoản trích theo lương nhân viên phục vụ nhân viên quản lý công trình (TK 6271)

    +Chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác phục vụ quản lý sản xuất chung của công trình (TK 6272)

    + Chi phí công cụ dụng cụ sản xuất (TK 6273)

    Việc trích BHXH, BHYT, KPCĐ cũng được thực hiện tương tự như công nhân sản xuất trực tiếp.

    Những công cụ có giá trị lớn nhưng không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ được sử dụng nhiều lần thì tiến hành phân bồ dần còn những dụng cụ có giá trị nhỏ như cuốc, xẻng… thì tiến hành phân bổ 1 lần cho công trình đó.

    + Chi phí khấu hao TSCĐ không phải máy thi công phục vụ cho công tác sản xuất chung (TK 6274)

    + Chi phí dịch vụ mua ngoài như tiền điện, nước… (TK6277)

    + Chi phí bằng tiền khác như chi phí giao dịch, tiếp khách (TK 6278)

    Xí nghiệp đã mở đủ 6 tiểu khoản cấp 2 nhằm theo dõi chi tiết từng khoản mục chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung phát sinh có liên quan tới công trình, hạng mục công trình nào thì sẽ được hạch toán trực tiếp vào công trình đó. Còn trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình hạng mục công trình thì kế toán sẽ tập hợp chung và tiến hành phân bổ theo tiêu thức nhân công trực tiếp.

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     
       

    TK 6274 được công ty sử dụng dùng để hạch toán toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ bộ phận quản lý tổ, đội. Hàng quý tiến hành tính khấu hao để hình thành vốn và quỹ sửa chữa TSCĐ. Bắt đầu từ ngày 01/01/03 công ty áp dụng tính khấu hao theo quy định 116/1999 QĐ – BTC ngày 30/12/1999 của Bộ Tài chính

    BẢNG TÍNH VÀ PHÂN BỔ KHẤU HAO TSCĐ

    Quý II/2005
    Số TT Tên TS Số năm SD Tổng NG Nguyên giá KHTSCĐ năm 2004 Giá trị còn lại đến 31/5/05
    NVNS NVBS NV vay      
    1 Máy ủi 5 17.600.000     17.600.000     3.520.000 14.080.000
    2 Máy TBT 5 16.830.000     16.830.000     4.207.500 12.622.500
    3 Máy san 4 24.000.000     24.000.000     4.800.000 19.200.000
      Tổng cộng               41.600.000 56.322.512

    BẢNG TÍNH TRÍCH NGANG KH TSCĐ

    Quý II/2005

    STT Tên tài sản Số tháng sử dụng Hoạt động Khấu hao cơ bản II/2005
    Số ca Đơn giá
    1 Máy ủi 3 44 400.000 880.000
    2 Máy trộn bê tông 3 66 255.000 1.051.815
    3 Máy san 3 48 500.000 1.200.000

    Ngoài ra còn có các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. Bao gồm các khoản chi phí về tiền điện, nước, điện thoại, tiền thuê nhà, chi phí tiếp khách… Chi phí phát sinh cho công trình nào thì thanh toán cho công trình đó. Các chứng từ là các hoá đơn thanh toán.

    Công ty XDCĐ

    Binh đoàn 11

    NHẬT KÝ CHUNG

    Quý II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải Đã ghi sổ cái TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cụ cho quản lý đội, xưởng x 6272

     

    153

    2.105.000 2.105.000
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ x 6274

     

    214

    11.201.500 11.201.500
    31/6 36 31/6 Trả tiền điện thoại x 6278

     

    133

    141

    850.000

     

    85.000

    935.000
    31/6   31/6 Tiền lương NVQL trong biên chế x 6271

     

    141

    6.472.660 6.472.660

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    (Sổ chi tiết)

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6   10/6 Xuất dụng cụ VLQL đội 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí khấu hao TSCĐ 214 11.201.500  
    31/6   31/6 Trả tiền điện thoại 141 935.000  
          Tiền lương NVQL trong biên chế 141 6.472.660  
          K/c chi phí SXC quý II sang TK chi phí SXDD 1544   502.212.488
          Cộng phát sinh   502.212.488 502.212.488

    Và kế toán tiến hành điều khoản bút toán sau:

    Nợ TK 154 (1544)         : 502.212.488

    Có TK 627: 5023.212.488

    TRÍCH SỔ CÁI TK 627 – QUÝ II/2005

    NTGS Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
    10/6 230 10/6 Xuất dụng cho cho quản lý đội –QL1A 153 2.105.000  
    31/6   31/6 Chi phí KHTSCĐ – QL1A 214 11.291.500  
    31/6 36 1/6 Thanh toán tiền lương cho NLQL đội K/C chi phí SXC quý II/2005 141 6.472.600 782.093.000
          Cộng phát sinh   782.093.000 782.093.000

    TRÍCH SỔ CÁI TK 154 – QUÝ II/2005

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh Số dư
    Số ngày Nợ Nợ
    1 31/6 Số dư đầu kỳ       382.262.287  
        Đường QL1A       382.262.287  
        Đường 8- Hương Sơn        
        K/c CPNVL TT   4.904.697.707   5.286.959.994  
        Đường QL 1A   3.017.331.917   3.399.594.204  
        Đường 8 – Hương Sơn   1.887.365.787   1887.365.787  
        K/c CPNC TT   539.914.942   5.286.874.936  
        Đường QL 1A   309.277.432   3.708.865.636  
        Đường 8 – Hương Sơn   230.637.510   2.118.003.297  
        KC CP máy thi công   234.629.357   6.061.504.293  
        Đường QL 1A   206.582.621   3.915.398.257  
        Đường 8 – Hương sơn   28.046.736   2.146.050.033  
        K/C CPSXC   669.733.296   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   502.212.488   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   167.520.808   2.313.570.841  
        K/c CP thực tế   6.348.975.299   6.731.237.589  
        Đường QL 1A   4.035.404.458   4.417.610.742  
        Đường 8 – Hương sơn   2.313.570.841   2.313.570.841  
        Số dư cuối kỳ          
        Đường QL 1A     0    
        Đường 8 – Hương sơn     2.313.57    
        Giá thành sản phẩm     0.841    
        Đường QL 1A     4.417.61    
        Đường 8 – Hương sơn     0.472    

    SỔ CHI TIẾT TK154

    Công trình: Quốc lộ 1A

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      31/6 Số dư đầu kỳ     382.262.287
        K/c CP NVL trực tiếp 621 3.017.331.917 3.017.331.917
        K/c CPCNTT 622 309.277.432 309.277.432
        K/c CP MTC 623 206.582.621 206.582.621
        K/c CPSXC 627 502.212.488 502.212.488
        Cộng chi phí thực tế   4.635.404.458 4.417.666.745
        Số dư cuối kỳ      
        Giá thành sản phẩm      
        Cộng   4.417.666.745  
    1. Kế toán tính giá thành sản phẩm xây lắp

    Kỳ tính giá thành của Công ty XDCĐ – binh đoàn 11 được xác định là hàng quý vào thời điểm cuối quý. Công ty áp dụng phương pháp tính giá thành giản đơn cho mỗi công trình, hạng mục công trình. Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh của từng công trình, hạng mục công trình khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao là giá thực tế của công trình, hạng mục công trình đó. Ta tính được giá thực tế của khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ theo công thức sau:

    =    +  –

    Vậy tại công trình quốc lộ 1A tại thời điểm cuối kỳ công ty xác định giá thực tế KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ là:

    382.262.287 + (3.017.331.917 + 309.277.432 + 206.582.621 + 502.212.488) – 0 = 4.417.666.745

    Từ đó ta có thể tổng hợp khái quát chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của công ty bằng sơ đồ sau:

    Tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của công ty tại công trình quốc lộ 1A

    Cuối quý từ số liệu trên các số chi tiết TK621, 622, 6271, 6273, 6278, 104 kế toán lập bảng tính giá thành sản phẩm:

     

    Bảng tính giá thành sản phẩm công trình quốc lộ 1A

    Quý II/2005

    STT Khoản mục chi phí Số dư đầu kỳ Chi phí phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ Giá thành sản phẩm
    1 NVL trực tiếp 267.583.600 3.017.337.917 2.284.915.517
    2 NC trực tiếp 29.296.964 309.277.432 338.574.396
    3 Máy thi công 19.568.879 206.582.621 226.151.600
    4 Sản xuất chung 65.812.744 502.212.488 568.025.232
      Cộng 382.262.287 4.035.404.458   4.417.666.745

    Sơ đồ tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp của CTXL

    PHẦN THỨ BA

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ ĐỀ XUẤT NHẰM HOẠN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY XÂY DỰNG – BINH ĐOÀN 11

    I- ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY XÍ NGHIỆP – BINH ĐOÀN 11.

    Từ những ngày đầu bước vào sản xuất kinh doanh với nỗ lực phấn đấu của ban lãnh đạo và độ ngũ cán bộ công nhân viên toàn công ty, sự quan tâm của Bộ xây dựng. Công ty luôn xứng đáng là một trong những đơn vị đứng đắn về xây dựng. Công ty đã, đang và sẽ xây dựng nhiều công trình có tầm quan trọng trong nền kinh tế.

    Qua quá trình tìm hiểu thực tế và công tác quản lý kế toán nói chung, công tác quản ly hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xấy lắp nói riêng em nhận thấy công ty là một đơn vị hạch toán độc lập thuộc doanh nghiệp Nhà Nước tuy nhiều mặt còn chịu sự quản lý của Nhà nước nhưng công ty đã xây dựng được mô hình quản lý và hạch toán hợp lý, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, chủ động hoạt động kinh doanh. Từ công việc hoạch toán ban đầu, việc kiểm tra hợp lý, hợp lệ những chứng từ được tiến hành khá cẩn thận,  đảm bảo số liệu hoạch toán có căn cứ pháp lý tránh được sự phản ánh sai  lập nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Việc luật và luân chuyển chứng từ theo đúng chế độ hiện hành, cung cấp kịp thời số liệu cho kế toán nhật ký chung làm nhiệm vụ cập nhập.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng đủ đáp ứng nhu cầu chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đã đảm bảo quản lý và hoạch toán các yếu tố chi phí  của quá trình sản xuất một cách liêm kiệm,  có hiệu quả cụ thể công ty đã quản lý lao động có trọng tâm và luôn động viên khuyến khích đối với lao động có tay nghề cao. Ngoài ra công ty còn đưa lao động thành lao động trong danh sách và ngoài danh sách để động viên, huy động lao động được linh hoạt.

    Phòng kế toán của công ty được bố chí gọn nhẹ , với đội ngũ kế toán có trình độ cao, năng lực, nhiệt tình và trung thực đã xây dựng được hệ thống sổ sách kế toán – cách thức ghi chép, phương pháp hạch toán khoa học, hợp lý, phù hợp với yêu cầu mục đích của chế độ toán mới. Tổ chức công tác kế toán quản trị, tài chính rõ ràng , khoa học giúp giảm bớt khối lượng kế toán, kế toán viên có thể đáp ứng đầy đủ thông tin hữu dụng đến với yêu cầu quản lý của công ty cũng như các đối tượng liên quan khác. Cụ thể:

    + Công ty đã mở những kế toán phản ánh cho từng công trình, hạng mục công trình, từng đơn vị đảm bảo cho việc theo dõi khả sát sao cho từng công trình , và đơn vị thi công đó.

    + Do lập số sổ chi tiết tạo nên điều kiện thuận lợi cho trưởng  phòng kế toán cùng ban lãnh đạo  công ty trong việc phân tích hoạt động kinh tế.Công việc này tiến hành khá thuận lợi nên đã đưa ra quyết định kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh của toàn công ty.

    Về công tác tập hợp chi phí và giá thành , kế toán công ty đã hoạch toán chi phí sản xuất cho từng công trình, hạng mục công trình trong từng tháng, từng quý một cách rõ ràng, đơn giản phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất, quản lý và phần tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Công việc kiểm kê  khối lượng xây lắp dở dang được tổ chức một cách khoa học, cung cấp số liệu chính xác phục vụ cho công tác giá thành.

    Việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán cũng góp phần không nhỏ giảm được các chi phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả công tác kế toán.

    + Đã lập được chương trình kế toán riêng trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung.

    + Đã đưa toàn bộ phần kế toán tài chính và kế toán quản trị vào máy vi tính.

    + Có thể đưa ra báo cáo kế toán vào bất kỳ thời điểm nào cần.

    + Cung cấp đầy đủ, kịp thời các số liệu kế toán cho ban lãnh đạo, phục vụ công tác quản lý.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁN THÀNH SẢN PHẨM.

    Kế toán chi phí sản xuất quá trình sản phẩm là khâu hoạch toán chủ yếu trong công tác kế toán và DNXS. Nghiệp vụ kinh tế phát sinh của nó được phản ánh bằng nhiều loại chứng từ gốc bắt nguồn từ tổ, đội sản xuất qua các cán bộ kỹ thuật, thủ kho, rao động tiền lương rồi mới đến kế toán xí nghiệp để phân loại, tổng hợp chứng từ và chuyển về  phòng để kiểm tra hạch toán.

    Đối với ngành xây dựng cơ bản chủ yếu giá thành sản phẩm xây lắp được xác định trước khi sản xuất ra sản phẩm. Để bù đắp chi phí sản xuất và đảm bảo có lãi, trong quá trình sản xuất công ty luôn phải đối đầu với những chi phí phát sinh không đáng có với giá trị dự toán.

    Ngoài ra đối với chi phí nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp chiếm tỷ lệ trọng lớn nên tiếp kiệm vật tư là cần thiết. Tiết kiệm ở đây không có nghĩa là cắt xén, mua vật liệu kém chất lượng, mà thực chất là xuất dùng đúng việc, không lãng phí, bừa bãi, có kế hoạch bảo đảm rõ ràng, tránh mất mát, hư hỏng cũng như giảm chất lượng vật tư. Xí nghiệp nên cử một số cán bộ có trình độ, năng lực, trung thực nhạy bén, chuyên viên nguyên cứa về thị trường vật tư bởi việc cung ứng vật tư phụ thuộc rất nhiều về tình hình biến động của thị trường. Hơn nữa công ty có nhiều công trình nhằm dải dác khắp nơi do đó  đối với những công trình lớn , thời gian thi công dài xí nghiệp nên đấu thầu cung ứng vật tư. Yếu tố chi phí vận chuyển vật tư cũng cần quan tâm, công ty phải có kế hoạch vận chuyển sao cho có hiệu quả nhất tức là nhà cung cấp đến kho hoặc trân công trình phải có giá cả phù hợp, tránh vận chuyển nhiều gây hư hỏng, hao hụt. Trường hợp phải thuê xe ngoài thì nên thuê những xe phù hợp với nhu cầu vận chuyển. Bên cạnh đó việc tìm những nguyên vật liệu, có tính sử dụng hiệu quả cao, phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và giá cả phù hợp với yêu cầu của công trình cũng nên được quan tâm.

    Nói chung chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng 75% giá trị công trình nên xí nghiệp cần có những biện pháp thích ứng với điều kiện tình hình cụ thể để có những biện pháp kịp thời nhằm giảm bớt chi  phí đến mức có thể.

    Công nhân thi công các công trình của xí nghiệp chủ yếu là lao động thuê ngoài do đó xí nghiệp phải theo dõi, quản lý chặt chẽ cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Quản lý về số lượng sẽ đảm bảo lượng lao động cần thiết cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc xấy  lắp, tránh để công việc bị giám đoạn do thiếu nhân công cũng như để nhân công phải chờ việc, còn quản lý chất  lượng tức là những nhân công tham gia xây lắp công trình phải có chuyên môn, tay nghề cao. Công tác quản  lý nhân công cần phải có khoa học, biết dùng đúng người đúng việc sẽ gòp phần nâng cao năng xuất lao động, chất lượng công trình và cũng đảm xây dựng thời gian hợp lý.

    Bên cạnh những giải pháp trên xí nghiệp cần phải giảm những chi phí cần thiết đến mức tối thiểu. Có như vậy công tác tiết kiệm chi phí và đảm bảo giá thành sản phẩm mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    KẾT LUẬN

    Trong xuất quá trình thực tập tại xí nghiệp binh đoàn 11- Công ty xây dựng quốc phòng em nhận thấy rằng chỉ dựa vào những kiến thức đã học ở trường là chưa đủ. Bởi vậy đây là thời gian cho em thử nghiệm những  kiến thức mình đã học kho còn ngồi trên ghế nhà trường vào công tác thực tế.

    Mặt khác phá trình thực tập đã giúp em hiểu sâu hơn, đúng như những kiến thức mình đã được học. Em cảm thấy mình đã trưởng thành hơn vì những lý thuyết đã được áp dụng trong thực tế. Hiểu được tầm quan trọng đó em đã cố gắng học hỏi về công việc kế toán, về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp áp dụng kế toán mới ở nước ta.

    Được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô ở trường, các bác, các cô,, các anh chị trong xí nghiệp mà đặc biệt là phòng kế toán của xí nghiệp binh đoàn 11nên em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài ”Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở xí nghiệp xây dựng binh đoàn 11”

    Trong chuyên đề này em đã mạnh dạn trình bày một số ý kiến nhỏ với nguyện vọng để công ty tham khảo nhằm làm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán ở công ty. Do trình độ và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên trong bài luận này không tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế.Em rất mong sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô để em được tiến bộ hơn.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình của cô Lê Thị Bình và các thầy cô giáo trong trường.Cùng các bác, các cô, các anh chị trong xí nghiệp xây dựng binh  đoàn 11- Công ty xây dựng đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề  này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-4-Th%C4%83ng-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    LỜI NÓI ĐẦU

    Xây dựng cơ bản (XDCB) là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định (TSCĐ) cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân (KTQD), nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước. Vì vậy một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và tích luỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư từ nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực đầu tư XDCB. Bên cạnh đó đầu tư XDCB luôn là một “lỗ hổng” lớn làm thất thoát nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB đang là một vấn đề cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.

    Tổ chức hạch toán kế toán, một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Quy mô sản xuất xã hội ngày càng phát triển thì yêu cầu và phạm vi công tác kế toán ngày càng mở rộng, vai trò và vị trí của công tác kinh tế ngày càng cao.

    Với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm đáp  ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của nền kinh tế mở đã buộc các doanh nghiệp mà đặc biệt là các doanh nghiệp XDCB phải tìm ra con đường đúng đắn và phương án sản xuất kinh doanh (SXKD) tối ưu để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường, dành lợi nhuận tối đa, cơ chế hạch toán đòi hỏi các doanh nghiệp XBCB phải trang trải được các chi phí bỏ ra và có lãi. Mặt khác, các công trình XDCB hiện nay đang tổ chức theo phương thức đấu thầu. Do vậy, giá trị dự toán được tính toán một cách chính xác và sát xao. Điều này không cho phép các doanh nghiệp XDCB có thể sử dụng lãng phí vốn đầu tư.

    Đáp ứng các yêu cầu trên, các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất phải tính toán được các chi phí sản xuất bỏ ra một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời. Hạch toán chính xác chi phí là cơ sở để tính đúng, tính đủ giá thành. Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm mọi cách hạ thấp chi phí sản xuất tới mức tối đa, hạ thấp giá thành sản phẩm – biện pháp tốt nhất để tăng lợi nhuận.

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật chất, khoản mục chi phí nguyên vật liệu (NVL) chiếm một tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí của doanh nghiệp, chỉ cần một biến động nhỏ về chi phí NVL cũng làm ảnh hưởng đáng kể đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp. Vì vậy, bên cạnh vấn đề trọng tâm là kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thì tổ chức tốt công tác kế toán NVL cũng là một vấn đề đáng được các doanh nghiệp quan tâm trong điều kiện hiện nay.

    Ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long với đặc điểm lượng NVL sử dụng vào các công trình lại khá lớn thì vấn đề tiết kiệm triệt để có thể coi là biện pháp hữu hiệu nhất để giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho Công ty. Vì vậy điều tất yếu là Công ty phải quan tâm đến khâu hạch toán chi phí NVL.

    Trong thời gian thực tập, nhận được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo Công ty, đặc biệt là các đồng chí trong phòng kế toán Công ty, em đã được làm quen và tìm hiểu công tác thực tế tại Công ty. Em nhận thấy kế toán vật liệu trong Công ty giữ vai trò đặc biệt quan trọng và có nhiều vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy em đã đi sâu tìm hiểu về phần thực hành kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày đề tài: “Hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long”.

    Mặc dù đã rất cố gắng tìm hiểu và nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như các đồng chí trong ban lãnh đạo và phòng kế toán Công ty, nhưng do nhận thức và trình độ bản thân có hạn nên bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót và những hạn chế.

    Em rất mong được tiếp thu và xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp cho đề tài này hoàn thiện hơn.

    Kết cấu đề tài gồm 3 phần lớn sau:

    Phần I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp xây lắp.

    Phần II: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long.

    Phần III: Nhận xét về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long và một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại Công ty.

    PHẦN THỨ I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN

    NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG

    CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

     

    1.1. KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.

    1.1.1. Vị trí của vật liệu- công cụ, dụng cụ đối với quá trình xây lắp.

    Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu là những nguyên liệu đã trải qua chế biến. Vật liệu được chia thành vật liệu chính, vật liệu phụ và nguyên liệu gọi tắt là nguyên vật liệu. Việc phân chia nguyên liệu thành vật liệu chính, vật liệu phụ không phải dựa vào đặc tính vật lý, hoá học hoặc khối lượng tiêu hao mà là sự tham gia của chúng vào cấu thành sản phẩm. Khác với vật liệu, công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ tiêu chuẩn quy định về giá trị và thời gian sử dụng của tài sản cố định. Trong quá trình thi công xây dựng công trình, chi phí sản xuất cho ngành xây lắp gắn liền với việc sử dụng nguyên nhiên vật liệu, máy móc và thiết bị thi công và trong quá trình đó vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên sản phẩm công trình. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí về vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 65%- 70% trong tổng gía trị công trình. Do vậy việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ kịp thời hay không có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất (tiến độ thi công xây dựng) của doanh nghiệp, việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ còn cần quan tâm đến chất lượng, chất lượng các công trình phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của vật liệu mà chất lượng công trình là một điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có uy tín và tồn tại trên thị trường. Trong cơ chế thị trường hiện nay việc cung cấp vật liệu còn cần đảm bảo giá cả hợp lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Bên cạnh đó, công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị thì dịch chuyển một lần hoặc dịch chuyển dần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Song do giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn nên có thể được mua sắm, dự trữ bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp như đối với nguyên vật liệu.

    Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nếu thiếu nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ thì không thể tiến hành được các hoạt động sản xuất vật chất nói chung và qúa trình thi công xây lắp nói riêng.

    Trong qúa trình thi công xây dựng công trình, thông qua công tác kế toán nguyên vật liệu công cụ, dụng cụ từ đó có thể đánh giá những khoản chi phí chưa hợp lý, lãng phí hay tiết kiệm. Bởi vậy cần tập trung quản lý chặt chẽ vật liệu, công cụ dụng cụ ở tất cả các khâu: thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ nhằm hạ thấp chi phí sản xuất sản phẩm trong chừng mực nhất định, giảm mức tiêu hao vật liệu, công cụ dụng cụ trong sản xuất còn là cơ sở để tăng thêm sản phẩm cho xã hội. Có thể nói rằng vật liệu công cụ dụng cụ giữ vị trí quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thi công xây lắp.

    1.1.2. Đặc điểm, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp xây lắp.

    Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp, sản phẩm của ngành xây dựng là những công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp và thường cố định ở nơi sản xuất (thi công) còn các điều kiện khác đều phải   di chuyển theo địa điểm xây dựng. Từ đặc điểm riêng của ngành xây dựng làm cho công tác quản lý, sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ phức tạp vì chịu ảnh hưởng lớn của môi trường bên ngoài nên cần xây dựng định mức cho phù hợp với điều kiện thi công thực tế. Quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ là yếu tố khách quan của mọi nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên do trình độ sản xuất khác nhau nên   phạm vi mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau.

    Hiện nay nền sản xuất  ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sở thoả mãn không ngừng nhu cầu vật chất và văn hóa của mọi tầng lớp trong xã hội. Việc sử dụng vật liệu công cụ dụng cụ một cách hợp lý, có kế hoạch ngày càng được coi trọng. Công tác quản lý vật liệu công cụ dụng cụ là nhiệm vụ của tất cả mọi người nhằm tăng hiệu quả kinh tế cao mà hao phí  lại thấp nhất. Công việc hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ảnh hưởng và quyết định đến việc hạch toán giá thành, cho nên để đảm bảo tính chính xác của việc hạch toán giá thành thì trước hết cũng phải hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ chính xác.

    Để làm tốt công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ trên đòi hỏi chúng ta phải quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ thu mua, bảo quản tới khâu dự trữ và sử dụng. Trong khâu thu mua vật liệu, công cụ dụng cụ phải được quản lý về khối lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí thu mua, thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ phận kế toán – tài chính cần có quyết định đúng đắn ngay từ đầu trong việc lựa chọn nguồn vật tư, địa điểm giao hàng, thời hạn cung cấp, phương tiện vận chuyển và nhất là về giá mua, cước phí vận chuyển, bốc dỡ… cần phải dự toán những biến động về cung cầu và giá cả vật tư trên thị trường để đề ra biện pháp thích ứng. Đồng thời thông qua thanh toán kế toán vật liệu cần kiểm tra lại giá mua vật liệu, công cụ dụng cụ, các chi phí vận chuyển và tình hình thực hiện hợp đồng của người bán vật tư, người vận chuyển. Việc tổ chức tổ kho tàng, bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cũng là một trong các yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ. Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ  tối đa, tối thiểu để đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp được bình thường, không bị ngừng trệ, gián đoạn do việc cung ứng vật tư không kịp thời hoặc gây ứ động vốn do dự trữ quá nhiều.

    Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao và dự toán chi phí có ý nghĩa quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp . Do vậy trong khâu sử dụng cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất vật liệu, công cụ dụng cụ đúng trong sản xuất kinh doanh. Định kỳ tiến hành việc phân tích tình hình sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ  cũng là những khoản chi phí vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, khuyến khích việc phát huy sáng kiến cải tiến, sử dụng tiết kiệm vật liệu, công cụ dụng cụ, tận dụng phế liệu…

    Tóm lại, quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp luôn được các nhà quản lý quan tâm.

    1.1.3. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp xây lắp:

    Kế toán là công cụ phục vụ việc quản lý kinh tế vì thế để đáp ứng một cách khoa học, hợp lý xuất phát từ đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ, từ yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ, từ chức năng của kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

    + Tổ chức ghi chép,  phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập, xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật liệu đã thu mua và nhập kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu tư về các mặt: số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ, đúng chủng loại cho quá trình thi công xây lắp.

    + Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật hạch toán vật liệu, hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở chế độ đúng phương pháp quy định nhằm đảm bảo sử dụng thống nhất trong công tác kế toán, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác kế toán trong phạm vi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    + Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật tư phát hiện ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý vật tư thừa, thiếu, ứ đọng hoặc mất phẩm chất. Tính toán, xác định chính xác số lượng và giá trị vật tư thực tế đưa vào sử dụng và đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    1.2. PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ:

    Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu – công cụ dụng cụ bao gồm rất nhiều loại khác nhau, đặc biệt là trong ngành xây dựng cơ bản với nội dung kinh tế và tính năng lý hoá học khác nhau. Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết tới từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho kế hoạch quản trị … cần thiết phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ.

    Trước hết đối với vật liệu, căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của chúng trong quá trình thi công xây lắp, căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thì nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:

    + Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể chính của sản phẩm.

    Trong ngành xây dựng cơ bản còn phải phân biệt vật liệu xây dựng, vật kết cấu và thiết bị xây dựng. Các loại vây liệu này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành lên sản phẩm của đơn vị xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng nhưng chúng có sự khác nhau. Vật liệu xây dựng là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sử dụng trong đơn vị xây dựng để tạo lên sản phẩm như hạng mục công trình, công trình xây dựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép… Vật kết cấu là những bộ phận của công trình xây dựng mà đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm xây dựng của đơn vị xây dựng sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm  xây dựng của đơn vị mình như thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấm, hệ thống thu lôi…

    + Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia  vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm. Vật liệu phụ chỉ tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm: Làm tăng chất lượng vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản gồm: sơn, dầu, mỡ… phục vụ cho quá trình sản xuất.

    + Nhiên liệu: Về thực thể là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong qúa trình thi công, kinh doanh tạo điều kiện cho qúa trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động.

    + Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ dụng cụ sản xuất…

    + Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản.

    + Phế liệu: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình thi công xây lắp như gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định. Tuỳ thuộc vào yêu quản lý và công ty kế toán chi tiết của từng doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ một cách chi tiết hơn bằng cách lập sổ danh điểm  vật liệu. Trong đó mỗi loại, nhóm, thứ vật liệu được sử dụng một ký hiệu riêng bằng hệ thống các chữ số thập phân để  thay thế tên gọi, nhãn hiệu, quy cách của vật liệu. Ký hiệu đó được gọi là sổ danh điểm vật liệu và được sử dụng thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp.

    – Đối với công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp bao gồm các loại dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất, dụng cụ đồ nghề, dụng cụ quản lý, bảo hộ lao động, lán trại tạm thời – để phục vụ công tác kế toán toàn bộ công cụ dụng cụ được chia thành:

    – Công cụ dụng cụ

    – Bao bì luân chuyển

    – Đồ dùng cho thuê

    Tương tự như đối với vật liệu trong từng loại công cụ dụng cụ cũng cần phải chia thành từng nhóm, thứ chi tiết hơn tuỳ theo yêu cầu, trình độ quản lý và công tác kế toán của doanh nghiệp. Việc phân loại vật liệu, công cụ dụng cụ như trên giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản cấp 1, cấp 2, phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của các loại vật liệu, công cụ dụng cụ đó trong quá trình thi công xây lắp của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại vật, công cụ dụng cụ.

    1.2.2. Đánh giá quá trình thi công xây lắp:

    Do đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ có nhiều thứ, thường xuyên biến động trong quá trình sản xuất kinh doanh và yều cầu của công tác kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời hàng ngày tình hình biến động và hiện có của vật liệu, công cụ dụng cụ nên trong công tác kế toán cần thiết phải đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ

              1.2.2.1. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho.

    Tuỳ theo nguồn nhập mà giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ được xác định như sau:

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua ngoài thì giá thực tế nhập kho:

    =  +  +

    + Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ do doanh nghiệp tự gia công chê biến:

    =   +

    + Đối với công cụ dụng cụ thuê ngoài gia công chế biến:

    =  +      +

    + Đối với trường hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng vật liệu, công cụ dụng cụ thì giá thực tế vật liệu công cụ dụng cụ nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá và công nhận.

    + Đối với phế liệu, phế phẩm thu hồi được đánh giá theo giá ước tính.

    1.2.2.2. Giá thực tế nguyênvật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho.

    Vật liệu, công cụ dụng cụ được thu mua và nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, do đó giá thực tế của từng lần, đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau. Khi xuất kho kế toán phải tính toán xác định được giá thực tế xuất kho cho từng nhu cầu, đối tượng sử dụng khác nhau. Theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho có thể áp dụng một trong các phương phap sau:

    + Phương pháp tính theo đơn giá thực tế bình quân tồn đầu kỳ: Theo phương pháp này giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được tính trên cơ sở số liệu vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng và đơn giá bình quân vật liệu, công  cụ dụng cụ tồn đầu kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho  x

    =

    + Phương pháp tính theo đơn giá bình quân tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ: về cơ bản phương pháp này giống phương pháp trên nhưng đơn giá vật liệu được tính bình quân cho cả số tồn đầu kỳ nhập trong kỳ.

    Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất kho x Đơn giá bình quân

    Đơn giá bình quân =

    + Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh: Phương pháp này thường được áp dụng đối với các loại vật liệu, công cụ dụng cụ có giá trị cao, các loại vật tư đặc chủng. Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho được căn cứ vào đơn giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho theo từng lô, từng lần nhập và số lượng xuất kho theo từng lần.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập trước – xuất trước: Theo phương pháp này phải xác định được đơn giá nhập kho thực tế của từng lần nhập. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho tính giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc và tính theo  giá thực tế nhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước. Số còn lại (tổng số xuất kho – số xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế các lần nhập sau. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của vật liệu nhập kho thuộc các lần mua vào sau cùng.

    + Phương pháp tính theo giá thực tế nhập sau – xuất trước: Ta cũng phải xác định đơn giá thực tế của từng lần nhập nhưng khi xuất sẽ căn cứ vào số lượng xuất và đơn giá thực tế nhập kho lần cuối. Sau đó mới lần lượt đến các lần nhập trước để tính giá thực tế xuất kho. Như vậy giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ tính theo đơn giá của các lần nhập đầu kỳ.

    1.2.3. Đánh giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo giá hạch toán.

    Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại vật liệu, công cụ dụng cụ nhiều, tình hình xuất diễn ra thường xuyên. Việc xác định giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần nhập, đợt nhập nhưng quá tốn kém nhiều chi phí không hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày. Giá hạch toán là loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài có thể là giá kế hoạch của vật liệu, công cụ dụng cụ. Như vậy hàng ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất. Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến hành như sau:

    Trước hết xây dựng hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật liệu, công cụ dụng cụ (H)

    H =

    Sau đó tính giá thực tế xuất kho, căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ số giá:

    Giá thực tế vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho = giá hạch toán xuất kho x hệ số giá.

    Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu về trình độ quản lý của doanh nghiệp mà trong các phương pháp tính giá vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho đơn giá thực tế hoặc hệ số giá (trong trường hợp sử dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc cả loại vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Từng cách đánh giá và phương pháp tính giá thực tế xuất kho đối với vật liệu công cụ dụng cụ có nội dung, ưu nhược điểm và những điều kiện áp dụng phù hợp nhất định, do vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán.

    1.3. KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ là một trong những đối tượng kế toán, các loại tài sản cần phải tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… và phải được tiến hành đồng thời ở cả kho và phòng kế  toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết về lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết vật liệu, công cụ, dụng cụ cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, công tác quản lý vật liệu, công cụ, dụng cụ nói riêng.

    1.3.1 Chứng từ sử dụng:

    Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo Quyết định 1141/ TC/QĐ/CĐ kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính, các chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ bao gồm:

    – Phiếu nhập kho (01 – VT)

    – Phiếu xuất kho (02 – VT)

    –  Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03 – VT)

    – Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (08 – VT)

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (02 – BH)

    – Hoá đơn cước phí vận chuyển (03 – BH)

    Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thấp nhất theo Quy định của Nhà nước các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (04 – VT), Biên bản kiểm nghiệm vật tư (05 – VT) phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (07 – VT)… Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động thành  phần kinh tế, tình hình sở hữu khác nhau.

    Đối với các chứng từ thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định về mẫu biểu, nội dung phương pháp lập. Người lập chứng từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp của các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh.

    Mọi chứng từ kế toán về vật liệu, công cụ dụng cụ phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự và thời gian hợp lý, do đó kế toán  trưởng quy định phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.

    1.3.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Trong doanh nghiệp sản xuất, việc quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ do nhiều bộ phận tham gia. Song việc quản lý tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho và phòng kế toán doanh nghiệp. Trên cơ sở các chứng từ kế toán về nhập, xuất vật liệu thủ kho và kế toán vật liệu phải tiến hành hạch toán kịp thời, tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ, dụng cụ hàng ngày theo từng loại vật liệu. Sự liên hệ và phối hợp với nhau trong việc ghi chép và thẻ kho, cũng như việc kiểm tra đối chiếu số liệu giữa kho và phòng kế toán đã hình thành nên phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ giữa kho và phòng kế toán.

    Hiện nay trong các doanh nghiệp sản xuất, việc hạch toán vật liệu giữa kho và phòng kế toán có thể thực hiện theo các phương pháp sau:

    – Phương pháp thẻ song song

    – Phương pháp sổ đối chiếu lưu chuyển

    – Phương pháp sổ số dư

    Mọi phương pháp đều có những nhược điểm riêng. Trong việc hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kế toán cần có sự nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thích hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Và như vậy cần thiết phải nắm vững nội dung, ưu nhược điểm và điều kiện áp dụng của mỗi phương pháp đó.

    1.3.2.1. Phương pháp thẻ song song

    – Ở kho: Việc ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn khho hàng ngày do thủ kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng.

    Khi nhận các chứng từ nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ, thủ kho phải triểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng từ thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi (hoặc kế toán xuống kho nhận) các chứng từ xuất, nhập đã được phân loại theo từn thứ vận liệu, công cụ dụng cụ cho phòng kế toán.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ để ghi chép tình hình xuất, nhập, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Về cơ bản, sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có thêm các cột để ghi chép theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ và kiểm tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, triểm tra với kế  toán tổng hợp  số liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào bảng. Tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ. Có thể khái quát, nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp thẻ song song theo sơ đồ  sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo

    phương pháp thẻ song song

     
       

    Ghi chú:

    : Ghi hàng tháng

    : Ghi cuối tháng

    : Đối chiếu kiểm tra

    Đơn vị……….                                                                    Mẫu số : 06 – VT

    Tên kho……                                                     Ban hành theo QĐ 1141 – TC/QĐ

    Ngày 1/11/1995 của Bộ tài chính

    THẺ KHO

    Ngày lập thẻ: ………………

    Tờ số: ……………..                                                                         Tên, nhãn hiệu , quy cách vật tư……………

    Đơn vị tính:……………………

    Mã số: …………………………

    Chứng từ Diễn giải Ngày nhập, xuất Số lượng Ký xác nhận của kế toán
    STT NT Nhập Xuất Tồn
    A B C D 1 2 3 4
                   
                   

    Với tư cách kiểm tra, đối chiếu như trên, phương pháp thẻ song song có ưu điểm: ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu, phát hiện sai sót trong việc ghi chép, quản lý chặt chẽ tình hình biến động về số hiện có của từng loại vật liệu theo số liệu và giá trị của chúng. Tuy nhiên theo phương pháp thẻ song song có nhược điểm lớn là việc ghi chép giữa thủ kho và phòng kế toán cần trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, khối lượng công việc ghi chép quá lớn nếu chủng loại vật tư nhiều và tình hình nhập, xuất diễn ra thường xuyên hàng ngày. Hơn nữa việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối tháng, do vậy hạn chế chức năng của kế toán.

              1.3.2.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:

    – Ở Kho: Việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho giống như phương pháp thẻ song song.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chieué luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho dùng cả năm nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập bảng kê nhập, bảng kê xuất trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất định kỳ thủ kho gửi lên. Sổ đối chiếu luân chuyển cũng được theo dõi và về chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.

    Nội dung và trình tự kế toán chi tiết NVL, CCDC

     theo sơ đồ sau:

    Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển có ưu điểm là giảm được khối lượng ghi chép của kế toán  do chỉ ghi một kỳ vào cuối tháng, nhưng có nhược điểm là việc ghi sổ vẫn còn trùng lặp (ở phòng kế toán vẫn theo dõi cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị) công việc kế toán dồn vào cuối tháng, việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán chi tiến hành được vào cuối tháng do trong tháng kế toán không ghi sổ. Tác dụng của kế toán trong công tác quản lý bị hạn chế. Với những doanh nghiệp, ưu nhược điểm nêu trên phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng nghiệp vụ nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu, do vậy không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình kế toán nhập, xuất hàng ngày.

    1.3.2.3. Phương pháp sổ số dư:

    Nội dung phương pháp sổ số dư hạch toán chi tiết vật liệu giữa kho và phòng kiết kế như sau:

    – Ở kho: Thủ kho cũng là thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho, nhưng cuối tháng phải ghi sổ tồn kho đã tách trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột số lượng.

    – Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho chung cho cả năm để ghi chép tình hình nhập, xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất kế toán lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ theo chỉ tiêu giá trị.

    Cuối tháng khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn cuối tháng do thủ kho tính ghi ở sổ số dư và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền tồn kho trên sổ số dư và bảng kế tổng hợp nhập, xuất tồn (cột số tiền) và số liệu kế toán tổng hợp. Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp sổ số dư được khái quát theo sơ đồ sau:

    Kế toán chi tiết  NVL, CCDC theo phương pháp sổ số dư

           
         
     
       

    Ưu điểm: Tránh được sự ghi chép trùng lặp giữa kho và phòng kế toán, giảm bớt được khối lượng công việc ghi sổ kế toán do chỉ tiêu ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị và theo nhóm, loại vật liệu. Công việc kế toán tiến hành đều trong tháng, tạo điều kiện cung cấp kịp thời tài liệu kế toán phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý ở doanh nghiệp, thực hiện kiểm tra, giám sát thường xuyên của kế toán đối với việc nhập, xuất vật liệu hàng ngày.

    Và phương pháp này cũng có nhược điểm: Do kế toán chỉ ghi sổ theo chỉ tiêu giá trị, theo nhóm, loại vật liệu nên qua số liệu kế toán không thể không nhận biết được số hiện có và tình hình tăng giảm vật liệu mà phải xem số liệu trên thẻ kho. Ngoài ra khi đối chiếu, kiểm tra số liệu ở sổ số dư và bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho nếu không khớp đúng thì việc kiểm tra để phát hiện sự nhầm lẫn, sai sót trong việc ghi số sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp và tốn nhiều công sức. Phương pháp sổ số dư được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng các nghiệp vụ kinh tế (chứng từ nhập, xuất) về nhập, xuất vật liệu diễn ra thường xuyên, nhiều chủng loại vật liệu và đã  xây dựng được hệ thống danh điểm vật liệu, dùng giá hạch toán để hạch toán hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho, yêu cầu và trình độ quản lý, trình độ cán bộ kế toán của doanh nghiệp tương đối cao.

    1.4. KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ:

    Vật liệu là tài sản lao động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp, cho nên việc mở các tài khoản tổng hợp ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ.

    – Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu, công cụ dụng, thành phẩm, hàng hoá… trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp khi có các chứng từ nhập, xuất hàng tồn kho. Như vậy xác định giá trị thực tế vật liệu xuất dùng được căn cứ vào các chứng từ xuất kho sau khi đã được tập hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng để ghi vào tài khoản và sổ kế toán. Ngoài ra giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kiểm tra. Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho được áp dụng trong phần lớn các doanh nghiệp  sản xuất và các doanh nghiệp thương mại, kinh doanh những mặt hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, ô tô…

    – Phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho là phương pháp không theo dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất hàng tồn kho trên các tài khoản hàng tồn kho, mà chỉ theo dõi phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Việc xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụng xuất dùng trên tài khoản kế toán tổng hợp không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà lại căn cứ vào  giá trị vật liệu tồn kho định kỳ, mua (nhập) trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính. Chính vì vậy, trên tài khoản tổng hợp không thể hiện rõ giá trị vật liệu xuất dùng cho từng đối tượng, các nhu cầu sản xuất khác nhau: Sản xuất hay phục vụ quản lý sản xuất cho nhu cầu bán hàng hay quản lý doanh nghiệp … Hơn nữa trên tài khoản tổng hợp cũng không thể biết được số mất mát, hư hỏng, tham ô…(nếu có), phương pháp kiểm kê định kỳ được quy định áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ.

    *. Kế toán tổng hợp NVL, CCDC theo phương pháp kê khai thường xuyên

    1.4.1. Kế toán tổng hợp các trường hợp tăng  NVL, CCDC:

    1.4.1.1. Tài khoản kế toán sử dụng.

    Sự biến động của vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất sau khi phản ánh trên chứng từ kế toán sẽ được phản ánh trực tiếp ở các tài khoản  cấp 1, cấp 2 về vật liệu. Đây là phương pháp kế toán phân loại vật liệu để phản ánh với giám đốc một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự biến động của vật liệu, để tiến hành hạch toán kế toán sử dụng các tài khoản : tài khoản 152 “NVL” tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguyên vật liệu  theo giá thực tế.

    Tài khoản 152 có thể mở thành tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết theo từng loại nguyên liệu vật liệu phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán giá trị của doanh nghiệp, bao gồm:

    Tài khoản 1521             Nguyên vật liệu chính

    Tài khoản 1522             Nguyên vật liệu phụ

    Tài khoản 1523             Nhiên liệu

    Tài khoản 1524             Phụ tùng thay thế

    Tài khoản 1525             Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản

    Tài khoản 1528             Vât liệu khác

    Trong từng tài khoản cấp 2 lại có thể chi tiết thành các tài khoản cấp 3, cấp 4… tới từng nhóm, thứ … vật liệu tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý tài sản ở doanh nghiệp.

    * Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” tài khoản 153 sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm loại công cụ dụng cụ theo giá thực tế.

    Tài khoản 153 “Công cụ dụng cụ” có 3 tài khoản cấp 2

    Tài khoản  1531            Công cụ dụng cụ

    Tài khoản 1532             Bao bì luân chuyển

    Tài khoản 1533             Đồ dùng cho thuê

    * Tài khoản 151 “Hàng mua đang đi đường” tài khoản này dùng để phản ánh giá trị các loại vật tư hàng hoá mà doanh nghiệp đã mua, đã chấp nhận thanh toán với người bán, nhưng chưa về nhập kho doanh nghiệp và tình hình hàng đang đi đường đã về nhập kho.

    * Tài khoản 331 “Phải trả người bán” được sử dụng để phản ánh quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với những người bán, người nhận thầu về các khoản vật tư, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết.

    Ngoài các tài khoản trên, kế toán tổng hợp tăng vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng nhiều tài khoản liên quan khác như: TK 111 (1), TK (112 (1), TK 141, TK 128, TK 222, TK 411, TK 627, TK 641 và TK 642.

    1.4.1.2. Phương pháp  kế toán các nghiệp vụ chủ yếu:

    Vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau: Tăng do mua ngoài, do tự chế hoặc thuê ngoài gia công, tăng do nhận vốn góp của các đơn vị cá nhân khác… Trong mọi trường, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm nhận nhập kho lập các chứng từ theo đúng quy định. Trên cơ sở các chứng từ nhập, hoá đơn bán hàng và các chứng từ có liên quan khác, kế toán phải phản ánh kịp thời các nội dung cấu thành nên giá trị thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ nhập kho vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp, đồng thời phản ánh tình hình thanh toán với người bán và các đối tượng khác một cách kịp thời. Cuối tháng tiến hành tổng hợp số liệu để kiểm tra và đối chiếu với số liệu kế toán chi tiết.

    Dưới đây là các phương pháp kế toán nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

    • Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ tăng vật liệu trong các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

              Bút toán 1 :  Trường hợp hàng và hoá đơn cùng về: căn cứ vào hoá đơn mua hàng, biên bản kiểm nhận và phiếu nhập kho ghi:

    Nợ TK 152 Nguyên vật liệu

    Nợ TK 153  Công cụ dụng cụ

    Nợ TK 133 ( 1331)  Thuế VAT được khấu trừ

    Có TK 331 “Phải trả cho người bán”

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Trường hợp doanh nghiệp được giảm giá hay hàng mua trả lại (nếu có) Kế toán ghi:

    Nợ TK 331,111,112 : Số tiền được người bán trả lại

    Nợ TK 1388             : Số được người bán chấp nhận

    Có TK 152, 153

    Có TK 1331 : Thuế  VAT  được khấu trừ

    – Khi trả tiền cho người bán nếu số chiết khấu thanh toán mua hàng thực tế được hưởng:

                       Bút toán 1

    Nợ TK 111, 112, 311, 141….

    Có TK 515

                       Bút toán 2: Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn

    – Kế toán lưu phiếu nhập kho vào tập hồ sơ”hàng chưa có hoá đơn”. Nếu trong tháng có hoá đơn về thì ghi sổ bình thường, nếu cuối tháng hoá đơn vẫn chưa về thì ghi sổ theo giá tạm tính:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331,…

    – Khi hoá đơn về: Giá tạm tính < Giá thực tế, ghi bổ sung.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 331

    Có TK 111, 112, 311, 141…

    – Ghi đảo ngược bút toán để xóa bút toán theo giá tạm tính:

    Nợ TK 111,112, 331…

    Có TK 152

    Có TK 153

    – Hoặc ghi bút toán đỏ để xóa bút toán theo giá tạm tính sau ghi đen bình thường theo giá thực tế (Giá tạm tính > Giá thực tế) Ghi đỏ phần chênh lệch.

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Ghi đảo ngược bút toán chênh lệch:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152

    Có TK 153

    Bút toán 3: Trường hợp hoá đơn về nhưng hàng chưa về.

    – Kế toán lưu hoá đơn vào tập hồ sơ “Hàng mua đang đi đường”. Nếu trong tháng hàng về thì căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập kho;

    Nợ TK 152

    Nợ TK 153

    Nợ TK 133(1331)

    Có TK 111,112,331…

    – Nếu đến cuối kỳ kế toán nguyên vật liệu vẫn chưa về nhưng thuộc quyền sở hữu của đơn vị, căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi:

    Nợ TK 151

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 111,112,141,331…

    – Sang tháng sau khi hàng về nhập kho căn cứ vào hoá đơn và phiếu nhập kho:

    Nợ TK 152

    Nợ TK 621,627

    Có TK 151

    Bút toán 4 Trường hợp NVL mua về kém phẩm chất sai quy cách, không đảm bảo như hợp đồng:

    – Số hàng này có thể được giảm giá hoặc xuất kho trả lại cho người bán. Khi giao trả hoặc được giảm giá, kế toán ghi:

    Nợ TK 111,112,331

    Có TK 152,153

    Có TK 133(1331)

    Bút toán 5: Trường hợp hàng thiếu so với hoá đơn.

    – Mọi trường hợp phát hiện thiếu NVL hay hư hỏng trong khi bảo quản phải truy tìm nguyên nhân. Tuỳ theo từng nguyên nhân cụ thể hoặc quy định của cấp có thẩm quyền thì kế toán ghi sổ. Kế toán chỉ phản ánh số hàng thực nhận, số thiếu căn cứ vào biên bản kiểm nhận thông báo cho bên bán:

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 1381

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    – Khi xử lý số VL thiếu:

    + Nếu người bán giao tiếp số hàng còn thiếu.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 1381

    + Nếu người bán không còn hàng.

    Nợ TK 331

    Có TK 1381

    Có TK 133(1331)

    + Nếu cá nhân làm mất cấp có thẩm quyền quy định phải bồi thường kế toán ghi:

    Nợ TK 1388,334

    Có TK 133(1331)

    Có TK 1381

    + Nếu thiếu không xác định được nguyên nhân:

    Nợ TK 632

    Có TK 1381

    Ngoài cách ghi trên trong trường hợp thiếu, giá trị chờ xử lý ghi ở TK 1381 có thể ghi nhận theo tổng giá thanh toán (cả thuếVAT)

     

    Bút toán 6: Trường hợp thừa so với hoá đơn.

    Về nguyên tắc khi phát hiện thừa, phải làm văn bản báo cho các bên liên quan biết để cùng xử lý. Về mặt kế toán giá trị hàng thừa được phản ánh ở TK 3381, có thể ghi theo tổng giá thanh toán hay giá mua không thuế VAT đầu vào. Khi xử lý kế toán sẽ dựa vào từng cách ghi tương ứng để phản ảnh vào sổ sách. Chẳng hạn nếu giá trị thừa được ghi theo giá mua không thuế:

    – Nếu nhập toàn bộ và trả tiền cho người bán.

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    Có TK 3381

    – Căn cứ vào  quyết định xử lý, kế toán ghi:

    + Nếu trả lại cho người bán thì ghi.

    Nợ TK 3381

    Có TK 152,153 (chi tiết)

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa.

    Nợ TK 3381

    Nợ TK 1331

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 3381

    Có TK 711

    – Nếu nhập theo số hoá đơn ghi nhận số nhập như trường hợp (a) ở trên. Số thừa coi như giữ hộ người bán và ghi nợ TK 002

    Khi xử lý số thừa, ghi có TK 002, đồng thời căn cứ vào cách xử lý để hạch toán như sau:

    + Nếu đồng ý mua tiếp số thừa

    Nợ TK 152,153

    Nợ TK 133 (1331)

    Có TK 331

    + Nếu không rõ nguyên nhân ghi tăng thu nhập.

    Nợ TK 152,153

    Có TK 711

    Bút toán 7: Trường hợp NVL tự chế nhập kho hoặc thuê ngoài gia công chế biến:

    Nợ TK 152, 153 (chi tiết)

    Có TK 154

    Bút toán 8: Các trường hợp tăng VL khác

    Ngoài nguồn VL mua ngoài và tự chế nhập kho, VL của DN còn tăng do nhiều nguyên nhân khác như nhân viện trợ, cấp phát , góp vốn liên doanh, đánh giá tăng.

    Mọi trường hợp phát sinh làm tăng giá NVL đều được ghi nợ Tài khoản 152 theo giá thực tế, đối ứng với các tài khoản thích hợp.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK  411, 412

    Có TK 336, 3381

    Có TK 222, 241, 128

    Có TK 621, 627, 641, 642

    • Đặc điểm hạch toán NVL tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp.

    +   Đối với các đơn vị tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp, do phần thuế VAT được tính vào giá thực tế NVL nên khi mua ngoài kế toán ghi váo TK 152 theo tổng giá thanh toán.

    Nợ TK 152,153 (chi tiết)

    Có TK 111, 112, 331…

    – Số giảm giá hàng mua được hưởng hay giá trị hàng mua trả lại.

    Nợ TK 111, 112,1388, 331

    Có TK 152 ,153 (chi tiết)

    • Số chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua hàng được ghi tăng thu nhập hoạt động tài chính:

    NợTK 331, 111, 112, 1388 ….

    Có Tk 515

    • Các trường hợp còn lại hạch toán tương tự

    1.4.2.Tình hình biến động giảm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp giảm chủ yếu do xuất, sử dụng cho sản xuất kinh doanh, phần còn lại có thể xuất bán, xuất vốn gốp liên doanh… Mọi trường hợp giảm nguyên vật liệu đều ghi theo giá thực tế ở bên có TK 152

              Bút toán 1: Xuất nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh

    Nợ TK 621, 627, 641, 642

    Nợ TK 241

    Có TK 152, 153

              Bút toán 2: Xuất vốn góp liên doanh

    Căn cứ vào giá gốc NVL xuất góp vốn và giá trị vốn góp được liên doanh chấp nhận phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá trị vốn góp sẽ được phản ảnh vào bên nợ của TK 421 (nếu giá vốn > giá tri vốn góp), vào bên có TK 421 (Giá vốn < Giá trị vốn góp)

    Nợ TK 222,128, 421

    Có TK  152, 153

    Bút toán 3 : Xuất thuê ngoài gia công chế biến.

    Nợ TK 154

    Có TK 152,153

    Bút toán 4 : Giảm cho vay tạm thời.

    Nợ TK 1388,1368

    Có TK 152  (chi tiết)

    Bút toán 5: Giảm do các nguyên nhân khác

    Nợ TK 632, 642

    Nợ TK 1381,1388,334

    Có TK 152, 153

    1.4.2.1. Phương pháp kế toán tổng hợp xuất  công cụ, dụng cụ:

    Công cụ, dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào các chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng, rồi tính ra giá thực tế xuất dùng phương án vào các tài khoản liên quan. Tuy nhiên, do đặc điểm , tình chất cũng như giá trị và thời gian sử dụng của công cụ, dụng cụ và tính hiệu quả của công tác kế toán mà việc tính toán phân bổ giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.

    1. Phương pháp phân bổ 1 lần (phân bổ ngay 100% giá trị).

    Nội dung khi xuất dùng công cụ, dụng cụ kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho công cụ, dụng cụ để tính ra giá thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng rồi tính (phân bổ) ngay 1 lần (toàn bộ giá trị) vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    Căn cứ vào giá trị thực tế xuất dùng, kế toán ghi:

    Nợ TK 627 (6273)   Chi phí sản xuất chung (Chi phí dụng cụ sản xuất)

    Nợ TK 641 (6413)           Chi phí bán hàng (Chi phí dụng cụ đồ dùng)

    Nợ TK 642 (6423)   Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Chi phí đồ dùng văn phòng)

    Có TK 153 công cụ dụng cụ

    (TK 1531, TK 1532, TK 1533)

    Phương pháp phân bổ 1 lần được áp dụng thích hợp đối với những công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ, thời gian sử dụng qúa ngắn.

    1. Phương pháp phân bổ 2 lần:

    – Khi xuất công cụ, dụng cụ, căn cứ vào phiếu xuất kho, ghi:

    Nợ TK 142( 242)

    Có TK 153 :      ( 100% giá trị CCDC xuất dùng)

    Đồng thời tiến hành phân bổ lần đầu( bằng 50 % giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng ) vào chi phí quản lý, ghi :

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142   🙁 Giá trị phân bổ lần đầu)

    Khi báo hỏng, báo mất hoặc hết thời hạn sử dụng theo quy định, kế toán tiến hành phân bổ giá trị còn lại của công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh hoặc chi phí quản lý theo công thức:

    Giá trị phân bổ lần 2 = Giá trị công cụ dụng cụ

     

    Phân bổ mỗi lần

    Giá trị phế liệu thu hồi    ( nếu có) Khoản bồi thường vật chất (nếu có)

    Kế toán ghi:

    Nợ TK 152 : Giá trị phế liệu thu hồi( nếucó)

    Nợ TK 138 : Số tiền bồi thường vật chất phải thu

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh

    Có TK 142(242): Giá trị phân bổ lần cuối

    c.Phương pháp phân bổ nhiều lần:

    Trong trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ có giá trị lớn , dùng cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh . Khi xuất dùng kế toán ghi:

    Nợ TK 142/(242)

    Có TK 153 : ( Giá trị công cụ, dụng cụ xuất kho 100%)

    Số lần phân bổ được xác định căn cứ vào giá trị xuất dùng và thời gian sử dụngcủa số công cụ xuất kho, kế toán ghi:

    Nợ TK 627, 641, 642

    Có TK 142( 242)  : ( Giá trị phân bổ mỗi lần)

    Giá trị phân bổ mỗi lần được tính theo công thức sau:

    Giá trị công cụ phân bổ mỗi lần = Giá trị thực tế CCDC xuất dùng

     

    Số lần phân bổ

    Khi báo hỏng hoặc báo mất số công cụ , dụng cụ trên kế toán phân bổ nốt giá trị còn lại sau khi trừ đi giá trị phế liệu thu hồi và giá trị đòi bồi thường (nếu có ):

    Nợ TK 153 :  Giá trị phế liệu thu hồi

    Nợ TK 138 (1388) : Giá trị đòi bồi thường

    Nợ TK 627, 641, 642 : Giá trị phân bổ nốt

    Có TK 142( 242 ): Giá trị còn lại cần phân bổ

    Sơ đồ kế toán tổng hợp  NVL , CCDC  theo phương pháp kê khai thường xuyên( Thuế GTGT khấu trừ)

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp kiểm kê định kỳ( Thuế GTGT  khấu trừ)

     

     

     

     

        TK133
    Chênh lệch đánh giá tăng
       TK 111, 138, 334

    PHẦN THỨ HAI

    THỰC TRẠNG  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU,

    CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG

    SỐ 4 THĂNG LONG

    2.1. TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY.

    2.1.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo quyết định số: 2750/2000/QĐ-BGTVT ngày 20/9/2000 của Bộ giao thông vận tải. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000198 cấp ngày 29/12/2000  tại Phòng kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hà Nội.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long là doanh nghiệp hạng 1 – Hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT). Công ty cố đội ngũ cán bộ, kỹ sư, kỹ thuật giỏi, công nhân tay nghề cao, được trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ thi công chuyên ngành tiên tiến, có kinh nghiệm thi công xây dụng các công trình, thuỷ lợi, điện, nước, công trình công nghiệp, xử lý các loại nền móng công trình, sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn trong cả nước. Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị giao thông.

    Tên đầy đủ: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long

    Tên giao dịch quốc tế: “THANG LONG No4 CONSTRUCTION JOINT STOCK COMPANY”

    Tên gọi tắt: “THANG LONG No4 CONSTJ.STOCK CO”

    Trụ sở giao dịch đặt tại: Đường Phạm Văn Đồng (Nam Thăng Long), Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội.

    Số điện thoại: 04-8389945

    Fax               : 04-8387841

    2.1.1.1.Cơ cấu vốn điều lệ:

    Vốn điều lệ Công ty cổ phần: 6.810.400.000 đồng

    Tỷ lệ cổ phần Nhà nước:           36,2% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp: 60,9% vốn điều lệ

    Tỷ lệ cổ phần bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp: 2,9% vốn điều lệ

    2.1.1.2.Giá trị doanh nhiệp nhà nước tại thời điểm cổ phần hoá:

    Giá trị thực tế của doanh nghiệp nhà nước: 48.528.484.853 đồng

    Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp: 4.149.416.890 đồng

    2.1.1.3..Ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp:

    Tổng cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp: 56.616 cổ phần, phần giá trị được ưu đãi: 1.698.480.000 đồng (phần giá trị ưu đãi được trừ vào phần vốn nhà nước theo quy định tại thông tư số: 104/TT-BTC của Bộ tài chính là: 1.243.350.000 đồng).

    Tổng số cổ phần theo giá ưu đãi cho người lao động nghèo trong doanh nghiệp trả dần: không cổ phần, giá trị: không đồng.

    2.1.1.4..Các ngành nghề kinh doanh:

    -Xây dựng công trình giao thông, phá nổ mìn trên cạn, dưới nước.

    -Xây dựng công trình thuỷ lợi, công nghiệp, dân dụng, thi công các loại nền móng công trình.

    -Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    Với sự năng động của tập thể CBCNV công ty và sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng công ty trong những năm gần đây công ty không ngừng tăng trưởng và phát triển với nhịp độ năm sau tăng hơn năm trước. Sự phát triển đó là hợp với xu hướng đang phát triển của ngành xây dựng Việt Nam ta hiện nay.

    Qui mô và phạm vi hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là một doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có tư cách pháp nhân , có quyền và nghĩa vụ theo luật định , thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng theo quy định của Pháp luật . Hoạt động theo điều lệ của Công ty cổ phần, luật doanh nghiệp;

    Tài khoản riêng được mở tại;

    1. Ngân hàng đầu tư và phát triển Thăng long

    Địa chỉ : Từ liêm- Hà Nội

    Tài khoản :   7301-0007  I

    Điện thoại :   (04) 8345983         Fax  :  (84-4) 8343704

    1. Phòng giao dịch cầu diễn –Ngân hàng công thương Ba Đình – Hà Nội

    Địa chỉ : Cầu Diễn – Từ Liêm – Hà Nội

    Tài khoản :  710A – 83017

    Điện thoại    :  (04) 8371286

    Fax               :  (84 –4) 88370726

    Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị chuyên ngành xây dựng trực thuộc Tổng công ty xây dựng Thăng Long (Bộ GTVT ). Hoạt động của công ty kinh doanh các ngành nghề sau :

    – Xây dựng công trình giao thông, phá đá nổ mìn trên cạn ,dưới nước.

    – Xây dựng công trình thuỷ lợi , công nghiệp , dân dụng , thi công các loại nền  móng công trình.

    – Gia công, lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn.

    – Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cụm dân cư đô thị , hệ thống điện dưới 35 KVA ,hệ thống nước sinh hoạt.

    – Sửa chữa thiết bị thi công.

    – Sản xuất thủ công nghiệp.

    Việc bảo toàn và phát triển số vốn kinh doanh của nhà nước do công ty quản lý và số cổ phần mà cán bộ công nhân viên đóng góp đồng thời làm nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đòi hỏi công ty phải không ngừng nâng cao trang thiết bị hiện đại , đầu tư và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ , đội ngũ công nhân có tay nghề , nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng lao động .

    Với đội ngũ cán bộ công nhân viên chức của công ty là : 966 người.

    Trong đó :

    –   Cán bộ khoa học kỹ thuật  :     160 người

    + Trình độ trung cấp :     54  người

    + Trình độ đại học     :   106 người

    –   Công nhân kỹ thuật  :               806 người

    Các công trình lớn công ty đã xây dựng đạt huy chương vàng chất lượng cao.

    + Xây dựng Nhà ga T1 Nội Bài – Hà Nội

    + ép cọc, nền móng nhà làm việc Công An TP Hà Nội

    + Nhà điều hành Ban Quản lý vốn – Bộ Tài chính – Hà Nội

    + Cầu +đường dẫn cụm cầu Nậm Miệng – Lào  Cai

    + Ép cọc , san nền Nhà máy điện tử  HANEL

    + Cầu + đường Nội Bài – bắc Ninh- Quốc lộ  18

    + Cầu + đường Gói thầu R5 – Hải phòng – Quốc lộ 10

    + Cầu Khe lá- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Mít- đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Khe Su – đường Hồ chí Minh – 3 nhịp – dầm dự ứng lực 33m

    + Cầu Trung Hà – Việt Trì

    + Cải tạo nâng cấp Quốc lộ 32 Phú Thọ BT ASPHALT

    + Và một số công trình cao cấp khác ở: Quảng Ninh, Hải Phòng,Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, vv ..

    Trong những năm hoạt động vừa qua công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã thu được nhiều thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong những năm gần đây sản lượng năm sau cao hơn năm trước, thu nhập bình quân của công nhân tăng lên đồng thời góp phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Tình hình thực hiện và kết quả thực hiện được thể hiện qua các chỉ tiêu sau :

    Tổng doanh thu

    Đơn vị :1000 đ

    TT Chỉ tiêu 2000 2001 2002
    1 Giátrị công trình thực hiện      97.345.678 115.816.750  130.820.632
    2 Lợi nhuận        1.826.924     2.826.530      3.543.560

    Từ số liệu bảng trên ta thấy giá trị sản lượng của công ty tăng lên không ngừng qua các năm . Những con số này cho thấy công ty có sự phát triển như vậy là do sự cố gắng nỗ lực của tập thể ban giám đốc , các phòng ban và của từng cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với bộ máy làm việc khoa học, hiệu quả.

    2.1.2. Đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Là một công ty cổ phần xây dựng nên hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty là thi công xây dựng mới : Cầu, đường giao thông, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hoá, công cộng… với quy mô lớn vừa và nhỏ trong phạm vi trên cả nước.

    Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản, sản phẩm xây dựng có tính đơn chiếc, kết cấu khác nhau, thời gian thi công dài…. nên việc tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý có những đặc điểm riêng.

    Mô hình hoạt động – hoạt động theo điều lệ của công ty cổ phần.

    – Chủ tịch hội đồng quản trị – kiêm giám đốc công ty: Là người đứng đầu Công ty đại diện cho cán bộ công nhân viên chức. Chủ tịch hội đồng quản trị – giám đốc công ty chịu trách nhiệm về mọi hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty, nhiệm vụ đối với nhà nước, bảo toàn và phát triển công ty ngày một phát triển, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức.

    – Giúp việc cho Chủ tịch hội đồng quản trị có Phó chủ tịch Hội đồng quản trị, các Uỷ viên hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Phó giám đốc, kế toán trưởng và các trưởng phòng chuyên trách.

    +Phòng kinh tế kế hoạch: Tham mưu cho Hội đồng quản trị về kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các đội thi công. Theo dõi và thực hiện kế hoạch đã giao….

    +Phòng tài chính kế toán:

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về kế hoạch thu chi tài chính, cập nhật chứng từ sổ sách chi tiêu văn phòng, các khoản cấp phát, cho vay và thanh toán khối lượng hàng tháng đối với các đội. Thực hiện đúng các chế độ chính sách của Nhà nước về tài chính, chế độ bảo hiểm, thuế, khấu hao, tiền lương cho văn phòng và các đội, báo cáo định kỳ và quyết toán công trình.

    +Phòng kỹ thuật thi công thiết bị và vật tư

    Có trách nhiệm tham mưu cho trưởng ban chỉ huy công trình về công tác khảo sát, thiết kế bản vẽ thi công các hạng mục công trình để làm việc với tư vấn giám sát. Lập kế hoạch quản lý chất lượng công trình trình Tư vấn giám sát. Vạch tiến độ, điều chỉnh tiến độ mũi thi công sao cho phù hợp với tiến độ chung của công trình. Chỉ đạo và giám sát các đội về mặt kỹ thuật, đảm bảo thi công đúng quy trình, thống nhất về các giải pháp kỹ thuật thi công cùng với tư vấn giám sát tổ chức việc nghiệm thu từng hạng mục công trình, tổng nghiệm thu toàn bộ công trình  và bàn giao đưa vào sử dụng.

    +Phòng tổ chức cán bộ và lao động:

    Quản lý và đề xuất mô hình tổ chức tho dõi phát hiện hợp lý hay không hợp lý các mô hình quản lý nhân lực, xem xét dự kiến nhân lực, đào tạo cán bộ, nâng lương, nâng bậc, quản lý cán bộ công nhân viên chức, tham mưu cho giám đốc công ty giải quyết các chế độ chính sách, xây dựng quy chế….

    +Phòng hành chính bảo vệ

    Tham mưu cho Giám đốc công ty về mặt quản lý tài sản, văn thư, lưu trữ và các công tác khác có liên quan ….

    + Các Đội, tổ xây lắp: Tổ chức quản lý thi công công tình theo hợp đồng công ty ký kết và theo thiết kế được phê duyệt, mua bán vật tư, làm thủ tục thanh quyết toán từng giai đoạn và toàn bộ công trình.

    +Xưởng sửa chữa thiết bị cơ giới:

    Quản lý và sửa chữa xe máy thiết bị, đáp ứng yêu cầu thi công các các công trình đảm bảo tiến độ thi công.

    Cách tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công tình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty giao khoán tới từng đội công trình.

    Do các công trình có địa điểm thi công khác nhau, thời gian xây dựng dài mang tính đơn chiếc nên lực lượng lao động của Công ty được tổ chức thành các đội công trình như trên, mỗi đội công trình thi công một hoặc vài công trình trong mỗi đội công trình lại được tổ chức thành các tổ sản xuất theo yêu cầu thi công, tuỳ thuộc vào nhu cầu sản xuất thi công của từng thời kỳ mà số lượng các đội công trình, các tổ sản xuất trong mỗi đội sẽ được thay đổi phù hợp với yêu cầu cụ thể.

    Các tổ chức lao động, tổ chức sản xuất như trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty quản lý chặt chẽ về mặt kinh tế kỹ thuật với từng đội công trình, tạo điều kiện thuận lợi để công ty có thể giao khoán tới từng đội công trình.

    2.1.3.Đặc điểm quy trình sản xuất:

    Do đặc điểm của ngành xây dựng và sản phẩm XDCB, nên quy trình sản xuất của công ty có đặc điểm sản xuất liên tục, phức tạp, trải qua nhiều gia đoạn khác nhau mỗi công trình đều có dự toán thiết kế riêng và thi công ở các địa điểm khác nhau. Thường thường quy trình sản xuất của các công tình tiến hành theo các bước sau:

    Bước1 : Chuẩn bị sản xuất bao gồm : Lập dự toán công trình, lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu, chuẩn bị vốn và các điều kiện khác để thi công công trình và các trang thiết bị chuyên ngành để phục vụ cho việu thi công công trình

    Bước 2: Khởi công xây dựng , quá trình thi công được tiến hành theo công đoạn, điểm dừng kỹ thuật, mỗi lần kết thúc một công đoạn lại tiến hành nghiệm thu.

    Bước 3: Hoàn thiện công trình, bàn giao công trình cho chủ đầu tư đưa vào sử dụng.

    2.1.4.Sơ đồ tổ chức công ty

    Sơ đồ 1:

    Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    ( Xem ở mặt sau )

    2.1.5. Tổ chức bộ máy kế toán .

           Theo hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung, toàn bộ công tác kế toán trong công ty đều được tiến hành tập trung tại phòng kế toán, ở các bộ phận trực thuộc như : Xí nghiệp xây lắp 1, 2,3, Các đội xây dựng 1,2,3,4,5,6,7 không có bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn kiểm tra hạch toán ban đầu, thu nhập chứng từ và chuyển về phòng kế toán tập trung.

    Phòng kế toán công ty chia thành 5 bộ phận.

    + Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng.

    + Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền.

    + Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ

    + Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần.

    + Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu.

    – Kế toán trưởng: Giúp việc cho Giám đốc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê, điều lệ sản xuất kinh doanh của công ty ..Báo cáo tình hình tài chính của công ty cho giám đốc.

    – Bộ phận kế toán vật tư, tài sản cố định, thống kê sản lượng có nhiệm vụ: ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển bảo quản, nhập – xuất – tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ. Ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tăng giảm TSCĐ, tình hình trích khấu hao và phân bổ khấu hao vào quá trình SXKD của công ty, báo cáo thống kê định kỳ.

    – Bộ phận kế toán thanh toán , lao động tiền lương, bảo hiểm xã hội, kế toán vốn bằng tiền : có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu, chi tiền mặt, các khoản thanh toán với người bán , tổng hợp số liệu từ các đội gửi lên để phối hợp với các bộ phận khác tính toán lương , phụ cấp cho CBCNV, trích BHXH theo chế độ quy định.

    – Bộ phận kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, thủ quỹ: có nhiệm vụ tập hợp tất cả các chi phí để tính giá thành cho từng công trình và cùng với kế toán vốn bằng tiền tiến hành thu- chi và theo dõi chặt chẽ các khoản thu – chi tiền mặt.

    – Bộ phận kế toán thuế, công nợ, cổ phần: Bộ phận này có nhiệm vụ tập hợp các loại thuế để thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, thanh toán các khoản phải trả, thống kê tổng số cổ phần và báo cáo lợi tức của mỗi cổ phần trước đại hội đồng cổ đông.

    – Bộ phận kế toán tổng hợp, phân tích kiểm tra số liệu: có nhiệm vụ tổng hợp tất cả các số liệu ở các bộ phận , phân tích kiểm tra và báo cáo với kế toán trưởng .

    Sơ đồ 2 : Mô Hình Tổ Chức Bộ Máy Kế Toán

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hình thức kế toán là hệ thống sổ kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống hoá và tổng hợp số liệu từ các chứng từ kế toán theo một trình tự và phương pháp ghi chép nhất định. Hình thức tổ chức hệ thống kế toán bao gồm: số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp… kết cấu sổ, mối quan hệ, kiểm tra, đối chiếu  giữa các sổ kế toán, trình tự và phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu đó lập báo cáo kế toán. Để phù hợp với hệ thống kế toán của các nước đang phát triển, thuận lợi cho việc sử dụng máy vi tính trong công tác kế toán công ty đã áp dụng hệ thống tài khoản kế toán mới ra ngày 1/11/1995 trên máy vi tính theo hình thức kế toán nhật ký chung và sử dụng tài khoản do Bộ Tài chính ban hành. Công ty áp dụng phương pháp kế toán kê khai thường xuyên và thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Niên độ kế toán được công ty áp dụng từ 1/1  đầu năm  đến 31/12  cuối năm  và kỳ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long làm theo một năm 4 quý.

    Sơ đồ 3 : Sơ đồ ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán NKC

    Ghi chú:                          Ghi hàng ngày

                                            Ghi cuối tháng

                                            Đối chiếu kiểm tra

    Trình tự ghi sổ:

    (1). Hàng tháng căn cứ chứng từ gốc hợp lệ lập điều khoản kế toán rồi ghi vào sổ nhật ký chung theo thứ tự thời gian rồi từ sổ nhật ký chung ghi vào sổ cái.

    (2) tổng hợp cần mở thêm các sổ nhật ký đặc biệt thì cũng căn cứ vào chứng từ gốc để ghi vào sổ nhật ký đặc biệt rồi cuối tháng từ sổ nhật ký đặc biệt ghi vào sổ cái.

    (3) Các chứng từ cần hạch toán chi tiết đồng thời được ghi vào sổ kế toán chi tiết.

    (4) Lập bảng tổng hợp số liệu chi tiết từ các sổ kế toán chi tiết.

    (5) Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh các tài khoản

    (6) Kiểm tra đối chiếu số liệu số cái và bảng tổng hợp số liệu chi tiết.

    (7) Tổng hợp số liệu lập bảng báo cáo kế toán.

    2.2. TÌNH HÌNH  KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU – CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG.

    2.2.1 Phân loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Để tiến hành thi công xây dựng nhiều công trình khác nhau đáp ứng nhu cầu thị trường công ty phải  sử dụng một khối lượng nguyên vật liệu rất lớn bao gồm nhiều thứ, nhiều loại khác nhau, mỗi loại vật liệu ,công cụ dụng cụ có vai trò, tính năng lý hoá riêng. Muốn quản lý tốt và hạch toán chính xác vật liệu công cụ dụng cụ thì phải tiến hành phân loại vật liệu công cụ dụng cụ một cách khoa học, hợp lý. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cũng tiến hành phân loại vật  liệu công cụ dụng cụ.  Song việc phân loại vật liệu chỉ để thuận tiện và đơn giản cho việc theo dõi, bảo quản nguyên vật liệu   công cụ dụng cụ ở kho. Nhưng trong công tác hạch toán do sử dụng mã vật tư nên công ty không sử dụng tài khoản cấp II để phản ánh từng loại vật liệu công cụ dụng cụ mà công ty đã xây dựng mỗi thứ vật tư một mã số riêng, như quy định một lần trên bảng mã vật tư ở máy vi tính bởi các chữ cái đầu của vật liệu công cụ dụng cụ. Vì vậy tất cả các loại vật liệu sử dụng đều hạch toán tài khoản 152 “nguyên liệu vật liệu” các loại công cụ dụng cụ sử dụng đều hạch toán vào tài khoản   153 “công cụ dụng cụ”. Cụ thể ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sử dụng mã  vật tư như sau:

    * Đối với vật liệu của công ty được phân loại như sau:

    + NVL không phân loại thành nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ mà được coi chúng là vật liệu  chính: “Là đối tượng lao động chủ yếu của công ty, là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm xây dựng cơ bản. Nó bao gồm hầu hết các loại vật liệu mà công ty sử dụng như: xi măng, sắt, thép, gạch, ngói, vôi ve, đá, gỗ… Trong mỗi loại được chia thành nhiều nhóm khác nhau, ví dụ: xi  măng trắng, xi măng P300, xi măng P400, thép F 6, thép F10, thép F 20… thép tấm, gạch chỉ, gạch rỗng, gạch xi măng.

    + Nhiên liệu: Là loại vật liệu khi sử dụng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho các loại máy móc, xe cộ như xăng, dầu.

    + Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết phụ tùng của các loại máy móc thiết bị mà công ty sử dụng bao gồm phụ tùng thay thế các loại máy móc, máy cẩu, máy trộn bê tông và phụ tùng thay thế của xe ô tô như: các mũi khoan, săm lốp ô tô.

    + Phế liệu thu hồi: bao gồm các đoạn thừa của thép, tre, gỗ không dùng được nữa, vỏ bao xi măng…

    Công ty bảo quản vật liệu, công cụ dụng cụ trong hai kho theo mỗi công trình là một kho nhằm giữ cho vật liệu không bị hao hụt thuận lợi cho việc tiến hành thi công xây dựng. Vì vậy, các kho bảo quản phải khô ráo, tránh ô xy hoá vật liệu – công cụ dụng cụ, các kho có thể chứa các chủng loại vật tư giống hoặc khác nhau. Riêng các loại cát, sỏi, đá vôi được đưa thẳng tới công trình. Công ty xác định mức dự trữ cho sản xuất, định mức hao hụt, hợp lý trong quá trình vận chuyển  bảo quản dựa trên kế hoạch sản xuất do phòng kinh tế kế hoạch vật tư đưa ra. Để phục vụ cho yêu cầu của công tác hạch toán và quản lý nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ công ty đã phân loại nguyên vật liệu một cách khoa học nhưng công ty chưa lập sổ danh điểm và mỗi loại vật liệu công ty sử dụng bởi chữ cái đầu là tên của vật liệu. Yêu cầu đối với thủ kho ngoài những kiến thức ghi chép ban đầu, còn phải có những hiểu biết nhất định các loại nguyên vật liệu của ngành xây dựng cơ bản để kết hợp với kế toán vật liệu ghi chép chính xác việc nhập, xuất bảo quản nguyên vật liệu trong kho.

    * Đối với công cụ – dụng cụ như sau:

    – Công cụ dụng cụ: dàn giáo, mác, cuốc, xẻng…

    – Bao bì luân chuyển:…

    – Đồ dùng cho thuê: các loại máy móc phục vụ thi công: Đầm cóc, khoan bê tông….

    2.2.2. Hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung, tuy nhiên cũng có một số vận dụng mẫu sổ phù hợp với thực tế và phát huy tốt các chức năng của kế toán. Cụ thể khi vật liệu, công cụ dụng cụ mua về đến kho của công ty trình tự hạch toán được tiến hành như sau:

    2.2.2.1. Thủ tục nhập kho:

    1. Trường hợp nhập vật liệu, công cụ dụng cụ từ nguồn mua ngoài:

    Theo chế độ kế toán quy định, tất cả các loại vật liệu công cụ dụng cụ về đến công ty đều phải tiến hành kiểm nhận và làm thủ tục nhập kho.

    Khi vật liệu, công cụ dụng cụ được chuyển đến công ty, người đi nhận hàng (nhân viên tiếp liệu) phải mang hoá đơn của bên bán vật liệu, công cụ dụng cụ lên phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị, trong hoá đơn đã ghi rõ các chỉ tiêu: chủng loại, quy cách vật liệu, khối lượng vật liệu, đơn giá vật liệu, thành tiền, hình thức thanh toán…

    Căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán, phòng kinh tế kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị xem xét tính hợp lý của hoá đơn, nếu nội dung ghi trong hoá đơn phù hợp với hợp đồng đã ký, đúng chủng loại, đủ số lượng, chất lượng đảm bảo… thì đồng ý nhập kho số vật liệu đó đồng thời nhập thành 2 liên phiếu nhập kho

    Người lập phiếu nhập kho phải đánh số hiệu phiếu nhập và vào thẻ kho rồi giao cả 2 liên cho người nhận hàng. Người nhận hàng mang hoá đơn kiêm phiếu xuất kho và 2 liên phiếu nhập kho tới để nhận hàng. Thủ kho tiến hành kiểm nhận số lượng và chất lượng ghi  vào cột thu nhập rồi ký nhận cả 2 liên phiếu nhập kho, sau đó vào thể kho. Cuối ngày thủ kho phải chuyển cho kế toán vật liệu một phiếu liên nhập còn một liên phiếu phải nhập (kèm theo hoá đơn kiêm phiếu xuất kho) chuyển cho kế toán công nợ để theo dõi thanh toán. Đồng thời kế toán vật liệu phải đối chiếu theo dõi kế toán công nợ để phát hiện những trường hợp thủ kho còn thiếu phiếu nhập kho chưa vào thẻ kho hoặc nhân viên tiếp liệu chưa mang chứng từ hoá đơn đến thanh toán nợ. Kế toán theo dõi công nợ phải thường xuyên theo dõi thông báo số nợ của từng người và có biện pháp thanh toán dứt điểm tránh tình trạng nợ lần dây dưa.

