Category: Đại Học Hàng Hải

  • Quản trị Hành chính văn phòng

    Quản trị Hành chính văn phòng

    Đề cương môn Quản trị Hành chính văn phòng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quản Trị Nhân Sự – Quản Trị Chiến Lược – Quản Trị Doanh Nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/quan-tri-hanh-chinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương môn Quản trị Hành chính văn phòng

    Câu 1: Khái niệm và phân loại công việc hành chính văn phòng?

    Khái niệm (0,5 điểm)

    – Hành chính văn phòng là nơi soạn thảo sử dụng và tổ chức các hồ sơ, công văn giấy tờ nhằm mục đích kiểm tra, thông tin sao cho các hoạt động đó có hiệu quả nhất.

    => Hành chính văn phòng có ở bất kỳ phòng ban, bộ phạn nào trong các tổ chức bởi vì ở đây có sự lên lịch công tác, tổ chức chuyến đi công tác,…

    – Quản trị hành chính văn phòng là việc hoạch định, tổ chức, phối hợp, tiêu chuẩn hoá và kiểm soát các hoạt động xử lý thông tin để đạt tới những mục tiêu ấn định trước.

    Phân loại (1,5 điểm)

    – Soạn thảo các hồ sơ, công văn giấy tờ, các bản tường trình

    – Duy trì, ghi nhớ các hồ sơ kể cả việc sắp xếp, phân loại và thiêu huỷ  hồ sơ.

    – Tính toán hoá đơn, sổ sách, giá cả…

    – Thông đạt hay truyền thông dưới các hình thức thư từ, điện thoại, các văn bản tường trình, hội nghị, hội thảo,…

    Câu 2: Đánh giá các công việc HCVP theo tiêu chuẩn số lượng và tính phức tạp?

    • Về số lượng: (1,0 điểm)
    • Về tính phức tạp: (1,0 điểm)

    Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp đại học chuyên ngành về Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Ngoại thương, Ngoại ngữ.

    – Kinh nghiệm nghề nghiệp: Có sự hiểu biết chung về các hoạt động quản trị của doanh nghiệp.

    – Kỹ năng:

    – Sử dụng thành thạo MS office.

    – Tiếng Anh: có thể biên dịch tài liệu; phiên dịch các cuộc họp có nội dung xã giao- giao tiếp thông thường

    – Có khả năng tổ chức, triển khai công việc một cách độc lập và quản lý thời gian tốt.

    – Có kỹ năng viết báo cáo; tổng hợp– cập nhật thông tin.

    – Kỹ năng giao tiếp tốt (với cả người Việt và người nước ngoài).

    – Có khả năng giao tiếp hiệu quả trong nội bộ với các cấp lãnh đạo và nhân viên cũng như giao tiếp hiệu quả với các tổ chức và khách hàng bên ngoài.

    – Tác phong chuyên nghiệp, tự tin.

    Câu 3: Khái niệm và công việc của Thư ký hành chính văn phòng?

    Khái niệm: (0,5 điểm)

    Là người có chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Chức vụ của họ gồm: Thư  ký chuyên ngành, chuyên viên xử  lý thông tin. Thư ký là một trợ lý của cấp quản trị, là người nắm vững các nghiệp vụ hành chính văn phòng, có khả năng nhận lãnh trách nhiệm mà không cần kiểm tra trực tiếp.

     Công việc (1,5 điểm)

    – Trợ giúp nhà quản trị hoàn thành trách nhiệm

    – Quản lý các hồ sơ về ngân sách, chi phí và hồ sơ tài chính khác

    – Nghiên cứu và trích dẫn các thông tin dành cho các cuộc họp, các dự án, các bản tường trình.

    – Giám sát, huấn luyện các nhân viên hành chính văn phòng

    – Giúp lựa chọn các thiết bị hành chính văn phòng

    – Duy trì các cuộc hẹn và lên lịch họp

    –  Tiếp khách

    – Tổ chức, phân phối và trả lời văn thư đến.

    – Soạn thảo lịch trình các chuyến công tác của nhà quản trị.

    – Lên lịch trình thực hiện các dự  án

    – Quản lý các hệ thống lưu trữ hồ sơ

    – Trả lời và chuyển tiếp các cuộc điện thoại đến

    – Sắp xếp các cuộc điện thoại đi

    – Đề xuất thiết bị và thủ tục mới

    – Soạn thảo thư từ, thông báo nội bộ và các bản tường trình

    – Sửa chữa các bản thảo

    – Đánh máy các bản viết tay, bản thảo hoặc từ máy ghi âm

    Câu 4: Hãy xây dựng các tiêu chuẩn thực tế của một Thư ký GĐDN hiện nay?

    • Ngoại hình, nhanh nhẹn, cẩn thận, biết cách soạn thảo văn bản, giao tiếp tốt,…

    Câu 5: Khái niệm và tiêu chuẩn của Nhà quản trị hành chính văn phòng?

    Khái niệm (0,5 điểm)

    – Là những người có kỹ năng quản trị, trình độ học vấn chuyên ngành về công tác hàn chính văn phòng. Chức vụ của họ gồm: Trợ lý hành chính, trưởng phòng, giám đốc hành chính, trưởng phòng xử lý thông tin,…

    – Nhà quản trị văn phòng hành chính là người hoạch định, tổ chức phối hợp, tiêu chuẩn hoá và kiểm soát các hoạt động xử lý thông tin trong toàn doanh nghiệp sao cho có hiệu quả.

     Tiêu chuẩn (1,5 điểm)

    – Là một tri thức được đào tạo có trình độ tổng quát và được đào tạo chuyên về hoạt động quản trị hành chính văn phòng

    – Có khả năng gánh vác công việc và có khả năng uỷ thác trách nhiệm và quyền hành

    – Có khả năng dạy cho các nhân viên thuộc quyền

    – Có quan điểm khoa học để tiếp nhận những yếu tố và những phương pháp làm việc mới.

    – Có tính gần gũi với mọi người

    – Có óc khôi hài trong công việc

    – Có phong cách lịch sự trong giao tiếp

    – Biết kiềm chế bản thân

    – Có óc sáng kiến, trí tưởng tượng và tài xoay sở

    – Có lòng tự tin trong công việc

    – Có óc phán đoán

    – Có khả năng truyền đạt thông tin

  • Nghiệp Vụ Ngân Hàng

    Nghiệp Vụ Ngân Hàng

    Đề cương môn nghiệp vụ ngân hàng 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 

    1. Kho hàng
    2. Luật Tài Chính
    3. Quản Trị Tài Chính
    4. Logic học
    5. Quản Trị Nhân Sự

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/nghiep-vu-ngan-hang.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương môn nghiệp vụ ngân hàng 

    Câu 1: Phân biệt nghiệp vụ của ngân hàng trung ương và nghiệp vụ của ngân hàng thương mai về vai trò, nhiệm vụ?

    Ngân hàng trung ương Ngân hàng thương mại
    –       Không làm chức năng kinh doanh

    –       NHTƯ giữ vai trò quan lý, điều tiết lưu thông tiền tệ, giữ vai trò ổn định thị trường tiền tệ, giá trị đồng tiền; góp phần quản lý vĩ mô nền kinh tê

    –       3 công cụ chính của NHTU để điều tiết thị trường tiền tệ: lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn; tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở

    –       Mỗi quốc gia chỉ có 1 NHTW, mở chi nhánh ở các tỉnh, địa phương

    –       Làm chức năng kinh doanh quyền sử dụng tiền

    –       NHTM giữ vai trò chính là trung gian tài chính, chuyên kinh doanh tiền tệ và qua đó thực hiện vai trò trung gian thực thi chính sách tiền tệ

    –       3 nghiệp vụ cơ bản của NHTM: huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán

    –       Có nhiều ngân hàng thương mại

     

     Câu 2: Phân biệt sự khác nhau cơ nhau cơ bản giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng?

    Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan như: nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

    Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên trừ các hoạt động nhận tiền gửi cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

    * Giống nhau: đều là tổ chức tín dụng được thành lập theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dụng thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động của ngân hàng.

    * Khác nhau: điểm khác nhau rõ ràng nhất là Ngân hàng thì được nhận tiền gửi không kỳ hạn (hay gọi là tiền gửi thanh toán), được làm dịch vụ thanh toán còn tổ chức tín dụng phi ngân hàng thì không.

         Ngân hàng thương mại                        Tổ chức tính dụng phi ngân hàng

    -Là tổ chức nhận tiền gửi                       -Là tổ chức ko nhận tiền gửi

    -Là tạo lập dự trữ bắt buộc                    -Không phải tạo lập dự trữ bắt buộc

    -Có chức năng trung gian thanh toán   -Không có chức năng trung gian thanh toán

    -Được thực hiện toàn bộ hoạt động NH -Được thực hiện một số hoạt động NH

    Câu 3: Trình bày một số các  nghiệp vụ hiện đại của NHTM?

    • Hoạt động huy động vốn:

    Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn , tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

    Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.

    Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài

    Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước

    Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của Ngân hàng Nhà nước

    • Hoạt động cấp tín dụng:
    • Cho vay: có 2 hình thức cho vay của NHTM đối với các tổ chức, cá nhân:
      • Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh dịch vụ và đời sống
      • Cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
    • Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp động, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh
    • Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy btowf có giá ngắn hạn khác đỗi với tổ chức, cá nhân và ó thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác
    • Cho thuê tài chính
    • Bao thanh toán: Các NHTM triển khai thực hiện bao thanh toán như là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp.
    • Tài trợ nhập khẩu
    • Tài trợ xuất khấu
      Cho vay thấu chi
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng
    • Hoat động dịch vụ thnah toán và ngân quỹ
    • Cung cấp phương tiện thanh toán
    • Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
    • Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
    • Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của Ngân hàng Nhà nước
    • Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
    • Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
    • Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước

    Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép

    • Các hoạt động khác
    • Góp vốn và mua cổ phần
    • Tham gia thị trường tiền tệ
    • Kinh doanh ngoại hối
    • Ủy thác và nhận ủy thác
    • Cung ứng dịch vụ bảo hiểm
    • Tư vấn tài chính

    Bảo quản vật quý giá

    Câu 4: Phân loại các ngân hàng thương mại theo chiến lược kinh doanh và theo hình thức sở hữu?

    1. Dựa vào hình thức sở hữu:

    Có thể phân chia ngân hàng thương mại thành  ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh, chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài

    • Ngân hàng thương mại Nhà nước: Là ngân hàng thương mại do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế của nhà nước. Điều hành hoạt động của ngân hàng thương mại là Tổng Giám đốc giúp việc cho Tổng Giám đốc là Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ

    VD: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Đầu tư và Xây Dựng Việt Nam (BIDV),…

    • Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mịa được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đo các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác, và cá nhân cùng góp vốn theo qui định của NHNN

    VD: Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng An Bình (ABBANK), Ngân hàng Hàng Hải (Maritime Bank) ,…

    • Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên Việt nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh

    VD: INDOVINA BANK, SHIHANVINA BANK, VID PUBLIC BANK (VIP),…   

    • Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam.

    VD: Cathay United Bank, HSBC, City Bank, Shinhan Bank, Standard Chartered Bank,…

    1. Dựa vào chiến lược kinh doanh
    • Ngân hàng bán buôn: ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân
    • Ngân hàng bán lẻ: là ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân
    • Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho khách hàng công ty lẫn khách hàng cá nhân

    Câu 5: Trình bày các hình thức huy động vốn cua NHTM?

    Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.

    Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận

    Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại VIệt Nam và của các tổ chức tín dụng nước ngoài

    Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo qui định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

  • Kho hàng

    Kho hàng

    Đề cương môn Kho Hàng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:

    1. Luật Tài Chính
    2. Quản Trị Tài Chính
    3. Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật
    4. Logic học
    5. Đại cương tàu biển

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/Kho-h%C3%A0ng.doc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương môn Kho Hàng

    CHƯƠNG 1:

    Câu 1: Khái niệm kho hàng và phân tích các chức năng cơ bản của 1 kho hàng?

    Khái niệm kho hàng

    _ Kho hàng thường là 1 tòa nhà thường được sử dụng với mục đích lưu kho, lưu trữ nguyên vật liệu, sản phẩm và hàng hóa trong một khoảng thời gian nào đó.

    _ Kho hàng thường được xây dựng tại các trung tâm phân phối, cơ sở sản xuất.

    _ Một kho hàng thông thường sẽ được bố trí thành các khu riêng biệt như kho hàng nhập, kho hàng xuất, kho hàng hỏng, kho ngoại quan, kho hàng tiêu dùng,…

    Chức năng của kho hàng:

    _ Kho hàng được sử dụng trong hoạt động thương mại bởi chức năng cần thiết của nó trong hoạt động kinh doanh.

    _ Kho hàng có 4 chức năng chính quan trọng, đó là:

    Chức năng tồn trữ hàng hóa (Stockpilling): là việc sử dụng kho hàng để lưu trữ hh. Đây là chức năng truyền thống mà bất cứ KH nào cũng có. Việc lưu trữ hh là cần thiết hơn nữa để cân băng cung – cầu trong 2 trường hợp sau:

    • Cung mùa vụ (cầu ổn định): trường hợp do đặc thù của hh là không thể sản xuất quanh năm (ví dụ: khi vào mùa vụ, nta tiến hành đóng hộp cà chua để đáp ứng nhu cầu về cà chua ngay cả khi hết mùa).
    • Cầu mùa vụ (cung ổn định): nhu cầu mua hh có khả năng tăng cao tại một thời điểm nào đó trong năm (ví dụ: các nhà sx đồ chơi tiến hành lưu trữ sp để đủ hàng cung ứng vào mùa kinh doanh như lễ, tết, giáng sinh,..)

    Chức năng phối ghép sp: tiến hành ghép các món hàng (được sản xuất tại nhiều địa điểm nhà máy khác nhau cùng nhà sx) trong cùng dây chuyền ghép hàng tại kho hàng.

