Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%C4%83n-tin.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin

    A. PHẦN  MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Hiện nay, các quán café phục vụ cho các tầng lớp và lứa tuổi mọc ra rất nhiều ở thành phố Biên Hòa. Nhưng để tìm một địa điểm phù hợp để thư giãn trong thời gian rảnh, một không gian yên tĩnh để làm việc ….cho các tầng lớp và lứa tuổi, đặc biệt cho sinh viên là rất khó. Bên cạnh đó, giá cả cũng quyết định phần nào đến quyết định của họ vì đa phần chúng có giá khoảng 17,000 trở lên, đối với sinh viên hay những người có thu nhập trung bình thì đó là cái giá không rẻ. Vì vậy chúng tôi quyết định lập 1 dự án đầu tư vào quán café nhằm phục vụ cho những ai yêu thích tiểu thuyết, thích không gian yên tĩnh, thu nhập thấp đối với sinh viên, giá cả phải chăng đáp ứng điều kiện hiện có của mọi tầng lớp.

    1. Mục tiêu nghiên cứu :

    – Đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động

    – Là nơi giao lưu của sinh viên, cán bộ công nhân viên, và các đối tượng khác.

    – Sự hài lòng của khách hàng

    – Đạt uy tín với các đối tượng có liên quan: Nhà cung cấp, khách hàng,…..

    – Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn khó khăn và luôn được nhà nước  khuyến khích Cho nên với loại hình kinh doanh quán cafe thì việc đăng ký sẽ dễ dàng

    • – Thị trường kinh doanh cafe trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    B. NỘI DUNG

    Chương I: Mô Tả Tổng Quan

    1. Đầu tư

    1.1 Tên

    – Tên quán: “Charming coffee”

    – Địa điểm: 165 Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất, tp Biên Hòa, Đồng Nai.
    – Ngành nghề kinh doanh: dịch vụ giải khát

    – Sản phẩm: café , trà , đặc biệt café kem

    1.2 Đại diện được ủy quyền

    – Họ và tên: Vũ Chu Cung

    – Sinh ngày: 09-09-1989

    – Chức vụ : Giám đốc

    – Số CMND: 272456756 cấp ngày 26/06/2006 tại CA Đồng Nai

    – Hộ khẩu thường trú : 169/6 kp6 p.Tân Hòa – Biên Hòa – Đồng Nai

    – Điện Thoại: 0952439171

    1.3 Trụ sở :

    – Tổng diện tích: 1500m2 ( 25*60 )

    – 165 đường Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất , tp Biên Hòa , Đồng Nai.

    – Điện thoại : 061.3846542

    – Fax           : 061.3846543

    1.4 Giấy phép kinh doanh

    – Ngày 01/10/2010 : nộp hồ sơ cần thiết cho UBND Tỉnh Đồng Nai

    – Vốn đăng kí :

    – Dự kiến 02/11/2011 nhận được giấy phép kinh doanh .

    2. Sản phẩm

    2.1Các loại sản phẩm kinh doanh

    Các loại sản phẩm của quán có 4 nhóm:

    I. CAFE II. CAFÉ KEM III. TRÀ
    Cafe Macchiato Trà lipton
    Cafe đá Latte Trà lipton sữa
    Cafe sữa nóng Cappuchino Trà lài
    Cafe sữa đá mocha Trà đào
    Cafe rum Americano Trà dâu
    Cafe sữa rum   Trà cam
    Bạc sỉu nóng   Trà chanh dây
    Bạc sỉu đá   Trà gừng
        Trà bí đao

    2.2 Yếu tố cạnh tranh

    – Những tách cafe kem mới lạ, thơm ngon và độc đáo

    Được bắt nguồn từ nước Ý, Espresso còn có nghĩa là “một cách tức khắc” – tức là loại café có thể phục vụ cho khách hàng ngay lập tức và bắt đầu xuất hiện vào khoảng những năm 1930. Ngày nay, người ta đếm có khoảng ít nhất 10 loại café được bắt nguồn từ Espresso được phổ biến và ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới. Để không khiến các ấy “hoa mắt”, chúng mình sẽ chỉ “điểm mặt” các loại café quen thuộc đối với teens chúng mình nhất thôi nhé!

    Ảnh: Imagine

    Để có được một tách Espresso “chính hiệu” thì người ta phải rang những hạt café sẫm màu rồi xay rất nhuyễn, sau đó được pha chế bằng cách dùng nước nóng nén dưới áp suất cao. Nhờ vậy mà một tách Espresso sẽ có vị rất đậm và trên mặt có một lớp bọt màu nâu còn gọi là Crema rất thơm mà không đắng ngắt. Có kha khá nhiều những “tranh cãi” nảy lửa về phương thức làm ra một tách Espresso “tuyệt hảo” nhất, người thì nói rằng nguyên liệu cần phải có sự pha chế theo tỉ lệ 60% là café Arabica và 40% là Robusta, người thì lại “cương quyết” cho rằng chỉ có một tách Espresso với 100% là hạt café Arabica mới là “số dzách” cơ đấy.

    Gần giống với Espresso nhất là Espresso con panna với một chút kem tươi ở phía trên

    Trong tiếng Ý thì “Macchiato” có nghĩa là lốm đốm và cũng vì “cái tên” này mà có khá nhiều tranh cãi trong cách pha chế của loại đồ uống này. Có người thì nói Macchiato là Espresso được cho thêm vài vệt sữa trên bề mặt tạo thành các đường vân trong khá đẹp mắt mà thôi. Tuy nhiên hiện nay thì nhiều quán café họ lại cho kha khá nhiều sữa vào tách Macchiato, thế nên có rất nhiều sự nhầm lẫn giữa Macchiato và Latte.

    Ảnh: Mado

    “Latte” được bắt nguồn từ từ Caffellatte trong tiếng Ý có nghĩa là café và sữa. Nếu người “thưởng thức” không thật sành sẽ rất hay nhầm lẫn vị của Latte với Cappuccino bởi cả hai đều có 3 thành phần cơ bản: café espresso, sữa nóng và bọt sữa. Tuy nhiên, nếu như ở Cappuccino người ta cho lượng sữa nóng có thể tương đương so với bọt sữa thì ở Latte lượng bọt sữa lại được cho bằng 1 nửa với sữa nóng mà thôi. Vì thế mà một tách Latte bao giờ cũng ít “bồng bềnh” hơn so với Cappuccino. Và theo đúng “chuẩn” truyền thống thì Cappuccino được uống trong những tách dày được hâm nóng trước còn Latte lại được uống trong các chiếc ly khá to đấy nhá! Có một điểm thú vị nữa là Latte lúc mới được “sáng tạo” là để dành riêng cho trẻ em vì lượng cafein trong này khá ít và có độ ngậy tương đối cao. Về sau thì dần dần chính người lớn cũng bị mê mẩn bởi thức uống này nên nó trở thành đồ uống cho mọi lứa tuổi. Cũng xuất phát từ cùng một lý do đó, ở Ý người ta còn nghe danh thêm cafe hag (có tên đầy đủ là granita di caffè con panna) cũng là một loại café không chứa cafein, rất chi là thích hợp cho tuổi teens chúng mình nhỉ!

    Ảnh: Imagine

    Và chắc chẳng ai còn xa lạ gì với café Cappuccino rồi đúng không? Một tách café này cũng gồm có 3 phần là: café Espresso, sữa nóng và bọt sữa và thường được chia rất đều nhau nhá! Tuy nhiên, tùy vào nơi pha chế mà lượng Espresso cũng khác nhau. Có nơi để nguyên Espresso đậm đặc nhưng lại có nơi pha loãng Espresso cùng với lượng nước gấp đôi. Và để hoàn thiện tách Cappucino thì không thể không nhắc đến “nghệ thuật vẽ” trên mặt lớp bọt sữa rồi. Còn về tên gọi của Cappucino thì trên dự đoán là được bắt nguồn từ tên gọi của các nhà tu dòng Capuchin vì màu áo thụng của các vị ấy rất giống với màu của café. Cái này thì chưa có ai kiểm chứng được đâu…

    Ảnh: Imagine

    Thứ đồ uống được các teens không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước ưa chuộng nữa chính là Mocha. Không “đơn giản” như Cappuccino hay Latte, ở Mocha, người thưởng thức sẽ được hưởng trọn vẹn cả vị thơm béo của kem tươi và vị ngậy của chocolate nóng. Espresso trong Mocha cũng được pha chế bằng hơi nước nên lượng cafein cũng rất ít. Với mùi hương nhẹ của café trộn với vị ngọt dịu của kem và chocolate, lại còn không gây mất ngủ, lo lắng vì sợ nóng, Mocha luôn được coi là thức uống “ưa thích bậc nhất” cho mọi lứa tuổi.

    Ảnh: Imagine

    Cuối cùng được “điểm danh” đến là loại café nghe tên “rất Mỹ” nhưng lại hoàn toàn bắt nguồn từ nước Ý – café Americano. Thực ra, Americano chính là Espresso nhưng được pha loãng với lượng nước gấp đôi. Nhiều người không hề thích Americano tẹo nào vì họ cho rằng nó đã “phá tan” cái “chuẩn” của Espresso nhưng lại có những người rất khoái Americano vì nó vừa giữ được hương vị của Espresso nhưng đồng thời cũng hạn chế được nhiều tác hại từ cafein.

    – Phong cách trầm lắng, không gian thoáng đãng , thoải mái , không quá rộng để cảm thấy trống trải, không quá chật để cảm thấy nghẹt thở.

    – Ngoài ra nét độc đáo tại quán đó là được hòa mình vào nhũng cuốn tiểu thuyết lãng mạng, một không gian chỉ có ở Charming coffe . Với hơn 500 cuốn tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại sẵn sang phục vụ .

    – Bạn muốn thưởng thức một sức sống mới ? bạn muốn có 1 không gian tiểu thuyết hoàn hảo ? bạn muốn có 1 nơi để suy tư, để cho tâm hồn được bay bổng ? mời bạn hãy đến với Charming coffe của chúng tôi.

    3. Thị trường tổng quan

    – Thông qua các cuộc tiếp các cuộc khảo sát trên thị trường TP BIÊN HÒA chúng tôi được biết đa số những người ở đây có thói quen , sở thích uống café để thư giãn.

    – Do dó, nhu cầu cần có quán café giá cả thích hợp và cách trang trí đẹp là rất cần thiết, theo nghiên cứu thì ở BIÊN HÒA có khoảng hơn 30 quán café lớn và rất nhiều quán café nhỏ và vừa.

    – Đối thủ cạnh tranh đa số vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của khách hàng .

    Ví dụ: quán café NGỌC PHÁT , khách hàng chủ yếu là những người có thu nhập khá ; quán River Side , giá cao , trang trí chưa đẹp , đường vào sâu, khó tìm …

    4. Thị trường trọng tâm

    công nhân viên ,học sinh,sinh viên là khách hàng chủ yếu của chúng tôi vì đây là tầng lớp có nhu cầu lớn  uống café rất lớn

    5.  Đặc điểm khách hàng

    Do khách hàng chính của chúng tôi chủ yếu là công nhân viên, học sinh,sinh viên nên họ có cách sống của họ đơn giản,dễ gần gũi. Khi đến quán, điều mà họ quan tâm nhất là hình thức phục vụ và không gian có thoải moái hay không… Ngoài ra, theo tìm hiểu qua các cuộc nói chuyện với khách hàng chúng tôi được biết khi đến quán café họ  còn cân nhắc những điều sau :

    – Quán café có hiện đại, tiện nghi không

    – Mức giá có phù hợp không

    – Có phục vụ nhanh không

    – Nhân viên phục vụ có nhiệt tình vui vẻ không

    6.  Đối thủ cạnh tranh

    Mặc dù mở ra quán càfe có nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan thuận lợi. Nhưng để thành công không phải là chuyện dễ vì không chỉ có quán café của mình mà còn các đối thủ cạnh tranh, họ cũng muốn đạt những gì họ muốn, do đó chúng tôi phải làm tốt hơn đối thủ thì mới thu hút được khách hàng .

    Hiện nay ở BIÊN HÒA (đường Võ Thị Sáu) đã có nhiều 8-10 quán cà phê, đó là những đối thủ gần mà chúng tôi phải đối mặt, họ đã có mối quan hệ lâu bền với khách hàng trong vùng khá lâu. Dù rằng, họ có những thuận lợi đó nhưng theo tìm hiểu thì họ còn yếu trong cung cách phục vụ. Ngay từ đầu thành lập quán café chúng tôi đã chuẩn bị tốt mọi thứ để làm hài lòng khách hàng ở  mức cao nhất, đặc biệt là chuẩn bị khâu mà đối thủ đang yếu.

     7.  Nhà cung cấp

    – Café Trung Nguyên

    – Công ty trà TNHH SX – TM – DV Việt Thiên

    Chương II: HOẠCH ĐỊNH CHỨC NĂNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH

    1. Tiếp thị

    1.1 Chiến lược giá

    Quán chúng tôi sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá phù hợp khác nhau .

    Bảng 1: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm quán bắt đầu hoạt động

    SẢN PHẨM GIÁ
    I.                  Café  
    Cafe 10.000/ly
    Cafe đá 10.000/ly
    Cafe sữa nóng 12.000/ly
    Cafe sữa đá 12.000/ly
    Cafe rum 15.000/ly
    Cafe sữa rum 15.000/ly
    Bạc xỉu 12.000/ly
    Bạc xỉu đá 12.000/ly
    II.               Trà  
    Trà lipton 10.000/ly
    Trà lipton sữa 12.000/ly
    Trà lài 10.000/ly
    Trà đào 10.000/ly
    Trà dâu 10.000/ly
    Trà cam 10.000/ly
    Trà chanh dây 10.000/ly
    Trà gừng 10.000/ly
    Trà bí đao 10.000/ly
    III.            Café kem sữa  
    Macchiato 25.000/ly
    Latte 25.000/ly
    Cappuchino 25.000/ly
    mocha 25.000/ly
    Americano 25.000/ly

    Bàng 2 : giá Trang thiết bị đầu tư ban đầu

                  Đvt: ngàn đồng.
    STT HẠNG MỤC ĐẦU TƯ SL ĐVT   GIÁ   THÀNH TIỀN
    1 Bàn mây tròn: 50 cái x 450 = 22,500
    2 Ghế mây 200 cái x 300 = 60,000
    3 Bàn gỗ_kiếng vuông, thấp: 25 cái x 420 = 10,500
    4 Ghế gỗ trệt có tựa+ nệm ngồi 100 cái x 300 = 30,000
    5 Đế lót ly bằng gổ 300 cái x 3,65 = 1,095
    6 Gạt tàn thuốc bằng gốm 30 cái x 19,3 = 579
    7 Mâm Inox bưng nước cho nhân viên (304-36cm): 10 cái x 100,9 = 1,009
    8 Ly nhỏ uống trà đá cho khách 300 ly x 5,5 = 1,650
    9 Ly nhỏ uống café sữa nóng 75 ly x 7,6 = 570
    10 Ly uống cà phê đá 150 ly x 22 = 3,300
    11 Fin pha café 50 cái x 5,6 = 280
    12 Ly pha chế 4 cái x 17 = 68
    13 Muỗng nhỏ 70 cái x 1,5 = 105
    14 Muỗng cà phê đá và cà phê sữa bằng Inox: 200 cái x 4,5 = 900
    15 Cây khuấy nước (cam vắt, Lipton, nước khác, …): 100 cái x 1 = 100
    16 Bình thủy tinh lớn châm trà đá (LUMINARC, 1,3 lít): 5 cái x 60 = 300
    17 Phin lớn pha cà phê bằng Inox: 2 cái x 60 = 120
    18 Tấm lượt pha cà phê: 2 cái x 25 = 50
    19 Bình thủy Rạng Đông 2 cái x 130 = 260
    20 Nồi lớn nấu nước sôi: 1 cái x 500 = 500
    21 Bình chứa cà phê pha sẳn: 1 cái x 120 = 120
    22 Kệ lớn đựng ly bằng Inox: 2 cái x 600 = 1,200
    23 Các loại chai, lọ khác đựng một số thứ khác 1 bộ x 500 = 500
    24 Dù gổ lớn che nắng thời trang: 16 cái x 1,490 = 23,840
    25 Dàn Amply (Pioneer VSX-817-S, công suất 360W): 1 cái x 8,390 = 8,390
    26 Đầu đĩa đa năng: 1 cái x 1,900 = 1,900
    27 Tivi 40 inch (hiệu TCL): 1 cái x 9,990 = 9,990
    28 Tivi 32 inch (hiệu TCL): 3 cái x 5,990 = 17,970
    29 Máy quay sinh tố (SANYO): 2 cái x 950 = 1,900
    30 Tủ đông đá 1 cái x 8,500 = 8,500
    31 Máy điều hòa LG 2 cái x 7,300 = 14,600
    32 Dàn loa (Mỹ, 500W/cặp): 2 cặp x 3,500 = 7,000
    33 Cáp truyền Quốc tế: 1 bộ x 600 = 600
    34 Tiền lắp đặt Internet + Bộ phát sóng Wifi: 1 bộ x 1,500 = 1,500
    35 Điện, đèn, nước, tiền công: 1 bộ x 35,000 = 35,000
    36 Đồng phục nhân viên: 30 bộ x 300 = 9,000
    37 Máy tính tiền điện tử CASIO TK-T200 (có két tiền): 1 cái x 6,900 = 6,900
    38 Máy vi tính 2 cái x 10,000 = 20,000
    39 01 tủ quầy bar tính tiền và để dàn nhạc: 1 bộ x 4,000 = 4,000
    40 Trang trí nội thất, sửa chữa quán, trang trí cây cảnh: 1 lần x 300,000 = 300,000
    41 Chi phí bảng hiệu, hộp đèn: 1 bộ x 20,000 = 20,000
    42 Chi phí PANO vải quảng cáo: 3 tấm x 1,500 = 4,500
    43 Chi phí đặt cọc 02 tháng thuê mặt bằng: 2 tháng x 30,000 = 60,000
    44 Chi phí hổ trợ bồi thường xây dựng cho chủ đất: 1 lần x 60,000 = 60,000
    45 Sách ( tiểu thuyết ) 500 Cuốn x 100,000 = 50,000
      TỔNG           801,296
                   

    1.2 Chiến lược marketing

    • Phát tờ rơi quảng cáo tại các trường ĐH, các công ty và người trung niên ở khu vực xung quanh đó. (1000 tờ rơi phát trong tháng đầu, sau đó có thể cân nhắc phát thêm hay không). Mỗi tờ rơi giảm 10% cho 1 ly, nhưng không cộng gộp với nhau
    • Quảng cáo thông qua các hình thức chủ yếu  treo băng rôn ở các tuyến đường chính
    • Trong tuần đầu khai trương  khách hàng sẽ được giảm giá 50% trong ngày đầu và 30% trong các ngày tiếp theo cho tất cả các sản phẩm.

    2. Nhân sự  và trụ sở

    2.1 Bảng 3 : Nhu cầu lao động

      Công việc Số lượng Tiền lương

     

    (triệu đồng)

    Thành tiền

     

    (triệu đồng)

    Quản lý quản lý 1 7 7
    Kế toán 1 2.5 2.5
    thu ngân 2 2 4
    Bảo vệ 4 2 8
    Nhân viên Pha chế 4 2.5 10
    Phục vụ 15 1.5 22.5
    Lao công 2 1.5 3
    Tổng   29   57

    2.2 Mặt bằng địa điểm

    – Địa chỉ: Võ Thị Sáu, KP7, phường Thống Nhất, tp Biên Hòa, Đồng Nai.

    – Hiện trạng : mặt tiền , đất trống , bằng phẳng , gần khu chung cư.

    – Thuê mặt bằng: 30tr/tháng

    2.3 Nghĩa vụ

    – Chủ quán: Nghĩa vụ : Là người quản lý và điều hành mọi hoạt động quán, chịu trách nhiệm trước pháp luật

    – quản lý:  Là người thay mặt chủ quán điều hành hoạt động của nhân viên

    – Kế toán: Theo dõi và ghi chép lại tất cả mọi hoạt của quán và tổng hợp chi phí và xác định doanh thu, lợi nhuận của quán báo cáo thuế

    – Pha chế: là người pha chế các loại thức uống

    – Thu ngân: Là người trực tiếp tính chi phí, thu tiền..

    – Phục vụ: giới thiệu menu và phục vụ khách hàng

    – Lao công: là người rửa ly và dọn vệ sinh

    – Bảo vệ: là người giữ xe và bảo vệ tài sản của quán

    3. Nhu cầu nhân viên, lương, đào tạo và khen thưởng

    1. Nhu cầu nhân viên

    – quản lý : 1 người, trình độ cao đẳng ngành Quản Trị Kinh Doanh

    – Kế toán : 1 người, trình độ trung cấp trở lên chuyên ngành kế toán

    – thu ngân: 1 người, trình độ trung học phổ thông trở lên, biết sử dụng áy tính

    – Pha chế:  4người, có bằng nghề chuyên ngành.

    – Phục vụ : 15người, có kinh nghiệm phục vụ, thông qua sự kiểm tra của chủ quán.

    -Lao công: 2 người

    – Bảo vệ: 4 người, nam tuổi từ 18 đến 35, có sức khỏe tốt

     

    1. Đào tạo và khen thưởng

    – Đào tạo: Chủ quán chịu trách nhiệm hướng dẫn cho nhân viên của mình quen với công việc, đặc biệt là nhân viên phục vụ và quản lý hướng dẫn phục vụ và ứng xử, ngoài ra chính bản thân người chủ cũng cần phải học về kiến thức chuyên ngành để phục vụ tốt hơn.

    – Khen thưởng: Ngoại trừ những đợt thưởng thêm lương vào dịp lễ, tết, tặng lịch, áo, nón, cửa hàng còn trích lợi nhuận thưởng nếu vượt chỉ tiêu doanh thu. Biện pháp này nhằm kích thích sự phấn khởi nhiệt tình của nhân viên trong công việc để họ làm tốt công việc.

     

    4.Mô hình xây dựng:

    • Thầu công trình xây dựng , trang trí nội thất : 300tr
    • Quán café rộng 1200m2 (20*60) được chia lam 3 khu chính
      • Khu A : gồm 50 bàn mây tròn, ngoài trời ( có dù )
      • Khu B : gồm 25 bàn gỗ được bố trí trong gian nhà kính kín trang nhã, có máy lạnh, chủ yếu phục vụ truy cập wifi, đọc sách .
      • Khu C : khu pha chế , thu ngân , nhà vệ sinh.
    • Tiến độ xây dựng
      • 1/10->3/10 : phát cỏ , san bằng bề mặt
      • 4/10 : khởi công xây dựng
      • Dự kiến 31/11 hoàn thành
      • Chuẩn bị , trang trí , lắp ráp trang thiết bị , điện : 10 ngày
      • Dự kiến khai trương ngày 12/12/2010

    Với vị trí trên đường Võ Thị Sáu, đường rộng , không gian thoáng đãng, chung quanh quán ít có những tòa nhà cao tầng, nên khi quý khách ngồi trong quán sẽ cảm nhận được sự thoải mái, hòa mình cùng bầu không khí trong lành.

    4. Hoạch định tài chính

    4.1 Các khoản đầu tư và nguồn vốn dự kiến ban đầu

       TỔNG CỘNG CHI PHÍ ĐẦU TƯ BAN ĐẦU 801,296
       Vay NH: 100,000,000
       Vốn tự có: 900,000,000
     Stt  Số cổ phần hùng vốn  Thành tiền
           1 Vũ Chu Cung 100,000,000
           2 Huỳnh Thị Thu Hạnh 100,000,000
           3 Lại Thu Hằng 100,000,000
           4 Trần Thị Thu Hằng 100,000,000
    5 Trần Vũ Thúy Liễu 100,000,000
    6 Lý Thái Luật 100,000,000
    7 Dương Hữu Minh 100,000,000
           8 Nguyễn Thị Mai Trâm 100,000,000
    9 Phạm Thị Ngọc Sương 100,000,000
                                       

     

    Tổng Cộng :

    900,000,000

    Vốn linh động :198,704,000

    Bảng kế hoạch trả nợ ngân hàng  ( lãi suất 1,25% tháng , 15% năm )

    Đơn vị : triệu đồng

    Năm Dư nợ đầu kì Hoàn trả trong kì Dư nợ cuối kì
        Nợ gốc Lãi Tổng  
    1 100 33.333 15 48.333 66.667
    2 66.667 33.333 10 43.333 33.334
    3 33.334 33.333 5.0001 38.333 0.001

    4.2 Dự trù doanh thu chi phí

    1. doanh thu
    Thông số
    Tổng số bàn 75 bàn
    Đơn giá bình quân 14,000 Đồng/ly
    Công suất thiết kế
    Bình quân ly/ bàn / giờ 1,5 Ly/bàn/giờ
    Giờ hoạt động 16 Giờ/ngày
    Tổng số ly bán 1 ngày 1600 Ly/ngày
      Số lượng bán bình quân Doanh thu ngày

     

    ( đ/ ngày)

    Doanh thu năm

     

    ( đ/ năm )

    Năm thứ 1 (50%) 900 12,600,000 4,536,000,000
    Năm thứ 2 ( 75% ) 1350 18,900,000 6,804,000,000
    Năm thứ 3 ( 90% ) 1620 22,680,000 8,164,800,000
    1. chi phí
      Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3
    Lương nhân viên: 684,000,000 684,000,000 684,000,000
    Điện: 18,000,000 18,000,000 18,000,000
    Nước: 18,000,000 27,000,000 32,400,000
    Nguyên liệu: 1,393,200,000 2,089,800,000 2,507,760,000
    Tiền ăn nhân viên: 156,600,000 156,600,000 156,600,000
    Chi phí mặt bằng: 360,000,000 360,000,000 360,000,000
    Chi phí lãi vay NH 48,333,000 43,333,000 38,333,000
    Chi phí khấu hao TSCĐ 160,260,000 160,260,000 160,260,000
    TỔNG 2,838,393,000 3,538,993,000 3,957,353,000

    ( khấu hao tài sản cố định : giá trị đầu tư ban đầu là 801,296,000 , dự tính giá trị còn lại sau 3 năm là 40% )

    1. Lợi Nhuận

                                                                                                   Thuế TNDN 28%

      Doanh thu thuần Chi phí Lợi nhuận trước thuế Lợi nhuận sau thuế
    Năm thứ 1 4,536,000,000 2,838,393,000 1,697,607,000   1,222,277,040
    Năm thứ 2 6,804,000,000 3,538,993,000 3,265,007,000   2,350,805,040
    Năm thứ 3 8,164,800,000 3,957,353,000 4,207,447,000   3,029,361,840

    Báo cáo ngân lưu lập theo phương pháp trực tiếp.

    Năm   0 1 2 3
    Dòng ngân lưu vào   4,536,000,000 6,804,000,000 8,485,318,000
      Doanh thu   4,536,000,000 6,804,000,000 8,164,800,000
    Giá trị thanh lý       320,518,000
    Dòng ngân lưu ra 1,000,000,000 3,948,213,000 5,283,853,000 6,083,237,000
      Chi phí đầu tư 1,000,000,000      
    Tổng giá thành sản xuất   2,678,133,000 3,378,733,000 3,797,093,000
    Thuế TNDN         1,270,080,000       1,905,120,000       2,286,144,000
    Dòng ngân lưu ròng -1,000,000,000 587,787,000 1,520,147,000 2,402,081,000
                 

     

    Chương 3 : Đánh Giá Hiệu Qủa Tài chính

    1. Hiện giá thuần(NPV)

    P: vốn đầu tư ban đầu

    r: lãi suất chiết khấu

    CF: dòng thu nhập ròng qua các năm

    Lấy lãi suất chiết khấu là 10%/năm

    Vậy ta có NPV >0, dự án khả thi.

    3.      Tỷ Suất thu hồi nội bộ(IRR)

    Dùng Excel tính IRR ta có : =IRR(-1,000,000,000: 2,402,081,000)=97%

    Ta thấy, suất sinh lời thực tế của dự án IRR >10%, dự án khả thi.

    4.      Tỷ số lợi ích trên chi phí

    Nghĩa là bình quân cứ 1 đồng chi phí tạo ra được 1.19 đồng thu nhập trong suốt vòng đời dự án.

    5.      Thời gian hoàn vốn(PP)

    Là thời gian để ngân lưu tạo ra của dự án đủ bù đắp chi phí đầu tư ban đầu

    Năm 0 1 2 3
    Ngân lưu ròng -1,000,000,000 587,787,000 1,520,147,000 2,402,081,000
    Hiện giá dòng ngân lưu ròng -1,000,000,000      529,008,300       1,368,132,300       2,161,872,900
    Số chưa thu hồi -1,000,000,000 -470,991,700

    Thời gian hoàn vốn : 1+(470,991,700/1,368,132,300)*12 tháng=1 năm 4 tháng

     

    C. Những rủi ro có thể gặp và biện pháp khắc phục

     1. Những rủi ro có thể gặp

    • Đối thủ cạnh tranh
    • Bị thiếu sót trong phân tích đánh giá
    • Chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những thay đổi của điều kiện tự nhiên(mưa , bão, …)
    • NVL bị hư hại trong vận chuyển, lưu trữ.
    • Gía cả thị trường biến động => giá NVL tăng

    2. Một số biện pháp khắc phục rủi ro

    • Bám sát các nguồn thông tin có liên quan
    • Quan tâm đến hướng phát triển của đối thủ cạnh tranh cũng như nhu cầu khách hàng.
    • Kiểm soát hạn chế tổn thất nếu có xảy ra

    D. Kết thúc dự án

    Rút ra kinh nghiệm để góp phần làm tốt hơn trong dự án sắp tới .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích tài chính của Vinamilk


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Từ khi xuất hiện con người trên hành tinh này, đến ngày nay đã trải qua 5 phương thức sản xuất: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội. Tư duy nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ mà ngày càng phát triển hoàn thiên hơn. Từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất. Từ hái lượm săn bắt để duy trì cuộc sống đến trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu, đến ngày nay trình độ khoa học đã đạt tới mức tột đỉnh. Mà cốt lõi của nền sản xuất xã hội chính là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, như Mác và Ănghen nói, đó là quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.

    Từ quan điểm này của chủ nghĩa Mác xít, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội nước ta trong giai đoạn từ đổi mới đến nay.

    Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho chúng ta có được nhận thức về sản xuất xã hội và kĩ thuật. Thấy được ý nghĩa đó, tôi xin bày tỏ một vài ý kiến bản thân về vấn đề: “Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay“.

    PHẦN NỘI DUNG

    I.                   Lực lượng sản xuất – Quan hệ sản xuất – quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

    1. Lực lượng sản xuất

    • Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, đồng thời thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm: người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là cong cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau thành lực lượng sản xuất.

    Trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, con người lao động và công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất. Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động (công cụ lao động) tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Công cụ lao động do con người tạo ra với mục đích “nhân” sức mạnh bản thân lên trong quá trình lao động sản xuất. Sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất.

    2.                 Quan hệ sản xuất

    Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Do con người không thể tách khỏi cộng đồng nên trong quá trình sản xuất phải có những mối quan hệ với nhau. Vậy việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là một vấn đề có tính quy luật. Nhìn tổng thể quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:

    • Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản xuất, nói cách khác là tư liệu sản xuất thuộc về ai.
    • Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, tức là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như: phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động, quan hệ giữa người quản lý và công nhân…
    • Quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra, tức là quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và sản phẩm với cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lí và có hiệu quả tư liệu sản xuất.

    3. Qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

    Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Từ đó tạo nên qui luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội.

    Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.

    Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời thì yêu cầu quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp này tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất để lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hoàn thiện. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một mức nhất định sẽ làm cho quan

    hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Điều này dẫn đến quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và yêu cầu khách quan tất yếu là phải thay thế quan hệ sản xuất. Như Các Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có.. trong khi đó từ trước đến giờ các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội.

    Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trửo lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quyết định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ… do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, ngược lại sẽ kìm hãm. Và khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

    Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất vừa có tác động cho nhau lại vừa mâu thuẫn với nhau. Việc phản ánh mâu thuẫn này là yêu cầu cần có. Nó phải thông qua nhận thức và cải tạo xã hội của con người. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, qua cách mạng xã hội.

    II.               Sự vận dụng của Đảng ta trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội nước ta từ đổi mới đến nay

    1. Sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Sau độc lập, nền kinh tế nước ta còn gặp vô vàn khó khăn do thói quen lao

    động tự cung tự cấp, nền sản xuất nhỏ lẻ, trình độ khoa học kém phát triển, đời

    sống xã hội vô cùng khó khăn… Với hoàn cảnh mới, đất nước tiến lên CNXH, đòi hỏi nước ta phải có một chế độ kinh tế phù hợp, đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

    Thời gian qua, chúng ta quá coi trọng vai trò của quan hệ sản xuất, cho rằng có thể đưa quan hệ sản xuất đi trước để mở đường san đất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Quan niệm ấy là sai lầm, sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua là minh chứng cho điều ấy và do đó gây ra sự mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất với hình thức kinh tế – xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta. Mối mâu thuẫn ấy đã đem theo nhiều hậu quả ngoài ý muốn: Kinh tế kém phát triển, xã hội nảy sinh nhiều tiêu cực, tệ nạn, trình độ quản lý yếu kém… yêu cầu cấp thiết là phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất, từ đó khắc phục khó khăn và tiêu cực của nền kinh tế – xã hội. Thiết lập quan hệ sản xuất mới với những bước đi phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển với hiệu quả kinh tế cao. Đó là sự cho phép phục hồi và phát triển chủ nghĩa tư bản, buôn bán tự do rộng rãi, nâng cao đời sống xã hội,… Như lời của đồng chí Lê Khả Phiêu nói: “… không chất nhận Việt Nam theo con đường chủ quan của tư bản nhưng không phải triệt tiêu tư bản trên đất nước Việt Nam và vẫn quan hệ với CNTB trên cơ sở có lợi cho đôi bên và như vậy cho phép phát triển thành phần kinh tế tư bản là sáng suốt”. Hay quan điểm từ Đại hội Đảng VI cũng khẳng định: không những khôi phục thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể mà còn phải phát triển chúng rộng rãi theo chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhưng điều quan trọng là phải nhận thức được vai trò của thành phần kinh tế nhà nước trong thời kì quá độ.

    2.                 Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được vận dụng trong quá trình CNH-HĐH đất nước

     

    CNH- HĐH được xem xét từ tư duy triết học là thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ biện chứng của phương thức sản xuất. Muốn CNH-HĐH đất nước cần phải có tiềm lực về kinh tế, con người, trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố vô cùng quan trọng. Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Với tiềm năng lao động lớn nhưng công cụ lao động lại hết sức thô sơ lạc hậu, CNH-HĐH đứng trước khó khăn lớn cần nhanh chóng khắc phục. Đảng ta đã thực hiện một cơ cấu sở hữu hợp quy luật, gắn liền với một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lí và trong thời cơ cũng như thách thức to lớn hiện nay, đất nước ta đang có rất nhiều tiềm năng phát triển, mà cốt lõi của sự phát triển ấy vẫn là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    Mục tiêu CNH-HĐH đất nước đang được nỗ lực thực hiện và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Cùng với nó vẫn là những khó khăn, hạn chế song tương lai phát triển đất nước vẫn mang nhiều yếu tố khả quan.

    III.            Thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam từ đổi mới đến nay

    1. Thành tựu

    Trong đại hội Đảng VI (12/1986) là một thời gian qua trọng, đánh dấu bước chuyển mình phát triển của đất nước ta: xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm, bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trường, sự phát triển yếu ớt của đời sống xã hội được thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm và chú trọng phát triển đời sống của nhân dân…

    Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (6/1996), Đại hội IX (4/2001) đã tiếp tục khẳng định bổ sung và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế – xã hội: phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới về công cụ lao động và chính sách quản lý kinh tế-

    xã hội, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    Sau 18 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng.

    • Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm tốc đọ cao. Trong 5 năm đầu đổi mới (1986-1990), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, khu vực kinh tế tư nhân và cá thể chưa phát triển, nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn, bình quân chỉ đạt 3,9%/năm (riêng 1986: 0,3%) và lạm phát cao kéo dài. Nhưng đầu thập kỉ 90, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5% vào năm 1995. Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991-1995), ta đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu chủ yếu đưa nước ta thực sự thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời kì đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Toàn bộ các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996-2000 và chiến lược 10 năm đều đạt và vượt kế hoạch. GDP trong 10 năm này tăng bình quân 7,56%/năm đến GDP 2000 gấp 2,07% lần năm 1990. Đến năm 2000-2002 tốc độ tăng trưởng đạt ổn định 6,7%; 6,8% và 7,0%.

    Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản. Sản lượng lương thực tăng nhanh từ 21,5 triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn (1995) và 34,5 triệu tấn (2000), gần 36 triệu tấn (2002), bình quân mỗi năm tăng 1,4 triệu tấn. Tốc độ tăng lương thực bình quân 5%, cao hơn tốc độ tăng dân số (1,8%) nên sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 304 kg (1985) lên 364 kg (1995); 444,8 kg (2000) & 450 kg (2002). Việt Nam từ nước thiếu lương thực, đến 1989 trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới. Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh là nhờ những đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nhà nước: Nông dân được giao ruộng để sử dụng lâu dài, phát triển trang trại, khuyến khích khaihoang mở rộng diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng. Những thành tựu trên mặt trận lương thực đã góp phần quan trọng vào sự ổn định đời sống nhân dân.

    Trong 10 năm 1991 – 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, cao su tăng 12,4%; cà phê tăng 17,7%; rau quả tăng 10,8%; hạt tiêu 24,8%; hạt điều tăng 37,5%. Tổng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Một nền nông nghiệp hàng hoá hình thành gắn với thị trường quốc tế.

    Công nghiệp tăng liên tục, bình quân trong thời kì 1991-1995 tăng 13,7%; 1996-2000 tăng 13,2%. Công nghiệp tăng nhanh là do đầu tư lớn của nhà nước trong những năm trước đây cho một số ngành quan trọng như dầu khí, điện, xi măng, thép, giấy, đường… nhưng quan trọng hơn cả là sự đổi mới cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước, xoá bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư nước ngoài…

    Hệ thống đường giao thông, bưu điện được xây dựng mới và nâng cấp trên khắp mọi miền tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng được nâng cấp và xây dựng. Thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc.

    • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: chuyển từ khu vực I (Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (công nghiệp – xây dựng) và khu vực III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần và chuyển theo hướng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc- Trung- Nam.
    • Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1995: 12,7%; 1997: 3,7%;

    1999: 0,1%.

    • Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: kim ngạch xuất khẩu 1996: 882,9 triệu USD; 2001: 15,027 tỉ USD; Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,162 tỉ USD (2001).
    • Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt: lao động có việc tăng tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 400 USD/năm . Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ nghèo giảm 55% (1989) còn 11,4% (2000).

    Những thành tựu tăng trưởng và ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã được cải thiện rất nhiều. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1‰ và giữ mức

    bình quân 2,1%/ năm, giảm so với thời kỳ trước (2,3%) nhưng vẫn cao hơn mục tiêu đề ra (1,9%). Số người đi học bình quân tính trên 1 vạn dân, tăng từ 1834 người (1990) tăng lên 2171 người (1995).

    Tỉ trọng chi cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 24,4 – 28,4% tổng ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên. Hệ thống y tế được cải thiện, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm y tế.

    Tình hình nông thôn được cải thiện thêm một bước. Có khoảng 60,2% số xã có điện; 86,4% số xã có đường ô tô, 91,6% số xã có trường phổ thông cơ sở.

    Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế – xã hội hiện nay.

    2. Hạn chế

    Do nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất kĩ thuật chưa xác được nhiều. Mặc dù cơ cấu các ngành trong GDP có chuyển dịch rõ rệt nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi. Hiện nay hơn 75% dân số vẫn sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp vẫn chiếm > 60% tổng số lao động xã hội.

    Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng, hiệu quả còn thấp. Đất nước Việt Nam vẫn thuộc 20 nước nghèo nhất thế giới. Đây là thách thức cực kì to lớn cần phát huy mọi tiềm năng để giải quyết.

    Vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế – xã hội còn yếu: khả năng kiềm chế lạm phát còn chưa vững chắc. Ngân sách thu không đủ chi, tỉ lệ bội chi ngân sách còn cao.

    Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỉ cương còn nặng và phổ biến. Nạn buôn lậu và tệ quan liệu được coi là quốc nạn, được đưa vào chương trình nghị sự quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Song hiện nay vẫn chưa chống được, thậm chí còn có phần nghiêm trọng hơn.

    Hạn chế trong nền kinh tế xã hội nước ta còn nhiều. Nguyên nhân của những yếu kém đó là do hậu quả của nhiều năm trước để lại khi không hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, sự phù hợp mang tính tất yếu của chúng, đòng thời những bất lợi của tình hình thế giới hiện nay và những khuyết điểm còn mang tính chủ quan duy ý chí trong công tác lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta.

    PHẦN KẾT LUẬN

    Đảng và Nhà nước cần phải hiểu và vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trên thực tế không thể có sự phù hợp tuyệt đối giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất song phải tuỳ theo tình hình thực tế mà chọn giải pháp phù hợp. Sự vận dụng đúng đắn của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại thành tựu vô cùng to lớn cho nền kinh tế – xã hội nước ta, hoàn thành tốt mục tiêu CNH-HĐH đất nước. Tuy vậy, hạn chế, yếu kém vẫn còn rất nhiều, đòi hỏi cần có sự nỗ lực hết sức, phát huy mọi tiềm năng vốn có để khắc phục.