    Thủ tục nhập kho được thể hiện theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 04

     

     

     

    Hàng tháng nhân viên giữ kho mang chứng  từ của mình lên phòng kế toán công ty để đối chiếu số liệu giữa phiếu nhập kho và thẻ kho, đồng thời kế toán rút sổ số dư cuối tháng và ký xác nhận vào thẻ kho.

    Bắt đầu từ những chứng từ gốc sau đây, kế toán vật liệu sẽ tiến hành công việc của mình

    Hoá đơn (GTGT)                            Mẫu số 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              FD/02- B

    Ngày 02/12/2002                              N0: 0538

    Đơn vị bán hàng: Công ty thép Thái Nguyên

    Địa chỉ: Chi nhánh  Cầu Giấy – Hà Nội        Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
    0
    3
    5
    1
    0
     
    6
    0
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8588553                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    2
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    4

    Thép F10

     

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

    kg

     

    kg

    kg

    kg

    3500

     

    8000

    4000

    5000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

    17.920.000

     

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Cộng 105.235.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT 10.523.500
    Tổng cộng tiền thanh toán 115.758.500
    Số tiền viết bằng chữ: Một trăm mười năm triệu bảy trăm năm mươi tám triệu năm mươi tám nghìn năm trăm đồng

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                      Thủ trưởng đơn vị

    (Ký, ghi rõ họ tên)                     (Ký, ghi rõ họ tên)                   (Ký, ghi rõ họ tên)

    Khi hàng về tới kho , nhân viên kế toán tiến hành lập biên bản kiểm tra

    Mẫu 02.

    Công ty cổ phần                  Biên Bản Kiểm Nghiệm Vật Tư

    xây dựng số 4 Thăng long                Ngày 02  Tháng 12 năm 2002

    Căn cứ vào hoá đơn số 538 ngày 02 tháng 12 năm 2002 của Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long giao theo hợp đồng số  230/HĐKT ngày 01  tháng  12  năm 2002

    Ban kiểm nghiệm gồm:

    Ông : Hoàng Văn Thái : Đại diện phòng công tiêu – Trưởng ban

    Ông : Trần Văn Hà  : Đại diện phòng kỹ thuật – Uỷ viên

    Bà : Nguyễn Thị Chuyên : Đại diện thủ kho  – Uỷ viên

    Đã kiểm nghiệm các loại vật tư sau đây:

    TT Tên nhãn hiệu vật liệu Đơn vị tính

     

    (kg)

    Số Lượng Không đúng quy cách phẩm chất
    Theo chứng từ Đúng quy cách phẩm chất
    1 Thép F10 kg 3500 3500 0
    2 Thép F12 kg 8000 8000 0
    3 Thép F16 kg 4000 4000 0
    4 Thép F18 kg 5000 5000 0

    Kết luận của ban kiểm nghiệm.

    Uỷ viên                                        Uỷ viên                            Trưởng ban

    Căn cứ  vào hoá đơn số 538 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng kỹ thuật vật tư viết phiếu nhập kho ngày 02/12/2002 – Số 538. Thủ kho xác định số lượng và đơn giá tiến hành nhập kho.

    Mẫu số 03

    Đơn vị: Công ty cổ phần số 4 Thăng long              Phiếu nhập kho

    Địa chỉ : Xuân đỉnh – Từ liêm- Hà Nội                                         Số : 165

    Ngày 02/12/2002

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                               Nợ TK 152:

    Theo hoá đơn  số 538 ngày 02/12/2002 của                            Có TK 331 :

    Công ty thép Thái Nguyên  – Chi nhánh – Cầu Giấy  – Hà Nội.

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Thép F10 kg 3500 3500 5.120 17.920.000
    2 Thép F12 kg 8000 8000 5.145 41.160.000
    3 Thép F16 kg 4000 4000 5.120 20.480.000
    4 Thép F18 kg 5000 5000 5.135 25.675.000
      Cộng         105.235.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Một trăm ninh năm triệu, hai trăm ba mươi năm nghìn đồng chẵn.                                                                    Ngày 02 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                     Người giao hàng                          Thủ kho

    Mẫu số 04                 Hoá đơn (GTGT)              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02 – F

    Ngày 03/12/2002                              N0: 00140

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư số 27

    Địa chỉ: Cầu Giấy – Hà Nội               Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    0
    6
    3
    5
    0
    0
    1
    2
    0
    5
    1
    1

    Điện thoại: 8388353                          MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Đường Nam Thăng Long- Hà Nội Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: chịu                   Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 850 25.500.000
    Cộng 25.500.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   2.550.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 28.050.000
    Số tiền viết bằng chữ: Hai tám triệu không trăm năm mươi  nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng                    Thủ trưởng đơn vị

    – Căn cứ vào hoá đơn số 140 và biên bản kiểm nghiệm vật tư số hàng thực tế đã về, phòng vật tư viết phiếu nhập kho.

    Đơn vị: Công ty cổ phần                        Mẫu 05

    Xây dựng số 4 Thăng long                     Phiếu nhập kho                Số 166

    Ngày 03/12/2002          Nợ TK 152:

    Tên người giao hàng:  Nguyễn Văn Hùng                              Có TK 331:

    Nhập vào kho:  Số 1 tại Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 30.000 30.000 850 25.500.000
      Cộng         25.500.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Hai mươi năm triệu năm trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 03 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                              Người giao hàng                     Thủ kho

    Trường hợp theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 của Công ty vật tư  số 27 Cầu Giấy – Hà Nội như trên thì chi phí vận chuyển xi măng được tính vào giá hoá đơn. Còn trường hợp ngày 04/12/2002 theo hoá đơn số 142 công ty mua xi măng Hoàng Thạch tại Công ty vật tư – 38 – Đường Hoàng Quốc Việt nhưng do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện.

    Mẫu 06                         Hoá đơn (GTGT)        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng              EC/02- T

    Ngày 04/12/2002                              N0: 00142

    Đơn vị bán hàng: Công ty vật tư

    Địa chỉ: 38 – Hoàng Quốc Việt – Hà Nội                                            Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _ Điện thoại: 7562.346                                                      MS:

    Họ và tên người mua hàng: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty  cổ phần xây dựng

    số 4 thăng long                                 Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt            Mã số

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Xi măng Hoàng Thạch

     

    vận chuyển

    kg

     

    kg

    20.000

     

    20.000

             810

     

    30

    16.200.000

     

    600.000

    Cộng 16.800.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT   1.680.000
    Tổng cộng tiền thanh toán 18.480.000
    Số tiền viết bằng chữ: Mười tám triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu số 07

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                  Phiếu nhập kho                 Số 167

    Ngày 04/12/2002            Nợ TK 152

    Tên người giao hàng: Nguyễn Văn Hùng                            Có TK  111

    Nhập vào kho: Số 1 tại  Công ty

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 20.000 20.000 840 16.800.000
      Cộng         16.800.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                Người giao hàng                                  Thủ kho

    Đối với công cụ dụng: Do công cụ dụng cụ trong mỗi công trình xây dựng cơ bản có số lượng ít hơn so với vật liệu. Vì thế cả khâu vận chuyển và bảo quản công cụ dụng cụ đơn giản hơn vật liệu. Căn cứ vào yêu cầu công cụ dụng cụ nhân viên tiếp liệu thu mua  mang hoá đơn về như sau:

    Mẫu 08

    Hoá đơn (GTGT)                        MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                            L/02

    Ngày 04/12/2002                                 N0: 00360

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng Hoà phát

    Địa chỉ: 72 – Đê La Thành                                   Số TK : _ _ _ _ _ _ _ _

    Điện thoại: 9.521.786                                                     MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Địa chỉ: Nam Thăng long- Từ Liêm – Hà Nội      Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt              MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    Đầm cóc (hon đa)

     

    Khoan bê tông

    Chiếc

     

    Chiếc

    1

     

    3

    26.000.000

     

    2.000.000

    26.000.000

     

    6.000.000

    Cộng 32.000.000
    Thuế VAT: 10% tiền thuế VAT    3.200.000
    Tổng cộng tiền thanh toán  35.200.000
    Số tiền viết bằng chữ: Ba mươi năm  triệu hai trăm nghìn đồng chẵn

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Mẫu Số 09                               Phiếu nhập kho                    Số 168

    Ngày 04/12/2002

    Tên người nhập:  Lê Văn Sơn                        Nợ TK 153

    Theo hoá đơn số 360 ngày 04/12/2002          Có TK 111

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Xin nhập Thực nhập
    1 Máy Đầm cóc chiếc 1 1 26.000.000 26.000.000
    2 Khoan bê tông chiếc 3 3 2.000.000 6.000.000
      Cộng         32.000.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba mươi hai triệu đồng chẵn.

    Ngày 04 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                  Người giao hàng                               Thủ kho

     

    Mẫu Số10                      Hoá đơn (GTGT)                              MS 01/GTGT – 3LL

    Liên 2: giao cho khách hàng                       I/  – F

    Ngày 05/12/2002                                     N0: 622

    Đơn vị bán hàng: Cửa hàng ki ốt số I

    Địa chỉ: Hoàng quốc việt- Cầu Giấy                             Số TK : _ _ _ _ _ _ _  Điện thoại: 8.625.379                                                    MS:

    Họ và tên người mua hàng: Lê Văn Sơn

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Số TK: ­ _ _ _ _ _ _ _ _ _

     
     
     
     
    6
    0
    7
    2
    3
    5
    0
    1
    9
    0

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt             MS

    STT Hàng hoá, dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gầu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

       4        Xẻng                                   Chiếc              20                12.000       240.000
         Cộng     3.010.000
    Thuế VAT: 5% tiền thuế VAT        150.500
    Tổng số tiền thanh toán                                                                                     3.160.500
    Số tiền viết bằng chữ: Ba triệu một trăm sáu  mươi nghìn năm trăm đồng .

    Người mua hàng                      Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Đơn vị: Công ty cổ phần                  Mẫu số 11

    xây dựng số 4 thăng long    Phiếu nhập kho                 Số 169

    Ngày 05/12/2002

    Tên người giao hàng: Lê Văn Sơn

    Theo hoá đơn số 622 ngày 05/12/2002

    STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1

     

    2

    3

    Máy bơm

     

    Gỗu, phễu đổ bê tông

    Cuốc

    Chiếc

     

    Chiếc

    Chiếc

    4

     

    5

    20

    4

     

    5

    20

    350.000

     

    250.000

    6.000

    1.400.000

     

    1.250.000

    120.000

    4 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         3.010.000

    Cộng thành tiền (viết bằng chữ): Ba  triệu không trăm  mười nghìn đồng chẵn.

    Ngày 05 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách cung tiêu                      Người giao hàng                              Thủ kho

    1. Nhập do di chuyển nội bộ.

    Căn cứ vào yêu cầu di chuyển kho của giám đốc, phòng kinh tế , kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu di chuyển nội bộ gồm 2 liên. Người di chuyển mang 2 liên đến thủ kho xuất hàng, ghi thẻ kho sau đó xuất hàng theo số thực xuất và ký nhận  song giữ lại một liên để giao cho kế toán vật liệu, một liên đưa cho người di chuyển mang đến kho nhập, thủ tục nhập hàng và ký nhận ở phần thực nhập rồi vào thẻ kho. Cuối ngày thủ kho nhập giao lại cho kế toán vật liệu kiểm tra và hạch toán tăng kho nhập, giảm kho xuất.

    1. Nhập kho do thuê ngoài gia công chế biến.

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế theo số lượng và giá cả phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật, tiếp thị lập phiếu nhập kho. Khi lập phiếu nhập kho phải thực hiện cùng kho cùng nhóm, cùng nguồn nhập, phải kiểm nghiệm trước khi nhập và lập biên bản kiểm nghiệm mới được nhập kho. Cuối ngày kế toán vật liệu phải đối chiếu kế toán công nợ và đưa phiếu nhập kho cho kế toán công nợ làm báo cáo kế  toán.

    2.2.2.2. Thủ tục xuất kho.

    Vật liệu chủ yếu được xuất kho cho các đội xây dựng và xí nghiệp xây lắp trực thuộc công ty thi công các công trình.

    – Xuất kho sử dụng cho sản xuất kinh doanh.

    Căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kỹ thuật, phòng kinh tế, kế hoạch, kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho gồm 2 liên. Người lĩnh vật tư mang 2 liên phiếu vật tư đến kho để xin lĩnh vật tư. Thu kho căn cứ vào quyết định của đội trưởng và theo tiến độ thi công để xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Thủ kho giữ lại một liên để vào thẻ kho sau đó chuyển cho kế toán vật tư để hạch toán, một liên gửi cán bộ kỹ thuật phụ trách công trường để kiểm tra số lượng và chất lượng vật liệu, công cụ dụng cụ đưa từ kho đến nơi sử dụng.

    Đơn vị : Công ty cổ phần                      Mẫu Số 12

    số 4 Thăng long                         Phiếu xuất kho                     Số 136

    Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng: Hoàng  văn Bình                     Nợ TK:………

    Địa chỉ: Xí nghiệp xây lắp số 1                                       Có TK:………..

    Lý do xuất kho: thi công công trình “Nhà làm việc Bộ Tài Chính”

    Xuất kho tại:  Số 1 ở Công ty

              STT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Quần áo bảo hộ LĐ Bộ 40 40 43.000 1.720.000
    2 Giầy ba ta Đôi 40 40 14.500 580.000
    3 Mũ nhựa Chiếc 40 40 16.000 640.000
    4 Máy bơm Chiếc 4 4 350.000 1.400.000
    5 Cuốc Chiếc 20 20 6.000 120.000
    6 Xẻng Chiếc 20 20 12.000 240.000
      Cộng         4.700.000
      TVAT 5%          

    Cộng tiền (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng chẵn)

    Xuất ,ngày 06 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng       Phụ trách cung tiêu           Người nhận    Thủ kho

    Căn cứ vào dự toán vật liệu cho từng công trình, phòng kỹ thuật vật tư lập phiếu xuất kho như sau:

    Mẫu Số 13

    Đơn vị: Công ty cổ phần                   Phiếu xuất kho                       Số 137

    xây dựng số 4 Thăng long       Ngày 06/12/2002

    Họ tên người nhận hàng : Nguyễn Việt Trung

    Địa chỉ                           : Xí nghiệp xây lắp số 1

    Lý do xuất kho              : Thi công công trình ” Nhà Bộ tài chính”

    Xuất tại kho                            : Công ty

    Số TT Tên quy cách sản phẩm, hàng hoá Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Xi măng Hoàng Thạch kg 40.000 30.000 850 25.500.000
    2 Xi măng Hoàng Thạch kg   10.000 840 8.400.000
      Cộng         33.900.000

    Tiền thuế VAT 10%

    2.2.3. Trình tự nhập – xuất kho nguyênvật liệu.

    Công tác kế toán vật liệu ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long do một thủ kho và một kế toán viên đảm nhận. Phần hành kế toán nhập kho xuất kho vật liệu đều được xử lý trên máy vi tính. Vì vậy các công đoạn lập sổ, ghi sổ kế toán tổng hợp, chi tiết đều do máy thực hiện. Thủ kho và nhân viên kế toán vật liệu chỉ phải làm thủ tục ban đầu và tập hợp liệt kê các chứng từ gốc liên quan đến nhập – xuất vật liệu, tạo cơ sở dữ liệu để đưa vào máy.

    2.2.3.1. Trình tự nhập kho nguyên vật liệu.

    Ở Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long, việc mua vật tư thường do phòng kế hoạch đảm nhận, mua theo kế hoạch cung cấp vật tư hoặc theo yêu cầu sản xuất thi công. Khi vật liệu được mua về, người  đi mua sẽ mang hoá đơn mua hàng như: hoá đơn bán hàng, hoá đơn (GTGT) của đơn vị bán, hoá đơn cước phí vận chuyển… lên phòng kế toán. Trước khi nhập kho, vật tư mua về sẽ được thủ kho và kế toán vật liệu kiểm tra số lượng, chất lượng quy cách đối chiếu với hoá đơn nếu đúng mới cho nhập kho và kế toán vật liệu sẽ viết phiếu nhập kho. Trường hợp vật liệu mua về có khối lượng lớn, giá trị cao thì công ty sẽ có ban kiểm nghiệm vật tư  lập “Biên bản kiểm nghiệm vật tư”. Sau khi đã có ý kiến của ban kiểm nghiệm vật tư về số hàng mua về đúng quy cách, mẫu mã, chất lượng theo hoá đơn thì thủ kho mới tiến hành cho nhập kho.

    2.2.3.2. Trình tự xuất kho.

    Ở công ty  cổ phần xây dựng số 4 Thăng long, vật liệu xuất kho chủ yếu là dùng cho thi công các công trình. Nguyên vật liệu của công ty gồm nhiều chủng loại, việc xuất dùng diễn ra thường xuyên trong ngành cho từng bộ phận sử dụng là các đội công  trình. Việc xuất vật liệu được căn cứ vào nhu cầu thi công và định mức tiêu hao NVL trên cơ sở các đơn đặt hàng đang được ký kết. Sau khi có lệnh sản xuất của giám đốc, phòng kế hoạch tổ chức thực hiện tiến độ sản xuất, theo dõi  sát sao tiến độ thi công các công trình và tiến độ thực hiện các hợp đồng.

    Sau khi đối chiếu khối lượng nguyên vật liệu trên phiếu xuất kho tại cột số lượng yêu cầu đối với khối lượng nguyên vật liệu thực tế có trong kho, thủ kho sẽ ghi vào phiếu xuất kho ở cột số lượng thực xuất và ký xác nhận. Sau đó thủ kho tiến hành xuất kho nguyên vật liệu.

    2.2.4. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long.

    Một trong những yêu cầu của công tác quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ đòi hỏi phải phản ánh, theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất tồn kho cho từng nhóm, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng chủng loại và giá trị. Bằng việc tổ chức kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long sẽ đáp ứng được nhu cầu này. Hạch toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là việc hạch toán kết hợp giữa kho và phòng kế toán nhằm mục đích theo dõi chặt chẽ tình hình nhập, xuất, tồn kho cho từng thứ, từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ cả về số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị.

    Để tổ chức thực hiện được toàn bộ công tác kế toán vật liệu công cụ dụng cụ nói chung và kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ nói riêng, thì trước hết phải bằng phương pháp  chứng từ kế toán để phản ánh tất cả  các nghiệp vụ có liên quan đến nhập xuất vật liệu, công cụ dụng cụ. Chứng từ kế toán là cơ sở  pháp lý để ghi sổ kế toán. Tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long chứng từ kế toán được sử dụng trong phần hạch toán kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ là:

    – Phiếu nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Phiếu xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.

    – Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Bảng tổng hợp nhập xuất tồn vật liệu, công cụ dụng cụ.

    Trình tự luân chuyển chứng từ theo sơ đồ sau:

    Sơ đồ 05.

    Giải thích:              Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Đối chiếu kiểm tra

    Kế toán chi tiết ở công ty sử dụng phương pháp thẻ song song và có một số điều chỉnh cho phù hợp với chương trình quản lý vật tư trên máy vi tính. Nội dung, tiến hành hạch toán chi tiết vật liệu công cụ dụng cụ được tiến hành như sau:

    – Ở kho; Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép phản ánh hàng ngày tình hình nhập xuất, tồn kho của từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ ở từng kho. Theo chỉ tiêu khối lượng mỗi thứ vật liệu, công cụ dụng cụ  được theo dõi trên một thẻ kho để tiện cho việc sử dụng thẻ kho trong việc ghi chép, kiểm tra đối chiếu số liệu.

    Cuối tháng thủ kho căn cứ vào hai chứng từ số 140 ngày 03/12/2002 và chứng từ số 142 ngày 04/12/2002 và các chứng từ nhập, xuất khác. Thủ kho tiến hành lập thẻ kho phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn. Sau đây là thẻ kho vật liệu: xi măng Hoàng Thạch.

    Đơn vị: Công ty cổ phần            Mẫu Số 14

    xây dựng số 4 Thăng long                                                    MS  06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 1

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xi măng Hoàng Thạch

    Đơn vị tính: kg

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số hiệu NT Nhập Xuất Tồn
    1 140 03/12 Hùng nhập vật tư 03/10 30.000   30.000  
    2 142 04/12 Hùng nhập vật tư 04/12 20.000   50.000  
    3 137 06/12 Xuất VT phục vụ thi công Nhà Bộ Tài Chính 06/12   40.000 10.000  
    4 154 10/12 Hùng nhập vật tư 10/12 30.000   40.000  
    5 241 12/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà làm việc Bộ Tài Chính 12/12   20.000 20.000  
    6 242 15/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 15/12   6.000 14.000  
    7 152 18/12 Xuất VT phục vụ thi công  Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội 18/12   10.000 4.000  
          Cộng   80.000 76.000 4.000  
                     

    Đối với CCDC: Trong tháng 12 mở thẻ kho công cụ dụng cụ: xẻng. Căn cứ chứng từ số 622 ngày 05/12/2002 trên phiếu nhập kho số 136. Nhân viên tiếp liệu Lê văn Sơn nhập: 20 chiếc xẻng. Căn cứ vào chứng từ 137 ngày 20/12/2002là phiếu xuất kho số 137. Xuất 10 chiếc xẻng phục vụ cho thi công công trình Hà Nội. Cuối tháng 12/2002 thủ kho lập thẻ kho tháng 12 cho công cụ dụng cụ xẻng.

    Mẫu Số 15

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long                                            Mẫu số 06: VT

    Thẻ kho

    Ngày lập 29/12/2002

    Tờ số 2

    Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: xẻng

    Đơn vị tính: chiếc

    Số TT Chứng từ Diễn giải Ngày nhập xuất Số lượng Ký nhận của KT
    Số liệu   Nhập Xuất Tồn
    1 622 04/12 Sơn  nhập CCDC 04/12 20   20  
    2 163 06/12 Xuất CCDC thi công công trình Nhà làm việc Bộ Tài Chính 06/12   20    
    3 186 15/12 Sơn nhập CCDC vào kho công ty 15/12 15   15  
    4 187 27/12 Xuất CCDC thi công công trình nhà Bộ tài chính 27/12   15    
          Cộng   35 35 0  

    Ở phòng kế toán: đối với kho công trình định kỳ vào cuối tháng kế toán tiến hành đối chiếu kiểm tra chứng từ gốc với thẻ và ký xác nhận vào thẻ kho. Đồng thời hàng ngày khi nhận được chứng từ kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ để ghi vào “sổ chi tiết vật tư hàng hoá” từng tháng từng loại công vật liệu, công cụ dụng cụ và thẻ chi tiết được lập riêng cho từng kho.

     

    Mẫu số 16

    Sổ chi tiết nhập vật liệu

    Công trình: Tại Kho số 1  – Công ty

    Tháng 12 năm 2002                                       Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT Người bán Gc
    Số Ngày
    A B C D 1 2 3 4 5
    538 02/12 Nhập thép

     

    Thép F10

    Thép F12

    Thép F16

    Thép F18

     

     

    kg

    kg

    kg

    kg

    3.500

     

    8.000

    4.000

    5.000

    5.120

     

    5.145

    5.120

    5.135

     

     

    17.920.000

    41.160.000

    20.480.000

    25.675.000

    Công ty thép Thái Nguyên chi nhánh Hà Nội  
    140 03/12 Nhập Xi Măng kg 30.000  850 25.500.000 Công ty VT 27 cầu Giấy  
    142 04/12 Nhập Xi Măng kg 20.000 840 16.800.000 Công ty VT 38-Đ Hoàng Quốc Việt  
      …..       …….    
    145 10/12 Nhập Xi Măng kg 30.000 830 24.900.000 Công ty VT 38 Hoàng Quốc Việt  
    ……   …….       …….    

     

     

     

     

     

    Mẫu Số 10

    Sổ Chi Tiết Xuất kho Vật Liệu

    Công trình : Nhà Làm việc Bộ Tài Chính

    Tháng 12 năm 2002                                  Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải ĐVT SL ĐG TT GC
    Số Ngày
    A B C D 1 2 2 4
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 30.000 850. 25.500.000  
    137 06/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    …..   …………..       ………..  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 840 8.400.000  
    241 12/12 Xuất Xi Măng Hoàng Thạch kg 10.000 830 8.300.000  
      ……… ……….   ………..   …………..  

     

    2.2.5. Đánh giá vật liệu

    Đánh giá vật liệu- công cụ dụng cụ là xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định về nguyên tắc kế toán nhập xuất tổng hợp, nhập xuất tồn kho vật liệu – công cụ dụng cụ công ty phản ánh trên giá thực tế. Nguồn vật liệu của ngành xây dựng cơ bản nói chung và của công ty cổ phần  tư vấn và xây dựng Hưng Vượng nói riêng là rất lớn, công ty chưa đảm nhiệm được việc chế biến và sản xuất ra nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ mà nguồn vật liệu chủ yếu do mua ngoài, một số vật liệu, công cụ được xí nghiệp xây lắp số 1 sản xuất như: bê tông, cửa đi, cửa sổ, và các loại cấu kiện, vật liệu nhằm hoàn thiện việc thi công xây dựng.

     

    2.2.5.1. Đối với nguyên vật liệu: Giá thực tế vật liệu nhập do mua ngoài

    * Trường hợp bên bán vận chuyển vật tư cho công ty thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn.

    Ví dụ: trên phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 Nguyễn Văn Hùng nhập vào kho vật liệu của công ty theo hoá đơn số 538 ngày 02/12/2002 của Công ty Thép Thái Nguyên chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội . Giá thực tế nhập 105.235.000 đồng (giá ghi trên hoá đơn).

    * Trường hợp vật tư do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua trên hoá đơn cộng với chi phí vận chuyển.

    Ví dụ: Trên phiếu nhập kho số 147 ngày 04/12/2002, đồng chí Hùng nhập vào kho công ty 20.000 kg xi măng Hoàng Thạch theo hoá đơn số 142 ngày 04/12/2002 của Công ty Vật tư – 38  Đường Hoàng Quốc Việt. Giá thực tế nhập kho của xi măng Hoàng Thạch là 16.800.000.( Trong đó ghi trên hoá đơn là 16.200.000 và chi phí vận chuyển là 600.000đ).

    + Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công: Giá thực tế vật liệu xuất dùng cho thi công được tính theo phương pháp nhập trước – xuất trước.

    Ví dụ: Theo đơn giá xuất vật tư xi măng Hoàng Thạch ở chứng từ xuất kho số 137 ngày 06/12/2002. Xuất cho Nguyễn Việt Trung thi công xây dựng công trình nhà làm việc Bộ tài chính- Hà Nội, yêu cầu số lượng xuất là 40.000kg. Theo chứng từ 142 ngày 03/12/2002 xi măng Hoàng Thạch được nhập theo giá 840đ/kg. Vậy thực tế xuất kho xi măng Hoàng Thạch được tính như sau:

    30.000kg x 850đ= 25.500.000( 30.000 kg nhập ngày 03/12/2002)

    10.000kg x 840đ= 8.400.000

    33.900.000 (xem nhật ký chung)

    – Đối với việc nhập xuất vật liệu, công cụ ở các đơn vị trực thuộc thì giá thực tế của vật liệu nhập, xuất kho được tính theo giá thực tế.

    2.2.5.2. Đối với công cụ, dụng cụ: Việc đánh giá công cụ, dụng cụ tương tự đối với vật liệu được tiến hành bình thường.

    Công cụ dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thi công và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào chứng từ xuất kho công cụ, dụng cụ. Kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi tính ra giá thực tế xuất dùng. Do công cụ, dụng cụ có tính chất cũng như giá trị, thời gian sử dụng và hiệu quả của công tác mà việc tính toán phân bổ giá trị thực công cụ, dụng cụ xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể một hoặc nhiều lần.

    Có những loại công cụ, dụng cụ phân bổ hai lần nên khi xuất dùng tiến hành phân bổ ngay 50% giá trị thực tế công cụ, dụng cụ xuất dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh kỳ đó và khi báo hỏng sẽ tiến hành phân bổ nốt giá trị còn lại của công cụ dụng cụ.

    Công cụ dụng cụ được tính như sau:

    – Quần áo bảo hộ lao động        : 40 bộ x 43.000đ = 1.720.000đ

    – Giầy ba ta                      : 40 đôi x 14.500đ =   580.000đ

    – Mũ nhựa                        : 40 cái x 16.000đ =   640.000đ

    Tổng hợp công cụ dụng cụ do đội xe vận chuyển của công ty thực hiện thì giá thực tế nhập kho chính là giá mua ghi trên hoá đơn + chi phí vận chuyển.

    Trên phiếu nhập kho số 168 ngày 04/12/2002 người giao hàng Lê Văn Sơn  nhập cho công ty (theo hợp đồng) 1 máy đầm với giá ghi trên hoá đơn số 360 là: 26.000.000đ. Vậy giá thực tế của công cụ dụng cụ được tính như sau:

    1 x 26.000.000 = 26.000.000đ

    + Giá thực tế công cụ dụng cụ xuất dùng cho thi công

    Ví dụ: Đơn giá xuất của công cụ dụng cụ xẻng (xúc đất, trộn vữa) theo chứng từ phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002 là 240.000đồng. Vậy giá thực tế xuất dùng công cụ dụng cụ được tính: 20 x 12.000 = 240.000đ

    – Đối với việc nhập kho công cụ tại đội công trình xây dựng và xí nghiệp xây lắp số 1 trực thuộc công ty thì giá thực tế công cụ dụng cụ xuất kho được tính theo giá thực tế đích danh.

    2.2.6. Tài khoản sử dụng cho hạch toán kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại công ty cổ phần xây dựng  số 4 Thăng long.

    Hiện nay công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đang áp dụng chế độ kế toán theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính kết hợp với Thông tư số 100/1998/TT-BTC về hướng dẫn kế toán thuế giá trị gia tăng (GTGT).

    Để phù hợp với quá trình hạch toán ở công ty, công tác kế toán vật liệu sử dụng những tài khoản tổng hợp sau: TK152, TK133, TK 331, TK111, TK112, TK621, TK 623, TK 627, TK 642. Ngoài ra công ty còn mở thêm các TK cấp 2 để phản ánh chi tiết cho từng đối tượng cụ thể như TK1521 “NVL chính”, TK 1522 “NVL phụ”, TK 3331…

    2.2.7. Kế toán tổng hợp nhập- xuất vật liệu, công cụ dụng cụ:

    Thước đo tiền tệ là thước đo chủ yếu kế toán sử dụng và nói tới hạch toán là nói tới số liệu có, tình hình biến động toàn bộ tài sản của công ty theo chỉ tiêu giá trị. Kế toán chi tiết vật liệu – công cụ dụng cụ chưa đảm bảo đáp ứng được yêu cầu này mà chỉ bằng kế toán tổng hợp có thể ghi chép, phản ánh các đối tượng kế toán theo chỉ tiêu giá trị trên các tài khoản sổ kế toán tổng hợp mới đáp ứng được yêu cầu đó.

    Vậy kế toán tổng hợp là việc sử dụng các tài khoản kế toán để phản ánh, kiểm tra và giám sát các đối tượng kế toán có nội dung kinh tế ở các dạng tổng quát. Do đặc điểm vật liệu- công cụ dụng cụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long rất đa dạng và phong phú, công ty đã áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên để hạch toán nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ.

    Công ty sử dụng tài khoản 152 và tài khoản 153 để phản ánh quá trình nhập xuất vật liệu- công cụ dụng cụ và tài khoản 331, tài khoản 141, tài khoản 111, tài khoản 112, tài khoản 311, tài khoản 621, tài khoản  623, tài khoản 642, tài khoản 627.

     

    2.2.7.1. Kế toán tổng hợp nhập nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Trong nền kinh tế thị trường việc mua vật liệu- công cụ dụng cụ được diễn ra thường xuyên nhanh gọn trên cơ sở “thuận mua vừa bán”. Thông thường đối với một số đơn vị bán vật liệu- công cụ dụng cụ cho công ty thương xuyên. Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật liệu- công cụ dụng cụ căn cứ vào giấy đề nghị mua vật liệu- công cụ dụng cụ thì đơn vị bán sẽ cung cấp vật liệu- công cụ dụng cụ theo yêu cầu của công ty. Đối với công trình lớn, tiến độ thi công dài đòi hỏi nhiều đơn vị  mua nợ của và chịu trách nhiệm thanh toán với người bán sau một thời gian. Hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền vay ngắn hạn.

    1. Đối với NVL- CCDC về nhập kho công ty từ nguồn mua ngoài.

    Mỗi khi công ty có nhu cầu mua vật tư, đơn vị bán sẽ gửi phiếu báo giá đến trước. Căn cứ vào phiếu báo giá này công ty chuẩn bị tiền để có thể chuyển trả trước- tuỳ thuộc vào khả năng công ty. Nếu trả sau hoặc đồng thời  thì căn cứ vào hoá đơn do đơn vị bán cùng lúc hàng về nhập kho công ty. Như vậylà không có trường hợp hàng về mà hoá đơn chưa về hoặc ngược lại. Kế toán ghi sổ một trường hợp duy nhất là hàng và hoá đơn cùng về. Do đó công tác ghi sổ kế toán có đơn giản hơn.

    Để theo dõi quan hệ thanh toán với những người bán, công ty sử dụng sổ chi tiết thanh toán với người bán- từ khoản 331 “phải trả cho người bán”. Đây là sổ dùng để theo dõi chi tiết các nghiệp vụ nhập vật liệu công cụ dụng cụ và quá trình thanh toán với từng người bán của công ty.

    Căn cứ vào các chứng từ gốc nhập vật liệu- công cụ dụng cụ ở phần kế toán chi tiết và các chứng từ gốc trong tháng 12 năm 2002, kế toán tiến hành định khoản một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phát sinh trong quá trình nhập kho vật liệu và quá trình thanh toán với người bán.

    – Trường hợp công ty nhập kho vật liệu nhưng chưa thanh toán với người bán.

    Ngày 02/12/2002 công ty nhập kho vật liệu chính (Thép) của Công ty Thép Thái Nguyên –Chi nhánh – Cầu Giấy – Hà Nội theo phiếu nhập kho số 165 ngày 02/12/2002 trị giá 105.235.000 đồng kèm theo hoá đơn 538 ngày 02/12/2002 số tiền 115.758.500 đồng (thuế VAT 10%).

    Căn cứ  2 hoá đơn trên kế toán ghi vào nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 105.235.000 đ

    Nợ TK133:  10.523.500 đ

    Có TK 331: 115.758.500 đ

    Trường hợp ngày 03/12/2002 hàng Xi Măng về kèm theo hoá đơn số 140 ngày 03/12/2002 số tiền vật liệu nhập về là 25.500.000đ. Căn cứ vào chứng từ này kế toán ghi nhật ký chúng theo định khoản và ở sổ cái TK152 (gồm VAT 10%)

    Nợ TK 152: 25.500.000 đ

    Nợ TK 1331: 2.550.000 đ

    Có TK331: 28.050.000 đ

    Ngày 17/12/2002 công ty nhận giấy báo nợ của ngân hàng đầu tư và phát triển Cầu Giấy – Hà Nội ngày 17/12/2002 báo đã chuyển séc trả tiền ngân hàng cho Công ty Thép Thái Nguyên – Chi nhánh Cầu Giấy – Hà Nội, số tiền ghi nhậtký chung theo định khoản:

    Nợ TK331    :115.758.500 đ

    Có TK 112         :   115.758.500 đ

    – Trường hợp công ty mua vật liệu đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giá mua vật liệu cho đơn vị bán theo hoá đơn ngày 03/12/2002, số 361 nhập xăng, dầu cho công ty, công ty đã thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, số tiền ghi trên hoá đơn số 361 ngày 03/12/2002là 5.000.000đ. Căn cứ hoá đơn trên kế toán ghi sổ nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK152 (gồm VAT).

    Nợ TK152:  5.000.000 đ

    Nợ TK 1331:  500.000 đ

    Có TK 111: 5.500.000 đ

    – Trường hợp nhập kho vật liệu ngày 14/12/2002, theo hoá đơn số 452, công ty trả bằng tiền vay ngắn hạn 53.680.000 đ. Căn cứ vào hoá đơn số 45 kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản: (Nhật ký chung và ở sổ TK152)

    Nợ TK152:  48.800.000 đ

    Nợ TK 133:   4.880.000 đ

    Có TK 311: 53.680.000 đ

    – Trường hợp kế toán tạm ứng tiền cho nhân viên tiếp liệu để mua vật liệu- công cụ dụng cụ không được hạch toán vào tài khoản 141 mà kế toán vẫn viết phiếu chi tiền mặt nhưng cho đến khi nào nhập kho vật liệu, công cụ dụng cụ của nhân viên tiếp  liệu mua về sẽ hạch toán như trường hợp công ty mua vật liệu, công cụ dụng cụ thanh toán trực tiếp.

    Trong tháng căn cứ vào hoá đơn của đơn vị bán gửi đến và phiếu nhập kho. Kế toán tiến hành phân loại và sắp xếp theo từng người bán sau đó kế toán ghi vào các cột phù hợp trên sổ chi tiết- TK331 theo các định khoản trên.

    Cuối tháng kế toán tiền hành cộng sổ chi tiết tài khoản 331 theo từng người bán, số liệu ở sổ chi tiết TK331 là cơ sở để ghi vào sổ nhật ký chung tháng 12/2002.

    Số dư cuối tháng (ở sổ chi tiết) bằng số dư đầu tháng cộng với số phải thanh toán trừ đi số đã thanh toán.

    Mẫu số 18

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán”

    Đối tượng: Công ty thép –thái nguyên chi nhánh Hà Nội

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       25.520.000
    538 02/12/02 Nhập vật liệu cho công ty 152,133   115.758.500 141.278.500
    203 10/12/02 Nhập lưới thép cho công ty 152,133   13.440.000 154.718.500
    206 16/12/02 Nhập thép F10 F12 F16       F18 152,133   57.200.000 211.918.500
    NHB 17/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 115.758.500   96.160.000
    210 18/12/02 Nhập thép ống F90 152,133   48.950.000 145.110.000
    300 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 111 13.440.000   131.670.000
    301 18/12/02 Thanh toán tiền vật tư 112 25.000.000   106.670.000
      ……….. ……………   …………… ……….. …………
        Cộng   805.500.000 835.258.560  
        Tồn cuối kỳ       55.278.560

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

     

    Mẫu số 19

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số PS Số dư
    Số hiệu Ngày tháng Nợ
        Dư đầu kỳ       26.775.000
    140 03/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   28.050.000 54.825..000
    623 12/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   74.259.900 129.084.900
    452 14/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   53.680.000 182.764.900
    204 16/12/02 Đồng chí Hùng nhập VT 152,133   25.725.000 208.489.900
    452 17/12/02 Đồng chí Hùng TT VT 112 74.259.900   134.230.000
        ………………………..   ………..    
        Cộng   448.350.000 476.295.900  
        Tồn cuối kỳ       54.720.900

    Người lập                         Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    1. Đối với NVL, CCDC về nhập kho thuê ngoài gia công chế biến

    Căn cứ vào hợp đồng kinh tế được lập giữa bên A (đại diện công ty) và bên B (xưởng nhập gia công) kèm theo các phiếu nhập kho của đơn vị nhận gia công để bộ phận vật tư viết phiếu nhập kho như đối với trường hợp hàng mua về nhập kho nghiệp vụ này được thể hiện qua hợp đồng kinh tế sau:

    Mẫu số 20

    HỢP ĐỒNG KINH TẾ

    Hôm nay ngày 18/11/2002

    Đại diện bên A:Nguyễn Văn Cam -Đội trưởng –Xí nghiệp xây lắp 1- Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Đại diện bên B: Nguyễn Duy Hà – Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành

    Hai bên cùng thoả thuận kí kết hợp đồng với những điều khoản sau:

    Nội dung hợp đồng:

    – Phương thứcthanh toán : Tiền mặt

    – Thời gian thựchiện hợp đồng từ ngày 18 tháng 11 năm 2002 đến ngày 20/12/2003

    – Điều 1: Gia công chi tiết vì kèo, chi tiết nối đầu cọc

    – Điều 2: Bảng kê mặt hàng (khối lượng giao nhận thầu)

    Gia công chi tiết vì kèo bằng tôn dày 5mm, hàn kết cấu thành phẩm kích thước 200mmx105mmx100mm. Đơn giá chi tiết 16.500, số lượng 200.

    Thành tiền 200 cái x 16.500đ = 3.300.000đ và gia công chi tiết nối đầu cọc bằng tôn dày 4mm, hàng kết cấu thành kích thước 150mm x 150mm. Đơn giá chi tiết 6000, số lượng 3000 cái. Thành tiền: 3000 cái x 6000 = 18.000.000 (thuế VAT 5%: 1.065.000)

    Vậy giá trị hợp đồng là : 22.365.000đ

    Bằng chữ: Hai mươi hai triệu  ba trăm sáu mươi năm nghìn đồng .

    (Khi kết thúc hợp đồng theo thời hạn bên B viết một hoá đơn kiêm phiếu xuất kho

    Đại diện bên nhận khoán  (Bên B)            Đại diện bên giao khoán( Bên A)

    ( Ký , họ tên)                                                     ( Ký , họ tên)

    Mẫu Số 14                Hoá đơn GTGT                 MS01/GTKT-3LL

    Liên 2: Giao cho khách hàng

    Ngày 20/12/2005

    Đơn vị bán hàng; Xưởng gia công chế biến Đức Bảo – Hà Nội

    Địa chỉ: 48 Đê La Thành                                        Số TK:

    Điện thoại; 7.829.453                                            Mã số: 0101786521

    Họ và tên người mua: Nguyễn Văn Hùng

    Đơn vị: Công ty cổ phần tư vấn và xây dựng Hưng Vượng

    Số TK:

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt                             Mã số: 0100532970

    STT Hàng hoá- dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Vì kèo cái 200 16.500  3.300.000
    2 Chi tiết nối đầu cọc cái 3000 6000 18.000.000
    Cộng :

     

    Thuế VAT 5%, tiền thuế VAT

    Tổng cộng tiền thanh toán

    Số tiền viết bằng chữ: Hai mươi hai triệu ba trămsáu mươi năm nghìn đồng chẵn.

    21.300.000

     

    1.065.000

    22.365.000

    Người mua hàng              Kế toán trưởng               Thủ trưởng đơn vị

    Khi hàng về nhập kho, người nhận hàng mang hoá đơn đến phòng vật tư viết phiếu nhập. Căn cứ vào hợp đồng kinh tế và phiếu nhập kho số 49 ngày 20/12/2002, kế toán ghi sổ nhật ký chung và sổ cái TK152

    Nợ TK152: 21.300.000 đ

    Nợ TK 133: 1.065.000 đ

    Có TK111 : 22.365.000 đ

    Đối với công cụ dụng cụ, việc thuê ngoài gia công chế biến trong tháng 12/2002 không có, chỉ trong trường hợp mà hợp đồng yêu cầu chi tiết, đơn vị bán vật liệu, công cụ dụng cụ không đáp ứng được yêu cầu thì lúc đố công ty phải tiến hành thuê ngoài biên chế. Việc thuê chế biến này công ty khoán hoàn toàn cho đơn vị gia công vật liệu, công cụ dụng cụ về kho công ty bình thường như mua ngoài. Công ty không xuất vật tư của công ty cho đơn vị gia công mà đơn vị gia công đảm nhận phần việc này.

    1. Đối với vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhưng không nhập kho mà đưa thẳng xuống công trình như: đá, sỏi, cát, vôi… Do khối lượng lớn, kho không chứa đủ kế toán căn cứ hoá đơn kiểm phiếu xuất kho của người bán để nhập vào kho vật liệu như đối với trường hợp nhập vật liệu từ nguồn mua ngoài.

    Cuối ngày, xí nghiệp xây lắp  số 1 có yêu cầu về cát đen và cát vàng phục vụ thi công công trình nhà làm việc Bộ Tài Chính. Phòng vật tư viết phiếu xuất kho cát vàng và cát đen, số lượng 200m3. Thành tiền 11.440.000 đồng

    Căn cứ vào hoá đơn 173 ngày 06/12/2002, kế toán ghi nhật ký chung theo định khoản. Mời xem nhật ký chung và ở sổ cái TK152.

    Nợ TK621: 11.440.000 đ

    Có TK 152: 11.440.000 đ

    Các phiếu nhập, xuất được phản ánh trên sổ kế toán giống như các trường hợp nhập kho từ nguồn mua ngoài và xuất kho dùng cho sản xuất.

    2.2.7.2. Kế toán tổng hợp xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ

    Ở công ty cổ phần xây dựng số 4 thăng long vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho chủ yếu sử dụng để xây dựng các công trình, đáp ứng được tiến độ thi công. Bởi vậy kế toán tổng hợp xuất vật liệu, công cụ dụng cụ phải phản ánh kịp thời theo từng xí nghiệp, tới trong công ty, đảm bảo chính xác chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ trong toàn bộ chi phí sản xuất.

    1. Kế toán xuất nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất

    Khi tiến hành xuất vật liệu, công cụ dụng cụ căn cứ vào số lượng vật tư yêu cầu được tính toán theo định mức sử dụng của cán bộ kĩ thuật, phòng vật tư lập phiếu xuất vật tư như sau:

    Mẫu Số 22                     Phiếu xuất kho             Số 138

    Ngày 15/12/2002

    Xuất cho ông: Hoàng Bình

    Để dùng vào việc: Thi công công trình bộ tài chính- Hà Nội

    Lĩnh tại kho: chị  Chuyên                           Đơn vị : đồng

    STT Tên quy cách sản phẩm hàng hoá ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực nhập
    1 Que hàn kg 10 10 5000 50.000
    2 Máy khoan cái 1 1 1.200.000 1.200.000
    3 Máy hàn cái 1 1 1.000.000 1.000.000
    4 Tôn 8 ly kg 2000 2000 6000 12.000.000
      Cộng         14.250.000

    Cộng thành tiền (Viết bằng chữ): mười bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn.

    Xuất kho ngày 15 tháng 12 năm 2002

    Phụ trách bộ phận sử dụng     Phụ trách cung tiêu       Người nhận            Thủ kho

    Sau khi  xuất kho vật liệu, công cụ dụng cụ phiếu xuất kho được chuyển cho kế toán giữ và ghi vào sổ nhật kí chung. Căn cứ vào số thực xuất ghi trong phiếu kho và giá bán đơn vị của vật liệu, công cụ dụng cụ xuất dùng. Căn cứ vào dòng cộng thành tiền trên phiếu xuất kho để ghi sổ nhật ký chung theo chứng từ số 138 ngày 15/12/2002, mời xem nhật ký chung vào ở sổ cái TK 152, TK 153

    Nợ TK 627: 12.050.000 đ

    Có TK 152: 12.050.000 đ

    Cùng với việc ghi sổ nhật ký chung, kế toán ghi sổ chi tiết TK 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” cơ quan công ty.

    – Theo chứng từ xuất kho số 219 ngày 16/12/2002 xuất vật liệu phục vụ thi công công nhà làm việc- Bộ tài chính Hà Nội. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung và sổ cái TK152 kế toán ghi:

    Nợ TK 621: 44.000.000 đ

    Có TK 152: 44.000.000 đ

    – Theo chứng từ xuất kho số 220 ngày 16/12/2002- xuất xăng, dầu phục vụ cho công tác công trình ở xa trụ sở. Nghiệp vụ được thể hiện trên nhật ký chung ở sổ cái TK 152.

    Nợ TK 621: 5.000.000 đ

    Có TK152: 5.000.000 đ

    – Ngày 17/12/2002 theo chứng từ số 168, xuất Máy đầm cóc, khoan bê tông phục vụ thi công công trình . Thể hiện trên nhật ký chung theo định khoản và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 142: 32.000.000 đ

    Có TK 153: 32.000.000 đ

    Phân bổ 50% giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo chứng từ 221 ngày 18/12/2002 trên nhật ký chung.

    Nợ TK 627(3): 16.000.000 đ

    Có TK 142: 16.000.000 đ

    Giá trị 50% còn lại khi nào báo hỏng mới phân bổ hết.

    – Đối với phiếu xuất kho số 136 ngày 06/12/2002- xuất số công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ, tính một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh, xem nhật kí chung và sổ cái TK 153.

    Nợ TK 627: 4.700.000 đ

    Có TK 153: 4.700.000 đ

    1. Trường hợp công ty cho phép các đơn vị mua vật tư bằng tiền tạm ứng để sử dụng tại các đơn vị trực thuộc

    Để phục vụ thi công kịp thời việc thi công các công trình ở xa trụ sở công ty. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long cho phép các đơn vị có nhu cầu tự đi mua vật tư bằng tiền tạm ứng. Có thể các đơn vị thi công ở địa điểm nào thì nhân viên tiếp liệu của từng đơn vị vay tiền tạm ứng đi mua vật tư phục vụ sản xuất. Khi số vật liệu, công cụ dụng cụ mua về nhập kho dựa trên yêu cầu của từng đơn vị do đó số vật liệu, công cụ dụng cụ này được xuất dùng hết trong tháng. Nhân viên kinh tế ở đơn vị trực thuộc lập tờ kê chi tiết về số vật liệu đã mua về và sử dụng theo từng lần nhập.

    – Theo chứng từ số 116 ngày 27/12/2002 trên nhật ký chung của số vật tư   và sử dụng ở đội công trình số 3, số tiền là 342.730.000 đ được thể hiện qua tờ kê chi tiết sau:

    Mẫu số 23

    Tờ kê chi tiết

    Tháng 12/2002

    Đội công trình số 3

    STT Chứng từ Diễn giải Số tiền

     

    ( đồng)

    Ghi chú
    SH Ngày
    1 08 3/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 58.200.000  
    2 09 5/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 46.500.000  
    3 10 6/12 Đồng chí Loan nhập vật tư 96.000.000  
    4 11 20/12 Đồng chí Thoa nhập vật tư 55.200.000  
    5 12 25/12 Đồng chí Mạnh nhập vật tư 86.830.000  
          Tổng cộng 342.730.000  

    Ngày 27/12/2002

    Kế toán trưởng                                                  Kế toán ghi sổ ký

    Kèm theo tờ kê chi tiết bao gồm các chứng từ:

    – Các phiếu nhập kho số 08, 09, 10, 11, 12 và các hoá đơn hàng kèm theo tổng số tiền ghi trên các phiếu nhập kho là 342.730.000 đ

    Trong tháng tiến hành xuất kho số 21, 22 và các vật tư kèm theo. Tổng số tiền ghi trên các phiếu kho là 342.730.000đ. Căn cứ vào tờ kê chi tiết do các đội công trình số 3 lập và gửi lên phòng kế toán. Phòng kế toán ghi vào nhật ký chung:

    Nợ TK 621: 342.730.000 đ

    Có TK 141:342.730.000 đ

    – Các công trình ở xa, do bộ phận kế toán còn ít nên việc thực hiện chứng từ nhập, xuất còn khó khăn. Thường các công trình ở xa Hà Nội công ty cho phép các đội tạm ứng tiền để mua vật tư theo định mức của phòng kĩ thuật vật tư. Đến cuối tháng các đội mới hoàn tạm ứng để nhập, xuất vật tư. Lúc đó kế toán đã căn cứ vào phiếu nhập kho, phiếu xuất kho của từng công trình để định khoản.

    Nợ TK 621

    Có TK 141

    1. Trường hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ luân chuyển như xuất dùng làm nhà kho nhà tạm

    Đối với công trình phụ phục vụ cho công trình có giá trị lớn, trị giá nguyên vật liệu, xuất dùng được phân bổ hết một lần vào phí nguyên vật liệu còn công cụ dụng cụ xuất dùng được phân bổ hết vào chi phí sản xuất chung.

    Mẫu số 24

    Yêu cầu vật tư

    Ngày 10/12/2002

    Dùng cho công trình: Công trình cầu nổi Bắc Ninh

    STT Tên vật tư Đội nhận Dùng vào việc ĐVT Số lượng
    Yêu cầu T/xuất
      Cọc tre   Dựng nhà tạm cây 45 45
    2 Cót ép   Lợp nhà tạm tấm 23 23
    3 Ổ cắm sứ   Làm nhà tạm cái 5 5
    4 Đèn sợi tóc   Làm nhà tạm chiếc 5 5
    5 Bảng điện   Làm nhà tạm chiếc 3 3
    6 Đui cài   Làm nhà tạm cái 5 5
    7 Dây điện   Làm nhà tạm m 45 45
    8 Bản lề   Làm nhà tạm chiếc 6 6
    9 Khoá cửa   Làm nhà tạm chiếc 2 2

    Người lập                                Kế toán trưởng

    Cùng với yêu cầu vật tư phục vụ thi công công trình chính, phòng kinh kế kế hoạch tiếp thị vật tư viết phiếu xuất kho số 170 ngày 10/12/2002 căn cứ vào chứng từ kế toán phản ánh trên nhật kí chung và ở sổ cái TK  152

    Nợ TK 621: 3.500.000  đ

    Có TK 152: 3.500.000 đ

    Nợ TK 627 : 1.500.000  đ

    Có TK 153 : 1.500.000 đ

    Cuối tháng kế toán tổng hợp tất cả các phiếu xuất kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cho từng công trình và lập bảng tổng hợp xuất vật tư. Bảng tổng hợp xuất vật tư được lập cho từng loại vật liệu, công cụ dụng cụ và có chi tiết cho từng công trình.

    Mẫu số 25

    Đơn vị: Công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long

    Trích bảng tổng hợp xuất vật tư – công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                                  Đơn vị : đồng

    Tên vật tư Tên công trình ĐVT Thành tiền
    TK 15 2        1.545.586.000
    – Sắt thép Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg         44.000.000
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính Hà Nội kg          33.900.000
    ………………….    
    – XMHT Công trình Nhà Bộ Tài Chính kg           16.800.000
    – Thép F10 Công trình Nhà Công An Hà Nội kg            17.920.000
    …………………..  
    TK 153                25.895.000
    Xẻng Công trình Nhà Nhà Bộ Tài Chính                  240.000
      ……………..  
           

    Người lập                                            Kế toán trưởng

    Để xác định giá trị vật liệu, công cụ dụng cụ xuất kho kế toán lập bảng phân bổ vật liệu công cụ dụng cụ nhằm theo dõi số lượng vật liệu xuất dùng cho từng công trình. Cuối tháng, căn cứ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ kế toán lập bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ tháng 12 ở công ty như sau:

    Mẫu số 26

    Đơn vị: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long

    Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ

    Tháng 12/2002                               Đơn vị : đồng

    STT Đối tượng sử dụng

     

    (Ghi nợ các TK)

    152    (Ghi có tk) 153    (Ghi có tk)
    H. toán Thực tế H. toán Thực tế
    1 TK621   3.645.482.000    
      – Công trình Nhà Bộ tài chính     342.000.000    
      – Công trình Nhà công an HN    183.000.000    
      -Công trình Cầu Nổi Bắc Ninh      320.000.000    
      -Xưởng bê tông1    604.560.000    
      -Xưởng bê tông 2     356.450.000    
      -Cầu Khe lếch lào cai   758.000.000    
      -…………….   ……………    
    2 TK 623      25.346.000    
      – Phụ tùng sửa chữa(Ô Tạo)        5.320.000    
      -Phụ tùng (Ô Sơn)         1.380.000    
      – ………….   ……………    
    3 TK 627   18.362.000      8.560.000
      – Nhà Bộ Tài Chính           4.700.000
      -……………   …………..   ………
    4 TK 642   15.420.000    
      – Xăng xe con   15.420.000    
    5 TK 142       42.520.000
      -Đầm cóc, máy khoan       32.000.000
      – Gỗu, phễu đổ bê tông         1.250.000
      ……………………   ………….   ………….
      Cộng   3.704.610.000   51.080.000

    Sau khi vào bảng phân bổ, kế toán tiến hành định khoản như sau:

    * Nợ TK621:  3.645.482.000

    Có TK152: 3.645.482.000

    * Nợ TK623  : 25.346.000

    Có TK152: 25.346.000

    * Nợ TK627: 18.362.000

    Có TK152: 18.362.000

    * Nợ TK627: 8.560.000

    Có TK153: 8.560.000

    * Nợ TK642: 15.420.000

    Có TK153: 15.420.000

    * Nợ TK142: 42.520.000

    Có TK 153: 42.520.000

    Từ bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ, tháng 12/2002 của công ty có thể phản ánh lên Nhật kí chung và sổ cái theo từng công trình, cho công việc kế toán được gọn nhẹ. Nhưng ở công ty cổ phần  xây dựng số 4 Thăng long đã áp dụng công tác kế toán trên máy vi tính nên phòng kế toán đã căn cứ từ các chứng từ theo thứ tự thời gian để vào sổ nhật ký chung và sổ cái. Nếu có yêu cầu kiểm tra số vật liệu xuất dùng cho từng công trình thì kế toán kiểm tra trên bảng tổng hợp xuất vật tư và Bảng phân bổ vật liệu, công cụ dụng cụ và đối chiếu vào sổ cái TK 152, TK 153 và các sổ chi tiết liên quan.

    Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ gốc để kế toán ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào nhật kí chung, sau đó ghi vào sổ cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Sau đây em trích sổ nhật ký chung tháng 12/2002 ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Sau khi vào sổ nhật ký chung, kế toán ghi vào các sổ cái liên quan.

    Mẫu số 27

    Đơn vị: Công ty cổ phần                      (Trích)

    xây dựng số 4 thăng long                NHẬT KÝ CHUNG

    Tháng 12 năm 2002

    Đơn vị: đồng

    Ntgs Chứng từ Diễn giải TK kế toán Số PS GC
    Ngày Số Nợ Nợ
    2/12 02/12 538 Đ/c Hùng mua vật liệu

     

    Thuế VAT là 10%

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 105.235.000

     

    10.523.500

    115.758.500  
    3/12 03/12 166 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Phải trả người bán

    152

     

    133

    331 25.500.000

     

    2.550.000

    28.050.000  
    3/12 03/12 361 Nhập xăng dầu

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 5.000.000

     

    500.000

    5.500.000  
    4/12 04/12 167 Đ/c Hùng nhập vl

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    152

     

    133

    111 16.800.000

     

    1.680.000

    18.480.000  
    5/12 04/12 168 Đ/c Sơn nhập ccdc

     

    Thuế VAT là 10 %

    Thanh toán bằng tm

    153

     

    133

    111 32.000.000

     

    3.200.000

    35.200.000  
          ……………. ….   ……….    
    6/12 06/12 136 Xuất ccdc cho ct

     

    Giá trị xuất dùng

    627 153 4.700.000 4.700.000  
    6/12 06/12 137 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 33.900.000 33.900.000  
      ………   ……………..     ……………………    
    16/12 16/12 219 Xuất VL cho CT

     

    Giá trị xuất dùng

    621 152 44.000.000 44.000.000  
    17/12 17/12 NHB Ngân hàng báo trả tiền mua VL số 538 331 112 115.758.500 115.758.500  
      …..   ………………..     ………… ……..  
                     

    Ngày 30 tháng 12 năm 2002

    Người giữ sổ                                                                        Kế toán trưởng

    (Ký họ tên)                                                                            (Ký họ tên)

    Mẫu 28

    Đơn vị: Công ty cổ phần XD

    số 4 Thăng long                    Sổ cái tháng 12/2002

    TK 152. Nguyên liệu, vật liệu

    Đơn vị: đồng

    Ng/Ctừ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Dư đầu kỳ       78.740.500
    02/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 105.235..000   183.975.500
    03/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331  25.500.000   209.475.500
    03/12 Nhập xăng dầu tháng 12/2002 111  5.000.000   214.475.500
    04/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 331  16.200.000   230.675.500
    06/12 Xuất VTTC Nhà Bộ tài chính 621   33.900.000 196.775.500
    13/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   44.000.000 152.775.500
    14/12 Đồng chí Sơn nhập vật tư 311 52.000.000   204.775.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 62.800.000   267.575.500
    16/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 331 24.500.000   292.075.500
    17/12 Xuất VT Nhà Bộ Tài Chính 621   16.800.000 275.275.500
    17/12 Xuất VTTC Nhà Bộ Tài Chính 621   15.040.000 260.235.500
    17/12 Nhập vật tư vào kho công ty 331 322.000.000   582.235.500
    18/12 Xuất VTTCĐường Nội Bài -BN 621   128.400.000 453.835.500
    18/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 112 18.800.000   472.635.500
    20/12 Đồng chí Hùng nhập kho Cty 141 32.500.000   505.135.500
    22/12 Xuất VT TC CT Đường đê sông hồng 621   46.600.000 458.535.500
    22/12 Xuất xăng đầu tháng 12/2002 621   5.000.000 453.535.500
    22/12 Đồng chí Hùng nhập vật tư 141 28.800.000   482.335.500
    23/12 Xuất vật tư thi công CT Đường đê sông hồng HN 621   52.050.000 430.285.500
    23/12 Nhập vật tư vào kho công ty 141 32.495.000   462.780.500
    24/12 Xuất VT CT Nhà Bộ Tài Chính 621   32.495.000 430.285.500
    24/12 Xuất vật tư làm nhà tạm 621   3.500.000 426.785.500
    25/12 Xuất VT CT Nhà công an HN 621   11.440.000 415.345.500
    ……………. …………….. ……….
      Cộng phát sinh   3.356.917.540 3.243.586.500  
      Số dư cuối kỳ       113.331.040

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                                    Kế toán trưởng

    Tương tự như đối với vật liệu, sau khi vào sổ nhật kí chung, kế toán ghi vào sổ cái tài khoản 153 công cụ dụng cụ.

    Mẫu số 29

    Đơn vị: Công ty cổ phần

    xây dựng số 4 Thăng long

    Sổ Cái tháng 12/2002

    TK 153- Công cụ dụng cụ

    Ng/C.từ Diễn giải TKĐƯ Số tiền nợ Số tiền có Số dư
      Số dư đầu kỳ       5.140.000
    04/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 32.000.000   37.140.000
    05/12 Đồng chí Sơn nhập ccdc 111 3.010.000   40.150.000
    06/12 Xuất ccdc Nhà HN 627   4.700.000 35.450.000
    …….. …………        
    17/12 Phân bổ ccdc 142   32.000.000  
      Cộng phát sinh   52.895.000 45.750.000  
      Số dư cuối kỳ       7.145.000

    Ngày 30/12/2002

    Người lập                                                            Kế toán trưởng

     

    PHẦN THỨ BA

    NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NVL, CCDC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN  KẾ TOÁN NVL , CCDC Ở CÔNG TY

     

    3.1 NHẬN XÉT VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ  TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4  THĂNG LONG

    Trong suốt quá trình từ khi thành lập công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long luôn có hướng phát triển tốt, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn phức tạp về nhiều mặt nhất là từ khi có cơ chế kinh tế thị trường. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long có những bước tiến rõ rệt về nhiều mặt:

    – Sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên ngày một khá.

    – Làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.

    – Không ngừng tăng cường đầu tư vốn vào việc xây dựng cơ sở vật chất và tích cực mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất ngày một hoàn chỉnh hơn (ví dụ như các loại máy thi công, máy móc văn phòng…).

    – Hoàn chỉnh từng bước việc tổ chức sắp xếp lực lượng sản xuất với những mô hình thực sự có hiệu quả theo từng giai đoạn.

    – Đào tạo và lựa chọn đội ngũ cán bộ, công nhân có đủ năng lực và trình độ để đáp ứng mọi yêu cầu sản xuất kinh doanh trong tình hình hiện tại.

    Để công ty đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi nhà quản lý phải quán triệt chất lượng toàn bộ công tác quản lý. Hạch toán kinh tế là bộ phận cấu thành của công cụ quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của  các doanh nghiệp đồng thời cũng là công cụ đắc lực phục vụ cho nhà nước trong quản lý lãnh đạo, chỉ đạo kinh doanh. Từ đó thực hiện đầy đủ chức năng, phản ánh và giám sát mọi hoạt động kinh tế, chính trị – Kế toán phải thực hiện những quy định cụ thể, thống nhất phù hợp với tính toán khách quan và nội dung yêu cầu của một cơ chế quản lý nhất định. Việc nghiên cứu cải tiến vào hoàn thiện công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ ở các doanh nghiệp là một vấn đề hết sức bức thiết đối với công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập thì điều này càng trở nên bức thiết hơn và cần thực hiện đúng các nguyên tắc sau:

    – Thứ nhất: Kế toán vật liệu phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ do bộ phận chuyên ngành. Trong hạch toán sản xuất kinh doanh, kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ phải đảm bảo cùng một lúc hai chức năng là phản ánh và giám sát qúa trình nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ nhưng phải nhanh chóng kịp thời, cung cấp các thông tin chính xác phục vụ cho quản lý.

    – Thứ hai: Xuất phát từ đặc trưng cụ thể của doanh nghiệp để tổ chức hạch toán vật liệu một cách hữu hiệu khách quan và tiết kiệm, kế toán phải ghi chép hạch toán đúng theo quy định và vận dụng đúng nguyên lý vào đơn vị mình.

    – Thứ ba: Kế toán phải căn cứ vào mô hình chung trong hạch toán, những qui định về ghi chép luân chuyển chứng từ của doanh nghiệp để hoàn thiện các sơ đồ hạch toán, ghi chép kế toán.

    – Thứ tư: Bảo đảm nguyên tắc phục vụ yêu cầu của hạch toán vật liệu theo thể chế và luật lệ mới về kế toán mà nhà nước ban hành.

    3.1.1. Ưu điểm:

    Cùng với sự quan tâm và giúp đỡ thường xuyên của Tổng công ty xây dựng – Thăng Long, trong năm 2002 công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã phát huy được truyền thống bảo đảm chất lượng tiến độ thi công và giá thành, nên uy tín trong thị trường xây dựng và khách hàng ngày càng phát triển mạnh.

    Mỗi năm một lớn mạnh nâng cao giá trị thực hiện toàn công ty hiện nay lên tới 130.820.632.000 VNĐ. Sang năm 2003 công ty luôn phấn đấu đạt mức 150.845.430.000 VNĐ.

    Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả giúp lãnh đạo công ty trong việc giám sát thi công, quản lý kinh tế, công tác tổ chức sản xuất, tổ chức hạch toán được tiến hành hợp lý, khoa học, phù hợp với điều kiện hiện nay. Phòng kế toán của công ty được bố trí hợp lý, phân công công việc cụ thể, rõ ràng công ty đã có đội ngũ nhân viên kế toán trẻ, có trình độ năng lực, nhiệt tình và trung thực… đã góp phần đắc lực vào công tác hạch toán và quản lý kinh tế của công ty. Phòng kế toán công ty đã sớm áp dụng thử nghiệm chế độ kế toán mới vào công tác kế toán của công ty, công ty đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung. Đây là hình thức kế toán mới có ưu điểm là hệ thống sổ sách tương đối gọn nhẹ, việc ghi chép đơn giản. Bộ máy kế toán đã biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo có hiệu quả chế độ kế toán trên máy vi tính theo hình thức nhật ký chung nhằm nâng cao trình độ cơ giới hoá công tác kế toán, phát huy hơn nữa vai trò của kế toán trong tình hình hiện nay. Về cơ bản hệ thống sổ sách kế toán của công ty được lập đẩy đủ theo qui định với ưu điểm là sổ sách được lập đầy đủ và in vào cuối tháng, nếu trong tháng phát hiện ra sai sót thì vẫn có thể sửa chữa dễ dàng. Ngoài ra việc các sổ sách kế toán đều được ghi thường xuyên thuận tiện cho việc đối chiếu, kiểm tra giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp.

    – Về công tác hạch toán vật liệu, công cụ dụng cụ, kế toán công ty đã tổ chức hạch toán vật liệu theo từng công trình, hạng mục công trình, trong từng tháng, từng quí rõ ràng. Một năm công ty hạch toán vào 4 quí, một quý 3 tháng được hạch toán một cách đơn giản, phục vụ tốt yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ.

    – Về tổ chức kho bảo quản:

    Nhằm đảm bảo không bị hao hụt, công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long hiện có 2 kho bảo quản vật liệu vì theo mỗi công trình là một kho. Như vậy đã giúp cho kế toán thuận tiện hơn trong quá trình hạch toán giúp cho việc kiểm tra quá  trình thu mua, dự trữ và bảo quản, sử dụng dễ dàng hơn.

    – Về hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung:

    Sẽ tạo điều kiện để kiểm tra chỉ đạo nghiệp vụ và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo doanh nghiệp đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như công tác kế toán của doanh nghiệp. Ngoài ra, hình thức này còn thuận tiện trong việc phân công và chuyên môn hoá công việc đối với cán bộ kế toán cũng như việc trang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin.

    – Việc đánh giá thực tế vật liệu nhập, xuất kho có tác dụng:

    Thông qua giá thực tế của vật liệu biết được chi phí thực tế NVL trong sản xuất, phản ánh đầy đủ chi phí vật liệu, CCDC trong giá thành của sản phẩm, xác định đúng đắn chi phí đầu vào, biết được tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu, CCDC. Thông qua đó biết được hao phí lao động quá khứ trong giá thành của sản phẩm.

    3.1.2. Hạn chế:

    Việc tổ chức công tác kế toán nói chung và kế toán vật liệu nói riêng tại công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long còn có một số hạn chế cần được khắc phục:

    – Việc tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ là rất cần thiết, nhưng do yêu cầu thị trường hiện nay, mỗi công trình được công ty xây dựng là phải đảm bảo chất lượng, tiến độ thi công nhanh, hạ giá thành, từng công trình hoàn thành bàn giao có giá trị lớn, nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lúc đó một kế toán và một thủ kho kiêm thủ quỹ là số ít. Có thể trong cùng thời gian một đội, xí nghiệp thi công từ 1 đến 2 công trình, địa bàn nằm ở khác nhau. Do vậy việc bố trí gọn nhẹ này làm cho công tác kế toán vật liệu, CCDC ở các đội, xí nghiệp thi công nhiều công trình là thiếu chính xác, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý sản xuất nói chung và hạch toán chi phí vật liệu, CCDC nói riêng, vấn đề này phòng kế toán công ty và giám đốc cần sớm quan tâm giải quyết sao cho hài hoà đảm bảo đúng quy định về tổ chức công tác kế toán.

    – Việc phân loại  NVL, CCDC ở công ty không tiến hành. Hiện nay, công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng vật liệu, CCDC hạch toán được  ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau và công ty chưa lập sổ danh điểm vật liệu, CCDC.

    -Việc tổ chức kho ở tại các công trình chưa khoa học, chưa kiên cố do vậy việc đảm bảo vật tư không tốt , vật tư còn sắp xếp lẫn lộn sẽ gây khó khăn cho việc xuất – nhập vật tư tốn nhiều thời gian .

    – Mặc dù có nhiều ưu điểm song hệ thống của công ty hiện nay vẫn còn có điểm cần xem xét. Về mẫu sổ chi tiết thanh toán với người bán, sổ cái công ty đang sử dụng để hạch toán hiện nay cũng có một số sửa đổi so với qui định của bộ tài chính. .

    3.2. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM GÓP PHẦN HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 4 THĂNG LONG:

    Qua thời gian thực tập ở công ty, trên cơ sở lý luận đã được học kết hợp vơí thực tế, em xin đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện và sửa đổi công tác kế toán vật liêụ ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long.

    Ý kiến thứ nhất: Việc quản lý vật tư hiện nay ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long là tương đối chặt chẽ và đảm bảo nguyên tắc nhập xuất vật liệu, tuy nhiên qua thực tế ở các đội, ta nhận thấy quản lý còn một vài thiếu sót, gây lãng phí vật tư nhất là các loại vật tư mua được chuyển thẳng tới chân công trình như: cát, sỏi, vôi đá… để thuận tiện cho việc xuất dùng sử dụng. Chỗ để vật liệu thường xuyên chuyển đổi, việc giao nhận các loại vật tư này thường không được cân đong đo đếm kỹ lưỡng, nên dẫn đến thất thoát một lượng vật tư tương đối lớn. Vì vậy ở công trường cần chuẩn bị đủ nhà kho để chứa vật liệu, chuẩn bị chỗ để vật tư dễ bảo vệ thuận tiện cho quá trình thi công, xây dựng công trình và việc đong đếm cũng phải tiến hành chặt chẽ hơn làm giảm bớt việc thất thoát một cách vô ý không ai chịu trách nhiệm. Trong công tác thu mua vật liệu, các đội ký hợp đồng mua tại chân công trình, đây cũng là một mặt tốt giảm bớt lượng công việc của cán bộ làm công tác tiếp liệu, tuy nhiên về giá cả có thể không thống nhất, cần phải được tham khảo kỹ, cố gắng khai thác các nguồn cung cấp có giá hợp lý, chất lượng, khối lượng đảm bảo và chọn các nhà cung cấp có khả năng dồi dào, cung  cấp vật tư, vật liệu cho đội, xí nghiệp với thời hạn thanh toán sau. Đảm bảo cho việc thi công xây dựng công trình không bị gián đoạn do thiếu vật tư. Đồng thời với các công tác trên, phòng kế toán công ty tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra giám sát tới từng công trình về việc dự toán thi công, lập kế hoạch mua sắm, dự trữ nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, kiểm tra sổ sách, kiểm tra các báo cáo kế toán NVL, CCDC tránh trường hợp vật tư nhập kho lại không đủ chứng từ gốc.

    – Ý Kiến thứ hai:

    Qua theo dõi chứng từ ban đầu ở các đội việc sử lý để chuyển nên phòng kế toán trung tâm còn chậm do đó phải có biện pháp quy định về mặt thời gian luân chuyển chứng từ ban đầu để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời .Phòng kế toán nên quy thời gian từ 10 đến 15 ngày tuỳ theo điều kiện mà nhân viên kinh tế đội phải chuyển chứng từ ban đầu cho phòng kế toán.

    – Trong trường hợp : Xuất quỹ tiền mặt tạm ứng cho các đội để mua nguyên vật liệu thì kế toán cần phải thực hiện ghi chép kịp thời

    Nợ TK 141

    Có TK 111, 112

    Vì nếu trường hợp sang tháng vật tư mới về thì số tiền đã tạm ứng không được theo dõi trên TK nào . Trong báo cáo kế toán sẽ giảm đi một lượng tiền mà không rõ nguyên nhân do vậy phải ghi chép ngay.

    – Ý kiến thứ ba.

    Hiện công ty áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính nên số lượng VL, CCDC được ký hiệu bởi từng mã vật tư khác nhau.

    Do vậy kiến nghị công ty nên lập sổ danh điểm VL theo mẫu sau.

    Mẫu Số :30

    SỔ DANH ĐIỂM VẬT LIỆU

    Loaị : Nguyên vật liệu chính : 152.1        Đơn vị : đồng

    TT Danh điểm Tên vật tư Đơn vị tính Đơn giá Ghi chú
    Nhóm Danh điểm
    1 152.1.01 152.1.01.1

     

    152.1.01.2

    ……………

    NVL ở kho A

     

    Thép F10

    Thép F12

    ……………..

    kg

     

    kg

    5.020

     

    5.120

     
    2 152.1.02 152.1.02.1 NVL ở kho B

     

    Xi măng

    Lô 300

    Lô 400

    kg 740

     

    760

     
      ………… ………… ……………   ……….  

     

    – Ý kiến thứ tư:

    – Về “sổ chi tiết thanh toán với người bán” mà công ty đã phản ánh chưa được rõ ràng và chuẩn xác. Mẫu số 18 (trang 69) sẽ đổi thành Mẫu số 31.

    Mẫu số 30

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12 năm 2002

    TK 331 “ Phải trả người bán

    Đối tượng : Công ty thép thái nguyên – chi nhánh Hà Nội            Đơn vị : đồng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    Sh NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         25.520.000
    538 02/12 Mua vl cho Công ty

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      105.235.000

     

    10.523.500

      141.278.500
    203 10/12 Nhập lưới thép

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

       12.800.000

     

    640.000

      154.718.500
    206 16/12 Nhập thép F10, 16, 18

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

       52.000.000

     

    5.200.000

      211.918.500
    NHB 17/12 Thanh toán VL mua số

     

    538 ngày 02/12

    112 115.758.500     96.160.000
    210 18/12 Nhập ống thép F 90

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

        44.500.000

     

    4.450.000

      145.110.000
    300 18/12 Thanh toán tiền VL 111 13.440.000     131.670.000
    301 18/12 Thanh toán tiền VT 112 25.000.000     106.670.000
      ….. …………..   …… ……..   ………..
        Cộng   805.500.000 835.258.560    
                  55.278.560

     

    Mẫu số 19 (trang 70) thay bằng Mẫu số 32

    SỔ CHI TIẾT THANH TOÁN VỚI NGƯỜI BÁN

    Tháng 12/2002

    Tài khoản: 331 “Phải trả cho người bán

    Đối tượng: Chị Minh- Công ty Vật Tư số 27 Cầu Giấy- Hà Nội

    Loại vật tư: Xi măng

    Chứng từ Diễn giải TK đư Số PS Số dư
    SH NT Nợ Nợ
        Số dư đầu kỳ         26.775.000
    140 03/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      25.500.000

     

    2.550.000

      54.825.000
    623 12/12 Đ/c Hùng nhập VT

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      67.509.000

     

    6.750.900

      129.084.900
    452 14/12 Nhập Vật tư

     

    Thuế VAT là 10%

    152

     

    133

      48.800.000

     

    4.880.000

      182.764.900
    204 16/12 Nhập vật tư

     

    Thuế VAT là 5%

    152

     

    133

      24.500.000

     

    1.225.000

      208.489.900
    452 17/12 Thanh toán tiền VL 311 74.259.900     134.230.000
        ………….   …… …….   ……
        Cộng   448.350.000 476.295.900    
        Tồn cuối kỳ         54.720.900

    -Ý kiến thứ năm:

    Đối với công cụ dụng cụ: Máy đầm, máy khoan v.v… do thời gian sử dụng lâu và giá trị lớn do vậy công ty cần phân bổ vào TK 242.

    TK153                                       TK 242                                    TK627

     

    KẾT LUẬN

    Để kế toán phát huy được vai trò của mình trong quản lý kinh tế thông qua việc phản ánh và giám sát một cách chặt chẽ, toàn diện tài sản và nguồn vốn của công ty ở mọi khâu trong quá trình sản xuất nhằm cung cấp các thông tin chính xác và hợp lý phục vụ cho việc lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc hoàn thiện công tác kế toán vật liệu, CCDC của công ty là một tất yếu. Nhất là trong việc chuyển đổi môi trường kinh tế, việc tổ chức kế toán vật liệu đòi hỏi còn phải nhanh chóng kiện toàn để cung cấp kịp thời đồng bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các định mức dự trữ ngăn ngừa hiện tượng hao hụt, mất mát  lãng phí vật liệu.

    Trên góc độ người cán bộ kế toán em cho rằng cần phải nhận thức đầy đủ  cả về lý luận lẫn thực tiễn. Mặc dù có thể vận dụng lý luận vào thực tiễn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp về nội dung và mục đích của công tác kế toán.

    Do thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế không dài, trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Viện Đại Học Mở Hà Nội.

    Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đào Bá Thụ và các cán bộ kế toán công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng long đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

    Hà Nội, tháng 7 năm 2003

                                                                                         Sinh viên

                                                                                    Bùi Công Kha

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo Trình Kế Toán Tài Chính .
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán Hà Nội, Xuất Bản 1999.
    1. Giáo Trình Kế Toán Quản Trị.
    • Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Xuất Bản 2000.
    1. Giáo Trình Phân Tích Hoạt Động Kinh Doanh
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội,Nhà Xuất Bản Thống Kê: 6-2000
    1. Hệ Thống Tài Khoản Kế Toán Doanh Nghiệp
    • Nhà Xuất Bản Tài Chính Hà Nội Năm 2000.

     5.Tạp Chí Kế Toán Các Số Năm 2003.

    1. Một Số Chuyên Đề Tốt Nghiệp Khoá Trước Của:
    • Trường Viện Đại Học Mở Hà Nội.
    • Trường Đại Học Tài Chính Kế Toán.
    1. Báo cáo hoạt động của công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long tháng 12 năm 2002
    2. Thông tư hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định 149/QĐ- BTC. Về việc thực hiện các chuẩn mực kế toán mới .

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-v%C3%A0-x%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%8Bnh-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-Ng%E1%BB%8Dc-Anh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh

    Lời mở đầu

    Trong cơ chế mới, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế tính độc lập, tự chủ trong các doanh nghiệp ngày càng cao hơn mỗi doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong kinh  doanh, phải chịu trách nhiệm trước kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng hơn là kinh doanh có lãi. Muốn như vậy các doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của kinh doanh nghiệp và là cơ sở để doanh nghiệp có thu nhập bù đắp chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà Nước.

    Bên cạnh đó, múc đích hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận nên việc xác định đứng đắn KQKD nói chung về kết quả bán hàng nói riêng là rất quan trọng. Do vậy bên cạnh các biện pháp quản lý chung, việc tổ chức hợp lý công tác kế toán bán háng là rất cần thiết giúp doanh nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định kinh doanh đứng đắn.

    Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao là cơ sở doanh nghiệp có thể tồn tại và  phát triển ngày càng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động và quyết liệt.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng vận dụng lý luận đã được học tập tại trường kết hợp với thực tế thu nhận được từ công tác kế toán tại công ty cổ phần Ngọc Anh, ”em đã chọn đề tài” Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng” để nghiên cứu và viết chuyên đề của mình.

    Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

    Chương I: Các vấn đề chung về kế toán bán hàng.

    Chương II: Thực tế công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng.

    Chương III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Em xin chân thành cảm ơn:

    Chương I:

    Các vấn đề chung.

