Author: Nguyễn Huyền

  • SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/sinh_benh_hoc_cua_virus_prrs_chung_doc_luc_cao_tren_heo_rung_lai_8613SINH-B%E1%BB%86NH-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-VIRUS-PRRS-CH%E1%BB%A6NG-%C4%90%E1%BB%98C-L%E1%BB%B0C-CAO-TR%C3%8AN-HEO-R%E1%BB%AANG-LAI-QUA-G%C3%82Y-B%E1%BB%86NH-TH%E1%BB%B0C-NGHI%E1%BB%86M.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

    Vietnam J. Agri. Sci. 2019, Vol. 17, No. 1: 47-54                              Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(1): 47-54

     

    www.vnua.edu.vn

     

    SINH BỆNH HỌC CỦA VIRUS PRRS CHỦNG ĐỘC LỰC CAO TRÊN HEO RỪNG LAI QUA GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM

     

    Đỗ Tiến Duy*, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    Khoa Chăn nuôi Thú y, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

     

    *Tác giả liên hệ: [email protected]

     

    Ngày nhận bài: 23.11.2018                                                  Ngày chấp nhận đăng: 05.03.2019

     

    TÓM TẮT

     

    Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của virus (tên đầy đủ) (PRRSV) chủng độc lực cao (HP-PRRSV) trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với PRRSV và dịch tả heo được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm. Kết quả đánh giá dấu hiệu lâm sàng và bệnh lý cho thấy giai đoạn cấp tính của bệnh diễn ra từ ngày 5 đến 14 sau gây nhiễm. Các biểu hiện lâm sàng chính gồm sốt, bỏ ăn, rối loạn hô hấp, mắt sưng-chảy ghèn, run giật, chết. Viêm phổi kẽ nặng trên tất cả heo gây nhiễm; phổi viêm kẽ kèm theo xuất huyết xảy ra trên heo chết bệnh. Các chỉ tiêu cận lâm sàng (hàm lượng virus ở máu, mô; điểm kháng nguyên qua IHC, kháng thể, IL-1b) tương ứng với các triệu chứng và bệnh lý lâm sàng giai đoạn cấp tính trên heo sau gây nhiễm. Sự phân bố kháng nguyên ở mô giao động khác nhau qua các thời điểm sau gây nhiễm. Virus lần đầu tiên được ghi nhận nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng HP-PRRSV có thể gây bệnh lý nặng, nhiễm trên nhiều cơ quan nội tạng và có thể gây chết trên heo rừng.

     

    Từ khóa: Sinh bệnh học, HP-PRRSV, heo rừng lai, gây bệnh.

     

    Pathogenesis of Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus in Crossbred Wild Pigs through Experimental Innoculation

     

    ABSTRACT

     

    The objective of this study was to examine the pathogenesis of highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus (HP-PRRSV) in crossbred wild pigs through experimental infection. Twenty eight healthy crossbred-wild pigs, 42-49 day-old, originated from CSFV-PRRSV-negative farms were allocated in two experimental groups.The findings in clinical signs and pathology showed that the acute phase of infection took place from 5 to 14 days post infection. The major manifestations were fever, anorexia, respiratory failure, eye discharge and swelling, shivering and death. Severe interstitial pneumonia happened in all infected animals and interstitial pneumonia accompanied with hemorrhage recorded in died pigs. The laboratory indicators (viremia in the blood/tissues, IHC score, IgG antibodies, IL-1b) were in homology with clinical pathology in acute phase of the disease. There were variations of the antigen distribution in various tissues over time-points post infection. This virus was first detected in the epithelial cells of bronchioles, stomach, kidney, bile duct and hepatic cells. The study results demonstrated that HP-PRRSV might cause severe pathology, wide antigenic distribution in visceral organs and could be fatal in crossbred-wild pigs.

     

    Keywords: Pathogenesis, HP-PRRSV, crossbred wild pigs.

     

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ

     

    Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) là bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra bởi virus PRRS (porcine reproductive and respiratory syndrome virus) (Zimmerman et al., 2006). Biến

     

    chủng virus PRRS mới là chủng độc lực cao (HP-PRRSV) xảy ra đầu tiên ở Trung Quốc (2006), sau đó lây lan nhanh chóng và gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho các nước láng giềng như Việt Nam (2007), Thái Lan (2010), Phillipines (2010), Lào, Campuchia (2010), Myanmar (2011), Nga và Ấn

     

    47

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Độ (2013) (Tian et al., 2007; Helen et al., 2009; Zhou et al., 2010).

    • khía cạnh dịch tễ học, heo rừng được xem là nguồn lưu trữ nhiều mầm bệnh truyền nhiễm như virus dịch tả heo, virus gây hội chứng còi trên heo, virus cúm heo và virus Parvo gây rối loạn sinh sản trên heo (Meng et al., 2009). Sự lưu hành PRRSV trên heo rừng được khảo sát ở nhiều quốc gia (Bonilauri et al., 2006; Ruiz-Fons et al., 2008; Choi et al., 2012; Roic et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV trên heo rừng châu Âu và châu Mỹ tương ứng khoảng 6,2% và 14,2% (Saliki et al., 1998; Zupancic et al., 2002; Plagemann, 2003; Ruiz-Fons et al., 2006; Hammer et al., 2012). Ở châu Á, 4/267 (kháng thể dương tính) và 8/246 (kháng nguyên dương tính) trong một khảo sát ở Hàn Quốc (Choi et al., 2012). Tỷ lệ lưu hành PRRSV 24% trong khảo sát trên heo rừng Thái Lan (Wiratsudakul et al., 2013).

    Heo rừng được thuần hóa và nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam do nhu cầu về thực phẩm và cải thiện thu nhập cho người nông dân (Larson et al., 2005). Mặc dù vậy, khả năng PRRSV gây bệnh trên heo rừng hay vai trò heo rừng là nguồn chứa PRRSV vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ (Meng et al., 2009). Mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định khả năng gây bệnh của HP-PRRSV trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm.

     

    2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

     

    2.1. Bố trí thí nghiệm

     

    Tổng cộng 28 heo rừng lai 42-49 ngày tuổi khỏe mạnh có nguồn gốc từ trại heo rừng âm tính với virus PRRS và dịch tả heo qua đánh giá kháng thể (ELISA) và kháng nguyên (RT-PCR), được phân chia ngẫu nhiên vào hai lô thí nghiệm: 21 heo ở lô B (có gây nhiễm) và 7 heo ở lô A (không gây nhiễm). Heo ở 2 lô được nuôi nhốt tách biệt nhau tại thời điểm gây nhiễm. Virus PRRS chủng độc lực cao được phân lập thực địa (Bệnh viện Thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM) và giải trình tự ở ba phân đoạn gen NSP2, ORF5ORF7. NSP2 có đặc điểm

     

    đột biến mất đoạn không liên tục 30 axit amin (kết quả không trình bày) và ORF5ORF7 có sự tương đồng cao với chủng JXA1 (Trung Quốc), 07QN và SR07 (Việt Nam). Heo được gây nhiễm HP-PRRSV với 3 mL huyễn dịch tế bào MARC-145 ở nồng độ 105,5/TCID50, tiêm bắp. Heo thí nghiệm gây nhiễm và heo đối chứng được nhốt ở heo ô chuồng tách biệt thuộc khu nuôi thú thí nghiệm thuộc Khoa chăn nuôi thú y, Trường đại học Nông Lâm TPHCM.

     

    Sau gây nhiễm, heo thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng hằng ngày cho đến 28 ngày sau gây nhiễm. Ba heo ở lô B, 1 heo ở lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám toàn diện đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng như bệnh lý phổi, miễn dịch, virus huyết, kháng nguyên hiện diện vào ngày 3, 5, 7, 10, 14, 21 và 28 sau gây nhiễm.

     

    2.2. Theo dõi thân nhiệt, triệu chứng và bệnh tích lâm sàng

    Heo ở 2 lô thí nghiệm được theo dõi thân nhiệt bởi nhiệt kế điện tử (Microlife MT200, Thụy Sĩ) 2 lần/ngày theo hướng dẫn của nghiên cứu trước đây (Thoresen et al., 2001). Dấu hiệu lâm sàng đồng thời được ghi nhận cùng thời điểm đo thân nhiệt. Điểm hô hấp lâm sàng được đánh giá dựa theo thang điểm từ 0 (bình thường), 1, 2, 3 và 4 (hiệu chỉnh từ mô tả của Halbur et al., 1995).

     

    • mỗi thời điểm khảo sát, 3 heo ở lô B và 1 heo lô A được chọn ngẫu nhiên để mổ khám nhằm đánh giá bệnh lý phổi và các cơ quan nội tạng khác. Bệnh tích viêm kẽ phổi đại thể được đánh giá theo thang điểm 0-100, theo tỷ lệ% diện tích bề mặt các thùy phổi trong tổng bề mặt phổi (Halbur et al., 1995). Sau đó, 3 vị trí mô phổi ở ba thùy (đỉnh, giữa, đuôi) được cắt, cố định trong formalin 10% đệmvà xử lý mô để làm tiêu bản vi thể đánh giá bệnh lý viêm kẽ vi thể với thang điểm từ 1 đến 4 (Halbur et al., 1995).

    2.3. Đánh giá các chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    2.3.1. Lượng virus trong huyết thanh và phổi

     

    Lượng virus huyết (huyết thanh) và phổi được xác định qua các thời điểm -3, 0, 3, 5, 7, 10,

     

    48

     

    14, 21 và 28 ngày gây nhiễm. Tổng 500 ml huyết thanh (500 g phổi) được tách chiết RNA tổng số bằng dung dịch TRIzolÒ Reagent (Ambion – Mỹ). ARN tách chiết (2 ml) được tổng hợp sang cDNA cùng với 18 ml Master-mix (TopscriptTM RT DryMIX dT18 plus; Enzynomics, Daejeon – Hàn Quốc), ở phản ứng nhiệt 50°C trong 1 giờ và 95°C trong 5 phút. cDNA được bào quản ở -20°C sẵn sàng cho xác định lượng virus huyết bởi SYBRÒGreen real-time PCR. Đoạn mồi đặc hiệu cho HP-PRRSV: F-5’-CTT GAC ACA GTT GGT CTG GTT ACT-3’ và R-5’-GTT CTT CGC AAG CCT AAT AAC G-3’ được sử dụng để nhân bản sản phẩm với kích thước 187 bp; kết quả được đọc và phân tích bởi phần mềm PikoRealTM 2.2.

     

    2.3.2. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Hàm lượng kháng thể được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (PRRS ELISA SK103, Biocheck, Hà Lan). Thời điểm thu mẫu huyết thanh tương tự như phần đánh giá hàm lượng virus huyết. Kháng thể dương tính khi chỉ số S/P ≥0,4 và ước lượng sự đáp ứng kháng thể trên heo thí nghiệm qua chỉ số trung bình S/P ± SD.

     

    Hàm lượng IL-1b được xác định bằng phương pháp ELISA theo hướng dẫn của bộ kít thương mại (IL-1 beta Pig ELISA Kit, Abcam, Hàn Quốc).

     

    2.3.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Sự phân bố kháng nguyên virus gây nhiễm được xác định tại tất cả cơ quan nội tạng của heo thí nghiệm vào các thời điểm mổ khám bởi kỹ thuật hóa mô miễn dịch (IHC). Kháng thể đặc hiệu sử dụng cho IHC tại mô là kháng thể đơn dòng SR30 (Rural Technologies Inc., Mỹ). Kháng thể đơn dòng SR30 có thể gắn đặc hiệu với protein N của virus PRRS.

     

    Điểm phân bố kháng nguyên virus trên một đơn vị diện tích nhất định của mô phổi, hạch và tuyến ức sau gây nhiễm được đánh giá qua kỹ thuật hóa mô miễn dịch. Sự định lượng được tính toán dựa trên diện tích vi trường trên kính hiển vi (0,95 mm2); ở vi trường đó, số lượng tế bào dương tính tại phổi được xác định và cho

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    điểm từ 0 đến 4 (Halbur et al., 1996), trong đó: 0

     

    • không có tế bào dương tính tại mô; 1 = có 1-10 tế bào dương tính; 2 = có từ 11-30 tế bào dương tính; 3 = có từ 30-60 tế bào dương tính và 4 = có lớn hơn 60 tế bào dương tính.

    2.4. Xử lý số liệu

     

    Nhiệt độ trực tràng, điểm hô hấp lâm sàng, kháng thể, virus huyết được so sánh giữa hai lô thí nghiệm bởi Pair-wise test (SPSS software). Không so sánh thống kê bệnh tích đại thể, vi thể và điểm phân bố kháng nguyên do số heo đối chứng nhỏ trong mỗi lần mổ khám.

     

    3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

     

    3.1. Thân nhiệt, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể

     

    Heo gây nhiễm tăng thân nhiệt từ ngày thứ 2 sau gây nhiễm. Trung bình nhiệt độ trực tràng cao hơn có ý nghĩa (P <0,01) so với heo không gây nhiễm từ ngày 4 đến 19 (Hình 1A). Triệu chứng lâm sàng xuất hiện trên heo gây nhiễm gồm sốt cao ³39,5°C (từ ngày 5 đến 10 sau gây nhiễm), bỏ ăn, sưng mắt – chảy ghèn, ho/thở khó/hắt hơi (Hình 1B), miễn cưỡng di chuyển và run giật. Triệu chứng lâm sàng tập trung vào ngày 5, 7, 10 và 14 sau gây nhiễm. 5/21 heo chết vào ngày 11 và 13 sau gây nhiễm. 2/21 heo gây nhiễm giảm thân nhiệt và triệu chứng từ ngày 21 và sống đến cuối thí nghiệm. Heo đối chứng (không gây nhiễm) có thân nhiệt và triệu chứng bình thường trong thí nghiệm.

     

    Bệnh tích quan sát trên phổi heo được gây nhiễm đặc trưng bởi viêm kẽ nặng, lan tỏa và kèm theo sung huyết và xuất huyết trên một số heo ở ngày 10 đến 14 sau gây nhiễm (Hình 3B). Viêm phổi kẽ làm dày vách phế nang do sự tăng sinh mạnh mẽ tế bào biểu mô phế nang typ-2 (pneumocyte type 2) và sự xâm nhập bởi nhiều bạch cầu đơn nhân. Điểm bệnh tích đại thể và vi thể phổi tăng cao nhất vào ngày 10 sau gây nhiễm (Hình 2A, B). Ngoài ra, heo chết bệnh có các bệnh tích toàn thân khác như sưng lớn-sung huyết hạch toàn thân, xuất huyết biểu mô dạ dày (Hình 3C), sung huyết lách và xuất huyết vỏ-tủy thận.

     

    49

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

     

     

    Hình 1. A. Nhiệt độ trực tràng, B. Điểm hô hấp lâm sàng, C. Kháng thể đáp ứng, D. hàm lượng IL-1b trên heo thí nghiệm

     

     

    3.2. Chỉ tiêu cận lâm sàng

     

    3.2.1. Hàm lượng kháng thể IgG và IL-1b trong máu

     

    Kháng thể dương tính (S/P ³0,4) chỉ được tìm thấy trên heo gây nhiễm từ ngày 14 (Hình 1C). Kháng thể tăng rất cao ở ngày 21 (S/P = 1,72) và 28 (2,02). Sự khác biệt có ý nghĩa giữa heo gây nhiễm và không gây nhiễm ở ngày 5, 7, 10 (P <0,05), 14 (P <0,01) và 21, 28 (P <0,001).

     

    Hàm lượng IL-1b (pg/mL) trong máu tăng cao trong 5 heo chết bệnh với biểu hiện lâm sàng và bệnh lý toàn thân (kết quả tính theo trung bình ở ngày mổ khám 14; Hình 1D). Heo đối chứng có hàm lượng kháng thể và IL-1b âm tính trong suốt thí nghiệm.

     

    3.2.2. Hàm lượng virus ở huyết thanh và phổi

     

    Tại thời điểm trước gây nhiễm không có virus trong máu ở hai nhóm heo thí nghiệm.

    Sau gây nhiễm, virus huyết được xác định vào ngày thứ 3 và tăng cao nhất ở ngày 10 (8,2 log10 copies); trong khi hàm lượng virus tại phổi tăng cao nhất vào ngày 14 (7,3 log10 copies) sau gây nhiễm. Kết thúc thí nghiệm (28 ngày), virus vẫn hiện diện trong máu và mô phổi heo gây nhiễm (Hình 2C).

     

    3.2.3. Xác định kháng nguyên tại mô

     

    Kháng nguyên được tìm thấy tại phổi và các nội quan khác trên heo sau gây nhiễm từ ngày 3 đến hết thí nghiệm (Bảng 1), không phát hiện virus ở tim, não và biểu mô ruột. Kháng nguyên virus chủ yếu tìm thấy ở tế bào chất của đại thực bào tại mô (phổi, hạch, lách, tuyến ức, gan, thận, mảng Peyer’s ruột). Đặc biệt, virus còn được xác định ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp, biểu mô dạ dày, biểu mô ống thận, biểu mô ống mật và tế bào gan (Hình 3D, E, F).

     

    Điểm phân bố kháng nguyên giao động khác nhau giữa tuyến ức, hạch bạch huyết và

     

    50

     

    phổi (Hình 2D). Sau gây nhiễm, virus hiện diện

     

    • tuyến ức rất cao vào ngày 3 và 5; trong khi virus tập trung cao nhất ở phổi và hạch vào ngày 14 sau gây nhiễm. Virus vẫn còn tồn tại ở tuyến ức, hạch bạch huyết và phổi cho đến cuối thí nghiệm.

    Bệnh tích viêm phổi kẽ nặng cho thấy HP-PRRSV có độc lực cao trên heo rừng lai. Khả năng gây bệnh tích phổi khác nhau trên các giống heo khác nhau được ghi nhận ở các nghiên cứu trước đây (Halbur et al., 1998). Hàm lượng virus huyết, virus tại mô phổi cao tương quan với bệnh lí viêm phổi kẽ trên phổi heo gây nhiễm qua một thí nghiệm trước đây (Han et al., 2013).

     

    Sự phát hiện đầu tiên PRRSV nhiễm ở biểu mô tiểu phế quản hô hấp và tế bào gan được xác định bởi hóa mô miễn dịch. Ở các nghiên cứu trước, HP-PRRSV được phát hiện ở biểu mô dạ dày, ống lượn thận (Li et al., 2012). Chưa có nghiên cứu nào báo cáo sự nhiễm PRRSV tại tế bào biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan.

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    PRRSV có các thụ thể nhận diện ở đại thực bào (CD169, CD163, CD151 và heparan sulphate) (Delputte et al., 2002; Vanderheijden et al., 2003; Calvet et al., 2007). Kết quả nghiên cứu này gợi ý loại thụ thể khác hiện diện ở biểu mô tiểu phế quản và tế bào gan. Biểu mô tiểu phế quản có vai trò quan trọng trong thanh thải mầm bệnh; khi mầm bệnh tấn công và gây hư hại sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh kế phát gây bệnh phức hợp ở mô phổi.

     

    Nhiều nghiên cứu sinh bệnh học do PRRSV trên các giống heo như Large White, Landrace, Hampshire, Duroc và Meishan đã được thực hiện nhưng chưa thấy nghiên cứu trên heo rừng hoặc heo rừng lai cả trong và ngoài nước được thực hiện để có thể so sánh các đặc điểm bệnh lý (Halbur et al., 1998, Meng et al., 2009). Do đó, để xác định sâu hơn về đặc điểm gây bệnh, đáp ứng miễn dịch và vai trò của heo rừng trong dịch tễ học của HP-PRRSV cần có các nghiên cứu tiếp theo sau này.

     

     

     

     

     

    Hình 2. A. Bệnh tích phổi đại thể, B. Bệnh tích phổi vi thể

     

    1. Lượng virus trong máu và phổi, D. Điểm kháng nguyên ở các tuyến ức, hạch và phổi

     

     

    51

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

     

     

    Hình 3. A. Heo thí nghiệm, B. Phổi viêm kẽ-xuất huyết, C. Niêm mạc dạ dày xuất huyết,

     

    1. Biểu mô tiểu phế quản dương tính với SR30, IHC, 10X,
    1. biểu mô ống lượn thận dương tính với SR30, IHC, 10X;
    1. tế bào gan dương tính với SR30, IHC, 20X

    Bảng 1. Sự phân bố kháng nguyên sau gây nhiễm heo thí nghiệm

     

    (A, không gây nhiễm; B, gây nhiễm)

     

    Nội tạng

     

           

    Ngày sau nhiễm

           
                           

    3

    5

    7

    10

    14

    21

    28

     
         
                               

    Phổi

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Tim

     

    B

     
       

    A

     

    Não

     

    B

     
       

    A

     

    Tuyến ức

     

    B

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Hạch amidan

     

    B

    +

    +

    ++

    ++

    +

    +

     
       

    A

     

    Hạch phổi, bẹn cạn

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    ++

    ++

     

    và hạch màng treo ruột

     

    A

     
       

    Gan

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Thận

     

    B

    +

    ++

    ++

    ++

     
       

    A

     

    Lách

     

    B

    ++

    ++

    +++

    +++

    +++

    +

     
       

    A

     

    Dạ dày

     

    B

    +

    ++

     
       

    A

     

    Hồi tràng

     

    B

    ++

    ++

     
       

    A

     
                               

    Ghi chú: Mật độ dương tính: -: âm tính; +: thấp, ++: trung bình; +++: cao

     

     

    52

     

    4. KẾT LUẬN

     

    HP-PRRSV gây bệnh lý nặng và có thể gây chết trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm. Sự phân bố kháng nguyên ở máu và trên nhiều cơ quan nội tạng đã gây bệnh lý toàn thân trên heo sau nhiễm virus.

     

    Sự phát hiện virus nhiễm ở tế bào biểu mô tiểu phế quản, dạ dày, thận, ống dẫn mật và tế bào gan cho thấy sự đa dạng tính hướng mô của virus, đo đó nghiên cứu xác định cơ chế gây nhiễm trên các tế bào này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế sinh bệnh của HP-PRRSV.

     

    LỜI CẢM ƠN

     

    Tác giả chân thành cám ơn sự giúp đỡ của Bộ môn Bệnh truyền nhiễm và Thú y cộng đồng, BVTY – Trường ĐHNL TP.HCM, Phòng chẩn đoán xét nghiệm – Cơ quan thú y vùng VI TP. HCM và Bộ môn Bệnh lý thú y – Trường đại học quốc gia Seoul, Hàn Quốc.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    Bonilauri P., Merialdi G., Dottori M. & Barbieri I.

     

    (2006). Presence of PRRSV in wild boar in Italy.

    Veterinary Record. 21: 107-108.

     

    Calvert J.G., Slade D.E., Shields S.L., Jolie R., Mannan R.M., Ankenbauer R.G. & Welch S.K. (2007). CD163 expression confers susceptibility to porcine reproductive and respiratory syndrome viruses. Journal of Virology. 81: 7371-7379.

     

    Choi E.J., Lee C.H., Hyun B.H., Kim, J.J., Lim S.I., Song J.Y. & Shin Y.K. (2012). A survey of porcine reproductive and respiratory syndrome among wild boar populations in Korea. Journal of Veterinary Sciences. 13: 377-383.

     

    Delputte P.L., Vanderheijden N., Nauwynck H.J. & Pensaert M.B. (2002). Involvement of the matrix protein in attachment of porcine reproductive and respiratory syndrome virus to a heparinlike receptor on porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 76: 4312-4320.

     

    Halbur P.G., Paul P.S., Frey M.L., Landgraf J., Eernisse K., Meng X-J., Lum M.A., Andrews J.J.

     

    • Rathje J.A. (1995). Comparison of the pathogenicity of two US porcine reproductive and respiratory syndrome virus isolates with that of the Lelystad virus. Veterinary Pathology. 32: 648-660.

    Halbur P.G., Rothschild M.F., Thacker B.J., Meng X.J., Paul P.S. & Bruna J.D. (1998). Differences in

    Đỗ Tiến Duy, Nguyễn Phạm Huỳnh

     

    susceptibility of Duroc, Hampshire and Meishan pigs to infection with a high virulence strain (VR2385) of porcine reproductive and respiratory syndrome virus (PRRSV). Journal of Animal Breeding and Genetics. 115: 181-189.

     

    Han K., Seo H.W., Park C., Oh Y., Kang I. & Chae C. (2013). Comparative pathogenesis of type 1 (European genotype) and type 2 (North American genotype) porcine reproductive and respiratory syndrome virus in infected boar. Virology Journal. 10: 1-9.

     

    Hammer R., Ritzmann M., Palzer A., Lang C., Hammer B., Pesch S. & Ladinig A. (2012). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus and porcine circovirus type 2 infections in wild boar (Sus scrofa) in southwestern Germany. Journal of Wildlife Diseases. 48: 87-94.

     

    Helen R, Papadopoulou C, Drew T, Gresham A. & Sabirovic M. (2009). Highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome. Int Dis Monit Situa Assess 23: 1-10.

     

    Larson G., Dobney K., Albarella U., Fang M., Matisoo-Smith E., Robins J., Lowden S., Finlayson H., Brand T., Willerslev E., Rowley-Conwy P., Andersson L.

     

    • Cooper A. (2005). Worldwide phylogeography of wild boar reveals multiple centers of pig domestication. Science. 307: 1618-1621.

    Li L., Zhao Q., Ge X., Teng K., Kuang Y., Chen Y., Guo X. & Yang H. (2012). Chinese highly pathogenic porcine reproductive and respiratory syndrome virus exhibits more extensive tissue tropism for pigs. Virology Journal. 9: 203-209.

     

    Meng X.J., Lindsay D.S. & Sriranganathan N. (2009). Wild boars as sources for infectious diseases in livestock and humans. Philosophical Transactions of The Royal Society B. 364: 2697-2707.

     

    Roic B., Jemersic L., Terzoc S., Keros T., Balatinec J.

     

    • Florijancic T. (2012). Prevalence of antibodies to selected viral pathogens in wild boars (Sus scrofa) in Croatia in 2005-06 and 2009-10. Journal of Wildlife Diseases. 48: 131-137.

    Ruiz-Fons F., Segalés J. & Gortázar C. (2008). A review of viral diseases of the European wild boar: Effects of population dynamics and reservoir role. The Veterinary Journal. 176: 158-169.

     

    Ruiz-Fons F., Vicente J., Vidal D., Höfle U., Villanúa D., Gauss C., Segalés J., Almería S., Montoro V. & Gortázar C. (2006). Seroprevalence of six reproductive pathogens in European wild boar (Sus scrofa) from Spain: The effect on wild boar female reproductive performance. Theriogenology. 65: 731-743.

     

    Plagemann P.G.W. (2003). Porcine Reproductive and

     

    Respiratory Syndrome Virus: Origin Hypothesis.

     

    Emerging Infectious Diseases. 9: 903-908.

     

    53

     

    Sinh bệnh học của virus PRRS chủng độc lực cao trên heo rừng lai qua gây bệnh thực nghiệm

     

    Saliki J.T., Rodgers S.J. & Eskew G. (1998). Serosurvey of selected viral and bacterial diseases in wild swine from Oklahoma. Journal of Wildlife Diseases. 34: 834-838.

     

    Tian K., Yu X., Zhao T., Feng Y., Cao Z., Wang C., Hu Y., Chen X., Hu D., Tian X., Liu D., Wang X., Jin P., Wang S., Kitamura Y., Yan J. & Gao G.F.

     

    (2007). Emergence of fatal PRRSV variants: unparalleled outbreaks of atypical PRRS in China and molecular dissection of the unique hallmark. PLoS One. 2007(2): e526.

     

    Vanderheijden N., Delputte P.L., Favoreel H.W., Vandekerchhove J., Van Damme J., van Woensel P.A. & Nauwynck H.J. (2003). Involvement of sialoadhesin in entery of porcine reproductive and respiratory syndrome virus into porcine alveolar macrophages. Journal of Virology. 77: 8207-8215.

     

    Wiratsudakul A., Prompiram P., Pholtep K., Tantawet S., Suraruangchai D., Sedwisai P., Sangkachai N.

     

    • Ratanakorn1 P. (2013). A Cross-Sectional Study of Porcine Reproductive and Respiratory

    Syndrome Virus and Mycoplasma hyopneumoniae in Wild Boars Reared in Different Types of Captive Setting in Thailand. Journal Veterinary Science and Technology. 4: 1-4.

     

    Zimmerman J.J., Benfield. D.A., Murtaugh M.P., Osorio F., Stevenson G.W. & Torremorell M. (2006). Porcine reproductive and respiratory syndrome virus (porcine arterivirus). In: Straw B.E., Zimmerman J.J., D’Allaire S., Taylor D.J. (Eds). Diseases of Swine. Blackwell Publishing, Ames. pp. 387-417.

     

    Zhou L. & Yang H. (2010). Porcine reproductive and respiratory syndrome in China. Virus Research. 154: 31-37.

     

    Zupancic Z., Jukic B., Lojkic M., Cac Z., Jemersic L.

     

    • Staresina V. (2002). Prevalence of antibodies to classical swine fever, Aujeszky’s disease, porcine reproductive and respiratory syndrome, and bovine viral diarrhea viruses in wild boars in Croatia.

    Journal    of    Veterinary     Medicine     Series     B.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%B3m-t%E1%BA%AFt-Lu%E1%BA%ADn-%C3%A1n-ti%E1%BA%BFn-s%C4%A9-Kinh-t%E1%BA%BF-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-c%C3%A1c-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%BFn-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-giao-th%C3%B4ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-b%E1%BB%99-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-ng%C3%A2n-s%C3%A1ch-Nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kinh tế Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

    1

     

    MỞ ĐẦU

     

    1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

     

    Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp thay đổi theo hướng công nghiệp hóa của ngành, khoa học công nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,21% (Tổng cục Thống kê, 2016). Việc phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế đặt ra yêu cầu ngày càng sâu và rộng về mặt cơ sở hạ tầng xét trên cả khía cạnh về chất lượng và số lượng, trong đó hệ thống giao thông là một trong những khía cạnh được quan tâm lớn nhất khi nói đến hệ thống cơ sở hạ tầng.

     

    Để đáp ứng những yêu cầu đó, ngành Giao thông vận tải đã đề ra những chính sách, chiến lược phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông về mặt số lượng bên cạnh đó là nâng cao chất lượng các công trình giao thông trên toàn lãnh thổ. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải đã tập trung giải quyết các vấn đề như tái cơ cấu, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo cơ chế thuận lợi thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải…

     

    Thành quả thu được từ những nỗ lực đó là hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm ra đời, tạo ra nền tảng và đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của các ngành khác, cụ thể như tính đến hết năm 2016, tổng chiều dài đường bộ nước ta vào khoảng 417204 km (Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó chiều dài đường quốc lộ khoảng 22660 km và chiều dài cao tốc khoảng 114146km. Tuy nhiên, với đặc điểm đầu tư phát triển giao thông vận tải nói riêng, đầu tư phát triển trong các lĩnh vực khác nói chung, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, các công trình được xây dựng chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các dự án, công trình công cộng… Thêm vào đó, các dự án này với nhu cầu vốn lớn cộng thêm thời gian thực hiện dài, khả năng rủi ro của các dự án là không tránh khỏi, chính vì vậy việc huy động và sử dụng vốn là một vấn đề được quan tâm của không chỉ với

    2

     

    các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ngoài ra, việc thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển trong lĩnh vực giao thông vận tải như thế nào cũng là một câu hỏi cần những câu trả lời cho cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu.

     

    Để đạt được những kết quả tích cực cho hoạt động đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này có vị trí tương đối quan trọng. Có các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như các nhân tố về vốn đầu tư, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các nhân tố thuộc về các đơn vị liên quan thực hiện dự án (chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thi công…), các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chính vì vậy, cần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt được những kết quả đầu ra theo mong muốn.

     

    Thực tế đã chứng minh vị trí và vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, mảng vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu. Cụ thể,

     

    Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến việc huy động và sử dụng sao cho hiệu quả các nguồn lực, trong khi đó các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm trù đầu tư này, với những mảng kiến thức khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được lựa chọn để có thể tìm ra những quy luật cho vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét đến khía cạnh đầu tư phát triển. Về đầu tư phát triển có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hệ thống những lý luận, những chỉ tiêu nền tảng khi nghiên cứu về đầu tư phát triển theo ngành, theo lĩnh vực như nghiên cứu của tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013), đến những nghiên cứu cụ thể trong từng lĩnh vực như trong đầu tư phát triển cảng biển của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013), hay xem xét đến việc quản lý hoạt động đầu

     

    3

     

    tư xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) khi nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải.

     

    Tuy nhiên, những nghiên cứu đang dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển nhưMức độ ảnh hưởng của các nhân tố như thế nào đến quyết định đầu tư, kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước?

     

    Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát trin kết cu h tng giao thông đường b s dng vn ngân sách Nhà nước Vit Nam” theo tác giả là cần thiết.

     

    2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

     

    Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nướcở Việt Nam. Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi sau:

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam?
    • Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước?

     

    • Nhận diện và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân

    sách Nhà nước ở Việt Nam?

     

    3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

     

    3.1. Đối tượng nghiên cứu

    4

     

    Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

     

    Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012- đến năm2016

     

    Phạm vi không gian:

     

    • Nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
    • Nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ từ vốn Trung ương

     

    Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xem xét đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    4. Phương pháp nghiên cứu

     

    4.1. Cách tiếp cận

     

    Nghiên cứu sinh thực hiện phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước, sau đó, với những dự án đã được quyết định đầu tư, nghiên cứu sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước. Sử dụng hàm sản xuất cobb-douglas làm cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, bất cứ hoạt động sản xuất để đảm bảo cho hoạt động sản xuất phát triển cũng cần có những yếu tố cơ bản như: vốn (máy móc, thiết bị, vốn đầu tư…), lao động (số lượng lao động, trình độ lao động…), và trình độ khoa học kỹ thuật & khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước (Yếu tố tổng hợp)

     

    Đầu ra của quá trình phát triển sản xuất kinh doanh hay kết quả của quá trình chuẩn bị đầu tư là có được quyết định đầu tư, sau khi có quyết định đầu tư bắt đầu thực hiện đầu tư phát triển kết quả đầu ra là kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước.

     

    Chính vì vậy, hai mô hình nghiên cứu cụ thể NCS sử dụng trong luận án:

     

    5

     

    Mô hình 1: Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Mô hình 2: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

     

    4.2.1. Phương pháp thu thp d liu th cp

     

    Các số liệu được thu thập từ các tài liệu đã công bố như: số liệu thống kê của các cấp, các báo cáo về tình hình thu hút vốn và sử dụng vốn đầu tư của Bộ Giao thông vận tải, báo cáo tổng kết năm và phương hướng hoạt động của Bộ Giao thông vận tải,… Ngoài ra, các báo cáo khoa học, tạp chí, các văn bản pháp quy…, được sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập.

