Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    Đặng Lê Trần Vũ

    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung

     

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/So-s%C3%A1nh-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-h%C3%A0ng-t%E1%BB%93n-kho-Vi%E1%BB%87t-Nam-VAS-02-v%E1%BB%9Bi-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-IAS-02.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: So sánh chuẩn mực kế toán hàng tồn kho Việt Nam (VAS 02) với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02)

    Tóm tắt: Kể từ năm 2000, Bộ tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam. Chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho được ra đời theo quyết định số 149/ 2001/QĐ – BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, về cơ bản được xây dựng trên nền tảng chuẩn mực quốc tế IAS 02 kèm theo một số điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội đặc thù của Việt Nam. Trong bài báo này, tác giả đã phân tích, so sánh chuẩn mực kế toán của Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho nhằm phục vụ cho mục đích tìm hiểu, học tập, hệ thống hóa từ đó sử dụng các chuẩn mực kế toán một cách dễ dàng, thuận tiện và phù hợp. 

    Để so sánh VAS 02 với IAS 02 ta thực hiện so sánh trên những nội dung cơ bản là: Những quy định chung; Nội dung chuẩn mực; Quy định về việc thành lập và trình bày báo cáo tài chính.

    I. Những quy định chung

    Cả 2 chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” của kế toán Quốc tế và Việt Nam đề có một mục đích đó là quy định và hướng dẫn về nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho. Bao gồm: Định nghĩa hàng tồn kho; Nguyên tắc vận dụng kế toán hàng tồn kho; Xác định giá trị hàng tồn kho; Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở cho việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” của kế toán Việt Nam và Quốc tế đều quy định phạm vi áp dụng như sau: Chuẩn mực này được áp dụng cho tất cả hàng tồn kho là tài sản, bao gồm: Hàng tồn kho: Được giữ để bán; Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang; Nguyên liệu để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, hàng tồn kho gồm chi phí dịch vụ tương ứng với doanh thu chưa được ghi nhận. Các nguyên tắc được vận dụng trong chuẩn mực kế toán hàng tồn kho bao gồm: Nguyên tắc thận trọng, nguyên tắc nhất quán và nguyên tắc phù hợp.

    II. Nội dung chuẩn mực

    1. Xác định giá trị hàng tồn kho

    1.1. Giá gốc hàng tồn kho

    * Chuẩn mực IAS 02 và VAS 02 về xác định giá trị hàng tồn kho:

    Theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 02), hàng tồn kho phải được ghi nhận theo giá thấp hơn giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được theo nguyên tắc thận trọng. Đối với chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 02), hàng tồn kho phải được ghi nhận theo giá gốc. Trong trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì ghi nhận theo giá trị thuần cụ thể thực hiện được.

    * Về cách xác định giá gốc hàng tồn kho:

    Cả IAS 02 và VAS 02 đều cùng có chung cách xác định về giá gốc, nhưng với VAS 02 dựa trên cơ sở IAS 02 để đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cụ thể: – IAS 02 và VAS 02 đều quy định cách tính giá gốc cho hàng tồn kho như sau: + Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí thu mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. (IAS 02- mục 10, VAS 02- mục 03). -Trong đó các chi phí xác định như sau: + Chi phí thu mua của hàng tồn kho bao gồm: Giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua. (IAS 02- khoản 11, VAS 02- khoản 06); + Chi phí chế biến: Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm; + Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng… và chi phí quản lý hành chính ở các phân xưởng sản xuất. Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp; + Không bao gồm các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái.

    1.2. Giá trị thuần có thể thực hiện được và trường hợp giảm giá trị hàng tồn kho

    * Giống nhau:

    Cả hai chuẩn mực IAS 02 và VAS 02 đều đưa ra khái niệm Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ đi (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho tiêu thụ chúng. Những ước tính này phải dựa trên bằng chứng đáng tin cậy nhất thu thập được vào thời điểm ước tính.

    2. Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho

    IAS 2 đưa ra các phương pháp để tính giá trị hàng tồn kho là phương pháp tiêu chuẩn và phương pháp bán lẻ ( Áp dụng cho các ngành bán lẻ). Bên cạnh đó, áp dụng 3 phương pháp tính giá trị hàng tồn kho là: PP tính theo giá đích danh, PP bình quân gia quyền và PP nhập trước xuất trước (Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 02 sửa đổi đã loại trừ phương pháp PP LIFO (Nhập sau – xuất trước) trong tính giá hàng tồn kho). VAS 02 cũng áp dụng các phương pháp tính giá hàng tồn kho như trên sông chưa loại bỏ phương pháp LIFO và không đề cập đến phương pháp giá tiêu chuẩn.

    3. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

    – Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng là không đánh giá cao hơn giá trị của các loại tài sản. 

    – Các nguyên nhân làm giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc: hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời, giá bán bị giảm; chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên…

    – Theo VAS 02: Đối tượng lập dự phòng là toàn bộ các loại vật tư, sản phẩm hàng hoá tồn kho. 

    + Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho. Đối với dịch vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính theo từng loại dịch vụ với mức giá riêng biệt; + Bằng chứng để lập dự phòng là khi có biến động của giá cả, chi phí trực tiếp liên quan đến các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc năm tài chính, mà các sự kiện này được xác nhận với các điều kiện có ở thời điểm ước tính;

    + Các trường hợp đặc biệt: Khi số lượng hàng tồn kho lớn hơn yêu cầu thì phần chênh lệch này, giá trị thuần được đánh giá trên cơ sở giá bán ước tính. Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được thì nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được;

    + Hoàn nhập dự phòng: Đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí trong kỳ kế toán. – Theo IAS 02, đối tượng lập dự phòng chủ yếu là các loại hàng tồn kho dùng để bán. Các loại tồn kho dùng để sản xuất chỉ lập dự phòng khi bán các thành phẩm sản xuất ra từ các loại vật tư đó giảm sút trên thị trường. IAS 02 đề cập đến dự phòng giá trị thuần có thể thực hiện được và giá trị có thể thấp hơn giá gốc. Việc ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được là phù hợp với nguyên tắc ghi nhận tài sản, nghĩa là giá trị tài sản được ghi nhận không lớn hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán và sử dụng chúng.

    4. Ghi nhận chi phí

    – Chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho (IAS 02) quy định các khoản mục được ghi nhận chi phí là: Giá trị hàng tồn kho đó được bán ra; Điều chỉnh giảm xuống giá trị thuần có thể thực hiện được; Mất mát hàng trong kho; Hao phí bất thường; Chi phí sản xuất chung không được công bố;

    – Theo VAS 02, khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đó bán được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi nhận. Tất cả các khoản chênh lệch giữa khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho, sau khi bù trừ phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra và chi phí sản xuất chung không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trong trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập cuối niên độ năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đối lập ở cuối niên độ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh; Ghi nhận giá trị hàng tồn kho đó bỏ vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu. 6. Quy định về trình bày thông tin hàng tồn kho trên BCTC

    * Giống nhau:

    IAS 02 khoản 36 và VAS 02 khoản 27 điều quy định báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày:

    – Các chính sách kế toán áp dụng trong việc đánh giá hàng tồn kho, gồm cả phương pháp tính giá trị hàng tồn kho;

    – Giá gốc của tổng số hàng tồn kho và giá gốc của từng loại hàng tồn kho được phân loại phù hợp với doanh nghiệp;

    – Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho

    – Giá trị hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho; – Những trường hợp hay sự kiện dẫn đến việc trích lập thêm hoặc hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho;

    – Giá trị ghi sổ của hàng tồn kho (Giá gốc- dự phòng giảm giá hàng tồn kho) đã dùng để thể chấp, cầm cố đảm bảo cho các khoản nợ phải trả. 

    – Không áp dụng đối với hàng tồn kho thuộc thuộc sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản, và môi giới thương mại 

    – Ảnh hưởng của tỷ giá ngoại tệ không có tác dụng tới hàng tồn kho.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Trần Minh Loan Khoa

    Kinh tế, trường Đại học Xây dựng Miền Trung

    ThS. Lê Thị Thanh Huyền

    Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Ti%E1%BA%BFn-t%E1%BB%9Bi-h%C3%B2a-h%E1%BB%A3p-th%E1%BB%91ng-nh%E1%BA%A5t-gi%E1%BB%AFa-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-trong-l%C4%A9nh-v%E1%BB%B1c-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-Vi%E1%BB%87t-Nam-v%E1%BB%9Bi-chu%E1%BA%A9n-m%E1%BB%B1c-k%E1%BA%BF-to%C3%A1n-c%C3%B4ng-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiến tới hòa hợp, thống nhất giữa kế toán trong lĩnh vực nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

    Tóm tắt

    Trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế nhằm phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất. BCTC của từng quốc gia không phù hợp với CMKT công quốc tế thì không thể so sánh và khó có thể có sự thừa nhận của quốc tế đối với quốc gia đó. Đây chính là nội dung quan trọng mà tất cả các cam kết trong quá trình hội nhập các quốc gia phải tuân thủ. Với yêu cầu như vậy, Việt Nam có đáp ứng được không? Có cần thiết không? Với hoạt động kinh kế, đầu tư đa quốc gia thì có cần phải công bố các thông tin minh bạch? Điều đó sẽ mang lại những lợi thế gì cho Việt Nam? Để trả lời những câu hỏi này, cần xem xét những nội dung liên quan đến BCTC theo CMKT công quốc tế và theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) ở Việt Nam.

    1. Sự khác biệt giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam và CMKT công quốc tế

    a. Khác biệt quy định về hệ thống BCTC

    Theo CMKT công quốc tế (IPSAS), các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị kinh tế có thể sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng chịu sự kiểm soát của Chính phủ hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu, chi. Chênh lệch giữa các khoản thu (bao gồm cả kinh phí ngân sách cấp) đã sử dụng trong quá trình hoạt động là thặng dư hoặc thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi, lỗ) của đơn vị trong kỳ kế toán. Theo đó, IPSAS quy định: kế toán trên cơ sở tiền mặt lập một báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần/Vốn chủ sở hữu; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC). Ở Việt Nam, chế độ kế toán HCSN quy định, các đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo (Báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; Báo cáo chi tiết kinh phí hoạt động; Báo cáo chi tiết kinh phí dự án; Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD); Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định; Báo cáo số kinh phí chưa sử dụng đã quyết toán năm trước chuyển sang) và 4 phụ biểu (Bảng cân đối tài khoản; Thuyết minh báo cáo tài chính; Bảng đối chiếu dự toán kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước; Bảng đối chiếu tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng kinh phí ngân sách tại Kho bạc Nhà nước). – Báo cáo có liên quan đến tình hình tài chính

    + IPSAS: Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam: Bảng cân đối tài khoản. Thực chất đây chỉ là một phương pháp kiểm tra của kế toán. Bảng cân đối tài khoản không phản ánh được tình hình tài chính, thực trạng, tài sản, nguồn vốn của đơn vị như đối với bảng cân đối kế toán. Do vậy, người sử dụng thông tin không thấy được tài sản và nợ phải trả theo hai loại ngắn hạn và dài hạn cũng như cơ cấu tài sản, nguồn vốn của đơn vị. – Báo cáo liên quan đến thu, chi trong quá trình hoạt động + IPSAS: đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập Báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh thu, chi trong quá trình hoạt động để xác định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị trong kỳ kế toán. Toàn bộ các khoản thu bao gồm cả số kinh phí đã tiếp nhận và các khoản chi bao gồm cả số kinh phí đã sử dụng phát sinh trong kỳ được phản ánh vào báo cáo kết quả hoạt động. Các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần trên cơ sở so sánh chênh lệch các khoản thu, chi phát sinh trong kỳ. Và các khoản thu chi phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam: không lập báo cáo kết quả hoạt động mà toàn bộ thu, chi của đơn vị HCSN được phản ánh ở hai báo cáo: các khoản kinh phí đơn vị đã tiếp nhận và sử dụng trong kỳ kế toán được phản ánh riêng ở báo cáo tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng; các khoản thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD phản ánh ở báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD. Toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN và các khoản thu, chi của hoạt động sự nghiệp được phản ánh về cơ bản theo nguyên tắc cơ sở tiền mặt, các khoản thu, chi của hoạt động SXKD được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích. – Báo cáo lưu chuyển tiền tệ + IPSAS: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ để xác định các nguồn của những luồng tiền vào, những khoản mục chi bằng tiền trong kỳ kế toán, và số dư tiền tệ tại ngày kết thúc kỳ kế toán. + Chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam hiện nay chưa có báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Do đó, để thực hiện được IPSAS thì việc đầu tiên bắt buộc phải tiến hành là các quy định về quản lý ngân sách và tài chính công phải được nghiên cứu, xem xét để ban hành cho phù hợp với thông lệ chung của các nước. 

    b. Khác biệt quy định về lập BCTC hợp nhất 

    – Theo CMKT công quốc tế: đơn vị kinh tế (đơn vị báo cáo) là một hoặc một nhóm đơn vị kiểm soát và một hoặc nhiều đơn vị bị kiểm soát. Đơn vị kiểm soát phải lập BCTC hợp nhất của các đơn vị bị kiểm soát. Để lập BCTC hợp nhất, đơn vị kiểm soát phải xác định các đơn vị bị kiểm soát. Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của đơn vị khác nhằm thu được lợi ích từ hoạt động của các đơn vị đó và đơn vị có quyền kiểm soát phải tuân theo qui định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận chính thức, như: đơn vị có thẩm quyền quyết định thành lập và chi phối các chính sách tài chính và hoạt động; có quyền giải thể, thu hồi, xử lý tài sản và có trách nhiệm về các khoản nợ phải trả của các đơn vị khi giải thể . Như vậy theo IPSAS, Chính phủ và từng Bộ, ngành, tỉnh, thành phố…đều là các đơn vị kinh tế, đều phải lập BCTC trên cơ sở hệ thống CMKT công. BCTC của Chính phủ theo IPSAS phải được hợp nhất từ BCTC của tất cả các đơn vị trung gian do Chính phủ kiểm soát, trong đó bao gồm cả đơn vị được hoặc không được Nhà nước cấp kinh phí, vốn; đơn vị có thể hoạt động độc lập không được Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc giải thể…Các đơn vị chịu sự kiểm soát của Chính phủ phải được hợp nhất vào BCTC của Chính phủ. – Đối với Việt Nam, việc lập Báo cáo quyết toán ngân sách để phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội đã quá quen thuộc, nhưng công việc lập BCTC cho toàn bộ khu vực công theo hệ thống CMKT công quốc tế còn quá xa lạ. Các khái niệm về khu vực công và sử dụng CMKT công còn quá xa lạ và phức tạp với Việt Nam. Như đơn vị kinh tế trong lĩnh vực công phải lập BCTC; BCTC hợp nhất; đơn vị kiểm soát; đơn vị bị kiểm soát; kiểm soát vì mục đích BCTC; lợi ích và sở hữu của cổ đông thiểu số; hoạt động liên doanh liên kết giữa các chính phủ của các nước; hoạt động đầu tư, kể cả đầu tư của Nhà nước đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Như vậy, với những khác biệt quá lớn về hệ thống BCTC giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam và CMKT công quốc tế thì yêu cầu các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS đối với Việt Nam ngay lúc này chưa thể áp dụng được. 

    2. Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam và những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch 

    a. Những trở ngại về lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam

    Việc áp dụng CMKT công quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như nâng cao tính toàn diện, công khai và minh bạch của BCTC; nâng cao chất lượng và tính so sánh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công cũng như tính nhất quán trong việc lập và báo cáo các thông tin tài chính, hạn chế tham nhũng… Tuy nhiên, CMKT công quốc tế được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở mức độ cao, trong đó, quan hệ NSNN với các đơn vị sự nghiệp được thực hiện theo đơn đặt hàng, hoạt động sự nghiệp của đơn vị này được coi là các dịch vụ công thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước và khi hoàn thành nghiệm thu sẽ được Nhà nước thanh toán. Các đơn vị thuộc lĩnh vực công ở các nước này là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế, tự cân đối thu, chi. Như vậy, chỉ có những nước phát triển mới có khả năng áp dụng ngay chuẩn mực này. Ngoài ra, trong khu vực công, thể chế chính trị, quan hệ cấp phát, thanh toán giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực công và tài chính công giữa các quốc gia còn nhiều khác biệt. Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế. Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, Hiệp định thương mại Việt- Mỹ…đòi hỏi Việt Nam phải cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và phải được quốc tế thừa nhận. Tuy nhiên, các thông tin tài chính, kế toán hiện hành trong lĩnh vực công cho thấy chưa có sự nhất quán giữa các hệ thống kế toán hiện nay. Lĩnh vực công của Việt Nam xét trên bình diện tổng thể vẫn chưa đầy đủ, hoàn chỉnh, chưa phù hợp với yêu cầu và thông lệ quốc tế. Chế độ kế toán HCSN ban hành kèm theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính được xây dựng và ban hành trên cơ sở Luật Ngân sách, Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chế độ kế toán HCSN, Việt Nam chưa tham khảo CMKT công quốc tế nên còn nhiều điểm khác biệt với hệ thống CMKT công quốc tế, cụ thể: tổ chức ngân sách lồng ghép với nhiều cấp như Trung ương, tỉnh, huyện, xã, trong đó, cấp xã vừa là một cấp ngân sách vừa là một cấp dự toán; yêu cầu quản lý ngân sách và các quy định quản lý tài chính áp dụng cho các đơn vị sử dụng ngân sách và các cấp ngân sách khá phức tạp, không giống như các nước khác. Thực tế ở Việt Nam, hệ thống BCTC của đơn vị HCSN theo qui định hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phù hơp với Luật NSNN và các chính sách quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN. Tuy nhiên, BCTC của đơn vị HCSN hiện nay mới chỉ là một bộ phận cấu thành để tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhằm phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội. BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là BCTC của một đơn vị kinh tế bị kiểm soát, phục vụ cho việc lập BCTC hợp nhất của Chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra, giám sát, đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính. Do đó, việc lập BCTC hợp nhất trong toàn bộ lĩnh vực công ở Việt Nam là cần thiết nhưng ngay lúc này thì chưa thể thực hiện. Khoảng cách giữa chế độ kế toán HCSN ở Việt Nam với CMKT công quốc tế là khá lớn. 

    b. Những lợi thế cho Việt Nam khi hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia công bố thông tin minh bạch

    Kinh tế Việt Nam đang trong quá trình tăng trưởng và phát triển, nhận được sự đánh giá cao và niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế về cơ hội đầu tư trung và dài hạn. Hiện nay, với xu thế hội nhập, khuyến khích đầu tư từ nước ngoài thì vấn đề công bố thông tin minh bạch đối với hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia là cần thiết, đảm bảo cho việc quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước, giúp nhà nước có những định hướng cho phát triển kinh tế, có cái nhìn đúng đắn về các hoạt động đầu tư để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp cho hoạt động đầu tư. Học hỏi được kinh nghiệm quản lý, tổ chức, phương thức hoạt động từ các hoạt động đầu tư đa quốc gia. Việc minh bạch thông tin giúp các nhà đầu tư trong nước có những quyết định đúng đắn, phù hợp với lợi ích của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh tế.

    Tóm lại, trong xu thế hội nhập, các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất. Điều này không chỉ là sự cần thiết, yêu cầu của hoạt động kinh tế, đầu tư đa quốc gia mà quan trọng hơn là việc công bố các thông tin minh bạch sẽ tạo ra lợi thế cho các khoản đi vay, cho vay giữa các quốc gia và với các tổ chức quốc tế . Do đó, Việt Nam cần phải ban hành CMKT công dựa trên cơ sở CMKT công quốc tế và phù hợp với hoàn cảnh trong nước. Để làm được điều đó phải nhanh chóng chuyển biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý NSNN. Ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải đưa ra lộ trình cụ thể để áp dụng, tiến tới thống nhất BCTC trên cơ sở kế toán dồn tích từ Chính phủ xuống tất cả các đơn vị. Hiện nay các công ty sử dụng nguồn vốn từ ngân sách rất nhiều, chia thành nhiều đối tượng, như vậy: làm thế nào để các công ty con cũng tuân thủ nhất quán chế độ kế toán như các công ty mẹ đang là vấn đề. Việt Nam sẽ phải tiếp tục học hỏi kinh nghiệm từ các nước để đưa ra lộ trình riêng cho mình. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Lương Văn Hải

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/Kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-h%E1%BB%91i-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-di%E1%BB%85n-bi%E1%BA%BFn-ph%E1%BB%A9c-t%E1%BA%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh thương mại quốc tế diễn biến phức tạp

    Tóm tắt

    Nền kinh tế Việt Nam nói chung, hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nói riêng đang hội nhập sâu rộng với cộng đồng quốc tế và thị trường tài chính quốc tế. Các hoạt động thương mại, đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, xuất khẩu lao động, du lịch quốc tế, kiều hối, du học…. của Việt Nam với thế giới ngày càng phát triển mạnh. Theo đó, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM tại Việt Nam ngày càng phát triển mạnh, nhất là các NHTM của Việt Nam có thế mạnh về lĩnh vực này và các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Trong gần 2 năm: 2018 và từ đầu năm 2019 đến nay, thị trường ngoại hối quốc tế có sự biến động mạnh, đặc biệt là USD và Nhân dân tệ (NDT – CNY), với tác động của căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc kéo dài, sự mất giá mạnh của NDT, FED 3 lần tăng lãi suất trong năm 2018 và giữ nguyên từ đầu năm 2019 đến nay, giá dầu thô diễn biến 2 chiều: tăng khá nhưng cũng giảm đáng kể, đàm phán Brexit kéo dài và Quốc hội Anh chưa thông qua các điều khoản Brexit… Vậy trong bối cảnh năm 2018 và từ đầu năm 2019 đến nay dưới tác động của căng thẳng quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc thường xuyên gia tăng, thương mại quốc tế diễn biến phức tạp, hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam ra sao? Bài viết xin được phân tích về chủ đề này.

    1. Đặt vấn đề

    Ngoại hối bao gồm tất cả các phương tiện thanh toán được sử dụng trong các giao dịch trao đổi và thanh toán quốc tế. Xét trong phạm vi từng quốc gia thì ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ (Bao gồm: Séc, trái phiếu, hối phiếu…), vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng nội tệ do người không cứ trú nắm giữ. Tuy nhiên trên thực tế, trên thị trường ngoại hối người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ không được giao dịch trực tiếp trên thị trường ngoại hối. Muốn trở thành ngoại tệ để giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì trước hết phải bán (chiết khấu) các giấy tờ có giá để có ngoại tệ, sau đó mới tiến hành mua bán trên thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng. Giao dịch trên thị trường ngoại hối có các nghiệp vụ, như: Nghiệp vụ ngoại hối giao ngay, nghiệp vụ ngoại hối kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối, nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ, nghiệp vụ tiền tệ tương lai. Thị trường ngoại hối có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia theo hướng mở. Thông qua thị trường ngoại hối, các giao dịch mua bán ngoại tệ được tiến hành một cách thuận lợi, qua đó, thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế phát triển. Cùng với sự phát triển của kinh tế đối ngoại, thì các hoạt động trao đổi trên thị trường ngoại hối cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, nếu như thị trường ngoại hối hoạt động lành mạnh và hiệu quả sẽ là tiền đề rất quan trọng để thúc đẩy kinh tế đối ngoại của một quốc gia phát triển lành mạnh và hiệu quả. Kinh doanh ngoại hối là việc mua và bán các loại tiền tệ với mục đích kiếm lợi nhuận từ những thay đổi trong giá trị của chúng. Kinh doanh trên thị trường ngoại hối là một nghiệp vụ khó, đòi hỏi các nhà đầu tư, đầu cơ và nhà phân tích thị trường phải hiểu rõ sự vận động của thị trường ở các thời điểm khác nhau, khung thời gian khác nhau, phân tich và dự báo những biến động và nhân tố tác động đến sự biến động đó.