    1.1. Khái niệm về thành phẩm, bán hàng và ý nghĩa của công tác bán hàng.

    1.1.1. Khái niệm thành phẩm.

    Trong DNSXCN: Thành phẩm những sản phẩm đã kết thúc toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất do doanh nghiệp tiến hành hoặc thuêu ngoài gia công tác chế biến và đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định và đã nhập cho kho thành phẩm.

    * Phân biệt giữa thành phẩm và sản phẩm .

    – Xét về mặt giới hạn.

    + Thành phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất và gắn với một quy trình công nghệ sản xuất nhất định trong phạm vi một doanh nghiệp .

    + Sản phẩm là kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất cung cấp dịch vụ.

    – Xét về mặt phạm vi.

    + Thành phẩm duy nhất chỉ là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng của quy trình công nghệ sản xuất .

    + Sản phẩm: Bao gồm thành phẩm và nửa thành phẩm. Thành phần là bộ phận chủ yếu của hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất .Hàng hoá trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bao gồm: Thành phẩm, nửa thành phẩm, vật tư và dịch vụ cung cấp và khách hàng.

    1.1.2. Khái niệm về bán hàng và bản chất của quá trình bán hàng.

    Bán hàng là quá trinh sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán sản phẩm mua vào.

    Cung cấp dịch vụ và thực hiện công việc đã thoả mãn thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoạc nhiều kỳ như: Cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuêu hoạt động.

    Quá trình bán hàng là quá trình hoạt động kinh tế bao gôm 2 mặt:

    Doanh nghiệp đem bán sản phẩm , hàng hoá cung cấp dịch vụ đồng thời đã thu được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua. Quá trình bán hàng thực chất là quá trình trao đổi quyền sở hữu giữa người bán và người mua trên thị trường hoạt động.

    Thị trường hoạt động là thị trường thoả mãn đông thời 3 điều kiện.

    1. Các sản phẩm được bán trên thị trường có tính tương đồng.
    2. Người mua và người bán có thể tìm thấy nhau bất kỳ lúc nào.
    3. Gía cả được công khai.

    Khi tiến hành giao dịch giữa doanh nghiệp với bên ngoài hoạc bên sử dụng tài sản doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý đó là giá trị tài sản có thể trao đổi hoạc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá trên thị trường hoạt động.

    Hành háo cung cấp nhằm để thoả mãn nhu cầu của các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân bên ngoài Công ty, Tổng công ty hoạc tập đoàn sản xuất gọi là bán cho bên ngoài. Trong trường hợp hàng hoá cung cấp giữa các đơn vị trong cùng một công ty, Tổng công ty, tập đoàn… được gọi là bán hàng nội bộ.

    Công tác bán hàng có ý nghĩa hết sức to lớn. Nó là giai đoạn tái sản xuất . Doanh nghiệp khi thực hiện tốt công tác bán hàng sẽ tạo điều kiện thu hồi vốn, bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước thông qua việc nộp thuế, đầu tư phát triển tiếp, nâng cao đời sống của ngừơi lao động.

    1.2. Các phương pháp xác định giá gốc thành phẩm.

    1.2.1. Nguyên tắc ghi sổ kế toán thành phẩm.

    Gía trị thành phẩm theo nguyên tắc phải được ghi nhận theo giá gốc( trị giá thực tế) trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì giá trị thành phẩm phải phán ánh theo giá trị thuần theo giá trị có thực hiện được.

    Trong thực tế, doanh nghiệp thường sản xuất nhiều mặt hàng và hoạt động nhập xuất thành phẩm trong doanh nghiệp luôn có biến động lớn do nhiều nguyên nhân, để phục vụ cho việc hoạch toán hàng ngày kịp thời, kế toán thành phẩm còn có thể sử dụng giá hoạch toán để ghi chép và phiếu nhập, phiếu xuất và ghi sổ kế toán ghi tiếp thành phẩm.

    1.2.2. Giá gốc thành phẩm nhập kho.

    – Giá gốc thành phẩm nhập kho được xác định theo từng trường hợp nhập.

    + Thành phẩm do các bộ phận sản xuất chính và sản xuất của doanh nghiệp sản xuất ra phải được ghi nhận theo giá thành sản xuất thực tế bao gồm.  Chi phí nguyên liệu, vật liệu, trực tiếp, chi  phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung để sản xuất thành phẩm.

    + Thành phẩm thuê ngoài gia công để chế biến được ghi nhận theo giá thành thực tế gia công chế biến bao gồm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Chi phí thuê gia công. Chi phí vận chuyển bôc giỡ khi giao, nhận công nhân.

    1.2.3. Giá gốc thành phẩm xuất kho:

    Phải tuân thủ nguyên tắc tính theo giá gốc, nhưng do thành phẩm nhập từ các nguồn nhập và là hoạt động trong quá khứ của các kỳ kế toán khác nhau. Do đó có thể xác định giá gốc của thành phẩm xuất kho, kế toán có thể sử dụng một trong những phương pháp tính giá hàng tồn kho sau.

    + Phương pháp tính theo giá đích danh ( giá thực tế của từng lô nhập)

    + Phương pháp bình quân gia quyền ( sau mỗi lần nhập hoặc cuối kỳ)

    + Phương pháp nhập trước” xuất sau ( Fi Fo )

    + Phương pháp nhập sau, xuất trước( Li Fo)

    1.3. Khái niệm doanh thu bán hàng, các khoản dảm ngoài trừ doanh thu bán hàng, nguyên tắc xác định doanh thu bán hàng và kết quả bán hàng.

    1.3.1. Khái niệm doanh thu và điều kiện thu nhận doanh thu.

    – Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thương của doanh nghiệp , góp phần vốn chủ sở hữu.

    Doanh thu trong doanh nghiệp bao gồm: Tổng giá trị cao có lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoạc sẽ thu được như: Doanh thu bán hàng: doanh thu cung cấp dịch vụ: doanh thu hoạt động tài chính, tiền lãi, bản quyền, tổ chức và lợi nhuận được chia.

    + Doanh bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bô số tiền thu được thu được tri các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm , hàng hoá , cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ cả phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có)

    Doanh thu bán hàng được thu ghi nhận khi thoả mãn 5 điều kiện sau:

    1. Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoạc bán hàng cho người mua.
    2. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoạc kiểm soát hàng hoá .
    3. Doanh thu được xác định tương đối chắc chán.
    4. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
    5. Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

    Doanh thu bán hàng bao gồm: Doanh thu bán hàng ra ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ.

    1.2.3. Khái niệm các khoản trừ doanh thu:

    Các khoản trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao gồm:

    – Chiết khấu thương mại:là các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm iết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

    – Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là bán hàng hoàn thành bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.

    – Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho khách hàng do khách hàng hoá kém phẳm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

    – Chiết khấu thanh toán.

    – Các loại thuế có tính vào giá bán: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…

    1.4. Các phương thức bán và các phương thức thanh toán.

    1.4.1. Các phương thức bán hàng.

    1.41.1. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trực tiếp:

    Bán hàng trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho( hoặc trực tiếp tại phân xưởng không qua kho) của doanh nghiệp.Khi giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua, doanh nghiệp đã nhận được tiền hoặc có quyền thu tiền của người mua, giá trị của hàng hoá đã hoàn thành, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã được ghi nhận.

    1.4.1.2. kế toán bán hàng theo phương thức gửu hàng đi cho khách hàng.

    Phương thức gửu hàng đi là phương thức bên bán gửu hàng đi cho khách hàng theo các điều kiện của hợp đồng kinh tế đã ký kết. Số hàng gửu đi vẫn thuộc quyền kiểm soát của bên bán, khi khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì lợi ích và rủi ro được chuyển giao toàn bộ cho người mua, giá trị hàng hoá đã được thực hiện và là thời điểm bên bán được ghi nhận được ghi nhận doanh thu bán hàng.

    1.4.1.3. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng.

    Phương thức bán hàng gửi đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hông là đúng phương thức bên giao đại lý, ký gửi bên ( bên đại lý) để bán hàng cho doanh nghiệp.Bên nhận đại lý, ký gửi người bán hàng theo đúng giá đã quy định và được hưởng thù lao dưới hình thức hoa hồng.

    Theo luật thuế GTGT, nếu bên đại lý bán theo đúng giá quy định của bên giao đại lý thì toàn bộ thuế GTGT đầu ra cho bên giao đại lý phải tính nộp NSNN, bên nhận đại lý không phải nộp thúê GTGT trên phần hoa hồng được hưởng.

    1.41.4. kế toán bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp.

    Bán hàng theo trả chậm, trả góp là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần, người mua thanh tóan lần đầu ngay tại thời điểm mua. Số tiền còn lại, người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu mặt tỷ lệ lãi xuất nhất định. Xét về bản chất, hàng bán trả chậm trả góp vẫn được quyền sở hữu của đơn vị bán, nhưng quyền kiểm soát tái sản và lợi ích kinh tế sẽ thu được của tài sản đã được chuyển giao cho người mua. Vì vậy, doanh nghiệp thu nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm, phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận.

    1.4.1.5.Kế toán bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng.

    Phương thức hàng đổi hàng là phương thức bán hàng doanh nghiệp đem sản phẩm , vật tư, hàng hoá để đổi lấy hàng hoá khác không tương tự giá trao đổi là giá hiện hành của hàng hoá , vật tư tương ứng trên thị trường.

    1.4.2. Phương thức thanh toán:

    1.4.2.1. Thanh toán bằng tiền mặt:

    1.5. Nhiệm vụ của kế toán thành phẩm, bán hàng và xác định kết qủa kinh doanh.

    Để phục vụ quản lý chặt chẽ thành phẩm, thúc đẩy hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác, tiến hành phân phối kết quả kinh doanh đảm bảo các lợi ích kinh tế, kế toán cần hoàn thành các nhiệm vụ sau:

    – Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác, đầy đủ kịp thời và giám sát chặt chẽ về tình hình hiện có sự biến động của loại thành phẩm hàng hoá về các mặt số lượng, quy cách chất lượng và giá trị.

    – Theo dõi, phản ánh, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Ghi nhận đầy đủ kịp thời vào các khoản chi phí thu nhập của từng địa điểm kinh doanh , từng mặt hàng, từng hoạt động.

    – Xác định kết quả từng hoạt động trong doanh nghiệp , phản ánh và kiểm tra, giám sát tình hình quân phối kết quả kinh doanh đôn đốc, kiểm tra tình hình  thực hiện nghĩa vụ với NSNN.

    – Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các đối tượng sử dụng thông tin liên quan. Định kỳ, tiến hành quân tích kinh tế hoạt động bán hàng, kết quả kinh doanh và tình hình phân phối lợi nhuận.

    1.6. Chứng từ kế toán và các phương pháp kế toán thành phẩm.

    1.6.1. Chứng từ kế toán:

    Mọi chứng từ làm biến động thành phẩm đều phải được ghi chép, phản ánh vào chứng từ ban đầu phù hợp vào theo đúng những nội dung và phương pháp ghi chép chứng từ kế toán đã quy định theo chế độ.

    Các chứng từ kế toán chủ yếu gồm:

    – Phiếu nhập kho ( Mẫu số 01- VT )

    – Hoá  đơn GTGT ( Mẫu số 01- GTVT ) Hoá đơn bán hàng.

    1.6.2. Các phương pháp kế toán:

    Kế toán chi tiết thành phẩm được thực hiện tại phòng kế toán phương pháp kế toán chi tiết được áp dụng có thể là một trong ba phương pháp kế toán chi tiết sau:

    1. Phương pháp thẻ song song:

    – Nguyên tắc:

    + ở kho: Thủ kho mở thẻ kho cho từng thứ, từng loại vật liệu để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ về mặt số lượng và tính ra số tồn kho.

    + ở kế tóan: Kế tóan cũng mở một thẻ tương ứng và một sổ chi tiết để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho cả về mặt lượng và giá trị.

    Sơ đồ:

     
       

    – Ưu đỉêm- Nhược điểm:

    + Ưu điểm: Đơn giản, dễ ghi chép, dễ dối chiếu, kiểm tra.

    + Nhược điểm: Còn ghi chéo trùng lập nhau về mặt số lượng.

    – Điều kiện áp dụng: Chỉ áp dụng có những doanh nghiệp có chủng loại vật tư  ít, nhập xuất không thường xuyên, trình độ kế toán không cao.

    1. Phương pháp đối chiếu luân chuyển.

    Kế toán không mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu mà sở đối chiếu luân chuyển để hoạch toán số lượng và số tiền của từng loại vật tư theo từng kho. Sổ này ghi theo mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất phát sinh trong tháng mỗi thứ chỉ ghi một dòng trong sổ.

    Cuối tháng đối chiếu số lượng vật tư trên sổ đối chiếu số luân chuyển với thẻ kho, đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp.

      (2)

    Sơ đồ:

     
       
    1. Phương pháp sơ đồ dư:

    Sơ đồ:

     
       

    Chú thích:

    1.7. Kế toán tổng hợp thành phẩm:

    1.7.1. Tài khỏan kế toán sử dụng: ”TK 155 thành  phẩm”

    TK 155” Thành phẩm” sử dụng để phản ánh giá gốc thành phẩm hiện có và tình hình biến động trong kho của doanh nghiệp .

    Kết cấu và nôi dung phản ánh của TK 155 thành phẩm.

    TK 155- thành phẩm.

           
     
    – Giá trị của thực tế của phát triển xuất

     

    – Trị giá của phát triển phát hiện thừa

    khi kiểm kê.

    Kết chuyển giá trị thực tế thành phẩm tồn kho cuối kỳ( phương pháp KKĐK)

    D ck: Giá trị thực tế thành  phẩm tồn kho

     
    –  Giá trị thực tế thành phẩm

     

    – Trị giá của thành phẩm thiếu hụt

    phát hiên khi kiểm kê kết chuyển kiểm kê kết chuyển giá trị thực tế của thành phẩm kho cuối kỳ ( phương pháp KKĐK)

     
     
       

    1.7.2. Phương pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.

    * Trường hợp kế tóan hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:

    1. Giá thành sản xuất thực tế thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất hoặc thuê ngoài gia công, chế biến nhập kho.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.

    1. Trị giá thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho.

    2.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho bán trực tiếp.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.2. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho để bán theo phương thức chuyển hàng đi cho khách hàng hoặc gửi đi cơ sở nhận bán hàng đại lý,ký gửi.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.3. Trị gián vốn thực tế thành phẩm xuất kho đổi lấy vật tư hàng hoá của đơn vị khác( hàng đổi hàng không tương tự)

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán

    Có TK 155: Thành phẩm.

    2.4. Trị giá vốn thực tế thành  phẩm xuất kho để biếu tặng thanh toán tiền lương, tiền thưởng cho các cán bộ CNV.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán.

    Có TK 155: Thành phẩm.

    3. Trị giá vốn thực tế thành phẩm nhập kho khách hàng trả lại hàng gửi đại lý, ký gửi bán hàng không được.

    Nợ TK 155: Thành.

    Có TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Có TK 632: Giá vốn hàng bán.

    4. Trị giá vốn thực tế thành phẩm xuất kho góp vốn liên doanh.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị vốn góp do hội đồng liên doanh đánh giá lại.

    Nợ Tk 128: Giá trị góp vốn LD ngắn hạn.

    Nợ Tk 222: Giá trị góp vốn LD dài hạn.

    Có TK 155: Giá thành thực tế sản phẩm.

    Có Tk 412: Chênh lệch đánh giá lại TS – chênh lệch đánh giá tăng.

    Trường hợp giá ghi sổ kế toán lớn hơn giá trị góp vốn thì số chênh lệch được phản ánh vào bên Nợ TK 412- CLĐGLTS.

    5. Trường hợp đánh giá lại thành phẩm trong kho.

    5.1: Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm đánh giá tăng.

    Nợ TK 155: Thành phẩm.

    Có TK 157: Chênh lệch đánh giá lại tài sản.

    5.2. Điều chỉnh trị giá vốn thực tế của thành phẩm do đánh giá giảm.

    Nợ TK 412: Chênh lệch đánh giá lại sản phẩm

    Có TK155 : Thành phẩm.

     6. Trị giá vốn thực tế thành phẩm do đánh giá giảm.

    6.1. Trị giá vốn thực tế thành phẩm phát hiện thừa khi kiểm.

    Trường hợp đã xác định được nguyên nhân và xử lý.

    Nợ TK 111,334,1388: Thu bồi thường, tổ thức, cá nhân.

    Nợ TK 632: Giá vốn hàng bán ( số chênh lệch)

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Trường hợp chưa xác định nguyên nhân.

    Nợ TK 1381: Tài sản thiếu chờ xử lý.

    Có TK 155: Thành phẩm( Trị giá vốn thành phẩm thiếu)

    Sơ đồ kế toán tổng hợp thành phẩm theo ĐKKTX

     
       

    1.8. Kế toán tổng hợp quá trình bán hàng theo các phương thức bán.

    1.8.1. Các tài khoản sự dụng.

    1. TK 157: Hàng gửi đi bán.

    Dùng thẻ phản ánh giá trị sản phẩm, hàng hoá đã gửi hoặc chuyển đến cho khách hàng, gửi bán đại lý, ký gửi, trị giá lao vụ, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 157- hàng gửi đi bán.

     
       
    1. TK 632- Giá vốn hàng bán.

    Dùng để phản ánh giá vốn thực tế của hàng hoá , thành phẩm, dịch vụ đã cung cấp, giá thành sản xuất của xây lắp ( đối với doanh nghiệp xây lắp ) đã bán trong kỳ. Ngoài ra còn phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí xây dựng cơ bản dơ dang vượt trên mức bình thường, số trích lập hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 632- GVHB.

    TK này có thẻ có số  dư bên có: Phản ánh sô tiền nhận trước hoặc số tiền dư đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng, khi nhập bảng cân đối kế toán phải lấy số dư chi tiếp của từng đối tượng TK này để ghi của 2 chỉ tiêu bên” Tài sản” và bên nguồn vốn.

     
       

    TK 632- Giá vốn hàng bán không có số dư

    3.TK 511- Doanh thu bán hàng và cung câp dịch vụ một kỳ kế toán từ các giao dịch và các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

    Nội dung và kết cấu phản ánh

     
       

    TK 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp kịch vụ cuối kỳ không có số dư.

    1. TK 512- Doanh thu nội bộ.

    Dùng để phản ánh của số sản phẩm , hàng hoá dịch vụ bán trong nội bộ các doanh nghiệp .

    – Doanh thu bán nội bộ của đơn vị thực hiện trong kỳ hạch tóan.
    Số thuế tiêu thụ đặc biệt xuất GTGT tính theo phương pháp trực tiếp phải nộp của hàng bán nội bộ.

     

    Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, kết chuyển cuối kỳ. Trị giá hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần hoạt động bán hàng vao cung cấp dịch vụ vào TK 911- XĐKQKD.

    TK 512 – Doanh thu nội bộ

    Kết cấu và nội dung phản ánh TK 512- Doanh thu nội bộ.

    TK 152- Doanh thu nội bộ không có số dư.

    1. TK 531- Hàng bán bị trả lại.

    Dùng để phản ánh doanh thu của một số hàng hoá , thành phẩm lao vụ, dịch vụ bán nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Do vi phạm cam kết, vi phạm hợp động kinh tế , hàng bị mất hoặc kém phẩm chất, sai quy tắc, không đúng chủng loại.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 531- Hàng bán bị trả lại.

     
       

    TK 531- Hàng bán bị trả lại có số dư.

    1. TK 532- Giám đốc hàng hóa.’

    Dùng để phản ánh khoản giảm giá hàng bán trực tiếp phát sinh trong kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 532- Giám đốc hàng hóa.

     
       

    TK 532- Giảm giá hàng bán không có dư

    1.8.2. Kế toán bán hàng theo các phương pháp bán hàng chủ yếu.

    1.8.12.2. Kế toán bán hàng theo phương thức gửi hàng đi bán gửi đại lý, ký gửi

    1.8.2.2.2. Kế toán bán hàng giao đại lý

    * Kế toán bán hàng bên nhận đại lý

     
       
     
       

    1.8.2.3. Kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng trả chậm, trả góp.

    1.9. Kế toán xác định kết quả bán hàng:

    1.9.1. Kế toán chi phí bán hàng:

    1.9.1.1. Khái niệm và nội dung của chi phí bán hàng.

    * Khái niệm: Chi phí bán hàng là các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bảo quản và tiến hành hoạt động bán hàng bao gồm: Chi phí chào hàng, chi phí bảo hành sản phẩm hàng hoá hoặc công trình xây dựng đóng gói  vận chuyển.

    * Nội dung : chi  phí bán hàng được quản lý và hạch tóan theo yếu tố chi phí.

    – Chi phí nhân viên( TK 6411): Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên đóng gói, bảo quân vận chuyển sản phẩm hàng hoá …bao gồm: tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp tiền ăn giữa ca, các khỏan trích KPCĐ, BHXH, BHYT.

    – Chi  phí vật liệu bao bì( TK 6412) Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bị xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá , chi phí vật liệu, nguyên liệu dùng cho bảo quản bôc vác vận chuyển, sản phẩm hàng hoá  trong quá trình bán hàng vật liệu dùng ch sữa chữa bảo quảnTCCĐ…của DOANH NGHIệP.

    – Chi phí dụng cụ, đồ dùng( TK 6413): Phản ánh các chi phí về công cụ phục vụ cho hoạt động bán sản phẩm , hàng hoá : Dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc…

    – Chi phi khấu hao TSCĐ ( TK 6414): Phản ánh các chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng như: Nhà kho, cửa hàng, phương tiện bôc dỡ vận chuyển, phương tiện tính toán đo lường, kiểm nghiệm chất lượng.

    – Chi phí bảo hành ( TK 6415): Phản ánh các khỏan chi phí liên quan đến bảo hành sản phẩm hàng hoá , công trình xây dựng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài ( TK 6417): Phản ánh các chi phí mua ngoài phục vụ cho hoạt động bán hàng: Chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển, hoa hồng cho đaị lý bán hàng cho các đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu.

    Chi phí tiền khác (TK 6418): Phản ánh các chi phí phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí cho lao động nữ…

    1.9.1.2. Tài khỏan kế toán sử dụng: TK 641- Chi  phí bán hàng TK 641- Chi phí bán hàng: Dùng để tập hợp kết chuyển các chi phí thực tế phát sinh trong hoạt động bán sản phẩm hàng hoá cung cấp dịch vụ.

    Kết cấu nôi dung phản ánh của TK 641- Chi phí bán hàng.

     
     
    TK 641- Chi phí bán hàng
    – Các khỏan giảm chi phí bán hàng

     

    – Kết chuyển chi phí bán hàng vào TK 911 xác định kết quả kinh doanh , để tính kết quả kinh doanh trong kỳ

    Tập hợp chi phí phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá cung cấp lao động dịch vụ.

    TK 641 không có số dư

    1.9.1.3. Kế toán các nghiệp vụ chủ yếu

    1.9.2. Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp.

    1.9.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý doanh nghiệp.

    * Khái niệm:

    Chí phí QLDN là chi phí quản lý chung cho doanh nghiệp bao gồm: Chi phí quản lý hành chính, chi phí tổ chứcvà quản lý sản xuất phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp.

    Nội dung:

    – Chí phí nhân viên quản lý (TK6421): Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ quản lý doanh nghiệp bao gồm: Tiền lương, tiền công và các khoản tiền phụ cấp, tiền ăn giữa ca, các khoản trích KPCD, BHYT, BHXH.

    – Chí phí vật liệu quản lý (6422): Phản ánh các chi phí vật liệu, xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp chư: Giấy, bút, mực…vật liệu sưt dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, CCDC…

    – Chi phí đồ dùng văn phòng (TK6423): Phản ánh chi phí CCDC đồ dùng cho công tác quản lý (giá có thuế hoặc chưa thuế GTGT).

    – Chi phí khấu hao tài TSCĐ (TK6424): Phản ánh các chi phí TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp: Nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng vật kiến trúc, phương tiển truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng…

    Thuế, phí và lệ phí (TK 6425): Phản ánh chi phí về thuế  phí, lệ phí như: thuế môn bài, thuế nhà đất và các khoản nhà đất và các khỏan phí, lệ phí khác.

    – Chi phí dự phòng (TK 6426): Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài (TK 6427): Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ chung toán doanh nghiệp như: Các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ nhãn hiệu thương mại…

    – Chi phí bằng tiền khác (TK 6428): Phản  ánh các chi phí khác phát sinh thuộc quản lý chung toàn doanh nghiệp, ngoài các chi phí kể trên như: Chi phí tiếp khách chi phí hội nghị, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ…

    1.9.2.2. Tài khỏan kế tóan sử dụng: TK 642- Chi phí QLDN.

    TK 642. Chi phí quản lý doanh nghiệp sử dụng để tập hợp và kết  chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ kế tóan.

    Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp.

    TK 642- Chi phí quản lý doanh nghiệp không có số dư.

    1.9.2.3. Sơ đồ hạch toán TK 642.

    1.9.3. Kế toán chi phí và thu nhập hoạt động tài chính:

    1.9.3.1. Khái niệm hoạt động tái chính: Hoạt động tái chính là hoạt động giao dịch liên quan đến đầu tư tài chính, cho vay vốn, góp vốn liên doanh, chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn, giao dịch bán chững khoán, lập và hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán, đầu tư khác khoản lỗ chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và bán ngoại tệ.

    1.9.3.2. Nội dung chi phí, thu nhập hoạt động TC.

    1.9.3.2.1. Chí phí tài chính: Bao gồm các khỏan chi phí liên quan đến hoạt động TC.

    – Các khỏan chi phí của hoạt động tái chính.

    – Các khỏan sổ do thanh toán, các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    – Các khỏan rõ về chênh lệch tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ và chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại do số dư cuối kỳ của các khỏan phải thu dài hạn và phải trả có gốc ngoại tệ.

    – Khỏan rõ do phát sinh bán ngoại tệ.

    – Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.

    – Chi phí đất chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định đã bán.

    – Chi phí tài chính khác.

    1.9.3.2.1. Doanh thu hoạt động tài chính: Bao gồm những khoản doanh thu liên quan đến hoạt động tái chính.

    – Tiền lãi, tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi bán hàng trả chậm trả góp.

    Doanh thu từ cho thuê TS, cho người khác sử dụng tài chính (bằng phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại bản quyền tác giá, phần mệm máy tính…)

    – Lợi nhuận được chia

    – Doanh thu hoạt động đầu tư, mua bán chứng khoán ngắn hạn.

    –  Doanh thu chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng.

    – Doanh thu về các hoạt động đầu tư khác.

    – Chênh lệch giá do bán ngoại tệ, khoản lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.

    – Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn

    – Doanh thu hoạt động tái chính khác.

    1.9.3.3. Tài khỏan sử dụng: TK 515.

    * TK 515: Doanh thu hoạt động tái chính. Được dùng để phản ánh doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền tổ chức lợi nhuận được chia và doanh thu hoạt động tài chính của chức năng.

    Bên nợ:- Số thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp (nếu có)

    – K/c doanh thu hoạt động tài chính thuần sang TK 911- XĐKQKD.

    Bên có: Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh trong kỳ.

    * TK 635- Chi phí tài chính.

    Được sử dụng để phản ánh những khỏan chi phí hoạt động tài chính hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và cuối kỳ để kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản rõ phát sinh trong kỳ để xác định KQKD.

    Bên nợ: – Các khỏan chi phí của hoạt đông tài chính.

    • Các khỏan rõ do thanh lý các khỏan đầu tư ngắn hạn.

    Các khỏan lỗ chênh lệch về tỷ giá ngoại tệ phát sinh thực tế trong kỳ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư cuối kỳ của  các khỏan phải thu dài hạn có góc ngoại tệ.

    –  Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ.

    –  Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khóan.

    –  Chi phí chuyển nhượng, cho thuê cơ sở hạ tầng được xác định là tiêu thụ.

    Hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán cuối kỳ kế tóan kết chuyển toàn bộ chi phí tài chính và các khoản lỗ phát sinh trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh .

    TK 635 – Cuối kỳ không có số dư.

    * Sơ đồ tổng hợp kế toán chi phí hoạt động tái chính.

     
       

    Sơ đồ kế toán: Doanh thu hoạt động tài chính

     
       

    1.9.4. Chi phí và thu nhập hoạt động khác.

    1.9.4.1. Chi phí khác.

    Là những khoản lỗ do các sự kiện hay nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp gây ra. Cũng có thể là những khoản chi phí bị bỏ xót từ những năm trước.

    – Chi phí thanh lý, nhường bán TSCĐ

    – Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý,nhượng bán (nếu có )

    – Tiền phạt do vi phạm hợp đồng: bị phạt thuế, chi thu thuế.

    – Các khoản chi phí do kế toán bị nhậm hay bỏ xót khi ghi sổ kế toán.

    – Các khoản chi phí khác.

    1.9.4.2. Thu nhập khác.

    Là những khoản thu góp nhằm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như:

    – Thu về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.

    – Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.

    – Thu tiền bảo hiểm được bồi thường.

    – Thu được các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.

    – Các khoản thuế được Ngân sách Nhà Nước hoàn  lại.

    – Các khoản tiền thưởng của khách hàng.

    – Thu nhập do nhận tặng, biếu bằng tiền, hiện vật của tổ chức cá nhân tặng cho doanh nghiệp.

    – Các khoản thu nhập kinh doanh của những năm trước bị xót lại quyền ghi sổ kế toán, mới phát hiện ra năm nay.

    – Cuối năm kết chuyển chênh lệch giữa số đã tính trước và các khoản thực tế đã chi thuộc nội dung tính trước.

    – Các tri phí khác.

    1.9.4.3. Tài khoản sử dụng.

    * TK 711- Thu nhập khác.

    TK 711- Thu nhập khác sử dụng để phản ánh các khoản thu nhập ngoài các hoạt động và giao dịch tạo ra doanh thu của doanh nghiệp .

    Nội dung – kết cấu:

    Bên nợ: Số thuế  GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp đối với các khoản thu nhập khác nếu ( có)

    – Cuối kỳ kết chuyển các khoản thu khác trong kỳ sang TK911 xác định KQKD .

    Bên có: Các khoản thu nhập khác phát sinh trong kỳ.

    TK 711- Thu nhập khác cuối kỳ không có số dư.

    * TK 811- Chi phí khác.

    TK 811- Chi phí khác sử dụng để phản ánh các khoản ghi của các sự kiẹn hay có nghiệp vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của doanh nghiệp .

    Nội dung- kết cấu:

    Bên nợ: Các khoản chi phí khác phát sinh.

    Bên có: cuối kỳ kế toán kết chuyển toàn bộ các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ vào TK 911- XĐKQHD

    TL 811 – Chi phí khác cuối kỳ không có số dư

    Sơ đồ hạch  toán thu nhập khác.

    SƠ ĐỒ  HẠCH TOÁN: CHI PHÍ KHÁC
    1.9.5. Kế toán xác định kết quả bán hàng

    1.9.5.1. Tài khoản kế toán sử dụng: TK 911xác định kết quả kinh doanh.

    TK 911- Xác định kết qủa kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được sử dụng để xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán.

    Kết cấu và nội dung của TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh .

     
       

    TK 911- Xác đinh kết quả kinh doanh không có số dư.

    1.9.5.2. Sơ đồ hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu

    Chương III.

    I. Thực tế công  tác kế toán thành phẩm bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty cổ phần.

    Ngọc Anh.

    2.1. Đặc điểm chung của doanh nghiệp .

    2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Ngọc Anh

    * Vị ttí địa lý:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh có trụ sở sản xuất đặt tại Ninh sở- Thường tín – Hà Tây.

    Vị ttí địa lý trên rất thuận lợi về thương mại, giao thông, đủ điều kiện để giao lưu hàng hoá , đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng trong cả nước đặc biệt là thủ đô Hà Nội.

    * Cơ sở pháp lý và hình thành của công ty:

    Công ty được hình thành từ những năm sau giải phóng Thủ đô( năm 1956) Công ty đã trải qua nhiều thăng trầm, tách ra nhập vào nhiều lần. Địa bàn sản xuất của công ty trước đây trật hẹp khoảng 14,5 ha: hầu hết là nhà xưởng cấp 4 được xây dựng từ năm 1956- 1960, nhà mái tôn, mái ngói kết cấu tường bao khung gỗ. Cùng  với thời gian và do đã lâu năm nhà xưởng đã xuống cấp, công ty phải thường xuyên sưả chữa và gia cố để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của Công ty.

    Cơ sở vật chất kỹ thuật: máy móc cũ và lạc hậu, hiệu quả thấp. Hịên nay hầu hết các thiết bị đã khấu hao hết. Công ty đã đánh giá lại nhưng chỉ thích ứng với sản xuất hàng loạt, số lượng nhiều ( phù hợp với thời kỳ bao cấp) thiết bị lại công trình, khó di chuyển nên không thích ứng với điều kiện sản xuất hiện nay năm 1992. UBND Thành phố ra quyết định số 3162/ QĐ- UB ký và được chuyển đổi thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Công ty chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự trang trải chi phí và có doanh lợi đưới sự quản lý của Nhà Nước.

    * Quá trình phát triển của công ty:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh được thành lập từ năm 1992. Tính đến năm nay 2005 đã được 13 năm. Trong 13 năm qua công ty đã thu hút được những thành quả kinh doanh sau.

    Thực hiện nghị định 63/ 2001/ NĐ- CP của chính phủ về việc chuyển đổi công ty Nhà Nước thành công ty cổ phần Ngọc Anh. Trong quá trình chuyển đổi. Công ty đã gặp không ít những khó khăn về công tác tổ chức, tiền vốn nước, công ty đã đầu tư và nâng cấp hệ thống bộ máy hoạt động nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm , hạ giá thành để có sức cạnh tranh trên thị trường và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước. Sự phát triển của công ty được biểu hiện cụ thể qua các chỉ tiêu đạt được như sau.

    ĐVT: Triệu đồng.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
    Vốn số định 4112 4212 4310
    Tổng quỹ lương 620 680 710
    Tiền lương bình quân 6,2 6,8 7,1
    Doanh thu 3326,5 3672 3832
    Lợi nhuận trước thuế 87,68 97,28 104,96
    Lợi nhuận sau thuế 68,8 76 22

    Qua bảng số liệu ta thấy tất cả các chỉ tiêu trong 3 năm đều tăng rõ rệt. Doanh thu năm 2002- 2004 tăng từ 3326,5 lên 3832( Triệu đồng) chứng tỏ doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng để chiếm lĩnh thị phần trên thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.

    Tỷ lệ tăng doanh thu cao hơn tỷ lệ chi phí, như vậy doanh nghiệp đã tiết kiệm chi phí tốt. Riêng 2003, do tình hinh giá cả vật tư đầu vào có sự biến động, Nhà Nước điều chỉnh lương 210.000 (đồng) lên 290.000 ( đồng) dần đến chi phí tăng lên 0, 36% bình quân 2003 so với năm 2002. Nhưng công ty đã kịp thời điều chỉnh hạ giá thành, chi phí 2004 với năm 2003 được 0, 33%.

    2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của công ty là  hai mặt hàng được làm từ gỗ, bàn, ghế. Các sản phẩm của công ty phù hợp với mọi đối tượng tiêu dùng và đặc biệt là trường học và khách sạn.

    Sản phẩm của công ty ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường các nước.

    2.1.2.2. Tổ chức bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh. của công ty cổ phần Ngọc Anh.

    1. Về lao động.

    Tổng số lao động của Công ty là 100 người. Trong đó:

    44 lao động: chiếm 44%

    56 lao động nam: Chiếm 56%

    Với tỷ lệ lao động hợp lý giữa lao động nam và lao động nữ đã tạo ra sự hài hoà trong bố chí sắp xếp công việc. Hầu như lao động của Công ty đều ở độ tuổi 23® 45 nên đảm bảo được cả về sức khoẻ và chất lượng lao động.

    Phân loại theo nghiệp vụ.

    + Trực tiếp sản xuất: 76 người:

    * Gián tiếp sản xuất: 24 người

    1. Thu nhập của người lao động:

    Công ty cổ phần Ngọc Anh rất quan tâm đến đời sống của người lao động.

    Tông quỹ lương 2004 là 710.000.000.(đồng) với tiền lương bình quân là 750.000.(đồng)/ người / tháng như vậy đời sống của người lao động luôn đảm bảo và ổn định.

    1. Cơ cấu ban giám đốc, phòng ban và các bộ sản xuất kinh doanh để tổ chức doanh thu tốt, bộ máy sản xuất quản lý Công ty đã được sắp xếp một cách gọn nhẹ và hợp lý theo chế độ một thủ trưởng phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh .

    Ban giám đốc Công ty gồm: Ba lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp sản xuất .

    – Giám đốc: là người đứng đầu Công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động , quản lý tài sản, là chủ quản của Công ty và làm nhiệm vụ đầy đủ với Nhà Nước theo pháp luật quy định.

    – Phó giám đôc kinh doanh : là người giúp việc cho giám đốc, điều hành, đôn đốc các bộ phận thuộc lĩnh vực kinh doanh . Kế toán tài vụ, tiêu thụ, bán hàng, maketing và tổ chức sản xuất cho có hiệu quả, đảm bảo mục tiêu mà Công ty và giám đốc đề ra.

    – Phó giám đốc kỹ thuật: Là người quản lý và điều hành công tác bộ phận kỹ thuật công nghệ, quản lý máy móc, thiết bị nhằm ổn định sản xuất , chất lượng sản phẩm , đảm bảo thống nhất, đầu tư sửa chữa bảo dưỡng, bảo hành máy móc thiết bị, nâng cao năng xuất lao động, đảm  bảo chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh .

    Để giúp  việc cho ban giám đốc còn có 5  phòng ban với chức năng và nhiệm vụ khác nhau.

    – Phòng tổ chức hành chính:

    Là bộ phận tham mưu giúp cho giám đốc về tổ chức lao động theo quy mô sản xuất . Tuyển chọn cán bộ công nhân có năng lực, tay nghề giúp cho Công ty có được những công nhân, cán bộ quản lý tốt lao động nhiệt tình…Phòng tổ chức hành chính còn phụ trách việc tổ chức tốt công tác quản lý, bảo vệ tài sản mua sắm phương tiện giúp GD thực hiện những công việc hành chính như: Bảo quản con dấu, công văn đi, công văn đến…

    Phòng tiêu thụ bán hàng( phòng kinh doanh): Đây là bộ phận rất quan trọng của Công ty bởi nó tác động trực tiếp đến khối lượng tiêu thụ, khối lượng sản phẩm  sản xuất ra được bộ phận bán hàng đem đi tiêu thụ như bán buôn, bán lẻ, bán đại lý…

    Ngoài ra, phòng còn làm công tác tiếp thu nắm bắt yêu cầu thị trường đáp ứng với từng đối tượng, từng địa bàn một cách thuận lợi và thanh toán  tiền hàng theo quyết định của Công ty.

    – Phòng kỹ thuật công nghệ: Là một bộ phận thực hành và nghiên cứu công nghệ, quản lý chất lượng sản phẩm , hướng dẫn phân xưởng và từng bộ phận làm đúng quy trình công nghệ chế biến, kiểm tra chất lượng từng khâu vật tư, nguyên vật liệu đến sản xuất. Ngoài ra, phòng còn thực hiện công tác kiểm định chất lượng từng khâu vật tư, đảm bảo hàng hoá đưa ra lưu thông đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành công nghệ thực phẩm.

    – Phòng cơ điện, vận hành máy: Phòng có nhiệm vụ quản lý sử dụng máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất. Hàng tháng tiến hành kiểm tra sữa chữa và bảo dưỡng máy móc thiết bị, thay thế dự phòng máy móc, quản lý điện năng.

    – Phòng tài vụ kế toán- hạch toán: Là một bộ phận quan trọng thực hiện các chức năng:

    + Giúp việc cho giám đốc về quản lý tài chính ở Công ty thay mặt Nhà Nước ở cơ sở để thực hiện các chế độ, chính sách hiện hành. Căn cứ vào tình hình sản xuất để lên phương án cho kế hoạch vật tư, nguyên vật liệu, tài chính sản xuất  kinh doanh để phù hợp với quy mô sản xuất của Công ty.

    – Bộ phận quảng cáo, tiếp thị, khai thác thị trường.

    – Bộ phận phối hàng, giao bán hàng ở đại lý.

    Sơ đồ bộ máy tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sơ đồ. Bộ máy tổ chức quản lý SXKD của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

     
       
    1. Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Sản phẩm chính của Công ty là các mặt hàng được làm từ gỗ, bàn ghế, giường tủ, ốp tường, ốp trần… trang trí nội thất khác cầu thang, tủ bếp… Chính vì vậy mà quy trình công nghệ để sản xuất ra sản phẩm gồm các bước sau:

    – Từ gỗ rừng tự nhiên qua khâu cưa, xẻ,pha, cắt thành hộp, ván với quy cách kích thước hộp lý cho từng loại sản phẩm.

    – Tiến hành sử lý thuỷ phần nước trong gỗ theo tỷ lệ nhất định bằng hai phương pháp:

    + Hong phơi tự nhiên.

    + Đưa vào lò sấy khô với nhiệt độ nhất định để đạt 12- 14% thuỷ phần.

    – Sau khi sấy khô được sơ chế thành các  chi tiêt sản phẩm trên các thiết bị máy theo dây chuyền.

    – Sau khi được sản phẩm sơ chế thì chuyển sang bộ phận một tay tinh tế và lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm.

    – Khâu cuối cùng là làm đẹp sản phẩm bằng phương pháp thủ công là đánh vec hay sơn mài…

    Đối với sản phẩm kết hợp với phóc, nhựa được thực hiện từ khâu mộc tay lắp ráp đến khâu  hoàn thiện sản phẩm.

    Quy trình công nghệ sản xuất hàng mộc.

     
       
    sản phẩm nhập kho

    II. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán  của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    2.1.2.4.1. Bộ máy kế toán của Công ty.

    Hình thức tổ chức bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Ngọc Anh.

    Theo hình thức này, toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung ở phòng kế toán của doanh nghiệp còn  ở các đơn vị trực thuộc trung ở phòng kế toán còn ở các đơn vị trực thuộc ở các bộ phận kế toán làm nhiệm vụ riêng

    *************

    mà chỉ bố chí các nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện hạch toán. Ban đầu thu nhập kiểm tra chứng từ và định kỳ gửi chứng từ về văn phòng kế toán tập trung tại doanh nghiệp .

    Bộ phận máy kế toán của Công ty bao gồm 6 người trong đó có 2 nam và 4 nữ với độ tuổi trung bình là 35 tuổi đều là tốt nghiệp đại học và có trình độ chuyên môn cao.

    Mối quan hệ gữi các kế toán trong phòng kế toán được bỉểu hiện trên sơ đồ sau:

     
       

    – Chức  năng, nhiệm vụ của một cán bộ kế toán trong phòng kế toán:

    + Kế toán trưởng: Giúp việc cho giám đốc Công ty, là người điều hành trực tiếp có nhiệm vụ và tổ chức, công tác kế toán cho phù hợp với quá trình công nghệ sản xuất kinh doanh theo đúng chế độ hiện hành, tổ chức, kiểm tra, duyệt báo cáo tài chính đảm bảo lưu trữ tài liệu kế toán, đông thời là người giúp việc trực tiếp cho ban giám đốc. Phân tích hoạt động kinh tế tài chính của Công ty, xác định các phương án sản xuất . Chịu trách nhiệm ghi chép sổ tổng hợp ,sổ theo dõi TSCĐ sổ theo dõi nguồn vốn, các loại sổ chi tiết tiền mặt, tiền vay và số theo dõi các loại thuế, tính toán và hạch toán chi phí, giá thành sản phẩm.

    + Kế toán tổng hợp kiêm tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm được kế tóan trưởng ủy quyền khi đi vắng, thực hiện điều hành bộ phận và ký ủy quyền tổng hợp số liệu, bảng biểu, kê khai nhật ký chứng từ, cuối tháng đối chiếu, kiểm tra số liệu cho khớp đúng.

    Tập hợp chi phí theo số liệu phát sinh ngày, cuối tháng tập hợp số liệu của thành phẩm để tính giá thành cho chính xác.

    Cuối kỳ, tập hợp sô liệu cho tình tự kế toán và vào sổ cái kế tóan.

    + Kế toán TSCĐ- NCL- CCD: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh tập hợp chính xác kịp thời về số lượng, giá trị TSCĐ, vật liệu hiện có và tình hình tăng giảm TSCĐ trong Công ty giám sát kiểm tra việc giữ gìn bảo quản, bảo dưỡng TSCĐ cũng như biện pháp đổi mới TSCĐ trong Công ty.

    Tính toán và phản ánh kịp thời tình hình XDCB, mua sắm trang thiết bị.

    + Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ thanh toán nguồn vốn qúy của xí nghiệp, phản ánh kịp thời,đầy đủ, chính xác sự vận động của vốn bằng tiền, qũy và tài khỏan tiền gửi. Phản ánh rõ ràng chính xác các nghiệp vụ thanh toán, vận dụng các hình thức thanh toán để đảo thành toán kịp thời, đúng hạn, chiếm dụng vốn. Phản ánh đứng đắn số liệu hiện có và tình hình biến động của từng đồng vốn, đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, đảm bảo nguồn vốn được bảo toàn và phát triển.

    + Kế toán thành phẩm, tiêu thụ phân phối thu nhập: Phản ánh đầy đủ, chính xác tình hình nhập, xuất, tồn kho về chất lượng và giá trị thành phẩm, hạch toán chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm , tình thanh toán vời người mua, thanh toán với Ngân sách Nhà Nước, hạch toán chính xác giá vốn thực tế của sản phẩm và kết quả tài chính của Công ty.

    + Kế toán lao động tiền lương thống kê: Phản ánh chính xác đầy đủ số liệu và số  lượng, chất lượng, thời gian lao động, thanh toán chính xác, đầy đủ kịp thời, đúng chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp và trợ  cấp phải trả cho người lao động tiền thưởng, phụ cấp và trợ cấp phải trả cho người lao động và sử dụng lao động kiểm tra việc chấp hành chính sách chế độ tiền lương, trợ cấp BHXH, chi phí sản xuất kinh doanh của các bộ phận sử dụng lao động. Hàng tháng, qúy lập báo cáo thống kê theo chế độ quy định về các chỉ tiêu tài chính và lao động mà pháp luật quy địng. s


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ho%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-chi-ph%C3%AD-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-v%C3%A0-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-th%C3%A0nh-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh những mặt thuận lợi cũng không tí những mặt khó khăn thắc mắc với doanh nghiệp. Vì vậy muốn đảm bảo ưu thế cạnh tranh thu lợi nhuận cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp không ngừng tìm tòi sáng tạo, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng mẫu mã đẹp, hợp thị yếu của người tiêu dùng, một yếu tố quan trọng khác là sản phẩm đó phải có giá thành hạ, phù hợp với sức mua của người tiêu dùng. Muốn vậy thì doanh nghiệp phải quản lý tốt chi phí để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm cũng có nghĩa là doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm. Để có thể nắm bắt kịp thời đầy đủ về các thông tin bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, các nhà quản lý doanh nghiệp sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau, trong đó kế toán là công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các công cụ quản lý sản xuất kinh doanh. Trong công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một phần hành quan trọng.

    Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước tiến tới trở thành 1 quốc gia công nghiệp. Vì thế ngành sản xuất vật liệu xây dựng cơ bản là đóng góp vai trò chủ yếu trong việc sản xuất tạo ra cơ sở vật chất  cho nền kinh tế quốc dân… các sản phẩm của ngành phục vụ cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng nâng cao năng lực cho nền kinh tế. Vốn đầu tư vào xây dựng cơ bản đang tăng mạnh, đòi hỏi sự quản lý nguồn vốn đầu tư có hiệu quả khắc phục tình trạng lãng phí, chống thất thoát vốn trong sản xuất cơ bản.

    Cho nên công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong công ty Cổ phần sản xuất thương mại Viglacera rất được chú trọng.

    Qua thời gian thực tế và những kiến thức trong học tập nên em đã chọn đề tài: “Hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mong rằng sẽ góp phần nhỏ bé vào quá trình kế toán tại công ty.

    Ngoài phần mở đầu của nội dung chuyên đề được chia làm 3 phần:

    Phần I: Các vấn đề chung về CP sản xuất tính giá thành sản phẩm.

    Phần II: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Phần III: Nhận xét và kiến nghị về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.

    Để hoàn thành chuyên đề, em đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh và sự giúp đỡ của các cán bộ trong phòng Tài chính kế toán của công ty.

    Tuy nhiên, do thời gian thực tế còn chưa nhiều và trình độ còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của công ty để đề tài của em được hoàn thiện hơn. Em xin tiếp thu ý kiến và chân thành cảm ơn cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh cùng các cán bộ phòng Tài chính kế toán của công ty cổ phần sản xuất thương mại Viglacera đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    PHẦN I

    CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT

     VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    I. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT CỦA NGÀNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

    Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể biểu hiện một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực, tài sản cụ thể trong hoạt động sản xuất  kinh doanh.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 2 ban hành theo quyết định 165/2002/QĐ-BTC thì “Chi phí là Tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn  chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu có nhiều quan điểm, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phải phát sinh gắn liền với mục đích kinh doanh đây chính là bản chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh  của doanh nghiệp. Bản chất kinh tế này giúp nhà quản trị phân biệt được chi phí và chi tiêu chi phí với vốn. Thật vậy chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Chính vì thế các doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí nhằm tiết kiệm chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh.

    II. KHÁI NIỆM CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ CÁCH PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT CHỦ YẾU.

    1. Khái niệm chi phí sản xuất

    Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).

    Nói cách khác, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    2. Các cách phân loại chi phí sản xuất chủ yếu.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế (yếu tố chi phí)

    – Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dự toán chi phí.

    Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chi làm 7 yếu tố sau:

    + Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào sản xuất kinh doanh (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).

    + Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).

    + Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mang tính chất lượng phải trả cho người lao động.

    + Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ qui định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả lao động.

    + Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    + Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.

    + Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.

    1. Phân loại chi phí sản xuất theo công dụng kinh tế chi phí (khoản mục chi phí).

    Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng. Giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau:

    – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    – Chi phí nhân công trực tiếp

    – Chi phí sản xuất chung

    – Chi phí bán hàng

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ, dịch vụ.

    + Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…

    + Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng đội sản xuất, chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau.

    – Chi phí nhân viên phân xưởng bao gồm chi phí tiền lương, các khoản phải trả, các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí vật liệu: bao gồm chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng sản xuất với mục đích là phục vụ quản lý sản xuất.

    – Chi phí dụng cụ: bao gồm về chi phí công cụ, dụng cụ ở phân xưởng để phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất.

    – Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm toàn bộ chi phí khấu hao của TSCĐ thuộc các phân xưởng sản xuất quản lý sử dụng.

    – Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho hoạt động phục vụ và quản lý sản xuất của phân xưởng và đội sản xuất.

    – Chi phí khác bằng tiền: là các khoản trực tiếp bằng tiền dùng cho việc phục vụ và quản lý và sản xuất ở phân xưởng sản xuất.

    + Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng và chi phí khác gắn liền đến bảo  quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa…

    + Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh nghiệp.

    – Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung toàn bộ doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi phí tiếp khách, hội nghị.

    3. Ý nghĩa của công tác quản lý chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

    – Chỉ tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi thuần túy của tài sản, không để các khoản đó dùng vào việc gì và dùng như thế nào? chỉ tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chỉ tiêu cho các quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản của doanh nghiệp, còn chỉ tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên.

    Chi phí trong kinh doanh bao gồm toàn bộ phận tài sản tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ, số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ và số chỉ tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc phân bổ vào chi phí trong kỳ. Ngoài ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trả trước) không phải là chỉ tiêu trong  kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ.

    Như vậy, giữa chỉ tiêu và chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh, mặt khác, chi phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nó được tài trợ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ tiêu không gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh nên có thể được tài trợ từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi, trợ cấp từ những nguồn khác nhau, có thể lấy từ quỹ phúc lợi trợ cấp của Nhà nước và không bù đắp từ thu nhập hoạt động kinh doanh.

    – Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định. Nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.

    Vì vậy, để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành bao nhiêu.

    III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM, PHÂN LOẠI GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    1. Khái niệm giá thành sản phẩm

    Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.

    Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan.

    2. Phân loại giá thành sản phẩm

    1. Phân loại giá thành sản phẩm theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành

    Theo cách này, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành kế hoạch giá thành định mức, giá thành thực tế.

    + Giá thành kế hoạch : là giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch.

    + Giá thành định mức: cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành  định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.

    + Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.

    Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ kế toán. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp.

    1. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán

    Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.

    – Giá  thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất.

    – Giá thành tiêu thụ: (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ, là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

    Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau:

    =          +   +

    => Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định khi đưa ra lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý cho từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.

    1. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi phí hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.

    Về thực chất  chi phí và giá thành là 2 mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ

    * Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
    Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

    Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD – Công ty cổ phần điện tử chuyên dụng Hanel

    hay

    =  +  –

    IV. ĐỐI TƯỢNG TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT, ĐỐI TƯỢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    – Chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo một phạm vi giới hạn nhất định.

    – Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất và là khâu đầu tiên trong việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất.

    + Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm công nghiệp lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính giá thành ở đơn vị.

    + Tập hợp trực tiếp

    – Chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt.

    – Có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu. Để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng riêng biệt.

    – Tập hợp trực tiếp đảm bảo tính chính xác cao áp dụng tối đa phương pháp này nếu điều kiện cho phép.

    + Phân bổ gián tiếp:

    – Điều kiện áp dụng: chi phí phát sinh có liên quan nhiều đối tượng kế toán chi phí. Không ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng, phải tập hợp cho nhiều đối tượng.

    VI. NHIỆM VỤ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM :

    Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ nhiệm vụ của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm cần nhận thức đúng đắn vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống  kế toán doanh nghiệp, mỗi quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan trong đó kế toán các yếu tố chi phí và là tiền đề kế toán chi phí và tính giá thành.

    – Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm khả năng hoạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

    Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định tính giá thành cho phù hợp.

    Trên cơ sở mối quan hệ đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành đã xác định để tổ chức áp dụng phương pháp tính giá thành cho phù hợp và khoa học.

    Tổ chức bộ máy kế toán 1 cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm từng nhân viên từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt đến bộ phận kế toán các yếu tố chi phí.

    Thực hiện tổ chức, chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản sổ kế toán phù hợp với nguyên tắc phù hợp chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thu nhận – xử lý, hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp.

    Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định nhanh chóng, phù hợp với quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

    1. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

    Là toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.

    * Chứng từ áp dụng: Căn cứ vào phiếu xuất kho

    Các chứng từ liên quan để xác định giá vốn nguyên vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm.

    – Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đối tượng chi phí sản xuất

    – Thực hiện trong bảng phân bổ nguyên vật liệu

    1.1. Tài khoản kế toán chủ yếu sử dụng

    1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    Bên nợ: trị giá vốn nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ trong kỳ…

    Bên có: trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho

    trị giá phế liệu thu hồi

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm

    – Trình tự kế toán được thể hiện bằng sơ đồ sau.

    Sơ đồ hạch toán nguyên vật liệu trực tiếp

     
       
    1. Chi phí nhân công trực tiếp (TK 622)

    – Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản về chi tiền lương chính,  lương phụ của công nhân sản xuất trực tiếp thực hiện công tác xây lắp, công tác hạng mục công trình.

    – Chi phí nhân công trực tiếp nếu liên quan đến một công trình thì tập hợp trực tiếp còn nếu liên quan đến nhiều thì phân phân bổ cho các đội sản xuất theo các tiêu thức thích hợp.

    TK 622

    Bên nợ: phản ánh chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ

    Bên có: Kết chuyển nhân công trực tiếp sang TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.

    TK 622 cuối kỳ có số dư

    Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp

     

     
       
    1. Kế toán chi phí sản xuất chung

    Tài khoản này có thể mở chi tiết cho từng giai đoạn, từng loại sản phẩm, từng bộ phận và được mở chi tiết cho từng giai đoạn sản xuất và được mở tài khoản cấp 2 theo yếu tố chi phí.

    * Kết cấu của TK 627 như sau:

    Bên nợ: tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ

    Bên có: kết chuyển  hoặc phân bổ chi phí, sản xuất cho các sản phẩm lao vụ có liên quan đến tính giá thành.

    + Các khoản giảm trừ chi phí sản xuất chung

    TK 627 không có số dư cuối kỳ

    Quy trình hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau

    Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung

     

     
       

    d, Tổng hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp

    Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung cần được kết chuyển sang TK 154 để tính giá thành.

    TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” dùng để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm

    – Kết cấu TK 154 như sau:

    Bên nợ: kết chuyển toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm trong kỳ

    Bên có: giá thành sản phẩm trong kỳ hoàn thành

    + Các khoản giảm giá thành:

    Dư nợ: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ

    TK 154 được mở cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số TK liên quan khác như: 111, 632

    Sơ đồ hoạch toán tổng hợp chi phí

     
       


    1.2. Đánh giá sản phẩm đang chế tạo dở dang (DD)

    + Đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (nhân công trực tiếp).

    Nội dung: theo phương pháp này chi phí sản xuất cho sản phẩm làm dở cuối kỳ chỉ tính chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT) hay chi hí nhân công trực tiếp còn các chi phí khác được tính cả cho sản phẩm hoàn thành

    Công thức:

    Dck = ((Dđk + Cv) / (Q + q)) x q

    Trong đó:    Cv     : chi phí NVLTT tập hợp trong kỳ

    Dck   : chi phí sản xuất kinh doanh dd cuối kỳ

    Dđk   : chi phí sản xuất kinh doanh dd đầu kỳ

    Q       : khối lượng sản phẩm hoàn thành

    q        : khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ

    – Ưu điểm: Khối lượng tính toán đơn giản thực hiện nhanh khi kiểm kê sản phẩm dở không cần xác định mức độ sản phẩm hoàn thành.

    – Nhược điểm: Tính toán không chính xác. Vì trong giá tị sản phẩm làm dở không tính các chi phí khác như chi phí sản xuất chung.

    – Điều kiện áp dụng: nên áp dụng ở các doanh nghiệp mà chi phí NVLTT chiếm tỷ trọng  lộn trong tổng chi phí, khối lượng sản phẩm làm dở không nhiều, thường ổn định dưới các kỳ.

    + Ước lượng sản phẩm hoàn thành tương đương: Theo phương pháp này đủ các khoản chi phí theo nguyên tắc những chi phí được bỏ vào 1 lần từ đầu quy trình công nghệ thì dược tính cho đơn vị sản phẩm  làm dở và đơn vị sản phẩm hoàn thành như nhau (những chi phí này thường là chi phí NVLTT).

    Những chi phí được bỏ vào quá trình sản xuất lần 2 theo mức độ sản xuất gia công chế biến thì được tính cho sản phẩm làm dở theo sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương.

    Xác định sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương và làm dở

    Xác định sản lượng = q x % sản phẩm hoàn thành

    (Q) = q x % sản phẩm hoàn thành (mức độ hoàn thành)

    Qck  = (Dđk + Cv) / (Q + Q) * Q’

    + Định mức chi phí

    – Căn cứ vào khối lượng làm dở trên cùng công đoạn của quy trình sản xuất và căn cứ vào định mức chi phí theo từng khoản mục chi phí trên từng công đoạn của từng sản phẩm để xác định chi phí sản xuất dở dang của từng công đoạn. Sau đó tổng hợp lại để có thể chi phí sản xuất tính cho sản phẩm dở dang của từng loại sản phẩm trên cả quy trình công nghệ.

    1.3. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm

    + Phương pháp tính giá thành giản đơn (phương pháp trực tiếp)

    – Điều kiện áp dụng: quy trình công nghệ sản xuất chỉ tạo ra một loại sản phẩm đối với khối lượng lớn: doanh nghiệp điện, than đá….

    – Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.

    – Đối tượng tính giá thành: là loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm do quy trình sản xuất tạo ra hoàn thành trong quy trình công nghệ nàykhông có sản phẩm dở dang. Do vậy đối tượng tập hợp chi phí trùng với đối tượng tập hợp tính giá thành và ngược lại. Kỳ tính giá thành thường là cuối tháng, cuối năm.

    Z  = Dđk + C – Dck

    – Nếu có sản phẩm làm hỏng nhưng do cá nhân làm hỏng thì nhà quản lý sẽ quy trách nhiệm và bắt cá nhân đó bồi thường.

    Z = Dđk + C – Dck – C (hỏng)

    Trong đó: C: là chi phí phát sinh

    C: hỏng là chi phí sản phẩm hỏng

    * Phương pháp hệ số:

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong trường hợp cùng 1 quy trình công nghệ sản xuất chế tạo ra nhiều loại sản phẩm chính công nghiệp hóa chất.

    + Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất: là toàn bộ quy trình công nghệ

    + Đối tượng tính giá thành: là từng loại sản phẩm chính hoàn thành và đơn vị sản phẩm chính hoàn thành.

    Nội dung:

    – Để xác định cho mỗi loại sản phẩm một hệ thống số tính giá thành trong đó loại sản phẩm có hệ số bằng 1 được coi là sản phẩm tiêu chuẩn.

    – Căn cứ vào qui đổi sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm theo hệ số giá thành để xác định tiêu chuẩn phân bổ

    * Phương pháp tỷ lệ

    – Điều kiện áp dụng: áp dụng trong doanh nghiệp có 1 quy trình công nghệ sản xuất tạo ra nhóm sản phẩm với nhiều quy cách, kích cỡ, phẩm cấp khác nhau.

    VD: công nghệ sản xuất bao bì can ten mã phanh ô tô

    – Lựa chọn tiêu chuẩn làm căn cứ xác định tỷ lệ tính giá thành (giá thành định mức của đơn vị sản phẩm).

    – Căn cứ vào sản lượng thực tế của từng quy cách và tiêu chuẩn được lựa chọn để xác định tổng tiêu chuẩn phân bổ.

    + Đối tượng tập hợp chi phí: theo nhóm sản phẩm

    + Đối tượng tính giá thành: Theo từng kích cỡ, quy cách hoặc phẩm chất

    Tỷ lệ giá thành =

    =   x Tỷ lệ giá thành.

    Giá thành đơn vị  =

    * Phương pháp loại trừ chi phí sản phẩm phụ

    – Kết quả của quá trình sản xuất sản phẩm doanh nghiệp không những thu được sản phẩm chính mà còn thu được một số sản phẩm phụ nhưng sản phẩm phụ không  phải là đối tượng tính giá thành chính vì thế doanh nghiệp cần phải thực hiện công việc loại trừ chi phí sản phẩm phụ.

    =  +  –  –

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT

    VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TAI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ CÔNG TY

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera tiền thân trước đây là nhà máy xi măng Hà Nội được quyết định thành lập vào ngày 08/01/1958 theo quyết định số: 24/BCN-KH4 do Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Lê Thanh Nghị ký.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước, hạch toán kinh doanh độc lập thợ chủ về tài chính, là một đơn vị thành viên của Tổng công ty Thủy tinh và gốm xây dựng – Bộ xã hội.

    – Trước đây, Công ty này có tên gọi là Nhà máy gạch lát hoa và máy phanh ô tô Hà Nội. Bắt đầu kể từ ngày 1/10/2003, Nhà máy này đã chuyển đổi thành Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera, với 51% vốn Nhà nước.

    Hiện nay, trụ sở chính công ty tại số 676 Hoàng Hoa Thám , quận Tây Hồ, Hà Nội và Nhà máy được đặt tại xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội với tổng diện tích mặt bằng là 24.000 km2. Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là:

    – Sản xuất máy phanh ô tô

    – Sản xuất bao bì Carton

    – Kinh doanh vật liệu xây dựng

    Tiền thân của công ty là một tổ nghiên cứu gồm 6 người được thành lập để sản xuất tấm lợp fibrociment. Theo quyết định số 24/BCN-KH ngày 08/01/1958, Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera được thành lập với tên gọi là Nhà máy Fibrociment Hà Nội trực thuộc Cục khai khoáng và luyện kim. Với nhiệm vụ ban đầu là sản xuất tầm lợp fibrociment, công ty có 145 cán bộ công nhân viên và được tổ chức thành các bộ phận sau:

    – 1 phân xưởng sản xuất fibrociment

    – 1 mỏ amient ở Hòa Bình

    – 1 bộ phận kế hoạch cung tiêu

    – 1 bộ phận hành chính nhân sự

    – 1 bộ phận kế toán tài vụ

    Năm 1996, Công ty trở thành đơn vị trực thuộc Tổng cục hóa chất và được giao nhiệm vụ nghiên cứu vật liệu ma sát (má phanh ô tô). Qua nghiên cứu thành công. Công ty đã tiến hành sản xuất với sản lượng ban đầu là 2000 kg má phanh ô tô. Từ đây, mặt hàng này được chính thức đưa vào kế hoạch sản xuất hàng năm của Nhà máy.

    Từ tháng 10/2003 thực hiện nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty, Cổ phần. Quyết định số 1108-QĐ-BXD ngày 14/08/2003 của Bộ Xây dựng về việc chuyển Nhà máy Gạch lát hoa và Má phanh ô tô Hà Nội thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng thành Công ty cổ phần.

    Sau khi được chuyển đổi doanh nghiệp Ban lãnh đạo công ty đã tổ chức và hoạt động theo luật Doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần và thông qua đại hội cổ đông.

    Xác định trước tình hình khó khăn hiện nay công ty không ngừng phát huy mở rộng, ngoài hai sản phẩm công ty tự sản xuất: Bao bì Carton và má phanh ôtô thì công ty mở rộng ngành nghề kinh doanh:

    – Vật liệu xây dựng

    – Vật liệu ma sát

    – Vật liệu ngành in

    – Dịch vụ giao nhận và vận chuyển hàng hóa.

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera với ngành nghề chủ yếu là sản xuất Bao bì Carton và Má phanh ô tô đã đảm bảo sản xuất sản phẩm đảm bảo về cả số lượng và chất lượng, cầu tiết kiệm chi phí, sử dụng nguồn vốn đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh luôn chú trọng đổi mới công tác quản lý, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo kinh doanh có lãi, nộp đầy đủ các khoản phải nộp với ngân sách Nhà nước đồng thời phải thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng đào tạo cán bộ quản lý cũng như các công nhân viên trong công ty để đảm bảo phù hợp với trình độ sản xuất của công ty, và phải luôn chú trọng trang bị các thiết bị bảo hộ lao động, sức khỏe cho người lao động.

    2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý

    Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh doanh độc lập. Bộ máy quản lý của công ty gồm các bộ phận sau:

    • Đại hội cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất trong công ty
    • Hội đồng quản trị: là cơ quan cao nhất của công ty giữa hai kỳ đại hội cổ đông. Hội đồng quản trị quyết định phương hướng tổ chức sản xuất, kinh doanh và các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty phù hợp với pháp luật.
    • Ban kiểm soát: là người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty.
    • Giám đốc điều hành: Là người đại diện cho pháp luật công ty, trực tiếp điều hành và chỉ đạo các phòng ban, phân xưởng… Đồng thời là người chịu trách nhiệm trước cổ đông. Hội đồng quản trị và ban kiểm soát về toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng như thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
    • Phòng tài chính – kế toán Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh các nhiệm vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty một cách đầy đủ, kịp thời theo đúng phương pháp quy định nhằm cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, đặc biệt là để phục vụ cho việc quản lý và điều hành công ty của Ban giám đốc. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Phòng kế toán thực hiện toàn bộ công tác hạch toán kế toán. Ngoài ra, dưới phân xưởng có bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hướng dẫn, thực hiện hạch toán ban đầu, thu nhập kiểm tra chứng từ, thực hiện chấm công hàng ngày và chuyển số liệu lên phòng kế toán. Cuối mỗi quý, kế toán trưởng tập hợp số liệu, lập báo cáo kế toán và gửi trình lên giám đốc phê duyệt.
    • Phòng kinh doanh: gồm các nhân viên lập kế hoạch kinh doanh cho công ty.
    • Phòng kỹ thuật gồm các chuyên viên, kỹ sư phụ trách về công tác kỹ thuật của máy móc, thiết bị đảm bảo sự vận hành của toàn bộ quy trình công nghệ. Trong đó, bộ phận KCS có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng sản phẩm. Đồng thời, cần nắm vững thông tin khoa học trong lĩnh vực chuyên ngành tổ chức việc chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới.
    • Phòng kế hoạch vật tư: Có trách nhiệm lập kế hạch về vật tư đảm bảo cho quá trình sản xuất của Công ty được diễn ra liên tục.

    Ngoài các phòng ban chính đó, công ty còn có các bộ phận chức năng khác như: Văn thư, bảo vệ, công đoàn… Trong mỗi phân xưởng, ngoài quản đốc phân xưởng có nhân viên giám sát quá trình sản xuất, còn có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, chấm công, tính toán tiền lương cho công nhân trực tiếp sản xuất.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty

    3. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty

    Hiện nay, công ty có hai phân xưởng sản xuất chính: phân xưởng sản xuất má phanh ô tô và phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm nhiều tổ đội khác nhau. Phân xưởng sản xuất má phanh ô tô bao gồm các tổ: Tổ trộn, tổ hoàn thiện, tổ ép và bộ phận quản lý phục vụ. Phân xưởng sản xuất bao bì Carton bao gồm các đội: tổ cắt, tổ ghim dán cạnh, tổ in, tổ làm máy, bộ phận quản lý.

    Đứng đầu mỗi phân xưởng là quản đốc, có nhiệm vụ quản lý, điều hành phân xưởng mình và chịu sự điều hành của Giám đốc công ty.

    Sơ đồ quy trình sản xuất má phanh ô tô

     
       

    Sơ đồ quy trình sản xuất Bao bì Carton

     
       

    II. THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGRACERA

    1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

    Công tác kế toán tại doanh nghiệp hiện nay được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập trung. Tại phòng kế toán của doanh nghiệp thực hiện mọi công tác kế toán, từ việc thu thập xử lý chứng từ, luân chuyển ghi chép, tổng hợp báo cáo tình chính phân tích kinh tế, thông báo số liệu kế toán cần thiết cho các cơ quan quản lý Nhà nước khi có yêu cầu.

    Vì Công ty cổ phần sản xuất và thương mại Vigracera là một công ty nhỏ nên sử dụng mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là hợp lý, nó đảm bảo cho sự nắm bắt thông tin kịp thời về các hoạt động kinh tế của ban lãnh đạo doanh nghiệp để có thể dễ dàng thực hiện các cuộc kiểm tra, kiểm soát.

    Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung

     
       

    Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc ngày 31/12 hàng năm

    Đơn vị tiền tệ: Việt Nam đồng

    Hình thức kế toán áp dụng: Hình thức nhật ký chung

    Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: theo phương pháp kê khai thường xuyên

    Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: Nguyên tắc giá gốc

    Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ: Phương pháp bình quân gia quyền.

    Nguyên tắc ghi nhận TSCĐ: Theo nguyên giá

    Phương pháp khấu hao TSCĐ: phương pháp đường thẳng

    Doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ

    • Đặc điểm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Sản phẩm sản xuất chính của công ty má phanh ô tô và bao bì Carton, hai sản phẩm này được sản xuất tại hai phân xưởng khác nhau. Chi phí để sản xuất hai sản phẩm này được hạch toán riêng không liên quan đến nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp được tập hợp theo từng phân xưởng sản xuất và đối tượng tính giá thành là từng m2 bao bì Carton và từng kg má phanh ô tô.

    • Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được phân làm ba loại chi phí:

    + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Chi phí các nguyên vật liệu chính bỏ vào sản xuất hai sản phẩm: Giấy krap mộc định lượng 150, 130, 180, mực xanh B19, Zoăng pittông chính TDMYA 450…

    + Chi phí nhân công trực tiếp: Khoản tiền bỏ ra để trả cho công nhân sản xuất hai sản phẩm chính: công nhân các tổ ghim, tổ in, tổ đầu máy…

    + Chi phí sản xuất chung: Các khoản chi có liên quan đến sản xuất: trích khấu hao tài sản cố định, tiền điện, công cụ dụng cụ xuất dùng… Và chi phí để mua quần áo bảo hộ cho công nhân cũng tính vào chi phí sản xuất chung.

    • Phương pháp tính giá thành sản phẩm: Do quy trình công nghệ sản xuất không phức tạp và quy mô sản xuất nhỏ vì vậy công ty đã tiến hành tính giá thành theo phương pháp giản đơn.

    2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    2.1. Chứng từ sử dụng

    * Doanh nghiệp sử dụng các chứng từ

    + Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho nguyên vật liệu công cụ dụng cụ, bảng phân bổ nguyên vật liệu công cụ dụng cụ.

    + Hóa đơn giá trị gia tăng mua nguyên vật liệu, hóa đơn tiền điện.

    + Bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương công nhân sản xuất, bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    + Bảng phân bổ khấu hao TSCĐ, bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung, phiếu xác nhận hoàn thành sản phẩm.

    • Trình tự luân chuyển chứng tử

    + Đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Hàng ngày căn cứ vào yêu cầu của lịch sản xuất các tổ sản xuất đối chiếu giữa mức vật tư cần thiết thực tế và lượng vật tư còn tồn ở phân xưởng để lập phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Phiếu phải ghi rõ họ tên, chủng loại, số vật tư cần lĩnh, được quản đốc phân xưởng thông qua và tình lên phòng kế toán. Kế toán căn cứ vào  yêu cầu lĩnh và khả năng cung cấp thực tế của kho để lập phiếu xuất kho. Thủ kho dựa vào số lượng ghi trên phiếu xuất kho  tiến hành làm thủ tục xuất kho và ghi thẻ kho cho từng loại tương ứng. Cuối ngày, thủ kho giao lại các phiếu xuất kho về phòng kế toán để kiểm tra, ghi sổ kế toán.

    + Đối với chi phí nhân công trực tiếp: Tổ sản xuất ghi bảng chấm công hàng ngày đồng thời các tổ, các tổ trưởng chịu trách nhiệm ghi chép và kiểm tra số lượng, chất lượng sản phẩm hoàn thành ở khâu công việc của mình. Căn cứ vào bảng cấm công, phiếu ghi năng suất lao động cá nhân và đơn giá tiền lương thời gian trả cho công nhân sản xuất. Căn cứ vào phiếu xác nhận hoàn thành và đơn giá lương sản phẩm kế toán tính lương  sản phẩm cho công nhân sản xuất. Cuối tháng, các tổ tổng hợp ngày công, kết quả sản xuất đưa lên phân xưởng, phân xưởng tự dựa trên thời gian, kết quả lao động của mỗi tổ để tính lương, thưởng, các khoản giảm trừ của mỗi công nhân, từ đó lập bảng tổng hợp thanh toán tiền lương của cả phân xưởng. Phân xưởng nộp bảng này lên bộ phận tổ chức lao động tiền lương phụ thuộc phòng tổ chức cùng với giải trình chi tiết về công hưởng lương thời gian, công hưởng lương sản phẩm,  sản lượng sản xuất của từng tổ, tính chính xác của các chứng từ, phê duyệt và chuyển sang phòng kế toán. Kế toán tiền lương lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội, sau đó nhập số liệu vào máy lên sổ Nhật ký chung, sổ cái TK 622, và các sổ chi tiết có liên quan.

    2.2. Trình tự hạch toán

    2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán theo dõi chi tiết nguyên vật liệu được xuất dùng.

    Nợ TK 6214: 32560694,64

    Giấy Kráp mộc định lượng 150 : 19902329,67

    Giấy Kráp mộc định lượng 130 : 3048970,89

    Giấy Kráp mộc định lượng 180 : 9609394,08

    Có TK 1521: 32560694,64

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

           676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 42

    Ngày 23 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 03352 Zoăng pittông chính TDMYA 450 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03346 Zoăng cao su chịu dầu phi 445 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 03345 Zoăng cao su chịu dầu phi 430 6212 1524 Cái 10,00    
    KHOVMT 01014 – Bột cao su 6212 1524 Kg 210,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

     

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 40

    Ngày 21 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCSTRV – Triệu Văn Sơn

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 01106 Dây buộc 6214 1522 M 45,20    
    KHOVMT 01039 Ghi dập hộp 6214 1521 Hộp 10,70    
    KHOVMT 03025 Găng tay cao su 62734 1528 Đôi 30,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 45

    Ngày 25 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCTHM – Hồ Minh Thu

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng bao bì

    Nội dung: Xuất giấy sản xuất bao bì

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHOVMT 05102 – Giấy Krap mộc định lượng 150 6214 1521 Kg 5 001,00    
    KHOVMT 051010 – Giấy Krap mộc định lượng 130 6214 1521 Kg 763,00    
    KHOVMT 05002 – Giấy Krap vàng định lượng 180 62734 1521 Kg 2 028,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    2.2.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp

    Công ty áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, theo thời gian và có phụ cấp độc hại và phụ cấp trách nhiệm.

    Tiền lương thực tế được xác định như sau:

    =  x

    Đơn giá theo ngày công =   x Hệ số cấp bậc lương

    Mức lương tối thiểu áp dụng tại Công ty là: 290.000đ/tháng

    Tiền lương sản phẩm =    x

    Phụ cấp độc hại = Lương sản phẩm x 3%

    Phụ cấp trách nhiệm = Lương cơ bản x 10%

    Công ty không tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất mà hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất.

    – Trích KPCĐ, BHXH theo lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất.

    Kể từ năm 2006 bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế được gộp lại. Do đó việc trích Bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn được tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo chế độ.

    + BHXH trích 17% lương cơ bản

    + KPCĐ trích 2% lương thực tế

    Trên cơ sở bảng thanh toán lương công nhân trong tháng và tỷ lệ trích KPCĐ, BHXH, kế toán lập bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ trích kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội là 25%, trong đó 6% khấu trừ vào lương công nhân sản xuất, 19% tính vào chi phí để tính giá thành.

    Ngoài ra, công ty còn quy định nghỉ lễ, nghỉ phép tính theo lương cấp bậc từng người, cứ 1 ngày nghỉ phép hưởng 100% đơn giá lương thời gian. Công ty không thực hiện trích trước vào chi phí tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất nên không mở TK 335: “Chi phí trả trước” để theo dõi công nhân trong nhà máy đi phép đều đặn nên số này phát sinh không làm cho giá thành sản phẩm biến động

    Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương và BHXH kế toán ghi:

    Nợ TK 6222: 45.949.100

    Nợ TK 6224: 154.190.600

    Có TK 334: 200.139.700

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    ĐƠN GIÁ TIỀN LƯƠNG CÔNG NHÂN SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON
    STT Nội dung công việc ĐVT Năng suất (ca) Tiền lương (đ)
    1 Vận hành máy sóng xếp gọn theo yêu cầu để giao cho máy kẻ M2 3.120 33
    2 Vận hành máy kẻ dọc, ngang (đã tính vận chuyển phôi) M2 785 27
    3 Vận chuyển máy bổ     21
    4 In lưới Hộp    
      Hộp thạch bàn

     

    Hộp Hữu Hưng

        56

     

    42

    5 Kiểm tra chất lượng sản phẩm Hộp   5
    6 Pha mực in, chụp lưới Hộp   6
    7 Ghim, bó hộp Hộp   20
    8 Dán hộp Thạch Bàn Hộp   24
    9 Nhân viên kinh tế, chế bản Hộp   6
    10 Carton 5 lớp M2    
      Máy sóng

     

    Máy bổ

    Máy kẻ dọc, ngang

    In

    M2

     

    M2

    M2

    M2

      50

     

    32

    34

    50

    Kế toán trưởng                                                     Người lập phiếu

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH

     

    Tháng 1/2006

    STT Ghi có TK

     

    Ghi nợ TK

    TK 334 (lương chính) TK 338 Tổng cộng
    KPCĐ (2% lương thực tế) BHXH (17% lương cơ bản) Cộng có TK 338
    1 TK 622 CP nhân công trực tiếp 200.139.700 4.002.794 6.394.200 10.396.994 210.536.694
      TK 6222 CP nhân công trực tiếp PX má phanh 45.949.100 918.982 1.790.600 2.709.582 48.658.682
      TK 6224 CP nhân công trực tiếp PX bao bì 154.190.600 3.083.812 4.603.600 7.687.412 161.878.012
    2 TK 627 CP sản xuất chung 12.245.000 244.900 935.000 1.179.900 13.424.900
      TK 62712 CP nhân viên PX má phanh 5.850.000 117.000 425.000 542.000 6.392.000
      TK 62714 CP nhân viên PX bao bì 6.395.000 127.900 510.000 637.900 7.032.900
    3 TK 642 CP quản lý doanh nghiệp 52.364.000 1.047.280 1.360.000 2.407.280 54.771.28
    4 TK 641 CP bán hàng 174.250.000 3.485.000 1.241.000 4.726.000 178.976.000
      Cộng 438.998.700 8.779.974 9.930.200 18.710.174 457.708.874

    Ngày……..tháng…..năm

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                            Người lập biểu

    Đối với các khoản trích theo lương

    Nợ TK 6222: 2.709.582

    Nợ TK 6224: 7.687.412

    Có TK 338: 10.396.994

    Kết chuyển chi phí nhân công vào tài khoản giá thành

    Nợ TK 154: 210.536.694

    Có TK 622: 210.536.694

    2.2.3. Kế toán chi phí sản xuất chung

    * Chi phí nhân viên phân xưởng

    Tiền lương nhân viên phân xưởng bao bì (quản đốc phân xưởng, phó quản đốc phân xưởng, nhân viên kinh tế…) được xác định trên cơ sở hệ số lương cấp bậc và mức lương bình quân của cán bộ gián tiếp.

    =  x Hệ số lương cấp bậc

    =          x

    =+

    * Chi phí vật liệu

    Vật liệu tính vào sản xuất chung: dây điện, vải vụn… Nhân viên sản xuất khi cần những vật liệu này  để dùng cho sản xuất phải viết phiếu yêu cầu lĩnh vật tư. Khi nhận được phiếu yêu cầu lĩnh vật tư do phân xưởng gửi lên, kế toán viết phiếu xuất kho giao cho thủ kho. Thủ kho tiến hành giao toàn bộ số công cụ, dụng cụ cho phân xưởng theo số lượng ghi trên phiếu xuất kho.

