Author: Nguyễn Huyền

  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-L%E1%BA%ACP-D%E1%BB%B0-%C3%81N-KINH-DOANH-QU%C3%81N-KEM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM

    Tiểu luận 

     LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM
    LỜI MỞ ĐẦU

    Thế giới xung quanh chúng ta có biết bao điều làm bạn phải bận tâm? Tôi cam đoan sẽ là vô số, nếu có ai trả lời ngược lại thì đó là con người có cuộc sống rất lý tưởng. Nhưng những người như thế chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Cuộc sống giống một cuộn len, chúng ta ai cũng có những cuộn len riêng của mình, nó mang màu sắc riêng của bạn, của chính chúng ta. Với những vướng mắc mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống thường ngày như: học tập, tình yêu, công việc… những thứ làm cái đầu của chúng ta  muốn nổ tung. Chính vì thế mà nhu cầu giải trí nhằm xả stress đã, đang và sẽ là nhu cầu cấp thiết của con người trong cuộc sống thời kinh tế thị trường ngày nay. Bạn sẽ đi đâu đây để xả hơi sau những giây phút mệt mỏi? Tôi là một người rất thích và có thể nói là một tín đồ trung thành của những que kem. Nếu ai đó bật cười khi biết được điều đó thì tôi sẽ cho bạn thấy sức mạnh của những que kem nhỏ bé ấy. Những que kem mát lạnh không chỉ làm bạn được giải thoát khỏi sự nóng nực của cái nắng oi ả của mùa hè,mà còn cho bạn những giây phút vui vẻ bên bạn bè, nhưng người thân yêu và mang đi bao nỗi buồn của bạn. Còn mùa đông thì sao nhỉ: Tiết trời se lạnh đầu năm không làm mất đi cảm giác thèm vô cùng vị kem mát lạnh tê đầu lưỡi và sự khoan khoái khi được nhâm nhi những chiếc bánh ốc quế giòn tan, thơm lừng…Được cùng bạn bè ngồi thưởng thức những ly kem tươi hay hàn huyên bên chiếc lẩu kem được trang trí đẹp mắt với màu sắc và hương vị vô cùng hấp dẫn khiến xua tan đi cái ngột ngạt của cuộc sống thường nhật. Điều bạn có được từ nó giá trị hơn nhiều những gì bạn nghĩ đấy. Những que kem bé nhỏ nhưng lại không hề “ nhỏ bé” phải không bạn.

    Tôi rất thích kinh doanh và cũng thích ăn kêm nữa nên tôi muốn mở một cửa hàng bán kem để có thể được chia sẻ sở thích của mình với bạn. Hãy cùng tôi lập dự án kinh doanh này nhé?

    Tuy hiện nay có rất nhiều quán kem nhưng vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu của mọi người đặc biệt trong dịp hè sắp tới. Với một cửa hàng kem tươi ngon, giá phải chăng, phục vụ tốt, luôn quan tâm đến nhu cầu thư giãn của khách hàng tôi tin rằng chắc chắn sẽ được nhiều người chấp nhận.

     

     

     

    NỘI DUNG

    I. Mô tả dự án

    Tên dự án: cửa hàng kem tươi “ice-cream”

    Chủ đầu tư: Vũ Thị Tuyết

    Ngày sinh: 05/06/1989

    Địa chỉ: Trường đại học Lâm nghiệp, thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội

    Lĩnh vực tham gia kinh doanh: : cung cấp dịch vụ giải khát

    Địa điểm thực hiện: trên mặt phố, nơi tập trung đông dân cư, gần các trường đại học, THPT…

    Thời gian hoạt động: không giới hạn

    Nguồn thông tin: tìm hiểu số liệu thực tế từ một số cửa hàng kem lớn, cửa hàng cung cấp đồ nội thất, siêu thị, và một số trang  web khác…

     

    II. Một số tìm hiểu cơ bản

    1. Nghiên cứu thị trường

    Kem tươi với nhiều hương vị khác nhau là nhu cầu không thể thiếu của tất cả giới trẻ hiện nay, vì vậy có thể nói là một sản phẩm tiềm năng trong ngành giải khát. Cửa hàng kem không những đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng_ đặc biệt là giới trẻ, bắt nhịp cùng cuộc sống, mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Xã hội ngày càng phát triển, con người tham gia rất nhiều hoạt động, nhiều công việc để có thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân song con người lại càng có ít thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi, vì vậy một cửa hàng kem sẽ đáp ứng được nhu cầu thư giãn hàng ngày trong những bộn bề của cuộc sống. Do dó, nhu cầu cần có cửa hàng kem ngon, độc đáo, giá cả thích hợp và cách trang trí đẹp là rất cần thiết.

    Các quán kem hiện nay rất nhiều nhưng mới chỉ có số ít là đáp ứng được đa số nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, mặt khác cửa hàng nhỏ, trang trí cửa hàng đơn giản. Tất cả những điều trên cho thấy nhu cầu để có quán kem để thư giãn sẽ tăng, và có tương lai phát triển mạnh mẽ.

    2. Thị trường trọng tâm

    Trẻ em, học sinh, sinh viên là khách hàng chủ yếu của chúng tôi vì đây là tầng lớp có nhu cầu lớn. Đặc biệt, nhóm khách hàng mà quán hướng tới đó là giới trẻ, lứa tuổi từ 15-24. Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu về giải trí, thư giãn của họ là những quán kem, quán cafe… họ chiếm phần đông, có thu nhập ổn định đang tăng.

    Phân loại nhóm khách hàng:

    • Là các đôi yêu nhau
    • Là học sinh tuổi teen 16-18t
    • Là người có thu nhập ổn định 24-30 tuổi
    • Nhận đặt bánh theo yêu cầu…

     3. Mục tiêu của quán

    Môi trường kinh tế ngày càng nhiều biến động, hội nhập mang lại nhiều cơ hội kinh doanh mới, những luồng văn hóa mới, nhu cầu giải trí-thư giãn của con người ngay càng tăng cao, song song với nó là nhiều dịch vụ giải trí khác nhau cũng phát triển mạnh mẽ. Đó như một miếng bánh ngon được chia cho rất nhiều của hàng, hãng kinh doanh khác nhau. Quán kem không chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu giải khát của con người mà còn đi kèm đó là những dịch vụ giải trí, thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc căng thẳng hoặc sau những giờ học mệt mỏi, những lúc chia sẻ cảm xúc vui, buồn cùng bạn bè…  Cửa hàng kem tươi “ice-cream” sẽ đáp ứng tất cả nhu cầu đó của các bạn trẻ. Vì vậy, mục tiêu quán hướng đến đó là:

    Sản phẩm phong phú, đa dạng, đội ngũ nhân viên phục vụ trẻ trung, chuyên nghiệp, luôn luôn nở nụ cười với thực khách, cùng phong cách phục vụ chuyên nghiệp sẽ mang lại cho bạn một cảm giác thật gần gũi và ấm cúng…

    Cửa hàng sẽ là nơi thư giãn của mọi khách hàng, là nơi gặp gõ giao lưu bạn bè thú vị sau những những khoảng thời gian mệt mỏi.

    – Tối đa hoá sự hài lòng của khách hàng

    Về mục tiêu lợi nhuận, cửa hàng phấn đấu: Đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động

    4. Đặc điểm khách hàng

    Do khách hàng chính của chúng tôi chủ yếu là học sinh, sinh viên nên họ có cách sống của họ đơn giản,dễ gần gũi. Khi đến quán, điều mà họ quan tâm nhất là hình thức phục vụ và không gian có thoải moái hay không… Ngoài ra, theo tìm hiểu qua các cuộc nói chuyện với khách hàng chúng tôi được biết khi đến đây họ  còn cân nhắc những điều sau :

    – Có nhiếu lại kem ngon không?

    – Mức giá có phù hợp không?

    – Có phục vụ nhanh không?                           

    – Người phục vụ có nhiệt tình vui vẻ không?

    Đây là nhóm khách hàng có rất nhiều nhu cầu khác nhau, vì vậy đáp ứng được tất cả nhu cầu của họ sẽ mang lại cho quán một lợi thế cạnh tranh lớn trong trong môi trường kinh doanh “ giải trí- giải khát” ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay.

     

    5.  Đối thủ cạnh tranh

    Mặc dù mở ra cửa hàng kem có nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan thuận lợi. Nhưng để thành công không phải là chuyện dễ vì không chỉ có của hàng của mình ,mà còn nhiều cửa hàng hiện nay cũng đang tham gia lĩnh vực này nên các đối thủ cạnh tranh là rất lớn, họ cũng muốn đạt những gì họ muốn, do đó chúng tôi phải làm tốt hơn đối thủ thì mới thu hút được khách hàng.

     

    6. Nhà cung ứng

    Hiện nay có rất nhiều công ty kinh doanh kem lớn có thương hiệu: kem Tràng Tiền, kem Merino, … có thể thực hiện chiến lược liên kết với các nhà cung cấp để có thị trường đầu vào ổn định.

     

    7.  Các yếu tố vĩ mô

    – Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn khó khăn và luôn được nhà nước  khuyến khích Cho nên với loại hình kinh doanh kem thì việc đăng ký sẽ dễ dàng

    – Thị trường kinh doanh kem trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

     

    8. Các loại sản phẩm

    Đặc điểm về sản phẩm:

    • Ít đường, ít béo do làm từ hương liệu hoa quả, socola, vani,bơ sữa…
    • Trình bày theo khuôn mẫu đa dạng, dễ thương, sáng tạo
    • KH được tự design và gửi thông điệp cho từng sản phẩm kem theo yêu cầu của khách hàng
    • Đề cao bản ngã, cái tôi của người mua
    • Hương vị tự nhiên và hấp dẫn từ khứu giác
    • Đóng gói lịch sự, tiện dụng, phục vụ nhanh chóng

    Bảng 1: các sản phẩm kem của cửa hàng

     

    Kem dâu

    Kem xôi

    Kem tươi

    Kem rán

    Kem xoài

    Kem sầu riêng

    Kem dứa

    Bánh su kem

    Kem dừa

    Kem viên khoai môn

    Kem socola

    Kem chua mứt dâu

    Kem hạnh nhân

    Kem chua mứt xoài

    Kem dâu rừng

    Kem tươi chua vani

    Kem cookie & cream

    Kem socola núi lửa

    Kem vani

    Kem ốc quế

    Kem vani socola

    Kem rum nho

    Kem bạc hà

    Kem cam

    Kem cafe

    Kem trái cây

    Kem socola bạc hà

    Kem bạc hà

     

    III. Kế hoạch kinh doanh

    Trên cơ sỏ phân tích mục tiêu và thông tin thu thập từ thị trường của hàng đưa ra một số chiến lược kinh doanh như sau:

    – liên kết với các nhà cung cấp lớn đẻ tạo ưu thế về nguồn nguyên liệu

    – Đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng

    – Đào tạo nhân viên chuyên nghiệp

    – Luôn đưa vào những sản phẩm mới với hương vị hấp dẫn, nhiều hình dạng ngộ nghính nhằm thu hút khách hàng

     

    1. Chiến lược giá

    Cửa hàng chúng tôi sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá khác nhau dành cho mọi đối tượng khách hàng từ người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao, từ công nhân, học sinh, sinh viên đến các doanh nhân, công nhân viên… phù hợp với mọi lứa tuổi.

    Bảng 2: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm quán bắt đầu hoạt động

     

    Các lạo kem

    Đơn vị tính

    Giá bán

    Kem dâu

    ly

    7000

    Kem tươi

    Ly

    8000

    Kem xoài

    Chiếc

    8000

    Kem dứa

    Chiếc

    8000

    Kem dừa

    Chiếc

    8000

    Kem socola

    Chiếc

    10000

    Kem hạnh nhân

    Chiếc

    12000

    Kem dâu rừng

    Ly

    12000

    Kem cookie & cream

    Ly

    12000

    Kem vani

    Ly

    15000

    Kem vani socola

    Ly

    15000

    Kem bạc hà

    Chiếc

    15000

    Kem cafe

    ly

    15000

    Kem socola bạc hà

    Ly

    15000

    Kem xôi

    ly

    10000

    Kem rán

    ly

    10000

    Kem sầu riêng

    Chiếc

    10000

    Bánh su kem

    Ly

    15000

    Kem viên khoai môn

    Chiếc

    12000

    Kem chua mứt dâu

    Ly

    12000

    Kem chua mứt xoài

    Ly

    12000

    Kem tươi chua vani

    Ly

    12000

    Kem socola núi lửa

    Ly

    15000

    Kem ốc quế

    Ly

    8000

    Kem rum nho

    Ly

    10000

    Kem cam

    Chiếc

    8000

    Kem chanh

    Chiếc

    8000

    Kem me

    Chiếc

    8000

    Kem hoa quả

    Chiếc

    8000

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    2.Chiến lược marketing:

    Đối với bất kì một doanh nghiệp nào nói chung và một dự án nói riêng thì marketing đóng vai trò vô cùng quan trọng để doanh nghiệp cũng như một dự án  có thể thành công. Hoạt động Marketing là việc chúng ta bỏ ra chi phí về tài chính cũng như nguồn lực để mang lại hiệu quả tốt hơn trong việc kinh doanh, hiệu quả đó được thể hiện như là sức cầu của người tiêu dùng sẽ tăng lên, khách hàng sẽ biết đến sản phẩm dịch vụ của ta nhiều hơn, để từ đó tạo ra một hình ảnh về doanh nghiệp trong bộ nhớ của khách hàng. Khách hàng sẽ nghĩ đến sản  phẩm dịch vụ của doanh nghiệp mình khi có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ của ta. Như vậy chiến lược chung Marketing là một hệ thống những chính sách và các biện pháp nhằm triển khai và phối hợp những mũi nhọn marketing để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất. Để có một chiến lược marketing đạt hiệu quả cao thì việc đầu tiên ta phải hoạch định chiến lược marketing một cách cụ thể rõ ràng và khoa học phù hợp với mục tiêu của dự án cũng như mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp đã đề ra.

    Chiến lược marketing của dự án bao gồm những nội dung sau:

    – Mục tiêu chiến lược

    + Trước tiên là mục tiêu lợi nhuận: đây là mục tiêu  không thể thiếu đối với mỗi một dự án kinh doanh. Với dự án trông giữ xe ngày và đêm Tân Khánh dự đinh sẽ mang lại lợi nhuận cao.

    +  Thế lực trong kinh doanh: Khi dự án đưa vào hoạt động và ngày một phát triển thì điểm giữ xe có thể chiếm lĩnh được thị trường, khả năng cạnh tranh cao, mức độ sinh lời ngày càng tăng trong kinh doanh.

    + An toàn trong kinh doanh: Mọi hoạt động của dự án đều được thể  hiện mức độ an toàn là rất lớn, mức độ xảy ra rủi ro là không cao và có thể đề phòng và ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra.

    +  Mục tiêu nhân văn: Tạo công ăn việc làm cho xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, không gây ùn tắc giao thông

    Hình thức quảng cáo:

    Phát tờ rơi quảng cáo tại các trường ĐH, trung học, các công ty và người trung niên ở khu vực xung quanh đó. (1000 tờ rơi phát trong tháng đầu, sau đó có thể cân nhắc phát thêm hay không). Mỗi tờ rơi giảm 10% cho 1 ly, nhưng không cộng gộp với nhau

    Quảng cáo thông qua các hình thức chủ yếu  treo băng rôn ở các tuyến đường chính.Trong tuần đầu khai trương  khách hàng sẽ được giảm giá 50% trong ngày đầu và 30% trong các ngày tiếp t heo cho tất cả các sản phẩm.

    3. Phương án kĩ thuật và tổ chức quản lí nhân viên

    Sơ đồ hoạt động của tổ chức

             
         
     
         
     
       

     

     

     Nhân viên trong cửa hàng bao gồm:

    1 quản lý

    1 nhân viên thu ngân

    3 nhân viên phục vụ

    1 bảo vệ

    Yêu cầu nhân viên: Nhân viên năng động, phục vụ nhiệt tinh, khả năng xử lí tình huống nhanh, tuổi từ 18- 35 tuổi, ngoại hình ưa nhìn.

    Lương nhân viên

    Bảng 3: Lương hàng tháng

    Chỉ tiêu

    Số lượng

    Tiền lương

    (triệu đồng)

    Thành tiền

    (1000đ)

    Quản lý

    1

    6

    6

    Phục vụ

    4

    2.5

    10

    Bảo vệ

    1

    1.1

    1.1

    Thu ngân

    1

    2.2

    2.2

    Tổng

    7

     

    19.3

     

    IV. Hiệu quả hoạt động tài chính dự kiến

    1 Nguồn vốn và tài sản

    – nguồn vốn chủ sỏ hữu: 450

    – vốn vay ngân hàng: 150

    Lãi suất vay ngân hàng 12%/năm

    2.Chi phí hoạt động

    – Trang thiết bị, mô hình xây dựng, địa điểm

    BẢNG TÍNH CHI PHÍ ĐẦU TƯ BAN ĐẦU

    Đvt: ngàn đồng.

     
                 

     

     

    TT

    HẠNG MỤC ĐẦU TƯ

    SL

    ĐVT

     

    GIÁ

     

    THÀNH TIỀN

     

    1

    Bàn mây tròn:

    15

    cái

    x

    450

    =

    6.750

     

    2

    Ghế

    80

    cái

    x

    300

    =

    24.000

     

    3

    Bàn gỗ_kiếng vuông, thấp:

    15

    cái

    x

    420

    ==

    6.300

     

    4

    nệm ngồi

    80

    cái

    x

    35

    =

    2.800

     

    5

    Đế lót ly bằng gỗ

    300

    cái

    x

    3,65

    =

    1.095

     

    6

    Gạt tàn thuốc bằng gốm (TA58):

    20

    cái

    x

    19

    =

    300

     

    7

    Mâm Inox bưng nước cho nhân viên

    (304-36cm):

    15

    cái

    x

    101

    =

    1.515

     

    8

    Ly đựng kem

    200

    ly

    x

    75

    =

    1.500

     

    9

    Thìa

    200

    cái

    x

    5.5

    =

    1.100

     

    10

    Ti vi

    1

    Chiếc

    x

    6.560

    =

    6.560

     

    11

    Máy điều hòa

    1

    Chiếc

    x

    7.300

    =

    7.300

     

    12

    Điện thoại

    2

    Bộ

     

    1.500

    =

    1.500

     

    13

    Đầu đĩa đa năng

    1

    Bộ

    x

    2.100

    =

    2.100

     

    114

    Dàn loa

    1

    Bộ

    x

    3.500

    =

    3.500

     

    15

    Tủ lạnh

    2

    cái

    x

    10.500

    =

    21.000

     

    16

    Điện, đèn, nước, tiền công

    1

    Lần

    x

    20.000

    =

    20.000

     

    17

    Đồng phục nhân viên:

    16

    cái

    x

    300

    =

    4.800

     

    18

    Trang trí nội thất, sửa chữa quán, trang trí cây cảnh:

    1

    Lần

    x

    150.000

    =

    140.000

     

    19

    1 tủ quầy bar tính tiền và để dàn nhạc

    2

    cái

    x

    5.500

    =

    11.000

     

    20

    Chi phí PANO vải quảng cáo:

    3

    Tấm

    x

    1.500

    =

    4.500

     

    21

    Giấy phép kinh doanh

    1

     

    x

    5000

    =

    5.000

     

    22

    Chi phí bảng hiệu, hộp đèn:

    1

    Bộ

    x

    20000

    =

    20.000

     

    23

    Đồ dùng khác

    1

    Lần

    x

    120.000

    =

    12.000

     
     

    Tổng vốn đầu tư

             

    304.62

     
                       

    Bảng 5:Chi phí cho hàng tháng

    Stt

    Loại chi phí

    Thành tiền

    (nghìn đồng)

    1

    Sản lượng kem tiêu thụ hàng tháng

    69.800

    2

    Đồ uống

    15.600

    3

    Chi phí công nhân viên

    19.800

    4

    Khấu hao TSCĐ (24 tháng)

    5.620

    5

    Chi phí thuê mặt bằng

    20.200

    6

    Tiền điện nước hàng tháng

    40.000

    7

    Chi phí khác

    12.300

     

    Tổng

    183.02

    3. Doanh thu dự kiến và chi phí dự kiến

    Vốn cố định: 304.620.000 đ

    Chi tiêu hàng tháng:183.020.000 đ/tháng

    Doanh thu hàng ngày dự kiến: 6.80.000

    Doanh thu bình quân hàng tháng: 204.000.000 đ/tháng

    Lợi nhuận hàng tháng: 67.530.000 đ/tháng

    4. Đánh Giá Tài Chính

    1. Đánh giá tài chính

    P: vốn đầu tư ban đầu

    r: lãi suất chiết khấu

    CF: dòng thu nhập ròng qua các năm

    a, Hiện giá thu hồi thuần ( NPV )

    Thể hiện tổng số tiền lời sau khi hoàn đủ vốn ( dự tính sau 2 năm)

    Vậy ta có NPV >0, dự án khả thi.

    b, Suất thu hồi nội bộ(IRR)

    Biểu hiện suất sinh lợi thực tế của dự án

    Ta thấy, suất sinh lời thực tế của dự án IRR >10%, dự án khả thi.

    c, Chỉ số lợi nhuận(PI)

                       Thể hiện tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án trên khoản đầu tư ban đầu

              Tỷ lệ này đạt 1,46 tức tỷ lệ hoàn vốn cộng với lời ròng của dự án là 19% trên khoản đầu tư ban đầu. So với các ngành nghề có số vốn đầu bằng dự án này thì có chỉ số PI như thế này tương đối tốt.

    d, Chỉ tiêu BCR ( thu nhập/ chi phí )

    B/C = = = 1.03

    Ta thấy B/C = 1.03> 0 nên dự án có hiệu quả về mặt kinh tế.

    Trên cơ sở phân tích các chỉ tiêu trên ta nhận xét dự án trên có hiệu quả về mặt kinh tế, nên đầu tư thực hennj dự án.

     

    V. Hiệu quả về mặt kinh tế xã hội

    Đây là một của hàng kinh doanh với quy mô nhỏ vì vậy ảnh hưởng của nó tơi mặt kinh tế xã hội là rất nhỏ, tuy nhiên cũng có thể kể ra một số hiệu quả mà nó mang lại như sau:

    • Tăng thu nhập cho quốc dân
    • Đóng góp vào việc gia tăng ngân sách
    • Một cửa hàng đẹp sẽ góp phần tôn lên vẻ đẹp chung của phố phường
    • Giúp con người có nơi thư giãn nghỉ ngơi, có giá trị cao về mặt tinh thần.

    VI.Những rủi ro có thể gặp

    Rủi ro là yếu tố luôn tồn tại trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh , và trong quá trình thực hiên dự án xây dựng của hàng kem”ice-cream” cũng không ngoại lệ.Những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình xây dựng và triển khai dự án:

    • Cạnh tranh trong lĩnh vực này là rất cao, đòi hỏi chủ quán phải năng động, thích nghi kịp thời với mọi nhu cầu thay đổi của khách hàng, đua ra chiến lược canh trạnh thích hợp.
    • Do đặt của hàng ở nơi trung tâm nên chi phí kinh doanh cao, cần tìm mọi cách để tiết kiệm chi phí.
    • Giá cả thị trường luôn biến động, cần đề xuát các biện pháp đối phó kịp thời.

    KẾT LUẬN

    Đây là một dự án kinh doanh với mô hình nhỏ. Dự án trên đã khái quát được cơ bản các bước lập 1 kế hoạch kinh doanh. Tuy nhiên trên cơ sở tìm hiểu còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài viết của em đạt hiệu quả cao hơn.

    Em xin trân thành cảm ơn!

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-TR%C3%8D-TU%E1%BB%86-NH%C3%82N-T%E1%BA%A0O-T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-GI%E1%BA%A2I-THU%E1%BA%ACT-DI-TRUY%E1%BB%80N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

    BÀI TẬP LỚN TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: TÌM HIỂU GIẢI THUẬT DI TRUYỀN

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Trong ngành khoa học máy tính, tìm kiếm lời giải tối ưu cho các bài toán là vấn đề được các nhà khoa học máy tính đặc biệt rất quan tâm.

    Mục đích chính của các thuật toán tìm kiếm lời giải là tìm ra lời giải tối ưu nhất cho bài toán trong thời gian nhỏ nhất. Các thuật toán như tìm kiếm không có thông tin / vét cạn ( tìm kiếm trên danh sách, trên cây hoặc đồ thị ) sử dụng phương pháp đơn giản nhất và trực quan nhất hoặc các thuật toán tìm kiếm có thông tin sử dụng heurictics để áp dụng các tri thức về cấu trúc của không gian tìm kiếm nhằm giảm thời gian cần thiết cho việc tìm kiếm được sử dụng nhiều nhưng chỉ với không gian tìm kiếm nhỏ và không hiệu quả khi tìm kiếm trong không gian tìm kiếm lớn.

    Tuy nhiên, trong thực tiễn có rất nhiều bài toán tối ưu với không gian tìm kiếm rất lớn cần phải giải quyết. Vì vậy, việc đòi hỏi thuật giải chất lượng cao và sử dụng kỹ thuật trí tuệ nhân tạo đặc biệt rất cần thiết khi giải quyết các bài toán có không gian tìm kiếm lớn. Thuật giải di truyền (genetic algorithm) là một trong những kỹ thuật tìm kiếm lời giải tối ưu đã đáp ứng được yêu cầu của nhiều bài toán và ứng dụng.

    Hiện nay, thuật toán di truyền cùng với logic mờ được ứng dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực phức tạp. Thuật toán di truyền kết hợp với logic mờ chứng tỏ được hiệu quả của nó trong các vấn đề khó có thể giải quyết bằng các phương pháp thông thường hay các phương pháp cổ điển, nhất là trong các bài toán cần có sự lượng giá, đánh giá sự tối ưu của kết quả thu được. Chính vì vậy, thuật giải di truyền đã trở thành đề tài nghiên cứu thú vị và đem đến nhiều ứng dụng trong thực tiễn.

     

    Ngày nay, GA được ứng dụng khá nhiều trong các lĩnh vực như khoa học, kinh doanh và giải trí. Đầu tiên phải kể đến là các bài toán tối ưu bao gồm tối ưu số

     

    3

     

    và tối ưu tổ hợp đã sử dụng GA để tìm lời giải như là bài toán người du lịch (Travelling Salesman Problems – TSP). Ứng dụng kế tiếp của GA là thiết kế và điều kiển robo. Hầu hết các nước có ngành CNTT phát triển đã và đang rất quan tâm đến lĩnh vực thiết kế robo nhằm giúp con người tiết kiệm sức lao động và giải phóng con người thoát khỏi các công việc nguy hiểm, đặc biệt hiện nay cuộc thi “Robocon” Châu Á_ Thái Bình Dương được các nước trong khu vực rất quan tâm. Ngoài phần cơ, để robo có thể tiến hành các hoạt động đơn giản nhất như đi, đứng… thì robo cần phải trang bị chương trình được lập trình dựa trên các thuật toán và ngôn ngữ thích hợp. Nhờ vào lịch trình được cài đặt cùng với một trí tuệ nhân tạo…, robo có thể định hướng thực hiện các hoạt động như con người. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lời giải tốt nhất cho các hành động của robo không phải là đơn giản. Theo các nhà khoa học máy tính, thuật giải di truyền là một trong những thuật toán tối ưu giúp robo vạch lộ trình khi di chuyển. Với lý do trên, em chọn đề tài: “Thuật giải di truyền và ứng dụng”.

     

     

     

     

     

    4

     

    PHẦN I: THUẬT TOÁN DI TRUYỀN

     

    I.Giới thiệu:

     

    Thuật toán di truyền là thuật toán tối ưu ngẫu nhiên dựa trên cơ chế chọn lọc tự nhiên và tiến hóa di truyền. Nguyên lý cơ bản của thuật toán di truyền đã được Holland giới thiệu vào năm 1962. Cơ sở toán học đã được phát triển từ cuối những năm 1960 và đã được giới thiệu trong quyển sách đầu tiên của Holland, Adaptive in Natural and Artificial Systems. Thuật toán di truyền được ứng dụng đầu tiên trong hai lĩnh vực chính: tối ưu hóa và học tập của máy. Trong lĩnh vực tối ưu hóa thuật toán di truyền được phát triển nhanh chóng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như tối ưu hàm, xử lý ảnh, bài toán hành trình người bán hàng, nhận dạng hệ thống và điều khiển. Thuật toán di truyền cũng như các thuật toán tiến hóa nói chung, hình thành dựa trên quan niệm cho rằng, quá trình tiến hóa tự nhiên là quá trình hoàn hảo nhất, hợp lý nhất và tự nó đã mang tính tối ưu. Quan niệm này có thể xem như một tiên dề dúng, không chứng minh được, nhưng phù hợp với thực tế khách quan. Quá trình tiến hóa thể hiện tính tối ưu ở chỗ, thế hệ sau bao giờ cũng tốt hơn (phát triển hơn, hoàn thiện hơn) thế hệ trước bởi tính kế thừa và dấu tranh sinh tồn.

     

    II. Nội dung

     

    2.1. Cơ sở lý thuyết

     

    Thuật toán di truyền gồm có bốn quy luật cơ bản là lai ghép, đột biến, sinh sản và chọn lọc tự nhiên như sau:

     

    5

     

    2.1.1. Quá trình lai ghép (phép lai)

     

    Quá trình này diễn ra bằng cách ghép một hay nhiều đoạn gen từ hai nhiễm sắc thể cha-mẹ để hình thành nhiễm sắc thể mới mang đặc tính của cả cha lẫn mẹ. Phép lai này có thể mô tả như sau: Chọn ngẫu nhiên hai hay nhiều cá thể trong quần thể. Giả sử chuỗi nhiễm sắc thể của cha và mẹ đều có chiều dài là m. Tìm điểm lai bằng cách tạo ngẫu nhiên một con số từ 1 đến m-1. Như vậy, điểm lai này sẽ chia hai chuỗi nhiễm sắc thể cha-mẹ thành hai nhóm nhiễm sắc thể con là m1 và m2. Hai chuỗi nhiễm sắc thể con lúc này sẽ là m11+m22 và m21+m12. Đưa hai chuỗi nhiễm sắc thể con vào quần thể để tiếp tục tham gia quá trình tiến hóa.

     

    2.1.2. Quá trình đột biến (phép đột biến):

     

    Quá trình tiến hóa được gọi là quá trình đột biến khi một hoặc một số tính trạng của con không được thừa hưởng từ hai chuỗi nhiễm sắc thể cha-mẹ. Phép đột biến xảy ra với xác suất thấp hơn rất nhiều lần so với xác suất xảy ra phép lai. Phép đột biến có thể mô tả như sau: Chọn ngẫu nhiên một số k từ khoảng 1 ≥ k ≥ m Thay đổi giá trị của gen thứ k Đưa nhiễm sắc thể con vào quần thể để tham gia quá trình tiến hóa tiếp theo.

     

    2.1.3. Quá trình sinh sản và chọn lọc (phép tái sinh và phép chọn)

     

    Phép tái sinh: là quá trình các cá thể được sao chép dựa trên độ thích nghi của nó. Độ thích nghi là một hàm được gán các giá trị thực cho các cá thể trong quần thể của nó. Phép tái sinh có thể mô phỏng như sau: Tính độ thích nghi của từng cá thể trong quần thể, lập bảng cộng dồn các giá trị thích nghi đó (theo thứ tự gán cho từng cá thể) ta được tổng độ thích nghi. Giả sử quần thể có n cá thể. Gọi độ thích nghi của cá thể thứ i là Fi, tổng dồn thứ i là Ft.Tổng độ thích nghi là Fm Tạo số ngẫu nhiên F có giá trị trong đoạn từ 0 đến Fm Chọn cá thể k đầu tiên thỏa mãn F ≥ Ft đưa vào quần thể của thế hệ mới.

     

    6

     

    Phép chọn: là quá trình loại bỏ các cá thể xấu và để lại những cá thể tốt. Phép chọn được mô tả như sau: Sắp xếp quần thể theo thứ tự độ thích nghi giảm dần Loại bỏ các cá thể cuối dãy, chỉ để lại n cá thể tốt nhất.

     

    2.2 Cấu trúc thuật toán di truyền tổng quát

     

    Thuật toán di truyền bao gồm các bước sau: Bước 1: Khởi tạo quần thể các nhiễm sắc thể. Bước 2: Xác định giá trị thích nghi của từng nhiễm sắc thể. Bước 3: Sao chép lại các nhiễm sắc thể dựa vào giá trị thích nghi của chúng và tạo ra những nhiễm sắc thể mới bằng các phép toán di truyền. Bước 4: Loại bỏ những thành viên không thích nghi trong quần thể. Bước 5: Chèn những nhiễm sắc thể mới vào quần thể để hình thành

     

    một                                         quần                                         thể                                         mới.

     

    Bước 6: Nếu mục tiêu tìm kiếm đạt được thì dừng lại, nếu không trở lại bước 3.

     

     

     

     

     

    7

     

    Sơ đồ thuật toán:

     

    Bắt

    đầu

     

    Khởi tạo quần thể

     

    Mã hóa các biến

     

    Đánh giá độ thích nghi

     

    Chọn lọc

     

    Lai ghép

     

    Đột biến

     

    Thỏa điều kiện dừng

    Không

     

    Thỏa

     

    Kết quả

     

    Kết thúc

     

    8

     

     

    eval (vi )

    2.3. Các công thức của thuật giải di truyền

     

    Tính độ thích nghi eval(vi)của mỗi nhiễm sắc thể vi(i =1..kích thước quần

     

    thể):

     

    eval

    (vi ) =

    f (vi )

    åf (vi

    Với f(vi) là hàm mục tiêu.

    kichthuocq   uanthe

     
       

    i =1

     

    Tìm tổng giá trị thích nghi quần thể:

     

    kichthuocq   uanthe

    F =                 åeval (vi )

     

    • =1

     

    Tính xác suất chọn pi cho mỗi nhiễm sắc thể vi:

     

     

    pi     = kichthuocq   uanthe

    åeval (vi )

     

    • =1

     

    Tính xác suất tích lũy qi cho mỗi nhiễm sắc thể:

     

    i

    qi = åpi

     

    • =1

     

    Tiến trình chọn lọc được thực hiện bằng cách quay bánh xe rulet kích thước quần thể lần. Mỗi lần chọn ra một nhiễm sắc thể từ quần thể hiện hành vào quần thể mới theo cách sau: Phát sinh một số ngẫu nhiên r trong khoảng [0, 1] Nếu r < q1thì chọn nhiễm sắc thể v1, ngược lại chọn nhiễm sắc thể vi (2 ≤ i ≤ kích thước quần thể) sao cho qi-1 < r ≤ qi.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    9

     

    PHẦN II: ỨNG DỤNG

     

    I.Ứng dụng

     

    Tìm đáp số cho phương trình X2 = 64. Đây là một bài toán đơn giản để giúp ta có thể hiểu rõ hơn các bước của thuật toán di truyền.

    Giải bài toán di truyền theo các bước sau:

     

    Bước 1: Chúng ta sử dụng hệ nhị phân để xây dựng mô hình bài toán.Ta dùng 4 bit nhị phân để mã hóa cho các đáp số của bài toán.Gỉa sử ta không biết đáp số của bài toán, ta sẽ chọn 4 số trong các đáp số có thể có và ký hiệu cho các đáp số đó.

    Bảng chọn lựa:

     

    Thứ tự

    Nhị phân

    Thập phân

    1

    0 0100

    4

    2

    1 0101

    21

    3

    0 1010

    10

    4

    1 1000

    24

    Bước 2: Tìm hàm số thích nghi và tính hệ số thích nghi cho từng đáp số.Ta chọn hàm số thích nghi sau: f(X) = 1000 – (X2 – 64). Vậy, đáp số nào có hệ số thích nghi f gần bằng 1000 nhất thì đó là đáp số. Khảo sát kết quả tính được:

     

    Thứ tự

    Nhị phân

    Thập phân

    X2 – 64

    Hệ số thích

       

    (X)

     

    nghi f(x)

    1

    0 0100

    4

    – 48

    952

    2

    1 0101

    21

    377

    623

    3

    0 1010

    10

    36

    964

    4

    1 1000

    24

    512

    488

    10

     

    Bước 3:Ta thấy, hệ số thích nghi của các đáp số vẫn còn cách xa 1000.Do đó, cần tạo ra các đáp số mới bằng cách biến hóa các đáp số cũ. Ta thấy, số 4 và 10 có hệ số thích nghi cao hơn nên được chọn để tạo sinh và biến hóa.Đồng thời số 21 và 24 có hệ số thích nghi thấp sẽ bị loại.

    Gỉa sử ta lai ghép hai số 4 và 10 theo hình sau :

     

    Bước 4:Tính hệ số thích nghi cho quần thể mới

         
                 

    Thứ tự

    Nhị phân

    Thập phân

    X2 – 64

     

    Hệ số thích

       

    (X)

       

    nghi f(x)

     

    1

    0 0100

    4

    – 48

     

    952

     

    2

    0 1010

    10

    36

     

    964

     

    3

    0 1000

    8

    0

     

    1000

     

    4

    0 0110

    6

    28

     

    968

     

    Bước 5:May mắn chúng ta đã tìm được kết quả là X

    = 8 với hệ số thích

    nghi cao nhất là 1000.

     

    Vậy kết quả của bài toán là X = 8 .

     

    II.Chương trình

     

    • Khai báo: #include “stdio.h” #include”conio.h” #include “stdlib.h” #include “math.h” int CT[10];

    int n=4;

     

    int GTTN[10]; int kq;

     

    11

     

    int Max1,Max2;

     

    int Max1moi=0,Max2moi=0;

     

    int A[5],B[5];

     

    • Các đoạn code:

     

    • Code khởi tạo quần thể: void Taoquanthe(int n)

    {

     

    for(int i=0;i<n;i++)

     

    {

     

    printf(“nhap ca the thu %d:”,i); scanf(“%d”,&CT[i]);

    }

     

    }

     

    • Code tính giá trị thích nghi của quần thể bằng công thức: F=1000-(x2-64) void Giatrithichnghi(int n)

    {

     

    for(int i=0;i<n;i++)

     

    {

     

    int gttn=1000-(CT[i]*CT[i] – 64); GTTN[i]=gttn;

    }

     

    }

     

    12

     

    • Code kiểm tra giá trị thích nghi để suy ra kết quả: int Kiemtra(int n)

    {

     

    for(int i=0;i<n;i++)

     

    {

     

    if(GTTN[i]==1000) return (CT[i]);

     

    }

     

    return 0;

     

    }

     

    • Tìm, chọn lọc cá thể để lai: (sắp xếp mảng giảm dần, lấy hai cá thể đầu tiên để lai với nhau)

    void Timcathelai()

     

    {

     

    for(int i=0;i<n;i++) for(int j=i+1;j<n;j++)

    {

     

    if(GTTN[i]<GTTN[j])

     

    {

     

    int a=GTTN[i];

     

    GTTN[i]=GTTN[j];

     

    GTTN[j]=a;

     

    }

     

    }

     

    13

     

    Max1=sqrt(1064-GTTN[0]);

     

    Max2=sqrt(1064-GTTN[1]);

     

    }

     

    • Lai cá thể với nhau: (mã hóa cá thể ra nhị phân, thay đổi cấu trúc nhị phân gây đột biến tạo cá thể mới, giải mã cá thể mới về thập phân)

    void Laicathe()

     

    {

     

    for (int i=0;i<5;i++)

     

    {

     

    A[i]=0;

     

    B[i]=0;

     

    }

     

    while(Max1!=0)

     

    {

     

    for(int j=0;j<5;j++)

     

    {

     

    A[j]=Max1%2;

     

    Max1=Max1/2;

     

    }

     

    }

     

    while(Max2!=0)

     

    {

     

    for(int k=0;k<5;k++)

     

    {

     

    B[k]=Max2%2;

     

    Max2=Max2/2;

     

    14

     

    }

     

    }

     

    for(int l=4;l>1;l–)

     

    {

     

    int b=A[l];

     

    A[l]=B[l];

     

    B[l]=b;

     

    }

     

    for(int m=4;m>=0;m–)

     

    {

     

    Max1moi=Max1moi+A[m]*pow(2,m);

     

    Max2moi=Max2moi+B[m]*pow(2,m);

     

    }

     

    }

     

    • Tạo quần thể mới: (kết hợp các thể mẹ và cá thể con) void Taoquanthemoi()

    {

     

    CT[0]=Max1;

     

    CT[1]=Max2;

     

    CT[2]=Max1moi;

     

    CT[3]=Max2moi;

     

    }

     

    • Hàm chính:

    void main()

     

    {

     

    15

     

    clrscr();

     

    printf(“Giai PT X*X=64, bang thuat toan di truyen”);

     

    printf(“Tao quan the co 4 ca the”);

     

    Taoquanthe(n);

     

    Giatrithichnghi(n);

     

    kq=Kiemtra(n);

     

    while(kq==0)

     

    {

     

    Timcathelai();

     

    Laicathe();

     

    Taoquanthemoi();

     

    Giatrithichnghi(n);

     

    kq=Kiemtra(n);

     

    }

     

    printf(” Ket qua phuong trinh la : %d”,kq);

     

    getch();

     

    }

     

     

    PHẦN III: KẾT LUẬN

     

     

    I.Ưu điểm

     

    Trình bày và giới thiệu những khái niệm cơ bản, cơ sở lý thuyết về thuật giải di truyền. Trên cơ sở lý thuyết, đề tài đã cài đặt các phép toán cơ bản của thuật giải di truyền nhằm phục vụ cho việc thực hiện các ứng dụng. Sử dụng các phép toán của thuật giải di truyền để xây dựng ứng dụng cho bài toán người du lịch và bài toán vạch lộ trình đường đi cho robo.

