Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-th%C3%B4ng-tin-chia-t%C3%A1ch-c%E1%BB%95-phi%E1%BA%BFu-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-thay-%C4%91%E1%BB%95i-gi%C3%A1-v%C3%A0-thanh-kho%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-c%E1%BB%95-phi%E1%BA%BFu-B%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-th%E1%BB%B1c-nghi%E1%BB%87m-t%E1%BB%AB-s%E1%BB%9F-giao-d%E1%BB%8Bch-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

    1. Giới thiệu

    Thông tin có vai trò hết sức quan trọng đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (TTCK). Chính vì vậy, sự phản ứng của nhà đầu tư trước các thông tin được công bố trên TTCK là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chia tách cổ phiếu là một nghiệp vụ mang tính kỹ thuật và được sử dụng khá phổ biến bởi các công ty niêm yết. Về mặt lý thuyết, việc chia tách cổ phiếu đơn giản chỉ làm gia tăng số lượng cổ phiếu mà không làm thay đổi dòng tiền của công ty. Do đó, việc chia tách cổ phiếu không làm thay đổi giá trị của công ty. Tuy nhiên, về mặt tâm lý, thông tin chia tách cổ phiếu có thể được các nhà đầu tư đón nhận như là một thông tin tích cực bởi lý do đơn giản họ nghĩ rằng họ nhận được thêm một số lượng cổ phiếu nhất định mà không phải trả bất kỳ một khoản tiền nào. Về mặt thực nghiệm, kết quả của các nghiên cứu về chủ đề này vẫn chưa thật sự thống nhất với nhau. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thông tin chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu (Ưu và Chang, 1997; Kuse và Yamamoto, 2004; Adida và Caroline, 2010; Li và cộng sự, 2015) trong khi đó một vài nghiên cứu khác lại tìm thấy những kết quả ngược lại (Lamoureux và Poon, 1987; Conroy và các cộng sự, 1990; Leema Kdej, 2007; Patel và cộng sự, 2016). Trên TTCK Việt Nam nói chung và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) nói riêng, việc chia tách cổ phiếu của các công ty niêm yết diễn ra khá phổ biến. Nhà đầu tư phản ứng như thế nào trước thông tin chia tách cổ phiếu là câu hỏi được nhiều người đặt ra, nhưng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là tìm kiếm các bằng chứng thực nghiệm để trả lời cho câu hỏi trên thông qua việc sử dụng dữ liệu bao gồm 179 sự kiện chia tách của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn năm 2015 – 2017. Phần còn lại của bài viết được cấu trúc như sau: Mục 2 lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài viết được trình bày ở Mục 5. 

    2. Lược khảo tài liệu

    Ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu là chủ đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong những thập niên gần đây. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này đã được công bố. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này vẫn chưa thật sự thống nhất với nhau. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu, trong khi một vài nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại. Wu và Chan (1997) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK Hongkong trong giai đoạn 1986-1992 bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 3 ngày khi việc chia tách được công bố, giá của các cổ phiếu đã tăng 18,2%. Ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến giá cổ phiếu còn được Wuff (2002) tìm thấy trên TTCK Đức. Cụ thể là, giá của các cổ phiếu đã gia tăng trong suốt 4 ngày giao dịch sau khi thông tin chia tách được công bố cũng như sau khi việc chia tách có hiệu lực. Trong một nghiên cứu khác, Elfakhani và Lung (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá cổ phiếu ở TTCK Canada trong giai đoạn 1977-1993. Sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, các tác giả đã đi đến kết luận rằng việc chia tách cổ phiếu có tác động tích cực đến giá của các cổ phiếu và được duy trì trong khoảng thời gian 11 ngày xung quanh ngày công bố thông tin chia tách. Trên TTCK Nhật, Kuse và Yamamoto (2004) đã tìm thấy lợi nhuận bất thường lũy kế trong giai đoạn 30 ngày giao dịch sau khi việc chia tách được công bố so với giai đoạn 30 ngày giao dịch trước khi việc chia tách được công bố. Kết quả này đã giúp các tác giả đi đến kết luận rằng thị trường đã phản ứng tích cực trước thông tin chia tách cổ phiếu. Ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến giá của các cổ phiếu còn được tìm thấy trong nghiên cứu của Li và cộng sự (2015). Các tác giả đã giải thích rằng giá của các cổ phiếu tăng sau khi thông tin chia tách được công bố là do thanh khoản của các cổ phiếu gia tăng. Ở một khía cạnh khác, một số nghiên cứu đã tìm thấy sự ảnh hưởng tích cực của thông tin chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu. Aduda và Caroline (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách cổ phiếu đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Nairobi (Kenya). Áp dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện, các tác giả đã chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tích cực đến khối lượng giao dịch của các cổ phiếu. Rudnicki (2012) đã sử dụng nghiên cứu sự kiện để nghiên cứu ảnh hưởng của sự chia tách cổ phiếu đến thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK Warsaw và TTCK Vienna trong giai đoạn 2000-2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh khoản của các cổ phiếu đã có sự gia tăng đáng kể sau khi thông tin chia tách cổ phiếu được công bố. Huang và cộng sự (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu ở 3 TTCK NYSE, AMEX, và NASDAQ trong giai đoạn 1960- 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các cổ phiếu có thanh khoản tăng đáng kể xung quanh ngày công bố chia tách cổ phiếu. Sau ngày công bố, thanh khoản của các cổ phiếu chia tách có sụt giảm, nhưng vẫn còn cao hơn mức trước khi chia tách. Tuy nhiên, sau ngày chốt quyền, thanh khoản giảm xuống dưới mức trước chia tách. Trái ngược với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc chia tách cổ phiếu có ảnh hưởng tiêu cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu. Leemakdej (2007) sử dụng dữ liệu bao gồm 100 hoạt động chia tách cổ phiếu để nghiên cứu ảnh hưởng của việc chia tách đến thanh khoản của các cổ phiếu trên TTCK Thailand. Nghiên cứu này đã tìm thấy các bằng chứng để kết luận rằng khối lượng giao dịch sau chia tách của các cổ phiếu thấp hơn so với trước chia tách, đặc biệt là trong khoảng thời gian 18 và 20 ngày sau ngày chia tách cổ phiếu. Tương tự, các nghiên cứu được thực hiện bởi Lammoureux và Poon (1987), Conroy và các cộng sự (1990) cũng tìm thấy sự giảm sút trong khối lượng giao dịch của các cổ phiếu sau niêm yết. Gần đây nhất, Patel và cộng sự (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của chia tách cổ phiếu đến giá và tính thanh khoản của cổ phiếu trên TTCK Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin chia tách cổ phiếu đã có ảnh hưởng tiêu cực đến giá và thanh khoản của các cổ phiếu. 

    3. Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu

    3.1. Số liệu sử dụng

    Nghiên cứu này sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 179 sự kiện chia tách cổ phiếu của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn 2015- 2017. Giá và khối lượng giao dịch của các cổ phiếu được thu thập trên website của các công ty chứng khoán: https://www.vndirect.com.vn, http://www.cophieu68.vn. Dữ liệu về khối lượng và giá từng phiên của các cổ phiếu được thu thập trong khoảng thời gian trước và sau 10 ngày so với ngày công bố thông tin chia tách. Giá cổ phiếu là giá đóng cửa từng phiên và khối lượng giao dịch là tổng khối lượng khớp lệnh trong phiên. 

    3.2. Phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện (event study) để đo lường ảnh hưởng của việc công bố thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và khối lượng giao dịch của các cổ phiếu. Ngày công bố thông tin chia tách cổ phiếu được gọi là ngày sự kiện hay ngày công bố, ký hiệu AD (announcement date). Cửa sổ sự kiện (event window) được sử dụng trong nghiên cứu này là [- 10,+10], 10 ngày trước và sau ngày thông tin chia tách cổ phiếu được công bố. Nhóm nghiên cứu chọn cửa sổ sự kiện như vậy là vì theo Thông tư 155/2015/TT-BTC ban hành ngày 6 tháng 10 năm 2015 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK có quy định về trường hợp công bố thông tin liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu, theo đó “công ty đại chúng báo cáo và nộp đầy đủ các tài liệu là căn cứ pháp lý liên quan đến ngày đăng ký cuối cùng dự kiến thực hiện quyền cho cổ đông hiện hữu cho Trung tâm lưu ký chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán (trường hợp là tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch), báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nước, đồng thời công bố thông tin chậm nhất 10 ngày trước ngày đăng ký cuối cùng dự kiến”. Sự thay đổi giá (lợi nhuận) của các cổ phiếu trong nghiên cứu này được tính theo phương pháp đã được sử dụng bởi Kiymaz và Berument (2003), cụ thể như sau: rit = log (Pit) – log (Pi, t-1) = log (Pit/ Pi,t-1) trong đó: rit: Lợi nhuận của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t. Pit: Giá đóng cửa của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t. Pi,t-1: Giá đóng cửa của cổ phiếu i ở phiên giao dịch t-1. Sau đó, để loại trừ ảnh hưởng của những yếu tố khác đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, lợi nhuận bất thường (lợi nhuận do thông tin niêm yết bổ sung cổ phiếu tạo ra) được xác định theo phương pháp đã được Lynch và Mendenhall (1997) sử dụng, cụ thể như sau: ARit = rit – rMt trong đó: ARit (abnormal return): Lợi nhuận bất thường của cổ phiếu i tại phiên giao dịch t; rMt: Lợi nhuận thị trường ở phiên giao dịch t. Lợi nhuận thị trường được tính trên cơ sở chỉ số thị trường (HNX-Index) với công thức tính tương tự như trên. Sau đó, lợi nhuận bất thường trung bình của từng phiên (average abnormal return – AAR) và lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế (cumulative average abnormal return- CAAR) các phiên của nhóm cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu cũng được tính theo phương pháp của Lynch và Mendenhall (1997), cụ thể như sau: 53 ? QUẢN TRỊ KINH DOANH thương mại khoa học 1 

    4. Kết quả nghiên cứu

    –  Ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu Lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu (AAR)

    Trên cơ sở tính toán lợi nhuận bất thường của 179 sự kiện chia tách cổ phiếu trong giai đoạn 2015- 2017 qua 21 phiên giao dịch liên tục, lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu ở từng phiên đã được xác định. Ngoài ra, để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá của các cổ phiếu, giá trị thống kê t cũng được tính toán. Lợi nhuận bất thường trung bình của các cổ phiếu trong suốt giai đoạn nghiên cứu được trình bày chi tiết ở Bảng 1. Kết quả phân tích thống kê cho thấy giá cổ phiếu đã có sự phản ứng tích cực xung quanh ngày công bố thông tin chia tách cổ phiếu. Cụ thể là, trước ngày công bố thông tin 2 ngày (AD-2) giá của các cổ phiếu đã tăng bình quân 0,43% và phiên liền kề trước ngày công bố thông tin (AD-1), giá của các cổ phiếu tiếp tục tăng bình quân 0,68% với mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 10% và 1%. Điều này có nghĩa là thị trường đã phản ứng tích cực với thông tin chia tách cổ phiếu từ trước khi nó được công bố chính thức. Kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng thông tin chia tách cổ phiếu có thể đã bị rò rỉ ra bên ngoài từ trước khi nó được công bố. Ngoài ra, kết quả kiểm định thống kê còn cho thấy giá cổ phiếu tiếp tục tăng sau ngày công bố thông tin. Cụ thể là, tiếp sau ngày công bố thông tin (AD+1), giá của các cổ phiếu tăng 0,83%. Sự tăng giá này có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Bên cạnh đó, sự tăng giá của các cổ phiếu còn được ghi nhận ở phiên AD+7 với mức tăng bình quân là 0,59%. Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu (CAAR) Để quan sát xem sự thay đổi giá của các cổ phiếu được duy trì trong bao lâu, nghiên cứu này thực hiện một bước tiếp theo là xác định lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu trong suốt giai đoạn (cửa sổ) nghiên cứu. Lợi nhuận bất thường trung bình lũy kế của các cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu được trình bày

    5. Kết luận

    Nghiên cứu này đã bổ sung thêm các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của thông tin chia tách cổ phiếu đến sự thay đổi giá và thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết trên TTCK cận biên. Bằng phương pháp nghiên cứu sự kiện với dữ liệu bao gồm 179 sự kiện chia tách của 138 công ty niêm yết trên HNX trong giai đoạn 2015- 2017, nghiên cứu này đã tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm để kết luận rằng giá của các cổ phiếu đã có sự thay đổi 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-sinh-l%E1%BB%9Di-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-ni%C3%AAm-y%E1%BA%BFt-tr%C3%AAn-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    1. Giới thiệu chung

    Khả năng sinh lời giữ vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định chính là khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì thế, khả năng sinh lời được coi là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam đang từng bước hòa nhập cùng nền kinh tế thế giới thì việc nâng cao khả năng sinh lời của doanh nghiệp lại càng quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến sự sống còn của các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến triển vọng phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, trong giai đoạn từ 2012 – 2015, thị trường bất động sản hoạt động khá trầm lắng, chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành xây dựng trong giai đoạn này. Trái ngược với tốc độ tăng trưởng cao của ngành năm 2010, 2011 lên đến 23,1% và 24,1%, thì suốt giai đoạn 2012 – 2016 dù giá trị ngành xây dựng tăng về số tuyệt đối tuy nhiên tốc độ tăng trưởng sụt giảm mạnh so với giai đoạn trước giao động quanh 6% – 7%. Giai đoạn 2012 – 2016 là giai đoạn có nhiều biến động trong các biến số vĩ mô của nền kinh tế, chính sự biến động này tác động không nhỏ tới doanh thu và lợi nhuận các công ty xây dựng. Nếu trong giai đoạn 2009 – 2011, lợi nhuận sau thuế của các công ty xây dựng đạt cao, năm 2009 khoảng 2.091 nghìn tỷ, năm 2010 đột biến là 2.849 nghìn tỷ, năm 2011 giảm xuống còn 1.357 nghìn tỷ. Giai đoạn 2012 – 2016, chứng kiến sự suy giảm trong lợi nhuận sau thuế của các công ty xây dựng, năm 2012 lợi nhuận sau thuế đạt 140 tỷ, đột biến năm 2013 con số tổng lỗ lên tới 1.784tỷ, năm 2014 số lỗ có dấu hiệu giảm đáng kể khi chỉ còn 151 tỷ, năm 2015 các doanh nghiệp ngành xây dựng bắt đầu có lợi nhuận. Năm 2016, tình hình lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp đã có sự cải thiện đáng kể khi nhiều doanh nghiệp đã có lãi, tổng lợi nhuận sau thuế của 59 doanh nghiệp đạt 1.380 tỷ đồng (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu). Ngoài ra, doanh nghiệp xây dựng có đặc điểm kinh doanh khác so với các ngành khác như địa điểm sản xuất không cố định, chu kỳ sản xuất thi công kéo dài, chỉ diễn ra theo đơn đặt hàng và kỹ thuật thi công phức tạp, trang thiết bị tốn kém. Điều này đòi hỏi khi đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành xây dựng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời cần lưu ý đến đặc điểm của ngành sản xuất kinh doanh. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm ra giải pháp nâng cao khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp trong giai đoạn sắp tới, bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệp ngành xây dựng để đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu tập trung vào làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam để từ đó đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.

    2. Tổng quan nghiên cứu

    Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu xem xét sự tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp trong ngành xây dựng nói riêng. Sivathaasan và các cộng sự (2013) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tất cả các công ty sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Colombia, Sri Lanka từ năm 2008 đến năm 2012. Các biến độc lập (các nhân tố ảnh hưởng) được sử dụng để nghiên cứu là cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng, các biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp là hai tỷ số ROA và ROE. Kết quả là các biến độc lập giải thích được 76.6% và 84.7% cho mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tăng trưởng ROA và ROE của doanh nghiệp. Trong đó, chỉ có cấu trúc vốn có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của các công ty, còn các biến cấu trúc tài sản, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng lại không có ảnh hưởng gì đến ROA và ROE. Khidmat và Rehman (2014) đã nghiên cứu trên 9 công ty ngành hóa học niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001 đến năm 2009, với biến phụ thuộc là ROA và các biến độc lập là tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ số khả năng thanh toán ngay, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy tính thanh khoản là nhân tố có tác động cùng chiều đến ROA, các nhân tố còn lại có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Bolek và Wiliński (2012) đã tiến hành nghiên cứu sự tác động của các nhân tố kinh tế bên trong lẫn bên ngoài lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp thông qua nghiên cứu số liệu của tất cả các công ty xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw từ năm 2000 đến năm 2010. Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu ROA đại diện cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp, các biến độc lập được đưa vào mô hình bao gồm quy mô công ty, cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán nhanh, kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho, vòng quay tiền mặt, tốc độ tăng trưởng doanh thu và tốc độ tăng trưởng GDP. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng GDP có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, trong khi cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và kỳ thu tiền trung bình lại có tác động ngược chiều. Lazaridis và Tryfonidis (2006) đã thu thập số liệu từ 131 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004 nhằm tìm ra mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và khả năng sinh lời. Trong nghiên cứu lợi nhuận gộp là biến phụ thuộc, các biến độc lập bao gồm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (cash cycle), tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ và quy mô doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ cũng có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong khi đó, quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản lại có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Để nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận của công ty, Gill và các cộng sự (2010) đã nghiên cứu 88 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New York từ năm 2005 đến năm 2007. Nghiên cứu sử dụng bốn biến độc lập là kỳ thu tiền trung bình, doanh thu, tỷ lệ nợ và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, trong khi biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời là doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kỳ thu tiền trung bình, tỷ lệ nợ và tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản đều tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Alshatti (2016) đã tiến hành nghiên cứu trên 13 ngân hàng thương mại ở Jordanian trong giai đoạn 2005 – 2012 nhằm tìm ra mối liên hệ giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời. Bài viết nghiên cứu tác động của các nhân tố tỷ lệ đầu tư, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ số khả năng thanh toán tức thì đến khả năng sinh lời của các ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng: tỷ số khả năng thanh toán nhanh và tỷ lệ đầu tư có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ số khả năng thanh toán tức thì lại có tác động ngược chiều. Pattweekongka & Napompech (2014) đã tìm ra mối quan hệ giữa vốn lưu động và lợi nhuận bằng cách lấy mẫu 255 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán của Thái Lan từ năm 2007 đến năm 2009. Các biến độc lập được tác giả sử dụng trong mô hình bao gồm kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và đặc điểm kinh doanh, biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ lệ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản không tính tài sản tài chính. Kết quả cho thấy kỳ thu tiền trung bình và số ngày một vòng quay hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời; các công ty Thái Lan có thể tăng lợi nhuận bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền trung bình và số ngày một vòng quay hàng tồn kho. Kiểm tra hiệu quả của việc quản lý vốn lưu động đến hiệu quả kinh doanh của công ty cho 125 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2004-2009 đã được thực hiện bởi Addae và Nyarko-Baasi (2013). Nghiên cứu cho thấy, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Có nghĩa là các công ty sẽ được lợi hơn nếu họ có thể rút ngắn thời gian của chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho với khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Owolabi và các cộng sự (2012) đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho với khả năng sinh lời. Điều này có nghĩa là khi tăng giảm bất kỳ một trong những yếu tố trên thì khả năng sinh lời sẽ đi theo hướng ngược lại. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra rằng quy mô của công ty có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Điều tra mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận, Tu và Nguyen (2014) đã sử dụng mô hình hồi quy phân tích dữ liệu bảng của 208 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012. Các biến được đưa vào mô hình bao gồm kỳ thu tiền trung bình, số ngày một vòng quay hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, tỷ lệ nợ, tỷ lệ nợ tài chính và tỷ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; đại diện cho khả năng sinh lời là tỷ lệ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản không tính tài sản tài chính. Các nhà nghiên cứu nhận thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các nhà nghiên cứu cũng đề nghị giảm kỳ thu tiền trung bình, vòng quay hàng tồn kho sẽ cải thiện tính thanh khoản của các công ty và do đó làm tăng khả năng sinh lời. Dong và Su (2010) đã nghiên cứu sự tác động của việc quản lý vốn lưu động đến khả năng sinh lờicủa các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán của Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2008 với các biến ảnh hưởng là tổng tài sản cố định trên tổng tài sản, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, kỳ thu tiền trung bình và vòng quay hàng tồn kho. Qua phân tích, nghiên cứu kết luận rằng chu kỳ chuyển đồi tiền mặt có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu trên, chủ yếu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết nói chung, mà rất ít nghiên cứu đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong một ngành nhất định, đặc biệt là các nghiên cứu ở Việt Nam. Trong khi đó, mỗi ngành kinh doanh khác nhau có đặc điểm kinh doanh khác nhau, các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời khác nhau nên cần được nghiên cứu một cách riêng biệt để từ đó thấy được ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng sinh lời của từng ngành. Đồng thời, thị trường bất động sản trong giai đoạn này cũng có những thăng trầm nhất định nên cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp xây dựng. Xuất phát từ những lý do nêu trên tác giả lựa chọn nghiên cứu ảnh hưởng của những nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết ngành xây dựng, là ngành kinh doanh khá đặc thù và có mức độ vốn hóa không nhỏ trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn này.

