Author: Nguyễn Huyền

  • Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-c%E1%BB%A7a-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-marketing-lan-t%E1%BB%8Fa-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-h%C3%A0nh-vi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ảnh hưởng của hoạt động marketing lan tỏa đối với hành vi người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING LAN TỎA ĐỐI VỚI HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    Nguyễn Xuân Minh*

     

    Nguyên Nư Thuân Giang

     

    Tóm tắt

     

    Viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Thông qua kết quả khảo sát, có thể thấy ảnh hưởng của viral marketing đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng là khá lớn. Tuy co thê tao nên lơi thê canh tranh to lơn cho doanh nghiêp so vơi cac đôi thu trên thi trương băng những chiên dich marketing ân tương, ca tinh, đôc đao, mang ban săc riêng ma vân tiêt kiêm đươc chi phi nhưng viral marketing cung co thê bi ap dung sai hay lam dung qua mưc, gây kho chiu cho ngươi tiêu dung, tao nên những phan ưng tiêu cưc đôi vơi cac san phâm/ dich vu cua doanh nghiêp. Do đo, môt khi quyêt đinh ap dung viral marketing, trươc tiên cac doanh nghiêp cân phai tim hiêu, nghiên cưu thật sư ki vê hinh thưc nay với nhữ̃ng giải pháp phù hợp tùy vào đặc điểm của ngành hàng và khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp đang muốn hướng đến.

     

    Từ khóa: marketing lan tỏa, viral marketing, hành vi người tiêu dùng.

     

    Mã số:102.031214. Ngày nhận bài: 13/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập:15/02/2015. Ngày duyệt đăng: 12/04/2015.

     

    Summary

     

    Viral marketing is a form of marketing activities utilizing the spreading effects of social networks and the Internet in order to promote companies’ messages about products and services to consumers. By the survey results, it can be noted that viral marketing can influence consumers’ attitudes and behaviour so significantly. Viral marketing can help companies to create meaningful competitive advantage over their competitors by impressive and unique marketing campaigns with saved budgets. However, it can be abused or utilized in a wrong way, which causes unpleasant feelings or negative behaviour. Companies should carefully consider characteristics of relevant industries and targeted customers as well as this form of marketing itself so as to choose suitable and effective solutions.

     

    Key words: viral marketing, consumers’ behaviour

     

    Paper No.102.031214. Date of receipt: 13/12/2014. Date of revision:15/02/2015. Date of approval: 12/04/2015.

     

     

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với không chỉ các công ty nội địa mà còn với các công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia. Trước tình hình đó, nhiều

     

    doanh nghiệp trong nước đã nỗ lực đầu tư cho hoạt động marketing nhằm mở rộng thị trường, nâng cao khả năng nhận biết của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ. Việc tận dụng sức mạnh lan truyền thông tin thông

     

    * PGS, TS. Trường Đại học Ngoại thương; Email: [email protected]

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       61

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    qua mạng lưới Internet thực sự mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp đã áp dụng phương pháp marketing lan tỏa (tạm dịch từ “viral marketing”), bởi đây là một hoạt động marketing vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảo truyền được thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi gắm tới khách hàng tiềm năng của mình.

     

    Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra các tác động tích cực, tiêu cực của hình thức này nhằm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể đưa ra các chiến lược truyền thông phù hợp. Người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng khảo sát nhằm thu thập nguồn thông tin sơ cấp cho việc phân tích thực trạng và ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    1. Tổng quan về viral marketing

     

    Viral marketing, hay còn gọi là marketing lan tỏa có nguồn gốc từ hình thức marketing truyền miệng (word-of-mouth marketing). Marketing truyền miệng sử dụng nguyên lý truyền thông tự phát của con người trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng những câu chuyện có sức ảnh hưởng để tạo nên sự lan truyền những mẫu quảng cáo sản phẩm/ dịch vụ hay tin đồn nào đó (Mindcomet Corporation, 2008). Theo Cruz, D. and Fill, C. (2008) thì có nhiều nguyên nhân khiến người tiêu dùng thích nói về những sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã sử dụng, có thể là do mong muốn chia sẻ kinh nghiệm mua sắm của mình với những người tiêu dùng khác hay đơn giản là họ muốn bàn tán về những vấn đề liên quan đến uy tín của một thương hiệu (Cruz, D. and Fill, C., 2008). Cũng chính vì chủ yếu sử dụng hình

     

    thức truyền miệng giữa người với người nên marketing truyền miệng bị giới hạn ở tốc độ truyền thông tin. Do đó, hình thức này đòi hỏi phải tốn khá nhiều thời gian để thông điệp bao phủ khắp nơi. Dù có nhược điểm như vậy nhưng trong một số trường hợp nhất định, hình thức marketing truyền miệng lại có sức ảnh hưởng tới hành vi của người tiêu dùng lớn hơn nhiều so với những hình thức quảng cáo trên các tạp chí, đài phát thanh hay các kênh bán hàng cá nhân (Engel et al,1969) vốn chủ yếu được sử dụng khi Internet chưa thực sự phát triển.

     

    Thuật ngữ “viral marketing” được Steve Juvertson và Tim Draper dùng vào năm 1997 để mô tả cách thức dịch vụ email (thư điện tử) miễn phí- hotmail được quảng bá, xúc tiến. Cụ thể, dòng chữ ký của tất cả các email được gửi thông qua hotmail- đại lý email miễn phí trực tuyến đầu tiên, đều ghi một lời mời để người dùng tạo ra một tài khoản hotmail.com miễn phí. Phương pháp xúc tiến thương mại này được coi là “viral” (lan tỏa), bởi thông điệp đã được truyền đi bởi chính người dùng tới những người dùng khác. Từ “viral” bắt nguồn từ từ “virus”, nó tượng trưng cho cách thức mà thông điệp lây lan nhanh chóng như những con vi-rút, hoàn toàn không mang ý nghĩa tiêu cực (Rodić, N. & Koivisto, E., 2012). Theo Rodić, N. & Koivisto, E. (2012), có một số thuật ngữ được sử dụng để mô tả hình thức marketing này như: “Word-of-mouth”- marketing truyền miệng (Goldenberg et al.2001), “Referral Marketing”- Marketing đề cử (De Bruyn and Lilien, 2004),…

     

    Cruz, D. and Fill, C. (2008) cho rằng marketing lan tỏa liên quan đến việc trao đổi thông tin về một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể bằng hệ thống mạng đồng đẳng, nơi người dùng có thể dễ dàng và thường xuyên trao đổi

     

    62            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    thông tin với nhau. Bên cạnh đó, họ cũng cho rằng không nên dùng các công cụ tài chính để điều khiển sự lan truyền của thông điệp bởi marketing lan tỏa không phải là một dạng của quảng cáo. (Cruz, D. and Fill, C.,2008). Chính vì vậy, cần để người tiêu dùng tự nguyện lan truyền thông điệp về các sản phẩm hay dịch vụ với nhau.

     

    Mặc dù có nhiều khái niệm và khác biệt khi nghiên cứu sâu về tính chất, đặc điểm của hoạt động viral marketing nhưng các tác giả trên đều thống nhất về một điểm, đó chính là sự lan tỏa- yếu tố quyết định của hình thức marketing này.

     

    Dựa trên những định nghĩa trên, tác giả đưa ra khái niệm về hoạt động viral marketing như sau: “viral marketing (marketing lan tỏa) là hình thức marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng.”

     

    Đặc điểm của viral marketing

     

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing rất đa dạng, nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: email (thư điện tử), blog (trang web chia sẻ thông tin cá nhân trực tuyến), chatroom (thảo luận trực tiếp trên Internet), diễn đàn người dùng, forum seeding (gieo mầm thông tin trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội, …), mạng xã hội, video … (Xavier, L. and Summer, G., 2009).

     

    Theo Ralph F. Wilson (2000), những đặc điểm của một hoạt động viral marketing hiệu quả là cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ “miễn phí”, truyền tải thông tin một cách dễ dàng, lây lan, tạo hiệu ứng lan truyền nhanh chóng, tận dụng được những động cơ và hành vi thông thường, sử dụng hiệu quả các mạng

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    truyền thông hiện có, tạo được sự liên kết giữa các kênh truyền thông.

     

    Khi áp dụng hoạt động viral marketing thì doanh nghiệp có thể có những thuận lợi như:

     

    • Tiết kiệm một khoản tiền đáng kể khi so sánh với các hình thức marketing truyền thống (Fairbank, 2008).
    • Bỏ qua các hình thức hỗn loạn của marketing truyền thống, cho phép các doanh nghiệp tiếp cận người tiêu dùng hiệu quả hơn (Mindcomet Corporation, 2008).
    • Chiến dịch viral marketing không yêu cầu sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp phải thực sự xuất sắc hay nổi bật. Thay vào đó, yếu tố thực sự cần phải xuất sắc và nổi bật chính là chiến dịch marketing đó (Mindcomet Corporation, 2008). Vì vậy, một doanh nghiệp tuy có sản phẩm, dịch vụ với chất lượng trung bình, không quá nổi bật vẫn hoàn toàn có thể thu được lợi nhuận bằng một chiến dịch viral marketing hiệu quả.
    • Được người tiêu dùng tiếp nhận, bất luận kết quả cuối cùng là doanh nghiệp sẽ nhận được phản ứng tiêu cực hay tích cực (Mindcomet Corporation, 2008). Điều này có nghĩa, khi được ai đó giới thiệu, chia sẻ về đường dẫn tới một trang web, một đoạn video ấn tượng, một chủ đề thảo luận trên mạng … người tiêu dùng có thể vì tò mò mà nhấn vào đường dẫn đó. Dù người tiêu dùng đó thích hay không thích nội dung của trang web, đoạn video … đó thì hoạt động viral marketing cũng đã gây được hiệu ứng lan truyền.

    Bên cạnh đó, viral marketing cũng gặp phải những bất lợi như:

     

    • Thứ nhất, việc để thông điệp tự lan truyền rủi ro hơn so với marketing truyền thống

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      63

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    bởi nếu không được thực hiện đúng, viral marketing có thể phản tác dụng và tạo tin đồn tiêu cực (Mindcomet Corporation, 2008). Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp bắt đầu kiểm soát thông điệp trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội thì người tiêu dùng lại cho rằng những thông tin đó là giả tạo và không đáng tin cậy. (Scott, D., 2007)

     

    • Thứ hai, viral marketing có thể gây khó chịu cho người tiêu dùng. Nếu những hình thức khuyến mại như: “Chỉ cần gửi tin nhắn này cho 5 người bạn của bạn, bạn sẽ được hưởng ưu đãi khi mua sắm tại đây” sẽ khuyến khích người tiêu dùng gửi thư rác (spam email) tới bạn bè của mình (Fairbank, 2008). Loại email này thường gây khó chịu cho người nhận vì họ nhấn vào đường dẫn mà chẳng nhận được thông tin bổ ích gì (Chaffey, D., 2003).
    • Thứ ba, các doanh nghiệp không thể kiểm soát số lượng người có thể tiếp cận chiến dịch marketing của mình (Fairbank, 2008). Bởi nếu số người xem quá đông, nhu cầu về một mặt hàng hay dịch vụ tăng đột biến, mà doanh nghiệp lại không đủ khả năng đáp ứng thì sẽ gây tác động xấu đến uy tín của doanh nghiệp.

    Có thể thấy, hoạt động viral marketing là một hoạt động rất phong phú, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm email, blog, chatroom, diễn đàn trực tuyến, các trang mạng xã hội, clip, video… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ tập trung phân tích các hình thức phổ biến nhất của hoạt động viral marketing tại Việt Nam, cụ thể là: email, social network (trang mạng xã hội), video, forum (diễn đàn trực tuyến).

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi người

     

    tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

     

    2.1. Phương pháp khảo sát

     

    Khảo sát được thực hiện thông qua bảng câu hỏi qua email và điều tra trực tiếp với 350 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Địa bàn khảo sát là 5 quận trung tâm thành phố Hồ Chí Minh (Quận 1, Quận 2, Quận 3, Quận 4 và Quận 5), mỗi quận 100 phiếu trả lời được thu thập tại trung tâm mua sắm (25 phiếu), trường học (25 phiếu) và khu dân cư (25 phiếu) và các địa điểm khác (25 phiếu) theo sự lựa chọn tùy ý của điều tra viên. Nếu người được khảo sát sẵn sàng dành thời gian trả lời trực tiếp, điều tra viên phát phiếu khảo sát trực tiếp và lấy thông tin đầy đủ. Nếu người được khảo sát bày tỏ

     

    • kiến sẵn sàng trả lời nhưng không có đủ thời gian trả lời, điều tra viên thu thập thông tin về địa chỉ email và gửi phiếu khảo sát qua email để người được khảo sát trả lời trực tuyến. Kết quả thu được 150 phiếu trả lời trực tiếp có đầy đủ thông tin, phiếu khảo sát điện tử bằng ứng dụng Google Docs được gửi đến 200 người tiêu dùng qua email và có 100 người tiêu dùng trả lời. Tổng cộng có 250 phiếu khảo sát được thu về, sau khi loại bỏ những phiếu không hợp lệ (không điền đầy đủ thông tin) thì có 236 phiếu khảo sát được sử dụng để phân tích dữ liệu.Dữ liệu được thống kê và xử lý bằng phần mềm

    SPSS.

     

    2.2. Mô tả bảng câu hỏi khảo sát

     

    Các vấn đề trọng tâm được khảo sát bao gồm:

     

    -Ả̉nh hưởng của viral marketing đến khả năng nhận biết nhãn hiệu của người tiêu dùng.

     

    -Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối

     

    64            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    với các hình thức viral marketing phổ biến hiện nay.

     

    -Thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

     

    -Ả̉nh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành động của người tiêu dùng.

     

    Bảng khảo sát được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ.Thang đánh giá này sẽ cung cấp thông tin về mức độ ảnh hưởng của viral marketing đến người tiêu dùng. Bảng khảo sát được thiết kế gồm 16 câu hỏi chính, tương ứng với 16 biến khảo sát được đánh giá là có tác động đến hành vi của người tiêu dùng đối với viral marketing.

     

    Các biến nhân khẩu sử dụng trong nghiên cứu là giới tính, tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn. Cơ cấu mẫu quan sát được thể hiện trong bảng dưới đây.

     

    Bảng 1. Thông tin nhân khẩu của mẫu khảo sát

     

    Yếu tố

    Phân loại

    Số lượng

    Tỷ lệ

     

    (Người)

    (%)

     
       

    Giới

    Nam

    113

    47,88

     

    Nữ

    123

    52,12

     

    tính

    Tổng

    236

    100

     
     
     

    Dưới 18 tuổi

    38

    16,1

     
     

    Từ 18- 25 tuổi

    143

    60,59

     

    Tuổi

    Từ 25-35 tuổi

    41

    17,37

     

    Từ 35- 50 tuổi

    11

    4,66

     
     
     

    Trên 50 tuổi

    3

    1,27

     
     

    Tổng

    236

    100

     

    Mức

    Dưới 3 triệu

    139

    58,9

     

    thu

           

    Từ 3-10 triệu

    65

    27,54

     

    nhập

           

    Từ 10-20 triệu

    28

    11,86

     

    hàng

    Trên 20 triệu

    4

    1,69

     

    tháng

    Tổng

    236

    100

     

    (VND)

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

     

    THPT trở

    36

    15,25

     
     

    xuống

    Trình

         

    Cao đẳng

    43

    18,22

     

    độ học

    Đại học

    142

    60,17

     

    vấn

    Sau đại học

    15

    6,36

     
     
     

    Tổng

    236

    100

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát tháng 10/2014)

    2.3. Phân tích kết quả khảo sát – Về mức độ sử dụng Internet

     

    Kết quả khảo sát phản ánh khá sát với thực trạng hiện nay: có đến 69,07% số người khảo sát sử dụng mạng Internet tất cả các ngày trong tuần, và 16,53% sử dụng từ 5-6 ngày. Trong đó, khoảng thời gian mỗi ngày để sử dụng Internet đa số là từ 4-6 giờ (chiếm 45,76%) và từ 1-3 giờ (chiếm 33,47%). Đây là những con số khá lớn so với một đất nước đang phát triển như Việt Nam. Qua những số liệu này, có thể thấy đối với thành phố Hồ Chí Minh có thể phát triển các chiến dịch viral marketing- các chiến dịch xúc tiến thương mại tận dụng sự lan truyền thông tin nhanh chóng trên mạng Internet ngày nay.

     

    • Về mức độ sử dụng các hình thức phổ biến trong viral marketing

    Người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu sử dụng các trang mạng xã hội với 69,07% số người được khảo sát sử dụng từ 1-3 giờ/ngày, 13,56% sử dụng từ 4-6 giờ/ngày. Đối với các video, có 39,83% sử dụng ít hơn 1 giờ/ngày và 38,14% sử dụng từ 1-3 giờ/ngày. Trong khi đó, hình thức thư điện tử (email) được sử dụng khá ít với 73,31% số người được khảo sát trả lời chỉ dành ít hơn 1 giờ/ngày để sử dụng. Tuy nhiên, hình thức ít được sử dụng nhất là các diễn đàn trực tuyến (forum). Số lượng người

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      65

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    không sử dụng forum lên đến 30,08%, cao nhất trong cả 4 hình thức. Nhìn chung, do người tiêu dùng chủ yếu là giới trẻ có độ tuổi từ 18-25 nên ta có thể dễ dàng hiểu được nguyên nhân vì sao các trang mạng xã hội như Facebook, Zing Me,… với giao diện bắt mắt lại được ưa chuộng nhất trong khi các diễn đàn trực tuyến như Webtretho, Voz forum, Vn-zoom,… mặc dù là nơi trao đổi, chia sẻ thông tin khá hữu ích nhưng lại không được quan tâm do giao diện khá thô cứng, không đẹp mắt.

     

    • Về tầm quan trọng của việc lắng nghe kinh nghiệm, chia sẻ trên mạng của nhữ̃ng người tiêu dùng khác trước khi mua một sản phẩm hay dịch vụ

    47,03% người tiêu dùng đồng ý rằng việc tìm hiểu thông tin, kinh nghiệm trên Internet của những người tiêu dùng khác là quan trọng và 23,73% lại thấy đây là một việc rất quan trọng. Điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet đến tâm

     

    lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua bất kì một sản phẩm, dịch vụ nào là cực kì lớn. Cũng chính những thông tin này sẽ giúp người tiêu dùng biết đến những sản phẩm, dịch vụ mới đang được ưa chuộng và ảnh hưởng đến thái độ, cách nhìn nhận tiêu cực hay tích cực của người tiêu dùng đối với một sản phẩm, dịch vụ nào đó dù chưa từng sử dụng.

     

    • Về khả năng nhậ̣n biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ nhữ̃ng thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet

    Trước thực trạng người tiêu dùng không chú ý đến những mẫu quảng cáo phát trên truyền hình, đài phát thanh, in trên các báo, tạp chí, phớt lờ những biển hiệu bắt mắt hay những tờ rơi được phát tận tay thì việc có đến 52,97% người được khảo sát đồng ý và 19,49% người rất đồng ý rằng mình có thể nhận biết nhiều sản phẩm, dịch vụ hơn nhờ những thông tin, quảng cáo được chia sẻ, lan truyền trên Internet đã thực sự chứng minh

     

     

     

    Hình 1.Tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet (Đơn vị tính: %)

     

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    66            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiệu quả của hoạt động viral marketing-một hoạt động marketing có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và nguồn nhân lực. Đây được coi là một trong những lợi thế ưu việt của các chiến dịch viral marketing do có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả nhận biết thương hiệu với nguồn chi phí hạn hẹp trong tình hình kinh tế còn khó khăn như hiện nay.

     

    Có đến 75% người tiêu dùng (44,92% đồng ý và 30,08% rất đồng ý) cho rằng họ có thể ghi nhớ một nhãn hiệu tốt hơn nhờ những thông tin hay quảng cáo ý nghĩa, ấn tượng, độc đáo, hài hước,…. Qua đó có thể

     

    thấy tầm quan trọng về mặt nội dung của những thông điệp được lan truyền. Thay vì những thông tin, quảng cáo có nội dung hời hợt, tương đồng nhau, không có sự khác biệt tràn lan của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì những thông tin, quảng cáo có giá trị về nội dung, mang một ý nghĩa sâu sắc, cảm động, mới lạ hay có tính giải trí cao sẽ giúp người tiêu dùng nhớ đến sản phẩm, dịch vụ đó tốt hơn rất nhiều.

     

    • Về tác dụng củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm / dịch vụ bằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên Internet

    Kết quả khảo sát phản ánh khá chính xác tâm lý của khách hàng trong thực tiễn: chỉ có 25,42% (20,34% người đồng ý và 5,08% người rất đồng ý) cho rằng các hoạt động viral marketing củng cố niềm tin đối với nhãn hiệu sản phẩm/ dịch vụ, 47,88% giữ ý kiến trung lập và 26,69% (22,88% không đồng ý và 3,81% rất không đồng ý) cho rằng các thông tin, quảng cáo lan truyền trên mạng không tác động tới niềm tin của họ đối với các sản phẩm/ dịch vụ. Điều này chứng tỏ mức độ tin tưởng của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh dành cho hình thức viral marketing chưa thực sự cao.

     

    • Về thái độ tiêu cực của tiêu dùng đối với thông điệp được lan truyền bằng hoạt động viral marketing.

    Người tiêu dùng cảm thấy khó chịu với những email quảng cáo tràn ngập trong hộp thư điện tử của mình. Họ thường không quan tâm đến nội dung của các email này và xóa chúng mà không hề đọc tiêu đề. Trái ngược lại với hình thức viral marketing bằng email, những thông tin, quảng cáo được thảo luận, chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến như vozforums.com, Vn-zoom.com, webtretho. com, lamchame.com,… nhận được phản hồi

     

    Bảng 2. Mức độ tin tưởng của người tiêu dùng đối với các hình thức Viral Marketing (Đơn vị tính: %)

     

    Mức độ

    Rất không

    Không

    Bình

    Đồng ý

    Rất đồng

    Tổng

     

    Hình thức

    đồng ý

    đồng ý

    thường

    ý

         
                   

    Email

    20,76

    40,25

    33,90

    2,97

    2,12

    100

     
                   

    Trang mạng xã hội

    10,59

    30,51

    43,22

    13,14

    2,54

    100

     
                   

    Video

    11,44

    27,12

    38,98

    15,25

    7,20

    100

     
                   

    Diễn đàn trực tuyến

    5,93

    14,41

    27,12

    42,37

    10,17

    100

     
                   

    (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       67

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    khá tích cực. Người tiêu dùng không hề cho rằng đây là những thông điệp rác mà coi đó là nguồn thông tin khá hữu ích để tham khảo trước khi quyết định mua một sản phẩm/ dịch vụ.

     

    Trong các hình thức phổ biến của hoạt động viral marketing phổ biến tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, hình thức lan truyền, phát tán thông tin bằng email (thư điện tử) nhận được ít sự tin tưởng nhất khi có đến 40,25% người cho rằng nội dung của những email quảng cáo từ bạn bè hay các doanh nghiệp là không đáng tin và 20,76% cho rằng nó không chỉ không đáng tin mà là rất không đáng tin. Bên cạnh đó, 30,51% cho rằng các thông điệp lan truyền trên mạng xã hội (Facebook, Zing Me,…) là không đáng tin cậy và 10,59% cho rằng nó rất không đáng tin. Hình thức viral marketing bằng video có mức độ tin cậy ở vị trí thứ hai khi có 22,45% (15,25% đồng ý và 7,2% rất đồng ý) cho rằng đây những thông tin, quảng cáo bằng video có thể tin cậy được. Có thể thấy, những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất. Có 52,54% (42,37% đồng

     

    • và 10,17% rất đồng ý) tin tưởng những gì mình xem được trên các forum mặc dù có đến 30,08% người được hỏi không sử dụng các diễn đàn này khi truy cập Internet.
    • Về ảnh hưởng của hoạt động viral marketing đối với hành vi của người tiêu dùng.

    Sau khi tiếp nhận thông tin từ các hình thức của viral marketing, người tiêu dùng có thể bày tỏ ý kiến về thông tin, về sản phẩm, về doanh nghiệp hoặc chia sẻ những điều đó với

     

    người khác. Họ cũng có thể tiến hành mua thử sản phẩm.

    Qua khảo sát, tổng cộng có đến 55,09% người được khảo sát (35,17% đồng ý và 19,92% rất đồng ý) cho biết họ đã chia sẻ/ gửi đường link của một thông tin hay quảng cáo tới bạn bè, người thân vì nó ấn tượng, hài hước, hoặc vì sẽ được khuyến mãi. Chỉ có 4,66% rất không đồng ý và 18,64% không đồng ý. Chính việc người tiêu dùng tự truyền thông tin cho nhau sẽ tạo cơ hội rất lớn cho việc phát tán thông tin, quảng cáo, tạo nên làn sóng lan tỏa cho hoạt động viral marketing.

     

    Tuy nhiên, tỷ lệ người tiêu dùng đã thực sự mua một sản phẩm/ dịch vụ sau khi biết đến nó từ một hoạt động viral marketing chỉ chiếm 29,24% (21,61% đồng ý và 7,63% rất đồng ý). Đây là con số khá khiêm tốn so với số lượng người tiếp xúc với các hoạt động viral marketing.

     

    Có thể thấy, người tiêu dùng sẵn sàng trở thành một mắc xích trong dây chuyền lan tỏa thông điệp của các chiến dịch viral marketing vì họ cảm thấy thích thú trước nội dung mới lạ, độc đáo, có ý nghĩa, quan trọng của marketing lan tỏa và họ muốn chia sẻ với bạn bè, người thân hay vì họ sẽ nhận được những ưu đãi khi gửi đi những thông tin, quảng cáo đó. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẵn lòng chi trả một khoản tiền cá nhân để mua những sản phẩm/ dịch vụ đó.

    3. Một số vấn đề lưu ý đối với doanh nghiệp

     

    Kết quả khảo sát ảnh hưởng của viral marketing đối với người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy các doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề sau đây trong hoạt động marketing:

     

    68            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)

     

     

    Thứ nhất, tỷ lệ người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh sử dụng các trang mạng xã hội với thời gian từ 1-3 giờ/ngày chiếm tỷ lệ cao là cơ hội để các doanh nghiệp sử dụng kênh thông tin này để quảng bá sản phẩm, tiếp cận người tiêu dùng bằng viral marketing. Kênh truyền thông này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi vì mạng xã hội là cách tiếp cận khách hàng với chi phí thấp hơn so với các hình thức marketing truyền thống khác với tốc độ lây lan thông tin nhanh chóng và tiếp cận người tiêu dùng một cách dễ dàng.

     

    Thứ hai, những thông tin, kinh nghiệm được chia sẻ, lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đến đến tâm lý, hành vi của người tiêu dùng trước quyết định mua hàng. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng các kênh thông tin quảng bá sản phẩm trên Internet, đặc biệt là đội ngũ chuyên viên quảng bá, tư vấn về sản phẩm trên các diễn đàn trực tuyến thu hút được sự quan tâm của người tiêu dùng để kịp thời đưa ra các nhận xét, bình luận tích cực về sản phẩm và tư vấn cho người tiêu dùng về lựa chọn sản phẩm. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khi đa số người tiêu dùng được khảo sát cho rằng những thông tin, quảng cáo về kinh nghiệm mua, sử dụng sản phẩm/ dịch vụ được chia sẻ trên các diễn đàn trực tuyến chiếm được lòng tin của người tiêu dùng nhiều nhất.

     

    Thứ ba, những ý kiến tích cực tác động không mạnh mẽ đến người tiêu dùng nhưng những ý kiến tiêu cực về sản phẩm được lan truyền trên mạng Internet có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Do vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng các phương án đối phó với khủng hoảng truyền

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    thông, giảm thiểu tối đa các thông tin tiêu cực lan tràn trên môi trường mạng. Doanh nghiệp cần mở rộng các kênh thông tin và hướng dẫn cụ thể khách hàng về cách thức tiếp cận, phản hồi thông tin cho doanh nghiệp khi sản phẩm gặp vấn đề về chất lượng hoặc khi gặp phải các rắc rối, phiền toái phát sinh đối với khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Từ đó, doanh nghiệp có thể có được phản hồi của khách hàng để liên hệ và xử lý kịp thời các lỗi kỹ thuật của sản phẩm hoặc giải thích cho khách hàng hiểu rõ các vấn đề kỹ thuật của sản phẩm cho đến khi đạt được sự đồng thuận, hài lòng của khách hàng.

     

    Thứ tư, tuy hoạt động viral marketing có thể gây hiệu ứng lan truyền rất mạnh mẽ giữa cộng đồng mạng Internet nhưng hình thức này vẫn chưa thực sự hiệu quả trong việc tác động đến quyết định mua hàng cuối cùng của người tiêu dùng. Lý giải cho vấn đề này, có thể thấy do mức độ tin tưởng của người tiêu dùng vào nội dung của các thông tin, quảng cáo được phát tán trên mạng Internet chưa cao. Vì vậy, chiến dịch viral marketing của doanh nghiệp không chỉ nhắm đến việc làm sao để tạo nên một chiến dịch quảng cáo thật ấn tượng, độc đáo, mới lạ mà cần chú

     

    • đến những vấn đề người tiêu dùng muốn biết thông qua những đoạn quảng cáo là cách thức sử dụng, tác dụng, hiệu quả hay chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

    Tóm lại, trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc áp dụng hoạt động viral marketing sử dụng hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân của các trang mạng xã hội, mạng Internet nhằm phát tán thông điệp về các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng là một xu thế tất yếu cho sự phát triển và mở rộng của các doanh nghiệp trong

     

    Soá 74 (06/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      69

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    hiện tại và tương lai. Các doanh nghiệp cần có kế hoạch xây dựng chiến lược marketing lan tỏa của mình tùy theo đặc điểm ngành hàng và khách hàng mục tiêu để có thể khai thác tốt

     

    nhất những mặt mạnh và hạn chế các mặt tiêu cực của marketing lan tỏa để có thể tối ưu hóa kết quả hoạt động marketing trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. q

     

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Bruyn, D. A., & Lilien, G. L. (2008). A Multi-Stage Model of Word of Mouth Through Viral Marketing, International Journal of Research in Marketing, Vol. 25, No.3, pp.143-225.
    1. Chaffey, D., 2003, Total E-Mail Marketing, Oxford: Butterworth-Heinemann.
    1. Cruz, D. and Fill, C., 2008, Evaluating viral marketing: Isolating the key criteria,

    Emerald Insight, Vol.6, No.7, pp.743-758.

     

    1. Engel et al, 1969, How information is used to adopt an innovation, Journal of Advertising Research, Vol.9, pp.3-8.
    1. Fairbank, V., 2008, A Study into the Effectiveness of Viral Marketing over the Internet, University of Gloucestershire.
    1. Goldenberg, J., Libai, B. & Muller, E., 2001, Talk the network: a complex systems look at the underlying process of word-of-mouth, Marketing Letters, 12, No.3, pp.211-23.
    1. Juvertson, S. and Draper, T., 1997, Viral Marketing: Viral Marketing phenomenon explained, Investor Reports.
    1. Mindcomet Corporation – white paper. (2008), Viral marketing: Understanding the concepts and benefits of viral marketing. Retrieved from http://cmginteractive. com/uploads/viral_marketing.pdf
    1. Rodić, N. & Koivisto, E., 2012, Best Practices in Viral Marketing, Aalto University school of Economics.
    1. Wilson, R.F., 2000, The six simple principles of viral marketing, Marketing Today Vol.70, pp.1–4.
    1. Xavier, L. J. W. &Summer, G. Y. S., 2009, Viral Marketing Communication: The Internet Word-of-Mouth, School of Management Blekinge Institute of

    70            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 74 (06/2015)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-marketing-xanh-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB%87p-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số giải pháp nhằm tăng cường marketing xanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG MARKETING XANH

    CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM

     

    Nguyễn Thị Thu Hà*

     

    Bùi Quang Tín**

     

    Tóm tắt

     

    Mặc dù marketing xanh đã xuất hiện trên thế giới cách đây đã hơn 30 năm nhưng ở Việt Nam đây vẫn còn là một vấn đề mới mẻ với phần lớn doanh nghiệp. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường hay còn gọi là sản phẩm xanh ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng cho việc chuyển sang marketing xanh. Bài viết khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về marketing xanh, những cơ hội thách thức đối với doanh nghiệp khi ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam để từ đó đề xuất một số gợi ý giúp các doanh nghiệp tăng cường ứng dụng marketing xanh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng và cạnh tranh bền vững. Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để làm rõ vấn đề nghiên cứu.

     

    Từ khóa:

     

    Mã số: 115.271214. Ngày nhận bài: 27/12/2014. Ngày hoàn thành biên tập: 27/04/2015. Ngày duyệt đăng:2/10/2015.

     

    Summary

     

    Although green marketing appeared in the world more than 30 years ago in Vietnam, this is still a new issue for most Vietnamese enterprises. The trend towards consumption of environmentally friendly products aka green products has become increasingly popular around the world as well as in Vietnam. However, many Vietnam businesses are not ready for the switch to green marketing. This article will give an overview of theoretical issues and practices of green marketing, the opportunities and challenges for businesses when applying green marketing in Vietnam, then propose some suggestions to help enterprises enhance the application of green marketing, meet consumers’various demand for environmentally friendly products and boost sustainable competition. This paper uses synthesis, analysis methods to clarify the research issue.

     

    Key words: Enterprise, Green marketing.

     

    Paper No.115.271214. Date of receipt: 27/12/2014. Date of revision: 27/04/2015. Date of approval: 2/10/2015.

     

     

    1.   Tổng quan lý thuyết về Marketing

    xanh

     

    • Khái niệm về marketing xanh

    Polonsky (1994) cho rằng marketing xanh bao gồm các hoạt động nhằm tạo ra và thúc đẩy bất cứ trao đổi nào nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng trên

     

    cơ sở hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng quan điểm với Polonsky, Ottman (1998) cho rằng marketing xanh cần phải tập trung vào phát triển các sản phẩm có thể làm thỏa mãn tất cả những nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm chất lượng, giá cả hợp lí và khả năng sử dụng với sự tương hợp

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      87

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường, tức là hạn chế tối thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên.