    Chức năng gom hàng:  nhà sản xuất tập hợp các đơn hàng của cùng KH, gom hàng và gửi tới điểm nhận hàng cuối cùng => Giúp tiết kiệm chi phí vận tải khi giao hàng với số lượng lớn.

    Chức năng phân phối sản phẩm: Nhà sx đưa thành phẩm của mình ra thị trường, thông qua việc phân phối với số lượng lớn giúp giảm chi phí vận chuyển trên 1 đơn vị hàng hóa.

    Câu 2: Nêu các cách phân loại kho hàng?

    Một số tiêu chí phân loại kho hàng:

    _ Theo giai đoạn của chuỗi cung ứng: kho chức nvl thô, kho chứa bán thành phẩm/ thành phẩm.

    _ Theo khu vực địa lý: kho địa phương, kho quốc gia, kho khu vực, kho quốc tế.

    _ Theo loại sản phẩm: kho chứa phụ tùng thiết bị, thực phẩm đông lạnh hoặc hàng nguy hiểm.

    _ Theo chức năng: kho lưu trữ hàng, kho phân loại hàng.

    _ Theo quan hệ sở hữu: kho của nhà sản xuất/ khách hàng, kho của công ty 3PL.

    _ Theo diện tích: 1000m2, 10.000m2, 100.000m2,..

    _ Theo loại thiết bị phục vụ: thiết bị thông thường, thiết bị tự động hóa.

    _ Theo tính chất sở hữu: kho tư nhân, kho dịch vụ công, kho hợp đồng.

  • Luật Tài Chính

    Luật Tài Chính

    Đề cương môn Luật Tài Chính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 

    1. Quản Trị Tài Chính
    2. Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật
    3. Logic học
    4. Tài Chính Công
    5. Kinh tế công cộng – Bài tập Đúng Sai

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/luat-tai-chinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương môn Luật Tài Chính

    Chương  1

    Câu 1: Trình bày khái quát về hệ thống Tài chính ở Việt Nam hiện nay?

    Hệ thống tài chính là tập hợp những nhóm quan hệ tài chính (khâu tài chính)  khác nhau được hình thành trong quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng những quỹ, những nguồn vốn tiền tệ nhất định.

    -Hệ thống tài chính Việt Nam bao gồm những khâu sau:

    +Khâu ngân sách nhà nước: các quan hệ tài chính- ngân sách gắn với việc hình thành và sử dụng quỹ NSNN

    +Khâu tài chính tín dụng: tạo thành các quỹ tín dụng nhằm cung cấp, thỏa mãn nhu cầu về tiền tệ của các chủ thể trong xã hội

    +Khâu tài chính bảo hiểm: quỹ bảo hiểm được hình thành từ mối quan hệ bảo hiểm sẽ hình thành nên nguồn tài chính tham gia vào thị trường tài chính.

    +Tài chính doanh nghiệp: hình thành, xác lập nguồn vốn kinh doanh, phân phối thu nhập, tích lũy trong nội bộ doanh nghiệp và trong quan hệ với NSNN

    +Khâu tài chính dân cư và các tổ chức xã hội:

    • Đối với tài chính dân cư bao gồm hoạt động sản xuất, kinh doanh mang tính chất cá nhân: được hình thành từ thu nhập tích lũy của họ, thỏa mãn cho tiêu dùng của dân cư
    • Ngoài ra còn có tài chính của các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ: nguồn vốn được hình thành từ đóng góp của các thành viên hoặc sự đóng góp của dân cư, hỗ trợ của nhà nước…

    Câu 2: Trình bày khái niệm, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của Luật Tài chính?

    *Khái niệm:

    Luật Tài chính là tập hợp các QPPL điều chỉnh các QHXH phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ, các nguồn vốn tiền tệ gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của NN và hđ của các chủ thể kinh tế- xã hội khác

    *Đối tượng điều chỉnh: các quan hệ tài chính

    -Căn cứ vào lĩnh vực:

    +Các quan hệ tài chính- ngân sách

    +Các quan hệ tài chính doanh nghiệp

    +Các quan hệ tài chính trong lĩnh vực bảo hiểm

    +Các quan hệ tín dụng

    +Các quan hệ tài chính dân cư, tổ chức xã hội

    -Căn cứ vào chủ thể:

    +Quan hệ tài chính giữa các CQNNTƯ với CQNNĐP

    +Quan hệ tài chính giữa các tổ chức tín dụng với nhau

    +Quan hệ tài chính giữa  tổ chức tài chính với các doanh nghiệp

    +Các quan hệ tài chính giữa các tổ chức tài chính với dân cư

    +Nhóm quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp

    *Phương pháp điều chỉnh của luật tài chính:

    -Mệnh lệnh bắt buộc

    -Bình đẳng thỏa thuận

    Câu 3: Trình bày khái niệm NSNN, đặc điểm NSNN

    *Khái niệm:

    NSNN là các khoản thu, chi tiền tệ của QG được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do CQNN có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.

    *Đặc điểm:

    Là 1 kế hoạch tài chính của QG cần được QH biểu quyết thông qua trước khi thi hành

    – Không chỉ là 1 bản kế hoạch tài chính thuần túy mà còn là 1 đạo luật đặc biệt

    – Là kế hoạch tài chính được Chính phủ thực hiện dưới sự giám sát của QH

    -NSNN được thiết lập và thực thi vì mục tiêu  mưu cầu lợi ích chung cho toàn QG, không phân biệt người thụ hưởng các lợi ích đó là ai, thuộc thành phần kinh té nào hay đẳng cấp xã hội nào

    -NSNN thể hiện mối tương quan giữa lập pháp và  hành pháp

    Câu 4: Trình bày nội dung cơ bản các nguyên tắc của Ngân sách Nhà nước?

    *Nguyên tắc nhất niên:

    -Mỗi năm, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua ngân sách 1 lần

    -Bản dự toán NSNN có giá trị hiệu lực thi hành trong 1 năm và chỉ được phép thi hành trong năm đó.

    *Nguyên tắc đơn nhất:

    -Mọi khoản thu chi tiền tệ của QG chỉ được phép trình bày trong  1 văn kiện duy nhất, đó là bản dự toán ngân sách mà CP trình QH

    *Nguyên tắc toàn diện:

    – Mọi khoản thu chi dù là nhỏ nhất cũng phải trình bày trong bản dự toán, không được lấy khoản thu cụ thể để bù đắp cho chi cụ thể mà toàn bộ các khoản thu sẽ được dùng để bù đắp cho mọi khoarnn chi

    *Nguyên tắc cân bằng:

    – Trong năm ngân sách, tổng số thu bao giờ cũng phải bằng tổng số chi

    Câu 5: Trình bày vai trò của Ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế thị trường?

    *Là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

    -Đây là vai trò lịch sử của NSNN, mà trong cơ chế nào, thời đại nào NSNN cũng phải thực hiện.

    Việc huy động nguồn thu vào tay nhà nước để đảm bảo các yêu cầu chi tiêu cần thiết phải chú ý đến ba vấn đề:

    • Mức động viên vào NSNN đối với các thành viên trong xã hội qua thuế và các khoản thu khác(có lien quan) phải hợp lí. Mức động viên cao hay thấp đều có tác dụng tiêu cực
    • Tỷ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội vừa đảm bảo hợp lí với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất mở rộng
    • Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện các khoản chi tiêu của NSNN

    *Là công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế- xã hội của Nhà nước:

    -Về mặt kinh tế:

    +NSNN có vai trò quan trọng trong định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền

    +Đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

    +Đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.

    +Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết

    +Đảm bảo vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

    +Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế.Tuy nhiên cần phải thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huy động tiền vay.

    -Về mặt xã hội:

    +Thực hiện các chính sách xã hội: chi giáo dục- đào tạo, y tế. kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh,…

    +Điều tiết thu nhập của doanh nghiệp để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp

    +Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm

    +Hướng dẫn tiêu dung hợp lí,tiết kiệm.

    -Về mặt thị trường:

    • Tác động mạnh mẽ đến cung-cầu xã hội
    • Việc huy động NSNN dưới hình thức thuế, phí, lệ phí chiếm tỷ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn nhưng NSNN lại có điều kiện để tăng cầu với quy mô lớn và chi cho đầu tư lướn sẽ kích thích tăng cung
    • Ngược lại, nếu NSNN huy động trên GDP và GNP chiếm tỷ trọng thấp thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung đồng thời kích thích tăng cầu về hàng hóa dịch vụ, nhưng NS lại không có điều kiện tăng cầu và chi cho đầu tư.
    • Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ làm tăng cung ứng vốn từ các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dung.ngược lại, khi lãi suất các khaonr vay của nhà nước giảm xuống, các nhà đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản xuất kinh doanh mà không muốn cho nhà nước vay.
    • Thu, chi tài chính của nhà nước là một trong những công cụ chống lạm phát.
    • Cân bằng của NSNN tác động đến sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế:

    Câu 6: Trình bày sự ra đời của Luật NSNN Việt Nam?

    -20/3/1996, Luật NSNN được nước CHXHCNVN thông qua lần đầu tiên tại kì họp thứ 9 và đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XI sửa đỏi tại kì họp lần thứ 2 ngày 16/2/2002

    -25/6/2015, Luật NSNNVN được sửa đỏi thay thế cho Luật năm 2002 và chính thức có hiệu lực từ năm 2017.

    Câu 7: Trình bày phạm vi điều chỉnh của Luật NSNN Việt Nam?

    – Nhóm 1: Các QHXH phát sinh trong quá trình lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán NSNN. Vd: mqh giữa CQNN có liên quan đến việc lập, phê chuẩn, chấp hành và quyết toán NSNN với nhau hoặc giữa các cơ quan này với các đơn vị dự toán ngân sách

    -Nhóm 2: Các QHXH phát sinh trong quá trình phân cấp quản lý NSNN. Cụ thể: phát sinh giữa các CQNN có thẩm quyền  quản lý và điều hành NSNN như Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND các cấp

    -Nhóm 3: Các QHXH phát sinh trong quá trình tạo lập quỹ NSNN. Cụ thể: phát sinh giữa CQNN có chức năng  thu như hải quan, thuế, kho bạc với các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ NSNN

    -Nhóm 4: Các QHXH phát sinh trong quá trình sử dụng quỹ NSNN, phát sinh giữa các cơ quan nhà nước có chức năng  chấp hành dự toán với các đơn vị được tiếp nhận và sử dụng kinh phí do ngân sách cấp

  • Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Đây là Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương được biên soạn bởi bạn Nguyễn Thành Nam, sinh viên Khoa Ngoại Thương khóa K54.  Bài tham khảo khá chi tiết và đầy đủ! Mong là sẽ giúp được mọi người!

    Các bạn có thể tải Full đồ án bản pdf tại link sau: Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”][/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương


    LỜI MỞ ĐẦU

    Cuối năm 2006 nước ta đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng đã đem lại nhiều thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

    Nhận thức rõ được điều này, khi tiến hành nghiên cứu môn học em đã tích cực tìm tòi những tài liệu, kết hợp với những kiến thức thực tế mà bản thân đã thu lượm được, và với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Phong Nhã, em đã hoàn thành được đồ án môn học này. Nội dung của đồ án bao gồm hai phần chính:

    Phần I: Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế

    Phần II: Nội dung phân tích

    Chương 1: Phân tích tình hình đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng

    Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc

    Phần III: Kết luận – kiến nghị

    Đây là hai nhóm chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Qua phân tích hai nhóm chỉ tiêu này em đưa ra được những biện pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, từng bước cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện được mục tiêu đề ra của tổ chức và của cả nền kinh tế. Tuy nhiên vì còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình thiết kế đồ án này em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong muốn có được sự chỉ bảo của thầy để giúp em vững vàng hơn trong việc nghiên cứu cũng như trong việc hoàn thành môn học quan trọng này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

    PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

    1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

    1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh tế

    – Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể gồm nhiều hoạt động như hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại, hoạt động tài chính…

    – Mỗi hoạt động kinh doanh lại gồm nhiều quá trình như hoạt động sản xuất bao gồm các quá trình cung ứng, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ; Hoạt động thương mại bao gồm quá trình mua hàng, dự trữ, bán hàng

    – Hoạt động kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Nhân tố bên trong như quyết định giá cả, kết cấu sản phẩm; nhân tố bên ngoài như chính sách thuế, sự cạnh tranh trên thị trường…

    – Do đó, phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải đánh giá từng hoạt động, từng quá trình, từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thì mới nhận biết đúng về hoạt động kinh doanh.

    Phân tích hoạt động kinh tế là quá trình phân chia các hiện tượng kinh tế – đối tượng phân tích( quá trình, điều kiện, kết quả kinh doanh) thành các bộ phận và sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá hiện tại và quá khứ, dự báo xu hướng phát triển tương lai nhằm tìm ra biện pháp kinh doanh tiếp theo có hiệu quả hơn.

    Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    1.1.2. Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế

    Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa cho các đối tượng sau:

    1. Nhà quản trị doanh nghiệp

    – Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin sau

    + Kết quả thực hiện từng mục tiêu của kế hoạch kinh doanh đạt được ở mức độ nào, hoàn thành hay không

    + Khả năng tài chính mạnh hay yếu, thanh toán nợ và thu hồi nợ tốt hay không

    + Hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hay xấu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    + Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện từng mục tiêu kế hoạch kinh doanh

    + Năng lực tiềm tàng

    – Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin để nhà quản trị ra những quyết định kinh doanh tốt

    + Lập kế hoạch kinh doanh kỳ sau thích hợp

    + Chọn phương hướng, biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn

    1. Ngân hàng, nhà đầu tư

    – Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư các thông tin:

    + Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

    + Khả năng thanh toán nợ của các doanh nhiệp cao hay thấp

    + Tỷ số nợ – quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, tỷ trọng trong từng loại vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn, biết doanh nghiệp đang vay nhiều hay ít hơn bao nhiêu so với vốn chủ sở hữu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    – Phân tích kết quả kinh doanh cung cấp để nhà đầu tư, ngân hàng ra quyết định cho vay, đầu tư hay bán hàng chịu hay không

    1. Cơ quan quản lý

    – Phân tích hoạt động kinh doanh cung cấp cho cơ quan chức năng của nhà nước thông tin của doanh nghiệp

    + Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

    + Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

    – Cung cấp thông tin đề cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp

    1.1.3. Mục đích phân tích hoạt động kinh tế

    – Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, chấp hành chế độ, chính sách nhà nước

    – Xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.

    – Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các nhân tố

    – Đề xuất phương hướng và biện pháp để cải tiến phương pháp kinh doanh,khai thác khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh

    1.1.4. Nội dung phân tích hoạt động kinh tế

    Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế được cụ thể bằng các chỉ tiêu

    – Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh

    + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh

    + Ví dụ: giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận

    – Phân tích các yếu tố của quá trình kinh doanh

    + Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    + Ví dụ: Chỉ tiêu nguyên vật liệu, chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu số lượng lao động, số máy móc thiết bị…

    – Phân tích tài chính

    + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh tài sản, nguồn vốn, thu hồi nợ, tỷ số nợ -quan hệ vốn vay

    + Ví dụ: chỉ tiêu kết cầu nguồn vốn, chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu…

    1.1.5. Nguyên tắc phân tích

    – Phân tích từ việc đánh giá chung, sau đó phân tích từng nhân tố

    – Phân tích đảm bảo tính toàn diện, khách quan

    – Phân tích thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng kinh tế => thấy nguyên nhân phát triển của hiện tượng

    – Phân tích trong sự vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế=> thấy xu hướng phát triển và tính quy luật của hiện tượng

    – Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp=> thực hiện mục tiêu phân tích

    1.2. Chỉ tiêu và nhân tố trong phân tích

    1.2.1. Chỉ tiêu phân tích

    1. Khái niệm

    – Là tiêu thức phản ánh nội dung, phạm vi hiện tượng kinh tế

    – Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu, chi phí…

    – Tùy vào mục đích và nội dung phân tích mà lựa chọn chỉ tiêu cho thích hợp

    1. Phân loại chỉ tiêu

    – Theo nội dung kinh tế:

    + Chỉ tiêu biểu hiện kết quả: Doanh thu, lợi nhuận, tổng kim ngạch xuất khẩu

    + Chỉ tiêu biểu hiện điều kiện: Lao động, tổng máy móc thiết bị, tổng số vốn, vật t­ư

    – Theo tính chất của chỉ tiêu:

    + Chỉ tiêu khối lư­ợng (số l­ượng) là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh. Ví dụ: tổng doanh thu, tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

    + Chỉ tiêu chất l­ượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng các yếu tố hay hiệu suất kinh doanh. VD: hiệu suất sử dụng vốn, năng suất lao động, giá thành sản phẩm.

    – Theo ph­ương pháp tính toán:

    + Chỉ tiêu tuyệt đối: thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh tại thời gian và không gian cụ thể

    + Chỉ tiêu tư­ơng đối: thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận(cơ cấu) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu

    + Chỉ tiêu bình quân:nhằm phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu

    – Theo cách biểu hiện:

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị hiện vật:chỉ tiêu có đơn vị tính phù hợp với đặc điểm vật lý

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị giá trị: là chỉ tiêu có đơn vị tính là tiền tệ

    + Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị thời gian: là chỉ tiêu có đơn vị tính là thời gian

    1.2.2. Nhân tố phân tích

    1. Khái niệm

    – Là những yếu tố bên trong hay bên ngoài nội dung phân tích và mỗi biến động của nó có tác động đến kết quả và xu hướng của nội dung phân tích

    – Là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh mà có thể tính toán hoặc lượng hóa được mức độ ảnh hưởng

    – Phân loại nhân tố hay chỉ tiêu chỉ mang tính chất tương đối.

    – Ví dụ:

    + Lợi nhuận= Doanh thu – chi phí. Doanh thu trong mối quan hệ này là nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu lợi nhuận

    + Doanh thu=Sản lượng*giá cả. Doanh thu trong mối quan hệ này là chỉ tiêu được cấu thành bởi 2 nhân tố sản lượng và giá cả.

    1. Phân loại nhân tố

    – Căn cứ theo nội dung kinh tế: Phân làm 2 loại

    + Nhân tố điều kiện: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. VD: số l­ượng lao động, máy móc thiết bị, vật tư , tiền vốn…

    + Nhân tố kết quả: là những nhân tố ảnh hưởng dây chuyền đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng từ khâu cung ứng đầu vào đến sản xuất, đến tiêu thụ và đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. VD: Giá cả nguyên liệu đầu vào, khối lượng hàng hóa tiêu thụ được

    – Căn cứ theo tính tất yếu của nhân tố:

    + Nhân tố chủ quan: là nhân tố mà nó phát triển theo h­ướng nào, mức độ bao nhiêu, phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp như trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hao phí nguyên vật liệu…

    + Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh và tác động nh­ư một tất yếu ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp: giá cả thị trường, thuế suất…

    – Căn cứ theo tính chất của nhân tố:

    + Nhân tố số l­ượng: phản ánh qui mô sản xuất và kết quả kinh doanh

    + Nhân tố chất l­ượng: phản ánh hiệu suất hoạt động của quá trình, kết quả kinh doanh

    – Căn cứ theo xu h­ướng tác động:

    + Nhân tố tích cực: là nhân tố có tác động tốt làm tăng quy mô kết quả sản xuất kinh doanh→cần tận dụng ưu thế

    + Nhân tố tiêu cực: là nhân tố phát sinh và  tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh( giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh) →hạn chế ảnh hưởng

    1.3. Các phương pháp kĩ thuật trong phân tích

    1.3.1. Phương pháp so sánh

    – Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định mức độ đạt được, khả năng thực hiện, mức độ và xu hướng biến động của chỉ tiêu bằng cách so sánh trị số các chỉ tiêu

    – Có nhiều cách thức so sánh nên khi phân tích phải căn cứ vào mục đích phân tích để lựa chọn phương pháp thích hợp

    – So sánh đảm bảo tính thống nhất phương pháp tính, đơn vị tính, thời gian tính, phạm vi tính.

    – So sánh để:

    • Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch: so sánh thực hiện với kế hoạch
    • Xác định nhịp độ, tốc độ phát triển: so sánh 2 kì
    • Xác định mức độ tiên tiến hoặc lạc hậu giữa các đơn vị: so sánh các đơn vị
    • Xác định khả năng: so sánh thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu
    1.3.1.1  So sánh bằng số tuyệt đối

    – So sánh hiệu số giữa trị số(mức độ) kì thực tế và trị số( mức độ) kì gốc của chỉ tiêu

    – Phản ánh mức chênh lệch của chỉ tiêu – mức độ biến động tuyệt đối – chênh lệch tuyệt đối

    ∆Y=Y1 –Y0

    Y1  : mức độ kì nghiên cứu; Y0  : mức độ kì gốc

    1.3.1.2. So sánh bằng số tương đối
    1. Số tương đối kế hoạch

    – Phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu

    + Số tương đối kế hoạch dạng giản đơn

    kht  =Y1 /Ykh

    kht : tỷ lệ hoàn thành kế hoạch; Y1 :mức độ( trị số) thực hiện; Ykh : mức độ kì kế hoạch

    + Số tương đối kế hoạch dạng liên hệ

    kht  =Y1 /mức độ kì gốc đã điều chỉnh

    + Số tương đối kế hoạch dạng kết hợp – số tương đối có tính tới hệ số điều chỉnh

    Mức độ biến động tương đối=Y1–Y0*kc

    kc : hệ số tính chuyển – hệ số điều chỉnh

    1. Số tương đối động thái

    – So sánh giữa mức độ kì nghiên cứu và mức độ kì gốc

    t=Y1 /Y0 *100(%)

    + Số tương đối động thái gốc cố định

    + Số tương đối động thái liên hoàn

    1. Số tương đối kết cấu

    – Biểu hiện mối quan hệ giữa giữa mức độ đạt được của từng bộ phận so với mức độc ủa tổng thể

    – Cho biết vai trò, vị trí của từng bộ phận trong tổng thể

    d=Yi /Y*100(%)

    Yi : Mức độ từng bộ phận; Y: mức độ tổng thể; ∑Yi =Y

    1.3.1.3. So sánh bằng số bình quân

    Cho biết mức độ mà đơn vị đạt được so với số bình quân chung của tổng thể, của ngành.Cho phép đánh giá sự biến động chung về số lượng, chất lượng của các mặt hoạt động nào đó của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp

    1.3.2. Phương pháp chi tiết

    1. Chi tiết theo thời gian

    – Nội dung

    + Hoạt động kinh doanh tiến hành liên tục và kết quả kinh doanh từng khoảng thời gian thường không đồng đều=> cần phân tích chi tiết theo từng khoảng thời gian thích hợp

    + Ví dụ: phân tích giá trị sản xuất  theo quý, tháng, năm

    – Tác dụng:

    + Xác định thời điểm hiện tượng kinh tế có những dấu hiệu bất thường

    + Xác định tiến độ phát triển, nhịp điệu phát triển của hiện t­ượng kinh tế từ đó giúp doanh nghiệp có biện pháp khai thác các tiềm năng, khắc phục được sự mất cân đối, tính thời vụ, mùa vụ  thường xẩy ra trong quá trình kinh doanh

    1. Chi tiết theo không gian

    – Nội dung

    + Hoạt động kinh doanh tiến hành ở các địa điểm khác nhau=> phân tích theo địa điểm để biết kết quả kinh doanh của từng địa điểm cụ thể

    + Ví dụ: Phân tích kim ngạch xuất khẩu theo các xí nghiệp thành phần

    – Tác dụng

    + Xác định điển hình tiên tiến của công ty

    + Xác định tính hợp lý trong việc phân công nhiệm vụ giữa các đơn vị thành phần

    + Đánh giá kết quả từng đơn vị thành phần trong tổng công ty

    1. Chi tiết theo bộ phân cấu thành

    – Nội dung

    + Chỉ tiêu kinh tế thường được cấu thành gồm nhiều bộ phận=> phân tích từng bộ phận để hiểu chỉ tiêu chi tiết hơn

    + Ví dụ: phân tích kim ngạch xuất khẩu theo thị trường hay theo mặt hàng

    – Tác dụng:

    + Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết đ­ược quan hệ cấu thành của các hiện t­ượng và kết quả kinh tế

    + Nhận thức đ­ược bản chất của các chỉ tiêu kinh tế từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp đ­ược chính xác, cụ thể và xác định đ­ược nguyên nhân cũng nh­ư trọng tâm, trong điểm điểm của công tác quản lý.

    1.3.3. Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng

    1.3.3.1.  Phương pháp thay thế liên hoàn
    1. Nội dung

    Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chỉ tiêu phân tích khi nhân tố có mối quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp thương tích với chỉ tiêu kinh tế

    1. Nguyên tắc thực hiện

    – Sắp xếp nhân tố theo trình tự: nhân tố số lượng đứng trước, chất lượng đứng sau. nếu cùng số lượng hoặc chất lượng thì sắp xếp theo mối quan hệ nhân quả – cái nào có trước – cái nào có sau

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố theo trình tự đã sắp xếp

    – Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì cố định các nhân tố còn lại

    – Nhân tố nào chưa xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số gốc

    – Nhân tố nào đã xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số kì nghiên cứu.

    1. Ví dụ

    – Chỉ tiêu Y; Nhân tố ảnh hưởng: a,b,c

    – Phương trình kinh tế: Y=a.b.c

    + Giá trị kì gốc: =a0.b0.c0

    + Giá trị kì nghiên cứu: =a1.b1.c1

    – Xác định đối tượng nghiên cứu: ∆Y=Y1-Y0 =a1.b1.c1 -a0.b0.c0   

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

    + Nhân tố a

    Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0

    Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

    + Nhân tố b

    Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0

    Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

    + Nhân tố c

    Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0

    Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

    Tổng ảnh hưởng của các nhân tố

    ∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y

    δYa+ δYb+δYc=δY

    1.3.3.2. Phương pháp số chêch lệch

    – Là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn

    – Đây là kết quả của quá trình nhóm các thừa số chung của phương pháp thay thế liên hoàn.

    – Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

    + Nhân tố a

    Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0=(a1-a0)b0.c0

    Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

    + Nhân tố b

    Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0b=a1(b1–b0)c0

    Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

    + Nhân tố c

    Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0=a1.b1(c1 –c0)

    Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

    Tổng ảnh hưởng

    ∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y; δYa+ δYb+δYc=δY

    1.3.3.3. Phương pháp cân đối

    – Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu phân tích khi các nhân tố có mối quan hệ tổng số.