     

    4.2.2. Phương pháp thu thp d liu sơ cp

     

    Thông qua phỏng vấn các cá nhân am hiểu về hoạt động đầu tư tại các cơ quan trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, các Sở Giao thông vận tải và các đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển của ngành giao thông, tác giả thực hiện phỏng vấn các cá nhân để xem xét đánh giá của các cá nhân đó về mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố đến hoạt động đầu tư phát triển trong ngành giao thông ở Việt Nam.

     

    Đối với phân tích hồi quy đa biến: Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo

     

    công thức là: 50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996)

     

    Như vậy, số lượng mẫu tối thiểu cho nghiên cứu của tác giả là 205 mẫu, tác giả thực hiện phỏng vấn 300 quan sát sau đó kết quả thu được sẽ được làm sạch và được xử lý dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0

     

    Sau khi thu thập dữ liệu, có 50 phiếu khảo sát không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của phiếu khảo sát: Thiếu thông tin trả lời trong phiếu khảo sát. Tác giả thực hiện loại bỏ những phiếu khảo sát này và sử dụng 250 quan sát đạt yêu cầu thực hiện phân tích các phép toán thống kê.

     

    +) Quy trình thiết kế bảng hỏi

    6

     

    Bước 1: Tác giả kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trước đó khi xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển và xây dựng bảng hỏi các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước.

     

    Bước 2: Tác giả sử dụng bảng câu hỏi đã được xây dựng để khảo sát thử với 10 cán bộ làm việc trực tiếp trong hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, những cán bộ này làm việc tại các ban quản lý dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước như Ban quản lý dự án Cửu Long, cán bộ quản lý thuộc Bộ Giao thông vận tải, cán bộ thuộc ban quản lý dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi… Căn cứ vào kết quả khảo sát thử, tác giả điều chỉnh những chi tiết bất hợp lý để lập bảng hỏi chính thức và thực hiện việc thu thập dữ liệu toàn bộ.

     

    +) Phương pháp điều tra mẫu

     

    Tác giả sử dụng phiếu điều tra đã được chuẩn hóa để gửi đi phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm việc tại các đơn vị, cơ quan liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nếu không gặp được trực tiếp được các cán bộ này tác giả lựa chọn các phương án thay thế: Gửi email phiếu điều tra để chờ phúc đáp hoặc gửi lại phiếu điều tra tại cơ quan và sẽ đến nhận lại phiếu sau 10 ngày.

     

    Sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu sơ cấp, tác giả làm sạch số liệu và tiến hành việc phân tích số liệu.

     

    Số lượng quan sát là 250 đáp ứng yêu cầu số lượng mẫu tối thiểu thực hiện các phép phân tích thống kê.

     

    Thời gian khảo sát: Tác giả thực hiện khảo sát thu thập số liệu sơ cấp từ ngày 10 tháng 12 năm 2016 đến ngày 9 tháng 3 năm 2017.

     

    *) Phương pháp phỏng vấn sâu

     

    Phương pháp phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện nhằm có dữ liệu phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn sau khi phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam. Cụ thể, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu các 04 cán bộ quản lý Nhà nước trong đó có: 01 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và 02 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc

    7

     

    Bộ Xây dựng, 01 cán bộ quản lý Nhà nước thuộc Bộ Tài chính, các cán bộ này có hiểu biết sâu sắc về hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Đồng thời, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn sâu 03 cán bộ, trong đó 02 cán bộ thuộc đơn vị thi công và 01 cán bộ đơn vị giám sát dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    Phỏng vấn sâu được tác giả thực hiện từ ngày 12 đến ngày 26 tháng 6 năm 2017, tác giả xin lịch hẹn với các đối tượng được phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn tại văn phòng với các cán bộ quản lý Nhà nước và tại công trường với các cá nhân là cán bộ đơn vị thi công và cán bộ giám sát.

     

    Phỏng vấn sâu được thực hiện tập trung vào khía cạnh xem xét đánh giá của các đối tượng được phỏng vấn về mức độ quan trọng và thực tế đạt được của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, thực tế các vấn đề phát sinh tại các dự án đầu tư.

     

    Kết quả phỏng vấn sẽ giúp tác giả trong việc phân tích và có góc nhìn đa chiều hơn, bổ trợ hữu hiệu cho kết quả phân tích định lượng của tác giả về các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông bộ ở Việt Nam.

     

    4.3. Phương pháp phân tích số liệu

     

    Các số liệu sau khi được thu thập sẽ được tác giả xử lý, làm sạch, nhập dữ liệu và mã hóa dữ liệu vào file exel, sau đó tác giả sử dụng các mô hình và phép tính toán định lượng để xử lý số liệu. Nghiên cứu được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích theo dãy số thời gian, phương pháp phân tích so sánh, phương pháp hồi quy binary logistic, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy đa biến được tác giả sử dụng trong nghiên cứu để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

     

    1. Kết cấu của luận án

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 4 chương:

    8

     

    Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

     

    Chương 2: Những vấn đề lý luận về đầu tư phát triển và các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Chương 3: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Chương 4: Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

     

    1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Đầu tư phát triển đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách, nguồn vốn sử dụng trong hoạt động đầu tư phát triển khá đa dạng: Nguồn vốn ngân sách, vốn viện trợ phát triển chính thức, vốn doanh nghiệp, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… Đầu tư phát triển được thực hiện theo các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực thực hiện có những đặc thù riêng nhưng vẫn mang những điểm chung nhất về đầu tư phát triển. Các hoạt động đầu tư phát triển có thể thực hiện theo dự án, theo hạng mục công trình hoặc các phương thức thực hiện khác (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013)

     

    1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và ảnh hưởng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế

     

    Tiếp cận theo khía cạnh xem xét về kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở một số quốc gia khác nhau qua việc sử dụng ngân sách Nhà nước, tác giả Bernard Myers và Thomas Laursen (2008) đã tổng kết lại kinh nghiệm quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các nước thành viên EU, dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được tác giả thu thập từ năm 2000 đến hết năm 2006, chủ yếu tập trung vào việc khảo sát kinh nghiệm quản lý trong khoản mục đầu tư này ở nước Anh và một số nước có nền kinh tế

     

    9

     

    phát triển. Trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả, các nước thuộc khối EU là các nước có nợ công thuộc vào nhóm các nước có nợ công lớn của thế giới, đây cũng có thể là bài học kinh nghiệm cho quá trình quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó có thể tránh được phần nào nợ công tăng mạnh và không có khả năng kiểm soát.

     

    1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    1.3.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Để hoạt động đầu tư phát triển nói chung đạt được những kết quả nhất định cả về mặt tài chính và những ảnh hưởng lan tỏa khác, các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cần đảm bảo các quyết định đầu tư chính xác.

     

    Theo quan điểm của Robbins và Coulter (1996) để ra quyết định đầu tư, quy trình ra quyết định gồm bảy bước: (i)xác định vấn đề,(ii) đưa ra các tiêu chuẩn của quyết định, (iii) lượng hóa các tiêu chuẩn, (iv) xây dựng phương án,

     

    • đánh giá và lựa chọn phương án tối ưu, (vi) tổ chức thực hiện phương án và cuối cùng là (vii) đánh giá hiệu quả của quyếtđịnh. Với mỗi đơn vị đầu tư, quyết định đầu tư chính là quyết định sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm tăng thêm tài sản mới, tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực.

    Gilomre và cộng sự (2003) cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến quyết địnhđầutư: (1) Quan điểm của Chính phủ và các khuyến khích tài chính – Nếu Chính phủ của nước chủ nhà hoạt động tích cực để thu hút đầu tư, thì quốc gia/địa phương hoặc khu vực đó sẽ hấp dẫn hơn so với một nơi mà một nhà đầu tư phải mất nhiều thời gian và thủ tục để dự án đầu tư được phêduyệt. (2) Lạm phát, chính sách kinh tế, mức thuế suất và cơ cấu thuế – là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầutư. (3) Giao thông vận tải, vật liệu và chi phí lao động – Đây là các chi phí quan trọng mà các công ty/đơn vị đầu tư đi vào xem xét khi tiến hành đầutư. (4) Công nghệ – Công nghệ được coi là một

    10

     

    trong những nhân tố quan trọng nhất liên quan đến quyết định đầu tư. (5) Sự ổn định chính trị là nhân tố mang lại sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

     

    1.3.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

     

    Với các dự án, sau khi đã có quyết định đầu tư, quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư sao cho hiệu quả nhất cũng chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau:

     

    Theo quan điểm của Era Dabla-Norris, Jim Brumby và cộng sự (2011), Esfahani và Ramirez (2003), Haque và Kneller (2008), Flyvbjerg (2003), kết quả nghiên cứu cho thấy có sự đồng nhất tương đối lớn về các nhân tố cũng như chiều tác động của các nhân tố tới hoạt động đầu tư công ở các quốc gia – là địa bàn nghiên cứu được các tác giả lựa chọn nghiên cứu. Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng các nhân tố như: Thể chế, mức độ quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước, việc lựa chọn các dự án đầu tư, chi phí đầu tư,… có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận đầu tư cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư.

     

    1.4. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu

     

    Tóm lại, đầu tư phát triển đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ góp phần tạo ra cơ sở hạ tầng tốt, từ đó góp phần tạo lợi thế trong các hoạt động thu hút vốn, nền tảng cho việc lưu thông hàng hóa, góp phần phát triển kinh tế chung của không chỉ các địa phương mà còn của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh vị trí quan trọng của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, các nghiên cứu về mặt lý luận đã được thực hiện, tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung cho ngành giao thông, hoặc đầu tư phát triển cho các lĩnh vực khác. Trong khi đó, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước có đạt được kết quả tốt hay không, đáp ứng được các mục tiêu đề ra hay không lại phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng từ quyết định đầu tư đến quá trình thực hiện đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước.

     

    Chính vì vậy, việc tác giả thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố

     

    11

     

    ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” là việc làm cần thiết và vẫn đảm bảo tính mới trên cơ sở kế thừa nghiên cứu trước đó, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, dữ liệu tác giả sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ các nguồn dữ liệu đa dạng từ dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước, các đơn vị tham gia vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước; Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát những cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước dựa vào bảng hỏi được chuẩn hóa- kết quả thu thập dữ liệu được phân tích sẽ cho tác giả cái nhìn tổng quan hơn về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộtừ các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình này.

     

    Thứ hai, nghiên cứu sử dụng mô hình nghiên cứu định lượng nhằm phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, việc phân tích này nhằm chỉ ra mức độ ảnh hưởng và chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư.

     

    Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định sự khác biệt giữa một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước giữa hai nhóm dự án: Có đầu tư và Không đầu tư.

     

    Với những dự án đã được quyết định đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nghiên cứu tiếp tục phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, mô hình phân tích hồi quy đa biến và phân tích nhân tố sẽ được tác giả sử dụng cho nghiên cứu này. Đồng thời, tác giả sử dụng mô hình lượng hóa để phân tích mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcphần lớn được thực hiện theo các dự án, với nghiên cứu này tác giả sẽ xem xét các dự án đã và đang được thực hiện, các cán bộ được tác giả lựa chọn phỏng vấn cho nghiên cứu này là những cán bộ thực hiện các dự án hoặc tham gia vào một chu trình của dự án đầu tư phát triển bên cạnh các cán bộ quản lý Nhà nước. Kết quả của nghiên cứu sẽ chỉ ra được về mặt định lượng

    12

     

    mức độ tác động của các nhân tố tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộsử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, từ đó làm căn cứ đề xuất các kiến nghị góp phần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Đồng thời, dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn sâu cũng sẽ được nghiên cứu sử dụng nhằm bổ trợ và lý giải rõ ràng hơn cho những con số từ kết quả định lượng.

     

    Thêm vào đó, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả cũng sẽ phân tích thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam để thấy được sự biến động về đầu tư phát triển, những kết quả đạt được và hạn chế của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    CHƯƠNG 2

     

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

     

    2.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: “Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra một cách bình thường”.

     

    Theo Luật giao thông đường bộ Việt Nam (2008) quy định: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ”. Như vậy có thể thấy, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả hai hình thái vật chất và hình thái phi vật chất.

     

    13

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận của đầu tư phát triển, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như xây dựng công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ, nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra thêm các tài sản vật chất, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.

     

    Đối với đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước là khả năng tài chính của Nhà nước, các nguồn lực để có thể khai thác hoặc sử dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

     

    2.2. Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển kinh tế

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    phát triển xã hội

     

    Vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với

     

    quản lý Nhà nước

     

    2.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển trong ngành thường được thể hiện thông qua ba chỉ tiêu: Khối lượng vốn đầu tư thực hiện; Tài sản cố định huy động hay Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm.

     

    Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định (Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng, 2013). Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội có hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kĩ thuật… Theo phạm vi tác động của hiệu quả, có hiệu quả đầu tư của từng dự án, từng doanh nghiệp, từng ngành, địa phương và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo phạm vi lợi ích có hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế-xã hội.

    14

     

    Hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh tế được xem xét trong phạm vi quản lý tài chính. Hiệu quả kinh tế-xã hội là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Theo cách tính toán, có hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Hiệu quả tuyệt đối là hiệu quả được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.

     

    2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    2.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    • Điều kiện kinh tế xã hội
    • Điều kiện tự nhiên
    • Kết quả dự kiến của dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

    đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    2.4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách nhà nước

     

    • Nhân tố điều kiện tự nhiên
    • Nhân tố về kinh tế
    • Nhân tố về chính trị, văn hóa, xã hội
    • Nhân tố về quản lý nhà nước
    • Nhân tố về đơn vị thực hiện

    2.5. Kinh nghiệm của một số nước về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và bài học cho Việt Nam

     

    Trên thế giới cả các nước phát triển và đang phát triển đều có những quá trình phát triển hệ thống giao thông đường bộ với những cơ chế, chính sách và điều kiện khác nhau, tất cả đều là những bài học quý giá cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Trong nghiên cứu này, nghiên cứu sinh đã sử dụng bài học của Nhật Bản, bài học của Trung Quốc, bài học của Hàn Quốc và bài học của Singapore trong đầu tư hệ thống giao thông đường bộ, từ đó đề xuất bài học cho Việt Nam

     

    15

     

    CHƯƠNG 3

     

    NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚCỞ VIỆT NAM

     

    3.1. Thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    • Việt Nam

    Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 380000 tỷ đồng, tăng bình quân 38%/năm, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước và có tính chất ngân sách Nhà nước144 nghìn tỷ đồng (chiếm 38%); Trái phiếu Chính phủ 113 nghìn tỷ đồng (30%); Còn lại huy động ngoài ngoài ngân sách khoảng 121 nghìn tỷ đồng (32%).

     

    Bảng 3.6: Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông

     

    giai đoạn 2011-2015

     

    Đơn vtính: Nghìn tỷ đồng

     

                 

    Tổng

    Tăng

     

    TT

    Nguồn vốn

    2011

    2012

    2013

    2014

    2015

    2011-

    cấu

    trưởng

     
                 

    2015

    (%)

    (%)

     
                         

    I

    NSNN

    13,545

    23,666

    29,98

    34,13

    42,88

    144,201

    38,0

    33,4

     
                         

    1

    ODA

    11,385

    20,127

    21,768

    31,5

    33,164

    117,944

    31,1

    30,6

     
                         

    2

    NSNN

    2,16

    3,539

    8,212

    2,63

    9,716

    26,257

    6,9

    45,6

     
                         

    II

    Trái phiếu CP

    11,078

    16,038

    14,768

    35,545

    36,376

    113,806

    30,0

    34,6

     
                         

    III

    Ngoài  NSNN

    8,787

    8,005

    21,761

    41,3

    41,98

    121,833

    32,1

    47,8

     

    (BOT, PPP)

                       
                         
     

    Tổng số

    33,411

    47,709

    66,509

    110,975

    121,236

    379,84

    100

    38,0

     
                         

    Ngun: V Kế hoch Đầu tư -B Giao thông vn ti

     

    Trong giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có xu hướng tăng dần trong kỳ nghiên cứu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, cụ thể năm 2011 vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

    16

     

    giao thông đường bộ khoảng 13,545 nghìn tỷ đồng thì con số này đã tăng lên khoảng hơn 33% trong giai đoạn nghiên cứu với mức đầu tư khoảng 42,88 nghìn tỷ đồng. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước có từ hai nguồn vốn cơ bản chính là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn ngân sách Nhà nước, trong đó nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức có đóng góp khá lớn trong các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 với khoảng 31% tổng số vốn đầu tư.

     

    3.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Nghiên cứu sử dụng hồi quy Binary Logistic nhằm phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Bảng 3.13: Các tham số hồi quy Variables in the Equation

         

    B

     

    S.E.

     

    Wald

     

    df

     

    Sig.

     

    Exp(B)

     
                                 
     

    Quy_hoach

     

    ,899

     

    ,351

     

    6,570

     

    1

     

    ,010

     

    2,457

     
     

    Hodan_anhhuo

                             
       

    ,611

     

    ,335

     

    3,322

     

    1

     

    ,068

     

    1,843

     
                   
     

    ng

                 
                               
     

    Step 1a  DKTN

     

    ,873

             

    1

             
                   
         

    ,359

     

    5,912

       

    ,015

     

    2,394

     
     

    LN_LUU_LUO

     

    ,560

     

    ,301

     

    3,450

     

    1

     

    ,063

     

    1,750

     
     

    NG

                 
                               
     

    Constant

     

    -12,193

     

    2,080

     

    34,371

     

    1

     

    ,000

     

    ,000

     
                                 
    1. Variable(s) entered on step 1: NNDT, Hodan_anhhuong, Danh_gia_GT, LN_LUU_LUONG.

    Ngun: Kết qu tính toán ca tác gi

     

    Từ kết quả phâ tích hồi quy Logistic, phương trình tương quan Logistric như sau:

     

    Ln [(P(Y=1)/ P(Y=0)] = -12,193 + 0,899*(Quy_hoach) + 0,611*(Hodan_anhhuong) + 0,873*(DKTN) + 0,56*9LN_Luu_luong)

     

    17

     

    3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    Kế thừa các các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nghiên cứu có sự điều chỉnh các thang đo cho phù hợp với nghiên cứu nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam

     

    3.2.1. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện tự nhiên, nhân tố này có 2 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình cụ thể như sau:

     

    FACĐKTN = 0.847 ĐKTN1 + 0.847 ĐKTN2

     

    3.2.2. Phân tích ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến kết quả đầu tư phát

     

    triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố điều kiện kinh tế, nhân tố này có 7 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình:

     

    FAC_ĐKKT = 0.532 ĐKKT1 + 0.838 ĐKKT2 + 0.656 ĐKKT3 + 0.865 ĐKKT4 + 0.775 ĐKKT5 + 0.681 ĐKKT6 + 0.751 ĐKKT7

     

    3.2.3. Phân tích ảnh hưởng của chính trị, văn hóa, xã hội đến kết quả đầu tư

     

    phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, nhân tố này có 3 thang đo quan sát được trích thành một nhóm nhân tố duy nhất. Phương trình nhân tố cụ thể như sau:

     

    FAC_VHXH = 0.746 VHXH1 + 0.754 VHXH2 + 0.491 VHXH3

     

    Với hệ số của thang đo VHXH2: Sự ủng hộ của người dân với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng với hệ số điểm là 0.754 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng lớn nhất, thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố về văn hóa, lịch sử, tập quán của người dân với hệ số điểm ảnh hưởng là 0.491.

     

    3.2.4. Phân tích ảnh hưởng của cơ quan quản lý Nhà nước tới kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    18

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_QLNN = 0.819 QLNN1+ 0.872 QLNN2 + 0.644 QLNN3 + 0.604 QLNN4

     

    Nhóm nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, với hệ số điểm của thang đo QLNN2: Trình độ chuyên môn của cán bộ Nhà nước liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là 0.872, đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất tới nhân tố cơ quan quản lý Nhà nước, nhóm nhân tố có ảnh hưởng thấp nhất là nhân tố kế hoạch giải ngân của các dự án.

     

    3.2.5. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố chủ đầu tư đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố chủ đầu tư, nhân tố này có 8 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_CĐT = 0.290 CĐT1 + 0.672 CĐT2 + 0.738 CĐT3 + 0.897 CĐT4 + 0.846 CĐT5 + 0.551 CĐT6 + 0.646 CĐT7 + 0.525 CĐT8

     

    Với hệ số của thang đo CĐT4: Năng lực đấu thầu của cán bộ QLDA là 0.897, đây là thang đo có hệ số điểm ảnh hưởng lớn nhất, thang đo năng lực quản lý của chủ đầu tư có hệ số điểm là 0.29 đây là thang đo có mức độ ảnh hưởng thấp nhất theo quan điểm của đối tượng được khảo sát.

     

    3.2.6. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố nhà thầu đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố nhà thầu, nhân tố này có 4 thang đo quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    FAC_NT = 0.692 NT1 + 0.934 NT2 + 0.700 NT3 + 0.907 NT4

     

    Với hệ số của thang đo NT2: Kinh nghiệm thi công của nhà thầu là 0.934 – đây là thang đo có điểm số ảnh hưởng lớn nhất đến nhân tố, thang đo có ảnh hưởng thấp nhất là năng lực quản lý của nhà thầu với điểm số ảnh hưởng là 0.692.

    3.2.7. Phân tích ảnh hưởng của nhân tố khác đến kết quả đầu tư phát triển

     

    kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Trên cơ sở ma trận xoay của nhân tố khác, nhân tố này có 6 thang đo

     

    quan sát được trích thành 1 nhóm nhân tố duy nhất. Ta có phương trình:

     

    19

     

    FAC_K = 0.183 K1 + 0.477 K2 + 0.419 K3 + 0.809 K4 + K5 + 0.646 K6

     

    3.2.8. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

     

    Từ số liệu thu thập qua quá trình khảo sát các cán bộ tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, kết hợp với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 20.0. Tác giả sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất nhằm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ:

     

    Bảng 3.51: Kết quả hồi quy mô hình

     

    Coefficientsa

       

    Unstandardized

    Standardized

       

    Model

     

    Coefficients

     

    Coefficients

    t

    Sig.

             
       

    B

     

    Std.

    Beta

       
         

    Error

       
                 
                   
     

    (Constant)

    1.011E-16

     

    .041

     

    .000

    1.000

                   
     

    FAC_ĐKKT

    .664

     

    .056

    .664

    11.874

    .000

                   
     

    FAC_VHXH

    .254

     

    .052

    .254

    4.900

    .000

                   

    1

    FAC_CĐT

    .387

     

    .052

    .387

    7.443

    .000

                   
     

    FAC_NT

    -.239

     

    .047

    -.239

    -5.078

    .000

                   
     

    FAC_K

    -.073

     

    .042

    -.073

    -1.742

    .083

                   
     

    FAC1_ĐKTN

    -.267

     

    .059

    -.267

    -4.522

    .000

                   

    Ngun: Tng hp ca tác gi t kết qu nghiên cu

     

    Từ bảng kết quả cho thấy, tất cả các biến trong nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê với sai số là 0,1, các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ với các mức độ khác nhau

     

    3.3. Kiểm định sự khác biệt về một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước

    20

     

    (1) Tiêu chí vn đầu tư ca Nhà nước

     

    Kết quả nghiên cứu có thể cho thấy rằng tiêu chí vốn đầu tư của Nhà nướccó sự khác biệt giữa hai nhóm quyết định đầu tư và không đầu tư, kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có quy mô vốn đầu tư của Nhà nước lớn hơn 3820.438 tỷ đồng so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (2) Tiêu chí phù hp vi quy hoch phát trin kinh tế – xã hi

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềtiêu chí phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,562 > 0,05 nên sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig (kiểm định

    1. = 0,000 < 0,05;
    • nh hưởng ca dán vmt xã hi

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềảnh hưởng của dự án về mặt xã hội do kiểm định F có hệ số Sig = 0,777 > 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variances assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05. Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.594 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (4) Chiu dài ca d án

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả vềchiều dài dự kiến của cácdự án do kiểm định F có hệ số Sig = 0,025 <0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; kết quả cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có chiều dài của thực hiện của các dự án có quyết định đầu tư ngắn hơn khoảng 18.063 km so với nhóm không được duyệt đầu tư

     

    (5) Lưu lượng xe di chuyn d kiến

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về tiêu chí lưu lượng xe di chuyển dự kiến do kiểm định F có hệ số Sig = 0,000 < 0,05 nên ta

     

    21

     

    sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có lưu lượng xe di chuyển dự kiến là 8270.313 PCU/ ngày đêm lớn hơn so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    (6) nh hưởng ca d án đến các h dân

     

    Khi so sánh về trung bình chung của hai nhóm kết quả về ảnh hưởng mặt xã hội của dự ándo kiểm định F có hệ số Sig = 0,001< 0,05 nên ta sử dụng kiểm định T ở phần Equal variancesnot assumedđể kiểm tra sự khác biệt giữa hai nhóm; ta thấy đều có sự khác biệt về giá trị trung bình chung của hai nhóm này với mức ý nghĩa là 5%; có Sig ( kiểm định T) = 0,000 < 0,05.

     

    Kết quả tính toán cho thấy, nhóm có quyết định đầu tư có ảnh hưởng tốt hơn về mặt xã hội là 1.406 điểm so với nhóm không quyết định đầu tư.

     

    CHƯƠNG 4

     

    GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC TỚI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

     

    4.1. Mục tiêu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô ở Việt Nam đến năm 2030

     

    4.2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải sử dụng vốn ngân sách Nhà nước đến năm 2030

     

    4.3. Một số giải pháp

     

    4.3.1. Giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách

     

    nhà nước có ý nghĩa lớn, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy

    22

     

    phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, nếu việc quyết định đầu tư các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ không chính xác sẽ dẫn đến vốn đầu tư không được sử dụng hiệu quả, vô hình chung ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả đầu tư. Chính vì vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần có định hướng và lựa chọn chính xác các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bô sử dụng ngân sách Nhà nước, đảm bảo các dự án được đầu tư đúng và trúng, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời, các đơn vị thực hiện có liên quan cần có sự chuẩn bị chi tiết cho các báo cáo tiền khả thi trước khi trình biểu quyết quyết định đầu tư đối với dự án

     

    4.3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà nước

     

    4.3.2.1. Giải pháp về nguồn nhân lực

     

    Nguồn lực con người là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ quản lý đầu tư đến thực hiện hoạt động đầu tư trong đó bao gồm cả cơ quan quản lý Nhà nước và các đơn vị thực hiện.

     

    Mục tiêu của giải pháp này nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chuyên môn của các cán bộ tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện các hoạt động đầu tư từ chuẩn bị đầu tư đến thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Nếu chất lượng của đội ngũ cán bộ chuyên môn tốt sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho hoạt động đầu tư và ngược lại.

     

    4.3.2.2. Giải pháp về đầu tư máy móc, trang thiết bị, công nghệ phục vụ cho công việc

     

    Đây là giải pháp được đề xuất cho các đơn vị thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, các dự án được triển khai có được kết quả như dự kiến hay không phụ thuộc vào năng lực của các đơn vị thực hiện trong đó có năng lực về kỹ thuật (máy móc thiết bị, công nghệ) phục vụ cho thực hiện dự án. Nếu các đơn vị thực hiện có máy móc thiết bị, công nghệ triển khai hiện đại sẽ góp phần đảm bảo tiến độ, tránh rủi ro cho các dự án, ngược lại nếu các đơn vị thực hiện máy móc thiết bị không đáp

     

    23

     

    ứng được yêu cầu tối thiểu, máy móc thường xuyên hư hỏng có thể ảnh hưởng đến thời gian thực hiện dự án.

     

    4.3.2.3. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp về tạo vốn cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, phát huy tính đồng bộ kết nối của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

     

    Tăng cường hiệu quả công tác kiểm soát sử dụng nguồn vốn đầu tư

     

    4.3.2.4. Giải pháp về nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

     

    Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội là một trong những thang đo quan trọng của điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư cũng như kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và lập kế hoạch nhằm đảm bảo các dự án được thực hiện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

     

    KẾT LUẬN

     

    Đầu tư phát triển, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcđã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, những nghiên cứu liên quan đến đề tài đã được tác giả tổng hợp, so sánh và phân tích để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu.

     

    Kế thừa nghiên cứu trước đó, tác giả đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nướcở Việt Nam

     

    24

     

    Dựa trên cơ sở khung lý thuyếtvà tổng quan các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu cho luận án, những chỉ tiêu phân tích đã được tác giả trình bày để thực hiện nghiên cứu

     

    Từ những dữ liệu được thu thập được từ báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết giai đoạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước, những mặt đạt được, những mặt hạn chế của hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích thông qua những biến động về lượng vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu, quy trình và thực trạng quản lý hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.

     

    Tác giả cũng sử dụng dữ liệu khảo sát để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Những nhân tố nào có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng sử dụng ngân sách Nhà nước đã được tác giả phân tích cụ thể trong nghiên cứu.

     

    Trên cơ sở những phân tích đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực và hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn tới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-c%E1%BB%A7a-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-T%E1%BB%AB-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng Từ góc nhìn của sinh viên

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    Original Article

     

    Student Skills and Employability:

    Study from Students’ Perspective

     

    Le Thai Hung1,*, Pham Thi Anh Phuong2

     

    1VNU University of Education, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2University of Foreign Language Studies, the University of Danang,

    131 Luong Nhu Hoc, Cam Le, Danang, Vietnam

     

    Received 16 January 2019

     

    Revised 26 February 2019; Accepted 15 March 2019

     

    Abstract: This study is aimed at evaluating the relationship between students’ skills and their employability based on surveying students using the 5-point Likert scale. The survey includes 490 students whose majors are foreign languages. The results show that there are differences in the level of awareness between the first year students, the third year students andthe final year students. The data analysis reveales that most of the students believe that the university reputation has an important role in their employability (Mean= 3.80); they are willing do any kind of work provided that it matches their skills and experience (Mean=3.05); therefore, to ensure a success in job seeking, the students still need a number of other skills. Among the skills mentioned in the survey, teamwork skills, adaptabilityskills, active listening skills, risk-takingskills, public speaking skills and critical thinking skills are believed to be more effectively contributing factors to employability in comparison with the other skills.

     

    Keywords: Students, employability, skills, attitude, influence.

    *

     

     

    _______

    *Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4220

    65

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    Kỹ năng của người học và khả năng được tuyển dụng:

    Từ góc nhìn của sinh viên

     

    Lê Thái Hưng1,*, Phạm Thị Ánh Phượng2

     

    1Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng,

    131 Lương Nhữ Hộc, Cẩm Lệ, Đà Nẵng, Việt Nam

     

    Nhận ngày 16 tháng 01 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 26 tháng 02 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày15 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá mối quan hệ giữa những kỹ năng của sinh viên và khả năng được tuyển dụng dựa trên khảo sát sinh viên bằng bảng hỏi sử dụng thang Likert 5 mức độ. Khách thể khảo sát là 490 sinh viên của chuyên ngành Ngoại ngữ và kết quả nghiên cứu đã cho thấy có sự khác nhau về mức độ nhận thức giữa sinh viên năm thứ nhất, năm thứ ba và năm cuối về khái niệm khả năng được tuyển dụng. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy, đa phần sinh viên cho rằng uy tín của nhà trường có ý nghĩa với họ trong quá trình tìm kiếm việc làm (GTTB=3.80), có thể làm công việc nào miễn là phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (GTTB =3.79) và chính vì vậy họ xem việc học là ưu tiên hàng đầu (GTTB=3.73). Tuy nhiên, giá trị của bằng tốt nghiệp đại học không đủ để mang lại cho họ cơ hội việc làm hàng đầu (GTTB=3.05) vì vậy sinh viên cần phải bổ sung thêm các kỹ năng khác để thành công cho việc tìm kiếm việc làm và trong số các kỹ năng được khảo sát, các kỹ năng hợp tác, thích nghi, thích lắng nghe hơn, thích chấp nhận rủi ro, thích nói chuyện trước đám đông, có khả năng phản biện có ảnh hưởng đến khả năng được tuyển dụng nhiều hơn so với những kỹ năng khác.

     

    Từ khóa: Sinh viên, khả năng được tuyển dụng, kỹ năng, quan điểm, ảnh hưởng.

     

    1.   Đặt vấn đề*

     

    Với việc tiến hành các cải cách chính trị và kinh tế quyết liệt cùng với mức tăng GDP

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

     

    Địa chỉ email:  [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4220

    khoảng 7% và thu nhập bình quân đầu người được dự báo tăng liên tục, Việt Nam trở thành một trong những đối tác kinh tế quan trọng ở khu vực Châu Á và ASEAN. Tuy nhiên, một trong những vấn đề quan ngại là tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ không có việc làm ở mức báo động và đang có chiều hướng tăng, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm trong

     

    66

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    67

    độ tuổi lao động trong quý II năm 2018 là 1.06% [1]. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như người học thiếu định hướng nghề nghiệp trước khi đi học, học thụ động, hạn chế về ngoại ngữ, không chú trọng trang bị kỹ năng mềm, không xác định được mục tiêu của công việc đang tìm kiếm, thiếu quyết tâm để đạt được mục tiêu [2, 3]. Bên cạnh đó, các vấn đề các nhà sử dụng lao động đang gặp phải là áp lực của việc tuyển dụng nguồn nhân lực đạt về chất lượng và số lượng, sự gắn kết chưa chặt chẽ giữa nhà trường-nhà tuyển dụng. Điều này cho thấy khả năng được tuyển dụng được xem là cần thiết đối với người học khi tham gia bất kỳ chương trình đào tạo nào, hình thức đào tạo nào, hỗ trợ người học phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ là những yêu cầu sẽ giúp họ không những thành công trong công việc mà còn trong cuộc sống. Sự toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động, của các cơ sở giáo dục không chỉ đóng vai trò cung cấp lực lượng lao động tinh hoa cho xã hội mà còn tập trung vào việc trang bị khả năng được tuyển dụng cho sinh viên tốt nghiệp bởi đây được xem là yêu cầu của xã hội [4]. Khả năng đảm nhiệm nhiều hơn một công việc, khả năng chịu áp lực trong môi trường làm việc đa văn hóa, …. đòi hỏi người học cần phải được trang

     

    bị và nhận thức được tầm quan trọng của các kỹ năng cần thiết để thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc, với yêu cầu của thị trường lao động. Đồng thời, điều này cũng đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải thúc đẩy các cơ hội và hoạt động nhằm phát triển khả năng được tuyển dụng của người học.

     

    Bài báo này chúng tôi trình bày các kết quả nghiên cứu về mức độ tự đánh giá khả năng được tuyển dụng của sinh viên chuyên ngành Ngoại ngữ và mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng với các kỹ năng cần thiết cho việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Dựa trên việc thiết kế công cụ khảo sát và sử dụng các phương pháp phân tích thống kê suy diễn (tương quan, nhân tố), nghiên cứu này nhằm

     

    làm rõ thực tế có sự khác nhau giữa sinh viên các năm học về khái niệm khả năng được tuyển dụng hay không và liệu rằng có mối quan hệ gì giữa khả năng được tuyển dụng và các kỹ năng của người học.