    2. Nội dung nghiên cứu

    Thời gian giao dịch trên thị trường ngoại hối

    Không giống như các thị trường tài chính khác. Thị trường ngoại hối là thị trường hoạt động 24 giờ và được kết nối bằng hệ thống điện tử trong một mạng lưới của các ngân hàng trên toàn cầu tham gia hoạt động này. Để biết được thời gian tốt nhất để giao dịch thì nhà kinh doanh ngoại hối cần biết được sự hoạt động trong 24 giờ của thị trường là như thế nào? Thị trường ngoại hối được chia thành bốn phiên giao dịch chính: Sydney, Tokyo, London và phiên New York

    Vị thế của Nhân dân tệ trên thị trường tài chính quốc tế

    Ngày 1/10/2016, NDT chính thức gia nhập vào rổ tiền tệ quốc tế của IMF cùng với các đồng USD của Mỹ, Euro của EU, Yen Nhật và Bảng Anh. Đây là những loại tiền tệ các nước có thể nhận được thông qua các khoản vay của IMF. NDT cũng là một trong 5 đồng tiền dự trữ toàn cầu nói trên trong giỏ tiền SDR của IMF, với tỷ trọng 10,92% trong giỏ tiền tệ. Đây cũng là một cột mốc quan trọng trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc trong suốt một thập kỷ qua.Tỷ trọng NDT còn cao hơn so với Yên Nhật trong biểu đồ tại hình 1. Tỷ trọng này được dùng để xác định số tiền của mỗi đồng tiền được định giá trong rổ SDR mới có hiệu lực từ ngày 01/10/2016. Tại châu Á, các nước Malaysia, Philippines, Thái Lan đã đưa NDT vào hệ thống dự trữ quốc gia. Sau khi IMF tuyên bố đưa đồng NDT vào giỏ SDR, rất nhiều nước như Singapore, Tanzania… đã tuyên bố đưa đồng NDT vào dự trữ ngoại hối. Hàn Quốc cũng đang xem xét đa dạng hóa nguồn dự trữ ngoại tệ của mình, trong đó có tính đến đồng NDT. Ở châu Âu, tháng 1/2017, Hội đồng quản trị của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định bổ sung NDT vào thành phần hiện tại của kho dự trữ ngoại hối (gồm: USD, Yên Nhật, NDT, vàng và SDR). Theo đó, ECB đã bán một phần nhỏ lượng nắm giữ USD của mình (tương đương 500 triệu Euro) để đầu tư vào đồng NDT. Một số NHTW các nền kinh tế khác, như: Ngân hàng Trung ương Pháp, Ngân hàng Trung ương Đức cũng đã xác nhận nắm giữ NDT trong cơ cấu dự trữ ngoại hối từ tháng 1/2017. Anh chấp nhận thanh toán với Trung Quốc bằng NDT và đang xem xét đưa thêm NDT vào rổ dự trữ ngoại tệ. Tại châu Phi, Nigieria đã tuyên bố xem xét tăng tỷ lệ dự trữ đồng NDT thêm 5% – 10%. Trước thời điểm 1/10/2016, vào cuối năm 2015, sau hơn 5 năm tập trung tăng cường vị thế của Nhân dân tệ, Trung Quốc đã ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với gần 30 nước và có ngân hàng thanh toán tại gần 10 quốc gia. Theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS), từ năm 2013, NDT đã lọt top 10 đồng tiền được giao dịch nhiều nhất toàn cầu, nhờ tốc độ tăng trưởng GDP cao, cán cân thanh toán và vãng lai liên tục thặng dư cùng chính sách nới lỏng mạnh tay của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) suốt từ năm 2009, thời điểm nước này nhận ra mình đang “mắc bẫy USD”. Từ cuối năm 2017, khi căng thẳng thương mại Mỹ và Trung Quốc bắt đầu căng thẳng và liên tục gia tăng lớn cho đến nay, NDT đã thường xuyên biến động mạnh theo hướng giảm giá. Nhân dân tệ tại thị trường Trung Quốc ngày 3/8/2018 giảm xuống mức thấp nhất 15 tháng, với 6,8724 Nhân dân tệ đổi 1 USD, nếu so với mức tỷ giá 6,2352 Nhân dân tệ/USD hồi tháng 3, đồng Nhân dân tệ hiện đã giảm giá 10%. Cuối tháng 9/2018 tỷ giá Nhân dân tệ đóng cửa tại thị trường Thượng Hải ở mức 6,8725 Nhân dân tệ/USD, có thời điểm lên tới 6,9182 NDT/USD. Từ đầu năm 2019 đến nay, cuối tháng 6/2019, Nhân dân tệ tiếp tục diễn biến theo xu hướng giảm giá, thời điểm ngày 10/6/2019 tại thị trường đại lục có lúc giảm còn 6,9352 tệ đổi 1 USD, mức thấp nhất kể từ đầu năm tới nay. Tại thị trường Hồng Kông, tỷ giá Nhân dân tệ trong buổi sáng có lúc đứng ở mức 6,9538 tệ đổi 1 USD.

    Thực trạng kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

    Để thấy rõ thực trạng hoạt động kinh doanh ngoaị hối của các NHTM Việt Nam hiện nay trong bối cảnh tác động của cằng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc, bài viết xin đưa ra số liệu và hiệu quả kinh doanh này được công bố trong Báo cáo tài chính hết quý I/2019 của 24 NHTM cho thấy, số lượng ngân hàng có lợi nhuận tăng chiếm đa số. Xét về giá trị tuyệt đối, Vietcombank vẫn là NHTM có lợi nhuận cao nhất ngành. Trong quý 1, thu nhập lãi thuần của Vietcombank đạt trên 8.498 tỷ đồng (xếp thứ 2 trong ngành sau BIDV), tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và hoạt động khác giảm lần lượt 76% và 27% thì lãi từ hoạt động dịch vụ cũng như kinh doanh ngoại hối và vàng đều tăng. Hoạt động dịch vụ đạt lãi thuần trên 1.069 tỷ đồng, tăng 21%, hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng cũng đạt 928 tỷ đồng, tăng 51%. Đối với BIDV, đây cũng là NHTM có thu nhập lãi thuần cao nhất trong ngành với 8.545 tỷ đồng trong quý 1. Ở các mảng hoạt động khác, dù các hoạt động như dịch vụ, kinh doanh ngoại hối và vàng cùng hoạt động khác đều có sự tăng trưởng về lãi thuần tuy nhiên hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh chỉ đạt 38,7 tỷ lãi thuần, giảm 93%, ngoài ra hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư còn lỗ trên 389 tỷ.Do đó, lợi nhuận trước thuế của BIDV chỉ tăng nhẹ 1,4% lên 2.520 tỷ đồng. Ngân hàng này vẫn nằm trong top 5 ngân hàng có lợi nhuận lớn nhất ngành trong quý 1. Nhìn lại trong năm 2018, dựa trên báo cáo tài chính hết quý 3/2018, kết quả tổng hợp cho thấy, 20 ngân hàng có lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối, đạt hơn 4.200 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm 2018, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2017, cho thấy đây vẫn là mảng kinh doanh hấp dẫn; đồng thời các NHTM cũng chủ động, linh hoạt, có kinh nghiệm hơn và phòng ngừa rủi ro tốt hơn. Tổng số 20 NHTM được đề cập, đó là Vietcombank, BIDV, Sacombank, ACB, MBB, VPBank, Techcombank, HDBank, ABBank, VietCapitalBank, SeABank, VietBank, Saigonbank, Kienlongbank, Bac A Bank, TPBank, VietABank, LienVietPostBank, VIB, NCB. Tổng hợp con số đầy đủ thì lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 4.293 tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ. Riêng quý 3/2018, 20 ngân hàng này có lãi 1.290 tỷ đồng từ kinh doanh ngoại hối. Đây là quý có sự biến động mạnh nhất của NDT và VND so với USD, tức là có mức độ rủi ro lớn nhất, nhưng các NHTM Việt Nam vẫn duy trì được số lãi ổn định từ hoạt động kinh doanh này. Trong số đó, có 16 trên tổng số 20 NHTM Việt Nam được tổng hợp, phân tích có tăng trưởng dương ở mảng kinh doanh ngoại hối trong 9 tháng đầu năm 2018, cá biệt có một số ngân hàng có tốc độ tăng trưởng rất cao trên 100%. VPBank cùng kỳ năm 2017 bị lỗ tới 43 tỷ đồng thì 9 tháng đầu năm 2018 có lãi tới 251 tỷ đồng; VietCapitalBank hoạt động kinh doanh ngoại hối có lãi 115 tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái, đây là động lực chính cho tăng trưởng lợi nhuận hợp nhất cùa ngân hàng này trong 3 quý đầu năm 2018. BIDV, một trong những NHTM Việt Nam có thị phần lớn nhất trên thị trường ngoại hối cũng có tăng trưởng lãi kinh doanh ngoại hối tới 55% đạt 797 tỷ đồng. Tham khảo số liệu so sánh kết quả kinh doanh ngoại hối trong 2 năm qua 2017-2018 của 10 NHTM Việt Nam Bên cạnh một số NHTM có kết quả kinh doanh ngoại hối tăng trưởng cao, thì một số NHTM khác, như: Vietcombank, Sacombank, BacABank và LienVietPostBank lại giảm so với cùng kỳ, riêng LienVietPostBank còn bị lỗ gần 7 tỷ đồng. Đối với riêng Vietcombank cho dù bị giảm 6% so với cùng kỳ năm 2017, nhưng Vietcombank vẫn có mức lãi từ kinh doanh ngoại hối đạt hơn 1.600 tỷ đồng, dẫn đầu các NHTM Việt Nam và có khoảng cách rất xa so với các NHTM khác. Trong nhiều năm gần đây, Vietcombank vẫn luôn giữ được thế mạnh truyền thống, có thị phần lớn nhất trong hoạt động kinh doanh ngoại hối. Tham khảo số liệu về lĩnh vực kinh doanh này 2 năm trước đó: 2016 – 2017 của Vietcombank cũng thấy rõ điều đó. Tính đến hết năm 2017, Vietcombank đạt doanh số kinh doanh ngoại tệ tăng 27,22% so với cùng kỳ và đạt 120,3% mục tiêu đề ra trong kế hoạch kinh doanh của năm 2017; Chuyển tiền kiều hối tăng 14,9% so với cùng kỳ 2016. Cũng trong khoảng thời gian nói trên, Vietcombank liên tục duy trì vị trí hàng đầu về mua bán ngoại tệ trên thị trường. Nhóm NHTM Việt Nam có thị phần lớn tiếp theo đó là BIDV, VietinBank, Sacombank, Techcombank, ACB, MBB, Eximbank và VPBank cũng đang tham gia cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường ngoại hối. Tại VPBank, kinh doanh ngoại hối vốn không phải là thế mạnh nhiều năm trước khi thường xuyên bị lỗ nặng: năm 2017 bị lỗ 159 tỷ đồng, năm 2016 lỗ 319 tỷ đồng, năm 2015 lỗ 290 tỷ đồng. Nhưng năm 2018 VPBank đang có bước thay đổi mạnh mẽ khi không chỉ thoát lỗ mà còn có lãi tới 251 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm ở mảng kinh doanh này. Kinh doanh ngoại hối thậm chí còn trở thành một trong những yếu tố cứu cánh cho tăng trưởng lợi nhuận của VPBank khi thu nhập từ tín dụng tăng chậm lại, hoạt động dịch vụ và mua bán chứng khoán sụt giảm. Ngoài các NHTM nói trên, thì trong 9 tháng đầu năm 2018 một số NHTM khác của Việt Nam cũng đạt số lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại hối ở mức khá, như: Sacombank đạt lãi 313 tỷ đồng, ACB đạt 308 tỷ đồng, MB đạt 302 tỷ đồng, Techcombank 247 tỷ đồng. Những NHTM này thậm chí còn phải cạnh tranh gay gắt với những ngân hàng nước ngoài có ưu thế về nguồn ngoại tệ dồi dào,kinh nghiệm trên thị trường tài chính quốc tế, khách hàng là các nhà xuất khẩu lớn. Ví dụ, đến nay chưa thấy công bố kết quả kinh doanh 9 tháng, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2018 tại HSBC Việt Nam, đã có lãi từ kinh doanh ngoại hối đạt tới 347 tỷ đồng, chỉ đứng sau Vietcombank, BIDV và tương đương với VietinBank. Trên thực tế, hoạt động kinh doanh ngoại hối là một mảng nhiều rủi ro, lên xuống khá thất thường, ngay cả ở những Ngân hàng lớn, giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, các NHTM Việt Nam cũng sẽ không bỏ qua mảng kinh doanh có nhiều triển vọng, nhiều tiềm năng bởi nhu cầu chi tiêu ngoại tệ cho các hoạt động du lịch, du học, định cư,…ở nước ngoài ngày càng lớn. Lượng kiều hối về Việt Nam cũng tăng nhanh theo từng năm. Đồng thời, các NHTM Việt Nam còn phải cạnh tranh với mua bán ngoại tệ trên thị trường “chợ đen”, chủ yếu là các cửa hàng vàng. Mặc dù các NHTM Việt Nam trong nhiều năm qua đưa ra không ít chương trình khuyến mại tặng quà, tặng tiền cho khách hàng thực hiện giao dịch ngoại tệ với ngân hàng,…hay bổ sung nhiều tiện ích, như cho phép đổi ngoại tệ tại cây ATM, thì thói quen mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do của người dân vẫn khó thay đổi. Đặc biệt là với những giao dịch Nhân dân tệ của tư nhân, của cá nhân ở khu vực biên giới phía Bắc.

    Hành lang pháp lý tạo cơ hội cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam mở rộng kinh doanh mua bán Nhân dân tệ trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung Quốc

    Trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung gia tăng, nhiều dự báo sẽ chỉ ra rằng, các cơ hội gia tăng quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch quốc tế của Việt Nam và Trung Quốc sẽ lớn hơn, giao dịch bằng NDT sẽ lớn hơn, tập trung là khu vực biên giới. Đây là một mảng thị trường kinh doanh ngoại hối mà nhiều NHTM đang mở rộng cơ hội. Trong các báo cáo tài chính của các NHTMCP Việt Nam được đề cập nói trên, phần kinh doanh ngoại hối chỉ đề cập chung, tổng thể, không có thuyết minh chi tiết giao dịch mua bán NDT. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động này có phát sinh tại một số NHTM Việt Nam và đạt kết quả kinh doanh khá. Về cơ sở pháp lý, NHNN Việt Nam đã kịp thời ban hành Thông tư số: 19/2018/ TT-NHNN, hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc, có hiệu lực thi hành từ 12/10/2018. Đây là điều kiện cho các NHTM Việt Nam đẩy mạnh cạnh tranh về giao dịch mua bán NDT ở khu vực biên giới, nhất là trong bối cảnh quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc chưa giảm bớt căng thẳng. Theo quy định pháp lý nói trên, các đối tượng được sử dụng Nhân dân tệ trong thanh toán gồm thương nhân, cư dân biên giới Việt Nam, Trung Quốc có hoạt động thương mại biên giới giữa 2 nước; các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh ngoại hối. Cùng với đồng Nhân dân tệ, VND và ngoại tệ tự do chuyển đổi cũng được dùng trong các giao dịch thanh toán ở biên giới. Phương thức thanh toán bao gồm thanh toán qua ngân hàng, bằng VND hoặc Nhân dân tệ (CNY) tiền mặt. Ngoài ra, thông tư cũng quy định một số hoạt động ngoại hối khác, như: ủy thác thanh toán bằng đồng CNY, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu CNY tiền mặt và VND tiền mặt. 

    3. Kết luận và khuyến nghị

    Dự báo, dù diễn biến quan hệ thương mại Mỹ – Trung Quốc tới đây như thế nào đi chăng nữa, thì quan hệ thương mại, đầu tư, du lịch, dịch vụ hành không,… giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tiếp tục gia tăng lớn, các giao dịch về thanh toán, chuyển tiền, chuyển đổi tiền tệ của doanh nhân, cá nhân người Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục ở quy mô lớn hơn và NDT sẽ có những biến động khó lường. Bên cạnh đó, với việc CPTPP chính thức có hiệu lực từ 30/12/2018, các hiệp định thương mại khác giữa Việt Nam và các khối, các nước khác được thực thi, quan hệ thương mại, đầu tư, dịch vụ, du lịch, lao động, chuyên gia, thanh toán, chuyển tiền, giao dịch vốn,… của Việt Nam với cộng đồng quốc tế sẽ tiếp tục phát triển lên các mức độ mới. Thị trường tài chính quốc tế tiếp tục diễn biến với những tác động kinh tế, chính trị, thiên tai,….bất thường. Đó là những cơ hội và thách thức lớn đối với các NHTM Việt Nam. Tuy nhiên với kinh nghiệm rút ra trong thời gian qua, đặc biệt là trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019, chắc chắn hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM Việt Nam sẽ có kết quả bền vững hơn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Vấn đề đặt ra cho các NHTM Việt Nam, đó là tiếp tục tăng cường đào tạo cán bộ, thực hiện tốt các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ kinh doanh ngoại hối quốc tế, chủ động và linh hoạt mua bán ngoại tệ trên thị trường, chú trọng đến các nghiệp vụ phái sinh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    ThS. Nguyễn Thu Hương

    Bộ Môn Kinh Tế XD, Khoa Quản lý đô thị

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-m%C3%B4-h%C3%ACnh-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-tr%C3%AAn-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%83-%C4%91%C3%A1nh-gi%C3%A1-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-b%C3%A1o-c%C3%A1o-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-c%E1%BB%A7a-doanh-nghi%E1%BB%87p-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số mô hình thường được áp dụng trên thế giới để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp xây dựng

    Tóm tắt

    Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) có ý nghĩa quan trọng đối với không chỉ các nhà đầu tư, các nhà cho vay, mà còn đối với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng hay các cơ quan quản lý Nhà nước. Thông tin trên BCTC giúp các đối tượng này có những nhìn nhận chính xác hơn về tính trung thực và hợp lý của việc lập và trình bày các thông tin tài chính. Đồng thời, cũng giúp các đối tượng này ra các quyết định phù hợp liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Bài viết này tổng hợp một số mô hình đang được áp dụng để đánh giá chất lượng BCTC nhằm giúp các nhà phân tích, các đối tượng có liên quan có cơ sở đánh giá chính xác nhất.

    1. Đặt vấn đề

    Phân tích BCTC là một hệ thống các phương pháp tiếp cận các thông tin trên BCTC nhằm phục vụ cho mục tiêu ra quyết định. Các quyết định liên quan đến hệ thống BCTC doanh nghiệp rất đa dạng nhưng có một điểm chung đó là cùng đánh giá khả năng tạo ra dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai. Chính vì vậy, trong quá trình phân tích BCTC, các nhà phân tích thường quan tâm đến chất lượng BCTC đã công bố. Chất lượng BCTC có liên quan đến việc phản ánh trung thực, hợp lý về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và những thông tin này rất hữu ích cho dự báo dòng tiền trong tương lai. BCTC được lập dựa trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán. Yêu cầu của việc lập và trình bày BCTC phải đảm bảo tính trung thực, hợp lý và đáng tin cậy trong việc phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Yêu cầu về tính hợp lý của thông tin tài chính cho phép nhà quản trị doanh nghiệp có thể linh hoạt trong việc vận dụng các chính sách, các phương pháp kế toán. Đồng thời, để đảm bảo được tính tin cậy cũng đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải tuân thủ một cách chặt chẽ và chi tiết các chuẩn mực và chế độ kế toán. Tuy nhiên, trong thực tế BCTC của DN vẫn có thể bị tác động bởi các mục tiêu khác nhau của các nhà quản trị doanh nghiệp. DeAngelo (1986) đã chỉ ra bằng chứng về việc các nhà quản trị doanh nghiệp đã tác động vào lợi nhuận dồn tích cùng với những thay đổi kế toán để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp. Schipper (1989) đã đề cập đến tính trung thực của việc lập và trình bày BCTC, trong đó đề cập đến hành vi can thiệp có cân nhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích của nhà quản trị. Trueman and Titman (1989) đã xem xét đến động cơ của các nhà quản trị trong việc “đánh bóng” BCTC và kết luận doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh càng thấp thì càng có động cơ can thiệp vào BCTC càng nhiều. Do đó, hành động can thiệp vào BCTC doanh nghiệp chính là sự vận dụng khéo léo, linh hoạt các chuẩn mực, chế độ kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp. Như vậy, hành động can thiệp vào BCTC doanh nghiệp xây dựng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư và các đối tượng bên ngoài, từ đó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các đối tượng này. Bởi nó không phản ánh được bản chất, đôi khi có thể dẫn tới những thông tin sai lệch về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Hành động can thiệp làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC thực tế luôn tồn tại, vậy làm thế nào để các đối tượng bên ngoài có thể đánh giá được về chất lượng BCTC doanh nghiệp xây dựng? Bài viết này sẽ tổng hợp một số mô hình dùng để đánh giá chất lượng BCTC doanh nghiệp nhằm giúp các nhà phân tích, các đối tượng bên ngoài có cơ sở để đo lường chất lượng BCTC. Trên cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho các bên liên quan có quyết định hợp lý đối với tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng. Trong đó, bài viết chủ yếu xem xét các mô hình đo lường chất lượng BCTC thông qua hành vi quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp. Đây là hành vi chủ yếu tác động đến doanh thu, chi phí và lợi nhuận từ đó làm sai lệch các thông tin về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hành vi quản trị lợi nhuận chính là việc nhà quản trị tài chính sử dụng những phản ánh chủ quan của mình trong quá trình lập và trình bày BCTC nhằm thay đổi các thông tin tài chính cung cấp cho các đối tượng có liên quan, hoặc nhằm thay đổi các kết quả của các hợp đồng mà có điều khoản ràng buộc dựa trên số liệu kế toán.

    2. Động cơ tác động tới chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp

    Thông tin trên BCTC doanh nghiệp có thể được sử dụng cho rất nhiều mục tiêu khác nhau, vì vậy các nhà quản trị doanh nghiệp có rất nhiều động cơ khác nhau để tác động đến BCTC. Chẳng hạn như Friedlan (1994) đã đưa ra bằng chứng hàng loạt công ty tác động đến BCTC trước khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Hay Penman (2001) đưa ra kết quả đánh giá phần lớn các công ty đều tác động tới BCTC trước các đợt phát hành cổ phiếu tăng thêm… Vì vậy, động cơ tác động đến BCTC doanh nghiệp có thể xuất phát từ các lý do sau: – Phát hành cổ phiếu ra công chúng Khi các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp được công bố sẽ ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường. Theo Friedlan (1994) và Penman (2001), để giảm thiểu rủi ro khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, cũng như các đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn cho doanh nghiệp thì các doanh nghiệp đều có hành động can thiệp vào BCTC. Các doanh nghiệp đã linh hoạt trong việc vận dụng các chuẩn mực kế toán vào việc ghi chép và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh sao cho BCTC của doanh nghiệp “đẹp nhất” có thể trong con mắt các nhà đầu tư. Bởi các thông tin trên BCTC là một trong những cơ sở quan trọng để nhà đầu tư cân nhắc ra quyết định liên quan đến lựa chọn, hay cơ cấu lại danh mục đầu tư… Do đó, hành vi can thiệp vào BCTC của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu trên thị trường. Mặt khác, các nhà phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng luôn quan tâm đến các chỉ số phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như các chỉ tiêu phản ánh về khả năng sinh lời. Chính vì vậy, các nhà quản trị tài chính cũng phải quan tâm đến việc làm sao cho BCTC của họ trở nên “hấp dẫn” đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích. Với lý do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể có những tác động đến BCTC doanh nghiệp, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. – Giảm chi phí thuế thu nhập Giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những yếu tố góp phần gia tăng lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp (Ronen and Yaari, 2008). Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ có những can thiệp nhất định vào hệ thống BCTC nhằm mục tiêu tiết kiệm đáng kể chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Chuẩn mực kế toán Việt Nam quy định rất rõ về các nguyên tắc lập và trình bày BCTC, vì vậy, nhà quản trị có thể thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua điều chỉnh lợi nhuận chịu thuế. Với việc thực hiện mục tiêu tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp các nhà quản trị doanh nghiệp đã làm ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. – Ảnh hưởng từ các hợp đồng Các thông tin kế toán có thể được sử dụng cho rất nhiều loại hợp đồng khác nhau như: Hợp đồng thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp, hay hợp đồng vay vốn… Hợp đồng thù lao giữa các nhà quản trị doanh nghiệp với chủ doanh nghiệp thường dựa trên hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Brick và Wald (2006) đã chứng mình rằng thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp tỉ lệ thuận với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh càng cao thì thù lao cho các nhà quản trị doanh nghiệp càng lớn. Do đó, khi kết quả kinh doanh chưa đạt đến kỳ vọng của các nhà quản trị thì nhà quản trị có xu hướng tác động đến BCTC sao cho thỏa mãn được mục tiêu đã đề ra. Đồng thời, để tránh việc vi phạm các hợp đồng vay vốn của doanh nghiệp, các nhà quản trị cũng có khuynh hướng tác động đến BCTC. Khi ký kết hợp đồng vay vốn với các chủ nợ, doanh nghiệp được yêu cầu phải đảm bảo duy trì một số chỉ tiêu tài chính ở mức nhất định. Nếu doanh nghiệp vi phạm cam kết có thể dẫn đến hành động can thiệp của người cho vay như điều chỉnh tăng lãi suất hoặc yêu cầu trả nợ trước hạn. Vì khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả lãi vay và nợ gốc, do đó sẽ dẫn đến rủi ro cho các chủ nợ. Kết quả là các nhà quản trị sẽ có một số hành vi can thiệp đến BCTC để giảm thiểu việc vi phạm các cam kết về vay vốn. Bên cạnh những động cơ trên còn phải kể đến: việc thực hiện quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp & lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng. Cuối cùng, với mục tiêu ổn định lợi nhuận giữa các kỳ kinh doanh, tạo hình ảnh tốt về công ty để thu hút đầu tư từ bên ngoài, hay tránh công bố lợi nhuận cao, để tránh cơ quan quản lý Nhà nước có những hành động chính sách điều tiết hoạt động của doanh nghiệp như rút bớt các chính sách ưu đãi,… đều có thể dẫn đến hành vi can thiệp lên BCTC của các nhà quản trị, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng BCTC.

