Author: Nguyễn Huyền

  • Bài tập lớn Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam

    Bài tập lớn Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam

    Bài tập lớn Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-truy%E1%BB%81n-d%E1%BA%ABn-v%C3%B4-tuy%E1%BA%BFn-v%C3%A0-%C3%A1p-d%E1%BB%A5ng-cho-m%E1%BA%A1ng-th%C3%B4ng-tin-h%C3%A0ng-h%E1%BA%A3i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam

    MỞ ĐẦU

    Thông tin cấp cứu là thông tin khi một tàu bị nạn sẽ gửi thông báo về tình trạng nguy cập của con tàu và con người trên tàu và yêu cầu được giúp đỡ ngay lập tức [1], [2]. Vì vậy sự thiệt hại lớn hay nhỏ phụ thuộc một phần rất lớn của quá trình thông tin [3]. Mặt khác số lượng tàu thuyền không ngừng gia tăng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ hệ thống thông tin liên lạc Hàng Hải không ngừng được phát triển để đảm bảo an toàn và sinh mạng trên biển [22]. Chính vì thế tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) và liên minh viễn thông quốc tế (ITU) cho ra đời hệ thống an toàn và báo nạn hàng hải toàn cầu (GMDSS) [1],[2],[3],[4], [5]. Hiện tại qui trình thông tin cấp cứu như sau: Khi đài bờ nhận được báo động cấp cứu và điện cấp cứu từ một tàu bị nạn, đài bờ sẽ chuyển thông tin cấp cứu đó cho trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia bằng điện thoại hoặc telex[21], [22]. Sau đó trung tâm tìm kiếm cứu nạn muốn liên lạc với tàu bị nạn lại chuyển thông tin ngược lại cho đài bờ và đài bờ thực hiện chuyển tiếp đến tàu. Như vậy thông tin sẽ bị chậm và nhiều khi không thật sự chính xác và đặc biệt là việc triển khai cứu nạn sẽ không hiệu quả.  Nhằm mục đích đảm bảo hơn về sinh mạng của con tàu và con người trên tàu khi gặp nạn trên biển, việc thông tin liên lạc nhanh hơn, và dễ dàng hơn đặc biệt là việc phối hợp cứu nạn phải được thực hiện đồng bộ thống nhất từ Trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia đến các trung tâm tìm kiếm cứu nạn khu vực thông qua các đài bờ là một vấn đề cấp thiết. Muốn được như vậy tất các thông tin cấp cứu qua bất kỳ thiết bị nào cũng ngay lập tức được chuyển về trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn và trung tâm cứu nạn có thể điều khiển bất kỳ đài bờ nào trong hệ thống đài ven biển để liên lạc trực tiếp với tàu bị nạn. Với lý do đó Đề tài “Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam” sẽ là cơ sở lý thuyết ban đầu cho việc thực hiện ý tưởng điều khiển từ xa đài bờ thích hợp trong thông tin cấp cứu trực tiếp từ trung tâm phối hợp tim kiếm cứu nạn với tàu bị nạn.

    PHẦN 1:TỔNG QUAN

    1. Tính cấp thiết và thực tiễn của đề tài

    Trong những năm gần đây rất nhiều tai nạn tàu thủy liên tiếp xảy ra và đã gây ra tổn thất rất lớn về tài sản và đặc biệt là tính mạng của con người. Tuy vậy việc tổ chức cứu nạn và điều khiển cứu nạn chưa được nhanh chóng, kịp thời đã gây ra những thiệt hại to lớn, thiết nghĩ nếu việc tổ chức cấp cứu đồng bộ hơn và đặc biệt là thông tin và điều khiển thông tin được tập trung tại nơi tổ chức cứu nạn mà cụ thể là trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia thì chắc rằng việc tổ chức cứu nạn sẽ được thuận tiện hơn cho việc tổ chức cấp cứu và cụ thể hơn trong việc tổ chức các tàu đang hoạt động tại nơi bị nạn và theo theo dõi được diễn biến sự việc để cử các đội tìm kiếm cứu nạn SAR(Search and Rescue) hợp lý hơn. Muốn vậy tất cả các thông tin báo động cấp cứu và điện cấp cứu của tàu bị nạn và thông tin hiện trường tại nơi bị nạn phải được giám sát và điều khiển ngay tại trung tâm cứu nạn quốc gia. Chính vì vậy, với sự bùng nổ của thông tin hiện nay tác giả muốn đề xuất một phương án điều khiển thông tin tập trung thông qua một mạng truyền dẫn vô tuyến từ tất cả các đài bờ đến trung tâm phối hợp tìm kiếm quốc gia với tất cả các loại thông tin mà đài tàu bị nạn gửi về và qua bất kỳ đài bờ nào của quốc gia. Nhằm hạn chế tối thiểu những thiệt hại về vật chất và đặc biệt là tính mạng con người khi tàu thuyền gặp nạn.

    2. Các nghiên cứu đã ứng dụng cho thông tin Hàng hải

    Trước đây hệ thống thông tin vô tuyến điện sử dụng cho hàng hải có đặc điểm là sử dụng điện báo Moorse  và tần số cấp cứu ở dải sóng trung (500Khz cho điện báo và 2182Khz cho điện thoại) nên chúng có rất nhiều nhược điểm như đó là cự ly thông tin cấp cứu thấp, không có hệ thống tự động trong mối liên lạc tàu- bờ và tàu- tàu, khi thực hiện cấp cứu phải thực hiện rất nhiều thao tác gây khó khăn cho nhân viên [1]. Chính vì vậy nên kể từ năm 1982 tổ chức hàng hải quốc tế (International Maritime Organization IMO) và Liên minh viễn thông quốc tế (International Telecommunication Union ITU) đã bắt đầu nghiên cứu một hệ thống thông tin hàng hải mới, có nhiều công nghệ tiên tiến và đặc biệt là có tự động trong mối quan hệ giữa tàu – bờ và tàu – tàu trong thông tin cấp cứu hệ thống đó là hệ thống an toàn và báo nạn hàng hải toàn cầu (Global Maritime Distress and Safety System – GMDSS) Hệ thống này có hiệu lực từng phần từ ngày 1/2/1992 và có hiệu lực toàn phần kể từ ngày 1/2/1999 [2], [3], [4].

    Chức năng thông tin của GMDSS có thể phân làm 3 nhóm nhính như sau [1]:

    • Thông tin phục vụ mục đích tìm kiếm và cứu nạn trên biển
    • Thông tin phục vụ mục đích an toàn hàng hải
    • Thông tin phục vụ mục đích thương mại, khai thác và quản lý đội tàu

    Các công nghệ sử dụng trong GMDSS bao gồm hệ thống thông tín vệ tinh:

    Thông tin vệ tinh thực chất là các loại Inmarsat B/C/M/F với các công nhệ chủ yếu là thoại (voice), Fax, Data trong các loại Inmarsat B/M/F, Và Telex trong Inamrsat B/C, Nhưng Inamarsat-C là loại Inamrsat bắt buộc trong GMDSS [3]. Thông tin sẽ được gửi qua đài bờ mặt đất. Hiện tại Việt nam có đài bờ mặt đất Vishipel LES đặt tại Hải Phòng trong đó có cả thông tin thương mại và thông tin cấp cứu. Thông tin cấp cứu thường được phát đến một đại bờ mặt đất LES (Land Earth Station) sau đó đài bờ mặt đất sẽ gửi thông tin đến trung tâm tìm kiếm cứu nạn MCC (Mission Control Center) thông qua hệ thống điện thoại hoặc telex của mạng bưu điện. [11]

    Thông tin mặt đất: Thông tin mặt đất được sử dụng trên tàu thủy được phát trên nhiều dải tần số VHF/MF/HF tùy thuộc vào cự ly thông tin mà sử dụng dải tần số nào cho thật sự hiệu quả. Với các công nghệ được sử dụng là: công nghệ Gọi chọn số DSC (Digital selective calling)[7], DSC được sử dụng để phát các báo động cấp cứu (Distress Alert) với các thông tin kèm theo bao gồm vị trí bị nạn, và tính chất bị nạn. để phát các điện cấp cứu (Distress message) và thông tin cấp cứu (Distress communication) người ta thường sử dụng  công nghệ truyền chữ trực tiếp băng hẹp NBDP (Narrow Band Direct Printer) là loại công nghệ được sử dụng để gửi điện cấp cứu dưới dạng các bản điện text và thông tin thoại [1], [2], [3], [11],[22]

    Trong trường hợp khi tàu bị chìm mà người khai thác không có khả năng cung cấp vị trí chính xác của tàu mình còn có hệ thống COSPAS-SARSAT [18] với thiết bị đầu cuối sử dụng trên tàu thủy là EPIRT (Emergency Position Indicating Radio Becon) là hệ thống vệ tinh quỹ đạo cực có thể cho phép đài mặt đất khu vực LUT (Local Used Terminal) tính toán và khoanh vùng vị trí của tàu bị nạn.

    Ngoài ra hiện nay nó còn được bổ sung thêm hệ thống báo động an ninh hàng hải Social Security Advisory Service (SSAS) là hệ thống báo động khi có cướp biển tấn công.  Và hệ thống Long Range Identification and Tracking (LRIT) là hệ thống nhận dạng và theo giỏi tàu biển từ xa để khoang vùng tàu bị nạn khi mất liên lạc. [11],[18], [21], [22]

    Trong GMDSS đảm bảo thông tin toàn cầu với sự phân chia 4 vùng hoạt động tàu biển như sau: [1], [3]

    Vùng A1:  Là vùng biển trong phạm vi bao phủ của ít nhất một đài bờ trực canh cấp cứu liên tục bằng VHF/DSC trên kên 70 (25-30 hải lý [11], [12])

    Vùng A2: Là vùng biển ngoài A1 nhưng trong phạm vi bao phủ của ít nhất một đài bờ trực canh cấp cứu liên tục bằng DSC trên tần số 2187.5Khz (160 đến 200 hải lý [11], [12])

    Vùng A3: Là vùng biển ngoài A1, A2 nhưng trong phạm vi bao phủ của vệ tinh địa tĩnh từ 700N đến 700S

    Vùng A4: Là vùng biển ngoài A1, A2, A3 Thực chất là vùng hai đầu cực

    Từ những giới thiệu trên ta thấy rằng việc khi một tàu bị nạn thì các phương tiện để gửi báo động cấp cứu và thông tin cấp cứu đến một đài bờ trong hệ thống đài bờ đã được nghiên cứu hoàn chỉnh. Theo GMDSS shore base plan do IMO cập nhật vào tháng tư năm 2010 thì ở Việt Nam hiện nay có 18 đài bờ VHF [22], [10] bao gồm: Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Phú yên, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau, Kiên Giang. 13 Đài bờ MF [22],[10] bao gồm: Móng Cái, Cửa Ông, Hòn Gai, Hải Phòng, Bến Thủy, Huế, Đà Nẵng, Phú yên, Nha Trang, Vũng Tàu, Hồ Chí Minh, Cà Mau, Kiên Giang. Và 3 đài bờ trực canh HF [22],[10] là: Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ chí Minh. Tuy nhiên các đài bờ lại hoạt động độc lập với nhau và đài bờ có thể hiểu là cổng thông tin để kết nối với mạng viễn thông chứ không phải là đơn vị tổ chức cứu nạn.  Việc thực hiện cứu nạn và tổ chức tìm kiếm cứu nạn lại do trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn quốc gia đảm nhận, Chính vì vậy việc tập trung thông tin tại trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn là hết sức cần thiêt.

    3.  Tình hình nghiên cứu thế giới:

    Hiện tại đã có một số nước đã tiến hành nghiên cứu việc điều khiển từ xa các đài bờ trong hệ thống của một quốc gia, trong đó tiêu biểu nhất là Nauy. Nauy là nước phát triển hoàn thiện nhất vùng biển A1 và A2, đây là một nước thuộc Bắc Âu, có vùng biển vĩ tuyến cao, có bờ biển cũng khoảng hơn 3000km như Việt nam, nhưng hệ thống các đài bờ VHF và MF cũng như HF rất phát triển cả về số lượng cũng như cách tổ chức hệ thống đài. [22]

    Hệ thống đài bờ VHF của Nauy gồm 5 đài chính (Main Station) điều khiển hơn 100 đài điều khiển từ xa (Monitor station) [5]. Hệ thống đài MF có 16 đài nhưng chỉ được điều khiển tại một đài chính (Main Station)[5]. Như vậy có thể thấy rằng với hệ thống đài bờ phủ khắp và cự ly lớn nhưng việc điều khiển rất đơn giản bởi sự tập trung và không tốn nhiều nhân công trực canh điều khiển tại chỗ như ở Việt Nam. Một lợi thế nữa là các đài monitor station vì không cần nhân công điều khiển trực tiếp nên có thể đặt anten trên núi cao và như vậy có thể tăng cự ly thông tin lên rất lớn. có thể thấy tất cả đài bờ VHF Việt Nam đều có cự ly thông tin là 30 hải lý [5] trong khi đó ở Nauy có những đài bờ cự ly thông tin lên tới 93 hải lý [5]. Điều này có thể khẳng định là đài này được đặt trên đỉnh núi rất cao.

    4. Tình hình nghiên cứu Việt Nam:

    Ở Việt Nam có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề qui hoạch vùng biển A1 và A2 Của TS Trần Xuân Việt [6] , trong đó có đề cập phương pháp tính toán vùng phủ sóng của các đài bờ VHF/MF và HF hiện có của Việt Nam. Trong đó có đề xuất việc lắp thêm một số đài bờ MF ở khu vực miền trung nhằm đảm bảo phủ kín vùng biển A2 của Việt nam. Báo cáo đề tài khoa học cấp nhà nước KHCN 10-03 [10] về qui hoạch đài bờ Việt Nam do PGS TS Trần Đắc Sửu làm chủ nhiệm đề tài đã đề cập đến số lượng đài bờ hiện có và cần thiết cho số lượng đài bờ Việt Nam theo khuyến nghị 108A của IMO. Hoặc đã có các nghiên cứu ứng dụng sử dụng hệ thông Viba để điều khiển hệ thống máy phát vô tuyến điện từ xa của trung tâm Vishipel [8] (Trung tâm điều khiển ở số 5 Nguyễn Thượng Hiền – Hải Phòng trong khi đó hệ thống máy phát đặt ở Đông Hải, và máy thu đặt ở quận Dương kinh). Tuy nhiên chưa đề tài nào nêu lên việc kết hợp mạng lưới đài bờ và điều khiển đài bờ từ xa khi có yêu cầu.

    5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

    Trên cơ sở của các nghiên cứu trước đây và hệ thống cơ sở hạ tầng đã có, đề tài này chỉ đưa ra một số nghiên cứu nhằm ghép nối hệ thống đài bờ sẵn có thể thông qua mạng truyền dẫn băng thông rộng để nhằm mục đính chuyển thông tin nhận được từ tàu bị nạn trực tiếp về trung tâm cứu nạn quốc gia thông qua mạng truyền dẫn viba và điều khiển hoạt động của các đài monitor từ trung tâm cứu nạn, Trong đó cho phép trung tâm cứu nạn lựa chọn đài bờ nào hoạt động và liên lạc cấp cứu trong trường hợp tàu bị nạn ở nơi có thể liên lạc với nhiều hơn một đài bờ. Tuy nhiên do điều kiện nên đề tài chỉ có thể dùng lại ở mức mô phỏng và lấy kết quả. Sau đó đề xuất phương án lựa chọn thiết bị lắp đặt cũng như các giải pháp kỹ thuật để có được hệ thống đảm bảo về tính năng kỹ thuật cũng như đảm bảo về kinh tế.

     

    PHẦN 2: NỘI DUNG ĐỀTÀI

    Chương 1: Hiệu suất băng thông và hiệu quả sử dụng công suất của các phương pháp điều chế trong các hệ thống thông tin số

    1.1. Sơ đồ khối hệ thống truyền dẫn thông tin số

    1.2. Các phương pháp điều chế số và ưu nhược điểm của từng loại

    1.3. Hiệu suất băng thông của các tín hiệu điều chế

    1.4. Xác suất lỗi bít

    1.5. Mặt phẳng hiệu suất băng thông

    Chương 2: Các yêu cầu cơ bản của mạng thông tin hàng hải Việt Nam, Xu hướng phát triển, và các giải pháp thiết kế mạng hàng hải Việt Nam

    2.1. Đánh giá thực trạng của đài duyên hải Việt Nam

    2.2. Phân loại đài duyên hải Việt Nam

    2.3. Một số phương pháp truyền dẫn có thể sử dụng phù hợp với khoảng cách phương pháp truyền dẫn và tính kinh tế

    2.4. Sơ đồ khối cho hệ thống truyền dẫn Viba dung lượng nhỏ tốc độ 2MBit/s lựa chọn

    2.5 Các chỉ tiêu kỹ thuật đối với truyền dẫn viba của mạng thông tin hàng hải

    2.6 Đánh giá lỗi bit và quan hệ giữa độ tin cậy của hệ thống với thời gian gián đoạn

    2.7 Chỉ tiêu chất lượng đường truyền với điều kiện địa hình và thời tiết của Việt Nam

    Chương 3: Mô phỏng hệ thống thông tin vô tuyến điện tốc độ 2Mbit/s giả định và đề xuất phương án chọn thiết bị mô phỏng

    3.1 Câu trúc của hệ thống vô tuyến điện truyền dẫn 2Mbit/s

    3.2 Sơ đồ mô phỏng tương đương băng gốc của hệ thống viba số.

    3.3 Viết phương trình và chạy mô phỏng

    3.4 Kết quả mô phỏng và kết luận

     

    PHẦN 3: KẾT LUẬN

    Đề tài “Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn vô tuyến và áp dụng cho mạng thông tin hàng hải Việt Nam” là một đề tài có tính lý thuyết và thực tiễn cao

    Về lý thuyết: Có thể giúp tiếp cận với hệ thống thông tin hiện đại trong truyền thông và điều khiển từ xa, đã và đang được sử dụng trên thế giới hiện nay đó là thông tin số và hệ thống điều khiển thông qua mạng viba số.

    Về thực tế: Nếu được triển khai và hoàn thành có thể nói với độ dài bờ biển hơn 3000km và với lực lượng đài bờ hiện có viện tiến hành thông tin mà đặc biệt là thông tin cấp cứu được nhanh chóng và việc phối hợp tìm kiếm cứu nạn ngày một hiệu quả hơn. Như vậy làm giảm thiệt hại đáng kể về vật chất cũng như con người khi gặp nạn trên biển. Mặt khác với việc các đài monitor không cần người trực canh có thể được lắp đặt trên những núi cao như ở Hải Phòng, Thanh hóa, Huế, Đà Nẵng, Qui nhơn, Vũng Tàu có thể tăng phạm vi phủ sóng của đài bờ dẫn đến việc thông tin liên lạc không những cho tàu hàng mà ngay cả với việc thông tin mà đặc biệt thông tin kêu gọi tàu thuyền đánh cá về nơi trú ẩn khi có bão hoặt thời tiết xấu có thể thực hiện được ngay thông qua hệ thống liên lạc VHF giá thành rất thấp mà không cần phải bắn pháo hiệu kém hiệu quả như hiện nay.

    Tuy nhiên trong thông tin hàng hải, các tuyến thông tin được thiết lập có môi trường phức tạp, địa hình ven biển có nhiều song ngòi, ao hồ, đồi núi,… đó là môi trường gây pha đinh mạnh. Đối với việc thiết kế vi ba số vấn đề lựa chọn thiết bị truyền dẫn hợp lý là rất quan trọng. Việc đánh giá chất lượng thiết bị trước khi mua và lắp đặt cần phải được tiến hành, nhằm chọn thiết bị đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật đồng thời tránh những sai sót gây tổn thất về kinh tế. Việc đánh giá thiết bị như vậy có thể thực hiện bằng thực nghiệm hoặc bằng mô phỏng. Trong điều kiện nước ta hiện nay phương pháp đánh giá bằng thực nghiệm là rất khó khăn, nhiều khi không có thiết bị thử nghiệm. Vì vậy phương pháp đánh giá bằng mô phỏng là hợp lý, đây cũng là phương pháp phù hợp với xu hướng của thế giới. Mục đích của mô phỏng nhằm đánh giá chất lượng hệ thống viba số, với các thiết bị có các thông số cho trước, khi chịu ảnh hưởng của pha đing nhiều tia và của nhiễu kênh lân cận. Thông qua mô phỏng thiết kế có thể lựa chọn chính xác thiết bị phù hợp cho tuyến cần thiết kế.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1] ITU:  “GMDSS Hand book”.

    [2] Graham D.Lees, Wiliamson:  “Hand book for Marine Radio Communication” Lloyd’s of London Ltd, 1993

    [3] ITU “Manual for used by the Maritime mobile and Maritime Mobile-Satellite Services” Radiocommunication Bureau 1999

    [4] IMO, “Hand book on the Global Maritime Distress and safety system” London 3rd Edition, 2001.

    [5]. GMDSS 1/Circ.12, Master Plan of Shore-based facilities for Global Maritime Distress and safety system, London April 2010

    [6] Trần Xuân Việt: “Phương pháp xác định vùng biển A2 trong hệ thống thông tin hàng hải toàn cầu” Kỷ yếu hội nghị thông tin và định vị vì sự phát triển kinh tế biển Việt Nam

    [7] ITU-IMO Digital selective calling system for used maritime mobile service

    [8] Nguyễn Quốc Bình “Kỹ thuật truyền dẫn số giản yếu” Trường chỉ huy kỹ thuật thông tin Nha Trang 2000

    [9] Nguyễn Minh Tuệ “Nghiên cứu hệ thống truyền dẫn số 2Mbps” Học viện kỹ thuật quân sự Hà Nội 2000

    [10] “Dự án khả thi xây dựng và phát triển hệ thống các đài duyên hải Việt Nam” Cục Hàng hải Việt Nam 1996

    [11] ITU Radio Reguration

    [12] Phan Anh “Trường điện từ và truyền sóng” Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội 2000

    [13] ITU Recommendation P,368-7, 1992 Ground-wave propagation verves for frequencies between 10khz and 30khz

    [14] Leon W. Cough II Digital and Analog communication systems Prentice-Hall International 1977

    [15] Michel C.Jerchim, Philip Balaban, K. Sam Shanmugan: “Simulation of communication System” New York, 1994

    [16] John G. Proakis: “Digital communications”, McGraw-Hill Book company, 1998

    [17] A.A.R Townsend: “Digital Line of Sight Radio Links”, Prentice-hall, 1991

    [18] IMO : “Cospas – Sarsat system” London 2007

    [19] Đặng Văn Chuyết, Nguyễn Tuấn Anh; “Cơ sở lý thuyết truyền tin” NXB giáo dục 1998

    [20] Nguyễn Văn Thưởng: “Cơ sở kỹ thuật truyền số liệu” Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật 1998.

    [21] Performance Standards for Ship borne Radio Communications and Navigation Equipment” Edition 1997.

    [22] IMO: “SOLAS” Consolidated Edition, 2007


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Suy-gi%E1%BA%A3m-t%C3%A0i-nguy%C3%AAn-r%E1%BB%ABng-%E1%BB%9F-H%C3%A0-T%C4%A9nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh

    LỜI NÓI ĐẦU

    &œ

    Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế – xã hội mà còn gĩư chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Nhưng ngày nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái. Những năm qua, nạn phá rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại. Mất rừng và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương trong đó có Hà Tĩnh. Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng.

    Đề tài: SUY GIẢM TÀI NGUYÊN RỪNG Ở HÀ TĨNH

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài
    • Tài nguyên rừng là một tài nguyên quan trọng đối với môi trường hệ sinh thái.
    • Diện tích rừng ở Hà Tĩnh hiện đang suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
    1. Giới hạn đề tài
    • Về nội dung: Tìm hiểu về thực trạng suy giảm tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh nguyên nhân cùng các giải pháp khắc phục.
    • Về không gian: Các địa phương có rừng tập trung trên địa bàn Hà Tĩnh.
    • Về thời gian: Tìm hiểu về tài nguyên rừng ở Hà Tĩnh từ trước đến tháng 6 năm 2013.
    1. Mục đích nghiên cứu

    Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tại Hà Tĩnh, nguyên nhân và giải pháp khắc phục.

    1. Quan điểm nghiên cứu
    • Quan điểm lãnh thổ: Dựa theo sự phân hóa rừng tại Hà Tĩnh, phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở các vùng có rừng tập trung như: huyện Hương Sơn, huyện Vũ Quang, huyện Hương Khê, thị xã Hồng Lĩnh…
    • Quan điểm sinh thái môi trường: Áp dụng để xây dựng các mô hình trồng rừng, cách thức quản lí rừng bền vững nhằm phát triển thuận lợi / hiệu quả cao về kinh tế và môi trường ở giai đoạn hiện tại và trong tương lai đồng thời loại bỏ các thành phần sinh học phát triển không thuận lợi hoặc không đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường như mong muốn.
    • Quan điểm phát triển bền vững: Tôn trọng quy luật phát triển tự nhiên với ba nội dung là: bền vững về sinh thái ( không làm ảnh hưởng đến môi trường ), bền vững về kinh tế ( hiệu quả kinh tế cao và lâu dài ), bền vững về xã hội ( được cộng đồng xã hội chấp nhận ).
    1. Phương pháp nghiên cứu

    Phựơng pháp bản đồ:

    • Sử dụng bản đồ địa hình của Hà Tĩnh để tìm hiểu các đặc điểm về độ cao, độ dốc, sự phân bố các dãy núi.
    • Sử dụng bản đồ địa lý tự nhiên của tỉnh Hà Tĩnh để tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm về tự nhiên…
    • Sử dụng bản đồ hành chính của tỉnh Hà Tĩnh để biết sự phân bố dân cư, vị trí các cộng đồng dân cư có rừng.
    • Vận dụng bản đồ vào việc nghiên cứu trực tiếp các điều kiện địa lý tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế – xã hội tại các cộng đồng dân cư có rừng để làm cơ sở xây dựng các mô hình quản lý rừng bền vững.

    Phương pháp thu thập thông tin, thống kê số liệu, xử lý tài liệu:

    • Thu thập các thông tin, các báo cáo chuyên đề, các bảng số liệu vể tài nguyên rừng ở các cơ quan, ban nghành liên quan.
    • Phương pháp thu thập thông tin thực hiện với mục đích thu thập các nguồn thông tin có liên quan đến TN rừng ( chủ yếu tại Hà Tĩnh ).
    • Vận dụng phương pháp vào tìm kiếm các thông tin còn thiếu hay chưa đồng bộ trong các tài liệu đã thu thập được ( về tài nguyên rừng tại Hà Tĩnh… ), thực trạng phát triển kinh tế xã hội và nét đặc trưng của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn có rừng dẫn đến tình trạng chặt phá rừng.

    Phương pháp nghiên cứu thực địa:

    • Kiểm tra trên thực tế những thông tin đã thu thập được qua nghiên cứu tài liệu trong phòng.
    • Nghiên cứu trực tiếp các đặc điểm của TN rừng tại Hà Tĩnh nhằm nêu lên thực trạng về tài nguyên rừng nơi đây và đặc điểm của các cộng đồng dân cư xung quanh khu vực có rừng.

    B. NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG Ở HÀ TĨNH

    1. Các khái niệm liên quan
      • Rừng là gì?
    • Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Morozov 1930).Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
    • Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài (M.E. Tcachenco 1952).
    • Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu.
      • Tài nguyên rừng gồm những gì?
      • Nguồn gỗ quý, củi đốt…
      • Điều hòa khí hậu, tạo nguồn Oxi cung cấp cho trái đất.
      • Điều hòa nước.
      • Là nơi cư trú của động- thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
      • Suy giảm tài nguyên rừng là gì?
    • Suy giảm tài nguyên rừng là hiện tượng suy giảm,do con người gây ra làm giảm trữ lượng lâm sản tại các vùng rừng trong một thời gian nhất định.
    1. Nêu khái quát về tài nguyên rừng
    2. Thực trang tài nguyên rừng ở Việt Nam

    – Việt Nam là một nước nhiệt đới nằm ở vùng Đông Nam Á, có tổng diện tích lãnh thổ khoảng 331.700 km2, kéo dài từ 9- 23 độ vĩ  bắc, trong đó diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu héc ta, chiếm khoảng 20% diện tích toàn quốc (Tổng cục thống kê năm 1994).

    • Trước đây, rừng chiếm diện tích khoảng 60 triệu km2.
    • Năm 1973 còn 37,37 triệu km2.
    • Hiện nay diện tích rừng ngày càng giảm, chỉ còn khoảng 29 triệu km2.

    + Ở Việt Nam:

    • Vào năm 1943 có khoảng 14 triệu ha, tỉ lệ che phủ 43% diện tích.
    • Năm 1976 còn 11 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 34%.
    • Năm 1985 còn 9.3 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 30%.
    • Năm 1995 còn 8 triệu ha, tỉ lệ che phủ còn 28%.
      • Ngày nay chỉ còn khoảng 7.8 triệu ha và chiếm 23,6% diện tích, tức là tới mức báo động cân bằng 3%.

     b1. Khái quát về điều kiện tự nhiên tỉnh Hà Tĩnh

     

    – Vị trí:

    • Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía đông giáp biển Đông.

    – Địa hình:

    • Hà Tĩnh cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía nam, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông. Phía tây tỉnh là những dãy núi cao 1.500 m, đỉnh Rào Cọ 235 m, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp; tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biển cùng với nhiều vũng, vịnh, tiêu biểu là cảng biển nước sâu Vũng Áng và bãi biển Thiên Cầm.

    – Khí hậu:

    • Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hàng năm, Hà Tĩnh có bốn mùa rõ rệt:
    • Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly. Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm. Vào thời gian này hàng năm Hà Tĩnh thường hứng chịu những cơn bão từ biển Đông gây nên lũ lụt.
    • Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau. Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn.

    b2. Khái quát về tài nguyên rừng Hà Tĩnh

    • Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới. Rừng trồng phần lớn là thông nhựa, hiện có trên 18000 ha trong đó có trên 7000 ha có khả năng khai thác, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có trữ lượng rừng giàu của cả nước (trữ lượng rừng trồng đạt 2.545.680 m3, trữ lượng rừng tự nhiên đạt 23.494.420 m3).
    • Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây gỗ. Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu… và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác.
    • Đặc biệt có Vườn Quốc gia Vũ Quang (ở huyện Vũ Quang và Hương Khê) có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm. Đã phát hiện được 2 loại thú quý hiếm là Sao La và Mang Lớn. Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển. Đây là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh tế, khoa học và cảnh quan.
    • Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú, 280 loài chim, trong đó có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam.

    Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao. Tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu… (Theo  Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Hà Tĩnh ). 

    1. Vai trò của tài nguyên rừng

    + Rừng là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới.

    • Cung cấp lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dung cho xã hội, trước hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ.
    • Cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp dân cư.
    • Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cho xây dụng cơ bản.
    • Cung cấp dược liệu quý phục vụ nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người.
    • Cung cấp lương thực, nguyên liệu chế biến thực phẩm… phục vụ nhu cầu đời sống xã hội…

    + Vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái:

    • Phòng hộ đầu nguồn, giữ đất, giữ nước, điều hòa dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thái hóa đất, chống bồi đắp song ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện.
    • Phòng hộ ven biển, chắn song, chắn gió, chống cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn…bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển…
    • Phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn, điều hòa khí hậu tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển.
    • Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt và hạn hán, tăng độ ẩm cho đất…
    • Bảo vệ các khu di tích lịch sử, nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch…
      • Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trự sinh quyển bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.