    Chỉ tính từ đổi mới đến nay, đất nước ta đã có những bước chuyển mình lớn lao trong đời sống kinh tế xã hội. Đó là nhờ sự nhận thức và vận dụng kịp thời quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất mở ra con đường đầy hứa hẹn cho sự phát triển của đất nước. Trong tương lai, chúng ta sẽ là những người gánh vác nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước, vì vậy ngay từ lúc này cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn mối quan hệ biện chứng của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, như quan điểm triết học Mác xít thì đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
    1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin – NXB Chính trị quốc gia
    1. Giáo trình lịch sử kinh tế – NXB Thống kê
  • Tiểu luận triết học – ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

    Tiểu luận triết học – ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

    Tiểu luận triết học – ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Dự án kinh doanh sân bóng mini


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

                                                            LỜI NÓI ĐẦU

     

         Từ đại hội Đảng lần thứ VIII đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ. Thực hiện nhiệm vụ đó trong những năm qua, nhất là những năm đổi mới chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng tạo ra thế và lực mới chuyển sang một thời kỳ phát triển cao hơn đẩy tới một bước công nghiệp hoá nước nhà. Tuy nhiên trong quá trình công nghiệp hóa những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân nóng vội chủ quan, đốt nóng giai đoạn mà chúng ta đã mắc phải một số khuyết điểm sai lầm mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII đã vạch ra.

    Muốn tiếp tục phát huy thành tích, khắc phục yếu kém đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về kinh tế,sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng một nước nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lâp dân tộc và chủ quyền quốc gia, tạo điêù kiện cho lực lượng sản xuất ra đời phù hợp với quan hệ sản xuất mới thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa.

    Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa là một vấn đề rất rộng gồm nhiều nội dung khác nhau, không thể nói hết trong phạm vi môt bài viết. Vì vậy, em hy vọng bài viết này có thể giúp bạn đọc hiểu thêm về quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

     

    I. NỘI DUNG, MỤC TIÊU CỦA ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

     1. Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm

    1. Thế nào là công nghiêp hóa- hiện đại hóa

    Trước đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệp được tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Nhưng theo dòng thời gian, khái niệm công nghiệp hóa luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, tức là khái niệm công nghiệp hóa mang tính lịch sử. Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại và rút  kinh  nghiệm  trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ bẩy khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định: công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các nền hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế- xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một  cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

    Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động  thủ công thành lao động cơ khí như trước đây mà bao hàm cả về các hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về ngành dịch vụ và quản lí kinh tế- xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao.

    Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa còn cần phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức và vận hành xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân trong cả nước, tích cực xoá đói giảm nghèo, phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân đầu người cả nước…

    1. Sự cần thiết phải tiến hành công nghiệp hóa- hiên đại hóa ở Việt Nam

    Trong những năm 1986-1988, cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội ở nước ta đã trở nên gay gắt nhất, khi lạm phát lên tới mức “phi mã”(3 con số), những cơ sở  sản xuất kinh doanh của nhà nước bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa; bội chi ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt; tiền lương thực tế giảm khiến cho đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng, khó khăn chồng chất khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua. Trong khi đó, công cuộc “cải tổ”  ở Liên Xô- người anh của chủ nghĩa xã hội trên thế giới- đang ngày càng đi vào con đường bế tắc. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Bên cạnh đó, nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất- kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, chưa được hoàn thiện, sản xuất nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ yếu. Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá chính là con đường duy nhất để đất nước ta có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại. Có tiến hành công nghiệp hóa thì chúng ta mới: xây dựng được cơ sở vật- chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến  hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân  dân; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp công nhân; củng cố quốc phòng giữ  vững an ninh chính trị, trật tự xã hội; góp phần xây dựng và phát triển nền văn  hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật chất- kỹ thuật cho  chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để nước ta có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội  một cách nhanh chóng và thành công.

    2. Nội dung đường lối công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

    1. Nội dung cơ bản

    Phát triển lực lượng sản xuất-cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội-  trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học- công nghệ hiện đại

    Muốn cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, đi đôi với việc củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, chúng ta phải phát triển lực lượng sản xuất với năng suất lao động ngày càng cao. Không có lực lượng sản xuất hùng hậu thì không thể nói đến công nghiệp hóa- hiện đại hóa nền kinh tế.Trước hết, quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa nền kinh tế quốc dân. Đó là bước chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Đi liền với cơ khí hóa là điện khí hóa và tự động hóa sản xuất từng bước và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đòi  hỏi phải xây dựng và phát  triển mạnh mẽ các  nghành công  nghiệp, then chốt là nghành chế tạo tư  liệu sản xuất bởi vì theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tái sản xuất  mở rộng của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là của nghành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất tư liệu sản xuất, quyết định qui mô tái sản xuất mở rộng của toàn bộ nền kinh tế. Sự phát triển của các nghành chế tạo tư liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển nền kinh tế quôc dân, phát triển khu vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Đồng thời, mục tiêu của công nghiệp hóa-hiện đại hóa còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt được năng suất lao động xã hội cao. Khi mà nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển như vũ bão, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tức là trở thành nhân tố  quyết định đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá, hiệu quả của sản xuất, kinh  doanh thì  khoa học-  công nghệ phải là động lực của công nghiệp hóa- hiện đại  hóa. Vì thế, phát triển khoa học- công  nghệ  có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Để có thể phát triển khoa học- công nghệ trong điều kiện Việt Nam  hiện nay cần phảI xác định được những phương hướng đúng đắn cho sự phát triển của khoa học- công nghệ, ví dụ như phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt được trình độ  tiên tiến, tranh thủ ứng dụng nhiều hơn thành tựu về khoa học- công nghệ… và  phải tạo dựng được những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của khoa học- công nghệ như đảm bảo đội ngũ cán bộ khoa học có số lượng lớn , chất lượng cao, các chính sách kinh tế- xã hội phù hợp.

    Trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, người lao động- lực lượng sản xuất thứ nhất- phải được nâng cao trình độ văn hoá và kỹ thuật vì họ vừa là kết quả sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa là người  tạo ra sự phát triển đó.

    Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa, hợp lý và hiệu quả

    Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp, cũng không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của nghành công nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân bao gồm các nghành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế… và các mối quan hệ hữu cơ giữa chúng. Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu của nghành kinh tế là quan trọng nhất vì nó quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. Vì vậy, công nghiệp hóa-hiện đại hóa đòi hỏi  phải xây dựng  cơ cấu kinh tế  hợp lý, hiện  đại. Và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ là tỷ trọng khu vực xây dựng và công  nghiệp, đặc biệt là tỷ trọng khu vực dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng khu vực nông-lâm-ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội. Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ phát triển mạnh mẽ hợp lý và đồng bộ.Một cơ cấu kinh tế được gọi là hợp lý khi nó đáp ứng được các  yêu cầu sau: nông  nghiệp phải giảm tỷ trọng, công nghiệp, dich vụ và xây dựng phải tăng dần tỷ trọng; trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ; khai thác tối đa tiềm năng đất nước; cơ cấu kinh tế được tạo dựng theo “cơ cấu mở”.

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thực hiện theo phương châm: kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn- tiên tiến vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào,  vừa cho phép rút ngắn  khoảng cách lạc hậu, vừa  phù hợp với nguồn vốn có hạn ở  trong nước; lấy quy mô vừa và  nhỏ là chủ  yếu, có tính đến quy mô lớn nhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện; giữ được tốc độ tăng trưởng hợp lý… Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta những năm trước mắt cần thực hiện theo định hướng chung sau đây: chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế  mạnh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị  trường  trong nước và ngoài nước, đẩy  mạnh xuất khẩu.

    Như vậy, công nghiệp hóa tất yếu gắn liền với hiện đại hóa để từng bước tạo ra những giá trị vật chất mới với trình độ công nghệ cao, hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

    Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

    Công nghiệp hóa ở nước ta nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó,công nghiệp hoá không chỉ phát triển lực lượng sản xuất mà còn là quá trình  thiết  lập, củng  cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp  theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo quy luật, quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình  độ của lực lượng sản xuất, bất cứ sự thay đổi  nào của quan hệ sản xuất cũng đều là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất.

    Trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất hiện đại tất yếu đòi hỏi phải xác lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Vì vậy, khi cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về căn bản thì chế độ công hữu tư liệu sản xuất sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối. Ngoài ra, trong khi phát triển nền kinh tế nhiều thành phần phải luôn luôn bảo đảm thành phần quốc doanh là chủ đạo, kinh tế quốc doanh cùng với kinh tế hợp tác dần trở thành nền tảng. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước- Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đặc biệt phải coi trọng việc bồi dưỡng nguồn nhân lực để phát huy sức manh quyết định của nhân tố con người, chăm lo giảI quyết việc làm cho người lao động, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Và điều quyết định nhất là phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa.

    1. Nội dung cụ thể

         Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa càng là một yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hội nghị Trung ương 7( khoá VII) tháng 7/1994, sau khi phân tích những thuận lợi, khó khăn, thực trạng của đất nước và tính toán các mặt, đã chỉ ra mục tiêu công nghiệp hóa- hiện đại hóa đến năm 2000 là: phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đạt ra trong chiến lược kinh tế- xã hội, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho bước phát triển cao hơn trong thập kỷ sau. Và hướng ưu tiên phát triển công nghiệp và công nghệ trong những năm trước mắt là:

         Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

         Phát triển toàn diện nông- lâm- ngư nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông- lâm- thuỷ sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông- lâm- ngư nghiệp,b ảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn  lương thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu có khối lượng lớn, chất lượng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến;tăng giá trị và khối lượng hàng xuất khẩu; tăng thêm việc làm và thu nhập cho người lao động; mở mang thị trường sản phẩm và dịch vụ cho công nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa-  hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn cần chú trọng đến vấn đề thuỷ lợi, áp  dụng khoa học- công nghệ vào trồng trọt, chăn nuôi, phát triển mạnh công, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch…, tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng…

    Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng

    Hướng ưu tiên phát triển công nghiệp là: các nghành chế biến lương thực- thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trong những nghành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách và có điều kiện về vốn, công nghệ, thị trường để phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả( năng lượng- nguyên liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, luyện kim, hoá chất).

    Cải tạo, mở rộng, nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vật chất của nền kinh tế

         Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội, kết cấu hạ tầng của nền kinh tế nước ta hết sức thấp kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất kinh doanh và của đời sống dân cư.Do vậy, việc xây dựng kết cấu hạ tầng của nền kinh tế được coi là một nội dung của công nghiệp hóa- hiện đại hóa.

    Những năm trước đây, do khả năng tài chính có hạn nên việc xây dựng kết cấu hạ tầng phải tập trung vào khâu cải tạo nâng cấp. Việc xây dựng mới chỉ có mức độ và phải tập trung vào những khâu trọng điểm có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế.

    Phát triển nhanh du lịch, các nghành dịch vụ

    Phát triển nghành du lịch và các nghành dịch vụ trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ của nhân dân. Mức thu nhập, mức sống càng cao, nhu cầu về các loại dịch vụ của nhân dân càng lớn. Phát triển dịch vụ không những góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư mà còn nhằm nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Sự phát triển của nghành du lịch một mặt cho phép khai thác tiềm năng du lịch, tăng thu nhập cho dân cư, mặt khác sự phát triển của nghành du lịch còn góp phần mở rộng giao lưu, phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa nền kinh tế.

    Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của từng vùng, liên kết hỗ trợ nhau, làm cho tất cả các vùng cùng nhau phát triển. Về phương hướng phát triển vùng lãnh thổ ở nước ta trong thời gian tới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn; đòng thời tạo điều kiện phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy thế manh của từng vùng, liên kết với trọng điểm tạo mức tăng trưởng khá. Có chính sách hỗ trợ cho các vùng khó khăn để phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo…

    Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

         Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế là cần thiết với tất cả các nước. Sau thời gian khá dài đóng cửa nền kinh tế, hiện nay, mở cửa nền kinh tế là một nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta, là một nội dung của công nghiệp hóa- hiện đại hoá ở nước ta trong những năm trước mắt. Trong việc mở cửa, hội nhập, phải đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm. Chuyển hướng chiến lược, xây dựng nền kinh tế mở đòi hỏi phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu.

     

    3. Kết quả của đường lối công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

    1. Về kinh tế- xã hội

    Đất nước ta không những đã thoát ra khỏi khủng hoảng chỉ sau 10 năm đổi mới, ngay cả khi còn bị Mỹ bao vây, cấm vận, tạo những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, mà còn đạt được tôc độ tăng trưởng khá. Thời kỳ 1991-2000, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt hơn 7,5%, đưa GDP tăng gấp đôi, trong khi phải chịu những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á và trên thế giới vào cuối thập niên 90 của thế kỷ 20. Nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được khẳng định và xây dựng một cách đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn; đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện, đồng thời chú trọng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo với những kết quả được thế giới đánh giá cao. Chỉ trong 5 năm 1993-1998, thu nhập bình quân đầu người trên cả nước đã tăng gấp 2,45 lần; tỷ lệ hộ đói nghèo về cả lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm đã giảm từ trên 50% giai đoạn 1992- 1993 xuống còn trên 30% giai đoạn 1997- 1998. Đi đôi với phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Đời sống tinh thần trong xã hội được cải thiện rõ rệt, nhân dân được quyền tự do tín ngưỡng… ( Báo Lý luận và chính trị số 1- 2005, tr.22)

    1. Về chính trị

    Trên lĩnh vực chính trị, hệ thống chính trị từng bước được đổi mới. Tình hình chính trị- xã hội cơ bản được ổn định, như Đại hội IX đã nhấn mạnh: đó vừa là điều kiện rất cơ bản, vừa là kết quả của đổi mới kinh tế- xã hội. Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt. Với tinh thần “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, đến nay chúng ta đã thiết lập được quan hệ toàn diện với hầu hết các nước trên thế giới, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Ngoài ra, tình hình chính trị trong nước cũng cực kì ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Với những người lỡ bị kẻ xấu dụ dỗ, Đảng và Nhà nước ta luôn dang tay đón họ trở về, tạo điều kiện cho họ được làm ăn, sinh sống, được hòa đồng trong cuộc sống với mọi người, với xã hội ( Báo Lý luận và chính trị số 1- 2005, tr.23).

    II. CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA- HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

    1. Lực lượng sản xuất

      a.Khái niệm

    Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất.        ( Giáo trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr. 351)

    Theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ khách quan, phổ biến: một mặt,con người phải quan hệ với giới tự nhiên nhằm biến đổi giới tự nhiên đó, quan hệ này được biểu hiện ở lực lượng sản xuất, mặt khác, con người phải quan hệ với nhau để tiến hành sản xuất, quan hệ này được biểu biệ ở quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng của một thể thống nhất không thể tách rời- phương thức sản xuất. Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất chẳng những là thước đo thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người mà còn làm thay đổi quan hệ giữa người với người trong sản xuất, thay đổi các quan hệ trong xã hội .

    1. Các yếu tố của lực lượng sản xuất

    Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu. Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là môt yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, nó “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất. Qua thời gian, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế lịch sử. Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngay càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đăc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại ( Giáo trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2004, tr.352).

    2. Cơ sở lý luận để xác định công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời ký quá độ ở Việt Nam

    Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối công nghiệp hóa và coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bởi vì sao Đảng và Nhà nước ta lại coi trọng việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hóa đến như vậy? Muốn trả lời được câu hỏi này chúng ta sẽ phải cùng nhau đi tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của vấn đề này.

    Để có một xã hội như ngày nay không phải do tự nhiên mà có, nó do quá trình tích luỹ về lượng ngay từ khi loài người xuất hiện, khi mà sản xuất thô sơ, đời sống không ổn định, cơ sở vật chất hầu như không có gì nhưng bằng sự nỗ lực, con người tác động vào giới tư nhiên, cải biến nó thông qua lao động và traỉ qua nhiều thăng trầm của lịch sử, giờ đây con người đã tạo ra được những thành công đáng kể. Thành tựu đạt được là do quy luật phát triển, do tự thân vận động của con người trong toàn xã hội. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng kinh tế, các nước đã cố gắng rất nhiều trong cuộc chạy đua về kinh tế. Thể hiện ở các chính sách, đường lối về phát triển kinh tế ngày một toàn diện hơn, về các mặt quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, nền văn hóa và con người của xã hội đó. Muốn xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất thì công nghiệp hóa- hiện đại hóa chính là con đường duy nhất và tất yếu để đạt được điều đó. Công nghiệp hoá là xu hướng mang tính quy luật của các nước đi từ nền sản xuất nhỏ lên một nền sản xuất lớn như nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên khác nhau, mục tiêu phát triển không giống nhau nên cách thức tiến hành cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại không giống nhau. Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta (nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật thủ cônglà chủ yếu…) công nghiệp hóa là quá trình mang tính quy luật, tất yếu để tồn tại và phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất- kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều nước dù thắng hay bại đều trở thành nước kiệt quệ đã trở thành một trong những nguyên nhân cho bước khởi động của cuộc khoa học công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra không đồng đều ở các nước do nhiều nguyên nhân dễ dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế.

    Việt Nam là một nước có nền kinh tế nhỏ, người dân chủ yếu làm nông nghiệp, lai lạc hậu về khoa học- kỹ thuật, lực lượng sản xuất còn non nớt chưa phù hợp với quan hệ sản xuất của chủ nghĩa xã hội. Để có cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất lớn, không còn con đường nào khác là công nghiệp hóa, cơ khí hóa cân đối và hiện đại trên trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao. Muốn vậy, công nghiệp hóa- hiện đại hóa phải phát triển tuần tự và phát triển nhảy vọt, cùng lúc thực hiện hai cuộc cách mạng đó là chuyển lao động thô sơ sang lao động bằng máy móc và chuyển lao động máy móc sang lao động tự động hoá có sự chỉ đạo của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hóa vẫn đang được coi là phương hướng chủ đạo, phải trải qua của các nước đang phát triển. Đối với nước ta, khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết Mác về hình thái kinh tế- xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận của công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước thì chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất, hiện đại cho chế độ xã hội mới. Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ trên thế giới.

    Vì vậy có thể khẳng định công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ.

    3. Cơ sở lý luận để xác định quan điểm công nghiệp hóa- hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ ở Việt Nam

    Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh: có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh; kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số nghành công nghiệp nặng then chốt; có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ; giữ vững ổn định kinh tế- tàI chính vĩ mô… Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước.

    Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy những thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức canh tranh, gắn với thi trường trong nước và ngoài nước, nhu cầu đời sông nhân dân và quốc phòng, an ninh.

         Tăng cường sự chỉ đạo và huy động vốn các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và đưa nông- lâm- ngư nghiệp lên mộy trình độ mới bằng ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thuỷ lợi hóa, cơ giới hóa,điện khí hóa; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa.

    Công nghiệp vừa phát triển các nghành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số nghành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao. Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các nghành kinh tế và quốc phòng.

         Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các nghành dịch vụ. Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, thoát nước… Về chiến lược phát triển các vùng, phát huy vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng cao, tích luỹ lớn; đồng thời tạo điều kiện để phat triển các vùng khác. Sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, coi đây là một nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội ( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2001, tr. 91, 92, 93, 94).

    Bên cạnh đó còn phải phát huy nhân tố con người bởi người lao động chính là chủ thể của quá trình sản xuất ra của cải vật chất.

     

                   KẾT LUẬN

    Sự nhiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm tới những mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay đổi mới hàng loat vấn đề cả về lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế và chính trị- xã hội. Nó bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh điều kiện mới.

    Quá trình công nghiệp hóa là nhằm mục tiêu biến đổi nước ta thành nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển sản xuất, nguồn lực con người được phát huy, mức sống vật chất tinh thần được nâng cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. Quá trình công nghiệp hóa hiện nay mới chỉ là bước đầu những thành tựu khiêm tốn mà nền kinh tế Việt Nam đạt được rất đáng khích lệ.

    Công nghiệp hóa- hiện đại hóa là một đề tài hết sức rộng lớn, vì vậy trong bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Báo Lý luận và Chính trị số 1- 2005
    2. Tạp chí Cộng sản số 1- 1999
    3. Giáo trình Triết học Mác- Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia
    4. Giáo trình Kinh tế chính trị, NXB Chính Trị Quốc Gia
    5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính Trị Quốc Gia
  • Tiểu luận Dự án kinh doanh sân bóng mini

    Tiểu luận Dự án kinh doanh sân bóng mini

    Tiểu luận Dự án kinh doanh sân bóng mini

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại Beat DJ của tập đoàn Samsung đến với thị trường Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Dự án kinh doanh sân bóng mini

    Tiểu luận

    DỰ ÁN KINH DOANH SÂN BÓNG MINI
    I.Giới thiệu dự án .

     

    Lập dự án với mục tiêu : trước mắt là tạo một công việc cho các thành viên, tạo cơ hội cho các thành viên cọ sát với thực tế, tạo nguồn thu nhập nhỏ

    Mục tiêu lâu dài là nhằm tạo ra một sân chơi bổ ích giúp cho mọi người đặc biệt là nam giới nâng cao sức khoẻ và thư giãn sau mỗi buổi làm việc căng thẳng. Giúp cho tôi tích luỹ kinh nghiệm trong việc thành lập dự án và trong quá trình làm việc sau này có thể vận dụng tốt những kiến thức đã học.

    Hiện tại tôi có những thuận lợi và khó khăn nhất định :

    Thuận lợi :

    – Là sinh viên chuẩn bị ra trường năng động và nhiệt huyết.

    – Vị trí và địa điểm kinh doanh thuận lợi gần khu dân cư

    – Lượng khách hàng lớn vì khu vực này tập trung rất nhiều truờng đại học, cao đẳng và trung cấp.

    – Khả năng nắm bắt thông tin nhanh chóng

    Khó khăn :

    – Khả năng huy động vốn thấp

    – Đối thủ cạnh tranh mạnh

    – Kinh nghiệm quản lý chưa có

    II .Thị trường sản phẩm của dự án

    1.      Nghiên cứu phân tích thị trường

    Thị trường hiện tại đang phát triển vì hàng ngày các sân bóng ở khu vực này đều được thuê kín thậm chí còn không đủ để đáp ứng cho khách hàng đặc biệt là vào buổi chiều. Bên cạnh đó khu vực này có rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp, THPT và một số công ty cơ quan nên nhu cầu về thể dục thể thao nói chung và bóng đá nói riêng là rất cao. Đó chính là thị trường tiềm năng mà dự án tham gia. Dự án chủ yếu tập trung vào đoạn thị trường khu đô thị Mỹ Đình 2 – Từ Liêm – Hà Nội với khách hàng chủ yếu là nam giới độ tuổi từ 15 – 30.

    Với giá cả 70K/1h/buối sáng và 90K/1h/ buổi tối không quá cao so với giá cả trên thị trường hiện nay. Do vậy phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng tại khu vực thị trường này.

    Dự án kinh doanh sân bóng đá mini thì nguồn hàng không quá phức tạp chủ yếu là các   công cụ giúp cho việc bảo dưỡng sân bóng đảm bảo cho chất lượng các trận đấu được tốt và đảm bảo an toàn cho khách hàng.

    Đời sống của con ng ười ngày càng đ ược nâng cao họ không chỉ quan tâm đến sức khoẻ của mình hơn mà họ còn dành thời gian để thư giãn sau mỗi buổi học và làm việc căng  thẳng. Vì vậy nhu cầu thể dục thể thao là rất lớn.

    So với các đối thủ cạnh tranh thì dự án có ưu điểm : nhận gửi xe cho khách hàng vào ban đêm, sân được thiết kế hiện đại chất lượng sân tốt  2 tháng bảo dưỡng một lần, quy mô lớn gồm 4 sân đáp ứng nhu cầu một lượng lớn khách hàng. Nhược điểm : còn chưa có kinh nghiệm quản lý v à phát triển thị tr ư ờng.

    2.      Xây dựng phương án sản phẩm và dịch vụ của dự án

    Cơ cấu sản phẩm của dự án kinh doanh đa dạng hoá sản phẩm bao gồm : 4 sân bóng đá, kinh doanh bãi để xe và cửa hàng bán các dụng cụ phục vụ cho các cầu thủ nh ư : quần , áo, giầy, tất và một số đồ uống khác.

    Đối tượng phục vụ  của dự án:

    -Sân bóng và cửa hàng phục vụ cho đối tượng khách hàng là nam giới bao gồm  tuồi từ 15 – 30.

    – Bãi để xe ph ục vụ cho toàn bộ dân cư trong khu vực

    Sản phẩm dịch vụ của dự án đang ở trong giai đoạn xâm nhập thị trường do vậy có rất  nhiều cơ hội để phát triển vì nhu cầu thể dục thể thao ở khu vực này là rất lớn. Tuy nhiên cũng có rất nhiều khó khăn vì đây là là một sản phẩm mới chưa có chỗ đứng trên thị trường, đối thủ cạnh tranh mạnh.

    3.     Chính sách Marketing cho dự án kinh doanh sân bóng đá mini.

     

    Qua khảo sát thị trường, chúng tôi nhận thấy có một lượng lớn nam giới có độ tuổi từ 15 – 30 tuổi tập trung ở hầu hết các trường THPT, THCN, Đại học, Cao đẳng và một số công ty cơ quan quanh khu vực có nhu cầu hoạt động thể dục thể thao, cụ thể là bóng đá. Qua đó chúng tôi mạnh dạn đầu tư vào dự án” sân bóng đá mini “. Dựa trên những kiến thức kinh doanh đã được bàn bạc thống nhất, chúng tôi có những chương trình marketing sau:

    • Sân bóng:

    Sân bóng được thiết kế hiện đại phù hợp với các tiêu chuẩn chất lượng, mặt sân phẳng, xung quanh sân bóng có thiết kế các hàng ghế ngồi cho khán giả cổ vũ, các vận động viên dự bị để họ thấy thực sự thoải mái. Đồng thời chúng tôi có kinh doanh 1 quầy bán nước giải khát, một quầy bán trang phục và dụng cụ thể thao đáp ứng nhu cầu của mọi người. Chỗ gửi xe đạp, xe máy được rào che cẩn thận đề phòng mất trộm và bảo quản phương tiện của khách hàng tốt nhất có thể khỏi mưa nắng.

    • Giá cả:

    Nhu cầu về sân bóng đá mini trên địa bàn là rất cao, tuy nhiên, chúng tôi cũng có những đối thủ cạnh tranh đang kinh doanh dịch vụ này, vì thế, chúng tôi đưa ra mức giá thuê sân là 100K/1h/1sân ban ngày và 110K/1h/1sân vào chiều tối  nhằm tăng thêm tính cạnh tranh.

    • Phân phối cung cấp dịch vụ:

    Cho thuê sân bóng đá mini ( có tất cả là 4 sân )

    Nhận cắt, thiết kế biển, băng-rôn cổ vũ bóng đá

    Phục vụ nước uống cho khách hàng nếu có nhu cầu

    • Hoạt động quảng cáo xúc tiến:

    Phát tờ rơi tạo các trường THPT, THCN, Đại học, Cao đẳng nhằm vào đối tượng chính là nam giới. Ngoài ra còn phát ở các công ty, cơ quan hướng đến đối tượng nhân viên, công chức.

    Quảng cáo trên các diễn đàn của các trường học trên địa bàn. Mỗi diễn đàn này hầu như đều có một mục riêng về thể thao, cụ thể hơn là bóng đá. Qua đó ta có thể giới thiệu về sân bóng đá mini với những tiện ích, mức giá hợp lý. Chúng tôi sẽ gửi kèm ảnh chụp toàn cảnh và từng khu vực cụ thể của sân bóng để khách hàng tham khảo. Việc quảng cáo trên các diễn đàn này sẽ đánh trực tiếp vào nhu cầu của một số lượng lớn khách hàng nam giới đam mê bóng đá. Và hoạt động này có ưu điểm là không tốn một khoản chi phí nào.

    Làm marketing trực tiếp với những người phụ trách tổ chức những hoạt động của trường, tổ chức các giải thi đấu thể thao của các trường, cơ quan, công ty. Qua đó chúng tôi sẽ có những hợp đồng tổ chức các giải đấu.

    Liên hệ  quảng cáo nhận trông gửi xe đêm cho khách ( Ô tô dưới 30 chỗ )

    Ngoài ra chúng tôi còn có những hoạt động xúc tiến trong tuần lễ đầu tiên khai trương như:

    Trong tuần đầu khai trương, miễn phí cho trận bóng đăng ký đầu tiên trong ngày

    Giảm giá 30% cho các giải đấu cúp

    Chương trình ” giờ vàng “ : Vào lúc 3h chiều, miễn phí cho mỗi đội đang thi đấu một xô nước nhân trần đá.

    Tặng phần thưởng bằng tiền mặt trị giá 100K cho cầu thủ ghi bàn thắng đầu tiên trong ngày.

    III. công suẩt của dự án.

    Dự án được thực hiện ở khu đô thị Mỹ Đình 2.

    Dự án có:

    • 4 sân bóng: có thể hoạt động từ 6h sáng đến 22h. Như vậy công suất tối đa là 16h/ngày
    • Quán bar có thể cung cấp;

    +  8000 chai nước ngọt/ tháng

    +  6000 chai trà xanh/ tháng

    +  6000 chai C2/tháng

    +  300 cốc trà/ ngày

    +  400 cốc nhân trần/ngày

    +  2000 bánh mỳ, bánh ngọt/tháng

    +  5000 chai nước lọc/ tháng

    • Mái che; 150 ô tô/ đêm, 100 xe ca nhỏ/ đêm
    • Thuê quần áo: 300 lượt thuê/ ngày
    • Thuê bóng: 50 lượt thuê/ ngày.

    Tuy nhiên công suất dự định khai thác trong giai đoạn đầu:

    • 4 sân bóng: có thể hoạt động từ 7h sáng đến 19h. Như vậy công suất khai thác là 12h/ngày
    • Quán bar có thể cung cấp;

    +  6000 chai nước ngọt/ tháng

    +  3000 chai trà xanh/ tháng

    +  3000 chai C2/tháng

    +  200 cốc trà/ ngày

    +  300 cốc nhân trần/ngày

    +  1600 bánh mỳ, bánh ngọt/tháng

    +  3000 chai nước lọc/ tháng

    • Mái che; 100 ô tô/ đêm, 70 xe ca nhỏ/ đêm
    • Thuê quần áo: 200 lượt thuê/ ngày

    Thuê bóng: 16 lượt thuê/ ngày

    IV. Phân tích tài chính

     

    1. Đầu tư ban đầu.

    Stt Các công trình cần đầu tư Số lượng Đơn vị Đơn giá Thành tiền
    1 Tiền thuê đất 5năm, ký hợp đồng 8 năm. 12000 m2 1 1200.000.000
    2 -Mua đất,

    -Cát đắp lớp bề mặt sân

    300 m3

    m2

    20.000
    3 Mua khung lưới. 8 bộ 1.500.000 12.000.000
    4 Kí hợp đồng thuê dịch vụ,xây nhà trọn gói:

    –      Xây nhà vệ sinh, phòng thay đồ.

    –      Phòng bảo vệ

    –      qquán bar: Cung cấp nước uống, đồ ăn nhanh, các dịch vụ thuê bóng, quần áo thể thao

    –      Hệ thống mái che xung quanh sân, để xe qua đêm

    –      Hhệ thống đèn pha, đèn thắp sáng, điện nước

    2

    1

    1

    200

    cái

    cái

    cái

    m2

    40.000.000

    25.000.000

    150.000.000

    500.000.000

    200.000.000

    80.000.000

    25.000.000

    150.000.000

    500.000.000

    200.000.000

    5 Hệ thống lưới xung quanh sân 5000 m2 10.000 50.000.000
    6 Tổng 2.050.000.000

     

     

     

     

     

     

    2. Chi phí ban đầu.

    Stt Thành phần Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1 Chi phí giấy phép đăng ký kinh doanh 1 3.500.000 3.500.000
    2 Chi phí thuê máy ủi san lấp 12h 2.000.000 24.000.000
    3 Chi phí thuê máy đầm 12h 2.000.000 24.000.000
    4 Chi phí thuê lắp khung lưới, điện nước 5.000.000
    5 Chi phí trang thiết bị cho phòng bảo vệ:

    –         Bàn ghế

    –         Giường ngủ

    –         Khác

    1

    1

    4.000.000

    3.000.000

    2.000.000

    9.000.000
    6 Chi phí trang thiết bị cho quán Bar:

    –         Ca đựng nước

    –         Cốc uống nước

    –         Phích

    –         Máy tính bàn,máy in

    –         Bàn ghế nhựa

    –         Chi phí trang trí quán bar

    30

    200

    10

    1

    30

    20.000.000

    5.000.000

    120.000

    10.000.000

    200.000

    4.000.000

    6.000.000

    1.000.000

    1.200.000

    10.000.000

    6.000.000

    4.000.000

    7 Chi phi khác 5.000.000
    8 Tổng 99.300.000

    3. Chi phí hoạt động

    Stt Thành phần Số lượng Số tiền/tháng Thành tiền
    1 Chi phí nhân viên bảo vệ 2 3.000.000 6.000.000
    2 Chi phí nhân viên phục vụ quán bar 3 3.000.000 9.000.000
    3 Chi phí nhân viên vệ sinh, giặt đồ áo cho thuê 2 2.500.000 5.000.000
    4 Chi phí nhân viên trông giữ xe ngày 2 2.500.000 5.000.000
    5 Chi phí người xếp lịch thi đấu và thu tiền 2 3.000.000 6.000.000
    6 Chi phí thuê trọng tài 5.000.000
    7 Chí phí mục quản lý điều hành chung 1 7.000.000 7.000.000
    8 Chi phí mục kế toán thu gom toàn bộ tiền trong ngày 1 4.000.000 4.000.000
    9 Chi phí quảng cáo marketing 15.000.000 15.000.000
    10 Chi phí điện nước 25.000.000 25.000.000
    11 Tổng cộng 87.000.000

    4. Giá vốn hàng bán

    Thành phần Số lượng Đơn giá Thành tiền
    1. Nguyên liệu các loại nước uống, đồ ăn nhanh:

    – Cocacola, pepsi

    – Trà xanh

    – C2

    – nước lọc

    – trà

    – nhân trần

    – bánh mỳ

    – các loại bánh ngọt

    – sữa hộp nhỏ

    – các sản gia tăng khác

    3000

    3000

    3000

    3000

    30

    40

    700

    1000

    2.800

    6.200

    3.800

    2.200

    40.000

    70.000

    1.300

    6.500

    8.400.000

    18.000.000

    11.400.000

    6.600.000

    1.200.000

    2.800.000

    910.000

    6.500.000

    3.000.000

    2. Các loại giầy đá bóng cho thuê 200 40.000 8.000.000
    3. Quần áo đá bóng cho thuê 200 90.000 18.000.000
    4. Bóng cho thuê 10 200.000 2.000.000
    Tổng 87.810.000

    5. Dự báo doanh thu

    Stt Thành phần Số lượng Đơn giá Số ngày Thành tiền
    1 Doanh thu từ sân bóng 4 100.000/giờ 30 144.000.000
    2 Doanh thu từ quán Bar 119.000.000
      1. Nước ngọt: coca, pepsi 3000 5000 30
    2. Trà xanh 3000 9.000 30 27.000.000
    3. C2 3000 5.000 30 15.000.000
    4. Trà 200 1.000 30 6.000.000
     5. Nhân trần 300 1.000 30 9.000.000
    6. Nước lọc 100 30 13.500.000
    7. Bánh ngọt 1000 10.000 10.000.000
    8. Bánh mỳ 600 5.000 30.000.000
    9. Sữa 2.000.000
    10. Sản phẩm gia tăng 5.000.000
    3 Doanh thu từ các loại đồ cho thuê
      1. Các loại giầy đá bóng cho thuê 100(đôi) 5.000 30 15.000.000
    2. Quần áo thể thao cho thuê 200(lượt) 8.000 30 48.000.000
    3. Bóng cho thuê 16(lượt) 6.000 30 2.880.000
    4 Doanh thu trông giữ ô tô, xe ca loại nhỏ qua đêm 76.500.000
      1. ô tô 100 10.000 30 30.000.000
    2. xe ca 70 15.000 30 31.500.000
    5 Doanh thu khác 30 15.000.000
    6 Tổng 353.000.000

    6. Nguồn vốn: Vốn góp

    Stt Bên huy động vốn Giá trị phần vốn góp Tỷ lệ % Phương thức góp
    1 Trần Văn Tuệ 200.000.000 13.33 Vay ngân hàng
    2 Nguyễn Thế Trung 200.000.000 13.33 Tiền mặt
    3 Nguyễn Thị Vinh 200.000.000 13.33 Ngôi nhà
    4 Nguyễn Bá Trường 200.000.000 13.33 Tiền mặt
    5 Trần Thị Việt 200.000.000 13.33 Vay ngân hàng
    6 Trần Bảo Yến 100.000.000 6.66 Tiền mặt
    7 Nguyễn Mạnh Tuấn 100.000.000 6.66 Ngôi nhà
    8 Nguyễn Văn Tuấn 100.000.000 6.66 Vay ngân hàng
    9 Lã Ngọc Viện 100.000.000 6.66 Tiền mặt
    10 Nguyễn Hữa Trí 100.000.000 6.66 Đất
    11 Tổng 1.500.000.000

    Vốn vay:

    Giá trị Tiền lãi Bên cho vay
    742.110.000 12%/năm Ngân hàng Ngoại Thương Vietcomank

    Tiền ngân hàng trả góp trong 2 năm và trả đều vào cuối tháng

    Áp dụng công thức :

    PV = A* = A * PVFA ( 1%,24)

    Pv                            742.110.000

    => A=                                     =                                             = 34.933.600

    PVFA (1%,24)                  21,2434

    Vậy hàng tháng cửa hàng phải trả cho ngân hàng cả gốc và lãi là 34.933.600 (VND)

    7. Bảng kê chi tiết trong tháng

     

    Stt Thành phần Chi phí
    1 Doanh thu 353.000.000
    2 Chi phí 87.000.000
    3 Giá vốn hàng bán 87.810.000
    4 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 178.190.000
    5 Thuế 40.111.320
    6 Lợi nhuận sau thuế 103.138.800
    7 Lãi vay phải trả 34.936.000

    8. Dự báo thu chi tiền tệ của dự án:

     

    Đơn vị:Triệu VNĐ

    Khoản mục Tháng
    6 7 8 9 10 11 12
    Thu  
    Doanh số bán 253 253 250 270 280 280 270
    thu tiền bán trong tháng 253 253 250 270 280 280 270
    Tổng thu 253 253 250 270 280 280 270
    Chi  
    Giá nguyên liệu mua trong tháng 87,81 87.81 88 90 89 89 88
    Trả lương và thưởng 42 58 59 57 56 59 58
    Dịch vụ mua ngoài 5 5 5 5 5 5 5
    Công cụ khác 40 45 43 44 46 45 40
    Trả ngân hàng 34,9336 34,9336 34,9336 34,9336 34,9336 34,9336 34,9336
    Thuế 240,6676
    Đầu tư vào tải sản cố định 53 0 0 0 0 0 0
    Tổng 262,74 230,7436 229,9344 230,9336 230,9336 229,9336 466,53936
    Chênh lệch -9,7433 22,2564 20,0656 39,0664 49,0664 50,0664 -196,5936

    Thuế nộp vào cuối năm, hoạch toán vào tháng 12.

    9 .Dự báo lợi nhuận  trong 3 năm tới.

    Đơn vị :VNĐ

    Năm 2100 2011 2012
    Lợi nhuận ròng 618.822.800 1.337.665600 1.337.665600

    10 . Tài sản khấu hao

     

    Đơn vị :VNĐ

    Stt Thành phần Tổng
    1 Khung lưới 12.000.000
    2 Mái che 500.000.000
    3 Lưới bao 50.000.000
    4 Tổng 112.400.000

    11. Các chỉ tiêu của dự án

    Stt Chỉ tiêu Năm1 Năm 2 Năm 3
    1 Hệ số chiết khấu 0.8929 0.7972 0.7118
    2 Ct :Chi phí năm t 1.117.800.000 1.044.000.000 1.044.000.000
    3 PV(Ct) 998.084.000 811.396.000 743.119.200
    4 Luỹ kế PV(Ct) 998.084.000 1.622.792.000 2.365.911.000
    5 Rt=  LN+KH 731.222.000 1.450.065.000 1.450.065.000
    6 PV(Rt) 652.908.000 1.155.991.000 1.032.156.000
    7 Luỹ kếPV(Rt) 652.908.000 1.808.899.000 2.841.055.000
    1. Thời gian hoàn vốn:

    2.841.055.000 – 2.365.911.000

    T= 2 +                                                  =

    1.032.156.000/12

    2 năm 6 tháng

     

    1. Tỷ lệ sinh lời

    LR+ LV

    Tỷ suất lợi nhuận =                                * 100

    K

    1.098.050.000 + 89.053.000

    =                                                                 = 52.59% > 12%

    2.242.100.000

    Trong đó

    LR là lãi ròng bình quân năm, tính cho cả đời dự án

    LV là lãi vay bình quân năm, tính cho những năm phải trả lãi vay

    K là tổng vốn đầu tư

    Tỷ lệ lãi ròng                       1.098.050.000

    =                                                      *100= 73,2%

    Vốn tự có                      1.500.000

    Tỷ lệ lãi ròng              1.098.050.000

    =                                              *100 = 48,95%

    Tổng vốn đầu tư         2.242.100.000

    1. Giá trị hiện tại thuần

     

     

    NPV =   –

    = 2.841.055.000 – 2.365.911.000 = 475.144.000 > 0

    1. Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)

    Gọi I là mức lãi suất mà tại đó tổng giá trị hiện tại của các khoản thu thuộc dự án bằng tổng giá trị hiện tại các khoản chi của dự án, ta có:

         

                    n        (Bi- Ci)

    ∑                               = 0

    i=1     (1+IRR)i

    Đặt (1+IRR) = X

    Ta có phương trình: -386,578X2 + 406,065X + 406,065 = 0

    Giải phương trình ta có X= 0,67 suy ra IRR=67% >12%

    => chấp nhận dự án

    1. tỷ lệ lợi ích/ chi phí (B/C)

    n      Bi

    I=1   (1+r)^i

    B/C=                                                  =

    n      Ci

    I=1   (1+r)^i

    2.841.055.000

    =

    2.365.911.000

    = 1,22 > 1

    1. Mức an toàn vốn

    vốn riêng                  1.500.000.000

    Tỷ lệ vốn riêng =                                =

    Tổng vốn đầu tư        2.242.100.000

    = 66.9%

    Tỷ lệ vốn tự có            1.500.000.000

    =                                          = 2.02

    Vốn vay                       742.110.000

    Chấp nhận dự án đầu tư

    V. Phân tích kinh tế

    Ở Việt Nam, bóng đá đã và đang mang lại lợi ích gì cho các nhà kinh doanh? Không có môn thể thao nào thu hút được nhiều người quan tâm bằng bóng đá …và với bất kỳ trận cầu nào, diễn ra ở đâu, bóng đá vẫn gắn liền với một cơ hội kinh doanh, chỉ khác là ít hay nhiều mà thôi. Thể thao, bóng đá và kinh doanh là cụm từ không thể tách rời nhau, và nó được xem là ngành công nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư từ nhiều thập niên qua, nhưng ở Việt Nam, mối quan hệ đó chỉ mới bắt đầu…

    Với hình thức kinh doanh sân bong đá mini của nhóm lợi ích về kinh tế không thể so sánh với các công ty trực tiếp quản lý và khai thác các đội bóng mà mình nhận “nuôi”. Nhưng không phải vì thế mà nó được đánh giá thấp. Việc kinh doanh này không chỉ mang lại lợi ích cho xã hội mà còn mang lại lợi ích cho nhóm rất nhiều, những nhà kinh doanh tương lai của đất nuớc đang muốn tìm kiếm cơ hôi kinh doanh và tích lũy kinh nghiệm cho mình.