    – Xác định mức độ ảnh hưởng

    Tuyệt đối: ∆Yi=a1i –a0i

    Tương đối: δ Yi=(a1i –a0i)/Y0 *100(%)

    1.4. Tổ chức phân tích

    1.4.1. Phân loại phân tích

    1.4.1.1. Căn cứ thời điểm

    – Phân tích trước kinh doanh: thẩm định, dự báo, lập phương án kinh doanh

    – Phân tích trong kinh doanh: xem xét, đánh giá, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý

    – Phân tích sau kinh doanh: đánh giá kết quả, mức độ hoàn thành kế hoạch và dự báo, tìm biện pháp cho kì tiếp theo

    1.4.1.2. Căn cứ thời hạn

    – Phân tích thường xuyên: phân tích khi cần thiết, phục vụ thông tin kịp thời cho nhà quản lý

    – Phân tích định kì: phân tích theo thời hạn đã ấn định trước

    1.4.1.3. Căn cứ nội dung

    – Phân tích toàn bộ: phân tích tất cả nội dung của hiện tượng kinh tế

    – Phân tích chuyên đề: Phân tích 1 nội dung của hiện tượng kinh tế

    1.4.1.4. Căn cứ phạm vi phân tích

    – Phân tích điển hình: phân tích 1 đơn vị

    – Phân tích tổng thể: phân tích toàn bộ doanh nghiệp

    1.4.2. Tổ chức phân tích

    1.4.2.1. Chuẩn bị

    – Lập kế hoạch phân tích: Xác định nội dung, phạm vi, mục đích và thời gian phân tích

    Phân công người thực hiện

    – Thu nhập, kiểm tra và xử lý số liệu: kế hoạch, định mức, dự toán, báo cáo tổng kế,  báo cáo kết quả sxkd, tài liệu hạch toán…

    1.4.2.2. Trình tự tiến hành phân tích

    1. Xây dựng công thức và bảng biểu phân tích

    – Lập phương trình kinh tế

    – Xác định đối tượng phân tích

    – Lập bảng phân tích

    1. Phân tích

    – Đánh giá chung

    – Phân tích chi tiết từng nhân tố:

    + Chủ thể, thời gian, biến động, địa điểm, nguyên nhân

    + Kết luận nguyên nhân chủ quan, khách quan, tiêu cực, tích cực

    1. Kết luận kiến nghị

    – Tổng hợp lại nguyên nhân, nêu bật nguyên nhân chủ yếu, chính

    – Đánh giá những mặt được, chưa được, những tồn tại, khuyến điểm, khó khăn, tiềm năng của của doanh nghiệp

    – Đề xuất giải pháp trên cơ sở những nguyên nhân và xây dựng định hướng phát triển trong tương lai

    1.4.2.3. Báo cáo kết quả phân tích

    PHẦN 2: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

    Chương 1: Phân tích chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A:

    1.1. Mục đích và ý nghĩa:

    1.1.1. Mục đích:

    – Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty. Bên cạnh đó cũng nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu, tình hình thực hiện các hợp đồng đã ký kết về cả số lượng, giá trị, chất lượng…

    – Tính toán mức độ ảnh hưởng của các phương thức thu gom tới kết quả của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của sản lượng của các phương thức thu mua đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    – Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và biện pháp để cải tiến, cải thiện sản lượng cũng như chất lượng của sản phẩm đem đi xuất khẩu, khai thác tận dụng các khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    – Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

    – Phân tích theo phương thức để thấy phương thức nào hiệu quả nhất, ưu thế nhất để có tiếp tục phát huy, hạn chế những phương phức không hiệu quả.

    1.1.2. Ý nghĩa:

    – Tăng cường xuất nhập khẩu hàng hoá hợp lý có ý nghĩa kinh tế to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập dân cư và giải quyết tốt chính sách lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và nâng cao địa vị kinh tế nước nhà trên trường quốc tế. Với ý nghĩa của việc kinh doanh xuất nhập khẩu ta phải phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá.

    – Phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện những khả năng tiềm tàng chư­a đư­ợc sử dụng, vạch rõ những thành tích và khuyết điểm trong quá trình kinh doanh, từ đó có biện pháp tối ư­u nhằm thúc đẩy quá trình kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Việc PTTH XNK hàng hoá trở lên cần thiết để tạo điều kiện DN chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận thị trường thế giới, mở rộng giao lưu hàng hoá với nước ngoài và kinh doanh có lãi.

    – Đặc biệt đối với phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa theo phương thức gom hàng như tự sản xuất, nhập khẩu từ nước ngoài, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất, qua phân tích có thể thấy được phương thức thu gom hàng nào có ý nghĩa thực sự quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty.

    1.2. Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu về đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng.

    1.2.1. Lập phương trình kinh tế:

    – Chỉ tiêu tổng thể: Tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu: G1 (103đ)

    – Chỉ tiêu cá biệt (Các phương thức gom hàng):

    + Phương thức tự sản xuất (T1)

    + Phương thức nhập khẩu từ Trung Quốc (T2)

    + Phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất (T3)

    + Phương thức mua qua công ty chuyên cung ứng (T4)

    + Phương thức đặt gia công (T5)

    + Phương thức mua từ khu chế xuất (T6)

    – Phương trình kinh tế:

    G1 = T1 + T2 + T+ T4 + T5 + T6

    1.2.2. Lập bảng phân tích:

     

    BẢNG 1: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU ĐẢM BẢO HÀNG XUẤT KHẨU THEO CÁC PHƯƠNG THỨC GOM HÀNG CỦA CÔNG TY A

    STT Phương thức Kì gốc Kì nghiên cứu So sánh (%) Chênh lệch MĐAH đến G1 (%)
    Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%) Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%)
    1 Tự sản xuất 168.184.682 62,54 199.143.873 67,64 118,41 30.959.191 11,51
    2 Nhập khẩu từ Trung Quốc 21.729.009 8,08 18.695.500 6,35 86,04 -3.033.510 -1,13
    3 Mua trực tiếp từ nhà sản xuất 22.455.102 8,35 20.138.144 6,84 89,68   -2.316.958 -0,86
    4 Mua qua công ty chuyên cung ứng 15.247.956 5,67 12.424.411 4,22 81,48 -2.823.545 -1,05
    5 Đặt công ty khác gia công 31.706.067 11,79 23.494.502 6,25 74,10 -8.211.565 -3,05
    6 Mua từ khu chế xuất 9.600.565 3,57 20.520.887 6,97 213,75 10.920.322 4,06
    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1) 268.923.380 100 294.417.316 100 109,48 25.493.936

    1.2.3. Đánh giá chung:

    Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng lên của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu gồm:

    – Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

    – Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Hàn Quốc , công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    1.2.4. Phân tích chi tiết:

    A, Xét phương thức tự sản xuất:

    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức tự sản xuất ở kỳ nghiên cứu là 199.143.873 nghìn đồng, tăng 30.959.191 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Đây là phương thức thu gom hàng chủ yếu của công ty A với tỷ trọng giá trị hàng tự sản xuất để xuất khẩu là 67,64% trong kỳ nghiên cứu. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 11,51%. Từ đó ta có thể thấy rằng công ty đang ngày càng chú trọng vào tự sản xuất và những nguyên nhân dẫn đến xu hướng trên là:

    Nguyên nhân 1: Thuận lợi trong việc thu mua nguyên vật liệu.

    Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

    Nguyên nhân 2: Thay đổi trong phương thức đào tạo công nhân.

    Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Bảo trì, bảo dưỡng và mua mới máy móc.

    Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Tiếp thu dây chuyền sản xuất mới của nước ngoài.

    Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nguyên nhân này mang tính chất chủ quan tích cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    B, Xét phương thức nhập khẩu hàng từ Trung Quốc:

    Trong kỳ gốc, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức nhập khẩu từ Trung quốc là 21.729.009 nghìn đồng, tuy nhiên tại kỳ nghiên cứu, giá trị này đã giảm xuống còn 18.695.500 nghìn đồng, giảm 3.033.510 nghìn đồng tương đương với mức giảm tương đối là 13,96%. Mức độ ảnh hưởng của phương thức này đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 1,13%. Nguyên nhân dẫn đến giảm giá trị hàng nhập khẩu Trung Quốc là:

    Nguyên nhân 1: Đầu mối nguyên vật liệu chất lượng kém.

    Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá cả phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Khó khăn khi thực hiện thủ tục hải quan nhập khẩu.

    Đầu kỳ nghiên cứu, do Việt Nam và Trung Quốc xảy ra một số tranh chấp về địa lí nên làm cho việc thông quan hàng hóa qua cửa khẩu gặp nhiều khó khăn. Việc làm thủ tục hàng hóa khắt khe dẫn đến việc hàng bị giữ lại không được thông quan gây thiệt hại cho công ty. Việc giảm giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là hợp lý. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Chi phí để nhập hàng từ Trung Quốc tương đối cao.

    Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Nhà nước thu mua ngoại tệ vào làm đẩy tỷ giá hổi đoái lên.

    Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng. Điều này gây bất lợi cho công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực ảnh hưởng đến công ty.

    C, Xét phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất:

    Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa mua từ nhà sản xuất là 22.455.102 nghìn đồng giảm 2.316.958 nghìn đồng tương ứng với mức giảm tương đối là 10,32% so với kỳ gốc. Tỷ trọng của giá trị hàng hóa thu mua bằng phương pháp mua trực tiếp từ nhà sản xuất ở kỳ gốc là 8,35% trong khi tỷ trọng này ở kỳ nghiên cứu giảm xuống còn 6,84%. Mức độ ảnh hưởng làm giảm giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 0,86%. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là:

    Nguyên nhân 1: Nhu cầu thu mua hàng từ các nhà sản xuất khác giảm.

    Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Chất lượng hàng hóa mua tại một số cơ sở sãn xuất trong nước giảm so với kỳ trước.

    Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 3: Mất một số mối quan hệ làm ăn với các công ty trực tiếp sản xuất.

    Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Chạy đua trong việc cạnh tranh tranh giành thị trường với các công ty đối thủ.

    Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn. Giá trị hàng thu mua từ các công ty sản xuất trực tiếp giảm do tính đối đầu cạnh tranh gay gắt. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    D, Xét phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng:

    Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng tại kỳ gốc là 15.247.956 nghìn đồng chiếm 5,67% trên tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty. Đến kỳ nghiên cứu con số này giảm xuống còn 12.422.411 nghìn đồng ứng với mức giảm tương đối là 18,52% chiếm 4,22% trong tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Mức độ ảnh hưởng của sự biến động này tới tổng giá trị đảm bảo hàng xuất khẩu là 1,05%. Dưới đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này:

    Nguyên nhân 1: Giá hàng thông qua công ty chuyên cung ứng sẽ cao hơn giá mua trực tiếp hay tự sản xuất.

    Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Kho hàng của các công ty chuyên cung ứng ở cách xa so với vị trí kho hàng của công ty.

    Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 3: Một số công ty chuyên cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phầm hoặc thành phẩm bị phá sản.

    Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực dẫn đến việc giảm giá trị hàng thu mua được từ các công ty chuyên cung ứng. Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    Nguyên nhân 4: Sự phụ thuộc của các công ty chuyên cung ứng với nguồn cung của chính họ.

    Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biện pháp đề xuất:

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    E, Xét phương thức thu mua bằng đặt các công ty gia công:

    Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa đảm bảo xuất khẩu được thu mua bằng phương thức đặt công ty khác gia công là 31.706.067 nghìn đồng chiếm 11,79% tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1). Giá trị này ở kỳ nghiên cứu giảm 8.2111.565 nghìn đồng so với kỳ gốc tương ứng với mức giảm tương đối là 25,9%. Mức độ ảnh hưởng của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức này tới tổng G1 là 3,05%. Nguyên nhân của việc giảm này là:

    Nguyên nhân 1: Giá nhân công cao nâng cao sức ép về chi phí.

    Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 2: Máy móc, trang thiết bị và tay nghề nhân công kém, lạc hậu.

    Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu. Đây là nguyên nhân khách quan xuất phát từ phía người gia công gây ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức đặt gia công của công ty.

    Nguyên nhân 3: Tình trạng hàng hóa bị may sai loại vải xảy ra thường xuyên.

    Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực gây ảnh hưởng lớn đối với công ty.

    Nguyên nhân 4: Tình trạng gian lận nguyên vật liệu, thành phẩm.

    Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Biệp pháp đề xuất:

    Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    F, Xét phương thức thu mua từ khu chế xuất:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng, ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu mua từ khu chế xuất tăng từ 9.600.565 nghìn đồng ở kỳ gốc lên 20.520.887 đồng ở kỳ nghiên cứu, tỷ trọng tăng từ 3,57% lên 6,97%. Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng thu mua từ khu chế xuất tăng 10.920.322 nghìn đồng tương ứng với mới tăng tương đối là 113,75%. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty là 4,06%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

    Nguyên nhân 1: Giá thành từ các công ty trong khu chế xuất thấp:

    Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với công ty.

    Nguyên nhân 2: Thuận tiện trong việc vận chuyển và kiểm tra hàng hóa.

    Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Hàng hóa có thể xuất khẩu trực tiếp từ khu chế xuất, giảm chi phí cho công ty.

    Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Máy móc, thiết bị cùng trình độ kỹ thuật của công nhân cao hơn.

    Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Biện pháp đề xuất:

    Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    1.3. Kết luận:

    1.3.1. Kết luận chung:

    Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1.

    1.3.2. Nguyên nhân chính:

    1.3.2.1. Nguyên nhân chính chủ quan tích cực:

    – Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ.

    – Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

    – Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Trung Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

    – Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

    1.3.2.2. Nguyên nhân khách quan tích cực:

    – Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

    – Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

    – Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

    – Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

    1.3.2.3. Nguyên nhân chính khách quan tiêu cực:

    – Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

    – Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

    – Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

    – Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

    – Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

    – Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

    – Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

    – Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

    – Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    – Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

    – Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

    – Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

    – Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

    – Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

    1.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính chủ quan:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    – Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    – Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A:

    2.1. Mục đích và ý nghĩa:

    2.1.1. Mục đích:

    – Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu sử dụng lao động của công ty. Để từ đó đưa ra những yêu cầu và phương thức sử dụng lao động hợp lý nhất.

    – Tính toán mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu sử dụng lao động tới kết quả của giá trị sản xuất trong kỳ. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các chỉ tiêu đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị hàng sản xuất của công ty.

    – Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và chính sách để khuyến khích lao động, sử dụng lao động một cách hiệu quả nhằm nâng cao năng suất cũng như chất lượng thành phẩm.

    – Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

    2.1.2. Ý nghĩa:

    – Giá trị sản xuất của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh, nên việc phân tích giá trị sản xuất có ý nghĩa cho nhà quản trị kinh doanh.

    – Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để biết được việc hoàn thành kế hoạch sản xuất có ảnh hưởng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu tiêu thụ và lợi nhuận cũng như quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    – Phân tích giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để phát hiện ra những lợi thế, khó khăn của doanh nghiệp trong công tác quản lý và sử dụng lao động.

    – Đánh giá công tác tổ chức, quản lý sản xuất theo lao động:

    + Đánh giá sự phân công hợp lý, phù hợp với năng lực trình độ của từng người lao động, kiểm tra, điều độ sản xuất kịp thời.

