Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI  THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC

    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC

    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tìm hiểu mô hình tổ chức bộ máy kế toán của một ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Ban_ve_xu_ly_chenh_lech_ty_gia_hoi_doai.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC 

    Thông báo khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    63
    BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
    THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC
    ThS. Nguyễn Đình Đại
    Khoa Kinh tế – Trường ĐHXD Miền Trung
    Tóm tắt
    Trong xu thế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc
    tế ngày càng sâu, rộng. Hoạt động kinh doanh
    xuất, nhập khẩu ngày càng chiếm khối lượng
    giao dịch lớn trong doanh nghiệp (DN) Việt
    Nam. Điều này dẫn đến phát sinh các giao dịch
    tiền tệ, phi tiền tệ bằng ngoại tệ và việc xử lý
    chênh lệch tỷ giá hối đoái (CLTG) trong công
    tác kế toán trở nên phức tạp, tạo ra nhiều khó
    khăn, lúng túng cho cơ quan xây dựng chính
    sách và DN áp dụng.
    Từ năm 2002 Bộ Tài chính (BTC) ban hành
    VAS 10, rồi quyết định 15 ban hành năm 2006
    đến thông tư 201 năm 2009 và thông tư 179
    năm 2012 đã liên tục điều chỉnh, hướng dẫn xử
    lý CLTG. Nhưng thực tế áp dụng trong DN vẫn
    còn nhiều điểm bất cập và chưa rõ ràng. Đến
    cuối năm 2014, BTC ban hành thông tư
    200/2014/TT-BTC (TT 200) hướng dẫn khá chi
    tiết và giải quyết được nhiều vướng mắc cho
    DN. Tuy nhiên, thực tế vận dụng trong doanh
    nhiều còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Bài viết
    trình bày một số nội dung trọng tâm liên quan
    đến kế toán CLTG theo TT 200 và trao đổi của
    tác giả giữa TT 200 với các quy định khác của
    BTC có liên quan.
    Từ khóa
    Chênh lệch tỷ giá hối đoái.
    1. Một số nội dung trọng tâm về
    chênh lệch tỷ giá hối đoái theo TT 200
    1.1. Quy định chung về tỷ giá hối đoái
    CLTG là khoản chênh lệch phát sinh
    từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi cùng
    một số lượng tiền tệ khác sang đơn vị tiền
    tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác nhau.
    Đồng tiền kế toán được sử dụng cho
    tất cả các loại hình DN là đồng Việt Nam
    (Trừ trường hợp được phép sử dụng ngoại
    tệ hạch toán theo quy định của pháp
    luật). Vì vậy, khi phát sinh các đơn vị tiền
    tệ khác thì phải quy đổi sang đồng Việt
    Nam. Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra đồng
    Việt nam phải căn cứ vào:
    – Tỷ giá giao dịch thực tế;
    – Tỷ giá ghi sổ kế toán.
    1.2. Nguyên tắc xác định tỷ giá giao
    dịch thực tế
    * Tỷ giá giao dịch thực tế phát sinh
    trong kỳ:
    – Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán
    ngoại tệ là tỷ giá ký kết trong hợp đồng
    mua, bán ngoại tệ giữa DN và ngân hàng
    thương mại;
    – Trường hợp hợp đồng không quy định tỷ
    giá thanh toán thì DN ghi sổ kế toán theo
    nguyên tắc:
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp
    vốn hoặc nhận vốn góp: Là tỷ giá mua
    ngoại tệ của ngân hàng nơi DN mở tài
    khoản để nhận vốn của nhà đầu tư tại
    ngày góp vốn;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận nợ phải thu: Là tỷ giá mua của ngân
    hàng thương mại nơi DN chỉ định khách
    hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch
    phát sinh;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận tài sản, doanh thu, thu nhập, chi phí:
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    64
    Là tỷ giá công bố của ngân hàng thương
    mại nơi DN thường xuyên có giao dịch;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi
    nhận nợ phải trả: Là tỷ giá bán của ngân
    hàng thương mại nơi DN dự kiến giao dịch
    tại thời điểm giao dịch phát sinh;
    + Đối với các giao dịch mua sắm tài
    sản hoặc các khoản chi phí được thanh
    toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các
    tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực
    tế là tỷ giá mua của ngân hàng thương
    mại nơi DN thực hiện thanh toán;
    + Trường hợp bán hàng hoá, cung
    cấp dịch vụ hoặc thu nhập có liên quan đến
    doanh thu nhận trước hoặc giao dịch nhận
    trước tiền của người mua thì doanh thu, thu
    nhập tương ứng với số tiền nhận trước được
    áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
    điểm nhận trước của người mua (không áp
    dụng theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời
    điểm ghi nhận doanh thu, thu nhập);
    + Trường hợp tài sản được mua có
    liên quan đến giao dịch trả trước cho người
    bán thì giá trị tài sản tương ứng với số tiền
    trả trước được áp dụng tỷ giá giao dịch
    thực tế tại thời điểm trả trước cho người
    bán (Không áp dụng theo tỷ giá giao dịch
    thực tế tại thời điểm ghi nhận tài sản).
    * Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá
    lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài chính:
    Tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá
    công bố của ngân hàng thương mại nơi
    DN thường xuyên có giao dịch (Do DN tự
    lựa chọn) theo nguyên tắc:
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh
    giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ được phân loại là tài sản: Là tỷ giá mua
    ngoại tệ của ngân hàng thương mại nơi
    DN thường xuyên có giao dịch tại thời
    điểm lập Báo cáo tài chính. Đối với các
    khoản ngoại tệ gửi ngân hàng thì tỷ giá
    thực tế khi đánh giá lại là tỷ giá mua của
    chính ngân hàng nơi DN mở tài khoản
    ngoại tệ. Trường hợp DN có nhiều tài
    khoản ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác
    nhau và tỷ giá mua của các ngân hàng
    không có chênh lệch đáng kể thì có thể
    lựa chọn tỷ giá mua của một trong số các
    ngân hàng nơi DN mở tài khoản ngoại tệ
    làm căn cứ đánh giá lại;
    + Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh
    giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ được phân loại là nợ phải trả: Là tỷ giá
    bán ngoại tệ của ngân hàng thương mại
    tại thời điểm lập Báo cáo tài chính;
    + Các đơn vị trong tập đoàn được áp
    dụng chung một tỷ giá do Công ty mẹ quy
    định (phải đảm bảo sát với tỷ giá giao
    dịch thực tế) để đánh giá lại các khoản
    mục tiền tệ có gốc ngoại tệ phát sinh từ
    các giao dịch nội bộ.
    1.3. Nguyên tắc xác định tỷ giá ghi sổ.
    – Tỷ giá ghi sổ gồm: Tỷ giá ghi sổ
    thực tế đích danh hoặc tỷ giá ghi sổ bình
    quân gia quyền liên hoàn.
    – Tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh:
    Là tỷ giá khi thu hồi các khoản nợ phải
    thu, các khoản ký cược, ký quỹ hoặc
    thanh toán các khoản nợ phải trả bằng
    ngoại tệ, được xác định theo tỷ giá tại
    thời điểm giao dịch phát sinh hoặc tại
    thời điểm đánh giá lại cuối kỳ của từng
    đối tượng.
    – Trường hợp trong kỳ phát sinh
    nhiều khoản phải thu hoặc phải trả bằng
    ngoại tệ với cùng một đối tượng thì tỷ giá
    ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối
    tượng được xác định trên cơ sở bình quân
    gia quyền liên hoàn của các giao dịch với
    đối tượng đó.
    – Tỷ giá ghi sổ bình quân gia quyền
    liên hoàn là tỷ giá được sử dụng tại bên
    Có tài khoản tiền khi thanh toán tiền bằng
    ngoại tệ.
    1.4. Xác định các khoản mục tiền tệ
    có gốc ngoại tệ
    Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
    tệ là các tài sản được thu hồi bằng ngoại
    tệ hoặc các khoản nợ phải trả bằng ngoại
    tệ, bao gồm:
    – Tiền mặt, các khoản tương đương
    tiền, tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ;
    – Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả
    có gốc ngoại tệ, ngoại trừ:
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    65
    + Các khoản trả trước cho người bán
    và các khoản chi phí trả trước bằng ngoại
    tệ. Trường hợp tại thời điểm lập báo cáo
    có bằng chứng chắc chắn về việc người
    bán không thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ
    và DN sẽ phải nhận lại các khoản trả trước
    bằng ngoại tệ thì các khoản này được coi
    là các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ;
    + Các khoản người mua trả tiền
    trước và các khoản doanh thu nhận trước
    bằng ngoại tệ. Trường hợp tại thời điểm
    lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về
    việc DN không thể cung cấp hàng hoá,
    dịch vụ và sẽ phải trả lại các khoản nhận
    trước bằng ngoại tệ cho người mua thì các
    khoản này được coi là các khoản mục tiền
    tệ có gốc ngoại tệ.
    – Các khoản đi vay, cho vay dưới mọi
    hình thức được quyền thu hồi hoặc có
    nghĩa vụ hoàn trả bằng ngoại tệ;
    – Các khoản đặt cọc, ký cược, ký quỹ
    được quyền nhận lại bằng ngoại tệ; Các
    khoản nhận ký cược, ký quỹ phải hoàn trả
    bằng ngoại tệ.
    1.5. Nguyên tắc kế toán chênh lệch tỷ
    giá
    – DN phải theo dõi cả nguyên tệ và
    đồng Việt Nam trên sổ kế toán chi tiết các
    tài khoản tiền, nợ phải thu, nợ phải trả.
    – Tất cả các khoản CLTG đều được
    phản ánh ngay vào doanh thu hoạt động
    tài chính (nếu lãi) hoặc chi phí tài chính
    (nếu lỗ) tại thời điểm phát sinh.
    – DN phải đánh giá lại các khoản
    mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá
    giao dịch thực tế tại tất cả các thời điểm
    lập báo cáo tài chính theo quy định của
    pháp luật. Đối với các DN đã sử dụng công
    cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái thì
    không được đánh giá lại các khoản vay, nợ
    phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công
    cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái.
    – Khoản CLTG trong giai đoạn trước
    hoạt động của DN Nhà nước nắm giữ
    100% vốn điều lệ có thực hiện dự án,
    công trình trọng điểm quốc gia gắn với
    nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh,
    quốc phòng được tập hợp, phản ánh trên
    TK 413 và được phân bổ dần vào doanh
    thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài
    chính khi DN đi vào hoạt động theo
    nguyên tắc:
    + Khoản lỗ Phân bổ trực tiếp từ TK
    413 vào chi phí tài chính, khoản lãi phân
    bổ trực tiếp từ TK 413 vào doanh thu hoạt
    động tài chính;
    + Thời gian phân bổ thực hiện theo
    quy định của pháp luật đối với loại hình
    DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều
    lệ. Riêng số phân bổ khoản lỗ tỷ giá tối
    thiểu trong từng kỳ phải đảm bảo không
    nhỏ hơn mức lợi nhuận trước thuế trước
    khi phân bổ khoản lỗ tỷ giá (Sau khi
    phân bổ lỗ tỷ giá, lợi nhuận trước thuế
    của báo cáo kết quả hoạt động kinh
    doanh bằng không).
    – DN không được vốn hóa các khoản
    CLTG vào giá trị tài sản dở dang.
    2. Ví dụ giao dịch thực tế phát sinh
    2.1. Ví dụ 1: Nhập khẩu hàng hóa
    Công ty N ký hợp đồng nhập khẩu lô
    hàng, giá mua 10.000 USD. Giả sử có các
    trường hợp thanh toán như sau:
    – Trường hợp 1, chưa thanh toán:
    Ngày 10/01/2016, công ty N đã làm thủ
    tục nhập khẩu và nhận hàng nhập kho,
    biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là 22.100
    VND/USD, tỷ giá bán USD của ngân hàng
    thương mại DN dự kiến giao dịch (NHTM)
    là 22.200 VND/USD. Kế toán ghi:
    Nợ TK 156: 222.000.000đ (10.000
    USD x 22.200)
    Có TK 331: 222.000.000đ (10.000
    USD x 22.200)
    – Trường hợp 2, thanh toán trước
    một phần:
    + Ngày 05/01/2016, công ty N
    chuyển 4.000 USD tiền gửi ngân hàng,
    ứng trước cho người bán, biết tỷ giá bán
    USD của NHTM là 22.050, tỷ giá ghi sổ
    ngoại tệ 22.000 VND/USD. Kế toán ghi:
    Nợ TK 331: 88.200.000đ (4.000
    USD x 22.050);
    Có TK 112: 88.000.000đ (4.000
    USD x 22.000
    Có TK 515: 200.000đ.
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    66
    + Ngày 10/01/2016, công ty N đã
    làm thủ tục nhập khẩu và nhận hàng nhập
    kho, biết tỷ giá trên tờ khai hải quan là
    22.100 VND/USD, tỷ giá bán USD của
    ngân hàng thương mại DN dự kiến giao
    dịch (NHTM) là 22.200 VND/USD. Kế toán
    ghi:
    Nợ TK 156: 221.400.000đ (4.000
    USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200);
    Có TK 331: 221.400.000đ (4.000
    USD x 22.050 + 6.000 USD x 22.200).
    2.2. Ví dụ 2: Xuất khẩu hàng hóa
    Công ty N ký hợp đồng xuất khẩu hàng
    hóa, giá bán 20.000 USD/FOB. HCM. Giả sử
    có các trường hợp thanh toán như sau:
    – Trường hợp 1, chưa thu tiền: Ngày
    21/01/2016, công ty N đã làm xong thủ
    tục xuất khẩu, biết tỷ giá trên tờ khai hải
    quan là 22.100 VND/USD, tỷ giá mua USD
    của NHTM là 22.150 VND/USD. Kế toán
    ghi nhận doanh thu:
    Nợ TK 131: 443.000.000đ (20.000
    USD x 22.150);
    Có TK 511: 443.000.000đ (20.000
    USD x 22.150).
    – Trường hợp 2, thu trước một phần:
    + Ngày 07/01/2016, khách hàng
    chuyển khoản trả trước cho DN 5.000
    USD, biết tỷ giá mua USD của NHTM là
    22.050. Kế toán ghi:
    Nợ TK 112: 110.250.000 (5.000
    USD x 22.050);
    Có TK 131: 110.250.000 (5.000
    USD x 22.050).
    + Ngày 21/01/2016, công ty N đã
    làm xong thủ tục xuất khẩu, biết tỷ giá
    trên tờ khai hải quan là 22.100 VND/USD,
    tỷ giá mua USD của NHTM là 22.150
    VND/USD. Kế toán ghi nhận doanh thu:
    Nợ TK 131: 442.500.000 (5.000
    USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150);
    Có TK 511: 442.500.000 (5.000
    USD x 22.050 + 15.000 USD x 22.150).
    2.3. Ví dụ 3: Cuối niên độ kế toán,
    đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng
    ngoại tệ
    Cuối năm 2015, Công ty N đánh giá
    lại (ĐGL) số dư tiền gửi ngân hàng ngoại
    tệ theo tỷ giá mua của ngân hàng nơi DN
    mở tài khoản giao dịch như sau:
    Bảng: Đánh giá lại số dư tiền gửi ngân hàng ngoại tệ tại ngày 31/12/2015
    Số Dư
    Ngân Hàng
    USD VND
    Tỷ Giá
    ĐGL
    Số Dư
    ĐGL
    Chênh Lệch
    ĐGL
    1122 – BIDV 40.000 892.400.000 22.450 898.000.000 5.600.000
    1122 – ACB 60.000 1.338.000.000 22.440 1.346.400.000 8.400.000
    Tổng cộng 100.000 2.230.400.000 2.244.400.000 14.000.000
    Căn cứ kết quả đánh giá lại theo bảng trên, kế toán ghi sổ:
    Nợ TK 112: 14.000.000
    Có TK 413: 14.000.000
    3. Bàn về quy định hiện hành xử lý
    CLTG
    – Thứ nhất: Từ quy định TT 200, ví
    dụ 1 và ví dụ 2 cho thấy, việc ghi nhận
    giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào và
    doanh thu cung cấp hàng hóa, dịch vụ bị
    ảnh hưởng bởi nghiệp vụ ứng trước tiền
    hàng, có nghĩa bị ảnh hưởng bởi dòng
    tiền, có quan tâm đến thời điểm thu, chi.
    Nhưng theo VAS 01 quy định nguyên tắc
    kế toán Cơ sở dồn tích áp dụng cho DN
    hiện nay là “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài
    chính của doanh nghiệp liên quan đến tài
    sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu,
    doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế
    toán vào thời điểm phát sinh, không căn
    cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc
    thực tế chi tiền…”. Vậy, nên cần xem xét
    sự phù hợp của TT 200 trong trường hợp
    trên với nguyên tắc cơ sở kế toán dồn tích
    theo VAS 01.
    – Thứ hai: Việc quy định ghi nhận tỷ
    giá theo kế toán và thuế không trùng
    khớp với quy định áp dụng tỷ giá để xác
    Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology
    Số 1/2016 No. 1/2016
    67
    định trị giá tính thuế của cơ quan hải
    quan. Tại khoản 3, điều 21, nghị định
    08/2015/NĐ-CP hướng dẫn: “Tỷ giá giữa
    đồng Việt Nam với đồng tiền nước ngoài
    dùng để xác định trị giá tính thuế là tỷ giá
    ngoại tệ mua vào theo hình thức chuyển
    khoản của Hội sở chính Ngân hàng thương
    mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam tại
    thời điểm cuối ngày của ngày thứ năm
    tuần trước liền kề hoặc là tỷ giá cuối ngày
    của ngày làm việc liền trước ngày thứ
    năm trong trường, hợp ngày thứ năm là
    ngày lễ, ngày nghỉ. Tỷ giá này được sử
    dụng để xác định tỷ giá tính thuế cho các
    tờ khai hải quan đăng ký trong tuần”.
    Trong trường hợp xảy ra nghiệp vụ ứng
    tiền trước thì cả tỷ giá trên hóa đơn xuất
    khẩu, tỷ giá theo tờ khai hải quan và tỷ
    giá theo kế toán sẽ khác nhau. Điều này
    dẫn đến: Kế toán sẽ khó có thể căn cứ
    vào chứng từ gốc để ghi sổ; Cùng một
    nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhưng mỗi cơ
    quan quy định cách xác định tỷ giá khác
    nhau. Trong khi các cơ quan này cùng đơn
    vị chủ quản là BTC. Vậy, BTC nên có quy
    định thống nhất tỷ giá trong trường hợp
    này thì sẽ thuận lợi hơn cho cả DN vận
    dụng và cơ quan Nhà nước khi kiểm tra.
    – Thứ ba: Theo TT 200, thời điểm lập
    báo cáo tài chính, DN đánh giá lại tất cả
    các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
    (Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
    chuyển, nợ phải thu, nợ phải trả,…) và kết
    chuyển số thuần vào doanh thu tài chính
    nếu lãi, ngược lại kết chuyển vào chi phí
    tài chính. Trong khi đó, theo quy định ở
    điểm 2.21 điều 4, và điều 5 thông tư
    96/2015/TT-BTC quy định về tính thuế
    Thu nhập doanh nghiệp thì chỉ chấp nhận
    đối với khoản nợ phải trả. Điều này làm
    phát sinh khoản chênh lệch tạm thời giữa
    kế toán và thuế, làm cho công tác kế toán
    trở nên phức tạp. Trong trường hợp này,
    quy định tính thuế nên thống nhất theo kế
    toán thì sẽ giảm thiều được chênh lệch
    giữa Thuế – Kế toán, và công tác kế toán
    cũng trở nên đơn giản và hiệu quả hơn.
    – Thứ tư: Trong TT 200, cùng quy
    định về tỷ giá để đánh giá lại số dư tiền
    gửi ngân hàng bằng ngoại tệ. Nhưng ở
    điểm g, khoản 1, điều 13 không khớp với
    điểm b, 1.3, khoản 1, điều 69. Vậy, nên
    thống nhất hướng dẫn sử dụng ở hai điểm
    này. Một vấn đề nữa, BTC có quy định:
    “Trường hợp DN có nhiều tài khoản ngoại
    tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau và tỷ giá
    mua của các ngân hàng không có chênh
    lệch đáng kể thì có thể lựa chọn tỷ giá
    mua của một trong số các ngân hàng nơi
    DN mở tài khoản ngoại tệ làm căn cứ
    đánh giá lại”. Theo tinh thần hướng dẫn
    Nguyên tắc thận trọng trong VAS 01, khi
    xem xét, cân nhắc, đánh giá thì không
    nên đánh giá cao hơn giá trị tài sản và thu
    nhập. Hay, DN đứng trước các phương án
    lựa chọn thì kế toán chọn phương án
    không thổi phồng tài sản, thu nhập. Vậy,
    trong trường hợp DN có nhiều tài khoản
    ngoại tệ ở nhiều ngân hàng khác nhau, thì
    nên chọn ngân hàng có tỷ giá mua thấp
    nhất để đánh giá ngoại tệ sẽ phù hợp theo
    nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Bộ Tài Chính, 2002. Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC về Chuẩn mực kế toán.
    2. Bộ Tài Chính, 2006. Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC về Chế độ kế toán DN.
    3. Bộ Tài Chính, 2009. Thông tư số 201/2009/TT-BTC về Chênh lệch tỷ giá.
    4. Bộ Tài Chính, 2012. Thông tư số 179/2012/TT-BTC về Chênh lệch tỷ giá.
    5. Bộ Tài Chính, 2014. Thông tư số 200/2014/TT-BTC về Chế độ kế toán DN.
    6. Bộ Tài Chính, 2015. Thông tư số 26/2015/TT-BTC về Thuế GTGT.
    7. Bộ Tài Chính, 2015. Thông tư số 96/2015/TT-BTC về Thuế TNDN.
    8. Bộ Tài Chính, 2015. Nghị định số 08/2015/NĐ-CP về Luật Hải quan.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG DẠNG HÌNH TRÒN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE-CARLO

    TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG DẠNG HÌNH TRÒN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE-CARLO

    TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG DẠNG HÌNH TRÒN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE-CARLO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%8DNH-TO%C3%81N-H%E1%BB%86-S%E1%BB%90-QUAN-S%C3%81T-GI%E1%BB%AEA-M%E1%BB%98T-B%E1%BB%80-M%E1%BA%B6T-VI-PH%C3%82N-V%C3%80-M%E1%BB%98T-B%E1%BB%80-M%E1%BA%B6T-H%E1%BB%AEU-H%E1%BA%A0N-C%C3%93-C%C3%81C-L%E1%BB%96-TR%E1%BB%90NG-D%E1%BA%A0NG-H%C3%8CNH-TR%C3%92N-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-M%C3%94-PH%E1%BB%8ENG-MONTE-CARLO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG DẠNG HÌNH TRÒN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE-CARLO

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG DẠNG HÌNH TRÒN SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE-CARLO

    Phạm Ngọc Chung1*, Nguyễn Như Hiếu2

    Tóm tắt: Hệ số quan sát là một tham số quan trọng được sử dụng trong tính toán trao đổi bức xạ giữa các bề mặt trong các bài toán truyền nhiệt của khoa học kỹ thuật. Trong bài báo này, các tác giả nghiên cứu bài toán xác định hệ số quan sát giữa một bề mặt vi phân và một bề mặt hữu hạn có chứa các lỗ trống dạng hình tròn sử dụng kỹ thuật mô phỏng Monte-Carlo. Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo, các tác giả xét bề mặt hữu hạn có dạng hình chữ nhật. Các tính toán được thực hiện cho trường hợp bề mặt vi phân song song với mặt phẳng chứa bề mặt hữu hạn đang xét. Sự phụ thuộc của hệ số quan sát vào khoảng cách, vị trí bề mặt vi phân, bán kính và sự phân bố của các lỗ trống được khảo sát chi tiết. Kết quả thu được chỉ ra rằng nghiệm mô phỏng bằng phương pháp Monte-Carlo là khá gần với nghiệm giải tích. Sự hội tụ của nghiệm thu được từ mô phỏng Monte-Carlo được đánh giá thông qua số tia phát ra từ bề mặt vi phân và số tia đến được bề mặt hữu hạn đang xét. Giá trị tỷ số giữa số tia đến được bề mặt hữu hạn và số tia phát ra cho ta hệ số quan sát cần tìm. Tính toán thực tế chỉ ra rằng khi số tia phát ra đủ lớn thì hệ số quan sát trong mô phỏng Monte-Carlo sẽ tiệm cận giá trị chính xác và tuân theo luật số lớn.

    Từ khóa: Mô phỏng Monte-Carlo; Hệ số quan sát; Bề mặt hữu hạn; Bề mặt vi phân; Lỗ trống hình tròn.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Xuất phát từ bài toán bức xạ nhiệt giữa hai bề mặt vật thể khác nhau, người ta đưa ra khái niệm hệ số quan sát dựa trên một số giả thiết về năng lượng bức xạ giữa các bề mặt [1,2]. Từ những giả thiết về mặt vật lý, người ta thu được biểu thức toán học cho hệ số quan sát Fij khi nhìn bề mặt j từ bề mặt i như sau [1,2]:

    Fij  =

    1

    ò ò

    cosfi cosfj

    dAi dAj ,

    (1)

    A

    p r2

     

    i  A

    A

    j

         
       

    i

           

    trong đó: fi , fj là góc giữa đường nối hai điểm bất kỳ thuộc hai bề mặt với pháp tuyến bề mặt tại hai điểm đó; r là khoảng cách giữa hai điểm trên hai bề mặt; Ai , Aj là diện tích các bề mặt (xem hình 1). Từ định nghĩa của hệ số quan sát (1), ta thu được quan hệ Ai Fij = A j Fji . Nói chung hệ số Fij khác với Fji , chúng chỉ bằng nhau khi diện tích hai bề mặt đang xét bằng nhau.

    Từ (1), có thể thấy rằng hệ số quan sát chỉ phụ thuộc vào dạng hình học và hướng của các bề mặt cũng như khoảng cách giữa chúng. Do sự phức tạp khi tính các tích phân mặt, người ta có thể thu được nghiệm giải tích của (1) trong một số trường hợp hình học đơn giản của các bề mặt, chẳng hạn hai bề mặt phẳng hình chữ nhật [3], miền vi phân và hình tròn [4], các hình đa giác [5], miền vi phân và hình trụ [6]. Tuy nhiên, khi dạng hình học của các bề mặt phức tạp thì việc tìm nghiệm giải tích là khá khó khăn [7,8]. Do đó, các phương pháp số sẽ được sử dụng để tính toán xấp xỉ biểu thức hệ số quan sát (1). Một trong những phương pháp số là phương pháp Monte-Carlo dựa trên cơ sở số ngẫu nhiên trong xác suất thống kê [7-9].

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    263

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

    Phương pháp Monte-Carlo có ưu điểm là dễ dàng thực hiện cho nhiều loại bài toán khác nhau, ngay cả những bài toán có độ phức tạp nhất định. Phương pháp này cho kết quả ước lượng nghiệm của bài toán khá tiện lợi, nhưng có một nhược điểm là thời gian tính toán tương đối lớn, mất nhiều tài nguyên của máy tính.

    Hình 1. Minh họa hình học khi tính hệ số quan sát giữa hai bề mặt Ai  và Aj .

    Đối với bài toán bức xạ nhiệt nói chung, và tính toán hệ số quan sát nói riêng, phương pháp Monte-Carlo được nghiên cứu từ những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước [1,2], có thể kể đến các công trình của Chen và Churchill [10], Corlett [11], Campbell [12].

    Gần đây, Vujicic [13] đã sử dụng phương pháp Monte-Carlo kết hợp với kỹ thuật sai phân hữu hạn để ước lượng hệ số quan sát, sau đó so sánh với nghiệm giải tích thu được trong vài trường hợp đơn giản. Các tác giả đó đã sử dụng phương pháp mô phỏng Monte-Carlo, đồng thời đánh giá thời gian tính toán và độ chính xác

    của phương pháp. Mới đây, Jacques [15] đề xuất một kỹ thuật tính toán nhằm mục đích giảm thời gian tính toán khi kết hợp mô phỏng Monte-Carlo với phương pháp phần tử hữu hạn.

    Trong nhiều ứng dụng, các dạng hình học bề mặt khá phong phú và đa dạng, tính toán hệ số quan sát mang ý nghĩa thực tiễn trong các ứng dụng đó. Phạm vi nghiên cứu của bài báo là tính toán hệ số quan sát đối với các bề mặt vi phân và bề mặt có chứa các lỗ trống (xem minh họa các lỗ trống trong [16]). Các bề mặt loại này thường xuất hiện trong kết cấu của các thiết bị, linh kiện điện tử. Hiểu được các đặc tính hình học và đặc tính truyền nhiệt giữa các bề mặt, người ta có thể thiết kế các chi tiết thiết bị với mục đích tối ưu nào đó.

    Bài toán tính hệ số quan sát giữa bề mặt vi phân và bề mặt có lỗ trống vẫn chưa được khảo sát chi tiết trong những nghiên cứu trước đây mặc dù về mặt kỹ thuật ta có thể tính hệ số quan sát giữa một bề mặt vi phân và một lỗ trống [4]. Mục đích của nghiên cứu này là sử dụng mô phỏng Monte-Carlo để tính toán và khảo sát hệ số quan sát giữa một bề mặt

    • phân và một bề mặt hữu hạn có các lỗ trống; giới hạn tính toán cho trường hợp bề mặt
    • phân song song với một bề mặt hình chữ nhật có chứa một, hai và nhiều lỗ trống hình tròn. Kết quả mô phỏng số chỉ ra rằng các kết quả của phương pháp Monte-Carlo so với phương pháp giải tích là khá gần nhau. Điều này cho cho thấy phương pháp Monte-Carlo là tin cậy và có thể mở rộng cho nhiều bài toán phức tạp hơn liên quan đến các loại bề mặt với các dạng hình học khác nhau.

    2. PHƯƠNG PHÁP MONTE-CARLO TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA HAI BỀ MẶT

    Bởi vì hệ số quan sát (1) xuất phát từ một số giả thiết vật lý về tương tác bức xạ bề mặt, do đó cách tiếp cận mô phỏng số Monte-Carlo cũng sử dụng các giả thiết đó để tính toán xấp xỉ hệ số quan sát. Ta sử dụng một số giả thiết như dưới đây cho bề mặt phát tia, luật phân bố của tia phát ra và cách thức chia năng lượng phát ra thành các gói năng lượng. Ba giả thiết này là quan trọng, để đảm bảo rằng cách thức thực hiện mô phỏng Monte-Carlo là lý tưởng về mặt vật lý [1, 2].

    2.1. Một số giả thiết

    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    • Bề mặt phát tia là bề mặt khuếch tán. Khi đó, các tia trên bề mặt có thể phát ra theo mọi hướng nằm trong phạm vi mặt tiếp diện với bề mặt tại điểm phát tia và phần không gian phía trên bề mặt, tức là các tia phát ra nằm trên nửa bán cầu có đáy nằm trên mặt tiếp diện.
    • Năng lượng các tia phát ra có phân bố theo luật cosin. Luật này đảm bảo rằng tia phát ra có phân bố đều trên nửa mặt cầu phía trên mặt phẳng phát tia.
    • Có thể chia phần năng lượng phát ra từ phần tử i thành N gói năng lượng, mỗi gói có năng lượng như nhau. Mỗi tia phát ra được đặc trưng bởi một gói năng lượng tương ứng. Thực tế, tia đại diện này chứa một số lượng rất lớn các tia về mặt vật lý (xem [1, 2, 13]).

    2.2. Xấp xỉ hệ số quan sát bằng phương pháp Monte-Carlo

    Trong phương pháp Monte-Carlo [1, 2, 13], ta xét N tia, mỗi tia mang cùng một năng lượng phát ra từ phần tử bề mặt i . Gọi tổng năng lượng phát ra từ bề mặt i là Fi . Khi đó, mỗi tia sẽ có năng lượng là:

               

    F ray

    =

    Fi

    .

           

    (2)

                       

    Nếu có m tia đập vào phần tử bề mặt

    j

       

    N

         

    j nhận được năng lượng

     

    thì phần tử bề mặt

    là F

    ij

    = m F

    ray

    . Hệ số quan sát F

    lúc này sẽ được tính xấp xỉ bởi F MC

    [1, 2, 13]:

       

    ij

                       

    ij

     
           

    MC

     

    F ij

       

    m Fray

     

    m

       
           

    Fij

    =

     

    =

     

    =

     

    .

     

    (3)

           

    F i

    N Fray

       
                     

    N

       

    Tức là hệ số quan sát sẽ xấp xỉ bằng tỉ số giữa số tia mà phần tử bề mặt j nhận được và tổng số tia phát ra từ phần tử bề mặt i . Từ (3) có thể nhận xét rằng, nếu tổng số tia phát

    ra càng lớn thì giá trị xấp xỉ F MC

    càng gần giá trị tính được từ biểu thức toán học (1):

     

    ij

             
     

    Fij

    = lim

    m

    .

    (4)

         
       

    N ®+¥ N

       

    Giá trị m phụ thuộc vào số tia phát ra N, dạng hình học bề mặt j và vị trí của nó so với i . Với cùng một lượng tia phát ra, nếu bề mặt j nhỏ thì số lượng m tia nhận được cũng nhỏ. Người ta chỉ ra rằng độ chính xác của phương pháp Monte-Carlo tỉ lệ với giá trị 1N và sự hội tụ nghiệm tuân theo luật số lớn (xem [1, 2]).

    3. ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTE-CARLO TÍNH TOÁN HỆ SỐ QUAN SÁT GIỮA MỘT BỀ MẶT VI PHÂN VÀ MỘT BỀ MẶT HÌNH CHỮ NHẬT HỮU HẠN CÓ CÁC LỖ TRỐNG NẰM TRÊN HAI MẶT PHẲNG SONG SONG

    3.1. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có một lỗ trống

    Đặt bài toán: Xét miền vi phân dA1 (được xác định bởi các tọa độ Đề Các x1 , x2 , y1 , y2 ) và miền chữ nhật phẳng hữu hạn A2 có kích thước a ´ b (được xác định bởi các tọa độ Đề Các x1 , x2 , h1 , h2x 2x1 = a , h 2h1 = b ). Miền chữ nhật có một lỗ trống bán kính r . Hai bề mặt dA1A2 nằm trong hai mặt phẳng song song, cách nhau một

    khoảng d, như minh họa trong hình 2. Tính hệ số quan sát miền vi phân nhìn miền chữ nhật hữu hạn.

    3.1.1. Nghiệm giải tích

    Ký hiệu D là miền tròn (lỗ trống), W là toàn miền chữ nhật (khi không có lỗ trống),

    A2 = W \ D là miền đang xét. Theo tính chất của hệ số quan sát [1], ta có:

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    265

               

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

       

    FdA A

    = FdA -W FdA D ,

    (5)

       

    1

    2

    1

    1

     

    trong đó: FdA A

    là hệ số quan sát cần tìm, FdA -W

    là hệ số quan sát miền vi phân nhìn toàn

    1

    2

     

    1

       

    miền chữ nhật (khi không có lỗ trống), FdA1 D là hệ số quan sát miền vi phân nhìn miền tròn (lỗ trống).

    Hình 2. Bề mặt vi phân và bề mặt chữ

    Hình 3. Góc cầu q , j tại M0 .

    nhật có một lỗ trống.

     

    Trong thực tế tính toán số, miền vi phân có thể coi là một miền chữ nhật vô cùng bé. Người ta đã tìm được nghiệm giải tích cho hệ số quan sát trong trường hợp hai miền hình chữ nhật nằm trong hai mặt phẳng song song với nhau. Do đó, ta có thể tính toán hệ số quan sát giữa miền vi phân và miền hình chữ nhật như sau [3]:

               

    1

       

    2

     

    2

    2

       

    2

                                                       
       

    FdA1 -W

     

    =

       

    åååå é ( 1) ( i + j + k +l )

    G ( xi , y j , h k ,

     

    xl )ù

               

    (6)

                             

    trong đó,

           

    A1  l =1 k =1  j =1 i=1 ë

                                       

    û

                 
                                                                                     
     

    1

    {( y h )

                       

    1

             

    y h

                                   

    é

               

    2

     

    2 ù

    2

                                             

    G =

    ë ( x x )

     

    + d

    û

    arctan

                         

    1

                             
     

    2p

                                   

    é ( x x )2

    + d 2 ù

    2

                             
                                       

    ë

                   

    û

                       

    (7)

                                                                                     

    ü

           

    2

             

    1

             

    x x

               

    d

    2

             

    2

         

    2

         

    ï

     

    + ( x x ) é ( y h )

    + d

    2

    ù

    2

                           

    ln é ( xx

    )

     

    ( y

    h )

    + d

    2

    ù

    ï

     
           

    arctan

                   

         

    +

       

    ý.

     
                         

    1

               
       

    ë

               

    û

           

    é ( y h )

    2

    + d

    2

    ù

         

    2

     

    ë

                   

    û

    ï

     
                           

    2

                           
                                                                           

    ï

     
                               

    ë

             

    û

                                         

    þ

     

    Khi e ¹ 0 ( e là khoảng cách từ tâm miền vi phân đến đường thẳng đi qua tâm của lỗ

    trống và song song với trục z , xem hình 3), nghiệm giải tích của FdA D

    là [4]:

                                 

    1

     
           

    é

       

    2

     

    2

       

    ù

       
           

    ê

             

    ú

       

    F

       

    1

     

    1- ( r e) + (d e)

             

    D

    =

    1 –

             

    ú

    .

    (8)

                       
                     

    dA

    2

    ê

    é1+

    (r e)2 + (d e)2 ù2 4(r e)2

       

    1

     

    ê

     

    ú

       
                                   
           

    ê

    ë

         

    û

         

    ú

       
           

    ë

                   

    û

       

    Khi e = 0 thì biểu thức của FdA D là:

                     
                 

    1

                     
                 

    FdA1D =

       

    1

     

    .

         

    (9)

                   

    1+ (d r )2

         
    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    3.1.2. Các bước mô phỏng Monte-Carlo trong tính toán hệ số quan sát

    Chọn hệ trục tọa độ Oxyz như hình 3. Ta thực hiện mô phỏng Monte-Carlo theo các bước như dưới đây theo phương pháp phát tia đã trình bày trong phần 2.2.

    Bước 1. Tạo điểm ngẫu nhiên M 0 ( x0 , y0 , 0) có phân bố đều trên miền vi phân dA1 .

    Bước 2. Tìm tọa độ điểm M thuộc mặt phẳng chứa bề mặt chữ nhật hữu hạn A2 có lỗ trống bán kính r .

    • Từ điểm ngẫu nhiên M0 , phát một tia ngẫu nhiên M 0 u có góc cầu q , j theo quy luật [2]:

    ì

    1- rand(1),

    ïq = arccos

    í

    (10)

    ïîj = 2p ´ rand(1),

    trong đó: rand(1) ký hiệu số ngẫu nhiên có phân bố đều trên đoạn [0,1].

    – Tia M 0 u có thể cắt mặt phẳng độ ( xM , y M , zM ) :

    ìïxM  = x0 + d tan q cosj

    í y M  = y0 + d tan q sinj

    ïîz M  = d

    chứa

    miền

     

    chữ  nhật  A2   tại  M

    có  tọa

     

    , q Î

    é

    p

    ù

    , j Î[0, 2p ]

       

    ê 0,

     

    ú

    (11)

     

    2

     

    ë

    û

         

    Bước 3. Xác định điều kiện để các tia ngẫu nhiên phát ra từ M0 đập vào miền

    A2 (điều

    kiện để M Î A2 ).

                     

    Điều kiện để các tia ngẫu nhiên phát ra từ M 0 Î dA1

     

    đập vào A2 là:

     

    ìx ££ x

    2

    , h £ y

    M

    £ h

    2

    ,

     

    ï 1

    M

    1

         

    (12)

    ïí( xM  x C )2

    + ( y M  hC )2

    ³ r2 .

    î

                     

    Hai điều kiện đầu tiên là điều kiện để M Î W , điều kiện thứ ba là để M nằm ngoài lỗ trống (nằm ngoài miền tròn D ).

    Bước 4. Xác định số tia đập vào A2 (số điểm M Î A2 ). Gọi m là số điểm M nằm trong miền A2 , N là số tia ngẫu nhiên phát ra từ điểm ngẫu nhiên M0 . Khi đó, giá trị hệ số quan sát là:

    FdAMC A

    =

    m

    .

    (13)

     

    1

    2

     

    N

     
           

    3.2. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có hai lỗ trống

    Bài toán được đặt ra như bài toán mục 3.1, nhưng miền chữ nhật có hai lỗ trống D1D2 (mô tả trong hình 4).

    3.2.1. Nghiệm giải tích

    Ký hiệu D1 , D2 là miền tròn 1 và 2 (miền lỗ trống 1 và 2), W là toàn miền chữ nhật (khi không có lỗ trống), A2 = W \ (D1 È D2 ) là miền đang xét. Khi đó:

    FdA A

    = FdA -W

    FdA D

    1

    FdA D

    .

    (14)

    1

    2

    1

    1

    1

    2

     
       
                   

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    267

           

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

    Ở đây: FdA -W

    được tính theo (6), FdA D

    ,

    FdA D

    được tính theo (8) hoặc (9).

    1

    1

    1

    1

    2

    3.2.2. Nghiệm mô phỏng Monte-Carlo

    Các bước tiến hành mô phỏng tương tự như trường hợp một lỗ trống, tuy nhiên, điều kiện để tia ngẫu nhiên phát ra từ M0 đập vào miền A2 đang xét là:

    Hình 4. Bề mặt vi phân và bề mặt chữ

    nhật có hai lỗ trống.

    ìx ££ x

    2

    , h £ y

    M

    £ h

    2

    ,

    ï 1

    M

    1

       

    ïí(xM  x C1 )2

    + ( y M  h C1 )2

    ³ r 2 ,

    î

                 

    Hình 5. Mô hình bề mặt chữ nhật

    có nhiều lỗ trống.

    (xM  x C2 )2 + ( y M  hC2 )2

    (15)

    ³ r2 .

    æ

       

    a

     

    b

    ö

     

    æ

       

    3a

     

    b

    ö

     

    Trong (15), C1 ç

    x1

    +

     

    , h1 +

     

    , d ÷

    ,

    C 2 ç

    x1

    +

     

    , h1

    +

     

    ,

    d ÷

    là hai tọa độ tâm

         

    2

    è

     

    4

    2

    ø

     

    è

     

    4

         

    ø

     

    của hai lỗ trống. Hai điều kiện đầu tiên của (15) là điều kiện để

    M Î W , hai điều kiện

    cuối là điều kiện để M nằm ngoài hai lỗ trống D1

    D2 .

             

    3.3. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có nhiều lỗ trống

    Giả sử bề mặt chữ nhật hữu hạn ABCD kích thước a ´ b có cạnh AD được chia làm

    • đoạn bằng nhau, mỗi đoạn dài a / m . Cạnh AB được chia thành n đoạn bằng nhau, mỗi đoạn dài b / n . Ta thu được lưới chữ nhật m ´ n (xem hình 5). Trên mỗi hình chữ nhật con (mắt lưới), ta tạo một lỗ trống hình tròn bán kính r , có tâm là tâm của mắt lưới. Điều kiện ràng buộc của bán kính r là:

    ì

    a

    b ü

     

    0 £ r £ min í

     

    ;

     

    ý.

    (16)

       

    î

    2 m

    2n þ

     

    Điều kiện (16) đảm bảo các lỗ trống nằm trong mỗi mắt lưới và không giao nhau. Khi

    r ® 0 ta thu được miền chữ nhật ABCD không có lỗ trống. Gọi Cij

    là tâm của lỗ trống

    ở vị trí mắt lưới (ij ) . Tọa độ của Cij

    æ

     

    + ( 2i – 1)

    a

     

    ( 2 j -1)

    b

    ö

     

    Cij ç

    x1

     

    , h1

    +

     

    , d ÷

    . Ta

     

    2n

     

    è

       

    2 m

       

    ø

     

    cần tính hệ số quan sát bề mặt vi phân nhìn bề mặt chữ nhật có nhiều lỗ trống này. 3.3.1. Nghiệm giải tích

    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    Gọi FdA D

    là hệ số quan sát của miền vi phân nhìn miền tròn Dij  tâm Cij , bán kính

    1

    ij

       

    r . Ta biết được nghiệm chính xác FdA D

    và hệ số quan sát FdA -W  miền vi phân nhìn toàn

       

    1

    ij

    1

    miền chữ nhật W (miền chữ nhật ABCD không có lỗ trống). Khi đó, hệ số quan sát của miền vi phân nhìn miền chữ nhật có lỗ trống:

    FdA1 A2  = FdA1 -W åå FdA1Dij .

    (17)

    ij

     

    3.3.2. Nghiệm mô phỏng Monte-Carlo

    Thuật toán mô phỏng như hai trường hợp ở trên nhưng điều kiện để tia ngẫu nhiên phát ra từ M0 đập vào miền A2 đang xét (điều kiện để M Î A2 ) tuân theo hai bước sau:

    Nếu M nằm ngoài miền W thì tia phát ra từ M0 không đập vào miền đang xét A2 .