     

    II. Khuyết điểm

     

    Đề tài chỉ giới thiệu những kiến thức chung nhất về thuật giải di truyền, chưa đi sâu vào các vấn đề nghiên cứu tối ưu khác. Phần ứng dụng vạch lộ trình đường đi cho robo chưa hoàn hảo. Đặc biệt là chưa giải quyết tốt việc robo tránh vật chắn và kích thước quần thể thay đổi.

     

    III. Ý kiến bản thân

     

    Thuật toán di truyền đã chứng tỏ tính hữu ích của nó khi được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.

    Trong lĩnh vực điểu khiển tự động, thuật toán di truyền có thể được sử dụng để xác định thong số tối ưu cho các bộ điều khiển.Thông số bộ điều khiển được mã hóa thành các nhiễm sắc thể, thông qua mô phỏng, các nhiễm sắc thể này được đánh giá và lựa chọn thong qua mức độ thích nghi của chúng (cũng chính là các chỉ tiêu chất lượng của hệ thống). Kết quả của thuật toán sẽ cho một bộ điều khiển có thong số tốt nhất.

    Trong y học, cấu trúc của các chất hóa học được mã hóa thành các nhiễm sắc thể hoặc đồ thị.Thuật toán di truyền sẽ lai ghép, lựa chọn để tạo ra các nhiễm sắc

     

    thể mới (các chất hóa học mới). Và trong thực tế đã có rất nhiều loại thuốc mới được tạo ra như vậy.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Thu-H%C3%BAt-V%E1%BB%91n-%C4%90%E1%BA%A7u-T%C6%B0-Tr%E1%BB%B1c-Ti%E1%BA%BFp-N%C6%B0%E1%BB%9Bc-Ngo%C3%A0i-V%C3%A0o-L%C4%A9nh-V%E1%BB%B1c-Ph%C3%A2n-Ph%E1%BB%91i-B%C3%A1n-L%E1%BA%BB-C%C6%A1-H%E1%BB%99i-V%C3%A0-Th%C3%A1ch-Th%E1%BB%A9c-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thu Hút Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Lĩnh Vực Phân Phối Bán Lẻ, Cơ Hội Và Thách Thức 2019

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang diễn ra từng bước, và có tác động
    không nhỏ tới các thanh phần kinh tế ở Việt Nam. Sau khi Việt Nam gia nhập
    WTO, nền kinh tế nước ta đã có nhiều chuyển biến rất tích cực. Kinh tế tưng
    trưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, vốn FDI tăng liên tục, đời sống nhân dân cũng ngày một cải thiện. Trong xu thế mở rộng này, ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam cũng đã có những bước phát triển rất nhanh chóng, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Khi dịch vụ phân phối bán lẻ được mở rộng, người được lợi nhiều nhất ở đây chính là người tiêu dùng. Người tiêu dùng đã có cơ hội được mua sắm các loại hàng hóa đa dạng, hiện đại, phong phú, chất lượng dịch vụ hàng đầu. Tuy nhiên việc mở cửa đối với ngành dịch vụ này lại là một thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước. So với các doanh nghiệp nước ngoài, chúng ta vẫn có sự thua thiệt về mặt vốn đầu tư, trình độ kĩ thuật cũng như tổ chức quản lý nên rất khó để chống đỡ rủi ro cũng như những biến động trên thị trường, cũng như áp lực cạnh tranh từ các công ty nước ngoài. Nhưng đồng thời đây cũng là những cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước học hỏi trình độ cũng như tiếp cận được với mô hình quản lý hiện đại của các doanh nghiệp nước ngoài.
    Hội nhập kinh tế thế giới là một xu hướng tất yếu của mỗi quốc gia. Dù biết
    rằng nguồn vốn FDI này không chỉ mang đến những tác động về mặt kinh tế mà
    còn tạo ra không ít tác động về mặt xã hội ở Việt Nam. Làm sao để vừa có thể thu hút nguồn vốn FDI để thúc đẩy nền kinh tế, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực của nguồn vốn này để phát triển kinh tế. Nhận thức được vấn đề này nên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ, cơ hội và thách thức” làm đề tài khóa luận của mình.

    Nhóm em xin gửi lời cám ơn tới cô Phan Thị Bích Ngọc, người đã hướng
    dẫn trực tiếp chúng em làm khóa luận tốt nghiệp này. Chúng em xin chân thành
    cám ơn sự giúp đỡ và chỉ dạy tận tình của cô.

     

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN PHỐI BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    • Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngành phân phối bán lẻ.
      1.1. Khái niệm dịch vụ phân phối bán lẻ.

    Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ phân phối bán lẻ.
    Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của tài liệu số TN.GNS/W/120 của
    tổ chức thương mại thế giới WTO và danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời của Liên Hợp Quốc đã định nghĩa như sau:
    “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán các loại hàng hóa cho người tiêu dùng hoặc
    các hộ tiêu dùng từ một địa điểm cố định hoặc từ một địa điểm khác, và các dịch vụ phụ liên quan”.

    Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về dịch vụ bán lẻ như sau:
    Trong cuốn “Quản trị Marketing” của Philip Kotler đã định nghĩa dịch vụ
    bán lẻ như sau: “Bán lẻ bao gồm toàn bộ những hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hay cung cấp những dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân chứ không phải mục đích kinh doanh”. Mọi tổ chức làm công việc này cho dù là người sản xuất, người bán sỉ hay bán lẻ đều là làm bên cung cấp dịch vụ bán lẻ, bất kể hàng hóa hoặc dịch vụ đó được cung cấp như thế nào (bán trực tiếp, qua điện thoại, qua bưu điện hoặc qua máy bán hàng) hay được bán ở đâu (bán tại cửa hàng, ngoài phố).

    Từ điển Wikipedia đã định nghĩa về ngành dịch vụ này như sau:
    “Bán lẻ gồm bán hàng cho cá nhân hoặc cho các hộ gia đình để họ tiêu dùng
    tại một địa điểm cố định hoặc không tại địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan”.

    Tóm lại, bán lẻ là hoạt động kinh doanh bằng cách mua với số lượng lớn từ
    nhà sản xuất, hoặc nhà phân phối rồi chia nhỏ ra và bán lại cho người tiêu dùng
    nhằm phụ vụ nhu cầu cá nhân hoặc gia đình.

     

    1.1.2. Đặc điểm.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ có tính chất phân tán cao.

    Nhu cầu tiêu dùng là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của con người.
    Cho dù là ở người dân ở đâu đi nữa thì nhu cầu với tiêu dùng vẫn là điều không thể thiếu được. Ở đâu có người dân thì ở đó sẽ xuất hiện các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ để mang hàng hóa tới người tiêu dùng. Dịch vụ bán lẻ trải rộng khắp mọi nơi theo các địa điểm phân bố dân cư, và phụ thuộc rất nhiều vào mật độ dân số cũng như thu nhập của người dân ở nơi đây.
    Vào những năm đầu của thế kỉ 20, công nghệ thông tin bùng nổ tạo điều
    kiện cho các bên trao đổi, cung cấp các dịch vụ đến người tiêu dùng một cách
    nhanh hơn, ưu việt hơn. Việc bán hàng thông qua các trang web thương mại điện tử ngày càng phát triển và thu hút được nhiều sự quan tâm. Đây là một bước tiến lớn đối với dịch vụ trao đổi, buôn bán hàng hóa, từ đây việc trao đổi hàng hóa sẽ không còn bị giới hạn về không gian, thời gian, luôn bảo đảm dịch vụ có thể hoạt động 24/24 giờ mỗi ngày.

    • Dịch vụ bán lẻ luôn theo sát nhu cầu thực tế và thỏa mãn nhanh nhất
      nhu cầu đó
      .

    Nhà bán lẻ là những người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, vậy nên họ
    là người am hiểu nhất những mong muốn cũng như những thay đổi trong nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó phản ánh những thông tin này tới nhà sản xuất, giúp nhà sản xuất có thể điều chỉnh chất lượng cũng như mẫu mã sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Với vai trò là cầu nối của người tiêu dùng với nhà sản xuất, nhà bán lẻ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền tải các thông tin về chương trình khuyến mại hoặc các thông tin mới nhất về các sản phẩm và dịch vụ tới người tiêu dùng. Dịch vụ phân phối bán lẻ phản ứng chính xác những nhu cầu thực tế của người tiêu dùng thông qua quá trình chuẩn bị mua hàng đến sau khi quá trình mua hàng kết thúc, nhanh chóng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng.

    • Dịch vụ bán lẻ hướng tới người tiêu dùng cuối cùng

    Bán lẻ là quá trình giao hàng hóa từ người bán lẻ đến tay người tiêu dùng
    cuối cùng, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, gia đình chứ không phải vì mục đích thu lợi nhuận. Người tiêu dùng có thể nhận hàng trực tiếp hoặc gián tiếp qua bưu diện, qua máy bán hàng,… tùy theo nhu cầu của mỗi cá nhân. Ngành bán lẻ phát triển chủ yếu dựa vào nhu cầu hàng hóa trên thị trường. Chính vì vậy nên thị trường bán lẻ luôn diễn ra sôi động, nhà bán lẻ sử dụng nhiều chính sách như ưu đãi, chương trình khuyến mại, voucher,… để lôi kéo nhiều khách hàng hơn.
    1.1.3. Các mô hình tổ chức bán lẻ chính.

    • Mạng lưới công ty.

    Các cửa hàng của mạng lưới này là hai hoặc nhiều cửa hàng thuộc cùng một
    quyền sở hữu, có chung bộ phận thu mua và tiêu thụ, và bán những loại hàng hóa tương tự nhau. Mạng lưới công ty có trong tất cả các loại hình bán lẻ, nhưng tập trung phát triển ở các cửa hàng bách hóa, tạp hóa, cửa hàng phân phối,…

    • Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ.

    Mạng lưới cộng tác viên gồm một nhóm người bán lẻ độc lập, được người
    phân phối bảo trợ, thu xếp mua số lượng hàng hóa và cùng bán. Cộng tác viên gồm những người bán lẻ độc lập thành lập một tổ chức mua hàng, đứng ra kinh doanh và thực hiện những biện pháp khuyến mại.

    • Hợp tác xã tiêu thụ.

    Là mô hình mà mọi công ty bán lẻ đều thuộc quyền sở hữu của chính những
    khách hàng của nó. Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của một cộng đồng lập ra khi họ cảm thấy rằng những người bán lẻ ở địa phương phục vụ không chu đáo, vì đòi giá cao hay bán những sản phẩm kém chất lượng. Họ góp vốn để mở một cửa hàng rồi biểu quyết về những chính sách của cửa hàng và bầu ra người quản lý nó. Cửa hàng có thể định giá thấp hoặc bán theo giá bình thường, các xã viên có thể được quyền chia lợi tức theo số lượng hàng họ đã mua.

    • Tổ chức đặc quyền.

    Là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cung cấp đặc quyền và người
    được hưởng đăc quyền. Các tổ chức đặc quyền thường được xây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ,… Việc cấp đặc quyền được áp dụng phổ biến đối với
    những mặt hàng như thức ăn nhanh, bất động sản, công ty du lịch,..

    • Tập đoàn bán lẻ.

    Tập đoàn bán lẻ là những công ty dạng tự do, kết hợp với một số hướng
    cũng như hình thức bán lẻ khác nhau, dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa tới một mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý của mình. Tập đoàn bán lẻ bao gồm những công ty có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường, liên kết với nhau bằng quan hệ tài sản cũng như quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của thị trường bán lẻ.
    1.1.4. Vai trò của ngành dịch vụ bán lẻ.

    Có thể hiểu rằng sản xuất là gốc rễ, cung cấp hàng hóa, vật phẩm cho nền kinh tế vậy nên hệ thống phân phối là huyết mạch của nền kinh tế. Phân phối bán lẻ đứng ở vị trí cuối cùng trong hệ thống này, vậy nên nó đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, cơ cấu kinh tế chuyển dần từ hình thức công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ sang hình thức dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp.

    • Phân phối bán lẻ cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.

    Chỉ khi có nhu cầu thì người ta mới cần đến hàng hóa, nhưng không phải lúc
    nào người ta cũng có thể đến gặp trực tiếp các nhà sản xuất để mua hàng được. Do đó, nhà bán lẻ mới là đơn vị thực sự thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng, cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng đúng thời gian, địa điểm và ở một mức giá họ có thể chi trả. Đây là một công việc không dễ dàng, đặc biệt là với điều kiện hàng hóa cũng như dịch vụ ngày càng đa dạng như ngày nay, nhu cầu của khách hàng luôn biến đổi. Người bán lẻ phải luôn thu thập những thông tin những thông tin về thị hiếu của khách hàng, từ đó làm hài lòng người tiêu dùng bằng chính những sản phẩm và dịch vụ của mình. Qua đó, hoạt động bán lẻ cũng tạo nên những lợi ích cho người tiêu dùng bằng cách tạo ra sự đa dạng về sản phẩm, tạo sự tiện lợi về địa điểm mua bán cũng như cũng như các dịch vụ bảo hành, cung cấp thông tin. Càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào hoạt động phân phối hàng hóa thì chi phí cho khâu phân phối sẽ được chuyển vào giá thành cho người tiêu dùng, từ đó sự cạnh tranh trong phân phối bán lẻ sẽ làm giảm chi phí phân phối, giảm giá bán cho người mua.

    • Nhà phân phối bán lẻ có vai trò thu thập thông tin thị trường, từ đó
      phản ánh lại với bên sản xuất.

    Quá trình chuyển giao hàng hóa tới tay người mua thông qua phân phối bán
    lẻ luôn gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường. Do vậy có thể chuyển tải được những thông tin thiết yếu về nhu cầu của thị trường cho người sản xuất cũng như người cung ứng, từ đó điều chỉnh theo yêu cầu của thị trường, tạo lập cầu nối dẫn dắt người sản xuất có những định hướng đúng vào nhu cầu của thị trường, thúc đẩy hoạt động kinh doanh theo nhu cầu của nền kinh tế. Từ đó giúp tăng cường sự thương mại hóa, phát triển thị trường cho những sản phẩm có lợi thế, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    • Hoạt động phân phối bán lẻ thúc đẩy sản xuất phát triển.

    Sau khi hàng hóa được sản xuất, bước tiêu theo chính là tiêu thụ và ngược
    lại, chỉ khi hàng hóa được tiêu thụ thì doanh nghiệp mới có thể tiếp tục sản xuất.
    Các bên phân phối bán lẻ đóng một vai trò rất quang trọng trong việc kích thích
    tiêu thụ, quảng bá thông tin về hàng hóa cho nhà sản xuất. Nhờ sự tiếp xúc trực
    tiếp với người tiêu dùng nên họ hiểu rất rõ nhu cầu của người mua. Các nhà bán lẻ có thể sử dụng những biện pháp của nhà sản xuất để kích thích tiêu dùng, hoặc dùng chính những biện pháp của họ để làm được điều đó. Bên phân phối bán lẻ có thể nhận những mặt hàng đã được hoàn thiện từ nhà sản xuất. Có một số mặt hàng, chính nhà bán lẻ sẽ đảm nhiệm khâu sơ chế, đóng gói, phân loại,… để có thể đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách tốt nhất, với hình thức phù hợp nhất để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm. Không những vậy, nhà phân phối bán lẻ còn có chức năng thiết lập, tạo dựng cũng như duy trì các mối quan hệ với những người mua tiềm ẩn. Nhờ có các nhà bán lẻ mà các doanh nghiệp có thể lôi kéo thêm không ít khách hàng. Sản xuất được coi là gốc của việc bán lẻ, nhưng chính bán lẻ cũng có thể kích thích việc sản xuất mở rộng và phát triển. Một doanh nghiệp muốn thành công, không chỉ sản phẩm phải tốt mà còn phải nắm vững được khâu phân phối bán lẻ, nếu nắm chắc khâu bán lẻ thì hoàn toàn có thể điều phối được cả sự sản xuất.

    • Phân phối bán lẻ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động.

    Theo Tổng cục thống kê, từ những năm 2012 trở lại đây, tỉ trọng lao động
    của ngành phân phối hàng hóa đã gia tăng từ 30,4% (năm 2012) lên tới 38% (năm 2017). Nếu so sánh thì GDP của ngành dịch vụ này không hề thấp hơn so với nông nghiệp, nhưng lao động của ngành dịch vụ này lại chỉ bằng 1/4 so với nông nghiệp. Xu hướng chung hiện nay là gia tăng tỉ trọng lao động trong ngành dịch vụ phân phối bán lẻ, ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm. Tính đến 2017, số người lao động làm việc trong ngành bán lẻ khoảng hơn 6 triệu người. Lĩnh vực phân phối bán lẻ được coi là ngành thu hút nhiều lao động nhất trong ngành phân phối. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 900.000 cửa hàng bán lẻ, 9.100 chợ truyền thống, và khoảng hơn 600 siêu thị phân bố rộng rãi trên 63 tỉnh thành trên cả nước. Lĩnh vực này đã thu hút được lượng lớn nguồn lao động.

    • Dịch vụ phân phối bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong việc tạp lập,
      nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Khi quyết định liên kết với cac bên bán lẻ, các nhà sản xuất đã có những
    chiến lược kinh doanh của riêng mình như các quyết định về giá, cách quảng bá,.. Họ chủ động tạo nên một mối liên hệ với các bên bán lẻ nhằm tạo nên sự phân công và hợp tác một cách chuyên nghiệp, từ đó tạo nên giá trị gia tăng, giúp các bên bán lẻ tập trung được vào những hoạt động mà họ có lợi thế, đảm bảo được năng suất cao hơn nhưng chi phí lại thấp hơn, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp so với các đối thủ khác trên thị trường.
    Nhờ việc tham gia vào mối liên kết này mà mỗi doanh nghiệp đều được
    hưởng nhiều lợi ích kinh tế. Từ mối liên kết vững chắc giữa doanh nghiệp và bên phân phối bán lẻ mà doanh nghiệp có thể đảm bảo được nguồn cung ứng, nhu cầu thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng. Từ đó nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.

    Các nhà phân phối bán lẻ sau khi đã liên kết hiệu quả với doanh nghiệp sẽ
    tạo lập được lợi thế cạnh tranh, đảm bảo lợi ích của mình trước các đối thủ nước
    ngoài khi nước ta hội nhập kinh tế thế giới, họ sẽ phải mất nhiều thời gian và tiền bạc mới có thể tạo lập được những mối liên kết này. Không chỉ vậy, cùng với các cam kết về tự do hóa thương mại, nhà nước sẽ dần dỡ bỏ các rào cản về thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ cho ngành sản xuất nước nhà, từ đó sự liên kết hiệu quả giữa doanh nghiệp và các bên phân phối sẽ là rào cản hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp Việt Nam có thể bảo vệ mình trước các đối thủ cạnh tranh đến từ nước ngoài.
    1.2. Một số khái quát về lĩnh vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam.
    1.2.1. Doanh thu, tốc độ tăng trưởng.

    Kể từ khi đất nước ta mở cửa thị trường, nền kinh tế đã ngày một phát triển.
    Thu nhập của người dân tăng, sản xuất phát triển dẫn đến nhu cầu cũng ngày một đa dạng. Để phù hợp với thị hiếu của người dân, hàng hóa trên thị trường luôn thay đổi, dẫn đến ngành dịch vụ phân phối bán lẻ cũng ngày một tăng trưởng. Từ năm 2007 – 2017, doanh thu bán lẻ đã tăng gấp 3 lần, đạt 130 tỷ USD vào năm 2017. Tốc độ tăng trưởng qua các năm cao, luôn đạt trên 10%/năm.

     

    Năm

    Doanh thu bán lẻ (tỷ USD)

    2007

    45,2

    2008

    39,6

    2009

    55,7

    2010

    62,1

    2011

    71,3

    2012

    80,5

    2013

    96,4

    2014

    102,3

    2015

    110,6

    2016

    126,7

    2017

    130

    Bảng 1. Doanh thu trong lĩnh vực phân phối bán lẻ giai đoạn 2007 – 2017

     

    Với dân số trên 96 triệu người, trong đó 65% là dân số trẻ có nguồn thu nhập cao, tốc độ tiêu dùng tăng mạnh, là cửa ngõ dẫn tới một số thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Lào,… nước ta đang trên đà trở thành một trong những nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Không chỉ vậy, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam cũng cao kỉ lục, đạt 118 điểm trong khi trung bình các nước khác chỉ đạt 97 điểm. Với tiềm năng đầy hứa hẹn đó, kết hợp với việc mở cửa thị trường, lĩnh vực phân phối bán lẻ sẽ ngày một thúc đẩy. Trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ trở thành thị trường có dịch vụ phân phối bán lẻ chuyên nghiệp, năng động.
    1.2.2. Chủ thể tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ.

    Trước đây nền thương mại Việt Nam chủ yếu do nhà nước độc quyền thì nay đã chuyển sang nền thươn mại đa thành phần. Với sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp, nền kinh tế tư nhân, vốn FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài cũng như sự cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã làm cho ngành thương mại
    Việt Nam có sự biến đổi. Năm 2012, cả nước có khoảng 505.000 ngoài quốc doanh, trên 2.701 doanh nghiệp có cổ phần của nhà nước, trên 14.600 doanh nghiệp FDI và 2 triệu hộ gia đình tham gia vào lĩnh vực thương mại trong nước. Không những vậy, việc ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới đã giúp cho Việt Nam tiếp tục thực hiện những cam kết trong việc phân phối bán lẻ, đặc biệt là những cam kết trong khuôn khổ WTO. Năm 2009, Việt Nam đã xóa bỏ những hạn chế đối với sự tham giá vào thị trường phân phối bán lẻ của doanh nghiệp nước ngoài. Vậy nên để phân tích kĩ hơn, chúng ta sẽ xét tới ba chủ thế chính sau:

    • Chủ thể 1:

    Các công ty phân phối trong nước, bao gồm các doanh nghiệp
    trong và ngoài nước. Họ là những bên phân phối có trình độ chuyên nghiệp, mạng lưới phân phối rộng rãi, trải đều khắp các tỉnh thành trên cả nước. Họ là một chuỗi các hệ thống phân phối hiện đại. Điển hình như tập đoàn Vingroup với hai thương hiệu chuỗi bán lẻ là Vinmart và Vinmart +, công ty xuất nhập khẩu INTIMEX với chuỗi siêu thị mang tên INTIMEX,… không chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp còn cùng kết hợp để thành lập nên những đơn vị mạnh hơn, quy mô kinh doanh lớn, trên cơ sở kết hợp các thế mạnh của nhau. Điển hình như hai công ty lớn là Xây dựng VINACONEX và công ty Thương mại Tràng Tiền đã bắt tay hợp tác để xây dựng nên trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza. Qua các giai đoạn đổi mới, các doanh nghiệp đã gặt hái được nhiều thành công đáng kể, ví dụ như chuỗi siêu thị Saigon Co.op được bầu chọn là bên phân phối bán lẻ hàng đầu Việt Nam, đứng trong top 500 nhà phân phối bán lẻ hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương.

    Nhìn chung đây là khu vực có những chuyển biến tích cực nhất trong xu thế
    hội nhập. Các doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về tài chính, các cơ sở sản xuất hơn nên vừa đóng vai trò phân phối, sản xuất, vừa đóng vai trò thu mua hàng hóa để kinh doanh trong hệ thống của mình. Còn các doanh nghiệp ngoài nhà nước lại chủ yếu tập trung vào mảng phân phối để tạo nên một chuỗi hệ thống phân phối chứ không tham gia nhiều vào hoạt động sản xuất như các doanh nghiệp nhà nước.

    Đây có thể xem là một trong những đặc điểm đặc thù của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống phân phối, cũng như hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa. Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh trong nước còn gặp nhiều hạn chế về khả năng tài chính cũng như công nghệ, kĩ năng quản lý, cán bộ công nhân viên,… so với nhiều doanh nghiệp có vốn FDI cũng hoạt động trong lĩnh vực này.

    • Chủ thể 2:

    Các tập đoàn phân phối nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
    Trong những năm vừa qua, việc các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thâm
    nhập vào thị trường Việt Nam đã tạo nên những đóng góp không nhỏ trong việc
    xây dựng một thị trường hàng hóa phong phú, đa dạng, cạnh tranh cao. Hiện nay, trên thị trường Việt Nam đã có sáu thương hiệu phân phối bán lẻ quốc tế như Parkson, Metro, Big C,…Những doanh nghiệp này đã kinh doanh cực kì thành công trên thị trường Việt Nam và đang ngày càng củng cố, mở rộng hệ thống phân phối của mình.
    Ta có thể nhận thấy được các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh
    vực phân phối bán lẻ tại Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với các doanh nghiệp
    trong nước, về khả năng tài chính, trình độ kĩ thuật, quản lý, và đặc biệt là kinh
    nghiệm tổ chức quản trị kinh doanh. Phần lớn các doanh nghiệp này là những tập đoàn hàng đầu thế giới, đã có bề dày kinh nghiệm, đã thiết lập được mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Chính vì sự có mặt của những tập đoàn này mà các doanh nghiệp trong nước đã phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, nhưng đồng thời đây cũng là một cơ hội để các doanh nghiệp trong nước tạo nên một thị trường nội địa lành mạnh, phát triển, nhanh chóng tiếp cận được với trình độ của thế giới.

    Do họ đã có những lợi thế nhất định về năng lực tài chính cxung như trình
    độ tổ chức kinh doanh nên những doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn FDI có cách tổ chức hoạt động kinh doanh bán lẻ rất chuyên nghiệp, và họ thường tập trung vào khâu phân phối hàng hóa dựa trên việc kí hợp đồng thu mua hàng hóa từ nhiều nơi khác nhau chứ không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm để phân phối như các doanh nghiệp trong nước.

    • Chủ thể 3:

    Các hộ kinh doanh cá thể, buôn bán nhỏ trong nước. Đây là một
    trong những thành phần quan trọng nhất tham gia vào thị trường bán lẻ của Việt
    Nam, đã tạo ra việc làm cho hơn năm triệu người trong cả nước. Tuy vậy, đặc điểm chung của nhóm đối tượng này là mang nặng tính tự phát, thiếu kiến thức cũng như kĩ năng xử lý rủi ro. Những hộ cá thể này phần lớn đều là lao động phổ thông chứ không qua bất cứ một trường lớp đào tạo nào hết. Nhưng chính những đối tượng này lại là người tạo ra nguồn thu nhập chính trong gia đình. Vậy nên những tác động dù nhỏ nhất với nhóm đối tượng này cũng có thể tạo nên những biến động tới các thành viên trong gia đình họ.
    1.2.3. Hàng hóa lưu thông trên thị trường.

    Các loại hàng hóa lưu thông trong nước ngày một đa dạng, phong phú về
    chủng loại cũng như chất lượng. Qua quá trình mở cửa thị trường những năm gần đây, chúng ta có thể nhận ra ngoài hàng hóa được sản xuất trong nước, thị trường Việt Nam còn xuất hiện thêm nhiều loại hàng hóa ngoại nhập, phục vụ nhu cầu sản xuất cũng như tiêu dùng trong nước. Chính những điều này đã tạo nên một thị trường đa dạng, sôi động. Các trung tâm thương mạ lớn cũng dần xuất hiện các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng thế giới, tạo nên hiệu ứng không nhỏ đối với người tiêu dùng.
    1.2.4. Các hệ thống phân phối bán lẻ.

    Nhu cầu của người tiêu dùng tăng, kéo theo đó nhu cầu về hàng hóa cũng
    như thị trường hàng hóa cũng tăng theo, dẫn đến các hệ thống phân phối bán lẻ
    cũng sẽ thay đổi để phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Từ hệ thống bán lẻ là truyền thống đến hệ thống hiện đại đều tăng đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng.

    • Hệ thống chợ truyền thống.

    Tính đến năm 2017, trên cả nước đã xuất hiện 8.067 chợ các loại (không bao
    gồm các chợ tự phát). Trong đó, miền Bắc chiếm 22,2%; miền Trung chiếm
    26,2%; Tây Nguyên chiếm 4,9%; miền Nam chiếm 46,7%.
    Chợ bán lẻ hình thành để phục vụ dân cư ở các phường, xã, thị trấn chiếm tỉ
    trọng cao (91,5%); chợ tổng hợp chiếm 2,3%; chợ đầu mối chiếm 0,6%; chợ biên giới, cửa khẩu chiếm 1,9%.
    Trên cả nước, bình quân cứ 42,13 km2 sẽ có một chợ. Giữa các vùng xó sự
    chênh lệch khá lớn về chỉ tiêu này. Khu vực Đồng bằng sông Hồng có diện tích
    phục vụ chợ nhỏ nhất, lớn nhất là vùng Đông Bắc.

    Khối lượng hàng hóa lưu thông qua các chợ ở các thành phố lớn chiếm 40-
    50% tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn. Ở nông thôn, hàng hóa giao dịch trên chợ chiếm khoảng 60-70%.
    Mỗi chợ lại có cơ cấu hàng hóa lưu thông khác nhau. Trung bình có khoảng
    80% các tiểu thương kinh doanh các nhóm hàng chính như nông sản, tạp hóa, thực phẩm, may mặc,… Trong đó mặt hàng thực phẩm chiếm 40%.

    Lực lượng tham gia kinh doanh trên các chợ chủ yếu là tư nhân, thương mại
    nhà nước và người sản xuất trực tiếp bán hàng. Trong đó, thương mại tư nhân
    (được hiểu là các hộ kinh doanh) đóng vai trò quan trọng nhất.

     

    Khu vực

    Tổng số
    chợ năm
    2012

    Chợ/
    phường,

    Diện tích
    bình
    quân/chợ
    (Km2)

    Dân
    số/chợ

    Bán kính
    phục vụ trung
    bình một chợ
    (km)

    Đồng bằng Sông
    hồng

    1.482

    0,63

    10,03

    12.249,6

    1,81

    Đông bắc bộ

    1.126

    0,54

    55,36

    8.132

    4,3

    Tây bắc bộ

    263

    0,42

    153,62

    10.543,6

    7,1

    Bắc trung bộ

    1.254

    0,64

    43,49

    8.958,92

    3,62

    Duyên hải Nam
    trung bộ

    865

    0,98

    39,45

    8.408,15

    3,45

    Tây nguyên

    392

    0,53

    144,21

    12.579,4

    6,57

    Đông Nam bộ

    891

    0,86

    39,68

    15.391,3

    3,46

    Đồng bằng sông
    Cửu long

    1.794

    1,12

    25,32

    10.927,92

    2,63

    Toàn quốc

    8.067

    0,79

    42,85

    10.759,96

    3,49

    Bảng 2. Tổng hợp các chỉ tiêu về mạng lưới chợ trên cả nước tính đến năm 2012

    Hiện có khoảng 789.632 hộ kinh doanh cố định trên các chợ khắp cả nước,
    trung bình một chợ sẽ có 112 hộ kinh doanh. Số lượng hộ kinh doanh cố định bình quân tại một chợ ở Đông Nam Bộ là cao nhất, và cao gấp 4 lần so với nơi thấp nhất là Tây Bắc Bộ.

    • Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại.

    Hệ thống chợ ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự hình thành và phát
    triển của hệ thông siêu thị, trung tâm thương mại. Trước năm 2000 chỉ có hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là có sự xuất hiện của một vài siêu thị thì ngày nay, trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều đã có sự xuất hiện của siêu thị lẫn trung tâm thương mại.

    Theo tổng cục thống kê, đến năn 2012 trên cả nước đã có 865 siêu thị, trải rộng trên khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên các siêu thị có quy mô lớn vẫn tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, tiếp theo là Hải Phòng và Đà Nẵng, và cuối cùng là các thành phố Thanh Hóa, Kiên Giang, Cần Thơ,..

    Về tính chất cũng như cách thức kinh doanh, siêu thị ở Việt Nam có thể chia làm hai loại chủ yếu như sau: các loại siêu thị kinh doanh tổng hợp như Metro, Big C, Coopmart,… số lượng mặt hàng các siêu thị này kinh doanh có thể lên đến hàng trăm nghìn mặt hàng. Và loại còn lại là các siêu thị loại nhỏ, cửa hàng chuyên doanh ví dụ như siêu thị điện máy, thế giới di động, viễn thông A,… Nguồn vốn cũng như chủ đầu tư của các siêu thị ở Việt Nam cũng rất đa
    dạng. Có thể thấy trước năm 2000 chỉ xuất hiện một vài siêu thị của nhà đầu tư
    nước ngoài hay các doanh nghiệp lớn trong nước đầu tư kinh doanh siêu thị
    (Coopmart, Intimex,…) thì nay đến năm 2017 chúng ta đã có thể thất sự xuất hiện của hầu hết các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư lĩnh vực này ví dụ Tràng Tiền Plaza, trung tâm thương mại Vincom, Aeon Mall, Parkson,…

    • Hệ thống cửa hàng bán lẻ tự chọn.

    Về loại hình cửa hàng bán lẻ, bán buôn cũng đang tăng về số lượng, chất
    lượng cũng như quy mô. Mô hình các chuỗi cửa hàng này xuất hiện ở các mặt hàng như may mặc, điện máy, mỹ phẩm (May 10, Thế giới di động, Việt Tiến,…) xuất hiện ở hầu hết các thành phố trên khắp cả nước. Ở các thành phố lớn, xu hướng liên kết cũng như sát nhập, mở rộng các cửa hàng bán lẻ diễn ra khá mạnh. Xu hướng này tạo ra một sự thay đổi trong quá trình hình thành cũng như tích tụ vốnnkinh doanh của các bên phân phối, bán lẻ sang hình thức vay vốn kinh doanh, huy động vốn.
    Đặc biệt là các cửa hàng bán lẻ tự chọn, cửa hàng phân phối bán theo
    phương thức nhượng quyền thương mại này trên thực tế đã có mặt trên thị trường được 15 năm và ngày càng được các thương nhân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Trên cả nước đã có khoảng 70 hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trong đó Công ty Cà phê Trung Nguyên đã rất thành công với hơn 1500 cửa hàng nhượng quyền ở cả trong và ngoài nước. Một ví dụ khác là công ty Kinh Đô có hàng trăm cửa hàng nhượng quyền kinh doanh bánh Kinh Đô khắp cả nước…
    Hiện nay có rất nhiều công ty trong và ngoài nước có ý định phát triển mạnh mô
    hình này.

    • Hệ thống các hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

    Hiện tại ở Việt Nam, có khoảng hơn một triệu cửa hàng kinh doanh bán lẻ. Những cửa hàng này chủ yếu kinh doanh các mặt hàng phục vụ như cầu tiêu dùng của người dân. Tuy vậy do vốn kinh doanh cũng như mặt bằng không đủ nên những hộ kinh doanh này chỉ có thể kinh doanh một ít mặt hàng có giá trị không cao. Dù vậy thì đây vẫn là một trong những kênh phân phối hàng hóa quan trọng trên thị trường Việt Nam.
    Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn 2012-2017, lĩnh vực phân phối bán lẻ
    tại Việt Nam đã có những đổi mới vô cùng mạnh mẽ, góp phần thay đổi cấu trúc
    cũng như diện mạo của thị trường trong nước ngày càng văn minh, hiện đại, ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng này vẫn chưa cân xứng với tiềm năng của thị trường Việt Nam, hệ thống phân phối bán lẻ trong nước vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Loại hình bán lẻ chủ yếu hiện nay vẫn là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ, độc lập. Mô hình trung tâm thương mại, siêu thị cũng đang trên đà phát triển song chỉ tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp tham gia cũng còn khá ít, chỉ mới có một vài doanh nghiệp chủ yếu như: Intimex, Sài Gòn Coop, Tập đoàn Vingroup,… Phần lớn các siêu thị vẫn mang quy mô nhỏ. Nếu như nói tỉ trọng doanh số bán lẻ qua siêu thị ở các đất nước như Trung Quốc là 45-60%, Thái Lan là trên 45%, Mỹ trên 90%,…thì hệ thống hàng hóa ở Việt Nam chủ yếu vẫn được phân phối qua các chợ (40%), qua các cửa hàng bán lẻ truyền thống (45%), qua các hệ thống như trung tâm thương mại hay siêu thị mới chỉ có 10%, và 5% còn lại là do các nhà sản xuất bán trực tiếp.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, hệ thống phân phối bán lẻ cần được quan tâm, đầu tư phát triển hơn nữa để ngày càng thích nghi được với nền kinh tế mở như hiện nay.

     

    CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ CỦA VIỆT
    2.1. Sự cần thiết phải mở cửa thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.1.1. Thực hiện cam kết gia nhập WTO

    Cũng như các ngành nghề dịch vụ kinh doanh khác, Việt Nam có các cam kết từ phía Việt Nam trong lĩnh vực phân phối, điều đó thể hiện mức độ mở cửa thị trường và phản ánh mức độ đối xử quốc gia mà Việt Nam dành cho doanh nghiệp nước ngoài đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ phân phối tại Việt Nam.

    Dịch vụ phân phối, theo phân loại của WTO, được chia làm 4 phân ngành gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, và dịch vụ nhượng quyền thương mại. Cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ WTO đối với các phân ngành này cụ thể như sau:

    • Về các sản phẩm thuộc diện loại trừ:

    Một số mặt hàng sau Việt Nam không cam kết mở cửa thị trường: đường mía và đường củ cải, gạo, dầu thô và dầu đã qua chế biến, thuốc nổ, dược phẩm (không bao gồm các sản phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viên con nhộng hoặc bột), kim loại quí và đá quí, vật phẩm đã ghi hình, báo và
    tạp chí, sách, thuốc lá và xì gà.
    Ngoài ra, trong từng phân ngành khác nhau, Việt Nam chỉ rõ ra những hạn chế khác nhau với một số sản phẩm khác. Cụ thể là: kể từ thời điểm nước ta gia nhập tổ chức WTO, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không được phép thương mại đối với các sản phẩm sau: phân bón, rượu, thiết bị nghe nhìn, sắt thép, ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, giấy, máy kéo, lốp (trừ lốp máy bay), xi măng và clinke. Tuy nhiên, từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, các sản phẩm ô tô con và xe máy, phương tiện cơ giới, máy kéo, sẽ được loại khỏi danh mục các loại sản phẩm loại trừ này. Ba năm sau ngày Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO, từ ngày 11 tháng 01 năm 2010 trở, tất cả các sản phẩm trong danh mục hạn chế này sẽ được loại bỏ.

    Riêng đối với dịch vụ, kinh doanh bán lẻ, Việt Nam đưa ra hạn chế về việc doanh nghiệp FDI khi mở rộng từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi sẽ được xem xét dựa vào nguyên tắc đánh giá nhu cầu thực tế của người Việt Nam. Việc xem xét này sẽ phải được tuân theo một quá trình thủ tục công khai do nhà nước Việt
    Nam đưa ra và chủ yếu dựa trên hàng loạt tiêu chí khác nhau như số lượng các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh đang hiện diện trong một khu vực địa lý nào đó, quy mô địa lý và sự ổn định của thị trường….

    • Về mức độ và thời gian mở cửa thị trường:

    Kể từ khi gia nhập đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2008: Các doanh nghiệp FDI phải thành lập, liên doanh với các đối tác người Việt Nam với tỉ lể góp vốn không được vượt quá 49%.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2009: Tỉ lệ góp vốn từ phía doanh nghiệp nước ngoài không không bị hạn chế, tuy nhiên vẫn phải liên doanh với đối tác từ phía Việt Nam.

    Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009: các hạn chế nêu trên sẽ được bãi bỏ.
    Chúng ta có thể thấy rằng các cam kết mở của nước ta khá thông thoáng, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia kinh doanh hầu hết các hàng hóa khác nhau trên thị trường Việt Nam. Thời gian hội nhập này khá nhanh, điều đó khiến thời gian dành cho các doanh nghiệp Việt Nam thích nghi với các điều kiện cạnh tranh quốc tế cũng không nhiều. Các doanh nghiệp quốc nội sẽ phải nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao, củng cố năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, việc mở cửa là rất cần thiết để hội nhập được sâu rộng với nền kinh tế thế giới.