    + Vai trò xã hội:

    Là nguồn thu nhập chính của các đồng bào dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dan cư, điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội…

    + Vai trò của rừng trong cuộc sống:

    • Nếu như tất cả thực vật trên Trái Đất đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối (ở trạng thái khô tuyệt đối là 64%) thì rừng chiếm 37 tỷ tấn (70%). Và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (hay 44%) dưỡng khí để phục vụ hô hấp cho con người, động vật và sâu bọ trên Trái Đất trong khoảng 2 năm (S.V. Belov 1976).
    • Rừng là thảm thực vật của những thân cây gỗ trên bề mặt Trái Đất,giữ vai trì to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hòa khí hậu, tạo ra Oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
    • Một ha rừng hằng năm tạo nên sinh khối khoảng 300 – 500 kg, 16 tấn Oxy ( rừng thông 30 tấn, rừng trồng 3 – 10 tấn).
    • Mỗi người một năm cần 4.000 kg Oxy, tương ứng với lượng Oxy do 1.000 – 3.000 m2 cây xanh tạo ra trong một năm.
    1. Thực trạng và cách thức quản lý tài nguyên rừng nơi đây
    • Tổng diện tích đất lâm nghiệp 364.655,5 ha, trong đó:
    • Đất có rừng: 302.567,9 ha, gồm: rừng tự nhiên: 209.887,5 ha, rừng trồng: 92.680,4 ha.
    • Đất chưa có rừng: 62.087,6 ha.

    Trữ lượng rừng:

    • Tổng trữ lượng rừng toàn tỉnh là 26.040.100 m3 gỗ và 32.443 ngàn cây tre, nứa, trong đó: rừng tự nhiên: 23.494.420 m3 gỗ và 31.857 ngàn cây tre, nứa; rừng trồng: 2.545.680 m3 gỗ .

    Hiện trạng quy hoạch 3 loại rừng:

    • Rừng đặc dụng: 74.597,9 ha; rừng phòng hộ: 118.310,2 ha; rừng sản xuất: 171.747,4 ha.

    4.1. Rừng phòng hộ

    4.1.a. Rừng phòng hộ đầu nguồn

    Diện tích rừng trồng phòng hộ đầu nguồn từ 1999 đến 2004

    • Tổng diện tích rừng trồng phòng hộ trong dự án trồng mới 5 triệu ha rừng của tỉnh Hà Tĩnh từ năm 1999 đến 2004 là 11.493,6ha thì có 11.375ha thành rừng và 118,6ha (1,03%) không thành rừng do bị chuyển đổi mục đích sử dụng, trâu bò phá hoại, bị sạt lở đất và tỷ lệ sống thấp.
    • Như vậy có tới 98,07% diện tích rừng trồng thành rừng và mỗi năm trồng mới được 1485-2500 ha rừng trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.

    Cơ cấu cây trồng rừng phòng hộ đầu nguồn từ 1999 đến 2004

    • Trong tổng 11.375ha rừng trồng phòng hộ ở tỉnh Hà Tĩnh từ 1999 đến 2004 thì các loài cây trồng phòng hộ chính chiếm 10.637,8ha và cây phù trợ là 737,2ha. Trong đó diện tích rừng thông nhựa chiếm phần lớn (84,8%), keo lai, keo lá tràm chiếm 6,5%; dó trầm, phi lao, tre điền trúc, tạp giao, luồng và các loài cây bản địa lá rộng như cồng, giẻ, lim xanh, re chỉ chiếm 8,7%.

    4.1.b. Những cánh rừng ngập mặn

    Do sự tác động của nhiều nguyên nhân, diện tích rừng ngập mặn Hà Tĩnh ngày càng bị thu hẹp (hiện chỉ còn khoảng 500 ha). Nguy cơ về sự biến mất của lá phổi xanh, của những bức tường chắn sóng đang ngày càng hiện hữu. 

    • Từ năm 1994 đến nay, được sự hỗ trợ của Nhật Bản, các cấp hội chữ thập đỏ trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh đã trồng mới và trồng dặm gần 1.000 ha rừng ngập mặn. Theo thời gian, những bức tường xanh vững chắc này đã thực sự trở thành lá chắn bảo vệ đê kè và sự bình yên cho người dân trước giông tố biển khơi. Thế nhưng giờ đây, do sự tác động của nhiều nguyên nhân nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp (hiện chỉ còn khoảng 500 ha). Nguy cơ về sự biến mất của lá phổi xanh, của những bức tường chắn sóng đang ngày càng hiện hữu.

    Thực trạng buồn

    • Để góp phần giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và những tổn thất do thiên tai bão lụt gây ra cho cộng đồng dân cư ven sông biển, từ năm 1994 Hà Tĩnh đã trở thành 1 trong 10 tỉnh thành của cả nước được sự tài trợ của Hội chữ thập đỏ Nhật Bản và Hiệp hội Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế triển khai dự án trồng rừng ngập mặn.
    • Rừng ngập mặn chính là những bức tường xanh vững chắc bảo vệ đê kè và sự bình yên cho người dân trước giông tố biển khơi
    • Ông Lê Tập – Phó chủ tịch Hội chữ thập đỏ cho biết: “ Từ năm 1994- 2002, toàn tỉnh trồng được khoảng 551 ha, và đến nay tính cả diện tích trồng mới và trồng dặm hội chữ thập đỏ các cấp đã trồng được gần 1.000 ha bao gồm rừng ngập mặn và rừng phòng hộ. Gần 20 năm trôi qua, rừng ngập mặn ở một số địa phương trên địa bàn đã mang lại lợi ích thiết thực cho người dân vùng hưởng lợi. Ngoài tác dụng phòng ngừa thảm họa, điều hòa không khí, những cánh rừng này còn tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho hàng chục ngàn hộ gia đình ở những vùng có rừng từ việc bảo vệ, chăm sóc, thu lượm thủy hải sản…. Thế nhưng, hiện tại rừng ngập mặn đang đứng trước nguy cơ chết hàng loạt và diện tích chỉ còn một nửa”.
    • Như để minh chứng cho lời nói của mình, ông Lê Tập cho chúng tôi xem bản báo cáo chi tiết do đoàn cán bộ trung ương vừa triển khai đo đạc lại diện tích rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh. Nhìn theo báo cáo bằng hình ảnh, màu xanh của những cánh rừng ngập mặn tại các vùng lần lượt bị thu nhỏ hoặc biến mất hoàn toàn trên bản đồ. Cụ thể ở một số xã được triển khai trồng từ gian đoạn 1994-2004: như Thạch Bằng- Lộc Hà diện tích đầu vào 61 ha, hiện chỉ còn 4,3ha; Thạch Kênh – Thạch Hà diện tích đầu vào 38 ha, hiện tại không còn ha nào; Xuân Giang- Nghi Xuân có diện tích đầu vào 38ha nay còn 10,8ha; Cẩm Lĩnh- Cẩm Xuyên đầu vào 69 ha hiện tại 0 ha; Cẩm Nhượng diện tích đầu vào 35 ha nay còn 5,5ha, Cẩm Lộc 141 ha nay còn 10,6 ha…
    • Vẫn biết rằng việc đo bằng máy mọi số liệu đều chỉ là ước lượng nhưng trước diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu hẹp, người dân ở những vùng hưởng lợi không khỏi băn khoăn. Ông Nguyễn Trung Hoa – người đã từng bảo vệ rừng ngập mặn ở xã Thạch Long cho hay: “ Từ khi có rừng ngập mặn, lại có đê ngăn mặn người dân vùng ven sông nước như chúng tôi đã không còn phải lo lắng nhiều mỗi khi nghe tin đài báo bão, bởi đã có sự che chở của rừng. Nhưng thời gian gần đây, không hiểu vì sao cây chết hàng loạt, diện tích ngày càng bị thu hẹp. Cứ như thế này thì khoảng 10 năm nữa chắc là rừng ngập mặn ở Thạch Long sẽ bị xóa sổ”.

    Công tác bảo vệ rừng vẫn bị bỏ ngỏ

    • Cùng với một số địa phương khác, những năm trước đây rừng ngập mặn ở Thạch Long đã trở thành niềm tự hào không chỉ của người dân hưởng lợi mà còn là niềm vui của những người thực hiện dự án khi những cánh rừng bát ngát đã thực sự phát huy hiệu quả như mong muốn. Thế nhưng niềm vui ấy chẳng tồn tại được lâu khi nạn chặt phá rừng để làm chất đốt của người dân ngoài địa phương vừa được dẹp bỏ thì người dân lại phải đối mặt với nỗi lo cây chết hàng loạt. Và không chỉ riêng ở Thạch Long mà thực trạng này xảy ra ở hầu khắp các địa phương có diện tích rừng ngập mặn.
    • Ông Trần Văn Tình – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ huyện Cẩm Xuyên cho biết: “ Theo như kinh nghiệm của chúng tôi thì nguyên nhân dẫn đến cây chết hàng loạt một phần là do sâu bọ, hàu, hà ăn gốc; do thổ nhưỡng không phù hợp với loại cây trồng. Cụ thể với diện tích rừng phòng hộ, chúng tôi tham mưu trồng keo thì nhà tài trợ lại cho giống phi lao, ở vùng ngập mặn chúng tôi tham mưu trồng đước thì lại được chỉ định trồng trang ( ở Cẩm Lĩnh)… Và ngoài ra ý thức của người dân khi thả rông trâu bò trên vùng trồng rừng ngập mặn, khi để rác rưởi ngập tràn các khoảnh rừng ở Cẩm Lộc, Cẩm Nhượng, Cẩm Hà…cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của rừng”.
    • Ông Nguyễn Trung Hoa – người đã từng làm công tác bảo vệ rừng ngập mặn ở Thạch Long tâm sự: “Trước đây cũng đã có đoàn cán bộ về với địa phương để nghiên cứu việc cây chết hàng loạt trên địa bàn. Họ đã lấy các mẫu đất, nước, sâu bọ… để nghiên cứu. Người dân chúng tôi rất hy vọng vào một biện pháp nào đó để ngăn chặn các loại sâu bệnh tàn phá rừng nhưng sự chờ đợi cũng chỉ là vô vọng khi đoàn cán bộ ấy một đi không trở lại, khi việc phục hồi những cánh rừng ngập mặn chẳng có biện pháp nào khác ngoài trồng dặm mà kinh phí thì không có, việc tìm kiếm giống cũng hết sức khó khăn”.Ngoài nguyên nhân về sâu bọ, hàu, hà, do thời tiết rét đậm rét hại kéo dài như những năm trước… thì theo người dân ở địa phương hiện tượng rừng ngập mặn ở một số xã thuộc huyện Lộc Hà và Thạch Hà chết còn bởi nguyên nhân ngọt hóa sông Nghèn. Thông thường, việc chữa bệnh cho cây sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu xác định được nguyên nhân, nhưng với những cánh rừng ngập mặn việc khắc phục tình hình vẫn đang là câu hỏi không lời đáp.
    • Thực tế, sau khi dự án rừng ngập mặn kết thúc ở một số địa phương, công tác bảo vệ rừng càng gặp khó khăn hơn khi không biết phải bàn giao cho ai. Chia sẻ với chúng tôi, ông Nguyễn Duy Rộng – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ huyện Lộc Hà không dấu nổi băn khoăn: “Trách nhiệm của Hội là chỉ vận động bà con trồng rừng, còn vấn đề bảo vệ rừng tôi thiết nghĩ đó là trách nhiệm của phòng nông nghiệp, chi cục kiểm lâm, của toàn xã hội. Nhưng thực tế những ngành chức năng đó chưa có động thái gì, chúng tôi và chính quyền các địa phương vẫn đang phân vân vì không biết giao việc quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn cho ai”.
    • Và trong lúc các ngành chức năng các cấp ủy chính quyền vẫn chưa có động thái nào thì rừng ngập mặn vẫn đang từng ngày, từng giờ chết dần chết mòn. Còn những người dân vùng ven sông nước lại đối mặt với nỗi lo mất rừng ngập mặn đồng nghĩa với việc xói lở đê điều, là cuộc sống của họ phải đối mặt với sóng gió, triều cường mỗi khi mùa mưa bão đến.

    4.1.2. Hà Tĩnh phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ

    • UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa ban hành Quyết định số 2225/QĐ-UBNDphê duyệt Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Hà Tĩnh”.
    • Dự án do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh làm chủ đầu tư, thực hiện trong thời gian từ năm 2012 đến 2021 trên địa bàn 14 xã thuộc các huyện Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Can Lộc và Hương Sơn.
    • Tổng số vốn đầu tư của dự án là gần 197 tỷ đồng; trong đó, vốn ODA do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICCA) là 162 tỷ 460 triệu đồng và 34 tỷ 539 triệu đồng vốn đối ứng.
    • Dự án sẽ đầu tư bảo vệ, phát triển và cải thiện 6.289 ha diện tích rừng phòng hộ; trong đó có 4.010 ha diện tích rừng bảo vệ, trồng mới 1.339 ha và trồng nâng cấp rừng hiện có 940 ha; đầu tư cho hạ tầng nông thôn và hạ tầng lâm sinh như đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, nhà trạm bảo vệ rừng, các trang thiết bị và các công trình phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
    • Mục tiêu tổng thể của dự án là quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng phòng hộ đầu nguồn; thực hiện các biện pháp kỹ thuật phát triển rừng trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế từ rừng, đất lâm nghiệp và lao động trên địa bàn nhằm nâng cao chất lượng, độ che phủ của rừng; từng bước ổn định lâm phận, tăng cường khả năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, phục hồi và bảo tồn sinh học, phát triển hạ tầng vùng dự án, ứng phó với biến đổi khí hậu.
    • Bên cạnh đó, dự án còn tham gia giải quyết việc làm, cải thiện sinh kế và tăng thu nhập cho người lao động nghề rừng, góp phần xây dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo trên địa bàn các xã hưởng lợi; nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng; tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cho cộng đồng, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trên địa bàn trong quản lý bảo vệ rừng, kiểm soát cháy rừng và góp phần bảo vệ an ninh trật tự cho vùng dự án.

    4.2 Rừng đặc dụng

    Rừng đặc dụng là loại rừng được thành lập với mục đích chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch kết hợp với phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.

    Ở Hà Tĩnh có 2 khu rừng đặc dụng là Vườn quốc gia Vũ Quang rộng 52.882 ha và khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ rộng 21.759 ha.

    4.2.1 Vườn quốc gia Vũ Quang

    Nỗ lực bảo vệ Vườn Quốc gia Vũ Quang
    Vườn Quốc gia Vũ Quang (VQG) (trước đây là Khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang) thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có tổng diện tích hơn 56.000 ha với đặc trưng 3 loại rừng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất .Đây là một trong những vùng có đa dạng sinh học cao nằm ở vị trí quan trọng trong dãy Trường Sơn, xen giữa VQG Pù Mát ở phía Bắ́c và VQG Phong Nha – Kẻ Bàng ở phía Nam. Đây chính là nơi hai loài thú lớn được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới là Sao la, còn gọi là dê rừng dài (1992) và Mang lớn (năm 1993).Với chức năng nhiệm vụ chính là bảo tồn mẫu chuẩn về hệ sinh thái rừng Bắc Trường Sơn, bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của vùng rừng tự nhiên phía Tây Nam khu IV, thuộc dãy Trường Sơn, tiếp giáp với biên giới Việt Nam – Lào, VQG Vũ Quang còn góp phần duy trì cân bằng sinh thái và gia tăng độ che phủ rừng, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững về tự nhiên kinh tế của các tỉnh thuộc khu IV. Ngoài ra, đơn vị còn giúp phát huy các giá trị của hệ sinh thái rừng phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch sinh thái.

     

    Tiềm năng đa dạng sinh học

    Theo kết quả điều tra của các chuyên gia trong nước và quốc tế, Vườn Quốc gia Vũ Quang có tới 76% diện tích rừng tự nhiên với 5 kiểu chính được phân chia theo các đai cao khác nhau: Rừng kín thường xanh trên đất thấp phân bố ở độ cao 100-300m; rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng độ cao từ 300- 1000m; rừng thường xanh trung bình ở độ cao từ 1.000 -1.400 m gồm chủ yếu các loài cây lá rộng; rừng thường xanh trên núi cao phân bố ở độ cao 1.400 – 1.900 m gồm các loài cây lá kim, nhưng chiếm phần lớn là các loài họ Côm, họ Dẻ, Long não, Mộc lan. Đặc biệt ở đây còn có loài Du sam; rừng phân bố trên độ cao lớn hơn 1.900 m chủ yếu là rừng lùn với các loài Đỗ quyên, Long não, Côm, Dẻ. Cùng với những loài cây này, VQG Vũ Quang còn là nơi sinh trưởng của nhiều cây gỗ qúy khác như: cẩm lai, lát hoa, lim, dổi, trầm hương… và nhiều cây dược liệu qúy.

    Hệ động vật ở đây rất phong phú, theo thống kê có tới 94 loài thú thuộc 26 họ, 315 loài chim, 65 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 88 loài cá; trong đó có 26 loài thú, hơn 10 loài chim, 16 loài bò sát qúy hiếm cần được bảo vệ. Ngoài ra, Vườn Quốc gia Vũ Quang còn có 36 loài phụ thú đặc hữu của khu rừng Trường Sơn Bắc như: Voọc vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, vượn má vàng…

    Bởi tính đa dạng sinh học cao và với việc phát hiện hai loài thú mới là Sao la và Mang lớn, VQG Vũ Quang đã trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái đầy tiềm năng. Tại đây, du khách có thể thực hiện những chuyến du lịch mạo hiểm, khám phá những bí ẩn bất ngờ của rừng; hay tham gia tour du lịch thể thao đến thác Vũ Môn theo huyền thoại cá chép hóa rồng…

    Vũ Quang không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên mà còn là khu di tích lịch sử ghi dấu những sự kiện lịch sử oai hùng của cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp của Phan Đình Phùng cuối thế kỷ 19. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng Vườn quốc gia Vũ Quang vẫn còn dấu tích của những người anh hùng lưu lại với thời gian như chờ đợi du khách khám phá và tìm hiểu…

      Nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học

    Giám đốc VQG  Đào Huy Phiên cho biết: VQG nằm trên địa bàn 8 xã với 7.588 hộ dân (hơn 30.000 nhân khẩu). Đặc biệt, có hai xã nằm trong vùng lõi của VQG là Hương Điền và Hương Quang. Những người dân đã sinh sống tại đây từ những năm 60 của thế kỷ trước, và đến năm 1993 Nhà nước mới đóng cửa rừng chuyển thành Khu bảo tồn. Chính vì tình trạng dân có trước, quy hoạch sau nên đến nay vẫn còn hơn 700 hộ dân đang nằm ngay trong khu vực vùng lõi của vườn. Về nguyên lý là phải di chuyển toàn bộ người dân ra khỏi khu vực của vườn, tuy nhiên, đến nay, việc này vẫn chưa thực hiện được. Dân sống xen kẽ trong vườn nên tập quán bám rừng theo đó đã được hình thành.

    Thêm vào đó, cư dân ở vùng đệm và các xã lân cận với VQG cũng có đời sống rất khó khăn, thiếu việc làm, thu nhập không ổn định, dân số tăng nhanh. Trong khi đó, giá trị lâm sản ngày càng tăng cao, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về rừng cũng tăng, nhận thức của người dân về pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý động vật hoang dã  còn hạn chế, do vậy một số người dân đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi khai thác trộm tài nguyên rừng, săn bắt động vật hoang dã.

    Trong vòng 10 năm trên địa bàn VQG quản lý đã xảy ra 8 vụ các đối tượng chống người thi hành công vụ, gây thương tích cho cán bộ viên chức, lực lượng kiểm lâm VQG. Một số vụ hết sức nghiêm trọng, điển hình như: Vụ ở Trạm Kiểm lâm Hòa Hải, nhân viên kiểm lâm bị các đối tượng lâm tặc hành hung gây thương tích nghiêm trọng, hoặc vụ việc ở đội kiểm lâm cơ động trong khi truy đuổi xe chở gỗ lậu từ VQG xuôi về Đường 5, hai nhân viên kiểm lâm đã bị tai nạn khiến một người tử vong tại chỗ, một người bị thương nghiêm trọng … Hành vi vi phạm của các đối tượng ngày càng tinh vi xảo quyệt, bất chấp mọi thủ đoạn để luồn lách chống đối các cơ quan chức năng thực thi pháp luật.

    Công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vườn Quốc gia cũng gặp nhiều khó khăn từ việc bị chia cắt sinh cảnh. VQG Vũ Quang hiện nay có hai công trình là đập thủy lợi Ngàn Trười – Cẩm Trang, đập Đá hàn đang xây dựng dẫn đến một số hệ sinh thái thay đổi, chia cắt làm ảnh hưởng đến sự tồn vong và phát triển bền vững của các quần thể động thực vật.

    Thêm vào đó, các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ rừng còn gặp nhiều khó khăn về biên chế, trang thiết bị và những điều kiện cần thiết khác phục vụ công tác thực thi pháp luật. Ông Đào Huy Phiên cho biết: Hiện nay, mỗi nhân viên kiểm lâm của VQG chịu trách nhiệm quản lý hơn 1.000 ha rừng, nhất là  ở những vùng sâu, vùng xa thì khó có thể bảo đảm việc bảo vệ rừng tận gốc và bảo vệ ĐVHD một cách chặt chẽ. Nguồn lực và năng lực của đội ngũ thực thi về bảo vệ động vật hoang dã còn hạn chế.

    Theo ông Đào Huy Phiên, trong những năm gần đây, VQG Vũ Quang tích cực triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn đa dạng sinh học tại đây như tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng chống săn bắt các loài ĐVHD bao gồm: Tuần tra tận gốc, phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn triển khai hoạt động phòng chống khai thác, săn bắt, buôn bán ĐVHD… Ngoài ra, Phòng nghiên cứu khoa học của VQG Vũ Quang đã phối hợp với các tổ chức, các Viện nghiên cứu nhằm triển khai một số hoạt động điều tra, khảo sát các loài như: Ong, Nhện, Dơi, Vượn…, lập ô tiêu chuẩn theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.

    Cùng với đó là việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng – bảo tồn đa dạng sinh học như: Tuyên truyền phổ biến pháp luật đến các thôn xóm cho người dân; tổ chức hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh các trường thuộc vùng đệm và các khu dân cư lân cận.  Hiện nay, một số dự án đã được thực hiện tại đây như: Dự án đầu tư phát triển VQG Vũ Quang với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, giao khoán bảo vệ rừng; dự án đánh giá nhu cầu bảo tồn và xây dựng phương án bảo tồn các loài nguy cấp ở VQG Vũ Quang và các xã phụ cận với các hoạt động nâng cao năng lực cán bộ Vườn, điều tra khảo sát xây dựng phương án bảo tồn loài nguy cấp và hướng đến hoạt động ảo tồn liên biên giới.

    Tuy vậy, còn nhiều hoạt động của Vườn cần có sự hỗ trợ từ phía  Nhà nước và các Tổ chức xã hội nhằm bảo vệ nguyên trạng VQG Vũ Quang như thực hiện các hoạt động điều tra giám sát các loài động thực vật qúy hiếm gồm các loài thú móng guốc như Sao la, Mang lớn, Bò tót…; các loài linh trưởng như vượn đen má trắng, vượn Siki, Voọc chà vá chân nâu…, khảo sát đàn voi Châu Á ở VQG và đề xuất phương án bảo tồn.

    Ông Đào Huy Phiên cũng cho rằng, các hoạt động phát triển cộng đồng cũng rất cần thiết cho công tác bảo vệ VQG Vũ Quang. Việc này sẽ giúp phát triển cộng đồng sinh thái, triển khai các hoạt động quản lý, chia sẽ lợi ích, dịch vụ môi trường rừng; hỗ trợ triển khai các mô hình phát triển kinh tế hộ…Ngoài ra, Vườn cũng đang xây dựng kế hoạch liên kết với các tổ chức quốc tế và phía Khu Bảo tồn Nakai Nam Theun (nước CHDCND Lào ) nhằm trao đổi thông tin, thực hiện tốt công tác bảo tồn đa dạng sinh học liên biên giới và phát triển, mở rộng vùng phụ cận.

     

    4.2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ

    Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ là một khu bảo tồn tại tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam. Khu bảo tồn này nằm trên địa bàn 3 huyện 3 huyện Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Hương Khê (tất cả đều thuộc tỉnh Hà Tĩnh) Khu bảo tồn này có tổng diện tích tự nhiên 35.159 ha, trong đó khu bảo tồn 24.801 ha, rừng phòng hộ 10.358 ha. Khu vực này có các loài thực vật quý như: táu,gõ, chò chỉ, kim giao, sến, lát hoa. Các loại động vật quý hiếm như: trĩ sao, gà lôi lam đuôi trắng, gà lôi hồng tía, ngan cánh trắng, vượn, gấu, hổ, tê tê, sóc bay. Ở đây có gà lôi lam mào đen, 100 loài bò sát và lưỡng cư. Các loài thú lớn hiếm hoi do tình trạng săn bắt bừa bãi. Các hoạt động của con người ở khu vực này như chặt phá rừng, săn bắt động vật hoang dã đe dọa đến đa dạng sinh học ở khu bảo tồn.

    Ðến nay, ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ đã phát hiện được 364 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ. Trong 47 loài thú ở đây có 18 loài (chiếm 21%) được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới. Một số loài, trong đó đặc biệt là Voi Elephans maximus, Bò tót Bos gaurus và Hổ Panthera tigris có thể đã bị tuyệt chủng hoặc số lượng quần thể của chúng đã bị suy giảm đáng kể do săn bắn. Vượn má hung Hylobates gabriellae và nhiều loài có giá trị bảo tồn, nhưng số lượng hiếm do hiện tượng săn bắn bừa bãi. Đây cũng là nơi tìm thấy quần thể của 5 loài chim có vùng phân bố hẹp, đó là Gà lôi mào đen, Gà lôi Hà Tĩnh, Trĩ sao Rheinanlia ocellata, Khướu mỏ dài Jabonilleia danjoui và Chích chạch má xám Macronous kelleyi. Rừng Kẻ Gỗ còn là xứ sở của các loại mộc lan, phong lan đẹp và quý như: Quế hương, tai tượng, tai trâu, đuôi chồn, nghinh xuân, phượng vĩ…

    Tiềm năng Hồ Kẻ Gỗ được khởi công xây dựng vào ngày 26/3/1976 và hoàn thành vào ngày 26/3/1979. Nó là công trình đại thủy nông với trữ lượng 350 triệu m3 nước, tưới cho gần 17.000ha lúa, mùa, vùng đất thuộc huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Hà Tĩnh và phía Bắc huyện Kỳ Anh. Hồ Kẻ Gỗ còn là nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào cho các vùng dân cư với chiều dài hơn 30km. Hồ len lỏi giữa các triền núi, như chiếc gương khổng lồ soi bóng những dãy núi, những rừng cây ngút ngàn.

    Tuy nhiên không tránh khỏi cơn lốc khai thác, của nhiều người dân cạnh khu Bảo tồn thiên nhiên, hay của bọn lâm tặc, bọn săn bắn động vật hoang dã. Làm sao Kẻ Gỗ giữ được sự hào phóng của thiên nhiên với những cánh rừng nguyên sinh xanh ngắt. Vào những ngày hè nóng nực khi nhiệt độ tại trung tâm thị xã Hà Tĩnh lên tới 37 – 38 độ C, nhiệt độ bình thường xấp xỉ 30 – 32 độ C.Giữa dòng nước chảy xiết vẫn có những loài cây sinh trưởng và toả bóng mát. Mặt hồ còn được điểm trang bởi nhiều ốc đảo nhỏ, mỗi ốc đảo là một thế giới riêng huyền bí.

    Từ lâu, Kẻ Gỗ đã được đông đảo các nhà khoa học trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu. Hiện nay, ngành du lịch Hà Tĩnh cũng đang xúc tiến lập các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như hệ thống các dịch vụ để sớm xây dựng nơi đây thành một khu du lịch sinh thái tổng hợp với nhiều loại hình giải trí như: Ðua thuyền, lướt ván, leo núi câu cá; cùng các khu thể thao như: tennis, cầu lông bóng chuyền; xây dựng vườn thú, vườn chim, vườn cây cảnh. Tin rằng một ngày không xa, khi khu du lịch sinh thái Kẻ Gỗ được xây dựng, có hệ thống giao thông thuận lợi và các loại hình du lịch hấp dẫn, tương xứng với tiềm năng để là điểm hẹn lý tưởng của du khách gần xa.

    4.3 Rừng sản xuất

    Rừng sản xuất: Là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ,lâm sản,đặc sản.

    Ổn định quy mô rừng sản xuất

    • Hà Tĩnh đang xem xét, điều chỉnh quy mô diện tích rừng sản xuất hợp lý cho các đơn vị như. Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh 11.632 ha, Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu 9.600 ha, Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.402 ha …. Tổ chức đấu giá để cho các thành phần kinh tế thuê, nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất.
    • Ðẩy mạnh việc giao đất, khoán rừng cho các thành phần kinh tế nhằm phát huy lợi thế về đất đai và lao động của tỉnh. Từng bước nghiên cứu áp dụng hình thức cho thuê rừng, đấu giá quyền sử dụng đất, rừng, thuê cảnh quan rừng để sản xuất kinh doanh lâm sản và kinh doanh dịch vụ du lịch. Từng bước tiến tới định giá rừng để giao vốn cho các doanh nghiệp quản lý, chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.
    • Tập trung giải quyết dứt điểm các tồn tại của ngành lâm nghiệp do lịch sử để lại, trong đó đặc biệt là các tranh chấp về đất đai, chế độ hưởng lợi, các chồng chéo trong giao đất lâm nghiệp.
    • Đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện đang do UBND các xã quản lý cần khẩn trương xây dựng phương án giao rừng cho các hộ gia đình, trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện hoàn thành trước năm 2010. Việc giao đất cho hộ gia đình cần có quy định cụ thể nhằm lựa chọn đối tượng có khả năng đầu tư phát triển sản xuất, tránh tình trạng giao manh mún tràn lan hoặc lợi dụng việc giao đất để đầu cơ trục lợi cá nhân, đồng thời quan tâm đảm bảo cho các hộ gia đình sống chủ yếu bằng nghề rừng có đất để sản xuất.
    • Hàng năm tổ chức đánh giá tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, đặc biệt đối với diện tích được quy hoạch cho sản xuất, nếu sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích hoặc sử dụng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì thu hồi để giao cho đối tượng khác sử dụng.
    • Hoàn thiện hồ sơ giao đất, giao rừng như làm rõ diện tích, trạng thái, giá trị từng loại rừng khi giao, khoán để làm căn cứ xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người nhận đất, khoán rừng.
    • Ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách cho các chương trình dự án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khi dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
    • Sớm xây dựng quỹ bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn để hỗ trợ vào nguồn đầu tư của Nhà nước trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trọng điểm. Khi chưa hình thành quỹ bảo vệ phát triển rừng thì sử dụng nguồn thu từ thuế tài nguyên, tiền bán lâm sản tịch thu…để đầu tư cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
    • Chủ động kêu gọi các dự án liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng gắn với chế biến lâm sản, các dự án CDM (dự án trồng, bảo vệ rừng sạch); kêu gọi và huy động nguồn lực từ nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng vì mục đích kinh tế- xã hội và môi trường sinh thái.
    • Quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, cấp xã. Đầu tư thích đáng cho công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ khoa học chuyên ngành.
    • Tăng cường công tác khuyến lâm, xây dựng mô hình trình diễn về Lâm nghiệp trên các lĩnh vực sản xuất cây giống, trồng rừng và bảo vệ rừng …

    Khai thác

    • Khai thác gỗ rừng tự nhiên toàn kỳ 5.810 ha, bình quân mỗi năm 447 ha, sản lượng 116.895 m3, bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3; từng bước giảm khai thác rừng tự nhiên.
    • Khai thác rừng trồng tập trung toàn kỳ là 83.417 ha, sản lượng 4.902.331 m3, bình quân 6.417 ha/năm, sản lượng 377.102 m3/năm.
    • Khai thác rừng trồng phân tán khoảng 2 triệu cây/năm, tương đương 1.300 ha, sản lượng 65.000 m3.
    • Khai thác Lâm sản ngoài gỗ: song, mây 49.000 tấn, bình quân 3.769 tấn/năm; nhựa thông 22.000 tấn, bình quân 1.692 tấn/năm; mủ cao su 72.000 tấn, bình quân 5.538 tấn/năm; tre nứa 10 triệu cây/năm.
    • Ưu tiên sử dụng gỗ và các lâm sản từ gỗ khai thác được cho các cơ sở chế biến trong tỉnh.