     

    Theo Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (Environmental Protection Agency – EPA), hoạt động marketing xanh là “việc phát triển và xúc tiến các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm nhu cầu về chất lượng, hình thức, giá cả hợp lý, sử dụng tiện lợi mà không gây ra tác động tiêu cực đến môi trường”. Định nghĩa này chủ yếu dựa trên khái niệm mà Ottman đưa ra. Còn theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), marketing xanh là hoạt động marketing các sản phẩm được coi là an toàn cho môi trường. Có nhiều ngộ nhận rằng marketing xanh chỉ liên quan tới chiêu thị và quảng cáo các sản phẩm bằng cách sử dụng các đặc điểm hoặc biểu tượng về môi trường. Nhưng về bản chất, marketing xanh chính là sự kết hợp một loạt các hoạt động bao gồm thay đổi quá trình sản xuất, đóng gói, quảng cáo để tạo ra sản phẩm thân thiện với môi trường (Polonsky, 1994).

     

    Dựa vào khái niệm của marketing xanh thì Philip Sloan và cộng sự (2012) cho rằng marketing xanh có các đặc điểm sau:

     

    Thứ nhất, hành động vì thế hệ mai sau. Một đặc điểm của marketing xanh đó là dùng những hành động tích cực, thân thiện với môi trường ở hiện tại (ngắn hạn) nhằm củng cố cho mục tiêu dài hạn, đó là giáo dục cho giới trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và tránh để các nguồn tài nguyên rơi vào tình trạng cạn kiệt.

     

    Thứ hai, marketing xanh đòi hỏi các doanh nghiệp cũng có trách nhiệm giống như những công dân mẫu mực khác. Hoạt động marketing xanh cần gắn liền với các hoạt động mang tính lâu dài về bảo vệ môi trường để quảng bá hình ảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp. Theo đó, các tuyên bố và thông điệp truyền thông của

     

    doanh nghiệp cũng phải được cụ thể hóa bằng các hành động thực tế về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhờ đó cho thấy được mục đích nhân văn cao cả của doanh nghiệp. Yếu tố nhân văn của một doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác sẽ được cộng đồng xã hội so sánh một cách khách quan và rõ ràng hơn nhờ vào kết quả thực hiện các hoạt động nói trên như thế nào.

     

    Thứ ba, marketing xanh phải tạo được cầu nối giữa các doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp đối thủ và cả những cổ đông với nhau để làm cơ sở chung tay thực hiện các hành động nhân văn. Như vậy là cần phải có sự hợp tác cùng thực hiện. Quan điểm đạo đức chung

     

    • đây là phải làm thế nào để thế hệ sau phải có được cuộc sống tốt đẹp hơn, hoặc chí ít cũng phải bằng so với thế hệ trước. Quan điểm này chỉ ra rằng doanh nghiệp không thể chỉ tìm mọi cách thu lợi nhuận cho mình và quên đi sự sống còn của cả loài người và các sinh vật trên tráo đất. Do đó, cần một cách tiếp cận marketing toàn diện để đảm bảo cho việc phát triển bền vững là ý tưởng chủ đạo của hoạt động này.

    1.2. Marketing mix trong marketing xanh

     

    Như đã đề cập ở trên, marketing xanh không chỉ hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ mà rộng hơn, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Theo Rex và Baumann (2007) ý tưởng chính của hoạt động marketing xanh là khách hàng được cung cấp thông tin về các tác động tới môi trường của sản phẩm khi lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ để tiêu dùng. Từ phần mình, các doanh nghiệp có xu hướng chuyển sang sản xuất và cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xanh của người mua hàng. Do vậy, khi thực hiện marketing xanh các doanh nghiệp

     

    88            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    cần triển khai các chiến lược xanh từ khâu sản phẩm, định giá, phân phối và chiêu thị.

     

    Chính sách sản phẩm

     

    Chính sách sản phẩm xanh của một công ty được thể hiện qua các yếu tố thiết kế, sản xuất, đóng gói và dán nhãn sinh thái.

     

    Thiết kế: Ottman (1998) cho rằng khi xây dựng chính sách sản phẩm khâu quan trọng nhất là quá trình thiết kế sản phẩm. Theo Ottman thì quá trình thiết kế quyết định khoảng 75% tác động đến môi trường của sản phẩm đó.

     

    Có nhiều phương pháp thiết kế để tạo ra một sản phẩm mới thân thiện với môi trường. Tuy nhiên dù áp dụng phương pháp nào chăng nữa thì trong khâu thiết kế, doanh nghiệp cũng cần chú ý tới nguyên tắc 3R (Reduction

     

    – Reuse – Recycling). Sản phẩm đó phải được thiết kế sao cho khi sản xuất có thể giảm thiểu nguyên vật liệu đầu vào hoặc được làm từ những vật liệu giảm thiểu tác động đến môi trường (Reduction). Thứ hai là sản phẩm đó được thiết kế để sử dụng nhiều lần hoặc không khuyến khích người tiêu dùng chỉ sử dụng một lần rồi bỏ đi (Reuse). Ở mức độ cao nhất, việc thiết kế sẽ xây dựng những sản phẩm có khả năng tái chế tức là có khả năng được dùng lại để sản xuất sản phẩm mới hoặc có khả năng chuyển đổi thành nguyên vật liệu dùng để tạo ra một loại sản phẩm khác (Recycle), điều này sẽ giúp loại bỏ đến mức thấp nhất tác động đến môi trường của sản phẩm.

     

    Sản xuất: Trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cần đảm bảo sử dụng công nghệ và kỹ thuật sạch, không gây ô nhiễm, sản phẩm sản xuất ra không có hại cho môi trường và sức khỏe con người.

     

    Đóng gói bao bì: Doanh nghiệp có thể sử dụng những loại bao bì làm bằng những chất liệu ít gây ô nhiễm, không độc hại và an toàn

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    với môi trường như bao bì có thể phân hủy được, hoặc cũng có thể sử dụng những loại bao bì có thể tái chế, tái sử dụng. Mặc khác, kích cỡ của bao bì cũng là một yếu tố có thể giúp bảo vệ môi trường. Điều này không chỉ mang lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng mà còn mang lại lợi ích tiết kiệm chi phí bao bì, chi phí lưu trữ vận chuyển cho bản thân doanh nghiệp.

     

    Dán nhãn sinh thái: Nhãn sinh thái có thể do chính doanh nghiệp tạo ra và đặt lên sản phẩm của mình như một cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để đảm bảo uy tín và tính khách quan, phần lớn các doanh nghiệp thường đưa sản phẩm của mình cho bên thứ ba cấp nhãn. Bên thứ ba có thể là một công ty độc lập khác, hiệp hội của ngành, một tổ chức phi chính phủ hay thậm chí là của một cơ quan ban ngành của chính phủ nhằm có sự đảm bảo uy tín về đặc tính thân thiện với môi trường của sản phẩm.

     

    Chính sách giá

     

    Có hai phương pháp định giá sản phẩm xanh doanh nghiệp có thể tham khảo. Thứ nhất là định giá cao hơn cho sản phẩm xanh so với mức giá của sản phẩm thông thường do sản phẩm được sản xuất theo công nghệ sạch. Khách hàng trả mức giá cao này đòi hỏi sản phẩm phải thực sự vượt trội hơn sản phẩm mà họ đang dùng chứ không chỉ thân thiện với môi trường một cách chung chung. Phương pháp thứ hai là định giá sản phẩm xanh bằng với sản phẩm thông thường cùng chất lượng. Khi này, khách hàng sẽ sẵn lòng tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường thay vì trung thành với sản phẩm họ từng sử dụng.

     

    Chính sách phân phối

     

    Trong chiến lược marketing xanh, hệ thống phân phối cần đảm bảo hai chức năng quan trọng nhất. Thứ nhất, phân phối hàng hóa bằng phương thức ít tác động tiêu cực nhất

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      89

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    đến môi trường. Thứ hai, góp phần thông tin, tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường đến người tiêu dùng. Việc xây dựng hệ thống phân phối rộng khắp cũng góp phần giúp công ty thực hiện chiến lược marketing xanh của mình. Thông qua kênh phân phối rộng khắp này, người tiêu dùng với mọi trình độ, vùng địa lý, thu nhập đều có thể tiếp cận được với sản phẩm của các công ty và các công ty cũng dễ dàng hơn trong việc truyền thông xã hội các thông tin về sản phẩm và môi trường.

     

    Chính sách chiêu thị

     

    Doanh nghiệp lựa chọn công cụ nào thì cũng lưu ý đến sự đáng tin cậy trong những thông tin truyền đạt cho khách hàng, tránh những sự thổi phồng hay hiểu lầm đáng tiếc có thể làm hủy hoại cả thương hiệu của mình. Thêm vào đó, thông điệp sản phẩm xanh gửi gắm đến khách hàng cần rõ ràng để khách hàng hiểu được tính năng bảo vệ môi trường của sản phẩm, những lợi ích sản phẩm xanh mang lại vượt trội so với các sản phẩm khác và nhấn mạnh được khả năng thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất.

     

    2.   Các yếu tố thúc đẩy sử dụng marketing xanh trong doanh nghiệp

    Có nhiều lý do khiến các doanh nghiệp hướng tới marketing xanh, nổi bật lên là ba nhóm yếu tố như sau:

     

    Yếu tố về phía doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhận thức được rằng marketing xanh là một cơ hội để có thể đạt được mục đích của mình. Bằng việc sử dụng marketing xanh các doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm xã hội của mình với cộng đồng và qua đó nâng cao được uy tín, hình ảnh của mình với người tiêu dùng.

     

    Các yếu tố mang tính xã hội. Hiện nay có nhiều nhóm hoạt động môi trường và người tiêu dùng đang tạo ra phong trào tiêu dùng xanh khiến nhiều người tiêu dùng chuyển

     

    sang sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường buộc các doanh nghiệp phải chuyển hướng theo để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Mặt khác, các nhóm hoạt động gia tăng áp lực lên chính phủ và doanh nghiệp buộc chính phủ và doanh nghiệp phải có biện pháp hiệu quả về phát thải và tiết kiệm năng lượng. Cùng với việc chi phí xử lý chất thải gia tăng thì các công ty phải thay đổi hành vi của mình hướng tới việc sử dụng công nghệ sạch, giảm thiểu sử dụng nguyên liệu đầu vào và hạn chế chất thải độc hại tới môi trường.

     

    Yếu tố mang tính pháp lý. Phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các chính phủ, vì vậy nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo sự thực thi hiệu quả việc bảo vệ môi trường. Trong thương mại quốc tế, nhiều quốc gia dựng lên các hàng rào kỹ thuật liên quan tới môi trường cũng là yếu tố buộc các doanh nghiệp phải chuyển sang marketing xanh để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Tại Việt Nam từ năm 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thúc đẩy xu hướng tiêu dùng xanh như Quyết định phê duyệt tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam 2232/QĐ-BNMT ngày 13/12/2010, Quyết định phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1907/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1906/ QĐ-BTNMT ngày 12/10/2010, Quyết định quy định trình tự, thủ tục, chứng nhận và cấp thí điểm “Nhãn xanh Việt Nam” 1493/QĐ-BTNMT ngày 13/08/2010, Quyết định Thành lập Hội đồng Tư vấn Chương trình cấp nhãn sinh thái 1492/QĐ- BTNMT 13/08/2010, Quyết định phê duyệt Chương trình cấp nhãn sinh thái 253/QĐ-BTNMT 05/03/2010… Từ

     

    90            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    ngày 1/1/2015 Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực cũng tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi mở đường cho xu hướng phát triển bền vững và xanh tại Việt Nam.

     

    3.   Một số gợi ý cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc ứng dựng marketing xanh

     

    3.1. Cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng marketing xanh tại Việt Nam

     

    Cơ hội

     

    Cơ hội từ tăng trưởng kinh tế và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo báo cáo Triển vọng Kinh tế toàn cầu (GEP) công bố ngày 13/1/2015, Ngân hàng Thế giới vẫn dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 5,6% trong năm 2015. WB cho rằng, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam sẽ cải thiện hơn trong 2 năm tới khi dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ đạt 5,8% trong năm 2016 và 6% trong năm 2017 một phần nhờ vào dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế ổn định là cơ hội tốt để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư vào công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài giàu kinh nghiệm trong việc xanh hóa hoạt động của mình và thể hiện trách nhiệm xã hội, nhất là các doanh nghiệp trong ngành hàng tiêu dùng nhanh;

     

    Cơ hội từ phía người tiêu dùng: Người tiêu dùng Việt Nam hiện đã quan tâm hơn đến sản phẩm xanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong khảo sát toàn cầu của Nielsen với hơn 30.000 người tiêu dùng trực tuyến tại 60 quốc gia để tìm hiểu mức độ quan tâm của người tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm đối với cam kết của doanh nghiệp thì gần ba phần tư người được hỏi tại Việt Nam (73%) sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm và dịch vụ đến từ các công ty có cam kết phát triển cộng đồng và môi trường, đứng thứ ba thế giới

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    sau Philippines với 79% và Thái Lan với 71%. Con số này cao hơn hẳn so với mức trung bình của thế giới là 55%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, không chỉ thể hiện sự quan tâm của mình bằng lời nói, người tiêu dùng Việt Nam đang thực sự chi cho những sản phẩm có tác động lớn đến xã hội và môi trường. Gần 7 trên 10 người Việt Nam được hỏi (68%) cho biết trong 6 tháng vừa qua, họ đã mua ít nhất 1 sản phẩm hoặc dịch vụ của một công ty có hoạt động vì cộng đồng, cao thứ 2 tại Đông Nam

     

    • chỉ sau Philippines (76%). Đây là cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp triển khai marketing xanh khi người tiêu dùng có nhận biết và phản ứng rất tích cực đối với các hoạt động này.

    Cơ hội từ chính phủ. Nghị định 04/09/2014/ NĐ-CP được Chính phủ ban hành quy định những ưu đãi và hỗ trợ đối với các hoạt động bảo vệ môi trường theo đó doanh nghiệp có các dự án trong việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, đất đai, về vốn, các loại thuế phí và các ưu đãi hỗ trợ khác. Đáng chú

     

    • là các ưu đãi về thuế. Doanh nghiệp có các dự án bảo vệ môi trường được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%. Doanh nghiệp mới thành lập hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì sẽ được miễn thuế 4 năm và 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo, trường hợp dự án ở địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn sẽ được miễn 50% trong 9 năm tiếp theo. Doanh nghiệp cũng được miễn thuế nhập khẩu cho các loại móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu được nhập khẩu để phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện các dự án đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường (Chính phủ, 2009). Ngoài ra, Nhà nước cũng hỗ trợ thành lập Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam nhằm tư vấn cho các doanh nghiệp về các giải pháp sản xuất sạch hay về kỹ thuật công nghệ và tài chính.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       91

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    Bên cạnh đó, cuộc vận động “Mua hàng xanh” đang được Trung tâm Năng suất Việt Nam thúc đẩy và quảng bá thông qua việc thành lập Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam. Hoạt động của Mạng lưới mua hàng xanh Việt Nam sẽ thúc đẩy công cuộc bảo vệ môi trường thông qua tuyên truyền nâng cao kiến thức của người tiêu dùng trong mua hàng xanh, xây dựng các tiêu chí đối với các sản phẩm xanh, xây dựng các hướng dẫn mua hàng, xây dựng mạng lưới trao đổi thông tin giữa nhà sản xuất và người mua hàng… Trung tâm Năng suất Việt Nam cũng kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia vào Mạng lưới Mua hàng xanh Việt Nam nhằm chia sẻ thông tin và xây dựng một xã hội tiêu dùng xanh, hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

     

    Khó khăn và thách thức

     

    Nhóm thách thức từ phía người tiêu dùng

     

    Thách thức từ thu nhập của người tiêu dùng. Thu nhập bình quân đầu người của đại đa số người dân Việt Nam còn thấp nên một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng Việt Nam rất nhạy cảm về giá cả. Trong khi đó, các sản phẩm xanh có mức giá cao hơn sản phẩm thông thường nên sức cạnh tranh sẽ bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, tại thị trường Việt Nam đang bị hàng giá rẻ, không rõ xuất xứ, nguồn gốc chủ yếu nhập về từ Trung Quốc cạnh tranh mạnh mẽ cũng là sức cản lớn cho các doanh nghiệp có ý định đầu tư vào sản phẩm sinh thái.

     

    Thách thức từ nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm với môi trường và sử dụng sản phẩm xanh. Trên thực tế, ý thức bảo vệ môi trường của người dân Việt Nam còn thấp. Tâm lý bàng quan, thờ ơ xem việc bảo vệ môi trường là việc ‘không phải của nhà mình’ khiến nhiều người vẫn sử dụng các sản phẩm có tác nhân gây ô nhiễm hoặc phớt lờ

     

    những thông điệp xanh đến từ các công ty để lựa chọn sản phẩm không sạch nhưng có giá cả hợp với túi tiền.

     

    Thách thức từ mâu thuẫn giữa thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tồn tại một khoảng cách lớn giữa thái độ và hành vi tiêu dùng xanh. Không phải tất cả những người tiêu dùng Việt Nam có quan điểm xanh (ủng hộ marketing xanh) đều thực hiện hành vi xanh (mua hàng hóa thân thiện với môi trường). Nguyên nhân vì họ là những người tiêu dùng có kiến thức về vấn đề môi trường song không có niềm tin vào những phát ngôn mà doanh nghiệp đưa ra. Người tiêu dùng nhận thấy trào lưu các doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực đua nhau đưa ra các tuyên bố xanh về sản phẩm hay dịch vụ của họ cung cấp nhưng thực tế phần lớn trong số đó chỉ là những chiêu bài quảng cáo đơn thuần. Một ví dụ điển hình như Vedan được các giải thưởng về môi trường trong khi chính doanh nghiệp này đã bị phát hiện xả thải làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Bên cạnh đó giá cả cũng là rào cản lớn nhất khiến người tiêu dùng không mua sản phẩm xanh. Trong trường hợp này, lợi ích xanh của sản phẩm nhỏ hơn rất nhiều so với chi phí người tiêu dùng phải bỏ ra. Người tiêu dùng đã ý thức được trách nhiệm với môi trường nhưng không thực hiện hành vi mua hàng xanh vì giá cả một số sản phẩm và dịch vụ xanh còn khá đắt đỏ, thậm chí xa xỉ đối với người tiêu dùng có thu nhập trung bình.

     

    Khó khăn và thách thức từ phía doanh nghiệp

     

    Mâu thuẫn giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cổ đông. Các cổ đông có quyền tham gia vào việc hoạch định chính sách hoạt động cho doanh nghiệp. Sự đồng ý của các cổ đông chiến lược rất quan trọng và góp phần quyết định đến việc có hay không việc ứng dụng

     

    92            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    hoạt động marketing xanh. Tuy nhiên, thông thường các cổ đông không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh bởi trong ngắn hạn hoạt động này không mang lại lợi ích trực tiếp. Chiến lược marketing xanh muốn thành công đòi hỏi sự thay đổi triệt để trong nhiều hoạt động của doanh nghiệp. Điều này cần có sự đầu tư ban đầu rất lớn, nghiên cứu kỹ lưỡng, công phu mà không phải cổ đông nào cũng chấp nhận rủi ro. Vì lợi ích trước mắt của cổ đông đối lập với lợi ích lâu dài của doanh nghiệp nên việc một số cổ đông không muốn hy sinh lợi ích cá nhân đã khiến doanh nghiệp gặp nhiều cản trở khi áp dụng chiến lược marketing xanh và nếu có thực hiện thì cũng rất hạn chế và mang tính chất bổ sung. Nếu các quyết định của doanh nghiệp chỉ đơn thuần dựa trên mục tiêu kinh tế – lợi nhuận, việc lồng ghép vấn đề môi trường vào chiến lược marketing tổng thể của doanh nghiệp có thể khó thực hiện được.

     

    Trình độ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế. Đây có thể là rào cản lớn nhất của doanh nghiệp khi lựa chọn thực hiện marketing xanh ở Việt Nam. Sản xuất một sản phẩm thân thiện với môi trường là yếu tố tiên quyết trong chiến lược marketing xanh. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần có những công nghệ tiên tiến phục vụ cho quá trình này. Tuy nhiên, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế so với thế giới. Thực tế là các sản phẩm sản xuất ở Việt Nam chỉ mới đáp ứng được phần nào nhu cầu xanh của người tiêu dùng và xã hội.

     

    Thách thức từ khía cạnh pháp lý. Mặc dù Việt Nam đã có văn bản pháp luật và mới nhất là Luật bảo vệ môi trường 2014 có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 quy định về việc xử lý doanh nghiệp có hành vi xâm hại môi trường, gây nguy hại và ô nhiễm cho người tiêu dùng nhưng việc thực thi còn rất yếu kém. Các hành

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    • vi phạm ngày càng tinh vi trong khi khả năng phát hiện xử lý của đơn vị chức năng còn yếu nên đây là một thách thức lớn cho các doanh nghiệp muốn thực hành marketing xanh khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có các hành vi ăn cắp môi trường.

    3.2. Một số đề xuất đối với doanh nghiệp trong việc triển khai marketing xanh

     

    Mặc dù có nhiều thách thức trong việc thực hiện marketing xanh nhưng đây là xu thế tất yếu khi người tiêu dùng ngày càng có nhận thức cao về tiêu dùng xanh và các quốc gia cũng đặt ra nhiều áp lực trong việc phát triển bền vững. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần phải định hướng để thực hiện chiến lược marketing xanh cho sản phẩm và dịch vụ của mình. Một số gợi ý cho các doanh nghiệp như sau:

     

    Thiết kế các chương trình nâng cao nhận thức về môi trường và phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của người tiêu dùng

     

    Để tạo tiền đề cho việc ứng dụng marketing xanh thành công, doanh nghiệp cần có những chương trình nâng cao nhận thức môi trường của người tiêu dùng và khuyến khích họ phá bỏ những mâu thuẫn hành vi của mình nhằm tạo ra một thị trường người tiêu dùng xanh đủ lớn để đầu tư. Các chương trình này cần được thiết kế dựa trên những cân nhắc kỹ lưỡng từ các nghiên cứu thị trường thường xuyên để đảm bảo tính hiệu quả đối với người tiêu dùng. Ngoài ra, các chương trình cần phải đảm bảo tính hấp dẫn và kết nối được người tiêu dùng, tránh trường hợp marketing thiển cận.

     

    Về chương trình nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên tạo ra những nhân tố thúc đẩy ý thức của người tiêu dùng bao gồm nhân tố lợi ích hay nhân tố đạo đức… Ví dụ như khi khách hàng được yêu cầu phải trả tiền cho những chiếc

     

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      93

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    túi mua hàng, họ sẽ nghĩ đến việc tái sử dụng những chiếc túi đó. Các chương trình này nên được thực hiện cùng các sự kiện của cộng đồng xã hội như sự kiện Giờ Trái Đất, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới… nhằm thu hút đông đảo sự quan tâm của dư luận và thức tỉnh người tiêu dùng, khuyến khích họ có những hành động tích cực và thay đổi thói quen nhằm bảo vệ môi trường.

     

    Về các chương trình xóa bỏ những mâu thuẫn giữa nhận thức và hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp nên xem xét đến các nhân tố rào cản và tạo nhân tố thúc đẩy thói quen mua hàng của họ. Trên nguyên tắc đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chính sách tốt hơn cho sản phẩm xanh. Các rào cản đôi khi không phải là chất lượng sản phẩm, mà đến từ chính tâm lý hoài nghi và ngại thay đổi của khách hàng. Lấy trường hợp của sản phẩm nước xả một lần làm ví dụ. Nhiều người hoài nghi về tính hiệu quả của sản phẩm nước xả vải một lần xả bởi vì bình thường họ thấy rằng quần áo sau khi giặt phải xả bằng ba, bốn lần mới sạch. Như vậy, công ty cần phải xây dựng chương trình truyền thông nhằm phá bỏ rào cản này.

     

    Chú trọng đầu tư vào công nghệ và công tác nghiên cứu sản phẩm

     

    Việc đầu tư công nghệ sạch như sử dụng năng lượng gió, năng lượng mặt trời hay hệ thống tái sử dụng các chất thải từ quy trình sản xuất chắc chắn sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí sản xuất trong dài hạn. Với các công ty có trình độ khoa học kĩ thuật còn chưa cao có thể đi tắt đón đầu, tiết kiệm thời gian và chi phí phát triển bằng việc mua các dây chuyền công nghệ hiện đại trên thế giới. Doanh nghiệp cần cân nhắc lựa chọn mua dây chuyền công nghệ nào dựa vào khả năng tài chính, định hướng phát triển và quy mô sản xuất của mình. Các doanh nghiệp không có khả năng tài chính vững chắc có thể tìm sự hỗ

     

    trợ của chính phủ hoặc các tổ chức nước ngoài để nhận được hỗ trợ về tài chính cũng như sự hỗ trợ trong chuyển giao công nghệ. Các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới World Bank và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) sẵn sàng hỗ trợ tài chính cho các dự án sản xuất sạch để đối phó với vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.

     

    Bên cạnh đó, với công nghệ được đầu tư hiện đại, doanh nghiệp nên chú trọng vào việc nghiên cứu phát triển sản phẩm xanh, đáp ứng nhu cầu xanh của người tiêu dùng. Sản phẩm xanh, đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng, là trung tâm và cơ sở quyết định các yếu tố khác trong hoạt động marketing xanh. Mức độ sản phẩm “xanh” như thế nào sẽ tác động lớn đến hình ảnh của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết và tuyên bố xanh của mình. Trước hết, muốn sản xuất được một sản phẩm xanh có chất lượng thì các công ty phải đầu tư cho mình một hệ thống sản xuất tiên tiến. Bên cạnh đó, để có một sản phẩm xanh với thiết kế và đặc tính nổi trội thì các doanh nghiệp cũng cần chú trọng phát triển và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, các nhà nghiên cứu, sáng chế giỏi. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có sự nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của thị trường và hành vi mua của người tiêu dùng để làm căn cứ để sản xuất. Có như vậy mới có thể tạo ra được các sản phẩm xanh phù hợp, đáp ứng nhu cầu cùa khách hàng để từ đó được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, góp phần hướng đến tiêu dùng xanh.

     

    Xây dựng kênh phân phối xanh

     

    Việc xây dựng một kênh phân phối xanh là cần thiết vì nó thể hiện rõ nét nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thực hiện hoạt động marketing xanh ở tất cả các khâu.

     

    Đầu tiên doanh nghiệp cần lựa chọn kênh phân phối. Theo khảo sát của nhóm tác giả

     

    94            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    thực hiện năm 2014, hiện có tới 71,2% số người tiêu dùng được hỏi có thu nhập trên 3 triệu đồng/tháng thường hay mua các sản phẩm xanh ở siêu thị. Như vậy các công ty có thể hợp tác với các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại lớn trong nước để làm chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, để tạo sự khác biệt và nhận diện cao thì các sản phẩm xanh nên được bày bán trong siêu thi ở một khu tập trung, tách biệt với sản phẩm thông thường và phải là các địa điểm thuận tiện và dễ thấy. Các khu phân phối sản phẩm xanh này sẽ cam kết sử dụng những chất liệu thân thiện với môi trường để tạo nên những vật dụng trưng bày sản phẩm, quá trình vận chuyển sản phẩm xanh sử dụng tiết kiệm nhiên liệu và tạo ra ít khí thải…

     

    Doanh nghiệp cũng có thể tự tạo cho mình một một kênh phân phối xanh. Chuỗi cửa hàng xanh này sẽ chỉ bán các mặt hàng được xem là thân thiện với môi trường. Điểm mấu chốt ở đây là các kênh phân phối này bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng với các tiêu chí về an toàn, tiết kiệm, ổn định và thân thiện với môi trường thì yếu tố thuận tiện là quan trọng nhất. Theo kinh nhiệm thực hiện của một số quốc gia trên thế giới thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng mua hàng trên tuyến đường thuận lợi với mình nhất, chứ không đánh đường xa chỉ để mua một vài sản phẩm xanh. Do đó việc tính toán các cửa hàng này phải làm cho sản phẩm luôn sẵn sàng đến tay người tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Bên cạnh đó, các công ty có thể phối hợp với nhau xây dựng một kho hàng chung để tiết kiệm chi phí và thuận lợi cho việc cung ứng đến các chuỗi cửa hàng này. Từ các kho chung này, các phương tiện vận chuyển chung sẽ phân phối đến những khu vực có nhu cầu. Việc làm này sẽ tận dụng tối đa khả năng chuyên chở của phương tiện vận chuyển và đặc biệt là giảm thiểu được lượng khí thải CO2 ra môi

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    trường cũng như tiết kiệm được nhiên liệu.

     

    Tập trung nguồn lực cho phòng marketing để phát triển

     

    Một trong những giải pháp thúc đẩy ứng dụng marketing xanh từ chính bản thân doanh nghiệp là phát triển và tập trung nguồn lực cho phòng marketing. Việc tập trung nguồn lực cho phòng marketing nên được xem xét đầy đủ ở cả ba khía cạnh: lên kế hoạch marketing, ngân sách marketing và đào tạo con người.

     

    Về việc lên kế hoạch marketing, các nhà quản lí cần có sự chuẩn bị cho một kế hoạch truyền thông lâu dài. Việc thay đổi nhận thức của người tiêu dùng không hề đơn giản thế nên mục tiêu này chỉ có được thực hiện khi có một nỗ lực truyền thông dài hơi. Các thông điệp xanh cần phải được truyền tải đến người tiêu dùng hàng ngày có thể qua quảng cáo trên truyền hình, báo chí và cả qua các hoạt động xanh tổ chức thường niên giúp người tiêu dùng hiểu được tầm quan trọng của hành động mua sản phẩm xanh và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động vì môi trường để họ có cảm nhận tích cực hơn. Ngay từ bây giờ, các kế hoạch marketing dài hơi cũng cần chú

     

    • đến thế hệ trẻ bởi đây là khách hàng của các công ty trong tương lai và cũng là nhóm đối tượng dễ dàng giáo dục thay đổi nhận thức và hành vi. Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing xanh, các nhà quản lý cần đảm bảo sự tham gia và thống nhất ý kiến giữa các phòng ban trong công ty với những kế hoạch hoạt động của phòng marketing. Những hoạt động trong kế hoạch không phải của chỉ riêng phòng marketing mà cần nhận được hỗ trợ từ các phòng ban khác. Marketing xanh không thể phát triển nếu phòng nghiên cứu và phát triển (R&D) không hỗ trợ sáng tạo ra những sản phẩm thân thiện môi trường, nếu phòng kinh doanh không hỗ trợ tìm kiếm những kênh phân phối phù hợp và bộ phận sản

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI      95

     

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    xuất đóng gói bao bì không ứng dụng những quy trình hoạt động giúp giảm thiểu tác động tới môi trường. Tất cả các phòng ban cần ý thức một cách nghiêm túc vai trò của họ trong việc thực hiện các hoạt động marketing xanh của công ty.

     

    Về ngân sách marketing, mặc dù những nhà điều hành cấp cao thường khẳng định tầm quan trọng của ngân sách marketing, nhưng những người làm marketing lại nhận thấy khó có thể thỏa mãn hết những yêu cầu đặt ra trong giới hạn ngân sách được cấp. Sự giới hạn của nguồn ngân sách làm cho những người làm marketing không muốn áp dụng chiến lược marketing xanh trong hoạt động của mình bởi lẽ chiến lược này đòi hỏi nguồn vốn đáng kể và đặc biệt là không mang lại lợi nhuận ngay lập tức. Trong khi đó, phòng marketing lại luôn chịu áp lực trong việc hỗ trợ công ty đạt được những mục tiêu, đặc biệt là trong những vấn đề liên quan đến doanh thu, hệ thống phân phối, cơ hội phát triển và phát triển thị trường. Vì vậy, một khi các nhà quản lý cấp cao trong công ty không tạo điều kiện cho marketing xanh có cơ hội được ứng dụng vào thực tiễn thì doanh nghiệp khó lòng nào nhận thấy được những lợi ích phát sinh từ đó.

     

    Về đào tạo con người, đội ngũ marketing cần phải được bồi dưỡng, cập nhật những kỹ năng mới mẻ và thực sự quan trọng đối với họ trong nền kinh tế mới. Thực tế, hầu như nhân viên marketing nào cũng được đào tạo các kỹ năng như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, bán hàng…. Tuy nhiên thị trường thay đổi

     

    thường xuyên buộc doanh nghiệp phải chú trọng vào việc đào tạo những kiến thức và kỹ năng mới cho đội ngũ marketing của mình như xu hướng marketing xanh, xu hướng sử dụng công cụ marketing trực tuyến, dữ liệu số Big Data hay mạng xã hội…

     

    Thường xuyên thực hiện công tác nghiên cứu thị trường

    Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp cũng cần hoạt động thường xuyên để nhận ra xu hướng tiêu dùng xanh một cách nhanh nhất và đi đầu trong việc ứng dụng marketing xanh nhằm chiếm lĩnh thị trường này. Các nghiên cứu căn bản về thị hiếu hay xu hướng tiêu dùng cần được thực hiện thường xuyên mỗi tháng để phản ánh nhanh nhất những thay đổi của người tiêu dùng. Từ đó, doanh nghiệp cập nhật tình hình thị trường và đưa ra những đối sách marketing xanh cho thích hợp. Những cơ hội kinh doanh từ việc áp dụng marketing xanh được phát hiện thông qua nghiên cứu thị trường sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng marketing xanh trong hoạt động của mình vì khả năng mang lại lợi nhuận là rất tiềm năng.