     

    2.   Khả năng được tuyển dụng

     

    Khả năng được tuyển dụng (Employability) là một tập hợp các thành tích đạt được – kỹ năng, kiến thức, thuộc tính cá nhân – giúp sinh viên tốt nghiệp tăng khả năng tìm kiếm việc làm và thành công trong công việc, mang lại lợi ích cho bản thân, cho lực lượng lao động, cho cộng đồng và đóng góp cho nền kinh tế [5]. Theo CBI on higher education[6] cho rằng khả năng được tuyển dụng tập trung vào việc trang bị cho sinh viên sắp tốt nghiệp trước thế giới việc làm, bao gồm những thuộc tính, kỹ năng và kiến thức mà những người sắp tham gia thị trường lao động cần phải có để đảm bảo cho khả năng thành công trong công việc, mang lại lợi ích cho chính bản thân, nhà sử dụng lao động và thị trường lao động.

     

    Hillage, J., & Pollard, E. [7] lại cho rằng khả năng được tuyển dụng nên được xem xét từ góc độ kiến thức và thái độ của sinh viên tốt nghiệp “Định nghĩa một cách đơn giản, khả năng được tuyển dụng là khả năng tìm kiếm được một công việc hay xem xét một cách toàn diện hơn, là khả năng dịch chuyển độc lập trong thị trường lao động bằng một công việc ổn định”. Dearing, R. [8] đã liên kết khả năng được tuyển dụng và việc tiếp thu những kỹ năng trong cuộc sống, và cho rằng “các cơ sở giáo dục đại học nên tập trung vào đào tạo cho sinh viên những kỹ năng chính (key skills) là những kỹ năng mang lại thành công trong tương lai cho sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp”.

     

    Như vậy, tác giả cho rằng khái niệm “khả năng được tuyển dụng” được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong nhiều bối cảnh khác nhau và tùy thuộc vào đối tượng là người đã được tuyển dụng hay người đang tìm kiếm việc làm. Khả năng được tuyển dụng có mối liên hệ với kỹ năng, thuộc tính cá nhân, sự sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động, và những nhân tố

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm, thay đổi công việc hay cải thiện tình trạng việc làm.

     

    3.   Kỹ năng của sinh viên

     

    Động lực để các cơ sở giáo dục phải trang bị, hỗ trợ cho việc phát triển kỹ năng của người học bắt nguồn từ áp lực của sự toàn cầu hóa, sự phát triển của khoa học công nghệ, từ mối quan tâm đến các kỹ năng lãnh đạo của sinh viên tốt nghiệp, từ sự cạnh tranh trong việc cung ứng nguồn nhân lực ít có sự phân cấp, nhưng yêu cầu phải có kỹ năng làm việc, kỹ năng quản lý, và kỹ năng phát triển sự nghiệp cá nhân. Thực tế, một tỷ lệ không nhỏ sinh viên tốt nghiệp đã qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ vẫn không tìm được việc làm, hoặc đã trải qua các vòng tuyển dụng nhưng không thể vượt qua được bài kiểm tra về tin học…và đã đánh mất cơ hội được tuyển dụng và điều này được lý giải bởi các cơ sở giáo dục tại Việt Nam hiện nay đang tập trung đào tạo những kỹ năng mà nhà trường có khả năng chứ chưa đào tạo những kỹ năng mà xã hội, mà nhà tuyển dụng cần [9]. Osmani, M., Weekkody, V., Hindi, N., Al-Esmail, R., Eldabi, T., Kapoor, K., & Irani, Z [10] đã tiến hành nghiên cứu về xu hướng và tác động đến kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành kinh doanh, quản lý, kế toán, khoa học máy tính trên cơ sở tổng quan 39 công trình nghiên cứu khác. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng cộng có 53 kỹ năng được xem là cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp, trong đó có những kỹ năng được sử dụng nhiều như kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, sáng tạo, kỹ năng lãnh đạo, thích ứng….Các công trình nghiên cứu củaKalfa, S., & Taksa, L., Cavanagh, J. và Andrews, G. [11-13] cho rằng các kỹ năng và phẩm chất của sinh viên tốt nghiệp dường như thay đổi theo từng quốc gia khác nhau, tuy nhiên cơ bản vẫn bao gồm các kỹ năng chung như kỹ năng quản lý nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, sáng tạo, trí tuệ cảm xúc, thích ứng, kỹ năng ngôn ngữ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian.

     

    Giải quyết vấn đề được cho là khả năng phân tích dữ liệu và vận dụng khả năng suy nghĩ sáng tạo để đưa ra các giải pháp phù hợp [6].

     

    Kỹ năng hợp tác: là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, cùng làm việc hiệu quả với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt được các mục tiêu chung. Kỹ năng hợp tác chỉ phát triển khi cá nhân biết lắng nghe người khác, trợ giúp và tôn trọng lẫn nhau, có trách nhiệm với công việc được giao, vô tư, ngay thẳng và khuyến khích và phát triển cá nhân [6].

     

    Thích nghi: là khả năng chủ động tìm hiểu về môi trường mới, thiết lập quan hệ rộng rãi và tích cực tham gia hoạt động để dần dần trở thành một nhân tố đắc lực [14, 15]

     

    Đặt ra mục tiêu: là kỹ năng thiết lập và đề ra phương pháp để đạt được các trạng thái, cột mốc mà cá nhân muốn đạt được trong một khoảng thời gian xác định.

     

    Kỹ năng thuyết trình: là kỹ năng truyền đạt thông tin một vấn đề bằng lời đến một nhóm khán giả nhằm cung cấp thông tin, hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe [16].

     

    Phản biện: là kỹ năng tổng hợp các khả năng quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích, và tri nhận tổng hợp. Một cá nhân có kỹ năng tư duy phản biện đòi hỏi phải có khả năng nhận ra vấn đề, tìm ra được các giải phương tiện khả thi để đáp ứng cho việc giải quyết vấn đề đó, hiểu được việc ưu tiên và trật tự ưu tiên trong việc giải quyết vấn đề, thu thập những thông tin thiết yếu, đưa ra các kết luận và khái quát hóa và từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng về những điều cụ thể trong đời sống hàng ngày [17].

     

    Tận tâm: thể hiện qua việc dành nhiều thời gian đầu tư cho công việc, nâng cao năng lực của bản thân và giúp đỡ mọi người không vụ lợi [18].

     

    Tự tin: là tin tưởng vào khả năng của bản thân, chủ động trong mọi công việc, dám tự quyết định và hành động một cách chắc chắn, không hoang mang dao động [19].

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    69

    Trung thực: là thành thực với bản thân, với mọi người, với công việc. Trung thực nghĩa là luôn tuân thủ các quy tắc chuẩn mực đạo đức, chân thật trong từng lời nói và hành động. Đây là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị đạo đức chân chính [20].

     

    Trí tuệ cảm xúc: là khả năng theo dõi cảm giác và cảm xúc của mình cũng như của người khác, phân biệt chúng và sử dụng thông tin này để dẫn dắt tư duy và hành động của bản thân [21].

     

    4.   Phương pháp nghiên cứu

     

    Nghiên cứu này nhằm trả lời cho hai câu hỏi là sinh viên hiểu như thế nào về khả năng được tuyển dụng và mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên như thế nào. Cấu trúc của công cụ được sử dụng trong nghiên cứu này gồm 03 phần: Phần 1 bao gồm các thông tin cá nhân của sinh viên; Phần 2 gồm 03 nội dung: tự đánh giá về khả năng được tuyển dụng, tự đánh giá các khả năng của bản thân và những ý kiến đóng góp cho nhà trường và bản thân sinh viên để tăng khả năng được tuyển dụng.

     

    Để trả lời được hai câu hỏi nghiên cứu trên, chúng tôi thiết kế công cụ khảo sát dựa trên Bảng hỏi tự đánh giá khả năng được tuyển dụng của Andrew Rothwell, Ian Herbert, & Frances Rothwell [22]. Sinh viên được yêu cầu hoàn thành 16 câu hỏi đóng trong phần nội dung về tự đánh giá khả năng được tuyển dụng theo thang Likert 5 mức độ tăng dần từ Hoàn toàn không đồng ý (mức 1) đến Hoàn toàn đồng ý (mức 5) trên 4 nhóm nhân tố chính: Nhà trường, Chuyên ngành học, Thị trường lao động và Mức độ tự tin của người học. Nội dung các câu hỏi được chuyển ngữ từ tiếng Anh sang

     

    tiếng Việt và được bổ sung thêm phần các kỹ năng cần thiết để tăng khả năng tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

     

    Chúng tôi sử dụng phương pháp tính hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố và phân tích CFA (Confirmatory factor analysis) để kiểm tra độ tin cậy của công cụ khảo sát và sự phù hợp của dữ liệu nghiên cứu. Kết quả kiểm định cho thấy hệ số Cronbach’s Alpha là 0.893, hệ số tương quan giữa 16 biến quan sát và biến tổng dao động từ 0.344 đến 0.748 (lớn hơn 0.3), chứng tỏ bảng hỏi có độ tin cậy cao và không có biến nào bị loại ra [23]. Hệ số KMO (Kaiser

     

    • Meyer – Olkin) là 0.871, giá trị Sig. = 0<0.05, bác bỏ giả thuyết Ho là các biến không có tương quan với nhau, phương pháp phân tích nhân tố là phù hợp. Kết quả phân tích nhân tố và biểu đồ dốc cho thấy số nhân tố tối đa được rút trích là 4 nhóm nhân tố được rút ra từ 16 biến, phương sai tối đa của mỗi biến (communalities) từ 0.525 đến 0.846. Giá trị Eigenvalues của 4 nhân tố đầu tiên trong Bảng phương sai trích là 1.073>1 và 4 nhóm nhân tố này giải thích cho 64.8% sự biến thiên của các

    biến quan sát. Nhóm nhân tố thứ 1- Nhu cầu của thị trường lao động bao gồm 5 câu hỏi (Q10,Q11,Q12,Q13,Q14); Nhóm nhân tố thứ 2 – Uy tín của nhà trường bao gồm 3 câu hỏi (Q3,Q4,Q5); Nhóm nhân tố thứ 3 – Tín nhiệm của chuyên ngành được đào tạo bao gồm 4 câu hỏi (Q6,Q7,Q8,Q9), Nhóm nhân tố thứ 4 – Tự tin vào khả năng được tuyển dụng gồm 4 câu hỏi (Q1,Q2,Q15,Q16).

     

    Chúng tôi tiến hành khảo sát trên nhóm đối tượng là 490 sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Đà Nẵng, trong đó có 344 sinh viên năm thứ tư (70.2%), 17 sinh viên năm thứ 3 (3.5%), 129 sinh viên năm thứ nhất (26.3%) thuộc 15 chuyên ngành đào tạo của nhà trường, trong đó 86.0% là nữ, 9.0% là nam (Hình 1).

     

    Bảng 1.Kết quả hệ số Cronbach’s Alpha

     

    Reliability Statistics

    Cronbach’s Alpha

    Cronbach’s Alpha Based on

    Số lượng câu hỏi

     

    Standardized Items

     

    .893

    .892

    16

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    Item-Total Statistics

     

    Câu hỏi

    Scale Mean if

    Scale Variance if

    Corrected Item-

    Squared Multiple

    Cronbach’s Alpha

     

    Item Deleted

    Item Deleted

    Total Correlation

    Correlation

    if Item Deleted

       
     

    Q1.1

    50.05

    81.615

    .344

    .375

    .894

     

    Q1.2

    49.51

    79.531

    .454

    .408

    .890

     

    Q1.3

    49.78

    78.007

    .602

    .545

    .885

     

    Q1.4

    49.44

    78.570

    .635

    .536

    .884

     

    Q1.5

    49.94

    77.346

    .617

    .551

    .884

     

    Q1.6

    50.15

    74.592

    .694

    .614

    .881

     

    Q1.7

    50.10

    81.918

    .407

    .352

    .891

     

    Q1.8

    49.79

    76.195

    .646

    .617

    .883

     

    Q1.9

    49.84

    73.334

    .691

    .606

    .881

     

    Q1.10

    50.19

    75.250

    .748

    .633

    .879

     

    Q1.11

    50.10

    78.500

    .520

    .531

    .888

     

    Q1.12

    50.15

    79.992

    .429

    .355

    .891

     

    Q1.13

    50.11

    75.545

    .660

    .575

    .882

     

    Q1.14

    50.00

    79.483

    .478

    .480

    .889

     

    Q1.15

    50.02

    80.493

    .531

    .490

    .888

     

    Q1.16

    49.45

    83.426

    .354

    .313

    .893

    Bảng 2. Kết quả phân tích nhân tố

     

    KMO and Bartlett’s Test

       

    Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

     

    .871

       
       

    Approx. Chi-Square

       

    3657.909

       
       

    Bartlett’s Test of Sphericity

    df

         

    120

       
         

    Sig.

         

    .000

       
                         
                   

    Hệ số

    Tên nhóm

       

    Bảng ma trận xoaya

             

    Cronbach

                   

    nhân tố

                   

    ’s Alpha

     
                       
       

    Câu hỏi

       

    Nhân tố

           
         

    1

    2

    3

    4

         
                 

    Q11

    Nhìn  chung  nhu  cầu  tuyển  dụng  sinh  viên  tốt  nghiệp  hiện

    .846

               
     

    nay cao

                   

    Q13

    Tôi có thể dễ dàng tìm kiếm những cơ hội việc làm phù hợp

    .772

               
     

    với chuyên ngành

               

    Nhu cầu của

    Q14

    Những kỹ năng và năng lực được đào tạo là những kỹ năng nhà

             

    .629

         

    0.817

    thị trường

     

    tuyển dụng lao động tìm kiếm

                 

    laođộng

    Q12

    Có nhiều vị trí việc cần người ở ngay địa phương tôi đang

    .622

             
               
     

    sinh sống

                   

    Q10

    Có nhiều vị trí việc cần người ở ngay địa phương tôi đang

    .562

               
     

    sinh sống

                   

    Q5

    Nhà tuyển dụng lao động đặc biệt nhắm mục tiêu tuyển dụng

     

    .776

             
     

    các sinh viên tốt nghiệp từ chuyên ngành tôi học tại trường

               
                   

    Q3

    Nhà tuyển dụng lao động sẵn sàng tuyển dụng những sinh viên

     

    .702

       

    0.805

    Uy tín của nhà

     

    tốt nghiệp từ trường

             

    trường

                   

    Q4

    Uy tín của Trường có ý nghĩa đối với tôi trong quá trình tìm

     

    .690

             
     

    kiếm việc làm

                 
                     

    Q7

    Nhiều người muốn học để lấy được tấm bằng như bằng của tôi

       

    .702

     

    0.816

    Tín nhiệm của

     

    hơn chỉ tiêu của nhà trường dành cho ngành học đó

           

    chuyên ngành

                 
     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    71

     
                         
               

    Hệ số

    Tên nhóm

     

    Bảng ma trận xoaya

           

    Cronbach

             

    nhân tố

       
               

    ’s Alpha

       
                     
     

    Câu hỏi

     

    Nhân tố

               
     

    1

    2

    3

    4

             
                 

    Q8

    Chuyên ngành học của tôi được xã hội đánh giá cao

       

    .677

         

    được đào tạo

    Q9

    Đối với thị trường lao động bên ngoài, nhu cầu tuyển dụng sinh

       

    .631

               
     

    viên tốt nghiệp chuyên ngành của tôi cao

                   
                       

    Q6

    Trường nổi tiếng về chuyên ngành tôi đang học

       

    .548

               

    Q1

    Kết quả học tập của tôi các học kỳ trước cao

         

    .742

             

    Q16

    Tôi cảm thấy tôi có thể làm bất kỳ công việc nào miễn là phù

         

    .641

       

    Tự tin vào khả

     

    hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của tôi

             
             

    0.633

     

    năng được

     

    Q15

    Tôi hoàn toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn

               
               
         

    .572

       

    tuyển dụng

     
     

    xin việc và các sự kiện tuyển dụng

               
                       

    Q2

    Tôi xem việc học là ưu tiên hàng đầu

         

    .525

             
     

    0

                     

     

     

     

    Hình 1. Phân tích CFA.

     

    5. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

     

    5.3. Đánh giá khả năng được tuyển dụng

     

    Nhu cầu của thị trường lao động

     

    Đối tượng được khảo sát cho rằng những kỹ năng và năng lực được đào tạo là những kỹ năng nhà tuyển dụng lao động tìm kiếm (46.1%

    đồng ý), vì vậy họ có thể dễ dàng tìm kiếm những cơ hội việc làm phù hợp với chuyên ngành (44.2% đồng ý). Nhìn chung, nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp hiện nay khá cao (43.8% đồng ý), bởi có nhiều vị trí cần tuyển dụng tại địa phương sinh viên đang sinh sống (38.3% đồng ý). Tuy nhiên, kết quả nghiên

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    cứu cho thấy bằng tốt nghiệp đại học không phải là phương tiện hàng đầu hỗ trợ mang lại việc làm cho người học (35.3% đồng ý).

     

    Uy tín của nhà trường

     

    Uy tín của nhà trường có ý nghĩa với sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm (73.8%), sinh viên tự tin rằng nhà tuyển dụng lao động sẵn sàng tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp từ Trường (53.0%) và đặc biệt nhà tuyển dụng nhắm mục tiêu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ chuyên ngành họ đang học.

     

    Sự tín nhiệm đối với chuyên ngành được đào tạo

     

    Sinh viên có sự tín nhiệm cao đối với chuyên ngành đang được đào tạo bởi đối với họ, chuyên ngành học được xã hội đánh giá cao (53.6%), đối với thị trường bên ngoài nhu cầu tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của chuyên ngành sinh viên đang học cao (52.0%). Tuy nhiên, 53.0% đối tượng được khảo sát không đánh giá cao vai trò của bằng đại học vì số lượng người muốn học để lấy được tấm bằng

     

    như vậy nhiều hơn chỉ tiêu của nhà trường dành cho ngành học đó không nhiều.

     

    Sự tự tin vào khả năng được tuyển dụng Sinh viên cho rằng họ có thể làm bất kỳ

     

    công việc gì miễn phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (73.6%) và việc học được xem là ưu tiên hàng đầu (69.9%). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên không hoàn toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn xin việc và các sự kiện tuyển dụng (51.2% không có ý kiến).

     

    Như vậy, nhà trường có phải là nơi tốt nhất để hình thành và phát triển khả năng được tuyển dụng sau khi tốt nghiệp của sinh viên hay không? Dữ liệu nghiên cứu cho thấy, đa phần sinh viên cho rằng uy tín của nhà trường có ý nghĩa với họ trong quá trình tìm kiếm việc làm (GTTB=3.80), họ làm có thể làm công việc nào miễn là phù hợp với kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân (GTTB=3.79) và chính vì vậy họ xem việc học là ưu tiên hàng đầu (GTTB=3.73).

     

    Bảng 3. Thống kê mô tả các câu hỏi

     

    Câu hỏi

     

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

     
                                             
         

    Tham gia

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

    49

     

    SL

                                         
     

    Bỏ trống

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

    0

     
         
                                             

    GTTB

     

    3.2

    3.7

    3.5

    3.8

    3.3

    3.1

    3.1

    3.5

    3.4

    3.0

    3.1

    3.1

    3.1

    3.2

    3.2

    3.8

     
                                         

    Trung vị

    3

    4

    4

    4

    3

    3

    3

    4

    4

    3

    3

    3

    3

    3

    3

    4

     
                                         

    Giá  trị  có  tần  suất  xuất

    3

    4

    4

    4

    3

    4

    3

    4

    4

    3

    4

    4

    4

    4

    3

    4

     

    hiện nhiều nhất

                                     
                                         

    Độ lệch chuẩn

    1

    1

    0.9

    0.8

    1

    1

    0.8

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    1

    0.8

    0.7

     
                                             

    Tỷ

       

    Hoàn  toàn  không

    3.3

    1.6

    3.1

    0.8

    2.9

    9.6

    3.9

    5.3

    8.4

    6.1

    5.3

    4.9

    7.6

    4.3

    0

    0

     
     

    đồng ý

    lệ

                                         
                                         
       

    Không đồng ý

    20.8

    13.7

    10.4

    7.8

    16.9

    18.8

    12

    10

    13.1

    21.2

    22.4

    24.5

    20.6

    18.6

    16.1

    5.7

     
         
                                             
         

    Không có ý kiến

    36.9

    15.1

    33.5

    17.6

    36.5

    30.2

    53.1

    31

    26.5

    37.3

    28.4

    32.2

    27.6

    31

    51

    20.6

     
         

    Đồng ý

    31.2

    49

    43.7

    58.2

    34.9

    36.1

    28.2

    41.6

    34.1

    32

    40.2

    33.3

    39.6

    41.2

    27.3

    62.4

     

    %

                                           
       

    Hoàn toàn đồng ý

    7.8

    20.6

    9.4

    15.7

    8.8

    5.3

    2.9

    12

    18

    3.3

    3.7

    5.1

    4.7

    4.9

    5.5

    11.2

     
         
                                             

    9

     

     

    Tuy nhiên, đối tượng được khảo sát lại cho rằng giá trị của bằng tốt nghiệp đại học của họ không đủ để mang lại cho họ cơ hội việc làm hàng đầu (GTTB=3.05), vì vậy họ không hoàn

    toàn tự tin về khả năng thành công trong phỏng vấn xin việc bởi theo họ cần phải bổ sung thêm các kỹ năng khác để thành công cho việc tìm kiếm việc làm.

     

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    73

    So sánh mức độ đánh giá về khả năng được tuyển dụng giữa sinh viên các năm

     

    Có sự khác nhau trong quan niệm về vai trò của khả năng được tuyển dụng giữa sinh viên các năm học, cụ thể sinh viên năm thứ ba nhận thức về khả năng được tuyển dụng cao nhất (GTTB= 3.52), sau đó là sinh viên năm thứ nhất (GTTB= 3.3) và cuối cùng là sinh viên năm thứ

     

    tư  (năm  cuối,   GTTB=3.2).  Phương  sai  các

     

    nhóm không có sự khác biệt (Sig. = 0.124 >0.05), đủ điều kiện để phân tích Anova. Giá trị Mean difference giữa sinh viên năm thứ 4 thấp hơn so với sinh viên năm thứ 3 (-.22886) và thấp hơn so với sinh viên năm thứ nhất -.08636.

     

     

    Bảng 4. So sánh mức độ đánh giá về khả năng

    được tuyển dụng giữa sinh viên các năm

     

    Descriptives

    Meanq1

       

    Số

     

    Độ

    lệchSai

    số95% Confidence Interval for Mean

       
     

    Sinh viên

    lượng GTTB

    chuẩn

    chuẩn

         

    GTTN

    GTLN

       

    Lower Bound Upper Bound

     
     

    Năm thứ 4

    344

    3.2969

    .60628

    .03269

    3.2326

    3.3612

     

    2.00

    4.69

     

    Năm thứ 3

    17

    3.5257

    .63778

    .15469

    3.1978

    3.8537

     

    2.44

    4.06

     

    Năm thứ 1

    129

    3.3832

    .52381

    .04612

    3.2920

    3.4745

     

    2.13

    4.31

     

    Total

    490

    3.3276

    .58805

    .02657

    3.2754

    3.3797

     

    2.00

    4.69

                       
     

    Multiple Comparisons

                   
     

    Dependent Variable: Meanq1

                   
     

    LSD

                       
     

    (I) SV năm (J) SV

    Mean Difference (I-J) Sai số chuẩn Sig.

    95% Confidence Interval

       
                   

    Lower Bound

    Upper Bound

     

    Năm thứ 4

    Năm 3

    -.22886

     

    .14580

    .117

    -.5153

    .0576

     
       

    Năm 1

    -.08636

     

    .06059

    .155

    -.2054

    .0327

     
     

    Năm thứ 3

    Năm 4

    .22886

     

    .14580

    .117

    -.0576

    .5153

     
     

    Năm 1

    .14250

     

    .15142

    .347

    -.1550

    .4400

     
     

    Năm thứ 1

    Năm 4

    .08636

     

    .06059

    .155

    -.0327

    .2054

     
       

    Năm 3

    -.14250

     

    .15142

    .347

    -.4400

    .1550

     
                           
     

    6

                       

    5.4. Kỹ năng của sinh viên

     

    Sinh viên tham gia khảo sát được yêu cầu đánh giá những kỹ năng được liệt kê theo thang Likert 4 mức độ tăng dần từ Không tốt (mức 1) đến Rất tốt (mức 4). Các kỹ năng được khảo sát bao gồm các kỹ năng xã hội (hợp tác, trí tuệ cảm xúc, kỹ năng thuyết trình, xây dựng mối quan hệ); hướng ngoại (thích làm việc tập thể hơn, thích nói chuyện trước đám đông hơn, nói nhiều); hướng nội (Không thích nói chuyện trước đám đông, thích lắng nghe hơn); Dám nghĩ dám làm (cạnh tranh, thích chấp nhận rủi ro, tham vọng; hoạt động học thuật (thông

    minh, phản biện, hay phê phán); kỹ năng chung (trung thực, tận tâm, tự tin, nghị lực, thích nghi). Đặc điểm chung của các kỹ năng trên được dùng để khai thác mối quan hệ giữa tự đánh giá đa hướng (multidimensional seft-concept) và mối quan tâm nghề nghiệp của thanh thiếu niên trong độ tuổi lao động theo Räty, Komulainen, Harvorsén, Nieminen and Korhonen [24].

     

    Kết quả phân tích ở Bảng 5 cho thấy có sự khác nhau về mức độ tự đánh giá giữa các kỹ năng và giữa hai giới tính Nam và Nữ. Các kỹ năng chung là Trung thực và Tận tâm, Thích nghi được đánh giá cao hơn so với các kỹ năng

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    khác, tiếp theo sau đó là các kỹ năng hướng ngoại như Xây dựng mối quan hệ, thích làm việc tập thể… và các kỹ năng học thuật (Hay phê phán, phản biện) được đánh giá ở mức thấp nhất. Đó là lý do nhiều cơ sở giáo dục khuyến khích sinh viên lập kế hoạch phát triển cá nhân (Personal Development Plan) [25] bởi “các nhà tuyển dụng cần những người có khả năng thích nghi, cống hiến và mang lại giá trị cho doanh nghiệp”[26] (Bảng 5).

     

    5.5. Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên

     

    Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên cho thấy rằng những sinh viên thích chấp nhận rủi ro, có kỹ năng tư duy phản biện, thích lắng nghe, có kỹ năng hợp tác, thích nghi và kỹ năng xây dựng mối quan hệ tự đánh giá về khả năng được tuyển dụng cao hơn so với những sinh viên còn lại (Bảng 6).

     

    Bảng 5. Mô tả mức độ tự đánh giá các khả năng của sinh viên

     

     

    Khả năng/Giới tính

    Không tốt

    Trung bình

    Tốt

     

    Rất tốt

     

    GTTB

    Xếp hạng

                     
     

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

    Nam

    Nữ

           
     

    Trung thực

    /

    /

    0

    57

    35

    283

    10

    83

    3.49

    1

     

    Tận tâm

    /

    /

    /

    /

    21

    220

    24

    203

    3.33

    2

     

    Thích nghi

    /

    /

    3

    67

    28

    265

    14

    91

    3.08

    3

     

    Thích lắng nghe hơn

    /

    /

    15

    188

    26

    194

    4

    41

    3.07

    4

     

    Kỹ năng hợp tác

    /

    /

    7

    27

    17

    236

    21

    160

    3.06

    5

     

    Nghị lực

    0

    3

    4

    125

    31

    244

    10

    51

    2.93

    6

     

    Thực tế

    /

    /

    14

    103

    20

    270

    11

    50

    2.90

    7

     

    Trí tuệ cảm xúc (EQ)

    0

    16

    7

    189

    21

    189

    17

    29

    2.89

    8

     

    Kỹ  năng  xây  dựng  mối

    3

    120

    30

    240

    12

    57

    0

    6

    2.82

    9

     

    quan hệ

                         
     

    Thích làm việc tập thể hơn

    0

    10

    16

    235

    29

    174

    0

    4

    2.76

    10

     

    Tự tin

    13

    169

    10

    224

    18

    30

    4

    0

    2.67

    11

     

    Đặt ra mục tiêu

    6

    117

    32

    220

    3

    67

    4

    19

    2.63

    12

     

    Tham vọng

    0

    21

    17

    201

    28

    182

    0

    19

    2.62

    13

     

    Phản biện

    0

    25

    14

    293

    27

    92

    4

    13

    2.61

    14

     

    Thích chấp nhận rủi ro

    0

    7

    0

    207

    38

    168

    7

    41

    2.47

    15

     

    Nói nhiều

    6

    30

    10

    152

    21

    192

    8

    49

    2.46

    16

     

    Kỹ năng thuyết trình

    /

    /

    7

    60

    28

    281

    10

    82

    2.46

    16

     

    Cạnh tranh

    0

    4

    10

    148

    25

    221

    10

    50

    2.30

    17

     

    Thích phát biểu trước đám

    0

    46

    18

    285

    27

    82

    0

    10

    2.27

    18

     

    đông

                         
     

    Không  thích  nói  chuyện

    0

    65

    14

    218

    25

    121

    6

    19

    2.18

    19

     

    trước đám đông

                         
     

    Thông minh

    0

    7

    4

    95

    32

    233

    9

    88

    1.96

    20

     

    Ngoan cố

       

    15

    108

    19

    265

    11

    50

    1.91

    21

     

    Hay phê phán

    0

    6

    14

    251

    24

    149

    7

    17

    1.71

    22

                           

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    75

     

    Bảng 6. Mối quan hệ giữa khả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên

       
                     
         

    Coefficientsa

             

    Model

    Unstandardized

    Standardized

       

    Collinearity

     
       

    Coefficients

    Coefficients

    t

    Sig.

    Statistics

     
       

    B

    Std. Error

    Beta

       

    Tolerance

    VIF

     

    (Constant)

    2.608

    .266

     

    9.798

    .000

         

    Kỹ năng hợp tác

    .186

    .055

    .175

    3.356

    .001

    .622

    1.609

     

    Trung thực

    .013

    .062

    .011

    .205

    .838

    .598

    1.673

     

    Thích nghi

    .158

    .054

    .162

    2.923

    .004

    .552

    1.812

     

    Đặt ra mục tiêu

    .046

    .054

    .050

    .847

    .397

    .477

    2.096

     

    Tậntâm

    .031

    .052

    .031

    .591

    .555

    .598

    1.672

     

    Trí tuệ cảm xúc

    .087

    .044

    .095

    1.983

    .048

    .739

    1.353

     

    Thực tế

    .028

    .048

    .029

    .586

    .558

    .685

    1.461

     

    Tham vọng

    .027

    .045

    .032

    .598

    .550

    .586

    1.708

     

    Ngoan cố

    .017

    .049

    .020

    .353

    .724

    .547

    1.828

     

    Thông minh

    .005

    .051

    .005

    .102

    .919

    .690

    1.449

     

    Hay phê phán

    .047

    .048

    .053

    .966

    .334

    .553

    1.809

     

    Nói nhiều

    .057

    .038

    .075

    1.496

    .135

    .666

    1.502

     

    1  Kỹ năng thuyết trình

    .008

    .054

    .009

    .150

    .881

    .487

    2.052

     

    Cạnh tranh

    .084

    .054

    .087

    1.561

    .119

    .544

    1.840

     

    Tự tin

    .026

    .055

    .031

    .477

    .633

    .408

    2.449

     

    Thích làm việc tập thể hơn

    .017

    .039

    .022

    .431

    .667

    .638

    1.566

     

    Thích lắng nghe hơn

    .200

    .051

    .199

    3.926

    .000

    .655

    1.528

     

    Kỹ năng xây dựng mối quan

    .135

    .051

    .153

    2.679

    .008

    .515

    1.943

     

    hệ

                   

    Thích phát biểu trước đám

    .037

    .052

    .039

    .716

    .474

    .559

    1.788

     

    đông

                   

    Thích chấp nhận rủi ro

    .207

    .037

    .268

    5.616

    .000

    .738

    1.356

     

    Không thích nói chuyện trước

    .151

    .041

    .181

    3.679

    .000

    .698

    1.432

     

    đám đông

                   

    Nghị lực

    .118

    .049

    .126

    2.437

    .015

    .627

    1.596

     

    Phản biện

    .192

    .051

    .202

    3.738

    .000

    .578

    1.730

     

    a. Dependent Variable: MEANQ1

                   

    7

     

    6. Kết luận

     

    Khả năng được tuyển dụng của người học đã dần trở thành một trong những chỉ số đo lường chất lượng của cơ sở giáo dục. Kết quả của nghiên cứu này đã cho thấy được sự khác nhau trong quan niệm của sinh viên các năm học trong cùng một cơ sở giáo dục về khả năng được tuyển dụng. Nhân tố “Uy tín của nhà trường” được đánh giá là nhân tố quan trọng nhất đối với sinh viên trong quá trình tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Những sinh viên tốt nghiệp từ những cơ sở giáo dục uy tín có nhiều thuận lợi khi tham gia thị trường lao động mặc dù vẫn chưa có minh chứng chính xác về những

    thuận lợi này xuất phát từ uy tín của nhà trường, hay năng lực xã hội của sinh viên tốt nghiệp [27]. Nghiên cứu cho rằng giữakhả năng được tuyển dụng và kỹ năng của sinh viên có mối quan hệ với nhau, và những sinh viên có kỹ năng hợp tác, thích nghi, thích lắng nghe hơn, thích chấp nhận rủi ro, không thích nói chuyện trước đám đông, có khả năng phản biện tự đánh giá về có khả năng được tuyển dụng cao hơn so với các sinh viên khác. Tự đánh giá kỹ năng của bản thân và khả năng được tuyển dụng giúp cho sinh viên hiểu, hoạch định phát triển những kỹ năng chưa tốt của bản thân, những kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong việc tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, các cơ sở

     

    • T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

     

     

    giáo dục cần mở rộng các mối quan hệ với các đơn vị sử dụng lao động, tạo điều kiện cho sinh viên nắm vững về những yêu cầu của đơn vị tuyển dụng, đối sánh yêu cầu của nhà sử dụng lao động và khả năng được tuyển dụng của sinh viên, đề xuất các giải pháp lồng ghép đào tạo kỹ năng trong chương trình đào tạo. Bên cạnh đó, vai trò của giảng viên không chỉ dạy cho người học cách học (how to learn) mà còn phải thường xuyên giao tiếp, trao đổi lẫn nhau và với người học, sẵn sàng thích nghi với các phương pháp giảng dạy mới,… Nghiên cứu này chỉ được thực hiện trong phạm vi của sinh viên chuyên ngành ngoại ngữ mà chưa xem xét các chuyên ngành khác, cũng như các yếu tố khác như tín ngưỡng, nhu cầu xã hội, tình trạng gia đình của sinh viên.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam – quý II năm

    2018, 2018.