    3. Các mô hình đánh giá chất lượng BCTC

    Như đã trình bày trong phần trên, đánh giá chất lượng BCTC chủ yếu tập trung vào đánh giá chất lượng lợi nhuận hay công tác quản trị lợi nhuận trong doanh nghiệp. Chất lượng lợi nhuận thường được xem xét dựa trên tính ổn định và tính bền vững theo thời gian. Để đo lường chất lượng BCTC doanh nghiệp, trong phạm vi bài viết này tác giả trình bày một số mô hình được áp dụng phổ biến trên thế giới Mô hình 1: Theo Leuz et al (2003), nắm bắt được tâm lý của các nhà đầu tư dài hạn luôn thích sự tăng trưởng lợi nhuận đều đặn và ổn định qua các năm. Bởi sự ổn định giá cổ phiếu hoặc tăng giá trị thị trường của cổ phiếu thường được phản ánh thông qua chỉ tiêu này. Chính vì vậy, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cũng luôn tìm mọi cách để hạn chế tối đa sự biến động về lợi nhuận. Vì mục tiêu đó, họ luôn có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận theo hướng ổn định giữa các kỳ kế toán để đảm bảo lợi nhuận tăng trưởng ổn định trong dài hạn. Trên quan điểm đó, Leuz et al (2003) đã đánh giá chất lượng lợi nhuận thông qua việc xác định mối quan hệ giữa độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh với độ lệch chuẩn của tiền từ hoạt động kinh doanh (HĐKD). Độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ HĐKD Độ lệch chuẩn của tiền từ hoạt động kinh doanh (1) Theo đó, khi hệ số này càng cao thì chất lượng BCTC của doanh nghiệp càng cao tương ứng và ngược lại. Vì khi hệ số này càng cao, mức độ điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp càng thấp. Mô hình 2: Robinson et al (2009) chủ yếu bàn về lợi nhuận dồn tích, là cách đánh giá cơ bản về chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp để các nhà phân tích có thể dễ dàng sử dụng trong việc tính toán. Sử dụng số liệu trên bảng cân đối kế toán, chúng ta có thể đo lường sự thay đổi ròng của các khoản mục phi tiền tệ để tính tổng lợi nhuận dồn tích (aggregate accruals) trong năm tài chính. Lợi nhuận dồn tích chỉ đơn giản là sự thay đổi trong tài sản kinh doanh thuần từ đầu năm đến cuối kỳ. Tài sản kinh doanh thuần (Net operating assets- NOA) là phần chênh lệch giữa tài sản kinh doanh (tổng tài sản trừ tiền và tương đương tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn) và nợ kinh doanh (tổng nợ phải trả trừ đi các khoản vay phải trả lãi): Tài sản kinh doanh thuần (NOA) = Tài sản kinh doanh – Nợ kinh doanh (2) Theo cách tiếp cận từ bảng cân đối kế toán (Balance Sheet- B/S), chúng ta có thể xác định lợi nhuận dồn tích cho năm t: Lợi nhuận dồn tícht B/S = NGOAt – NGOAt-1 (3) Tuy nhiên, chỉ tiêu này sẽ chịu sự tác động bởi nhân tố quy mô hoạt động kinh doanh khi so sánh chất lượng BCTC giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, người phân tích cần có sự điều chỉnh quy mô doanh nghiệp khi tiến hành phân tích bằng cách đơn giản là đo lường lợi nhuận dồn tích thông qua tài sản kinh doanh thuần bình quân. Do đó, đánh giá đầu tiên về chất lượng BCTC được tính toán thông qua tỉ số dồn tích tính dựa trên bảng cân đối kế toán như sau: Tỉ số dồn tícht B/S = (NGOAt – NGOAt-1) (4) (NGOAt + NGOAt -1) / 2 Ngoài ra, chúng ta cũng có thể xác định tỉ số dồn tích dựa trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Cách tiếp cận này cho phép xem xét sự khác biệt giữa lợi nhuận dồn tích với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư. Từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow Statement), lợi nhuận dồn tích sẽ được xác định như sau: Lợi nhuận dồn tícht CF = Nlt – (CFOt + CFlt ) (5) Trong đó, Nlt là lợi nhuận sau thuế của năm t. CFOt là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của năm t. CFlt là dòng tiền từ hoạt động đầu tư trong năm t. Xem xét đến sự khác biệt về quy mô, chất lượng BCTC có thể được đánh giá thông qua cách thứ hai dựa trên tỉ số dồn tích tính từ báo cáo lưu chuyển tiền tệ như sau: Tỉ số dồn tícht CF = Nlt -(CFOt +CFlt ) (6) (NOAt + NOAt -1)/2 Các tỉ số dồn tích trong cả hai công thức trên đều xem xét đến phần lợi nhuận mà doanh nghiệp chưa thu được bằng tiền, vì vậy các tỉ số cao cho thấy chất lượng BCTC doanh nghiệp càng thấp. Mô hình 3: Xuất phát từ mối quan hệ giữa bảng cân đối kế toán với báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp, lợi nhuận dồn tích (accruals) chính là phần chênh lệch giữa lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh với dòng tiền trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Lợi nhuận dồn tích hay chính là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền, hay biến kế toán dồn tích: Lợi nhuận dồn tích = Tổng lợi nhuận – Lợi nhuận bằng tiền (7) Trong đó, phần lợi nhuận bằng tiền không thể điều chỉnh được, vì vậy các nhà quản trị tài chính chủ yếu điều chỉnh lợi nhuận dựa trên phần lợi nhuận dồn tích. Mặc dù vậy, trong lợi nhuận dồn tích không phải phần lợi nhuận nào cũng dẫn đến hành vi điều chỉnh của nhà quản trị. Lợi nhuận dồn tích (Total accruals) có thể đến từ hai phần là lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh (nondiscretionary accruals) và lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accruals). Lợi nhuận dồn tích (TA) = Lợi nhuận dồn tích không thể điều chỉnh (NDA) + Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh (DA) (8) Phần lợi nhuận dồn tích không điều chỉnh được phản ánh mức độ hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Còn phần lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh được phụ thuộc chủ yếu vào việc vận dụng các phương pháp kế toán, các ước tính kế toán, do đó thể hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị. Từ đó, DeAngelo (1986) giả định rằng các thành phần NDA sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với phần lợi nhuận dồn tích (TA) của kỳ trước (t-1), do đó sự thay đổi trong lợi nhuận dồn tích giữa kỳ này (t) và kỳ trước (t-1) được giả định là do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán. Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh kỳ này (DAt ) = Lợi nhuận dồn tích kỳ này (TAt ) – Lợi nhuận dồn tích kỳ trước (TAt-1) (9) Với mô hình quan sát phần DA của DeAngelo (1986), giả định rằng lợi nhuận sau thuế không đổi, khi DA càng nhỏ thì chỉ tiêu lợi nhuận càng ít bị điều chỉnh, hay mức độ trung thực của lợi nhuận càng cao. Qua đó cho thấy chất lượng BCTC doanh nghiệp càng cao. Mô hình 4: Với quan điểm như trên, mô hình của Friedlan (1994) thực chất phát triển từ mô hình của DeAngelo (1986) khi xác định phần DA. Tuy nhiên, theo Friedlan (1994) trong mô hình của DeAngelo (1986), phần NDA được ước lượng trong mô hình sẽ chính xác nếu NDA không thay đổi theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở các kỳ ước lượng. Mà phần NDA lại thường phụ thuộc vào mức độ, quy mô hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Vì vậy, khi doanh nghiệp mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động kinh doanh thì dẫn đến phần NDA cũng biến động theo tương ứng. Khi đó việc xác định sẽ không còn chính xác và không thể giả định DA được xác định như trong công thức (9). Để hạn chế nhược điểm của mô hình này Friedlan (1994) đã xem xét đến sự biến động của DA trong mối quan hệ với sự biến động của quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể là Friedlan (1994) đã cải tiến mô hình trên, đo lường phần DA trong công thức (9) trong mối quan hệ với doanh thu của doanh nghiệp. Khi đó, mô hình Friedlan (1994) sẽ được thể hiện như sau: Lợi nhuận dồn tích có thể điều chỉnh kỳ này (DAt ) = Lợi nhuận dồn tích kỳ này (TAt ) Doanh thut – Lợi nhuận dồn tích kỳ trước (TAt-1) Doanh thut-1 (10) Trong công thức (10), Friedlan (1994) đã giả định sự thay đổi trong DA là do ảnh hưởng của hai nhân tố sự thay đổi về quy mô hoạt động của doanh nghiệp và sự thay đổi trong các lựa chọn kế toán. Cũng giống như mô hình trên, khi DA càng nhỏ thì chỉ tiêu lợi nhuận càng ít bị điều chỉnh, hay mức độ trung thực của lợi nhuận càng cao. Từ đó, người phân tích có thể đánh giá chất lượng BCTC doanh nghiệp càng cao. 

    Kết luận

    Xem xét, đánh giá chất lượng BCTC là vấn đề khá “nhạy cảm” khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng. Bài viết này chủ yếu tổng hợp các mô hình thường được áp dụng trên thế giới khi nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận qua đó đánh giá mức độ tin cậy trong việc sử dụng BCTC. Với bốn mô hình trình bày trong bài viết phần nào có thể giúp các nhà đầu tư, người cho vay, cơ quan quản lý nhà nước, các đối thủ cạnh tranh có để đánh giá được chất lượng BCTC doanh nghiệp nhằm tối đa hóa lợi ích cho các bên liên quan. Đồng thời, trong quá trình đánh giá các nhà phân tích tài chính nên áp dụng nhiều hơn một thước đo để đánh giá chất lượng BCTC, từ đó có bằng chứng rõ hơn về mức độ tác động đến chất lượng BCTC trước khi có quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng./.

    Môi trường marketing trong việc xây dựng…

    + Động viên, kích thích: Nghiên cứu xây dựng quy định liên quan đến động viên, kích thích đối với cán bộ công nhân viên theo định hướng marketing xây dựng. 

    + Bảo vệ xã hội: Góp phần tạo ra những tiền đề nội bộ để chuyển doanh nghiệp xây dựng đến với marketing đạo đức – xã hội. Việc phân loại các yếu tố marketing thành các yếu tố của môi trường bên trong và các yếu tố của môi trường bên ngoài của marketing xây dựng ở mức độ nào đó giống với việc phân loại chúng thành các yếu tố kiểm soát được và các yếu tố không kiểm soát được bằng marketing. Các yếu tố được quản lý bởi bộ phận marketing của doanh nghiệp xây dựng thuộc về các yếu tố kiểm soát được, còn tất cả các yếu tố còn lại thuộc về các yếu tố không kiểm soát được. Không khó nhận thấy là mức độ kiểm soát được của các yếu tố được xác định bằng độ sâu xâm nhập của marketing vào hoạt động xây dựng và quy chế nội bộ doanh nghiệp của bộ phận marketing. Rõ ràng là các nguyên tắc của marketing được thực hiện đầy đủ hơn trong thực tế xây dựng thì phạm vi của các yếu tố kiểm soát được bằng marketing sẽ rộng hơn và ngược lại. Việc nghiên cứu các yếu tố của môi trường marketing của doanh nghiệp xây dựng đặc biệt quan trọng trong quản lý marketing thực tế. 

     

    3. Kết Luận

    Nghiên cứu xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp xây dựng là nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp. Việc tìm hiểu nội dung và mức độ ảnh hưởng của môi trường marketing tới việc xây dựng chiến lược marketing của doanh nghiệp xây dựng là việc làm cần thiết, qua đó giúp doanh nghiệp xây dựng được chiến lược marketing phù hợp và hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu môi trường marketing (nghiên cứu môi trường marketing vĩ mô, môi trường marketing vi mô và môi trường marketing bên trong doanh nghiệp xây dựng) giúp doanh nghiệp xác định được mục tiêu marketing, định vị thị trường, thị trường mục tiêu, qua đó xây dựng được marketing hỗn hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường./.

    Workshop dự án “Đổi mới quản trị đại học tại Đông Nam Á” (PURSE) Sáng 02/3/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra workshop lần 2 – 3 – 4 thuộc Dự án “Đổi mới quản trị Đại học tại Đông Nam Á – PURSE”. Đây là một trong số các dự án Erasmus + KA2 do Ủy ban Châu Âu tài trợ nhằm tăng cường năng lực cho các Trường Đại học. Tham dự workshop có các đại biểu, nhà khoa học đến từ các tổ chức, các học viện, Trường Đại học: Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF), Đại học Lorraine Pháp, Đại học Bordeaux Montaigne Pháp, Đại học Toulouse Pháp, Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), Học viện Công nghệ Campuchia, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Giao thông Vận tải… cùng đại diện các đơn vị tham gia Dự án và 01 đầu cầu trực tuyến Campuchia. Dự án “Đổi mới quản trị Đại học tại Đông Nam Á” (PURSE) được thực hiện trong 3 năm (2020 – 2023) với mục đích tăng cường năng lực quản trị đại học cho lãnh đạo, cán bộ quản lý của 08 Trường Đại học tại Đông Nam Á thông qua hoạt động xây dựng và triển khai chiến lược phát triển theo đặc thù của mỗi Trường. Tham gia Dự án có 16 thành viên, trong đó có 8 Trường Đại học tại Châu Á – Thái Bình Dương là các trường triển khai hoạt động và thụ hưởng trực tiếp các kết quả của Dự án. Các đối tác Châu Âu sẽ cử chuyên gia có kinh nghiệm về quản trị đại học, quản lý thay đổi, quản lý rủi ro tới tập huấn nâng cao năng lực cho các Trường trong khu vực Châu Á. Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) đóng vai trò là đồng điều phối, quản lý hành chính và tài chính của Dự án. Các Trường tham gia Dự án sẽ trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ nhau triển khai hoạt động thông qua các khóa tập huấn tại Việt Nam, Campuchia, Pháp và Bỉ. Hoạt động của Dự án được chia thành 10 nhóm, trong đó các nhóm hoạt động 2: Tự đánh giá mức độ và đặc điểm tự chủ của các Trường Đại học; Hoạt động 3: Phân tích môi trường bên ngoài Trường Đại học; Hoạt động 4: Tự đánh giá chiến lược phát triển của các Trường Đại học, phân tích bên trong; Hoạt động 5: Xây dựng kế hoạch và bộ công cụ quản trị chiến lược và quản lý thực hiện chiến lược; Hoạt động 6: Triển khai và giám sát việc thực hiện kế hoạch hành động, là cấu thành chính của Dự án. Các hoạt động 7: Tăng cường năng lực lãnh đạo, cán bộ quản lý của các Trường trong quá trình đổi mới chiến lược; Hoạt động 8: Đảm bảo chất lượng, quản lý rủi ro và đánh giá, sẽ xuyên suốt quá trình thực hiện Dự án với mục tiêu bồi dưỡng nhân lực các Trường Đại học. Workshop diễn ra từ 02/3 đến 05/3/2020. NCS Trần Nhật Khôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành kiến trúc Chiều 19/3/2020, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức đánh giá luận án Tiến sĩ cấp Trường cho Nghiên cứu sinh Trần Nhật Khôi với đề tài: “Tổ chức không gian Kiến trúc chợ đầu mối nông sản thực phẩm phù hợp với đô thị Hà Nội”, chuyên ngành Kiến trúc, mã số 62.58.01.02. Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.KTS. Nguyễn Quốc Thông. Tham dự buổi bảo vệ có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Nguyễn Tuấn Anh – Phó Hiệu trưởng; PTS.TS.KTS. Phạm Trọng Thuật – Chủ tịch Hội đồng Trường; các nhà khoa học, các giảng viên đang làm công tác giảng dạy trong và ngoài Trường. Với những kết quả đạt được trong luận án, Nghiên cứu sinh Trần Nhật Khôi đã hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án có những đóng góp thiết thực vào việc nghiên cứu các giải pháp tổ chức không gian kiến trúc chợ đầu mối nông sản thực phẩm phù hợp với quá trình phát triển đô thị Hà Nội. Hội đồng đánh giá đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc, bám sát và đáp ứng được những yêu cầu của luận án Tiến sĩ. Nghiên cứu sinh đã vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề nghiên cứu. Kết quả phân tích và một số nhận định có chất lượng khoa học. Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Với kết quả 06/06 phiếu tán thành, Hội đồng đã thông qua Nghị quyết và đề nghị Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cấp văn bằng học vị Tiến sĩ cho NCS Trần Nhật Khôi. Tiếp và làm việc với đoàn chuyên gia đánh giá ngoài của tổ chức đại học Pháp ngữ AUF Sáng 27/2/2020, lãnh đạo Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã tiếp và làm việc với đoàn chuyên gia đánh giá ngoài của Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF). Dẫn đầu đoàn chuyên gia đánh giá ngoài là ngài Yves Perraudeau – Cựu Tư vấn Giáo dục đại học, Đại sứ quán Pháp tại CHDCND Lào cùng các thành viên trong đoàn: Ngài Jun Oba – Viện nghiên cứu khoa học. Đại học Hiroshima; ngài Thierry Bontems – Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia; ngài Sabine Goulin – Giám đốc Tổ chức hỗ trợ Quản trị và Chất lượng – Đại học Lorraine và bà Nguyễn Thị Cúc Phương – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội, Điều phối dự án. PGS.TS.KTS. Lê Quân đã giới thiệu một cách ngắn gọn về lịch sử phát triển, các hoạt động hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã nhận thức rất sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động đánh giá ngoài cũng như công tác kiểm định chất lượng mang tầm cỡ quốc tế và cho rằng việc tổ chức đánh giá ngoài là một chủ trương rất đúng đắn, kịp thời, giúp cho lãnh đạo Nhà trường thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những tiêu chuẩn đã đạt được và những tiêu chuẩn chưa đạt được theo quy định, để từ đó Nhà trường có hướng khắc phục những thiếu sót và từng bước ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục lên một tầm cao mới. Ngài Yves Perraudeau – Cựu Tư vấn Giáo dục đại học, Đại sứ quán Pháp tại CHDCND Lào hoan nghênh và khẳng định sự hỗ trợ trong việc đánh giá, kiểm định chất lượng của Tổ chức giáo dục Đại học Pháp ngữ AUF sẽ giúp Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cải thiện nâng cao về năng lực quản trị đại học, nâng cao chất lượng. Đây cũng là động lực để khuyến khích nhiều Trường Đại học trong khối phát triển theo hướng này. Hai bên đã thống nhất lại toàn bộ nội dung, chương trình đánh giá chính thức và cũng chỉ ra một số nội dung mà Nhà trường cần phải bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới. Đồng thời các chuyên gia AUF cũng giải đáp mọi thắc mắc của Nhà trường về yêu cầu, ý nghĩa của một số tiêu chuẩn, tiêu chí và đề nghị Hội đồng tự đánh giá Trường tiếp tục bổ sung hoàn thiện nội dung các tiêu chí, minh chứng để đợt khảo sát chính thức đạt được kết quả tốt nhất.

    Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội tiếp và làm việc với IIG Việt Nam Chiều 26/2/2020 Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội – PGS.TS.KTS. Lê Quân đã có buổi tiếp và làm việc với đoàn công tác IIG Việt Nam do ông Đoàn Hồng Nam – Chủ tịch dẫn đầu. Cùng đi với ông Đoàn Hồng Nam có bà Tân Anh – Trưởng phòng Phát triển dự án II của IIG Việt Nam và một số thành viên khác. Tại buổi làm việc, HAU và IIG Việt Nam đã thống nhất giải pháp đối với các vấn đề còn tồn đọng, những khó khăn trong quá trình triển khai chương trình đào tạo tiếng Anh theo định hướng TOEIC và phương pháp ứng dụng phần mềm Office 365 vào giảng dạy. Theo ông Đoàn Hồng Nam – Chủ tịch IIG Việt Nam, việc dạy và học bằng phần mềm trở nên thuận tiện do các giảng viên có thể sử dụng kết hợp nhiều hình thức minh họa bài giảng, mang đến lượng kiến thức sinh động hơn tới sinh viên. Đối với việc giảng dạy truyền thống, cách thức truyền tải dường như có phần hạn chế hơn do chỉ thông qua giao tiếp, giáo cụ trực quan… Phương pháp giảng dạy trực tuyến bằng phần mềm đã và đang được triển khai thí điểm ở nhiều trường và mang lại những hiệu quả tích cực. Với những tính năng ưu việt của mình, dạy học trực tuyến được dự đoán sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục. Dạy học trực tuyến được kỳ vọng trở thành công cụ có thể thay thế cho việc dạy học truyền thống chứ không còn đơn thuần chỉ là công cụ hỗ trợ. Office 365 là phần mềm cho phép tạo các Teams có thể tương ứng với mỗi lớp, thành viên trong Teams chính là sinh viên của từng lớp. Giảng viên có thể luân phiên đăng nhập để giảng dạy cho Teams/ lớp đó đúng với thời khóa biểu hiện hành. Phần mềm cũng cung cấp nền tảng để các giáo viên và sinh viên thu hình, thu tiếng trực tiếp thông qua camera. Các giảng viên có thể giảng bài trực tuyến và sinh viên theo dõi qua màn hình. Nội dung bài giảng cũng được tải lên cho sinh viên tham khảo dưới nhiều hình thức như Powerpoint, Excel, Word. Ngoài ra, Office 365 còn cung cấp các công cụ quen thuộc như Office, Outlook và OneNote, kết hợp với Microsoft Lync, SharePoint và Exchange để tạo ra một giải pháp tuyệt vời nhất để giao tiếp và tương tác, phục vụ cho quá trình giảng dạy một cách hiệu quả. Với vị thế là tổ chức giáo dục hàng đầu Việt Nam, hiện nay IIG đã chính thức trở thành nhà phân phối các sản phẩm Office 365 in Education của Microsoft tại Việt Nam. Lãnh đạo hai bên cũng giao nhiệm vụ cho Phòng phát triển Dự án 2 IIG cùng Viện Đào tạo Hợp tác Quốc tế HAU tổ chức cuộc họp chuyên môn tổng kết việc triển khai chương trình giảng dạy trong thời gian vừa qua, đề xuất những điều chỉnh, bổ sung chương trình nâng cao hiệu quả triển khai trong thời gian tới. Tọa đàm “Kiến trúc đô thị Nhật Bản thế kỷ XX” Nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác với các Trường Đại học, Tập đoàn Nhật Bản, sáng 20/02/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra buổi tọa đàm với chủ đề “Kiến trúc đô thị Nhật Bản thế kỷ XX”. Buổi tọa đàm có sự tham gia của nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Kiến trúc, Quy hoạch của Việt Nam và một số chuyên gia đến từ Tập đoàn Plantec Architect Nhật Bản. Tham dự buổi tọa đàm có ông Hiroyuki Tsurumi – Tổng Giám đốc Plantec Architect Nhật Bản; bà Nguyễn Phan Mỹ Linh – Nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng; KTS. Nguyễn Tấn Vạn – Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam; GS.TS.KTS. Nguyễn Quốc Thông – Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam; ThS.KTS. Lã Thị Kim Ngân – Viện trưởng Viện Kiến trúc, Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Về phía Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội có PGS. TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng Nhà trường; TS.KTS. Ngô Thị Kim Dung – Phó Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Phạm Trọng Thuật – Chủ tịch Hội đồng Trường cùng một số chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực Kiến trúc, Quy hoạch và Xây dựng… Plantec là một tập đoàn của Nhật Bản có trụ sở chính tại Tokyo và các chi nhánh ở Nhật Bản, Bangkok Thái Lan, HongKong, Italia và Việt Nam… Plantec hoạt động trên các lĩnh vực: Tư vấn quy hoạch đô thị, thiết kế kiến trúc, giám sát, xây dựng, quản lý dự án, quản lý xây dựng, quản lý cơ sở, thiết kế nội thất, bán và xuất khẩu vật liệu xây dựng, vật cố ánh sáng và thiết bị sưởi ấm… Trung tâm Sài Gòn và Trụ sở Acecook là những dự án có sự tham gia của các chuyên gia Plantec. Tại buổi tọa đàm, các đại biểu được nghe chuyên gia của Plantec – ông Hiroyuki Tsurumi – Tổng Giám đốc thuyết trình giới thiệu về Kiến trúc Nhật bản thế kỷ XX. Tại Nhật Bản, Phần lớn những ngôi nhà cổ và những nhà thờ tại Nhật đều được xây dựng bằng gỗ. Những cách thức và kỹ thuật được sử dụng trong xây dựng không chỉ phản ánh khí hậu của Nhật Bản mà còn thể hiện được nguồn gốc sâu xa trong sự phát triển của văn hóa Nhật Bản. Khi Nhật Bản mở cửa, kiến trúc phương Tây bắt đầu thay thế những tòa nhà truyền thống của Nhật. Các kiến trúc sư ở Nhật Bản bắt đầu kết hợp các phương pháp xây dựng truyền thống với thiết kế châu Âu. Họ cũng áp dụng những vật liệu xây dựng mới như bê tông và thép. Người Nhật luôn áp dụng phương châm: “Kỹ thuật từ Tây – Lấy hồn Nhật làm tâm điểm”. Trước học văn hóa – mỹ thuật Nhật Bản và Châu Á, sau đó mới tiếp thu có chọn lọc văn hóa, kỹ thuật phương Tây. Nhật Bản là nước duy nhất đạt được tính hiện đại do bản thân không bị đè nặng bởi truyền thống quá khứ hoặc di sản thuộc địa như hầu hết các nước Châu Á khác. Một số Kiến trúc sư Nhật Bản như Tange Kenzo hoặc Arata Isozaki đã tạo ra phong cách độc đáo và phát triển thiết kế hiện đại mang tính quốc tế… Buổi tọa đàm thu hút nhiều câu hỏi, sự quan tâm, trao đổi kinh nghiệm của các chuyên gia đầu ngành cũng như chia sẻ quan điểm, xu hướng và hành nghề kiến trúc tại Nhật Bản. Đây cũng là tiền đề mở ra cơ hội hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ giữa Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội và đối tác Nhật Bản. Workshop lần 3 Dự án ERASMUS Sáng 20/2/2020 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã diễn ra workshop lần thứ 3 trong dự án MONTUS. Tham dự workshop có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Hội thảo còn có sự tham gia của các nhóm nghiên cứu đến từ Trường Đại học Công nghệ (ĐHQGHN), Đại học Toulouse II (Cộng hòa Pháp), Đại học Ferrara (Cộng hòa Italia), Đại học VUB (Vương Quốc Bỉ), Đại học Walailak và Viện Công nghệ Châu Á (Thái Lan), Viện Công nghệ Campuchia, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Đà Nẵng.Workshop lần thứ 3 nằm trong khuôn khổ dự án MONTUS “Master On New Technologies Using Services” được tài trợ bởi quỹ EU Erasmus+. Dự án là sự kế thừa những thành quả và tiếp tục phát triển dựa trên dự án TORUS “Toward an Open Resource Upon Service” trong thời gian từ năm 2015 – 2018. Đây cũng là một trong 6 dự án của Pháp được lựa chọn trong số 147 dự án được lựa chọn từ 874 ứng cử viên. Dự án được tài trợ bởi Liên minh Châu Âu trong 3 năm với khuôn khổ chương trình xây dựng năng lực Erasmus+ cùng mục tiêu phát triển các nghiên cứu về Điện toán đám mây trong khoa học môi trường và thúc đẩy nền giáo dục ở các nước Đông Nam Á. Mục tiêu chính của dự án là xây dựng và đề xuất khung chương trình đào tạo Thạc sĩ ứng dụng điện toán đám mây cho dữ liệu môi trường hướng tới môi trường bền vững. Dự án MONTUS kế thừa các kết quả nghiên cứu và đầu tư hạ tầng tính toán từ dự án TORUS. Đây là workshop có tính thực tiễn cao và nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và phối hợp của tất cả các bên liên quan. Các phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện workshop là những phương pháp tiếp cận mới nhằm đảm bảo thực hiện các giải pháp linh hoạt và bền vững với mục tiêu lâu dài. NCS Đào Công Hùng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình Sáng 15/1/2020, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội tổ chức đánh giá Luận án Tiến sĩ cấp Trường cho nghiên cứu sinh Đào Công Hùng với đề tài: “Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan thành phố Bắc Giang hướng tới đô thị xanh”, chuyên ngành Quản lý đô thị và công trình, mã số 62.58.01.06. Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lương Tú Quyên và TS. Nguyễn Thị Lan Phương hướng dẫn. Tham dự buổi bảo vệ có PGS.TS.KTS. Lê Quân – Hiệu trưởng; PGS.TS.KTS. Nguyễn Tuấn Anh – Phó Hiệu trưởng; TS.KTS. Ngô Thị Kim Dung – Phó Hiệu trưởng; các nhà khoa học, các giảng viên đang làm công tác giảng dạy trong và ngoài Trường; đồng nghiệp cùng gia đình và bạn bè của Nghiên cứu sinh. Với những kết quả đạt được trong luận án, nghiên cứu sinh Đào Công Hùng đã hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Luận án có những đóng góp thiết thực vào việc đề xuất các giải pháp quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan thành phố Bắc Giang nhằm xây dựng và phát triển không gian, kiến trúc, cảnh quan theo hướng tới đô thị xanh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế – xã hội và chống chịu với biến đổi khí hậu. Hội đồng đánh giá đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc, bám sát và đáp ứng được những yêu cầu của luận án Tiến sĩ. Nghiên cứu sinh đã vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề nghiên cứu. Kết quả phân tích và một số nhận định có chất lượng khoa học. Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Với kết quả 07/07 phiếu tán thành, Hội đồng đã thông qua Nghị quyết và đề nghị Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cấp văn bằng học vị Tiến sĩ cho Nghiên cứu sinh Đào Công Hùng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    ThS. Hoàng Thị Hằng Nga

    Email: [email protected]

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BB%81-xu%E1%BA%A5t-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-marketing-b%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề xuất quá trình quản trị marketing bất động sản

    Tóm tắt

    Quản trị marketing bất động sản có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản, giúp định hướng cho các hoạt động quản trị khác của doanh nghiệp thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing. Đây là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh bất động sản của các doanh nghiệp.

    1. Đặt vấn đề

    Trong thực tế Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản (BĐS) có lượng hàng tồn kho khá lớn. Theo báo cáo của Hiệp hội BĐS Việt Nam (VNREA), tổng giá trị BĐS tồn kho năm 2016 khoảng 29.573 tỷ đồng [1]. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, những nguyên nhân cơ bản nhất là do chức năng quản trị marketing BĐS của các doanh nghiệp chưa được chú trọng thực hiện theo đúng quy trình quản trị. Bài báo đặt vấn đề nghiên cứu làm rõ quy trình quản trị marketing BĐS trong hoạt động marketing BĐS. Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, bao gồm: phương pháp thu thập, phân tích tài liệu và tổng hợp. 

    2. Tầm quan trọng của quản trị marketing BĐS

    Marketing BĐS là loại marketing được thực hiện trong lĩnh vực BĐS mà trong đó người bán cung cấp các dịch vụ, sản phẩm và nỗ lực nhằm thỏa mãn khách hàng và từ đó đạt mục tiêu lợi nhuận. Thực chất marketing trong lĩnh vực BĐS được xem là nghiên cứu những giải pháp để bộ phận bán hàng đẩy sản phẩm ra thị trường. [2], [4] Quản trị marketing BĐS là lĩnh vực quản trị tiếp thị BĐS thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing. Do sản phẩm hàng hóa BĐS có những đặc thù riêng nên hoạt động marketing BĐS cũng có nhiều điểm khác biệt, như: marketing BĐS là một quá trình mang tính phức tạp, phản ứng của cung BĐS chậm hơn cầu; marketing BĐS là marketing những cam kết, hứa hẹn bởi khách hàng không thể biết trước được chất lượng hay nhìn thấy sản phẩm BĐS;… Bên cạnh đó, các hoạt động liên quan đến phân phối, truyền thông marketing BĐS cũng thực sự khác biệt. Từ khi doanh nghiệp bắt đầu có ý tưởng hình thành dự án thì việc lập kế hoạch cho hoạt động marketing cũng cần được bắt đầu và để đạt được hiệu quả cao trong kế hoạch marketing các nhà quản trị marketing BĐS cần phải có sự hiểu biết và tầm nhìn dài hạn.[3] Quản trị marketing BĐS có vai trò rất quan trọng trong việc dẫn đường, quyết định đến hoạt động kinh doanh BĐS và quyết định đến các lĩnh vực quản trị khác của doanh nghiệp. 

    3. Quá trình quản trị marketing BĐS

    Đánh giá thực trạng hoạt động marketing BĐS của một số doanh nghiệp đầu tư kinh doanh BĐS hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp đã thực hiện các hoạt động marketing, tuy nhiên vẫn chưa chú trọng đến chức năng quản trị marketing, các hoạt động marketing được tiến hành rời rạc, không có sự đồng bộ các hoạt động dẫn đến tình trạng các hoạt động marketing bị trùng lặp và không có bộ phận chịu trách nhiệm chính về các hoạt động marketing. Có những doanh nghiệp đã thực hiện chức năng quản trị marketing nhưng không có sự kiểm tra, kiểm soát các kế hoạch, chiến lược marketing đã đề ra. Xuất phát từ quá trình quản trị marketing nói chung, đề xuất quá trình quản trị marketing BĐS như sau:

    (1) Phân tích các cơ hội thị trường

    Doanh nghiệp vận hành hệ thống thông tin marketing để thu thập các thông tin về BĐS trên thị trường và các đối thủ cạnh tranh, từ đó phát hiện ra các cơ hội đầu tư BĐS. Ở giai đoạn này cần cố gắng xâm nhập vào thị trường càng sớm càng tốt, từ đó đề ra các chiến lược marketing thích hợp. Có thể sử dụng phương pháp phân tích bằng mạng lưới mở rộng sản phẩm và thị trường để đánh giá những lợi thế và hạn chế, cũng như những triển vọng và bế tắc của sản phẩm BĐS trên thị trường mục tiêu, rồi từ kết quả phân tích đó mà định dạng các cơ hội thị trường đối với sản phẩm.

    – Thâm nhập thị trường: thu hút thêm khách hàng của đối thủ cạnh tranh nhờ các biện pháp giảm giá, tăng thêm ngân sách quảng cáo và cải tiến nội dung khuyến mãi…, 81 S¬ 36 – 2019

    – Mở rộng thị trường: Đây là chiến lược triển khai sản phẩm hiện có sang phân đoạn thị trường mới với mong muốn giảm được lượng hàng BĐS tồn kho nhờ vào việc khuyến mãi những khách hàng mới. Muốn vậy, người làm marketing phải phân tích các phân đoạn thị trường theo những đặc trưng cơ bản nhất, như: thu nhập, tuổi tác, giới tính, hành vi mua hàng, mục đích sử dụng,… để phát hiện ra những khách hàng tiềm năng và tiếp cận họ bằng các giải pháp marketing thích hợp, nhằm biến họ thành khách hàng thực sự của doanh nghiệp.

    – Phát triển sản phẩm: Để Chiếm giữ thị phần và gia tăng sức mua trên thị trường hiện có, các nhà quản trị cần phải cân nhắc quyết định đổi mới sản phẩm hiện có hoặc đưa ra sản phẩm mới cho khách hàng của mình. Người làm marketing có thể tham mưu cho khách hàng những sản phẩm BĐS thay đổi có chất lượng cao hơn, chủng loại phong phú hơn, thẩm mỹ hơn, dịch vụ hoàn hảo hơn, sử dụng được tối đa diện tích hoặc đưa ra những sản phẩm mới hứa hẹn những lợi ích mới,… tất cả đều nhằm vào việc hướng khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp.

    – Đa dạng hóa sản phẩm: Tiếp nhận những ý kiến phản hồi của khách hàng về sản phẩm BĐS của doanh nghiệp, từ đó thay đổi các thiết kế phù hợp với từng khách hàng, giúp cho khách hàng linh hoạt hơn trong việc lựa chọn sản phẩm. 

    (2) Nghiên cứu thị trường BĐS và lựa chọn thị trường mục tiêu 

    1. Nghiên cứu thị trường BĐS

    Để đưa ra được những quyết định marketing phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu thị trường là một hoạt động không thể bỏ qua. Đây là bước đầu tiên trong quá trình ra quyết định của các nhà quản trị marketing. Về cơ bản, nghiên cứu marketing giúp doanh nghiệp tìm kiếm được cơ hội, những đe dọa, thách thức từ thị trường và môi trường marketing; đánh giá được khả năng thành công hay rủi ro của dự án một cách khách quan, từ đó doanh nghiệp sẽ có kế hoạch điều chỉnh chương trình marketing sao cho phù hợp nhất. Với mỗi dự án BĐS khác nhau, mục tiêu nghiên cứu marketing sẽ khác nhau, nhưng nhìn chung có một số hoạt động marketing cơ bản thường thực hiện để hỗ trợ công tác ra quyết định marketing là: 

    – Nghiên cứu thị trường: Xác định quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của thị trường, xác định thị phần. – Nghiên cứu hành vi mua sắm của người sử dụng: Tìm hiểu thói quen sử dụng, mức độ thích ứng đối với sản phẩm BĐS của khách hàng.

    – Nghiên cứu sản phẩm: Phát triển các sản phẩm mới, so sánh với các sản phẩm cạnh tranh khác. – Nghiên cứu giá bán: Phân tích chi phí, giá cạnh tranh, mức độ nhạy cảm về giá của người sử dụng. – Nghiên cứu phân phối: Phân tích các trung gian thương mại hiện có, đánh giá hiệu quả hoạt động của kênh phân phối hiện tại. – Nghiên cứu xúc tiến bán hàng: Xác định các thông điệp quảng cáo, phương tiện quảng cáo hiệu quả.

    1. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

    Phân đoạn thị trường là quá trình phân chia thị trường tổng thể thành nhiều nhóm khách hàng khác nhau theo những tiêu thức nhất định, sao cho mỗi nhóm gồm những khách hàng có những đặc điểm chung, nhu cầu và hành vi sử dụng sản phẩm BĐS là giống nhau. Trong kinh doanh BĐS, việc phân đoạn thị trường khách hàng chủ yếu dựa vào các yếu tố sau:

    – Các yếu tố địa lý: khu vực địa lý, quy mô, đặc tính dân cư, khí hậu.

    – Các yếu tố nhân chủng học: tuổi, giới tính, quy mô gia đình, chu kỳ sống của gia đình, thu nhập bình quân hộ gia đình, nghề nghiệp, học vấn, dân tộc, quốc tịch. – Lối sống: địa vị xã hội, tính cách. 

    – Hành vi tiêu dùng: Lý do mua, lợi ích tìm kiếm từ sản phẩm, sự trung thành với thương hiệu,… Sau khi hoàn thành công tác phân đoạn thị trường, cần phải xác định được thị trường mục tiêu cho từng nhóm sản phẩm BĐS. Việc lựa chọn thị trường mục tiêu cũng cần phải được xác định dựa trên các tiêu chuẩn nhất định, bao gồm: đo lường được, đủ lớn và có thể làm marketing. Nhìn chung, các thị trường mục tiêu được lựa chọn chủ yếu dựa vào sự phù hợp với nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, có tốc độ tăng trưởng cao, vững chắc và phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường. 

    (3) Hoạch định chiến lược marketing

    Dựa vào những phân tích ở các bước trên, căn cứ vào chiến lược kinh doanh, xây dựng và lựa chọn một chiến lược marketing thích hợp nhất để định hướng cho toàn bộ hoạt động marketing. Đối với sản phẩm BĐS nên lựa chọn chiến lược marketing có phân biệt, là xây dựng và thực hiện nhiều chiến lược marketing với các biện pháp khác nhau trên từng đoạn thị trường. Từ đó, mới nhận dạng được các điểm khác Phân tích các cơ hội thị trường Nghiên cứu thị trường bất động sản và lựa chọn thị trường mục tiêu Hoạch định chiến lược marketing

    Tổ chức thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing  biệt giữa các đoạn thị trường và mỗi đoạn thị trường áp dụng chiến lược riêng nhằm tăng tối đa khả năng giành được thị phần, mở rộng thị trường kinh doanh. Để xây dựng hệ thống chiến lược marketing cần phân tích môi trường nội bộ của doanh nghiệp nhằm phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Sử dụng ma trận SWOT làm công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng cho hoạt động marketing như sau: Ma trận SWOT(SO và ST là mặt tích cực, WO và WT là mặt tiêu cực) MA TRẬN SWOT Môi trường bên trong Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W) Môi trường bên ngoài Cơ hội (O) Sử dụng điểm mạnh để nắm bắt cơ hội Hạn chế điểm yếu để nắm bắt cơ hội và tận dụng cơ hội để hạn chế điểm yếu Thách thức (T) Sử dụng điểm mạnh để hạn chế thách thức Hạn chế điểm yếu để hạn chế thách thức và hạn chế điểm yếu để tránh rủi ro 

    (4) Thiết lập marketing – mix

    Marketing – mix là sự tập hợp các phương thức marketing có thể kiểm soát được, phối hợp sử dụng 4 chính sách: chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính sách giao tiếp và khuyếch trương để tạo nên sự đáp ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu marketing của mình. Giai đoạn này doanh nghiệp có thể kết hợp và điều chỉnh các chính sách linh hoạt theo những thay đổi trên thị trường BĐS. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS cũng cần phải dự tính ngân sách marketing, có thể theo mục tiêu bán hàng, mục tiêu thị phần, theo mức độ cạnh tranh,… và phải phân phối ngân sách này cho các sản phẩm BĐS, các kênh phân phối, các phương tiện xúc tiến bán hàng. 

    (5) Tổ chức thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing 

    Tổ chức thực hiện hoạt động marketing

    Chiến lược marketing xây dựng mới chỉ dừng lại ở dạng bản thảo, thể hiện các dự định cần tiến hành trong tương lai, vì vậy cần phải biến các dự định đó thành hiện thực bằng cách tổ chức thực hiện chiến lược marketing một cách hữu hiệu. Nội dung của tổ chức thực hiện chiến lược marketing BĐS bao gồm: 

    Tổ chức bộ phận marketing thích hợp với quy mô hoạt động của doanh nghiệp: phòng marketing phải thực hiện các chiến lược marketing trên cơ sở hoạch định của các nhà quản trị marketing và chịu sự quản lý trực tiếp của ban giám đốc doanh nghiệp.

    – Xây dựng các chương trình hoạt động marketing cụ thể. – Phát triển hệ thống khen thưởng và quyết định.Xây dựng môi trường làm việc tích cực có khả năng động viên toàn bộ nỗ lực của nhân viên marketing nói chung và nhân viên trong doanh nghiệp phối hợp trong việc hoàn thành mục tiêu marketing đã đề ra.

    – Phát triển nguồn nhân lực đủ khả năng thực hiện các chương trình marketing đã thiết kế. – Cần phải thực hiện việc kiểm tra các hoạt động marketing để đảm bảo rằng việc thực hiện được tiến triển theo đúng chiến lược đã đề ra, cũng như có thể tiến hành những sự điều chỉnh cần thiết để đạt được mục tiêu. 

    Kiểm soát hoạt động marketing Công việc của bộ phận marketing là lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hoạt động marketing. Một kế hoạch marketing dù được thiết kế hoàn hảo đến đâu, trong quá trình thực hiện vẫn có thể phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, vì thế bộ phận marketing phải thường xuyên theo dõi và kiểm soát các hoạt động marketing. Các hệ thống kiểm soát marketing nếu hoạt động tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động marketing nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung đạt được mục tiêu với hiệu quả cao. Có thể tiến hành kiểm soát marketing theo kế hoạch năm, theo khả năng sinh lời, theo hiệu quả hay theo chiến lược marketing như sau: Nội dung kiểm soát Chịu trách nhiệm chính Mục đích kiểm soát Kiểm soát kế hoạch năm Ban lãnh đạo doanh nghiệp Kiểm soát mức độ đạt kế hoạch dự kiến, tiến hành những điều chỉnh cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành kế hoạch đề ra. Kiểm soát khả năng sinh lời Người kiểm soát Kiểm soát tình hình lỗ, lãi. Xác định khả năng sinh lợi thực của các sản phẩm, các khu vực, các thị trường và các kênh phân phối Kiểm soát hiệu suất của các yếu tố marketing Người kiểm soát Đánh giá và nâng cao hiệu suất của chi phí marketing thông qua các hoạt động bán hàng, quảng cáo, phân phối. Kiểm soát chiến lược marketing Ban lãnh đạo doanh nghiệp, người kiểm soát Kiểm soát mức độ khai thác về cơ hội thị trường, sản phẩm và kênh phân phối. 

    4. Kết luận

    Việc làm rõ quá trình quản trị marketing BĐS có ảnh hưởng tích cực, có thể ứng dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến tổ chức và quản lý hoạt động marketing của các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh BĐS. Bài viết đã chỉ ra được tầm quan trọng của quản trị marketing và đề xuất quá trình quản trị marketing BĐS, góp phần thuận tiện hơn trong việc thực hiện các chức năng quản trị của doanh nghiệp./.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

    KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

    KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 

     

    GVC. ThS. Phạm Đình Văn

    Phó trưởng, Phòng Tài chính – Kế toán, trường đại học học Xây dựng Miền Trung

     

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/K%E1%BA%BE-TO%C3%81N-S%E1%BB%ACA-CH%E1%BB%AEA-T%C3%80I-S%E1%BA%A2N-C%E1%BB%90-%C4%90%E1%BB%8ANH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KẾ TOÁN SỬA CHỮA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 

    Tóm tắt: Chế độ kế toán hành chính s nghiệp ban hành theo Quyết định số 19/2006/Q – BTC và các quy định bổ sung, sửa đổi Chế độ kế toán hành chính s nghiệp ban hành theo Thông t số 185/2010/TT-BTC đã quy định, hướng dẫn nguyên tắc, nội dung và phương pháp kế toán sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ ) trong các đơn vị hành chính s nghiệp. Các quy định trên đã tương đối rõ ràng đối với những ng i làm công tác kế toán.

     

    Tuy nhiên, do các đơn vị hành chính sự nghiệp có những đặc điểm khác với các đơn vị sản xuất kinh doanh, đó là: Các đơn vị hành chính s nghiệp được trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. iều đó đòi hỏi việc quản lý chi tiêu phải đúng mục đích, đúng d toán đã phê duyệt theo từng nguồn kinh phí, từng nội dung chi tiêu theo tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước.