     

    • Thị trường bán lẻ Việt Nam cần được phát triển hơn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân

    Mức sống của người dân Việt Nam đang được nâng lên đáng kể cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế của đất nước. Tỉ lệ Quỹ tiêu dùng cuối cùng so với GDP của nước ta thuộc loại cao so với các nước trong khu vực (trên 70%) trong khi của Singapore là 55,9%, Malaysia là 58,2% và Thái Lan là 67,7%.

    Bảng : So sánh tổng mức bán lẻ hàng hóa với quỹ tiêu dùng cuối cùng thời kỳ 2007-2017

    Năm

    Quỹ TD cuối cùng (tỉ đồng)

    TMBLHH (tỉ đồng)

    Tỉ lệ (%)

    2007

    225.231

    145.874

    64,8

    2008

    250.584

    161.899

    64,6

    2009

    283.444

    185.598

    65,5

    2010

    301.690

    200.923

    66,6

    2011

    321.853

    220.410

    68,5

    2007-2011

    1.382.802

    914.706

    66,15

    2012

    342.607

    245.315

    71,6

    2013

    382.137

    280.884

    73,5

    2014

    445.221

    333.809

    75,0

    2015

    511.221

    398.500

    77,9

    2016

    584.800

    480.300

    82,1

    2012-2017

    2.265.986

    1.738.808

    76,74

    Nguồn: gso.gov.vn

    Trong giai đoạn 2012 – 2017, tốc độ tiêu dùng nước ta tăng cao hơn nhiều lần so với tốc độ tăng dân số (10,7% so với 3,4%). Tỉ lệ tổng mức bán lẻ hàng hóa so với quỹ tiêu dùng cuối cùng cũng đã có sự tăng trưởng nhanh chóng từ ngưỡng 64,8% năm 2012 , đạt tới 82,1% năm 2017. Trong giai đoạn 2007- 2011, tỉ lệ được thống kê là 66,15% thì giai đoạn 2012-2016 đã tăng lên tới 76,74%. Khi người dân đã có thu nhập đã tăng lên đáng kể, chắc chắn nhu cầu mua sắm hàng hóa tại các trung tâm thương mại hiện đại cũng tăng.

    Thế nhưng, việc mua sắm truyền thống lại đang chiếm tỉ trọng lớn đối với tổng doanh thu bán lẻ với con số 9.266 chợ và 280.000 cửa hàng nhỏ. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh (thành phố phát triển nhất nước ta) thì hiện mới đưa vào hoạt động chỉ có 23 trung tâm thương mại với 140.000m2 và Hà Nội với 17 trung tâm cung cấp 155.000m2 cho hình thức kinh doanh bán lẻ hàng hóa hiện đại, nếu so sánh với đất nước Singapore mới khánh thành 1 trung tâm thương mại với diện tích 100.000m2 thì những số liệu trên của Việt Nam còn quá khiêm tốn.

     Trong khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài được biết đến với hình ảnh những đại siêu thị đang hiện diện rất gần thị trường Việt Nam thì hầu hết cửa hàng kinh doanh truyền thống của Việt Nam mới ở trong tình trạng chung là có diện tích nhỏ, trung bình đạt 11,8 m2/cửa hàng, trang thiết bị lạc hậu, khiêm tốn và chủ yếu sử dụng lao động phổ thông, chưa có trình độ chuyên nghiệp. Ngay cả doanh nghiệp kinh doanh trong nước phần lớn cũng là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bình quân 1 doanh nghiệp Việt Nam chỉ có 38 lao động với số vốn trung bình 6 tỉ đồng.

    Khu vực kinh tế có vốn đầu tư FDI hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và dịch vụ vẫn đóng góp ở mức rất khiêm tốn trong lĩnh vực phân phối bán lẻ. Hơn nữa, phương thức giao dịch có sử dụng các phương tiện điện tử đã trở nên phổ biến trên thế giới và thương mại điện tử đang trên đà tiếp tục phát triển nhanh khiến cho thị trường thương mại truyền thống bị thay đổi. Người kinh doanh hàng hóa và người tiêu dùng có thể dễ dàng liên hệ trực tuyến với
    nhau trong việc xem xét, đặt hàng, thực hiện thanh toán và nhận hàng hóa tại nhà. Các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nước ngoài sau khi đầu tư vào nước ta, họ sẽ phải hết sức tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng sau một thời gian, họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua hệ thống dữ liệu khách hàng; Catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà… Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn…. Các phương thức phân phối truyền thống ví dụ như hình thức mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song nhưng sẽ dần bị thu hẹp và suy yếu. Các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và có cơ hội học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức quản lý và hiện đại hoá hệ
    thống của các nhà phân phối nước ngoài; từ đó, doanh nghiệp trong nước sẽ có thể củng cố hệ thống của mình. Trong sự phát triển này, người tiêu dùng sẽ là nhóm người được hưởng lợi ích nhiều nhất từ.

    • Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

    Hầu hết các nhà kinh doanh bán lẻ nội địa đều đã nhận ra được sự cạnh tranh khốc liệt với các tập đoàn đầu tư nước ngoài trong vài năm tới. Nhiều nhà bán lẻ trong nước đã chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận những thách thức từ việc cạnh tranh mới từ thị trường trong và ngoài nước. Một mặt các doanh nghiệp
    này lo cải thiện tất cả các kênh phân phối sản phẩm ở các thị trường nước ngoài; điều đó thúc đẩy sự hình thành kênh phân phối hàng hóa trực tiếp trên những thị trường trọng điểm.

    Mặc khác, họ đang tích cực cải thiện hoặc xây dựng mạng lưới sản xuất trong nước. Tính từ năm 1996, thời điểm lúc đó cả nước mới có 1 siêu thị được thành lập là CitiMart; đến thời điểm hiện nay, chỉ mới tính riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh thì chúng ta có hàng trăm siêu thị và trung tâm thương mại khác nhau. Tiếp nối sự phát triển đó, các hình thức phân phân phối hàng hóa hiện đại hiện giờ không chỉ hình thành và phát triển tập trung ở các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội mà đang dần dần mở rộng đến các tỉnh có tiềm năng. Maximart là một trong những doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong khi thành lập chuỗi siêu thị nhắm đến thành phố Nha Trang. Tiếp đến,
    vào năm 2010, hệ thống siêu thị Co.opMart tiếp nối sự phát tiên, khai trương siêu thị ở thành phố Quy Nhơn và thành phố Cần Thơ. Hiện nay, Co.opMart đang dần dần củng cố vị trí chiến lược của mình trở thành một nhà phân phối hàng hóa số 1 tại Việt Nam. Một trong những bí mật phát triển của Co.opMart
    là sử dụng chiến lược phát triển cả về chiều sâu và rộng bằng việc tập trung nguồn lực vào hệ thống các siêu thị. Năm 2016, Co.opMart đã có 40 siêu thị trên cả nước, đồng thời doanh nghiệp sẽ tiến hành liên kết siêu thị với các cơ sở sản xuất, kho dự trữ để trở thành một hệ thống liên hoàn từ khai thác, chế biến, vận chuyển đến hệ thống bán lẻ để gia tăng giá trị hàng hóa.

    Thêm vào đó, quá trình tích cực phát triển một cách tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước. Từ đó trong nước ta sẽ hình thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để nhằm mục đích tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, chợ, máy ATM tại các siêu thị, đặt các điểm giao dịch…). Một số doanh nghiệp phân phối có tiềm lực sẽ tiến hành mở rộng hoạt động phân phối hàng hóa ra nước ngoài thông qua hình thức liên doanh, liên kết với các đơn vị phân phối hàng hóa ở nước ngoài hoặc tiến hành thông qua các đơn vị giới thiệu sản phẩm, trung tâm mua sắm, thương mại của Việt Nam nằm tại nước ngoài.

    Tại Nga và các nước Đông Âu, lực lượng người Việt Nam kinh doanh sẽ trở thành những nhóm người, những mắt xích cực kì quan trọng trong hệ thống giúp phân phối hàng hóa của Việt Nam nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì phân phối hàng hóa Trung Quốc như hiện nay. Ngoài ra, do không đủ khả
    năng xây dựng những hệ thống, mô hình phân phối riêng, hình thức tiến ra thị trường quốc tế bằng giao dịch thương mại điện tử sẽ rất phù hợp với nhiều doanh nghiệp, các làng nghề truyền thống, ngư dân, các hộ nông dân….
    2.1.4.  Hạn chế độc quyền trong lĩnh vực phân phối, lành mạnh hoá thị trường, đối phó tốt hơn khi tình hình kinh tế thế giới biến động

    Các rào cản, khó khăn trong việc gia nhập và rời khỏi hệ thống phân phối hàng hóa sẽ dần dần được loại  bỏ khỏi lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế (BTA, WTO, ASEAN+, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật) và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài và các cải cách của chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư. Các tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường trong nước, ngoài Metro Cash & Carry, Big C, Cora; nhiều khả năng sẽ có thêm Carrefour của Pháp, Wal-mart của Mỹ, các tập đoàn phân phối của Nhật, Trung Quốc,… Sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp này sẽ tạo
    nên bức tranh đầy màu sắc trong hệ thống phân phối trong nước. Khi đó, Lĩnh vực kinh doanh, phân phối không còn hệ thống độc quyền của các doanh nghiệp nội địa.

    Trong ngành xăng dầu nội địa, trước đây xăng dầu là ngành hàng độc quyền của nhà nước. Sau khi mở cửa thu hút và kêu gọi các doanh nghiệp FDI đầu tư, vị thế độc quyền đã dần được gỡ bỏ. Đánh dấu sự phá vỡ thế độc quyền được đánh dấu mốc khi công ty Idemitsu Kosan cùng công ty Kuwait Petroleum
    International thành lập doanh nghiệp liên doanh, lấy tên là Công ty TNHH Dầu khí Idemitsu Q8 với mục đích chính là phân phối xăng dầu. Từ khi doanh nghiệp này ra đời, thị trường xăng dầu Việt đã có nhiều sự thay đổi với chất lượng phục vụ được nâng lên rất nhiều; không chỉ vậy, giá cả xăng dầu cũng được điều chỉnh cạnh tranh hơn trước nhiều,
    2.2.  Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    Tính từ năm 2012 đến nay, Việt Nam đã tiến hành mở cửa nền kinh tế quốc dân và hội nhập vào thị trường khu vực và toàn cầu. Trong đó để hỗ trợ nhanh chóng quá trình này, Luật đầu tư nước ngoài đã được nhà nước sửa đổi bốn lần theo các hướng khác nhau nhằm thúc đẩy và đảm bảo tốt hơn quyền
    lợi của nhà đầu tư. Tháng 11/2005, Luật đầu tư nước ngoài đã được đổi thành Luật đầu tư nhằm bảo đảm một cách tốt nhất sự bình đẳng cho các nhà đầu tư trong và nhà đầu tư nước ngoài. Bốn mươi mốt (41) hiệp định bảo hộ đầu tư cùng ba mươi tám (38) hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã được ký kết với nhiều nước và lãnh thổ trên thế giới. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã cho phép các nhà đầu nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới mọi hình thức cho phép, bao gồm cả hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài trong hầu hết các khu vực không bị Chính phủ nghiêm cấm.

    Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, khu vực dịch vụ vẫn còn khá nhiều hạn chế. Đối với lĩnh vực phân phối hàng hóa, Việt Nam ta chỉ bắt đầu mở cửa cho các doanh nghiệp dựa theo một số cam kết khác nhau trong Hiệp định thương mại Việt Nam và Nhật Bản và trong hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam – Nhật Bản, cùng với các dự án mang tính chất thử nghiệm, thí điểm trong khuân khổ hợp tác song phương, đa phương dựa trên những nhu cầu có sẵn, thực tiễn của các nhà sản xuất và người tiêu dùng. Tuy đã trở thành thành
    viên của WTO, nhưng đến ngày 01/01/2009, các tập đoàn bán lẻ mới bắt đầu được đầu tư vào Việt Nam với 100% vốn FDI, còn hiện tại vẫn trong khuân khổ hợp tác với các đối tác là các doanh nghiệp Việt Nam với 49% vốn FDI. Chính sách hạn chế đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán lẻ đã khiến cho lượng FDI vào
    lĩnh vực này cho đến nay vẫn còn khá khiêm tốn.
    2.2.1.  Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ

    Dựa trên cơ sở xem xét hoàn cảnh trong nước, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân, nước ta đã xem xét và cấp phép cho 28 dự án (tính đến tháng 3/2008) với tổng vốn đầu tư là 505.545.206 USD, bình quân 18.055.186 USD/ dự án. Dự án đầu tiên được cấp phép là vào ngày 31/8/1996 của Nhật Bản đầu tư vào phân phối hàng hóa nông sản tại huyện Lâm Đồng.

     

     

    Năm

    Tổng VĐT

    Số dự án

    VĐT/dự án

    2005

    59.000.000

    2

    29.500.000

    2006

    65.975.000

    1

    65.975.000

    2007

    12.800.700

    2

    6.400.350

    2008

    35.000.000

    2

    17.500.000

    2009

    0

    0

    0

    2010

    121.200.000

    3

    40.400.000

    2011

    0

    0

    0

    2012

    300.000

    1

    300.000

    2013

    72.369.506

    3

    24.123.168,67

    2014

    0

    0

    0

    2015

    106.450.000

    7

    15.207.143

    2016

    13.900.000

    4

    3.475.000

    2017

    18.550.000

    3

    6.183.333,333

    Tổng

    505.545.206

    28

    18.055.186

    Bảng 3 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo thời gian nhận vốn đầu tư

    Nguồn: Cục đầu nước ngoài – Bộ kế hoạch đầu tư

     

    Năm 2015 là năm có rất nhiều dự án nhất đã được chính phủ phê duyệt với tổng số vốn đầu tư đạt tới ngưỡng 106.450.000 USD, trong đó bình quân một dự án có mức đầu tư là 15.207.143 USD. Theo như thống kê thì 2015 là năm có nhiều tập đoàn nổi tiếng về phân khúc bán lẻ trong khu vực Châu Á và trên thế giới bắt đầu đầu tư vào Việt Nam như tập đoàn Lotte của Hàn Quốc, Tập Đoàn Mitsui của Nhật Bản…

    Tuy nhiên, Năm 2010 lại là năm có tổng số vốn đầu từ FDI lớn nhất vào lĩnh vực bán lẻ này đạt tới ngưỡng 121.200.000 USD, bình quân 40.400.000 USD/dự án. Số vốn đầu tư cao như vậy là do năm 2001, Việt Nam được tập đoàn Đức là Metro Cash & Carry đầu tư với một dự án lớn với 8 trung tâm bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa khác nhau. Tổng vốn đầu tư vào dự án này đạt tới 120 triệu USD.

    Như vậy tính từ năm 2005 đến năm 2017, nước ta có tất cả 28 dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy nhiên, trong hầu hết các dự đầu tư chỉ một vài dự án có số vốn đầu tư lớn, nhìn chung tổng mức đầu tư vẫn còn khá khiêm tốn. Vì thế, so với tổng lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực này thì vốn FDI còn rất khiêm tốn.

    Năm 2017, số vốn đầu tư FDI có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cao nhất là 344.800 tỷ đồng, thấp nhất đạt 309.300 tỷ đồng. Số vốn đầu tư thấp nhất rơi vào tháng 2 của năm 2017, số vốn đầu tư cao nhất rơi vào tháng 11 năm 2017. Nhìn chung, xét về tỉ lệ vốn đầu tư của các khu vực vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ của Việt Nam hiện nay thì chúng ta nhận thấy rõ sự phát triển áp đảo của sự đầu tư tư nhân. Số lượng doanh nghiệp
    phân phối trong nước cũng như các hộ kinh doanh cá thể trong nước so với số lượng các nhà phân phối của nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn. Các tập đoàn tham gia vào lĩnh vực này thì nếu như không kể tới các tập đoàn phân phối chuyên doanh như Lotteria về đồ ăn, Medicare về
    sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, BBQ Chicken về đồ ăn, Zen Plaza về thời trang, KFC về đồ ăn, sẽ chỉ có khoảng 3 đến 4 tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hoá tiêu dùng tổng hợp là Bourbon của Pháp, Metro Cash & Carry của Đức, Diamond Plaza của Hàn Quốc và Parkson của Malaysia đang cạnh tranh trực tiếp trên thị trường phân phối bán lẻ tại Việt Nam thông qua một số hệ thống trung tâm thương mại và hệ thống siêu thị, trung tâm bán lẻ quy mô lớn. Trong đó, tập đoàn Parkson và Diamond Plaza mặc dù có thực hiện phân phối bán lẻ tổng hợp nhiều mặt hàng nhưng cũng hầu như vẫn chủ yếu là các dòng sản phẩm quà tặng cao cấp, mỹ phẩm, thời trang. Trong khi đó, hàng chục chục doanh nghiệp trong nước ta đã và đang phát triển hoạt động kinh doanh, phân phối bán lẻ của mình theo mô hình hệ thống chuỗi siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng, đại lý bán lẻ kiểu này, và chưa tính đến tầm cỡ 900 nghìn hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ đang hoạt động ở khắp các vùng miền trong nước.

    Ngoài ra, các tập đoàn đầu tư nước ngoài này cũng đang tích cực mở rộng thêm hệ thống phân phối của mình.

    • Tập đoàn Đức:

    Metro Cash & Carry đã phát triển hệ thống với quy mô 8 trung tâm bán buôn lớn đang hoạt động ở năm thành phố lớn tại Việt Nam: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Tại Hà Nội, sau khi khi thành công với siêu thị Metro (Cổ Nhuế), Metro Hoàng Mai cũng đã đi vào hoạt động. Đến năm 2017, Tập Đoàn của Đức này đã bán lại cho Thái Lan nhưng hệ thống quy mô vẫn giữ nguyên.

    Tập đoàn Pháp: Bourbon phát triển với hệ thống 7 đại siêu thị bán lẻ BigC đang hoạt động ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hoà.

    Tập đoàn Malaysia: Parkson với 02 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng.

    Tập đoàn Hàn Quốc: Diamond Plaza với 01 trung tâm mua sắm quy mô lớn đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    KFC hiện tại đã hàng chục chi nhánh khắp các tỉnh thành tại Việt Nam.

    Chuỗi bán hàng ăn nhanh Hàn Quốc, BBQ Chicken, phát triển đã có 10 cửa hàng trên toàn quốc.

    Khi Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường vào 1/2009 thì đã có rất hàng trăm tập đoàn bán lẻ hàng hóa tham gia đầu tư vào lĩnh vực phân phối này của Việt Nam. Đặc biệt phải kể đến là ba tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới là Carefour (Pháp), Wal-Mart (Mỹ) và Tesco (Anh).
    2.2.2. Cơ cấu vốn FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam

    • Xét theo đối tác đầu tư

    Tính đến thời điểm đầu tháng 3 năm 2008, tất cả đã có 14 nước có dự án đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam. Tuy lượng tổng số vốn của các nước đầu tư còn nhỏ nhưng đây chính là đòn bẩy quan trọng trong tiến trình kích thích sự phát triển cả hệ thống kinh doanh, phân phối bán lẻ
    hàng hóa tại Việt Nam.

     

    STT

    Tên nước

    Số dự án

    Tổng VĐT

    Bình quân

    1

    Nhật Bản

    3

    37.800.700

    12.600.233,33

    2

    Pháp

    4

    161.975.000

    40.493.750

    3

    Đức

    1

    120.000.000

    120.000.000

    4

    Hàn Quốc

    4

    51.550.000

    12.887.500

    5

    Hồng Kông

    4

    26.200.000

    6.550.000

    6

    Đan Mạch

    2

    1.100.000

    550.000

    7

    Singapore

    2

    15.000.000

    7.500.000

    8

    Hoa Kỳ

    1

    800.000

    800.000

    9

    Lào

    1

    300.000

    300.000

    10

    Đài Loan

    1

    4.994.506

    4.994.506

    11

    Trung Quốc

    2

    1.625.000

    812.500

    12

    Anh

    1

    67.000.000

    67.000.000

    13

    Malaysia

    1

    200.000

    200.000

    14

    Nga

    1

    17.000.000

    17.000.000

    Tổng

     

    28

    505.545.206

    18.055.186

    Bảng 4 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo đối tác đầu tư tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

    Theo số liệu thống kê phía bảng trên, chúng ta có thể nhận ra 3 nước có mức đầu tư nhiều nhất vào lĩnh vực kinh doanh, phân phối bán lẻ hàng hóa vào Việt Nam là Hồng Kông, Pháp, Hàn Quốc (4 dự án mỗi nước). Nhìn theo góc độ tổng vốn đầu tư, Đức và Pháp là những nước có tổng vốn đầu tư lớn nhất với
    161,975 triệu USD và 120 triệu USD. Sự có mặt của tập đoàn Pháp và Đức đã đánh dấu những bước chuyển mình lớn của thị trường kinh doanh bán lẻ Việt Nam, đồng thời sự đầu tư lớn này góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy, kích thích đầu tư, nâng cao chất lượng phục vụ và quản lý của các doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp FDI nước ngoài mang lại đã là một giải pháp lớn, góp phần đẩy mạnh phát triển lĩnh vực phân phối bán lẻ của nước ta.

    • Xét theo địa bàn đầu tư

    Việc phân bố các dự án theo vùng lãnh thổ ảnh hưởng lớn đến trình độ phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia. Việc phân bố này sẽ tạo ra sự hài hòa giữa các vùng đồng thời quyết định đến tăng trưởng chung của cả nước. FDI vào phân phối bán lẻ lại là một nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn vì nó tác
    động đến cả một phong tục mua bán truyền thống, và có vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại trong nước. Vì vậy khi phê duyệt dự án, nhà nước đã phải cân nhắc một cách khá kỹ càng.

     

     

     

     

     

     

     

     

    STT

    Địa phương

    Số dự án

    Tổng VĐT

    Bình quân

    1

    Lâm Đồng

    1

    5.000.000

    5.000.000

    2

    Lạng Sơn

    2

    5.375.000

    2.687.500

    3

    Hải Phòng

    2

    21.000.000

    10.500.000

    4

    Thái Bình

    1

    4.994.506

    4.994.506

    5

    TP Hồ Chí Minh

    9

    282.425.000

    31.380.560

    6

    Nghệ An

    1

    300.000

    300.000

    7

    Thừa Thiên Huế

    1

    800.000

    800.000

    8

    Hà Nội

    7

    101.000.700

    14.485.810

    9

    Bình Thuận

    1

    17.000.000

    17.000.000

    10

    Đồng Nai

    1

    54.000.000

    54.000.000

    11

    Đà Nẵng

    1

    12.000.000

    12.000.000

    12

    Cao Bằng

    1

    1.250.000

    1.250.000

    Tổng

     

    28

    505.545.206

    18.055.186

     

    Bảng 5 : FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam xét theo địa bàn đầu tới tính đến tháng 3/2017
    Nguồn: gso.gov.vn

     

    Tính đến tháng 3/2017, nước ta đã có 12 tỉnh thành được tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn vốn FDI này chủ yếu vào dành cho các thành phố lớn của Việt Nam là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. TP Hồ Chí Minh dẫn đầu toàn quốc với 9 dự án đầu tư có tổng số vốn đầu tư FDI là 282.425.000 USD, bình quân 31.380.560 USD/dự án. Tiếp đó là Hà Nội với tổng 7 dự án có tổng số vốn đầu tư FDI là 101.000.700 USD, bình quân 14.485.810 USD/dự án. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào những thành phố lớn vì những thành phố này tập trung rất đông dân cư, TP Hồ Chí Minh có tổng dân khoảng 8 triệu người, Hà Nội là trên 7 triệu
    người. Ngoài ra, yếu tố khác ảnh hưởng tới quyết định đầu tư là thu nhập bình quân trên đầu người. Thu nhập bình quân tại những thành phố này khá cao so với các khu vực khác trên cả nước. Tại TP Hồ Chí Minh là vào khoảng 2.000 USD/người, tại Hà Nội là 1.500 USD/ người. Do đó, mức tiêu dùng, mua
    sắm, chi tiêu cho hàng hóa bán lẻ tại 2 thành phố này cao nhất tại Việt Nam. Đặc biệt là tiêu dùng vào những hàng hóa cao cấp. Điều đó khiến lĩnh vực phân phối, kinh doanh bán lẻ tại đây trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bán lẻ nước ngoài. Tóm lại, có thể thấy các nhà phân phối bán lẻ nước ngoài mặc
    dù chưa có diện bao phủ rộng trên cả nước nhưng đã có mặt ở hầu hết các trung tâm mua sắm và tiêu dùng lớn của Việt Nam. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối trong nước mặc dù có lợi thế hơn về diện bao phủ nhưng ở những khu vực thị trường có nhu cầu lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí
    Minh, Cần Thơ… thì đều gặp khó khăn với phải sự cạnh tranh gay gắt với các trung tâm phân phối của nhà đầu tư nước ngoài.

    2.3.  Đánh giá hoạt động FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam
    2.3.1. Tác động tích cực

    • Tốc độ tăng trưởng lĩnh vực phân phối bán lẻ thay đổi

    Bên cạnh những yếu tố bên trong, sẵn có của kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển khá mạnh mẽ trong những năm gần đây, sự tham gia tích cực của hàng loạt các doanh nghiệp đầu tư FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ tạo nên sự thúc đẩy và động lực phát triển vượt bậc của lĩnh vực này.
    Tại các thành phố lớn, phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại đang thay thế dần phương thức kinh doanh truyền thống. Trước đây, phương thức bán lẻ hiện đại chiếm tỉ lệ thấp, chỉ đạt khoảng 3% (năm 20012) thì nay đã lên tới 20-25% (năm 2017). Phân tích của Công ty nghiên cứu thị trường AC Nielsen còn
    chỉ ra rằng, đến năm 2018, phương thức này sẽ chiếm lĩnh 50% trong thị trường phân phối; riêng tại TP.HCM và Hà Nội, việc người dân thường xuyên đi đến các trung tâm thương mại, siêu thị, chuỗi cửa hàng… để mua sắm sẽ có thể chiếm tới 50% trong vài ba năm nữa.

    Các tập đoàn phân phối hành hóa bán lẻ lớn của nước ngoài tham gia vào thị trường kinh doanh Việt Nam sẽ có thể tạo hai tác động cùng lúc:

    Thứ nhất, đó là tác động làm gia tăng nhanh chóng tốc độ phát triển của thị trường.

    Các tập đoàn phân phối, kinh doanh bán lẻ của nước ngoài đang hiện diện tại Việt Nam tiếp tục ra sức củng cố mạng lưới để mở rộng và nâng cao thị phần, giữ vững vị thế trên thị trường. Các tập đoàn kinh doanh khác, sau một thời gian tìm hiểu cơ hội kinh doanh tại thị trường Việt Nam vốn đã được thực hiện từ trước, sẽ bắt đầu tham gia vào thị trường này một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định rằng sự tham gia này sẽ ảnh hưởngthực sự mạnh mẽ kể từ sau thời điểm 01 tháng 01 năm 2009, khi mà hành loạt hạn chế về thành lập doanh nghiệp FDI được dỡ bỏ. Sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI sẽ đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ mới trong lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam. Lần đầu tiên việc bán lẻ hàng hóa được sắp xếp và quản lý một cách chuyên nghiệp. Điều này mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam sự hài lòng không chỉ về giá cả, phẩm chất của hàng hóa tiêu dùng mà còn cả về chất lượng phục vụ của doanh nghiệp và những lợi ích gia tăng mà nhờ sự cạnh tranh này mang lại. Hơn nữa nhờ áp lực về cạnh tranh và đổi mới không ngừng, các đơn vị cung cấp dịch vụ kinh doanh, phân phối bán lẻ của Việt Nam phải tìm cách để đẩy mạnh phát triển hệ thống phân phối của mình.

    Từ đó, các doanh nghiệp đã làm cho thị trường kinh doanh, phân phối bán lẻ Việt Nam thay đổi đáng kể. Mặt khác là chính các nhà phân phối này tích cực nghiên cứu khả năng để tạo thêm những nhu cầu mới cho người tiêu dùng ở Việt Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh này có thể dự đoán và phân tích nhu cầu thực tiễn của người tiêu dùng để từ đó cung cấp những mặt hàng phù hợp với thị hiếu, nhu cầu và xu hướng tiêu dùng đang thay đổi nhanh chóng của người tiêu dùng Việt Nam.

    Thứ hai, đó là tác động làm tăng chất lượng của sự tăng trưởng do hoạt động cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, những sản phẩm dịch vụ kém chất lượng sẽ từng bước bị loại bỏ khỏi thị trường.

    Những sản phẩm kém về chất lượng ấy sẽ nhường chỗ cho những hàng hóa có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng; đặc biệt những hàng hóa có chứng nhận đảm bảo về chất lượng, an toàn cho sức khỏe. Từ đó những cơ sở kinh doanh bán lẻ còn yếu kém cũng sẽ bị đào thải nhanh chóng; thay vào vị trí đó là những trung tâm
    mua sắm hiện đại, có hàng hóa chất lượng. Tình trạng nhà sản xuất tự chăm sóc hệ thống phân phối bán lẻ sẽ dần dần biến mất, thay vào đó giữa nhà sản xuất hành hóa và nhà phân phối kinh doanh bán lẻ sẽ có mối quan hệ mang tính chất hợp tác cộng sinh. Với sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, hoạt động
    phân phối kinh doanh bán lẻ nước ta sẽ thực sự trở thành một ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ.

    • Mang đến những phương thức quản lý và trình độ tổ chức kinh doanh hiện đại

    Trình độ quản lý và tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ trong nước với nhóm các tập đoàn phân phối bán lẻ hàng hóa nước ngoài cũng vẫn còn một khoảng cách không nhỏ. Các tập đoàn phân phối hàng hóa lớn của nước ngoài có lợi thế hơn hẳn về kinh nghiệm kinh doanh, bán hàng cũng như đã tiếp cận được trình độ quản lý hiện đại của thế giới. Điều này thể hiện khá rõ ràng ở kết quả triển khai các hoạt động phát triển kinh doanh hết sức nhanh chóng và chuyên nghiệp của các tập đoàn kinh doanh phân phối nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.

    Chỉ không lâu sau khi có mặt tại Việt Nam, tập đoàn MegaMarket đã thiết lập được mối liên kết chặt chẽ với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp hàng hoá và khoảng 15.000 hộ nông dân, 15 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được MegaMarket phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu thông qua quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng sản phẩm theo tiêu chuẩn MegaMarket dựa trên các quy định hiện hành của Việt Nam. Đối với Diamond Plaza, một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công vang dội của Diamond Plaza là sự chia sẻ lợi ích một cách thông minh giữa những người có nhu cầu thuê mặt bằng bán hàng và chủ sở hữu cho thuê. Khoảng 70% các quầy hàng tại nơi này chia sẻ một phần doanh số họ thu được cho chủ quản lý của Diamond Plaza. Đổi lại, họ sẽ được chủ quả lý chia sẽ những lợi ích từ các chương trình khuyến mãi, những sự kiện tiếp cận, lôi kéo khách hàng, nghiên cứu thị trường, khảo sát người tiêu dùng, thay đổi cách thức bày biện sản phẩm cho hấp dẫn…. Đây chính là nguyên nhân khiến doanh thu bán hàng của các nhà phân phối FDI đang chiếm ưu thế vượt trội trước các doanh nghiệp kinh doanh
    trong nước. Hiện nay, doanh thu của các doanh nghiệp trong nước còn ở mức khá thấp, siêu thị có doanh thu trung bình chỉ đạt mức khoảng 200 – 500 tỉ đồng/năm. Trong khi đó, doanh thu bình quân của hệ thống siêu thị của các doanh nghiệp nước ngoài thường cao gấp 2 – 3 lần mức này.

    • Thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Sau tiến trình đổi mới vào năm 1986, kinh tế nước ta đã dần dần được khôi phục và tăng trưởng, sản xuất phát triển, thu nhập bình quân của người dân tăng lên, nhu cầu sử dụng hàng hóa cũng tăng lên. Để kích thích sự tăng trưởng của thị trường bán lẻ Việt Nam, nhà nước đã quyết định cho phép những tập
    đoàn phân phối bán lẻ lớn được đầu tư vào nước ta. Mặc dù điều này khiến các doanh nghiệp kinh doanh phân phối trong nước sẽ phải chịu hàng loạt sức ép về cạnh tranh rất, nhưng chính sự gia tăng sức ép này tạo ra áp lực và động lực khiên các doanh nghiệp việt đổi mới cách thức kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của mình trong môi trường hội nhập mới.

    Điều này sẽ khiến cho doanh nghiệp Việt phát triển một cách ổn định và bền vững hơn. Tuy nhiên, sự đánh đổi đó có thể khiến một số doanh nghiệp phân phối nhỏ lẻ, sẽ phải đóng cửa hoặc phải thay đổi hình thức kinh doanh nhưng nếu xét trên lợi ích quốc gia, lợi ích và hiệu quả xã hội sẽ được nâng lên vì lúc
    này thị trường kinh doanh phân phối trong nước vẫn sẽ được đáp ứng bởi các doanh nghiệp mạnh hơn, kinh doanh hiệu quả hơn.

    Từ khi có sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tự thay đổi để hội nhập tốt hơn. Một số doanh nghiệp phân phối lớn trong nước như Tổng công ty Thương mại Hà Nội, Tổng công ty Thương mại Sài Gòn, Công ty Xuất nhập khẩu Intimex,…, đặc biệt là Liên hiệp Hợp tác xã
    thương mại Saigon Co.op, đã có rất nhiều sự chuyển biến tích cực trong việc đổi mới các phương thức quản lý và tổ chức kinh doanh, tạo nên mối liên kết chặt chẽ với hầu hết nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ, sản phẩm, áp dụng quy trình quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm chặt chẽ, đầu tư xây dựng và
    triển khai hàng loạt các ứng dụng hệ thống quản lý bằng phần mềm công nghệ thông tin hiện đại… Riêng Saigon Co.op mới đây đã đầu tư hàng triệu USD để tái thiết lập hệ thống quản lý điện toán mới nhất.

    Các nhà đầu tư trong nước tiếp tục quá trình đẩy mạnh việc đầu tư mở rộng mạng lưới hệ thống phân phối của mình nhằm mục đích tăng cường hợp tác đầu tư theo chiều sâu để tạo ra hàng loạt mô hình hợp tác, liên doanh có quy mô, tầm cỡ. Quá trình này sẽ có thể diễn ra nhanh chóng bởi sức ép về cạnh
    tranh đã được các doanh nghiệp nhìn nhận một cách rõ ràng. Hơn nữa, đứng trước sức ép cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đổi mới liên tục mà còn phải tìm được cách thức liên kết đã tạo thành những doanh nghiệp lớn.

    Kể từ đầu năm 2012 đến nay, thị trường phân phối hàng hóa trong nước đã biết đến sự thành lập của Công ty CP Đầu tư và Phát triển hệ thống phân phối Việt Nam (quy mô vốn lên tới 6.000 tỉ đồng); sự thành lập đó xuất phát từ sự
    liên kết của bốn DN phân phối hàng đầu nội địa là Saigon Co.op, Satra, Hapro và Tập đoàn Phú Thái. Sự xuất hiện của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam cũng đánh dấu một bước phát triển vượt bậc trong xu thế nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Đó chính là sự nỗ lực không ngừng của
    doanh nghiệp Việt Nam nhằm tích cực củng cố hơn năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự thành lập hiệp hội mở ra hi vọng với những bước phát triển mới cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam.

     

    • Phục vụ người tiêu dùng tốt hơn

    Về giá cả

    Trong bối cảnh giá cả thị trường biến động, ngày càng tăng cao, giá cả sản phẩm sẽ là yếu tố quyết định tạo nên doanh thu và nhu cầu cho siêu thị. Với tiềm lực tài chính lớn, các doanh nghiệp FDI có lợi thế trong việc hạ giá thành hàng hóa bằng những phương thức kinh doanh chiến lược (như mua tận gốc,
    bán tận ngọn) và những hình thức quy hoạch, tổ chức vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho tất cả hệ thống. Điều này đã giúp các các doanh nghiệp nước ngoài này tiết kiệm được hàng trăm chi phí trung gian và họ có thể chủ động kiểm soát một cách chặt chẽ chất lượng hàng hoá.

    Kể từ 2 năm trở lại đây, hệ thống siêu thị Mega Market đã thu hút hàng ngàn khách hàng bằng chiến lược giá tốt. Các siêu thị của hệ thống này thường xuyên cung cấp hàng hóa với mức giá tốt hơn rất nhiều so với mức giá bình quân của toàn hệ thông siêu thị khác trong nước khoảng 10 – 15%, tức là giá cả tại Mega Market chỉ bằng giá bán buôn ở các chợ bán buôn lớn như Bến Thành (Thành phố Hồ Chí Minh), Đồng Xuân (Hà Nội)… Vì thế nên dù ở vùng xa trung tâm thành phố, những siêu thị này vẫn luôn đón nhận một lượng khách hàng rất lớn tìm đến mua hàng. Không chỉ Mega Market áp dụng chiến lược về giá, Siêu thị Big C cũng thu hút phần lớn khách hàng bằng chiến lược giá của mình bằng phương thức mua tận gốc, bán tận ngọn nhờ biết cách tổ chức, qui hoạch vùng chuyên canh thực phẩm và hàng hoá cho toàn bộ hệ thống đã giúp các tập đoàn này tiết kiệm được tầng chi phí trung gian và chủ động kiểm soát chất lượng
    hàng hoá. Nhờ vậy, Big C đã có hàng ngàn mặt hàng sản xuất độc quyền với thương hiệu “WOW giá hấp dẫn”.

    • Về số lượng

    Sự đa dạng, phong phú về các loại hàng hoá cung cấp trong các siêu thị của các tập đoàn đầu tư nước ngoài cũng là một ưu thế cạnh tranh rất đáng kể đối với nhiều doanh nghiệp phân phối trong nước. Tại trung tâm thương mại Zen plaza, đã có tới hơn 540 nhãn hiệu thời trang trong và ngoài nước và nếu tính
    trung bình một siêu thị trong hệ thống của Mega Market hoặc BigC thường xuyên cung cấp khoảng 15.000 mặt hàng các loại thì chắc chắn chỉ một phần nhỏ các doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp
    ứng được.

    Về chất lượng

    Các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ không chỉ chú ý vào chiến lược giá mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng chiến lược về chất lượng sản phẩm. Nắm được tâm lý của người tiêu dùng Việt Nam không có sự tin tưởng vào hàng hóa trong nước, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài đã tập trung nhiều đến chất lượng sản phẩm được cung ứng trong hệ thống phân phối bán lẻ của mình. Như đã nói ở trên, hệ thống siêu thị Mega Market đã liên kết với thiết lập được mối liên kết bền vững với khoảng hơn 1.000 nhà cung cấp các loại hàng hoá khác nhau và khoảng 15.000
    hộ nông dân, 50 lò mổ gia súc ở Việt Nam. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đã được phối hợp với Sở Y tế và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện ngay từ đầu quy trình công nghệ sạch với các nhà cung ứng hàng hóa theo tiêu chuẩn của công ty dựa trên
    các quy định của nhà nước Việt Nam. Những khách hàng đến đây không chỉ hài lòng về giá cả mà còn yên tâm về chất lượng sản phẩm. Không chỉ là đảm bảo chất lượng sản phẩm mà các doanh nghiệp FDI còn mang đến người tiêu dùng Việt Nam những thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thế giới như Mo&Co (Pháp), CK (Anh)…

    Về những dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Những tập đoàn bán lẻ đầu tư vào Việt Nam không chỉ chú ý tới giá cả và chất lượng sản phẩm mà những khách hàng đến mua sắm tại đây còn được hưởng những dịch vụ chăm sóc khách hàng khá chu đáo. Tại siêu thị Mega Market, dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng sau bán hàng rất được chú trọng.
    Mega Market phát hành phiếu trả hàng cho tất cả hàng hóa trả lại trong tình trạng còn tốt trong vòng 3 ngày và kèm theo hóa đơn. Đối với những mặt hàng điện tử, Mega Market bảo lưu thực trạng hàng hóa để chứng minh khiếu nại của khách hàng trước khi đổi hàng cho khách. Nhờ vào những dịch vụ chăm sóc
    khách hàng rất tốt, các doanh nghiệp FDI đã khẳng định đẳng cấp của mình trên thị trường Việt Nam và luôn là những doanh nghiệp dẫn đầu về doanh thu bán lẻ.

    Như vậy, hàng triệu người tiêu dùng Việt được hưởng lợi nhiều hơn từ việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO với ý nghĩa là họ sẽ được tiêu dùng nhiều hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, giá rẻ hơn; được hưởng các dịch vụ với tiện ích tốt hơn, tính chuyên nghiệp cao hơn …Những lợi ích đó
    sẽ không chỉ các doanh nghiệp FDI mà các doanh nghiệp trong nước cũng sẽ mang lại cho người tiêu dùng bởi vì tất cả: trong nước cũng như nước ngoài muốn tồn tại được đều phải thông qua quá trình cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển. Cạnh tranh mang đến lợi ích cho người tiêu dùng.