    Thứ nhất: bóng đá giup cho cơ thể khỏe mạnh, lại hướng tới lời kêu gọi tập thể dục thể thao của Bác, điều này giúp cho mọi người:

    • Làm giảm nguy cơ các bệnh lý tim mạch như điều hòa huyết áp, điều hòa lượng mỡ trong máu, điều hòa lượng đường trong máu cũng như phòng ngừa loãng xương.
    • Làm cho cơ xương khớp rắn chắc & vận hành dễ dàng trong mọi hoạt động trong ngày
    • Giảm thiểu những tác động của tuổi tác.
    • Giúp giải tỏa căng thẳng trong cuộc sống.
    • Giảm cân & giúp giữ vững trọng lượng có lợi cho cơ thể.
    • Giữ gìn tránh chấn thương khi tập thể dục.Thứ hai: ngoài những lợi ích trên bong đá còn mang đến lợi ích về kinh tế cho nhóm.

    Nguồn thu từ việc cho thuê sân giúp nhóm thực hiện duy trì hoạt động của mình. Tạo việc làm cho những nhười lao động.thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế quốc dân : tăng thu nhạp quốc dân, nâng cao sức khỏe của người dân, tạo công ăn việc làm , làm gia tăng ngân sách

    Không chỉ như vậy nó còn là san chơi cho mọi người nhũng người yêu thích thể thao và bong đá là nơi thư giãn tranh tài cho các bạn sinh viên học sinh, những người đi làm …làm phong phú thêm đời sống tinh thần cho mọi người.

    v Một ví dụ về lợi ích kinh doanh sân bóng đá:

    Việc khai thác các lợi ích kinh tế của bóng đá bắt đầu diễn ra ngay từ thập niên 1880 ở Anh. Tiền vé vào sân của mỗi trận bóng đá đã giúp các đội bóng tự nuôi sống và xây dựng các sân đấu. Trung bình một trận đấu tại mùa giải vô địch đầu tiên của bóng đá Anh (mùa 1888-1889) thu hút khoảng 4.639 khán giả, cho đến cuối thế kỷ 19 con số này đã tăng lên khoảng 10.000 người và đến trước Thế chiến thứ nhất là 20.000 người.

    Vé vào sân tiếp tục là nguồn thu chính cho các câu lạc bộ bóng đá cho đến thập niên 1990, sau đó dần được thay thế bằng tiền bản quyền truyền hình. Cùng với truyền hình, các hình thức quảng cáo gắn với đội bóng và trận đấu cũng được tận dụng triệt để. Việc quảng cáo trên ngực áo cầu thủ bắt đầu xuất hiện ở Pháp từ năm 1969 với các câu lạc bộ đi tiên phong là Nîmes OlympiqueOlympique de Marseille. Từ năm 1982, UEFA bắt đầu cho phép cầu thủ mặc áo có quảng cáo trong các giải đấu cấp câu lạc bộ trừ trận chung kết (giới hạn trận chung kết chỉ được dỡ bỏ từ năm 1995). Tuy nhiên việc quảng cáo trên ngực áo đội tuyển cấp quốc gia cho đến nay vẫn chưa được FIFA chấp nhận.

    Theo thống kê của mùa bóng 2006-2007 thì câu lạc bộ có doanh thu lớn nhất thế giới là Real Madrid của Tây Ban Nha với 351 triệu euro, sau đó là Manchester United của Anh (315,2 triệu), FC Barcelona của Tây Ban Nha (290,1 triệu), Chelsea FCArsenal FC cùng của Anh (283 và 263,9 triệu). Doanh thu tăng nhưng các câu lạc bộ cũng phải đối mặt với số tiền phải chi trả cho lương cầu thủ, đặc biệt là các ngôi sao của đội. Theo thống kê của mùa bóng 2007-2008, 20 câu lạc bộ của Giải vô địch bóng đá Ý đã phải chi tổng cộng 768,4 triệu euro tiền lương cầu thủ, tăng thêm 101,9 triệu euro chỉ sau một mùa.

    Bên cạnh các mối lợi kinh tế trực tiếp, bóng đá cũng đem lại nguồn thu cho các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là du lịch. Ví dụ thành phố Auxerre của Pháp vốn rất nhỏ với chỉ hơn 40.000 dân nhưng nhờ có đội bóng AJ Auxerre có thành tích khá tốt tại giải vô địch Pháp nên kéo theo đó du lịch của thành phố này cũng phát triển. Một ví dụ khác là việc tổ chức World Cup 2006 chỉ trong vòng 1 tháng đã giúp lượng khách du lịch đến Đức trong cả năm 2006 tăng thêm 9%.

     

    VI.Rủi  ro trong dự án kinh doanh sân bóng đá Mini.

    1.  Các rủi ro có thể gặp phải đối với dự án.

    1. Rủi ro bất khả kháng.

    Khi có mưa bão, thời tiết xấu thì sẽ ảnn hưởng đến quá trình thi công dự án ( san lấp mặt bằng…) gây gián đoạn dự án. Đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến doanh số của dự án mang lại. Bởi khi mưa bão hay thời tiết xấu thì không có người thuê sân bóng như vậy việc kinh doanh sẽ bị gián đoạn, doanh số giảm. Nó tác động đến hàng loạt các hoạt động kinh doanh ngoài lề khác.

    1. Các rủi ro do biến động điều kiện kinh tế vĩ mô.

    Khi nền kinh tế lâm vào tình trạng lạm phát hay khủng hoảng kinh tế, nó ảnh hưởng gián tiếp đến việc kinh doanh của dự án. Chẳng hạn khi lạm phát xảy ra thì mọi nguyên vật liệu đều tăng . Do đó chi phí tiến hành cho dự án tăng lên đột ngột, không trang trải được đủ vốn để tiếp tục dự án ảnh hưởng đến tiến độ ,đồng thời giá cả thuê sân bóng cũng tăng lên như vậy khó có thể thu hút được khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của dự án. Hoặc trong tình trạng khủng hoảng kinh tế việc vay vốn từ các nguồn trở nên khó khăn hơn ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Đồng thời nhu cầu giải trí ,đá bóng của mọi người cũng giảm dần do nhiều người phải lo toan đến vấn đề kinh tế , họ thắt chặt chi tiêu, không có thời gian giải trí.

    1. Rủi ro về tài chính.

    Dự án không vay được vốn từ ngân hàng hoặc các nguồn khác do các nguồn đó cũng đang gặp rủi ro về tài chính nên không đáp ứng được vốn kịp thời cho dự án , ảnh hưởng đến tiến độ của dự án

    1. Rủi ro liên quan đến đối thủ cạnh tranh.

    Việc kinh doanh sân bóng đá mini  hiện nay đã có nhiều nơi thực hiện, do đó việc cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng quyết liệt. Khách hàng cũng đã quen thuộc nhiều với đối thủ cạnh tranh  nên việc thu hút khách hàng cũng gặp nhiều khó khăn, vì vậy dự án cần phải đưa ra nhiều chính sách khác biệt so với đối thủ cạnh tranh để có thế thu hút khách  hàng. Đây là một rủi ro lớn từ khi quyết định kinh doanh trong lĩnh vực này.

     

    1. Rủi ro về trộm cắp tài sản ( Xe máy,xe đạp), hỏa hoạn …

    Do một vài đối tượng giả danh là người đi mua hàng , cổ vũ bóng đá…vào sân bóng rùi trộm cắp xe của người gửi hoặc đột nhập trộm cắp xe ban đêm gây thiệt hại lớn về tài sản cho dự án, đồng thời làm mất uy tín cho doanh nghiệp. Ảnh hưởng lớn đến hình ảnh của doanh nghiệp.

    1. Rủi ro trong quá trình.

    Chơi bóng xảy ra thương tích, tai nạn, đánh nhau thì bên cho thuê cũng phải can thiệp, liên quan đến pháp luật.

    2.  Giải pháp cho các rủi ro.

    1. Đối với những rủi ro bất khả kháng thì ta không thể né tránh được nó mà cần có những kế hoạch dự báo chúng như thường xuyên theo dõi các chương trình dự báo thời tiết để chủ động có những kế hoạch thi công né tránh chúng để không ảnh hưởng đến việc thi công dự án. Đồng thời cần xây dựng hệ thống thoát nước và san lấp sân bóng phẳng để khi có mưa bão thì sân bóng không bị ngập úng và nhanh khô đảm bảo việc kinh doanh của dự án không bị gián đoạn.
    2. Còn đối với rủi ro do biến động kinh tế vĩ mô( xảy ra lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế …) thì để né tránh và chủ động hơn thì những nhà kinh doanh phải dự báo được tính chất , thời gian và hậu quả của chúng để chủ động phòng ngừa sao cho giảm thiểu được rủi ro gặp phải. Nhà kinh doanh phải dự báo được mức độ lạm phát để lên kế hoạch đầu tư cho dự án cho hợp lý,tránh được tình trạng bội chi sẽ ảnh hưởng đến giá cả và sự cạnh tranh cho dự án. Dự báo hậu quả của khủng hoảng kinh tế để có kế hoạch thu hút được khách hàng vẫn có nhu cầu giải trí cao và chơi bóng vẫn là sở thích của họ.
    3. Đối với rủi ro về việc vay vốn thì doanh nghiệp cần tìm hiểu kĩ về khả năng tài chính của các nguồn vay đó , dự báo về khả năng tài chính của họ để tránh xảy ra những rủi ro thiếu vốn. Cần có nhiều nguồn vốn dự phòng , và thường xuyên theo dõi , kiểm soát tình hình tài chính từ các nguồn vốn để chủ động về mặt tài chính không làm gián đoạn dự án.
    4. d. Đối với rủi ro từ phía đối thủ cạnh tranh thì để cạnh tranh được với các đối thủ hiện tại và tiềm năng thì cần có các chính sách khuyến mại hấp dẫn như giảm giá các dịch vụ trong một tuần đặc biệt, giảm giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh đồng thời nâng cao chất lượng các dịch vụ kinh doanh, an ninh, nâng cấp đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại, và thuận tiện hơn để thu hút khách hàng.
    5. Rủi ro về trộm cắp tài sản, hỏa hoạn… thì cần phải phòng tránh bằng cách lắp đặt các thiết bị theo dõi báo động hiện đại, có các thiết bị chống cháy nổ hoặc thuê bảo về canh gác tuần tra liên lục tránh xảy ra mất cắp, xảy ra hỏa hoạn
    6. Rủi ro khi xảy ra tranh chấp , thương tích thì phòng tránh nó bằng cách tăng cường an ninh , đưa ra các nội quy quy tắc của sân bãi với những người vào chơi để khi có tranh chấp xảy ra thì giảm thiểu tranh chấp dẫn đến rủi ro, ảnh hưởng đến uy tín hỉnh ảnh của sân bóng.

    VII.Xây dựng biểu đồ GANTT, sơ đồ PERT

    Các công việc chính của dự án :

    A : Tìm địa điểm mở sân bóng

    B : Xin giấy phép họat động kinh doanh

    C : San lấp mặt bằng kinh doanh

    D : Xây dựng phòng làm việc, cửa hàng, san nền sân bóng…

    E : Mua sắm các trang thiết bị như đèn chiếu sáng, cọc gôn, lưới …

    F :  Phân chia sân và lắp đặt các trang thiết bị

    G : Tuyển nhân viên

    H : Triển khai các hoạt động Marketing, quảng cáo

    Công việc Thời gian ( ngày ) Công việc trước
                                           A 7
                                            B 10 A
                                            C 13 B
                                           D 20 C
                                            E 5 C
                                            F 10 E, D
                                           G 5 D
                                           H 7 E

    1. Biểu đồ GANTT

     

    Công việc

    Thời gian ( Ngày )
                                           A
                                            B
                                            C
                                           D
                                            E
                                            F
                                           G
                                           H

     

    2. Sơ đồ PERT

     

    Đường găng của dự án = tA + tB + tC + tD + tF

    = 7 + 10 + 13 + 20 + 10 = 60 (ngày)

    VIII. Tổ chức quản trị dự án

    1. Hình thức tổ chức dự án.

    Số nhân viên cho cửa hàng: gồm 13 nhân viên, cụ thể:

    • 1 quản lý điều hành chung
    • 2 nhân viên bảo vệ
    • 2 Nhân viên trông giữ xe
    • 3 nhân viên quán bar
    • 1 nhân viên thu ngân
    • 2 nhân viên xếp lịch thi đấu
    • 2 nhân viên giặt đồ và vệ sinh

    Yêu cầu của các nhân viên:

    • Nhân viên tối thiểu phải có bằng THPT
      • Các nhân viên phục vụ cho quán bar, các phòng chơi cần có các kỹ năng chủ yếu như: lắng nghe, tận tình, giao tiếp, ứng xử nhanh nhạy… và sẽ trải qua quá trình đào tạo và huấn luyện của dự án.
      • Riêng quản lý điều hành chung sẽ phải có các kỹ năng cần thiết của nhà quản trị như: kĩ năng điều hàng, giao tiếp, tạo dựng nhóm làm việc, lãnh đạo… và yêu cầu tốt nghiệp hệ cao đẳng trở lên, không đòi hỏi cao kinh nghiệm.

    Các mô hình tổ chức áp dụng cho cửa hàng: với quy mô và hoạt động của cửa hàng thì sẽ tổ chức mô hình hoạt động theo chức năng theo sơ đồ sau:

     

     

     

     

  • Tiểu luận Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại Beat DJ của tập đoàn Samsung đến với thị trường Việt Nam

    Tiểu luận Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại Beat DJ của tập đoàn Samsung đến với thị trường Việt Nam

    Tiểu luận Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại Beat DJ của tập đoàn Samsung đến với thị trường Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài giải gợi ý bài tập tổng hợp Quản trị dự án đầu tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-%C4%91%C6%B0a-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-%C4%91i%E1%BB%87n-tho%E1%BA%A1i-Beat-DJ-c%E1%BB%A7a-t%E1%BA%ADp-%C4%91o%C3%A0n-Samsung-%C4%91%E1%BA%BFn-v%E1%BB%9Bi-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại Beat DJ của tập đoàn Samsung đến với thị trường Việt Nam

    LỜI MỞ  ĐẦU

    Xây dựng chiến lược cho sản phẩm là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng  của mỗi doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả nhất ba mục tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn.

    Trong một thị trường cạnh tranh khốc liệt như thị trường điện thoại di động (ĐTDĐ) Việt Nam, làm mới mình và giành được sự hài lòng của khách hàng là điều kiện tiên quyết dẫn tới thành công của mỗi nhà sản xuất. Năm 2008 phát huy thế mạnh về thiết kế tinh tế và hiện đại, điện thoại SAMSUNG đã chinh phục được đa số khách hàng. Năm 2009 dự đoán sẽ là năm thành công nữa với điện thoại SAMSUNG bởi hãng tiếp tục tung ra các dòng sản phẩm ĐTDĐ màn hình cảm ứng. Để phục vụ một cách tốt nhất nhu cầu và mong muốn của khách hàng, SASUNG đã thiết kế ra dòng sản phẩm mới SAMSUNG BEAT DJ với rất nhiều tính năng vượt trội.

    Trước tình hình thực tế, sau thời gian nghiên cứu, căn cứ vào thực trạng hoạt động của Công ty và với những kiến thức được học, em xin thực hiện đề tài với nội dung: Chiến lược đưa sản phẩm điện thoại BEAT DJ của tập đoàn SAMSUNG đến với thị trường Việt Nam. Đề tài được thực hiện dưới sự giúp đỡ của các cô, các chú cán bộ công nhân viên trong Công ty và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của Thầy: Phan Thành Hưng – Giảng viên bộ môn Marketing, Trường Đại Học Lao Động – Xã Hội.

    Ngoài Lời mở đầu và phần kết luận, bài tiểu luận gồm 3 chương:

    Chương I: Cơ sở lý luận.

    Chương II: Thực trạng sản xuất và đưa sản phẩm mới ra thị trường Việt Nam của Samsung mobile.

    Chương III: Những định hướng, giải pháp trong việc thực hiện chiến lược sản phẩm mới của Samsung mobile trên thị trường Việt Nam.

     

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I. Những vấn đề cơ bản về sản phẩm:

    1. Khái niệm sản phẩm:

    Khi nói về sản phẩm người ta thường quy về một hình thức tồn tại vật chất cụ thể và do đó chỉ bao hàm những thành phần hoặc yếu tố có thể quan sát được. Đối với các chuyên gia marketing, họ hiểu sản phẩm ở một phạm vi rộng lớn.

    – Sản phẩm: Là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.

    Theo quan niệm này, sản phẩm hàng hóa bao hàm cả những vật thể hữu hình và vô hình, bao hàm cả những yếu tố vật chất và phi vật chất. Ngay cả trong những sản phẩm hữu hình thì cũng bao hàm cả các yếu tố vô hình. Trong thực tế, người ta thường xác định sản phẩm thông qua đơn vị sản phẩm.

    2. Cấp độ các yếu tố cấu thành đơn vị sản phẩm:

    Đơn vị sản phẩm vốn là một chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố, đặc tính và thông tin khác nhau về sản phẩm. Những yếu tố đặc tính và thông tin đó có thể có những chức năng marketing khác nhau. Khi tạo ra một mặt hàng người ta thường xếp các yếu tố đặc tính và thông tin đó theo ba cấp độ có những chức năng marketing khác nhau.

    – Cấp độ cơ bản nhất là sản phẩm theo ý tưởng. Sản phẩm theo ý tưởng có chức năng cơ bản là trả lời câu hỏi: về thực chất, sản phẩm này thỏa mãn những điểm lợi ích cốt lõi nhất mà khách hàng theo đuổi là gì? Và chính đó là những giá trị mà nhà kinh doanh sẽ bán cho khách hàng.

    – Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực. Đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của hàng hóa. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù, tên nhãn hiệu cụ thể và đặc trưng của bao gói.

    – Cấp độ cuối cùng là sản phẩm bổ sung. Đó là những yếu tố như: Tính tiện lợi cho việc lắp đặt, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, những điều kiện bảo hành và điều kiện hình thức tín dụng…

    3. Khái niệm sản phẩm mới:

    Do những thay đổi nhanh chóng về thị hiếu, công nghệ, tình hình cạnh tranh, công ty không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có. Vì vậy mỗi công ty dều phải quan tâm đến chương trình phát triển sản phẩm mới nếu muốn tồn tại và phát triển với uy tín ngày càng tăng. Vậy ta có thể hiểu sản phẩm mới là một sản phẩm, một dịch vụ hoặc một ý tưởng được một số khách hàng tiềm năng cảm nhận như mới.

    Đứng trên góc doanh nghiệp để xem xét, người ta chia sản phẩm mới thành hai loại: Sản phẩm mới tương đối và sản phẩm mới tuyệt đối.

    3.1. Sản phẩm mới tương đối:  

    Sản phẩm mới tương đối là sản phẩm đầu tiên doanh nghiệp sản xuất và đưa ra thị trường, nhưng không mới đối với các doanh nghiệp khác và đối với thị trường. Chúng cho phép doanh nghiệp mở rộng dòng sản phẩm cho những cơ hội kinh doanh mới. Chi phí để phát triển loại sản phẩm này thường thấp, nhưng khó định vị sản phẩm trên thị trường vì người tiêu dùng vẫn có thể thích sản phẩm của đối thủ cạnh tranh hơn.

    3.2. Sản phẩm mới tuyệt đối:

    Sản phẩm mới tuyệt đối là sản phẩm mới đối với cả doanh nhiệp và thị trường. Doanh nghiệp giống như “người tiên phong” đi đầu trong việc sản xuất sản phẩm này. Sản phẩm này ra mắt người tiêu dùng lần đầu tiên. Đây là một quá trình tương đối phức tạp và khó khăn (trong cả giai đoạn sản xuất và bán hàng). Chi phí dành cho nghiên cứu, thiết kế và sản xuất thử và thử nghiệm trên thị trường rất cao.

    Một sản phẩm có được coi là mới hay không phụ thuộc vào cách thị trường mục tiêu nhận thức về nó. Nếu người mua cho rằng sản phẩm đó khác đáng kể so với một số sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một số tính chất (hình thức bên ngoài hay chất lượng), thì sản phẩm đó sẽ được coi là sản phẩm mới.

    II. Những vấn đề cơ bản về chiến lược sản phẩm mới:

    1. Chiến lược của công ty:

    Để duy trì sự phát triển của mình, mọi doanh nghiệp đều phải hướng đế tương lai với những mục tiêu cần đạt tới và những thách thức để đạt được mục tiêu đó. Ngày nay, việc quản lý dựa trên những kinh nghiệm trực giác và sự suy đoán chủ quan không thể là một sự đảm bảo cho thành công của doanh nghiệp. Vì vậy một chiến lược marketing được thiết lập và phát triển cho toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp đều là cần thiết.

    Chiến lược là một tập hợp của các chuỗi hoạt động được thiết kế nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

    Chiến lược không chỉ là một kế hoạch, cũng không phải là một ý tưởng, chiến lược là triết lý sống của một công ty.

    Chiến lược ở đây không phải lúc nào cũng đồng nghĩa hoàn toàn với từ dài hạn mà nó thể hiện những cố gắng của công ty nhằm đạt tới một vị trí mong muốn xét trên vị thế cạnh tranh và sự thay đổi của hoàn cảnh.  Đó là sự thể hiện việc tìm hiểu và nhận biết những yếu tố môi trường marketing bên ngoài, đánh giá những điều kiện và khả năng bên trong của công ty để soạn thảo các chiến lược kinh doanh nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định.

    Từ khái niệm chiến lược, chúng ta có thể hiểu chiến lược marketing là: mục tiêu mà công ty muốn đạt tới.

    2. Chiến lược marketing cho sản phẩm mới:

    2.1. Chiến lược marketing là gì?

    Chiến lược marketing là mục tiêu mà công ty muốn đạt được như khối lượng sản phẩm, thị phần trên những thị trường tiềm năng, khả năng sinh lợi, thế lực trong kinh doanh, an toàn trong kinh doanh và có thể gọi là mục tiêu marketing. Chiến lược marketing là một hoạt động của Công ty nói chung và của bộ phận marketing nói riêng nhằm đạt được mục tiêu của Công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    2.2. Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới:

    Sau khi dự án sản phẩm mới tốt nhất được thông qua, công ty cần soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm đó. Chiến lược marketing cho sản phẩm mới bao gồm ba phần:

    – Phần thứ nhất: mô tả quy mô, cấu trúc thị trường và thái độ cảu khách hàng trên thị trường mục tiêu, dự kiến xác lập vị trí sản phẩm, chỉ tiêu về khối lượng bán, thị phần và lợi nhuận trong những năm trước mắt;

    – Phần thứ hai: Trình bày quan điểm chung về phân phối sản phẩm và dự đoán chi phí marketing cho năm đầu;

    – Phần thư ba: Trình bày những mục tiêu tương lai về các chỉ tiêu: tiêu thụ lợi nhuận, quan điểm, chiến lược lâu dài.

    2.3. Triển khai sản xuất hàng loạt và tung sản phẩm mới ra thị trường:

    Sau khi thử nghiệm thị trường công ty đã có căn cứ rõ nét hơn để quyết định có sản xuất đại trà sản phẩm mới hay không. Nếu việc sản xuất đại trà được thông qua công ty phải thực sự bắt tay vào triển khai phương án tổ chức sản xuất và marketing sản phẩm mới. Trong giai đoạn này, những quyết định liên quan đến việc tung sản phẩm mới vào thị trường là cực kỳ quan trọng. Cụ thể là trong giai đoạn này, công ty phải thông qua bốn quyết định:

    – Khi nào tung sản phẩm mới chính thức vào thị trường?

    – Sản phẩm mới sẽ được tung ra ở đâu?

    – Sản phẩm mới trước hết phải tập trung bán cho đối tượng khách hàng nào?

    – Sản phẩm mới được tung ra bán như thế nào? Với những hoạt động hỗ trợ nào để xúc tiến việc bán?

    2.4. Các hoạt động cần thực hiện đảm bảo sự thành công của sản phẩm mới:

    Để chiến lược đưa sản phẩm mới ra thị trường một cách có hiệu quả, các doanh nghiệp cần nghiên cứu đến các yếu tố: Đối thủ cạnh tranh; xác định mục tiêu khách hàng; khác biệt hóa, tạo nên một giá trị, một lý do thuyết phục nhất; chiến lược riêng biệt cho sản phẩm…

    2.4.1. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh:

    Hầu hết các doanh nghiệp khi áp dụng vào thực tế thường quên nguyên tắc này, không coi trọng đối thủ cạnh tranh vì tin tưởng vào các sản phẩm của mình. Tuy nhiên sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng thuận lợi và phù hợp với thực tế thị trường, trong khi thị trường lại bắt đầu bằng chính đối thủ của họ. Liệt kê những doanh nghiệp có sản phẩm tương đồng với sản phẩm mà doanh nghiệp có ý định muốn tung ra. Ngay cả khi sản phẩm mới chưa từng được biết đến, đặt mình vào vị trí của người tiêu dùng để biết được phản ứng của họ đối với sản phẩm này như thế nào.

    Khi xác định được các đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu những công cụ marketing của họ: áp phích, quảng cáo…

    Đánh giá mối tương quan giữa sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ. Xác định xem phải đương đầu với sự cạnh tranh của đối thủ như thế nào, đặc biệt đối với những doanh nghiệp có mối đe dọa thực sự.

    2.4.2. Xác định mục tiêu khách hàng:

    Bất cứ sản phẩm nào cũng có một đối tượng khách hàng riêng của nó, doanh nghiệp không thể bán những mặt hàng cao cấp cho khách hàng trung lưu hoặc những mặt hàng bình dân thì thường không được giới thượng lưu để ý tới. Phân đoạn khách hàng mà bạn nhắm tới có thể là những người hiện đang tiêu dùng một sản phẩm tương đồng của đối thủ cạnh tranh hoặc những người thích cái mới với đặc tính có sức thuyết phục. Những khách hàng tiềm năng tốt nhất sẽ là những người hiểu được tính hữu dụng của sản phẩm.

    2.4.3. Khác biệt hóa, tạo nên một giá trị, một lý do thuyết phục nhất:

    Đây chính là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với mọi sản phẩm khi tung ra thị trường, mọi doanh nghiệp phải hiểu đâu là đặc tính phân biệt nó với các sản phẩm khác. Mỗi doanh nghiệp phải tự đặt câu hỏi “Sản phẩm của tôi mang lại điều gì mà những sản phẩm của các đối thủ khác không có?”. Đặt ra câu hỏi dạng này sẽ giúp doanh nghiêp xác định rõ hơn điều mà sản phẩm cần có để đáp ứng nhu cầu mong muốn của khách hàng.

    2.4.4. Chiến lược riêng biệt cho sản phẩm:

    Doanh nghiệp phải tìm ra cách thức tốt nhất để quảng bá cho sản phẩm của mình. Lựa phối tới tay người tiêu chọn hình thức và địa điểm để bán sản phẩm. Hệ thống bán hàng qua các kênh phân phối hay trực tiếp tới người tiêu dùng. Lựa chọn xem xét chiến lược marketing truyền thống nhằm tới từng cá nhân hay trực tiếp, vai trò của truyền hình báo chí trong quá trình xâm nhập thị trường.

    Chuẩn bị sẵn sàng cho việc hoàn thiện sản phẩm. Tổ chức nơi gặp gỡ để khách hàng dùng thử sản phẩm và yêu cầu họ phát biểu cảm nghĩ về sản phẩm….

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG  II

    THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ ĐƯA SẢN PHẨM MỚI CỦA SAMSUNG MOBILE RA THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    I. Tổng quan về Tập Đoàn SAMSUNG:

    1. Lịch sử hình thành và phát triển:

    Tập đoàn SAMSUNG là một trong những tập đoàn thương mại lớn nhất Hàn Quốc. Được bắt đầu từ công ty xuất khẩu năm 1938, nhưng mau chóng có nhiều dạng. SAMSUNG được Lee Byung Chul thành lập năm 1953. Tập đoàn trước đây là khối kết có hơn 400.000 công nhân trên toàn thế giới và chế tạo ra xe hơi, đồ điện, hóa chất, máy bay, tàu thủy, ngành buôn bán, kinh doanh khách sạn… trong các công ty riêng rẽ sau sự cải tổ lại của sự khủng hoảng tài chính Châu Á.

    Samsung Electronics, hãng điện tử Samsung, được thành lập năm 1969, là một bộ phận lớn nhất của Tập đoàn Samsung và là một trong nững công ty điện tử lớn nhất thế giới. Được sáng lập tại Daegu, Hàn Quốc, hãng điện tử Samsung hoạt động tại chừng 58 nước và có khoảng 208.000 công nhân. Hãng điện tử Samsung được coi là một trong 10 nhãn hàng hóa tốt nhất thế giới. Hãng này là một trong bốn hãng tại Châu Á, bao gồm Nhật Bản, với vốn thị trường lên đến 100 tỷ Mỹ kim. Tập đoàn Samsung bao gồm nhiều ngành kinh doanh ở Hàn Quốc, bao gồm cả Điện tử Samsung và bảo hiểm Samsung. Chủ tịch hiện nay là Lee Kun Hee kế thừa tập đoàn vào năm 1987.

    Trong thập niên 90, Samsung nổi lên như một tập đoàn quốc tế đa ngành. Chi nhánh của công ty xây dựng đã từng được giải thưởng lớn vì công trình xây dựng một trong hai tòa tháp đôi Petronas tháng 9 năm 1993, và Burj Dubai năm 2004, những công trình cao nhất thế giới. Samsung đã sống sót qua khủng hoảng tiền tệ Châu Á 1997-1998, tuy nhiên, Công ty Motor Samsung, đã phải bán cho hãng Renault.  Được coi là một đối thủ cạnh tranh của Nhật Bản, Thung lũng Sillicon, Đài Loan và cả các doanh nghiệp nội địa, Samsung ngày càng mở rộng sản xuất nhằm trở thành nhà cung cấp bộ nhớ Ram động, tủ lạnh, bộ nhớ flash, đầu DVD lớn nhất thế giới, và sẽ trở thành một trong 20 doanh nghiệp hàng đầu toàn cầu vào năm 2010. Hiện nay, Samsung đã là một trong những nàh sản xuất dẫn đầu thế giới về màn hình plasma và điện thoại di động thế hệ 2. Samsung đang cố gắng để có bước đột phá ở thị trường Nhật, quê hương của Sony và Panasonic. Vì Samsung hoạt động trong nhiều lĩnh vực, dường như còn bao hàm cả những cuộc  tranh cãi không hồi kết, như là chuyện công ty đã vi phạm quyền sáng chế đối với Fuitsu  – công ty đã thừa nhận chế tạo ra màn hình công nghệ plasma đầu tiên. Samsung cũng phải đối mặt với tranh luận ở Hàn Quốc về chính sách cho công nhân làm việc của công ty.

    2. Những hoạt động của Samsung trong thời gian qua:

    2.1 Tiếp cận thị trường:

    Hiện tại, Samsung có 16 sản phẩm nổi bật trên thị trường thế giới. Theo 2 tạp chí Interbrand và Buisness Week, tổng giá trị của nhãn hiệu Samsung đứng thứ 43 trong số các tập đoàn toàn cầu (5,2 tỷ USD) năm 2000, thứ 42 (6,4 tỷ USD) năm 2001, thứ 34 (8,3 tỷ USD) năm 2002, thứ 25 (10,8 tỷ USD) năm 2003, thứ 21 (12,5 tỷ USD) năm 2004 và thứ 20 (14,9 tỷ USD0 năm 2005. Lượng xuất khẩu sản phẩm của Samsung đã đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế Hàn Quốc, chỉ tính riêng Samsung đã vượt 18,1% so với tổng sản lượng xuất khẩu toàn quốc.

    Nhằm nâng cao môi trường làm việc, để xây dựng một tổ chức vững mạnh và dáng tin cậy, ban điều hành của Hãng điện tử Samsung đã chỉ đạo thành lập một “Chương trình làm việc tuyệt vời” từ năm 1998. Năm 2003, chương trình đã được truyền thông qua toàn thể tập đoàn Samsung, cả công ty bảo hiểm sinh mạng và Hỏa hoạn Samsung và nhiều nhánh khác. Năm 2006, 9 công ty dưới vốn của hãng điện tử Samsung, 80 chi nhánh ở nước ngoài và 130 doanh nghiệp ở nước ngoài được thông báo chính thức được áp dụng chương trình này.

    2.2. Thừa kế hợp pháp nhưng bằng cách thiết thực:

    Tháng 10 năm 1996, Samsung Everland, khu giải trí lớn nhất Hàn Quốc, đã phát hành 1,28 triệu bản khế ước thay đổi, mỗi bản có giá trị 7.700 won – có thể coi là gia rẻ hơn so với gia cổ phiếu của công ty lúc đó là 100.000 won. Không phải cổ đông nào cũng có quyền mua những bản khế ước này, ngoại trừ con trai và con gái chủ tịch Lee Kun Hee. Trong môtj thời gian ngắn, những đứa con của ông đã biến khế ước thành cổ phiếu, và từ đó thành cổ đong chính. Chỉ một quá trình đơn giản như vậy đã góp vào lợi nhuận 120 tỷ won (khoảng 120 triệu USD). Cách thức trên đã cho phép những đưa con của Lee Kun Hee trở thành những người giàu nhất Hàn Quốc, và cũng như việc điều hành thành công của tập đoàn Samsung.

    2.3. Tài trợ cho thể thao:

    Samsung đã đánh dấu vào lịch sử giải Bóng đá Ngoại hạng Anh khi trở thành nhà tài trợ bóng đá lớn nhất cho đội vô địch Chelsea. Ước lượng trị giá 50 triệu bảng Anh cho 5 năm tài trợ.

    Công ty cũng tài trợ cho đội Sydney Roosters tại giải vô địch bóng bầu dục Australia từ 1995-1997 đến nay. Samsung là hội viên toàn cầu của Thế vận hội từ năm 1997.

    II. Thực trạng sản xuất và đưa sản phẩm mới ra thị trường Việt Nam của hãng ĐTDĐ Samsung:

    1. Samsung xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Việt Nam:

    Ngày 28 tháng 10 năm 2009, tại khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Samsung đã chính thức khai trương nhà máy sản xuất điện thoại di động với tổng vốn đầu tư lên đến gần 700 triệu USD. Đây là nhà máy sản xuất ĐTDĐ đầu tiên của Samsung tại Việt Nam, sau nhiều năm có mặt tại thị trường viễn thông tiềm năng này.

    Với tên gọi Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam (SEV), nhà máy sẽ sản xuất các mẫu ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung cho thị trường Việt Nam cũng như để cung ứng cho thị trường toàn cầu. Nằm trong khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, nhà máy có tổng diện tích 50 hecta, và dự kiến khi hoàn thiện vào năm 2012 sẽ cung cấp 100 triệu sản phẩm một năm. Chỉ hơn một năm từ ngày nhận Giấy Chứng nhận Đầu tư do Ban Quản lý các Khu công ngiệp Tỉnh Bắc Ninh cấp vào tháng 3/2008, tháng 4/2009 SEV đã đua vào hoạt động một xưởng lắp ráp ĐTDĐ, và tới tháng 8/2009 đã đưa vào hoạt động thêm một xưởng ép và sơn vỏ điện thoại. Tại thời điểm hiện tại, nhà máy đạt công suất 1,5 triệu sản phẩm một tháng và tạo ra hơn 2000 việc làm cho người dân địa phương. Bên cạnh những đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các vung kinh tế lân cận, dự án đầu tư này của Samsung sẽ là tiền đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Bắc Ninh từ các nhà cung cấp linh kiện cho Samsung trên toàn cầu. SEV là nàh mấy sản xuất ĐTDĐ thứ 7 của của mình sang các thị trường Châu Úc và khối các nước thuộc Liên Xô cũ. Theo ước tính, năm 2010 doanh số xuất khẩu của SEV có thể đạt kim ngạch 4,5 tỷ USD, đưa Samsung trở thành doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng đầu Việt Nam.

    Như vậy, có thể thấy Samsung trên thế giới, trong đó Việt Nam  là quốc gia thứ 5. Với lô hàng xuất khẩu đầu tiên vào tháng 4/2009, SEV đã trở thành một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành ĐTDĐ của Samsung.

    ĐTDĐ Samsung sản xuất tại Việt Nam hiện đã được xuất khẩu sang các thị trường Đông Nam Á, Trung Đông và Châu Phi. Dự kiến trong tương lai, SEV sẽ xuất khẩu sản phẩm Samsung có sự đầu tư rất lớn trên thị trường Việt Nam. Nhà máy sản xuất ĐTDĐ được xây dựng là điều kiện rất lớn nhằm quảng bá các sản phẩm ĐTDĐ của Samsung ở Việt Nam.

    2. Các loại điện thoại Samsung có mặt trên thị trường Việt Nam:

    Để phục vụ một cách tốt nhất tất cả mọi khách hàng của mình, Samsung đã sản xuất ra rất nhiều loại điện thoại di động khác nhau.

    – Điện thoại thời trang: Với vẻ bề ngoài sành điệu, tính năng hấp dẫn bên trong tạo nên phong cách của người tiêu dùng. Samsung đã thực sự chinh phục được khách hàng trên thị trường Việt Nam với các sản phẩm như: Samsung S3653, S8003, S8330, S3500, L700, U800, U900, F480…

    – Điện thoại đa phương tiện: lắng nghe từng giai điệu yêu thích ở mọi lúc mọi nơi. Các sản phẩm tiêu biểu cho loại ĐTDĐ này là M2513, M7603, M3510, F400, E251, F250…

    – Hội tụ công nghệ: Tận hưởng phim HD và mang đến bạn cảm xúc như thật trên điện thoại bằng cách cho ra đời các sản phẩm như: Samsung i8910, i8000, INNOV8, OMNIA, G810…

    – Doanh nhân: dành cho những người bận rộn với rất nhiều công việc trong văn phòng, chiếc điện thoại Samsung chính là sự lựa chon tuyệt vời nhất. Các sản phẩm phù hợp với các doanh nhân như: Samsung B7320, B2100, D980, C5212, i780…

    – Kết nối: Samsung C3212, C3010, C3053, M620… các sản phẩm này giữ kết nối với phong cách linh hoạt với tính năng chung sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận nhiều công nghệ cần thiết.

    – Cơ bản: Tính năng đa truyền thông cơ bản giúp khách hàng có thể nhận ra được phong cách mà họ mong chờ. Làm hài lòng mọi nhu cầu mà không nhận lấy những cái không cân thiết.

    3. Samsung mobile từng bước chinh phục người tiêu dùng Việt Nam:

    Tại Việt Nam, theo số liệu của GFK (chỉ số niềm tin tiêu dùng), tháng 12/2008 Samsung vững vàng giữ ngôi vị thứ 2 trên thị trường ĐTDĐ với 21% thị phần. Điện thoại Samsung ngày càng được người tiêu dùng Việt Nam yêu mến và chọn lựa bởi thiết kế, công nghệ và dịch vụ khoongnguwngf được cải tiến trong thời gian vừa qua.

    Đầu năm 2008 Samsung giới thiệu hàng loạt các sản phẩm ĐTDĐ mới phủ chọn toàn bộ các phân khúc thị trường với chiến dịch mang tên “ Hãy tưởng tượng ĐTDĐ dành cho mọi phong cách”. Các sản phẩm này được thiết kế dựa trên nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng, lối sống và phong cách của 20.000 người tiêu dùng thuộc hơn 25 quốc gia, vùng lãnh thổ từ 5 châu lục. Trong năm qua, với các sản phẩm mới được chia theo 6 phân khúc: Phong cách, đa truyền thông, giải trí, doanh nhân, kết nối và thiết yếu, Samsung ngày càng khẳng định vị trí tiên phong về thiết kế và công nghệ, chinh phục mọi đối tượng khách hàng dù là khó tính nhất. Được thể hiện qua những tiêu chí như: thiết kế hiện đại, công nghệ tiên tiến, chất lượng hoàn thiện, dịch vụ chu đáo.