     

    • Đào Đăng Phượng, Thị trường lao động và sự hình thành nguồn nhân lực ở Châu Âu và Việt Nam, in Hội thảo khoa học Quốc tế “Tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường lao động cho thanh niên và sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp, 2017.
    • Le Thai Hung, Nguyen Thi Nhu Ngoc, Duong Anh, Assessing career adaptability of early childhoodteachers invietnam, In Proceedings of international conference: New trends in education, 2018.
    • Mason, G. William, Cranmer, Employability skills initiatives in higher education: What effects do they have on graduate labour market outcomes? Education Economics. 17(1) (2009) 1-30.
    • Yorke,  Employability  in  higher  education:

    What  it   is-what   it    is   not   –    Learning   and

     

    employability series the higher education academy, 2006.

     

    • CBI on higher education, Future Fit: Preparing Graduates for the world of work, 2009.
    • Hillage, E. Pollard, Employability: Developing a framework for policy analysis DFEE research report RR85, Department for education and employment, London, 1998.
    • Dearing, Higher education in the learning society, 1997.
    • T. Hà, Tiếp cận thị trường lao động cho sinh viên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới giáo dục in

    Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế Tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường lao động cho thanh niên và sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp, 2017.

     

    • Osmani et al., Identifying the trends and impact of graduate attributes on employability: a

    literature review Tertiary Education and Management. 21(4) (2015) 367-379.

     

    • Andrews, M. Russell, Employability skills development: strategy, evaluation and impact higher education, Skills and Work-Based Learning. 2(1) (2012) 33-44.
    • Cavanagh et al., Contributing to a graduate-centred understanding of work readiness: An exploratory study of Australian undergraduate students’ perceptions of their employability

    International Journal of Management Education. 13(3) (2015) 278-288.

     

    • Kalfa, L. Taksa, Cultural capital in business higher education: reconsidering the graduate attributes movement and the focus on employability Studies in Higher Education. 40(4) (2015) 580-595.
    • How to develop adaptability – One of the Top 10 21st century skills for graduates.
    • Tom Oliver, F. Lievens, Conceptualizing and Assessing interpersonal adaptability: Towards a functional framework, Taylor & Francis Group. (2014) 52-72.
    • Ilieva, Methods for perfecting presentation skills, in 13th international scientific conference

    Economy and Business, At Elenite, Bulgaria, 2014.

     

    • Bailin, Critical and Creative Thinking Informal Logic. 9(1) (1987) 23-30.
    • Joshua J. Jackson, Dustin Wood, What do conscientious people do? Development and validation of the Behavioral Indicators of Conscientiousness (BIC) J Rer Pers. 44(4) (2010) 501-511.
    • Bénabou, J. Tirole, Seft-confidence and personal motivation, in the Oxford Young

    Economists’ Conference, 2001.

     

    • Christopher, Connors, Five core values that define success for every individual the mission org, 2017.
    • Salovey, J.D. Mayer, Emotional intelligence, Imagination cognition and personality, 1990.
    • Andrew Rothwell,  Ian  Herbert,  and  Frances

    Rothwell,         Self-perceived         employability:

    Construction and initial validation of a scale for

     

    university students Journal of Vocational Behavior, 2007.

     

    • C. Nunnally, I.H. Bernstein, Psychometric theory, New York, NY: McGraw-Hill, Inc, 1994.

    L.T. Hung, P.T.A. Phuong / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 65-77

    77

    • Räty et al, University students’ perceptions of their “ability selves” and employability: a pilot study Nordic Journal of Studies in Educational Policy, 2018.
    • Ward,  A.G.  Watts,  Personal  development

    planning  and   employability      York:   Higher

    Education Academy,  2009.

     

    • Katherine Fulgence, Employability of Higher Education Institutions graduates: Exploring the influence of Entrepreneurship Education and Employability skills development program activities in Tanzania, University of Siegen, 2015.
    • Lee, M.C. Brinton, Elite education and social capital: The case of South Korea Sociology of Education. 69(3) (1996) 177-192.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-nh%C3%A2n-t%E1%BB%91-ch%E1%BB%A7-y%E1%BA%BFu-t%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91%E1%BA%BFn-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-c%C3%A1c-nh%C3%B3m-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Original Article

     

    Major Factors Impacting the Operational Efficiency of Scientific Working Groups

     

    Nguyen Thi Thu Ha1,2, Bui Minh Duc3, Nguyen Dinh Duc4,*

     

    1Department of Social and Natural Sciences, Ministry of Science and Technology of Vietnam,

    113 Tran Duy Hung, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

    2VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

    3VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam

    4Vietnam National University, Hanoi, 144 Xuan Thuy, Cau Giay, Hanoi, Vietnam

     

    Received 02 January 2019

     

    Revised 28 February 2019; Accepted 13 March 2019

     

    Abstract: The operational efficiency of scientific working groups is considered an important determinant of the success of scientific, technological and training activities of any educational institution. This study determines the major factors impacting the operational efficiency of scientific working groups. Survey results of 126 scientists of the scientific working groups show that research teammates, research orientation and cooperation, supporting policies of educational institutions are the major factors impacting operational efficiency of scientific working groups. Based on the research results, several solutions to improve effectiveness of science, technology and training activities of scientific working groups are proposed.

     

    Keywords: Scientific working group (SWG), impact factors, effectiveness of SWG.

     

    *

     

     

    _______

    • Corresponding author.

    E-mail address: [email protected]

     

    https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4214

    55

     

    VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Một số nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu

     

    Nguyễn Thị Thu Hà1,2, Bùi Minh Đức3, Nguyễn Đình Đức4,*

    1Vụ Khoa học Xã hội Nhân văn và Tự nhiên và Xã hội, Bộ Khoa học Công nghệ,

    113 Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

    2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

    3Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội,

    334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

    4Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam

     

    Nhận ngày 02 tháng 01 năm 2019

    Chỉnh sửa ngày 28 tháng 02 năm 2019; Chấp nhận đăng ngày 13 tháng 3 năm 2019

     

    Tóm tắt: Hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu được xem là yếu tố quan trọng quyết định quyết định cho sự thành công của các hoạt động khoa học công nghệ cũng như đào tạo của bất kỳ cơ quan tổ chức giáo dục nào. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Kết quả khảo sát 126 thành viên của các nhóm nghiên cứu đã cho thấy các nhân tố: Con người, Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm, Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo là những nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Dựa trên những kết quả thu được, một số giải pháp đã được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ và đào tạo của các nhóm nghiên cứu.

     

    Từ khóa: Nhóm nghiên cứu; các nhân tố tác động; hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ.

     

    1.   Đặt vấn đề *

     

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra rất nhiều cơ hội nhưng

     

    _______

    • Tác giả liên hệ.

    Địa chỉ email: [email protected] https://doi.org/10.25073/2588-1159/vnuer.4214

    cũng là thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sự kinh tế, xã hội của đất nước. Xu hướng phát triển các nhóm nghiên cứu có thể coi là một trong những giải pháp hàng đầu giúp tạo ra tri thức và chuyển giao công nghệ nhanh chóng.

     

    Nhóm nghiên cứu nghiên cứu là một tập thể nghiên cứu/hoạt động khoa học được thành lập

     

    56

     

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    57

    một cách tự nguyện hay theo ý đồ phát triển của tổ chức (những không phải là một đơn vị hành chính) [1]. Mô hình nhóm nghiên cứu đã có từ lâu trong các trường đại học trên thế giới và đang được phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các nhóm nghiên cứu được hình thành với vai trò là xương sống của hoạt động khoa học và công nghệ và hoạt động đào tạo trong các trường đại học.

     

    Thực tế cho thấy, những đề tài nghiên cứu khoa học lớn có tính liên ngành cao như đề tài cấp Nhà nước, đề tài trọng điểm cấp Bộ/cấp Đại học Quốc gia đều được thực hiện bởi các nhóm nghiên cứu, thay vì các nghiên cứu cá nhân độc lập [2]. Vì chỉ có các nhóm nghiên cứu đủ mạnh mới đủ sức giải quyết được những vấn đề khoa học đỉnh cao và các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm tầm quốc gia, quốc tế, tạo ra những sản phẩm những sản phẩm nghiên cứu xuất sắc. Chính vì vậy, để nhóm nghiên cứu phát huy được vai trò của mình trong việc phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, triển khai các nghiên cứu đỉnh cao, tạo động lực gia tăng các giá trị khoa học và công nghệ của mỗi đơn vị thì các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu cần được quan tâm và đầu tư đúng mực.

     

    Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố chủ yếu tác động đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu.

     

    2.   Cơ sở lý luận

     

    Nobahar cùng các cộng sự (2014) đã nghiên cứu về các rào cản và thách thức nghiên cứu trong các trường đại học dưới góc nhìn của các giảng viên ở Kermanshah. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố rào cản chính ảnh hưởng đến sự liên kết giữa các giảng viên trong nghiên cứu khoa học bao gồm: tài chính, học thuật, con người, cơ sở, chuyên môn và quản lý trong đó rào cản về tài chính tạo ra sự khác biệt lớn nhất. Nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm

     

    nâng cao hiệu quả nhóm nghiên cứu bao gồm: tăng cường sử dụng kết quả nghiên cứu trong các trường đại học, viện và khoa, tăng sự chú ý với những sinh viên, nhà nghiên cứu tài năng, tăng kinh phí cho các nhà nghiên cứu, tăng cường trang thiết bị và phương tiện cần thiết tại các trường đại học, tăng cường thông tin liên lạc, kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp; giảm thủ tục hành chính; tăng sự chú ý về đạo đức trong hoạt động nghiên cứu và quan trọng nhất là tăng cường nghiên cứu nhóm [3].

     

    Tác giả Main (2008) đã chỉ ra 3 nhân tố chính là rào cản trong việc hình thành và phát triển nhóm nghiên cứu tại trường đại học, gồm: Nhân tố cá nhân, nhân tố nhóm và nhân tố thuộc nhà trường, trong đó (1) những nhân tố cá nhân bao gồm: thái độ tích cực, giáo viên có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, tuyển chọn giáo viên, đào tạo trong nhóm, công nhận lợi ích của nhóm, kỹ năng quản trị xung đột, nhận được sự hỗ trợ từ phía quản lý, kỹ năng thiết lập mối quan hệ, tự đánh giá và nhóm đánh giá. (2) Những nhân tố của nhóm bao gồm: hiểu được quá trình làm việc nhóm bao gồm quy tắc của nhóm, mục tiêu của nhóm, vai trò của nhóm, thời gian lên kế hoạch chung, cách giao tiếp và nghi thức khi họp nhóm, và sự ổn định của các thành viên và (3) những nhân tố thuộc nhà trường bao gồm: cơ sở vật chất, thói quen và truyền thống trong hợp tác nhóm, nhóm nhận được ủng hộ và hỗ trợ của quản lý, và sự ổn định của nhân viên [4].

     

    Nghiên cứu của Bland và Ruffin (1992) đã chỉ ra 12 yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu là: (1) mục tiêu rõ ràng; (2) tập trung cho nghiên cứu; (3) văn hóa của tổ chức; (4) môi trường tích cực của nhóm nghiên cứu; (5) sự tác động của các bộ phận hành chính; (6) cách thức tổ chức nghiên cứu; (7) sự trao đổi thường xuyên, trực tiếp với nhau trong nhóm; (8) nguồn nhân lực; (9) quy mô, độ tuổi và tính đa dạng của nhóm NC; (10) các khen thưởng khích lệ; (11) khả năng tuyển và lựa chọn thành viên và (12) người lãnh đạo có năng lực nghiên cứu và kỹ năng quản lý xuất sắc [5].

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Theo tác giả Trương Quang Học, nhóm nghiên cứu phải được đẫn dắt bởi người trưởng nhóm nhiệt tâm, chịu trách nhiệm chính về định hướng nghiên cứu, có năng lực chuyên môn, có khả năng tổ chức (bao gồm cả khả năng tạo dựng các mối quan hệ, tìm kiếm nguồn kinh phí hoạt động cho nhóm và được cả nhóm tín nhiệm). Các thành viên của nhóm nghiên cứu là các cán bộ khoa học có nhiệt huyết và khả năng, các nghiên cứu sinh, sinh viên… cùng theo đuổi một hướng khoa học nhất định. Nhóm NC có đủ các điều kiện cơ bản bao gồm nơi làm việc, trang thiết bị, thông tin, tư liệu và kinh phí… để đảm bảo cho các hoạt động nghiên cứu thành công một cách liên tục và dài hạn [1].

     

    Tác giả Đặng Hùng Thắng đã xác định công thức để dẫn đến thành công trong nghiên cứu khoa học đó là: Năng lực nghiên cứu + Động lực nghiên cứu + Môi trường nghiên cứu tốt = Thành công trong nghiên cứu khoa học [6]. Nếu coi năng lực nghiên cứu là điều kiện cần thì động lực nghiên cứu chính là điều kiện đủ. Nếu không có động lực nghiên cứu thì năng lực nghiên cứu sẽ không được kích hoạt, ngủ yên ở dạng tiềm năng. Có động lực nghiên cứu thì mới thúc đẩy nghiên cứu. Động lực càng mạnh mẽ thì năng lực nghiên cứu càng được phát huy tốt.

    Các nhân tố tác động

     

    Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, nhóm tác giả đã đề xuất 3 nhân tố chủ yếu tác động tới hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu bao gồm: (i) Nhân tố con người (vai trò của người trưởng nhóm, năng lực và hoài bão của các thành viên, sự phối hợp, tương trợ giữa các thành viên, v.v…); (ii) Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm; (iii) Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo. Trong quá trình khảo sát, phân tích nghiên cứu, các nhân tố trên được coi là biến độc lập, và được giả định là các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu đồng thời cũng là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu.

     

    Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu Khi nói đến hiệu quả, người ta hay nói đến

     

    mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra. Tuy

     

    nhiên, trong khoa học thì đầu vào và đầu ra là một nội dung khó xác định khó xác định giống hiệu quả kinh tế của một dịch vụ có thể quy ra thành lợi nhuận. Vì vậy, khi xác định hiệu quả của khoa học, thường người ta có xu hướng “giản dị hoá” nó bằng cách “đánh giá tác động của khoa học tới các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế và trong xã hội” [7]. Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu được đề xuất bao gồm 8 nội dung:

     

    • Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, đào tạo của đơn vị;
    • Nâng cao chất lượng luận án tiến sĩ;
    • Tăng cường số lượng và chất lượng công bố khoa học/phát minh/sáng chế của đơn vị;
    • Tăng cơ hội đạt được nguồn tài trợ từ các Quỹ hỗ trợ nghiên cứu trong và ngoài nước cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo của Nhà trường;
    • Nâng cao vị thế, uy tín và xếp hạng của đơn vị;
    • Nâng cao chất lượng đội ngũ (thông qua đào tạo NCS và công bố quốc tế; tăng chất lượng và số lượng TS, GS, PGS của đơn vị);
    • Đảm bảo nghiên cứu chất lượng cao để củng cố và tăng cường chất lượng các chương trình đào tạo của trường đại học cũng như mở ngành mới;
    • Đẩy mạnh sự gắn kết giữa Nhà trường và xã hội và cộng đồng khoa học trong và ngoài nước thông qua hoạt động đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.

    Trong quá trình khảo sát, phân tích, các nội dung kể trên được xem là biến số phụ thuộc, là kết quả tác động của các nhân tố thành phần liên quan.

     

    Mô hình lý thuyết đề xuất (Hình 1) Các giả thuyết nghiên cứu:

     

    • Nhân tố con người có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.
    • Định hướng nghiên cứu và hợp tác phát triển có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.
    • Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo có tương quan tuyến tính thuận với hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu.

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    59

    Nhân tố con người

     

    Định hướng nghiên cứu

    Hiệu quả hoạt

     

    và hợp tác

    động của nhóm

     

    nghiên cứu

     
     

    Chính sách hỗ trợ của

       

    đơn vị đào tạo

       

    Hình 1. Mô hình lý thuyết đề xuất.

     

    3.   Phương pháp nghiên cứu

     

    Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra và làm sáng tỏ các giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định lượng đã được sử dụng. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn bằng cách chọn mẫu thuận tiện phi xác suất gồm 126 nhà khoa học là thành viên của các nhóm nghiên cứu thuộc 40 trường đại học trên phạm vi cả nước. Công cụ chính để thu thập dữ liệu là bảng hỏi được thiết kế sẵn nhằm thu thập các thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của các nhóm nghiên cứu. Các ý kiến đánh giá được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 cấp độ từ 1 đến 5.

     

    Với phương pháp như trên, nhóm tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát từ tháng 8 đến tháng 12/2018. Các phiếu khảo sát được thực hiện online và gửi đi trong toàn quốc. Dữ liệu sau khi thu thập được tiến hành nhập, mã hóa, làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS version 22.

     

    Thang đo các nhân tố và thang đo tổng thể được đánh giá thông qua việc sử dụng hệ số tin cậy Cronbach Alpha. Thang đo tin cậy khi có hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3. Kết quả nghiên cứu hệ số Cronbach Alpha với các chỉ báo thành phần của thang đo đều có độ tin cậy đều lớn hơn 0,6. Cụ thể: (1) Nhân tố con người

    có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,781; (2) Định hướng nghiên cứu và hợp tác có Cronbach Alpha đạt giá trị 0,753; (3) Các chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo có Cronbach Alpha đạt giá trị là 0,878. Như vậy, thang đo được thiết kế trong nghiên cứu này có ý nghĩa thống kê và đạt được hệ số tin cậy cần thiết.

     

    Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiểm định giá trị của thang đo. Tiến hành loại các biến số có trọng số nhân tố (Factor loading) nhỏ hơn 0,5 và tổng phương sai trích lớn hơn hoặc bằng 50% .

     

    Cuối cùng tiến hành kiểm định tự tương quan Durbin Watson và phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

     

    4.   Kết quả nghiên cứu

     

    4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

     

    Đặc điểm mẫu nghiên cứu được phân loại thành 4 nhóm gồm (1) Trình độ, (2) Quy mô nhóm nghiên cứu, (3) Lĩnh vực nghiên cứu của nhóm và (4) Vai trò trong nhóm Nghiên cứu. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu cụ thể chi tiết trong Bảng 1 như sau:

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Bảng 1. Mô tả mẫu nghiên cứu

     

     

    Biến

     

    Thuộc tính

     

    Trình độ

    GS=4,7%; PGS =40%; TS/TSKH

         

    = 44,6%; Thạc sĩ = 9,8%; Đại học

         

    0.9%

     

    Quy mô nhóm

    Dưới 5 thành viên = 20,63%; Từ

     

    nghiên cứu

    5-10 thành viên = 46,83%; Trên 10

         

    thành viên = 32,54%

     

    Lĩnh

    vực

    Khoa học tự nhiên = 31%; Khoa

     

    nghiên

    cứu

    học  kỹ  thuật  và  công  nghệ  =

     

    của nhóm

    30,2%; Khoa học xã hội và nhân

         

    văn = 19%; Luật/kinh tế = 7,1%;

         

    Lĩnh vực khác 12,7%

     

    Vai  trò

    trong

    Trưởng  nhóm  =  28,57%;  Thành

     

    nhóm

    nghiên

    viên  chính  =  61,11%;  Cộng  tác

     

    cứu

     

    viên = 10,32%

    4.2. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu

     

    Tiến hành phân tích hồi quy để xác định cụ thể trọng số của từng nhân tố thành phần tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu. Giá trị của các nhân tố thành phần được dùng để chạy hồi quy là giá trị trung bình của các biến chỉ báo đã được kiểm định.

     

    Hình        dạng        của        phương        trình:

     

    • = b1 X 1 + b 2 X 2 + b3 X3

    Trong đó, Y đại diện cho biến phụ thuộc (là hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu), X1 ,

     

    X 2 , X 3 đại diện thị cho các biến độc lập ( X1 là biến đại diện cho nhân tố Con người, X 2 là nhân tố Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm và X 3 là Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo). b1 , b2 , b3 là các hệ số hồi quy riêng

     

    Kết quả kiểm định mô hình hồi quy giữa các nhân tố thành phần tác động đến hiệu quả

     

    hoạt động của nhóm nghiên cứu được thể hiện qua hệ thống các bảng sau:

     

    Trị số R có giá trị = 0,739 cho thấy mối quan hệ giữa các biến trong mô hình có mối

     

    tương quan rất chặt chẽ. Trị số R2 hiệu chỉnh phản ánh mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc. Báo cáo kết quả hồi quy

     

    của mô hình cho thấy giá trị R2 hiệu chỉnh bằng 0,535 hay nói cách khác 53,5% sự biến thiên của biến Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu được giải thích bởi 3 nhân tố thành phần và 46,5% còn lại là do các biến khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

     

    Hệ số Durbin Watson dùng để kiểm định tự tương quan của các sai số kề nhau (hay còn gọi là tương quan chuỗi bậc nhất). Kết quả cho thấy giá trị Durbin Watson = 1,981 (nằm trong khoảng cho phép từ 1 đến 3) suy ra mô hình không vi phạm khi sử dụng phương pháp hồi quy bội vì và chấp nhận giả thuyết không có sự tương quan chuỗi bậc nhất trong mô hình. Như vậy, mô hình hồi quy bội thỏa mãn các điều kiện đánh giá và kiểm định độ phù hợp cho việc rút ra các kết quả nghiên cứu.

     

    Phân tích phương sai ANOVA cho thấy giá trị (Sig.) của kiểm định F = 0,000 (nhỏ hơn 0,05), có nghĩa là mô hình hồi quy phù hợp với tổng thể (Bảng 3).

     

    Kết quả phân tích các hệ số hồi qui trong mô hình cho thấy, giá trị (Sig.) của các nhân tố thành phần đều nhỏ hơn 0,05 do đó chúng đều có nghĩa trong mô hình. Mặt khác do có hệ số hồi quy đều có giá trị dương nên các nhân tố thành phần tương quan tuyến tính thuận đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu (Bảng 4).

     

    Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy

     

    Mô hình

    R

    R2

    R2  hiệu chỉnh

    Sai số chuẩn của ước

    Durbin-Watson

     

    lượng

               

    1

    0,739a

    0,546

    0,535

    0,376

    1,981

     
    1. Các yếu tố dự báo, (Hằng số), ConNguoi, DinhHuong, ChinhSach;
    2. Biến phụ thuộc: HieuQua
       

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    61

             

    Bảng 3. Phân tích phương sai ANOVA

             
                             
     

    Mô hình

     

    Tổng bình phương   Bậc tự do

    Trung bình

    F

    Mức ý nghĩa

       

    bình phương

    (Sig.)

         
                           
       

    Hồi quy

    20,729

    3

     

    6,910

     

    48,930   0,000b

         

    1

    Phần dư

    17,228

    122

     

    0,141

               
       

    Tổng

     

    37,956

    125

                   
               

    a. Biến phụ thuộc: HieuQua

             
         

    b. Các yếu tố dự báo: (Hằng số), ConNguoi, ChinhSach, DinhHuong

         
             

    Bảng 4. Các hệ số hồi quy trong mô hình

             
                             

    Mô hình

       

    Các hệ số chưa

    Các hệ số

       

    Mức ý

             
           

    chuẩn hóa

    chuẩn hóa

       

    Thống kê đa cộng tuyến

             

    t

    nghĩa

             

    Độ lệch

                 
           

    B

    Beta

       

    (Sig.)

     

    Dung sai

    VIF

           

    chuẩn

         
                               
     

    (Hằng số)

    0,114

    0,372

     

    0,306

    0,000

             

    1ChinhSach

    0,379

    0,073

    0,393

    5,209

    0,000

     

    0,652

    1,533

     
     

    DinhHuong

    0,271

    0,093

    0,248

    2,928

    0,004

     

    0,518

    1,929

     
     

    ConNguoi

    0,298

    0,109

    0,230

    2,728

    0,007

     

    0,523

    1,912

     
    1. Biến phụ thuộc: HieuQua

    Đại lượng kiểm hiện tượng đa cộng tuyến với hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) đều nhỏ hơn 2, thể hiện tính đa cộng tuyến của các biến độc lập là không đáng kể và các biến độc lập trong mô hình đều chấp nhận được.

     

    Từ những phân tích trên ta có thể kết luận mô hình lý thuyết thích hợp với dữ liệu nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận.

    p

     

    Nhân tố con người

    Có thể viết lại phương trình hồi quy như sau:

     

    Hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu =

     

    0,23* Con người

     

    • 0,248 * Định hướng nghiên cứu và hợp tác + 0,393 Chính sách hỗ trợ

    Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được minh họa qua hình 2 dưới đây.

     

    b = 0, 23

     

    Hiệu quả hoạt

     

    Định hướng nghiên

     

    động của nhóm

     

    cứu và hợp tác

    b = 0, 248

       
     

    nghiên cứu

     
       

    Chính sách hỗ trợ

    b = 0, 393

       

    của đơn vị

         

    Hình 2. Kết quả mô hình nghiên cứu.

     

    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    Qua kết quả phân tích, ta thấy được mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu phụ thuộc vào giá trị của hệ số hồi quy đã chuẩn hóa. Nhân tố nào có hệ số hồi quy càng lớn thì tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu càng nhiều. Do đó, có thể kết luận rằng hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu chịu tác động nhiều nhất từ chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo (Beta = 0,393); thứ hai là định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm (Beta = 0,248) và cuối cùng là nhân tố con người (Beta = 0,23).

     

    5.   Bàn luận

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách hỗ trợ nhóm nghiên cứu của đơn vị đào tạo là nhân tố có tác động nhiều nhất đến hiệu quả hoạt động của các nhóm nghiên cứu. Đối với bất kỳ nhóm nghiên cứu khoa học nào trong các trường đại học hoặc đơn vị nghiên cứu thì vai trò quản lý cũng như các chính sách hỗ trợ của các đơn vị có vai trò không nhỏ trong sự thành công của các nhóm nghiên cứu. Trong bối cảnh cần đẩy mạnh các công trình nghiên cứu khoa học có chất lượng, công bố quốc tế cũng như tăng nhanh các sáng chế, sản phẩm khoa học công nghệ, thì việc quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh hỗ trợ về cơ sở dữ liệu và thông tin khoa học, tạo môi trường nghiên cứu tốt theo các chuẩn mực quốc tế đối với các nhóm nghiên cứu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để thúc đẩy sự thành công của hoạt động khoa học công nghệ cũng như nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Mặt khác cũng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút được những nhà khoa học có năng lực nghiên cứu tốt, đặc biệt là postdoc, thu hút được nghiên cứu sinh – lực lượng trẻ, nhiệt tình, nhiều ý tưởng và động lực nghiên cứu – đến tham gia và làm việc trong các nhóm nghiên cứu. Không phải bỗng chốc có nhà khoa học đầu ngành, mà các nhà khoa học phải được quy hoạch, được đào tạo và bồi dưỡng, phải có thời gian để trưởng thành [8]. Việc thu hút nghiên cứu sinh

     

    tham gia vào các nhóm nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ là một xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khoa học công nghệ cũng như đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Nghiên cứu khoa học là một trong những nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo tiến sĩ và ngược lại, chương trình đào tạo tiến sĩ sẽ đặt ra những vấn đề mà hoạt động nghiên cứu khoa học phải đáp ứng. Sự tích hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo tiến sĩ sẽ tạo ra lợi ích kép, là một mũi tên bắn trúng nhiều đích [6].

     

    Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm là thành phần thứ hai có tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu khẳng định vai trò của định hướng khoa học đúng, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước của các nhóm nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay. Thực tế hiện nay cũng cho thấy nhiều đề tài và công trình có giá trị được bắt nguồn từ quá trình hợp tác quốc tế. Sự quan tâm của các nhà khoa học quốc tế trong nhóm giống như phép thử trong việc xác định vấn đề nghiên cứu của nhóm có phù hợp với sự quan tâm của cộng đồng khoa học quốc tế, có ý nghĩa khoa học quốc tế hay không. Đồng thời, những góp ý của họ trong quá trình thiết kế nghiên cứu có thể giúp các nghiên cứu của nhóm tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cả về mặt thể thức cũng như nội dung [9]. Không những thế thế, hợp tác với các đối tác nước ngoài có thể giúp các thành viên trong nhóm nghiên cứu có cơ hội học tập và cập nhật được phương hướng và phong cách nghiên cứu khoa học tại các nước tiên tiến trên thế giới, nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ. Cũng không thể không kể đến tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp các nhóm nghiên cứu thu hút nguồn lực cho nghiên cứu và xác định rõ địa chỉ ứng dụng cho các công trình nghiên cứu của nhóm.

     

    Nhân tố thứ ba tác động đến hiệu quả của nhóm nghiên cứu là yếu tố con người. Đây cũng là nhân tố không thể không quan tâm trong quá trình xây dựng và phát triển nhóm nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu muốn duy trì và

     

    N.T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

    63

    phát triển thì cần phải được dẫn dắt bởi những nhà khoa học có trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu, có định hướng chiến lược lâu dài cho sự phát triển của nhóm, mở ra những hướng nghiên cứu triển vọng tiếp theo, có đủ uy tín để đăng ký chủ trì các đề tài khoa học lớn, kêu gọi và huy động các nguồn tài trợ đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị đủ hiện đại để thực hiện những nghiên cứu đỉnh cao của nhóm. Bên cạnh đó, người trưởng nhóm phải có khả năng tập hợp được đội ngũ các nhà khoa học có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ; đồng thời xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, kết nối và dẫn dắt thành viên tạo sự đoàn kết gắn bó trong mọi hoạt động nghiên cứu của nhóm.

     

    6.   Kết luận

     

    Kết quả khảo sát, phân tích và bàn luận đã cho thấy những nhân tố chủ yếu tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của các nhóm NC theo mức độ quan trọng giảm dần đó là: (1) Chính sách hỗ trợ của đơn vị đào tạo; (2) Định hướng nghiên cứu và hợp tác của nhóm; (3) Nhân tố con người. Do đó các giải pháp, chính sách nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu cũng cần ưu tiên thực hiện theo thứ tự này. Trên quan điểm đó, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhóm nghiên cứu như sau:

     

    1. Cần có chính sách thỏa đáng đầu tư cho nhóm nghiên cứu về cơ sở vật chất, trang thiết bị nghiên cứu, đẩy mạnh hỗ trợ về cơ sở dữ liệu và thông tin khoa học cho các nhà khoa học; tạo cơ chế đặt hàng nghiên cứu và có nguồn kinh phí thường xuyên đảm bảo hoạt động đối với các nhóm nghiên cứu.
    1. Cần quan tâm bồi dưỡng bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, chú trọng đến công tác đào tạo, phát triển các nhà khoa học trẻ làm đội ngũ kế cận trong tương lai, thu hút được những nhà khoa học có năng lực nghiên cứu tốt, thu hút được nghiên cứu sinh tham gia vào các nhóm nghiên cứu, gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo tiến sĩ thông qua các nhóm nghiên

    cứu, có chính sách khen thưởng, tạo động lực cho các nhà khoa học có thành tích nghiên cứu xuất sắc.

     

    • Nhóm nghiên cứu phải xây dựng được định hướng khoa học đúng đắn, phù hợp với xu hướng quốc tế và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Đồng thời phải tăng cường hoạt động chuyển giao tri thức với các doanh nghiệp và địa phương, hợp tác với các đối tác trong nước và quốc tế.
    1. Nhóm nghiên cứu phải có người đứng đầu, có uy tín, trình độ khoa học, năng lực tổ chức và nhiệt huyết với khoa học. Ngoài ra phải là người hoạch định được chiến lược lâu dài và định hướng nghiên cứu cho sự phát triển của nhóm. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu phải tập hợp được đội ngũ các nhà khoa học có nhiệt huyết và hoài bão khoa học, nhất là các cán bộ khoa học trẻ; đồng thời xây dựng và phát huy năng lực của tập thể, tạo sự đoàn kết gắn bó trong mọi hoạt động nghiên cứu của nhóm.

    Lời cảm ơn

     

    Nghiên cứu được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam” trong khuôn khổ

     

    đề tài mã số KHGD/16-20.ĐT.032.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    • Đào Minh Quân, Thực trạng và một số biện pháp xây dựng, phát triển nhóm nghiên cứu mạnh ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Chính sách và Quản lý. 32(4) (2016) 25-40.
    • Nobahar, Nasim, Nobahar, Masoomeh, & Hamidi, Mohsen, Investigation of research barriers and challenges in university from the perspective of faculty members of Kermanshah city, IAU International Journal of Social Sciences. 4(4) (2014) 15-21.
    • T.T. Ha et al. / VNU Journal of Science: Education Research, Vol. 35, No. 1 (2019) 55-64

     

     

    • Main, Katherine, Effective teaching teams: Facilitators and barriers, Australian Teacher

    Education Association. (2008) 1-10. http://hdl.handle.net/10072/24282.

     

    • Bland, J. Carole, Characteristics of a productive research environment: Literature review, Academic medicine: Journal of the Association of American Medical Colleges. 67(6) (1992) 385-397.
    • Nguyễn Hùng Thắng, Bốn giải pháp thúc đẩy nghiên

    cứu        khoa        học,         Truy         cập        từ

     

    https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C1654/N17540/Bon-giai-phap-thuc-day-nghien-cuu-khoa-hoc.htm, 2018.

    • Vũ Cao Đàm, Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2007.
    • Nguyễn Đình Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội, Phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam. 8 (2014) 44-47.
    • Đặng Hoàng Minh, Những lợi ích trong việc tham gia nhóm nghiên cứu có chuyên gia quốc tế, Truy

    cập từ http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Nhung-loi-ich-trong-viec-tham-gia-nhom-nghien-cuu-co-chuyen-gia-quoc-te-9701, 2016.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh

    Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh

    Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-h%C3%A0i-l%C3%B2ng-c%E1%BB%A7a-kh%C3%A1ch-h%C3%A0ng-v%E1%BB%81-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-c%E1%BB%A7a-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-Vietcombank-t%E1%BA%A1i-Tp.-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tác động của chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ của ngân hàng Nghiên cứu trường hợp Vietcombank tại Tp. Hồ Chí Minh

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VIETCOMBANK TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

     

    FACTORS AFFECTING SERVICE QUALITY TO CUSTOMER SATISFACTION FOR COMERCIAL BANKS: CASE OF VIETCOMBANK IN HOCHIMINH CITY

     

     

    TÓM TẮT

     

    Khách hàng là nhân tố quyết định sự t̀n tại và phát trỉn c̉a một ngân hàng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá ra các nhân tố tác động lên sự hài lòng về chất lượng dịch vụ c̉a khách hàng đối v́i ngân hàng thương mại Vietcombank tại Thành Phố H̀ Ch́ Minh. Phương pháp nghiên cứu định lượng đã được thực hiện v́i đối tượng nghiên cứu là các khách hàng đang trực tiếp thực hiện giao dịch tại ngân hàng. Có 347 phiếu điều tra hợp lệ được xử lý thông qua phân t́ch nhân tố khám phá (EFA) và kỉm định các giả thuyết nghiên cứu bằng h̀i quy tuyến t́nh. Kết quả cho thấy, các nhân tố sự tin cậy, hệ thống, sự đảm bảo, lãi suất và ph́, các yếu tố hữu h̀nh (cơ sở vật chất và bỉu m̃u có ảnh hưởng t́ch cực lên sự th̉a mãn c̉a khách hàng v́i ngân hàng Vietcombank tại H̀ Ch́ Minh. Trong đó, nhấn mạnh tầm quan tṛng c̉a hai yếu tố lãi suất & ph́ sử dụng dịch vụ và hệ thống trong việc cải thiện mức độ hài lòng c̉a khách hàng v́i dịch vụ từ đó nâng cao lòng trung thành v́i ngân hàng.