    + Phát hiện ra những điểm hợp lý và bất hợp lý trong tổ chức quản lý sản xuất.

    2.2. Phân tích:

    2.2.1. Phương trình kinh tế:

    – Chỉ tiêu tổng thể: Giá trị sản xuất trong kỳ : G (103đ)

    – Chỉ tiêu cá biệt:

    + Số lao động bình quân: N ( Người)

    + Số ngày làm việc bình quân: T  ( Ngày/ người)

    + Số giờ làm việc trong ngày: t  (Giờ/ ngày)

    + Năng suất giờ bình quân: Ph  ( 103đ/ giờ)

    – Phương trình kinh tế:

    Gs = N x T x t x Ph

    2.2.2. Lập bảng phân tích:

    BẢNG 2: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THEO CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG MÁY MÓC TẠI CÔNG TY A

    STT

    Chỉ tiêu

    KH

    Đơn vị

    Kỳ gốc

    Kỳ nghiên cứu

    So sánh (%)

    Chênh lệch

    MĐAH đến G2 (%)
    Tuyệt đối (103đ) Tương đối (%)
    1 Số lao động có bình quân trong kì

    N Chiếc 112 119 106,25 7,00 12.212.760 6,25
    2 Số ngày làm việc bình quân trong kì T Ngày/chiếc 217 225 103,69 8,00 7.654.080 3,92
    3 Số giờ làm việc bình quân trong ngày t Giờ/ ngày 6,7 6,9 102,99 0,20 6.426.000 3,29
    4 Năng suất giờ bình quân Ph 103 đ/h 1200 1340 111,67 140,00 25.864.650 13,24
    Giá trị sản xuất trong kỳ (G2) Gs 103 đ 195.404.160 247.561.650 126,69 52.157.490,00

    2.2.3. Nhận xét chung:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị sản xuất tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng đáng kể của giá trị sản xuất trong kỳ gồm:

    – Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

    – Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Trung Quốc, công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

     

    2.2.4. Phân tích chi tiết:

    A, Xét chỉ tiêu số máy móc bình quân:

    Từ bảng phân tích, ta thấy số máy móc bình quân của kỳ nghiên cứu là 119 người, tăng 7 chiếc so với kỳ gốc với mức tăng tương đối là 6,25%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu máy móc bình quân tới giá trị sản xuất trong kỳ là 12.212.760 nghìn đồng tương ứng với mức ảnh hưởng tương đối là 6,25%. Nguyên nhân dẫn đến tăng số lao động là:

    Nguyên nhân 1: Công ty mở rộng ngành nghề sản xuất mua sắm thêm máy móc

    Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Công ty nhận được nhiều đơn đặt hàng

    Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc . Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với doanh nghiệp.

    Nguyên nhân 3: Công ty thành công trong việc mở rộng cả thị trường trong nước.

    Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm thêm máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Do trong kì nghiên cứu thuế nhập khẩu máy móc giảm, công ty quyết định mua sắm thêm máy móc thay cho loại đã cũ, lạc hậu

    Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    B, Xét chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân

    Từ bảng phân tích, ta thấy số ngày làm việc bình quân của công nhân tăng từ 217 ngày/chiếc ở kỳ gốc lên 225 ngày/chiếc ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 8 ngày/chiếc tương ứng với mức tăng tương đối là 3,69%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân đến tổng giá trị sản xuất được trong kỳ là 7.654.080 nghìn đồng, mức ảnh hưởng tương đối là 3,92%. Nguyên nhân dẫn đến việc công nhân phải tăng ngày làm việc trong kỳ lên là:

    Nguyên nhân 1: Lượng hàng nhiều hơn yêu cầu công nhân phải tăng ca để giao hàng kịp thời.

    Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Số ngày bảo dưỡng, bảo trì máy móc ít đi

    Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Nguyên nhân 3: Chất lượng bảo dưỡng máy móc được nâng cao

    Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Nguyên nhân 4: Khắc phục được tình trạng mất điện dài ngày do thời tiết

    Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất.. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    C, Xét chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân trong ngày:

    Từ bảng phân tích ta có thể thấy số giờ làm việc trong ngày tăng nhẹ, tăng 0,2 giờ/ngày, tăng từ 6,7 giờ/ngày ở kỳ gốc lên 6,9 giờ/ngày ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tương đối của chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân là 2,99%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này tới tổng giá tị sản xuất trong kỳ (Gs) là 6.426.000 nghìn đồng, mức độ ảnh hưởng tương đối tới Gs là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến số giờ làm việc bình quân một ngày tăng là:

    Nguyên nhân 1: Do số lượng đơn hàng lớn trong khi thời gian ngắn công ty cho công nhân tăng ca

    Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Quy định mới của công ty về thời gian bắt đầu vào làm.

    Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng.  Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3:  Có 2 lô hàng lớn do khách hàng trong nước đặt bị lỗi, thời gian làm việc của công nhân tăng lên để sửa lỗi lô hàng.

    Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng. Từ đó thì thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

    Nguyên nhân 4: Do ý thức lao động của công nhân được cải thiện

    Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt….. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    D, Xét chỉ tiêu năng suất giờ bình quân:

    Từ bảng phân tích ta thấy rằng, năng suất giờ bình quân của máy móc tăng đáng kể với mức tăng tuyệt đối là 140.000 đồng/giờ tương đương với mức tăng tương đối là 11,67% (Từ 1.200.000 đồng/giờ lên 1.340.000 đồng/giờ ở kỳ nghiên cứu). Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu năng suất giờ bình quân đến giá trị sản xuất trong kỳ (Gs) là 25.864.650 (103đ), mức độ ảnh hưởng tương đối đến Gs là 13,24%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

    Nguyên nhân 1: Do nghiên cứu, cải tiến của bộ phận kĩ thuật

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 2: Máy móc, dây chuyền sản xuất mới

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 3: Do công nhân được đào tạo để sử dụng máy móc tốt hơn.

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân 4: Để đáp ứng số lượng đơn hàng lớn

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    Biện pháp đề xuất:

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

    2.3. Kết luận chương:

    2.3.1. Kết luận chung:

    Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị xuất khẩu tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 (nghìn đồng) tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%.

    2.3.2. Các nguyên nhân chính:

    2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan tích cực:

    Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới

    Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm them máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

    Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo

    Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên

    Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất

    Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

    Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng

    Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng

    Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt…..

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta.

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

    2.3.2.2. Nguyên nhân chủ quan tiêu cực:

    Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

    2.3.2.3. Nguyên nhân khách quan tích cực:

    Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc

    Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm

     

    2.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính:

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    – Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

     

    PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận:

    Tại kỳ nghiên cứu tuy công ty gặp nhiều khó khăn trong việc gom đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu, công ty vẫn có những hướng đi đúng đắn trong việc nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nhìn lại bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A ta thấy giá trị hàng đản bảo xuất khẩu (G­1)  tăng 9,48% từ trên 268 tỉ đồng lên hơn 294 tỉ đồng. Trong đó giá trị hàng công ty tự sản xuất chiếm 67,64% trên tổng G1 với mức tăng tương đối là 18,41%. Ngược lại, các phương thức gom hàng gồm nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng và đặt công ty khác gia công đều giảm. Thu mua hàng bằng đặt gia công giảm mạnh 25,9%  so với kỳ gốc. Các phương thức còn lại giảm trong khoảng 10-20%. Nhận thấy được nhiều lợi thế khi thu mua hàng từ khu chế xuất, công ty tích cực tạo dựng mối quan hệ làm ăn với các công ty trong khu chế xuất do vậy trong kỳ nghiên cứu giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua được bằng phương thức này tăng 13,75% so với kỳ gốc, tốc độ tăng nhiều nhất trong các phương thức.

    Giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng do sự đóng góp không nhỏ của các chỉ tiêu như số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc bình quân ngày và năng suất giờ bình quân. Các chỉ tiêu trên đều tăng cùng với giá trị sản xuất của công ty. Giá trị sản xuất của công ty tăng trên 50 tỉ đồng. Trong kỳ công ty mua thêm 7 máy móc . Số ngày làm việc bình quân tăng 8 ngày tương ứng với mắc tăng tương đối là 3,69%. Sô giờ làm việc trong ngày tăng 2,99 % lên 6,9 giờ/ ngày. Năng suất giờ bình quân tăng nhiều nhất với mức tăng tương đối là 11,67%.

    1. Các nguyên nhân chính:

    – Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    – Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

    – Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

    – Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

    – Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

    – Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

    – Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

    – Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

    – Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

    – Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

    – Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

    – Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

    – Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

    – Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

    – Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

    – Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

    – Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

    – Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

    – Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

    – Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

    – Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

    – Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

    – Công đoàn là bộ phận đại diện cho tinh thần của công nhân. Trong kỳ nghiên cứu, công ty phát huy tốt vai trò của công đoàn khi tiến hành tổ chức các kỳ nghỉ cho công nhân trong đó có chuyến du lịch dài đi Đà Nẵng với kinh phí một nửa do công ty tài trợ. Ngoài ra công đoàn công ty còn tiến hành thăm hỏi các công nhân, cán bộ quản lý bị ốm đau, sinh nở,… tặng quà và trợ cấp cho họ.

    – Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Mỹ, Nhật… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    – Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu.

    – Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân.

    – Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

    Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta

    Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

    Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

    Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

    – Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách. Tuy nhiên việc tăng ca không quá nhiều để tránh gây tổn hại tới sức khỏe của công nhân.

    – Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải tuyển thêm công nhân đóng góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

    – Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

    1. Biện pháp và kiến nghị:

    – Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

    – Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

    – Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

    – Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

    – Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

    – Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

    – Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

    – Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

    – Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

    – Quan tâm đến tái cơ cấu tổ chức, hoàn thiện bộ máy quản lý để công ty nâng cao năng suất làm việc, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Loại bỏ  những quản lý, công nhân thiếu năng lực và thay thế những người làm tốt vào.

    – Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

    – Tiếp tục duy trì các quỹ hỗ trợ cần thiết cho công nhân nhằm giữ vững tinh thần lao động của công nhân tránh tình trạng công nhân chán làm. Bên cạnh đó quản lý chặt chẽ ngày giờ đi làm của công nhân để đảm bảo năng suất công việc và là cơ sở đến trả lương cho công nhân.

    – Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

    – Lên kế hoạch mở rộng thị trường để thu hút nhiều đơn đặt hàng hơn.

    – Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

    – Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

    – Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

    – Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

    Nhìn chung giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng đáng kể với tốc độ cao. Tuy nhiên để duy trì và phát huy được những kết quả, thành tựu khác cao hơn công ty cần phải đánh giá tổng thể nhu cầu của toàn thị trường, từ đó đưa ra được những phương án hợp lý cho công ty, đưa công ty hướng lên trong các giai đoạn về sau. Trở thành một trong những công ty lớn trên cả nước, vững mạnh phát triển. Khi gặp phải những khó khăn, rào cản thì cần đưa ra những phương án giải quyết tối ưu nhất để không ảnh hưởng đến mối quan hệ của các bên tham gia. Mặc dù đảm bảo hàng xuất khẩu bằng phương pháp tự sản xuất sẽ gặp phải một số khó khăn liên quan đến chất lượng, giá thành sản phẩm; không đáp ứng đủ thị hiếu của khách hàng nhưng công ty cần có những biện pháp phát triển năng lực sản xuât đúng đắn, hiệu quả. Nhưng phương thức khác như nhập khẩu, thuê gia công, mua từ công ty chuyên cung ứng… đề có mặt hạn chế, do vậy công ty chỉ nên sử dụng những phương pháp này để ứng phó với những trường hợp thiếu hàng khẩn cấp hoặc thời gian giao hàng ngắn mà cơ sở vật chất cũng như dây chuyền sản xuất của công ty không kịp đáp ứng.

     

    KẾT LUẬN

    Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh, điểm yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. Từ đó, doanh nghiệp tận dụng và phát huy mọi tiềm năng, khai thác tối đa những nguồn lực nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Kết quả của phân tích là cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh.

    Thông qua việc phân tích và thường xuyên phân tích hoạt động kinh tế có tác dụng nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công ty, thông qua việc phân tích kinh tế thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa khuynh hướng cục bộ không lành mạnh, phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, mở rộng sản xuất. Qua tài liệu phân tích giúp công ty thấy được mặt mạnh, mặt yếu của mình mà chỉ đạo sản xuất cũng như quản lý tài chính của xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả. Chính vì vậy phân tích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chỉ đạo và lãnh đạo kinh tế.

    Qua lần làm bài tập lớn này em đã hiểu được nhiều về công tác phân tích, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là do rất nhiều nhân tố tác động tạo nên, có những nhân tố tác động tích cực nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực. Và phải nhận thức rõ đối tượng phân tích và góc độ của người phân tích để có thể đi đến được kết luận về sự biến động của các chỉ tiêu để có thể có biện pháp hợp lý giải quyết tận gốc vấn đề.

    Em xin cảm ơn thầy Nguyễn Phong Nhã đã hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thiện bài đồ án môn học này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Quản Trị Tài Chính

    Quản Trị Tài Chính

    ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quản Trị Nhân Sự – Quản Trị Chiến Lược – Quản Trị Doanh Nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/03/quan-tri-tai-chinh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

    Câu 1:Vai trò và nội dung chủ yếu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp?

    Vai trò:

    • Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

    Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ và đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài. Do vậy, vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp.

    • Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả:

    Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn.

    • Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

    Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh.

    Nội dung:

    • Tham gia đánh giá, lựa chọn, các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh.
    • Xác định nhu cầu vốn, tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp.
    • Tổ chức sử dụng tốt các số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
    • Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
    • Đảm bảo kiểm tra,kiểm soát thường xuyên đối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính.
    • Thực hiện tốt việc kế hoạch hoá tài chính.