    * Chi phí khấu hao TSCĐ

    Công ty trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng

    Mức trích khấu hao năm = Nguyên giá TSCĐ x Tỷ lệ khấu hao

    =

    * Chi phí dịch vụ mua ngoài:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

            676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

     

                          PHIẾU XUẤT KHO                           Số 39

    Ngày 20 tháng 1 năm 2006

    Người nhận hàng:

    Đơn vị: BCHBT2 – Bùi Thị Hương PX Má phanh

    Địa chỉ: Văn phòng phân xưởng má phanh

    Nội dung: Xuất vật tư sản xuất má phanh

    Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
    KHODCM 04337 – Dây điện đôi 4 ly 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 01111 Dây điện 2*4 62732 1524 M 50,00    
    KHODCM 04088 Cầu đấu dây 62732 1524 Cái 1,00    
    KHODCM 03020 Vải vụn 62732 1524 Kg 108,00    
                   
                   
                   
                   
                   
                   
                   
      Tổng cộng 0

     

    Bằng chữ: Không đồng chẵn

    Xuất ngày……..tháng……năm

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Người nhận Thủ kho

    Với chi phí dịch vụ mua ngoài thì chứng từ chủ yếu là hoá đơn GTGT thanh toán tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại.

    Đối với chi phí về nước, do quá trình sản xuất sản phẩm bao bì và má phanh không sử dụng đến nước cho nên nước chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của nhân viên trong phân xưởng nên phát sinh không nhiều. Trong tháng 1/2006, khối lượng nước sử dụng thực tế là: 36m2 với đơn giá là 2000đ/m3 (đối với phân xưởng sản xuất bao bì).

    Ta có chi phí về nước của phân xưởng được xác định: 36m2 x 2000 = 72.000đ (Giá chưa có thuế GTGT). Bên cạnh đó, chi phí về sử dụng điện thoại của phân xưởng là: 200.968đ, thuế GTGT 10% là: 20.097đ

     

    HOÁ ĐƠN TIỀN ĐIỆN GTGT

    (Liên 2: Giao cho khách hàng)

    Từ ngày 28/12/2005 đến ngày 28/1/2006

    Công ty điện lực TP Hà Nội              Ký hiệu: AA/2005T

    Điện lực Từ Liêm                              Số: 0951703

    Địa chỉ:…………….                         Mã số thuế: 0100101114-1

    Tên khách hàng: Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Địa chỉ: Đại Mỗ – Từ Liêm – Hà Nội

    Mã số KH: 092181                                     Số công tơ: 52116

    Chỉ số mới Chỉ số cũ Hệ số ĐN tiêu thụ Đơn giá Thành tiền
    1.852.116 1.808.598 1.0 43.518 700 30.462.709
    Ngày 28/1/2006

     

    Giám đốc

    (Ký, đóng dấu)

    Cộng   30.462.709
    Thuế suất GTGT (10% thuế GTGT) 3.046.271
    Tổng cộng tiền thanh toán 33.508.980
    Số tiền viết bằng chữ Ba mươi triệu năm trăm linh tám nghìn chín trăm tám mươi đồng

    Căn cứ vào hoá đơn GTGT kế toán ghi

    Nợ TK 62774:30.735.677

    Nợ TK 133: 3.073.568

    Có TK 111: 33.809.245

    * Chi phí bằng tiền khác

    Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí ngoài các khoản đã nêu trên phát sinh trực tiếp ở các phân xưởng như: chi phí giao dịch, chi phí tiếp khách, bảo dưỡng máy…

    Cuối tháng, dựa vào bảng kê chi tiết cột ghi có TK 111 – Tiền mặt và cột ghi nợ TK 6278 – Chi phí khác bằng tiền, máy tự động cộng toàn bộ chi phí khác bằng tiền phát sinh trong tháng 1/2006 tại phân xưởng.

    Cơ sở để vào bảng kê chi tiền là giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tiền tạm ứng, phiếu chi.

    2.2.4. Kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Sản phẩm hỏng của công ty là sản phẩm không thoả mãn tiêu chuẩn chất lượng đặc điểm kỹ thuật của sản xuất về màu sắc, kích cỡ, trọng lượng, cách thức lắp ráp…Tuỳ thuộc mức độ hư hỏng mà sản phẩm hỏng được chia thành sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được và sản phẩm hỏng không thể sửa chữa đựơc.

    Tại công ty những sản phẩm hỏng trong định mức là những sản phẩm công ty dự kiến sẽ xảy ra trong quá trình sản xuất, vì đây là những sản phẩm không tránh khỏi bị hỏng nên chi phí cho những sản phẩm này sau khi được hạch toán vào các TK chi phí như TK 621, TK 622, TK627 và chuyển về TK 154 thì chi phí đã được tập hợp cho những sản phẩm trên TK này được gọi là chi phí sản xuất chính phẩm.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức là những sản phẩm hỏng nằm ngoài dự kiến công ty do các nguyên nhân bất thường như máy hỏng, hoả hoạn… công ty không cộng chi phí của chúng vào chi phí sản xuất chính phẩm, mà chỉ xem là các khoản phí tổn thời kỳ, công ty xem xét các nguyên nhân cụ thể và xử lý, thực hiện bồi thường, đền bù thiệt hại, trừ vào thu nhập…

    Tuy nhiên, do công ty cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nên công ty chưa có những biện pháp cụ thể để hạch toán

    2.2.5. Kế toán tổng hợp

    Cuối tháng kế toán tập hợp chi phí để kết chuyển vào tài khoản giá thành

    Tại phân xưởng sản xuất má phanh ô tô

    Nợ TK 154: 244.657.292

    Có TK 6212:112.713.331

    Có TK 6222: 48.658.682

    Có TK 627: 83.285.279

    Tại phân xưởng sản xuất bao bì Carton

    Nợ TK: 390.972.963

    Có TK 6214: 157.209.351

    Có TK 6224: 161.878.012

    Có TK 627: 71.885.600

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG

    Tháng 1/2006

     

    STT Tên tài khoản TK 6271 TK 6272 TK 6274 TK 6277 TK 6278 Tổng cộng
    1 Lương và các khoản phải trả nhân viên PX

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

    13.424.900

     

    6.392.000

    7.032.900

            13.424.900
    2 Vật tư

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

      10.441.021

     

    10.041.024

    400.000

          10.441.021
    3 Khấu hao TSCĐ

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

        67.224.571

     

    50.670.251

    16.554.320

        67.224.571
    4 Chi phí dịch vụ mua ngoài

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

          34.080.378

     

    571.398

    33.508.980

      34.080.378
    5 Chi phí bằng tiền khác

     

    PX má phanh ô tô

    PX bao bì Carton

            30.000.000

     

    15.610.600

    14.389.400

    30.000.000
      Tổng cộng 13.424.900 10.441.021 67.224.571 34.080.378   155.170.870

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT MÁ PHANH Ô TÔ

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       112.713.331 48.658.682 83.285.279     244.657.292
    TK 6214 112.713.331               112.713.331
    TK 6224   48.658.682             48.658.682
    TK 627 10.041.024 6.392.000 50.670.251     83.285.279 15.610.600 571.398 83.285.273

    Ngày 31 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON

    Tháng 1/2006

     

      TK 152 TK 334 TK 214 TK 6214 TK 6224 TK 627 Nhật ký đặc biệt Công CPSX phát sinh
    Chi tiêu Mua hàng
    TK 1544       157.209.351 161.878.012 71.885.600     390.972.963
    TK 6214 157.209.351               157.209.351
    TK 6224   161.878.012             161.878.012
    TK 627 400.000 7.032.900 16.554.320       14.389.400 33.508.980 71.885.600

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Giám đốc                                                    Kế toán trưởng                                                     Người lập biểu

    2.3.Sổ kế toán

    Doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng hình thức sổ: Nhật ký chung và để thuận tiện cho việc theo dõi tình hình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đồng thời để giảm bớt công việc quá tải của phòng kế toán vào những lúc quyết toán hay những lúc nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm kế toán FAST ACCOUNTING việc sử dụng phần mềm kế toán sẽ hạn chế được những sai sót khi thực hiện các quá trình vào sổ.

    Chứng từ phát sinh hàng ngày được mã hoá và cập nhật trong menu cụ thể, hệ thống sổ chi tiết được lưu giữ trong  máy.

    Quy trình xử lý số liệu của phần mềm kế toán Fast Accouting

    Nghiệp vụ kinh tế phát sinh          Lập chứng từ          Chứng từ kế toán     Nhập chứng từ vào các phân hệ nghiệp vụ        Các tệp nhật ký           Chuyển sang sổ cái          Tệp sổ cái            Lên báo cáo        Sổ sách kế toán báo cáo tài chính.

    Để mã hoá doanh nghiệp dùng phương pháp đánh số lần lượt tăng dần theo số phát sinh của các danh điểm mới bắt đầu từ 00001.

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 621

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1

     

    1

    2

    3

    40

    40

    42

    42

    42

    44

    44

    44

    46

    3/1/2006

     

    3/1/2006

    6/1/2006

    6/1/2006

    21/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2007

    Số dư đầu tháng

     

    Xuất mực đen sản xuất bao bì

    Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất keo con voi phục vụ sản xuất

    ….

    ….

    Xuất dây buộc để sản xuất bao bì

    Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì

    Xuất Zoăng pittông chính TDMYA 450 SX má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 445 sản xuất má phanh

    Xuất Zoăng cao su chịu dầu phi 430 sản xuất má phanh

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì

    Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì

    Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì

    Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX má phanh

    1521

     

    1521

    1522

    1522

    1524

    1524

    1524

    1521

    1521

    1521

    1528

    1544

    1542

    2000125,44

     

    1408604,4

    57690

    102765

    ………

    ………

    241820

    132210,27

    1070040,32

    977235,65

    935365,65

    19902329,67

    3048970,89

    9609394,08

    1230168,5

    157209351

     

    112713331

          Tổng số phát sinh   269922682 269922682

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 622

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006

     

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu kỳ

     

    Tính tiền lương công nhân sản xuất bao bì

    Tính tiền lương công nhân sản xuất má phanh

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX bao bì

    Trích BHXH và KPCĐ cho công nhân PX má phanh

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX bao bì

    Kết chuyển chi phí tiền lương công nhân PX má phanh

    334

     

    334

    338

    338

    1544

    1542

    154190600

     

    45949100

    7687412

    2709582

    161878012

     

    4865682

          Tổng số phát sinh   210536694 210536694

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

     

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 627

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3

     

    3

    39

    39

    39

    39

    40

    15

    16

    45

    3/1/2006

     

    3/2/2006

    …….

    ……..

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    20/01/2006

    21/01/2006

    23/01/2006

    23/01/2006

    25/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    26/01/2006

    27/01/2006

    27/01/2006

    Số dư đầu tháng

     

    Chi tiền bảo dưỡng xe máy phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất má phanh

    …………….

    …………….

    Xuất dây điện đôi 4 ly phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất dây điện 2*4 phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất cầu đấu dây phục vụ sản xuất  má phanh

    Xuất vải vụn phục vụ sản xuất má phanh

    Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì

    Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì

    Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì

    Xuất găng tay cao xu phục vụ sản xuất má phanh

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì

    Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất má phanh

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì

    Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất má phanh

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì

    Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh

    111

     

    111

    1524

    1524

    1524

    1524

    1528

    111

    111

    1528

    334

    334

    338

    338

    214

    214

    1544

    1542

    3256695

     

    4569235

    ……

    …….

    1190000

    1066000

    43200

    1341360

    197820

    265000

    2356465

    151662

    6395000

    5850000

    637900

    542000

    16554320

    50670251

    71885600

     

    83.285.279

    Người lập biểu                                                                                            Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 154

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
          Số dư đầu tháng   82.631.933  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX bao bì 6214 157.209.351  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu PX má phanh 6212 112.713.331  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX bao bì 6224 161.878.012  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp PX má phanh 6222 48.658.682  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 627 83.285.279  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX má phanh 627 71.885.600  
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm bao bì 155   354.006.736
        27/01/2006 Nhập kho thành phẩm  má phanh 155   276.695.235
          Cộng phát sinh   635.630.255 630.701.971
          Số dư cuối tháng   87.560.217  

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      1 3/1/2006 Xuất mực đen sản xuất bao bì 1521 2000125,44  
      1 3/1/2006 Xuất mực đỏ (04) sản xuất bao bì 1521 1408604,4  
        …………………….      
      40 21/01/2006 Xuất dây buộc để sản xuất bao bì 1522 214820  
      40 21/01/2006 Xuất ghim dập hộp sản xuất bao bì 1522 132210,27  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 150 sản xuất bao bì 1521 19902329,67  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 130 sản xuất bao bì 1521 3048970,89  
      44 25/01/2006 Xuất giấy Krap mộc định lượng 180 sản xuất bao bì 1521 9609394,08  
      46 26/01/2006 Xuất lưới in bao bì sản xuất bao bì 1528 1230168,5  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp PX bao bì 1544   157209351
          Tổng cộng   157209351 157209351

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

     

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6224

    Tháng 1/2006

     

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
        26/01/2006 Tính tiền công nhân sản xuất 334 154190600  
        26/01/2006 Trích BHXH và KPCĐ 338 7687412  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp 1544   161878012
          Tổng cộng   161878012 161878012

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

              676 – Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

    SỔ CÁI TÀI KHOẢN

    Tài khoản 6214

    Tháng 1/2006

     

    Ngày ghi sổ Chứng từ Diễn giải TK đối ứng Số phát sinh
    Số Ngày Nợ
      3 3/1/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 3256695  
        ……… ………………..   …..  
        ………… ……………………….   ……….  
      40 21/01/2006 Xuất găng tay cao su phục vụ sản xuất bao bì 1528 197820  
      15 23/01/2006 Mua gỗ dán phục vụ sản xuất bao bì 111 265000  
      16 23/01/2006 Chi tiền bảo dưỡng máy phục vụ sản xuất bao bì 111 2356465  
        26/01/2006 Tính lương nhân viên phục vụ sản xuất bao bì 334 6395000  
        26/01/2006 Trích BHXH, KPCĐ cho nhân viên phân xưởng bao bì 338 637900  
        26/01/2006 Trích KHTSCĐ phân xưởng sản xuất bao bì 214 16554320  
        27/01/2006 Kết chuyển chi phí sản xuất chung PX bao bì 1544   71885600
          Tổng cộng   71885600 71885600

    Người lập biểu                                                                                                               Kế toán trưởng

    3. Giá thành sản phẩm

    3.1. Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

    Tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, chi phí sản xuất làm dở cuối tháng được tính theo phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu chính. Cụ thể việc tính toán được tiến hành như sau: công thức tính giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng:

    Chi phí SPDDCK = CPNVL của SPDD đầu kỳ + CP NVL phát sinh trong kỳ x KL sản phẩm DDCK
    KL sản phẩm hoàn thành + KL sản phẩm DDCK

    Tại phân xưởng bao bì sản phẩm dở dang đầu tháng 1/2006 đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là 43.007.026đ.

    Căn cứ vào giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, bảng tập hợp chi phí sản xuất từng phân xưởng. Ta có giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng của sản phẩm bao bì:

    x  53.545,24  = 76.048/.193đ

    3.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm

    Công ty Cổ phần và sản xuất thương mại Viglacera có quy trình sản xuất bao bì là dây chuyền sản xuất kiểu liên tục, chỉ những sản phẩm ở giai đoạn công nghệ cuối cùng mới là thành phẩm. Công ty không có nửa thành phẩm bán ra ngoài hay nhập kho. Xuất phát từ đặc điểm này, kế toán xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là sản phẩm bao bì hoàn thành  nhập kho. Đơn vị tính giá thành là m2 bao bì hoàn  thành. Để phù hợp với yêu cầu quản lý, Công ty quy định tính giá thành là tháng.

    Do quy mô doanh nghiệp nhỏ và quy trình sản xuất sản phẩm không phức tạp nên doanh nghiệp tính giá thành sản phẩm theo phương pháp giản đơn.

    Trình tự khai báo và tính giá thành sản phẩm:

    – Khai báo các thông tin để tính giá thành

    + Khai báo bộ phận hạch toán: Theo từng phân xưởng

    + Khai báo danh mục chi phí tính giá thành: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

    – Cập nhật số liệu dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật số lượng sản phẩm dở dang đầu kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu dở dang đầu kỳ

    – Các bước tính giá thành sản phẩm

    + Cập nhật số số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ

    + Cập nhật nguyên vật liệu trực tiếp dở dang cuối kỳ

    + Tính giá xuất nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ

    + Kết chuyển chi phí trực tiếp

    + Tính số lượng sản phẩm nhập kho trong kỳ

    + Tính giá thành sản phẩm

    + Điều chỉnh giá thành

    + Cập nhật giá cho các phiếu nhập kho thành phẩm

    =       +          –

    =          43.007.026    +      390.972.963     –      45.124.449

    = 357.931.796

    =     = 4.049,2

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    Phân xưởng sản xuất bao bì

     

    BIÊN BẢN KIỂM KÊ SẢN PHẨM DỞ DANG CUỐI KỲ PX BAO BÌ

    Ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    01 Tổ sóng m2 15.183,14
    02 Tổ kẻ m2 10.112,00
    03 Tổ bổ m2 9.000,00
    04 Tổ in lưới m2 9.570,00
    05 Tổ hoàn thiện m2 9.680.00
      Cộng m2 53.545,24

    Kế toán trưởng          Quản đốc phân xưởng         Người lập phiếu

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU XÁC NHẬN SẢN PHẨM HOÀN THÀNH

    Tháng 1/2006

    Tiến hành hồi: 15h00′ ngày 27 tháng 01 năm 2006

    Thành phần:         1. Vũ Văn Duy: Phòng kỹ thuật

    1. Đỗ Trọng Tấn: Phòng kế toán
    2. Lê Văn Hải: Quản đốc phân xưởng
    3. Nguyễn Quang Bình: Quản đốc PX má phanh

    Tiến hành kiểm kê toàn bộ sản phẩm hoàn thành tại các phân xưởng đến hết ngày 27

    STT Bộ phận ĐVT Số lượng
    1 Bao bì Carton m2 7.884
    2 Má phanh ô tô kg 87.426,34

    Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera

    676 – Hoàng Hoa Thám -Tây Hồ – Hà Nội

    BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM BAO BÌ

    Tháng 1/2006

    Đơn vị: đồng

    Sản lượng sản phẩm hoàn thành: 87426,34m2

    STT Khoản mục CPSXDD đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ CPSXDD cuối kỳ Tổng giá thành Giá thành đơn vị
    1 CP nguyên vật liệu trực tiếp 43007026 157209351 76048193 124168184 1420,3
    2 CP nhân công trực tiếp   161878012   161878012 1851,6
    3 CP sản xuất chung   71885600   71885600 822,3
      CP nhân viên phân xưởng

     

    CP vật liệu xuất dùng

    CP dịch vụ mua ngoài

    CP bằng tiền khác

    Trích khấu hao TSCĐ

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

      7032900

     

    400000

    33508980

    14389400

    16554320

    80,44

     

    4,58

    383,3

    164,59

    189,35

      Cộng 43007026 390972963   357931797 4049,2

    Giám đốc                     Kế toán trưởng                         Quản đốc phân xưởng                        Người lập

    PHẦN III

    MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN

     TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

     TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI VIGLACERA

     

    I. SỰ CẦN THIẾT VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY

    1. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Nhìn chung các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị của các đối tượng cần tính giá. Việc tổ chức công tác tính giá cho các đối tượng cần tính giá theo các yếu tố cấu thành giá mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện là 1 trong các nội dung biểu hiện trong công tác kế toán tại doanh nghiệp. Sản phẩm hoàn thành là thành quả của 1 quá trình lao động và sản xuất của cán bộ công nhân viên trong toàn doanh nghiệp. Nhưng để có được như mong muốn đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí cũng như công sức lao động của những người tham gia. Việc tập hợp các khoản chi phí này cho phép tính được tổng chi phí đã chi ra, giá thành sản xuất của sản phẩm từ đó xác định mức giá tối thiểu bàn các sản phẩm để thu về hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Như vậy, trong công tác quản lý doanh nghiệp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh  cũng như tình hình quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất trong quá trình hoạt động kinh doanh của cả doanh nghiệp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có 1 tầm quan trọng đặc biệt, là 1 phần hành không thể thiếu trong công tác kế toán của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào nhằm cung cấp thông tin cần thiết để tính đúng tính đủ chi phí sản xuất và tính toán chính xác giá thành sản phẩm. Do đó, các thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được các nhà quản lý quan tâm, chúng là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang lại cho những nhà quản lý nhiều định hướng cũng như các quyết định quan trọng trong việc điều hành. Mục tiêu phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là điều kiện chủ yếu giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có thể đứng vững chắc trên thị trường cạnh tranh.

    Như vậy, sự hoàn thiện của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm góp phần không nhỏ vào sự thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm để tăng cường hiệu quả kế toán cũng như quản trị doanh nghiệp, góp phần tăng sức mạnh của doanh nghiệp.

    2. Nguyên tắc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

    Công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là 1 bộ phận quan trọng trong toàn bộ nội dung tổ chức kế toán tại doanh nghiệp. Do đó, công tác kế toán này phải tuân theo những nguyên tắc chung.

    Trước hết, tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đúng với luật kế toán, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, phù hợp với những yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước. Bên cạnh đó tổ chức công tác kế toán này phải phù hợp với các chế độ, chính sách, thể lệ, văn bản pháp quy về kế toán do Nhà nước ban hành. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý cán bộ kế toán phải có trình độ chuyên môn phù hợp với công tác tổ chức kế toán này. Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả.

    – Thống nhất trong tổ chức

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất giữa chỉ tiêu quản lý và chỉ tiêu hạch toán.

    + Doanh nghiệp cũng phải đảm bảo sự  thống nhất về phương pháp hạch toán trong một niên độ kế toán. Doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán phải sử dụng hết chu kỳ kế toán (1 năm) mới được phép thay đổi. Ví dụ doanh nghiệp chọn phương pháp hạch toán kế toán hàng tồn kho theo phương pháp FIFO. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

    + Doanh nghiệp phải đảm bảo sự thống nhất về hệ thống tài khoản và sổ kế toán.

    – Nguyên tắc phù hợp về loại hình kinh doanh là doanh nghiệp sản xuất, điều kiện cơ sở vật chất phù hợp.

    + Doanh nghiệp đảm bảo sự phù hợp về quy mô hoạt động

    + Sự phù hợp đối với yêu cầu về trình độ quản lý

    +Doanh nghiệp phải tính đến khả năng hạch toán của đơn vị; sự phù hợp về nhân sự cũng như thay đổi về nhân sự.

    + Việc ghi nhận chi phí là phải phù hợp. Đó là sự phù hợp giữa ghi nhận doanh thu và chi phí ghi nhận 1 khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu là khoản chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của  các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu trong kỳ đó.

    Ngoài ra, tổ chức công tác kế toán này phải có sự thận trọng, chi phí được ghi nhận kho có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí đó.

    3. Nhận xét chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    Quá trình hoạt động sản xuất kế toán giữa công ty từ khi thành lập cho tới nay đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, thể hiện ở chặng đường phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với sự mở rộng không ngừng quy mô sản xuất khiến sản phẩm của công ty ngày càng thích nghi với nhu cầu của thị trường, tạo điều kiện để từng bước hòa nhập với xu thế phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.

    Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường là 1 cơ quan nhạy bén cùng những cơ chế kinh tế mới, công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera đã có những phát triển khá nhanh. Sự năng động, linh hoạt cùng với việc ứng dụng kịp thời công nghệ thông tin vào công tác kế toán tại công ty đã từng bước phát huy hiệu quả, giảm bớt khối lượng ghi chép, hạch toán và cung ứng thông tin nhanh chóng, kịp thời cho ban lãnh đạo công ty, giúp ban lãnh đạo công ty đưa ra những quyết định đúng đắn trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Nhận thức được việc đã đưa ra các giải pháp phù hợp trong điều kiện hiện nay chỉ có thể thực hiện trên cơ sở sản phẩm phân tích đánh giá 1 cách đầy đủ, khách quan tình hình quản lý của công ty mà nội dung chủ yếu là công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, công ty luôn cố gắng nghiên cứu tìm ra những biện pháp cụ thể về quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cho phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Song nói như vậy không có nghĩa là không có những hạn chế trong công tác kế toán tại công ty. Dưới góc độ là một sinh viên thực tập lần đầu tiên được quen với thực tế, em xin nêu ra 1 số ý kiến nhận xét  về công tác kế toán nói chung cũng như công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nói riêng như sau:

    3.1. Những ưu điểm trong công tác tổ chức quản lý kế toán tại công ty

    – Tại công ty các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được cập nhật thường xuyên, đầy đủ chính vì vậy, công ty luôn đảm bảo cho việc lập và nộp báo cáo kịp thời cho cấp trên và đơn vị chủ quản vào cuối mỗi quý.

    – Công ty đã xây dựng giá thành định mức trên cơ sở định mức tiêu  hao nguyên vật liệu chính, định mức tiền lương… làm thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng các loại vật tư, tiền vốn… cũng như giải pháp công ty áp dụng trong sản xuất kinh doanh.

    – Hình thức tổ chức bộ máy kế toán về cơ bản là phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty. Việc tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ, hợp lý hoạt động có nề nếp, kinh nghiệm. Các cán bộ kế toán có trình độ nghiệp vụ cao nắm vững chế độ và vận dụng 1 cách linh hoạt, tác phong làm việc khoa học, có tinh thần tương trợ lẫn nhau trong công việc. Song có điểm công ty nên xem xét lại đó là không nên để 1 kế toán viên kiêm nhiệm thủ quỹ, vì làm như vậy trái với nguyên tắc kế toán.

    – Hình thức nhật ký chung được sử dụng tại công ty là hoàn toàn phù hợp với hình thức kế toán máy và tạo thuận lợi cho công ty trong việc cơ giới hóa công tác kế toán.

    – Đối với công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm công ty đã tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm khá nề nếp đảm bảo tuân thủ đúng chế độ kế toán hiện hành, phù hợp với điều kiện của công ty đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý tạo điều kiện để công ty thực hiện tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Đây là một trong những mặt tích cực mà công ty đã xác định khi chuyển sang cơ chế thị trường tuy nhiên trong kỷ luật hạch toán vẫn còn có những vấn đề chưa thực sự hợp lý, cần  nghiên cứu hoàn thiện thêm.

    – Về đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất: Quy trình công nghệ sản xuất bao bì là ruột quy trình phức tạp, liên tục sản phẩm sản xuất ra phải trả qua nhiều công đoạn khác nhau, do đó trong cơ cấu phân xưởng có nhiều tổ việc công ty xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở công ty theo phân xưởng đã tạo điều kiện cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất được tiến hành nhanh chóng.

    – Về kế toán chi phí nguyên vật liệu: công tác kế toán này được thực hiện nghiêm chỉnh theo đúng chế độ, các phiếu xuất kho NVL được cập nhật đầy đủ, kịp thời tạo thuận lợi cho việc tính giá vật liệu xuất kho và tính giá thành sản phẩm. Ngoài ra, công ty đã mở sổ ghi chép phù hợp với hình thức kế toán áp dụng tại công ty. Hệ thống kế toán được mở chi tiết TK cấp 2 cấp 3 giúp tập hợp chi phí sản xuất dễ dàng thuận tiện trong việc ứng dụng kế toán máy.

    – Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp: công ty áp dụng hình thức trả lương sản phẩm, khuyến khích người lao động làm việc hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, công tác hạch toán tiền lương được thực hiện nghiêm túc, đúng chế độ quy định.

    – Về kế toán chi phí sản xuất chung: công tác kế toán này được tiến hành tương đối theo đúng quy định.

    – Tổ chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo quan điểm của công ty giá trị sản phẩm dở dang cuối tháng là vật liệu chính ở các phân xưởng công ty căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm để áp dụng phương pháp này. Theo đó, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm. Vì thế trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính. Điều này khá thuận tiện và phù hợp cho công ty.

    – Về đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành: Để giảm bớt tính phức tạp của công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành cho sản phẩm công ty xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm bao bì hoàn thành chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục nên tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo định kỳ tính giá thành là phù hợp.

    3.2. Những mặt hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý kế toán tại công ty

    – Khoản mục chi phí NVL trực tiếp dùng cho sản xuất công ty sử dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính, công ty đã hạch toán số vật liệu thừa chưa dùng vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Điều này chưa được hợp lý.

    – Cán bộ công nhân viên nghỉ phép không đều giữa các tháng khiến việc trích tiền lương nghỉ phép giữa các tháng khác nhau, có tháng nhiều, có tháng ít, ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

    – Khoản chi vặt thuộc lĩnh vực phúc lợi (chi sinh hoạt đoàn viên) được tập hợp vào khoản mục chi phí sản xuất chung không hợp lý do số lượng công nhân lớn chi phí cho mỗi lần sinh hoạt đoàn viên tuy nhỏ so với tổng chi phí sản xuất nhưng nó cũng ảnh hưởng phần nào tới giá thành sản phẩm.

    Việc tính khấu hao TSCĐ của công ty theo từng tháng. Việc tính khấu hao theo từng tháng tuy có tác dụng bình ổn về giá nhưng lại không phản ánh chính xác các khoản chi phí công ty đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm cũng như hiệu quả kinh doanh.

    – Công ty xác định đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành gồm sản phẩm má phanh và bao bì Carton. Mỗi một sản phẩm lại gồm nhiều loại khác nhau nhưng chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Do đó, công ty cần phân biệt từng loại sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách hàng có yêu cầu về kỹ thuật, mẫu mã khác nhau vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau. Vì vậy đối tượng tính giá thành ở đây không thể hiện sự khác nhau của từng chủng loại sản phẩm.

    II. MỘT SỐ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

    – Sau một thời gian ngắn tìm hiểu thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, dưới góc độ là một sinh viên thực tập em xin mạnh dạn nêu ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty

    1. Xác định đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành sản phẩm thích hợp

    Quy trình công nghệ sản xuất bao bì tạo ra 1 loại sản phẩm chính là bao bì nhưng có nhiều chủng loại khác nhau và chỉ tính giá thành theo đơn vị m2, kg. Chi phí để sản xuất mỗi loại bao bì khác nhau sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm của chúng cũng khác nhau. Chẳng hạn, giá thành bao bì cũ hợp thạch bàn sẽ khác với giá thành hợp hữu hưng và hợp carton 5 lớp… Thực tế xem xét tình hình tiêu thụ em thấy giá bán của các loại bao bì này cũng khác nhau. Do đó để tính toán chính xác số lãi hoặc số lỗ nhằm định hướng sản xuất, tăng số lượng bao bì có lãi cao, giảm số bao bì có lãi thấp và tiêu thụ chậm, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị ra quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác công ty sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng nhưng lại không tính giá thành theo từng đơn đặt hàng điều này không hợp lý trong quá trình xác định đối tượng tính giá thành. Doanh nghiệp nên xác định lại đối tượng tính giá thành.

    Khi có các đơn đặt hàng của khách hay kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo đơn. Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng. Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh sẽ được tập hợp theo từng đơn không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ, giản đơn hay phức tạp. Khi phân bổ chi phí sản xuất chung sẽ phân bổ theo từng đơn đặt hàng với những tiêu chuẩn phù hợp tổng giá thành sẽ là tổng chi phí đã được tập hợp theo đơn đặt hàng đó giá thành đơn vị sẽ là tổng giá thành của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.

    2. Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu

    Hiện nay Bộ Tài chính ban hành quyết định số 15/2006/QĐ-BTC chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam 2006 doanh nghiệp nên cập nhật trong quyết định số 15 có sự thay đổi của các bảng biểu, sổ sách, chứng từ doanh nghiệp nên kịp thời áp dụng để thực hiện đúng quyết định mà Bộ Tài chính đã ban hành .

    Hoàn thiện công tác hạch toán ban đầu chính là việc cung cấp đầy đủ bộ chứng từ phục vụ cho quá trình ghi chép những nghiệp vụ kinh tế phát sinh các chứng từ cần phải được tuân theo đúng quy định, doanh nghiệp áp dụng biểu mẫu theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phiếu xuất kho.

     

    PHIẾU XUẤT KHO

    Người nhận hàng:

    Đơn vị:

    Địa chỉ:

    Nội dung:

    STT Mã kho Tên vật tư TK nợ TK có ĐVT Số lượng Giá Thành tiền
        Tổng:            

    Với mẫu phiếu xuất kho này thì chỉ xác định được lượng thực xuất mà không xác định được số lượng yêu cầu và đi kèm với phiếu xuất kho này phiếu yêu cầu lĩnh vật tư như vậy muốn để biết được lượng thực xuất và lượng yêu cầu cần phải xem hai loại chứng từ. Doanh nghiệp nên áp dụng đúng mẫu phiếu xuất kho để tiện theo dõi và phù hợp với quyết định của Bộ Tài chính.

    Mẫu số: 02-VT

    Đơn vị:                                                (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC)

    Bộ phận:  Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)

    PHIẾU XUẤT KHO

    Ngày….tháng….năm    Nợ:……

    Số:                        Có………

    Họ tên người nhận hàng:……………….Địa chỉ (bộ phận):……………

    Lý do xuất kho…………………………

    Xuất tại kho (ngăn lô)………………….Địa điểm:

    STT Tên, nhãn hiệu, quy cách Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    A B C D 1 2 3 4
                   
      Cộng x x x x x x

    Tổng số tiền (Viết bằng chữ):…………………….

    Số chứng từ gốc kèm theo…………………………

    Ngày…..tháng…..năm

    Người lập phiếu Người nhận hàng Thủ kho Kế toán trưởng Giám đốc
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

     

    3. Về tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu và xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu phù hợp

    – Như chúng ta đã biết giá thành sản phẩm có vai trò quyết định với mức lợi nhuận của phân xưởng, mà giá thành làm ra lại phụ thuộc vào các chi phí sản xuất, sản xuất về nguyên vật liệu. Chi phí này luôn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sửa chữa sản phẩm phải tiến hành tiết kiệm tối đa, phải tổ chức tốt khâu nguyên vật liệu, các định mức tiêu hao NVL phải được xây dựng chặt chẽ và sát với thực tế.

    Để giảm bớt tiêu  hao nguyên vật liệu với mức tối thiểu, xây dựng phương án định mức tiêu hao vật tư so với thực tế nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, nhất thiết cán bộ công nhân viên phái có ý thức, trách nhiệm cao trong sản xuất, nâng cao năng suất sử dụng máy móc, thiết bị, sử dụng hết công suất máy, tăng năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao. Việc cung cấp nguyên vật liệu phải đảm bảo chất lượng và đồng bộ  phục vụ cho sản xuất tốt.

    Bên cạnh đó, công ty cũng nên tích cực đi sâu vào nghiên cứu thị trường và mở rộng quan hệ với các đối tác trong quan hệ làm ăn.

    4. Về bảng phân bổ tiền lương và BHXH

    Theo em, công ty không nên tính tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất và của nhân viên phân xưởng vào cả lương chính mà nên đưa vào cột lương trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH, nhằm thể hiện sự tách bạch của các khoản tiền lương đồng thời đảm bảo chính xác các khoản tiền lương đó:

    – Lương chính là tiền lương trả công cho nhân viên trong thời gian làm việc thực tế

    – Lương phụ là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian ngừng việc như: nghỉ lễ, nghỉ phép, đi học, đi họp theo chế độ quy định.

    Căn cứ vào bảng chấm công, đơn giá lương thời gian xác định tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất và nhân viên phân xưởng bao bì, sau đó đưa cột lương phụ vào trong bảng phân bổ tiền lương và BHXH.

    5. Về trích trước tiền lương nghỉ phép

    Trong thời gian qua do công nhân nghỉ phép không đều nhau giữa các tháng tạo ra sự biến động chi phí sản xuất giữa các kỳ. Do vậy, công ty cần xem xét nhu cầu nghỉ phép và lập kế hoạch trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất. Kế toán ghi sổ nhật ký chung. Sổ cái TK 622, TK 335 (TK chi tiết, TK có liên quan) từ bảng phân bổ tiền lương và BHXH theo định khoản

    Nợ TK 622

    Có TK 335           Số trích trước bán hàng

    Khi tính tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất nghỉ phép kế toán ghi:

    Nợ TK 335

    Có TK 334           Số tiền nghỉ phép thực tế phát sinh

    Công thức:

    =       x  Tỷ lệ trích trước

    Tỷ lệ trích trước =   x 100%

    Hiện tại công ty chưa mở TK tổng hợp 335. Chi phí phải trả và các TK chi tiết có liên quan để theo dõi tình hình, các nghiệp vụ liên quan đến các khoản chi phí phải trả. Do đó công ty nên xem xét mở thêm TK 335

    1. Về kế toán thiệt hại trong sản xuất

    Hiện nay công ty chưa có biện pháp cụ thể đối với những sản phẩm hỏng. Mặc dù cho đến nay thiệt hại là không đáng kể nhưng công ty cũng nên có biện pháp hạch toán cụ thể để đến khi có sự cố xảy ra kế toán cũng không lúng túng trong quá trình hạch toán.

    Đối với những sản phẩm hỏng trong định mức khi hoạch toán về kế toán đưa vào các tài khoản chi phí TK 621, 622, 627, để cuối kỳ  kết chuyển vào tài khoản 154 và tính giá thành sản phẩm.

    Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng bao bì thì hạch toán các CP vào các tài khoản tương ứng TK 6214, 6224, 627, 1544. Với những sản phẩm hỏng của phân xưởng má phanh ô tô cũng hạch toán vào các TK 6212, 6222, 627, 1542.

    Đối với những sản phẩm hỏng ngoài định mức công ty nên tìm hiểu rõ nguyên nhân để tiện theo dõi.

    + Nguyên nhân hỏng do 1 cá nhân hay 1 tổ, đội cần có hình thức phạt bồi thường theo giá trị sản phẩm hoàn thành được sản xuất ra:

    Nợ TK 138                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    hoặc có thể trừ vào lương công nhân

    Nợ TK 334                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    Nếu trừ vào thu nhập của doanh nghiệp

    Nợ TK 811                    Giá trị sản phẩm

    Có TK 154                     hỏng

    7. Về kiểm tra đánh giá sản phẩm dở dang

    Công ty xác định CP sản phẩm làm dở cuối tháng đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính. Phương pháp này là tương đối phù hợp với điều kiện sản xuất của công ty. Tuy nhiên việc không tách biệt vật liệu thừa chưa dùng đến trong tổng số VLC dùng cho sản xuất là chưa chính xác. Theo em thì công ty nên có những biện pháp quản lý cụ thể như sau:

    + Đối với nguyên vật liệu có thể sử dụng ngay ở kỳ sau thì phân xưởng có thể tiến hành nhập kho lại để bảo quản nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích khác.

    + Đối với nguyên vật liệu có thẻ sử dụng ngay ở kỳ sau của phân xưởng sẽ lập phiếu báo cáo vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên thứ nhất: gửi lên phòng kế toán để theo dõi và phản ánh lượng vật tư còn cuối kỳ làm 2 liên.

    – Liên 2: giao cho phòng kho vật tư để phòng vật tư lập kho mua nguyên vật liệu cho kỳ sau được chính xác, hợp lý.

    Sau khi nhận được phiếu báo vật tư, kế toán tiến hành định khoản

    Nợ TK 152                    NVL thừa không sử dụng nhập lại

    Có TK 621                     kho

    Mua phiếu báo vật tư còn cuối kỳ như sau:

    Công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera

    676 Hoàng Hoa Thám – Tây Hồ – Hà Nội

     

    PHIẾU BÁO VẬT TƯ CÒN CUỐI KỲ

    Bộ phận sử dụng: phân xưởng sản xuất bao bì

    STT Tên, nhãn hiệu quy cách vật tư Mã vật tư ĐVT Số lượng Lý do
               

    Ngày……tháng…..năm

    Bộ phận sử dụng

    (Ký, họ tên)

     

    KẾT LUẬN

     

    Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacera em nhận thấy công tác tổ chức quản lý tại công ty nói chung, công tác kế toán nói riêng, về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, nếu công ty có những biện pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thì công ty sẽ phát huy vai trò của mình đối với quá trình phát triển. Đối với mỗi doanh nghiệp, quản lý là vấn đề cơ bản trong đó kế toán là một công cụ đắc lực, không chỉ là sự cung cấp thông tin cho những nhà cung cấp, nhà quản lý… mà còn giúp ban lãnh đạo, các nhà quản lý đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.

    Trên cơ sở những kiến thức đã thu nhận trong trong thời gian học tập tại trường Trung học dân lập Kinh tế kỹ thuật tổng hợp Hà Nội, kết hợp với quá trình thực tiễn tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Viglacera, em đã học hỏi được một số kết quả nghiên cứu nhất định.

    – Tìm hiểu những vấn đề chung trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Từ đó nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán này. Nắm vững bản chất nội dung kinh tế của chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và các phân loại chi phí, giá thành được sử dụng trong kế toán tài chính.

    – Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm bao bì tại công ty.Em nghĩ khi tập hợp chi phí sản xuất đầy đủ và chính xác, kế toán đưa ra được giá thành sản xuất phù hợp, đó là chìa khóa của việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

    – Đề xuất được 1 số ý kiến đóng góp hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất kế toán có hiệu quả.

    Với thời gian ngắn thực tập tại công ty, em đã có cơ hội tiếp cận thực tiễn tuy nhiên thời gian đó chưa đủ để em có thể tìm hiểu sâu và rộng hơn về tình hình sản xuất kinh doanh, công tác quản lý lao động và các hoạt động khác tại công ty. Thêm vào đó, từ kiến thức học ở trường cho đến thực tiễn còn rất nhiều khoảng cách. Vì vậy, những vấn đề đã nêu trong chuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để có thể hoàn thành chuyên đề này được hoàn chỉnh hơn.

    Cuối cùng,cảm ơn các cán bộ phòng tài chính – kế toán tại Công ty Cổ phần sản xuất và Thương mại Viglacere, đặc biệt là cô giáo Phan Thị Thúy Quỳnh trường THDL kinh tế kỹ thuật tổng hợp và kế toán trưởng Đỗ Trọng Tấn đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gian-l%E1%BA%ADn-thu%E1%BA%BF-GTGT-trong-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-v%C3%A0-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-ph%C3%B2ng-ng%E1%BB%ABa.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện Luật thuế GTGT ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

     

    Chương I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT TRONG KINH DOANH

     

    I. VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

    1. Doanh nghiệp thương mại và nghĩa vụ thuế GTGT

    Thương mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá. Nếu hoạt động trao đổi hàng hoá (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi nó là ngoại thương (kinh doanh quốc tế). Theo luật thương mại thì các hành vi thương mại bao gồm: Mua bán hàng hoá, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá, đại lý mua bán hàng hoá, gia công thương mại, đấu giá hàng hoá, đấu thầu hàng hoá dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoá và hội trợ triển lãm thương mại.

    Doanh nghiệp thương mại: là các tổ chức kinh tế được hình thành hợp pháp hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, buôn bán hàng hoá.

    Đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung khi đăng ký thành lập và đi vào hoạt động đều phải chịu nghĩa vụ thuế GTGT đối với Nhà nước.

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Việc đăng ký thuế phải tuân theo những quy trình thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế.Kết quả của đăng ký thuế la mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Kể từ ngày được cấp mã số thuế, cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế đều phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế. Đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng, hoá đơn…., chứng từ mua bán hàng hoá, dịch vụ, sổ sách kế toán, tờ khai thuế, chứng từ nộp thuế.

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển số thuế đã thu hộ nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản của đối tượng nộp thuế.

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế thì việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Nghĩa vụ quyết toán thuế phải được quy định một cách chặt chẽ nhằm xác định đầy đủ, chính xác số thuế mà cơ sở kinh doanh thu hộ nhà nước để chuyển vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời nhằm tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu hộ nhà nước để phục vụ lợi ích riêng cuả mình.

    2.Vai trò của thuế GTGT đối với các DNTM.

    Qua những năm triển khai và thực hiện Luật thuế GTGT đã đem lại một số thành tựu đáng kể. Cụ thể góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Thuế GTGT góp phần khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu kinh tế. Theo qui định  của Luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp tập trung được nguồn hàng để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền được hoàn tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 2.700 tỷ đồng; năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện thị trường xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23.18%; năm 2000 tăng 21.3%. Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được ưu đãi hưởng thuế suất thuế TNDN 25%; nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu được miễn thuế thu nhập bổ sung đã tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu và xuất khẩu thay vì luật thuế cũ khuyến khích sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích sản xuất, kinh doanh những mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh: nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Đặc biệt luật thuế GTGT góp phần đến công tác quản lý  của doanh nghiệp tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp.

    II. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THUẾ GTGT

    Để góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ khuyến khích phát triển nền KTQD, động viên 1 phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật này quy định thuế GTGT

    Nội dung về thuế GTGT bao gồm:

     

    1. Đối tượng nộp thuế và chịu thuế GTGT.

    Điều 1. Thuế giá trị gia tăng

    Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

    Điều 2. Đối tượng chịu thuế

    Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 4 của luật này.

    Điều 3. Đối tượng nộp thuế

    Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng.

    Điều 4. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng

    Hàng hoá, dịch vụ dưới đây không thuộc diệ chịu thuế giá trị gia tăng:

    Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất và bán ra.

    Sản phẩm muối

    Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được mà cơ sở có dự án đầu tư nhập khẩu để làm tài sản cố định theo dự án đó.

    Chuyển quyền sử dụng đất thuộc diện chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất.

    Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê.

    Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư

    Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh.

    Dịch vụ y tế.

    Hoạt động văn hoá, triển lãm và thể dục thể thao không nhằm mục đích kinh doanh, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, phát hành và chiếu phim nhựa, phim video tài liệu.

    Dạy học, dạy nghề

    Phát sóng truyền thanh, truyền hình theo chương trình bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

    In, xuất bản và phát hành báo, tạp chí, bản tinh chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng tiếng dân tộc thiểu số, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, in tiền.

    Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng, phục vụ tang lễ v…v…

    Điều 5. Nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện luật thuế GTGT

    1. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng hạn theo quy định của luật này.
    2. Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này.
    3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT.
    4. Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế trong việc thi hành luật này.
    5. Cơ sở tính thuế GTGT

    Gồm giá tính thuế và thuế suất thuế GTGT

    Về giá tính thuế GTGT, về lý thuyết có hai cách xác định:

    Giá tính thuế là giá đã bao gồm thuế GTGT, có nghĩa là thuế được tính trên giá bán đã bao gồm thuế.

    Giá tính thuế là giá chưa bao gồm thuế GTGT. Cách tính này làm cho bên mua và bên bán thấy rõ ràng hơn là giá chưa có thuế và thuế GTGT

    Điều 7. Giá tính thuế GTGT

    Giá tính thuế GTGT được quy định như sau:

    1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
    2. Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu.
    3. Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
    4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ.
    5. Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa tính theo giá bán trả 1 lần không tính theo số tiền trả từng kỳ.
    6. Đối với gia công hàng hoá là giá gia công.
    7. Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do chính phủ quy định

    Về thuế suất là đại lượng xác định mức độ, phạm vi, nghĩa vụ nộp thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Hay nói cách khác, thuế suất là định mức thu thuế trên một đơn vị của đối tượng chịu thuế. Thuế suất biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, tức là thể hiện quan điểm động viên của Nhà nước với từng hoạt động sản xuất kinh doanh. Thuế suất thuế GTGT là loại thuế suất theo giá trị tức là thuế suất quy định tỷ lệ % huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng nộp thuế.

    Về mức thuế suất thuế GTGT được quy định như sau:

    Mức thuế suất 0% đối với hàng hoá xuất khẩu

    Mức thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ: nước sạch, nước sinh hoạt, phân bón, thuốc khám bệnh, đồ chơi trẻ em, sách khoa học….

    Mức thuế suất thông thường giao động từ 10 – 20%

    Nhóm thuế suất ưu đãi giao động từ 5%- 7%

    Nhóm thuế suất đặc biệt ưu đãi: dưới 5% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ đặc biệt ưu đãi.

    Nhóm thuế suất điều tiết trên 20%.

    3. Phương pháp tính thuế GTGT

    Thuế GTGT phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.

    3.1 Phương pháp khấu trừ thuế:

    Số thuế phải nộp bằng thuế GTGT đầu ra trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất.

    Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu.

    3.2 Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng

    Số thuế phải nộp bằng GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân với thuế suất thuế GTGT.

    Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ bán ra trừ giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào.

    Phương pháp tính trực tiếp chỉ áp dụng đối với các đối tượng sau:

    Cá nhân sản xuất kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo bước đầu tư nước ngoài tới Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.

    Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý.

     

    4. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT

    Việc thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT phải thông qua một cơ chế nhất định vì vậy một trong những nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh thuế GTGT là cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT gồm: đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế.

    4.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế

    Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ đăng ký thuế GTGT là sự ra đời, thay đổi hoặc chấm dứt của chủ thể kinh doanh. Thời điểm phát sinh nghĩa vụ này được xác định kể từ ngày đối tượng nộp thuế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là thời điểm để tính thời hạn thực hiện nghĩa vụ thuế. Việc đăng ký thuế phải tuân thủ theo những trình tự thủ tục nhất định gọi là quy trình đăng ký thuế. Kết quả của đăng ký thuế là mỗi đối tượng nộp thuế được cấp một mã số thuế. Mã số thuế là cơ sở pháp lý để nhận diện người nộp thuế, là điều kiện thiết yếu về phương diện pháp lý để quản lý và thực hiện thuế GTGT. Đối với đối tượng nộp thuế phải sử dụng mã số thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác có liên quan đến thuế vì vậy phải ghi mã số thuế trên mọi giấy tờ giao dịch, hợp đồng kinh tế, chứng từ nộp thuế. Các đơn vị được sử dụng hoá đơn tự in phải in sẵn mã số của mình vào từng tờ hoá đơn.

    Đối với cơ quan thuế phải có trách nhiệm sử dụng mã số thuế của đối tượng nộp thuế để quản lý đối tượng nộp thuế, theo dõi số liệu nộp thuế và ghi mã số đối tượng nộp thuế trên mọi giấy tờ giao dịch với đối tượng nộp thuế như: thông báo nộp thuế, thông báo phạt, lệnh thu, các quyết định phạt hành chính thuế, biên bản kiểm tra về thuế.

    4.2 Kê khai thuế GTGT

    Mỗi chủ thể khi tham gia đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp mã số thuế thì đều phải thực hiện việc kê khai thuế theo quy định của pháp luật.

    Kê khai thuế là việc khai báo tất cả những nghiệp vụ chịu thuế phát sinh trong kỳ (tháng, quý hoặc năm), số thuế GTGT đã trả khi mua hàng, số thuế GTGT thu được khi bán hàng, số thuế GTGT đã nộp, số thuế GTGT phải nộp trong kỳ cho cơ quan thuế.

    Việc kê khai thuế được tiến hành theo mẫu tờ khai thuế. Người có nghĩa vụ kê khai thuế căn cứ vào các dữ liệu trên tờ khai thuế thực hiện hành vi kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi lập xong tờ khai thuế phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Sau khi tính số thuế phải nộp cho đối tượng nộp thuế, cơ quan thuế mới ra thông báo nộp thuế gửi cho các đối tượng nộp thuế. Việc kiểm tra tính đúng đắn của kê khai thuế xảy ra trước thời điểm nộp thuế. Việc sai sót trong việc tính số thuế phải nộp thuộc trách nhiệm của cơ quan thuế.

    4.3 Nộp thuế GTGT

    Nộp thuế GTGT là việc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ chuyển thuế đã thu hộ Nhà nước do người tiêu dùng trả thông qua cơ chế giá khi mua hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước. Đây là nghĩa vụ cơ bản nhất của mỗi đối tượng nộp thuế. Để thực hiện nghĩa vụ này một cách có hiệu quả cần điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau:

    Thứ nhất, về hình thức nộp thuế, có thể nộp trực tiếp cho cơ quan thuế hoặc có thể nộp thuế qua Ngân hàng, qua kho bạc.

    Thứ hai, về cơ chế nộp thuế. Hiện nay trong thực tiễn tiến hành thu thuế tồn tại hai cơ chế:

    * Cơ chế đối tượng nộp thuế tự tính nộp thuế: cơ chế này nâng cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế, giảm khối lượng công việc cho cơ quan quản lý thuế cũng như chi phí quản lý hành chính thuế, phân định rạch ròi trách nhiệm của cơ quan thuế, của đối tượng nộp thuế.

    * Cơ chế nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế: tức nộp thuế theo sự tính toán của cơ quan thuế và được thực hiện bởi một quyết định quản lý hành chính của Nhà nước.

    Thứ ba, phạm vi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT. Đối với những tổ chức, cá nhân kinh doanh bất hợp pháp (không có đăng ký kinh doanh) có nghĩa vụ nộp thuế hay không ?

    Xét trên phương diện lý luận thì nghĩa vụ nộp thuế GTGT của các chủ thể chỉ phát sinh trên cơ sở các hành vi và hoạt động hợp pháp của các chủ thể vì vậy nếu đánh thuế vào những hoạt động kinh doanh không hợp pháp thì vô hình chung có một dòng tiền bất hợp pháp được chuyển vào ngân sách Nhà nước, được sự bảo trợ của Nhà nước và dòng tiền đó trở thành hợp pháp.

    4.4 Quyết toán thuế

    Với cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và nộp thuế việc quyết toán thuế hàng năm của cơ sở kinh doanh với cơ quan thuế là hết sức cần thiết. Thuế GTGT là thuế gián thu được đánh trên tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng theo phương pháp khấu trừ thì nghĩa vụ quyết  toán thuế phải được tính toán một cách chặt chẽ nhằm xác định đủ, chính xác số thuế nộp vào ngân sách nhà nước một cách kịp thời, tránh hiện tượng chiếm giữ số thuế GTGT thu được phục vụ lợi ích riêng của doanh nghiệp.

    5. Khấu trừ và hoàn thuế GTGT

    5.1 Khấu trừ thuế GTGT

    Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

    Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định:

    – Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ, trường hợp không hạch toán riêng thì số thuế đầu vào được khấu trừ theo phương pháp phân bổ dựa trên tỷ lệ doanh số chịu thuế so với tổng doanh số bán ra tại doanh nghiệp.

    – Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ trong tháng đó không phân biệt đã được xuất dùng hay chưa.

    – Cơ sở mua vật tư hàng hoá không có hoá đơn chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không ghi riêng số thuế GTGT ngoài giá bán thì không được khấu trừ, trừ một số trường hợp có quy định riêng.

    – Thuế đầu vào của TSCĐ được kê khai khấu trừ như đối với vật tư, hàng hoá khác. Nếu số thuế khấu trừ phát sinh lớn cơ sở được tính khấu trừ dần. Sau 3 tháng mà số thuế khấu trừ vẫn còn thì doanh nghiệp có thể đề nghị cơ quan thuế xét hoàn thuế.

    5.2 Hoàn thuế GTGT

    Do thuế GTGT “thu hộ” của doanh nghiệp bán hàng là thuế GTGT “trả hộ” của doanh nghiệp mua hàng nên việc hoàn thuế GTGT của một doanh nghiệp có liên quan đến việc nộp thuế của doanh nghiệp khác. Vì vậy, có thể nói việc hoàn thuế GTGT diễn ra trên phạm vi rộng, bao hàm nhiều mối quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế. Chính tính phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ của nghiệp vụ hoàn thuế GTGT cộng thêm sự chắp vá của các văn bản pháp luật về hoàn thuế GTGT khiến cho vấn đề hoàn thuế GTGT là một vấn đề nổi cộm lớn trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT hiện nay.

    Theo quy định của điều 16 luật thuế GTGT thì đối tượng được xét hoàn thuế GTGT trong các trường hợp sau:

    – Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp.

    Cơ sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.

    Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu ra, đầu vào như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Tháng kê khai thuế Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng Thuế đầu ra phát sinh trong tháng Thuế phải nộp Luỹ kế số thuế đầu vào chưa được khấu trừ
    Tháng 12/2000 200 100 -100 -100
    Tháng 1/2001 300 350 +50 -50
    Tháng 2/2001 300 200 -100 -150

    Doanh nghiệp A có luỹ kế 3 tháng liên tục số thuế đầu vào lớn hơn đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT với số thuế là 150 triệu đồng.

    Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu trở lên thì được xét duyệt hoàn thuế theo tháng, hoặc chuyến hàng.

    – Đối với hàng uỷ thác xuất khẩu, gia công chế biến xuất khẩu qua một cơ sở khác ký hợp đồng gia công xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là cơ sở hàng hoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu.

    – Đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới đã đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế nhưng chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế GTGT đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm. Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý.

    – Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản có thuế GTGT nộp thừa, cơ sở có quyền đề nghị cơ quan hoàn thuế hoàn lại số thuế nộp thừa.

    – Đối với các dự án sử dụng vốn ODA chủ dự án ODA không hoàn lại mua hàng hoá, dịch vụ từ các nhà cung cấp trong nước có thuế GTGT để sử dụng cho dự án này. Nhà thấu chính thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trừ thuế sử dụng vốn ODA không ….. cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cho các dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng được tính khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua trong nước có thuế GTGT.

    – Tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng.

    6. Hoá đơn, chứng từ

    Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ để xác định thuế GTGT đầu vào và đầu ra để xác định số thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của Nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp. Do đó, việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ, hoá đơn hay tiếp nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quyết định với cơ quan quản lý chức năng trong việc tính toán số thuế phải nộp nói riêng và quản lý nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nói chung. Trong điều kiện kinh tế thị trường ngay càng phát triển với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phong phú, đa dạng thì vấn đề chứng từ, hoá đơn ngày càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Vì vậy, hoá đơn, chứng từ là một nội dung hết sức quan trọng được quy định trong pháp luật thuế GTGT.

    III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THUẾ

    1. Mặt tích cực

    Thực tế triển khai luật thuế GTGT ở nước ta trong nhứng năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã đáp ứng về cơ bản những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật được biểu hiện dưới hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của nhà nước có thẩm quyền.

    Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT.

    Chính vì những lý do đó mà sau những năm triển khai thực hiện luật thuế GTGT đã được một số thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác, khi nhập khẩu thiết bị, máy móc phương tiện vận tải chuyên dùng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án thì không thuộc dạng chịu thuế GTGT. Đặc biệt, kể từ khi thực hiện giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% khi thực hiện nộp thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư rất mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo đảm sản xuất trong nước, sắp xếp lại cơ cấu nền kinh tế. Theo quy định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào thực chất là nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế.

    Biểu 1. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ năm 1999 đến 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    GTGTạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT bảo đảm động viên số thu cho nguồn ngân sách Nhà nước. Không giảm hơn so với thuế doanh thu. Năm 1999 tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 102,1% so với dự toán năm Quốc hội giáo, năm 2000 đạt 117,4%. Trong đó thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu, riêng số thu thuế GTGT năm 1999 là 16.590 tỷ đồng, sau khi trừ đi số thuế phải hoàn còn lại tương đương với thuế doanh thu trước đây.

    Qua những con số ở trên, chúng ta có thể ít nhiều khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng ở Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Luật thuế GTGT được thực hiện ở Việt Nam đã có những tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội nước ta, góp phần hoàn thiện luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    2. Mặt hạn chế

    Bên cạnh những mặt đã đạt được thì pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng có những mặt “chưa được”. Luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay chưa đủ mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Thể hiện ở những mặt sau:

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

     

     

    Chương II

    THỰC TRẠNG GIAN LẬN THUẾ Ở VIỆT NAM

     

    I. KHÁI QUÁT VIỆC XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. Quá trình xây dựng và triển khai thực hiện các quy định thuế GTGT ở nước ta.

    1.1 Quá trình xây dựng luật

    Lịch sử ra đời và phát triển thuế ở mỗi quốc gia là không giống nhau nhưng nó luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của đất nước. Để phục vụ cho quá trình phát triển cách mạng Việt Nam thì sự điều chỉnh pháp luật thuế GTGT ở nước ta cũng qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều phục vụ cho quan điểm sử dụng thuế khoá ở giai đoạn đó. Chính những quan điểm này đã định hướng sâu sắc đến quá trình điều chỉnh pháp luật thuế ở nước ta.

    Giai đoạn 1945-1954: Xuất phát từ quan điểm tạo lòng tin của nhân dân vào chính quyền mới những vẫn phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nhà nước đã xoá mọi thứ thuế bất công vô lý của Pháp, sửa đổi một số thuế cũ và ban hành một số thuế khác. Đặc biệt khi cuộc kháng chiến chống Pháp chuyển sang giai đoạn phản công, yêu cầu phải củng cố hậu phương và chi viện tích cực cho tiền tuyến, nhà nước đã các bỏ các thứ thuế ban hành tạm thời, banh hành 7 chế độ thuế áp dụng thống nhất cho cả nước gồm: chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế công thương nghiệp, chế độ thuế hàng hoá, chế độ thuế phát sinh, chế độ thuế trước bạ, chế độ thuế tem; chế độ thuế xuất nhập khẩu. Bảy chế độ thuế đó là nền móng đầu tiên của hệ thống pháp luật thuế nước ta được thực thi trong suốt thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến 1951-1954 và được kế thừa sử dụng cho các giai đoạn sau.

    Giai đoạn 1954-1975: trong giai đoạn này thuế được sử dụng, thực hiện nhiệm vụ khác nhau cụ thể:

    Từ 1954-1959 nhà nước sử dụng thuế để khôi phục kinh tế và để cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc bằng cách sưả đổi các chính sách thuế theo tinh thần phân biệt đối xử về thuế vì vậy, chế độ thuế nông nghiệp và chế độ lợi tức doanh nghiệp được sửa đổi một cách cơ bản góp phần tích cực vận động cá thể vào hợp tác xã, khuyến khích mô hình kinh tế hợp tác xã ra đời và phát triển.

    Từ 1960-1975 nhà nước tiếp tục thay đổi hệ thống pháp luật thuế trong đó chủ yếu sửa đổi chế độ thuế nông nghiệp, chế độ thuế môn bài, chế độ thuế doanh thu, chế độ thuế lợi tức doanh nghiệp và cho thực hiện thí điểm hai chế độ thu mới không mang tính chất thuế, chế độ thu quốc doanh, chế độ phân phối trích nộp lợi nhuận và dần tách khu vực kinh tế quốc doanh ra khỏi sự điều chỉnh của thuế.

    Hai giai đoạn này hệ thống pháp luật thuế không được xây dựng mà chỉ trên tinh thần sửa đổi, bổ sung nên hệ thống pháp luật thuế không ổn định, các chế độ thuế mang tính chắp vá, hiệu lực pháp lý thấp.

    Giai đoạn 1975-1989: Xuất phát từ tình hình đất nước có nhiều biến đổi nên chế độ thuế trong giai đoạn này cũng được sửa đổi liên tục trong những năm đầu ở miền Nam tạm thời sửa đổi một số chế độ thuế của chính quyền Thiệu, sửa đổi một số chế độ thuế ở miền Bắc để áp dụng cho miền Nam.

    Năm 1980 hai miền Nam, Bắc thực hiện hệ thống thuế thống nhất dựa trên hệ thống thuế đã áp dụng ở miền Bắc có sửa đổi cho phù hợp với cả hai miền.Tháng 2/1983 nhà nước ban hành pháp lệnh  thuế nông nghiệp thay cho điều lệ thuế nông nghiệp và được sửa đổi vào năm 1983. Cũng trong năm 1983 pháp lệnh thuế công thương nghiệp cũng được ban hành thay cho điều lệ thuế công thương nghiệp và được sửa đổi bổ sung vào năm 1987. Tháng 7/1987 Quôc hội ban hành luật thuế xuất nhập khẩu.

    Giai đoạn 1990 đến nay: với sự thay đổi lớn, căn bản của đường lối phát triển kinh tế trong giai đoạn này đã kéo theo sự thay đổi căn bản trong quan điểm sử dụng thuế. Thuế phải trở thành công cụ động viên nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, phải trở thành công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, thuế phải có tính pháp lý cao, phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, nhà nước quyết định cải cách thuế giai đoạn 1. Hệ thống pháp luật thuế được ra đời áp dụng thống nhất trong cả nước không phân biệt thành phần kinh tế, luật thuế doanh thu, luật thuế lợi tức, luật thuế xuất nhập khẩu, luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Hệ thống pháp luật thuế mới ra đời đã thể hiện và đáp ứng được quan điểm sử dụng thuế song cũng còn nhiều tồn tại cần được xem xét hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cải cách thuế giai đoạn 2; bắt đầu từ năm 1996 và dự kiến kết thúc vào năm 2005, thời điểm Việt Nam chính thức ra nhập vào khu mậu dịch tự do ASEAN. Việc xây dựng, ban hành luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu được coi là một trong những sự kiện quan trọng của cải cách thuế trong giai đoạn này và sẽ kết thúc bằng việc xây dựng một hệ thống thuế có khả năng hội nhập cao.

              Các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT

    Ngày 3/9/2002 chính phủ ban hành nghị định số 76/2002 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 79/2002/NĐ-CP. Ngày 29/12/2002 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo sửa đổi một số quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu trong các trường hợp như: viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, quà tặng của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và một số tổ chức khác. Hơn nữa, nghị định còn bổ sung sửa đổi một số quy định về mức thuế 0% thuế GTGT đối với một số hàng hóa xuất nhập khẩu, bao gồm hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu, hàng hoá gia công xuất khẩu, sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải cho nước ngoài, phần mềm máy tính xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu lao động, hoạt động xây dựng, xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu vào các khu chế xuất….và một số quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào, hoàn thuế GTGT.

    Ngày 18/9/2002 Bộ tài chính ban hành thông tư số 82/2002/TT-BTC về việc hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 hướng dẫn thi hành nghị định 79/2000/NĐ-CP ngày 29/1/2000 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.

    Theo đó một số điểm đáng chú ý: thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hóa xuất nhập khẩu và số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ 1% trên giá mua đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT mua của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng; hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa có quy định chế biến mua của cơ sở sản xuất không chịu thuế GTGT. Khâu sản xuất sử dụng hoá đơn GTGT; hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán ra có hai hoá đơn bán hàng; bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT; hàng hoá mua là nông lâm thuỷ sản chưa qua chế biến, đất, đá, cát, xỏi và các phụ liệu của người bán không có hoá đơn tỷ lệ khấu trừ trên đây áp dụng cho các hoá đơn chứng từ mua hàng hoá, dịch vụ từ 1/10/2002 và áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong nước và xuất khẩu.

    Ngày 18/9/2002 Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành quyết định số 110/2002/QĐ-BTC về việc sửa đổi, bổ sung, quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng, ban hành kèm theo quyết định số 885/1998/QĐ-BTC ngày 16/7/98 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

    Theo đó thay thế nội dung, thủ tục mua hoá đơn đối với tổ chức, cá nhân mua hoá đơn lần đầu và thủ tục mua hoá đơn lần sau. Cơ quan thuế có quyền từ chối việc bán hoá đơn hoặc ra quyết định đình chỉ việc sử dụng hoá đơn đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về sử dụng hoá đơn, chứng từ cụ thể: tạm dừng việc bán hoá đơn với các tổ chức, cá nhân mua hoá đơn không đủ thủ tục, điều kiện kèm theo quy định, không kê khai thuế hoặc kê khai thuế nhưng không có doanh thu sau 1 tháng mua hoá đơn, không thực hiện báo cáo sử dụng hoá đơn theo quy định. Đình chỉ việc sử dụng hoá đơn với tổ chức, cá nhân có hành vi bán khống hoá đơn (hoá đơn trùng) hoặc lập hoá đơn nhưng không có hàng hoá, dịch vụ, tiếp tục có hành vi tẩy xoá hoá đơn, ghi hoá đơn có giá trị hàng hoá, dịch vụ cao hơn giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ; ghi hoá đơn bán hàng, dịch vụ trên hoá đơn giao cho người mua khác với hoá đơn lưu tại cơ sở kinh doanh.

    Ngày 10/10/2002 Bộ tài chính thông tư số SO 90/2002/TT-BTC hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế GTGT đối với hàng hoá bán cho thương nhân nước ngoài nhưng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thương nhân nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, gia công hàng xuất khẩu.

    Thông tư này áp dụng đối với hàng hoá do doanh nghiệp tại Việt Nam (bao gồm các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) sản xuất bán cho thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán ngoại thương, được thương nhân nước ngoài thanh toán tiền mua hàng bằng ngoại tệ nhưng hàng giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo sự chỉ định của thương nhân nước ngoài để tiếp tục sản xuất gia công hàng xuất khẩu.

    Điều kiện áp dụng chính sách thuế hướng dẫn tới thông tư này bao gồm: hàng hoá xuất khẩu tại chỗ, nhập khẩu tại chỗ trên cơ sở thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương ký với thương nhân nước ngoài trong đó ghi rõ mặt hàng, tên và số lượng, địa chỉ của doanh nghiệp nhận hàng tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài phải thực hiện thanh toán tiền đối với hàng xuất khẩu tại chỗ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng, doanh nghiệp phải mở tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ.

    Hàng hoá xuất khẩu tại chỗ được hưởng thuế suất 0%. Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ phải xuất trình với cơ quan thuế địa phương đầy đủ các hồ sơ bao gồm: hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ khi giao hàng, hợp đồng mua bán ký giữa doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài, chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu tại chỗ với thương nhân nước ngoài qua ngân hàng bằng ngoại tệ từ đó chuyển đổi, tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu tại chỗ. Trường hợp cơ sở sản xuất tại chỗ không có đủ thủ tục hồ sơ trên thì không được áp dụng thuế suất 0%, cơ sở xuất khẩu tại chỗ phải thực hiện nộp thuế GTGT theo quy định của luật thuế GTGT như hàng hoá tiêu thụ nội địa.

    Ngoài ra thông tư còn hướng dẫn cụ thể việc xử lý vi phạm đối với các trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ không sử dụng hàng hoá đã nhập khẩu tại chổ để làm nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu mà đem bán hoặc sử dụng không đúng mục đích.

    Chính phủ vừa ban hành nghị định số 158/2003 quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT văn bản hướng dẫn các đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam với các mức thuế suất 0%, 5% và 10% đồng thời các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế GTGT theo đúng quy định của pháp luật.

    Các mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng gia công xuất khẩu, hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT xuất khẩu.

    Mức thuế suất 5% áp dụng với các hàng hoá, dịch vụ: nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt, phân bón, quặng để sản xuất phân bón, máy móc và dụng cụ chuyên dùng cho y tế, bông và băng vệ sinh y tế, giáo cụ dùng giảng dạy và học tập, đồ chơi trẻ em, sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản đánh bắt chưa qua chế biến, thực phẩm tươi sống, lương thực, lâm sản.

    Mức thuế suất 10% áp dụng với hàng hoá, dịch vụ: dầu mỏ, khí đốt, quặng điện, thương phẩm, điện tử, sản phẩm hoá chất, sản phẩm may mặc, thêu ren, giày, sữa, bánh kẹo, nước giải khát, sản phẩm gốm sứ, thuỷ tinh, dịch vụ tư vấn pháp luật, các dịch vụ tư vấn khác, khách sạn, dịch vụ ăn uống.

    Việc kê khai nộp thuế GTGT hợp pháp: cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu phải kê khai thuế GTGT theo quy định sau: cơ sở kinh doanh phải kê khai nộp thuế từng tháng và nộp tờ kê khai kèm theo bản kê khai hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra làm căn cứ xác định số thuế phải nộp của tháng cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo.

    Trong trường hợp không phát sinh số bán hàng hoá, dịch vụ thuế đầu vào, thuế đầu ra cơ sở kinh doanh vẫn phải nộp tờ kê khai thuế cho cơ quan thuế. Cơ sở phải kê khai đầy đủ đúng mẫu tờ khai thuế và phải chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của việc kê khai. Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra phát sinh là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ cho người mua không phân biệt người mua đã trả tiền hay chưa. Khi bán hàng hoá cơ sở kinh doanh phải lập hoá đơn theo cơ sở của pháp luật.

    Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không có văn phòng hay trụ sở điều hành ở Việt Nam có cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam phải kê khai, nộp thuế GTGT thay cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất GTGT khác nhau phải kê khai thuế GTGT theo mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ. Nếu cơ sở kinh doanh không xác định được theo tổng mức thuế suất thì phải tính theo mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh. Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào ngân sách nhà nước. Thuế nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.

    2. Thực tế áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta

    Pháp luật thuế GTGT là một luật thuế hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử pháp luật tài chính nước ta và trong nhận thức của tầng lớp dân cư. Vì vậy, việc thực hiện các luật thuế mới nói chung và luật thuế GTGT nói riêng sẽ có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội của đất nước và những khó khăn bước đầu là không tránh khỏi.

    Sau những năm thực hiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn những biểu hiện bên ngoài. Các quy định của pháp luật thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách kinh tế, tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Pháp luật thuế GTGT cơ bản đã phản ánh được bản chất của thuế GTGT cũng như cơ chế vận hành của thuế GTGT. Các quy định của pháp luật thuế GTGT luôn tính đến các giải pháp qua đó nhằm áp dụng tốt nhất thuế GTGT trong điều kiện thực tế ở Việt Nam như quy định 2 phương pháp tính thuế, quy định khấu trừ khống, mở rộng diện miễn giảm thuế…

    Vì vậy, sau 4 năm thực hiện luật thuế GTGT đã đạt được những thành tựu đáng kể mà thành tựu bao trùm nhất là đạt được nhứng mục tiêu yêu cầu đặt ra trong luật thuế GTGT.

    Cụ thể: góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% vì toàn bộ thuế GTGT của các công trình đầu tư xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình. Không phải khấu hao tài sản sau này mà được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư TSCĐ theo dự án thì không thuộc diện chịu thuế GTGT. Đặc biệt khi giảm 50% thuế suất đối với các sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% so với 4% so với thuế doanh thu thể hiện khuyến khích đầu tư mạnh.

    Mặt khác, luật thuế GTGT đã góp phần khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, sắp xếp cơ cấu lại nền kinh tế. Theo quy định của thuế GTGT, hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là toàn bộ thuế GTGT đã nộp ở đầu vào được hoàn lại, việc hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu thực chất là nhà nước  trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu nên đã giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều cạnh tranh được với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền hoàn vốn tăng cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Khoảng 2.700 tỷ đồng, năm 2000 là 5.000 tỷ đồng. Vì vậy, trong điều kiện xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng tổng giá trị xuất khẩu của nước ta vẫn tăng so với năm 1998 là 23,18%, năm 2000 tăng 21,3%. Trong đó có những mặt hàng được hoàn thuế đầu vào nhiều, xuất khẩu tăng so với năm 1998 như: cao su 37,2%, cà phê 27,6% , gạo 21,4%, thuỷ sản 14,1%, giày dép 36,3%, dệt may 15,1%, thủ công mỹ nghệ 52%, điện tử 54%.

    Ngoài việc được hoàn thuế GTGT, các dự án đầu tư có giá trị hàng xuất khẩu đạt trên 30% tổng giá trị hàng hoá còn được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 25%, nếu có giá trị hàng hoá xuất khẩu trên 50% tổng giá trị hàng hoá được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung nên đã tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động. Luật thuế GTGT khuyến khích việc sản xuất hàng xuất khẩu thay thế nhập khẩu, đặc biệt luật thuế GTGT đã khuyến khích việc sản xuất kinh doanh những hàng mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản, lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ.

    Việc triển khai luật thuế GTGT không gây biến động lớn về giá. Theo tài liệu của Tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 12 năm 1998, năm 2000 tăng khoảng 1%. Trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Giá các hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm trừ lương thực và thực phẩm tăng 3% là mức bình thường của nền kinh tế khu vực và thế giới.

    Ngoài ra, luật thuế GTGT đã bắt đầu tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt đọng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá có hoá đơn ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của doanh nghiệp nên những người làm công tác kinh doanh đã bắt đầu chú ý đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn, chứng từ. Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn, chứng từ của các doanh nghiệp qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế giúp cho cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát hơn tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp. Đến nay có khoảng 6.000 doanh nghiệp nhà nước, hơn 2.400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 30.000 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện đúng chế độ của nhà nước kê khai và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Cũng chính điều này mà việc quyết toán thuế được thực hiện chính xác hơn rất nhiều so với những năm trước đây.

    Đồng thời, việc triển khai thực hiện luật thuế GTGT đảm bảo về số thu ngân sách nhà nước không giảm hơn so với thuế doanh thu, không làm ảnh hưởng đến kế hoạch thu ngân sách của nhà nước.

     

    Biểu 2.  Thu ngân sách nhà nước & thu thuế GTGT

     từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

     

    Biểu 3 & 4.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

     

    Biểu 5.Tình hình thu thuế VAT của ngành hải quan giai đoạn

    từ năm 1999 đến năm 2003

    ĐVT: Tỷ đồng

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu

    VAT

    VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Qua nhứng con số biết nói trên dù chưa đầy đủ nhưng cũng cho phép chúng ta khẳng định rằng việc đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam là định hướng đúng đắn của Đảng và nhà nước, là bước đột phá lớn trong công cuộc cải cách tài chính công. Sau những năm đầu thực hiện cho thấy thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đi vào thực tiễn cuộc sống, bước đầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đã đạt được những hiệu quả nhất định. Đặc biệt việc thực hiện luật thuế GTGT đã có tác động lớn đến đời sống kinh tế xã hội ở nước ta góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế ở nước ta phù hợp với kinh tế thị trường tạo điều kiện mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới.

              Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì pháp luật điều chỉnh luật thuế GTGT ở nước ta còn có những điểm “chưa được” gây ra các phát sinh tiêu cực trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT, hay những vấn đề khó khăn trong áp dụng luật thuế GTGT.

              Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT  thuộc loại thuế tiêu dùng mà hàng hoá tiêu dùng được biển hiện thông qua việc trao đổi mua bán, vì vậy nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc trao đổi mua bán thì chưa bị đánh thuế GTGT.

              Thứ hai, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ trao đổi mua bán. Nếu hàng hoá, dịch vụ cứ nằm im trong kho thì rõ ràng không thể biết đúng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

              Thứ ba, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, hạch toán kế toán, kiểm tra thanh tra, giải quyết vấn đề tranh chấp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoặc nộp thuế sẽ gặp nhiều khó khăn trong nhận thức và sinh ra nhiều việc xác định mức độ, phạm vi của nghĩa vụ thuế.

              Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và không chịu thuế GTGT không chính xác về mặt khoa học. Khi nói đến đối tượng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hình thức cung ứng thuộc diện chịu thuế GTGT, nhưng được miễn trừ thuế. Luật thuế GTGT xác định diện miễn trừ thuế rất rộng tuy nhiên sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ, đặc biệt trong trường hợp các ngành sử dụng nguyên vật liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT để sản xuất ra các sản phẩm chịu thuế GTGT hoặc ngược lại. Ví dụ khi sản xuất bột canh hoặc mỳ ăn liền đều phải sử dụng nguyên liệu muối, nhưng muối thuộc dạng miễn trừ thuế GTGT nên không có thuế GTGT phát sinh khi mua muối làm nguyên liệu, trong khi đó sản phẩm tạo ra (bột canh) lại thuộc diện chịu thuế GTGT vì vậy, khi bán những sản phẩm này doanh nghiệp phải lập hoá đơn, thu và nộp trọn vẹn số thuế GTGT phát sinh cho kho bạc nhà nước mà không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng (trong đó muối chiếm 80% giá thành sản xuất bột canh). Do doanh nghiệp không được hưởng lợi tức khấu trừ nên khi áp dụng thuế GTGT sẽ phải tăng giá bán hoặc giảm giá mua để đảm bảo nghĩa vụ nộp thuế và mức doanh lợi hoạt động. Nếu giá mua đầu vào (muối) bị giảm thì có nghĩa là chính người miễn thuế GTGT (người sản xuất muối) tưởng được ưu đãi nhưng thực chất có khi còn bị thiệt hại hơn trước.

    Ngoài ra, những ngôn ngữ được diễn đạt trong luật có khi còn gây ra những cách hiểu khác nhau do vậy gây khó khăn cho việc áp dụng luật.

    Tuy nhiên, thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy bên cạnh những cái “được”,  những cái “chưa được” còn tồn tại thực trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Thực tế, của vấn đề này là xuất phát từ những cái “chưa được” còn tồn tại trong luật thuế GTGT và lợi dụng những kẽ hở trong quản lý. Chỉ riêng gian lận trong việc hoàn thuế, năm 1999 có 4 vụ, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế lên 500 tỷ đồng từ năm 1999. Ngoài ra, tình trạng khai khống hoá đơn, mua bán hoá đơn, sửa đổi hoá đơn ngày càng tăng nhanh làm thất thu nhiều tiền của ngân sách nhà nước. Như công ty Đông Nam đã sửa đổi hoá đơn bán hàng chỉ riêng quý I/2001 đã “rút ruột” nhà nước 50 tỷ đồng. Công ty Vạn Lợi ở Long Xuyên, An Giang đã dùng việc mua bán hoá đơn của Bộ tài chính phát hành đã gây thiệt hại cho nhà nước 26,6 tỷ đồng sau 5 năm hoạt động.

    Những thực tế đã nêu ở trên xuất phát từ những yếu tổ chưa chặt chẽ của luật thuế GTGT, từ sự lỏng lẻo trong công tác quản lý của các cán bộ có trách nhiệm và từ sự ý thức của người dân chưa cao do họ chưa được giáo dục một cách đầy đủ về pháp luật và họ mong muốn làm giàu bằng mọi giá. Vì vậy, sự điều chỉnh luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là sự đòi hỏi cấp thiết trong giai đoạn này.

    II. Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở nước ta trong thời gian qua

    1. Thực trạng áp dụng thuế ở các doanh nghiệp thương mại

    1.1 Những vấn đề lớn trong áp dụng thuế GTGT ở các doanh nghiệp thương mại.

    Thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong thời gian vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT còn có nhiều vấn đề lớn cần giải quyết. Chính những vấn đề này đã tạo ra kẽ hở cho một số kẻ lợi dụng để vi phạm pháp luật. Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ xác định thuế GTGT được khấu trừ, miễn giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của nhà nước và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ đối với cơ quan chức năng trong việc tính số thuế phải nộp nói riêng và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nói chung.