     

    Từ khoá: Sự hài lòng, chất lượng dịch vụ

     

    1. GIỚI THIỆU

     

    Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, khách hàng ngày càng có nhiều nhu cầu, đòi hỏi được đáp ứng. Nhiều chuyên gia nhận định rằng khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Ngân hàng muốn cạnh tranh bền vững không thể không quan tâm đến việc giữ khách hàng sẵn có và thu hút khách hàng tiềm năng. Biết được tầm quan trọng của khách hàng,

     

    Nguyễn Văn Thụy(*)

     

    ABSTRACT

     

    Customers are the key factor to exist and develop of banks. This study was conducted to discover factors affecting satisfaction on service quality for commercial banks – case in Vietcombank Ho Chi Minh city. Quantitative research methods have been made with the object of study is the direct customers conduct transactions at the bank. There are 347 responses were processed through Exploration Factor Analysis (EFA) and ANOVA test to test the research hypotheses. The results showed that the reliability, system, assurance, interest rates and fees, the tangibles have a positive effect on customer satisfaction to Vietcombank that they are using. In particular, emphasized the importance of two factors interest rates & fees and system to improve the level of customer satisfaction with services thus improving loyalty to the bank.

     

    Keywords: satisfaction, service quality, reliability, system, assurance, tangibles, empathy, responsiveness, interest rates and fees.

     

    các ngân hàng luôn hướng tới làm thế nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng và thỏa mãn khi sử dụng dịch vụ tại ngân hàng mình và thu hút khách hàng mới sử dụng dịch vụ. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với các ngân hàng phải nhận diện được các nhân tố làm hài lòng khách hàng và định lượng nó. Như vậy, trong bài nghiên cứu này tôi sẽ trình bày 3 vấn đề (i) Hệ thống hoá cơ sở lý luận về các yếu tố tạo nên sự hài lòng của khách hàng

     

     

    (*) TS. GV. Khoa Quản trị Kinh doanh – Trừng Đại ḥc Ngân hàng TP. H̀ Ch́ Minh. Email: [email protected]

     

     

    56

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    trong lĩnh vực ngân hàng; (ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng Vietcombank tại Hồ Chí Minh; (iii) Kết luận và gợi ý.

     

    2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

     

    • Khái niệm dịch vụ

    Theo quan điểm của Zeithaml & Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Còn theo chuyên gia marketing Philip Kotler, ông cho rằng “Dịch vụ là mọi hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó, sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất”. Theo TCVN ISO 8402:1999: “Dịch vụ là kết quả tạo ra để đáp ứng yêu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa người cung cấp – khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung cấp”.

     

    2.2. Khái niệm chất lượng dịch vụ:

     

    Theo Parasurman, Zeithaml và Berry (1988): “Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ”.

    Theo Feigenbaum “Chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên kinh nghiệm thực tế đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường dựa trên những yêu cầu của khách hàng, những yêu cầu này có thể được hoặc không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại diện cho mục tiêu động trong một thị trường cạnh tranh”.

     

    Theo Zeithaml (1987): “Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được”.

     

    Riêng trong lĩnh vực ngân hàng, cũng đã có rất nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng và họ đều có cùng một nhận định rằng chất lượng dịch vụ tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng. Berry & cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ rất quan trọng để phân khúc được các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ cũng như trong lĩnh vực ngân hàng. Các ngân hàng muốn tối đa hóa lợi nhuận nhận ra rằng muốn giữ chân khách hàng phải có chất lượng dịch vụ tốt, ngược lại khách hàng sẽ rời bỏ ngân hàng. Lewis (1993) thì chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để tạo được lợi thế cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận. Roger (1995) cho rằng muốn thiết lập lợi thế cạnh tranh, ngân hàng phải đo lường và xác định mức độ chất lượng dịch vụ ngân hàng để giữ chân khách hàng và đáp ứng được các nhu cầu cùa họ.

     

    2.3. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng

     

    Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng đã được nghiên cứu nhiều trong các tài liệu, nhận định chung của các nhà nghiên cứu cho rằng đây là hai khái niệm riêng biệt, chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng. Theo Parasuraman & cộng sự (1988) chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ. Theo Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ. Theo Oliver (1993), Cronin & Taylor (1992), đã kiểm định mối quan hệ này và kết luận rằng chất lượng dịch vụ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ liên quan đến cung cấp dịch vụ, còn sự hài lòng chỉ đánh giá được sau khi đã sử dụng dịch vụ đó. Nếu chất lượng được cải thiện nhưng không dựa trên nhu cầu của khách hàng thì sẽ không bao giờ khách hàng hài lòng với dịch vụ đó. Do đó, khi sử dụng dịch vụ, nếu

     

     

    57

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng cao, thì họ sẽ hài lòng với dịch vụ đó. Ngược lại, nếu khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng thấp, thì việc không hài lòng sẽ xuất hiện.

     

    2.4. Các khái niệm nghiên cứu

     

    2.4.1. Sự hài lòng về dịch vụ (Satisfaction – SAS )

     

    Có rất nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau:

     

    • Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn.

     

    • Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn.

     

    • Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú.

    2.4.2. Hệ thống cung ứng dịch vụ (Systemization of service delivery – SYS)

     

    Hệ thống hoá cung ứng dịch vụ là việc sắp xếp có trật tự và cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua các thủ tục và quy trình hiệu quả, được đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa. Các ngân hàng ngoài những quy trình dịch vụ bắt buộc, còn có những quy trình linh động theo mỗi ngân hàng. Việc một ngân hàng có quy trình thủ tục nhanh gọn, hợp lý góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất và chính xác nhất, từ đó có thể làm hài lòng khách hàng. Nghiên cứu của Abdullah và cộng sự (2010) tại Malaysia khẳng định hệ thống cung ứng dịch vụ là thành phần quan trọng nhất của chất lượng dịch vụ ngân hàng ảnh hưởng đến nhận thức tổng thể của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, khách hàng nhận thức hệ thống dịch vụ là quan trọng hơn các thành phần khác trong việc xác định chất lượng của các dịch vụ mà họ nhận được. Vậy giả thuyết đặt ra là hệ thống có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng?

     

    Giả thuyết H1: Có mối tương quan dương giữa hệ thống và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.3. Mức độ tin cậy (Reliability – REL)

     

    Độ tin cậy được hiểu là khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên, năng lực của nhân viên để thi hành lời hứa một cách chính xác. Độ tin cậy là thành phần chất lượng dịch vụ được nghiên cứu như: Karatepe & cộng sự (2005); Manshor và cộng sự (2011),….

     

    Theo Kwan & Hee (1994), Yavas & cộng sự (2004) độ tin cậy là thành phần quan trọng nhất. Nghiên cứu của Newman & Cowling (1994), Tahir & Bakar (2007) thì độ tin cậy không phải là thành phần quan trọng nhất mà chỉ đứng ở vị trí thứ 2 hoặc thứ 3. Qua nhiều nghiên cứu như trên, ta có thể nhìn thấy rằng độ tin cậy là một thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng. Vậy giả thuyết đặt ra rằng độ tin cậy có tác dộng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    Giả thuyết H2: Có mối tương quan dương giữa độ tin cậy và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.4. Sự đồng cảm (Empathyness – EMP )

     

    Đồng cảm được hiểu là việc quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng. Nghiên cứu gần đây nhất của Ladhari và cộng sự (2010) nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia kết luận rằng sự đồng cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thành phần chất lượng dịch vụ tại Canada. Nhận định này đúng trong nghiên cứu của Newman & Cowling (1994); Lasser & cộng sự (2002) và cũng phù hợp với nghiên cứu của Karatepe và cộng sự (2005), Newman (2001) (đồng cảm là thành phần quan trọng thứ 2). Tuy nhiên, cũng có các nghiên cứu cho rằng sự đồng cảm là thành phần ít quan trọng nhất (Beerli và cộng sự, 2004; Tahir & Bakar, 2007). Nhìn chung, sự đồng cảm là thành phần của chất lượng dịch vụ, tác giả có giả thuyết như sau:

     

     

    58

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    Giả thuyết H3: Có mối tương quan dương giữa sự đồng cảm và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.5. Khả năng đáp ứng

     

    (Responsiveness – RES)

     

    Khả năng đáp ứng thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Nếu trong nghiên cứu của Ladhari và cộng sự (2010) nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia kết luận rằng sự đồng cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thành phần chất lượng dịch vụ tại ngân hàng ở Canada, thì tại các ngân hàng ở Tunisia, độ tin cậy và đáp ứng là thành phần quan trọng của chất lượng dịch vụ, đó là các yếu tố dự báo quan trọng nhất của sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Khả năng đáp ứng khách hàng cũng được đánh giá là thành phần quan trọng của chất lượng dịch vụ trong nghiên cứu của Newman (2001), Wang và cộng sự (2003), Tahir & Bakar (2007). Việc ngân hàng sẵn sàng giúp khách hàng và đáp ứng nhanh chóng, chính xác các yêu cầu của khách hàng sẽ đem lại sự hài lòng cho khách hàng, đó là giả thuyết mà tác giả đặt ra để nghiên cứu.

     

    Giả thuyết H4: Có mối tương quan dương giữa khả năng đáp ứng và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.6. Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ (Price & Fees – PRI)

     

    Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ là các vấn đề liên quan đến chi phí mà khách hàng phải bỏ ra. Trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, không chỉ trong riêng ngành ngân hàng, chi phí khách hàng sẵn sàng bỏ ra để có được hàng hóa hay dịch vụ luôn là vấn đề khách hàng và doanh nghiệp quan tâm. Để khách hàng có thể chi một món tiền để mua hàng hóa, dịch vụ thì bản thân hàng hóa dịch vụ đó phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng từ đó mới dẫn đến sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu của Bahia & Nantel (2000) nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng tại Canada đã cho thấy chi phí giao dịch và

     

    sử dụng dịch vụ là thành phần quan trọng thứ

    1. Tại ngân hàng tại Việt Nam chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có phải là thành phần chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng hay không, đó là giả thuyết được đặt ra ở đây:

    Giả thuyết H5: Có mối tương quan giữa chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.4.7. Phương tiện hữu hình (Tangible – TAG)

     

    Phương tiện hữu hình thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên và các trang thiết bị, tài sản hữu hình hỗ trợ cho dịch vụ. Hiện nay, có nhiều ý kiến trái chiều rằng phương tiện hữu hình có là thành phần của chất lượng dịch vụ ngân hàng hay không. Theo nghiên cứu của Yavas & cộng sự (1997) cho rằng phương tiện hữu hình là thành phần quan trọng nhất, trong nghiên cứu của Kwan & Hee (1994), Tahir & Bakar (2007) chiếm vị trí không cao. Trái ngược với kết luận của các nghiên cứu trên, nghiên cứu về sự khác biệt chất lượng dịch vụ tại Canada và Tunisia của Ladhari và cộng sự (2010) lại khẳng định rằng phương tiện hữu hình không quan trọng tại cả Canada và Tunisia. Ý kiến của Arasli & cộng sự (2005) cho rằng mặc dù các ngân hàng thay đổi môi trường, khách hàng vẫn đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong điều kiện của hỗ trợ cá nhân, họ nhận được từ các nhân viên, chứ không phải là cải tiến kỹ thuật. Còn theo Molina

     

    • cộng sự (2007), mặc dù công nghệ ngân hàng tự động hóa, khách hàng vẫn muốn giao dịch giữa người với người. Vì vậy câu hỏi đặt ra rằng liệu phương tiện hữu hình có là một thành phần của chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng hay không?

     

    Giả thuyết H6: Có mối tương quan dương giữa phương tiện hữu hình và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng.

     

    2.5. Mô hình nghiên cứu

     

    Theo như các giả thuyết nêu trên, ta thấy các

     

     

    59

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    nhân tố: hệ thống, mức độ tin cậy, sự đồng cảm, khả năng đáp ứng, phương tiện hữu hình, chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ đều có mối tương

     

     

     

     

    quan dương với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Ta có mô hình nghiên cứu như hình 1.1 dưới đây:

     

    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

     

    Để ứng dụng mô hình trong thực tiễn, từ 01/03/2015 – 15/05/2015 đã tiến hành điều tra khách hàng đang thực hiện giao dịch tại các chi nhánh của ngân hàng Vietcombank tại TP.Hồ Chí Minh. Số phiếu phát ra là 400 phiếu và thu về là 347 phiếu hợp lệ. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp khách hàng đang giao dịch với bảng câu hỏi thiết kế theo 6 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của khách hàng về dịch vụ ngân hàng và thang điểm từ 1 đến 5.

     

    3.1. Mô tả mẫu

     

    Theo kết quả khảo sát 347 khách hàng thì thời gian sử dụng dịch vụ có 78.1% khách hàng đã sử dụng trên 1 năm và 21.9 %. khách hàng sử dụng dịch vụ tại VCB dưới 1 năm. Về Trình độ học vấn kết quả cho thấy mẫu nghiên cứu đã được dàn trải đủ các đối tượng có trình độ học vấn khác nhau, trong đó có 49.6% khách hàng có trình độ từ trung cấp trở lên, có trình độ đánh giá tốt, phù hợp với nghiên cứu của tôi. Về Thu nhập: Trong 347 khách hàng được khảo sát, có 23.1% khách hàng có thu nhập từ 10-20 triệu/tháng, 53.9% khách hàng có thu nhập từ 5-10 triệu, nhóm khách hàng này có thu nhập thường xuyên, đối tượng này phù hợp với nghiên cứu của tôi.

     

    3.2. Đánh giá thang đo (Cronbach’s Alpha)

     

    Thang đo được đánh giá độ tin cậy thông qua hai công cụ là hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố. Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để loại các biến “rác”, các biến có hệ số tương quan tổng biến (Corrected item total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và thang đo sẽ được chọn khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.6 (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Độ tin cậy được dùng để mô tả độ lỗi của phép đo, bởi vì ta không thể biết chính xác mức độ biến thiên của biến đúng và biến lỗi, không thể tính được trực tiếp mức độ tin cậy của thang đo. Tuy nhiên, chúng ta có thể thiết lập độ tin cậy dựa vào hệ số Cronbach’s Alpha. Hệ số này cho biết mức độ tương quan giữa các biến trong bảng câu hỏi, được dùng để tính sự thay đổi của từng biến và mối tương quan giữa các biến (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

     

     

    Bảng 1: Bảng tổng hợp hệ số Cronbach’s alpha

     

    STT

     

    Nhân tố

    Hệ số

     

    Cronbach’s alpha

         

    1

    Hệ thống phân phối

     

    0.876

           

    2

    Mức độ tin cậy

     

    0.823

           

    60

     

       

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

           
           

    3

    Sự đồng cảm

     

    0.796

           

    4

    Khả năng đáp ứng

     

    0.818

           

    5

    Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ

     

    0.750

           

    6

    Các phương tiện hữu hình

     

    0.750

           

    7

    Sự hài lòng về chất lượng dịch vụ

     

    0.866

           

    Bảng 1 tổng hợp các hệ số Cronbach’s alpha, cho thấy các thành phần chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có độ tin cậy khá cao (từ 0.750

     

    • 876), và có mối tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,4. Do vậy, tất cả các biến đều phù hợp để tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA tiếp theo.

     

    3.3. Phân tích nhân tố khám phá EFA

     

    3.3.1. Phân tích nhân tố khám phá các biến độc lập

     

    Để nhận diện các nhân tố bảng câu hỏi gồm 29 biến quan sát với 6 nhân tố được giả định theo khung lý thuyết (hình 1). Sử dụng phần mềm SPSS – Phân tích nhân tố khám phá (Exploretary Factor analysis) cho kết quả kiểm định sau 4 vòng với kết quả kiệm định được đảm bảo:

     

    Độ tin cậy của các biến quan sát có hệ số truyền tải (Factor loading) nhỏ hơn 0.5 sẽ bị loại, điểm dừng khi Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 và tổng phương sai trích lớn hơn 50%.

     

    • Hệ số (Kaiser – Meyer – Olkin) KMO là một chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số của KMO (0.5<

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    KMO<1) phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu như trị số này nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có khả năng không thích hợp với các dữ liệu. (Trọng & Ngọc, 2008).

     

    • Kiểm định Bartlet’s về tương quan của các biến quan sát (Sig<0,005)

    Thang đo chất lượng dịch vụ gồm 29 biến quan sát, theo kiểm định Cronbach Alpha thì các quan sát này đều phù hợp. Kiểm định KMO và Barlett’s trong phân tích nhân tố cho thấy sig

     

    • .000 và hệ số KMO rất cao (0.929> 0.5) nên điều này có nghĩa là các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích EFA thích hợp sử dụng trong nghiên cứu này.

    Phân tích nhân tố lần 1: có 4 biến quan sát có hệ số tải nhân tố hơn 0,5 bị loại, đó là: EMP1 (VCB luôn đặc biệt chú ý đến khách hàng) có trọng số nhân tố 0.378 < 0.5; RES2 ( Nhân viên VCB luôn sắn sàng giúp đỡ và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng) có trọng số nhân tố 0.397 < 0.5; TAG1 (VCB có hệ thống máy móc hiện đại) có trọng số nhân tố 0.412 < 0.5; SYS7 (Khách hàng luôn được cập nhập thông tin mới nhất về các dịch vụ có tại VCB) có trọng số nhân tố 0.45 < 0.5.

     

     

     

    61

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Bảng 2: Phân t́ch EFA các thành phần chất lượng dịch vụ

     

     

    Nhân tố

               
                   
     

    Hệ Thống

    Tin cậy

    Đồng

    Đáp ứng

    Giá&Phí

    Phương tiện

     
     

    cảm

    hữu hình

     
             
                   

    SYS6

    .719

               
                   

    SYS1

    .706

               
                   

    SYS4

    .704

               
                   

    SYS2

    .677

               
                   

    SYS5

    .644

               
                   

    SYS8

    .565

               
                   

    REL3

     

    .732

             
                   

    REL1

     

    .690

             
                   

    REL4

     

    .672

             
                   

    REL2

     

    .659

             
                   

    REL5

     

    .635

             
                   

    EMP4

       

    .774

           
                   

    EMP5

       

    .640

           
                   

    EMP3

       

    .635

           
                   

    EMP2

       

    .633

           
                   

    RES4

         

    .743

         
                   

    SYS3

         

    .630

         
                   

    RES1

         

    .582

         
                   

    RES3

         

    .554

         
                   

    PRI2

           

    .761

       
                   

    PRI1

           

    .710

       
                   

    PRI3

           

    .640

       
                   

    TAG3

             

    .769

     
                   

    TAG4

             

    .734

     
                   

    TAG2

             

    .602

     
                   

    Cronbach alpha

    0.86

    0.823

    0.771

    0.809

    0.75

    .733

     
                   

    Điểm dừng

    9.57

    1.635

    1.452

    1.345

    1.304

    1.01

     
                   

    Điêm dừng giải thich

    38.281

    5.54

    5.809

    5.379

    5.215

    4.04

     

    được (%)

                 
                   

    Cộng dồn (%)

    14.427

    26.453

    36.827

    46.996

    56.773

    65.264

     
                   

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

     

    62

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    Phân tích nhân tố lần 2 với 25 biến quan sát được đưa vào phân tích theo tiêu chuẩn điểm dừng (Eigenvalue) lớn hơn 1 thì có 6 nhân tố được rút ra và có tổng phương sai trích 62.264% cho biết 6 nhân tố đầu tiên giải thích được 62.264% biến thiên của dữ liệu. Dựa vào kết quả đó, tác giả tiến hành tính toán lại hệ số Cronbach alpha của các nhân tố kết quả cho thấy hệ số Cronbach alpha của các nhân tố đều lớn hơn 0.5 và hệ số tương quan biến tổng của các biến thành phần đều lơn 0.3. Kết quả sau khi phân tích nhân tố khám phá được tổng hợp lại ở bảng 2.

     

    Bảng 3: Kết quả EFA sự hài lòng về chất lượng dịch vụ

    Biến quan sát

    Sự hài lòng

       

    SAS4

    .864

    SAS2

    .860

       

    SAS3

    .855

       

    SAS1

    .799

       

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu  điều tra

     

    Tuy nhiên, khi kết thúc phân tích nhân tố EFA, biến SYS3 thuộc thành phần hệ thống bị chuyển qua thành phần khả năng đáp ứng. Có thể lý giải được vấn đề này như sau, vì SYS3 (VCB có thủ tục, quy trình giải đáp những khiếu nại nhanh chóng, hiệu quả) thể hiện yếu tố quy trình trong giải đáp thắc mắc khiếu nại nên phù

     

    hợp với thành phần đáp ứng được định nghĩa là sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. Vậy sự thay đổi của biến SYS3 là hợp lý.

     

    3.3.2. Phân tích nhân tố khám phá biến phụ thuộc

     

    Nhân tố sự hài lòng có 4 biến quan sát được đưa vào phân tích có độ hội tụ cao và gom vào thành 1 nhân tố, các biến này đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0.5

     

    (bảng 3.23) và phương sai trích được là 71.450 %;

     

    sig =.000 và KMO là 0.801>0.5, điểm dừng (Eigenvalue) = 2.858 >1.

     

    3.4 Kiểm định mô hình

     

    Để xác định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của khách hàng, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội giữa 6 nhân tố ảnh hưởng thu được từ phần phân tích nhân tố khám phá ở trên bao gồm: (1) Độ tin cậy; (2) Sự đồng cảm; (3) Khả năng đáp ứng; (4) Phương tiện hữu hình;

     

    • Hệ thống; (6) Chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ, với biến phụ thuộc là sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng. Ta có mô hình kiểm định như sau:

     

    SAS= β0+ β1SYS + β2REL + β3EMP +β4RES + β5PRI + β6TAG + ε

     

     

    Bảng 4: Đánh giá độ phù hợp c̉a mô h̀nh

     

    Mô hình

    R

    R2

    R2 hiệu chỉnh

    Ước lượng sai số

    Durbin-Watson

     

    chuẩn

               
                 

    1

    .802a

    0.693

    0.684

    0.7185

    1.625

     
                 

    Kết quả này cho thấy mô hình hồi quy đưa ra khá phù hợp với mức ý nghĩa 0.05. Hệ số R2 hiệu chỉnh = 0.684, giá trị R2 hiệu chỉnh cho biết rằng 68.4% biến thiên được giải thích nhóm 6 biến độc lập: hệ thống (SYS); mức độ tin cậy (REL); sự đồng cảm (EMP); khả năng đáp ứng (RES); chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    (PRI) và phương tiện hữu hình (TAG) cho biến phụ thuộc Sự hài lòng chất lượng dịch vụ.

     

    Các biến độc lập đều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng, tất cả các nhân tố thuộc mô hình đều có ý nghĩa và có tương quan thuận chiều với sự hài lòng của khách hàng, các hệ số hồi quy β

     

     

    63

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    đều > 0. Hiện tượng đa cộng tuyến không có ảnh hưởng đến kết quả giải thích của mô hình với VIF của mỗi biến lớn nhất bằng 1.00 (<10). Quy tắc là khi VIF vượt quá 10 đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến (Trọng & Ngọc, 2005). Theo bảng kết quả hồi quy theo phương pháp enter (Bảng 5), ta xác định được phương trình hồi quy bội như sau:

     

    SAS= 1.54E-17 + 0.366*SYS + 0.273*REL + 0.225*EMP + 0.204*RES + 0.402*PRI + 0.174*TAG Bảng 5: Kết quả h̀i quy mô h̀nh nghiên cứu

       

    Hệ số không chuẩn hóa

    Hệ số chuẩn hóa

       
     

    Mô hình

         

    t

    Sig.

     

    B

    Sai số chuẩn

    Beta

           
                 
     

    Hằng số

    1547E-17

    .039

     

    .000

    1.000

     

    SYS

    .366

    .039

    .366

    9.464

    .000

     

    REL

    .273

    .039

    .273

    7.058

    .000

    1

    EMP

    .225

    .039

    .225

    5.838

    .000

     

    RES

    .204

    .039

    .204

    5.293

    .000

     

    TAG

    .174

    .039

    .174

    4.512

    .000

     

    PRI

    .402

    .039

    .402

    10.409

    .000

                 

    3.5. Kết quả kiểm định các giả thuyết

     

    Giả thiết H1: Có mối tương quan dương giữa hệ thống và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần hệ thống có β = 0.366, giá trị t = 9.464, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H2: Có mối tương quan dương giữa mức độ tin cậy và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần mức độ tin cậy có β = 0.273, giá trị t = 7.058, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H3: Có mối tương quan dương giữa sự đồng cảm và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần sự đồng cảm có β = 0.225, giá trị t = 5.838, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H4: Có mối tương quan dương giữa khả năng đáp ứng và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần khả năng đáp ứng có β = 0.204, giá trị t

    Nguồn: Kết quả xử lý dữ liệu điều tra

     

    • 293, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

    Giả thiết H5: Có mối tương quan dương giữa chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có β = 0.402, giá trị t =10.409, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    Giả thiết H6: Có mối tương quan dương giữa phương tiện hữu hình và sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng. Thành phần mức phương tiện hữu hình có β = 0.174, giá trị t =4.512, sig = 0.000 nên giả thuyết này được chấp nhận.

     

    4. KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý

     

    Sự hài lòng của khách hàng là yếu tố được xem là then chốt trong hoạt động kinh doanh của bất kì tổ chức nào, đối với NHTM hiện nay đó là yếu tố sống còn, các Ngân hàng tích cực đưa ra các giải pháp đem lại sự hài lòng cho khách hàng thông qua các sản phẩm đa dạng hơn, quy

     

     

    64

     

    Tác động của chất lượng dịch vụ . . .

     

    cách phục vụ chuyên nghiệp, khuyến mãi…. Các

     

    nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới đã chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có mối tương quan dương với nhau. Khi sử dụng dịch vụ, nếu khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng cao thì họ sẽ hài lòng với dịch vụ đó, khi khách hàng cảm nhận dịch vụ có chất lượng thấp, họ sẽ không hài lòng. Nghiên cứu này xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, đã đánh giá được thực trạng chất lượng dịch vụ tại VCB Hồ Chí Minh.

     

    Như vậy, thành phần chi phí giao dịch và sử dụng dịch vụ có tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng (β=0,402), thứ hai là thành phần hệ thống (β = 0.366), thứ ba là thành phần mức độ tin cậy (β=0.273), thứ tư là thành phần sự đồng cảm (β=0.225), thứ năm là thành phần khả năng đáp ứng (β = 0.204) và thấp nhất là thành phần phương tiện hữu hình (β = 0.174). Khách hàng đánh giá cao đội ngũ nhân viên VCB có năng lực, làm việc chuyên nghiệp, tác phong gọn gàng, giao dịch tại VCB nhanh chóng, không phải chờ đợi lâu và địa điểm giao dịch của VCB

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Arasli, H., Mehtap-Smadi, S. and Katircioglu, S.T. (2005), “Customer service quality in the Greek Cypriot banking industry”, Managing Service Quality, Vol. 15 No. 1, pp. 41-56.

     

    • Bahia, K., and Nantel, J ( 2000), “A Reliable and Valid Measurement Scale for the Perceived Service Quality of Banks, International Journal of Bank Marketing. 18(2), pp 84-91.

     

    • Beerli A., Martin J.D., Quintana A.

    (2004). “a model of customer loyalty in the retail banking market European”, Journal of Marketing, pp.253-275.

     

    • Berry, L., Bennett, D.R. and Brown, C.W. (1988), Service Quality: A Proit Strategy

    thuận tiện cho khách hàng. Tuy nhiên, có một số vấn đề cần lưu ý là nhân viên VCB chưa thật sự quan tâm đến từng nhu cầu của khách hàng, chưa giải thích rõ ràng cho khách hàng về các mức phí, nên tham khảo điều chỉnh giờ làm việc để thuận tiện cho khách hàng hơn nữa.

     

    Do đó, một số giải pháp nhằm làm cho khách hàng hài lòng hơn với dịch vụ tại VCB là (i) Nhân viên VCB phải luôn giải thích rõ các mức phí khách hàng phải chi trả, thường xuyên tiến hành các cuộc khảo sát so sánh mức phí dịch vụ VCB và các ngân hàng khác, để chủ động đưa ra mức phí hợp lý nhất cho khách hàng. (ii) VCB cần tổ chức nhiều hơn các buổi học về kĩ năng bán hàng, kĩ năng giao tiếp với khách hàng và cần gia tăng kiểm tra năng lực nhân viên định kì, có chính sách khen thưởng hợp lý. (iii) Nhân viên cần phải quan tâm trò chuyện, tư vấn nhiều hơn cho khách hàng sử dụng được dịch vụ ưng ý nhất. (iv) Tiến hành các cuộc khảo sát về sự hài lòng về sản phẩm dịch vụ tại VCB và tiếp nhận đề xuất của khách hàng để có những sản phẩm dịch vụ tốt nhất.

     

    for Financial Institutions, Dow Jones-Irwin, Homewood, IL.

    • Cronin, J.J. and Taylor, S.A. (1992), “Measuring service quality: a re-examination and extension”, Journal of Marketing, Vol. 56, July, pp. 55-68

     

    • F, Suhaimi. R, Saban. G and Hamali. J (2010), “Bank Service Quality (BSQ) Index: An indicator of service performance”, International Journal of Quality & Reliability Management, Vol. 28 No. 5, 2011, pp. 542-555.

     

    • Hoàng Trọng & Nguyễn Chu Mộng Ngọc (2008), Phân t́ch dữ liệu nghiên cứu v́i SPSS, NXB Hồng Đức TPHCM
    • Karatepe, O.M., Yavas, U. and Babakus, E.

     

    (2005), “Measuring service quality of banks: scale development and validation”, Journal of

     

     

    65

     

    Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật

     

    Retailing and Consumer Services, Vol. 12, pp.

     

    373-83.

     

    • Kwan, W. and Hee, T.J. (1994), “Measuring service quality in Singapore retail banking: a GAP analysis & segmentation approach”, Singapore Management Review, Vol. 16 No. 2, pp. 1-12.

     

    • Manshor Amat Taap, Siong Choy Chong, Mukesh Kumar, Tat Kee Fong (2010), “Measuring service quality of conventional and Islamic banks:a comparative analysis”, International Journal of Quality & Reliability Management, Vol. 28 No. 8, 2011, pp. 822-840

     

    • Nguyễn Văn Thụy & Đặng Ngọc Đại (8/2012), “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến sự thoả mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với các ngân hàng thương mại tại TP. Hồ Chí Minh, Tạp ch́ Kinh tế và Phát trỉn, Số Chuyên san 8/2012, trang 61-71.

     

    • Oliver,R. (1993), “Cognitive, affective and attribute bases of the satisfaction response”, Journal of Consumer Research, 20, 418–430.

     

    • Parasuraman, A., Zeithaml, V.A. and Berry, L.L. (1988), “SERVQUAL: a multiple item scale for measuring consumer perception of service quality”, Journal of Retailing, Vol. 64 No. 1, pp. 12-37.

     

    • R, Ladhari. I and Morales.M (2010), “Bank service quality: comparing Canadian and Tunisian customer perceptions”, International Journal of Bank Marketing, Vol.

    29, No 3-2011, pp 224-246.

     

    • Lewis, B.R. (1991), “Service quality: an international comparison of bank customers’ expectations and perceptions”, Journal of Marketing Management, Vol. 7, pp. 47-62.
    • H (1995), “The relationhships of customer satisfaction, customer loyalty and proitability: an empirical study”, International Journal of Service Industry Managemant, Vol 7 No. 4 1996 ,pp 27-42

     

    • Tahir, I.M. and Abu Bakar, N.M.

    (2007), “Service quality GAP and customers’ satisfactions of commercial banks in Malaysia”, International Review of Business Research Papers, Vol. 3 No. 4, pp. 327-36.

    • Wang, T., Lo, H.-P. and Hui, Y.V. (2003), “The antecedents of service quality and product quality and their inluences on bank reputation: evidence from the banking industry in China”, Managing Service Quality, Vol. 13 No. 1, pp. 72-83.

     

    • Yavas U., Bilgin Z. and Shemwell D. J.,1997, “Service Quality in the Banking Sector in an Emerging Economy: A Consumer Survey”, International Journal of Bank Marketing, vol. 15. no. 6 pp. 217-223

     

    • Zeithaml, V.A. and Bitner, M.J. (2000), Services Marketing: Integrating Customer Focus Across the Firm, New York; McGraw-Hill.

     

    • Zeithaml, V.A. (1988), “Consumer perceptions of price, quality, and value: a means-end model and synthesis of evidence”, Journal of Marketing, Vol. 52, pp. 2-22.

     

     

     

    66


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan

    Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Nghi%E1%BB%87p-V%E1%BB%A5-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Nghiệp Vụ Hải Quan

    THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ

    1.     Một số khái niệm

    • Thủ tục hải quan điện tử

    Là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.

    • Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan

    Là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, ngành có liên quan.

    • Hệ thống khai hải quan điện tử:

    Là hệ thống thông tin phục vụ cho người khai hải quan khai và tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan Hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.

    • Tờ khai hải quan điện tử

    Là một dạng chứng từ điện tử bao gồm tập hợp các chỉ tiêu thông tin khai của người khai HQ.

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành

     Là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật

    • Chữ ký số trong thủ tục HQĐT

    Phải thoả mãn một số điều kiện:

    • Là chữ ký số tương ứng với chứng thư số được tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cung cấp.
    • Tương thích với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
    • Đăng ký chữ ký số với cơ quan hải quan thông qua cổng thông tin điên tử HQ.
    • Được sử dụng trên phạm vi toàn quốc

    2.     Thời hạn khai HQĐT

    1. Đối với hàng hóa xuất khẩu, khai (nộp) sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh.
    2. Đối với hàng hóa nhập khẩu, khai (nộp) trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu.

    3.     Hồ sơ hải quan

    3.1.            Đối với hàng xuất khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa xuất khẩu
    • Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành.