    Câu 2: Các cách phân loại TSCĐ – VCĐ của doanh nghiệp?  Nêu mục đích của mỗi cách phân loại đối với việc quản trị TSCĐ-VCĐ trong DN. Cho ví dụ minh họa

    1. Phân loại theo hình thái biểu hiện

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:

    -TSCĐ hữu hình là những tài sản được biểu hiện bằng những hình thái hiện vật cụ thể như nhà cửa, máy móc thiết bị…

    -TSCĐ vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất, thể hiện 1 lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đầu tư và phát triển, bằng sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại…

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp vào TSCĐ hữu hình và vô hình, từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư đúng đắn hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất.

    1. Phân loại theo mục đích sử dụng

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại sau đây:

    – TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: là những TSCĐ vô hình hay TSCĐ hữu hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: quyền sử dụng đất, chi phí thành lập doanh nghiệp, vị trí cửa hàng, nhãn hiệu sản phẩm,… nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và (hoặc) cho sản phẩm, các loại TSCĐ khác chưa liệt kê vào 5 loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật…

    – TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng.

    – TSCĐ bảo quản hộ, cất giữ cho nhà nước, cho các doanh nghiệp khác.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy được cơ cấu TSCĐ theo mục đích sử dụng của nó, từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử dụng sao cho có hiệu quả nhất.

    1. Phân loại theo công dụng kinh tế

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 2 loại:

    -TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh là những TSCĐ hữu hình và vô hình trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị truyền dẫn, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải; những TSCĐ không có hình thái vật chất khác…

    -TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh: là những TSCĐ dùng cho phúc lợi công cộng, không mang tính chất sản xuất kinh doanh. Bao gồm: nhà cửa, phương tiện dùng cho sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao, nhà ở và các công trình phúc lợi tập thể…

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy rõ kết cấu TSCĐ và vai trò, tác dụng của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ và tính toán khấu hao chính xác.

    1. Phân loại theo mức độ sử dụng

    Theo tiêu thức phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:

    – TSCĐ đang sử dụng là những TSCĐ đang sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp như hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng.

    – TSCĐ chưa sử dụng là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùng, đang được dự trữ để sử dụng sau này.

    – TSCĐ chờ xử lý là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các TSCĐ của doanh nghiệp như thế nào, từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng của chúng.

    1. Phân loại theo quyền sở hữu

    Căn cứ vào tình hình sở hữu có thể chia TSCĐ thành 2 loại:

    – TSCĐ tự có: TSCĐ là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp.

    – TSCĐ đi thuê: TSCĐ là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác bao gồm: TSCĐ thuê hoạt động và TSCĐ thuê tài chính.

    Đối với loại TSCĐ này, doanh nghiệp phải tiến hành theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với TSCĐ thuộc sở hữu của doanh nghiệp.

    [ Cách phân loại này giúp cho người quản lý thấy kết cấu TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và  TSCĐ thuộc sở hữu của người khác mà khai thác, sử dụng hợp lý TSCĐ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đồng vốn.

     

    Câu 3:  Nêu nội dung và ý nghĩa của các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định? Phân tích phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, VCĐ

    • Nội dung và ý nghĩa của các chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định
    1. Hệ số trang bị máy móc thiết bị cho công nhân trực tiếp sản xuất:

    Hệ số trang bị máy móc, thiết bị =

    – Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất. Hệ số càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho sản xuất của doanh nghiệp càng cao.

    1. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ.

    Hiệu suất sử dụng TSCĐ =  x100%

    Trong đó:

    – TSCĐ bình quân =1/2 ( Giá trị TSCĐ đầu kỳ + Giá trị TSCĐ ở cuối kỳ).

    – Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần. Hiệu suất càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSCĐ càng cao.

    1. Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên TSCĐ.

    Lợi nhuận ròng trên TSCĐ =  x 100%

    Trong đó:

    – Lợi nhuận ròng là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ sau khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp. Chú ý ở đây muốn đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng TSCĐ thì lợi nhuận ròng chỉ bao gồm phần lơị nhuận do có sự tham gia trực tiếp của TSCĐ tạo ra. Vì vậy phải loại bỏ lợi nhuận từ các hoạt động khác.

    – Ý nghĩa: Cho biết một đồng TSCĐ sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Giá trị này càng lớn càng tốt.

    1. Hiệu suất sử dụng vốn cố định:

    Hiệu suất sử dụng vốn cố định =  x 100%

    VCĐ bình quân = ½ (VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ)

    Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định, nó giúp cho các nhà phân tích biết được đầu tư một đồng vốn cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.

    • Phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ, VCĐ

    Phương hướng:

    • Thứ nhất, với quy mô TSCĐ – VCĐ không phải đầu tư tăng thêm, phấn đấu đạt tổng doanh thu và tổng lợi nhuận cao hơn. Đây không phải là phương hướng chính yếu, vì khi mọi TSCĐ đã được tổ chức sắp xếp và quản lý tốt thì không thể tăng kết quả SXKD được nữa.
    • Thứ hai, duy trì quy mô kết quả SX kinh doanh đã đạt được không bị giảm sút, phấn đấu giảm bớt số VCĐ. Đây không phải là phương hướng chính yếu, vì kết quả nó mang lại không lớn và chỉ thực hiện khi có TSCĐ tỏ ra kém hiệu quả KT.
    • Thứ ba, tăng cường đầu tư thêm về TSCĐ song phải đảm bảo tính toán chính xác và tổ chức thực hiện tốt các phương án đầu tư tăng thêm để sao cho tốc độ tăng kết quả SX kinh doanh cao hơn tốc độ tăng vốn đầu tư. Đây là phương hướng mang kết quả không hạn chế cho DN.

    Biện pháp:

    • Hoàn thiện qui trình theo qui trình ra quyết địnhmua sắm TSCĐ
    • Tăng cường đổi mới công nghệ, quản lý sử dụng và bảo dưỡng TSCĐ.
    • Thanh lý, xử lý các TSCĐ không dùng đến.
    • Tận dụng năng lực của TSCĐ trong công ty.
    • Lựa chọn nguồn tài trợ dài hạn hợp lý.
    • Hoàn thiện công tác kế toán TSCĐ.
    • Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên trong công ty.

    Câu 4: Các cách phân loại TSLĐ – VLĐ của doanh nghiệp?  Nêu mục đích của mỗi cách phân loại đối với việc quản trị TSLĐ-VLĐ trong DN.

    1. Căn cứ theo khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản.
    • Tiền:

    Bao gồm tiền mặt tại các quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, tiền dưới dạng séc, tiền trong thẻ tín dụng và trong tài khoản ATM. Bên cạnh đó, còn có các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng cho mục đích dự trữ.

    • Các khoản phải thu:

    Các khoản phải thu là nguồn tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp, dặc biệt là các công ty thương mai, mua bán hàng hóa. Các khoản phải thu bảo gồm: phải thu của khách hàng, trả trước người bán, phải thu từ các đơn vị nội bộ, phải thu khác, dự phòng phải thu khó đòi.

    • Hàng tồn kho:

    Gồm các loại nguyên vật liệu chính, vậy liệu phụ, nhiên liêu, phụ tùn thay thế, vật đóng gói và công cụ, dụng cụ phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; các sản xuất dở dang (các sản phẩm đang chế tạo); thành phẩm.

    • Các tài sản lưu động khác (tạm ứng, đặt cọc,…)
    • Mục đích: Doanh nghiệp có thể xem xét đánh giá mức độ tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp, kết câu tài sản lưu dộng theo khả năng chuyển hóa thành tiền, từ đó doanh nghiệp có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả.
    1. Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh

    Tài sản lưu động được chia làm 3 loại chủ yếu:

    1. Tài sản lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:Bao gồm nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ, dụng cụ, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ dụng cụ nhỏ
    2. Tài sản lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất: Bao gồm sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm), chi phí trả trước, chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
    3. Tài sản lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm hàng hóa, thành phẩm, tiền, các khoản phải thu, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán ( các khoản phải thu, tạm ứng,…)
    • Mục đích: Căn cứ vào các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh để phân chia tài sản lưu động – vốn lưu động giúp nhà quản trị lập ra các phương án quản lý, sử dụng đối với từng loại tài sản lưu động sao cho chúng đạt được mục tiêu hiệu quản nhất, phù hợp nhất.
    1. Căn cứ theo phương pháp quản lí vốn

    Vốn lưu động được chia thành 2 loại:

    1. Vốn lưu động định mức: là các khoản vốn lưu động vận động tuân theo quy luật nhất định, doanh nghiệp có thể dựa vào các điều kiện có thể dự đoán tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của đơn vị mà xác định nhu cấu cần thiết tối thiểu, đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách bình thường liên tục

    VD: Về vốn lưu động định mức như vốn về nguyên vật liệu,nhiên liệu,…

    1. Vốn lưu động không định mức: là những khoản vốn vận động không tuân theo những quy luật mà doanh nghiệp có thể nắm bắt được, không thể dựa vào các điều kiện và tình hình thực tế của mình để xác định chính xác nhu cần cần thiết, tối thiểu. Hầu hết các khoản vốn trong quá trình lưu thông thanh toán đều thuộc vào loại này, chẳng hạn các khoản phải thu, vốn bằng tiền,…
    2. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn

    Có thể chia vốn lưu động thành 2 loại:

    1. Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt. Bao gồm: Nguồn ngân sách liên doanh, liên kết; nguồn vốn cổ phần, tự bổ sung,…
    2. Nợ phải trả: Nguồn vốn đi vay, nguồn vốn trong thanh toán
    • Mục đích: Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động được hình thành bằng vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ, từ đó các quy định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn.

    Câu 5: Khấu hao tài sản cố định là gì? Tính khấu hao đúng và hợp lí có tác dụng gì? Trình bày các phương pháp tính khấu hao tài sản cố định trong doanh nghiệp? Nêu ưu nhược điểm của từng cách tính khấu hao.

    • Khấu hao tài sản cố định làsự phân bổ một cách có kế hoạch giá trị phải khấu hao tài sản cố định vào thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó, sau đó phân bổ vào các sp mà nó làm ra với tư cách là 1 yếu tố chi phí trong giá thành sp.
    • Tính khấu hao đúng và hợp lí có tác dụng:
    • Khấu hao hợp lý là biện pháp quan trọng để thực hiện bảo toàn VCĐ,làm cho DN có thể thu hồi được đầy đủ VCĐ khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.
    • Khấu hao hợp lý giúp DN có thể tập trung được vốn từ tiền khấu hao để có thể thực hiện kịp thời việc đổi máy móc, thiết bị công nghệ.
    • Việc xác định Khấu hao hợp lý là 1 nhân tố quan trọng để xác định đúng đắn giá thành sp và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN.

    Phương pháp tính khấu hao tài sản cố định:

    1. Phương pháp tính khấu hao theo đường thẳng:

    Mức khấu hao trung bình hàng năm =  (đ/năm)

    Mức khấu hao trung bình hàng tháng =  (đ/tháng)

    • Ưu điểm: tính toán đơn giản
    • Nhược điểm: không phản ánh chính xác hao mòn của TSCĐ; không tạo điều kiện thu hồi nhanh vốn để kịp thời khắc phục hao mòn vô hình.
    1. Phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:

    Theo phương pháp này thì số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng lấy giá trị còn lại xủa TSCĐ theo thời gian sử dụng nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh. Như vậy, mức và tỷ lệ khấu hao theo thời gian sử dụng sẽ giảm dần.

    Có thể tính mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng như sau:

    Ai = NGi x Kkhn

    Trong đó:

    Ai: Mức khấu hao ở năm thứ i

    NGi: Giá trị còn lại của TSCĐ vào đầu năm sử dụng thứ i

    Kkhn: Tỷ lệ khấu hao nhanh

    Kkhn = Kkhđt x Hđc

    Kkhđt là tỷ lệ khấu hao theo đường thẳng = 1/Tsd

    Hđc là hệ số xác định: Tsd <= 4 thì Hđc = 1,5

    4 < Tsd <= 6 thì Hđc = 2

    Tsd > 6 thì Hđc = 2,5

    Ở những năm sử dụng cuối, khi mức khấu hao xác định theo Phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần còn bằng hoặc nhỏ hơn số bình quân giữa gt còn lại và số năm sử dụng còn lại thì kể từ đó mức khấu hao hàng năm tính bằng gt còn lại chia cho số năm sử dụng còn lại.

    • Ưu điểm: tạo điều kiện thu hồi vốn nhanh và kịp thời đổi mới TSCĐ, khắc phục được hao mòn vô hình.
    • Nhược điểm: Phức tạp, khó tính toán; Tiền khấu hao theo phương pháp này có thể làm cho giá thành sp biến động một cách bất hợp lý.
    1. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:

    Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây:

    Trong đó:

    Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau:

    Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định.

    • Ưu điểm: phản ánh tương đối chính xác hao mòn của TSCĐ; giá thành sp không bị biến động bất thường.
    • Nhược điểm: trong điều kiện khó khăn của việc khai thác, khối lượng sp không đạt các định mức tính toán thì DN có thể không thu hồi đủ số khấu hao cần thiết của TSCĐ.

  • Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật

    Lý Luận Chung Về Nhà Nước Và Pháp Luật

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Triết học 1Triết học 2

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/02/L%C3%9D-LU%E1%BA%ACN-CHUNG-V%E1%BB%80-NH%C3%80-N%C6%AF%E1%BB%9AC-V%C3%80-PH%C3%81P-LU%E1%BA%ACT.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    Câu 1: Lý luận của học thuyết Mác – Lênin về nguồn gốc nhà nước và pháp luật?

    • Nhà nước và pháp luật là 1 phạm trù lịch sử, cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của giai cấp.
    • Sự ra đời của nhà nước gắn liền với sự ra đời của pháp luật. Đó là quá trình tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy thành xã hội có giai cấp. Khi giai cấp tiêu vong thì nhà nước và pháp luật không còn nữa.
    • Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến sự thay đổi về hình thái kinh tế xã hội và sự thay đổi đó phản ánh sự phát triển, tiến bộ hơn của lực lượng sản xuất.
    • Lịch sử xã hội loài người phát triển qua 5 hình thái:
    • Cộng sản nguyên thủy
    • Chế độ nô lệ
    • Phong kiến
    • Tư sản
    • Cộng sản văn minh
    • XHCN là thời kỳ quá độ từ tư sản sang cộng sản văn minh.