    Hiện nay, việc quản lý, sử dụng hoá đơn bán hàng được ban hành kèm theo quyết định số 885 có nhiều nội dung không đáp ứng được công tác quản lý thuế, vì vậy, chế độ này đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đã ra nghị định số 89/2002 ngày7/11/2002, quy định trình tự, thủ tục tự in hoá đơn. Hệ thống hoá đơn, chứng từ hợp pháp ở nước ta hiện nay được hình thành từ hai nguồn:

    – Thứ nhất, do Bộ tài chính phát hành

    – Thứ hai, do các cơ sở kinh doanh tự in

    Qua sự phân tích trên chúng ta nhận thấy hoá đơn, chứng từ là một căn cứ pháp lý vô cùng quan trọng trong sự vận hành của thuế GTGT. Nhưng thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta nói chúng và ở các doanh nghiệp thương mại nói riêng trong thời gian qua cho thấy nạn hoá đơn giả phát triển tới mức báo động và được tồn tại dười nhiều dạng khác nhau.

    Dạng thứ nhât, là hóa đơn in giả hoàn toàn. Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT do Bộ tài chính phát hành và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn người mua và người bán hàng khổng dễ phát hiện. Có những trường hợp mua phải hàng lậu và được cấp hoá đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế.

    Dạng thứ hai, là hoá đơn thật do Bộ tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường mua bán một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng không cần hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho khách hàng) đem bán trên thị trường chợ đen hoặc bố cáo giải thể doanh nghiệp nhưng không thanh toán nộp lại hoá đơn và đem bán, hoặc lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cấp mã số thuế và mua bán hoá đơn GTGT tại cơ quan thuế nhưng không tiến hành sản xuất kinh doanh mà sử dụng hoá đơn đó để kinh doanh bằng cách mua bán vòng vèo để hợp thức hoá số thuế đầu vào sau đó thực hiện khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế.

    Dạng thứ ba, cũng là dạng hoá đơn do Bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hoá nhưng ghi giá thanh toán không đồng nhất hoặc cố tình ghi sai mã số của người bán gây khó khăn cho sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế. Với thủ đoạn này số thuế đầu ra thu được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải khấu trừ ở người mua nhiều.

    Dạng thứ tư là cạo sửa hoá đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế.

    Dạng thứ năm, lập hóa đơn khống, tức thực tế khôg mua bán hàng hoá nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê khai hoàn thuế GTGT hàng xuất khẩu, hoặc mua bán hoá đơn hàng dùng để kê khai khấu trừ khống thuế GTGT đầu vào.

    Dạng thứ sáu, khi bán hàng hoá, dịch vụ việc lập giao hoá đơn cho khách hàng còn tuỳ tiện, không giao hoặc đòi nâng giá hàng khi giao hoặc giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế. Đối với khách hàng khi mua hàng cho tổ chức hoặc cá nhân tiêu dùng thường không quan tâm đến việc đòi hoá đơn hợp pháp hoặc chủ động yêu cầu người bán lập hoá đơn với số tiền cao hơn thực tế thanh toán hoặc tự lập hoá đơn thanh toán tiền mua hàng cao hơn để tham ô công quỹ nhà nước.

    • Gian lận thuế GTGT ở các doanh nghiệp Việt Nam. Những con số và sự kiện

    Những hình thức đã được nêu ở phần trên là thực tế tồn tại trong các doanh nghiệp thương nghiệp nói riêng và nước ta nói chung hiện nay. Để chứng minh cho những lý luận ở trên em xin được đưa ra những dẫn chứng cụ thể:

    Hiện nay, lượng hàng hoá trôi nổi, không có nguồn gốc hợp pháp lưu thông trên thị trường nhiều, đặc biệt là các loại hàng hoá phục vụ thiết yếu đời sống của nhân dân. Một số doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp ngành thương mại kinh doanh xăng dầu và vật liệu xây dựng…Khi bán hàng, tuỳ tiện trong việc ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ mua của hàng hoá đó, lập hoá đơn trên nhỏ, dưới to, bán hàng không xuất hoá đơn, giao cho khách hàng, không lập bảng kê, không ghi sổ kế toán, không kê khai tính thuế, và dùng khối lượng hàng hoá này để xé rời liên 2, ghi hoá đơn khống cho đối tượng cần hoá đơn GTGT.

    Tổng cục thuế cho biết thời gian gần đây tại một số địa phương đã phát hiện ra nhiều trường hợp liên 2 hoá đơn GTGT của các doanh nghiệp bán thẻ điện thoại, vàng bị cạo sửa để ghi tiền hàng với số lượng lớn làm hoá đơn đầu vào cho các doanh nghiệp khác. Với hình thức gian lận này tư thương đã móc túi ngân sách Nhà nước với số lượng tiền lớn do chênh lệch giữa hai liên hoá đơn GTGT, vì vậy, Tổng cục thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương cần sớm có giải pháp phối hợp với cơ quan công an để giám định về dấu, chữ viết, dấu hiệu cạo sửa, tẩy xoá trên hoá đơn để phát hiện những trường hợp nghi vấn. Vào tháng 1/2003 Tổng cục thuế thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra và phát hiện gian lận thuế tại Công ty Đông Nam. Năm 1999, đơn vị này khai doanh thu 31 tỷ đồng, thuế GTGT là 479 triệu, năm 2000 doanh thu gấp đôi là 68 tỷ đồng, thuế GTGT là 104 triệu, năm 2001 doanh thu là 93 tỷ đồng, thuế GTGT âm 407 triệu đồng, 11 tháng đầu năm 2002 doanh thu vọt lên 137 tỷ đồng nhưng thuế GTGT âm 1,3 tỷ đồng. Điều này là hoàn toàn bất hợp lý vì doanh thu hàng năm tăng sao thuế chỉ thu được số tiền ít ỏi. Năm 1999 truy thu 82 triệu đồng, năm 2000 truy thu 61 triệu đồng. Sai phạm này của công ty Đông Nam mới chỉ được phanh phui vào năm 2003 Đông Nam đã lậu thuế hàng trăm tỷ đồng, “việc dùng bút toán hạ thấp giá trị hàng hoá” để trốn thuế hàng trăm tỷ đồng ở Đông Nam xảy ra từ năm 2000. Chỉ riêng quý I/2001 tiền trốn thuế khoảng 50 tỷ đồng. Thủ đoạn làm ăn chủ yếu là khai thấp giá trị hàng nhập để trốn thuế, bán hàng không hoá đơn GTGT làm Nhà nước thất thu số tiền lớn.

    Thực hiện thông tư số 69/2002/TT-BTC ngày 16/8/2002 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện quyết định số 41/2002/QĐ-TTg ngày 18/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chống thất thu thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp. Năm 2002, cơ quan thuế tổ chức điều tra giá bán thực tế của các cơ sở kinh doanh xe máy trên địa bàn đã phát hiện nhiều doanh nghiệp có số chênh lệch lớn để xử lý và chấn chỉnh tình trạng giá bán trên hoá đơn GTGT giao cho người tiêu dùng thấp hơn giá bán trên thị trường. Qua tình hình xử lý tình trạng tờ khai thuế GTGT hàng tháng năm 2003 thấy rằng: tình trạng giá bán ghi trên hoá đơn GTGT ở một số doanh nghiệp kinh doanh nhỏ hơn giá bán thực tế để trốn thuế vẫn còn tiếp diễn. Cơ quan thuế lại có công văn yêu cầu các cơ sở kinh doanh thực hiện niêm yết giá bán hàng hoá ở các cửa hàng, quầy hàng, cửa hiệu trên từng đơn vị sản phẩm hàng hoá. Trường hợp các mặt hàng nào đó do một nguyên nhân nào đó mà doanh nghiệp xây dựng giá bán hàng hoá bị lỗ hoặc không có hoá đơn GTGT thì phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh cụ thể. Nhưng đến nay một số doanh nghiệp vẫn không chấp hàn nghiêm túc, tình trạng trốn thuế qua giá bán của một số doanh nghiệp vẫn còn tiếp tục. Số thuế kê khai của các doanh nghiệp này không đúng với số phát sinh, thậm chí có doanh nghiệp còn âm thuế, không có số nộp ngân sách. Nguyên nhân gây ra tình trạng này trước hết là do ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp bên cạnh đó phần lớn khách hàng không biết được ý đồ trốn lậu thuế của các cơ sở kinh doanh qua giá bán mà chỉ nghĩ ghi hoá đơn thấp để nộp thuế trước bạ ít hơn, nên không đòi hỏi. Tình trạng này đã làm thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước, gây bất bình trong giới kinh doanh và mất công bằng xã hội.

    Tình trạng mua bán hoá đơn do Bộ Tài Chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng được mua bán trên thị trường một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể được thực hiện bằng cáchbán hàng không cấp hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống đem ra bán trên thị trường hoặc trên chợ đen. Vào tháng 1/2002 hợp tác xã Vạn Lợi, thành phố Long Xuyên, An Giang đã bị phát hiện bán hơn 1000 hoá đơn VAT cho 16 tỉnh, Vạn Lợi đã gây thiệt hại cho Nhà nước 26,6 tỷ đồng. Năm 1996, thực hiện luật thuế GTGT, Vạn Lợi được cục thuế cấp 25 cuốn sổ gồm 1250 tờ hoá đơn VAT. Biết chủ trương của chính phủ cho khấu trừ thuế đầu vào cho các doanh nghiệp kinh doanh lương thực, nông sản, thực phẩm, phó chủ nhiệm hợp tác xã đã ký khống hoá đơn và các hợp đồng kinh tế rồi cho “tay chân” đi bán cho các đơn vị có yêu cầu. Từ tháng 1 đến tháng 9/1999, đã bán trên 1000 hoá đơn với tổng doanh số hơn 553 tỷ đồng: gây thiệt hại cho  Nhà nước gần 26,6 tỷ đồng. Qua việc mua bán hoá đơn họ đã bỏ túi kẻ nhiều nhất hơn 2,8 tỷ đồng và kẻ ít nhất là 2,9 triệu đồng. Vào tháng 6/2003 cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình vừa được chuyển hồ sơ, đề nghị VKSND truy tố 6 nhóm tội phạm với tội danh mua bán hoá đơn GTGT. Trong đó có chủ mưu Trần Văn Sở, nguyên cán bộ chi cục thuế thị xã Thái Bình cùng một số cán bô thuế và Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh. Theo kết quả điều tra năm 2000-2002, vợ chồng Sở đăng ký thành lập 34 công ty “ma”để mua bán hoá đơn VAT. Họ bán số hoá đơn trị giá 140 tỷ đồng giúp nhiều doanh nghiệp khác được hoàn thuế 10 tỷ đồng. Từ tháng 9/2000 đến tháng 9/2002, họ đã bán hơn 19,000 hoá đơn cho 700 đơn vị ở 22 tỉnh thành. Tổng số tiền ghi khống gần 1130 tỷ đồng.

    Về vấn đề hoàn thuế GTGT, đây là một vấn đề nổi cộm, một vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý bởi cả tính chất phức tạp của vấn đề cùng với sự mới mẻ cuả nghiệp vụ hoàn thuế GTGT và với sự chắp vá của các văn bản pháp luật. Lợi dụng những kẽ hở trong luật mà doanh nghiệp thường có các thủ đoạn sau: trước hết, doanh nghiệp chế biến tổ chức thu mua nông sản của nông dân để sơ chế sau đó bán lại cho doanh nghiệp xuất khẩu. Khi mua nông sản từ nông dân, doanh nghiệp chế biến sẽ lập bảng kê hàng hoá mua vào trong đó có đầy đủ các thông tin: số lượng, giá trị các mặt hàng đã mua, ngày tháng mua, địa chỉ của người bán. Nhưng những thông tin này đều do doanh nghiệp “tự vẽ ra”và được sắp xếp rất tinh vi như lập hoá đơn qua nhiều khâu nhiều công đoạn ở nhiều địa phương khác nhau để tránh sự kiểm tra kiểm soát, đối chiếu bảng kê, hoá đơn của cơ quan thuế. Khi “bán” nông sản đã qua “sơ chế” cho doanh nghiệp xuất khẩu thì doanh nghiệp chế biến sẽ xuất hoá đơn cho doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó cũng ghj đầy đủ các thông số: giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng giá thanh toán. Những thông tin này bịa đặt và các doanh nghiệp xuất khẩu đều thực hiện xuất khẩu qua biên giới đất liền.

    Tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu mở tờ khai hải quan về hàng nông sản đã xuất khẩu gửi cho cơ quan hải quan kèm theo hợp đồng mua bán nông sản. Ký với bên nhập khẩu, hoá đơn GTGT bán hàng cho nước ngoài, chứng từ thanh toán hoặc xác nhận thanh toán của khách hàng nước ngoài để chứng minh hàng hoá đã được xuất khẩu.Việc chứng minh này được thực hiện bằng cách câu kết với phía nước ngoài lập các hợp đồng kinh tế, các hoá đơn GTGT, chứng từ thanh toán khống. Sau đó sử dụng hàng kém phẩm chất hoặc mượn hàng của tư thương dán nhãn hàng xuất khẩu rồi xuất qua cửa khẩu trước sự làm ngơ của nhân viên hải quan vì đã bị mua chuộc hoặc thậm chí không có một gam hàng nào được xuất khẩu qua cửa khẩu. Sau khi ra khỏi cửa khẩu, số “nông sản xuất khẩu” này có thể được trở lại Việt Nam theo các con đường khác nhau để xuất khẩu tiếp.

    Sau đó doanh nghiệp hoàn tất hồ sơ hoàn thuế gồm công văn đề nghị hoàn thuế, bảng kê khai tổng hợp số thuế đầu vào, bảng kê hàng hoá mua vào, bán ra gửi cơ quan thuế.

    Theo thống kê của tổng cục thuế đến 30/9/2002, cục thuế các tỉnh thành phố đã nhận được 30.340 bộ hồ sơ xin hoàn thuế với số tiền thuế đề nghị hoàn là 18.054 tỷ đồng. Kiểm tra hồ sơ tại cơ quan thuế đã loại trừ 4.272 hồ sơ có dấu hiệu sai phạm (chiếm 14% hồ sơ gửi đến) với số tiền 343 tỷ đồng (17,4% số tiền đề nghị hoàn). Với hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan thuế xử lý hoàn cho 16.341 trường hợp với số tiền hoàn thuế là 14.915 tỷ đồng trong đó hoàn thuế cho hàng xuất khẩu chiếm 80%. Số thuế hoàn cho hàng nông, lâm thủy sản chiếm 5%-7% tổng số tiền hoàn. Đặc biệt số vụ lừa đảo hoàn thuế không ngừng tăng lên trong các năm. Nếu như năm 1999, các cơ quan chức năng chỉ phát hiện được 4 vụ, năm 2000 phát hiện được 17 vụ thì năm 2001 đã phát hiện được 64 vụ và chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2002 đã phát hiện được 46 vụ nâng tổng số tiền hoàn thuế VAT bị chiếm đoạt là 500 tỷ đồng. Tính đến tháng 11 năm 2003, số doanh nghiệp vi phạm trong việc hoàn thuế GTGT là 140 doanh nghiệp, số tiền hoàn thuế bị gian lận và có dấu hiệu gian lận là 322,4 tỷ đồng, ngoài ra vi phạm về hoá đơn GTGT là 133 vụ, các vi phạm về hành chính thuế là 140 tỷ đồng.Tổng số tiền thu hồi được là 331,5 tỷ đồng. Tuy nhiên tổng số tiền có dấu hiệu gian lận của cơ quan điều tra là 192,5 tỷ đồng. Tuy nhiên trong số này có 42,8 tỷ đồng của 22 doanh nghiệp đã phá sản hoặc giám đốc bỏ trốn. Khó có khả năng thu được. Trong vấn đề này bọn tội phạm đã sử dụng nhiều hình thức tinh vi để qua mặt cán bộ quản lý. Vào tháng 12/2003, Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tuyên phạt Trần Văn Thắng, chủ nhiệm Hợp tác xã Việt Thắng thành phố Hải Dương, án tù chung thân do gian lận trong việc xuất hàng sang Trung Quốc nhằm chiếm đoạt gần 5 tỷ đồng tiền thuế. Theo nhận định từ tháng 11/2000 đến tháng 3/2001, Việt Thắng đã gửi 5 lần hồ sơ xin hoàn thuế GTGT 9,2 tỷ đồng. Hồ sơ thể hiện HTX đã ký 11 hợp đồng xuất sang Trung Quốc 30.000 tấn hàng nông, lâm, hải sản tổng trị giá 45 tỷ đồng. Khi xác minh cơ quan chức năng phát hiệnhàng thực xuất chỉ 200 triệu đồng. Trong vụ án này, vợ ông chủ tịch HTX là Phạm Thị Nga tham gia bằng cách lo đầu ra cho số hàng “ảo”. Bà Nga đã tìm được 14 chữ ký của các doanh nghiệp Trung Quốc nhập hàng Giám đốc của một doanh nghiệp tư nhân ở Lào Cai, bà Trần thị Mai Luận cũng liên can do tiếp tay hợp thức hoá chứng từ giả. Các hoá đơn này thể hiện hàng của Hợp Tác Xã Việt Thắng được vận chuyển sang Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai.

    Ngoài ra, dù ai có “thờ ơ với thời cuộc” đến mấy thì cũng không khỏi giật mình xót xa trước những sự việc: Nguyễn Duy Thiện (28 tuổi) đã thành lập tới 30 công ty ma ở khắp Nam Bắc phát hành hoá đơn GTGT khống với doanh số thống kê ban đầu lên tới 674,7 tỷ đồng để rút ruột ngân sách Nhà nước gần 35 tỷ đồng; vợ chồng Nguyễn Thị hoa, Trần Văn Sở ở Thái Bình đã thành lập 12 công ty “ma” để thiết kế đường dây chiếm đoạt thuế GTGT lên tới 10 tỷ đồng; công ty xuất khẩu I tại Đà Nẵng thuộc Bộ Thương Mại có trụ sở tại Hà nội móc nối với một số công ty TNHH khác làm khống hoá đơn xuất khẩu các mặt hàng nông sản sang Trung Quốc để chiếm đoạt 27 tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT, Hoàng Văn Vinh, Cao Hoành Minh, Lục Văn Dê nguyên là các cán bộ công ty  TNHH Kiều Phương thành phố HCM đã móc nối với một số cán bộ hải quan các cửa khẩu thuộc tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang lập 37 bộ hồ sơ chứng từ khống xuất khẩu 1.014 tấn hải sản khô với tổng giá trị là 158 tỷ đồng, đồng thời móc nối với 19 doanh nghiệp khác ở thành phố HCM, các tỉnh Long An, Tây Ninh làm phiếu nhập khống hoá đơn bán hàng cho công ty cơ khí điện máy sau đó làm hồ sơ xin hoàn thuế. Tháng 7/2001, nhóm người này đã rút 7,5 tỷ đồng hoàn thuế để chia nhau. Công ty Việt Hải ở Hải Phòng bán hoá đơn khống không có hàng cho 11 đơn vị tại các tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Giang, Hà Nội để các doanh nghiệp này lập chứng từ hoá đơn “rút ruột” Nhà nước tiền hoàn thuế GTGT khoảng 8 tỷ 883 triệu đồng.

    Biểu 6. Biểu đồ về số vụ lừa đảo hoàn thuế qua các năm

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Những con số biết nói ở trên đã phần nào nói lên được tình trạng của nước ta hiện nay trong vấn đề thực hiện thuế GTGT. Nhìn vào thực tế đó thì các nhà chức trách không thể khoanh tay đứng nhìn mà cần bắt tay ngay vào việc chống gian lận thuế GTGT một cách tích cực hơn nữa trong thời gian tới.

    II. Nguyên nhân của gian lận thuế GTGT

    1.  Về phía chính quyền

    Tình trạng gian lận thuế GTGT ngày càng có xu hướng tăng nhanh với nhiều hình thức ngày càng tinh vi để qua mặt các nhà quản lý. Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể là nguyên nhân chủ quan, có thể là nguyên nhân khách quan nhưng có một số nguyên nhân cơ bản sau:

    Thứ nhất, do chính sách, pháp luật quy định diện được hoàn thuế rộng, cho phép khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ 0% tính theo giá trị hàng hoá mua vào theo bảng kê đối với nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến mua của người không có hoá đơn GTGT; không quy định việc xác nhận lý lịch tư pháp của người thành lập và quản lý doanh nghiệp, vì vậy hàng loạt các doanh nghiệp “hữu danh vô thực” ra đời. Đi kèm với những doanh nghiệp này là hàng vạn hoá đơn khống được phát hành vô tội vạ để cung cấp cho hoạt động “kinh doanh hoá đơn GTGT”. Sau khi thu được những “món hời” bất chính, những doanh nghiệp này làm thủ tục giải thể hoặc biến mất.

    Thứ hai, do trình độ quản lý chưa tương xứng với yêu cầu của công tác quản lý, vì vậy các cơ quan quản lý bị các doanh nghiệp “qua mặt” một cách dễ dàng; thiếu sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng với cơ quan thuế; giữa cơ quan thuế với cơ quan hải quan; giữa cơ quan thuế, cơ quan hải quan với cơ quan công an, biên phòng, quản lý thị trường…nên không phát hiện được và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận.

    Thứ ba, do công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức chưa đuợc quan tâm đúng mức dẫn tới sự tha hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, công chức như nhận hối lộ tiếp tay bao che cho hành vi gian lận của các doanh nghiệp.

    Thứ tư, do ý thức pháp luật của đối tượng nộp thuế và nhận thức của người dân về thuế còn hạn chế, kỷ cương về thuế còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp chỉ vì chạy theo đồng tiền mà bất chấp pháp luật bất chấp đạo lý, bất chấp kỷ cương thuế miễn sao thu được nhiều lợi nhuận.

    Thứ năm, do áp dụng cơ chế “tiền thoái hậu kiểm”, cơ chế này được áp dụng nhằm phục vụ chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện thuận lợi về vốn ho các doanh nghiệp phát triển sản xuất cũng như đề cao tính tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế. Nhưng mặt trái của cơ chế này là chi phí quản lý hành chính thuế sẽ tăng lên nhiều cho việc “hậu kiểm” và đây cũng sẽ là gánh nặng quá sức cho cán bộ thuế đồng thời gây không ít sức ép cho ngành.

     

    Chương III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

     

    I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT

    1. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

     

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

     

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

     

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

     

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luạat thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua thực tế áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy pháp luật thuế GTGT ở nước ta về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu về lý luận của pháp luật thuế GTGT cả về cấu trúc bên trong lẫn hình thức biểu hiện bên ngoài, cụ thể có đầy đủ các bộ phận (các nhóm quy phạm pháp luật) hợp thành của pháp luật thuế GTGT và các nhóm quy phạm pháp luật này được biểu hiện dưới các hình thức: luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, công văn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các quy định của thuế GTGT phản ánh đúng những nội dung, yêu cầu của chính sách tài chính nói chung và chính sách thuế nói riêng cũng như thể hiện được mục tiêu, định hướng cơ bản trong chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng.

    Trong quá trình xây dựng, triển khai luật thuế GTGT ở nước ta thể hiện sự nhận thức đúng đắn, tính phức tạp của thuế GTGT, nhất là kỹ thuật tính và thu thuế GTGT, nên bước đầu về cơ bản đã xác định được một cơ chế điều chỉnh thích hợp trong bối cảnh những điêù kiện để phát huy hiệu quả của sắc thuế này là chưa thực sự đầy đủ. Song quá trình xây dựng cũng như triển khai thực hiện đã có nhiều vấn đề vướng mắc phát sinh, vì lẽ đó mà các văn bản pháp luật thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung liên tục để đáp ứng những yêu cầu của đời sống xã hội luôn vận động phát triển cũng như yêu cầu của công tác quản lý thuê GTGT.

    Cũng qua quá trình triển khai thuế GTGT nhiều vấn đề nảy sinh khiến các nhà làm luật cũng như các cơ quan chức năng phải đau đầu. Sự thiếu sót trong luật cũng như trong quản lý khiến những kẻ cơ hội bắt chấp sự trừng phạt của pháp luật để tìm cách “lách luật” vi phạm pháp luật. Tình trạng gian lận thuế GTGT ở nước ta trong những năm vừa qua không còn là sự mới mẻ, nó ngày càng phát triển mạnh hình thức đa dạng hơn, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Chính những thực tế đó đòi hỏi phải có một bộ luật hoàn chỉnh hơn, một bộ máy quản lý làm việc có hiệu quả hơn để ngăn chặn tình trạng gian lận thuế GTGT trong xã hội hiện nay. Đây cũng là yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay để xây dựng một xã hội văn minh tiên tiến những vẫn giữ bản sắc dân tộc.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Giáo trình kinh tế thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    2. Giáo trình quản trị doanh nghiệp thương mại đại học kinh tế quốc dân.
    3. Thời báo kinh tế Việt Nam năm 2003 – 2004.
    4. Quyết định số 468/TC-QĐ/TCT của Bộ trưởng Bộ tài chính.
    5. Tài liệu hội nghị sơ kết một năm thực hiện các luật thuế mới ngày 24/04/2000.
    6. Báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các chính sách thuế mới ba năm từ năm 1999 đến năm 2001.
    7. Nghị định số 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành luật thuế GTGT.
    8. Luật thuế GTGT, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1997.
    9. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 247
    10. Báo nhân dân ngày 23/05/2002.
    11. Báo an ninh thế giới số 58 ngày 15/08/2002.
    12. Tạp chí tài chính số 2 năm 2002.
    13. Thông tư 122/2000/TT-BTC
    14. Tạp chí thuế nhà nước số 12.
    15. Giáo trình quản lý hành chính nhà nước nhà xuất bản lao động.
    16. Website của Tổng cục thuế và Bộ tài chính.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1.Vấn đề áp dụng thuế GTGT ở các DNTM nói riêng và của nước ta còn nhiều bất cập.

    Một là, đối tượng chịu thuế GTGT chưa phản ánh đúng bản chất của sư vật hiện tượng, việc thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế cưa chính xác về mặt khoa học, cùng với việc quy định trực tiếp hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chụi thuế GTGT nên đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau trong  qúa trình thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.

    Phạm vi đối tượng nộ thuế GTGT được xác định trong luật là quá rộng, trong đó chủ thể là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ lệ lớn nhưng chưa có thói quen lập và sử dụng hoá đơn. Khi thực hiện các cung ứng chịu thuế nên gây nhiều khó khăn phức tạp trong quản lý hành chính thuế.

    Hai là, căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất, song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, giá tính thuế được phản ánh trên hoá đơn chứng tù còn có sự khác biệt so với giá thực, đặc biệt giá tính thuế của hàng tiêu dùng, nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất, nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau.

    Ba là việc quy định hai phương pháp tính thuế những tưởng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam song thực tiễn thực thi nghĩa vụ thuế GTGT đã đưa đến nhiều bất ổn và không thực tế, nhất là giá tính thuế của hai phương pháp này khác nhau.

    Bốn là quy định khấu trừ khống là thiếu cơ sở khoa học, khó khăn trong quản lý hành chính thuế và mục đích của việc khấu trừ khống cũng không thực hiện được. Các quy định về khấu trừ đối với tài sản cố định còn nhiều bất hợp lý dẫn đến hai xu thế, có thể quyền khấu trừ không được bảo đảm hoặc có thể bị lạm dụng, mà cả hai nguyên tắc này đều không đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong quá trình thực hiện.

    Năm là xác định diện hoàn thuế quá rộng, cộng thêm cơ chế “tiền thoái hậu kiểm” cùng với thủ tục thành lập doanh nghiệp quy định trong luật doanh nghiệp không chặt chẽ, nên tiền của Nhà nước thất thoát bằng con đường này là khá lớn.

    Sáu là cơ chế thực hiện nghĩavụ thuế GTGT còn đan xen nhiều yếu tố của cơ chế quản lý hành chính bao cấp nên nghĩa vụ thuế GTGT chưa được đảm bảo một cách công bằng thoả đáng. Giá trị pháp lý của mã số thuế, tờ khai thuế, thông báo nộp thuế, quyết toán thuế chưa được xác định trong pháp luật thuế GTGT, dẫn đến sự tuỳ tiện trong quá trình thực hiện.

    Bảy là hoá đơn, chứng từ còn thiếu nhiều dữ kiện quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý của các bên, giá trị pháp lý của chúng chưa được xác định rõ ràng, cơ chế quản lý lỏng lẻo, việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ chưa trở thành thói quen nên hiện tượng gian lận hoá đơn để chiếm dụng tiền của ngân sách Nhà nước bằng con đường khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế GTGT đã phát triển tới mức báo động và không chỉ dừng lại ở sự đơn lẻ của từng doanh nghiệp mmà có sự móc nối giữa các doanh nghiệp.

    Những bất cập trên đã đặt ra sự tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc đề ra các giả pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT Ở NƯỚC TA

    1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU VỀ PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT
    2. Tính tất yếu phải hoàn thiện luật thuế GTGT và cơ chế thực hiện

    Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nền KTTT và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay, cũng như đòi hỏi mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện là một tất yếu.

    Bản thân nền kinh tế thị trường (KTTT) Việt Nam có những đặc thù riêng và những đặc thù này đã có những tác động quan trọng tới quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện của pháp luật kinh tế nói chung và pháp luật thuế nói riêng. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT hiện nay một mặt nhằm đáp ứng những yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, một mặt nhằm đáp ứng cơ chế tự điều chỉnh của thương trường khi bản thân nền kinh tế thị trường đã phát triển  cũng như đảm bảo tính phù hợp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay.  Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá thì mục tiêu bảo hộ và tạo nguồn thu thông qua thuế quan không còn mấy tác dụng, nguồn thu từ thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ hạn hẹp dần, trong khi đó khả năng nâng cao nguồn thu từ thuế trực thu (thuế thu nhập) cũng hết sức hãn hữu, bởi mức thu nhập của dân cư nước ta rất thấp, nên trước mắt giải pháp khả thi hơn cả là năng cao  vai trò của các thuế gián thu trong đó vai trò của thuế GTGT là hết sức quan trọng.Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện được đặt ra như một tất yếu để nâng cao vai trò bù đắp sự suy giảm nguồn thu ngân sách của nhà nước.

    Trong xu hướng toàn cấu hoá và hội nhập kinh tế với việc tham gia vào các hiệp hội, tổ chức thương mại quốc tế như hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc hình thành các liên minh thuế quan trọng đòi hỏi điều chỉnh phát luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện chúng phải được chuyển đổi phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội đó để tạo điều kiện thuận lợi chủ động trong việc tham gia phát triển hợp tác quốc tế. Hơn nữa, mặc dù nước ta hiện nay đang phải chịu sức ép của quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT/ AFTA, nhưng vẫn phải tạo đà phát triển kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với những biến động và áp lực cạnh tranh để tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì lẽ này mà đòi hỏi pháp luật thuế GTGT phải có sự thay đổi cơ bản. Bên cạnh đó, do tác động toàn cầu hoá quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng trên nhiều bình diện và sắc thái mới trong việc thành lập các cơ sở kinh doanh. Khai thác triệt để các lợi ích thông qua các biện pháp chuyển giá cùng với việc di chuyển linh hoạt các luồng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu đã làm cho cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia trở nên gay gắt hơn và kết quả của sự cạnh tranh này đã làm cho hệ thống pháp luật thuế của các nước trên thế giới có xu hướng hội tụ và phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiện cũng không thể đứng ngoài vòng xoáy đó.

    Mặt khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ làm cho việc thực thi và quản lý thuế ở nước ta trở nên khó khăn hơn do tính chất phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế xuyên quốc gia phát sinh, khả năng trốn, lậu thuế trở nên dễ dàng hơn và phạm vi, quy mô rộng lớn hơn, như các công ty xuyên quốc gia sẽ có cơ hội để khai thác triệt để các lợi thế định giá chuyển giao để trốn thuế và tính thuế. Cộng thêm các cuộc cạnh tranh và các cuộc chạy đua trong cạnh tranh qua thuế cùng với nhiều biện pháp kích thích để thu hút dành lợi thế trong cạnh tranh đem lại những ngoại ứng hoặc là tiêu cực hoặc là tích cực đối với các nước khác trong điều kiện kinh tế – xã hội này đã đặt ra nhu cầu ngày càng cao về nhu cầu điều chỉnh pháp luật thuế GTGT đặc biệt là cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu; sự tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức của các chuyên gia quản lý thuế không thể không quan tâm đúng mức và sâu sắc hơn. Bởi bản thân toàn cầu hoá cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin một mặt mở ra những cơ hội hợp tác quốc tế có hiệu quả trong lĩnh vực thuế một mặt đòi hỏi trình độ quản lý thuế phải vượt lên một tầm cao mới. Yêu cầu này không thể không gắn liền với việc đào tạo một đội ngũ chuyên gia thuế có kỹ năng và kiến thức tầm cỡ quốc tế. Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế GTGT và cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là công nghệ Internet đứng ở góc độ quản lý có cả những thuận lợi và khó khăn. Trước hết, sự phát triển của công nghệ mạng sẽ làm tăng nhanh chóng sự nhất thể hoá các chức năng kinh doanh của một doanh nghiệp. Vấn đề mạng nội bộ đã trở thành phương tiện không thể thiếu ở các công ty đa quốc gia trong thời đại này. Do đó mạng nội bộ mà các nghiệp vụ kinh doanh được nội bộ hoá ở mức cao. Việc này đồng nghĩa với những khó khăn trong việc xác định chức năng kinh doanh vì vậy vấn đề này đặt ra những thách thức mới đối với cơ quan thuế cũng như các nhà làm luật trong việc xác định cơ chế điều tiết thích hợp đối với thuế GTGT.

    Sự khai thác lợi thế về những ưu đãi thuế giữa các quốc gia sẽ làm gay gắt thêm cuộc cạnh tranh về thuế giữa các quốc gia và đây cũng là vấn đề cần phải tính khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện.

    Toàn cầu hoá với sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền số liệu sẽ làm tăng các hoạt động đầu tư gián tiếp, các giao dịch ngoại hội và đặc biệt giao dịch thông qua các phương tiện tài chính phát sinh như các hợp đồng tương lai, quyền lựa chọn mua bán hoặc chuyển nhượng v..v…Trong thể chế những giao dịch này không chịu thuế GTGT vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT nên quy định đánh thuế hay không các quy định này và nếu đánh thì đánh thế nào ? Quản lý ra sao ? Sự ra đời và phát triển nhanh chóng thương mại điện tử đã đặt ra cho các nhà lập pháp cũng như các nhà quản lý thuế một bài toán hóc búa trong việc kiểm thoát các giao dịch thương mại cũng như sự phân biệt giữa các giao dịch thương mại và giao dịch có thể đánh thuế và những giao dịch phi thương mại. Nếu không giải quyết được những vấn đề này thì cơ hội tránh thuế và trốn thuế càng lớn. Như vậy, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ thông tin đã và đang đặt ra những thách thức lớn cho công tác quản lý nhưng chính nó tạo điều kiện để cung cấp những phương tiện hữu ích cho tiến trình áp dụng luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay.

    Xuất phát từ những vấn đề đặt ra từ thực trạng điều chỉnh pháp luật thuế GTGT và những yêu cầu hoàn thiện thuế GTGT việc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT ở nước ta là một tất yếu. Thực tế cho thấy,  sau hơn 4 năm triển khai áp dụng luật thuế GTGT những cái có được quá ít so với yêu cầu,  tình trạng vi phạm pháp luật để trốn nghĩa vụ này còn quá nhiều. Bởi vậy thực tế đã chứng minh không một sắc thuế nào hoàn toàn có ưu điểm mà không có nhược điểm và ngược lại. Vấn đề là ở chỗ phải tìm kiếm được những giải pháp tạo điều kiện cho sự vận hành “trơn tru” của thuế GTGT trong điều kiện thực tế của Việt Nam. Vì vậy việc sửa đổi bổ sung luật thuế GTGT hiện nay được coi là một bước đệm để trong tương lai không xa sẽ cho ra đời một luật thuế GTGT hiện đại.

    1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

    Trước hết, pháp luật thuế GTGT phải ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của việc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng chuẩn xác và khoa học bản chất của thuế GTGT, đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu mang bản chất liên hoàn và tính trung lập cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông theo phương pháp khấu trừ. Bởi vậy, một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá tính quy phạm của một văn bản pháp luật là văn bản đó có phản ánh đúng bản chất vốn có của sự vật, hiện tượng hay không ? và chỉ khi phản ánh đúng bản chất của sự vật hiện tượng thì pháp luật mới đủ sức mạnh để điều chỉh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT phải gắn liền và trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT. Xét về tổng thể, hệ thống pháp luật về thuế nói chung và pháp luật về thuế GTGT nói riêng có mối quan hệ hữu cơ với các chính sách thuế, các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – tài chính của nhà nước. Pháp luật về thuế phản ánh, thể hiện và nhằm thực hiện các chính sách thuế trong đó góp phần bảo đảm các mục tiêu và chức năng của thuế như bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, thực hiện chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thông qua điều tiết thu nhập, điều tiết sản xuất. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế GTGT không thể tách rời và phải trên cơ sở hoàn thiện chính sách thuế GTGT.

    Mở rộng và nâng cao quy mô của luật thuế GTGT bằng cách đưa một số nội dung mà hiện nay đang được quy định trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật vào luật thuế GTGT, để đảm bảo nguyên tắc không có luật thuế thì không có nghĩa vụ thuế, luật thuế là cơ sở pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thu nộp thuế để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong hiến pháp cũng như “đảm bảo thực quyền” của Quốc hội trong việc quyết định chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế đồng thời đáp ứng đòi hỏi của cơ chế điều chính pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay. Nhưng khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cần tính đến mặt khách quan luôn tồn tại mâu thuẫn giữa yêu cầu phải điều chỉnh với khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật.

    Hoàn thiện pháp luật thuế GTGT theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế GTGT trong điều kiện cắt giảm thuế quan và vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội của nhà nước theo hướng khuyến khích phát triển sản xuất đặc biệt khuyến khích hoạt động xuất khẩu kể cả hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển như khuyến khích hoạt động chế biến nông sản, gia công…..

    Hoàn thiện luật thuế GTGT phải gắn liền với sự hoàn thiện của cả hệ thống pháp luật đặc biệt là pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt và pháp luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Pháp luật thuế GTGT là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế và phạm vi đánh thuế GTGT bao hàm cả hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá tiêu thụ đặc biệt. Vì vậy khi hoàn thiện pháp luật thuế GTGT cũng cần phải quan tâm đúng mức về vấn đề này để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và sự “bọc lót” lẫn nhau của cả hệ thống pháp luật thuế.

    Diễn đạt các khái niệm kinh tế, tài chính về thuế bằng ngôn ngữ pháp lý trong các quy định của pháp luật thuế GTGT mà trong đó sử dụng các định nghĩa pháp lý hết sức cần thiết và đặc biệt phải tôn trọng đúng mức những khía cạnh pháp lý của thuế GTGT để đảm bảo thực thi nghĩa vụ thuế GTGT, đồng thời nâng cao giá trị ngăn chặn các vi phạm của pháp luật thuế GTGT.

    Để áp dụng thuế GTGT một cách có hiệu quả, ngoài việc tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT cần phải không ngừng hoàn thiện cơ chế đảm bảo thực hiện thuế GTGT trên cơ sở đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, cải cách hành chính thuế là một tất yếu khách quan, bởi cải cách hành chính là yếu tố, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh kinh tế hội nhập quốc tế, là công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

    Thứ nhất, cải cách thể chế hành chính thuế: trong cải cách thể chế hành chính thuế bao gồm cải cách thể chế pháp luật và cải cách thủ tục hành chính thuế. Cải cách thể chế pháp luật là cải cách việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp quy về thuế của Chính phủ, của Bộ tài chính. Cụ thể: đổi mới quy trình xây dựng văn bản pháp quy, mở rộng việc tổ chức nghiên cứu soạn thảo các văn bản pháp quy bằng các nhóm chuyên gia liên ngành, nghiêm chỉnh thực hiện các quy định chinh của luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính thuế là cải cách thủ tục thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính thuế. Hay nói cách khác, là cải cách trình tự thực hiện mọi hình thức hoạt động của cơ quan thuế bao gồm trình tự thành lập các cơ quan thuế, trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động cán bộ thuế, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để đảm bảo các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự hoạt động tổ chức, tác nghiệp hành chính.

    Thứ hai, cải cách bộ máy hành chính thuế gồm:

    • Cải cách mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế
    • Cải cách sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan thuế và sự phân công trong nội bộ từng cơ quan thuế.
    • Cải tiến phương thức chỉ đạo, hoạt động, điều hành của tổng cục thuế, cục thuế, chi cục thuế để nâng cao chất lượng hoạt động đáp ứng những biến động cảu cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế có nhiều thách thức.

    Thứ ba, xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế, trong cải cách hành chính thuế, nếu cải cách thủ tục hành chính thuế là khâu đột phá thì trọng tâm lại là vấn đề kiện toàn đội ngũ cán bộ công chức thuế. Bởi vì rằng có thể xây dựng được một hệ thống thể chế tốt về thuế và thiết kế được mô hình tổ chức bộ máy hành chính thuế tối ưu nhưnng nếu không có đội ngũ cán bộ công chức thành thạo chuyên môn, nghiệp vu, tâm huyết với công việc để đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá nền hành chính thì mọi ý đồ cải cách hành chính thuế cũng không thể trở thành hiện thực được.

    Thứ tư, cải cách chế độ tiền lương, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chế độ chính sách đối với cán bộ công chức thuế nhằm khuyến khích, động viên nâng cao chất lượng thực thi công việc hành thu.

     

    1.2 Các giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật thuế GTGT

    1.2.1 Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý thuế

    Trên thế giới do đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi quốc gia có một hình thức tổ chức bộ máy quản lý thuế khác nhau. Tuy vậy, khi xây dựng bộ máy quản lý thuế các nhà nước phải giải quyết các vấn để cơ bản sau:

    • Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với chính quyền địa phương.
    • Mối quan hệ của ngành thuế với hải quan.
    • Mô hình tổ chức bộ máy thuế ở các địa phương.

    Vị trí và quan hệ của cơ quan thuế với Bộ tài chính: trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế vấn đề đặt ra trước tiên là vị trí và quan hệ giữa cơ quan thuế với Bộ tài chính, cơ quan thuế là bộ phận trực thuộc Bộ tài chính hay là một tổ chức độc lập với Bộ tài chính. Trên thế giới hiện có hai mô hình điều hành ngân sách nhà nước. Mô hình thứ nhất là Bộ trưởng bộ tài chính chịu trách nhiệm toàn bộ về thu chi ngân sách, trong mô hình này cơ quan thuế là một tổ chức trực thuộc Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục thuế báo cáo công tác trực tiếp lên Bộ trưởng Bộ tài chính. Mô hình thứ hai là mô hình hội đồng các bộ trưởng độc lập: Bộ trưởng Bộ thu ngân sách và Bộ trưởng Bộ chi ngân sách cơ quan thuế được tổ chức độc lập trực thuộc Chính phủ.

    Mối quan hệ của cơ quan thuế với chính quyền địa phương: là một vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức bộ máy ngành thuế bởi vì trong thực tế công tác tổ chức thu thuế và thi hành pháp luật thuế cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương các cấp. Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước có trình độ phát triển kinh tế – xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành pháp luật cua dân cư thấp.

    Mối quan hệ của ngành thuế với ngành hải quan: trước đây ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập chung, ngành thuế và ngành hải quan luôn là hai tổ chức riêng biệt độc lập. Mô hình ngoại thương chỉ giới hạn trong các nước XHCN. Hải quan giữ vai trò quản lý, kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua các chính sách ngoại thương phi thuế quan như hạn ngạch xuất khẩu, trao đổi hàng hoá. Hiện nay tại các nước chuyển đổi, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chính sách quản lý ngoại thương bằng hạn ngạch được thay bằng chính sách điều tiết xuất nhập khẩu thông qua thuế xuất nhập khẩu. Với chính sách điều tiết xuất nhập khẩu, ngành hải quan lúc này đảm nhận thêm chức năng thu thuế xuất nhập khẩu.

    Mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương: Tổ chức bộ máy quản lý thuế ở các địa phương là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác tổ chức bộ máy quản lý thuế. Do đó, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan thuế ở các địa phương tối ưu là vấn đề có tính chiến lược ở các quốc gia.

    1.2.2 Cải cách mạnh mẽ công tác thanh tra, kiểm tra thuế

    Kiểm tra, thanh tra thuế là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan thuế và được quy định trong các luật thuế. Tổng cục thuế  đã có hướng dẫn và ban hành quy trình kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế. Trong 2 năm (1999- 2000) chỉ tính riêng Tổng cục thuế đã kiểm tra được 1.345 doanh nghiệp, lập biên bản xử lý ghi thu 1.408 tỷ đồng trong đó số thuế ẩu lâu phải truy thu là 398 tỷ đồng. Số doanh nghiệp bị xử lý hành chính về thuế là 897 đơn vị, chiếm 66,7% tổng số doanh nghiệp đã kiểm tra. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều hạn chế bởi nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau.  Vì vậy, phải khắc phục những hạn chế đó bằng nhiều cách:

    * Thứ nhất, phải thực hiện tốt cả hai mặt: thanh tra và kiểm tra đối tượng nộp thuế và thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế.

    * Thứ hai, để tránh tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay cần phải có sự thống nhất trong quy định  ở các văn bản pháp luật về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra theo hướng chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đã được quy định trong các luật thuế. Đây cũng là thông lệ của nhiều nước trên thế giới.

    * Thứ ba, cần phân biệt giới hạn thanh tra, kiểm tra thuế với những tác nghiệp trong nghiệp vụ thuế, tránh gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất kinh doanh.

    * Thứ tư, củng cố bộ máy, đội ngũ kiểm tra, thanh tra thuế, nguồn lực phân bổ cho công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế cần phải được tăng cường tối thiểu là 30% nguồn lực của ngành thuế phải được giành cho công tác thanh tra, kiểm tra.

    * Thứ năm, thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế thanh tra, kiểm tra thuế đồng thời phải tổ chức giám sát chặt chẽ cán bộ thanh tra thuế, giám sát từng cuộc thanh tra thuế. Để đảm bảo cho cơ chế tự kê khai nộp thuế có hiệu quả thì vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng cần phải được tăng cường trong đó mục tiêu của công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện các hành vi gian lận thuế và các hành vi gian lận trong thương mại để trốn thuế, lậu thuế cũng như giảm xuống mức thấp nhất sự chênh lệch giữa số thuế đối tượng tự kê khai và số thuế phải nộp theo luật thuế. Đặc biệt, cần chú trọng đẩy mạnh kiểm tra hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu qua đường biên giới đất liền sang Trung Quốc, tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ việc xác nhận hàng hóa xuất khẩu, chặn đứng hiện tượng quay vòng hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu khống.

    1.2.3 Hiện đại công tác quản lý thuế bằng công cụ tin học

    Trong công cuộc cải cách hành chính thuế, quản lý thuế bằng công cụ tin học được đặt ra như một tất yếu và đây là một bước đột phá lớn của ngành thuế. Hiện nay, toàn ngành có hơn 5.500 cán bộ tin học trong đó có hơn 150 cán bộ chuyên tin có khả năng tiếp nhận công nghệ thông tin để triển khai thực hiện thuế có hiệu quả ở các địa phương. Ngành thuế đã thực hiện nối mạng nội bộ ở tất cả 61 tỉnh, thành và hơn 50 chi cục thuế lớn trong cả nước với hơn 4.050 máy tính và hơn 100 máy chủ tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất ở các tỉnh. Các chương trình phần mềm được tổng cục thuế thống nhất triển khai chính xác, an toàn và hiệu quả. Các chương trình quản lý mã số thuế, quản lý thuế, quản lý ấn chỉ hai cấp cục và chi cục…. Để có thể phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại của công tác công nghệ tin học nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế cần phải quan tâm đến các vấn đề sau:

    Thứ nhất, ưu tiên đầu tư và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ chuyên ngành như các chương trình quản lý mã số đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn, tính thuế, lập bộ và theo dõi nợ đọng, quyết toán thuế.

    Thứ hai, ưu tiên cung cấp trang thiết bị cho các địa phương có địa giới hành chính rộng, có số thu lớn nhằm giảm bớt công việc thủ công, phát triển tin học một cách đồng bộ đến tất cả các địa phương, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu đồng nhất, phát triển chương trình ứng dụng, từng bước phát huy hiệu quả hệ thống mạng máy tính ở từng cục thuế, chi cục thuế.

    Thứ ba, cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ tin học, phải tiến hành đào tạo thường xuyên và chất lượng đào tạo phải đặt lên hàng đầu nên đào tạo theo nhiều trình độ khác nhau như đào tạo các cán bộ theo trình độ cao để có thể quản lý các dự án tin học lớn trong ngành đạo tạo các cán bộ quản lý và triển khai ứng dụng, đạo tạo các cán bộ sử dụng chương trình ứng dụng cho các cán bộ không chuyên hiện đang làm việc ở các phòng ban khác.

    Thứ tư, thực hiện nối mạng giữa cơ quan thuế với đối tượng nộp thuế và các cơ quan quản lý chức năng khác để luôn có đầy đủ những thông tin và dữ liệu cần thiết giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý phục vụ cho công tác quản lý thuế.

    1.2.4 Tăng cường công tác quản lý chứng từ, hoá đơn giá trịn gia tăng.

    Hoá đơn GTGT là căn cứ pháp lý để xác định cụ thể phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT, như xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp vào ngân sách nhà nước và số thuế GTGT được hoàn với giá trị pháp lý riêng có của hoá đơn GTGT, nên không phải bất cứ ai cũng có quyền sử dụng hoá đơn GTGT. Người viết hoá đơn là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ với điều kiện những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ này có quyền được thể hiện số thuế GTGT trên hóa đơn, những nghiệp vụ không nằm trong phạm vi đánh thuế GTGT hoặc được miễn trừ thuế GTGT thì người cung cấp dịch vụ, hàng hoá không được viết trên hoá đơn GTGT, nếu khi thực hiện nghĩa vụ này mà viết trên hoá đơn số tiền thuế GTGT cho khách hàng thì người cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người nộp thuế) vi phạm pháp luật thuế GTGT. Còn xét về phương diện quản lý nhà nước, hoá đơn GTGT là văn bản quản lý của nhà nước. Để thực hiện sự quản lý của nhà nước trên tất cả các mặt hoạt động của xã hội, nhà nước phải sử dụng các hình thức quản lý nhất định mà hình thức quản lý cơ bản chủ yếu mang tính chất pháp lý đó là ra quyết định quản lý hay nói cách khác là ra văn bản quản lý.  Để giảm bớt các hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng chứng từ, hoá đơn ở nước ta hiện nay thì cần tăng cường một số biện pháp:

    Thứ nhất, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hoá đơn tự in là việc đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát loại hoá đơn này chính vì vậy trách nhiệm của bộ tài chính trong việc quản lý của công chức thuế đòi hỏi cao hơn, phương tiện quản lý đòi hỏi hiện đại hơn.

    Thứ hai, nhà nước cần công bố giá trị hoá đơn bán hàng đối với người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, đồng thời khuyến khích các biện pháp kinh tế cho người tiêu dùng nhận hoá đơn khi mua hàng.

    1.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn thuế

    Tư vấn thuế là hoạt động trong đó các chuyên gia về pháp luật thuế cung cấp các thông tin, kiến thức, giải pháp về lĩnh vực thuế cho đối tượng nộp thuế có nhu cầu để họ thực hiện nghĩa vụ phù hợp vơí nhà nước.

    Tư vấn thuế gồm 2 dạng:

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ công, với danh nghĩa này tư vấn thuế là một chức năng thuộc lĩnh vực hành chính của cơ quan thuế.

    * Tư vấn thuế với danh nghĩa là một dịch vụ tư, đây là một hoạt động dịch vụ có thu, các đối tượng nộp thuế có nhu cầu phải trả dịch vụ phí cho mỗi hoạt động tư vấn.

    Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển tư vấn thuế có một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đối với xã hội.

    Đối với doanh nghiệp, thông qua tư vấn thuế chu doanh nghiệp có được các thông tin cần thiết về việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp mình. Từ đó doanh nghiệp có thể hạch toán đầy đủ các chi phí và tính toán một cách chính xác tiền lãi của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Tư vấn thuế còn có vai trò đào tạo, bổ sung, cập nhật những kiến thức thường xuyên về thuế cho chủ doanh nghiệp sau mỗi sự thay đổi của luật thuế hoặc khi chủ doanh nghiệp thay đổi mặt hàng, phương thức sản xuất kinh doanh.

    Xét trên phạm vi toàn xã hội, tư vấn thuế là kênh thông tin hai chiều giữa khách thể quản lý và chủ thể quản lý. Vì vậy, nhà tư vấn thuế để giúp cho việc giải thích, tuyên truyền các chính sách,  pháp luật thuể để nâng cao nhận thức của mỗi người đối với nghĩa vụ thuế, qua đó cơ quan thuế thực hiện tốt nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp tiền thuế và các khoản thu khác theo luật định, tạo điều kiện duy trì kỷ cương xã hội. Vì vậy, tư vấn thuế là một công việc cần thiết, khách quan, một công việc tiến hành thường xuyên của cơ quan thuế.

    II MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG GIAN LẬN THUẾ GTGT TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. Các giải pháp tiếp tục hoàn thiện luật thuế GTGT

    1.1 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT

    Về đối tượng chịu thuế GTGT, đã được quy định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT vì thế việc quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” vừa không đúng về phương diện lý luận vừa gặp nhiều khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng thuế GTGT. Chính vì vậy, cần sửa đổi một số thuật ngữ, sửa đổi bổ sung một số vấn đề được xác định trong luật thuế GTGT. Ví dụ như có thể dùng thuật ngữ “nghiệp vụ chịu thuế GTGT” thay cho thuật ngữ “đối tượng chịu thuế GTGT” để tránh được sự nhầm lẫn giữa người chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT. Hoặc để đảm bảo thuế GTGT là thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng, có tính liên hoàn và tập trung kinh tế cao, pháp luật thuế GTGT cần phải thu hẹp diện miễn trừ thuế GTGT  bằng cách chuyển một số “hàng hoá, dịch vụ” hiện nay nằm trong diện “ không chịu thuế GTGT” sang diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc loại bỏ một số hàng hoá, dịch vụ đang nằm trong phạm vi này, tức là mở rộng đối tượng thuộc dạng chịu thuế GTGT.

    Về đối tượng nộp thuế GTGT, hiện nay pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, quy định khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ ấn định, quy định hai loại hoá đơn (hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT) là xuất phát từ việc pháp luật thuế GTGT quá rộng, đặc biệt trong đó đối tượng nộp thuế GTGT là hộ kinh doanh cá thể chiếm một tỷ trọng qúa lớn. Vì vậy, pháp luật cần thu hẹp diện đối tượng nộp thuế GTGT bằng cách quy định ngưỡng chịu thuế GTGT đối với các hộ kinh doanh cá thể. Những đối tượng nào không đạt được mức doanh số này sẽ chuyển sang áp dụng thuế khoán ấn định trên doanh thu, còn những hộ kinh doanh cá thể khác bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

     

    1.2 Bổ sung một số quy định về phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không xác định cụ thể phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế GTGT nên trong quá trình áp dụng thuế GTGT đã xảy ra những tranh chấp giữa đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế do không đồng nhất quan điểm với nhau trong nhận thức. Vì vậy, để xác định phạm vi, mức độ của nghĩa vụ thuế GTGT một cách tương đối, chuẩn xác cần quy định rõ thế nào là ở Việt Nam. ở Việt Nam tức là nằm trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam: vùng đất, vùng trời, vùng nước và vùng trong lòng đất. Trong phạm vi đó nhà nước Việt Nam  có toàn quyền quyết định tối cao. Vì vậy, xét về mặt nguyên tắc tất cả các hoạt động chuyển giao hàng hoá được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chịu thuế GTGT ở Việt Nam.

     

    1.3 Quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT trong pháp luật thuế GTGT

    Pháp luật thuế GTGT hiện hành không quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT nên trên thực tế đã gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hành thu thuế và không ít tranh chấp xảy ra giữa cán bộ thuế và nộp thuế khi giải thích về vấn đề này. Để giải quyết triệt để vấn đề này cũng như đảm bảo tính công bằng của thuế GTGT thì trong pháp luật thuế GTGT cần phải xác định rõ thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT. Khi xác định thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

    + Nguyên tắc công bằng

    + Nguyên tắc hiệu quả và thuận tiện

    + Nguyên tắc chắc chắn và chính xác

    + Nguyên tắc không được võ đoán.

    1.4 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tính thuế và thuế suất, phương pháp tính thuế

    Về giá tính thuế, pháp luật thuế GTGT cần nhất thể hoá giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT, đồng thời cần quy định rõ nếu giá ghi trên hóa đơn mà nhỏ hơn giá thị trường thì căn cứ vào gía thị trường để tính. Trường hợp bán phá giá để trốn thuế cần có sự can thiệp của nhà nước.

    Về thuế suất, lý luận về thuế GTGT cũng như thực tiễn áp dụng thuế GTGT từ thập kỷ 80 người ta nhận thấy rằng nếu thuế GTGT càng ít thuế suất càng dễ áp dụng. áp dụng thuế GTGT với một thuế suất thống nhất khặc phục được nguy cơ gian lận, trốn thuế và tránh thuế sinh ra từ việc nhập nhằng về thuế suất vì nếu chỉ có một mức thuế suất cao và mức thuế suất thấp khác nhau. Vì vậy, xuất phát từ thực tế kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay thì pháp luật thuế GTGT cần lựa chọn hệ thống thuế suất 5% và 10% (không tính mức thuế suất 0%). Trong tương lai sẽ áp dụng hệ thống mức thuế suất 7% và 10%.

    Về phương pháp tính thuế, qua thực tiễn áp dụng thuế GTGT cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT không còn mấy tác dụng mà còn phản ánh sai lệch nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất của thuế GTGT và đưa đến nhiều hậu quả phát sinh tiêu cực khác. Vì vậy, tất yếu pháp luật thuế GTGT sửa đổi chỉ cần quy định một phương pháp duy nhất đó là phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Bên cạnh phương pháp này pháp luật thuế GTGT cũng cần quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán để đảm bảo tất cả số thuế GTGT phát sinh đều được phản ánh trên hoá đơn, có đầy đủ căn cứ pháp lý cho hạch toán và khấu trừ.

    1.5 Cần chuẩn hóa và sửa đổi các quy định về khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT

    Về khấu trừ thuế GTGT, cần sửa đổi và làm rõ các vấn đề sau:

    Thứ nhất, để đảm bảo những khía cạnh của việc khấu trừ thuế cũng như bản chất liên hoàn của thuế GTGT cần chuẩn hoá những quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế, cụ thể:

    + Chỉ khấu trừ thuế đầu vào cho các hoạt động chịu thuế GTGT

    + Có thu mới khấu trừ, không khấu trừ khống

    + Mua hàng hóa, dịch vụ không có hoá đơn, chứng từ hoặc có hoá đơn nhưng không hợp pháp thì không được khấu trừ.

              Thứ hai, quy định rõ nguyên tắc xác định số tiền được khấu trừ, số tiền có quyền khấu trừ là số thuế đầu vào tính trên một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mua vào và còn tuỳ thuộc vào nghiệp vụ đó được khấu trừ toàn bộ hay một phần.

    Thứ ba, quy định cụ thể các căn cứ xác định số thuế được khấu trừ, cụ thể đó là hoá đơn GTGT khi mua hàng, biên lại nộp thuế. Trong trường hợp, nhập khẩu hoặc phiếu xuất kho, trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp tự cung cấp.

    Thứ tư, để đảm bảo quyền đổi lại thuế GTGT của doanh nghiệp cần quy định hình thức khấu trừ vào số thuế phải nộp vào kỳ sau trong trường hợp nghiệp vụ thuế GTGT bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền tức thuế GTGT đã trả vào lúc diễn ra hành động bán hàng và cung cấp dịchvụ nhưng sau đó bị huỷ bỏ hoặc không được trả tiền thì doanh nghiệp có quyền xin lại (đòi lại) số thuế GTGT đã nộp.

    Về hoàn thuế GTGT, để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp hoàn thuế GTGT phải được quy định chính xác cụ thể trong luật thuế GTGT. Mặt khác, nên thu hẹp diện hoàn thuế, chỉ áp dụng hoàn thuế cho các đối tượng:

    + Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ

    + Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định

    Các cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có luỹ kế số dư đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra thì nên quy định ngưỡng nhất định mới được hoàn thuế, nếu dưới ngưỡng đó thì tiếp tục chuyển cho kỳ sau để khấu trừ, để tiết kiệm chi phí, thời gian và công sức của cơ quan thuế và đối tượng nộp thuế. Đưa trường hợp hoàn thuế GTGT đối với các nguồn vốn sử dụng vốn ODA, đối với các tổ chức sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam ra khỏi diện hoàn thuế GTGT. Đối với hoàn thuế xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ thì quy định hoàn theo tháng hoặc theo chuyến hàng mà không hạn chế số tiền chưa được khấu trừ là bao nhiêu như quy định hiện nay. Còn các trường hợp khác có thể theo quý hoặc theo năm. Ngoài ra, thời hạn được giải quyết hoàn thuế cũng chỉ nên quy định áp dụng đối với các chứng từ phát sinh không quá hai năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế.

     

    1.6 Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế GTGT

    Về đăng ký thuế GTGT, từng bước văn minh hoá, hiện đại hoá cơ chế thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT. Pháp luật thuế GTGT cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung về việc đăng ký thuế để khắc phục những vướng mắc.

    Một là, lập  quy định theo mã tỉnh có thể không đảm bảo tính ổn định về trạng thái hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp cũng như sự phức tạp trong quản lý.

    Hai là, mã tình trạng nộp thuế GTGT (NO) không đảm bảo nguyên tắc mỗi đối tượng nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất trong suốt quá trình hoạt động từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động.

    Về kê khai nộp thuế GTGT, tính tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng là yếu tố then chốt cơ bản quyết định sự thành công lớn của quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh thuế nói chung và thuế GTGT nói riêng cần có những quy định nâng cao khả năng tự giác của đối tượng nộp thuế. Đặc biệt với sự phát triển ngày càng đa dạng của các đối tượng nộp thuế thì sự tự giác của đối tượng nộp thuế càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính sự tự kê khai và nộp thuế theo kê khai của mình thay cho cơ quan tính thuế và ra thông báo nộp thuế đã chuyển trách nhiệm pháp lý cho đối tượng nộp thuế về những thông tin trong tờ khai thuế của họ với những quy định xử phạt phù hợp sẽ góp phần tăng cường ý thức tuân thủ nghiêm luật thuế.

    Về quyết toán thuế GTGT, khi thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính thuế nộp vào ngân sách nhà nước thì việc quyết toán thuế trở nên hết sức quan trọng và nó không mang thủ tục hành chính như trước đây nữa, vì vậy cần phải có sự quy định chặt chẽ về vấn đề này đặc biệt trong trường hợp quyết toán không theo định kỳ hàng năm như khi có quyết định phá sản, giải thể, chia, tách, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hoặc giao bán doanh nghiệp…

    III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    Để đảm bảo pháp luật thuế GTGT ngày càng chặt chẽ, tránh gây hiểu lầm các thuật ngữ được quy định trong luật thuế GTGT, một số kiến nghị đã được đưa ra nhằm hoàn thiện pháp luật thuế GTGT như sau:

    Không quy định trực tiếp “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT” nên điều 2 luật thuế GTGT cần sửa đổi là “đối tượng chịu thuế GTGT là các đối tượng hoạt động chuyển giao hàng hoá, cung cấp dịch vụ và phải trả tiền của một hoạt động kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”

    Điều 4 cần sửa đổi là: “đối tượng được miễn trừ thuế GTGT”

    Đưa khoản 3, khoản 20, điều 4 ra khỏi diện miễn trừ thuế GTGT.

    Để loại bỏ, thu hẹp bớt diện đối tượng nộp thuế GTGT, có kiến nghị sửa đổi điều 3 luật thuế GTGT “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là đối tượng nộp thuế GTGT”. Ngoài ra, luật thuế GTGT cần bổ sung thêm một điều luật về phạm vi lãnh thổ thuế GTGT trong đó xác định rõ nguyên tắc nơi đánh thuế đối với hoạt động chuyển giao tài sản, và nơi đánh thuế đối với hoạt động cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo mức thuế suất đối với một hàng hoá, dịch vụ được thống nhất, thì pháp luật thuế GTGT phải nhất thể hoá tiêu chí phân định hàng hoá, dịch vụ trong biểu thuế hoặc dựa trên tính năng, công dụng của hàng hoá, dịch vụ. Trên cơ sở đó có kiến nghị, hiện nay khoản 1, điều 7 luật thuế GTGT quy định: “đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT” sự quy định này không rõ ràng nên sửa thành “đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT”…

    Để tính toán dễ dàng, giảm bớt sai lệch trong việc phản ánh nghĩa vụ thuế GTGT cũng như bản chất thuế GTGT thì chỉ nên quy định một phương pháp tính thuế đó là phương pháp khấu trừ, vì vậy phải bỏ khoản 2, điều 9 luật thuế GTGT, tức là bỏ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT. Đồng thời quy định phương pháp quy đổi thuế suất GTGT thành thuế suất theo giá thanh toán.

    Để hạn chế bớt việc lợi dụng cơ chế nhằm chiếm đoạt tiền của ngân sách nhà nước thì tất cả các trường hợp được hoàn thuế GTGT phải quy định cụ thể, chính xác trong luật thuế GTGT  vì vậy, có kiến nghị sửa đổi, bổ sung điều 16 của luật thuế GTGT về hoàn thuế như sau: “việc hoàn thuế GTGT chỉ áp dụng trong các trường hợp:

    1. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập, đầu tư mới tài sản cố định
    3. Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở nên có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn đầu ra theo ngưỡng do pháp luật quy định, nếu dưới ngưỡng đó tiếp tục chuyển kỳ sau để khấu trừ. Ngưỡng được hoàn thuế do chính phủ quy định.

    Bổ sung “hoàn thuế GTGT trong trường hợp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo tháng hoặc theo các chuyến hàng mà không hạn chế số tiền không được khấu trừ. Còn các trường hợp khác được hoàn theo quý hoặc theo năm”

    Quy định “thời hạn giải quyết hoàn thuế áp dụng với các chứng từ phát sinh không quá 2 năm kể từ khi có chứng từ đề nghị hoàn thuế”.

    Lời mở đầu

    Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 92% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp tính hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng nộp thuế kết hợp với việc hạch toán thuế tại các doanh nghiệp phải theo đúng chế độ kế toán, tài chính và quy định của pháp luật.

    Thực trạng tình hình thực hiện thuế ở nước ta sau hơn 4 năm áp dụng cho thấy các vụ gian lận trong thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động cho toàn xã hội. Chỉ riêng trong hoàn thuế thì năm 1999 phát hiện 3 vụ gian lận thuế GTGT, năm 2000 phát hiện 17 vụ, năm 2001 phát hiện 64 vụ và từ đầu năm 2002 đến khoảng tháng 6 năm 2002 đã phát hiện 63 vụ, nâng tổng số tiền hoàn thuế GTGT bị chiếm đoạt lên 500 tỷ đồng từ năm 1999 các vụ về mua bán hoá đơn hay làm sai lệch giá trên hoá đơn không hề có xu hướng giảm sút. Tình trạng này làm đau đầu các nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.

    Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc nghiên cứu các mặt trái của thuế GTGT và đưa ra các biện pháp để giảm tối đa những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những điều đó em đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài “Gian lận thuế GTGT trong các doanh nghiệp thương mại ở Việt Nam hiện nay và biện pháp phòng ngừa”.

    Cụ thể bài viết gồm những nội dung chủ yếu sau:

    Chương I: Một số vấn đề cơ bản về thuế GTGT trong kinh doanh

    Chương II: Thực trạng gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

    Chương III: Một số biện pháp chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam

                  BIỂU ĐỒ DỰ TOÁN THU THUẾ GTGT NĂM 2002

     

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

      XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    DỰ TOÁN 2003 9154 3592 4228 2264 19238
    ƯỚC QI/2003 2205 870 1175 619 4869

    Nguồn thu từ thuế của Nhà nước tập trung chủ yếu vào xí nghiệp quốc doanh. Sự đóng góp của ngành này vào ngân sách nhà nước luôn chiếm trên 45% (năm 2003 là 47%, trong tổng số thu từ tất cả các ngành). Đứng sau xí nghiệp quốc doanh là NQD 22%, XNĐT 19và XS 12%. Nhìn chung tỷ lệ đóng góp này tương đối ổn định.

    BIỂU ĐỒ VỀ SỐ VỤ LỪA ĐẢO HOÀN THUẾ QUA CÁC NĂM

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy tình trạng gian lận về hoàn thuế tăng lên với tốc độ khá nhanh từ 4 vụ năm 1999 đến 17 vụ năm 2000, 64 vụ năm 2001 và 46 vụ với 6 tháng đầu năm 2002 đã được phát hiện. Với con số này chứng tỏ sự thách thức của những kẻ phạm tội đối với nhà quản lý. Chúng đã sử dụng nhiều hình thức khác nhau để qua mặt cán bộ quản lý, sự tăng lên nhanh chóng của số vụ gian lận cũng chứng tỏ chúng đã khá tinh vi trong việc sử dụng các mánh khoé. Thực trạng trên khiến các nhà làm luật và các nhà quản lý không thể khoanh tay đứng nhìn.

    Đơn vị tính: Tỷ đồng

    Chỉ tiêu XNQD XNĐT NQD XS TỔNG
    Thu VAT 6895 2254 3173 1630 13.952

    TÌNH HÌNH THU THUẾ VAT CỦA NGÀNH HẢI QUAN GIAI ĐOẠN TỪ  NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2003

    ĐVT: TỶ ĐỒNG

    TT Năm Tổng thu (KH) Tổng thu VAT VAT/Tổng thu Tỉ lệ hoàn thành kế hoạch
    1 1999 21000 23669 8162 0.344839 113%
    2 2000 22960 24417 10718 0.438956 106%
    3 2001 25200 29519 11725 0.397202 117%
    4 2002 33200 37221 15010 0.403267 112%
    5 2003 38500 39223 17522 0.446728 102%

    Từ năm 1999 đến năm 2003 số thuế VAT đóng góp vào số thu của ngành Hải quan tương đối ổn định và có xu hướng tăng lên. Năm 1999 là 8.162 tỷ đồng, năm 2000 là 1.0.718 tỷ đồng, năm 2001 là 11.725 tỷ đồng, năm 2002 là 15.010 tỷ đồng, năm 2003 là 15.722 tỷ đồng. Trong đó năm 2002 và năm 2003 là có số thu lớn nhất. Tỷ lệ thu thuế VAT ngày càng có xu hướng tăng nhanh từ năm 1999 đến năm 2003 đã tăng lên hơn 200%. Con số thu được thực tế luôn vượt mức kế hoạch đề ra. Năm 1999 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 113%, năm 2000 là 106%, năm 2001 là 117%, năm 2002 là 112% và năm 2003 là 102%. Tốc độ tăng ngày càng lớn và tỷ trọng đóng góp vào tổng thu của ngành Hải quan có xu hướng tăng nhanh chứng tỏ thuế VAT có vai trò lớn trong nguồn thu của ngành Hải quan nói riêng và thu ngân sách nhà nước nói chung.

    Thu ngân sách nhà nước và thu thuế GTGT từ năm 2001 đến năm 2003

    Năm Thu ngân sách nhà nước Thu thuế VAT % thu VAT
    2001 103.888 13952 13,43%
    2002 105.200 15.465 14,70%
    2003 123.700 19.238 15,56%

    Bảng số liệu cho thấy chỉ qua 3 năm: 2001, 2002 và 2003 tỷ lệ đóng góp thuế VAT trong nguồn thu của ngân sách nhà nước luôn tăng từ 13,43% năm 2001 lên 14,7% năm 2002 và 15,56% năm 2003. Điều này cho thấy việc áp dụng luật thuế VAT vào nước ta là hợp lý, sự tăng lên trong tỷ lệ đóng góp này cho thấy sự phát triển nhanh trong sản xuất và lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ YẾU TỪ NĂM 1999 ĐẾN 2003

     

    Mặt hàng Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Dầu thô (nghìn tấn) 14.881,9 15.423,5 16.731,6 16.879,0 17.169,0
    Dệt may (triệu đô) 1.746,2 1.891,9 1.975,4 2.752,0 3.630,0
    Giày, dép (triệu đô) 1.387,1 1.471,7 1.578,4 1.867,0 2.225,0
    Thuỷ sản (triệu đô) 973,6 1.478,5 1.816,4 2.023,0 2.217,0
    Gạo (nghìn tấn) 4.508,3 3.476,7 3.721,0 3.241,0 3.820,0
    Cà phê (nghìn tấn) 482,0 733,9 931,0 719,0 700,0
    Thủ công mỹ nghệ (triệu đô) 200,4 273,7 299,7 331,0 367,0
    Hạt tiêu (nghìn tấn) 34,8 37,0 57,0 77,0 74,4
    Hạt điều (nghìn tấn) 18,4 34,2 43,6 62,0 83,6
    Cao su (nghìn tấn) 263,0 273,4 308,0 449,0 438,0
    Than đá (nghìn tấn) 3.260,0 3.251,2 4.292,0 6.049,0 7.049,0
    Chè (nghìn tấn) 36,0 55,6 67,9 75,0 60,0
    Lạc (nghìn tấn) 56,0 76,1 78,2 105,0 83,3

     

    3.1 Phạm vi áp dụng của thuế GTGT

              * Đối tượng chịu thuế GTGT

    Theo quy định của luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay, đối tượng chịu thuế GTGT là “hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam”. Sự quy định nay chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng. Bởi:

    Thứ nhất, thuế GTGT không đánh vào bản thân hàng hoá, dịch vụ mà đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên thuế GTGT thuộc loại thuế tiêu dùng mà sự tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện qua mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nếu hàng hoá, dịch vụ nằm trong kho hoặc chưa được đưa vào lưu thông tức là chưa thông qua việc mua bán, trao đổi thì chưa bị đánh thuế GTGT.

    Thứ hai, theo lý luận điều chỉnh pháp luật thuế GTGT, khẳng định những hoạt động chịu thuế được xác định trong luật thuế là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT, nên sự kiện pháp lý không thể là bản thân hàng hoá, dịch vụ.

    Thứ ba, cơ sở để tính thuế GTGT là giá tính thuế mà giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chỉ được xác định khi thông qua quan hệ mua bán, trao đổi, nếu hàng hoá cứ nằm im trong kho thì không thể biết được giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ cụ thể đó là bao nhiêu mà chỉ có thể biết được giá thành của hàng hoá, dịch vụ đó.

    Thứ tư, việc quy định trực tiếp đối tượng chịu thuế là hàng hoá, dịch vụ nên xử lý các vấn đề tiếp theo như kỳ nộp thuế, nợ thuế, trốn thuế, hoãn nộp thuế sẽ gặp nhiều lúng túng trong nhận thức và sinh ra nhiều cách xử lý khác nhau, vì vậy, không đảm bảo tính công bằng trong việc xác định mức độ và phạm vi của nghĩa vụ thuế.

    Việc luật thuế GTGT phân ra đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế GTGT như hiện nay cũng chưa chính xác về mặt khoa học. Bởi vì khi nói đến đối tượng không thuộc dạng chịu thuế là nói đến những hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT, bởi vì nó không đáp ứng đầy đủ những thuộc tính của hình thức cung ứng hàng hoá, dịchvụ chịu thuế GTGT nên về nguyên tắc không được quy định trong luật thuế. Ví dụ như hành vi bán đồ trang sức của một cá nhân cho người khác mà người này không nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Còn những hàng hoá, dịch vụ được liệt kê ở điều 4 luật thuế GTGT không thuộc hình thức cung ứng này đều là những hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế. Hay nói cách khác chúng đều là những hoạt động sản sinh ra từ thuế GTGT luôn thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thuế GTGT nhưng được miễn trừ thuế GTGT bằng một điều luật đặc biệt vì những lý do khác nhau. Hệ quả của sự miễn thuế này là khi các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ được khấu trừ không phải tính và thu thuế và cũng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào xuất phát từ chủ trương nhằm thực hiện ưu đãi về thuế. Luật thuế GTGT đã xác định diện miễn thuế GTGT rất rộng, có thể chia thành một số nhóm lớp sau:

    – Một số hoạt động, sản phẩm của một số ngành, lĩnh vực còn đang khó khăn, cần khuyến khích để tạo điều kiện phát triển như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản dạng thô chưa qua chế biến, sản phẩm muối, tưới tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống xã hội cộng đồng như dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học, dạy nghề, dịch vụ công cộng vệ sinh, thoát nước.

    – Một số hàng hoá, dịch vụ liên quan đến công nghệ, vốn đầu tư, như thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được, nhập khẩu làm tài sản cố định, dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, chuyển giao công nghệ..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ sử dụng không nhằm mục đích kinh doanh hoặc vì mục đích chính sách xã hội như vũ khí, khí tài chuyên dụng cho an ninh quốc phòng, duy tu sửa chữa các công trình văn hoá nghệ thuật…

    – Một số hàng hoá, dịch vụ cần ưu đãi có mức độ như tài nguyên xuất khẩu dạng chưa chế biến, hàng hoá, dịch vụ cung ứng cho vận tải quốc tế..

    – Một số hàng hoá, dịch vụ đưa vào diện không chịu thuế thể hiện tính kỹ thuật hệ thống thu như sản phẩm thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hàng chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập..

    Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng nhiều trường hợp lại có kết quả ngược lại với ý đồ của nhà hoạch định chính sách cũng như ý đồ của các nhà làm luật. Sự ưu đãi này đưa đến nhiều bất ổn cho các chủ thể thực hiện các nghiệp vụ này do bắt nguồn từ cơ chế khấu trừ đặc biệt trong trường hợp chủ thể sử dụng nguyên liệu thuộc diện miễn trừ thuế GTGT. Như ngành in báo, tạp chí, sách khoa học và những ấn phẩm thuộc dạng miễn trừ thuế. Tại khu vực khi bán hàng sẽ không phát sinh thuế GTGT, các doanh nghiệp sẽ không phải nộp thuế GTGT cho kho bạc nhà nước, nhưng khi mua nguyên vật liệu như giấy, điện hoặc máy móc thiết bị…lại phải chịu 10% thuế GTGT đầu vào. Do không có thuế GTGT đầu ra để khấu trừ nên toàn bộ số thuế GTGT đã trả khi mua nguyên vật liệu, máy móc thiết bị sẽ tính cả vào giá thành sản phẩm, làm đội giá bán gây khó khăn cho bán hàng.

    Hoặc ở khoản 3, điều 4 quy định “dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế GTGT ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”, tưởng rằng quy định này làm giảm gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp sản xuất nhứng mặt hàng chiụ thuế tiêu thụ đặc biệt đã rơi vào tình trạng “khốn đốn, một cổ ba tròng”, đặc biệt đối với các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, máy lạnh có đầu vào chủ yếu là linh kiện nhập khẩu, vừa chịu thuế nhập khẩu vừa chịu thuế GTGT và khi bán ra thị trường sản phẩm này phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng được miễn thuế GTGT tức là không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đã thanh toán. Rõ ràng ở  đây thiếu sự công bằng, bình đẳng trong việc xác định phạm vi, mức độ nghĩa vụ thuế GTGT.

              * Đối tượng nộp thuế GTGT

    Đối tượng chịu thuế chỉ rõ sắc thuế điều chỉnh hoạt động kinh tế nào thì đối tượng nộp thuế chỉ rõ sắc thuế đó điều chỉnh các hoạt động kinh tế của ấy.

    Điều 3 luật thuế GTGT quy định “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế GTGT.

    Theo quy định này thì đối tượng nộp thuế rất rộng, bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT của Việt Nam không phân biệt hình thức sở hữu, ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và các tổ chức, cá nhân có nhập khẩu háng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, không phân biệt tổ chức kinh doanh nước ngoài hay trong nước. Việc quy định này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết song thực tiễn của vấn đề này cũng cần bàn tời bởi số lượng hộ kinh doanh cá thể ở nước ta chiếm một tỷ trọng lớn nhưng phần lớn hoạt động kinh doanh lại không có hiệu quả trong khi đó luật thuế GTGT lại không xác định ngưỡng chịu thuế GTGT như các nước khác nên chi phí quản lý hành chính thuế rất lớn so với số thuế GTGT thu được từ nhuững đối tượng này. Mặt khác cũng cần phải xem xét khái niệm “người nhập khẩu” và “cơ sở kinh doanh” bởi khái niệm cơ sở kinh doanh bao hàm cả người nhập khẩu. Nếu các cơ sở kinh doanh thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá thì được gọi là người nhập khẩu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài :

    Trong coâng cuoäc ñoåi môùi hieän nay, ñaát nöôùc ta ñang dieãn ra soâi ñoäng quaù trình phaùt trieån kinh teá haøng hoaù nhieàu thaønh phaàn, vaän haønh theo cô cheá thò tröôøng coù söï quaûn lyù cuûa nhaø nöôùc theo ñònh höôùng xaõ hoäi chuû nghóa. Tröôùc vaán ñeà töø moät neàn kinh teá theo cô cheá bao caáp chuyeån sang moät neàn kinh teá theo cô cheá thò tröôøng, söï hoaø nhaäp cuûa caùc ngaønh kinh teá trong xaõ hoäi khoâng nhöõng chæ naèm rieâng trong lónh vöïc quoác gia maø coøn hoøa nhaäp vaøo neàn kinh teá theá giôùi. Vôí yeâu caàu naøy, caùc hoaït ñoäng kinh doanh treân nhieàu lónh vöïc phaûi coù nhieàu chuyeån bieán, nhieàu thay ñoåi cho phuø hôïp vôùi cô cheá môùi. Trong neàn kinh teá chung , hoaït ñoäng kinh doanh cuûa caùc doanh nghieäp coù vò trí heát söùc quan troïng, ñöôïc xem laø xöông soáng cuûa neàn kinh teá, ñoùng vai troø raát to lôùn trong vieäc thuùc ñaåy taêng tröôûng kinh teá beàn vöõng .