    • Hỗ trợ nông dân và các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa

    Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phân phối bán lẻ, sự hài lòng của khách hàng là chìa khóa cho những thành công của doanh nghiệp.
    Để khiến khách hàng hài lòng thì cách tốt nhất là cung ứng những hàng hóa tốt nhất, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Nhưng các doanh nghiệp kinh doanh phân phối bán lẻ lại không thể trực tiếp sản xuất, vì thế để cải thiện chất lượng cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp FDI không ngừng nỗ lực trong việc hỗ trợ về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, vốn, con giống hoặc nguyên vật liệu cho nông dân và những doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ khác. Người nông dân ở trong mô hình sản xuất này, khi liên kết với những doanh nghiệp thì sẽ chú tâm hơn vào việc canh tác mà không cần phải suy nghĩ, bận tâm, loanh quanh trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Từ khi có sự tham gia của các doanh nghiệp nước ngoài, lĩnh vực phân phối sản xuất của nhà nông cũng trở nên sôi động. Sản phẩm nông nghiệp được đưa đến tay người tiêu dùng thông qua các nhà phân phối bán lẻ một cách nhanh chóng.

    Hơn nữa, do những tập đoàn bán lẻ có hệ thống siêu thị của mình trên khắp đất nước, từ đó các doanh nghiệp này đã tạo điều kiện cho nhà cung ứng Việt Nam được xuất khẩu hàng hóa. Như vậy các nhà sản xuất trong nước, đặc biệt là nông dân đã có cơ hội để phát triển và ổn định sản xuất; cũng như nâng cao
    trình độ sản xuất thông qua mối liên kết chặt chẽ với những nhà phân phối hiện đại, có quy mô lớn và hoạt động một cách chuyên nghiệp. Từ đó, họ sẽ có thể tạo ra được thu nhập cao hơn từ việc cung cấp cho các nhà phân phối này những sản phẩm có chất lượng tốt hơn.
    2.3.2. Tác động tiêu cực

    Khi mở cửa thị trường trong nước, bên cạnh những cơ hội và động lực phát triển, sẽ tồn tại không ít những tác động tiêu cực cho nền kinh tế trong nước và ảnh hưởng đến toàn xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa, một lĩnh vực khá nhạy cảm và có ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều bộ
    phận dân cư trong xã hội.

    Biến đổi trong tình trạng việc làm

    Sự biến đổi trong tình trạng việc làm được coi là một trong những mặt tác động lớn, rất đáng quan tâm nhất đối với Việt Nam khi mở cửa thị trường, dịch vụ của mình theo các cam kết trong WTO. Với đặc điểm của một thị trường còn mang nặng tính truyền thống, hoạt động phân phối hàng hóa được thực hiện qua mô hình chợ truyền thống và các cửa hàng, cửa tiệm buôn bán nhỏ lẻ của tư nhân vẫn chiếm phần lớn… thì mối quan tâm về việc làm này là hoàn toàn có cơ sở. Như đã trình bày ở trên, sự cạnh tranh giữa khu vực trong nước, các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp với các hộ kinh doanh cá thể là một đối trọng rất chênh lệch. Trong khi các nhà phân phối hàng hóa chuyên nghiệp có đủ khả năng thay đổi phương thức phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng, hiện đại thì các hộ kinh doanh cá rất khó khăn để thích ứng và bắt kịp.

    Trong thời gian trước đây, Khi Việt Nam chưa chính thức mở cửa với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thì sự lấn át của các doanh nghiệp phân phối lớn vẫn còn diễn ra rất châm. Thế nhưng khi mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam buộc phải đổi mới, bắt kịp, cập nhật để trở nên tốt hơn, sánh ngang với các nhà cung cấp nước ngoài. Điều đó khiên sự phân hóa, lấn át các hộ phân phối cá thể trở nên lớn hơn rất nhiều. Điều này dẫn đến sự thu hẹp quy mô, thị phần của hàng trăm các hộ kinh doanh cá thể. Hệ quả là những hộ kinh doanh nhỏ lẻ nếu không thích nghi kịp sẽ bị đào thải, đánh bật nhanh chóng khỏi thị trường. Về khía canh xã hôi, lực lượng lao động thất nghiệp do kết quả của quá trình mở cửa nền kinh tế sẽ là sức ép rất lớn cho các cơ quan nhà nước trong việc phân phối lực lượng lao động.

    Biến đổi trong tình trạng thu nhập của các nhóm đối tượng trong xã hội

    Rõ ràng là sự thay đổi trong tình trạng việc làm sẽ kéo theo sự thay đổi trong tình trạng thu nhập của những nhóm đối tượng liên quan. Nhóm đối tượng phải chịu tác động nặng nề nhất từ sự mở cửa nền kinh tế là các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ, phân bố không đều ở khắp các tỉnh thành Việt Nam. Điều làm
    nên sự quan tâm là các hộ kinh doanh nhỏ lẻ này thường có thu nhập không cao, bấp bênh theo từng tháng. Do đó khi các doanh nghiệp lớn đầu tư, thị phần của những hộ kinh doanh này bị thu hẹp đáng kể. Điều đó có thể khiến họ thất nghiệp hoặc giảm sút thu nhập. Khi đó, gánh nặng về giải quyết vấn đề
    an sinh xã hội và phân phối lại thu nhập của cơ quan nhà nước sẽ càng nặng nề hơn.

    Tình trạng giảm sút trong thu nhập của các hộ kinh doanh cá thể, nhỏ lẻ có thể còn tạo ra những tác động gián tiếp khác đáng quan ngại như khả năng tăng về tệ nạn xã hội, tình trạng mất cân bằng tỉ lệ giàu nghèo,… của các đối tượng trong xã hôi. Ngoài ra, một điểm đáng lưu tâm khác là mức thu nhập của các hộ kinh doanh này là nguồn tài chính duy nhất để đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Do đó, một tác động làm thay đổi về thu nhập của một hộ kinh doanh cá thể có thể làm ảnh hưởng tới rất nhiều thành
    viên khác trong gia đình đó.

    Các doanh nghiệp FDI tạo ra sự lũng đoạn thị trường

    Việc tiếp thị, lôi kéo số lượng khách hàng lớn của các siêu thị và trung tâm thương mại có thể khiến tình trạng phá sản dây chuyền của hàng trăm hộ kinh doanh cá thể khác. Ngoài ra, hội nhập còn tạo nên một sự lệ thuộc không nhỏ của các hộ sản xuất nhỏ vào các tập đoàn phân phối. Sự phụ thuộc này sẽ phải trả một giá đắt vì nó chi phối hầu hết hoạt động của các nhà cung cấp nhỏ lẻ.

    Các siêu thị thường đưa ra và duy trì một tiêu chuẩn cố định về sự an toàn thực phẩm và chất lượng hàng hóa đối với các nhà cung cấp. Nếu đáp ứng được thì các doanh nghiệp sẽ thu mua, còn không thì sẽ tồn đọng. Để có thể đáp ứng
    được những yêu cầu rất cao từ phía doanh nghiệp, người nông dân đầu tiên cần phải đầu tư máy móc, trang thiết bị, giống,… Điều đó khiến họ phải lâm vào cảnh vay vốn ngân hàng để sản xuất. Trong trường hợp doanh nghiệp không thu mua hoặc không đạt được tới tiêu chuẩn cần thiết thì người nông dân sẽ bị
    rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất.

    Ngành hàng gia dụng và trang trí là mặt hàng có thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp phân phối nước ngoài thường xuyên áp dụng mức giá rất cao trong các đơn đặt hàng các sản phẩm gia công. Đồng thời, các doanh nghiệp nước ngoài cũng đưa ra các quy định rất cao về thời hạn
    giao hàng, nguồn nguyên liệu, đóng gói sản phẩm,… Nói cách khác, doanh nghiệp Việt chỉ cần sản xuất mà không cần phải lo đầu ra của sản phẩm. Tuy nhiên, họ sẽ bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài; khi phía nước ngoài ép hạ giá thành, các nhà sản xuất trong nước rất dễ bị lỗ, dẫn tưới phá sản.
    Dần dần, các doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm, và quản được hầu hết các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam.

    Như vậy, rõ ràng là việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối hàng hóa bán lẻ sẽ cùng lúc tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đối với sự phát triển của Việt Nam. Mặc dù những tác động tiêu cực và tích này chỉ mang tính chất tương đối nhưng nhìn chung, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích hơn, có nhiều động lực
    phát triển hơn so với thời kì chưa mở cửa nền kinh tế.

     

    CHƯƠNG  3:  CÁC BIỆN PHÁP GIÚP TẬN DỤNG HIỆU QUẢ DÒNG VỐN FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI- BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM

    3.1. Thuận lợi và khó khăn với việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại việt nam

    3.1.1. Thuận lợi

    • Các xu hướng đầu tư trên thế giới
    • Xu hướng quốc tế hoá:

    Trên thế giới hiện nay, việc quốc tế hóa diễn ra ngày càng phổ biến, với bản chất chung là sự liên kết các thị trường trên các khu vực, lãnh thổ với nhau theo các thể chế song phương và đa phương. Bằng việc ký kết các hợp đồng về mở rộng thị trường đã giúp cho các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia trở nên ngày càng lớn mạnh bao gồm cả về lĩnh vực bán lẻ. Với lĩnh vực phân phối bán lẻ này, sự xuất hiện của các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn… ngày càng tăng lên về quy mô và phát tiển theo chuỗi. Hiện nay có một số tập đoàn bán lẻ trên khắp thị trường thế giới đang có kế hoạch đầu tư vào nước ta, ví dụ như Tập đoàn WalMart của Mỹ với hơn 7.500 cửa hàng trên khắp 14 nước, Tập đoàn Carefour của Pháp với hơn 15.000 cửa hàng phân phối rộng khắp trên hơn 30 quốc gia. Việc đầu tư này sẽ mang đến những ảnh hưởng lớn đối với Việt Nam nói chung, và với ngành phân phối- bán lẻ nói riêng.

    • Xu hướng chuyển động của dòng vốn FDI sang nghành dịch vụ:

    Hiện nay, lĩnh vực dịch vụ của các nước phát triển phải chịu sức ép từ thị trường nội địa, điều này khiến cho các tập đoàn xuyên quốc gia cần tìm giải pháp mới, đó là phát triển đầu tư vào các nước kém phát triển hơn trong đó có Việt Nam, để có thể phát huy thế mạnh của họ. Sự phát triển của dòng vốn FDI trong ngành dịch vụ vào các nước đang phát triển tăng nhanh từ 28% năm 2012 lên 53% năm 2017. Các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 67% trong tổng 100 công ty lớn nhất thế giới theo số liệu năm 2016, và doanh số của các công ty này đều cao hơn GDP của Việt Nam.

    • Xu hướng đầu tư FDI sang các lãnh thổ- khu vực khác:

    Chi tiêu thương mại và sự tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia có sự tương đồng với nhau. Với các nước đang phát triển như ở châu Á, việc kinh tế ngày càng phát triển là một động lực cho chi tiêu tiêu dùng gia tăng. Thêm vào đó, tại châu Á nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng, hiện vẫn còn tồn tại một sự đặc trưng là mang tính sản xuất nhỏ lẻ trong quy mô gia đình, mua bán ngẫu nhiên theo nhu cầu và mua bán không có hệ thống, việc giao lưu thương mại chủ yếu là thông qua chợ. Điều này dẫn tới đây là thị trường mang lại nhiều cơ hội nhất cho các tập đoàn đa quốc gia trong việc tìm kiếm một thị trường mới, với lượng khách hàng phân tán lớn thì việc thu hút khách hàng chi tiêu theo hệ thống trở nên dễ dàng hơn.

    Tuy nhiên, tại các nước Đông Nam Á hiện nay có một vài nước có vấn đề bạo loạn như Thái Lan, Campuchia, thì với nước có tình hình kinh tế- chính trị ổn định như Việt Nam là một sự lựa chọn an toàn, điều này dẫn tới việc đầu tư vốn FDI vào Việt Nam ngày càng tăng.

    • Xu hướng chi tiêu cá nhân tại Việt Nam
    • Xu hướng phát triển nhanh trong chi tiêu cá nhân:

    Qua các năm từ 2012 tới 2017,việc chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân của người dân nước ta ngày càng tăng nhanh, mang tới tiềm năng lớn cho sự phát triển của lĩnh vực phân phối- bán lẻ trong tương lai. Theo số liệu mới nhất do Tổng cục Thống kê vừa công khai, mức chi tiêu tiêu dùng cá nhân trung bình của nước ta tính tới thời điểm năm 2017 là >3.500.000 VNĐ/ người/ tháng, con số này sẽ tiếp tục tăng lên trong các năm tới. Thêm vào đó, mức hàng hóa bán lẻ cũng nhiều lên so với trước đây, nếu giai đoạn 2007- 2012 dịch vụ hàng hóa bán lẻ chiếm 66.18% so với các dịch vụ khác, thì tới giai đoạn 2012- 2017 con số này tăng lên 78.47%. Dự đoán giai đoạn từ nay tới năm 2025, con số này tiếp tục tăng lên và chiếm tới khoảng > 85% quỹ tiêu dùng.

    • Xu hướng thay đổi trong cách thức và mục tiêu mua sắm:

    Hiện nay,  đa số người tiêu dùng tại Việt Nam ngày càng thích mua sắm và chi tiêu trong các trung tâm thương mại, siêu thị hơn là các khu chợ ngoài trời vì sự tiện dụng, cũng như là nhiều sự lựa chọn cùng một lúc với các mức giá niêm yếu sẵn.

    Bên cạnh đấy thì người tiêu dùng Việt Nam cũng đang thay đổi phong cách sống nhanh chóng, họ sẵn sàng chi tiêu các khoản tiền lớn với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống hơn cho bản thân và gia đình, cụ thể:

     

     Hình ảnh 1: Xu hướng thay đổi trong chi tiêu của người Việt Nam giữa quý II/2017 so với quý IV/2016

     

    • Cam kết và việc thực hiện cam kết

    Qua nhận thức và đánh giá đúng các xu thế phát triển của nền kinh tế nước nhà, trong các năm qua Đảng và Chính phủ đã thống nhất thực hiện việc phát triển kinh tế nước nhà theo phương châm chủ động hội nhập theo một cách sâu rộng hơn.

    Theo đó, nhà nước đã thực hiện các biện pháp đẩy mạnh nền kinh tế, chính trị thông qua các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương, giúp đẩy mạnh sự hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta.

    Tính tới nay, nước ta đã ký kết cùng với hơn 160 quốc gia và khu vực, trong đó có hơn 90 hiệp định về thương mại, hơn 46 hiệp định về đầu tư nước ngoài cùng các thỏa thuận về đối xử Tối huệ quốc khác,… Một số ký kết mang ý nghĩa to lớn điển hình như là Hiệp định khung với Liên minh châu âu (EU) (1992), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2000), có nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) ( năm 1993), tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (1995); tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) (1996), tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) (1998),…

    Khi tham gia vào các ký kết nhằm hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Việt Nam cần thực hiện đúng và đủ các nội quy và cam kết quốc tế về việc kết nối thị trường, bao gồm cả việc kết nối, mở cửa thị trường phấn phối- bán lẻ hàng hóa. Tính tới nay, việc mở cửa thị trường tại Việt Nam đã được mở hoàn toàn 100% cho các Doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài trên hầu như là tất cả các mặt hàng. Bên cạnh việc tăng sự đầu tư của các doanh nghiệp FDI nội địa, thì Việt Nam cũng đã thu hút được sự đầu tư của các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới, ví dụ như Tesco (Anh), Walmart (nhà phân phối- bán lẻ lớn nhất thế giới hiện nay), cùng các tập đoàn lớn khác từ Nhật Bản, Pháp,…

    Ngoài ra, việc thực hiện đúng các cam kết, thỏa thuận này kéo theo sự thay đổi trong thói quen của người tiêu dùng, người tiêu dùng hiện nay đang dần chuyển từ chi tiêu mua bán theo khuân mẫu truyền thống sang chi tiêu tiêu dùng trong các trung tâm thương mại lớn. Điều này giúp cho nne kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng tích cực hơn. Như vậy, ngành phân phối- bán lẻ của Việt Nam sẽ ngày càng đa dạng, lớn mạnh hơn, và có cơ hội trở thành một ngành công nghiệp tiên tiến hơn, để bắt kịp xu hướng chung trong khu vực và trên thế giới.

    3.1.2. Thách thức 

    • Cơ sở hạ tầng chưa phát triển

    Hiện nay tại Việt Nam cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, điều này là một khó khăn lớn đối với việc phát triển hệ thống phân phối- bán lẻ có sự đầu tư của dòng vốn FDI. Tại thời điểm này, hầu hết các mặt bằng tại nước ta đều không đảm bảo được về không gian, cũng như các mặt bằng có sẵn đều không đảm bảo được tiêu chuẩn theo chuẩn quốc tế và cần phải bỏ nhiều thời gian và chi phí để cải tạo lại trước khi đưa vào sử dụng. Bên cạnh sự khan hiếm về mặt bằng kinh doanh, thì chi phí thuê mặt bằng tại các thành phố lớn của nước ta cũng rất cao, trung bình vào khoảng 200 USD/m2/tháng với những mặt bằng có mặt

    • Thói quen chi tiêu truyền thống của người tiêu dùng

    Hiện nay mặc dù có những tập đoàn bán lẻ lớn như Coop Mart, Big C, Metro, Vin Mart,… đã đạt được rất nhiều thành công trong việc phân phối, nhưng vẫn con phần lớn người dân tham gia vào các khu chợ truyền thống, theo thống kê hiện còn khoảng trên 8000 khu chợ vẫn hoạt động mạnh và hiệu quả, thu hút một lượng lớn người tiêu dùng thuộc mọi tầng lớp, đặc biệt là tại các tỉnh vùng xa của nước ta, và những người có thu nhập trung bình- thấp, và những người ngoài độ tuổi lao động do họ có những tập quán, thói quen tiêu dùng theo họ đã từ rất lâu. Việc thay đổi tập quán, theo quen tiêu dùng của người dân không thể nhanh chóng, điều này thường dễ làm các nhà đầu tư nản lòng và là một lí do khiến các nhà đầu tư chần chừ trong việc ra quyết định đầu tư vào Việt Nam.

    • Sự hạn chế của nhà sản xuất trong nước

    Khi các tập đoàn bán lẻ của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, điều họ cần là một nguồn cung cấp ổn định và chất lượng. Thế nhưng thực trạng của các nhà sản xuất trong nước thì lại không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, xong nhà sản xuất nước ta thì lại có quy mô nhỏ, chất lượng nhiều khi không đảm bảo, kỹ thuật máy móc chưa phát triển, hơn nữa việc giao hàng không đúng thời hạn vẫn còn xảy ra. Điều này là một thách thức lớn đối với các nhà sản xuất trong nước nói riêng và thách thức đối với việc thu hút được nguồn đầu tư FDI ổn định cho ngành phân phối- bán lẻ nói chung.

    Đặc biệt, đối với các mặt hàng như may mặc, giày dép, mặc dù chúng ta có thể sản xuất để tiêu dùng trong nước được nhưng do không đảm bảo được chất lượng cũng như thiếu kinh nghiệm, tài chính, nên đành phải chịu sự lép vế đối với những thương hiệu nước ngoài trong các khu thương mại, các khu mua sắm như Vincom, Parkson, …

    • Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa còn yếu

    Việc tham gia vào các ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương đẫ mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội phát triển nền kinh tế, thế nhưng đây cũng lại là một khó khăn đối với những doanh nghiệp nội địa, đặc biệt là các doanh nghiệp đang được Nhà nước bảo hộ. Do có sự bảo hộ của Nhà nước nên các doanh nghiệp ngày mang nặng tính ỷ lại, không chịu đổi mới về cả dịch vụ và chất lượng, cũng như không kịp thời đổi mới phương pháp kinh doanh  sản xuất. Do vậy, để có thể thu hút FDI vào lĩnh vực bán lẻ tốt hơn, thì trước tiên các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất, để có thể kịp thời đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư nước ngoài.

    3.2. Biện pháp để tận dụng tốt nguồn vốn FDI vào ngành phân hối- bán lẻ tại việt nam

    3.2.1. Từ phía Nhà nước

    • Thực hiện đúng theo cam kết quốc tế về kết nối thị trường phân phối- bán lẻ

    Mở cửa thị trường hàng hóa trong nước để giao lưu thương mại với thế giới là một điều kiện thuận lợi để cho nền kinh tế nước nhà phát triển, dồng thời cũng là một sức ép giúp các doanh nghiệp trong nước buộc phải chuyển đổi và phát triển hơn nhằm đẩy mạnh quá trình giao thương liên kết với thế giới. Mặt khác, nhờ được bảo hộ thông qua các chính sách khuyến khích tăng trưởng của Nhà nước, các doanh nghiệp nội địa đã có thêm thời gian giúp cho việc nghiên cứu việc sử dụng nguồn lực doanh nghiệp và xã hội để phát triển hơn, giúp tăng khả năng cạnh tranh cũng như hợp tác với các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI trong ngành phân phối- bán lẻ nói riêng và các ngành kinh tế thương mại khác nói riêng.

    Bên cạnh việc mở cửa kinh tế, Nhà nước cũng cần công bố, triển khai một cách rộng rãi tiến trình, kế hoạch thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi tới tìm hiểu thị trường, nguồn lực tại Việt Nam, Nhà nước ta cần tạo thời cơ và điều kiện thuận lợi từ việc hỗ trợ về mặt pháp luật để giúp cho việc chuyển nguồn vốn về Việt Nam được nhanh chóng và thuận tiện nhất.

     

    • Nhà nước cần xây dựng và quy hoạch kế hoạch tổng thể để thu hút được vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ.

    Để có thể thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp nước ngoài vào ngành phân phối- bán lẻ thì việc hoàn thiện sự hộ trợ pháp lý cho họ không đủ, bên cạnh đó Nhà nước cần có kế hoạch cụ thể và chi tiết về tổng thể ngành phân phối- bán lẻ và tương lai phát triển, điều này giúp cho các doanh nghiệp nước ngoài có cái nhìn tổng quan hơn về lĩnh vực này tại Việt Nam.

    Thực tế, việc thu hút đầu tư vào ngành phân phối- bán lẻ một cách cân bằng rất khó thực hiện, bỏi đa số các dự án lớn cảu các tập đoàn nước ngoài chủ yêu dành cho các thành phố phát triển tại nước ta bởi họ luôn đặt doanh thu và lợi nhuận lên hàng đầu. Do vậy, Nhà nước cần có các kế hoạch cụ thể và dành cho các ưu đãi để có thể thu hút đầu tư nước ngoài vào các vùng kinh tế chưa phát triển, các vùng nông thôn nhằm giúp nền kinh tế phát triển một cách cân bằng hơn giữa các vùng. Góp phần đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa cho đất nước.

    • Nhà nước cần đưa ra các kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư

    Để tạo sự thu hút cho các nguồn đầu tư, Nhà nước cần cải thiện môi trường đầu tư sao cho các nhà đầu tư quốc tế có được sự thuận lợi nhất khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực phân phối- bán lẻ tại Việt Nam:

    Thứ nhất, tạo thuận lợi về thủ tục cũng như các giấy phép cho các dự án FDI

    Sự thuận lợi trong thủ tục và cấp các giấy phép cho các dự án đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút được quyết định đầu tư và thực hiện các dự án của các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần thực hiện theo đúng cam kết trong WTO cũng như cá ký kết liên kết kinh tế thương mại khác để đảm bảo được lợi ích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Thứ hai, cải thiện cơ sở vật chất

    Mặt bằng cùng cơ sở vậy chất là một trong những yếu tố quan trọng đối với ngành phân phối- bán lẻ, nó giúp cho việc tăng doanh thu và lợi nhuận trở nên dễ dàng hơn. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp, chính sách để cải thiện cơ sở hạ tầng, đường xá giao thông, giải phóng các mặt bằng  và tạo điều kiện cấp giấy phép cho việc xây dựng để giúp đỡ các doanh nghiệp.

    Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, nhà nước cần quy hoạch đầu tư các vị trí để xây dựng các trung tâm thương mại, vừa có thể thu hút được các nhà đầu tư dễ dàng kinh doanh, vừa giúp cho người tiêu dùng trong nước có được sự hài lòng nhất định trong chi tiêu, cũng như giúp cho tổng thể cơ sở vật chất của thành phố hài hòa và phát triển hơn.

    Đối với những tỉnh chưa phát triển hay như những vùng nông thôn, nhà nước nên tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể xây dựng mặt bằng để thuận tiện hơn trong kinh doanh. Đồng thời, chính quyền địa phương ấy cũng cần có những kế hoạch cụ thể để xin các dự án đầu tư vào địa phương mình, giúp cho việc lựa chọn mặt bằng thích hợp và tiện ích cho các hoạt động của dự án.

    Thứ ba, Nhà nước cần có sự công bằng đối với các doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài

    Các doanh nghiệp phân phối- bán lẻ trong nước hiện nay vẫn phụ thuộc vào sự bảo hộ của Nhà nước nhiều, gây ra sự trì trệ và ỷ lại trong sự quản lý phát triển doanh nghiệp, điều này dẫn tới sự cạnh tranh không công bằng đối với các doanh nghiệp phía nước ngoài. Có những doanh nghiệp nội địa còn mong muốn nhà nước dành cho nhiều thị phần thị trường hơn với tỉ lệ là 60/40, có lúc là 70/30, hay là việc tăng thuế nhập khẩu hàng hóa tạo ra hàng rào bảo vệ giúp đỡ cho các doanh nghiệp nội địa. Điều này là một dấu hiệu xấu đối với sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường bán lẻ hàng hóa, và có thể cản trở việc thu hút các nguồn vốn FDI vào nước ta.

    Ngoài ra, Nhà nước cũng đã có những hành động không công bằng với các doanh nghiệp nội địa như ưu tiên cấp đất tại vị trí đẹp cho các doanh nghiệp nước ngoài. Thế nên Nhà nước cần đưa ra các biện pháp thích đáng, nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, có thể thông qua biện pháp đấu thầu đất một cách công khai và hợp lý.

    Thứ tư, cải thiện môi trường pháp luật

    Môi trường pháp luật trong lĩnh vực dịch vụ hiện nay tại Việt nam là một hệ thống luật khá là phức tạp với nhiều loại luật và văn bản dưới luật, các quy định và nghị định do các cơ quan chức năng ban hành. Điều này gây ra một tiêu cực là thiếu minh bạch trong việc thực hiện pháp luật. Thực tế, các Doanh nghiệp nước ngoài thường được thông báo về những sửa đổi trong các quy định cần làm sau khi họ đã chuẩn bị xong các giấy tờ về cấp phép, vận hành một cách đầy đủ theo những quy định trước đó.

    Thêm vào đó, sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện pháp luật khiên shco việc tuân thủ pháp luật thiếu tính khách quan và không rõ ràng. Tại Việt Nam, mỗi Bộ và ban ngành khác nhau thì sẽ có vai trò khác nhau đối với ngành, khu vực, lĩnh vực mình quản lý, điều này khó tránh khỏi việc mỗi cơ quan và các cán bộ tại cơ quan đó theo đuổi những lợi ích riêng mà không quan tâm, không chú ý tới sự phát triển của nền kinh tế một cách tổng thể.

    Vì vậy, Nhà nước cần hoàn thiện môi trường pháp luật, làm cho việc ra các quyết định và thực hiện quy định có sự nhất quán với nhau. Tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngài khi tới đầu tư vào Việt Nam.

     

    Thứ năm, tăng cường định hướng tiêu dùng trong nước và thu hút tiêu dùng từ khách du lịch nước ngoài

    Tiêu dùng là yếu tố quan trọng nhất đối với lĩnh vực phân phối- bán lẻ. Muốn lĩnh vực này phát triển hơn nữa, Chính phủ cần có các kế hoạch hướng người tiêu dùng sang sử dụng các hệ thống phân phối hiện đại hơn như các siêu thị, các trung tâm thương mại lớn, cũng như cần phải sắp xếp sao cho các khu chợ truyền thống có thể nhất quán và đi liền với quy hoạch của các trung tâm thương mại.

    Bên cạnh việc lên kế hoạch thay đổi thói quen của người tiêu dùng, thì Chính phủ cũng cần quan tâm tới việc tăng mức xuất khẩu tại chỗ thông qua khách du lịch, thông qua việc thu hút du lịch cũng làm tăng việc chi tiêu của những đối tượng này tại các siêu thị, trung tâm thương maị, điều này dẫn tới tăng mức doanh thu, tăng lợi nhuận cho khu vực. Nhà nước cũng nên có kế hoạch thu hút các dự án đầu tư vào các khu du lịch, nhằm phát triển du lịch, tăng nguồn thu cho Nhà nước cũng như coi đây là một giải pháp cho việc tăng chi tiêu tiêu dùng trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nội địa sử dụng nguồn vốn hiệu quả

    Một trong những khó khăn còn tồn tại trong các nhà sản xuất là việc tiếp
    cận nguồn vốn và việc sử dụng nguồn vốn sao cho hiệu quả. Các doanh nghiệp nội địa nước ta thường thiếu nguồn lực tài chính để có thể mở rộng quy mô sản xuất, thiếu nguồn lực để tiếp cận các kỹ thuật tiên tiến, các máy móc hiện đại, bên cạnh đó trình độ quản lý cũng như trình độ của nhân công còn yếu kém, dẫn tới việc khó đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Việc Nhà nước hỗ trợ, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất này tiếp cận được với nguồn lực tài chính sẽ giúp phát triển năng lực sản xuất, từ đó dần đáp ứng được nhu cầu nguồn cung của các doanh nghiệp nước ngoài.

    • Hỗ trợ các doanh nghiệp nội địa kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ

    Đối với các doanh nghiệp trong nước đang kinh doanh ngành phân phối- bán lẻ, Chính phủ cũng cần giúp đỡ để họ có thể nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, tránh bị lấn áp bởi các doanh nghiệp có vốn nước ngoài:

    Thứ nhất, phân tích và công bố kế hoạch về mở cửa thị trường và tự do thương mại.

    Giải thích một cách dễ hiểu các cam kết, điều lệ trong các ký kết mà Việt Nam đã tham gia, điều này giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin, từ đó có sự chủ động trong việc tận dụng các cơ hội để vượt qua các thách thức và phát triển hơn

    Thứ hai, hoàn thiện các chính sách, quy định để hỗ trợ các doanh nghiệp một cách tốt nhất.

    Vì khi gia nhập WTO cũng như các ký kết thương mại từ trước tới nay, các doanh nghiệp nội địa không tránh khỏi những bỡ ngỡ trước những sự thay đổi của môi trường kinh doanh quốc tế. Việc hoàn thiện các chính sách sẽ giúp định hướng cho các doanh nghiệp, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia tốt hơn vào các cơ hội liên kết, kinh doanh, xúc tiến thương mại với thế giới.

    Ngoài ra, việc ban hành và hoàn thiện các chính sách cũng giúp cho các doanh nghiệp nhỏ lẻ có điều kiện tham gia vào chuỗi phân phối- bán lẻ như làm đại lý hay nhượng quyền kinh doanh, tham gia vào chuỗi phân phối lớn và có tính chuyên nghiệp cao, từ đó từng bước thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng ổn định lâu dài hơn, có nhiều cơ hội phát triển hơn.

    Thứ ba, Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp được nâng cao kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ.

    Hiện nay, việc phổ cập kiến thức về ngành phân phối- bán lẻ đã được bố trí giảng dạy tại các trường cao đẳng- đại học với những cơ sở kỹ thuật tiên tiến, giảng viên có kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp và chuyên môn lĩnh vực cao, đồng thời có những giáo trình đào tạo theo đúng tiến trình phát triển của thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi để có thể đào tạo ra những thế hệ kinh doanh mới với nhiều kiến thức về lĩnh vực phân phối- bán lẻ, giúp cho việc điều hành doanh nghiệp hiện tại và tương lai ngày càng được vận hành theo một cách bài bản và phát triển hơn.

    Việc đào tạo này giúp cho các chủ kinh doanh nhỏ lẻ, theo cá thể, có thể tiếp nhận được những lý thuyết cũng như những kỹ năng cơ bản trong vận hành bộ máy kinh doanh, giúp cho việc phát triển bản thân trở nên dễ dàng hơn và có sức cạnh tranh hơn trong thời buổi lũng đoạn thị trường hiện nay.
    3.2.2. Từ phía doanh nghiệp 

    Bên cạnh việc tăng cường thu hút nguồn vốn FDI vào ngành phân phối- bán lẻ, thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa cũng rất quan trọng. Thế nhưng, khi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp trong lĩnh vực này còn nhiều mặt còn hạn chế, chưa thật sự đủ mạnh hay vững chắc để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong môi trường quốc tế. Điều này nguyên do do kế hoạch tổ chức bộ máy của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, mang tính tự phát cao, cơ sở vật chất- kỹ thuật hạ tầng còn yếu kém, lực lượng nhân công lao động còn thiếu tay nghề,… Bởi vậy, khi tham gia vào môi trường giao thương quốc tế, nơi những doanh nghiệp quốc tế được vận hành bài ản, có đào tạo, có quy định chặt chẽ,… khiến cho các doanh nghiệp nội địa nước ta trở nên non yếu, dễ bị chèn ép. Do đó, các doanh nghiệp nội địa nước ta trước hết cần đổi mới và cải cách bộ máy tổ chức- quản lý, thực hiện vận hành các máy móc kỹ thuật tiên tiến và đào tạo lại trình độ của nhân công, giúp việc sử dụng các nguồn lực đạt được hiểu quả cao nhất, từ đó thúc đẩy doanh nghiệp phát triển nhanh hơn.

     

     

    • Doanh nghiệp nội địa cần chủ động trong việc thu hút nguồn vốn

    Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nước ta hiện đang phải chịu sự canh tranh lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài, điều tất yếu khi Việt Nam tham gia các ký kết và các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Điều này khiến yêu cầu các doanh nghiệp cần có một sự chuẩn bị cẩn thận, kỹ càng, và có hệ thống, đặc biệt là cần quan tâm tới nguồn vốn. Vậy nên các doanh nghiệp cần tìm mọi cách để huy động, thu hút nguồn vốn để thực hiện quá trình đầu tư sản xuất.

    Doanh nghiệp có thể thu hút, tìm kiếm nguồn vốn từ chính quỹ vốn bản thân đã có, huy động từ người thân, bạn bè, hoặc cũng có thể là từ nhân viên.

    • Tận dụng kiến thức về thị trường trong nước

    +

    • Đổi mới khâu tổ chức và quản lý
    • Thứ nhất, áp dụng công nghệ- thiết bị điện tử vào trong kinh doanh

    Nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghipeek trong nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối- bán lẻ nói riêng, đều cần áp dụng các công nghệ, thiết bị điện tử, như là một điều tất yếu khách quan trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới.

    Đầu tiên, việc áp dụng công nghệ thiết bị điện tử tiên tiến giúp doanh nghiệp quản lý bộ máy vận hành một cách dễ dàng hơn thông qua việc tối ưu hóa năng suất sản xuất, giảm khối lượng công việc, giảm thiểu tổng mức chi phí, có được thông tin giữa nội bộ và thông tin liên kết với các doanh nghiệp khác chính xác và nhanh chóng hơn.

    • Thứ hai, sử dụng thương mại điện tử như một công cụ kinh doanh.

    Trong thời kì Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng nhanh chóng, mạnh mẽ với sự bùng nổ của công nghệ thông tin hiện nay. Thì đối với các doanh nghiệp nội địa cần coi thương mại điện tử- xây dựng các website- như một công cụ kinh doanh hữu ích nhất, giúp cho việc rút ngắn khoảng cách cả về thời gian và không gian giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với người tiêu dùng; điều này giúp cho việc mở rộng hợp tác, điều hành doanh nghiệp, kết nối thông tin với các ban ngành, đối tác khác dễ dàng và nhanh chóng hơn. Việc sử dụng thương mại điện tử đúng lúc với sự chuẩn bị kĩ càng của doanh nghiệp sẽ giúp quá trình kinh doanh của họ đạt được nhiều kết quả tốt hơn.

    • Nâng cao chất lượng sản phẩm

    Chất lượng sản phẩm- dịch vụ của mỗi doanh nghiệp là yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi cá thể tham gia vào quá trình kinh doanh, vì nó quyết định và ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống bán lẻ như siêu thị tại nước ta vẫn còn nhiều vấn đề khiến người tiêu dùng và các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy mất niềm tin, khi nhiều cuộc thanh tra cho thấy trong hệ thống siêu thị vẫn còn tồn tại việc bán hàng quá thời hạn sử dụng, hàng chưa đạt tiêu chuẩn do có sự lỏng lẻo trong quản lý nguồn vào tạo điều kiện cho việc trà trộn hàng kém chất lượng vào siêu thị, hàng hóa chưa đạt vệ sinh an toàn thực phẩm,…

    Vì vậy các doanh nghiệp nội địa cần hết sức cẩn thận trong việc quản lý chất lượng theo  tiêu chuẩn ISO để mang lại chất lượng hàng hóa tốt nhất cũng như mang lại hiệu quả cho quá trình hoạt động kinh doanh, từ đó dần lấy lại niềm tin từ phía người tiêu dùng hay tạo uy tín để lôi kéo nguồn đầu tư FDI, từ đây tăng sức cạnh tranh cho mỗi bản thân các doanh nghiệp trong nội địa và trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế.

    • Nâng cao chất lượng nhân công lao động

    Nguồn nhân công được coi là một yếu tố gây ảnh hưởng tới sự sống còn của các doanh nghiệp. Một đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề cao giúp cho việc tham gia hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả cao nhất, giảm thiểu chi phí cũng như tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.

    Hiện nay tại nước ta, các trường đại học- cao đẳng cũng đã đào tạo ra một thế hệ trẻ có năng lực, kiến thức chuyên môn tương đối tốt, các doanh nghiệp cần có sự chủ động trong việc tìm kiếm và tiếp nhận các nguồn lao động trẻ này để kịp thời nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.

    • Mở rộng thị trường kinh doanh tới khu vực nông thôn

    Thị trường nông nước ta đang trở thành một thị trường có tiềm năng lớn để phát triển với hơn khoảng 65 triệu dân với mức thu nhập ngày càng tăng, cũng như tại nông thôn có đủ mặt bằng để xây dựng các kênh phân phối bán lẻ. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng tại nông thôn sẽ giảm sự cạnh tranh, các sức ép từ các doanh nghiệp nước ngoài đi vì các doanh nghiệp nước ngoài hầu như đổ xô vào đầu tư tại các thành phố lớn cũng như việc đầu tư này giúp cho nền kinh tế nước ta tiến nhanh hơn trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa và ngày càng đồng đều trong việc phát triển kinh tế chung trong cả nước.

     

     KẾT LUẬN

    Bằng những đánh giá thực tế tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2017 sau khi gia nhập WTO, đồ án đưa ra cái nhìn rõ ràng về sự phát triển của hệ thống bán lẻ Việt Nam. Trong những năm vừa qua, dịch vụ bán lẻ tại Việt Nam đã chứng kiến sự cạnh tranh không ngừng nghỉ của các doang nghiệp trong nước và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu, phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và thế giới. Hội nhập kinh tế thế giới,
    ngành kinh doanh bán lẻ tại Việt Nam có nhiều chuyển hướng tích cực cùng với sự tăng lên của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những quan điểm, lý luận về FDI và dịch vụ bán lẻ, đồ án chỉ ra dịch vụ bán lẻ tại nước ta thực sự là
    một thị trường thu hút với các nhà đầu tư nước ngoài. Kể từ khi bắt có dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên vào năm 1996, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã và dang thu hút được hàng trăm tập đoàn bán lẻ dẫn đầu thế giới đến đầu tư và triển khai hàng trăm các hình thức bán lẻ hiện đại. Sự xuất hiện này thúc đẩy sự phát triển tích cực của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Cụ thể hơn, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải thích ứng nhanh chóng, quyết liệt hơn với sự cạnh tranh không ngừng nghỉ từ thị trường. Điều đó khiến các doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn chất lượng sản phẩm.