    3.1. Thiết kế hiện đại:

    Samsung đã rất nổi tiếng về điện thoại thiết kế đẹp, thời trang. Phát huy thế mạnh này, những sản phẩm mới của Samsung với kiểu dáng tinh tế, hiện đại nhưng đồng thời cũng cứng cáp, chắc chắn nhằm khẳng định với người tiêu dùng, điện thoại Samsung không chỉ là “cô gái đẹp”, mong manh mà còn là “chàng trai” mạnh mẽ tài năng.

    Những model nổi bật trong thời gian vừa qua từ dòng cao cấp như Omnia i900, Giorgio Armani đến dòng nghe nhạc như i450, F400, M3510, F250 hay các dòng điện thoại trung cấp và phổ thông như F480, U800, L700, M620, E2510, B200… là những minh chứng cụ thể. Đó là những sản phẩm thiết kế gọn, bàn phím thoáng hay màn hình rộng, màu sắc trang nhã, sang trọng. Đặc biệt, ĐTDĐ màn hình cảm ứng Samsung đang rất thành công mà giải thưởng điện thoại cảm ứng Samsung đang rất thành công mà giải thưởng điện thoại cảm ứng xuất sắc của Vietnam Mobile Award 2008 do độc giả báo Echip bình chọn là một minh chứng cho sự yếu mềm của người tiêu dùng.

    3.2. Công nghệ tiên tiến:

    Đi cùng với thiết kế hiện đại, điện thoại Samsung luôn được ticha hợp những công nghệ tiên tiến nhất. Đó là công nghệ Touch Wiz độc quyền do Samsung phát triển dành cho các điện thoại cảm ứng hay công nghệ chụp ảnh với tính năng nhận dạng khuôn mặt, nhận diện nụ cười, chống nháy mắt và công nghệ chụp ảnh, quay phim độ phân giải cao, nghe nhạc với các định dạng file khác nhau, chơi game 3D… cho những điện thoại giải trí.

    Những dòng điện thoại đa truyền thông như Omnia i900, Innov8 còn tích hợp hệ thống định vị toàn cầu GPS với công nghệ navigation (dẫn đường) và geotaging (chụp ảnh kèm vị trí địa lý), từ điển Lạc Việt, đặc biệt là phần mềm Vietmap với bản đồ 64 tỉnh thành. Ngay cả những điện thoại phổ thông như M620, E2510 cũng đã tích hợp những công nghệ mới tiện ích như camera, quay video, thẻ nhớ, ghi âm đài FM, kết nối Bluetooth…

    3.3. Chất lượng hoàn thiện:

    Chất lượng của điện thoại Samsung không ngừng được nâng cao.Dung lượng pin của các sản phẩm ngày càng dài, ngay cả những dòng điện thoại cấp thấp như E1110 thời gian đàm thoại lên đến 8 giờ, thời gian chờ là 20 ngày. Chất liệu chế tạo sản phẩm cũng cải tiến với những vật liệu có độ bền cao, chống trầy xước như Innov8 làm bằng kim loại Duralumin – một hợp kim chuyên dùng trong ngành hàng không, cứng và nhẹ hơn thép.

    Tự tin với chất lượng sản phẩm của mình, Samsung đã có những chương trình ấn tượng, thuyết phục khách hàng như cho xe cán lên hay thả rơi từ trên cao xuống… nhưng điện thoại vẫn hoạt động tốt. Hiện tại, chương trình truyền hình thực tế “72h đánh thức sức bền” đang thu hút được sự quan tâm của của rất nhiều bạn trẻ. Samsung sẽ chứng tỏ điện thoại của mình “pin lâu, sóng khỏe và độ bền cao” trong suốt 3 ngày hoạt động liên tục tại nơi hoang vắng dù chỉ sạc pin 1 lần duy nhất.

    3.4. Dịch vụ chu đáo:

    Từ giữa năm 2008, hệ thống bảo hành điện tử đầu tiên tại Việt Nam 6060 được áp dụng mang lại sự thoải mái và yên tâm cho khách hàng sử dụng điện thoại Samsung khi họ có nhu cầu bảo hành chính hãng mà không cần lưu giữ giấy bảo hành. Trong năm 2009, mạng lưới bảo hành cũng được mở rộng từ 7 trung tâm năm 2008 lên 34 trung tâm hứa hẹn mang lại những dịch vụ bảo hành tốt nhất và tiện ích nhất cho khách hàng trên toàn quốc. Ngoài ra, việc giới thiệu nhà phân phối mới là tập đoàn Phú Thái vào đầu năm 2009 cũng cho thấy Samsung đang nỗ lực hết mình nhằm mang điện thoại Samsung đến người tiêu dùng một cách rộng rãi hơn.

    Trong thời gian này, Samsung đang tiến hành khảo sát ý kiến người tiêu dùng tại website http://mysamsung.vn với chương trình mang tên “Hãy là người kế tiếp tạo ra sự thay đổi cho điện thoại Samsung của bạn!”. Những người yêu mến điện thoại Samsung có thể truy cập vào đây để chia sẻ ý kiến, đóng góp để hoàn thiện hơn chiếc điện thoại yêu thích của mình. Đây là một hoạt động tích cực của Samsung, thể hiện sự quan tâm đến những yêu cầu và mong muốn của khách hàng để không ngừng cải tiến sản phẩm, thỏa mãn mọi nhu cầu của người tiêu dùng.

    4. Chiến lược của Tập đoàn Samsung:

    Vừa qua Tổng giám đốc Tập đoàn Samsung đã đưa ra chiến lược “hớt phần ngọn” trong việc điều hành ccong ty:

    “ Nếu không đi trước thì phải đi nhanh hơn đối thủ”

    Đó chính là triết lí kinh doanh mà Yun Jong – Yong (Tổng giám đốc tập đoàn Samsung) rất tâm đắc  trong sự nghiệp của mình. Và cũng nhờ vậy mà ông không những đã giúp Samsung thoát hiểm mà đưa tập đoàn đi hết từ thành công này đến thành công khác trong những năm gần đây.

    Trước sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, ông quyết tâm đề ra mục tiêu hễ trên thị trường có sản phẩm mới nào thì Samsung cũng phải sản xuất ra được thứ đó và đồng thời phải sản xuất thật nhanh, thật nhiều như có thể. Ông đã áp dụng hoàn hảo chiến lược “hớt phần ngọn” mà ông còn gọi là thuyết “sashimi” theo tên một món gỏi cá nổi tiếng của Nhật.

    Theo đó, khi là một trong những nhà sản xuất đầu tiên thì Samsung sẽ hớt hết những khách hàng nhiều tiền, chịu chơi, sẵn sàng mua ngay một sản phẩm mới hay một mẫu mã mới. Giai đoạn “hớt phần ngọn” này có thời gian “sống” rất ngắn nhưng tỷ suất lợi nhuận thương mại lại vô cùng cao. Có thể gấp 2, đồng thời đối tượng khách hàng cũng không phải là khách hàng thu nhập cao như trước.

    Có thể Samsung không phải là người nghĩ ra sản phẩm trước tiên nhưng ông muốn tập đoàn của mình phải là người nhanh chân tung ra thị trường sản phẩm đó với số lượng lớn. Rất nhiều đại gia trong các lĩnh vực điện thoại di động và điện tử dân dụng đã giật mình trước độc chiêu này của ông Tổng giám đốc Yun Jong – Yong. Tuy cắt giảm rất nhiều nhân viên nhưng với hệ thống nghiên cứu phát triển sản phẩm thì ông Tổng giám đốc rất chi li này lại không hề có ý tiết kiệm. Ngược lại việc đầu tư cả về con người và phương tiện cho nghiên cứu phát triển sản phẩm rất được chú trọng. Khi đã bắt chước hay hoàn thiện xong một sản phẩm mới, Yun Jong-Yong cho sản xuất đại trà ngay lập tức với số lượng lớn và trong thời gian thật nhanh. Có thể nói đây là một sự táo bạo đến liều lĩnh của Yun Jong-Yong nhưng đồng thời cũng chính là bí quyết thành công quan trọng nhất của Samsung. Các nhà sản xuất khác thường chỉ sản xuất thử để thăm dò thị trường trước khi sản xuất đại trà nhưng Samsung thì không vậy. Ông Tổng giám đốc Yun Jong-Yong đã hạ lệnh tất cả các xưởng sản xuất của Samsung hoạt động hết tốc lực ngày đêm cả 7 ngày của tuần để hớt hết các phần khách chịu chơi trên thị trường.

    Lee Kun – Hee – Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Samsung đã hoàn toàn đúng trong chính sách phát triển công ty. Ông từng nói: “ Hãy thay đổi tất cả, trừ vợ và con bạn”. Ông còn nhấn mạnh: “Một thiên tài có thể nuôi sống hàng triệu người khác. Trong kỷ nguyên sắp tới, khi sáng tạo là động lực quan trọng nhất cho thành công doanh nghiệp, chúng tôi sẽ thu hút những người tài năng nhất. Giá trị kinh tế của một thiên tài là hơn 1 tỷ USD… Thế giới doanh nghiệp đang thay đổi sâu sắc. Thật khó đoán ngành nào sẽ phát triển và đem lại vận hội trong tương lai. Nhưng nếu sử dụng những người tinh hoa nhất, bạn sẽ giải quyết được bất cứ vấn đề gì của tương lai”.

    5. Chiến lược đưa sản phẩm mới Samsung BEAT DJ  ra thị trường:

    Sau khi đã nghiên cứu và đề ra những chiến lược phát triển, Samsung mobile quyết định giới thiệu ra thị trường một loạt các sản phẩm ĐTDĐ mới trong năm 2009. Trong các sản phẩm đó là sự góp mặt của chiếc ĐTDĐ Samsung BEAT DJ đầy cá tính dành cho người yêu thích âm nhạc.

    5.1. Các đặc tính nổi trội của chiếc điện thoại chơi nhạc này:

    – Samsung Beat DJ được được kỳ vọng sẽ là một trong những sản phẩm điện thoại di động (ĐTDĐ) có tính năng chơi nhạc và các ứng dụng DJ tốt nhất hiện có của Samsung trên thị trường. Không chỉ vậy, sản phẩm này còn có màn hình cảm ứng thời thượng và cách thiết kế lạ mắt. Lần đầu tiên được công bố trên thị trường toàn cầu vào thời điểm đầu năm 2009 tại Tây Ban Nha, đến cuối năm 2009 Samsung Beat DJ sẽ được công bố trên thị trường Châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam. Những đặc tính của Samsung BEAT DJ.  

    – Màn hình cảm ứng :

    + Mặt trước và sau của vỏ máy được mạ crôm sáng bóng, trong khi viền xung quanh máy có màu xanh ấn tượng, tạo vẻ trẻ trung cho sản phẩm. Beat DJ còn được “đóng dấu”, thể hiện đẳng cấp của một thiết bị chơi nhạc cao cấp khi mặt trên của máy nổi bật với dòng chữ Audio by Bang & Olufsen ICEpower.

    + Beat DJ có kiểu dáng dạng thanh – candy bar, Beat DJ được bo tròn đến mức tối đa ở hai đầu, giúp cho việc cầm ngang máy bằng 2 tay dễ dàng, khi ở ứng dụng chỉnh nhạc (DJ) chẳng hạn. Máy này cũng có kích thước không quá bé, 112x51x13,9mm, và trọng lượng là 99,7g phù hợp với nhiều đối tượng người dùng khác nhau.

    + Beat DJ có một màn hình lớn, kích thước 2,8 inch, tích hợp công nghệ cảm biến gia tốc và chạm cảm ứng. Đây là màn hình sử dụng công nghệ AMOLED, 16 triệu màu và chất lượng hiện thị hình ảnh tốt. Ở hai đầu của máy có hệ thống phím xoay bằng công nghệ cảm biến gia tốc dùng cho các ứng dụng chơi nhạc, trong khi ở đầu phía dưới màn hình còn có thêm 3 phím vật lý (phím nhận cuộc gọi, phím tắt cuộc gọi, và phím quay trở lại ứng dụng ban đầu), tất cả chúng nằm trên 1 thanh nhựa hình bán nguyệt, được nhận dạng bằng các biểu tượng tương ứng. Có nhiều điều để chúng ta nói về các điều khiển nhạc thông qua hệ thống cảm biến gia tốc. Người dùng chỉ việc chạm hoặc lướt ngón tay trên các biểu tượng ở 2 đầu máy là có thể trở thành một người chỉnh nhạc (DJ) chuyên nghiệp. Trong khi đó, như đã nói ở trên, Beat DJ là sản phẩm sử dụng màn hình cảm ứng, máy này có hệ điều hành do Samsung phát triển. Gần giống với các sản phẩm có màn hình cảm ứng khác của Samsung, Hệ điều hành của Beat DJ có những ưu điểm như giao diện với thanh chứa Widget, có thể tự động xoay ngang đối các ứng dụng cần màn hình rộng, kích thước phím QWERTY ảo lớn.

    –  Chức năng DJ:

    + Những ưu điểm lớn nhất của Beat DJ là chức năng chơi nhạc với các ứng dụng DJ. Nếu chơi nhạc, người dùng có ở Beat DJ: cổng cắm tai nghe 3.5mm, 2 loa tích hợp, khe cắm thẻ nhớ có thể thay nóng, giao diện chơi nhạc hiện đại, chơi nhạc và xem phim với định dạng MP3, DivX, XviD, WMV, MP4… Còn với ứng dụng DJ, người dùng có thể Remix nhạc theo ý muốn, như cách mà một DJ chuyên nghiệp thường làm. Chưa hết, ứng dụng DJ còn cho phép người dùng lưu nhạc mẫu, ghi âm lại bản nhạc sau khi đã được bạn mix hoàn chỉnh v.v… Tóm lại, tin rằng người tiêu dùng sẽ có nhiều “nghiên cứu” và mày mò khi sử dụng chức năng DJ của Beat DJ.

    + Tất nhiên, ngoài nhạc, người dùng vẫn có thể chụp ảnh bằng máy ảnh 3,15 megapixel với đèn flash được đặt phía sau thân máy; sử dụng các ứng dụng GPS, nghe radio FM, kết nối Internet bằng công nghệ 3G. Thời gian sử dụng pin theo nhà sản xuất công bố là 400 giờ cho thời gian chờ và 7 giờ cho thời gian thoại.

    5.2. Mục đích và mục tiêu mà Samsung đã đề ra cho sản phẩm này:

    – Mục đích: Với những đặc tính nổi trội của sản phẩm Samsung mong muốn sẽ hấp dẫn được thị trường khu vực. Dựa vào sản phẩm này mà nhu cầu sử dụng các sản phẩm khác của khách hàng cũng được tăng lên. Có nhiều đối tác kinh doanh mới, khả năng cải thiện về giá cả và cơ hội đầu tư. Đưa sản phẩm mới vào cuộc sống. Triển khai các dịch vụ mới, thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm.

    – Mục tiêu:  Dòng điện thoại mới nhất của hãng có thể chinh phuc của những tín đồ âm nhạc khó tính nhất. Sản phẩm sở hữu màn hình cảm ứng AMOLED siêu nét, dàn loa BANG và Olufsen cực mạnh. Tiếp theo là hơn 30% người tiêu dùng mục tiêu biết tới sản phẩm mới này sau chiến dịch truyền thông tổng hợp đầu tiên.

    + Bằng việc tiêu thụ sản phẩm này, hãng ĐTDĐ Samsung Elictronics cho biết hãng sẽ dự tính bán được 50 triệu trên toàn cầu, tái khẳng định ngôi vị dẫn đầu của hãng trong phân khúc thị trường đang phát triển nhanh chóng.

    + Mục tiêu bán hàng đề ra trong năm 2009 là 200 triệu chiếc ĐTDĐ, với các dòng cảm ứng chiếm khoảng 20% doanh số bán ra. Trong năm 2008, ĐTDĐ màn hình cảm biến hoàn toàn chỉ chiếm 5% doanh số của Samsung.

    + Dòng điện thoại cảm ứng trong đó có Samsung Beat DJ sẽ là chiếc ĐTDĐ bán chạy nhất của Samsung, với hơn 10 triệu chiếc tiêu thụ trên thị trường trong vòng 6 tháng.

    III. Đánh giá thực trạng:

    Khi giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường Việt Nam, Samsung Beat DJ sẽ đạt được những thành công bên cạnh đó cũng gặp không ít khó khăn, cơ hội và thách thức.

    Điểm mạnh: Thị trường ĐTDĐ Việt Nam là thị trường có thể nói phát triển  trên thế giới. Người tiêu dùng Việt Nam có thể mua và sử dụng tất cả các loại điện thoại mới và hấp dẫn nhất nhằm thể hiện cá tính và phong cách của họ.  Tập đoàn Samsung là tập đoàn nổi tiếng trên thế giới và là tập đoàn điện tử lớn nhất Hàn Quốc. Bên cạnh đó Samsung có sự hiểu biết rất lớn về thị trường và được khách hàng biết đến với hình ảnh tốt. Ngoài ra, Samsung mobile có vị thế đi đầu với những công nghệ âm nhạc tiên tiến qua các dòng điện thoại. Áp dụng những phương pháp tiếp thị tốt và có dịch vụ khách hàng mới trong vùng. Hơn nữa, giá cả các loại ĐTDĐ của Samsung hợp lý theo chức năng của sản phẩm. Chiếc điện thoại Samsung Beat DJ lại chứa đựng những đặc tính nổi trội mà những chiếc điện thoại khác không có được. Đó là tính năng nghe nhạc chuyên dụng, ứng dụng DJ tốt nhất hiện có của Samsung trên thị trường. Không chỉ vậy, sản phẩm mới này còn có thiết kế lạ mắt và màn hình cảm ứng thời thượng.

    Bên cạnh những điểm mạnh như vậy, sản phẩm này có gặp phải một số hạn chế trong việc phát triển trên thị trường ĐTDĐ Việt Nam như: Tập đoàn Samsung không phải là tập đoàn chuyên sản xuất điện thoại, ngoài điện thoại còn có rất nhiều các sản phẩm khác như TV, máy ảnh, tủ lạnh… nên việc tập trung vào sản xuất điện thoại di động còn hạn chế. Về sản phẩm thì thiếu kết nối wifi, máy đi kèm là một số ứng dụng cho DJ, không phổ thông, chất lượng âm thanh kém hơn so với một chiếc điện thoại chuyên chơi nhạc.

    Đồng thời với việc giới thiệu sản phẩm này ra thị trường, tập đoàn cũng có được một số cơ hội phát triển như: hấp dẫn thị trường khu vực chính, nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty tăng, có nhiều đối tác kinh doanh mới, khả năng cải thiện về giá cả và cơ hội đầu tư. Mở thêm những trung tâm cửa hàng giao dịch, bảo hành lớn.

    Những thách thức phải đối mặt là: Khi Việt Nam gia nhập thị trường quốc tế, trong tương lai các sản phẩm nhập khẩu sẽ được giảm thuế, xuất hiện nhiều sản phẩm mới có nhiều tính năng và giá rẻ. Bên cạnh đó, hãng điện thoại Nokia là đối thủ cạnh tranh gay gắt của Samsung trên thị trường Việt Nam, niềm tin của người tiêu dùng đối với hãng điện thoại này là rất cao. Samsung cũng phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh mới nổi nhưng cũng có rất nhiều sản phẩm mới trên thị trường Việt Nam.

    CHƯƠNG III: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM MỚI CỦA SAMSUNG MOBILE TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

    Rất nhiều chuyên gia tiếp thị cho rằng, một trong những tình thế cạnh tranh bất lợi nhất đối với hầu hết các doanh nghiệp là tung ra thị trường một sản phẩm mới cho dù sản phẩm đó là sản phẩm mới tương đối hay tuyệt đối. Và nhiều người tin rằng việc đưa ra các sản phẩm mới trên thị trường, doanh nghiệp phải thật sự nỗ lực mới có thể thành công, được khách hàng đón nhận.         Để sản phẩm mới của Samsung mobile có thể đến được với người tiêu dùng Việt Nam và được đón nhận đòi hỏi Công ty đó đưa ra những định hướng và giải pháp thật đúng đắn. Sau đây là một số nhóm giải pháp mà Công ty nên thực hiện trong việc giới thiệu và quảng bá sản phẩm mới:

    I. Nhóm giải pháp đưa ra các lợi thế cạnh tranh:

    1. Lợi thế giá cả hợp lý:

    Chiến lược rõ ràng nhất đối với các sản phẩm mới là đưa ra mức giá cả hợp lý. Đối với bất kỳ một sản phẩm nào cũng vậy, giá cả hợp lý đối với chức năng của sản phẩm. Nếu một dòng sản phẩm bình thường, không có sự nổi bật mà giá cao thì khách hàng cũng không sẵn sàng mua và nếu một sản phẩm tốt thì sẽ chẳng khi nào có mức giá thấp. Để có một sản phẩm thực sự tốt với nhiều chức năng hấp dẫn người tiêu dùng sẵn sàng trả một mức giá cao. Đối với sản phẩm này, Samsung sẽ có hướng đưa ra mức giá là trên 5 triệu VNĐ. Mức giá này theo dự đoán là sẽ hợp lý và hơn nữa rất có lợi cho người tiêu dùng. Số tiền cần phải trả cho một bộ DJ chơi được cũng phải lên tới 1500 USD. Như vậy cũng với chức năng chơi nhạc DJ mức gia như đã đưa ra là hợp lý.

    2. Tạo ra hoặc tăng thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm:

    Vì tham gia cuộc chiến giá cả là một việc có tính mạo hiểm lớn nên một sự lựa chọn khác có khả năng mang lại thành công lớn hơn và bền vững hơn đó là đưa ra các tiện ích khác kèm theo sản phẩm chính. Ví dụ như bao bì bắt mắt, hướng dẫn sử dụng sản phẩm chi tiết, xây dựng các trung tâm dịch vụ ở những địa điểm khách hàng dễ dàng tiếp cận và các chương trình bảo hành mở rộng. Hiện nay, trên địa bàn Hà Nội mới có hai trung tâm bảo hành điện thoại Samsung. Đó là: Tầng 6, số 5 Đào Duy Anh; Samsung Phú Thái: Số 5, Xã Đàn, Đống Đa, Hà Nội. Ngoài ra, công ty có thể không cần tạo thêm giá trị bằng cách bổ sung công dụng mới, mà nhà tiếp thị chỉ cần tập trung quảng bá các đặc tính sản phẩm đã có nhưng chưa được khai thác nhiều, chẳng hạn, bằng cách so sánh sản phẩm mới với những sản phẩm đã có trên thị trường hoặc hướng sự chú ý của khách hàng tới các ưu thế trong qui trình sản xuất.

    3. Khai thác các lợi thế về sự tiện dụng:

    Các sản phẩm mới thu hút sự chú ý của các nhóm người sử dụng khác nhau tại các thời điểm khác nhau. Trên thị trường sẽ bao gồm những khách mua đầu tiên (thường gọi là những người đi tiên phong) sẵn lòng thử nghiệm sản phẩm trước và đa số khách hàng khác (gọi là số đông sử dụng sau). Những người mua trong giai đoạn đầu thường tìm kiếm những lợi ích mang tính cá nhân hơn như hình thức đẹp trong khi nhóm khách hàng ở giai đoạn sau thường bị hấp dẫn bởi các tiện ích nổi bật của sản phẩm so với các sản phẩm khác đang có mặt trên thị trường. Vì vậy, Samsung Beat DJ cần quảng bá một cách rộng rãi các tiện ích của mình. Đó là kiểu dáng thon gọn giúp việc cầm nắm dễ dàng…

    4. Các chiến dịch khuyến mãi:

    Đưa ra những chương trình khuyến mãi mà các hãng khác không cung cấp nhằm chiếm được sự quan tâm và lòng tin của người mua. Các nhà tiếp thị có thể xem xét việc đưa ra các đợt khuyến mãi về tài chính nhưng không trực tiếp giảm giá mà vẫn giảm tổng chi phí, chẳng hạn như tặng phiếu giảm giá cho người mua hay miễn phí các sản phẩm và dịch vụ kèm theo như: tai nghe, dây kết nối máy tính, thẻ nhớ hoặc một vài sản phẩm hàng tiêu dùng có gắn nhãn mác của Công ty, tải nhạc chuông và hình nền miễn phí…. Người mua sẽ tính toán và so sánh chi phí trọn gói với các sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh tranh. Cũng có thể xem xét thực hiện các kiểu khuyến mãi khác để thu hút những khách hàng còn đang lưỡng lự và thiếu lòng tin đối với sản phẩm của mình, ví dụ, áp dụng chế độ bảo hành, cung cấp các chỉ dẫn sử dụng…

    II. Nhóm giải pháp xây dựng các kế hoạch phụ trợ:

    1. Giới thiệu sản phẩm:

    • Tiếp xúc khách hàng và giới thiệu sản phẩm, chăm sóc khách hàng tại khu vực trưng bày sản phẩm phụ trách.
    • Triển khai công việc bán hàng, cung cấp thông tin sản phẩm khuyến mãi và giá cả cho khách hàng.
    • Thuyết phục khách hàng mua sản phẩm để được hiệu quả tốt nhất.
    • Duy trì mối quan hệ tốt, đẹp bền vững với khách hàng.

    2. Quan hệ với báo chí:

    Nhằm mục đích đưa các tin tức có giá trị lên các phương tiện truyền thông để thu hút sự chú ý của khách hàng. Tiến hành xây dựng các clip quảng cáo, trình chiếu lên các chương trình quảng cáo trên truyền hình, xuất hiện trên các tạp chí điện thoại di động, trên internet… Có như vậy mới giúp cho các sản phẩm đi sâu hơn vào trong tâm trí của khán giả.

    3. Sự truyền thông tổng hợp:

    Hoạt động tuyên truyền cả bên trong lẫn bên ngoài để phát triển mạnh mẽ sự hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm. Bên cạnh đó cần nghiên cứu các cơ hội mà đối thủ cạnh tranh chưa khai thác như bán hàng qua các kênh phân phối mới, tại các siêu thị, các trung tâm mua sắm…. Một trong những đối thủ lớn nhất của Samsung ở thị trường Việt Nam là tập đoàn Nokia. Tập đoàn này dễ chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, vì vậy cần tìm hiểu một cách kỹ lưỡng về các sản phẩm cũng như chiến lược của họ trên thị trường. Từ đó có đưa ra các quyết định đúng đắn nhất để có thể phát triển

     

     

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    Chiến lược đưa sản phẩm mới ra thị trường là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác sản xuất kinh doanh của Công ty. Trong một thị trường cạnh tranh khốc liệt như thị trường ĐTDĐ Việt Nam, làm mới mình và nỗ lực giành được sự hài lòng của khách hàng là yếu tố tiên quyết dẫn tới thành công của mỗi nhà sản xuất.

    Qua một thời gian nghiên cứu từ các sản phẩm ĐTDĐ của Samsung mobile, những cơ hội  sẽ đạt được và những khó khăn thách thức mà Công ty phải vượt qua khi đưa sản phẩm mới ra thị trường, em mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn chiến lược về sản phẩm mới của Công ty, hy vọng sẽ giúp Samsung mobile thực hiện tốt hơn nữa chiến lược sản phẩm đã đề ra.

    Do có những hạn chế về kiến thức cũng như những kinh nghiệm thực tế, nên bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót và những suy nghĩ chưa thật đầy đủ về một số vấn đề đã nêu ở trên. Kính mong được sự giúp đỡ, ý kiến của các thầy cô.

     

     

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. TS. Trần Minh Đạo – Giáo trình Marketing căn bản – NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân – Năm 2008.
    2. Bài giảng của Thầy Phan Thành Hưng – Giảng viên Trường Đại Học Lao Động Xã Hội.
    3. Công ty Điện tử Samsung Vina – Lễ khai trương nhà máy sản xuất ĐTDĐ – Ngày 28/10/2009.
    4. Lịch sử hình thành và phát triển của Samsung – Hồ sơ Công ty – Thông tin Samsung – Năm 2005.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận môn học Quản trị dự án đầu tư Lập dự án xây dựng quán Cà phê sinh viên Cội Nguồn

    Tiểu luận môn học Quản trị dự án đầu tư Lập dự án xây dựng quán Cà phê sinh viên Cội Nguồn

    Tiểu luận môn học Quản trị dự án đầu tư Lập dự án xây dựng quán Cà phê sinh viên Cội Nguồn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Quản trị dự án đầu tư Dự án giàn thép đỗ xe tại thành phố Hồ Chí Minh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-h%E1%BB%8Dc-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-L%E1%BA%ADp-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-qu%C3%A1n-C%C3%A0-ph%C3%AA-sinh-vi%C3%AAn-C%E1%BB%99i-Ngu%E1%BB%93n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận môn học Quản trị dự án đầu tư Lập dự án xây dựng quán Cà phê sinh viên Cội Nguồn

    LỜI MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài:

    Xuất phát từ nhu cầu thực tế của bản thân, các bạn sinh viên và cũng như các thành viên khác đang sinh sống tại TPHCM nói riêng và cả nước nói chung. Muốn tìm kiếm một nơi nào đó để giải trí, thư giãn góp phần học tập và làm việc tốt hơn. Cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu thư giãn, giải trí, gặp gỡ bạn bè là một trong những vấn đề rất được chú trọng và quan tâm hiện nay. Trong thời đại mới con người phải luôn tất bật, vất vả với bao công việc mà họ phải đối mặt, do đó họ cần được thư giãn, giảm stress, thay đổi không khí, để tâm hồn thoải mái, dễ chịu và thêm yêu cuộc sống.

    Bắt nguồn từ những vấn đề trên, nên thiết nghĩ cần phải có một nơi để sinh viên có thể thư giãn, vui chơi… với cung cách và thái độ phục vụ chuyên nghiệp, thân thiện, chất lượng dịch vụ tốt nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của sinh viên. Ngoài ra còn góp phần tận dụng được nguồn lực lao động đang rất dồi dào đó là sinh viên, góp phần tạo ra được nhiều việc làm thêm để trang trí 1 phần gánh nặng cho gia đình. Do đó đề tài của chúng tôi sẽ là “Lập dự án xây dựng quán Cà phê sinh viên Cội Nguồn“.

    Quán cà phê chúng tôi sẽ đem đến cho thực khách một không gian kì diệu tràn ngập sắc thái với phong cách mới lạ, độc đáo, sự hài lòng và tin cậy cho khách hàng.

    1. Mục đích nghiên cứu

    Thông qua việc nghiên cứu về thị trường, khách hàng, đối thủ để:

    – Nắm được tình hình kinh doanh

    – Đưa ra chính sách kinh doanh phù hợp mang lại hiệu quả cao

    – Đánh giá khả năng tài chính – rủi ro

    – Cung cấp dịch vụ giải khát cho khách hàng.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    – Thu thập thông tin:

    + Trên mạng, báo chí, xin số liệu trực tiếp ở các cửa hàng, các siêu thị, các quán cà phê, trà sữa…

    + Tham khảo sách báo và xin ý kiến của những người làm trong cùng lĩnh vực.

    – Tổng hợp và xử lý thông tin:

    + Phương pháp phân tích Swot.

    + Các phương pháp phân tích định lượng thông qua các chỉ số tài chính.

         + Đánh giá định tính theo ý kiến chuyên gia, theo quan sát thực tế và các thông tin thu thập được.

    1. Phạm vi nghiên cứu

    – Chỉ nghiên cứu trong phạm vi lập dự án cà phê sinh viên tại Gò Vấp.

    – Số liệu được tính là dữ liệu thứ cấp, qua khảo sát thực tế và ước đoán.

    CHƯƠNG 1:

    GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

     

    1.1 Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu đầu tư

    1.1.1 Giới thiệu về quán cà phê:

    – Tên quán: Cà Phê Cội Nguồn

    – Địa điểm: 465 Lê Lợi, Phường 5, Gò Vấp, TPHCM

    – Ngành nghề kinh doanh: Dịch vụ giải khát…

    – Sản phẩm: Cà phê, kem, sinh tố, nước giải khát….

    1.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

    Môn học Quản trị dự án đầu tư là một môn học thuộc khoa học kinh tế, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc quản trị thời gian, chi phí và nguồn lực thực hiện dự án đầu tư. Chủ thể của quản trị là người quản trị dự án, đối tượng quản trị là dự án đầu tư, do đó người quản trị phải biết nguyên tắc và trình tự lập một dự án.

    1.1.3 Mục tiêu đầu tư:

    – Đưa ra chính sách kinh doanh phù hợp đạt được lợi nhuận ngay từ năm đầu hoạt động .

    – Đạt uy tín với các đối tượng có liên quan: Nhà cung cấp, khách hàng,….

    – Tạo cơ hội việc làm cho sinh viên và những người cần làm thêm.

    – Mặc dù, mở một quán cà phê có nhiều điều kiện thuân lợi nhưng để thành công không phải là dễ. Bởi xung quanh còn có nhiều quán cà phê khác, và tất cả ai cũng đều có cùng mục tiêu là đưa quán của mình đạt lợi nhuận tối đa và thu hút khách hàng, do đó dự án mở này phải làm tốt hơn các đối thủ cạnh tranh để thu hút khách hàng.

    – Có nhiều quán cà phê, trà sữa đã hình thành lâu nhưng nhìn chung họ không chú tâm đến phong cách phục vụ của nhân viên. Nên mục tiêu của việc lập dự án này là thỏa mãn khách hàng ở mức tối đa, nhằm tạo thương hiệu và niềm tin ở khách hàng.

    1.2 Sự cần thiết và vị trí của hoạt động đầu tư

    1.2.1 Sự cần thiết của dự án đầu tư

    – Đây là loại hình kinh doanh đơn giản, không đòi hỏi nhiều vốn cũng như công nghệ kĩ thuật phức tạp.

    – Chi phí đầu tư không quá cao, có thể dễ dàng huy động nguồn vốn từ gia đình, bạn bè, nhà trường, ngân hàng…

    – Uống cà phê không chỉ là nhu cầu cần thiết mà còn là nhu cầu thư giãn của mỗi người do môi trường học tập và làm việc vất vả… Nó là thói quen của người dân và văn hoá nơi đây cũng muôn hình muôn vẻ, từ cà phê vỉa hè đến sang trọng, từ cà phê sân vườn đến nghệ thuật.

    – Hiện nay với phương pháp học mới hầu hết những sinh viên đều phải tự học, hay làm bài tập nhóm và việc tìm một nơi thuận tiện để thảo luận những vấn đề liên quan đến học tập vô cùng khó khăn. Việc tìm được một quán cà phê thoáng mát, có wifi miễn phí, trang trí tương đối bắt mắt mà giá cả cũng hợp túi tiền sẽ khiến bạn có thêm được những ý tưởng mới lạ… nên việc đến quán cà phê cũng rất cần thiết.

    1.2.2 Vị trí ưu tiên

    – Thông qua các cuộc khảo sát tại TpHCM, cũng như khu vực Gò Vấp có rất nhiều người có nhu cầu uống cà phê hoặc giải khát và có khoảng hơn 20 (xung quanh Trường ĐHCN) quán cà phê lớn nhỏ khác nhau.

    – TPHCM là một trong những thành phố lớn, với mật độ dân số cao, việc xây dựng quán cà phê là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm stress có hiệu quả, với nhịp sống nhanh và hiện đại cộng thêm sự du nhập văn hóa nước ngoài nó cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trẻ Việt Nam.

    – Bên cạnh đó, Gò Vấp còn là nơi dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi và là nơi có nhiều sinh viên, học sinh của các trường đại học, cao đẳng như Trường ĐH CN, Cao Đẳng Vạn Xuân, Cao Đẳng Âu Việt, Trung Cấp Kinh Tế Kỹ Thuật Phương Đông và các trường trung học phổ thông khác….

     

     

     

    CHƯƠNG 2:

    PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ

    2.1 Phân tích cơ hội đầu tư

    2.1.1 Môi trường kinh doanh

    – Sinh viên luôn có nhu cầu lựa chọn cho mình một quán cà phê phù hợp, bên cạnh đó thì không gian, chất lượng phục vụ cũng như giá cả cũng ảnh hưởng đến việc chọn quán.

    – Với lượng sinh viên lớn của Trường ĐHCN và các trường lân cận thì việc kinh doanh cà phê là một dự án có thể thành công và đem lại lợi nhuận. Đối với sinh viên cũng như công nhân với mức thu nhập thấp thì luôn luôn chọn cho mình một tiêu chí “ngon – bổ – rẻ”.

    2.1.2 Lựa chọn cơ hội đầu tư có triển vọng và phù hợp

    Trước tiên, ta phải xác định được đầu mối nhà cung cấp là ai, nhà cung cấp nào, chất lượng sản phẩm và các yếu tố tác động đến dự án của mình.

    + Nhà cung cấp: Theo quan niệm của quán thì nhà cung cấp có vai trò quan trọng trong sự thành công của quán. Việc tạo mối quan hệ tốt với nhà cung cấp thì chất lượng sẽ đảm bảo hơn, thuận lợi hơn. Tuy nhiên, để tìm được nhà cung cấp tốt về chất lượng, ổn định về giá cả và có uy tín thì không phải dễ. Quán cũng đã lựa chọn được một số nhà cung cấp như: cà phê Trung Nguyên, Vinamilk và các công ty cung ứng nước giải khát khác.

    + Thị trường trọng tâm: Đa phần là công nhân viên, học sinh, sinh viên là những khách hàng chủ yếu của quán.

    + Các yếu tố vĩ mô: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc mở ra các loại hình kinh doanh không còn quá khó khăn như xưa mà luôn được Nhà nước khuyến khích. Do đó, việc đăng ký khi kinh doanh quán cà phê trở nên thuận lợi hơn. Thị trường kinh doanh cà phê trong tương lai sẽ phát triển cao và là thị trường khá hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    + Phân tích mô hình SWOT:

     
     
     
     
    Ma trận SWOT

    O

    – Có khách hàng tiềm năng (sinh viên…) (O1)

    – Tìm được nguồn cung cấp nguyên liệu tốt (O2)

    – Mật độ dân cư cao, số dân đông (O3)

    – Số lượng quán có chất lượng phục vụ tốt còn thấp (O4)

    T

    – Cạnh tranh với các quán cũ (T1)

     

    S

    – Sản phẩm đa dạng, chất lượng pha chế cao (S1)

    – Không gian phục vụ thoáng mát, ngăn nắp… (S2).

    – Địa điểm thuận lợi (S3)

    – Giá hợp lý (S4)

    – Nhân viên nhiệt tình vui vẻ, hoạt bát (S5)

    – Bàn ghế mới lạ (S6)

    SO

     

    – Thu hút khách hàng tiềm năng (S1,S2,S3,S4,S5,S6,O1)

    – Nguồn nguyên liệu ổn định (O2)

    – Số lượng khách hàng đến với quán đông (S1,S2,S3, S4, S5,S6,O3,O4)

    ST

     

    – Giành thắng lợi trong cạnh tranh (S2,S3,S4,T1)

    W

    – Quán mới thành lập, chưa có nhiều khách hàng quen thuộc (W1)

    – Chưa có nhiều kinh nghiệm (W2)

    – Địa điểm thuê mướn (W3)

    WO

     

    – Huy động nguồn vốn (O1,O2,O3,W2)

    WT

     

    – Học hỏi kinh nghiệm (T1,W1)

    Bảng 1: Ma trận SWOT:

    Diễn giải ma trận SWOT:

    – SO: Phát huy những điểm mạnh để nắm bắt cơ hội như với sản phẩm chất lượng, giá hợp lý, không gian buôn bán và giao thông thuận lợi cộng với khả năng tiếp thị, đội ngũ nhân viên nhiệt tình, vui vẻ sẽ thu hút nhiều khách hàng tiềm năng.

    – ST: Dựa vào những lợi thế so với đối thủ cạnh tranh, về những nhân viên có chuyên môn vui vẻ, nhiệt tình trong công việc.

    – WO: Các doanh nghiệp mới mở thường thiếu vốn, do đó quán luôn rất cần sự ủng hộ của cơ quan, các nhà cung cấp, nhà đầu tư và đặc biệt là sự ủng hộ của khách hàng… để làm tăng tính khả thi của dự án, tăng khả năng huy động được các nguồn vốn, các đối tác kinh doanh.

    – WT: Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, môi trường kinh doanh luôn sôi động, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, sự cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường càng làm cho người kinh doanh thêm trưởng thành hơn trong cung cách làm ăn cũng như củng cố thêm kinh nghiệm.

    2.2 Phân tích kinh tế – kỹ thuật dự án đầu tư

    2.2.1 Các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật

    Cà phê không còn lạ gì đối với tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, nhưng để có một tách hay ly cà phê ngon, vừa ý đúng tiêu chuẩn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    – Nước sôi là nguyên nhân làm hoà tan các hợp chất trong cà phê, tạo nên mùi vị, nên pha cà phê ở nhiệt độ 95 – 1000C.

    – Không nên hâm lại cà phê mà pha với mỗi lần dùng và chỉ đủ để uống, cà phê chỉ giữ mùi tốt ở nhiệt độ 860C.

    – Nước – chất lượng của nước tạo ra sự khác biệt lớn về mùi vị cà phê tách.

    – Cân lượng – khoảng 20gr / 50ml nước, giữ độ cân xứng này có thể điều chỉnh tùy theo khẩu vị của từng người.

    – Đường – che giấu vị đắng trong cà phê, làm cho những người thưởng thức không bị nhăn mặt. Đường trắng kết tinh là tốt nhất, sẽ không làm ảnh hưởng đến mùi vị cà phê.