    3. Phương pháp nghiên cứu

    Số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 59 công ty thuộc ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016 theo dữ liệu mảng. Các số liệu tài chính liên quan đến các biến trong mô hình được thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được download từ trang web chính thức của hai Sở giao dịch chứng khoán: Sở GDCK TP HCM (www.hsx.vn) và Sở GDCK Hà Nội (www.hnx.vn). Nghiên cứu lựa chọn sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2012-2016 vì giai đoạn này là giai đoạn thị trường bất động sản cũng như thị trường xây dựng của Việt Nam khá trầm lắng. Chính vì vậy, tác giả muốn xem xét ngoài các nhân tố nội tại của doanh nghiệp thì các nhân tố kinh tế vĩ mô có tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp hay không? Xây dựng giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết H1: Quy mô doanh nghiệp (Size) càng lớn thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp càng cao Bài nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu logarit tự nhiên của tổng tài sản để thể hiện cho quy mô của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng thương lượng với nhà cung cấp càng tốt, vì vậy doanh nghiệp thường chịu chi phí phát hành nợ và vốn cổ phần thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ (Michaelas và cộng sự,1999), dẫn đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp tốt hơn. Sivathaasan và các cộng sự (2013) đã chứng minh có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận. Nghiên cứu thực nghiệm cho kết quả tương tự là nghiên cứu của Bolek và Wiliński (2012) với mẫu nghiên cứu là tất cả các công ty xây dựng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Warsaw. Tuy nhiên, theo nghiên cứu Ramasamy (2005) trong ngành dầu khí tại Malaysia lại cho kết luận là quy mô doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời. Nguyên nhân lý giải cho kết luận này là, khi quy mô doanh nghiệp càng lớn thì việc quản lý và điều hành doanh nghiệp càng trở nên khó khăn, hơn thế nữa, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều không chỉ cho tài sản mà còn cho các nguồn lực khác như con người, chính vì vậy nên tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp trên một đồng tài sản bị giảm đi. Giả thuyết H2: Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (DER) càng thấp thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp càng cao. Nhìn chung, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng cao, rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp càng thấp. Theo phân tích của Bolek và các cộng sự (2012) tại các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Phần Lan đã cho thấy tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có tác động ngược chiều tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đồng nghĩa là tỷ lệ này càng nhỏ thì càng tốt cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nhân tố này cũng được đề cập đếntrong các kết quả nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Gill và các cộng sự (2010) và Tu và Nguyen (2014). Giả thuyết H3: Tỷ số khả năng thanh toán nhanh (LIQ) càng cao thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Thông thường nếu tỷ số này cao có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của tài sản ngắn hạn, thể hiện khả năng thanh toán cao hơn so với nghĩa vụ phải thanh toán. Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp cận được với nhiều nguồn vốn vay, giảm sức ép từ chủ nợ, tạo tiền đề để tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất và phát triển. Khidmat và Rehman (2014) đã nghiên cứu trên 9 công ty ngành hóa học niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Pakistan từ năm 2001 đến năm 2009 cũng có kết luận sau khi nghiên cứu mô hình của mình là tính thanh khoản mà đại diện là tỷ số khả năng thanh toán nhanh có tác động cùng chiều đến ROA. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Alshatti (2016). Trong khi đó, nghiên cứu của Bolek và Wiliński (2012) cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn, tỷ số khả năng thanh toán nhanh và kỳ thu tiền trung bình lại có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Giả thuyết H4: Kỳ thu tiền trung bình (ARC) càng nhỏ thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Kỳ thu tiền trung bình nhỏ thì doanh nghiệp sẽ nhanh thu hồi được các khoản nợ từ khách hàng, vốn của doanh nghiệp ít bị khách hàng chiếm dụng từ đó tạo điều kiện để tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Bolek và các cộng sự (2012) nghiên cứu các doanh nghiệp ngành xây dựng ở Phần Lan cũng kết luận rằng kỳ thu tiền trung bình có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Addae và Nyarko-Baasi (2013) đã nghiên cứu 125 công ty không niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Ghana trong giai đoạn 2004-2009 và tìm ra nhân tố kỳ thu tiền trung bình có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này cũng được đề cập trong nghiên cứu thực nghiệm của Gill và các cộng sự (2010), Tu và Nguyen (2014) và Pattweekongka & Napompech (2014). Giả thuyết H5: Số ngày một vòng quay hàng tồn kho (ICC) càng nhỏ thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng lớn Số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng nhỏ thì càng có lợi cho doanh nghiệp, điều này chứng tỏ doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho tốt, công tác dự báo chính xác nên hàng không bị ứ đọng nhiều, giảm chi phí lưu kho và bảo quản, dẫn đến khả năng sinh lời cao hơn. Tu và Nguyen (2014) đã phân tích dữ liệu bảng của 208 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012 và tìm ra số ngày một vòng quay hàng tồn kho có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Giả định này cũng đã được xem xét đến và khẳng định mối quan hệ này thông qua kết quả nghiên cứu của Gill và các cộng sự (2010), Bolek và các cộng sự (2012), Pattweekongka & Napompech (2014) và Addae và Nyaruko-Baasi (2013). Giả thuyết H6: Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản (PS) càng lớn thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao. Thông thường tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của các doanh nghiệp ngành xây dựng sẽ cao hơn các ngành khác, tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng tốt, do doanh nghiệp có thể tận dụng nhiều hơn lợi thế của mình cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Lazaridis và Tryfonidis (2012) đã thu thập số liệu từ 131 công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Athens trong giai đoạn 2001 – 2004 để xem xét sự tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả là nhân tố tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời. Ngược lại, nghiên cứu của Gill và các cộng sự (2010) lại chứng minh rằng tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản càng lớn thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng thấp khi nghiên cứu về 88 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán New York từ năm 2005 đến năm 2007. 

    4. Kết quả nghiên cứu

    Dựa vào bảng phân tích tổng quan dưới đây, ta có thể đưa ra một số nhận xét tổng quan về khả năng sinh lời cũng như các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bảng 2 chỉ ra rằng tỷ lệ chi trả cổ tức trung bình của các công ty xây dựng niêm yết trong 5 năm từ 2012 đến 2016 là 2,3% đối với ROA và 8,4% đối với ROE. Tỷ suất này nhìn chung là thấp đối với các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạn này do thị trường bất động sản trong năm 2012 đến hết 2014 gần như đóng băng, thị trường chỉ mới bắt đầu phục hồi vào khoảng đầu năm 2016. Đồng thời, sự biến động của ROA và ROE cũng là khá lớn cho thấy có những doanh nghiệp kinh doanh có lãi rất cao nhưng ngược lại cũng có những doanh nghiệp khả năng sinh lời rất thấp. Tương tự như vậy, trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng, thị trường bất động sản sôi động thì khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành xây dựng cũng rất cao nhưng ngược lại chỉ số này cũng rất thấp trong giai đoạn thị trường kém sôi động, gần như đóng băng. Ngoài ra, bảng 2 cũng cho kết quả thống kê mô tả giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất của các biến trong mô hình nghiên cứu. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Hi%E1%BB%87u-%E1%BB%A9ng-%C4%91%E1%BB%99ng-l%E1%BB%B1c-tr%C3%AAn-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Thông tin về lịch sử giá là một yếu tố quan trọng khi lựa chọn cổ phiếu của nhà đầu tư.

    Quan điểm nhận định rằng các nhà đầu tư cá nhân thường có xu hướng phản ứng thái quá với thông tin được ủng hộ rộng rãi. Phản ứng thái quá đó dẫn tới việc giá cổ phiếu bị định giá sai giá trị thực, dẫn tới việc có thể xây dựng các chiến lược đầu tư dựa trên việc khai thác hiện tượng định giá sai này. De Bondt và Thaler (1985, 1987) đã đưa ra quan điểm về chiến lược đầu tư nghịch xu thế dài hạn; Jegadeesh và Titman (1993) đưa ra quan điểm về chiến lược đầu tư thuận xu thế hay hiệu ứng động lực trong ngắn hạn. Nghiên cứu này kiểm tra sự tồn tại của hiệu ứng động lực trong ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam đồng thời đưa ra những khuyến nghị đầu tư và mức lợi nhuận dự kiến khi tiến hành nắm giữ danh mục theo chiến thuật đầu tư động lực. Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn hiện nay hiệu ứng động lực trong ngắn hạn tại thị trường chứng khoán Việt Nam tồn tại ở dạng yếu, việc áp dụng chiến thuật đầu tư theo hiệu ứng này gần như không cho lợi nhuận với kỳ nắm giữ từ 3 tháng trở lên.

    1. Giới thiệu

    Hai hiệu ứng đối lập cùng được công nhận sự tồn tại qua các nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán theo thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu là hiệu ứng nghịch xu thế (reversal effect) và hiệu ứng động lực (momentum effect). De Bondt và Thaler (1985) đã đưa ra quan điểm về chiến lược đầu tư nghịch xu thế dài hạn (contrarian strategies) nghĩa là mua các cổ phiếu đang xuống giá và bán các cổ phiếu đang có xu hướng tăng giá trong dài hạn, mang lại thu nhập bất thường (abnormal return). Thu nhập bất thường được hiểu là phần thu nhập không phải do ảnh hưởng của các nhân tố mang tính hệ thống, nói cách khác đó là phần chênh lệch giữa thu nhập thực tế và thu nhập dự kiến ban đầu và cũng là phần thu nhập được các nhà đầu tư mong muốn tối ưu. Debondt và Thaler chỉ ra rằng các cổ phiếu được nắm giữ trên 3 năm tới 5 năm sẽ có thu nhập cao hơn nếu giá của chúng biến động theo chiều hướng đi xuống trong 3 đến 5 năm trước so với các cổ phiếu có giá biến động tích cực trong thời gian cùng kỳ. Một quan điểm khác cũng được nêu ra là hiệu ứng động lực. Cùng với hiệu ứng nghịch xu thế (reversal effect), hiệu ứng động lực (momentum effect) có thể sử dụng để thử nghiệm dạng yếu của thị trường hiệu quả. Hiệu ứng động lực cho rằng các cổ phiếu “đang thắng” trong quá khứ sẽ tiếp tục tăng giá còn cổ phiếu “đang thua” sẽ tiếp tục xuống giá trong ngắn hạn (Jegadeesh và Titman, 1993). Thị trường chứng khoán Việt Nam dù mới thành lập chưa được 20 năm nhưng cũng đã thể hiện sự tồn tại của cả 2 hiệu ứng trên. Quan sát chỉ ra rằng nhiều nhà đầu tư trên thị trường Việt Nam quyết định thực hiện giao dịch dựa trên phân tích lịch sử giá của cổ phiếu. Hiện tượng này là gợi ý cho việc thực nghiệm tác động của hiệu ứng động lực và hiệu ứng nghịch vị thế trên thị trường chứng khoán. Trên thực tế, các tác giả như Fernandes và Ornelas (2008), Griffin và cộng sự (2003) và Rouwenhorst (1999) đã chỉ ra các bằng chứng của hiệu ứng động lực tại các thị trường mới nổi bao gồm cả Châu Á, tuy nhiên Việt Nam lại không được đưa vào danh sách trên. Nghiên cứu này nhằm mục đích chỉ ra sự tồn tại hay không của hiệu ứng động lực trên TTCK Việt Nam, đồng thời tìm hiểu sự tồn tại đó có tác động mạnh hay yếu, tích cực hay tiêu cực. Nghiên cứu cũng mong muốn chỉ ra tác động của hiệu ứng tới một thị trường chứng khoán có tác động phát triển nhanh như Việt Nam và so sánh với sức tác động tới các thị trường châu Á khác. 

    2. Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu

    Jegadeesh và Titman (1993) đã đưa ra một chiến thuật đầu tư dựa trên việc mua các cổ phiếu có lịch sử giá tốt (tăng giá) trong quá khứ và bán các cổ phiếu có lịch sử giá xấu (giảm giá), gọi là chiến thuật đầu tư thuận xu thế. Chiến thuật này mang lại một khoản thu nhập dương trong một thời kỳ ngắn (từ 3 – 12 tháng), được xây dựng trên một hiệu ứng gọi là hiệu ứng động lực (momentum effect). Tuy nhiên việc chiến thuật này thành công lại mâu thuẫn với một nền tảng trong lý thuyết tài chính, đó là giả định thị trường hiệu quả (efficient market hypothesis – EMH). Rất nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích sự tồn tại của hiệu ứng động lực trên thị trường. Một số ý kiến phủ nhận cho rằng hiệu ứng động lực thực chất là kết quả của việc khai thác dữ liệu (data mining) và hiệu ứng này thực sự không tồn tại. Việc mang lại lợi nhuận của chiến thuật đầu tư này thực tế chỉ là việc khai thác các dữ liệu thị trường trong quá khứ và vô tình mang lại kết quả ở thị trường Hoa Kỳ vào thời điểm nghiên cứu của Jegadeesh và Titman diễn ra. Tuy nhiên, rất nhiều tài liệu nghiên cứu về hiệu ứng động lực sau này đã đưa ra rất nhiều bằng chứng, trong đó cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng động lực tại các thị trường chứng khoán khác nhau vào các khoảng thời gian khác nhau. Một vài ý kiến cho rằng lợi nhuận của chiến thuật đầu tư theo hiệu ứng động lực đơn giản là phần bù rủi ro khi chấp nhận rủi ro. Tuy nhiên, Gutierrez Jr. và Kelley (2008) đã sử dụng phân tích hồi quy mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) và mô hình 3 nhân tố Fama-French để chỉ ra rằng, hiệu ứng động lực vẫn tồn tại kể cả khi đã loại bỏ các yếu tố liên quan đến rủi ro thị trường. Cuối cùng, để lý giải cho sự tồn tại của hiệu ứng này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng đến các mô hình lý thuyết trong lĩnh vực tài chính hành vi. Đây cũng là cách lý giải được đa số các tác giả nghiên cứu về hiệu ứng động lực trên thế giới tán thành. Có nhiều bằng chứng cho thấy hiệu ứng động lực xảy ra tại các thị trường chứng khoán khác nhau. Jegadeesh và Titman (1993) ghi nhận sự xuất hiện của hiệu ứng trong khoảng thời gian từ 3 đến 12 tháng. Conrad và Kaul (1998) cũng ủng hộ nghiên cứu và phát hiện của Jegadeesh & Titman (1993). Rouwenhorst (1998) tìm ra bằng chứng của lợi nhuận khi áp dụng chiến thuật đầu tư thuận xu thế tại 12 quốc gia ở Châu Âu. Kết quả của thị trường Châu Âu cũng ủng hộ quan điểm của Jegadeesh và Titman (1993). Rouwenhorst (1999) chứng minh rằng mô hình cũng cho lợi nhuận tại các thị trường mới nổi mặc dù lợi nhuận trung bình tại các thị trường này thấp hơn đáng kể so với các nghiên cứu trước đó ở Hoa Kỳ hay Châu Âu. Điều này có thể đến từ việc tác giả đã loại bỏ các cổ phiếu có mức tăng trưởng hay thua lỗ cao nhất và danh mục được chọn cũng có số lượng lớn hơn các nghiên cứu đi trước. Nghiên cứu cũng tìm ra trường hợp danh mục loser tạo ra lợi nhuận tích cực, trái ngược với các nghiên cứu khác. Jegadeesh và Titman (2001) đã thực hiện 1 số điều chỉnh nhỏ bằng cách loại trừ các cổ phiếu, chứng khoán nhỏ, vốn hóa thị trường thấp. Thời gian của mẫu cũng kéo dài thêm 8 năm, tuy nhiên kết quả thu được vẫn có sự tương đồng lớn. Do đó, giả thiết kết quả tìm được năm 1993 của 2 tác giả có được hoàn toàn do sự may mắn hoặc do lựa chọn số liệu chưa đủ đặc trưng là không thuyết phục và có dấu hiệu cho thấy hành vi của nhà đầu tư không có sự thay đổi sau 8 năm, xung đột với lý thuyết thị trường hiệu quả. Griffin, Ji và Martin (2003) đã nghiên cứu hiệu ứng động lực tại 40 quốc gia khác nhau trên toàn cầu. Họ nhận thấy áp dụng chiến thuật đầu tư thuận xu thế cho lợi nhuận dương và đáng kể tại tất cả các châu lục ngoại trừ châu Á. Chiến lược cho kết quả tốt trong cả trạng thái kinh tế tốt và xấu, không liên quan đến rủi ro từ các biến vĩ mô của nền kinh tế. Họ cũng kết luận rằng hiệu ứng động lực không phải là kết quả của việc chấp nhận rủi ro chu kỳ kinh doanh. Trong nghiên cứu tiếp theo vào năm 2005, các tác giả này chỉ ra rằng các nhà quản trị danh mục đầu tư rất nhạy cảm với điều kiện thị trường và có thể đạt được lợi suất đáng kể nếu đầu tư dựa theo xu hướng biến động giá. Nguyễn Thị Thu Hằng (2012) đã kiểm tra sự xuất hiện của hiệu ứng động lực tại thị trường Việt Nam trong thời gian 3 năm từ năm 2007 đến 2010. Kết quả chỉ ra rằng kể cả khi đã điều chỉnh theo các mô hình CAPM hay Fama-French 3 nhân tố, danh mục đầu tư vẫn có thể sinh lời tuy nhiên mức lợi nhuận khá nhỏ, chỉ đạt 0,69%/tuần. Tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân tồn tại của chiến thuật trên thị trường Việt Nam có thể đến từ sự tự tin thái quá của nhà đầu tư trong ngắn hạn (1-3 tuần); trong thời gian dài hơn sự nôn nóng và thiếu tự tin từ những chủ thể tài chính này dẫn đến việc hiệu quả của danh mục giảm rõ rệt và không còn ý nghĩa thống kê. Như vậy, hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra rằng tại thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ hiệu ứng động lực cho tỷ suất lợi nhuận khoảng 1%/tháng và vẫn đạt giá trị dương kể cả sau khi trừ đi phí giao dịch. Chu kỳ thời gian chủ yếu được thống kê kỳ quan sát và kỳ nắm giữ nằm trong khoảng từ 3 đến 12 tháng. Các tác giả cũng thường sử dụng danh mục tạo lập chồng lấn trong các nghiên cứu của mình để tăng số lượng mẫu quan sát cũng như sức mạnh của quan sát. Nghiên cứu về hiệu ứng động lực từng được thực hiện ở Việt Nam tuy nhiên dữ liệu được thu thập đã cũ. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng khi xây dựng danh mục cũng chọn cách xây dựng dựa trên trọng số bằng nhau (equally weights) với kỳ nắm giữ và kỳ quan sát từ 1 đến 26 tuần. Tác giả lựa chọn danh mục dựa trên 10% cổ phiếu có kết quả giá tốt nhất và 10% cổ phiếu có kết quả giá thấp nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng thời gian từ 2007-2010.

    3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu a.