     

    Ngoài ra, công tác nghiên cứu thị trường thường xuyên còn giúp cho doanh nghiệp hiểu được tình hình cạnh tranh trên thị trường, các động thái phát triển marketing xanh của đối thủ, nhờ vậy nhận thức được tầm quan trọng của marketing xanh trong chiến lược phát triển và xác định được mức độ xanh của chiến lược này nếu có áp dụng, tránh vấp phải sai lầm marketing thiển cận. Các nghiên cứu thị trường còn là công cụ đắc lực để doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của các hoạt động marketing xanh của mình như hệ thống phân phối, các hoạt động truyền thông, giá cả… nhằm kiểm tra tình trạng sức khỏe của thương hiệu nói chung và đặc biệt là thương hiệu xanh. Từ đó, doanh nghiệp có những đối sách cải thiện và nâng cao hiệu quả marketing xanh.

     

    4. Kết luận

     

    Marketing xanh không chỉ là xu hướng thay đổi hứa hẹn mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích mà nó còn có ý nghĩa lớn hơn

     

    96            Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI                                                                                        Soá 77 (11/2015)

     

     

    với môi trường và sự phát triển bền vững của toàn xã hội. Marketing xanh có thể mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích như tăng doanh số và thị phần, nâng cao hình ảnh và thương hiệu trong lòng khách hàng, giảm chi phí sản xuất trong dài hạn và tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững. Bên cạnh đó, marketing xanh đóng góp tích cực cho cộng đồng khi góp phần nâng cao ý thức của

    KINH TEÁ VAØ HOÄI NHAÄP

     

    người tiêu dùng và giảm thiếu tác động xấu đến môi trường qua hoạt động cắt giảm chất thải. Ứng dụng marketing xanh là xu hướng tất yếu mà các doanh nghiệp cần nỗ lực triển khai để có thể cạnh tranh trong điều kiện các doanh nghiệp phải chịu áp lực ngày càng gia tăng không chỉ từ phía người tiêu dùng mà còn từ phía chính phủ cũng như các nhà hoạt động môi trường.q

     

     

    Tài liệu tham khảo

     

    1. Chính phủ nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam, 2009, Nghị định về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường số 04/2009/NĐ-CP.
    2. Hải Bình, 2008, Marketing xanh: Tuyệt chiêu thời ô nhiễm, Tạp chí Marketing số 47, trang 57-59.
    3. Bonini, S. And Oppenheim, J., 2008, Cultivating the Green Consumer, Standford Social Innovation Review, 58-59, UK.
    4. Charter, M. And Polonsky, M.J., 1999, Greener Marketing:A Global Perspectivve on Greening Marketing Practice, Greenleaf Publishing, Sheffeild, 33-67, UK.
    5. Fuller, D., 1999, Sustainable Marketing: Managerial-Ecological Issues, California, Sage Publications Inc, USA.
    6. Grant, J., 2007, The Green Marketing Manifesto, John Wiley & Sons Ltd, 21-24, UK.
    1. Ginsberg, J. M. and Bloom, P., 2004, Choosing the right green marketing strategy, MIT Sloan Management Review, Vol 46, 79-84.
    2. Kantar Worldpanel Vietnam, 2014, FMCG Monitor May 2014.
    1. Menon, A., Menon A., 1997, Enviropreneurial Marketing Strategy: The Emergence of Corporate Environmentalism as Market Strategy, Journal of Marketing, Vol.61, 51-67,
    1. Nielsen, 2014, Global Corporate Social Responsibility Report.
    1. Ottman, J., 1993, Green marketing: Challenges and Opportunity for The New Marketing Age, Lincolnwood.
    2. Ottman, J., 1998, Green Marketing: Opportunity for Innovation, NTC Bussiness Books, Chicago, USA.
    3. Ottman, J., Stafford, J. And Hartman, C., 2006, Advoiding Green Marketing Myopia, Environment Journal, Vol 48, 24-36.
    4. Polonsky, 1994, Regulation of Envvironmental Marketing Claims: Acomporative Perspective, International Journal of Advertising.

    Soá 77 (11/2015)                                                                                           Taïp chí  KINH TEÁ ÑOÁI NGOAÏI       97


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-t%C3%ADnh-gi%C3%A1-d%E1%BB%B1a-tr%C3%AAn-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%E1%BB%95-ph%E1%BA%A7n-gi%C3%A0y-d%C3%A9p-cao-su-m%C3%A0u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại công ty cổ phần giày dép cao su màu

    JSLHU   JOURNAL OF SCIENCE

    http://tapchikhdt.lhu.edu.vn

    OF LAC HONG UNIVERSITY

    T p chí Khoa h c L c H ng         

    VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    Application of activity based cost method at Casum Shoes Joint Stock Company

     

    Nguyễn Văn Hải1,*, Nguyễn Ngọc Quý2

    1                                            2

    [email protected], [email protected]

     

    TÓM TẮT. Bài báo tiến hành nghiên cứu việc vận dụng phương pháp ABC nhằm quản lý tốt nhất chi phí tại các dây chuyền sản xuất. Quản trị chi phí sản xuất tốt sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá nguồn lực tiêu hao tại các nhà máy sản xuất. Vận dụng phương pháp ABC nhằm cung cấp cho nhà quản lý một cái nhìn sâu sắc để quản lý nhiều vấn đề trong quá trình sản xuất, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm giảm chi phí sản xuất và sáng kiến cải tiến quy trình sản xuất.

     

    TỪ KHÓA: Quản trị chi phí; ABC; Công ty cổ phần giày dép cao su màu

     

    ABSTRACT. The article performed ABC (Activity-Based Costing Management) method application study in order to manage costs best on production lines best. If production cost is managed well, it will help appraise resources consumption in the factory. ABC method application will supply insight for managers to control issues in production process, make right decisions to reduce cost and invent to improve manufactoring process.

     

    KEYWORDS: Cost management; ABC; Casum shoes joint stock company

     

    1. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP ABC

     

    Theo Horngren (2000) phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản. Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hay dịch vụ đó. Theo Maher (2001) cho rằng ABC là công cụ quản trị dựa trên hoạt động, trước hết, chi phí được phân bổ cho các hoạt động, sau đó sẽ phân bổ cho từng sản phẩm, dịch vụ dựa trên các hoạt động mà sản phẩm hay dịch vụ đã tiêu dùng. Quản trị dựa trên hoạt động sẽ tìm kiếm sự cải tiến không ngừng. ABC cung cấp thông tin về hoạt động và nguồn lực cần thiết để thực hiện chúng. Vì thế, ABC không chỉ đơn thuần là quá trình phân bổ chi phí. ABC: Phương pháp tính giá trên cơ sở hoạt động được nghiên cứu và ứng dụng nhằm để khắc phục những hạn chế của phương pháp tính giá truền thống trong việc phân bổ chi phí sản xuất chung (thường chỉ lựa chọn một hoặc một vài tiêu thức phân bổ chung), hạn chế trong việc cung cấp thông tin về chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình sản xuất để các nhà quản trị có cách nhìn đúng đắn trong việc hoàn thiện và thiết kế lại quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.

     

    Ta có thể thấy rằng mỗi học giả có khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động là phương pháp tính giá mà việc phân bổ các chi phí gián tiếp cho các sản phẩm, dịch vụ dựa trên mức độ hoạt động của chúng. Phương pháp ABC là tập hợp toán bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất theo từng loại hoạt động hoặc các nhóm hoạt động tương tự nhau, sau đó phân bổ các chi phí gián tiếp đó cho từng sản phẩm theo mức độ sử dụng hoạt động cảu sản phẩm, phương pháp này tính giá khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tính giá truyền thống.

     

    1. ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY VÀ NGÀNH SẢN XUẤT GIÀY DÉP

    Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Giày Dép Cao Su Màu.

     

    Tên tiếng Anh: CASUM SHOES JOINT STOCK COMPANY.

     

    Địa chỉ: đường Bùi Hữu Nghĩa, xã Hoá An, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.

     

    E-mail: [email protected] / [email protected]

     

    Website: www.casum.com.vn

    Công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu tiền thân là Công ty Cao Su Màu thành lập năm 1990 với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước chuyên sản xuất các mặt hàng liên quan đến Cao su như vỏ xe, ruột xe… Đến năm 2008 công ty Cổ phần hóa và lấy tên đầy đủ là Công ty Cổ phần Giày dép Cao Su Màu chuyên sản xuất các loại giày dép xuất khẩu.

     

    Từ chỗ chỉ có một xưởng sản xuất ở Hóa An với 300 công nhân, sau quá trình phát triển Casum hiện tại đang sở hữu 2 nhà máy sản xuất. Trong đó, một nhà máy sản xuất hoàn chỉnh tại Hóa An và một Nhà máy chuyên đặt may gia công tại Trị An với hơn 800 công nhân.

     

    Trong thời gian tới công ty sẽ tiếp tục mở rộng bằng việc đầu tư một nhà máy thứ 3 tại Tân Phú để đáp ứng nhu cầu phát triển của công ty ra các thị trường mới.

     

    Về vai trò ngành nghề sản xuất giày dép cao su màu: Việt Nam có mặt trong bảng xếp hạng 10 quốc gia xuất khẩu hằng đầu trong thị trường giày da quốc tế hiện nay, đặc biệt là EU. Việt Nam đứng thứ hai sau Trung Quốc. Ngành da giày Việt Nam là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng GDP của quốc gia.

     

    Từ một ngành công nghiệp – kỹ thuật khiêm tốn, non trẻ, đến nay giày da Việt Nam đã lớn mạnh và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng giả trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cho cả nước.

     

    1. THỰC TRẠNG TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

    Về máy móc thiết bị: có 02 dây chuyền sản xuất giày thời trang và 01 dây chuyền sản xuất dép, công nghệ sản xuất của

    Received: June, 6th, 2018

    st

    Accepted: July, 21 , 2018

    *Corresponding author.

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    97

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    Ý và Hàn Quốc, đội ngũ công nhân đầy kinh nghiệm và tay

    qua nhiều công đoạn nhưng Công ty không tập hợp chi phí

     

    nghề cao.

    sản xuất theo từng công đoạn.

       

    Quy trình sản xuất sản phẩm tại công ty

    Công ty chưa tổ chức khoa học các báo cáo về chi phí sản

     

    Quy trình sản xuất mũ giày

    xuất và giá thành sản phẩm, chưa phân tích sự biến động về

     

    chi phí phục vụ quản trị Công ty.

       
         

    Thiết kế và tách chi tiết

    § Điều này gây ra những mặt hạn chế như sau:

     
     

    Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản

     
     

    phẩm ở Công ty CP giày dép cao su màu tuy đã có nhiều thay

     

    Cắt chi tiết

    đổi cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,

     

    nhưng còn có một số hạn chế cần khắc phục.

     
     

    Nhìn chung, công tác hạch toán và phân bổ chi phí sản

     
     

    xuất ở công ty theo quy trình của kế toán tài chính. Quy trình

     

    Dãy chi tiết

    chung này có thể tóm lược như sau: Đối tượng chi phí được

     

    xác định là các loại sản phẩm do Công ty sản xuất ra; Tiêu

     
     
     

    thức phân bổ chi phí nguyên vật liệu theo định mức từng sản

     
     

    phẩm, chi phí nhân công theo sản lượng, phân bổ chi phí sản

     

    May chi tiết

    xuất chung theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

     

    Như vậy có thể kết luận rằng mục đích phân bổ chi phí sản

     
     
     

    xuất chung tại Công ty nhằm để tính giá thành sản phẩm,

     
     

    cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính. Các mục

     

    Hoàn thiện chi tiết

    đích khác như phân bổ chi phí sản xuất chung để phục vụ cho

     
     

    việc lập kế hoạch và ra quyết định kinh doanh, kiểm soát và

     

    Quy trình hoàn tất giày

    đánh giá hiệu quả không được các nhà quản lý đặt ra.

     

    Nhiều khoản chi phí chưa được phản ánh hợp lý, kết quả

     
     
     

    là giá thành sản phẩm sẽ không phản ánh hợp lý giá phí của

     

    Làm sạch

    sản phẩm tại các bộ phận trong Công ty. Chẳng hạn chi phí

     
     

    tiền điện phân bổ theo định mức nhưng lại chưa có đồng hồ

     
     

    chi tiết cho từng bộ phận: các khoản chi phí chung khác được

     
     

    phân bổ theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nên chưa phản

     

    Chất nền

    ánh chính xác mức chi phí mỗi sản phẩm gánh chịu. Đây là

     

    một hạn chế gây khó khăn và mất đi tính chính xác tuyệt đối

     
     
     

    trong công tác phân bổ chi phí, như vậy sẽ không phản ánh

     
     

    đúng bản chất của nó.

       

    Các lớp phủ ngoài

    Ngoài ra, với cách phân bổ chi phí và tính giá thành hiện

     

    tại của Công ty khiến cho thông tin về chi phí sản xuất và giá

     

    (Nguồn: Công ty Cổ phần Giày dép cao su màu)

    thành sản phẩm không phản ánh đúng bản chất, do đó việc ra

     

    quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp chưa được chính

     
     

    Qua thực tế tính giá thành tại công ty, nhóm tác giả thấy

    xác.

         

    việc phân bổ chi phí gián tiếp theo chi phí nguyên vật liệu

    4. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ABC VÀO CÔNG TY

     

    trực tiếp của từng sản phẩm chưa chính xác. Điều này dẫn

     

    CỔ PHẦN GIÀY DÉP CAO SU MÀU

     

    đến các sản phẩm có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cao thì

           

    gánh chịu nhiều chi phí gián tiếp nhưng chi phí sản xuất thực

    Bảng 1. Bảng so sánh giá thành theo phương pháp truyền thống

     

    tế sử dụng cho sản phẩm lại thấp chẳng hạn: Các chi phí gián

    và phương pháp ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    tiếp phục vụ cho sản xuất không liên quan đến khối lượng

    Nội dung

    PP truyền thống

    PP ABC

     

    cũng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân viên

    Giày trẻ em

     

    11.457.546.896

     

    phân xưởng, chi phí khấu hao…

    11.466.127.297

    Doanh nghiệp đã lập kế hoạch, dự toán nhưng khi có sự

    Giày dép nữ

    15.430.981.246

    15.421.671.233

     

    chênh lệch về số liệu chi phí sản xuất thì lại chưa nêu ra

    Giày dép nam

     

    9.190.555.720

     

    nguyên nhân, kỹ thuật phân tích số liệu và biện pháp xử lý

    9.194.425.476

    chỉ mang tích chất phục vụ báo cáo tài chinh hàng năm là

    Khác

    596.995.615

    596.832.294

     

    chính. Các dự toán, kế hoạch chủ yếu theo các khoản mục

    Tổng cộng

    36.688.529.634

    36.666.606.143

     

    chi phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân

           

    công trực tiếp và chi phí sản xuất chung không phân loại theo

     

    (Nguồn: tính toán của nhóm tác giả)

     

    biến phí, định phí như vậy sẽ rất khó khăn cho việc đánh giá

    Sau khi áp dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt

     

    kiểm soát chi phí và đưa ra quyết định về định giá bán phù

    động, giá thành tất cả các sản phẩm giày dép sản xuất ra đều

     

    hợp.

    thấp hơn so với các tính truyền thống của công ty. Việc áp

     

    Doanh nghiệp nhận thức kế toán là công cụ phục vụ quản

    dụng tính gía thành theo phương pháp ABC sẽ tính toán được

     

    lý nhưng chỉ quan tâm ở gốc độ kế toán tài chính, chưa chủ

    Zsp sản xuất chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp

     

    động tổ chức kế toán quản trị. Doanh nghiệp chưa nhận thức

    truyền thống mà công ty cao su màu đang áp dụng, phần chi

     

    được vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin kinh

    phí dôi ra sẽ được hạch toán vào TK 642, 632 và các tài

     

    tế tài chính của doanh nghiệp.

    khoản khác có liên quan theo quy định, qua đó đây là cơ sở

     

    Đặc điểm về qui trình sản xuất sản phẩm tại Công ty trải

    để nhà quản lý có những giải pháp cắt giảm chi phí.

     

    98        Tp chí Khoa h c L c H ng

     

    Vận dụng phương pháp tính giá dựa trên cơ sở hoạt động tại Công ty Cổ phần Giày dép Cao su màu

     

    CP

    CP

    CP

    CP

    CP

    Để áp dụng thành công phương pháp ABC đòi hỏi phải có

     

    sự hợp tác giữa các phòng ban trong đơn vị cũng như tinh

     

    nhân

    điện

    khấu

    phục

    khác

    viên

    hao

    vụ sản

    thần làm việc nhóm trong phân xưởng, chẳng hạn như phân

     
       

    PX

       

    xuất

     

    xưởng lắp ráp giày dép có sự hỗ trợ cho các phân xưởng khác

     
             

    như PX dập, PX cắt…. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ

     
             

    ra rằng sự kết hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, các nhóm

     
             

    làm việc góp phần thúc đẩy sự thành công khi áp dụng

     
             

    phương pháp ABC, có thể kể ra một sốtác giả như Landry

     

    Thời

    Số

    Chi

    NL

    Nguồn

    (1997), Gering (1999), Drake et al. (2001), Baird et al.

     

    (2007). Như vậy, để ứng dụng được ABC thì bản thân nội bộ

     

    gian

    KW

    tiết

    khác

    phát

    doanh nghiệp phải hợp tác và ủng hộ nếu không có sự ủng

     

    lao

    điện

    hoạt

    phục

    sinh

    hộ từ các bộ phận khác thì ABC khó ứng dụng thành công

     

    động

    CP

    động

    sử

    vụ

    trong tổ chức. Đây cũng chính là vấn đề thuộc về cơ cấu tổ

     
       
             

    chức cũng như văn hóa trong công ty.

     
             

    Thứ hai: Giải pháp nguồn nhân lực

     
             

    ABC không phải là một mô hình cứng ngắt, trong quá trình

     
             

    ứng dụng cũng có sự thay đổi về mối quan hệ của các tiêu

     

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    Hoạt

    thức phân bổ chi phí, các trung tâm chi phí vì vậy đòi hỏi

     

    động

    động

    động

    động

    động

    người sử dụng phải có kiến thức sâu về phương pháp ABC

     

    chặt,

    cắt

    may

    lắp

    hoàn

    và kiến thức về kế toán quản trị. Theo TS Trần Phước (2011),

     

    ép

    dán

     

    ráp

    thiện,

    khảo sát kết quả kiến thức đào tạo chuyên ngành kế toán,

     
           

    kiểm toán thì có tới 50% câu trả lời là ít và đã đưa ra các giải

     
             
             

    pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kế toán kiểm toán ở

     
             

    Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội

     
             

    nhập quốc tế. Như vậy, hiện nay chúng ta đang thiếu hụt kế

     

    Giày

    Giày

    Giày

    Giày

    ……

    toán viên có đủ trình độ để tiếp cận phương pháp mới, ví dụ

     

    như phương pháp ABC. Đối với các phương pháp, kỹ thuật

     

    dép

    dép

    dép

    dép

    ……

    cũng như yêu cầu của ABC, trường đại học cũng như các cơ

     

    trẻ

    nữ

    nam

    khác

    .

    sở đào tạo phải có những dự án cụ thể để cho sinh viên thực

     

    em

           
           

    hành và phân tích những thuận lợi cũng như những khó khăn

     
             
             

    khi áp dụng ABC vào trong doanh nghiệp. Chính phủ cũng

     
             

    như những trung tâm nghiên cứu ứng dụng kế toán của Việt

     
             

    Nam cũng phải có những dự án ứng dụng cụ thể: ứng dụng

     
     

    Chi phí nguyên vật lệu trực tiếp, chi phí

     

    ABC cho hầu hết các PX tại công ty, đánh giá so sánh hiệu

     
       

    quả giữa phương pháp tính giá hiện tại và ABC. Có thể lựa

     
       

    nhân công trực tiếp

       
           

    chọn ứng dụng thí điểm tại PX cắt và PX dập để có đủ điều

     
             

    kiện áp dụng ABC sau đó công bố kết quả ứng dụng cho các

     

    Hình 1. Mô hình tính giá dựa trên cơ sở hoạt động (ABC) tại công

    công ty khác học hỏi và ứng dụng.

     
     

    ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu

     

    Thứ ba: Thay đổi quan điểm của nhà quản lý

     
       

    (Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất)

    Các nhà quản lý doanh nghiệp cần thay đổi thái độ trong

     

    Qua việc tính toán và phân tích giữa hai phương pháp ta

    quá trình điều hành và quản lý doanh nghiệp. Tâm lý hiện

     

    có thể thấy sự khác biệt này là do lựa chọn tiêu thức phân bổ

    nay của rất nhiều nhà quản lý là trông chờ vào sự hướng dẫn

     

    chi phí sản xuất chung của hai phương pháp. Với quy trình

    hay sự bắt buộc của cơ quan có thẩm quyền mà bản thân họ

     

    sản xuất đã trình bày, hầu hết các sản phẩm phải đi qua nhiều

    không chủ động áp dụng những phương pháp quản lý mới.

     

    công đoạn và cũng tiêu hao nhiều nguồn lực. Đối với các chi

    Một phần là do thiếu hụt về kiến thức quản lý, một phần là

     

    phí: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí công cụ dụng

    tâm lý sợ thay đổi, sợ thất bại trong quá trình áp dụng cái

     

    cụ, chi phí tiền nước, chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí

    mới. Ví dụ như sau khi thấy được sự thay đổi về chi phí sản

     

    tiền điện… Các chi phí này có nguồn phát sinh chi phí khác

    xuất, thì nhà quản lý sẽ có cái nhìn đúng hơn về việc cắt giảm

     

    nhau. Vì vậy khi phân bổ chi phí ta không chỉ dựa vào một

    chi phí nào và thay đổi loại chi phí nào ngay tại Công ty.

     

    tiêu thức chung để phân bổ cho các hoạt động chẳng hạn chi

    Thứ tư: Áp dụng phương pháp ABC phải gắn với nội lực

     

    phí nguyên vật liệu trực tiếp, mà còn phải dựa vào nhiêu tiêu

    doanh nghiệp và yêu cầu thực tế

     

    thức phân bổ khác để đảm bảo tính chính xác giá thành cho

    ABC không có một tiêu chuẩn nào cho mỗi doanh nghiệp,

     

    từng loại sản phẩm. Điều này chứng tỏ nếu vận dụng phương

    vì vậy khi áp dụng ABC phải gắn liền với tình hình thực tế

     

    pháp tính giá ABC sẽ cho kết quả chính xác hơn.

     

    của doanh nghiệp mình, không nên chạy theo phong trào

     

    Tóm lại, việc tính giá dựa trên cơ sở hoạt động sẽ cung cấp

    cũng không nên coi là mốt để rồi áp dụng không hiệu quả.

     

    thông tin về giá thành chính xác hơn và cạnh tranh hơn. Để

    Ngày nay, với sự cạnh tranh gay gắt và thông tin đòi hỏi ngày

     

    từ đó các nhà quản lý có những quyết định chính xác nhất

    càng đa dạng, bản thân ABC cũng có nhược điểm vì vậy cần

     

    5. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

    kết hợp phương pháp tính giá thành ABC với các phương

     

    pháp khác như ABC kết hợp với phân tích biến phí, định phí;

     

    PHƯƠNG PHÁP ABC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

    ABC kết hợp với chi phí định mức; ABC kết hợp với BSC

     

    GIÀY DÉP CAO SU MÀU

       
       

    (Balanced Scorecard). Ngay tại Công ty Cổ phần Giày dép

     

    Thứ nhất: Sự hợp tác giữa các bộ phận, các nhóm làm

    Cao su màu, yêu cầu này khá cao, do số lượng sản phẩm sản

     

    việc

           

    xuất khá nhiều, số lượng sản phẩm cần thiết cho nhu cầu của

     

    Tp chí Khoa h c L c H ng    99

     

    Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Ngọc Quý

     

    người tiêu dùng, cho nên việc áp dụng phương pháp tính giá ABC tại Công ty là rất cần thiết.

     

    6. KẾT LUẬN

     

    Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát triển cũng như phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp ngày càng phải cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường. Phương pháp tính giá ABC là phương pháp tính mới, việc áp dụng phương pháp tính giá này là cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu nói riêng.

     

    Việc vận dụng phương pháp tính giá ABC tại công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu giúp công ty tính giá thành một cách chính xác hơn so với phương pháp tính giá hiện tại của công ty. Với phương pháp tính giá hiện tại của công ty, công ty chỉ chọn một tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp là theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, làm cho việc phân bổ khoản chi phí này vào từng sản phẩm không được chính xác. Vì chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không phải là nguyên nhân gây ra tất cả chi phí gián tiếp, điều này làm cho giá thành một số sản phẩm cao hơn so với chi phí thực tế và một số sản phẩm giá thành lại thấp hơn so với chi phí thực tế. Do đó, có thể có những quyết định sai lầm trong việc định giá bán sản phẩm. Ngược lại, phương pháp tính giá ABC phân bổ chi phí gián tiếp cho các đối tượng chi phí dựa trên hoạt động tiêu dùng nguồn lực của đối tượng chi phí đó. Vì thế, hệ thống tính giá ABC làm tăng tính chính xác của giá thành

    sản phẩm hơn phương pháp tính giá truyền thống, từ đó giúp cho nhà quản trị có những quyết định đúng đắn

     

    1. CÁM ƠN

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty Cổ Phần Giày Dép Cao Su Màu cùng với các anh chị Phòng kế toán và các anh chị phòng ban khác đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành bài báo này.

     

    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • Blocher, Chen, Cokins and Lin. Cost management – A strategic emphasis, 3nd Edition. Mc Graw Hill Irwin, UK, 2005.
    • Drake et al. Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh của ngành kinh tế, 2001.
    • Horngren Bjornenak, Trond and Mitchell, Falconer. The Development of Activity Based Costing. Journal Literature 1987-2000. European Accounting Review, 2002, vol. 11, no. 3.
    • Nguyễn Việt. Lợi ích của việc tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động ABC. Tạp chí Phát triển Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, 1997, số 82, tháng 08/1997.
    • Rober S.Kaplan, Robin Cooper. Cost and Effect. Havard Business School Press, 1998.
    • Trần Phước. Giáo trình Nguyên lý Kế toán. Nhà xuất bản: Phương Đông 2011.

     

     

     

     

     

    100      Tp chí Khoa h c L c H ng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/V%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-marketing-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-trong-vi%E1%BB%87c-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-t%E1%BA%A1i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-H%E1%BB%93ng-%C4%90%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Vận dụng marketing dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hồng Đức

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    VẬN DỤNG MARKETING DỊCH VỤ TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    Lê Quang Hiếu1

     

    TÓM TẮT

     

    Trường Đại học Hồng Đức là trường đại học địa phương đầu tiên ở Việt Nam, được thành lập từ năm 1997, đến nay có quy mô đào tạo hơn 16.000 sinh viên. Xét trên phương diện kinh tế, trường đại học cũng là một tổ chức cung cấp dịch vụ vì vậy việc vận dụng marketing để thỏa mãn nhu cầu khách hàng là một điều tất yếu. Bài viết này sẽ dựa trên mô hình 7Ps của Marketing dịch vụ để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của trường Đại học Hồng Đức từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường.

     

    Từ khóa: Marketing dịch vụ, chất lượng đào tạo đại học, trường Đại học Hồng Đức

     

    1.   MỞ ĐẦU

     

    Trong nền kinh tế tri thức ngày nay, giáo dục đại học có vị trí then chốt trong việc đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lƣợng cao. Nhìn lại chặng đƣờng hơn một thập kỷ qua, kể từ ngày thành lập, ngày 24 tháng 09 năm 1997, trƣờng Đại học Hồng Đức đang từng bƣớc khẳng định đƣợc vị trí và đã đạt đƣợc những thành quả bƣớc đầu đáng khích lệ trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế và đã có những đóng góp tích cực vào thành tích chung của giáo dục đại học Việt Nam. Mặc dù vậy, nếu xét trên nhiều phƣơng diện trƣờng Đại học Hồng Đức cũng đang phải chịu nhiều áp lực trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội. Với mục đích hƣớng đến là trong tƣơng lai gần 100% sinh viên ra trƣờng tìm đƣợc việc làm đúng ngành học, đáp ứng đƣợc nhu cầu xã hội trong bối cảnh mở cửa và hội nhập thế giới trong đào tạo nguồn nhân lực nhƣ hiện nay, việc phải tìm ra cho mình những hƣớng đi phù hợp nhằm hạn chế điểm yếu và phát huy thế mạnh để có thể đón đƣợc những cơ hội cũng nhƣ vƣợt qua đƣợc những thách thức từ bên ngoài mang lại, qua đó góp phần xây dựng và phát triển bền vững là vấn đề hết sức cấp thiết đối với trƣờng Đại học Hồng Đức.

     

    Mặt khác, theo cách tiếp cận của WTO, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng là một loại hình cung cấp dịch vụ mà ở đó khách hàng là những ngƣời học, những ngƣời sử dụng lao động,… với những nhu cầu hết sức phong phú và đa dạng. Bên cạnh đó, lý thuyết marketing dịch vụ và các khái niệm đã có hiệu quả trong kinh doanh, đang dần đƣợc áp dụng bởi nhiều trƣờng đại học nhằm mục đích đạt đƣợc lợi thế cạnh tranh. Khái niệm marketing – mix đã đƣợc đƣa ra và công nhận trong lý thuyết marketing dịch vụ nhƣ là

     

    • Phó trưởng khoa KTQTKD, Trường Đại học Hồng Đức

    29

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thiết lập các công cụ marketing mà tổ chức sử dụng để theo đuổi các mục tiêu marketing của mình trong thị trƣờng mục tiêu, chịu ảnh hƣởng bởi các biến số môi trƣờng cụ thể. Công cụ 7Ps đƣợc nhiều nhà quản trị thừa nhận và vận dụng trong lĩnh vực dịch vụ gồm: P1: Sản phẩm (product), P2: Giá cả (price), P3: Phân phối (place), P4: Xúc tiến- khuếch trƣơng (Promotion) P5: Con ngƣời (People), P6: Quá trình dịch vụ (Process of services) và P7: Các yếu tố và bằng chứng vật chất của dịch vụ (physical evidences).

     

    Bài viết này đứng trên quan điểm của marketing dịch vụ nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của trƣờng Đại học Hồng Đức từ đó đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo của nhà trƣờng.

     

    2.   THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC THEO QUAN ĐIỂM MARKETING DỊCH VỤ

     

    2.1. Chính sách sản phẩm

     

    Về ngành, nghề đào tạo: Nhà trƣờng tiến hành đa dạng hóa cơ cấu và điều chỉnh ngành, chuyên ngành đào tạo theo hƣớng đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phƣơng và đất nƣớc.

     

    Hiện nay, nhà trƣờng đang đào tạo 7 chuyên ngành sau đại học, 29 ngành bậc đại học, 21 ngành bậc cao đẳng. Cùng với đào tạo hệ chính quy, Nhà trƣờng đang đào tạo các hình thức vừa làm vừa học, liên thông, văn bằng đại học thứ 2 và bồi dƣỡng ngắn hạn để đáp ứng tối đa nhu cầu của ngƣời học. Quy mô đào tạo của Nhà trƣờng hiện nay là gần 16.000 học sinh, sinh viên. Từ năm 2008, nhà trƣờng từng bƣớc thực hiện chuyển đổi phƣơng thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Bên cạnh đó, Nhà trƣờng đã và đang liên kết với các trƣờng đại học để đào tạo các ngành, chuyên ngành đại học và sau đại học.

     

    • Đào tạo trình độ thạc sĩ: Đại học Hồng Đức là trƣờng đại học đầu tiên trong khối các trƣờng đại học địa phƣơng đƣợc phép tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ. Sau gần 16 năm thành lập, trƣờng đã đƣợc Bộ cho phép tự đào tạo 6 chuyên ngành gồm: Khoa học cây trồng, Ngôn ngữ Việt Nam, Lý luận và phƣơng pháp dạy học Văn- Tiếng Việt, Văn học Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Vật lý lý thuyết và Vật lý Toán và Toán giải tích.
    • Đào tạo trình độ đại học và cao đẳng tƣơng đối ổn định về số lƣợng trong những năm gần đây, tuy nhiên xét về cơ cấu thì có những thay đổi về ngành đào tạo, một số ngành không đáp ứng nhu cầu xã hội, khó tuyển sinh nhà trƣờng tạm thời đóng và mở ra những ngành mới có khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội.

    Cơ cấu ngành, chuyên ngành đào tạo đƣợc điều chỉnh phù hợp với nhu cầu:

     

    + Từ hai khối ngành (sƣ phạm và kỹ thuật nông nghiệp) năm học 1998 – 1999 lên bốn khối ngành gồm sƣ phạm, kinh tế, nông-lâm-ngƣ nghiệp và kỹ thuật – công nghệ;

     

    + Giảm bớt một số chuyên ngành không phù hợp với nhu cầu sử dụng nhƣ chuyên ngành ngữ văn, nuôi trồng thủy sản, kỹ nghệ hoa viên, mở các ngành đào tạo mới đáp ứng nhu cầu của xã hội; liên kết đào tạo chính quy và vừa làm vừa học;

     

    30

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Về mục tiêu, nội dung chương trình. Chƣơng trình giáo dục, kiểm tra đánh giá, thời khóa biểu, lịch thi đƣợc Nhà trƣờng hƣớng dẫn cụ thể, chi tiết; quy chế đào tạo và rèn luyện của Bộ Giáo dục & Đào tạo đƣợc cụ thể hóa và triển khai thực hiện.

     

    Chƣơng trình giáo dục đào tạo có mục tiêu đƣợc xác định cụ thể, rõ ràng về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, tác phong đối với ngƣời học. Nội dung, chƣơng trình đào tạo bám sát khung chƣơng trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và đƣợc cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung thƣờng xuyên theo hƣớng đáp ứng nhu cầu của ngƣời học và xã hội. Sinh viên tốt nghiệp ra trƣờng đảm bảo về trình độ kiến thức cơ bản, kỹ năng nghiệp vụ, có khả năng thích ứng nhanh với thị trƣờng lao động. Kết quả học tập của sinh viên hệ chính quy nhà trƣờng không ngừng đƣợc nâng lên đáp ứng đƣợc nhu cầu nguồn nhân lực trong quá trình phát triển của địa phƣơng và các tỉnh lân cận.