    Chế biến lâm sản

    • Bình quân mỗi năm khoảng 8 ngàn m3 gỗ rừng tự nhiên và 442.102 m3 gỗ rừng trồng. Định hướng quy hoạch các nhà máy chế biến như­ sau:
    • Chế biến gỗ dăm (keo, bạch đàn, phi lao): ngoài các nhà máy băm dăm xuất khẩu hiện có, không đầu tư xây dựng thêm nhà máy băm dăm ở địa bàn Hà Tĩnh.
    • Chế biến đồ mộc xuất khẩu: đầu tư mở rộng các nhà máy hiện có.
    • Bố trí đầu tư nhà máy sản xuất ván sàn gỗ cao cấp MDF tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 50.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Hương Sơn, công suất 7.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Kỳ Anh, công suất 7.000m3/năm; nhà máy chế biến đồ gỗ nội thất, đồ gỗ văn phòng từ nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu rừng trồng tại khu công nghiệp Vũng Áng công suất 10.000m3/năm; nhà máy ván ép, ván ghép thanh tại Nghi Xuân, công suất 7.000m3/năm.
    1. Nguyên nhân dẫn đến mất rừng.
      • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
      • Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép
      • Cháy rừng
      • Sức ép dân số
      • Nghèo đói
      • Hậu qủa của cuộc chiến tranh để lại
      • Hiệu lực pháp luật và chính sách
      • Phòng trừ sinh vật hại rừng

    Đi vào tìm hiểu 8 nguyên nhân trên chúng ta có thể nhìn nhận được suy thoái rừng ở Hà Tĩnh  đang là vấn đề đáng lo ngại.

     

    5.1. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất:

    • Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất, là mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinh học. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả làm suy thoái rừng. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên rừng ngập mặn Hà Tĩnh đã bị suy thoái nghiêm trọng. Hậu quả của việc phá rừng ngập mặn lấy đất nuôi tôm một cách bừa bãi như hiện nay là huỷ hoại môi trường, làm suy giảm mức sống của nhiều người dân nghèo ven biển, ảnh hưởng xấu đến chủ trương xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững của Chính phủ.Các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớn của hệ sinh thái rừng ngập mặn; buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển có rừng ngập mặn; không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm. Nhiều địa phương (xã Phù Lưu, xã Thạch Châu – huyện Lộc Hà; xã Tùng Lộc, xã Tiến Lộc, thị trấn Nghèn – huyện Can Lộc… ) chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt là nuôi tôm để phát triển kinh tế mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng, nên rừng bị tàn phá khắp nơi. Phần lớn các dự án nuôi tôm không thực hiện việc đánh giá tác động môi trường mà hình như các cơ quan hữu quan cũng không lưu ý nhắc nhở thực hiện luật pháp. Sở lâm nghiệp cũng chưa quan tâm đến việc tuyên truyền giáo dục về lợi ích lâu dài của rừng ngập mặn nên việc đấu tranh để bảo vệ rừng của cộng đồng còn yếu.
    • Dự án “Trồng rừng ngập mặn – Giảm thiểu rủi ro thảm họa”do Hội chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được triển khai từ năm 1994 đến nay để trồng rừng ngập mặn. Trong đó, Hà Tĩnh là 1 trong 10 địa phương của cả nước triển khai một phần dự án này.
    •  
    • (Ảnh minh họa: ThienNhien.Net)
    • Từ đó đến nay, Hội Chữ thập đỏ tỉnh phối hợp với các cấp chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội trồng được khoảng 1.000 ha rừng ngập mặn. Tuy nhiên, theo ông Lê Tập, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, rừng ngập mặn ở Hà Tĩnh đang ngày càng bị thu hẹp, hiện toàn tỉnh chỉ còn khoảng 500 ha. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do con người tàn phá, cộng với tình trạng cây bị sâu bọ, hàu, hà ăn gốc. Ngoài ra, do thổ nhưỡng Hà Tĩnh không phù hợp với một số loại cây trồng. Ở một số xã thuộc huyện Lộc Hà và Thạch Hà, số diện tích rừng ngập mặn bị chết còn do nguyên nhân ngọt hóa sông Nghèn.
    • Ông Lê Tập, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hà Tĩnh cho biết: “Chúng tôi đang cùng với Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, trong giai đoạn 2011- 2015 thành lập các đội quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ chủ chốt các cấp xã, vùng dự án ven sông, ven biển, nơi trọng điểm thiên tai. Hiện chúng tôi cần có nguồn vốn tài trợ để chi cho dân bảo vệ rừng để những cánh rừng khỏi bị tàn phá, tiếp tục đưa những hoạt động trồng rừng ngập mặn vào những nơi có thể trồng được và được nhà nước, địa phương đưa vào danh mục bảo vệ và phục hồi những cánh rừng ngập mặn”.
    • Vì mất nguồn sinh sống, một số người có thể biết là sai nhưng vẫn phải làm để nuôi gia đình, đó là dùng lưới mắt nhỏ, đăng bắt hết tôm tép hoặc dùng chất nổ, xung điện để huỷ diệt nguồn lợi.
    • Ngoài khai phá rừng để làm đầm tôm người dân còn phá rừng để trồng cao su ( huyện Đức Thọ, núi Trùng Bát – huyện Hương Khê ). Mặt khác, do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành thuỷ sản và lâm nghiệp nên không những mất rừng, mà sự cân bằng sinh thái suy giảm và cuộc sống của cộng đồng ven biển bị xáo trộn. Có thể khẳng định, việc nuôi tôm và trồng cao su không có quy hoạch là mối đe doạ lớn nhất đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn và làm giảm diện tích rừng.

    5.2. Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép:

    • Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tài nguyên rừng Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng. Đây là

    nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bị suy thoái một cách nghiêm trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sự phong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm sút gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn cầu. Khai thác rừng là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác nhau mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyên rừng. Với các mục đích khác nhau cho nên hoạt động khai thác nguồn lâm sản ở đây được chia thành 3 hoạt động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ.

    Khai thác gỗ: Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con người đãkhông ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích củamình.

    • Họ khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo, cốppha. Đối với loài gỗ bền chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, làm đồ gia dụng ( bàn, ghế, tủ, giường, cánh cửa… ), đối với loài gỗ quý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của con người. Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để phục vụ mục đích kinh doanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho một tỉnh có trữ lượng tương đối nhiều gỗ quý như Hà Tĩnh ( ví dụ :vụ án 400 cây trong diện tích 50ha rừng pơ-mu đặc dụng tại hai tiểu khu 198 và 204 của Vườn quốc gia Vũ Quang bị lâm tặc đốn hạ, trong khoảng thời gian từ tháng 10-2012 đến tháng 2-2013 trên địa bàn xã Hương Quang, huyện Vũ Quang và xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh). Với tốc độ đáng lo ngại nạn khai thác rừng chủ yếu diễn ra ở các khu rừng nhiệt đới đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng. Như rừng ở vườn quốc Vũ Quang ( rộng 52.882 ha ), khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ ( rộng 21.759 ha ), là khu thuộc rừng đặc dụng lớn nhất tỉnh hiện nay cũng đang bị khai phá nghiêm trọng cũng với tốc độ khai phá này thì chỉ trong vài mươi năm nữa thì khu rừng sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn.

    Khai thác củi : Đối với các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục vụ kinh doanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khai thác với mục đích là làm củi đốt. Nhiều huyện ở vùng miền núi và nông thôn chiếm một phần dân số đông so với toàn tỉnh như: huyện Vũ Quang, huyện Cẩm Xuyên, huyện Can Lộc…, đã theo thói quen trong sinh hoạt họ chỉ dùng củi để làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao. Những hộ gia đình nghèo không có đất sản xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều có thêm thu nhập. Với dân số của tỉnh là 1.300.800 người (năm 2005) hiện nay, thì nhu cầu về lượng củi đốt như hiện nay cũng tăng theo. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho việc tàn phá rừng tiếp tục tiếp diễn.

    Khai thác lâm sản ngoài gỗ: Ngoài khai thác gỗ quý hiếm và khai thác củi thì khai thác lâm sản ngoài gỗ cũng là một sự tàn phá đến tài nguyên rừng.

    • Đây có thể xem là nguyên nhân tác động làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các loài động vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các sản phẩm ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, lá các loại cây thuốc, dầu… Tất cả các loài trên có thể được sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buôn bán trái phép, xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ. Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đã thúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi. Cùng xuất phát từ sự nghèo đói mà người dân đổ xô vào rừng khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ. Chỉ vì khai thác quá mức để bán ra các tỉnh và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất đũa, chiếu và làn giàn giáo cho các công trình xây dựng mà dẫn đến suy thoái các rừng luồng nghiêm trọng. Và đang còn rất nhiều hoạt động khai thác các loài động vật thực vật khác theo từng mục đích riêng ảnh hưởng tới môi trường. Các hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sự phục hồi rừng không kịp với tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái. Cần có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và làm giảm các hoạt động trái phép này.

    5.3. Cháy rừng

    • Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người. Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy. Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu nguồn (huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang ), đất dốc (núi Hồng Lĩnh thuộc huyên Can Lộc, huyện Lộc Hà và thị xã Hồng Lĩnh ), vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng dễ gây lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá. Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng. Sự phục hồi và tái tạo lại rừng trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi.

    5.4. Sức ép dân số

    • Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái môi trường. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Khi chưa có sự xuất hiện của con người, rừng che phủ hầu hết đất đai của các lục địa, trong lịch sử phát triển của loài người vào thời kì đồ đá cũ, con người sống hoàn toàn phụ thuộc vào rừng bằng các hoạt động săn bắt và hái lượm, các hoạt động này không gây thiệt hại gì cho rừng. Đến khi con người bắt đầu biết chăn nuôi và trồng trọt thì con người có những hoạt động tác hại đến rừng, mặc dù các tác động này có phần nào hạn chế sự phát triển của rừng nhưng cũng chưa đáng kể lắm. Từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên trở về sau thì rừng mới thực sự bị con người tấn công khai phá. Sự tấn công khai phá rừng ngày càng được thấy rõ nét hơn, khi dân số đông dần lên, nông nghiệp ngày càng mở rộng đồng thời nghề luyện kim xuất hiện. Con người đốt rừng để trồng tỉa, lấy gỗ để làm nhiên liệu, đồ gỗ làm thuyền làm bè… Cứ như thế rừng bị thu hẹp dần. Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp, đời sống của con người dần được nâng lên, nhu cầu trong đời sống của họ cũng dần tăng cùng theo đó. Và dần dần, dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của họ, gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị. Người dân ồ ạt ra thành thị kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hoỉ nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương đồng để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân. Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt đầu được hình thành. Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất cả các hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, chẳng hạn như xây dựng nhà máy xi măng, nhà máy gạch, các nhà máy chế biến nguyên liệu mía, sắn… thì không thể xây dựng trong địa bàn thành thị vì lí do đảm bảo đầu vào nguyên liệu dễ dàng, đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm ở thành thị thì buộc họ phải chuyển đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng cở sở sản xuất cho mình. Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Và tại các vùng nông thôn thì dân số tăng thì buộc người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống. Điều tất nhiên là người dân không thể mở rộng diện tích đất sản xuất xuống các vùng đô thị, diện tích đất đồng bằng chiếm phần rất ít thì buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bất đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất. Ban đầu chỉ khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên. Do nền kinh tế phat triển, giá cả đất tại các đô thị rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống tiềm năng. Khi dân số tăng nhanh không những nhu cầu về việc làm, nhà ở tăng mà bên cạnh đó nhu cầu giả trí ăn uống du lịch… của con người cũng tăng nhiều hơn khi đời sống người dân được nâng lên họ muốn được ăn những thứ ngon, những thứ lạ, dùng những sản phẩm độc đào từ thên nhiên, muốn có nguồn vật liệu xây dựng như sản phẩm từ gỗ quý hiếm như: giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), gụ (Sindora siamensis), sao đen (Hopea odaratu). Có cầu ắt sẽ có cung và con người lại tiếp tục vào rừng tìm kiềm các loài động thực vật quý hiếm để săn bắt, khai thác với mục đích bán cái trên thị trường cần để có thêm thu nhập. Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị tiêu diệt làm cho số lượng và chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi. Vậy có thể nói sức ép dân số cũng tác động mãnh mẽ đến sự suy thoái tài nguyên rừng, con người cần có sự khai thác hợp lý có kế hoạch để hạn chế tình trạng kahi thác rừng bừa bài làm giảm tài nguyên rừng một cách đáng kể.

    5.5. Nghèo đói

    • Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần là do sự đói nghèo tác động nên. Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất đã dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức làm tăng sự khan hiếm và suy thoái. Với khoảng 70% dân cư sống ở nông thôn, Hà Tĩnh là một tỉnh đang phát triển dựa vào nông nghiệp phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo. Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh chóng. Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán. Nhưng vì nghèo, không có đất sản xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để nuôi sống bản thân và gia đình họ, có thể số củi, gỗ mà họ khai thác được chỉ bán ra với giá là 50.000 đồng nhưng số tiền đó lại nuôi được gia đình họ trong một tuần, nếu thu nhập một người/ ngày mà thấp hơn 15.000 thì được xét là hộ nghèo thì những hộ gia đình đó lại có cuộc sống khó khăn hơn. Các hoạt động khai phá của họ cũng một phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho những người giàu có, phục vụ mục đích kinh doanh cho những con người có tiền bạc. Tuy hoạt động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng. Khi rừng ngày càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rưùng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém. Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng. Vốn dĩ họ đã nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập. Vì mục đích là có thu nhập nuôi sống gia đình mình mà các hộ dân nghèo đói đang dần dần làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vậy cần có các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho hộ nghèo đói như các chương trình phát triển ngành nghệ phụ… để giảm bớt hiện tượng khai thác rừng.

    5.6. Hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học để lại:

    • Cuộc chiến tranh hoá học chính là những cuộc chiến tranh bằng chất độc da cam/đioxin mà quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng và rải lên đất nước Việt Nam trong các cuộc chiến tranh và Hà Tĩnh cũng phải hứng chịu hậu quả nặng nề đó. Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải, lặp đi lặp lại nhiều lần trong một quãng thời gian dài với nồng đọ cao, chúng ngấm và dần phân huỷ trong đất, không những đã làm chết cây cối mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên. Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và môi trường rừng là rất rõ ràng. Trong quá trình bị tác động, hàng trăm loài cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu ( Dipterocarpaceae), họ đậu ( Fabaceae). Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như giáng hương ( Pterocarpus macrocarpus), gụ ( Sindora siamensis), sao đen ( Hopea odorata)… và một số cây họ dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống của một số loài cây quý. Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa ánh sáng mọc nhanh, kém giá trị kinh tế thì chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa. Nhiều khu rừng đã bị phá huỷ nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bom đạn… Hậu quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ ( Pennisetum polystachyon), cỏ tranh (Imperate cylindrica), lau lách xâm lấn và đến nay rừng vẫn chưa được phục hồi. Ngoài ra, chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho các loại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, song mây và các loài động vật rừng. Và hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ rải xuống còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về môi trường và tính đa dnạg sinh học làm cho quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng ứ đọng dinh dưỡng và có 10-15 triệ hố bom chiếm khoảng 1% diện tích rừng Nam Việt Nam làm cho lớp đất mặt bị đảo lộn và thúc đẩy quá trình rửa trôi đất. Hậu quả trên cản trở trực tiếp đến diễn thế phục hồi rừng và tác động xấu đến rừng phòng hộ đầu nguồn. Tuy những năm gần đây, cây rừng cũng đã được chăm sóc, được đầu tư phát triển thêm nhưng chất lượng và số lượng vẫn không được cao. Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng hậu quả mà cuộc chiến tranh hoá học để lại là giảm diện tích rừng, làm cho tài nguyên rừng Hà Tĩnh bị tổn thương rất nặng nề. Mặc dù, đã trải qua trên 30 năm nhưng vết thương đó vẫn chưa lành, diện tích rừng thì có nhiều biến đổi theo xu hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chiến tranh hoá học của Mỹ đã để lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng Việt Nam cũng như tại Hà Tĩnh.
    • Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nghiêm trọng về diện tích là do khai hoang trong chiến tranh, do tập quán sống, do cháy rừng, do sự khai phá bừa bãi lấy gỗ lấy đất canh tác…, nguồn tài nguyên động- thực vật đa dạng của rừng Hà Tĩnh cũng bị giảm sút nghiêm trọng là do sự săn bắt thú bừa bãi để lấy lông, da, thịt, sừng và các sản phẩm khác để làm thuốc, còn do việc buôn lậu thú quý hiếm ra nước ngoài… Trong 4 thập kỷ qua theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim đã bị tuyệt chủng và 120 loài thú đã bị diệt vong. Tất cả hậu quả trên đều do con người trực tiếp gây ra. Và qua phân tích ở trên chúng ta thấy cả 6 nguyên nhân đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, cùng tác động và chi phối lẫn nhau, đều tác động trực tiếp làm ảnh hưởng tài nguyên rừng, làm suy thoái tài nguyên rừng rất nhanh. Vấn đề đặt ra cho các ban ngành kiểm lâm cần có những chính sách tác động để bảo vệ tài nguyên rừng, có sự kiểm soát chặt chẽ với những hành động khai thác trộm bừa bãi các động thực vật quý hiếm. Cần tuyên truyền cho người dân biết tác hại của vấn đề tàn phá rừng để tăng ý thức bảo vệ cộng đồng làm cho rừng Hà Tĩnh ngày càng đa dạng hơn về chủng loại và số lượng..

    5.7. Hiệu lực pháp luật và chính sách

    • Hiệu lực thi hành pháp luật trong cộng đồng và cán bộ địa phương còn hạn chế, hành lang pháp lý chưa đủ mạnh. Các vụ vượt quá thẩm quyền chuyển cấp trên thời gian xử còn kéo dài chưa có tác dụng giáo dục cho cộng đồng. Chính sách đãi ngộ, quan tâm của Nhà nước đối với lực lượng kiểm lâm chưa thỏa đáng. Kiểm lâm thường xuyên bị đe dọa bởi những đối tượng có hành vi khai thác trộm lâm sản. Họ chưa yên tâm với công tác. Hiện biên chế kiểm lâm còn thiếu nhiều (theo quy định với diện tích 115.545ha, biên chế cần là 231 người, nhưng tới năm 2008 mới chỉ có 72 người o Yok Don). Đây là một khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng Vườn quốc gia . Việc nâng cao năng lực kỹ năng về bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi pháp luật cho kiểm lâm chưa ngang tầm nhiệm vụ.

    5.8 Phòng trừ sinh vật hại rừng

    • Những năm qua, trên diện tích rừng cả nước chưa xảy ra dịch bệnh mất rừng với quy mô lớn nhưng ở tại Hà Tĩnh có xảy ra hiện tượng dịch sâu róm hại rừng trồng các loại cây thông, có năm diện tích rừng bị nhiễm dịch lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm héc ta, đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất nhựa. Sở lâm nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật phòng trừ như: phun thuốc sâu, biện pháp sinh học… Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ kỹ thuật về phòng trừ sinh vật hại rừng còn rất hạn chế, chủ yếu mới thực hiện các giải pháp ứng phó khi dịch xảy ra, các biện pháp phòng sinh vật hại rừng chư được quan tâm đúng mức, do vậy sẽ rất lung túng nếu dịch xảy ra trên quy mô lớn. Theo quy hiện hành của pháp luật, công tác quản lý về phòng trừ sinh vật hại rừng được giao cho hệ thống cơ quan bảo vệ thực vật, Tuy nhiên các cơ quan này mới chỉ chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ cây trồng nông nghiệp, chưa có đầy đủ năng lực để thực hiện các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rừng.
    1. Tác động của suy giảm tài nguyên rừng đến tự nhiên – môi trường sống.

    6.1 Ảnh hưởng với môi trường tự nhiên:

    • Sự suy giảm tài nguyên rừng có ảnh hưởng như thế nào đối với tự nhiên và môi trường?
      • Đối với tự nhiên:
    • Đối với tài nguyên nước: mất rừng gây biến động thủy chế sông ngòi, giảm sự điều hòa của dòng chảy, dẫn đến lũ lụt khô hạn, làm tăng quá trình bốc hơi giảm lượng nước ngầm.
    • Đối với tài nguyên đất: Làm tăng qúa trình xói mòn, rửa trôi, đá ong hóa mạnh mẽ làm tăng diện tích đất bị thoái hóa.
    • Đối với tài nguyên sinh vật: Mất rừng làm suy giảm tính đa dạng sinh học, số lượng loài động thực vật bị tuyệt chủng ngày càng tăng
      • Đối với môi trường:
    • Đối với môi trường không khí: Rừng bị chặt phá làm tăng lượng CO2, tăng nhiệt độ không khí, thủng tầng Ôzôn, ô nhiểm khí quyển.
    • Đối với sinh thái: nhiệt độ không khí tăng làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần thể của nhiều hệ sinh thái, ranh giới các hệ sinh thái có xu hướng chuyển dich lên cao hơn. Nhiệt độ tăng làm tăng khă năng cháy rừng.

    6.2. Ảnh hưởng của suy giảm tài nguyên rừng đến môi trường sống.

    • Suy giảm tài nguyên rừng gây thiên tai ở nhiều nơi
    • Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và chịu tác động trực tiếp của ổ bão châu Á -Thái Bình Dương – một trong 5 ổ bão lớn của thế giới, Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai. Nước ta còn nằm trong số 10 nước hàng đầu về tần suất bị thiên tai trên thế giới, với những loại thiên tai phổ biến là bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán.
    • Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, 10 năm gần đây, bình quân mỗi năm, có khoảng 750 người chết và mất tích do thiên tai, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP. Theo các chuyên gia về môi trường, Việt Nam sẽ tiếp tục phải hứng chịu nhiều đợt thiên tai trong tương lai với tần suất nhiều hơn, cường độ mạnh hơn do chịu sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu – tác động của suy giảm tài nguyên rừng.
    • Ảnh hưởng của nạn phá rừng đối với lũ lụt đã và đang được tranh luận trên khắp thế giới. Các cuộc nghiên cứu và điều tra ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới đã chứng minh rằng nguyên nhân hàng đầu của lũ lụt là có quá nhiều mưa xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi, và việc phá rừng có thể ảnh hưởng quan trọng đối với lũ lụt trong các lưu vực hạn hẹp như ở miền Trung. Cây cối có khả năng giữ nước cũng như giảm thiểu việc đất đai sạt lở. Lượng nước lũ ở một vùng có nhiều cây cối sẽ ít hơn lượng nước lũ từ một vùng trơ trọi. Vì thế nạn phá rừng có thể gia tăng mực nước ở các vùng hạ lưu.
      • Khi rừng bị suy thoái thì xảy ra nạn ô nhiễm môi sinh, nạn trái đất ấm dần lên, nạn đói kém, lụt lội, nạn voi bỏ rừng về buôn làng giết hại con người, phá hoại tài sản .v.v.
    • Người ta ước tính, nạn phá rừng khiến mỗi năm thế giới thiệt mất một số tiền lên tới 45 tỷ Mỹ Kim. Tuy số tiền vừa đề cập là một số tiền vô cùng lớn lao; thế nhưng những chính sách hay hành động có tính thiển cận, tạo ra vô vàn thiệt hại khác mà thiệt hại có’ tầm mức nghiêm trọng nhất lại là thiệt hại về tính đa dạng sinh tháị.Như ta đã biết rừng nhiệt đới giữ một vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh tháị Đây là nơi ở của tới 70% chủng loại cây cối và muông thú của trái đất; đồng thời cũng là nơi chứa tới hơn 13 triệu chủng loại khác nhaụ Rừng nhiệt đới chứa tới 70% loại cây co ‘ống mạch, 30% tất cả các loài chim và 90% loài động vật không xương sống. Đăỳc biệt rừng nhiệt đới còn là nơi sinh sống của những loài động vật độc đáo nổi tiếng như các loài linh trưởng như đười ươi, vượn; các giống thuộc họ miêu, tức mèo như sư tử, cọp, beo, v.v. Riêng trong lĩnh vực chủng loại thảo mộc mà thôi, rừng nhiệt đới cũng cực kỳ đa dạng và mỗi mẫu rừng chứa tới hơn 200 chủng loại khác nhaụ Việc phá hoại rừng khiến hàng nghìn chủng loại cây cối và thú vật bị tuyệt chủng. Số lượng chính xác bị tuyệt chủng là bao nhiêu thì người ta quả không rõ; thế nhưng có người đoán mỗi năm khoảng 50.000 chủng loại khác nhau bị tuyệt chủng.
    • Tiên đoán là trong thế kỷ 21 này, cứ mỗi một thập niên, trái đất trái đất ấm dần lên độ 0,3 độ C. Lý do là vì số lượng carbon dioxide hiện diện trong bầu khí quyển gia tăng; và kể từ 150 năm qua, số này đã tăng tới 25%; và mặc dù chỉ chiếm có 1/20 của một phần trăm khí quyển địa cầu, carbon dioxide có khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ rất cao.
      • Mất rừng ngập mặn sẽ đẩy mạnh sự xâm nhập nước mặn vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, gây ô nhiễm đất và nguồn nước
    • Trong vòng 50 năm qua, Việt Nam đã mất đi hoặc suy giảm chất lượng hơn 80% diện tích rừng ngập mặn. Đặc biệt giai đoạn từ 1995 trở lại đây, rừng ngập mặn đã bị tàn phá với tốc độ nhanh khủng khiếp để phục vụ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Tại nhiều địa phương, nuôi tôm đã từng được coi là một nghề siêu lợi nhuận, dẫn đến phong trào nơi nơi, nhà nhà đầu tư vào ngành này một cách tự phát, làm chết hoặc chủ động phá đi hàng trăm ngàn ha rừng ngập mặn, bất chấp những rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn về tình trạng ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và những biến cố, thảm họa tự nhiên có thể xảy ra. Phong trào này đồng thời kéo theo hàng loạt các vấn đề kinh tế xã hội phức tạp khác. Thực trạng này đã diễn ra ở nhiều tỉnh duyên hải, đặc biệt thấy rõ ở một số tỉnh miền Tây Nam Bộ như Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu… Điều đó, một mặt phản ánh sự thiếu hiểu biết và thái độ bất chấp của người dân, mặt khác cho thấy sự yếu kém trong vấn đề quản lý, quy hoạch của chính quyền địa phương đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương.
    • Sau hơn 10 năm thực hiện “công cuộc tàn phá rừng ngập mặn”, giờ đây không ai khác mà chính người dân địa phương ở những nơi này đang phải chứng kiến và gánh chịu hậu quả về sinh thái và kinh tế xã hội.
    • Việc phá rừng ngập mặn làm đìa tôm trước mắt có thể đem lại lợi nhuận hàng trăm tỉ đồng mỗi năm, nhưng hậu quả thì khôn lường. Một thực tế là ở những nơi rừng ngập mặn bị tàn phá, lượng mưa giảm rõ rệt, không khí nóng bức hơn, bầu không khí bị ô nhiễm do lượng khí CO2 tăng.
    • Phá rừng nuôi tôm đã trở thành chuyện phổ biến

    EMôi trường đất: Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người.Hiện nay đất đang bị suy thoái do các hoạt động sống của con người đặc biệt là hoạt động khai thác rừng bừa bãi,đốt rừng làm nương rẫy,…Chính những hoạt động này đã làm mất thảm thực vật bảo vệ đất khỏi xói mòn,rửa trôi, ngoài ra suy giảm tài nguyên rừng còn làm giảm độ ẩm, độ phì của đất… làm tăng diện tích đất bị thoái hóa. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.

     

    ]Qua đây ta thấy suy giảm tài nguyên rừng là nguyên nhân gây suy thoái đất.

    EMôi trường nước: Rừng không chỉ có khả năng hấp thụ CO2 mà rừng góp phần giữ ổn định nguồn cấp nước, giảm thiểu nguy cơ hạn hán cũng như lũ lụt. Rừng còn giúp cân bằng dòng chảy cố định cho các hệ sinh thái và các trung tâm đô thị.Bởi vậy,suy giảm rừng gây biến động thủy chế sông ngòi, giảm sự điều hòa của dòng chảy,làm tăng quá trình bốc hơi giảm lượng nước ngầm,dẫn đến lũ lụt khô hạn. Hiện nay,nước ta  đang diễn ra tình trạng thiếu nước trong mùa khô đặc biệt là ở các tỉnh ở Tây Nguyên và lũ lụt trong suốt mùa mưa.

     

    ]Hiện tượng này một phần do suy giảm rừng và tác động của biến đổi khí hậu.

    EMôi trường không khí: Rừng là ‘ lá phổi xanh”,có khả năng hấp thụ CO2 tạo khí O2 thông qua quá trình quang hợp.Rừng có ảnh hưởng đến nhiệt độ,độ ẩm không khí,thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hòa khí hậu.

    • Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt (đi lại bằng xe cơ giới,..) chúng ta thải ra môi trường không khí hàng tấn bụi,khí,sol khí…những khí thải này sẽ bay lơ lững và nếu như không có những hàng cây để chúng bám vào thì ô nhiễm không khí là không tránh được.

    Mức độ ô nhiễm không khí ở nước ta do bụi là rất trầm trọng, vượt chỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, trong đó có những khu vực gấp từ 3 – 4.

    • Bên cạnh đó suy giảm rừng sẽ làm tăng lượng CO2 ,tăng nhiệt độ…hiệu ứng nhà kính tăng.Bởi vậy,không riêng gì nước ta mà toàn thế giới đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
    • Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong thế kỷ XXI, những ảnh hưởng này còn trầm trọng và khốc liệt hơn nữa. Theo ủy ban liên chính phủ về BĐKH, nếu không có các biện pháp mạnh mẽ để giảm lượng khí thải toàn cầu thì đến 2100, nhiệt độ Trái đất có thể tăng đến 4,8°C so với năm 1990.

    CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP

     

    1. Đối với cộng đồng dân cư

    Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng.

    • Xây dựng các chương trình về thông tin – giáo dục – truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng, chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội.
    • Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa. Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học. In ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho các cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng…
    • Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã.

    Đối với chủ rừng.

    • Chủ rừng phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật. Những chủ rừng quản lý trên 500ha rừng phải có lực lượng bảo vệ rừng của mình.
    • Xây dựng các chương trình, đề án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, được thuê đảm bảo bố trí các nguồn lực không để rừng bị xâm hại trái pháp luật.

    Đối với các tổ chức xã hội.

    Phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình tuyên truyền, vận động và giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng cho các thành viên; phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và phát triển rừng.

    1. Đối với chính quyền địa phương

    Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp.

    • Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng theo quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức các lực lượng truy quét lâm tặc phá rừng tại địa phương. Ngăn chặn kịp thời các trường hợp khai thác, phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Chỉ đạo xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và những người bao che, tiếp tay cho lâm tặc. Những địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và bị xử lý theo quy định.
    • Tổ chức khôi phục lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái quy định của pháp luật trong thời gian qua.
    • Tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di dư tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
    • Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào năm 2010.

     Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân.

    • Đẩy mạnh việc giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc, đồng thời hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng.
    • Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổ chức thực hiện các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp luật…
    • Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục tập quán của đồng bào ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác thâm canh, cung cấp giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào.
    • Nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng.
    1. Đối với cơ quan quản lý

    Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định.

    • Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức rà soát, lập quy hoạch 3 loại rừng của địa phương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát quy hoạch rừng ngập mặn ven biển đảm bảo an toàn bảo vệ môi trường ven biển và phát triển nuôi trồng thủy sản hợp lý, tổng hợp quy hoạch ba loại rừng quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể ba loại rừng toàn quốc;
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát danh mục hệ thống rừng đặc dụng để ổn định đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2006. Trên cơ sở đó, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho các khu rừng đặc dụng theo Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
    • Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc mốc, cắm biển báo ranh giới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn vào năm 2010.

    Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật

    • Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế, tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả.
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp.
    • Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng chính sách về bảo vệ rừng theo hướng đảm bảo lợi ích của những người làm nghề rừng, những người trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, tạo động lực thu hút đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, sớm sửa đổi chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng theo Quyết định 187/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách giao, cho thuê rừng, khoán bảo vệ rừng; chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng lâm nghiệp trước hết là nâng cao tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn thuộc chương trình 661 lên mức 15% – 20% tổng vốn chương trình; chính sách khuyến khích nhập khẩu gỗ nguyên liệu và trồng rừng nguyên liệu thay thế gỗ rừng tự nhiên.
    • Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát và sắp xếp các lâm trường quốc doanh; đồng thời triển khai ngay các phương án bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp thu hồi từ các lâm trường quốc doanh, không để tình trạng rừng trở thành vô chủ. Trao quyền tự chủ về kinh doanh và tài chính cho các nông, lâm trường quốc doanh sau khi sắp xếp lại.

    Đối với lực lượng Công an.

    • Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép, đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thích đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành công vụ; phối hợp với các lực lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra, kiểm soát lưu thông lâm sản. Rà soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọng trong lĩnh vực bảo vệ rừng.

    Đối với lực lượng Quân đội.

    • Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây dựng địa bàn quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng.
    • Sau khi giải quyết căn bản ổn định tình hình phá rừng trái phép trong một thời gian, các đơn vị quân đội bàn giao việc bảo vệ rừng cho chính quyền địa phương để tiếp tục duy trì công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ở những khu vực có vị trí quan trọng về quốc phòng, thì có thể giao quản lý rừng lâu dài cho các đơn vị quân đội.
    • Huy động các đơn vị quân đội tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở những khu vực rừng có nguy cơ cháy rừng cao như: U Minh, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải có phương án để huy động lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn bố trí lực lượng thường trực, canh phòng và sẵn sàng chữa cháy rừng vào các tháng mùa khô cao điểm. Quân đội phải chủ động phương án tăng cường lực lượng, huấn luyện và diễn tập tại các khu vực này, phải coi chống lửa rừng như chống giặc để bảo vệ địa bàn quốc phòng.
    • Huy động lực lượng quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng: Bộ Quốc phòng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu chính sách thu hút các đơn vị quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng. Các đơn vị quân đội duy trì lực lượng bộ khung chỉ huy, lực lượng lao động chủ yếu sử dụng lực lượng nghĩa vụ quân sự. Sau khi rừng khép tán có thể bàn giao cho chính quyền để giao cho người dân quản lý bảo vệ, kinh doanh hoặc giao cho các đơn vị quân đội tiếp tục quản lý kinh doanh theo dự án và quy định của pháp luật.
    • Mở rộng diện tích rừng giao cho các đơn vị quân đội (nhất là các Đồn Biên phòng) tổ chức quản lý, bảo vệ; xây dựng các tuyến đường an ninh quốc phòng gắn với công tác bảo vệ rừng hai bên đường dọc tuyến biên giới; hải đảo và các khu vực rừng ở vùng sâu, vùng xa.

    Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm.

    • Đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm gắn với chính quyền, với dân, với rừng, thực hiện chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo đảm chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100% các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn ngay từ đầu những vụ vi phạm. Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để bảo đảm định mức bình quân 1.000ha rừng có 1 kiểm lâm.
    • Tăng cường trang thiết bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng.
    • Ban hành một số chính sách về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Ban hành tiêu chuẩn ngạch công chức kiểm lâm vào năm 2006.
    • Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo về bảo vệ rừng đến năm 2010. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo vệ rừng.

    . Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng.

    • Lắp đặt và khai thác có hiệu quả trạm thu ảnh viễn thám phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng.
    • Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (đường băng, chòi canh, hồ chứa nước, trạm bảo vệ, đường tuần tra…) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định về phá rừng và cháy rừng.
    • Đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng bảo vệ rừng.
    • Trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho các Hạt Kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt Kiểm lâm ở những vùng trọng điểm.

    Ứng dụng khoa học công nghệ

    • Ứng dụng công nghệ tin học, GIS, viễn thám vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
    • Thiết lập và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
    • Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình giám sát, điều tra đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng.
    • Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng.

    Tài chính

    • Nghiên cứu và xây dựng quy chế tăng cường nguồn lực tài chính và thu hút các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ rừng; ban hành cơ chế tài chính đầu tư cho các khu rừng đặc dụng, phòng hộ.
    • Đổi mới cơ chế cấp phát tài chính từ ngân sách nhà nước; xây dựng định mức chi phí thường xuyên về quản lý bảo vệ rừng tính theo quy mô diện tích và yêu cầu thực tế.
    • Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng.
    • Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các tỉnh đáp ứng đủ vốn đầu tư cho các dự án, chương trình về bảo vệ và phát triển rừng được duyệt với tổng kinh phí 2.077 tỷ đồng bao gồm: đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng 502 tỷ đồng; khoán bảo vệ 4,5 triệu hécta rừng đặc dụng, phòng hộ 1.250 tỷ đồng; hoạt động nghiệp vụ, công trình và trang thiết bị bảo vệ rừng 225 tỷ đồng; xây dựng cơ sở và huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về bảo vệ rừng 100 tỷ đồng.

    Hợp tác quốc tế

    • Triển khai thực hiện tốt các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước về buôn buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp – CITES; Hiệp định ASEAN về chống ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới – haZE; Diễn đàn hổ toàn cầu – GTF,…)
    • Thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ rừng.
    • Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liên biên giới với các nước Lào và Campuchia.

    Phòng cháy chữa cháy rừng.

    • Chi cục kiểm lâm thường xuyên theo dõi và truyền tải kịp thời bản tin cấp dự báo cháy rừng đến từng đơn vị kiểm lâm các địa phương để chủ động tuần tra liên tục nhằm sớm phát hiện lửa rừng để có biện pháp chữa cháy hiệu quả nhất.
    • Các đơn vị kiểm lâm, ban quản lý rừng phòng hộ, chủ rừng tập trung triển khai các phương án phòng cháy chữa cháy rừng: củng cố, kiện toàn ban chỉ huy huyện, ban chỉ huy cấp xã, tổ phòng cháy chữa cháy rừng cấp thôn và tổ xung kích bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại các vùng trọng điểm.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kiểm tra tình hình phòng cháy chữa cháy ở các địa phương, tăng cường kiểm soát nguồn lửa của người dân trong quá trình xử lý thực bì để sản xuất hoa màu, trồng rừng,…

    C. TỔNG KẾT

    1. Kết luận

              Trong những năm qua, chúng ta đã nhận thức rất rõ các nguyên nhân gây ra mất rừng, suy thoái rừng và đã có rất nhiều nỗ lực để giải quyết vấn đề này và đã đạt được những kết quả được nhà nước cũng như quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, sự  đầu tư của Nhà nước không phải là vô hạn. Do đó cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua việc thiết lập một cơ chế tài chính mới và bền vững dựa vào chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh đó, việc quản lý bảo vệ rừng bền vững cũng góp phần đem lại những lợi ích cho khu vực và toàn cầu (ví dụ : hạn chế

    biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học …)

    Hiện nay giá trị của rừng vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ và người dân vẫn chưa yên tâm sống bằng nghề rừng cũng như tích cực tham gia quản lý và sử dụng rừng bền vững. Hệ quả tất yếu là áp lực lên tài nguyên rừng hiện có ngày càng tăng, hiện tượng mất rừng và suy thoái rừng vẫn còn tiếp diễn ở nhiều nơi. Nếu giá trị của rừng được  đánh  giá  và  được  lượng  hóa  một  cách đầy  đủ  (cả  giá  trị  về  gỗ,  lâm  sản ngoài gỗ và giá trị bảo vệ môi trường …) thì đó sẽ là cơ sở quan trọng để so sánh giữa lợi  ích  của  việc bảo  vệ  và  phát  triển  rừng  với  lợi nhuận  thu  được  từ  các  hoạt  động chuyển đổi rừng sang các mục đích sử dụng khác. Đó cũng là căng cứ để xây dựng một chính sách khuyến khích đủ mạnh để ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng. Tuy nhiên, việc định giá rừng (đặc biệt là lượng hóa giá trị của rừng đối với việc hấp thụ các bon và giảm phát thải khí nhà kính) và tính toán chi phí cơ hội của các hoạt động sử dụng tài nguyên khác nhau  ở Hà Tĩnh cũng như việc tìm kiếm thị trường còn gặp nhiều khó khăn.Là  mỗi người dân  Việt Nam chúng ta cần tích cực trong việc bảo vệ rừng, đó cũng  chính  là bảo vệ  cuộc  sống  của  chúng  ta.Vị cha  già kính yêu của dân tộc ta đã từng  nói:  “Rừng  vàng,  biển bạc,  đất  phì  nhiêu”.Vì thế chúng ta cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát triển nguồn tài nguyên quý giá đó.

    1. Kiến nghị

    Để đảm bảo xây dựng và phát triển một nền kinh tế đa dạng và bền vững thì vấn đề đảm bảo được nguồn tài nguyên và cải thiện chất lượng môi trường cũng như khắc phục được tình trạng suy thoái rừng nhanh chóng là yếu tố hàng đầu quyết định đến khả năng phát triển bền vững hệ sinh thái, cho nên thông qua đề tài này tôi mong rằng các cơ quan ban ngành nhanh chóng có những giải pháp cụ thể để tiến hành bảo vệ và cải tạo chất lượng môi trường cũng như tình trạng suy giảm về số lượng, chất lượng các loại rừng trên địa bàn, đồng thời cần nghiêm túc thực hiện và quán triệt việc chỉ đạo thực hiện một cách thường xuyên và có hiệu quả các giải pháp đã đề ra nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người cũng như quá trình phát triển của xã hội.

    1. Tài liệu tham khảo
    • Lê Văn Khoa – Khoa học môi trường. NXB Giáo Dục. 2001
    • Nguyễn Đình Hòe – Môi trường và phát triển bền vững. NXB Giáo Dục. 2007
    • Hoàng Đức Nhuận – Bảo vệ môi trường. NXB Giáo Dục .2000
    • vn
    • gov.vn – Cổng Thông Tin Thành Phố Hà Tĩnh
    • vn
    • com.vn
    • gov.vn – Trang thông tin Điện tử Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh
    • wikipedia.or

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột

    Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột

    Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Luật Hình sự


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kĩ thuật chế tạo 1 Phương pháp luyện kim bột

    1. Giới thệu chung

    1.1. Lịch sử phát triển:

    Khoảng 60 năm trở lại đây, trên thế giới xuất hiện một ngành kỹ thuật mới, tuy còn non trẻ nhưng phát triển với tốc độ nhanh, ngày càng chiếm lĩnh được thị trường, đó là ngành luyện kim bột. Tuy mới ra đời nhưng sản phẩm của luyện kim bột đã được áp dụng rộng rãi trong mọi ngành kinh tế quốc dân.

    1.2. Nguyên lý làm việc

    Quy trình sản xuất luyện kim bột trải qua các công đoạn:

    • Sản xuất bột kim loại, hợp kim hoặc bột gốm.
    • Trộn bột kim loại,bột hợp kim với chất dính và chất phụ gia.
    • Tạo hình sản phẩm: tạo ra sản phẩm có hình dáng theo yêu cầu nhưng chưa có liên kết bền giữa các hạt bột vật liệu.
    • Thiêu kế (gia công nhiệt): tạo liên kế bền giữa các hạt vật liệu và độ bền cần thiết cho chi tiết.
    • Gia công tinh: tinh chỉnh kích thước, ép lại, nhiệt luyện…

    Trong thực tế không nhất thiết phải đúng trình tự như trên, đôi khi có thể tiến hành hai nguyên công đồng thời, thí dụ tạo hình và thiêu kế đồng thời.

    1.3. Ưu nhược điểm của luyện kim bột:

    Ưu điểm công nghệ luyện kim bột:

    – Nguyên liệu được sử dụng gần như triệt để ( hư hao nguyên liệu ít ).

    – Sản phẩm ra có tính đồng nhất cao và ít phải gia công.

    – Có khả năng tạo ra các vật liệu mà các phương pháp nấu đúc truyền thống không thể tạo ra được. Ví dụ như các hợp kim đồng – graphit, đồng – graphit – teflon, hợp kim cứng, …

    – Có thể điều chỉnh thành phần bột theo ý muốn với độ đồng đều rất cao.

    Hình 1. Sản phẩm luyện kim bột có tính đồng nhất cao

    Tuy nhiên, công nghệ vật liệu bột cũng có một số nhược điểm sau:

    – Khả năng sản xuất khối lớn hàng loạt không bằng phương pháp nấu đúc truyền thống, chỉ áp dụng cho các chi tiết nhỏ và vừa.

    – Công nghệ vật liệu bột chỉ có ưu thế khi chế tạo vật liệu chứa lỗ xốp và vật liệu kết hợp.

    – Vật liệu kim loại bột có độ bền thấp hơn vật liệu truyền thống do trong tổ chức có nhiều lỗ xốp và màng oxit trên biên giới hạt. Độ xốp và màng oxit trên biên giới hạt là nguyên nhân làm cho vật liệu bột có độ bền thấp hơn và tính dòn cao hơn so với vật liệu cùng loại chế tạo bằng phương pháp nấu đúc.

    1.4. Người ta dùng phương pháp kim loại bột để chế tạo :

    1- Hợp kim cứng : để sản xuất vật liệu cắt gọt có tính chịu nóng cao tới 1000oC, tốc độ cắt đến hàng trăm m/ph. Loại này sử dụng bột WC, TiC, TaC và một lượng nhỏ côban làm chất kết dính. Có thể dùng một, hai hoặc ba cácbit và tương ứng sẽ có hợp kim cứng một, hai hoặc ba cacbit. Ví dụ, loại một cacbit WCCo15; loại hai cacbit WCTiC14Co8, loại ba cacbit WCTiC4TaC3Co12.

    2- Vật liệu làm đĩa cắt : dùng các vật liệu siêu cứng như kim cương nhân tạo hoặc nitrir bo BN. Chất kết dính là bột B, Be hoặc Si. Ép nóng dưới áp lực và nhiệt độ cao hoặc rất cao tùy thuộc yêu cầu công nghệ.

    Hình 2. Đĩa cắt từ luyện kim bột

    3- Vật liệu mài : dùng bột SiC, chất kết dính là nhựa hữu cơ hay gốm thủy tinh.

    4- Vật liệu kết cấu trên cơ sở nhôm và hợp kim nhôm ( SAP; SAAP ) hoặc trên cơ sở sắt và thép, hoặc trên cơ sở đồng và hợp kim đồng.

    5 – Chế tạo thép gió theo phương pháp kim loại bột có thể tạo ra mác thép gió hợp kim hóa cao và dụng cụ có hình dạng phức tạp. Độ bền cao hơn so với phương pháp cổ điển 1,5 – 3 lần.

     

     

     

     

     

     

    Hình 3. Thép gió sản xuất từ luyện kim bột

    6- Bạc xốp tự bôi trơn: dùng bột đồng hoặc sắt và một lượng nhỏ grafit. Người ta chế tạo bạc có độ xốp 10-25% và cho thấm dầu nhớt trong chân không ở nhiệt động khoảng 70oC.

    7- Chế tạo vật liệu ghép từ những vật liệu có tính chất khác biệt, một số loại vật liệu mới.

    2. Các phương pháp chế tạo bột kim loại:

    2.1.  Tạo bột bằng phương pháp hóa học

    2.1.1.  Tạo bột bằng phương pháp hoàn nguyên

    Trong luyện kim bột, phương pháp hoàn nguyên được sử dụng rộng rãi để sản xuất hầu hết các loại bột kim loại. Phương pháp này vừa tạo bột, vừa ủ bột. Có 2 loại hoàn nguyên cơ bản đó là hoàn nguyên oxit và hoàn nguyên nhiêt kim.

    + Hoàn nguyên oxit: Đây là một trong những phương pháp phổ biến nhất, đơn giản nhất, rẻ nhất để sản xuất bột kim loại trong công nghiệp.

    Tất cả các quá trình hoàn nguyên là quá trình trao đổi chất hoàn nguyên và chất được hoàn nguyên. Chất hoàn nguyên là chất ở nhiệt độ phản ứng có ái lực hóa học với oxy lớn hơn ái lực hóa học với oxy của chất được hoàn nguyên.

    Trong công nghiệp sản xuất bột, chất hoàn nguyên được sử dụng phổ biến là chất hoàn nguyên thể khí H2, CO hay hỗn hợp khí H2 + CO, khí thiên nhiên, v.v…

    + Hoàn nguyên nhiệt kim: Phương pháp này được ứng dụng để sản xuất ra kim loại hay hợp kim từ chất hóa học của chúng dựa trên cơ sở ái lực hóa học của chất hoàn nguyên với oxy, clo, flo, v.v… lớn hơn ái lực hóa học của kim loại được hoàn nguyên.

    Điều kiện đặt ra là sản phẩm hoàn nguyên và chất hoàn nguyên không được tạo thành hợp kim. Nhiệt độ bay hơi phải cao để tránh mất mát do bay hơi. Phương pháp này không được ứng dụng rộng rãi, thường được dùng để sản xuất các kim loại khó hoàn nguyên như Cr, Ti, Zn,U.

    • Ngoài ra trong nhiều trường hợp chất hoàn nguyên không dùng kim loại mà dùng hợp chất hyđrua của chúng.

    Đối với quá trình hoàn nguyên nhiệt kim, chất hoàn nguyên phải thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật sau:

    • Chất hoàn nguyên phải được hoàn nguyên hoàn toàn khi nhiệt cung cấp từ bên ngoài thấp.
    • Lượng dư của chất hoàn nguyên cũng như xỉ tạo ra dễ dàng tách khỏi kim loại.
    • Chất hoàn nguyên phải có độ sạch cao.
    • Chất hoàn nguyên phải rẻ tiền, dễ kiếm.

    2.1.2. Tạo bột bằng phương pháp điện phân

    Sản xuất bột bằng phương pháp điện phân dung dịch ngày nay có thể cạnh tranh với các phương pháp tạo bột khác đặc biệt là để chế tạo bột Fe và Cu. Chế tạo bột bằng phương pháp này có rất nhiều ưu điểm như độ sạch cao, tính ép tốt, khả năng thiêu kết tốt, sản phẩm nhận được có lý tính ổn định. Phương pháp này mang lại hiệu quả kinh tế cao, ở mọi quy mô sản xuất lớn cũng như bé. Có thể sử dụng nguyên liệu ban đầu có chứa nhiều tạp chất, sản phẩm nhận được có lý tính hầu như không đổi, đặc biệt là bột sắt. Hiện nay phương pháp này có thể tạo được bột các loại như Cu, Ag, Fe, Zn, Ni, Cd, v.v… và một số kim loại hiếm khác cũng như hợp kim của chúng.

    Các yếu tố cơ bản như mật độ dòng điện, nhiệt độ, nồng độ axit, nồng độ dung dịch điện phân có ảnh hưởng lớn tới kích thước, thành phần cấp hạt và cấu trúc của bột điện phân. Có thể sản xuất bột kim loại không những điện phân ở dung dịch nước mà có thể ở dung dịch muối nóng chảy.

    2.1.3. Tạo bột bằng phương pháp xi măng hóa

    Dựa trên cơ sở các phản ứng đẩy các kim loại quý hơn ra khỏi dung dịch bằng các kim loại rẻ tiền khác. Kim loại giải phóng bằng phương pháp xi măng hóa thường có hình nhánh cây dạng xốp. Phương pháp này ít được ứng dụng trong thực tế vì cho năng suất thấp, giá thành bột lại cao. Phương pháp này thường được dùng để sản xuất bột hợp kim ở dạng mạng kim loại bao quanh kim loại cơ bản.

    2.1.4. Tạo bột bằng phương pháp Cacbonyl

    Khi điều chế bột bằng phương pháp phân hủy nhiệt của các hợp chất Cacbon kim loại dễ bay hơi. Phương trình tổng quát:

    MeaBb + CO → bB + MEa(CO)caMe + cCO

    Phản ứng đầu gọi là phản ứng tổng hợp Cacbonyl. Cacbonyl nhận được có nhiệt độ nóng chảy thấp và bay hơi. Phản ứng thứ 2 là phản ứng phân hủy Cacbonyl được tiến hành ở nhiệt độ thấp.

    Bột nhận được bằng phương pháp này chứa nhiều tạp chất khí CO, N2 & Oxy. Hàm lượng của các chất khí này có thể lên tới 1÷3%. Để loại bỏ tạp chất đó người ta đem ủ ở 300÷4000C trong môi trường khí Hydro, đôi khi phải tiến hành trong chân không. Bột nhận được bằng phương pháp này có giá thành rất cao, nhưng bột nhận được lại có độ sạch cao. Bột này được sử dụng làm vật liệu điện cao cấp.

    2.1.5. Tạo bột bằng phương pháp ngưng tụ

    Phương pháp này có thể sản xuất ra bột các kim loại có áp suất hơi lớn ở nhiệt độ nóng chảy thấp ( Zn, Mg, Cd). Quá trình này được tiến hành theo 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu cho bay hơi kim loại ở nhiệt độ cao trong bình kín. Giai đoạn 2 cho hơi kim loại đó ngưng tụ trên bình lạnh. Phương pháp này có thể nhận được bột kim loại có kích thước từ 10÷20 μm đến 0,1 μm. Bột nhận tạo ra có độ sạch rất cao.

    Nhược điểm của phương pháp này là bột bị phủ màng oxit mỏng, có thể hạn chế được khi tiến hành trong chân không; ứng dụng phạm vi hẹp, năng suất không cao.

    2.2.          Phương pháp cơ học

    2.2.1.   Tạo bột bằng phương pháp nghiền cơ học

    Phương pháp nghiền cơ học được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp luyện kim bột. Bằng phương pháp này người ta có thể sản xuất hầu hết bột kim loại. Ưu điểm của phương pháp tạo bột nghiền cơ học là đơn giản, giá thành sản phẩm thấp, có thể chuyển một số kim loại cứng và giòn sang dạng bột. Tuy nhiên phương pháp này có những nhược điểm cơ bản là khó nghiền các kim loại hay hợp kim quá cứng hoặc quá mềm, năng suất thấp dẫn đến giá thành sản phẩm cao, bột nhận được này có hình dáng phức tạp khó đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.

    Có nhiều loại thiết bị nghiền bao gồm: máy nghiền rung, máy nhiền lắc, máy nghiền búa đập, máy nghiền hành tinh v.v… nhưng phổ biến nhất vẫn là loại máy nghiền bi tang trống.

    Máy nghiền bi: cấu tạo là tang hình trụ làm bằng hợp kim trong đó có bi nghiền. Khi quay bi cùng tang được nâng lên một góc không lớn hơn góc rơi tự do (90o). Sau đó bi rơi xuống, va đập giữa bi và tang tạp thành quá trình nghiền. Quá trình nghiền trong tang phụ thuộc vào kích thước hình học của tang nghiền. Nếu tỷ lệ D/L3 thì quá trình nghiền các vật liệu giòn là do va đập, nếu D/L < 3 thì quá trình nghiền các vật liệu mềm là do xiết trượt.

    Ngoài kết cấu của tang máy nghiền còn chịu ảnh hưởng của tốc độ quay. Khi tang tốc độ quay của máy làm tang lực lý tâm và làm tang góc rơi của bi nghiền là bi rơi ở độ cao lớn hơn làm tăng lực đập giữa bi và bi, giữa bi và tang tạo thành cơ chế đập. Nếu tốc độ quay của bi và tang bằng nhau thì quá trình nghiền không bao giờ xảy ra.

    Để nâng cao hiệu quả nghiền thông thường người ta sử dụng tốc độ quay 0,75  0,8 tốc độ quay lý thuyết. Khi đó với N = 0.75 Nlt thì trọng lượng bi tối ưu sẽ là B = 1,7  1,9 kg/l thể tích của máy nghiền. Hệ số điền đầy () không quá 0,4  0,5 vì nếu () lớn hơn thì các hạt bi đẩy lẫn nhau làm quá trình nghiền kém hiệu quả. Đối với vật liệu cứng và giòn rất thuận tiện sử dụng máy nghiền bi trong quá trình tạo bột.

    Hình dạng của bột nhận được rất đa dạng. Bột có trọng lượng đong lớn, độ xốp tự do khoảng 60%. Chính vì vậy quá trình nghiền trong máy nghiền bi là quá trình phụ thêm để tăng trọng lượng đong của bột.

    2.2.2.   Tạo bột bằng phương pháp phun kim loại nóng chảy:

    Bản chất của phương pháp phun kim loại nóng chảy lỏng là tạo bột của các dòng kim loại lỏng bằng khí hay là cho chảy dòng kim loại vào môi trường lỏng thì gọi là tạo hạt. Tạo bột và tạo hạt chỉ khác nhau là tạo bột ở áp suất nhất định còn tạo hạt ở áp suất bình thường. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi để sản xuất các kim loại và hợp kim của chúng. Nhiệt độ nóng chảy của các kim loại dưới 1600oC, bột nhận được cho kích thước hạt thô và trung bình từ 10  500 m.

    Dựa vào thực nghiệm người ta xác định được 3 giai đoạn xảy ra trong quá trình phun kim loại lỏng.

    • Giai đoạn 1: Sơ bộ xé nhỏ phần kim loại lỏng tạo ra dưới dạng hình côn.
    • Giai đoạn 2: Xé nhỏ những sợi kim loại nhỏ đã được tạo ra.
    • Giai đoạn 3: Tạo thành bột và đông đặc.

    Trong quá trình đông đặc, xảy ra hiện tượng các hạt dính lại với nhau, hình dáng và cấp hạt bị ảnh hưởng lớn dẫn đến giảm hiệu quả phun.

    Các yếu tố ảnh hưởng của quá trình phun:

    +) Kích thước hạt: Độ nhớt thấp, sức căng bề mặt nhỏ, t lớn, d nhỏ, P cao, tác nhân phun có lưu lượng lớn, góc đỉnh tối ưu.

    + )Hình dáng dạng bột: Một trong những ưu điểm của quá trình phun bột kim loại là có thể khống chế được hình dạng hạt bột. Bột dạng cầu có tính cháy và tỷ trọng lớn rất dễ nhận được trong các trường hợp:

    • Sức căng bề mặt lớn, độ quá nhiệt nhỏ.
    • Phun bằng khí, tốc độ làm nguội chậm
    • Tốc độ của tác nhân phun nhỏ, góc ở đỉnh lớn.
    • Khoảnh cách của bột dài.

    +) Ảnh hưởng áp suất phun đến độ hạt: Do kích thước hạt kim loại nhỏ cùng với sức căng bề mặt nhỏ nên áp suất phun ảnh hưởng trực tiếp đến phân bố cấp hạt.

    +) Ảnh hưởng của góc hội tụ () đến đường kính hạt (dm): Góc hội tự ảnh hưởng đến hình dạng, kích thước hạt, Khi góc hội tụ càng lớn, hạt bột có xu hướng cầu hóa và độ hạt lớn hơn.

    Thông thường bột kim loại nhận được bằng phương pháp phun bị lẫn nhiều oxy ở dạng oxit kim loại. Chính vì vậy bột nhận được cần phải tiếp tực ủ hoàn nguyên trong môi trường khí hydro nhằm hoàn nguyên các màng oxit và nâng cao tính công nghệ của bột.

    3.        Quá trình tạo hình:

    3.1. Chuẩn bị bột để ép

    Quá trình chuẩn bị để ép đóng một vai trò quan trọng trong lưu trình công nghệ luyện kim bột. Trong thực tế sản suất, bột kim loại được sản suất ở các phân xưởng hay nhà máy riêng biệt nên không thể đáp ứng tất cả những yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm. Vì vậy trong mọi trường hợp cần phải có khâu chuẩn bị bột sao cho đảm bảo yêu cầu về thành phần hóa học và yêu cầu vật lý để đáp ứng những yêu cầu của sản phẩm cuối cùng.

    Những khâu cơ bản của quá trình chuẩn bị bột bao gồm: ủ, rây, trộn.

    3.1.1. Ủ bột

    Ủ bột nhằm nâng cao tính dẻo của bột, tính chịu nén, chịu ép bằng cách hoàn nguyên khử màng oxit và biến mềm hạt bột. Do bột để lâu và bảo quản không đúng cách dẫn tới bị oxit hóa do môi trường xung quanh. Các loại bột thu được bằng phương pháp nghiền, điện phân cần phải tiến hành ủ. Còn các loại bột thu được bằng phương pháp hoàn nguyên không cần ủ, chỉ tiến hành khi đòi hỏi bột có độ sạch cao hay đôi khi cần thiết phải làm lớn các hạt mịn để tránh bột bị cháy khi ép. Đối với bột nhận được bằng phương pháp hoàn nguyên nhiệt kim nhất thiết phải ủ hoàn nguyên lại để khử các màng oxit tạo thành trong quá trình rửa và sấy.

    3.1.2. Rây bột

    Trong thực tế sản suất, để bột nhận được có kích thước ổn định, cơ lý tính xác định thù cần phải phân cấp hạt hay là rây bột để phân cấp. Phân chia kích thước hạt thành từng phần riêng biệt sau đó trộn phối liệu theo tỷ lệ nhất định. Đối với một số kích thước hạt không thích hợp cần phải gia công thêm.

    Thiết bị phân chia cấp hạt cũng không giống như thiết bị phân chia của công nghiệp hóa chất hay tuyển khoáng.

    3.1.3. Trộn bột

    Trong công ngiệp luyện kim bột, các chi tiết cần sản xuất ít ở dạng một loại riêng biệt mà là tổ hợp của cả hai hay nhiều cấu tử của hỗn hợp bột. Sự đồng nhất của hỗn hợp bột có ảnh hưởng rất lớn đến cơ tính của sản phẩm. Trong thực tế tồn tại hai phương pháp trộn chủ yếu đó là: trộn cơ học và trộn hóa học.

    • Phương pháp trộn hóa học: Là quá trình kết tủa từ dung dịch kim loại phụ gia lên trên bề mặt của hạt cơ sở. Thông thường người ta sử dụng dung dịch kèm theo sự khuấy trộn với bột kim loại cơ sở. Trong thực tế phương pháp này chưa được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ luyện kim bột vì không đặc trưng.
    • Phương pháp trộn cơ học: Sự đồng đều của hỗn hợp bột (2 hay nhiều cấu tử) đóng vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng đến tính chất, cơ lý tính của sản phẩm, và quá tình thiêu kết của sản phẩm. Sự đồng đều của hỗn hợp bột phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phương pháp trộn, thiết bị trộn, thời gian trộn,…

    Ngoài ra môi trường trộn cũng có ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng của hỗn hợp bột nhận được. Thông thường nguyên công trộn được tiến hành trong môi trường không khí, khí trơ, dung dịch (cồn, xăng, dầu, nước..). Trong môi trường lỏng bột nhận được không bị oxy hóa sự linh động của các hạt lớn và đồng đều nhanh hơn

    Mặc dù trộn ướt có nhiều ưu điểm hơn trộn khô nhưng cũng có những nhược điểm là phải sấy bột trong chân không để tránh oxy hóa bột hay phải sấy ở nhiệt độ thấp. Tùy trường hợp cụ thể mà ta chọn phương pháp trộn bột khác nhau nhằm đảm bảo tính chất của sản phẩm và hiệu quả kinh tế.