    3.2.            Đối với hàng nhập khẩu:

    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

    4.     Khai bổ sung HSHQ

    • Người khai hải quan được khai bổ sung hồ sơ hải quan sau khi Hệ thống phân luồng tờ khai nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra trực tiếp hồ sơ hải quan;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế xác định có sai sót trong việc khai hải quan thì được khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan nhưng trước thời điểm cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra;
    • Người khai hải quan, người nộp thuế phát hiện sai sót trong việc khai hải quan sau thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa nhưng trước khi thông quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Quá thời hạn 60 ngày kể từ ngày thông quan hoặc sau khi cơ quan hải quan quyết định kiểm tra sau thông quan, thanh tra, người khai hải quan, người nộp thuế mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan thì thực hiện khai bổ sung và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
    • Người khai hải quan thực hiện khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan khi kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    5.     Địa điểm đăng ký tờ khai hải quan

    Hàng hóa xuất khẩu:

    • Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có cơ sở sản xuất
    • Chi cục Hải quan nơi tập kết hàng hóa xuất khẩu
    • Chi cục Hải quan cửa khẩu xuất hàng;

    Hàng hóa nhập khẩu

    • Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi quản lý địa điểm lưu giữ hàng hóa, cảng đích ghi trên vận tải đơn, hợp đồng vận chuyển
    • Chi cục Hải quan ngoài cửa khẩu nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi hàng hóa được chuyển đến;

    6.     Các trường hợp hủy tờ khai:

    • Quá thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai:
    • Hàng hóa được miễn kiểm tra thực tế nhưng không có hàng nhập khẩu đến cửa khẩu nhập hoặc hàng xuất khẩu chưa đưa vào khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất;
    • Người khai hải quan không xuất trình hồ sơ hải quan trong trường hợp phải xuất trình hồ sơ hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Người khai hải quan chưa xuất trình hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra thực tế để cơ quan hải quan kiểm tra;
    • Các trường hợp hủy tờ khai theo yêu cầu của người khai hải quan

    7.     Quản lý rủi ro trong hoạt động hải quan

    1. Khái niệm rủi ro:

    Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.

    1. Khái niệm quản lý rủi ro:

    Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.

    1. Nội dung chủ yếu:
    • Thu thập, xử lý thông tin hải quan;
    • Xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan
    • Phân loại mức độ rủi ro
    • Tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.
    1. Đánh giá tuân thủ pháp luật đối với người khai hải quan
    • Tần suất vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Tính chất, mức độ vi phạm pháp luật hải quan và pháp luật thuế;
    • Việc hợp tác với cơ quan hải quan trong thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan và chấp hành các quyết định khác của cơ quan hải quan.
    • Cơ quan hải quan đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan để áp dụng các biện pháp quản lý hải quan phù hợp theo từng mức độ tuân thủ.
    • Doanh nghiệp ưu tiên;
    • Doanh nghiệp tuân thủ;
    • Doanh nghiệp không tuân thủ
    1. Các căn cứ phân loại rủi ro:
    • Chính sách quản lý, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hành lý của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh;
    • Tính chất, đặc điểm của hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Tần suất, tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải;
    • Xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
    • Tuyến đường, phương thức vận chuyển hàng hóa, hành lý;
    • Các yếu tố khác liên quan đến quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

    Cơ quan hải quan thực hiện đánh giá phân loại rủi ro đối với người khai hải quan, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo các mức độ khác nhau để áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát hải quan, thanh tra phù hợp.

    8. Hệ thống thông quan hàng hoá tự động

    1. Hệ thống VNACC-VCIS gồm:
    • Hệ thống thông quan tự động (VNACCS) –Vietnam automated cargo clearance system)
    • Hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin nghiệp vụ (VCIS)
    • Là hệ thống xử lý thông tin nghiệp vụ dựa trên nguyên tắc mã hoá các nghiệp vụ, các chỉ tiêu thông tin.
    • Tiếp nhận các thông tin khai báo trước của DN
    • Các bộ ngành cấp giấy phép thông qua hệ thống VNACCS.
    1. Ưu điểm của hệ thống
    • Tốc độ thông quan nhanh
    • Tập trung cả ba khâu: trước, trong và sau thông quan
    • Hạn chế hồ sơ giấy
    • Không cần khai riêng tờ khai trị giá
    • Hệ thống VNACCS kết nối với nhiều hệ thống thông tin của các bên liên quan
    • Chuẩn hoá các chế độ quản lý HQ với khoảng 40 mã loại hình XNK
    • Áp dụng chữ ký điện tử, hỗ trợ thiết bị đầu cuối cho DN.
    • Tự động xác định thuế xuất, phân bổ tính toán trị giá, tính thuế.
    • Tự động kiểm tra thanh toán thuế, tự động thông quan
    • Thanh toán thuế: bảo lãnh, nộp thuế.
    • Kết nối với các bộ ngành trong việc cấp giấy phép
    • Không phân biệt loại hình mậu dịch và phi mậu dịch.
    1. Khai hải quan trên phần mềm ECUS-5

     

     

     

    NGHIỆP VỤ KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN

    4.1 Kiểm tra hải quan

    4.1.1 Khái niệm:

    Theo luật hải quan Việt Nam 2014, kiểm tra hải quan là việc cơ quan hải quan  kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ, tài liệu liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.

    4.1.2 Ý nghĩa kiểm tra, giám sát hải quan

    • Phát hiện tính bất hợp pháp của những hành vi di chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải và hành lý chuyển dịch qua biên giới;
    • Tạo nên cơ sở đúng đắn, sát thực tế cho việc tính thuế và thu thuế xuất nhập khẩu;
    • Buộc những người có liên quan đến hàng hóa , ngoại hối, phương tiện  vận tải … phải chấp hành đúng những quy định của pháp luật;
    • Thông qua việc kiểm tra giám sát hải quan để phát hiện những sơ hở, những điều không rõ ràng của pháp luật, trên cơ sở đó góp ý kiến bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước.

    4.1.3 Đối tượng kiểm tra, giám sát hải quan

    • Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, hàng hóa trung chuyển, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; ngoại hối, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý; văn hóa phẩm, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; bưu phẩm, bưu kiện; hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh, các vật phẩm khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan.
    • Phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chuyển cửa khẩu và chuyển cảng.
    • Hồ sơ hải quan và các chứng từ liên quan đến các đối tượng ở trên.
    • Tổ chức cá nhân liên quan đến việc làm thủ tục hải quan.

    4.1.4 Nguyên tắc chung khi kiểm tra hải quan

    • Kiểm tra hải quan được thực hiện:
      • Trong quá trình làm thủ tục hải quan
      • Trong quá trình kiểm tra sau thông quan.
    • Việc kiểm tra hải quan phải được giới hạn ở mức độ cần thiết để:
      • Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan
      • Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.
    • Hình thức kiểm tra hải quan được quyết định:
      • Kết quả phân tích thông tin về lô hàng
      • Việc đánh giá kết quả chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng
      • Mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan.
    • Nguyên tắc kiểm tra cụ thể (Điều 23, TT 38/2015)

    Các căn cứ quyết định kiểm tra hải quan:

    • Thông báo kết quả phân luồng tờ khai hải quan của Hệ thống
    • Quyết định của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai hoặc Chi cục Hải quan nơi kiểm tra thực tế hàng hóa
    • Thông tin khai hải quan
    • Thông tin chỉ dẫn rủi ro trên Hệ thống

    4.1.5 Kiểm tra hải quan bao gồm:Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá

    1. Kiểm tra hồ sơ hải quan
    • Kiểm tra thông tin tờ khai
    • Kiểm tra việc tuân thủ chế độ chính sách theo quy định của pháp luật HQ
    • Kiểm tra thuế

    b.Kiểm tra thực tế hàng hoá

    • Khái niệm

    Kiểm tra thực tế hàng hóa là việc cơ quan hải quan kiểm tra tình hình thực tế của hàng hóa, đối chiếu sự phù hợp giữa thực tế hàng hóa với các nội dung trong tờ khai hải quan và các chứng từ khác trong bộ hồ sơ hải quan.

    • Căn cứ quyết định
      • Quá trình chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng.
      • Chính sách mặt hàng của nhà nước trong từng thời kỳ.
      • Quá trình phân tích các thông tin liên quan đến người khai hải quan và lô hàng đang được làm thủ tục hải quan
    • Các mức kiểm tra thực tế
      • Miễn kiểm tra thực tế hàng hoá
      • Kiểm tra xác suất hàng hoá
      • Kiểm tra toàn bộ
    • Các hình thức kiểm tra thực tế
      • Kiểm tra thủ công
      • Sử dụng máy móc thiết bị
      • Kiểm tra thông qua kết quả phân tích, giám định hàng hoá
    • Nội dung kiểm tra gồm:
    • Kiểm tra tên hàng, mã số, mức thuế
    • Kiểm tra về lượng hàng hoá
    • Kiểm tra chất lượng hàng hoá
    • Kiểm tra trị giá hải quan
    • Kiểm tra xuất xứ hàng hoá
    • Kiểm tra việc thực hiện chính sách thuế, kiểm tra việc áp dụng văn bản thông báo kết quả xác định trước
    • Kiểm tra giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, kết quả kiểm tra chuyên ngành

    4.2. Giám sát hải quan

    4.2.1. Khái niệm:

    Là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

    4.2.2 Đối tượng giám sát hải quan:

    Hàng hóa, phương tiện vận tải, phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

    4.2.3 Phương thức giám sát hải quan:

    • Niêm phong hải quan
    • Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện
    • Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

    4.2.4 Các tiêu chí lựa chọn phương thức giám sát hải quan  đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh:

    • Chính sách quản lý hàng hóa, chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Lĩnh vực, loại hình, thời gian hoạt động, tuyến đường, địa bàn, phương tiện vận chuyển, lưu giữ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.
    • Đặc điểm, tính chất, xuất xứ, tần suất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

    Các quy định khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh

    • Thời gian giám sát hải quan
    • Hàng hóa nhập khẩu: chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
    • Hàng hóa xuất khẩu:
      • Hàng XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.
      • Hàng xuất khẩuphải kiểm tra thực tế: chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động của hải quan.

    4.2.5 Phương thức giám sát hải quan

    • Niêm phong hải quan
    • Khái niệm:
    • Niêm phong hải quan là việc các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp đóng kín đối tượng bằng các chất liệu thích hợp, nếu muốn xâm nhập đối tượng phải phá hủy niêm phong.
    • Niêm phong hải quan là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật hoặc các dấu hiệu để nhận biết và bảo đảm tính nguyên trạng của hàng hóa.
    • Các hình thức niêm phong
      • Niêm phong bằng giấy:
      • Niêm phong bằng chì hải quan
      • Niêm phong điện tử (e-seal)

    4.3 Kiểm tra sau thông quan (bài giảng)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan

    Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn Giáo dục học đại cương 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/%C4%90%E1%BB%81-C%C6%B0%C6%A1ng-%C3%94n-T%E1%BA%ADp-Quy-Tr%C3%ACnh-Th%E1%BB%A7-T%E1%BB%A5c-H%E1%BA%A3i-Quan-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề Cương Ôn Tập Quy Trình Thủ Tục Hải Quan

    QUY TRÌNH CƠ BẢN THỦ TỤC HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU-NHẬP KHẨU

    1. Sơ đồ tổng quan quy trình khai báo và khai sửa đổi bổ sung trong thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu:

                1.1 Khai thông tin nhập khẩu (IDA)

                – Người khai hải quan khai các thông tin nhập khẩu bằng nghiệp vụ IDA trước khi đăng ký tờ khai nhập khẩu. Khi đã khai đầy đủ các chỉ tiêu trên màn hình IDA (133 chỉ tiêu), người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ tự động cấp số, tự động xuất ra các chỉ tiêu liên quan đến thuế suất, tên tương ứng với các mã nhập vào (ví dụ: tên nước nhập khẩu tương ứng với mã nước, tên đơn vị nhập khẩu tương ứng với mã số doanh nghiệp…), tự động tính toán các chỉ tiêu liên quan đến trị giá, thuế… và phản hồi lại cho người khai hải quan tại màn hình đăng ký tờ khai – IDC.

                – Khi hệ thống cấp số thì bản khai thông tin nhập khẩu IDA được lưu trên hệ thống VNACCS.

                1.2. Đăng ký tờ khai nhập khẩu (IDC)

                – Khi nhận được màn hình đăng ký tờ khai (IDC) do hệ thống phản hồi, người khai hải quan kiểm tra các thông tin đã khai báo, các thông tin do hệ thống tự động xuất ra, tính toán. Nếu khẳng định các thông tin là chính xác thì gửi đến hệ thống để đăng ký tờ khai.

                – Trường hợp sau khi kiểm tra, người khai hải quan phát hiện có những thông tin khai báo không chính xác, cần sửa đổi thì phải sử dụng nghiệp vụ IDB gọi lại màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA) để sửa các thông tin cần thiết và thực hiện các công việc như đã hướng dẫn ở trên.

                1.3. Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai

    Trước khi cho phép đăng ký tờ khai, hệ thống sẽ tự động kiểm tra Danh sách doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (doanh nghiệp có nợ quá hạn quá 90 ngày, doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản…). Nếu doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên thì không được đăng ký tờ khai và hệ thống sẽ phản hồi lại cho người khai hải quan biết.

    1.4. Phân luồng, kiểm tra, thông quan: Khi tờ khai đã được đăng ký, hệ thống tự động phân luồng, gồm 3 luồng xanh, vàng, đỏ

                1.4.1 Đối với các tờ khai luồng xanh

                – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan (trong thời gian dự kiến 03 giây) và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”.

                – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0

                + Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa nhập khẩu”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.

                + Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “Chứng từ ghi số thuế phải thu”. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế, phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

                – Cuối ngày hệ thống VNACCS tập hợp toàn bộ tờ khai luồng xanh  đã được thông quan chuyển sang hệ thống VCIS.

                1.4.2  Đối với các tờ khai luồng vàng, đỏ

    1. Người khai hải quan

                – Nhận phản hồi của hệ thống về kết quả phân luồng, địa điểm, hình thức, mức độ kiểm tra thực tế hàng hoá; 

    • Nộp hồ sơ giấy để cơ quan hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ; chuẩn bị các điều kiện để kiểm  thực tế hàng hoá;
    • Hồ sơ hải quan gồm:
    • Tờ khai hàng hóa nhập khẩu
    • Hóa đơn thương mại trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán: 01 bản chụp.
    • Vận tải đơn hoặc các chứng từ vận tải khác có giá trị tương đương
    • Giấy phép nhập khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép nhập khẩu; Giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan
    • Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc Giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật
    • Tờ khai trị giá
    • Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (Quy định cụ thể các trường hợp phải nộp)

                – Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (nếu có).

    1. Hệ thống

                (1) Xuất ra cho người khai “Tờ khai hải quan” (có nêu rõ kết quả phân luồng tại chỉ tiêu: Mã phân loại kiểm tra)

                (2) Xuất ra Thông báo yêu cầu kiểm tra thực tế hàng hóa đối với hàng hóa được phân vào luồng đỏ hoặc khi cơ quan hải quan sử dụng nghiệp vụ CKO để chuyển luồng.

                (3) Ngay sau khi cơ quan hải quan thực hiện xong nghiệp vụ CEA hệ thống tự động thực hiện các công việc sau:

                – Trường hợp số thuế phải nộp bằng 0: Hệ thống tự động cấp phép thông quan và xuất ra cho người khai “Quyết định thông quan hàng hóa”.

                – Trường hợp số thuế phải nộp khác 0:

    • Trường hợp đã khai báo nộp thuế bằng hạn mức hoặc thực hiện bảo lãnh (chung, riêng): Hệ thống tự động kiểm tra các chỉ tiêu khai báo liên quan đến hạn mức, bảo lãnh, nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh lớn hơn hoặc bằng số thuế phải nộp, hệ thống sẽ xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu” và “Quyết định thông quan hàng hóa”. Nếu số tiền hạn mức hoặc bảo lãnh nhỏ hơn số thuế phải nộp, hệ thống sẽ báo lỗi.
    • Trường hợp khai báo nộp thuế ngay (chuyển khoản, nộp tiền mặt tại cơ quan hải quan….): Hệ thống xuất ra cho người khai “chứng từ ghi số thuế phải thu. Khi người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế, phí, lệ phí và hệ thống VNACCS đã nhận thông tin về việc nộp thuế phí, lệ phí thì hệ thống xuất ra “Quyết định thông quan hàng hóa”.

                1.5. Khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan

                (1) Hệ thống cho phép khai sửa đổi, bổ sung trong thông quan từ sau khi đăng ký tờ khai đến trước khi thông quan hàng hoá. Để thực hiện khai bổ sung trong thông quan, người khai hải quan sử dụng nghiệp vụ IDD gọi ra màn hình khai thông tin sửa đổi bổ sung được hiển thị toàn bộ thông tin tờ khai nhập khẩu (IDA) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung lần đầu, hoặc hiển thị thông tin khai nhập khẩu sửa đổi cập nhật nhất (IDA01) trong trường hợp khai sửa đổi, bổ sung từ lần thứ 2 trở đi.

                (2) Khi đã khai báo xong tại nghiệp vụ IDA01, người khai hải quan gửi đến hệ thống VNACCS, hệ thống sẽ cấp số cho tờ khai sửa đổi và phản hồi lại các thông tin tờ khai sửa đổi tại màn hình IDE, khi người khai hải quan ấn nút “gửi” tại màn hình này thì hoàn tất việc đăng ký tờ khai sửa đổi, bổ sung.

                (3) Số tờ khai sửa đổi là kí tự cuối cùng của ô số tờ khai, số lần khai báo sửa đổi, bổ sung trong thông quan tối đa là 9 lần tương ứng với ký tự cuối cùng của số tờ khai từ 1 đến 9; trường hợp không khai bổ sung trong thông quan thì ký tự cuối cùng của số tờ khai là 0.

                (4) Khi người khai hải quan khai sửa đổi, bổ sung tờ khai, thì tờ khai sửa đổi, bổ sung chỉ có thể được phân luồng vàng hoặc luồng đỏ (không phân luồng xanh).

                (5) Các chỉ tiêu trên màn hình khai sửa đổi, bổ sung (IDA01) giống các chỉ tiêu trên màn hình khai thông tin nhập khẩu (IDA). Khác nhau là một số chỉ tiêu (sẽ nêu cụ thể tại phần hướng dẫn nghiệp vụ IDA01) không nhập được tại IDA01 do không được sửa đổi hoặc không thuộc đối tượng sửa đổi.

                1.6. Những điểm cần lưu ý

                (1) Mỗi tờ khai được khai tối đa 50 mặt hàng, trường hợp một lô hàng có trên 50 mặt hàng, người khai hải quan sẽ phải thực hiện khai báo trên nhiều tờ khai, các tờ khai của cùng một lô hàng được liên kết với nhau dựa trên số nhánh của tờ khai

                (2) Trị giá tính thuế

                – Khai báo trị giá: Ghép các chỉ tiêu của tờ khai trị giá theo phương pháp 1 vào tờ khai nhập khẩu; Đối các phương pháp khác, chỉ ghép một số chỉ tiêu kết quả vào tờ khai nhập khẩu, việc tính toán cụ thể trị giá theo từng phương pháp phải thực hiện trên tờ khai trị giá riêng.

                – Tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch, người khai hải quan khai báo Tổng trị giá hoá đơn, tổng hệ số phân bổ trị giá, trị giá hoá đơn của từng dòng hàng, các khoản điều chỉnh, hệ số phân bổ các khoản điều chỉnh, trên cơ sở đó, hệ thống sẽ tự động  phân bổ các khoản điều chỉnh và tự động tính trị giá tính thuế cho từng dòng hàng.

                – Không tự động tính toán: Đối với các lô hàng đủ điều kiện áp dụng phương pháp trị giá giao dịch nhưng ngoài I và F còn có trên 5 khoản điều chỉnh khác hoặc việc phân bổ các khoản điều chỉnh không theo tỷ lệ trị giá thì hệ thống không tự động phân bổ, tính toán trị giá tính thuế; Đối với các trường hợp này, người khai hải quan khai báo, tính toán trị giá tính thuế của từng dòng hàng tại tờ khai trị giá riêng, sau đó điền kết quả vào ô “trị giá tính thuế” của từng dòng hàng.

                (3) Tỷ giá tính thuế

                Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ áp dụng tỷ giá tại ngày thực hiện nghiệp vụ này để tự động tính thuế:

                – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA và đăng ký tờ khai IDC trong cùng một ngày hoặc trong 02 ngày có tỷ giá giống nhau thì hệ thống tự động giữ nguyên tỷ giá tính thuế;

                – Trường hợp người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai  IDC (được tính là thời điểm người khai hải quan ấn nút “Gửi” tại màn hình IDC) tại ngày có tỷ giá khác với tỷ giá tại ngày khai thông tin nhập khẩu IDA thì hệ thống sẽ báo lỗi. Khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn hệ thống sẽ tự động cập nhật lại tỷ giá theo ngày đăng ký tờ khai.

                (4) Thuế suất

                – Khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ khai thông tin nhập khẩu IDA, hệ thống sẽ lấy thuế suất tại ngày dự kiến khai báo IDC để tự động điền vào ô thuế suất.

                – Trường hợp thuế suất tại ngày IDC dự kiến khác thuế suất tại ngày IDC, thì khi người khai hải quan thực hiện nghiệp vụ đăng ký tờ khai IDC hệ thống sẽ báo lỗi, khi đó, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB gọi bản IDA để khai báo lại – thực chất là chỉ cần gọi IDA và gửi luôn, hệ thống tự động cập nhật lại thuế suất theo ngày đăng ký tờ khai IDC.

                – Trường hợp người khai hải quan nhập mức thuế suất thủ công thì hệ thống xuất ra chữ “M” bên cạnh ô thuế suất.

                (5) Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn/giảm/không chịu thuế

                – Việc xác định hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK không căn cứ vào Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế, mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.

                – Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa thuộc đối tượng được miễn thuế XK mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã miễn/giảm/không chịu thuế.

                – Nhập mã miễn/giảm/không chịu thuế vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

                – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT trên VNACCS (TEA) thì phải nhập đủ cả mã miễn thuế và số DMMT, số thứ tự dòng hàng trong DMMT đã đăng ký trên VNACCS.

                – Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng miễn thuế Nhập khẩu thuộc diện phải đăng ký DMMT nhưng đăng ký thủ công ngoài VNACCS thì phải nhập mã miễn thuế và ghi số DMMT vào phần ghi chú.

                (6) Trường hợp hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng

                – Việc xác định hàng hóa, thuế suất giá trị gia tăng không căn cứ vào Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng; mà phải thực hiện theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan.- Chỉ sau khi đã xác định được hàng hóa, thuế suất cụ thể theo các văn bản quy định, hướng dẫn liên quan mới áp mã dùng trong VNACCS theo Bảng mã thuế suất thuế giá trị gia tăng.

                – Nhập mã thuế suất thuế giá trị gia tăng vào chỉ tiêu tương ứng trên màn hình đăng ký khai báo nhập khẩu (IDA).

                (7) Trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện đăng ký tờ khai (do có nợ quá hạn quá 90 ngày hoặc Doanh nghiệp giải thể, phá sản, tạm ngừng kinh doanh,…)

                Hệ thống tự động từ chối cấp số tờ khai và báo lỗi cho phía người khai lý do từ chối tiếp nhận khai báo. Tuy nhiên, nếu hàng nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại thì hệ thống vẫn chấp nhận đăng ký tờ khai dù doanh nghiệp thuộc danh sách nêu trên.

                (8) Trường hợp đăng ký bảo lãnh riêng trước khi cấp số tờ khai (bảo lãnh theo số vận đơn/hóa đơn)

                Số vận đơn hoặc số hóa đơn đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số vận đơn/số hóa đơn người khai khai báo trên màn hình nhập liệu.

                Nếu đăng ký bảo lãnh riêng sau khi hệ thống cấp số tờ khai thì số tờ khai đã đăng ký trong chứng từ bảo lãnh phải khớp với số tờ khai hệ thống đã cấp.

                (9) Trường hợp cùng một mặt hàng nhưng các sắc thuế có thời hạn nộp thuế khác nhau

                Hệ thống sẽ tự động xuất ra các chứng từ ghi số thuế phải thu tương ứng với từng thời hạn nộp thuế. Trường hợp người khai làm thủ tục nhập khẩu nhiều mặt hàng nhưng các mặt hàng có thời hạn nộp thuế khác nhau, người khai sẽ phải khai trên các tờ khai khác nhau tương ứng với từng thời hạn nộp thuế.

    1. Cách thức thực hiện:

                Việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan;

    1. Thành phần, số lượng hồ sơ:

                – Thành phần hồ sơ:

                + Tờ khai hàng hoá nhập khẩu.

                + Các chứng từ đi kèm tờ khai (dạng điện tử hoặc văn bản giấy): theo quy định tại Điều 24 Luật Hải quan.

                – Số lượng hồ sơ: 01 bản giấy hoặc điện tử.

    1. Thời hạn giải quyết:

                – Hệ thống phản hồi cho người khai hải quan ngay sau khi hệ thống tiếp nhận, công chức hải quan chấp nhận kết quả phân luồng/từ chối tờ khai trừ các trường hợp bất khả như nghẽn mạng, hệ thống đường truyền gặp sự cố…

                – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải (tính từ thời điểm người khai hải quan đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về làm thủ tục hải quan theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 23 Luật Hải quan):

                + Chậm nhất là 08 giờ làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thức kiểm tra thực tế một phần hàng hóa theo xác suất;

                + Chậm nhất là 02 ngày làm việc đối với lô hàng xuất khẩu áp dụng hình thực kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa.

                Trong trường hợp áp dụng hình thức kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hóa mà lô hàng xuất khẩu có số lượng lớn, việc kiểm tra phức tạp thì thời hạn kiểm tra có thể được gia hạn nhưng không quá 08 giờ làm việc.

    1. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức, cá nhân
    2. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

                – Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục hải quan

                – Người có thẩm quyền được ủy quyền hoặc phân cấp thực hiện: Không

                – Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Chi cục hải quan

                – Cơ quan phối hợp (nếu có):

    1. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định thông quan hàng hóa
    2. Lệ phí: 20.000 đồng
    3. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính: Tờ khai hàng hóa nhập khẩu (mẫu HQ/2015/NK) và Phụ lục tờ khai hàng hoá nhập khẩu (mẫu HQ/2015-PLNK) Phụ lục 6 Thông tư 38/2015/TT-BTC
    4. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

    Trước khi thực hiện thủ tục hải quan, người khai hải quan phải:

    – Có chữ ký số được đăng ký;

    – Đăng ký người sử dụng Hệ thống VNACCS/VCIS;

    – Làm thủ tục cấp mã địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Trường hợp doanh nghiệp không được công nhận địa điểm kiểm tra tại chân công trình, cơ sở sản xuất, nhà máy, doanh nghiệp phải đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung để kiểm tra (áp dụng đối với các lô hàng được hệ thống VNACCS phân vào luồng đỏ).

    1. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

                – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/06/2014;

                – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan;

                – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/03/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;

                – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    2. Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu thương mại

     

      Quy trình tương tự như đối với hàng NK.

    Trình tự thực hiện:

              – Bước 1: Người khai hải quan thực hiện việc khai báo hải quan và xuất trình hồ sơ hải quan (nếu có), xuất trình thực tế hàng hoá (nếu có) cho cơ quan hải quan.

              – Bước 2: Công chức hải quan thực hiện việc thông quan hàng hoá cho người khai hải quan.

    – Cách thức thực hiện: Điện tử

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

    * Thành phần hồ sơ:

    1. a) Tờ khai hàng hóa xuất khẩu theo các chỉ tiêu thông tin tại Phụ lục II ban hành kèm Thông tư số 38/2015/TT-BTC.
    2. b) Giấy phép xuất khẩu đối với hàng hóa phải có giấy phép xuất khẩu: 01 bản chính nếu xuất khẩu một lần hoặc 01 bản chụp kèm theo Phiếu theo dõi trừ lùi nếu xuất khẩu nhiều lần;
    3. c) Giấy thông báo miễn kiểm tra hoặc giấy thông báo kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật: 01 bản chính.

    Đối với chứng từ quy định tại điểm b, điểm c nêu trên, nếu áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia, người khai hải quan không phải nộp khi làm thủ tục hải quan.

    * Số lượng hồ sơ: 01 bộ

    – Thời hạn giải quyết:  

    – Thời hạn tiếp nhận, đăng ký, kiểm tra hồ sơ hải quan: ngay sau khi người khai hải quan nộp, xuất trình hồ sơ hải quan đúng quy định của pháp luật (Khoản 1, Điều 23 Luật Hải quan)

    – Thời hạn hoàn thành thành kiểm tra hồ sơ và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải:

    + Hoàn thành việc kiểm tra hồ sơ chậm nhất là 02 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan;

    + Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 08 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan hải quan;

      Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật có liên quan thì thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được tính từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định.

    Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày.

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    1. a) Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Chi cục Hải quan
    2. b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Không có
    3. c) Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Chi cục Hải quan
    4. d) Cơ quan phối hợp (nếu có): Không có

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Xác nhận thông quan

    – Phí, lệ phí: 20.000 đồng

    – Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: 

    – Tờ khai hải quan (theo Phụ lục III, Phụ lục IV Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính);

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

    – Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 của Quốc hội;

    – Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.

    – Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

    – Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.

    – Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

    – Thông tư số 172/2010/TT-BTC ngày 02/11/2010 của Bộ Tài chính ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực Hải quan.

    Số điện thoại đường dây nóng


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Bài tập lớn Giáo dục học đại cương 2019

    Bài tập lớn Giáo dục học đại cương 2019

    Bài tập lớn Giáo dục học đại cương 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Gi%C3%A1o-d%E1%BB%A5c-h%E1%BB%8Dc-%C4%91%E1%BA%A1i-c%C6%B0%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Giáo dục học đại cương 2019

     

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Giáo dục học là một ngành khoa học chuyên nghiên cứu bản chất và các quan hệ có tính quy luật của quá trình hình thành con người như một nhân cách, trên cơ sở đó thiết kế mục tiêu, nôi dung, phương pháp và hình thức tổ chức các quá trình giáo dục nhằm đạt tới những kết quả tối ưu trong các điều kiện xã hội nhất định. Trong quá trình nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ của mình, giáo dục học ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu thực tiễn giáo dục.

     

    Giáo dục là một ngành khao học quan trọng nó có nhiều nhiệm vụ to lớn góp phần làm tăng dân trí của đất nước, tăng thể lực cho mỗi người, và đồng thời nó giúp cho mỗi người đều có một trình độ kĩ thuật làm việc riêng của từng cá nhân để khẳng định mình trong xã hội. Trong những nhiệm vụ của giáo dục thì nhiệm vụ giáo dục đạo đức và việc cần quan tâm hàng đầu như bác Hồ của chúng ta từng có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn” .

     

    Nội dung của bài tập lớn này đi sâu nghiên cứu về vấn đề phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục và những thiếu sót của việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên.

     

    Nội dung bài tập lớn được chia thành bốn phần lớn:

     

    Phần một: đạo đức và cấu trúc của đạo đức;

     

    Phần hai: Giáo dục đạo đức.

     

    Phần ba: Thực trạng giáo dục đạo đức ở nước ta hiện nay.

     

    Phần bốn: Giáo dục đồng bộ.

     

    Trong quá trình thực hiện làm bài tập lớn này do thời gian cũng như năng lực có hạn chắc chắn sẽ gặp phải nhiều thiếu sót. Để bài tập lớn này được đầy đủ và chính xác hơn cũng như góp phần nâng cao hiểu biết của người viết rất mong nhận được sự nhận xét và đánh giá của thầy cô giáo và các bạn sinh viên.

     

    Xin chân thành cảm ơn!

     

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 3 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    NỘI DUNG

     

    I.                   ĐẠO ĐỨC VÀ CẤU TRÚC CỦA ĐẠO ĐỨC.

     

    1.                 Khái niệm đạo đức.

     

    Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại.

     

    Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) – lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.

     

    • phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.

    Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.

     

    Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

     

    Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau:

     

    Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.

     

    Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 4 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức.

     

    Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.

     

    • Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người: Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành
    • của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 5 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.

     

    – Đạo đức là một hệ thống các giá trị.

     

    Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo)(1). Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt.

     

    Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo.

     

    1. Cấu trúc của đạo đức.

     

    Đạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

     

    1. Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức.

    Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con người.

     

    Trong quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức. Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể. Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện. Ăn bám bóc lột là vô

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 6 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    nhân đạo. Ngay cả trong một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được). Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người. Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạo đức.

     

    Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc sống.

     

    • thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác. Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo.

    Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức.

     

    1. Quan hệ đạo đức.

    Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức.

     

    Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con người.

     

    Các quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với văn hoá tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ này.

     

    Quan hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những qui luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội.

     

    Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong nhữg cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức.

     

    Tóm lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là một yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức.

     

    1. Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 7 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội ấy.

     

    Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng. Nó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng.

     

    Đạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân.

     

    Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân…

     

    Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện.

     

    Đạo đức xã hội hay đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất. Đạo đức cá nhân là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội. Mỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau. Đạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó tổng hợp những nhu cầu phổ biến được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân. Nó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hội.

     

    Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân.

     

    II. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

     

    Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm biến hệ thống chuẩn mực đạo đức của toàn xã hội thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục. Quá trình tác động sư phạm giúp người được giáo dục lĩnh hội các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức, hình thành tình cảm đạo đức và thực hiện các hành vi đạo đức.

     

    1. Giáo dục đạo đức ở học sinh trung học phổ thông

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 8 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    “Con ơi muốn nên thân người/ Lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru“, câu ca ấy có còn đúng không nhỉ? “Cá không ăn muối cá ươn/ Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư” câu ca ấy nữa, có còn đúng không nhỉ?

     

    Và “Tiên học lễ, hậu học văn” cái “lễ” ấy vào thời đại bây giờ là gì vậy

     

    nhỉ?

     

    Nghĩ đi rồi nghĩ lại, cải cách việc dạy môn đạo đức ở trường phổ thông bây giờ là khó nhất! Có thể có nhiều cách dạy toán hoặc dạy tiếng Việt, ít nhiều thì trẻ em cũng vẫn có được chút gì đó trong hành trang lôgich và ngôn ngữ để vào đời. Còn trong việc giáo dục đạo đức, ta có thể chứng kiến tình trạng nước đổ lá khoai ngay trước mắt mà đành bó tay chẳng làm gì nổi

     

    Cái khó căn bản là ở chỗ người lớn chưa tìm ra nổi tiếng nói chung về nội dung và phương thức chuyển tải cái (hoặc) những lý tưởng đạo đức tới các em học sinh phổ thông. Ai ai và ở đâu đâu cũng có ý kiến được về dạy đạo đức. Có điều là, người trong trắng thì ngây thơ quá, mà người bớt ngây thơ thì cũng chẳng còn trong trắng bao nhiêu hoặc cũng chẳng còn tin tưởng bao nhiêu vào sự trong trắng.

     

    Trong khi đó, xã hội nếu không muốn tiêu vong, chắc chắn vẫn cần đến một nền đạo đức bắt buộc phải được xây dựng thành lối sống cho thanh thiếu niên, để các em sống chết với một cái đạo làm người phù hợp với các em và phù hợp với thời đại các em phải sống.

     

    Từ nửa đầu thế kỷ trước, nhà tâm lý học vĩ đại Jean Piaget đã tỉ mẩn nghiên cứu tâm lý trẻ em đối với vấn đề đạo đức. Piaget cho rằng có hiểu rõ trẻ em thì mới tổ chức nổi việc học của các em.