    – Dụng cụ pha cà phê thông dụng

    + Phin cà phê

    + Muỗng cà phê dài (dùng cho cà phê đá và sữa đá)

    + Muỗng cà phê ngắn (dùng cho cà phê nóng và sữa nóng)

    + Ly thủy tinh thấp (dùng cà phê sữa nóng)

    + Ly thủy tinh cao (dùng cà phê đá và sữa đá)

    + Ly sứ (dùng cà phê đen nóng)

    – Trái cây đảm bảo các chỉ tiêu vệ sinh, an toàn, sạch sẽ, tươi ngon, không bầm dập.

    2.2.2 Các yếu tố đầu vào và công tác tổ chức hoạt động

    2.2.2.1 Yếu tố đầu vào:

    Có rất nhiều cách pha chế cà phê tùy theo “gu” từng người mà chọn kiểu pha nhưng đa phần pha cà phê bằng phin theo cách sau:

    + Nguyên vật liệu:

    – Cà phê bột (20 gram /1 phin)

    – Nước tinh khiết, đun sôi ở 100 0C

    – Đường cát trắng tinh khiết, hạt mịn.

    – Sữa có độ đậm đặc cao.

    – Đá viên tinh khiết để hạn chế độ tan.

    * Cách thực hiện:

    Cho cà phê vào phin, lắc đều, ép nhẹ nắp gài, đặt vào ly sau đó châm 20ml nước vào và đậy nắp để cho cà phê ngấm đều. Sau thời gian 30 giây, châm thêm 40ml nước cho cà phê sữa đá, 45ml nước cho cà phê đá hoặc 50ml nước cho cà phê nóng, sữa nóng. Đậy nắp lại, thời gian cho 1 phin cà phê chảy tốt nhất là 4-5 phút (tức khoảng 65 giọt /1 phút).

    Chú ý: Trước khi pha đảm bảo tuyệt đối phin và ly phải sạch. Tuỳ theo ly cà phê sữa nóng hay sữa đá để ước lượng mức sữa như sau: 30 gram sữa cho một ly cà phê sữa đá hay 20 gram sữa cho một ly cà phê sữa nóng.

    2.2.2.2 Công tác tổ chức hoạt động

    Một khi ai đã bắt tay vào việc lập một dự án nào đó, nhằm mang lại lợi ích hoạt động kinh doanh thì người quản trị dự án phải đưa ra các chiến lược xem xét tính khả thi, vì thế trước hết phải đặt ra:

    + Chiến lược sản phẩm:

    – Đối với cà phê, nước uống: Từ khi đưa vào hoạt động đến khi kết thúc dự án không thay đổi nhiều, hằng năm quán sẽ bổ sung các loại sản phẩm mới lạ nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng.

    – Đối với báo, internet sẽ cập nhập liên tục

    Khoản mục Cập nhật SL 1 tháng Đơn giá Thành tiền Chi phí 1 năm
    Báo Mỗi ngày 30 3.500 105.000 1.260.000
    Internet Mỗi tháng 1 300.000 300.000 3.600.000
    Tổng 405.000 4.860.000

    Đvt: Đồng

    + Chiến lược giá cả:

    Do quán mới được xây dựng chưa có lượng khách hàng cố định, đặc biệt khách hàng mục tiêu của quán là sinh viên, học sinh do đó quán quyết định sử dụng chiến lược định giá trung bình. Quán tập trung vào gia tăng số lượng và chất lượng sản phẩm dựa vào công suất của quán.

    Quán cà phê sẽ cung cấp nhiều loại sản phẩm đa dạng về chủng loại với nhiều mức giá phù hợp khác nhau:

    Bảng 2: Giá bán các sản phẩm tại thời điểm phòng trà bắt đầu hoạt động

    THỨC UỐNG ĐƠN GIÁ THỨC UỐNG ĐƠN GIÁ
    CÀ PHÊ TRÀ SỮA – HỒNG TRÀ
    Cà phê nóng 10.000đ Trà sữa trân châu 10.000đ
    Cà phê sữa đá 12.000đ Trà sữa bánh plan 11.000đ
    Cà phê sữa nóng 12.000đ Trà sữa socola 10.000đ
    Cà phê phin 12.000đ Trà sữa bạc hà 10.000đ
    TRÀ LIPTON Trà sữa mật ong 10.000đ
    Lipton đá 13.000đ Trà sữa dâu 10.000đ
    Lipton nóng 13.000đ Trà sữa trân châu rum 10.000đ
    Lipton sữa đá 14.000đ Trà sữa lipton 10.000đ
    Lipton gừng 13.000đ Trà sữa kem 17.000đ
    SINH TỐ Trà sữa trân châu bánh plan 15.000đ
    Sinh tố dâu 18.000đ KEM – SỮA CHUA
    Sinh tố sầu riêng 20.000đ Kem dâu 18.000đ
    Sinh tố sabôchê 18.000đ Kem socola 18.000đ
    Sinh tố bơ 20.000đ Kem sầu riêng 19.000đ
    Sinh tố dừa sữa 18.000đ Yauar đá 13.000đ
    Sinh tố cà chua 18.000đ Sữa chua 10.000đ
    Sinh tố cà rốt 18.000đ Sữa tươi 10.000đ
    Sinh tố đu đủ 18.000đ Dâu dằm sữa chua 20.000đ
    NƯỚC ÉP TRÁI CÂY THỨC UỐNG KHÁC
    Nước ép cam 16.000đ Soda chanh 17.000đ
    Nước ép thơm 16.000đ Nước ngọt 10.000đ
    Nước ép bưởi 16.000đ Chanh tươi 12.000đ
    Nước ép ổi 16.000đ Trà đường 10.000đ
    Nước ép nho 18.000đ Chanh dây 14.000đ
    Nước ép táo 18.000đ Cam sữa tươi 15.000đ
    Nước ép lê 18.000đ Dừa tươi 14.000đ
    Nước ép cà chua 16.000đ Trái cây dĩa 15.000đ
    Nước ép dưa hấu 16.000đ Trà hoa sen 15.000đ

    + Chiến lược marketing:

    – Phát tờ rơi tại các địa điểm khu vực Gò vấp, những người ở xung quanh khu vực đó

    – Quảng cáo thông qua các hình thức treo băng rôn là chủ yếu.

    – Trong tuần đầu khai trương có thể giảm giá khoảng 20% và giảm 10% cho 2 tuần tiếp theo.

    + Chiến lược phân phối:

    – Đây là loại hình quán cà phê nên chủ yếu là bán trực tiếp người tiêu dùng, tuy nhiên, vẫn có thể thông qua kênh phân phối trung gian theo nhu cầu khách hàng:

               * Khách hàng tại chổ

    * Khách hàng mang về

    2.2.3 Tổ chức nhân sự

    – Nhân sự: bao gồm chủ quản, quản lý, pha chế, thu ngân, phục vụ, lao công, bảo vệ

    + Chủ quán là người quản lý điều hành mọi hoạt động của quán, chịu trách nhiệm trước pháp luật.

    + Quản lý là người thay mặt chủ quản điều hành hoạt động của nhân viên

    + Pha chế là người pha chế các loại thức uống

    + Thu ngân là người trực tiếp tính chi phí thu tiền

    + Phục vụ giới thiệu menu và phục vụ khách

    + Lao công là người rửa ly và dọn vệ sinh

    + Bảo vệ là người giữ xe và bảo vệ tài sản của quán

    – Đào tạo: chủ quán chịu trách nhiệm hướng dẫn cho nhân viên của mình quen với công việc, đặc biệt là nhân viên phục vụ và quản lý hướng dẫn cách phục vụ và ứng xử, ngoài ra chính bản thân người người chủ cần phải học về kiến thức chuyên ngành để phục vụ tốt hơn.

    – Khen thưởng: Ngoài những đợt thưởng thêm lương vào dịp lễ, tết, quán còn trích lợi nhuận thưởng nếu vượt chỉ tiêu doanh thu. Biện pháp này nhằm kích thích sự phấn khởi nhiệt tình của nhân viên trong công việc để họ làm tốt công việc.

    Bảng 3: Bảng lương nhân viên quán/tháng

    Đvt: Đồng

    Công việc Số lượng Tiền lương Thành tiền
    Quản lý 1 5.000.000 5.000.000
    Pha chế 1 2.500.000 2.500.000
    Thu ngân 1 2.500.000 2.500.000
    Phục vụ 5 1.800.000 9.000.000
    Lao công 1 1.500.000 1.500.000
    Bảo vệ 2 2.000.000 4.000.000
    Tổng cộng 10   25.000.000

    Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu đồng chẵn./.

    2.2.4 Kết cấu tổng thế dự án

    2.2.4.1 Tiến độ xây dựng

    Dự án bắt đầu từ ngày 20/07/2013, và dự kiến khai trương ngày 01/10/2013

    Bảng 4 : Sơ đồ GANTT

    Hạng mục            Tuần       Năm 2013
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
    Xin giấy phép đầu tư                      
    Tìm nguồn tài trợ                      
    Thuê đất                      
    Sữa chữa quán                      
    Bố trí quán                      
    Chọn nguồn cung NVL                      
    Đặt mua NVL                      
    Xin GP vệ sinh an toàn thực phẩm                      
    Đưa vào hoạt động                      

    Mô hình xây dựng quán cà phê gồm:

    • Vỉa hè: giữ xe

    –    Sân và trong nhà: gồm 15 bàn, có phục vụ truy cập wifi.

    2.2.4.2 Địa điểm xây dựng

    Quán tại số 465 Lê Lợi, P.5, Gò Vấp, TPHCM là nơi tập trung dân cư đông đúc, cách Trường ĐHCN khoảng 1km, xung quanh có rất nhiều công ty. Cà phê Cội Nguồn tuy nằm ngay mặt tiền nhưng với cách xây dựng và thiết kế quán đã tạo ra không gian thoáng đãng và yên tĩnh cách biệt với không khí ồn ào náo nhiệt bên ngoài, rất thích hợp cho những ai yêu thích sự yên tĩnh và thư giãn.

     

     

    CHƯƠNG 3:

    PHÂN TÍCH DỰ TOÁN TÀI CHÍNH ĐẦU TƯ

     

    3.1 Dự toán các hạng mục và nguồn vốn:

    Đvt: Đồng

    STT Tổng chi phí đầu tư ban đầu Thành tiền
    1 Vay ngân hàng 50.000.000
    2 Vốn tự có 100.000.000
      – Số cổ phần hùng vốn  
      + Lê Thị Kim Anh 60.000.000
      + Trần Thị Hoàng Oanh 40.000.000
      Tổng cộng 150.000.000

    Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng chẵn./.

    Do với vốn ban đầu không đủ, nên phải vay thêm vốn từ Ngân Hàng ACB với lãi suất 10% năm, thời gian trả trong 3 năm.

    Quán sẽ trả một khoản cố định là:

    ( với M= 50.000.000đ, i=10%)

    Bảng 5: Bảng kế hoạch trả nợ ngân hàng

    Đơn vị: Đồng

    Năm Dư nợ đầu kỳ Hoàn trả trong kỳ Dư nợ cuối kỳ
    Lãi vay % Khoản thanh toán Hoàn trả vốn gốc
    1 50.000.000 5.000.000 20.105.740 15.105.740 34.894.260
    2 34.894.260 3.489.426 20.105.740 16.616.314 18.277.946
    3 18.277.946 1.827.795 20.105.740 18.277.946 0

    Bảng 6: Bảng cơ cấu sử dụng vốn                    Đơn vị: Đồng

    Stt Hạng mục đầu tư Số lượng ĐVT Giá Thành tiền
    1 Bàn gỗ Cái 15 150.000 2.250.000
    2 Ghế gỗ Cái 40 120.000 4.800.000
    3 Ghế gỗ có nệm ngồi Cái 20 180.000 3.600.000
    4 Đồ lót ly Cái 100 2.000 200.000
    5 Mâm bưng nước Cái 20 60.000 1.200.000
    6 Ly nhỏ uống trà đá Ly 100 5.500 550.000
    7 Ly uống cà phê sữa nóng Ly 100 7.500 750.000
    8 Ly uống cà phê đá Ly 100 15.000 1.500.000
    9 Phin cà phê Cái 50 5.600 280.000
    10 Muỗng nhỏ Cái 60 1.500 90.000
    11 Muỗng cà phê đá Cái 100 4.000 400.000
    12 Cây khuấy nước (cam vắt,..) Cái 50 1.000 50.000
    13 Bình thủy tinh lớn (châm trà) Cái 10 50.000 500.000
    14 Bình thủy rạng đông Cái 3 120.000 360.000
    15 Nồi lớn nấu nước sôi Cái 1 450.000 450.000
    16 Dù lớn che nắng Cái 1 400.000 400.000
    17 Dàn amply Cái 1 12.000.000 12.000.000
    18 Đầu đĩa Cái 1 1.000.000 1.000.000
    19 Máy xay sinh tố Cái 1 700.000 700.000
    20 Kệ lớn đựng ly bằng inox Cái 2 700.000 1.400.000
    21 Thau rửa ly Cái 4 100.000 400.000
    22 Tủ đông để trái cây, đá… Cái 1 9.000.000 9.000.000
    23 Máy vi tính Cái 1 8.000.000 8.000.000
    24 Máy tính tiền Cái 1 6.900.000 6.900.000
    25 Dàn loa Cái 4 500.000 2.000.000
    26 Hệ thống đèn sáng Bộ 1 1.200.000 1.200.000
    27 Tiền lắp đặt wifi Bộ 1 1.000.000 1.000.000
    28 Điện đèn nước, tiền công Bộ 1 17.000.000 17.000.000
    29 1 tủ quày bar Bộ 1 4.000.000 4.000.000
    30 Trang trí nội thất, sữa chữa Lần 1 30.000.000 30.000.000
    31 Chi phí bảng hiệu, hộp đèn Bộ 1 3.000.000 3.000.000
    32 Chi phí Pano, vải quảng cáo Lần 1 1.500.000 1.500.000
    33 CP cọc 2 tháng thuê mặt bằng Tháng 2 10.000.000 10.000.000
    Tổng     126.480.000

    Bằng chữ: Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi ngàn đồng chẵn

    3.2 Dự toán kết quả đầu tư:

    1. Doanh thu                                     Đơn vị: Đồng
    Thông số
    Tổng số bàn 15 Bàn
    Đơn giá bình quân 15.000 Đồng/ly
    Công suất thiết kế
    Bình quân ly/bàn/giờ 2 Ly/bàn/giờ
    Giờ hoạt động 10 Giờ/ngày
    Tổng số ly bán trong 1 ngày 300 Ly/ngày
    Thời gian Số lượng bán bình quân Doanh thu đêm (đồng/ngày) Doanh thu năm (đồng/năm)
    Năm thứ 1 (50%) 150 2.250.000 810.000.000
    Năm thứ 2 (75%) 225 3.375.000 1.215.000.000
    Năm thứ 3 (90%) 270 4.050.000 1.458.000.000
    1. Chi phí

                                                     Đơn vị: Đồng

    Khoản chi phí Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3
    Lương nhân viên 300.000.000 330.000.000 363.000.000
    Điện 18.000.000 19.800.000 21.780.000
    Nước 12.000.000 13.200.000 14.520.000
    Nguyên liệu 210.000.000 294.000.000 411.600.000
    Chi phí báo, internet 4.860.000 4.860.000 4.860.000
    Chi phí mặt bằng 60.000.000 66.000.000 72.600.000
    Chi phí KH TSCĐ 29.512.000 29.512.000 29.512.000
    Chi phí lãi vay NH 15.105.740 16.616.314 18.277.946
    Tổng 649.477.740 773.988.314 936.149.946

    (Khấu hao tài sản cố định : giá trị đầu tư ban đầu là 126.480.000đ, dự tính giá trị còn lại sau 3 năm là 30% )

    1. Lợi nhuận
      Doanh thu thuần Chi phí Lợi nhuận trước thuế Lợi nhuận sau thuế
    Năm thứ 1 810.000.000 649.477.740 160.522.260 120.391.695
    Năm thứ 2 1.215.000.000 773.988.314 441.011.686 330.758.765
    Năm thứ 3 1.458.000.000 936.149.946 521.850.054 391.387.51

                                                                  Thuế TNDN 25%

    d. Báo cáo ngân lưu lập theo phương pháp trực tiếp:

    Năm 0 1 2 3
    Dòng tiền vào   810.000.000 1.215.000.000 1.495.944.000
     + Doanh thu   810.000.000 1.215.000.000 1.458.000.000
     + Giá trị thanh lý       37.944.000
    Dòng tiền ra 126.480.000 689.608.305 884.241.236 1.066.612.470
     + Tổng Z sản xuất 126.480.000      
     + Tổng chi phí   649.477.740 773.988.314 936.149.946
    Thuế TNDN 25%   40.130.565 110.252.922 130.462.524
    Dòng tiền ròng -126.480.000 120.391.695 330.758.765 429.331.530

    Giá trị thanh lý = 126.480.000*30% = 37.944.000đ.

    Thuế TNDN = Lợi nhuận trước thuế * 25%

    3.3 Dự toán hiệu quả tài chính

    + Hiện giá thu hồi thuần (NPV)

    P: Vốn đầu tư ban đầu

    r: Lãi suất chiết khấu

    CF: Dòng thu nhập ròng qua các năm

    Lấy lãi suất chiết khấu là 10%/năm

    NPV = – P + + + +

    = -126.480.000 +  +  +

    NPV  = 578.884.480

    Ta có NPV >0 => dự án khả thi, chấp nhận

    + Tỷ suất thu hồi nội bộ (IRR)

    Tính IRR thông qua NPV, cho NPV = 0, tính r trong công thức NPV, r này chính là IRR, ta có IRR = r khi :

    ó -126.480.000 +  +  +  = 0

    =>IRR= 1,52

    Ta thấy suất suất sinh lời thực tế của dự án IRR> 10% nên dự án chấp nhận

    + Tỷ suất sinh lời (PI)

    PI =  = = 5,58 >1, dự án chấp nhận

    + Thời gian hoàn vốn (PP)

    Là thời gian để ngân lưu tạo ra của sự án bù đắp chi phí đầu tư ban đầu.

    Năm 0 1 2 3
      -126.480.000 120.391.695 330.758.765 429.331.530

    PP = 1 năm +  = 1 năm 22 ngày.

    + Những rủi ro có thể gặp và biện pháp khắc phục

    1. Những rủi ro có thể gặp
    • Dự báo nhu cầu sai lệch do tính lạc quan dẫn đến sai tình hình,
    • Đối thủ cạnh tranh,
    • Bị thiếu sót trong phân tích đánh giá,
    • Chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những thay đổi của điều kiện tự nhiên (mưa, bão…),
    • Nguyên vật liệu bị hư hại trong vận chuyển, lưu trữ,
    • Giá cả thị trường biến động=> giá NVL tăng.
    1. Một số biện pháp khắc phục rủi ro.
    • Bám sát các nguồn thông tin có liên quan.
    • Quan tâm đến hướng phát triển của đối thủ cạnh tranh cũng như nhu cầu của khách hàng.
    • Kiểm soát chi phí và điều chỉnh quán phù hợp.

    3.4  Dự toán hiệu quả kinh tế xã hội

    Theo dự tính như trên, ta có chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước

    Thời gian Lợi nhuận sau thuế
    Năm thứ 1 120.391.695
    Năm thứ 2 330.758.765
    Năm thứ 3 391.387.51

     

     

    CHƯƠNG 4:

    KẾT LUẬN

     

    1.1 Kết luận

    Qua quá trình tìm hiểu phân tích và đánh giá thì dự án thành lập quán cà phê Cội Nguồn là khả thi. Và những chính sách mà quán thực hiện thì chúng tôi hi vọng sẽ mang lại sự hài lòng cho mọi người, đặc biệt là thành phần có nhu nhập thấp. Đây là một dự án không chỉ vì mục đích lợi nhuận mà nó còn thể hiện khát khao khởi nghiệp bằng chính sức mình của thế hệ trẻ. Dự án sẽ góp phần làm phát triển việc kinh doanh vốn cà phê trong tương lai.

    Dựa vào những lợi thế có sẵn về địa điểm, nhân viên, khả năng giao tiếp tốt và chiến lược về giá, chúng tôi sẽ tạo ra những mối quan hệ tốt với các tầng lớp khách hàng, nhà cung cấp cộng với sự đoàn kết chúng tôi sẽ cố gắng quyết tâm để cung cách phục vụ sẽ và có những chính sách ưu đãi về giá nhằm từng bước vượt qua các đối thủ cạnh tranh. Từ dự án này ta có thể rút ra kinh nghiệm để có thể làm tốt các dự án tiếp theo.

    1.2 Kiến nghị

    Theo dõi đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng. Thường xuyên theo dõi hoạt động thu chi của khách hàng một cách hiệu quả để ổn định doanh thu.

    Cập nhật thường xuyên về giá cả và tình hình đối thủ cạnh tranh.

    Nâng cao tinh thần đoàn kết và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên, phát huy tinh thần làm việc nhiệt tình của họ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quản trị dự án đầu tư Dự án giàn thép đỗ xe tại thành phố Hồ Chí Minh

    Tiểu luận Quản trị dự án đầu tư Dự án giàn thép đỗ xe tại thành phố Hồ Chí Minh

    Tiểu luận Quản trị dự án đầu tư Dự án giàn thép đỗ xe tại thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập tổng hợp Quản trị dự án đầu tư


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-D%E1%BB%B1-%C3%A1n-gi%C3%A0n-th%C3%A9p-%C4%91%E1%BB%97-xe-t%E1%BA%A1i-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị dự án đầu tư Dự án giàn thép đỗ xe tại thành phố Hồ Chí Minh

    Chương  1: TỔNG QUÁT VỀ DỰ ÁN

    1.1.          Sự cần thiết của dự án:

    Tính đến tháng 9 năm 2011, cả Tp. HCM có 480.473 chiếc ô tô, chiếm 1/3 tổng số xe ôtô của cả nước (Nguồn: Sở giao thông vận tải Hồ Chí Minh).Với lượng ô tô lớn nhất cả nước cộng với đó là sự gia tăng của số lượng ô tô khoảng từ 15%-20% lượng xe mỗi năm, một sự tăng trưởng đáng kể khiến cho lượng ô tô lưu thông trên đường ngày một tăng cao. Bên cạnh đó Tp.HCM là trung tâm của khu vực miền Đông Nam Bộ, mọi hoạt động Kinh tế-Văn hóa-Xã hội khu vực này đều tập trung ở Tp.HCM nên ngoài những xe mang biển số ở Tp.HCM lưu thông trong thành phố thì lượng xe của các tỉnh khác như Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ, Tiền Giang,… tới thành phố cũng không nhỏ, theo ước tính sơ bộ của bộ giao thông vận tải thì mỗi ngày có trung bình khoảng 60.000 xe ô tô mang biển kiểm soát của các tỉnh, thành khác lưu thông trên đường phố ở Tp.HCM. Với tốc độ phát triển nhanh của ô tô, quỹ đất trong vùng trung tâm lại đắt đỏ, chật hẹp nên những năm tới dự báo Tp.HCM sẽ thiếu trầm trọng bãi giữ xe ô tô. Sự phát triển nhanh của đất nước, quá trình đô thị hóa nhanh là tín hiệu vui song thực tế cơ sở hạ tầng đã không theo kịp sự phát triển. Ngay tại trung tâm TP.HCM, hàng loạt khu vực siêu thị, nhà hàng và cao ốc hầu như không đủ bãi giữ xe, xe đỗ tràn ra các tuyến đường đã làm cho các con phố quá tải, ôtô, xe gắn máy đậu tràn ra các vỉa hè, lòng lề đường của 77 tuyến phố.Số lượng xe nhiều đến nỗi, cả cấp quận, huyện cũng ra quyết định cấp phép bãi đậu xe ôtô, giữ xe gắn máy cho trên 2.400 điểm với 1.400 điểm lấn chiếm vỉa hè. Việc thiếu bãi giữ xe ngay tại trung tâm thành phố cho thấy vào giờ cao điểm, đặc biệt từ 7-10h và 17-20h, các tuyến đường chính trung tâm thành phố thường xuyên kẹt xe do đường nhỏ, lưu lượng phương tiện lớn, trong khi nhiều khu vực thường xuyên tắc đường vẫn buộc phải sử dụng làm điểm trông giữ xe, khá lộn xộn, khó kiểm soát.Thiếu bãi giữ xe ô tô thì hệ quả tất yếu sẽ xảy ra đó là một số lượng lớn ô tô đậu, đỗ không đúng quy định làm mất mỹ quan thành phố cũng như cản trở giao thông. Từ đó đã đạt ra một bài toán hóc búa cho cả chính quyền quản lý cũng như những người dân đang sở hữu ô tô.

    Quĩ đất đậu xe của thành phố chỉ vào khoảng 0,45%- 0,65% thực tế nhu cầu lên đến từ 3%- 6%(Nguồn: Sở giao thông vận tải Hồ Chí Minh). Ngoài ra, nhiều nhà cao tầng tại TP.HCM như SunWah, Petrovietnam Tower có tầng hầm để xe nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu và thậm chí có những tòa nhà cao tầng không hề có tầng hầm giữ xe. Đây là một vấn nạn của các thành phố lớn. Mặt bằng xây dựng ở các vùng trung tâm ở Tp.HCM như quận 1, 3, 7, Bình Thạnh,… lại rất đắt đỏ khiến cho không nhà đầu tư nào dám xây dựng một bãi giữ xe theo kiểu truyền thống. Xuất phát từ giải pháp thành công của các nước tiên tiến trên thế giới về vấn đề này như Nhật Bản, Hàn Quốc,…ở những thành phố chật hẹp này, người ta xây dựng hệ thống bãi giữ xe ôtô tự động được trang bị thiết bị nâng để di chuyển ôtô từ mặt đất lên điểm đỗ trên cao (hệ thống nổi hoặc di chuyển xe xuống điểm đỗ dưới lòng đất (hệ thống ngầm)). Đây là những giải pháp giúp tăng hơn 100 lần số lượng xe trên một diện tích truyền thống, cho phép giải quyết trình trạng thiếu mặt bằng xây dựng. Nhận thấy, Tp.HCM có tình trạng thiếu mặt bằng xây dựng khá tương đồng với những nước trên nên Tp.HCM có khả năng áp dụng thành công mô hình hệ thống đỗ xe nổi. Theo kết quả kiểm tra của Sở Xây dựng tại 79 công trình, cao ốc trong khu vực trung tâm Tp.HCM, chỉ có 14 công trình đủ chỗ để xe, 59 công trình không đủ diện tích để xe và 6 công trình không có chỗ để xe. Điều đáng nói, các công trình không đủ chỗ để xe đều là những nơi tập trung rất đông người, chẳng hạn như khách sạn Legend, cao ốc văn phòng 29 Tôn Đức Thắng, Petrovietnam Tower, Diamond Plaza, Parkson Lê Thánh Tôn, cao ốc Mê Linh, cao ốc văn phòng 35 Nguyễn Huệ, tòa nhà Sun Wah, khách sạn Norfolk, khách sạn Kim Đô, khách sạn Majestic… Qua đó có thể thấy nhu cầu về một bãi giữ xe hơi tự động, cao tầng tại trung tâm quận 1 rất cần thiết để đáp ứng những nhu cầu đó của người dân.

    1.2.          Căn cứ pháp lý của dự án:

    Báo cáo này được lập dựa trên các văn bản pháp lý:

    • Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
    • Nghị định số 64/2012/NĐ-CP ngày 04/09/2012 của Chính phủ về cấp giấy phép xây dựng.
    • Luật số 59/2005/QH11 của Quốc hội : Luật Đầu tư.
    • Khuyến khích xây dựng không gian giao thông tĩnh đang thiếu trầm trọng của thành phố, khuyến khích đầu tư xây dựng các bãi đậu xe vừa và nhỏ của thành phố Hồ Chí Minh nhằm giảm ùn tắc giao thông.

    1.3.          Căn cứ  thực tế:

    • Dựa vào số liệu của Khu Quản lý giao thông đô thịvề số xe ôtô, bãi đậu xe trên thành phố.
    • Dựa vào sự khảo sát nhu cầu cần thiết của việc đậu đỗ xe ôtô nhất là tại khu vực trung tâm mà cụ thể là quận 1.
    • Sự hỗ trợ của thành phố trong vấn đề vay vốn đầu tư.

     

    Chương 2: PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG CỦA SẢN PHẨM

     

    2.1. Sản phẩm: dịch vụ giữ  xe ôtô

    2.1.1. Địa điểm trông giữ:

    Ngã ba giao nhau giữa góc đường Hồ Tùng Mậu và đường Huỳnh Thúc Kháng trung tâm quận 1, Tp.HCM.

    2.1.2. Quy trình  trông giữ xe ôtô:

    Gửi xe: Ô tô được đưa vào bãi giữ xe, hệ thống sẽ tự động cập nhật vị trí và đưa xe tới vị trí định sẵn, chủ xe được cấp thể xe với mã số nhất định.

    Lấy xe: Chủ xe chỉ cần đưa thẻ xe cho nhân viên trông giữ, nhân viên thực hiện đúng quy trình đăng nhập hệ thống sẽ tự động đưa xe xuống.

    2.1.3. Thu phí trông giữ xe:

    Việc thu phí trông giữ xe sẽ thực hiện đúng quy định của UBND, cụ thể trông giữ xe vé lượt 15.000 đồng/ xe / 60phút, giữ đêm 1 triệu đồng/xe/tháng.

     

    2.1.4. Thủ tục ký hợp đồng trông giữ xe ôtô:

    Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi xe ôtô từ 10 ngày trở lên làm thủ tục ký hợp đồng trông giữ xe giữa chủ phương tiện và công ty khai thác điểm đỗ xe như sau:

    • Người ký hợp đồng là đại diện hợp pháp hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh  ( có thể uỷ quyền bằng văn bản cho người thay mình ký hợp đồng ).
    • Xuất trình giấy đăng ký phương tiện.

    2.2. Thị trường:

    2.2.1. Tình hình về cầu sản phẩm:

    Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở do UBND Tp.HCM công bố ngày 23/10/2009, dân số của Tp.HCM là 7,123 triệu người, tăng hơn 2 triệu dân trong vòng 10 năm, đây là con số tăng nhanh cho Tp.HCM. Cùng với sự tăng dân số là sự tăng lên về nhiều mặt khác như thị trường việc làm, nhà ở, phương tiện giao thông,…trong đó vấn đề lượng cầu nhà ở phương tiện giao thông là hai vấn đề nan giải cho Tp.HCM ở thời điểm hiện tại và tương lai.

    Theo sở Giao thông vận tải TP.HCM, tính đến hết tháng 9/2011, toàn thành phố có tổng cộng 5.364.226 phương tiện. Trong đó, xe ôtô có 480.473 chiếc (chiếm 1/3 tổng số xe ôtô của cả nước). Ngoài những xe mang biển số ở Tp.HCM, mỗi ngày có trên 60.000 xe ôtô mang biển kiểm soát của các tỉnh, thành khác lưu thông trên đường ở Tp.HCM cho nhiều công việc khác nhau. Do số lượng phương tiện quá nhiều như trên trong khi đó lượng bãi giữ xe ít không đáp ứng đủ cho lượng xe cần giữ làm cho việc giữ xe ở Tp.HCM gặp nhiều khó khăn và gây nên tình trạng ùn tắc giao thông ở một số nơi do giữ xe lấn chiếm đường, vỉa hè đặc biệt là địa bàn quận 1. Ngoài ra, việc phát triển đô thị tập trung quá cao ở khu vực quận 1 thu hút lượng lớn cầu phương tiện đến đây làm việc, vui chơi cũng như các hoạt động khác nhưng cơ sở hạ tầng chưa phát triển kịp để đáp ứng nhu cầu giao thông đô thị. Khu vực quận 1 tập trung rất nhiều cao ốc văn phòng, khách sạn, nhà hàng… Tuy nhiên, khá nhiều nơi có diện tích giữ xe rất nhỏ so với nhu cầu, thậm chí một vài nơi “quên” xây bãi giữ xe làm số lượng xe được giữ gặp nhiều khó khăn.. Theo UBND quận 1, trước đây trên địa bàn quận có 20 tuyến đường được UBND Tp.HCM cho phép tạm thời sử dụng một phần lòng đường để làm bãi đỗ xe có thu phí, tuy nhiên hiện tại những tuyến đường này đã được thu hồi biển báo dừng, đậu xe và lắp đặt biển báo cấm đậu theo chủ trương trả lại vỉa hè, lòng đường cho giao thông được thực hiện theo yêu cầu của Chính phủ và Ủy ban An toàn giao thông quốc gia dẫn đến tình trạng sử dụng vỉa hè giữ xe sẽ không còn nữa và gây khó khăn cho người sử dụng phương tiện giao thông.

    Như kết quả kiểm tra của Sở Xây dựng tại 79 công trình, cao ốc trong khu vực trung tâm quận 1 TPHCM, chỉ có 14 công trình đủ chỗ để xe, 59 công trình không đủ diện tích để xe và 6 công trình không có chỗ để xe. Điều đáng nói, các công trình không đủ chỗ để xe đều là những nơi tập trung rất đông người với mật độ trung bình là gần như 1 người 1 chiếc xe, chẳng hạn như khách sạn Legend, cao ốc văn phòng 29 Tôn Đức Thắng, Petrovietnam Tower, Diamond Plaza, Parkson Lê Thánh Tôn, cao ốc Mê Linh, cao ốc văn phòng 35 Nguyễn Huệ, tòa nhà Sun Wah, khách sạn Norfolk, khách sạn Kim Đô, khách sạn Majestic…các tòa nhà tập trung chủ yếu trên khu vực tứ giác vàng (Lê thánh tôn – Lê lợi – Nguyễn huệ – Đồng khởi và lân cận).

    Theo khảo sát tại các khu vực lớn tại quận 1 thì ta thấy các khu vực thiếu hoặc không có chỗ đậu xe thường:

    1. Khu vực xung quanh nhà thờ Đức Bà, gần đường Đồng Khởi, Lê Duẩn.
    2. Khu vực đường Nguyễn Huệ
    3. Khu vực đường Lê Lợi, gần chợ Bến Thành

    Hiện nay, nhiều người lái ôtô đi vào các quận 1, 3, 4 (TP.HCM) phải chạy lòng vòng tìm chỗ đậu rất khó khăn. TP không có chỗ đậu xe nên ôtô chạy trên đường nhiều càng tăng áp lực xe lưu thông cao và gây hao tốn nhiên liệu rất lãng phí.

    Trước thực tế chỗ đậu ôtô tại khu vực trung tâm TPHCM hạn chế như hiện nay, thì cần phải xây dựng những bãi đỗ xe mới để đáp ứng lượng xe này.

    2.2.2. Tình hình về cung sản phẩm:

    Ông Trương Quý Kỳ, Vụ trưởng, trưởng cơ quan đại diện Bộ Xây dựng tại TP.HCM cho biết, số lượng ôtô tại TP.HCM chiếm 1/3 tổng số ôtô cả nước . Theo kết quả kiểm tra của Sở Xây dựng tại 79 công trình, cao ốc trong khu vực trung tâm quận 1 TPHCM, chỉ có 14 công trình đủ chỗ để xe, 59 công trình không đủ diện tích để xe và 6 công trình không có chỗ để xe. Điều đáng nói, các công trình không đủ chỗ để xe đều là những nơi tập trung rất đông người với mật độ trung bình là gần như 1 người 1 chiếc xe, chẳng hạn như khách sạn Legend, cao ốc văn phòng 29 Tôn Đức Thắng, Petrovietnam Tower, Diamond Plaza, Parkson Lê Thánh Tôn, cao ốc Mê Linh, cao ốc văn phòng 35 Nguyễn Huệ, tòa nhà Sun Wah, khách sạn Norfolk, khách sạn Kim Đô, khách sạn Majestic…các tòa nhà tập trung chủ yếu trên khu vực tứ giác vàng (Lê thánh tôn – Lê lợi – Nguyễn huệ – Đồng khởi và lân cận).

    Theo TBKTSG Online – Qua rà soát của Sở Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng TPHCM cho thấy chỗ để xe trong các tòa nhà cao ốc văn phòng, khách sạn tại khu trung tâm TPHCM mới chỉ đáp ứng được 20%- 30% chỗ đậu xe của các tòa nhà.

    Theo Khu Quản lý giao thông đô thị, nếu tính luôn cả những bến bãi và các điểm đỗ xe tạm thời này thì cũng chỉ đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu đỗ xe tại khu vực trung tâm, đó là chưa nói vào những ngày cao điểm chỉ có thể đáp ứng được khoảng 40 đến 50%. Phòng cảnh sát giao thông đường bộ, Công an TP HCM, cho biết, nếu tính luôn những đoạn đường cho phép đậu xe thì khu vực trung tâm cũng chỉ có thể bố trí được hơn 3.000 chỗ đậu cho xe 4 bánh. Trong khi đó, số xe 4 bánh thường xuyên có nhu cầu đậu dừng ở trung tâm ước tính khoảng trên 7.000 xe/ngày đêm (chưa kể xe của khách vãng lai).

    Để đáp ứng nhu cầu cấp bách về bãi đậu cho xe 4 bánh, công ty Quản lý Công trình giao thông Sài Gòn đã lập phương án hình thành các bãi đậu xe nằm trên 40 tuyến đường, công viên và quảng trường của khu vực trung tâm. Số lượng xe lưu đậu tại các bãi đỗ xe này có thể lên đến 1.600 chiếc.

    Hiện nay, tại trung tâm thành phố chỉ có 2 bãi giữ xe ô tô thu phí là bãi ở công trường Lam Sơn và  bãi ở  khu vực chợ Bến Thành (trên đường Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh), cả hai bãi này chỉ phục vụ được 80-100 xe.

    Qua đó cho thấy các nhà xe hiện nay chỉ cung cấp được khoảng 80% nhu cầu gửi xe ô tô của người dân, vào nhứng ngày cao điểm cũng chỉ đáp úng được 40%-50% nhu cầu gửi xe. Xây dựng giàn thép giữ xe để đáp ứng nhu cầu gửi xe của người dân.

    2.2.3. Khả năng cạnh tranh:

    Theo thống kê sơ bộ của Sở Giao thông – Công chính TP.HCM (GTCC), cuối năm 2004, tại khu vực trung tâm quận 1, nhu cầu đậu xe trung bình là 1.200 xe/ngày, nhưng các bãi đậu xe công cộng chỉ đáp ứng được khoảng 350 xe, còn bãi đậu của các khách sạn, trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng là 500 xe.

    Việc xây dựng các bãi đậu xe theo kiểu truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu đỗ xe, giải quyết vấn nạn ùn tắc giao thông không hề đơn giản, do đất đai thành phố khan hiếm. Do đó, việc áp dụng bãi đậu xe tự động theo công nghệ hiện đại giải quyết được bài toán khó, đặc biệt là diện tích đất xây dựng.

    Dự án này sẽ có các đối thủ cạnh tranh là các bãi đậu xe truyền thống ở các siêu thị, nhà hàng, khách sạn, cao ốc văn phòng tại khu vực xung quanh, kế đến là chỗ đậu được phép trên lề đường và trong các bãi giữ xe công cộng. Tuy nhiên theo thanh tra Bộ Giao thông ghi nhận, các tòa nhà cao tầng mặt phố có tầng hầm để xe, nhưng không đáp ứng lượng xe của tòa nhà. Theo rà soát, 80 nhà cao tầng của Sở Xây dựng có 73% tòa nhà không đủ chỗ đỗ xe; 7,5% tòa nhà không có chỗ đỗ xe, chỉ có 18% tòa nhà đủ chỗ đỗ. Từ năm 2011 cho đến nay, vì tình hình ùn tắc giao thông tại khu vực trung tâm Tp.HCM đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, UBND thành phố đã cho chủ trương tiến tới dẹp bỏ hẳn các bãi đậu xe dưới lòng đường. Trước mắt, đã có 20 bãi giữ xe như vậy bị dẹp bỏ. Qua đó ta có thể thấy nhu cầu đậu xe là rất cao, khả năng đáp ứng thị trường thấp, do đó dự án sẽ không phải cạnh tranh nhiều.

    Xét về khía cạnh đối thủ tiềm ẩn: sáng 13/8/2012, tại cuộc họp về cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi khuyến khích đầu tư xây dựng bãi đậu xe ngầm của Tp.HCM, ông Bùi Xuân Cường – Phó giám đốc Sở Giao thông Vận tải thành phố cho biết, 18 địa điểm được các quận huyện đề xuất để xây dựng bãi đậu xe ngầm. Tuy nhiên, qua sàng lọc Sở đã chọn ra 4 địa điểm đáp ứng được các yêu cầu gồm sân cư xá Lý Thường Kiệt, công viên Lê Thị Riêng (quận 10), sân nhà thi đấu Phú Thọ (quận 11) và khu vực 63-65 Tân Thành (quận 5). Trong số 4 địa điểm này, Phó chủ tịch UBND Tp.HCM Nguyễn Hữu Tín yêu cầu Sở Giao thông chọn ngay 2 địa điểm để lập đề án thực hiện, đảm bảo cuối năm sẽ có đề án cụ thể, chứ không báo cáo chung chung. Tuy nhiên tính đến hiện tại, các dự án trên chỉ là trên giấy.

    • Qua đó ta có thể thấy nhu cầu đậu xe là rất cao, khả năng đáp ứng thị trường thấp, do đó dự án sẽ không phải cạnh tranh nhiều.

    2.3. Phân tích SWOT:

     

     

     

     

    MA TRẬN SWOT

    Cơ hội – Opportunity Nguy cơ – Threat
    1. Phương tiện cá nhân tăng lên, trong khi diện tích bãi đậu xe thì vẫn như cũ

     

    2.  Nhu cầu đậu xe tại quận 1 rất lớn nhưng khả năng đáp ứng thấp

    3.  Nhiều bãi đậu xe trên lòng đường tại quận 1 bị dẹp bỏ

    4.  Thành phố tạo điều kiện về mặt bằng sạch,nguồn vốn được vay từ Quỹ đầu tư phát triển thành phố với lãi suất ưu đãi.

     

     

    1. Những rào cảo về cơ chế thu hút đầu tư, thủ tục hành chính rườm rà và cách quản lý lòng đường vỉa hè lộn xộn

     

    2. Sự cố khách quan như điều kiện thời tiết, động đất, cháy nổ, va chạm do ôtô đâm vào khung cột giàn thép

    3.  Tại thành phố vẫn tồn tại nhiều điểm đậu xe trên lề đường với giá cực rẻ

     Điểm mạnh- Strength Phối hợp S/O Phối hợp S/T
    1.   Vị trí bãi đậu xe thuận lợi.