    3.2.          Quá trình ép bột kim loại:

    3.2.1.   Quy luật chung của quá trình ép

    Mục đích của quá trình ép tạo hình là tạo ra các chi tiết có hình thù và kích thước nhất định, đồng thời tạo cho vật ép có độ bền cần thiết để giữ được hình dạng trong khi xử lý những giai đoạn tiếp theo. Mặt khác, vật ép phải đạt được mật độ cần thiết để sau khi thiêu kết chúng có được những cơ, lý tính mong muốn. Độ xít chặt của vật ép đóng vai trò chủ yếu đối với các tính chất quan trọng của chúng đặc biệt khi tiến hành thiêu kết ở pha rắn. Bột kim loại trải qua quá trình ép tạo hình được gọi là vật ép tươi, có độ bền rất thấp. Những chi tiết được tạo ra sau quá trình ép rất giòn, dễ dàng bị phá hủy. Để có vật ép tươi độ bền cao, lượng bột được cho vào khuôn phải phù hợp với khoang chứa của khuôn, lực ép phải đủ phù hợp với chi tiết cần tạo ra.

    Có nhiều phương pháp ép tạo hình nhưng phổ biến nhất là phương pháp ép nguội một chiều trong khuôn kim loại (hình 1). Quá trình ép nguội một chiều trong khuôn kim loại gồm ba nguyên công cơ bản là cho bột vào khuôn, ép mẫu và tháo mẫu ra khỏi khuôn. Theo phương pháp này bột được cho vào khuôn và được ép thẳng đứng bằng 2 chày trên và dưới cùng chuyển động theo phương thẳng đứng với bột.Lực ép tác dụng vào chày trên và thực hiện công tác nén bột trong lòng khuôn ép, trong khi chày dưới được giữ cố định trong quá trình ép.

    Bản chất của quá trình ép là biến dạng thể tích bột xốp bằng cách nén dẫn tới là giảm thể tích của bột và định hình vật ép có hình dạng và kích thước mong muốn. Thể tích của bột khi ép luôn luôn thay đổi do sự biến dạng của các hạt riêng biệt. Khi tăng lực ép bột không sắp xếp lại được nữa, bột sinh ra phản lực chống lại. Nếu tiếp tục tăng lực ép tiếp, hạt sẽ lại biến dạng.

    Trên hình 3 ta thấy, ở giai đoạn đầu mật độ vật ép tăng nhanh (phần a) vì ở giai đoạn này bột dịch chuyển tương đối tự do và điền đầy các lỗ trống gần đấy. Đến cuối giai đoạn đầu, các hạt bột hầu như đã lèn chặt ở mức tối đa (đoạn nằm nganh b). Vì có lực cản của các hạt bột đối với lực ép rất lớn do đó mặc dù lực ép tăng nhanh nhưng thể tích của khối bột kim loại không bị giảm trong một thời gian nhất định. Chỉ khi nào lực ép vượt quá lực cản của vật ép thì lúc đó các hạt bột mới bắt đầu biến dạng và bắt đầu giai đoạn 3 (đoạn c) của quá trình ép.

    Trong thực tế, quá trình ép hầu như xảy ra đồng thời cả 3 giai đoạn. Một số hạt bắt đầu biến dạng ngay khi lực ép thấp thậm chí cả trong lúc đổ bột vào khuôn, trong khi đó một số hạt chỉ dịch chuyển khi lực nén lớn.

    Dưới lực ép bột, bột có đặc điểm giống như chất lỏng là có chiều hướng chảy về mọi phía. Do đó xuất hiện áp suất ép lên thành khuôn. Nhưng bột khác chất lỏng ở chổ là chất lỏng thì áp suất phân bố đều ở mọi hướng còn đối với bột áp suất phân bố không đều. Lực truyền lên thành khuôn bé hơn so với chiều ép và do đó mật độ ép sẽ không đồng đều (hình 4).

    Do ma sát giữa thành khuôn và bột nên lực ép sẽ giảm theo chiều cao của mẫu.

    Ngoài ra trong quá trình ép, các hạt bột bị đàn hồi và biến dạng dẻo, do đó trong vật ép sẽ tích lũy các ứng suất tương đối lớn. Vì vậy sau khi vật ép được lấy ra khỏi khuôn, các ứng suất đàn hồi tích lũy trong mẫu ép làm cho mẫu tiếp tục giãn nở ra các phía.

    Ép với lực ép thấp khi ngắt lực ép, thì không hề có sự giãn nỡ đàn hồi của mẫu ép. Nếu lực ép tăng cao tơi một mức độ nhất định thì bột mẫu ép sẽ rắn chắc hơn . Lực ép này nhờ bột cũng truyền ra thành khuôn theo hướng ngang và phản lực lại từ thành khuôn cũng bắt đầu ép lên mẫu theo hướng xuyên tâm. Sau khi mẫu đã chắc tới một mức độ nhất định, lực ép lại tăng tiếp tục thì sẽ có sự biến dạng đàn hồi, loại biến dạng có hồi phục sau khi ngắt lực ép. Lúc đó khuôn ép cũng giãn nở đàn hồi ở mức độ phù hợp vào độ cứng của khuôn. Ở cùng một lực ép, vật liệu bột mịn sẽ có tỷ trọng tươi cao hơn vật liệu thông thường là do các hạt bột mịn có khe trống giữa các hạt nhỏ, bột dễ dàng sắp xếp lại để điền vào khoảng trống đó.

    3.2.2.   Khuôn ép

    Khuôn ép gồm nhiều chi tiết nhưng có ba chi tiết cơ bản là: áo khuôn, chày trên và chày dưới. Khuôn ép được sử dụng trong công nghiệp rất đa dạng và được chia thành các nhóm khác nhau: khuôn ép tay, khuôn ép tự động, khuôn ép một chiều, khuôn ép hai chiều , khuôn ép định lượng, khuôn ép trọng lượng, khuôn ép theo lớp. Khuôn ép tuy đa dạng nhưng vẫn phải tuân theo các yêu cầu kỹ thuật như: đảm bải mật độ đồng đều trong toàn bộ vật ép, định hình đúng chi tiết các kích thước, hình dáng xác định, lấy mẫu ép ra khỏi khuôn đơn giản, làm việc phải an toàn và thời gian sử dụng lâu dài.

    Khuôn ép nguội được chế tạo từ những loại vật liệu có độ cứng cao như thép hợp kim (độ cứng trên 60 HRC) hoặc hợp kim cứng. Khuôn ép có vai trò quan trọng đối với chất lượng của viên mộc. Do đó khi thiết kế khuôn ép nguội phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa tính chất của đối tượng ép (tính chất của bột) với vật liệu làm khuôn với lực ép thường sử dụng.

     

    3.2.3.   Máy ép

    Hiện nay máy ép được sử dụng rất đa dạng bao gồm: máy ép thủy lực, máy ép cơ học, máy ép theo chiều dọc hay chiều ngang (máy ép thủy tĩnh), máy ép tự động và máy ép không tự động. Máy ép được dùng trong phương pháp Luyện kim bột phải thỏa mãn những điều kiện: hành trình, vận tốc đẩy mẫu ra khỏi khuôn, có thể được khối lượng bột vào khuôn, chày ép chuyển động mềm, đảm bảo độ bền không bị ảnh hưởng của vật ép, hệ thống bôi trơn đơn giản v.v..

    Sự lựa chọn máy ép phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, chất lượng, hình dáng kích thước sản phẩm ép. Thông thường máy ép trong thực tế hay ứng dụng là máy ép thủy lực (hình 6).

    3.2.4.   Các phương pháp ép tạo hình khác :

    • Tạo hình dùng lực ép:

    Ép thủy tĩnh: Bột kim loại được cho vào khuôn dẻo bằng cao su hoặc bằng vật liệu dẻo có hình dáng thích hợp. Khuôn và bột được đóng kín, được ép bằng áp suất thủy tĩnh trong chất lỏng hoặc chất khí. Người ta nén chất lỏng dưới áp suất có thể đạt đến 500 MPa nhưng thường từ 200300 MPa.

    Ưu điểm của phương pháp này là tạo ra các sản phẩm có mật độ rất đồng đều. Phương pháp ép thủy tĩnh được áp dụng để tạo hình các chi tiết có hình dáng khác nhau. Người ta tiến hành ép thủy tĩnh trong khuôn ẩm và trong khuôn khô. Phương pháp ép thủy tĩnh trong khuôn ẩm chỉ áp dụng để ép ra các chi tiết lớn có hình dáng tương đối đơn giản do thời gian ép kéo dài, ví dụ như ép các trục, ống, nồi lò lớn.

    Phương pháp ép thủy tĩnh trong khuôn khô có bộ phận đong bột tự động, đong sơ bộ hoặc đổ trực tiếp bột vào khuôn được phát triển rất mạnh để sản xuất hàng loạt các chi tiết. Hiện nay các máy ép được trang bị từ 68 khuôn làm việc liên tục để sản xuất các chi tiết bằng ceramic. Tốc độ có thể đạt được 500 chi tiết trong 1 giờ đối với một khuôn.

    Phương pháp ép thủy tĩnh còn có ưu điểm là không cần chất kết dính bột và có khả năng ép được các chi tiết có hình dạng tương tự như khi ép 1 chiều trong khuôn khô. Nhược điểm của phương pháp ép thủy tĩnh là không đạt được kích thước chính xác như mong muốn.

    Cán bột kim loại: Phương pháp cán bột kim loại được áp dụng để sản xuất trực tiếp các băng, dải kim loại. Bột kim loại liên tục được ép trong 2 trục của máy cán theo hướng nằm ngang, thẳng đứng hoặc nghiêng. Dải kim loại dày 26 mm sau khi cán được đưa qua lò thiêu kết, sau đó cán lại lần nữa và ủ. Bằng phương pháp này người ta có thể sản xuất được các băng kim loại dạng bán sản phẩm có cấu trúc đồng nhất và có đặc tính, có thể so sánh ngang hoặc cao hơn các băng kim loại được cán từ các thỏi kim loại (Hình 7).

    Phương pháp cán bột kim loại cho phép chế tạo các băng kim loại bằng đồng, đồng thau, đồng thanh niken và rẻ hơn so với sản xuất bằng phương pháp cổ điển.

     

    • Tạo hình không cần ép

    Đặc điểm của phương pháp này

    • Không cần thiết bị đắt tiền hay phức tạp.
    • Có thể chế tạo những chi tiết lớn.
    • Hàm lượng chênh lệch không đáng kể.

    Đúc trong khuôn:

    Bột kim loại và hợp kim có độ mịn cao được trộn cùng với chất phụ gia trong nước tạo nên thể huyền phù. Sau đó đổ dung dịch vào khuôn thạch cao, thạch cao sẽ hút nước làm khô hỗn hợp. Tháo khuôn và sấy khô rồi lấy chi tiết ra đem thiêu kết. Phương pháp này sử dụng để chế tạo các chi tiết có thành mỏng và các loại hợp kim cứng trên cơ sở cácbit, nitrit, borit…

    Nguyên lý đúc trong khuôn: a) Đúc rắn b) Rút nước

     

    Điện di:

    Với điện thế 50-1200 V tác dụng vào tấm Al203 hoặc SiC dày 5-10 mm, với lượng hạt đồng nhất có khoảng phân bố khít nhau. Với điện thế cao thời gian tác dụng trong vài phút. Bột sẽ được nén chặt, nhưng chỉ có hình dạng đơn giản, còn phải phụ thuộc vào hình dạng của điện cực (ví dụ: dĩa, ống,..) mới thực hiện được. Khả năng thiêu kết đối với chi tiết được điện di rất tốt.

    • Phương pháp phun phủ:

    Để tạo một lớp vật liệu thiêu kết mỏng trên nền một vật liệu thích hợp có thể sử dụng một số phương pháp phun phủ sau:

    • Bột kim loại được trộn với một dung dịch keo thích hợp và dùng pistole phun lên trên vật liệu nền thích hợp. Sau khi sấy có thể tháo lõi bằng cơ học và sau đó đem thiêu kết.
    • Bột kim loại và hợp kim được phun phủ trên lõi hoặc vật liệu nền thích hợp bằng ngọn lửa oxy – axetylen hoặc trong plasma Ar-H2 theo sơ đồ như hình.

    Phương pháp phun phủ bằng plasma

    Sau khi phun phủ hình thành lớp phủ kim loại bột gồm vật liệu nền, lớp khuếch tán trung gian và lớp vật liệu phủ. Tuỳ theo công nghệ, lớp vật liệu phủ gồm các phần tử kim loại, các lỗ xốp và các phần tử ôxyt. Sau khi phun phủ vật liệu có thể được thiêu kết lại để tăng độ bám dính. Phương pháp này rất thuận lợi để chế tạo các lớp phủ mỏng với mục đích nào đó chẳng hạn phủ vônfram lên mặt trong của ống xả tên lửa nhằm nâng cao tính chịu nóng của nó. Phương pháp này cũng thuận tiện để chế tạo các bimetal và các lớp phủ chống mài mòn khác nhau.

    4. THIÊU KẾT:

    Thiêu kết là nguyên công kế tiếp việc tạo hình bột kim loại. Thiêu kết bao gồm việc nung nóng bột kim loại ép ở gần nhiệt độ nóng chảy của cấu tử chính, giữ nhiệt một thời gian để tạo ra mối liên kết bền vững giữa các hạt nhằm tạo ra cơ, lý, hoá tính cần thiết cho vật liệu.

    4.1.  Các quá trình xảy ra khi thiêu kết:

    Quá trình thiêu kết được tiến hành ở gần nhiệt độ nóng chảy của cấu tử chính trong một thời gian. Khi thiêu kết sẽ xảy ra hai quá trình bao gồm kết tinh lại và khuếch tán các nguyên tử.

    Kết tinh lại xảy ra giống như quá trình kim loại bị biến dạng dẻo. Kết quả là tạo ra các hạt tinh thể mới. Khi kéo dài thời gian thiêu kết hoặc thiêu kết ở nhiệt độ quá cao, các hạt cũng có quá trình phát triển kích thước hạt làm cho hạt lớn có thể ảnh hưởng xấu đến cơ tính.

    Bản thân sự kết tinh lại với sự sinh mầm và phát triển mầm các hạt tinh thể mới đã là một quá trình khuếch tán. Ở đây nói thêm tới sự khuếch tán của các nguyên tử khác loại để tạo thành dung dịch rắn hoặc các pha liên kim loại. Trong các hỗn hợp bột có nhiều cấu tử, kết quả của sự khuếch tán có thể là các hạt kim loại xen kẽ nhau, không hoà tan vào nhau; có thể các kim loại hoà tan vào nhau tạo thành các dung dịch rắn hoặc có thể các hạt kim loại khó chảy nằm phân tán trên một nền gồm tổ chức các hạt của cấu tử có nhiệt độ chảy thấp hơn.

    4.2.  Các thông số công nghệ khi thiêu kết:

    Các thông số công nghệ thiêu kết bao gồm nhiệt độ, thời gian và môi trường thiêu kết.

    4.2.1. Nhiệt độ thiêu kết:

    Nhiệt độ thiêu kết là một thông số quan trọng trong công nghệ chế tạo vật liệu kim loại bột. Chọn nhiệt độ thiêu kết phải đảm bảo sao cho quá trình kết tinh lại và khuếch tán xảy ra thuận lợi đảm bảo vật liệu có cơ, lý, hoá tính cần thiết. Nhiệt độ thiêu kết quá cao sẽ dẫn đến hạt tinh thể lớn và cơ tính sẽ thấp. Nhiệt độ thiêu kết thấp (nhưng vẫn cao hơn nhiệt độ kết tinh lại) làm quá trình kết tinh xảy ra chậm chạp và thời gian thiêu kết phải dài. Thường chọn nhiệt độ thiêu kết bằng (2/3÷3/4) nhiệt độ nóng chảy của bột kim loại cấu tử chính.

    4.2.2. Thời gian thiêu kết:

    Thời gian thiêu kết ảnh hưởng tới độ hạt tinh thể vật liệu bột. Thời gian thiêu kết quá ngắn, các quá trình khuếch tán và kết tinh lại chưa xảy ra triệt để có thể dẫn tới vật liệu không đủ bền. Thời gian thiêu kết quá dài làm cho hạt tinh thể thô to và cũng giảm độ bền. Thời gian nung khi thiêu kết phụ thuộc vào trọng lượng mẻ nung, chế độ truyền nhiệt và cách sắp xếp chi tiết trong lò. Thời gian giữ nhiệt khi thiêu kết phụ thuộc vào kích thước chi tiết, thông thường chọn từ 1÷3 giờ.

    4.2.3.  Môi trường thiêu kết:

    Các vật liệu kim loại và hợp kim rất dễ bị oxy hoá khi nung do tiếp xúc với môi trường nung. Đặc biệt trong vật liệu bột, do ảnh hưởng của lỗ xốp nên quá trình oxy hoá càng được thúc đẩy mạnh hơn, có thể oxy hoá vào tận lõi chi tiết. Do đó môi trường thiêu kết thường là môi trường khử như trong khí H2, CO2 hoặc NH3 nhiệt phân. Môi trường khí bảo vệ hoặc khí trơ như Ar, N2, He cũng được sử dụng. Đôi khi cũng sử dụng quá trình thiêu kết chân không.

    4.3.  Gia công chi tiết sau khi thiêu kết:

    Sau khi thiêu kết, do sự giảm thể tích của vật liệu (quá trình kết tinh lại làm tăng mật độ của hợp kim cộng với sự giảm thể tích các lỗ xốp bên trong vật liệu) nên chi tiết không đạt được độ chính xác kích thước cũng như các tính chất mong muốn. Do đó sau khi thiêu kết cần phải tiến hành một số nguyên công gia công tiếp theo để tạo ra thành phẩm. Các nguyên công gia công sau thiêu kết như nhiệt luyện và hoá nhiệt luyện đã được trình bày trong chương 4 của giáo trình này. Các nguyên công gia công cơ khí được trình bày trong các giáo trình chuyên ngành. Trong phần này chúng tôi trình bày hai nguyên công là tẩm dầu bôi trơn và ép hiệu chuẩn.

    4.3.1. Tẩm dầu bôi trơn:

    Trong các vật liệu chống mài mòn, tổ chức vật liệu tồn tại các lỗ xốp lại trở thành yếu tố thuận lợi nếu các lỗ xốp đó được bịt bằng dầu bôi trơn hoặc các chất bôi trơn rắn khác. Một số chất bôi trơn rắn như Mo2S, graphit…được đưa ngay vào thành phần vật liệu từ đầu. Các chất bôi trơn lỏng như dầu, mỡ…được tẩm vào các lỗ xốp của vật liệu sau khi thiêu kết. Khi làm việc dưới áp lực tương đối nhỏ, dầu bôi trơn từ các lỗ xốp liên thông nhau sẽ bị đẩy ra hình thành một lớp màng dầu bôi trơn cặp chi tiết ma sát. Màng dầu hoặc chất bôi trơn rắn có hệ số ma sát nhỏ có tác dụng làm tăng tính chống mài mòn cho vật liệu thiêu kết. Khi chi tiết không làm việc, màng dầu lại được hút vào bên trong, như vậy trong suốt quá trình hoạt động của chi tiết, không cần phải cấp thêm chất bôi trơn. Công nghệ tẩm dầu tiến hành bằng cách đun dầu biến thế lên tới nhiệt độ 110÷120oC, cho chi tiết vào cho tới khi hết sủi bọt (khoảng 2 – 3 giờ) sau đó để dầu nguội hẳn và lấy chi tiết ra.

     

    4.3.2. Ép hiệu chuẩn:

     

     

     

     

     

     

     

    Sơ đồ ép hiệu chuẩn.

    Chi tiết sau khi thiêu kết có kích thước không chính xác theo thiết kế. Đối với một số chi tiết đủ dẻo có thể tiến hành ép hiệu chuẩn để đưa chi tiết đến kích thước chính xác. Công nghệ ép hiệu chuẩn tiến hành bằng cách ép chi tiết đã thiêu kết trong một khuôn tương ứng với kích thước chính xác của chi tiết. Lực ép hiệu chuẩn thường cao hơn ép tạo hình từ 30÷50%. Sau khi ép hiệu chuẩn, ngoài việc chi tiết có kích thước chính xác, còn làm cho các lỗ xốp trong vật liệu bị dẹp lại do đó làm giảm độ xốp và độ bền tăng lên. Khuôn để ép hiệu chuẩn thường được làm bằng hợp kim cứng hoặc thép hợp kim độ bền cao. Khi thiết kế chú ý tới việc lấy chi tiết ra khỏi khuôn. Ngoài ra cần chú ý tới độ xốp còn lại sau khi ép hiệu chuẩn vì lượng dầu bôi trơn chứa trong các lỗ xốp cần đủ và khi ép không được làm tắc nghẽn sự lưu thông của lỗ xốp (đối với vật liệu chống mài mòn tự bôi trơn). Hình vẽ trên trình bày sơ đồ ép hiệu chuẩn đồng thời mặt trong và mặt ngoài của chi tiết.

     

     

  • Bài tập lớn Luật Hình sự

    Bài tập lớn Luật Hình sự

    Bài tập lớn Luật Hình sự

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Lu%E1%BA%ADt-H%C3%ACnh-s%E1%BB%B1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Luật Hình sự

    TÌNH HUỐNG

    C có hành vi dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của K, tài sản chiếm đoạt có giá trị 30 triệu đồng. Hành vi phạm tội của C được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS. C bị đưa ra xét xử và bị tuyên phạt 7 năm tù. Anh (chị) hãy xác định:

    1. Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại Khoản 3 Điều 8 BLHS?
    2. Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?
    3. Nếu C mới chỉ dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?
    4. Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
    5. Nếu c mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

    GỈAI QUYẾT TÌNH HUỐNG

    1.     Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội gì theo sự phân loại tội phạm tại Khoản 3 Điều 8 BLHS?

    Trả lời: Trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội rất nghiêm trọng theo phân loại tại Khoản 3 Điều 8 BLHS, vì:

    Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt mà BLHS chia ra 4 loại tội phạm và quy định tại Khoản 3 Điều 8 BLHS:  Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

    Theo sự phân loại của Khoản 3 Điều 8 BLHS thì “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù”.  Xét vào trường hợp của C, hành vi phạm tội của C được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”.

    Như vậy, căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt mà ta phân loại tội phạm ra tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chứ không phải căn cứ vào phán xét của Tòa án. Mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 133 mà C phạm phải là đến mười năm tù. Dựa vào Khoản 3 Điều 8 và quy định tại Khoản 1 Điều 133 thì trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội rất nghiêm trọng.

    2.     Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) là tội có CTTP vật chất hay CTTP hình thức? Tại sao?

    Trả lời: Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) là tội có CTTP hình thức, vì:

    CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Mặt khác, nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định thì CTTP thường được xây dựng là CTTP hình thức.

    Điều 133 BLHS quy định về tội cướp tài sản như sau:

    1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

    1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:
    2. a) Có tổ chức;
    3. b) Có tính chất chuyên nghiệp;
    4. c) Tái phạm nguy hiểm;
    5. d) Sử dụngvũ khí,phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

    đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

    1. e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
    2. g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:
    4. a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
    5. b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
    6. c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
    7. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
    8. a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
    9. b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
    10. c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    Theo Khoản 1 thì chỉ cần người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì đã bị kết tội cướp tài sản cho dù là người đó không thực hiện được mục đích cuối cùng là chiếm đoạt được tài sản  mà chỉ cần có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì đã cấu thành tội cướp tài sản.

    Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 thì chỉ quy định người nào phạm tội một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ bảy đến mười lăm năm; từ mười hai đến hai mươi năm; mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Như vậy,  chỉ cần một trong các dấu hiệu của mặt khách quan thuộc Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 133 BLHS mà chưa gây ra hậu quả là cướp được tài sản thì người phạm tội đã bị kết tội cướp tài sản.

    Vì thế, tội cướp tài sản (Điều 133 BKHS) là tội có cấu thành hình thức.

    3.     Nếu C mới chỉ dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt được tài sản thì C có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản không? Giai đoạn thực hiện tội phạm?

    Trả lời: C có bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Theo từ điển luật pháp luật hình sự của phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa, phó giáo sư, tiến sĩ Lê Thị Sơn thì truy cứu TNHS là: “ Hoạt động của nhà nước thông qua các cơ quan của mình để buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Truy cứu TNHS được thực hiện trên cơ sở chủ thể  có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong luật hình sự”. Như vậy cơ sở để truy cứu TNHS một người hay nói cách khác một người bị truy cứu TNHS khi người đó thỏa mãn dấu hiệu có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và người đó đã thực hiện hành vi được xem là tội phạm.

             Trong trường hợp nếu C chỉ mới dùng vũ lực thì vẫn bị truy cứu TNHS vì C đã thỏa mãn hết các căn cứ trên, cụ thể như sau:

    • C là người có năng lực TNHS vì C đã đạt độ tuổi chịu TNHS theo như quy định tại Điều 12 BLHS và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS quy định tại Điều 13 BLHS.
    • Hành vi của C là hành vi phạm tội vì đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của tội phạm như: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và tính chịu hình phạt, cụ thể như sau:

            Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, C chỉ mới dùng vũ lực nhưng đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, cụ thể ở đây là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân.

    Dấu hiệu tính có lỗi, lỗi của C trong trường hợp này là lỗi cố ý vì hành vi dùng vũ lực của C là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của C trong khi C có đủ điều kiện để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. C nhận thức được hành vi dùng vũ lực của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng C vẫn thực hiện  để chiếm đoạt tài sản nên hành vi này của C đã thỏa mãn dấu hiệu lỗi của tội phạm.

    Dấu hiệu tính trái pháp luật hình sự, hành vi dùng vũ lực của C đã được quy định trong bộ luật hình sự cụ thể tại khoản 1 Điều 13 BLHS “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” nên dấu hiệu này hành vi của C cũng thỏa mãn.

    Dấu hiệu tính phải chịu hình phạt, hành vi dùng vũ lực là  hành vi nguy hiểm cho xã hội, là trái pháp luật hình sự nên hành vi này phạm tội này bị đe dọa phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt.

    Từ những phân tích trên ta đi đến kết luận: nếu C mới có hành vi dùng vũ lực nhưng hành vi của C đã thỏa mãn hết các cơ sở để truy cứu TNHS là nên C phải bị truy cứu TNHS.

    • Nếu C mới dùng vũ lực thì giai đoạn thực hiện tội phạm của C là tội phạm hoàn thành vì:

    Đầu tiên là định nghĩa các giai đoạn thực hiện tội phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.  Trong đó:

    Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong CTTP. Căn cứ vào định nghĩa này và đặc điểm cấu trúc của CTTP thì ta rút ra được kết luận là: CTTP hình thức hoàn thành ngay khi người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội. CTTP của tội cướp tài sản là CTTP hình thức theo như phân tích ở câu trên nên hành vi mới dùng vũ lực của C trong trường hợp này đã ở giai đoạn tội phạm hoàn thành vì đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS “ Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản”. Cụ thể như sau:

    Hành vi dùng vũ lực của C đã thỏa mãn dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội của CTTP của tội cướp tài sản: “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.”

    Lỗi của C là lỗi cố ý vì nhận thức hành vi dùng vũ lực của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản của K đã thỏa mãn dấu hiệu lỗi trong CTTP của tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS.

    C là người có năng lực TNHS vì không thuộc trường hợp nào trong quy định tại Điều 13 BLHS – tình trạng không có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định theo quy định tại Điều 12 BLHS nên C thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội phạm.

    Đối với tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS này còn có thêm dấu hiệu mục đích “ nhằm chiếm đoạt tài sản”. Hành vi dùng vũ lực của C là nhằm chiếm đoạt tài sản nên đã thỏa mãn dấu hiệu mục đích trong CTTP này.

    Kết luận nếu C  mới dùng vũ lực nhưng không chiếm đoạt tài sản thì giai đoạn thực hiện tội phạm là tội phạm hoàn thành.

     

    4.     Nếu C mới tròn 14 tuổi thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?

    Trả lời: Nếu tròn 14 tuổi thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình, vì:

    Căn cứ Điều 2 BLHS “ Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS”. Mà C là người đã phạm tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS nên C có thể phải chịu TNHS.

    Theo quy định tại Điều 12 BLHS quy định về Tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

    1. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc  tội phạm  đặc biệt nghiêm trọng.”

    Theo Khoản 3 Điều 8 BLHS thì “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù”.  Xét vào trường hợp của C, hành vi phạm tội của C được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”.

    Hành vi phạm tội của C được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS, và theo sự phân loại tại Khoản 3 Điều 8 BLHS thì C phạm tội rất nghiêm trọng.

    C trong trường hợp này thuộc quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS: C đủ 14 tuổi và phạm tội rất nghiêm trọng. Vì thế, C có phải chịu TNHS về hành vi của mình.

    5.     Nếu C mới chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị bắt giữ thì C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

    Trả lời: C có phải chịu TNHS về hành vi của mình, vì:

    Điều 17 BLHS quy định về Chuẩn bị phạm tội:

    Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

    Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện.”

    C là người có năng lực TNHS do không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS quy định tại Điều 13 BLHS và đạt độ tuổi theo luật định quy định tại Điều 12 BLHS.

    Theo sự phân loại của Khoản 3 Điều 8 BLHS thì “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù”.  Xét vào trường hợp của C, hành vi phạm tội của C được quy định tại Khoản 1 Điều 133 BLHS “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”. Theo phân tích ở câu 1 thì trường hợp phạm tội của C thuộc loại tội  rất nghiêm trọng.

    Xét trường hợp phạm tội của C mới ở giai đoạn chuẩn bị pham tội với quy định tại Điều 17 BLHS quy định về chuẩn bị phạm tội thì C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mình định phạm là tội cướp tài sản, tức là C phải chịu TNHS về hành vi của mình.

     

     

    BẢNG TỪ ĐIỂN VIẾT TẮT

     

    CTTP: Cấu thành tội phạm
    TNHS: Trách nhiệm hình sự
    BLHS: Bộ luật Hình sự

     

     

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập I, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội – 2007.
    2. Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung ngày 19/6/2009.
    3. TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Mô hình luật Hình sự Việt Nam, Nxb. Công an Nhân Dân, Hà Nội – 2003.
    4. Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự ( phần chung), Nxb. ĐHQG, Hà Nội –
    5. TS. Nguyễn Ngọc Hòa; PGS.TS. Lê Thị Sơn, Từ điển pháp luật hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội – 2006.
    6. Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư Pháp, Bình luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999, Nxb. CTQG, Hà Nội – 2001.
    [sociallocker id=”19555″] [/sociallocker] CODE tải xuống và che:

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-C%C6%A1-k%E1%BA%BFt-c%E1%BA%A5u-n%C3%A2ng-cao.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Bài tập lớn Cơ kết cấu nâng cao

    Bài tập lớn: Cơ kết cấu nâng cao

    Bài 1:

    Xác định tải trọng cho phép tác dụng lên thanh. Biết F=100 cm2 , [σ]= 100MN/m2

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1.

    – số đoạn thanh bị phá hoại dẻo sẽ là: S+1=2 đoạn. vậy cả 2 thanh đều bị phá hoại dẻo.

    – Xét cân bằng theo phương đứng ta có:

    Bài 2:

    Xác định tải trọng cho phép của hệ. biết [σ]=16MN/m2 , a=10cm.

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Vậy cả 2 thanh treo đều bị phá hoại dẻo.

    – Sử dụng các mặt cắt (1-1) và (2-2) cắt qua các thanh treo và xét cân bằng phần thanh tuyệt đối cứng ta có:

    – Xét cân bằng mô men tại điểm A ta có:

    Bài 3:

    Xác định diện tích mặt cắt ngang của các dây treo biết dây (1) và dây (3) làm bằng thép [σ]t=160MN/m2, dây (2) làm bằng đuyra [σ]đ=120MN/m2. Dây (2) có diện tích gấp 1.5 lần dây (1) và (3). Biết P=100KN.