    • Nếu M nằm trong miền W thì cần xác định M thuộc mắt lưới nào, nếu M thuộc lỗ trống của mắt lưới đó thì tia phát ra từ M0 không đập vào miền đang xét A2 , ngược lại thì

    M Î A2  đang xét.

    Kết quả số của nghiệm mô phỏng số và nghiệm giải tích của cả ba trường hợp trên sẽ được trình bày trong mục 4 sau đây.

    4. KẾT QUẢ SỐ VÀ THẢO LUẬN

     

    4.1. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có một lỗ trống

    Lấy tọa độ Đề Các bề mặt chữ nhật là  x1 = 0 (m) ,  x2 = 2 (m) , h1 = 0 (m) ,

    • 2 = 1 ( m) , a = x 2x1 = 2 (m) , b = h 2h1 = 1 ( m) ; còn tọa độ Đề Các bề mặt vi phân x1 , x2 , y1 , y2 được chọn sao cho diện tích của bề mặt vi phân là khá nhỏ và bằng

    khoảng 1 / 202 lần so với diện tích bề mặt chữ nhật, khoảng cách giữa hai mặt phẳng song song chứa hai bề mặt này là d = 0.5 (m) . Bán kính lỗ trống r = 0.4 ( m) . Hệ số quan sát giữa hai bề mặt được mô tả trong các hình 6-10. Hình 6 mô tả sự phân bố tia ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân dA1 tới đập vào bề mặt A2 trong quan sát ba chiều từ mô phỏng Monte-Carlo.

    Bảng 1. Kết quả tính toán nghiệm mô phỏng Monte-Carlo và thời gian tính tương ứng.

    Số tia phát N

     

    Nghiệm mô phỏng

     

    Nghiệm chính xác

    Thời gian tính toán

     

    Monte-Carlo

     

    (s)

           
               

    102

    0.3000

    0.2788

    0.0160

               

    103

    0.2570

    0.2788

    0.0460

               

    104

    0.2741

    0.2788

    0.2350

               

    3 ´104

    0.2765

    0.2788

    0.6880

               

    5 ´104

    0.2782

    0.2788

    1.1280

               

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    269

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

    Hình 7 mô tả sự hội tụ của nghiệm số theo Monte-Carlo so với nghiệm giải tích. Khi N càng lớn thì sai số giữa nghiệm mô phỏng Monte-Carlo và nghiệm chính xác càng

    giảm. Với số tia phát ra

    N = 104  thì hệ số quan sát theo Monte-Carlo là

    F MC

     

    = 0.2741

    ,

       

    dA A

       
       

    1

    2

       

    còn nghiệm giải tích FdA1 A2 = 0.2788 ; Độ chính xác của phương pháp Monte-Carlo lấy hai chữ số sau dấu phẩy. Quan sát bảng 1, ta cũng thấy khi số tia phát ra từ bề mặt vi phân

    • tăng lên thì nghiệm mô phỏng số Monte-Carlo càng gần nghiệm chính xác, tuy nhiên, thời gian tính toán cũng tăng lên.

    Hình 6. Quan sát 3D của sự phân bố tia ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân đập vào bề mặt hữu hạn trong trường hợp một lỗ trống.

    Hình 7. Hệ số quan sát bề mặt vi phân nhìn bề mặt hữu hạn có một lỗ trống theo tia ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân.

     

    Hình 8 phác họa hệ số quan sát khi bề mặt vi phân di chuyển trên đường thẳng y = 0.5

    từ vị trí x = 0 đến x = 4 . Quan sát hình vẽ ta có thể nhận xét rằng hệ số quan sát có dạng đối xứng qua đường thẳng x = 1 khi bề mặt vi phân nằm trong giới hạn của miền chữ nhật theo trục x từ vị trí x = 0 đến x = 2 , còn khi miền vi phân đi ra ngoài giới hạn của miền chữ nhật thì hệ số quan sát sẽ giảm dần và tiến về không.

    Hình 8. Hệ số quan sát bề mặt vi phân nhìn bề mặt hữu hạn có một lỗ trống khi vị trí bề mặt vi phân thay đổi trên đường thẳng y = 0.5 từ vị trí x = 0 đến x = 4 .

    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    Hình 9 chỉ ra sự phụ thuộc của hệ số quan sát vào khoảng cách d giữa miền vi phân và miền chữ nhật. Ở đây, a = 2 ( m) , b = 1 ( m) , d được lấy từ 0.01 (m) đến 10 (m); miền vi phân được giữ tại vị trí mà khoảng cách e từ tâm miền vi phân đến đường thẳng đi qua tâm của lỗ trống và song song với trục z bằng không ( e = 0 ). Từ hình vẽ ta thấy rằng nếu khoảng cách giữa bề mặt vi phân và bề mặt chữ nhật khá gần nhau thì hệ số quan sát sẽ gần không và khi khoảng cách ở khoảng 0.61 (m) thì hệ số quan sát là lớn nhất

    khoảng 0.2825; khi khoảng cách càng lớn thì hệ số quan sát sẽ giảm xuống và tiệm cận về không. Một điểm lưu ý là khi d khá nhỏ thì hệ số quan sát xấp xỉ bằng không, điều này là vì khi miền vi phân nằm gần vị trí trung tâm lỗ, các tia phát ra từ miền vi phân sẽ xuyên qua lỗ và thoát khỏi bề mặt hình chữ nhật, số tia đập được vào miền chữ nhật là không đáng kể.

    Hình 9. Hệ số quan sát bề mặt vi phân

    Hình 10. Hệ số quan sát bề mặt vi phân

    nhìn bề mặt hữu hạn có một lỗ trống khi

    nhìn bề mặt hữu hạn có một lỗ trống khi

    khoảng cách d thay đổi.

    bán kính r của lỗ trống thay đổi.

    Hình 10 chỉ ra sự phụ thuộc của hệ số quan sát  và bán kính r của lỗ trống. Ở đây,

    • = 2 ( m) , b = 1 ( m) , d =5 ( m) , miền vi phân được giữ cố định tại vị trí khoảng cách
    • từ tâm miền vi phân đến đường thẳng đi qua tâm của lỗ trống và song song với trục z

    bằng không ( e = 0 ); Bán kính r của lỗ trống thay đổi từ 0 đến 0.4 (m). Hình vẽ thể hiện rằng khi r tăng thì hệ số quan sát sẽ giảm xuống từ giá trị lớn nhất 0.6689 khi không có lỗ trống đến giá trị nhỏ nhất 0.2788 khi có lỗ trống với bán kính r = 0.4 ( m) .

    4.2. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có hai lỗ trống

    Trong trường hợp bề mặt hình chữ nhật có hai lỗ trống, kích thước hình chữ nhật được lấy tương tự như phần 4.1. Bán kính mỗi lỗ trống được lấy là r = 0.4 (m). Tâm lỗ trống được lấy theo (15). Kết quả số được thể hiện trên các hình 11-14.

    Trên hình 11, vì miền vi phân nằm tại vị trí hình chiếu của tâm miền chữ nhật nên khu vực xung quanh tâm miền chữ nhật sẽ tập trung nhiều điểm giao cắt của tia chiếu tới, mật độ điểm khu vực này sẽ lớn hơn các khu vực khác. Hình 12 mô tả sự thay đổi của hệ số quan sát khi vị trí miền vi phân thay đổi trong đoạn [0, 2] theo phương x trong khi phương y cố định trên đường thẳng y = 0.5 . Ta có thể thấy tính đối xứng thu được của hệ số quan

    sát qua đường thẳng x = 1 khi vị trí vi phân di chuyển từ đầu này đến đầu kia của miền chữ nhật. Điều này là do vị trí đối xứng nhau của hai miền tròn qua đường thẳng x = 1 . Tại vị trí x = 1 , hệ số quan sát đạt giá trị lớn nhất bằng 0.3166.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    271

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

    Hình 11. Sự phân bố tia ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân đập vào bề mặt hữu hạn trường hợp hai lỗ trống trong quan sát ba chiều.

    Hình 13. Hệ số quan sát bề mặt vi phân nhìn bề mặt hữu hạn có hai lỗ trống khi khoảng cách d thay đổi.

    Hình 12. Hệ số quan sát bề mặt vi phân nhìn bề mặt hữu hạn có hai lỗ trống khi vị trí bề mặt vi phân thay đổi trên đường thẳng y = 0.5 từ vị trí x = 0 đến x = 2 .

    Hình 14. Hệ số quan sát bề mặt vi phân

    nhìn bề mặt hữu hạn có hai lỗ trống khi bán kính r của lỗ trống thay đổi.

     

    Khi khoảng cách d lớn dần, tức miền vi phân sẽ di chuyển ra xa so với miền chữ nhật, thì hệ số quan sát sẽ giảm dần và tiệm cận về giá trị không. Kết quả này được minh họa trên hình 13 khi khoảng cách d thay đổi trong khoảng từ 0.01 đến 10 (m). Khác với kết quả trên hình 9 trong trường hợp một lỗ, trên hình 13, khi d khá nhỏ, hệ số quan sát tiến dần về một; Điều này là do ở khoảng cách nhỏ gần miền chữ nhật, các tia phát ra từ miền

    • phân có thể gần như 100% đến được miền chữ nhật. Nghiệm thu được từ mô phỏng Monte-Carlo được so sánh với nghiệm chính xác cho thấy hai kết quả là gần trùng khít lên nhau. Trên hình 14, ta khảo sát hệ số quan sát khi thay đổi bán kính của lỗ trống. Ta luôn đảm bảo rằng lỗ trống nằm trọn trong hình chữ nhật, tức là 0 £ r £ min {a / 4, b / 2} . Khi

    lỗ trống lớn dần, số tia đập vào bề mặt đang xem xét sẽ giảm đi, và do đó hệ số quan sát sẽ giảm theo sự tăng của kích thước lỗ trống. Trong hình 14, bán kính r của lỗ trống thay đổi từ 0 đến 0.4 (m). Hệ số quan sát lớn nhất tại giá trị r = 0 , tức là hình chữ nhật không có lỗ trống (vị trí hình chữ nhật và miền vi phân được giữ cố định).

    4.3. Trường hợp bề mặt chữ nhật hữu hạn có nhiều lỗ trống

    Trong phần này, ta tính toán 10 trường hợp với số lỗ trống là 1 ´1 , 2 ´1, 2 ´ 2 , 3 ´1, 3 ´ 2 , 3 ´ 3 , 4 ´1, 4 ´ 2 , 4 ´ 3 , 4 ´ 4 . Kích thước hình chữ nhật phía trên được lấy là

    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    a ´ b = 2 ( m ) ´1 ( m) . Bán kính lỗ trống r là như nhau trong 10 trường hợp kể trên và bằng 0.1 (m). Vị trí vi phân lấy tại hình chiếu của tâm hình chữ nhật trên mặt phẳng Oxy ( e = 0 ). Kết quả hệ số quan sát được cho trong bảng 2. Có thể thấy rằng, với các phân bố khác nhau của lỗ trống thì hệ số quan sát sẽ khác nhau, chẳng hạn trường hợp 1 ´1 lỗ trống cho hệ số quan sát khác với trường hợp 2 ´1 lỗ trống. Mặc dù trường hợp 2 ´1 lỗ trống làm cho hình chữ nhật bị khuyết nhiều hơn trường hợp 1 ´1 lỗ trống (diện tích các lỗ trống là như nhau), nhưng lại có hệ số quan sát lớn hơn, điều này là do cách bố trí 2 ´1 lỗ trống và vị trí miền vi phân làm cho miền diện tích ở giữa hình chữ nhật nhận được nhiều tia chiếu đến hơn trường hợp 1 ´1 lỗ mà ở đó có sự mất mát tia khi phát tia từ miền

    • phân chiếu tới miền chữ nhật. Bảng 2 cho ta kết quả sai số tương đối của phương pháp Monte-Carlo chỉ vào khoảng 1% so với nghiệm chính xác.
                 

    Bảng 2. Hệ số quan sát theo số lỗ trống.

                   

    m ´ n

    Nghiệm mô phỏng

       

    Nghiệm chính xác

     

    Sai số (%)

     

    Monte-Carlo

    F MC

         

    F

       
         

    dA A

       

    dA A

       
         

    1

    2

    1

    2

       

    1 ´1

     

    0.6246

         

    0.6306

     

    0.9437

    2 ´1

     

    0.6479

         

    0.6491

     

    0.1787

    2 ´ 2

     

    0.6342

         

    0.6374

     

    0.5024

    3 ´1

     

    0.6226

         

    0.6204

     

    0.3594

    3 ´ 2

     

    0.5931

         

    0.6012

     

    0.3489

    3 ´ 3

     

    0.5726

         

    0.5666

     

    1.0559

    4 ´1

     

    0.6086

         

    0.6112

     

    0.4203

    4 ´ 2

     

    0.5901

         

    0.5851

     

    0.8506

    4 ´ 3

     

    0.5378

         

    0.5434

     

    1.0243

    4 ´ 4

     

    0.4973

           

    0.5024

     

    1.0234

    Hình 15. Quan sát 3D của sự phân bố tia

    Hình 16. Hệ số quan sát bề mặt vi phân

    ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân đập

    nhìn bề mặt hữu hạn có 4 ´ 3 lỗ trống khi vị

    vào bề mặt hữu hạn trong trường hợp 4 ´ 3

    trí bề mặt vi phân thay đổi trên đường thẳng

    lỗ trống.

    y = 0.5 từ vị trí x = 0 đến x = 2 .

    Hình 15 minh họa sự phân bố tia ngẫu nhiên phát ra từ bề mặt vi phân đập vào miền hữu hạn đang xét trong trường hợp 4 ´ 3 lỗ trống. Trên hình 16, ta khảo sát sự thay đổi của hệ số quan sát khi vị trí miền vi phân thay đổi trong trường hợp 4 ´ 3 lỗ trống. Trường

    hợp này, ta vẫn cho miền vi phân di chuyển trên đường thẳng y = 0.5 từ vị trí

    x = 0 đến

       
       

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    273

    Toán học, Cơ học & Ứng dụng

    x = 2 . Ta thấy rằng khi miền vi phân di chuyển ra xa vị trí tâm của hình chữ nhật thì hệ số quan sát giảm từ 0.5434 xuống 0.2911. Kết quả trên hình 16 chỉ ra rằng nghiệm Monte-Carlo chỉ nhiễu nhẹ quanh giá trị nghiệm chính xác với sai số tương đối nhỏ.

    5. KẾT LUẬN

    Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phương pháp Monte-Carlo để tính toán hệ số quan sát giữa một bề mặt vi phân và một bề mặt hữu hạn có các lỗ trống khi chúng nằm trên hai mặt phẳng song song. Phương pháp Monte-Carlo cho kết quả khá gần với kết quả thu được từ nghiệm giải tích. Điều này cho thấy độ tin cậy của phương pháp Monte-Carlo. Kết quả cũng chỉ ra rằng khi số tia phát ra N càng lớn thì độ chính xác của phương pháp cũng tăng lên, tuy nhiên thời gian tính toán mô phỏng cũng tăng lên đáng kể. Bài báo chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số quan sát như: khoảng cách và vị trí của bề mặt vi phân, bán kính và sự phân bố của các lỗ trống. Kết quả trong bài báo có thể được mở rộng để mô phỏng và khảo sát hệ số quan sát cho nhiều trường hợp khác nhau với các hình dạng lỗ trống hoặc bề mặt có cấu hình phù hợp với các thiết kế nhất định trong thực tế.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Howell, J. R., Siegel, R., and Menguc, M. P., “Thermal Radiation Heat Transfer ”, 6th (2010), Taylor and Francis/CRC, New York.
    • Modest, M. F., “Radiative Heat Transfer ”, 3rd (2013), Elsevier Inc.
    • Abishek, S., Ramanujam, S., and Katte, S. S., “View factors between disk/rectangle and rectangle in parallel and perpendicular planes”, Journal of Thermophysics and Heat Transfer, 21 (1995), 236-239.
    • Chung, B. T. F., and Sumitra, P.S., “Radiation shape factors from plane point sources”, Journal of Heat Transfer, 94 (1972), 328-330.
    • Alciatore D., et al., “Closed form solution of the general three dimensional radiation configuration factor problem with microcomputer solution”, Proc. 26th National Heat Transfer Conf. (1989), Philadelphia, ASME.
    • Hamilton, D. C., and Morgan, W. R., “Radiant-interchange configuration factors”, NASA TN 2836 (1952).
    • Dolaghan, J. S., Burns, P. J., and Loehrke, R. I., “Smoothing Monte Carlo exchange factors”, Journal of Heat Transfer, 117 (1995), 524–526.
    • Modest, M. F., “Backward Monte Carlo simulations in radiative heat transfer”, Journal of Heat Transfer, 125 (2003), 57–62.
    • Farmer, J. T. and Howell, J. R., “Comparison of Monte Carlo strategies for radiative transfer in participating media” , Advances in Heat Transfer, 31 (1998), 333–429.
    • Chen, J. C, and Churchill, S. W., “Radiant heat transfer in packed beds”, AIChE Journal, 9 (1963), 35-41.
    • Corlett, R. C. “Direct Monte Carlo calculation of radiative heat transfer in vacuum”, ASME Journal of Heat Transfer, 88 (1966), 376-382.
    • Campbell, P. M., “Monte Carlo Method for Radiative Transfer”, International Journal of Heat and Mass Transfer, 10 (1967), 519-527.
    • Vujičić, M. R, Lavery, N. P., and Brown, S. G. R., “View factor calculation using the Monte Carlo method and numerical sensitivity”, International Journal for Numerical Methods in Biomedical Engineering, DOI: 10.1243/09544062JMES139 (2006).
    • N. Chung, N. N. Hiếu, “Tính toán hệ số quan sát giữa … mô phỏng Monte-Carlo.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    • Mirhosseini, M., and Saboonchi, A., “View factor calculation using the Monte Carlo method for a 3D strip element to circular cylinder”, International Communications in Heat and Mass Transfer, 38 (2011), 821-826.
    • Jacques, L., Masset, L., and Kerschen, G., “Direction and surface sampling in ray tracing for spacecraft radiative heat transfer”, Aerospace Science and Technology, Aerospace Science and Technology, 47 (2015), 146–153.
    • https://www.colourbox.com/vector/chrome-metal-sheet-surface-with-holes-10eps-vector-5429022 (access: 20 Feb 2018).

    ABSTRACT

    VIEW FACTOR CALCULATION BETWEEN A DIFFERENTIAL AREA

    AND A FINITE PLANE SURFACE WITH CIRCULAR HOLES

    USING MONTE-CARLO SIMULATION

    View factor is an important parameter used in calculating thermal radiation exchange between surfaces in heat transfer problems of science and technology. In this study, we are concerned with the problem of determination of view factor between a differential area and a finite plane surface with circular holes using techniques of Monte-Carlo simulation. In the framework of our paper, a rectangular finite surface is considered. The calculations are carried out for the case of differential surface parallel to the finite surface under consideration. The dependence of view factor on the distance between two surfaces, position of the differential surface, the radius and distribution of the holes is explored. Our result shows that the Monte-Carlo solutions are quite close to the analytical solutions. The convergence of solutions obtained from Monte-Carlo simulation is evaluated versus the number of rays emitted from the differential area because the solution value of view factor in random simulation obeys the law of large numbers.

    Keywords: Monte-Carlo simulation; View factor; Plane surface; Differential area; Circular hole.

    Nhận bài ngày 25 tháng 02 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 18 tháng 03 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 02 tháng 04 năm 2018

    Địa chỉ:          1 Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Mỏ-Địa chất;

    • Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. * Email: [email protected].

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san CBES2, 04 – 2018

    275


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT

    NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT

    NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-S%E1%BA%A2N-XU%E1%BA%A4T-TH%E1%BB%B0C-PH%E1%BA%A8M-CH%E1%BB%A8C-N%C4%82NG-KPAP-B%E1%BB%94-SUNG-PEPTIIT-M%E1%BA%A0CH-NG%E1%BA%AEN-T%E1%BB%AA-C%C3%81-H%E1%BB%92I-CHO-B%E1%BB%98-%C4%90%E1%BB%98I-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-%C4%90%E1%BA%B6C-BI%E1%BB%86T.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG KPAP BỔ SUNG PEPTIIT MẠCH NGẮN TỪ CÁ HỒI CHO BỘ ĐỘI HOẠT ĐỘNG ĐẶC BIỆT

    Nguyễn Hà Trung1, Trần Kiều Anh1, Trương Hương Lan2,

    Đặng Tất Thành3, Phạm Kiên Cường1*

    Tóm tắt: Các sản phẩm thực phẩm chức năng quân dụng giúp binh sỹ nâng cao thể lực, tăng cường khả năng tác chiến có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Peptit chức năng, là những protein mạch ngắn khoảng 2-20 amino acid, khối lượng phân tử dưới 10kDa, có giá trị dinh dưỡng và một số tác dụng đến chức năng sinh lý của cơ thể, giúp tăng cường và nâng cao sức khỏe của con người. Viện Công nghệ mới đã sản xuất được bột peptide mạch ngắn từ 3-10 kDa ở quy mô pilot 100L/mẻ, từ nguồn phụ phẩm cá hồi bằng cách sử dụng enzyme Trypsin và Alcalase. Peptide dạng bột được thu nhận bằng phương pháp sấy phun ở 115°C với hiệu suất thu hồi đạt trên 85% đã được sử dụng sản xuất 10.000 bộ thực phẩm chức năng KPAP dành cho bộ đội hoạt động ở điều kiện đặc biệt. Bộ thực phẩm chức năng KPAP gồm 3 sản phẩm dạng thanh nén, tuýp gel nước và viên nang, được bổ sung peptide với hàm lượng lần lượt là 0,5mg/g; 1,2mg/g và 400mg/g. Nghiên cứu này kết quả thử nghiệm sử dụng bộ thực phẩm chức năng KPAP cho quân chủng Hải quân cho thấy, trên 90% cán bộ chiến sỹ đã sử dụng sản phẩm cho biết bộ sản phẩm đảm bảo đủ năng lượng, có tính ứng dụng cao, có thể áp dụng cho bộ đội hoạt động ở điều kiện đặc biệt.

    Từ khóa: Peptide; Khẩu phần ăn; Cá hồi.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Cá hồi có tên khoa học là Salmonidae là một họ cá vây tia, đồng thời là họ duy nhất sống trong bộ Salmoniformes (bộ cá hồi). Cá hồi chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe như: vitamin D, vitamin B12, vitamin B, vitamin A, vitamin B6; Các nguyên tố vi chất như canxi, kali, sắt, phốt pho, kẽm, đồng, magie và nhóm axit amin như: thiamin, niacin, riboflavin, pantothenic… Theo “Quy hoạch phát triển cá nước lạnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước tính tổng sản lượng nuôi cá nước lạnh đến năm2015 đạt 3460 tấn (cá hồi là 1.448 tấn), đến năm2020, sản lượng nuôi đạt 10.000 tấn (cá hồi là 2.713 tấn) [1].

    Trong quá trình chế biến cá, một lượng lớn các sản phẩm phụ (xương, da, vụn thịt,…) thường được chế biến làm thức ăn cho tôm, cá, gia súc hoặc sử dụng cho các sản phẩm có giá trị kinh tế thấp như chế biến thành bột cá, dầu cá hay làm dầu diezel sinh học. Phụ phẩm cá hồi cũng chứa một hàm lượng protein lớn và có một số ứng dụng như: chế biến đồ hộp, sản xuất nước mắm, tinh chế collagen,… Chính vì vậy,việc chế biến, xử lý các phụ phẩm cá hồi nhằmthu được protein có giá trị thương mại cao hơnđồng thời tránh các vấn đề về môi trường đangđược quan tâm nghiên cứu. Trong đó, việc thủyphân bằng enzym để thu hồi protein từ phụ phẩm cá là một cách tiếp cận hiệu quả và đượcứng dụng rộng rãi [5, 6].

    Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh việc thủy phân các protein từ cá thu nhận được nhiều peptit có giá trị, trong đó một số peptit chống oxi hóa đã được tách chiết và xác định trình tự sau đó đánh giá hoạt tính chống oxi hóa qua khả năng bắt gốc tự do DPPH. Năm 2012, Amissah đã đánh giá hoạt tính của các peptit được thủy phân từ da cá hồi cho thấy chúng có khả năng chống oxi hóa, kháng khuẩn và đặc tính ức chế protease. Kết quả hiệu quả loại bỏ các gốc tự do của sản phẩm peptit đạt 58,3% khi thủy phân bằng

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    319

    Hóa học – Sinh học – Môi trường

    trypsin, đạt 26,3% khi thủy phân với α-chymotrypsin và khả năng loại bỏ gốc tự do đạt 55,9% khi thủy phân da cá hồi bằng papain[3].Nghiên cứu của See và tập thể (2011) đã sử dụng enzym thủy phân protein từ nguồn phụ phẩm từ cá hồi để tạo ra các peptit và các acid amin có giá trị dinh dưỡng cao. Sử dụng enzym Alcalase 2.4 L để thủy phân protein từ da cá hồi ở nhiệt độ từ 55,3oC, pH 8,39 với tỷ lệ enzym là 2,5% đã tìm được mức độ thủy phân cao nhất đạt 77,03%[4].

    Trong nghiên cứu trước, chúng tôi đã xác định điều kiện thủy phân phụ phẩm cá hồi (Salmo salar) để thu nhận được peptide mạch ngắn có hoạt tính chống oxi hóa. Kết quả thu được phụ phẩm cá hồi được thủy phân bằng Trypsin 2% ở pH 8,5, nhiệt độ 40oC trong 4 giờ, tiếp theo được thủy phân bằng Alcalase 2% ở pH 8,0, nhiệt độ 55oC trong 4 giờ, sau đó được lọc tiếp tuyến qua màng 30kDa và 10kDa. Dịch thủy phân thu được có hàm lượng axit amin đạt 29,48 mg/ml và có hoạt tính chống oxi hóa đo qua khả năng bắt gốc tự do DPPH (SC) là 70,34%[2].

    Nghiên cứu này sẽ tiến hành áp dụng các thông số của quá trình thủy phân đã xây dựng ở quy mô phòng thí nghiệm lên quy mô sản xuất pilot với công suất 100L/mẻ và thử nghiệm khả năng áp dụng bộ thực phẩm chức năng KPAP bổ sung peptide cá hồi sử dụng cho bộ đội hoạt động ở điều kiện đặc biệt.

    2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

    2.1. Nguyên liệu và hóa chất

    Phụ phẩm cá hồi (da, thịt vụn,…) từ trại nuôi cá hồi tại Lào Cai được rửa sạch, cắt nhỏ, xay nhuyễn. Mẫu được bảo quản -20oC cho đến khi sử dụng.

    Các nguyên liệu sản xuất như bột gạo lứt nảy mầm, sữa, whey, dầu thực vật, tinh chất đậu xanh, cà phê, trà xanh, thạch,… được thu mua tại các siêu thị, đảm bảo chất lượng ATVSTP được bảo quản 4oC cho đến khi sản xuất.

    Các hoá chất Alcalase 2.4L, Trypsin của Novozymes, 1,1–diphenyl-2-picryl-hydrazyl (DPPH), pyridine, acid L-glutamic và một số hóa chất khác của hãng Sigma (Mỹ), Mecrk (Đức), Thermo Scientific (Đức)…

    2.2. Thiết bị

    Các thiết bị sản xuất chính bao gồm hệ thống lọc tiếp tuyến AKTA flux của hãng GE Healthcare (Úc), hệ thống gia nhiệt có cánh khuấy dung tích 100L (Đức), hệ thống sấy phun APS Anhydro A/S (Đan Mạch), máy vắt ly tâm 20L/mẻ (Việt Nam).

    Các thiết bị phân tích bao gồm máy đo quang phổ UV (Mỹ), máy Nanodrop (Đức), máy phân tích sinh hóa tự động Pictus 400 (Hungary)

    2.3. Phương pháp nghiên cứu

    2.3.1. Thử nghiệm khả năng ứng dụng bộ sản phẩm KPAP ở điều kiện thực tế dài ngày trên biển

    Cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn 126/Quân chủng Hải quân, sau khi sử dụng bộ thử nghiệm thực phẩm chức năng KPAP bổ sung peptide từ cá hồi liên tục trong vòng 3 ngày

    • trên tàu, sẽ đánh giá, nhận xét về cảm quan mùi vị, khả năng tiện dụng, cơ cấu bữa ăn, bao bì đóng gói vào phiếu thu nhận thông tin được phát cho từng chiến sĩ. Sau khi thử nghiệm các Phiếu thu nhận thông tin sẽ được thu lại, chọn lọc làm cơ sở để nghiên cứu, hiệu chỉnh sản phẩm cho lần thử nghiệm tiếp theo.
    • Qua phiếu thu nhận thông tin, xử lý thống kê các số liệu theo các chỉ tiêu được đặt ra để đánh giá các mức độ hài lòng về sản phẩm về cơ cấu, khẩu vị, bao bì, khả năng tiện dụng.
    • Qua phỏng vấn trực tiếp trong bữa ăn để đánh giá độ hài lòng hoặc không hài lòng. Các ý kiến đóng góp sẽ được xem xét làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh, xây dựng thực đơn hoàn thiện.
    • H. Trung, …, P. K. Cường, “Nghiên cứu sản xuất thực phẩm … hoạt động đặc biệt.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    – Tính toán, xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.

    2.3.2. Đánh giá hiệu quả sản phẩm qua các chỉ tiêu sinh hóa máu

    Viện Dinh dưỡng và Viện Y học Hải quân phối hợp lấy mẫu máu xét nghiệm sinh hóa (điện giải đồ huyết thanh, MDA, GOT, GPT) cho các cán bộ chiến sỹ trước và sau thử nghiệm. Các chỉ số được phân tích theo các phương pháp thường quy.

    3. KẾT QUẢ

    3.1. Thử nghiệm khả năng ứng dụng bộ sản phẩm KPAP ở điều kiện thực tế dài ngày trên biển

    Bộ khẩu phần ăn KPAP bao gồm 3 loại sản phẩm là dạng thanh nén, tuýp gel và viên nang với 3 công dụng khác nhau, phù hợp cho điều kiện hoạt động của bộ đội. Dạng thanh nén với các thành phần giàu dinh dưỡng: peptide chức năng từ cá hồi với hàm lượng 20mg/thanh, sữa, tinh chất đậu tương, tinh dầu đậu xanh, whey protein, dầu thực vật, bột gạo lứt nảy mầm, cung cấp năng lượng từ 200-250 kcal/thanh 50g và 1600 – 2000 kcal/bộ. Các thành phần trong thanh nén đều là các tinh chất, protein, đường và peptide, loại bỏ tối đa phần chất xơ và các thành phần không được tiêu hóa, do đó được hấp thụ nhanh chóng trong hệ tiêu hóa và hạn chế việc đại tiện cho bộ đội khi hoạt động ở các điều kiện đặc biệt như trong tầu ngầm.

    Sản phẩm dạng tuýp gel nước, có vai trò cung cấp một phần lượng nước, đường, các vitamin, muối khoáng, peptide trong bữa ăn, kết hợp ăn với thanh nén. 1 tuýp gel nước có thể tích 100ml cung cấp khoảng 120-125 kcal năng lượng và trong 1 bộ sẽ cung cấp 600-625 kcal. Hàm lượng peptide là 15mg/tuýp.

    Viên nang 500mg với thành phần chủ yếu là bột peptide với hàm lượng cao gấp 10 lần trong thanh nén (200mg/viên), giúp bộ đội nhanh chóng hồi phục sức khỏe, tăng cường các chức năng chống oxy hóa, giảm căng thẳng và tăng cường khả năng liên kết canxi.

    Bộ sản phẩm cung cấp tổng cộng 2500kcal/bộ/ngày. Theo Tổ chức Y tế thế giới (1985) mức năng lượng nhu cầu trung bình cả ngày tính theo mức chuyển hóa cơ sở của đối tượng Nam giới, mức lao động trung bình là 2570 kcal/ngày. Như vậy bộ sản phẩm đã cung cấp tương đối đầy đủ nhu cầu năng lượng trong 1 ngày. Chúng tôi tiến hành thử nghiệm cho bộ đội sử dụng thực tế bộ sản phẩm trong điều kiện đi tàu dài ngày, không thuận lợi sử dụng các bữa ăn bình thường, và thu được các ý kiến được trình bày ở hình 1.1 và hình 1.2.

    Kết quả khảo sát các cán bộ chiến sỹ của Trung đoàn 196 và Lữ đoàn 126 của Quân chủng Hải quân, cho thấy 87% ý kiến đánh giá cao mùi vị của sản phẩm, tuy nhiên, có một số ít ý kiến vẫn cảm thấy có mùi tanh của bột peptide có trong sản phẩm (5%). Về khả năng sử dụng thì có 72% ý kiến cho rằng bộ sản phẩm rất phù hợp cho điều kiện hoạt động trên biển, do bộ sản phẩm được trang bị lớp bao bì có khả năng chống nước tốt, đóng gói

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    321

    Hóa học – Sinh học – Môi trường

    nhỏ gọn, sản phẩm dạng tuýp có thể sử dụng trực tiếp ngay khi đang bơi. Tuy nhiên, vẫn có 28% ý kiến cho rằng nên làm gọn hơn nữa do bộ đội khi hoạt động đã mang theo từ 15-20kg trang bị vũ khí.

    3.2. Đánh giá hiệu quả sử bộ sản phẩm KPAP với bộ đội hoạt động dài ngày trên biển

    3.2.1 Kết quả kiểm tra chỉ số MDA

    Chỉ số oxi hóa MDA là một dấu ấn sinh học của tình trạng stress oxy hóa trong cơ thể; kết quả trung bình giá trị MDA thu được sau thử nghiệm

                       

    Bảng 1. Kết quả xét nghiệm chỉ số MDA.

                                       

    Tên xét

       

    ĐVT

     

    Giá trị tham

     

    Đối tượng thử nghiệm

           

    Có sử dụng sản

       

    Không sử dụng

     

    nghiệm

           

    chiếu

       
             

    phẩm

       

    sản phẩm

                               

    MDA

       

    nmol/mL

       

    0,78-19,27

     

    1.98

           

    2.66

     

    3.2.2 Kết quả kiểm tra điện giải đồ huyết thanh:

                 
                   

    Bảng 2. Kết quả xét nghiệm điện giải đồ huyết thanh.

                                   

    Tên xét nghiệm

       

    ĐVT

           

    Đối tượng thử nghiệm

           

    Có sử dụng sản

           

    Không sử dụng

     
                           

    phẩm

       

    sản phẩm

    Fe

       

    nmol/mL

           

    19,9

           

    19,2

     

    Calci

       

    nmol/mL

           

    2,5

           

    2,5

     

    Na+

       

    nmol/mL

           

    137,2

         

    137,0

     

    Ca++

       

    nmol/mL

           

    1,3

           

    1,3

     

    K+

       

    nmol/mL

           

    3,7

           

    3,5

     

    Cl

       

    nmol/mL

           

    101,8

         

    102,6

     
    • Kết quả kiểm tra điện giải đồ huyết thanh cho thấy giữa nhóm có sử dụng sản phẩm và không sử dụng sản phẩm không có nhiều sự khác biệt. Điều này cho thấy bộ sản phẩm không gây ảnh hưởng đến khả năng hấp thu các khoáng chất trong các bữa ăn hàng ngày của bộ đội. Khả năng cung cấp khoáng chất của bộ sản phẩm sử dụng trong điều kiện đặc biệt tương đương với chế độ ăn uống theo thực đơn bình thường của bộ đội.

    3.2.3 Kết quả kiểm tra các chỉ số GOT, GPT

                 

    Bảng 3. Kết quả xét nghiệm GOT, GPT.

                           
                 

    Thời điểm lấy mẫu

         

    Tên xét

       

    Giá trị

     

    Trước TN

     

    Sau TN

     
         

    Có sử

     

    Không sử

     

    Có sử dụng

     

    Không

     

    ĐVT

     

    tham

           

    nghiệm

       

    dụng sản

     

    dụng sản

     

    sản phẩm

     

    sử dụng

       

    chiếu

           
           

    phẩm

     

    phẩm

         

    sản

                     
                         

    phẩm

    GOT

    U/L

     

    < 30 U/L

     

    27,1

     

    24,6

     

    22,2

     

    22,5

     

    GPT

    U/L

     

    < 30 U/L

     

    22,3

     

    22,8

     

    18,4

     

    25,9

     

    Dựa vào kết quả trình bày trên bảng 4 cho thấy các giá trị GOT và GPT của tất cả các đối tượng lấy mẫu đều nằm trong giá trị tham chiếu. Giá trị GOT và GPT của bộ đội sau khi sử dụng sản phẩm thực phẩm chức năng KPAP đã giảm đi so với trước khi sử dụng (27,1 U/L còn 22,2 U/L với GOT và 22,3 U/L còn 18,4 U/L với GPT). Đối với nhóm đối tượng không sử dụng sản phẩm cho thấy xu hướng giảm giá trị GOT (24,6 còn 22,5 U/L)nhưng lại tăng GPT (22,8 thành 25,9 U/L) sau cùng thời gian, tuy nhiên giá trị tăng giảm không đáng kể. Điều này cho thấy sản phẩm thực phẩm chức năng KPAP không gây ảnh hưởng đến các chức năng gan mà còn giúp làm giảm các tổn thương gây ra cho gan.

    • H. Trung, …, P. K. Cường, “Nghiên cứu sản xuất thực phẩm … hoạt động đặc biệt.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    Tóm lại, bộ sản phẩm KPAP có bổ sung peptide chức năng từ cá hồi đã đáp ứng được các yêu cầu về mùi vị, cách sử dụng phù hợp với điều kiện hoạt động khó khăn của bộ đội, cụ thể là khi hoạt động trên biển.

    Hình 5A. Tuýp gel nước.                      Hình 5B. Thanh nén.               Hình 5C. Viên nang.

    Hình 6. Chủ nhiệm đề tài giới thiệu sản phẩm KPAP với cán bộ chiến sỹ Lữ đoàn 126.

    Hình 8. Các chiến sỹ đóng góp thêm ý kiến để nâng cao chất lượng sản phẩm.

    Hình 7. Các chiến sỹ ăn thử sản phẩm dưới sự hướng dẫn của nhóm tác giả.

    Hình 9. Nhóm tác giả bàn giao bộ sản phẩm cho cán bộ chỉ huy Lữ đoàn 126.

     

    4. KẾT LUẬN

    Bộ khẩu phần ăn KPAP có bổ sung peptide chức năng đã được thử nghiệm ở điều kiện thực tế cho thấy khả năng ứng dụng rất lớn của bộ sản phẩm này cho các lực lượng hoạt động đặc biệt của quân đội. Phân tích các chỉ tiêu sinh hóa máu trước và sau khi thử nghiệm cho quân số tham gia sử dụng sản phẩm, kết quả kiểm tra cho thấy sản phẩm thực phẩm chức năng KPAP không gây ảnh hưởng đến chức năng thận, điện giải đồ huyết thanh, kết quả còn cho thấy khả năng cải thiện chức năng gan của sản phẩm đối với người sử dụng.

    Lời cám ơn: Nghiên cứu này được hỗ trợ kinh phí từ đề tài “Nghiên cứu tách chiết peptit mạch ngắn có hoạt tính sinh học để sản xuất thực phẩm chức năng dành cho bộ đội làm nhiệm vụ đặc biệt”, số ĐT.04.16/CNSHCB của Bộ Công thương.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    323

    Hóa học – Sinh học – Môi trường

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Quy hoạch phát triển cá nước lạnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015. 3195/QĐ-BNN-TCTS.
    • Trần Kiều Anh, N.H.T., Nguyễn Khánh Hoàng Việt, Nguyễn Thị Hồng Loan, Phạm Kiên Cường, Nghiên cứu các điều kiện thủy phân phụ phẩm cá hồi (Salmo salar) nhằm thu nhận peptit mạch ngắn có hoạt tính chống ô xi hóa. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 2017. 33.
    • Amissah, J., Bioactive properties of salmon skin protein hydrolysates. Department of Bioresource Engineering Macdonald Campus, McGill University, Canada, 2012.
    • See, S., L. L Hoo, and A. Babji, Optimization of enzymatic hydrolysis of salmon (Salmo salar) skin by Alcalase. Vol. 18. 2011. 1359-1365.
    • Kristinsson, H.G., and Rasco B.A., Fish protein hydrolysates: production, biochemical and functional properties. Critical Reviews in Food Science and Nutrition, 2000. 40 (1).
    • M, K., Manufacture of fish hydrolyzate by enzyme. Korean Journal of Food Science and Technology, 1999. 31(3).
    • T Himonides, A., A. K D Taylor, and A. J Morris, Enzymatic Hydrolysis of Fish Frames Using Pilot Plant Scale Systems. Vol. 2. 2011.

    ABTRACT

    PRODUCTION OF KAPAP FUNCTIONAL FOOD ADDITIONAL BIOACTIVE PEPTITE FOR SPECIFIC FORCE

    Military functional food products that help soldiers improve their physical strength, enhance the ability to fight is very important in the context of modern warfare. Functional peptides, the short-chain proteins with 2-20 amino acids, molecular weights is smaller than 10kDa, have nutritional value and some affect physiological functions to the body, enhance health of human. The Institute of New Technology has produced short-chain peptide from 3-10 kDa at pilot scale of 100 l / batch, from salmon’s byproducts using Trypsin and Alcalase enzymes. Peptide powder obtained by spray drying at 115°C with an over 85% recovery efficiency was used for the production of 10,000 KPAP functional food units for special operations. The KPAP functional food consists of 3 compressed products, water gel capsules and capsules, added with peptide content of 0.5 mg / g; 1.2 mg / g and 400 mg / g. This study, which tests the use of the KPAP functional food for the Navy, shows that more than 90% of warriors have used the product to demonstrate that the product has high energy efficient, can be applied to soldiers operating in special conditions.

    Keywords: Bioactive peptide; Production; Experiment; Funtional food; Specific force.

    Nhận bài ngày 01 tháng 7 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 10 tháng 9 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 9 năm 2018

    Địa chỉ  1 Viện Công nghệ mới/Viện KHCNQS;

    • Viện Công nghiệp Thực Phẩm/Bộ Công thương;

     

    • Vụ Khoa học Công nghệ/Bộ Công thương.

    * Email: [email protected].

    • H. Trung, …, P. K. Cường, “Nghiên cứu sản xuất thực phẩm … hoạt động đặc biệt.”

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/H%E1%BB%86-%C4%90O-%C4%90%E1%BA%B6C-TR%C6%AFNG-%C4%90I%E1%BB%86N-C%E1%BB%A6A-VI-C%E1%BA%A2M-BI%E1%BA%BEN-V%E1%BA%ACN-T%E1%BB%90C-G%C3%93C-KI%E1%BB%82U-TUNING-FORK.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    Đo lường – Tin học

    HỆ ĐO ĐẶC TRƯNG ĐIỆN CỦA VI CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Quang Long, Chu Mạnh Hoàng, Vũ Ngọc Hùng*

    Tóm tắt: Nội dung của bài báo này trình bày về thiết kế hệ đo đặc trưng của vi cảm biến vận tốc góc. Vi cảm biến vận tốc góc được sử dụng là kiểu Tuning Fork trên cơ sở công nghệ vi cơ điện tử MEMS (thiết kế chế tạo tại Viện ITIMS). Hệ đo gồm có các mô đun tốc độ góc, mô đun chuyển đổi C-V (MS3110) và mô đun thu thập dữ liệu USB-6009 kết nối với máy tính xử lý dữ liệu bởi phần mềm LabvieW. Trong hệ đo có sử dụng truyền động quay bằng động cơ servo có điều khiển tốc độ và thời gian quay. Vận tốc góc cần đo sẽ có tỷ lệ với điện dung cảm ứng đầu ra của

    • cảm biến vận tốc góc, điện dung được chuyển đổi tỷ lệ sang điện áp ta sẽ tính toán được vận tốc góc cần đo. Trong quá trình nghiên cứu, hệ đo đã được xây dựng thành công và đã có kết quả thực nghiệm. Quá trình thực nghiệm đo cho thấy quan hệ giữa vận tốc góc cần đo -200÷200 (deg/s) và điện áp đầu ra của bộ chuyển đổi là tuyến tính.

    Từ khóa: Vi cảm biến vận tốc góc; MS3110; Ni-USB6009; Servo motor.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong khoảng 30 năm trở lại đây sự ra đời và phát triển của công nghệ MEMS, một lĩnh vực công nghệ cao (Hi-tech) đã tạo ra một cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật và công nghệ chế tạo các linh kiện cảm biến (sensors) và chấp hành (actuators) ở phạm vi kích thước dưới milimet. Ưu điểm vượt trội của các cảm biến loại này là độ nhạy cao, kích thước nhỏ gọn, tiêu thụ năng lượng ít. Cảm biến vận tốc góc (hay con quay vi cơ) có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp chế tạo ô tô như chống trượt đổ xe

    • Trong các thiết bị dân dụng như ổn định của máy ảnh số và điện thoại di động, chuột quán tính cho các thiết bị cầm tay [2]. Đặc biệt, sự phát triển của con quay vi cơ có độ nhạy và độ ổn định cao là yêu cầu thiết yếu cho các ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp robot và quân sự, bao gồm các thiết bị định vị quán tính trong công nghiệp hàng không và vũ trụ [3].