     

    Vì vậy, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế toán sửa chữa TSCĐ trong các đơn vị hành chính s nghiệp cần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề chủ yếu sau: 

     

    1. Phân loại sửa chữa lớn TSCĐ trong đơn vị HCSN

    Cũng nh các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, công tác sửa chữa TSCĐ trong đơn vị hành chính s nghiệp cũng được chia thành 2 loại: sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn.

     – Sửa chữa thường xuyên: Là hoạt động sửa chữa nhỏ, hoạt động bảo trì, bảo dưỡng  theo yêu cầu kỹ thuật nhằm đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình th ng. Công việc sửa chữa được tiến hành th ng xuyên, thời gian sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa th ng phát sinh không lớn. – Sửa chữa lớn: Mang tính chất khôi phục hoặc n ng cấp, cải t o khi TSCĐ bị h hỏng nặng hoặc theo yêu cầu kỹ thuật nhằm nâng cao năng l ự c hoạt động của TSCĐ . Th i gian tiến hành sửa chữa lớn th ng dài, chi phí sửa chữa phát sinh nhiều, do vậy đơn vị phải lập kế ho ch, d toán theo từng công trình sửa chữa lớn. Nếu căn cứ vào phương thức tiến hành sửa chữa TSCĐ , thì đơn vị hành chính s nghiệp có thể tiến hành sửa chữa tài sản cố định theo 2 phương thức: T làm và thuê ngoài.

     – phương thức tự làm: đơn vị phải chi ra các chi phí sửa chữa TSCĐ nh : Chi phí vật liệu, phụ tùng, nh n công… 

    – phương thức thuê ngoài: ơn vị tổ chức cho các đơn vị bên ngoài đấu thầu hoặc giao thầu sửa chữa và ký hợp đồng sửa chữa với các đơn vị trúng thầu hoặc nhận thầu theo đúng quy định của pháp luật và quy trình sửa chữa tài sản do đơn vị ban hành. Hợp đồng giao thầu sửa chữa TSCĐ là cơ sở để đơn vị quản lý, kiểm tra và thanh quyết toán công tác sửa chữa TSCĐ . 

     

    2. Kế toán sửa chữa thường xuyên

     Sửa chữa thường xuyên là hoạt động sửa chữa nhỏ, bảo trì bảo dưỡng theo yêu cầu kỹ thuật, công việc sửa chữa có thể do THÔNG BÁO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ* SỐ 1-2012 66 đơn vị t làm hoặc thuê ngoài sửa chữa. Chi phí sửa chữa thường xuyên khi phát sinh được hạch toán thẳng vào chi phí của đơn vị, tùy thuộc vào TSCĐ đang phục vụ cho mục đích gì. Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 111, 112, 152, 331…

    3. Kế toán sửa chữa lớn TSCĐ

    Đối với sửa chữa lớn, do chi phí sửa chữa phát sinh lớn, th i gian sửa chữa dài hơn nhiều so với sửa chữa thường xuyên, công tác sửa chữa lớn TSCĐ của đơn vị có thể tiến hành theo phương thức t làm hay giao thầu. H ch toán chi phí sửa chữa lớn TSCĐ phải được theo dõi chi tiết được theo dõi chi tiết cho từng công trình, từng công tác sửa chữa lớn TSCĐ trên TK 241 – Xây d ng cơ bản dở dang (chi tiết TK 2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ). 

    – Theo phương thức t làm, khi phát sinh chi phí sửa chữa lớn TSCĐ , căn cứ vào các chứng từ có liên quan, ghi: Nợ TK 241 (2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ) Có TK 111, 112, 331… Có TK 461, 462, 465… đồng thời ghi Có TK 008 hoặc có TK 009 (Nếu rút d toán chi hoạt động, chương trình, dán để chỉ sửa chữa lớn).

     – Theo phương thức giao thầu sửa chữa lớn, kế toán phải phản ánh số tiền phải trả cho ng i nhận thầu về khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành do bên nhận thầu bàn giáo và được chấp nhận thanh toán, ghi: Nợ TK 241 (2413 – Sửa chữa lớn TSCĐ ) Có TK 331 (3311 – Phải trả ng i cung cấp) – Trong hợp sửa chữa lớn TSCĐ thuộc nguồn vốn kinh doanh hoặc nguồn vốn vay để dùng cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ, ghi: Nợ TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) Nợ TK 311 (3113 – Thuế GTGT được khấu trừ) (Nếu có) Có TK 111, 112, 331… – Khi công trình sửa chữa lớn hoàn thành kế toán phải tính toán giá thành thực tế của từng công trình sửa chữa để quyết toán số chi phí này theo nguồn kinh phí dùng để sửa chữa lớn, ghi: Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) – Nếu chi phí sửa chữa lớn TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD thực tế phát sinh lớn phải phân bổ dần, khi công tác sửa chữa lớn hoàn thành, ghi: Nợ TK 643 f- Chi phí trả trước Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) – định kỳ, khi phân bổ chi phí sửa chữa lớn vào chi hoạt động hoặc chi phí SXKD, ghi: Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD Có TK 643- Chi phí trả tr ớc THÔNG BÁO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ* SỐ 1-2012 67

     4. Kế toán sửa chữa nâng cấp TSCĐ

     Trong hợp sửa chữa lớn cãi t o n ng cấp làm tăng năng l c hoặc kéo dài th i gian sử dụng của TSCĐ , thì toàn bộ chi phí cải t o, n ng cấp TSCĐ sau khi đã hoàn thành phải ghi tăng nguyên giá TSCĐ : Nợ TK 211, 213 Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ ) Căn cứ vào nguồn kinh phí dùng cho hoạt động cải t o,n ng cấp TSCĐ , đồng thời ghi: Nợ TK 661- Chi hoạt động (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động HCSN) Nợ TK 662- Chi d án (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động bán) Nợ TK 631- Chi phí hoạt động SXKD (Nếu TSCĐ dùng cho hoạt động SXKD) Có TK 466 – Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ

    5. Kế toán công tác sửa chữa lớn bằng nguồn kinh phí hoạt động đến cuối năm đã hoàn thành nhưng chưa bàn giao thanh quyết toán công trình

    5.1. Hạch toán năm báo cáo: Căn cứ vào bảng xác nhận giá trị khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành đến ngày 31/12, kế toán lập “Chứng từ ghi sổ” để phản ánh giá trị khối lượng công tác sửa chữa lớn hoàn thành liên quan đến số kinh phí ho t động được ngân sách nhà nước cấp cho công tác sửa chữa lớn trong năm được quyết toán vào chi hoạt động của năm báo cáo, ghi: Nợ TK 661 – Chi hoạt động (6612 – Năm nay) Có TK 337 – Kinh phí đã quyết toán chuyển năm sau (3372 – Giá trị khối lượng SCL hoàn thành).

     

    5.2. Hạch toán năm sau: ối với giá trị khối lượng công tác sửa chữa lớn hoàn thành đã quyết toán vào kinh phí năm trước, khi công tác sửa chữa lớn hoàn thành bàn giao đ a vào sử dụng, căn cứ biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, ghi: + Nợ TK 661 – Chi hoạt động (Phần quyết toán năm nay) + Nợ TK 337- Kinh phí đã quyết toán chuyển năm sau (3372 – Giá trị khối lượng SCL hoàn thành) (Phần đã quyết toán năm trước) + Có TK 241 (2413- Sửa chữa lớn TSCĐ )./. 


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/C%C3%81C-NH%C3%82N-T%E1%BB%90-%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-%C4%90%E1%BA%BEN-VI%E1%BB%86C-TRI%E1%BB%82N-KHAI-B%E1%BA%A2O.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    TÓM TẮT

    Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên. Các nhân tố ảnh hưởng được kiểm định bởi các mẫu khảo sát từ 330 hộ gia đình sinh sống trên địa bàn thành phố Thái Nguyên với các tiêu chí đánh giá và thang đo Likert 5 điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe và công tác thông tin tuyên truyền tác động cùng chiều với việc triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình. Từ kết quả nghiên cứu rút ra những gợi ý hữu ích về phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc, địa hình có nhiều rừng núi cao với nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành tựu, kinh tế phát triển nhưng còn chưa đồng đều, một số vùng núi cao còn gặp nhiều khó khăn, người dân có thu nhập còn thấp. Việc thực hiện BHYT cho người lao động trên địa bàn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là phát triển BHYT hộ gia đình. Để có thể làm tốt hơn công tác BHYT hộ gia đình, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố, việc nghiên cứu và đánh giá các yếu tố tác động là rất cần thiết để làm căn cứ đề xuất giải pháp về phát triển BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Công tác thực hiện triển khai BHYT hộ gia đình = f(HB, TĐ, MP, CT, TT, CL). Các nhân tố được đưa vào khảo sát đó là: Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe, hiểu biết của người

    dân về BHYT hộ gia đình, công tác thông tin tuyên truyền

    về BHYT hộ gia đình, mức phí BHYT hộ gia đình, thủ

    tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT, và chất lượng dịch

    vụ KCB bằng thẻ BHYT. Trong đó nhân tố thu nhập của người dân là một biến và được thiết kế trong bảng câu hỏi dưới dạng định tính, còn 6 yếu tố còn lại là 6 nhóm nhân tố mỗi nhóm bao gồm các biến và được xây dựng dưới dạng định tính trong bảng câu hỏi điều tra và được đánh giá bằng thang đo Likert – 5 điểm. 6 giả thuyết được đưa ra để kiểm chứng đó là:

    (1) Hiểu biết về BHYT hộ gia đình có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H1).

    (2) Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H2).

    (3) Mức phí BHYT có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H3).

    (4) Công tác thông tin tuyên truyền có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H4).

    (5) Thủ tục KCB bằng thẻ BHYT có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H5).

    (6) Chất lượng dịch vụ KCB có ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên (H6).

    III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

    3.1. Thống kê mô tả

    – Nhân tố hiểu biết: Kết quả phân tích thống kê mô tả về sự hiểu biết của người dân thành phố Thái Nguyên cho thấy: Nhìn chung, người dân chưa hiểu rõ về bản chất vai trò cũng như các thủ tục tham gia và thanh toán của BHYT hộ gia đình. Cụ thể là, trong tất cả các biến khảo sát của nhóm nhân tố “Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình” ký hiệu là HB thì 2 biến HB1 và HB6 đạt giá trị trung bình cao nhất là 4.25 và 4.13 với độ lệch chuẩn lần lượt là 0.914 và 0.874. Trong khi đó, các biến HB2, HB3, HB5 và HB7 thì có giá trị trung bình rất thấp chỉ từ 2.05 – 2.14 với độ lệch chuẩn từ 0.789 – 0.846.

    – Nhân tố Thái độ: Người dân Thái Nguyên có thái độ rất tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe của cá nhân cũng như gia đình. Giá trị trung bình của các biến trong nhóm nhân tố khá cao, giao động từ 2.60 đến 3.55. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn khá cao từ 0.885 đến 1.044. Điều này nghĩa là sự dao động xung quanh giá trị trung bình lớn và sự ổn định của các con số không cao.

    – Nhân tố Mức phí BHYT: Người dân đánh giá cao về tính hợp lý của mức phí BHYT hộ gia đình, cũng như tính hợp lý của mức hưởng phí BHYT của BHYT hộ gia đình. Điều này được thể hiện rõ qua giá trị trung bình của kết quả phân tích thu được ở bảng 3.6. Giá trị trung bình dao động trong khoảng từ 3.38 – 3.44 với độ lệch chuẩn từ 0.888 đến 9.44. Sự chênh lệch của độ lệch chuẩn không nhiều nên giá trị trung bình có tính ổn định cao.

    – Nhân tố công tác thông tin tuyên truyền: Theo như đánh giá từ phía người dân, công tác thông tin tuyên truyền về BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên chưa tốt, chưa triệt để và chưa thực sự đến với người dân. Cụ thể là giá trị trung bình (average mean score) của các biến trong nhóm nhân tố này tương đối thấp, giao động từ 2.02 đến 3.17 trong khi đó độ lệch chuẩn tương đối cao (trong khoảng từ 0.923 đến 1.029) do đó tính ổn định của giá trị trung bình không cao.

    – Nhân tố Thủ tục KCB: Thủ tục khám chữa bệnh bằng BHYT được đánh giá không cao. Trong tất cả tổng số 7 biến của nhân tố “Thủ tục KCB bằng BHYT” viết tắt là TT, có duy nhất 2 nhân tố được đánh giá cao là TT4 và TT5 với giá trị trung bình lần lượt là 3.95 và 3.94 cùng độ lệch chuẩn tương ứng là 0.934 và 0.937. Trong khi đó các biến còn lại là TT1, TT2, TT3, TT6 và TT7 có giá trị trung bình khá thấp, chỉ từ 1.79 đến 3.13 trong khi độ lệch chuẩn lại có biên độ giao động khá cao (0.943 – 1.048).

    Nhân tố Chất lượng dịch vụ KCB: Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh bằng BHYT được đánh giá không cao. Trong tất cả tổng số 7 biến của nhân tố “Chất lượng dịch vụ KCB bằng BHYT” viết tắt là CL, có duy nhất 2 nhân tố được đánh giá cao là CL5 và CL7 với giá trị trung bình lần lượt là 3.86 và 3.64 cùng độ lệch chuẩn tương ứng là 0.879 và 0.886. Trong khi đó các biến còn lại là CL1, CL2, CL3, CL4 và CL6 có giá trị trung bình khá thấp, chỉ từ 2.17 đến 3.12.

    3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bảo hiểm

    Y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

    – Phân tích nhân tố khám phá EFA

    Quá trình kiểm định thang đo- kiểm định Cronbach’s alpha và thực hiện phân tích 6 nhân tố và 37 biến khảo sát và đặt tên như sau: (1) Hiểu biết (gồm: HB1, HB2, HB3, HB4, HB5, HB6, HB7); (2) Thái độ (gồm TĐ1, TĐ2, TĐ3, TĐ4, TĐ5); (3) Mức phí (gồm MP1, MP2, MP3, MP4); (4) Công tác thông tin tuyên truyền (gồm CT1, CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7); (5) Thủ tục khám chữa bệnh (gồm TT1, TT2, TT3, TT4, TT5, TT6, TT7); (6) Chất lượng

    dịch vụ KCB (gồm CL1, CL2, CL3, CL4, CL5, CL6, CL7)

    – Phân tích hồi quy

    Giả sử X1 – X6 là tên gọi thay thế cho 6 nhân tố sử dụng trong nghiên cứu

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Có 3 biến là X1, X2, X4 ảnh hưởng tới biến độc lập Y vì Sig. nhỏ hơn 0.05 hay nói cách khác là có 3 nhân tố ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đó là hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe và công tác thông tin tuyên truyền. Có 3 biến là X3, X5, X6 không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến biến độc lập Y vì các Sig. lớn hơn 0.05 hay nói cách khác là các nhân tố mức phí BHYT hộ gia đình, thủ tục KCB bằng thẻ BHYT và chất lượng dịch vụ KCB bằng BHYT không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên. Trình tự của 3 biến ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch là X2, X1 và X4 với Standardized coefficient Beta là 0,414, 0,233 và 0,195 tương ứng. Từ những phân tích trên, phương trình hồi quy của mô hình nghiên cứu là: Y = 0,397 + 0,414 * X2 + 0,233 * X1 + 0,195 * X4. Phương trình này cho thấy rằng các hệ số của X1, X2 và X4 là lớn hơn 0 vậy các biến này là đồng biến với các biến phụ thuộc Y.

    3.3. Đánh giá chung

    Qua các kết quả nghiên cứu trên, ta có thể kết luận rằng, trong tổng số 6 nhân tố trong mô hình nghiên cứu có duy nhất 3 nhân tố ảnh hưởng tỷ lệ thuận tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại địa bàn thành phố Thái Nguyên đó là: Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình, Thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe, và Công tác thông tin tuyên truyền. Do vậy ta có thể nói trong tổng số 6 giả thuyết nghiên cứu nêu ra chỉ có 3 giả

    thuyết được chấp nhận đó là H1, H2, H4. Vì vậy, để nâng cao công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tác giả đưa ra một số giải pháp sau:

    * Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động

    – Đổi mới nội dung và tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, giáo dục với nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của cấp uỷ đảng, chính quyền, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và mọi người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHYT, BHYT hộ gia đình và lợi ích khi tham gia BHYT hộ gia đình.

    – Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động rộng rãi trong nhân dân về chính sách BHYT hộ gia đình, làm chuyển biến và nâng cao hiểu biết về chính sách, pháp luật về BHYT hộ gia đình trên các phương diện.

    – Cơ quan BHXH có trách nhiệm bố trí cán bộ, kinh phí tuyên truyền hợp lý nhằm thực hiện công tác tuyên truyền.

    – Sử dụng triệt để, có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác tuyên truyền

    – Mở các chuyên mục “Hỏi – đáp”, diễn đàn, hội thảo, đối thoại trực tiếp với người dân, mở các lớp tập huấn, làm pano, áp phích để tuyên truyền sâu rộng về BHYT hộ gia đình tới người dân.

    * Khai thác, mở rộng đối tượng tham gia

    – Tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ và các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường tiếp cận các dịch vụ y tế đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp tuyên truyền chính sách, pháp luật về BHYT.

    – Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách, pháp  luật về BHYT chính, vận động tham gia, tăng cường tính hấp dẫn của BHYT, tổ chức các đại lý BHYT bảo đảm người có nhu cầu được tiếp cận với thông tin về BHYT hộ gia đình.

    – Xây dựng cơ chế thu đóng BHYT hộ gia đình về thời gian (chu kỳ đóng), hình thức thu phù hợp, trình BHXH tỉnh phê duyệt.

    – Phối hợp với phòng Lao động TBXH tỉnh hướng dẫn UBND thành phố rà soát, lập danh sách đối tượng, vận động, tổ chức tham gia BHYT theo hộ gia đình một cách khoa học.

    – Khuyến khích các địa phương, tổ chức đóng góp hỗ trợ kinh phí để mua thẻ BHYT, ngoài phần hỗ trợ theo quy định.

    * Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra về việc triển

    – Tăng cường thanh tra, kiểm tra, quản lý chống việc trốn đóng, lạm dụng quỹ BHYT từ nhiều phía.

    – Kiểm tra các cơ sở KCB về công tác KCB cho người có thẻ BHYT.

    * Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ BHYT

    – Hoàn thiện hệ thống tổ chức, giúp cho việc ổn định, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành.

    – Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác BHYT về mọi mặt, chú trọng đào tạo cán bộ chuyển đổi tác phong làm việc hành chính sang tác phong làm việc phục vụ mang tính chuyên nghiệp cao. Rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử để mỗi cán bộ giỏi trước hết phải là một tuyên truyền viên giỏi.

    – Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính thông qua việc thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa liên thông; công khai hoá các thủ tục hành chính; duy trì thực hiện làm việc sáng thứ bảy hàng tuần; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ quản lý.

    * Phối hợp với các cơ sở KCB nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

    – Việc nâng cao chất lượng KCB đây là khâu đặc biệt quan trọng để người dân thấy được ý nghĩa của việc tham gia BHYT. Chính vì vậy BHXH thị xã cần phối hợp với các cơ sở KCB thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    – Phân công cán bộ có chuyên môn thường trực tại các cơ sở KCB lớn để hướng dẫn, giải quyết kịp thời những vướng mắc liên quan đến quyền lợi của người có

    thẻ BHYT.

    – Cùng phối hợp với cơ sở KCB cải cách thủ tục hành chính trong KCB, trong thanh toán chi phí KCB tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẻ BHYT khi đến khám và điều trị.

    – Tăng cường các biện pháp giám định để tránh lạm dụng quỹ BHYT, yêu cầu các cơ sở KCB không ngừng nâng cao tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp đảo bảo chất lượng KCB phục vụ tốt nhu cầu người có thẻ BHYT.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN X Y DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN X Y DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BA%A8Y-M%E1%BA%A0NH-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-B%E1%BA%A2NG-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-%C4%90I%E1%BB%82M-TRONG-TH%E1%BB%B0C-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: UBND TỈNH NGHỆ AN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

    UBND TỈNH NGHỆ AN

    ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HỘI THI XÃ, THÔN/BẢN NÔNG THÔN MỚI ĐẸP NĂM 2018 ĐẾN XÂY DỰNG XÃ NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO VÀ XÃ NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 

    Thực hiện chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới tỉnh Nghệ An mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, điều kiện tự nhiên, thời tiết, cơ chế quản lý,… Nhưng Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng Nông thôn mới các cấp đã triển khai quyết liệt, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh; sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các tổ chức đoàn thể quần chúng và nhân dân trong tỉnh. Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới đã đạt được một số kết quả nhất định.

    Đến 30 tháng 6 năm 2019, Nghệ n có 226/431 xã đạt 19/19 tiêu chí Nông thôn mới (trong đó có 218 xã đã được tỉnh công nhận xã đạt chuẩn Nông thôn mới) và 667 thôn/bản đã đạt chuẩn Nông thôn mới. Có 03 đơn vị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới là: Thị xã Thái Hoà, thành phố Vinh và huyện Nam Đàn. Tiêu chí bình quân/xã toàn tỉnh là 15,87 tiêu chí/xã.

    Nhằm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới một cách hiệu quả, chất lượng cũng như đẩy mạnh phong trào xây dựng Nông thôn mới tại các địa phương và đặc biệt là đối với các vùng miền núi đặc biệt khó khăn, Nghệ n đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các địa phương đồng thời ban hành được nhiều cách làm hay, sáng tạo như: Chính sách hỗ trợ xi măng làm đường giao thông Nông thôn, thưởng công trình phúc lợi cho các xã đạt chuẩn Nông thôn mới; xây dựng xã Nông thôn mới kiểu mẫu; xây dựng thôn/bản Nông thôn mới,…

    Trong đó, để tuyên truyền, phổ biến, tạo động lực cho các xã và các thôn/bản đạt chuẩn Nông thôn mới trong toàn tỉnh tiếp tục duy trì, nâng cao các tiêu chí nông thôn mới và xây dựng thành công xã nông thôn mới kiểu mẫu, xã nông thôn mới nâng cao. Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ n đã phát động và triển khai cuộc thi mẫu “Xã nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, đây là cuộc thi lần đầu tiên được tổ chức tại Nghệ n cũng như trên toàn quốc. 

    Là một trong những cách làm sáng tạo về xây dựng Nông thôn mới tỉnh Nghệ An, nhằm phát hiện, tôn vinh những xã, thôn/bản tiêu biểu trong phong trào xây dựng nông thôn mới; tạo động lực thúc đẩy phong trào ngày càng rộng khắp, đi vào chiều sâu mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, là tiền đề cho các xã, thôn/bản Nông thôn mới đẹp làm mẫu cho các địa phương khác học tập, nhân rộng. Đây cũng là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng thành công xã Nông thôn mới kiểu mẫu và xã Nông thôn mới nâng cao gắn xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh với phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu trong khu vực nông thôn.

    Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành quyết định thành lập Ban tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, cơ quan Thường trực Văn phòng Nông thôn mới tỉnh Nghệ n đã phối hợp với các sở, ban, ngành cấp tỉnh tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản nông thôn mới đẹp năm 2018”; thể lệ cuộc thi và ban hành Bộ tiêu chí và 154 thang điểm cho cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”. Theo đó, đối tượng tham gia cuộc thi là các xã đã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh và các thôn/bản đã đạt chuẩn Nông thôn mới của 11 huyện miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí chấm điểm “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” gồm có 15 nội dung; Tiêu chí chấm điểm “Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” có 9 nội dung.

    Căn cứ kế hoạch và Bộ tiêu chí chấm điểm “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018” và “Thôn/bản Nông thôn mới năm 2018”; UBND các huyện, thành phố, thị xã tổ chức cuộc thi để lựa chọn các xã, thôn/bản tốt nhất tham gia dự thi cuộc thi cấp tỉnh. Đây là lần đầu tiên tỉnh Nghệ An tổ chức cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, nhưng cuộc thi đã nhận được sự đồng tình hưởng ứng của các cấp, các ngành, các địa phương và nhất là sự hào hứng, phấn khởi của bà con nhân dân, mặc dù trong thời gian ngắn các đơn vị tham gia đã có sự chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc. 