     

    Về sinh viên (sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội):

     

    Đã có sự điều chỉnh về bậc học một cách mạnh mẽ, chủ yếu tăng đào tạo đại học, giảm và tiến tới không đào tạo hệ trung cấp: Đến năm 2011, quy mô hệ đại học chính quy tăng 26 lần (từ 250 lên 6.600 sinh viên); sinh viên cao đẳng chính quy giảm 1,7 lần (từ 3.250 xuống còn 1.900 sinh viên).

     

    Thay đổi một cách thích hợp về quy mô đào tạo ở các khối ngành, đáp ứng với thực tế khách quan của nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực:

     

    • Chuyển đổi một phần đào tạo giáo viên trung học phổ thông sang đào tạo giáo viên trung học cơ sở hai môn có trình độ đại học, mở các ngành đào tạo cử nhân khoa học, tăng dần các chuyên ngành đào tạo kỹ thuật – công nghệ;
    • Chuyển hƣớng từ chỗ chỉ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh là chủ yếu sang đáp ứng một phần nhu cầu nguồn nhân lực của các tỉnh lân cận.

    Về hình thức đào tạo

     

    Qui mô đào tạo theo hình thức VLVH tăng nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu của

     

    xã hội:

     

    – Số HSSV hệ VLVH chiếm 46,5% năm 2009 (tự đào tạo);

     

    – Đào tạo liên thông từ cao đẳng lên đại học (12 chuyên ngành), chiếm 20% so với chính quy năm 2009;

     

    Công tác đào tạo của nhà trƣờng đã đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển; quy mô đào tạo của nhà trƣờng ngày một tăng; hình thức, cơ cấu ngành, nghề tƣơng đối hợp lý, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với khả năng của trƣờng, chất lƣợng đào tạo ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội.

     

    Về sản phẩm khoa học công nghệ

     

    Theo số liệu thống kê đến hết năm 2012 cán bộ, giảng viên nhà trƣờng đã thực hiện đƣợc 574 đề tài (dự án) khoa học các cấp, trong đó có 5 đề tài cấp Nhà nƣớc, 35 đề tài cấp Bộ, 48 đề tài cấp tỉnh và 486 đề tài cấp cơ sở; sinh viên toàn trƣờng đã thực hiện đƣợc 1.899 đề tài khoa học, có 328 đề tài đạt giải cấp trƣờng và 32 đề tài đạt giải trong các cuộc

     

    31

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    thi “Tài năng khoa học trẻ”, 4 giải thƣởng sáng tạo kỹ thuật Việt Nam. Số bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nƣớc (890), quốc tế và tuyển tập báo cáo tại các hội nghị khoa học (64). Ngoài ra, Nhà trƣờng đã chủ trì phối hợp với các cơ quan nghiên cứu, tổ chức khoa học trong ngoài tỉnh tổ chức nhiều hội thảo khoa học thu hút đông đảo các nhà khoa học tham gia.

     

    Kết quả NCKH đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng, mở rộng quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo; đổi mới nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá; xây dựng cơ sở thực hành, thực tập, rèn nghề; gắn đề tài NCKH với đề tài luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ để nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, giảng viên; đổi mới công tác quản lý; phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thanh Hoá.

     

    2.2. Chính sách giá cả

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. Hơn nữa, là trƣờng đa ngành, đa cấp, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, tạo nguồn nhân lực cho xã hội nói chung và cho tỉnh Thanh Hóa nói riêng. Vì vậy, Nhà trƣờng đã có những giải pháp và kế hoạch tự chủ tài chính để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Cụ thể, hiện nay trƣờng có 2 nguồn thu nhƣ sau: Nguồn kinh phí Nhà nƣớc cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: thu từ học phí đào tạo, từ hoạt động nghiên cứu khoa học và thu từ hoạt động dịch vụ.

     

    Trong thời gian tới, trƣờng sẽ tiếp tục củng cố các hoạt động tài chính theo hƣớng minh bạch, công khai và có kế hoạch, phấn đấu đƣa quản lý tài chính là một động lực nâng cao chất lƣợng đào tạo và nghiên cứu khoa học, tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên nhà trƣờng.

     

    Về các khoản thu từ ngƣời học nhƣ: học phí cho HSSV đào tạo theo tín chỉ của Nhà trƣờng từ 80.000 – 93.000đ/tín chỉ (Đại học) hoặc 60.000-68.000đ/tín chỉ (Cao đẳng); Phí nội trú từ 60.000-70.000 ngƣời/tháng. Có thể nói rằng trƣờng Đại học Hồng Đức áp dụng chính sách giá thấp và linh hoạt cho các đối tƣợng.

     

    2.3. Chính sách phân phối

     

    Trƣờng Đại học Hồng Đức thực hiện chính sách phân phối hết sức linh hoạt cho từng đối tƣợng ngƣời học có nhu cầu. Đối tƣợng tuyển sinh của trƣờng là tất cả các cá nhân, tổ chức có nhu cầu và đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cả nƣớc.

     

    Về địa điểm tổ chức đào tạo: Đối với ngƣời học dài hạn thực hiện việc đào tạo và học tập tại các cơ sở của nhà trƣờng. Hiện tại nhà trƣờng có 3 cơ sở đào tạo đƣợc đặt trong thành phố Thanh Hóa: Cơ sở chính là nơi đặt trụ sở chính nhà điều hành và phục vụ đào tạo cho học sinh sinh viên thuộc các khoa Kinh tế – Quản trị kinh doanh, Kỹ thuật công nghệ, Công nghệ thông tin và truyền thông và Nông – lâm – ngƣ nghiệp; Cơ sở 2 phục vụ đào tạo cho sinh viên các khoa khối ngành sƣ phạm và xã hội nhƣ: Khoa Khoa học tự nhiên, khoa Mầm non, Khoa Ngoại ngữ…; Cơ sở 3 là Trung tâm Giáo dục quốc phòng chuyên phục vụ đào tạo về chƣơng trình giáo dục quốc phòng cho sinh viên toàn trƣờng. Tại cơ sở chính và cơ sở 2 đều có các khu nội trú và các sân bãi tập luyện thể dục thể thao tạo điều kiện đáp

     

    32

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ứng nhu cầu của ngƣời học. Đối với những chƣơng trình bồi dƣỡng ngắn hạn có thể tổ chức ngay tại các địa điểm theo yêu cầu của đối tác.

     

    Về thời gian phục vụ: Nhà trƣờng thực hiện linh hoạt thời gian học tập theo nhu cầu của từng đối tƣợng ngƣời học. Thời gian học tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2- chủ nhật, đƣợc chia thành 13 tiết/ngày (trừ thứ 7 và chủ nhật là không quá 10 tiết)

     

    2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp

     

    Xúc tiến hỗn hợp cung cấp các thông tin về các chƣơng trình học, những thay đổi và phát triển trong chƣơng trình, những thông tin về cơ sở đào tạo, học phí… do đó giúp họ hiểu biết hơn về chƣơng trình, về cơ sở đào tạo… giúp họ tăng cơ hội lựa chọn trƣớc khi tham gia một khoá đào tạo cụ thể. Các thông tin này giúp họ tiết kiệm thời gian, tiền bạc khi quyết định về việc mình nên bổ sung kiến thức, kỹ năng gì, góp phần bảo vệ các học viên ở một mức độ nhất định.

     

    Ngay từ khi mới thành lập, lãnh đạo nhà trƣờng luôn tâm niệm mỗi ngƣời học, mỗi cán bộ của nhà trƣờng sẽ là những tuyên truyền viên tốt nhất về hình ảnh của nhà trƣờng, do đó hàng năm nhà trƣờng thƣờng tổ chức các buổi thông tin tuyên truyền tuyển sinh trƣớc hết cho cán bộ và HSSV đang theo học tại trƣờng. Ngoài ra việc gửi các tờ rơi, thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông nhƣ báo đài cũng đƣợc nhà trƣờng hết sức quan tâm.

     

    Công cụ quan hệ công chúng bằng cách tổ chức các sự kiện cũng đƣợc nhà trƣờng thƣờng xuyên tổ chức và đầu tƣ. Thông qua Đoàn trƣờng Đại học Hồng Đức, Hội sinh viên trƣờng và các tổ chức đoàn thể trong trƣờng đã có khá nhiều các sự kiện đƣợc tổ chức thành công thu hút sự chú ý của sinh viên trong trƣờng, sinh viên ngoài trƣờng và tổ chức truyền thông đại chúng.

     

    Bên cạnh đó việc cung cấp các thông tin cho ngƣời học tại trƣờng đƣợc xem là một nội dung quan trọng của Nhà trƣờng. Trƣờng Đại học Hồng Đức là một trong số ít trƣờng mà hệ thống internet wifi miễn phí đƣợc phủ sóng rộng khắp cả trƣờng, từ khu làm việc, các giảng đƣờng đến các khu nội trú dành cho sinh viên. Website của Nhà trƣờng cũng luôn đƣợc đầu tƣ nâng cấp và cập nhật các thông tin mới nhất, đầy đủ nhất cho các đối tƣợng quan tâm.

     

    2.5. Chính sách về con ngƣời

     

    Qua hơn 15 năm xây dựng và phát triển trình độ đội ngũ của nhà trƣờng đã có những bƣớc tiến rõ rệt nhƣ: số lƣợng giảng viên có trình độ sau đại học, đặc biệt là trình độ tiến sĩ tăng nhanh; cơ cấu trình độ giảng viên các chuyên ngành từng bƣớc đáp ứng yêu cầu đào tạo; chất lƣợng đội ngũ đƣợc nâng cao một cách đáng kể; trên cơ sở quy hoạch đã từng bƣớc trẻ hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy.

     

    Số cán bộ giảng viên có trình độ chuyên môn cao tăng lên theo thời gian:

     

    • GS, PGS tăng tƣ̀0,2% (năm 1997) lên 0,4% (năm 2010) và gần 1% từ cuối năm 2013.
    • TS tăng từ 1,98% (năm 1997) lên 7,93% (năm 2010) và gần 10% năm 2013.
    • ThS tăng từ 24,15% (năm 1997) lên 48,7% (năm 2010).

    33

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cơ cấu chất lƣợng đội ngũ thời điểm năm 2006 và năm 2010.

     

       

    Tổng số

     

    Chia theo trình độ chuyên môn

       

    TT

    Loại hình

    Tiến sĩ

    Thạc sĩ

    Đại học

     

    Dƣới ĐH

         
       

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

    2006

    2010

     

    2006

    2010

    1

    Biên chế

    678

    544

    25

    49

    189

    240

    328

    217

     

    136

    38

    1.1

    Giảng viên

    432

    361

    18

    39

    173

    206

    241

    116

         

    1.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    31

    22

         

    1

    3

    13

     

    28

    8

             

    1.3

    Cán bộ hành chính

    55

    86

    7

    10

    16

    33

    13

    29

     

    19

    14

    1.4

    Nhân viên thừa hành

    160

    75

           

    71

    59

     

    89

    16

    2

    Hợp đồng ngoài biên chế

    39

    193

    0

    0

    3

    27

    31

    144

     

    5

    21

    2.1

    Giảng viên

    6

    100

       

    1

    24

    5

    76

         

    2.2

    GVTH, PTTN, Giáo vụ,

                         

    Quản sinh

    16

    33

         

    1

    15

    25

     

    1

    7

             

    2.3

    Cán bộ hành chính

    7

    23

       

    2

    2

    5

    21

         

    2.4

    Nhân viên thừa hành

    10

    36

           

    6

    22

     

    4

    14

     

    Tổng cộng

    717

    737

    25

    49

    192

    267

    359

    351

     

    141

    60

    (Nguồn: Phòng TCCB)

     

    Nhà trƣờng đã thực hiện các chính sách đãi ngộ của tỉnh đối với CBGV có trình độ TS ở ngoài tỉnh về công tác tại trƣờng và chính sách hỗ trợ cho Thạc sỹ, tiến sỹ giảng dạy ở bậc Đại học.

     

    Mời các GS và các nhà khoa học đầu ngành trong nƣớc giảng dạy các chuyên đề (cho giảng viên) và những học phần mới (cho sinh viên), thông qua đó để đào tạo giảng viên của trƣờng.

     

    Cán bộ, giảng viên tham gia Đề án Liên kết đào tạo đại học và sau đại học với các trƣờng đại học nƣớc ngoài: 80 ngƣời. Số CBGV học đại học tiếng Anh (văn bằng 2): 56 ngƣời. Thực hiện các chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng ngoại ngữ khác (Đề án 165, Dự án Việt – Bỉ) 7 ngƣời.

     

    Công tác quy hoạch và đào tạo đội ngũ đƣợc đặc biệt quan tâm và thƣờng xuyên đƣợc rà soát, điều chỉnh nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu trƣớc mắt và lâu dài. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên của trƣờng đã đƣợc rèn luyện, trƣởng thành trong quá trình xây dựng nhà trƣờng, có phẩm chất đạo đức tốt, là nhân tố đảm bảo giữ vững và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    2.6. Chính sách về quy trình hoạt động

     

    Trong những năm qua, trƣờng Đại học Hồng Đức đã không ngừng củng cố và hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của từng bộ phận và cá nhân, tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, quản lý của chuyên môn, sự phối, kết hợp đồng bộ của các tổ chức đoàn thể trong các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà trƣờng, tranh thủ sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động VN và Bộ Giáo dục – Đào tạo, chủ động xây dựng các chiến lƣợc và kế hoạch phát triển Nhà trƣờng.

     

    34

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Từ năm học 2007-2008, nhà trƣờng đã vận hành quy trình quản lý theo hệ thống quản lý chất lƣợng ISO: 9001-2000 và đến năm 2010 đã chuyển đổi và vận hành qui trình quản lý chất lƣợng ISO 9001:2008, đã ban hành các quy trình hoạt động, xây dựng hệ thống thông tin phản hồi về hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo tại trƣờng, góp phần nâng cao chất lƣợng đào tạo, hiệu quả công tác quản lý, điều hành hoạt động trong nhà trƣờng.

     

    2.7. Chính sách về cơ sở hạ tầng

     

    Dự án đầu tƣ cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Cơ sở chính; cải tạo nâng cấp Cơ sở II đƣợc phê duyệt với tổng kinh phí 493 tỷ đồng, tổng diện tích xây dựng khoảng: 56.400m2. Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Thanh Hoá trực thuộc ĐHHĐ đã có quyết định đầu tƣ (98 tỷ đồng).

     

    Trong 10 năm mới thành lập, đã đầu tƣ mới, sửa chữa nâng cấp và đƣa vào sử dụng với số kinh phí 175 tỷ đồng: Khu giảng đƣờng 4 tầng (30.000 m2 sàn), 3 nhà ký túc xá sinh viên cơ sở 3 (138 phòng, 1.100 chỗ ở); 2 khu nhà ký túc xá cơ sở 1 (4.220 m2); đầu tƣ công trình hạ tầng với tổng số vốn đầu tƣ hơn 150 tỷ đồng. Đầu tƣ chiều sâu 26 phòng thí nghiệm, 8 phòng vi tính, hệ thống mạng thông tin (có dây và không dây), Trung tâm Thông tin – Thƣ viện, cơ sở hỗ trợ học tập KLF, trang thiết bị dạy và học, thiết bị văn phòng với giá trị hơn 25 tỷ đồng.

     

    Đầu tƣ mua sắm mới giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy với 5.250 đầu sách (132.313 cuốn tiếng Việt, 3.777 cuốn ngoại văn), 48.155 số báo tiếng Việt, 4.900 số báo ngoại văn, 162 đĩa CD cơ sở dữ liệu trong và ngoài nƣớc trị giá 2 tỷ đồng.

     

    Có thể thấy rằng cơ sở vật chất của trƣờng đƣợc đầu tƣ đáng kể, cơ bản đã đƣợc kiên cố hoá, đặc biệt là hệ thống giảng đƣờng và nhà làm việc, trang thiết bị phục vụ dạy- học. Tuy vậy, hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin, thƣ viện chƣa đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học trƣớc mắt và lâu dài. Cơ sở vật chất kỹ thuật chƣa đáp ứng yêu cầu để giáo dục toàn diện với sinh viên (giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, thực hành, thí nghiệm)

     

    3.   GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

     

    3.1. Nâng cao chất lƣợng chƣơng trình đào tạo, gắn với thực tiễn

     

    Để nâng cao chất lƣợng dịch vụ giáo dục, cần nâng cao chƣơng trình, gắn đào tạo với thực tiễn để khách hàng – học viên có đƣợc kiến thức cần thiết, thực hiện đƣợc những nhiệm vụ đƣợc giao trong đúng ngành nghề mà họ đƣợc đào tạo.

     

    Hoạt động kiểm định chất lượng, đƣợc coi nhƣ là một trong các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng của trƣờng. Dựa vào khung đảm bảo chất lƣợng và cơ chế đảm bảo chất lƣợng, trƣờng cần xây dựng mô hình chất lƣợng cho trƣờng mình. Tuy nhiên, công việc này trên thực tế là khó khăn và cái đã làm đƣợc chƣa phải là nhiều và chƣa làm hài lòng những ai quan tâm.

     

    35

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    Cần nhấn mạnh tính đáp ứng và năng động nhà trường đối với nhu cầu của nền kinh tế đang chuyển đổi. Trong khi nạn thất nghiệp vẫn là mối đe dọa đối với sinh viên tốt nghiệp thì các doanh nghiệp vẫn khó khăn trong tuyển dụng lao động có tay nghề cao, có khả năng linh hoạt, nhanh nhạy, năng động và sáng tạo, có trình độ tin học và ngoại ngữ.

     

    Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu quả sử dụng các nguồn lực cũng là một yêu cầu tất yếu trong xác định và quản lý chƣơng trình đào tạo.

     

    Hơn nữa, không thể chỉ nhà nƣớc lo vấn đề đào tạo đại học mà phải gắn với doanh nghiệp. Cần đẩy mạnh mô hình các doanh nghiệp tham gia vào việc đào tạo, tạo điều kiện thực tập cho sinh viên. Nhà trƣờng nên “bắt tay” với các doanh nghiệp tạo cơ hội việc làm cho sinh viên khi ra trƣờng, đây cũng là cách tốt nhất tự giải thoát mình khỏi bế tắc đầu ra, nhằm tăng cƣờng tính gắn kết giữa đào tạo và sử dụng, giữa nhà trƣờng và thị trƣờng lao động nói riêng, giữa nhà trƣờng và xã hội nói chung.

     

    3.2. Nâng cao chất lƣợng giảng viên và hệ thống cán bộ nhân viên hỗ trợ công tác giảng dạy

     

    Giảng viên, ngƣời truyền đạt không chỉ kiến thức mà cả niềm say mê nghề nghiệp cho sinh viên, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo.

     

    Thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên về chuyên môn, ngoại ngữ; tiêu chuẩn hóa cán bộ quản lý phù hợp với chức danh và nhiệm vụ đƣợc phân công. Ƣu tiên đặc biệt đối với những ngành đào tạo chƣa có giảng viên trình độ tiến sỹ.

     

    Thực hiện qui hoạch đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp và chuyên gia đầu ngành, đội ngũ giảng viên, nhân viên kỹ thuật; đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm định chất lƣợng từ trƣờng đến khoa.

     

    Quy định chính sách khuyến khích động viên để sớm có một tỷ lệ nhất định giảng viên đƣợc phong học hàm. Phát triển tổ chức làm nhiệm vụ tạo nguồn cho đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ phục vụ chiến lƣợc đào tạo cán bộ sau đại học trong và ngoài nƣớc.

     

    Tuyển dụng cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn cao, sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi về trƣờng.

     

    Hợp tác trao đổi giảng viên giữa nhà trƣờng với các trƣờng đại học nƣớc ngoài. Tăng cƣờng mời chuyên gia, cán bộ khoa học trình độ cao ở các trƣờng đại học, viện nghiên cứu trong nƣớc về giảng dạy các chuyên ngành còn thiếu giảng viên.

     

    Tổ chức cam kết trách nhiệm giữa cán bộ, giảng viên với nhà trƣờng về nghĩa vụ, quyền lợi, kịp thời tôn vinh những ngƣời có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và có đóng góp lớn đối với nhà trƣờng.

     

    3.3. Đổi mới quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục Đại học

     

    Việc này sẽ khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào quá trình cung cấp dịch vụ giáo dục, qua đó thay đổi cách đánh giá chất lƣợng giáo dục.

     

    Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục đại học ở trƣờng còn nhiều bất cập. Điều đó

     

    36

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    ảnh hƣởng tới chất lƣợng cũng nhƣ hiệu quả của đầu tƣ cho giáo dục. Quy trình cung cấp dịch vụ đại học chắc chắn phải thay đổi. Sự thay đổi này hƣớng tới việc đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.

     

    Sơ đồ 3.1. Quy trình cung cấp dịch vụ giáo dục

     

    Nhu cầu của thị

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

    trƣờng lao động về

     

    giáo dục của các trƣờng

    kiến thức và kỹ năng

    Khả

    năng

    cung

    cấp

    dịch  vụ

       

    của các địa phƣơng, ngành

       
    • Lƣợng cầu dịch vụ giáo dục ở

    Nhu cầu, khả năng

    các địa phƣơng/ngành

    của học sinh và định

    –  Yêu cầu về  các  kỹ năng và

    hƣớng của gia đình

    kiến thức bổ trợ

    Cung cấp

     

    dịch vụ

     

    Kiểm tra

     

    và đánh giá

     

    dịch vụ

     

    Thiết kế chƣơng trình và giáo trình

     

    Điều

    Xác định địa điểm đào tạo, thời gian, thời lƣợng đào tạo

     

    chỉnh

    Lựa chọn, đào tạo và bồi dƣỡng giảng viên

     

    dịch vụ

    Xác định học phí, mức đóng góp, cơ cấu, học bổng

     

    và quá

     

    trình nếu

    Thiết kế các chƣơng trình truyền thông giáo dục, định hƣớng

     
     

    cần thiết

     

    nghề nghiệp

     
         
           

    Bên cạnh đó, việc thay đổi phƣơng pháp giáo dục chất lƣợng dịch vụ giáo dục là cần thiết. Việc đánh giá chất lƣợng giáo dục không nên chỉ một chiều: giáo viên đánh giá sinh viên mà cần thiết phải có đánh giá của sinh viên về giáo viên. Dƣới góc nhìn của dịch vụ, sinh viên là khách hàng và họ có quyền đánh giá chất lƣợng dịch vụ thông qua trình độ, thái độ và khả năng của giáo viên.

     

    Nên thiết lập chế độ thƣởng theo thành tích, thƣởng và ghi nhận các giáo viên có những cải tiến trong công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Giáo viên nên đƣợc đánh giá thƣờng xuyên bởi chính sinh viên, đồng nghiệp, cấp trên và các tổ chức chuyên đánh giá chất lƣợng độc lập đƣợc mời từ bên ngoài trên các mặt nhƣ sự chuẩn bị bài giảng, phƣơng pháp giảng dạy và những đóng góp cho sự phát triển của khoa, trƣờng.

     

    3.4. Thực hiện các chương trình truyền thông giáo dục từ các cấp học phổ thông

     

    Thị trƣờng lao động ngày càng có nhiều cơ hội việc làm cho ngƣời lao động trẻ nhƣng cũng hàm chứa trong đó không ít thách thức với không chỉ ngƣời lao động mà cả các cơ sở đào tạo cung cấp ngƣời lao động. Việc thực hiện các chƣơng trình truyền thông nhằm định hƣớng nghề nghiệp theo khả năng và sở thích của học sinh cần đƣợc xem nhƣ là một trong những cách giúp ngƣời lao động và các cơ sở đào tạo tránh lãng phí nguồn lực hữu

     

    37

     

    TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 18. 2014

     

    hạn của mình mà đạt đƣợc những mục tiêu mong muốn.

     

    Các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, trong các diễn đàn và tại các trƣờng phổ thông, việc định hƣớng nghề cho học sinh cần đƣợc chú trọng hơn với nhiều hoạt động nhƣ tƣ vấn nghề nghiệp, chọn ngành, chọn nghề hợp với sở thích, năng lực của các em và góp phần làm thay đổi cách nghĩ của nhiều bậc phụ huynh về những suy nghĩ trái chiều.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo (số 760/BC- BGDĐT ngày 29/10/2009 của Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT).
    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chương trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Mô hình trường đại học trực thuộc địa phương ở Việt Nam”, 04-05/12/2008 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Trƣờng Đại học Hồng Đức- Chƣơng trình Fulbright tại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Quản trị trong các trường đại học địa phương ở Việt Nam”, 05-06/3/2010 tại

    Thanh Hóa.

     

    • Nguyễn Văn Bảo (2006), Trường đại học trực thuộc địa phương, Trường cao đẳng Cộng đồng – mô hình mới đào tạo nguồn nhân lực, Tạp chí kinh tế và phát triển, Hà Nội.
    • Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (1997), Về loại hình Trường cộng đồng trong điều kiện Việt Nam, Phát triển giáo dục, (4/1997), Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội
    • Tài liệu từ phòng Tổ chức cán bộ, phòng Đào tạo, phòng Công tác HSSV

    APPLYING SERVICE MARKETING TO IMPROVE THE

     

    TRAINING QUALITY AT HONG DUC UVIVERSITY

     

    Le Quang Hieu

     

    ABSTRACT

     

    Hong Duc University, which was established in 1997, is the fisrt local university in Việt Nam. Up to now, the scale of education of this university becomes larger with more than 16,000 students. From economic viewpoint, the university is also a service organization. Therefore applying marketing to satify customer’s needs is essential. This article focus on assessing factors which influence on the quality education of Hong Duc university based on 7P’s model of Marketing Services, and we finally propose some solutions in order to increase quality of the university.

     

    Key words: Marketing Services, quality of university education, Hong Duc University.

     

    Ngƣời phản biện: PGS.TS. Trần Hùng; Ngày nhận bài: 10/1/2014; Ngày thông qua

     

    phản biện: 20/1/2014; Ngày duyệt đăng: 18/3/2014

     

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%E1%BA%A2NH-H%C6%AF%E1%BB%9ENG-C%E1%BB%A6A-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-4.0-%C4%90%E1%BA%BEN-QUY%E1%BA%BET-%C4%90%E1%BB%8ANH-KH%E1%BB%9EI-NGHI%E1%BB%86P-KINH-DOANH-ONLINE-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TH%C3%80NH-PH%E1%BB%90-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN QUYẾT ĐỊNH KHỞI NGHIỆP KINH DOANH ONLINE CỦA SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

     

    EFFECTING OF INDUSTRY 4.0 TO DECIDE TO START DOING BUSINESS ONLINE OF UNIVERSITIES’ STUDENTS IN HO CHI MINH CITY

     

    Nguyễn Thị Liễu Điền1, Nguyễn Xuân Trường1

     

    Ngày nhận bài: 05/11/2018      Ngày chấp nhận đăng: 23/11/2018        Ngày đăng: 05/4/2019

     

    Tóm tắt

     

    Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục đích xem xét ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định kinh doanh online của sinh viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp kinh doanh (SEE), thuyết hành động hợp lý TRA, mô hình hành vi dự định TPB, mô hình chấp nhận công nghệ TAM, mô hình nghiên cứu của Krueger – Brazeal, mô hình nghiên cứu của Shapero – Sokol và các nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài để xác định mô hình nghiên cứu gồm 9 yếu tố. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp đã được áp dụng, trong đó nghiên cứu chính thức tiến hành với phương pháp khảo sát cắt ngang (cross-sectional) bằng bảng khảo sát (questionnaire). Phương pháp lấy mẫu thuận tiện đã được áp dụng. Kết quả thu được 503 bảng khảo sát hợp lệ của 503 đáp viên. Kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA), nhân tố xác định (CFA) và phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) bằng phần mền ứng dụng SPSS 22 và AMOS 20. Kết quả cho thấy các yếu tố: Mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online; Sự tự tin với kinh doanh online và Xu hướng công nghệ có ảnh hưởng đến Ý định kinh doanh online của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng các yếu tố: Chuẩn chủ quan; Thông tin về kinh doanh online trên Internet; Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 và Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có tác động cùng chiều đến Sự mong đợi khởi nghiệp kinh doanh online và yếu tố Sự tự tin khi kinh doanh online.

     

    Từ khóa: Công nghệ 4.0, khởi nghiệp, kinh doanh online, quyết định kinh doanh.

     

    JEL Classification Code: M31, M37, M39.

     

    Abstract

     

    This study was conducted to examine the impact of technology 4.0 on the online business decision of students in Ho Chi Minh City. Based on the theory of entrepreneurial start-ups – SEE, Theory of Reasoned Action – TRA, Theory of Planned Behavior – TPB, Technology Acceptance Model – TAM, Research Model of Krueger-Brazeal, Research Model of Shapero-Sokol and previous

     

    __________________________________________

     

    • Trường Đại Học Tài chính – Marketing

    50

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    studies related to the topic, the team developed a proposed model of nine factors including the “Business Decision” factor. The study of 503 validated samples, using EFA, CFA, and SEM, indicated that the expectation factor for starting an online business, Confidence factor for online business and Technological Trends influence the Intent of Online Business of Students. In addition, the study also confirmed that Subjective norms, Information about online business on the Internet, Knowledge platform 4.0 technology, and the 4.0 Technology experience have a positive impact on Expectation factor and Confidence factor in Online Business.

     

    Key words: Technology 4.0, startup, online business, business decision.

     

    1. Giới thiệu

     

    Khởi nghiệp kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0 đã tạo nên sự thay đổi lớn. Các công nghệ được nhắc đến trong cuộc cách mạng 4.0 hiện nay không hề mới, nhưng những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2017 các công nghệ này hội tụ với nhau và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động marketing trên toàn thế giới, xu hướng marketing sẽ dịch chuyển từ truyền thống sang công nghệ số để kịp thích nghi với những thay đổi của hành vi khách hàng trong thời đại công nghệ số. Tác động dễ thấy nhất của cuộc cách mạng 4.0 chính là sự bùng nổ của mạng Internet, thương mại điện tử và cách thức tiếp thị của các doanh nghiệp, chính sự thay đổi này đã tạo nên nhiều cơ hội kinh doanh trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Cách thức tiếp thị thời đại 4.0 chủ yếu được phát triển dựa trên nền tảng Internet, đây cũng là động lực để thúc đẩy các cá nhân, nhóm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về các chỉ số về tinh thần khởi nghiệp và đứng thứ 2 về thái độ tích cực đối với khởi nghiệp là kết quả khảo sát của tập đoàn Amway kết hợp cùng đại học Technische Univeritat Minchen và công ty Nghiên cứu thị trường Gft. Đó là về tinh

     

    thần khởi nghiệp, nhưng theo báo cáo về chỉ số khởi nghiệp của Theo diễn đàn Khởi nghiệp Việt Nam 2015, cứ 100 người Việt Nam thì có 18 người có ý định khởi nghiệp nhưng chỉ có 2 trong số đó là người triển khai ý định khởi nghiệp trên thực tế. Các doanh nghiệp startup chủ yếu hoạt động theo hình thức kinh doanh online. Hình thức này bùng nổ trong 5 năm trở lại đây và trở thành xu hướng khởi nghiệp của giới trẻ. Khởi nghiệp kinh doanh đã có lịch sử lâu đời nên theo sau đó cũng đã có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu về vấn đề khởi nghiệp xuất hiện. Tuy vậy các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc khai thác các yếu tố tác động đến ý định/mong muốn/quyết định kinh doanh online, nhưng chưa khai thác sâu vào những vấn đề đặt trong bối cảnh cùng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư (hay còn gọi là cách mạng 4.0).

     

    Trước thực tiễn nêu trên, đề tài nghiên cứu

     

    “Ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm đo lường ảnh hưởng của chúng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    51

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2. Cơ sở lý thuyết

     

    2.1. Khái niệm công nghiệp (công nghệ) 4.0

     

    Cách mạng Công nghiệp 4.0 bắt đầu từ khái niệm “Industrie 4.0” trong một báo cáo của Chính phủ Đức năm 2013. “Industrie 4.0” kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. (Gartner, 2015).

     

    Theo Klaus Schwab, cách mạng Công nghiệp 4.0 diễn ra trên 3 lĩnh vực gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI); Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data).

     

    Trong nghiên cứu này, Công nghệ 4.0 được đề cập ở lĩnh vực kĩ thuật được ứng dụng trong kinh doanh online.

     

    2.2. Khái miệm quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Theo Neil Blumenthal, đồng giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo).

     

    Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: A startup is “A human institution designed to create new products and services under conditions of

    extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”).

     

    Trong bài nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là một động từ biểu thị cho hoạt động bắt đầu của một doanh nghiệp, kinh doanh một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó.

     

    Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online: là một chuỗi các bước thực hiện, bắt đầu từ việc đưa ra thông tin, phân tích và cụ thể là lựa chọn bắt đầu kinh doanh trên những nền tảng được phát triển trên mạng Internet.

     

    2.3. Các lý thuyết nền tảng liên quan đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    • Các lý thuyết khoa học hành vi:

    Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý hành vi (Olson&Zanna, 1993).

     

    Theo học thuyết TRA của Ajzen & Fishben,

     

    • định hành vi (Behavior Intention – BI) là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi. Ý định hành vi chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố: Thái độ cá nhân (Attitude Toward Behavior – AB) và Chuẩn chủ quan (Subjective Norm – SN). Đến năm 1991, Ajzen đề xuất Thuyết hành vi dự định – TPB (Theory of Planed Behavior) bằng cách bổ sung thêm các yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” vào mô hình gốc ban đầu để dự đoán hành vi của con người. Yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” là việc mà các nhân cảm thấy dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành động dựa trên các nguồn lực và cơ hội có sẵn. Lý thuyết hành động hợp lý TRA và lý thuyết hành vi dự định TPB được chứng minh khác nhau của các cá nhân (Sheppard&ctg, 1998).