    Miêu tả dữ liệu Mục đích chính của nghiên cứu là kiểm chứng sự tồn tại của hiệu ứng động lực trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Để thực hiện điều này, dữ liệu được sử dụng là lịch sử giá của các cổ phiếu trên sàn chứng khoán HOSE. Nhóm tác giả chọn sử dụng dữ liệu giá cổ phiếu hàng tháng, tương đồng với các nghiên cứu trước kia của Rouwenhorst (1998) hay Griffin và cộng sự (2003). Giá của cổ phiếu được ghi nhận là giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày cuối cùng trong tháng để theo dõi biến động giá cả của chứng khoán, nghiên cứu thu thập số liệu của giá cổ phiếu được tổng hợp bởi công ty Fiin Pro. Dữ liệu được sử dụng được thống kê trong thời kỳ từ 01/01/2014 đến 31/12/2018. Dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu dạng bảng không cân bằng vì lý do một vài dữ liệu bị hủy do thiếu thông tin. Tổng cộng có 372 quan sát theo tháng từ tháng 1 năm 2014 tới tháng 12 năm 2018. Một số mã cổ phiếu bị loại ra khỏi danh sách lựa chọn dù có xuất hiện trên HOSE trong khoảng thời gian từ 2014 – 2018. Các lý do khiến một cổ phiếu bị hủy bỏ niêm yết có thể là công ty bị mua lại, sát nhập, mua lại dựa trên vay nợ (Leverage Buyout – LBO), phá sản,… Grundy và Martin (2001) đã thống kê rằng khi các cổ phiếu trong danh sách winner bị hủy niêm yết, lý do thường thấy là do bị sáp nhập hoặc mua lại, việc giá của cổ phiếu tăng nhanh trong thời gian trước đó có lý do chủ yếu do thông tin về việc sáp nhập bị rò rỉ. Các cổ phiếu loser thường hay bị hủy niêm yết do tính thanh khoản thấp hoặc do tác động tiêu cực của việc sụt giá. b. Mô hình nghiên cứu Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu được xây dựng theo mô hình của Jegadeesh và Titman (1993). Các tác giả quan sát lợi suất của các cổ phiếu trong 3, 6, 9 và 12 tháng trước để lựa chọn cổ phiếu, tạo nên danh mục đầu tư, ký hiệu thời kỳ này là F (formation period). Thời gian nắm giữ vị thế lần lượt sẽ là 3, 6, 9, 12 tháng, ký hiệu là H (Holding period). Như vậy tổng cộng sẽ có 16 danh mục tương đương với 16 chiến lược nắm giữ khác nhau. Trong nghiên cứu này, các yếu tố về phí giao dịch cũng bị lược bỏ bởi phí giao dịch tại các công ty chứng khoán Việt Nam không đồng nhất. Đồng thời việc tính toán thêm phí giao dịch vào từng chiến thuật đầu tư cũng sẽ phức tạp hóa quá trình thống kê một cách không cần thiết. Jegadeesh và Titman cũng chỉ ra rằng việc đầu tư theo chiến thuật động lực vẫn mang lại lợi nhuận kể cả khi tính toán cả phí giao dịch. Việc lựa chọn số lượng cổ phiếu trong các danh mục ở các nghiên cứu hiện có khá đa dạng. Jegadeesh và Titman (1993) và Rouwenhorst (1998) đều chọn cách chia cổ phiếu thành 10 danh mục rồi chọn danh mục có lợi suất tốt nhất tạo thành winner và thua lỗ nhiều nhất là loser. Acnes cùng cộng sự (2013) lại chọn các cổ phiếu thuộc 1/3 nhóm đầu và 1/3 nhóm cuối để thực hiện nghiên cứu. Với 372 cổ phiếu vào năm 2018 trên sàn HOSE, nếu lựa chọn cách chia theo danh mục thập phân, danh mục winner và danh mục loser sẽ có khoảng 30 cổ phiếu mỗi danh mục. Tuy nhiên việc lựa chọn các cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt nhất hoặc kém nhất trên thị trường đang trên đà phát triển (frontier market) hay kể cả thị trường mới nổi (emerging market) có thể gặp vấn đề vì các cổ phiếu này có thể bị thao túng giá. Vì lý do này mà Rouwenhorst (1999) khi nghiên cứu về hiệu ứng động lực trên các thị trường mới nổi đã quyết định loại bỏ đi 5% cổ phiếu có lãi suất cao nhất và 5% cổ phiếu có lãi suất thấp nhất trước khi lựa chọn danh mục. Nghiên cứu này cũng lựa chọn mô hình giống như mô hình mà Jegadeesh và Titman đã sử dụng năm 1993 tuy nhiên kích thước của danh mục được chọn sẽ thay đổi để loại trừ khả năng gặp phải cổ phiếu bị thao túng giá: loại bỏ 15 cổ phiếu có thu nhập cao nhất và thu nhập thấp nhất khỏi danh mục, sau đó chọn 15 cổ phiếu có thu nhập tốt tiếp theo cho danh mục winner và 15 cổ phiếu thu nhập thấp tiếp theo vào danh mục loser. Cụ thể, sau khi xếp hạng 372 cổ phiếu theo thứ tự thu nhập giảm dần, các cổ phiếu có xếp hạng thứ 16 đến 30 sẽ được lựa chọn vào danh mục winner, cổ phiếu xếp hạng 343 đến 357 sẽ nằm trong danh mục loser. Hầu hết các nghiên cứu về hiệu ứng động lực hiện có đều chọn sử dụng trọng số bằng nhau trong danh mục được thống kê. Một cách tiếp cận khác là lựa chọn trọng số trong danh mục dựa theo kết quả kinh doanh hoặc vốn hóa thị trường của cổ phiếu. Ưu điểm của cách tiếp cận này là các cổ phiếu nhỏ, độ thanh khoản thấp trên thị trường sẽ có trọng số nhỏ hơn trong danh mục đầu tư (Swinkels, 2004). Tuy nhiên nhược điểm của việc sử dụng trọng số theo vốn hóa thị trường là các cổ phiếu lớn sẽ chiếm gần như toàn bộ danh mục, làm mất đi tính chính xác của việc thử nghiệm hiệu ứng động lực. Ở cả 2 nghiên cứu của mình vào năm 1993 và 2001, Jegadeesh và Titman đều sử dụng cách xây dựng với trọng số bằng nhau. Vì vậy, nghiên cứu này cũng sẽ sử dụng cách xây dựng trọng số này nhằm đảm bảo sự thuận tiện trong việc so sánh kết quả cuối cùng với các nghiên cứu trước tại các quốc gia khác trên thế giới. Trong các nghiên cứu trước, đặc biệt là các nghiên cứu của Rouwenhorst (1998) và Jegadeesh, Titman (1993), danh mục tạo lập chồng lấn (overlapping period) thường được sử dụng. Jegadeesh và Titman lựa chọn cách tạo lập danh mục này vì các tác giả cho rằng việc này sẽ tăng độ mạnh của nghiên cứu do tạo lập được nhiều mẫu quan sát hơn. Nếu chọn cách nắm giữ không chồng lấn, tại bất kỳ thời gian nào cũng chỉ có thể mở vị thế với 1 danh mục duy nhất. Sử dụng cách nắm giữ này sẽ có ít sự trao đổi hơn dẫn đến phí giao dịch cũng ít hơn đáng kể. Tuy nhiên vì dữ liệu được quan sát trong nghiên cứu kéo dài trong thời gian chỉ 5 năm nên việc sử dụng thời kỳ nắm giữ chồng lấn có thể giúp tăng số lượng quan sát. Việc này cũng khiến kết quả thu được có thể so sánh với các kết quả của các nghiên cứu trước một cách dễ dàng hơn.

    4. Kết quả phân tích và thảo luận

    Để miêu tả quá trình xử lý số liệu, danh mục 3×3 được thành lập với chu kỳ thành lập và nắm giữ đều là 3 tháng. Các danh mục với thời gian thành lập (F) và nắm giữ (H) khác đều có cách làm tương tự. Bước đầu tiên trong việc xử lý số liệu là tính toán thu nhập của cổ phiếu trong kỳ thành lập (F) bằng cách cộng kết quả kinh doanh của 3 tháng trước khi danh mục được thành lập. Để tính tổng, nhóm tác giả cộng thu nhập của từng cổ phiếu trong kỳ tương ứng. Như vậy danh mục 1 tương ứng với thu nhập của cổ phiếu trong thời kỳ từ tháng 1 đến tháng 3, danh mục 2 là thu nhập từ tháng 2 đến tháng 4. Kỳ nắm giữ (H) cũng sẽ được tính theo cách tương tự, danh mục 1 của kỳ nắm giữ sẽ được tính từ tháng 4 đến tháng 6. Tiếp theo, cổ phiếu được xếp hạng từ cao xuống thấp dựa trên kết quả lợi nhuận của cổ phiếu trong từng kỳ tương ứng. Mỗi cổ phiếu được so sánh với các cổ phiếu khác trong cùng 1 kỳ thành lập để chọn ra cổ phiếu có xếp hạng phù hợp. Sau khi xếp hạng các cổ phiếu theo thu nhập, nhóm tác giả tiếp tục lập bảng Kỳ nắm giữ (H), danh mục 1 trong bảng kỳ nắm giữ sẽ thể hiện tổng lợi nhuận của cổ phiếu sau Kỳ thành lập (F) đầu tiên, là kết quả lợi nhuận của cổ phiếu từ tháng 4 đến tháng 6, tương ứng danh mục 2 là kết quả từ tháng 5 đến tháng 7,… Trong bài viết này, danh mục winner sẽ bao gồm 15 cổ phiếu có kết quả tăng trưởng tốt thứ 15 đến 30 và loser gồm 15 cổ phiếu có kết quả xếp hạng từ 343 đến 357. Mục thu nhập của danh mục sẽ được tính bằng trung bình cộng của các cổ phiếu có xuất hiện trong danh mục đó. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%A9c-%C4%91%E1%BB%99-minh-b%E1%BA%A1ch-v%C3%A0-c%C3%B4ng-b%E1%BB%91-th%C3%B4ng-tin-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-c%C3%B4ng-ty-ni%C3%AAm-y%E1%BA%BFt-tr%C3%AAn-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mục tiêu của nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin (CBTT) đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 

     

    Số liệu nghiên cứu là số liệu dạng bảng được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty và tài liệu công bố công khai có liên quan của 484 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2014-2016. Sử dụng phương pháp pháp ước lượng Two Stage Least of Square và Generalized Methods of Moments, kết quả nghiên cứu cho biết mức độ minh bạch và CBTT của công ty niêm yết có tương quan thuận với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA); tỷ lệ sở hữu quản trị và tỷ lệ sở hữu nước ngoài có tương quan thuận với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; trong khi đòn bẩy tài chính có tương quan nghịch với tỷ số ROE và ROA.

    1.Giới thiệu Thông tin đóng vai trò quan trọng đối với các chủ thể kinh tế tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam

     Việc công bố thông tin đầy đủ và kịp thời là một nghĩa vụ bắt buộc của các công ty niêm yết nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư. Đối với các công ty niêm yết, minh bạch và công bố thông tin không chỉ là trách nhiệm mà còn là quyền lợi của chính các công ty. Việc công bố thông tin đầy đủ và kịp thời sẽ làm gia tăng tính minh bạch, làm giảm tình trạng thông tin không đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty. Theo lý thuyết người đại diện, khi tình trạng thông tin không đối xứng giảm sẽ dẫn đến các chi phí đại diện giảm. Vì vậy, mức độ minh bạch và công bố thông tin càng tốt thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty sẽ càng cao. Bài báo nghiên cứu này nhằm tìm kiếm những bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính công ty cổ phần niêm yết, và hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư. Trong xu hướng hội nhập kinh tế thế giới và thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nhà đầu tư nước ngoài vào công ty cổ phần thì vấn đề minh bạch và công bố thông tin của công ty niêm yết trở nên cấp thiết trong thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế. Cho đến nay, một số nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết thông qua hai tỷ số ROA, ROE đã được công bố. Một số nghiên cứu tìm thấy mối tương quan thuận giữa minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của các công ty (Patel và Dallas, 2002; Bushman và Smith, 2003; Stadlbauer, 2010), trong khi một vài nghiên cứu lại tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm để đi đến kết luận ngược lại (Bassen và cộng sự, 2009; Zaman và cộng sự, 2015; Banerjee và cộng sự, 2015). Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Lê Quang Cảnh và Nguyễn Vũ Hùng (2016) đã nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin và minh bạch đến hiệu hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội. Các tác giả đã áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD (2004) để tính điểm công bố thông tin, và mức độ minh bạch được đo lường bằng các biến số độc lập. Mục tiêu của bài nghiên cứu này là làm phong phú thêm các bằng chứng thực nghiệm về chủ đề này thông qua việc nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Điểm mới của nghiên cứu này là nhóm tác giả đã vận dụng bộ tiêu chí của Standard & Poor (S&P) kết hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam để đo lường mức độ minh bạch và công bố thông tin của các công ty niêm yết. Đặc biệt là, theo sự hiểu biết tốt nhất của nhóm nghiên cứu, cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đo lường ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin (CBTT) theo tiêu chí của Standard & Poor đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được công bố. Phần còn lại của bài viết được cấu trúc như sau: Mục 2 giới thiệu tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu; Mục 3 mô tả số liệu được sử dụng và phương pháp nghiên cứu; Mục 4 tóm tắt các kết quả nghiên cứu; và cuối cùng, kết luận của bài viết được trình bày ở Mục 5. 

    2. Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm

    2.1. Cơ sở lý thuyết

    Lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu này là lý thuyết thông tin không cân xứng (Akerlof, 1970) và lý thuyết đại diện (Jensen và Meckling, 1976). Thông tin không cân xứng là một trong nhiều nguyên nhân làm thị trường không đạt cân bằng và hiệu quả. Hiện tượng không minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán (TTCK) xảy ra khi một hay nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty. Trường hợp khác là khi công ty, người quản lý công ty có nhiều thông tin hơn so với cộng đồng nhà đầu tư nhỏ, lẻ. Hiện tượng không minh bạch thông tin trên TTCK sẽ dẫn đến hai hệ quả phổ biến là sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức, sẽ bóp méo quyết định tham gia thị trường của các chủ thể kinh tế. Chất lượng và số lượng thông tin công bố từ công ty niêm yết là những tín hiệu làm giảm thông tin không cân xứng giữa các chủ thể kinh tế bên ngoài công ty và người quản lý công ty. Ảnh hưởng của việc không minh bạch thông tin đến cơ hội đầu tư và lợi nhuận của các chủ thể kinh tế trên thị trường có cơ sở lý thuyết là mối quan hệ cơ bản của kinh tế học tài chính: quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro thông tin. Mối quan hệ giữa người đại diện và chủ sở hữu lần đầu tiên được đề cập bởi Jensen và Meckling (1976) và tiếp theo đó là Fama và Jensen (1983). Theo các tác giả, một số nhà quản lý vì có được những kỹ năng đặc biệt và những kiến thức về quản lý công ty tốt hơn các chủ sở hữu công ty nên các chủ sở hữu sẵn sàng thuê và giao quyền quản lý hoặc quyền ra quyết định kiểm soát của mình cho các nhà quản lý này (Fama và Jensen, 1983). Nhà quản lý đại diện cho chủ sở hữu thực hiện việc quản lý công ty nhưng họ chỉ nhận được lợi ích duy nhất từ lương. Tuy nhiên, cả hai chủ thể này đều muốn tối đa hóa lợi ích riêng của mình nên đã xảy ra xung đột về lợi ích. Sự xung đột về lợi ích giữa người đại diện và chủ sở hữu trong điều kiện không cân xứng về thông tin làm phát sinh chi phí đại diện. Theo Jensen và Meckling (1976), chi phí đại diện bao gồm: (1) chi phí kiểm soát là chi phí được trả cho các kiểm soát viên nhằm thông tin cho các cổ đông khi các nhà quản lý có hành vi hoặc thực hiện những hành động trục lợi cho bản thân họ; (2) chi phí ràng buộc là chi phí nhằm ngăn ngừa những hậu quả xấu có thể xảy ra từ những hành động thiếu trung thực của các nhà quản lý; (3) mất mát phụ trội là các chi phí liên quan đến những thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền hành của mình để tư lợi. Chi phí đại diện càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty càng thấp và ngược lại. Minh bạch công bố thông tin giúp các cổ đông giám sát các quyết định của người đại diện tốt hơn, qua đó làm giảm các chi phí đại diện.Vì vậy, mức độ minh bạch và công bố thông tin của công ty có mối tương quan thuận với hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. 

    2.2. Các bằng chứng thực nghiệm và giả thuyết nghiên cứu

    Một số nghiên cứu thực nghiệm đo lường ảnh hưởng của mức độ minh bạch và công bố thông tin đến hiệu quả tài chính của các công ty đã được công bố. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ minh bạch và công bố thông tin có mối tương quan thuận tài nghiên cứu lại tìm thấy các bằng chứng để đi đến kết luận ngược lại. Patel và Dallas (2002) đã chỉ ra rằng các công ty có mức độ minh bạch và công bố thông tin cao sẽ làm tăng hiệu quả tài chính công ty. Ngoài ra, mối tương quan thuận giữa mức độ minh bạch và công bố thông tin và hiệu quả tài chính công ty còn được tìm thấy trong các nghiên cứu của Bushman và Smith (2003), Aksu và Kosedag (2006), Collett và Hrasky (2005), Iatridis (2008), Stiglbauer (2010). Trái ngược với kết quả các nghiên cứu ở trên, Bassen và cộng sự, (2009) đã tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm để kết luận rằng mức độ công bố thông tin có mối tương quan nghịch với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ở Đức. Tương tự, Zaman và cộng sự, (2015) kết luận mức độ minh bạch và công bố thông tin cấu trúc sở hữu có mối tương quan nghịch với hiệu quả tài chính được đo lường bằng ROA và ROE của các ngân hàng ở Pakistan. Ngoài ra, Banerjee và cộng sự, (2015) phát hiện mối tương quan nghịch giữa mức độ minh bạch và công bố thông tin với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ở Nga. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 354 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Lê Quang Cảnh và Nguyễn Vũ Hùng (2016) cũng tìm thấy mối tương quan nghịch giữa mức độ công bố thông tin với hiệu quả tài chính được đo lường bằng tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA). Tuy nhiên, nghiên cứu của Adiloglu và Vuran (2012), Rashid và cộng sự, (2015), Gonzalez và cộng sự, (2019) cho biết các công ty minh bạch và công bố thông tin tốt có chi phí tài chính thấp hơn và do đó hiệu quả tài chính sẽ cao hơn. Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm được lược khảo ở trên, giả thuyết nghiên cứu sau được đề xuất: Tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê trong đó mức độ minh bạch và công bố thông tin có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết. Biến kiểm soát Quy mô công ty: Theo kinh tế học vi mô, các công ty có quy mô càng lớn thì càng có lợi trong hoạt động kinh doanh do tận dụng hiệu quả quy mô trong sản xuất. Vì vậy, quy mô công ty được kỳ vọng có mối tương quan thuận với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết. Nghiên cứu của Zaman và cộng sự, (2015), Gonzalez và cộng sự, (2019) cũng thừa nhận mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô công ty và lợi nhuận của công ty. Từ những bằng chứng trên, giả thuyết đề xuất là tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê trong đó quy mô công ty có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính công ty. Đòn bẩy tài chính: Nghiên cứu của Tô Lan Phương (2015) khi phân tích mối quan hệ giữa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính đã kết luận đòn bẩy tài chính quan hệ ngược chiều với tỷ số ROE. Tương tự, Gonzalez và cộng sự, (2019) kết luận đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ số ROE. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn và cộng sự (2016), Hồ Hữu Tiến và Nguyễn Đình Khôi (2017) kết luận đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ số ROA. Giả thuyết đề xuất là tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê trong đó đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến hiệu quả tài chính công ty. Đặc điểm quản trị công ty: Quy mô Hội đồng quản trị công ty có ảnh hưởng cùng chiều với hiệu quả hoạt động công ty (Klein, 2002; Coles và cộng sự, 2008). Sự đa dạng kinh nghiệm trong quản lý công ty của Hội đồng quản trị sẽ cải thiện hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, nghiên cứu của Guest (2009) tại Anh, Võ Hồng Đức và Phan Bùi Gia Thủy (2013) tại Việt Nam kết luận quy mô Hội đồng quản trị có ảnh hưởng nghịch chiều đến hiệu quả hoạt động của công ty. Giả thuyết đề xuất là tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê trong đó quy mô Hội đồng quản trị có tác động tiêu cực đến đến hiệu quả tài chính công ty. Kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị: Theo lý thuyết người đại diện, sự không tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý sẽ gây thiệt hại cho công ty do người đại diện có cơ hội tối đa hóa lợi ích cá nhân hơn là lợi ích của các cổ đông. Các công ty có chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc có hiệu quả hoạt động kém hơn các công ty có chủ tịch HĐQT không kiêm nhiệm (Trường và cộng sự, 2006; Phạm Đức Cường, 2016). Giả thuyết đề xuất là tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê trong đó sự kiêm nhiệm của chủ tịch Hội đồng quản trị có tác động tiêu cực đến đến hiệu quả tài chính công ty. Cấu trúc sở hữu: Mehran (1995) kết luận rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu quản trị và với hiệu quả hoạt động của công ty.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

    Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

    Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

    ThS. Trần Vũ Thùy Nga

    Khoa Kế toán – Kiểm toán, Học viện Ngân hàng – Phân viện Phú Yên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Quỹ phát triển cộng đồng – Bài học cho quỹ xây dựng nông thôn mới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Qu%E1%BB%B9-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng-B%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-cho-qu%E1%BB%B9-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-m%E1%BB%9Bi-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp và kiến nghị giúp hoàn thiện hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam

    Tóm tắt

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc điều chỉnh chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) sao cho hợp lý nhằm khuyến khích các doanh nghiệp phát triển kinh tế, thu hút đầu tư là một điều cực kỳ quan trọng. Quá trình cải cách thuế trải qua hơn chặng đường trên hai mươi năm với nhiều thành tựu, cùng với yêu cầu đổi mới toàn diện, hệ thống thuế ngày càng phải được điều chỉnh căn bản để đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

    1. Giới thiệu: Thuế TNDN thuộc loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nước. Ngoài ra, nhà nước sử dụng thuế này để điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Ở các nước, tên gọi của thuế này có thể khác nhau như thuế thu nhập công ty, thuế TNDN, thuế lợi tức,…Dù tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của các loại thuế này tương đối giống nhau. Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước. Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng miền mà nhà nước ưu tiên khuyến khích phát triển trong từng giai đoạn nhất định.