    Tuy nhiên, bên cạnh đó việc tổ chức triển khai cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” cũng gặp một số khó khăn như: lần đầu tiên tổ chức cuộc thi nên đã gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ, việc triển khai cuộc thi còn nhiều lúng túng, số lượng xã, thôn/bản tham gia cuộc thi chưa nhiều, công tác tuyên truyền tại một số địa phương còn yếu, chất lượng và số lượng các xã, thôn (bản) dự thi chưa cao; việc tham mưu ban hành bộ tiêu chí và thang điểm chấm còn chưa sát với thực tế tại địa phương.

    Có 17 xã và 03 thôn/bản của 14 huyện, thành phố, thị xã được Ban tổ chức cuộc thi cấp huyện lựa chọn tham gia chung kết cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018”, Cuộc thi bao gồm 3 nội dung đó là chấm thi thực tế, thi phóng sự và thi thuyết trình. Kết quả xã Hưng Tân (huyện Hưng Nguyên) đã xuất sắc giành giải Nhất cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” với phần thưởng một tỷ đồng. Giải Nhì thuộc xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu) với phần thưởng 700 triệu đồng. Hai xã đạt giải Ba với phần thưởng 500 triệu đồng/xã; Năm xã đạt giải khuyến khích với phần thưởng 400 triệu đồng/xã. Ngoài ra Ban tổ chức cuộc thi cũng trao các giải phụ như: xã có cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp; có đường giao thông, đường hoa đẹp; có miền núi đẹp tiêu biểu; xã có bố trí sắp xếp quy hoạch dân cư hợp lý…

    Giải nhất thôn (bản) nông thôn mới đẹp được trao cho thôn Nghĩa Chính, xã Nghĩa Lâm (Nghĩa Đàn) với phần thưởng trị giá 300 triệu đồng. 

    Sau khi tổ chức Cuộc thi mẫu “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” đã góp phần thúc đẩy phong trào thi đua xây dựng Nông thôn mới ngày càng rộng khắp trên địa bàn từng xã. Mặc dù trong một khoảng thời gian ngắn nhưng thông qua cuộc thi các xã đã tổ chức rà soát, đánh giá và hoàn thiện, nâng cao các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo các quy định. Qua cuộc thi đã phát hiện những cách làm hay, sáng tạo trong phong trào xây dựng nông thôn mới ở các xã để từ đó nhân rộng các mô hình hay cho các xã học tập. 

    Cuộc thi đã có tác động tích cực tới việc xây dựng xã Nông thôn mới nâng cao và xã Nông thôn mới kiểu mẫu như sau:

    Thứ nhất, Sau khi tham gia cuộc thi, các xã Nông thôn mới kiểu mẫu (xã Kim Liên huyện Nam Đàn, xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu, xã Sơn Thành huyện Yên Thành) cũng như các xã đạt chuẩn Nông thôn mới trong toàn tỉnh đã tiếp tục phát huy 155 những kết quả đạt được, tiếp tục tiến hành và huy động nguồn lực để hoàn thiện nâng cao các tiêu chí Nông thôn mới kiểu mẫu. Đến nay, đã có nhiều đoàn trong và ngoài tỉnh đến tham quan, học tập kinh nghiệm xây dựng NTM tại các xã đạt giải cao trong cuộc thi để áp dụng cho địa phương mình. 

     

    Thứ hai, các xã đã tiếp tục giữ vững các tiêu chí hiện có, hoàn thiện nâng cao các tiêu chí còn yếu, đồng thời tiếp tục rà soát, khắc phục các khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nhập, giải quyết thêm nhiều việc làm tại địa phương, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, địa phương phát triển, phấn đấu sớm đạt chuẩn Nông thôn mới nâng cao và Nông thôn mới kiểu mẫu. Thứ ba, Việc thực hiện xây dựng xã, xóm “Xanh – Sạch – Đẹp”: Đã cho hiệu quả bước đầu: Nhiều tuyến đường hoa cây xanh, đường hoa được hình thành; Hệ thống đế cờ, cụm cờ cổ động được triển khai thực hiện đồng bộ; Trụ sở làm việc xã, Trường học, Trạm Y tế, nhà văn hóa xã, xóm được quan tâm vệ sinh môi trường, trồng hoa, trồng cây xanh bóng mát; Phong trào ngày chủ nhật xanh đã từng bước phát huy được hiệu quả, một bộ phận người dân đã có ý thức vệ sinh hàng ngày trên đường giao thông đoạn trước nhà mình, phát quang, cắt tỉa bờ rào, chỉnh trang vườn nhà, nhiều tuyến kênh mương được khơi thông, các tuyến đường giao thông được phát quang bờ bụi, tình trạng vứt rác thải bừa bãi, tập kết các loại vật liệu, củi gỗ,… trên các tuyến đường, kênh mương từng bước được hạn chế;… đã góp phần tạo cảnh quan môi trường từng xóm, từng xã xanh, sạch, đẹp. Hệ thống điện chiếu sáng công cộng trên các tuyến đường, trong khu dân cư được quan tâm đầu tư lắp đặt đồng bộ hơn.

    Cuộc thi “Xã Nông thôn mới đẹp năm 2018″ và Thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018” của tỉnh Nghệ n đã thu được nhiều hiệu quả tích cực, tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong phong trào thi đua xây dựng Nông thôn mới tại các địa phương. Với sự ủng hộ của các ngành, các địa phương, sự hào hứng của người dân, Nghệ n kính đề nghị Trung ương chỉ đạo, khuyến khích các địa phương trên toàn quốc căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương để tổ chức cuộc thi tạo hiệu ứng lan tỏa đẩy mạnh phong trào xây dựng Nông thôn mới trên toàn quốc. Trung ương tổ chức thi theo cụm, theo vùng và tiến tới tổ chức cuộc thi trên phạm vi cả nước. 

    Trên đây là đánh giá tác động của việc tổ chức mô hình Hội thi xã, thôn/bản Nông thôn mới đẹp năm 2018 đến xây dựng xã Nông thôn mới nâng cao và xã nông thôn mới kiểu mẫu trên địa bàn tỉnh Nghệ An./.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/%C4%90%E1%BA%A8Y-M%E1%BA%A0NH-%E1%BB%A8NG-D%E1%BB%A4NG-B%E1%BA%A2NG-C%C3%82N-B%E1%BA%B0NG-%C4%90I%E1%BB%82M-TRONG-TH%E1%BB%B0C.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM TRONG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP


     CN. Trần Minh Loan
    Khoa Kinh tế, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung
     ThS. Lê Thị Thanh Huyền
    Học viện Ngân hàng, Phân viện Phú Yên


     Tóm tắt: Bảng cân bằng điểm (BSC) là một hệ thống đo lường, chuyển tầm nhìn và chiến lược của một doanh nghiệp thành những mục tiêu và thước đo cụ thể trên phương diện tài chính và phi tài chính, giúp các nhà lãnh đạo hướng con người, nguồn lực về một chiến lược thống nhất. Thực tế đã có những tập đoàn lớn trên thế giới thành công nhờ ứng dụng BSC và các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang dần tiếp cận với mô hình này.
    Từ khóa: Bảng cân bằng điểm – BSC.
     Xây dựng chiến lược hoạt động là rất cần thiết và quan trọng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào. Tuy nhiên, có chiến lược thì vẫn chưa đủ, mà cần phải hiện thực hóa chiến lược. Điều khiến không ít các doanh nghiệp bối rối là đề ra chiến lược rồi nhưng làm thế nào để hiện thực hóa chiến lược ấy. Vấn đề ở đây là: Chiến lược được xây dựng không thể đo lường được và có khoảng trống giữa tầm nhìn của lãnh đạo và nhận thức của nhân viên. Trước hết, chiến lược cần phải đo lường được vì nếu không đo lường được thì không có cách nào để quản lý, thực hiện được. Hai là, khi người lãnh đạo biết doanh nghiệp của mình phải làm gì, hướng tới đâu nhưng các cộng sự, nhân viên của họ lại không hiểu và không cùng hướng tới mục tiêu chung thì chiến lược cũng không thể thực hiện được. Nhân viên, cộng sự thường tỏ ra bối rối không rõ thực hiện chiến lược này thế nào, chiến lược này liên quan gì đến công việc hàng ngày của họ, họ phải làm gì khác đi hoặc tốt hơn so với trước, đồng thời họ đặt câu hỏi: Nếu làm như thế thì tôi sẽ được cái gì? Để khắc phục thực trạng này, sử dụng “Bảng điểm cân bằng” (Balance Score Card – BSC) sẽ là một công cụ hữu ích.

    1.1.Bảng cân bằng điểm

    “Bảng cân bằng điểm” (Balance Scorecard – BSC) do Giáo sư Robert S.Kaplan (Trường đại học kinh doanh Harvard) và cộng sự của ông là David Norton phát triển vào những năm đầu của thập kỷ 90. Đây là một hệ thống quản lý và lập kế hoạch chiến lược được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức phi lợi nhuận, chính phủ, ngành công nghiệp và kinh doanh trên toàn thế giới. BSC nhằm mục đích sắp xếp các hoạt động kinh doanh hướng vào tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp, cải thiện thông tin liên lạc trong và ngoài doanh nghiệp, giám sát hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các mục tiêu chiến lược. Nó mang đến cho các nhà quản lý và các quan chức cấp cao trong các doanh nghiệp một cái nhìn cân bằng hơn về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 91 Hình 1. Mô hình bảng cân bằng điểm BSC giải mã chiến lược với sự cân bằng giữa: thước đo bên trong và bên ngoài, thước đo khách quan và chủ quan, kết quả hoạt động hiện tại và động cơ của kết quả hoạt động trong tương lai. BSC là một hệ thống đo lường, chuyển tầm nhìn và chiến lược của một doanh nghiệp thành những mục tiêu và thước đo cụ thể trên 4 phương diện: phương diện tài chính, phương diện khách hàng, phương diện hoạt động kinh doanh nội bộ, phương diện học hỏi và phát triển.

    * Phương diện tài chính

    Bên cạnh những thước đo tài chính mang tính truyền thống, BSC bổ sung thêm những thước đo khác như: giá trị kinh tế gia tăng, doanh thu trên nguồn vốn thuê ngoài, đánh giá rủi ro và các cơ sở dữ liệu nhằm phục vụ cho hoạt động phân tích chi phí – lợi ích. Bảng 1. Phương diện tài chính Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Lợi nhuận từ hoạt động + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do tăng trưởng + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do giá + Sự thay đổi lợi nhuận hoạt động do năng suất + ROI, EVA + … Các thước đo của phương diện tài chính giúp cho việc phân tích chiến lược trong doanh nghiệp, doanh nghiệp có thành công trong thực hiện chiến lược cạnh tranh hay không. Nếu chiến lược của doanh nghiệp là chiến lược sản phẩm khác biệt, thì lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp phải tăng lên chủ yếu do nhân tố tăng giá, lúc đó mới đánh giá chiến lược này thành công. Nhưng nếu chiến lược của doanh nghiệp là chiến lược dẫn đầu về chi phí, thì lợi nhuận Tài chính Khách hàng Chiến lược Hoạt động KD nội bộ Học hỏi và phát triển Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 92 hoạt động của doanh nghiệp phải tăng lên chủ yếu do nhân tố tăng năng suất.

    * Phương diện khách hang

     Với nhận định về tầm quan trọng ngày càng cao của mối quan hệ giữa độ thỏa mãn của khách hàng với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, BSC đưa thêm những thước đo như thị phần, thị phần khách hàng cụ thể, sự giữ lại khách hàng cũ, lòng trung thành của khách hàng, sự thu hút khách hàng mới, sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, lợi nhuận từ khách hàng. Bảng 2. Phương diện khách hàng Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Thị phần + Thị phần khách hàng cụ thể + Sự giữ lại khách hàng cũ, lòng trung thành của khách hàng + Sự thu hút khách hàng mới + Sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng + Lợi nhuận từ khách hàng + … Thị phần có thể được đo lường bởi số lượng khách hàng, doanh thu hay số lượng sản phẩm được bán. Thước đo để sử dụng đo lường lòng trung thành của khách hàng là sự ở lại của khách hàng từ kỳ này sang kỳ khác, tỷ lệ phát triển của khách hàng hiện tại. Sự thu hút khách hàng mới có thể được đo lường thông qua các thước đo như số lượng khách hàng mới, tổng doanh thu đối với khách hàng mới trong thị trường mục tiêu. Việc đo lường sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng là tín hiệu phản ánh kết quả rõ ràng nhất về việc doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả như thế nào, ít nhất là đối với khách hàng hiện tại. Với việc tiếp cận chi phí dựa trên mức độ hoạt động cho phép doanh nghiệp đánh giá lơi nhuận thu được từ các khách hàng, cũng như lợi nhuận thu được từ các khách hàng riêng lẻ.

    * Phương diện hoạt động kinh doanh nội bộ

     Khi một doanh nghiệp nhận diện được những yếu tố thu hút, giữ lại và thỏa mãn khách hàng mục tiêu, nó có thể định ra tiêu chuẩn đánh giá quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ mà nó phải vượt trội hơn so với đối thủ cạnh tranh. Sự ưu việt trong quy trình hoạt động được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn đánh giá như thời gian, chất lượng, chi phí, sự cải tiến của quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ. Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 93 Bảng 3. Phương diện hoạt động kinh doanh Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Tổng thời gian cung cấp hàng – Số lần giao hàng đúng hạn + Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng trên tổng sản phẩm sản xuất + Số lượng tính năng mới của sản phẩm + Thời gian phát triển sản phẩm mới – Thời gian huấn luyện khách hàng sử dụng sản phẩm – …

     * Phương diện học hỏi và phát triển

     Trong bất cứ tổ chức nào, nhân lực là nguồn lực quan trọng góp phần hiện thực hóa mọi kế hoạch, chiến lược. Vì vậy nhu cầu học, đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên là một hoạt động cần triển khai thường xuyên. BSC cho phép nhà quản lý nhận biết nhu cầu học, đào tạo về kỹ năng cũng như về văn hóa doanh nghiệp, quan trọng hơn là việc nhận biết các thứ tự ưu tiên trong hoạt động học – đào tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp đầu tư đúng hướng. Bảng 4. Phương diện học hỏi và phát triển Thƣớc đo đánh giá thành quả Chiều thay đổi mong muốn Sự thỏa mãn của nhân viên + Sự giữ được nhân viên + Năng suất làm việc của nhân viên + … Bốn phương diện này là một sự kết nối logic, nghiên cứu và tăng trưởng dẫn tới các quá trình kinh doanh sản xuất tốt hơn, qua đó làm tăng giá trị cho khách hàng và cuối cùng có tác dụng cải thiện kết quả hoạt động tài chính.

    1.2.Sự cần thiết ứng dụng bảng cân bằng điểm trong việc hiện thực hóa chiến lƣợc của doanh nghiệp

    Trong thời kỳ cạnh tranh công nghiệp, các doanh nghiệp đã xây dựng và phát triển hệ thống kiểm soát tài chính nhằm kiểm soát, đánh giá sự hiệu quả trong việc sử dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Thời kỳ cạnh tranh thông tin, doanh nghiệp không chỉ dựa vào việc phát triển nhanh chóng kỹ thuật mới để tăng tài sản hữu hình hay dựa vào việc quản lý tốt tài sản hữu hình và nguồn vốn để tạo ra lợi thế cạnh tranh, mà cần phải tập trung khai thác các tài sản vô hình. Trong thời kỳ này, hầu hết giá trị của một doanh nghiệp gắn với các quá trình cải tiến, các mối quan hệ khách Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 94 hàng và nguồn nhân lực. Hệ thống tài chính truyền thống không đủ mạnh để định giá trị chính xác của những tài sản vô hình này. Các yếu tố nhân lực, quy trình quản lý, chất lượng, khả năng sáng tạo, quan hệ với khách hàng… không thể xuất hiện trên bảng cân đối kế toán, khó có thể đo đếm được nhưng chúng có giá trị bền vững, là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nếu tập trung đầu tư vào đào tạo, tạo động cơ thúc đẩy nhân viên thì sẽ tạo ra động lực phát triển doanh nghiệp. Việc đo lường chính xác các giá trị kể trên sẽ giúp các doanh nghiệp cải thiện được tình hình hiện tại, thậm chí trong thời khó khăn. Tất cả điều đó đều có thể đo lường, đánh giá được thông qua bảng cân bằng điểm – thước đo đầy đủ giá trị về mặt tài chính, vật chất cũng như những yếu tố phi vật chất.

     * Bảng cân bằng điểm: Hệ thống quản lý chiến lược

     BSC có thể được sử dụng như một hệ thống quản lý nhằm thực hiện chiến lược ở mọi cấp độ của tổ chức thông qua các chức năng sau: – Vạch rõ chiến lược – Quá trình chuyển các mục tiêu chiến lược thành các thước đo có thể đo được chỉ rõ sự am hiểu về chiến lược của đội ngũ quản lý và giúp phát triển một sự đồng thuận gắn kết. – Truyền tải các mục tiêu chiến lược – BSC có thể truyền tải những mục tiêu ở mức độ cao thành các mục tiêu trong quá trình hoạt động và truyền đạt chiến lược hiệu quả xuyên suốt tổ chức. – Lập kế hoạch, xây dựng mục tiêu và sắp xếp các sáng kiến chiến lược. Các mục tiêu nhiều tham vọng nhưng có thể thực hiện được được xây dựng cho mỗi khía cạnh và các sáng kiến được phát triển để thực hiện các mục tiêu đó. – Đào tạo và phản hồi chiến lược – Các nhà quản lý cấp cao nhận phản hồi về việc liệu quá trình thực thi chiến lược có đang được thực hiện theo kế hoạch đề ra hay không và liệu bản thân chiến lược có thành công hay không. Những chức năng này đã biến BSC thành một hệ thống quản lý hiệu quả trong quá trình thực thi chiến lược.

    1.3.Thực trạng ứng dụng bảng cân bằng điểm trong doanh nghiệp

    Không phải ai cũng có những đóng góp quan trọng cho nghệ thuật kinh doanh và đặc biệt là khoa học chiến lược kinh doanh như Robert S. Kaplan. Bảng cân bằng điểm của ông là một công cụ hàng đầu để sắp xếp các hành động hiện thời của một công ty với những mục tiêu chiến lược đã đề ra. Hệ thống quản lý kết quả hoạt động này giúp các nhà lãnh đạo kinh doanh xác định rõ tầm nhìn chiến lược của họ và lái con người, các đơn vị kinh doanh và nguồn lực hướng về một chiến lược thống nhất.

    * Thành công của những tập đoàn tên tuổi trên thế giới nhờ ứng dụng BSC

     – UPS: Kéo khách hàng trở lại nhờ BSC
     Dịch vụ chuyển phát nhanh UPS của Mỹ thực sự đang trong tình trạng nợ chồng chất khi họ bắt đầu thực hiện thực thi BSC. Trên thực tế, UPS là một trong những công ty có sức lôi cuốn khách Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 95 hàng nhất trong ngành công nghiệp giao nhận trong hơn một thập kỷ. Nhưng UPS vẫn muốn tiếp tục cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh hơn nữa. Và họ đã làm được điều này sau khi thực hiện BSC. Họ sắp xếp và hướng tầm nhìn cho tương lai để đảm bảo rằng mỗi nhân công đều hiểu rằng những đóng góp của anh ta có ảnh hưởng như thế nào tới kết quả hoạt động cuối cùng của công ty. Một nhà quản lý của UPS đã mô tả tác động của quá trình chuyển đổi sau khi thực hiện chương trình BSC như sau: “Nhà cung cấp dịch vụ khi đứng trước khách hàng giờ đây như một người bán hàng, quảng bá về công ty và phát triển doanh thu bán hàng”. Kết quả là UPS được vinh danh là Công ty của năm 1999 do tạp chí Forbes bình chọn. Mỗi nhân viên cần phải biết những đóng góp của họ có ảnh hưởng như thế nào tới nhiệm vụ: sức mạnh của phương pháp tiếp cận BSC nằm ở quá trình điều chỉnh, sắp xếp tầm nhìn và nhiệm vụ xuyên suốt tổ chức và làm cho các nhân viên cảm thấy giá trị của họ. Sau khi được đào tạo áp dụng BSC, thậm chí những nhân viên nhà ăn cũng thấy được trách nhiệm tạo ra một môi trường thoải mái cho bữa ăn trưa cho các nhân viên còn lại. Khi nhận thấy đang dần mất khách hàng, các nhà lãnh đạo của UPS đã yêu cầu nhân viên gọi điện trực tiếp cho từng khách hàng hiện thời để xác định rõ những mong muốn của họ, và sau đó chào mời những gói dịch vụ phù hợp hơn với những mong muốn của họ. Quá trình này đòi hỏi các nhân viên học cách đặt câu hỏi cho khách hàng và thu thập phản hồi của họ để cải tiến. UPS đã giảm được 75% số khách hàng bỏ đi và học được cách thay đổi dịch vụ để duy trì lợi thế cạnh tranh.
    – Tập đoàn Hilton: Chiến lược marketing đặc biệt từ BSC
     Tập đoàn khách sạn Hilton đã bắt đầu áp dụng BSC từ năm 1997 và kể từ đó họ đã coi phương pháp là nền tảng để chuyển từ tầm nhìn chiến lược của công ty sang chiến lược marketing, quản lý thương hiệu và quá trình hoạt động cũng như một loạt các nhóm cấu thành khác bao gồm cả khách sử dụng dịch vụ của khách sạn, các cổ đông của công ty và các nhân viên của Hilton. BSC của Hilton không chỉ giữ điểm mà còn phục vụ theo cách xác định và ưu tiên những hoạt động sẽ có thể cải thiện điểm, thực thi hành động đúng đắn và ghi nhận sự cải thiện. Chuỗi giá trị của Hilton cho thấy sự nổi bật của cải thiện không ngừng giữa những mắt xích khác kết nối tầm nhìn và chiến lược với marketing, hệ thống điều hành và tài chính. Trước hết chiến lược của công ty được kiểm tra về khả năng có thể nuôi dưỡng tầm nhìn hay không. Sau đó chiến lược và các chiến thuật marketing được phát triển, kết quả tạo ra những chỉ số thể hiện kết quả hoạt động cụ thể và các mục tiêu hợp thành BSC. Hilton đặt ưu tiên hàng đầu cho việc cải thiện các chiến lược, và quá trình kinh doanh, và BSC bằng hướng tới việc đảm bảo rằng những nhân tố thúc đẩy giá trị mô tả chân thực cách thức công ty có thể thực hiện tốt nhất những mục tiêu đề ra. Cải thiện liên tục Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 96 không ngừng của bảng điểm cân bằng Hilton là một quá trình đa giai đoạn nhằm xác định chính xác phương hướng hành động. Mặc dù đã có thương hiệu nổi tiếng, Hilton vẫn chú ý thu hút khách sử dụng dịch vụ ngay từ những lần đầu tiên, duy trì khả năng lợi nhuận ổn định, trong dài hạn dựa vào sự trung thành của khách hàng. Tuy nhiên khi sử dụng BSC, Hilton đã có thể tăng hơn 3% lợi nhuận biên so với những khách sạn cung cấp dịch vụ đầy đủ khác. Trong giai đoạn 2000 – 2002, kết quả này đã chuyển thành quá trình gia tăng 100% trên giá cổ phiếu của tập đoàn.