    52

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model):

    Trong nửa cuối thế kỉ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm nghiệm nhằm nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ của người sử dụng. Năm 1986, Davis đã đề xuất mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model). Lý thuyết này được công nhận là công cụ hữu ích trong việc dự đoán thái độ của người sử dụng. Đặc biệt, TAM được công nhận rộng rãi là một mô hình đáng tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận IT của người sử dụng. Mô hình TAM bao gồm, nhận thức sự hữu ích là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ (Davis 1989, tr320), nhận thức tính dễ sử dụng, là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực (Davis 1989, tr320) và thái độ hướng đến việc sử dụng là cảm giác tích cực hay tiêu cực có tính ước lượng về việc thực hiện hành vi vì mục tiêu (Fishbein và zen 1975, tr 216). Định nghĩa này lấy từ thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action).

    2.4. Các nghiên cứu đã thực hiện về ý định và quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Nhìn chung, số lượng nghiên cứu về ý định và quyết định khởi nghiệp của sinh viên vẫn còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu tiêu biểu về chủ đề này được trình bày ở bảng 1.

     

    2.5. Các yếu tố tác động đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online

     

    Dựa vào các đề tài nghiên cứu tham khảo và nhân tố tác động làm cơ sở để xây dựng các biến cho mô hình đề xuất, gồm:

     

    • Chuẩn chủ quan, (2) Thông tin về kinh doanh online, (3) Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, (4) Xu hướng công nghệ, (5) Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, (6) Trải nghiệm công nghệ 4.0, (7) Sự tự tin khi kinh doanh online, (8) Ý định kinh doanh. Trong đó, biến độc lập là các biến Chuẩn chủ quan, Thông tin về kinh doanh online trên Internet, Xu hướng công nghệ, Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0. Biến trung gian là: Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online, Sự tự tin khi kinh doanh online, Ý định kinh doanh online. Biến phụ thuộc là Quyết định kinh doanh online.

     

     

     

    53

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Bảng 1. Một số nghiên cứu về ý định khởi nghiệp kinh doanh và

     

    quyết định khởi nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước

     

    STT

    Phạm

    Hướng tiếp cận

    Các yếu tố ảnh hưởng được xác định

    Nguồn tham

     
     

    vi

           

    khảo

         

    1

     

    Những yếu tố có thể lôi

    (1) (1) Cảm nhận sự khao khát, (2) Xu

    Shapero & Sokol

     
     

    kéo thúc đẩy cá nhân đi

    hướng hành động, (3) Cảm nhận tính

       

    (1982)

     
       

    đến ý định khởi nghiệp

    khả thi.

       
                   
                 

    2

     

    Tiềm năng để tạo ra một

    (2) (1) Sự khao khát, (2) Tính khả thi, (3)

     

    Krueger &

     
     

    công ty mới

    Xu hướng hành động.

    Brazeal (1994)

     
       
                       

    3

     

    Ý định khởi nghiệp của

    (3) (1) Cảm nhận sự khát khao, (2) Cảm

    Linan (2004)

     

    nước

    sinh viên

    nhận tính khả thi, (3) Chuẩn mực xã hội.

                 
                     
     

    Tác nhân khuyến khích ý

    (4) (1) Cảm nhận môi trường giáo dục đại

    Luthje & Franke

     
     

    Ngoài

    4

    định khởi nghiệp

    học, (2) Điều kiện thị trường và tài

    (2004)

         
         

    chính, (3) Tính cách cá nhân.

               
         

    (5) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    5

     

    Mô hình TPB

    & Manjit Singh

     
         

    Nhận thức kiểm soát hành vi.

    Sandhu (2012)

     
           
               
       

    Mô hình TPB& 2 yếu tố

    (6) (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3)

    See Kwong Goh

     

    6

     

    cảm xúc cha nhân (niềm

    Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Niềm

    & Manjit Singh

     
       

    tin, sự cam kết)

    tin tình cảm, (5) Cam kết cảm xúc.

    Sandhu (2013)

     
                       
       

    Các yếu tố ảnh hưởng đến

    (7) (1) Chuẩn mực xã hội, (2) Cảm nhận sự

               
       

    ý định khởi nghiệp của

    khát khao, (3) Cảm nhận tính khả thi, (4)

     

    Hoàng Thị

     

    7

     

    Cảm nhận môi trường giáo dục đại học,

     
     

    sinh viên trường Đại học

    Thương (2014)

     
       

    (5) Điều kiện thị trường và tài chính, (6)

       

    Lao động – Xã hội

               
       

    Tính cách cá nhân.

               
                     
                       
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

     

    Nguyễn

     

    Quốc

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

    (8) (1) Thái độ và sự đam mê đối với khởi

     
       

    Nghi,

     

    Thị

     

    8

     

    nghiệp của sinh viên khối

    sự kinh doanh, (2) Nguồn vốn, (3) Sự

    Diệu

    Hiền,

    Mai

     
       

    ngành quản trị kinh doanh

    sẵn sàng kinh doanh, (4) kinh nghiệm

    Ngọc

    Thanh

     
       

    tại các trường đại học/cao

    làm việc, (5) Chuẩn chủ quan, giáo dục.

    (2016)

         
     

    nước

    đẳng ở TPHCM

                 
     

    Các nhân tố ảnh hưởng

    (9) (1) Thái độ và sự hiệu quả có ảnh

               
                   
     

    Trong

    đến ý định khởi sự doanh

    Phan Anh Tú và

     
     

    nghiệp: Trường hợp sinh

    hưởng nhiều nhất, (2) Giáo dục và thời

       

    9

     

    cơ khởi nghiệp, (3) Nguồn vốn, (4)

    Giang  Thị

     

    Cẩm

     
     

    viên khoa kinh tế và quản

     
       

    Quy chuẩn chủ quan, (5) Nhận thức

    Tiên (2015)

       
       

    trị kinh doanh trường đại

       
       

    kiểm soát hành vi.

               
       

    học Cần Thơ

               
                     
               
         

    (10) (1)Sự ham muốn kinh doanh, (2) Khả

    Các nhân tố ảnh

     
       

    Các nhân tố ảnh hưởng

    năng tài chính, (3) Khả năng tự chủ, (4)

    hưởng đến ý định

     
       

    Tính sáng tạo, (5) Tính bền bỉ, (5) Tư

    khởi

    sự

    doanh

     
       

    đến ý định khởi sự doanh

       

    duy làm chủ, (6) Khuynh hướng chấp

    nghiệp  của

    sinh

     

    10

     

    nghiệp của sinh viên kinh

     

    nhận rủi ro, (7) Tính tự tin, (8) Nhu cầu

    viên

    kinh

     

    tế  đã

     
       

    tế đã tốt nghiệp trên địa

     
       

    thành đạt, (9) Nền tảng gia đình, (10)

    tốt

    nghiệp

    trên

     
       

    bàn thành phố Cần Thơ

       

    Giáo dục, (11) Chính sách Chính phủ

    địa bàn thành phố

     
         
         

    và địa phương.

    Cần Thơ (2015)

     
                       

    54

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    2.6. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu Giả thuyết

     

    • Chuẩn chủ quan

    Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) được phát hiện và nghiên cứu bởi Fishbein (1967), áp dụng cho các nghiên cứu về thái độ và hành vi. Trong thuyết này, ý định hành vi là yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng và ý định hành vi bị tác động bởi hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan. Chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn thực hiện hành vi đó (gia đình, bạn bè,…). Thuyết hành vi kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) được Ajzen (1991) nghiên cứu, Đây là sự mở rộng của thuyết hành động hợp lý (TRA). Trong thuyết này, Ajzen đã ra thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức là lòng tin của cá nhân về khả năng thực hiện hành vi, dự định thực hiện hành vi chịu tác động bởi 3 yếu tố: Thái độ, Chuẩn chủ quan, Kiểm soát hành vi và nhận thức. Với những lập luận trên, giả thuyết được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H1: Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Thông tin về kinh doanh online trên Internet

    Thông tin về kinh doanh online trên Internet trong nghiên cứu này được hiểu như là những dữ kiện và tin tức, tri thức có liên quan, phục vụ cho hoạt động kinh doanh online được truyền và cập nhật trên Internet.

     

    Biến Thông tin về kinh doanh online được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định.

    Với những lập luận trên giả thuyết về thông tin khởi nghiệp kinh doanh được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H2: Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Xu hướng công nghệ

    Yếu tố Xu hướng công nghệ ảnh hưởng đến

     

    • định tham gia vào các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh. Những yếu tố hoàn cảnh có thể hỗ trợ hoặc ngăn cản quá trình khởi sự kinh doanh. Tầm quan trọng của yếu tố bên ngoài trong các quyết định khởi nghiệp được nhấn mạnh trong các mô hình của Bird (1993), Martin(1984), và mô hình SEE của Shapero & Sokol (1982) đề xuất. Xu hướng công nghệ 4.0 được đề cập trong bài là những xu hướng công nghệ mới 4.0 xuất phát từ môi trường bên ngoài. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Reynolds

    – 1995, khi chứng minh rằng điều kiện môi trường, xu hướng của xã hội không chỉ là động lực giúp cá nhân khởi nghiệp kinh doanh, mà nó còn ảnh hưởng tích cực đến ý định cũng như quyết định khởi nghiệp của một người. Biến Xu hướng công nghệ 4.0 được phát triển dựa trên lý thuyết về mô hình TPB, ở biến kiểm soát hành vi cảm nhận tác động đến ý định. Với những lập luận trên 2 giả thuyết về xu hướng công nghệ được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H3a: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Giả thuyết H3b: Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    55

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0

    Các nghiên cứu về yếu tố giáo dục được công bố là nghiên cứu của Schwarz & cs (2009) và Turker & Selcuk (2009) đánh giá yếu tố “môi trường giáo dục” là xem xét môi trường giáo dục nói chung có khuyến khích ý tưởng, sáng kiến khởi nghiệp của sinh viên hay không hoặc kiến thức, nội dung của môn học mang lại

     

    • tưởng khởi nghiệp và kỹ năng cho sinh viên. Kết quả trong nghiên cứu mô hình của nhóm nghiên cứu Vương Thanh Tuyền (2017); Phan Anh Tú (2015) cũng khẳng định điều đó. Với những nghiên cứu trên giả thuyết được đề xuất về nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 như sau:

    Giả thuyết H4: Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Trải nghiệm công nghệ 4.0

    Các hoạt động, công việc đã làm trước đây, đặc biệt các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp nên tác động tích cực đến sự tự tin của cá nhân về tính khả thi khởi nghiệp (Greve, A., & Salaff, J.W, 2003). Điều này cũng được chứng minh qua nghiên cứu về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học do Nguyễn Thu Thủy thực hiện, kinh nghiệm lãnh đạo và kinh nghiệm thương mại ảnh hưởng rất lớn đến sự tự tin về tính khả thi khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên.

     

    Dựa trên các nghiên cứu trước về các trải nghiệm liên quan đến kinh doanh và khởi nghiệp kinh doanh có thể tạo ra cho các cá nhân vốn xã hội – một tài sản vô hình của doanh nhân giúp cung cấp, hỗ trợ cần thiết khi khởi nghiệp kinh doanh (Greve, A., & Salaff, J. W, 2003)

    để phát triển thang đo. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền, Mai Võ Ngọc Thanh (2016) cũng đề cập đến yếu tố này. Từ các lập luận trên giả thuyết về trải nghiệp công nghệ 4.0 của bản thân được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H5: Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Mong đợi lợi ích từ khởi nghiệp kinh doanh online

    Yếu tố Mong đợi lợi ích từ kinh doanh online được tham khảo từ kết quả của nghiên cứu của Alderson và Martin (1965) và ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên khoa kinh tế và quản trị kinh doanh Đại học Cần Thơ của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất:

     

    Giả thuyết H6: Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online.

     

    • Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh

     

    online

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Bên cạnh đó, nó cũng phản ánh niềm tin về khả năng thành công khi khởi nghiệp (Krueger N. &., 1994). Nghiên cứu về ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Công nghệ ở Malaysia (MTU) do Amran Rasli và Bernard Wong – 2008 cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp của sinh viên trường này. Điều đó cũng được chứng minh qua

     

    56

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của tính cách cá nhân đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên do Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự thực hiện năm 2011.

     

    Shapero cho rằng sự tự tin khởi nghiệp liên quan đến nhận thức của con người về khả năng, năng lực của mình khi quyết định khởi nghiệp và cũng tương tự khái niệm “nhận thức kiểm soát hành vi” của Ajzen – 1991. Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh – SEE cho thấy có mối tương quan giữa tính khả thi khi khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp của sinh viên và nghiên cứu tại Việt Nam của nhóm nghiên cứu Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn (2015). Từ các lập luận trên giả thuyết về sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

     

    Giả thuyết H7: Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • Ý định khởi nghiệp kinh doanh online
    • định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí để thúc đẩy sự sáng tạo kinh doanh hoặc liên doanh mới. Nghiên cứu về các yếu tố tác động

    đến ý định có các thuyết hành động hợp lý (TRA), thuyết dự định hành vi (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM). Gần đây nhất, có thêm một nghiên cứu của Kautomen 2015 đã xác nhận rằng, ý định khởi nghiệp dự đoán được hành vi trong hoạt động khởi nghiệp của con người. Trong đề tài này, ý định khởi nghiệp có thể được hiểu như là một dự định khám phá và phát triển những cơ hội kinh doanh để sản xuất ra những sản phẩm dịch vụ trong tương lai bằng việc thành lập một tổ chức kinh doanh/ công ty mới (Venkataraman, 1997). Trong nước các đề tài nghiên cứu về ý định có nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội (2014) của Hoàng Thị Thương; Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên. Từ các lập luận trên giả thuyết về

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online được đề xuất như sau:

    Giả thuyết H8: Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng biến với quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

     

     

     

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

     

     

    57

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    3. Phương pháp nghiên cứu

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức để kiểm định mô hình và các giả thuyết.

     

    Đề tài được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Từ mô hình đề xuất, áp dụng phương pháp hỗn hợp, thực hiện hai giai đoạn nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính

    thức để kiểm định lại mô hình nghiên cứu và các giả thuyết trong mô hình.

     

    3.1. Quy trình nghiên cứu

     

    3.1.1. Nghiên cứu sơ bộ

     

    • Xây dựng thang đo

    Thang đo được sử dụng cho 39 biến quan sát định lượng là thang đo Likert 5 điểm, thay đổi từ 1 là “Hoàn toàn không đồng ý” đến 5 là “Hoàn toàn đồng ý”, và bao gồm 10 thành phần sau đây: Chuẩn chủ quan (5 biến quan sát); Thông tin về kinh doanh online trên Internet (4 biến quan sát); Xu hướng công nghệ 4.0 (3 biến quan sát).

     

     

    Nghiên cứu sơ bộ

             
                 
     

    Cơ sở lý thuyết

       

    Mô hình nghiên cứu

     
         
               

    Mô hình nghiên cứu

     

    Thảo luận nhóm (n = 9)

       

    hoàn chỉnh

     
       
               
                   

    Phỏng vấn chuyên sâu

     

    (n = 33)

     

    Bảng câu hỏi

     

    sơ bộ

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    sơ bộ (n = 50)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    Bảng câu hỏi

     

    chính thức

     

    Hoàn chỉnh biến quan sát

    thang đo sơ bộ

     

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s

    Alpha và tương quan biến tổng

     

    Nghiên cứu định lượng

     

    chính thức (n = 500)

     

    Cronbach’s Alpha

     

    EFA

     

    CFA

     

    SEM

     

    Kiểm định Bootstrap

     

    và giả thuyết

     

    Nghiên cứu định

     

    lượng chính thức

    Kiểm tra hệ số Cronbach’s  Alpha và tương quan biến tổng

     

    Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố  khám phá và phương sai trích

     

    Loại biến có trọng số EFA nhỏ

     

    Kiểm định sự phù hợp của mô

    hình với thị trường

     

    Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị

     

    phân biệt, tính đơn hướng.

     

    Kiểm tra độ thích hợp của mô

    hình và giá trị liên hệ lý thuyết.

     

    Hình 2. Sơ đồ quy trình nghiên cứu

     

     

    58

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (4 biến quan sát); Trải nghiệm của bản thân về công nghệ 4.0 (5 biến quan sát); Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (3 biến quan sát); Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (4 biến quan sát); Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (6 biến quan sát); và biến phụ thuộc Quyết định khởi nghiệp (5 câu hỏi).

     

    • Nghiên cứu định tính

    Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn chuyên sâu.

     

    • Nghiên cứu định lượng

    Nghiên cứu định lượng sơ bộ được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu cắt lát.

     

    Dựa vào kết quả trả về nhờ kĩ thuật phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha, không bỏ đi biến quan sát nào.

     

    Thang đo chính thức được hình thành với 9 yếu tố và 39 biến quan sát.

     

    3.1.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

     

    Đề tài sử dụng hai phần mềm phân tích thống kê SPSS (Statictical Package for the Social Sciences) và AMOS (Analysis of Moment Structures) để phân tích dữ liệu.

     

    Tiến hành phân tích dữ liệu thực hiện qua các bước sau: (1) Chuẩn bị thông tin, thu nhận các bảng câu hỏi, tiến hành làm sạch thông tin, mã hóa các thông tin trong bảng trả lời, nhập liệu vào phần mềm SPSS; (2) Thực hiện nghiên cứu thống kê mô tả, tiến hành thống kê mô tả dữ liệu thu nhập được về các điều kiện nhân khẩu học và mức độ cảm nhận của các đối tượng khảo sát về các phát biểu; (3) Đánh giá độ tin cậy của thang đo, tiến hành đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha; (4) Thực hiện phân tích nhân tố khám phá, phân tích

    các khái niệm đo lường bằng phân tích nhân tố khám phá EFA; (5) Kiểm định tính hội tụ, phân biệt, tính đơn nguyên và mức độ phù hợp của dữ liệu bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA; (6) Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định độ thích hợp của mô hình;

     

    • Phân tích cấu trúc đa nhóm giữa các nhóm.

    4. Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

     

    Qua kết quả của kiểm định Cronbach’s Alpha trên ta thấy 8 thang đo bao gồm đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0.3. Vì vậy, rút ra kết luận rằng các biến quan sát của thang đo đều đạt yêu cầu và không loại biến quan sát nào cả.

     

    4.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    Phân tích EFA cho kết quả hệ số KMO = 0.882 nên dữ liệu phù hợp để phân tích EFA, kiểm định Barlett’s đạt mức ý nghĩa là 0,000, vì vậy các biến quan sát có tương quan với nhau xét trên phạm vi tổng thể. Có 8 nhân tố được rút trích, giải thích được 71.884% sự biến thiên của dữ liệu. Các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5. Kết luận được rằng thang đo được chấp nhận. Dữ liệu từ bảng Pattern Matrix được sử dụng. 8 nhân tố được rút trích đó là: Chuẩn chủ quan (CQ) được đo lường bởi các biến quan sát CQ1, CQ, CQ3, CQ4, CQ5. Thông tin về kinh doanh online trên Internet (TT) được đo lường bởi các biến quan sát TT1, TT2, TT3, TT4. Xu hướng công nghệ 4.0 (XH) được đo lường bởi các biến quan sát XH1, XH2, XH3. Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 (KT) đo lường bởi các biến quan sát KT1, KT2, KT3.

     

    Trải nghiệm công nghệ 4.0 (TN) được đo lường bởi các biến quan sát TN1, TN2, TN3, TN4, TN5. Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (MD) được đo lường bởi các biến

     

    59

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    quan sát MD1, MD2, MD3. Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (STT) được đo lường bởi các biến quan sát STT1, STT2, STT3, STT4. Ý định khởi nghiệp kinh doanh online (YD): YD1, YD3,YD4,YD5,YD6.

     

    4.3. Đánh giá độ phù hợp của mô hình

     

    Tiến hành kiểm định nhân tố khám phá (CFA) để kiểm định xem mô hình đo lường này có đạt được yêu cầu chưa. Kết quả CFA cho thấy rằng các giá trị đều thỏa điều kiện nên mô hình phù hợp với dữ liệu.

     

    4.4. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

     

    Kết quả phân tích cấu trúc tuyến tính cho thấy mô hình có giá trị thống kê Chi-square là 1082.180 (p = 0,000); Chi-square/df = 1.804; GFI = 0.895; CFI = 0.959; TLI = 0.963; RMSEA= 0.040. Theo Hair và cộng sự (2006) trong một số trường hợp 0.8 < GFI < 0.9 vẫn có thể chấp nhận khi phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, như vậy các chỉ tiêu đánh giá mức độ đều phù hợp với dữ liệu thị trường trong mức cho phép, có ý nghĩa thống kê vì P-value bé hơn 0,05.

     

    Kết quả cho thấy các trọng số đều mang dấu dương, điều này có ý nghĩa như sau:

     

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Trải nghiệm công nghệ có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là nhân tố có tác động mạnh mẽ nhất đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh. (0.505)

     

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối quan hệ đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

     

    • định khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan đồng biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đối với nhân tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online thì Chuẩn chủ quan có tác động mạnh hơn là Thông tin về kinh doanh online (0.616 > 0.114).

     

    Đối với nhân tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố tác động xếp thứ tự từ mạnh đến yếu lần lượt là Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0, Trải nghiệm công nghệ 4.0 và Xu hướng công nghệ 4.0 (0.43 > 0.233 > 0.011).

     

    Trong các yếu tố tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online thì yếu tố Sự tự tin tác động mạnh mẽ nhất (0.505).

     

    60

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

     

     

    Hình 3. Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyến định

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại TP.HCM sau khi chạy SEM

     

     

    4.5. Kiểm định mô hình

     

    Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và

    phân tích mô hình hồi quy tuyến tính SEM, các giả thuyết ban đầu nhóm đưa ra đã hiện chỉ còn 8 nhân tố và được tóm tắt như bảng sau đây:

     

    Bảng 2. Kết quả kiểm định mô hình

     

    Ký hiệu

    Giả thuyết

    Kiểm định

     
           

    H1

    Chuẩn chủ quan có mối tương quan đồng biến với Mong đợi khi khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.

       

    H2

    Thông tin về kinh doanh online có mối tương quan đồng biến đến Mong đợi

    Chấp nhận

     
     

    khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H3a

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Sự tự tin khi

    Bác bỏ

     

    khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.

         

    H3b

    Xu hướng công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với Ý định khởi

    Chấp nhận

     
     

    nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh

       

    H4

    Nền tảng kiến thức về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến dến Sự

    Bác bỏ

     

    tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

         

    H5

    Trải nghiệm bản thân về công nghệ 4.0 có mối tương quan đồng biến với

    Chấp nhận

     
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online

       

    H6

    Mong đợi lợi ích khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối tương quan

    Chấp nhận

     
     

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online

       
     

    Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan

       

    H7

    đồng biến với Ý định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       
     

    Ý định khởi nghiệp kinh doanh online có mối quan hệ tương quan đồng

       

    H8

    biến với Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành

    Chấp nhận

     
     

    phố Hồ Chí Minh

       

    61

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    4.6. Phân tích cấu trúc đa nhóm

     

    • Kiểm định sự khác biệt theo giới tính

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa sinh viên nam và sinh viên nữ.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm nam và nhóm nữ như sau: Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet có tác động đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.063 (gần bằng 0.05). Ngược lại nhóm nữ thì gần như yếu tố này lại không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên nữ, P-value = 0.727 ( >> 0.05).

     

    • cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến Sự tự tin của sinh viên khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm nam sự ảnh hưởng này không mạnh bằng nhóm nữ vì P-value = 0.023 ( < 0.05), trong khi nhóm nữ P-value bé hơn 0.05 nhiều.

    Cả 2 nhóm nam và nhóm nữ, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không ảnh hưởng nhiều đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ( P- value đều > 0.05. Lần lượt P value của nhóm nam, nhóm nữ là 0.245 và 0.332.

     

    Cả 2 nhóm đều cho thấy rằng Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online có ảnh hưởng mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value nhỏ hơn 0.05 nhiều.

     

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng như nhau ở cả 2 nhóm do P-value = 0.002 (< 0.05 ).

    • Kiểm định sự khác nhau theo ngành học

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên không phải khối ngành kinh tế.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng AMOS, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên khối ngành kinh tế và nhóm sinh viên thuộc các khối ngành khác như sau:

     

    Nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế và nhóm không thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Chuẩn chủ quan đều tác động nhiều đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều < 0.05.

     

    • nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet không ảnh hưởng đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value = 0.475 (> 0.05). Nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế thì ngược lại, yếu tố Thông tin tác động mạnh đến mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.005 (< 0.05).
    • cả 2 nhóm sinh viên, trải nghiệm công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế sự ảnh hưởng này không mạnh mẽ bằng ở nhóm cìn lại vì P-value = 0.013.

    Cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 đều không tác động đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, do P-value đều > 0.05.

     

    • cả 2 nhóm, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều tác động mạnh đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value đều

    62

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • 05. Tuy nhiên, ở nhóm sinh viên khối ngành kinh tế có vẻ như tác động mạnh hơn vì P-value nhóm này bé hơn nhóm còn lại.
    • nhóm sinh viên khối ngành kinh tế, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value < 0.05, ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành khác thì yếu tố Xu hướng hoàn toàn không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online do P-value = 0.329 (>> 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo năm học

     

    hiện tại

     

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên năm 1&2 và nhóm sinh viên năm 3&4.

     

    Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 và nhóm sinh viên năm 3

     

    • năm 4 khác như sau: Nhóm sinh viên năm 3
    • năm 4, yếu tố Chủ quan ảnh hưởng mạnh đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online do P-value << 0.05. Nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, ảnh hưởng của Chuẩn chủ quan đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online không lớn, P-value = 0.054 (xấp xỉ 0.05).
    • nhóm sinh viên năm 1 & năm 2, Thông tin về kinh doanh online không ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.344 ( > 0.05). Nhóm sinh viên năm 3 năm & năm 4 thì thông tin có ảnh hưởng đến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online, P-value = 0.046 (< 0.05).

    Yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 hoàn toàn không ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp

    kinh doanh của 2 nhóm sinh viên năm 3 & năm 4, P-value = 0.941 ( >>0.05).

     

    • cả 2 nhóm sinh viên, yếu tố Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh đều ảnh hưởng đến
    • định khởi nghiệp kinh doanh, do P-value < 0.05. Nhưng ở nhóm sinh viên năm 1 & năm 2 thì yếu tố mong đợi ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online yếu hơn, do P-value = 0.02. Ở nhóm sinh viên năm 3 & năm 4 thì yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, P-value < 0.05. Ở nhóm còn lại thì Xu hướng công nghệ 4.0 không ảnh hưởng đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online P-value = 0.146 ( > 0.05).
    • Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập

    Có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online và Ý định khởi nghiệp kinh doanh online đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online giữa nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu hàng tháng và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu hàng tháng. Từ kết quả phân tích đa nhóm bằng Amos, ta thấy được sự khác biệt giữa 2 nhóm, nhóm sinh viên có thu nhập dưới 3 triệu và nhóm sinh viên có thu nhập trên 3 triệu như sau:

     

    • 2 nhóm này, yếu tố Thông tin về khởi nghiệp kinh doanh online đều không ảnh hưởng do P-value đều lớn hơn 0.05. Nhóm có thu nhập trên 3 triệu, trải nghiệm công nghệ 4.0 có ảnh hưởng đến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng không mạnh mẽ bằng nhóm có thu nhập thấp.
    • cả 2 nhóm, yếu tố Xu hướng công nghệ đều không tác động đến Sự tự tin, do P-value lớn hơn 0.05.

    63

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    • nhóm thu nhập nhận cao hơn, yếu tố Xu hướng công nghệ 4.0 có tác động đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online, nhưng ở nhóm thu nhâp thấp lại không có sự ảnh hưởng nêu trên do P-value = 0.63 ( > 0.05)

    5. Kết luận và hàm ý quản trị

     

    Kinh doanh online đang là xu hướng vì đây là mô hình kinh doanh hạn chế được nhiều chi phí cho những người bắt đầu khởi nghiệp, đồng thời mô hình kinh doanh online cũng đã có những đóng góp nhất định đến nền kinh tế. Xu hướng kinh doanh online mang ý nghĩa rất quan trọng, nếu doanh nghiệp không xuất hiện trên Internet thì xem như doanh nghiệp đánh mất lợi thế so với đối thủ. Vì vậy, vấn đề khởi nghiệp kinh doanh online đang được rất nhiều cơ quan nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay. Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đã giúp phát triển nhiều ngành trong nền kinh tế, chẳng hạn như ngành lẻ, vận chuyển, giáo dục, sức khỏe, tương tác xã hội…

     

    Công nghệ 4.0 dần trở thành một khái niệm quen thuộc, với tầm quan trọng trong tương lai, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cũng như các hoạt động kinh doanh trên toàn cầu.

     

    Ngày càng có nhiều doanh nghiệp startup thành công do áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất và vận hành, tạo nên sự khác biệt mạnh mẽ. Không chỉ xuất hiện ở các công ty công nghệ mới, xu hướng công nghệ 4.0 cũng lan tỏa sâu rộng đến những công ty sản xuất truyền thống đơn thuần, họ áp dụng thành tựu của nền công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất và marketing. Vì vậy, nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ 4.0 đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh là một nghiên cứu cần thiết.

    Dự án được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu của nhóm. Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn của đề tài cung cấp những số liệu khoa học cụ thể, trong tất cả những yếu tố tác động đến Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, yếu tố Chuẩn chủ quan ảnh hưởng mạnh đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.616), yếu tố Nền tảng kiến thức công nghệ 4.0 ảnh hưởng mạnh đến biến Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online (0.43). Và yếu tố Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả đến Ý định khởi nghiệp kinh doanh online với trị số cao (0.505).

     

    Theo kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ về những yếu tố tác động đến Ý định và Quyết định khởi nghiệp kinh doanh online, yếu tố Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online, vì vậy phải thiết kế chương trình mang đặc thù riêng cho từng giới. Nhóm nam, yếu tố Thông tin về kinh doanh online trên Internet tác động đến biến Mong đợi khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn. Ở cả 2 nhóm giới tính, yếu tố Trải nghiệm tác động đến sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Sinh viên khối ngành kinh tế và không thuộc ngành kinh tế: Sự khác biệt trong việc tiếp cận kiến thức, ảnh hưởng từ giảng đường đại học, vì vậy hành

     

    • khởi nghiệp kinh doanh online cũng khác nhau. Theo kết quả khảo sát, có sự khác biệt trong mối ảnh hưởng của Mong đợi, Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online. Ở nhóm sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, yếu tố Trải nghiệm công nghệ 4.0 tác động Sự tự tin khi khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh tế. Ở nhóm sinh viên không thuộc khối ngành kinh

    64

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    tế, yếu tố Thông tin công nghệ 4.0 tác động đến Mong đợi từ khởi nghiệp kinh doanh online nhiều hơn nhóm còn lại. Ngoài ra còn thiết kế chương trình phù hợp với từng đối tượng sinh

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Tiếng Việt

    viên: sinh viên năm nhất, năm hai và sinh viên năm ba, năm tư. Ở mỗi cấp sẽ có sự khác biệt rõ nét.

     

    Hoàng Thị Phương Thảo, Bùi Thị Thanh Chi. (2013). “Ý định khởi nghiệp của nữ học viên MBA tại TP.HCM”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 271.

     

    Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang. (2007). Nghiên cứu khoa học Marketing- Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM.

     

    Nguyễn Quốc Nghi, Lê Thị Diệu Hiền và Mai Võ Ngọc Thanh. (2016). Nghiên cứu khoa học – Các nhân tố ảnh hưởng đến đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khối ngành quản trị kinh doanh tại các trường Đại học, Cao đẳng ở Thành phố Cần Thơ.

     

    Nguyễn Thị Yến và cộng tác viên. (2011). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên ĐHQG TP.HCM – Đề tài nghiên cứu Khoa học Euréka.

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.

     

    Dư Thị Chung. Bài giảng Nghiên cứu Marketing- chương trình đào tạo chất lượng cao và đặc biệt.

     

    Trường Đại học Tài chính- Marketing.

     

    Trần Thị Bích Đào. (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp kinh doanh online của giới trẻ tại TP HCM.

     

    Tiếng Anh

     

    Ajzen. (1991). The theory of planned behaviour: Organizational behavior and human decision processes. 50(2), 179-211.

     

    Ajzen, I. &. (1975). Belief, Attitude, Intention and behaviour: An introduction to theory and research. 70-87.

     

    Benhardt, I. (1994). Comparative advantage in self-employment and paid work. Canadian Journal of Economics, 273-289.

     

    Dawson, C.Henley, A. & Latreille, P. (2009). Why do individuals choose self-employment? Institute for study of Labor (IZA), 3974.

     

    Garavan, T. N., O’Cinneide, B., (1994). Entrepreneurship education and training programs: a review and evaluation – Part 1. Journal of European Industrial Training, 18(8), 3-12.

     

    Galloway, L., Brown, W. (2002). Entrepreneurship education at university: a driver in the creation of high growth firms. Education Training, 44(8-9).

    Krueger. (1993). The impact of prior entrepreneurial exposure on perceptions of new venture feasibility and desirability. Entrepreneurship: Theory and practice, 18(1), pp.5-22.

     

    65

     

    Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 50, 04/2019

     

    Krueger, N. &. (1994). Entreupreneurial Potential and Potential Entreupreneurial. Entrepreneurship theory and practice, 18, 91-104.

    Mueller, S.(2011). Increasing entrepreneurial intention: Effective entrepreneurship course characteristics. International Journal of Entrepreneurship and Small Business, 13(1), 55–74.

     

    Shapero, A., & Sokol. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Encyclopedia of entrepreneurship, 72 – 79.

    Link website

     

    Nguyễn Thu Thủy. (2015). Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học, Truy cập ngày 28/04/2018. <https://www.slideshare.net/garmentspace/nghin-cu-cc-nhn-t-nh-hng-n-tim-nng-khi-s-kinh-doanh-ca-sinh-vin-i-hc>.