    2. Giải pháp hoàn thiện thuế suất thuế TNDN Việt Nam

    – Thứ nhất, thực hiện chính sách thuế suất thuế TNDN hợp lý trong từng giai đoạn nhằm thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh.

    Lộ trình cắt giảm thuế suất thuế TNDN chưa được xây dựng kịp thời, do đó, làm giảm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Xu hướng giảm thuế suất thuế TNDN đã diễn ra đồng thời với quá trình toàn cầu hóa trên thế giới, khi thực hiện điều chỉnh thuế suất thuế TNDN hiện nay cần căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế – xã hội, đầu tư, thu nhập của DN và toàn bộ nền kinh tế trên cơ sở thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế và đảm bảo nguồn lực tài chính của các quốc gia. Hiện nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, vẫn rất cần vốn đầu tư quốc tế, đồng thời tăng tích lũy, khuyến khích các DN đầu tư sản xuất kinh doanh nên sẽ tiếp tục có những biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư, do đó, giảm thuế suất thuế TNDN vẫn được ưu tiên. Hiện nay, mức thuế suất thuế TNDN phổ thông là 20%, được coi phù hợp với thực tế thời gian qua và gần đạt mức trung bình trong khu vực. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, mức thuế suất của một số quốc gia trong khu vực đã ngang bằng với mức thuế suất sẽ áp dụng của Việt Nam từ năm 2020 (Singapore 17%). Do đó, nếu Việt Nam tiếp tục duy trì mức thuế suất 20% giai đoạn từ 2016 – 2020 sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh trong quá trình thu hút vốn đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh. Chính vì thế, thuế suất thuế TNDN ở Việt Nam trong thời gian tới cần phải được xem xét lại cho phù hợp với tình hình kinh tế khi Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhằm tăng khả năng thu hút nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn. Chính vì vậy, tầm nhìn đến năm 2020 cũng cần xem xét đánh giá lại lộ trình cắt giảm thuế suất sao cho phù hợp. Trong luận văn này tác giả xây dựng một lộ trình cắt giảm thuế suất thuế TNDN như sau:Việc giảm thuế suất thuế TNDN phải được thực hiện trước và từng bước một – nếu cắt giảm thuế suất lớn trong thời gian ngắn sẽ gây sụt giảm mạnh trong nguồn thu NSNN, mất cân đối đột ngột trong thu chi ngân sách. Nếu thực hiện giảm thuế suất thuế TNDN từng bước một, trong vài năm đầu có thể làm giảm nguồn thu trong NSNN nhưng sẽ đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu NSNN trong trung và dài hạn (3-5 năm) do môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, các DN có thể tăng thêm nguồn lực tài chính, tích lũy để tái đầu tư. Ngoài ra, thuế suất thuế TNDN thấp không chỉ làm giảm gánh nặng cho đầu tư mới, mà còn làm chìm đi các gánh nặng thuế đối với những đầu tư trước đó. – Thứ hai, Việt Nam nên áp dụng chính sách hỗ trợ mới là “tín dụng thuế” đối với các DN vừa và nhỏ. Trong bối cảnh kinh tế đang suy giảm, các doanh nghiệp trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn. Chính phủ nên sử dụng chính sách hỗ trợ mới là “tín dụng thuế” nhằm tháo dỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Theo đó, tín dụng thuế là hình thức Nhà nước cho phép các doanh nghiệp (hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh) được giữ lại tiền thuế phải nộp để đầu tư trở lại phát triển sản xuất kinh doanh. Nghĩa là, Nhà nước cho doanh nghiệp vay vốn một cách trực tiếp, không cần tài sản thế chấp, không phải trả lãi vay, tạo điều kiện thuận lợi về vốn, giúp doanh nghiệp đầu tư phát triển, phục hồi tăng trưởng kinh tế. Việt Nam nên lựa chọn một số ngành nghề khó khăn chẳng hạn như nông nghiệp, cơ khí, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để hỗ trợ. Theo đó, các doanh nghiệp vẫn kê khai nộp thuế bình thường nhưng Nhà nước cho giữ lại 80% thuế TNDN phải nộp 18 tháng, để mua sắm máy móc, thiết bị, thực hiện các hoạt động tái đầu tư, và để DN vẫn có vốn vượt qua được giai đoạn khó khăn, để cứu doanh nghiệp – Thứ ba, xây dựng mô hình phân tích tác động thay đổi của thuế TNDN đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Với mô hình này dựa trên mối quan hệ của GDP, thu nhập, năng suất… và nguồn thu thuế, cho phép đánh giá được sự co giản của thuế TNDN đối với GDP, thu nhập. Bên cạnh đó, mô hình này phân tích tác động một sự thay đổi chính sách thuế TNDN lên người chịu thuế hay những nhóm đối tượng liên quan như Nhà nước – Doanh nghiệp. Việc xác định được mô hình đánh giá tác động sự thay đổi chính sách thuế đến từng đối tượng liên quan sẽ giúp nhà quản lý xây dựng, điều chỉnh chính sách thuế TNDN chính xác và hiệu quả hơn. Trong quá trình xây dựng và điều chỉnh thuế TNDN ở Việt Nam, các nhà quản lý có thể sử dụng công cụ đánh giá dự báo tác động pháp luật RIA (Regulatory Impact Assessment) – là một công cụ kết hợp cảphương pháp định tính và định lượng nhằm đánh giá và dự báo tác động của các chính sách thuế TNDN trước khi được thực triển khai vào thực tế. RIA cung cấp cho nhà quản lý những thông tin chi tiết về những chi phí, lợi ích, tác động và rủi ro có thể xảy ra khi ban hành chính sách thuế TNDN. Mục đích sử dụng công cụ RIA là nhằm xây dựng và ban hành những chính sách thuế TNDN tốt hơn theo hướng giảm thiểu các tác động tiêu cực tới Nhà nước và doanh nghiệp, để xây dựng được chính sách thuế TNDN hợp lý hơn, hiệu quả hơn. Về cơ bản công cụ RIA trải qua 6 giai đoạn: + Giai đoạn một: nhận diện vấn đề: giai đoạn này cần phải xác định được mục tiêu của chính sách thuế TNDN sắp ban hành, nhận diện được vấn đề đang gặp phải hiện nay, để xem xét có cần phải ban hành chính sách thuế mới hay không. + Giai đoạn hai: xây dựng phương án chính sách: xây dựng chính sách thuế đểgiải quyết những vấn đề được nhận diện (giai đoạn 1). Trong giai đoạn này, nhà quản lý sẽ phải tổ chức những buổi thảo luận và ước tính được những lợi ích, chi phí của từng chính sách thuế cụ thể. Điều này giúp cho nhà quản lý xây dựng được chính sách thuế TNDN tối ưu nhất, phù hợp nhất và ít tác động tiêu cực đến Nhà nước và doanh nghiệp nhất. + Giai đoạn ba: tiến hành tham vấn (càng rộng càng tốt) với các doanh nghiệp khác nhau với những phương án chính sách thuế đã được xây dựng ở giai đoạn 2. Mỗi phương án chính sách thuế đưa ra tham vấn với các doanh nghiệp phải gắn liền với những tính toán chi phí và lợi ích cụ thể. + Giai đoạn bốn: hoàn thiện báo cáo RIA: trên báo cáo RIA tập trung chi tiết hóa các khoản chi phí và lợi ích của phương án chính sách thuế TNDN đã lựa chọn. Sau đó, hoàn thành báo cáo này và nộp cho Tổng Cục thuế và Bộ Tài chính để làm căn cứ ban hành hay điều chỉnh chính sách thuế TNDN. + Giai đoạn năm: triển khai thực hiện chính sách vào thực tế. + Giai đoạn sáu: đánh giá lại: tiến hành đánh giá chính sách thuế TNDN đã được thực hiện trong thực tế. Nếu thấy những bất cập và cần phải điều chỉnh chính sách, thì lại tiếp tục thực hiện một quy trình RIA mới. – Thứ tư, tăng cường quản lý trao đổi thông tin quốc tế Các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng đang dạng hóa và mở rộng về phạm vi. Chính vì vậy, làm xuất hiện nhiều hành vi trốn thuế, lừa đảo trong kinh doanh…nhằm lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước. Vì thế, cơ quan thuế các nước nên tăng cường trao đổi thông tin trên cơ sở các điều ước quốc tế để cũng đấu tranh chống tình trạng trốn thuế. Nhà nước Việt Nam tăng cường triển khai ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, sẽ là biện pháp tốt để ngành thuế các nước trao đổi thông tin, kiểm soát thu nhập của người nộp thuế. – Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm về thuế Hiện nay, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng, các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam ngày càng phong phú hơn, một số doanh nghiệp đang lợi dùng một vài sơ hở của chính sách thuế để lách luật nhằm chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước. Chính vì vậy, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra là nhiệm vụ cấp bách hiện nay nhằm phát hiện những hành vi vi phạm về thuế để nhắc nhở, ngăn chặn và trừng phạt đối với trường hợp cố ý gian lận. Để đảm bảo phát hiện được hết các vi phạm về thuế TNDN, công tác thanh tra, kiểm tra cần được cải cách như sau: + Phân loại đối tượng để thanh tra, kiểm tra. Tập trung kiểm tra các đối tượng có nhiều rủi ro về thuế, thường xuyên gian lận về thuế. Đối với các đối tượng thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế thì tối thiểu 3 năm phải kiểm tra thuế 1 lần. + Việc thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào hóa đơn chứng từ, sổ sách kế toán và kiểm kê hàng hóa thực tế có ở doanh nghiệp để có thể xác định đầy đủ các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, cũng như xác định được các khoản thuế TNDN mà doanh nghiệp đã gian lận của nhà nước. + Xây dựng các văn bản pháp luật để quy định rõ ràng các chế tài cụ thể về xử lý vi phạm, cưỡng chế thuế. + Phải thành lập bộ phận kiểm tra nội bộ trong ngành thuế, để đảm bảo các bộ phận trực thuộc trong cơ quan thuế đều thực hiện đúng pháp luật, đúng đường lối chính sách của Đảng, chống tiêu cực tham nhũng. – Thứ sáu, nâng cao công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Để hạn chế thất thoát nguồn thu cần phải nâng cao nhận thức của dân chúng về tính tuân thủ, trách nhiệm đối với nghĩa vụ thuế. Vì vậy, nâng cao trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế đến người dân, đến doanh nghiệp là điều cần thiết nhằm làm tăng tính tự giác, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật thuế của người nộp thuế. Tăng cường hình thức thông tin tuyên truyền qua mạng internet, đường dây nóng, email,…nhằm tạo sự liên hệ chặt chẽ giữa người nộp thuế và cơ quan thuế, qua đó nâng cao trách nhiệm của người nộp thuế đối với nghĩa vụ của nhà nước. Biểu dương kịp thời các DN, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với nhà nước, đồng thời, cũng có những chế tài nghiêm minh với các đối tượng có hành vi gian lận hoặc trốn thuế. Bên cạnh đó, tăng cường sự phối hợp của chính quyền các cấp với cơ quan thuế trong việc nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và người dân. Hiện nay, cơ chế nộp thuế đang dần chuyển sang hình thức tự động kê khai và nộp thuế đối với đối tượng nộp thuế. Vì thế, việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ đối với người nộp thuế là điều cần thiết. Các dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế chẳng hạn như: + Cung cấp dịch vụ kế toán thuế: dịch vụ này sẽ cung cấp đầy đủ thông tin pháp luật kế toán liên quan đến chính sách thuế hiện hành. Hỗ trợ các DN, cá nhân hoàn thành các Báo cáo về kế toán thuế để nộp cho cơ quan quản lý thuế. + Cung cấp dịch vụ đai lý thuế: đại lý thuế cung cấp toàn bộ dịch vụ thuế cho DN, các DN có thể ủy quyền cho đại lý thuế thực hiện các khâu liên quan đến kê khai, và quyết toán thuế. + Cung cấp dịch vụ tư vấn thuế: Cơ quan thuế nên thành lập bộ phận chuyên dịch vụ tư vấn tất cả các vấn đề về thuế miễn phí đối với người nộp thuế, giúp người nộp thuế có thể hiểu rõ và kịp thời về chính sách thuế hiện hành của Nhà nước. – Thứ bảy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế. Công tác đào tạo nghiệp vụ phải được đặt lên hàng đầu: rà soát, đánh giá lại toàn bộ đội ngũ cán bộ thuế, theo đó những cán bộ nào chưa qua đào tạo, hoặc đào tạo không đúng chuyên ngành thì cho đi đào tạo trình độ đại học cho đúng chuyên ngành. Đối với cán bộ thuế đã qua đào tạo chuyên ngành nhưng thời gian đã lâu thì tiếp tục cho đi đào tạo các lớp chuyên sâu ngắn hạn, cán bộ thuế yếu về lĩnh vực nào thi tập trung đào tạo lĩnh vực đó, không đào tạo tràn lan, nhằm tránh lãng phí tiền bạc, thời gian cho cơ quan thuế và cá nhân. Cơ quan thuế nên hợp tác với các trường để đào tạo chuyên sâu các mặt nghiệp vụ như: kế toán thuế, quản lý rủi ro thuế, quản lý nợ động thuế,…Bên cạnh đó, cơ quan thuế cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực dài hạn thông qua các hình thức đào tạo nước ngoài, hoặc tham gia các chương trình đào tạo do các tổ chức quốc tế tổ chức tại Việt Nam, để có thể học tập kinh nghiệm quản lý điều hành của các tổ chức nước ngoài. Ngoài ra, đẩy mạnh công nghệ thông tin, trang thiết bị hiện đại để tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ thuế yên tâm công tác, gắn bó với công việc được giao, đạt hiệu quả cao nhất trong công việc.

    3. Kiến nghị giúp hoàn thiện thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

    3.1. Kiến nghị với Bộ Tài chính:

    – Thứ nhất, Bộ Tài chính (BTC) phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, kiểm soát trong quá trình triển khai thực hiện, đồng thời, lắng nghe ý kiến phản ánh của các DN, người nộp thuế nhằm kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc để có các biện pháp tháo gỡ xử lý, kịp thời sửa đổi bổ sung các văn bản theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi để đảm bảo quá trình triển khai Luật Thuế TNDN được thuận lợi, thông suốt. – Thứ hai, trên cơ sở Luật Thuế TNDN đã được ban hành, BTC cần sớm xây dựng trình Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật; bên cạnh đó, trực tiếp ban hành các văn bản theo thẩm quyền để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất về quy định pháp luật trong quá trình triển khai thực hiện. – Thứ ba, BTC cần định hướng phát triển thu thuế TNDN không dùng tiền mặt nhằm hiện đại hóa và cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động thu ngân sách: + Cần hoàn thiện pháp lý về thu thuế không dùng tiền mặt, chẳng hạn như: quy định rõ các chứng từ điện tử trong hoạt động thu NSNN (chứng từ nộp NSNN được in từ máy tính ATM; bảng kê thanh toán tiền ở các địa điểm chấp nhận thẻ,…); cho phép các đối tượng nộp thuế có tài khoản ở Kho bạc nhà nước hoặc ngân hàng thương mại được phép nộp thuế trực tiếp thông qua trích chuyển tài khoản của mình. + Tăng cường khuyến khích và giúp đỡ các DN có thể mở tài khỏan tại ngân hàng để có điều kiện nộp thuế thông qua tài khoản của doanh nghiệp, người nộp thuế. Tăng cường mở rộng phạm vi nộp thuế không dùng tiền mặt tại những địa bàn mà Ngân hàng có cung ứng dịch vụ và có đặt trụ ATM.+ Nghiên cứu triển khai hình thức nộp ngân sách thông qua máy chấp nhận thẻ thanh toán (POS) tương tự như việc thanh toán thẻ tại các siêu thị hiện nay để tạo thuận lợi cho người nộp thuế, đồng thời, giảm thiểu thanh toán dùng tiền mặt, giúp tiết kiệm được thời gian và chi phí đi lại. + Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào việc thu thuế TNDN không dùng tiền mặt, học hỏi từ các phương pháp tiên tiến mà quốc tế đã sử dụng, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ và tiết kiệm chi phí thanh toán, chi phí thực hiện thủ tục nộp thuế.

    3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Hiện nay, các hoạt động giao dịch của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đều thực hiện thông qua các dịch vụ ngân hàng. Trong thời gian tới, để triển khai chính sách thu thuế TNDN không dùng tiền mặt cần sự hỗ trợ rất lớn của hệ thống Ngân hàng. Do đó, ngân hàng nhà nước cần có định hướng, ban hành các văn bản pháp luật cũng như phối hợp thực hiện thu thuế thông qua hệ thống ngân hàng. – Ngân hàng nhà nước tăng cường hoàn thành kết nối Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng với Hệ thống thanh toán của Kho bạc Nhà nước, thống nhất dữ liệu giữa Kho bạc nhà nước và Ngân hàng thương mại được giao nhiệm vụ thu thuế TNDN, đảm bảo dữ liệu nhập một nơi và nhiều nơi khác sử dụng được dữ liệu đó, nhằm giảm thiểu công sức và thời gian nhập liệu. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình làm thủ tục nộp thuế cho đối tượng nộp thuế. – Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân nộp thuế mở tài khoản tại các ngân hàng và thực hiện nộp thuế không dùng tiền mặt, chỉ thông qua chuyển khoản tại các ngân hàng thương mại được giao nhiệm vụ tổ chức thu ngân sách nhà nước. – Ngân hàng nhà nước cần tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan trong việc triển khai phương án thu thuế TNDN không dùng tiền mặt. Ngân hàng nhà nước cần xây dựng chiến lược, cơ chế, chính sách giám sát đối với hệ thống thu thuế TNDN không dùng tiền mặt, nhằm đảm bảo tính ổn định, an toàn và hiệu quả. Chỉ đạo các Ngân hàng thương mại chú trọng ngày càng gia tăng các tiện ích đi kèm dịch vụ, phương tiện thanh toán hiện đại, tăng cường mở rộng các điểm chấp nhận thẻ nộp thuế không dùng tiền mặt trên phạm vi toàn quốc. – Ngân hàng nhà nước cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế để nhận được hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, học hỏi kinh nghiệm, cũng như học hỏi những mô hình dự án đã triển khai thành công ở các nước khác. Bên cạnh đó, phối hợp với các tổ chức quốc tế trong việc hỗ trợ, cung cấp trang thiết bị hiện đại dùng trong thu ngân sách nhà nước không dùng tiền mặt tới khu vực nông thôn, nơi chưa có điều kiện thuận lợi tiếp cận dịch vụ của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng nhà nước cũng thường xuyên tuyêntruyền, hướng dẫn các doanh nghiệp, cá nhân hiểu, tiếp cận và sử dụng các phương tiện, dịch vụ thu thuế không dùng tiền mặt để tạo ra thói quen sử dụng dịch vụ này trong doanh nghiệp, cá nhân nộp thuế.