    Ñeå tieán haønh moät quaù trình saûn xuaát kinh doanh ñoøi hoûi caùc doanh nghieäp phaûi hoäi ñuû 3 yeáu toá: lao ñoäng, ñoái töôïng lao ñoäng vaø tö lieäu lao ñoäng. Trong ñoù, lao ñoäng laø moät trong nhöõng nhaân toá quyeát ñònh söï thaønh coâng cuûa doanh nghieäp, chúng ta đã biết “ lao động là bỏ một phần sức lực (

    chân tay hay trí óc ) nên nó cần thiết phải được bù đắp để tái sản xuất sức lao động”. Và sự thật đó được thấy dễ dang trong thực tế : mọi người lao động làm việc trong môi trường bình thường hay khắc nghiệt đều mong muốn kiếm được nhiều tiền…nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cuộc sống của họ. Vì lẽ đó, tiền lương và các khoản thanh toán cho người lao động dưới hình thức này hay hình thức khác là một vấn đề quan trọng cần giải quyết và cần giải quyết nó một cách cân nhắc, cẩn thận, rõ ràng và thỏa đáng.

    Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển lớn mạnh của nền kinh tế thế giới, một quốc gia nói chung hay một doanh nghiệp nói riêng muốn hòa nhập được thì phải tạo động lực phát triển từ trong nội bộ của doanh nghiệp mà xuất phát điểm chính là việc giải quyết một cách hợp lí, công bằng, rõ ràng vấn đề tiền lương và các khoản trích theo lương cho người lao động. Dù dưới bất kì loại hình doanh nghiệp nào, thì sức

    lao động của con người đều tồn tại và đi liền với thành quả của doanh nghiệp.Vì theá tieàn löông phaûi traû cho ngöôøi lao ñoäng laø vaán ñeà caàn quan taâm cuûa caùc doanh nghieäp hieän nay. Laøm theá naøo ñeå coù theå kích thích lao ñoäng haêng haùi saûn xuaát, naâng cao hieäu quaûø, chaát löôïng lao ñoäng, giaûm chi phí

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    nhaân coâng trong giaù thaønh saûn phaåm, taïo cho doanh nghieäp ñöùng vöõng treân moâi tröôøng caïnh tranh, goùp phaàn naâng cao hieäu quaû hoaït ñoäng cuûa doanh nghieäp… ñang laø moät yeâu caàu ñaët ra ñoái vôùi caùc doanh nghieäp trong xu theá hieän nay. Xuaát phaùt töø yeâu caàu treân, em ñaõ choïn ñeà taøi “KEÁ TOAÙN TIEÀN

    LÖÔNG VAØ SÖÏ AÛNH HÖÔÛNG CUÛA TIEÀN LÖÔNG ÑOÁI VÔÙI NGÖÔØI LAO ÑOÄNG TAÏI COÂNG TY LIEÂN DOANH MAY AN GIANG” laøm ñeâ ø

    taøi cho luaän vaên toát nghieäp cuûa mình .

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá công tác Kế Toán tiền lương trong việc hạch toán, thanh toán lương cho người lao động, cũng như xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Kế Toán tiền lương tại doanh nghiệp.

    1. Phương pháp nghiên cứu :

    Có thể thực hiện đề tài, các số liệu sẽ được thu thập như sau:

    • Số liệu sơ cấp: Các số liệu về kế toán tiền lương được thu thập ở doanh nghiệp.
    • Số liệu thứ cấp: tham khảo các sách báo, niên giám thống kê, các tài liệu nghiên cứu trước đây cùng các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập và các doanh nghiệp khác.
    • Các số liệu thu thập sẽ được đưa vào phân tích dựa trên phương pháp diễn dịch để phát thảo những con số thành những nhận định, đánh giá và phân tích về Kế Toán tiền lương và xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động tại doanh nghiệp.
    1. Phạm vi nghiên cứu :

    Với đề tài này, người viết sẽ nghiên cứu và tìm hiểu lĩnh vực kế toán tiền lương của công ty liên doanh may An Giang. Thời gian được chọn để nghiên cứu là năm 2001, 2002, 2003 và một số tháng trong năm 2003.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

     

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG

    1.Khái niệm – ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương:

    1.1 Tiền lương:

    Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao động cuối cùng.

    Tiền lương của người lao động được xác định theo hai cơ sở chủ yếu là số lượng và chất lượng lao động của mỗi người. Tiền lương hình thành có tính đến kết quả của cá nhân, của tập thể và của xã hội, nó quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện lợi ích của cá nhân người lao động. Qua mối quan hệ phụ thuộc này cho phép thấy được vai trò của tiền lương là công cụ tác động của công tác quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị của các loại sản phẩm lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, do đó các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí, tăng tích lũy cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động.

    1.2 Các khoản trích theo lương:

    Bao gồm:

    -Bảo hiểm xã hội.

    -Bảo hiểm y tế.

    -Kinh phí công đoàn.

    1.2.1 Bảo hiểm xã hội:

    Là khoản tiền mà người lao động được hưởng trong trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, khó khăn…Để được hưởng khoản trợ cấp này, người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh tại đơn vị phải đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 20% trên tổng số tiền lương cấp bậc phải trả hằng tháng (15 % tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 5% còn lại do người lao động đóng góp ).

    1.2.2 Bảo hiểm y tế:

    Là khoản tiền hàng tháng của người lao động và người sử dụng lao động đóng cho các cơ quan BHXH để được đài thọ khi có nhu cầu khám bệnh

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 3

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    và chữa bệnh. Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương cấp bậc (trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 1% còn lại do người lao động đóng góp ).

    1.2.3 Kinh phí công đoàn:

    Là khoản tiền để duy trì hoạt động các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động. Quỹ này hình thành bằng cách trích 2% trên tổng số lương phải trả cho người lao động và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của đơn vị. Quỹ này do cơ quan công đoàn quản lý.

    2.Các hình thức tiền lương:

    2.1 Trả lương theo thời gian:

    2.1.1 Khái niệm: Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế.

    • Ưu điểm: rất đơn giản, dễ tính toán.
    • Nhược điểm: chưa chú ý đến chất lượng lao động, đồng thời chưa gắn với kết quả lao động cuối cùng, do đó không có khả năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động.

    Hình thức này được áp dụng đối với những công việc chưa định mức được, công việc tự động hóa cao, đòi hỏi chất lượng cao.

    2.1.2 Các loại tiền lương theo thời gian:

    • Tiền lương tháng: là tiền trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng

    lao động.

    Công thức:

    Lương tháng      =      Mức lương cơ bản     ×      [hệ số lương      + tổng hệ số phụ

    (290,000đ)                                                                      cấp (nếu có)]

    – Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc.

        Tiền lương tháng × 12 tháng  
    Tiền lương tuần =    
    52 tuần  
       

    -Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho một ngày làm việc.

        Tiền lương tháng  
    Tiền lương ngày =    
    26 ngày  
       

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ví dụ : Một nhân viên có tiền lương tháng là 520,000 đ/tháng

    Mức lương ngày = 520,000/26=20,000đ; Anh ta làm việc 20 ngày trong tháng 8 nên tiền lương trong tháng 8 của anh ta là: 20,000 × 20 = 400,000đ

    – Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho một giờ làm việc.

        Tiền lương ngày  
    Tiền lương giờ =    
    8 giờ  
       
           

    2.1.3 Các hình thức tiền lương theo thời gian:

    • Tiền lương theo thời gian giản đơn: căn cứ vào thời gian làm việc, mức lương cơ bản, các khoản phụ cấp để tính trả cho người lao động.
    • Tiền lương theo thời gian có thưởng: hình thức này nhằm kích thích người lao động tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và chú ý đến khối lượng công việc được giao. Đây là hình thức tiền lương theo thời gian kết hợp với tiền thưởng. Tiền lương theo thời gian có thưởng được chia làm hai bộ phận rõ rệt :

    Lương theo thời gian giản đơn gồm lương cơ bản và phụ cấp theo chế độ khi hoàn thành công việc và đạt yêu cầu về chất lượng.

    Thưởng là khoản chi trả cho người lao động khi họ vượt mức hoặc giảm tỷ lệ phế phẩm hay hoàn thành xuất sắc công việc được giao.

    2.1.3.1 Trả lương khi làm thêm giờ: (Khoản 1, 2 Điều 8 của Nghị Định số 197/CP )

    Áp dụng cho mọi đối tượng, trừ những người làm việc theo sản phẩm, theo định mức, lương khoán hoặc trả lương theo thời gian làm việc không ổn định như: làm việc trên các phương tiện vận tải đường bộ (kể cả lái xe con), đường sông, đường biển và đường hàng không, thu mua hải sản, nông sản, thực phẩm…

    +Khi làm thêm giờ vào ngày bình thường:

    Tltg      =      tiền lương giờ      ×      số giờ làm thêm      ×        150%

    +Khi làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ:

    Tltg      =      tiền lương giờ      ×      số giờ làm thêm      ×        200%

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Nếu có nghỉ bù giờ làm thêm, người sử dụng lao động chỉ phải trả phần chênh lệch bằng :

    50% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường nếu làm thêm giờ vào ngày bình thường.

    100% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường, nếu làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ.

    2.1.3.2 Trả lương làm việc ban đêm: (theo Khoản 3, Điều 8 của Nghị Định số 197/CP )

    Tiền lương trả thêm = tiền lương giờ × số giờ làm việc × ít nhất 30% hoặc 35%

    Tiền lương giờ: theo Khoản 1, Điều 5, Nghị Định số 197/CP

    35%: mức ít nhất bằng 35%, áp dụng cho trường hợp làm việc liên tục vào ban đêm từ 8 ngày trở lên trong 1 tháng, không phân biệt hình thức trả lương.

    30%: mức ít nhất bằng 30%, áp dụng cho các trường hợp làm việc vào ban đêm còn lại, không phân biệt hình thức trả lương.

    2.2 Trả lương theo sản phẩm:

    2.2.1 Khái niệm – hình thức :

    Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra. Hình thức này thể hiện thù lao lao động được chi trả cho người lao động dựa vào đơn giá và sản lượng thực tế mà người lao động hoàn thành và đạt được yêu cầu chất lượng đã quy định sẵn.

    Công thức :

    L = Qi × Đg

    Trong đó:

    +L là lương thực tế trong tháng.

    +Qi là số lượng sản phẩm mà công ty i đạt được.

    +Đg là đơn giá sản phẩm.

    Việc trả lương theo sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện sau:

    • Phải xác định và giao định mức một cách chính xác cho người lao động. Tùy theo thực tế mỗi xí nghiệp sẽ áp dụng đơn giá sản phẩm khác nhau.
    • Tổ chức nghiệm thu và thống kê sản phẩm kịp thời, chính xác, kiên quyết loại bỏ những sản phẩm không đạt chất lượng trong khi tính lương.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 6

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Phải đảm bảo công bằng tức chất lượng giống nhau thì đơn giá và kỳ phân xưởng nào, ca làm việc nào.

    là những công việc giống nhau, yêu cầu định mức sản phẩm phải thống nhất ở bất

    Ưu điểm của hình thức trả lương này là gắn thu nhập của người lao động với kết quả họ làm ra, do đó có tác dụng khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động.

    2.2.2 Các hình thức tiền lương theo sản phẩm :

    • Tiền lương sản phẩm trực tiếp: hình thức này được áp dụng đối với những công nhân trực tiếp sản xuất, công việc của họ có tính chất độc lập, có thể định mức, kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt.

    Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng qui cách, phẩm chất và đơn giá sản phẩm đã được qui định.

    Công thức:

    Li = Qi × Đg

    Trong đó:

    +Li là tiền lương thực tế của công nhân i lãnh trong tháng.

    +Qi là số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng của công nhân i

    +Đg là đơn giá sản phẩm.

    +Đs là định mức sản lượng.

            Mức lương tháng theo tay nghề × (100 + k )
      Đg =      
      Đs × 100 × 26
           
            Tổng thời gian làm việc (ca hay ngày)  
      Đs =    
      Thời gian tạo ra một sản phẩm  

    Ví dụ: Một người thợ có tay nghề bậc 4, sản xuất được 700 sản phẩm trong tháng, biết tổng thưởng của anh ta chiếm 20% tổng tiền lương, tiền lương thợ bậc một là 100,000; hệ số lương giữa thợ bậc 1 và thợ bậc 4 là 1:1.4

    • định mức sản lượng là 20 sản phẩm trong một ca. Giải:

    100,000 × 1.4 × ( 100 + 20 )

    Đg  =       =  323 đ/sp  
    20 ×100 × 26
         

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 7

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Tiền lương sản phẩm gián tiếp: hình thức này được áp dụng để trả lương cho công nhân phụ, làm những công việc phục vụ cho công nhân chính như sửa chữa trong các phân xưởng, bảo dưỡng máy móc…

    Công thức:

    Lspgt =   Sl thực tế do cntt sx ×   Đơn giá lương gián tiếp  
    mà công nhân này phục vụ
                 
                 
                 
      Đơn giá   Mức công nhân chính ( 100 + k )    
      lương   =          
        N × đs × 26 × 100    
      gián tiếp      
                 

    +Lspgt: lương sản phẩm của công nhân gián tiếp;

    +K: tổng các khoản phụ cấp ngoài lương;

    +N: Số công nhân phục vụ;

    +Đs: định mức sản lượng của 1 cộng nhân trực tiếp; +26 là số ngày làm việc bình quân trong tháng.

    Ví dụ: Một công nhân quản lí máy móc một phân xưởng may có mức lương chính là 200,000đ; tổng các khoản phụ cấp chiếm 20% tiền lương chính. Công nhân này phục vụ 5 công nhân sản xuất có số sản phẩm sản xuất ra trong tháng như sau :

    ĐMSL Đs = 20 sp/ca, 2 công nhân sản xuất đạt 100% đs, 2 công nhân sản xuất đạt 120% đs, 1 công nhân sản xuất đạt 140% đs.Vậy lương gián tiếp được tính như sau:

    Đg lương 200,000 ( 100 + 20 )    
    gián tiếp   =   =   92.3 đ/sp  
    5 × 26 × 20 × 100
         

    Tổng số sản phẩm công nhân trực tiếp sản xuất là:

    (20 × 100% × 2) + (20 × 120% × 2) + (20 × 140% × 1) = 116 sp Lspgt = 116 × 92.3 × 26 = 278,337đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 8

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Trả lương theo sản phẩm lũy tiến: đây là hình thức trả lương theo sản phẩm kết hợp với hình thức tiền thưởng khi nhân viên có số lượng sản phẩm thực hiện trên định mức qui định.

    Hình thức này áp dụng các đơn giá khác nhau:

    Đối với những sản phẩm thuộc định mức: áp dụng đơn giá sản phẩm được xây dựng ban đầu.

    Đối với những sản phẩm vượt định mức: áp dụng đơn giá cao hơn đơn giá ban đầu.

    • Trả lương khi làm thêm giờ: sau khi hoàn thành định mức số lượng, chất lượng sản phẩm tính theo giờ chuẩn (giờ tiêu chuẩn theo quy định tại điều 3, Nghị Định số 195/CP, ngày 31/12/1994 của Chính Phủ).

    Nếu người sử dụng lao động có yêu cầu làm thêm ngoài định mức giờ tiêu chuẩn, được tăng thêm:

    50% nếu sản phẩm được làm thêm vào ngày thường.

    100% nếu sản phẩm được làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần, vào

    ngày lễ.

    • Trả lương làm việc ban đêm: áp dụng đối với người lao động đựơc trả lương theo sản phẩm, lương khoán nếu làm việc vào ban đêm. Đơn giá tiền lương được tăng thêm ít nhất 30% hoặc 35% so với đơn giá tiền lương làm việc ban ngày.

    2.3 Trả lương khoán:

    Đây là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và chất lượng công việc phải hoàn thành.

    3. Tiền thưởng – phúc lợi – phụ cấp:

    Hiện nay, các chế độ về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi được Nhà Nước rất chú trọng và thanh toán một cách một cách rõ ràng, cụ thể như sau:

    3.1 Tiền thưởng :

    Doanh nghiệp việc trích thưởng từ lợi nhuận còn lại (sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà Nước) để thưởng cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên. Tiền thưởng là một loại kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối với người lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Có các hình thức thưởng sau đây:

    • Thưởng năng suất, chất lượng: Áp dụng khi người lao động thực hiện tốt hơn mức độ trung bình về số lượng, chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ.

    o Thưởng tiết kiệm: Áp dụng khi người lao động sử dụng tiết kiệm các loại vật tư, nguyên liệu, có tác dụng giảm giá thành sản phẩm dịch vụ mà vẫn đảm bảo chất luợng theo yêu cầu.

    o Thưởng sáng kiến: Áp dụng khi người lao động có các sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, tìm ra các phương pháp mới có tác dụng làm nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    o Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp: Áp dụng khi doanh nghiệp làm ăn có lời, người lao động trong doanh nghiệp sẽ được chia một phần tiền lời dưới dạng tiền thưởng. Hình thức này được áp dụng trả cho nhân viên vào cuối quý, sau nửa năm hoặc cuối năm tùy theo cách thức tổng kết hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    o Thưởng tìm được nơi cung ứng, tiêu thụ, ký kết được hợp đồng mới: Áp dụng cho các nhân viên tìm thêm được các địa chỉ tiêu thụ mới, giới thiệu khách hàng, ký kết thêm được hợp đồng cho doanh nghiệp hoặc có các hoạt động khác có tác dụng làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

    o Thưởng đảm bảo ngày công: Áp dụng khi người lao động làm việc với số ngày công vượt mức quy định của doanh nghiệp.

    o Thưởng về lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp: Áp dụng khi người lao động có thời gian phục vụ trong doanh nghiệp vượt quá một thời gian nhất định, ví dụ 25 hoặc 30 năm; hoặc khi người lao động có những hoạt động rõ ràng đã làm tăng uy tín của doanh nghiệp.

    3.2 Phúc lợi :

    Phúc lợi thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống người lao động, có tác dụng kích thích nhân viên trung thành, gắn bó với doanh nghiệp. Dù ở cương vị cao hay thấp, hoàn thành tốt công việc hay chỉ ở mức độ bình thường, có trình độ lành nghề cao hay thấp, đã là nhân viên trong doanh nghiệp thì đều được hưởng phúc lợi. Phúc lợi của doanh nghiệp gồm có: bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ phép, nghỉ lễ, ăn trưa do doanh nghiệp đài thọ, trợ cấp của doanh nghiệp cho các nhân viên đông con hoặc có hoàn cảnh khó khăn, quà tặng của doanh nghiệp cho nhân viên vào các dịp sinh nhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên…

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.3 Phụ cấp :

    3.3.1.Các khoản phụ cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp

    Điều 4, Nghị định số 26/CP ngày 23/6/93 quy định các khoản phụ cấp lương của người lao động trong các doanh nghiệp bao gồm: phụ cấp khu vực, phụ cấp độc hại-nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm đêm, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp lưu động, phụ cấp làm thêm giờ.

    3.3.2 Điều kiện áp dụng phụ cấp độc hại, nguy hiểm:

    Mục III, thông tư số 23/LĐTBXH –TT ngày 7/7/93 hướng dẫn thực hiện phụ cấp độc hại, nguy hiểm quy định những ngành nghề, công việc hoặc nơi làm việc có một trong những điền kiện sau đây thì được xem xét áp dụng phụ cấp độc hại, nguy hiểm: tiếp xúc trực tiếp với chất độc-khí độc, làm việc trong môi trường chịu áp suất cao hoặc thiếu dưỡng khí, làm việc ở những nơi quá nóng hoặc quá lạnh, những công việc phát sinh tiếng ồn lớn, treo người trên cao, làm việc ở những nơi có phóng xạ, làm việc ở môi trường dễ bị lây nhiễm và mắc bệnh…

    3.3.3 Mức phụ cấp độc hại nguy hiểm:

    Mục I, II, III, IV thông tư số 23/LĐTBXH-TT ngày 7/7/1993 hướng dẫn thực hiện phụ cấp độc hại, nguy hiểm. Quy định phụ cấp độc hại nguy hiểm gồm 4 mức: 0.1; 0.2; 0.3 và 0.4 so với mức lương tối thiểu được quy định như sau:

    Mức Hệ số Mức phụ cấp thực hiện  
    từ ngày 1/4/1993  
       
    1 0.1 7,200 đồng  
    2 0.2 14,400 đồng  
    3 0.3 21,600 đồng  
    4 0.4 28,000 đồng  

    3.3.4 Phương thức trả phụ cấp độc hại nguy hiểm:

    Tính theo thời gian làm việc thực tế trong tháng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.Kế toán các khoản phải trả công nhân viên :

    4.1 Chứng từ kế toán :

    Đối với tiền lương có các loại chứng từ sau: bảng chấm công, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành, phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội…

    Căn cứ vào chứng từ trên, kế toán tiến hành tính lương, thưởng, trợ cấp phải trả cho người lao động và lập bảng thanh toán lương, bảng thanh toán tiền thưởng và bảng thanh toán bảo hiểm xã hội.

    4.2 Tài khoản sử dụng :

    TK 334 “phải trả công nhân viên”      
    NỢ 334
    -Các khoản đã trả, đã ứng cho CNV.   – Các khoản phải trả cho CNV.  
    -Các khoản khấu trừ vào lương CNV.      
           
        – Các khoản còn phải trả CNV.  
           

     

    4.3 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 111     TK 334           TK 622
          Các khoản thanh toán           Tiền lương công nhân    
          Cho công nhân viên           trực tiếp sản xuất              
    TK 141, 138, 338                 TK 627
          Các khoản khấu trừ   ph     Tiền lương công nhân    
                  ụcvụ và quản lý sản xuất            
            vào lương      
               
    TK 333                 TK 641
          Thuế thu nhập cá nhân           Tiền lương nhân viên          
             
                            Bán hàng          
            phải nộp                
                              TK 642
                          Tiền lươ ng nhân viên    
                          quản lý doanh nghiệp      
                              TK 4311
                          Tiền thưởng từ quỹ    
                          Khen thưởng      
                                             

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 12

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ví dụ: Số dư đầu tháng của TK 334 là 2,100,000đ; trong đó TK 334 của bộ phận bán hàng là 460,000đ ; TK 334 của bộ phận quản lý là 340,000đ ; TK

    • của bộ phận xây dựng cơ bản là 1,300,000đ. Nghiệp vụ phát sinh trong tháng:

    Tiền lương phải trả công nhân viên ở các bộ phận: bán hàng 10 triệu, quản lý 5 triệu, xây dựng cơ bản 6 triệu.

    Nợ TK 641 10,000,000
    Nợ TK 642 5,000,000
    Nợ TK 241 6,000,000
    Có TK 334 21,000,000

    5.                 Kế toán các khoản trích theo lương :

     

    5.1 Tài khoản sử dụng :

    Kế toán sử dụng tài khoản 338 “phải trả, phải nộp khác“ phản ánh tình hình lập và phân phối quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Tài khoản 338 có các tài khoản cấp 2 như sau: kinh phí công đoàn (TK 3382), bảo hiểm xã hội (TK 3383), bảo hiểm y tế (TK 3384).

    NỢ                                                                         TK 338                                                                          CÓ

    • BHXH phải trả CNV; các khoản – Trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính kinh phí công đoàn tại đơn vị; các vào chi phí hoạt động sản xuất kinh khoản BHXH, BHYT, KHCĐ đã nộp. doanh, khấu trừ vào lương công nhân;

    các khoản phải trả khác.

    Ví dụ : (tiếp ví dụ trên), trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ 19% tính vào chi phí

    Nợ TK 641 19% × 10,000,000 = 1,900,000
    Nợ TK 642 19% × 5,000,000 =  950,000
    Nợ TK 241 19% × 6,000,000 = 1,140,000
    Có TK 3382 2% × 21,000,000 = 420,000
    Có TK 3383 15% × 21,000,000 = 3,150,000
    Có TK 3384 2% × 21,000,000 = 420,000

    5.2 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 111, 112                                                 TK 338                                        TK 622,627,641,642

    Nộp BHXH, BHYT,

    KPCĐ

    Các khoản chi BHXH

    KPCĐ tại đơn vị

    Trích BHXH,BHYT,KPCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

    TK 334

    Khấu trừ vào tiền lương

    khoản BHXH, BHYT

    6. Kế toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất :

    Hàng năm, người lao động trong danh sách các đơn vị được nghỉ một số ngày phép theo quy định mà vẫn được hưởng đủ lương. Trong thực tế, việc nghỉ phép của người công nhân sản xuất không đồng đều giữa các tháng trong năm. Do đó, để việc chi trả tiền lương nghỉ phép không làm cho giá thành sản phẩm đột biến tăng lên, tính đúng kết quả tài chính của đơn vị, kế toán có thể tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép và phân bổ đều vào chi phí của các kỳ hạch toán.

      Mức trích trước   Tiền lương chính   Tỉ lệ trích trước  
      tiền lương nghỉ phép = phải trả cho ×  
      tiền lương nghỉ  
      của công nhân sản xuất   công nhân sản xuất    
          phép  
          ( hàng tháng )    
               

     

    6.1 Tài khoản sử dụng:

     

     

     

     

     

      TK 335 “Chi phí phải trả”          
      NỢ   TK 335    
      – Các chi phí thực tế phát sinh   – Các khoản chi phí đã được trích  
      – Điều chỉnh phần chênh lệch giữa trước vào chi phí hoạt động SXKD.  
      khoản  chi  thực  tế và khoản trích – Các khoản chi phí đã được tính vào  
      trước.     chi phí SXKD nhưng thực tế chưa  
            phát sinh.      

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 14

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    6.2 Sơ đồ kế toán tổng hợp :

    TK 334 TK 335       TK 622  
                                 
        Tiền lương nghỉ phép       Hàng tháng tiến hành trích    
        thực tế phát sinh          
                           
                           
                    trước tiền lương nghỉ phép    
    TK 721
            công nhân sản xuất    
                         
                         
      Các khoản đã trích thừa         Các khoản trích thêm    
                         
                                 

    Ví dụ: doanh nghiệp thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân theo kế hoạch hàng tháng là 30,000đ

    Nợ TK 622 30,000
    Có TK 335 30,000

    Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương công nhân, phụ cấp phải trả cho công nhân sản xuất sản phẩm A là 600,000đ; sản phẩm B là 380,000đ; tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất sản phẩm B là 20,000đ ( thực tế ).

    Nợ TK 335 20,000
    Có TK 334 20,000

    Khoản đã trích nghỉ phép thừa của công nhân B là :

    Nợ TK 335 10,000
    Có TK 711 10,000

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tóm lại:

    Tiền lương là số tiền dùng để bù bắp sức lao động của người lao động, nó là một động lực vô cùng quan trọng trong việc thành – bại của bất kỳ doanh nghiệp nào. Do doanh nghiệp tồn tại trong hai môi trường cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh tế vi mô (hay môi trường bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp) trong đó môi trường bên trong – nội tại là quan trọng vô cùng. Như ta đã biết yếu tố con người năm vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp.

    Một khi doanh nghiệp giải quyết tốt vấn đề tiền lương và các khoản thanh toán cho người lao động, doanh nghiệp sẽ tạo được niềm tin cho người lao động. Khi đó họ sẽ đóng góp hết mình phục vụ vào sự phát triển của công ty và vấn đề này đòi hỏi bộ phận kế toán tiền lương phải nắm rõ các quy định của Nhà Nước cũng như thực hiện tốt công tác kế toán tiền lương. Nếu làm được điều này, doanh nghiệp sẽ dễ dàng hướng tới bốn mục tiêu cơ bản của tiền lương: thu hút nhân viên, duy trì những nhân viên giỏi, kích thích động viên nhân viên và đáp ứng các yêu cầu của pháp luật.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY LIÊN DOANH MAY

    AN GIANG

    1. Lịch Sử Hình Thành Công Ty Liên Doanh May An Giang:

    An Giang là một tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, là một vùng chuyên canh về cây lúa theo các vụ mùa với truyền thống sản xuất nông nghiệp ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và cả nước nói chung.

    Đặc điểm sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên lực lượng sản xuất tập trung hết cho các mùa vụ, với hơn 80 % tổng số lao động xã hội. Nhưng, những lực lượng lao động này khi đã gặt hái hết mùa sản xuất, đã thu hoạch xong, sẽ dẫn đến tình trạng thừa lao động sau khi kết thúc mùa vụ và số lao động này thường xuyên sử dụng không hết, do đó họ cần phải chuyển sang các ngành nghề khác để kiếm sống. Qua đó, để xác định tiềm năng và đặc điểm lao động trong Tỉnh, để giải quyết tình trạng dư thừa lao động dẫn đến nạn thất nghiệp kéo theo và phát sinh các tệ nạn xã hội, đồng thời để đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề kinh tế, để góp phần vào ngân sách của Tỉnh và xây dựng đất nước nói chung, Công ty liên doanh may An Giang ra đời, là đơn vị liên doanh giữa hai doanh nghiệp Nhà Nước: là Công ty may xuất khẩu An Giang và Công ty may Nhà Bè. Công ty có hình thức hạch toán kế toán độc lập, được thành lập theo quyết định số 002394/GPTDN02 ngày 19 tháng 3 năm 1997 của UBND Tỉnh An Giang với tên gọi là Công ty liên doanh may An Giang.

    Hình thức sở hữu vốn: liên doanh chịu sự quản lý của Hội Đồng Quản Trị do hai đơn vị cử ra.

    Đến tháng 10/2002, theo chủ trương của UBND Tỉnh An Giang là sắp xếp lại các doanh nghiệp trong địa bàn Tỉnh nhằm đủ lực cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường, theo quyết định số 2591/QĐ_UB ngày 31/10/2002 của UBND Tỉnh An Giang, Công ty may xuất khẩu An Giang được sáp nhập vào Công ty xuất nhập khẩu An Giang. Như vậy, hiện nay hai đơn vị trực tiếp quản lý Công ty liên doanh may An Giang là Công ty xuất nhập khẩu An Giang và Công ty may Nhà Bè.

    Ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty liên doanh may An Giang là trực tiếp kinh doanh các sản phẩm may mặc, nhận may gia công, xuất khẩu ủy thác các sản phẩm ngành may.

    Hàng năm, công ty đã góp phần rất lớn trong thu nhập quốc dân của Tỉnh, cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao ra thị trường, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho gần 1000 lao động, phần đông là lao động nữ. Công ty

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    đã thực hiện đầy đủ các chế độ đối với người lao động và trích nộp Ngân sách cho Nhà Nước đầy đủ.

    Giới thiệu công ty:

    • Tên doanh nghiệp: CÔNG TY LIÊN DOANH MAY AN GIANG
    • Tên giao dịch quốc tế: AN GIANG JOINT VENTURE GARMENT COMPANY.
    • Trụ sở đặt tại: Đường Trần Hưng Đạo, Phường Mỹ Quí, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang.
    • Fax: 076 834098.
    • Điện thoại: 076 834709 – 834958.
    • Số tài khoản:

    TK USD: 015.1.37.000402.8

    TK VND: 015.1.00.000047.2

    • Nhân viên công ty gồm: 46 người (CB – CNV) chính thức.
    • Số công nhân của công ty: 947 người (chia làm 14 tổ, mỗi tổ có từ 35 đến 50 người, chia làm hai phân xưởng).

    2.                 Chức Năng – Mục Tiêu – Nhiệm Vụ Và quyền Hạn Của Công Ty :

    Trực tiếp ký hợp đồng gia công may xuất khẩu hoặc ủy thác gia công xuất khẩu hay trực tiếp sản xuất sản phẩm may mặc và tiêu thụ nhằm góp phần gia tăng doanh thu cho công ty, nhằm đa dạng hóa ngành nghề tại địa phương. Phấn đấu đạt lợi nhuận cao, góp phần tăng thêm cho ngân sách, đảm bảo đời sống cho CB-CNV tại công ty cũng như giải quyết vấn đề lao động thừa trong Tỉnh.

    Bảo toàn và khai thác hết tiềm năng để phát triển nguồn vốn, cũng như sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, để tái sản xuất mở rộng qui mô kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ trách nhiệm đối với Nhà Nước, tăng dần tích lũy công ty ngày càng phát triển vững mạnh. Thực hiện chính sách, chế độ quản lí tài sản, tài chính, lao động tiền lương…do công ty quản lý, làm tốt trong công tác phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng xã hội, không ngừng đào tạo kiến thức, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, văn hóa cho toàn thể CB-CNV của công ty. Xây dựng công đoàn công ty kết hợp với địa phương hướng dẫn CB-CNV ý thức bảo vệ an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc phòng.

    Được vay vốn, mở tài khoản riêng tại Ngân Hàng Ngoại Thương An Giang, tự do trang trải vay nợ, có sử dụng con dấu riêng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    TK USD: 015.1.37.000402.8

    TK VND: 015.1.00.000047.2

    Chủ động ký hợp đồng gia công với tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo đúng ngành nghề, nghiệp vụ tại công ty. Chủ động tuyển chọn và xây dựng lao động theo nhu cầu của công ty, đúng theo quy định của pháp luật, tổ chức bố trí công tác, lựa chọn hình thức trả lương theo lao động cho cán bộ – công nhân viên phù hợp với tình hình công ty và đúng theo pháp luật.

    3. Nguồn Nhân Lực Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Công ty:

    3.1 Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo của công ty:

    Nguồn nhân lực:

    Nhân lực hoạt động trong công ty được sử dụng, bố trí hợp lý và phát huy trình độ của từng người.

    Tổng số lao động là 993 người, trong đó lao động gián tiếp quản lý là

    • người; lao động phục vụ sản xuất và lao động trực tiếp sản xuất là 958 người.

    Nhu cầu đào tạo cán bộ – công nhân viên công ty:

    Cán bộ khung, cán bộ kỹ thuật, khâu sản xuất được gởi đi đào tạo tại Công ty may Nhà Bè (TP.Hồ Chí Minh) và Công ty may Tây Đô (TP.Cần Thơ). Còn công nhân may thì được tuyển và đào tạo tại Công ty liên doanh may An Giang và Trung tâm xúc tiến việc làm An Giang.

    3.2 Cơ cấu tổ chức :

    3.2.1.Tổ chức công ty:

    SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY LIÊN DOANH

    MAY AN GIANG

    Ban Giám Đốc

    Phòng Kế Hoạch     Phòng Tổ Chức     Phòng Kế Toán-
      Sản Xuất             Tài Vụ
                           
                           
                           
                           
      Xí nghiệp 1   Xí nghiệp 2   Cửa hàng   Kho nguyên
              trưng bày   vật liệu
                     
                     

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 19

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Ông HOÀNG VĂN THOẠI: Giám Đốc, giám sát toàn công ty, chịu trách nhiệm chung.

    o Ông HUỲNH VĂN DŨNG: Phó Giám Đốc, phụ trách sản xuất.

    o Ông NGUYỄN MINH KIỆT: Trưởng phòng kinh doanh phụ trách xuất nhập khẩu.

    o Ông NGUYỄN MINH TRIẾT: Kế toán trưởng, phụ trách ký hợp đồng và lên kế hoạch sản xuất.

    Phòng kế toán tài vụ: gồm cả phòng kế toán và phòng tài vụ, chịu trách nhiệm hạch toán chung cho toàn công ty.

    Phòng tổ chức hành chánh: quản lý và bố trí nhân sự, cũng như tuyển chọn nhân sự.

    Còn các phòng ban, xí nghiệp có trách nhiệm quản lý gia tăng sản xuất và chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc, Ban Giám Đốc lãnh đạo công ty luôn luôn cố gắng tìm ra những biện pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà Nước.

    Về bố trí nhân sự: đúng người, đúng việc, các trưởng – phó phòng và nhân viên các phòng ban xí nghiệp hỗ trợ cho nhau trong công tác khi có sự cần thiết nhằm để hoạt động của công ty được nhịp nhàng đồng bộ và có hiệu quả cao.

    Việc sản xuất được thực hiện hàng ngày, có giám sát từng ngày, mỗi ngày đều có báo cáo sản lượng sản xuất trong ngày và tổng kết tháng, quý, trước khi bộ phận kế toán kết thúc số liệu, từ đó mà Ban Giám Đốc và các phòng ban có kế hoạch, chiến lược kinh doanh cụ thể hữu hiệu.

    Công nhân làm việc hưởng lương theo doanh thu của tổ và của công ty, ngoài ra còn được bồi dưỡng thêm cho việc tăng ca sản xuất, cán bộ – công nhân viên còn được tham gia các phong trào, thi đua văn hóa, văn nghệ, thể thao do công ty tổ chức như: thi đấu bóng chuyền, đá cầu, cầu lông, bóng bàn…nhằm để chào mừng các ngày lễ lớn như: 30/4, 1/5, 2/9, 8/3…

    Cán bộ – công nhân viên còn được tặng quà làm lưu niệm vào các dịp lễ này hoặc mỗi khi hoàn thành kế hoạch sớm.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 20

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.2.2 Tổ chức kế toán:

    Tổ chức phòng kế toán:

    Để tập trung nguồn thông tin phục vụ cho công tác quản lý lãnh đạo, thuận tiện cho việc ghi chép cơ giới hóa công tác kế toán, tiết kiệm được chi phí trong hạch toán nên công ty đã chọn hình thức kế toán tập trung.

    Nhiệm vụ của phòng kế toán:

    Chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc về mọi hoạt động tài chính của công ty. Tham mưu cho Ban Giám Đốc về các phương án kinh tế có hiệu quả. Bảo đảm đúng chế độ Kế Toán Tài Chính Nhà Nước mà thực hiện kinh doanh có hiệu quả cao, mang lại cho công ty ngày càng phát triển tốt trong tương lai.

    Tập hợp hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên có của tài khoản, kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo tài khoản đối ứng nợ.

    Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với hệ thống hóa các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế (theo tài khoản).

    Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép.

    Sử dụng các mẫu tin in có quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế tài chính và lập Báo cáo tài chính.

    Sơ đồ tổ chức phòng kế toán:

    KẾ TOÁN TRƯỞNG

    KẾ TOÁN   KẾ TOÁN   KẾ TOÁN VẬT TƯ   THỦ QUỸ
      CÔNG NỢ TÍNH    
          THÀNH PHẨM  
    THANH TOÁN   GiÁ THÀNH      
                 

    Hình thức kế toán: áp dụng tại công ty là Nhật ký Chung kết hợp với xử lý số liệu bằng máy vi tính.

    Trình tự hạch toán trên máy vi tính do Kế Toán Trưởng phân công cho từng kế toán chi tiết nhập dữ liệu vào máy và trong quá trình tính toán từ

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 21

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    đầu cho đến kết thúc được thực hiện theo trình tự, nếu có sai sót sẽ phát hiện và sửa chữa kịp thời.

    Trình tự luân chuyển chứng từ:

    Hằng ngày căn cứ chừng từ gốc đã được kiểm tra, lấy số liệu nhập vào máy vi tính, sau đó ghi trực tiếp vào Nhật Ký Chung.

    Căn cứ số liệu đã ghi trên Nhật Ký Chung để ghi vào tài khoản phù hợp trên sổ cái.

    Các số liệu liên quan đến sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng được ghi vào các sổ, thẻ chi tiết tương ứng.

    Trình tự ghi sổ được thể hiện qua sơ đồ:

    CHỨNG TỪ GỐC

    MÁY VI TÍNH

    Nhậ t Ký   NHẬT KÝ CHUNG   SỔ CHI TIẾT
    Đặc Biệt            
             
                 
                 
                 

    Bảng

    SỔ CÁI          Tổng Hợp

    Chi Tiết

    BẢNG CÂN ĐỐI TK

    BÁO CÁO KẾ TOÁN

    Ghi hàng ngày.

    Ghi cuối tháng.

    Đối chiếu.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 22

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.     Tình Hình Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Công Ty Trong 2 Năm Qua (2002 – 2003):

     

    Qua những năm hoạt động tập thể CB-CNV công ty đã cố quả như sau:

    gặp không ít những khó khăn trở ngại, nhưng gắng hoàn thành xuất sắc và đã đạt được kết

    Bảng 1: Tổng Kết Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Công Ty Liên Doanh May An Giang

    CHỈ TIÊU NĂM 2002 NĂM 2003 CHÊNH TỶ LỆ  
    GIÁ TRỊ GIÁ TRỊ LỆCH (%)  
     
               
    1.Tổng doanh thu 5,299,783,662 10,450,779,479 5,150,995,817 97.2  
    2.Thuế GTGT 251,167,030 432,118,853 180,951,823 72.0  
    3.Doanh thu thuần 5,299,783,662 10,450,779,479 5,150,995,817 97.2  
    4.Giá vốn hàng bán 3,685,325,267 8,166,503,310 4,481,178,043 121.6  
    5.Lãi gộp 1,614,458,395 2,284,276,169 669,817,774 41.5  
    6.Chi phí tài chính 1,226,754,151 1,570,565,701 343,811,550 28.0  
    7.Lợi nhuận trước thuế 387,704,244 713,710,468 326,006,224 84.1  
    8.Lợi nhuận ròng 387,704,244 713,710,468 326,006,224 84.1  

    ( Nguồn: phòng Kế Toán)

    Qua bảng tổng kết kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty liên doanh may An Giang, ta nhận thấy như sau:

    • Năm 2003, doanh thu của công ty là 10,450,779,479 đồng tăng 97.2 % về tỷ trọng so với năm 2002 và tăng là 5,150,995,817 đồng về giá trị.

    Nguyên nhân là do mối quan hệ ngày càng rộng, khách hàng ngày càng đông, nhận hàng gia công nhiều, làm lượng sản xuất hàng hóa gia tăng, doanh thu tiêu thụ tăng lên. Doanh thu tăng dẫn đến lãi gộp tăng 41.5 % về tỷ trọng và tăng 669,817,774 đồng về giá trị so với năm 2002.

    Điều này chứng tỏ rằng trong năm 2003, quy mô sản xuất của công ty đã gia tăng. Nhưng cũng cần lưu ý sự gia tăng quy mô hoạt động sản xuất kèm theo gia tăng về chi phí: năm 2003 tăng 28 % tương ứng với 343,811,550 đồng.

    o Về phần nghĩa vụ đóng góp cho Nhà Nước năm 2003 cũng tăng so với năm 2002, cụ thể: thuế GTGT công ty nộp thêm 180,951,832 đồng và tăng 72 %.

    o Về các hoạt động khác của công ty: Ban Giám Đốc quyết định mở cửa hàng để trưng bày sản phẩm, giới thiệu hàng nhằm để tìm khách hàng đặt hàng gia công và tiêu thụ trong nước. Do dó, công ty đã tìm ra một số khách

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    hàng: Chaliory (Đài Loan), Flexcon (Hồng Kông), Dickson (Hồng Kông), Á Đai (Đài Loan), Westlee (Australia), Tranglobal (Mỹ)…

    Tuy nhiên giá gia công của công ty không cao bằng HABITEX, nhưng đã tránh được tình trạng thiếu hàng, cũng tạo việc làm ổn định cho công nhân làm tăng thu nhập cho công ty.

    5.Những Thuận Lơi Và Khó Khăn Trong Thời Gian Qua Của Công Ty:

    5.1 Thuận lợi:

    Nguồn nhân lực trong Tỉnh rất dồi dào.

    Được sự quan tâm hỗ trợ của Tỉnh Ủy, UBND Tỉnh và các ban ngành trong Tỉnh.

    Được Tổng Công ty may Việt Nam và Công ty may Nhà Bè nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ về mặt kỹ thuật và giới thiệu khách hàng cho công ty.

    Tập thể cán bộ – công nhân viên còn trẻ, làm việc rất nhiệt tình, năng động sáng tạo, luôn luôn gắn bó với công ty trong những lúc khó khăn.

    5.2 Khó khăn:

    Trong những năm qua, nhìn chung Công ty may An Giang cũng gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh như:

    Do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế khu vực Đông Nam Á:

    • Giá gia công giảm vì các nước chung quanh cạnh tranh hạ giá gia công thấp hơn giá ở Việt Nam, nhiều khách hàng chuyển sang các nước khác để đặt hàng như: Indonesia, Thái lan, Malaysia…

    o Do kinh tế khó khăn nhu cầu tại các nước Đài Loan, Hàn Quốc, nhất là Nhật Bản giảm rất nhiều.

    Khó khăn lớn nhất của Công ty liên doanh May An Giang là công ty chỉ mới hoạt động không lâu, khách hàng chưa biết đến nhiều, chỉ trông cậy vào hàng hóa của công ty HABITEX, nhưng công ty này chuyển sang làm hàng mùa Đông. Do đó, công ty liên doanh may An Giang tự tìm kiếm thị trường và khách hàng để sản xuất kinh doanh.

    Công ty phải nhận ủy thác của công ty khác vừa tốn kém và giá gia công lại thấp.

    Địa điểm công ty lại cách xa TP.HCM – một trung tâm lớn của cả nước về dệt may công nghiệp, cho nên:

    o Khách hàng ngại xa không đến đặt hàng.

    o Giá gia công thấp hơn TP.Hồ Chí Minh từ 0.1 đến 0.2 USD/sp.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 24

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Do phải giao nhận nguyên phụ liệu và thành phẩm tại TP.Hồ Chí Minh, những khoản chi phí phát sinh như: chi phí liên hệ khách hàng, chi phí đi công tác, thêm vào đó khách hàng giao nguyên phụ liệu nhiều lần làm gia tăng thêm chi phí giao nhận. Do đó, các khoản chi phí tăng cao làm ảnh hưởng đến giá thành sản xuất trong kinh doanh.

    6.                 Phương Hướng Phát Triển:

     

    6.1 Tình hình trước mắt:

    Năm 2004 là năm ngành may sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn những năm qua

    do:

    +Giá gia công ở Việt Nam thấp so với các nước khác trong khu vực và trên Thế Giới.

    +Tình hình chính trị trong nước ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nên khả năng thu hút khách hàng từ bên ngoài là rất lớn.

    +Việt Nam đã là thành viên của các tổ chức kinh tế Thế Giới, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

    6.2 Những chỉ tiêu chủ yếu năm 2004:

    Với tình hình như trên, công ty cố gắng quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn để thực hiện, đạt được những chỉ tiêu như:

    Tổng doanh thu: 15,858,123,000 đ.

    Tổng lợi nhuận: 1,500,245,000 đ.

    Nộp ngân sách : 678,000,000 đ.

    Tiền lương bình quân : 600,000 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VIỆC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    I.Phân Tích Tình Hình Lao Động Tại Công ty:

    1. Phân loại lao động:

    Tổng số lao động của Công ty là 993 người được phân thành các phòng ban và các tổ chức sản xuất

    Bảng 2: Số Lao Động Ở Các Phòng Ban:

    ĐƠN VỊ SỐ NGƯỜI
    Văn phòng công ty 46
    Xí nghiệp 1 420
    Xí nghiệp 2 420
    Phòng kỹ thuật 14
    Tổ cắt 48
    KCS – HT 18
    Đóng gói 27

    Số lượng lao động ở 2 xí nghiệp (xưởng may) chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động ở công ty. Họ là những thành phần chính tạo ra doanh thu cho công ty thông qua nhận may gia công các hợp đồng. Điều này đã lý giải vì sao

    • công ty trả lương cho công nhân theo sản phẩm là chủ yếu.
    • các lĩnh vực may mặc số lượng nữ làm việc rất cao, cụ thể ở công ty liên doanh may An Giang với 993 công nhân, trong đó:
    • Nam: 250 người chiếm tỷ lệ 25 %, tập trung phần lớn làm ở các đơn

    vị như: bảo vệ, tạp vụ, tài xế, quản lý xưởng, kỹ thuật, Ban Giám Đốc, Ủi, Kho.

    • Nữ: 743 người chiếm tỷ lệ 75 %, tập trung phần lớn ở các xưởng may, KCS, tổ cắt, tạp vụ.

    Để làm cơ sở tính lương cho từng lao động, công ty dựa vào trình độ tay nghề của từng người để sắp xếp theo từng cấp bậc công việc và hệ số lương tương ứng trên cơ sở những qui định về cấp bậc công việc và hệ số lương mà Nhà Nước ban hành trong bộ luật lao động và các văn bản dưới luật.

    2. Tổ chức hạch toán lao động tại công ty:

    Công ty tổ chức theo dõi tình hình sử dụng lao động vừa hạch toán theo thời gian lao động, vừa hạch toán về kết quả lao động.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.1Hạch toán về số lượng lao động:

    Việc xác định nhu cầu lao động nhằm đảm bảo cho công ty có được

    đúng người đúng việc vào đúng thời điểm cần thiết và đối phó linh hoạt với sự

    thay đổi của thị trường.

    • Đối với công nhân trực tiếp sản xuất: để hoàn thành chỉ tiêu giao hàng đúng tiến độ, công ty thường tuyển chọn thêm công nhân, số công nhân này sẽ được công ty dạy nghề miễn phí với thời gian học phụ thuộc vào trình độ công nhân, từng công đoạn. Bên cạnh đó, công ty thường xuyên tổ chức thi để nâng cao tay nghề bậc thợ cho công nhân và đó cũng là hình thức để nâng tiền lương cho những công nhân làm việc lâu năm có kinh nghiệm.
    • Đối với nhân viên quản lý: Thường nằm trong danh sách lao động thuộc biên chế công ty đã có tiêu chuẩn định biên các phòng ban quản lý. Số lượng nhân viên không có biến động trừ trường hợp nhân viên được chuyển công tác làm bộ phận khác công ty mới tuyển nhân viên có đủ trình độ phù hợp và chức năng nghiệp vụ đảm trách.

    2.2Hạch toán về thời gian lao động:

    Hàng ngày, cán bộ – công nhân viên đều làm việc và nghỉ theo qui định của công ty:

    Sáng: 7h – 11h.

    Chiều: 13h – 17h.

    Khi ra – vào cổng, công nhân đều được đội bảo vệ ghi nhận vào sổ

    theo dõi.

    Khi có những trường hợp đột xuất phải về sớm hay đi công tác, cán bộ – công nhân viên phải xin giấy ra cổng tại phòng Hành Chánh và xuất trình cho đội bảo vệ.

    Tổ trưởng của tổ sau khi nhận được lệnh sản xuất, phiếu giao việc của phòng kế hoạch chuyển xuống tiến hành thực hiện công việc. Hàng ngày ghi nhận trực tiếp ngày công làm của từng công nhân trực thuộc bộ phận mình quản lý vào bảng chấm công mỗi ngày 2 lần (đầu giờ vào buổi sáng và cuối giờ vào buổi chiều) để đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, tránh tình trạng trốn làm việc mà vẫn có ghi vào bảng chấm công.

    Hàng ngày có nhân viên thống kê phòng tổ chức lao động tiền lương kiểm tra ghi nhận lại tình hình trên để so sánh vào cuối tháng khi tính lương. Đồng thời căn cứ vào bảng chấm công, phiếu giao công việc, hợp đồng

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    giao khoán, phiếu xác nhận công việc hoàn thành thực tế tại các phân xưởng để làm cơ sở xét duyệt khen thưởng vào cuối quý, cuối năm.

    2.3Hạch toán về kết quả lao động:

    Hàng ngày các tổ trưởng căn cứ vào phiếu giao công việc hoặc lệnh sản xuất xác định rõ nội dung công việc, chất lương công việc, thời gian hoàn thành để chuyển sang bộ phận kiểm tra chất lương hoàn thành (KCS – HT) duyệt. Khi hoàn thành công việc, các tổ trưởng báo cáo và nộp phiếu giao việc, lệnh sản xuất, bảng chấm công về phòng kế toán, kế toán tổng hợp các chứng từ để làm cơ sở tính lương cho từng công nhân, thanh toán lương cho họ và làm cơ sở để phân bổ vào chi phí.

    II. Phân Tích Công Tác Hạch Toán Tiền Lương:

     

    1.     Những vấn đề chung:

    Công ty đang áp dụng ba hình thức trả lương, đó là trả lương theo sản phẩm, trả lương theo thời gian và trả lương khoán.

    Tuy nhiên tính khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì công ty trích trên tiền lương cơ bản nghĩa là vẫn dựa theo lương cấp bậc.

    Ngoài tiền lương, công ty còn xét thưởng cho nhân viên. Tiền thưởng được dựa trên các tiêu chuẩn sau:

    • Theo điểm thi đua A, B, C : điểm này dùng để đánh giá mưc độ hoàn thành công việc được giao của nhân viên.
    • Theo ngày công cao: tiêu chuẩn này dùng để đánh giá xem nhân viên có hoàn thành chỉ tiêu về ngày công trong tháng hay không.

    Phụ lục số 1 và số 2 trình bày chi tiết về quy định thưởng của công ty theo điểm thi đua và theo ngày công.

    • Phép năm: cán bộ – công nhân viên được nghỉ phép 12 ngày/năm, nếu nhân viên không nghỉ mà làm đủ 12 ngày nghỉ phép thì công ty trả 3 tháng lương bù cho 12 ngày phép.

    Hệ số lương × 290,000 × 3 tháng

    Phép năm =

    26 ngày

    • Theo tiến độ giao hàng trong trường hợp cần giao gấp: khi công ty cần giao hàng gấp thì tuỳ vào doanh thu mà công ty đạt được mà thưởng tiền cho công nhân viên.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 28

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Vào dịp lễ, tết: công ty dựa vào doanh thu từng tháng, quý, năm mà chi trả tiền thưởng cho công nhân viên.

    2. Tổ chức tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công Ty Liên Doanh May An Giang:

    2.1 Các căn cứ chủ yếu trong quy trình kế toán tiền lương:

    Số lượng lao động của công ty được phản ánh trên sổ lao động, sổ này được lập chung cho toàn công ty và lập riêng cho từng bộ phận cơ sở để tiện cho việc quản lý. Mỗi người trong công ty đều có mã số nhân viên và mã số này được sử dụng ghi chép chứng từ.

    Căn cứ vào các chứng từ như: “Bảng chấm công”, “Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành”, “Hợp đồng giao khoán” kế toán tính tiền lương sản phẩm, lương thời gian, tiền ca cho cán bộ – công nhân viên.

    Tiền lương được tính riêng cho từng người và tổng hợp theo từng bộ phận lao động, phản ánh vào “Bảng thanh toán tiền lương lập cho bộ phận đó”.

    Đối với các khoản tiền thưởng của CNV, kế toán cần tính toán và lập bảng thanh toán tiền thưởng để theo dõi và chi trả đúng qui định.

    Căn cứ vào các chứng từ “Phiếu nghỉ hưởng BHXH”, “Biên bảng điều tra tai nạn lao động”…kế toán tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân viên và phản ánh vào “Bảng thanh toán BHXH”.

    Căn cứ vào tài liệu hạch toán về thời gian, kết quả lao động và chính sách xã hội về lao động tiền lương, BHXH do Nhà Nước ban hành, kế toán tính tiền lương, trợ cấp BHXH, khoản phải trả khác cho người lao động.

    Căn cứ vào “Bảng thanh toán tiền lương” của từng bộ phận để chi trả, thanh toán tiền lương cho công nhân viên. Đồng thời, tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng lao động, tính toán trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ qui định. Kết quả tổng hợp, tính toán được phản ánh trong “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH”.

    Hàng tháng, việc tính lương, trợ cấp BHXH và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tại phòng kế toán của doanh nghiệp.

    Việc chi trả lương ở doanh nghiệp do Thủ Quỹ thực hiện. Thủ Quỹ căn cứ vào các “Bảng thanh toán tiền lương”, “Bảng thanh toán BHXH” để chi trả lương và các khoản khác cho Cán bộ – công nhân viên, khi nhận tiền họ phải ký tên vào bảng thanh toán tiền lương.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 29

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.2 Quy trình trả lương:

    Bảng chấm công             Báo cáo sản lượng
    (từng tổ, đơn vị thực     Tổ trưởng lập     (từng tổ, đơn vị thực
           
    hiện)             hiện)
                       
                       
                       
                       
                       
    Bảng thanh toán tiền   Bảng thanh toán   Bảng thanh toán
    thưởng (kế toán   lương cho từng tổ,   BHXH,BHYT, phụ
    lương thực hiện)   đơn vị (kế toán   cấp cho từng tổ, đơn
        lương thực hiện)   vị (kế toán lương
              thực hiện)
               
               

    Bảng phân bổ tiền lương và

    BHXH, BHYT, KPCĐ (kế

    toán lương thực hiện)

    Chi trả lương (thủ quỹ thực hiện)

    Tổ trưởng các đơn vị, đại diện các

    phòng ban nhận lương

    Phát lương lại cho cán bộ – công nhân viên

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 30

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.3 Cách tính lương, thanh toán lương và các khoản trích theo lương tại công ty:

    2.3.1 Cách tính lương và thanh toán lương:

    Việc thực hiện chế độ trả lương phải đạt yêu cầu công bằng, khoa học, tạo điều kiện cho việc tăng năng suất lao động, đồng thời cũng đảm bảo chất lượng sản phẩm.

    Việc tính lương tại công ty May An Giang dựa trên các cơ sở sau

    đây:

    • Nguồn quỹ lương.
    • Định biên và định mức lao động.
    • Cấp bậc và chức vụ công việc.
    • Mức lương áp dụng theo Nghị Định 26/CP của Thủ Tướng Chính Phủ.

    Công ty may An Giang là đơn vị kinh doanh dịch vụ, thương mại nên tiền lương được xác định trên cơ sở doanh thu tháng của công ty. Doanh thu mỗi tháng khác nhau vì phụ thuộc vào đơn giá và sản lượng gia công của từng mã hàng, mặt hàng.

    Nguồn quỹ lương của công ty được xác định bằng 50% doanh thu, trong đó:

    • Tổng quỹ lương phân phối chiếm 44% doanh thu.
    • Tổng quỹ lương dự phòng chiếm 6% doanh thu. Công thức tính lương:

    Tổng quỹ lương phân phối : Lp = doanh thu × 44%

    Quỹ lương phân phối được dùng để trả lương cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng và nhân viên quản lý doanh nghiệp.

    Lương được trả làm 2 kỳ:

    Kỳ 1: ứng 50% lương thực tế vào ngày giữa tháng.

    Kỳ 2: thanh toán lương còn lại vào cuối tháng.

    Hàng tháng vào ngày tính lương, kế toán lao động tiền lương dựa vào bảng phân bổ tổng quỹ lương phân phối để tính quỹ lương cho từng bộ phận, phòng ban và các tổ may.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 31

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Định biên: quy chế lương trong năm

    Bảng 3: Tỷ Lệ Phân Bổ Tiền Lương Các Phòng Ban

    Đơn vị Số người Tỷ lệ (%)
    1.Xí nghiệp 1 420 38.775
    2.Xí nghiệp 2 420 38.775
    3.Văn phòng 46 9.3
    4.Phòng kỹ thuật 14 2.2
    5.Tổ cắt 48 5.4
    6.Tổ KCS – HT 18 2.3
    7.Tổ đóng gói 27 3.25
    Cộng 993 100

    Ta có công thức tính quỹ lương phân bổ như sau:

    QLpb = Lp × tỷ lệ phân bổ

    Trong đó:

    • QLpb: quỹ lương phân bổ.
    • Tỷ lệ phân bổ: do công ty quy định dựa vào số lượng công nhân, trình độ tay nghề, thâm niên làm việc, tỷ lệ này cố định trong năm (căn cứ vào bảng định biên – ở quy chế lương của năm)

    Quỹ lương dự phòng:

    Qldp = doanh thu × 6%

    Dùng để chi các khoản sau:

    Lương phép năm.

    Tăng ca.

    Khen thưởng đột xuất hoặc cuối năm.

    Các khoản phụ cấp khác có tính chất như lương.

    Ví dụ:

    Doanh thu của Công ty liên doanh may An Giang vào tháng 12/2003 là

    100,000 USD với tỷ giá là 13,500 qui ra đồng Việt Nam là:

    100,000 × 13,500 = 1,350,000,000 VNĐ.

    Quỹ lương phân phối:

    1,350,000,000 × 0.44 = 594,000,000 đ.

    Quỹ lương dự phòng:

    1,350,000,000 × 0.06 = 81,000,000 đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 32

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Khi có quỹ lương phân phối, kế toán lao động tiền lương sẽ tính lương cho các bộ phận.

    Bảng 4: Phân Bổ Quỹ Lương Bộ Phận Văn Phòng

    Tên đơn vị Số người Tỷ lệ (%) Tổng quỹ lương Số tiền
    Ban giám đốc 2 0.9 594,000,000 5,346,000
    Phòng kế toán 3 0.8 594,000,000 4,752,000
    Phòng HC-QT 22 3.72 594,000,000 22,096,800
    Phòng KH-XK 19 3.88 594,000,000 23,047,200
    Cộng 46 9.3   55,242,000

     

    Công ty không có hệ một khoản thu nhập mà đáng Nước

    số phụ cấp, điều này làm cho nhân viên mất đi lẽ ra họ phải được hưởng theo qui định của Nhà

    2.3.1.1Tính lương cho bộ phận gián tiếp:

    Khi có được quỹ lương từng phòng ban, Kế Toán lao động tiền lương sẽ tính lương cho bộ phận gián tiếp như sau:

    Lương cho bộ phận gián tiếp tính theo lương sản phẩm, cách tính dựa vào tổng lương Nghị Định của từng phòng ban, tổng lương hệ số công việc của từng phòng ban và tổng quỹ lương của từng phòng ban. Cụ thể như sau:

    Tiền lương      =      HSL      ×      290,000   ×      HSCV      ×        CSTĐ

    Trong đó:

    • HSL: hệ số lương cá nhân dựa vào trình độ tay nghề, cấp bậc, thâm niên. (hệ số ngạch bậc theo công việc).
    • Lương hệ số theo qui định của Nhà Nước: 1 hệ số = 290,000 đ. o HSCV: hệ số cộng việc dựa vào mức độ hoàn thành công việc. o CSTĐ: chỉ số tương đương.

    Cụ thể như sau:

    Lương theo hệ số:

    Lương theo hệ số để làm cơ sở tính và chia lương cho từng lao động.

    Công ty đã sắp lao động theo cấp bậc và hệ số lương tương ứng.

    Lương tương ứng trên cơ sở qui định về cấp bậc hệ số lương mà Nhà Nước ban hành trong luật lao động tiền lương. Mức lương mà Nhà Nước qui định tối thiểu đầu năm 2003 là 290,000 đồng ứng với hệ số lương là 1. Mức lương theo hệ số được xác định như sau:

    • Lương hệ số công việc:

    Lương hệ số công việc = lương theo hệ số × hệ số công việc

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 33

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Lương sản phẩm :

    Thực tế ở một số công ty thì nhân viên thuộc bộ phận gián tiếp được trả lương theo thời gian, nhân viên thuộc bộ phận trực tiếp được trả lương theo sản phẩm. Ở một số công ty khác thì tổng lương công nhân thuộc bộ phận trực tiếp hay gián tiếp đều được tính lương bao gồm 2 khoản là lương chính (lương theo thời gian) và lương phụ (lương sản phẩm). Tuy nhiên, do ngành nghề đặc thù của công ty liên doanh May An Giang là sản xuất gia công theo đơn đặt hàng nên tiền lương trả cho bộ phận gián tiếp hay bộ phận trực tiếp sản xuất đều trả theo lương sản phẩm. Mặc dù vậy, cách tính của bộ phận gián tiếp và trực tiếp sản xuất là khác nhau, cụ thể cách tính lương sản phẩm của bộ phận gián tiếp như sau:

    Lương sản phẩm = lương theo hệ số công việc × CSTĐ

    Trong đó:

    Quỹ lương từng phòng ban, bộ phận

    CSTĐ = Tổng lương hệ số công việc của từng phòng ban, bộ phận

    Ví dụ:

    • Quỹ lương phòng kế toán là 4,752,000 đ.
    • Tổng lương hệ số cộng việc của phòng kế toán là 3,105,610 đ.
    • Kế toán trưởng Nguyễn Minh Triết có hệ số lương là 3.28, hệ số công việc là 1.5 và chỉ số tương đương là: 1.530134177

    Vậy, tiền lương sản phẩm của kế toán trưởng là:

    290,000 × 3.28 × 1.5 × 1.530134177 = 2,183,195 đ.

    Cách tính lương của các nhân viên còn lại tương tự như trên.

    Theo qui định của công ty, tiền lương được hưởng của CB-CNV sẽ bao gồm lương sản phẩm và các khoản khác có tính chất như lương (thưởng ngày công cao, phép năm, trợ cấp, làm thêm…)

    Các khoản khác (ngày công cao,

    Lương

    được hưở ng                                                         = Lương sản phẩm + phép năm, lương nghỉ Tết, làm thêm, trợ cấp,…)

    Trong đó:

    +Ngày công cao: do các nhân viên trong phòng kế toán làm việc 26 ngày (1 ngày chủ nhật), mức lương sản phẩm của 3 nhân viên đều đạt trên 500,000 đ/tháng nên tiền thưởng ngày công cao như sau:

    Thưởng 25 ngày công bình thường: 2,000 × 25 = 50,000 đ.

    Thưởng 1 ngày công chủ nhật: 10,000 × 1 = 10,000 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Cộng thưởng ngày công cao tháng 12/03 là: 50,000 + 10,000 = 60,000 đ.

    +Phép năm:

    Đối với kế toán trưởng Nguyễn Minh Triết là:

    ((290,000 × 3.28 × 3)/26) = 109,754 đ.

    Cách tính phép năm cho các nhân viên còn lại tương tự như trên.

    Vậy, tiền lương được hưởng của kế toán trưởng là:

    2,183,195 + 60,000 + 109,754 = 2,352,949 đ.

    Theo qui định của công ty, tiền lương thực lĩnh của công nhân viên bằng tổng lương được hưởng trừ đi các khoản giảm trừ (tạm ứng, BHXH, BHYT, BHCN…)

    Cụ thế các khoản giảm của Kế Toán trưởng:

    +Mức trích BHXH = 3.28 × 290,000 × 5% = 47,560 đ.

    +Mức trích BHYT = 3.28 × 290,000 × 1% = 9,512 đ.

    +Bảo hiểm con người (không bắt buộc): mức đóng là 97,000 đ/năm (12 tháng), tuỳ theo khả năng, hoàn cảnh của mỗi người mà công ty sẽ trừ vào lương hàng tháng, sau khi đã đóng hộ cho CB-CNV. Công nhân viên có thu nhập khá trừ 20,000 đ, công nhân có hoàn cảnh khó khăn, thu nhâp không cao thì trừ 7,000 đ.

    Cụ thể, mức đóng bảo hiểm con người của kế toán trưởng là 20,000 đ.

    +Kế toán trưởng có tạm ứng một số tiền là 1,000,000 đ.

    Vậy, tiền lương thực lĩnh của kế toán trưởng là:

    2,352,949 – 1,000,000 – 20,000 – 47,560 – 9,512 = 1,275,877 đ. Cách tính thực lĩnh của các nhân viên còn lại trong phòng kế toán tương tự như cách tính cho kế toán trưởng.

    2.3.3.2 Tiền lương bộ phận trực tiếp sản xuất:

    Tính theo lương sản phẩm, nhưng vẫn tính lương Nghị Định để làm cơ sở trích BHXH, BHYT.

    Lsp = C Đi × ĐGi

    Trong đó:

    • Lsp: lương sản phẩm
    • CĐi: sản lượng của công đoạn thứ i
    • ĐGi: đơn giá công đoạn thứ i, phụ thuộc vào 3 yếu tố: thời gian sản xuất một công đoạn, mức phức tạp của công đoạn, tay nghề công nhân. Tay nghề công nhân dựa vào mức độ phức tạp của công đoạn xếp bậc công nhân như bậc 3.5; bậc 4; bậc 4.5.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hàng tháng tại phân xưởng thực hiện may nhiều mã hàng, mỗi mã hàng có quy trình may với số công đoạn ít hoặc nhiều.

    Đến kỳ tính lương, sản lượng may của từng người phải được xác nhận hàng ngày vào tờ khai công đoạn.

    Căn cứ vào bảng kê khai công đoạn lập riêng cho từng mã hàng do tổ trưởng ghi nhận, bảng chấm công, kế toán tiền lương tính ra sản phẩm công nhân.

    Ví dụ:

    Trích lương sản phẩm công nhân trực tiếp sản xuất ở tổ 8 vào tháng 12/2003 (xí nghiệp 2)

    Thanh Toán Lương Sản Phẩm Tháng 12/2003 (Xí Nghiệp 2)

      TÊN CÔNG     CÔNG     TÊN CÔNG   SỐ   ĐƠN   THÀNH
      NHÂN     HÀNG ĐOẠN     ĐOẠN   LƯỢNG   GIÁ   TIỀN
      Nguyễn Thị   508- 17     diễu đường   3,820   29.75   113,643
      Mỹ Dung     qshort     giữa phía sau      
                           
            CỘNG                   113,643

    Tiền lương sản phẩm = (3,820 × 29.75) = 113,643.

    Thanh Toán Lương Cá Nhân Tháng 12/2003 (Xí Nghiệp 2)

    ĐVT: Đồng

      TÊN CÔNG     LƯƠNG SẢN     TRỢ CẤP     PHÉP NĂM     TỔNG LƯƠNG  
      NHÂN     PHẨM         (THÁNG7-8-9)     ĐƯỢC HƯỞNG  
                         
      Mỹ Dung   113,643 300,000   46,846   460,489  

    Giải thích:

    Do lương sản phẩm của công nhân tháng 12/2003 thấp nên công ty dùng quỹ dự phòng để trợ cấp lương cho công nhân nhằm khuyến khích người lao động.

    (1.4 × 290,000 × 3)

    phép năm           =                                                             =        46,846 đ.

    26

    Thực lĩnh = tổng lương được hưởng – các khoản giảm trừ (tạm ứng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm con người, tiền cơm trưa…)

    Hệ số lương của Mỹ Dung là 1.4

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Bảo hiểm xã hội = 290,000 × 1.4 × 5%

    Bảo hiểm y tế = 290,000 × 1.4 × 1%

    Tạm ứng: 50,000 đ.

    Tiền cơm trưa: 27,000 đ.

    Vậy, thực lĩnh của công nhân Nguyễn Thị Mỹ Dung là:

    460,489 – 50,000– 20,900– 4,060– 27,000= 359,129 đ.

    2.3.3.3 Lương khoán:

    Lương khoán tại công ty được tính như sau:

    Công ty tính và chi trả tiền lương cho nhân viên không dựa theo cấp bậc, chức vụ, số sản phẩm làm ra mà công ty khoán lương cho nhân viên (bảo vệ, tạp vụ và 1 cá nhân ở phòng Tổ Chức Hành Chánh) trong tháng, tính 26 ngày. Nếu nhân viên nào làm hơn 26 ngày thì lấy số lương khoán trong một ngày nhân cho số ngày làm hơn rồi cộng với số lương khoán trong 26 ngày. Nếu nhân viên làm thiếu 26 ngày thì trừ đi số ngày làm thiếu trong tháng.

    Các nhân viên nhận lương khoán của công ty là bảo vệ, tạp vụ và một cá nhân ở phòng Tổ Chức Hành Chánh.

    Bảng lương khoán cho nhân viên bảo vệ

    MÃ NHÂN SỰ HỌ TÊN NGÀY CÔNG TIỀN LƯƠNG
    M1V103 Huỳnh Tài Lộc 30 810,000
    M1V104 Trương Thế Ngọc 25 750,000

    Công ty qui định 26 ngày công trong tháng.

    Ông Huỳnh Tài Lộc làm được 30 ngày công:

    Nên tiền lương thêm cho 4 ngày công là:

    (4× 810,000)/ 26 = 124,615 đ.

    Ông Trương Thế Ngọc làm được 25 ngày công, thiếu 1 ngày công.

    Nên bị trừ 1 ngày công vào tiền lương khoán như sau:

    (1 × 750,000)/ 26 = – 28,846 đ.

    Do trả theo hình thức lương khoán nên công ty không trừ đi các khoản giảm trừ trong tiền lương nhân viên.

    Vậy, tiền lương thực lĩnh của 2 người là:

    • Ông Huỳnh Tài Lộc: 810,000 + 24,615 = 934,615 đ. +Ông Trương Thế Ngọc: 750,000 – 28,846 = 721,154 đ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    2.3.2 Các khoản trích theo lương tại công ty:

    Sau khi tính toán và thanh toán lương cho công nhân viên. Cuối tháng kế toán tiến hành phân bổ tiền lương, BHXH, BHYT và KPCĐ trong tháng vào các đối tượng chịu chi phí như sau:

    Đối với chi phí nhân công nhân trực tiếp sản xuất (622): tài khoản này tập hợp lương và các khoản trích theo lương của các tất cả công nhân trực tiếp sản xuất ở các xí nghiệp.

    Đối với chi phí sản xuất chung (627): bao gồm lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý tại các phân xưởng được tập hợp vào tài khoản này.

    Đối với chi phí bán hàng (641): bao gồm lương và các khoản trích theo lương của nhân viên bán hàng được tập hợp vào tài khoản này.

    Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp (642): Bao gồm lương và các khoản trích theo lương của các phòng ban sau đây được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp: Ban giám đốc, phòng kế toán, phòng tổ chức hành chánh, phòng kế hoạch.

    Trong tháng 12 năm 2003 phát sinh các khoản tiền lương và các khoản trích theo lương sau đây:

    Bảng 5 : Phân Bổ Tiền Lương và BHXH, BHYT, KPCĐ Tháng 12/2003

    CHI   CÓ TK 334     CÓ TK 338    
             
      LƯƠNG   TỔNG          
    PHÍ LƯƠNG   3382 3383 3384 CỘNG  
    SẢN PHẨM TRỢ CẤP LƯƠNG
      CHÍNH (trích 2%) (trích 15%) (trích 2%)    
               
                       
    NỢ (1) (2) (3) (2) + (3)          
    TK 622 165,317,007 127,796,863 309,904,875 437,701,738 8,754,035 24,797,551 3,306,340 36,857,926  
    TK 627 27,976,727 21,627,158 52,445,444 740,772,602 1,481,452 4,196,509 559,534 6,237,495  
    TK 641 33,063,400 25,559,376 61,980,972 87,540,348 1,750,807 4,959,510 661,268 7,371,585  
    TK 642 27,976,727 21,627,155 52,445,447 74,072,602 1,481,452 4,196,509 559,534 6,237,495  
    CỘNG 254,333,861 196,610,552 476,776,738 673,387,290 13,467,746 38,150,079 5,086,676 56,704,501  

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 38

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hình 1: Đồ Thị Biểu Diễn Kết Cấu Lương Chính

      11%
    13% TK 622
      TK 627
      TK 641
    11% TK 642
     
      65%

    Kết cấu lương chính:

    Cơ cấu lao động trong công ty đa phần là công nhân ở các xưởng may (công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm), với tỷ lệ 65% tổng tiền lương chính, là người tạo ra doanh thu cho công ty. Do đó, công ty cần có những chế độ lương, chính sách trợ cấp để đảm bảo cuộc sống cho cán bộ – công nhân viên, giữ họ lâu dài với doanh nghiệp.

    Chi phí bán hàng (13%), chi phí quản lý (11%) và sản xuất chung (11%). Điều này cũng dễ dàng thấy được như sau: khi công ty có nhiều đơn đặt hàng thì doanh thu nhiều, quỹ lương phân phối cao, công ty phân phối công bằng thì rõ ràng là chi phí công nhân trực tiếp sản xuất chiếm số lượng lớn. Khi có nhiều đơn đặt hàng kéo theo chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất chung tăng.

    • Định khoản:
    • Tiền lương và các khoản khác phải trả công nhân viên tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:
    Nợ 622 437,701,738
    Nợ 627 74,072,602
    Nợ 641 87,540,348
    Nợ 642 74,072,602
    Có 334 673,387,290

    – Thanh toán tiền lương và các khoản khác cho công nhân viên.

    Nợ 334 673,387,290
    Có 111 673,387,290

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 39

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Hàng tháng trích BHXH,BHYT, KPCĐ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, trong đó: bảo hiểm xã hội (3383) và bảo hiểm y tế (3384) trích trên lương chính, còn kinh phí công đoàn (3382) trích trên tổng lương, khoản mục kinh phí công đoàn sẽ được doanh nghiệp chi nộp thay cho công nhân viên.
    Nợ 622 36,857,926
    Có 3382 8,754,035
    Có 3383 24,797,551
    Có 3384 3,306,340
    Nợ 627 6,237,495
    Có 3382 1,481,452
    Có 3383 4,196,509
    Có 3384 559,534
    Nợ 641 7,371,585
    Có 3382 1,750,807
    Có 3383 4,959,510
    Có 3384 661,268
    Nợ 642 6,237,495
    Có 3382 1,481,452
    Có 3383 4,196,509
    Có 3384 559,534

    – Nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bằng tiền mặt.

    Nợ 338 56,704,501
    Có 111 56,704,501

    – Khấu trừ BHXH, BHYT vào lương cán bộ – công nhân viên.

    Nợ 334 15,260,032
    Có 338 15,260,032

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 40

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 334

    111     334     622
      673,387,290 673,387,290 673,387,290 437,701,738  
                           
                           
                           

    627

    74072602

    641

    87540348

    642

    74072602

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TỔNG HỢP TÀI KHOẢN 338

    111         338     622
      71,964,533 71,964,533 71,964,533 36,857,926  
                           
                           
                           

    627

    6,237,495

    641

    7,371,585

    642

    6,237,495

    334

    15,260,032

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 41

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    SỔ CÁI KẾ TOÁN

    TK 334 – PHẢI TRẢ PHẢI NỘP KHÁC

    CHỨNG TỪ GHI SỔ DIỄN GIẢI TK ĐỐI   SỐ TIỀN
    SỐ NGÀY ỨNG NỢ  
       
        Số dư đầu tháng        
        Số phát sinh trong tháng        
        -Tiền lương phải trả        
    1810 25/12 +Tính vào CPNCTT 622     437,701,738
      25/12 +Tính vào CPSXC 627     74,072,602
      25/12 +Tính vào CPBH 641     87,540,348
      25/12 +Tính vào CPQLDN 642     74,072,602
      30/12 -Chi trả lương bằng tiền        
        mặt   673,387,290  
        Cộng phát sinh        
        Số dư cuối kỳ        

    SỔ CÁI KẾ TOÁN

    TK 338 – PHẢI TRẢ PHẢI NỘP KHÁC

    CHỨNG TỪ GHI SỔ DIỄN GIẢI TK ĐỐI   SỐ TIỀN
    SỐ NGÀY   ỨNG NỢ  
        Số dư đầu tháng        
        -Trích  BHXH,  BHYT,        
        KPCĐ        
    1810 25/12 +Tính vào CPNCTT 622     36,857,926
      25/12 +Tính vào CPSXC 627     6,237,495
      25/12 +Tính vào CPBH 641     7,371,585
      25/12 +Tính vào CPQLDN 642     6,237,495
      25/12 +Khấu  trừ  vào  lương 334     15,260,032
        khoản BHXH, BHYT        
      30/12 -Nộp BHXH bằng tiền 111 71,964,533  
        mặt        
        Cộng phát sinh        
        Số dư cuối tháng        

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 42

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG

    1.Phân Tích Các Chỉ Tiêu Giữa 2 Năm 2001 và 2002:

    1.1Quỹ lương:

    Bảng 6 :Quỹ Lương Được Phép Chi Trong Năm 2001 và 2002

    ĐVT: đồng

      KHOẢN MỤC DOANH THU TIỀN LƯƠNG
      2001 2002 2001 2002
    1. Doanh thu gia công 3,447,741,430 5,183,695,674 1,723,870,715 2,591,847,837
    2. Doanh thu bán thành phẩm 150,800,480 36,407,234 75,400,240 18,203,617
    3. Doanh thu hàng hoá 62,521,966 74,485,730 31,260,983 37,242,865
    4. Thu nhập tài chính        
    5. Thu nhập bất thường        
      CỘNG 3,661,063,876 5,294,588,638 1,830,531,938 2,647,294,319

    Trong đó:

    +Doanh thu hàng hóa là số tiền công ty có được do việc bán phế liệu, nhận hoa hồng do gia công cho công ty khác.

    Nhìn vào đây ta thấy:

    Tiền lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu, ta thấy doanh thu gia công năm 2002 lớn hơn năm 2001, điều này dẫn đến tiền lương từ doanh thu gia công năm 2002 lớn hơn năm 2001.

    Trong đó doanh thu gia công chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu, cụ thể:

    Năm 2002: doanh thu gia công chiếm 98% tổng doanh thu

    Năm 2001: doanh thu gia công chiếm 94% tổng doanh thu.

    Năm 2002: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 98% tổng

    lương.

    Năm 2001: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 94% tổng

    lương.

    Các doanh thu còn lại: năm 2002 doanh thu bán thành phẩm nhỏ hơn, doanh thu hàng hoá lớn hơn năm 2001, mặc dù tỷ trọng chiếm không lớn trong tổng doanh thu. Do trong năm 2001 công ty chưa kịp trang bị máy móc, thiết bị mới nên tình trạng phế liệu còn nhiều trong việc gia công, nên doanh thu hàng hóa, doanh thu bán thành phẩm năm 2001 cao. Còn trong năm 2002, do công

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ty tập trung phần lớn là ở việc gia công thành phẩm hoàn chỉnh nên tỷ lệ bán thành phẩm thấp nên doanh thu gia công cao, doanh thu bán thành phẩm thấp.

    Tóm lại, doanh thu công ty phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công.