     

    Hoàng Thị Thương. (2014). Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Lao động – Xã hội, Truy cập ngày 29/04/2018 <https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/ Luan-van-thac-si–Cac-yeu-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-nghiep-cua-sinh-vien-truong-Dai-hoc-Lao-dong–xa-hoi-10723/>.

     

    Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Văn Long. (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi khởi sự doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Truy cập ngày 29/04/2018. <http:// tapchikhcn.udn.vn/View.aspx?idbb=Cac_yeu_to_anh_huong_den_hanh_vi_khoi_su_doanh_ nghiep_vua_va_nho_tren_dia_ban_thanh_pho_Da_Nang-5859&Nam=2013&id=87>.

     

    ThS. Đỗ Thị Xuân Lan. (2014). Lý thuyết ra quyết định, Truy cập ngày 01/05/2018.

     

    <https://tailieu.vn/doc/bai-giang-chuong-1-ly-thuyet-ra-quyet-dinh-ths-do-thi-xuan-lan-1662657.

     

    html>.

     

    John T.Roger. (2016). Thuyết dự định hành vi TPB (Theory Plan of Behavior) của Aijen (1991), Truy cập ngày 01/05/2018 <https://vneconomics.com/thuyet-du-dinh-hanh-vi-tpb-theory-plan-behavior-cua-aijen-1991/>.

     

    Phan Anh Tú, Nguyễn Thanh Sơn. (2015). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên kinh tế đã tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Truy cập ngày 02/05/2018 <https://123doc.org/document/3435581-cac-nhan-to-anh-huong-den-y-dinh-khoi-su-doanh-nghiep-cua-sinh-vien-kinh-te-da-tot-nghiep-tren-dia-ban-thanh-pho-can-tho.htm>.

     

    Sven Ove Hansson. (2015). Decision Theory, Truy cập ngày 02/05/201.

     

     

     

    66


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/NH%E1%BA%ACN-TH%E1%BB%A8C-V%C3%80-V%E1%BA%ACN-D%E1%BB%A4NG-T%C6%AF-T%C6%AF%E1%BB%9ENG-H%E1%BB%92-CH%C3%8D-MINH-V%E1%BB%80-%E2%80%9CH%E1%BB%8CC-%C4%90%E1%BB%82-L%C3%80M-VI%E1%BB%86C%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

     

    Chính trị – Xã hội

     

    NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Nguyễn Hồng Nhật

     

    TÓM TẮT

     

    Trước yêu cầu của xu thế toàn cầu hóa, cần thiết phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo của đất nước. Với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta hiện nay, một lần nữa đòi hỏi cần nhận thức và quán triệt sâu sắc hơn tư tưởng “học để làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. “Học để làm việc” đặt ra vấn đề cần phải thay đổi cả về lượng và chất đối với người dạy và người học. Trong đó, người học luôn là yếu tố trung tâm, trực tiếp. Vấn đề xác định đúng đắn mục đích, động cơ, mục tiêu, phương pháp học tập là những yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập của người học hiện nay.

     

    Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, học để làm việc.

     

    AWARENESS AND APPLICATION OF HO CHI MINH’S IDEOLOGY ABOUT ISSUE “STUDY TO WORK”

     

    ASBTRACT

     

    To meet the demand of globalization trend, it is necessary to enhance the country’s education and training quality. With the policy to renew basically and completely Vietnam’s education system of our Party nowadays, once again it needs to be aware and to apply Ho Chi Minh’s ideology about issue “Study to work”. “Study to work” raises a question is that it needs to change both the quality and quantity of teachers and learners, in which learners are the central ones. Identifying goals, motivations, studying methods is a crucial factor to improve the quality and the studying eficiency of learners nowadays.

     

    Keywords: Ho Chi Minh ideology, study to work

     

    *Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

     

     

    67

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ; sự bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tri thức nhân loại không ngừng phát triển và nâng cao, muốn tồn tại và phát triển thì điều đòi hỏi cốt yếu của mỗi người đó là không ngừng học tập. Không học tập, không chủ động thu nhận tri thức, tiếp thu cái mới thì con người sẽ sớm muộn bị lạc hậu, bị xã hội vượt qua. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy: việc học của mỗi người chưa thực sự được định hình rõ ràng, có một số xu hướng học tập không đúng mục đích, học chỉ để mà học, hay học để hiểu rằng mình cũng là người có học. Với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, một lần nữa đòi hỏi chúng ta cần nhận thức và quán triệt sâu sắc hơn nữa tư tưởng “học để làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

     

    2. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC VÀ HÀNH”

     

    Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, đồng thời là một nhà giáo dục vĩ đại, Người đã đặt nền móng đầu tiên xây dựng nền giáo dục cách mạng Việt Nam, nền giáo dục của một nước Việt Nam mới, khác hẳn về chất đối với nền giáo dục ngu dân của thực dân, phong kiến. Ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công, đất nước Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức có thể ví như “ngàn cân treo sợi tóc”, thế nhưng với nhãn quan chính trị sắc bén, Người đã đề xướng một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần kíp phải làm ngay là nhiệm vụ chống giặc dốt, bởi theo Người: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Người yêu cầu phải sửa đổi triệt để nội dung, chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với sự nghiệp

     

    kháng chiến, kiến quốc và sau khi hoàn thành cuộc kháng chiến chống pháp, Người nhắc nhở: “phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại: học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ[1]. Nền móng của nền giáo dục cách mạng mới từng bước được Hồ Chí Minh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao. Đối với phương châm giáo dục, Người đã đề ra ba phương châm cho nền giáo dục mới là: học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội, để đạt được mục tiêu trên, Người chủ trương xây dựng một nền giáo dục toàn diện: “trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa khoa học – kỹ thuật, lao động và sản xuất[2].

     

    Năm 1949, trên trang đầu cuốn sổ vàng của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc Trung ương, Hồ Chí Minh đã viết: học để làm việc, học để làm người, học để làm cán bộ. Tư duy này của Người có nhiều điểm phù hợp với mục tiêu của giáo dục (của việc học) mà Unesco đề ra cuối thế kỷ XX đó là: học để biết (cốt lõi là hiểu), học để làm (trên cơ sở hiểu), học để chung sống (trên cơ sở hiểu nhau), học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân mình).

     

    Theo quan điểm Hồ Chí Minh học là để hành, “học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì không trôi chảy[3]. “Học để làm việc” được Người đặt ra đầu tiên, muốn hành tốt phải hiểu kỹ, từ đó mới có thể tiến lên sáng tạo cái mới. Học để làm việc khác về chất với học để lấy bằng cấp, để lòe bịp thiên hạ, học theo kiểu học vẹt để lấy điểm số, học để vỗ bụng cho ta là hơn người…Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề học để làm việc. “Học để làm việc” nghĩa là học để ra làm việc, để tham gia vào công cuộc

     

     

    68

     

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

    kiến thiết, xây dựng đất nước, phục vụ cho quốc kế dân sinh, học là để cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp đấu tranh, cho thắng lợi của cách mạng, cho hạnh phúc, tự do của nhân dân. Người cho rằng, ngày xưa, học cốt là kiếm tấm bằng để làm quan, ngày nay, học để làm việc, mà việc thì mỗi ngày mỗi nhiều, mỗi mới. Người nói: “…so với trước, công việc bây giờ khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn,…Một cái máy tính một giây đồng hồ làm được hàng ngàn phép toán, không phải cộng, trừ, nhân, chia thông thường. Ta phải học toán. Toán rất cao….Liên Xô bắn tên lửa

     

    trúng đích xa một vạn hai ngàn cây số,…phải có tính toán giỏi mới trúng đích. Hay như con tàu vũ trụ bay cao hơn 300 cây số, lại bay vòng quanh quả đất…Bây giờ bảo chúng mình bay có bay được không[4]. Người đề ra yêu cầu: “học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi[5].

     

    Có thể nói tư tưởng “học để làm việc” của Hồ Chí Minh có giá trị hiện thực hết sức to lớn, chỉ đạo nền giáo dục nước ta hướng vào đó mà thực hiện đúng tôn chỉ của một nền giáo dục tiên tiến, đào tạo những con người xã hội chủ nghĩa có đủ phẩm chất và năng lực, đủ cả “đức” và “tài”. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng “học để làm việc” của Người nói riêng, Đảng đã lãnh đạo xây dựng nền giáo dục quốc dân khắc phục khó khăn, vươn lên những tầm cao mới, đạt được những thành tựu và niềm tự hào to lớn trong mấy thập niên cách mạng và kháng chiến.

     

    Tuy nhiên, bước vào công cuộc đổi mới hiện nay, nền giáo dục, đào tạo nước ta dù đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, song cũng còn nhiều hạn chế. Văn kiện Đại

    hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã đưa ra một số nhận định: “…chất lượng giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng,…Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [6]Thực trạng trên, đòi hỏi cần phải có một cuộc cải cách toàn diện, sâu rộng, triệt để nền giáo dục quốc dân, trong đó cần định hướng việc dạy và việc học cho nhân dân.

     

    3. NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “HỌC ĐỂ LÀM VIỆC”

    Hơn lúc nào hết, chúng ta càng thấm thía tư tưởng Hồ Chí Minh về “học để làm việc”. Học để có thể dùng những kiến thức Đã tích lũy được vào các hoạt động, vào sản xuất, vào cuộc sống hàng ngày. “Học để làm việc” đòi hỏi cần phải thay đổi cả về lượng và chất đối với cả người dạy và người học, trong đó, người học luôn là yếu tố trung tâm, trực tiếp.

     

    Theo chúng tôi, để thực hiện tốt tư tưởng “học để làm việc”, người học cần nhận thức đúng đắn và thực hiện tốt một số vấn nội dung cơ bản sau:

     

    Một là, xác định đúng đắn mục đích, động cơ của việc học. Có xác định đúng mục đích, động cơ thì người học mới có hành động đúng. Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “bây giờ phải học để: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức…Học để phụng sự ai? Để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân

     

     

    69

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    dân, làm cho dân giàu, nước mạnh[7]. Với

    kiến thức học tập, sẽ làm cho việc học trở nên

    mục đích rõ ràng, động cơ và hành động học

    dễ dàng, thoải mái, không còn bị gò bó, hay

    tập đúng đắn, chắc chắn kết quả của người

    áp lực bởi nội dung học tập. Xuất phát từ quan

    học sẽ có nhiều thay đổi, ngày càng tiến bộ.

    điểm “học để làm việc”, Hồ Chí Minh đòi hỏi

    Muốn “học để làm việc”, thì người học cần

    nội dung học phải thiết thực, gắn với yêu cầu

    phải không ngừng tư duy, tự giác suy nghĩ,

    của công việc bản thân, với yêu cầu của đất

    chủ động trong tiếp nhận tri thức; phải thấy

    nước, không được viển vông, chạy theo sở

    được việc học là nhu cầu cần thiết, không

    thích nhất thời của cá nhân.

    phải là áp lực, là gánh nặng; nội dung học tập,

    Ba là, xác định phương pháp học tối ưu

    khối lượng kiến thức được cung cấp không

    nhất và kết hợp tốt các phương pháp học để

    còn khô cứng mà sinh động, hấp dẫn. Từ đó,

    nâng cao chất lượng học tập. Học để làm

    người học chủ động chuyển hóa quá trình học

    việc đòi hỏi người học không được phép thụ

    tập thành tự học tập một cách có ý thức, tự

    động, ỷ lại, trông chờ mà tự giác, tích cực

    giác, hứng thú, tích cực và hiệu quả sẽ cao.

    tìm tòi, khám phá tri thức. Hồ Chí Minh căn

    Hai là, phải luôn luôn đặt ra mục tiêu

    dặn người học: “Không được tin một cách mù

    hoàn thành tốt nhất nội dung, chương trình

    quáng từng câu một trong sách”, “phải đặt

    học tập; phải đặt ra yêu cầu, tiêu chuẩn, định

    câu hỏi “vì sao”, phải suy nghĩ kỹ càng xem

    lượng, khối lượng, mức độ của việc tiếp thu

    nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý

    kiến thức sau mỗi buổi học, bài học, nội dung

    không[8]. Tiếp thu tri thức mới là điều kiện

    học tập. Điều này phụ thuộc vào nội dung,

    tiên quyết để người học mở mang hiểu biết,

    chương trình học tập của nhà trường, tuy

    phải biết tiếp thu có sự chọn lọc, có lựa chọn,

    nhiên vai trò của chủ thể trong quá trình tiếp

    qua nhiều nguồn, có sự đối chiếu, so sánh

    nhận tri thức là hết sức quan trọng. Người học

    trong hiện thực cuộc sống, trong thực tiễn

    phải căn cứ vào nội dung, chương trình học

    công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

    để chủ động tích lũy kiến thức, hoàn thành

    đại hóa đất nước hiện nay. Về phương pháp,

    nội dung, chương trình, nâng cao kết quả học

    Hồ Chí Minh rất chú trọng về cách học. Người

    tập, thi, kiểm tra trong nhà trường, đồng thời

    chỉ rõ: “phải lấy tự học làm cốt. Do thảo luận

    tích lũy, bổ sung kiến thức cần thiết để có thể

    và chỉ đạo giúp vào[9], tức là thực hiện kết

    vận dụng vào thực tế công việc sau này. Kiến

    hợp ba khâu: tự học của cá nhân phải làm cốt,

    thức chung đặt ra theo mục tiêu, yêu cầu đào

    thảo luận của tập thể và hướng dẫn của giảng

    tạo và kiến thức mà người học tiếp thu được

    viên chỉ bổ sung thêm vào. Lúc bàn về công

    trong quá trình học tập không phải là như

    tác huấn luyện của Đảng, Người chỉ thị: phải

    nhau. Tuy nhiên, giữa hai khối kiến thức này

    nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết

    không hề có sự mâu thuẫn, bởi khối kiến thức

    tự động học tập, không phải có thầy mới học,

    theo chương trình cơ bản đã được xác định

    mà phải tự tìm sách đọc, lấy sách làm thầy.

    căn cứ với mục tiêu, yêu cầu đào tạo từng đối

    Phương pháp học tập là thuộc về từng chủ thể

    tượng, còn kiến thức thực tế người học tiếp

    tiếp nhận tri thức, hình thành trong quá trình

    thu được phụ thuộc nhiều vào nhân tố chủ

    học, tuy nhiên với việc chủ động trong việc

    quan của người học. Nếu người học có sự chủ

    học thì việc hình thành phương pháp không

    động, sớm có tư duy tích cực trong tiếp nhận

    còn là một hiện tượng tự phát, thiếu chủ động,

     

     

    70

     

    Nhận thức và vận dụng . . .

     

    mò mẫm nữa mà hoàn toàn sáng tỏ. Phương pháp này được hình thành thông qua kinh nghiệm bản thân, thông qua xem xét bạn học, thông qua trao đổi người dạy, thông qua cả với tài liệu, sách vở, và đặc biệt thông qua kho kinh nghiệm phương pháp học tập phong phú của nhân dân.

     

    4. KẾT LUẬN

     

    “Học để làm việc” hiện nay là vấn đề cực kỳ quan trọng, là một trong những tiêu chí cần đạt được của một nền giáo dục hiện đại, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng và đề ra các giải pháp thực hiện chiến lược giáo dục

     

    • đào tạo trong tình hình mới ở nước ta hiện nay, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Giáo sư Song Thành trong tác phẩm “Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc”, Nxb lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 đã đặt ra những câu hỏi: vấn đề đặt ra với ta là công nghiệp hóa,

    hiện đại hóa theo con đường nào? Tiếp tục sản xuất ra sản phẩm chất lượng không cao, không bán được, để hàng hóa tồn kho, hay phải đi tìm một con đường khác để tạo ra giá trị gia tăng? Tích tụ vật chất hay tích tụ tri thức và năng lực đổi mới, sáng tạo do toàn cầu hóa mang lại?. Cách mạng không có con đường vạch sẵn, phải luôn luôn tìm tòi, điều chỉnh. Muốn có tầm nhìn xa, muốn xử lý đúng trong mọi tình thế, phải có thật nhiều tri thức. Điều này không phải là đòi hỏi gì khác hơn là nguồn nhân lực chúng ta cần phải không ngừng được bồi dưỡng, bổ sung tri thức, bắt kịp bước tiến của thời đại. Và do đó mà phải tự học, tự hoàn thiện suốt đời. Điều này là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, bắt buộc người học phải từng bước hoàn thiện nhận thức và tư duy trong xác định đúng đắn mục tiêu, nội dung và cách học sao cho hiệu quả theo tư tưởng “học để làm việc” của Hồ Chí Minh./.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.80

     

    [2]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2002, tr.190

     

    [3]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2002, tr.50

     

    [4]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2002, tr.463-464

     

    [5]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.215

     

    [6]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.167-168

     

    [7]. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2002, tr.398-399

     

    • Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H.2002, tr.500

     

    • Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2002, tr.273

     

     

     

    71


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/KH%C3%94NG-GIAN-N%C3%9AI-R%E1%BB%AANG-TRONG-V%C4%82N-XU%C3%94I-NG%E1%BB%8CC-GIAO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 39 – 44

     

    e-ISSN: 2615-9562

     

     

     

     

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu

    Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Trong văn xuôi Ngọc Giao, không gian núi rừng vừa là không gian bối cảnh vừa là đối tượng nghệ thuật ấn tượng gắn với tư duy thẩm mĩ văn xuôi lãng mạn cùng những đặc trưng và tình cảm về một miền đất mới. Không gian ấy đã góp phần bổ sung những giá trị cho tác phẩm và khắc họa số phận tính cách của nhân vật nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu. Qua việc thống kê, khảo sát và phân tích các giá trị văn chương của Ngọc Giao, bước đầu chúng tôi nhận thấy: Dưới sự cảm nhận của các nhân vật trong tác phẩm, núi rừng là những vùng đất lạ lẫm và không quen sống; hoang sơ mà thanh nhã, trong lành, tươi tắn; không gian của những cuộc chạy trốn thực tại bất hạnh, chuyến ngao du tìm hạnh phúc mới của các nhân vật; không gian gần gũi được dần cảm mến với tình người chất phác hồn hậu và nâng đỡ con người trong những hoàn cảnh bất hạnh.

     

    Từ khóa: Ngọc Giao; văn xuôi; văn học Việt Nam; không gian; núi rừng.

     

    Ngày nhận bài: 25/02/2019; Ngày hoàn thiện: 3/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

     

    MOUNTAINOUS SPACE IN NGOC GIAO’S PROSE

     

    Nghiem Thi Ho Thu

    TNU – University of Science

     

    ABSTRACT

     

    In Ngoc Giao’s prose, mountainous space is both a contextual space as well as an impressive art object which associated with romantic aesthetic thought along with the characteristics and sentiments about a new land. This context has contributed a lot of value to the work and portrayed the character’s fate which has not been researched so far. Through the statistics, survey and analysis of Ngoc Giao’s literary values, we firstly noticed that: With the feeling of the characters in the work, mountainous area is strange, pristine and unfamiliar land but elegant, fresh and peaceful; the idea place of the fugitives from the misfortune reality; the journey to find new happiness of the characters; the close space is gradually affectionated with the rustic and upright humanity that has supported human beings in unhappy situations.

     

    Keywords: Ngoc Giao; prose; Vietnamese literature; space; mountainous areas.

     

     

     

     

     

    Received: 25/02/2019; Revised: 3/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Email: [email protected]

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           39

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    1.   Mở đầu

     

    Ngọc Giao là người sống chủ yếu ở thị thành Hà Nội. Vì vậy, sự gắn bó và am hiểu của ông với vùng đất này cũng được phô bày trên trang giấy nhiều hơn. Tuy nhiên, trải nghiệm của cuộc đời với những chuyến đi nhất là thời gian tản cư, không gian núi rừng cũng đủ gợi nhớ gợi thương và xuất hiện tự nhiên, hấp dẫn với nhiều ý nghĩa trong các tác phẩm có dung lượng lớn như tiểu thuyết Đất, Quán gió, Cầu sương và một số tác phẩm viết cho thiếu nhi như Bầu sữa hươu, Ma Thiên Lãnh, Úm ba la, Hang thuồng luồng… Việc tìm hiểu về không gian núi rừng trong văn xuôi Ngọc Giao cho phép người đọc mở rộng thêm trường liên tưởng nghệ thuật và khám phá các giá trị của tác phẩm. Đó cũng là vấn đề cần thiết được nghiên cứu, tìm hiểu trong văn xuôi Ngọc Giao khi tác phẩm của ông vẫn còn lạ lẫm với người đọc hiện đại.

     

    2. Nội dung

     

    Không gian nghệ thuật trong mỗi tác phẩm văn chương là sản phẩm sáng tạo mang những

     

    • niệm về cuộc sống. Đó là “mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian” [1]. Không gian ấy phải góp phần thể hiện một dụng ý nghệ thuật nào đó của tác giả chứ không phải là sự phản ánh đơn thuần không gian địa lí, vật chất, không gian hiện thực. Không gian nghệ thuật vì vậy cũng chính là hình thức thể hiện quan niệm về thế giới và con người.

     

    Không gian rừng núi trong văn xuôi Ngọc Giao vừa là không gian bối cảnh làm nền và tô đậm thêm sự khắc họa số phận, tính cách của nhân vật vừa là đối tượng nghệ thuật mang nhiều giá trị. Đó như một phạm trù thẩm mĩ mang tính phổ biến của một loại không gian di trú gắn với cảm hứng lãng mạn trong văn xuôi lãng mạn. Núi rừng trong tác phẩm Ngọc Giao cũng như một số tác phẩm văn học lãng mạn khác là miền đất mới – nơi dung chứa những thân phận tha hương với

     

    mong muốn ước vọng về một tương lai khác với thực tại và những giấc mơ cải tạo cuộc sống. Và không gian núi rừng vì thế hiện lên khách quan, hấp dẫn dưới con mắt của “kẻ khác” và “người lạ”. Dưới những góc nhìn khác nhau được đặt vào các nhân vật của mình, Ngọc Giao đã có những “cú lia” tinh tế và ấn tượng về những khoảnh khắc của nhân vật gắn với không gian núi rừng.

     

    Trong mắt nhân vật Xã Bèo của tiểu thuyết Đất, người nông dân vốn nhiều năm quen với những cánh đồng ruộng lúa mênh mông, rặng tre làng, hàng cau trước ngõ…, núi rừng là khung cảnh lạ lẫm và không quen sống. Ngày đi tản cư lên miền ngược tạm xa những cánh đồng chiêm trũng vùng đồng bằng, trước mắt họ là những miền đất mới với cuộc sống mới đầy khó khăn. “Bọn Xã Bèo, Lý Còng đã xa nhà hơn năm mươi cây số. Càng đi họ càng thấy lạ nước, lạ non. Qua miền đồng chiêm nước gạch cua xa hút chân trời, tiếp đến miền đồi núi lầm đường bụi đỏ. Họ bỡ ngỡ, ngơ ngác nhìn đồi cao, cây rậm ở hai bên đường vượt cao, đổ dốc. Rừng hoang vắng, vi vút tiếng thông reo sườn đồi cỏ rậm. Trên đồi thấp thoáng có mầu vôi trắng của một ngôi đền đứng cô độc dưới bóng thông già cỗi…

     

    Xã Bèo không tin thần thánh nhưng anh cũng thấy rờn rợn, anh chợt nhớ đến câu chuyện ma rừng thần núi mà bác Bếp Năm, trong một đêm gác ở cổng làng dạo nọ đã kể anh nghe” [2]. Ban đầu, trong tư tưởng của Xã Bèo, rừng núi hoang vu, lạnh lẽo, và ẩn chứa nỗi sợ ma thiêng, nước độc. Đó là hình ảnh của những khó khăn và nỗi đau xé lòng như càng rõ hơn của người dân quê bấy lâu quen sống nơi đồng bằng với bao gắn bó. Không gian trên đường tản cư khác lạ với thói quen, nếp nghĩ hàng ngày khiến người dân quê như Xã Bèo càng thêm mông lung, lo lắng và nhớ tiếc làng quê.

     

    Rừng núi là vùng đất xa ngái cách quê anh nhiều lắm, thôn xóm đìu hiu, cây cối bạt ngàn, rừng rậm liên tiếp chứ đâu chỉ như mấy

     

     

    40                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 39 – 44

     

     

    rặng tre quê anh. “Càng đi, càng thấy thưa làng vắng xóm. Những lũy tre xa gần màu xám đậm, ta vẫn thấy mọc thưa thớt trên những cánh đồng miền xuôi ở đây không còn nữa, mà chỉ còn bạt ngàn những rừng lim rừng trám um tùm bọc những ngọn đồi liên tiếp gối vào nhau. Dọc đường, chừng ngót mười cây số mới có một cái quán bé nhỏ trống tuyềnh tựa lưng vào sườn đồi hay một thân cây cổ thụ. Lưng đồi, một hai cô gái lom khom cắt cỏ giàng, họ không hát như những cô gái đồng xuôi, cũng chẳng buồn ngẩng nhìn đoàn người vật đang lặng lẽ đi dưới con đường đất đỏ” [2]. Những đặc trưng của vùng rừng núi trung du với đồi núi thấp và những cây bụi rậm với những con người miền núi ít nói, trầm lặng đã hiện lên trên đường tản cư xa ngái. Lũ trẻ nhặt đá ném chim và nhặt hoa thông như khi chúng nhặt bàng chín rụng trước sân đình làng. Mây trắng lờ đờ trôi trên đồi thông khiến Xã Bèo nhớ những buổi chiều tà ngà men rượu bắc chõng nằm giữa sân nhìn cò bay lả qua ngọn tre cong vút, giờ chỉ còn cái im lặng mênh mông hòa với tiếng chim kêu lẻ loi nhặt khoan ở một ngọn đồi cước đồi dẻ đâu đó.

     

    Xã Bèo được chính quyền cấp giấy đến ở tại xóm Dã, cách phố Núi chừng độ năm cây số. “Đây là một thôn xóm vắng teo, chừng mươi nóc nhà gianh lụp xụp. Con sông máng từ miền thượng du chảy về, nước cạn trơ lòng đất núi, váng xanh phủ lầy nhầy. Rừng lim, trám mọc cao vút trên đồi rộng, yên tĩnh suốt ngày đêm. Gần xa bao bọc sơn thôn này là đồi dẻ và đồi cước” [2]. Trước khung cảnh hoang sơ, vắng vẻ đó vợ chồng Xã Bèo lo lắng cho những tháng ngày sẽ làm gì để kiếm sống nơi hoang vu và bí ẩn đối diện với thú dữ, đất cằn. Thế rồi được bà con miền núi cưu mang, hướng dẫn, gia đình Xã Bèo định cư và kiếm sống. “Bọn Xã Bèo cùng chị Rõi giắt dao vào rừng. Họ đi men bờ sông máng. Hôm nay nước máng được tháo về tràn ngập, đôi bờ có những bụi sim dại hoa tím xẫm và những búi

     

    hoa bướm, hoa mua. Tiếng chim nhặt khoan vọng từ đồi này sang đồi khác. Sương lạnh loãng dần. Trời vàng trong và cao. Muôn vàn bông hoa dẻ sắc như kim phủ khắp mặt đường cát sỏi làm đau buốt bàn chân” [2]. Sống trên đồng khô, bãi trụi, núi cằn vợ chồng Xã bèo hoang mang, lo lắng. Nhưng với sự trợ giúp của bà con dân tộc thiểu số và quyết tâm vượt khó với lòng yêu đất thiết tha, vợ chồng Xã Bèo dần cảm mến đất và người nơi miền sơn cước. Lũ trẻ cũng bắt đầu thấy cuộc sống tản cư ở đây là thú vị. “Tha hồ trèo núi, xem rừng, đánh khăng trên sườn đồi vắng, tha hồ hát. Chúng dự định rồi mai kia mùa hè, chúng sẽ làm cái diều rõ to đứng trên núi cao mà thả, chúng sẽ tha hồ tắm lội sông máng, ăn sim, bắn chim” [2]. Núi rừng hoang sơ mà thanh nhã, trong lành, tươi tắn, sinh động cũng dần được người miền xuôi cảm mến. Người nông dân như Xã Bèo đã dần vượt qua nỗi sợ hãi của miền rừng núi âm u, hẻo lánh và tự tin hơn sống trong tình đồng bào chân thật, nghĩa tình dù trong lòng cũng vẫn phảng phất một niềm đau đáu nhớ quê, phấp phỏng vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi, vì chiến tranh bom rơi đạn lạc luôn rình rập ào đến. Khung cảnh núi rừng với những gì gần gũi, giản dị, tươi đẹp và cũng tràn đầy yêu thương dường như xóa dần đi vết thương lòng của những người dân tản cư yêu đất thương làng tha thiết để hòa nhập với cuộc sống mới với niềm tin, hi vọng mới.

     

    Nếu như không gian núi rừng hiện lên trong Đất là một không gian sống mới với hi vọng tránh được mưa bom bão đạn, hiểm nguy kẻ thù của người nông dân nghèo thì núi rừng trong Cầu sương, Quán giónơi lẩn chốn của những câu chuyện tình yêu đầy bi kịch. Đó là không gian của những cuộc chạy trốn thực tại bất hạnh, chuyến ngao du tìm hạnh phúc mới của những nhân vật quen thuộc trong văn xuôi lãng mạn. Không gian ấy như gắn với khát khao vượt thoát, thỏa mãn tình cảm và mong muốn xác lập cái mới. Định

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            41

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    mệnh đã dẫn lối đưa đường để họ cùng người yêu những mong về miền đất lạ có thể tìm được niềm vui mới bên người tình và đoạn tuyệt quá khứ khó hiểu, đầy những nỗi buồn. Dưới “hơi sương loãng dần trong ánh trăng trong. Hạnh ngồi bên chum nước suối dưới nhà sàn, lắng nghe cái tĩnh mịch triền miên của kiếp lâm tuyền” [3]. Trong căn nhà trên vùng sơn cước, những mong trong sự tĩnh mịch ấy của núi rừng, lòng người được an yên nhưng vẻ cô tịch càng làm Hạnh trong tác phẩm Cầu sương thêm rối bời chua xót, thổn thức và mù quáng với việc trốn chồng đi theo người tình Hải – một kẻ si tình lợi dụng vơ vét tài sản. Nàng biết đâu trong cái “nắng tràm đốt cỏ đồi, lúa ruộng. Nắng rợn lên thành đợt lửa bay lung linh phá vỡ cả thinh không. Đường đá gan gồ sống lưng trâu quằn mình như con trăn rừng giãy chết mỗi lần có trận gió tây bốc bụi. Đó đây, trên chặng đường xa, mấy quán nước không người thấp như chuồng lợn, bám chặt vào đất núi, ngay mái cỏ tranh cũng bốc khói, lửa nắng như sắp thiêu thành tro” [3], chồng nàng đang đạp xe đi tìm nàng. “Hết leo dốc đến đổ dốc… đồi trụi nối nhau trùng điệp chạy mênh mông tới chân trời”, Cung bồi hồi nhớ vợ, nhớ quê. Rồi Cung cũng hiểu được chuyện và đưa Hạnh chạy trốn tội lỗi với một lòng bao dung độ lượng. Cái lạnh lẽo, heo hút của núi rừng dần xua tan đi bởi tình người cao thượng. “Trời hửng nắng. Nắng rờn rợn trong gió bấc rọi xuống những dòng nước suối lũ sáng lấp lóa một màu bạc pha vàng. Hôm nay, chợ Mường họp Phiên ngày chẵn. Những màu áo chàm xanh điểm lác đác trên các nẻo đường đất đỏ lượn quanh co theo những hàng cây lim, cước mọc kín dãy đồi cao trùng điệp. Sơn nhân vội vã gánh hàng xuôi chợ, con địu ngang lưng, để rồi vội vã trở về với nương cày dở luống” [3]. Đó là sự đổi thay của cảnh vật và cũng là sự mong muốn, khát khao thay đổi cuộc sống sẽ ấm áp, sum vầy, đoàn tụ.

     

    Núi rừng không chỉ là không gian với nỗi lo rừng thiêng nước độc, mà cũng có lúc hiện

     

    lên như bức tranh đời thường đầy màu sắc của sức sống. Và có cả những khung cảnh đẹp hoang dã nhưng lãng mạn: “Ông Lâm rẽ một cành cây hoa trắng như hoa mai cho khỏi vướng vào mình Hạnh trên lưng ngựa. Cành cây rung động, rắc hoa xuống đầy mái tóc và tà áo. Nàng lỏng tay cương, nhặt mấy bông hoa ngàn rắc xuống đường” [3]. Cuộc sống ấm tình người cũng nhen nhóm lên những hi vọng mới. “Đàn én đã bay về rừng Việt Bắc, một sớm đưa thoi trong nắng xuân, trên những nương ngô đỗ và vườn cây của khu trên sân trại. Bờ rào nứa ken cánh sẻ, loài dây leo mướp, mồng tơi, đậu ván bám đầy phủ kín như bức thành vững chắc bao quanh khu trại rộng”. Nhưng tội lỗi khó gột rửa, những ám ảnh vẫn lẩn quất trong tâm hồn Hạnh và Cung. “Chim rừng thao thức kêu quanh lớp nhà chòi im ngủ trong tiếng thác đổ hồi đêm quạnh. Ánh sao không lọt được xuống nền lá kim cổ thụ giao kết vào nhau thành một bức trần cao bát ngát” [3]. Một sự thao thức, bế tắc vẫn tràn ngập tâm hồn Cung để rồi sau đó dẫn đến cái chết bi thảm của anh. Cái chết đầy tủi sầu của chồng khiến Hạnh càng buồn hơn về số kiếp của mình trên con đường trở về phố thị. Những hình ảnh cuối cùng trước cửa rừng càng làm cô thấy mình thêm lạc lõng.”Trên những sườn núi gan gà nhuộm nắng, đã thấy thưa thớt vài túp nhà cỏ mới. Một hai bóng áo tràm theo trâu gày đeo mõ, ngẩn ngơ nhìn bụi cuốn sau xe ngựa đang rong ruổi về cuối sơn thôn xa tắp… Khói ở nhà tranh bám chặt vào vách núi bên rừng quạnh, vơ vất vương vào nắng tháng ba” [3]. Lãng đãng không gian sơn thôn vừa quạnh hiu vừa cô quạnh, Hạnh nhớ chồng với một nỗi xót xa ân hận dâng lên. Núi rừng ở đây vì thế cũng mang nặng tình người khi buồn, cô đơn, bế tắc, lạc lõng, lúc dằn vặt, tâm trạng mông lung.