     * Áp dụng BSC của các doanh nghiệp Việt Nam

    Doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhận thức rõ mối quan hệ giữa xây dựng chiến lược với điều hành và phát triển doanh nghiệp, ngày càng quan tâm đến gắn kết tầm nhìn chiến lược với thực tiễn hoạt động sản xuất – kinh doanh. Đây chắc chắn là một tiền đề tốt để các doanh nghiệp tiến những bước vững chắc trong xây dựng kế hoạch chiến lược phù hợp với lợi thế cạnh tranh của mình và phản ứng nhanh chóng với những thay đổi của thị trường. Các doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang sử dụng BSC nhằm giúp cân bằng các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và triển vọng tài chính trong tương lai. Đồng thời, BSC cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoạch định và áp dụng các chiến lược khác nhau trong những biến động thăng trầm của nền kinh kế. BSC rất phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới. Ở Việt Nam, BSC đã và đang được áp dụng tại các tổ chức có yếu tố nước ngoài và các công ty lớn như FPT, GAMI hay SEAREFICO… Tuy nhiên, phần nhiều các công ty nhỏ ở Việt Nam chỉ dừng lại ở việc phân tích điểm mạnh – yếu trong hoạt động hàng năm, rồi đề ra chiến lược cho năm sau. Việc triển khai cụ thể công việc đến từng bộ phận thì vẫn còn nhiều lúng túng. Hơn nữa, các công ty nhỏ đa phần chỉ tập trung triển khai chiến lược về tài chính, doanh số chứ chưa chú trọng đến quy trình nội bộ hay con người. BSC vẫn còn là phương pháp hoạch định chiến lược khá mới mẻ ở Việt Nam, bởi các công ty nhỏ trong nước vẫn chưa quen phân tích chiến lược phát triển dựa trên bốn phương diện của BSC. Phổ biến vẫn là quan niệm xem nhân viên là nguồn nhân sự, tức chỉ cần quản lý sơ yếu lý lịch của họ, thay vì xem họ là nguồn nhân lực, tức tài nguyên của công ty.

    1.4.Một số ý kiến về việc ứng dụng Bảng cân bằng điểm

     
    BSC là một công cụ hữu ích không chỉ trong xây dựng chiến lược mà cả trong việc xác định mục tiêu cụ thể của từng bộ phận và cá nhân trong tổ chức, doanh nghiệp. Sử dụng BSC cho phép một tổ chức vượt xa ra ngoài những con số tài chính đo lường hiện tại để tiến xa hơn tới những chỉ số dự báo khả năng sinh lời trong tương lai. BSC là phương pháp nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, Thông báo Khoa học và Công nghệ* Số 2-2013 97 những phép đo và chỉ tiêu rõ ràng bằng việc thiết lập một hệ thống đo lường hiệu quả trong quản lý công việc. Hệ thống này giúp định hướng hành vi của toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong công ty – để mọi người cùng hướng tới mục tiêu chung cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và làm cơ sở cho hệ thống quản lý và đánh giá công việc. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu xác định rõ ràng những gì còn mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức. Để thực hiện chiến lược thành công thì mọi phòng ban, bộ phận trong tổ chức đều phải hiểu rõ chiến lược và thực hiện công bằng, không phân biệt. u điểm của BSC là quán triệt và đồng nhất được mục tiêu chiến lược của cả cấp trên và cấp dưới, hướng toàn bộ tổ chức vào những khâu chính để thực hiện sự đột phá. Phương pháp này đòi hỏi sự đồng tâm của toàn tổ chức, cần nhiều thời gian và nguồn lực. Đồng thời để thực hiện thành công BSC, bên cạnh việc áp dụng tốt, các tổ chức nên có sự điều chỉnh liên tục để phương phàp này ngày càng phù hợp với chiến lược, mục tiêu và hoạt động của mình. Với những doanh nghiệp lần đầu áp dụng BSC, không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ chi tiết theo đúng tiêu chuẩn của BSC. Các chỉ tiêu chiến lược chung nên được cụ thể hóa dần theo từng năm, mỗi năm lại xem xét để thực hiện với chiều sâu hơn. Hoặc BSC được áp dụng theo kiểu cuốn chiếu đến từng bộ phận, phòng ban trong công ty. Chẳng hạn, trước đây chỉ các bộ phận sản xuất, kinh doanh mới có chỉ tiêu cụ thể, thì dần dần các bộ phận khác như hành chính, kế toán cũng sẽ được giao chỉ tiêu, để cùng góp sức giải bài toán chiến lược công ty đã được lượng hóa. Tóm lại, một khi do doanh nghiệp đã có chiến lược hoạt động và việc áp dụng BSC sẽ giúp đẩy nhanh chiến lược phát triển công ty. Việc thất bại khi áp dụng phương pháp này chỉ xảy ra khi có người trong công ty chưa hiểu hết về BSC, hoặc công ty có hệ thống thông tin nội bộ không tốt.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Paul R Niven (tác giả). Dương Thị Thu Hiền (dịch giả). 2009. Blanced Scorecard – Thẻ điểm cân bằng – Áp dụng Mô hình quản trị công việc hiệu quả toàn diện để thành công trong kinh doanh, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. [2] Robert S. Kaplan. Anthony A. Atkinson. Advanced Management Accounting, 3th Edition. [3] Các trang web: http://www.vnba.org.vn; http://www.vietnamweek.net; http://www.ocd.com.vn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào Hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải : Đề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản preview”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài Viết Liên Quan: BÀN VỀ XỬ LÝ CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THEO THÔNG TƯ 200/2014/TT – BTC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]https://hotroontap.com/wp-content/uploads/2020/06/NANG_CAO_CHAT_LUONG_DICH_VU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ Nhâm TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM


    KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
    1. Nguyễn Văn Thành and Đặng Thành Lê – Giải pháp policy nâng cao capabilities cạnh tranh of the doanh nghiệp công nghiệp Hải Thời gian trong gian gian. Mã số: 135.1BMkt.11
    Chính sách để cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp ở thành phố Hải Phòng trong
    Coming Time
    2. Nguyễn Hoàng, Lê Trung Hiếu and Phan Chí Anh – Phân tích quan hệ between elements input to
    năng suất output của chúng tôi có thể làm việc ở Việt Nam. Mã số:
    135BMkt.11TRMg.11
    Phân tích mối quan hệ giữa đầu vào với đầu ra của doanh nghiệp du lịch và du lịch tại
    Việt Nam