    1.2Tình Hình Doanh Thu Và Tiền Lương:

    Bảng 7: Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân Trong 2 Năm 2001 và 2002

      KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH
      2001 2002 LỆCH
         
      Doanh thu (đ)   3,661,063,876 5,294,588,638 1,633,524,762
      Số lao động (bình quân) (người) 5,241 6,023 782
      Tiền lương (bình quân) 349,272 439,531 90,259
    (đ/người/tháng)  
           
           
      Quỹ tiền lương =   Số lao động (bình quân) ×   Tiền lương (bình quân)
               

    Do tiền lương mang tính chất bình quân nên kết quả tính bên dưới chỉ mang tính gần đúng.

    Gọi Qo: chỉ tiêu quỹ lương kỳ thực tế năm 2001.

    Q1: chỉ tiêu quỹ lương kỳ thực tế năm 2002.

    Ao: số lao động (bình quân) kỳ thực tế năm 2001.

    A1: số lao động (bình quân) kỳ thực tế năm 2002.

    Bo: tiền lương (bình quân) kỳ thực tế năm 2001.

    B1: tiền lương (bình quân) kỳ thực tế năm 2002.

    Ta có:

    Qo = Ao × Bo = 5,241 × 349,272 = 1,830,531,938 đ.

    Q1 = A1 × B1 = 6,023 × 439,531 = 2,647,294,319 đ.

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo = 2,647,294,319 – 1,830,531,938 = 816,762,381 đ. Mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (lao động bình quân)

    ∆A = (6,023 – 5,241) × 349,272 = 273,130,704 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (tiền lương bình quân).

    ∆B = 6023 × (439,531 – 349,272) = 543,629,957 đ.

    Tổng hợp mức ảnh hưởng các nhân tố:

    273,130,704 + 543,629,957 = 816,762,381 đ.

    Nhận xét:

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Nhân tố lao động tăng 782 người đã làm tăng quỹ lương: 273,130,704 đ.
    • Nhân tố tiền lương tăng 90,259 đồng làm tăng quỹ lương: 543,629,657 đ.

    Tuy nhiên, để xét đến chất lượng quản lý, cần xem xét thêm các chỉ tiêu, nhân tố khác.

    Từ tài liệu trên, ta có thể tính được nhân tố năng suất lao động bình quân theo công thức:

    Năng suất lao động = Doanh thu
    Số lao động bình quân

    1.3Tình Hình Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động:

    Bảng 8 : Tình Hình Về Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động Trong 2 Năm 2001 và 2002

    STT KHOẢN MỤC THỰC TẾ THỰC TẾ   CHÊNH LỆCH
     
    2001 2002   SỐ TIỀN TỶ LỆ(%)
         
    1 Doanh thu (đ) 3,661,063,876 5,294,588,6381,633,524,762 44.6
    2 Lao động (bình quân) (người) 5241 6023   782 14.9
    3 Năng suất lao động (đ/người) 698,543 879,062 180,519 25.8
    4 Tiền  lương  (bình  quân) 349,272 439,531   90,259 25.8
    (đ/người/tháng)  
    5 Quỹ tiền lương (đ) 1,830,531,938 2,647,294,319 816,762,381 44.6

    Công thức quỹ tiền lương được viết lại theo mối quan hệ với các nhân tố: doanh thu, năng suất lao động, tiền lương như sau:

    Quỹ tiền lương = Doanh thu × Tiền lương  
    Năng suất lao động bình quân
        bình quân  

    Gọi Q: chỉ tiêu phân tích (quỹ tiền lương).

    A: doanh thu.

    B: năng suất lao động bình quân

    C: tiền lương bình quân.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích và các nhân tố được thể hiện (vừa dạng tích số, vừa dạng thương số) như sau:

    Q    =      AB  ×  C

    Do tiền lương mang tính chất bình quân nên kết quả tính toán bên dưới mang tính gần đúng

    Gọi Q1: Kết quả kỳ thực tế 2002

    Qo: Chỉ tiêu kỳ thực tế 2001

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo : đối tượng phân tích.

    5,294,588,638   3,661,063,876    
    =   × 439,531   × 349,272  
    879,062 698,543
             
    • 2,647,294,319 – 1,830,531,938 = 816,762,381 đ.

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (nhân tố doanh thu).

    ∆A = 1,633,524,762 × 349,272 = 816,763,550 đ.

    698,543

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố b (nhân tố năng suất lao

    động).

      1   1        
    ∆B = 5,294,588,638 ×       × 349,272 = −543,633,563 đ.  
    879,062 698,543
               

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố c (nhân tố lương bình quân).

    ∆C = 5,294,588,638 × (439,531 − 349,272) = 543,629,773 đ.

    879,062

    Tổng hợp mức độ ảnh hưởng các nhân tố:

    ∆Q = ∆A + ∆B + ∆C

    • 816,762,381 – 543,633,563 + 543,629,773 = 816,762,381 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố doanh thu tăng 44.6% đã làm tăng quỹ tiền lương: 816,763,550 đồng. Quỹ tiền lương tăng do doanh thu tăng là điều bình thường. Tuy nhiên, tốc độ tăng quỹ tiền lương tương đương với tốc độ tăng doanh thu 44.6% là trường hợp đặc biệt. Nhưng cũng có thể giải thích thêm do tiền lương bình quân năm 2001 tương đối thấp, doanh nghiệp thực hiện tăng lương trong năm 2002 (phù hợp với chế độ trả lương hiện hành) để đảm bảo thu nhập cho người lao động.
    • Nhân tố năng suất lao động tăng 25.8% làm cho quỹ lương giảm 543,633,503 đồng, cho thấy tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân rất nhiều. Điều này là phù hợp với xu hướng phát

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 46

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    triển, là hợp lý. Nhưng cũng có thể giải thích thêm: chuyên môn hóa từng công đoạn, từng công việc dẫn đến là năng suất lao động của công nhân tăng bởi khi đó họ chỉ may một bộ phận của cái áo. Vì công ty là may dây chuyền nên họ sẽ đảm bảo hoàn thành tiến độ công việc.

    • Nhân tố tiền lương bình quân tăng 25.8% đã làm tăng quỹ lương 543,629,773 đồng. Điều này phù hợp với nội dung phân tích đã nêu.

    Kết luận:

    Doanh nghiệp cần quản lý, sử dụng lao động và quỹ lương tốt hơn. Thông qua kết quả phân tích, doanh nghiệp thấy được sự tác đông khác nhau của các nhân tố đến tiền lương. Từ đó, các chính sách phù hợp sẽ được áp dụng để mang lại hiệu quả.

    2.Phân Tích Các Chỉ Tiêu Giữa 2 Năm: 2002 và 2003

    2.1Quỹ lương chi:

    Bảng 9: Quỹ Lương Được Phép Chi Trong Năm 2002 và 2003

    ĐVT: đồng

        KHOẢN MỤC   DOANH THU   TIỀN LƯƠNG  
             
          2002 2003   2002   2003  
                 
      1. Doanh thu gia công 5,183,695,674 10,901,826,828 2,591,847,837 5,450,913,410  
      2. Doanh thu bán thành phẩm 36,407,234 34,420,126 18,203,617 17,210,063  
      3. Doanh thu hàng hoá 74,485,730 55,039,272 37,242,865 27,519,636  
    1. Thu nhập tài chính
    1. Thu nhập bất thường
    CỘNG 5,294,588,638 10,991,286,220 2,647,294,319 5,495,643,109

    Nhìn vào đây ta thấy:

    Tiền lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu, ta thấy doanh thu gia công năm 2003 lớn hơn năm 2002, điều này dẫn đến tiền lương từ doanh thu gia công năm 2003 lớn hơn năm 2002.

    Trong đó doanh thu gia công chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu cụ thể:

    Năm 2003: doanh thu gia công chiếm 99 % tổng doanh thu

    Năm 2002: doanh thu gia công chiếm 98% tổng doanh thu.

    Năm 2003: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 99 % tổng

    lương.

    Năm 2002: tiền lương của doanh thu gia công chiếm 98 % tổng

    lương.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Các doanh thu còn lại: năm 2003 doanh thu bán thành phẩm và doanh thu hàng hoá đều nhỏ hơn năm 2002, mặc dù tỷ trọng chiếm không lớn trong tổng doanh thu. Do trong năm 2003 công ty trang bị thêm nhiều máy móc hiện đại nên tỷ lệ phế phẩm giảm, công ty sản xuất gia công tạo sản phẩm hoàn thành là chủ yếu nên doanh thu bán thành phẩm giảm, doanh thu gia công tăng so với năm 2003.

    Tóm lại, có thể khẳng định một điều là doanh thu công ty phụ thuộc chủ yếu vào việc gia công.

    2.2Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân:

    Bảng 10 : Tình Hình Về Doanh Thu Và Tiền Lương Bình Quân Trong 2 Năm 2002 Và 2003

    KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH LỆCH  
    2002 2003
         
    Doanh thu (đ) 5,294,588,638 10,991,286,220 5,696,697,582  
    Lao động (bình quân) (người) 6023 8226 2203  
    Tiền lương        
    (bình quân) (đ/người/tháng) 439,531 668,082 228,551  

    Ta có:

    Qo = Ao × Bo = 6023 × 439,531 = 2,647,294,319 đ.

    Q1 = A1 × B1 = 8226 × 668,082 = 5,495,643,109 đ.

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo = 5,495,643,109 – 2,647,294,319 = 2,848,348,790 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (lao động bình quân)

    ∆A = (8226 – 6023) × 439,531 = 968,268,793 đ.

    Mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (tiền lương bình quân)

    ∆B = 8226 × (668,082 – 439,531) = 1,880,060,526 đ.

    Tổng hợp mức ảnh hưởng các nhân tố:

    968,268,793 + 1,880,060,526 = 2,848,348,790 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố lao động tăng 2203 người làm tăng quỹ lương: 968,286,793 đ.
    • Nhân tố tiền lương tăng 228,551 đồng làm tăng quỹ lương: 1,880,060,526 đ. Điều này là do công ty mở rộng cơ sở sản xuất thu hút nhiều lao động, công ty thu hút nhiều khách hàng làm cho doanh thu tăng, quỹ lương tăng, lương nhân viên tăng.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tuy nhiên, để xét đến chất lượng quản lý, cần xem xét thêm các chỉ tiêu, nhân tố khác.

    Từ tài liệu trên, ta có thể tính được nhân tố năng suất lao dộng bình quân, theo công thức:

    Doanh thu

    Năng suất lao động = Số lao động bình quân

    2.3Tình hình về doanh thu và năng suất lao động:

    Bảng 11: Tình Hình Về Doanh Thu Và Năng Suất Lao Động Trong 2

    Năm 2002 Và 2003

    KHOẢN MỤC THỰC HIỆN THỰC HIỆN CHÊNH LỆCH    
       
    2002 2003 SỐ TIỀN TỶ LỆ (%)  
     
    Doanh thu (đ) 5,294,588,638 10,991,286,220 5,696,697,582   107.6  
    Số lao động (bình quân) (người) 6023 8226 2203   26.6  
    Năng suất lao động (đ/người) 879,062 1,336,164 457,102   52  
    Lương (bình quân) (đ/người) 439,531 668,082 228,551   52  
    Quỹ lương (đ) 2,647,294,319 5,495,643,109 2,848,348,790   107.6  

    Công thức quỹ tiền lương được viết lại theo mối quan hệ với các nhân tố:doanh thu, năng suất lao động, tiền lương như sau:

    Quỹ tiền lương = Doanh thu × Tiền lương  
    Năng suất lao động bình quân
        bình quân  

    Gọi Q: chỉ tiêu phân tích (quỹ tiền lương).

    A: doanh thu.

    B: năng suất lao động bình quân

    C: tiền lương bình quân.

    Quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích và các nhân tố được thể hiện (vừa dạng tích số, vừa dạng thương số) như sau:

    Q    =      AB  ×  C

    Gọi Q1: Kết quả kỳ phân tích.

    Qo: Chỉ tiêu kỳ kế hoạch.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Suy ra: ∆Q = Q1 – Qo : đối tượng phân tích.

    10,991,286,220   5,294,588,638    
    =   × 668,082   × 439,531  
    1,336,164 879,062
             

    = 5,495,643,109 – 2,647,294,319 = 2,848,348,790 đ.

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố A (nhân tố doanh thu).

    ∆A = 5,696,697,582 × 439,531 = 2,848,348,791đ.

    879,062

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố B (nhân tố năng suất lao

    động).

      1   1     = −1,880,060,724.đ  
    ∆B = 10,991,286,220 ×         × 439,531
    1,336,164 879,062
               
                     

    Xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố C (nhân tố lương bình quân).

    ∆C = 10,991,286,220 × (668,082 − 439,531) = 1,880,060,526 đ.

    1,336,164

    Tổng hợp mức độ ảnh hưởng các nhân tố:

    ∆Q = ∆A + ∆B + ∆C

    • 2,848,348,791 – 1,880,060,724 + 1,880,060,526 = 2,848,348,790 đ.

    Nhận xét:

    • Nhân tố doanh thu tăng 107.9% đã làm tăng quỹ tiền lương: 2,848,348,791 đ. Quỹ tiền lương tăng do doanh thu tăng là điều bình thường. Tuy nhiên, tốc độ tăng quỹ tiền lương 107.9% tương đương với tốc độ tăng doanh thu 107.6% là trường hợp đặc biệt. Nhưng cũng có thể giải thích thêm do năm 2003 công ty đã tìm kiếm thêm nhiều khách hàng, đã thay đổi chiến lược kinh doanh có hiệu quả hơn.
    • Nhân tố năng suất lao động tăng 52% làm cho quỹ lương giảm 1,880,060,724 đ, cho thấy tốc độ tăng năng suất lao động cao hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân rất nhiều. Điều này là phù hợp với xu hướng phát triển, là hợp lý. Nhưng cũng có thể giải thích thêm: chuyên môn hóa từng công đoạn, từng công việc dẫn đến là năng suất lao động của một công nhân may tăng, bởi khi đó họ chỉ may một bộ phận của cái áo. Vì công ty là may dây chuyền nên họ sẽ đảm bảo hoàn thành tiến độ công việc.
    • Nhân tố tiền lương bình quân tăng 52% đã làm tăng quỹ lương 1,880,060,526 đ. Điều này phù hợp với nội dung phân tích đã nêu.

    Kết luận:

    Doanh nghiệp cần quản lý, sử dụng lao động và quỹ lương tốt hơn. Thông qua kết quả phân tích, doanh nghiệp phát hiện sự tác đông khác nhau

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 50

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    của các nhân tố đến tiền lương. Từ đó, các chính sách phù hợp sẽ được áp dụng để mang lại hiệu quả.

    3.Tình hình thu nhập:

    Bảng 12: Tình Hình Thu Nhập Của Công Nhân Viên

    KHOẢN MỤC NĂM 2001 NĂM 2002 NĂM 2003
    1.Tổng thu nhập (đ) 1,830,531,9382,647,294,319 5,495,643,109
    2.Số lao động (người) 5,241 6,023 8,226
    3.Thu nhập bình quân (đ/người/tháng) 349,272 439,531 668,082

    Qua 3 năm 2001, 2002, 2003 ta thấy:

    +Số lao động của năm 2002 tăng 14.9% so với năm 2001.

    +Số lao động của năm 2003 tăng 36.6% so với năm 2002.

    Sỡ dĩ số lao động tăng là do công ty có chiến lược kinh doanh hợp lý nên thu hút nhiều khách hàng, công ty mở rộng qui mô sản xuất nên tuyển thêm nhân viên. Do đó, số lao động tăng và thu nhập bình quân tăng là điều tất yếu.

    Hình 2: Biểu Diễn Mối Quan Hệ Giữa Tổng Thu Nhập Qua 3 Năm:

    2001 – 2002 – 2003

    6,000,000,000

    4,000,000,000

    2,000,000,000

    0

    2001                 2002                 2003

    Hình 3: Biểu Diễn Mối Quan Hệ Giữa Thu Nhập Bình Quân Qua

    3 Năm: 2001 – 2002 – 2003

    800,000

    600,000

    400,000

    200,000

    0

    NĂM    NĂM    NĂM

    2001       2002       2003

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Tiền lương được phát cho CB-CNV được lấy từ nguồn tổng quỹ lương của công ty, tổng quỹ lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu của công ty.

    Doanh thu tăng do công ty mở rộng quy mô sản xuất, thị phần mở rộng, đơn đặt hàng nhiều. Điều này dẫn đến tổng quỹ lương tăng, quỹ lương tăng, kích thích người lao động, và cũng do năm 2003 công ty áp dụng chế độ trả lương theo qui định mới, nâng mức lương cơ bản từ 210,000đ lên 290,000đ.

    Điều này làm cho thu nhập của CB-CNV tăng lên đáng kể: tiền lương mà CB-CNV lãnh vừa là kết quả của quá trình lao động của bản thân, vừa là nguyên nhân do việc họ tăng suất lao động, công ty đạt doanh thu cao, khi có doanh thu cao dẫn đến quỹ lương cao do đó thu nhập của CNV sẽ cao. Cụ thể như sau:

    • Tổng quỹ tiền lương của năm 2002 so với năm 2001 là 44.6% dẫn đến tiền lương bình quân của năm 2002so với năm 2001 là 25.8%.

    o Tổng quỹ tiền lương của năm 2003 so với năm 2002 là 107.6% dẫn đến tiền lương bình quân của năm 2003 so với năm 2002 là 52%.

    o Do công ty áp dụng chính sách lương mới nên ngoài tiền lương thì thu nhập của cán bộ – công nhân viên còn được nhận: tiền lương, phụ cấp, tăng ca, phúc lợi…là những thu nhập khác có tính chất như tiền lương.

    o Chúng ta thấy tỷ lệ tăng doanh thu của năm 2003 so với năm 2002 là 107.6% cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu của năm 2002 so với năm 2001 là 44.6% điều này dẫn đến thu nhập của năm 2003 cao hơn năm 2002, do: số lượng công nhân viên của công ty tăng khi công ty khi đã mở rộng thị trường, dẫn đến mở rộng quy mô sản xuất và tuyển nhân sự. Việc trả lương của công ty phụ thuộc vào doanh thu của công ty, tốc độ tăng doanh thu, tăng quỹ lương lớn hơn tốc độ tăng về số lượng lao động dẫn đến lương tăng là điều tất yếu.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    4.So sánh lương:

    Bảng 13: So Sánh Doanh Thu, Quỹ Lương Các Tháng Trong Năm 2003 Tại Xí Nghiệp 2

    THÁNG DOANH QUỸ LƯƠNG SỐ  
      THU PHÂN PHỐI NGƯỜI  
    1 36,410.75 216,279,855 439  
    2 26,177.30 155,493,162 468  
    3 28,100.00 166,914,000 439  
    4 38,300.00 227,502,000 439  
    5 38,384.00 228,000,960 439  
    6 47,459.30 281,908,242 439  
    7 33,901.60 201,375,504 439  
    8 18,105.50 107,546,670 439  
    9 7,682.60 45,634,644 499  
    10 23,077.30 137,079,162 414  
    11 25,234.80 149,894,712 413  
    12 40,109.85 238,252,509 402  

    HÌNH 4: Biểu Diễn Quỹ Lương Các Tháng Trong Năm 2003

    Tại Xí Nghiệp 2

    SO TIEN

    300,000,000

    250,000,000

    200,000,000

    150,000,000

    100,000,000

    50,000,000

    0

    1 2       3          4          5          6          7          8             9  10 11 12

    THANG

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 53

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Hình 5: Biểu Diễn Số Lao Động Các Tháng Trong Năm 2003 Tại Xí Nghiệp 2

    SO NGUOI

    600

    500

    400

    300

    200

    100

    0

    1   2    3    4    5    6    7    8    9   10 11 12

    THANG

     

    Nhìn vào đồ thị ta có thể nhận xét một điều là số lao động biến động không nhiều bằng sự biến động của quỹ lương:

    • Trong khi số lao động có khuynh hướng là một đường thẳng và ít gấp khúc thì quỹ lương lại là một gấp khúc, điểm gấp khúc của tháng cao và tháng thấp là rất xa (quỹ lương tháng 6 là 281,908,242 đồng so với tháng 9 là 45,634,644 đồng).
    • Trước tình hình đó đòi hỏi các cán bộ lãnh đạo cần có kế hoạch, biện pháp nhanh chóng, cụ thể và hữu hiệu nhằm tránh tình trạng biến động quá nhiều (quỹ lương, lương cá nhân) ảnh hưởng không tốt cho tinh thần cán bộ – công nhân viên của công ty.
    • Sở dĩ quỹ lương của tháng 6 và tháng 12 cao do: tháng 6 là tháng nghĩ hè, du lịch… và tháng 12 là tháng gần Tết người tiêu dùng mua sắm nhiều, công ty có đơn đặt hàng nhiều, thị phần mở rộng… đã làm cho doanh thu của 2 tháng này cao, dẫn đến quỹ lương của 2 tháng 6, 12 cao.
    • Số CB-CNV trong các tháng ổn định, do công ty có các chế độ lương tốt động viên công nhân gắn bó với công ty. Mặc dù chỉ có tháng 6 quỹ lương chi cao nhưng các tháng còn lại họ vẫn gắn bó công ty dù quỹ lương lúc này thấp, cho thấy sự quan tâm của công ty đối với cán bộ – công nhân viên là khá tốt.
    • Trong tháng 9: số công nhân biến động lớn so với các tháng khác. Đây là tháng có số lượng công nhân cao nhất trong năm (499 công nhân) Trong khi đó doanh thu lại giảm do thị trường ngành dệt may biến động nên công ty không có đơn đặt hàng, dẫn đến quỹ lương thấp. Công ty đã có những

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 54

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    chế độ hỗ trợ thêm tiền lương cho công nhân viên thông qua các khoản phụ cấp trích từ quỹ dự phòng.

    • Tháng 12: số lượng công nhân của công ty là 402 công nhân, giảm nhiều so với tháng 9. Tuy nhiên quỹ lương của tháng 12 cao là do: doanh thu của công ty vào tháng này, bên cạnh đó thì số lượng công nhân đã có xu hướng giảm từ tháng 10, 11 sau khi họ nhận lương thấp hơn các tháng khác.

    Tháng 2: số lượng công nhân tương đối cao (468 công nhân). Trong tháng này do nhu cầu dịp Tết nên công ty tuyển thêm công nhân viên. Đồng thời phải hoàn thành đúng tiến độ giao hàng dẫn đến số lượng công nhân viên tăng lên chứ không phải vì có nhiều đơn đặt hàng (doanh thu không cao).

    Bảng 14: So Sánh Lương Các Tổ Trong Tháng 12/2003

    Đơn Vị: Xí nghiệp 2

      TỔ     DOANH THU     LƯƠNG     SỐ NGƯỜI     BÌNH QUÂN  
          (USD)     SẢN PHẨM         LƯƠNG  
                           
      Tổ  9   1,962.2   7,261,371   54   134,469  
      Tổ 12   1,725.9   6,386,942   52   122,826  
      Tổ 10   1,561.6   5,779,059   54   107,020  
      Tổ 13   960.7   3,555,519   54   65,843  
      Tổ  8   800.4   2,962,067   49   60,450  
      Tổ 11   576.1   2,131,987   51   41,804  
      Tổ 14   571.4   2,114,789   46   45,974  

    Lương, doanh thu, tiền lương bình quân và số lao động có mối quan hệ với nhau: doanh thu tăng sẽ làm cho lương sản phẩm tăng hoặc ngược lại khi doanh thu giảm thì lương sản phẩm giảm.

    Lương sản phẩm

    Tiền lương bình quân                 =

    Số lao động

    Cụ thể, ta thấy:

    Doanh thu cao nhất: Tổ 9 dẫn đến lương sản phẩm cao nhất, số người lao động cao nhất và bình quân lương cao nhất.

    Doanh thu thấp nhất: Tổ 14 dẫn đến lương sản phẩm thấp nhất, số người lao động thấp nhất và bình quân lương thấp.

    Tuy số lao động tổ 14 nhỏ hơn tổ 9 không nhiều nhưng đã phản ảnh rõ 2 mối quan hệ tương tác sâu sắc:

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 55

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    • Doanh thu cao (1,962.2 USD), mức lương cao nên năng suất lao động tăng, số lượng công nhân ít biến động.
    • Doanh thu thấp (571.4 USD), mức lương không cao nên năng suất lao động giảm, số lương công nhân biến động nhiều.
    • Một khi nhận được tiền lương thỏa đáng thì công nhân sẽ làm việc nhiệt tình, tăng năng suất, mang lại doanh thu cao cho tổ.

    Điều này cho thấy rằng: doanh thu của công ty cao hay thấp sẽ ảnh hưởng đến doanh thu của tổ cao hay thấp.

    Tuy nhiên, công ty đã hỗ trợ thêm tiền lương cho CB-CNV (tổng quỹ lương và quỹ dự phòng) để có thể đáp ứng cuộc sống cho CB-CNV.

    Cụ thể:

        Tổng lương =     Trợ cấp +     Khoản + Phép + Lương      
        được hưởng     lương     dự trữ năm sản phẩm      
        Bảng 15: Tổng Hợp Lương Tháng 12/2003, Đơn Vị: Xí Nghiệp 2      
                                          ĐVT: đồng  
              LƯƠNG             DỰ           LƯƠNG     BÌNH  
      TỔ         TRỢ CẤP           PHÉP NĂM     ĐƯỰC     QUÂN  
          SẢN PHẨM           PHÒNG              
                                    HƯỞNG     LƯƠNG  
                                               
    Tổ 9   7,261,371   12,885,000   500,000     2,097,369     22,743,741 421,180  
    Tổ 12   6,386,942   12,000,000   500,000     20,491,757     20,491,757 394,072  
    Tổ 10   5,779,059   11,045,000   500,000     1,798,223     19,122,282 354,116  
    Tổ 13   3,555,519   11,730,000   500,000     1,833,023     17,618,542 326,269  
    Tổ 8   2,962,067   11,295,000   500,000     1,745,354     16,502,421 336,784  
    Tổ 11   2,131,987   12,210,000   500,000     2,114,100     16,956,087 332,472  
    Tổ 14   2,114,789   7,855,000   500,000     673,915     11,143,704 242,254  

    Ta thấy: khi công ty hỗ trợ tiền lương nâng mức lương bình quân, điều đó ảnh hưởng rất lớn đối với người lao động, họ cảm thấy an tâm hơn, cuộc sống ổn định hơn, họ sẽ có cái nhìn thiện cảm hơn đối với Ban Lãnh Đạo công ty, họ thích thú với công việc họ đang làm. Từ đó, dẫn tới tăng năng suất lao động làm tăng doanh thu công ty, công ty mạnh dạng tìm nhiều đơn đặt hàng hơn.

    Điển hình: Tổ 9: từ 134,469đ tăng lên 421,180đ.

    Tổ 14: từ 45,974đ tăng lên 242,254đ.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 56

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Bảng 16: So Sánh Tổng Lương Được Hưởng Của Tổ Trưởng Từng Tổ

    Trong Tháng 12/ 2003 (Xí nghiệp 2)

    (Chỉ phân tích tổ trưởng, từ tổ 8 – 14)

      TÊN NGÀY TỔNG  
    TỔ LƯƠNG  
    CÔNG
    CÔNG ĐƯỢC  
      NHÂN
        HƯỞNG  
         
    8 Phương 27 515,420  
    9 28 632,720  
    10 Xuân 27 578,188  
    11 Sương 24 438,681  
    12 Tâm 27 627,259  
    13 Liễu 27 523,420  
    14 Thủy 26 470,059  

    Hình 6: Đồ Thị Biểu Diễn Thu Nhập Của Các Tổ Trưởng Từ Tổ 8 – 14, Tại Xí Nghiệp 2

    SO TIEN
    700,000              
    600,000              
    500,000              
    400,000              
    300,000              
    200,000              
    100,000              
    0              
    TỔ 1 2 3 4 5 6 7
    8 9 10 11 12 13 14

     

    Nhận xét:

    Tất cả công nhân viên đều đảm bảo ngày công tiêu chuẩn, chỉ có 1 người chưa đảm bảo. Tuy nhiên, lương khác nhau phụ thuộc vào tổng quỹ lương của tổ và phụ thuộc vào trợ cấp, phép năm…

    Mặc dù lương mà họ nhận chưa cao so với các công ty khác, chỗ làm khác, nhưng họ đã làm lâu năm, gắn bó với công ty từ khi mới thành lập. Bên cạnh đó, trong công ty họ là những người đứng đầu tổ may (tổ trưởng), điều này càng kích thích họ làm tốt nhiệm vụ của mình biểu hiện qua ngày công, năng suất lao động…Một khi công ty quan tâm đến họ tốt hơn thì họ và cả công ty đều có lợi ích: họ làm việc tích cực, năng suất cao giúp công ty hoàn thành tốt các đơn đặt hàng, thu hút thêm nhiều khách hàng, tạo uy tín cho công

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 57

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ty, công ty có lợi rất nhiều; từ đó sẽ tăng lương cho công nhân (lương tăng dần từ tháng 9 đến tháng 12)

    Đối với công ty khi công ty thu được lợi nhuận cao (doanh thu cao) họ trả lương công nhân cao hơn, quan tâm nhiều hơn, thực hiện các chế độ đối với cán bộ – công nhân viên đầy đủ. Điều này càng kích thích họ làm việc tăng năng suất, đạt hiệu quả cao.

    4.Phân Tích Biến Động Lương Cá Nhân:

    Bảng 17: So Sánh Lương Cá Nhân Thay Đổi Trong 2 Tháng:

    9 và 12 Năm 2003, Tại Xí Nghiệp 2.

    ĐVT: Đồng

    TỔ TÊN NGÀY TỔNG LƯƠNG ĐƯỢC  
    CÔNG NHÂN CÔNG HƯỞNG  
     
          THÁNG 12 THÁNG 9  
               
             
    8 Phương 27 515,420 877,592  
    9 28 632,720 1,612,125  
    10 Xuân 27 578,188 1,310,433  
    11 Sương 24 438,681 516,937  
    12 Tâm 27 627,259 1,580,859  
    13 Liễu 27 523,420 1,174,337  
    14 Thủy 26 470,059 720,373  

    Hình 7: Biểu Diễn Lương Cá Nhân Trong 2 Tháng 9 Và 12 Năm 2003

    LUONG CÁ NHÂN TRONG 2 THÁNG: 9 VÀ 12

    SỐ

    SO TIEN
    TIỀN                                                        
    2,000,000                                                          
                                                             
    1,500,000                                                          
    1,000,000                                                         THANG 9
                                                            THANG 12
    500,000                                                        
    0                                                          
                                                             
                                                             
    81 92 103 114 125 136 147
          TO      

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Ta thấy mối quan hệ giữa 3 đại lượng là: doanh thu – quỹ lương – lương cá nhân là rất cụ thể. Khi doanh thu tăng kéo theo quỹ lương phân phối tăng và kết quả là lương cá nhân cũng tăng theo. Cụ thể ở biểu đồ tháng 12, ở hầu hết các tổ may lương công nhân viên đều lớn hơn tháng 9 và biến động thực sự lớn.

    Điển hình công nhân Lê tháng 12 lãnh 1,612,125 đ so với tháng 9 chỉ là 632,720 đ. Có một lý do chính đó là công ty nhận may hàng gia công là chủ yếu nên tùy thuộc rất nhiều vào tính chất thời vụ.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    PHẦN KẾT LUẬN – KẾT LUẬN

    I. NHẬN XÉT:

    Thông qua tìm hiểu về công tác quản lý và hạch toán tiền lương – các khoản trích theo lương tại Công ty liên doanh may An Giang trên cơ sở đối chiếu giữa thực tế và lý thuyết, em có một vài nhận xét sau:

    1.Về mặt tổ chức công tác Kế Toán:

    Trong công tác Tài Chính Kế Toán, công ty đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc, chế độ do Nhà Nước quản lý.

    Các nhân viên Kế Toán đều tập trung vào một phòng Kế Toán nên thuận lợi cho việc luân chuyển chứng từ kịp thời. Công việc trong các nghiệp vụ kinh tế được phân công rõ ràng, có khoa học tạo điều kiện xử lý số liệu nhanh chóng, kịp thời, nhịp nhàng, trôi chảy.

    Trình độ chuyên môn của nhân viên phòng Kế Toán khá tốt, bố trí phù hợp với năng lực của từng người, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng do phòng Kế Toán – Tài Vụ bố trí chung với phòng Tổ Chức Hành Chính nên tình trạng ồn ào, người ra vào thường xuyên do tình trạng tuyển nhân sự, chuông điện thoại reo liên tục sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất công việc của các nhân viên Kế Toán.

    Công ty chọn hình thức Kế Toán tập trung, nhật ký chung kết hợp với xử lý số liệu bằng máy vi tính rất phù hợp với quy mô địa bàn hoạt động. Từ nhập số liệu, chỉnh lý, ghi sổ kế toán chi tiết – tổng hợp cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, đến tổng hợp báo cáo số liệu Kế Toán đều được tập trung ở phòng Kế Toán, đều được xử lý bằng máy vi tính. Do đó, đảm bảo được sự tập trung thống nhất chặt chẽ, đảm bảo việc tiết kiệm công sức cho nhân viên nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp cho nhân viên Kế Toán cung cấp thông tin nhanh chóng, nâng cao chất lượng Kế Toán.

    2.Về mặt chứng từ:

    Công ty sử dụng các mẫu chứng từ, biểu mẫu báo cáo theo đúng qui định của Nhà Nước. Việc luân chuyển chứng từ được tổ chức một cách khoa học, có sự phối hợp nhịp nhàng ăn khớp với nhau giữa các bộ phận giúp cho Kế Toán tổng hợp dễ dàng tổng hợp đối chiếu số liệu.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 60

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    3.Về mặt hệ thống tài khoản:

    Hệ thống sử dụng theo đúng qui định của Bộ Tài Chính, ngoài ra phòng kế toán đã xây dựng hệ thống tài khoản theo đặc diểm riêng của công ty một cách đầy đủ và chi tiết, vừa đảm bảo được nguyên tắc thống nhất trong các nhiệm vụ kế toán do Bộ Tài Chính đề ra, vừa thích ứng với thực tiễn quản lý các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty.

    4.Về lực lượng lao động:

    Với một lực lượng nhân viên hành chính đã qua đào tạo có hệ thống ở các trường Đại Học, Cao Đẳng thì việc nâng cao, bổ sung kiến thức mới cho nhân viên tại công ty có nhiều điều kiện thuận lợi hơn so với lực lương lao động có trình độ thấp. Họ nhạy bén trước sự thay đổi của thị trường, luôn chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng kinh doanh có hiệu quả.

    Tuy nhiên bên cạnh đó, lực lượng lao động trực tiếp tại các xưởng may với trình độ học vấn vẫn còn thấp, chỉ được đào tạo qua lớp cơ bản,do đó vẫn còn hạn chế việc nắm bắt các phương pháp, cách thức áp dụng mới khi làm việc. Vì vậy cần bồi dưỡng, nâng cao trình độ của công nhân viên.

    5.Về hình thức trả lương và phương pháp tính lương:

    Công ty áp dụng phương pháp trả lương theo sản phẩm cho tập thể cán bộ – công nhân viên, làm cho những người lao động quan tâm đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ.

    Cả hai hình thức này đều dựa trên doanh thu của công ty. Vì vậy khi khối lượng sản phẩm tăng thì doanh thu tăng, kéo theo quỹ lương cũng tăng lên làm cho lương bình quân tăng theo.

    Công ty tập trung vào hình thức trả lương theo sản phẩm là chủ yếu. Những công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm làm việc với năng suất lao động cao, nhưng mức lương mà họ lãnh không ổn định giữa các tháng trong năm. Công ty lại chỉ bổ sung, hỗ trợ thêm tiền lương thông qua các khoản phúc lợi, phụ cấp để nâng mức lương lên nhằm đảm bảo cuộc sống của công nhân viên. Các khoản phúc lợi và phụ cấp tuy có tác dụng khuyến khích và thể hiện mối quan tâm của công ty đến đời sống vật chất và tinh thần đến nhân viên nhưng theo lương sản phẩm vẫn là nguồn thu nhập chính của họ. Cho nên vấn đề công ty cần quan tâm là làm sao để tăng doanh thu, tăng quỹ lương và thu nhập cho công nhân viên.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    6.Về hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương:

    • Hạch toán tiền lương:

    Theo qui định của Nhà Nước ban hành và những nguyên tắc hạch toán kế toán tại công ty, kế toán đã hạch toán đầy đủ, chính xác rõ ràng theo từng nghiệp vụ cụ thể trên tài khoản 334.

    Tất cả số liệu kế toán đều được lưu trữ có hệ thống, rõ ràng qua hệ thống máy vi tính đảm bảo cho việc truy cập, đối chiếu số liệu một cách nhanh chóng và tiện lợi.

    Việc hạch toán lương được thực hiện một cách hợp lý và chính xác cho tập thể CB–CNV tại công ty.

    • Hạch toán các khoản trích theo lương:

    Công ty đã trích nộp BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ, thời gian Nhà Nước qui định. Ngoài ra, công ty còn quan tâm chăm sóc đến tình trạng sức khỏe, đau ốm… để người lao động an tâm làm việc.

    Tuy nhiên, lương trả cho người lao động thì tương đối thấp và việc thực hiện các khoản trích thì dựa vào hệ số lương theo lương Nghị Định 26/CP, đó là điều chưa hợp lý.

    II. KIẾN NGHỊ:

    Sau thời gian thực tập tại Công ty liên doanh May An Giang em đã học hỏi được nhiều điều bổ ích. Xuất phát từ tình hình thực tế của Công ty em có một vài kiến nghị sau:

    -Ban lãnh đạo cần tìm thêm nhiều đối tác, nhiều khách hàng thông qua việc tranh thủ cơ hội khi nước ta tham các tổ chức kinh tế, ở các kỳ hội chợ triển lãm…tạo thêm thu nhập, việc làm cho người lao động.

    -Công ty cần lập thêm phòng Marketing giàu năng lực, nhạy bén để mở rộng và khai thác tốt thị trường trong và ngoài nước.

    -Cần tổ chức lại cơ cấu nhân sự cho phù hợp, hình thức phân công phân nhiệm cần được triển khai một cách cụ thể, có hiệu quả hơn để vừa thúc đẩy năng suất lao động, vừa quản lý nhân sự một cách có hiệu quả. Cần tổ chức quản lý nhân sự có hiệu quả, nhìn người mà phân công công việc, bố trí nhân sự một cách có hợp lý tránh tình trạng tổ này thiếu – tổ khác lại thừa lao động.

    -Theo dõi, cập nhật và nắm bắt kịp thời các chế độ chính sách trả lương để vừa thực hiện đúng các qui định của Nhà Nước, vừa thu hút nhân sự, duy trì nhân viên.

    -Cần có chế độ kế toán rõ ràng, nhất là kế toán tiền lương và nên giao việc cụ thể cho từng cá nhân trong việc tính và thanh toán lương để vừa đáp

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 62

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    ứng yêu cầu kiểm tra rõ ràng, nhanh chóng của cấp trên, vừa đảm bảo thanh toán đúng lương cho người lao động.

    -Để đảm bảo tính công bằng và nâng cao năng suất, công ty cần có cách tính lương một cách cụ thể, rõ ràng và chính xác. Cụ thể có các cách tính lương như sau:

    Cách thứ nhất:

    +Đối với công nhân trực tiếp sản xuất trả lương theo sản phẩm (có thể trả hàng tuần, hàng tháng).

    +Đối với nhân viên quản lý văn phòng, nhân viên gián tiếp sản xuất thì trả lương theo thời gian (có thể trả theo theo tuần,tháng).

    Cách thứ hai:

    Đối với bất kỳ nhân viên quản lý hay công nhân trực tiếp sản xuất đều được thanh toán tiền lương được hưởng gồm 2 khoản là lương theo Nghị Định và lương sản phẩm.

    Cách thứ ba:

    Nếu như công ty duy trì hình thức trả lương đang áp dụng, tính lương cho bộ phận quản lý hay bộ phận trực tiếp sản xuất đều tính theo lương sản phẩm. Nhưng cách tính giữa hai bộ phận này là khác nhau, thì nên tính như sau:

    • Đối với nhân viên quản lý tính lương theo sản phẩm từ lương theo Nghị Định nhân với chỉ số tương đương, mà chỉ số này chính là thương số giữa tổng lương sản phẩm và tổng lương hệ số công việc. Cách tính này dễ gây nhầm lẫn cho nhân viên do lương theo Nghị Định cao, lương theo sản phẩm có những tháng thấp vì ngành nghề chủ yếu của công ty là gia công, lại phụ thuộc vào đơn đặt hàng của từng thời vụ. Vì thế, công ty cần mở rộng thêm nhiều chi nhánh, đại lý bán hàng trên nhiều địa bàn, thu hút khách hàng với chiến lược kinh doanh hợp lý với mục tiêu mở rộng thị phần cho doanh nghiệp, tăng doanh thu dẫn đến tăng tổng quỹ lương và tăng tổng lương sản phẩm.
    • Đối với nhân viên trực tiếp sản xuất tính lương theo sản phẩm, nhưng do công ty chủ yếu là may hàng gia công nên đơn giá thấp, luôn biến động kéo theo lương sản phẩm thấp và biến động. Vì thế, để mức lương ổn định hơn đòi hỏi công ty nên chuyển sang may hàng thành phẩm kết hợp với gia công từ việc công ty tự đứng ra nhập nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hóa.

    -Cần có kế hoạch tổ chức sản xuất có hiệu quả thông qua việc tận dụng các phế liệu, sản phẩm thừa sau khi đã hoàn thành thành phẩm xuất xưởng như: may màn che, áo gối, thú bông…tạo thêm nguồn thu cho công ty.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 63

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    -Đối với phòng kế toán:

    • Phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho CB–CNV.
    • Phải thường xuyên cử cán bộ kiểm tra các nơi trong việc thu mua, nhập – xuất, hạch toán, thu chi…
    • Thường xuyên đối chiếu sổ sách các xí nghiệp nhằm phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời.
    • Nên phát huy, tận dụng hết khả năng máy vi tính mà công ty đã trang bị nhằm tổng hợp báo cáo nhanh các số liệu…

    Để làm tốt công tác kế toán tiền lương, đẩy mạnh tăng năng suất công nhân viên, cần làm tốt công việc sau:

    – Tăng cường theo dõi, đôn đốc cán bộ – công nhân viên làm tốt nhiệm vụ của mình thông qua việc thường xuyên kiểm tra bảng chấm công của từng đơn vị, cá nhân.

    – Đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ (đặc biệt là các cán bộ kế toán lương), công nhân viên về nhiệm vụ, công việc mà họ đang đảm nhận.

    – Đôn đốc các tổ trưởng, cá nhân làm tốt nhiệm vụ, công việc mà mình đảm nhận, giao hàng đúng tiến độ và hoàn thành tốt các chỉ tiêu.

    – Tổ chức tốt khâu sản xuất bằng cách tuyển chọn và đào tạo cán bộ – công nhân viên có kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật chuyên môn tốt, nhằm tăng năng suất lao động cả về số lượng lẫn chất lượng.

    –  Chăm lo đời sống nhân viên để họ an tâm sản xuất tốt hơn bằng

    cách:

    • Xây dựng quy chế lương hợp lý.
    • Tổ chức thăm viếng, hỗ trợ công nhân viên có hoàn cảnh khó

    khăn.

    • Có chính sách khen thưởng, bồi dưỡng cho các cá nhân tích cực trong lao động sản xuất.
    • Tổ chức giờ làm việc một cách khoa học nhằm ổn định trong công tác, phân công nhiệm vụ cụ thể, nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động có hiệu quả cao.
    • Tận dụng triệt để, tiết kiệm các khoản chi phí và nguyên vật liệu để sản xuất, tìm khách hàng tiêu thụ và gia công thêm, làm tăng doanh thu cho công ty, làm tăng thu nhập cho công nhân viên.
    • Sử dụng chế độ thưởng, phạt rõ ràng để khuyến khích và tổ chức sản xuất có năng suất tốt.

    SVTH : Lưu Phước Vẹn                                                                                                                             Trang 64

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    III. KẾT LUẬN:

    Công ty liên doanh may An Giang là một đơn vị kinh tế quan trọng của Tỉnh trong việc đóng góp ngân sách, giải quyết việc làm cho người dân trong Tỉnh. Hiện nay, công ty có hai phân xưởng may, đang hoạt động với đội ngũ công nhân tay nghề cao. Những năm qua, dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng tập thể cán bộ – công nhân viên vẫn cố gắng ổn định vượt qua khó khăn, đây là khó khăn chung của ngành may, để đến hiện nay công ty đã từng bước cũng cố được sản xuất, từng bước đi lên, tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh doanh. Góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Tỉnh nhà, nhất là giải quyết việc làm cho những người lao động.

    Hiện tại công ty có đội ngũ cán bộ quản lý dày dạn kinh nghiệm, lực lượng công nhân trẻ có nhiệt tình, tay nghề cao. Công ty không ngừng tăng cường công tác quản lý, đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ cho cán bộ – công nhân viên. Phát huy sáng kiến và nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhằm mục đích thu hút khách hàng.

    Kế Toán tiền lương và các khoản trích theo lương là việc làm không thể thiếu được trong công tác tổ chức Kế Toán của doanh nghiệp, giúp cho công tác quản lý lao động của đơn vị đi vào nề nếp, thúc đẩy công nhân viên chấp hành kỷ luật lao động, tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả công tác, tạo cơ sở cho việc trả lương và trợ cấp BHXH đúng chế độ chính sách. Đồng thời, việc đánh giá, xem xét sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động là việc làm cũng không kém phần quan trọng. Vì nếu công tác lương làm tốt thì sẽ thúc đẩy người lao động tăng năng suất, nâng cao hiệu quả công việc.

    Qua thời gian thực tập và tìm hiểu công tác Kế Toán lao động tiền lương, các khoản trích theo lương tại Công ty liên doanh may An Giang, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị phòng Kế Toán, em đã thu thập được khá nhiều kinh nghiệm thực tế thực sự có ích cho một sinh viên sắp ra trường. Em đã thấy được tầm quan trọng của Kế Toán tiền lương tại công ty, đã thấy được sự khác biệt không nhỏ giữa lý thuyết học ở trường và thực tế ở các doanh nghiệp trong việc tính và thanh toán lương cho người lao động.

    Qua đề tài này, em hy vọng có thể đóng góp một phần nào đó cho công ty trong việc hạch toán Kế Toán tiền lương, nhằm đưa ra hệ thống Kế Toán tiền lương một cách hoàn chỉnh và hiệu quả hơn. Đề tài cũng cho thấy được sự gắn bó, sự tác động giữa công ty và người lao động. Từ đó, Ban Lãnh Đạo có chính sách, có kế hoạch hiệu quả, hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và người lao động.

    Kế toán tiền lương và sự ảnh hưởng của tiền lương đối với người lao động

    Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức học ở trường không sát với thực tế nên những nhận xét, kiến nghị và kết luận của em mang tính chủ quan, dù đã nổ lực nhưng không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý và thông cảm của quý Thầy, Cô cùng Ban Giám Đốc, phòng Kế Toán, tập thể cán bộ – công nhân viên để em hoàn thành tốt đề tài luận văn này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch vu kỹ thuật Đông Nam Á


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-r%E1%BB%A7i-ro-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BA%A1i-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-TMCP-Nam-Vi%E1%BB%87t-NAVIBANK.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK)

    LỜI MỞ ĐẦU

    ˜ & ™

    1. Tính cấp thiết của nội dung nghiên cứu

    Trong các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thì tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Đồng thời tín dụng cũng là hoạt động kinh doanh phức tạp nhất so với các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại (NHTM), đem lại nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng. Vì vậy,rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có tác động rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng (TCTD), cao hơn nó tác động ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.

    Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung. Việc đánh giá, thẩm định và quản lý tốt các khoản cho vay, các khoản dự định giải ngân sẽ hạn chế những rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải, và tất yếu sẽ giảm bớt nợ xấu cho Ngân hàng. Vì thế, làm thế nào để quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả đang là một vấn đề mà các ngân hàng thương mại rất quan tâm, nhất là trong tình hình kinh tế tài chính ngân hàng toàn cầu đầy biến động như hiện nay.

    Trong những tháng đầu năm 2008, tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nói chung và Navibank nói riêng có dấu hiệu tăng cao vượt quá tỷ lệ cho phép theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Vậy đâu là nguyên nhân? Làm thế nào để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Nam Việt? Đây là một vấn đề đang được ban lãnh đạo Navibank đặc biệt quan tâm.

    Trong bối cảnh trên, là một sinh viên đang thực tập tại ngân hàng TMCP Nam Việt, em đã chọn đề tài  Nâng cao hiu ququn trri ro tín dng ti Ngân hàng TMCP Nam Việtlàm đề tài nghiên cứu.

    1. Mục đích nghiên cứu

    Tìm hiểu về rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng. Phân tích tình hình thực tiễn quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt. Từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt.

    1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng. Trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng.

    Phạm vi nghiên cứu: khảo sát hoạt động của ngân hàng Nam Việt trong ba năm 2007, 2008, 2009. Từ đó, đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các học thuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp.

    Thu thập số liệu: các báo cáo, tài liệu của ngân hàng TMCP Nam Việt, thông tin trên báo chí và internet

    1. Kết cấu của khóa luận

    Ngoài phần mở đầu với kết luận, Khóa luận chia làm 3 chương:

    Chương 1: Tổng quan về tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng

    Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nam Việt

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cáo chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt

     

    1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:

    1.1.1. Khái niệm, bản chất của tín dụng ngân hàng:

    Thuật ngữ “tín dụng” xuất phát từ chữ latinh là Credo (tin tưởng – tín nhiệm). Nhưng trong quan hệ tài chính hoặc cuộc sống, tuỳ theo góc độ nhìn nhận của mỗi người mà tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.

    • Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ, tín dụng là sự chuyển dịch quỹ cho vay từ người cho vay sang người đi vay.
    • Xét trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả.
    • Tín dụng ở nghĩa hẹp được hiểu như một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng.

    Tuy nhiên, xét ở góc độ tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:

    Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

    Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:

    • Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản, động sản).
    • Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải dựa trên cơ sở lòng tin và phải tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
    • Bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay sau khi hết thời hạn sử dụng thỏa thuận – Thông thường giá trị được hoàn trả lớn hơn giá trị lúc cho vay – phần lớn hơn này là lợi tức.

    Ngân hàng tham gia quan hệ tín dụng với 2 tư cách: Vừa là người đi vay vừa là người cho vay.

    1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng:

    Tùy mục tiêu nghiên cứu, mục tiêu của quản trị mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành các loại khác nhau.

    1.1.2.1. Xét theo mục đích:

    Tín dụng ngân hàng gồm:

    • Cho vay kinh doanh bất động sản: Gồm các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
    • Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
    • Cho vay nông nghiệp: Loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất như cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu.
    • Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các công ty tài chính khác.
    • Cho vay cá nhân: Là loại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
    • Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị.

    1.1.2.2. Xét theo thời hạn:

    • Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn đến 12 tháng.
    • Cho vay trung hạn: Là loại vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm
    • Cho vay dài hạn: Là loại vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm tùy thuộc vào dự án và giấy phép đầu tư. Một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm.

    1.1.2.3. Xét theo tài sản đảm bảo (TSĐB):

    • Cho vay không đảm bảo: là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm và uy tín của khách hàng; năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay hiệu quả và khả thi.
    • Cho vay có đảm bảo: Là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng; hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba; hay cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay.

    1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

    • Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn cụ thể trong hợp đồng.
    • Cho vay không thời hạn: Là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu người đi vay trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

    1.1.2.5. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:

    • Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
    • Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.

    1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế:

    1.1.3.1. Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế:

    Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường. Do đó, hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và có thể giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn đồng thời kinh doanh kiếm lời.

    Trong nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.

    1.1.3.2. Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất:

    Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội  để thực hiện cho vay các đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là nhu cầu tất yếu của nền sản xuất hàng hóa, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn.

    1.1.3.3. Tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ:

    Tín dụng tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng luôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của chính phủ, vì vậy đã góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay vốn.

    1.1.3.4. Tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế:

    Với sự tài trợ tín dụng của các ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện một chế độ hạch toán kinh tế một cách minh bạch và hiệu quả hơn. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn, cũng như việc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ khác ghi trong hợp đồng như là vấn đề tài chính.

    Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.

    1.1.3.5. Tín dụng tạo điều kiền hội nhập kinh tế quốc tế:

    Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp không chỉ hoạt động trong phạm vi một quốc gia mà phải mở rộng quan hệ kinh tế ra phạm vi khu vực và thế giới. Tín dụng là công cụ giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.

    1.1.3.6. Tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành kinh tế trọng điểm:

    Với công cụ tín dụng, chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Ngoài ra, Chính phủ còn tập trung vốn tín dụng vào việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

    1.2. RỦI RO TÍN DỤNG (RRTD) TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM:

    1.2.1. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng:

    Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định.

    Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng.(5) Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

    Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.(3)

    Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. (3)

    Còn theo Henie Van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.(3)

    Các định nghĩa khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:

    • Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm lỗ và/hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán.
    • Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vố Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.

    Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các ngân hàng thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn). Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.

    1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng:

    Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau đây:

     

    Sơ đồ 1.1: Phân loại  rủi ro tín dụng

    Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:

    • Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng
    • Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…
    • Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.

    Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành:

    • Rủi ro nội tại: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
    • Rủi ro tập trung: Rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

    1.2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng:

    Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau:

    • Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng.
    • Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
    • Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

    1.2.4. Những căn cứ chủ yếu xác định mức độ rủi ro tín dụng:

    Thông thường để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn (NQH) và kết quả phân loại nợ.

    1.2.4.1. Nquá hn:

    Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ tiêu chuẩn để được gia hạn nợ.

    Dư nợ quá hạn

    Hệ số nợ quá hạn =                                         x 100%

    Tổng dư nợ

    Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các NHTM thường chia nợ quá hạn thành các nhóm sau:

    • Nợ quá hạn đến 180 ngày, có khả năng thu hồi
    • Nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày, có khả năng thu hồi
    • Nợ quá hạn từ 360 ngày trở lên (nợ khó đòi)

    1.2.4.2. Phân loi nợ:

    Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm như sau:

    • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm
      • Các khoản nợ trong hạn và TCTD đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
      • Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh gái là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 1 theo quy định
    • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý ) bao gồm
      • Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày;
      • Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định
    • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
      • Các khoản nợ gia hạn tời hạn trả nợ lần đầu;
      • Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng thanh toán lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định.
    • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;
      • Các khoản nợ cơ cấu thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần thứ hai
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định.
    • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
      • Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
      • Các khoản nợ cơ cấu lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ hai
      • Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên
      • Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
      • Các khoản nợ khác được phân vào nhóm năm theo quy định.

    Bên cạnh đó, quy định này cũng nêu rõ, thời gian thử thách để thăng hạng nợ (ví dụ từ nhóm 2 lên nhóm 1…) là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và 3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ gốc và lãi của khoản vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Và toàn bộ dư nợ của khách hàng tại các TCTD được phân vào cùng một nhóm nợ. Ví dụ: Khách hàng có hai khoản nợ trở lên tại các TCTD mà có bất cứ một khoản nợ nào được phân vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ còn lại thì toàn bộ các khoản nợ còn lại của khách hàng phải được TCTD phân vào nhóm nợ có độ rủi ro cao nhất đó.

    Nợ xấu (hay các tên gọi khác như nợ có vấn đề, nợ khó đòi…) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 và có các đặc trưng sau:

    • Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn.
    • Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi.
    • Tài sản đảm bảo được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
    • Thông thường là những khoản nợ đã được gia hạn nợ, hoặc những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày.

    Một tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 5% được coi là nằm trong giới hạn cho phép, khi tỷ lệ nợ xấu vượt quá tỷ lệ 5% thì tổ chức đó cần phải xem xét, rà soát lại danh mục đầu tư của mình một cách đầy đủ, chỉ tiết và thận trọng hơn.

    1.2.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:

    Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động ngân hàng luôn phải đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây:

    1.2.5.1. Nguyên nhân khách quan:

    • Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…
    • Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn.
    • Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường.
    • Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô.

    1.2.5.2. Nguyên nhân chủ quan:

    1.2.5.2.1. Về phía khách hàng (KH):

    • Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý.
    • Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả.
    • Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được.
    • Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản.
    • Chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo.
    • Do mất đoàn kết trong nội bộ Hội đồng quản trị, ban điều hành.

    1.2.5.2.2. Về phía ngân hàng (NH):

    • Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
    • Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
    • Do cạnh tranh của các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các ngân hàng khác.
    • Cán bộ tín dụng (CBTD) không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay. CBTD yếu kém về trình độ nghiệp vụ; cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh.
    • Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ.

    Tóm lại, các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng. Những nguyên nhân chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và ngân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp.

    1.2.6. Hậu quả của rủi ro rín dụng:

    Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn trong kinh doanh ngân hàng và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu.

    • Đối với ngân hàng bị rủi ro:

    Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng hơn thì có thể bị phá sản.

    • Đối với hệ thống ngân hàng:

    Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

    • Đối với nền kinh tế:

    Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế, vì vậy rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…

    • Trong quan hệ kinh tế đối ngoại:

    Làm ảnh hưởng đến vị thế và hình ảnh của hệ thống ngân hàng – tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của quốc gia đó.

    Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra sẽ gây ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi phải trích lập dự phòng, không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn gốc và lãi vay, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.

    1.3. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG:

    1.3.1. Những biểu hiện chủ yếu về những khoản cho vay có vấn đề và chính sách cho vay kém hiệu quả:

    Các dấu hiệu nhận biết một khoản cho vay có vấn đề Các dấu hiệu nhận biết chính sách cho vay kém kiệu quả của ngân hàng
    Thanh toán tiền vay không đúng kế hoạch Sự đánh giá không chính xác về rủi ro của khách hàng
    Kỳ hạn của khoản cho vay bị thay đổi liên tục. Cho vay dựa trên các sự kiện xảy ra bất thường có thể xảy ra trong tương lai
    Yêu cầu gia hạn nợ kém hiệu quả (vốn gốc trước mỗi lần gia hạn không giảm đáng kể) Cho vay do khách hàng hứa duy trì một khoản tiền gửi lớn.
    Lãi suất cao bất thường (cố gắng bù đắp rủi ro cao) Không xác định rõ kế hoạch hoàn trả đối với từng khoản cho vay
    Sự tích tụ bất thường của các khoản phải thu và/hoặc hàng tồn kho của khách hàng. Cung cấp tín dụng lớn cho các khách hàng không thuộc khu vực thị trường của ngân hàng
    Tỷ lệ (đòn bẩy) nợ trên vốn cổ phần tăng Hồ sơ tín dụng không đầy đủ
    Thất lạc các tài liệu (đặc biệt là các báo cáo tài chính của ngân hàng). Cấp các khoản tín dụng lớn cho thành viên trong nội bộ ngân hàng (nhân viên, giám đốc hay các cổ đông).
    Tài sản thế chấp không đủ tiêu chuẩn. Có khuynh hướng cạnh tranh tăng thái quá (cấp các khoản tín dụng cho khách hàng để họ không tới ngân hàng khác dù khoản cho vay sẽ có vấn đề).
    Trông chờ việc đáng giá lại tài sản sản phẩm tăng vốn chủ sở hữu Cho vay để tài trợ các hoạt động đầu cơ.
    Không có các báo cáo hay dự đoán về dòng tiền Thiếu nhạy cảm đối với môi trường kinh tế có thay đổi
    Việc trông chờ của khách hàng vào các nguồn vốn bất thường để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán (ví dụ: bán các tòa nhà cao ốc hay trang thiết bị).  

     

    1.3.2. Các mô hình phân tích, đánh giá rủi ro tín dụng:

    Các nhà kinh tế, các nhà phân tích đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định lượng và mô hình định tính. Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau nên các ngân hàng có thể sử dụng  nhiều mô hình để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng.

    1.3.2.1. Mô hình định tính vri ro tín dng

    Khi có được thông tin về khách hàng vay vốn, CBTD cần phân tích những vấn đề thiết yếu để có thể ra quyết định cho vay hợp lý như sau:

     
       

    Mô hình 1.1: Phân tích tín dụng

    Các yếu tố định tính: CBTD cần phân tích 5 yếu tố sau:

    • Năng lực pháp lý: CBTD phải đánh giá tình trạng pháp lý khách hàng Dựa trên các bộ giấy tờ khác nhau (Quyết định thành lập công ty, giấy phép kinh doanh, quyết định bổ nhiệm giám đốc và kế toán trưởng, giám đốc phải có tư cách như một cá nhân bình thường….)
    • Uy tín: Là thái độ, là phẩm chất của người vay. Thông thường uy tín thể thiện ở ba cấp bậc: Sẵn lòng trả nợ, mong muốn trả nợ, kiên quyết trả nợ. Uy tín là cái bên trong, để đánh giá uy tín của người vay, CBTD cần thông qua các biểu hiện bên ngoài rồi dựa vào quan hệ biện chứng với cái bên trong để kết luận cái bên trong. Cụ thể là lịch sử vay nợ của khách hàng, danh tiếng/dư luận, kết quả phỏng vấn trực tiếp (đây là căn cứ chính xác nhất).
    • Mục đích vay: CBTD cần xem xét mục đích vay của người vay có thỏa mãn hai yếu tố hợp lệ và hợp pháp hay không. Tính hợp lệ là phù hợp với giấy phép kinh doanh. Tính hợp pháp là ngành nghề kinh doanh không bị pháp luật nghiêm cấm.
    • Năng lực tạo lợi nhuận: Người vay phải có kiến thức về kinh tế, phải có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, phải đáp ứng các chỉ số tạo lợi nhuận (tần số tạo lợi nhuận cao hay thấp, tỉ suất lợi nhuận và vòng quay vốn lớn hơn hoặc bằng trung bình ngành)
    • Môi trường kinh doanh: CBTD cần nắm rõ các thông tin sau: Mức dự báo lạm phát; các biến động kinh tế, chính trị, xã hội; xu hướng tăng trưởng của ngành…

    Các yếu tố định lượng:

    • Nguồn trả nợ của khách hàng: CBTD cần xem xét tính cần thiết, tính hiệu quả, tính khả thi, phương án kỹ thuật, tiến dộ thực hiện của phương án vay. Bên cạnh đó CBTD còn phải đánh giá nguồn trả nợ thông qua năng lực tài chính ngoài phương án của khách hàng.
    • Tài sản đảm bảo: CBTD cần xem xét các tiêu chuẩn về tài sản như: Tài sản phải của người vay, có giá trị, có thị trường trong tương lai, phải có văn thư chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản đó cho ngân hàng trong thời gian vay…

    Ngoài ra, CBTD còn có thể phân tích tín dụng căn cứ theo tiêu chuẩn 6C:

    • Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắc chắn rằng người vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.
    • Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp lý và năng lực hành vi dân sự dể ký kết hợp đồng tín dụng.
    • Thu nhập của người vay (Cashflow): Xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay, người vay có đủ khả năng trả nợ hay không.
    • Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
    • Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ.
    • Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng.

    Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD.

    1.3.2.2. Các mô hình lượng hóa ri ro tín dng:

    Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:

    • Mô hình đim sZ:

    Mô hình này phụ thuộc vào:

    • Chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X;
    • Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:

    Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0 X5 (1)

    Trong đó:

    X1: Tỷ số “vốn lưu động ròng/tổng tài sản”.

    X2: Tỷ số “lợi nhuận tích lũy/tổng tài sản”.

    X3: Tỷ số “lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản”.

    X4: Tỷ số “thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”

    X5: Tỷ số “doanh thu/tổng tài sản”.

    Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.

    Z < 1,8     : Khách hàng có khả năng rủi ro cao.

    1,8 < Z <3: Không xác định được.

    Z > 3        : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ.

    Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.

    Ưu đim:

    Kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản.

    Nhược đim:

    Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Tuy nhiên trong thực tế mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không được trả lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay.

    Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến. Tương tự như vậy, bản thân các chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục.

    Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế).

    • Mô hình đim stín dng tiêu dùng:

    Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: Mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản…Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc.

    Mô hình này thường sử dụng 7 – 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1 – 10.

    Ưu đim:

    Mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng.

    Nhược đim:

    Mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình.

    1.4. ÁP DỤNG CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM:

    Vì mỗi mô hình quản trị rủi ro tín dụng đều có những ưu và nhược điểm, mặt khác các mô hình nay không loại trừ lẫn nhau, nên thông thường các ngân hàng thường kết hợp sử dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro tín dụng. Trong điều kiện thực tế ở Việt Nam, các ngân hàng thường sử dụng mô hình định tính để đánh giá khoản vay từ khâu thẩm định đến việc quản lý, theo dõi, kiểm tra và giám sát các khoản nợ vay.

    • Yếu tố 1: Thẩm định cho vay: Nhìn chung các ngân hàng đều có quy định về quy trình thẩm định khoản vay bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
      • Thẩm định tính pháp lý: Kiểm tra tư cách pháp nhân, năng lực pháp luật của khách hàng vay, hồ sơ vay vốn, kiểm tra mục đích vay vốn của khách hàng có hợp pháp không.
      • Thẩm tra uy tín của khách hàng vay vốn, năng lực quản lý điều hành của khách hàng hay là ban quản lý doanh nghiệp: về phẩm chất đạo đức, thiện chí, uy tín trong giao dịch, năng lực quản lý điều hành, hệ thống kiểm tra – kiểm soát nội bộ…
      • Thẩm tra về khả năng tài chính, năng lực hoạt động: thông qua các chỉ số như khả năng thanh toán, tỷ trọng vốn tự có, vòng quay hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng tài sản, tỷ suất lợi nhuận…
      • Thẩm tra về tính hiệu quả của phương án vay vốn: về khả năng thực hiện phương án kinh doanh, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ, về nguồn vốn tài trợ cho phương án, về vốn vay từ ngân hàng có hợp lý không…
      • Thẩm tra về nguồn trả nợ: khách hàng dự kiến dùng những nguồn thu nào để thanh toán nợ gốc và lãi, các nguồn thu này có ổn định không…
      • Thẩm tra về tài sản thế chấp khoản vay: tài sản thế chấp có thuộc sở hữu hợp pháp của người vay không, có dễ chuyển nhượng, dễ bán không, có bị hao mòn vô hình không…
    • Yếu tố 2: Kiểm tra tín dụng: các ngân hàng hầu hết đều có quy trình tín dụng riêng để kiểm tra tín dụng, tuy nhiên những nguyên lý chung nhất đang được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng là:

    Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định.

    Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, đảm bảo rằng những khía cạnh quan trọng của mỗi khoản tín dụng đều được kiểm tra, bao gồm:

    • Kế hoạch trả nợ của khách hàng nhằm đảm bảo trả nợ đúng hạn.
    • Chất lượng và điều kiện của tài sản đảm bảo.
    • Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, đảm bảo tính hợp pháp để sở hữu các tài sản khi người vay không trả được nợ.
    • Đánh giá điều kiện tài chính và những kế hoạch kinh doanh của người vay, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng.
    • Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của ngân hàng.
    • Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn. Vì chúng có ảnh hưởng rất lớn tình trạng tài chính của ngân hàng.
    • Quản lý thường xuyên, chặt chẽ các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra, giám sát khi phát hiện những dấu hiệu xấu liên quan đến khoản vay.
    • Tăng cường công tác kiểm tra khoản tín dụng khi nền kinh tế có nhiều hướng đi xuống, hoặc những ngành nghề cho vay có biểu hiện nghiêm trọng trong phát triển.

    Tóm lại, để có thể kiểm soát được rủi ro tín dụng, thì chức năng cho vay của ngân hàng phải được thực hiện một cách chặt chẽ nhằm tuân thủ chính sách và thực hành tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra, để kiểm soát rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường xây dựng một “chính sách tín dụng” và “quy trình nghiệp vụ cấp tín dụng”.

    • Yếu tố 3: Xử lý tín dụng: Khi một khoản tín dụng trở nên có vấn đề, thì cần đến sự xử lý nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải tìm ra được nguyên nhân của tín dụng có vấn đề và hợp tác cùng khách hàng để tìm ra giải pháp để ngân hàng thu hồi vốn.

    Các chuyên gia đưa ra các giải pháp thu hồi những khoản tín dụng có vấn đề như sau:

    • Tận dụng tối đa các cơ hội để thu hồi nợ.
    • Khẩn trương khám phá và báo cáo kịp thời vấn đề thực chất liên quan đến tín dụng.
    • Tách chức năng cho vay và xử lý tín dụng ra riêng biệt nhằm tránh xung đột có thể xảy ra với quan điểm của CBTD trực tiếp cho vay.
    • Dự tính những nguồn có thể dùng để thu hồi nợ có vấn đề.
    • Cần xem trọng chất lượng, năng lực và sự nhất quán trong quản lý, đồng thời trực tiếp tiến hành khảo sát các hoạt động và các tài sản của doanh nghiệp.
    • Phải cân nhắc mọi phương án có thể hoàn thành việc thu hồi nợ có vấn đề, bao gồm cả việc thỏa thuận gia hạn tạm thời nếu khách hàng chỉ gặp khó khăn trước mắt. Các khả năng khác là có thể bổ sung tài sản đảm bảo, yêu cầu có bảo lãnh của bên thứ ba…

     

     

     

    Kết luận chương 1

     

    Rủi ro tín dụng trong ngân hàng có tính tất yếu khách quan, không thể tránh khỏi. Vì thế, các ngân hàng chỉ có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế rủi ro tín dụng ở một mức thấp nhất có thể chấp nhận được. Cơ sở lý thuyết trong chương 1 đã khái quát các vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng cũng như đề cập đến các mô hình và biện pháp đảm bảo giảm thiểu rủi ro tín dụng, làm cơ sở cho các chương tiếp theo.

     

     

     

    2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    Tiền thân của ngân hàng TMCP Nam Việt là ngân hàng TMCP nông thôn Kiên Giang thuộc tỉnh Kiên Giang, thành lập năm 1995 với vốn điều lệ là 3 tỷ đồng. Với điểm xuất phát là ngân hàng thương mại nông thôn nên hoạt động chính của ngân hàng tập trung chủ yếu với tín dụng nông nghiệp dành cho các khách hàng là nông gia trên toàn tỉnh Kiên Giang.

    Đến năm 2004, vốn điều lệ chỉ còn 1.5 tỷ, nợ quá hạn ngày càng lớn, ngân hàng có nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc biệt.

    Sau đó các doanh nghiệp lớn như tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty cổ phần liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo, Công ty cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc … tham gia đầu tư. Đến năm 2005, ngân hàng mới khôi phục và bắt đầu có lãi. Năm 2006, được sự chấp thuận của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, ngân hàng đã chuyển đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng TMCP nông thôn thành ngân hàng TMCP đô thị.

    Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt
    Tên giao dịch quốc tế: Nam Viet Commercial Joint Stock Bank
    Tên gọi tắt: NAVIBANK
    Hội sở: 343 Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38 216 216
    Fax: (08) 39 142 738
    Website: www.navibank.com.vn
    Email: [email protected]

    Được thành lập từ năm 1995, trải qua hơn 14 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính – tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định cả về quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh doanh. Hiện nay vốn điều lệ của Navibank là 2000 tỷ đồng. Trong môi trường cạnh tranh như hiện nay, để đón đầu xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Navibank xác định mũi nhọn chiến lược là nâng cao năng lực kinh doanh của mình thông qua năng lực tài chính, công nghệ thông tin và thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro. Bên cạnh đó, việc tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin vào việc nâng cao tính tiện ích cho các sản phẩm dịch vụ tài chính của ngân hàng cũng được quan tâm một cách đặc biệt.

    Sự phát triển ổn định và bền vững của một tổ chức chỉ có thể có được nếu tổ chức đó tạo dựng được uy tín và lòng tin đối với công chúng. Ý thức được điều này, toàn bộ các mảng hoạt động nghiệp vụ của Navibank đều được chuẩn hóa trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế thông qua việc triển khai vận dụng Hệ thống quản trị ngân hàng cốt lõi (core banking) Microbank. Với hệ thống này, Navibank sẵn sàng cung cấp cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ chính xác, an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Navibank tự hào là điểm tựa tài chính vững chắc để hỗ trợ quý khách hàng của mình đạt được những thành công ngày càng rực rỡ hơn trong cuộc sống.

    2.1.2. Lĩnh vực kinh doanh:

    Huy động vốn của các tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, dưới mọi hình thức, tiếp nhận nguồn vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, vay vốn của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) và các tổ chức tín dụng khác.

    • Cho vay các tổ chức và cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
    • Cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ dưới các hình thức cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ngân quỹ.
    • Thực hiện các hoạt động kinh doanh như góp vốn, mua cổ phần, liên doanh theo quy định của pháp luật, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng.

    2.1.3. Mục tiêu chiến lược của Navibank:

    Mục tiêu hoạt động của ngân hàng là nhằm mang lại lợi nhuận cho các cổ đông, tạo ra việc làm ổn định cho người lao động, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước, thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Navibank định hướng trở thành một trong những ngân hàng thương mại bán lẻ hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng với sản phẩm đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến.

    2.1.4. Phương thức hoạt động:

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính đang diễn ra mạnh mẽ, Navibank hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại – đa năng, tăng cường công tác quản lý rủi ro nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về hệ số an toàn tín dụng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh. Những năm vừa qua, Navibank đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động đi đôi với việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Với sức mạnh nội lực được tích tụ và phát triển qua nhiều năm hoạt động cùng tinh thần quyết tâm của tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên, chúng tôi tự tin có thể vượt qua mọi thách thức để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam.

    Navibank chú trọng đẩy mạnh công tác huy động vốn với nhiều hình thức phong phú, chủ yếu huy động vốn trung dài hạn trong dân cư để tạo nguồn cho vay, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế trên phạm vi cả nước.

    Navibank hướng đến phát triển bền vững và nhanh chóng mạng lưới hoạt động tại các tỉnh thành lớn trong cả nước, mục tiêu chiếm lĩnh thị phần tại 3 địa bàn trọng điểm như TP.Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh và TP.Đà Nẵng.

    Navibank tập trung phát triển sản phẩm thẻ (ATM và thẻ thanh toán) thông qua việc nghiên cứu gia tăng những tiện ích của thẻ như thanh toán, chuyển khoản và các giao dịch tiện ích khác,…nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

    Navibank sẽ tăng cường tìm kiếm và thu hút các cổ đông lớn chiến lược là các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư lớn, tiềm lực tài chính mạnh, đủ sức nâng vốn điều lệ ngân hàng.

    Navibank luôn quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, kỳ vọng của mỗi đối tượng khách hàng để đưa ra các giải pháp chăm sóc hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng cho phép của mình.

    2.1.5. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Navibank:

    2.1.5.1. Sơ đồ tổ chức:

    Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của NAVIBANK

    2.1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

    • Phòng quan hệ khách hàng: có chức năng thiết lập, khai thác và phát triển quan hệ toàn diện với nhóm khách hàng tương ứng để cung ứng tất cả các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.
    • Phòng quan hệ định chế tài chính và kinh doanh tiền tệ: có chức năng thiết lập, khai thác và phát triển quan hệ toàn diện với các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng trong và ngoài nước.
    • Phòng kế hoạch – tiếp thị:
      • Có chức năng hoạch định kế hoạch kinh doanh và xây dựng các chính sách tiếp thị kinh doanh cho ngân hàng.
      • Lập đội theo dõi, kiểm tra, báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
    • Phòng phân tích tín dụng – đầu tư:
    • Có chức năng phân tích, thẩm định dự án vay vốn, dự án đầu tư phục vụ công tác tín dụng, đầu tư của ngân hàng.
    • Phân tích, thẩm định, đánh giá hiệu quả khả năng sinh lời các dự án đầu tư, phương án kinh doanh.
    • Phòng tài chính – kế toán: có chức năng thực hiện công tác quản lý tài chính và công tác kế toán của ngân hàng.
    • Phòng quản lý rủi ro:
    • Có chức năng quản lý các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
    • Xây dựng cơ chế, chính sách, quy trình; thiết lập hệ thống các giới hạn, hạn mức, định mức, tỷ lệ… để quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
    • Nhận diện, phân tích, định lượng, đánh giá các rủi ro; giám sát việc tuân thủ các giới hạn, hạn mức để đảm bảo các rủi ro.
    • Phòng kiểm soát nội bộ: có chức năng thực hiện công tác kiểm soát nội bộ bao gồm giám sát hoạt động và kiểm tra trực tiếp các hoạt động của ngân hàng.
    • Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân: có chức năng xử lý các nghiệp vụ ngân hàng phát sinh trong quá trình cung cấp các dịch vụ cho ngân hàng dành cho nhóm khách hàng.
    • Phòng dịch vụ khách hàng tổ chức: có chức năng xử lý các nghiệp vụ ngân hàng phát sinh trong quá trình cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho 2 nhóm khách hàng là doanh nghiệp và định chế tài chính.

    2.1.6. Các sản phẩm và dịch vụ tín dụng cung cấp chính:

    2.1.6.1. Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình:

    • Cho vay mua xe ô tô
    • Cho vay mua bất động sản
    • Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà
    • Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh
    • Cho vay mua sắm máy móc thiết bị, đầu tư nhà xưởng
    • Cho vay trung hạn bổ sung vốn sản xuất kinh doanh
    • Cho vay tiêu dùng
    • Cho vay du học
    • Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi
    • Cho vay mua xe gắn máy trả góp

    2.1.6.2. Sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp:

    • Cho vay bổ sung vốn lưu động
    • Tài trợ nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu
    • Tài trợ sản xuất, gia công hàng xuất khẩu
    • Cho vay đầu tư tài sản cố định
    • Cho vay thực hiện dự án nhà ở, đất ở
    • Gói sản phẩm tín dụng dành cho doanh nghiệp kinh doanh xe ô tô
    • Cho vay đầu tư xe ô tô đối với các doanh nghiệp vận tải

    2.1.7. Tác động của suy thoái kinh tế đối với Navibank:

    Năm 2008 kết thúc với nhiều biến động phức tạp, khó lường và được đánh giá là một năm đặc biệt khó khăn đối với kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng. Xuất phát từ những bất ổn của thị trường nhà ở và hoạt động cho vay dưới chuẩn, hàng loạt các ngân hàng và các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và phá sản. Khủng hoảng tài chính bắt đầu tại Hoa Kỳ, lan rộng sang khu vực Châu Âu rồi ảnh hưởng đến toàn thế giới.

    Việt Nam tuy chưa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới nhưng thị trường trong nước vẫn bị sức ép khá lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính thể hiện qua việc sụt giảm nghiêm trọng kim ngạch xuất nhập khẩu, việc giải ngân dòng vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, cán cân thanh toán mất cân đối nghiêm trọng, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, thị trường bất động sản và chứng khoán đóng băng… Trong bối cảnh đó, Chính phủ mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có các giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, kiểm soát thị trường tài chính trong nước như gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, quy định lãi suất trần, buộc các ngân hàng thương mại mua tín phiếu bắt buộc… Tất cả những chính sách này đã đặt các ngân hàng thương mại trong nước vào tình thế hết sức khó khăn khi phải tham gia cuộc đua lãi suất để đảm bảo khả năng thanh khoản, lại vừa phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng nợ xấu do khách hàng mất khả năng thanh toán…

    Trong tình hình đó, việc thực hiện kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng TMCP Nam Việt đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những khó khăn chung của nền kinh tế. Thật vậy, trong năm 2008, Ngân hàng TMCP Nam Việt đã phải tạm gác mục tiêu tăng trưởng nhanh để tập trung cho nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là vượt qua khủng hoảng, duy trì sự ổn định và an toàn trong hoạt động.

    Đến năm 2009, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đáng kể đến tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ngoài ra, với việc không hoàn thành kế hoạch tăng vốn như dự kiến từ 1000 tỷ lên 2000 tỷ cũng đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông năm 2008 thông qua.

    Tuy kết quả thực hiện còn khá khiêm tốn nhưng qua kết quả kinh doanh đạt được cho thấy Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban điều hành và toàn bộ cán bộ công nhân viên đã cố gắng nỗ lực rất lớn. Thành công lớn nhất của ngân hàng trong năm 2009 là đã vượt qua khủng hoảng để có thể tiếp tục phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

    Ngoài ra, trong năm 2009 Ngân hàng đã hoàn tất việc điều chỉnh mạng lưới trên cơ sở nâng cấp 7 phòng giao dịch thành 7 chi nhánh mới và đưa vào hoạt động tại các địa bàn Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Đồng Nai, Bà rịa Vũng tàu, Đồng Nai, Long An và Bắc Ninh; nâng mạng lưới điểm giao dịch đạt 80 điểm gồm 1 Hội sở chính, 12 chi nhánh và 67 Phòng giao dịch.

    2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.2.1. Hoạt động huy động vốn:

    Trong giai đoạn 2007 – 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các TCTD trong nước gây ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của NHTM nói chung và ngân hàng Nam Việt nói riêng. Trước biến động về giá huy động vốn trên thị trường, ngân hàng TMCP Nam Việt đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay – huy động, cải thiện quản trị thanh khoản dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới. Các biện pháp chủ động và linh hoạt trong điều khiển lãi suất đối với cá nhân, doanh nghiệp để góp phần giảm thiểu tác động thị trường lên công tác huy động vốn, nâng cao hệ số sử dụng vốn, chất lượng quản trị vốn và sau cùng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    Trong 3 năm trở lại đây, Navibank đã cố gắng rất nhiều để vượt qua khủng hoảng, điều đó được thể hiện qua tình hình biến động nguồn vốn trong 3 năm 2007, 2008, 2009

    Biểu đồ 2.1: Biến động nguồn vốn của Navibank

    Bảng 2.1: Bảng tình hình huy động vốn của Navibank

    (ĐVT:  triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Giá trị Tỉ trọng (%) Giá trị Tỉ trọng (%) Giá trị Tỉ trọng (%)
    I. Vốn huy động 9.025.692 91% 9.424.071 88% 15.455.619 91%
    1. Tiền gửi của kho bạc nhà nước và TCTD khác 2.885.557 29% 3.402.210 32% 5.685.312 34%
    2. Vay của NHNN – TCTD khác 0 0% 0 0% 140.580 1%
    3. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế dân cư 6.140.135 62% 6.021.861 56% 9.629.727 57%
    II. Vốn khác 298.337 3% 254.810 2% 277.697 2%
    III. Vốn chủ sở hữu 579.028 6% 1.076.158 10% 1.166.039 7%
    Tổng nguồn vốn 9.903.057 100% 10.755.039 100% 16.899.355 100%

    (Nguồn: Bảng cân đối kế toán của Navibank giai đoạn 2007-2009)

    Nhìn chung nguồn vốn của ngân hàng liên tục tăng qua các năm, cụ thể: năm 2007 tổng nguồn vốn là 9.903.057 triệu đồng thì sang năm 2008 là 10.755.039 triệu đồng, với tốc độ phát triển là 110% (tăng 10%) so với năm 2007. Sang năm 2009 tổng nguồn vốn là 16.899.355 triệu đồng; gấp 1.57 lần so với năm 2008. Điều này đã khẳng định được nỗ lực của ngân hàng trong hoạt động huy động vốn, vượt qua những khó khăn, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới tác động đến Việt Nam.