     

    Trước Piaget, cũng có tác giả nghiên cứu sự tôn trọng mệnh lệnh của trẻ em và coi sự tôn trọng mệnh lệnh kia như là khởi đầu của thái độ đạo đức đối với không chỉ một mệnh lệnh mà đối với mọi nghĩa vụ.

     

    Piaget coi cách nghiên cứu quan điểm đạo đức của trẻ em như thế là hời hợt vì nó không nghiên cứu sự xuất sinh nội tại cái quan niệm về đạo đức của trẻ em. Piaget còn phân tích xa hơn và cho rằng nếu chỉ nghiên cứu đạo đức dựa trên lòng tôn trọng cái được coi là “đạo đức” (có sẵn), thì sẽ có thể có hai thứ lòng tôn trọng, một đúng và một sai, một tốt và một không tốt, một chân thành và một giả dối.

     

    Jean Piaget đã nghiên cứu theo cách khác. Ông quan sát, ghi chép và phỏng vấn các trẻ em trong khi chúng chơi các trò chơi và là trò chơi có luật lệ hẳn hoi – trò chơi đánh bi – và xem xét sự nảy sinh lòng tôn trọng các luật lệ chơi ra sao. Ở đây, thay vì mệnh lệnh, có sự quy ước. Ơ đây thay vì có người ra lệnh, chỉ có tự mình theo hay không theo các quy ước.

     

    Điều đầu tiên Piaget thấy là tính chất nghịch lý như sau: Ở cái độ tuổi các em ít chịu áp dụng luật lệ thì lại chính là giai đoạn các em có lòng tôn trọng cao nhất đối với luật lệ; và đến cái độ tuổi hiểu biết rõ hơn cả đối với

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG             – 9 –                                                     BÀI TẬP LỚN

     

    việc áp dụng luật lệ thì lại là cái giai đoạn các em không còn coi luật lệ là thiêng liêng và bất biến nữa.

     

    Diễn giải cụ thể như sau. Khi ở độ 7-8 tuổi, các em vẫn còn ở trạng thái lấy mình làm trung tâm, song tự đáy sâu tâm lý, các em vẫn nghĩ mình như là người tham gia vào nhóm xã hội, và khi đó các em cảm thấy không cần lý giải về luật lệ, vì các em nghĩ rằng ai ai cũng tôn trọng luật lệ như mình.

     

    Từ 8 đến 10-11 tuổi, đứa trẻ tìm cách gò mình vào một số luật lệ chung, nhưng là cái luật lệ riêng em đó nhớ được và nghĩ rằng mọi người cũng nhớ đến luật lệ đó như chính em đã nhớ.

     

    Tới độ tuổi 10-11, luật lệ với các em trở nên cố định và rất chi tiết, chỉ cần một vi phạm nhỏ là những người trong cuộc chơi nhận ra ngay và có “cách xử lý” ngay. Đến độ tuổi này, nếu hỏi các em xem liệu có thể thêm bớt gì vào luật lệ đã có không, thì đạt được kết quả rất thú vị: càng lớn, thì càng thấy luật là bất biến, nhưng cũng càng thấy chúng chẳng còn thiêng liêng nữa!

     

    Kết luận của Jean Piaget không rườm rà, không đao to búa lớn, chỉ giản dị thế này thôi: Ta cần phân biệt thứ đạo đức do bề trên áp đặt cho trẻ em với cái đạo đức do chính trẻ em áp đặt cho nhau. Sự giản dị là ở chỗ này: Bị bề trên áp đặt thì hay ho bao nhiêu cũng thành không tự nguyện.

     

    Câu ca dẫn ra ở đầu bài này quả là vô cùng kiêu ngạo! Vì nếu chỉ biết nghe lời khuyên mà con người đều trở nên thiện cả, thì đã chẳng có cái ác trên đời này! Chân lý nằm ở vế ngược lại: trẻ em dù có áp đặt luật cho nhau thì đó cũng là sự đồng thuận hàm chứa trong đó cả sự tự do lẫn sự tự nguyện tước bỏ phần tự do “cồng kềnh” của cá nhân mình để hoà nhập với cộng đồng.

     

    Một chương trình giáo dục đạo đức hợp lý có lẽ cần chú ý đến những nghiên cứu như Piaget đã tiến hành.

     

    Đầu tiên có câu hỏi: Cái nhân lõi xuyên suốt công cuộc giáo dục đạo đức để rồi đi vào cuộc đời các em thiếu niên thanh niên sẽ là gì?

     

    Nó phải thu gọn cho dễ nhớ, nhưng rành rành nó không còn có thể là kẻ quân tử của cụ Khổng nữa rồi. Nó cũng khó có thể là con người hy sinh chiến đấu của một thời hào hùng. Nó phải dễ thực hiện và dù giản dị đấy song nó lại phải mang tính thời đại.

     

    Nghĩ rằng nhân lõi của chương trình giáo dục đạo đức sẽ là sự luyện tập để có tính đồng thuận và đạt tới nếp sống hoà hợp với cộng đồng, được chính trẻ em chấp nhận một cách tự nhiên.

     

    Những “bài học đạo đức” về tính đồng thuận sẽ không thể là những bài giảng đã đành, cũng không thể biến tướng trong những “tình huống đạo đức” để thảo luận xuông, hy vọng thay thế cho các bài giảng một chiều sáo mòn. Các bài học đạo đức phải hình thành trong hoạt động của cộng đồng trẻ em, do các em chấp nhận rồi biến thành quy định.

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 10 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    Cái khái niệm cộng đồng đi từ lớp học, từ gia đình và mở rộng ra những cộng đồng càng lúc càng lớn hơn (dân tộc, loài người). Những bộ luật cũng đi dần vào cuộc sống trẻ em, bắt đầu từ Luật Giao thông (hàng ngày từ lớp 1 đã phải đi đi về về trên đường), sau đó đến Luật Quyền Trẻ em, Luật Giáo dục, Luật Gia đình… tiến sang những luật khác nữa. Trong từng điều luật kia sẽ có cả sự áp đặt được chấp nhận của chủ thể công dân, lại còn có cả sự đấu tranh để thay đổi cho luật phù hợp với cuộc sống thực tiễn, và đó cũng là đồng thuận.

     

    Với các học sinh khi con học trên ghế nhà trường trung học cơ sở thì việc giáo dục đạo đức cho các em tại trường là rất quan trọng. Nó sẽ giúp các em có được một tầm hiểu biết rộng, cái nhìn toàn diên hơn về các mối quan hệ trong gia đình nhà trường và xã hội. nhà trường thì việc giáo dục đạo đức cho học sinh được giảng dạy thông qua các môn như: văn học, giáo dục công dân, công nghệ,…. Ở môn văn học qua các tác phẩm văn chương các

     

    giáo viên phải thông qua đó dăn dạy cho các em phải biết yêu thương, quý trọng và giúp đỡ những người thân và bạn bè của mình; môn giáo dục công dân qua từng bài học càng đi sâu tìm hiểu và thấm thía hơn các bài học đạo đức cho mỗi cá nhân; môn công nghệ thì qua các bài học dạy cho các học sinh có cái nhìn hướng thiện với cuộc sống hơn khi đó các em sẽ dễ dàng điều khiển được hành vi đạo đức của mình hơn hay nói cách khác là tạo động cơ và mục đích cho các hành vi đạo đức của các em.

     

    2.                 Giáo dục sinh viên đại học:

     

    1. Sự cần thiết khách quan của giáo dục đạo đức cho sinh viên

    Trong quá trình sống và hoạt động xã hội của con người, ý thức đạo đức được hình thành. Trong các xã hội, nhất là các xã hội dựa trên đối kháng giai cấp, ý thức đạo đức bao giờ cũng mang tính giai cấp. Trên thực tế, ở các xã hội khác nhau, đạo đức và ý thức đạo đức biểu hiện ở những điều cấm và khuyến khích khác nhau nhằm ngăn chặn những hành vi xấu xa và kích thích những điều tốt trên quan điểm lợi ích chung, lợi ích xã hội. Nói cách khác, sự phát triển của ý thức đạo đức có những biến thái cơ bản tương ứng với các hình thái kinh tế – xã hội bởi vì mỗi hình thức sở hữu đều sản sinh ra lý luận luân lý của nó.

     

    Đối với Việt Nam, trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, các giá trị đạo đức trong truyền thống và hiện đại vẫn giữ một vai trò quan trọng. Công nghiệp hóa là một quá trình tất yếu nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế – xã hội của đất nước trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng hiện đại.

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 11 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    Như vậy, công nghiệp hóa – hiện đại hóa là quá trình rộng lớn và phức tạp. Trong điều kiện nước ta, việc tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa sẽ tác động tích cực trên nhiều phương diện.

     

    Thứ nhất, công nghiệp hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết tình trạng công nghệ lạc hậu hiện nay, dẫn tới tăng năng suất lao động, làm cho tổng sản phẩm xã hội tăng lên và do vậy có điều kiện để nâng cao phúc lợi cho nhân dân. Hơn nữa, cũng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, dẫn đến mở rộng phân công lao động xã hội, góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm hiện tại, tăng năng lực sản xuất, làm cho nền kinh tế hàng hóa phát triển, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và tiếp thu các thành tựu của văn minh nhân loại.

     

    Thứ hai, sự phát triển kinh tế do công nghiệp hoá mang lại sẽ là nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định chính trị, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Quá trình công nghiệp hóa còn làm cho mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng tăng lên, nhờ đó mối quan hệ giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân, nông dân và trí thức ngày càng củng cố và phát triển.

     

    Thứ ba, những thành tựu kinh tế – xã hội của công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ góp phần quan trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho mở mang dân trí, nâng cao nhận thức, phát triển văn hóa, củng cố truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc, tăng thêm niềm tin vào chế độ xã hội.

     

    Như vậy, công nghiệp hóa – hiện đại hóa có tác dụng to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa – tư tưởng đến an ninh quốc phòng. Điều này càng có ý nghĩa sống còn khi “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” là mục tiêu phát triển của nước ta.

     

    Thực tế cho thấy, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang phá vỡ sự cân bằng giữa xã hội và tự nhiên, giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, giữa con người và con người.

     

    Chúng ta đều biết hành vi con người tuân theo hệ thống quy tắc của xã hội, do xã hội đặt ra. Có người tuân thủ nó do nhập tâm, do ý thức được các giá trị đạo đức, các chuẩn mực xã hội. Có người tuân thủ vì xung quanh họ có những cơ chế “kiểm soát xã hội” mạnh mẽ như gia đình, họ hàng, làng xóm, luật lệ. Thế nhưng khi xã hội chuyển biến dồn dập, quá trình công nghiệp hóa

     

    • hiện đại hóa, đô thị hóa nhanh chóng làm cho hệ thống quy tắc dễ bị phá vỡ. Lúc đó, phải trái, đúng sai không còn rạch ròi. Trong hoàn cảnh như vậy, con người dễ thờ ơ trước cái thiện, dửng dưng trước cái ác. Chính điều đó đã tạo điều kiện cho cái ác, cái bất lương phát triển. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ đã làm cho tình trạng tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo trong sản xuất kinh doanh ngày càng có đà sinh sôi, nảy nở. Chính tâm lý sống gấp, sống hưởng

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 12 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    thụ đã làm cho nhiều người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau sa vào các tệ nạn xã hội. Thậm chí một bộ phận không nhỏ bị tha hóa bởi đồng tiền, vì những hưởng thụ vật chất mà hành động mù quáng.

     

    Ngày nay, khi những tiến bộ về khoa học công nghệ đã đạt tới mức vượt ra ngoài sự tưởng tượng của không ít người thì cùng với điều đó, sự biến động của các xã hội cũng mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức không có vận hội nào mà lại không đi kèm với những nguy cơ. Có thể thấy rất rõ bên cạnh những giá trị văn minh to lớn mà con người được hưởng, những hiểm họa cũng đang rình rập một cách thường trực đối với con người, đối với nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia nghèo đói, chậm phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu đã thận trọng cho rằng: chỉ riêng có sự tăng trưởng và phát triển về mặt kinh tế, chỉ riêng công nghiệp hoá – hiện đại hóa bộ mặt xã hội, thì đời sống xã hội chưa chắc đã được đảm bảo để trở nên lành mạnh hơn, văn minh hơn. Song nếu không tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa hoặc nếu người ta thờ ơ với nó thì chắc chắn xã hội sẽ không thể đạt tới sự phát triển và tiến bộ. Cho nên, vấn đề đặt ra là, công nghiệp hóa – hiện đại hóa phải được thực hiện một cách đồng bộ với việc giải quyết các vấn đề xã hội. Nói cách khác, xã hội muốn có hạnh phúc thì công bằng xã hội phải là bạn đồng hành với sự tiến triển của văn minh.

     

    Đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta đã quá rõ ràng. Định hướng xã hội chủ nghĩa không gì khác hơn là một sự phát triển vì con người, vì công bằng xã hội, vì độc lập dân tộc, nhân bản… đó là mục tiêu không phải vượt quá tầm tay của chúng ta. Có điều phải làm sao cho các mục tiêu trên không chỉ duy trì ở dạng khẩu hiệu mà phải biến thành chính sách, cơ chế, chỉ tiêu… nghĩa là các biện pháp cụ thể lồng ghép trong các kế hoạch phát triển. Mặt khác, phải làm sao cho toàn dân khi xưa sẵn lòng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc thì ngày nay từng nhà, từng người hãnh diện chọn lối sống giản dị, tiết kiệm công bằng, chan hòa với cộng đồng. Làm sao cho toàn dân, toàn xã hội

     

    • thức về độc lập và bản sắc dân tộc không chỉ bằng khẩu hiệu mà trong lựa chọn cụ thể cách ăn mặc, học hành tới vui chơi giải trí. Làm sao để từng người biết đau lòng vì trẻ em suy dinh dưỡng còn quá nhiều, và phẫn nộ, lên án những kẻ ăn chơi, phè phỡn. Làm sao để cho tất cả mọi người, mọi tầng lớp ý thức được rằng: phát triển không chỉ nhằm vào các chỉ tiêu vật chất cao mà để cho mọi người sống trong sự chan hòa, yêu thương nhau.

    Ngày nay, cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa con người vẫn nhận thức rằng: Giá trị và giá trị đạo đức luôn là vấn đề ý nghĩa đối với bất cứ xã hội nào, thời đại nào. Chẳng phải ngẫu nhiên mà cái nhìn đạo đức đã là cái nhìn truyền thống của nhiều xã hội. Trong nền văn minh hiện đại, việc đánh giá trình độ tiến bộ của các hiện tượng xã hội, trên thực tế vẫn rất cần sự tham gia của các tiêu chuẩn đạo đức. Bên cạnh đó, tính đặc thù, tính giai cấp, tính khu vực… vốn là những tính chất cố hữu của đạo đức càng làm cho các chuẩn mực đạo đức khó ăn nhập với đời sống hiện thực. Trong

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 13 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    khi đó, bên cạnh đạo đức còn có hàng loạt giá trị cùng loại như phong tục, tập quán, lối sống, nếp tư duy… cũng đang được coi là cái cần phải tính đến khi xác định tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội. Đây là cái giá trị mà nếu thiếu vắng nó thì xã hội công nghiệp hiện đại dễ có nguy cơ biến hành “nơi bất hạnh” của con người. Cũng cần nói thêm rằng: Nhịp độ phát triển của xã hội hiện đại đã làm cho mối tương quan giữa con người và thế giới (xã hội và tự nhiên) xung quanh ngày càng trở nên phức tạp hơn. Một mặt, con người được chứng kiến những dấu hiệu to lớn của sự phát triển, nhưng mặt khác con người cũng nhận thấy những nguy cơ khủng khiếp tồn tại phản tiến bộ.

     

    Có thể nói rằng, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa sẽ đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm, phong phú thêm những giá trị truyền thống đồng thời cũng gây ra những xáo trộn, những thay đổi trong lối sống, những quan niệm về các chuẩn mực đạo đức xã hội. Vấn đề ở chỗ là làm thế nào để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa mà vẫn giữ được nét đẹp riêng, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Đây quả là vấn đề bức xúc đang đặt ra cho toàn xã hội Việt Nam hiện nay.

     

    1. Những nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay
    • Trước hết, các giá trị cần được lựa chọn để định hướng cho thanh niên sinh viên hiện nay phải đáp ứng được mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ phục vụ đất nước, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra. Muốn thực hiện điều đó, giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội giữ vai trò quyết định, nó là nền tảng điều chỉnh mọi hành vi của sinh viên, xác định thái độ lựa chọn và ứng xử trước những biến động to lớn do cơ chế thị trường đặt ra.
    • Thứ hai, khi tiến hành giáo dục lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta không thể tách rời khỏi việc giáo dục thế giới quan cách mạng và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho sinh viên. Bởi vì, nhận thức đúng là yếu tố cốt lõi tạo niềm tin có căn cứ khoa học. Tuy nhiên, thế giới quan và nhất là nhân sinh quan giai đoạn cách mạng hiện nay đã được bổ sung nhiều nhân tố mới do chính cuộc sống mang lại.
    • Thứ ba, một nội dung khác nữa khi giáo dục đạo đức cho thanh niên sinh viên hiện nay, là tạo dựng ý thức cộng đồng, tinh thần khoan dung, mình vì mọi người, chống chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, bảo vệ môi trường sống. Tinh thần khoan dung và ý thức cộng đồng là kết tinh của các giá trị truyền thống, nó được hình thành trong lịch sử chống giặc ngoại xâm và dựng nước của dân tộc, tinh thần ấy tạo nên sức mạnh tiềm ẩn bên trong của con người Việt Nam. Biểu hiện cụ thể, sinh động là bằng nhiều hình thức giáo dục cho sinh viên ý thức tập thể, phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, phụng dưỡng những người có công với cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, bảo vệ của công, giữ vững kỷ cương, nội quy, quy chế ở trường cũng như nơi sinh sống.

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 14 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    • Thứ tư, sự tác động của khoa học, công nghệ đang làm cho đời sống kinh tế – xã hội có những bước chuyển biến mau lẹ. Để có thể thích nghi được với hoàn cảnh đó, đòi hỏi thế hệ sinh viên phải có tinh thần tự chủ nhạy bén, chấp nhận sự hy sinh, dám đương đầu khẳng định mình. Vì thế, một trí tuệ cao, thể chất cường tráng, ý chí mạnh mẽ chủ động trong công việc là những phẩm chất của thanh niên sinh viên, phải coi đó là những điều kiện để sau khi ra trường, họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra. Đây có thể được xem là nét đạo đức khác biệt hơn cả so với các giá trị đạo đức truyền thống.
    • Thứ năm, các mặt trái của cơ chế thị trường đang tác động sâu rộng lên mọi mặt của đời sống xã hội, có nguy cơ làm băng hoại những giá trị được hình thành lâu đời trong lịch sử. Vì thế, một trong những nội dung quan trọng của giáo dục đạo đức cho sinh viên là giáo dục đạo đức của văn hóa giao tiếp, những quan niệm lành mạnh về tình yêu lứa đôi, về hạnh phúc gia đình, về cái đẹp và đạo đức trong kinh doanh. Các giá trị nêu trên có ý nghĩa nhân văn to lớn khi các em bước vào cuộc sống sau này.
    1. Các hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay

    Việc xác định hình thức và lựa chọn ưu tiên các hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay là một yêu cầu khách quan của các chủ thể quản lý. Đây là công việc thường xuyên liên tục và có tính hệ thống thì mới có thể đào tạo ra được những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng trường đại học chỉ có nhiệm vụ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ cao thuộc từng lĩnh vực, tuy nhiên, đây là yêu cầu quan trọng nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần yêu cầu người cách mạng phải vừa có Tài và Đức, vừa “Hồng” vừa “Chuyên”. Theo chúng tôi, để chuyển tải những nội dung cần giáo dục cho sinh viên có thể sử dụng các hình thức cơ bản sau đây:

     

    • Giáo dục đạo đức mới thông qua giảng dạy học tập các môn học lý thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể nói chức năng và nhiệm vụ cơ bản của các môn học lý luận nói chung là xây dựng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng cho người học. Nó được hình thành trên cơ sở hệ thống các tri thức, các nguyên lý và quy luật. Tất cả các môn học lý luận: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh đều thực hiện chức năng phương pháp luận, hình thành niềm tin, đây là yếu tố then chốt của nền đạo đức mới của sinh viên. Tình hình đó đặt ra yêu cầu rất nặng nề cho hệ thống những người làm công tác giảng dạy môn học này, nó đòi hỏi, một mặt phải có kiến thức sâu, rộng ở nhiều lĩnh vực, mặt khác, phải có khả năng truyền tải hệ thống thông tin đến cho người học một cách khác, đó là nghệ thuật truyền đạt, khả năng sư phạm phù hợp cho từng đối tượng. Chính vì thế, yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học này là một yêu cầu bắt buộc.

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 15 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    • Cũng cần lưu ý, giáo dục đạo đức, không chỉ thông qua các môn học lý luận, thực tế cho thấy, việc hình thành nhân cách con người phụ thuộc rất nhiều đến nghề nghiệp. Sự tinh thông nghiệp vụ, thành thạo về chuyên môn là biểu hiện đạo đức cao đẹp của từng cá nhân, họ ý thức về trách nhiệm, bổn phận về một công việc cụ thể là điều kiện để tạo nên ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ trước người thân, gia đình, quê hương và cao hơn là dân tộc và Tổ quốc. Do vậy, các khoa đào tạo chuyên môn cũng có trách nhiệm tham gia theo cách riêng của mình, để xây dựng nền đạo đức mới cho sinh viên. Kinh nghiệm cho thấy trường nào, khoa nào quan tâm nhiều hơn đối với vấn đề này thì tình hình sẽ tốt hơn. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng. Chẳng hạn, các yêu cầu về năng lực, về trình độ, về khả năng để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, tôn vinh những người có trình độ uyên thâm thuộc một lĩnh vực nào đó.
    • Hình thành nên hệ thống đạo đức mới hiện nay cho sinh viên phụ thuộc nhiều yếu tố; trong đó phải kể đến những đặc trưng của tuổi thanh niên. Sinh viên thông thường có độ tuổi từ 18-25 tuổi, ở độ tuổi này họ có nhiều mặt tích cực song cũng có nhiều mặt hạn chế. Mặt tích cực của họ đó là lòng nhiệt tình, nhạy cảm trước cuộc sống, ước mơ cháy bỏng, quyết tâm thực hiện cho được những hoài bão của bản thân, chân thành, cởi mở trong ý nghĩa việc làm, dám chấp nhận hy sinh… Tuy nhiên đối lập với các đức tính ấy lại là những hạn chế của tuổi trẻ, đó là tính bồng bột chủ quan, hấp tấp vội vàng, nhẹ dạ cả tin, gặp khó khăn dễ hoang mang, dao động, dễ bị kích động, thiếu tự chủ do kinh nghiệp sống còn hạn chế… Tình hình như thế, lấy hình thức hoạt động tập thể để giáo dục đạo đức cho sinh viên sẽ mang lại hiệu quả to lớn. Bởi vậy, vai trò của tổ chức Đảng, đoàn thể có một ý nghĩa quan trọng. Sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Đảng ủy và các Cấp ủy Đảng, các hoạt động thiết thực bổ ích, tạo sân chơi, chẳng hạn như sinh hoạt khoa học, thể dục, thể thao, văn hóa nghệ thuật, thăm di tích lịch sử, các hoạt động trở về cội nguồn… của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên sẽ là môi trường tốt hình thành đạo đức mới cho thanh niên sinh viên.
    • Trong sự nghiệp giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ Đảng viên và nhân dân trước đây, Bác Hồ thường sử dụng gương “người tốt việc tốt”, một phong trào có tính quần chúng và tác động sâu rộng trong nhân dân. Vì vậy, nên chăng việc giáo dục đạo đức cho sinh viên cũng rất cần hình thức nêu gương. Các cán bộ Đảng viên, thầy giáo, bằng lối sống trong sáng, tận tụy trong công việc, bằng vốn hiểu biết sâu rộng, bằng sự công minh có tình có lý trong đối xử với sinh viên, sẽ có tác dụng cảm hóa, hình thành nhân cách tốt cho sinh viên. Công tác thi đua khen thưởng phải kịp thời nhằm khuyến khích những sinh viên có thành tích trong các phong trào học tập, rèn luyện về nhiều mặt cũng là một hình thức nêu gương. Chúng tôi cho rằng, nêu gương đúng, hợp lý sẽ có tác dụng to lớn hơn nhiều so với lối lý thuyết một chiều, xơ cứng.

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 16 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    3.                 Giáo dục đạo đức, lối sống pháp luật cho học sinh trong nhà

    trường:

     

    Vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở tỉnh ta mấy năm gần đây đã trở thành điểm nóng không chỉ của ngành giáo dục mà còn của toàn xã hội. Các hành vi lệch chuẩn về đạo đức trong học sinh, sinh viên ngày càng gia tăng. Ở đâu một hình mẫu lý tưởng cho tuổi học trò ? Và làm thế nào để các em học sinh, sinh viên định hình cho mình một phong cách sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức đúng lứa tuổi ?

     

    Tác động từ nhiều phía.

     

    Hiện nay, ở vào thời kì hội nhập nhiều học sinh, sinh viên có ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão khát vọng lớn. Tuy nhiên, cũng dưới tác động của nền kinh tế thị trường và cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác, hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng. Một số hành vi vi phạm pháp luật của học sinh, sinh viên khiến gia đình và xã hội lo lắng như: vi phạm giao thông, đua xe trái phép, bạo lực nhà trường, quay cóp bài, mua điểm, cờ bạc, nghiện rượu, trong gia đình trẻ em thiếu kính trên nhường dưới, không vâng lời cha mẹ, người lớn….Một số hành vi lệch

     

    chuẩn khác về mặt đạo đức như: sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, xa hoa, lãng phí, lười lao động và học tập, thiếu ý thức rèn luyện, không dám đấu tranh với cái sai, thờ ơ vô cảm, vị kỷ …cũng ngày càng nhiều hơn ở đối tượng còn ngồi trên ghế nhà trường.

     

    Những phẩm chất xấu ấy là kết quả sự giáo dục không đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường thường chú trọng tới nề nếp kỷ cương với nội quy, những bài học giáo huấn, không chú ý đến hành vi ứng xử thực tế. Chương trình sách giáo khoa quá ôm đồm, nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn để hình thành nhân cách cho học sinh. Trong khi đó, chương trình giáo dục đạo đức xuyên suốt từ giáo dục lễ giáo ở bậc mầm non, đạo đức ở bậc tiểu học, giáo dục công dân ở bậc trung học, có đầy đủ tất cả những bài học về các giá trị đạo đức. Nhưng hệ thống lại không thấy rõ phẩm chất nào là trọng tâm, chỗ nào cần nhấn mạnh. Chương trình học rất nhiều nhưng rất khó nhớ, khó nhập tâm. Bên cạnh đó giáo viên hiện nay chỉ lo truyền thụ kiến thức, học sinh thì cố gắng đạt điểm cao trong học tập nhưng quan hệ thầy trò nhợt nhạt. Về nhà, cha mẹ bận lo công việc, các em không được trang bị những kỹ năng tối thiểu cũng như cách ứng xử trong cuộc sống. Lứa tuổi học trò là tuổi ước mơ và sống vì lý tưởng nhưng hiện nay, họ không có một mẫu người lý tưởng. Chính vì thế, những mối tình sét đánh, những nhân vật ăn chơi sành điệu, những sát thủ tàn bạo trên phim ảnh đã thành thần tượng của biết bao cô cậu học trò.

     

    Hiện nay, số lượng trẻ vị thành niên nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng phạm pháp đang gia tăng theo xu hướng trẻ hóa và mức độ tội lỗi ngày càng nghiêm trọng. Có rất nhiều nguyên nhân từ phía: Gia đình – Nhà

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 17 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    trường – Xã hội … đã xô đẩy các em rơi vào vũng bùn tội lỗi. Trong đó, tình trạng tổ ấm gia đình bị tan nát, cách nuôi dạy con phản khoa học và sự thiếu gương mẫu của các bậc cha mẹ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thanh thiếu niên phạm tội. Bên cạnh đó, hình ảnh người thầy ít nhiều bị lu mờ trong nền kinh tế thị trường đầy biến động hết sức phức tạp cũng là một nguyên nhân khiến học sinh – sinh viên không biết lấy đâu làm “điểm tựa” để phấn đấu, một khi vai trò của người thầy không còn được đề cao như trước thì việc giáo dục đạo đức, lối sống trong bộ phận học sinh – sinh viên hiện nay cũng là vấn đề rất đáng được quan tâm. Việc tuyển chọn sinh viên vào các trường sư phạm, việc tuyển dụng giáo viên đang nặng về trình độ học lực, xem nhẹ lòng yêu nghề, chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng sư phạm và nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo. Tấm gương sáng về tinh thần vượt khó tự học tự rèn, hết lòng vì học sinh, lối sống gương mẫu, ý thức kỷ luật, năng lực chuyên môn của người thầy đã – đang và mãi mãi có sức hút lớn nhất, mạnh mẽ nhất, cao quý nhất đối với tất cả học sinh, sinh viên. Vì thế hơn ai hết, các thầy cô giáo phải là những người tiên phong trong việc giáo dục lối sống, đạo đức, pháp luật cho các em.

     

    Giải pháp mô hình

     

    • nhà trường chương trình sách giáo khoa giáo dục công dân bậc phổ thông cần phải có những thay đổi quyết liệt hơn nữa. Cần dạy học sinh những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu “tầm chương trích cú” không còn phù hợp, cần phải đưa HS-SV vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong nhà trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá học sinh thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Các trường học nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm học sinh hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Với học sinh THPT cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho học sinh rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người … Giáo viên phải tự tìm cho mình những phương pháp dạy học tốt nhất nhằm giúp học sinh có kỹ năng ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Cần phát huy thế mạnh của các phương pháp như sắm vai (đóng kịch), thảo luận, tổ chức trò chơi, đề án, “Thực tế cho thấy học sinh rất thích học môn giáo dục công dân vì trong giờ học các em được bày tỏ ý kiến. Điều quan trọng là thầy cô phải là gương sáng mọi lúc mọi nơi để học sinh noi theo”.
    • gia đình, các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 18 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ?

     

    Ra ngoài xã hội, lớp trẻ mà cụ thể ở đây là HS-SV cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm?

     

    Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước.

     

    4.                 Vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hóa gia đình truyền

    thống:

     

    Sau 15 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong giai đoạn phát triển này, tiếp tục phát triển kinh tế thi trường định hướng XHCN đã được Nghị quyết Đại hội IX của Đảng xác định là nhiệm vụ trung tâm. Nền kinh tế thị trường đó đã và vẫn đang có ảnh hưởng sâu sắc cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã hội nước ta, tới hệ thống các giá trị và quy phạm đạo đức, trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thống.

     

    Dưới tác động của kinh tế thị trường nhiều giá trị đạo đức truyền thống và nếp sống văn hoá gia đình đã có sự vận động và biến đổi phức tạp. Bên cạnh những giá trị đạo đức mới, nếp sống văn hoá gắn liền với quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 19 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    văn hoá gia đình truyền thống bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi. Trên thực tế ở nhiều nơi, nhất là ở các đô thị lớn, gia đình đã có những đấu hiệu của sự khủng hoảng. Các mối quan hệ gia đình truyền thống, nhưng nếp sống văn hoá gia đình truyền thống tốt đẹp đang bị lấn át bởi những quan hệ hàng hoá, thị trường, lợi nhuận, bởi những lối sống lai căng, kệch cỡm, xa lạ, thiếu văn hoá. Trong bối cảnh đó, vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống Vãn hoá gia đình truyền thống đang trở nên bức bách và hết sức cần thiết. Đó là vấn đề mà chúng tôi muốn đề cập tới trong bài viết này.

     

    Theo tiến trình của sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, thiết chế gia đình Việt Nam đang có sự chuyền tiếp từ truyền thống sang hiện đại. Nhìn chung, nếp sống văn hoá trong gia đình Việt Nam truyền thống vẫn giữ được sự ổn định của nó và được cả cộng đồng xã hội tôn trọng. Sống gắn bó với gia đình trong môi trường văn hoá truyền thống và với những mối quan hệ đạo đức đã trở thành chuẩn mực xã hội vẫn là lối sống được nhiều người tán đồng, khẳng định và coi đó là đạo lý.

     

    Tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cộng với sự hấp dẫn của đời sống đô thị khi mà quá trình đô thị hoá diễn ra với một quy mô rộng lớn và tốc độ nhanh đến chóng mặt, nếp sống gia đình Việt Nam truyền thống đang phải đối mặt với nguy cơ bị mai một dần. Sự gắn bó với nhau giữa các thành viên trong gia đình trở nên lỏng lẻo hơn. Một số thành viên trong các gia đình nông thôn, nhiều nhất là thanh niên, đã rời bỏ nông thôn, từ bỏ nghề nông để đổ xô về thành phố, thị xã, thị trấn tìm kiêm việc làm, sinh sống ngày một đông. Theo quy luật phát triển xã hội, đây là một hiện tượng tất nhiên và do đó, cũng là rất tự nhiên. Song, điều đáng quan tâm là sự rời bỏ nông nghiệp, nông thôn của lực lượng lao động này đã tạo ra không ít biến động trong nếp sống cổ truyền của đông đảo gia đình. Sự phân tán về nơi cư trú và cách kiếm sống, lối sống thị thành mới được hấp thụ ở lực lượng này đã khiến cho sự gắn bó, mối liên kết vốn rất chặt chẽ và bền vững giữa họ với các thành viên trong gia đình cũng đần có phần bị lơi lỏng và ngày càng trở nên lỏng lẻo hơn. Hiện tượng những người già có ruộng vườn nhưng lại thiếu người chăm sóc, khá đông con nhưng lại phải sống cô đơn xuất hiện ngày một nhiều. Không phải ai trong số những người rời bỏ nông nghiệp, nông thôn ra thành phố kiếm sống cũng có khả năng hội nhập thực sự vào cuộc sống đô thị và do vậy, ở họ luôn có nhiều lối sống khác nhau và sự gắn kết giữa họ với nhau đã hình thành nên một thế hệ gia đình có những điểm không giống với gia đình Việt Nam truyền thống. Thế hệ những gia đình này vừa có cái gì đó rất nông dân, lại vừa có cái gì đó mang dáng dấp của lối sống công nghiệp.

     

    Trong bối cảnh đó, một số giá trị đạo đức trong gia đình Việt Nam truyền thống đã được nhìn nhận theo một cách khác. Bên cạnh những người vẫn giữ được lòng hiếu thảo với cha mẹ, vượt lên khó khăn, sống có hoài bão,

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 20 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    đã xuất hiện lối sống thực dụng, phóng đãng, xem nhẹ hoặc không còn biết đến lòng hiếu thảo là gì. Cũng đã có không ít người vội quên đi cuộc sống vất vả, khó khăn nơi thôn dã mà trước đó ít lâu họ đã nếm trải để chạy theo lối sống phung phí tiền bạc, lạnh lùng, thậm chí coi thường và xa lánh nhưng người có cuộc sống hiện còn nghèo khó.