     

    2.   Có lợi thế của người tiên phong.

    3.  Có nguồn nhân lực trẻ, năng động, chất lượng cao cùng với cố vấn dự án giàu kinh nghiệm.

    4.  Do xe không tự vận hành trong bãi đậu xe nên không gây ra ô nhiễm, tránh được nguy cơ xảy ra hỏa hoạn, cháy nổ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     
    Điểm yếu- Weakness Phối hợp W/O Phối hợp W/T
    1. Bỏ vốn lớn nhưng khả năng thu hồi nhỏ giọt

     

    2. Doanh nghiệp chưa được quyền tự quyết giá trông xe

    3.  Mức phí giữ xe quá thấp

    4. Thời gian hoàn vốn lâu

       

     

    Chương 3: PHÂN TÍCH ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG

    3.1. Nguyên tắc lựa chọn địa điểm:

    Dựa theo những đặc điểm của dự án, địa điểm được lựa chọn dựa trên những nguyên tắc sau:

    • Nằm trong khu vực trung tâm Tp.HCM nơi có nhu cầu cao về dịch vụ trông giữ xe hơi.
    • Xung quanh khu vực chưa có bãi giữ xe quy mô lớn nào.
    • Đảm bảo quy hoạch đô thị của thành phố.
    • Địa điểm xây dựng thuộc phần đất dùng cho các hoạt động công ích để nhận được sự hỗ trợ, ưu đãi tốt từ phía chính quyền.

    3.2. Lựa chọn địa điểm:

    Dựa vào nhu cầu về bãi giữ xe trong khu vực trung tâm quận 1, thành phố Hồ Chí Minh đã chọn ra được 3 địa điểm để tiến hành xem xét là:

    1. Khu vực xung quanh nhà thờ Đức Bà, gần đường Đồng Khởi, Lê Duẩn.
    2. Khu vực đường Nguyễn Huệ
    3. Khu vực đường Lê Lợi, gần chợ Bến Thành.
    Địa điểm Khu vực 1 Khu vực 2 Khu vực 3
    Thuận Lợi – Nhu cầu cao

     

    – Thiếu bãi giữ xe ô tô

    – Nhu cầu cao

     

    – Thiếu bãi giữ xe ô tô

    – Nhu cầu cao

     

    – Thiếu bãi giữ xe ô tô

    – Còn một số khu đất trống

    Khó Khăn – Do đất đai ở đây rất hiếm nên không còn khu đất nào trống xung quanh khu vực – Không có khu đất trống nào xung quanh khu vực – Nhu cầu bãi giữ cao nhưng có mức độ tập trung ít so với khu vực 1 và 2.

    Dựa vào sự phân tích điểm mạnh và điểm yếu của từng khu vực như trên, nhận thấy mặc dù khu vực 1, 2 có nhu cầu khá cao và mức độ tập trung của nhu cầu lớn nhưng  do khu vực này đất đai quá khan hiếm cho nên không tìm ra được địa điểm thích hợp nào trong khu vực này để tiến hành xây dựng bãi giữ xe ô tô. Khu vực 3 thì vừa có nhu cầu khá cao từ các nhân viên sử dụng xe ô tô của các công ty thuê văn phòng tại các tòa nhà lớn và một lượng lớn xe của khách hàng đến giao dịch mỗi ngày tại các tòa nhà như Sunwah Tower (đường Nguyễn Huệ, quận 1), khách sạn Duxton (đường Nguyễn Huệ, quận 1),  Bitexco (đường Hải Triều, quận 1), ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (đường Hàm Nghi, quận 1), Ngân hàng Sacombank, Eximbank (đường Huỳnh Thúc Kháng, quận 1),… Bên cạnh đó thì khu vực này cũng có một số khu đất còn trống thích hợp cho việc xây dựng dự án, cụ thể địa điểm được lựa chọn là ở ngã ba giao nhau giữa góc đường Hồ Tùng Mậu và đường Huỳnh Thúc Kháng trung tâm quận 1, Tp.HCM.

    TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA DỰ ÁN:

    QUẢN LÝ
    BỘ PHẬN BẢO TRÌ
    BỘ PHẬN DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG
    BỘ PHẬN VẬN HÀNH BÃI GIỮ XE

    Cơ cấu tổ chức hoạt động của bãi giữ xe xe bao gồm 1 quản lý chính, Bộ phận giữ xe gồm 7 nhân viên chia làm 2 ca, bộ phận dịch vụ khách hàng gồm 1 nhân viên phụ trách giải đáp những thắc mắc của khách hàng cũng như tổ chức bán vé gửi xe theo tháng, vé của tập thể, công ty,… Cuối cùng là bộ phận bảo trì gồm 1 nhân viên. Những nhân viên sẽ được tuyển trực tiếp với những chỉ tiêu đơn giản.

     

    Chương 4: PHÂN TÍCH KINH TẾ – MÔI TRƯỜNG – XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN

    Vấn đền xây dựng bãi đậu xe nằm trong dự án phát triển toàn diện của thành phố và cả nước. Theo thống kê của Công an Tp.HCM, hiện cả thành phố đang có khoảng 126.000 xe ô tô, trong đó có 6.000 xe taxi lưu thông ngày đêm. Tại khu vực quận 1, số xe hơi 4 chỗ thường xuyên có nhu cầu dừng, đậu khoảng 6.700-7.000 lượt xe/ngày đêm, còn ở các quận 3, 5, 10 nhu cầu đậu xe cũng từ 3.000 – 5.000 chỗ/ngày đêm.

    Bãi đậu xe trong thành phố hiện rất thiếu, UBND thành phố Hồ Chí Minh vừa chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải nghiên cứu xây dựng đề án đầu tư xây dựng bãi đậu xe ngầm và bãi để xe nhiều tầng trên địa bàn thành phố, kêu gọi các nhà đầu tư tham gia lĩnh vực này. Trong khi chờ đợi những bãi đậu xe ngầm hoàn thành thì hiện tại chỉ có cách sắp xếp lại những bãi đỗ xe cao tầng trên các tuyến đường để giải quyết tình hình trước mắt.

    Bất cứ nước nào trên thế giới cũng cho đậu xe dọc theo các trục đường trong thành phố để góp phần giải quyết nhu cầu đậu xe. Tp.HCM cũng không ngoại lệ, tất nhiên ở các điểm đậu xe trong trung tâm thành phố sẽ thu phí cao hơn ở các nơi khác để điều tiết lượng xe muốn vào đậu ở trung tâm.

    Trước hết, dự án ra đời sẽ giải quyết được những nhu cầu cần bãi đậu xe cấp thiết của Tp.HCM, tăng diện tích đậu đỗ xe dưới 7 chỗ. Điều này sẽ góp phần hạ nhiệt phần nào nhu cầu cần nơi đỗ xe ở Tp.HCM đang khan hiếm trong khi không gian tại Tp.HCM là chật hẹp, đặc biệt là quận 1 phải dành chỗ để đậu những chiếc ôtô chiếm khoảng 10m2 mà số lượng xe ôtô là vô cùng lớn.

    Thứ hai, theo thanh tra Bộ Giao thông Vận tải, hiện việc sử dụng lòng đường, vỉa hè làm chỗ đậu xe xe khiến 1 lượng lớn xe của người sinh sống, làm việc trong các cao ốc phải đưa ra vỉa hè để tại Tp.HCM diễn ra rất phổ biến, hầu hết các cao ốc trên địa bàn Tp.HCM đều thiếu chỗ đậu, từ đó dự án có thể hạn chế được tình trạng đậu đỗ xe bất hợp lý, lần chiếm diện tích lưu thông đường, đặc biệt là những con đường nhỏ hay ùn tắc giao thông. Ngoài ra với giàn thép lắp ráp hiện đại, thẩm mỹ tạo văn minh đô thị cho thành phố.

    Thứ ba, dự án cũng góp phần tạo nên phân phối cân bằng giữa lượng xe lưu thông và dừng đổ. Vì đây là chương trình mang tính lợi ích kinh tế – xã hội mà UBND Tp.HCM đang rất cần người đầu tư.  Dự án hoàn thành sẽ luôn tạo điều kiện dễ dàng cho việc ra vào bãi đậu. Tỷ lệ phân phối xe giúp cải thiện môi trường ngộp ngạt ở thành thị, cân bằng tỷ lệ chiếm chỗ của các xe ôtô do người giàu sỡ hữu trên đường công cộng.

    Thứ tư, dự án hoàn thành mang lại yên tâm về chỗ đậu xe như ý, an toàn, hiện đai, đáng tin cậy cho người có nhu cầu đỗ xe, có thể phục vụ cho mọi xe dưới 7 chỗ, từ xe thường đến những siêu xe hiện đại. Phục vụ nhiều thành phần khách hàng khó tính.

    Thứ năm, ngoài ý nghĩa là bãi đậu xe trên, dự án sẽ thúc đẩy những dự án tương tự đầu tư có điều kiện nâng cao chất lượng cũng như quá trình nghiên cứu công nghệ, vừa tăng thêm lợi ích chung, đáp ứng nhu cầu của xã hội vừa biến nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước được giải ngân hiệu quả, có mục đích.

    Thứ sáu, khi bãi đỗ xe đi vào hoạt động, theo như việc phân tích tài chính ở trên, đứng trên góc độ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì dự án bãi đỗ xe sẽ đóng góp thuế vào ngân sách của Nhà nước.

    Như vậy, khi bãi đỗ xe giàn thép cao tầng đi vào hoạt động, nó sẽ tạo nên được lợi ích kinh tế – xã hội –môi trường rất lớn.

     

     

    Chương 5: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN

     

    5.1. Kinh phí đầu tư và vốn đầu tư:

    5.1.1. Lịch đầu tư và vòng đời sản phẩm:

    Đầu tư ban đầu sẽ được thực hiện trong vòng 1 năm (năm 0). Dự án hoạt động trong 10 năm (năm 1 đến năm 10). Thanh lý toàn bộ tài sản trong năm thứ 11.

    5.1.2. Địa điểm xây dựng và đất đai:

    Xây dựng mô hình bãi giữ xe cao tầng đầu tiên ở ngã ba giao nhau giữa góc đường Hồ Tùng Mậu và đường Huỳnh Thúc Kháng trung tâm quận 1, Tp.HCM.

    Tổng diện tích đất sử dụng cho dự án bãi giữ xe ô tô tự động ở trung tâm Tp.HCM sẽ là 130m2, ở khu vực ngã 3 đường Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Tùng Mậu. Dự kiến giá tiền thuê đất mỗi tháng dự kiến là 5.000.000 VNĐ do đây là dự án mang tính xã hội cao nên nhận được sự ủng hộ khá lớn từ phía chính quyền, cụ thể có thể thể hiện qua giá tiền thuê đất và miễn tiền thuê đất trong quá trình xây dựng và lắp đặt dự án (Năm 0). Mặc khác ngày 31/10 vừa qua UBND TP HCM đã có văn bản kiến nghị Thủ tướng chi phép miễn tiền thuê đất để làm bãi giữ xe (Nguồn: www.hochiminhcity.gov.vn/)cho nên khả năng dự án được miễn tiền thuê đất trong những năm tiếp theo rất là cao.

                            Bảng 1: Giá thuê đất dự kiến trong 6 năm                   Đơn vị:triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Diện tích (m2 130 130 130 130 130 130
    Số tiền 0 60 60 60 60 60

    5.1.3. Quy mô xây dựng và các hạng mục công trình:

    Quy mô :

    Toàn bộ diện tích lắp dựng giàn thép của bãi đỗ xe là  130 m2

    Gara 5 tầng, gồm nhiều tầng, lượng xe chứa được dựa vào diện tích bãi đỗ

    Giàn thép ghép tự động có thể đặt vừa diện tích mặt bằng nhỏ hẹp tối thiểu là 30m2/block, giàn đứng có 8 vị trí chứa được ô tô loại dưới 7 chỗ ngồi, đồng thời có thể mở rộng đến 12 vị trí. Mỗi một vị trí có chiều dài là 5m2, rộng 2m2, tải trọng dưới 2 tấn. Cơ cấu hoạt động của giàn đứng quay vòng

    Như vậy, với việc thực hiện trong phạm vi 1000m², cao 5 tầng (10,5m). Giàn thép ước tính có khoảng 4 block, gồm   3 block xe 4 chỗ và 1 block xe  7 chỗ xe, trong đó có mỗi block đỗ xe có thể chứa khoảng 8 xe. Như vậy bãi đỗ xe sẽ có sức chứa khoảng 30 xe dưới 7 chỗ.

    Quy mô của bãi đỗ xe có quy mô tương đương với bãi đỗ xe giàn của dự án giàn đỗ xe cao tầng bằng thép đầu tiên ở Việt Nam tại số 32 phố Nguyễn Công Trứ, Hà Nội.. Ta có thể thấy quy mô của bãi đỗ xe của dự án này là không lớn.

    Hạng mục:

    Hạng mục là một phần công trình có công năng có thể vận hành một cách độc lập.

    Hạng mục cuả giàn thép đỗ xe :

    • Lắp đặt gara đỗ xe cao tầng (hệ thống bằng thép, những vòng xích nâng đỡ, cần cẩu được điều khiển từ xa,…), lắp đăt nhiều block từng tự một.
    • Xây dựng quy trình vận hành của giàn đỗ xe hoàn toàn tự động.
    • Lắp hệ thống mái che chắn bảo vệ hệ thống vận hành và xe đỗ. Là những khâu cuối cùng về lợp mái và rèm 4 xung quanh để che nắng mưa.
    • Hệ thống đèn chiếu được trang bị đồng bộ, hiện đại phục vụ cho công tác hoạt động và bảo vệ của bãi đỗ.
    • Báo động và phòng cháy chữa cháy.

    .

    5.1.4. Phương thức xây dựng, lắp đặt và chuyển giao công nghệ:

    • Giàn đổ xe được lắp ghép tự động, bằng công nghệ thiết bị trong nước.
    • Có những tính năng cũng như thông số kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện thực tế của ViệtNam.
    • Công nghệ giàn thép đỗ xe dạng xếp hình,dạng đứng: Khá giống với giàn thép đỗ xe Nguyên Công Trứ, Hà Nội với thiết bị công nghệ nhập từ Hàn Quốc.
    • Có thể liên kết, tháo lắp di dời một cách cơ động (có thể lắp đặt trên mặt bằng nhỏ hẹp tối thiểu là 30m2/blok) và tùy theo mặt bằng cho phép đến đâu, blok có thể kéo dài, nâng chiều cao thuận tiện, đạt tiêu chuẩn an toàn, phù hợp với đô thị Việt Nam.
    • Nguyên lý hoạt động của thiết bị này khá đơn giản: có thể quay tròn dạng đu quay để đưa xe lên xuống.
    • Sử dụng thẻ để có thể sử dụng giàn thép đỗ xe tự động. Chủ xe chỉ cần quẹt thẻ có thể đưa xe lên, xuống.

    5.2. Tổ chức sản xuất kinh doanh:

    5.2.3. Doanh thu:

    • Công suất dự kiến:

    Sức chứa 30 xe một lúc

    • Bảng công suất cụ thể như sau:

    Bảng 2: Bảng công suất dự kiến

    BẢNG ĐƠN GIÁ THEO GIỜ
    Số giờ Số tiền Số tiền bình quân theo giờ Tỷ lệ người gửi(%)
    1 15000 15,000 15
    2 28000 14,000 38
    3 40000 13,333 37
    4 51000 12,750 5
    trọn gói (>4h) 100000 10,000 5
    Giá bình quân 13,500
    BẢNG CÔNG SUẤT NGÀY(tính theo ngày14h)
      Năm 1 Năm 2- 10
    Công suất theo thời gian 75 85
    Công suất theo số chỗ 80 90
    Tổng công suất (theo năm) 91,980 117,275
    BẢNG CÔNG SUẤT BAN ĐÊM (tính theo tháng)
      Năm 1 Năm 2-10
    Tỷ lệ gửi xe 75 85
    Tổng công suất( theo năm) 270 306
                 
    • Giá bán sản phẩm:
    Vé lượt 15.000 đồng/1 giờ
    Vé giữ đêm 1.000.000 đồng / tháng

    Chú ý:

    • Phần thời gian gửi ít hơn 1 giờ vẫn tính là một giờ.
    • Không phân biệt loại xe.

    5.2.4. Chi phí:

    • Nhân lực và lao động:

    Chi phí nhân công : 2 nhân viên vận hành , 1 nhân viên bảo trì, 5 nhân viên bảo vệ, 1 kế toán, 1 quản lý.

    • Tiền lương nhân viên vận hành 5 triệu đồng/ tháng.
    • Tiền lương nhân viên bảo trì là 4,5 triệu/ tháng.
    • Tiền lương bảo vệ 4.5 triệu/tháng.
    • Tiền lương kế toán 5 triệu/ tháng.
    • Tiền lương quản lý 5.5 triệu/ tháng.

    Nhân viên vận hành và bảo vệ  làm việc theo ca, ngày và đêm và luân phiên nhau.

    Tổng chi phí nhân công là 47,5 triệu đồng/ tháng.

    • Chi phí vận hành:

    Tiền điện dùng cho việc chiếu sáng và vận hành hệ thống ước tính 4.5tr/ tháng.

    • Chi phí bảo trì:

    Chi phí bảo trì, bảo dưỡng: Chi phí bảo trì, bảo dưỡng ước tính 1 tháng là 3 triệu  đồng/tháng.

    • Chi phí thuê đất:

    Diện tích đất là 130m2, tiền thuê đất mỗi năm là 60 triệu đồng.

    • Chi phí khấu hao:

    Nhóm chúng tôi sẽ tính khấu hao cho 10 năm cho sản phẩm theo phương pháp khấu hao nhanh (Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định).

    • Bảo hiểm cháy nổ:

    Phí bảo hiểm mỗi tháng là 0,1794% giá trị giàn thép.

    • Tổng chi phí hoạt động năm 1 là 812.570.400 đồng.

    5.3. Tổng kết nhu cầu vốn đầu tư và các nguồn vốn:

    Vốn vay: Dự kiến sẽ vay quỹ đầu tư và phát triển với số tiền tương ứng bằng 70%  vốn đầu tư  là 3.013.000.000 đồng. Khoản vay này sẽ được vay trong 1 lần, vốn vay trả đều, lãi tính trên vốn vay còn lại.

     Vốn góp: Vốn góp chiếm chiếm 30% : 1.292.000.000 đồng.

    Lãi  suất: Lãi suất cho vay của quỹ đầu tư phát triển là 2,5%/ năm, thời gian cho vay là 10 năm.

    Vốn lưu động và tài trợ vốn:

    • Khoản phải thu: Do đặc thù ngành nghề kinh doanh này là thu tiền trực tiếp khi trước khi gửi xe nên khoản phải thu là không có.
    • Tồn quỹ tiền mặt: Ước khoảng 2% doanh thu hàng năm để bảo đảm các chi trả thường xuyên.
    • Khoản phải chi: đây là sản phẩm cố định khai thác trực tiếp trên sản phẩm chỉ tốn các khoản chi phí như đã nêu trên mục 3.2.2 nên khoản phải chi này không phát sinh.

    Lạm phát: Tỉ lệ lạm phát năm 2012 là 7,5%

    Tổng nguồn vốn :

    • Tổng nguồn vốn bỏ ra là 4.305.000.000 đồng
    • Giá giàn thép + thiết bị bảo an là : 4.300.000.000 đồng
    • Giá vận hành máy móc ban đầu là : 3.000.000 đồng
    • Chi phí khác ( đèn, dây điện, ghế, chổi,v.v) : 2.000.000 đồng

    Thuế thu nhập doanh nghiệp  : Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 là 25%.

    Thanh lý tài sản:Tài sản thanh lý tài sản sau 10 năm, giá trị ước tính khoảng 165.000.000 đồng ( giá thép phế liệu: 11.000 đồng/ kg, dàn thép nặng 15 tấn).

    Lãi suất chiết khấu: Theo cơ cấu vốn đầu tư, vốn vay là 3013 triệu đồng (70%) với iV = 2,5%/năm, còn lại 1292 triệu đồng là vốn riêng với iR = 25%/năm. Như vậy, lãi suất chiết khấu của dự án là (3013*2,5% + 1292*25%)/4305 = 9,25%/năm.

    5.4. Phân tích tài chính của dự án:

    • Bảng khấu hao:

    Bảng 3: Khấu hao                      Đơn vị: triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Giá trị đầu kì 4.305 4.305 3.229 2.422 1.816 1.362
    Khấu hao trong kì   1.076 807 605 454 341
    Khấu hao tích lũy   1.076 1.883 2.489 2.943 3.283
    Giá trị cuối kỳ 4.305 3.229 2.422 1.816 1.362 1022

    Khấu hao được phân bổ trong 10 năm. Bảng trên trích 5 năm đầu. Sử dụng phương pháp khấu hao nhanh cho 6 năm đầu, giá trị khấu hao = 1/10 * 2.5 * giá trị đầu kì, 4 năm còn lại sử dụng phương pháp khấu hao đều.

    • Lịch trả nợ:

    Bảng 4: Lịch trả nợ                      Đơn vị: triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Vốn đầu tư 4.305          
    Vốn vay 3.013          
    Nợ đầu kì 3.013 3.013 2.712 2.410 2.109 1808
    Trả nợ    376 369 361 354 346
    Vốn   301 301 301 301 301
    Lãi   75 68 60 53 45
    Nợ cuối kì 3.013 2.712 2.410 2.109 1808 1507

    Bảng trên trích 5 năm đầu của lịch trả nợ. Vốn đầu tư ban đầu của dự án là 4.305 triệu đồng, trong đó vốn vay chiếm 30%, tương đương với số tiền là 3.013 triệu đồng. Vì vốn vay trả đều, lãi tính trên vốn vay còn lại nên phần vốn trả đều mỗi năm là 3013/10=301.

    • Doanh thu:

    Bảng 5: Doanh thu                       Đơn vị: đồng

    Chỉ tiêu Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Công suất ban ngày 91.980 117.275 117.275 117.275 117.275
    Giá bán 13.500 13.500 13.500 13.500 13.500
    Công suất ban đêm 270 306 306 306 306
    Giá bán 1.000.000 1.000.000 1.000.000 1.000.000 1.000.000
    Doanh thu 1.511.730.000 1.889.205.750 1.889.205.750 1.889.205.750 1.889.205.750
    • Tồn quỹ tiền mặt:

    Bảng 6: Tồn quỹ tiền mặt             Đơn vị: triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Doanh thu 1.511,73 1.889,20575 1.889,20575 1.889,20575 1.889,20575
    Nhu cầu tiền mặt 30,2346 37,784115 37,784115 37,784115 37,784115
    ∆ Nhu cầu tiền mặt 30,2346 7,549515 0 0 0
    Ngân lưu 0 30,2346 37,784115 37,784115 37,784115
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

    Bảng 7: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh       Đơn vị: triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Doanh thu 1.511,73 1.889,20575 1.889,20575 1.889,20575 1.889,20575
    Chi phí hoạt động 660 660 660 660 660
    Thuê đất 60 60 60 60 60
    Bảo hiểm 92,5704 92,5704 92,5704 92,5704 92,5704
    Tổng chi phí 812,5704 812,5704 812,5704 812,5704 812,5704
    Khấu hao 1.076,25 807,1875 605,390625 454,042969 340,532227
    EBIT -377,0904 269,44785 471,244725 622,592381 736,103123
    Lãi vay 75 60 45 30 15
    EBT -452,0904 209,44785 426,244725 592,592381 721,103123
    Thuế (25%) 0 52,361963 106,561181 148,148095 180,275781
    Lãi ròng -452,0904 157,085888 319,683544 444,444286 540,827343
    • Báo cáo ngân lưu:

                                                      Bảng 8: Báo cáo ngân lưu                Đơn vị: triệu đồng

    Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5
    Doanh thu 0 1.511,73 1.889,206 1.889,206 1.889,206 1.889,206
    Thay đổi khoản phải thu 0 0 0 0 0 0
    Thanh lý tài sản            
    Dòng ngân lưu vào 0 1.511,73 1.889,206 1.889,206 1.889,206 1.889,206
    Chi phí đầu tư 4.305          
    Chi phí hoạt động   812,57 812,57 812,57 812,57 812,57
    Thay đổi khoản phải trả   0 0 0 0 0
    Thay đổi quỹ tiền mặt   30,235 7,55 0 0 0
    Thuế   0 52,362 106,561 148,148 180,276
    Dòng ngân lưu ra 4.305 842,805 872,482 919,132 960,718 992,846
    Net Cash Flow -4.305 668,925 1.016,724 970,074 928,487 896,36

    5.5. Đánh giá hiệu quả tài chính của dự án:

    • Dòng tiền NCF:
    0
    1
    2
    3
    4
    5
    11
    668,925
    1.016,724
    970,074
    928,487
    896,36
    202,784
    4.305
    • NPV:

    NPV = [ 668,925*(1 + 9,25%)-1 + 1.016,724*(1 + 9,25%)-2                  +970,074*(1 + 9,25%)-3 + 928,487*(1 + 9,25%)-4 + 896,36*(1 + 9,25%)-5                   + …+ 202,784*(1 + 9,25%)-11] – 4.305 = 1.350,049348 triệu đồng.

    Dự án có NPV >0 nên quyết định đầu tư

    • IRR:

    Với i1 = 15%

    • NPV1 = [ 668,925*(1 + 15%)-1 + 1.016,724*(1 + 15%)-2 +970,074*(1 + 15%)-3 + 928,487*(1 + 15%)-4 + 896,36*(1 + 15%)-5                   + …+ 202,784*(1 + 15%)-11] – 4.305 = 142,116324 triệu đồng.

    Với i2= 17%

    • NPV2 = [ 668,925*(1 + 17%)-1 + 1.016,724*(1 + 17%)-2 +970,074*(1 + 17%)-3 + 928,487*(1 + 17%)-4 + 896,36*(1 + 17%)-5 + …+ 202,784*(1 + 17%)-11] – 4.305 = -184,577975 triệu đồng.

    IRR= 15% + (17% – 15%)*142.116.324/ (142.116.324 + │-184.577.975│) = 0,16   => 16%

    Ta thấy IRR của dự án = 16% lớn hơn lãi suất chiết khấu (9,25%) => nên đầu tư vào dự án.

    • DPP:

    Bảng 9: Thời gian hoàn vốn                         Đơn vị: đồng

    Mốc Số tiền Hệ số chiết khấu (1+i) P P tích lũy
    0 -4.305.000.000 0 -4.305.000.000 -4.305.000.000
    1 618.755.625 0,941 582.249.043 -3.722.750.957
    2 940.469.582 0,886 833.256.050 -2.889.494.907
    3 897.318.606 0,834 748.363.717 -2.141.131.190
    4 858.850.711 0,785 674.197.808 -1.466.933.382
    5 829.132.601 0,739 612.728.992 -854.204.389
    6 809.445.582 0,654 529.377.411 -324.826.979
    7 794.680.318 0,616 489.523.076 164.696.097
    8 794.680.318 0,579 460.119.904 624.816.002
    9 794.680.319 0,545 433.100.774 1.057.916.775
    10 794.680.319 0,513 407.671.004 1.465.587.779

    T = 6 + 324.826.79/489.523.076 = 6,66 năm

    Chương 6: ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN

     

    6.1. Đánh giá tính khả thi:

    Bảng 10: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu tài chính

    Chỉ tiêu Lạm phát 7,5%
    NPV 1.350.049.348
    IRR 16%
    T 6,66 năm

    Rõ ràng, ta nhận thấy các chỉ tiêu NPV=1.350.049.348 lớn hơn 0, chỉ tiêu         IRR =16%  lớn hơn lãi suất chiết khấu 9.25%,  chỉ tiêu T= 6,66 năm nhỏ hơn vòng đời dự án (10 năm). Ngoài ra, khi phân tích kinh tế – xã hội thì dự án có lợi ích rất lớn. Do vậy, dự án là hoàn toàn khả thi và nên được thực hiện ngay.

    6.2. Tiến độ thực hiện:

    BẢNG CÔNG VIỆC

    CV Tên CV Thời gian (tháng) Trình tự
    A Lập dự án 2 Bắt đầu ngay
    B Trình dự án cho sở Kế hoạch đầu tư 12 Sau A
    C Đấu thầu công trình dự án. 1 Sau B
    D Xây dựng lắp đặt dự án. 6 Sau C
    E Tuyển nhân viên cho dự án. 0.5 Sau C
    F Khánh thành 0.5 Sau D,E

    BIỂU ĐỒ GANTT

             Tháng

     

    Công việc

    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22
    Lập dự án (A)                                            
    Trình dự án cho sở Kế hoạch đầu tư (B)                                            
    Đấu thầu công trình dự án.(C)                                            
    Xây dựng lắp đặt dự án.(D)                                            
    Tuyển nhân viên cho dự án.(E)                                            
    Khánh thành dự án.(F)                                            
    0.5
    F
    D
    6
    SƠ ĐỒ PERT
    A
    2
    0
    0
    0
    0
    B
    12
    2
    2
    1
    0
    C
    1
    14
    14
    2
    0
    21.5
    21.5
    6
    0
    0.5
    E
    15
    15
    3
    0
    5
    15.5
    15.5
    0
    0
    4
    21
    21

    NHẬN XÉT: Dựa vào sơ đồ Gantt  trên, ta thấy tổng thời gian thực hiện dự án là 21.5 tháng, công việc E được trễ hạn, thời gian trễ hạn là 5.5 tháng. Các công việc A, B,C,D và F là những công việc quan trọng và không được trễ hạn.

     

    Chương 7: KẾT LUẬN

    Dự án giàn thép đỗ xe đang là một trong những dự án được quan tâm hàng đầu tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Dự án đi vào vận hành sẽ góp phần giải phóng giao thông tĩnh, giúp giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông trước mắt, đem lại diện mạo mới cho thành phố. Bên cạnh những lợi ích to lớn về kinh tế – môi trường – xã hội, dự án cũng hứa hẹn một mức sinh lời lớn cho nhà đầu tư. Với lại, tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay chưa có một dự án tương tự nào được triển khai. Khi tham gia vào dự án các nhà đầu tư sẽ có lợi thế của người tiên phong. Bên cạnh đó, chính quyền thành phố đang có chính sách ưu đãi hỗ trợ rất nhiều cho dự án này như hỗ trợ về vốn vay, mặt bằng xây dựng…nên dự án này hoàn toàn khả thi và sẽ mang lại một mức lợi nhuận lớn cho nhà đầu tư.

    Tài liệu tham khảo:


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Câu hỏi thi trắc nghiệm môn Quản trị dự án đầu tư

    Câu hỏi thi trắc nghiệm môn Quản trị dự án đầu tư

    Câu hỏi thi trắc nghiệm môn Quản trị dự án đầu tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Quản trị chiến lược


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/C%C3%A2u-h%E1%BB%8Fi-thi-tr%E1%BA%AFc-nghi%E1%BB%87m-m%C3%B4n-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Câu hỏi thi trắc nghiệm môn Quản trị dự án đầu tư

    CÂU HỎI THI TRẮC NGHIỆM

    Chương 1. Cơ sở phương pháp luận

    1)  Đầu tư là hoạt động:

    1. a) Xã hội
    2. b) Kinh tế
    3. c) Môi trường
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    2) Dự án đầu tư, nhằm:

    1. a) Tạo mới công trình
    2. b) Mở rộng công trình
    3. c) Cải tạo công trình
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    3) Một dự án đầu tư,  gồm:

    1. a) 4 yếu tố cơ bản
    2. b) 5 yếu tố cơ bản
    3. c) 6 yếu tố cơ bản
    4. d) 7 yếu tố cơ bản

    4) Có thể phân loại đầu tư:

    1. a) Theo chức năng quản trị vốn và Theo nguồn vốn
    2. b) Theo nội dung kinh tế
    3. c) Theo mục tiêu đầu tư
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    5) Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư, mà trong đó chủ đầu tư:

    1. a) Trực tiếp tham gia quản trị vốn bỏ ra
    2. b) Không trực tiếp tham gia quản trị vốn bỏ ra
    3. c) Cho vay
    4. d) Tất cả các câu trên đều sai

    6) Đầu tư gián tiếp là phương thức đầu tư, mà trong đó chủ đầu tư:

    1. a) Trực tiếp tham gia quản trị vốn bỏ ra
    2. b) Không trực tiếp tham gia quản trị vốn bỏ ra
    3. c) Có khi trực tiếp có khi không trực tiếp quản trị vốn bỏ ra
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    7) Đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt nam có các hình thức:

    1. a) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
    2. b) Thành lập công ty liên doanh
    3. c) Thành lập công ty 100% vốn nước ngoài
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    8) Cho vay tiền lấy lãi của các tổ chức tín dụng là phương thức đầu tư:

    1. a) Trực tiếp
    2. b) Gián tiếp
    3. c) Trung gian
    4. d) Vừa có trực tiếp vừa có gián tiếp

    9) Phân loại đầu tư theo nguồn vốn,  có:

    1. a) Vốn trong nước và vốn ngoài nước
    2. b) Vốn ngân hàng thương mại
    3. c) Vốn xây dựng cơ bản
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    10) Vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt nam có các thành phần:

    1. a) Vốn vay và vốn viện trợ của Chính phủ và các Tổ chức quốc tế
    2. b) Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
    3. c) Vốn đầu tư của các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và của các cơ quan nước ngoài khác đóng tại Việt nam
    4. d) Tất cả các câu trên đều đúng

    11) Nguồn vốn trong nước dùng để đầu tư được hình thành, từ:

    1. a) Vay ngân hàng thương mại trong nước
    2. b) Tích luỹ từ nội bộ của nền kinh tế quốc dân
    3. c) Vay nước ngoài
    4. d) Công ty này vay của công ty khác

    12)  Đầu tư vào lực lượng lao động, đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư vào tài sản lưu động, thuộc cách phân loại đầu tư:

    1. Theo chức năng quản trị vốn
    2. Theo nguồn vốn
    3. Theo nội dung kinh tế
    4. Theo mục tiêu đầu tư

    13)  Dự án đầu tư xây dựng công trình Công nghiệp điện (thuộc nhóm A) có  tổng mức đầu tư lớn nhất là:

    1. Từ 300 tỷ đến 400 tỷ
    2. Từ 400 tỷ đến 500 tỷ
    3. Từ 500 tỷ đến 600 tỷ
    4. Trên 600 tỷ

    14) Dự án đầu tư xây dựng công trình Công nghiệp điện (thuộc nhóm B) có  tổng mức đầu tư lớn nhất là:

    1. Đến 400 tỷ
    2. Đến 500 tỷ
    3. Đến 600 tỷ
    4. Đến 700 tỷ

    15) Dự án đầu tư xây dựng công trình Công nghiệp điện (thuộc nhóm C) có  tổng mức đầu tư lớn nhất là:

    1. Dưới 7 tỷ
    2. Dưới 15 tỷ
    3. Dưới 20 tỷ
    4. Dưới 30 tỷ

    16) Báo cáo ngân lưu của dự án được lập theo phương pháp:

    1. Trực tiếp và Gián tiếp
    2. Nội suy và Ngoại suy
    3. Trung gian và Bán trung gian
    4. Tất cả các câu trên đều sai

    17) Báo cáo ngân lưu của dự án gồm các thành phần:

    1. Dòng ngân lưu vào
    2. Dòng ngân lưu ra
    3. Dòng ngân lưu ròng
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    18) Phương pháp xác định dòng ngân lưu ròng của dự án bằng cách điều chỉnh dòng lợi nhuận ròng của báo cáo dự toán kết quả hoạt động kinh doanh là phương pháp:

    1. Gián tiếp
    2. Trực tiếp
    3. Trung gian
    4. Gần đúng

    19) Phương pháp xác định dòng ngân lưu ròng của dự án theo các khoản tiền mặt thực thu, thực chi là phương pháp:

    1. Gián tiếp
    2. Trực tiếp
    3. Trung gian
    4. Gần đúng

    20) Khấu hao tài sản cố định trong dự án đầu tư là khoản chi phí:

    1. Phải chi bằng tiền mặt
    2. Không phải chi bằng tiền mặt
    3. Có khi phải chi bằng tiền mặt có khi không phải chi bằng tiền mặt
    4. Dùng để thanh lý tài sản cố định

    21)  Trong phương pháp xác định dòng ngân lưu ròng của dự án bằng cách điều chỉnh dòng lợi nhuận ròng của báo cáo dự toán kết quả hoạt động kinh doanh, thì khấu hao tài sản cố định:

    1. Được cộng vào
    2. Được trừ ra
    3. Được nhân với
    4. Được chia cho dòng lợi nhuận ròng

    22)  Dòng tiền chi trả thuế trong báo cáo ngân lưu của dự án được lấy từ:

    1. Bảng dự toán cân đối kế toán
    2. Báo cáo dự toán kết quả hoạt động kinh doanh
    3. Báo cáo thuyết minh báo cáo tài chính
    4. Báo cáo công nợ

    23)  Giá trị thanh lý của đất đai thể hiện trong báo cáo ngân lưu dự án, bằng với:

    1. Giá mua đất
    2. Giá thị trường tại thời điểm thanh lý
    3. Giá mua đất có tính đến yếu tố lạm phát
    4. Chi phí cơ hội sử dụng đất

    24) Để thuận lợi cho việc tính toán, báo cáo ngân lưu của dự án thường quy ước tất cả dòng tiền về lúc:

    1. Đầu năm
    2. Giữa năm
    3. Cuối năm
    4. Thời điểm tuỳ ý

    25)  (1+ i)n với i: lãi suất và n: thời gian, là:

    1. Hệ số chiết khấu
    2. Hệ số tích luỹ
    3. Hệ số hao mòn
    4. Giá trị hiện tại của một đồng bạc với lãi suất i ở năm n

    26)  1/(1+ i)n với i: lãi suất và n: thời gian, là:

    1. Hệ số chiết khấu
    2. Hệ số tích luỹ
    3. Hệ số co giãn
    4. Giá trị tương lai của một đồng bạc với lãi suất i ở năm n

    27)  Công thức P =     Fn

                               (1+i)n

    1. Giá trị hiện tại của khoản tiền đơn
    2. Giá trị tương lai của khoản tiền đơn
    3. Giá trị hiện tại của loạt tiền bằng nhau
    4. Giá trị tương lai của loạt tiền bằng nhau

    28)  Công thức =PMT(rate,nper,pv) trong bảng Excel dùng để tính:

    1. Trả nợ gốc đều hàng năm
    2. Trả lãi vay đều hàng năm
    3. Trả nợ (cả nợ gốc và lãi vay) đều hàng năm
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    29)  Công thức Fn = A  (1+ i)n –1   dùng để tính:

                                               i

    1. Giá trị hiện tại của khoản tiền đơn
    2. Giá trị tương lai của khoản tiền đơn
    3. Giá trị hiện tại của loạt tiền bằng nhau
    4. Giá trị tương lai của loạt tiền bằng nhau

    30) Một công ty vay 1 triệu đồng trong 5 năm. Họ phải trả bao nhiêu vào cuối năm thứ 5?  Với lãi suất 5% / năm.

    1. 276.282 đ
    2. 267.282 đ
    3. 526 đ
    4. 526 đ

    31) Một người muốn có 1 triệu đồng sau 5 năm. Vậy anh ta phải gởi bao nhiêu tiền ngay từ bây giờ ? Biết lãi suất 5% / năm.

    1. 276.281 đ
    2. 267.281 đ
    3. 526 đ
    4. 526 đ

    32) Phải bỏ vào tiết kiệm bao nhiêu tiền hiện tại để có thể rút ra hàng năm là 100.000 đồng trong 5 năm? Với lãi suất 5% / năm:

    1. 563 đ
    2. 563 đ
    3. 948 đ
    4. 948 đ

    33) Nếu mỗi năm đem gửi tiết kiệm 2 triệu đồng với lãi suất 5%/ năm, sau 4 năm sẽ thu được số tiền là :

    1. 620.250 đ
    2. 630.250 đ
    3. 091.901 đ
    4. 991.901 đ

    34) Hiện tại một người có khoản nợ là 1.000.000 đồng. Hỏi hàng năm phải trả bao nhiêu tiền (mỗi năm 1 lần vào cuối năm) để sau 10 năm thì trả hết số tiền nợ hiện tại? Với lãi suất 5%/ năm:

    1. 505 đ
    2. 505 đ
    3. 505 đ
    4. 405 đ

    35) Cần phải tiết kiệm mỗi năm bao nhiêu để cuối năm thứ 5 có được số tiền là 10 triệu đồng. Với lãi suất 5%/ năm.

    1. 045 đ
    2. 045 đ
    3. 809.748 đ
    4. 908.748 đ

    36) Anh X  có vay Ngân Hàng một số tiền là 400 triệu đồng phải trả đều trong 24 tháng. Nếu lãi suất mỗi tháng là 1% thì hàng tháng anh X phải trả ngân hàng là:

    1. 908.327 đ
    2. 910.327 đ
    3. 830.389 đ
    4. 829.389 đ

    37) Để có một quỹ trợ cấp trị giá 100.000.000 đồng được đưa ra trong kỳ hạn 20 năm tới thì số tiền công ty cần gửi vào ngân hàng hàng năm là bao nhiêu khi lãi suất tiền gửi ngân hàng là 10%/năm?