    Tuy nhiên nguồn vốn huy động của ngân hàng đa phần là nguồn vốn có kỳ hạn, chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Tỷ trọng nguồn vốn trung dài hạn trên tổng nguồn vốn huy động thấp sẽ gây khó khăn cho việc mở rộng hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng. Trong tương lai, Navibank cần có nhiều phương thức hiệu quả hơn nữa để tăng khả năng thu hút nguồn vốn này trong dân cư.

    2.2.2.  Hoạt động cho vay:

    Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng. Sự chuyển hoá từ vốn tiền gửi sang vốn tín dụng để bổ sung vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế. Vì thông qua cho vay mà tạo ra nguồn thu nhập để từ đó bồi hoàn lại tiền gửi của khách hàng, bù đắp chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên hoạt động cho vay mang lại rủi ro lớn, vì vậy ngân hàng cần phải quản lý các khoản nợ một cách chặt chẽ mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro.

    Bảng 2.2: Kết quả hoạt động tín dụng của Navibank

    (ĐVT: triệu đồng)

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm So sánh
     

     

     

    2007

     

     

     

    2008

     

     

     

    2009

    2008/2007 2009/2008
    Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%)  

     

    Mức tăng giảm

    Tỷ lệ tăng giảm (%)
    1. Cho vay các tổ chức kinh tế cá nhân trong nước 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.5 4.485.048 81.9
    2. Dự phòng khoản phải thu khó đòi (6.095) (21.942) (95.404) (15.847) 260 (73.462) 334.8
    Tổng doanh số cho vay 4.357.251 5.452.617 9.864.203 1.095.366 25.1 4.411.586 80.9

    (Nguồn: Kết quả hoạt động tín dụng của Navibank giai đoạn 2007-2009)

    Doanh số cho vay tăng qua các năm, đặc biệt tăng cao vào năm 2009, cụ thể như sau:

    Doanh số cho vay năm 2007 là 4.357.251 triệu đồng. Doanh số cho vay năm 2008 là 5.452.617 triệu đồng; tăng 1.095.366 triệu đồng tức là tăng 25.1% so với năm 2008. Doanh số cho vay năm 2009 là 9.864.203 triệu đồng; tăng 4.411.586 triệu đồng tức là tăng 80.9%.

    Ngân hàng chủ yếu tập trung cho vay các tổ chức kinh tế, dân cư. Hoạt động cho vay của ngân hàng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tuy không đáng kể so với các ngân hàng đã có một quá trình phát triển lâu dài như Vietcombank, ACB… Tính đến nay, ngân hàng Nam Việt đã có những cải tiến tích cực cơ cấu tín dụng, nâng cao tỷ lệ cho vay trung và dài hạn, mạnh dạn hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhiều hình thức tín dụng cho vay khá phong phú.

    2.2.3. Hiệu quả kinh doanh:

    Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Nó cũng như những doanh nghiệp sản xuất khác, luôn có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. Lợi nhuận là yếu tố then chốt, nói lên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó là hiệu số giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Để gia tăng lợi nhuận, ngân hàng phải quản lý tốt các khoản mục tài sản có, nhất là các khoản mục cho vay và đầu tư, giảm thiểu các chi phí, trong đó tập trung quản lý chặt chẽ việc chi tiêu, mua sắm trang thiết bị, công tác phí… đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả.

    Navibank luôn chú trọng phát triển mở rộng một cách toàn diện tất cả các lĩnh vực hoạt động ngân hàng đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với từng lĩnh vực. Vì vậy Navibank đã đạt được những kết quả kinh doanh khá tốt và ổn định, ngay cả năm 2008 là năm có nhiều khó khăn đối với hoạt động kinh doanh.

    Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Navibank

    (Đơn vị: triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng thu 564.272 1.287.527 1.647.888
    Thu từ lãi 421.670 1.259.711 1.487.375
    Thu ngoài lãi 142.602 27.816 160.513
    Tổng chi 461.236 1.213.487 1.458.071
    Chi trả lãi 345.390 986.607 1.126.619
    Chi ngoài lãi 110.519 210.363 249.897
    Chi dự phòng 5.327 16.517 81.555
    Thu nhập ròng 103.036 74.040 189.817

     (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Navibank)

    Biểu đồ 2.2: Kết quả kinh doanh của Navibank qua các năm

    Qua bảng số liệu và biểu đồ, ta thấy kết quả kinh doanh của Navibank biến động qua các năm, cụ thể năm 2008 là 74.040 triệu đồng giảm 28.996 triệu đồng (-28.14%) so với năm 2007. Nguyên nhân do lãi suất huy động – cho vay trên thị trường biến động theo chiều hướng bất lợi kết hợp với tình hình nợ quá hạn, nợ xấu tăng nhanh làm ảnh hưởng đến doanh thu của Ngân hàng. Phần lớn lợi nhuận có được từ hoạt động đầu tư và góp vốn.

    Năm 2009 lợi nhuận trước thuế là 189.817 triệu đồng, tăng 115.778 triệu đồng (156.37%) so với năm 2008. Tuy kết quả đạt được còn khá khiêm tốn nhưng qua kết quả kinh doanh đạt được cho thấy HĐQT, Ban điều hành và toàn bộ cán bộ công nhân viên đã cố gắng nỗ lực rất lớn vượt qua ảnh hưởng khủng hoảng tài chính quốc tế để có thể tiếp tục phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.

    2.3. THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG:

    Rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn. Biểu hiện lớn nhất của rủi ro tín dụng là tỉ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao. Quy định hiện nay của NHNN là dư nợ quá hạn không được vượt quá 5% trên tổng dư nợ, khi tỷ lệ này trên 5% thì được coi là đáng báo động.

    Do đó, để đánh giá rủi ro tín dụng, người ta thường đánh giá qua hệ số:

    Hệ số nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) x 100% < 5%

    Hệ số rủi ro tín dụng = Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có

    Thường thì hệ số này càng cao thì lợi nhuận sẽ càng lớn đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao.

    2.3.1. Tình hình dư nợ:

     

    Bảng 2.4: Tình hình dư nợ tín dụng của Navibank

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm So sánh
     

     

     

    2007

     

     

     

    2008

     

     

     

    2009

    2008/2007 2009/2008
    Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%) Mức tăng giảm Tỷ lệ tăng giảm (%)
    I. Theo thành phần kinh tế 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93
    1. Cá nhân 2.439.378 2.302.127 3.208.700 (137.251) (5.63) 906.573 39.38
    2. Tổ chức kinh tế 1.924.068 3.172.432 6.750.907 1.248.364 64.88 3.578.475 112.80
    II. Theo thời hạn 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93
    1. Ngắn hạn 1.638.836 1.961.766 4.906.178 322.930 19.70 2.944.412 150.09
    2. Trung và dài hạn 2.724.610 3.512.793 5.053.429 788.183 28.93 1.540.636 43.86
    Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.559 9.959.607 1.111.113 25.46 4.485.048 81.93

    (Nguồn: Báo cáo tổng kết 2007, 2008, 2009  của Navibank)

    Biểu đồ2.3: Tình hình dư nợ tín dụng

    Trên cơ sở nhận định mức độ rủi ro của thị trường, Ngân hàng đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát tăng trưởng và luôn có sự điều chỉnh về chính sách tín dụng cho phù hợp với những diễn biến của thị trường, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng. Cụ thể:

    • Dư nợ tín dụng của toàn ngân hàng năm 2008 đạt 5.474.559 triệu Đồng, tăng 1.111.113 triệu Đồng (tăng 25.46%) so với năm 2007. Dư nợ tín dụng tăng chủ yếu từ khách hàng tổ chức kinh tế (tăng 1.248.364 triệu Đồng) và tập trung ở trung – dài hạn. Dư nợ cho vay trung – dài hạn chiếm 64.17% và cho vay khách hàng tổ chức kinh tế chiếm 57.95% tổng dư nợ.
    • Dư nợ tín dụng của toàn Ngân hàng năm 2009 đạt 9.959.607 triệu đồng, tăng 4.485.049 triệu đồng (tăng 81.93%) so với năm 2008 (tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với toàn nền kinh tế khoảng 38%). Thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ, Ngân hàng đã tích cực triển khai hiệu quả, an toàn và đúng quy định chương trình hỗ trợ lãi suất. Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của toàn Ngân hàng tính đến 31/12/2009 đạt 1.876.695 triệu đồng, trong đó cho vay ngắn hạn chiếm gần 80% và tập trung chủ yếu nhóm ngành công nghiệp chế biến, thủy sản, xây dựng và thương nghiệp.

    2.3.2. Tình hình chất lượng tín dụng:

    Sự tăng trưởng, mở rộng đầu tư tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong tương lai. Kinh nghiệm và thực tế cho thấy, sự tăng trưởng nóng tín dụng một giai đoạn nào đó, thường để lại hậu quả về tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong nhưng năm tiếp theo. Và Navibank dường như cũng không thoát ra được quy luật khắc nghiệt đó của thị trường. Trong giai đoạn 2007-2009 tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của Navibank luôn được duy trì ở mức thấp khoảng trên dưới 2%/tổng dư nợ; Tuy nhiên trong năm 2008, chất lượng tín dụng của Navibank giảm sút thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao.

    2.3.2.1. Nợ quá hạn:

    Bảng 2.5: Tình hình chất lượng tín dụng

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm
    2007 2008 2009
    Tổng tài sản có 9.903.074 10.905.278 18.689.952
    Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.559 9.959.607
    Các khoản nợ quá hạn 14.806 412.175 348.961
    – NQH dưới 181 ngày 9.172 302.200 154.315
    – NQH từ 181 đến 360 ngày 1.783 92.878 102.819
    – Nợ khó đòi 3.851 17.097 91.827
    Tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ 0.34% 7.53% 3.50%
    Hệ số rủi ro 0.44 0.50 0.53

    (Nguồn: báo cáo tài chính của Navibank)

    Năm 2007 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ duy trì ở mức 0.34%. Tuy nhiên, trong năm 2008 tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng tăng cao (7.53%) nguyên nhân là do nền kinh tế bị khủng hoảng, lạm phát cao xảy ra, Nhà Nước buộc phải tăng lãi suất cơ bản kéo theo sự gia tăng lãi suất cho vay của các NHTM. Lúc này, đối với những DN có tỷ lệ đòn cân nợ lớn, tiềm lực tài chính yếu sẽ dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ.

    Sang năm 2009, với sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ có tiến triển tốt, giảm từ 7.53% còn 3.5%. Đạt được kết quả này, ngoài những tác động thuận lợi từ môi trường vĩ mô và chính sách tín dụng của ngân hàng còn do những nguyên nhân sau:

    • Các khoản vay mới có chất lượng đáng kể, hiệu quả hoạt động của các đơn vị đi vay ngày càng tăng, môi trường kinh tế khả quan, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Nhờ vào khả năng cải tiến chất lượng hoạt động, tăng lợi nhuận kinh doanh qua các năm và chủ động trong việc trích lập dự phòng rủi ro nên quỹ dự phòng rủi ro đã là một công cụ đắc lực trong việc xử lý nợ tồn đọng của ngân hàng.
    • Trong cho vay, ngân hàng luôn tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của NHNN.

    2.3.2.2. Phân loại nợ:

    Kết quả phân loại nợ trong thời gian gần đây cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng TMCP Nam Việt đang giảm sút, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng ngày càng tăng cao, đặc biệt nợ xấu đã xuất hiện ở những Chi nhánh trước đây vẫn được đánh giá có chất lượng đảm bảo. Điều này thể hiện những hạn chế, bất cập về công tác quản trị rủi ro tín dụng, đòi hỏi phải được tổ chức nghiên cứu, tổng hợp các nguyên nhân để kịp thời rút kinh nghiệm và phòng tránh, giảm thiểu nợ xấu trong tương lai.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bảng 2.6: Tình hình phân loại nợ vay của Navibank

    (ĐVT: Triệu đồng)

     

    Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    1. Tổng dư nợ 4.363.446 5.474.558 9.959.607
    – Nợ đủ tiêu chuẩn 4.348.640 5.062.383 9.610.646
    – Nợ cần chú ý 7.703 253.102 104.725
    – Nợ dưới tiêu chuẩn 1.468 49.097 49.590
    – Nợ nghi ngờ 1.782 92.878 102.819
    – Nợ có khả năng mất vốn 385 17.097 91.826
    2. Tổng nợ xấu 3.635 159.072 244.235
    3. Tỷ lệ nợ xấu 0.08% 2.91% 2.45%

    (Nguồn: báo cáo tài chính của Navibank)

    Năm 2008, số dư nợ xấu (nợ phân loại các nhóm 3, 4, 5 theo Quyết định 493/2005/QĐ–NHNN và Quyết định 18/2008/ QĐ–NHNN) của toàn Ngân hàng là 159.072 triệu Đồng, tăng 151.971 triệu Đồng (21.39 lần) so với đầu năm và chiếm 2.91% tổng dư nợ.

    Năm 2009, số dư nợ xấu (nợ phân loại các nhóm 3, 4 và 5 theo quy định của NHNN) của toàn Ngân hàng là 244.236 triệu Đồng, chiếm 2,45% tổng dư nợ nhỏ hơn tỷ lệ quy định của Ngân hàng Nhà nước (3%).

    Qua số liệu trên có thể thấy tỷ lệ nợ xấu đã tăng mạnh trong năm 2008, trong năm 2009 tỷ lệ nợ xấu có giảm nhưng không nhiều. Thực tế đó đã phản ánh mô hình, chính sách quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Nam Việt chưa thực sự hiệu quả, cùng với sự khủng hoảng kinh tế trong năm 2008, cũng như chất lượng CBTD chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển là những nhân tố chính gây nên sự giảm sút chất lượng tín dụng. Đây là thách thức thật sự trong công tác quản trị rủi ro tín dụng và yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng là một đòi hỏi cấp bách, thiết thực để đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững đối với ngân hàng Nam Viêt.

    2.3.3. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Navibank:

    2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan:

    Môi trường kinh doanh bất ổn do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh…) hay sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới (khủng hoảng kinh tế, lạm phát, giá cả các mặt hàng thay đổi đột biến) gây tổn thất cho khách hàng vay vốn.

    Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý chưa hoàn chỉnh gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.

    Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên việc triển khai vào hoạt động ngân hàng còn gặp phải nhiều khó khăn như một số văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong những trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để tòa án xử lý qua con đường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.

    Hệ thống thông tin quản lý (CIC) còn nhiều bất cập:  Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơn điệu, không kịp thời, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cung cấp thông tin. Thông tin CIC chỉ dừng lại ở mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, chưa có thông tin phi tài chính, khả năng điều hành lãnh đạo của doanh nghiệp, cá nhân. Các thông tin về các cá nhân, doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng với các TCTD thì hoàn toàn không có cập nhật.

    2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan:

    2.3.3.2.1. Về phía khách hàng:

    • Đối với khách hàng doanh nghiệp:
    • Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:  Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
    • Hoạt động kinh doanh không được quản lý tốt dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng, thiếu thông tin tài chính, không có kế hoạch kinh doanh được triển khai, các sản phẩm không có sự gắn kết, không có khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường, năng lực tài chính yếu, năng lực quản lý kinh doanh hạn chế. Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
    • Các báo cáo tài chính (BCTC) do khách hàng cung cấp không tuân thủ các chế độ hạch toán kế toán Việt Nam, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất, dễ xảy ra gian lận, thiếu sót. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
    • Khách hàng không có thiện chí trả nợ mặc dù hoạt động kinh doanh có hiệu quả, làm mất uy tín trong kinh doanh. Việc xác định uy tín của khách hàng rất quan trọng và rất khó để thực hiện. Điều này đòi hỏi CBTD phải có đủ năng lực, kinh nghiệm để xác định.
    • Đối với khách hàng cá nhân:
    • Hoạt động kinh doanh không thuận lợi.
    • Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động.
    • Cá nhân khách hàng gặp nhiều chuyện bất thường trong cuộc sống, vì vậy họ phải sử dụng một số tiền lớn nên ảnh hưởng khả năng hoàn trả cho ngân hàng.
    • Đạo đức cá nhân không tốt: Cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay không đúng mục đích.

    2.3.3.2.2. Về phía ngân hàng:

    Đứng trên góc độ NH nhìn nhận một cách đúng đắn về nguyên nhân tự thân NH gây ra nợ quá hạn là thực sự cần thiết và đây cũng là điều kiện tiên quyết để Navibank đưa ra những giải pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng. Theo thống kê tổng hợp, nhìn chung Ngân hàng chưa có quy trình quản trị rủi ro cụ thể, nợ quá hạn tại NH tồn tại chủ yếu do những nguyên nhân sau:

    • Áp lực công việc cường độ cao: Quy mô hoạt động của Navibank còn hạn chế. CBTD phải đảm nhiệm toàn bộ quy trình cho vay bao gồm: thẩm định dự án, bám sát khách hàng, quản lý theo dõi các khoản nợ thế chấp… ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của CBTD.
    • Quy trình thẩm định thiếu thông tin, thiếu các chuẩn mực so sánh để đưa ra kết luận. Do không xác định được quy mô kinh doanh thực sự của khách hàng, khả năng cạnh tranh của khách hàng đối với ngành nghề mà khách hàng đang kinh doanh, không xác định được nguồn thu khách hàng từ đâu và về đâu để có thể đưa ra một mức cho vay và cách thức giám sát hợp lý. Mặc khác, uy tín khách hàng là yếu tố quan trọng gắn liền với thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng, thường bị lãng quên trong quá trình thẩm định ban đầu.
    • Nguồn cung cấp thông tin: Rất khó kiểm chứng được toàn bộ những thông tin mà khách hàng cung cấp. NH vẫn chưa có sự liên thông với các cơ quan khác như thuế, hải quan… để kiểm chứng những thông tin tài chính do khách hàng cung cấp. Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý. Đáng tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời.
    • Năng lực thẩm định của cán bộ còn nhiều hạn chế Các ngành nghề của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng: Đa phần các CBTD không thể có đầy đủ thông tin cũng như hiểu biết về các ngành nghề lĩnh vực mà doanh nghiệp đang đầu tư kinh doanh. một số dự án đầu tư không được thẩm định chính xác về năng lực vốn, nguồn lao động tại khu vực triển khai dự án, năng lực của chủ doanh nghiệp nên khi dự án hoàn thành không thể đi vào hoạt động, không thể trả nợ vay ngân hàng
    • Quá trình kiểm tra, giám sát sau khi cho vay của ngân hàng còn nhiều sơ hở, sai sót nên không thể giám sát được việc sử dụng vốn vay của khách hàng cũng như không kịp thời thu hồi được tiền hàng để thu nợ. Do sự kiểm soát quá lỏng lẻo nên mặc dù một số phương án vay có hiệu quả, tiền bán hàng đã được trả nhưng khách hàng không trả nợ cho ngân hàng mà sử dụng số tiền đó vào những mục đích khác không hiệu quả và bị tổn thất.

    2.4. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NAM VIỆT:

    2.4.1. Bộ máy tổ chức cấp tín dụng:

    Tham gia trực tiếp vào hoạt động cấp tín dụng có các phòng nghiệp vụ tại Hội sở chính, Các chi nhánh (Quan hệ khách hàng, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, dịch vụ khách hàng) và các Phòng Giao dịch. Trong đó, Tổng giám đốc uỷ quyền cho cấp tín dụng thường xuyên đối với Giám đốc quan hệ khách hàng, Trưởng phòng quan hệ khách hàng, Trưởng phòng giao dịch với hạn mức và nội dung uỷ quyền phù hợp với quy định uỷ quyền quyết định tín dụng  số 167/2006/QĐ-TGĐ.

    Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng của ngân hàng TMCP Nam Việt có trình độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, tốt nghiệp các chuyên ngành kinh tế – tài chính – ngân hàng. Tuy nhiên đa số cán bộ còn trẻ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều. Nguyên nhân là do, hoạt động tín dụng tăng cao mà chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về nguồn nhân lực, mặt khác do cơ chế đãi ngộ chưa thỏa đáng dẫn đến hiện tượng một số cán bộ có năng lực và kinh nghiệm chuyển qua các TCTD khác.

    2.4.2. Quy trình cho vay:

    2.4.2.1. Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng:

    Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng của ngân hàng (Hội sở, Sở giao dịch, chi nhánh) được tổ chức thành 4 khối cơ bản của quy trình cho vay. Tuỳ theo quy mô hoạt động của ngân hàng và tính chất của loại hình cho vay, một bộ phận có thể đảm nhiệm một hoặc một số khâu của quy trình cho vay.

    Quan hệ

     

    khách hàng

    Phân tích tín dụng Quyết định

     

    tín dụng

    Dịch vụ

     

    khách hàng

           
    • Khối quan hệ khách hàng: thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ toàn diện với khách hàng để cung cấp sản phẩm tín dụng và các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng cho khách hàng; chịu trách nhiệm lập tờ trình thẩm định tín dụng trình (hoặc chuyển Khối phân tích tín dụng thẩm định trước khi trình) cấp quyết định tín dụng.
    • Khối phân tích tín dụng: tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng từ Khối quan hệ khách hàng, thực hiện phân tích, thẩm định một cách độc lập để đưa ra các nhận xét đánh giá và ý kiến đề xuất cho vay hoặc không cho vay.
    • Khối quyết định tín dụng: Là cấp ra quyết định cuối cùng về việc cho vay hay không cho vay trong thẩm quyền quyết định tín dụng của mình. Hội đồng quản trị uỷ quyền quyết định tín dụng cho Hội đồng tín dụng và Tổng giám đốc. Tổng giám đốc uỷ quyền quyết định tín dụng cho các cấp trong ngân hàng theo quy định về uỷ quyền quyết định tín dụng do Tổng giám đốc ban hành.
      • Khối dịch vụ khách hàng: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn đã được cấp có thẩm qyền của Khối quyết định tín dụng phê duyệt cho vay, thực hiện công tác quản lý tiền vay như: ký hợp đồng, giải ngân, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn, chuyển nợ quá hạn, thu nợ, lãi, phí…

    2.4.2.2. Quy trình cho vay cụ thể:

    Bước 1: Tiếp thị khách hàng vay vốn

    • Nhân viên quan hệ khách hàng (NVQHKH) chủ động tiếp thị khách hàng, tìm hiểu nhu cầu tín dụng của khách hàng, xem xét có phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng hay không để chào bán sản phẩm tín dụng thích hợp.
    • Lập báo cáo tiếp thị

    Bước 2: Tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn khách hàng thủ tục vay vốn

    • Khi khách hàng có nhu cầu đề nghị ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín dụng, NVQHKH trao đổi, xác định nội dung: tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng, phương thức hoạt động; mục đích vay vốn…
    • Đề xuất cấp tín dụng cho khách hàng có phù hợp không
    • Nếu phù hợp, hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ
    • Trình cấp trưởng phòng

    Bước 3: Thẩm định hồ sơ tín dụng

    • Nội dung thẩm định: Năng lực khách hàng, khả năng tài chính, tình hình sản xuất và bán hàng
    • Phân tích về tài chính khách hàng
    • Phân tích thẩm đinh dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh
    • Đánh giá quan hệ khách hàng với ngân hàng và các TCTD khác
    • Đánh giá lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt: ước tính số tiền lãi, phí có thể thu.
    • Phân tích, thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay

    Bước 4: Quyết định tín dụng

    Sau khi nhận được tờ trình thẩm định cùng với toàn bộ hồ sơ vay vốn do cấp trưởng phòng trình, cấp có thẩm quyền quyết định kiểm tra lại các thông tin tại tờ trình, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của khoản vay, ra quyết định.

    Bước 5: Hoàn thiện các thủ tục trước khi giải ngân

    • Thông báo khách hàng hoàn tất, bổ sung các hồ sơ.
    • Lập hợp đồng tín dụng
    • Lập hợp đồng bảo đảm tiền vay
    • Công chứng hợp đồng bảo đảm tiền vay
    • Đăng ký giao dịch đảm bảo
    • Nhận hồ sơ TSĐB, nhập kho TSĐB
    • Nhập tài khoản ngoại bảng

    Bước 6: Lập và chuyển hồ sơ giải ngân

    • Nhân viên quản lý tín dụng (NVQLTD) có trách nhiệm: lập khế ước nhận nợ, kiểm tra sự phù hợp giữa các chứng từ rút vốn vay và các điều kiện cho vay
    • Sau khi lập hồ sơ giải ngân, (NVQLTD) chuyển hồ sơ giải ngân cho phòng giao dịch để thực hiện giải ngân và hạch toán.

    Bước 7: Theo dõi và kiểm tra sau khi giải ngân

    • Theo dõi tiền vay
    • Kiểm tra sau cho vay: trong vòng 10 ngày làm việc sau khi cho vay, phải tiến hành kiểm tra việc sử sụng vốn.

    Bước 8: Thu nợ gốc, lãi và phí khoản vay

    NVQLTD có trách nhiệm theo dõi và thống kê các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, phí phải trả của các khoản nợ vay, bảo lãnh vay vốn, chuẩn bị và thông báo trả nợ đến khách hàng vay vốn trước ngày đến hạn phải trả ít nhất 5 ngày.

    Bước 9: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ

    Trường hợp khách hàng không trả được nợ đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng NVQLTD lập tờ trình cấp trưởng phòng.

    Bước 10: Xử lý TSĐB để thu nợ

    • Trường hợp khách hàng không trả được nợ vay đúng hạn và không được ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, NVQLTD phải:
    • Xem xét lại hồ sơ tín dụng, hồ sơ đảm bảo tiền vay để bổ sung những điểm còn thiếu về mặt pháp lý
    • Chuẩn bị hồ sơ để khởi kiện

    Bước 11: Thanh lý hợp đồng

    Khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản thanh lý hợp đồng.

    2.4.3. Bảo đảm tiền vay

    Phương án kinh doanh khả thi, hiệu quả là tiêu chí quyết định trong việc xem xét cho vay. Tuy nhiên những rủi ro tín dụng rất đa dạng và có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người mà thẩm định tín dụng không thể lường hết được. Đồng thời việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay sẽ nâng cao tính chịu trách nhiệm và chia sẻ rủi ro của khách hàng với ngân hàng. Do đó Navibank cũng rất chú trọng tăng cường áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, đa dạng về hình thức: thế chấp, cầm cố tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay… Do đó tỷ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản có xu hướng gia tăng, góp phần vào giảm thiểu tổn thất khi rủi ro xảy ra.

    Tuy tỷ lệ TSĐB được nâng cao nhưng tính thanh khoản của các tài sản còn hạn chế nên khả năng thu hồi nợ sẽ thấp hơn. Một số tài sản không có giấy tờ về quyền sở hữu, một số tài sản khác là quyền đòi nợ mà khả năng kiểm soát nguồn thu rất khó khăn. Do đó, khi xử lý tài sản bảo đảm trên thực tế rất phức tạp, cả về mặt pháp lý cũng như khả năng chuyển nhượng tài sản, mất rất nhiều thời gian và công sức.

    2.4.4. Phòng ngừa, phát hiện và hạn chế rủi ro tín dụng:

    Kiểm tra và phát hiện các dấu hiệu rủi ro là công việc không chỉ của các cán bộ tham gia vào quy trình cấp tín dụng mà còn được quán triệt đến từng cán bộ của Navibank. Tuy nhiên chủ yếu do Phòng Quan hệ khách hàng thực hiện bởi đây là bộ phận trực tiếp làm việc với khách hàng, thu thập các thông tin, kiểm tra sử dụng vốn vay… nên có khả năng phát hiện kịp thời những biến động bất. Thực tế những năm qua cho thấy, công tác phát hiện rủi ro tín dụng  chỉ mang tính thụ động, chủ yếu là xử lý khi những dấu hiệu rủi ro đã xuất hiện (không trả được nợ đúng hạn, kinh doanh thua lỗ, kết quả phân loại nợ không tốt…), khả năng dự báo và phòng ngừa từ xa chưa tốt do sự hạn chế về trình độ, kinh nghiệm của CBTD; hệ thống thông tin thị trường và xử lý thông tin qua các phân tích, dự báo chưa tốt; công tác kiểm tra sử dụng vốn còn hời hợt, chủ yếu dựa vào báo cáo do khách hàng cung cấp, đặc biệt là các khách hàng ở xa…

    Để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra, Navibank cần có chủ trương yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm khi đầu tư dự án hoặc khi kinh doanh xuất nhập khẩu. Giải pháp này đã phát huy tác dụng đáng kể khi thiên tai xảy ra, vốn rất thường xuyên ở nước ta, vì có nguồn hỗ trợ để bù đắp các tổn thất vốn vay.

    2.4.5. Công tác xử lý nợ xấu:

    Định hướng chung của Navibank trong xử lý nợ xấu là thực hiện các giải pháp hợp lý trên cơ sở phân tích tình hình của từng khách hàng cụ thể như:

    • Đối với các khoản nợ xấu, ngân hàng thực hiện việc phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở hàng tháng để phục vụ cho công tác quản lý chất lượng và rủi ro tín dụng.
    • Đối với các khoản vay bằng nguồn vốn tài trợ, uỷ thác của bên thứ ba mà bên thứ ba cam kết chịu toàn bộ trách nhiệm xử lý rủi ro khi xảy ra và các khoản cho vay bằng nguồn vốn góp đồng tài trợ của TCTD khác mà ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro nào thì ngân hàng không phải trích lập dự phòng rủi ro nhưng phải phân loại nợ nhằm đánh giá đúng tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng phục vụ cho công tác quản lý rủi ro tín dụng.
    • Đối với các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay và chấp nhận thanh toán, Ngân hàng phải phân loại vào nợ nhóm 1 để quản lý, giám sát tình hình tài chính, khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách hàng và trích lập dự phòng chung.

    Tuy nhiên, chủ trương của Navibank là thực hiện thương lượng, phối hợp với khách hàng trong xử lý nợ xấu để quá trình triển khai được nhanh chóng và ít tốn thời gian. Đối với các khách hàng có thái độ thiếu hợp tác, thoái thác trách nhiệm trả nợ, thì kiên quyết thực hiện các biện pháp pháp lý, khởi kiện ra tòa để tăng cường khả năng thu hồi nợ.

    2.5. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    2.5.1. Đánh giá chung:

    Từ những kết quả đã đạt được ở trên ta thấy hoạt động cho vay của Navibank đã có những bước phát triển nhanh chóng. Dư nợ tín dụng liên tục tăng, số lượng khách hàng quan hệ ngày càng tăng. Măc dù trong năm 2008 tỷ lệ NQH trên tổng dư nợ tăng cao so với năm 2007. Nhưng sang năm 2009, tỉ lệ NQH trên tổng dư nợ cho vay giảm rõ rệt. Bên cạnh đó, Ngân hàng đã luôn duy trì một khoảng dự phòng để bù đắp rủi ro. Nhìn chung công tác quản trị rủi ro tín dụng (QTRRTD) của Navibank đã có những thay đổi rõ rệt so với trước đây, cụ thể là:

    • Đội ngũ lãnh đạo ngân hàng có khả năng quản lý và hoạch định chính sách tốt. Đội ngũ nhân viên đông đảo, còn trẻ cho nên rất năng động, nhanh nhạy, có khả năng tiếp thu cái mới.
    • Nhờ những biện pháp QTRRTD hiện đại trong năm 2009, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng tính theo tiêu chuẩn Việt Nam đã giảm. Xu hướng giảm nợ xấu là một cố găng lớn của Navibank trong việc nâng cao chất lượng tín dụng và ngăn ngừa nợ xấu.
    • Navibank đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng và đã tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và phát hiện rủi ro tín dụng. Navibank đã xây dựng một chính sách cho vay tương đối hợp lý, đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động thực tế, với các quy định chặt chẽ và tăng cường khả năng kiểm soát những nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, bảo đảm mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng.
    • Navibank đang kiên quyết thực hiện các giải pháp đồng bộ để giảm nợ xấu, thực hiện kiểm soát tín dụng chặt chẽ, chú trọng đến chất lượng hơn là tăng trưởng dư nợ.

    2.5.2. Hạn chế cần khắc phục:

    Mặc dù có những tiến bộ trong quản trị rủi ro tín dụng nhưng công tác này vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định về những quy định, mô hình quản trị rủi ro của Navibank cụ thể có một số hạn chế cơ bản sau:

    • Thiếu nguồn thông tin để phân tích tín dụng, thông tin trong nội bộ Ngân hàng còn đơn giản, chưa đầy đủ. Các thông tin về BCTC của doanh nghiệp chưa bị bắt buộc phải qua kiểm toán nên độ chính xác của các báo cáo chưa cao.
    • Về vấn đề bảo đảm tiền vay: Ngân hàng chỉ chấp nhận cho vay tín chấp với một số doanh nghiệp có uy tín, quan hệ tốt với ngân hàng và phương án kinh doanh xét thấy khả thi. Việc định giá tài sản đảm bảo còn chưa sát thị trường.
    • Các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản còn rất phức tạp, đặc biệt là các giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thẩm định và quản lý TSĐB. Khi công chứng giao dịch đảm bảo, các công chứng viên chỉ xác nhận hình thức của hợp đồng hoặc hành vi đại diện của các bên ký hợp đồng chứ không chứng nhận nội dung hợp đồng. Việc công chứng hồ sơ tốn rất nhiều thời gian, các công chứng viên thường gây khó dễ cho CBTD của ngân hàng.
    • Nhân viên tín dụng còn thiếu trình độ chuyên môn về các ngành nghề. Trình độ chuyên môn về tín dụng chưa đủ mà còn phải trang bị thêm kiến thức chuyên môn kỹ thuật nữa. Bên cạnh đó số lượng CBTD được phân bổ chủ yếu dựa trên số dư nợ cho vay của các phòng giao dịch, không phù hợp với thực tế. Đối với các phòng giao dịch có số dư nợ cao thu được từ hợp đồng tín dụng của một số khách hàng doanh nghiệp lớn, thì việc quản lý các khách hàng đó không cần yêu cầu nhiều CBTD tham gia. Tuy nhiên do có số dư nợ tín dụng cao nên số lượng CBTD nhiều hơn mức cần thiết đẫn đến việc thừa nhân viên. Còn đối với những phòng giao dịch mà khách hàng chủ yếu là cá nhân nhỏ lẻ vì thế số lượng khách hàng đông đúc, đòi hỏi nhiều CBTD cùng tham gia để chia ra quản lý nhưng do quy mô của dư nợ tín dụng không cao nên số lượng CBTD bị hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng một CBTD phải quản lý nhiều khách hàng nên không thể quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ tình hình các khoản vay của khách hàng.

    è Tóm lại, việc mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Navibank hiện nay là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Để làm được điều này, Ngân hàng cần tìm hiểu những đặc thù của từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, những vấn đề tồn tại trong hoạt động cấp tín dụng và quản lý RRTD khi cho vay và nguyên nhân của những tồn tại trên, từ đó có những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng và giảm bớt RRTD.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận chương 2

     

    Trongnhiều năm qua, Navibank luôn phần đấu để trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu của Việt Nam và đã có những thành công bước đầu khả quan. Tuy nhiên, trong năm 2008, chất lượng tín dụng của Navibank đang bị giảm sút, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao và có xu hướng tăng lên. Mặc dù trong năm 2009 tình hình có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực nhưng yêu cầu nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng vẫn là yêu cầu hết sức cấp bách và là một thách thức thực sự đối với ngân hàng TMCP Nam Việt trong nỗ lực tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả. Chương hai của khóa luận đã nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt, từ đó làm cơ sở khoa học thực tiễn cho các giải pháp, đề xuất ở chương ba.

     

    3.1. TRIỂN VỌNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NAVIBANK:

    3.1.1. Phân tích SWOT:

    • Những điểm mạnh :
    • Các cổ đông chiến lược có tiềm lực tài chính vững mạnh như Tập đoàn dệt may Việt Nam, Công ty CP Đại lý Liên hiệp Vận chuyển, Tập đoàn đầu tư Sài Gòn.
    • Đội ngũ cán bộ, nhân viên trẻ, năng động, được đào tạo chính quy, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới.
    • Mạng lưới giao dịch rộng khắp, có 80 điểm giao dịch (kế hoạch cuối năm 2010 đạt 100 điểm giao dịch) tập trung tại 24 tỉnh/thành phố lớn trên cả nước, tạo thuận lợi cho khách hàng khi đến giao dịch.
    • Có điều kiện để phát triển khách hàng trong các khu công nghiệp do các cổ đông của Ngân hàng làm chủ đầu tư.
    • Những điểm yếu :
    • Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chưa được đầu tư đúng mức, chưa phù hợp với quy mô hoạt động của ngân hàng.
    • Chưa có chính sách giá độc lập mà chủ yếu dựa vào sự điều chỉnh giá của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
    • Công tác nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đúng mức để phân khúc, lựa chọn thị trường phù hợp dẫn đến chính sách chăm sóc khách hàng còn nhiều hạn chế.
    • Là ngân hàng mới so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nên chi phí hoạt động của ngân hàng đặc biệt là chi phí khấu hao tài sản còn cao dẫn đến kém cạnh tranh trong chính sách giá. Mạng lưới giao dịch rộng nhưng một số đơn vị (chi nhánh, phòng giao dịch) mới thành lập nên cần có thời gian mới đóng góp vào lợi nhuận chung của ngân hàng.
    • Những cơ hội :
      • Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5.32% trong năm 2009 và là nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á.
      • Số lượng doanh nghiệp mới thành lập, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động vừa và nhỏ rất lớn (trên 83000 doanh nghiệp được thành lập trong năm 2009).
      • Việt Nam có dân số gần 87 triệu và theo thống kê chỉ mới có gần 20% người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng, chủ yếu tập trung tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
      • Các ngân hàng nước ngoài chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
      • Tâm lý của người dân thích giao dịch với các ngân hàng Việt Nam cũng sẽ là yếu tố thuận lợi để các ngân hàng trong nước quan tâm khai thác.
    • Những thách thức :
      • Thị trường tài chính tiền tệ còn chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế nên dự báo sẽ còn nhiều biến động phức tạp, khó lường trước.
      • Người dân Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thói quen cất giữ và thanh toán bằng tiền mặt và chưa thấy được các tiện ích của việc thanh toán không dùng tiền mặt.
      • Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong nước còn nhiều hạn chế so với các ngân hàng nước ngoài về quy mô vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị điều hành và quản lý rủi ro.

    3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh trong thời gian tới:

    Trong năm 2010, Ngân hàng TMCP Nam Việt xác định tiếp tục theo đuổi mục tiêu chiến lược đã lựa chọn là trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu chiến lược trong thời gian sớm nhất và với chi phí hợp lý nhất, Ngân hàng TMCP Nam Việt cần thiết phải xác định cho riêng mình chiến lược kinh doanh một cách cụ thể. Trên cơ sở chiến lược kinh doanh chung đã được xác định, các kế hoạch kinh doanh của từng bộ phận như kế hoạch tài chính, kế hoạch Marketing, kế hoạch nhân sự,… được xây dựng và triển khai thực hiện nhưng vẫn đảm bảo tính thống nhất về mục tiêu chiến lược trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam, hoạt động đa năng – đa lĩnh vực dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại cùng với đội ngũ cán bộ nhân viên thân thiện và tinh thần trách nhiệm cao.

    Các mục tiêu chủ yếu năm 2010 của toàn hệ thống Navibank:

    Chỉ tiêu Năm2010
    Vốn điều lệ 3000 tỷ đồng
    Lợi nhuận trước thuế 350 tỷ đồng
    Tổng tài sản 27.000 tỷ đồng
    Dư nợ cho vay khách hàng 17.000 tỷ đồng
    Huy động tiền gửi khách hàng 18.800 tỷ đồng
    Số chi nhánh và phòng giao dịch mới 21

    Bên cạnh đó Navibank còn có những định hướng trong giai đoạn 2010-2013 như sau:

    Trên cơ sở nhận định các điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội, thách thức nêu trên, để tận dụng tốt các lợi thế sẵn có như các cổ đông chiến lược có tiềm lực tài chính vững mạnh, mạng lưới kênh phân phối rộng khắp, khả năng am hiểu thị trường trong nước,… để có thể thực hiện thành công mục tiêu chiến lược trở thành Ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực hàng đầu Việt Nam, các chiến lược kinh doanh được đề nghị cùng phối hợp thực hiện trong giai đoạn 2010 – 2013 bao gồm:

    • Chiến lược thâm nhập thị trường: chiến lược duy trì thị phần hiện tại, tập trung giải quyết vấn đề gia tăng thị phần của Ngân hàng trên các thị trường hiện có. Chiến lược này được thực hiện thông qua kế hoạch quảng cáo, khuyến mại, quan hệ công chúng,… nhằm gia tăng khả năng nhận biết cũng như tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính của Ngân hàng. Để thực hiện thành công chiến lược này, Ngân hàng dự tính sẽ sử dụng khoảng 10% tổng chi phí quản lý hàng năm của Ngân hàng cho hoạt động chiêu thị.
    • Chiến lược phát triển thị trường (mở rộng mạng lưới hoạt động): bên cạnh việc tập trung cho công tác đánh giá, đẩy mạnh hoạt động các kênh phân phối hiện tại nhằm hỗ trợ một các hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển thị trường tập trung giải quyết vấn đề đa dạng hóa hệ thống kênh phân phối (bao gồm kênh phân phối truyền thống lẫn các kênh phân phối ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại) tại các thị trường mới nhằm đón đầu và chiếm lĩnh thị trường. Tiếp tục phát triển mạng lưới một cách chọn lọc trên các địa bàn trọng điểm đông dân cư, có tiềm năng phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ. Dự kiến hàng năm, Ngân hàng sẽ mở mới từ 20 đến 30 điểm giao dịch.
    • Chiến lược phát triển sản phẩm: tạo sự khác biệt cho các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng tính chính xác, an toàn, bảo mật, nhanh chóng trong quá trình giao dịch. Ngân hàng sẽ chủ động đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khảo sát nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để phục vụ cho công tác thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chủ đạo, nổi bật dẫn đầu trong từng nhóm khách hàng. Sản phẩm dịch vụ tài chính của Ngân hàng phải được thiết kế theo hướng mở, đảm bảo tính linh hoạt cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu khác biệt của khách hàng.

    3.1.3. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới:

    Trong giai đoạn 2007 -2009, tổng dư nợ tín dụng của Navibank vẫn tăng đều mặc dù nền kinh tế năm 2008 không khả quan, có nhiều biến động không thể biết trước. Điều này đã chứng tỏ các nhà lãnh đạo của Navibank có năng lực quản lý tốt, có thể thích nghi với các điều kiện thay đổi của thị trường. Sang năm 2010,  Navibank có chủ trương tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động tín dụng như sau:

    • Đẩy mạnh hoạt động tín dụng, đặc biệt là gia tăng (tối thiểu 70,00%) tỷ trọng các khoản vay thuộc đối tượng áp dụng lãi suất thỏa thuận trên tổng dư nợ để đảm bảo mức chênh lệch lãi suất bình quân đầu vào – đầu ra tối thiểu đạt 4%/năm.
    • Tập trung tăng trưởng quy mô hoạt động bằng cách giao kế hoạch kinh doanh cụ thể cho từng chi nhánh, phòng giao dịch, trong đó, phòng giao dịch phải đạt mức quy mô hoạt động tối thiểu.
    • Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng; thực hiện các biện pháp cứng rắn để đốc thúc thu hồi nợ kết hợp với việc xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu khi cần thiết để đảm bảo nguồn thu gốc, lãi cho Ngân hàng.

    3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NAM VIỆT:

    3.2.1. Nâng cao chất lượng tín dụng:

    3.2.1.1. Hoạt động huy động vốn:

    Để hoạt động cho vay tốt đòi hỏi ngân hàng phải có nguồn vốn đủ mạnh, trong đó, vốn lưu động là yếu tố rất cần thiết đối với ngân hàng. Nếu ngân hàng tổ chức thực hiện tốt công tác huy động vốn thì không những mở rộng được công tác cho vay mà càng mang đến cho ngân hàng ngày càng nhiều lợi nhuận. Để tăng cường nguồn vốn huy động cần thực hiện một số biện pháp:

    • Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn để thu hút khách hàng đến gửi tiền. Phát triển các dịch vụ mới như thẻ thanh toán, thẻ ATM.
    • Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiện ích ngày càng cao của khách hàng; cung cấp cho họ những phương tiện thanh toán thuận lợi, nhanh, an toàn và chính xác, hoàn thiện hệ thống mạng vi tính để có thể rút và gửi tiền ở bất cứ chi nhánh nào.
    • Tăng cường hoạt động marketing ngân hàng. Mở rộng phạm vi hoạt động ra khắp cả nước.
    • Xây dựng đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình, giao tiếp tốt và nắm vững chuyên môn nghiệp vụ nhằm giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới.
    • Thực hiện đảm bảo tiền gửi cho khách hàng

    3.2.1.2. Hoạt động cho vay:

    • Đa dạng hoá các hình thức cấp tín dụng: ngân hàng cần sử dụng nhiều phương thức cho vay để tăng doanh số cũng như khách hàng vay tại đơn vị mình. Các sản phẩm tín dụng có tiện ích cũng như sự thuận tiện khi sử dụng sẽ đễ dàng được khách hàng chấp thuận hơn. Chú trọng mở rộng sản phẩm về: hạn mức, hạn mức dự phòng, thấu chi, chiết khấu giấy tờ có giá, bão lãnh….
    • Thực hiện hoàn chỉnh quy trình tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế sai sót, hạn chế khả năng rủi ro và nâng cao chất lượng từng khoản vay. Các quy trình tín dụng đã được ban hành khá chặt chẽ và cụ thể hoá theo từng loại tín dụng. Tuy nhiên cần phải chi tiết hơn với từng khoản vay, từng loại khách hàng.
    • Có quy trình thẩm định phương án vay vốn khoa học, hợp lý, đánh giá tương đối chính xác đầu vào và đầu ra của phương án vay vốn để đảm bảo khả năng hoàn trả vốn vay. Điều chỉnh kỳ hạn nợ phù hợp với thị trường và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Thủ tục giấy tờ đơn giản, gọn nhẹ nhưng phải đảm bảo tính an toàn cho khách hàng cũng như ngân hàng. Tùy theo quy mô khoản vay; đối tượng cho vay; loại vay; cường độ cạnh tranh mà NH cần giảm bớt một số thủ tục. Nhưng có hai thủ tục tuyệt đối không được bớt là giấy đề nghị vay và hồ sơ pháp lý.
    • Triển khai công tác khách hàng thăm dò ý kiến khách hàng, để đánh giá chất lượng dịch vụ NH cung cấp và có cơ sở điều chỉnh hoạt động NH, chính sách KH cho phù hợp với tình hình chung và đáp ứng hơn nữa những yêu cầu của KH. Tìm cách tiếp cận trực tiếp với khách hàng để hiểu rõ nguyện vọng, nhu cầu về vốn và các dịch vụ mà KH cần. Từ đó tư vấn, hướng dẫn các phương thức cũng như điều kiện vay vốn phù hợp với từng đối tượng khách hàng.
    • Tăng cường phối hợp chặt chẽ với trung tâm thông tin tín dụng nhằm mục đích giúp cho ngân hàng có thêm thông tin cần thiết để làm cơ sở cho việc đầu tư tín dụng có hiệu quả, tránh thất thoát vốn, ngăn ngừa phát sinh nợ quá hạn.

    3.2.2. Những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt:

    Lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề: muốn có lợi nhuận, phải chấp nhận rủi ro. Nếu không chấp nhận rủi ro, sẽ không bao giờ thu được lợi nhuận. Sự đối mặt và chịu sự tác động của rủi ro có thể ảnh hưởng xấu đến NH, thậm chí bị phá sản và loại ra khỏi thị trường.

    3.2.2.1. Phân loại khách hàng:

    Là một yêu cầu bắt buộc khi xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng. Đây là một phương pháp lượng hoá rủi ro của khách hàng thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm.

    Đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, các chỉ tiêu đánh giá xếp hạng doanh nghiệp phải bổ sung chỉ tiêu tham chiếu đến khả năng tài chính và hoạt động của chủ đầu tư ở nước ngoài.

    Đối với khách hàng là các công ty cổ phần đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán thì xu hướng biến động thị giá cổ phiếu cũng cần được xem là một chỉ tiêu tham chiếu khi xếp hạng doanh nghiệp.

    Khi xếp hạng khách hàng dựa vào:

    • Tính cách, trách nhiệm và độ tin cậy của người đứng vay
    • Lịch sử nợ vay của người đi vay
    • Mức độ rủi ro ngành nghề kinh doanh mà khách hàng đang thực hiện
    • Những biến động trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
    • Chất lượng của các chiến lược kinh doanh
    • Tài sản đảm bảo

    3.2.2.2. Trong công tác thẩm định, xét duyệt cho vay:

    Thẩm định là khâu quan trọng để giúp ngân hàng đưa ra quyết định đầu tư một cách chính xác, từ đó nâng cao chất lượng các khoản vay, hạn chế nợ quá hạn phát sinh, bảo đảm hiệu quả tín dụng vững chắc. Do đó, Navubank cần:

    • Hoàn thiện công tác thẩm định trên cơ sở đổi mới đồng bộ mô hình tổ chức, hoàn thiện quy chế, quy trình và cách thức tổ chức thẩm định. Trong công tác thẩm định cần vận dụng nguyên tắc 6C để đánh giá khách hàng.
    • Nâng cao trình độ thẩm định của CBTD, đặc biệt là thẩm định tư cách của khách hàng vì điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng.
    • Thường xuyên cập nhật các thông tin về kinh tế, kỹ thuật, các thông tin dự báo phát triển của các ngành, giá cả trên thị trường, tỷ suất lợi nhuận bình quân của một ngành, của các loại sản phẩm…để phục vụ cho công tác thẩm định.
    • Đặc biệt quan tâm đến thực trạng và chiều hướng biến động trong tương lai của thị trường kinh doanh mà sản phẩm doanh nghiệp tham gia. Xem xét hệ số sinh lời của đồng vốn đầu tư mà doanh nghiệp thu được.

    3.2.2.3. Nâng cao hiệu quả trong việc thu thập và sử dụng thông tin trong hoạt động tín dụng:

    Thông tin đầy đủ, chính xác về khách hàng, về thị trường, có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng cho vay, hạn chế rủi ro. Cần thực hiện có hiệu quả các khâu sau đây:

    • Thu thập thông tin về khách hàng: hiện nay, việc khai thác thông tin về khách hàng thường qua BCTC trong các năm gần đây của khách hàng (doanh nghiệp). Các BCTC do khách hàng lập thường không qua kiểm toán, hoặc nếu có nhưng chậm, không đủ, không chính xác. Do vậy đối với CBTD, bên cạnh việc thu thập thông tin từ khách hàng cần thu thập thêm thông tin thứ cấp từ:
    • Các đối tác của khách hàng
    • Từ những ngân hàng mà khách hàng có quan hệ. Tăng cường sự hợp tác giữa các ngân hàng trong vấn đề chia sẻ thông tin.
    • Từ cơ quan quản lý khách hàng
    • Từ trung tâm phòng ngừa rủi ro của NHNN (CIC)
    • Thu thập thông tin từ thị trường: bên cạnh các thông tin thu thập được về khách hàng, CBTD cần phải khai thác thông tin mang tính chất thị trường về sản phẩm khách hàng kinh doanh như dự toán tình hình cung cầu, giá cả sản phẩm, TSĐB.
    • Phân tích xử lý thông tin: CBTD phải tập trung phân tích, đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp dựa trên các thông tin thu thập được để làm căn cứ khi xem xét quyết định cho vay, nhằm hạn chế rủi ro.

    3.2.2.4. Không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ CBTD:

    Tín dụng là hoạt động chính mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Mặt khác, hoạt động tín dụng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào trình độ của nhân viên tín dụng. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động, Navibank cần có những biện pháp để góp phần cải thiện chất lượng đội ngũ CBTD. Cụ thể như:

    • Việc đào tạo CBTD phải được coi là thường xuyên. Bên cạnh đó công tác tuyển dụng mới phải đảm bảo đúng quy trình, yêu cầu công viêc. ( phải được đào tạo chính quy, đúng chuyên ngành, có khả năng ngoại ngữ, tin học, có phẩm chất đạo đức, hiểu biết về xã hội và có khả năng giao tiếp)
    • Công tác đào tạo cần tập trung vào một số vấn đề như tăng cường hình thức đào tạo tập trung, kết hợp hình thức tập huấn tại chỗ. Phát động phong trào tự học, tự nghiên cứu, tự nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tránh sự tụt hậu trước sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, của công nghệ trong quá trình phát triển và hội nhập của ngân hàng.
    • Có chính sách khen thưởng cho các nhân viên tín dụng giỏi, có trình độ nghiệp vụ tốt, có tinh thần trách nhiệm trong công việc nhằm động viên tinh thần, khuyến khích CBTD tránh xảy ra rủi ro đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời cũng phải kiên quyết phê bình, kỷ luật và cuối cùng là sa thải đối với những CBTD sa sút về phẩm chất hoặc không có khả năng chuyên môn gây ảnh hưởng xấu đến công việc.

    3.2.2.5. Tăng cường công tác quản lý hạn chế rủi ro tín dụng:

    • Mở rộng hoạt động tín dụng phải đi đôi với quản lý phòng ngừa rủi ro tín dụng. Đây là việc làm thật sự cần thiết đối với Navibank trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể: đầu tư, thiết lập hẳn một bộ phận chuyên nghiên cứu dự báo kinh tế tầm vĩ mô ngắn hạn, trung và dài hạn để có khả năng đề ra chiến lược đầu tư, mở rộng hoạt động tín dụng.
    • Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm phòng ngừa rủi ro thuộc bộ phận quản lý rủi ro.
    • Tăng cường giám sát sử dụng vốn vay, tránh trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không trả nợ mà sử dụng vào việc khác, khi nợ đến hạn không có khả năng trả. Trong đó đặc biệt thực hiện:
    • Kiểm tra thường xuyên và đột xuất
    • Thay đổi nội dung kiểm tra, không chỉ kiểm tra mục đích vay mà còn các yếu tố khác như TSĐB, pháp lý, uy tín…
    • Sau khi kiểm tra, phải xử lý kết quả kiểm tra bằng cách đánh giá lại xếp hạng khách hàng và xử lý
    • Nâng cao vai trò kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng; phát hiện, ngăn chặn những rủi ro đạo đức do CBTD gây ra.
    • Tăng cường năng lực quản trị điều hành, tinh thần trách nhiệm; nắm chắc lĩnh vực nghiệp vụ và khách hàng phụ trách; nhất là những khách hàng đang có dấu hiệu khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
    • Tổ chức kênh thông tin thông suốt từ ban giám đốc đến từng CBTD, đảm bảo mọi phản ánh của ban giám đốc đều được truyền đạt đúng, đầy đủ đến mọi CBTD và mọi phản ánh của doanh nghiệp đều được trình báo với ban giám đốc kịp thời.

    3.2.2.6. Biện pháp giải quyết nợ có vấn đề và nợ quá hạn :

    3.2.2.6.1. Biện pháp giải quyết nợ có vấn đề:

    • Khi khách hàng có dấu hiệu phát sinh nợ xấu, phải tìm hiểu nguyên nhân để có giải pháp thích hợp. Có biện pháp xử lý ngay từ đầu như quản lý kho hàng, kho nguyên vật liệu, phong toả tài sản, tiến hành khởi kiện sớm nên khả năng thu hồi nợ rất cao do máy móc thiết bị lúc này còn đang hoạt động có giá hơn lúc đã bị bỏ hoang.
    • Cần phải xây dựng hệ thống thẩm định nợ có vấn đề để thúc đẩy nhanh việc xử lý nợ tồn đọng tại ngân hàng.
    • Giúp đỡ thu hồi các khoản nợ bị chiếm dụng của khách hàng.
    • Tư vấn thêm cho khách hàng.
    • Nhận thêm tài sản thế chấp hoặc sự bảo lãnh.

    3.2.2.6.2. Biện pháp giải quyết nợ quá hạn:

    Biện pháp khai thác: áp dụng để xử lý những khoản nợ quá hạn thuộc loại khó đòi giống như một chương trình phục hồi.

    • Ngân hàng hướng dẫn, tư vấn khách hàng những vấn đề: khả năng tạo ra sản phẩm và lợi nhuận.
    • Gia hạn điều chỉnh lại kỳ hạn để giảm được quy mô hoàn trả trước mắt, cho vay tiếp để tăng sức mạnh tài chính cho người vay, khôi phục lại cho sản xuất kinh doanh và tổ chức giám sát.
    • Quản lý chặt chẽ ngân quỹ chi tiêu, khuyên bán bớt tài sản có giá trị, giảm lượng hàng tồn kho.
    • Đề nghị khách hàng nên cải tạo hệ thống sản xuất kinh doanh, tổ chức lại sản xuất, thay đổi thiết bị, máy móc và công nghệ. Khuyến khích khách hàng thu hồi những khoản nợ trả chậm bằng cách đẩy mạnh tiến trình thu hồi khoản phải đòi, giảm tối đa lượng vốn bị chiếm dụng.
    • Trực tiếp giúp đỡ khách hàng khi gặp khó khăn tài chính như cấp thêm tín dụng để phục hồi sản xuất kinh doanh.

    Cuối cùng nếu tình thế không thể giải quyết được thì tiến hành thanh lý tài sản.

    3.2.2.7. Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng:

    CBTD tiến hành đối chiếu phân tích tình hình sử dụng vốn vay, tính toán xác định nguồn thu, đánh giá khả năng trả nợ trên cơ sở đó làm cam kết và tiến độ trả nợ cụ thể với khách hàng, thông qua thứ tự ưu tiên: thu từ phương án, dự án kinh doanh (nguồn thu thứ nhất) tiếp đến thu từ phát mại TSĐB (nguồn thu thứ hai hay còn gọi là nguồn dự phòng) và cuối cùng là thu từ nguồn thu khác như: từ sản xuất kinh doanh, từ nguồn tài trợ, vốn khác

    Nguồn thu thứ nhất:

    Khi thẩm định, CBTD đã cùng khách hàng tính toán xác định chu kỳ kinh doanh, dòng tiền của phương án, dự án, hoặc nguồn trả nợ khác để thống nhất thời hạn cho vay, kỳ hạn nợ. CBTD phải phối hợp với khách hàng để làm rõ nguyên nhân. Nếu do năng lực thẩm định của CBTD yếu kém dẫn đến xác định thời hạn cho vay sai hoặc do nguyên nhân khách quan thì ngân hàng cùng doanh nghiệp bàn bạc điều chỉnh hoặc gia hạn nợ cho phù hợp. Nếu không vì lý do trên, CBTD phải cùng đơn vị đối chiếu dòng tiền giải ngân để xác định cụ thể hình thái biểu hiện của tiền vay. Trong qua trình đối chiếu nếu:

    • Vốn nằm ở khâu nguyên vật liệu: phải yếu cầu khách hàng hạch toán, xác định lại nếu thấy không cần thiết sử dụng hoặc không thể sử dụng được phải bán để trả nợ ngân hàng.
    • Vốn vay đang nằm trên dây chuyền sản xuất: phải xem xét từng trường hợp cụ thể để có biện pháp quản lý và kế hoạch đầu tư thích hợp.
    • Vốn vay ở khâu thành phẩm, hàng hoá: phải xem xét lại khâu tiêu thụ.
    • Vốn đang nằm ở khâu hàng gửi bán: đề nghị khách hàng kiểm tra, đối chiếu lại.
    • Vốn vay đang ở công nợ phải thu: yêu cầu khách hàng rà soát, đối chiếu với hợp đồng mua bán để biết được khoản nợ đã quá hạn hay chưa? Có khả năng thu hồi hay không?

    Trong qua trình xác định nguồn thu, đánh giá khả năng thu, làm cam kết với khách hàng về tiến độ trả nợ, CBTD cần kết hợp đánh giá, kiểm tra tính chính xác của các số liệu, xu hướng phát triển để có kế hoạch đầu tư đúng đắn, đảm bảo an toàn, hiệu quả.

    Thu từ tài sản đảm bảo:

    Để đánh giá nguồn thu này, CBTD cùng khách hàng phải rà soát lại tính pháp lý của tài sản, thực trạng tài sản, thủ tục và khả năng bán, chuyển nhượng và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan chức năng xử lý thu hồi nợ vì càng để lâu càng khó xử lý, tài sản càng xuống cấp, mất giá trị.

    Thu từ nguồn khác:

    Thu từ sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp chỉ có thể lấy một phần lợi nhuận trả nợ còn vốn quay vòng tái sản xuất bảo đảm hoạt động bình thường.

    Thu từ nguồn khác: như các nguồn kinh phí hỗ trợ từ đơn vị chủ quản, các khoản đầu tư đến hạn, bán các tài sản khác, phát hành cổ phiếu…cần phải được thẩm định, đánh giá cụ thể cho từng trường hợp.

    3.2.3. Các giải pháp hạn chế tổn thất khi xảy ra rủi ro tín dụng:

    3.2.3.1. Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu cảnh báo sớm về rủi ro tín dụng:

    Hệ thống các dấu hiệu cảnh báo rủi ro phản ánh quan điểm và đánh giá của ngân hàng về những dấu hiệu phản ánh khả năng hoạt động giảm sút và mức độ rủi ro tăng lên của khách hàng. Hệ thống này được xây dựng trên cơ sở các lý thuyết về quản trị rủi ro ngân hàng và cơ sở khách hàng có tính đặc thù của mỗi ngân hàng.

    3.2.3.2. Tổ chức giám sát và thu hồi những khoản nợ xấu:

    • Tiếp nhận toàn bộ hồ sơ khách hàng. Tiến hành phân tích tổng thể xác định nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro.
    • Tổ chức điều tra phân tích chuyên sâu, xác định chính xác mức độ rủi ro.
    • Trong trường hợp đáng giá khách hàng còn khả năng phục hồi kinh doanh và trả nợ ngân hàng, đề xuất cụ thể các giải pháp phục hồi như: tái cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, thay đổi các bộ quản lý, chuyển hướng sản xuất, cắt giảm chi phí, thanh lý các tài sản không cần thiết. Đồng thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ.
    • Trường hợp đánh giá khách hàng không còn khả năng phục hồi sản xuất kinh doanh, lựa chọn một giải pháp xử lý hữu hiệu: Bổ sung cầm cố và giám sát tồn kho; yêu cầu chuyển giao cho NH các quyền đòi nợ; bán tài sản thế chấp, cầm cố; tiến hành các thủ tục pháp lý về phá sản doanh nghiệp.

    3.3. KIẾN NGHỊ:

    3.3.1. Đối với ngân hàng nhà nước Việt Nam:

    3.3.1.1. Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành:

    Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành vĩ mô của nhà nước, cần phải có kế hoạch chi tiết phù hợp thực tiễn trước khi ban hành các văn bản pháp luật, hạn chế tình trạng sai tới đâu sửa tới đó. NHNN cần rà soát lại các văn bản liên quan tới lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng, nhanh chóng hoàn thiện thống nhất đồng bộ

    Tiếp tục hoàn thiện quy chế cho vay, bảo đảm tiền vay trên cơ sở bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng. Hoàn thiện quy trình cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng rủi ro. Có cơ chế chính sách hướng dẫn cụ thể để các TCTD có thể chủ động trong việc xử lý và khai thác tài sản của khách hàng (phát mại tài sản và tự chịu trách nhiệm về việc làm của mình)

    NHNN cần phải có quy định kiểm toán BCTC bắt buộc đối với Doanh nghiệp. Hiện nay, do không có yêu cầu bắt buộc phải kiểm toán BCTC của các doanh nghiệp nên ngân hàng khó xác định tính chính xác, trung thực và hơp lý của các số liệu trên BCTC mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng.

    Ban hành quy định về tiêu chuẩn, các yêu cầu đối với hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Quy định về công tác kiểm tra, kiểm soát trong ngân hàng, hệ thống quản lý tài sản nợ/ tài sản có và hệ thống quản lý rủi ro tín dụng.

    3.3.1.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC):

    Cần tạo lập hệ thống thông tin tín dụng có tính hữu ích cao hơn theo hướng:

    • Dựa trên cơ sở hợp tác, NHNN thực hiện kết nối kho thông tin dữ liệu giữa các ngân hàng để bổ sung, tăng tính đầy đủ và sự chính xác của kho dữ liệu, không chỉ là các dữ liệu về khách hàng mà còn các đánh giá và dự báo về ngành, làm nền tảng trong phân tích và thẩm định tín dụng.
    • Dựa trên thông tin về các doanh nghiệp, ngành hàng, dự án đã cấp tín dụng, Trung tâm thông tin tín dụng cần tổng hợp và đưa ra các đánh giá, phân tích và cung cấp các thông tin hữu ích cho toàn bộ hệ thống để sử dụng trong thẩm định tín dụng. Kho dữ liệu này cần có tính mở để có khả năng tích hợp với kho dữ liệu của các ngân hàng khác nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác trong cạnh tranh được đặt ra trong môi trường hội nhập.
    • Cần thiết lập các mối liên hệ với các tổ chức, dịch vụ cung cấp thông tin trên thế giới để có thể khai thác, mua tin khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu thông tin từ các Chi nhánh, đặc biệt là các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động của các công ty mẹ – đối tác ở nước ngoài của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

    3.3.1.3. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát:

    • Nâng cao chất lượng thanh tra bằng cách nắm bắt kịp thời các nghiệp vụ kinh doanh, dịch vụ ngân hàng hiện đại, áp dụng công nghệ mới nhằm giám sát liên tục các ngân hàng thương mại dưới hai hình thức thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa. Trong đó:
    • Thanh tra tại chỗ sẽ nâng cao hiệu lực cho việc xử lý các vi phạm không tuân thủ các quy định pháp luật do nguyên nhân khách quan để áp dụng các chế tài cụ thể.
    • Giám sát từ xa giúp cảnh báo kịp thời các sai phạm đẻcácNHTM có biện pháp ngăn ngừa rủi ro trônghạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
    • Nghiên cứu và định hướng hoạt động phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng; tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm của các nước đang phát triển giúp các NHTM tăng trưởng an toàn và có khả năng cạnh tranh với các TCTD nước ngoài.

    3.3.2. Đối với Ngân hàng TMCP Nam Việt:

    Mặc dù thời gian thực tập tại ngân hàng Nam Việt tương đối ngắn, Nhưng tôi luôn nhận thấy đội ngũ nhân viên làm việc nhiệt tình, tận tuỵ trong công việc của toàn thể nhân viên trong ngân hàng. Trong thời gian tới, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính, là nghiệp vụ chủ yếu mang lại thu nhập cho ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề rủi ro tín dụng ở NH vẫn tồn tại và còn nhiều bất cập, đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa đến công tác quản trị rủi ro tín dụng. Sau đây, tôi xin đề xuất một số ý kiến:

    3.3.2.1. Tăng cường công tác quản lý hoạt động tín dụng:

    • Kịp thời triển khai việc xây dựng hệ thông xếp hạng tín dụng nội bộ hoá cao nhằm hỗ trợ cho quản trị rủi ro. Nghiên cứu, đưa vào áp dụng các mô hình quản trị rủi ro phù hợp với các quy định hiện hành, đặc điểm hoạt động của NH và thông lệ quốc tế.
    • Cần phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo và bồi dưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, đo lường, phân tích rủi ro tín dụng cho cán bộ. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát tín dụng trong toàn hệ thống. Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo phân loại mức độ rủi ro thích hợp gắn với việc đánh giá xếp loại doanh nghiệp.

    3.3.2.2. Phân tán rủi ro tín dụng:

    • Mở rộng cho vay đối với mọi thành phần kinh tế, mọi đối tượng khách hàng, tránh việc cho vay quá mức đối với một khách hàng, hạn chế rủi ro khi khách hàng gặp rủi ro không trả được nợ.
    • Thực hiện bảo hiểm tín dụng dưới các loại như: bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tiền vay. Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có bảo hiểm tài sản được thực hiện để hạn chế rủi ro đối với TSĐB ngân hàng yêu cầu đơn vị mua bảo hiểm toàn bộ giá tài sản đã làm đảm bảo cho ngân hàng và người thụ hưởng quyền bồi thường là ngân hàng.
    • Đa dạng hoá lĩnh vực đầu tư, nguồn tiền ngân hàng được đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, tránh sự ảnh hưởng của chu kỳ tăng trưởng và suy thoái của các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.

    3.3.2.3. Đầu tư hệ thống hiện đại hoá công nghệ ngân hàng:

    Chú trọng hơn nữa đến đầu tư công nghệ thông tin giúp lãnh đạo có thể quản lý tài sản, an toàn hệ thống tốt hơn, nhất là quản lý rủi ro tín dụng. Các NHTM Việt Nam đang triển khai dự án hiện đại công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán. Qua hệ thống trên, các NHTM, các chi nhánh trong cùng hệ thống có thể thông tin cho nhau về tình hình hoạt động của khách hàng có cùng quan hệ tín dụng trong hệ thống một cách nhanh nhất.

    3.3.2.4. Đề xuất quy trình quản trị rủi ro tín dụng:

    Trước xu thế hội nhập, các tổ chức tài chính ngân hàng sẽ phải đối phó với sự cạnh tranh cũng như nhiều loại hình rủi ro khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, do xuất phát điểm của các ngân hàng khá thấp so với trung bình trong khu vực nên việc phải tập trung phát triển và quan tâm đến lợi nhuận được xem là ưu tiên số một. Chính vì thế, hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng Việt Nam hầu như vẫn chưa được đầu tư xây dựng một cách thoả đáng và chuyên nghiệp. Đó là lí do vì sao, tỷ lệ nợ xấu cùng nhiều vấn đề phát sinh do mất khả năng kiểm soát đang trở thành bài toán chưa có lời giải tại một số ngân hàng Việt Nam hiện nay. Đây cũng là vấn đề đối với ngân hàng TMCP Nam Việt, bởi vì Navibank chưa xây dựng cho mình một quy trình quản trị rủi ro tín dụng hoàn chỉnh. Từ thực trạng đó có thể đề xuất một quy trình như sau:

    Thứ nhất, nhận diện và phân loại rủi ro tín dụng: hiệu quả của việc quản trị rủi ro tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào việc phân loại rủi ro tín dụng. Phân loại rủi ro được hiểu là việc phân rủi ro thành từng nhóm riêng biệt theo dấu hiệu của chúng.

    Việc phân loại rủi ro là nhằm làm rõ các chỉ số cơ bản để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng, xác định những yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả tiềm năng mà ngân hàng có thể đạt được. Bởi vì có nhiều loại rủi ro tín dụng khác nhau không có cùng mức độ ảnh hưởng đến sự vững chắc của hoạt động tín dụng ngân hàng và hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau, có mức độ khác nhau nên không thể cùng áp dụng một loại phương pháp đánh giá và quản trị chung.

    Thứ hai, Phân tích rủi ro tín dụng: phân tích rủi ro được bắt đầu từ việc làm sáng tỏ nguồn gốc và nguyên nhân cảu chúng. Quan trọng nhất trong công việc này là xác định chính xác nguồn gốc của rủi ro, khả năng thiệt hại cũng như lợi nhuận từ những nghiệp vụ ngân hàng có tiềm ẩn rủi ro. Việc phân tích sẽ giúp ngân hàng lựa chọn kịp thời giải pháp tối ưu trong nhiều giải pháp khác nhau.

    Thứ ba, đánh giá rủi ro, tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi rủi ro xảy ra, tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngân hàng xác định đại lượng của rủi ro ngân hàng, để quyết định rủi ro nào NH có thể kiểm soát được và những rủi ro nào không thể kiểm soát. Đối với những rủi ro có thể kiểm soát, NH phải đánh giá liệu có chấp nhận rủi ro này hay không, mức độ giảm thiểu rủi ro mà NH muốn đạt được thông qua quá trình kiểm soát. Đối với rủi ro không kiểm soát được, NH phải chấp nhận.

    • Đối với tổn thất không thể dự đoán được: để đối phó với loại rủi ro này, ngân hàng phải có tiềm lực mạnh về vốn chủ sở hữu. Do đó, tỷ lệ bảo đảm về vốn luôn là mói quan tâm hàng đầu khi đánh giá tính ổn định và xếp loại đối với ngân hàng.
    • Đối với tổn thất có thể dự đoán được: NH phải tìm cách lượng hoá những tổn thất dự kiến và tiến hành trích lập quỹ dự phòng rủi ro.

    Mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng làm cơ sở cho việc trích lập dự phòng rủi ro: trên cơ sở mô hình tính toán dựa vào hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ.

    Tổn thất dự đoán = Xác suất khách hàng không trả được nợ x Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ x Tỷ lệ tổn thất dự tính trên tổng khoản nợ vay

    Cơ sở để tính xác suất khách hàng không trả được nợ là dữ liệu về nợ và tình trạng nợ của khách hàng trong quá khứ

    Dư nợ tại thời điểm không trả = Mức dư nợ bình quân x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân x Tỷ trọng phần hạn mức tín dụng có nhiều khả năng khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
    Tỷ lệ

     

    tổn thất

    dự tính

    = Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ _ Số tiền có thể thu hồi
    Dư nợ tại thời điểm không trả được nợ

    Nhìn chung mô hình này khó áp dụng trên thực tế vì tính toán phức tạp nhưng nó có ưu điểm là dự liệu tương đối chính xác tổn thất xảy ra.

    Thứ tư, cảnh báo và giảm thiểu rủi ro: Cơ chế điều tiết nội bộ rủi ro ngân hàng là một hệ thống giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của rủi ro do bản thân ngân hàng xây dựng, lựa chọn và thực hiện. Hệ thống này hình thành trên phương pháp sau:

    • Xây dựng những phương pháp phòng chống rủi ro từ xa đối với từng loại nghiệp vụ cụ thể.
    • Xây dựng cơ chế giới hạn rủi ro thông qua các quy định giới hạn mức độ rủi ro cho phép cũng như đối với các nghiệp vụ ngân hàng.
    • Đa dạng hoá các hình thức kinh doanh
    • Phân bố rủi ro cho các đối tác thông qua nghiệp vụ ngân hàng.
    • Tự bảo hiểm bằng việc trích lập dự phòng rủi ro.

    Thứ năm, giám sát và kiểm tra: để phối hợp giữa việc thực hiện mục tiêu của ngân hàng và việc kiểm tra mức độ rủi ro tín dụng cần phải xây dựng một hội đồng kiểm tra và quy chế về chính sách kiểm tra rủi ro. Việc thực hiện giám sát các chương trình kiểm tra rủi ro cho thấy: để nâng cao tính hiệu quả của các chương trình kiểm tra rủi ro đòi hỏi việc xây dựng những tiêu chuẩn đối với các chương trình này, trong đó bao gồm việc lựa chọn và phân tích thông tin.

    Hội đồng quản trị phải có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét lại chiến lược rủi ro tín dụng và những chính sách rủi ro tín dụng quan trọng cuẩ ngân hàng. Ban giám đốc có trách nhiệm thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng và xây dựng các chính sách, quy chế để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng. Ngân hàng phải xác định và quản trị rủi ro tín dụng đối với toàn bộ sản phẩm và hoạt động của ngân hàng.

    Trong quản trị rủi ro tín dụng, NH cần thực hiện quản trị rủi ro đối với từng khoản tín dụng và đối với toàn bộ danh mục tín dụng. Quản trị rủi ro tín dụng đối với từng khoản tín dụng đòi hỏi kiến thức cụ thể về hoạt động kinh doanh và điều kiện tài chính của đối tác trong khi quản trị rủi ro danh mục tín dụng yêu cầu kiến thức bao quát toàn diện để giám sát toàn bộ thành phần và chất lượng danh mục tín dụng. NH cần phải có hệ thống giám sát chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng phù hợp với tính chất, quy mô và tính phức tạp của danh mục tín dụng.

    NH cần có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích có khả năng đo lường được rủi ro trong tất cả các hoạt động nội và ngoại bảng cân đối tài sản. Hiệu quả của quy trình đo lường rủi ro tín dụng phụ thuộc nhiều vào chất lượng cuả hệ thống thông tin quản lý. Việc đo lường RRTD cần xét tới các yếu tố như: tính chất của khoản tín dụng, các điều kiện tài chính và hợp đồng như thời hạn, lãi suất tham chiếu, rủi ro thất thoát có thể xảy ra cho đến khi đến hạn khoản vay do những biến động của thị trường, tài sản thế chấp hoặc bảo lãnh, xếp hạng tín dụng nội bộ… Để bù đắp RRTD, ngân hàng thu lãi tiền vay theo lãi suất đủ để trang trải các chi phí đầu vào và công thêm phần lãi của ngân hàng. Mức lãi suất các ngân hàng áp dụng cho thấy mức độ rủi ro mà ngân hàng phải chịu. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay thì mức lãi giảm xuống, vì vạy, các ngân hàng cần phải đảm bảo rằng đầu tư của họ có chất lượng cao.

    Trong công tác QTRRTD, ngoài việc xếp hạng tín dụng, xác định giới hạn tín dụng đối với khách hàng, NH còn cần phải thường xuyên xem xét khoản vay, đánh giá những thay đổi hạn mức tín dụng của khách hàng. Bên cạnh đó, NH cũng cần xác định hạn mức cho từng ngành nghề hoặc khu vực kinh tế cụ thể, cho từng vùng miền và sản phẩm cụ thể nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng.

    Như vậy, QTRRTD được xem như một hệ thống tổ chức độc lập và phức tạp với cơ cấu kiến trúc đa tầng. Một trong những vấn đề cơ bản đặt ra trong lĩnh vực quản trị rủi ro là hình thành tối ưu phương pháp phân loại RRTD và bản chất quản trị chúng sẽ cho phép chi tiết hoá trong việc phân loại rủi ro.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận chương 3

    Từ thực trạng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt trong thời gian vừa qua, các giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tập trung xử lý những tồn tại ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng và nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng của Navibank; đề xuất sửa đổi về cơ cấu tổ chức, quy định tín dụng, hỗ trợ thông tin… góp phần hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống. Đồng thời cũng kiến nghị NHNN một số vấn đề để tạo lập một môi trường kinh doanh và quản trị rủi ro có hiệu quả, phát triển một hệ thống tài chính ổn định và bền vững. Sự nỗ lực của ngân hàng TMCP Nam Việt cùng với sự hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, công tác quản trị rủi ro tín dụng sẽ đáp ứng các yêu cầu về tăng trưởng tín dụng an toàn và hiệu quả góp phần cho sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.

     

    KẾT LUẬN

    ˜ & ™

    Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi hoạt động của cuộc sống con người, là những tình huống xảy ra mà con người không thể lường hết được dẫn đến tổn thất. Và trong hoạt động tín dụng, nguy cơ không thu hồi được nợ, xác suất khách hàng không trả nợ gốc và lãi vay khi đến hạn là tất yếu khách quan. Cùng với những khó khăn của nền kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu, chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Việt cũng chịu tác dộng không nhỏ.  Do đó nâng cao chất lượng tín dụng thông qua hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu của Navibank trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về bản chất, đặc trưng, các loại hình biểu hiện và mối tương quan của rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Navibank. Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng được phân tích nhằm làm nổi bật nguyên nhân rủi ro trong mối quan hệ với các chủ thể liên quan trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Đối với Navibank, để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng khi cho vay, các đề xuất được đưa ra trong đề tài là:

    • Hoạt động tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản để đảm bảo an toàn tín dụng.
    • Có những biện pháp quản lý tốt rủi ro tín dụng khi cho vay như chính sách cho vay cụ thể theo từng loại khách hàng, tăng cường chất lượng và hiệu quả nguồn thông tin, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng và nâng cao chất lượng tài sản đảm bảo.Tham khảo kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các nước trên thế giới.

    Rủi ro tín dụng cho dù xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì cũng không thể nào loại bỏ hoàn toàn được. Ngân hàng chỉ có thể áp dụng các biện pháp nâng cao khả năng phòng ngừa và quản lý rủi ro tín dụng để kiểm soát tốt hơn rủi ro tín dụng, tránh những tổn thất to lớn khi có phát sinh.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ˜ & ™

    1. Văn bản pháp luật:

    (1) Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng.

    (2) Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007, luật sửa đổi bổ sung về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng.

    1. Giáo trình tham khảo:

    (3) TS.Hồ Diệu, 2002, Quản trị ngân hàng, TP.HCM, Nhà xuất bản thống kê

    (4) TS.Hồ Diệu, 2003, Tín dụng ngân hàng, TP.HCM, Nhà xuất bản thống kê

    (5) Peter.S.Rose, 2004, Quản trị ngân hàng thương mại, Hà Nội, Nhà xuất bản tài chính

    (6) PGS.TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản Thông kê

    (7) TS. Lê Thị Hiệp Thương, TS.Hồ Diệu, Th.S Bùi Diệu Anh(2009), Nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng, NXB Phương Đông.

    1. Một số tài liệu khác:

    (8) Báo cáo tài chính của Navibank qua các năm 2007, 2008, 2009

    (9) Tài liệu đào tạo quy trình cho vay cảu Navibank

    (10) Báo cáo thường niên của Navibank qua các năm 2007,2008,2009

    (11) Quyết định số 229c/2006/QĐ_TGĐ ngày 01/09/2006 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP Nam Việt

    (12) Quyết định số 05/2006/QĐ_TGĐ ngày 01/09/2006 của Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng TMCP Nam Việt.

    (13) Một số website:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]