    Qua sự phân tích nghiêm túc về FDI, đồ án đã đưa ra một số chứng minh cho việc các nhà bán lẻ nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam đã đem lại tác động vô cùng tích cực trong giai đoạn này. Do đó,  những biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọn, trọng điểm vào thời gian tới để tạo cơ hội nâng cao vị thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước
    Đứng trước tình hình kinh tế và sự phát triển các ngành nghề, dịch vụ bán lẻ hiện nay, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cần một chính sách và định hướng cụ thể từ các đơn vị quản lý: đặc biệt về thủ tục xét duyệt và cấp phép, bố trí mặt bằng,… sao cho phù hợp với tình hình của địa phương và đất nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phân phối của Việt Nam cần nhận ra một cách nhanh chóng những thách thức trong tương lai để có thể nâng cao vị thế của mình bằng cách cải thiện, đôi mới tư duy, phát triển cơ sở vật chất,… Việc tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư FDI sẽ không còn là vấn đề tranh luận gay gắt nữa mà sẽ tiếp tục là một giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế – xã hội Việt Nam phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-C%C3%94NG-TR%C3%8CNH-TR%C3%8AN-N%E1%BB%80N-%C4%90%E1%BA%A4T-Y%E1%BA%BEU.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    CHƯƠNG IV:     XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TRÊN NỀN ĐẤT YẾU

     

    ß1.     KHÁI NIỆM

    1.1.     Khái niệm về nền đất yếu

     

    Nền đất yếu là nền đất không đủ sức ch ịu tải, không đủ độ bền và biến dạng nhiều, do vậy không thể làm nền thiên nhiên cho công trình xây dựng.

     

    Khi xây dựng các công trình dân dụng, cầu đường, thường gặp các loại n ền đất yếu, tùy thuộc vào tính chất của lớp đất yếu, đặc điểm cấu tạo của công trình mà người ta dùng phương pháp xử lý nền móng cho phù hợp để tăng sức chịu tải của nền đất, giảm độ lún, đảm bảo điều kiện khai thác bình thường cho công trình.

     

    Trong thực tế xây dựng, có rất nhiều công trình bị lún, sập hư hỏng khi xây dựng trên nền đất yếu do không có những biện pháp xử lý phù hợp, không đ ánh giá chính xác được các tính chất cơ lý của n ền đất. Do vậy việc đánh giá chính xác và chặt chẽ các tính chất cơ lý củ a nền đất yếu (chủ yếu b ằng các thí nghiệm trong phòng và hiện trường) để làm cơ sở và đề ra các giải pháp xử lý nền móng phù hợp là một v ấn đề hết sức khó kh ăn, nó đòi hỏi sự k ết hợ p chặt chẽ giữa kiến thức khoa học và kinh nghiệm th ực tế để giải quyết, giảm được tối đa các sự cố, hư hỏng công trình khi xây dựng trên nền đất yếu.

     

    1.2. Một số đặc điểm của nền đất yếu

    Thu ộc lo ại nền đất yếu thường là đất sét có lẫn nhiều hữu cơ; Sức chịu tải bé (0,5 – 1kG/cm2);

    Đất có tính nén lún lớn (a> 0,1 cm2/kG);

     

    Hệ sô rỗng e lớn (e > 1,0);

    Độ sệt lớn ( B > 1);

    Mo đun biến dạng bé (E< 50kG/cm2);

    Khả năng chống cắt bé (ϕ, c bé), khả năng thấm nước bé;

     

    Hàm lượng nước trong đất cao, độ bão hòa nước G> 0,8, dung trọng bé;

    1.3. Các loại nền đất yếu thường gặp

    • Đất sét mềm: gồm các loại đất sét hoặc á sét tương đối chặt, ở trạng thái bão hòa nước, có cường độ thấp;
    • Bùn: Các loại đất tạo thành trong môi trường nước, thành phần hạt rất mịn (<200µm) ở trạng thái luôn no nước, hệ số rỗng rất lớn, rất yếu về mặt chịu lực;
    • Than bùn: Là loại đất yếu có nguồn gốc hữu cơ, được hình thành do kết quả phân hủy các chất hữu cơ có ở các đầm lầy (hàm lượng hữu cơ từ 20 – 80%);
    • Cát chảy: Gồm các loại cát mịn, kết cấu hạt rời rạc, có thể bị nén chặt hoặc pha loãng đáng kể. Loại đất này khi chịu tải trọng động thì chuyển sang trạng thái chảy gọi là cát chảy.
    • Đất bazan: Đây cũng là đất yếu với đặc diểm độ rỗng lớn, dung trọng khô bé, khả năng thấm nước cao, dễ bị lún sập.

    1.4 . Xử lý nền đất yếu

     

    Với các đặc điểm của đất yếu như trên, muốn đặt móng xây dựng công trình trên nền đất này thì phải có các biện pháp kỹ thuật để cải tạo tính năng xây dựng của nó. Nền đất sau khi xử lý gọi là nền nhân tạo.

    Việc xử lý khi xây dựng công trình trên nền đất yếu phụ thuộc vào nhiều điều kiện như: Đặc điểm công trình, đặc điểm của nền đất.v.v. Với từng điều kiện cụ thể mà

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 136

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    người thiết kế đư a ra biện pháp xử lý hợp lý. Trong phạm vi chương này sẽ đề cập đến các biện pháp xử lý cụ thể khi gặp nền đất yếu như:

     

    • Các biện pháp xử lý về kết cấu công trình;
    • Các biện pháp xử lý về móng;
    • Các biện pháp xử lý nền.

    ß2.     CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VỀ KẾT CẤU CÔNG TRÌNH

     

    K ết cấu công trình có thể bị phá hỏng cục b ộ ho ặc toàn b ộ do các điều kiện biến dạng không thõa mãn: Lún hoặc lún lệch quá lớn làm cho công trình bị nghiêng, lệch, đổ…hoặc do áp lực tác dụng lên mặt nền quá lớn trong khi nền đất yếu, sức chịu tải bé.

     

    Các biện pháp về Kết cấu công trình nhằm làm giảm áp lực tác dụng lên mặt nền hặc làm tăng khả năng chịu lực của kết cấu công trình. Người ta thường dùng các biện pháp sau:

     

    • Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ;
    • Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình;
    • Làm tăng cường độ cho kết cấu công trình.

    2.1. Dùng vật liệu nhẹ và kết cấu nhẹ Mục đích: Làm giảm trọng lượng bản

    thân công trình, giảm được tĩnh tải tác dụng lên móng.

     

    Biện pháp: Có thể sử dụng các loại vật liệu nhẹ, kết cấu thanh mảnh, nhưng phải đảm bảo cường độ công trình.

     

    2.2. Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình

     

    Mục đích: Làm tăng độ mềm của kết cấu công trình kể cả móng để khử được ứng suất phụ thêm phát sinh trong kết cấu khi xảy ra lún lệch hoặc lún không đều.

     

    Biện pháp: Dùng kết cấu tĩnh định hoặc phân cắt các bộ phận của công trình bằng các khe lún.

     

    2.3. Tăng thêm cường độ cho kết cấu công trình

     

    Mục đích: Làm tăng cường độ cho kết cấu công trình để đủ sức ch ịu các ứng lực sinh ra do lún lệch và lún không đều.

    Biện pháp: Người ta dùng các đai bê tông cốt thép để tăng khả năng chịu ứng suất kéo khi chịu uốn, đồng thời có thể gia cố tại các vị trí dự đoán xuất hiện ứng suất cục bộ lớn.

     

    Khe luïn

     

    Hình 4.1: Bố trí khe lún

     

     

    Hình 4.2: Bố trí đai BTCT

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 137

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    ß3.     CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VỀ MÓNG

     

    Khi xây dựng công trình trên nền đất yếu, ta có thể sử dụng một số phương pháp xử lý về móng thường dùng như sau:

     

    • Thay đổi chiều sâu chôn móng;
    • Thay đổi kích thước móng;
    • Thay đổi loại móng và độ cứng của móng.

    3.1. Thay đổi chiều sâu chôn móng

     

    Dùng biện pháp thay đổi chiều sâu chôn móng có thể giải quyết về mặt lún và khả năng chịu tải của nền.

     

    Khi tăng chiều sâu chôn móng sẽ làm tăng trị số sức chịu tải của nền. Trị số tăng của áp lực tiêu chuẩn ∆R khi tăng chiều sâu chôn móng có thể tính theo công thức:

     

    R = 1 +

     

             

    π

         

    (4.1)

         

    .γ .∆h = B.γ .∆h

     

    π

     

    cot gϕϕ +

         

    2

         
           

    Trong đó:

     

    • – Dung trọng của đất nền;

    ∆h – Độ tăng thêm chiều sâu chôn móng;

     

    B = f(ϕ) tra bảng;

     

    Ngoài ra khi tăng độ sâu chôn móng thì sẽ giảm được ứng suất gây lún cho móng nên giảm được độ lún của móng;

     

    σ gl  = σ tbd γ (h + ∆h)

    (4.2)

    Đồ ng th ời tăng độ sâu chôn móng có thể đặt móng xuố ng các tầng đất phía dưới chặt hơn, ổn định h ơn. Tuy nhiên việc tăng chiều sâu chôn móng phải cân nhắc giữa hai yếu tố kinh tế và kỹ thuật.

     

    Một số trường hợp để giảm bớt độ chênh lệch lún giữa cao trình đặt móng thiết kế với cao trình đáy móng sau khi lún ổn định, thường phải nâng cao trình đặt móng lên một trị số dự phòng.

     

    Sdp

    =

    1

    (S + Stc )

    (4.3)

     

    2

             

    Trong đó:

    S – Độ lún ổn định tính toán;

    Stc – Độ lún xảy ra khi thi công (với công trình dân dụng Sdp =0,7S).

     

    Trường hợp nền đất y ếu có chiều dày thay đổi nhiều, để giảm chênh lệch lún có thể đặt móng ở nhiều cao trình khác nhau (Hình 4.3).

    3.2. Biện pháp thay đổi kích thước móng

     

    Âáút yãúu

     

    Hình 4.3

     

    Thay đổi kích thước và hình dáng móng sẽ có tác d ụng thay đổi trực tiếp áp lực tác dụng lên mặt n ền, và do đó cũng cải thiện được điều kiện chịu tải cũng như điều kiện biến dạng của nền.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 138

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    Khi tăng diện tích đáy móng thường làm giảm được áp lực tác dụ ng lên mặt nền và làm giảm độ lún củ a công trình. Tuy nhiên với đất có tính nén lún tăng dần theo chiều sâu thì biện pháp này không tốt.

     

    Nếu  tầng  đất  yếu  chịu  nén  có

    chiều dày khác nhau, có thể dùng biện

    pháp thay đổi chiều rộng móng để cân

    bằng ứng suất cho toàn bộ công trình

    (Hình 4.5).

     

    3.3. Thay đổi loại móng và độ cứng của

    móng

    Khi thiết kế tùy sự phân bố tải

       

    Âáút yãúu

    trọng tác dụng lên móng và điều kiện địa

         

    chất mà chon kết cấu móng cho phù hợp.

       

    Thay âäøi bãö räüngmoïng

    Với nền đất yếu, khi dùng móng

         

    đơn, độ lún chênh lệch sẽ lớn, do vậy để

    b1

    b2

    b3

    giảm ảnh hưởng của lún lệch ta có thể

         

    thay thế bằng móng băng, móng băng

         

    giao thoa, móng bè hoặc móng hộp.

     

    Hình 4.5

     

    Trường hợp sử dụng móng băng

       

    mà biến dạng vẫn lớn thì cần tăng thêm

    cường độ cho móng. Độ cứ ng của móng bản, móng băng càng lớn thì biến dạng bé và độ lún lệch sẽ bé. Ta có th ể sử d ụng các biện pháp như: Tăng chiều dày móng, tăng cốt thép dọc ch ịu lực, tăng độ cứng kết cấu bên trên, bố trí các sườn tăng cường khi móng bản có kích thước lớn.

     

    ß4. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU 4.1. Mục đích

     

    Xử lý nền đất yếu nhằm mục đích làm tăng sức chịu tải của nền đất, cải thiện một số tính chất cơ lý của n ền đất yếu như: Giảm hệ số rỗng, giảm tính nén lún, tăng độ chặt, tăng trị số moduynh biến dạng, tăng cường độ chống cắt của đất .v.v.

     

    Đối với công trình thủy lợi, việc xử lý nền đất yếu còn làm giảm tính thấm của đất, đảm bảo ổn định cho khối đất đắp.

     

    Các biện pháp xử lý nền thông thường:

    • Các biện pháp cơ học: Bao gồm các phương pháp làm chặt bằng đầm, đầm chấn động, phương pháp làm chặt bằng các loại cọc (cọc cát, cọc đất, cọc balat, cọc vôi…), phương pháp thay đất, phương pháp nén trước…
    • Các biện phap vật lý: Gồm các phương pháp hạ mực nước ngầm, phương pháp dùng giếng cát, bấc thấm, điện thấm…
    • Các biện pháp hóa học: Gồm các phương pháp keo kết đất bằng xi măng, vữa
    • măng, phương pháp silicat hóa, phương pháp điện hóa…

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 139

     

     

    Âáút âàõp

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.2. Phương pháp xử lý nền bằng đệm cát

     

    L ớp đệm cát sử dụng hiệu quả cho các lớp đất yếu ở trạng thái bão hòa nước (sét nhão, sét pha nhão, cát pha, bùn, than bùn…) và chiều dày các lớp đất yếu nhỏ hơn 3m.

     

    N

    M

     

    Q

     

    Biện pháp tiến hành: Đào bỏ

    α

    α

    hd

    một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu

       
         

    (trường hợp lớp đất yếu có chiều dày

       

    Låïp âãûm caït

    bé) và thay vào đó bằng cát hạt

         

    trung, hạt thô đầm chặt.

    yếu

       

    Âáút yãúu

    Việc  thay  thế

    lớp  đất

         

    bằng tầng đệm cát

    có những

    tác

         

    dụng chủ yếu sau:

             

    + Lớp đệm cát thay thế lớp

    σbt

    σp

     

    đất  yếu  nằm  trực  tiếp  dưới  đáy

         

    móng, đệm cát đóng vai trò như một

    Hình 4.6: Sơ đồ bố trí đệm cát

     
       
                   

    lớp chịu tải, tiếp thu tải trọng công

    trình và truyền tải trọng đó các lớp đất yếu bên dưới.

    • Giảm được độ lún và chênh lệch lún của công trình vì có sự phân bố lại ứng suất do tải trọng ngoài gây ra trong nền đất dưới tầng đệm cát.
    • Giảm được chiều sâu chôn móng nên giảm được khối lượng vật liệu làm

    móng.

    • Giảm được áp lực công trình truyền xuống đến trị số mà nền đất yếu có thể tiếp nhận được.
    • Làm tăng khả năng ổn định của công trình, kể cả khi có tải trọng ngang tác dụng, vì cát được nén chặt làm tăng lực ma sát và sức chống trượt.

    Tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền, do vậy làm tăng nhanh khả năng chịu tải của nền và tăng nhanh thời gian ổn định về lún cho công trình.

     

    • Về mặt thi công đơn giản, không đòi hỏi thiết bị phức tạp nên được sử dụng tương đối rộng rãi.

    Phạm vi áp dụng tốt nhất khi lớp đất yếu có chiều dày bé hơn 3m. Không nên sử dụng phương pháp này khi nền đất có mực nước ngầm cao và nước có áp vì sẽ tốn kém về việc hạ mực nước ngầm và đệm cát sẽ kém ổn định.

     

    4.2. Xác định kích thước đệm cát

     

    Việc xác định kích thước lớp đệm cát một cách chính xác là một bài toán phức tạp vì tính chất của đệm cát và lớp đất yếu hoàn toàn khác nhau. Để tính toán, ta xem đệm cát như một bộ phận của đất nền, tức là đồng nhất và biến dạng tuyến tính.

     

    4.2.1. Kiểm tra ổn định và áp lực tại mặt tiếp xúc giữa đệm cát và lớp đất yếu

     

    Để đảm bảo cho đệm cát ổn định và biến dạng trong giới hạn cho phép thì phải đảm bảo điều kiện sau:

     

    σ1 + σ 2

    Rdy

    (4.4)

    Trong đó:

       

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 140

         

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    σ1 – Ứng suất do trọng lượng bản thân đất trên cốt đáy mặt tiếp xúc giữa đệm cát và lớp đất yếu:

    σ1 = γ.hm + γđ.hđ

         

    Với:  γ, γđ  là dung trọng

     

    N

    M

    của đất và của cát đệm.

       

    hm , hđ  – Chiều sâu

     

    Q

     

    chôn móng và chiều dày

         

    của lớp cát đệm.

         

    σ2 – Ứng suất do tải

         

    trọng  công  trình  gây  ra,

         

    truyền lên mặt lớp đất yếu

    α

     

    b

    dưới tầng đệm cát.

         

    móng và của đệm cát trên

     

    (4.5)

     

    Âáút âàõp

    γ

    hm

    α

    γd

    hd

       

    σ

    2

    = K

    o

    (σ tcγ .h )  (4.6)

       

    o

    m

    Với: Ko = f(a/b,2z/b) tra bảng (Xem trong sách Cơ học đất – Lê Xuân Mai – Đỗ Hữu Đạo).

     

    a, b – Cạnh dài và

    σ      σ             Låïp âãûm aïtc

    bd

    Âáút yãúu

     

    Hình 4.7: Sơ đồ tính toán lớp đệm cát

     

    rộng của móng, z độ sâu của điểm tính ứng suất.

       

    σ otc

    – Ứng suất trung bình tiêu chuẩn dưới đáy móng.

       

    tc

     

    Notc

    (4.7)

     

    σ o

    = γ tb .hm +

       

    F

           
               

    Trường hợp móng chịu tải trọng lệch tâm:

     

    tc

    = γ tb .hm +

    Notc

     

    M otc

    (4.8)

    σ o

     

    ±

     

    F

    W

    Với:      ∑ Notc – Tổng tải trọng thẳng đứng tiêu chuẩn của công trình tác dụng lên móng;

     

    • M otc – Tổng momen tiêu chuẩn do tải trọng công trình tác dụng lên móng;

    F – Diện tích đáy móng F = axb;

     

    W – Mo men chống uốn của tiết diện đáy móng;

    γtb – Dung trọng trung bình của móng và đất đắp trên móng;

    Rđy – Cường độ tiêu chuẩn của lớp đất yếu dưới đáy đệm:

    R dy  =

    m1 .m 2

    (A.b yII  + B.H yII  + D.cIItc )

    (4.9)

     
     

    K tc

     

    Trong đó: Các hệ số m1, m2, Ktc, A, B, B đã gới thiệu chi tiết trong chương 2. cIItc – Lực dính đơn vị của đất nền dưới tầng đệm cát;

     

    • II – Dung trọng trung bình của đất yếu dưới tầng đệm cát;
    • II – Dung trọng trung bình của đất từ đáy tầng đệm cát trở lên; By – Chiều rộng của móng khối quy ước.
    • Đối với móng băng:

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 141

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    by  =

    Notc

    (4.10)

     

    σ 2

    .b

         

    + Đối với móng chữ nhật:

     

     

    by  =

     

    2 + Fy  − ∆

           

    (4.11)

     

    ∆ =

    a b

               

    (4.12)

               
           

    2

                 
     

    Fy  =

    Notc

             

    (4.13)

       

    σ 2

           
                     

    Hy – Chiều cao của móng quy ước:

             
           

    Hy = hm + hđ

    (1.14)

    R1/R2

         

    Với: hm – Chiều sâu chôn móng

           
     

    6,0

         

    hđ – Chiều dày của lớp đệm cát, chiều dày hđ

         
           

    có thể tự chọn rồi kiểm tra (1.5-2.5m) hoặc có

    5,0

         

    thể xác định theo công thức gần đúng sau đây:

         
       

    a/b=1

     

    hđ = K.b

    (1.15)

       
             

    Trong đó: K – Hệ số phụ thuộc vào tỷ số a/b và

    4,0

         

    R1/R2 tra trên biểu đồ (Hình 4.8).

           

    a/b=2

    Với:

    R1 – Cường độ tính toán của đệm cát,

    3,0

         

    xác định bằng thí nghiệm nén tĩnh ngoài hiện

           

    trường hoặc theo quy phạm.

     

    2,0

         
     

    R2 – Cường độ tính toán của lớp đất

     

    a/b=x

         

    yếu dưới lớp đệm cát, xác định bằng thí nghiệm

    1,0

       

    K

    nén tĩnh ngoài hiện trường hoặc tính toán theo

       

    0

    0,5

    1,0

    1,5

    quy phạm.

             

    Hình 4.8: Toán đồ xác định hệ số K

    4.2.2. Xác định chiều rộng của đệm cát

     
     

    bđ

    = b + 2hđ.tgα

    (4.16)

           

    Với: α – Góc truyền lực, thường lấy bằng góc nội ma sát của cát hoặc có thể lấy trong giới hạn 30-45o.

     

    4.2.3. Kiểm tra độ lún của đệm cát và nền

    Sau khi xác định kích thước đệm, cần phải kiểm tra lại điều kiện (4.4) và kiểm tra độ lún toàn bộ của nền S:

     

    S = S1 + S2 ≤ Sgh

    (4.17)

    Với:

    S1

    – Độ lún của đệm cát;

     
     

    S2

    – Độ lún của đất yếu dưới tầng đệm cát;

     

    Sgh – Độ lún giới hạn cho phép.

    4.3. Thi công và kiểm tra lớp đệm cát

    Thi công đệm cát phải đảm bảo độ chặt cần thiết (thông thường độ chặt của đệm cát phải đạt D = 0,65-0,7 và không làm phá hoại nền đất thiên nhiên dưới đáy tầng đệm cát.

     

    Sau khi đ ào b ỏ mộ t phần lớp đất yếu, tiến hành đổ cát thành từng lớp có chiều dày 20-25cm và đầm chặt bằng đầm lăn và đầm xung kích.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 142

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    Trường hợp mực nướ c ngầm cao có thể hạ mực nước ngầm hoặc dùng biện pháp thi công trong nước (lắc xỉa cát trong nước…).

    4.3. Phương pháp đầm chặt lớp đất mặt

    Khi gặp trường h ợp nền đất y ếu nhưng có độ ẩm nhỏ (G<0,7) thì có thể sử dụng phươ ng pháp đầm chặt lớp đất mặt để làm tăng cường độ chống cắt của đất và làm giảm tính nén lún.

     

    Lớ p đất mặt sau khi được đầm chặt sẽ có tác d ụng như một tầng đệm đất, không những ưu đ iểm nh ư phương pháp đệm cát mà còn có ưu điểm là tận dụng được nền đất thiên nhiên để đặt móng, giảm được khối lượng đào đắp.

     

    Để đầm chặt lớp đất mặt, người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau, thường hay dùng nh ất là phương pháp đầm xung kích: Theo phương pháp này quả đầm trọng lượ ng 1- 4 tấn (có khi 5- 7tấn) và đườ ng kính không nhỏ hơn 1m. Để hiệu qu ả tốt, khi chọn quả đầm nên đảm bảo áp lự c tĩnh do quả đầm gây ra không nhỏ hơn 0,2kG/cm2 với đất loại sét và 0,15kG/cm2 với đất loại cát.

     

    Trong quá trình đầm, quả đầm được kéo lên 4- 6m bởi cần trục và để rơi tự do. Theo dõi độ chối (độ lún do một nhát đầm gây ra) để kết thúc quá trình đầm. Đối với đất lọai sét thì độ chối e này không nhỏ hơn 1-2cm, đối với đất loại cát thì e không nhỏ hơn 0,5-1cm.

     

    Mụ c đích của việc đầm là tạo nên lớp đất có độ ch ặt lớn, dày từ 1,5 – 3,5m. Tùy thuộc vào trọng lượng, kích thước, chiều cao và số lần đầm. Chiều dày của lớp mặt được đầm chặt có thể tính theo công thức:

     

    h = K.D

    (4.18)

    Với:    D –  Đường kính mặt đáy quả đầm;

    • – Hệ số, lấy bằng 1,55 với đất cát, K=1,45 đối với đất á sét, K=1,2 với đất loại sét và K=1 đối với đất sét.

    Độ hạ thấp mặt đất sau khi đầm:

     

    h =

    eo − 0,5(em + etk )

    .h

    (4.19)

    1 + eo

    Với:     eo – Hệ số rỗng tự nhiên;

    em – Hệ số rỗng sau khi đầm;

    etk – Hệ số rỗng thiết kế ở đáy lớp đệm đất mặt (ở độ sâu h).

     

     

    Hæåïngdëch

     

    chuyãøn

     

    Quaí âáöm

     

    4-5m

    Màût âáút træåïc

    Màût âáút sau

    khi âáöm

    khi âáöm

     

    Hình 4.9: Sơ đồ bố trí đầm xung kích

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 143

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.4. Phương pháp xử lý nền bằng cọc cát

     

    4.4.1. Đặc đ iểm và phạm vi áp dụng Khác với các loại cọc cứng khác (bê tông, bê tông cốt thép, cọc

     

    gỗ, cọc tre…) là một bộ ph ận của kết cấu móng, làm nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng xuống đất nền, mạng lưới cọc cát làm nhiệm vụ gia cố nền đất yếu nên còn gọi là nền cọc cát.

     

    Việc sử dụng cọc cát để gia cố nền có những ưu điểm nổi bật sau:

     

    • Cọc cát làm nhiệm vụ như giếng cát, giúp nước lỗ rỗng thoát ta nhanh, làm tăng nhanh quá trình cố kết và độ lún ổn định diễn ra nhanh hơn.

    N

    M

     

    Q

     

    Âáút àpâ

     

    Låïp âãûm aïtc

     

    Coüc caït

     

    + Nền đất được ép chặt do

    Hình 4.10: Sơ đồ bố trí cọc cát

    ống thép tạo lỗ, sau đó lèn chặt đất

     

    vào lỗ làm cho đất đượ c nén chặt thêm, n ước trong đất bị ép thoát vào cọc cát, do vậy làm tăng cường độ cho nền đất sau khi xử lý.

     

    • Cọc cát thi công đơn giản, vật liệu rẻ tiền (cát) nên giá thành rẻ hơn so với dùng các loại vật liệu khác.

    Cọc cát thường được dùng để gia cố nền đất yếu có chiều dày > 3m.

     

    4.3.2. Thiết kế nền cọc cát

     

    Khi thiết kế sơ bộ có thể chấp nhận giả thiết rằng cọc cát chỉ nén chặt vùng đất, thể tích nén chặt đúng bằng thể tích cọc.

     

    Dụng cụ: Ống thép hay cọc gỗ đóng hạ đến độ sâu thiết kế.

    Vật liệu: Thường dùng cát vàng, hạt trung, hạy thô, lúc đầu đổ từ 1/2- 2/3 chiều dài ống rồi rung hay đầm chặt, đồng thời kéo dần ống lên, và (đầm) rung đến khi hoàn thành cọc cát.

     

    Trước khi thiết kế cọc cát, cần biết hệ số rỗng tự nhiên eo của lớp đất yếu. Sau khi nén chặt bằng cọc cát thì đất có hệ số rỗng nén chặt là enc.

    Đối với nền đất cát, sau khi gia cố thì phải đạt enc = 0,65 – 0,75.

    Đối với nền đất dính được nén chặt bằng cọc cát thì:

     

    enc  = ∆(Wd  + 0,5φ) (với φ = Wnh Wd )

    (4.21)

    Diện tích cần nén chặt Fnc rộng hơn đáy móng, theo kinh nghiệm diện tích cần nén chặt rộng hơn đáy móng ≥ 0,2b (b – Bề rộng móng) về các phía:

    Fnc = 1,4b(a+0,4b)

    (4.22)

    Trong đó: a,b – Là cạnh dài và rộng của đáy móng.

    Tỷ lệ diện tích tiết diện của tất cả các cọc cát Fc đối với diện tích đất nền được nén chặt

    Fnc được xác định như sau:

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 144

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    F

    = Ω =

    eo enc

    (4.23)

    F

     
     

    1 + e

    o

     

    nc

         

    Số lượng cọc cát cần thiết để nén chặt nền đất yếu dưới đáy móng:

     

    n =

    Ω.Fnc

    (4.24)

     

    fc

         

    Trong đó: fc – Diện tích tiết diện ngang của mỗi cọc cát (lấy bằng diện tích tiết diện ống khi tạo lỗ).

     

    Cọc cát thường đượ c bố trí theo lưới tam giác đều, đây là sơ đồ bố trí hợp lý nhất để đảm bảo cho đất được nén chặt đều trong khoảng cách giữa các cọc cát.

    Khoảng cách giữa các cọc cát đối với đất

    dính:

     

    0,2b

    b

    0,2b

    0,2b

         

    a

    F

     

    Fnc

     

    0,2b

    Hình 4.11: Bố trí cọc cát và phạm vi nén chặt đất nền

     

    L = 0,95d

    γ nc

    (4.25)

    γ nc γ o

    Đối với đất rời:

     

    L = 0,95d

    1 + eo

    (4.26)

    eo enc

    Trong đó: d – Đường kính cọc cát (400-500mm);

    γ nc  =

       

    (1

    + 0,01W )

    (4.27)

     
         

    1

    + enc

             

    W – độ ẩm tự nhiên của đất;

    γo – Dung trọng tự nhiên của đất;

     

    ∆ – Tỷ trọng của đất;

     

    • Trọng lượng cần thiết của cát cho mỗi mét dài của cọc.

    G = fc .c  (1 + 0,01W )

    1 + enc

     

    d

    L

     

    Hình 4.12: Bố trí cọc cát theo sơ đồ tam giác

     

    (4.27)

     

    Với: ∆c – Tỷ trọng của cát trong cọc;

    W1 – Độ ẩm của cát khi thi công cọc;

    • Chiều sâu nén chặt bằng chiều dài của cọc:
    • Với móng chữ nhật : lc ≥ 2b;
    • Với móng bản: lc ≥ 4b;

    Khi b> 10m thì: lc ≥ 9m + 0,15b (nền sét);

    lc ≥ 6m + 0,10b (nền cát);

     

    Theo kinh nghiệm chiều dài của cọc cát thường lấy đến độ sâu của nền dưới đáy móng được xem là hết lún (tại độ sâu có σ gl ≤ 0,2σ bt ).

     

    4.3.3. Thi công và kiểm tra nền cọc cát

     

    Việc thi công đóng cọc cát bằng các máy chuyên dụng. N ếu là móng công trình cần phải đào thì đào chừa lại 1m để sau khi thi công thì vét đi vì đất ở vị trí này không

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 145

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    được chặt. Việc thi công đóng cọc nhờ bộ phận chấn

           

    động, máy rung ấn ống thép (đường kính 40-60cm)  a)

         

    b)

    vào lòng đất đến cao độ thiết kế. Sau khi đóng xuống

           

    đất, ống thép có đàu đóng lại (hình 4.13a). Sau đó

           

    người ta nhấc bộ phận chấn động ra. Nhồi cát vào rồi

           
           
           

    đặt máy chấn động vào rung khoảng 15 – 20 giây. Tiếp

           
           
           

    theo bỏ máy chấn động ra rồi rút ống lên chừng 0,5m

           
           
           

    rồi đặt máy rung vào rung 10 – 15 giây cho đầu cọc

           
           
           

    mở ra (hình 4.13b) để cát tụt xuống. Sau đó rút ống lên

           
           

    dần đều, vừa rút ống vừa rung cho cát được chặt.

           
           

    •  Kiểm tra nền cọc cát:

           
           

    Sau khi thi công cần kiểm tra lại nền cọc cát bằng

           
           

    các phương pháp sau:

         

    Hình 4.13

    – Khoan lấy mẫu đất giữa các cọc để xác định

         
           

    γnc, enc, c, ϕ sau khi nén chặt từ đó tính ra cường độ đất sau nén chặt.

     

    – Dùng xuyên tiêu chuẩn để kiểm tra độ chặt của cát trong cọc và đất giữa các

    cọc.

    • Thí nghiệm bàn nén tĩnh tải tại hiện trường trên mặt nền cọc cát. Diện tích bàn nén yêu cầu phải lớn (≥ 4m2) để chùm ít nhất là 3 cọc để thí nghiệm.

    4.5. Xử lý nền bằng cọc vôi và cọc đất – xi măng

    4.5.1. Đặc điểm và phạm vi áp dụng Cọc vôi thường được

     

    dùng để xử lý, nén chặt các lớp đất yếu như: Than bùn, bùn, sét và sét pha ở trạng

    thái dẻo nhão.

    Cáön khoan

     

    Việc sử dụng cọc vôi có

       

    những tác dụng sau:

    ÄÚng dáùn

     

    –  Sau  khi  cọc  vôi

     
       

    được đầm chặt, đường kính

       

    cọc vôi sẽ tăng lên 20% làm

       

    cho  đất  xung  quanh  nén

    Maïy iãöuâ khiãøn

    Xilä

    chặt lại.

       

    – Khi vôi được tôi

       

    trong lỗ khoan thì nó tỏa ra

    1

    2

    một  nhiệt  lượng  lớn  làm

       

    cho nước lỗ rỗng bốc hơi

       

    làm giảm độ ẩm và tăng

       

    nhanh quá trình nén chặt.

       

    Sau khi x ử lý bằng

    Hình 4.14: Sơ đồ máy thi công cọc đất – vôi

    cọc vôi nền đất được cải

       

    thiện đáng kể:

    • Độ ẩm của đất giảm 5-8%;
    • Lực dính tăng lên khoảng 1,5 –3 lần;

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 146

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    • Modun biến dạng tăng lên 3-4 lần;
    • Cường độ của đất giữa các cọc vôi có thể tăng lên đến 2 lần;

    V ới những ưu đ iểm như trên cho thấy rằng xử lý nền đất yếu bằng cọ c vôi có hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên khi gặp các nền đất quá nhão, yếu (đất có B> 1) thì hiệu quả nén chặt của cọc vôi bị hạn chế. Với các lo ại bùn gốc sét nhão yếu thì hiệu quả nén chặt càng ít vì vôi tôi và đất sét đều thấm nước yếu nên việc ép thoát nước lỗ rỗng khó, kém hiệu quả.

    4.4.2. Thiết kế và thi công cọc vôi

    Việc tính toán và thiết kế cọc vôi tương tự như cọ c cát, tuy nhiên cần chú ý khả năng thoát nước của chúng khác nhau. V ới cọc cát thì kh ả năng thoát nướ c đều và trong thời gian dài còn với cọc vôi thì khả năng thoát nước nhanh trong thời gian đầu và sau đó giảm đi nhiều.

     

    Thi công cọc vôi : Để thi công cọc vôi trước hết phải khoan tạo lỗ , lỗ khoan từ 240 -400mm, nếu thành lỗ khoan bị sạt lở thì hạ ống thép, sau đó cho từng lớp vôi sống dày khoảng 1m xuống lỗ khoan và đầm chặt từng lớp cho đến hết chiều sâu. Kết hợp vừa đầm vừa rút ống lên. Hiệu quả nén chặt của cọt vôi phụ thuộc vào chất lương đầm chặt và thành phần hóa học của vôi.

     

    Độ chặt và cường độ của nền cọc vôi có thể kiểm tra như đối với nền cọc cát.

     

    4.5.1. Cọc đất – vôi

    1. Chế tạo cọc đất – vôi

    Việc chế tạo cọc đất – vôi khá phức tạp và phải sử dụng các máy chuyên dụng (Hình 4.14). Cấu tạo máy gồ m hai bộ phận: Phần máy điều khiển và xi lô đựng vôi bột. (máy Alimak của Thụy Điển sản suất)

    Hoạt động của máy như sau:

         

    Lưỡi khoan có đường kính

    b/4

    b

    b/4

    khoảng 500mm có tác dụng tạo lỗ và

    làm cho đất tơi ra tại chỗ, chiều sâu

       

    Coüc väiâáút-

    khoan có thể đạt tới 20m, khi khoan

       
         

    đến độ sâu thiết kế thì bắt đầu quá

         

    trình phun vôi. Vôi bột được chứa

         

    trong xi lô dung tích 2,5m3. Khi máy

         

    vận hành, một bộ phận máy nén khí

         

    tạo nên một áp lực trong xilô và áp

         

    lực đó đẩy vôi bột từ xi lô vào ống

         

    cao su dẫn qua cần khoan vào lỗ

         

    khoan  và  chui  ra  một  lỗ  nhỏ

         

    φ=30mm ở dưới lưỡi khoan và phun

         

    vào đất vôi bột tác dụng với nước lỗ

         

    rỗng tạo nên liên kết ximăng và các

         

    liên kết này gắn kết các hạt khoáng

         

    vật trong đất lại và làm cho đất cứng

         

    hơn.

     

     

    Hình 4.15: Xử lý nền đất yếu bằng cọc vôi – đất

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 147

         

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    1. Hiệu quả và ứng dụng

    Khi tạo cọc vôi đất thì cường độ của cọc này phụ thuộc vào lượng vôi và thời

    gian.

    Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng vôi càng nhiều thì độ cứng của cọc càng tăng nhanh.

     

    • nước ta với đất yếu có độ ẩm tự nhiên từ 40-70% thì dùng hàm lựợng vôi từ 6-12% là hợp lý. Với tỷ lệ đó thì cường độ cọc đạt 50% sau 1 tháng và 70 – 80% sau 3 tháng.

    Cọc đất – vôi xử lý làm tăng cường độ chống cắt của đất lên hàng 10 lần, có thể sử dụng cọc đất vôi này làm tường cừ hoặc làm nền cho công trình. Khoảng cách giữa các cọc vôi tùy thuộc đặc điểm nền và tải trọng, theo kinh nghiệm lấy bằng 0,75m, chiều dài cọc phải vượt chiều sâu chịu nén của đất, lưới cọc trùm ra diện tích đáy móng là b/4 với b là bề rộng móng.

    Việc kiểm tra sức chịu tải của nền khi xử lý cần xác định bằng thí nghiệm nén tĩnh tại hiện trường, với kích thước bàn nén là 100x100cm.

     

    4.5.4. Cọc đất – ximăng

     

    Việc chế tạo cọc đất – xi măng cũng giống như đối với cọc đất – vôi, ở đây xi lô chứa xi măng và phun vào đất với tỷ lệ định trước. Lưu ý sàn ximăng trước khi đổ vào xilô để đảm bảo ximăng không bị vón cục và các hạt ximăng có kích thước đều <0,2mm, để không bị tắc ống phun.

    Hàm lượng ximăng có thể từ 7 – 15% và kết quả cho thấy gia cố đất bằng ximăng tốt hơn vôi và đất bùn gốc cát thì hiệu quả cao hơn đất bùn gốc sét.

     

    Qua kết quả thí nghiệm xuyên cho thấy sức kháng xuyên của đất nền tăng lên từ 4-5 lần so với khi chưa gia cố.

     

    • nước ta đã sử dụng loại cọc đất – ximăng này để xử lý gia cố một số công trình và hiện nay triển vọng sử dụng loại cọc đất – ximăng này để gia cố nền là rất tốt.

    4.6. Phương pháp gia tải nén trước

    4.6.1. Đặc điểm và phạm vi áp dụng

     

    Phương pháp này có thể sử dụng để xử lý khi gặp nền đất yếu như than bùn, bùn sét và sét pha dẻo nhão, cát pha bão hòa nước.

     

    Dùng phương pháp này có các ưu điểm sau:

     

    • Tăng sức chịu tải của nền đất;
    • Tăng nhanh thời gian cố kết, tăng nhanh độ lún ổn định theo thời gian.

    Các biện pháp thực hiện:

    • Chất tải trọng (cát, sỏi, gạch, đá…) bằng hoặc lớn hơn tải trọng công trình dự kiến thiết kế trên nền đất yếu, để cho nền chịu tải trước và lún trước khi xây dựng công trình.
    • Dùng giếng cát hoặc bấc thấm để thoát nước ra khỏi lỗ rỗng, tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền, tăng nhanh tốc độ lún theo thời gian.

    Tùy yêu cầu cụ thể của công trình, điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn của nơi xây dựng mà dùng biện pháp xử lý thích hợp, có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp cả hai biện pháp trên.

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 148

     

     

    Hình b

     

    Hình a

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    4.6.2. Phương pháp nén trước không dùng giếng thoát nước a. Điều kiện địa chất công trình

     

    Để đạt được mục đích làm cho đất chặt, ép thoát nước ra khỏi lỗ rỗng thì những trường hợp sau thích hợp cho phương pháp gia tải nén trước.

    a1. Cấu tạo địa tầng như hình 4.16a Trên cùng là lớp đất trồng trọt, giữa

     

    là lớp đất yếu cần gia cố , dưới cùng là lớp cát tự nhiên. Khi chịu tải trọng nén trước q thì nước lỗ rỗ ng của đất yếu sẽ bị ép thoát vào lớp cát tự nhiên.

     

    a2. Cấu tạo địa tầng nh ư hình 4.16b Trên cùng là lớp cát tự nhiên, ở giữa

     

    là lớp đất yếu cần xử lý. Dưới cùng là lớp cát tự nhiên. Khi chịu tải trọng nén trước q, nước lỗ rỗng rỗng trong lớp bị ép thoát ra theo cả hai chiều lên và xuống vào hai lớp cát tự nhiên.

     

    a3. Cấu tạo địa tầng như hình 4.16c Trường hợp này khi chịu tải trọng

     

    nén q, n ước thoát ra theo chiều lên vào tầng cát, trường hợp nếu không có lớp cát tự nhiên thì có thể làm một lớp đệm cát nhân tạo sau đó tác dụng tải trọng nén trước.

    b.Tính toán tải trọng nén trước

    Độ lớn của áp lực nén trước được lựa chọn như sau:

     

    • Dùng tải trọng nén trước đúng bằng tải trọng công trình sẽ xây dựng.