    1. 745.962 đ
    2. 845.962 đ
    3. 745.962 đ
    4. 845.962 đ

    38) Một người có một khoản tiền là 50.000.000 đồng gửi vào ngân hàng. Hàng năm người đó rút ra một lượng tiền đều nhau từ khoản tiền gửi trong 10 năm và cuối kỳ hạn số dư tiết kiệm bằng 0. Vậy số tiền rút ra hàng năm là bao nhiêu nếu như lãi suất tiền gởi tiết kiệm là 8%/năm.

    1. 451.474 đ
    2. 551.474 đ
    3. 451.474 đ
    4. 451.474 đ

    39) Cách đây 5 năm, công ty Thành Đạt có vay của Ngân Hàng Thương Mại Á Châu 1 tỷ đồng để đầu tư xây dựng một kho hàng với lãi suất 15% / năm. Vậy bây giờ công ty phải dành bao nhiêu tiền để trả Ngân Hàng?

    1. 176.735 đ
    2. 176.735 đ
    3. 111.357.187 đ
    4. 011.357.187 đ

    40) Một khách hàng gởi vào ngân hàng số tiền là 10 triệu đồng. Lãi suất tiền gửi hàng năm là 8%. Sau 10 năm người này có một khoản tiền là:

    1. 589.250 đ
    2. 589.250 đ
    3. 100.813 đ
    4. 100.813 đ

    41) Phải mất bao nhiêu thời gian để có số tiền 350 triệu đồng, nếu số tiền mang gởi tiết kiệm ngân hàng 140 triệu đồng với lãi suất 10%/ 1 năm và kỳ tính lãi là 1 năm.

    1. 8,6 năm
    2. 10,6 năm
    3. 9,6 năm
    4. 5,6 năm

    42) Một thanh niên muốn cưới vợ sau 4 năm nữa. Anh ta và bạn gái bàn rằng để trang trải cho chi phí đám cưới thì họ phải cần một số tiền là 100 triệu đồng. Hỏi anh ta và bạn gái hàng năm cần gởi một số tiền bằng nhau là bao nhiêu để họ có thể lo cho đám cưới của mình. Biết rằng lãi suất ngân hàng là 10%/ năm.

    1. 470.800 đ
    2. 547.080 đ
    3. 547.008 đ
    4. 550.078 đ

    43) Doanh nghiệp mua một tài sản cố định với giá trị là 100 triệu đồng. Thanh toán đều trong vòng 10 năm. Lãi suất trả chậm là 8%/ năm. Hỏi số tiền thanh toán mỗi năm là bao nhiêu?

    1. 902.949 đ
    2. 902.949 đ
    3. 174.348 đ
    4. 174.348 đ

    44) Để có vốn lập nghiệp, một bạn nữ gởi vào ngân hàng cuối mỗi năm một số tiền không đổi là 1 triệu đồng. Sau 6 năm bạn này rút tiền ra để đầu tư. Nếu lãi suất là 26%/ năm, tính tổng số tiền bạn nữ nhận được?

    1. 544.247 đ
    2. 456.457 đ
    3. 453.456 đ
    4. 789.345 đ

    45) Doanh nghiệp Thắng Lợi vay ngân hàng 10.000.000 USD mua một dây chuyền chế biến mì ăn liền thanh tóan trong vòng 10 năm bằng những khỏan tiền đều nhau. Tính giá trị của mỗi lần thanh tóan, nếu lãi suất là 10%/ năm.

    1. 600.000 USD
    2. 765.789 USD
    3. 627.454 USD
    4. 652.454 USD

    46) Doanh nghiệp cần một số vốn đầu tư là 50 triệu đồng để đầu tư cho dự án X sau 5 năm nữa. Hiện nay doanh nghiệp cần gửi vào ngân hàng những khoản tiền đều nhau vào cuối mỗi năm là bao nhiêu ? Biết lãi suất 19%/ năm.

    1. 852.508 đ
    2. 456.764 đ
    3. 675.234 đ
    4. 342.678 đ

    47) Khi nhập học một sinh viên được ba mẹ cho 10.000.000 đ và đem gửi vào ngân hàng. Trong 4 năm học, mỗi năm sinh viên rút ra một khoản tiền bằng nhau để tiêu xài và đóng học phí. Cho biết số tiền mà sinh viên có thể rút ra mỗi  năm, biết lần rút đầu tiên sau một năm gửi. Lãi suất mỗi năm 10%.

    1. 345.620 đ
    2. 467.789 đ
    3. 154.708 đ
    4. 254.708 đ

    48) Công ty mua một lọai máy và phải trả 5 triệu mỗi năm trong suốt 10 năm. Theo lãi suất 10%/ năm. Bạn hãy tính tổng số tiền mà công ty phải trả, nếu chọn phương án trả ngay bây giờ?

    1. 456.789 đ
    2. 893.567 đ
    3. 722.656 đ
    4. 722.835 đ

                Chương 2.   Thiết lập dự án đầu tư

    49) Yêu cầu của một dự án đầu tư là:

    1. Tính khoa học và Tính thực tiễn
    2. Tính pháp lý
    3. Tính chuẩn mực
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    50)  Quá trình hình thành và triển khai một dự án đầu tư,  có:

    1. 2 giai đoạn
    2. 3 giai đoạn
    3. 4 giai đoạn
    4. 5 giai đoạn

    51)  Mục đích của bước nghiên cứu cơ hội đầu tư, là:

    1. Chọn ra những cơ hội có triển vọng và phù hợp với chủ đầu tư
    2. Làm căn cứ để vay tiền
    3. Làm căn cứ để kêu gọi góp vốn cổ phần
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    52) Dự án tiền khả thi và dự án khả thi đối với những dự án đầu tư có quy mô lớn:

    1. Giống nhau về bố cục và độ tin cậy của dữ liệu
    2. Khác nhau về bố cục và độ tin cậy của dữ liệu
    3. Giống nhau về bố cục nhưng khác nhau về độ tin cậy của dữ liệu
    4. Khác nhau về bố cục nhưng giống nhau về độ tin cậy của dữ liệu

    53) Nghiên cứu thị trường trong dự án khả thi nhằm để trả lời câu hỏi:

    1. Sản xuất cái gì, cho ai và sản xuất bao nhiêu?
    2. Sản xuất bằng cách nào?
    3. Địa điểm sản xuất ở đâu?
    4. Tất cả các câu trên đều đúng?

    54) Nghiên cứu nội dung kỹ thuật của dự án khả thi với mục đích chính là xác định:

    1. Kỹ thuật và Quy trình sản xuất
    2. Địa điểm thực hiện dự án
    3. Sản xuất với công suất nào?
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    55) Xây dựng nhà máy gần thị trường tiêu thụ, khi:

    1. Nhà máy sử dụng một lượng lớn nguồn tài nguyên
    2. Sản phẩm của nhà máy dễ hư hỏng
    3. Nguyên liệu sản xuất của nhà máy phải nhập từ nước ngoài
    4. Khan hiếm nguồn lao động

    56) Nếu nguyên liệu sản xuất của nhà máy là nguyên liệu ngoại nhập. Vậy thì địa điểm xây dựng nhà máy, trước hết phải:

    1. Gần khu dân cư
    2. Gần thị trường tiêu thụ
    3. Gần sân bay, bến cảng
    4. Gần trường học

    57) Cách thức mua công nghệ và kỹ thuật cho dự án là:

    1. Thuê mướn
    2. Mua đứt
    3. Liên doanh liên kết với các nhà cung cấp kỹ thuật
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    58) Yêu cầu đối với nghiên cứu nội dung tổ chức quản lý và nhân sự của dự án khả thi, là:

    1. Tính pháp lý
    2. Tính phù hợp
    3. Tính gọn nhẹ
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    59) Nghiên cứu nội dung tài chính trong dự án khả thi, là để đánh giá lợi ích của:

    1. Nhà nứớc
    2. Chủ đầu tư
    3. Người lao động
    4. Địa phương

    60) Tính toán chỉ tiêu” Việc làm và thu nhập của người lao động” trong dự án khả thi, là nội dung của:

    1. Phân tích tổ chức quản lý và nhân sự
    2. Phân tích tài chính
    3. Phân tích kinh tế – xã hội
    4. Phân tích thị trường

    61) Nghiên cứu nội dung kinh tế- xã hội trong dự án khả thi, là để đánh giá lợi ích của dự án, cho:

    1. Chủ đầu tư
    2. Quốc gia
    3. Người lao động
    4. Ngân hàng

    62) Lịch trình thực hiện dự án, có thể được lập bằng:

    1. Sơ đồ GANTT và Sơ đồ mạng (PERT)
    2. Sơ đồ VENN
    3. Lịch thời vụ
    4. Lịch hoạt động

    63) Một dự án đầu tư có thể có các nguồn vốn sau:

    1. Vốn tự có
    2. Vốn vay
    3. Vốn ngân sách
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    64) Chỉ tiêu “Vốn tự có/ Vốn vay” trong phân tích độ an toàn về tài chính của dự án khả thi, phản ánh:

    1. Khả năng trả nợ
    2. Hiệu quả sử dụng vốn
    3. Cơ cấu nguồn vốn
    4. Tất cả các câu trên đều sai

    65) Chỉ tiêu “ Vốn tự có/ Tổng số nợ” trong phân tích độ an toàn về tài chính của dự án khả thi, phản ánh:

    1. Hiệu quả sử dụng vốn
    2. Cơ cấu nguồn vốn
    3. Khả năng trả nợ
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    66) Chỉ tiêu “ Tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư “ trong phân tích độ an toàn về tài chính của dự án khả thi, phản ánh:

    1. Khả năng trả nợ
    2. Cơ cấu nguồn vốn
    3. Hiệu quả sử dụng vốn
    4. Tất cả các câu trên đều sai

                 Chương 3. Phân tích, thẩm định dự án đầu tư

    67) Lãi suất tính toán sử dụng trong dự án đầu tư với tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế:

    1. Có quan hệ với nhau
    2. Không có quan hệ với nhau
    3. Tuỳ từng trường hợp cụ thể
    4. Tất cả các câu trên đều sai

    68) Lãi suất khi chưa có lạm phát (lãi suất thực) là 3%, tỷ lệ lạm phát là 5% . Vậy lãi suất dùng để tính toán (lãi suất danh nghĩa) là:

    1. 8,0%
    2. 8,15%
    3. 9,15%
    4. 15%

    69) Chí phí sử dụng vốn bình quân (WACC – Weighted Average cost of Capital) trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp so với trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp, thì:

    1. Lớn hơn
    2. Nhỏ hơn
    3. Bằng nhau
    4. Tuỳ từng trường hợp cụ thể

    70) Công thức tính chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC – Weighted Average cost of Capital) trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp là:

    1. a) Wacc = D * rD + E * rE

    V           V

    1. b) Wacc =(1-t) D * rD + E * rE

    V           V

    1. c) Wacc = D * rD

    V

    d)Wacc =  E * rE

    V

    71) Căn cứ vào chỉ tiêu Hiện giá thuần (NPV – Net Present Value) để chọn dự án, khi:

    1. NPV 0
    2. NPV <0
    3. NPV= Lãi suất tính toán (itt)
    4. NPV< Lãi suất tính toán (itt)

    72) ) Ngân lưu ròng của một dự án, như sau:

    Năm 0 1
    Ngân lưu ròng -1000 1200

    Với lãi suất tính toán là 10%,  thì NPV của dự án bằng:

    1. 60,9
    2. 70,9
    3. 80,9
    4. 90,9

    73) Nếu khả năng ngân sách có giới hạn, cần phải chọn một nhóm các dự án để thực hiện, khi có:

    1. NPV lớn nhất
    2. NPV nhỏ nhất
    3. NPV trung bình
    4. Tuỳ từng trường hợp cụ thể

    74) Một địa phương có số vốn đầu tư tối đa trong năm là 25 tỷ đồng và đứng trước 4 cơ hội đầu tư dưới đây:

    Dự án Vốn đầu tư yêu cầu NPV
    X 13 5,0
    Y 12 4,2
    Z 10 3,5
    K 13 4,5

    Chọn nhóm dự án nào trong các nhóm dự án sau để thực hiện, nếu căn cứ vào NPV:

    1. X và Y
    2. X và Z
    3. K và Z
    4. K và Y

    75) Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR- Internal Rate of Returnt) của dự án là một loại lãi suất mà tại đó làm cho:

    1. NPV >0
    2. NPV <0
    3. NPV =0
    4. NPV =Lãi suất tính toán (itt)

    76) Ngân lưu ròng của một dự án, như sau:

    Năm 0 1
    Ngân lưu ròng -100 122

    Vậy IRR của dự án, bằng:

    1. 20%
    2. 22%
    3. 25%
    4. 26%

    77) Tuỳ theo loại dự án mà có thể:

    1. Không có IRR
    2. Có một IRR
    3. Có nhiều IRR
    4. Tất cả các câu đều đúng

    78) Ngân lưu ròng của một dự án:

    Năm 0 1 2
    Ngân lưu ròng -10 30 -20

    Vậy IRR của dự án là:

    1. 0%
    2. 10%
    3. 0% và 100%
    4. 0% và 10%

    79) Thời gian hoàn vốn của dự án có nhược điểm:

    1. Phụ thuộc vào vòng đời dự án
    2. Phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư
    3. Phụ thuộc vào thời điểm đầu tư
    4. Không xét tới khoản thu nhập sau thời điểm hoàn vốn

    80) Vốn đầu tư ban đầu của dự án là 200 triệu, khấu hao trong 5 năm theo phương pháp đường thẳng, lãi ròng bình quân hàng năm là 10 triệu đồng. Vậy thời gian hoàn vốn không có chiết khấu của dự án là:

    1. 3 năm
    2. 4 năm
    3. 5 năm
    4. 6 năm

    81) Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn không có chiết khấu so với thời gian hoàn vốn có chiết khấu, thì:

    1. Lớn hơn
    2. Nhỏ hơn
    3. Bằng nhau
    4. Tuỳ từng loại dự án

    82) Căn cứ vào Tỷ số lợi ích/ chi phí (B/C: Benefit/ Cost Ratio) để lựa chọn dự án, khi:

    1. a) B/C 1
    2. B/C < 1
    3. B/C =0
    4. B/C < 0

     83) Lợi ích và Chi phí của dự án như sau:

    Năm 0 1
    Dòng thu

     

    Dòng chi

    100 132

     

    22

    Với lãi suất tính toán là 10%, thì tỷ số B/C bằng:

    1. 1,0
    2. 1,2
    3. 1,3
    4. 5

    84) Điểm hoà vốn của dự án, có:

    1. Điểm hoà vốn lời lỗ
    2. Điểm hoà vốn hiện kim
    3. Điểm hoà vốn trả nợ
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    85) Sản lượng hoà vốn tính theo điểm hoà vốn hiện kim so với sản lượng hoà vốn tính theo điểm hoà vốn trả nợ, thì:

    1. Lớn hơn
    2. Nhỏ hơn
    3. Bằng nhau
    4. Tuỳ theo dự án vay nợ nhiều hay ít

    86) Sản lượng hoà vốn tính theo điểm hoà vốn lời lỗ so với sản lượng hoà vốn tính theo điểm hoà vốn hiện kim, thì:

    1. Lớn hơn
    2. Nhỏ hơn
    3. Bằng nhau
    4. Tuỳ theo dự án có doanh thu nhiều hay ít

    87) Khi công suất của dự án tăng lên trong một phạm vi cho phép, định phí/1 đơn vị sản phẩm:

    1. Cũng tăng lên
    2. Giảm xuống
    3. Không thay đổi
    4. Không có liên quan trong trường hợp này

    88) Khi công suất của dự án giảm, biến phí/1 sản phẩm có xu hướng:

    1. Giảm xuống
    2. Tăng lên
    3. Không thay đổi
    4. Không có liên quan trong trường hợp này

    89) Khi công suất của dự án giảm, định phí/1 sản phẩm có xu hướng:

    1. Giảm xuống
    2. Tăng lên
    3. Không thay đổi
    4. Không có liên quan trong trường hợp này

    90) Giá bán sản phẩm của dự án tăng còn biến phí/ đơn vị sản phẩm không đổi, vậy thì sản lượng hoà vốn:

    1. Tăng
    2. Giảm
    3. Không thay đổi
    4. Không có liên quan trong trường hợp này

    91) Tiền lương trả cho nhân viên bán hàng theo thời gian làm việc, là:

    1. Chi phí cố định
    2. Chi phí biến đổi
    3. Chi phí hỗn hợp
    4. Chi phí chìm

    92) Phí điện thoại bàn (gồm cả: phí thuê bao và phí ngoài thuê bao) phải trả hàng tháng là:

    1. Chi phí cố định
    2. Chi phí biến đổi
    3. Chi phí hỗn hợp
    4. Chi phí cơ hội

    93) Quan điểm đầu tư, có:

    1. 3 quan điểm
    2. 4 quan điểm
    3. 5 quan điểm
    4. 6 quan điểm

    94) Ngân lưu dự án trên quan điểm tổng đầu tư:

    1. Bao gồm cả dòng thu đi vay và chi trả nợ vay
    2. Không bao gồm dòng thu đi vay và chi trả nợ vay
    3. Bao gồm dòng thu đi vay nhưng không bao gồm dòng chi trả nợ vay
    4. Không bao gồm dòng thu đi vay nhưng bao gồm dòng chi trả nợ vay

    95) Ngân lưu dự án trên quan điểm tổng đầu tư là quan điểm của:

    1. Nhà cho vay
    2. Nhà đầu tư
    3. Nhà nước
    4. Xã hội

    96) Trong ngân lưu dự án theo quan điểm ngân sách nhà nước, thì trợ giá là:

    1. Khoản thu
    2. Khoản chi
    3. Khoản bù lỗ
    4. Khoản vay của doanh nghiệp

    97) Ngân lưu dự án theo quan điểm chủ đầu tư:

    1. Bao gồm cả dòng thu đi vay và chi trả nợ vay
    2. b) Không bao gồm dòng thu đi vay và chi trả nợ vay
    3. c) Bao gồm dòng thu đi vay nhưng không bao gồm dòng chi trả nợ vay
    4. Không bao gồm dòng thu đi vay nhưng bao gồm dòng chi trả nợ vay

    98) Phân tích độ nhạy dự án, với mục đích chính là:

    1. Xác định sự thay đổi của NPV và IRR khi có sự thay đổi của các biến số
    2. Tìm đối tác đầu tư
    3. Đánh giá nguồn nhân lực phục vụ dự án
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    99) Phân tích độ nhạy, có thể dùng:

    1. Một biến số
    2. Hai biến số
    3. Nhiều biến số
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    100) Trong phân tích độ nhạy dự án với biến số là giá bán sản phẩm (và giả sử các biến số còn lại không thay đổi), vậy thì giá bán tăng sẽ làm cho:

    1. NPV tăng
    2. NPV giảm
    3. NPV không thay đổi
    4. Tuỳ thuộc vào giá tăng nhiều hay tăng ít

    101) Trong phân tích độ nhạy dự án với biến số là khối lượng sản phẩm (và giả sử các biến số còn lại không thay đổi), vậy thì khối lượng sản phẩm dự án giảm sẽ làm cho:

    1. IRR tăng
    2. IRR giảm
    3. IRR không thay đổi
    4. Tuỳ thuộc vào lượng sản phẩm tăng nhiều hay tăng ít

    102) Quy mô đầu tư tối ưu, khi:

    1. NPV đạt cực tiểu
    2. NPV đạt cực đại
    3. NPV=0
    4. NPV <0

    103) Quy mô đầu tư tối ưu, khi:

    1. NPV cận biên (M NPV)=0
    2. IRR cận biên (M IRR)= itt (lãi suất tính toán)
    3. NPV cực đại
    4. Tất cả các câu trên đều đúng

    104) Ta có: Bt+1 >(SVt – SVt+1)+rSVt

    với:   –    Bt+1 là lợi ích của dự án thu được vào năm t+1

    • SVt, SVt+1 là giá trị thanh lý vào năm t và năm t+1
    • rSVt là cơ hội sinh lời của số tiền thanh lý

          vậy:

    1. Quyết định kết thúc dự án vào năm t
    2. Quyết định kết thúc dự án vào năm t+1
    3. Quyết định kết thúc dự án vào năm t-1
    4. Chưa có đủ thông tin để quyết định kết thúc dự án

    105) Ta có: Bt+1 < (SVt – SVt+1)+rSVt

    với:   –    Bt+1 là lợi ích của dự án thu được vào năm t+1

    • SVt, SVt+1 là giá trị thanh lý vào năm t và năm t+1
    • rSVt là cơ hội sinh lời của số tiền thanh lý

          vậy:

    1. Quyết định kết thúc dự án vào năm t
    2. Quyết định kết thúc dự án vào năm t+1
    3. Quyết định kết thúc dự án vào năm t-1
    4. Chưa có đủ thông tin để quyết định kết thúc dự án

    106) Dự án đầu tư X có tổng số vốn là 1 tỷ đồng. Xác định thời gian hoàn vốn của dự án biết rằng lãi ròng và khấu hao hàng năm của dự án lần lượt là 200, 270, 350, 480, 500 triệu đồng.

    1. 3 năm 4 tháng 15 ngày
    2. 4 năm 3 tháng 15 ngày
    3. 7 năm 4 tháng 20 ngày
    4. 3 năm 3 tháng 20 ngày

    107) Nhu cầu vốn đầu tư của dự án Z có được từ các nguồn sau:

    • Vốn tự có 500 triệu đồng, lãi suất 24%/năm.
    • Vay ngân hàng 500 triệu đồng, lãi suất 18%/năm.
    • Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%.

    Xác định chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của dự án.

    1. 20,48%
    2. 18,48%
    3. 17,94%
    4. 22,93%

    108) Công ty Đông Trường Sơn mua một dây chuyền chế biến hạt điều với giá là 900 triệu đồng. Lãi sau thuế từ năm 1 đến năm 3 là 400 triệu đồng mỗi năm.  Biết suất chiết khấu là 20% và doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng. Sau 3 năm dây chuyền không có giá trị thu hồi. Hiện giá thuần (NPV) của dây chuyền là:

    1. 475 triệu đồng
    2. 575 triệu đồng
    3. 675triệu đồng
    4. 755 triệu đồng

    109) Hãy tính NPV của dự án có số liệu cho sau đây với suất chiết khấu là 10% và doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng.

    • Năm 0: đầu tư 1 tỷ đồng.
    • Từ năm 1 đến năm 4: Lãi sau thuế 200  triệu đồng

    Sau 4 năm dự  án không có giá trị thu hồi:

    1. 345 triệu đồng
    2. 456 triệu đồng
    3. 546 triệu đồng
    4. 426 triệu đồng

    110) Dự án X có số liệu như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Năm 0 1 2
    Đầu tư ban đầu 500    
    Lãi sau thuế   400 300

    Nếu chi phí cơ hội của vốn đầu tư là 12%, doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng và không có giá trị thu hồi, NPV của dự án là:

    1. 519 triệu đồng
    2. 530 triệu đồng
    3. 626 triệu đồng
    4. 440 triệu đồng

    111) Dự án T có số liệu như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Năm 0 1 2
    Đầu tư ban đầu 500    
    Lãi sau thuế   400 300

    Tính NPV của dự án nếu chi phí cơ hội của vốn đầu tư là 24%, doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng và không có giá trị thu hồi:

    1. 382 triệu đồng
    2. 482 triệu đồng
    3. 266 triệu đồng
    4. 100 triệu đồng

    112) Công ty Daso dự định đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất bột giặt với số liệu như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Năm 0 1 2 3
    Ngân lưu ròng -400 200 200 200

    Nếu chi phí cơ hội của vốn đầu tư là 10%, NPV của dự án là:

    1. 85,8 triệu đồng
    2. 87,4triệu đồng
    3. 97,4 triệu đồng
    4. 79,4 triệu đồng

    113) Công ty dầu ăn dự định đầu tư một nhà máy sản xuất dầu tinh luyện có số liệu như sau:

    ĐVT: triệu đồng

    Năm 0 1 2 3 4
    Chi phí đầu tư ban đầu 800        
    Lãi sau thuế   100 100 100 100

    (Khấu hao theo phương pháp đường thẳng và cuối năm thứ 4 không có giá trị thu hồi)

    Nếu chi phí sử dụng vốn là 15%, thì NPV của dự án là:

    1. 46,5 triệu đồng
    2. 65,4 triệu đồng
    3. 26,0 triệu đồng
    4. 56,5triệu đồng

    114) Anh Hồng vừa mở một cửa hiệu Photocopy ở đường 3/2. Anh dự tính định phí là 120 triệu đồng và biến phí cho mỗi một tờ A4 in 2 mặt là 100 đ. Giá tiền in 2 mặt một tờ A4 là 500 đ. Tính sản  lượng hòa vốn lý thuyết của cửa hiệu là:

    1. 000 tờ
    2. 000 tờ
    3. 000 tờ
    4. 000 tờ

    115) Chị Hà vừa mở một cửa hiệu Photocopy ở đường 3/2. Chị dự tính định phí là 120 triệu đồng và biến phí cho mỗi một tờ A4 in 2 mặt là 100 đ. Giá tiền in 2 mặt một tờ A4 là 500 đ. Doanh thu hòa vốn lý thuyết của cửa hàng là:

    1. 000.000 đ
    2. 000.000 đ
    3. 000.000 đ
    4. 000.000 đ

    116) Khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công Nghiệp TP. HCM dự định in lọai sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự toán chi phí như sau:

    • Định phí:250.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán: 30.000 đ/ cuốn

    Vậy sản lượng hoà vốn lý thuyết là:

    1. 000 cuốn
    2. 000 cuốn
    3. 000 cuốn
    4. 000 cuốn

    117) Khoa Kế toán-Tài chính trường Đại học Công Nghiệp TP. HCM dự định in lọai sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự tóan chi phí như sau:

    • Định phí:250.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán: 30.000 đ/ cuốn

    Doanh thu hòa vốn lý thuyết của họat động này là:

    1. 000.000 đ
    2. 000.000 đ
    3. 000.000 đ
    4. 000.000 đ

    118) Khoa Điện-Điện tử trường Đại học Công Nghiệp TP.HCM dự định in lọai sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự toán chi phí như sau:

    • Định phí:250.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán: 30.000 đ/ cuốn

    Do yêu cầu phải biên tập, chỉnh lý lại sách nên khoa phải trả lương thêm cho các giáo viên phụ trách công việc này một số tiền là 50 triệu đồng/ năm. Sản lượng hòa vốn lý thuyết của việc in sách là:

    1. 000 cuốn
    2. 000 cuốn
    3. 000 cuốn
    4. 000 cuốn

    119) Khoa Công nghệ thông tin trường Đại học Công Nghiệp TP. HCM dự định in lọai sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự tóan chi phí như sau:

    • Định phí:250.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán: 30.000 đ/ cuốn

    Do yêu cầu phải biên tập, chỉnh lý lại sách nên khoa phải trả lương thêm cho các giáo viên phụ trách công việc này một số tiền là 50 triệu đồng/ năm. Doanh thu hòa vốn lý thuyết của việc in sách là:

    1. 000.000.000 đ
    2. 000.000 đ
    3. 000.000 đ
    4. 000.000 đ

    120) Nhà xuất bản Giáo dục in sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự tóan chi phí là:

    • Định phí:300.000.000 đ
    • Biến phí :20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán:30.000 đ/ cuốn
    • Khấu hao cơ bản hàng năm cho các thiết bị in ấn là 60 triệu đồng.

    Sản lượng hòa vốn tiền tệ của nhà xuất bản Giáo dục :

    1. 000 cuốn
    2. 000 cuốn
    3. 000 cuốn
    4. 000 cuốn

    121) Nhà xuất bản Thống kê in sách giáo khoa phục vụ cho việc giảng dạy, dự tóan chi phí là:

    • Định phí:300.000.000 đ
    • Biến phí :20.000 đ/ cuốn
    • Giá bán:30.000 đ/ cuốn
    • Khấu hao cơ bản hàng năm cho các thiết bị in ấn là 60 triệu đồng.

    Doanh thu hòa vốn tiền tệ của nhà xuất bản:

    1. 000.000 đ
    2. 000.000 đ
    3. 000.000 đ
    4. 000.000 đ

    122) Nhà xuất bản Giao thông vận tải in Niên giám giao thông vận tải, dự toán chi phí là:

    • Định phí: 300.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 200.000 đ / cuốn
    • Giá bán: 300.000 đ/ cuốn
    • Khấu hao cơ bản hàng năm của các thiết bị in ấn là 60 triệu đồng, trả nợ vay ngân hàng mỗi năm là 60 triệu đồng và không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Sản lượng hòa vốn trả nợ của nhà xuất bản là:

    1. 000 cuốn
    2. 100 cuốn
    3. 900 cuốn
    4. 200 cuốn

    123) Nhà xuất bản Nông nghiệp & Phát triển nông thôn in Nội san khoa học ngành, dự tóan chi phí là:

    • Định phí: 300.000.000 đ
    • Biến phí đơn vị: 200.000 đ/cuốn
    • Giá bán: 300.000 đ/cuốn
    • Khấu hao cơ bản hàng năm của các thiết bị in ấn là 60 triệu đồng và phải trả nợ vay ngân hàng mỗi năm là 60 triệu đồng và không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Doanh thu hòa vốn trả nợ của nhà xuất bản Nông nghiệp & PTNT là:

    1. 000.000.000 đ
    2. 000.000 đ
    3. 000.000 đ
    4. 000.000 đ

    124) Chi phí để sản xuất một lọai sản phẩm trong phạm vi từ 1500 sản phẩm đến 5000 sản phẩm bao gồm:

    • Chi phí cố định:250.000.000 đ
    • Chi phí biến đổi:100.000 đ/ sản phẩm

    Giá bán: 200.000 đ/sản phẩm. Sản lượng hòa vốn lý thuyết của họat động đầu tư này là:

    1. 2400 cái
    2. 2600 cái
    3. 2500 cái
    4. 2000 cái

    125) Một dự án đầu tư có tổng số vốn đầu tư ban đầu là 10 triệu USD. Lợi nhuận ròng và khấu hao từ năm 1 đến năm 5 cho trong bảng sau:

    ĐVT: Triệu USD

    Năm Lợi nhuận ròng và khấu hao
    1 0,7
    2 2,2
    3 2,4
    4 2,6
    5 2,8

    Thời gian hoàn vốn đầu tư không có chiết khấu của dự  án là:

    1. 4 năm 9 tháng
    2. 4 năm
    3. 5 năm
    4. 5 năm 9 tháng

    126) Một dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư có tổng số vốn đầu tư là 150 triệu đồng. Các khỏan dự kiến thu từ lợi nhuận ròng và khấu hao như sau:

    ĐVT: Triệu đồng

    Năm Lợi nhuận ròng và khấu hao
    1 40
    2 50
    3 40
    4 20
    5 10

    Thời gian hòan vốn đầu tư không có chiết khấu của dự án là:

    1. 5 năm 4 tháng
    2. 4 năm
    3. 6 năm
    4. 4 năm 3 tháng

    127) Dự án xây dựng nhà máy sữa Capina có số vốn đầu tư ban đầu là 100 triệu đồng. Lợi nhuận ròng và khấu hao từ năm 1 đến năm 5 được cho như sau:

    ĐVT: Triệu đồng

    Năm Lợi nhuận ròng và khấu hao
    1 40,21
    2 40,21
    3 40,21
    4 40,21
    5 40,21

    Thời gian hoàn vốn đầu tư có chiết khấu (với suất chiết khấu là 10%/năm) của dự án là:

    1. 2 năm 6 tháng
    2. 2 năm 10 tháng
    3. 3 năm
    4. 4 năm

    128) Công ty liên doanh Cao su Việt – Hung dự định xây dựng nhà máy sản xuất bao găng tay với số vốn đầu tư là 140 triệu đồng. Lợi nhuận ròng và khấu hao dự kiến được cho như sau:

    ĐVT: Triệu đồng

    Năm Lợi nhuận ròng và khấu hao
    1 80
    2 80
    3 80
    4 80

    Thời gian hoàn vốn đầu tư có chiết khấu (Với suất chiết khấu là 20%/năm) của dự án là:

    1. 1 năm 6 tháng 2 ngày
    2. 2 năm 4 tháng 18 ngày
    3. 3 năm 4 tháng
    4. 3 năm 6 tháng

    129) Xí nghiệp liên doanh Ý – Việt dự định đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất giày với ngân lưu ròng  (triệu USD) của dự án như sau:

    Năm 0 1 2 3
    Ngân lưu ròng -70 30 30 30

    Với suất chiết khấu của dự án là 10%, hiện giá thuần (NPV) của dự án là:

    1. 4,6 triệu USD
    2. 6,4 triệu USD
    3. 5,6 triệu USD
    4. 6,5 triệu USD

    130) Công ty cổ phần bánh kẹo Kinh Đô hiện đang nghiên cứu đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất bánh kẹo tại thành phố Đà Nẵng với vốn đầu tư ban đầu là 300 triệu VNĐ, thu nhập ròng (chưa bao gồm giá trị thanh lý) từ năm 1 đến năm 5 là 100 triệu USD mỗi năm, sau khi kết thúc dự án nhà máy thanh lý được 50 triệu USD. Với lãi suất vay ngân hàng là 12%/ năm. Hiện giá thuần (NPV) của nhà máy là:

    1. 60,8 triệu VNĐ
    2. 88,8 triệu VNĐ
    3. 70,8 triệu VNĐ
    4. 8,88 triệu VNĐ

    131) Ngân lưu ròng của hai dự án A và B cho trong bảng sau:

    Năm 0 1
    Dự án A -100 122
    Dự án B -1000 1200

    Với suất chiết khấu tính toán là 10%, hiện giá thuần (NPV):

    • Của dự án A là 10,9 và dự án B là 70,9
    1. Cuả dự án A là 70,9 và dự án B là 10,9
    2. Cuả dự án A là 90,9 và dự án B là 10,9
    3. Cuả dự án A là 10,9 và dự án B là 90,9

    132) Công ty cổ phần sữa Vinamilk dự định đầu tư vào 2 nhà máy sản xuất cà phê hòa tan và nước uống tinh khiết với số vốn đầu tư ban đầu mỗi nhà máy là 200 triệu đồng, từ các nguồn vốn khác nhau. Ngân lưu ròng của 2 nhà máy cho trong bảng sau :

    Năm 0 1 2 3
    1. Dự án cà phê -200 50 100 100
    2. Dự án nước uống -200 50 120 120

    Với lãi suất tính toán của dự án (1) là 10%/ năm và dự án (2) là 20%/năm. Nếu dùng chỉ tiêu hiện giá thuần (NPV) để thẩm định dự án, Công ty Vinamilk nên:

    1. Đầu tư nhà máy sản xuất cà phê hòa tan
    2. Đầu tư nhà máy sản xuất nước uống tinh khiết
    3. Nên đầu tư cả hai nhà máy
    4. Không nên đầu tư nhà máy nào cả

    133) Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa (Bibica) có 2 dự án sản xuất bánh ngọt và kẹo trái cây. Cả 2 nhà máy đều có số vốn đầu tư ban đầu là 600 triệu đồng. Ngân lưu ròng của hai dự án như sau:

    Năm 0 1 2 3 4
    1. Dự án bánh ngọt -600 100 300 300 100
    2. Dự án kẹo trái cây -600 100 100 300 300

    Với suất chiết khấu là 10% và dùng chỉ tiêu hiện giá thuần (NPV) để thẩm định dự án, theo bạn công ty Bibica nên đầu tư:

    1. Nhà máy bánh ngọt
    2. Nhà máy kẹo trái cây
    3. Cả 2 nhà máy
    4. Không nên đầu tư vào nhà máy nào cả

    134) Doanh nghiệp vay vốn với lãi suất 20% và suất sinh lời của vốn chủ sở hữu là 15%. Tỷ lệ vốn vay/ vốn chủ sở hữu là 40:60. Chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp (WACC) là:

    1. 15%
    2. 18%
    3. 13%
    4. 17%

    135) Công ty cổ phần nhựa Bình Minh vay vốn với lãi suất 20%/ năm, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%, chi phí sử dụng vốn của vốn cổ phần là 15% và tỷ lệ vốn vay/cổ phần là 30:70. Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp là:

    1. 15,78%
    2. 14,00%
    3. 14,82%
    4. 12,87%

    136) Doanh nghiệp X muốn đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất phân NPK với vốn đầu tư  ban đầu bao gồm 1/3 sẽ vay ngân hàng với lãi suất 15%/ năm, phần còn lại là do bán trái phiếu với lãi suất 30%/ năm. Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp là:

    1. 24%
    2. 26%
    3. 30%
    4. 25%

    137) Doanh nghiệp T muốn đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất bánh kẹo với vốn đầu tư ban đầu bao gồm 1/3 sẽ vay ngân hàng với lãi suất 15%/ năm, phần còn lại sử dụng vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp với suất sinh lời 25%/ năm. Biết thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%, chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp sẽ là:

    1. 25,26%
    2. 20,26%
    3. 23,67%
    4. 24,34%

    138) Nông trường Sông Hậu dự định đầu tư  một máy sấy mít với giá là 300 triệu đồng. Lợi nhuận ròng và khấu hao (tức thu nhập ròng) từ năm 1 đến năm 3 của nhà máy là 150 triệu đồng/ năm. Sau 3 năm sử dụng máy sẽ không có giá trị thu hồi. Suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án là:

    1. 21,4%
    2. 22,4%
    3. 23,4%
    4. 24 %

    139) Công ty Honda Việt Nam dự định đầu tư một dây chuyền lắp ráp xe hơi với giá là 10 triệu USD. Lợi nhuận ròng và khấu hao (tức thu nhập ròng) từ năm 1 đến năm 2  được dự kiến là 6 triệu USD/ năm. Sau 2 năm nhà máy được bán lại cho công ty khác với giá trị thu hồi là 2 triệu USD.Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự  án là:

    1. 24,3%
    2. 25,3%
    3. 23,4%
    4. 25,4%

    140) Doanh nghiệp Thắng Lợi đang xem xét một dự án sản xuất kem đánh răng với giá trị đầu tư ban đầu là 200 triệu đồng. Ngân lưu ròng của dự án như sau:

    Năm 0 1
    Ngân lưu ròng -200 240

    Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án là:

    1. 21%
    2. 22%
    3. 30%
    4. 20%

    141) Công ty VTC dự định đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất thiết bị truyền hình kỹ thuật số với giá trị đầu tư  ban đầu là 500 triệu đồng. Lợi nhuận ròng và khấu hao (tức thu nhập ròng) từ  năm 1 đến năm 3 là 229,96 triệu đồng mỗi năm. Sau 3 năm nhà máy không có giá trị thu hồi. Với lãi suất tính toán: r1=17,5% và r2=19,5%; Vậy tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án là:

    1. 18%
    2. 20%
    3. 17%
    4. 16%

    142) Công ty Minh Long  dự định đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất đồ sứ với số vốn đầu tư ban đầu là 800 triệu đồng. Lợi nhuận ròng và khấu hao (tức thu nhập ròng) từ năm 1 đến năm 5 là 267,5 triệu đồng. Sau 5 năm nhà máy không có giá trị thu hồi. Với lãi suất tính toán: r1=19,5% và r2=24%;  Vậy tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của dự án là:

    1. 17%
    2. 20%
    3. 25%
    4. 19%

    143) Công ty liên doanh SH dự định đầu tư một nhà máy sản xuất linh kiện xe gắn máy với số vốn đầu tư ban đầu là 50 triệu USD. Báo cáo ngân lưu của dự án như sau:

    Năm 0 1 2
        Ngân lưu ra -50 10 10
    Ngân lưu vào   40 50

    Lợi nhuận ròng và khấu hao từ năm 1 đến năm 3 là 20 triệu USD. Sau 2 năm họat động nhà máy thanh lý với giá là 10 triệu USD. Tỷ suất hòan vốn nội bộ (IRR) của nhà máy là:

    1. 20%
    2. 23%
    3. 24%
    4. 26%

    144) Công ty Castrol Việt Nam dự định đầu tư một nhà máy pha chế nhớt với số vốn đầu tư ban đầu là 100 triệu USD. Lợi nhuận ròng và khấu hao (tức thu nhập ròng) từ năm 1 đến năm 4 là 37 triệu USD. Vậy tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) của nhà máy là :

    1. 18%
    2. 25%
    3. 19%
    4. 17,76%

    145) Có một cơ hội đầu tư với các dữ liệu như sau:

    ĐVT: Triệu USD

    Chi phí đầu tư ban đầu 10.0
    Chi phí vận hành, bảo quản hàng năm 2
    Thu nhập hàng năm 8
    Giá trị thanh lý 3
    Thời gian hoạt động (năm) 2
                                          itt (lãi suất tính tóan) = 10%

    Tỷ số B/C ( Tỷ số lợi ích/ chi phí) là:

    1. 1,21
    2. 2,11
    3. 12,1
    4. 11,2

    146) Công ty Cao su Đồng Nai dự định đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến mủ cao su với các dữ liệu sau:

    ĐVT: Triệu đồng

    Năm 0 1 2 3
    Thu nhập   300 300 300
               Chi phí 400 100 100 100
    Suất chiết khấu = 10%

    Tỷ số B/C (Tỷ số lợi ích/ chi phí ) là:

    1. 1,250
    2. 1,150
    3. 2,345
    4. 0,987

    147) Số liệu của hai dự án như sau:

    Dự án Hiện giá dòng thu Hiện giá dòng chi
    X 3 1
    Y 16 10
    1. Tỷ số B/C và NPV của dự án X là 3 và 6
    2. Tỷ số B/C và NPV của dự án Y là 1,6 và 2
    3. Tỷ số B/C và NPV của dự án Y là 2 và 6
    4. Tỷ số B/C và NPV của dự án X là 3 và 2

    148) Công ty TNHH in Kinh tế dự định đầu tư mua một máy in mới có các thông số được dự tính như sau:

    ĐVT: Triệu đồng

    Chi phí đầu tư ban đầu 400
    Chi phí vận hành, bảo quản hàng năm 50
    Thu nhập hàng năm 300
    Giá trị còn lại 100
    Thời gian hoạt động (năm) 2
                                                   Suất chiết khấu = 10%

    Tỷ số B/C (Tỷ số lợi ích/ chi phí ) của dự án là:

    1. 1,923
    2. 0,987
    3. 1,392
    4. 1,239

    149) Doanh nghiệp A mua một máy phát điện với giá là 600 triệu đồng. Máy này sử dụng trong 5 năm. Sau 5 năm máy này không có giá trị thu hồi. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng. Mức khấu hao hàng năm:

    1. 100 triệu đồng
    2. 120 triệu đồng
    3. 90 triệu đồng
    4. 130 triệu đồng

    150) Doanh nghiệp B mua một máy xay xát gạo với giá là 1 tỷ 2 trăm triệu đồng. Máy này được sử dụng trong 4 năm. Sau 4 năm sử dụng máy được bán thanh lý với giá là 200 triệu đồng. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu hao theo khối lượng sản phẩm với lượng sản phẩm của năm 1,2,3,4 theo tỷ lệ 1:1,2:1,3: 1,5. Mức khấu hao của năm:

    1. Thứ nhất là 180 triệu đồng
    2. Thứ hai là 240 triệu đồng
    3. Thứ ba là 250 triệu đồng
    4. Thứ bốn là 290 triệu đồng

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM)

    Tiểu luận Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM)

    Tiểu luận Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-SHRM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM)

    Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM)

    1. Tổng quan

    Nhân lực luôn được xem là một yếu tố tạo nên sự thành công của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có công nghệ hiện đại, chất lượng dịch vụ tốt, cơ sở hạ tầng vững chãi nhưng nếu thiếu lực lương lao động thì doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại lâu dài và tạo dựng được lợi thế cạnh tranh. Có thể nói chính con người tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp. Tuy vậy, nếu chỉ chú trọng tới phát triển nhân lực mà không gắn kết nó với những nguyên tắc và mục tiêu chung của doanh nghiệp thì mọi sự cố gắng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động của người lao động sẽ trở nên lãng phí vô ích. Chính vì vậy mà quản trị nguồn nhân lực chiến lược ra đời.