    Cảm biến vận tốc góc đã được nhóm chúng tôi nghiên cứu, mô phỏng với kết quả tốt và chế tạo thành công tại Viện ITIMS. Để khảo sát các đặc trưng và đánh giá được chất lượng của cảm biến sau chế tạo là một bước rất quan trọng. Đó là một yêu cầu và là một thách thức. Sau thời gian nghiên cứu xây dựng nhóm đã thành công hệ đo đặc trưng cho cảm biến sau chế tạo.

    Trong bài báo này, chúng tôi trình bày thiết kế hệ đo đặc trưng tần số, đầu vào đáp ứng tốc độ góc của con quay âm thoa trục – Z với cấu trúc răng lược. Hệ đo có khả năng phân tích tín hiệu trong miền thời gian và trong miền tần số sử dụng phép biến đổi fourier. Với việc tính hàm mật độ phổ năng lượng ta biết được tín hiệu tập chung ở tần số nào. Độ nhạy và hệ số Q cũng được xác định bằng thực nghiệm.

    2. CẢM BIẾN VẬN TỐC GÓC KIỂU TUNING FORK

    Con quay vi cơ kiểu âm thoa (Tuning Fork Gyroscope) hoạt động dựa trên hiệu ứng Coriolis. Cấu trúc con quay vi cơ có thể được xem như một hệ thống động lực 2 bậc tự do bao gồm khối gia trọng, bộ phận đàn hồi và bộ phận giảm chấn. Khối gia trọng với khối lượng m đồng thời tham gia chuyển động thẳng với vận tốc v và chuyển động quay với

    vận tốc góc W sẽ chịu tác dụng của lực Coriolis:

    • N. Minh, …, V. N. Hùng, “Hệ đo đặc trưng điện của vi cảm biến … kiểu Tuning Fork.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

       

    Fc = -2 m[W.v ]

    (1)

    Lực Coriolis tỷ lệ với tích véctơ của vận tốc dài v và vận tốc góc W .

    Trong nghiên cứu này, mô hình thiết kế con quay vi cơ kiểu âm thoa trục z được đề xuất (hình 1)

    Hình 1. Sơ đồ cấu trúc vi cảm biến vận tốc góc kiểu âm thoa.

    Khi đồng thời tham gia chuyển động quay với vận tốc góc theo phương z vuông góc với mặt phẳng của khối gia trọng, hệ khung gia trọng bên trong sẽ chịu tác dụng của lực Coriolis và dịch chuyển theo phương y trong mặt phẳng chứa khung gia trọng dẫn tới làm thay đổi giá trị điện dung của hệ tụ cảm ứng.

    Trong mô hình thiết kế này, sự thay đổi điện dung cho một điện cực đặt với N răng lược ở mỗi bên có thể được tính như sau:

    DC = 2Ne

    0

    tL

    Y

    (2)

     

    g 2

           

    Trong đó, Y là sự dịch chuyển của điện cực theo hướng chuyển động.

    Hình 2. Vi cảm biến vận tóc góc Gyroscope.

    Cảm biến chế tạo xong được hàn dây tín hiệu vào ra và đóng gói trong hộp nhựa mica ở môi trường khí quyển (hình 2).

    1. SƠ ĐỒ HỆ ĐO

    Sơ đồ khối hệ đo

    Hình 3. Hệ đo đặc trưng cảm biến.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    355

    Đo lường – Tin học

    Để xác định được đặc trưng của cảm biến chúng tôi sử dụng động cơ servo loại VRSF-25C-200 của TAMAGAWA làm động cơ tạo vận tốc góc (hình 4). Động cơ được điều khiển bằng driver TYB201D3-VVT2. Trên trục động cơ có gắn một đĩa tròn, sau đó gắn cảm biến, bộ chuyển đổi C/V và bộ DAQ trên đĩa này. Khi động cơ quay sẽ tạo ra một vận tốc góc theo trục z của cảm biến.

    Hình 4. Động cơ servo có điều khiển tạo vận tốc góc.

    Để xử lý và thu thập dữ liệu cho các đặc trưng chúng tôi đã xây dựng hệ đo với khả năng điều khiển và hiển thị thông số trên máy tính như H.4: Cảm biến được cấp nguồn DC và AC từ bộ nguồn DC và máy phát hàm. Động cơ servo được điều khiển bằng bộ driver làm thay đổi vận tốc góc, khi đó điện dung đầu ra của cảm biến được đưa qua bộ chuyển đổi C/V MS3110 và bộ chuyển đổi này được hiệu chỉnh thông số bởi phần mềm ms3110prg trên máy tính. Tín hiệu đầu ra bo mạch MS3110 là điện áp được đưa qua card thu thập dữ liệu USB6009 và được sử lý dữ kiệu bằng phần mềm Labview trên máy tính.

    Trong đó: Khối chuyển đổi tín hiệu MS3110 [4] có nhiệm vụ chuyển đổi điện dung từ cảm biến thành điện áp (C/V) và có thể phát hiện đến femtoFarad, cụ thể với độ phân giải 4.0aF/rtHz. Hình 5 cho thấy cái nhìn tổng quan của bo mạch chuyển đổi MS3110. Trong mạch Jumper J3 được dùng làm kết nối giữa IC với cảm biến. Bo mạch được hiệu chỉnh thông qua cổng kết nối song song

    Hình 5. Bo mạch chuyển đổi C/V MS3110 và sơ đồ kết nối.

    Sơ đồ khối chức năng

    Hình 6. Sơ đồ khối chức năng bo mạch MS3110BD.

    MS3110 cảm nhận sự thay đổi điện dung giữa hai tụ và cung cấp một điện áp đầu ra tỷ lệ thuận với sự thay đổi đó. Các tụ điện để được cảm nhận là một cặp cân bằng bên ngoài

    • N. Minh, …, V. N. Hùng, “Hệ đo đặc trưng điện của vi cảm biến … kiểu Tuning Fork.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    CS1IN và CS2IN. Điện áp đầu ra quan hệ với sự thay đổi giữa các tụ cảm biến CS2T và

    CS1T theo sau đây:

    V0 = GAIN*V2P25*1.14*(CS2T-CS1T)/CF + VREF

    Ta điều chỉnh trên phần mềm để đạt được sự thay đổi điện dung của cảm biến 1pF tương ứng điện áp đầu ra 1mV.

    Khối thu thập dữ liệu USB-6009 [5]: Card thu thập dự liệu NI USB-6009 có 8 đầu vào analog, 2 đầu ra tương tự, 12 đầu vào/ ra kỹ thuật số và 32-bit truy cập. Tốc độ lấy mẫu tối đa của mỗi đầu vào tương tự là 48 kS/s. Tốc độ mẫu vào đầu ra tương tự là 150 S/s và nó không thể thay đổi đầu vào analog có độ phân giải 14-bit và đầu ra analog có độ phân giải 12-bit. Giao diện USB cho phép chuyển đổi tốt hơn và dễ dàng hơn kết nối với máy PC. Hình dáng bên ngoài của card trong hình 7.

    Hình 7. Card thu thập dữ liệu của NI USB-6009.

    Điện áp tối đa có thể được kết nối với đầu vào analog là từ -20 V đến 20 V (thông số kỹ thuật thẻ nói -10 V đến 10 V, nhưng trong thực tế -20 đến 20 V có thể được kết nối). Analog đầu ra điện áp là 0-5 V và nó không thể thay đổi. Card kết nối với máy tính thông qua cổng USB. Tại đầu vào kỹ thuật số nó có thể được kết nối với điện áp 0-5 V và tại đầu ra kỹ thuật số nó cho 5 V. Card cũng có một bộ đếm cho điện áp 0-5 V với tần số tối đa là 5 MHz.

    Tín hiệu thu thập được đưa vào máy tính hiển thị tín hiệu, dạng tín hiệu qua bộ lọc và phân tích phổ tín hiệu FFT.

    Hình 8. Chương trình đo và hiển thị trên máy tính.

    MT xử lý tín

    Máy hiện sóng

    MT điều khiển

     
     

    bo MS3110

    hiệu và hiển thị

     
       
     

    Network Analyzer

     

    Nguồn DC

    Máy phát hàm

    Driver

     

    DAQ

       

    USB6009

       

    MS3110

       

    Sensor

       

    Servo motor

    Hình 9. Hệ đo đặc trưng.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    357

    Đo lường – Tin học

    4. KẾT QUẢ KHẢO SÁT ĐẶC TRƯNG

    Sau khi thực hiện khảo sát vi cảm biến vận tốc góc ở môi trường áp suất khí quyển kết quả đạt được biểu diễn với hai đặc trưng chính. Hai đặc điểm chính là đáp ứng tần số cộng hưởng của kích thích, cảm ứng và đầu vào đáp ứng tốc độ góc. Các tần số cộng hưởng của cảm biến là thông tin quan trọng. Vì các cảm biến cần thiết để hoạt động theo điều kiện cộng hưởng, các tần số cộng hưởng phải được xem xét trước. Ngoài ra, khi các tần số cộng hưởng của chế độ kích thích và cảm ứng được biết, băng thông hoạt động của cảm biến cũng được xác định. Khi tần số tự nhiên được biết, đặc tính cảm biến liên tục được khảo sát phản ứng tốc độ góc đầu vào bằng cách sử dụng lực tĩnh điện kích thích và điều khiển tốc độ góc.

    4.1. Tần số đáp ứng

    Trong bài báo này chúng tôi thực nghiệm trên cảm biến freestanding gyroscope loại 10kHz. Với điện áp một chiều là 5VDC và 5VAC được sử dụng. Tần số đáp ứng ở chế độ cảm ứng là 11125 Hz. Kết quả này là hợp lý vì cấu trúc thực tương ứng so với mô hình mô phỏng.

    Hình 10. Tần số đáp ứng của chế độ cảm ứng.

    4.2. Đáp ứng tốc độ góc

    Từ các giá trị tần số tự nhiên thu được, khảo sát thứ hai – đo tốc độ góc được thực hiện. Đối với khảo sát này, điện áp 5VDC được đặt lên các khối gia trọng và điện áp 5VAC biên độ với tần số trong khoảng 11108 Hz đến 11125 Hz. Bo mạch MS 3110 được thiết lập điện dung thay đổi 1pF đầu vào thì đầu ra thay đổi 1mV. Trong khi động cơ servo được điều khiển để cho sự thay đổi tốc độ góc trong khoảng 0-200°/s, đáp ứng đầu ra cảm ứng của con quay vi cơ 10 kHz được thể hiện trong hình 11. Độ nhạy của cảm biến 10kHz thu được là 4.39e-4 V/°/s.

    Hình 11. Đặc trưng vận tốc góc đầu vào là hàm của điện áp đầu ra của

    vi cảm biến vận tốc góc 10kHz.

    • N. Minh, …, V. N. Hùng, “Hệ đo đặc trưng điện của vi cảm biến … kiểu Tuning Fork.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    5. KẾT LUẬN

    Hệ đo đặc trưng của vi cảm biến vận tốc góc kiểu tuning fork đã được xây dựng. Hệ đo đã khảo sát các đặc trưng hoạt động của vi cảm biến vận tốc góc kiểu Tuning Fork 10kHz chế tạo tại Viện ITIMS. Các kết quả thực nghiệm đạt được là tần số hoạt động là 11,12 kHz và độ nhạy của nó là 4.39×10-4 V/°/s.

    Đặc tính kỹ thuật:

    • Kích thước: 4554 mm x 3935 mm
    • Độ nhạy: 0,44 mV/0/s
    • Điện áp kích thích: 5VDC; 5VAC

    Lời cảm ơn: Công trình nghiên cứu này được thực hiện với sự tài trợ của chương trình NAFOSTED, Bộ Khoa học & Công nghệ, trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cơ bản mã số 103.99- 2014.34.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Classen et al, “MEMS gyroscopes for automotive applications. In Advanced Microsystems for Automotive Applications”, Springer: Berlin, Germany, 2007; pp. 291-306.
    • Keim et al, “Bosch angular rate sensorsadvanced sensor technology for innovative applications”, Proc. Commercialization of Microsystems, COMS 2003.
    • S. Grewal et al, “Global Positioning Systems, Inertial Navigation and Integration”, John Wiley & Sons: Hoboken, NJ, USA, 2001.
    • Irvine Sensors Corporation, “MS3110 universal capacitive readoutTM IC data sheet”, May 2004.
    • National Instruments, “NI USB-6008/6009 User Guide”.

    ABSTRACT

    MEASURING SYSTEM ELECTRIC CHARACTERISTICS

    OF GYROSCOPE TUNING FORK

    The content of this paper is about the design of the measuring system of the angular velocity sensor. The angular velocity sensor used is a tuning fork based on MEMS microelectronic technology (designed and manufactured by ITIMS). Measurements include angular velocity modules, C-V conversion module (MS3110) and USB-6009 data acquisition module connected to computer data processing by LabvieW software. In the measurement system using rotary actuators with servo motors with speed control and rotation time. The angular velocity to be measured will be proportional to the output capacitance of the angular velocity sensor, and the capacitance converted to the voltage will calculate the angular velocity to be measured. In the course of the study, the system was successfully developed and there were experimental results. Experimental measurements show that the relationship between the angular velocity measured -200 ÷ 200 (deg/s) and the output voltage of the converter is linear.

    Keywords: Gyroscope tuning fork; MS3110; Ni-USB6009; Servo motor.

    Nhận bài ngày 01 tháng 7 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 10 tháng 9 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 9 năm 2018

    Địa chỉ:     Viện ITIMS, Đại học Bách khoa Hà Nội, số 01 Đại Cồ Việt, Hà Nội.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    359


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT

    ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT

    ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-THU%E1%BA%ACT-TO%C3%81N-T%E1%BB%B0-T%E1%BB%94-CH%E1%BB%A8C-N%C3%82NG-CAO-CH%E1%BA%A4T-L%C6%AF%E1%BB%A2NG-X%E1%BB%AC-L%C3%9D-T%C3%8DN-HI%E1%BB%86U-C%E1%BB%A6A-B%E1%BB%98-%C4%90O-CAO-LI%C3%8AN-K%E1%BA%BET.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT

    Đo lường – Tin học

    ỨNG DỤNG THUẬT TOÁN TỰ TỔ CHỨC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XỬ LÝ TÍN HIỆU CỦA BỘ ĐO CAO LIÊN KẾT

    Phạm Đức Thỏa1*, Nguyễn Quang Vịnh1, Nguyễn Xuân Căn2, Trần Ngọc Hưởng3

    Tóm tắt: Trong một số trường hợp các bộ đo cao liên kết sử dụng bộ lọc Kalman cho ta kết quả tốt về nâng cao độ chính xác và độ tin cậy. Tuy nhiên, khi điều kiện bay biến động, thời gian bay dài thì bộ lọc Kalman không phải luôn duy trì tính hiệu quả. Trong thời gian nào đó, thông tin tiên nghiệm của các phép đo cuối trong khoảng thời gian làm việc trước đó không đầy đủ, thuật toán ước lượng sai số đối với các tham số trạng thái không đạt độ chính xác mong muốn dẫn đến thuật toán lọc không hội tụ. Để giải quyết bài toán trên nhằm đảm bảo bộ đo cao luôn làm việc chính xác, nhóm tác giả đã xây dựng và minh chứng một trường hợp cụ thể sử dụng thuật toán tự tổ chức. Kết quả mô phỏng cho thấy tính đúng đắn của thuật toán đề ra.

    Từ khóa: Đo cao liên kết, Thuận toán tự tổ chức, Dẫn đường quán tính.

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Hiện nay, các thiết bị bay (TBB) hiện đại luôn được trang bị hệ thống dẫn đường quán tính (HTDĐQT) với độ chính xác cao. Đối với kênh cao của hệ thống này luôn mất ổn định, gây sai số lớn, nếu không được các bộ đo cao khác hỗ trợ thì sai số đo cao sẽ tích lũy lớn dần theo thời gian. Rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát độ cao bay, đa phần các nghiên cứu trong nước [1] [2] [3] và ngoài nước [5] [6] chỉ dừng lại khẳng định độ chính xác được nâng cao trong xử lý tín hiệu trong các bộ đo cao liên kết. Trong những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu trên thế giới được công bố [8] [9] có đề cập đến vấn đề lựa chọn cấu trúc tối ưu cho xử lý tín hiệu, kết quả chỉ dừng lại ở công bố lý thuyết chưa tường minh. Tuy nhiên, bài toán đánh giá mức độ quan sát được cho các biến trạng thái, kết hợp với thuật toán tự tổ chức (TTC) xây dựng mô hình dự đoán cho bộ đo cao liên kết, để nâng cao chất lượng xử lý tín hiệu đo cao vẫn chưa có công trình nào được công bố. Để minh chứng cho thuật toán trên, lấy mô hình bộ đo cao liên kết quan tính vô tuyến (QT –VT), trong đó bộ đo cao quán tính (ĐCQT) làm bộ đo cơ sở, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình và các thuật toán mới (thuật toán đánh giá lựa chọn tham số độ cao) nhằm hiệu chỉnh các tham số cho ổn định kênh cao HDĐQT.

    2. XÂY DỰNG SƠ ĐỒ CẤU TRÚC VÀ THUẬT TOÁN XỬ LÝ

    2.1. Mô hình mẫu tín hiệu đầu vào của bộ đo cao

    Đối với kênh cao của HTDĐQT, sai số đo cao bao gồm sai số cảm biển, nhiễu và sai số tính toán. Các sai số này nếu không được bù khử thì sẽ tích lũy lớn dần theo thời gian. Đặc biệt sai số ngẫu nhiên bao gồm sai số đo gia tốc và sai số theo tốc độ trôi ngẫu nhiên của con quay cần được đánh giá ước lượng sao cho kết quả đạt được tối ưu nhất.

    Khi bỏ qua mối liên quan chéo giữa các kênh của khối đo quán tính (KĐQT) hệ ĐCQT sẽ có gia tốc kế định hướng thẳng đứng được đặt trên đế. Với TBB có yêu cầu cao về điều

    khiển phải sử dụng các con quay có chất lượng cao (sai số ey nhỏ) thì các sai số đưa vào hệ thống định vị đế sẽ nhỏ hơn đáng kể so với các thành phần sai số khác.

    Khi đó, mô hình các sai số ĐCQT sẽ được viết bằng phương trình vi phân đơn giản hơn [7].

    • Đ. Thỏa, …, T. N. Hưởng, “Ứng dụng thuật toán tự tổ chức … bộ đo cao liên kết.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

      • H = d V

    ï

    æ

    g ö

     

    ï

     

    ïd V

    = ç 2

     

    ÷d H + d a + d g

    (1)

    í

    è

    R ø

     

    ïd a

    = –a .d a + u

     

    ï

       

    d a

     

    ïd g

    = – b .d g + u

     

    î

       

    d g

     

    Trong đó: a = 1 t a ,b = 1 t g ; t a , tg

    là khoảng tương quan của các sai số d a y (t )d g ( t) ;

    u da , udg là các dạng nhiễu trắng với kỳ vọng toán học bằng không và hàm tương quan B u da (t ) = 2as d2a d ( t – t); Buda (t ) = 2bsd2gd( t – t) .

    Sự thay đổi độ cao d H QT (t ) = d H ( t) với sai số gia tốc kế d a ( t) và sai số đo tính bất định d g ( t) đóng vai trò lớn trong tính sai số.

    Mặt khác, đối với ĐCVT trên TBB hành trình chủ yếu ở dạng điều tần liên tục. Nguyên nhân gây sai số trong xử lý tín hiệu tại đầu ra chủ yếu vẫn là độ chệch ước lượng (d H CM (t)

    ). Các sai số động lực học và sai số dụng cụ có giá trị nhỏ hơn rất nhiều do có thể khắc phục được nên ở bài toán này chúng ta không xét tới.

    Trong ĐCVT điều tần liên tục, độ giữ chậm tín hiệu theo tần số sườn trước WH =WST

    của phổ Gδ(ω), tín hiệu phách và cực đại ΩM của đường bao phổ Q(ω) (phương pháp cục bộ) theo tâm năng lượng của đường bao Q(ω) tín hiệu phách, tương ứng với tần số ΩTT hoặc mô men bậc hai mô tả đường bao Q(ω) (phương pháp tích phân), ứng với tần số trung bình Ωck.

    Hình 1. Mô hình tín hiệu ĐCVT điều tần theo các mức ước lượng.

    • đây Dwdc là độ sâu điều chế; tTT ,tM chính là giá trị độ giữ chậm tín hiệu phách và cực đại, nó sẽ chệch so với độ giữ chậm của sườn trước tST . Độ chệch có thể được tính trước bằng cách hiệu chỉnh tương ứng.

    Việc thay đổi quỹ đạo loại bề mặt phản xạ thay đổi và độ liệng, độ tà thay đổi. Khi đó, hệ số định hướng độ rộng giản đồ tán xạ ngược của bề mặt các đặc trưng của tín hiệu phản xạ cũng như các độ giữ chậm không thể tính trước và hiệu chuẩn được. Lúc đó, độ chệch ước lượng độ cao sẽ là quá trình dao động ngẫu nhiên thay đổi chậm d H CM (t) . Hàm tương

    quan của nó có thể mô tả ở dạng [7]:

    B d H CM  (t ) = s CM2 exp (-

     

    t

     

    t CM )

    (2)

       
         

    Ở đây sCM2  là phương sai độ chệch ước lượng; tCM là khoảng tương quan.

    Quá trình dH CM (t) được thể hiện ở dạng quá trình Markov chuẩn và do đó nó thỏa mãn phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất với các hệ số ngẫu nhiên:

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    383

     

    Đo lường – Tin học

    ×

     

    d H CM (t ) = – b CMd H CM (t ) + u d HCM  (t)

    (3)

    • đây, b CM = 1tCM ; u d HCM (t) là tạp trắng hình thành với kỳ vọng toán bằng 0 và hàm tương quan:

    B u d H CM  (t ) = m { u d H CM  (t ) u d H CM  (t + t )} = 2 b CMs CM2d (t t )

    (4)

    Để xác định các giá trị sCMtCM, cần phải biết thông tin tiên nghiệm và quỹ đạo bay. Giá trị tCM được xác định bởi các kích thước hình học của mức trung bình bề mặt với phân bố địa hình khác nhau.

    2.2. Phương pháp xây dựng mô hình dự đoán

    Ta xét trường hợp khi chế độ làm việc otonom của HTDĐQT thì hệ ĐCQT với các tham số luôn được hiệu chỉnh từ các bộ đo cao bên ngoài. Tại thời điểm tA nào đó tín hiệu độ cao từ thiết bị đo cao bên ngoài không đảm bảo độ tin cậy cho hiệu chỉnh cho ĐCQT như bị chế áp bởi nhiễu, các điều kiện ngoại cảnh tác động, TBB chuyển động phức tạp … lúc này các mô hình tiên nghiệm trở nên không phù hợp với quá trình thực của sự biến thiên sai số của ĐCQT của bộ đo cao liên kết làm việc trước thời điểm tA thì có thể tiến hành hiệu chỉnh hệ dẫn đường gián tiếp bằng các thuật toán ngoại suy. Để xây dựng mô hình dự đoán trong khoảng thời gian (t A ¸tB ) , chúng ta sử dụng thuật toán ngoại suy các

    giá trị nhận được trước thời điểm tA (zi = z1,z2,z3,…,zN) lấy từ bộ đo cao liên kết (hình 2). Thuật toán này thực hiện việc dự đoán các sai số hệ ĐCQT sau đó ước lượng được dự đoán các sai số đưa tới đầu ra và tiến hành bù các sai số của hệ ĐCQT.

    Hình 2. Tổng quan về phương án xây dựng mô hình dự đoán.

    Trong đó: TT XDMH là thuật toán xác định mô hình; TTDĐ là thuật toán dự đoán.

    2.3. Ứng dụng thuật toán TTC cho bộ đo cao liên kết QT-VT

    2.3.1. Phương án xây dựng thuật toán TTC

    Trong một khoảng làm việc của bộ đo cao liên kết, với các nghiên cứu trước [2] [3] [8]

    • cần nhớ tập các phép đo bao gồm một số phép đo cuối cùng, Khi các điều kiện bay thay đổi do một nguyên nhân nào đó (thay đổi các dải độ cao khác nhau, mức trung bình bề mặt biến đổi hay tác động của nhiễu tích cực hay tiêu cực) việc dự đoán sai số trạng thái của đối tượng cơ động với việc sử dụng các mô hình toán tiên nghiệm là không thể thực hiện được. Vấn đề này được giải quyết nhờ sử dụng thuật toán TTC.

    Thuật toán TTC cho phép xây dựng mô hình toán học không cần có thông số tiên nghiệm các quy luật thay đổi của biến trạng thái cần khảo sát. Khi thiết kế mô hình toán,

    • Đ. Thỏa, …, T. N. Hưởng, “Ứng dụng thuật toán tự tổ chức … bộ đo cao liên kết.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    phải luôn kết hợp với tập hợp các tiêu chuẩn lựa chọn, và cuối cùng lựa chọn mô hình tối ưu nhất [8].

    Lưu đồ của thuật toán TTC được thể hiện như hình 3:

    Hình 3. Lưu đồ thuật toán TTC xử lý tín hiệu độ cao.

    Tập hợp các hàm cơ sở: Dựa vào các thông tin tiên nghiệm đã có sẽ cho phép giới hạn các hàm cơ sở, theo hướng biến thiên có thể cho phép lựa chọn đúng các hàm cơ sở sử dụng hàm hướng tuyến tính, phương trình sai phân, dãy Volterra.

    Đánh giá các mô hình và chọn ra các mô hình tốt nhất: Tính tiên quyết phải tuân theo

    các tiêu chuẩn đánh giá thuật toán TTC như: tiêu chuẩn đồng đều (

       
       

    với

     

    là giá trị mẫu,

    là giá trị có được từ mô hình), tiêu chuẩn

    dịch chuyển cực tiểu (

             

    ∆ ( ) = ∑   (

             

    , ở đây chia mẫu từ N

    )2/ ∈

    2→

     

    , tương ứng 2 mô hình là A và B với đầu ra là

    điểm thành hai phần:

     

    

    = ∑   (   −

    ) / ∑

           

    hệ số

    và   ), tiêu chuẩn cần bằng …

               

    Nâng cao độ phức tạp mô hình: Giả sử phương trình mô tả đủ của một đối tượng.

     
       

    f p

    = f (x1 , x 2 ,…., xn )

           

    (5)

    Ta tiến hành thay đổi mô tả theo hàng loạt các tổ hợp khác theo nhóm các đối số:

     
     

    y1 = f1 ( x1 , x2 ), y 2

    = f 2 ( x1 , x3 ),….., y p

    = f p ( xn 1, xn );

    với

    p = Cn2

       
     

    z1 = f1 ( y1 , y 2 ), z 2 = f 2 ( y1 , y 3 ),….., z q  = f q ( yp 1, y p ); với q = Cp2

     

    (6)

    Việc phức tạp hóa các mô hình phải tuân thủ các hàm fi là như nhau trong tất cả các phương trình và các mô hính sau phải mô tả toàn phần ở dạng chung đối với các mô hình thiết lập trước.

    2.3.2. Bộ đo cao liên kết ứng dụng thuật toán TTC

    Trong các ứng dụng thực tế, cần phải biết khả năng quan sát một cách hiệu quả mỗi phần tử cụ thể của véc tơ trạng thái. Muốn vậy ta đưa ra khái niệm số đo hoặc là mức độ quan sát được của mỗi phần tử cụ thể của biến trạng thái. Về quan điểm độ chính xác ước lượng, mức độ quan sát được В.Н. Афанасьев и К.А. Неусыпин khảo sát đã xác định tỷ số phương sai của phần tử bất kỳ của véc tơ trạng thái và phương sai của véc tơ trạng thái được đo trực tiếp có tính tới phương sai của tạp đo.

    Tiêu chuẩn mức độ quan sát được có dạng:

       

    E é ( x i )2 ù R0

    (7)

       

    ê

    ú

     
     

    Di0 =

    ë

    û

       
     

    E êé ( y i )2

    úù R*i

     
         
       

    ë

    û

     

    Ở đây E êé ( xi )2

    úù là phương sai phần tử thứ i tùy ý của véc tơ trạng thái.

     

    ë

    û

         

    E êé ( yi )2

    úù là phương sai véc tơ trạng thái được đo trực tiếp.

     

    ë

    û

         
           
               

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    385

                             

    Đo lường – Tin học

                                 

    R

    *i

    = E

    é

    *i

    )

    2

    ù

    =

    é  2

    2

    2 ù

    .R

    là tạp đo dẫn suấất có phương sai của phần tử thhứ i

     

    ê

    ( V

     

    ú

    ëa1

    + a 2

    + …..+ an û

    0

     
         

    ë

         

    û

                 

    được xác định bởởi các hệ số αi; trong đó αi (i=1,2,…,n) là hànng thứ i của ma trận nghhịch

    đảo của ma trận quan sáát

    O =

    é

    H F  ….  H F

    n-1

    ùT ,

     

    ëH

     

    û

    Khi tiến hành mỗi bướcc đo thì cườnng độ tạp hìnnh thànnh là khác nhau, đối với mỗi phần tử bất kỳỳ củủa véc tơ trạng thái tạp đo dẫn xuấất được xác định từừ cáác phép đo qua mỗi bước đo. Biểu thhức (7) để đánh giiá về lượng tính quan sát được của từng thành phần véc tơ trạng tháái.

    Khi độ chính xác ước lượng các véc tơ trạng thái khônng đạt yêu cầu, tươngg ứng vớii mức độ quaan sát được của nó không đạt ngưỡng. Mức độ quan sát được củủa biếnn cáác biến trạng thái có một mức ngưỡnng xác định 0 theo từngg dải độ cao ở điều kiện baay cụ thể,, được xác định troong quá trình nghiên cứuu thử nghiệm TBB. Sử dụng thhuật tooán TTC làm thuật toáán biến thhể của bộ lọc Kalmman. Ở giai đoạn làm việc ban đầu của thuuật toán thực hiện xây dựựng mô hình cáác sai số hệ ĐCQT trong xửử lý liên kết tín hiệu. Việc ứngg dụng thuật toáán tự tổ chức khi khả năăng mức độ quan sát được cácc biiến trạng tháái không đáp ứnng được hoặc thhông tin tiên nghiệm ban đầầu không đầy đủ thì chất lượng của việc đánh giá các biếnn trạng thái thônng qua bộ lọc Kalmman khhông thhể đáp ứng được độ chính xác ước lượngg khhông đảm bảo.

    Sơơ đồ cấu trúc bộ đo cao liên kết QT-VT sử dụng thhuật tooán TTTC được thể hiệện trên hình 4.

    Hình 4. Sơ đồ cấu trrúc bộ đo cao liên kết sử dụng thuật toán TTC.

    H – Thông tin độ caoo thực tế cần đo; xk – Véc tơ sai số củủa hệ ĐCQT; xˆk – Véc tơ sai số

    ˆ

    ước lượng ĐC QTT; là đáánh giá m ức độ quuan sát được; x k véc tơ sai số ước lượng của thuật toáán TTCC.

    3. M Ô PH ỎNG ĐÁNH GIÁ TÍNHH CHÍNHH XÁCC BỘ ĐO CAO LIIÊNN KẾT ỨNGG DỤNNG THHUẬT T OÁN TỰ TỔỔ C H ỨC

    Để kiểm ngghiệm đánh giá tính ưu việt của thuật tooán TTTC trong xử lý liên kết tín hiệu độ cao. Cụ thể hơn là nângg caao chất lượng hiệu chỉnh các thham sốố trạng thái của kênh cao HDĐQT trên cơ sở các mô hìnhh saai số của các bộộ đô cao theo phương trình (1), (3) tiến hành xây dựng phương trìnnh trạng thái dạng rời rạc có dạng [2]:

           

    xk = Fx k 1 + Gwk1

    (8)

             
                   

    3886

    P. Đ. Thỏa, …, T. N. H ưởng, “Ứng dụng thuật tooán tự tổ chức … bộ đo cao liên kết.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    với:

    é

    d H

    ù

    ,

    ê

    dV

    ú

     

    ê

       

    ú

     

    xk

    = ê

    d a

    ú

     
     

    ê

    d g

    ú

     
     

    ê

    ú

     
     

    êd H

     

    ú

     
     

    ë

     

    CM û

     

    é

    1

    T

    0

    ê

    2 gT / R

    1

    T

    ê

    F = ê

    0

    0

    1 –aT

    ê

    0

    0

    0

    ê

    ê

    0

    0

    0

    ë

    0

    0

    ù

    ,

    é

    0

    0

    0

    ù

    T

    0

    ú

    ê

    T

    2

    T

    2

    0

    ú

    ú

    ê

       

    ú

    0

    0

    ú   G = ê –T ( Ta -1)

    0

    0

    ú

    1 – bT

    0

    ú

     

    ê

    0

    T ( T b -1)

    0

    ú

    ú

     

    ê

    ú

    0

     

    ú

     

    ê

    0

    0

     

    ú

    1- bCM T û

     

    ë

    T ( T bCM  -1)û

     

    Phương trình véc tơ trạng thái được đo:

    z k = Hx k + vk

    (9)

    Ta sử dụng cách tiếp cận vô hướng không mất đi tính tổng quát của cách đặt bài toán khi ta giả sử rằng các véc tơ trạng thái được đo, nghĩa là H = [1 0 0 0 -1]. Chia mỗi

    bước đo thành 5 nhịp và mô tả các phép đo này qua véc tơ trạng thái dạng ma trận:

         

    z * = Ox1 + v*

                     

    (10)

    Theo công thức (7).

                               
     

    é

    1

    0

         

    0

     

    0

           

    -1

     

    ù

     

    ê

    1

    T

         

    0

     

    0

           

    T bCM  -1

    ú

     

    ê

                   

    ú

    O =

    ê

    2 gT 2  R + 1

    2T

         

    T 2

     

    T 2

       

    – (T bCM  -1)2 ú

    ê

    6 gT 2 / R + 1

    2T + T (2 gT 2 / R + 1)  2T 2T 2 (T a – 1)  2T 2T 2 (T b – 1)

     

    (T bCM  -1)3

    ú

     

    ê

     

    ú

     

    ê

                               

    ú

     

    ëê ( 2 gT 2 / R + 1) 2 + 8T 2 g / R    4T (2 gT 2 / R + 1)

         

    O53

     

    O54

       

    – ( T bCM  -1)4 ûú

         

    O53 = 2T 2 (2 – T a ) + T 2 (2 gT 2 / R + 1) + T 2 (Ta -1)2

                 
         

    O54 = 2T 2 (2 – T b ) + T 2 (2 gT 2 / R + 1) + T 2 (T b -1)2

                   

    Phương sai tạp đo dẫn xuất được tính:

    R

    *i

    é  2

    2

    2 ù

    ; với a

    i1

    , a

    i2

    ,…..,a

    là hàng

             

    = ë a i1

    + a i2

    + ….. + ai5 û.R0

           

    i5

     

    thứ i của ma trận O-1.

    Tiến hành mô phỏng bán tự nhiên ước lượng dự đoán sai số đối với các mô hình thực tế đánh giá trạng thái trong bộ đo cao liên kết QT-VT, so sánh giá trị ước lượng các véc tơ trạng thái khi sử dụng bộ lọc Kalman thích nghi và ước lượng dự đoán bằng thuật toán TTC với các tham số α = 1,3s-1 ; β = 1s-1; T = 0.1s; σ∆az2 = 10-6(m2/s4); τg = 200(s); σ∆g2 =

    10-8(m2/s4) ; σCM2 = 1000(m2/s4), tCM  = (1 ¸ 30) s

    , g = 9.8m/s2, ma trận cường độ tạp tạo

                   

    é 2asd2az

     

    2b g sd2g

     

    2bsCM2

    ù

       
                         

    thành  nhận

    được

    Q ( k ) = diag

    ê

     

    T

    ,

    T

    ,

    T

    ú ;

    Điều  kiện  khởi  tạo:

    x(0 / 0) = [0] ;

                   

    ë

             

    û

       

    P ( 0 / 0 ) = diag

    é  2

    0

    2

    2

     

    2

    ù  cho ta kết quả như hình 5; hình 6. Kết quả so sánh

    ës CM

     

    s d z

    s d g

    sCM û

                 

    trên bảng 1 và bảng 2:

    Hình 5. Sai số ước lượng độ cao khi xử lý kết hợp tín hiệu đo cao,

    khi xử lý kết hợp sử dụng bộ lọc Kalman và khi sử dụng thuật toán TTC.

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    387

    Đo lường – Tin học

    Hình 6. Sai số ước lượng vận tốc khi xử lý kết hợp tín hiệu đo cao,

    khi xử lý kết hợp sử dụng bộ lọc Kalman và khi sử dụng thuật toán TTC.

    Trong hình 5, hình 6: 1 – Giá trị thực tế sai số; 2 – Giá trị sai số đánh giá bởi bộ lọc Kalman; 3 – Giá trị sai số bằng thuật toán tự tổ chức.

    Bảng 1. So sánh sai số độ cao sau khi hiệu chỉnh trong trường hợp sử dụng bộ lọc Kalman và trường hợp sử dụng thuật toán TTC.

    Thời gian

    Sai số trung bình

     

    Phương sai

     

    Độ lệch quân phương

           

    Kalman

     

    TTC

     

    Kalman

     

    TTC

     

    Kalman

     

    TTC

    t = (600

    1000)s

     

    0,0244

     

    0,0896

     

    3,2446.10-4

     

    0,0045

     

    0,018

     

    0,0670

    t =

    (1000

     

    0,3997

    0,0892

    0,6391

    0,0297

    0,7994

    0,1723

     

    ÷

     

    ÷1200)s

                           

    Bảng 2. So sánh sai số vận tốc sau khi hiệu chỉnh trong trường hợp sử dụng bộ lọc Kalman và trường hợp sử dụng thuật toán TTC.

    Thời gian

    Sai số trung bình

     

    Phương sai

     

    Độ lệch quân phương

           

    Kalman

     

    TTC

     

    Kalman

     

    TTC

     

    Kalman

     

    TTC

    t = (600

    1000)s

     

    1,2749

     

    4,1353

     

    0,9332

     

    10,5086

     

    0,966

     

    3,2417

    t =

    (1000

     

    22,8179

    4,5595

    2,083.103

    83,1556

    45,6358

    9,119

     

    ÷

     

    ÷1200)s

                           

    Kết quả mô phỏng cho ta thấy độ chính xác đo cao được cải thiện rõ rệt trong xử lý liên kết tín hiệu khi ứng dụng thuật toán TTC. Đánh giá cấp độ quan sát cho phép xác định thành phần nào của vecto trạng thái vượt giá trị ngưỡng được sử dụng trong mô hình các thành phần có cấp độ quan sát nhỏ hơn được dự đoán bởi thuật toán TTC, điều này cho ta quan sát sát tốt mọi biến biến trạng thái để hiệu chỉnh các tham số đo cao trên toàn quỹ đạo bay.

    Như đã biết, trong [2] [3] [4] độ chính xác luôn được nâng cao trong xử lý liên kết tín hiệu, qua khảo sát độ chính xác này phụ thuộc chủ yếu vào khoảng tương quan tCM [7].

    Tuy nhiên, trong điều kiện quỹ đạo bay, bề mặt phản xạ biến động lớn, độ liệng và tà thay đổi hoặc tín hiệu phản xạ bị ảnh hưởng trực tiếp của sóng điện từ khi này tCM có giá trị

    lớn, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến phương sai nhiễu đo trong xử lý tín hiệu làm cho mức độ quan sát được của biến trạng thái giảm đi đáng kể. Cụ thể, khi mô phỏng kiểm tra đánh giá mức độ quan sát được đối với sai số vận tốc theo (7) tại thời điểm t > 1000s khi

    • CM = (22 ¸ 30)s cũng cho ta giá trị nhỏ hơn là (0.0096 ÷ 0172) so với giai đoạn t < 1000s thì mức độ quan sát được lớn hơn (0.027 ÷ 0.18) khitCM = (5 ¸ 20)s .
    • Đ. Thỏa, …, T. N. Hưởng, “Ứng dụng thuật toán tự tổ chức … bộ đo cao liên kết.”

    Nghiên cứu khoa học công nghệ

    Kết quả mô phỏng thể hiện rất đúng với lý thuyết, tại tCM = 8s trong khoản t < 1000s

    thì độ chính xác đánh giá độ cao sử dụng bộ lọc Kalman trong bộ đo cao QT-VT cho ta ước lượng với độ chính xác hơn hẳn so với thuật toán xây dựng mô hình nhờ thuật toán TTC (cụ thể là sai số quân phương đối với độ cao và vận tốc thì giá trị tương ứng với xử lý liên kết khi sử dụng Kalman là 0.018m và 0.966m/s, bộ đo cao liên kết có hỗ trợ của thuật toán TCC là 0.67m và 3.2417m/s). Tuy nhiên, tại thời điểm t > 1000s khi tCM = 28s thì kết

    quả ước lượng sử dụng bộ lọc Kalman không đảm bảo độ chính xác, còn khi xử lý kết hợp có hỗ trợ của thuật toán TTC có cải thiện đáng kể khi ước lượng sai số độ cao (theo đồ thị giá trị là 0.1723 m đối với độ cao và 9.119 m/s đối với vận tốc).

    4. KẾT LUẬN

    Trên cơ sở các nghiên cứu trước đó về nâng cao độ chính xác trong xử lý kết hợp tín hiệu đo cao, bài báo nghiên cứu xây dựng mô hình toán học tín hiệu đầu vào của các bộ đo cao (ĐCQT, ĐCVT), tiến hành xây dựng thuật toán xử lý thông tin trong bộ đo cao phức hợp vô tuyến – quán tính sử dụng bộ lọc Kalman thích nghi. Đề xuất xây dựng thuật toán TTC vào xây dựng mô hình dự đoán đánh giá sai số các biến trạng thái cho bộ đo cao liên kết, để nâng cao chất lượng xử lý tín hiệu đo cao trên toàn dải bay của TBB. Để minh chứng cho thuật toán trên, lấy mô hình bộ đo cao liên kết quan tính vô tuyến (QT –VT), trong đó bộ đo cao quán tính (ĐCQT) làm bộ đo cơ sở, tiến hành xây dựng các thuật toán mới đánh giá lựa chọn tham số độ cao, xây dựng mô hình ưu việt hơn nhằm hiệu chỉnh các tham số cho ổn định kênh cao HDĐQT. Ứng dụng phần mềm matlab để mô phỏng đánh giá tính chính xác của bộ đo cao liên kết khi sử dụng thuật toán TTC trong điều kiện thông tin tiên nghiệm không đầy đủ, việc ứng dụng bộ lọc Kalman để quan sát ước lượng không cho ta kết quả chính xác. Kết quả mô phỏng trên bộ đo cao liên kết QT-VTcho thấy tính đúng đắn của thuật toán đề ra. Tiếp theo, chúng tôi sử dụng phương pháp TTC để giải quyết bài toán đo cao với các bộ đo cao kết hợp khác nhau.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Nguyễn Đức Cương, Trần Đức Thuận(2013), Thiết bị bay có điều khiển và Tên lửa hành trình đối hải, Sách giáo trình chuyên khảo.
    • Phạm Đức Thỏa, Nguyễn Quang Vịnh, Nguyễn Xuân Căn,“Xây dựng thuật toán xử lý thông tin trong bộ đo cao phức hợp cho điều khiển thiết bị bay”, Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số đặc san Tên lửa (09/2016)
    • Nguyễn Văn Chung (2014), “Nghiên cứu hạn chế ảnh hưởng của sóng và gió biển đến kênh điều khiển độ cao của tên lửa đối hải khi bay ở độ cao thấp trên mặt biển”, Luận án Tiến sĩ kỹ thuật.
    • Phạm Tuấn Hải (2004), “Nâng cao chất lượng hệ dẫn đường thiết bị bay trên cơ sở áp dụng phương pháp xử lý thông tin kết hợp”, Luận án Tiến sĩ kỹ thuật.
    • Hajiyev Ch. Adaptive (2006),“ Filtration algorithm with the filter gain correction applied to integrated INS/radar altimeter” , In Proceedings of the 5th International Conference on Advanced Engineering Design, Prague, Czech Republic,
    • Yantai (2015), “INS/Baro integration for INS vertical channel based on adaptive filter algorithm”, 2014 IEEE
    • А.П Жуковкий, В.В Расторгуев (1998), “Комплекслые радиосистемы навигации и управления cамолетов”, Москва.
    • Неусыпин К.А., Шэнь Кай (2017), “Разработка высокоточных aлгоритмов коррекции навигационных cистем летательных аппаратов”, Н.Э.Баумана,

    Москва.