    Dùng tải trọng nén trước lớn hơn tải trọng công trình sẽ xây dự ng (lớn hơn kho ảng 20%) để tăng nhanh quá trình cố kết, rút ngắn th ời gian gia tải, tuy nhiên cũng không lớn quá dễ gây phá hoại nền đất yếu.

     

    Độ lún dự kiến được xác định theo công thức kinh nghiệm sau:

     

    St

    = S

     

    t

    (4.29)

    Hình c

     
       

    Hình 4.16

     

    α + t

         

    Trong đó: S t – Độ lún dự tính ở thời gian t, với t là thời gian nén trước.

     

    • – Hệ số kinh nghiệm;

     

     

    q

     

     

     

    Âáút träöng troüt

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     

    Caït

     

     

     

     

    q

     

     

    Caït

     

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     

    Caït

     

     

     

     

     

    q

     

     

     Caït

     

     

    Âáút yãúu

     

     

     

     Seïtkhäng tháúm

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 149

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    α =

    S

    .t1t1

    (4.30)

     
     

    St1

     

    Với:

    S – Độ lún ổn định trong quá trình nén trước, xác định theo tài liệu quan trắc

    thực tế.

     

    t2

    t1

     

    (4.31)

     

    t2

    t1

     
         
     

    St 2

    St1

       
           

    St1, St2 – Độ lún quan trắc ứng với thời gian t1, t2 ; c. Biện pháp thi công

     

    Để thi công gia tải nén trước ta có thể dùng hai cách sau:

     

    Cách 1:

    Chất tải trọng nén trướ c lên mặt đất tại v ị trí xây móng, đợi một thời gian theo yêu cầu thiết kế để độ lún đạt ổn định để đạt độ lún ổn định rồi dỡ tải để đào hố móng và thi công móng (với chiều sâu chôn móng h ≤ 1m). N ếu chiều sâu chôn móng lớn thì đào hố móng đến độ sâu bé hơn cốt đáy móng 50cm rồi chất tải trọng nén.

    Cách 2:

     

    Có th ể xây dựng móng trước, sau đó chất tải lên móng để móng lún đến trị số ổn định, sau đó dỡ tải và xây dựng kết cấu bên trên.

     

    Trong hai biện pháp trên, tùy theo điều kiện cụ thể mà chọn biện pháp thích

    hợp.

    Tải trọ ng nén trước phải đượ c tăng dần từng cấp, mỗi cấp tươ ng đương tải trọ ng một tầng nhà hoặc bằng kho ảng 15 – 20% tổng tải trọng công trình. Cần bố trí mốc để quan trắc lún trong suốt thời gian gia tải.

     

    4.6.3. Phương pháp nén tr ước có bố trí đường thấm thẳng đứng a. Điều kiện địa chất công trình

     

    Khi chiều dày nền đất y ếu rất dày hoặc khi độ thấm củ a đất rất nhỏ thì có thể bố trí các đường thấm thẳng đứng để tăng tốc độ cố kết. Phương pháp này thường dùng để xử lý nền đường đắp trên nền đất yếu.

     

    Có hai loại đường thấm thẳng đứng: Giếng cát (SW) và bấc thấm (PVD). Tác dụng của đường thấm thẳng đứng là để tăng nhanh quá trình thoát nước trong các lỗ rỗng của đất yếu, làm giảm độ rỗng, độ ẩm, tăng dung trọng. Kết qu ả là làm tăng nhanh quá trình cố kết của nền đất y ếu, tăng sức chịu tải và làm cho nền đất đạt độ lún quy định trong thời gian cho phép.

    Để tăng nhanh tố c độ cố kết, ta thường k ết hợp biện pháp x ử lý bằng bấc thấm, giếng cát vớ i biện pháp gia tải tạm th ời, tức là đắp cao thêm nền đường so v ới chiều dày thiết kế 2-3m trong vài tháng rồ i sẽ lấy phần gia tải đó đi ở thời điểm t mà nền đường đạt được độ lún cuối cùng như trường hợp nền đắp không gia tải.

    *Cấu tạo chung của nền đường đắp trên đất yếu có sử dụng thiết bị thoát nước thẳng đứng (bấc thấm hoặc giếng cát) (Hình 4.17).

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 150

     

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

     

    Thiãút bë quantràõc

       
     

    chuyãøn vëngang

    Hgt

     

    Hgt

    2m

    2m

    3m

       

    Thiãút bë quan

           

    Âáút àõpâ

       

    :n

     

    tràõc luïn

       

    1

     
     

    hd

       

    Âãûm caït

     

    Âáút ãúyu

    Lpvd

     

    PVD/giãúngcaït

     

    Låïp áútâ cæïng

    Hình 4.17

    b. Tính toán, thiết kế

     

    Thiãút bë quan tràõc

     

    chuyãøn vë ngan

     

    3m      2m     2m

    1

    :n

     

    hd

    Vi ÂKT

     

    Âáút yãúu

     

    Nội dung thiết kế h ệ thố ng giếng cát, bấc thấm gồm có việc xác định đường kính giếng cát hoặc đường kính tương đương của bấc thấm khi đã biết các đặc trưng của đất y ếu và thời gian cần thiết để đạt độ cố kết cho trước (tức là tính toán độ lún theo thời gian trong trường hợp có bố trí đường thấm thẳng đứng.

     

    Trình tự tính toán như sau:

    • Chọn hình thức bố trí hệ thống giếng cát hoặc bấc thấm theo mạng lưới tam giác hoặc chữ nhật, xác định đường kính d và khoảng cách giữa các giếng cát hoặc bấc thấm L.

    – Đối với giếng cát, d chính là đường kính của giếng cát; – Đối với bấc thấm PVD thì d tính như sau:

     

    Theo Hansbo (1979) thì d = a + b

    π

    Theo Hansbo (1987) thì d = a + b

    2

     

    Với :  a – Chiều dày của PVD, thường từ 3-5mm (cá biệt a=10mm);l

    • – Chiều rộng của PVD, hiện nay b=100mm;
    • Tính bán kính ảnh hưởng D của SW hoặc PVD.

    (4.31)

     

    (4.32)

     

    D = α.L

    (4.33)

    Với: L – Kho ảng cách từ tâm đến tâm của PVD hoặc SW, chính tà chiều dài của cạnh tam giác đều n ếu b ố trí theo lưới tam giác đều hoặc là chiều dài của cạnh hình vuông nếu bố trí theo lưới hình vuông.

     

    • = 1,05 – Nếu bố trí PVD hoặc SW theo lưới tam giác đều;
    • = 1,13 – Nếu bố trí PVD hoặc SW theo lưới hình vuông.
    • Tính nhân tố thời gian

    Nr  =

    Cr .t

     

    (4.34)

    D2

     
         

    Với:  Cr – Là hệ số cố kết hướng tâm, t – thời gian cố kết;

     

    Đà nẵng 9/2006

    CHƯƠNG VI

    TRANG 151

           

    Trường ĐẠI HỌ C BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG Bộ môn Cơ sở kỹ thuật Xây dựng

    Nhóm chuyên môn CHĐ-Nền Móng Bài giảng Nền và Móng

     

     

    • Tra toán đồ hình (4.18) để xác định độ cố kết hướng tâm Ur theo Nr và n;
    • Tính nhân tố thời gian Nz và độ cố kết thẳng đứng Uz (tra toán đồ 4.18):
      • .t

    N=  hz2

     

    • Tính độ cố kết chung theo công thức:

    1 − U = (1 − Ur ).(1 − U v )

     

    (4.35)

     

    (4.36)

     

    Âäü cäúkãút Ur,Uz

    0

                     

    10

                     

    20

                     

    30

             

    n

       
                   
               

    =

     
                   

    1

     

    40

                 

    0

     
     

    n

     

    n

     

    n

    0

     
         

    =

     

    =

     
       

    =

     

    2

     

    4

     

    50

     

    1n

     

    0

     

    0

     
     

    n

    0=

           
         

    1

         
     

    n

    =

     

    5

         

    60

    7

               

    =

                 

    5

                 

    70

                     

    80

                     

    90

                     

    100

    23   4  5  6 7  8 910-1

         

    2

     

    3   4  5  6 7  8 910-1

    23

    4  5  6 7 8 910-2

           

    Nhán täú thåìi gian Nr,Nz

    Hình 4.18: Toán đồ xác định độ cố

     

    kết Ur, Uz theo Nr và Nz

     

    và n=D/d

     

     

    1. Trình tự các bước thi công:
    • đây giới thiệu trình tự các bước thi công trong trường hợp xử lý bằng bấc thấm: – Định vị trí chân ta luy nền đường;

    – Đào bỏ một phần đất yếu theo thiết kế, thường từ 0,5-0,8m;

    – Rải vải địa kỹ thuật, nên rải vuông góc với tim đường, mép vải chồng lên nhau 15-20cm;

    – Đặt thiết bị quan trắc lún thẳng đứng;

    – Đắp lớp đệm cát đến cao độ thiết kế và tạo phẳng;

    – Đặt thiết bị quan trắc chuyển vị ngang để quan trắc chuyển vị ngang của nền đường; – Tiến hành cắm bấc thấm (cắm PVD – Phabricatied Vertical Drainage), việc cắm bấc thấm thực hiện bằng các máy cắm bấc chuyên dụng. Sau khi cắm, bấc phải cao hơn bề mặt lớp cát đệm từ 15-20cm.

     

    – Đắp đất: Đất được đắp thành từng lớp với chiều dày mỗi lớp 15, 20, hoặc 25cm. Tốc độ đắp tuân thủ theo thiết kế, kết hợp quan trắc lún để xử lý kịp thời trong trường hợp lún nhanh quá tốc độ thiết kế.

     

     

     

    Đà nẵng 9/2006                                                    CHƯƠNG VI                                                         TRANG 152


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-n%E1%BB%81n-m%C3%B3ng-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%C3%B3ng-c%E1%BB%8Dc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án nền & móng Thiết kế móng cọc

    THUYẾT MINH ĐỒ ÁN

    THIẾT KẾ MÓNG CỌC

    *******

    I.Số liệu:

    1. Đặc điểm kết cấu: Kết cấu khung BTCT có tường chèn       

       Tải trọng tính toán tác dụng dưới chân công trình tại cốt mặt đất:

               Móng  M1 : Cột trục B Ntt0 = 516T ;    Mtt0 = 135T.m;   Qtt0 = 81T

               Móng M2  : Cột trục D Ntt0 = 436T ;    Mtt0 = 123T.m;   Qtt0 = 81T

    • Tải trọng tiêu chuẩn dưới chân cột: Trục B

    , ,

    (n: hệ số vượt tải có thể lấy chung từ 1,1 – 1,2, ở đây ta chọn n= 1,15)

    Loại

    Vị trí

    N(T)

    M(T.m)

    Q (T)

    Tải trọng
    tiêu chuẩn

    Ptc

    C1

    448,7

    117,39

    70,43

    C2

    379,1

    107

    70,43

    Tải trọng
    tính toán

    Ptt

    C1

    516

    135

    81

    C2

    436

    123

    81

    1. Khu vực xây dựng , nền đất gồm 5 lớp:

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày  

    Chiều sâu mực nước ngầm :   Hnn = 9 (m)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 516 T

    M0tt= 135 T.m

    Q0tt= 81 T

    A.Số liệu tính toán

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày

    Mực nước ngầm ở độ sâu -9,0 (m) kể từ mặt đất khi khảo sát.

    Bảng giá trị tính toán

    Móng

    Cột Trục

    (T)

    (Tm)

     

    (T)

     

    M1

    B

    516

    135

    81

            M2

              D

             436

    123

              81

     

    Bảng chỉ tiêu cơ học ,vật lý của các lớp đất

    TT

    Tên lớp đất

    Chiều dày

    (m)

         γ  (kN/m3)

    γs

    (kN/m3)

    W

    (%)

    WL (%)

    W(%)

     

    CII

    (kPa)

     N30

    E

    (kPa)

    Cu (kPa)

    1

    Sét pha

    2,4

    17,9

    26,9

    36

    41

    24,5

    17

    20

    7

    6800

    45

    2

    Sét

    4,7

    17,6

    27

    40

    46

    28,0

    16

    25

    5

    6300

    34

    3

    Cát pha

    5,4

    18,1

    26,7

    28

    30

    24,0

    21

    7

    8

    6500

    41

    4

    Cát nhỏ

    6,0

    18,5

    26,6

    24

    _

    _

    30

    _

    22

    12000

    _

      5

    Cát vừa

    Rất dày

        18

       26,4

      18

       _

        _

       35

        _

     35

    25000

        _

    I.Đánh giá điều kiện địa chất công trình,địa chất thủy văn

    a.Đều kiện địa chất công trình

    * Trục địa chất  

     

    TRỤC ĐỊA CHẤT

     

     

     

     

    MẶT BẰNG CÔNG TRÌNH

    * Đánh giá điều kiện địa chất công trình

    – Để có thể lựa chọn giả pháp nền và móng cho công trình một cách hợp lý ta cần phải đánh giá điều kiện địa chất thủy văn của khu đất xây dựng công trình ta cần phải xét các chỉ số sau:

    – Hệ số rỗng [e]

     

    – Độ sệt [ IL]

                             =B

     

    – Trọng lượng đẩy nổi của đất [ đn ]

                     đn  với =10(kN/m3)

    – Đánh giá sơ bộ về địa chất của khu đất xây dựng công trình như sau:

     

     Lớp 1 : Sét pha

    +Độ rỗng : e0 = = =1,04

    +Chỉ số dẻo A= 41% – 24,5%=16,5%    17% đất thuộc loại sét  pha

     +Độ sệt trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ tiêu độ dẻo đất thuộc loại sét pha, có eo= 1,04 >1

        Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm

    Kết Luận :Đây là lớp đất yếu không thể làm nền cho công trình

    Lớp2:   Sét

               +Độ rỗng : e0 = = =1,14>1

    +Chỉ số dẻo A= 46% – 28%=18%    17% đất thuộc loại sét 

          +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ số dẻo,hệ số rỗng >1

        Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp đất dẻo không thể làm nền cho công trình

    Lớp3Cát pha

         +Độ rỗng : e0 = = >0,85 thuộc loại cát rời

    +Chỉ số dẻo A= 30% – 24%=6%    7% đất thuộc loại  pha cát

          +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

       Từ chỉ số dẻo đất thuộc loại pha cát, đất rời.

     Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp vẫn chưa  có thể đặt mũi cọc  chịu lực cho công trình

    Lớp4:   Cát nhỏ

    +Độ rỗng : e0 = = =0,78

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

      Đây là lớp đất TB có thể  làm móng cho công trình

    Lớp5:   Cát vừa

     +Độ rỗng : e0 = = =0,73<0,75 thuộc loại đất cát nhỏ chặt vừa

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Với các chỉ tiêu tinh toán trên ta nhận thấy lớp đất thứ 1 và lớp 2 thuộc loại mềm yếu,lớp đất 3 và lớp đất 4,thuộc cát pha  ,lớp 5 lớp đất chặt và có  độ sâu khá dầy , ta cần  đặt mũi cọc vào lớp thứ 5 này.

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

     * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

         -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

         – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

       + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

       + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng

    Cột trục

         

    M1

    B

    516

    135

    81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn                        

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

           +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

     + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

          + : góc ma sát trong

         NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

     

                                                    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)                                          

    Rb=9000 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

          => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

      1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

     MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

       Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

     

    Lớp đất

    Loại đất

    Li (m)

    Zi (m)

    fi (Kpa)

    mfi,li, fi (KN/m)

    ∑ mfi,li, fi

    (KN/m)

    Lớp 1

    Sét pha

    IL= 0,69

    1,2

    2,3

    7,3

    8,76

     

    578,844

    Lớp 2

    Sét

    IL = 0,67

    2

    3,9

    8,9

    17,8

    2

    5,9

    10

    20

    0,7

    7,25

    10

    7

    Lớp 3

    Cát pha

    IL= 0,67

    2

    8,6

    10

    20

    2

    10,6

    10,12

    20,24

    1,4

    12,3

    10,46

    14,644

    Lớp 4

    Cát nhỏ

     

    2

    14

    49,5

    99

    2

    16

    52

    104

    2

    18

    54,7

    109,4

    Lớp5

    Cát vừa

    2

    20

    79

    158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=  

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

      – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

     

            Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

                                                N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

                                                Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

                                                Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

                                                u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

     

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

     

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

     

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

     

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2= 7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 5160 +194,304 = 5354,304 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1350 +810×1,3= 2403 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 713KN

    Pttmin =179 KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 713 + 44,105=757KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =179KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

                           Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

                              q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

     

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để  

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :  

     

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

     

     

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

     F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

                                     Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

     

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

              Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

     

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

     tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 7,96/5,26=1,513

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

     

    Điểm

    Z

    (m)

    2z/b

    l/b

    Ko

    (Kpa)

    (Kpa)

     

    (Kpa)

    Si

    (m)

    0

    0

    0

     

    1,000

    111,58

    370,42

    0,3

    0

    0

    1

    1,315

    0,5

    0,9315

    103,937

    394,09

    0,264

    25000

    0,0007

    2

    2,63

    1

    0,7355

    82,067

    417,76

    0,196

    25000

    0,0006

    3

    3,945

    1,5

    0,5282

    58,937

    441,43

    0,134

    25000

    0,0005

    4

    5,26

    2

    0,3434

    38,317

    465,1

    0,082

    25000

    0,0003

    5

    6,575

    2,5

    0,2734

    30,506

    488,77

    0,062

    25000

    0,0002

    6

    7,89

    3

    0,2053

    22,907

    512,44

    0,045

    25000

    0,00018

    7

    9,205

    3,5

    0,1580

    17,630

    536,11

    0,033

    25000

    0,00014

    8

    10,52

    4

    0,1113

    12,419

    559,78

    0,022

    25000

    0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

     thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,3m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m         

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m         

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 713 K N  

     

    M1 =( 3x713x1)+(3x535x0,1)= 2299,5 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 179 KN

    P4  = Pttmax = 713 KN

    P3  = 535 KN

    M2 =(179 +713 )x1,15+ (357 +535) x 0,25= 1249 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 80,054cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 45,81cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

     

    MẶT CẮT C-C

     

     

     

    II. THIẾT KẾ MÓNG M2 ( D)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 436 T

    M0tt= 123 T.m

    Q0tt= 81 T

    Địa chất dưới móng M2 (D) giống như địa chất dưới móng M1 (B).

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

     * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

         -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

         – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

       + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

       + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng

    Cột trục

         

    M1

    B

    436

    132

    81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn                        

     

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

           +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

     + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

          + : góc ma sát trong

         NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

     

                                                    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)                                          

    Rb=14500 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

          => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

      1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

     MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

       Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

     

    Lớp đất

    Loại đất

    Li (m)

    Zi (m)

    fi (Kpa)

    mfi,li, fi (KN/m)

    ∑ mfi,li, fi

    (KN/m)

    Lớp 1

    Sét pha

    IL= 0,69

    1,2

    2,3

    7,3

    8,76

    578,844

    Lớp 2

    Sét

    IL = 0,67

    2

    3,9

    8,9

    17,8

    2

    5,9

    10

    20

    0,7

    7,25

    10

    7

    Lớp 3

    Cát pha

    IL= 0,67

    2

    8,6

    10

    20

    2

    10,6

    10,12

    20,24

    1,4

    12,3

    10,46

    14,644

    Lớp 4

    Cát nhỏ

     

    2

    14

    49,5

    99

    2

    16

    52

    104

    2

    18

    54,7

    109,4

    Lớp5

    Cát vừa

    2

    20

    79

    158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=  

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

      – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

     

            Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

                                                N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

                                                Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

                                                Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

                                                u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

     

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

     

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

     

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

     

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2=7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 4360 +275,264 = 4635,264 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1230 +810×1,3= 2283 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 640KN

    Pttmin =132KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 640 + 44,105=684,105KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =132KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

                           Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

                              q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

     

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để  

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :  

     

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

     

     

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

     F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

                                     Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

     

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

              Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

     

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

     tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 6,16/5,26=1,171

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

    Điểm

    Z

    (m)

    2z/b

    l/b

    Ko

    (Kpa)

    (Kpa)

     

    (Kpa)

    Si

    (m)

    0

    0

    0

     

    1,000

    111,58

    370,42

    0,3

    0

    0

    1

    1,315

    0,5

    0,9315

    103,937

    394,09

    0,264

    25000

    0,0007

    2

    2,63

    1

    0,7355

    82,067

    417,76

    0,196

    25000

    0,0006

    3

    3,945

    1,5

    0,5282

    58,937

    441,43

    0,134

    25000

    0,0005

    4

    5,26

    2

    0,3434

    38,317

    465,1

    0,082

    25000

    0,0003

    5

    6,575

    2,5

    0,2734

    30,506

    488,77

    0,062

    25000

    0,0002

    6

    7,89

    3

    0,2053

    22,907

    512,44

    0,045

    25000

    0,00018

    7

    9,205

    3,5

    0,1580

    17,630

    536,11

    0,033

    25000

    0,00014

    8

    10,52

    4

    0,1113

    12,419

    559,78

    0,022

    25000

    0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

     thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,75m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m         

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m         

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 640K N  

     

    M1 =( 3x640x1)+(3x471x0,1)= 2061 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 132 KN

    P4  = Pttmax = 640 KN

    P3  = 471 KN

    M2 =(132 +640 )x1,15+ (302 +471) x 0,25= 1081 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 73,635cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 38,175cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

     

    MẶT CẮT C-C


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-thi-c%C3%B4ng-t%E1%BB%AB-m%C3%B3ng-%C4%91%E1%BA%BFn-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-nh%C3%A0-d%C3%A2n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A0-x%C6%B0%E1%BB%9Fng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng

    Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện

    nhà dân dụng, nhà xưởng

    Để các bạn hiểu rõ hơn tính chất quan trọng của công trình, tôi xin trình bày toàn bộ từng chi tiết một của một công trình thi công như thế nào và vấn đề pháp lý làm sao sẽ được trình bày hết trong bài viết này mong mọi người tìm hiểu, đóng góp và cho ý kiến.
    1. Huy động thiết bị phục vụ thi công:
    + Công tác thi công đất:
    Thi công cơ giới kết hợp thủ công. Dự kiến huy động xe máy các loại sau:

    Xe đào bành hơi hiệu SAMSUNG, SOLAR (KOREA).

    Xe xúc đất hiệu KOMATSU.

    Máy bơm nước.

    Máy đầm bàn, đầm dùi.
    +Công tác bê tông:

    Dùng bê tông tươi, được chở từ nhà máy sản xuất bê tông đến khi gọi điện đặt hàng, loại xe bê tông có dung tích 6m3.

    Máy đầm dùi, bàn, máy cắt uốn sắt, khoan.

    Máy làm mặt bê tông.
    + Công tác coffa – cốt thép:

    Sử dụng các thiết bị sau:

    Hệ thống coffa gỗ kết hợp coffa thép định hình.

    Dùng puli cẩu lắp .

    Máy cắt, uốn cốt thép.

    Máy hàn điện.

    Máy cưa khoan (BOSCH).

    Thiết bị cầm tay (bắt vít, bắn đinh) bằng hơi và bằng điện

    Ván khuôn và giằng chống phải đảm bảo: ổn định không biến hình, cứng và bền. Chịu được trọng lực và áp lực ở mặt bên của bê tông mới đổ cũng như các lực xuất hiện trong quá trình thi công. Đảm bảo kích thước và hình dáng chính xác, đảm bảo đúng vị trí so với các bộ phận của công trình đang thực hiện.
    + Công tác hoàn thiện:

    Máy trộn vữa.

    Máy Nivo.

    Máy cưa, mài hiệu BOSCH.

    Máy phun sơn.

    Máy cắt gạch đá (khô, nước) hiệu HITACHI.

    Máy đánh bóng nền.
    +Công tác mộc, ván khuôn gỗ:

    Máy liên hợp.

    Máy bào tay.

    Máy cưa tay.
    + Công tác điện nước:

    Khoan điện cầm tay, máy đo điện trở đất.
    +Thiết bị trắc đạc, kiểm tra chất lượng công trình:

    Thiết bị thí nghiệm tại hiện trường.

    Bộ dụng cụ kiểm tra độ sụt bê tông.

    Dụng cụ đo độ ẩm của cát.

    Thùng hay vật liệu khác để cất giữ các mẫu cốt liệu, cement.

    Ống đo 100ml, nhiệt kế.

    1 máy kinh vĩ Leica TC600 (Thụy Sỹ), 1 máy kinh vĩ NIKON (Nhật), 1 máy thủy bình LeiCa 820 (Thụy Sỹ), máy thủy chuẩn, súng bắn bê tông.

    Khuôn lấy mẫu bê tông theo tiêu chuẩn.

    Thiết bị kiểm tra cường độ thép, bê tông, mác vữa tại phòng thí nghiệm.
    2. Công tác chuẩn bị thi công:

    Để đi đến gia đoạn thi công của công trình thì việc chuẩn bị các số liệu về kĩ thuật, xã hội là một công tác rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và đời sống của cán bộ, công nhân thi công công trường sau này.
    + Các công việc cần chuẩn bị:

    Mặt cắt địa chất công trình, tình chất cơ lý của các lớp đất, đá của nền và địa chất thủy văn.

    Khả năng vận chuyển thiết bị máy móc cơ giới đến công trường sao cho an toàn và kinh tế nhất.

    Các nguồn vật tư cung cấp cho công trình.

    Nguồn điện nước phục vụ cho thi công và phục vụ cho sinh hoạt của cán bộ, công nhân thi công công trình.

    Những qui định chung nơi công trình xây dựng.
    Chuẩn bị hồ sơ pháp lý:
    Sau khi có thông báo trúng thầu sẽ tiến hành ngay các thủ tục pháp lý:
    + Thương thảo đi đến ký kết hợp đồng kinh tế giao nhận thầu xây lắp.
    + Nhận bàn giao mặt bằng, cột mốc, cao độ chuẩn.
    + Liên hệ với chính quyền địa phương làm thủ tục cần thiết đưa công nhân, thiết bị thi công, vật tư đến công trường. Mặt khác, kết hợp với địa phương trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy nổ và vệ sinh môi trường.
    + Ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán cung cấp vật tư và nhanh chóng tập kết tại công trường.
    Nghiên cứu kỹ hồ sơ:
    Nghiên cứu lại toàn bộ bản vẽ thiết kế kỹ thuật. So sánh các biện pháp tổ chức thi công sao cho tiết kiệm thời gian và đạt hiệu quả, đảm bảo chất lượng công trình hợp lý nhất và tiến hành làm bảng tiến độ thi công chi tiết từng hạng mục công trình cụ thể, bố trí cán bộ, công nhân phù hợp để thi công liên tục. Cũng trong thời gian này chúng ta sẽ chuẩn bị ký kết các hợp đồng cung cấp vật tư thiết bị cần thiết.
    3. Mặt bằng tổ chức thi công:
    – Mặt bằng công trình nằm trên đường Đình Phong Phú, do đó vật liệu, máy móc thiết bị được vận chuyển chủ yếu trên tuyến đường này.
    – Hiện tại xung quanh khu vực mật độ xây dựng chưa cao, xung quanh c ông trình tương đối trống và có đường giao thông nội bộ đi ngang công trình.
    – Các công tác gia công lắp dựng như thép, ván khuôn được thực hiện ngay cạnh công trường. Tận dụng phần đất trống của công trình.
    – Các bãi chứa vật liệu sắt thép nằm ở góc công trình, coffa gỗ, coffa nhựa được phân theo chủng loại riêng chứa từng bãi riêng biệt.
    – Nguồn điện phục vụ thi công cho công trình được sử dụng từ trạm được lắp đặt trên công trình.
    – Nguồn nước phục vụ thi công công trình sử dụng nguồn nước hiện có ở địa phương.
    4. Sơ đồ tổ chức thi công:
    – Sơ đồ tổ chức thi công được bố trí phù hợp với đặc điểm công trình trình độ của cán bộ nhằm đảm bảo cho công trình thi công đùng tiến độ, đạt chất lượng.
    – Sơ đồ tổ chức hiện trường thi công gồm 3 bộ phận:
    + Bộ phận chỉ huy chung tại trụ sở.

    + Bộ phận chỉ huy tại công trình.
    + Bộ phận thi công trực tiếp.
    Mối quan hệ giữa trụ sở chính và việc quản lý tại công trường:
    Bộ phận chỉ huy tại trụ sở và sở chỉ huy tại hiện trường thường xuyên chỉ đạo, bàn bạc, trao đổi tổ chức thi công tại công trường bằng các buổi họp giao ban hàng tuần tại hiện trường. Các phòng ban tại trụ sở chính thường xuyên kiểm tra và giúp ban chỉ huy công trường giải quyết mọi vướng mắc về khối lượng, vật tư, máy móc, thiết bị.
    Vai trò của ban chỉ huy công trường:
    + Tổ chức tại công trường bao gồm : 01 chỉ huy trưởng công trình và 01 chỉ huy phó tại công trình, chỉ huy trưởng là người trực tiếp điều hành thi công chung tại hiện trường và chỉ huy phó là người thay thế khi chỉ huy trưởng vắng mặt.
    + Ban chỉ huy công trường toàn quyền giải quyết mọi vấn đề trên công trường và chịu trách nhiệm trước Công ty về mọi quyết định của mình. Các trưởng bộ phận phải chịu trách nhiệm trước ban chỉ huy công trường về mọi vấn đề của bộp hận mình phụ trách và nhận lệnh trực tiếp từ ban chỉ huy công trường
    +Ban chỉ huy công trường của công ty được giao toàn quyền quản lý, giải quyết mọi vấn đề liên quan đến công tác vệ sinh môi trường và thực hiện các thủ tục pháp lý với các cơ quan chính quyền sở tại, với ban quản lý bên A và với người lao động.
    +Ban chỉ huy công trường lập ra các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường nơi thi công và khu vực lân cận, như biện pháp che chắn, chống bụi, chống khói, chống ồn, gây ô nhiểm, sử dụng máy móc, thiết bị phù hợp, tuân theo các qui định của Nhà nước về chỉ số tiếng ồn, khói……
    +Ban chỉ huy công trường sẽ tổ chức cho một nhóm lao động phục vụ cho công tác vệ sinh môi trường. Bộ phận này sẽ trực tiếp thực hiện các công việc như quét dọn vệ sinh công trường và khu vực lân cận, tưới nước chống bụi, thu gom rác trong thi công……
    +Ban chỉ huy công trường có nhiệm vụ giáo dục ý thức chấp hành các qui định về vệ sinh, bảo vệ môi trường cho lực lượng cán bộ, nhân viên, công nhân tham gia tại công trường thông qua các hoạt động sinh hoạt, lao động hàng ngày, các cuộc họp giao ban giữa ban chỉ huy với đội trưởng thi công.
    Vai trò giám sát kỹ thuật tại công trường:
    + Bộ phận giám sát kỹ thuật có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ của công ty đã được thành lập và hoạt động rất có hiệu quả trong việc quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm xây dựng. Bộ phận giám sát kỹ thuật này được bố trí ngay tại hiện trường từ khi công trình bắt đầu thi công.
    + Bộ phận này có quyền và trách nhiệm kiểm tra chất lượng vật liệu, chất lượng bán thành phẩm, chất lượng thi công công trình theo đúng quy trình thí nghiệm kiểm tra. Mọi công tác đều được bộ phận này kiểm tra, nghiệm thu trước khi mời giám sàt kỹ thuật nghiệm thu. Bộ phận này có quyền từ chối mọi vật liệu không đạt yêu cầu về chất lượng chủng loại.
    Các bộ phận xây dựng công trình:
    + Các bộ phận phục vụ: kỹ thuật của các đơn vị thi công, vật tư, hành chính, an toàn lao động, trắc đạt, kho được điều hành trực tiếp bởi chỉ huy trưởng và chỉ huy phó công trình.
    + Các đội thi công gồm: đội cốt thép, đội coffa, đội bê tông, đội hoàn thiện, đội điện, đội nước, đội phục vụ thi công trực tiếp tại công trường được lãnh đạo bởi những kỹ sư giàu kinh nghiệm chịu trách nhiệm tổ chức thi công theo chức năng được giao của đội dưới sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng công trình.

    1. Công tác trắc đạc:
      + Định vị công trình xây dựng trong phạm vi khu đất:
      * Công trình là nhà ở chung cư cho các sơ. Sự liên quan giữa các cấu kiện các bộ phận rất chặt chẽ nên công tác trắc đạc cực kỳ quan trọng. Công tác trắc đạc giúp việc thi công được chính xác về mặt kích thước của công trình, đảm bảo độ thẳng đứng, độ nằm ngang của kết cấu, xác định đúng vị trí cấu kiện, hệ thống kỹ thuật……nó loại trừ đến mức tối thiểu các sai số về tim cốt, vị trí trong thi công.
      *Căn cứ theo các mốc bàn giao của đơn vị thiết kế. Dựa vào các lưới trục chuẩn trên mặt bằng neo vào các vật cố định. Các mốc này được bảo quản gồm tất cả các công việc xác định, cao độ cho từng hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công tác hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình.
      + Lập lưới trục toạ độ trắc đạc:
      * Luới trắc đạc được lập dựa vào các trục của công trình theo thiết kế. Đây là công tác quan trọng, đảm bảo công trình được bố trí, kích thước và thẳng đứng. Các lưới trục của tầng trên được lập trên cơ sở lưới xuất phát từ tầng trệt, các điểm này được chuyển lên các tầng trên theo phương pháp chuyển thẳng đứng.
      + Chuyển độ cao lên tầng bằng thước thép đo trực tiếp theo mép tường, mép cột với độ sai lệch là ± 3mm, sử dụng máy thủy bình tự động trong thi công để thống nhất và thuận lợi cho việc thi công các cấu kiện, chi tiết trên từng cao độ được dịch +1000 so với cao độ hoàn thiện được định lại bằng sơn tại tường, vách, cột.
      + Lập lưới quan sát:
      + Các bước của công tác trắc đạc và các yêu cầu kỹ thuật sẽ được công ty tuân thủ theo qui định tiêu chuẩn Việt Nam 3972-85 cụ thể như sau: khi nhận được tim mốc của chủ đầu tư, sẽ xác định tim mốc trên mặt bằng. Vị trí các tim mốc được bảo vệ bằng cách đổ bê tông có rào chắn đảm bảo không bị mờ, bị mất trong quá trình thi công.
      + Lưới khống chế thi công được bố trí thuận tiện theo các trục trên bản vẽ đảm bảo cho việc thi công được bảo vệ lâu dài đảm bảo độ chính xác cao.
      + Các mốc đo lún được bố trí ở khoảng cách đảm bảo ổn định và bảo vệ trong suốt quá trình thi công. Khoảng cách các mốc quan trắc lún sẽ được thực hiện một tuần trên một lần có chú ý đến điểm gia tải như đổ thêm sàn, xong phần xây… các báo cáo kết quả quan trắc sẽ được thực hiện ở dạng biểu đồ và hoàn thành ngay trong ngày đó. Báo cáo được lập thành 02 bộ gồm các thông tin sau:
      + Thời gian quan trắc.
      + Tên người thực hiện quan trắc và ghi số liệu.
      + Lý lịch thiết bị đo.
      + Mặt bằng vị trí các quan trắc.
      + Các số liệu sau khi quan trắc tại các mốc.
      + Các ghi chú (nếu có) của nhân viên đo đạc.
      + Chử ký của người thực hiện quan trắc, đại diện đơn vị thi công, BQLDA.
      Toàn bộ kết quả sẽ được trình cho Tư vấn giám sát và lưu giữ trong hồ sơ nghiệm thu các giai đoạn thi công, hoàn thành công trình.
      + Công ty sẽ tiến hành trắc đạc một cách hệ thống, kết hợp chặt chẽ đồng bộ với tiến độ thi công. Công tác đo đạc được tiến hành thường xuyên trên công trường, bao gồm tất cả các công việc xác định vị trí, cao độ cho các hạng mục, các chi tiết thi công, từ việc lắp đặt coffa cho đến các công việc hoàn thiện thực hiện ở giai đoạn cuối công trình.
      + Dụng cụ quan trắc gồm các máy thuộc tài sản công ty. Tất cả đều ở trong tình trạng hoạt động tốt cụ thể gồm:
      + Máy kinh vĩ theo 10B của Đức.
      + Máy thủy bình của Đức.
      PHẦN MÓNG
      + Do công trình là chung cư nên phần móng cần phải được tình toán kỹ cẩn thận trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu liên quan về địa chất của đất và sức chịu tải công trình.
      + Qua tính toán, nghiên cứu số liệu công trình đã đưa ra giải pháp móng bê tông cốt thép cho công trình là một phương án hợp lý.
      + Móng bê tông cốt thép được gia công thép, đổ ngay tại công trường.
      + Móng được chế tạo gồm hai loại móng băng và móng đơn. Ván khuôn đổ bê tông móng dùng ván khuôn gỗ đã gia công và lắp dựng.
      + Vị trí các móng được xác định và trình bày trên bản vẽ được đánh dấu trên mặt bằng công trình.
      + Để trành lưu lượng nước ngầm, trời mưa làm cản trở quá trình thi công nên bố trí những mương nhỏ,hố thu nước, máy bơm quanh chu vi hố móng để thoát nước làm sạch hố móng.
      + Đào móng từng khu vực của từng khối thành một hố móng chung. Sau khi đào đất xong sẽ tiến hành đầm nén đáy móng và đổ bê tông lót móng.
      + Cấu tạo móng gồm hai phần đài móng và đà móng.
      Theo cấu tạo trên phân khối móng thành 02 đợt thi công:
      Đợt 1: thi công bê tông móng:
      + Đổ bê tông lót móng đá 4×6, mác 100, dày 100, rộng hơn đế móng theo mổi phương là 100.
      + Đổ bằng thủ công, dùng đầm bàn kỹ, xác định tim móng.
      + Thép dùng làm vĩ móng là thép Þ12a150 được buộc thành lưới để sẵn ở ngoài, khi đổ bê tông móng thì đem vào lắp đặt.
      + Mối nối giữa thép cổ móng và thép vĩ móng phải đảm bảo đủ 30d. Buộc các viên kê vào cốt thép theo yêu cầu lớp bảo vệ.
      + Cân chỉnh cốt thép theo tim móng và cố định.
      + Làm thép đài móng, đà móng.
      + Lắp và hiệu chỉnh cốt thép đài móng, đà móng.
      + Lắp ván thành móng, đài móng, đà móng.
      + Đổ bê tông đài móng đà móng.
      + Đổ bê tông móng mác # 250.
      + Làm vệ sinh lớp cốt thép, coffa và phần bê tông lót móng.
      + Bê tông được trộn bằng máy trộn quả lê.
      + Tiến hành đổ bê tông bằng thủ công đến đáy đà kiềng.
      + Dùng đầm dùi đầm kỹ bê tông.
      – Bảo dưỡng bê tông móng sau khi đổ.
      + Tiến hành bảo dưỡng sau khi đổ 1 buổi.
      + Cho người tưới nước ngày 4 lần trong một tuần.
      + Phủ kín mặt móng bằng bao tải để đảm bảo độ ẩm cho móng.
      + Tháo dỡ ván khuôn móng.
      + Sau khi đổ bê tông 01 ngày, tiến hành tháo ván khuôn móng và cổ móng.
      Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện.
      Đợt 2: Công tác dầm giằng móng:
      Dầm giằng móng BTCT mác 200, có các tiết diện sau: DK1(200 x 500); DK1a(200 x 300); DK2(200 x 300); DK3(100 x 300).
      + Gia công lắp dựng cốt thép
      + Cốt dọc và cốt đai được gia công ở xưởng theo kích thước thiết kế.
      + Thép được buộc thành khung và lắp vào vị trí.
      + Buộc các viên kê dày 30mm vào cốt thép để đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép.
      + Gia công lắp dựng ván khuôn gỗ.
      + Ván khuôn được gia công và đóng thành hộp tập kết lại.
      + Đặt ván khuôn vào vị trí và điều chỉnh cho đúng vị trí thiết kế.
      + Sau khi điều chỉnh xong cố định ván khuôn bằng cây gỗ 3×5.
      + Đổ bê tông mác 200.
      + Làm vệ sinh ván khuôn, cốt thép.
      + Tiến hành nghiệm thu ván khuôn và cốt thép dầm giằng móng.
      + Tiến hành trộn và đổbê tông.
      + Đầm kỹ bằng đầm dùi.
      + Tháo dỡ ván khuôn
      + Sau khi đổ bê tông được 01 ngày tiến hành tháo ván khuôn dầm giằng móng.
      + Tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm sứt mẽ cấu kiện.