    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    3. Nguyễn Viết Lâm – Nâng cao chất lượng dịch vụ Nhâm Augmented cường sự hài lòng of customers at
    bank thương mại Việt Nam. Mã hóa: 135.2FiBa.21
    Nâng cao chất lượng dịch vụ để nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
    4. Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thị Thanh Phương, Trần Thị Thu Trang và Lê Thanh Huyền
    – Việt Nam – tại Việt Nam
    . Mã số: 135.2BAdm.21
    Một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bảo hiểm trực tuyến tại Việt Nam – một trường hợp tại
    Hà Nội
    5. Hà Minh
    tiêu hóa: tổng hợp trong khi ở TP. Hồ Chí Minh. Mã số: 135.2BMkt.21
    tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của cà phê chuỗi cửa hàng của người tiêu dùng: một trường hợp ở Thành phố Hồ Chí Minh
    6. Lê Thị Thu Trang and Save Tiến Thuận – Ảnh hưởng of administrative quan hệ khách hàng and administrative
    trải nghiệm khách hàng tập trung và hoàn hảo và tập trung vào hàng hóa
    . Mã số: 135.2BMkt.21
    Ảnh hưởng của mối quan hệ khách hàng và quản lý trải nghiệm khách hàng đối với
    sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng : Một nghiên cứu tình huống về siêu thị tại Cần Thơ City KI KI
    TRAO ĐỔI
    7. Nguyễn Thị Minh Hòa – Ghi chú và khen ngợi của anh ấy : Văn từ
    một phần của chúng tôi ở Hà Nội. Mã số:
    135.3OMIs.31
    Ignored Lời cảm ơn và khen thưởng: Bằng chứng từ một khảo sát thực nghiệm trên
    Loyalty của người lao động tại một số doanh nghiệp và tổ chức tại Hà Nội Thành phố
    ISSN 1859-3666
    1
    1. Giới thiệu
    Đã có many nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ
    Phần cứng, có phần
    của bạn và phần của nó.
    Trên thực tế, the bank thương mại Việt Nam
    are is already hết sức chú ý to việc nâng cao chất lượng
    dịch vụ to cải thiện sự hài lòng of customers,
    but Mức độ thực tế đạt been still thấp. Và chủng tộc
    to nâng cao sức cạnh tranh of bank based
    sự hài lòng of customers, the bank, but need
    not quan tâm more nữa to việc nâng cao chất
    lượng dịch vụ của mình. Bằng kết quả khảo sát thực
    tế tại the bank thương mại đại diện, nghiên cứu
    have known chỉ Mức độ đáp ứng requested khách hàng của
    Thanh Tùng nhảy thành chất lượng dịch vụ của ngân
    hàng. Đồng thời, nghiên cứu are vạch ra those
    biểu hiện cụ thể with the Meaning is the nguyên nhân làm
    restricted Mức độ đáp ứng this. Trên cơ sở that, nghiên
    cứu have đề xuất 05 nhóm giải pháp khắc phục those
    mặt còn restricted and phát huy maximum number of elements tích
    cực for hy vọng Move lại sự cải thiện đáng statistics about sự
    Hải Long of customers for the quality services
    of bank in bối cảnh kinh doanh sắp to the
    lĩnh vực bank.
    2. Cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu and
    phương pháp nghiên cứu
    2.1. Cơ sở lý thuyết and model nghiên cứu
    Để đánh giá chất lượng dịch vụ of the ngân
    hàng thương mại one cách khách quan, chính xác
    nhất possible, nghiên cứu have based on lý thuyết về
    chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1988 ) và mô
    hình của bạn, và khi bạn đang sử dụng thì đó là sự phục vụ
    của Cronin và Taylor (1992). Theo that,
    chất lượng dịch vụ been đo bằng 5 components (Độ
    tin cậy, Khả năng đáp ứng, Sự bảo đảm, Sự đồng
    cảm and Phương tiện hữu hình) với mô hình nghiên
    cứu been biểu diễn bằng công thức toán học và bằng
    sơ đồ (hình vẽ) is:
    Trọng model been biểu diễn bằng sơ đồ Neu
    trên, the biến độc lập is: (1) Phương tiện hữu hình,
    (2) Độ tin cậy, (3) Khả năng đáp ứng, (4) Sự bảo
    đảm and (5) Sự đồng cảm; Phần mềm
    của họ Trọng model been biểu diễn
    bằng công thức: (1) SQi is chất lượng dịch vụ khách
    hàng i receive, (2) K is zero lượng of components
    of quality services (k = 5), (3) pij là một trong những phần mềm
    của chúng tôi
    . Quan quan sát / của tiêu
    19
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ
    Nhâm TĂNG CƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
    TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Trọng khuôn khổ đề tài cấp Bộ mã số: B2018-KHA.28, mục tiêu initial of nghiên cứu This is
    progress khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ of the following bank thương mại Việt
    Nam. Kết cấu của chúng tôi, một trong những món ăn ngon, ngon miệng,
    ngon miệng, ngon miệng. Vậy Bởi, mục tiêu thứ hai đặt ra cho
    nghiên cứu is search of giải pháp hữu hiệu giúp the bank nâng cao chất lượng dịch vụ của mình,
    hướng to việc Augmented cường sự hài lòng of customers Nhâm Augmented cường năng lực cạnh tranh trong
    gian gian.
    Từ khóa: trong khi đó, từ khóa của bạn.
    ?
    chí đo lường each components of quality services
    về cơ bản based on bộ đo lường of Parasuraman
    (1988) have tham khảo and additional add an số tiêu
    chí khác from nghiên cứu of Daniel Onwonga
    Auka (2012), Sulieman Ibrahem Shelash Al –
    Hawary (2013) và Hậu môn Metabis Suleiman Aburoub
    và cộng sự (2011).
    2.2. Phương pháp nghiên cứu
    – Nghiên cứu định tính been progress Nhâm
    sàng lọc, bổ sung and completely Thiên Các tiêu chí đo lường
    of components of quality services are kế thừa
    from nghiên cứu out nước ngoài to ensure the tiêu
    chí chủ yếu là tổng hợp
    Nam before progress nghiên cứu định lượng
    chính thức. Nghiên cứu định tính been done
    as phỏng vấn sâu Các chuyên gia ngân hàng
    gồm: 01 Lãnh đạo phòng quản lý chất lượng dịch
    vụ, 01 Đối tác chất lượng dịch vụ region, 02 Lãnh đạo
    vùng, 03 Lãnh đạo chi nhánh, 02 Lãnh đạo trung
    tâm transaction and resulting is already have a number of 28 tiêu chí
    chính thức used đề đo lường 5 components
    of quality services bank (in which: 7 tiêu
    chí đo lường sự tin cậy, 7 tiêu chí đo lường sự đáp
    ứng, 4 tiêu chí đo lường sự ensure, 4 tiêu chí đo
    lường sự đồng cảm và 6 tiêu chí đo lường phương
    tiện hữu hình).
    – Phần mềm và phần mềm
    qua bảng hỏi the object customers was and đang sử
    dụng dịch vụ of the bank Nhâm đánh giá sự
    hài lòng of khách về each components of chất
    lượng dịch vụ. Các tiêu chí đo lường / Các phát biểu
    trong bảng hỏi altogether based on the tiêu chí have
    been rút from nghiên cứu định tính, been normalization
    in model and đo Lương Bằng thang đo Likert 5
    bậc (Tổng cộng have 28 phát biểu tượng). Về kích thước
    mẫu, trên cơ sở cân nhắc between phương pháp tính
    toán quy mô mẫu, the terms ràng buộc về thời gian
    and kinh phí nghiên cứu, nghiên cứu have select
    kích thước mẫu ban đầu is 390 phần tử (đảm bảo
    thỏa mãn all phương pháp tính kích thước
    mẫu). Cơ cấu
    đương nhau between bank After thu thập
    phiếu điều tra, đánh giá sơ bộ and type those phiếu
    điều tra lỗi, 370 phiếu điều tra a valid been nhập dữ
    liệu and analysis. Một phần
    của chúng tôi là một phần của nhau
    . Do tầm tay có thể
    và làm được
    one số NHTM nhà nước and NHTM cổ phần của Việt
    Nam trên địa bàn Hà Nội have been selected for khảo
    sát (Ngân hàng BIDV, Ngân hàng VCB, Ngân hàng
    TMCP Quân đội MB, Ngân hàng TMCP Bưu Điện
    – Liên Việt .. .). Nghiên cứu This is not mentioned of
    bank thương mại liên doanh and bank
    thương mại 100% vốn đầu tư nước ngoài.
    3. Kết quả khảo sát đánh giá sự hài lòng of
    customers for the quality services bank
    3.1. Về độ tin cậy
    Theo kết quả khảo sát, muc điểm bình quân
    chung trên all tiêu chí Phan Anh Mức độ tin
    cậy of services and trên all bank is 3,70
    điểm, in which point Bình Quân matches Cửa Tùng
    bank is: MB – 3,65; Sòng bạc – 3,68;
    Ngân hàng công nghệ – 3,73; CRLLV – 3,61 và VCB – 3,81.
    Kết quả this chứng tỏ, độ tin cậy of services
    bank at the bank khảo sát retained not set
    20 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    SQi = |
    k = 1
    k
    pij
    ??? ዛዓ ?? ???? ዉ n h ዟ u
    hình
    0 ዒ thiếc c ኼ y
    Kh ኷ ?? £ ???? ¯ ????
    S ዠ ¯኷ mb ኷ o
    S ዠ ¯ዏ ng c ኷ m
    S ዠ Hải Long c ዚ một
    khách hàng
    been Mức khá, new Chí Dũng out level trên trung bình
    khá. Điều which means that the bank Văn Can tiếp
    tục phấn đấu nâng cao to Mức độ tin cậy of khách
    hàng against ‘sản phẩm dịch vụ của mình Nhậm đạt
    to one chất lượng dịch vụ cao than. Đi sâu vào thực
    tế activity of multiple bank various còn cho
    thấy those biểu hiện cụ thể of those mặt restricted
    về độ tin cậy of services bank like: (1) Hệ
    thống cung cấp dịch vụ của bank retained usually
    have sai Sot hay system error in the transaction, (2) Xuất
    hiện nhiều tội phạm trong việc use devices
    thẻ ATM giả to execute the hành vi rút tiền of
    customers, (3) Nhân viên còn sai Sot in too
    trình tác nghiệp, executing does not properly requested
    khách hàng. Ngoài ra, may also an invalid number Sot khác
    like: transactions qua not done been on
    execution thanh toán tại Các máy POS, do not rút
    been tiền trên máy ATM, transactions internet
    ngân hàng, ngân hàng di động failed ‘. ..
    3.2. Về capabilities responses
    With 7 tiêu chí be given to đo lường capabilities
    responses of dịch vu bank, số liệu obtained from
    khảo sát cho thấy Mức điểm bình quân set of
    all tiêu chí is 3,34 điểm. This is a resulting
    thấp against ‘elements Mức độ tin cậy vì on the level
    bình thường một phần. Possible see here is điểm yếu về
    chất lượng dịch vụ của ngân hàng mà the bank
    must be headers many to khắc phục.
    Những biểu hiện cụ thể of the essential kém về Khả
    năng đáp ứng of services possible listed like
    21
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 1: Kết quả khảo sát về độ tin cậy
    Hình 2: Kết quả khảo sát về capabilities đáp ứng
    ?
    following: (1) Nhân viên ngân hàng chưa actually quan tâm
    giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình giao
    dịch and use services at bank; (2) Khách
    hàng chưa hài lòng về việc nhân viên ngân hàng đáp
    ứng requested one cách nhanh chóng; (3) Hàng
    are chưa thấy hài lòng về one number of quy trình quy
    định liên related too trình provide the work dịch
    vụ and to handle nghiệp vụ; (4) Hàng hóa của chúng tôi
    ,
    một trong những thứ khác nhau
    .
    3.3. Về sự ensure
    Cũng like capabilities đáp ứng, able to
    ensure the services bank at the bank
    khảo sát, nhìn chung not đánh giá cao. Điểm
    chung của chúng tôi và phần còn lại của bạn
    (3,32 điểm). This are make
    the bank must be continued headers multiple to nâng
    cao chỉ số this lên. Trong số các mục
    của chúng tôi
    have trội than (3,71 điểm) but Cung Văn not set
    been trình độ khá. Các loại hàng hóa của chúng tôi có thể có những thứ
    khác nhau. Góc nhìn this tiếp
    tục cho thấy here is mặt restricted mang tính phổ biến
    về chất lượng dịch vụ of the bank thương
    mại Việt Nam. Xét kết quả đánh giá theo each tiêu
    chí in each bank, nhìn chung kết quả đánh
    giá will xấp xỉ nhau and will be Nam Ô Mức trên trung
    bình, does not have tiêu chí nào been đánh giá thật nổi
    trội and are with no tiêu chí phạm vi giá trị là
    quá lớn Tóm lại, để góp phần nâng cao chất
    lượng dịch vụ bank, the bank will be much to be
    quan tâm nâng cao an how to toàn diện Các tiêu chí
    Phan Anh capabilities responses of the services in
    the time to.
    3.4. Về sự đồng cảm
    Xét trong 5 bank been khảo sát, chỉ duy
    nhất có 2 bank, muc độ đồng cảm been đánh
    giá cao than (Ngân hàng Techcombank and BĐLV)
    with the Mức điểm Bình Quân is 3,36. Các loại hàng
    hóa của chúng tôi có thể sử dụng một số thứ khác
    nhau (MB – 3.23; VCB – 3,15; TOUR – 3,19). Nhìn
    chung, muc điểm rating of all bank
    (KE cả bank been đánh giá cao newer) are new
    address is out level trên trung bình. If Move comparing with the kết
    quả khảo sát of the elements rest of quality
    services, elements Mức độ đồng cảm receive resulting
    đánh giá lowest – 3,26 điểm.
    Report thực tiễn về tình hình sản xuất kinh
    doanh tại multiple bank are for found việc đảm
    bảo capabilities đồng cảm trong chất lượng dịch vụ
    of the bank thương mại Việt Nam are đang
    còn exists but biểu hiện chưa tốt. Có thể là: (1)
    Nhân tính, hàng hóa, quan trọng, quan trọng, hàng hóa, sức khỏe
    và sức khỏe
    . Still state bank quên
    no nhắc khách hàng accounts due,
    do not nắm rõ nhu cầu dẫn to tư vấn sản phẩm
    22 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 3: Kết quả khảo sát về sự Không giới hạn tổng
    hợp. Ví dụ: Tải về
    but need linh hoạt for when the need you can rút ra, nhân
    viên lại tư vấn khách hàng mở sổ kỳ hạn dài mặc though
    hưởng lãi suất cao than but if rút tiền trước hạn
    will be lãi suất thấp much … (2) Trọng too the server,
    nhân viên còn chưa tính toán đầy đủ Các phương án
    to have lợi nhất cho khách hàng. Examples trong trường
    hợp khách hàng requested rút tiền trước hạn, nhân
    viên ngân hàng execution tất toán ngay which is does not
    tính toán cho khách hàng phương án Khắc Nhu vay
    cầm cố lại sổ tiết kiệm to address lost lãi less than, dẫn
    trên bầu trời có thể cho ăn hàng …
    3.5. Về phương tiện hữu hình
    Among the elements Phan Anh chất lượng dịch vụ
    ngân hàng, elements phương tiện hữu hình receive
    kết quả giá trị cao tối cao. Mức điểm bình quân
    chung of all tiêu chí trên toàn bộ Các ngân
    hàng is 4,21 điểm, beyond lên trên Mức trình độ khá
    of thang đo chất lượng dịch vụ. Một phần của chúng tôi là
    hàng của Việt Nam. This are
    is already interpret vì sao việc Augmented cường cơ sở vật chất ít
    gặp those khó khăn and become ngại than vs việc
    headers for creating ra and grow cường those cái gọi is
    “assets mềm” of bank such as: trình độ chuyên
    nghiệp of Employee, capabilities giao tiếp ứng xử,
    trình độ tổ chức quản lý, able to make dựng mối
    quan hệ tốt đẹp with the customers.
    Ngoài those mặt ưu điểm, thành tích those have
    you been, việc nâng cao chất lượng dịch vụ ngân
    hàng through elements hữu hình are still one số vấn
    23
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Hình 4: Kết quả khảo sát về sự đồng cảm
    Hình 5: Kết quả khảo sát về phương tiện hữu hình
    ?
    đề must be completely thiện tiếp: (1) Các bank thương
    mại hiện nay most was first tư đồng phục cho nhân
    viên, quy định tiêu chuẩn chất lượng cho đội ngũ
    nhân viên về trang phục, đầu tóc … however, thực tế
    found trang phục of đội ngũ nhân viên not
    khách hàng đánh giá cao; (2) Hiện tại, theo đánh giá
    of customers, the documents, biểu mẫu, tờ rơi sản
    phẩm của bank did not actually đáp ứng nhu cầu
    hàng hóa; (3) Trang device and công nghệ of the
    bank did not actually is such as expected (tình
    trạng network failed, server quá tải, bị treo máy …).
    Tóm tắt, từ tính, kết nối với nhau, trong khi đó là trò chơi
    của họ
    .
    – Biểu hiện direct and mang tính chất tổng hợp
    of quality services of the bank còn hạn
    chế is Ô Chợ, the elements components Phan Anh chất
    lượng dịch vụ của ngân hàng not đánh giá
    cao trong con mắt of hàng hóa. Bằng chứng is
    theo kết quả khảo sát of đề tài, trong số 05 elements
    Phan Anh chất lượng dịch vụ only one elements been
    đánh giá with the resulting is 4,21 điểm bình quân cho tất
    cả hai hàng hàng hóa – điện tử Các
    elements rest only đánh giá with the resulting trên
    Mức điểm bình quân one chút. Cụ be: độ tin cậy
    đạt 3,7 điểm, capabilities responses đạt 3,34 điểm, Khả
    năng ensure đạt 3,32 điểm, capabilities đồng cảm đạt
    3,26 điểm.
    – Biểu hiện cụ thể, indirect về chất lượng dịch
    vụ còn restricted of the bank been thể hiện tập
    trung out of one số phương diện sau: (1) Số lượng chủng
    loại dịch vụ and contents of the Tung Chung loại dịch vụ
    Vì vậy, chúng tôi có thể giống như vậy
    . (2) Toàn bộ phần thưởng và phần thưởng của bạn
    ; (3) Công việc
    của họ và phần còn lại của họ
    Giáo đúng văn; (4) Cơ cấu phần mềm và phần thưởng của phần mềm
    ; (5) Quảng cáo của họ
    . (6) Năng lực và sức mạnh và sức mạnh
    của họ
    (7) Quy trình procedure of the bank còn phức
    tạp and gây mất nhiều thời gian and phiền hà cho
    khách hàng; (8) Mạng lưới và thời gian,
    giao
    thông
    , giải trí, giải trí, giải trí, giải trí, giải trí và giải trí.
    4. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch
    vụ bank Nhâm Augmented cường sự hài lòng of
    customers
    4.1. Cải tiến, đổi mới việc determined mục tiêu
    chất lượng dịch vụ của ngân hàng
    Một phần của chúng tôi là
    một phần của chúng
    . Liên related giải pháp this, the bank need
    chú ý those điểm sau:
    – Cần xác định mục tiêu chất lượng dịch vụ phù
    combined with each loại hình bank. This was captured
    the source from chỗ, khách hàng thường with those kỳ vọng
    various trong việc Thu Hương services of those
    loại hình doanh nghiệp / bank various (Ngân
    hàng lớn, vừa hay nhỏ). Nói cách khác, Lý làm khách
    hàng select bank for tiếp cận Transaction
    do not like nhau. Vậy Bởi, việc determined mục tiêu
    chất lượng Cửa Tùng bank could nhất thiết must be
    like nhau but be phân biệt based sự hiểu
    Hiểu biết về nhu cầu của hàng hóa. Chang Han: against ‘
    bank lớn, khách hàng mong đợi more về
    able to select loại dịch vụ, giá thấp and sự trải
    nghiệm mua sắm nhanh chóng; during which, against ‘
    bank smaller sự thân thiện and chuyên nghiệp of
    24 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    Bảng 1: Đánh giá tổng hợp về thực trạng chất lượng dịch vụ of the bank
    Nguồn: Kết quả khảo sát of đề tài
    Tiêu chí MB BIDV Techcombank? 0 ?? VCB Bình
    quân
    0 ዒ ?????? ኼ ?? 3,65 3,68 3,73 3,61 3,81 3,70
    ??? ኷ ?? £ ???? ¯ ???? ???? 3,23 3,14 3,31 3,26 3,76 3,34
    ??? ኷ ?? £ ???? ¯኷ ???? ኷ ?? 3,26 3,27 3,30 2,83 3,71 3,32
    ? ዠ ¯ዏ ?????? ?? 3,23 3,19 3,36 3,36 3,15 3,26
    ??? ዛዓ ???? ?? ?? ?? ???? 4,51 3,84 4,64 4,24 3,81 4,21
    Bình quân 3,57 3,42 3,67 3,46 3,65 3,56
    nhân viên lại là điều important mà khách hàng
    mong đợi [3]. Một nghiên cứu cho thấy 70% khách
    hàng not available trả giá cao than unless they receive
    dịch vụ khách hàng tuyệt vời, been cá nhân hóa.
    81% khách hàng thiếc that the doanh nghiệp nhỏ
    cung cấp dịch vụ khách hàng better để with
    doanh nghiệp lớn [4].
    – There is a tuyên bố về tầm nhìn cùng as the system
    the value cốt core of bank against ‘chất lượng dịch
    vụ an how to ambiguous. Phạm vi
    và phần thưởng của họ và phần thưởng của họ
    . Kinh Đức và cuối cùng
    nghiệp / bank cho thấy, an tuyên bố về tầm
    nhìn tốt would make cho nhân viên ý thức tốt trong việc
    phục vụ khách hàng; còn against ‘customers, they would
    cảm thấy been bank chào đón, đánh giá cao and
    of course them much Hải Long.
    – ensure “bộ mặt” của bank been đánh
    giá cao trên all điểm tiếp xúc with the customers.
    Bộ mặt of bank been thể hiện trên many
    phương diện khác nhau: (1) Độ is đội ngũ nhân viên
    giao tiếp direct and interactive hàng ngày for khách
    hàng. Đội ngũ this need not have to đào tạo been the
    kỹ năng dịch vụ khách hàng one cách sâu sắc, tôn
    trọng, thân thiết and hieu biet khách hàng; (2) Đảm
    bảo sự interactive direct with the customers trên điểm
    tình yêu của họ Các nghiên cứu cho
    thấy khách hàng much thích nói chuyện to a user
    rather than through điều hướng hệ thống phản hồi bằng
    giọng nói interactive auto [5]. If you bank
    sự hiện diện trên phương tiện truyền thông xã hội will
    be able to answer nhanh chóng các câu hỏi of
    customers; (3) Điểm của mối
    quan hệ tình cảm và sự quan tâm đến sức khỏe
    . Địa điểm This is not address to include
    the văn phòng Transaction traditional mà còn bao
    gồm of disks điểm immediate and sự hiện diện trực
    tuyến of bank. Tất cả các phần của chúng tôi
    đều có thể sử dụng được
    .
    4.2. Perform those biện pháp tích cực trong
    việc đo lường performance services of bank
    – Define cách thức nhanh chóng giải quyết vấn
    đề of customers. Các nghiên cứu as well as thực
    tế cuộc sống cho thấy that, if you one the problem is
    move đi move from user this hát other people
    hay non trải qua more than once interpret would make ra nỗi
    thất vọng lớn cho khách hàng. Mặt khác, not a
    lúc nào nhân viên also đủ kiến thức and quyền
    hạn to giải quyết các vấn đề of customers. Bởi
    vậy, họ cần been đào tạo to determine ngay the problem and
    tìm người have not resolve the problem [6]. Loại hành vi
    This is not chỉ thân thiện, it useful and nhanh
    chóng, and it possible would làm Tăng Long trung thành of
    hàng hóa gia đình hàng cáp hạ hàng.
    – Yêu cầu hạ gục cá nhân. Hầu
    hết khách hàng thích been requested phản hồi. Một trong những thứ mà chúng ta
    quan tâm đến sự quan tâm
    của
    họ.
    – Thường xuyên và tối cao và hoàn hảo
    . Trên
    thực tế, đã many bank quan tâm and tiến
    hành active this. However, at no ít ngân
    hàng, việc khảo sát chất lượng dịch vụ còn mang
    tính hình thức, not start tư Xứng đáng, specially
    Nội dung khảo sát còn sơ sài chưa mang lại nhiều
    thông tin thiết authorized to cải thiện chất số lượng lớn
    Để nâng cao hiệu quả and phát huy vai trò actually of
    tool this, công tác khảo sát chất lượng dịch vụ
    need to be tập trung into a số Nội dung sau: (1) Theo
    Đồi Sứ Hải Long về cảm xúc bằng cách setting questions
    determined chất lượng tổng thể hay hay hạnh phúc of
    customers; (2) Theo SoundTracker lòng trung thành bằng
    cách setting questions determined xem khách hàng you like to
    giới thiệu bank for other people or not; (3)
    Theo Đồi Sứ Hải Long of customers with elements
    cư the quality of service ‘; (4) Theo SoundTracker ý định
    quay trở lại bank of customers bằng questions
    cụ thể, thích hợp; (5) Có sổ đóng góp ý kiến setting tại
    Quầy of Transaction viên to end of each ngày tổng hợp
    ý kiến of customers and định kỳ 6 tháng 1 lần ngân
    hàng organizations getting phiếu thăm dò ý kiến of khách
    hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ and thái độ
    phục vụ của nhân viên ngân hàng. Ngoài ra, để nâng
    cao chất lượng khảo sát, bank requires the biện
    pháp khuyến khích khách hàng tham gia and hoàn
    thành cuộc khảo sát one how to co trach nhiem, avoid
    qua loa đại khái or join answer tables hỏi
    miễn Mùi, cốt chí là gay.
    4.3. Cải tiến, đổi mới công tác đào tạo and creating
    động lực cho nhân viên ngân hàng
    – Về công tác đào tạo nguồn nhân lực. Như have
    to parse above, công tác đào tạo nguồn nhân lực no
    effect manh me to việc nâng cao chất lượng
    hàng loạt của hàng Hôm nay làm thế nào để phát triển huy
    25
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    ?
    been vai trò then, the bank need làm tốt those
    activity sau: (1) Specify rõ mục tiêu / nhu cầu đào
    tạo and the object đào tạo. Ngoài mục tiêu chung, the
    bank must be ensure giáo dục cho of Employee
    become users tâm huyết gắn bó with the ngân
    hàng, be able and Move hết capabilities sẵn Cổ Phúc
    vụ khách hàng tốt nhất bằng chính vị trí công bản thân
    của bản thân Các mục của chúng tôi
    và các
    bộ phận của nam tính và tài năng của họ . (2) Nội dung
    và thiết kế của chúng tôi
    . Chương trình đào tạo gồm: chương
    trình ngắn hạn (a few ngày), the program trung hạn
    (a few tuần) and the program dài hạn (a few tháng).
    Chương trình đào tạo also phân biệt theo chủ
    đề such as: đào tạo tổng hợp (multiple Nội dung trên multiple
    lĩnh vực) hay đào tạo chuyên sâu (only tập trung vào
    an chủ đề). Nội dung đào tạo tập trung trang bị of
    kiến thức like: i) kiến thức chung về bank, ii)
    kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp ứng xử nội bộ with the
    customers, kỹ năng xử lý Các tính huống trong giao
    dịch , kỹ năng thuyết phục and đàm phán hiệu quả, kỹ
    năng làm việc nhóm), iii) kiến thức and kỹ năng
    phạm môn, iv) (3) Lựa chọn
    phương thức đào tạo thích hợp such as: i) kết hợp tự đào
    tạo and thuê of organizations đào tạo chuyên nghiệp bên
    ngoài; ii) kết hợp đào tạo định kỳ and đào tạo đột
    xuất, iii) kết hợp đào tạo tại chỗ (in jobs)
    with the đào tạo ngoài công việc, iv) kết hợp use the
    user huấn luyện is White Balance bộ of bank, Các
    chuyên gia and other giảng viên đại học, v) to use
    phương pháp đào tạo tiến bộ such as: uses phương
    tiện trình chiếu, đóng vai, thảo luận nhóm …
    – Về việc đãi ngộ, tạo động lực cho nhân viên .
    Bên cạnh công tác đào tạo, công tác đãi ngộ, tạo
    động lực cho nhân viên chính is nhân tố tác động
    direct to sự hài lòng of Employee from which is tác
    năng lượng của bạn With the Meaning that, công
    tác đãi ngộ, tạo động lực cho nhân viên need been
    completely thiện on one số phương diện sau: (1) Hoàn
    thiện công tác trả lương and phụ cấp. Cụ thể, must have a
    formula determined lương mounting with the hệ số trách nhiệm,
    hệ số năng suất applicable to your system toàn ngân
    hàng. Đi đôi với việc hoàn thiện cách thức trả lương
    need chú trọng công tác đánh giá execution jobs
    for ensure sự công bằng. (2) Phần mềm
    và phần thưởng và phần thưởng. Requires Mức
    thưởng logical than tương Xứng as thành tích đạt
    been of Employee and Mức thưởng cạnh tranh trên
    thị trường. Trẻ em,
    Bạn có thể
    làm được điều đó. (3) Xây dựng tiêu
    chí đánh giá hiệu quả làm việc of Employee (KPI)
    cụ thể cho each positional for those normalization and thang
    điểm ambiguous to đánh giá đúng năng lực làm việc of
    each cá nhân, from That mechanisms lương thưởng phù
    hợp. (4) Hệ thống lương bổng and other modes đãi ngộ
    khác be phù combined with mặt bằng tiền lương chung
    trong vực Ngân hàng. Bẻ chỉ có
    thể ăn được và có thể ăn được
    . (5) Từ chối và cài đặt, tích
    hợp. Phần mềm, phần mềm
    và phần mềm và phần thưởng
    năng lực, sức mạnh của con người, sức mạnh, sự
    quan tâm
    của họ Tăng cường
    cơ hội thăng tiến, đề bạt bổ nhiệm against ‘those
    nhân viên may thành tích cao trong công tác and have
    năng lực nổi trội. (6) Cổ Chiên lược khuyến khích and
    thu hút nhân tài. Bên cạnh việc áp dụng modes khen
    thưởng must have chế tài Trừng phạt nghiêm
    Minh those cases vi phạm trên cơ sở quy chế
    khen thưởng, discipline and resulting đánh giá thành tích
    execution công việc.
    4.4. Hoàn thiện công tác chăm sóc khách hàng
    Chăm sóc khách hàng (CSKH) been coi is bộ
    phận important most of dịch vụ khách hàng, as a
    trong thành phần
    của chúng tôi Bởi vậy, chất lượng công tác
    CSKH determined direct chất lượng dịch vụ ngân
    hàng. Trên thực tế, those điểm yếu về chất lượng
    dịch vụ bank qua khảo sát hầu like will have liên
    quan and / or part of khâu chăm sóc khách hàng.
    Để khắc phục those restricted this, công tác CSKH
    need been completely thiện trên các hệ phương diện sau:
    – Về hoạch định chiến lược chăm sóc khách
    hàng: (1) Mục tiêu, định hướng chung is to handle Kip
    thời Phan Anh, Vương mắc of customers, giải
    quyết triệt for the khiếu nại, phản ánh of khách
    hàng Nhâm Move back Mức độ hài lòng highest cho
    khách hàng. (2)
    tối thiểu CSKH. Hàng hóa có thể chia
    thành thành 4 tháng, nhau: i) Hàng hóa quan
    (()) (bảng), kim Bạch, kim Kim
    ); ii) Hàng hóa của hàng điện tử (A2); iii) Khách
    hàng của chúng tôi (A3); iv) Khách hàng important
    26 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    tiềm năng (B). (3) Chiến lược CSKH luôn hướng
    to customers mới, khách hàng tiềm năng but
    must specify known as chi phí, công sức chăm sóc one
    khách hàng cũ thấp than many against ‘việc chăm
    sóc, thu hút one khách hàng mới . Muốn vậy cần: i)
    xây dựng văn hóa phục vụ khách hàng, ii) phát triển
    dịch vụ khách hàng hiệu quả, iii) Augmented cường sự ủng
    hộ of Ban giám đốc ngân hàng, iv) give the problem of
    customers to in the program thảo luận tại every
    cuộc họp nhân viên (Nguyễn Viết Lâm, 2016).
    – Các biện pháp CSKH cụ thể: (1) bien pháp
    chăm sóc khách hàng important: Here is a those
    customers with nhu cầu thông tin, làm which you can xây
    dựng chương trình ưu đãi provide the low quality of
    information tài chính – hàng hàng, tình yêu và kinh tế
    trong và nước qua email. Policy CSKH
    need is most quán creating sự chủ động cho cán bộ
    QLKH and creating niềm tin cho khách hàng. (2) Biên
    pháp chăm sóc khách hàng thân thiết: Nhân viên
    chăm sóc khách hàng thường xuyên gọi điện thăm
    hỏi khách hàng, get information about nhu cầu of khách
    hàng, tối thiểu cho đến
    hàng Tiếp cận and have chính
    sách chăm sóc cụ thể against ‘which have KHTT balances
    tiền gửi bình quân lớn chuẩn bị chuyển lên KHQT.
    (3) Biên pháp chăm sóc khách hàng phổ thông:
    Chăm sóc khách hàng table of the program trước
    Transaction and in the transaction. Các chương trình
    khuyến mại, dự thưởng need not quảng bá and truyền
    thông thông through phương tiện the information such as báo
    trong, đài phát thanh truyền hình, Cổng thông tin điện
    tử, đài phát thanh … to customers known been the
    policy CSKH của hàng hàng.
    – Some giải pháp khác: (1) Tăng cường nhận
    thức of toàn có thể bộ nhân viên ngân hàng về
    Càng đông CSKH. Toàn có thể bộ nhân viên ngân
    hàng need not phổ biến về vai trò, tầm quan trọng
    of customers for the bank. (2) Xây dựng bộ
    phận / tổ chăm sóc khách hàng tại Các chi nhánh
    ngân hàng. Bộ phận / tổ chăm sóc khách hàng may
    nhiệm vụ important is nắm bắt tâm lý and mong
    wants to the customers, from hiểu been khách hàng
    actually expected explain what, cái gì họ cần, họ
    thích. Định kỳ hàng quý will perform phân đoạn
    khách hàng, from the given name of policy cụ thể cho
    each phân đoạn khách hàng, nghiên cứu sản phẩm
    dịch vụ phù hợp cho each the object khách hàng cụ
    thể. (3) Hoàn thiện Các kênh thông tin khách hàng
    phản hồi with the bank. Trẻ em chung
    cuối cùng, tin vào phần cuối cùng của bạn
    .
    Purpose is for giải tỏa those Phan nàn, thắc mắc,
    khiếu nại, khiếu tố of customers ngay from bước
    đầu avoid khiếu kiện beyond cấp, đồng thời khắc phục
    kip thời those yếu kém and to handle sự cố miễn phí cho
    khách hàng một cách tối thiểu (Nguyễn Viết
    Lâm, 2016).
    4.5. Tăng cường cơ sở vật chất, updating of
    công nghệ tiên tiến góp phần nâng cao chất lượng
    dịch vụ của ngân hàng
    – Về cơ sở vật chất: Các bank need chú trọng
    đầu tư cơ sở vật chất one cách đồng bộ tại tất both of
    điểm transaction, địa điểm transaction Thuận Tiến, may
    chỗ to xe cho khách hàng. Các phòng cấm trong
    bank need not layout logical, khoa học, may sơ
    đồ instructions positional, avoid cases customers
    to Transaction but do not know right for phòng ban
    nào, ở đâu. Should set the one Quầy lễ tân ngay Recent cửa ra
    vào to tư vấn cho khách hàng. For the chi nhánh,
    phòng transaction bank requires those biển treo
    corresponding nhiệm vụ Cửa Tùng Quầy various
    like move tiền, gửi tiết kiệm hay ngân quỹ … to
    customers with easily nhận thấy vị trí phù tổng hợp khi
    giao dịch. Các chi nhánh, phòng Transaction of ngân
    hàng and will layout sảnh làm việc rộng, thiết kế bàn Quầy
    Transaction đẹp mắt, dễ giao between Employee and
    customers, may ghế ngồi chờ cho khách hàng, have
    ấn phẩm của bank file contains all the information về ngân
    hàng, sản phẩm dịch vụ hay the program activity
    of the bank to customers read in lúc chờ, bố
    trí nước uống, kệ sách báo, máy đánh giày … phục vụ
    hàng hóa.
    – Về trang device and công nghệ: (1) Xây dựng cơ
    sở dữ liệu tập trung trong toàn hệ thống, toàn bộ dữ
    liệu activity of the bank to be tập trung tại
    databases trung tâm, all changes would phần mềm
    trực tuyến và phần lớn Xây dựng hệ thống
    mạng connecting xuyên suốt from hội sở to the chi nhánh
    and phòng transactions. Phối hợp with cơ quan bưu
    chính viễn thông nâng cao chất lượng đường truyền
    data, trên cơ sở then building mạng máy tính băng
    Thông tin về việc kết nối
    với nhau. Bên cạnh hệ thống chính thức
    must be the system dự phòng luôn out of state thái not available
    to use, in cases may sự cố gây tắc nghẽn
    hoàn toàn. (2) Cần cập nhật one số công nghệ support for
    27
    ? SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học
    direct for bank and Move lại lợi ích when
    applicable. Làm thế nào để tôi có thể sử dụng (như facebook, twitter, Instagram]. Khi usage mạng xã
    hội, the bank quảng bá been hình ảnh của
    mình one cách rộng khắp trong interval
    short and tiết kiệm chi phí, cập nhật information sản
    phẩm, activity of the bank to customers
    nhanh chóng, tiếp nhận ý kiến khách hàng one how to
    direct. Các bank requires one bộ phận chuyên
    biệt quản lý fanpage, giao tiếp khách hàng and giải
    quyết các vấn đề truyền thông trên mạng xã hội. ii) Số điện thoại
    hàng của chúng tôi (Ngân hàng số). Ngân
    hàng So La model bank based on nền tảng
    công nghệ to trao đổi the information and execute the giao
    dịch centered bank with the customers. iii) Khai số
    dữ liệu lớn (anylytics – Dữ liệu lớn). Ngân hàng có thể có thể
    sử dụng dữ liệu.
    Phần mềm parsing the database lớn hiện nay have chức
    năng auto determined and detect hành vi hiding in the
    lines database khổng lồ, tinh chỉnh and give
    information thói quen, sở thích, hành vi of khách
    hàng, from help bank determined been those
    sản phẩm phù combined with customers. iv) Bảo Tin
    thông tin (an ninh mạng). Cụ thể: Apply bảo vệ đa
    cấp hardware, in which use lớp bảo mật:
    tường lửa outside ‘is lớp bảo vệ chủ lực to chống lại
    Các cuộc tấn công from the outside like virus, haker …
    lớp an ninh trung gian: access Control list restricted
    access to the user name cuối qua those an application,
    partitioning does not part permissions on mình, establish
    username, password. v) Ứng dụng điện toán đám
    mây (cloud computing) còn gọi is điện toán máy
    chủ ảo. Ở model this, all capabilities liên related
    công nghệ thông tin will be provided as
    dịch vụ, allow to use the access các dịch
    vụ công nghệ from a nhà: điện lạnh provide the any which
    in đám mây which is does not requires kiến thức về công
    nghệ then as well as do not need quan tâm to cơ sở hạ
    tầng phục vụ công nghệ nghệ thuật.u
    Tài liệu tham khảo:
    1. Cornin. JJ.and Taylor, SA (1992), Đo lường
    chất lượng dịch vụ:
    Tạp chí Tiếp thị và mở rộng Tạp chí Tiếp thị, số 5, tháng 7, tr.56-68.
    2. Daniel Onwonga Auka (2012), Chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, giá trị cảm nhận và lòng trung thành của
    khách hàng trong ngân hàng thương mại tại
    thành phố Nakuru , Kenya. Tạp chí
    quản lý tiếp thị châu Phi Vol. 4 (5), trang 185-203, tháng 10.
    3. https://www.sba.gov/bloss/3-simple-waysimprove-customer-satisfaction-today.
    4. https://www.sba.gov/sites/default/files/TRAN
    SCRIPT_Customer_Service.pdf.
    5. http://link.springer.com/ch
    CHƯƠNG / 10.1007/978- 3-319-09009-2_3.
    6. https://www.americanexpress.com/us/smallbusiness/openforum/articles/7-customer-serviclessons-compiances-best/
    7. Nguyễn Giả Lâm (2016), tiếp thị Các
    bank thương mại Việt Nam, Đề tài khoa học
    cấp Bộ. Mã số B2016-KHA-14.
    8. Nguyễn Viết Lâm & Nguyễn Thái Hà (2018),
    Phát huy vai trò of marketing error in the
    bank thương mại Việt Nam, Tạp chí Khoa học
    Thương mại số 118, Tháng 6/2018.
    9. Ký sinh trùng, A., Zeithaml. VA và Berry,
    LL (1988), SEVQUAL: thang
    đo nhiều mặt hàng để đo lường nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ,
    Tạp chí Bán lẻ. Mùa xuân, trang 12-40.
    10. Sulieman Ibraheem Shelash Al – Hawary;
    Kama l AM Al – Qudah; Petra Mash’al Abutayeh;
    Sherrihan M ash’al Abutayeh; Dyala Yahya Al –
    Zyadat (2013), Tác động của tiếp thị nội bộ đối
    với sự hài lòng công việc của nhân viên ngân hàng thương mại ở
    Jordan, Tạp chí liên ngành của nghiên cứu đương đại
    về bản sao kinh doanh © 2013 của viện
    nghiên cứu busines liên ngành 811 tháng 1
    , ngày 9 tháng 9.
    Tóm tắt
    Trong khuôn khổ mã dự án:
    B2018-KHA.28, mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này là
    tiến hành khảo sát và đánh giá tình trạng
    chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
    Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ của các ngân hàng
    theo đánh giá của khách hàng là thấp, chỉ đạt
    mức trung bình với thang đo Likert 5 cấp.
    Do đó, mục tiêu thứ hai được đặt ra cho nghiên cứu là
    tìm ra các giải pháp hiệu quả để giúp các ngân hàng cải thiện
    chất lượng dịch vụ của họ, nhằm mục đích nâng cao sự hài lòng của khách hàng để nâng cao khả năng cạnh tranh.
    Vẽ tranh trong tương lai.
    28 SE 135/2019
    QUẢN TRỊ KINH DOANH
    thương mại
    khoa học


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]