    • Неусыпин К.А., Селезнева Мария Сергеевна (2016), “Разработка алгоритмов

    Tạp chí Nghiên cứu KH&CN quân sự, Số Đặc san FEE, 08 – 2018

    389

    Đo lường – Tin học

    комплексирования навигационных систем летательных аппаратов”, Н.Э.Баумана, Москва.

    ABSTRACT

    APPLICATION OF THE SELF-ORGANNIZED ALGORITHM

    FOR IMPROVING THE SIGNAL PROCESSING QUALITY

    OF THE LINKED HIGH MEASUARING SYSTEM

    In some cases linked high measuring systems using the Kalman filter give us good results with a high precision and reliability. However, when the flying conditions are unstable, the flying time is long, the Kalman filter does not always maintain the effectiveness. In some period predicted information of the last measurements in the previous working period is not enough, the algorithm of the error approximation of the status parameters does not reach the desired accuracy, and then the filtering algorithm does not converge. In order to solve the problem mentioned above to ensure the precision of the high measuring system we constructed and demonstrated a concrete case using the self-organized algorithm. The simulation results show the correctness of the proposed algorithm.

    Keywords: The linked high measuring systems; Self-organization; Inertia.

    Nhận bài ngày 01 tháng 7 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 10 tháng 9 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 9 năm 2018

    Địa chỉ:     1 Viện Tên lửa – Viện KHCN quân sự;

    • Học viện KTQS;

     

    • Đ. Thỏa, …, T. N. Hưởng, “Ứng dụng thuật toán tự tổ chức … bộ đo cao liên kết.”

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: PHƯƠNG THỨC LỰA CHỌN TỪ NHÂN VIÊN BÁN HÀNG ĐẾN GIÁM ĐỐC BÁN HÀNG KHU VỰC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-m%E1%BA%A1ch-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-m%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-%C4%91%C3%A1p-%E1%BB%A9ng-c%E1%BB%A7a-t%E1%BA%BF-b%C3%A0o-th%E1%BA%A7n-kinh-v%E1%BB%9Bi-k%C3%ADch-th%C3%ADch-xung-%C4%91i%E1%BB%87n-m%E1%BB%99t-chi%E1%BB%81u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Xây dựng mạch điện tử mô phỏng đáp ứng của tế bào thần kinh với kích thích xung điện một chiều

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    XÂY DỰNG MẠCH ĐIỆN TỬ MÔ PHỎNG ĐÁP ỨNG CỦA TẾ BÀO ThẦN KINH VỚI KÍCH THÍCH XUNG ĐIỆN MỘT CHIỀU

    Tạ Q uốc Giáp1*, Nguyễn Lê Chiến1, Lê Kỳ Biên2

    Tóm tắt: N ghiên cứu xây dựng mô hình mạch điện tử của tế bàoo thần kinnh, mô phỏng hoạt độộng điệện của tế bàoo thần kinnh thônng qua việệc thayy đổi các thaam số đầu vàào về cường độ và tần số xuung kícch thích. Qua đó, kiểmm chứnng giá trị điệện áp đầu ra của mô hìnnh mô phỏng so vớới cách đáp ứng thhực tế của tếế bào thần kinh. Việc khảo sátt sự thay đổi cường độ và tần số kích thích xung điện một chiều và đánh giá định lượng tại giá trị nào của tham số kích thíchh chho ra điệnn thế đáp ứng là lớn nhất nhất thông qua mô hình mạch điện tử của tế bào đã xâyy dựng. Kết quả củủa nghiên cứu này góóp phần hiểu biết sâu hơn về cơ chế hoạt độngg điện của mànng tế bào thôngg quua hoạt động củủa các kênnh ion trên màng như Na+, K+ và các ion khác.

    Từ khóa: Mô hình mạch điện tử; Tế bào thần kinh; Kích thích xung điện mộtt chiiều; Điện thế hoạt động.

    1. MỞ ĐẦUU

    Não người có 1010-1011 tế bào thần kinh (còn gọi là các nơroon) liên kết chặặt chẽ vớii nhhau qua mạng lưới sợi trụục và đuôi gaai. Bản thân các nơron lại được đệm đỡ và bổ trợ bởii các tế bào thần kinh đệm. Một nơron có thể nhận tín hiệu từ 103-105 các nơrron khác [[10]].

    Kích thích dòng điện m ột chiều có vai trò quuan trọng trong y sinhh, như ứng dụng trong khử rung tim, trong phụục hồi chức năng và giảmm đau trong vật lý trị liệu… Đặặc biệt, trong ngghiêên cứu hành vi độnng vật mà đáng quan tâm hơơn cả là kích thíích điện nội sọ do những ứnng dụng mà nó có thể mang lại.

    Kích thích lên tế bào sống với một xung điện đủ lớn sẽẽ gây ra đáp ứnng làm thay đổii điện thế màng. Khi tham số kích thích tới một ngưỡng nhất định sẽ làm phát sinh điiện thế hoạt độnng của tế bào. Sau đáp ứng này, điện thhế mànng sẽ dần trởở về giiá trị điện thế nghỉỉ ban đầu của nó. Nếu xuung kícch thích không đủ lớn thì tế bào sẽ khônng được kích hooạt. Sự đáp ứng củủa mànng cho loại kích thích này maang tínnh bị động. Nếu xung kích thích đủ mạnhh, điện thếế màngg đạt tới ngưỡng và m àng tạo ra một xung điện đặc trưng là xung thần kinh (hình 1).

    Hìnhh 1. Thhay đổi điện thế màng tế bàoo (BB) dưới tác dụngg cáác loại xung kích thích (CC) gây ứcc chhế (1) và gây hưưng phấn (2, 3, 4). Xung (2) chưa đạt ngưỡng kích thhích nên chỉ gây ra được một đáp ứnng bị động. Xung (3) chạm ngưỡng kích thích có thể gây ra được điệện thế đápp ứng (3b). Xung (4) vượt quá ngưỡng, điệnn thế đáp ứng luuôn xuất hiện.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3911

    Đo lường – Tin học

    Điện thế màng của một tế bàoo đưược định nghhĩa là chênh lệch điiện thế giữa mặt trong và mặt ngoài mànng mà nguyêên do là do sự chênh lệch giữa các ion hai bên màng tế bào. Trị số điện thế màng troong trạng tháái yên nghỉ (còn gọi là trạng thái phân cực – polarizzation) Ek do ioon K+ quyyết địnnh được tính theo phươnng trình Nernst và thường daoo động trong khhoảng -70 mV đến -90 mV [[111]].

    .          (        )

    =       . lnn (            )

    Khi tế bào hưng phấn, điệện thế màng bị thay đổi do thaay đổi tính thấmm của màng vớii ion N a+. Kêênh Naa+ được mở ra, các ion N a+ ở mặt ngoài mààng ùa vào trrong tế bào làm táii phhân bố các ioon hai bên m àng: số lượng các ion mang điện tícch dương ở mặt trong màng nhhiều hơn so với ở mặt ngoài mààng. Lúc nàyy, màng bị đổi cực từ trạng thái phhân cực sang trạng tháái khử cực và xuất hiện điện thế hưng phhấn hay điện thếế hooạt độnng. Điện thế nàyy sẽ theo sợi trụục lan truyền tới các tế bào khác. Trị số điện thế hoạt động có thểể đạt tới 120 mV nhưng vì ở xuất phát điể m điện thế m àng đã có trị số là -90 m V nên điện thế trên thực tế đạt khhoảng +300mV.

    ạ  độ

     =

    .

    ln

    (

    )

     
     

    .

    (

    )

     

    Saau khi hưng phấn, màng tế bào dần trở về trrạng thhái ban đầầu, nghhĩa là diễn ra quá trình tái cực mànng nhờ hooạt động của bơm Na+/K + trrên mààng tế bào, làm tái lập trrạng thhái cân bằng điệện tích hai bên mànng tế bào như trước lúúc hưng phấnn [[2]]. Giai đoạn này được gọii là giai đoạn táii cựực (deppolaarization).

    Hìnnh 2. Đáp ứnng của màng tế bào đối với các kích thích có cường độ thay đổi (B) theo đưườnng cong cườnng độ thời giann. Mức cường độ kích thích nhỏ nhất gây ra được đááp ứng được gọi là ngưỡng cơ sở (Rheobaase). Thời gian cực tiểu cần thiết cho 1 xung kíích thích có cường độ gấp đôi ngưỡng cơ sở để khởi động quá trình khử cực gọii là thời trị (Chroonaxy).

    Nhữnng hiểuu biiết về phảản ứng điệện của các tế bào có thể kích thhíchh được và các phương phháp mô tả gắn với các khái niệmm về m ạch điện tử và với các công thức biểu diễn các phản ứnng của chúng. Từ các luận điểm nàyy, chúnng ta có thể tiến hànhh các phưương pháp nhận biết các mạch điện tử tương đương về mặtt vậật lý chho các tế bào có khả năngg kích thích.

    3992        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    Hìnnh 3. Mô hình điện tế bào thần kinnh của Hoodgkin và Huuxleey

    và lý thuyết điện thế hoạt động.

    Đã có nhiều nghiên cứuu, đề xuất mô hình hóa m àng tế bào tương tự như một mạcch điện tử như mô hình điện tế bào của Hodgkkin và Huxley [[5]]. Đây cũng là mô hình cơ bản để các nghiên cứu kế tiếp phát triểnn và đề xuất các mô hìnhh điiện nơron: m ô hình điện nơron của Lewis [[8]]], mô hình điệnn nơron của Harmon [[4]]], mô hìnnh điệnn nơron của Roy [[6]] và mô hìnhh điện nơronn của Maedaa và Makkino [[7]]. Tronng đó, mô hình của Maeda và Makino mang nhiiều ưu điểm do mô phhỏng đượcc điện thế mạng neuroon theo thời gian thhực,, dễ dàng thaay đổi các tham số của mạch điiện và có thể xây dựng được mô hìnhh toán học từ mạch này. Xuất phát từừ nhữnng vấn đề trên, nghiên cứu được tiến hành với mục đích xây dựng mạch điện mô phỏngg hoạt động điệện của màng tế bào thần kinh ứng với kíchh thhích xung điện một chiều, từ đóó giải thícch các cơ chế tạạo ra điện thế hoạt động của tế bào thần kinh và đáp ứnng kíchh thích của tếế bào thầnn kinh với xuung điện mộtt chhiều. Là cơ sở để đánh giá đáp ứng hành vi trêên động vật thực nghiệm đốối với tín hiệu kích thích xuung điệện mộtt chiều đã được mô phhỏng.

    2. M Ô PH ỎNG CÁC T HAM SỐ KÍÍC H THÍÍCHH TRÊN

    MÔ HÌÌN H MAEDA VÀ MAKKIN O BẰ N G PHẦẦN MỀM NI MULTISIM

    Maedda và Makino chỉ ra phươngg thức mô hình hóa m ột nơrron sử dụng 3 bóng bán dẫn cho một tế bàoo thần kinh FitzHughNagumo (FHN) [[3]] (được đơn giản hóa từ công thức Hodggkin-Huxley). FitzHughNagumo đề xuất thay thế dòngg Na+ nhanh của mô hình Hodggkin-Huxley với quá trìnnh khử cựực nhanh, khhử cựcc, kích hooạt và thaay thế quá trình khử hoạt động Na+ chậm và làm chậm, táái phân cựực, K+ bằng một quá trình khử hoạt tính chậm đơn thuần. Bằng cácch thêm một quuá trình táái phân cực hơnn, được mô hình hoá bởii hai bóng báán dẫn,, chúng có thhể tạo ra một nơron điện với đáp ứng “bùng nổ”.

    Trrong mạch điện trên hình 4 gồm 2 thànnh phần dao động cơ bản, kênh Na+ được mô hình hóaa bởi 02 transitoor (Q1 – trannsitor ngược, Q2 – traansiitor thuận) mắc kiểểu Dalington có nhhiệmm vụ khuếch đại tín hiệu kênh Na+ được nối với nguồnn DC 5V; kênh K+ được mô hình hóa bởi transitor ngược Q3 xác định ngưỡnng tín hiệệu kích thích và được nối vớii ngguồn DC 0,04V. Khi có tín hiệệu kích thhíchh là xuung điện 1 chiều có cường độ và tần số xác định thì cáác trransitoor được mở hoặc đóng nhhanh hay chậm tương ứng với các kênh Na+ và K+ được mở và đóng nhannh hoc chậm. Điệện áp đầu ra được biểu diễn trên độ lớn và dạng tín hiệệu.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3933

    Đo lường – Tin học

    Hìnhh 4. Mô hình điện tế bào thần kinh củủa Maeeda và Makino được kích thích

    bằng xung điện 1 chiều.

    Trrong báo cáo này, nhóóm nghhiên cứu áp dụng lý thuyết, mô hìnnh Maeda và Makino do:

    • Mô hình mạch điện đơn giản nhưng có khả năng giải thích được hoạt độngg điiện thế màng tế bào;
    • Một số tham số của mạchh ngguyên lý được thay đổổi để phù hợp với nghiên cứu;
    • Các phhần tử transistor đóng vaai trò khóa đóngg mở kênh ioon Na+, K + và các ion khhác,, cũng như khuếch đạii tínn hiệu điện;
    • Sử dụnng chuỗi xunng với các thham số xáác địnhh kích thích vào mạchh nguyên lý và xác định đáp ứnng của mạch. Xung để m ở transistor có yêu cầu: sườn dốc thẳng đứng đảm bảo yêu cầu transistorr mở tức thì khi cóó xung điều khiiển (thường gặp là xung ki m hoặc xung vuuông); đủ độ rộnng (độ rộnng xung lớn hơnn thời gian m ở của transistor); đủ cônng suất. Song troong kích thích điện vào mô sinh học nói chungg, tế bào thầnn kiinh nói riêng cần giữ cho độ rộng xung khôông được quá lớớn để giả m thiểu bất kỳ phản ứng điệện hóa nào xảy ra trên bề mặt điện cựực.

    KẾT QUUẢ MÔ PH ỎNG VÀ T HẢO LUẬN

    Mô phỏng các tham số kích thích bằng phần mềm NI Muultissim.

    Với mô hìnnh điệnn tế bào thần kinh được mô tả thể hiện trênn hình 4, các tác giiả đã kích thíích bằng chuỗi xuung kích thícch kéo dài 0,5s gồm các xungg kích thíích vuông cathode 0,3ms (hìnhh 5), có tần số và cườnng độ có thể tùy biến.

    Hình 5. Dạng xung kích thhíchh 1 chiều với tham số xác định.

    Qua các bááo cáo đã được công bố trước đây [1,12] cho thấy đáp ứnng xunng kíchh thhích của tế bào thầnn kinh trên chuột nhắt có cường độ trong khoảng 10 – 120μA (đááp ứng tối ưu

    3994        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    khhoảng 1000 μA), tần số trrong khoảảng 10 – 120Hz (đđáp ứnng tối ưu khoảnng 100Hz). Đáp ứnng của mạạch điện được khảo sát trongg cáác điều kiện cố định tầần số xung kích thích ở mức 800Hz hoặc cường độộ xuung kích thícch được cố định ở mứức 70 μA. Các điềuu kiện này được đặt tương ứng với bááo cáo của N guyễn Lê Chiến và cs. [10] troong một khảo sát tươnng ứng trêên chuột nhắt.

    Chùmm xung điện ápp khi đáp ứng với xungg kích thích có cưườnng độ và tầnn số vượtt nggưỡng kích thích (ở tần số 80Hz và cườnng độ 70μA) được thể hiệện trên hình 6.

    Hình 6. Dạng điệện áp đáp ứnng của mô hình khi kícch thích vượt ngưỡng.

    3.1. Đáp ứng khi cố định tầnn số tại 80Hz, biến đổổi cường độ dòng điện

    Kết quả thểể hiện trên hình 7 biểu thị thay đổổi của xung điện áp đáp ứng với kích thhích bằng xung điện 1 chiều khi giữ nguyên tần số tạại 80Hz, thay đổổi cường độ với bước 10μA. Qua kết quả này cho thấy điện áp đápp ứng tăng lên tươơng ứnng với cườngg độ kích thíích. Tuuy nhiên, sự biến thiên này là không tuyến tính với khoảng “bùng nổ” điện áp đáp ứngg từ giá trị cường độ vào khoảnng 5-100μAA.

    Hình 7. Sự thay đổi điiện áp theeo cường độ kích thích tại tầần số 80H z.

    Kết quả thể hiiện trên hình 8 cho thấy đáp ứng điệện áp trên cùùng một đơn vị thờời gian biểu diễn mối quan hệ của cường độ kích thíích tươơng ứnng 10 μA so vớii 200μAA (hìnhh 8.A);; 100μA với 100μA hình 8.B); 110μA với 100μA (hình 8.C) và 100μA với 90μA hìnhh 8.D). Qua kết quả khảo sát chho thấy cườnng độ xung điện trong khhoảng 100μA chho đáp ứng điện áp ra bùng nổ nhất biểu thị bằng số lượng xuung ở hình 8C và điệnn ápp ghhi đo được tạại hình

    1. Đối với cường độ lớn hơn 1000μAA thì số xungg nhhỏ hơn (hình 8CC) và điện ápp đááp ứng lạii bùùng nổ không kiểm sooát, giải thích nguy cơ đánhh thủng các kênnh dẫn điện trong tế bào. Bêên cạnh đó, kết quả thhể hiện trên hình 7 và hìnnh 8 còòn cho thấy các đáp ứng điệện áp biến đổi chậmm khi thay đổổi cường độ kích thhích và đááp ứng lớn nhất ở khoảng cường độ 100μA.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3955

    Đo lường – Tin học

    Hình 8. Kích thích bằng xuung điệện 1chiiều ở tần số tại 80Hz, cườngg độ thhay đổi.

    3.2. Đáp ứng khi cố định cườngg độ, thay đổi tần số dòng điện

    Hình 9. Thay đổi điện áp thheo tần số kích thícch, giữ cường độ 80μAA.

    Kết quả trên hìnhh 9 cho thấy khi thhay đổi giá trị tần số từ 0 – 110Hz, điệnn ápp đááp ứng có xuu hướnng tăng nhannh và đạt giá trrị cực đại tại khoảảng tần số 100Hz và thể hiện xu hướng giảm ở tần số lớn hơn.

    3996        T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điệện tử … xung điện một chiều.”

     

    Nghiêên cứu khoa học công nghệ

    Hình 10. Kíích thích bằnng xung điện 1 chiềều cường độ tại 80μA, thay đổi tần số.

    Kết quả thểể hiện trên hình 10 chho thấy đááp ứng điện áp trênn cùng một đơn vị thờời gian biểu diễn mối quan hệ củaa tần số kích thích tương ứng 0Hz khônng có đáp ứnng xung điện áp so với 10Hz có đáp ứngg chhậm , không có đáp ứnng xung trrong khoảng thời giann từ 0 đến 0,5s (hìnnh 10.A); tại 20Hz đáp ứng xung chậậm hơn nhiều và số xungg ít hơn so với 1000Hz (hình 10.B)); tại 90H z đáp ứnng xung chậm hơn và trong cùùng khhoảng thời gian từ 0 đến 0,5s số lượng xunng ít hơn so với 100Hz (hình 10.C) và 100 Hz số xunng “bùng nổ”” nhhiềuu so với 110Hz (hình 10.D). Điện áp ra bùng nổ nhất và đáp ứnng nhanh nhất ở khoảng tần số 1000Hz biểu thị bằng số lượng xung đááp ứng lớn nhất troong cùng đơn vị thhời gian và điện áp hiển thị trên thiết bị ghhi đo điện thế là lớn nhất. Với các tầần số nhỏ hơn hoặc lớớn hơn 1000Hz thì đáp ứng điện thế hoạt động chậậm hơn (hhay độ trễ đááp ứng với các tần số đó lớn hơơn), điện áp trunng bìnhh hiển thị trên thhiết bị đo điện thế là nhỏ hơn.

    1. KẾT LUẬ N

    Trrong bài báo này, chúng tôi quaan tâm đến khảoo sáát các tham số cường độ dònng điện và tần sốố kíích thích của xuung điệện một chiều phhù hợp và ở giá trị nào của cường độ và tần số của xung điện kích thích là tối ưu. Đó là cơơ sở đề xuất xây dựng mô hình và thuật toán kích thícch xung điện một chiều với cường độ và tầnn số tối ưu đối với tế bào thần kinh được thực nghhiệ m trên động vật tương ứnng với giá trị thaam số cường độ và tầnn sốố xuung điện mộtt chiều đã khảo sát trong mô phỏng sẽ được các tác giả sớm công bố trong cácc nghiên cứu tiếp theo.

    TÀI LIIỆUU THAAM KHẢO

    • Carlezzon Jr WA & Chartofff EH. “Intracraniial self-stimuulation (ICSS) in rodents to study the neurobioologgy of m otivation”. Nat. prot., 2 (111), 2987-2995. 2007.
    • Gulrajjani RM, Rooberge FA, Mathieu PA . “Thhe modellingg of a bursst-geneerating neuuron with a fieldd-efffect transsistor analog”, Biool C ybern. 255(4):2227- 40. 19977.

    Tạp chí Nghhiên cứu KH&&C N quân sự, Sốố Đặc san FEE, 08 – 2018

    3977

    Đo lường – Tin học

    • FitzHugh, R. “Impulses and physiological states in theoretical models of nerve membrane”. Biophys. J. 1, 445–466. 1961.
    • Harmon L. D., “Problems in neural modeling”. In: Neural theory and modeling, edit.

    by R.F. REISS. Stanford: Stanford University Press 1964.

    • Hodgkin AL, Huxley AF. “A quantitative description of membrane current and its application to conduction and excitation in nerve”. J Physiol 117: 500– 554.1952.
    • Roy, Guy, “A simple electronic analog of the squid axon membrane”, IEEE Trans Biomed Eng. 19(1):60-3; 1972 Jan.
    • Maeda, Y and Makino H, “A pulse-type hardware neuron model with beating, bursting excitation and plateau potential”, BioSystems 58 (2000) 93-100.
    • Lewis E.R. “An Electronic Model of Neuroelectric Point Processes”, 1968.
    • Wise RA. “Addictive drugs and brain stimulation reward”. Annu. Rev. Neurosci. 19: 319-40. 1996.
    • Nunez PL & Srinivasan R. “Electric fields of the brain: the neurophysics of EEG”. 2nd Oxford university press. The Oxford, USA. 1981.
    • Bộ môn Sinh lý học, Học viện Quân y. “Những khái niệm cơ bản trong Sinh lý học”.

    Trong: Giáo trình Sinh lý học, tập I (Tái bản lần thứ nhất). NXB QĐND, Hà Nội, 2007, trang 31-34.

    • Nguyễn Lê Chiến, Trần Hải Anh (2012) “Mô hình Gompertz’s và hành vi tự kích thích nội sọ”. Tạp chí Sinh lý học, 16(2).

    ABSTRACT

    BUILDING UP A CIRCUIT SIMULATION

    FOR NEURONAL RESPONSES TO DC PULSE

    To build up a circuit simulation for neuronal network, this study investigated responses of the circuit with changes in intensity and frequency of stimulation pulses. The circuit would have been accessed for the highest voltage responses as consequences of stimulation parameters changed. The results contributed to understanding of membrane electrical activities via membrane sodium and potassium channels.

    Keywords: Circuit simulation; Neuron; DC stimulation; Action potentials.

    Nhận bài ngày 01 tháng 7 năm 2018

    Hoàn thiện ngày 10 tháng 9 năm 2018

    Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 9 năm 2018

    Địa chỉ: 1Học viện Quân y;

    2Viện Điện tử – Viện Khoa học và Công nghệ quân sự.

    398           T. Q. Giáp, N. L. Chiến, L. K. Biên, “Xây dựng mạch điện tử … xung điện một chiều.”


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý

    Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý

    Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quy trình xin chứng nhận xuất xứ mẫu D để hưởng thuế quan ưu đãi theo Hiệp định ATIGA đối với mặt hàng giày dép sang Indonesia.


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-T%E1%BA%ADp-L%E1%BB%9Bn-K%E1%BB%B9-Thu%E1%BA%ADt-Vi-X%E1%BB%AD-L%C3%BD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài Tập Lớn Kỹ Thuật Vi Xử Lý

     

    BÀI 1:  Ứng dụng vi điều khiển thiết kế hệ thống đồng hồ bấm thời gian chỉ thị bằng LCD 2×16. Các giá trị cần chỉ thị là số giờ (2 chữ số2), số phút (2chữ số2), số giây (2 chữ số2), số phần trăm giây (2 chữ số 2).

    Phần một xây dựng mô hình phần cứng mô phỏng trên proteus 7.5

    Hình ảnh :

     

    Giải thích sơ đồ nguyên lý :

    • Dùng vi điều khiển họ AT89C51 đặc điển là bộ nhớ dạng flash có thể dễ dàng nạp và xóa bằng điện
    • Trên sơ đồ có một dao động thạch anh tần số 12 MHz có nhiệm vụ tạo dao động cho vi điều khiển vì trong vi điều khiển đã có sãn máy phát xung
    • Chân số 9 là chân reset được thiết lập lại khi ta ấn nút ấn
    • Chân EA phải được nối với + 5V đê sử dụng dữ liệu bên trong ROM AT89C51
    • Một LCD được nối với cổng P0
    • Các chân RS, WR , E được nối với cổng p3.5,p3.6,p3.7 ,để điều khiển LCD
    • Do cấu tạo của cổng p0 nên cần một điện trở kéo để cho P0 vừa là cổng đầu ra vừa là cổng đầu vào
    • Trên LCD còn một chân VEE là chân điều khiển độ tương phản do chương trình mô phỏng nên ko cần thiết có thể được thiết lập bằng cách nối với nguồn qua một chiết áp để điều chỉnh

    Phần 2 : Xây dựng Lưu Đồ Thuật Toán

    Từ lưu đồ thuật toán trên tôi xây dựng được chương trình như sau:

    #include <sfr51.inc>

        GIO DATA 30H

        PHUT DATA 31H

        GIAY DATA 32H

        PTGIAY DATA 33H

        org         0h

        ljmp MAIN

        org 400h

        db “DAO NGUYEN KHANH”,0

    KTRA: setb p0.7  ; chon p0.7 la dau vao

          clr p3.5 ; chon rs =0 va wr1 bang

          setb p3.6

     lp: clr p3.7   ; tao suong tu cao xuong thap de tao tin hieu chot

          setb p3.7 

        jb p0.7,lp

          ret

    GLENH:

           lcall KTRA

           mov P0,a  

           clr p3.5 ; chon RS-0 de gui lenh

           clr p3.6

           setb p3.7

           clr p3.7  ; tao tin hieu chot

           ret

    GDULIEU:

            lcall KTRA

            mov P0,a

            setb p3.5 ;chon rs gia tri 1de gui du lieu 

            clr p3.6

            setb p3.7

            clr p3.7

            ret

    THIETLAPMANHINH:

                    mov a,#38h ; tao 2 dong va ma tran 5×7  diem anh

                    acall GLENH

                    mov a,#0Ch  ; bat LCD

                    acall GLENH

                    mov a,#01h  ; dich con tro sang phai

                    acall GLENH

                    mov a,#06h

                    acall GLENH

                    MOV A,#82h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#85h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#88h

                    acall GLENH

                    MOV A,#’:’

                    ACALL GDULIEU

                    MOV A,#0C0h

                    acall GLENH

                    mov dptr,#400h

                 back:mov a,#00

                    movc a,@a+dptr

                    jz kt

                    acall GDULIEU

                    inc dptr

                    sjmp back

              kt:      ret

    DMA:

            MOV R5,#30H

            ORL A,R5

            RET

           MAIN :

           mov SP,#5fh ; dich vi tri con tro ngan sep tranh bi chong nen cac thanh ghi

           MOV TMOD,#01H

           LCALL THIETLAPMANHINH

    BATDAU:MOV GIO,#0

           MOV PHUT,#0

           MOV GIAY,#0

           MOV PTGIAY,#0

     LAP :

           MOV A,#80H

           ACALL GLENH

           MOV A,GIO

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#81H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#83H

           ACALL GLENH

           MOV A,PHUT

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#84H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#86H

           ACALL GLENH

           MOV A,GIAY

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#87H

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#89H

           ACALL GLENH

           MOV A,PTGIAY

           MOV B,#10

           DIV AB

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           MOV A,#8AH

           ACALL GLENH

           MOV A,B

           ACALL DMA

           ACALL GDULIEU

           LCALL TRE

           NOP

           NOP

           INC PTGIAY

           MOV A,PTGIAY

           CJNE A,#100,LAP1

           NOP

           NOP

           MOV PTGIAY,#0

           INC GIAY

           MOV A,GIAY

           CJNE A,#60,LAP1

           NOP

           MOV PTGIAY,#0

           MOV GIAY,#0

           INC PHUT

           MOV A,PHUT

           CJNE A,#60,LAP1

           MOV PTGIAY,#0

           MOV GIAY,#0

           MOV PHUT,#0

           INC GIO

           MOV A,GIO

           CJNE A,#24,LAP1

           LJMP BATDAU

            SJMP $

    LAP1:

            LJMP LAP

            RET

    TRE:

    PUSH ACC

    PUSH PSW

    MOV TH0,#-10000

    MOV TL0,#-10000

    SETB TR0

    JNB TF0,$

    CLR TR0

    CLR TF0

    POP PSW

    POP ACC

    RET

      end

     

     

     

        

     

    Chương trình này được viết trên read 51

    Và kết quả thu lại đạt như yêu cầu của đề bài ra

    BÀI 2 :

    ĐO nhiệt độ dùng LM 355 kĩ thuật quét led và sử dụng ic giải mã 7447 đông thời sử dụng các bộ đệm để lưu được sự hiện thị của đèn giảm tình trạng đèn nhấp nháy

    MÔ HÌNH

    Giải thích nguyên lý hoạt động

    Cảm biến nhiệt LM 35  được chọn vì độ chính xác là 1C dải làm việc từ -55C tới 150C  điện áp đầu ra là 10mV/F

    Ta chọn điện áp tham chiếu cho ADC 804 là 1.28 V

    Để ADC hoạt động ta cần phải nối chân CS xuống đất đông thời các chân WR , iINT được nối với vi điều khiền  đề điều khiển cho phép chuyển đổi

    IC 7447 có tác dụng đổi mã sang mã bảy đoạn  phục vụ hiện thị

    Ngoài ra các ic đệm có các chan EA được nối đất khí tin hiệu Cl điều khiển thì cho phép đổi trạng thái như vậy trành hiện tượng đèn rung khi quét

    CHương trình điều khiển

    #include <sfr51.inc>

        ORG 0H

        LJMP MAIN

    CHUYENMA:

    MOV B,#1000

    DIV AB

    MOV R6,A

    mov a,b

    mov b,#100

    div ab

    MOV R5,A

    mov a,b

    mov b,#10

    div ab

    MOV R4,A

    mov r3,b

    RET

    HIENTHI:

    MOV A,R6

    MOV P2,A

    CLR P2.4

    SETB P2.4

    MOV A,R5

    MOV P2,A

    CLR P2.5

    SETB P2.5

    MOV A,r4

    MOV P2,A

    CLR P2.6

    SETB P2.6

    MOV A,r3

    MOV P2,A

    CLR P2.7

    SETB P2.7

    RET

        MAIN:

        MOV SP,#5FH

        MOV P1,#0FFH

     LAP:

        CLR P3.6

        SETB P3.6   ; TAO SUON THAP LEN CAO WR

        JB P3.7,$

        CLR P3.5

        MOV A,p1

        LCALL CHUYENMA

        LCALL HIENTHI

        SETB P3.5

        sjmp LAP

        sjmp $

        END


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế phát triển Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển Kinh tế Trung Quốc

    Tiểu luận Kinh tế phát triển Kinh tế Trung Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ án kinh tế ngoại thương thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép các loại của việt nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-Kinh-t%E1%BA%BF-Trung-Qu%E1%BB%91c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh tế phát triển Kinh tế Trung Quốc

    LỜI MỞ ĐẦU

    Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ở Việt Nam) và kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc (ở Trung Quốc); thực hiện chính sách mở cửa với nhiều đặc điểm phát triển và vấn đề tương tự nhau; đang trong giai đoạn phát triển thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Với lợi thế là nước tiến hành cải cách sau, Việt Nam có cơ hội để học tập và tận dụng những bài học thành công cũng như không thành công của Trung Quốc, tránh những tác động tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình chuyển đổi.

    Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến bốn vấn đề chủ yếu:

    • Những nét cơ bản về Cộng hoà chủ nhân dân Trung Hoa;
    • Kinh tế Trung Quốc qua các giai đoạn phát triển;
    • Những thành tựu và hạn chế của kinh tế Trung Quốc sau 30 năm cải cách m ở cửa;
    • Những bài học từ cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đối với Việt Nam.

    Với những thông tin, đánh giá được trình bày trong bài viết, nhóm thảo luận chúng tôi hy vọng sẽ giúp cho các bạn sinh viên cũng như những người quan tâm khác hiểu biết đầy đủ hơn về những chính sách quan trọng tạo nên sự thành công của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc trong tương quan so sánh với Việt Nam. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho mỗi cá nhân để tiếp tục tham gia đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

    1

    CHƯƠNG I: MỘT VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA

    1.1. VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

    Trung Quốc nằm ở phía đông Châu Á, bờ tây Thái Bình Dương, có diện tích lãnh thổ rộng lớn với 9,6 triệu km2, là nước có diện tích lớn thứ ba trên thế giới, chỉ sau Nga và Canađa.

    Biên giới đất liền của Trung Quốc dài hơn 20000 km, phía đông giáp Triều Tiên, phía đông bắc giáp Nga, phía bắc giáp Mông Cổ, phía tây bắc giáp Nga, Kazacxtan, phía tây giáp Kyrgyzstan, Tajikistan, Afganistan, Pakistan, phía tây nam giáp Ấn Độ, Nepal, Butan, phía nam giáp Mianmar, Lào và Việt Nam. Đông và đông nam trông ra biển. Trung Quốc có đường bờ biển dài, bằng phẳng, có nhiều hải cảng đẹp, phần lớn quanh năm không đóng băng. Phía bên kia bờ biển là các nước láng giềng: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia và Inđônêxia.

    1.2. VỀ DÂN SỐ:

    Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, hiện có tổng số dân 1,28453 tỷ người (tính đến 12/2002, không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan). Trong đó số dân ở thành thị là 502,12 triệu, số dân nông thôn là 782,41 triệu.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước, dân tộc Choang có hơn 15 triệu người, tiếp sau là Mãn, Hồi, Duy Ngô Nhĩ, Di, Thổ Gia, Mông Cổ, Tạng, Bố Y, Dao, Triều Tiên, Bạch, Hà Nhì, Ca-dắc, Lê, và Thái, dân số đều lớn hơn một triệu. Những dân tộc ít người nhất chỉ có vài nghìn người như dân tộc Ngạc Luân Xuân và Ngạc Ôn Khắc.

    Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Người Hán phân bố ở khắp nơi trên đất nước, chủ yếu tập trung ở lưu vực 3 con sông lớn là Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang và đồng bằng Tùng Liêu, còn lại là phân tán ở các địa phương, sống chung với các dân tộc khác.

    Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu

    văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Hiến pháp Trung Quốc quy định: Tất cả các dân tộc nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều bình đẳng, tất cả các dân tộc đều là anh em thân mật trong một đại gia đình thống nhất.

    1.3. VỀ CHÍNH TRỊ:

    Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là một nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước.

    Cơ cấu Nhà nước bao gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện, Uỷ ban Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ quốc của ta), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các cấp ở địa phương, Toà án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.

    Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có hơn 60 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người. Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 đảng phái khác nhau đều thừa nhận sự lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ mà Trung Quốc gọi là “Hợp tác đa đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS”: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội kiến quốc dân chủ, Hội xúc tiến dân chủ, Đảng dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan.

    1.4. VỀ LỊCH SỬ:

    Triều đại đầu tiên tồn tại là nhà Thương, định cư dọc theo lưu vực sông Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu chiếm (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các lãnh chúa; cuối cùng, vào thời Xuân Thu, nhiều quốc gia độc lập đã trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và chỉ coi nước Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia Trung Quốc thống nhất về thể chế chính trị, chữ viết và có m ột ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Trước khi nhà Tần thống nhất vào năm 221 TCN, “Trung Quốc” chưa hề tồn tại như một thực thể gắn kết. Văn minh Trung Quốc hình thành từ

    nhiều văn minh các nước khác nhau, các nước này do các vương (王), công (公), hầu (侯),

    hay bá (伯) trị vì. Mặc dù vẫn có một ông vua nhà Chu nắm giữ quyền lực trung ương trên

    danh nghĩa, và chủ nghĩa bá quyền đôi lúc có ảnh hưởng nhất định, trên thực tế mỗi nước là một thực thể chính trị độc lập. Đây cũng là thời điểm mà triết lý Nho giáo cũng như tư tưởng của các triết gia khác có ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng chính trị – triết lí Trung Quốc.

    Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, khi đó người đứng đầu Trung Quốc được gọi là hoàng đế và một hệ thống hành chính trung ương tập quyền quan liêu được thiết lập. Sau khi nhà Tần sụp đổ, Trung Quốc lại có khoảng 13 triều đại khác nhau tiếp tục hệ thống các vương quốc, công quốc, hầu quốc, và bá quốc. Lãnh thổ Trung Quốc khi đó mở rộng hoặc thu hẹp theo sức mạnh của mỗi triều đại. Hoàng đế nắm quyền lực tối thượng, toàn năng và là người đứng đầu về chính trị và tôn giáo của Trung Quốc. Hoàng đế cũng thường tham khảo ý kiến các quan văn võ, đặc biệt là quan đại thần. Quyền lực chính trị đôi khi rơi vào tay các quan lại cao cấp, hoạn quan, hay họ hàng hoàng đế. Tuy nhiên, triều đại này không tồn tại lâu do nó quá độc đoán và tàn bạo.

    Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207 TCN thì đến thời nhà Hán kéo dài đến năm 220 CN. Sau đó lại đến thời kỳ phân tranh khi các lãnh tụ địa phương nổi lên, tự xưng Thiên tử và tuyên bố Thiên mệnh đã thay đổi. Vào năm 580, Trung Quốc tái thống nhất dưới thời nhà Tùy. Vào thời nhà Đường và nhà Tống, Trung Quốc đã đi vào thời hoàng kim của nó. Trong một thời gian dài, đặc biệt giữa thế kỷ thứ 7 và 14, Trung Quốc là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất trên thế giới về kỹ thuật, văn chương, và nghệ thuật. Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài tới năm 1644. Sau đó người Mãn Châu từ phía đông bắc kéo xuống lật đổ nhà Minh, lập ra nhà Thanh, kéo dài đến vị vua cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm 1911.

    Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ. Chẳng hạn như nhà Thanh (người Mãn Châu) sau khi chiếm được Trung Quốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người Mãn Châu bị hòa lẫn vào biển người Hán vì dân họ ít. Tuy thế, những biện pháp đó đã tỏ ra không hiệu quả và người Mãn Châu cuối cùng vẫn bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa.

    Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể về công nghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy nhiên lại tụt hậu hẳn so với châu Âu. Điều này đã hình thành cục diện của thế kỷ 19 trong đó Trung Quốc đứng ở thế phòng thủ

    4

    trước chủ nghĩa đế quốc châu Âu trong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước Trung Á. Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi nghĩa của những người theo đạo Hồi, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Sau đó, một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so với nội chiến Thái Bình Thiên Quốc đẫm máu. Cuộc khởi nghĩa này được gọi là khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Tuy đồng tình thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa, Thái hậu Từ Hi lại giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này.

    Năm 1911, sau hơn hai nghìn năm dưới quyền lãnh đạo của các hoàng đế, Trung Quốc lật đổ hệ thống chính trị triều đại và chuyển sang một nền cộng hoà. Nhà Thanh đã suy yếu, Trung Quốc vừa trải qua một thế kỷ bất ổn định, cả với những cuộc nổi dậy bên trong cùng với chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài. Các nguyên tắc Tân Khổng giáo, cho tới thời điểm đó, đã duy trì hệ thống triều đại bị nghi ngờ và sự biến mất của lòng tin cá nhân bị cho là nguyên nhân khiến tới 40 triệu người Trung Quốc sử dụng thuốc phiện năm 1900 (khoảng 10% dân số. Tới khi bị các lực lượng viễn chinh của các cường quốc trên thế giới thời ấy đánh bại

    trong cuộc đàn áp Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, nhà Thanh đã gần như chính thức chấm dứt, vì không có chế độ khác thay thế nên sự tồn tại của nó vẫn được tính kéo dài tới tận năm 1912 Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba

    thập kỷ sau đó

    là giai đoạn không thống nhất — thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh

    Trung-Nhật,

    Nội chiến Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và

    Đảng Cộng

    sản

    Trung Quốc nắm được đại lục Trung Quốc. ĐCSTrung Quốc lập ra một nhà

    nước cộng sản—nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) — tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc. Trong khi đó, chính quyền THDQ do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thì rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc mãi tới những năm 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang công nhận CHNDTH.

    1.5. VỀ VĂN HOÁ – XÃ HỘI:

    Người Trung Quốc vẫn luôn tự hào bởi họ có lịch sử và nền văn hoá lâu đời. Trung

    quốc là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, là đại diện cho một phần ý thức hệ của người phương Đông. Chúng ta có thể kể đến một số những nhà tư tưởng lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử…với những triết lý đạo đức và giáo lý căn bản đã ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức hệ của người Trung Quốc.

    Trong suốt chiều dài    lịch sử, qua mỗi chiều đại thì nền văn hoá Trung quốc lại phát

    triển thêm những nấc thang mới. Từ đời nhà Tần với bộ chữ viết đầu tiên, với công trình kiến

    5

    trúc nổi tiếng là Vạn Lý Trường Thành cho đến thời Đường, Minh với sự phát triển toàn diện trên cả lĩnh vực tư tưởng và văn hoá nghệ thuật. Và tiếp tục phát triển qua triều đại nhà Thanh cho đến ngày nay. Theo dòng xoáy của lịch sử dân tộc, các giá trị truyền thống, các loại hình văn hóa nghệ thuật…vẫn luôn được bảo tồn phát huy. Trong buổi khai mạc Olympic 2008, chúng ta đã thấy được toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nền văn hoá Trung Quốc và thấy rõ người tự hào về nó như thế nào.

    Trung Quốc là một nước đa dân tộc thống nhất, có 56 dân tộc. Trong đó người Hán nhiều nhất, chiếm khoảng 92% dân số cả nước. Sự phân bố của các dân tộc Trung Hoa có đặc điểm là vừa tập trung vừa phân tán, vừa có khuynh hướng sống pha tạp, vừa có khuynh hướng sống tụ họp thành nhóm nhỏ, đan xen phân bố. Các dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng đông bắc, tây bắc và khu vực biên giới phía tây nam, còn lại là phân bố rải rác ở khắp nơi trong cả nước. Người Hán và các dân tộc thiểu số vừa cư trú một cách tập trung vừa cư trú tương đối pha tạp, đã xúc tiến sự giao lưu văn hoá và học tập lẫn nhau giữa các dân tộc, hình thành nên một mối quan hệ tương hỗ mật thiết không thể tách rời.

    Trung Quốc là một nước đa tôn giáo, số người có tín ngưỡng lên tới hơn 100 triệu người. Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo và Cơ đốc giáo đều được truyền bá tại Trung Quốc. Ngoài ra còn một tôn giáo đặc thù Trung Quốc là Đạo giáo, và một số tôn giáo khác như Samman giáo, Đông chính giáo, Đông ba giáo…

    Phật giáo, Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Cơ đốc giáo, Đạo giáo đều thiết lập những đoàn thể mang tính toàn quốc hoặc địa phương. Các đoàn thể tôn giáo mang tính toàn quốc gồm Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc, Hiệp hội Hồi giáo Trung Quốc, Giáo đoàn Thiên chúa giáo Trung Quốc, Ủy ban vận động Ái quốc Tam tự Cơ đốc giáo Trung Quốc, Hiệp hội Cơ đốc giáo Trung Quốc… Các đoàn thể này tiến hành tuyển cử theo điều lệ riêng của mình để bầu ra cơ cấu lãnh đạo và người lãnh đạo, giải quyết các vấn đề liên quan đén tôn giáo của mình một cách tự chủ, độc lập, mở các trường đào tạo về tôn giáo, in ấn phát hành sách kinh, xuất bản báo chí tôn giáo, thực hiện các hạng mục công ích xã hội.

    6

    CHƯƠNG II: KINH TẾ TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

    2.1. GIAI ĐOẠN 1 (Từ khi thành lập nước năm 1949 đến trước cải cách – mở cửa năm

    1978)

    2.1.1. Về thể chế kinh tế:

    Kinh tế Trung Quốc thời kỳ này hoàn toàn theo chế độ công hữu đơn nhất tức là hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng. Chỉ hình thành một khu vực kinh tế là khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế cá thể và tư nhân không được khuyến khích phát triển, khu vực này vốn chỉ được coi là nguồn bổ sung cho kinh tế công hữu công hữu. Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần bị coi là sản phẩm của CNTB. Chính vì vậy, các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, kế hoạch m ang tính pháp lệnh, với sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như quyền tự mua bán sản phẩm. Thể chế kinh doanh ngoại thương theo kiểu tập trung cao độ, Nhà nước luôn đứng ra bù lỗ.