    THI CÔNG ĐẮP ĐẤT TÔN NỀN
    Đất được vận chuyển từ điểm đổ đến vị trí gần mặt bằng móng.
    Làm sàn công tác đi qua hệ giằng móng.
    Dùng xe rùa vận chuyển lấp hố móng từ ngoài vào trong.
    Tưới nước đầm kỹ.
    PHẦN KHUNG
    I. CÔNG TÁC COFFA
    + Công tác coffa là một trong những khâu quan trọng quyết định đến chất lượng bê tông, hình dạng và kích thước của kết cấu. Coffa sử dụng cho các công tác ở phần thân là coffa thép và coffa gỗ, coffa được phân loại và tập kết riêng tại các bãi trên công trường. Trước khi đưa vào sử dụng coffa được vệ sinh sạch sẽ và phủ lên một lớp chống dính. Đối với coffa gỗ cần hết sức cẩn thận trong cưa xẻ tránh lãng phí vô ích.
    + Coffa được gia công, lắp dựng ngay tại công trường.
    + Trước khi tháo coffa, bên B mời giám sát kỹ thuật bên A đến nghiệm thu bề mặt của cấu kiện.
    COFFA CỘT.
    + Coffa được dùng là coffa gỗ.
    + Sử dụng cây chống gỗ tròn. Đường kính cây chống từ 8 – 10cm.
    + Sử dụng những thanh gỗ 5 x 10cm làm giằng ngang và dọc.
    b. COFFA DẦM, SÀN
    + Coffa dầm, sàn bằng gỗ.
    + Cây chống gỗ tròn.
    + Công tác coffa được thực hiện như sau:
    + Chuẩn bị:
    – Bật mực để xác định vị trí coffa.
    – Bố trí nhân lực phú hợp, thực hiện theo đúng nhu cầu công việc.
    – Vệ sinh mặt bằng nơi sẽ lắp dựng coffa.
    + Công tác coffa được thực hiện như sau:
    Cán bộ kỹ thuật trực tiếp chỉ đạo cho các tổ trưởng, chợ chuyên môn thực hiện công tác coffa, đảm bảo thật chính xác theo yêu cầu kỹ thuật. Tránh tình trạng đã lắp dựng xong coffa phải tháo dỡ dựng lại do không đùng yêu cầu kỹ thuật.
    Tiến hành lắp dựng coffa theo bản vẽ chi tiết và chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật.
    Coffa được lắp dựng phải vững chắc, neo chặt vào những điểm cố định, không để cho coffa bị xê dịch biến dạng trong quá trình đổ bê tông.
    Vệ sinh coffa sạch sau khi lắp dựng xong.
    Cán bộ kỹ thuật phải nghiệm thu công tác coffa trước khi tiến hành công tác tiếp theo.
    Coffa phải được tưới nước vệ sinh trước khi đổ bê tông.
    LẮP DỰNG COFFA
    + Bảo dưỡng, bảo vệ công tác coffa.
    Coffa sau khi được lắp dựng xong nếu chưa được đổ bê tông thì sẽ được bảo kỹ để tránh bị xê dịch.
    II. CÔNG TÁC CỐT THÉP:
    + Cốt thép được gia công, lắp dựng ngay tại công trường, được tiến hành theo từng công việc, từng khu vực như bẽ đai, uốn thép, cắt thép, kéo thẳng thép… thép được gia công bằng cả thủ công và bằng máy. Máy móc phục vụ cho công tác cốt thép trên công trường và có nhiều loại như máy uốn, máy cắt, máy kéo thép…
    + Thép đưa về công trình phải đúng yêu cầu thiết kế mới được phép sử dụng. Cốt thép được dùng có hai loại là thép gân và thép trơn. Tiết diện có nhiều loại với đường kính khác nhau như 6, 8 ,10, 12 ,14, 16 ,18…… việc sử dụng thép đúng loại là tuỳ thuộc vào bản vẽ thiết kế kết cấu công trình. Khi gia công thép trơn phải bẽ móc còn thép gân thì không bẻ móc.
    + Cốt thép được gia công là thép đai, thép mũ, lưới thép…
    + Cốt thép trước khi sử dụng phải được sửa thẳng, đánh sạch gỉ thép, có thể dùng búa đập thẳng hoặc dùng máy uốn nắn thẳng. Với thép có đường kính dưới 20mm thì ta có thể cắt uốn bằng tay và nếu đường kính lớn hơn 20mm thì ta phải dùng máy.
    + Thép khi cắt ra uốn phải xác định thêm độ dãn dài của nó, yêu cầu: cốt thép bị uốn giãn ra thêm 0,5d khi uốn góc 450, 1d khi uốn góc 900, 1,5d khi uốn góc 1800. Đoạn neo cốt thép công trường qui định là 30d cốt thép. Nối cốt thép có hai dạng là nối hàn và nối bằng kẽm buộc.
    + Chuẩn bị lắp thép:
    Bộ phận gia công thép sẽ thực hiện đúng bản vẽ dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Thép sau khi gia công sẽ được đánh số theo đúng chủng loại và phân bổ tới nơi cần lắp dựng. Tiến hành vạch mực vị trí lắp thép. Vệ dinh thép, dọn dẹp mặt bằng vị trí lắp thép. Chuẩn bị các phụ kiện, tập hợp sẵn ở vị trí lắp thép như cục kê, kẽm buộc…… đồng thời bố trí nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc.
    + Thực hiện công tác cốt thép:
    Tiến hành lắp thép theo bản vẽ kết cấu dưới sự hướng dẩn của cán bộ kỹ thuật. Cốt thép sau khi lắp dựng phải đảm bảo đúng kích thước, đúng số hiệu thiết kế, đúng vị trí khoảng cách của những thanh thép và điểm nối chiều dài các mối nối. Lưu ý những vị trí tiếp giáp của cột với tường, cột với lam…… phải đặt thép chờ liên kết. Nếu phát hiện ra những sai lệch so với bản vẽ thiết kế cần phải chỉnh sửa lại ngay như lệch sắt, quên hay thiếu thép chờ. Sử dụng có kích thước theo yêu cầu để đảm bảo độ dày của lớp bê tông bảo vệ theo thiết kế nhằm bảo vệ cho thép chống lại sự tác động của môi trường xung quanh. Coffa phải được lắp dựng vững chắc, không để xảy ra tình trạng thép bị xô lệch, chuyển vị trí biến dạng trong quá trình đầm đổ bê tông. Sau khi lắp dựng cốt thép xong phải dọn vệ sing sạch sẽ, tránh không tác động mạnh váo cấu trúc thép đã lắp dựng để đề phòng thép bị xô lệch. Cán bộ kỹ thuật nghiệm thu cốt thép sua khi lắp dựng xong khi đó mới tiến hành công tác tiếp theo.
    Ngoài ra ở công trường còn dùng thép làm hàng rào bảo vệ an toàn cho công nhân làm việc và được hàn vào các cây chống sắt theo các phương làm hệ giằng vững chắc.
    Cốt thép sau khi lắp dựng xong, nếu chưa đổ bê tông phải được bảo vệ kĩ tránh để vật nặng đè lên gây xô lệch không đúng theo hình dạng, kích thước, vị trí thiết kế. Tránh để các chất bẩn như dầu mỡ, bụi bám dính vào thép. Cốt thép sau khi lắp dựng xong phải tiến hành đổ bê tông càng nhanh càng tốt tránh để các điều kiện bên ngoài thâm nhập làm cho thép bị gỉ sét. Sản phẩm bê tông sau khi tháo coffa nhất thiết không được lói thép.
    * Một số lưu ý trong công tác cốt thép:
    + Cốt thép cột:
    Do kích thước, tiết diện của công trình lớn nên cốt thép cột không được gia công sẵn thành khung thép mà được nối từng thanh vào thép chờ cột, sau đó mới lắp dựng thép đai và lắp tạo thành khung ngay tại vị trí cột cần đặt thép. Dưới chân cột dùng hai thanh thép hàn chéo góc nhau với các thanh thép góc của khung thép để cố định vị trí cột, đoạn trên một tí thì dùng thép C móc từ hai cạnh của thép đai ở cả bốn mặt nhờ vậy mà cột được định vị chính xác.
    + Cốt thép dầm:
    Được ghép thành từng thanh theo yêu cầu kết cấu theo nguyên tắc cốt thép phía trên của dầm phụ nằm trên cốt thép dầm chính và cốt thép phía trên của dầm chính nằm trên cốt thép sàn. Lắp dựng cốt thép dầm ở mép trên ván khuôn dầm và khi lắp xong rồi mới hạ xuống.
    + Cốt thép sàn:
    Chú ý đặt thép biện pháp (hàn vào sắt sàn) để sau này buộc dây cáp kéo cột và chống trượt cho cây chống trên sàn. Đặt cục kê bảo đảm lớp bảo vệ sàn.

    III. CÔNG TÁC BÊ TÔNG:
    Cũng như công tác ván khuôn, cốt thép thì công tác đổ bê tông cũng giữ vai trò quan trọng trong thi công. Bê tông sử dụng phải tuạn thủ theo TCVN.
    Bê tông được sử dụng là bê tông thương phẩm được đưa đến công trình bằng xe trộn, được đưa lên sàn bằng cẩu tháp và một xe bơm ngang công suất 80m3/giớ dự phòng. Chất lượng các loại cốt liệu như cát, đá, xi măng, nước……thường xuyên được kiểm nghiệm theo TCVN. Các thí nghiệm sẽ được lưu giữ nộp trình ban quản lý xét duyệt. Bản sao về xi măng sử dụng để trộn xi măng sẽ nộp trình, trong đó nêu rõ loại bê tông đã được kiểm tra phân tích chất lượng tại phòng thí nghiệm có chức năng được ban quản lý chấp thuận, bảo đảm phù hợp với yêu cầu sử dụng của công trình.
    Cấp phối bê tông sử dụng cho công trình sẽ được lập và nộp trình ban quản lý thiết kế phê duyệt. Quy trình đổ bê tông cho từng loại cấu kiện phải được giám sát chặt chẽ đảm bảo đạt chất lượng đổ bê tông cao nhất. Các dụng cụ để che nắng, để tránh mất nước nhanh, che mưa, đầm bê tông phải luôn dự phòng sẵn. Bê tông phải đảm bảo không bị rỗ, không bị phân tầng khi đầm bê tông.
    + Thực hiện công tác đổ bê tông:
    – Tập hợp các số liệu, hồ sơ, lý lịch của cốt liệu sử dụng cho bê tông (cát, đá, xi măng, thép) khi các số liệu đó được tập hợp đầy đủ, đúng yêu cầu thiết kế thí mới được sử dụng, thiết kế cấp phối bê tông theo yêu cầu của kết cấu công trình. Sau khi có thiết kế cấp phối sẽ lấy mẫu thí nghiệm hình lập phương 15 x 15 x 15 bảo dưỡng mẫu theo quy trình kỹ thuật sau đó tiến hành ép mẫu để kiểm tra cường độ bê tông.
    – Cốt thép, coffa phải được nghiệm thu trước khi đổ bê tông, xét đến tất cả các lực tác dụng (do máy móc phục vụ cho việc đổ bê tông gây ra như đầm dùi, ống bơm…) khi đổ bê tông vào thép và coffa phải đảm bảo không làm sai lệch vị trí thép hay gây nở cho coffa làm cho cấu kiện bị biến dạng, sai lệch so với thiết kế đề ra. Trước khi đổ phải kiểm tra kỹ lưỡng, kịp thời bịt kín các khe hở giữa coffa với nhau tránh tình trạng bê tông chảy nước bằng giấy bao thấm nước, băng keo…kiểm tra các cục kê đảm bảo lớp bảo vệ bê tông. Vệ sinh sạch sẽ phần bên trong và bên ngoài cấu kiện đổ bê tông không để sót vật nào trong ngoài cấu kiện vì khi đổ rồi sẽ không lấy ra được.
    – Vạch cốt cao độ, cốt nền của khối đổ theo yêu cầu thiết kế. Chuẩn bị mặt bằng tạo khoảng không thao tác, đường vận chuyển từ nơi trộn đến nơi đổ sao cho thuận lợi nhất, bê tông được vận chuyển tới là đổ liên tục không được gián đoạn nếu không sẽ ảnh hưởng đến cường độ cũng như độ liên kết của bê tông với kết cấu thép.
    – Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị đổ bê tông như đầm bê tông, xẻng để xúc, xô để đựng……nếu cao phải chuẩn bị giàn dáo như khi đổ cột…… trường hợp đổ vào ban đêm phải chuẩn bị hệ thống chiếu sáng phục vụ cho công tác đổ bê tông.
    – Bố trí lực lượng nhân công, giám sát kỹ thuật đủ theo yêu cầu công việc.
    + Tổ chức các nhóm thực hiện bao gồm:
    – Bộ phận hướng dẫn chỉ đạo: gồm cán bộ kỹ thuật, đội trưởng đội thi công. Bộ phận chỉ huy này phải có mặt túc trực khi đổ bê tông, kịp thời phát hiện và xử lý mọi tình huống xảy ra trên công trường.
    – Nhóm kiểm tra: Kiểm tra lại coffa, cốt thép, kẽm buộc…… trước và trong khi đổ.
    – Nhóm vận chuyển, đổ bê tông: bê tông được chuyển tới vị trí đổ bằng bơm bê tông hoặc bằng xe cút kít vận chuyển đến.
    – Nhóm hoàn thiện bề mặt bê tông: đảm bảo sau khi đổ bề mặt bê tông đúng cao độ thiết kế nhẵn phẳng hoặc tạo độ dốc cho bê tông. Trong quá trình đổ bê tông chú ý phải đầm dùi thật kỹ để cho bê tông phân bố đều trong kết cấu (sử dụng đầm dùi máy).
    – Việc đổ bê tông, hoàn thiện bề mặt bê tông sẽ phải thực hiện theo đúng yêu cầu kỹ thuật đưới sự chỉ đạo của bộ phận hướng dẫn.
    + Một số lưu ý trong công tác bê tông:
    – Bê tông cột: bê tông đổ cột dùng bê tông thương phẩm được trộn sẵn mang đến công trường bằng xe trộn. Từ đây bê tông được công nhân xúc và đổ thủ công từng xô bê tông vào cột. Bố trí nhân lực gồm người xúc, người vận chuyển, người chuyền, người đầm dùi và người đổ bê tông. Đổ bê tông trên cột cao thì phải bắt giàn dáo. Đảm bảo phối hợp nhịp nhàng mỗi thành viên thực hiện công việc để cho bê tông đổ vào cột được liên tục. Độ cao đổ bê tông cột phải nhỏ hơn 1,5m do đó, ta phải chừa lỗ đổ trên ván khuôn cột đảm bảo độ rơi của bê tông khi đổ cột. Chú ý đầm dùi kỹ để cho bê tông phân bố đều trong cột và tránh rỗ mặt bê tông. Các tầng trên cao dùng cần trục tháp phân bố bê tông để đổ cột.
    – Bê tông dầm, sàn: do đặt điểm ở Thành phố xe bê tông chỉ có thể vào ban đêm vì vậy công tác đổ bê tông dầm, sàn được tiến hành vào ban đêm cho đến sáng. Dầm, sàn được đổ toàn khối sua khi đã nghiệm thu cốt thép, đường điện âm trong sàn, các vị trí đặt ống nước……xe bê tông được đặt ngoài công trình, được bơm lên sàn bằng vòi bơm. Bố trí đổ bê tông trên sàn gồm hai người điều chỉnh vòi bơm, một nhóm dàn bê tông ra cho đều và đầm dùi. Đổ bê tông tới đâu thì đầm dùi tới đó, đổ bê tông từ trên cao xuống chổ sâu trước sau đó mới đổ chổ cạn. Do sàn rộng nên khi đổ bê tông phải tạo rãnh phân chia một khối bề mặt lớn thành các diện tích nhỏ hơn để đổ. Chú ý đổ bê tông từ giữa ra hai bên.
    Ngoài ra còn đổ bê tông thành bể nước, thành thang máy, cầu thang……
    Khi thi công bê tông cốt thép phải đổ làm nhiều đợt, mạch ngừng giữa các đợt phải xác định trước. Vị trí đặt mạch ngừng sao cho nội lực ở vị trí đó tương đối nhỏ và phải vuông góc với phương truyền lực nén của kết cấu: Đối với cột thì mạch ngừng đặt tại vị trí tiếp giáp giữa đầu cột với mặt dưới của dầm, đối với sàn nấm thì đặt tại chân mũ cột, đối với dầm xiên mạch ngừng đặt tại chân dầm xiên, đối với cầu trục mạch ngừng đặt tại vai cầu trục hay phía trên cầu trục, đối với dầm, sàn mạch ngừng đặt ngay dưới chân bản sàn, sàn không sườn thì mạch ngừng đặt ở bất kỳ vị trí nào miễn sao song song với phương cạnh ngắn, sàn có sườn thì mạch ngừng đặt ở ¼ nhịp sàn nằm về phía bên phải. Chú ý xử lý mạch ngừng phải tạo nhám bề mặt của mạch ngừng.
    + Bảo dưỡng tháo dỡ coffa:
    – Bảo dưỡng bê tông giai đoạn đầu sẽ bắt đầu ngay sau khi bề mặt bê tông đã đủ cứng, không bị vỡ và việc bảo dưỡng phải tiến hành liên tục trong 12 giờ.
    – Bề mặt bê tông phải luôn giữ ẩm bằng cách tưới nước lên hoặc dùng vật liệu giữ nước phủ lên bề mặt để giữ cho bê tông luôn được ẩm.
    – Chỉ được tháo dỡ coffa khi cường độ bê tông đạt yêu cầu theo quy phạm thi công và nghiệm thu. Khi tháo coffa không được làm chấn động và rung ảnh hưởng kết cấu bê tông. Ngay sau khi tháo coffa phải kiểm tra sửa chữa tất cả các khuyết tật như vỡ, nứt, nẻ.

    PHẦN HOÀN THIỆN
    – CÔNG TÁC XÂY:
    + Do tính chất công trình là dang khung bê tông cốt thép chịu lực nên hệ tường chỉ mang tính chất bao che chủ yếu, ít tham gia chịu lực, vật liệu được dùng khi xây tường là gạch. Tuy nhiên, cũng cần phải tuân thủ ba nguyên tắc chính khi xây gạch là:
    + Gạch xây từng hàng phải phẳng mặt, vuông góc với phương của lực tác dụng vào khối xây hoặc góc nghiêng của lực tác dụng vào khối xây và phương vuông góc với khối xây phải <= 170 vì khối xây chịu nén là chính.
    Xây không được trùng mạch do đó các mạch vữa đứng của lớp xây tiếp giáp không được trùng mà phải lệch nhau ít nhất ¼ chiều dài viên gạch cả về phương ngang cũng như phương dọc.
    Các mạch vữa xây theo phương ngang và phương dọc trong một lớp xây phải vuông góc với nhau, không được phép xây các viên gạch vỡ hình thang, hình tam giác ở góc khối xây.
    + Vì vậy, đội ngũ công nhân thực hiện việc xây phải lành nghề, được chia thành tổ và phân công lao động phù hợp với các đoạn công tác trên mặt bằng. Đồng thời giữa các thợ chính, thợ chính với thợ phụ phải có sự phối hợp nhịp nhàng dây chuyền với nhau đảm bảo công việc được thực hiện một cách liên tục, nhịp nhàng không bị ngắt quãng.
    + Công việc xây được tiến hành sau khi hệ khung bê tông cốt thép đã được chình thành được một phần hay toàn bộ và coffa sàn, dầm, cột, hệ giằng chống đã được tháo dỡ, dọn dẹp ở hệ khung tầng dưới thì khi ấy ta có thể bắt đầu công việc xây ở tầng dưới và cứ như thế lên các tầng trên.
    1. Chuẩn bị trước khi xây:
    (Chuẩn bị vật liệu:
    (Để đảm bảo kết dính tốt cho khối xây vữa xi măng được sử dụng là hợp phần của xi măng, cát, nước được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp tạo ra hỗn hợp có cường độ cao chịu được nước và nơi ẩm ướt.
    (Do công trình là nhà ở chung cư nên gạch được sử dụng là gạch chất lượng cao có độ cứng cao, vuông góc thẳng cạnh, không bị nứt nẻ được sản xuất từ đất sét tạo khuôn và đem nung, có giấy chứng nhận của các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm do đó khả năng chống lại ảnh hưởng của thơi tiết cao. Gồm gạch ống 4 lỗ 80 x 80 x 190 và gạch thẻ 40 x 80 x 190.
    (Sử dụng xi măng polăng holcim mác 200 cón trong thời hạn sử dụng và bảo quản trong kho bãi đùng tiêu chuẩn.
    (Cát dùng là cát sạch, mịn không lẫn tạp chất, kích thước đồng đều, đúng yêu cầu trong cấp phối vữa xây. Nếu cát không sạch ta phải tiến hành sàn loại bỏ tạp chất trong cát.
    (Nước sạch phải được lấy từ nguồn nước của khu vực.
    (Cấp phối vữa phải được pha trộn thích hợp, tránh những trường hợp vữa non làm giảm độ liên kết hay vữa già gây lãng phí. Chất lượng của vữa xây tô được kiểm tra thí nghiệm trong phòng và trên hiện trường xây dựng.
    (Chuẩn bị xây:
    Coffa dầm, sàn, cột và hệ giằng chống đã được tháo ra và dọn dẹp gọn gàng đảm bảo không vướng trong quá trình xây, đồng thời tạo ra một mặt bằng thuận lợi cho việc vận chuyển vật liệu xây đến đúng chổ và bố trí vật liệu khi xây như gạch, máng hồ……, khi xây lên cao cần phải bố trí giàn dáo.
    Thợ chính và thợ phụ đầu đủ.
    Dụng cụ xây gồm bay, thước, dây nhợ, bàn chà, nivô.
    Xác định tường xây là loại nào 100, 200 hay lớn hơn để xây hợp lý đúng kỉ thuật.
    Xác định tim mốc, vị trí xây.
    Thợ phụ vận chuyển vật liệu gạch, máng hồ, giàn dáo lại vị trí thợ chính, sắp chúng thích hợp trên mặt bằng xây.
    Nếu xây trên tầng cao thì vật liệu được chuyển lên bằng puli.
    2. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi xây:
    – Xây từ dưới lên trên, tường chính xây trước, tường phụ xây sau, xung quanh xây trước, trong xây sau.
    – Nếu gạch khô phải tưới nước để đảm bảo gạch không hút nước của vữa tạo liên kết tốt khi xây.
    – Bề mặt tiếp giáp khối xây phải được trát một lớp hồ dầu để tạo độ liên kết giữa gạch và bề mặt tiếp giáp đó như dầm, cột.
    – Để đảm bảo cho tường thẳng và phẳng thì trong quá trình xây phải giăng dây nhợ và thường xuyên thả quả dọi.
    – Mạch vữa dao động từ 8 – 12mm, mạch vữa phải nằm ngang phải dày hơn mạch vữa dọc, bảo đảm mạch no vữa. Điều chỉnh tăng vữa ở phía vữa thấp nếu tường không ngang phẳng.
    – Có hai cách xây là 3 dọc 1 ngang hay 5 dọc 1 ngang.
    – Chú ý ở vị trí tiếp giáp giữa tường và dầm thì phải xây xiên, xây bằng gạch đinh đồng thời các lỗ trống phải miết hồ kĩ nhằm tránh trường hợp nứt ở mép tiếp giáp của tường với dạ đà.
    – Ở vị trí tiếp giáp của tường với mặt trên của đà cũng được xử lý một lớp hồ dầu khoảng 1cm và xây khoảng 03 hàng gạch đinh để chống nứt.
    – Khi xây chú ý chừa những lỗ trống trên tường để lắp dựng cửa, lam gió, đường điện, ống nước……sau này.
    – Sau khi khối xây vừa xong thì hạn chế các lực va chạm để khối xây đạt cường độ từ từ.
    – Nếu xây tiếp lên tường cũ thì cần phải vệ sinh tưới nước tường cũ trước khi xây tiếp.
    3. Tổ chức làm việc:
    – Để đảm bảo chất lượng vật liệu như xi măng, cát, đá, gạch khi đưa đến công trình được kiểm tra nghiệm thu ngay xem có yêu cầu đã đề ra hay chưa (xi măng, gạch, đúng loại đúng mác…), nếu chưa thìp hải thay đổi ngay. Và sau khi khối xây đã hoàn chỉnh cũng phải kiểm tra nghiệm thu lần nữa cho đến khi công trình hoàn tất. Công việc này do chỉ huy trưởng phối hợp với những kỹ sư khác trên công trường đảm trách. Hỗn hợp vữa phải được pha trộn đúng tiêu chuẩn được kiểm tra chất bằng cách lấy mẩu thí nghiệm ngay tại công trường sau khi đã pha trộn xong về độ dẻo, độ sụt, độ đồng đều của vữa xây.
    – Các tổ đội thực hiện công tác xây có thể là của công ty hoặc ở ngoài có tính chuyên nghiệp được tổ chức làm việc xây chuyền. Mổi tổ xây đứng đầu là một trưởng nhóm, điều hành các thành viên khác trong tổ xây, chịu trách nhiệm về khu vực mình xây. Tổ trưởng xây phải xác định sơ bộ số lượng công nhân mình có sẵn để tìm ra biện
    pháp phân đợt phân đoạn hợp lý, khối lượng trong các phân đợt phân đoạn phải xấp xỉ bằng nhau để tránh gây biến động về nhân lực và đảm bảo cho xây không bị gián đoạn nửa chừng.
    – Người thợ tuyệt đối phải chấp hành các biện pháp an toàn lao động khi xây, nhất là khi đứng trên giàn dáo, làm việc trên cao phải có hành lang bảo vệ, đối với các tường ngoài thì phải có lưới bao che đề phòng vật rơi xuống dưới.
    – Tổ chức mặt bằng thi công phải tiện lợi phù hợp gồm 03 khu: khu vực thao tác xây, khu vực chứa vật liệu và khu vực chuyển tiếp vật liệu. Ba khu vực này không tách rời với nhau được. Đặc biệt là khi làm việc trên giàn dáo thì giàn dáo phải vững, sàn công tác phải chắc chắn để chứa vật liệu và thao tác xây.
    – Thông thường để cho công việc xây được liên tục thì cứ 01 thợ chính thì có 01thợ phụ, nếu kết cấu phức tạp, khối lượng nhiều thì số người phải lớn hơn. Gạch vữa được chuyển lên tầng bằng puli; vữa được trộn bằng máy hoặc thủ công có thể trộn ở dưới đất rồi chuyển lên hoặc chuyển xi măng lên tầng đang xây rồi trộn trên đó. Cần tiến hành trộn khô trước rồi sau đó trộn ướt sau. Thợ phụ phải cung cấp vật liệu ch othợ chính xây một cách đầy đủ nhằm tránh gián đoạn trong thi công gây lãng phí, hiệu suất kém.

     

    1. Công tác chuẩn bị
      a. Nhận mặt bằng công trình, cột mốc công trình (có bản vẽ và dự toán đính kèm theo công trình), cos cao độ công trình (phần này tôi sẽ nói rõ hơn vi là phần quan trọng).
      b. Dọn dẹp mặt bằng (cỏ, cây, các vật dụng…..), đóng lán trại để bỏ vật tư và công nhân nghỉ lại công trình, trường hợp nhà dân dụng hai bên là vách nhà thì sơn trục tim cột vào hai vách nhà mượn để làm chuẩn, trường hợp ở công trình rộng hơn thì đóng gabarie để làm tim chuẩn cho bước cột.
      c. Lấy góc chuẩn cho nhà chuẩn bị xây dựng thường ta áp dụng bình phương hai cạnh huyền nhân cho cạnh còn lại (không biết đúng không nữa) thông thường thì vậy:
      – Lấy một cạnh nhà làm chuẩn sau đó giăng dây nhợ theo phương trục dọc của nhà tại hai điểm này đóng gabarie sẵn, tiếp theo giăng dây nhơ theo trục ngang nhà bắt đầu lấy góc vuông nhà theo cách sau: một trục ta lấy chiều dài của thước đo là 1,9m;3,1m và trục kia ta lấy chiều dài là: 2,5m;4,1m và gióng chéo hai điểm đó lại ta có các kích thước sau : 3m;5m (thông thường lấy góc ta phải bỏ bớt 10cm của thước bởi vì 10cm đầu của thước không chính xác nhiều)
      – Tiếp theo là lấy trục ngang, dọc của công trình theo hai phương đã lấy góc từ đó ta đóng gabarie vào các vị trí, để sau này hoàn thiện ta cũng cần tới nó.
      II. Thi công
      a. Đào đất móng công trình:
      Trong phần này ta cần chuẩn bị những thứ như sau: máy đào, xe vận chuyển đất, công nhân…..
      Trong phần này tôi xin nhắc đến cos cao độ công trình, theo tôi khi đi thi công thì tôi có một số kinh nghiệm như sau:
      – Nếu cos công trình cao hơn mặt đường tự nhiên 0,45m thì ta nên chọn vị trí ngay mép đường (gọi là bó vĩa) là cos -1,450 và dẫn ống nước hoặc bắn thuỷ bình vào đến chân công trình là cos +1,000 từ đó ta lấy cos chuẩn để thi công đào đất và chiều cao của công trình.

    III. Thi công từ móng đến mái

    1. Đào đất móng, hầm tự hoại, bể chửa cháy:

    Phần này tùy theo địa thế của mọi công trình mà theo phương pháp của mổi kỹ sư công trình tính toán để làm sao mọi tổn thất như nhân công, vật tư, ca máy phải theo ê kíp. Cần chú ý khi thi công nhà liền kề cần phải có cọc cừ gia cố hai bên móng liền kề để đảm bảo không gây lún sụt móng nhà kế bên (phải đi hầu tòa mệt lắm đó nha) phương pháp này tôi thường dùng là dùng ván thép định hình đóng xuống nền móng trước khi đào đất, sau đó mới thi công đào đất.

    1. Sản xuất lắp dựng sắt đế móng, sắt cổ cột, sắt đà kiềng.

    Trong phần sản xuất lắp dựng thép các bạn nên chú ý tính toán cẩn thận bởi vì chỉ sai một tí là đi tong cây sắt không làm ăn gì được (bị rồi nên có kinh nghiệm) phần sắt đai thì tính toán cho đúng với tổng số đai cột, dầm

    Ví dụ: Cột có tiết diện là 200 x 300 khoảng cách bước đai là a 200 fi 6 thì ta tính toán như sau: 200 x 300 = 1000cm => cắt thép đai fi 6 là 150 x 250 = 800cm, bởi vì mình phải trừ lớp bê tông sau khi đổ mổi một bên là 2,5cm, sau khi ta có chiều dài để cắt một cây thép đai fi 6 ta nhân số đai lên rồi cho công nhân cắt đai, chú ý phải viết lên bảng cho công nhân làm đúng, về phần thép cấu tạo (thép gân) thì cần chú ý hơn đối với cổ cột tính toán sao cho khi đổ bê tông đà kiềng xong thì phải dư theo D của thép ví dụ thép gân fi 18 x 30D =540 thì ta phải chừa sắt là 600cm từ mép trên của đà kiềng sau này ta còn nối thép cột lên sàn nữa, về phần sắt dầm thì cần chú ý điểm nối sắt tại nhịp thì 1/4l nhịp, tại gối thì 2/3l nhịp.

    Trước khi sang phần bê tông tôi xin nói thêm phần lắp dựng cốt thép dầm (đà), sắt cột, và sắt sàn, thì đến phần coffa (ván khuôn), trong phần ván khuôn ta nên chú ý chọn ván khuôn đúng chủng loại thị trường hiện nay có rất nhiều loại ván khuôn cho bạn lựa chọn (ván ép xài hai nước dụt, ván khuôn nhựa xài vĩnh viển tiền nhiều, ván khuôn thép xài tốt nhưng hay bị cong vênh do va đập) tùy theo mổi công trình mà kỹ sư trưởng công trình lựa chọn, ở công trường tôi hay lựa chọn ván khuôn loại ván ép (hình con rồng) loại này có một đặc điểm là nhẹ dể vận chuyển có thể cắt nối vào đầu cột hay đầu đà được, có nhiều loại cho bạn lựa chọn 20cm x 4m; 25cm x 4m; 30cm x 4m….. Ván sàn thì tôi xài loại bằng sắt 1m x 1m; 50cm x 1m…. Cây găng đà thì xài loại 5 x 5… và xài giàn dáo để chống cho sàn (còn gọi là giàn treo) cái này người Nam hay thi công nhất dể làm mà dể chết cũng nhiều…

    Sơ bộ qua về coffa đến phần bê tông cho cột, dầm, sàn thông thường bê tông cho cột thì có mác (#) bê tông cao bằng sàn, dầm các loại dầm lanh tô, ô văng cũng vậy phương pháp đổ bê tông bằng tay được tính như sau: bê tông #200 có công thức tính như sau : định mức vật tư thao tiêu chuẩn 1,48 m3 cát, 1, 95 m3 đá, 0,7 xi măng, còn ở công trường thì được tính như sau công thức : 4 cát, 6 đá, 1 bao xi, cái này được phân tích như sau: 4 cát có nghĩa là 4 thùng B cát.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng

    Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: bài tập lớn nền móng Tính toán và thiết kế móng nông


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-ng%C3%A0nh-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành xây dựng

    Báo cáo thực tập Tốt nghiệp

    Tuesday, 3. February 2009, 14:12:00

    My Life *

    …thứ Năm, ngày 2, tháng 10, năm 2008| 14:22:50…

     

    Lời nói đầu:

    Qua thời gian thực tập hơn 2 tháng tại công trình Trung tâm Hội nghị Công đoàn Việt Nam, em đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm thực tế mà khi ngồi trên ghế nhà trường em chưa được biết.
    Để có kiến thức và kết quả thực tế ngày hôm nay, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xây dựng Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cơ bản, đồng thời tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập. Bên cạnh đó, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến ban chỉ huy công trình Xí nghiệp Xây dựng số 18, Công ty Cổ phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập.
    Trong quá trình thực tập và làm báo cáo, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi những sai sót. Em mong các thầy cô chỉ bảo thêm giúp em hoàn thành và đạt kết quả tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

     

    Mở đầu:

    Cùng với phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế Quốc tế, đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; vùa xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừa phát triển nên kinh tế đất nước. Hiện nay nước ta đang xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, văn phòng và nhà ở… Do đó, ngành xây dựng đóng 1 vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

    Giới thiệu chung về công trình:
    Tên công trinh: Trung tâm Hội nghị Công đoàn Việt Nam
    Địa điểm: Số 1A Yết Kiêu – Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội
    Chủ quản đầu tư: Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam
    Chủ đầu tư: Xí nghiệp xây dựng số 18, Công ty cổ phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng công ty xây dựng Hà Nội
    Đơn vị thiết kế: Công ty cổ phần Kiến trúc và đầu tư xây dựng số 36
    Đơn vị thẩm định: Trung tâm khoa học Công nghệ xây dựng công nghiệp và đô thị
    Tư vấn giám sát: Công ty cổ phần Kiến trúc và Đô thị Việt Nam
    Tổng diện tích công trình: 3145 (m2) [74×45.2m]
    Diện tích xây dựng: 1215 (m2)[45x27m]
    Chiều cao công trình: 30.6 (m)
    Công trình gồm: 7 tầng nhà, 1 tầng hầm, 1 tầng áp mái, 1 tầng tum và 1 số công trình phụ khác…

    Đào móng:
    Xác định vị trí hố đào:
    -Vị trí hố đào đã được xác định dựa vào mốc chuẩn qua công tác trắc địa, cốt cao đã được đánh dấu lên cách vị trí cố định xung quanh hố móng.
    -Hố móng được đào rộng hơn kích thước của móng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi công và tháo dỡ cốp pha móng.
    -Trong quá trình thi công, cán bộ kĩ thuật phải luôn kiểm tra và giám sát chặt chẽ quá trình thi công.

    Biện pháp thi công :
    *Cốt thép công trình cần sử dụng các loại thép phù hợp với yêu cầu thiết kế.
    *Yêu cầu vật liệu:
    -Nhà thầu phải sử dụng vật liệu có chứng chỉ sản xuất và tài liệu thí nghiệm do cơ sở thí nghiệm có uy tín thực hiện.
    -Chỉ sử dụng loại thép theo quy định của hồ sơ cốt thép. Yêu cầu thép phải có chứng chỉ chất lượng.
    -Cốt thép gia công bằng máy để có năng suất cao. Để không lãng phí, cần phải tính toán chính xác. Các mối nối thép phải tuân theo quy định Nhà nước sao cho lực ở mối nối là nhỏ nhất và số mối nối trong 1 tiết diện là ít nhất. Ko được nối quá 50% diện tích cốt thép trên cùng 1 tiết diện.
    *Hàn cốt thép:
    -Liên kết hàn có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau nhưng phải đảm bảo về chất lượng theo yêu cầu thiết kế. Ở đây ta sử dụng phương pháp hàn.
    -Khi hàn phải đáp ứng các yêu cầu cần về bề mặt nhẵn không cháy, không đứt quãng, không thu hẹp cục bộ, đảm bảo chiều dài chiều cao đường hàn thiết kế.
    *Nối buộc cốt thép:
    -Chiều dài mối buộc của cốt thép chịu lực trong các khung và lưới thép không được nhỏ hơn 250mm đối với thép chịu kéo và không nhỏ hơn 200mm đối với thép chịu nén

    (bảng)

    -Khi nối buộc cốt thép ở vùng chịu kéo phải uốn móc đối với thép trơn, thép có gờ ko cần uốn móc.
    *Trong mọi trường hợp nếu cần thay đổi cốt thép phải được sự đồng ý của bên thiết kế.

    *Lắp dựng cốt thép:
    -Khi tiến hành lắp dựng cốt thép phải được sự đồng ý của bên thiết kế.
    -Khi lắp dựng cốt thép phải đảm bảo tuân theo đúng yêu cầu bản vẽ và trình tự thi công lắp dựng. Liên tục kiểm tra để kịp thời phát hiện sai sót và khắc phục trước khi đổ bê tông nhằm đảm bảo chất lượng công trình.
    -Chiều dày 1 con kê bằng lớp bê tông bảo vệ cốt thép.
    *Kiểm tra và nhiệm thu cốt thép:

     

    Thi công bê tông:
    -Bê tông công trình sử dụng là bê tông thương phẩm.
    -Trong khi thi công chúng ta cần chú ý các yêu cầu các yêu cầu sau:
    a/Yêu cầu chung:
    -Các vật liệu để sản xuất bê tông đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật dồng thời đáp ứng các yêu cầu bổ sung của thiết kế.
    -Đá dăm, cát vàng phải có chứng chỉ rõ ràng ở nơi sản xuất
    b/Biện pháp đổ bê tông phần thân:
    -Để đảm bảo chất lượng của bê tông, tùy theo tầm quan trọng của từng loại công trình hoặc bộ phận của công trình trên cơ sở quy định mác bê tông của thiết kế.
    -Xi măng, cát, đá dăm và các chất phụ gia để chế tạo hỗn hợp bê tông được cân theo khối lượng nước và chất phụ gia đong theo thể tích.
    -Cát để nơi khô ráo, tiến hành cân đong làm giảm lượng nước ngấm trong cát. Phải kiểm tra độ chính xác của thiết bị cân đong trước mỗi đợt đổ bê tông.
    -Khối lượng bê tông nhiều ta sử dụng bê tông thương phẩm; khối lượng ít ta có thể dùng bê tông trộn bằng tay.
    c/Vận chuyển hỗn hợp bê tông:
    -Sử dụng, bố trí phương tiện vận chuyển, thiết bị và nhân lực hợp lý.
    d/Đổ bê tông:
    *Khi đổ bê tông cần chú ý đảm bảo các yêu cầu sau:
    -Tránh làm sai lệch vị trí cốt thép, cốp pha và con kê.
    -Bê tông phải được đổ liên tục cho tới khi nào hoàn thành kết cấu.
    -Giám sát chặt chẽ hiện trạng cốp pha và cốt thép trong quá trình thi công để xử lý kịp thời khi sự cố xảy ra.
    -Bê tông cột phải được đổ liên tục để đảm bảo quá trình ninh kết.
    *Đổ bê tông dầm sàn:
    -Khi thi công, cần đỏ bê tông dầm sàn liên tục. Sau khi đổ xong tường hay cột, cần dừng lại 1-2h để bê tông đủ thời gian co ngót ban đầu. Trường hợp không đổ liên tục thì mach ngừng thi công ở cột và tường đặt cách mặt dưới của dầm sàn từ 2-8cm.
    e/Bảo dưỡng bê tông:
    -Mạc ngừng thi công phải đặt ở vị trí mã lực và momen uốn tương đối đồng thời phải vuông góc với phương truyền lực nén vào kết cấu.

    Công tác trát:
    -Công trình trát bằng vữa xi măng mác 50.
    -Phải trát theo đúng yêu cầu thiết ké về độ dày của lớp trát.