    4. Kết luận

    Đổi mới chính sách thuế TNDN trong điều kiện hiện nay, không chỉ đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế mà còn là công cụ vững chắc giúp Việt Nam có điều kiện ứng phó với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Thuế TNDN là chính sách thuế chịu sự ảnh hưởng trực tiếp bởi tác động mạnh mẽ của hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, cần cải tiến, hoàn thiện chính sách thuế hướng tới đảm bảo nguồn thu ngân sách. Đồng thời đảm bảo công bằng, bình đẳng cho doanh nghiệp, khuyến khích sản xuất kinh doanh nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc cải tiến chính sách thuế TNDN thông qua mở rộng, bao quát các đối tượng nộp thuế phát sinh, điều chỉnh cắt giảm thuế suất theo lộ trình, công khai, minh bạch, rõ ràng,… sẽ đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Quỹ phát triển cộng đồng – Bài học cho quỹ xây dựng nông thôn mới

    Quỹ phát triển cộng đồng – Bài học cho quỹ xây dựng nông thôn mới

    Quỹ phát triển cộng đồng – Bài học cho quỹ xây dựng nông thôn mới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Giám sát ngân sách của cộng đồng trong thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Qu%E1%BB%B9-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng-B%C3%A0i-h%E1%BB%8Dc-cho-qu%E1%BB%B9-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-m%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quỹ phát triển cộng đồng – Bài học cho quỹ xây dựng nông thôn mới

    1. BỐI CẢNH

    Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 800/QĐ TTg ngày 04/6/2010, xác định cộng đồng cư dân nông thôn có vai trò chủ đạo trong xây dựng NTM. Vai trò này được thể hiện trong việc cộng đồng dân cư nông thôn có quyền tham gia thảo luận, quyết định nội dung ưu tiên, tự nguyện đóng góp (tiền, đất, vật chất, lao động…) và giám sát quá trình xây dựng NTM, hưởng lợi từ quá trình xây dựng NTM. Theo báo cáo năm 2015 của Văn phòng Điều phối NTM Trung ương, trong giai đoạn 2011-2014 cộng đồng dân cư đóng góp khoảng 11,63% tổng vốn xây dựng NTM. Nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2014) cũng cho thấy người dân nông thôn đóng góp nhiều khoản phục vụ xây dựng NTM, theo nhiều nội dung khác nhau bao gồm cả xây dựng cơ sở hạ tầng, các quỹ phát triển… Phần lớn các khoản tiền huy động của cộng đồng được chủ yếu sử dụng cho các công trình cấp thôn/bản hoặc các hoạt động phục vụ cộng đồng thôn/bản trực tiếp tác động đến người dân đóng góp. Tuy nhiên, phần lớn các khoản đóng góp của người dân được huy động cho xây dựng từng công trình, từng hoạt động cụ thể. Các địa phương thiếu một nguồn vốn được duy trì thường xuyên để thực hiện các hoạt động theo nhu cầu của địa phương, ví dụ như duy tu, bảo dưỡng công trình hạ tầng sau đầu tư. Để giải quyết vấn đề này, một số quỹ phát triển cộng đồng đã cho phép sử dụng nguồn vốn của Quỹ vào duy tu bảo dưỡng công trình cấp thôn bản.Thực tiễn hiện nay cho thấy nhiều quỹ phát triển cộng đồng (PTCĐ, tiếng Anh là Community Development Fund – CDF) đã được triển khai trong nhiều chương trình, dự án ở nhiều địa phương khác nhau (hầu hết là thuộc các Chương trình, dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ). Các quỹ có mô hình tổ chức, nội dung hoạt động khác nhau nhưng đều nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư là người hưởng lợi trực tiếp và đã chứng minh tính hiệu quả của Quỹ, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng, quản lý và sử dụng vốn hiệu quả, huy động được sự đóng góp và tham gia của cộng đồng, từ nhiều nguồn vốn khác nhau và nâng cao năng lực của cộng đồng dân cư trong phát triển nông thôn. Một số địa phương đã có chủ trương áp dụng các quỹ phát triển cộng đồng trên diện rộng như các tỉnh Hà Giang, Hoà Bình. Tuy nhiên, hiện nay vẫn thiếu một khung thể chế ở cấp Trung ương quy định hoạt động của các quỹ PTCĐ này để tạo hành lang pháp lý cho các địa phương triển khai diện rộng trên phạm vi cả nước. Nhằm tăng cường huy động vốn cho xây dựng NTM, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm lãng phí, thất thoát, tăng hiệu quả sử dụng công trình và đặc biệt là hình thành cơ chế xây dựng NTM bền vững, huy động sự tham gia chủ động, tích cực của cộng đồng cư dân nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 18/CT-TTg yêu cầu “Nghiên cứu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về lập và sử dụng quỹ xây dựng nông thôn mới ở các địa phương”1 , phục vụ cho Chương trình MTQG xây dựng NTM. Đề án này đề xuất mô hình Quỹ xây dựng NTM nhằm thử nghiệm trong giai đoạn 2016-2018 để hoàn thiện mô hình tổ chức Quỹ xây dựng NTM và cơ chế chính 1 Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 15/07/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng NTM. sách nhằm áp dụng Quỹ xây dựng NTM trên phạm vi cả nước. Bài viết này tổng kết lại những bài học kinh nghiệm hay trong xây dựng và vận hành quỹ phát triển cộng đồng tại một số tỉnh trên các khía cạnh môi trường thể chế, tổ chức bộ máy quản lý, nội dung và cơ chế hoạt động, nguồn vốn của quỹ và nâng cao năng lực quản lý quỹ. Những bài học này có thể giúp ích cho việc phát triển quỹ xây dựng nông thôn mới. Việc tổng kết kinh nghiệm của các quỹ phát triển cộng đồng dựa trên kết quả khảo sát 15 mô hình quỹ phát triển cộng đồng thuộc các tỉnh Hòa Bình, Hà Giang, Quang Trị và Quảng Ngãi năm 2016. Các quỹ khảo sát đại diện cho các mô hình được thành lập và hỗ trợ phát triển bởi chính quyền, các dự án phát triển, tổ chức phi chính phủ. Thông tin thu thập dựa trên thảo luận nhóm với các thành viên quản lý quỹ. Ngoài ra, thông tin thu thập thông qua trao đổi với ban quản lý dự án, chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ và nghiên cứu các tài liệu thứ cấp của tổ chức, dự án. Kết quả trình bày trong bài viết chủ yếu dựa trên mô hình điển hình của 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Giang. 

    2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CÁC QUỸ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

    2.1. Môi trường thể chế cho Quỹ PTCĐ hoạt động

    Mặc dù có nhiều quỹ PTCĐ đã được thành lập và hoạt động tại nhiều địa phương, nhất là trong các dự án hỗ trợ phát triển địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn nghèo. Tuy nhiên, hiện chưa có các quy định pháp lý cụ thể ở cấp Trung ương cho hoạt động của các quỹ phát triển cộng đồng này. Cụ thể, chưa có quy định về tổ chức bộ máy quản lý, nguồn vốn, nội dung hoạt động và cơ chế kiểm tra của quỹ. Dù vậy, nhận thức được tầm quan trọng của quỹ phát triển cộng đồng, một số tỉnh ban hành hướng dẫn, quy định cho hoạt động của quỹ PTCĐ. Ví dụ, tỉnh Hòa Bình ban hành sổ tay hướng dẫn quản lý và sử dụng quỹ PTCĐ (Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, 2011). Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành quy định về quản lý và sử dụng quỹ PTCĐ (Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang, 2015). Đó là các hướng dẫn, quy định về nguồn vốn của quỹ, nội dung hoạt động, tổ chức quản lý quỹ, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các quỹ phát triển cộng đồng, cung cấp hướng dẫn cho việc thành lập và vận hành của quỹ, tạo ra khung pháp lý để quản lý thống nhất trên địa bàn tỉnh. Việc ban hành các quy định, hướng dẫn hoạt động của quỹ phát triển cộng đồng cũng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với Quỹ, tránh việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích của quỹ. 

    2.2. Tổ chức bộ máy quản lý

    Các Quỹ phát triển cộng đồng đã được thành lập và hoạt động ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau như Quỹ phát triển cộng đồng, Quỹ phát triển thôn bản, Quỹ tiết kiệm… Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của các quỹ khác nhau, có thể được phân chia thành 4 nhóm sau: i) Quỹ PTCĐ được quản lý bởi Ủy ban nhân dân (UBND) xã; ii) Quỹ do tổ chức chính trị xã hội cấp xã quản lý. Các quỹ này thường có số vốn ít, do một tổ chức chính trị xã hội trực quản lý và phục vụ thành viên của đoàn thể; iii) Quỹ PTCĐ do thôn quản lý quỹ; iv) Quỹ do tổ nhóm đồng sở thích quản lý. Đây là các quỹ tự nguyện của các nhóm đồng sở thích. Điển hình cho mô hình quỹ PTCĐ do UBND xã trực tiếp quản lý là các Quỹ phát triển xã ở tỉnh Hòa Bình và Quỹ sáng kiến được thành lập trong khuôn khổ dự án thúc đẩy quản lý cộng đồng tại Việt Nam (PCM) giai đoạn II tại 03 huyện tỉnh Quảng Bình và 06 huyện tỉnh Thái Nguyên. Quỹ do UBND xã trực tiếp quản lý với Ban quản lý giúp việc gồm lãnh đạo UBND xã, đại diện các tổ chức chính trị xã hội của xã (Hội nông dân, hội Phụ nữ, Mặt trận tổ quốc, Hội cựu chiến binh,..), cán bộ nông nghiệp, đất đai và kế toán của xã và các trưởng thôn. Tham gia BQL Quỹ sáng kiến còn có cả đại diện nông dân là các cá nhân nòng cốt. UBND xã mở tài khoản ký gửi của xã tại Ngân hàng nhà nước để quản lý vốn của Quỹ. Mô hình tổ chức quản lý này có thuận lợi là việc huy động cán bộ kế toán và chuyên môn (có kiến thức, kinh nghiệm) của xã vào quản lý Quỹ giúp cho Quỹ giảm rủi ro mất vốn, thuận lợi cho quản lý tài chính, giảm thời gian và công sức đào tạo cán bộ quản lý quỹ, giảm chi phí quản lý Quỹ. Ngoài ra, UBND xã có thể định hướng các hoạt động Quỹ hỗ trợ phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã. Tuy nhiên, mô hình tổ chức Quỹ ở cấp xã có hạn chế là khó huy động sự đóng góp tự nguyện của người dân hơn so với các Quỹ có quy mô ở cấp thôn/bản. Quỹ phát triển cộng đồng thôn ở Hà Giang là một mô hình điển hình của Quỹ ở cấp thôn bản. Quỹ do Ban phát triển thôn, gồm 5 thành viên, quản lý và điều hành. Các thành viên do thôn lựa chọn. UBND xã phê duyệt thành viên Ban phát triển thôn và quy chế hoạt động của Quỹ phát triển cộng đồng thôn. Quy chế nêu rõ việc sử dụng quỹ, tỷ lệ Quỹ được trích dành cho công tác quản lý,…Mô hình tổ chức quản lý Quỹ PTCĐ ở cấp thôn có ưu điểm là quy mô nhỏ, tính cộng đồng cao nên thuận lợi cho quản lý và huy động sự tham gia, đóng góp của người dân. Tuy nhiên, một hạn chế của mô hình này cần mất nhiều thời gian để đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý Quỹ. Hơn nữa, Quỹ không có tư cách pháp nhân, nên có khó khăn trong việc thanh quyết toán, vẫn phải thông qua xã.

    2.3. Nguồn vốn của Quỹ

    Một điểm chung của các quỹ PTCĐ là đều được cung cấp một nguồn vốn mồi ban đầu từ các dự án phát triển (ví dụ Quỹ phát triển xã ở Hòa Bình do Dự án “Chương trình cải thiện cung cấp dịch vụ công trong nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình” – PSARD HB) hỗ trợ, Quỹ sáng kiện của cơ quan Hợp tác phát triển Thụy Sỹ (SDC) hoặc từ chính quyền (Quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang). Mức hỗ trợ vốn ban đầu rất khác nhau từ vài chục triệu (Quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang) đến 800 triệu đồng (Quỹ sáng kiến của SDC). Các quỹ có những cách huy động khác nhau để tăng nguồn vốn của Quỹ như huy động sự đóng góp của người dân, của các nhà tài trợ, … Điển hình cho cách thức huy động để tăng nguồn vốn của Quỹ là Quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang. Kết quả khảo sát cho thấy các quỹ PTCĐ thôn ở Hà Giang tăng vốn của quỹ thông qua một hoặc một số trong các nguồn thu sau, tùy thuộc vào điều kiện thực tế tại thôn: Tiền tiết kiệm được do thực hiện các hoạt động xây dựng cơ bản của thôn; Nguồn đóng góp của các tổ chức cá nhân; Nguồn từ quỹ phát triển cộng đồng xã giao cho thôn quản lý như: nguồn từ quỹ dự án ODA, các tổ chức phi chính phủ đã kết thúc hoặc đang triển khai thực hiện có nội dung phù hợp với quy định về quản lý, sử dụng; Nguồn từ vốn sự nghiệp của chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình 30a, 135…; Từ thu lãi tiền cho vay, lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng; Kinh phí UBND xã giao khoán cho thôn thực hiện các duy tu, bảo dưỡng công trình cơ sở hạ tầng sau đầu tư (ví dụ chương trình MTQG giảm nghèo); Nguồn từ kinh phí cấp bù cho miễn thu thủy lợi phí; Nguồn từ kinh phí sự nghiệp giao thông (thuộc nhiệm vụ đảm bảo ngân sách xã); Nguồn kinh phí khoanh nuôi, bảo vệ rừng và dịch vụ môi trường rừng đối với diện tích rừng do cộng đồng bảo vệ (bàn bạc thống nhất với người dân thu vào quỹ tối thiểu 50%). Kết quả khảo sát ở Hà Giang cho thấy các quỹ PTCĐ thôn không những bảo toàn mà còn tăng lượng vốn lên rất nhanh. Nhiều quỹ với số vốn được nhà nước hỗ trợ ban đầu 30 triệu, chỉ sau chưa đầy 2 năm đã có số vốn lên đến 300 triệu đồng. Điều đó minh chứng cho khả năng của cộng đồng dân cư trong việc quản lý, vận hành và phát triển quỹ. 

    2.4. Nội dung hoạt động của quỹ PTCĐ

    Hoạt động của các quỹ PTCĐ rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương và dự án, nhưng có thể thuộc các nhóm sau: i) Phát triển cơ sở hạ tầng: Vốn của quỹ được sử dụng để đầu tư cho các công trình hạ tầng nhỏ, đơn giản cấp thôn như đường nội đồng, đường giao thông, xây dựng nhà văn hóa, bể nước sạch, công trình vệ sinh,…). Khi đầu tư cho các nội dung này, thường có huy động thêm sự đóng góp của người dân như đóng góp đất, ngày công lao động, vật tư và cả tiền. Ngoài ra nguồn vốn của quỹ cũng có thể được sử dụng cho việc duy tu, bảo dưỡng các công trình giao thông, thủy lợi, kênh mương và bảo vệ rừng. ii) Hỗ trợ phát triển sản xuất. Đây là hoạt động ưu tiên của nhiều quỹ. Quỹ hỗ trợ phát triển sản xuất của người dân thông qua chi phí cho các khóa đào tạo tập huấn, phát triển dịch vụ nông nghiệp, hỗ trợ cây con giống cho nông dân. Một số quỹ còn cung cấp tín dụng nhỏ để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất. Việc cung cấp tín dụng vừa hỗ trợ người dân, vừa bảo toàn vốn của quỹ. iii) Hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn. Đây không phải là hoạt động phổ biến ở tất cả các quỹ hiện nay mặc dù trong điều lệ của nhiều quỹ có quy định về nội dung này. Một lí do là hoạt động đào tạo, nâng cao kỹ năng đã được hỗ trợ bởi dự án trong quá trình xây dựng các quỹ. Cơ chế xác định nội dung quỹ hỗ trợ thường căn cứ vào nhu cầu cấp thiết của địa phương và tính khả thi của dự án quỹ hỗ trợ. Thông thường các thôn, hộ khó khăn được ưu tiên. Một số quỹ áp dụng cơ chế cạnh tranh trong việc nhận được sự hỗ trợ của quỹ. Theo đó, các thôn gửi đề xuất cho Ban quản lý quỹ. Ban quản lý quỹ lựa chọn dự án quỹ hỗ trợ dựa trên các tiêu chí của quỹ và được các thành viên ban quản lý quỹ biểu quyết. Quỹ sáng kiến của SDC áp dụng các tiêu chí sau trong lựa chọn dự án hỗ trợ: (i) Mức độ khó khăn của thôn: ưu tiên thôn đặc biệt khó khăn, cách xa trung tâm; (ii) hoạt động đề xuất hỗ trợ phù hợp với nhu cầu người dân và định hướng phát triển của xã; (iii) Dự án có hình thúc tổ chức triển khai tốt; iv) Mức độ huy động đóng góp các nguồn khác ngoài Quỹ (của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân khác,…) vào thực hiện dự án. Dự án huy động được đóng góp nhiều được ưu tiên cao hơn. 

    2.5. Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý

    Một trong các khó khăn cho quản lý các quỹ PTCĐ là năng lực của thành viên Ban quản lý quỹ, đặc biệt là quỹ PTCĐ thôn. Để giúp Ban quản lý có thể tự quản lý quỹ, thông thường các dự án phải tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn và hướng dẫn thực hiện thông qua cách thức „cầm tay chỉ việc“. Kinh nghiệm từ các dự án do cơ quan hợp tác phát triển Thụy Sỹ cho thấy cần khoảng 2 năm để đào tạo, hướng dẫn cán bộ làm quen với công tác quản lý quỹ. Ngoài ra, đào tạo tập huấn cho cán bộ thôn cũng cần thiết để thôn có thể viết được dự án đề nghị quỹ hỗ trợ, nắm được cách thức tổ chức triển khai và huy động sự tham gia của người dân vào dự án của thôn và cách thức xác định các ưu tiên của thôn. Công tác ghi chép, quản lý tài chính của quỹ cũng là một nội dung cần đào tạo, tập huấn cho ban quản lý quỹ.

    2.6. Vai trò hỗ trợ từ bên ngoài

    Vai trò hỗ trợ từ bên ngoài là rất quan trọng với các quỹ PTCĐ. Phần lớn các quỹ PTCĐ được thành lập, quản lý và vận hành với sự hỗ trợ từ các dự án, các tổ chức phi chính phủ. Hỗ trợ từ bên ngoài cho quỹ PTCĐ bao gồm: i) Hỗ trợ nguồn vốn cho quỹ; ii) Hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý quỹ và các công cụ quản lý quỹ; iii) Hỗ trợ việc quản lý và vận hành quỹ; iv) Hỗ trợ đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý quỹ. Sự hỗ trợ từ bên ngoài không chỉ về tài chính, công cụ quản lý, nâng cao năng lực mà còn đảm bảo niềm tin của cộng đồng đối với hoạt động minh bạch của quỹ, nhất là trong giai đoạn quỹ bắt đầu xây dựng và vận hành.

    3. KIẾN NGHỊ

    3.1. Để cho quỹ PTCĐ phát triển thuận lợi, hoạt động hiệu quả và có đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội nông thôn, nhất là trong công tác xóa đói giảm nghèo thì cần ban hành một văn bản pháp lý, quy định hướng dẫn cho việc tổ chức và vận hành các quỹ PTCĐ, đảm bảo quỹ hỗ trợ hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương và chính quyền có căn cứ để giám sát, hỗ trợ các quỹ PTCĐ hoạt động.

    3.2. Kiến nghị thử nghiệm mô hình quỹ xây dựng NTM cấp xã, cấp thôn dựa trên kinh nghiệm, cách tiếp cận của quỹ phát triển cộng đồng. Trước mắt ưu tiên thử nghiệm quỹ xây dựng NTM cấp xã, với các lí do sau:

     – Xã là chấp nhận và quản lý ngân sách. Việc tổ chức Quỹ xây dựng NTM cấp xã phù hợp với quy định hiện hành về quản lý ngân sách xã. 

    – UBND xã có nguồn nhân lực có trình độ, kinh nghiệm quản lý và chuyên môn, có kế toán chuyên trách. Có thể sử dụng cán bộ UBND xã và các đoàn thể tham gia kiêm nhiệm quản lý hoạt động của Quỹ, vừa đảm bảo bộ máy của Quỹ có đủ năng lực, kinh nghiệm trong quản lý Quỹ và giảm chi phí quản lý Quỹ. 

    – Việc quản lý Quỹ, nhất là tài chính, kế toán phức tạp và có rủi ro. Cấp xã quản lý sẽ giảm rủi ro. 

    – Nếu Quỹ ở cấp thôn thì phải đào tạo cán bộ quản lý Quỹ ở thôn. Quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, chuyên gia và kinh phí. Kinh nghiệm từ các chương trình dự án có hỗ trợ xây dựng Quỹ PTCĐ cấp thôn cho thấy cần phải hỗ trợ nâng cao năng lực (đào tạo, tập huấn, cử cán bộ hướng dẫn, làm cùng) cho cán bộ thôn trong nhiều năm mà nhiều thôn vẫn không quản lý được theo đúng yêu cầu đo năng lực cán bộ thôn quá hạn chế và đã xảy ra trường hợp khó thu hồi vốn cho Quỹ. 

    – Quỹ tổ chức và quản lý ở cấp xã những hoạt động chủ yếu ở cấp thôn và sự tham gia của đại diện thôn trong Ban quản lý quỹ nên hình thành được kinh nghiệm tổ chức quản lý Quỹ cho cán bộ cấp thôn bản, tiến tới tổ chức Quỹ xây dựng NTM ở cấp thôn/bản. 