    2.1.2. Các chính sách phát triển:

    2.1.2.1. Thời kỳ khôi phục kinh tế (1949 – 1952)

    Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trước nhiều khó khăn, sản xuẩt công thương nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng. Do vậy, công cuộc khôi phục kinh tế đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế.

    Năm 1950, nông thôn Trung Quốc đã tiến hành cải cách ruộng đất và đến năm 1952 cải cách ruộng đất đã cơ bản hoàn thành. Kết quả 46 triệu ha ruộng đất được chia cho 36 triệu nông dân. Do vậy, quan hệ kinh tế – xã hội trong nông thôn đã có sự thay đổi, quan hệ sản xuất phong kiến đã bị thủ tiêu, sản xuất nhỏ trở thành cơ sở cho sự phát triển của nông nghiệp.

    Trung Quốc bước đầu xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp, năm 1951 có 300 hợp tác xã đến năm 1952 đã tăng lên 4000 hợp tác xã.

    Về công thương, bắt đầu tiến hành quốc hữu hoá các cơ sở công thương nghiệp của tư bản nước ngoài và tư sản mại bản. Trên cơ sở ấy, các cơ sở kinh tế quốc doanh đã hình thành và nhà nước nắm giữ mạch máu của nền kinh tế. Cuối năm 1952 kinh tế quốc doanh chiếm 50% giá trị sản lượng, 95% trong tổng số chu chuyển hàng hoá và vật tư.

    Sau 3 năm tiến hành khôi phục kinh tế Trung Quốc đã thu được những thắng lợi cơ bản. Năm 1952, tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp đạt 177.5% so với năm 1949. Tình

    hình tài chính, giá cả và tiền tệ cũng đi vào ổn định, đời sồng nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, sản phẩm tính bình quân đầu người còn thấp do vậy để từng bước xoá bỏ tình trạng thấp kém và lạc hậu của nền kinh tế Trung Quốc tiến hành triền khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957).

    2.1.2.2. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953- 1957)

    Năm 1952, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra đường lối chung cho thời kì qua độ: “Trong một thời kì dài, dần dần thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản theo hướng xã hội chủ nghĩa”

    Bước vào kế hoạch 5 năm, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trên quy mô lớn, từ thành thị tới nông thôn với tất cả các đối tượng như nông dân, thợ thủ công, tiểu thương và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Công cuộc cải tạo diễn ra với tốc độ nhanh và cơ bản hoàn thành vào nửa đầu năm 1956.

    Năm

    1952

    1957

    Thành phần kinh tế

    Kinh tế quốc doanh

    19%

    33%

    Kinh tế hợp tác xã

    1,5%

    56%

    Kinh tế công tư hợp doanh

    0,7%

    8%

    Kinh tế cá thể

    73%

    3%

    Kinh tế tư bản tư doanh

    7%

    0,1%

    Bảng 1: sự đóng góp của các thành phần kinh tế của Trung Quốc (1952-1957) (nguồn:

    www.chinaeconomy_info.com.cn)

    Về phát triển kinh tế, Trung Quốc chủ trương thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với phương trâm xây dựng và phát triển công nghiệp nặng làm trung tâm gồm ngành điện lực, gang thép, hoá chất… Tốc độ của sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 18%.

    Về sản xuất nông nghiệp, phong trào cải tiến kĩ thuật và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp đạt 4.5%. Do vậy, sản lượng lương thực năm 1957 đạt 185 triệu tấn.

    8

    Việc thực hiện đạt được những thành tựu: Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập phổ biến và được xác định đóng vai trò chủ đạo trong phát triển của nền kinh tế. Sản xuất công nông nghiệp đều có những tiến bộ đáng kể.

    Ngoài ra còn có những mặt hạn chế: Cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, lao động thủ công là phổ biến, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý vẫn bộc lộ nhiều yếu kém.

    2.1.2.3. Kinh tế từ năm 1958 đến năm 1978

    2.1.2.3.1. Thời kỳ “đại nhảy vọt” (1958 – 1965)

    Vào tháng 9/1956, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp và khẳng định lại đường lối xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đại hội còn đề ra những chỉ tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1958-1962) như tổng sản lượng sẽ tăng 75% so với năm 1957 trong đó công nghiệp tăng gấp 2 lần, nông nghiệp tăng 35%. Nhưng sau đó tình hình không diễn ra như vậy. Tư tưởng Mao Trạch Đông chi phối toàn bộ đường lối phát triển của Trung Quốc nên những mục tiêu của kế hoạch 5 năm đã được chỉnh sửa lại như nâng sản lượng công nghiệp lên 6.5 lần, sản lượng nông nghiệp lên 2.5 lần.

    Trung Quốc phát động phong trào 3 ngọn cờ hồng: “Đường lối chung, đại nhảy vọt và công xã nhân dân”

    Trong công nghiệp, Trung Quốc tập chung cao độ để phát triển công nghiệp nặng như luyện kim, chế tạo máy, hoá chất, điện lực… Bên cạnh đó còn phát động phong trào toàn dân làm công nghiệp, toàn dân làm gang thép. Sản xuất được nâng lên 80-100 triệu tấn. Do tập trung phát triển công nghiệp nặng, Trung Quốc đã rơi vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ.

    Về nông nghiệp, Trung Quốc đã xây dựng các công xã nhân dân, mỗi công xã có khoảng 5000 hộ nông dân. Cuối năm 1958, tất cả các nông dân đã được đưa vào các công xã. Trung Quốc tiến hành mở rộng tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xoá bỏ và thực hiện chính sách phân phối bình quân theo phương châm “cả nước ăn chung một nồi cơm to, cả nước cùng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, càng nghèo càng cách mạng”.

    Với tư tưởng phát triển kinh tế nhanh đã đưa Trung Quốc đến những hậu quả kinh tế nghiêm trọng: thu nhập quốc dân hàng năm giảm 3% trong đó sản lượng các mặt hàng công nghiệp đều giảm sút, sản lượng lương thực năm 1960 tụt xuống còn 160 triệu tấn và hàng năm Trung Quốc phải nhập khối lượng lương thực bằng 1/3 tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu. Chính vì vậy, gây ra đảo lộn trong đời sống kinh tế – xã hội.

    9

    Hội nghị Trung ương 9 (1/1961) của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đề ra những biện pháp điều chỉnh nhằm phục hồi nền kinh tế. Trong công nghiệp chủ trương giảm bớt các hạng mục xây dựng cơ bản, chuyển hướng chú trọng sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Nông thôn, các công xã nhân dân được củng cố lại, các chợ địa phương và kinh tế phụ gia đình đã được phục hồi. Những chính sách và biện pháp đã kịp thời giải quyết những khó khăn bất cập của nền kinh tế. Sản lượng nông nghiệp năm 1965 đạt 200 triệu tấn.

    2.1.2.3.2. Giai đoạn “Đại cách m ạng văn hoá vô sản” (1966-1976)

    Trong giai đoạn này,những chính sách kinh tế tả khuynh vẫn tiếp tục được áp dụng và gây ra những hậu quả tiêu cực cho sự phát triển của nền kinh tế.Trung Quốc lại tiếp tục đầu tư cho công nghiệp đặc biệt là công nghiệp quân sự.

    Trong nông nghiệp, các công xã nhân dân lại quay trở về với chính sách tăng cường xã hội hoá tư liệu sản xuất, sức lao động. Kinh tế phụ gia đình của nông dân lại bị xoá bỏ. Hoạt động tài chính nhà nước được tăng cường thông qua đẩy nhanh tích luỹ từ nông nghiệp nên đời sống của nông dân càng gặp nhiều khó khăn. Chính sách lao động mang tính cưỡng bức và phân phối bình quân ở các công xã khiến nông dân không còn hứng thú với sản xuất.

    Với chính sách kinh tế tả hữu trên đã khiến cho sức sản xuất bị giảm sút nghiêm trọng đồng thời còn gây nên những sáo trộn về kinh tế – xã hội và nền kinh tế lại rơi vào tình trạng khủng hoảng. Ba năm của thời kì “Đại cách mạng văn hoá” sản lượng của các loại sản phẩm công nghiệp đều giảm sút hoặc không tăng.

    Bảng 2: một số sản lượng công nghiệp chủ yếu.

    Đv: triệu tấn

    Chủng loại sp

    Năm 1966

    Năm 1967

    Năm 1968

    Phân bón

    9.6

    8.1

    9.5

    Thép

    13.0

    10.0

    14.0

    Xi măng

    17.0

    14.0

    17.0

    Lương thực

    212.0

    218.0

    212.0

    Nguồn: www.chinaeconomy_info.com .cn

     

    10

    Tiềm lực công nghiệp của Trung Quốc trong một số ngành so với một số nước trên thế giới rất thấp kém. Sản lượng điện bình quân đầu người Trung Quốc kém Mỹ 67 lần, kém Liên Xô 28 lần; về thép kém Nhật Bản 32 lần, Mỹ 19 lần…

    Sản xuất nông nghiệp ngày càng trì trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng yếu kém. Công nghiệp cũng giảm sút nhanh chóng, năm 1971 kim ngạch ngoại thương chỉ bằng năm 1959 là 4.4 tỷ USD.

    Những thảm hoạ kinh tế nói trên là hậu quả của những chính sách và biên pháp kinh tế coi thường các quy luật kinh tế khách quan. Một số chính sách đề ra chưa đúng hoàn cảnh, tình hình như chế độ phân phối bình quân trong điều kiện sản xuất xã hội còn thấp kém nên không kích thích lợi ích đối với người lao động. Chính xu hướng trên đã đẻ ra cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp gây trì trệ cho nền kinh tế. Kết quả cuối cùng là chính trị, xã hội rối loạn, lòng dân ly tán.

    2.1.2.3.3. Kinh tế giai đoạn “Bốn hiện đại hoá”(1976 – 1978)

    Năm 1976, Trung Quốc chủ trương thực hiện “Bốn hiện đại hoá”: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng. Mục tiêu của “Bốn hiện đại hoá” thể hiện những tham vọng rất lớn.Trong giai đoạn đầu, phải tiến tới đạt được sản lượng thép 60 triệu tấn, sản lượng lương thực 400 triệu tấn.

    Thực hiện chủ trương trên, Trung Quốc cố gắng tăng nhanh tích luỹ, đẩy mạnh nhập khẩu thiết bị và vay vốn nước ngoài. Tỷ lệ tích luỹ trong thu nhập quốc dân tăng lên tới 36.5%. Trung Quốc tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỷ nhân dân tệ bằng 1.5 lần năm 1977. Nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào công nghiệp hiện đại.

    Những diễn biến kinh tế từ 1976-1978 phản ánh sự nôn nóng, là quá trình tiếp nối chủ trương “Đại nhảy vọt”. Do vậy, dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng cho nền kinh tế, giai đoạn 1976 – 1978 Trung Quốc phải nhập một lượng lương thực và thực phẩm chiếm 20% tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu.

    Trong công nghiệp, việc tập trung đầu tư cho công nghiệp nặng đã gây ra mất cân đối nghiêm trọng với công nghiệp nhẹ. Năm 1978, vốn đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 55.7% trong khi đó công nghiệp nhẹ chỉ có 5.7%.

    Như vậy, chủ trương “Bốn hiện đại hoá” mà Trung Quốc đưa ra không phải là bài toán dễ dàng thực hiện. Trung Quốc đã nhận thức được chính sách nôn nóng không thể đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn.

    11

    2.2. GIAI ĐOẠN 2 (Thời kỳ cải cách – mở cửa từ năm 1978 đến nay)

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách mở cửa 30 năm qua của trung quốc đó là những thành tựu to lớn phi thường làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ. Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị kinh tế của trung quốc được nâng cao rõ rệt. Sau đây là một vài sự thay đổi:

    2.2.1. Sự thay đổi hệ thống kinh tế

    Trước cải cách Trung Quốc quan niệm phát triển kinh tế XHCN chỉ dựa trên 1 chế độ sở hữu: chế độ công hữu hoàn toàn. Cuộc cải cách 30 năm qua đã được thực hiện trên 1 quan niệm mới với sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Ngoài công hữu cần phải phát triển cả kinh tế cá thể, liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Sau cải cách năm 1978, Trung quốc hoàn thiện hệ thống kinh tế cơ bản của nền kinh tế với chế độ công hữu là chủ thể trong khi chấp nhận việc cùng tồn tại các hình thức sở hữu khác; về vai trò của các chế độ sở hữu liên quan đến các thành phần kinh tế được khẳng định:cải cách mở cửa của Trung Quốc đặt trên cơ sở phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó chế độ công hữu làm chủ thể và coi chế độ phi công hữu là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Thực tế 30 năm mở cửa, lực lượng kinh tế phi công hữu đã đóng góp rất tích cực vào thành tựu chung đối với phát triển kinh tế Trung Quốc:

    • Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; đẩy mạnh sự phối hợp phát triển giữa các khu vực khác nhau; thiết lập một hệ thống thị trường hiện đại có trật tự, mở cửa và thống nhất; hoàn thiện hệ thống tạo việc làm, phân phối thu nhập và an sinh xã hội;
    • Và thiết lập một cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội bền vững. Và cho kinh tế thị trường vừa phục vụ CNTB vừa phục vụ CNXH, đồng thời chế độ công hữu là chính nhưng các hình thức khác cùng tồn tại và phát triển, và cuối cùng là chế độ phân phối theo lao động là chính nhưng các hình thức phân phối khác cùng song song tồn tại.
    • Tại Viện kinh tế thuộc Viện hàn lâm khoa học phân định hiện nay Trung Quốc có 8 loại hình kinh tế:
    1. Kinh tế quốc hữu (co doanh nghiệp cạnh tranh va phi cạnh tranh)
    1. Kinh tế tập thể(theo quan niệm mới về công hữu)
    1. Kinh tế cá thể(cá nhân gia đình hay thuê<8 lao động)
    1. Kinh tế cổ phần(bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần)
    1. Kinh tế góp vốn hợp tư (liên doanh)
    1. Đầu tư nước ngoài
    1. Kinh tế Ma Cao và Hồng Kông
    1. Kinh tế tư nhân (cá nhân thành lập doanh nghiệp và thuê > 8 lao động)

    Trong đó khẳng định kinh tế quôc hữu giữ vai trò chủ đạo, nhưng chủ đạo không phải là lắm số lượng lớn mà là giữ huyết mạch.

    + Tại trường đại học Trung Sơn (Quảng Đông)

    Cho rằng: việc phân ra 8 loại hình chỉ là tương đối vì trong thực tế chúng luôn đan xen với nhau. Theo thống kê toàn Trung Quốc có 315.000 xí nghiệp quốc hữu với tổng số vốn chiếm trên 60% vốn xí nghiệp tòa xã hội thu hút 67% lực lượng lao động xã hội, số xí nghiệp này là các công ty tập đoàn còn lại tới 80% là xí nghiệp quốc hữu nhỏ (trước cải cách tới 99% là của công hữu).

    Việc khẳng định chế độ công hữu làm chủ thể của nền kinh tế cùng với việc đề cao tính phổ biến của chế độ công hữu thì đồng thời Trung Quốc vẫn kiên trì thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế quốc hữu. Giờ đây quan niệm về chủ đạo đã thay đổi: không phải năm tuyệt đối về lượng mà là khả năng chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân thông qua việc nắm các huyết mạch chủ yếu

    Thủ tướng Trung Quốc nói rằng đây là phương hướng cải cách hệ thống kinh tế của Trung Quốc và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa cũng như công cuộc hiện đại hóa của nước này. Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: “Chỉ có đẩy mạnh cải cách mới có thể cải thiện được hệ thống kinh tế thị trường XHCN và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng xã hội khá giả”.

    2.2.2. Những thay đổi lớn về thể chế kinh tế

    Sau cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc từ chế độ công hữu đơn nhất chuyển sang chế độ lấy chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu xùng phát triển.

    Trước cải cách gần như hoàn toàn thuộc sở hữu công cộng chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978. Cùng với tiến trình cải cách nhận thức về công hữu ngày càng có sự thay đổi sâu sắc, đã tiến tới khẳng định rằng nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thể hiện ở số lượng mà còn ở chất lượng.Với chủ trương nhiều loại hình kinh tế cùng phát triển, không chỉ có các doanh nghiệp cá thể mà còn có các doanh nghiệp “3 loại vốn”, các doanh nghiệp theo chế độ sở hữu hỗn hợp như chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần.

    Kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân được khuyến khích cùng phát triển nên đến cuối năm 1979 số hộ đăng ký kinh doanh là 29,47 triệu với 67,97 triệu lao động. Sự lớn mạnh của các

    13

    loại hình này ngày càng có tác dụng tích cực rõ trong việc đáp ứng đòi hỏi về đời sống cho nhân dân, làm cho đời sống kinh tế xã hội của cả nước thêm sôi động, từ chỗ được coi là bổ xung cho kinh tế công hữu, nay các loại hình kinh tế này đã được Quốc hội Trung Quốc dự kiến đua vào Hiến pháp sửa đổi, quy định đó “là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường XHCN” được Nhà Nước bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. Điều đó cho phép các loại hình kinh tế phi công hữu này sẽ phát huy được tiềm năng to lớn của mình trong phát triển kinh tế.

    Các doanh nghiệp 3 loại vốn đã phát triển rất nhanh. Đến cuối năm 1979 đã lên tới 236 ngàn xí nghiệp đã đưa vào đất nước nguồn vốn còn thiếu va những quan niệm mới và kinh nghiệm quản lý mới.

    Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần trước đây bị coi là sản phẩm của CNTB nay đã được cho phép hình thành và cho vào nề nếp. Đến cuối năm 1997 trong cả nước có 680 ngàn doanh nghiệp thí điểm thực hiện chế độ này với số vốn đăng kí là 1730.2 tỷ NDT.

    Đến cuối năm 1979 tỷ trọng của các loại hình phi công hữu trong tổng sản phẩm trong nước đạt từ 0.9% tới 24.2% còn mức giảm tương ứng của kinh tế công hữu từ 99.1% tới 75.8%.

    Bước đàu hình thành bộ khung thể chế thị trường kinh tế XHCN, chức năng của thị trường tăng lên mạnh mẽ: Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp từ thấp đến cao nhằm chuyển dần vai trò điều tiết trực tiếp của kế hoạch sang điều tiết gián tiếp thông qua thị trường:

    Trước hết thu hẹp các mặt hàng sản xuất theo kế hoạch và do Nhà Nước định giá, giảm kế hoạch pháp lệnh, xóa bỏ sự hạn chế trong kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quyền tự mua bán sản phẩm.

    Đã cải cách chế độ buôn bán lẻ trong thương nghiệp cho phép kinh tế phi quốc hữu được tham gia buôn bán, lập ra các chợ bán buôn và các trung tâm mậu dịch, hình thành dần thị trường hàng hóa,nối liền thành thị với nông thôn. Cho đến nay ở trung quốc có khoảng 95% hàng tiêu dùng và 80% hàng đầu tư là do quan hệ cung cầu trên thị trường định giá.

    Hai là xây dựng và phát triển thị trường vốn bằng việc hoàn thiện thị trường tín dụng, khôi phục và hình thành thị trường cổ phiếu, quốc trái bị ngừng hoạt động đã nhiều năm.

    Ba là, thị trường lao động được hình thành qua việc cho phép người lao động nông thôn được di chuyển vào thành phố.

    14

    Ngoài ra các thị trường khoa học kỹ thuật, thông tin , văn hóa cũng không ngừng phát triển. Việc cải cách thể chế phân phối đã bước đầu đi theo hướng lấy phân phối theo lao động làm chủ thể, nhiều hình thức phân phối cùng tồn tại.

    Điều này thể hiện trước hết trong việc gắn thu nhập với kết quả sản xuất của người lao động: ở nông thôn chế độ trách nhiệm khoán đến hộ gia đình đã xóa bỏ cách làm ăn cũ” làm việc chỉ gào to, phân phồi thì dàn đều”, nay người nông dân làm nhiều thì hưởng nhiều làm ít thì hưởng ít. Ở thành phố các xí nghiệp đã có quyền tự chủ trong việc sử dụng công nhân và quêng phân phối lợi ích, việc tuyển dụng và trả lương cho họ là căn cứ vào kết quả kinh doanh chứ không phải do cáp trên quy định như trong thể chế cũ.

    • Tích cực đẩy mạnh xí nghiệp nhà nước: xí nghiệp nha nước chiếm 17% tổng số doanh nghiệp công nghiệp hạch toán độc lập nhưng chiếm 59.9 tổng giá trị tài sản, 46.25% thu nhập kinh doanh, 49.6%giá trị gia tăng của công nghiệp, 49,6% thuế lợi tức và đóng góp 60% ngân sách Nhà nước.
    • Cố gắng thực hiện cải cách thể chế đầu tư: đa dạng hoá các hình thức đầu tư
    • Cải cách thể chế ngoại thương theo hướng đa nguyên hóa thành phần kinh doanh, mở rộng quyền tự chủ: cùng với công cuộc cải cách thể chế kinh tế và sự phát triển của thị trường, thể chế kinh doanh ngoại thương kiểu tạp trung cao độ đã dần dần được xóa bỏ, các đơn vị ngoại thương được tự do hơn trong kinh doanh và đóng vai trò chủ thể của thị trường, tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi. Năm 1996 Trung Quốc đã thí điểm hợp doanh với nước ngoài kinh doanh ngoại thương tại khu phố mới tại khu phố mới Phố Đông thượng hải vag đặc khu kinh tế Thâm Quyến.

    2.2.3. Các chính sách phát triển thời kỳ này

    2.2.3.1. Giai đoạn đầu cải cách (1979 – 1984)

    Năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (12/1978) quyết định cải cách và mở cửa kinh tế. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ điều hành nền sản xuất tới phân phối thu nhập…

    Năm 1979: Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khu kinh tế, gồm ba đặc khu kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại tỉnh Quảng Đông và đặc khu kinh tế Hạ Môn tại tỉnh Phúc Kiến. Việc quyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật và giao lưu kinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), đưa khoa học kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc. Từ năm 1978-2007, FDI tích lũy vượt 760 tỉ USD, đứng đầu thu hút FDI tại các nước đang phát triển và đứng thứ hai thế giới.

    15

    Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông dân. Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn. Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 – 1985, gấp 3,5 lần giai đoạn 1953 – 1980.

    1. 3.2. Cải cách về hành chính – kinh tế ở các thành phố, xí nghiệp quốc doanh là nhiệm vụ trọng tâm và cải cách ở m ột số lĩnh vực khác (1985 – 1992)

    Năm 1986, Trung Quốc khởi động cải cách doanh nghiệp nhà nước. Năm 1993, Trung Quốc hiện đại hóa khu vực kinh tế nhà nước gồm tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới kỹ thuật, áp dụng phương pháp quản lý khoa học. Các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như cổ phần hóa, cho thuê, chuyển thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân. Đến cuối năm 2007, 1.550 doanh nghiệp lên sàn chứng khoán.

    Năm 1992, Trung Quốc xác lập mục tiêu “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Mở đầu thị trường hóa trong lĩnh vực y tế và nhà ở thị trường hóa từ năm 1992 – 1994. Kết quả điển hình của thị trường hóa là doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống tăng gấp 225 lần; bình quân năm tăng 20,53%.

    1. 3.3. Giai đoạn xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế (1992 đến nay)

    Thực tế cho thấy năm 1998 Trung Quốc mở rộng nội nhu thông qua tăng cường đầu tư. Tuy nhiên không thể lạm dụng tăng mức đầu tư cao quá 25%, bởi song song với nó là quá trình điều chỉnh cơ cầu. Theo các chuyên gia, nguồn tài chính mà Chính phủ Trung Quốc khống chế chiếm 22% GDP. Chính sách tài chính tích cực mà chính phủ Trung Quốc luôn chú ý điều chỉnh chính sách tín dụng, phát triển thị trường vốn, đặc biệt tăng vốn đầu tư trực tiếp và thực hiện doanh nghiệp hóa ngân hàng thương mại, trao trả ngân hàng thương mại chức năng vốn có của nó, không ép ngân hàng thương mại đầu tư vốn vào các công trình thuộc cơ sở hạ tầng thu hồi vốn chậm, vì bản thân ngân hàng thương mại không có đủ nội lực. Đầu tư cho các hạng mục đó phải huy động nguồn vốn trong dân và vốn đầu tư nước ngoài, chính vì vậy nó đã thúc đẩy nhanh tốc độ cải cách hệ thống tài chính của Trung Quốc. Trung Quốc đã nhận rõ một nước lớn như Trung Quốc thì việc ngân hàng có yêu cầu nhất định trong cơ chế cho vay là hoàn toàn phù hợp. Đầu tư cơ sở hạ tầng cần phân chia thành hai loại là dịch vụ công cộng và dịch vụ kinh doanh. Hiện ở Trung Quốc xuất hiện tình trạng đầu tư xây dựng đường cao tốc vốn lớn mà thu hồi chậm, nguyên nhân là do lượng xe lưu hành trên đường cao tốc thấp hơn so với dự đoán ban đầu, có thể là do thói quen, song chủ yếu vẫn là do không muốn nộp phí đường cao tốc mà xe cộ lưu hành vẫn thích đi đường cũ.

    16

    Nhu cầu tiêu dùng là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, là mục đích, kết quả phát triển lực lượng sản xuất. Vấn đề đặt ra đối với Trung Quốc hiện nay là là thay đổi xu thế hạn chế và coi nhẹ tiêu dùng. Then chốt là tìm ra nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nhu cầu tiêu dùng cuả người dân.

    Đinh Ninh Ninh – chuyên gia Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc Vụ Viện Trung Quốc cho rằng “Tăng đầu tư về cơ bản không thể giải quyết tận gốc vấn đề nhu cầu tiêu dùng. Những dự tính xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu tiêu dùng…” các biện pháp cải cách nhà ở gần đây được tiến hành ồ ạt làm cho hầu hết cán bộ viên chức, những người làm công ăn lương phải dùng hết số tiền tích lũy của họ, thậm chí đi vay để giải quyết vấn đề chỗ ở. Chính sách y tế, chữa bệnh chưa được ban hành làm cho người dân chưa yên tâm, đó là những yếu tố kìm hãm sức tiêu dùng. Nếu chính phủ đưa ra một số khuôn mẫu cải cách hệ thống bảo hiểm thì người dân sẽ yên tâm hơn và diều này sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng.

    Thị trường ở Trung Quốc hiện nay thuộc về người mua, song nhìn chung mức tiêu dùng còn tương đối thấp. Đó là sự thể hiện mâu thuẫn về kết cấu tiêu dùng (kết cấu cung cầu). Để giải quyết vấn đề này cần khuyến khích tạo ra nhu cầu mới, mở rộng thị trường, tạo ra không gian lựa chọn lớn cho người tiêu dung.

    Năm 2001, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên WTO. Đến năm 2002, các ngân hàng nước ngoài đã mở 175 công ty với tổng số vốn 31,7 tỉ USD; chín công ty bảo hiểm nước ngoài thuộc tám nước đã mở 12 công ty tại Trung Quốc. Các tổ chức tài chính thu hút vốn FDI tập trung tại các thành phố và đặc khu như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thâm Quyến, Hạ Môn, Chu Hải, Thiên Tân…

    Năm 2004, Trung Quốc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại quốc doanh; đưa điều khoản bảo hộ tài sản tư hữu vào Hiến pháp. Căn cứ theo số liệu của tạp chí Forbes, Trung Quốc có 10 tỉ phú USD năm 2005 trong số 691 tỉ phú USD của thế giới.

    Năm 2005, Trung Quốc bãi bỏ thuế nông nghiệp; đưa ra nhiệm vụ lịch sử xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa. Nông dân chiếm hơn 70% dân số Trung Quốc thoát nghèo, một số người và khu vực dần giàu lên. Từ năm 1978 – 2007, người nghèo ở nông thôn từ 250 triệu người giảm còn 14,79 triệu người.

    Năm 2007: Luật về quyền tài sản tư ra đời. Theo Nhân dân nhật báo, tiền dự trữ trong dân tăng gấp 700 lần trong 30 năm. Theo con số thống kê của tạp chí Forbes tháng 3.2008, số lượng tỉ phú USD của Trung Quốc là 42 người; cộng thêm 26 tỉ phú của đặc khu Hongkong, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản trở thành nước có nhiều tỉ phú nhất châu Á. Ngoài ra, Trung Quốc còn là một trong những nước có nhiều triệu phú nhất thế giới.

    17

    Trong 30 năm, GDP (tổng giá trị sản phẩm nội địa) bình quân tăng 9,7%, lần lượt vượt qua Ý, Pháp và Anh vào các năm 2004, 2005, 2006 và đang dần tiếp cận với Đức.

    2.2.4. Một số vấn đề về văn hoá – xã hội

    Theo kết quả nghiên cứu về phân tích và dự đoán tình hình xã hội Trung Quốc 2004-

    2005 vừa được Viện Khoa học xã hội Trung Quốc công bố đầu năm này thì Trung Quốc đang bước vào thời kỳ phát triển kinh tế khả quan nhất, đồng thời cũng tồn tại bảy vấn đề xã hội nghiêm trọng cần phải cảnh giác.

    Mâu thuẫn xã hội gia tăng

    Năm 2004, số vụ khiếu nại của nông dân Trung Quốc lên cấp trên gia tăng, trong đó một bộ phận nông dân kiện vì bị mất đất canh tác nhưng chưa được bồi thường công bằng và ổn định cuộc sống thỏa đáng.

    Theo số liệu dự tính, hiện Trung Quốc có khoảng 40 triệu nông dân bị mất đất. Thế nhưng pháp luật về trưng dụng đất chưa theo kịp tiến trình phát triển, mức bồi thường chưa thỏa đáng nên số vụ khiếu kiện lên cấp trên gia tăng trong năm 2004.

    Phân hóa giàu – nghèo có xu hướng mở rộng

    Theo một kết quả điều tra xã hội trên 50.000 hộ dân ở các TP, thị trấn Trung Quốc,

    • nhóm người có mức thu nhập cao nhất thì mức thu nhập bình quân đầu người sáu tháng đầu năm 2004 là 13.322 NDT (khoảng 26 triệu đồng), bằng 2,8 lần mức thu nhập bình quân cả nước; trong khi đó nhóm người thu nhập thấp nhất chỉ đạt mức bình quân 1.397 NDT, bằng 29% mức thu nhập Tỉ lệ giữa mức thu nhập cao nhất và thấp nhất năm 2003 là 9,1:1, năm 2004 tăng lên 9,5:1. Phân hóa thu nhập vùng, nhất là vùng duyên hải giàu có và vùng miền Tây nghèo khó cũng có xu hướng tương tự. Chủ trương để một số khu vực, cá nhân có điều kiện giàu lên trước rồi kéo theo các đối tượng khác giàu sau tuy có

    khuyến khích một số vùng, dân cư giàu lên nhanh chóng, góp phần tăng trưởng kinh tế nhưng lại mở rộng thêm phân hóa giàu nghèo.

    Phân hóa giàu nghèo mở rộng và giá thực phẩm tăng cao trong vài năm gần đây đã dẫn đến sự mất thăng bằng về tâm lý trong một số dân cư. Theo một điều tra, hai năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc nhanh hơn nhưng mức độ hài lòng và lòng tin của tầng lớp thu nhập thấp lại giảm.

    Giảm nghèo vẫn là nhiệm vụ nặng nề trong thế kỷ mới đối với Trung Quốc

    Qua 25 năm cải cách mở cửa, số người nghèo khổ ở Trung Quốc từ 250 triệu người giảm xuống còn 29 triệu người, đó là bước thành công lớn. Nhưng hiện nay đối với nông

    18

    thôn Trung Quốc, tiêu chuẩn nghèo khổ mới ở mức thu nhập bình quân đầu người cả năm dưới 625 NDT, thấp hơn mức 900 NDT theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc.

    Nạn thất nghiệp

    Hằng năm ở các TP và thị trấn Trung Quốc, số lao động mới trưởng thành cộng với số thất nghiệp lên đến con số 24 triệu người, bằng dân số của một nước trung bình, nhưng mỗi năm Trung Quốc chỉ tạo ra được 9 triệu việc làm mới.

    Chống tham nhũng

    Những năm qua nguồn nhân lực và vật lực của các cơ quan kiểm tra kỷ luật, giám sát, kiểm sát, kiểm toán nhà nước… của Trung Quốc đổ vào việc chống tham nhũng rất lớn. Tuy hàng loạt quan tham đã bị đưa ra ánh sáng và bị xử lý nghiêm minh nhưng những vụ tham nhũng lớn và nghiêm trọng vẫn xuất hiện.

    Chi phí chống tham nhũng cao đòi hỏi phải hoàn thiện chế độ; từng bước cải cách thể chế chính trị; công khai và công bằng trong bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; xây dựng chế độ khai báo tài sản và thẩm tra tài sản khi thôi việc đối với công chức.

    Hạn chế về nguồn tài nguyên, năng lượng và m ôi trường

    Nguồn tài nguyên tính theo đầu người của Trung Quốc tương đối thấp. Về dầu mỏ Trung Quốc phải tìm nguồn khắp nơi trên thế giới, không những với Nga, Trung Cận đông… mà còn sang cả Brazil xa xôi để ký hợp đồng đổi công trình lấy dầu mỏ. Lượng tiêu hao các loại vật tư cơ bản của Trung Quốc cũng rất lớn.

    Năm 2003, lượng tiêu thụ gang thép, ximăng của Trung Quốc chiếm 1/3 toàn cầu. Ngoài ra, còn vấn đề môi trường, chất ô nhiễm thải ra vượt xa năng lực làm sạch môi trường, tình trạng môi trường sinh thái bị phá hoại ở một số khu vực đang rất nghiêm trọng..

    Đời sống – văn hoá

    Từ sau khi cải cách kinh tế đã đạt được những thành tựu to lớn, làm cho thu nhập của mọi người dân tăng lên, và đời sống vật chất ngày càng được nâng cao. Nhưng do chính sách phát triển trước năm 2000 là phát triển vùng trọng điểm, làm chênh lệch thu nhập giữa các vùng, và khoảng cách giầu nghèo ngày càng gia tăng.

    Quá trình đô thị hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm mờ nhạt các bản sắc vốn có

    • một bộ phận người dân thành thị. Các giá trị truyền thống cũng dần bị mai một, một bộ phận giới trẻ theo trào lưu phương Tây đã dần đánh mất đi những giá trị đạo đức truyền thống.

    19

    Tóm lai, chạy theo tăng trưởng, xem nhẹ phát triển bền vững về mặt xã hội, văn hoá và môi trường, Trung Quốc không phải là mô hình tốt cho Việt Nam học tập. Nhưng ngay cả sau khi phải trả những cái giá nhất định về những khía cạnh đó để đạt cho kỳ được mục tiêu tăng trưởng trong ba thập kỷ liên tục thì quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc vẫn còn phải chấp nhận những cái giá lớn hơn nữa.

    20

    CHƯƠNG III. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

    3.1. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHẢI ĐỐI MẶT

    Trong nửa thế kỷ tồn tại của nước CHND Trung Hoa, chỉ từ khi đất nước thực hiện quốc sách chiến lược cải cách – mở cửa từ Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc (họp tháng 12-1978) vạch ra, Trung Quốc mới thực sự bước vào con đường xây đựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nước mạnh, đạt được nhiều thành tựu huy hoàng và để lại những bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.

    Cuộc cải cách mở của của Trung Quốc có một ý nghĩa to lớn, được đánh giá cao trong nước và trên quốc tế, vì nó đã đem lại cho Trung Quốc những biến đổi lịch sử quan trọng.

    Có thể nói thành tựu của công cuộc cải cách – mở cửa gần 30 năm qua của Trung Quốc đã được thể hiện rực rỡ nhất trong thời kỳ Kế hoạch 5 năm (2001-2005) lần thứ 10 của nước này, đó là những thành tựu to lớn phi thường, làm nức lòng nhân dân trong nước và được cả thế giới ngưỡng mộ.

    Trung Quốc đã khống chế có hiệu quả những nhân tố không ổn định, không lành mạnh trong quá trình phát triển, ứng phó thành công với những biến đổi sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Thực lực kinh tế, sức mạnh tổng hợp và địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao rõ rệt.

    Từ những thành tựu nổi bật

    Về kinh tế: Trung Quốc đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Giá trị tổng sản lượng quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân 8,8% mỗi năm.

    Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm

    Đơn vị tính: Tỷ nhân dân tệ

    Chỉ tiêu

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

    1.

    GDP theo giá thị trường thực tế

    12033,3

    13582,3

    15987,8

    18386,8

    20940,7

    2.

    GDP theo giá so sánh 2000

    11722,7

    12895,0

    14197,4

    156373,9

    17351,0

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    GDP bình quân đầu người tăng liên tục qua các năm và Trung Quốc đã thoát khỏi nước có thu nhập thấp.

    Bảng 4: GDP bình quân đầu người theo giá thực tế:

    Đv tính: đô la Mỹ – USD

    Chỉ tiêu

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

    GDP bình quân đầu người

    1.135,5

    1.273,6

    1.490,3

    1.720,1

    2.016,1

    (Nguồn số liệu: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADP 2007. Niên giám thống kê 2007 – TCTK)

    Lợi nhuận xí nghiệp công nghiệp từ mức 439,3 tỷ Nguyên (đơn vị tiền Nhân dân tệ), tăng lên tới mức 1.134,2 tỷ Nguyên.

    Lĩnh vực công nghệ với tiến trình công nghiệp hoá, tin học hoá được đẩy nhanh. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp giai đoạn này đạt bình quân 10,7%. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế từ 43,6% năm 2001 tăng lên 45,9% năm 2004. Sản lượng các sản phẩm quan trọng đều gấp hơn hai lần như: thép thô tăng 144 triệu tấn, thép thành phẩm tăng 165,77 triệu tấn, xe hơi tăng 3 triệu chiếc, xi măng tăng 373 triệu tấn, tăng 62%; điện lực tăng 831,4 tỷ kWh, tăng 61,3%.

    Bảng 5: Giá trị sản xuất một số ngành công nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

    Năm

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

     

    Ngành

     
     

    Công nghiệp (khai khoáng, chế

    4.786,8

    5.399,5

    6.020,5

    6.718,8

    7.558,7

     

    biến, điện, khí đốt và nước)

     
     

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Sự phát triển thành thị – nông thôn được cân đối hơn. Nhà nước đã thi hành chủ trương miễn thuế nông nghiệp, trực tiếp bù trợ cho nông dân trồng lương thực, sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến quan trọng, sản lượng lương thực năm 2004 đạt gần 469,5 triệu tấn.

    22

    Bảng 6: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

    Đvtính: Tỷ nhân dân tệ

    Năm

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

    Ngành

    Nông nghiệp

    1.556,7

    1.595,6

    1.696,1

    1.784,3

    1.873,6

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Thể chế quản lý mở rộng: Kinh tế được cải cách, đặc biệt là cải cách xí nghiệp quốc hữu. Trong tổng số 2.903 xí nghiệp quốc hữu hoặc nhà nước chiếm cổ phần khống chế, đến cuối năm 2004 có 1.464 xí nghiệp được chuyển đổi thành xí nghiệp loại hình công ty cổ phần. Thể chế giám sát quản lý vốn quốc hữu bước đầu được hình thành. Các ngành trọng điểm thông tin điện tử, hàng không dân dụng, điện lực được đẩy nhanh cải cách thể chế. Việc cải cách thuế thu ở nông thôn đạt được tiến bộ lớn, thị trường thu mua lương thực được mở cửa toàn bộ, trở thành thị trường kinh doanh nhiều luồng mạch.

    Lĩnh vực mở cửa với bên ngoài đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xuất nhập khẩu hàng hoá liên tục đạt mức tăng trưởng cao; đưa Trung Quốc từ vị trí thứ 8 vượt lên đứng vị trí thứ ba thế giới về thương mại. Cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện, sản phẩm cơ điện và sản phẩm công nghệ cao chiếm 54,5% và sản phẩm mới chiếm 27,9% trong cơ cấu hàng xuất khẩu.

    Bảng 7: Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu

    Đvtính: Triệu đô la Mỹ

    Năm

    2002

    2003

    2004

    2005

    2006

    Ngành

    Xuất khẩu

    325.600

    438.230

    593.320

    761.950

    969.073

    Nhập khẩu

    295.170

    412.760

    561.230

    659.950

    791.610

    Cán cân thương mại

    30.430

    25.470

    32.090

    102.000

    177.463

    (Nguồn: Những chỉ tiêu chủ yếu – ADB 2007)

    Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Năm 2005 mức thu nhập, chi dùng của dân cư thành thị đạt trên 10.000 Nguyên, tăng 59% so với năm 2000; thu nhập của nông dân vào

    23

    khoảng 4.000 Nguyên, tăng 45% so với năm 2000. Số người nghèo khó ở nông thôn từ 32,09 triệu năm 2000 giảm xuống còn 26,1 triệu năm 2004.

    Các sự nghiệp phúc lợi xã hội phát triển nhanh. Nhà nước tăng mạnh ngân sách và sự trợ giúp cho khoa học công nghệ, giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao. Các công trình khoa học công nghệ cơ sở quan trọng được xây dựng nhiều. Các kế hoạch nghiên cứu công nghệ cao, then chốt, các kế hoạch nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ cơ bản trọng điểm nhà nước tiến triển thuận lợi. Thành tựu lớn tiêu biểu cho sự tiến bộ về khoa học công nghệ của Trung Quốc là việc phóng thành công con tầu vũ trụ Thần Châu-6 trong đó lần đầu tiên hai phi công vũ trụ Trung Quốc đã bay nhiều ngày trong vũ trụ. Sự nghiệp giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề đều phát triển nhanh. Quy mô giáo dục bậc cao liên tục mở rộng.

    Việc xây dựng pháp chế dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng văn minh tinh thần được chú trọng và tăng cường. Sinh hoạt dân chủ ở cơ sở được mở rộng, các thể chế thôn xóm tự quản, phường tự quản, công khai việc xóm, công khai việc xí nghiệp, công khai việc hành chính từng bước được xúc tiến.

    Những tồn tại và khó khăn cần tiếp tục giải quyết:

    Sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu huy hoàng, nhưng cũng còn gặp rất nhiều khó khăn mâu thuẫn. Lúc giao thời giữa hai thế kỷ, trong tình hình cạnh tranh gay gắt và diễn biến phức tạp trong nền kinh tế thế giới, Trung Quốc càng gặp nhiều thách thức cần xử lý. Những khó khăn, mâu thuẫn, tiêu cực đó, có thể chia ra thành bốn loại vấn đề như sau:

    • Những vấn đề mới nảy sinh sau khi giải quyết các vấn đề cũ. Sau khi phá bỏ chủ nghĩa bình quân “ăn cơm nồi to”, đã động viên được tính tích cực chủ động của người lao động. Cơ chế thị trường đi vào nền kinh tế, cả xã hội trở nên năng động và đầy sức sống. Đó là kết quả quan trọng mà cuộc cải cách đã đem lại. Song đồng thời lại nảy sinh ra một loạt vấn đề mới. Trước hết là khoảng cách về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, và khu vực bị mở rộng. Nếu như khoảng cách về thu nhập hình thành do sự khác biệt về thái độ lao động, về số lượng và chất lượng lao động, thì có khoảng cách ấy là hợp lý, cần thiết và không thể tránh khỏi. Về

    mặt chính sách, chủ trương cho phép một số người, một số vùng giàu lên trước là có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội do tác dụng kích thích động viên của nó.

    Tuy nhiên, trong quá trình cải cách đã xuất hiện tình trạng quá chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân, ngành nghề, khu vực, không tương ứng với sự khác nhau về lao động; đặc biệt thu nhập do làm ăn phi pháp đẻ ra m ột lớp người phất lên quá nhanh; nạn tham ô hối lộ lan tràn, vừa phá hoại sự phát triển bình thường của nền kinh tế, vừa ảnh hưởng đến tính tích

    24

    cực của người lao động và sự ổn định xã hội. Đó là vấn đề nghiêm trọng đẻ ra trong cải cách Hai là, quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã tạo ra nạn dư thừa lao động, thất nghiệp, trong điều kiện việc cải cách thể chế bảo hiểm xã hội trì trệ. Trước đây ở Trung Quốc nạn dư thừa lao động và thất nghiệp được che dấu bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ bao cấp. Thực hiện cải cách, chuyển đổi kinh tế, những vấn đề này bộc lộ và ngày càng nặng nề. Trung Quốc là nước nghèo, tiến trình cải cách diễn ra không lâu, do đó chế độ bảo hiểm xã hội chưa kiện toàn, chưa có được tác dụng giảm sức ép của nạn thất nghiệp, giảm sự khốc liệt của nạn dư thừa nhân công. Đây là thách thức rất lớn đối với Trung Quốc. Vấn đề bảo hiểm ở Trung Quốc, vẫn là khâu yếu, một mặt do kinh phí không cho phép, mặt khác do hậu quả của thể chế cũ, diện hưởng bảo hiểm quá lớn; mặt khác nữa, diện hưởng bảo hiểm mấy năm gần đây mở rộng, kết quả của cuộc cải cách xí nghiệp Nhà nước. Ba là, các vấn đề đạo đức, văn minh tinh thần, giáo đục, phạm tội, chuyển dịch lao động … nảy sinh ra trong tiến trình cải cách, có nguy cơ làm băng hoại cơ sở xã hội, rối loạn đời sống, cũng là những tiêu cực mà Trung Quốc đang phải xử lý.