    Công trường:
    I. Thuận lợi và khó khăn:
    a/Thuận lợi:
    -Công trường có diện tích rộng nên có thể bố trí lán trại cho công nhân, kho bãi để tập kết vật liệu.
    -Nguồn điện công trường lấy từ trạm điện có sẵn bên cạnh nên thuận lợi cho việc vận hành các loại máy thi công.
    -Địa hình khu đất bằng phẳng nên không gây có quá nhiều khó khăn trong công tác san lấp mặt bằng.
    -Ngoài ra công trường được trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại, có đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có trình độ cao nhiệt tình trong công việc.
    b/Khó khăn:
    -Do công trình nằm trong khu vực nội thành đông dân cư và có nhiều cơ quan xung quanh nên việc vận chuyển nguyên vật liệu chỉ được tiến hành về đêm.
    -Do các vấn đề khách quan khác (như: thời tiết, giao thông, v.v…)

    II. Máy móc và trang thiết bị thi công:
    -Công trình được trang bị các loại máy móc hiện đại, phù hợp với công việc thi công (như: máy cắt thép, máy uốn, máy hàn….). Ngoài ra, do công trình có chiều dài thi công lớn nên được trang bị thêm cẩu tháp để dễ vận chuyển nguyên vật liệu trong công trình.

    Cơ cấu và tổ chức của công ty:

    (bảng)

    Nhận xét chung:
    -Qua sơ đồ cơ cấu của công ty, em nhận thấy rằng công ty có nhiều phòng ban. Đây cũng là điều kiện thuận lợi trong thi công để giảm áp lực cho giám đốc và kỹ sư, qua đó giúp họ có nhiều thời gian để tìm biện pháp thi công tốt nhất và quan tâm đến đời sống của công nhân.
    -Đội ngũ công nhân trong công ty rất nhiệt tình, hăng hái trong công việc, tìm tòi những biện pháp thi công mới nhằm đảy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng công trình, mang lại nhiều thành tựu cho công ty.
    -Các biện pháp an toàn luôn được công ty áp dụng tốt trong quá trình thi công trên công trường nhằm đảm bảo an toàn lao động cho cán bộ công nhân viên.

    Nhật ký công trình:
    -Người phụ trách ghi chép là đồng chí Lê Hoàng Hạc, là cán bộ kỹ thuật phụ trách hồ sơ của công trinh.
    -Nhật ký công trinh nhằm ghi chép lại mọi công việc diễn ra hàng ngày trên công trình. Qua đó có biện pháp xử lý kịp thời
    -Hàng ngày, cán bộ kỹ thuật ghi chép đầy đủ các biện pháp, tiến độ thi công rồi tổng hợp lại số công lao động của công nhân. Từ đó đảm bảo tiến độ thi công.
    -Cần có biên bản nghiệm thu có xác nhậncủa giám sát bên chủ đầu tư. qua đó phát hiện các công việc phát sinh và có kế hoach thanh quyết toán.

    Các biện pháp kỹ thuật thi công trong thời gian thực tập:
    1.Công tác chuẩn bị đảm bảo thi công:
    -Để phục vụ thi công an toàn và thuận lợi, các công tác chuẩn bị về máy và trang thiết bị được công ty chú ý, đảm bảo yêu cầu tốt hoạt động phục vụ thi công.
    -Vật liệu được vận chuyển đến công trình và được đưa vào khu vực tập kết vật liệu của công trình.
    -Về nhân lực, các cán bộ kỹ thuật và công nhận có năng lực, kinh nghiệm được điều tới công trình nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng thi công.
    -Công trình được bố trí khu lán trại cho công nhân hợp lý.
    -Thành lập tổ bảo vệ nhằm đảm bảo an ninh trên công trường.
    2.Công tác ghép ván khuôn cốp pha:
    a/Yêu cầu về gia công lắp dựng:
    -Công trình sử dụng cốp pha bằng gỗ, nên yêu cầu gỗ sử dụng làm cốp pha phải tốt, không cong vênh, mối mọt và đảm bảo độ ẩm yêu cầu. Cốp pha phải đảm bảo đúng hình dạng kích thước để không gay khó khăn trong thi công.
    -Cốp pha sử dụng phải đúng yêu cầu để có thể lắp dựng, tháo dỡ dễ dàng. Không sử dụng cốp pha đã quá số lần sử dụng theo quy định của Nhà nước.
    b/Biện pháp thi công lắp ghép:
    -Cây chống cột có thể bằng gỗ (phải đảm bảo không cong vênh, nứt nẻ) hoặc bàng các thanh kim loại.
    -Ghép cốp pha theo định hình và dùng khóa để liên kết các tấm và thanh cốp pha.
    -Đinh dùng để liên kết các cây chống, gông chống dầm. Sàn dùng hệ thống dàn giáo theo định hình kết hợp với các cốp pha thép và xà gồ thành khung tạo liên kết ổn định chắc chắn.
    c/Kiểm tra và nghiệm thu ván khuôn:
    *Công việc nghiệm thu được tiến hành bởi đại diện bên A và cán bộ kỹ thuật bên B.
    *Nội dung kiểm tra nghiệm thu:
    -Kiểm tra tim cốt, cao độ, vị trí ván khuôn, độ phẳng của ván khuôn.
    -Kiểm tra độ ẩm của ván khuôn, độ ổn định của sàn công tác và dàn giáo.
    -Kiểm tra khoảng cách khe hở giữa các tấm ván khuôn.
    -Kiểm tra các lỗ chờ kỹ thuật.
    d/Công tác tháo dỡ ván khuôn:
    -Công tác tháo dỡ ván khuôn chỉ được tiến hành khi bê tông đã được cán bộ kỹ thuật kiểm tra và xác nhận độ ổn định.
    -Tháo dỡ dàn giáo chống đỡ ván khuôn ở mặt bên và kiểm tra lại chất lượng của bê tông.
    -Khi tháo dỡ ván khuôn càn phải tháo dỡ theo trình tự. Tránh va chạm mạnh và chấn động trong qua trình tháo dỡ.
    3.Công tác lắp dựng côt thép:
    a/Gia công cốt thép:
    -Trước khi nhập về công trương, cốt thép phải được lấy mẫu để thí nghiệm về cường độ.
    -Với mỗi loại cốt thép ta có biện pháp gia công cốt thép khác nhau theo yêu cầu của cán bộ kỹ thuật. Đối với cốt thép chịu lực không cần bẻ móc. Đối với cốt thép chịu lực kéo ta phải bẻ móc uốn ở 2 đầu. Cụ thể: Thép sàn và dầm bẻ móc thẳng 90* và đường kính móc uôc đảm bảo lớn hơn hoặc bằng 35d.
    b/Công tác lắp dựng cốt thép sàn:
    -Kiểm tra hệ thống dàn giáo và bề mặt ván khuôn trước khi đưa cốt thép vào vị trí lắp dựng.
    -Ta tiến hành lắp đặt thép dầm trước, sau đó mới lắp thép chịu lực của sàn (thép phải be mũ).

    Chú ý:
    -Khi tiến hành buộc thép dầm, ta buộc bên cốp pha sau đó tiến hành buộc thép sàn. Đặt các thanh thép thành lưới rồi mới buộc. Khi buộc dùng thép 1mm để liên kết các thanh lại với nhau thành 1 khối chịu lực đặt vuông góc với lực kéo do momen tạo ra.
    -Thép chịu lực dùng thép AI đường kính 12mm nằm dọc theo phương có ứng suất kéo. Thép có tác dung kết hợp với bê tông để chịu các lực.
    -Thép phân bố được đặt vuông góc và buộc với thép chịu lực tạo thành lưới.
    -Trong qua trình lắp đặt ta cần chú ý đến vị trí tim cốt và yêu cầu kỹ thuật.

    c/Các biện pháp kiểm tra nghiệm thu cốt thép:
    -Kiểm tra mối buộc, chiều dài, chiều cao mối hàn.
    -Kiểm tra khoảng cách đặt thép.
    -Kiểm tra đường kính, số lượng cốt thép sàn.

    4.Công tác đổ bê tông sàn:
    a/Chuẩn bị mặt bằng thi công:
    *Trước khi đổ bê tông, ta tiến hành kiểm tra lại ván khuôn, dàn giáo, tim cốt, kiểm tra lại thép và con kê
    *Công tác vận chuyển con kê:
    *Công tác vận chuyển bê tông:
    -Do công trường mua bê tông thường phẩm nên sẽ vân chuyển bằng oto và sử dụng máy bơm chuyên dụng.
    -Sau khi bơm bê tông lên bằng máy, công nhân dùng máy đàm để đầm bê tông đều ra khắp mặt sàn.
    b/Công tác đầm:
    -Đây là 1 khâu quan trọng trong thi công giúp bê tông đặc chắc hơn và không có các lỗ rỗng. Do vậy phải đầm kỹ, không được bỏ sót và đảm bảo thời gian đầm. Nếu không bê tông có thể bị phân tầng và hình thành các lỗ rỗng hoặc qua nhão làm giảm cường độ.
    c/Bảo dưỡng bê tông:
    -Bê tông sau khi đổ và đầm thì bắt đầu đông kết và bị mất nước nên khi đổ bê tông xong ta phải bảo dưỡng . Sau 5-6h ta bắt đàu tưới nước.
    d/Nghiện thu sản phẩm:
    -Để nghiệm thu và kiểm tra bê tông ta phải dựa vào bản thiết kế, từ đó xác định kích thước hình dạng đúng với yêu cầu.
    -Kiểm tra cường độ bê tông bằng cách lấy mẫu để thí nghiệm: Lấy 3 mẫu ở cùng 1 xe trong thời gian đỏ bê tông.

    An toàn lao đọng và vệ sinh môi trường:
    I.Tiêu chuẩn quy phạm Pháp luật:
    *Trong qua trình thi công, công ty cam kết tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn quy pham hiện hành về an toàn lao động và vệ sinh môi trường.

    II.Bảo hiểm và bảo hộ lao động:
    -Công ty sẽ mua bảo hiểm cho mọi người, máy móc thiết bị phục vụ thi công
    -Cán bộ, công nhân lao động tại công trình đều phải có chứng chỉ nghề nghiệp, sức khỏe phải phù hợp với mọi công việc được giao.
    -Công ty sẽ trang bị an toàn cho cán bộ và công nhân đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động.

    III. Tổ chức học tập và tập huấn cho cán bộ công nhân viên về an toàn lao động:
    Công ty đã triển khai cho toàn bộ cán bộ công nhân viên tham gia các lớp đào tạo về an toàn lao động và vệ sinh môi trường

    IV. Bộ máy quản lý an toàn lao động trên công trường:
    -Tổ chức hệ thống an toàn lao động trên công trường.
    -Công ty đã lập ban an toàn với sự chỉ huy của đòng chí chủ nhiệm công trình có trách nhiệm kiểm tra, đôn đóc công tác an toàn trong quá trình thi công.
    -Cán bộ trong Ban an toàn thường xuyên kiểm tra nhắc nhở cán bộ công nhân trên công trường tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc an toàn và có thể đình chỉ công tác nếu thấy công tác đó không an toàn hoặc công nhân không thực đúng nguyên tắc an toàn.
    a/Giải pháp an toàn lao đọng cho công nhân xây lắp:
    -Trong quá trình thi công, công nhân phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại như: tiếng ồn, bụi, rung động…Để đảm bảo an toàn lao động, tùy theo điều kiện cụ thể, cán bộ công nhân viên cần có các thiết bị bảo hộ thích hợp.
    b/An toang lao động trong tổ chức công trường:
    -Trong công trường, ngoài cán bộ kiểm tra chuyên trách về an toàn lao động, các tổ đội phải có một người trực tiếp phụ trách an toàn.
    c/An toang trong công tác điện:
    -Kiểm tra thường xuyên các thiết bị điện, dây dẫn, đầu mối.
    d/An toàn trong công tác cốt thep:
    -Khi cắt hay uốn thép, các đầu thép phải được đặt cố định.
    -Cốt thép gia công xong cần cất gọn vào nơi quy định, không được để trên máy.
    -Kiêmr tra máy móc trước khi tiến hành gia công.
    -Khi móc buộc để liên kết cốt thép trên cao, công nhân phải đứng trên sàn thao tác vững chắc, có lan can và dây an toàn.
    e/An toàn trong công tác bê tông:
    -Công nhân phải được trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn.
    -Khi di chuyển máy đầm không được nắm vào dây dẫn điện để kéo máy để phòng dây đứt. Không được làm nguội máy bằng cách tưới nước trực tiếp lên máy.
    -Tắt các thiết bị điện trước khi giải lao, hết giờ.
    f/An toàn trong công tác bốc xếp, vận chuyển nguyên vật liêu:
    -Tất cả các loại khi chở đến công trường phải có phương án vận chuyển hợp lý và được giám sát của cán bộ an toàn.
    g/An toàn trong công tác thi công sàn cao (từ 6m trở lên):
    -Người làm việc trên cao phải có sức khỏe tốt, không được uống rược bia, chỉ di chuyển ở những nơi được phân công.
    -Cấm leo trèo, lên xuống từ vị trí trên cao.
    -Cấm dẫm vào các kết cấu đang thi công.
    -Người làm việc trên cao phải đeo dây an toàn, đặc biệt là khi thời tiết không tốt hoặc có gió lớn.
    h/An toàn trong công tác lắp đặt điện:
    -Trong quá trình thi công đặc biệt tuân thủ các quy phạm về an toàn lao động trong công tác điện.
    -Chỉ thi công về điện khi có đầy đủ biên chế theo yêu cầu kỹ thuật và có đầy đủ trang thiết bị cần thiết.
    -Trên mặt bằng thi công điện phải có biển báo.
    i/An toàn trong công tác xây và hoàn thiện:
    -Kiểm tra dàn giáo, sắp xếp, bố trí vật liệu trên sàn công tác đăm bảo an toàn khi xây.
    -Khi xây tường cao hơn 2m phải đứng lên dàn giáo.
    -Vật liệu chuyển lên cao phải đưa bằng thung, không để rơi vãi ra ngoài.
    -Công nhân tuyệt đối không được đứng trên hoặc dưới khi máy tời đang vận hành.
    -Sàn công tác nhận vật liệu phải chắc chắn, không được chuyển gạch lên cao bằng cách tung, ném.

    V.Biện pháp bảo vệ môi trường:
    -Đây là công rình có quy mô lớn và dài ngày nên công ty đã dùng các biện pháp che chắn tiếng ồn phát sinh trong quá trình thi công, qua trình vận chuyển, bốc dỡ nguyên vật liệu và vận hành của máy móc để hạn chế ảnh hưởng đến môi trường khu vực dân cư và các cơ quan xung quanh.

    Thu họach từ quá trình thực tập:
    *Qua thời gian thực tập tại công trình Trung tâm hội nghị Công đoàn Việt Nam, với việc tiếp xúc trực tiếp với công trường và công ty, em hiểu thêm vè chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của người cán bộ kỹ thuật. Nắm bắt được các công việc mang tính chất nghiệp vụ, chuyên môn của người cán bộ. Thu được nhiều kiến thức thực tế. Từ đó giúp em cũng cố và bổ sung các kiến thức mà em đã học được khi ngồi trên ghế nhà trường.
    *Qua đợt thực tế này, em đã hiểu thêm được một số điểm sau:
    -Trong quá trinh thi công luôn phải chú ý đến những quy định quy phạm xây dựng cơ bản và luôn đảm bảo chính xác yêu cầu kỹ thuật.
    -Trên công trường, để đảm bảo chất lượng và tiến độ công trình thì ngoài việc được cung cấp trang thiết bị đầy đủ, chúng ta phải chú ý tới đời sống của công nhân.

    Lời kết
    Qua thời gian thực tập, bằng việc tiếp xúc với thực tế trên công trường cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Xây dựng và đặc biệt là sự tận tình chỉ dẫn của thầy giáo Nguyễn Xuân Thông, cộng với nỗ lực phấn đấu học hỏi của bản thân, em đã thu được rất nhiều kiến thức thực tế. Do còn thiếu nhiều về kinh nghiệm cũng như về thời gian nên báo cáo này không thể tránh khỏi có những sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thiện tốt hơn.
    Theo em, để trở thành một người kỹ sư tốt, ngoài việc nắm vững về chuyên môn còn biết quan tâm đén đời sống của người công nhân, động viên họ hăng hái trong công việc.
    Qua đây em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trong khoa Xây dưng trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Nội và đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Xuân Thông đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho em. Bên cạnh đó, em xin gửi lời cám ơn chân thành đến ban chỉ huy công trình Trung tâm Hội nghị Công đoàn Việt Nam thuộc Xí nghiệp Xây dựng số 18, Công ty Cổ phần xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập của mình.

    Hà Nội ngày….tháng….năm 2008
    Người làm báo cáo

    Vũ Việt Tiến

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • bài tập lớn nền móng Tính toán và thiết kế móng nông

    bài tập lớn nền móng Tính toán và thiết kế móng nông

    bài tập lớn nền móng Tính toán và thiết kế móng nông

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn Tiêu chuẩn và lập định mức xây dựng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/b%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-n%E1%BB%81n-m%C3%B3ng-T%C3%ADnh-to%C3%A1n-v%C3%A0-thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%C3%B3ng-n%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: bài tập lớn nền móng Tính toán và thiết kế móng nông

    ĐỀ BÀI TẬP LỚN NỀN MÓNG

    TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG NÔNG

     

    Họ và tên sinh viên:……………………………………………………………Lớp:……………….

    Mã số sinh viên:………………………………………………………………………………………….

     

    A.                       YÊU CẦU CHUNG

    • Mỗi sinh viên làm tất cả 05 vấn đề.
    • Làm trên giấy A4, chép tay.
    • Kẹp tờ đề lên trên cùng khi nộp.

    B.CÁC VẤN ĐỀ

    Các vấn đề sau sử dụng chung một loại vật liệu:

    Bê tông móng dùng bê tông B20 có Rb = 11500 kN/m2; Rbt = 900 kN/m2.

    Cốt thép móng sử dụng loại có Rs = 260 MN/m2.

     

    Vấn đề 1: Tính toán móng đơn chịu tải thẳng đứng đúng tâm

    Thiết kế móng đơn dưới chân cột có kích thước 0,3m x 0,3m, lực dọc tại chân cột Ntc = 48T. Đất nền có g = 1,92T/m3, c = 0T/m2, j=30o.

    Mực nước ngầm ở độ sâu 12m kể từ mặt đất tự nhiên.

    Kết quả thí nghiệm nén cố kết đất nền như sau:

     

    p(T/m2)

    0

    2.5

    5

    10

    20

    40

    64

    80

    e

    0.632

    0.612

    0.591

    0.584

    0.573

    0.56

    0.551

    0.54

    Vấn đề 2a: Móng đơn chịu tải thẳng lệch tâm nhỏ (lệch tâm 1 phương).

    Thiết kế móng đơn dưới chân cột có kích thước 0,3mx0,3m, lực dọc tại chân cột Ntc=48T, moment Mxtc=3,6Tm. Đất nền có g=1,92T/m3, c=0T/m2, j=30o.

    Mực nước ngầm ở độ sâu 12m kể từ mặt đất tự nhiên.

    Kết quả thí nghiệm nén cố kết đất nền như sau:

     

    p(T/m2)

    0

    2.5

    5

    10

    20

    40

    64

    80

    e

    0.632

    0.612

    0.591

    0.584

    0.573

    0.56

    0.551

    0.54

    Vấn đề 2: Móng đơn chịu tải thẳng lệch tâm nhỏ (lệch tâm hai phương).

    Thiết kế móng đơn dưới chân cột có kích thước 0,3mx0,3m, lực dọc tại chân cột Ntc=50T, moment Mxtc=3,75Tm, moment Mytc=1,25Tm. Đất nền có g=1,89T/m3, c=3,01T/m2, j=20o.

    Mực nước ngầm ở độ sâu 11m kể từ mặt đất tự nhiên.

    Kết quả thí nghiệm nén cố kết đất nền như sau:

     

    p(kG/cm2)

    0

    0,25

    0,5

    1

    2

    4

    6,4

    8

    e

    0,719

    0,705

    0,69

    0,673

    0,639

    0,594

    0,54

    0,504

     

    Vấn đề 3: Móng đơn chịu đồng thời tải đứng, moment và tải ngang.

    Thiết kế móng đơn dưới chân cột có kích thước 0,3mx0,3m, lực dọc tại chân cột Ntc=50T, moment Mxtc = 2,5Tm, lực ngang Qytc = 5T. Đất nền có g =1,89T/m3, c = 3,01T/m2, j = 20o.

    Mực nước ngầm ở độ sâu 11m kể từ mặt đất tự nhiên.

    Kết quả thí nghiệm nén cố kết đất nền như sau:

     

    p(kG/cm2)

    0

    0,25

    0,5

    1

    2

    4

    6,4

    8

    e

    0,719

    0,705

    0,69

    0,673

    0,639

    0,594

    0,54

    0,504

     

    Vấn đề 4: Móng băng dưới tường chịu tải trọng thẳng đứng- Phản lực nền phân bố tuyến tính.

    Thiết kế móng băng dưới tường dày 300 mm, tiếp nhận một tải đúng tâm Ntc = 300 kN/m dài. Các đặc trưng nền và bê tông móng giống vấn đề 1.

     

    Vấn đề 5: Móng băng dưới cột.

    Thiết kế móng băng dưới cột như hình sau, tiếp nhận các tải đúng tâm cột 1 và 4: Ntc = 600 kN, cột 2 và 3: Ntc = 1200 kN. Kích thước chân cột là 500 mm x 500 mm.

    Các đặc trưng của đất nền và bê tông móng giống vấn đề 1.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
    2. Châu Ngọc Ẩn, Nền móng, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
    3. Nguyễn Văn Quảng, Nguyễn Hữu Kháng, Hướng dẫn đồ án Nền và Móng, Nhà xuất bản Xây dựng, 2008.
    4. Phan Hồng Quân, Nền và móng, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Tiêu chuẩn và lập định mức xây dựng

    Bài tập lớn môn Tiêu chuẩn và lập định mức xây dựng

    Bài tập lớn môn Tiêu chuẩn và lập định mức xây dựng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn học Thiết kế tối ưu – Tối ưu hóa thể tích móng đơn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-Ti%C3%AAu-chu%E1%BA%A9n-v%C3%A0-l%E1%BA%ADp-%C4%91%E1%BB%8Bnh-m%E1%BB%A9c-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Tiêu chuẩn và lập định mức xây dựng

    BÀI TẬP LỚN MÔN

    TIÊU CHUẨN VÀ ĐỊNH MỨC XÂY DỰNG

    ĐỀ BÀI

    Để xác định số ca máy định mức trong năm đối với máy ủi có công suất 100 mã lực (CV), tiến hành thu số liệu tại một Công ty cơ giới xây dựng trong năm 2011 như sau:

    – Số giờ ngừng việc ngẫu nhiên của từng tháng do nguyên nhân mưa bão gây ra:

    Tháng

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    Số giờ ngừng việc

    0

    8

    15

    10

    8

    16

    40

    20

    11

    8

    5

    0

    – Số giờ ngừng việc ngẫu nhiên của từng tháng do nguyên nhân ngừng đột xuất:

    Tháng

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    Số giờ ngừng việc

    10

    4

    8

    10

    6

    8

    0

    10

    12

    12

    6

    10

    – Số giờ ngừng việc ngẫu nhiên của từng tháng do nguyên nhân công nhân điều khiển máy nghỉ do ốm đau đột xuất. Sau khi thu thập số liệu đã mô phỏng tính toán được. Cụ thể đã xác định được số giờ ngừng việc bình quân hàng năm do công nhân điều khiển máy ốm đau đột xuất là 87h/năm.

    Yêu cầu:

    1. Mỗi nguyên nhân ngẫu nhiên ở trên thực hiện 5 lần mô phỏng và rút ra kết luận về số ngày (mỗi ngày 1 ca) phải ngừng việc trong năm.
    2. Các thời gian ngừng nghỉ khác như sau:
    • Số ngày nghỉ theo chế độ trong năm (Tết, lễ, Chủ nhật…) theo quy định của Luật Lao động Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
    • Số ngày ngừng việc để sửa chữa bảo trì bình quân định kỳ trong năm là 40 ngày/năm.
    • Số ngày máy ngừng việc bình quân trong năm để di chuyển máy giữa các công trường là 12 ngày/năm.

    Yêu cầu xác định số ca máy hoạt động trong năm đối với máy ủi có công suất 100CV. Cho biết hệ số sử dụng K bình quân trong năm: K­ca2 = 0,35 và K­­­­ca3 = 0,1.

     

     

     

     

     

     

    BÀI LÀM

    1. Mô phỏng và kết luận về số ngày máy ngừng phải ngừng việc trong năm
      • Máy ngừng việc ngẫu nhiên do nguyên nhân mưa bão
    • Lập bảng xác định tần suất của ngừng việc do nguyên nhân mưa bão

    Bảng 1:  Xác định tần suất ngừng việc do mưa bão

    Hàng m                     (m=1÷9)

    Số giờ ngừng việc do nguyên nhân mưa bão

    Tần suất xuất hiện (ni)

    Tần suất tương đối (ni/n)

    Tần suất cộng dồn

    Nhân cột (5) với 104

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

    1

    0

    2

    2/12 =

    0,1667

    0,1667

    1667

    2

    5

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,2500

    2500

    3

    8

    3

    3/12 =

    0,2500

    0,5000

    5000

    4

    10

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,5833

    5833

    5

    11

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,6666

    6666

    6

    15

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,7499

    7499

    7

    16

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,8332

    8332

    8

    20

    1

    1/12 =

    0,0833

    0,9165

    9165

    9

    40

    1

    1/12 =

    0,0833

    1,0000

    10000

       

    n = 12

    Tổng =

    1,0000

       

     

    1. Xác định mối liên hệ giữa đại lượng ngẫu nhiên đang khảo sát (số giờ ngừng việc do nguyên nhân mưa bão) với đại lượng ngẫu nhiên Y phân bố đều trong khoảng [0;1].

    Bảng 2: Tập hợp số ngẫu nhiên phân bố gần đều trong khoảng [0;1]

                                                            (Trích)

    1502

    6926

    3971

    6441

    2875

    0745

    6126

    6362

    4525

    2597

    9400

    6289

    2040

    1141

    2226

    0266

    6717

    4637

    1741

    1989

    5568

    0789

    9934

    9026

    0710

    9866

    4040

    7158

    4033

    7017

    6167

    5903

    8927

    845

    4648

    4369

    0195

    9811

    7721

    4737

    9753

    4667

    7314

    0304

    0837

    8314

    1295

    7090

    4109

    8847

    3904

    6920

    6058

    6130

    7947

    1749

    2027

    2198

    9812

    2450

    8934

    0812

    1102

    7152

    0473

    9924

    3166

    8630

    9483

    2727

    0918

    8018

    2816

    1084

    3574

    3486

    8464

    2218

    7661

    0595

    0500

    6800

    7682

    8062

    8917

    1802

    1119

    6919

    9399

    7923

    5550

    5963

    2649

    2432

    1475

    1699

    2746

    4684

    9772

    0811

    1443

    5045

    567

    4261

    9502

    3287

    8572

    7055

    1452

    8374

    4250

    3257

    1550

    5654

    0544

    1252

    2955

    5496

    1918

    6540

    6121

    5548

    6496

    8683

    2322

    2157

    8981

    7828

    4672

    3815

    3386

    1804

    4351

    9691

    2325

    8308

    7205

    5561

    8825

    7255

    4915

    4098

    4641

    5923

    8679

    0711

    1881

    6328

    3649

    1669

    1905

    6470

    6913

    7317

    2864

    6356

    0123

    1323

    2051

    9086

     

    • Mối liên hệ được xác định theo định lý điều kiện cần và đủ để xuất hiện hiện tượng Am của quá trình ngẫu nhiên X:

    Định lý: Hiện tượng Am xuất hiện khi và chỉ khi thỏa mãn điều kiện sau:

    Lm-1 < Rj ≤ Lm  (1)

    Trong đó:

          + Lm-1; Lm: lần lượt là tần suất cộng dồn đến hàng (m-1) và đến hàng m.

    + Rj (j=1¸n) là các số ngẫu nhiên phân bố đều trong khoảng [0;1] được chọn bất kỳ theo bảng số ngẫu nhiên, lấy liên tiếp theo cột hoặc theo hàng, j là số lượng cần lấy để mô phỏng rồi gán kiểm tra điều kiện (1), hiện tượng Am xảy ra với tháng nào thì ghi kết quả cho tháng ấy.

    • Thực hiện mô phỏng 5 lần, theo đề bài cho 12 tháng nên mỗi lần mô phỏng ta chọn 12 số ngẫu nhiên Rj liên tiếp cho 1 lần mô phỏng (ở đây chọn 12 số liên tiếp theo cột hoặc hàng) và gán cho từng tháng.

                            Mô phỏng lần 1: Số ngày máy ngừng việc do mưa bão (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

     

    + Số

    4109

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    2027

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    0473

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    2816

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    0500

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    9399

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    2746

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    9502

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    1550

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    6121

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    4672

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     
     

    + Số

    7205

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     
                 

     

                  Mô phỏng lần 2: Số ngày máy ngừng việc do mưa bão (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    8847

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2198

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9924

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1084

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6800

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7923

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4684

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A8 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3287

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5654

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5548

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3815

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5561

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

                  Mô phỏng lần 3: Số ngày máy ngừng việc do mưa bão (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    3904

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9812

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3166

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3574

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7682

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5550

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A8 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9772

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8572

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0554

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6496

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3386

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8825

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

                  Mô phỏng lần 4: Số ngày máy ngừng việc do mưa bão (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    6920

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2450

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8630

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3486

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8062

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5963

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A8 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0811

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7055

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1252

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8683

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1804

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7255

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

                  Mô phỏng lần 5: Số ngày máy ngừng việc do mưa bão (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    6058

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8934

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9483

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8464

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8917

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2649

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A9 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1443

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1452

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2955

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2322

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4351

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4915

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

                                                           Bảng 3: Kết quả 5 lần mô phỏng và xác định trị số trung bình của chỉ tiêu

     

    Tháng

     

    Kết quả

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    MF1

    8

    6

    0

    6

    0

    12

    6

    12

    4

    10

    8

    10

    MF2

    12

    6

    12

    4

    10

    10

    8

    6

    10

    10

    8

    10

    MF3

    8

    12

    6

    8

    10

    10

    12

    12

    0

    10

    8

    12

    MF4

    10

    6

    12

    8

    10

    10

    0

    10

    4

    12

    6

    10

    MF5

    10

    12

    12

    12

    12

    6

    4

    4

    6

    6

    8

    8

    Trung bình

    9,6

    8,4

    8,4

    7,6

    8,4

    6,0

    8,8

    6,4

    4,8

    9,6

    7,6

    10,0

    • Số giờ ngừng việc bình quân trong 1 năm do nguyên nhân mưa bão:

    T1= 9,6 + 8,4 + 8,4 + 7,6 + 8,4 + 6,0 + 8,8 + 6,4 + 4,8 + 9,6 + 7,6 + 10,0

                  = 98,8 (giờ/năm)

    • Máy ngừng việc ngẫu nhiên do nguyên nhân máy hỏng đột xuất
    • Lập bảng xác định tần suất của ngừng việc do nguyên nhân máy hỏng đột xuất

    Bảng 4:  Xác định tần suất ngừng việc do máy hỏng đột xuất

    Hàng m                     (m=1÷6)

    Số giờ ngừng việc do nguyên nhân mưa bão

    Tần suất xuất hiện (ni)

    Tần suất tương đối (ni/n)

    Tần suất cộng dồn

    Nhân cột (5) với 104

    (1)

    (2)

    (3)

    (4)

    (5)

    (6)

    1

    0

    1

    1/12=

    0,0833

    0,0833

    833

    2

    4

    1

    1/12=

    0,0833

    0,1666

    1666

    3

    6

    2

    2/12=

    0,1667

    0,3333

    3333

    4

    8

    2

    2/12=

    0,1667

    0,5000

    5000

    5

    10

    4

    4/12=

    0,3333

    0,8333

    8333

    6

    12

    2

    2/12=

    0,1667

    1,0000

    10000

       

    n=12

    Tổng =

    1,0000

       

     

    1. Xác định mối liên hệ giữa đại lượng ngẫu nhiên đang khảo sát (số giờ ngừng việc do nguyên nhân máy hỏng đột xuất) với đại lượng ngẫu nhiên Y phân bố đều trong khoảng [0;1].

    Bảng 2: Tập hợp số ngẫu nhiên phân bố gần đều trong khoảng [0;1]

                                                             (Trích)

    1502

    6926

    3971

    6441

    2875

    0745

    6126

    6362

    4525

    2597

    9400

    6289

    2040

    1141

    2226

    0266

    6717

    4637

    1741

    1989

    5568

    0789

    9934

    9026

    0710

    9866

    4040

    7158

    4033

    7017

    6167

    5903

    8927

    845

    4648

    4369

    0195

    9811

    7721

    4737

    9753

    4667

    7314

    0304

    0837

    8314

    1295

    7090

    4109

    8847

    3904

    6920

    6058

    6130

    7947

    1749

    2027

    2198

    9812

    2450

    8934

    0812

    1102

    7152

    0473

    9924

    3166

    8630

    9483

    2727

    0918

    8018

    2816

    1084

    3574

    3486

    8464

    2218

    7661

    0595

    0500

    6800

    7682

    8062

    8917

    1802

    1119

    6919

    9399

    7923

    5550

    5963

    2649

    2432

    1475

    1699

    2746

    4684

    9772

    0811

    1443

    5045

    567

    4261

    9502

    3287

    8572

    7055

    1452

    8374

    4250

    3257

    1550

    5654

    0544

    1252

    2955

    5496

    1918

    6540

    6121

    5548

    6496

    8683

    2322

    2157

    8981

    7828

    4672

    3815

    3386

    1804

    4351

    9691

    2325

    8308

    7205

    5561

    8825

    7255

    4915

    4098

    4641

    5923

    8679

    0711

    1881

    6328

    3649

    1669

    1905

    6470

    6913

    7317

    2864

    6356

    0123

    1323

    2051

    9086

     

     

    • Mối liên hệ được xác định theo định lý điều kiện cần và đủ để xuất hiện hiện tượng Am của quá trình ngẫu nhiên X:

    Định lý: Hiện tượng Am xuất hiện khi và chỉ khi thỏa mãn điều kiện sau:

    Lm-1 < Rj ≤ Lm  (1)

    Trong đó:

            + Lm-1; Lm: lần lượt là tần suất cộng dồn đến hàng (m-1) và đến hàng m.

      + Rj (j=1¸n) là các số ngẫu nhiên phân bố đều trong khoảng [0;1] được chọn bất kỳ theo bảng số ngẫu nhiên, lấy liên tiếp theo cột hoặc theo hàng, j là số lượng cần lấy để mô phỏng rồi gán kiểm tra điều kiện (1), hiện tượng Am xảy ra với tháng nào thì ghi kết quả cho tháng ấy.

    • Thực hiện mô phỏng 5 lần, theo đề bài cho 12 tháng nên mỗi lần mô phỏng ta chọn 12 số ngẫu nhiên Rj liên tiếp cho 1 lần mô phỏng (ở đây chọn 12 số liên tiếp theo cột hoặc hàng) và gán cho từng tháng.

             Mô phỏng lần 1: Số ngày ngừng việc do hỏng máy đột xuất (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    8927

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9753

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4109

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2027

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0473

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2816

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0500

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9399

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2746

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9502

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1550

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6121

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

             Mô phỏng lần 2: Số ngày ngừng việc do hỏng máy đột xuất (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    0845

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4667

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8847

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2198

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9924

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1084

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6800

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7923

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    4684

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3287

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5654

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5548

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

             Mô phỏng lần 3: Số ngày ngừng việc do hỏng máy đột xuất (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    4648

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7314

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3904

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9812

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3166

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3574

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7682

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5550

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9772

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8572

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0544

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6496

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

             Mô phỏng lần 4: Số ngày ngừng việc do hỏng máy đột xuất (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    4639

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0304

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6920

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2450

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8630

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    3486

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    8

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8062

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    5963

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0811

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    7055

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1252

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8683

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A5 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

              Mô phỏng lần 5: Số ngày ngừng việc do hỏng máy đột xuất (chọn 12 số liên tiếp theo cột)

    + Số

    0195

    gán cho tháng 1, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    0

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    0837

    gán cho tháng 2, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    6058

    gán cho tháng 3, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A6 xảy ra:

    10

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8934

    gán cho tháng 4, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    9483

    gán cho tháng 5, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8464

    gán cho tháng 6, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A2 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    8917

    gán cho tháng 7, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    12

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2649

    gán cho tháng 8, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A3 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1443

    gán cho tháng 9, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    1452

    gán cho tháng 10, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    4

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2955

    gán cho tháng 11, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A4 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

    + Số

    2322

    gán cho tháng 12, áp vào điều kiện (1) ta thấy hiện tượng A1 xảy ra:

    6

    giờ ngừng việc

     

     

                                                           Bảng 5: Kết quả 5 lần mô phỏng và xác định trị số trung bình của chỉ tiêu

     

    Tháng

     

    Kết quả

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    MF1

    12

    12

    8

    6

    0

    6

    0

    12

    6

    12

    4

    10

    MF2

    4

    8

    12

    6

    12

    4

    10

    10

    8

    6

    10

    10

    MF3

    8

    10

    8

    12

    6

    8

    10

    10

    12

    12

    0

    10

    MF4

    8

    0

    10

    6

    12

    8

    10

    10

    0

    10

    4

    12

    MF5

    0

    4

    10

    12

    12

    12

    12

    6

    4

    4

    6

    6

    Trung bình

    6,4

    6,8

    9,6

    8,4

    8,4

    7,6

    8,4

    9,6

    6,0

    8,8

    4,8

    9,6

    • Số giờ ngừng việc bình quân trong 1 năm do nguyên nhân máy hỏng đột ngột:

    T2 = 6,4 + 6,8 + 9,6 + 8,4 + 8,4 + 7,6 + 8,4 + 9,6 + 6,0 + 8,8 + 4,8 + 9,6 = 94,4 (giờ/năm)

    • Theo đề bài sau khi thu số liệu mô phỏng và tính toán đã xác định được số giờ ngừng việc bình quân một năm do nguyên nhân công nhân điều khiển máy ốm đau đột xuất là 87 (giờ/năm) -> T3= 87 (giờ/năm).

    Kết luận: Vậy tổng số giờ máy ngừng việc trong năm do các nguyên nhân mưa bão, máy hỏng đột xuất, công nhân điều khiển máy ốm đột xuất là:

    T = T = T1 + T2 + T3 = 98,8 + 94,4 + 87 = 280,2 (h/năm) ≈ 35 ngày/năm.

    1. Xác định số ca máy hoạt động trong năm đối với máy ủi có công suất 100CV
    • Số ca máy hoạt động trong năm đối với máy ủi xác định theo công thức sau:

    NCMĐM = Nđm x (1+Kca2 + Kca3)

    Trong đó:    Kca2 = 0,35

                         Kca3 = 0,1

                         Nđm: Số ngày làm việc thực tế của máy ủi

                     Nđm = 365- (Nnvnn + Nncđ  + Nscbd + Ndc)

    Trong đó:

    Nnvnn: Số ngày ngừng việc ngẫu nhiên do nguyên nhân mưa bão, máy hỏng đột xuất và công nhân điều khiển máy bị ốm đột xuất.

    Theo tính toán ở phần trên  Nnvnn = T/8= 280,2/8 ≈ 35 (ngày/năm)

    Nncđ: Số ngày nghỉ theo chế độ trong năm (Tết, lễ, Chủ nhật) theo quy định của Luật Lao động Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Viêt Nam (Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 thông qua ngày 18/6/2012 và có hiệu lực kể từ ngày 1/5/2013)

    • Ngày chủ nhật: 52 ngày (tương ứng với 52 tuần trong năm).
    • Tết dương lịch (1/1 dương lịch): nghỉ 01 ngày.
    • Tết âm lịch nghỉ 05 ngày
    • Ngày Giỗ Tô Hùng Vương (10/3 âm lịch): nghỉ 01 ngày.
    • Ngày Giải phòng hoàn toàn miền Nam (30/4): 01 ngày.
    • Ngày quốc tế lao động (1/5): 01 ngày.
    • Ngày Quốc khánh (2/9): 01 ngày.
    • Vậy tổng số ngày nghỉ chế độ theo quy định của Luật lao động:

    Nncđ = 52 + 1+ 5 + 1 + 1 + 1 + 1 = 62 (ngày/năm)

       Nscbd : Số ngày nghỉ để sửa chữa bảo dưỡng bình quân định kỳ hàng năm.  Theo đề bài Nscbd = 40 ngày/năm.

    Ndc: Số ngày máy ngừng việc bình quân trong năm để di chuyển giữa các công trường. Theo đề bài Ndc = 12 ngày/năm.

    • Vậy số ngày làm việc thực tế của máy ủi:

    Nđm = 365 – (35 + 62 + 40 + 12) =  216 (ngày/năm)

    • Vậy số ca máy hoạt động trong năm:

    NCMĐM = 216 x (1 + 0,35 + 0,1) = 313,2 ≈ 313 (ca/năm).

    Kết luận: Số ca máy hoạt động trong năm đối với máy ủi có công suất 100CV là 313  ca/năm.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]