    3.3. Một số điểm chủ yếu với mô hình quỹ xây dựng NTM cấp xã 

    – Nguồn vốn: Quỹ phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn vốn. Nguồn vốn đến từ nhiều nguồn khác nhau: vốn xây dựng NTM, từ các chương trình/dự án, vốn tài trợ, vốn góp,… 

    – Quỹ phục vụ cho phát triển kinh tế; xây dựng, bảo tồn, duy tu cơ sở hạ tầng cấp thôn; nâng cao năng lực cho cộng đồng dân cư; các hoạt động tập thể của thôn; các sáng kiến phát triển kinh tế xã hội của người dân. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Giám sát ngân sách của cộng đồng trong thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

    Giám sát ngân sách của cộng đồng trong thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

    Giám sát ngân sách của cộng đồng trong thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Gi%C3%A1m-s%C3%A1t-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-c%E1%BB%A7a-c%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BB%93ng-trong-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-ch%C6%B0%C6%A1ng-tr%C3%ACnh-MTQG-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%C3%B4ng-th%C3%B4n-m%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giám sát ngân sách của cộng đồng trong thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

    1. GIỚI THIỆU

    Mỗi người dân đều đang đóng góp vào ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua thuế (trực tiếp hoặc gián thu), phí và lệ phí. Mục đích của NSNN là sử dụng nhằm để kiến tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy phát triển và cung cấp các dịch vụ công để không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Hiệu quả phân bổ và sử dụng NSNN có ảnh hưởng trực tiếp đến người dân. Việc thâm hụt, lãng phí NSNN sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới mục đích sử dụng ngân sách, dẫn đến tăng bội chi và nợ công, và ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình phát triển kinh tế – xã hội và đời sống của người dân. Do vậy, mọi người dân đều có quyền: được biết thông tin về ngân sách; tham gia ý kiến vào việc phân bổ ngân sách; giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách; chất vấn và nhận phản hồi về thông tin ngân sách. Nhằm mục tiêu thúc đẩy công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân vào quản lý NSNN, từ năm 2015 Liên minh Minh bạch ngân sách (BTAP) đã được thành lập với sự tham gia của 7 thành viên. BTAP đã thực hiện các sáng kiến ở cấp trung ương và địa phương nhằm thúc đẩy công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân trong quản lý NSNN nói chung và trong CT MTQG NTM nói riêng. Tại Quảng Trị và Hoà Bình, BTAP đã thực hiện các sáng kiến nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân trong quản lý NSNN. Như tổ chức xây dựng năng lực cho các nhóm cộng đồng về giám sát NSNN, tạo cơ hội để cộng đồng được đối thoại với Chính quyền địa phương về sử dụng ngân sách, thực hiện các sáng kiến giám sát các công trình đầu tư trong CT MTQG NTM. Các hoạt động của BTAP đã tạo được những kết quả tích cực đối với hiệu quả quản lý ngân sách tại Quảng Trị và Hoà Bình. Với mục đích chia sẻ lại kinh nghiệm của BTAP trong việc thúc đẩy cộng đồng tham gia giám sát NSNN, tài liệu này sẽ trình bày tóm tắt kinh nghiệm của BTAP trong thúc đẩy sự tham gia của người dân, công đồng trong giám sát ngân sách nhà nước trong việc thực thi CTMTQG NTM tại Hoà Bình và Quảng Trị. 

    2. CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC THAM GIA GIÁM SÁT CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THỰC HIỆN CTMTQG NTM

    Giám sát cộng đồng đối với ngân sách nhà nước nói chung và trong CTMTQG NTM giai đoạn đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật Ngân sách nhà nước; Luật tiếp cận thông tin; Luật đầu tư công 2014; Nghị quyết liên tịch 403/2017/NQLT UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vai trò của cộng đồng được quy định cụ thể tại Điều 16 Luật NSNN 2015 và Điều 82 Luật Đầu tư công 2014. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được giao trách nhiệm chủ trì tổ chức việc giám sát NSNN, giám sát đầu tư của cộng đồng. Nội dung giám sát của cộng đồng bao gồm từ việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng NSNN, pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường; tình hình thực hiện dự toán NSNN, tiến độ và chất lượng các công trình đầu tư công; việc thực hiện công khai ngân sách và đầu tư công. Ban giám sát đầu tư cộng đồng sẽ thay mặt cho cộng đồng thực hiện các hoạt động giám sát hoạt động đầu tư trên địa bàn. Ban giám sát cộng đồng được thành lập và hoạt động theo Khoản 1, Điều 51, Nghị định số 84/2015/NĐ-CP của Chính phủ về giám sát và đánh giá đầu tư. Ban giám sát đầu tư cộng đồng có quyền thực hiện việc giám sát đầu tư theo kế hoạch đã đề ra, tiếp nhận thông tin do người dân phản ánh để gửi đến các cơ quan có thẩm quyền; tiếp nhận và phản ánh ý kiến phản hồi của cơ quan có thẩm quyền về những kiến nghị của người dân. Đồng thời, Ban giám sát đầu tư cộng đồng cũng có trách nhiệm gửi báo cáo giám sát đầu tư của cộng đồng định kỳ hoặc đột xuất cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Vai trò giám sát của cộng đồng và Ban giám sát cộng đồng trong CT MTQG NTM được quy định cụ thể tại Quyết định 1600/ QĐ-TTg phê duyệt CT NTM 2016-2020 (mục 6.d phần V) và Điều 8 Nghị định 161/2016/ NĐ-CP về Cơ chế đầu tư đặc thù trong các CTMTQG. Theo như phân tích trên, các quy định pháp lý về sự tham gia giám sát của cộng đồng đối với ngân sách nhà nước nói chung và trong thực hiện CT MTQG NTM đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, theo như ý kiến của các chuyên gia, người dân thì các quy định phápluật về sự tham gia của cộng đồng cần được chi tiết hơn ở một số nội dung, cụ thể: Thứ nhất: Các quy định pháp luật hiện hành về giám sát đầu tư của cộng đồng thiếu cơ chế phối hợp để ràng buộc trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu trong việc thực hiện quy định về giám sát đầu tư của cộng đồng. Thiếu chế tài xử lý khi nhà thầu, chủ đầu tư không thực hiện các quy định về giám sát đầu tư cộng đồng. Thứ hai: Quyền hạn của Ban giám sát cộng đồng còn hạn chế, chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của các bên liên quan trong việc thực hiện các kết luật và kiến nghị giám sát đầu tư của cộng đồng. Ban giám sát cộng đồng có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả giám sát và tiếp nhận các ý kiến phản ánh của người dân tới Uỷ ban MTTQ cấp xã để xác nhận trước khi gửi các cơ quan có thẩm quyền. Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của giám sát cộng đồng đối với chủ đầu tư, nhà thầu như thế nào lại chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể. Thứ ba: Theo Điều 51 của Nghị định 84/2015/NĐ-CP, ban giám sát cộng đồng thực trách nhiệm giám sát các công trình đầu tư công trên địa bàn. Tuy nhiên, lại thiếu quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về giám sát của cộng đồng đối với quy mô và chủ đầu của các công trình. Điều này dẫn tới những khó khăn cho cộng đồng khi thực hiện giám sát các dự án do trung ương/tỉnh/huyện làm chủ đầu tư, nhà thầu từ nơi khác thực hiện. Thứ tư: UB MTTQ Việt Nam là cơ quan chủ trì việc giám sát ngân sách nhà nước và các công trình đầu tư công. Tuy nhiên, vai trò này còn khá hạn chế do thiếu năng lực, nhân sự, cơ sở vật chất để hỗ trợ, hướng dẫn Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát đầu tư theo quy định của pháp luật. Thứ 5: Chưa có quy định hồ sơ thanh, quyết toán các công trình đầu tư công cần phải có chữ ký của ban giám sát cộng đồng. Vai trò của ban giám sát cộng đồng, người dân trong quy trình thanh quyết toán, nghiệm thu các công trình đầu tư chỉ được áp dụng đối với các công trình đầu tư được thực hiện theo Điều 8, Nghị định 161/201/ NĐ-CP. Theo đó ban giám sát cộng đồng và người dân được tham gia vào nghiệm thu công trình. 

    3. CHU TRÌNH NGÂN SÁCH VÀ SỰ THAM CỦA NGƯỜI DÂN

    Sự tham gia của cộng đồng vào chu trình ngân sách nhà nước được tóm tắt như Hình 1. Theo như các quy định pháp luật đã được trình bày ở Mục 2, người dân có quyền tham gia giám sát ngân sách nhà nước ở bất kỳ thời điểm nào của chu trình ngân sách. Khi có vấn đề thắc mắc hoặc cần làm rõ, hoặc cần phản ánh ý kiến liên quan đến ngân sách và sử dụng NSNN, người dân có thể đến trao đổi, gặp gỡ, gửi ý kiến kiến nghị của mình thông qua: Mặt trận tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên (Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh; Công đoàn); Hội đồng nhân dân các cấp; Đoàn đại biểu Quốc hội của địa phương; Ủy ban nhân dân các cấp; các đơn vị sử dụng ngân sách. Bên cạnh đó, người dân cũng có quyền phản ánh, kiến nghị về các vấn đề có liên quan đến việc quản lý, sử dụng NSNN hoặc tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật trực tiếp đến các cấp ngân sách hoặc cơ quan tài chính các cấp và các cơ quan có thẩm quyền khác.Sự tham gia của cộng đồng trong chu trình ngân sách khác nhau tuỳ theo từng bước của chu trình ngân sách. Cụ thể: Giai đoạn lập và phê chuẩn ngân sách: – Tham gia xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hàng năm ở địa phương: tham gia vào các buổi họp dân tại cấp thôn để đóng góp ý kiến về những nhu cầu cần được ưu tiên tại địa phương. – Góp ý trực tiếp cho kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch đầu tư công hàng năm khi bản dự thảo được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. – Tham gia đóng góp ý kiến trong các đợt tham vấn/kỳ họp tiếp xúc cử tri về các nội dung có liên quan đến kế hoạch tài chính, dự toán ngân sách và kế hoạch đầu tư công. – Tham gia đối thoại về dự thảo dự toán ngân sách/ kế hoạch tài chính hàng năm với chính quyền cơ sở. – Gửi kiến nghị, phản ánh về các nội dung mà mình quan tâm có liên quan đến dự toán NSNN, kế hoạch tài chính hàng năm, kế hoạch đầu tư công hàng năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương, cơ quan, đơn vịGiai đoạn thực hiện ngân sách: – Trực tiếp giám sát và phản hồi ý kiến cho các cơ quan chức năng về tiến độ, chất lượng, và quản lý chi phí của các công trình đầu tư trên địa bàn. – Gửi kiến nghị, phản ánh cho Ban giám sát đầu tư cộng đồng và các bên liên quan về tiến độ, chất lượng, quản lý chi phí đầu tư của các công trình/dự án đầu tư trên địa bàn. – Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin về chính sách, chương trình, dự án có sử dụng NSNN mà mình là đối tượng thụ hưởng. – Yêu cầu các cấp chính quyền giải trình về hành vi, quyết định về chấp hành NSNN có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình. Giai đoạn quyết toán ngân sách: – Phản hồi, nêu kiến nghị, phản ánh trực tiếp, gián tiếp về báo cáo kết quả thực hiện thu, chi ngân sách của nhà nước và địa phương. – Yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin, làm rõ về các nội dung về báo cáo kết quả thực hiện thu, chi ngân sách và giải trình về các quyết định, hành vi có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. – Tham gia giám sát và đánh giá hiệu quả các công trình đầu tư công trên địa bàn. – Kiến nghị, phản ánh về hiệu quả đầu tư, quản lý, sử dụng các công trình đầu tư công trên địa bàn. 

    4. GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG THỰC HIỆN CT NTM TẠI HOÀ BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI DÂN

    Dự án Thúc đẩy công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân vào quản lý Ngân sách nhà nước do Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP) thực hiện từ năm 2015 đến 2020 nhằm góp phần gia tăng tính minh bạch về ngân sách, trách nhiệm giải trình, và sự tham gia của người dân vào hoạt động thu chi ngân sách ở Việt Nam và tăng cường hiệu quả các hoạt động phát triển cho người dân thuộc các cộng đồng còn thiệt thòi tại xã Hải An, Hải Thượng, Hải Thành huyện Hải Lăng; thị trấn Gio Linh, xã Gio Việt, xã Linh Thượng huyện Gio Linh của tỉnh Quảng Trị; xã Tòng Đậu, xã Chiềng Châu, xã Nà Phòn huyện Mai Châu và xã Hợp Hoà huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình. Dự án nhận được sự hỗ trợ về tài chính của Liên minh Châu Âu (EU), Bộ ngoại giao Phần Lan, đồng hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Tổ chức Oxfam tại Việt Nam. Dự án đã có nhiều các hoạt động nhằm hỗ trợ, tạo không gian cho cộng đồng được tham gia vào quản lý ngân sách nhà nước nói chung, đặc biệt là giám sát ngân sách trong quá trình thực hiện CTMTQG NTM tại các địa bàn thực hiện dự án. Một số bài học kinh nghiệm nổi bật của dự án khi cộng đồng tham gia giám sát ngân sách trong quá trình thực hiện CT NTM được tóm tắt như dưới đây: 

    4.1. Xây dựng năng lực cho các nhóm cộng đồng về Ngân sách nhà nước Sau khi dự án được triển khai, tại hai tỉnh đã thành lập 12 nhóm cộng đồng để thúc đẩy các sáng kiến công khai, minh 

    4.2. Đối thoại về dự thảo dự toán ngân sách xã

    Dự án đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức các buổi đối thoại về dự toán ngân sách của xã năm 2017, 2018. Có 12 đối thoại giữa các bên liên quan và cộng đồng liên quan tới Dự toán ngân sách nhà nước của các xã đã được tổ chức. Tại các buổi đối thoại, các nhóm cộng đồng và thành viên của mình đã thực hiện thảo luận, góp ý, đề nghị chính quyền địa phương giải trình các vấn đề liên quan tới thu – chi ngân sách của địa phương trong năm. Đặc biệt là kế hoạch sử dụng nguồn vốn CTMT QG NTM trên địa bàn xã. Quá trình tổ chức các buổi đối thoại ngân sách xã được thực hiện theo 

    4.3. Cộng đồng thực hiện các sáng kiến giám sát

    Ngân sách nhà nước Các nhóm cộng đồng cũng tự xây dựng kế hoạch giám sát của mình. Trong buổi sinh hoạt nhóm, họ thảo luận về những công trình đang hoặc sắp được thực hiện tại thôn, xã, trên cơ sở đó lựa chọn một hoặc nhiều công trình để giám sát. Nhóm xây dựng kế hoạch giám sát cụ thể, phân công nhiệm vụ và sau đó tổ chức thực hiện. Trong 2 năm, có tổng số 33 sáng kiến giám sát ngân sách đã được các nhóm cộng đồng thực hiện tại Quảng Trị và Hoà Bình. 

    5. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT NGÂN SÁCH CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CT NTM

    Thông qua tổng hợp lại học kinh nghiệm của Hoà Bình và Quảng Trị trong việc giám sát ngân sách của cộng đồng tại Hòa Bình và Quảng Trị, một số khuyến nghị được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả giám sát ngân sách của cộng đồng như sau: 

    5.1. Các bộ, ngành Trung ương cần tiếp tục cụ thể hóa, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vai trò giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng trong đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và trong CT MTQG NTM nói riêng. Các văn bản pháp luật cần bổ sung, làm rõ thêm các nội dung sau:

    5.2. Đối với Uỷ ban MTTQ Việt Nam 

    – Cần có tài liệu chuẩn hướng dẫn về quy trình và kỹ năng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực ngân sách nhà nước; 

    – Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cơ bản về tài chính 

    – ngân sách và kỹ năng giám sát ngân sách nhà nước cho đội ngũ cán bộ, công chức chuyên trách Mặt trận các cấp; 

    – Phối hợp với các bộ, ngành cần tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng theo như quy định hiện hành. Từ đó các bằng chứng rõ ràng và chính xác phục vụ cho tiến trình hoàn thiện các chính sách về giám sát cộng đồng đối với giám sát cộng đồng với các công trình đầu tư công.Dự án Thúc đẩy công khai, minh bạch và sự tham gia của người dân vào quản lý Ngân sách nhà nước đã thành công trong việc tạo và mở rộng không gian tham gia của người dân thông qua: 

    1) tạo ra những không gian dân chủ đại diện mới để người dân tham gia quá trình ra quyết định như tham vấn xây dựng chính sách, giám sát đối thoại chính sách, đối thoại về phân bổ và sử dụng ngân sách, và giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách; 

    2) Thu hẹp các không gian đóng bằng cách thúc đẩy thực hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách; 

    3) Khuyến khích các không gian tự tạo bằng cách hỗ trợ người dân có quan tâm đến vấn đề ngân sách thành lập các nhóm thảo luận một cách tự nguyện, và tự xây dựng cũng như tự thực hiện các sáng kiến giám sát của mình.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    ThS. Nguyễn Thị Cúc

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-t%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-theo-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-v%C3%A0-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    Tóm tắt

    Tính cho đến đến tháng 12/2005 Bộ Tài Chính đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán. Như vậy, so với số lượng 38 chuẩn mực kế toán quốc tế thì Việt Nam còn thiếu nhiều chuẩn mực tương đương. Một vấn đề lớn nữa đối với việc soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kế toán ở Việt Nam là chúng ta hiện nay chưa có một khung khái niệm để cung cấp nền tảng và những nguyên tắc cơ bản cho việc soạn thảo cũng như phát triển các chuẩn mực kế toán. Bài viết trình bày sau đây, cá nhân tôi muốn bàn luận thêm về một khía cạnh nhỏ trong vấn đề phù hợp giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán một số nước trên thế giới so với chuẩn mực kế toán tại Việt Nam và từ đó đưa ra một số tồn tại hạn chế đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam về tài sản cố định. 

    1. So sánh chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam về TSCĐ

    Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) ra đời nhằm tạo “ngôn ngữ chung” cho việc thực hành kế toán, sử dụng thông tin kế toán ở các quốc gia khác nhau. Chuẩn mực quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việc ghi chép và trình bày hệ thống báo cáo tài chính. Cho đến nay, hệ thống chuẩn mực quốc tế gồm 38 chuẩn mực trong đó có các chuẩn mực IAS 16 (Nhà xưởng, máy móc và thiết bị), IAS 36 (Giảm giá trị tài sản) IAS 38 (Tài sản vô hình) là liên quan đến TSCĐ và TSCĐ. Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) ra đời cho đến nay đã góp phần đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập, mở cửa về dịch vụ kế toán. Việc ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính theo thông lệ IAS/IFRS đã tạo cho kế toán Việt Nam có tiếng nói chung với bạn bè Quốc tế, tạo sự thu hút của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Và từ năm 2001 đến nay Việt Nam đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán trong đó Chuẩn mực số 03 “Tài sản cố định hữu hình”, Chuẩn mực số 04 “Tài sản cố định vô hình” là những chuẩn mực kế toán hướng dẫn về tài sản cố định. Mặc dù đã có những chuẩn mực kế toán tương đương hướng dẫn về TSCĐ nhưng giữa IAS và VAS vẫn còn có những nội dung chưa thực sự hòa hợp, chưa tương đồng làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư. 

    1.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo IAS

    Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: 

    – Nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản vô hình được ghi nhận là TSCĐ khi thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: 

    + Chắc chắn DN thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản; 

    + Giá trị tài sản đối với DN được tính toán một cách đáng tin cậy. 

    – TSCĐ trong doanh nghiệp được chia làm hai loại: TSCĐ và TSCĐ. Trong đó: uy tín, sự tín nhiệm được tạo ra từ nội bộ DN, nhãn hiệu thương mại, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các khoản mục tương tự không được ghi nhận là tài sản của DN.  Nguyên giá (giá trị ban đầu của TSCĐ): 

    – Giá trị ban đầu của nhà xưởng, máy móc, thiết bị bao gồm giá mua, thuế nhập khẩu và các khoản thuế không được hoàn lại và các khoản chi phí liên quan tới việc đưa TSCĐ vào trạng thái sử dụng theo mong muốn, các khoản chiết khấu và khấu trừ trên giá mua của tài sản. Các chi phí hành chính và các chi phí chạy thử, chi phí phát sinh trước khi sử dụng cũng không được tính vào giá trị của nhà xưởng, máy móc, thiết bị trừ khi chúng liên quan tới việc đưa tài sản vào trạng thái làm việc như hiện tại.

    – Giá trị của tài sản tự xây dựng được xác định tương đương với các chi phí sản xuất ra sản phẩm để bán, các chi phí lãng phí, lao động sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình xây dựng không được tính vào nguyên giá của tài sản. 

    – Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu được hạch toán tăng giá trị tài sản khi các chi phí này làm tăng lợi ích kinh tế mà tài sản đó có thể mang lại cho DN hoặc thực sự cải thiện trạng thái hiện hữu của tài sản so với trạng thái ban đầu của nó. Các chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nhà xưởng, máy móc, thiết bị nhằm bảo tồn khả năng mang lại lợi ích kinh tế của tài sản được ghi nhận là chi phí.  Về khấu hao: 

    – Giá trị có thể khấu hao của nhà xưởng, máy móc và thiết bị cần được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng có ích của nó. Giá trị khấu hao mỗi kỳ được hạch toán vào chi phí trừ khi chúng được tính vào giá trị kế toán của tài sản khác. 

    – Các phương pháp tính khấu hao hao bao gồm: Phương pháp khấu hao tuyến tính, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm sản xuất. Phương pháp khấu hao đối với mỗi loại tài sản cần được thực hiện thống nhất qua các kỳ kế toán trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản. 