    Câu 2: Trình bày tóm tắt quá trình tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật?

    • Quá trình tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy trải qua 3 lần phân công lao động, là 1 bước tiến của LLSX, từng bước làm rạn nứt và tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy.
    • Lần 1: là quá trình con người thuần chủng động vật tạo ra ngành chăn nuôi phát triển ð cho NSLD tăng lên, có của cải dư thừa, tích lũy ð xuất hiện nhu cầu tư hữu. Đó là vết rạn nứt đầu tiên.
    • Lần 2: là quá trình con người tìm ra kim loại thay thế công cụ đồ đá, đồng ð NSLD tăng ð cần nhiều người lao động hơn, tạo ra xã hội phân hóa giàu – nghèo.
    • Lần 3: Sự hình thành thương nghiệp tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông, đồng tiền bắt đầu xuất hiện ð cho vay nặng lãi ð nghèo, bần cùng hóa ð mâu thuẫn xã hội gay gắt.

    Tổ chức thị tộc bất lực trước sự tồn tại mâu thuẫn xã hội giữa bộ phận bóc lột và bị bóc lột.

    Giai cấp xã hội: Cần có tổ chức mới đủ sức để trấn áp mâu thuẫn đó để duy trì xã hội ð nhà nước là công cụ, tầng lớp bóc lột (giai cấp thống trị) có khả năng sử dụng thiết chế là nhà tù, quân đội, cảnh sát để bảo vệ giai cấp thống trị.

    Quá trình phát triển của LLSX qua 3 lần phân công lao động làm tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy thành 1 xã hội xuất hiện giai cấp hình thành nên nhà nước và pháp luật. Nhà nước pháp luật đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ (điều hòa mâu thuẫn trong vòng “trật tự”).

    Câu 3: Kiểu nhà nước là gì? Có các kiểu nhà nước nào?

    • Kiểu nhà nước là tổng thể các đặc trưng cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, vai trò, giá trị xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của nhà nước trong 1 hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
    • Từ khi có giai cấp đến nay đã tồn tại 4 hình thái kinh tế – xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và XHCN. Tương ứng với 4 hình thái kinh tế – xã hội ấy là 4 kiểu nhà nước: Nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước XHCN.

    Trong đó, 3 kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiển, tư sản là kiểu nhà nước bóc lột. Tuy có những điểm khác nhau nhưng có điểm chung nhất đều là công cụ, kiểu nhà nước bóc lột và cơ sở kinh tế của nó dựa trên chế độ tư hữu về TLSX.

    Câu 4: Hình thức nhà nước là gì? Trình bày hình thức chính thể?

    • Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và các phương pháp thực hiện quyền lực đó, bao gồm: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
    • Hình thức chính thể:
    • Là cách thức tổ chức, trình tự thành lập các cơ quan cấp cao của nhà nước và quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau, cũng như thái độ của các cơ quan ấy đối với nhân dân.
    • Gồm có 2 dạng:
    • Chính thể quân chủ: quyền lực cao nhất tập trung toàn bộ hoặc 1 phần vào tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế quyền lực. Có quân chủ tuyệt đối (người đứng đầu nhà nước có quyền lực vô hạn) và quân chủ hạn chế (vua chỉ nắm 1 phần nhỏ quyền lực còn phần lớn thuộc về 1 cơ quan nhà nước được bầu ra theo nhiệm kỳ).
    • Chính thể cộng hòa: quyền lực cao nhất thuộc về cơ quan được bầu ra trong thời hạn nhất định. Gồm có cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc.

    Câu 5: Hình thức nhà nước là gì? Trình bày hình thức cấu trúc nhà nước?

    Hình thức cấu trúc là sự cấu tạo Nhà nước thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ và tính chất quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nhà nước với nhau, giữa các cơ quan nhà nước ở TƯ với các cơ quan nhà nước ở địa phương.

    • Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung, lãnh thổ toàn vẹn, thống nhất; các bộ phận hợp thành nhà nước là những đơn vị hành chính – lãnh thổ không có chủ quyền riêng, độc lập; có 1 hệ thống các cơ quan nhà nước thống nhất từ TƯ đến địa phương có 1 hệ thống pháp luật, công dân chỉ mang 1 quốc tịch hoặc có thể đồng thời mang thêm quốc tịch của 1 nước khác.
    • Nhà nước liên bang là nhà nước hợp thành từ 2 hay nhiều nước thành viên. Chủ quyền quốc gia của liên bang vừa do nhà nước liên bang vừa do nhà nước thành viên nắm giữ, có 2 hệ thống pháp luật, công dân có 2 quốc tịch.

  • Logic học

    Logic học

    ĐỀ CƯƠNG LOGIC HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tâm Lý Học

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/02/logic-hoc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỀ CƯƠNG LOGIC HỌC

    Câu hỏi lý thuyết

    Câu 1: Khái niệm là gì? Cấu trúc của khái niệm? Lấy ví dụ minh hoạ.

    • Khái niệm là 1 tư tưởng phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ bản chất, tất yếu của các sự vật hiện tượng trong hiện thực.
    • Cấu trúc của khái niệm:
    • Nội hàm của khái niệm: là toàn bộ những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng được phản ánh trong khái niệm.
    • Ngoại diên của khái niệm: là tập hợp những sự vật hiện tượng có chứa những thuộc tính được phản ánh trong khái niệm.
    • Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm:
    • Giữa 2 khái niệm có quan hệ giống loài thì nội hàm và ngoại diên có quan hệ tỷ lệ nghịch. Ngoại diên càng rộng thì nội hàm càng hẹp và ngược lại.
    • Quy luật cho thấy lượng thông tin chứa trong khái niệm càng ít thì phạm vi lớp đối tượng càng rộng và ngược lại lượng thông tin chứa trong khái niệm càng nhiều thì phạm vi đối tượng càng hẹp.

    Câu 2: Phép phân chia khái niệm là gì? Các quy tắc phân chia khái niệm? Lấy ví dụ minh hoạ.

    • Phép phân chia khái niệm là thao tác logic nhằm vào ngoại diên của nó để nhóm họp các khái niệm thành từng nhóm riêng biệt dựa trên những chuẩn xác định.
    • Các quy tắc phân chia khái niệm:
    • Quy tắc 1: Phân chia phải cân đối.
    • Tổng ngoại diên của khái niệm thành phần phân chia phải bằng ngoại diên của khái niệm bị phân chia.

    X = a + b + c… (Trong đó: X là khái niệm bị phân chia; a, b, c … là các khái niệm thành phần)

    • Nếu ngoại diên của khái niệm bị phân chia nhỏ hơn tổng ngoại diên của khái niệm thành phần thì đó là phép phân chia thừa thành phần. (X < a + b + c…)
    • Nếu ngoại diên của khái niệm bị phân chia lớn hơn tổng ngoại diên của khái niệm thành phần thì đó là phép phân chia thiếu thành phần. (X > a + b + c…)
    • Quy tắc 2: Phân chia phải theo 1 cơ sở nhất định.

    Trong quá trình phân chia ta có thể có nhiều cách phân chia khác nhau tuỳ theo cơ sở lựa chọn. Nhưng trong 1 phép phân chia phải giữ nguyên cơ sở đó nếu không sẽ mắc lỗi logic.

    • Quy tắc 3: Các khái niệm thành phần phân chia phải loại trừ nhau (nằm trong quan hệ không hợp).
    • Quy tắc 4: Phân chia phải liên tục không được vượt cấp. Nghĩa là phải phân chia từ khái niệm giống với loài gần gũi chứ không được chuyển sang loài xa vi phạm phép phân chia này sẽ lẫn lộn giữa giống và loài.

    Câu 3: Định nghĩa khái niệm là gì? Các qui tắc định nghĩa khái niệm?

    • Định nghĩa khái niệm là thao tác logic nhằm vào nội hàm của khái niệm để định ra phần cơ bản nhất trong nội hàm ấy sao cho từ đó có thể suy ra được những phần còn lại khác trong nội hàm khái niệm này và căn cứ vào đó có thể phân biệt được đối tượng nằm trong ngoại diên của khái niệm ấy với những đối tượng khác không nằm trong ngoại diên khái niệm.
    • Các qui tắc định nghĩa khái niệm:
    • Quy tắc 1: Định nghĩa phải cân đối, ngoại diên của khái niệm được định nghĩa phải vừa bằng ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa.

    X = Y: Định nghĩa cân đối

    Nếu X > Y: Định nghĩa hẹp quá

    Nếu X < Y: Định nghĩa rộng quá.

    • Quy tắc 2: Định nghĩa không được vòng quanh (khái niệm cần định nghĩa bằng chính nó).
    • Quy tắc 3: Định nghĩa pahri rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, tránh lối ví von hình tượng nghệ thuật hoặc nêu những dấu hiệu thứ sinh.
    • Quy tắc 4: Định nghĩa không nên phủ định. Khi xây dựng định nghĩa không nên sử dụng, cách phủ định khái niệm đối lập với khái niệm cần định nghĩa, vì như vậy chưa vạch ra được nội hàm của khái niệm được định nghĩa do đó không vạch ra được dấu hiệu bản chất của đối tượng.

    Câu 4: Phân loại các phán đoán cơ bản. Cho ví dụ minh hoạ?

    Có 4 loại phán đán cơ bản trong logic học:

    • Phán đoán khẳng định chung (loại A): Là loại phán đoán chất khẳng định lượng chung (toàn thể)

    Công thức: Tất cả S là P

    Ký hiệu: A

    Quan hệ:  logic hoc

    Ví dụ: Tất cả sinh viên đều là đoàn viên.

    • Phán đoán phủ định chung (loại E): Là phán đoán có chất phủ định lượng chung (toàn thể).

    Công thức: Tất cả S không là P

    Ký hiệu: E

    Quan hệ:

    logic hoc

    Ví dụ: Tất cả sinh viên lớp A không là Đảng viên.

    • Phán đoán khẳng định riêng (loại I): Là phán đoán có chất khẳng định lượng riêng.

    Công thức: Một số S là P

    Ký hiệu: I

    Quan hệ:

    logic hoc

    Ví dụ: Một số người Việt Nam sống ở nước ngoài.

    • Phán đoán phủ định riêng (loại O): Là phán đoán cho chất phủ định và lượng riêng.

    Công thức: Một số S không là P

    Ký hiệu: O

    Quan hệ:

    logic hoc

    Ví dụ: Một số sinh viên không phải thuê nhà ở.

    Câu 5: Trình bày quan hệ giữa các phán đoán cơ bản trên hình vuông logic?

    Xét 4 phán đoán đơn dạng cơ bản A, E, I, O nếu ta đặt chung ở 4 đỉnh của hình vuông thì các cạnh và đường chéo của hình vuông sẽ biểu diễn quan hệ giữa các phán đoán.

    – Quan hệ phụ thuộc: quan hệ giữa các cặp phán đoán A và I, E và O. Trong đó, A,E là phán đoán chi phối; I (O) là phán đoán phụ thuộc.

    • Là quan hệ giữa phán đoán chung và phán đoán riêng nhưng cùng chất.
    • Đặc trưng về giá trị logic:
    • Nếu giá trị logic của các phán đoán chi phối ch thì giá trị logic của các phán đoán phụ thuộc tương ứng ch.
    • Nếu giá trị logic của các phán đoán phụ thuộc gi thì giá trị logic của các phán đoán chi phối tương ứng gi.
    • Nếu biết giá trị logic của các phán đoán chi phối gi thì không suy ra được giá trị logic của các phán đoán phụ thuộc tương ứng.
    • Nếu biết giá trị logic của các phán đoán phụ thuộc ch thì không suy ra được giá trị logic của các phán đoán chi phối tương ứng.
    • Bảng giá trị logic:

    logic hoc

    – Quan hệ đối lập chung: quan hệ giữa cặp phán đoán A – E là quan hệ đối lập chung khi cùng thuật ngữ logic.

    • Quan hệ đối lập chung là quan hệ giữa 2 phán đoán cùng lượng chung nhưng chất đối lập nhau.
    • Đặc trưng về giá trị logic: 2 phán đoán đối lập chung không thể cùng ch nhưng có thể cùng gi. 2 phán đoán này có thể cùng gi, do vậy, nếu biết 1 trong 2 phán đoán có giá trị logic gi thì không thể suy ra giá tị logic của phán đoán còn lại. nhưng vì 2 phán đoán không thể cùng ch nên nếu biết 1 trong 2 phán đoán có giá trị ch thì tất yếu giá trị logic của phán đoán còn lại là gi.
    • Bảng giá trị logic:

    logic hoc

    – Quan hệ đối lập riêng: quan hệ giữa cặp phán đoán I – O là quan hệ đối lập riêng khi cùng thuật ngữ logic.

    • Quan hệ đối lập riêng là quan hệ giữa phán đoán cùng lượng riêng nhưng chất đối lập nhau.
    • Đặc trưng về giá trị logic: 2 phán đoán có quan hệ đối lập riêng không thể cùng gi nhưng có thể cùng ch. Do vậy, nếu biết 1 trong 2 phán đoán có giá trị logic gi thì giá trị logic của phán đoán còn lại là ch, nhưng không ngược lại.
    • Bảng giá trị logic:

    logic hoc

    – Quan hệ mâu thuẫn: quan hệ giữa các cặp phán đoán A và O (hoặc E và I) là quan hệ mâu thuẫn nếu chúng cùng thuật ngữ logic.