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Do tính chất đối xứng nên cả 3 thanh treo đều bị phá hoại dẻo.

    – Sử dụng các mặt cắt (1-1), (2-2) và (3-3) cắt qua các thanh treo và xét cân bằng phần thanh tuyệt đối cứng ta có:

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh thép là: F=2cm2

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đuy ra là: F=3cm2

     

    Bài 4:

    Xác định diện tích mặt cắt ngang của các thanh của cơ hệ như hình vẽ. Biết thanh (1) bằng thép [σ]1=120MN/m2, thanh (2) bằng đuya ra [σ]2=80MN/m2, thanh (3) bằng đồng có [σ]3=60MN/m2. Diện tích mặt cắt ngang F2=F3=2.F1

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Số thanh bị phá hoại dẻo là S+1=2. Vậy ta sẽ có 3 trường hợp xảy ra các trường hợp phá hoại dẻo như sau.

    + Trường hợp 1: Thanh 1 và thanh 2 bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 2: Thanh 1 và thanh 3 bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 3: Thanh 2 và thanh 3 bị phá hoại dẻo.

    – Ta lần lượt đi xem xét từng trường hợp

    *) Xét trường hợp 1:

    *) Xét trường hợp 2:

    Thay phương trình (1) vào phương trình (2) ta có:

    *) Xét trường hợp 3:

    (vậy trường hợp 3 loại).

    – So sánh 3 trường hợp, ta chọn tổ hợp của trường hợp 2.

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh thép: F1=7,62 (cm2)

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đuya ra: F2=15,24 (cm2)

    + Diện tích mặt cắt ngang thanh đồng: F3=15,24 (cm2)

     

    Bài 5:

    Tìm tải trọng cho phép đặt lên thanh chế tạo không chính xác ở đầu dưới khi lắp hụt 1 đoạn Δ. Để lắp được phải kéo thanh bằng 1 lực P=1MN. Biết thanh làm bằng vật liệu có [σ]=200MN/m2. Diện tích mặt cắt ngang 50cm2 và Δ rất nhỏ.

    Giải:

    – Từ đây chúng ta thấy sẽ xảy ra hai trường hợp:

    + Trường hợp 1: nếu tải trọng  P ≤1(MN), khi đó chỉ đoạn trên bị phá hoại dẻo.

    + Trường hợp 2: Nếu tải trọng P>1 (MN), khi đó cả hai đoạn cùng bị phá hoại dẻo.

    – Xét trường hợp 1:

    – Chiếu lên phương dọc trục thanh ta có:

    – Xét trường hợp 2:

    – Chiếu lên phương dọc trục thanh ta có:

    Bài 6:

    Xác định đường kính trong và ngoài của thanh mặt cắt ngang vành khăn chịu tác dụng của mô men xoắn bằng 9kNm. Biết đường kính trong bằng 0,8 đường kính ngoài, vật liệu có [τ]=70 MN/m2.

     Giải:

    – Ta có

    – Mặt khác ta có:

    – Vậy từ đây ta suy ra:

    + Đường kính ngoài D=10cm

    + Đường kính trong d=0,8D=8cm

     

    Bài 7:

    Một trục gồm 2 đoạn đường kính 8cm và 10cm. chịu xoắn bởi mô men M1, M2, M3 . xác định trị số của chúng biết [τ]=90MN/m2.

    Giải:

    – Trước tiên ta có: M3 = M2 + M1

    – Ta có

    – Với tiết diện tròn nên

    – Tương tự ta có:

    – Với tiết diện tròn nên

    Bài 8:

    Xác định hệ số an toàn của một thanh vành khăn chịu xoắn bởi mô men có trị số 10kNm. Biết đường kính trong 10cm, đường kính ngoài 12cm, giới hạn chảy τch =100 MN/m2.

    Giải:

    – Ta có

    – Trong đó:

     

    Bài 9:

    Xác định mô men cho phép đặt lên thanh, biết đường kính của thanh bằng 7cm, ứng suất cho phép của mật liệu [τ]=150MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh s=1

    – Số đoạn bị phá hoại dẻo là S+1=2 đoạn. vậy ta cần phải tìm xem đoạn nào sẽ bị phá hoại dẻo.

    – Vậy trước tiên chúng ta tìm xem nội lực 2 đoạn nào lớn hơn thì hai đoạn đó bị phá hoại dẻo.

    – Ta gọi mô men phản lực tại gối bên phải là M. và ta thay ngàm bằng mô men xoắn M với điều kiện φ=0.

    – Vậy, dựa vào biểu đồ nội lực ta thấy đoạn bị phá hoại dẻo sẽ là đoạn 1 và đoạn 2.

    – Vậy ta có:

    – Trong đó:

    [τ]=150MN/m2=15kN/cm2

    Bài 10:

    Xác định đường kính mặt cắt ngang của thanh. Biết M0=20kNm, [τ]=80MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=1.

    – Số đoạn bị phá hoại dẻo là S+1 =2 đoạn.

    – Vậy cả hai đoạn cùng bị phá hoại dẻo.

    , d=6,86(cm)

     

    Bài 11:

    Xác định các mô men chống uốn dẻo của các mặt cắt sau và so sánh với mô đun chống uốn khi vật liệu làm việc trong giai đoạn đàn hồi.

    Giải:

    1. a) Với tiết diện hình vành khăn:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau. vậy từ đó ta thấy trục trung hòa dẻo chính là trục nằm ngang đi qua tâm o.

    – Mô men kháng uốn dẻo, được xác định bởi công thức.

    1. b) Tiết diện như hình vẽ:

     

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau. vậy từ đó ta thấy trục trung hòa dẻo chính là trục nằm ngang đi qua tâm o.

    – Mô men kháng uốn dẻo, được xác định bởi công thức.

    1. c) Tiết diện như hình vẽ:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Gọi vị trí trục trung hòa dẻo cách đỉnh dầm 1 đoạn y.

    – Vậy ta có:

    – Vậy mô men kháng uốn dẻo của tiết diện là:

    1. d) Tiết diện như hình vẽ:

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Gọi vị trí trục trung hòa dẻo cách đáy dầm 1 đoạn y.

    – Vậy ta có:

    – Vậy mô men kháng uốn dẻo của tiết diện là:

    d) Tiết diện thép chữ I số 20:

     

    – Vị trí trục trung hòa dẻo là vị trí chia tiết diện làm hai phần có diện tích bằng nhau.

    – Vậy chính là đổi xứng.

     

     

    Bài 12:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm sau: biết [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Số khớp dẻo hình thành là: S+1=1. Dựa vào biểu đồ mô men ta thấy khớp dẻo hình thành tại vị trí ngàm.

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Bây giờ ta tính mô men chống uốn dẻo.

    – Gọi trục trung hòa dẻo cách đáy dầm 1 đoạn y. vì trục trung hòa sẽ chia dầm thành hai phần có diện tích bằng nhau nên ta có:

    – Vậy ta có mô men chống uốn dẻo là:

    – Vậy từ đây ta có:

    Bài 13:

    Xác định kích thước của dầm. Biết dầm làm bằng vật liệu có [σ]=100MN/m2. So sánh với kết quá tính theo USCP.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Số khớp dẻo hình thành là: S+1=1. Dựa vào biểu đồ mô men ta thấy khớp dẻo hình thành tại vị trí C và B trên dầm.

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có sơ đồ hệ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Trong đó:

    ( mô men kháng uốn dẻo)

    – Vậy ta có:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (2,289; 3,434) (cm).

    *) Tính theo ứng suất cho phép:

    – Điểu kiện bền theo ứng suất cho phép:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (2,9876; 4,4814) (cm).

    Bài14:

    Xác định số hiệu mặt cắt ngang của dầm chữ I. Biết [σ]=120MN/m2, q= 22,5kN/m. So sánh vởi kết quả tính theo ứng suất cho phép.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí giữa dầm.

    – Sơ đồ hóa dẻo.

    – Ta có:

    – Thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có:

    – Mặt khác ta có:

    – Với thép I. Ta có Wd = 2.Sx

    – Tra bảng ta chọn thép I30a có Sx=292 (cm3)

    *) Tính theo ứng suất cho phép:

    – Tra bảng ta chọn thép I33 có Wx=597 (cm3)

    Bài 15:

    Xác định chiều dài giới hạn của một dầm đơn. Biết rằng [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí giữa dầm.

    – Sơ đồ hóa dẻo.

    – Ta có:

    – Thay phương trình (2) vào phương trình (1) ta có:

    – Mặt khác ta có:

    – Ta tính muôn men kháng uốn dẻo.

    – Do tính chất đối xứng diện tích nên trục trung hòa dẻo sẽ trùng với vị trí tiếp xúc giữa bản cánh và bản bụng, như hình vẽ.

    – Vậy ta có mô men kháng uốn dẻo là:

    – Vậy từ đây ta có:

    – Vậy chiều dài giới hạn của dầm là: 4m

    Bài 16:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm. biết a=1m, [σ]=160MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=0.

    – Vậy hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1 =1 khớp dẻo.

    – Khớp dẻo sẽ xuất hiện tại vị trí mô men lớn nhất theo phương pháp ứng suất cho phép. Theo biểu đồ mô men thì đó là vị trí B và vị trí bên trái C.

    (do hai vị trí này mô men bằng nhau nên khi xuất hiện 1 khớp dẻo sẽ xuất hiện cùng lúc)

     

    – Sơ đồ dẻo.

    – Ta có:

    – Ta tính Wd

    – Vậy ta có:

    Bài 17:

    Xác định tải trọng cho phép đặt lên dầm. Biết [σ]=160MN/m2, a=1m.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh: S=1

    – Hệ sẽ bị phá hoại khi xuất hiện S+1=2 khớp dẻo.

    – Ta đi tìm vị trí khớp dẻo bằng cách vẽ biểu đồ mô men do tải trọng gây ra. Do hệ đối xứng nên hai vị trí đặt lực có trí số mô men bằng nhau. vì vậy thực ra hệ sẽ xuất hiện 3 khớp dẻo tại các vị trí đặt lực và vị trí B.

    – Ta có sơ đồ dẻo như sau:

    – Ta có:

    – Từ đó ta có:

    – Tính mô men kháng uốn dẻo.

    – Vậy tải trọng cho phép tác dụng lên dầm là: 576kN.

    Bài 18:

    Xác định kích thước mặt cắt ngang của dầm. biết [σ]=100MN/m2.

    Giải:

    – Số bậc siêu tĩnh S=3. Tuy nhiên do hai thành phần phản lực dọc trục thanh bằng không nên còn lại S=1.

    – Do tính chất đối xứng của hệ và tải trọng nên. Hệ có 3 khớp dẻo. Tại các vị trí ngàm và vị trí đặt tải trọng.

    – Sơ đồ hóa dẻo của hệ như sau:

    – Ta có:

    – Trong đó:

    – Mặt khác ta có:

    – Vậy kích thước mặt cắt ngang của dầm là: (26,2; 26,2) (cm).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-%C4%90%E1%BB%8ANH-GI%C3%81-B%E1%BA%A4T-%C4%90%E1%BB%98NG-S%E1%BA%A2N.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

     

    BÀI TẬP LỚN ĐỊNH GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN

     

    Nhận yêu cầu định giá:

     

    Ngày 30/11/2013, Công ty CP Đầu Tư và Thẩm định giá Việt Nam nhận được yêu cầu và kí kết hợp đồng của khách hàng là Công Ty Cổ Phần Dịch vụ Viễn Thông và In Bưu Điện về việc thẩm định Giá trị quyền sử dụng đất và công trình trên đất Tại số 209 Khuất Duy Tiến , thành phố Hà Nội với mục đích làm cơ sở tham khảo để bán tài sản.

    Giám đốc TDG Việ nam kí Quyết Định số 202, ngày 2/12/2012 của Giám đốcn TDG Việt Nam về việc thành lập Tổ định giá và căn cứ thẩm định viên.

    Lập phương án định giá bất động sản

    Xác định tổng quát về bất động sản cần định giá và loại hình giá trị làm cơ sở định giá.

    – Các đặc điểm cơ bản về pháp lý, về kinh tế kỹ thuật của bất động sản cần định giá:

    * Đặc điểm pháp lý:

     

    STT TÊN VĂN BẢN SỐ, NGÀY BAN HÀNH NỘI DUNG

     

    VĂN BẢN

    CƠ QUAN,

     

    ĐƠN VỊ CẤP

    01 Giấy chứng nhận Số 1171/2008/QĐ-UB/405/2008

     

    Ngày 03/06/2008

    Cấp cho ông Trương văn Tiến  và bà Lê Thị Hồng được quyền sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 33,  209 Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội với diện tích 105 m2 UBND

     

    Quận Nam Từ Liêm

    02 Hợp đồng chuyển nhượng Ngày công chứng

     

    29/12/2009

    Bên A đồng ý chuyển nhượng dứt khoát quyền sở hữu và/ hoặc sử dụng toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 33 tại số 209 đường Khuất Duy Tiến quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội cho bên B Phòng công chứng số 2

     

    TP. Hà Nội

    * Đặc điểm kinh tế kỹ thuật:

    + Diện tích khuân viên:205 m2

    + Diện tích đất :  205m2

    + Loại đất: đất ở

    + Hình dáng: Vát hậu

    + Vị trí: Mặt tiền đường chân đê rộng: 5m.

    Cách đường chính 5m.

    Loại đường: đường dải nhựa.

    +Môi trường: ồn ào, Nhiều xe cộ qua lại đặc biệt là những giờ tan học của sinh viên về thì thường sẽ tắc đường.

    Lợi thế: gần siêu thị BigC, siêu thị, trường mầm non tư thục Hoa Mai, gần trường ĐH Phòng cháy chữa cháy.

    Thích hợp cho kinh doanh buôn bán, vì ở đây gần trường ĐH mà cũng là trung tâm thành phố nơi có nhiều người qua lại.

    + Cấu trúc nhà : nhà mái bằng bê tông.

    + Diện tích xây dựng: 95 (m2)                     Diện tích sử dụng: 95 (m2)

    Triển khai định giá BĐS mục tiêu:

    A, Tính theo đơn giá nhà nước ban hành

    *Tính giá trị đất

    Áp dụng theo thông tư số 05/BXD/ĐT ngày 09/2/1993 của Bộ Xây Dựng về việc hướng dẫn phương pháp xác định diện tích sử dụng và phân cấp nhà ở và khung giá đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.

    + Diện tích đất được sử dụng riêng: 205 m2

    + Giá trị đất vị trí trên đoạn đường Khuất Duy Tiến, Quận Thanh Xuân  là: 124.000.000 VNĐ/m2

    Vậy giá trị đất là:    205   x   124.000.000   =   25.420.000.000VNĐ

    *Tính giá trị công trình trên đất:

    Áp dụng theo quyết định số 04/2008/QĐ-UBND ngày 22/10/2008 của Thành phố Hà Nội về việc ban hành giá xây mới nhà ở, nhà tạm, vật kiến trúc trên địa bàn thành phố Hà Nội.

    + Diện tích xây dựng: 95 (m2)

    + Theo Quyết định số 420/QĐ-SXD ngày 17/1/2013 của UBNN Thành Phố Hà Nội Sở Xây Dựng Hà Nội : Quyết định về việc công bố giá xây dựng mới nhà ở, công trình, vật kiến trúc làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố hà nội.

    Đơn giá đầu tư xây dựng nhà mái bằng bê tông, kết cấu móng xây gạch lỗ bình thường, nền sàn đổ chạt xi măng cát vàng trên lát gạch Ceramic, tường xây 20cm bằng gạch là: 2.078.000 VNĐ/m2

    • Gác xép bê tông : 918.000 VNĐ/m2
    • Bể nước 2.001.000 VNĐ/m3
    • Bể phốt 2.471.000 VNĐ/m3

    Giá trị công trình trên đất:

    • 078.000 x 95  =   197.410.000 VNĐ ( một trăm chín bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng chẵn)
    • Gác xép : 10 × 918.000 = 9.180.000 VNĐ ( chín triệu một trăm tám mươi nghìn chẵn)
    • Bể nước : 5× 2.001.000 = 10.005.000 VNĐ (mười triệu không trăm không năm nghìn chẵn)
    • Bể Phốt : 2 × 2.471.000 = 4.942.000 VNĐ ( bốn triệu chín trăm bốn hai nghìn chẵn)

    Vậy Giá trị của BĐS:

    Giá trị BĐS   =   Giá trị­đất  +  Giá trịcông trình

                            = 25.420.000.000 + 197.410.000 + 9.180.000 + 10.005.000 + 4.942.000

    = 25.641.537.000 ( hai lăm tỷ sáu trăm bốn mốt triệu năm trăm ba bảy nghìn)

    B, Tính theo giá thị trường

    Thẩm định giá trị BĐS theo phương pháp so sánh kết hợp với phương pháp chi phí

    Thẩm định BĐS theo phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp chi phí.  Cơ sở thẩm định giá theo giá thị trường: Giá thị trường của 1 tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên thị trường vào thời điểm thẩm định giá giữa một bên là người mua sẵn sàng mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong giao dịch khách quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường.

    Căn cứ vào các tiêu chí trên, chuyên viên thẩm định giá đã tiến hành thu thập, phân tích các BĐS tương đồng với BĐS cần định giá tại thời điểm 20/4/2016 tại Thành Phố Hà Nội, cụ thể quận Nam Từ Liêm :

    + Về vị trí: đều nằm trên đường Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, Thành Phố Hà Nội

    + Về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội: Do nằm trong cùng khu vực nên tương tự với BĐS mục tiêu. Hệ thống cấp điện là hệ thống cấp điện của thành phố, điện ổn định, khu vực sử dụng nguồn nước sạch, vị trí thuận lợi như gần trường ĐH phòng cháy chữa cháy, chợ, siêu thị BigC ,khu phố chính tập trung đông dân cư qua lại,. Tấp nập

    Thông tin thu thập được về các BĐS so sánh cụ thể như sau:

    Thông tin BĐS cần Định giá BĐS so sánh 1 BĐS so sánh 2 BĐS so sánh 3
    Vị trí 209 Khuất Duy Tiến, TP Hà Nội. Mặt tiền đường  rộng 5m 258 Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Mặt tiền rộng 5m. Cách BĐS cần định giá 50m Bên số chẵn, Đường Khuất Duy Tiến, TP Hà Nội. Mặt tiền  rộng 5m. Cách BĐS cần định giá 250m Bên số chẵn, Đường Khuất Duy Tiến, Hà Nội. Mặt tiền rộng 5m. Cách BĐS cần định giá 380m
    Pháp lý Sổ đỏ đã qua chuyển nhượng Sổ đỏ chính chủ Sổ đỏ chính chủ Sổ đỏ chính chủ
    Hướng Bắc Tây Đông Bắc Đông Nam
    Hình Dáng Vát hậu Vuông vức Vuông vức Vuông vức
    DTKV 205 m2 70 m2 72 m2 180 m2
    Số tầng 1 5 3 + 1 tầng hầm 1
    Tổng DT sàn SD 95m2 350 m2 216 m2 180 m2
    Giá bán   9.85 tỉ 11.55 tỉ 22.52 tỉ

    Hệ số điều chỉnh giữa giá BĐS so sánh và BĐS định giá :

     

    Các yếu tố so sánh BĐS so sánh 1 BĐS so sánh 2 BĐS so sánh 3
    Pháp lý (100-101)/101=

     

    -0,99 %

    -0,99 % -0,99 %
    Hướng (100-105)/105=

     

    -4,76%

    (100-110)/110=

     

    -9,09%

    Vị trí (100-99)/99=

     

    1,01%

    (100-97)/97=

     

    3,09%

    (100-97)/97=

     

    3,09%

    Khu vực (100-118)/118=

     

    -15,25%

    (100-118)/118=

     

    -15,25%

    (100-118)/118=

     

    -15,25%

    Giá/m2 đất 140.714.285VNĐ 160.416.667 VNĐ 125.111.111 VNĐ
    Giá/m2 sau khi điều chỉnh 140.714.285 x  (100% -0,99%+1,01%-15,25%)                     =119.283.499,4VNĐ 160.416.667 x (100%-0,99%

     

    -4,76%+3,09% -15,25%)

    =131.686.041,9VNĐ

    125.111.111 x(100% -0,99% + 3,09% – 15,25%)

     

    = 108.658.999,9 VNĐ

    Vậy Giá trị trung bình tại khu vực BĐS mục tiêu là:

    Gđ = (119.283.499,4+131.686.041,9+108.658.999,9)/3 = 119.876.180,4VNĐ

    Vậy giá trị thửa đất của BĐS mục tiêu :

    = 119.876.180,4  x 205 =  24.574.616.980 VNĐ

    *Bảng tính toán chi tiết giá trị công trình:

    DTXD: 95 m2

    Số tầng: 1

    Tuổi kinh tế: 50 năm

    Tuổi hiệu quả: 12 năm

    Tỷ lệ giá trị còn lại tạm tính = (38/50)x100 = 76%

    Chi phí thay thế công trình: 2.078.000 x   95   =   197.410.000VNĐ

    Tính toán chi phí sử dụng đơn vị cấu thành, các bộ phận cấu thành: móng, khung cột, nền, trần, sàn,…. Chuyên viên đã tiến hành thẩm định giá, khảo sát thị trường:

    -Móng xây gạch lỗ bình thường, có hiện tượng lún

    -Tường xây 20cm bằng gạch lỗ, bị nứt và thấm

    -Nền nhà: đổ chạt xi măng cát vàng trên lát gạch Ceramic, còn tốt

    -Trần bê tông còn tốt

    -Cửa gỗ: bị nứt

    Từ đó xây dựng được bảng tỷ lệ giá trị của các kết cấu chính so với ngôi nhà:

    Vậy tỷ lệ giá trị còn lại của công trình là : (76% + 89,56%)/2 = 82,78%

    Vậy chi phí để tái tạo công trình tại thời điểm hiện tại có kể đến hao mòn và lỗi thời là : 2.078.000 x   95 x 82,78% = 163.415.998 VNĐ

    Vậy giá trị BĐS mục tiêu tính theo phương pháp so sánh kết hợp chi phí:

    GBĐS =24.574.616.980  + 163.415.998=  24.738.032.980 VNĐ

    Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2016

     

    BÁO CÁO KẾT QUẢ THẨM ĐỊNH GIÁ

     

    I – Thông tin chung về tài sản thẩm định giá:

    1. Về tài sản:
    • Tên tài sản: Nhà mái bằng bê tông.
    • Địa chỉ: Số 209 Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
    • Loại tài sản: Đất ở và nhà tại đô thị.
    • Vị trí, địa điểm tài sản: Số 209 đường Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
    1. Về khách hàng:
    • Khách hàng: Ông Trịnh Văn Hùng
    1. Địa chỉ: Văn Trì 4 – Minh Khai – Bắc Từ Liêm – Hà Nội
    2. Đơn vị thẩm định giá:
    • Tên Công ty : Công ty Thẩm định giá Hùng Vương.
    • Địa chỉ : số 99 Kiều Mai – Bắc Từ Liêm – TP Hà Nội.
    • Điện thoại: 04.12345672
    • Fax: 04.6528212
    • Họ và tên Định giá viên: Nhóm 1
    • Họ và tên Định giá viên lập báo cáo thẩm định giá : Nhóm 1
    1. Ngày hiệu lực của thẩm định giá:
    • Ngày cấp chứng thư: 8/3/2016
    • Ngày ký hợp đồng: 1/4/2016
    • Ngày hoàn thành đi hiện trường: 10/4/2016
    • Ngày khách hàng cung cấp đầy đủ hồ sơ:15/4/2016
    1. Mục đích thẩm định giá:

    Ông Trịnh Văn Hùng muốn thẩm định giá BĐS ở 209 Khuất Duy Tiến- Nam Từ Liên- TP Hà Nội nhằm mục đích mở một cửa hàng ăn tại địa điểm trên do nơi đây rất thích hợp để kinh doanh buôn bán. BĐS nằm ngay trên mặt đường lại gần trường ĐH Phòng cháy chữa cháy nhiều sinh viên tập trung sinh sống. Cũng là trung tâm Hà nội nên khách hàng sẽ đông.

    II – Những căn cứ pháp lý để thẩm định giá:

     Những văn bản QPPL, tiêu chuẩn có liên quan do cơ quan nhà nước có thẩm quyền TW hoặc địa phương ban hành.

    STT Tên văn bản Số Ngày ban hành
    1 Luật Công chứng 82/2006/QH11 12/12/2006
    2 Luật Cư trú 81/2006/QH11 12/12/2006
    3 Luật Kinh doanh bất động sản 63/2006/QH11 12/07/2006
    4 Luật Nhà ở 56/2005/QH11 09/12/2005
    5 Bộ luật Dân sự 33/2005/QH11 27/06/2005
    6 Luật Đất đai 13/2003/QH11 10/12/2003
    7 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. 123/2007/NĐ-CP 27/07/2007
    8 Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của NĐ số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước 06/2007/TT-BTNMT 15/06/2007
    9 Chỉ thị về việc triển khai thi hành Luật Kinh doanh bất động sản 11/2007/CT-TTg 08/05/2007
    10 Nghị định quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. 138/2006/NĐ-CP 15/11/2006
    11 Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. 05/2006/TT-BXD 01/11/2006
    12 Chỉ thị về việc triển khai thi hành Luật Nhà ở. 34/2006/CT-TTg 26/09/2006
    13 Nghị quyết của Chính phủ về một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ. 23/2006/NQ-CP 07/09/2006
    14 Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. 90/2006/NĐ-CP 06/09/2006
    15 Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. 1037/2006/NQ-UBTVQH11 27/07/2006
    16 Quyết định ban hành quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 08/2006/QĐ-BTNMT 21/07/2006
    17 Thông tư hướng dẫn điều kiện và thủ tục cấp phép hoạt động đăng ký hoạt động tư vấn về giá đất. 36/2006/TT-BTC 28/04/2006
    18 Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai. 01/2005/TT-BTNMT 13/04/2005
    19 Nghị định về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất. 188/2004/NĐ-CP 16/11/2004
    20 Nghị định về thi hành Luật Đất đai. 181/2004/NĐ-CP 29/10/2004
    21 Nghị định về mua bán và kinh doanh nhà ở. 61-CP 05/07/1994

     

    III – Mô tả đặc điểm về kinh tế kỹ thuật của tài sản thẩm định giá:

    1. Đặc điểm tài sản thẩm định giá:

    Vị trí:

    Môi trường: ồn ào nơi có nhiều xe cộ đi lại và sinh viên qua lại

    Lợi thế: gần Chợ, khu thương mại, siêu thị, trường mầm non tư thục.

    Thuận lợi làm nhà ở, kinh doanh, mở văn phòng ,.. có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.

    1. Mô tả:

    + Diện tích khuôn viên: 205m2

    + Diện tích đất : 205 m2

    + Loại đất: đất ở

    + Hình dáng: Vát hậu

    + Vị trí: Mặt tiền đường chân đê rộng: 5m

    Hẻm thông, nằm chân đê cách đường chính 5m

    Loại đường: Đường dải nhựa

    + Cấu trúc nhà : nhà mái bằng bê tông

    + Diện tích xây dựng: 95 (m2) Diện tích sử dụng: 95(m2)

    IV – Mô tả đặc điểm tài sản về mặt pháp lý:

    STT TÊN VĂN BẢN SỐ, NGÀY BAN HÀNH NỘI DUNG

     

    VĂN BẢN

    CƠ QUAN,

     

    ĐƠN VỊ CẤP

    01 Giấy chứng nhận Số 1171/2008/QĐ-UB/405/2008

     

    Ngày 03/06/2008

    Cấp cho ông Trương văn Tiến  và bà Lê Thị Hồng được quyền sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 33,  209 Khuất Duy Tiến, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội với diện tích 105 m2 UBND

     

    Quận Nam Từ Liêm

    02 Hợp đồng chuyển nhượng Ngày công chứng

     

    29/12/2009

    Bên A đồng ý chuyển nhượng dứt khoát quyền sở hữu và/ hoặc sử dụng toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 33 tại số 209 đường Khuất Duy Tiến quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội cho bên B Phòng công chứng số 2

     

    TP. Hà Nội

     

     

    V – Những giả thiết và hạn chế trong định giá:

    • Người định giá không có trách nhiệm phải đi thẩm tra lại việc cung cấp thông tin của khách hàng.
    • Những thông tin được cung cấp từ những nghiên cứu khác là đáng tin cậy.
    • Tỷ lệ phân phối giữa đất và công trình trong tổng giá trị BĐS chỉ được áp dụng cho BĐS này, không sử dụng cho bất động sản khác.
    • Khách hàng chỉ được sử dụng báo cáo này vào mục đích đã yêu cầu.
    • Tất cả hoặc bất kỳ phần nào của báo cáo cũng không được sử dụng rộng rãi, và không dùng để quảng cáo.

    VI – Kết quả khảo sát thực địa:

    • Mục đích khảo sát: kiểm tra tính chính xác hợp lý giữa hồ sơ pháp lý, các thông tin và khách hàng cung cấp cùng với hiện trạng thực tế của bất động sản, tìm ra những điểm bất hợp lý.
    • Thời gian khảo sát: ngày 20/4/2016
    • Người khảo sát: Nhóm 1
    • Kết quả thu được từ khảo sát: các thông số kỹ thuật trên hồ sơ pháp lý cũng như thông tin khách hàng cung cấp đều chính xác.

    VII – Những lập luận để ra kết quả cuối cùng:

    • Phân tích về vị trí: Vị trí của bất động sản cần định giá nằm trên vị trí mặt tiền thuận tiện cho việc kinh doanh mua bán. Hệ thống đường giao thông và thông tin liên lạc ổn định đúng theo thông tin của khách hàng. Môi trường xung quanh đông đúc, gần Chợ, trường học, siêu thị và trunng tâm thương mại.

     

     

    VIII – Nguyên tắc và phương pháp thẩm định giá:

    Phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp chi phí.

    IX – Xử lý những vấn đề phức tạp, không rõ ràng trong quá trình thẩm định giá:

    – Phương pháp so sánh được thực hiện dựa trên các số liệu khảo sát thị trường tại thời điểm thẩm định giá, trên cơ sở các giao dịch thực tế trong điều kiện thương mại bình thường. Trong trường hợp thị trường bất động sản có biến động lớn về giá thì cần phải có điều chỉnh, cập nhật phù hợp theo qui định hiện hành.

    – Quá trình định giá còn nhiều khả năng thiếu chính xác do quá trình sử dụng của khách hàng trong thời gian tới có thể gây ra nhiều thay đổi về mặt hình thức và cấu trúc vật chất của tài sản được định giá.

    X –  Phụ lục đính kèm báo cáo:

    • Bản sao đã công chứng: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở của chủ bất động sản cần định giá.
    • Bản vẽ thiết kế của bất động sản và các khu vực lân cận, bao quanh bất động sản cần định giá.

    Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2016

    Định giá viên

    Nhóm 1

     

     

    Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    CHỨNG THƯ ĐỊNH GIÁ

    Hà Nội, ngày 8 tháng 3 năm 2016

    Kính gửi : Ông Trương Văn Tiến

    1. Tài sản thẩm định giá: giá trị quyền sử dụng đất và nhà của ông Trương Văn Tiến tại số 209 Khuất Duy Tiến – Nam Từ Liêm – TP Hà Nội.
    2. Mục đích thẩm định giá: làm cơ sở để bán tài sản.
    3. Thời điểm thẩm định giá: tháng 4  năm 2016.
    4. Căn cứ pháp lý thẩm định giá bất động sản: phụ lục đính kèm.
    5. Cơ sở thẩm định giá: giá trị thị trường.
    6. Thực trạng của bất động sản: phụ lục đính kèm
    7. Phương pháp thẩm định: Phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp chi phí.
    8. Kết quả thẩm định giá:

    Trên cơ sở hồ sơ, tài liệu được cung cấp, qua khảo sát thực tế hiện trường của BĐS, tham khảo đơn giá xây dựng, đơn giá bán căn hộ trên thị trường, sử dụng các phương pháp thẩm định giá trong tính toán, kết quả thẩm định giá như sau:

    Tổng giá trị thị trường quyền sử dụng đất và nhà  của ông Trương Văn Tiến (chi tiết theo phụ lục đính kèm) là: 24.738.032.980 VNĐ.