    – Đối với tài sản vô hình, nếu cách thức mang lại lợi ích kinh tế từ việc sử dụng tài sản không thể xác định một cách đáng tin cậy thì phương pháp khấu hao tuyến tính được áp dụng với thời gian sử dụng dự kiến không quá 20 năm kể từ ngày sử dụng tài sản.  Về giảm giá trị tài sản: 

    – IAS 36 đề cập đến tổn thất do giảm giá trị tài sản và hạch toán giảm giá trị tài sản. Vào ngày lập Bảng cân đối kế toán, giá trị tài sản có thể thu hồi cần được dự tính nếu có dấu hiệu về sự giảm giá trị của tài sản. Những yếu tố cần xem xét bao gồm những dấu hiệu bên ngoài (như sự giảm giá của thị trường hay những thay đổi có thể gây bất lợi cho DN) và những dấu hiệu bên trong (chẳng hạn như bằng chứng về sự lỗi thời của tài sản hoặc tài sản hoạt động không như mong đợi của DN). Giá trị có thể thu hồi của một tài sản được tính toán với giá cao hơn giá bán thuần và giá trị đang sử dụng, trong đó giá bán thuần là số có thể thu hồi được từ việc giao dịch bán tài sản giữa các bên có đầy đủ hiểu biết và sẵn sàng trao đổi sau khi trừ đi các chi phí có liên quan trực tiếp, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai dự tính sẽ phát sinh từ việc tiếp tục sử dụng tài sản và thanh lý nó khi hết thời gian sử dụng. Một sự tổn thất do giảm giá trị tài sản sẽ tồn tại bất cứ nào mà giá gốc của tài sản vượt giá có thể thu hồi của nó. Khi cả giá bán thuần và giá trị đang sử dụng của một tài sản lớn hơn giá gốc của nó thì không bị giảm giá. Tổn thất do giảm giá trị tài sản cần được ghi nhận trong báo cáo thu nhập và được hạch toán như khoản giảm giá trị tài sản do đánh giá lại. Sau khi ghi nhận tổn thất do giảm giá trị tài sản, chi phí khấu hao cần được điều chỉnh tương ứng trên cơ sở giá trị đã điều chỉnh của tài sản.  Về công bố thông tin: – DN cần thông bố chính sách kế toán bao gồm: Cơ sở tính toán cho từng loại tài sản, phương pháp và tỷ lệ khấu hao áp dụng với từng loại tài sản. – Báo cáo thu nhập và thuyết minh cần trình bày chi phí khấu hao của từng loại tài sản và ảnh hưởng của những thay đổi quan trọng trong việc dự tính các loại chi phí có liên quan đến TSCĐ. – Bảng cân đối kế toán và thuyết minh cần trình bày giá trị ghi sổ và khấu hao lũy kế của từng loại tài sản ở đầu kỳ và cuối kỳ, sự biến động của nguyên giá TSCĐ trong kỳ, giá trị tài sản đang trong quá trình xây dựng, giá trị tài sản dùng để thế chấp và các cam kết về vốn cho việc mua tài sản. 

    1.2. Điểm giống và khác nhau giữa VAS và IAS về TSCĐ

    2. Kế toán TSCĐ theo hệ thống kế toán một số nước trên thế giới

    2.1. Kế toán TSCĐ của Mỹ 

    2.1.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo kế toán Mỹ

    Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ: 

    – TSCĐ là những tài sản có thời gian sử dụng trên một năm, được đầu tư để phục vụ hoạt động SXKD nhằm tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho DN. – TSCĐ trong DN bao gồm TSCĐ (đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải), TSCĐ (bằng phát minh, sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu, chi phí thành lập, đặc quyền và uy tín, sự tín nhiệm) và tài nguyên thiên nhiên (mỏ than, mỏ khí đốt, mỏ khoáng sản).  Về nguyên giá TSCĐ:

    – Theo kế toán Mỹ bao gồm tất cả các phí tổn cần thiết và hợp lý để đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đối với TSCĐ mua, nguyên giá được xác định trên cơ sở giá mua, cộng các chi phí vận chuyển, lắp ráp, chạy thử, trừ chiết khấu thanh toán được hưởng do thanh toán sớm.

    – Đối với nhà cửa, thiết bị tự xây dựng, nguyên giá là giá trị công trình được xây dựng bao gồm giá trị vật liệu, lương công nhân, chi phí thiết kế, chi phí bảo hiểm, phí xin giấy phép.

    – Đối với đất đai, nguyên giá bao gồm giá mua, hoa hồng môi giới, phí trước bạ và các chi phí thu dọn, cải tạo.  Về biến động TSCĐ trong DN: – TSCĐ trong DN tăng do mua, được biếu tặng, tự xây dựng. Trường hợp TSCĐ tăng do mua, căn cứ vào các chứng từ liên quan đến chi phí mua TSCĐ, kế toán ghi tăng TSCĐ, giảm tiền hoặc ghi tăng công nợ phải trả. Nếu mua công trình trên đất thì phải xác định riêng giá trị nhà cửa và giá trị đất để ghi nhận vào các tài khoản tương ứng. Đối với TSCĐ được biếu tặng, kế toán ghi tăng TSCĐ và ghi tăng doanh thu được biếu tặng. Trường hợp tự xây dựng, kế toán tập hợp chi phí xây dựng trên tài khoản trung gian, khi công trình hoàn thành, quyết toán kế toán ghi tăng nguyên giá.

    – TSCĐ có thể giảm do thanh lý, nhượng bán, biếu tặng và ảnh hưởng của các nguyên nhân hỏa hoạn, lũ lụt, mất mát. Đối với TSCĐ thanh lý, GTCL của TSCĐ (nếu chưa khấu hao hết giá trị) và các chi phí thanh lý được ghi nhận là chi phí (lỗ thanh lý) trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. TSCĐ nhượng bán, kế toán phản ánh số khấu hao bổ sung tính đến thời điểm nhượng bán, chênh lệch giữa giá bán và GTCL được ghi nhận là lỗ do bán tài sản (chi phí) hoặc lãi do bán tài sản (doanh thu) trên Báo cáo kết quả kinh doanh. Các chi phí phát sinh trong quá trình nhượng bán TSCĐ sẽ làm tăng chi phí (nếu lỗ) hoặc làm giảm doanh thu (nếu lãi) trên Báo cáo kinh doanh kỳ hiện hành. Khi DN biếu, tặng TSCĐ cho tổ chức, cá nhân khác thì chi phí quyên góp được hạch toán theo giá thị trường và GTCL được ghi nhận là lãi hoặc lỗ do chuyển nhượng. Trường hợp TSCĐ giảm do các nguyên nhân hỏa hoạn, lũ lụt, mất mát thì giá trị thiệt hại thực được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành.  Về trao đổi TSCĐ:

    – Kế toán Mỹ để cập đến hai trường hợp trao đổi là trao đổi TSCĐ cùng loại và TSCĐ khác loại. Đối với trao đổi TSCĐ cùng loại, lãi do trao đổi (giá thỏa thuận lớn hơn GTCL của TSCĐ mang đi) được ghi nhận giảm giá trị của TSCĐ nhận về. Nếu trao đổi TSCĐ cùng loại phát sinh lỗ (giá thỏa thuận nhỏ hơn GTCL của TSCĐ mang đi) thì về mặt kế toán, khoản lỗ được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành, còn về phương diện thuế thu nhập thì khoản lỗ trao đổi được hạch toán tăng giá trị phải khấu hao của TSCĐ nhận về. Khi khoản lỗ là không đáng kể thì có thể sử dụng phương pháp thuế thu nhập cho mục đích kế toán tài chính.

    – Đối với trao đổi TSCĐ khác loại, khoản lãi hay lỗ do trao đổi được ghi nhận là doanh thu hay chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. Đối với Việt Nam, trao đổi TSCĐ được chia làm trao đổi tương đương và trao đổi không tương đương và khi tiến hành trao đổi TSCĐ thì không phát sinh khoản lãi hay lỗ nào.  Về tính khấu hao TSCĐ:

    – Kế toán Mỹ chia thành hai trường hợp là khấu hao theo mục đích kế toán tài chính và khấu hao theo mục đích thuế. Đối với mục đích kế toán tài chính, TSCĐ có thể được tính khấu haotheo các phương pháp: phương pháp đường thẳng, phương pháp sản lượng, phương pháp số dư giảm dần và phương pháp tổng các số thứ tự năm sử dụng.

    – Với mục đích thuế, trước năm 1981, các phương pháp số dư giảm dần và phương pháp tổng của các số thứ tự năm sử dụng được áp dụng để xác định chi phí khấu hao. Từ năm 1981 đến năm 1986, hệ thống hoàn vốn nhanh được sử dụng và từ 1/1/1987 được thay thế bằng Hệ thống hoàn vốn nhanh đã điều chỉnh. Khi tính được khấu hao TSCĐ, kế toán ghi tăng chi phí đồng thời ghi tăng hao mòn lũy kế TSCĐ.

    – Đối với TSCĐVH, phương pháp khấu hao đường thẳng được sử dụng trừ khi, DN chứng minh được phương pháp khấu hao thích hợp hơn. Thời gian sử dụng để tính khấu hao đối với những TSCĐVH như đặc quyền sáng chế, bản quyền tác giả và quyền sử dụng hợp đồng theo thời gian hiệu lực do pháp luật, hợp đồng hoặc bản chất của tài sản quyết định còn đối với những TSCĐVH như sự tín nhiệm và nhãn hiệu hàng hóa có thời gian sử dụng vô hạn thì thời gian sử dụng để tính khấu hao tối đa là 40 năm. Khấu hao TSCĐVH được ghi tăng chi phí và ghi giảm trực tiếp TSCĐVH tương ứng, điều này cũng có nghĩa TSCĐVH được trình bày trên bảng cân đối kế toán theo giá trị chưa khấu hao.  Về sửa chữa TSCĐ: – Kế toán Mỹ đề cập ba loại sửa chữa là sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn và sửa chữa cải tiến TSCĐ. Sửa chữa thường xuyên là công việc nhằm duy trì trạng thái hoạt động bình thường cho TSCĐ, chi phí sửa chữa thường xuyên được ghi nhận là chi phí trên Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ hiện hành. Sửa chữa lớn là công việc không ngừng duy trì tình trạng hoạt động bình thường của TSCĐ mà còn kéo dài thời gian sử dụng hữu dụng của TSCĐ so với thời gian ước tính ban đầu, chi phí sửa chữa lớn được ghi giảm giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ. Sửa chữa cải tiến TSCĐ là công việc thay thế một hoặc một số bộ phận của TSCĐ nhằm làm cho TSCĐ hoạt động hiệu quả và năng suất cao hơn, chi phí sửa chữa cải tiến được ghi tăng nguyên giá TSCĐ. Như vậy đối với sửa chữa lớn TSCĐ và sửa chữa cải tiến TSCĐ thì sau khi công việc sửa chữa hoàn thành trên cơ sở giá trị phải khấu hao và thời gian sử dụng dự kiến của TSCĐ sau sửa chữa để kế toán tính và ghi nhận khấu hao. 2.2. Kế toán TSCĐ của Pháp 2.2.1. Tóm tắt một số nội dung căn bản về TSCĐ theo Kế toán Pháp  Tiêu chuẩn ghi nhận: – Tài sản bất động (TSBĐ) là tất cả các loại tài sản mà DN sở hữu, quản lý và sử dụng trong một thời gian dài (tối thiếu là hơn 1 năm), TSBĐ gồm ba loại: TSBĐ hữu hình, TSBĐ vô hình và TSBĐ tài chính.

    – TSBĐ hữu hình là những tài sản có hình thái cụ thể như: đất đai, các công trình kiến trúc, các phương tiện vận tải, các phương tiện kỹ thuật và các TSBĐ hữu hình khác. – TSBĐ vô hình là những tài sản không có hình thể nhưng có thể mang lại lợi ích kinh tế lâu dài trong tương lai cho DN, thuộc TSBĐ vô hình có: phí tổn thành lập, phí tổn nghiên cứu và phát triển, quyền đặc nhượng, bằng sáng chế, quyền thuê nhà, lợi thế thương mại và TSBĐ vô hình khác. – TSBĐ tài chính gồm các cổ phiếu, trái phiếu tiền đóng kỹ quỹ các khoản đầu tư, cho vay.  Về việc xác định giá trị ban đầu:

    – Nguyên giá của TSBĐ vô hình là toàn bộ các phí tổn mà DN chi trả từ khi thực hiện cho đến khi hoàn thành từng TSBĐ vô hình cụ thể. Nguyên giá TSBĐ hữu hình mua sắm gồm giá mua và các chi phí vận chuyển, lệ phí hải quan, bảo hiểm, lắp đặt, chạy thử ( không bao gồm thuế trước bạ, phí hoa hồng và môi giới).

    – Đối với TSBĐ hữu hình DN tự xây dựng, nguyên giá là toàn bộ các chi phí phát sinh từ lúc chuẩn bị xây dựng cho đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng.

    – Đối với TSBĐ nhận vốn góp, cổ phần khi thành lập công ty, nguyên giá là giá thỏa thuận của Đại hội đồng sáng lập. Còn với TSBĐ tài chính, nguyên giá là giá mua hoặc giá ghi trên hợp đồng mua bán, các chi phí mua chứng khoán không tính vào nguyên giá mà được ghi vào chi phí kinh doanh và trừ vào kết quả của niên độ tài chính.  Về hạch toán biến động TSBĐ: – TSBĐ trong DN có thể tăng do mua, nhận vốn góp và tự xây dựng. Trường hợp nhận vốn góp bằng TSBĐ, kế toán phản ánh các bút toán hứa góp, gọi góp và thực hiện góp. Đối với TSBĐ mua, căn cứ vào chứng từ liên quan, kế toán ghi tăng nguyên giá và phản ánh thanh toán tiền mua cho người bán. TSBĐ tự xây dựng, các chi phí phát sinh trong quá trình xây dựng được tập hợp trên tài khoản trung gian (TSBĐ chưa hoàn thành) khi công trình hoàn thành nghiệm thu và đưa vào sử dụng kế toán ghi tăng nguyên giá TSBĐ.

    – TSBĐ trong DN có thể giảm do thanh lý khi khấu hao hết giá trị và nhượng bán. TSBĐ khấu hao hết, kế toán xóa sổ bằng cách ghi giảm khấu hao và giảm nguyên giá TSBĐ. Trường hợp nhượng bán, kế toán xóa sổ TSBĐ và phản ánh số tiền thu được từ nhượng bán, kết quả nhượng bán TSBĐ là chênh lệch giữa giá bán và GTCL của TSBĐ.  Về tính khấu hao: – TSBĐ có thể được tính khấu hao theo các phương pháp như: phương pháp cố định (khấu hao tuyến tính), phương pháp giảm dần (với hai cách tính giảm dần: theo một tỷ lệ nhất định trên GTCL và theo tổng của các số thứ tự năm sử dụng) và phương pháp sản lượng.

    – Đối với một số TSBĐ vô hình và TSBĐ tài chính, kế toán Pháp không tính khấu hao mà thực hiện lập dự phòng nếu có hiện tượng giảm giá. Chi phí dự phòng không tính vào giá thành sản phẩm mà được trừ vào kết quả của niên độ. Khi không còn hiện tượng giảm giá hoặc sự giảm giá ít hơn thì phần chênh lệch dự phòng được hoàn nhập tăng kết quả niên độ.

    2.2.2. Điểm giống và khác nhau giữa Kế toán Pháp và VAS về TSCĐ

    3. Những hạn chế của chuẩn mực kế toán Việt Nam (xét trên khía cạnh TSCĐ) 

    VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm. Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36.  VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh như: thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); công cụ tài chính (IFRS 9); phúc lợi của nhân viên (IAS 19) các khoản tài trợ của Chính phủ (IAS 20); nông nghiệp (IAS 41); tổn thất tài sản (IAS 36)…  IAS/IFRS ngày càng hướng tới đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý nhằm đảm bảo tính “liên quan” của thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng, trong khi đó giá gốc vẫn là cơ sở đo lường chủ yếu được qui định bởi VAS.Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với IAS/IFRS.

    4. Kết luận

    Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của BCTC, loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC. IAS/IFRS được chấp nhận như chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử dụng IAS/IFRS mang lại những lợi ích khá rõ, như: tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận; sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thị trường quốc tế. Đến nay, đã có hơn 119 quốc gia trên thế giới thực hiện việc yêu cầu (bắt buộc) hoặc cho phép (không bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ sử dụng IAS/IFRS khi lập và trình bày BCTC. Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS không phải là hoàn toàn dễ dàng đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Từ những hạn chế của VAS đã phân tích nêu trên, có thể thấy, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán, phù hợp quá trình hội nhập kinh tế của đất nước, Việt Nam cần tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế toán và giải pháp thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    hS. Ngô Vũ Mai Ly

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-chi-tr%E1%BA%A3-c%E1%BB%95-t%E1%BB%A9c-b%E1%BA%B1ng-ti%E1%BB%81n-m%E1%BA%B7t-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt tại Việt Nam

    Tóm tắt

    Chính sách cổ tức được xem là một trong những quyết định “đau đầu” nhất trong quản trị tài chính của công ty cổ phần. Chính sách cổ tức có tác động đến giá cổ phiếu của công ty, nguồn tiền công ty có thể sử dụng để tái đầu tư và có ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của các cổ đông hiện hành. Một thông điệp mà những nhà quản trị thường lấy đó làm mục tiêu ứng xử là: “chính sách cổ tức phải có tính ổn định, không thay đổi thất thường và phải đặc biệt thận trọng trước khi quyết định thay đổi một chính sách cổ tức này bằng một chính sách cổ tức khác”. Chính sách chi trả cổ tức có vai trò rất quan trọng đối với một công ty niêm yết, vậy để đưa ra chính sách chi trả cổ tức thì nhà quản lý công ty căn cứ trên những nhân tố nào? Các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp đang niêm yết?

    1. Tổng quan về cổ tức và chính sách cổ tức của các công ty niêm yết

    – Cổ tức là phần lợi nhuận sau thuế của công ty dành để trả cho những người chủ sở hữu (cổ đông). Cổ tức có thể được trả bằng tiền mặt (dạng phổ biến nhất), cũng có thể được trả bằng cổ phiếu hay tài sản. 2, tr.95 – Tỷ lệ chi trả cổ tức: Tỷ lệ chi trả cổ tức là một tỷ số phản ánh công ty trả cổ tức bao nhiêu phần cho cổ đông từ lợi nhuận sau thuế. 2, tr.105 Cách tính: 

    * Các phương thức trả cổ tức

    Không có quy định nào về mặt pháp lý bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các cổ đông của nó cả, ngay cả công ty làm ăn có lãi cũng vậy. Hội đồng quản trị có thể tăng, giảm, hoặc từ bỏ việc trả cổ tức. Cổ tức thường được trả theo quý, theo tháng, nửa năm hoặc một năm. Công ty có thể trả cổ tức dưới rất nhiều dạng: trả cổ tức bằng tiền mặt là dạng phổ biến nhất, ngoài ra công ty có thể trả cổ tức dưới dạng cổ phiếu hoặc tài sản,… 

    * Chính sách cổ tức

    Ba dạng chính sách tài chính quan trọng quyết định sự tồn tại, phát triển và thịnh vượng của công ty là chính sách tài trợ, chính sách đầu tư và chính sách cổ tức. Chính sách cổ tức liên quan tới việc xác định lượng tiền mặt dùng để trả cổ tức cho các cổ đông thường của công ty. Chính sách cổ tức, chính sách tài trợ và đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bởi vì việc trả cổ tức sẽ làm giảm khoản lợi nhuận công ty giữ lại để tái đầu tư, vì thế ảnh hưởng đến nhu cầu huy động vốn bên ngoài của công ty.

    2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chi trả cổ tức

    * Mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố đến chính sách chi trả cổ tức

    Dòng tiền hoạt động, dòng tiền tự do, kích thước công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. – Đối với các thị trường chứng khoán đã phát triển ổn định thì các sự tác động của các nhân tố lên chính sách chi trả cổ tức có mối quan hệ tương đồng với lý thuyết đã mô tả. Dựa trên các lý thuyết:

    Cổ tức giảm rủi ro cho nhà đầu tư, chi phí đại diện và vấn đề dòng tiền tự do, tín hiệu, hiệu ứng nhóm khách hàng tác giả lựa chọn các biến độc lập có thể giúp để xem xét việc chi trả cổ tức ở Việt Nam có gắn với lý thuyết hay không. Tuy nhiên, do những hạn chế của thị trường Việt Nam, chỉ có một số lý thuyết được lựa chọn để phân tích. Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (CFV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt Nam

    Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (CFV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt Nam Trong các lý thuyết về cổ tức, xét trên thị trường Việt Nam có hai lý thuyết là Chi phí đại diện, Dòng tiền tự do và lý thuyết Tín hiệu có sự tác động mạnh và rõ rệt nhất. Theo lý thuyết tín hiệu và chi phí đại diện có nhiều nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức như chỉ tiêu số lượng tài sản cố định của doanh nghiệp, quyền kiểm soát công ty, quyền kiểm soát nội bộ, rủi ro thị trường, lạm phát, lãi suất ngân hàng, biến đổi dòng tiền (FV), dòng tiền tự do (FCF), kích thước công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của doanh thu (GROW), tỷ lệ nợ, chương trình mua lại chứng khoán… Dựa trên các mô hình phân tích thực nghiệm khác thì các nhân tố trên cũng được chứng minh có sự tác động đến tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt. Xét trên điều kiện thị trường Việt Nam ta thấy: – Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường chứng khoán mới nổi, thành phần tham gia thị trường chưa đa dạng, các quy định, chính sách pháp luật về chứng khoán chưa cụ thể. Cổ đông hầu hết chưa có kiến thức nhiều về cổ tức, đa phần đều đánh giá giá trị của công ty thông qua dòng tiền hoạt động cũng như dòng tiền tự do mà công ty đó công bố. Chính vì vậy yếu tố dòng tiền tự do có tác động nhiều đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. – Đa phần các công ty tham gia thị trường chứng khoán Việt Nam là các công ty có quy mô vừa và nhỏ nên các công ty cần nhiều tiền cho các hoạt động đầu tư, việc chú trọng quảng bá hình ảnh công ty nhằm tăng doanh thu cũng rất cần thiết. Vì những điều trên mà ban quản lý công ty hay sử dụng tỷ lệ cổ tức nhằm đánh bóng hình ảnh công ty của mình thông qua sự tác động của các biến quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Chính vì vậy mà yếu tố dòng tiền hoạt động, doanh thu của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng doanh thu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi quyết định chính sách chi trả cổ tức tại Việt NamDấu “+” nghĩa là các nhân tố có tương quan thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức và dấu “_” nghĩa là các nhân tố có tương quan nghịch với tỷ lệ chi trả cổ tức.