    • Quan hệ mâu thuẫn là quan hệ giữa 2 phán đoán khác nhau cả về lượng và về chất.
    • Đặc trưng giá trị logic: 2 phán đoán có quan hệ mâu thuẫn không thể cùng ch hoặc cùng gi. Vì vậy nếu biết giá trị logic của phán đoán này là ch thì giá trị logic của phán đoán còn lại là gi và ngược lại.
    • Bảng giá trị logic:

    logic hoc

  • Đại cương tàu biển

    Đại cương tàu biển

    Đề cương Đại cương tàu biển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các Vấn Đề Pháp Lý Về Tàu Biển Và Thuyền Bộ Tàu Biển

    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/02/dai-cuong-tau-bien.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương Đại cương tàu biển

    Câu 1: Khái niệm mớn nước của tàu? Giới thiệu các loại thước mớn nước trên tàu?

    • Mớn nước thực (Draft- d): Là khoảng cách thẳng đứng từ đường nước tới keel tàu. Trong thực tế, tàu có thể ở tư thế bất kỳ (nghiêng,chúi) nên khoảng cách này sẽ khác nhau tại các vị trí khác nhau theo chiều dài tàu.

    Thông thường mớn nước của tàu sẽ được lấy ở 3 vị trí: mũi, lái và giữa tàu.

    • Các loại thước mớn nước trên tàu:
    • Thước mớn nước được biểu thị bằng chữ số La mã hoặc chữ số Ả rập có số đo theo hệ Mét hoặc Foot.
    • Thước đo nước theo hệ Mét có các chữ số cao 10cm, khoảng cách giữa hai chữ số là 10cm.
    • Thước mớn nước theo hệ Foot có các chữ số cao 6 inches, khoảng cách giữa hai chữ số là 6 inches.

    Khi đọc mớn nước ta lấy đường nước và chân con số làm chuẩn.

    Câu 2: Giới thiệu các khu vực riêng biệt ở trên tàu?

    • Hầm hàng: Có dạng những không gian hình chữ nhật, hình tròn trống lớn; là nơi dùng để chất xếp hàng hoá.
    • Đuôi tàu: Hầu hết các không gian ở phía đuôi tàu có phòng máy và chỗ ở sinh hoạt. Bên cạnh đó có thể là nơi làm việc, nơi lưu trữ nhiên liệu hoặc két ballast.
    • Buồng máy: Là 1 khoang trải rộng trên toàn bộ chiều rộng của tàu.
    • Đáy đuôi và két mạn: Cả đáy đôi và két mạn trên thực tế lag khoang kín nước; các két được đặtở 2 bên của con tàu và phía trên các đáy đôi.
    • Mũi tàu: Là 1 phần của con tàu nằm giữa mũi tàu và quả lê hay vách khoang mũi và phần liền kề.
    • Khu sinh hoạt: Thường được bố trí nằm ở gần lái tàu, phía trên buồng máy, dưới buồn lái; là nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt hàng ngày của thuyền viên.

    Câu 3: Chân vịt bước cố định? Ưu và nhược điểm?

    • Cánh của chân vịt bước cố định có vị trí cố định và không thay đổi được bước, dẫn đến việc chân vịt phải thay đổi chiều quay của trục để có thể chạy lùi. Điều này thực hiện được nhờ khớp ly hợp thuận nghịch hoặc máy thuận nghịch.
    • Ưu điểm (so với chân vịt biến bước):
    • Mạnh mẽ, cứng cáp hơn.
    • Chân vịt không quay tròn khi neo đậu nên không gây nguy hiểm cho xuồng bắt dây và ít gặp trường hợp dây buộc tàu quấn quanh chân vịt.
    • Nhược điểm: Trong thời tiết bất lợi, chân vịt sẽ chuyển động nặng nề, gay cản trở cho lực đẩy của tàu.

    Câu 4: Chân vịt biến bước? Ưu và nhược điểm?

    • Chân vịt biến bước không cần đảo chiều quay của trục chân vịt hay sử dụng khớp ly hợp thuận nghịch,… mà chỉ cần chuyển bước của chân vịt. Khi lùi thì lực đẩy sẽ hướng về phía trước. Khi cần giảm tốc độ thì cánh chân vịt sẽ chuyển gần về vị trí mặt phẳng giữa. Tiêu tốn năng lượng cho cả 2 quá trình tiến và lùi là như nhau.
    • Ưu điểm:
    • Thực hiện đẩy tàu với mọi cấp tốc độ, thậm chí với tốc độ cực chậm mà không hao hụt công suất.
    • Dễ dàng chuyển từ trạng thái tiến sang lùi và ngược lại.
    • Tăng hiệu suất cho tàu có trọng tải thay đổi (tàu cá, tàu lai…)
    • Kết hợp dễ dàng với máy phát điện đồng trục (máy phát lai trực tiếp từ máy chính).
    • Có khả năng dừng tàu với công suất lớn nhất.
    • Nhược điểm: Mỏng manh, dễ hư tổn đối với các thành phần thuỷ lực và vòng đệm. Vòng đệm hư hỏng có thể gây ra ô nhiễm do tràn dầu.

    Câu 5: Khái niệm về trọng tải và chiều dài lớn nhất của tàu? Ứng dụng của chúng trong thực tiễn?

    • Trọng tải chở hàng của tàu là khả năng chuyên chở của tàu được xác định trên cơ sở lượng giãn nước mùa hè của tàu. Lượng giãn nước mùa hè được xác định theo mớn nước mùa hè ấn định theo Công ước quốc tế về mạn khô tàu biển (LOADLINE 66). Đơn vị là tấn.

    Trọng tải thể hiện khả năng chuyên chở của tàu, cho biết tàu có thể chở tối đa bao nhiêu hàng, từ đó đảm bảo an toàn cho tàu trong toàn bộ hành trình.

    –     Chiều dài toàn bộ (LOA): Là chiều dài lớn nhất tính theo chiều dọc tàu.

    Kích thước này liên quan đến hỗ trợ tàu lai, hoa tiêu và có vai trò rất quan trọng đối với việc bố trí cầu bến cũng như trong quá trình điều động tàu.

  • Các Vấn Đề Pháp Lý Về Tàu Biển Và Thuyền Bộ Tàu Biển

    Các Vấn Đề Pháp Lý Về Tàu Biển Và Thuyền Bộ Tàu Biển

    Các Vấn Đề Pháp Lý Về Tàu Biển Và Thuyền Bộ Tàu Biển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Các vấn đề pháp luật về thuyền bộ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2017/02/C%C3%A1c-V%E1%BA%A5n-%C4%90%E1%BB%81-Ph%C3%A1p-L%C3%BD-V%E1%BB%81-T%C3%A0u-Bi%E1%BB%83n-V%C3%A0-Thuy%E1%BB%81n-B%E1%BB%99-T%C3%A0u-Bi%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Các Vấn Đề Pháp Lý Về Tàu Biển Và Thuyền Bộ Tàu Biển

    Câu 1: Khái niệm tàu biển trong Luật hàng hải?

    • Theo quy tắc phòng ngừa đâm va trên biển 1972: Tàu thuyền bao gồm loại phương tiện vận tải trên mặt nước, kể cả các loại tàu thuyền không có lượng chiếm nước, tàu đệm khí có cánh – WIG craft và thủy phi cơ được sử dụng hoặc có thể sử dụng được giống như 1 phương tiện giao thông trên mặt nước.
    • Theo Luật biển VN 2012: Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.
    • Theo Bộ luật hàng hải VN 2005: Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt động trên biển.
    • Theo Bộ luật hàng hải VN 2015: Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển. Tàu biển quy định trong bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa,tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi.

    Câu 2: Định nghĩa tàu biển theo Bộ Luật Hàng hải 2015 của Việt Nam? So sánh với Bộ luật Hàng hải 2005 có điểm gì mới?

    • Theo Bộ luật hàng hải VN 2015: Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển. Tàu biển quy định trong bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa,tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi.
    • Phạm vi áp dụng thu hẹp lại, tàu biển theo BLHHVN 2005 không bao gồm phương tiện thủy nội địa,tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi.

    Câu 3: Phân loại tàu biển và quản lý nhà nước về các loại tàu biển đó?

    • Phân loại:
    • Trong các Công ước quốc tế và luật hàng hải của các nước, tàu biển thường được chia làm 2 nhóm:
    • Tàu buôn: là các tàu biển chuyên dùng để vận chuyển hàng hóa, hành khách và hành lý, thăm dò – khai thác – chế biến tài nguyên biển, lai dắt cứu hộ trên biển, trục vớt tài sản chìm đắm và thực hiện các mục đích kinh tế khác.
    • Tàu công vụ Nhà nước: là tàu biển chuyên dùng để thực hiện các hoạt động bảo đảm hàng hải, khí tượng – thủy văn, thông tin – liên lạc, thanh tra, hải quan, phòng dịch, chữa cháy, hoa tiêu, huấn luyện, bảo vệ môi trường hoặc tìm kiếm cứu nạn trên biển. Những tàu này thường thuộc sở hữu của nhà nước, hoạt động với mục đích công ích và do kinh phí nhà nước cấp.
    • Theo IMO, công ước quốc tế về dung tích tàu biển, phân loại theo tổng dung tích của tàu:
    • Aframax là tàu chở dầu cỡ trung bình có tổng trọng tải từ 80.000 đến 119.999.
    • Capesize: những tàu chở hàng lớn, rất lớn với sức chở hơn 150.000 DWT, phân loại theo VLCC, ULCC, VLOC và có thể tới 400.000 DWT. Dùng để vận chuyển than đá, dầu thô, quặng sắt, chỉ phù hợp hoạt động ở 1 số cảng nước sâu.
    • Chinamax: những tàu rất lớn có trọng tải từ 380.000 – 400.000 DWT.
    • Handymax là tàu chở hàng cỡ nhỏ với kích thước < 60.000 DWT.
    • Supermax có sức chở từ 50.000 đến 60.000 DWT.
    • Handysize là tàu nhỏ với sức chở dao động từ 15.000 đến 35.000 DWT.
    • Malaccamax: là những tàu lớn nhất có thể đi qua luồng Malacca với mớn nước tối đa 25m.
    • Panamax và new panamax trọng tải trung bình 65.000 DWT.
    • Qatarmax là tàu chở khí ga hóa lỏng, Seawaymax, Suezmax : 120.000 đến 200.000 DWT.
    • VLCC là tàu chở hàng thô rất lớn 180.000 đến 320.000 DWT.
    • ULCC là tàu vận tải lớn nhất thế giới trên 320.000 DWT.
    • Theo mục đích hoạt động:
    • Tàu biển thương mại: là các tàu hoạt động vì mục đích kinh tế như tàu Container, tàu hàng rời, tàu bách hóa, tàu chở ô tô…
    • Tàu biển phi thương mại: chuyên dùng để phục vụ cho mục đích công cộng như thực hiện các hoạt động bảo đảm hàng hải, khí tượng – thủy văn, thông tin – liên lạc, thanh tra, hải quan…
    • Quản lý nhà nước:
    • Tàu quân sự, tàu ngầm… thuộc sự quản lý của Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng.
    • Tàu cảnh sát biển thuộc sự quản lý của Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ Quốc phòng.
    • Tàu cá, tàu kiểm ngư thuộc quản lý của Cục thủy sản, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
    • Tàu cứu hộ thuộc các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn khu vực 1,2,3,4, Bộ giao thông vận tải.

    Câu 4: Quốc tịch tàu biển? Quyền và nghĩa vụ của tàu biển theo luật quốc tịch tàu biển?

    • Theo quan điểm của luật hàng hải quốc tế thì mỗi tàu biển phải có 1 quốc tịch, phải tuân theo luật lệ nước đó về tổ chức nội bộ hoạt động của tàu. Tàu mang quốc tịch nước nào thì đc phép mang cờ nước đó để hoạt động.
    • Điều bắt buộc tàu phải có 1 quốc tịch nhất định và mang 1 cờ tương ứng là 1 biện pháp quan trọng để đảm bảo chế độ pháp lý trên biển cả.
    • Tất cả các nước trên thế giới kể cả có biển hay không có biểnđều có quyền thành lập đội tàu mang quốc tịch nước mình, các đội tàu này có quyền bình đẳng như nhau.
    • Theo quy định thì 1 tàu chỉ đc mang 1 quốc tịch. Nếu 1 tàu nào đó trong cùng 1 lúc lại sử dụng 2 quốc tịch tùy theo sự thuận lợi của mình thì sẽ không đc công nhận bất cứ quốc tịch nào trong đó và xem như không có quốc tịch, có thể bị bắt giữ.
    • Quyền lợi:

    Câu  5: Đăng ký tàu biển là gì? Các hình thức đăng ký tàu biển theo BLHHVN 2015?

    • Đăng ký tàu biển là việc ghi, lưu trữ các thông tin về tàu biển vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia VN và cấp giấy chứng nhận đăng ký tàu biển VN theo quy định của BLHHVN 2015 và quy định khác của pháp luật có liên quan.
    • Đây là 1 trong những thủ tục quan trọng nhất đối với tàu biển vì nó sẽ là giấy khai sinh của tàu cũng như là bằng chứng về quốc tịch của tàu biển. Đồng thời đây là bước bảo đảm sự kiểm tra Nhà nước đối với trang thiết bị liên quan đến an toàn hàng hải.

    Để được đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia thì trước hết tàu biển phải đăng ký kỹ thuật tại cơ quan đăng kiểm tàu biển VN hoặc các cơ quan đăng kiểm nước ngoài đc đăng kiểm VN ủy quyền. Việc đăng ký này đc thực hiện sau khi kiểm tra tình trạng kỹ thuật và an toàn của tàu sau đó cấp các giấy chứng nhận kỹ thuật cần thiết có giá trị pháp lý quốc tế. Đây là thủ tục nhằm mục đích đảm bảo cho tàu biển đc đóng và khai thác thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật về an toàn và ngăn ngừa ô nhiễm biển theo quy định của pháp luật VN và các ĐƯQT có liên quan.

    • Các hình thức đăng ký tàu biển:
    • Đăng ký tàu biển không thời hạn
    • Đăng ký tàu biển có thời hạn
    • Đăng ký thay đổi
    • Đăng ký tàu biển tạm thời
    • Đăng ký tàu biển đang đóng
    • Đăng ký tàu biển loại nhỏ