    1. Điều kiện ràng buộc:

    9.1/Mức giá trên là giá thị trường quyền sử dụng đất và nhà của ông Trương Văn Tiếm tại thời điểm định giá phù hợp với đặc điểm pháp lý – kinh tế – kĩ thuật của bất động sản (phụ lục đính kèm).

    9.2/Phương pháp so sánh chủ yếu dựa vào các dữ liệu điều tra trên thị trường tại thời điểm thẩm định, vì vậy các dữ liệu có tính lịch sử dễ trở nên lạc hậu khi thị trường biến động.

    9.3/Báo cáo định giá là thành quả của định giá viên.

    9.4/Kết quả thẩm định giá trên được sử dụng làm cơ sở tham khảo làm căn cứ để mua nhà ở, không sử dụng kết quả thẩm định giá vào mục đích khác.

    Thẩm định viên

    Nhóm 1

    [sociallocker id=”19555″] [/sociallocker] CODE tải xuống và che:

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-h%E1%BB%8Dc-M%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-h%E1%BB%87-th%E1%BB%91ng-truy%E1%BB%81n-th%C3%B4ng-%E2%80%93-D10VT.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    Bài tập lớn môn học Mô phỏng hệ thống truyền thông – D10VT

    (Assignments on Simulation of Communication Systems)

    I.         Giới thiệu

    Trong phần bài tập lớn này mỗi sinh viên sẽ được yêu cầu thực hiện 2 nhiệm vụ bao gồm: Nhiệm vụ đầu tiên là thực hiện mô phỏng một hệ thống truyền dẫn tín hiệu tương tự và nhiệm vụ thứ hai là mô phỏng một hệ thống truyền dẫn số.

    Hãy sử dụng bài giảng của môn học và các ví dụ đã cho làm tài liệu tham khảo để thực hiện bài tập lớn này. Kiến thức của các môn học khác như Lý thuyết thông tin, Xử lý tín hiệu số, Truyền dẫn số được khuyến khích áp dụng trong phần này.

    Kết quả của bài tập được thể hiện qua báo cáo của mỗi sinh viên. Các báo cáo được mỗi sinh viên tự thực hiện đảm bảo sự trung thực, cấm sự sao chép của nhau. Bất kỳ những phần nào trong báo cáo có dấu hiệu sao chép đều không được điểm mà không quan tâm đến kết quả thực hiện được.

    Các báo cáo thực hiện được càng nhiều các yêu cầu nhiệm vụ đưa ra càng tốt, tuy nhiên cần đảm bảo nộp đúng hạn. Như vậy không nhất thiết phải hoàn thành hết tất cả các yêu cầu đặt ra trong mỗi nhiệm vụ. Bất kỳ báo cáo nào nộp muộn sau thời hạn bị trừ ít nhất 20% số điểm.

    Hạn nộp báo cáo: trước 16h ngày 12/11/2013.

    II. Nhiệm vụ 1

     

    1. Mô tả nhiệm vụ:

    Mô phỏng hệ thống truyền dẫn tín hiệu tương tự, trong đó tín hiệu tương tự truyền trên hệ thống được mô tả bởi công thức sau:

    3

    s (t ) = å Ai cos(2p f i t+ji )

    i=1

    với Ai lần lượt là [1, 1, 2] và ji lần lượt là [0, pi/8, 0], còn tần số fi được xác định từ mã số của mỗi sinh viên theo biểu thức fi = i Hz với i lần lượt là 3 số cuối cùng trong mã số sinh viên.

    1. Yêu cầu:
    1. Mô tả hệ thống mô phỏng bằng sơ đồ khối và xác định các tham số của hệ thống.
    1. Bằng việc sử dụng MATLAB, viết chương trình và thực hiện mô phỏng hệ thống

    truyền tín hiệu tương tự này sử dụng kỹ thuật điều chế tần số FM với tần số sóng mang fc gấp 10 lần tần số cực đại của (fi) và độ sâu điều chế h = 0.4 trên kênh AWGN tại 3 mức SNR lần lượt là 15, 20 và 25 dB.

    1. Biểu diễn dạng sóng tín hiệu trên ít nhất 3 chu kỳ và phổ của nó tại các điểm sau trên hệ thống: tín hiệu gốc bản tin, đầu ra bộ điều chế, sau khi truyền qua kênh AWGN, tín hiệu được khôi phục tại đầu ra bộ thu.
    1. Xác định và biểu diễn sai số của tín hiệu sau khi được khôi phục tại 3 mức SNR

    2

    trên cùng hình theo biểu thức sau: error = (mm )      trong đó: m là tín hiệu bản tin

    r

    gốc và mr là tín hiệu được khôi phục tại bộ thu.

    III. Nhiệm vụ 2

     

    1. Mô tả nhiệm vụ:

    Mô phỏng hệ thống truyền dẫn số tại tốc độ dữ liệu N Mb/s, giá trị N được xác định bởi số cuối cùng của mã số sinh viên (Nếu số đó là số 0 thì sẽ lựa chọn số liền kề bên cạnh). Mỗi sinh viên sẽ lựa chọn một trong các kỹ thuật điều chế sau cho hệ thống mình mô phỏng:

    • Điều chế M-ASK nếu số cuối cùng trong mã sinh viên là chẵn với M = 2 nếu số liền kề là lẻ và M = 4 nếu số liền kề là chẵn.
    • Điều chế M-PSK nếu số cuối cùng trong mã sinh viên là lẻ với M = 4 nếu số

    liền kề là lẻ và M = 8 nếu số liền kề là chẵn.

    Sử dụng mô hình mô phỏng tương đương băng gốc, tín hiệu phát có thể được biểu diễn như sau:

    s(t) = éê å¥ dk p (t kTsym )ùú e jf0

    ë k =-¥                               û

    trong đó dk là các kí hiệu (symbol) phức được phát độc lập với xác suất như nhau; Tsym là chu kỳ của symbol; f0 là pha của tín hiệu phát và p(t) xác định dạng xung được phát:

            æ t – 0.5Tsym ö
    p (t ) = 2E  
    s rect ç   ÷ cho tín hiệu M-PSK
       
        Tsym   ç Tsym ÷
          è ø
            é æ 2pt ö ù
        2E  
    p(t) = s   ê1 cos ç   ÷ú cho tín hiệu M-ASK
    T  
          ë ç T ÷  
        sym   è sym øû
          ê     ú

    với Es là năng lượng mỗi symbol.

    1. Yêu cầu:
    1. Mô tả hệ thống mô phỏng bằng sơ đồ khối và xác định các tham số của hệ thống.
    1. Bằng việc sử dụng MATLAB, viết chương trình mô phỏng hệ thống truyền dẫn số

    sử dụng kỹ thuật điều chế đã lựa chọn trên kênh AWGN. Ước tính xác suất lỗi như là hàm của tỉ số tín hiệu trên nhiễu SNR (Es/N0) theo phương pháp Monte Carlo đối với trường hợp M-PSK và theo phương pháp bán giải tích đối với trường hợp M-ASK.

    1. Biểu diễn biểu đồ chòm sao, dạng sóng tín hiệu, mẫu mắt và phổ của nó tại các điểm sau trên hệ thống: đầu ra bộ điều chế, sau khi truyền qua kênh AWGN tại SNR = 8 dB, sau khi được xử lý và khôi phục tại bộ thu.
    1. So sánh kết quả mô phỏng đường cong xác suất lỗi với kết quả lý thuyết đối với kiểu điều chế mà hệ thống sử dụng.

    IV. Yêu cầu báo cáo

     

    Báo cáo nên được trình bày đảm bảo các yêu cầu sau:

    • Đầy đủ thông tin bao gồm thông tin cá nhân và nội dung báo cáo theo cấu trúc cho mỗi nhiệm vụ như sau:

    o Phần 1: Mô tả hệ thống mô phỏng và các tham số được sử dụng trong mô phỏng.

    o  Phần 2: Trình bày kết quả mô phỏng và nhận xét đánh giá.

    o Phần 3: Mã chương trình được viết để mô phỏng hệ thống và giải thích.

    • Nội dung trình bày rõ ràng, khoa học và sáng sủa để làm rõ những kết quả đã đạt được theo yêu cầu trong báo cáo.
    • Mã chương trình nên bao gồm cả phần chú giải cho các hàm xây dựng và từng phần câu lệnh trong mỗi chương trình.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)

    Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)

    Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn môn Cơ sở truyền động điện


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-Ki%E1%BA%BFn-tr%C3%BAc-m%C3%A1y-t%C3%ADnh-v%C3%A0-m%E1%BA%A1ng-truy%E1%BB%81n-th%C3%B4ng-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-Giao-ti%E1%BA%BFp-I2C-Master-%E2%80%93-Slave.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp Giao tiếp I2C ( Master – Slave)

    Bài tập lớn môn Kiến trúc máy tính và mạng truyền thông công nghiệp: Giao tiếp I2C ( Master – Slave)

    I. Giới thiệu chung về I2C( Master – Slave)

    Phương pháp Master – Slave (chủ – tớ), một trạm chủ (master) có trách nhiệm chủ động phân chia quyền truy cập bus cho các trạm tớ (slave ). Các trạm tớ đóng vai trò bị động chỉ có quyền truy cập bus và gửi tín hiệu đi kh có yêu cầu. Trạm chủ có thể dùng phương pháp hỏi tuần tự theo chu kỳ để kiểm soát toàn bộ hệ thống. Nhờ vậy các trạm tớ có thể gửi các dữ liệu thu thập được từ quá trình kỹ thuật gửi đến trạm chủ cũng như nhận được các thông tin điều khiển từ trạm chủ. Và chuẩn giao tiếp I2C là một chuẩn giao tiếp sử dụng phương pháp này.

    Ngày nay trong các hệ thống điện tử hiện đại, rất nhiều IC hay thiết bị
    ngoại vi cần phải giao tiếp với các IC hay thiết bị  khác  giao  tiếp với thế giới
    bên ngoài. Với mục tiêu đạt được hiệu quả cho phần cứng tốt nhất với mạch  
    điện đơn  giản,  Phillips  đã  phát  triển  một chuẩn  giao  tiếp  nối tiếp 2 dây
    được gọi là  I2C.  I2C là tên viết tắt của cụm từ  Inter ‐ Intergrated Circuit Bus
    giao tiếp giữa các IC với nhau.            
    I2C mặc dù được phát triển bới Philips, nhưng nó đã được rất nhiều nhà sản
    xuất IC trên thế giới sử dụng.  I2C  trở  thành một  chuẩn công nghiệp cho
    các giao tiếp điều khiển, có thể kể ra đây một vài tên tuổi ngoài Philips như:

    Texas Intrument (TI), Maxim‐Dallas, analog Device, National Semiconductor Bus I2C được sử dụng làm bus giao tiếp ngoại vi cho rất nhiều loại IC khác nhau như các loại. Vi điều khiển 8051, PIC , AVR, ARM, chíp nhớ như RAM tĩnh (Static Ram), EEPROM, bộ chuyển đổi tương tự số (ADC), số tương tự (DAC), IC điểu khiển LCD, LED…

    1. Đặc điểm giao tiếp I2C

    Một giao tiếp I2C gồm có 2 dây: Serial Data (SDA) và Serial Clock (SCL). SDA là đường truyền dữ liệu 2 hướng, còn SCL là đường truyền xung đồng hồ

    và chỉ theo một hướng. Như hình vẽ trên, khi một thiết bị ngoại vi kết nối vào đường I2C thì chân SDA của nó sẽ nối với dây SDA của bus, chân SCL sẽ nối với dây SCL.

    Mỗi dây SDA hay SCL đều được nối với điện áp dương của nguồn cấp thông

    qua một điện trở kéo lên (pull‐up resistor). Sự cần thiết của các điện trở kéo
    kéo này là vì chân giao tiếp I2C của các thiết bị ngoại vi thường là dạng cực
    máng hở (open‐drain or open  –  collector). Giá trị của các điện trở này khác
    nhau tùy vào từng thiết bị và chuẩn giao tiếp   thường dao động trong khoảng
    1KΩ đến 4.7KΩ.  
    Nhìn lại hình 1.1, ta thấy có rất nhiều thiết bị (IC) cùng được kết nối vào
    một bus I2C, tuy nhiên sẽ không xảy ra chuyện nhầm lẫn giữa các thiết bị,  bởi
           

    mỗi thiết bị sẽ được nhận ra bởi một địa chỉ duy nhất với một quan hệ chủ/tớ

    tồn tại trong suốt thời gian kết nối. Mỗi thiết bị có thể hoạt đông như là thiết bị nhận dữ liệu hay có thể vừa truyền vừa nhận. Hoạt động truyền hay nhận còn

    tùy thuộc vào việc thiết bị đó là chủ chủ (master) hay tớ (slave). Một thiết bị hay một IC khi kết nối với bus I2C, ngoài một địa chỉ (duy nhất) để phân biệt,

    nó còn được cấu hình là thiết bị chủ (master) hay tớ (slave). Tại sao lại có sự phân biệt này ? Đó là vì trên một bus I2C thì quyền điều khiển thuộc về thiết

    bị chủ (master). Thiết bị nắm vai trò tạo xung đồng hồ cho toàn hệ thống, khi giữa hai thiết bị chủ/tớ giao tiếp thì thiết bị chủ có nhiệm vụ tạo xung đồng hồ và quản lý địa chỉ của thiết bị tớ trong suốt quá trình giao tiếp. Thiết bị chủ giữ vai trò chủ động, còn thiết bị tớ giữ vai trò bị động trong viêc giao tiếp.

    Nhìn hình trên ta thấy xung đồng hồ chỉ có một hướng từ chủ đến tớ, còn luồng dữ liệu có thể đi theo hai hướng, từ chủ đến tớ hay ngược lại tớ đến chủ. Về dữ liệu truyền trên bus I2C, một bus I2C chuẩn truyền 8‐bit dữ liệu có hướng trên đường truyền với tốc độ là 100Kbits/ s – Chế độ chuẩn (Standard mode). Tốc độ

    truyền có thể lên tới 400Kbits/s – Chế độ nhanh (Fast mode) và cao nhất là 3,4Mbits/s – Chế độ cao tốc (High‐speed mode).

    Một bus I2C có thể hoạt động ở nhiều chế độ khác nhau:

    • Một chủ một tớ (one master – one slave)
    • Một chủ nhiều tớ (one master – multi slave)
    • Nhiều chủ nhiều tớ (Multi master – multi slave)

    Dù ở chế độ nào, một giao tiếp I2C đều dựa vào quan hệ chủ/tớ. Giả thiết một một thiết bị A muốn gửi dữ liệu đến thiết bị B, quá trình được thực hiện như sau

    • Thiết bị A (Chủ) xác định đúng địa chỉ của thiết bị B (tớ), cùng với việc xác định địa chỉ, thiết bị A sẽ quyết định việc đọc hay ghi vào thiết bị tớ.
    • Thiết bị A gửi dữ liệu tới thiết bị B.
    • Thiết bị A kết thúc quá trình truyền dữ liệu.

    Khi A muốn nhận dữ liệu từ B, quá trình diễn ra như trên, chỉ khác là A sẽ nhận dữ liệu từ B. Trong giao tiếp này, A là chủ còn B vẫn là tớ. Chi tiết việc thiết lập giao tiếp với một thiết bị nào đó trong mạng I2C.

    2: Bit Start và Stop

     

     

    báo

    START là điều kiện khởi hiệu kết thúc một giao

    đầu, báo hiệu bắt đầu của giao tiếp, còn STOP tiếp. Hình dưới đây mô tả điều kiện START và

    STOP. Ban đầu khi chưa thực hiện quá trình giao tiếp, cả hai đường SDA  và

    SCL đều ở mức cao (SDA = SCL= HIGH). Lúc này bus I2C được coi là dỗi (“bus free”), sẵn sàng cho một giao tiếp. Hai điều kiện START và STOP là không thể thiếu trong việc giao tiếp giữa các thiết bị I2C với nhau.

    Hình 1.4. Điều kiện START và STOP của bus I2C

    Điều kiện START: một sự chuyển đổi trạng thái từ cao xuống thấp               trên đường

    SDA trong khi đường SCL đang ở mức cao (cao = 1; thấp = 0) báo hiệu một điều kiện START

    Điều kiện STOP: Một sự chuyển đổi trạng thái từ mức thấp lên cao trên đường SDA trong khi đường SCL đang ở mức cao.

    Cả hai điều kiện START và STOP đều được tạo ra bởi thiết bị chủ. Sau tín hiệu START, bus I2C coi như đang trong trang thái làm việc (busy). Bus I2C sẽ rỗi, sẵn sàng cho một giao tiếp mới sau tín hiệu STOP từ phía thiết bị chủ.

    Sau khi có một điều kiện START, , trong quá trình giao tiếp, khi có một tín hiệu START được lặp lại thay vì một tín hiệu STOP thì bus I2C vẫn tiếp tục trong trạng thái bận. Tín hiệu START và lặp lại START đều có chức năng giống nhau là khởi tạo một giao tiếp.

    3. Định dạng dữ liệu truyền

    Dữ liệu được truyền trên bus I2C theo từng bit, bit dữ liệu được truyền đi tại mỗi sườn dương của xung đồng hồ trên dây SCL, quá trình thay đổi bit dữ liệu xảy ra khi SCL đang ở mức thấp.

    Mỗi byte dữ liệu được truyền có độ dài là 8 bits. Số lượng byte có thể truyền trong một lần là không hạn chế. Mỗi byte được truyền đi theo sau là một bit ACK để báo hiệu đã nhận dữ liệu. Bit có trọng số cao nhất (MSB) sẽ được

    truyền đi đầu tiên, các bít sẽ được truyền đi lần lượt. Sau 8 xung clock trên dây SCL, 8 bit dữ liệu đã được truyền đi. Lúc này thiết bị nhận, sau khi đã nhận đủ đủ 8 bít dữ liệu sẽ kéo SDA xuống mức thấp tạo một xung ACK ứng với xung clock thứ 9 trên dây SDA để báo hiệu đã nhận đủ 8 bit. Thiết bị truyền khi nhận được bit ACK sẽ tiếp tục thực hiện quá trình truyền hoặc kết thúc.

    Một byte truyền đi có kèm theo bit ACK là điều kiên bắt buộc, nhằm đảm bảo cho quá trình truyền nhận được diễn ra chính xác. Khi không nhận được đúng

    địa hay khi muốn kết thúc quá trình giao tiếp, thiết bị nhận sẽ gửi một xung Not‐ACK(SDA ở mức cao) để báo cho thiết bị chủ biết, thiết bị chủ sẽ tạo xung xung STOP để kết thúc hay lặp lại một xung START để bắt đầu quá trình mới.

    4. Định dạng địa chỉ thiết bị

    Mỗi thiết bị ngoại vi tham gia vào bus i2c đều có một địa chỉ duy nhất,

    nhằm  phân biệt  giữa các thiết bị với nhau. Độ dài địa chỉ là 7 – bit,  điều đó có

    nghĩa là trên một bus I2C ta có thể phân biệt tối đa 128 thiết bị. Khi thiết bị chủ

    muốn giao tiếp với ngoại vi nào trên bus                                     I2C, nó sẽ gửi 7 bit địa            chỉ của thiết

    bị đó ra bus ngay sau xung START. Byte đầu tiên được gửi sẽ bao gồm 7 bit địa

    chỉ và một bít thứ 8 điều khiển hướng truyền                                                                          đó mà có sự phản hồi tương                                                                                                    ứng

    đến con chủ.

    Mỗi một thiết bị ngoại vi sẽ có một địa chỉ riêng do nhà sản xuất ra nó quy định.

    Địa chỉ          đó có thể là cố định hay thay đổi. Riêng bit điều khiển hướng sẽ quy

    định chiều truyền dữ liệu. Nếu bit này bằng “0” có nghĩa là byte dữ liệu tiếp theo sau sẽ được truyền từ chủ đến tớ, còn ngược lại nếu bằng “1” thì các byte

    đầu tiên sẽ là dữ liệu từ tớ gửi đến chủ. Việc thiết lập giá trị cho bit này do con chủ thi hành, con tớ sẽ tùy theo giá trị đó mà có sự phản hồi tương ứng đến

    con chủ. Việc thiết lập giá trị cho bit này do con chủ thi hành, con tớ sẽ tùy theo giá trị.

    5. Truyền dữ liệu trên bus I2C, chế độ Master‐Slave

    Việc truyền dữ liệu diễn ra giữa con chủ và con tớ. Dữ liệu truyền có thể theo 2 hướng, từ chủ đến tớ hay ngược lại. Hướng truyền được quy định bởi bit thứ 8 trong byte đầu tiên được truyền đi.

    Truyền dữ liệu từ chủ đến tớ (ghi dữ liệu).

    đến con tớ, quá trình thực hiện là:

    Thiết bị chủ khi muốn ghi dữ liệu

    ‐ Thiết bị chủ tạo xung START.

    • Thiết bị chủ gửi địa chỉ của thiết bị tớ mà nó cần giao tiếp cùng với bit
    • 0 ra bus và đợi xung ACK phản hồi từ con tớ.

    – Khi nhận được xung ACK báo đã nhận diện đúng thiết bị tớ, con chủ bắt đầu gửi dữ liệu đến cho con tớ theo từng byte một. Theo sau mỗi byte này đều là một xung ACK. Số lượng byte truyền là không hạn chế.

    • Kết thúc quá trình truyền, con chủ sau khi truyền byte cuối sẽ tạo xung STOP báo hiệu kết thúc.

    Quá trình kết hợp ghi và đọc dữ liệu: giữa hai xung START và STOP, thiết bị chủ có thể thực hiện việc đọc hay ghi nhiều lần, với một hay nhiều thiết bị. Để thực hiện việc đó, sau một quá trình ghi hay đọc, thiết bị chủ lặp lại một xung START và lại gửi lại địa chỉ của thiết bị tớ và bắt đầu một quá trình mới. Chế độ giao tiếp Master‐Slave là chế độ cơ bản trong một bus I2C, toàn bộ bus được quản lý bởi một master duy nhất. Trong chế độ này sẽ không xảy ra tình trạng xung đột bus hay mất đồng bộ xung clock vì chỉ có một master duy nhất có thể tạo xung clock.

    1. Chế độ MultiMaster

    Trên bus I2C có thể có nhiều hơn một master điều khiển bus. Khi đó bus I2C sẽ hoạt động ở chế độ Multi‐Master. Chế độ này được hiểu là trên trong

    trên cùng một bus có thể hiều hơn một thiết bị làm Slave có thể trở thành một Master nếu nó có khả năng trở thành Master ở một thời điểm nào đó. Tuy nhiên nếu sử dụng một IC điều khiển các chip nhớ thì chế độ Multi – Master không ồn tại vì các chip nhớ được thiết kế là Slave, không có khả năng trở thành Master.

    II: Modul I2C với PIC

    1.  Modul I2C với PIC

    Với những tiện ích đem lại, khối giao tiếp I2C đã được tích hợp cứng trong khá nhiều loại vi điều khiển khác nhau. Trong các loại Vi điều khiển PIC dòng Mid‐range phổ biến tại Việt Nam, chỉ từ 16F88 mới có hỗ trợ phần cứng I2C, còn các loại chip khác không có. Với những loại Vi điều khiển không có hỗ trợ phần cứng giao tiếp I2C, để sử dụng ta có thể dùng phần mềm lập trình, khi đó ta sẽ viết một chương trinh điều khiển 2 chân bất kỳ của Vi điều khiển để nó thực hiện giao tiếp I2C (các hàm START, STOP, WRITE, READ).

    Trong việc lập trình cho PIC có rất nhiều phần mềm viết chương trình như CCS, AMS,Mplab… nhưng tôi chỉ đề cập đến phần giao tiếp I2C sử dụng Mplab.

    Trong Mplab, cần quan tâm đến những câu lệnh sau:

    • OpenI2C(MASTER,SLEW_OFF); // khởi tạo I2C, chọn chip làm chủ hay tớ

     

    • SSPADD=0x31; // đặt tốc đọ xung clock(SCL)

     

    • StartI2C();// bắt đầu I2C

     

    • IdleI2C(); // ACK, đợi phản hồi

     

    • WriteI2C(noi dung can ghi);// ghi dữ liệu

     

    • StopI2C();// dừng I2C

     

    • RestartI2C();// bắt đầu lại I2C

     

    • AckI2C(); // ACK phản hồi đi

     

    • NotAckI2C(); // NotAck phản hồi đi.

     

     

     

     

    2.                 Ví dụ sử dụng modul I2C của PIC 18f4520 với ds1307( đồng hồ thời gian thực).

    DS1307 là chip đồng hồ thời gian thực, khái niệm thời gian thực ở đây được dùng với ý nghĩa thời gian tuyệt đối mà con người đang sử dụng, tính bằng giây, phút, giờ… DS1307 là một sản phẩm của Dallá Semiconductỏ. Chip này có 7 thanh ghi8 bit chứa thời gian là: giây, phút, giờ, thứ, ngày, tháng, năm. Ngoài ra DS1307 còn có một thanh ghi điều khiển ngõ ra phụ và 56 thanh ghi trống có thể dùng như RAM. DS1307 được đọc và thông qua giao diện I2C nên

    cấu tạo bên ngoài rất đơn giản. DS1307 xuất hiện ở hai gói SOIC và DIP có 8 chân.

    Hình 2.1 Hình ảnh DS1307

    Các chân của DS1307 được mô tả như sau:

    • X1 và X2 là hai ngõ kết nối với một thạch anh 32768KHz làm nguồ tạo dao động cho chip.
    • Vbat : cực dương của một pin 3V nuôi chip.
    • GND: chân mas chung cho cả pin 3V và Vcc.
    • Vcc: nguồn cho giao diện I2C, thường là 5V và dùng chung với vi điều khiển. Chú ý nếu là Vcc không nguồn nhưng Vbat được cấp thì DS1307 vẫn dang hoạt

    động nhưng không đọc và ghi được.

    • SQUW/OUT: một ngõ phụ tạo xung vuông, tần số của xung có thể được lập trình.
    • SCL và SDA là hai đường giao xung nhịp và dữ liệu của giao diện I2C.

    Có thể kết nối DS1307 bằng một mạch điện đơn giản sau:

    Hình 2.2: Mạch ứng dụng đơn giản của DS1307

    Đây là một mạch giữa PIC 18f4520 và DS1307 được vẽ trong phần mềm proteus.

    Hình 2.3: mạch PIC 18f4520 và DS1307.

    Mạch trên sử dụng LCD hiển thị thời gian thực từ ds1307, chip PIC được coi như một Master và gọi slave (ds1307) trả lời. Và đây là chương trình của modul I2C PIC 18f4520.

    Hình 2.4: Chương trình với modul I2C

    Với chương trình này, trên phần mềm proteus sẽ hiển thị kết quả mô phỏng là:

    Hình 2.5: Kết quả mô phỏng proteus

    Đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ và đơn giản trong việc ứng dụng giao tiếp I2C. Ngoài ra còn sử dụng I2C giao tiếp giữa chip này với chip khác, giao tiếp chip với IC, … Vì vậy nó khá phổ biến và quan trọng trong vi điều khiển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Cơ sở truyền động điện

    Bài tập lớn môn Cơ sở truyền động điện

    Bài tập lớn môn Cơ sở truyền động điện

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý Mạch mô phỏng đèn giao thông


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-C%C6%A1-s%E1%BB%9F-truy%E1%BB%81n-%C4%91%E1%BB%99ng-%C4%91i%E1%BB%87n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Cơ sở truyền động điện

    Bài tập lớn môn: Cơ sở truyền động điện

    CHƯƠNG 2: TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN ĐỘNG CƠ ĐIỆN 1 CHIỀU

    Bài 6:  – Đặc tính cơ tự nhiên

    Ta có :  =0,5 (1-0,87) 220/ 130,4 =0,109 Ω

    = =293,19 rad/s;       =  =0,702; =4,52  ;   =  =313,39 rad/s;       =   =85,27 Nm

    -U1 = 50

    =  =71 rad/s;                         =4,52

    =  =458,71 A;                                   =322 Nm

    -U2 = 100

    =  =142,45 rad/s;                            =4,52

    =  =917 A;                                   =643,7 Nm

    -r1=1 Ω

    =  =313 rad/s;                                =0,44

    =198,38 A;                                          =1339,26 Nm

    -r2=2 Ω

    =  =313 rad/s;                                 =0,23

    =104 A;                                    = 73Nm

    -F1 = 0,75Fđm

    =  = 415rad/s;                            =2,57

    =2018 A;                             =1069 Nm

    -F1 = 0,9Fđm

    =  =349 rad/s;                        =3,64

    = 2018 A;                            = 1271 Nm

    Bài 7.

    RU  = (1 – P­dm/ Udm ­Idm ) Udm/Idm  =0,26   => Idm=31 A

    = =230  rad/s;              =  =0,92

    =  = 239 rad/s;                = =28  Nm ;       =3,3

    -r1=1,26 Ω

    =  = 239rad/s;                                =0,6

    = 145 A;                                          =133 Nm

    Bài 8.

    = = 73,3 rad/s;           =  =5,5

    =  = 40rad/s;                            =150 rad/s,

    è =                èF=0,27 Fdm

    Bài 9.

    Theo đề bài ta có :

    Suy ra :

    Phươnh trình đặc tính điện cơ của động cơ:

    suy ra:

    Vậy tốc độ của động cơ khi Rưf=0,52 W

    Suy ra:

     

     

    Bài 11.

    Ta có:

    Và ta có: ;

    -Đặc tính cơ tự nhiên :  điểm thứ nhất : M=0 , w=w0

    điểm thứ hai : M=Mdm , w=wdm

    -Đặc tính cơ nhân tạo: :  điểm thứ nhất : M=0 , w=w0

    điểm thứ hai : M=Mdmnt , w=wdmnt

     

    Bài 15.

    I=0,5Idm

    =  =61,3 rad/s

    =  =3,3

    =  =64,2 rad/s

    n=9,55.w =613 rpm

    -Rf =1,2

    =  =33 rad/s

    n=9,55.w =315 rpm

    Bài 16.

    = =1,7

    m =4

    R1=Ru.(I2/I1) = 0,29 Ω  ; è r1=R1 –Ru=0,11 Ω

    R2=R1.(I2/I1) =0,5 Ω ; è r2=R2 –Ru=0,33 Ω

    R3=R2.(I2/I1) =0,86 Ω ; è r3=R1 –Ru=0,69 Ω

    R4=R3.(I2/I1) =1,47 Ω ; è r3=R1 –Ru=1,3 Ω

    Bài 17.

    = =147 rad/s;      =   =54 Nm

    =  =1,4;

    w1  =100

    èRf =3,05 Ω

    Bài 18.

    = =293,19 rad/s;

    Bài 19.

    RU  = (1 – P­dm/ Udm ­Idm ) Udm/Idm=0,17

    = =60 rad/s;

    =  =3;

    =2Idm

    èRh=0,32 Ω

    C, F1 = 1/3.Fđm

    =189 rad/s

    n=9,55. w=1805 rpm.

    Bài 20.

    = =147 rad/s;  =  =1,4;

    =   =54 Nm.

    dm.0,6 =100

    èRh=15 Ω

    Bài 21.

    RU  = (1 – P­dm/ Udm ­Idm ) Udm/Idm=2,9

    = =105 rad/s;       =  =1,3

    =-84 rad/s

    = -84

    èRh=7,7 Ω

            Chương 3. TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN ĐỘNG CƠ ĐIỆN KHÔNG ĐỒNG BỘ.