     

    Dưới tác động của kinh tế thị trường, của lối sống thị thành, gia đình Việt Nam xưa vốn là một gia đình hài hoà, trong đó cùng chung sống dưới một mái nhà có cả ông bà, cha mẹ lẫn con cái, ba thế hệ này chung sống với nhau, bổ sung cho nhau những thiếu hụt của mỗi lớp tuổi đời (con cháu cần sự chăm sóc của bố mẹ, ông bà, ông bà có nhu cầu trông nom đàn cháu cho vui, trông cậy con cháu lúc tuổi già, con cháu lấy ông bà làm nơi nương tựa về tình cảm, nguồn cung cấp kinh nghiệm sống…) nay đã có nguy cơ tan vỡ. Xu hướng thích ra ở riêng ngay từ khi mới lập gia đình ngày càng trở nên phổ biến. Mặt tất cần được khẳng định của xu hướng này là ý chí tự lập của mỗi người được đề cao, song ảnh hưởng xấu của nó cũng không nhỏ. Mỗi gia đình nhỏ luôn cố tìm cho mình một tổ ấm riêng và trong cái tố ấm ấy, thành viên nào cũng cố tìm cho mình một không gian riêng. Với cách sống đó, quyền tự do cá nhân được tôn trọng, song mối quan hệ huyết thống lại dần dần bị phai nhạt. Bố mẹ, anh em, bà con họ hàng ít có dịp gặp nhau và gần như quanh năm chỉ là những câu thăm hỏi xã giao qua thư từ, điện thoại. Với cha mẹ già, phần đông nam nữ thanh niên đều cho rằng chỉ cần đóng góp tiền để phụng dưỡng là kể như đã tròn bổn phận của đạo làm con. Chữ hiếu đã được không ít người hiểu một cách lạnh lùng như chính đồng tiền của họ.

     

    Cùng với đó, kinh tế thị trường còn tạo ra một lối sống mới mà không ít người coi đó là “mốt” – lối sống hưởng thụ mà đi kèm với nó là tâm lý tiêu dùng. Với lối sống và tâm lý ấy, các giá trị vật chất đang ngày càng lấn át các chuẩn mực đạo đức và phẩm cách con người, nhiều phong tục, nếp sống gia đình truyền thống và đạo lý cổ truyền bị mai một, xâm hại. Nếu trước đây người ta trọng lối sống cần kiệm, thì nay trong nền kinh tế thị trường, người ta lại ra sức tiêu xài, phung phí, chạy theo tiện nghi. Chủ nghĩa tiêu dùng đã được một số người coi như một hệ tư tưởng mới. Sự tiêu dùng phung phí được xem là biểu hiện thành công đối với cá nhân, gia đình và xã hội, dẫu rằng nó không phải là nhu cầu tiêu dùng hợp lý, trong khi nhu cầu phát triển tinh thần lại rất thấp. Việc tiêu đùng được gán cho những giá trị văn hoá lớn hơn thực tế, thậm chí có khi đó chỉ là nhưng giá trị ảo, dễ làm hoa mắt những người ít hiểu biết hay có trình độ học vấn, thẩm mỹ không cao. Sự du nhập các giá trị phương Tây do việc mở cửa, hội nhập kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường đã khiến cho một số người có cách nghĩ và lối sống không thích hợp với cả hiện trạng kinh tế lẫn truyền thống văn hoá của con người Việt Nam. Những tư tưởng vọng ngoại, sùng ngoại ấy đang làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, của gia đình Việt Nam truyền thống. Và chính nhưng giá trị ngoại nhập mà nhiều khi là giả tạo này

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 21 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    đang tạo ra nhiều nét đứt gãy trong lối sống gia đình Việt Nam truyền thống. Nguy hại hơn, nó đã tạo ra sự chia ly, xung đột giữa vợ và chồng giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em trong một gia đình. Cách tiêu xài, lối sống buông thả, tự do, phóng túng kiểu âu Mỹ thâm nhập vào nước ta qua con đường phim ảnh, băng đĩa nhập lậu, khách du lịch… đã dẫn đến lối sống ăn nhậu bê tha, quan hệ tình cảm bừa bãi, sống thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội ở một số người, nhất là ở thành phố. Có những người biết rõ cách sống đó không hợp với đạo lý dân tộc, với thuần phong mỹ tục và nếp sống gia đình Việt Nam truyền thống nên chỉ chạy theo một cách lén lút, nhưng cũng đã có một số người coi đó là văn minh, là hiện đại và công khai cày tỏ sự đắc chí thấp hèn của mình. Số người này không nhiều nhưng những tác động xấu mả họ gây ra thì lại không chỉ giới hạn ở bản thân họ và gia đình họ. Đã có không ít gia đình đổ vờ, chia ly chỉ vì lối sống được gọi là âu – Mỹ đó.

     

    Cùng với lối sống hưởng thụ và tâm lý tiêu dùng trong môi trường kinh tế thị trường mà lợi nhuận là cái được đề cao đã hình thành, nảy sinh và định hình một lối sống hám lợi. Với lối sống này, từng cá thể, mỗi gia đình hay sự liên kết giữa chúng thành êkíp làm giàu bằng mọi cách, thậm chí còn bất chấp cả luật pháp, đạo lý, tình nghĩa. Vì lợi nhuận mà đã có gia đình trong đó cha mẹ, con cái, anh chị em cùng làm ăn bất chính hay lừa đảo lẫn nhau, đẩy cả gia đình rơi vào bi kịch. Sự cám dỗ của đồng tiền và nhu cầu kiếm tiền bằng mọi cách đã làm không ít người choáng ngợp, sẵn sàng chà đạp lên luân thường đạo lý. Trong gia đình và xã hội xuất hiện ngày càng nhiều nghịch cảnh. Quan niệm có tiền là có tất cả đã khiến người ta quên mất rằng tiền bạc đâu có làm nên hạnh phúc. Đồng tiền dẫu có là một trong những phương tiện mang đến hạnh phúc gia đình nhưng lại chưa bao giờ là hạnh phúc cả. Bởi giàu có thì dễ hoang tàng, xa xỉ, sa đọa chơi bời, trác táng và hệ quả tất yếu là tan nhà nát cưa, vợ chồng chia ly, con cái hư hỏng. Quan niệm “tiền trao cháo múc”, mối quan hệ “trả tiền ngay không tình không nghĩa” đã có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục các giá trị nhân văn chân chính, giáo dục đạo lý truyền thống trong gia đình.

     

    Thêm vào đó là lối sống ích kỷ. Ở nước ta, lối sống này dẫu chưa phải đã đến mức trầm trọng, phổ biến, nhưng nó đã bắt đầu nảy sinh, xuất hiện trong một số gia đình. Thực ra, lối sống ích kỷ ở thời nào cũng có, nhưng nếu trước đây nó chỉ có ở những gia đình giàu có, thiếu giáo dục thì nay lại không hoàn toàn như vậy. Trong nền kinh tế thị trường, để có cơ hội làm giàu, kể cả làm giàu chính đáng, phần lớn các gia đình Việt Nam, cả ở thành phố lẫn nông thôn, đều ưa thích mô hình gia đình ít con. Nhưng có lẽ cũng vì ít con nên xu hướng chung của các gia đình này là tập trung mọi tình cảm, vật chất cho con, nhất là khi con còn nhỏ. Điều đó là đúng, song cũng vì thế mà trên thực tế, một hệ quả tất yếu đã xảy ra đó là không ít trẻ vị thành niên trở nên ích kỷ một cách lạ thương, không biết đến ai ngoài bản thân mình, đòi hỏi ở bố mẹ cả những cái không thể đáp ứng và một khi những đòi hỏi ấy của

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 22 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    chúng được cha mẹ đáp ứng một cách dễ dàng, nhanh chóng, đã khiến chúng không hiểu đúng, lại càng không đánh giá đúng công sức cũng như ý nghĩa của thành quả lao động mà bố mẹ chúng đã phải “hai sương một nắng” mới kiếm được. Số trẻ ấy nếu không được quan tâm dạy đỗ tốt sẽ thiếu bản lĩnh vào đời sống trên đời với thói quen ỷ lại, dựa dẫm và rất dễ phản kháng một khi nhu cầu của chúng không được đáp ứng. Trên thực tế, đã có không ít gia đình xung đột thậm chí có khi tan vỡ bởi sự nuông chiều con cái không đúng mà bản thân họ vừa là thủ phạm, vừa là nạn nhân.

     

    Những điều nói trên cho thấy, trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống đang diễn ra theo hai xu hướng đối lập nhau. Đó là: trong nhiều gia đình, các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy, song ở một số gia đình, nhất là những gia đình đang sống tại các thành phố, thị xã, thị trấn, các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống ấy đang có xu hướng bị mai một, bị xâm hại bởi sức mạnh hư ảo của các giá trị và lối sống ngoại nhập, bởi những quan hệ hàng hóa, thị trường, lợi nhuận, bởi lối sống hưởng thụ và tâm lý tiêu dùng, hám lợi, ích kỷ. Và do vậy, nhận thức và hành động của cộng đồng, xã hội và gia đình cũng diễn ra theo hai xu hướng đối lập nhau. Những người muốn mở rộng cửa để tiếp thu tinh hoa văn hoá tiến bộ của nhân loại thì tỏ ra e ngại với các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống, coi nó là những di sản của quá khứ, là cái cản trở mọi sự tiến bộ và phát triển. Những người ủng hộ việc bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống thì lại muốn sử dụng các chuẩn mực của quá khứ với hy vọng có thể ngăn chặn được làn sóng văn hoá và các lối sống mà họ cho là không thích hợp, độc hại đang tràn đến từ bên ngoài.

     

    Thực tiễn của những năm đổi mới, phát triển kinh tế thị trường ở nước ta vừa qua cho thấy, thông qua việc mở rộng quan hệ, chúng ta đã tiếp thu được nhiều thành tựu văn minh của nhân loại, làm phong phú thêm nền văn hoá và đời sống tinh thần dân tộc. Nhưng mặt khác, cũng trong quá trình mở cửa, hội nhập, sự xâm nhập của văn hoá và lối sống ngoại lai đã làm cho một số giá trị văn hoá, đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống co nguy cơ bị mai một. Trong đời sống xã hội, ở một số gia đình đã có những biểu hiện coi nho, thậm chỉ loại bỏ các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống, chạy theo những lối sống xa lạ, lai căng kệch cỡm. Đặc biệt, “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp”.

     

    Nhận thức rõ thực trạng ấy, với quan niệm gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo đục nếp sống và hình thành nhân cách, Đảng ta đã khẳng định: “Chính sách

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 23 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ.

     

    Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đôi với mọi lớp người”.

     

    Là cái tồn tại bền vững trong mọi hình thái kinh tế – xã hội, là một tế bào của xã hội, gia đình mãi mãi là cái nôi nuôi dưỡng, bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn con người từ nhỏ đến lúc trưởng thành. Là trường học đầu tiên giáo dưỡng nhân cách và lối sống có văn hoá, có đạo lý cho con người. Gia giáo bao giờ cũng đi trước giáo dục xã hội. Vinh dự và trách nhiệm của gia đình là cung cấp cho xã hội những công dân ưu tú cả về tài năng lẫn đạo đức.

     

    Là một tổ ấm tình cảm, gia đình trong kinh tế thị trường và trước sự xâm lấn của thứ văn hoá không lành mạnh, của lối sống ngoại lai, ngày càng phải thế. Trong gia đình ấy, mọi thành viên cần phải dựa vào nhau, an ủi, khuyến khích, động viên nhau, chia sẻ với nhau mọi nỗi đau buồn và vui sướng. Nó không thể chỉ là một “đơn vị kiếm sống”, càng không thể là một “quán trọ” cho những tâm hồn cô đơn và lối sống tạm bợ. Nó cần phải được xây dựng bền vững, trở thành niềm vui và hạnh phúc cho mỗi con người khi mà ở đó, các giá trị đạo đức và lối sống gia đình truyền thống tốt đẹp được báo tồn và phát huy.

     

    Giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thống cho mọi người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay phải nhằm nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân

     

    • gia đình – làng xã – Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống; tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ. Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội phải được coi là nhiệm vụ trọng yếu.

    Giáo dục đạo đức và nếp sống gia đình văn hoá truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay ngoài việc tổ chức và tập hợp đông đảo các tổ chức, đoàn thể xã hội, cộng đồng và gia đình cùng tham gia tích cực vào công tác này, theo chúng tôi, chúng ta còn phải tạo ra những “sân chơi” mới, thích hợp và hấp dẫn đối với mọi người, nhất là lớp trẻ; phải kiểm tra, kiểm soát các sản phẩm văn hoá, tìm cách chọn lọc và xử lý các thông tin văn hoá từ nước ngoài du nhập vào. Vai trò truyền thống và giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống, đạo lý và nếp sống gia đình văn hoá phải được chú trọng. Lồng ghép việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống gia đình văn hoá vào các hoạt động thường ngày của con người, nhất là lớp trẻ, từ học tập lao động đến vui chơi, giải trí. Cùng với đó phải tạo ra một môi trường sống lành mạnh ở gia đình và xã hội. Trước hết, chúng ta phải giải quyết từng bước các điều kiện tồn tại của gia đình như nhà ở, việc làm, đồng

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 24 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    thời xây dựng các quan hệ ứng xử sao cho thích hợp với mọi lứa tuổi, với vai trò và trách nhiệm của mỗi thành viên trong trật tự gia đinh. Nhớ ơn bố mẹ, kính trọng ông bà, thương yêu con cháu, anh em đùm bọc, vợ chồng hoà thuận là nhưng tình cảm tự nhiên, tốt đẹp, xuất hiện trong xã hội truyền thống cần phải được giữ gìn, củng cố và phát huy mạnh mẽ. Xây dựng gia đình văn hoá mới cần nối tiếp các giá trị văn hoá, đạo đức, nếp sống truyền thống tốt đẹp, đồng thời xây dựng nền nếp gia đình dân chú, tôn trọng nhau, cùng nhau bàn bạc và quyết định, khắc phục thái độ độc đoán, gia trưởng, bất bình đẳng của các quan hệ gia đình trong xã hội cũ. Chỉ có thế, mỗi chúng ta, mỗi gia đình mới có đủ sự sáng suốt và năng lực để tiếp tục chuyển tiếp các giá trị đạo đức và nếp sống gia đình truyền thống tốt đẹp cho thế hệ mai sau.

     

    Có thể nói, đề trong mỗi chúng ta và thế hệ con cháu chúng ta ai cũng có: ý thức cộng đồng, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội, có năng lực “tự hoàn thiện nhân cách” chúng ta cần phải “nêu cao trách nhiệm của mình, có lối sống văn hoá, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Vì vậy, giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thống trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN cần phải được xác định là nhiệm vụ có vị trí chiến lược lâu dài.

     

    • THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở NƯỚC TA.

    1. SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC

     

    Số HS vi phạm pháp luật, thiếu lễ độ với người lớn, nói tục, gây gổ đánh nhau, không trung thực, ích kỷ, ham chơi, đua đòi… ngày càng nhiều. Chưa bao giờ công tác giáo dục đạo đức HS khó khăn như hiện nay! Vấn đề này được đưa ra phân tích tại hội thảo “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường” do Sở GD-ĐT TP.HCM tổ chức ngày 21-12.

     

    “Bạn bè em hầu hết đều biết hết mọi thứ về chuyện quan hệ tình dục, biết nhiều hơn người lớn tưởng. Em học lớp 9, đã có bạn trai. Em chưa quan hệ vì sợ hậu quả. Nhưng bạn bè em cho rằng ở tuổi này đứa nào không thử quan hệ là không sành điệu, là nhà quê”… Đây là nội dung một bức thư được gửi đến thạc sĩ phát triển cộng đồng Nguyễn Thị Oanh và bà dẫn ra câu chuyện này để nói đến sức ép của những thứ “chuẩn mực ngầm” đang chi phối lớp trẻ.

     

    “Chưa bao giờ ngành giáo dục gặp khó khăn trong việc giáo dục đạo đức như lúc này. Chuyện học sinh cầm xe lấy tiền đi Internet, cầm đồ khắp nơi, trộm cướp tài sản lấy tiền tiêu xài ngày càng nhiều…” – tham luận của Phòng GD-ĐT quận Tân Bình dẫn ra một thực tế xuống cấp đạo đức trong nhiều HS như thế. Trong khi đó, chương trình giáo dục đạo đức lại chưa thể hiện được vai trò quan trọng của môn này.

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 25 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    • bậc tiểu học, mỗi tuần học sinh học một tiết đạo đức. Học sinh lớp 3 được dạy bài đạo đức tựa đề “Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế”, học sinh lớp 5 học bài “Tìm hiểu về Liên Hiệp Quốc”! Lên bậc THCS, với 75 bài học từ lớp 6 đến lớp 9, thời lượng cho môn giáo dục công dân cũng chỉ 26 tiết/năm, trong đó số tiết đạo đức chỉ có 12-15 tiết. Học sinh lớp 7 học về bộ máy nhà nước cấp cơ sở, học sinh lớp 8 học về quyền sở hữu tài sản, học sinh lớp 9 học về quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế, quyền và nghĩa vụ công dân trong hôn nhân… với đầy những từ ngữ khó hiểu, không phù hợp và chưa cần thiết với lứa tuổi 12-15.
    • bậc THPT, nghịch lý hơn khi học sinh lớp 11 và 12 không có tiết học đạo đức nào. Chương trình giáo dục công dân lớp 10 (29 tiết/năm) rất nặng nề về kiến thức với hai phần triết học và đạo đức gồm các nội dung trừu tượng, hàn lâm: các phạm trù đạo đức cơ bản, khái niệm và các giá trị đạo đức; vật chất, ý thức, tồn tại xã hội, ý thức xã hội, phương pháp luận biện chứng…

    Chính điều này làm học sinh thiếu hứng thú và hiệu quả giáo dục không cao.

     

    Rất nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng chương trình giáo dục đạo đức nói chung rất phong phú, rất nhiều bài học nhưng chương trình chưa xác định rõ những phẩm chất cơ bản của nhân cách con người VN như thế nào. Các bài học nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng sống, chưa tạo được dấu ấn trong lòng trẻ, hình thành nhân cách không rõ nét, trẻ dễ bị tác động hoàn cảnh xã hội.

     

    “Bậc tiểu học, học sinh thích thơ, tranh ảnh, mà chương trình chúng ta toàn câu chữ khô khan. Học sinh bậc trung học cần những thực tế sinh động, chúng ta chỉ có toàn lý thuyết. Chúng ta dạy nhiều nhưng cái gì cơ bản? Tôi hỏi các tác giả sách cũng không biết cái nào cơ bản! Đây chính là cái yếu nhất của chương trình” Ông HUỲNH CÔNG MINH (giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM)

     

    Theo báo cáo của Sở GD-ĐT TP.HCM, học sinh được đánh giá đạo đức khá tốt (trên 98%). Kết quả này đúng với tình hình thực tế xã hội hay không là vấn đề cần bàn thêm. Đó là ý kiến từ hội thảo, bởi rõ ràng ngày càng nhiều tình trạng học sinh đánh nhau, vi phạm luật, vô lễ với người lớn, ham chơi… Vấn đề đặt ra là chuẩn đánh giá đạo đức học sinh như thế nào cho phù hợp?

     

    Cần đánh giá qua hành động, sự chuyển biến của học sinh sau bài học chứ không phải đánh giá qua “trả bài”. Hệ thống chuẩn mực đánh giá hiện nay chưa thật sự phát huy phương pháp dạy học tích cực.

     

    Bà Vũ Thị Phương Chi – hiệu trưởng Trường THCS Minh Đức – kiến nghị với Bộ GD-ĐT: “Cần xác định cụ thể hệ thống những giá trị đạo đức cần trang bị cho HS từng cấp học, bậc học, đảm bảo tính liên thông chặt chẽ. Nội dung chương trình môn đạo đức cần hướng HS vào những chuẩn mực đã xác định, phù hợp lứa tuổi học sinh, tránh ôm đồm quá nhiều nội dung”. Ông Huỳnh Công Minh – giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM – nói: “Cần xây dựng nội

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 26 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    dung chương trình theo hướng đồng tâm, tập trung vào những phẩm chất cơ bản của nhân cách và có tính liên thông cao”.

     

    Các ý kiến khác đề nghị nội dung nghiên cứu bỏ bớt các nội dung về luật pháp, bổ sung các nội dung giáo dục kỹ năng cho học sinh THCS và THPT. Qua từng nội dung bài cần lựa chọn tình huống dẫn dắt để HS tự nhận thức nét đẹp hành vi nhân cách. Đề nghị in sách bìa dày, giấy tốt, nhiều màu sắc…

     

    Có ý kiến đề xuất Bộ GD-ĐT cần biên soạn lại chương trình giáo dục công dân, cũng nên để từng địa phương soạn chương trình môn giáo dục công dân cho phù hợp thực tế địa phương mình. Tuy nhiên, từ góc nhìn khác, những yếu kém trong dạy đạo đức còn phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên môn học này. Theo nhận định của Sở GD-ĐT TP.HCM, tập thể sư phạm hiện chưa đồng đều, có cự ly trong việc đánh giá đạo đức học sinh qua từng hành vi.

     

    Một dẫn chứng thực trạng đạo đức học sinh:

     

    • 68% học sinh mê game, chat.
    • 46,6% ảnh hưởng từ phim: thích quen “hoàng tử” trong phim, có trang phục giống trong phim, thích chơi đô vật kiểu Mỹ…
    • 38,8% cho biết thường xuyên chửi thề, nói tục; 53,6% thỉnh thoảng

    nói tục.

     

    • 32,2% thường xuyên vô lễ với thầy cô. Nhiều học sinh chỉ chào thầy cô trong trường, còn ra đường thì… không quen biết.

    2. Nguyên nhân suy thoái đạo đức học sinh:

     

    Giáo dục đạo đức từ nhà trường đã có những điều bất ổn. Từ chuyện o ép học trò về dạy thêm, tiêu cực trong thi cử… đến những bất hợp lý, phi giáo dục, thiếu thực tế của sách giáo khoa.

     

    Dạy điều quá cao siêu

     

    Dư luận đã lên tiếng nhiều về chương trình quá tải. HS không theo kịp chương trình do nhiều nguyên nhân. Đầu tiên vì bệnh thành tích, HS được đưa lên lớp trên. Kiến thức cũ chưa nắm, làm sao theo kịp kiến thức mới? HS chán học, quay ra quậy phá trong lớp rồi kết băng nhóm gây sự với lớp khác. Ra đường, gặp băng nhóm khác, thế là các em về trường liên kết các nhóm gây chiến nhau, tạo nên bạo lực học đường. Người ta lại đổ lỗi cho gia đình không quan tâm, cho nhà trường không quản lý… Thế có ai đặt lại vấn đề: Chương trình giáo dục có tạo hứng thú để các em học, có đủ thực tế để các em thấy gần gũi?

     

    Ngày trước có bộ Quốc văn giáo khoa thư cùng những quyển như Tâm hồn cao thượng… với những bài viết đơn giản nhưng sinh động. Bên cạnh đó là những giờ luân lý rất thuyết phục. Thí dụ, chúng tôi hay châm chọc bạn H. mặc áo khín của chị. Tức thì hôm sau, giờ luân lý, cô giáo cho H. sang lớp

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 27 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    khác (cũng giờ luân lý nhưng đề tài khác). Tại lớp, chúng tôi nghe giảng hàng giờ về sự tôn trọng bạn bè, không nên làm tổn thương nhau. Từ đó, chúng tôi đối xử với H. thật bình đẳng, đầy yêu thương.

     

    Tại sao bây giờ chúng ta không dạy HS biết dẫn người già qua đường, không xả rác nơi công cộng, biết dạ thưa với người lớn, nhã nhặn cùng bạn bè….? Tại sao không dạy HS có trách nhiệm với gia đình, học đường, làng

     

    xóm… trước khi đòi hỏi các em nghĩa vụ nộp thuế (chương trình giáo dục công dân lớp 9). Tại sao không dạy các em tình thân yêu đùm bọc giữa những con người gần gũi trước khi cho các em biết về Liên Hiệp Quốc? (chương trình giáo dục công dân lớp 5).

     

    Thiếu sự đồng bộ, hợp lực

     

    Những tháng năm học tiểu học, học sinh luôn bị “dọa”: Nói tục, chửi thề, nói láo, quay cóp bài… là việc xấu, mai mốt chết, hỗn sẽ bị quỷ cắt lưỡi, ăn cắp sẽ bị quỷ chặt tay… Chúng ta đều sợ làm điều xấu. Lên trung học, chúng ta cũng không nói tục, chửi thề, quay cóp bài, ăn cắp vặt… cho dù chúng ta không còn tin vào quỷ ma nữa. Chúng ta đã có thói quen không làm việc xấu bên cạnh những thói quen biết cám ơn khi nhận của ai điều gì, biết xin lỗi khi phạm sai trái.

     

    Tâm hồn học sinh như trang giấy trắng, không thầy cô nào muốn các em chửi thề. Thế nhưng về nhà, trong xóm… người người chửi thề, ngay trong những chương trình tấu hài cũng nhan nhản những câu nói nhảm… Tại các gia đình, hình như nhiều bậc cha mẹ ít quan tâm đến việc uốn nắn các em những thói quen tốt.

     

    Một thực trạng đau lòng là trong khi thầy cô dạy học sinh không gian dối nhưng những lúc dự giờ, học sinh được phân công theo kiểu gian dối: Em X. hỏi câu A., em Y. hỏi câu B… Thậm chí em V. được giao công việc trả lời sai, hỏi ngớ ngẩn để giáo viên có dịp phô trương kiến thức! Nạn tuồn đáp án vào phòng thi không phải hiếm… Bố mẹ lại chạy điểm, chạy trường chuyên, lớp chọn cho con… Như vậy, học sinh học được gì từ người lớn bên cạnh những bài đạo đức khô khan thiếu thực tế?

     

    IV.       GIÁO DỤC ĐỒNG BỘ.

     

    Mặc dù càng ngày hệ thống giáo dục của chúng ta càng chuyển sang hướng đa dạng hoá, hoạt động với nhiều phương thức linh hoạt mềm dẻo hơn” gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, những tiến bộ xã hội và củng cố quốc phòng an ninh”.

     

    Tuy vậy cũng như kinh nghiệm của thế giới tuy có nhiều cách làm giáo dục, “có rất nhiều hình thức và phương thức giáo dục. Tuy nhiên giáo dục chính quy thể hiện các kiến thức và kĩ năng có tổ chức, có hệ thống phải có vị trí trung tâm trong tổ hợp giáo dục”. Vì thế, xét đến cùng muốn tạo nên sự

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

    GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG            – 28 –                                                   BÀI TẬP LỚN

     

    chuyển biến sâu rộng trong hệ thống giáo dục, cần ưu tiên xác định rõ ràng các nhiệm vụ ở nhà trường, trước hết là nhà trường chính quy.

     

    Toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân thông qua các hoạt động của mình nhằm “hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực của công dân Việt Nam: Tự chủ, năng động, sáng tạo, có kiến thức văn hoá, khoa học, công nghệ kĩ năng nghề nghiệp; có sức khoẻ, có niềm tự hào dân tộc và ý trí vươn lên; có năng lực tự học và thói quen học tập suốt đời, có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế xã hội, góp phần phần hiệu quả làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh, đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

     

    Với những yêu cầu đó chúng ta những người giáo viên nhà giáo dục không nhưng chỉ chuyên tâm vào việc tu dưỡng đạo đức cho học sinh mà còn phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ khác của giáo dục: Giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động và kĩ thuật. Nhằm tạo điều kiện đưa nền giáo dục nước nhà phát triển và hoàn thiện hơn, để học sinh có thể phát triển một cách toàn diện cả đức và trí đạt tới một nhân cách cao hơn.

     

     

     

     

     

     

    SV: NGUYỄN THỊ THU HIỀN 08CĐCN              GV:NGUYỄN THANH HUYỀN

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

     

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

     

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

     

    STT

    HỌ VÀ TÊN

    MSSV

    1

    LÊ HẢI HẬU( NT)

    41201037

    2

    HOÀNG HẢI TRIỀU

    21304310

    3

    TRƢƠNG QUỐC TUẤN

    61104030

    4

    PHẠM HOÀNG TRUNG

    31003674

    5

    LÊ HOÀNG QUÂN

    31303209

    6

    ĐÀO ĐỨC THẮNG

    20902537

     

     

    ĐỀ TÀI :

     

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

     

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

     

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

     

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

     

    Câu 1:

     

    ·        Cơ sở lý thuyết:

     

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     (

    )

       

    ( )

    (  )

       

    (

    (

    )

    (  ))

             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

     

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

     

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

     

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

     

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

     

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

     

    ( ku ) ‘ = ku

     

    x ‘ =1

     

    (uv ) ‘ = uv + uv

     

    æ 1

    ö

    v

    ç

     

    ÷

    = –

       
     

    v

    2

    è v

    ø

       

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

     

    æ u ö

    u v uv

    ç

     

    ÷

    =

       
     

    v

    2

    è v ø

       

    N , n >1)

     

    ( v ¹ 0)

     

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

     

    Đạo hàm cấp cao:

     

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

     

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

     

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

     

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

     

    ·        VÍ DỤ:

     

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

     

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

     

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2

    f

    = 30 x – 20 y

     

    xx

     
       

    f yy  = 12 y -10

    f

     

    = 4

         

    xz

     

    f zz  = 18 z + 4 y

    f yz

    = 4z

    f

    = -20x

         
     

    xy

           

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx

    = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20

    f

    = -20 ´ 0 = 0

     
             

    xy

       

    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2

    = 4

     
             

    fxz

     

    f

    = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22

    f

    = 4 ´ 1 = 4

     

    zz

             
             

    yz

       

    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   (

    ) dưới

    dạng ma trận vuông là:

         
     

    é -20

    0

    2 ù

         

    A = ê

    0

    2

    2 ú

         
     

    ê

       

    ú

         
     

    ê

    2

    2

    22ú

         
     

    ë

       

    û

         

    · CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 2:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

     

    2.         Định nghĩa:

     

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

     

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

     

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

     

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

     

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

     

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

     

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

     

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

     

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

     

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

     

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

     

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có:

    f

    +

    f

    ×

    y

    = 0 (3)

                 

    x

    y

    x

                 
                         

    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có:

    g

    +

    g

    ×

    y

    = 0 (4)

     

    x

    y

    x

                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

     

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

     

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

     

     

    æ

    f

     

    g ö

    æ

    f

     

    g ö

       

    ứng của (3), ta được:

    ç

     

    + g

     

    ÷

    + ç

     

    + g

     

    ÷

    = 0

    (5)

           
     

    è

    x

     

    x ø

    è

    y

     

    y ø

       

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

     

    æ

    f

    + g

    g ö

    = 0

     

    ç

       

    ÷

    (6)

    y

     

    Nghĩa là: è

     

    y ø

     

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

     

    ì

    f

     

    ï

       

    x

     

    ï

    f

     

    ï

    hệ phương trình: í

       

    y

     

    ï

    ïïg (x , y)

    î

     

    +

    g

    g

    =

    0

       

    x

       
               

    +

    g

    g

    =

    0

    (I)

     

    y

               
         

    =

    0

       

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

     

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

     

    ìF

    =

    f

    +

    g

    g

    = 0

     
         

    ï

    x

       

    x

       

    y

       

    ï

                 
         

    f

       

    g

       

    ï

    =

     

    +

    g

    = 0

     

    íFy

         

    (II)

     

    y

    y

    ï

                 
                     

    ïF

     

    =

    g (x , y)

       

    = 0

     

    ï

    g

                   

    î

                     

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

     

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

     

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

     

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

     

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

     

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

     

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

     

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

     

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

     

    Khi đó xét: D = –

    0

    D

    E

       

    D

    A

    B

       
     

    E

    B

    C

       

    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại (

    )

    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại (

    )

    ·        VÍ DỤ:

     

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

     

    Ta có x2 – y2 = 1

    x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)

    Thay (*) vào f(x,y) ta được:

    f(y) = y2 + y (y

    R)

    Tập xác định: D = R

    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0

    (

     

    )

         

    (

    )

       
           
                   
                   

    Xét

    (

     

    )

           
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

     

    ·        CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

     

     

     

     

     

    CÂU 3:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

     

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

     

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

     

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

     

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

     

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

     

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

     

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

     

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

     

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV

    V

    V1

    V2

    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

     

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

     

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

     

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

     

     

    éj 2

    ( x , y )

    ù

    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê

    ò

    f ( x, y , z )dz ú dxdy

    V

    ë 1

     

    û

    ê j ( x , y )

    ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

     

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

     

     

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

     

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

     

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

     

     

     

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

     

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

     

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

     

    ì x

    ï

     

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

     

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

     

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:

    ·

           

    ; z = 0; y = x;

     

    ;

               

       
                     

    ·

    (

    )  ∫

                                   
                                   
                                   
                             
         

     

     

           

                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
             

    ∫∫ (

    )

         

    ·

             

    (

                                     

    )

                                                   
                                           
                                           
         

    ·

                                                         
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2

    ·

                                     

                                                         
               

                         

       
                                     

    ·

                               

                                                         
                                     

    (

     

    )

                       
               

                                     
                           

    ·

                                                                                       
                         

    (

       

    )

                                                     

                                                                             
                                                         
                                                                             

    ·

                                                                                 

    (

     

    )

                                                                                   

                                       

                           

           
                                                           
                                                               

    ·

                                                                                             
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                     

    )

                                                   

             

    (

                                                               
                                                                       
                                                       
                                                                     

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                         

    (

             

    )

                               

    (

         

    )

                                                                     
                                       
                   

    ·

               

    (

                           

    )

                                                   
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

             

    (

                 

    )

                                                   
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                             

    (

             

    )

                             

    (

         

    )

                                                                                 
                                                             
                                               

    ·

         

    (

                                   

    )

                                                     
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3

    ·

           

             

    (

                     

    )

                                   
                                                 
                                                         

    ·

                                                                                             
                                                                                             
                                                                                             

    ·

     

    (

         

    )

                                       

    (

               

    )

       

    (

         

    )

                                                                   
                                                               
                                         

    ·

           

    (

           

    )

             

    (

           

    )

               
                                                   
                                         
    • Suy ra

    ·

    (

       

    )

       

    (

       

    )

       

                   

    (

           

    )

     

           

    (

     

    )

         

         
                             
                           
     

    (

         

    )

         

    (

         

    )

     
                                                                                                                               
                                                           
         

    (

     

    )

     

    (

     

    )

         
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               

    ·

    (

           

    )

     

    (

               

    )

         

    (

             

    )

           

    (

     

    )

                             

               
                                                                         
                             
                                                                                                                           
     

    (

             

    (

         

    )

     
           

    )

                           
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

     

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

              Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

     Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

     

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

     Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

     Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

              Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

     Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

     

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]