    • Những vấn đề của bản thân cuộc cải cách đòi hỏi giải quyết sâu sắc và triệt để hơn. Điển hình nhất là sự trì trệ của cái cách xí nghiệp Nhà nước. Các xí nghiệp này hiện nay vấp phải ít nhất “5 cái khó” trong chuyển đổi cơ chế kinh doanh: xí nghiệp khó phá sản, công nhân khó cho thôi việc, chính quyền và xí nghiệp khó tách rời, sức sống khó bốc dậy, sức cạnh tranh thị trường khó tăng cường. Hoặc vấn đề chu kỳ kinh tế, lặp đi lặp lại hiện tượng “nới lỏng thì loạn, thắt vào thì chết”. Trung Quốc đã trải qua nhiều cơn “sốt” về kinh tế, sau đó lại xuất hiện sự tiêu điều. Ví dụ nửa đầu năm 1993 khi tổng sản phẩm trong nước tăng trên 15%, đã xuất hiện tình trạng “4 cao 2 loạn”, đó là đầu tư cao, lượng tiền trong lưu thông cao, giá cả cao, nhập khẩu cao, và thị trường tiền tệ hỗn loạn, trật tự thị trường tư liệu sản xuất hỗn loạn.

    Nhờ biện pháp thắt thật tiền tệ, nâng cao lãi suất, các cơn sốt đã giảm dần, nạn lạm phát nhẹ đi, giá cả hạ thấp. Song sau khi nền kinh tế Trung Quốc “tiếp đất an toàn” từ đầu năm 1996, với mức tăng giá cả 6,1%, thì từ cuối năm 1997 đến nay đã có hiện tượng đình trệ. Năm 1997 giá hàng tiêu dùng chỉ tăng 2,8%, năm 1998 lại giảm 0,8% so với năm 1997. Hàng hoá ứ thừa tràn ngập trong các kho khiến Nhà nước phải ngừng sản xuất một số mặt hàng, điều đó một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á đối với hàng xuất khẩu Trung Quốc, một phần do sản xuất trùng lặp, việc sử dụng công cụ tài chính để điều tiết kém tác dụng.

    • Những khó khăn vốn có của Trung Quốc càng nổi bật cùng với quá trình hiện đại hoá kinh tế. Đó là những vấn đề nợ tài nguyên, con người, lương thực, điều kiện tự nhiên… Về tài nguyên, tính theo đầu người, Trung Quốc là nước nghèo. Do đó việc tiết kiệm tài nguyên như đất, năng lượng cùng các loại tài nguyên khác là vấn đề rất lớn. Việc hạn chế sinh đẻ theo kế

    25

    hoạch của Trung Quốc đã thu được kết quả rõ rệt, song những vấn đề về gia đình và xã hội cũng nảy sinh cùng với việc chỉ cho phép có một con, đồng thời Trung Quốc còn đang đứng trước cửa ải cần vượt qua là vấn đề xã hội bị lão hoá .Trung Quốc là một nước dân đông, đất ít, sản xuất lương thực luôn luôn là vấn đề nóng bỏng vì có liên quan đến sự tồn tại của số dân bằng 1/4 loài người. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lại chưa phát triển, chưa thoát khỏi cảnh “nhờ trời mới có miếng ăn” do đầu tư vào cơ sở hạ tầng còn ít ỏi, khả năng phòng chống thiên tai còn hạn chế. Theo các nhà khoa học, chất lượng điều kiện tự nhiên của Trung Quốc tương đối thấp, kém ổn định, bởi vì đây là một quốc gia nhiều thiên tai vào loại nhất thế giới. Mỗi năm Trung Quốc bị thiệt hại tới 100 tỷ NDT do thiên tai. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự phá hoại của con người đối với môi trường tự nhiên cũng tăng lên. Người ta đã khẳng định, nguyên nhân của nạn lụt lớn năm 1998 không phải chỉ do thiên tai mà còn do nhân hoạ gây ra.

    • Thách thức đi đôi với cơ hội trong giao lưu quốc tế. Xu hướng toàn cầu hoá đang ngày càng rõ rệt, giao lưu và hợp tác kinh tế giữa các nước ngày càng chặt chẽ. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thế giới. Thế giới cần Trung Quốc, mà Trung Quốc cũng không thể tách rời thế giới. Nhưng sự nhất thể hoá kinh tế vừa trợ giúp nền kinh tế Trung Quốc phát triển, mà cũng mang lại những khó khăn cho nước này. Cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ đang làm thay đổi những ngành nghề truyền thống và phương thức sản xuất truyền thống. Trung Quốc có thể nhờ đó mà phát huy thế mạnh của nước đi sau, tận dụng thành quả khoa học tiên tiến của thế giới, song cũng có thể tụt hậu so với trình độ quốc tế nếu như không vượt qua được sức ép cạnh tranh. Mặt khác nền tài chính tiền tệ thế giới đang ngày càng linh hoạt, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước, song cũng có thể mang lại rủi ro cho các nước. Điều này có thể thấy rõ qua những ảnh hưởng bất lợi đó cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ mang lại cho

    nền kinh tế Trung Quốc hai năm vừa qua, như đầu tư nước ngoài giảm, xuất khẩu sụt, giá từ đồng tiền thực tế bị lung lay ít nhiều . . .

    3.2. GIẢI PHÁP

    • Kích cầu nuôi cầu trong nước: Việc đẩy nhanh và giữ vững mức tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho việc mở rộng các cơ hội việc làm, cải thiện đời sống người dân và duy trì ổn định xã hội, và cũng là điều kiện quan trọng để đẩy mạnh việc điều chỉnh kết cấu và đi sâu cải cách.
    • Tăng nhanh phát triển kinh tế nông thôn, nỗ lực nâng cao thu nhập cho người nông dân, phát triển sức sản xuất nông nghiệp, nâng cao sức mua của người nông dân, là khâu quan trọng trong việc nuôi cầu và kích cầu trong nước, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân và duy trì ổn định xã hội.

    26

    • Tích cực đẩy mạnh điều chỉnh kết cấu kinh tế và cải cách thể chế kinh tế, giải quyết những nhân tố hạn chế sự phát triển kinh tế như mâu thuẫn về kết cấu trong nền kinh tế và chướng ngại về thể chế. Đây là những biện pháp căn bản để duy trì phát triển kinh tế, nâng cao tố chất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
    • Thích ứng với những tình hình mới sau gia nhập WTO, nâng cao toàn diện m ức mở cửa ra bên ngoài: Trung Quốc gia nhập WTO đánh dấu một giai đoạn mới về mở cửa ra bên

    ngoài. Trung Quốc sẽ tham gia hợp tác và cạnh tranh quốc tế ở phạm vi rộng hơn và sâu hơn.

    • Tiếp tục tập trung chỉnh đốn và quy phạm hóa trật tự kinh tế thị trường: đây là yêu cầu bức thiết của việc kích cầu trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định, là một chọn lựa tất yếu khi gia nhập WTO, và cũng là biện pháp quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN.
    • Thực thi chiến lược chấn hưng quốc gia bằng khoa học kỹ thuật và chiến lược phát triển bền vững, tăng cường xây dựng văn minh tinh thần, đẩy m ạnh tiến bộ và sáng tạo trong khoa học kỹ thuật. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống sáng tạo quốc gia. Tăng cường nghiên cứu cơ sở và ngiên cứu những công nghệ mới, hiện đại có ý nghĩa chiến lược, tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo, đẩy nhanh việc ứng dụng những thành quả kỹ thuật mới vào thực tiễn.
    • Chuyển biến hơn nữa chức năng của chính phủ, tăng cường xây dựng tác phong làm việc: Nhằm thích ứng tình hình mới sau cải cách mở cửa, cần xây dựng một bộ máy liêm khiết, làm việc có hiệu quả. Tập trung làm tốt ba mặt : Đẩy nhanh chuyển biến về chức năng của chính phủ, tăng cường thiết thực việc xây dựng tác phong làm việc, kiên quyết phản đối xa xỉ lãng phí.

    3.3. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CUỘC CẢI CÁCH – MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

    Như bên trên đã nói, Trung Quốc không phải là nước duy nhất thực hiện cải cách kinh tế, xoá bỏ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cũ, song nước này đã gặt hái được nhiều thành công khiến cho các nước khác phải ngưỡng mộ. . Ngay từ những ngày đầu, cải cách của Trung quốc đã cải thiện về kinh tế và cuộc sống cho nhân dân, và cho đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao”. Vì sao lại như vậy, và có thể rút ra được những bài học gì từ “cuộc cách mạng thứ hai” này của người Trung Quốc

    1. Cải cách toàn diện, song phải coi cải cách thể chế kinh tế là trọng điểm

    Ngay từ đầu, Trung Quốc đã chủ trương cải cách toàn điện. Nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, người được coi là kiến trúc sư của công cuộc cải cách của Trung Quốc nói:

    27

    “Cải cách là toàn diện, bao gồm cải cách thể chế kinh tế, cải cách thể chế chính trị và cải cách các lĩnh vực tương ứng khác”. Trung Quốc tuy chủ trương cải cách toàn diện, song khi thực hiện phải có trọng điểm để tập trung sức lực. Trọng điểm chính là cải cách thể chế kinh tế. Sở dĩ Trung Quốc cải cách thành công vì trong khi cải cách tất cả các lĩnh vực, họ đã kiên trì coi cải cách kinh tế làm trọng điểm. Một số quốc gia khác cải cách thất bại, bởi vì cải cách kinh tế chưa có kết quả gì rõ rệt, đã vội vã chuyển trọng điểm sang lĩnh vực khác, làm cho chính trị không ổn định, mà cải cách kinh tế cũng bị buông lỏng, kết quả là cả kinh tế lẫn chính trị đều bị rối loạn.

    2. Kiên trì về lựa chọn thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thay thế cho thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống.

    Thực hiện cải cách – mở cửa, những người lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn thể chế kinh tế thị trường, nền kinh tế được thúc đẩy và phồn vinh, được nhân dân tiếp nhận. Quá trình lựa chọn và tiếp nhận thể chế kinh tế thị trường ở Trung Quốc có thể chia làm 4 giai đoạn:

    • Từ năm 1979 đến năm 1984 là thời kỳ thể hiện sự quay lại tôn trọng quy – luật giá trị, mở rộng tác dụng của cơ chế thị trường. Các biện pháp cải cách áp dụng đầu tiên ở nông thôn đã khiến nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển, tạo ra sức thuyết phục để đông đảo người dân tiếp nhận cuộc cải cách theo hướng thị trường
    • Năm 1984, Hội nghị Trung ương 3 khoá XII xác nhận kinh tế XHCN là kinh tế hàng hoá có kế hoạch. Nhận thức của mọi người đã được nâng lên, hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển

    kinh tế hàng hoá là giai đoạn không thể bỏ qua.

    • Năm 1987, Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XITI đưa ra mô hình “Nhà nước điều tiết thị trường, thị trường dẫn dắt xí nghiệp” đã làm nổi bật tác dụng của thị trường và có thể coi đó là giai đoạn quá độ từ thuyết kinh tế hàng hoá XHCN sang thuyết kinh tế thị trường XHCN.

    3. Kiên trì sách lược cải cách kiểu tiến dần từng bước.

    Ngay tứ khi mới bắt đầu cải cách, Trung Quốc đã xác định không dùng phương án cải cách kiểu “bùng nổ”, mà đã kiên trì phương án “dò đá qua sông”, áp dụng phương châm trước dễ sau khó, tiến dần từng bước, giảm bớt rủi ro. Thực tiễn chứng minh cách làm này là phù hợp với Trung Quốc, mang lại kết quả rõ rệt, tránh được những va chạm xã hội lớn và sự phân hoá hai cực quá nhanh như đã xẩy ra ở Liên Xô cũ và các nước Đông âu do thực hiện “liệu pháp sốc” Cải cách kiểu tiến dần phải trả giá nhất định như thời gian cải cách tương đối dài,

    28

    tác đụng tiêu cực của thể chế cũ kéo dai dẳng, song cuộc cải cách được thúc đẩy trong điều kiện xã hội tương đối ổn định, tuyệt đại đa số nhân dân được hưởng lợi ích của cải cách.

    Cải cách theo phương thức tiến dần của Trung Quốc thể hiện ở mấy phương diện quan trọng sau:

    • Sau khi cải cách ở nông thôn thu được những kết quả thực tế mới mở rộng ra thành phố, đến năm 1984 cuộc cải cách mới lấy thành phố làm trung tâm.
    • Ra sức thúc đẩy sự phát triển kinh tế không thuộc sở hữu Nhà nước, biến nó thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế 20 năm qua; sau đó thực hiện có trọng điểm

    cuộc cải tổ chiến lược khu vực kinh tế Nhà nước và cải cách các xí nghiệp Nhà nước.

    • Trong việc xây dựng hệ thống thị trường, thì trước hết phát triển thị trường hàng hoá tiêu dùng rồi đến hàng hoá tư liệu sản xuất, sau đó mới chú ý phát triển thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, sức lao động, kỹ thuật, thông tin v.v..
    • Cải cách giá cả, được coi là mấu chốt, quan hệ đến sự thành bại của toàn bộ cải cách thể chế kinh tế, vì vậy đã được tiến hành rất thận trọng, kết hợp giữa điều chỉnh và thả lỏng, điều chỉnh trước, thả lỏng sau, sau đó mới gắn với giá cả của thị trường quốc tế. Trong nền kinh tế kế hoạch, mọi sản phẩm đều không được thể hiện chính xác giá cả của nó; cuộc cải cách giá trước hết thực hiện thị trường hoá giá cả các hàng hoá hiện vật và các dịch vụ, rồi dần dần thực hiện thị trường hoá giá các yếu tố sản xuất
    • Về kế hoạch hoá các khâu sản xuất, lưu thông, giá cả…, thì trước hết cho phép một phần tồn tại ngoài kế hoạch, rồi dần dần mở rộng ra; phần theo kế hoạch thì thu hẹp lại dần. Khi điều kiện đã chín muồi thì thực hiện sự điều tiết của thị trường. Việc từng bước hợp nhất chế độ hai giá của tư liệu sản xuất là ví dụ nổi bật về sự quá độ yên ổn từ thể chế cũ sang thể chế mới một cách tiệm tiến
    • Trong mở cửa đối ngoại, mở đầu là xây dựng các đặc khu kinh tế, các thành phố ven biển, sau đó dần dần mở cửa sâu vào nội địa, và đến nay mới hình thành cục diện mở cửa ra mọi hướng, mọi cấp độ.

    4. Xử lý đúng đắn quan hệ biện chứng giữa cải cách, phát triển và ổn định.

    Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cải cách của Trung Quốc tương đối thành công là trong tiến trình cải cách đã coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định. Kinh nghiệm 30 năm phát triển kinh tế của Trung Quốc cho thấy, muốn xử lý đúng đắn ba mặt trên, người Trung Quốc đã chú trọng mấy điểm sau: Trước hết, phải duy trì được tốc đã phát triển kinh tế thích hợp. Nhiều học giả cho rằng kinh tế Trung Quốc

    29

    hiện đang ở giai đoạn cất cánh, cần tăng trưởng với tốc độ cao, nhưng không thể quá cao. Bởi vì hiện nay nền kinh tế của Trung Quốc vẫn theo phương thức tăng trưởng theo chiều rộng là chính, vẫn phải dựa vào đầu tư; nếu đòi hỏi tăng trưởng cao, sẽ xuất hiện cơn sốt đầu tư, lạm phát tăng, vật giá leo thang, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế. Điều đó đã diễn ra vào các năm 1992, 1993. Để hạ sốt, giảm lạm phát, ắt sẽ phải xiết chặt tiền tệ, hạ nhanh tốc độ tăng trưởng, làm cho nền kinh tế bị dao động lớn, gây mất ổn định. Cũng không thể duy trì tốc độ phát triển quá thấp, vì sẽ không có lợi cho vấn đề việc làm, vấn đề thua lỗ của các xí nghiệp Nhà nước, vấn đề thu nhập tài chính. Các học giả Trung Quốc cho rằng tốc độ phát triển kinh tế hàng năm 8 – 9% là thích hợp với đất nước này

    Thứ hai, phải giữ cho mức độ tăng hàng năm của vật giá bán lẻ ở mức được 10%. Tình hình Trung Quốc một số năm cho thấy, một khi giá cả tăng trên 10% là nhân dân đã kêu ca, bất bình, là có tới 20% cư dân ở thành phố bị hạ thấp thu nhập, do đó ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, nếu giá cả xuống thấp quá cũng không phải là điềm lành, nó chứng tỏ nền kinh tế đã bị ép giảm quá mức độ, hàng hoá đã thừa, sản xuất sút kém, không có lợi cho sự hoạt động bình thường của nền kinh tế và sự linh hoạt của thị trường

    Thứ ba, việc thực hiện các biện pháp cải cách cần tính toán đầy đủ đến sự ổn định về tiêu dùng của người dân. Có rất nhiều lĩnh vực cần cải cách có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân như vấn đề nhà ở, chữa bệnh, bảo hiểm, dưỡng lão, giáo dục, lao động tiền lương… Thực hiện những cải cách này, đặc biệt là thực hiện dồn dập rất để vượt quá sức chịu đựng của người dân, làm cho họ không dám tiêu dùng hoặc tiêu dùng ít, dẫn đến chỗ thị trường tiêu điều, ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.

    Thứ tư, giữ vững chủ trương cùng giầu có, đề phòng và giảm bớt mức chênh lệch quá lớn giữa các cá nhân, các đơn vị, các địa phương. Từ khi cải cách, giữa các tầng lớp dân cư và các địa phương, giữa thành thị và nông thôn đều có hiện tượng chênh lệch thu nhập tăng lên, vấn đề phân phối không công bằng ngày càng bộc lộ và nổi cộm. Chính sách của Chính phủ Trung Quốc luôn luôn theo hướng thu nhỏ khoảng cách chênh lệch. Biện pháp đánh thuế thu nhập, kết nghĩa giữa tỉnh giàu với tỉnh nghèo, trích ngân sách để xoá đói giảm nghèo…. đã có

    tác dụng tất trong việc giữ gìn ổn định và xã hội.

    5. Kết hợp chặt chẽ giữa cải cách trong nước với mở cửa ra thế giới.

    Trung Quốc coi cải cách và mở cửa là hai mặt của một chỉnh thể. Sự kết hợp giữa hai mặt này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công của cải cách

    Một thời kỳ dài trước đây, Trung Quốc đã thực hiện bế quan toả quốc, hậu quả là không thành công trong việc hiện đại hoá kinh tế, trì trệ lạc hậu kéo dài, không tiếp thu được thành

    30

    quả văn minh của loài người, không tận dụng được nguồn vốn bên ngoài, không tham gia được vào sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Rút bài học cay đắng đó, từ thập kỷ 80 Trung Quốc thay đổi cách nghĩ, nhận thức lại là CNXH phải tiếp thu mọi thành quả văn m inh của nhân loại, đặc biệt là của các nước phát triển phương Tây; CNTB là một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng của tiến trình phát triển lịch sử của loài người, nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần mà nó sáng tạo ra trong mấy trăm năm vượt qua tất cả những gì mà loài người đã tạo ra trước đó. Trung Quốc xây dựng CNXH trên cơ sở kinh tế văn hoá lạc hậu, càng phải thực hiện mở cửa, tiếp thu thành quả văn minh của thế giới, do đó không những phải cải tạo thể chế cũ xây đựng thể chế mới, mà cỏn phải tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến và phương pháp quản lý kinh doanh của các nước tư bản phát triển. Trong quá trình đó, Trung Quốc đã có chọn lọc để không tiếp thu những mặt không tốt của các nước này.

    Tóm lại, những bài học rút ra từ quá trình cải cách không chỉ giúp ích cho sự phát triển tiếp theo của Trung Quốc trên con đường tiến vào thế kỷ mới mà còn có giá trị tham khảo bổ ích cho các quốc gia đang có hướng phát triển tương tự.

    31


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án kinh tế ngoại thương thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép các loại của việt nam

    Đồ án kinh tế ngoại thương thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép các loại của việt nam

    Đồ án kinh tế ngoại thương thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép các loại của việt nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận kinh tế môi trường Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-kinh-t%E1%BA%BF-ngo%E1%BA%A1i-th%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u-m%E1%BA%B7t-h%C3%A0ng-s%E1%BA%AFt-th%C3%A9p-c%C3%A1c-lo%E1%BA%A1i-c%E1%BB%A7a-vi%E1%BB%87t-nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án kinh tế ngoại thương thực trạng hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép các loại của việt nam

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Hiện nay xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc.

              Việt Nam đã và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đưa nền kinh tế hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam đang còn là nước nông nghiệp lạc hậu, còn nhiều hạn chế về trình độ khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước thì chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, đi tắt đón đầu các công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Để thực hiện được điều này thì hoạt động nhập khẩu đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai đang đổi mới phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng, phát triển sản xuất, cho nên nhu cầu về vật liệu xây dựng nói chung trong đó nhu cầu về vật liệu sắt thép nhằm đáp ứng nhu cầu sắt thép trong xây dựng và phục vụ trong các ngành sản xuất khác là rất lớn. Trong khi ngành sản xuất thép của nước ta chưa đáp ứng được phôi thép và các loại thép thành phẩm cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Do vậy nhập khẩu sắt thép hiện nay đóng vai trò rất quan trọng đối với các ngành có nhu cầu sử dụng nguyên liệu thép nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Đặc biệt là việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc.

     

    Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ HÀNG NHẬP KHẨU

        1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động nhập khẩu

        1.1.1 Khái niệm

    Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương, là một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành nên hoạt động ngoại thương.

    Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập nhằm mục đích thu lợi nhuận.

    Nhập khẩu có thể bổ sung những hàng hoá mà trong nước không thể sản xuất được hoặc chi phí sản xuất quá cao hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Nhập khẩu cũng nhằm tăng cường cơ sở vật chất kinh tế, công nghệ tiên tiến hiện đại ….tăng cường chuyển giao công nghệ, tiết kiệm được chi phí sản xuất, thời gian lao động, góp phần quan trọng phát triển sản xuất xã hội một cách có hiệu quả cao. Mặt khác nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập từ đó tạo ra động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước phải tối ưu hoá tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy để cạnh tranh được với các nhà sản xuất nước ngoài.

    1.1.2 Đặc điểm cơ bản của nhập khẩu

    Nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, nhập khẩu là việc giao dịch buôn bán giữa các cá nhân, tổ chức có quốc tịch khác nhau ở các quốc gia khác nhau, hoạt động nhập khẩu phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trong nước: thị trường rộng lớn; khó kiểm soát; chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau; thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ; hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia; phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế.

    Nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, nó rất phong phú và đa dạng, thường xuyên bị chi phối bởi các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hoá, chính trị, ….của các quốc gia khác nhau.

    Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu thông qua các công cụ chính sách như: Chính sách thuế, hạn ngạch, các văn bản pháp luật khác, qui định các mặt hang nhập khẩu,…..

    1.1.3 Vai trò của hoạt động nhập khẩu

    Nhập khẩu góp phần đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào trong nước, góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu đi tắt đón đầu, xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ một nền kinh tế đóng, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các ngành nghề, thành phần kinh tế trong nước.

    Nhập khẩu hàng hoá tạo ra nguồn hàng đầu vào cho các ngành, công ty  sản xuất chế biến trong nước, nhập khẩu cung cấp những mặt hàng mà trong nước còn thiếu hoặc chưa thể sản xuất được, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng.

    Nhập khẩu cung cấp đầu vào cho các công ty sản xuất, làm phong phú hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá thương mại. Hoạt động nhập khẩu có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của các công ty thương mại.

    Hoạt động nhập khẩu giúp cho các công ty trong nước có điều kiện cọ sát với các doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi có sự xuất hiện của các mặt hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa sẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa hàng hoá nội địa và hàng hoá ngoại nhập. Để tồn tại và phát triển các công ty trong nước phải nỗ lực tìm mọi biện pháp để tối ưu hoá trong sản xuất cũng như trong quản lý để tạo ra những sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao và nâng cao vị thế của mình.

    Hoạt động nhập khẩu là cầu nối thông suốt nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước với nhau, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.

    Đối với các công ty thương mại là một mắt xích quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, do vậy hoạt động nhập khẩu kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại lợi nhuận cho công ty, giúp cho công ty có thể đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực khác, mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh.

    1.2. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu

    1.2.1 Nhập khẩu trực tiếp

               Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc tế, tính toán chính xác các chi phí, đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu, tuân thủ đúng các chính sách, luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

    Trong hình thức nhập khẩu trực tiếp này doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác, đàm phán, ký kết hợp đồng,…. Và phải tự bỏ vốn ra để thực hiện tổ chức kinh doanh hàng nhập khẩu.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể chủ động được các công việc trong quá trình nhập khẩu hàng hoá của mình như về thời gian, địa điểm giao nhận hàng, thuê phương tiện vận tải, mua bảo hiểm hàng hoá,…Nhà nhập khẩu có thể chủ động trong việc làm các thủ tục hành chính cho hàng nhập khẩu, chủ động hơn trong kinh doanh nhập khẩu.

    Nhược điểm: Nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có một lượng vốn lớn hơn so với các hình thức nhập khẩu khác cho việc thanh toán hàng hoá nhập khẩu. Nhâp khẩu trực tiếp cũng đòi hỏi nhà nhập khẩu phải có chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế. Hình thức này phù hợp hơn đối với những Công ty nhập khẩu chuyên nghiệp, có vốn lớn

         1.2.2 Nhập khẩu uỷ thác

    Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu thiết bị toàn bộ theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với đối tác nước ngoài để làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và sẽ nhận được một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.

    Ưu điểm: Nhà nhập khẩu có thể nhập khẩu được hàng hoá thông qua một đối tác khác, nhà nhập khẩu không cần phải làm các thủ tục nhập khẩu hàng hoá mà uỷ thác cho đối tác nhập khẩu làm. Vốn trực tiếp bỏ ra ban đầu để nhập khẩu hàng hoá không lớn. Hình thức này phù hợp hơn đối với các Công ty mới nhập khẩu hàng hoá chư có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh quốc tế.

    Nhược điểm: Nhà nhập khẩu không chủ động được thời gian chính xác, địa điểm, thủ tục….giao nhận hàng nhập khẩu mà phụ thuộc vào nhà nhập khẩu uỷ thác.

        1.2.3 Gia công quốc tế

     

    Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên kiệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phấm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.

    Gia công quốc tế ngày nay rất phổ biến trong buôn bán thương mại quốc tế.

              Ưu điểm: Đối với bên đặt gia công, giúp họ tận dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công rẻ của nước nhận gia công.

             Đối với bên nhận gia công, giúp họ giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị công nghệ hiện đại vào trong nước mình. Trong thực tế nhiều nước đang phát triển nhờ thực hiện phương thức gia công quốc tế đã góp phần xây dựng nên một nền công nghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo,….        

    Các hình thức gia công quốc tế chủ yếu:

    • Xét về quyền sở hữu nguyên liệu gia công quốc tế có thể có các hình thức sau:
    • Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhân gia công và sau một khoảng thời gian sản xuất, chết tạo sẽ nhập lại thành phẩm và trả phí gia công cho bên nhận gia công. Đối với trường hợp này thì trong thời gian gia công chế tạo quyền sở hữu về nguyên liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
    • Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian gia công sản xuất chế tạo, bên đặt gia công sẽ mua lại thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công.

    Ngoài rà có thể áp dụng hình thức kết hợp, trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp nguyên liệu phụ.

    • Xét về mặt giá cả gia công, có 2 hình thức gia công chính:
    • Hợp đồng thực chi thực thanh, trong đó bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
    • Hợp đòng khoán, trong đó người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Hai bên thanh toán với nhau theo giá định mức.
    • Xét về số bên tham gia quan hệ gia công, có 2 hình thức chính:
    • Gia công 2 bên, trong đó chỉ có bên đặt gia công và bên nhận gia công.
    • Gia công nhiều bên, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công chỉ có một.

        1.2.4 Nhập khẩu đổi hàng ( Nhập khẩu đối lưu)

    Nhập khẩu đổi hàng là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về.

    Đặc tính của nhập khẩu đổi hàng là cân bằng về mặt hàng hoá, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị, cân bằng về các điều kiện và cơ sở giao hàng.

    Phương thức này trước kia được áp dụng nhiều, là phương thức nhập khẩu chủ yếu đối với những nước đang và kém phát triển thiếu ngoại tệ mạnh để nhập khẩu. Ngày nay phương thức này không được áp dụng phổ biến lắm trong thương mại quốc tế.

        1.3.Nội dung chủ yếu của hoạt động nhập khẩu hàng hoá

    • Nghiên cứu thị trường:

    + Nghiên cứu thị trường trong nước: nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu sự vận động của môi trường kinh doanh…

    + Nghiên cứu thị trường nước ngoài: nghiên cứu nguồn cung cấp hàng hóa trên thị trường quốc tế, nghiên cứu giá cả trên thị trường quốc tế…

    • Lập phương án kinh doanh:

    + Nhận định tổng quan về tình hình diễn biến thị trường.

    + Đánh giá khả năng của doanh nghiệp.

    + Xác định thị trường, mặt hàng nhập khẩu và số lượng mua bán.

    + Xác định đối tượng giao dịch để nhập khẩu.

    + Xác định thị trường và khách hàng tiêu thụ.

    + Xác định giá cả mua bán trong nước.

    + Đề ra các biện pháp thực hiện.

    • Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng

         –   Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

              + Thuê phương tiện vận tải.

              + Mua bảo hiểm hàng hóa.

              + Làm thủ tục hải quan.

              + Nhận hàng.

              + Kiểm tra hàng hóa nhập khẩu.

              + Làm thủ tục thanh toán.

        1.4.  Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu

    * Các nhân tố bên trong Công ty

    – Nhân tố Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính

    – Nhân tố con người

    – Nhân tố vốn và công nghệ

    *   Các nhân tố bên ngoài Công ty

    – Nhân tố chính trị, luật pháp

    – Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng nhập khẩu

    – Yếu tố thị trường trong nước và ngoài nước

    – Yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động mua bán trao đổi hàng

    hoá quốc tế

    1.5. Nội dung của quy trình nhập khẩu

    * Nghiên cứu thị trường

     – Nghiên cứu thị trường nội địa

     –  Nghiên cứu thị trường nước ngoài

    * Lập phương án kinh doanh

    * Tổ chức tiến hành nhập khẩu hàng hoá

                         – Giao dịch và đàm phán

                         –  Ký kết hợp đồng

                         –  Thực hiện hợp đồng

     

     

     

    Chương II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU MẶT HÀNG SẮT THÉP CÁC LOẠI CỦA VIỆT NAM

     

    2.1. Đánh giá về lượng hàng nhập khẩu

    Sắt thép là một trong những mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này luôn đứng thứ ba, chỉ sau máy móc, thiết bị và xăng dầu

    2.1.1 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2007

    Về thị trường nhập khẩu: Đạt được tiến độ nhập khẩu sắt thép trong năm 2007 là có nhiều sự cố gắng của các doanh nghiệp, cộng với những hỗ trợ không nhỏ từ các cơ quan quản lý trong việc điều hành cơ chế một cách linh hoạt và hợp lý. Chính những việc này đã giúp các doanh nghiệp hoàn thành tốt công tác nhập khẩu của mình. Năm 2007, Việt Nam đã nhập khẩu sắt thép từ gần 70 thị trường trên thế giới. Trong đó, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,3 tỷ USD, tăng 59% so với năm 2006, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Năm 2007, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Nhật Bản cũng tăng đáng kể, đạt kim ngạch hơn 676 triệu USD, tăng 37% so với năm 2006. Đáng chú ý, nhập khẩu sắt thép từ Đài Loan tăng rất mạnh, đạt kim ngạch lần lượt là 567,8 triệu USD và 383,8 triệu USD. Như vậy, với việc nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc không còn thuận lợi như trước, rất có thể trong năm 2008 các doanh nghiệp Việt Nam sẽ chuyển sang nhập khẩu sắt thép từ các thị trường khác như Đài Loan, Malayxia, Hàn Quốc, Nga,… vì khoảng cách địa lý và đường vận chuyển từ các thị trường này cũng có nhiều thuận lợi.

    Bốn thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Malayxia chiếm 77% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam, đạt gần 4 tỷ USD, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ hầu hết các thị trường còn lại đều tăng mạnh so với năm 2006.

    Về chủng loại nhập khẩu: Năm 2007, nhập khẩu các mặt hàng sắt thép chính như thép cuộn, thép tấm, phôi thép, tháp hình… đều tăng mạnh. Theo số liệu, mặt hàng thép cuộn nhập khẩu mạnh nhất, đạt trên 2 tỷ USD tương đương 3,3 triệu tấn, chiếm 40% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Trong đó, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 827 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 77% về trị giá và 31% về lượng so với năm 2006.

    Giá nhập khẩu thép cuộn từ Trung Quốc thấp hơn khá nhiều so với các thị trường khác. Theo số liệu, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình cả năm 2007 từ Trung Quốc tăng hơn 150 USD/tấn so với năm 2006, đạt 581,5 USD/tấn, trong đó tháng 12/07 đạt mức cao kỷ lục, đạt 676,8 USD/tấn, tăng 8% so với tháng trước và 18% so với cùng kỳ năm 2006. Tuy nhiên, giá nhập khẩu thép cuộn trung bình năm 2007 từ Nhật Bản – thị trường có giá sát với Trung Quốc nhất, cũng cao hơn 30 USD/tấn so với Trung Quốc, đạt 619 USD/tấn trong đó tháng 12/07 đạt 620,57 USD/tấn, tăng 1% so với tháng trước và 6,4% so với cùng kỳ năm 2006. Các thị trường còn lại đều đạt mức trung bình trên 650 USD/tấn.

    Chủng loại sắt thép được nhập khẩu nhiều thứ hai trong năm 2007 là thép tấm, đạt hơn 994 triệu USD tương đương 1,4 triệu tấn, tăng 62% về trị giá và 30% về lượng. Trong đó nhập khẩu từ Trung Quốc đạt hơn 900 triệu USD tương đương 1,3 triệu tấn và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 479,3 triệu USD tương đương 742 ngàn tấn. Như vậy, nhập khẩu thép tấm của Việt Nam trong năm 2007 chủ yếu được nhập từ Trung Quốc và Nhật Bản.

    Ngoài hai chủng loại trên, nhập khẩu các chủng loại còn lại như thép hình, thép lá, thép không gỉ… của Việt Nam trong năm 2007 cũng tăng đáng kể so với năm 2006. Dự báo năm 2008 lượng sắt thép nhập khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn này rất lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và giao thông vận tải.

    2.1.2 Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2008

    Tuy nhiên, năm 2008, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ Trung Quốc giảm mạnh do nguồn cung từ Trung Quốc không còn dồi dào như trước, cộng với giá thành sản phẩm chiếm ưu thế không nhiều so với các thị trường khác.

    Trước tình hình tồn kho còn rất lớn, vốn bị hạn hẹp, các doanh nghiệp ngành sắt thép của Việt Nam đã giảm mạnh lượng nhập khẩu.

    Theo số liệu thống kê, nhập khẩu sắt thép các loại trong tháng 8/2008 giảm 23,03% so với tháng trước và giảm 53,84% so với cùng kì năm 2007, xuống còn 330,2 nghìn tấn, mức thấp nhất kể từ đầu năm 2007 đến nay. Đây là tháng thứ 5 nhập khẩu sắt thép giảm.

    Trong tháng 8, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc giảm 30,86% so với 7/2008 và giảm 57,12% so với tháng 8/2007 xuống chỉ còn 135,8 nghìn tấn. Tính trong 8 tháng năm 2008, nhập khẩu sắt thép từ Trung Quốc đạt 2,6 triệu tấn, giảm 3,01% so với cùng kỳ năm 2007 và chiếm 38,8% tổng lượng nhập khẩu của cả nước.

    2.1.3  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2009

              Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong tháng 11/2009, cả nước đã nhập khẩu 825.184 tấn sắt thép các loại giảm 9,4% so với tháng trước đạt trị giá 495,4 triệu USD, trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhập 197.981 tấn, trị giá 143.145.603 USD. Tính chung 11 tháng năm 2009, cả nước đã nhập 8.931.798 tấn tăng 15,3% so với cùng kỳ và đạt trị giá 4,85 tỷ USD.

                – Trong 11 tháng năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu mặt hàng này từ 26 nước trên thế giới, trong đó Nga là thị trường đứng đầu về lượng nhập với 1,66 triệu tấn, trị giá 741,5 triệu USD chiếm 57,6% tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này. Tháng 11, Việt Nam đã nhập 12.370 tấn sắt thép các loại từ thị trường Nga, với đơn giá trung bình là 449,70 USD/tấn.
               – Đứng thứ hai sau thị trường Nga là Nhật Bản, với lượng nhập 1.297.748 tấn, trị giá 737,97 triệu USD chiếm 11,11%  tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này, tăng 14,27% về lượng nhưng giảm 22,8% về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái.
               – Đứng thứ ba là thị trường Trung Quốc với lượng nhập 1.124.257 tấn, trị giá 699.372.512 USD. Theo dữ liệu thống kê của hải quan Trung Quốc, cho đến tháng 11/2009,  Việt Nam là nước nhập khẩu lớn thứ hai về sản phẩm này với 1,34 triệu tấn, giảm 50,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2008, Trung Quốc đã xuất khẩu  2,76 triệu tấn sang Việt Nam. Tỉ phần nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2008 là  4,67%. Xuất khẩu thép của Trung Quốc sang Việt Nam chiếm 6,3%.
     2.1.4  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2010

    Lượng sắt thép các loại nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc chiếm 25,5%

    Theo số liệu thống kê, Việt Nam đã nhập khẩu trên 1 triệu tấn sắt thép các loại trong tháng 10, với kim ngạch 679,5 triệu USD, tăng 20,56% về lượng so với tháng 9, nâng tổng lượng sắt thép các loại nhập về 10 tháng đầu năm lên 7,2 triệu tấn, trị giá 4,9 tỷ USD, giảm 10,27% về lượng nhưng tăng 15,50% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Trong đó, phôi thép được nhập về là 1,7 triệu tấn, trị giá trên 955 triệu USD.

    Trung Quốc, Hàn quốc, Nhật Bản là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam trong 10 tháng năm 2010. Trong đó, Trung Quốc là thị trường nhập mặt hàng này nhiều nhất với 1,8 triệu tấn chiếm 25,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 85,23% về lượng và tăng 107,73% về trị giá so với 10 tháng năm 2009. Tuy nhiên, tháng 10/2010, đã nhập 194,6 nghìn tấn sắt thép các loại từ thị trường này, đạt 125,9 triệu USD, tăng 27,7% về lượng và 13,83% về trị giá so với tháng 9/2010.

    Nhìn chung 10 tháng đầu năm 2010, nhập khẩu sắt thép các loại từ các thị trường đều giảm cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ. Giảm mạnh nhất là thị trường Ấn Độ, giảm 92% về lượng và giảm 79,84% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009, với 12 nghìn tấn, trị giá 18,1 triệu USD.

    Tình hình giao dịch xuất khẩu thép hộp tại khu vực của khẩu Móng Cái – Đông Hưng đang có chiều hướng gia tăng rõ rệt. Trong 10 ngày đầu tháng 1/2010, sản lượng giao dịch nhập khẩu thép hộp xây dựng vào thị trường Việt Nam đạt 500 tấn, do nhịp độ nhập khẩu đang tăng, nên cả tháng có khả năng sẽ đạt 2.000 tấn.

    Nhu cầu sử dụng thép hộp xây dựng của thị trường trong nước khá lớn, vì phần dân dụng chiếm tỷ lệ cao, nên các tháng còn lại của quý I/2010, sẽ còn tăng lượng nhập khẩu để cung ứng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng trong xây dựng và các công việc khác.

    Tham khảo giá thép hộp xây dựng của Trung Quốc chào bán sang Việt Nam qua cửa khẩu Móng Cái ngày 10/1/2010

    Chủng loại thép hộp

    Trọng lượng cây 6m

    Giá VNĐ/cây

    Chủng loại thép hộp

    Trọng lượng cây 6m

    Giá VNĐ/cây

    20x20x1,0

    3,54 kg

    42.502

    30x30x0,9

    4,9 kg

    57.285

    20x20x1,2

    4,20 kg

    51.741

    30x30x1,0

    5,43 kg

    62.829

    20x20x1,4

    4,83 kg

    59.133

    30x30x1,2

    6,46 kg

    75.764

    20x20x1,5

    5,14 kg

    62.829

    30x30x1,5

    7,97 kg

    97.939

    20x40x0,8

    4,38 kg

    57.285

    30x60x1,2

    9,85 kg

    125.657

    20x40x0,9

    4,90 kg

    60.981

    30x60x1,4

    11,43 kg

    144.136

    20x40x1,0

    5,43 kg

    68.372

    30x60x1,5

    12,21 kg

    153.376

    20x40x1,2

    6,46 kg

    75.764

    30x60x1,8

    14,53 kg

    188.486

    20x40x1,5

    7,97 kg

    97.939

    40x40x1,0

    7,31 kg

    88.699

    25x25x0,8

    3,62 kg

    42.502

    40x40x1,2

    8,72 kg

    107.178

    25x25x0,9

    4,06 kg

    48.045

    40x40x1,4

    10,11 kg

    123.809

    25x25x1,0

    4,48 kg

    49.893

    40x40x1,5

    10,8 kg

    133.049

    25x25x1,2

    5,33 kg

    60.981

    50x50x1,4

    12,74 kg

    164.463

    25x25x1,5

    6,56 kg

    68.372

    50x50x1,5

    13,62 kg

    173.703

    25x50x1,0

    6,84 kg

    70.220

    50x50x1,8

    16,22 kg

    214.356

    25x50x1,4

    9,45 kg

    123.809

    50x50x2,0

    17,94 kg

    245.771

    25x50x1,5

    10,09 kg

    133.049

    60x60x1,4

    15,38 kg

    203.269

    25x50x1,8

    11,98 kg

    158.919

    60x60x1,5

    16,45 kg

    214.356

    2.1.5  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2011

    Theo số liệu thống kê , tháng 10/2011 Việt Nam đã nhập 609,2 nghìn tấn sắt thép các loại, chi trên 500 triệu USD, giảm cả về lượng và trị giá so với tháng 10/2010. Nhưng tính chung 10 tháng đầu năm nhập khẩu mặt hàng này lượng giảm nhưng tăng trưởng về kim ngạch, giảm 17,37% về lượng, tăng 4,28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, tương đương với 5,9 triệu tấn, trị giá 5,2 tỷ USD.

    Thị trường: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… tiếp tục là những thị trường chính cung cấp sắt thép cho Việt Nam. Đứng đầu là thị trường Nhật Bản với trên 1,5 triệu tấn trong 10 tháng đầu năm chiếm 26,5% tỷ trọng, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 15,54% về lượng và tăng 36% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi hơn Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ 3 về thị trường cung cấp sắt thép các loại cho Việt Nam trong 10 tháng đầu năm nay với 1,34 triệu tấn , trị giá 1,2 tỷ USD, giảm 27,21% về lượng và giảm 5,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2010.

    2.1.6  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong năm 2012

    Trong năm 2012, TRung Quốc vượt qua Nhật Bản và lần thứ ba trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 trở thành đối tác lớn nhất cung cấp sắt thép cho thị trường Việt Nam với 2,34 triệu tấn, trị giá là 1,76 tỷ USD, tăng 40,3% về lượng và tăng 17,9% về trị giá so với năm 2011 (trong hai năm 2008 và năm 2010, sắt thép cps xuất xứ từ Trung Quốc cũng là nguồn hàng lớn nhất cho Việt Nam) .

    Tháng 3/2012 Việt Nam đã nhập khẩu 612,9 nghìn tấn, trị giá 494,1 triệu USD, giảm 11,7% về lượng và giảm 9,7% về trị giá so với tháng 2/2012. Tính chung 3 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã nhập khẩu 1,8 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,4 tỷ USD, tăng 7,3% về lượng và tăng 6,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Là thị trường có vị trí địa lý thuận lợi nên Trung Quốc – thị trường chính nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong thời gian này, chiếm 23,5% tỷ trọng, tương đương với 424,8 nghìn tấn, trị giá 334 triệu USD, tăng 46,6% về lượng và tăng 32,02% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 3/2012, Việt Nam đã nhập khẩu 143,6 nghìn tấn, trị giá 114,1 triệu USD.