    Bài 30.

    =

    ó Pdm=

    ó22,5.103 =

    ó =9,29

    •  

    Vậy s=0,24.

    n1= =1500 rpm

    s=        è n=n1– s.n1 =1140 rpm.

    Bài 31.

    =

    ó Pdm=

    ó22,5.103 =

    ó =1,5488

    •  

    Vậy +s=0,5.

    n1= =1500 rpm

    s=        è n=n1– s.n1 =750 rpm.

    +s=0,04.

    s=        è n=n1– s.n1 =1440 rpm.

    CHƯƠNG 4: ĐIỀU CHỈNH TỐC ĐỘ ĐỘNG CƠ.

    Bài 49

    Một động cơ kích từ độc lập có các thông số sau :

    Pđm = 29KW, Uđm = 440V, Iđm = 76A, nđm = 1000rpm

    Hãy xác định Moment cho phép của động cơ khi phụ tải dài hạn với điều kiện làm việc Ic = Iđm và tốc độ quay của động cơ là 1,5 nđm.

    Giải:

    -chỉ có phương pháp giảm  vì tốc độ động cơ tăng lên = 1,5nđm

     

    đm = = =104.7 rad/s.  Mđm== =277 Nmn

    -Rư = (1-)*= (1- )* =0.384 Ω

    -KEϕđm == =0.41 v/phút.

    -Khi nđc= 1.5nđm : KEϕđm =  = 0.27 v/phút.

    -Moment do động cơ sinh ra thì:

    Mđc= KEϕđc*Iđm.

    -Ta lấy : =  →Mđc = *Mđm = *Mđm

    →Mđc=182.38 Nm

    Bài 50:

    Một động cơ điện một chiều kích từ độc lập có công suất nhỏ được cấp điện qua  chỉnh lưu cầu 1 pha bán điều khiển. Biết điện áp nguồn xoay chiều U = 240V, Thyristo được mồi với góc mở a = 110o . Điện áp đặt vào phần ứng động cơ có dạng như hình vẽ sau.

    Xác định tốc độ quay của động cơ ứng với M = 1,8 Nm cho biết:

    wt
    50o
    360o
    180o
    110o
    Eư
    Um

    Hằng số Moment – dòng điện của động cơ là 1Nm/A, Rư =  6W (bỏ qua tổn hao bộ  chỉnh lưu)

    Giải:

    -Theo dạng đường cong chỉnh lưu ta xác định được điện áp chỉnh lưu:

    → Utb = 71.1 + 0.333Eư

    – dòng điện trung bình:

    Iư = =  =1.8 A

    -theo phương trình cơ bản của động cơ ta có :

    Eư = Utb – Iu*Ru = 271.1 + 0.333Eu – 1.8*6 = 90.33 V

    -Công suất điện từ:

    Pđt = Eu*Iu = M*n → n =

    -Vì tỉ số = 1  → n = Eu =90.33 rad/s = 864 v/phút.

     

    Bài 51:

    Động cơ điện một chiều kích từ độc lập được cung cấp điện từ chỉnh lưu cầu 1 pha bán điều khiển có điện áp nguồn xoay  chiều U = 240V, f = 50Hz

    có Eư  = 150V, Rư = 6W, a = 80o, tỷ số  = = 0,9 , Utb =  169V.  Xác định Moment trung bình và tốc độ quay của động cơ.

    Giải :

    Ta có : Eu = 150V

    → Iu * Ru = U – Eu →Iu =  =  = 3.22A

    M = Iu * 0.9 = 3.22 * 0.9 =2.98 Nm.

    Tốc độ : n =  =166.7 rad/s =1592 v/phút .

    Bài 52

    Người ta cung cấp cho một động cơ một chiều công suất nhỏ kích  từ độc lập từ nguồn 240V,50Hz qua chỉnh lưu cầu một pha bán điều khiển. Các thông số của phần ứng là điện cảm = 0,06H,  điện trở  bằng 6W, hằng số từ thông 0,9Nm/A (vòng/rad/s). Người ta đưa vào một mạch vòng kín để  duy trì tốc độ không đổi  là 1000rpm, cho tới khi Moment là 4Nm. Xácđịnh biến thiên của góc mở bắt đầu từ lúc chạy không tải để thỏa mãn điều kiện tốc độ không đổi.

    Giải :

    Ta có:

    E = ωkΦ =  = 94.25V

    Với góc arcsin () = arcsin () = 163.9° .

    Ở giá trị Momen = 0 như khi góc ở giá trị không tải , nhưng thực tế dòng điện phải chạy qua để cung cấp cho Momen tổn hao .

    Ta chọn góc mở đặc biệt nhỏ hơn 163.9°.

    Như vậy với góc mở 150° thì Moment là 0.04Nm.

    140° thì Moment là 0.2Nm.

    130° thì Moment là 0.58Nm.

    120° thì Moment là 1.06Nm.

    110° thì Moment là 2.79Nm.

    90° thì Moment là 3.92Nm.

    Bài 53 :

    Một động cơ không đồng bộ ba pha roto dây quấn r2 = 0,0278W,
    nđm = 970rpm, hiệu suất = 0,885. Để thay đổi tốc độ động cơ người ta mắc thêm Rf vào mạch roto. Tính Rf ? để tốc độ động cơ bằng 700rpm. Biết rằng Moment cản của tải không phụ thuộc tốc độ.

    f = 50Hz, no = 1000rpm.

    Giải :

    Ta có : Sđm = =  =0.03

    Khi tốc độ là n = 700v/phút thì hệ số trượt là :

    S=  = 0.3

    Vậy  =

    → Rf =0.25Ω.

    Bài 54:

    Một đồng cơ không đồng bộ ba pha roto lồng sóc có bốn cực, điện áp U = 220V, f = 50Hz. Người ta dùng bộ nghịch lưu để cung cấp điện cho động cơ. Để thay đổi tốc độ động cơ người ta sử dụng phương pháp biến đổi tần số. Hãy tính tốc độ động cơ và lượng điện áp đầu ra của bộ nghịch lưu với f = 30Hz, 40Hz, 50Hz,60Hz.

    Giải :

    Ta có :

    Khi :

    f1 = 30Hz → n = 900v/phút . Ura = = =132V

    f1 = 40Hz → n = 1200v/phút . Ura = =176V

    f1 = 50Hz → n = 1500v/phút . Ura = =220V

    f1 = 60Hz → n = 1800v/phút . Ura = =264V.

    Bài 55:

    Một động cơ không đồng bộ ba pha Roto dây quấn sáu cực được nối qua bộ nghịch lưu, biết điện áp  giữa các vành trượt E2 = 600V. Xác định góc mồi của bộ nghịch lưu ở tốc độ 600V/phút. Bộ nghịch lưu được nối vào lưới ba pha 415V, 50Hz. Bỏ qua hiện tượng chuyển mạch và các tổn hao.

    Giải :

    Tốc độ đồng bộ của động cơ :

    =  =1000v/phút .

    =  = 0.4

    Điện áp trên rôt với tốc độ n = 600v/phút

    U2= s *E2  = 0.4 *600 = 240V

    Giả sử ta dùng sơ đồ cầu 3 pha thì điện áp một chiều là :

    = sin  = 324V

    Gọi β là gốc mồi ta có :

    = 324V

    → β = 54°7.

    Bài 56:

    Một bộ nghịch lưu cung cấp cho động cơ roto lồng sóc 4 cực điện áp U = 240V,50Hz. Xác định tần số và hiệu điện thế ở đầu ra khi tốc độ của động cơ bằng 900V/phút.

    Giải :

    →  =  =30 Hz

    Ura  =  =  = 144V.

    Bài 57:

     

    Một bộ nghịch lưu cung cấp cho một động cơ không đồng bộ ba pha ở tần số 52Hz và thành phần cơ bản của điện áp pha là 208V.

    • Xác định tốc độ khi hệ số trượt bằng 0,04.
    • Khi bộ nghịch lưu chuyển đột ngột sang f = 48Hz và điện áp = 192V thì tốc độ bằng bao nhiêu ?

    Giải :

    Khi s = 0.04 :

    Tốc độ của động cơ 4 cực là :

    =  =1497.6 v/phút  = 24.96v/s

    Khi bộ chỉnh lưu giảm xuống 48Hz thì tốc độ đồng bộ là 24v/s

    → hệ số trượt

    = .

    Hệ số trượt âm nên động cơ hoạt động ở chế độ hãm tái sinh .

     

    Đặc tính cơ của động cơ điện là mối quan hệ giửa tốc độ quay của rotor và moment của động cơ , có 2 loại đặc tính cơ là đặc tính cơ tự nhiên và đặc tính cơ nhân tạo:

    + đặc tính cơ tự nhiên là đặc tính cơ ứng với chế độ làm việc với các thông số định mức của động cơ điện (điện áp, tần số, từ thông,…định mức).

    + đặc tính cơ nhân tạo là đặc tính cơ ứng với chế độ làm việc khi thay đổi thông số nguồn hoặc thông số của động cơ.

    Độ cứng của đặc tính cơ  , càng lớn thì đường đặc tính cơ càng cứng, khi thì đặc tính cơ cứng tuyệt đối.

    Đường đặc tính cơ càng cứng thì tốc độ động cơ càng ít thay đổi khi tải thay đổi.

    Đường đặc tính ca[ càng mềm thì tốc độ động cơ thay đổi càng nhiều khi tải thay đổi.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 5 và 6:

    CHỌN CÔNG SUẤT ĐỘNG CƠ ĐIỆN

    Bài 58

    Cho đồ thị phụ tải tĩnh  của  một máy sản xuất có các tham số sau :

    t (s) 25 12 40 40 7 15
    Mc(Nm) 55 100 50 80 140 70

    –  Hệ thống yêu cầu tốc độ bằng 1800V/phút

    –  Động cơ để kéo  hệ thống trên có :

    Pđm = 13kW,  nđm =  1000rpm, lm  = 2,2

    – Hãy kiểm tra  tính hợp lý của  động cơ trên

    Giải :

    Mdt= =74Nm.

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Moment định mức của động cơ :

    Ta thấy : Mdm > Mdt

    Vậy điều kiên phát nóng của động cơ thỏa mãn.

    Kiểm tra điều kiện quá tải :

    2.2* 77 =169.4 Nm

    Từ đồ thị ta được Mmax = 140Nm

    > Mmax

    → thỏa mãn .

    Bài 59

    Cho đồ thị phụ tải tĩnh  của  một máy sản xuất có các tham số sau :

    t (s) 20 10 40 40 5 20
    Mc(Nm) 50 100 50 80 120 50

    Tốc độ yêu cầu của máy sản xuất nyc = 1450vòng/phút.  Động cơ kéo  máy sản xuất có :

    Pđm = 13kW,  nđm =  1450rpm, bội số quá tải Mmax/Mđm  = 2,2. Hãy kiểm nghiệm xem động cơ có thể kéo máy sản xuất trên hay không?

    Giải :

    Mdt = = 68 Nm

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Moment định mức của động cơ :

    Ta thấy : Mdm > Mdt

    Vậy điều kiên phát nóng của động cơ thỏa mãn.

    Kiểm tra điều kiện quá tải :

    2.2* 85.6 = 188.32 Nm

    Từ đồ thị ta được Mmax = 120Nm

    >  Mmax    → thỏa mãn .

    Vậy động cơ có thể kéo được máy trên.

    Bài 60:

    – Cho đồ thị phụ tải  sau :

    t (s) 50 70 90 25 50 73 40
    Mc(Nm) 230 0 200 30 230 0 0

    – Có tốc độ yêu cầu nyc =  720V/phút

    –  Động cơ kéo  máy trên có thông số :

    Pđm = 11kW, nđm = 720rpm, Uđm  =  220V/380V, eđc  = 60% đấu  sao

    – Hãy kiểm tra  công suất của động cơ trên

    Giải

    Mdt =  = 137 Nm

    Hệ số đóng điện tương đối của phụ tải với nyc = 720v/phút.

    = 54%.

    Công suất đẳng trị :

    Vậy Pdm > Pdt (11 > 10)

    Vậy công sauaatsn động cơ thỏa mãn.

     

    Bài 61

    Hãy xác định công suất động cơ kéo 1 máy  sản xuất có đồ thị phụ tải sau :

    t (s) 20 10 30 30 6
    Mc(Nm) 40 90 40 70 120

    – Có tốc  độ yêu cầu  bằng 1450rpm.

    Giải :

    Mdt =  = 64Nm

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Vậy ta chọn động cơ có công suất Pdm =10KW , n =1420v/phút.

    lm  = 2,2

    → .

    Vậy điều kiện phát nóng thỏa mãn Mdm > Mdt.

    Khả năng quá tải :  2.2*67=147.95

    Theo đồ thị phụ tải ta có Mmax = 120Nm

    –>  >  Mdm

    Bài 62:

     

    Cho đồ thị phụ tải sau :

    T (s) 15 6 20 10 15 8 5 40
    Mc(Nm) 240 140 0 190 0 260 100 0

    – Dùng cho động cơ dài hạn có Pđm = 10 kW, nđm = 750rpm,
    Uđm = 220V/380V kéo phụ tải ở tốc độ định mức.

    – Hãy kiểm tra  công suất  động cơ trên.

    Giải :

    Mdt =  = 127Nm

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Vì  Mdm > Mdt  nên động cơ phù hợp với yêu cầu

    Bài 63

    Hãy xác định  công suất động cơ trong cầu trục có đồ thị phụ  tải như sau :

    t (s) 12 4 20 10 25 15 8 5 40
    Mc(Nm) 250 150 0 200 70 0 270 100 0

    – Tốc độ yêu cầu  bằng 720V/phút, bỏ  qua tổn hao trong khâu truyền lực.

    Giải :

    Hệ số đóng điện tương đối:

    = 46%

    Mdt =  = 119Nm

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Vậy ta chọn động cơ có :

    Pdm = 11kW , ndm = 720v/phút , Udm = 380V , ε% =60%.

     

    Bài 64

     

    t (phút) 2 3 1 4 2 3 1 4 ….
    Pc(KW) 15 14 10 0 15 14 10 0 ….

    Công suất động cơ là  14KW, etc = 60%

    Kiểm tra  công suất động cơ theo đồ thị phụ tải tĩnh đã cho. Nếu  giữ công suất động cơ không thay đổi, giảm hệ số đóng  điện của động cơ  xuống là 45% thì  động cơ có  đạt yêu cầu  không ?

    Giải :

    Pdt =  =10.67 Nm

    Công suất phù hợp với phụ tải đã cho.

    Khi thay đổi hệ số đóng điện của động cơ xuống 45% thì động cơ vẫn đạt yêu cầu vì Pdt < Pdm.

     

     

    Bài 66

     

    t (s) 50 73 80 40 25 50 73 ….
    Mc(Nm) 230 0 150 0 40 230 0 ….

    Tốc độ yêu  cầu = 720V/phút

    Động cơ kéo máy trên có  số  liệu như sau :  Pđm =  16kW,
    nđm = 720rpm, Uđm = 230V/380V,  eđc = 40%  đấu sao.

    Hãy kiểm nghiệm công suất động cơ trên.

    Giải :

    Mdt =  = 126Nm

    Công suất phụ tải yêu cầu:

    Vì Mdm > Mdt

    → công suất động cơ phù hợp với phụ tải đã cho.

    t(s)
    t(s)
    Mc (Nm)
    Mđg (Nm)
    110
    150
    110
    0
    0
    132
    -160
    5

     

    t

    700

     

    tôđ

    4

     

    th

    Bài 67:

     

    Cho đồ thị phụ tải như hình vẽ :

    Tốc độ yêu cầu của hệ thống: 720rpm.

    Động cơ kéo hệ thống có

    Pđm = 11kW,

    Uđm = 380V,

    lm =  1,8,

    nđm  = 720V/phút.

    Hãy kiểm tra điều kiện quá tải  của động cơ.

    Giải

    → .

    Khả năng quá tải :

    1.8*145.9=262.62

    Theo đồ thị phụ tải ta có Mmax = 150Nm

    –>  >  Mdm

    –>điều kiện quá tải của động cơ phừ hợp với phụ tải.

    CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

    Câu 1:

    Đặc tính cơ của máy sản xuất là mối quan hệ giửa tốc độ quay của máy sản xuất và mô men cản của máy sản xuất . Máy sản xuất rất đa dạng, do đó đặc tính cơ của máy sản xuất củng rất đa dạng tuy vậy phần lơn được biểu diển dưới dạng sau:

    Trong đó : Mco là mô men ứng với tốc độ

    Mdm là mô men ứng với tốc độ

    Mc là mô men ứng với tốc độ

    phân tích một số dạng đặc tính cơ cơ bản của máy sản xuất:

    từ phương trình đặc tính cơ :  ta có.

    Với  và không đổi chúng bao gồm các cơ cấu nâng hạ, bang tải cơ cấu ăn giao máy cắt gọt thuộc loại này (đường 1, hình 1-3, a)

    Với , moment tỷ lệ bậc nhất với tốc độ, ví dụ máy phát 1 chiều tải thuần trở.

    Với , moment tỷ lệ bậc 2 với tốc độ là đặc tính cơ của các bơm, quạt gió (đường 3, hình 1-3, a).

    Moment cản phụ thuộc vào thời gian Mc=f(t), Ví dụ như máy nghiền đá, quặng

    Moment cản thế năng như trong các cơ cấu nâng hạ tải trọng (có đặc tính
    Mc = const và không phụ thuộc vào chiều quay

    Moment phản kháng luôn luôn chống lại chiều quay như moment ma sát trong dao máy cắt gọt kim loại…

    Câu 3

    Trạng thái động cơ: trạng thái động cơ là trạng thái mà động cơ nhận được năng lượng từ lưới và biến đổi cơ năng trên trục động cơ điện để cung cấp cho máy sản xuất hay còn gọi là trạng thái động cơ có công suất điện dương. Trong trạng thái này mô men của động cơ điện cùng chiều với tốc độ quay. Nếu biểu diển trên hệ trục tọa độ  thì đó là điểm làm việc  nằm trong góc phần tư thứ I và thứ III.

    Trạng thái động cơ bao gồm chế độ làm việc khi không tải và khi có tải.

    Trạng thái hảm: là trạng thái mà mô men động cơ sinh ra ngược chiều với tốc độ của động cơ điện. mô men hảm được sinh ra do quá trình biến đổi ngược cơ năng từ máy sản xuất thành điện năng, động cơ điện làm việc như máy phát do đó trạng thái hãm hay còn gọi là trạng thái máy phát. Trên trục tọa độ thì đó là các điểm làm việc nằm trong góc phần tư thứ II và IV.

    Trạng thái hãm bao gồm: hãm không tải, hãm tái sinh, hãm ngược và hãm động năng.

    Hãm tái sinh: Pđiện < 0, P < 0, cơ năng biến thành điện năng trả về lưới.

    – Hãm ngược: Pđiện > 0 , P < 0, điện năng và cơ năng chuyển thành tổn thất ΔP.

    – Hãm động năng: Pđiện = 0, P < 0, cơ năng biến thành công suất tổn thất ΔP.

    Câu 5

    Phương trình chuyển động của truyền động điện có dạng:

    Với  .

    Trong đó nếu J=const thì

    Câu 6:

     Đặc tính cơ của động cơ điện là mối quan hệ giửa tốc độ quay của rotor và moment của động cơ

    Đặc tính cơ của máy sản xuất là mối quan hệ giửa tốc độ quay của máy sản xuất và mô men cản của máy sản xuất . Máy sản xuất rất đa dạng, do đó đặc tính cơ của máy sản xuất củng rất đa dạng tuy vậy phần lơn được biểu diển dưới dạng sau:

    CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2

    câu 1 : khi nguồn điện 1 chiều có công suất lớn và điện áp không đổi thì dòng kích từ song song với mạch phần ứng gần như không thay đổi khi tải thay đổi thì gọi động cơ là 1 chiều kích từ song song.

    Khi nuồn điện 1 chiều công suất không đủ lớn thì mạch điện phần ứng và mạch kích từ mắc vào 2 nguồn 1 chiều độc lập với nhau lúc này động cơ được gọi là động cơ kích từ độc lập.

     

    Phương trình cân bằng điện áp của mạch phản ứng phần ứng:

    Sức điện động Eu của phần ứng động cơ được xác định theo biểu thức:

    Phương trình đặc tính cơ điện của động cơ điện 1 chiều kích từ độc lập:

    Phương trình đặc tính cơ của động cơ điện 1 chiều kích từ độc lập:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý Mạch mô phỏng đèn giao thông

    Bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý Mạch mô phỏng đèn giao thông

    Bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý Mạch mô phỏng đèn giao thông

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Sức bền vật liệu số 4 Tính cột chịu nén lệch tâm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-K%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-vi-x%E1%BB%AD-l%C3%BD-M%E1%BA%A1ch-m%C3%B4-ph%E1%BB%8Fng-%C4%91%C3%A8n-giao-th%C3%B4ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý Mạch mô phỏng đèn giao thông

    Báo cáo bài tập lớn Kỹ thuật vi xử lý: Mạch mô phỏng đèn giao thông

    Ý tưởng thực hiện:

    Nhận thấy giao thông hiện nay còn tình trạng tắc, nghẽn nên nhóm em thực hiện mô phỏng đèn giao thông ngã tư với 2 đường 1 chiều giao nhau sử dụng vi điều khiển 8051, nhằm nghiên cứu, mô phỏng quá trình hoạt động của đèn giao thông, đồng thời đưa ra một số ý kiến về chức năng của đèn giao thông để giảm thiểu tình trạng trên.

    Chức năng của mạch:

    Mạch thực hiện đếm lùi, số đếm được hiển thị qua led 7 đoạn. Khi mạch thực hiện đếm lùi, 6 led đỏ vàng và xanh sẽ lần lượt sáng biểu thị cho 2 cột đèn giao thông ở ngã tư.

    Mạch có thể thay đổi thời gian sáng của các đèn thuận tiện điều tiết giao thông. Đồng thời cùng một chương trình, ta có thể áp dụng cho nhiều đèn giao ở các ngã tư có hai tuyến đường một chiều giao nhau mà không phải sửa chương trình để thay thời gian đếm.

    Mạch có chức năng điều tiết lưu lượng giao thông, khi lượng xe lưu thông của hai tuyến đường không đồng đều bằng cách giảm thời gian đèn đỏ của tuyến đường có nhiều phương tiện tham gia ( tăng lưu lượng xe qua tuyến đường ), tăng thời gian chờ đèn đỏ cho tuyến đường còn lại ( giảm lưu lượng xe qua tuyến đường ). Chức năng được thực hiện nhờ các nút bấm. Khi ở chế độ này thời gian đếm ở nửa chu kì bị giảm một nửa.

    Với các chức năng trên ta có thể kết hợp với một bộ điều khiển từ xa giúp cho các người điều khiển giao thông có thể theo dõi, điều khiển lượng xe lưu thông từ xa mà không phải đến địa điểm xảy ra tắc nghẽn.

    Linh kiện làm mạch:

    • Vi điều khiển 8051.
    • Led xanh, đỏ, vàng mỗi loại 2 cái.
    • Tụ thạch anh 12MHz, tụ gốm 33pF, Trở 330 Ω, 1 kΩ.
    • Nút bấm.
    • 2 led 7 đoạn.
    • Nguồn 5V.

     

    Quá trình hoạt động:

    Chế độ 0:

    Khi mạch bắt đầu hoạt động ta thực hiện lựa chọn số đếm cho đèn giao thông. Ban đầu led 7 đoạn hiển thị giá trị 00, chân p2.6 và p2.7  được nối qua một nút bấm và nối xuông đất. Hai chân được được đưa lên mức 1 qua lệnh được lập trình trên 8051, khi ấn nút bấm, chân p2.6 được nối đất chuyển xuống mức 0, vi điều khiển sẽ nhảy tới chương trình con thực hiện tăng số đếm được hiển thị qua led 7 đoạn, thời gian sáng của đèn đỏ bằng với giá trị hiển thị trên led, việc tăng số đếm được lặp lại khi ta tiếp tục ấn nút p2.6. Sau khi kết thúc lựa chọn thời gian sáng cho đèn đỏ, ta ấn nút p2.7 để tiếp tục lựa chọn thời gian sáng cho đèn vàng. Sau khi hoàn tất ta ấn tiếp nút p2.7 để mạch bắt đầu hoạt động, trong quá trình hoạt đông ta có thể ấn tiếp nút p2.7 để đưa mạch về trạng thái ban đầu.

    Cổng p1, p3 dùng hiển thị số đếm ra led 7 đoạn, cổng p2 dùng nối với các led biểu thị đèn giao thông, cổng p0 sử dụng làm các chân điều kiện chạy chương trình.

    Chế độ 1:

    Khi thời gian sáng của đèn đỏ bằng 01, mạch chuyển sang chế độ 1. Ở chế độ này Vi điều khiển chuyển băng thanh ghi, thời gian sáng tiếp tục được lập trình như chế độ 0. Sau khi lập trình xong trong nửa chu kỳ đầu mạch thực hiện đếm bình thường, nửa chu kỳ sau thời gian sáng của đèn đỏ giảm một nửa, nút p2.6 có nhiệm vụ chuyển đổi việc lựa chọn giảm thời gian sáng của đèn đỏ giữa hai cột đèn giao thông. Khi ấn nút p2.7 mạch được chuyển về trạng thái ban đầu ở chế độ 0.

    Thuật toán:

     

     

     

     

    Mạch mô phỏng trên proteus:

     

    CODE:

    org 00H

    MAIN:

    LCALL DELAY

    MOV DPTR,#MALED

    MOV A,#0

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    MOV P2,#0

    MOV A,#0

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P3,A

    MOV R0,#0

    CLR P0.0

    CLR P0.3

    SETB P2.6

    SETB P2.7

    MOV R7,#0

    MOV 34H,#1

    MOV R1,#0

    MOV R2,#0

    MOV A,#0

    MOV R6,#10

    LJMP TIM

    NHAN1:

    DEC R0

    MOV A,R0

    JNZ TIM40

    MOV R0,#9

    DEC 34H

    TIM40:

    MOV A,34H

    DEC A

    MOV 34H,A

    MOV R7,34H

    LJMP TIM26

    TIM27:

    MOV A,R7

    JNZ TIM15

    MOV A,R0

    DEC A

    JNZ TIM15

    SETB PSW.4

    SETB P0.1

    LJMP MAIN

    TIM15:

    MOV A,#0

    MOV R6,#10

    MOV R1,#0

    LCALL DELAY

    LJMP TIM2

    TIM4:

    MOV P2,#0

    SETB P2.6

    SETB P2.7

    DEC R2

    CLR P2.0

    SETB P2.3

    LOOP:

    JNB PSW.4,TIM19

    JNB P0.1,TIM25

    JB P0.1,TIM16

    TIM19:

    MOV A,#0

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    LCALL DELAY

    LCALL DELAY

    CPL P2.0

    CPL P2.3

    MOV C,P2.0

    CPL C

    MOV P2.1,C

    MOV C,P2.3

    CPL C

    MOV P2.4,C

    CLR P2.2

    CLR P2.5

    JNB PSW.4,TIM22

    CLR P0.0

    JB P0.1,TIM17

    TIM22:

    MOV R7,34H

    TIM17:

    JNB PSW.4,TIM23

    JNB P0.1,TIM23

    MOV R7,35H

    TIM23:

    MOV A,R7

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P3,A

    TIM24:

    MOV A,R2

    MOV R6,A

    TIM21:

    MOV A,R0

    MOV R1,A

    JNB PSW.4,LOOP1

    JNB P0.1,TIM20

    MOV R1,36H

    TIM20:

    CPL P0.1

    LOOP1:

    JNB P2.7,TIM36

    MOV A,R1

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    LCALL DELAY

    LCALL DELAY

    MOV A,R7

    JZ TIM11

    TIM12:

    JNB P2.6,TIM13

    MOV A,R6

    DEC A

    JZ NHAN

    LOOP4:

    MOV R6,A

    JNB P2.7,TIM36

    DJNZ R1,LOOP1

    JBC P0.3,TIM19

    MOV A,R7

    DEC A

    MOV R7,A

    LJMP TIM8

    TIM11:

    SETB P0.3

    LJMP TIM12

    TIM25:

    LJMP TIM18

    TIM36:

    CLR PSW.4

    LCALL DELAY

    LCALL DELAY

    LJMP MAIN

    TIM16:

    JNB P0.1,TIM19

    MOV A,34H

    MOV B,#2

    DIV AB

    MOV R7,A

    MOV 35H,A

    MOV A,B

    MOV B,#10

    MUL AB

    ADD A,R0

    MOV B,#2

    DIV AB

    MOV 36H,A

    LJMP TIM19

    NHAN:

    MOV A,R1

    JZ TIM7

    SETB P0.0

    MOV C,P2.1

    MOV P2.2,C

    MOV C,P2.4

    MOV P2.5,C

    CLR P2.1

    CLR P2.4

    LJMP LOOP4

    TIM18:

    SETB P0.1

    LJMP LOOP

    TIM13:

    JB PSW.4,TIM35

    LJMP MAIN

    TIM35:

    CPL P2.0

    CPL P2.3

    CLR P0.3

    LJMP TIM16

    TIM8:

    MOV A,R6

    DEC A

    MOV R6,A

    JZ NHAN

    TIM7:

    MOV A,#00H

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    LCALL DELAY

    LCALL DELAY

    MOV R1,#9

    MOV A,R7

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P3,A

    JB P0.0,TIM32

    MOV A,R6

    JZ TIM31

    TIM32:

    LJMP LOOP1

    TIM31:

    MOV C,P2.1

    MOV P2.2,C

    MOV C,P2.4

    MOV P2.5,C

    CLR P2.1

    CLR P2.4

    LJMP LOOP1

    TIM:

    JNB P2.6,TIM1

    MOV A,R1

    JNZ TIM37

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    MOV P3,A

    INC R1

    TIM37:

    JNB P2.7,TIM10

    AJMP TIM

    TIM1:

    MOV A,R1

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    INC R1

    MOV A,R1

    MOV R0,A

    MOV A,R6

    DEC A

    MOV R6,A

    JZ TIM5

    MOV A,#0

    LCALL DELAY

    LJMP TIM

    TIM2:

    JNB P2.6,TIM3

    MOV A,R1

    JNZ TIM38

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    MOV P3,A

    INC R1

    TIM38:

    JNB P2.7,TIM9

    AJMP TIM2

    TIM3:

    MOV A,R1

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    INC R1

    MOV A,R1

    MOV R2,A

    MOV A,R6

    DEC A

    MOV R6,A

    JZ TIM6

    MOV A,#0

    LCALL DELAY

    LJMP TIM2

    DELAY:

    MOV R5,#02

    LAP1:

    MOV R4,#0FFH

    LAP2:

    MOV R3,#0FFH

    LAP3:

    NOP

    DJNZ R3,LAP3

    DJNZ R4,LAP2

    DJNZ R5,LAP1

    RET

    TIM5:

    MOV R1,#0

    MOV A,R1

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    MOV A,34H

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P3,A

    MOV A,34H

    INC A

    MOV R7,A

    MOV 34H,A

    MOV A,#0

    MOV R6,#11

    LJMP TIM

    TIM6:

    MOV R1,#0

    MOV A,R1

    MOVC A,@A+DPTR

    MOV P1,A

    MOV R6,#11

    LJMP TIM2

    TIM9:

    LJMP TIM4

    TIM10:

    LJMP NHAN1

    TIM26:

    MOV A,R0

    CLR C

    SUBB A,#10

    JNZ TIM28

    MOV A,34H

    DEC A

    MOV 34H,A

    MOV R0,#9

    TIM28:

    LJMP TIM27

    MALED: DB 0C0H,0F9H,0A4H,0B0H,99H,92H,82H,0F8H,80H,90H

    END


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]