     

    Xa mẹ già theo lời vun đắp giới thiệu của anh trai, Trâm trong Quán gió lên miền ngược cùng chồng. Vượt qua đường dốc thăm thẳm, suối đổ ầm ầm, “núi rừng u uất dựng cao chót

     

     

    42                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 39 – 44

     

     

    vót kẹp con sông dài vào giữa… Thỉnh thoảng vài con khỉ chuyền cành cây ở ven bờ kêu inh ỏi đuổi theo thuyền. Trâm lắng nghe tiếng nước róc rách vỗ mạn thuyền, nhìn vài cánh hoa cánh lá trôi xuôi” [4]. Trong bốn bề sông nước, rừng, cây hoang vu, tiếng vượn hú dài thảm sầu, Trâm khôn nguôi nhớ mẹ, nhớ đồng bằng và thương thân mình lênh đênh nơi đất khách quê người vì nhắm mắt đưa chân lấy người tốt nhưng chưa phải người yêu. Khung cảnh núi rừng trong thiên truyện như càng tô đậm thêm sự cô đơn, lạc lõng của Trâm với tình yêu không có hậu, Tiến chồng cô đã hi sinh khi tình yêu còn đang dang dở chưa như ý. Sự an ủi của người chú dân tộc của Tiến phần nào vỗ về cho nỗi dày vò, đau xót trong lòng cô nhưng nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nỗi ân hận băn khoăn vẫn choán ngợp lòng cô khi trở về Quán gió. Và rừng núi hiện lên mênh mông, kì bí như tô rõ thêm cho sự phức tạp ngổn ngang của lòng người con gái đa đoan giữa dòng đời loạn lạc. Những bất ngờ, những lạ lẫm, những bí ẩn và mâu thuẫn không dễ gì tháo gỡ của Trâm như bao trùm lên bầu không khí và cảnh vật nơi rừng núi quê chồng cô. Như vậy, không gian miền núi trong những trang văn Ngọc Giao thường hiện lên qua cái nhìn, cảm nhận của những người nông dân vốn sống lâu đời ở đồng bằng, hoặc những trí thức tiểu tư sản sống ở thành thị. Lần đầu lên với núi rừng, xa quê hương môi trường sống quen thuộc, núi rừng hiện lên trước mắt họ đầy lạ lẫm với nhiều lo ngại. Quang cảnh núi rừng với những đặc trưng suối sâu, đèo cao, núi đồi trùng điệp, cây cối um tùm, con người ý nhị rụt rè nhưng chân tình, tốt bụng, không gian hiu quạnh, vắng vẻ. Từ những lo ngại, cô đơn ban đầu khi đi qua và sống ở vùng trung du, các nhân vật dần hòa hợp và cảm mến với đất và người nơi đây. Tuy nhiên, các nhân vật dù là phải chạy trốn thực tại cuộc sống hay cưỡng ép phải ra đi đến với núi rừng thì họ vẫn luôn luôn nhớ về quê và đều tạm biệt núi rừng để về với những nơi mình đã từng gắn bó.

     

    Không gian núi rừng với những nét đẹp hoang sơ, giản dị và khó khăn của nó hiện lên chân thật trong suy nghĩ khách quan của các nhân vật. Núi rừng rộng lớn giang vòng tay đón chào họ, là nơi họ hi vọng sẽ có một sự ẩn nấp tâm hồn với những niềm vui mới nhưng cũng là nơi càng tôn thêm cho nhân vật nỗi cô đơn, buồn khổ đến bi thương. Rừng núi cũng là chứng tích cho những thăng trầm của lịch sử kháng chiến chống kẻ thù và cuộc sống, số phận của các nhân vật.

     

    Bên cạnh đó, một số tác phẩm viết cho thiếu nhi của Ngọc Giao cũng đã đưa thiên nhiên núi rừng đến gần hơn với con người. Rừng núi, hang sâu cùng những con vật nghĩa tình được thi vị hóa trở thành nơi trú ẩn, nuôi sống con người trong những hoàn cảnh nguy khốn. Trong rừng sâu, hang rậm có những con vật tưởng chừng như ác nghiệt đáng sợ lại là những con thú nghĩa tình, biết làm việc tốt. Thiên nhiên và con người, người và vật như xích lại gần nhau với những bài học thiên nhiên cho trẻ thật tự nhiên, hiếu kì và hấp dẫn. Nhà văn đã giáo dục trẻ một cách tự nhiên mang âm hưởng truyện cổ tích với thông điệp: Sự cảnh báo con người đối xử tệ với thiên nhiên, muông thú ắt sẽ chịu hậu quả khôn lường và nếu ứng xử có nhân với loài vật, thiên nhiên sẽ được đáp đền xứng đáng. Tập truyện Úm ba la, Hang thuồng luồng là những tác phẩm như thế.

     

    Trong dòng văn xuôi những năm nửa đầu thế kỉ XX, Ngọc Giao không phải là nhà văn có đóng góp nổi bật khi viết về đề tài miền núi nhưng những nét phác thảo, gợi tả về không gian núi rừng trong văn xuôi của ông đã góp phần bổ sung thêm cho văn học thời kì này những trang văn ấn tượng về một dòng văn có lối đi riêng độc đáo. Các tác giả cùng thời như Triệu Luật, Lan Khai, Lê Văn Trương… đã có những tác phẩm đi sâu phản ánh khung cảnh miền núi với cuộc sống muôn màu, sức sống mãnh liệt và nhiều điều bí ẩn, hấp dẫn. Các nhà văn giai đoạn sau như: Vi Hồng, Triều Ân, Hà Lâm Kì, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy… cũng tìm thấy ở mảnh đất núi rừng những mạch nguồn văn hóa và không gian

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            43

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    cuộc sống nơi đây với năng lực khám phá và tưởng tượng phong phú. Và phần lớn các nhà văn đã đi sâu khai thác, tái hiện không gian nghệ thuật này qua cảm quan của nhân vật là những con người sinh ra, lớn lên và gắn bó với cuộc sống nơi này với cái nhìn quen thuộc đi liền với cuộc đời họ. Với Ngọc Giao, không gian núi rừng hiện lên không thuần nhất. Không gian ấy gắn với số phận thăng trầm của các nhân vật đến từ những miền đất khác – vùng đồng bằng và mang trong mình sự phức tạp trong đời sống tâm lí. Điều đó khiến cho núi rừng không chỉ là bối cảnh sống mới với nhiều dụng ý nghệ thuật miêu tả khắc họa tâm trạng, số phận nhân vật mà còn được nhìn nhận một cách đa chiều và khách quan. Không gian này không phải là không gian độc nhất và chính yếu trong mỗi tác phẩm của Ngọc Giao nhưng lại là không gian nghệ thuật góp phần tương hỗ, bổ trợ để biểu hiện và làm nổi bật những giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Không gian ấy luôn vận động qua cái nhìn hướng tới một thế giới mới trong cảm quan của hệ thống nhân vật mang nặng tính trữ tình, lãng mạn nhưng giàu tính hiện thực.

     

    3. Kết luận:

     

    Dù những trang văn miêu tả không gian núi rừng của Ngọc Giao không nhiều, ông cũng không có những cái nhìn thật sự sắc sảo về không gian này như các nhà văn đường rừng như Triệu Luật, Lan Khai, Lê Văn Trương nhưng những trang viết về không gian miền núi của ông đã góp phần cho việc làm rõ tâm lí và số phận nhân vật. Mỗi khung cảnh núi rừng hiện lên dù thoáng qua nhưng tinh tế như một bức họa có chiều sâu của tâm hồn và cảnh vật. Và dường như, từ những trang văn viết về núi rừng của ông cũng đã ít nhiều phản ánh một cảm quan sinh thái- sự trân trọng, cảm mến với thiên nhiên và mong muốn con người sống hòa hợp với thiên nhiên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, tr.87, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.

     

    • Ngọc Giao, Đất,57,tr.58, tr.78, tr.81 Nxb Cây Thông, Hà Nội, 1950.

     

    • Ngọc Giao, Cầu sương, tr.36, tr.40, tr.106, tr.107, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2011.

     

    • Ngọc Giao, Quán gió,86, Nxb Hương Sơn,

    Hà Nội, 1948.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    44                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/N%C3%82NG-CAO-K%E1%BB%B8-N%C4%82NG-GIAO-TI%E1%BA%BEP-CHO-SINH-VI%C3%8AN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 8 – 14

     

    NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN

    NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN

     

    Lò Vũ Điệp

    Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Tóm tắt: Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống cơ bản và quan trọng đối với mỗi cá nhân nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng. Sinh viên người dân tộc gặp những khó khăn và hạn chế nhất định về kỹ năng giao tiếp. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc hình thành các kỹ năng nghề nghiệp sau này. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao kỹ năng này cho các em.

     

     

    Từ khoá:

    Kỹ năng, sinh viên, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên.

     

     

    1. Mở đầu

     

    Giao tiếp là một trong những hoạt động c          ản của con người, có vai trò quan trọng

     

    trong s   phát tri n của mỗi cá nhân. Thông qua giao tiếp, mỗi cá nhân trong xã hội có s          gắn

     

    kết với nhau đồng thời t m lý cá nh n cũng được hình thành và phát tri n.

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c          ản, cần thiết đối với s      phát

     

    tri n tâm lý cá nhân. Với sinh viên SV) sư phạm giao tiếp và kỹ năng giao tiếp càng trở nên cần thiết đ họ c th th c hiện tốt hoạt động ạy học và giáo ục học sinh trong quá tr nh hoạt động nghề nghiệp của ản th n. Trong th c tiễn nghiên cứu có rất nhiều tác giả đ t m

     

    hi u về vấn đề này, có những th c nghiệm mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước đề cập đến những vấn đề về kỹ năng giao tiếp của SV người dân tộc vẫn còn hạn chế.

     

    Trên th  c tế học sinh  SV người dân tộc gặp rất nhiều kh    khăn trong giao tiếp và hình

     

    thành kỹ năng giao tiếp cho m nh. Điều này ảnh hưởng không  t đến kết quả học tập và phát

     

    tri n các kỹ năng x     hội của họ.

     

    Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả đề cập đến một số       iện pháp sư phạm n ng cao

     

    kỹ năng giao tiếp – với tư cách là một trong số những kỹ năng sống c               ản – của sinh viên

     

    người dân tộc Trường   ao đ ng Sư phạm        ĐSP) Điện    iên.

     

    2. Nội dung

     

    2.1. Một số khái niệm cơ bản

     

    – Giao tiếp

     

     

    Có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp

     

    ưới g c độ t m l

     

    giao tiếp được nh n

     

    nhận như sau:

     

    Ngày nhận bài: 14/02/2017. Ngày nhận đăng: 15/6/2017

    Liên lạc:   ò Vũ Điệp, e-mail: [email protected]

    8

     

    Giao tiếp là quá tr nh tác động qua lại giữa con người với con người, th hiện s tiếp xúc tâm lý giữa người với người thông qua đ con người trao đổi thông tin trao đổi cảm xúc, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau [4].

     

    • Kỹ n ng giao tiếp

    Theo tác giả Nguyễn Thanh nh kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những bi u hiện bên ngoài và những bi u hiện tâm lý bên trong của đối tượng và bản thân chủ th giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lý các phư ng tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều ch nh điều khi n quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đ ch giao tiếp [1].

     

    2.2.    ự cần thiết phải hình thành kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

     

    Giao tiếp được coi như là một công cụ lao động đặc trưng của người giáo viên. Đối tượng lao động của giáo viên là con người – những nh n cách đang được hình thành và phát tri n mạnh mẽ. Mặt khác, trong quá trình tổ chức các hoạt động người giáo viên phải sử dụng kỹ năng giao tiếp một cách linh hoạt đ đạt hiệu quả cao nhất trong dạy học cũng như giáo

     

    dục học sinh.

                             
       

    Trong công tác

    ạy học và giáo

    ục học sinh  người giáo viên tất yếu phải giao tiếp

    với học sinh và với cả những đối tượng giao tiếp khác nữa. Đ

    là s

    tiếp xúc

    ày tỏ

    trao đổi

    truyền đạt  t m hi u

    cảm thông giữa các chủ th

    của quá tr nh giao tiếp

    iễn ra trong môi

    trường sư phạm.

                             
       

    ùng với việc r n luyện các phư

    ng pháp

    ạy học

    kỹ năng giao tiếp là một trong

    những thành phần c

    ản tạo nên chất lượng và hiệu quả của các phư  ng pháp

    ạy học.

    mỗi phư  ng pháp

    ạy học, việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp ở các mức độ khác nhau như:

    phư

    ng pháp thuyết tr nh t ch c  c

    phư

    ng pháp đàm thoại

    phư  ng pháp thảo luận nh m

    phư

    ng pháp quan sát… Việc vận

    ụng kỹ năng giao tiếp như thế nào trong mỗi phư

    ng pháp

     

    ạy học sẽ g p phần làm tăng khả năng nhận thức  phát huy t nh t

    giác  chủ động của học

    sinh trong quá tr nh chiếm lĩnh tri thức.

                     
       

    Trong quá tr nh giáo  ục học sinh

    người giáo viên c

    kỹ năng giao tiếp tốt

    khéo léo

    trong ứng xử cũng th

    hiện thái độ tôn trọng nh n cách học sinh  tiếp thu tốt tri thức và h nh

    thành được các kỹ năng

    kĩ xảo thuận lợi h  n. Trong cách giao tiếp và ứng xử  mỗi giáo viên

    là một tấm gư  ng đ

     

    học sinh noi theo

    làm theo.

    h nh v  vậy  người giáo viên phải th

    hiện

    s

    chuẩn m  c của m nh trong giao tiếp

    đặc  iệt là giao tiếp với đối tượng là học sinh.

     
       

    Đối với mỗi sinh viên trong quá tr nh r n luyện ở nhà trường sư phạm cần ý thức được

    s

    cần thiết phải h nh thành và r n luyện cho m nh kỹ năng giao tiếp hiệu quả đ

    c

    th  t

    tin

    trong giao tiếp  th

    c hiện tốt vai trò

    nhiệm vụ của người giáo viên trong th

    c tiễn nghề

    nghiệp sau này.

                             
                                   

    2.3. Thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc

     

    2.3.1. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát

     

    • Phương pháp nghiên cứu
    • tìm hi u th c trạng, tác giả sử dụng một số phư ng pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phư ng pháp quan sát phư ng pháp phỏng vấn phư ng pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Các

    9

     

    phư ng pháp c tác ụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm làm rõ h n những nội dung mà tác giả tìm hi u và nghiên cứu.

     

    – Đối tượng khảo sát

     

    150 sinh viên của 3 khoa: Khoa Ti u học – Mầm non, Khoa T nhiên và Khoa Xã hội. Nội dung khảo sát là th c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên (ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, những kh khăn trong giao tiếp, nguyên nhân).

     

    2.3.2. Kết quả đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

     

    Trường ĐSP Điện iên SV người n tộc chiếm đa số đến từ các huyện x thuộc vùng s u vùng xa vùng gặp nhiều kh khăn trong t nh. Tổng số SV của hà trường hiện nay là 732 trong đ SV n tộc Thái chiếm đa số (58.8%), xếp thứ hai là SV dân tộc Mông (18.7%), dân tộc Kinh xếp thứ ba (11.2%), còn lại 11.3 % là sinh viên các dân tộc khác như:

     

    Kh    Mú, Hà Nhì, Lào, Kháng, Thổ, Si La, Dao, Tày, Máng, Xinh Mun, Nhắng.

     

    Với những đặc đi m như vậy, nên các em còn gặp nhiều kh khăn trong việc hình thành và phát tri n các kỹ năng sống đặc biệt là kỹ năng giao tiếp. Thông qua tiếp xúc, trò

     

    chuyện và đặc biệt là trong quá tr nh giảng

    ạy  tác giả nhận thấy số SV còn phát

    m chưa

    chuẩn trong giao tiếp  khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế  c  những SV còn rụt r

    ngại tiếp

    xúc ngại phát  i u ý kiến và khả năng thuyết tr nh trên lớp chưa được tốt.

       

    Tác giả cũng t m hi u rõ h  n về th  c trạng trên  kết quả khảo sát cho thấy: về phát  m

    và sử  ụng ngôn ngữ gặp kh  khăn nhiều nhất đối với SV

    n tộc Mông và

    n tộc Thái. Tác

    giả khảo sát trên 150 SV của 3 khoa: Khoa T

    nhiên, Khoa Xã hội và Khoa Ti u học – Mầm

    non thì thấy tỷ lệ nói ngọng của SV cũng c

    s  khác nhau. Cụ th

    c  86/150 SV được khảo

    sát bị nói ngọng, chiếm 57.3%. Kết quả khảo sát được th

    hiện rõ h

    n trong

    i u đồ

    ưới đ y:

               

    50%

     

    45%

     

    40%

     

    35%

     

    30%

     

    Tỉ lệ 25%

     

    20%

     

    15%

     

    10%

     

    5%

     

    0%

    THMN                           Tự nhiên                           Xã hội

     

    Khoa

     

    hư vậy, xét theo khoa, Khoa Ti u học – Mầm non có tỷ lệ SV nói ngọng nhiều nhất (43/86, chiếm 50%), tiếp theo là Khoa Xã hội (27/86, chiếm 31.4%), Khoa T nhiên có tỷ lệ thấp h n 16/86 chiếm 18.6%).

     

    10

     

    Tác giả tìm hi u cụ th  h  n về cách phát âm thì nhận thấy đa số các em thường kh

    ph n

    iệt

    chữ “l” và “ đ”  hoặc đọc từ ngắn

    m   m cụt không rõ tiếng; một số sinh viên dân tộc Thái

    đọc sai dấu ngã thành dấu sắc.   ên cạnh đ  , về phần sử

    ụng từ ngữ như cách

    iễn đạt

    ùng

    từ… cũng gặp rất nhiều kh  khăn:

    iễn đạt ý không rõ

    không  iết cách t m từ phù hợp hoặc

    vốn từ đ  n điệu.

             

    Tác giả cũng t m hi u ở một số tiết tập giảng tiết th  c hành phư  ng pháp

    ạy học

    SV

    còn hạn chế trong tư thế  tác phong  chưa  iết kết hợp ngôn ngữ n i  ngôn ngữ viết với các

    phư  ng tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như: cử ch   điệu

    ộ  nét mặt… Do đ

    chất lượng

    ài

    giảng chưa cao chưa đáp ứng được những yêu cầu khắt khe khi lên lớp của người giáo viên. Giảng viên Đinh Thanh H. với quá tr nh hướng dẫn SV tập giảng nhiều năm cho iết: “Sinh viên khi đứng trên bục giảng, nhiều em chỉ chú trọng việc học thuộc nội dung câu chữ trong giáo án, chưa biết cách kết hợp ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể nên tiết dạy rất khô cứng,

     

    thiếu sự uyển chuyển, chất lượng bài dạy không cao”.

       

    Bên cạnh đ   trong những tiết th

    c hành, thảo luận, khi yêu cầu SV tr nh  ày trước lớp

    các vấn đề liên quan đến nội dung bài học các em còn th  hiện s

    lúng túng, tác phong trình

    bày còn th

    hiện s  chưa t  tin. Cụ th : có tới 76.6% SV được khảo sát cho biết các em không

    cảm thấy t

    tin khi đứng trước lớp hoặc phải th  c hiện nhiệm vụ học tập như thuyết trình,

    hùng biện… Tác giả cũng t m hi u lý

    o  được biết đa số các em thấy t

    ti vì bị nói ngọng

    (chiếm 54.7%), một số khác cảm thấy thiếu vốn từ (chiếm 25.3%)  cũng c

    một số ít gặp phải

    những trở ngại tâm lý khác (chiếm 20%).

         

    goài ra  SV cũng chưa chủ động trong giao tiếp nên g y ra t m lý ngại giao tiếp

    thiếu t  tin

    không hăng hái trong việc đưa ra ý kiến mà thường r

    i vào thế

    ị động trong giao

             

    tiếp. Điều này sẽ g y cản trở rất lớn cho SV trong quá tr nh tiếp thu và lĩnh hội tri thức kỹ năng nghề nghiệp của người giáo viên.

     

    hư vậy, trong quá trình giao tiếp nói chung, học tập nói riêng, SV người dân tộc Trường ao đ ng Sư phạm Điện Biên còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế về kỹ năng giao

     

     

     

     

     

     

    tiếp đặc biệt là ngôn ngữ nói. Bi u hiện như còn n i ngọng rất nhiều, diễn đạt kh khăn thiếu t tin trong giao tiếp… Do đ cần xác định những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này

     

    của các em đ th c hiện các biện pháp nhằm khắc phục th c trạng trên, nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV.

     

    2.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của SV Trường ĐSP Điện Biên, trên c sở khảo sát tìm hi u th c trạng cũng như th c tiễn công tác, giảng dạy tại Trường, tác giả nhận thấy có một số yếu tố như sau:

     

    • Ý thức rèn luyện khả năng giao tiếp nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng của SV còn chưa cao. Một số SV cho rằng, o m nh là người dân tộc thi u số nên chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, khó sửa chữa được nhất là trong ngôn ngữ n i. ũng c sinh viên đ từng học

    11

     

    cách sửa nói ngọng, nói lắp nhưng không kiên tr nên hiệu quả sử dụng ngôn ngữ n i cũng chưa như mong muốn.

     

    • hội được rèn luyện khả năng giao tiếp đối với SV chưa nhiều. Các giờ học trên lớp ch có một số SV nhiệt tình phát bi u ý kiến, số còn lại r i vào trạng thái thụ động ngại bày tỏ ý kiến. Điều này không ch cản trở hiệu quả của tiết học mà còn tạo ra bầu không khí

    không hào hứng, khó kích thích hứng thú của SV. Các giờ tập giảng cũng chưa thật s   thu hút

     

    SV tích c  c tham gia  đ y là c      hội đ    các em rèn cả kỹ năng tr nh     ày   ảng, kỹ năng sử dụng

     

    ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng ứng xử sư phạm…

     

    – Việc tổ chức các hoạt động ngoại kh a còn chưa đa ạng chưa thu hút SV tham gia tích c c. Tâm lý học đ kh ng định: giao tiếp được rèn luyện thông qua quá tr nh con người tham gia các hoạt động. Tuy nhiên, những hoạt động được tổ chức tại trường mới ch thu hút được một bộ phận SV tham gia, chủ yếu tập trung vào các em trong các đội thi đ được l a chọn. Những SV đ rụt rè, nhút nhát lại càng hiếm c c hội tham gia. Chính vì vậy, kỹ năng giao tiếp của các em chưa được rèn luyện nhiều.

     

    – Nội dung giáo dục nâng cao kỹ năng giao tiếp cho SV chưa th c s được quan tâm và chú trọng, các học phần chủ yếu cung cấp cho SV hệ thống các tri thức chuyên môn cần thiết chưa đạt tới các mục tiêu về rèn luyện kỹ năng. ác học phần th c hành cho nội dung này còn rất t như học phần: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, th c hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp…

     

    2.5. Một số biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp cho sinh viên Trường Cao đẳng ư phạm Điện Biên

     

    Đ   c   th   n ng cao kỹ năng giao tiếp cho SV người dân tộc tại các trường cao đ ng sư

     

    phạm n i chung  SV Trường      ĐSP Điện     iên n  i riêng  chúng tôi mạnh     ạn đưa ra một số

     

    iện pháp cụ th   như sau:

     

    Thứ nhất, trong dạy học nói chung, khi th c hiện các phư ng pháp ạy học tích c c, nói riêng cần tăng cường việc rèn luyện ngôn ngữ nói và viết cho SV sư phạm đặc biệt là SV dân tộc Thái và dân tộc Mông ở mọi tình huống, mọi c hội. Cụ th như: phát bi u trước lớp, trao đổi nhóm; viết bảng; báo cáo chuyên đề, thảo luận trong các buổi xê-mi-na; tập giảng; tổ chức các câu lạc bộ và các sinh hoạt khác.

     

    Do đ phư ng ch m r n luyện khả năng ngôn ngữ và giao tiếp cho SV người dân tộc mà mỗi giáo viên cần hướng tới là:

     

    • Gư ng mẫu trong việc sử dụng ngôn ngữ khi viết bài giảng hay giáo trình, khi giảng bài, viết bảng. Điều này cần có ở mọi giáo viên trước khi n i đến việc tổ chức hoạt động, sửa lỗi cho SV.
    • Tăng cường cho SV hoạt động trong lớp, tích c c gọi các em hay mắc lỗi nói ngọng, rụt rè, nhút nhát. Mỗi lần như vậy là dịp uốn nắn lại cách nói, sử dụng từ, cách viết cho SV và

    cần làm thường xuyên, mở rộng tới tất cả SV. Điều này không ch ành cho giáo viên các môn nghiệp vụ sư phạm mà là cho mọi giáo viên khi đứng lớp với SV sư phạm.

     

    12

     

    • Việc sử dụng ngôn ngữ cho SV th hiện rõ ở các giờ tập giảng. SV th hiện ngôn ngữ viết (soạn giáo án, viết bảng), ngôn ngữ nói (khi giảng và bình giảng) còn rất nhiều lỗi. Vì vậy

    giáo viên hướng dẫn tập giảng chịu kh

    đọc giáo án, lắng nghe SV giảng, giảng mẫu trước SV

    thì có th  cải thiện rõ rệt kỹ năng ngôn ngữ và giao tiếp cho các em trước khi đến th

    c tập tại

    các c  sở Giáo dục.

           

    Thứ hai, cần tổ chức nhiều các hoạt động ngoại khóa khác mang tính trải nghiệm bên

    cạnh các cuộc thi hùng biện  hội thi nghiệp vụ sư phạm cho SV đ

    họ c

    th  phát huy được

    khả năng giao tiếp và c  hội giao lưu

    học hỏi lẫn nhau  tăng cường s  t

    tin và hi u

    iết lẫn

    nhau trong giao tiếp.   goài ra  SV còn c  c  hội được lắng nghe  th

    hiện

    ản th n  chủ động

    • n trong quá tr nh giao tiếp. V vậy  l  a chọn các h nh thức tổ chức sinh hoạt ngoại khóa,

    sinh hoạt tập th  đa  ạng  phong phú cho SV nhằm tăng cường khả năng giao tiếp cho họ là

     

    điều rất cần thiết. ác hoạt động ngoại kh a như: Hoạt động thăm quan các công tr nh và i tích lịch sử như ảo tàng Chiến thắng Đồi A1, hầm Đờ-cát đ giao lưu giao tiếp bằng tiếng

     

    Việt và tiếng nước ngoài; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ kỹ năng sống; các hoạt động tình nguyện h …

     

    Thứ ba, tổ chức các chư  ng tr nh lớp học đào tạo kỹ năng sống cho SV  đặc biệt là SV

     

    người dân tộc.   an đầu

    hà trường có th  hợp tác đào tạo với các trung tâm giáo dục có uy

    tín về kỹ năng sống đ

    mở các lớp học ngoài giờ học ch nh kh  a đ

    các em được tiếp cận và

    n ng cao h

    n khả năng giao tiếp của bản thân. Tiếp đ   tổ chức bồi

    ưỡng kiến thức, kỹ năng

    cho một l

    c lượng giáo viên trong Trường đ  họ c  đủ khả năng th

    c hiện rèn luyện kỹ năng

           

    sống nói chung, kỹ năng giao tiếp n i riêng cho SV. Đ y sẽ là l

    c lượng thường xuyên, gắn

    l u  ài đ

    tổ chức các lớp học giáo dục kỹ năng sống một cách liên tục tại   hà trường.

    Thứ tư  x y

    ng các chủ đi m giáo  ục kỹ năng giao tiếp

    ành cho SV người dân tộc;

    thiết kế các

    ài giảng theo chủ đi m với các nội

    ung khác nhau vừa đ  cho SV hi u và nắm

    ắt các kỹ năng cụ th

    của giao tiếp  h nh thành các kỹ năng giao tiếp một cách c  hiệu quả

    như: kỹ năng n i

    kỹ năng viết  kỹ năng lắng nghe  kỹ năng ứng xử sư phạm…

    ên cạnh đ

    các em sẽ được th

    c hành các kỹ năng nêu trên thông qua ch

    i trò ch  i hoặc tr

    c tiếp tham

    gia đ ng vai

    giải quyết các t nh huống giao tiếp

    x y   ng các t nh huống giao tiếp trong môi

    trường sư phạm và

    kiến cách xử lý các t nh huống kh .

         

    3. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng sống c

    ản và c  ý nghĩa quan trọng đối

    với mỗi cá nh n

    đặc

    iệt là sinh viên sư phạm. Sinh viên người dân tộc ở Trường

    ĐSP Điện

    Biên còn gặp một số kh

    khăn trong giao tiếp đặc biệt là sinh viên dân tộc Thái và Mông.

    Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên người dân tộc trong

    nhà trường  trong đ

    tập trung tới các yếu tố như ý thức rèn luyện của các em; nội dung giáo

    dục chưa phong phú; c  hội được rèn luyện kỹ năng giao tiếp chưa nhiều.

     

    Trên c

    sở phát hiện th  c trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Trường

    ĐSP Điện

                       

    Biên, tác giả đề xuất 4 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho các em. Mỗi biện pháp đều có những ưu  nhược đi m của n    o đ  đ  mang lại hiệu quả cao nhất 13

     

    cần phối hợp sử dụng hợp lý các biện pháp nêu trên trong quá trình rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    [1]          guyễn Thanh     nh  2004)  Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống        x   Đại học Sư phạm.

     

    • Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Tài liệu đào tạo giáo viên R n luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.

    [3]          hu Văn Đức  2005)  Kỹ năng giao tiếp      x   giáo    ục.

     

    • Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên), (2014), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm.

    IMPROVING COMMUNICATION SKILLS FOR ETHNIC STUDENTS IN DIEN BIEN TEACHER TRAINING COLLEGE

     

    Lo Vu Diep

    Dien Bien Teacher Training college

     

    Abstract: Communication skill is one of the fundamental and important life skills to everyone in general and pedagogical students in particular. Ethnic minority students deal with certain difficulties and limitations in communication skill, which has great influences on the formation of job skills later on. Basing on the investigation into the current state, we propose specific measures to improve communication skill for students at Dien Bien Teacher training college.

     

    Keywords: Skill, student, Dien Bien teacher training college.

     

     

     

     

    14


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Quy định quản lý văn bản đến, đi


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-BI%E1%BB%86N-PH%C3%81P-N%C3%82NG-CAO-HI%E1%BB%86U-QU%E1%BA%A2-S%E1%BB%AC-D%E1%BB%A4NG-INTERNET-TRONG-HO%E1%BA%A0T-%C4%90%E1%BB%98NG-H%E1%BB%8CC-T%E1%BA%ACP-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-TR%C6%AF%E1%BB%9CNG-%C4%90%E1%BA%A0I-H%E1%BB%8CC-T%C3%82Y-B%E1%BA%AEC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    TẠP CHÍ KHOA HỌC

     

    Khoa học Xã hội, Số 13 (6/2018) tr. 1 – 7

     

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG INTERNET TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

     

    Vũ Thị Thúy

     

    Trường Đại học Tây Bắc

     

    Tóm tắt: Sinh viên Trường Đại học Tây Bắc có nhu cầu sử dụng internet trong hoạt động học tập (HĐHT) ở mức độ tương đối cao. Điều này xuất phát từ sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và tính hiệu quả của internet trong HĐHT. Đây là cơ sở khoa học giúp cho Nhà trường và đội ngũ giảng viên có những giải pháp trong vấn đề xây dựng môi trường đào tạo gắn với công nghệ thông tin, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục và đào tạo của Nhà trường.

     

    Từ khóa: Internet, sinh viên, biện pháp, hoạt động học tập.

     

    1. Đặt vấn đề

     

    Việc khai thác sử dụng internet một cách c hiệu quả trong giảng ạy học tập nghiên cứu là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho đội ngũ giảng viên sinh viên nhằm hiện đại h a

     

    phư  ng thức đào tạo  phát tri n năng l  c tư  uy sáng tạo  học tập suốt đời của người

    ạy,

    người học. V  vậy  cần thiết phải t m ra những

    iện pháp nhằm n ng cao hiệu quả sử

    ụng

    internet. Trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu

    tác giả tập trung vào việc t m kiếm các

    iện

    pháp nhằm n ng cao hiệu quả sử ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên nói chung và sinh viên Trường Đại học T y ắc n i riêng. Tác giả tiến hành thu thập thông tin từ nhiều kênh: Qua phiếu điều tra khảo sát yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử ụng internet trong hoạt động học tập; đề xuất iện pháp từ đội ngũ giảng viên, sinh viên; khảo sát th c tế tại

     

    phòng học  thư viện  phòng máy; tham khảo một số tài liệu c

    liên quan… là c  sở khoa học

    đ  tác giả đề xuất

    iện pháp n ng cao hiệu quả sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của

    sinh viên Trường Đại học T y  ắc.

       

    2. Kết quả nghiên cứu

     

     

     

     

    sở đề xuất

    iện phápa trên kết quả nghiên cứu th  c trạng những yếu tố ảnh

    hưởng đến nhu cầu sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học

    T y   ắc. Qua điều tra khảo sát trên nh m khách th

    sinh viên

    n = 200)  tác giả thu được kết

    quả về nhu cầu sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tây

    ắc chịu tác động

    ởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan  th

    hiện trong  ảng số liệu  xem

    trang 2).