    Các chủng loại thép được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc trong tháng 3 là thép tấm cán nóng, thép cuộn cán nóng, thép hợp kim được cán phẳng, thép tấm hợp kim… với đơn giá 630 USD/tấn; 644 USD/tấn; 645 USD/tấn…

    2.1.7  Nhập khẩu sắt thép của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc trong quý I năm 2013

    Kết thúc quý I/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 2,1 triệu tấn sắt thép các loại, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 20,05% về lượng và tăng 7,11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012. Tính riêng tháng 3/2013, Việt Nam đã nhập khẩu 828,1 nghìn tấn, trị giá 601,6 triệu USD, tăng 50,3% về lượng và tăng 50,6% về trị giá so với tháng liền kề trước đó.

    Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng 3 là 36,3 nghìn tấn, trị giá là 20,8 triệu USD, tăng 23,5% về lượng và tăng 25,1% về trị giá so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu trong quý I/2013 lên 83,5 nghìn tấn, trị giá là 47,3 triệu USD, giảm 25,3% về lượng và giảm 34,7% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

    Các thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam trong quý đầu năm này là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin, Ấn Độ…Trong đó Nhật Bản là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu sắt thép, chiếm 31,7% thị phần, tương đương với 686,2 nghìn tấn, trị giá 444,1 triệu USD, tăng 62,5% về lượng và tăng 35,44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012.

    Tuy có vị trí địa lý thuận lợi cho việc vận chuyển, nhưng Trung Quốc chỉ đứng thứ hai sau thị trường Nhật Bản, chiếm 28,9% thị phần, với 626,7 nghìn tấn, trị giá 443,5 triệu USD, tăng 47,5% về lượng và tăng 32,78% về trị giá so với quý I/2012.

    2.2 Cơ chế chính sách nhập khẩu sắt thép của Việt Nam

              Chính sách nhập khẩu đối với mặt hàng thép nói chung Nhà Nước không quy định hạn ngạch nhập khẩu, hầu hết các loại phôi và thép thành phẩm nhập khẩu từ các nước trong khu vực Đông Nam Á có thuế suất 0% hoặc thuế suất thấp dưới 5% theo chương trình cắt giảm thuế quan chung (CEPT), trừ một số loại sắt, thép không hợp kim được cán mỏng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, đã phủ mạ, hoặc tráng hiện đang có mức thuế suất từ 5% đến 20%.

              Việc quản lý nhập khẩu, Nhà nước quản lý các đơn vị nhập khẩu thép thông qua Tổng Công ty Thép Việt Nam. Các đơn vị nhập khẩu trực thuộc Tổng Công ty khi nhập khẩu đều phải xin phép, khai báo lên Tổng Công ty.

              Tổng Công ty căn cứ vào tình hình sản xuất và tiêu thụ thép trong nước để lập kế hoạch và quản lý nhập khẩu.

     Những quy định về nhập khẩu sắt thép của Tổng Công ty thép Việt Nam

              Căn cứ vào Nghị định số 03/CP ngày 25/01/1996 của Chính phủ phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Thép Việt Nam

              Căn cứ vào tình hình thị trường thép

              Tổng Công ty Thép Việt Nam qui định một số vấn đề sau:

              Quy định chung

    Một là, các đơn vị trực thuộc được quyền chủ động nhập khẩu kim khí phục vụ sản xuất – kinh doanh của đơn vị mình theo qui định của pháp luật hiện hành, trừ các trường hợp phải được Tổng Công ty phê duyệt.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị thương mại kinh doanh hàng nhập khẩu theo hướng chuyên doanh nhằm phát huy thế mạnh của từng đơn vị, đồng thời cần phải có sự phối hợp về thị trường và giá cả trong nội bộ Tổng Công ty.

    Ba là, Tổng Công ty có thể trực tiếp nhập khẩu theo đơn đặt hàng của các đơn vị trực thuộc hoặc tự nhập khẩu để kinh doanh. Giá bán củaTổng Công ty cho các đơn vị trực thuộc tính trên cơ sở của Qui định về tài chính của Tổng Công ty.

    Bốn là, Phòng kinh doanh -xuất nhập khẩu trực tiếp tổ chức tiếp nhận các lô hàng Tổng Công ty nhập khẩu hoặc uỷ quyền cho các đơn vị trực thuộc thực hiện. Trong trường hợp các đơn vị tiếp nhận thì phí tiếp nhận được hạch toán theo quy định về tài chính của Tổng Công ty. Đơn vị tiếp nhận phải hoàn thiện đầy đủ, đúng hạn các thủ tục khiếu nại hàng thiếu hoặc phẩm chất không phù hợp vơí hợp đồng (nếu có). Nếu để xảy ra không khiếu nại được thì đơn vị tiếp nhận chịu trách nhiệm về số hàng thiếu hụt và kém phẩm chất đó.

    Năm là, các đơn vị thương mại chủ động thiết lập chân hàng nhập khẩu ổn định để đảm bảo nhu cầu kinh doanh, hạn chế tối đa hình thức dịch vụ nhập khẩu (khách hàng giao dịch nguồn cung cấp, các đơn vị thương mại chỉ làm thủ tục nhập khẩu và hưởng phí) và không được uỷ thác nhập khẩu qua các đơn vị ngoài Tổng Công ty.

    Sáu là, thẩm quyền ký kết hợp đồng mua được thực hiện theo điều 10.2 Quyết định số 1553 QĐ/HĐQT ngày 21/8/1997 của Hội đồng quản trị Tổng công ty Thép Việt Nam. Những hợp đồng mua có trị giá vượt quá thẩm quyền của các đơn vị chỉ được ký và thực hiện sau khi đã được Tổng Công ty phê duyệt. Nghiêm cấm đối phó bằng cách chia nhỏ hợp đồng.

    Quy định về phê duyệt nhập khẩu

    – Việc nhập khẩu phôi thép và thép chính phẩm các loại phải được Tổng Công ty phê duyệt. Đơn vị nhập khẩu tự chịu trách nhiệm về tư cách khách hàng và hiệu quả kinh doanh của từng lô hàng nhập khẩu theo phương án đã trình Tổng Công ty.

    – Hồ sơ xin phép nhập khẩu:

    Công văn xin phép nhập khẩu do thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền ký;

    + Phương án kinh doanh (theo mẫu số 1 đính kèm);

    + Báo cáo tồn kho chi tiết mặt hàng xin nhập khẩu;

    + Báo cáo thực hiện các hợp đồng nhập khẩu trước đó (theo mẫu số 3 đính kèm).

    + Đơn chào hàng của khách hàng.

    + Giấy bảo lãnh của Ngân hàng (đối với trường hợp cung cấp phôi thép cho các đơn vị ngoài Tổng Công ty).

    + Đối với những lô hàng cần Tổng Công ty bảo lãnh mở L/C thì kèm theo đơn xin bảo lãnh.

    – Trong vòng tối đa 02 ngày kể từ khi nhận được đầy đủ các hồ sơ trên theo đúng nội dung quy định Phòng kinh doanh – xuất nhập khẩu phải thông báo quyết định của Lãnh đạo Tổng Công ty để đơn vị thực hiện. Các đơn vị chỉ được ký kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu sau khi nhận được uỷ quyền của Tổng giám đốc Tổng Công ty.

     Qui định cụ thể về nhập khẩu phôi thép

    Một là, các đơn vị sản xuất trực thuộc phải có kế hoạch nhập khẩu đảm bảo nguồn phôi cho sản xuất. Nếu không tự nhập khẩu được thì phải có kế hoạch đặt mua qua các đơn vị thương mại trực thuộc Tổng Công ty hoặc cơ quan văn phòng Tổng Công ty; trường hợp đặc biệt phải mua của các đơn vị ngoài Tổng Công ty chỉ được thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Tổng Công ty. Các đơn vị thương mại của Tổng Công ty chỉ được nhập khẩu trực tiếp  để cung cấp cho các đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công ty.

    Hai là, Tổng Công ty khuyến khích các đơn vị nhập khẩu trực tiếp phôi thép để cung cấp cho các liên doanh của Tổng Công ty.

    Ba là, việc cung cấp phôi thép cho các đơn vị sản xuất ngoài Tổng Công ty (kể cả nguồn khai thác) được Tổng Công ty cho phép thực hiện nếu phương án kinh doanh có hiệu quả cao, có bảo lãnh của ngân hàng có uy tín và không ràng buộc phải tiêu thụ sản phẩm. Giám đốc đơn vị có trách nhiệm thực hiện đúng phương án đã trình Tổng Công ty. Đơn vị nào vi phạm sẽ không được xem xét những lô hàng tiếp theo và phải chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty.

    2.3 Những tồn tại trong việc nhập khẩu sắt thép

             Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa.

    Sản phẩm đang bị khủng hoảng thừa nhưng ngành thép Việt Nam mỗi năm phải nhập khẩu thêm khoảng 7 tỉ USD.

    Vấn đề này cần được nhìn nhận thế nào trong thực trạng ngành thép? Đâu là những trắc trở và hướng giải quyết trong cơ cấu phát triển thép Việt Nam hiện nay?

    Nhập khẩu thép giá rẻ khiến thị trường thép dư thừa đe dọa doanh nghiệp nội.

    Trong khi lượng thép sản xuất trong nước còn đang tồn kho tới hơn 300 nghìn tấn, thì nhiều doanh nghiệp vẫn ồ ạt nhập khẩu thép. Dẫu biết rằng việc nhập khẩu các loại thép mà trong nước chưa sản xuất được là không thể tránh khỏi.

    Tuy nhiên việc nhập khẩu các loại thép trong nước đang dư thừa, đặc biệt là thép giá rẻ đang gây nhiều tác động đến sản xuất thép trong nước.

    Hiện nay thép ngoại đang tràn ngập thị trường Việt Nam và đang tiếp tục nhập, với giá rẻ hơn thép trong nước, khoảng 800.000 đồng/tấn. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do tiêu thụ thép trên thế giới giảm, các công ty thép nước ngoài cần tiền mặt.

    Ngoài ra, do có khả năng, cạnh tranh mạnh, được Chính phủ các nước đó hỗ trợ nên các công ty thép nước ngoài chấp nhận bán thép vào Việt Nam với giá dưới giá thành.

    Tác động xấu lớn nhất của việc nhập khẩu thép nêu trên là đã và đang đẩy ngành thép Việt Nam vốn có khả năng cạnh tranh còn yếu vào tình thế vô cùng khó khăn, không đủ sức cạnh tranh với thép ngoại.

    Ngoài ra, một số công ty thương mại trong nước muốn có lời nhiều nên nhập thép giá càng rẻ càng tốt, là loại thép do cơ sở nhỏ sản xuất với chất lượng kém gây hại cho các công trình xây dựng.

    Để tìm hiểu rõ về vấn đề này, phóng viên Đài TNVN phỏng vẫn ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam.

    Trả lời câu hỏi của phóng viên: “ Thưa ông, được biết hiện nay, lượng thép trong nước tồn kho rất lớn trong khi đó, nhập khẩu thép lại tăng lên. Ông có thể cho biết tình hình cụ thể?”. Ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết:

    Về tình hình nhập khẩu, trong mấy năm nay chúng ta vẫn nhập những sản phẩm trong nước chưa sản xuất được như cán tấm nóng 1 năm phải nhập 3 tỷ USD với 3 triệu tấn. Thép, đặc biệt như thép hợp kim, thép chế tạo hoặc nguyên liệu cho sản xuất thép như thép phế nhập tới 70-80% theo nhu cầu thị trường với hơn 3,5 triệu tấn trong năm 2012. Tuy nhiên, có những sản phẩm mà trong nước dư thừa như thép xây dựng vẫn được nhập vào. Nếu như nhập thép xây dựng vẫn có thuế cao từ 5-10% nhưng họ trốn tránh theo cách khai thác thép nhập khẩu là hợp kim để có mức thuế 0%. Chủ yếu là thép Trung Quốc chứa vi lượng Bo được xác định là thép hợp kim nên được hưởng thuế 0%.

    Hiện, thép xây dựng trong nước sản xuất được và đang dư thừa nên nếu nhập vào thì là vô lí, ảnh hưởng thị trường, chiếm thị phần trong nước. Khi nhập khẩu làm giảm thị phần trong nước. Thép sây ở Việt Nam cơ cấu 20-25% mà giờ tụt xuống dưới 20% có nghĩa là thép nước ngoài đã chiếm mất thị phần và buộc doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với giá ấy phải giảm sản lượng, hoặc chuyên sản xuất mặt hàng khác, chiếm thị trường của mình làm doanh nghiệp phải chuyên cơ cấu sản xuất khác, không sản xuất các sản phẩm ấy nữa.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp khắc phục mặc dù tình trạng này đã xuất hiện từ lâu, ông Nguyễn Tiến Nghi cho biết thêm:

    Việc gian lận thương mại như vậy không riêng gì Việt Nam mà ở cả các nước Đông Nam á cũng rất nóng lòng về việc này. Hiện nay thép Trung Quốc nhập vào rẻ hơn 300.000-500.000 đồng/tấn. Người bán hàng không nói đây là hàng Trung Quốc mà người dân lại thấy rẻ nên mua, rất khó kiểm soát. Đây là vấn đề rất khó vì thực chất là họ né từ thép xây dựng sang hợp kim, thực chất là trốn thuế từ 5% xuống 0%. Thứ hai, ta có quy định nguyên tố Bo từ 8 phần nghìn là thép hợp kim, nếu thay đổi phải thay cả quy định này. Rất khó để thay đổi ngay trong một thời gian vì còn liên quan đến quy chuẩn thế giới.

    Trả lời cho câu hỏi tại sao chưa có giải pháp ngăn chặn hình thức gian lận trong thương mại bảo về sản xuất trong nước, ông Nguyễn Tiến Nghi cũng cho biết:

    Hiện chúng tôi đang phối hợp cùng với các nước Đông Nam Á để đưa ra một chuẩn pháp lý. Còn bới quản lý nhà nước thì cơ quan Hải quan phải vào cuộc. Lãnh đạo hiệp hội cũng đề nghị với Hải quan là các khách hàng nhập thép về thì phải đề nghị họ khai báo đúng mác nhập khẩu. Chúng tôi cung cấp một số mác chung như hiện nay. Phân tích nguyên tố Bo vi lượng rất nhỏ nhiều khi không có máy để làm được. Cho nên phải kiểm tra việc nhập khẩu kê khai đúng thì mới kiểm soát được. Thứ hai, giá thép hợp kim không có giá 600-700 USD/tấn mà phải 950-1000 USD/tấn. Thép hợp kim thì không bao giờ đưa đi xây dựng vì với mức giá như vậy, giá quá cao nên cần phải có hậu kiểm, tức là kiểm tra xem thép khi nhập về thì sử dụng vào việc gì, đi theo đường nào, hướng nào, để giảm bớt tình trạng này.

     

    Chương III: PHƯƠNG HƯỚNG NHẬP KHẨU SẮT THÉP KHI VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐẦY ĐỦ CAM KẾT WTO

    3.1 Những cam kết của Việt Nam

    3.1.1Tình hình phát triển ngành thép Việt Nam trước khi gia nhập WTO?

    Ngành thép Việt Nam được khởi đầu bằng sự ra đời của Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên năm 1963 . Sau một thời gian dài phát triển khá chậm, kể từ năm 2001 (khi Chính phủ có Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10/9/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010), ngành thép đã có những bước phát triển tương đối nhanh.

    Bảng 1 – Năng lực sản xuất ngành thép (tấn)

    Năm 2001

    Năm 2007

    Năng lực luyện thép

    350.000

    3.400.000

    Năng lực cán thép

    2.000.000

    6.400.000

    Tính đến cuối năm 2007, năng lực luyện thép tăng gần 10 lần so với năm 2001, s ản lượng tăng gấp 6 lần, năng lực cán thép tăng gấp 3 lần so với năm 2001. Tổng sản lượng thép cán năm 2007 đạt khoảng 4 triệu tấn.

    Ngành thép Việt Nam đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ về thép cán xây dựng, tôn mạ kẽm mạ màu, ống hàn cỡ nhỏ và một phần nhu cầu về thép lá cán nguội của thị trường trong nước. Mục tiêu phát triển của ngành thép vì vậy vẫn là đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước và tăng cường xuất khẩu khi có năng lực.

    3.1.2. Năng lực sản xuất thép?

    – Đối với sản phẩm thép:

    Hiện Việt Nam có khoảng 25 doanh nghiệp và trên 50 cơ sở sản xuất nhỏ sản xuất cán thép với chủng loại thép cán dài (tồng công suất của các cơ sở này theo thiết kế khoảng 6,4 triệu tấn/năm) và thép dẹt (công suất 600.000 tấn/năm với thép dẹt cán nguội, hiện đang xây dựng nhà máy thép cán nóng công suất 2 triệu tấn/năm).

    Trình độ công nghệ ngành cán thép chia làm 3 nhóm:

    • nhóm các nhà máy hiện đại, sử dụng công nghệ và thiết bị hiện đại của nước ngoài, chiếm khoảng 20% đến 25% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy trung bình, sử dụng các công nghệ và thiết bị của các nước như Trung quốc, Đài Loan, chiếm khoảng 55% đến 65% tổng công suất cán hiện có.
    • nhóm các nhà máy lạc hậu qui mô rất nhỏ, sử dụng thiết bị tự chế tạo trong nước, chiếm khoảng 15% đến 20% tổng công suất cán hiện có;

    – Đối với phôi thép:

    Hiện có khoảng 14 doanh nghiệp sản xuất phôi thép với công suất thiết kế đạt hơn 2 triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu nguyên liệu phôi để cán thép, số còn lại nhập khẩu từ nước ngoài (chủ yếu từ Trung Quốc).

    Việt Nam đang phấn đấu nâng cao tỷ lệ phôi sản xuất trong nước lên 70% trong thời gian tới thông qua việc đầu tư mới và thực hiện mở rộng các dự án sản xuất phôi thép hiện có; tăng cường hiệu quả công tác quản lý tài nguyên quặng sắt, hạn chế xuất khẩu quặng thô (thời gian gần đây nhà nước đã tăng thuế xuất khẩu đối với quặng sắt).

    3.1.3. Tình hình nhập khẩu thép hiện nay?

    Hàng năm Việt nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn thép các loại, bao gồm:

    • Các loại thép mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu: thép nguyên liệu dẹt cán nóng (thép tấm dày, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng, thép hợp kim chất lượng cao;
    • Đối với thép xây dựng, mặc dù trong nước dư thừa công suất sản xuất nhưng do thép ngoại có ưu thế về giá nên thép xây dựng vẫn được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc.

    Bảng 2 – Tình hình nhập khẩu thép

    Năm 2006

    Năm 2007

    Tổng lượng nhập khẩu

    5,7 triệu tấn

    8 triệu tấn

    Tổng kim ngạch nhập khẩu

    2,94 tỷ USD

    5,11 tỷ USD

    Tổng lượng phôi thép nhập khẩu

    1,94 triệu tấn

    2,15 triệu tấn

    Tổng kim ngạch nhập khẩu phôi thép

    750,5 triệu USD

    1,1 tỷ USD

    Nguồn gốc thép nhập khẩu

    Trung Quốc (trên 50%), Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga

     

    3.1.4. Năng lực cạnh tranh của ngành thép?

    Thép là ngành sản xuất có tốc độ phát triển tương đối nhanh và là ngành trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân. Cụ thể:

    • Mức tăng về sản lượng bình quân hàng năm của ngành thép trong 10 năm trở lại đây đạt gần 20%;
    • Sản xuất thép đáp ứng được khoảng 55% nhu cầu nội địa (sản lượng đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng và một số sản phẩm gia công sau cán).

    Mặc dù năng lực cạnh tranh đã có cải thiện đáng kể nhưng ngành thép Việt Nam vẫn còn rất nhiều hạn chế:

    • Sự phát triển về đầu tư và sản xuất thép tăng nhanh nhưng thiếu bền vững(đầu tư ồ ạt, dàn trải, mất cân đối cung cầu, quá tập trung vào lợi nhuận ngắn hạn, phá vỡ quy hoạch);
    • Năng lực cạnh tranh thấp so với các nước trong khu vực(sản xuất quy mô nhỏ, dây chuyền lạc hậu, phân tán; chi phí đầu vào, chi phí sản xuất cao hơn trung bình chung của thế giới);
    • Công nghệ lạc hậu: các nhà máy nhỏ lạc hậu và trung bình hiện chiếm khoảng 75-80% tổng công suất cán (các nhà máy hiện đại chỉ chiếm khoảng 20-25%); công nghệ chủ yếu vẫn là gia công cán thép, nguyên liệu cho sản xuất chủ yếu nhập được nhập khẩu từ bên ngoài;
    • Chủng loại và cơ cấu sản phẩm không đa dạng: Tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thép xây dựng, thép dẹt cán nóng (thép tấm, lá và băng cuộn cán nóng), thép hình cỡ lớn, thép đặc chủng và thép hợp kim chất lượng cao chủ yếu phải nhập khẩu.
    • Công tác dự báo hạn chế(doanh nghiệp không có hệ thống thông tin độc lập để dự báo biến động thị trường nhằm phục vụ cho công tác điều hành sản xuất kinh doanh).

    3.1.5. Việt Nam đã cam kết gì trong WTO về thuế quan đối với sản phẩm thép nhập khẩu?

    Thép là một trong những ngành mà trong quá trình đàm phán gia nhập WTO được nhiều đối tác đàm phán quan tâm. Theo cam kết của Việt Nam trong WTO, Việt Nam đã đồng ý cam kết cắt giảm và ràng buộc ở mức thuế suất hiện hành của hơn 700 dòng thuế liên quan đến mặt hàng sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu từ tất cả các nước thành viên WTO.

    Bảng 3 – Tổng quan về các cam kết trong WTO đối với sắt thép

    TT

    Mặt hàng

    Thuế suất MFN trước khi gia nhập (%)

    Cam kết với WTO

    Khi gia nhập (%)

    Cuối cùng (%)

    Thời hạn thực hiện

    1.

    Thuế suất bình quân cả biểu thuế

    17,4

    17,2

    13,4

    Chủ yếu sau 3-5 năm

    2.

    Thuế suất bình quân sản phẩm công nghiệp

    16,7

    16,2

    12,4

    Chủ yếu sau 3-5 năm

    3.

    Thuế suất bình quân sản phẩm sắt thép

    7,5

    17,7

    13,0

    5-7 năm

    4.

    Thép xây dựng

    10

    20-40

    15-25

    2014

    5.

    Phôi thép

    5

    20

    10

    2014

    Mức cắt giảm về thuế nhập khẩu đối với ngành thép trong khuôn khổ WTO về cơ bản ngang bằng với mức cắt giảm bình quân chung của toàn bộ Biểu thuế. Mức thuế suất trần cho thép xây dựng và phôi thép theo các cam kết trong WTO đều ở mức cao hơn mức thuế suất thực tế đang áp dụng.

    Như vậy, việc thực hiện cắt giảm thuế theo các cam kết trong WTO tuy có làm giảm mức bảo hộ so với ngành thép, song về cơ bản ngành thép vẫn là trong một số các ngành được duy trì mức bảo hộ tương đối cao. Về cơ bản trong những năm tới các doanh nghiệp của ngành thép sẽ không phải chịu tác động của các cam kết trong WTO. Đặc biệt, thuế suất đối với các sản phẩm chủ yếu của ngành thép Việt Nam đang sản xuất như hiện nay vẫn còn cao hơn mức thuế MFN hiện tại. Do vậy, trong thời gian một số năm, việc thực hiện các cam kết về thuế quan trong WTO chưa ảnh hưởng nhiều đến ngành thép.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trên thực tế, do phần lớn nhập khẩu sắt thép của Việt Nam là từ Trung Quốc và các nước ASEAN (được hưởng mức thuế nhập khẩu theo cam kết CEPT/AFTA và ACFTA, thấp hơn so với thuế nhập khẩu theo WTO) nên việc này không có nhiều ý nghĩa. Nói cách khác, tác động của cam kết thuế quan trong WTO đối với ngành thép không lớn bằng tác động của các cam kết khu vực mà Việt Nam đã ký kết và thực hiện từ năm 2005, 2006.

    3.1.6. Triển vọng của chính sách bảo hộ ngành thép bằng thuế nhập khẩu ?

    Theo các cam kết gia nhập WTO và các cam kết khu vực, việc bảo hộ ngành thép chủ yếu được thực hiện thông qua thuế quan.

    Tuy nhiên, thực tế điều hành chính sách thuế nhập khẩu đối với mặt hàng sắt thép trong hai năm qua cho thấy công cụ bảo hộ này có hiệu quả rất hạn chế. Do giá sắt thép và nguyên liệu trên thị trường thế giới liên tục tăng cao, Nhà nước không những không tăng thuế mà còn giảm nhiều hơn so với cam kết để thực hiện mục tiêu bình ổn giá. Vì vậy các doanh nghiệp cần tính đến các giải pháp cạnh tranh khác hơn là trông đợi vào việc bảo hộ thông qua cam kết thuế nhập khẩu cao.

    3.1.7  Doanh nghiệp ngành thép cần làm gì để hội nhập thành công khi ra nhập WTO?

    Về lý thuyết, việc gia nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm (do các nước thành viên WTO phải cho sản phẩm Việt Nam hưởng thuế nhập khẩu MFN), có cơ hội tiếp thu công nghệ sản xuất thép và phương pháp quản lý hiện đại, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn mới.

    Tuy nhiên, hội nhập cùng với việc từng bước xoá bỏ hàng rào thuế quan cũng đã đặt ra nhiều thách thức đối với các doanh nghiệp trong ngành thép Việt Nam. Thách thức còn lớn hơn khi mà phần hàng rào thuế quan được duy trì cũng không có nhiều ý nghĩa (như phân tích tại Câu 5).

    Vì vậy, để hội nhập thành công, trước hết là để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường nội địa, các doanh nghiệp cần lưu ý ít nhất các vấn đề sau đây:

    – Về nguồn nguyên liệu: chủ động đầu tư sản xuất thượng nguồn (khai thác quặng sắt làm nguyên liệu cho luyện thép và cán ra sản phẩm); đầu tư cho chiến lược phát triển các cơ sở cung cấp phôi thép (nhằm tự sản xuất được phôi thép với giá thành thấp ở trong nước).

    – Về tổ chức sản xuất: đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố sản xuất đầu vào nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm, giảm giá bán.

    – Về sản phẩm: Đầu tư sản xuất nguồn nguyên liệu, đổi mới thiết bị, chuyển hướng đầu tư sang sản xuất các sản phẩm mới (thép cuộn cán nóng, thép tấm, tôn mạ kẽm, mạ màu…).

    – Về marketing: Chú trọng phát triển năng lực marketing, xây dựng hình ảnh và củng cố sức mạnh cho các nhãn hiệu thép Việt Nam trên thị trường Việt Nam; xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng bao gồm các khách hàng cuối cùng và các nhà phân phối.

     Về nguồn nhân lực: Phát triển đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn cao, phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu, các trường dạy nghề để đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn cao, thích ứng với công nghệ hiện đại; chú trọng công tác nghiên cứu và phát triển, gắn nghiên cứu với triển khai thực hiện.

    3.2 Phương hướng quản lý về việc nhập khẩu sắt thép của nước ta

    Thứ nhất, đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ đội ngũ cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu nói chung và phục vụ hoạt động nhập khẩu thép nói riêng.

    Sự tồn tại và phát triển của bất cứ Công ty nào cũng cũng bắt nguồn từ yếu tố con người. Các phòng kinh doanh hiện nay có độ ngũ cán bộ kinh doanh tương đối hoàn chỉnh, hầu hết đã qua đào tạo đại học chính quy hoặc tại chức về nghiệp vụ kinh doanh và ngoại ngữ. Tuy nhiên kinh doanh xuất nhập khẩu không những yêu cầu về trình độ nghiệp vụ cao mà còn các yếu tố khác như kinh nghiệm, khả năng giao tiếp, sự phản ứng nhạy bén trước những biến động của thị trường. Thực tế là một số các cán bộ có kinh nghiệm thực tế trong kinh doanh nhưng lại hạn chế về trình độ ngoại ngữ, còn các bộ trẻ lại thiếu kinh nghiệm thực tế. Do yêu cầu của hoạt động kinh doanh nhập khẩu cần phải nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác kinh doanh nhập khẩu là rất cần thiết.

              Xây dựng một cơ cấu nhân sự hợp lý phát huy được tính năng động sáng tạo của mỗi các nhân cũng như khai thác được nguồn lực chất xám của đội ngũ kinh doanh nhập khẩu.

    Thứ hai, duy trì các mối quan hệ với khách hàng, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và tìm kiếm đối tác mới.

              Thiết lập được mối quan hệ bạn hàng cung cấp rộng khắp là rất quan trọng tạo nguồn hàng ổn định và chất lượng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có quan hệ với một số bạn hàng truyền thống như Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapo, trước sự biến động phức tạp của thị trường thép thì cần phải tìm kiếm các đối tác mới. Nước ta phải có chính sách và giải pháp để mở rộng mối quan hệ với bạn hàng, khai thác tốt các bạn hàng hiện nay. Các giải pháp cụ thể mà Việt Nam cần phải tiến hành với bạn hàng là nghiên cứu tìm hiểu kỹ các thông tin về môi trường kinh tế – chính trị – luật pháp của các nước bạn hàng nhằm tạo cơ sở cho việc đàm phám ký kết hợp đồng, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường cung cấp thép, thiết lập mối quan hệ rộng khắp đối với các nhà cung cấp ở mỗi nước bạn hàng, thường xuyên cập nhật thông tin về năng lực sản xuất, quy mô và khả năng cung ứng của mỗi nhà cung cấp. Từng bước mở rộng danh mục nhà cung cấp thép trong thời gian tới. Xúc tiến thăm dò thị trường, tìm hiểu tập hợp thông tin về thị trường thép của các nhà cung cấp lớn như Trung Quốc, Đức, Nhật Bản,…

              Tìm kiếm các đói tác trong khu vực để tận dụng chi phí về vận chuyến.

    Thứ ba, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường bằng cách duy trì, củng cố thị trường cũ, mở rộng thị trường mới.

    Thứ tư, tăng cường bổ sung, huy động nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu bằng cách huy động nguồn vốn từ bên ngoài, tham gia thị trường chứng khoán.

    Thứ năm, xây dựng mạng lưới phân phối đa dạng và ổn định

    Thứ sáu, tăng cường công tác liên doanh, liên kết với các công ty khác trong hoạt động nhập khẩu thép.

    Thứ bảy, Hoàn thiện quy trình nhập khẩu thép:

               -Hoàn thiện theo hướng chuyên môn hoá để giảm bớt các chi phí với các  nghiệp vụ hải quan

               -Hoàn thiện quá trình lựa chọn thị trường và ký kết hợp đồng

               -Hoàn thiện quá trình giao nhận và vận chuyển hàng từ cảng

               -Nâng cao năng lực thuê tàu vận chuyển và mua bảo hiểm

               -Hoàn thiện quy trình thanh toán và thủ tục thanh toán

    Thứ  tám, Hạ thấp chi phí lưu thông phân phối thép nhập khẩu và mở rộng các hình thức huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

    3.3 Những kiến nghị đối với Nhà nước và Tổng Công ty Thép

               Một là, cần hoàn thiện các văn bản pháp quy, chính sách và biểu thuế nhập khẩu thép và có những thông báo kịp thời tức là hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và đơn giản hoá thủ tục hành chính liên quan đến nhập khẩu

              Hai là, hỗ trợ cung cấp thông tin về thị trường thép trên thế giới và trong nước về tình hình sản xuất, nhu cầu, sự biến động của thị trường thép,….

              Ba là, hỗ trợ đào tạo cán bộ nghiên cứu thị trường, có trình độ am hiểu luật pháp, nghiệp vụ, ngoại ngữ.

              Bốn là, tổ chức các cuộc hội thảo, hỗ trợ vốn, tăng cường liên doanh liên kết giữa các thành viên trong hoạt động nhập khẩu thép.

             Năm là, phát triển hệ thống đường xá cầu cảng bến bãi.

            Sáu là, tạo môi trường công bằng và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm.

     

    KẾT LUẬN

     

              Xu thế toàn cầu hoá hiện nay đã và đang diễn ra mạnh mẽ, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, không một quốc gia nào có thể phát triển mà không hoà nhập với xu thế hiện nay. Thương mại quốc tế là tất yếu khách quan, sự giao lưu trao đổi buôn bán giữa các quốc gia, các thành phần kinh tế ngày càng sâu rộng.

         Sau các chương trên, hẳn chúng ta đã có một cái nhìn khá toàn diện về hoạt động nhập khẩu mặt hàng sắt thép từ thị trường Trung Quốc của Việt Nam trong những năm gần đây từ lý thuyết nghiên cứu cho đến thực tiễn.

              Trong thời gian qua ngành nhập khẩu mặt hàng sắt thép đã đạt được những thành công nhất định góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép trong nước. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh nhập khẩu thép không tránh khỏi những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài do những biến động về môi trường kinh tế, chính trị nói chung và sự biến động của thị trường thép nói riêng, sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ cạnh tranh. Chính vì vậy, để khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu sắt thép không những cần có sự nỗ lực hoàn thiện của ngành mà còn cần có sự hỗ trợ từ phía Hiệp hội, Nhà Nước.

               Trong bối cảnh  nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc  dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh  tranh của doanh nghiệp  Việt  Nam còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài…

    Với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo bộ môn kinh tế ngoại thương – thầy Dương Văn Bạo, em đã hoàn thành xong bài tập lớn về vấn đề “ Tìm hiểu cơ chế, chính sách quản lí nhập khẩu sắt thép từ thị trường Trung Quốc và định hướng trong những năm tới khi Việt Nam thực hiện đầy đủ những cam kết của WTO”.  Em đã rất cố gắng tìm hiểu , học tập và nghiên cứu để hoàn thành bài tập thầy đã giao, tuy chỉ là đề cập nhỏ trong vấn đề lớn . Bài tập của em không tránh khỏi những thiếu sót .Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy và các bạn để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn .         

    Em xin chân thành cảm ơn thầy!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế môi trường Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội

    Tiểu luận kinh tế môi trường Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội

    Tiểu luận kinh tế môi trường Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tiểu luận Kinh tế lượng Một số yếu tố ảnh hưởng đến Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam trong giai đoạn 1995 – 2011


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-gi%E1%BA%A3m-thi%E1%BB%83u-%C3%B4-nhi%E1%BB%85m-kh%C3%B4ng-kh%C3%AD-%E1%BB%9F-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế môi trường Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    MỞ ĐẦU

    Bảo vệ môi trường đã đang và sẽ còn là vấn đề cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt đối với tương lai phát triển của tất tả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không loại trừ. Đây là một vấn đề vô cùng rộng rãi và phức tạp đòi hỏi phải giải quyết, nhanh tróng với sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ vàthường xuyên của mọi cá nhân, mọi cộng đồng, mọi quốc gia và toàn thể nhân loại trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực của đời sống con người.

    Hoà cùng nhịp phát triển với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang từng bước vững trắc xây dựng cho mình một nền kinh tế phát triể bảo đảm cho sự tăng trưởng nhanh về mặt kinh tế với mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam giầu mạnh công bằng văn minh. Tuy nhiên sự phát triển không đơn thuần chỉ là công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước mà nó còn bao gồm cả mặt trái của nó. Quá trình phát triển kinh tế là quá trình đi kèm nhiều nghành, lĩnh vực trong đó bao gồm cả nghành giao thông vận tải giúp cho các họat động kinh tế được thực hiện một cách suôn sẻ với vai trò là phương tiện chuyên chở hàng hoá khách hàng…

    Bên cạnh những mặt tích cực đó thì sự gia tăng các phương tiện giao thông đặc biệt là giao thông đường bộ không ít các hậu quả làm ô nhiễm suy thoái chất lượng môi trường đặc biệt là môi trường không khí khá nghiêm trọng. Ngoài ra giao thông đường bộ còn gây ra ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất trồng ảnh hưởng trực tiếp đến người dân.

    Vây để đảm bảo được sự phát triển bền vững trong quá trình phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá cần nghiên cứu và đưa ra các biện pháp phát triển kinh tế bền vững trong đó có việc đánh giá ảnh hưởng ô nhiễm môi trường do khí thải của giao thông vận tải mà đặc biệt là khí thải của giao thông sử dụng xăng pha chì gây ra dưới góc độ kinh tế. Đề tài “Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở Hà Nội.” Được lựa chọn xuất phát từ tinh thần đó, trong khả năng của mình em xin góp một phần nhỏ để giải quyết vấn đề này.

    NỘI DUNG

     

     

     

    I. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHO PHÉP:

    1. Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí:

                     Ô nhiễm môi trường không khí được xác định bằng sự biến đổi môi trường không tiện nghi, bất lợi đối với cuộc sống con người, của động vật và thực vật mà sự ô nhiễm đó

    chính là do hoạt động của con người gây ra và quy mô phương thức và mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm thay đổi mô hình thành phần hóa học, tính chất vật lý và sinh học của môi trường không khí.

    Sự ô nhiễm môi trường không khí là kết quả của nhiều yếu tố đậc trưng của nền kinh tế phát triển của các nghành công nghiệp khai thác, hoá chất và luyện kim, phát triển của giao thông đường bộ, giao thông đường không, sự thiêu đốt các chất thải sinh hoạt…Sự ô nhiễm sẫy ra chủ yếu ở các thành phố do có sự tập chung công nghiệp, mật độ dân số cao và hoạt động của các xe có gắn động cơ đốt trong.

    2. Phân loại các chất ô nhiễm không khí:

                    Có thể chia các chất ô nhiễm không khí thành 2 lại chính là các khí và phân tử rắn ( gồm bụi và khói ) các chất khí chiếm hơn 90% tổng khối lượng các chất gây ô nhiễm trong không khí. Các chất gây ô nhiễm không khí chủ yếu là:

     

    Các khí: khí cacbonic, cacbonmono oxit, hiđrocacbua, các hợp chất

    hữu cơ, SO2 và các dẫn suất của lưu huỳnh, dẫn xuất của nitơ, chất phóng xạ.

    Bụi: kim loại nặng, hợp chất vô cơ, hợp chất hữu cơ tự nhiên hay tổng hợp, chất phóng xạ.

    Các chất ô nhiễm vừa nêu được gọi là các chất ô nhiễm sơ cấp. Vấn đề quan trọng hơn nhiều khi các ô nhiễm kết hợp với nhau để tạo ra các chất mới rất độc. Ví dụ như khí sunfurơ (SO2) bị ôxi hoá thành khí sunfric (SO3) chất này sẽ khết hợp với hơi nước trong không khí tạo thành axit

    sunfric (H2SO4) gây nên hiện mưa axit – một tai hoạ thực sự đang hoành hành ở các nước công nghiệp hoá gây nên những thảm hoạ sinh thái. Các trận mưa axit đã phá huỷ cả những khu rừng thông rộng lớn và axit hoá nguồn nước trong các hồ dẫn đến sự huỷ diệt các sinh vật sống trong đó.

    Tương tự như vậy, phản ứng nitơ oxit và hyđrocacbon chưa cháy trong khí thải động cơ đốt trong sinh ra PAN – một chất ô nhiễm thứ cấp độc hơn nhiều so với các chất sơ cấp và là tác nhân thuận lợi tạo ra chất mù quang hoá, là nơi xảy ra nhiều phảc ứng khác nhau dẫn đến tạo thành ozon, chất này đến lượt nó lại tác động lên các chất ô nhiễm khác như hđrocacbon chưa cháy để tạo thành PAN – sản phẩm rất độc cho cả người và động vật.

    Các hyđrocacbon chưa cháy là các cấu tử chiếm ưu thế trong khí quyển bị ô nhiễm, đặc biệt là các khu công nghiệp và các thành phố lớn, trong đó là một số ô nhiễm thứ cấp được tạo thành từ việc đốt cháy không hoàn toàn các hợp chất hữu cơ – là những chất rắn rất hay gặp trong khói, bồ hóng và khí thải động cơ.

    Cacbonoxit (CO) cũng được sinh ra khi đốt cháy không hoàn toàn các chất hữu cơ. Là chất ô nhiễm có khối lượng lớn nhất trong không khí và nồng độ thường từ 20- 40ppm. Trong khi đó ngưỡng độc hại quy định là 100ppm. CO là chất rất độc đường hô hấp rất mạnh bao vây sự hấp thu oxi của hemoglobin vì nó có khả năng khết hợp bất thuận nghịnh với hfmoglobin và một áp tực lớn hơn nhiều so với oxi.

    Khí cacbonic (CO2) bản thân không phải là một chất độc nhưng cũng được xem là một chất ô nhiễm. Được thải vào khí quyển chủ yếu từ việc đốt nguyên liệu hoá thạch. Khối lượng khí cacbonic thải vào khí quyển là vô cùng lớn và không nhừng tăng lên. Từ 1960 – 1980 nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã chuyển từ 280 lên 338ppm.

    Như vậy nền văn minh công nghệ đã làm thay đổi chu trình cacbon ở quy mô toàn cầu. Điều đặc biệt quan trọng đó sự tăng nồng độ CO2 có khả gây ra những thay đổi thời tiết và khí hậu trên toàn bộ trái đất. Khi khí

    cacbonic được hấp thụ vào tia hồng ngoại và giữ lại nhiệt độ cho trái đất. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kính, khi nhiệt độ này ở mức cân bằng tự nhiên, hiệu ứng nhà kính giữ nhiệt độ cho trái đất. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng nhà kính khi nhiệt độ này ở mức cân bằng tự nhiên, hiệu ứng nhà kính giữ nhiệt độ cho trái đất làm cho trái đất không bị lạnh đi. Thế nhưng sự gia tăng quá cao nồng độ CO2 kéo theo sự tăng nhiệt độ của các lớp khí dưới tầng đối lưu. Người ta tính rằng cứ một sự tăng gấp 2 nồng độ của khí cacbonic sẽ làm cho nhiệt độ trên trái đất tăng 2,8o kéo theo sự tan băng ở hai cự làm tăng mực nước biển và do đó có thể nhấn chìm các vùng đất thấp. Mặt khác sự tăng nhiệt độ sẽ kéo theo sự giảm lượng mưa và lượng tuyết rơi và do đó làm thay đổi cả một chu trình sinh địa hoá trong khí quyển, có nguy cơ dẫn đến thảm hoạ sinh thái. Lượng thải CO2 GTVT là 58,1 triệu tấn trên toàn cầu (1982).

    Các phân tử rấn được phân loại theo kích thước của chúng. Các phần tử bé nhất gọi là phần tử không sa lắng vì chúng không thể rơi xuống dưới mặt đất dưới tác dụng của trọng trường. Các phân tử này có đường kính nhỏ hơn 0,1 micromet. Chúng là các phần tử nguy hiểm đối với sức khoẻ con người vì chúng có khả năng xâm nhập vào phế nang. Mặt khác chúng làm ô nhiễm các lớp khí quyển. Có 2 loại phần tử gây nên những vấn đề vệ sinh cộng đồng đáng lo ngại nhất ở các vùng đô thị là các dẫn suất của chì và sợi amiăng. Và do đó gây ô nhiễm toàn cầu. Với lượng thải từ GTVT là 1,2 triệu tấn (1982). Một số hợp chất của chì mà chủ yếu là tetraetyl chì, Pb(C2H5)4 được dùng làm phụ gia để năng cao chỉ số octan của xăng do đó nâng cao khí thải của động cơ chạy xâng pha chì luôn luôn có dẫn xuất của chì dưới dạng các phần tử không sa lắng.

    Ngoài ra các nhà máy xi măng, nhiệt điện, luyện kim, vật liệu xây đựng, các họat động GTVT và các công trường đang xây dựng cũng là nguồn gây ô nhiễm quan trọng về bụi.

    3. Tiêu chuẩn không khí ở Việt Nam và một số nước trên thế giới:

     

    Ngày nay do hậu quả không khí ngày càng nặng nề hơn, gây tác hại to lớn đến kinh tế – xã hội, sức khoẻ con người tàn phá động thực vật do chất lượng môi trường không khí ( tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và định mức giới hạn cho phép những thành phần ô nhiễm nhân tạo trong không khí) đã trở thành một vấn đề khoa học riêng, có tính chất quan trọng.

    Tiêu chuẩn chất lượng không khí bao gồm:

    – Tiêu chuẩn chất lượng xung quanh nhà máy, xí nghiệp giao thông… Đó là chất lượng tiêu chuẩn môi trường không khí xung quanh.

    • Tiêu chuẩn chất lượng nguồn thải,(khí thải từ ống khói nhà máy, từ ống xả của xe…).

    Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí là cơ sở pháp lý để Nhà nước và nhân dân kiểm soát môi trường, xử lí các vi phạm môi trường và

    đánh giá các tác động môi trường… bất cứ một cơ sở sản xuất nào hay nguồn thải nào cũng đồng thời thoả mãn 2 tiêu chuẩn trên.