    * Phân tích tương quan (Correlation)

     Mô hình được xây dựng với giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập. Đầu tiên, tác giả đo lường mối quan hệ giữa các biến định lượng. Về mối quan hệ giữa biến phụ thuộc POR và các biến độc lập CFV, FCF, SIZE, GROW. Các số liệu được lấy qua các năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 của 112 mẫu trên thị trường HOSE. Sử dụng một số thống kê có tên là hệ số tương quan Pearson (ký hiệu là r) để lượng hóa mức độ chặt chẽ giữa các mối liên hệ tuyến tính giữa 2 biến định lượng. Trị tuyệt đối của r cho biết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính. Gía trị tuyệt đối của r tiến gần đến 1 khi hai biến có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ. Gía trị r>0 thì đường thẳng dốc lên, r<0 đường thẳng dốc xuống, r=0 chỉ ra rằng hai biến không có mối liên hệ tuyến tính (không có mối quan hệ tuyến tính không có nghĩa là 2 biến đó không có mối liên hệ, do đó hệ số tương quan tuyến tính chỉ nên được sử dụng để biểu thị mức độ chặt chẽ của liên hệ tương quan tuyến tính). Để phân tích dữ liệu tổng hợp 5 năm 2008 – 2012, tương quan ma trận đã được sử dụng.

    3. Kết luận

    Khi thị trường chứng khoán lên như diều gặp gió, không mấy nhà đầu tư quan tâm đến cổ tức, những vướng mắc liên quan đến cổ tức cũng vì thế dễ được bỏ qua. Nhưng tình hình bây giờ đã khác. Thị trường lao dốc vừa lâu, vừa sâu, nhà đầu tư không dám mơ tới lợi nhuận từ buôn qua, bán lại. Vì thế, khoản cổ tức từ doanh nghiệp

     – dù nhỏ, lúc này trở nên có ý nghĩa. Với các dữ liệu của 112 công ty niêm yết trên sàn HOSE trong 5 năm 2008- 2012, nghiên cứu đã phân tích các yếu tố quyết định đến chính sách chi trả cổ tức. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện các nhân tố tác động mạnh đến chính sách chi trả cổ tức (POR) của các công ty niêm yết hiện nay là: 

    1) Biến đổi của dòng tiền hoạt động (CFV): việc sử dụng dòng tiền hoạt động là một tín hiệu mà các công ty sử dụng như một hình ảnh về chính sách chi trả cổ tức trong tương lai của mình. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhân tố này chưa có mối quan hệ với POR. 

    2) Dòng tiền tự do (FCF): Dòng tiền phục vụ đầu tư TSCĐ được xem là cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Vì vậy, dòng tiền tự do (có được sau khi trừ đi nguồn vốn đầu tư TSCĐ) càng lớn chứng tỏ tình hình tài chính của doanh nghiệp tích cực. FCF và POR có mối quan hệ tỷ lệ thuận. 

    3) Tăng trưởng trong quá khứ và tương lai (GROW) nếu trong quá khứ hoặc dự đoán trong tương lai tăng trưởng của công ty thấp, thì các nhà quản lý ở Việt Nam lại không có xu hướng tiết kiệm kinh phí để tái đầu tư bằng cách thiết lập một tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền thấp mà lại thiết lập một chính sách chi trả cổ tức cao. GROW và POR có mối quan hệ tỷ lệ nghịch

    4) Quy mô kích thước của công ty được đại diện qua biến SIZE, theo lý thuyết SIZE biến động tỷ lệ thuận với tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt, với quy mô công ty lớn, công ty sản xuất kinh doanh hiệu quả, tạo ra được nhiều doanh thu thì sẽ chi trả cổ tức cao và ngược lại. Xét trên thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2008- 2012, các công ty có quy mô phát triển nhỏ chi trả cổ tức tiền mặt với tỷ lệ thấp, SIZE và POR có mối quan hệ tỷ lệ thuận. Hơn nữa, nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh tác động của lý thuyết tín hiệu trên chi trả cổ tức bằng tiền mặt của các công ty Việt Nam: 

    – Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE có xu hướng chi trả cổ tức bằng tiền mặt ổn định và tăng dần, ngay cả dưới áp lực cao của yêu cầu về vốn. Các công ty niêm yết có mối quan tâm lớn về việc thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức vì họ tin rằng tỷ lệ chi trả cổ tức được coi là một tín hiệu về hiệu quả kinh doanh của các công ty. Cắt giảm tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ tạo ra một tác động xấu đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Một khi quyết định tăng tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt, các công ty luôn luôn quan tâm liệu họ có thể duy trì mức này trong tương lai hay không. 

    – Các công ty niêm yết trên sàn HOSE có thể thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng doanh thu bán hàng của họ và hoàn cảnh của nền kinh tế. 

    – Chính sách cổ tức của các công ty bị ảnh hưởng nhiều bởi lý thuyết tín hiệu có thể dẫn đến các thao tác của công ty trong việc chi trả cổ tức. Nếu công ty không có thu nhập nhưng vẫn cố gắng duy trì hoặc tăng mức độ chi trả cổ tức, sẽ phải chịu rủi ro trong tương lai. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ hơn về việc chi trả cổ tức của các công ty thông qua các quy định cụ thể. Từ các kết quả đề tài đã đưa ra các biện pháp hoàn thiện chính sách chi trả cổ tức trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện danh mục đầu tư của nhà đầu tư, giúp doanh nghiệp nhận định về các nhân tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức, đưa ra lời khuyên cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã đáp ứng các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam mang đặc điểm của thị trường mới nổi, các nhà đầu tư trên thị trường mang nhiều yếu tố “tâm lý bầy đàn”, “hành vi tâm lý” là chủ yếu cho nên vấn đề chính sách cổ tức còn chưa được nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư coi trọng. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    ThS. Nguyễn Đình Đại

    Khoa Kinh tế – Trường ĐHXD Miền Trung 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/B%C3%A0n-v%E1%BB%81-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-ch%C3%AAnh-l%E1%BB%87ch-t%E1%BB%B7-gi%C3%A1-h%E1%BB%91i-%C4%91o%C3%A1i-theo.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bàn về xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái theo Thông tư 200/2014/TT – BTC

    Tóm tắt

    Trong xu thế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu ngày càng chiếm khối lượng giao dịch lớn trong doanh nghiệp (DN) Việt Nam. Điều này dẫn đến phát sinh các giao dịch tiền tệ, phi tiền tệ bằng ngoại tệ và việc xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái (CLTG) trong công tác kế toán trở nên phức tạp, tạo ra nhiều khó khăn, lúng túng cho cơ quan xây dựng chính sách và DN áp dụng. Từ năm 2002 Bộ Tài chính (BTC) ban hành VAS 10, rồi quyết định 15 ban hành năm 2006 đến thông tư 201 năm 2009 và thông tư 179 năm 2012 đã liên tục điều chỉnh, hướng dẫn xử lý CLTG. Nhưng thực tế áp dụng trong DN vẫn còn nhiều điểm bất cập và chưa rõ ràng. Đến cuối năm 2014, BTC ban hành thông tư 200/2014/TT-BTC (TT200) hướng dẫn khá chi tiết và giải quyết được nhiều vướng mắc cho DN. Tuy nhiên, thực tế vận dụng trong doanh nhiều còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Bài viết trình bày một số nội dung trọng tâm liên quan đến kế toán CLTG theo TT 200 và trao đổi của tác giả giữa TT200 với các quy định khác của BTC có liên quan. Từ khóa Chênh lệch tỷ giá hối đoái.

    1. Một số nội dung trọng tâm về chênh lệch tỷ giá hối đoái theo TT 200

    1.1. Quy định chung về tỷ giá hối đoái

    CLTG là khoản chênh lệch phát sinh từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi cùng một số lượng tiền tệ khác sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau. Đồng tiền kế toán được sử dụng cho tất cả các loại hình DN là đồng Việt Nam (Trừ trường hợp được phép sử dụng ngoại tệ hạch toán theo quy định của pháp luật). Vì vậy, khi phát sinh các đơn vị tiền tệ khác thì phải quy đổi sang đồng Việt Nam. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đồng Việt nam phải căn cứ vào: – Tỷ giá giao dịch thực tế; – Tỷ giá ghi sổ kế toán

    1.2. Nguyên tắc xác định tỷ giá giao dịch thực tế

    * Tỷ giá giao dịch thực tế phát sinh trong kỳ:

    – Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán ngoại tệ là tỷ giá ký kết trong hợp đồng mua, bán ngoại tệ giữa DN và ngân hàng thương mại.

    – Trường hợp hợp đồng không quy định tỷ giá thanh toán thì DN ghi sổ kế toán theo nguyên tắc: 

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp vốn hoặc nhận vốn góp: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng nơi DN mở tài khoản để nhận vốn của nhà đầu tư tại ngày góp vốn

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải thu: Là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi DN chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận tài sản, doanh thu, thu nhập, chi phí: Là tỷ giá công bố của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải trả: Là tỷ giá bán của ngân hàng thương mại nơi DN dự kiến giao dịch tại thời điểm giao dịch phát sinh

    + Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí được thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi DN thực hiện thanh toán;

    + Trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ hoặc thu nhập có liên quan đến doanh thu nhận trước hoặc giao dịch nhận trước tiền của người mua thì doanh thu, thu nhập tương ứng với số tiền nhận trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận trước của người mua (không áp dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu, thu nhập)
    + Trường hợp tài sản được mua có liên quan đến giao dịch trả trước cho người bán thì giá trị tài sản tương ứng với số tiền trả trước được áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm trả trước cho người bán (Không áp dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm ghi nhận tài sản).

    * Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài chính:

    Tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá công bố của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch (Do DN tự lựa chọn) theo nguyên tắc:

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được phân loại là tài sản: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi DN thường xuyên có giao dịch tại thời điểm lập Báo cáo tài chính. Đối với các khoản ngoại tệ gửi ngân hàng thì tỷ giá thực tế khi đánh giá lại là tỷ giá mua của chính ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ. Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng không có chênh lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ đánh giá lại

    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được phân loại là nợ phải trả: Là tỷ giá bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại tại thời điểm lập Báo cáo tài chính

    + Các đơn vị trong tập đoàn được áp dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh từ các giao dịch nội bộ.

    1.3. Nguyên tắc xác định tỷ giá ghi sổ. 

    – Tỷ giá ghi sổ gồm: Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh hoặc tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền liên hoàn.

    – Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh: Là tỷ giá khi thu hồi các khoản nợ phải thu, các khoản ký cược, ký quỹ hoặc thanh toán các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, được xác định theo tỷ giá tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc tại thời điểm đánh giá lại cuối kỳ của từng đối tượng.

    – Trường hợp trong kỳ phát sinh nhiều khoản phải thu hoặc phải trả bằng ngoại tệ với cùng một đối tượng thì tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng được xác định trên cơ sở bình quân gia quyền liên hoàn của các giao dịch với đối tượng đó.

    – Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền liên hoàn là tỷ giá được sử dụng tại bên Có tài khoản tiền khi thanh toán tiền bằng ngoại tệ.

    1.4. Xác định các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ

    Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ là các tài sản được thu hồi bằng ngoại tệ hoặc các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, bao gồm: 

    – Tiền mặt, các khoản tương đương tiền, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ; 

    – Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ, ngoại trừ:

    + Các khoản trả trước cho người bán và các khoản chi phí trả trước bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc người bán không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ và DN sẽ phải nhận lại các khoản trả trước bằng ngoại tệ thì các khoản này được coi là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ; 

    + Các khoản người mua trả tiền trước và các khoản doanh thu nhận trước bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc DN không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ và sẽ phải trả lại các khoản nhận trước bằng ngoại tệ cho người mua thì các khoản này được coi là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ. 

    – Các khoản đi vay, cho vay dưới mọi hình thức được quyền thu hồi hoặc có nghĩa vụ hoàn trả bằng ngoại tệ; 

    – Các khoản đặt cọc, ký cược, ký quỹ được quyền nhận lại bằng ngoại tệ; Các khoản nhận ký cược, ký quỹ phải hoàn trả bằng ngoại tệ. 

    1.5. Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ giá 

    – DN phải theo dõi cả nguyên tệ và đồng Việt Nam trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản tiền, nợ phải thu, nợ phải trả.

    – Tất cả các khoản CLTG đều được phản ánh ngày vào doanh thu hoạt động tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ) tại thời điểm phát sinh. 

    – DN phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá giao dịch thực tế tại tất cả các thời điểm lập báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Đối với các DN đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì không được đánh giá lại các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái. – Khoản CLTG trong giai đoạn trước hoạt động của DN Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có thực hiện dự án, công trình trọng điểm quốc gia gắn với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh, quốc phòng được tập hợp, phản ánh trên TK 413 và được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính khi DN đi vào hoạt động theo nguyên tắc: 

    + Khoản lỗ Phân bổ trực tiếp từ TK 413 vào chi phí tài chính, khoản lãi phân bổ trực tiếp từ TK 413 vào doanh thu hoạt động tài chính; 

    + Thời gian phân bổ thực hiện theo quy định của pháp luật đối với loại hình DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Riêng số phân bổ khoản lỗ tỷ giá tối thiểu trong từng kỳ phải đảm bảo không nhỏ hơn mức lợi nhuận trước thuế trước khi phân bổ khoản lỗ tỷ giá (Sau khi phân bổ lỗ tỷ giá, lợi nhuận trước thuế của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bằng không). 

    – DN không được vốn hóa các khoản CLTG vào giá trị tài sản dở dang.

    2. Ví dụ giao dịch thực tế phát sinh

    2.1. Ví dụ 1: Nhập khẩu hàng hóa

    Công ty N ký hợp đồng nhập khẩu lô hàng, giá mua 10.000 USD. Giả sử có các trường hợp thanh toán như sau: 

    – Trường hợp 1, chưa thanh toán: Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 156: 222.000.000đ (10.000 USD x 22.200) Có TK 331: 222.000.000đ (10.000 USD x 22.200) – Trường hợp 2, thanh toán trước một phần: 

    + Ngày 05/01/2016, công ty N chuyển 4.000 USD tiền gửi ngân hàng, ứng trước cho người bán, biết tỷ giá bán USD của NHTM là 22.050, tỷ giá ghi sổ ngoại tệ 22.000 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 331: 88.200.000đ (4.000 USD x 22.050); Có TK 112: 88.000.000đ (4.000 USD x 22.000 Có TK 515: 200.000đ.

    + Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi: Nợ TK 156: 221.400.000đ (4.000 USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200); Có TK 331: 221.400.000đ (4.000 USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200).

     2.2. Ví dụ 2: Xuất khẩu hàng hóa

    Công ty N ký hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, giá bán 20.000 USD/FOB. HCM. Giả sử có các trường hợp thanh toán như sau: 

    – Trường hợp 1, chưa thu tiền: Ngày 21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu: Nợ TK 131: 443.000.000đ (20.000 USD x 22.150); Có TK 511: 443.000.000đ (20.000 USD x 22.150). – Trường hợp 2, thu trước một phần: 

    + Ngày 07/01/2016, khách hàng chuyển khoản trả trước cho DN 5.000 USD, biết tỷ giá mua USD của NHTM là 22.050. Kế toán ghi: Nợ TK 112: 110.250.000 (5.000 USD x 22.050); Có TK 131: 110.250.000 (5.000 USD x 22.050). 

    + Ngày 21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu: Nợ TK 131: 442.500.000 (5.000 USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150); Có TK 511: 442.500.000 (5.000 USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150).

    3. Bàn về quy định hiện hành xử lý CLTG

     – Thứ nhất: Từ quy định TT 200, ví dụ 1 và ví dụ 2 cho thấy, việc ghi nhận giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và doanh thu cung cấp hàng hóa, dịch vụ bị ảnh hưởng bởi nghiệp vụ ứng trước tiền hàng, có nghĩa bị ảnh hưởng bởi dòng tiền, có quan tâm đến thời điểm thu, chi. Nhưng theo VAS 01 quy định nguyên tắc kế toán Cơ sở dồn tích áp dụng cho DN hiện nay là “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền…”. Vậy, nên cần xem xét sự phù hợp của TT 200 trong trường hợp trên với nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích theo VAS 01. 

    – Thứ hai: Việc quy định ghi nhận tỷ giá theo kế toán và thuế không trùng khớp với quy định áp dụng tỷ giá để xác định trị giá tính thuế của cơ quan hải quan. Tại khoản 3, điều 21, nghị định 08/2015/NĐ-CP hướng dẫn: “Tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng tiền nước ngoài dùng để xác định trị giá tính thuế là tỷ giá ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển khoản của Hội sở chính Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tại thời điểm cuối ngày của ngày thứ năm tuần trước liền kề hoặc là tỷ giá cuối ngày của ngày làm việc liền trước ngày thứ năm trong trường, hợp ngày thứ năm là ngày lễ, ngày nghỉ. Tỷ giá này được sử dụng để xác định tỷ giá tính thuế cho các tờ khai hải quan đăng ký trong tuần”. Trong trường hợp xảy ra nghiệp vụ ứng tiền trước thì cả tỷ giá trên hóa đơn xuất khẩu, tỷ giá theo tờ khai hải quan và tỷ giá theo kế toán sẽ khác nhau. Điều này dẫn đến: Kế toán sẽ khó có thể căn cứ vào chứng từ gốc để ghi sổ; Cùng một nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng mỗi cơ quan quy định cách xác định tỷ giá khác nhau. Trong khi các cơ quan này cùng đơn vị chủ quản là BTC. Vậy, BTC nên có quy định thống nhất tỷ giá trong trường hợp này thì sẽ thuận lợi hơn cho cả DN vận dụng và cơ quan Nhà nước khi kiểm tra. 

    – Thứ ba: Theo TT 200, thời điểm lập báo cáo tài chính, DN đánh giá lại tất cả các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, nợ phải thu, nợ phải trả,…) và kết chuyển số thuần vào doanh thu tài chính nếu lãi, ngược lại kết chuyển vào chi phí tài chính. Trong khi đó, theo quy định ở điểm 2.21 điều 4, và điều 5 thông tư 96/2015/TT-BTC quy định về tính thuế Thu nhập doanh nghiệp thì chỉ chấp nhận đối với khoản nợ phải trả. Điều này làm phát sinh khoản chênh lệch tạm thời giữa kế toán và thuế, làm cho công tác kế toán trở nên phức tạp. Trong trường hợp này, quy định tính thuế nên thống nhất theo kế toán thì sẽ giảm thiều được chênh lệch giữa Thuế – Kế toán, và công tác kế toán cũng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn. 

    – Thứ tư: Trong TT 200, cùng quy định về tỷ giá để đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng bằng ngoại tệ. Nhưng ở điểm g, khoản 1, điều 13 không khớp với điểm b, 1.3, khoản 1, điều 69. Vậy, nên thống nhất hướng dẫn sử dụng ở hai điểm này. Một vấn đề nữa, BTC có quy định: “Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng không có chênh lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ đánh giá lại”. Theo tinh thần hướng dẫn Nguyên tắc thận trọng trong VAS 01, khi xem xét, cân nhắc, đánh giá thì không nên đánh giá cao hơn giá trị tài sản và thu nhập. Hay, DN đứng trước các phương án lựa chọn thì kế toán chọn phương án không thổi phồng tài sản, thu nhập. Vậy, trong trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau, thì nên chọn ngân hàng có tỷ giá mua thấp nhất để đánh giá ngoại tệ sẽ phù hợp theo nguyên tắc thận trọng trong kế toán. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]