             

    Từ số liệu Bảng 1 cho thấy, yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu truy cập mạng trong học

             

    gày nhận  ài: 31/8/2017.

    gày nhận đăng: 12/10/2017

       

    iên lạc: Vũ Thị Thúy e-mail: [email protected]

       
             

    1

    tập của sinh viên Trường Đại học T y ắc ao gồm những yếu tố chủ quan xuất phát từ ản th n người học và yếu tố khách quan là những tác động ên ngoài ảnh hưởng đến quá tr nh sử ụng mạng internet cho mục đ ch học tập.

     

    Kết quả ph n t ch số liệu cho thấy những yếu tố làm cản trở quá tr nh người học truy cập mạng xuất phát từ những yếu tố khách quan chiếm đi m trung bình chung ( X ) cao h n

    so với yếu tố chủ quan.   ụ th

     

    yếu tố: Phương thức đào tạo của nhà trường chưa đề cao yếu

               

    tố công nghệ mạng (= 0.76) được sinh viên xếp ở vị tr

    thứ

    ậc 1. Th

    c tế, trong đào tạo ở

    Trường Đại học T y

    ắc đ  c

    s

    thay đổi về phư  ng thức đào tạo, từ đào tạo niên chế sang

    đào tạo theo học chế t n ch

    đ y là một phư  ng thức đào tạo được sử

    ụng rộng r i ở tất cả

    các trường đại học

    cao đ ng trong cả nước cũng như trên thế giới. Đào tạo theo học chế t n

    ch  phát huy tối đa t nh t ch c

    c

    chủ động trong học tập của người học  đặc

    iệt coi trọng quá

    tr nh t  học  chuẩn

    ài ở nhà trước khi đến lớp. Điều đ

    c  nghĩa là người học luôn phải nỗ

    l  c t m kiếm thông tin thông qua nhiều nguồn như sách giáo tr nh

    tài liệu

    tạp ch

    đài   áo

    internet… Mặc  ù Nhà trường đ

    tiếp cận và tri n khai cụ th

    phư

    ng thức đào tạo theo học

    chế t n ch  tới đội ngũ giảng viên và sinh viên nhưng trên th  c tế việc tri n khai

    ạy học ở các

    giờ học ch nh kh a theo mô h nh

    ạy học tr  c tuyến là chưa được áp

    ụng.

    i cách khác,

    hà trường chưa vận

    ụng mô h nh  ạy học E-  earning trong đào tạo. V

    vậy, c

    th

    n i, đ y

                               

    là yếu tố g y cản trở lớn đến quá tr nh    ạy và học c   sử   ụng công nghệ mạng.

     

    Bảng 1: Yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng Internet

     

    trong hoạt động học tập của sinh viên (n = 200)

     

    Stt

     

    Yếu tố ảnh hưởng

     

    Số phiếu

    Điểm TB

    Thứ bậc

             
     

    ( X )

                 

    1

     

    Không c  máy t nh nối mạng

       

    117

    0.58

    6

    2

     

    hu cầu giải tr  giao lưu cao h  n nhu cầu học tập

     

    123

    0.61

    5

    3

     

    Yêu cầu về nhiệm vụ học tập c

    truy cập mạng mà

    136

    0.68

    2

     

    thầy cô đưa ra chưa cao

       
                     

    4

     

    Không được học trong phòng học c

    kết nối mạng

     

    131

    0.65

    3

    5

     

    Sợ mất thời gian hoặc sợ tốn kém

       

    109

    0.54

    7

    6

     

    Mức độ t ch c  c trong học tập chưa cao

     

    129

    0.64

    4

    7

     

    Phư  ng thức đào tạo của nhà trường chưa vận   ụng

    153

    0.76

    1

     

    mô h nh  ạy học tr  c tuyến

       
                     
       

    Trong giờ học ch nh kh  a  việc giảng viên sử

    ụng công nghệ thông tin và đưa ra yêu

    cầu đ

    người học khai thác tài liệu từ những we site chuyên ngành là chưa nhiều. Điều này lý

    giải tại sao yếu tố: Yêu cầu về nhiệm vụ học tập có truy cập mạng mà thầy, cô đưa ra chưa

     

    cao ( X = 0.68) được các em đánh giá xếp ở thứ ậc 2. Th c tế cho thấy mặc ù công nghệ thông tin là một phần không th thiếu trong cuộc sống cũng như trong công việc của mỗi giảng viên nhưng việc khai thác kiến thức trên internet vào ài học là chưa mạnh mẽ. Chúng ta mới th c hiện một nửa quy tr nh đào tạo công nghệ đ là thiết kế ài giảng ằng tr nh chiếu powerpoint đ ài giảng trở nên sinh động mới mẻ và mang t nh tr c quan cao. Chính vì giảng viên không đưa ra yêu cầu nên sinh viên trở nên thụ động trong việc t m kiếm tài liệu, cũng như việc “học” trên mạng. Yếu tố “Không được học trong các phòng học có kết nối

     

    2

     

    mạng” ( X   = 0.65) được xếp ở thứ     ậc 3, c    ảnh hưởng thiếu t ch c  c đến quá tr nh học tập

     

    • sử ụng công nghệ mạng. Mặc ù các phòng học đ được nhà trường trang ị nhiều thiết ị mạng hệ thống mạng wifi được phủ s ng trong toàn trường nhưng giảng viên và sinh viên

    vẫn không th   truy cập internet trên giảng đường.

     

    hững yếu tố chủ quan của ản th n người học ảnh hưởng đến quá tr nh sử ụng internet trong học tập được các em đánh giá xếp sau những yếu tố khách quan. ụ th , yếu tố: Mức độ tích cực học tập chưa cao ( X = 0.64); nhu cầu giải trí, giao lưu cao hơn nhu cầu học tập ( X = 0.61); sợ mất thời gian hoặc sợ tốn kém ( X = 0.54) lần lượt được các em đánh giá và xếp ở thứ ậc 4 5, 7. Điều đ cho thấy, sinh viên rất c nhu cầu đổi mới mong muốn được

    tiếp cận với phư

    ng thức đào tạo hiện đại  các h nh thức đào tạo mới mẻ.

    hưng đ  đáp ứng

    được nhu cầu đ

    th

    cần phải

    ắt đầu từ nhà trường  từ đội ngũ giảng viên trong việc vận

    ụng, tri n khai h nh thức đào tạo c

    sử

    ụng công nghệ mạng trên giảng đường.

    hư vậy

    c

    th  nhận định, sinh viên Trường Đại học T y   ắc c

    nhu cầu sử  ụng

    internet trong học tập  tuy nhiên c

    những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quá

    trình thỏa m n nhu cầu đ . Việc t m ra

    iện pháp tác động cả về mặt khách quan và chủ quan

    sẽ giúp n ng cao hiệu quả sử

    ụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại

    học T y  ắc.

               

    3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng internet trong hoạt động học tập của sinh viên Trường Đại học Tây Bắc

     

    3.1. Giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên về tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong môi trường giáo dục hiện đại

     

    hà trường cần cụ th

    h a các văn

    ản ch  đạo về ứng

    ụng công nghệ thông tin

    TT) trong giảng

    ạy và học tập tới đội ngũ giảng viên và sinh viên như:

    ghị quyết số

    36-   Q/TW về đẩy mạnh ứng

    ụng  phát tri n

    TT đáp ứng yêu cầu phát tri n

    ền vững và

    hội nhập quốc tế;

    h  thị 55-

    T/  GDĐT về tăng cường giảng

    ạy  đào tạo và ứng  ụng

               

    CNTT trong ngành giáo dục đào tạo; Kế hoạch số 345/KH- GDĐT về th c hiện đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025”… Mỗi giảng viên cần đẩy mạnh tuyên truyền cho sinh viên thấy rõ hiệu quả và

     

    yêu cầu mang t nh tất yếu của ứng  ụng

    TT trong đổi mới phư  ng pháp học tập; thông qua

    các giờ  ạy c

    ứng  ụng

    TT; các buổi sinh hoạt  hội thảo chuyên đề về sử

    ụng, khai thác

    CNTT trong học tập, đ

    không ch  giáo

    ục sinh viên về mặt nhận thức mà còn hình thành

    cho các em kỹ năng tra cứu khai thác nguồn thông tin trên mạng.

     

    Giáo

    ục n ng cao nhận thức cho sinh viên về t nh hai mặt, t ch c  c và tiêu c  c của

    internet, đ  các em nhận thức được tầm quan trọng của

    TT trong học tập

    từ đ  giúp sinh

               

    viên xác định mục đ ch truy cập mạng đúng đắn tạo t nh chủ động khi tư ng tác với máy t nh nối mạng trong thời gian lên lớp và ngoài giờ lên lớp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên thường ị ph n tán khi vào mạng các em ễ ị khối lượng thông tin khổng lồ trên internet

     

    3

     

    làm cho “nhiễu s ng” và mất phư ng hướng khi t m kiếm thông tin học tập [2]. Nhiều sinh viên chia sẻ: “Bản thân sinh viên nên sử dụng mạng internet có mục đích và hiệu quả, cần chủ động trong quá trình học tập và phải biết khi nào cần vào mạng để không lãng phí thời

     

    gian”. Truy cập sử ụng internet đúng mục đ ch; c n đối hài hòa giữa nhu cầu sử ụng mạng trong học tập với các nhu cầu giải tr khác; truy cập vào những website tin cậy đ n ng cao

     

    hiệu quả học tập [3]… là những vấn đề mà sinh viên cần xác định và h nh thành cho m nh đ internet thật s là một công cụ hữu ch, hỗ trợ sinh viên trong hoạt động học tập nghiên cứu.

     

    3.2. Hướng dẫn, bồi dưỡng cho sinh viên kỹ năng tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin trên internet

     

    Với một khối lượng thông tin khổng lồ đa ạng và phong phú trên internet việc khám phá ch với một cú “click chuột” đ trở nên đ n giản với đa số giới trẻ [1]. Tuy nhiên, tìm

     

    kiếm “cái g ” trên mạng l a chọn và xử lý thông tin như thế nào đ n trở thành những thông tin hữu ch tin cậy là một vấn đề không đ n giản đối với người truy cập internet nói chung và sinh viên n i riêng. Một trong những iện pháp đ sinh viên có th l a chọn cho m nh nguồn thông tin tin cậy đảm ảo t nh ch nh xác của tri thức, đ là truy cập vào những we site c độ tin cậy cao. Hiện nay các trang we site chuyên ngành một số trang mạng điện tử của các c quan đ được ki m định và ki m uyệt nhằm đảm ảo t nh ch nh xác h a của thông tin như:

     

    Thư viện học liệu mở Việt Nam http://voer.edu.vn; Tạp chí khoa học Việt Nam trực tuyến http://www.vjo.info/index.php/index/about; Trung tâm Dữ liệu Đại học Quốc gia Hà Nội http://dl.vnu.edu.vn; Thư viện điện tử quốc gia http://nlv.gov.vn/submit-weblink/thuvien dientuhoctaptructuyen; Cổng thông tin điện tử Bộ Giáo dục và Đào tạo http://www.

     

     

     

    moet.gov.vn [3]và một số we site chuyên ngành khác là những we site đáng tin cậy đ sinh viên tham khảo coi đ là nguồn tài nguyên học tập. Sinh viên c tiếp cận được với những website ổ ch hay không ngoài s nỗ l c t m kiếm của ản th n còn cần c s hướng ẫn,

     

    giới thiệu của giảng viên thông qua: Tăng cường trao đổi thông tin qua thư điện tử; tham gia lớp học tr c tuyến; trao đổi sáng kiến, kinh nghiệm trên các diễn đàn… Việc giảng viên đưa ra nhiệm vụ yêu cầu sinh viên truy cập mạng internet, tra cứu tài liệu sẽ k ch th ch hứng thú học tập. Đ làm được điều này sinh viên cần h nh thành cho m nh kỹ năng tra cứu, t m kiếm

     

    đánh giá và xử lý thông tin trên internet như: 1)   iết cách sử

    ụng các công cụ t m kiếm thông

    ụng như Google  Yahoo, Panvietnam, Vinaseek…; 2)   iết l

    a chọn các thủ thuật t m kiếm

    như từ kh a  các t m kiếm chuyên  iệt  sử  ụng nhiều we site; 3)   iết đánh giá thông tin như

    đọc hi u ph n t ch phê phán và l  a chọn thông tin phù hợp [2].

     

    3.3. Nhà trường cần không ngừng hoàn thiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị mạng, đặc biệt nâng cao hiệu quả sử dụng mạng LAN, WIFI trong toàn trường

     

    Trong những năm gần đ y o những yêu cầu và thách thức đặt ra trong môi trường giáo ục hiện đại Trường Đại học T y ắc không ngừng đầu tư hoàn thiện về c sở vật chất trang thiết ị mạng internet phục vụ cho quá tr nh đào tạo ứng ụng TT. Rất nhiều các

     

    4

     

    phòng học đ  được lắp đặt hệ thống máy chiếu

    m thanh

    các thiết

    ị thu

    phát

    nghe

    nh n

    như phòng họp tr

    c tuyến

    phòng học tr  c tuyến  phòng th

    c hành máy… Hệ thống mạng

    không dây (wifi) được phủ s ng khắp toàn trường; hệ thống mạng

    A

    mạng cục

    ộ) hoạt

    động hiệu quả là những điều kiện thuận lợi đ

    đội ngũ giảng viên tri n khai và ứng

    ụng

    CNTT trong giảng

    ạy. Tuy nhiên

    song song với những điều kiện thuận lợi đ

    tác giả nhận

    được những chia sẻ của một số giảng viên

    sinh viên về th

    c tế thiết

    ị máy m c của

    trường.

    ụ th : 1)

     

    ác thiết

    ị  phư  ng tiện phục vụ cho giờ học ứng

    ụng

     

    TT như máy

    chiếu

    ảng chiếu

     

    y

    ẫn loa m c… đ

    ắt đầu xuống cấp

    ở rất nhiều phòng học các thiết  ị

    đ  không còn sử

    ụng được; 2) Hệ thống mạng wifi mở nhưng lại không c

    khả năng kết nối

    internet,  ẫn đến rất kh

    đ

    giảng viên

    sinh viên tri n khai các giờ học tr

    c tuyến

    đặc

    iệt

    khi cần thiết phải truy cập mạng tr

    c tiếp. Giải quyết vấn đề này cần c

    s

    đầu tư

    sửa chữa

    hoặc lắp mới trang thiết

    ị cho các phòng học và c  cách quản lý mạng wifi phù hợp đ

    sinh

    viên, giảng viên c

     

    th  truy cập mạng ngay tại giảng đường

     

    lớp học nhưng một số các trang

    mạng sẽ được máy chủ kh a như: Facebook, We site c  nội

    ung nguy hi m

    độc hại  không

    phù hợp với học sinh  sinh viên  đ

    người

    ùng không th

    truy cập mạng giải tr  trong thời

    gian  ạy và học ch nh kh  a ở Trường. Mặc

    ù trên we site của   hà trường đ

    c

    phần hướng

    ẫn sử

    ụng internet nhưng đ  là những hướng

    ẫn  ài và tư

     

    ng đối phức tạp nên

    t nhiều g y

    kh  khăn cho người

    ạy và người học khi tiến hành cài đặt và truy cập mạng.

             
                                         

    3.4. Phát triển website của trường, khoa, chia sẻ các nguồn tài nguyên học tập trên website

     

    Hiện nay, Trường Đại học T y ắc đ x y ng we site http://utb.edu.vn với giao iện ứng ụng phong phú h nh ảnh đẹp thông tin đa ạng. Tuy nhiên, trong phần Thư viện

     

    điện tử số lượng đầu sách đưa lên còn ngh o nàn khoảng trên 1.800 đầu sách Thống kê tháng 12/2017), ao gồm giáo tr nh sách chuyên khảo tham khảo luận án tiến sĩ luận văn thạc sĩ đề tài nghiên cứu khoa học các cấp [5]. Số lượng đầu sách đưa lên Thư viện điện tử chưa đảm ảo s đa ạng của các học phần trong đào tạo cử nh n ở các khoa học c ản, cũng như phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học của giảng viên sinh viên; Đào tạo trực

     

    tuyến c    uy nhất kh

    a đào tạo ngoại ngữ tr  c tuyến; Hệ thống học liệu mở không c

    nội

    dung… Điều này cho thấy, we site của

    hà trường còn đ  trống nguồn chia sẻ học liệu;

    iễn

    đàn học tập

    giao lưu giữa sinh viên và giảng viên [5]… Thiết nghĩ, với kênh thông tin chia sẻ

    trên website, các tài liệu học tập  giáo án

    ài giảng điện tử  công tr nh nghiên cứu khoa học…

    là những nguồn tài liệu c  giá trị đối với sinh viên trong học tập nghiên cứu.

     

    3.5. Phát triển thư viện điện tử trở thành môi trường học tập hiệu quả cho sinh viên

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy

    thời gian truy cập mạng trong các giờ học chính khóa

    của sinh viên Trường Đại học T y

    ắc không nhiều  các em chủ yếu truy cập mạng vào thời

    gian ngoài giờ lên lớp theo yêu cầu  nhiệm vụ mà giảng viên giao

    hoặc xuất phát từ nhu cầu

    học tập của

    ản th n [4]. Một trong những môi trường đ  các em l

    a chọn  truy cập internet,

    t m kiếm thông tin đ

    là thư viện điện tử. Hiện nay, trên we site của Trường đ  x y   ng thư

               

    5

    viện điện tử đ sinh viên c th đăng nhập theo m sinh viên và số thẻ thư viện đ t m kiếm tài liệu. Tác giả đ tiến hành khảo sát th c tế tại phòng đọc thư viện điện tử tầng 2 Trung

     

    tâm Thông tin – Thư viện và lấy số liệu truy cập trên we site của hà trường về số lượng người truy cập vào thư viện điện tử Trường Đại học T y ắc, nhận thấy: hoạt động của thư

     

    viện điện tử Trường Đại học T y ắc ước đầu đ đạt những hiệu quả nhất định số lượng người truy cập ngày một tăng cho thấy nhu cầu iết chọn lọc khai thác t m kiếm nguồn tài liệu ch nh thống đ được ki m định của người học [5]. Tuy nhiên thư viện điện tử vẫn cần thường xuyên cập nhật ổ sung thêm nhiều giáo tr nh điện tử h n nữa, ởi theo chia sẻ của một số sinh viên và giảng viên th “đầu sách trong thư viện điện tử vẫn còn ít”“Nhiều khi không tìm thấy tài liệu mình cần”.

     

    4. Kết luận

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Mỗi

    ước đột phá trong công nghệ giáo

    ục

    đào tạo sẽ làm thay đổi cách

    ạy

    cách

    học thậm ch

    cả phư  ng thức đào tạo. Việc th  c hiện

    ạy học với s  hỗ trợ công nghệ thông

    tin – viễn thông đòi hỏi giảng viên phải c

    những am hi u nhất định về tin học đ

    x y

    ng

    giáo án và thiết kế

    ài giảng điện tử  đòi hỏi sinh viên phải có kỹ năng sử

    ụng internet, kỹ

    năng t m kiếm

    xử lý thông tin trên mạng.

    goài việc  ồi

    ưỡng  khuyến kh ch giảng viên

    sinh viên th

    c hiện hoạt động  ạy – học c

    ứng

    ụng

    TT

    còn cần c

    s

    đầu tư trang thiết

    ị  máy m c

    x y

    ng các kho tài nguyên học liệu

    mô h nh mô phỏng

    tài liệu tham khảo

    ài giảng điện tử  giáo tr nh điện tử  các phần mềm

    ạy học

    iễn đàn điện tử… phục vụ cho

    công tác giảng

    ạy

    học tập  nghiên cứu.

    ác

    iện pháp phải mang t nh đồng  ộ về nội

    ung

    và h nh thức

    nhằm n ng cao hiệu quả sử

    ụng CNTT trong đào tạo tại Trường Đại học T y

    ắc  k ch th ch

    thúc đẩy nhu cầu học tập của sinh viên, n ng cao chất lượng giáo

    ục và đào

    tạo của   hà trường.

                       

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Trần Thị Minh Đức (2013), Mạng xã hội với sinh viên, Nxb Giáo dục.
    • Nguyễn Duy Mộng Hà (2010), Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng Internet trong giảng dạy, học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Quý Thanh (2008), Mối quan hệ của việc sử dụng Internet và hoạt động học tập

    của sinh viên, Đề tài cấp nhà nước, mã số Q.CL.05.01, Trường Đại học Khoa học xã hội và h n văn Hà Nội.

     

    • Vũ Thị Thúy (2016), Nhu cầu sử dụng Internet trong hoạt động học tập của sinh viên

    Trường Đại học Tây Bắc Đề tài khoa học cấp c  sở Trường Đại học Tây Bắc.

     

    [5]      We site Trường Đại học Tây Bắc http://utb.edu.vn.

     

    6

     

    SOME MEASURES TO IMPROVE EFFICIENCY IN INTERNET USE FOR STUDENTSAT TAY BAC UNIVERSITY

     

    Vu Thi Thuy

    Tay Bac University

     

    Abstract: At Tay Bac University, students have a high demand for internet access in their learning activities. This is due to the proper understanding of the importance and effectiveness of the internet in study. This serves as a scientific basis to help the university and its teaching staff figure out solutions to forming an IT assisted training environment to make further improvement in the quality of education and training.

     

    Keywords: Internet, students, measures, study.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Quy định quản lý văn bản đến, đi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Quy-%C4%91%E1%BB%8Bnh-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-v%C4%83n-b%E1%BA%A3n-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Quy định quản lý văn bản đến, đi

     

    IV.1 QUY TRINH QUẢN LÝ CÔNG VĂN ĐẾN

    1. Tiếp nhận văn bản đến
    • Khi tiếp nhận văn bản được chuyển đến từ mọi nguồn, nhân viên văn thư hoặc người được giao tiếp nhận công văn đến (sau đây gọi chung là.nhân viên văn thư) hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến trong trường hợp văn bản được chuyển đến ngoài giờ làm việc hoặc vào ngày nghỉ, phải kiểm tra sơ bộ về số lượng, tình trạng bì, nơi nhận, dấu niêm phong (nếu có), v.v…; đối với văn bản mật đến, phải kiểm tra, đối chiếu với nơi gửi trước khi nhận và ký nhận.
    • Nếu phát hiện thiếu hoặc mất bì, tình trạng bì không còn nguyên vẹn hoặc văn bản được chuyển đến muộn hơn thời gian ghi trên bì (đối với bì văn bản có đóng dấu ”Hoả tốc” hẹn giờ), phải báo cáo ngay cho người được giao trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý công tác văn thư (sau đây gọi tắt là người được giao trách nhiệm); trong trường hợp cần thiết, phải lập biên bản với người đưa văn bản.
    • Đối với văn bản đến được chuyển phát qua máy Fax hoặc qua mạng, nhân viên văn thư cũng phải kiểm tra về số lượng văn bản, số lượng trang của mỗi văn bản, v.v…; trường hợp phát hiện có sai sót, phải kịp thời thông báo cho nơi gửi hoặc báo cáo người được giao trách nhiệm xem xét, giải quyết.
    1. Phân loại sơ bộ, bóc bì văn bản đến

    Sau khi tiếp nhận, các bì văn bản đến được phân loại sơ bộ và xử lý như sau:

     

    • Loại không bóc bì: bao gồm các bì văn bản gửi cho Hội đồng quản trị, ban giám đốc, trưởng các bộ phận và các bì văn bản gửi đích danh người nhận, được chuyển tiếp cho nơi nhận. Đối với những bì văn bản gửi đích danh người nhận, nếu là văn bản liên quan đến công việc chung của các cơ quan, tổ chức thì cá nhân nhận văn bản có trách nhiệm chuyển cho văn thư để đăng ký.
    • Loại do nhân viên văn thư bóc bì: bao gồm tất cả các loại bì còn lại, trừ những bì văn bản trên có đóng dấu chữ ký hiệu các độ mật (bì văn bản mật);

    Khi thực hiện phân loại cần lưu ý:

     

    • Những bì có đóng các dấu độ khẩn cần được bóc trước để giải quyết kịp thời;
    • Không gây hư hại đối với văn bản trong bì; không làm mất số, ký hiệu văn bản, địa chỉ cơ quan gửi và dấu bưu điện; cần soát lại bì, tránh để sót văn bản;
    • Đối chiếu số, ký hiệu ghi ngoài bì với số, ký hiệu của văn bản trong bì; trường hợp phát hiện có sai sót, cần thông báo cho nơi gửi biết để giải quyết;
    • Nếu văn bán đến có kèm theo phiếu gửi thì phải đối chiếu văn bản trong bì với phiếu gửi; khi nhận xong, phải ký xác nhận, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại cho nơi gửi văn bản;
    • Đối với đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những văn bản cần được kiểm tra, xác minh một điểm gì đó hoặc những văn bản mà ngày nhận cách quá xa ngày tháng của văn bản thì cần giữ lại bì và đính kèm với văn bản để làm bằng chứng.
    1. Đóng dấu ”Đến”, ghi số và ngày đến
    • Văn bản đến của tất cả các đơn vị phải được đăng ký tập trung tại văn thư, trừ những loại văn bản được đăng ký riêng theo quy định khác của công ty như các hoá đơn, chứng từ kế toán v.v…
    • Tất cả văn bản đến thuộc diện đăng ký tại văn thư phải được đóng dấu “Đến”; ghi số đến và ngày đến (kể cả giờ đến trong những trường hợp cần thiết).
    • Đối với bản Fax thì cần chụp lại trước khi đóng dấu ”Đến”; đối với văn bản đến được chuyển phát qua mạng, trong trường hợp cần thiết, có thể in ra và làm thủ tục đóng đấu ”Đến”.
    • Đối với những văn bản đến không thuộc diện đăng ký tại văn thư thì không phải đóng dấu “Đến” mà được chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân có trách nhiệm theo dõi, giải quyết.
    • Dấu “Đến” được đóng rõ ràng, ngay ngắn vào khoảng giấy trống, dưới số, ký hiệu (đối với những văn bản có ghi tên loại), dưới trích yếu nội dung (đối với công văn) hoặc vào khoảng giấy trống phía dưới ngày, tháng, năm ban hành văn bản.

     

    • Đăng ký văn bản đến
    • Văn bản đến được đăng ký vào sổ đăng ký văn bản hoặc cơ sở dữ liệu văn bản đến trên máy vi tính.
    • Đối với nhân viên văn thư thì sử dụng máy vi tính đế quản lý văn bản đến, nhưng vẫn có sổ theo dõi văn bản đến để phòng ngừa xử lý khi cần thiết.
    • Đối với các bộ phận khác chỉ cần sử dụng sổ theo dõi văn bản đến.
    • Đối với phòng nhân sự phải lập sổ theo dõi những đơn, thư khiếu nại, tố cáo và cách giải quyết. Mẫu sổ theo dõi tương tự như mẫu theo dõi văn bản đến đính kèm quy trình này.
    • Khi đăng ký văn bản, cần bảo đảm rõ ràng, chính xác; không viết bằng bút chì, bút mực đỏ; không viết tắt những từ, cụm từ không thông dụng..

    IV.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ VĂN BẢN ĐI

     

    1. Soạn thảo và đánh máy văn bản:

     

    • Văn bản chuyên môn (ví dụ: hồ sơ thầu, báo giá…) cần soạn thảo, đánh máy của bộ phận nào do bộ phận đó trực tiếp soạn thảo/đánh máy.
    • Phòng HC chịu trách nhiệm soạn thảo các quyết định, công văn giấy tờ, hợp đồng thuộc phạm vi phụ trách của văn phòng.
    • Đối với văn bản của Hội đồng quản trị, ban giám đốc sẽ do thư ký hay phòng HCQT soạn thảo.
    • Đối với trường hợp đánh máy sử dụng ở dịch vụ ngoài hoặc chuyển cho phòng HCQT thực hiện cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

    a). Đánh máy đúng nguyên văn bản thảo, đúng thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.

    b). Nhân bản đúng số lượng quy định;

    c). Giữ bí mật nội dung văn bản.

     

    1. Photo và đóng dấu:
    • Đối với bộ phận nào được giao đánh máy thì bộ phận đó thực hiện việc photo tài liệu.
    • Đối với trường hợp số lượng tài liệu cần photo lớn thì có thể chuyển qua cho phòng HCQT thực hiện việc photo.
    • Việc thực hiện đóng dấu tài liệu, công văn thực hiên theo quy định quản lý con dấu của công ty.

     

    1. Chuẩn bị phong bì
    • Tuỳ theo số lượng, độ dày và khổ giấy để lưa chọn kích thước bì cho phù hợp.
    • Bì văn bản cần có kích thước lớn hơn kích thước của văn bản khi được vào bì (ở dạng để nguyên khổ giấy hoặc được gấp lại) để có thể vào bì một cách dễ dàng .
    • Bì văn bản cần được làm bằng loại giấy dai, bền, khó thấm nước, không nhìn thấu qua được và có định lượng ít nhất từ 80gram/m2 trở lên.
    • Trình bày bì và viết bì. Phần tên công ty và phần người nhận phải được in trưc tiếp từ máy hoặc đánh máy trên giấy dán và dán vào phong bì.
    • Vào bì và dán bì: Tùy theo số lượng và độ dày của văn bản mà lựa chọn cách gấp văn bản để vào bì.. Khi gấp văn bản cần lưu ý để mặc giấy có chữ vào vào trong. Khi vào bì, cần tránh làm nhàu văn bản. Khi dán bì, cần lưu ý không để hồ dán dính vào văn bản; hồ phải dính đều; mép bì phải được dán kín và không bị nhăn. Hồ dùng để dán bì phải có độ kết dính cao, khó bóc.
    1. Chuyển phát văn bản đi:
    • Đối với trường hợp chuyển giao trực tiếp cho người nhận thì yêu cầu người nhận ký vào cột ký nhận của sổ chuyển giao công văn đi.
    • Đối với trường hợp phải giao cho nhân viên giao nhận hoặc các nhân viên khác đi giao thì yêu cầu người đó ký vào sổ giao công văn đi, đồng thời chuyển cho người đó phiếu giao bản giấy tờ, sau khi giao xong thì thu hồi giấy đã có chữ ký lại.
    • Chuyển phát văn bản đi qua bưu điện. Tất cả văn bản đi được chuyển phát qua hệ thống bưu điện đều phải được đăng ký vào sổ. Khi giao bì văn bản, phải yêu cầu nhân viên bưu điện kiểm tra, ký nhận và đóng dấu vào sổ (nếu có).
    • Chuyển phát văn bản đi bằng máy Fax, qua mạng. Trong trường hợp cần chuyển phát nhanh, văn bản đi có thể được chuyển cho nơi nhận bằng máy Fax hoặc chuyển qua mạng, nhưng sau đó phải gửi bản chính đối với những văn bản có giá trị lưu trữ.
    • Chuyển phát văn bản mật. Đối với trường hợp chuyển giao văn bản mật, thực hiện theo quy chế bảo mật tài liệu của công ty.
    1. Theo dõi việc chuyển phát văn bản đi

    Nhân viên văn thư có trách nhiệm theo dõi việc chuyển phát văn bản đi, cụ thể như sau:

     

    • Đối với những văn bản mật, hỏa tốc hoặc theo yêu cầu của người gửi, nhân viên văn thư phải theo dõi việc chuyển phát văn bản đi theo yêu cầu của người ký văn bản. Đối với các trường hợp này, nhân viên văn thư phải ghi thêm thời gian phải kiểm tra, nếu đến thời gian đó phải gọi điện hỏi thăm người nhận đã nhận được chưa, nếu sau thời gian 4 – 8h mà người nhận chưa nhận được thì phải báo cáo người có thẩm quyền xin ý kiến xử lý (tùy theo tình chất cấp bách của văn bản).
    • Đối với những văn bản đi có đóng dấu ”Tài liệu thu hồi”, phải theo dõi, thu hồi đúng thời hạn; khi nhận lại, phải kiểm tra, đối chiếu để bảo đảm văn bản không bị thiếu hoặc thất lạc;
    • Đối với bì văn bản gửi đi nhưng vì lý do nào đó (do không có người nhận, do thay đổi địa chỉ, v.v…) mà bưu điện trả lại thì phải chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo văn bản đó; đồng thời, ghi chú vào sổ gửi văn bản đi bưu điện để  kiểm tra, xác minh khi cần thiết;
    • Trường hợp phát hiện văn bản bị thất lạc, phải kịp thời báo cáo người được giao trách nhiệm xem xét, giải quyết.
    1. Lưu công văn:
    • Bản lưu văn bản đi tại văn thư được Sắp xếp theo thứ tự đăng ký. Những văn bản đi được đánh số và đăng ký chung thì được sắp xếp chung; được đánh số và đăng ký riêng theo từng loại văn bản hoặc theo từng nhóm văn bản thì được sắp xếp riêng, theo đúng số thứ tự của văn bản.
    • Đối với các bản fax thì phải lưu cả cuống fax.
    • Đối với trường hợp gửi văn bản qua bưu điện hoặc nhân viên của công ty thì phải lưu kèm cả chứng từ chứng minh đã gửi xong.
    • Các văn bản lưu được lưu trữ bằng cả hai cách: lưu bản cứng vào file và lưu bản mềm trên hệ thống ERP (trực tiếp hoặc scan văn bản).

    IV.3 QUẢN LÝ CÔNG VĂN

     

    • Tất cả các bộ phận khi nhận công văn giấy tờ phải lưu vào file bìa còng, bên ngoài phải lập danh mục thông báo đến, thông báo đi.
    • Đối với trường hợp có ít công văn đến thì có thể lưu chung một file, đối với trường hợp có nhiều công văn đến từ các bộ phận khác nhau thì lưu theo từng bộ phận.
    • Danh mục thông báo theo biểu mẫu kèm theo quy trình này.

    V/ BIỂU MẪU KÈMTHEO

     

    1. Sổ công văn đến mã số: HC – 09 – BM01
    2. Sổ công văn đi mã số: HC – 09 – BM02
    3. Sổ chuyển giao văn bản, giấy tờ mã số: HC – 09 – BM03
    4. Danh mục thông báo. mã số: HC – 09 – BM04

    ———————– › & š ————————–

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]