    3.1. Tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh:

    Thành phần không khí khô, không khí bị ô nhiễm, tính tỉ lệ theo phần trăm thể tích, chủ yếu bao gồm Nitơ: 78,09%, Oxi:20.91%;cacbondioxit: 0,032% và các thành phần khí khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ cho ở bảng 1.

    Tỉ lệ% theo trọng lượng của không khí có thể xác định bằng cách lấy trị số tỉ lệ thể tích cho ở bảng 2 nhân với trọng lượng phần tử mỗi chất và chia cho 29, trọng lượng phần tử trung bình của không khí.

    Bảng 1: thành phần không khí khô bị ô nhiễm, tính theo tỉ lệ thể tích.

    Các chất thành

    Công thức phân

    Tỉ lệ thể tích

    Tổng trọng lượng

    phần không khí

    tử

    chiếm

    trong khí quyển

    khô

    (triệu tấn)

    1.

    Nitơ

    N2

    78,09%

    3.850.000.000

    2.

    Oxi

    O2

    20,94%

    1.180.000.000

    3.

    Agon

    Ar

    0,93%

    65.000.000

    4.

    Cacbonic

    CO2

    0,032%

    2.500.000

    5. Neon

    Ne

    18ppm

    64.000

    6.

    Heli

    He

    5,2ppm

    3.700

    7.

    Metan

    CH4

    1,3ppm

    3.700

    8.

    Krypton

    Kn

    1,0ppm

    15.000

    9.

    Hiđro

    H2

    0,5ppm

    180

    10. Nito oxit

    N2O

    0,25ppm

    1.900

    11. Cacbon oxit

    CO

    0,1ppm

    500

    12. Ozon

    O3

    0,02ppm

    200

    13. Sunfurơ

    SO2

    0,001ppm

    11

    14. Ni to dioxit

    NO2

    0,001ppm

    8

    Nguồn: Sách môi trường không khí NXBKHKT – 1998

    Sáu chất ô nhiễm trong không khí là cacbonoxit (CO), lưu huỳnh ôxit (SOx) chủ yếu là SO2 hyđrocacbon (HC) nitơ oxit (NO2), ozon (O3) và bụi lơ lửng. Trong tiêu chuẩn vệ sinh nước ta thường sử dụng đơn vị đo lường chất độc hại là số mg chất độc hại trong 1m3 không khí (mg/m3). Nồng độ chất độc hại trong không khí thường không phải là hằng số. Nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện khí tượng đặc điểm nguồn thải, và hình dạng, mật độ xây dựng của khu vực…

    Dựa theo mức độ độc hại của chất độc đối với cơ thể con người mà phân thành: giới hạn cho phép, giới hạn nguy hiểm đối với sự sống và mức

    gây tử vong. Trong tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí người ta dùng tỉ số nồng độ cho phép đó là nồng độ lớn nhất của chất độc hại trong không khí mà không gây tác hại đối với đời sống con người và trị số trung bình lớn nhất cũng chính là trị số mà khi con người sống thường xuyên lâu dài trong điều kiện đó cũng không xảy ra bất kì một bệnh lý nào đối với cơ thể con người.

    Bảng 2: Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh của Việt

    Nam, tổ chức y tế thế giới, (ƯTO) và một số nước Đông Nam A

    Chất ô nhiễm

    VN

    WHO

    Brunây

    Malayxia

    Philipin

    Xingapo

    Thái Lan

    (mg/m3)

    ( g/m3)

    ( g/m3)

    ( g/m3)

    ( g/m3)

    ( g/m3)

    ( g/m3)

    1 giờ

    0,5

    300

    350

    350

    340

    780

    S02

    24 giờ

    0,3

    125

    125

    105

    180

    300

    Năm

    50

    50

    80

    80

    100

    1 giờ

    40

    30.103

    30.103

    35.103

    35.103

    34,2.103

    CO

    8 giờ

    10

    24 giờ

    5

    10.103

    10.103

    10.10

    3

    10.10

    3

    10.103

    10,26.1

    Năm

    6.103

    03

    1 giờ

    0,4

    400

    300

    320

    190

    34,2.103

    NO2

    24 giờ

    0,1

    150

    100

    Năm

    100

    10,26.103

    1 giờ

    0,2

    120

    200

    140

    235

    320

    O3

    24 giờ

    60

    120

    10

    Năm

    0,06

    1 giờ

    0,3

    SPM

    24 giờ

    0,2

    120

    150

    260

    230

    330

    Năm

    90

    90

    90

    75

    100

    PM10

    24 giờ

    100

    150

    150

    150

    120

    Năm

    60

    50

    60

    50

    50

    24 giờ

    0,005

    Pb

    3 tháng

    1,0

    1,5

    1,5

    1,5

    Năm

    0,5

    1,5

    H2S

    30 phút

    0,03

    1 giờ

    0,008

    24 giờ

    0,008

    1 giờ

    0,2

    NH3

    24 giờ

    0,2

    2

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    1 giờ

    1,5

    HC

    3 giờ

    0,24

    24 giờ

    0,1

    Ghi chú: SPM: nồng độ tổng bụi lơ lửng

    PM10: nồng độ bụi lơ lửng có nồng độ 10 l/m trở xuống.

    “ –“ Không quy định hoặc không có số liệu.

    3.2.Tiêu chuẩn chất lượng nguồn thải:

    Do đề tài đi vào nghiên cứu những tác động của phương tiện GTVT đường bộ từ môi trường không khí. Nên tiêu chuẩn chất lượng nguồn thải của đề tài này chỉ đề cập đến giới hạn tối đa cho phếp của cácthành phần ô nhiễm trong không khí thải của các phương tiện GTVT.

    Năm 1990 chính phủ Việt Nam đã ban hành tiêu chuẩn (TCVN 5123-90) quy định về hàm lượng CO trong khí thải của động cơ xăng ở chế độ không tải, quy định này được áp dụng cho các ô tô chạy xăng có khối lượng hơn 100kg. Hàm lượng CO được đo trực tiếp trong ống xả, cách miệng ống xả 300mm ở 2 chế độ tốc độ: nmin (không vượt quá 3,5%) và 96 wdm (không quá 2%).

    Năm 1991 chính phủ Việt Nam đã ban hành TCVN 5418 – 91 quy định về chế độ khói trong động cơ điezel . Tiêu chuẩn này được áp dụng cho tất cả các loại ô tô đang sử dụng động cơ đezel. Độ khói của khí xả đo ở chế độ gia tốc tự do không vượt quá 40% (động cơ không tăng áp) và 50% (động cơ tăng áp). Năm 1998 chính phủ Việt Nam đã ban hành TCVN 6438 – 98 quyết định lại cụ thể hơn giới hạn cho phép của các chất ô nhiễm khí xả của các phương tiện GTVT.

    II. THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở HÀ NỘI DO TÁC ĐỘNG CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN GTVT:

    1. Tổng quan về Hà Nội:

    1.1. Vị trí địa lí:

    9

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Hà Nội là chung tâm văn hoá – kinh tế – chính trị của cả nước, nằm ở vị trí 20-52-20 đến 21-25-30 vĩ độ bắc và 105-16-45 đến 106-02-20 kinh độ đông. Từ bắc đến nam dài khoảng 93km, từ đông sang tây rộng nhất khoảng 30km. Hà Nội có diện tích tự nhiên là 927,39km2 chiếm bình quân 2,8% diện tích tự nhiên của cả nước.

    Trong vành đai nhiệt đới gió mùa mang tính chất nội chí tuyến song khí hậu của Hà Nội không hoàn toàn tuân theo quy luật của vành đai này mà bị phức tạp hóa do tương tác của các hàm cứu cấp lục địa và đại dương với bình lục địa phức tạp của miền bắc Việt Nam. So với đồng bằng Bấc Bộ Hà Nội như một điểm trung tâm được bao bọc bởi sông Hồng phía Bắng và phía Đông Bắc. Các mặt còn lại đều tiếp giáp với đồng bằng rất thuận lợi cho giao lưu.

    Xét trong toàn mìên Bắc,Hà Nội như vùng chuyển tiếp giữa biển và lục địa, giữa miền núi và đồng bằng do đó Hà Nội như nơi giao lưu giữa nhiều vùng di thực từ Đông ấn , Mã Lai, Hoa Nam và từ phía Đông Nam á. Nằm lọt giữa châu thổ sông Hồng Hà Nội mang đặc điểm chung đó là tương đối bằng phẳng. Trên quy mô toàn thành phố có thể nói độ cao giảm dần từ Đông Bấc và Bắc xuống Nam và Tây Nam mà trũng nhất là khu vực Thanh Trì.

    1.2. Dân số:

    Xét về dân cư Hà Nội đông dân thứ 2 trong cả nước sau TPHCM. Theo báo cáo tổng điều tra dân số 1/1/19999 dân số Hà Nội có2,73 triệu người vào năng 2000 ước tính 2,8 triệu người.

    Mật độ dân số ngày càng gia tăng ( do việc di dân từ nơi khác đến ) đân cư phân bố không đồng đều.Diện tích nội thành nhỏ(8,9%) mà dân số lại lớn ( chiếm khoảng 53% dân số toàn thành phố).

    1.3. Tình hình kinh tế – xã hội:

    Hà Nội nầm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Bộ, có quan hệ trực tiếp về các trung tâm hành chính , xã hội và kinh tế với các thị xã ở vùng đồng

    10

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    bằng, trung du, miền núi các khu công nghiệp, các vùng tài nguyên khoáng sản đặc biệt là than, đá, vôi , cao lanh, thiếc, các cơ sở năng lượng lớn ( thuỷ điện Hoà Bình, Thác Bà, Nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình) với bán kính trong vòng 200m.

    Là khu tập trung công nghiệp cao của cả nước và cửa vùng Bắc Bộ. Nếu tính theo chỉ tiêu phần đóng góp của công nghiệp trong GDP của 20 tỉnh trong vùng Bắc Bộ thì năm 1995 Hà Hội chiếm tới 43%. Thương mai, du lịch, vận tải, bưu điện, tài chính ngân hàng là những ngành chiếm tỉ trọng lớn và ngày càng giữ vị trí then chốt từ nay đến 2010, bốn nhóm nghành này sẽ đóng góp khoảng 70% giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ.

    Đứmg thứ 2 cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài, tổng số đăng kí lên tới 8,3 tỉ USD với 382 dự án. Ngành dịch vụ tằng trưởng bình quân 10,14% /năm.Trình độ khả nằng lao động của cư dân vào loại cao nhất Việt Nam, 100% cư dân được xoá nạn mù chữ, tỉ lệ học sinh là:202 người/1nghìn người,trí thức chíêm gần 30% dân số trong đó :

    Trình độ trung cấp trở lên chiếm 57%

    Trình độ cao đẳng chiếm 39%

    Trình độ đại học chiếm 25%.

    Trình độ phó tiến sĩ chiếm 11,2%.

    Trình độ tiến sĩ chiếm 5,8%.

    Tỉ lệ giáo sư là 4%

    2.Vận tải đường bộ và hiện trạng việc sử dụng xăng pha chì của nghành GTVT ở Hà Nội:

    2.1. Mạng lưới giao thông đường bộ toàn thành phố Hà Nội:

    Chiều dài mạng lưới GTĐB toàn thành phố Hà Nội có chiều dài 1420 km, trong đó tổng chiều dài đường nội thành khoảng 200km, bình quân 4,7 km đường/km2.Tuy nhiên mật độ dường ở các quận rất khác nhau.

    Hoàn Kíêm khoảng 61km, tỉ lệ chiếm đất là 23%.

    Đống Đa khoảng 32km,tỉ lệ chiếm đất là 3,15%.

    11

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Hai Bà Trưng khoảng 42km, tỉ lệ chiếm đất là 7,75%.

    Ba Đình khoảng 54km, tỉ lệ chiếm đất 7,1%

    Hà Nội là đô thị có mạng lưới giao thông chằng chịt, nhiều đường phố, ngõ nghách ngoằn ngèo gây cản trở cho các phương tiện GTVT.Có 580 nút giao thông đều là các nút giao thông trên mặt đất nhưng số nút có hệ thống đèn tín hiệu lại quá ít so với số nút. Nội thành Hà Nội có 235km đường với 2,11 triệu m2.Diện đường chỉ chiếm 4,9% trong đó 48,7% đường nội thành bị rạn nứt, ổ gà. Mạng lưới GTĐB nội thành thiếu rất nhiều so với quy định thành phố ở các nước phát triển. Mạng lưới đường phân bố không đều, chất lượng thấp, đường chật hẹp. Trong các giờ cao điểm trên các đường trục hệ số sử dụng lòng đường đã vượt từ 1 –3 lần. Hệ thống đường vành đai mới nằm trong quy hoạch. Số đường đi vào thành phố ít dẫn đến mật độ xe cộ tại các cửa ô quá cao. Phương tiện giao thông cơ giới phát triển nhanh từ 1990 đến nay.

    2.2. Quá trình sử dụng xăng pha chì qua phương tiện cơ giới tại

    Hà Nội:

    Bảng 3: Tổng lượng tiêu thụ xăng pha chí ( đơn vị tấn).

    Năm

    1995

    1996

    1997

    1998

    1999

    Loại

    Xăng 83

    88.553

    40.676

    43.576

    49.370

    55.773

    Xăng 92

    22.777

    26.537

    31.659

    37.420

    40.624

    Tổng

    61.330

    67.213

    75.235

    86.790

    96.357

    (Nguồn: Tổng Công ty xăng dầu Petrolimex)

    Lượng tiêu hao xăng dầu phụ thuộc vào các loại xe khác nhau. Đối với nước ta phần lớn các loại phương tiện cơ giới chủ yếu là cũ. Qua khảo sát 197964 xe tại Hà Nội của cục đăng kiểm Việt Nam: cho thấy 167207 xe sử dụng trên 7 năm chiếm 84,46%.

    30757 xe đã sử dưới 7 năm chíêm 15,54%.

    12

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Và 82% số xe không đạt tiểu chủân vệ sinh môi trường.

    Lượng xe mới và phân khối lớn lưu hành gần đây tăng dần nhưng đa số xe cũ vẫn đang dược tận dụng ( nhiều xe trên 10 năm) phần lớn xe máy thuộc sở hữu tư nhân và là phương tiện đi lại thông dụng trong thành phố. Định mức tiêu hao nhiên liệu của xe máy như sau:

    1997: Số lượng xe chạy xăng:30100.

    Số lượng xe diezel: 28015

    Số xe máy: 65000(450600 xăng, 199400 diezel).

    Suất hao nhiên liệu trung bình của các xe xăng: 0,1544 lít/km.

    Suất hao nhiên liệu trung bình của các xe diezel: 0,1488 lít/km.

    Suất hao nhiên liệu trung bình của xe máy: 0,012 lít /km.

    Điều tra thống kê hoạt động của từng xe và ước tính kết quả như sau: Số km chạy trung bình một năm của xe xăng 8000 km

    Số km chạy trung bình một năm của xe diezel 8000 km Số km chạy trung bình một năm của xe máy 4800 km

    Bảng 4: Nhiên liệu tiêu dùng qua phương tiện cơ giới

    Đơn vị tấn

    Nhiên liệu

    1995

    1996

    1997

    Xe

    Xe diesel

    Xe máy

    Xe xăng

    Xe diesel

    Xe

    Xe

    Xe

    Xe máy

    xăng

    máy

    xăng

    diese

    l

    Xăng

    25761,

    18465,22

    28534,10

    1569

    2974

    17303,04

    33

    8

    5,27

    3,61

    6

    Diesel

    22862,34

    7247,04

    23873,71

    2667

    7656,96

    9,24

    Tổng xăng

    44226,55

    44229,3784

    47046,656

    Tổng diesel

    30109,38

    31054,47

    34336,2

    13

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    2.3. Thực trạng ô nhiễm không khí do sử xăng pha chì của các

    hoạt động giao thông đường bộ tại Hà Nội:

    Tại Hà Nội lưu lượng các phương tiện GTVT khá lớn nên mức độ gây ô nhiễm là lớn. Khi các phương tiện hoạt động chúng tạo ra các khí xả, chứa các chất độc hại như CO2, CO, CmHn, C, Pb và khói. Tuỳ theo từng loại động cơ và loại nhiên liệu mà khối lượng các chất thải độc hại chiếm tỉ lệ khác nhau trong khí xả. Tính toán người ta so sánh được mức độ gây ô nhiễm khộng khí của một số loại xe chạy xăng, khối lượng xả các chất độc chủ yếu tính bằng gam ứng với một hành khách di chuyển trên 1 km như sau:

    Bảng 5: Lượng khí CO, CmHn, NO2, xả ra khi xe chuyên chở hành khách trên 1 km của một số xe:

    Thứ

    Loại xe

    Số hành

    Lượng khí độc xả ra g/HK

    tự

    khách

    – Km

    CO

    Cm

    NO2

    Hn

    1

    Xe máy (Honda 70 – 90 phân

    1

    4,82

    0,27

    0,19

    khối

    2

    Toyota Corona

    4

    6,02

    0,34

    0,23

    3

    Vonga

    4

    6,38

    0,36

    0,25

    4

    Xe lam

    8

    2,34

    0,13

    0,09

    5

    Toyota Hiace

    12

    2,01

    0,11

    0,08

    6

    Nissan Urvan

    12

    1,89

    0,11

    0,07

    7

    Toyota Liteace

    9

    1,73

    0,1

    0,07

    8

    Nissan

    22

    0,94

    0,05

    0,04

    9

    Toyota Coaster

    30

    0,89

    0,05

    0,03

    10

    Hải Âu

    40

    1,87

    0,09

    0,07

    Nguồn: Trung tâm thông tin tư liệu và công nghệ quốc gia ( 1996)

    14

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Từ bảng trên, với lượng xăng dầu được đốt cháy bởi phương tiện cơ giới trong điều kiện trung bình sẽ thải ra các chất thải độc hại với khối lượng như sau:

    15

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Bảng 6: Lượng khí độc hại xả ra do tiêu thụ xăng tại Hà Nội (ước

    tính theo lượng nhiên liệu tiêu thụ).

    Đơn vị tấn.

    STT

    Thành phần độc

    Ký hiệu

    Năm

    hại

    1995

    1996

    1997

    1

    Cacbon monooxit

    CO

    55283,2

    55286,7

    58808,3

    2

    Cacbon dioxit

    CO2

    123834,34

    123842,2

    131730,6

    3

    Cac nitroxit

    NOx

    875,1328

    875,1888

    930,9357

    4

    Cac hydrocacbon

    CmHn

    1286,992

    128,0749

    13569,0576

    5

    Andehit

    R – CHO

    49,7548

    49,758

    529,2748

    6

    Chì

    Pb

    27,6416

    27,6434

    29,4042

    7

    Sunfuroxit

    SO2

    102,8267

    102,8333

    109,38347

    8

    Muội

    C

    55,2832

    55,2867

    58,80832

    Tiến hành điều tra lưu lượng giao thông tại các nút giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội và tại một số mặt cắt quan trọng. Phương pháp điều tra dựa trên cơ sở đếm xe trực tiếp từ 6h – 21h, lưu lượng xe được đếm cho từng 15 phút một. Ta thấy giờ cao điểm của các loại phương tiện giao thông có khác nhau: xe đạp và xe máy là 7 – 8h và 16 – 17h

    Trong khi đó ô tô là 9 – 10h và 15 – 16 h. Tỉ lệ phương tiện giao thông trên đường: ô tô 5,5%; xe máy 70,3%; xe đạp và xe khác 24,2% được khảo sát và kết quả đếm xe được thể hiện thông qua bảng 7:

    Bảng 7: Lưu lượng xe trên một số trục giao thông tại Hà Nội

    Đơn vị chiếc

    Trục đường

    Ô tô

    Xe máy

    Xe khác

    8h   10h

    15h   17h

    7h   9h

    16h   18h

    7h   9h

    16h   18h

    1.

    Ngã Tư Sở

    322

    339

    4110

    4325

    1288

    1335

    2.

    Ngã Năm Ô Chợ

    209

    179

    4010

    4230

    836

    815

    3.

    Ngã Tư Vọng

    218

    238

    3756

    4525

    776

    1106

    4.

    Ngã Tư Chợ Mơ

    113

    152

    2896

    3100

    1075

    976

    5.

    Ngã Tư Giao Bạch Mai- Phố Huế

    210

    206

    3110

    3790

    1107

    1276

    6.

    Ngã Tư Chùa Bộc-Tôn Thất Tùng

    196

    173

    3407

    3791

    970

    1007

    7.

    Ngã Tư Thái Hà – Tây Sơn

    276

    258

    3988

    4018

    897

    1176

    16

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    8. Ngã 5 Đường Bưởi – Đường Láng,

    397

    368

    3750

    3876

    706

    1075

    đường 32A

    9. Ngã Tư Cửa Nam

    201

    208

    3760

    3875

    407

    582

    10.

    Ngã Tư Minh Khai – Kim Ngưu

    267

    301

    3876

    3900

    607

    615

    11. Ngã Tư Hàng Bài – Tràng Tiền

    107

    118

    1352

    1467

    675

    612

    12. Ngã Tư Nguyễn Thái Học – Tôn

    137

    142

    2523

    2706

    400

    415

    Đức Thắng

    13.

    Đường Đội Cấn

    88

    97

    1352

    1467

    600

    612

    14.

    Đường Hoàng Hoa Thám

    175

    270

    3334

    3542

    1018

    1325

    15.

    Hàng Đường – Hàng Đào

    97

    108

    2760

    2897

    610

    623

    16.

    Đường Trần Hưng Đạo

    95

    108

    1352

    1467

    675

    612

    17.

    Đường Giải Phóng

    312

    341

    4120

    4321

    709

    897

    Nguồn: Viện KHKT và giao thông vận tải 1998

    Khối lượng các chất độc hại thải ra tại các trục giao thông được xét đến trong bảng 7 được tính tóan qua bảng 8. Trong thời gian tắc nghẽn giao thông, thường tại thời gian từ 7 – 9h và 16 – 18h, mức khí xả của xe cộ càng tăng lên do xe bị dừng tại chỗ (tắc nghẽn) mà máy vẫn nổ, khi xe khởi động thì mức độ tập chung là cao nhất.

    Bảng 8: Số liệu khí thải phương tiện giao thông vào môi trường không khí ở các trục giao thông tại Hà Nội (đơn vị mg/m3).

    Trục đường

    Nồng độ khí độc hại (24 giờ)

    CmHn

    NOx

    SOx

    Pb

    CO

    Muội C

    1.

    Ngã Tư Sở

    2,567

    0,4761

    0,31

    0,0822

    13,23

    0,14

    2.

    Ngã Năm Ô Chợ

    1,189

    0,11

    0,2

    0,0061

    4,41

    0,01

    3.

    Ngã Tư Vọng

    1,625

    0,567

    0,43

    0,052

    17,35

    0,093

    4.

    Ngã Tư Chợ Mơ

    1,28

    0,21

    0,09

    0,009

    9,36

    0,0162

    5.

    Ngã Tư Giao Bạch Mai- Phố Huế

    1,17

    0,13

    0,21

    0,006

    6,12

    0,011

    6. Ngã Tư Chùa Bộc – Tôn Thất Tùng

    1,182

    0,09

    0,2

    0,01

    7,08

    0,018

    7.

    Ngã Tư Thái Hà – Tây Sơn

    1,31

    0,2

    0,19

    0,03

    6,7

    0,054

    8.

    Ngã 5 Đường Bưởi – Đường

    1,45

    0,38

    0,21

    0,053

    11,1

    0,09

    Láng, đường 32A

    9.

    Ngã Tư Cửa Nam

    0,41

    0,29

    0,18

    0,023

    8,27

    0,041

    10.

    Ngã Tư Minh Khai – Kim Ngưu

    0,61

    0,36

    0,25

    0,07

    12,3

    0,126

    11. Ngã Tư Hàng Bài – Tràng Tiền

    0,12

    0,08

    0,06

    0,0009

    9,21

    0,108

    12.

    Ngã Tư Nguyễn Thái Học – Tôn

    0,19

    0,15

    0,23

    0,01

    10,3

    0,012

    Đức Thắng

    13.

    Đường Đội Cấn

    0,13

    0,081

    0,19

    0,0009

    4,13

    0,0016

    14.

    Đường Hoàng Hoa Thám

    0,15

    0,12

    0,21

    0,02

    8,16

    0,036

    15.

    Hàng Đường – Hàng Đào

    1,11

    0,08

    0,23

    0,002

    4,3

    0,004

    16.

    Đường Trần Hưng Đạo

    0,092

    0,034

    0,05

    3,17

    0,001

    17.

    Đường Giải Phóng

    0,13

    0,09

    0,15

    0,007

    6,19

    0,013

    17

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Nguồn: Viện KHKT và giao thông vận tải 1998

    So với thế giới thì cường độ dòng xe này không lớn nhưng vì xe xấu, đường xấu, các loại xe đi lẫn lộn, tốc độ xe luôn luôn thay đổi nên lượng tiêu thụ xăng sẽ nhiều lên ( nhất là khi ách tắc giao thông) gây ra ô nhiễm lớn trên trục giao thông cũng như đối với các khu dân cư hai bên đường. Đặc biệt là khi hãm phanh các bánh xe sẽ ma sát mạnh với mặt dường làm mòn dường và mòn bánh xe gây nên bụi đá, bụi cao su và bụi sợi các bộ phận ma sát của phanh bị mòn cũng thải ra bụi kẽm, đồng, niken, crôm, sắt và cadimi.

    Bên cạnh đó nếu chất lượng kém, nhiều bụi sẵn có sẽ bị cuốn theo lớp xe khi chạy. Theo kết quả điều tra lượng bụi tại đường số 6 đi qua khu Thượng Đình (năm 1990 ) thì bụi lắng, bụi lơ lửng vượt quá tiêu chuẩn tương ứng cho phép là 43 – 64 lần và 5,6 lần.

    Đối với khu dân cư hai bên đường cách xa trục đường khoảng 70m thì chỉ có nồng độ khí CO, SO2, bụi chì là hạ xuống xấp xỉ hàng tiêu chuẩn cho phếp còn khí NO2 và bụi lắng, bụi lơ lửng thì ở xa cách trục đường 100m chúng vẫn vượt tiêu chuẩn cho phép’

    III. NHỮNG LỢI ÍCH KINH TẾ KHI SỬ DỤNG XĂNG PHA CHÌ:

    Tỷ lệ dùng xăng trong ngành giao thông vận tải ở Hà Nội chỉ chiếm 5,3% so với lượng xăng nhập khẩu của cả nước. Trung bình một xe máy có thể tiêu thụ khoảng 57,6l xăng/năm tương ứng với 4800km/ suất tiêu hao xăng trung là 0,012l xăng/km. Trung bình 1 chiếc ô tô chạy xe có thể tiêu thụ khoảng 617,6l xăng/năm tương ứng với 4000km suất tiêu hao trung bình là 0,154l xăng/km.

    Nếu thay chì hoặc không sử dụng chì để làm chất phụ gia nữa thì theo tính toán chi phí nhiênliệu sẽ lớn hơn là 3,7% so với khi sử dụng xăng pha chì. Như vậy suất tiêu hao nhiên liệu xăng trung bình của một xe máy là 0,012444/km, của ôtô là 0,1545698l/km. Tức là lượng tiêu thụ xăng trung

    18

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    bình của xe máy và ô tô sẽ tăng lên tương ứng là 0,000444l/km và

    0,0005698l/km.

    Nếu với lượng tăng thêm nhiên liệu xăng như vậy thì tổng khối lượng xăng sẽ tăng lên khi không sử dụng xăng pha chì được tính toán qua bảng 9 (so với với bảng 5)

    Bảng 9: Mức tăng thêm nhiên liệu dùng xăng dùng qua phương

    tiện cơ giới.

    Đơn vị tấn

    Năm

    1995

    1996

    1997

    Loại

    Xe máy

    683,21314

    580,725

    640,213

    Xe ô tô

    953,16921

    1055,762

    1100,514

    Tổng

    1636,38235

    1636,487

    1740,727

    Khi sử dụng xăng có pha chì thì tổng lượng nhiên liệu đã giảm được như bảng 9. Không những về mặt kinh tế nó đem lại lợi ích to lớn như trên của về mặt kĩ thuật nó cũng mang lại kết quả cao khi bôi trơn chân van, bộ truyền động của động cơ. Thông thường nếu không sử dụng phụ gia chì thì các loại xe chóng bị hư hỏn, số lần đem sửa chữa xe sẽ nhiều hơn so với sử dụng xăng pha chì. Theo tính toán tì xe bị hư hỏng và sửa chữa nhiều hơn từ

    • – 2 lần/ năm (nếu tính trung bình một năm một xe phải sửa chữa hai lần.

    Bảng 10: Số lần tăng thêm sửa chữa xuất khẩu của phương tiện

    cơ giới

    Năm

    1995

    1996

    1997

    Loại

    Xe máy

    557.992

    595.730

    650.000

    Xe ô tô

    64.716

    69.375

    76.200

    Tổng

    622.708

    665.105

    726.200

    19

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Về mặt tiêu dùng nhiên liệu xăng pha chì mang lại tiêu hao ít hơn so với không sử dụng pha chì. Bên cạnh đó giá cả của xăng pha chì cũng thấp hơn khi sử dụng xăng có pha thêm phụ gia khác hoặc hay không thêm phụ gia chì.

    Giả sử: Trung bình sửa xe máy một lần là 2000đ Trung bình xe ô tô một lần là 5000đ

    Dựa vào bảng 8 để tính chi phí tăng thêm khi phải sửa chữa xe.

    Bảng 11: Tổng chi phí tăng thêm khi sửa chữa phương tiện cơ

    giới

    Đơn vị triệu đồng

    Năm

    1995

    1996

    1997

    Loại

    Xe máy

    1115,984

    1191,460

    1300

    Xe ô tô

    323,580

    346,875

    381

    Tổng

    1439,564

    1538,335

    1681

    Ta áp dụng công thức: TB = TB1 + TB2

    Với TB: Tổng lợi ích kinh tế do sử dụng xăng pha chì (đơn vị đồng)

    TB1: Tổng lợi ích kinh tế khi giảm nhiên liệu và giá thành sản phẩm đơn vị đồng/l

    TB2: Tổng lợi kinh tế khi giảm số lần sửa chữa phương tiện do sử dụng xăng pha chì đơn vị đồng/lần.

    Qua tính toán ta có kết quả sau đây:

    Bảng 12: Tổng lợi ích kinh tế sử dụng xăng pha chì.

    1995

    1996

    1998

    TB1

    79,773639

    79,778741

    84,860441

    TB2

    1439,564

    1538,335

    1681,0

    TB

    1519,337639

    1618,113741

    1765,860441

    20

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Tổng cộng 3 năm: 5140,10294 triệu đồng (khoảng 5/14 tỷ đồng)

    Lợi ích trung bình 1 năm: 1,713 tỷ đồng.

    21

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    IV. NHỮNG THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG KHI SỬ DỤNG XĂNG PHA CHÌ:

    Dựa vào nguồn số liệu y tế đã điều tra của sở y tế Hà Nội 12/1998 khi điều tra khám toàn diện theo phương pháp chọn ngẫu nhiên ở các lứa tuổi khác nhau ở các quận nội, ngoại thành Hà Nội. Từ 800 người trở lên, các số liệu thu được dưới hình thức %, ta sẽ xử lý để thu được nguồn số liệu dưới hình thức số lượng.

    Ta dựa vào bảng chi phí giá cho từng chỉ tiêu cụ thể trang mô hình để tính các loại chi phí tương ứng.

    Bảng 13: Chi phí chữa bệnh, chi phí cơ hội (triệu đồng

    Chỉ số

    Chi phí TB 1 ca bệnh

    Số ngày nghỉ TB của

    Số ngày nghỉ

    người bệnh

    TB của người

    Nội trú

    Ngoại trú

    nhà người bệnh

    Tai mũi họng

    0,2

    0,1

    5

    0

    Mắt

    0,25

    0,2

    2

    0

    Tiêu hoá

    0,3

    0,17

    1

    0

    Huyết áp

    0,3

    0,15

    1

    1

    Hô hấp

    0,23

    0,2

    2

    0

    Ngoài da

    0,22

    0,17

    0

    0

    Đau lưng khớp

    0,35

    0,28

    7

    1

    Bệnh máu

    6

    5

    45

    10

    Thần kinh, giác quan

    0,2

    0,1

    2

    0

    Rối loạn tâm thần

    0,5

    0,4

    6

    1

    Ho thường xuyên

    0,3

    0,18

    0

    0

    Viêm phế quản mũi

    0,4

    0,3

    2

    0

    Tim

    5

    3

    20

    15

    Mạch

    0,4

    0,3

    7

    1

    Gan mật

    1

    0,8

    21

    1

    Dạ dày

    0,5

    0,4

    7

    0

    Viêm phổi

    5

    3,7

    180

    20

    Kém ăn ngủ

    0,2

    0,1

    1

    0

    Đâu đầu

    0,05

    0,03

    1

    0

    22

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Xoang

    0,3

    0,2

    3

    1

    1. Chi phí chữa bệnh cho từng loại bệnh

    1.1. Nội thành Hà Nội.

    Chỉ số

    Số bệnh nhân

    Tổng chi phí

    Tổng chi phí

     

    Nội trú

    Ngoại trú

    Nội trú

    Ngoại trú

     
     

    Tai mũi họng

    587

    1175

    117,4

    117,5

    237,9

     
     

    Mắt

    411

    823

    102,75

    164,6

    267,35

     
     

    Tiêu hoá

    115

    230

    34,5

    39,1

    73,6

     
     

    Huyết áp

    379

    757

    113,7

    113,55

    227,25

     
     

    Hô hấp

    2065

    4130

    474,96

    826

    1300,96

     
     

    Ngoài da

    230

    461

    50,6

    78,37

    128,97

     
     

    Đau lưng khớp

    93

    186

    32,5

    52,08

    84,63

     
     

    Bệnh máu

    16

    33

    80

    168

    245

     
     

    Thần kinh, giác quan

    582

    1164

    116,4

    116,4

    232,8

     
     

    Rối loạn tâm thần

    54

    109

    27

    43,6

    70,6

     
     

    Ho thường xuyên

    455

    911

    136,.5

    163,98

    300,48

     
     

    Viêm phế quản mũi

    164

    329234

    65,6

    98,7

    164,3

     
     

    Tim

    89

    329

    445

    98,7

    1432

     
     

    Mạch

    63

    315

    25,2

    94,5

    144,9

     
     

    Gan mật

    43

    87

    43

    96,6

    112,6

     
     

    Dạ dày

    32

    65

    16

    26

    12

     
     

    Viêm phổi

    313

    626

    1565

    2316,2

    3881,2

     
     

    Kém ăn ngủ

    15

    1581

    3

    158,1

    161,1

     
     

    Đâu đầu

    10

    2832

    0,5

    84,96

    85,46

     
     

    Xoang

    192

    384

    57,6

    76,8

    134,4

     
     

    Tổng

    5908

    16527

    3507,21

    5792,04

    9299,25

     
     

    1.2. Ngoại thành Hà Nội.

    Chỉ số

    Số bệnh nhân

    Tổng chi phí

    Tổng chi phí

     

    Nội trú

    Ngoại trú

    Nội trú

    Ngoại trú

     
     

    Tai mũi họng

    480

    1008

    96

    100,8

    196,8

     
     

    Mắt

    300

    697

    75

    139,4

    214,4

     
     

    23

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Tiêu hoá

    128

    151

    38,4

    76,67

    115,07

    Huyết áp

    179

    359

    53,7

    23,67

    290,1

    Hô hấp

    100

    1576

    23

    315,2

    338,2

    Ngoài da

    36

    623

    7,92

    105,91

    113.83

    Đau lưng khớp

    69

    123

    24,15

    34,44

    58.59

    Bệnh máu

    20

    40

    120

    200

    320

    Thần kinh, giác quan

    68

    706

    13

    70,6

    83,6

    Rối loạn tâm thần

    27

    30

    13

    12

    18,5

    Ho thường xuyên

    271

    415

    13,5

    74,7

    156

    Viêm phế quản mũi

    107

    325

    81,3

    97,5

    140,3

    Tim

    64

    129

    12,8

    387

    707

    Mạch

    124

    250

    320

    75

    124,6

    Gan mật

    30

    45

    30

    36

    66

    Dạ dày

    42

    51

    21

    20,4

    41,4

    Viêm phổi

    192

    268

    960

    991,6

    195,6

    Kém ăn ngủ

    19

    623

    3,8

    62,3

    66,1

    Đâu đầu

    25

    1521

    1,25

    45,63

    46,88

    Xoang

    97

    128

    29,1

    25

    54,1

    Tổng

    2375

    9365

    2003,52

    3106,55

    5110,07

    2. Chi phí cơ hội của các ca bệnh do ô nhiễm

    2.1. Nội thành Hà Nội.

    Đơn vị triệu đồng

    Số người

    Thời gian

    Chi phí cơ

    Số lượng ca

    BQ ngày

    Tổng chi phí

    Chỉ số

    trong độ

    hội 1 ngày

    bệnh

    tuổi LĐ

    nghỉ bệnh

    nghỉ

    cơ hội

    1 ca

    Tai mũi họng

    1762

    1057

    5

    0,0075

    39,6375

    Mắt

    1234

    740

    2

    0,0075

    11,1

    Tiêu hoá

    345

    207

    1

    0,0075

    1,5325

    Huyết áp

    1136

    681

    1

    0,0075

    5,1075

    Hô hấp

    6195

    3710

    2

    0,0075

    55,65

    Ngoài da

    691

    414

    0

    0,0075

    00

    Đau lưng khớp

    279

    167

    7

    0,0075

    8,7675

    24

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Bệnh máu

    49

    28

    45

    0,0075

    9,45

    Thần kinh, giác quan

    1746

    1047

    2

    0,0075

    15,705

    Rối loạn tâm thần

    163

    97

    6

    0,0075

    4,365

    Ho thường xuyên

    1366

    819

    0

    0,0075

    0

    Viêm phế quản mũi

    493

    295

    2

    0,0075

    4,425

    Tim

    418

    250

    20

    0,0075

    37,5

    Mạch

    378

    226

    7

    0,0075

    11,865

    Gan mật

    130

    78

    21

    0,0075

    12,285

    Dạ dày

    97

    58

    7

    0,0075

    3,045

    Viêm phổi

    939

    563

    180

    0,0075

    760,05

    Kém ăn ngủ

    1596

    857

    1

    0,0075

    6,4275

    Đâu đầu

    2842

    1705

    1

    0,0075

    12,7875

    Xoang

    576

    345

    3

    0,0075

    7,7625

    Tổng

    22435

    13344

    1007,4825

    2.2. Ngoại thành Hà Nội:

    Số người

    Thời gian

    Chi phí cơ

    Số lượng ca

    BQ ngày

    Tổng chi phí

    Chỉ số

    trong độ

    hội 1 ngày

    bệnh

    tuổi LĐ

    nghỉ bệnh

    nghỉ

    cơ hội

    1 ca

    Tai mũi họng

    1488

    818

    5

    0,007

    28,63

    Mắt

    997

    548

    2

    0,007

    7,672

    Tiêu hoá

    579

    318

    1

    0,007

    2,226

    Huyết áp

    538

    295

    1

    0,007

    2,065

    Hô hấp

    1676

    921

    2

    0,007

    12,894

    Ngoài da

    659

    362

    0

    0,007

    0

    Đau lưng khớp

    192

    105

    7

    0,007

    5,145

    Bệnh máu

    60

    27

    45

    0,007

    8,505

    Thần kinh, giác quan

    771

    424

    2

    0,007

    5,936

    Rối loạn tâm thần

    57

    31

    6

    0,007

    1,302

    Ho thường xuyên

    686

    377

    0

    0,007

    0

    Viêm phế quản mũi

    432

    234

    2

    0,007

    3,318

    Tim

    193

    106

    20

    0,007

    14,84

    Mạch

    374

    205

    7

    0,007

    10,045

    Gan mật

    75

    41

    21

    0,007

    6,027

    Dạ dày

    93

    51

    180

    0,007

    2,499

    Viêm phổi

    460

    234

    1

    0,007

    294,84

    25

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Kém ăn ngủ

    642

    353

    1

    0,007

    2,471

    Đâu đầu

    154

    850

    3

    0,007

    5,95

    Xoang

    222

    122

    0,007

    2,562

    Tổng

    11740

    6422

    416,927

    3. Chi phí cơ hội của các ca bệnh do người nhà phải nghỉ việc để chăm sóc:

    3.1. Nội thành Hà Nội:

    Đơn vị triệu đồng

    Số lượng ca

    Thời gian BQ

    Chi phí cơ hội

    Tổng chi phí cơ

     

    Chỉ số

    (ngày) nghỉ

    bệnh

    1 ngày nghỉ

    hội nghỉ việc

     

    bệnh 1 ca

     

    Tai- mũi- họng

    1762

    0

    0,0075

    0

     
     

    Mắt

    1234

    0

    0,0075

    0

     
     

    Tiêu hoá

    345

    0

    0,0075

    0

     
     

    Huyết áp

    1136

    1

    0,0075

    8,52

     
     

    Hô hấp

    6195

    0

    0,0075

    0

     
     

    Ngoài da

    691

    0

    0,0075

    0

     
     

    Đau lưng khớp

    279

    1

    0,0075

    2,0925

     
     

    Bệnh máu

    49

    10

    0,0075

    3,675

     
     

    Thần kinh, giác quan

    1746

    0

    0,0075

    0

     
     

    Rối loạn tâm thần

    163

    1

    0,0075

    1,2225

     
     

    Ho thường xuyên

    1366

    0

    0,0075

    0

     
     

    Viêm phế quản mũi

    493

    0

    0,0075

    0

     
     

    Tim

    418

    15

    0,0075

    47,025

     
     

    Mạch

    378

    1

    0,0075

    2,836

     
     

    Gan mật

    130

    1

    0,0075

    0,975

     
     

    Dạ dày

    97

    0

    0,0075

    0

     
     

    Viêm phổi

    939

    20

    0,0075

    140,85

     
     

    Kém ăn ngủ

    1596

    0

    0,0075

    0

     
     

    Đau đầu

    2842

    0

    0,0075

    0

     
     

    Xoang

    576

    1

    0,0075

    4,32

     
     

    26

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    Tổng

    22435

    211,515

    27

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    3.2. Ngoại thành Hà Nội:

    Chỉ số

    Số lượng ca

    Thời gian

    Chi phí cơ hội

    Tổng chi phí cơ

    bệnh

    BQ(ngày) nghỉ

    1 ngày nghỉ

    hội nghỉ việc

    bệnh 1 ca

    Tai- mũi- họng

    1488

    0

    0,007

    0

    Mắt

    997

    0

    0,007

    0

    Tiêu hoá

    579

    0

    0,007

    0

    Huyết áp

    538

    1

    0,007

    3,766

    Hô hấp

    1676

    0

    0,007

    0

    Ngoài da

    659

    0

    0,007

    0

    Đau lưng khớp

    192

    1

    0,007

    1,344

    Bệnh máu

    60

    10

    0,007

    4,2

    Thần kinh, giác quan

    771

    0

    0,007

    0

    Rối loạn tâm thần

    57

    1

    0,007

    0,399

    Ho thường xuyên

    686

    0

    0,007

    0

    Viêm phế quản mũi

    432

    0

    0,007

    0

    Tim

    193

    15

    0,007

    20,265

    Mạch

    374

    1

    0,007

    2,618

    Gan mật

    75

    1

    0,007

    0,525

    Dạ dày

    93

    0

    0,007

    0

    Viêm phổi

    460

    20

    0,007

    64,4

    Kém ăn ngủ

    642

    0

    0,007

    0

    Đau đầu

    1546

    0

    0,007

    0

    Xoang

    222

    1

    0,007

    1,554

    Tổng

    11740

    99,071

    Qua các số liệu tổng hợp ta tính được chi phí trung bình tính cho sức khoẻ của người dân do ảnh hưởng của xăng pha chì khoảng 4,05028 tỷ đồng/năm.

    Vậy nếu sử dụng xăng pha chì thì trong một năm xã hội phải chịu một khoản thiệt hại khá lớn là 2,33728 tỷ đồng.

    28

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    29

    Tiểu luận Kinh tế Môi trường

    KẾT LUẬN

    Cùng với quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nước ta nói chung, Hà Nội nói riêng các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội trong đó phải đặc biệt kể đến các phương tiện vận tải đường bộ đã, đang và sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường trong đó có môi trường không khí, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người dân thủ đô… Không những môi trường không khí mà sức khoẻ của người dân cũng bị ảnh hưởng.

    Những thiệt hại do các phương tiện giao thông sử dụng xăng pha chì gây ra mới chỉ được tính toán thông qua sức khoẻ của người dân còn các yếu tố khác chưa được tính đến. Vậy thì chi phí không phải là con số đã được tính toán mà còn gấp nhiều lần nữa. Ngoài ra còn có một số thành phần không có khả năng phục hồi nên mọi chi phí khắc phục không thể tính được. Chúng ta cần phải quan tâm nghiên cứu vấn đề này một cách sát thực hơn để môi trường sống của chúng ta ngày càng trong lành hơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]