     

    2. SHRM là gì?

    Quản trị nguồn nhân lực chiến lược ( Strategic Human Resource Management ) là một nhánh của quản trị nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân lực chiến lược là một lĩnh vực khá mới, nó được nảy sinh từ môn học quản trị nguồn nhân lực. Vậy quản trị nguồn nhân lực chiến lược là gì?

    Cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về SHRM và những định nghĩa này thể hiện nhiều cách hiểu về SHRM. Mile & Snow (1984) cho rằng SHRM là “một hệ thống nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu của chiến lược kinh doanh”. Write & MacMahan (1992) lại xem đó là “các đặc tính của các hành động liên quan tới nhân sự nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh doanh”. Hai định nghĩa này đi từ mô tả SHRM như một lĩnh vực quản lý có tác động “ngược” trong đó HRM được xem là công cụ để thực hiện chiến lược tới việc xem nó như một nhiệm vụ “tiên phong” trong đó các hoạt động nhân sự có thể giúp doanh nghiệp hình thành chiến lược kinh doanh.

    Định nghĩa do Guest (1987) và Boxall & Dawling (1990) giới thiệu có tính toàn diện hơn, thể hiện rõ ràng hơn mối quan hệ giữa HRM và chiến lược kinh doanh. Họ cho rằng SHRM là “sự tích hợp các chính sách và hành động HRM với chiến lược kinh doanh. Sự tích hợp này được thể hiện ở ba khía cạnh: (1) gắn kết các chính sách nhân sự và chiến lược với nhau; (2) xây dựng các chính sách bổ sung cho nhau đồng thời khuyến khích sự tận tâm, linh hoạt và chất lượng công việc của người lao động, và (3) quốc tế hoá vai trò của các phụ trách khu vực”.

    Theo lý thuyết Hàn Lâm thì quản trị nguồn nhân lực chiến lược có thể được định nghĩa như là sự kiên kết của nguồn lực con người với những mục đích và mục tiêu chiến lược của tổ chức để cải thiện quá trình kinh doanh, phát triển văn hóa tổ chức để thúc đẩy sự đổi mới, tính linh hoạt và lợi thế cạnh tranh. Trong một tổ chức SHRM có nghĩa là việc chấp nhận và đòi hỏi chức năng của nguồn nhân lực như là một đối tác chiến lược trong việc thi hành chiến lược của công ty thông qua các hoạt động của nguồn nhân lực là tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và đãi ngộ nhân sự.

    Do đó SHRM chính là “chìa khóa để cải thiện doanh nghiệp” (ARMSTRONG, M and BARON, A. (2002) Strategic HRM: the key to improved business performance.)

    Theo Truss, C and Gratton, L (1994) những đặc tính quan trọng của SHRM bao gồm:

    • Có sự liên kết rõ ràng giữa một vài chính sách HR và việc thực hành và toàn bộ chiến lược chính của tổ chức và môi trường của tổ chức.
    • Có những phương án tổ chức liên kết những sự can thiệp HR riêng lẻ để chúng hỗ trợ lẫn nhau.
    • Phần lớn trách nhiệm của quản lý nguồn nhân lực là được khoán theo sản phẩm.

     

     

    3.  SHRM và HRM

     

    Quản trị chiến lược nguồn nhân lực (SHRM) là một cách tiếp cận chiến lược để quản lý tài nguyên con người của một tổ chức. So với quản trị nguồn nhân lực (HRM) đựoc coi là một khái niệm tương đối mới và nó phát triển liên tục trong hai thập niên qua. Dù không có một định nghĩa chung, chính xác về SHRM nhưng người ta thống nhất với nhau về chức năng cơ bản của nó bao gồm thiết kế, thực hiện những chính sách nhất quán và thực hành để chắc chắn nguồn lực con người góp phần đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp (Schuler & MacMillan 1984, Baird & Meshoulam 1988, Jackson & Schuler 1995).

    Chức năng của HRM truyền thống (traditional HRM) cũng như là hoạt động của HRM kỹ thuật (technical HRM) bao trùm một phạm vi rộng về việc làm bao gồm tuyển mộ, tuyển chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển và quản lý việc bồi thường và trợ cấp.

    Bằng việc kết hợp chức năng của HRM với chiến lược kinh doanh, SHRM tập trung vào nguồn lực con người với những mục tiêu dài hạn. Thay vì việc tập trung vào các vấn đề bên trong nguồn lực con người nó tập trung vào vấn đề định vị và giải quyết các vấn đề tác động đến chương trình quản lý con người trong thời gian dài và thường mang tính chất toàn cầu. Vì mục đích chính của chiến lược nguồn nhân lực là làm tăng năng suất người lao động bằng việc tập trung vào những trở ngại kinh doanh xuất hiện ngoài nguồn lực con người. Những hoạt động chính của quản lý chiến lược nguồn nhân lực là xác định vùng HR chìa khóa nơi những chiến lược có thể thực hiện lâu dài nhằm cải thiện toàn diện động lực và năng suẩt của người lao động.

     

    4. SHRM và  chiến lược kinh doanh

    Trong các cách để tạo ra năng lực cạnh tranh của công ty, thì lợi thế thông qua con người được xem là yếu tố căn bản. Con người được xem là nguồn lực căn bản và có tính quyết định của mọi thời đại. Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức. Năng lực thông qua con người ở các công ty được hiểu như là khả năng của đội ngũ nhân viên trong công ty. Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công việc cụ thể; và năng suất của đội ngũ nhân viên. Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức, Tuy vậy, không phải tổ chức nào cũng có thể thành công trên hầu hết tất cả các khía cạnh trên về nguồn nhân lực và thường người ta chọn các trọng tâm phù hợp với viễn cảnh (vision) và chiến lược của công ty. Ví dụ có công ty đề cao các yếu tố về năng suất; kỹ năng có tính chuyên nghiệp, và cũng có công ty lại đề cao dịch vụ tốt; chất lượng cao; khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên.

    Năng lực thông qua yếu tố con người thường mang tính bền vững vì nó không thể xác lập trong một thời gian ngắn. Nó liên quan đến văn hoá của tổ chức. Đây chính là các chuẩn mực bất thành văn, trở thành nếp sống và ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức. Văn hoá còn đề cập đến các giá trị mà những người nhân viên trong công ty đề cao, suy tôn và cả cách thức mà họ chia sẻ thông tin cho nhau trong tổ chức. Muốn cải thiện nguồn nhân lực thì trước hết phải cải thiện môi trường văn hoá công ty, và điều này không phải dễ và mất rất nhiều thời gian và khá tốn kém. Rõ ràng nền tảng các khía cạnh thể hiện ở trên thường gắn với văn hoá công ty và rất khó hình thành trong ngày một ngày hai, như chúng ta làm điều đó với các nguồn lực khác như tài chính hoặc công nghệ.

    Chiến lược nguồn nhân lực cần được tích hợp với chiến lược của các tổ chức. Quan niệm này dựa trên việc coi nguồn nhân lực như là năng lực cốt lõi của công ty yếu tố tạo ra sự khác biệt và mang lại lợi thế cạnh tranh cho công ty. Mặt khác các hoạt động nguồn nhân lực cũng cần có sự kết hợp nhau để hợp lực tạo ra khả năng bảo đảm sự thành đạt mục tiêu của tổ chức.

    Quan hệ nguồn nhân lực với các chiến lược khác trong công ty theo chiều thuận thì sứ mệnh và chiến lược của tổ chức đặt ra các yêu cầu về nguồn nhân lực như các kỹ năng cần thiết, thái độ làm việc của nhân viên và các yếu tố thuộc về văn hoá của tổ chức, và yêu cầu nguồn nhân lực đáp ứng. Khi sự phát triển nguồn nhân lực tạo ra năng lực cốt lõi và điều này lại cung cấp các cơ sở đầu vào cho các nhà quản trị chiến lược hoạch định ra các chiến lược mới theo đuổi các mục tiêu có tính thách thức cao hơn.

    Như chúng ta đã biết, chiến lược kinh doanh được xây dựng theo từng ngành hàng chủ yếu, và mỗi ngành hàng cụ thể có thể là những sản phẩm hoặc dịch vụ có khách hàng khá độc lập, và mỗi ngành hàng như vậy hướng vào những thị trường cụ thể.Bản thân các ngành hàng đó cần có các chiến lược phù hợp và chiến lược này được gọi là chiến lược kinh doanh. Nó trả lời câu hỏi ngành hàng đó công ty giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường bằng cách nào.

    Một dạng chiến lược kinh doanh phổ biến là chiến lược dẫn đạo chi phí (giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ với chi phí của tổ chức thấp), chiến lược này thích hợp trong các thị trường có độ nhạy cảm của cầu theo giá cao.

    Dạng chiến lược thứ hai là chiến lược cạnh tranh bằng sự khác biệt, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ với các thuộc tính khác biệt, mang lại giá trị mới tăng thêm cho người tiêu dùng. (Ví dụ như công ty may mặc hướng đến việc thoả mãn tốt hơn các khách hàng của mình thông qua việc cung cấp các quần áo may mặc với các kiểu dáng mới, hợp thời trang,…). Chiến lược kinh doanh này rất thuận lợi cho các thị trường có độ nhạy cảm của cầu theo giá thấp.Mỗi loại chiến lược thường đòi hỏi những nguồn nhân lực tương thích với nó, vì nếu không có những kết hợp này công ty không thể đạt được các mục tiêu của mình.

    Một công ty theo đuổi chiến lược dẫn đạo chi phí sẽ tập trung vào việc tìm kiếm những nguồn nhân lực bên trong như dựa trên việc thu hút con em của nhân viên đang và đã làm việc trong công ty, hoặc là bạn bè người thân của nhân viên. Cách làm này có thể tận dụng kinh nghiệm của những người nhân viên và qua đó giảm bớt các chi phí đào tạo, thời gian hội nhập nhân viên mới với công việc. Ngược lại việc công ty theo đuổi chiến lược dị biệt hoá hay sự khác biệt rất cần các nhân tố mới, cần các tài năng để tạo ra sự khác biệt vì thế không thể trông chờ những nguồn nhân viên bên trong được mà phải mở rộng nguồn. Và công ty phải chú trọng tìm ra các giải pháp để thu hút và lưu giữ các tài năng trong công ty.

    Có ngày càng nhiếu nghiên cứu về mối quan hệ giữa SHRM với việc thực hiện của tổ chức hay những lợi thế cạnh tranh trong những hoàn cảnh khác nhau (Huselid 1995, Bjorkman & Fan 2002, Chan, Shaffer & Snape 2004). Về cơ bản SHRM nhấn mạnh dến sự phát triển khả năng của công ty để trả lời môi trường bên ngoài thông qua sự triển khai của nguồn lực con người. Một khi chiến lược của công ty là sự phản ánh thay đổi bên ngoài môi trường cạnh tranh  thì nguồn vốn con người gộp lại với các kỹ năng rộng thích hợp với chiến lược của công ty thực sự là chất xúc tác để hoàn thành những mục tiêu chiến lược thông qua thái độ tích cực của người lao động.

     

    5. Sự phù hợp của SHRM

     

    Như một đặc điểm cơ bản của SHRM, sự phù hợp biểu hiện là sự tận dụng nguồn lực con người để giúp đạt được những mục tiêu của tổ chức. Theo Wright and McMahan (1992: 298) sự phù hợp nghĩa là  “…mẫu mực của sự triển khai nguồn nhân lực có tính kế hoạch và những hành động mong đợi cho phếp tổ chức đạt được những mục đích đó.”. Những học giả đề nghị sự phù hợp có hai loại đó là  sự phù hợp ngang và sự phù hợp dọc (horizontal fit and vertical fit). Sự phù hợp ngang nói đến sự phù hợp trong các hoạt động của HRM, sự phù hợp dọc là sự sắp xếp của các hoạt động HRM với quả trình quản trị chiến lược của tổ chức.

    Nhìn chung sự phù hợp dọc như là bước quyết định để đạt được mục đích của tổ chức qua một số hoạt động của nguồn nhân lực, trong khi sự phù hợp ngang chủ yếu tạo ra sự sử dụng tốt các nguồn lực đó.

    • Yều tố quyết định của sự phù hợp ngang : những yếu tố về chức năng của HR
    • Chính sách về nguồn nhân lực
    • Sự lựa chọn cho việc thực hiện HR
    • Đầu tư và ngân sách của HRM

    Determinants of Both Types of Fit

     

    • Yếu tố quyết định của sự phù hợp dọc: các yếu tố về địa vị của tổ chức
    • Bản chất của chiến lược
    • Giá trị và văn hóa
      • Yếu tố quyết định của cả hai sự phù hợp: các yếu tố cá nhân
    • Năng lực quản lý nhân sự
    • Khả năng và sự chịu đựng của những quản lý cấp cao
    • Kiến thức và kỹ năng của người lao động

     

    6. Một số mô hình quản trị chiến lược nguồn nhân lực

    6.1. Mô hình tổng hợp:

    Trong nhóm này có thể điểm một số mô hình được biết đến nhiều nhất bao gồm mô hình Harvard (Beer, Spector, Lawrence, Mills & Walton, 1985) và mô hình Colins (1994). Mô hình Harvard được xem là một bước ngoặt lớn trong quá trình hình thành các khái niệm về chính sách nhân sự. Nó đưa ra bốn phương án xây dựng chính sách: (1) những ảnh hưởng tới nhân sự, (2) dòng luân chuyển nhân sự, (3) các hệ thống thưởng/phạt, và (4) các hệ thống công việc. Mô hình Harvard đòi hỏi có sự tham gia của tất cả các bên liên quan-những người có quyền lợi liên quan đến quá trình thực hiện và kết quả của các chính sách nhân sự. Tuy nhiên, nó chưa nêu bật quy trình xây dựng và thực hiện các chính sách HRM. Trong khi đó, Colins (1994) sử dụng khung hệ thống để miêu tả mối liên hệ giữa các yếu tố có tính quyết định đến đến SHRM. Mô hình này xác định một số yếu tố chính gắn với việc tạo ra sự tích hợp bên trong và bên ngoài, bao gồm nhiệm vụ, chiến lược, cơ cấu tổ chức, văn hoá, đặc tính lao động và các chính sách nhân sự. Hiệu quả có được từ sự tích hợp giữa chính sách HRM với chiến lược kinh doanh là lợi tức, thị phần, chất lượng sản phẩm, hình ảnh doanh nghiệp, tính sáng tạo, năng suất lao động, đạo đức nghề nghiệp và doanh thu.

    Điểm yếu của mô hình này là nó chưa trả l câu hỏi chiến lược và chính sách nhân sự nào thì phù hợp với một chiến lược kinh doanh hay cơ cấu tổ chức cụ thể. Ngoài ra, nó cũng chưa nêu rõ sự cần thiết phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa tổ chức chịu trách nhiệm hoạch định chính sách HRM với các tổ chức và chiến lược khác trong doanh nghiệp.

    6.2. Mô hình tổ chức:

    Đại diện cho nhóm mô hình này là mô hình 5Ps của Schuler (1992). Mô hình này đưa ra một bức tranh chi tiết về các hoạt động nhân sự diễn ra bên trong doanh nghiệp. Nó tập trung vào các mối quan hệ nội tại giữa nhu cầu chiến lược của doanh nghiệp và năm hoạt động nhân sự được hình thành từ năm từ tiếng Anh: ’Philosophy’ (quan điểm), ’Policies’ (chính sách), ’Programs’ (chương trình), ’Practices’ (hoạt động) và ’Process’ (quy trình). Bằng việc xác định năm hoạt động trên, mô hình này đã chỉ ra mối tương tác phức tạp của các hoạt động nhân sự cần thiết để hình thành và phát triển hành vi của cá nhân và nhóm nhằm đáp ứng các nhu cầu chiến lược của doanh nghiệp. Những nhu cầu này được thể hiện thông qua các kết quả đầu ra, tầm nhìn và mục tiêu của chiến lược kinh doanh.

    Schuler cho rằng những nỗ lực nhằm thực hiện thành công SHRM cần bắt đầu từ việc xác định nhu cầu kinh doanh chiến lược và phân tích một cách có hệ thống những tác động của những nhu cầu đó đối với năm hoạt động HRM nêu trên. Mối liên kết giữa chiến lược và hành động quản lý nhân sự có thể được củng cố bằng cách khuyến khích sự tham gia của người lao động vào quá trình xác định vai trò của họ. Hơn nữa, các nhà quản lý tham gia vào quá trình SHRM cần phải có khả năng phân tích và hệ thống hoá khi xác định nhu cầu chiến lược và thiết kế các hoạt động nhân sự. Quy trình SHRM cũng tạo cơ hội cho phòng nhân sự tham gia vào quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh. Tuy nhiên, mô hình Schuler chưa chỉ ra được khi nào thì một chính sách nhân sự cụ thể phù hợp với chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp.

    6.3. Mô hình cụ thể hoá các mối quan hệ:

     

    Dowling và Schuler (1990) đã xây dựng một mô hình trong đó có đề cập đến loại chính sách nhân sự nào thì phù hợp để khuyến khích hành vi cần thiết nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong các chiến lược cạnh tranh. Theo Dowling và Schuler, chiến lược cạnh tranh được chia thành ba loại: chiến lược tăng cường chất lượng, chiến lược giảm giá thành, và chiến lược sáng tạo:.

    Chiến lược sáng tạo và các hoạt động HRM chính:

     

    – Cần sự tham gia tích cực của người lao động

    – Phân tích nghề nghiệp không sâu

    – Huy động nguồn lực bên ngoài

    – Nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp

    – Áp dụng các tiêu chí về quy trình và kết quả

    – Áp dụng các tiêu chí dài hạn

    – Áp dụng các tiêu chí về các đối tượng trong cùng một nhóm

    – Áp dụng một số chính sách bảo hiểm lao động

    – Áp dụng nhiều chính sách ưu đãi

    – Tiền lương quân bình

    – Đào tạo nhiều

    – Xây dựng các mối quan hệ hợp tác giữa nhà quản lý và người lao động

    Chiến lược tăng cường chất lượng và các hoạt động HRM chính:

    – Cần sự tham gia tích cực của người lao động

    – Phân tích nghề nghiệp không sâu

    – Huy động một số nguồn lực bên ngoài

    – Ít cơ hội phát triển nghề nghiệp

    – Áp dụng các tiêu chí về kết quả

    – Áp dụng các tiêu chí ngắn hạn là chủ yếu

    – Áp dụng các tiêu chí về các đối tượng trong cùng một nhóm

    – Áp dụng một số tiêu chí tuyển dụng

    – Áp dụng một số chính sách ưu đãi

    – Tiền lương quân bình

    – Đào tạo nhiều

    – Xây dựng các mối quan hệ hợp tác giữa nhà quản lý và người lao động

    Chiến lược giảm giá thành và các hoạt động HRM chính:

    – Cần ít sự tham gia của người lao động

    – Phân tích nghề nghiệp sâu

    – Chủ yếu sử dụng nguồn lực bên trong

    – Ít cơ hội phát triển nghề nghiệp

    – Áp dụng các tiêu chí về quy trình và kết quả

    – Áp dụng các tiêu chí ngắn hạn

    – Áp dụng tiêu chí sử dụng cá nhân là chính

    – Hạn chế áp dụng chính sách bảo hiểm lao động

    – Ít chính sách ưu đãi

    – Tiền lương theo cấp bậc

    – Đào tạo ít

    – Xây dựng các mối quan hệ nhà quản lý – người lao động truyền thống

    Họ cho rằng tính xác đáng của các chiến lược cạnh tranh chịu sự ảnh hưởng của các giai đoạn trong vòng đời của doanh nghiệp. Vòng đời này được chia thành ba giai đoạn chính: (1) giai đoạn khởi sự và phát triển, (2) giai đoạn phát triển cao nhất và đi xuống, và (3) giai đoạn phục hồi.

    Trong giai đoạn (1), chiến lược nhấn mạnh tới việc sáng tạo và phát triển sản phẩm mới của nguồn nhân lực. Đây là những người có đầu óc sáng tạo, có tinh thần hợp tác, có định hướng lâu dài, dám chấp nhận rủi ro và có tinh thần trách nhiệm cao. Vào giai đoạn (2), quan điểm chiến lược chính là ’giảm giá thành sản phẩm hiện hành xuống càng thấp càng tốt… tập trung vào việc đẩy mạnh sản xuất và giảm giá thành, khi đó điều khó khăn cho HRM là làm thế nào để thu hút và giữ chân những người thực sự có năng lực’ (Dowling và Schuler 1990, 146). Ở giai đoạn phục hồi (3), việc khôi phục lại doanh nghiệp được thực hiện bằng cách cắt giảm chi phí, có thể thông qua cắt giảm hoặc phát triển số lượng nhân công và cải tiến chất lượng sản phẩm.

    Ngoài ra còn một số mô hình khác cũng đề cập đến các mối quan hệ cụ thể giữa SHRM và chiến lược kinh doanh như mô hình của Dunphy & State (1992; 1994) trong đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tự xây dựng tổ chức của mình sao cho phù hợp với môi trường của nó hay còn goi là ’chương trình thay đổi tổ chức doanh nghiệp’, một yếu tố quyết định đến loại chiến lược và chính sách nhân sự nào là phù hợp nhất với chiến lược kinh doanh.

    7. Kết luận

    Các nhà quản trị ngay nay rất xem trọng tới quản trị nguồn nhân lực chiến lược. Việc xây dựng và triển khai tốt SHRM là một bước quan trọng dẫn đến thành công của doanh nghiệp. Nói cách khác SHRM đòi hòi doanh nghiệp phải xây dựng các mục tiêu, chiến lược và chính sách nhân lực phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình. Những yếu tố này tạo điều kiện phát triển những kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu mà mục tiêu chung của doanh nghiệp đã đề ra. Ngoài ra, chúng cũng tạo lập một khuôn khổ trong đó nhu cầu của con người trong một doanh nghiệp được bảo đảm. Điều quan trọng nhất là doanh nghiệp xác định được vai trò của HRM trong chiến lược phát triển của mình, từ đó vận xây dựng SHRM phù hợp nhất nhằm đạt được thành công và vị trí xứng đáng trên thương trường.


    1. Tài liệu tham khảo

     

    • Tài liệu là sách

    – Armstrong, M (ed.) 192a) Strategies for Human Resource Management: A Total Business Approach. London:Kogan Page

    – ARMSTRONG, M and BARON, A. (2002) Strategic HRM: the key to improved business performance.

    – Beer, M and Spector,B (eds) (1985) Readings in Human Resource Management. New York: Free Press

    – Boxall, P (1992) ‘Strategic Human Resource Management: Beginnings of a New Theoretical Sophistication?’ Human Resource Management Journal, Vol.2 No.3 Spring.

    – Fombrun, C.J., Tichy, N,M, and Devanna, M.A. (1984) Strategic Human Resource Management. New York:Wiley

    – Mintzberg, H, Quinn, J B, Ghoshal, S (198) The Strategy Process, Prentice Hall.

    – Truss, C and Gratton, L (1994) ‘Strategic Human Resource Management: A Conceptual Approach’, International Journal of Human Resource Management, Vol.5 No.3

    • Tài liệu lấy từ Internet

    –  CIPD staff (March 2007) Strategic human resource management: an overview được lấy về từ:

    http://www.cipd.co.uk/subjects/corpstrtgy/general/strathrm.htm?IsSrchRes=1

    –  Dr. Li-Qun Wei (2006) Strategic Human Resource Management: Determinants of Fit  được lấy về từ: http://rphrm.curtin.edu.au/2006/issue2/strategic.html

    – Wikipedia Strategic Human Resource Management được lấy về từ:

    http://en.wikipedia.org/wiki/Strategic_Human_Resource_Management

    – Viện quản lý châu Á Một số mô hình quản lý chiến lược nguồn nhân lực được lấy về từ:  http://aim.edu.vn/?modul=news&pag=view&id=1704&cid=1


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế công cộng – thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, giải pháp khắc phục


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-L%C3%BD-lu%E1%BA%ADn-vai-tr%C3%B2-kinh-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế – Lý luận vai trò kinh tế của nhà nước

    Lời mở đầu

    Như chúng ta đã biết nền kinh tế đã phải trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn khác nhau hưng thịnh có, khủng hoảng có. Để khắc phục những hạn chế và đưa nền kinh tế phát triển thì mỗi trường phái mỗi nhà kinh tế học lại đưa ra quan điểm của riêng mình. Có người thì coi trọng vai trò của nhà nước, có người lại không.Vậy để làm rõ hơn ”vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế” nhóm tôi  thảo luận về chủ đề này. Bài thảo luận của chung tôi gồm 3 phần:

    +Phần I: Nói về nguồn gốc, bản chất và sự phát triển của nhà nước.

    +Phần II: Lý luận vai trò của nhà nước đối với đi nền kinh tế theo quan điểm của từng trường phái.

    +Phần III: Vai trò của nhà nước đối với nước ta hiện nay.

    Mặc dù đã hết sức cố gắng hoàn thành bài thảo luận nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để bài thảo luận của chúng tôi được hoàn thiện hơn.

    I. Nguồn gốc nhà nước

    a, Nguồn gốc nhà nước

    Nhà nước là một phạm trù lịch sử, chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Trong xã hội nguyên thủy, do kinh tế còn thấp kém, chưa có điều kiện khách quan để dẫn đến sự phân hóa giai cấp nên nhà nước chưa xuất hiện. Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là những tộc trưởng do nhân dân bầu ra; việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được thực hiện bằng các quy tắc chung không cần đến các công cụ cưỡng bức đặc biệt.

    Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ tư hữu. Đó là cơ sở kinh tế khách quan dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được xuất hiện. Để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội thì một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là nhà nước do giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế lập ra. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước chiếm hữu nô lệ, sau đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản.

    Theo quan điểm của Lênin, nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.

    b. Bản chất của nhà nước

    Theo Ph. Ăngghen, về bản chất thì “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác.” Không có nhà nước đứng trên các giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp. Nhà nước chính là một bộ máy do giai cấp thống trị về kinh tế thiết lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của chúng đối với quần chúng lao động. Giai cấp thống trị sử dụng bộ máy nhà nước để đàn áp, cưỡng bức các giai cấp khác trong khuôn khổ lợi ích của giai cấp thống trị.

    Theo bản chất đó, nhà nước không thể là lực lượng điều hòa sự xung đột giai cấp, mà trái lại nó lại làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Tất cả những hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội do nhà nước tiến hành, xét đến cùng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị.

    c, Sự phát triển của nhà nước

    Hình thức nhà nước bị quy định bởi giai cấp của nhà nước , bởi tương quan lực lượng giữa các giai cấp , bởi cơ cấu giai cấp – xã hội , bởi đăc điểm truyền thống chính trị của đất nước …

    Tương ứng với ba chế độ xã có đói kháng giai cấp trong lịch sử là hinh thái kinh tế – xã hội chiếm hữu nô lệ , hình thái kinh tế – xã hội phong kiến và hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa là ba kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu nô lệ , nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản . Tùy theo tình hình kinh tế xã hội cụ thể của mỗi nước  mà mỗi kiểu nhà nước được tổ chức theo những hình thức nhất định . Nhà nước XHCN mang bản chất “giai cấp vô sản” nhưng lại là một kiểu nhà nước đặc biệt.

    Nhà nước chiếm hữu nô lệ: Đây là nhà nước của giai cấp chủ nô thời cổ đại mà tiêu biểu là các hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hi Lạp và La Mã cổ đại như chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa, chính thể quý rộc và chính thể dân chủ. Các hình thức này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước, còn bản chất của chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ.

     Nhà nước phong kiến: Đây là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Nói chung, ở phương tây, hình thức quân chủ phân quyền là hình thức nhà nước phổ biến. Quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập, địa phương phân tán. Mỗi chúa phong kiến là một ông vua trên lãnh thổ của mình. Mối liên hệ thực sự giữa các chúa phong kiến châu âu chủ yếu được thiết lập bằng các hình thức liên minh của các nhà nước cát cứ, trong đó Thiên Chúa giáo trở thành mối liên hệ tinh thần thiêng liêng giữa các tiểu vương quốc phong kiến.

    Nhà nước tư sản: Nhà nước tư sản cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng nói chung, chỉ có 2 hình thức cơ bản nhất là hình thức cộng hòa và hình thức quân chủ lập hiến. Hình thức cộng hòa lại được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống trong đó hình thức cộng hòa Đại nghị là hình thức điển hình và phổ biến nhất . Trong thực tế , nhằm thích ứng với điều kiện lịch sự cụ thể của mỗi quốc gia , các hình thức cụ thể của nhà nước tư sản hiện đại lại có sự khác nhau lớn , về chế độ bầu cự , chế độ tổ chức một viện hay hai viện , về nhiệm kỳ tổng thống , về sự phân chia quyến lực giữa tổng thống và nội các .

    Hình thức của nhà nước tư bản là rất phong phú nhưng không làn thay đổi bản chất của nó –  đó là công cụ của giai cấp tư sản dùng để áp bức thống trị giai cấp vô sản và quần chúng lao động để bảo vệ lợi ích và quyền thống trị của giai cấp tư sản. Đúng như V.I.Lênin đã chỉ ra ” Những hình thức của nhà nước tư bản thì hết sức khác nhau, nhưng thực chất là một : chung quy lại thì tất cả những nhà nươc ấy, vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản ”

    Nhà nước vô sản: Là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử .Tính chất đặc biệt của nó trước hết là ở chỗ nó chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản , nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loài người . C.Mác khẳng định : “ Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia .Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá quá độ chính trị , và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”

    Sự tồn tại của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ này là tất yếu vì trong thời kỳ quá độ xã hội còn tồn tại các giai cấp bóc lột và các lực lượng xã hội, chúng chống lại sự nghiệp xây dựng XHCN khiến giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải trấn áp chúng bằng bạo lực . Hơn nữa trong thời kỳ quá độ còn có các giai cấp tầng lớp trung gian khác . Do địa vị kinh tế xã hội của mình họ dễ dao động giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản họ không thể tự mình tiến lên XHCN. Giai cấp vô sản phải tìm mọi cách thu hút lực lượng lao động về phía mình.

    II. Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế

    1. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Mác

    Theo quan điểm của trường phái trọng thương

    Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền, tiền được coi là tiêu chuẩn căn bản của của cải, do đó mục đích chính trong chính sách kinh tế của mỗi nước là phải làm gia tăng khối lượng tiền tệ. Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của thương mại đặc biệt là ngoại thương. Chủ nghĩa trọng thương xuất phát từ chỗ cho rằng tiền tệ (vàng bạc) chỉ có thể gia tăng qua các hoạt động thương nghiệp, do đó phải bảo vệ tiền không cho ra nước ngoài đồng thời thu hồi tiền của nước ngoài về nước mình. Các đại biểu của chủ nghĩa trọng thương đòi hỏi nhà nước:

    – Phải có các biện pháp nhằm bảo vệ thị trường nội địa tránh sự xâm nhập, cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài; chủ trương tìm mọi cách để bảo vệ vàng bạc nước mình không chảy ra nước ngoài.

    – Chủ nghĩa trọng thương ủng hộ chính sách thuế quan, chính sách bảo hộ mậu dịch có lợi cho những hoạt động ngoại thương.

    – Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển tốt đẹp nếu như có sự điều chỉnh và quản lý của nhà nước, khuyến khích sự độc quyền trong ngoại thương. Vai trò của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế được chủ nghĩa trọng thương đề cao và cho rằng: Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển có hiệu quả nếu chịu sự chi phối, quản lý của nhà nước. Thương nhân cần dựa vào nhà nước và nhà nước phối hợp bảo vệ thương nhân.

    Theo quan điểm của trường phái tư sản cổ điển

    Cuối thế kỉ XVII, các nhà tư bản bắt đầu để ý tới việc sản xuất. Sản xuất ở các nước Anh, Pháp phát triển rất mạnh. Khi sản xuất phát triển, đã đưa vị thế của giai cấp tư sản lên rất nhiều. Họ đã nắm nhiều tiền cùng đồng thời nắm giữ nhiều quyền lực trong bộ máy nhà nước. Nên nhà nước mang đậm tính chất của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.

    Người đầu tiên đưa ra nghiên cứu đầu tiên mới về kinh tế là W.Petty. Đối với nhà nước ông đề kiến:

    – Phát hành tiền vàng, chủ trương chế độ đơn kim (một loại tiền)

    Đồng thời với học thuyết của W.Petty là chủ nghĩa trọng nông ở Pháp. Sau một thời kì khủng hoảng sau chủ nghĩa trọng thương. Nông nghiệp bị suy sụt nặng nề. Cần chính sách của nhà nước để bảo vệ cho nông nghiệp:

    – Kiến nghị nhà nước khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, cho phép chủ trại được tự do lựa chọn ngành kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn nuôi.

    – Đề nghị sửa chữa các chính sách về nông nghiệp như giảm thuế, miễn thuế… nên ưu dãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại

    – Phải có chính sách giá cả và chính sách lương thực đúng đắn. Nếu giá cả lương thực quá thấp thì nông dân sẽ bỏ ruộng

    – Đề nghị mở mang giao thông, đầu tư cho đường xá cầu cống.

    Theo quan điểm của A.Smith, ông cho rằng có một bàn tay vô hình nào đó đang điều tiết con người kinh tế. Theo ông, điều kiện cần thiết để các quy luật kinh tế khách quan phát triển là:

    – Nhất định phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá

    -Nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tự do kinh tế tự do mậu dịch, tự do sản xuất kinh doanh những gì họ mong muốn

    Theo ông trong xã hội luôn có sự điều tiết tự nhiên giữa lợi ích của mỗi cá nhân với lợi ích chung của toàn xã hội. Mỗi cá nhân luôn có khuynh hướng cải thiện số phận của mình do động lực xuất phát từ lợi cá nhân của họ. Và chính sự cố gắng của cá nhân đó sẽ làm xuất hiện sự hòa nhập trong xã hội.

    Ông coi hệ thống các quy luật khách quan là “trật tự tự nhiên” và phải có những điều kiện nhất định. Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, phải có tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch.

    A.Smith cho rằng cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng“bàn tay vô hình”. Theo A.Smith, thì có một “bàn tay vô hình” thúc đẩy sự vận hành của nền kinh tế thị trường theo quy luật cung cầu và quy luật giá trị, biến những tính toán riêng về lợi ích của từng người thành những lợi ích chung cho xã hội.

    Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hoá được pháttriển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình. Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế.

    A.Smith tin tưởng rằng sự tăng trưởng trong năng lực sản xuất được
    khuyến khích tốt nhất trong một môi trường mà tại đó con người tự do
    theo đuổi lợi ích riêng tư của họ. Lợi ích cá nhân là chất xúc tác và cạnh
    tranh là cơ chế tự điều chỉnh.

    Ông thấy rằng nhu cầu kiểm soát của nhà nước về nền kinh tế ít hơn. Ông
    nhấn mạnh rằng, một chính sách không can thiệp của nhà nước sẽ là tốt
    nhất để cung cấp môi trường gia tăng sự giàu có của quốc gia.

    Vai trò hợp lí của nhà nước cần nhận thức rằng thị trường phải được tự do
    hoá để thực hiện chức năng của nó mà không theo một cơ chế ràng buộc
    nào bởi việc tháo gỡ những hàng rào ngăn cản để cho hoạt động của bàn
    tay vô hình của thị trường có hiệu quả.

    Theo ông, chỉ có chủ nghĩa tư bản mới làm xã  hội có những điều kiện như vậy.Vì thế, chủ nghĩa tư bản là một xã hội bình thường, được xây dựng trên cơ sở quy luật tự nhiên, còn các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến là xã hội không bình thường. Từ đó, ông cho rằng, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế.

    Theo ông, trong nền kinh tế nhà nước có chức năng là bảo vệ quyền sở hữu tư bản đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống phần tử tội phạm trong nước. Ngoài ra nhà nước có nhiệm vụ kinh tế khi nhiệm vụ này vượt quá sức của một doanh nghiệp như xây dựng đường xá, cầu cống, đào sông, xây dưng các công trình lớn khác.

    Tóm lại, ông muốn xã hội giàu có thì phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do.

    Theo quan điểm của D.Ricardo, ông ủng hộ qui luật ”tiền lương sắt” của W.Petty, ông phản đối viêc nhà nước can thiệp vào hoạt động của thị trường lao động, phê phán sự giúp đỡ của nhà nước đối với người nghèo, vì theo ông làm như vậy sẽ ngăn cản hoạt động của qui luật tự nhiên.

    Theo quan điểm của T.R.Malthus:

    Ông ủng hộ tầng lớp tư bản kinh doanh ruộng đất, đồng thời bảo vệ lợi ích của tư sản. Theo ông do tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ phát triển tư liệu sinh hoạt nên nạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt là tất yếu, sự bần cùng đói rét có tính chất phổ biến cho mọi xã hội. Để khắc phục tình trạng này ông đề ra nhiều biện pháp hạn chế như lao động quá sức,nạn đói, bệnh tật, chết chóc, chiến tranh để hạn chế tốc độ sinh, không cho thanh niên lập gia đình sớm, hạn chế sinh đẻ.theo ông, nhà nước cần khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển lưu thông hàng hoá tự do, ban hành chế độ tự do xuất nhập khẩu thực phẩm khuyến khích hướng dẫn dân cư sang vùng đất mới giàu tài nguyên nhưng chưa được khai thác. Mục đích của Malthus muốn đưa ra một xu hướng có tính quy luật là nhân khẩu tăng nhanh hơn tư liệu sinh hoạt.Biện pháp mà ông đưa ra đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển.

    Theo quan điểm của J.Sismondi:

    Ông là người đại diện cho cả hai trường phái là trường phái tiểu tư sản và trường phái cổ điển. Ông bảo vệ cho giai cấp công nhân, ông cho rằng tiền lương của công nhân phải được trả xứng đáng với toàn bộ giá trị sản phẩm  lao động của người công nhân bỏ ra.Ông ủng hộ quan điểm của Malthus về việc gia tăng của cải và dân số.J.Sismondi là người đầu tiên đi nghiên cứu về khủng hoảng kinh tế. Ban đầu ông ủng hộ quan điểm của A.Smith về tự do kinh tế không có sự can thiệp của nhà nước. Sau đó ông thấy những hậu quả của cuộc cách mạng công nghiệp, các tệ nạn của chủ nghĩa tư bản như khủng hoảng, thất nghiệ. J.Sismondi yêu cầu nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế nhằm bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo vệ ”người thứ 3” (giai cấp tiểu tư sản những người thợ thủ công, nông dân cá thể, tiểu thương), không cho sản xuất, tập trung sự giàu có, duy trì các phân xưởng thủ công, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ.Ông coi nhà nước tư sản biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp.Ông phủ nhận tính chất giai cấp của nhà nước. Theo ông nhà nước tư sản đối lập với sản xuất lớn.Nó có thể đạt được lợi ích chung, sự hài hoà xã hội và phúc lợi chung

    Theo quan điểm của trường phái xã hội không tưởng

    Trường phái xã hội không tưởng có 3 đại biểu chính là S.Simon, C.Fourie và R.Owen. Họ hy vong về một xã hội tương lai sẽ do nhà nước_ những người có tri thức  quản lý. Nền tảng kinh tế  xã hội mới  dựa trên tư hữu (sở hữu tư nhân),còn nền tảng của sản xuất  trong tương lai thì dựa vào đại công nghiệp cơ khí, máy móc nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.Theo Saint simon, xã hội tương lai có thể đảm bảo được phúc lợi cho con người. Con đường để tạo ra phúc lợi là khoa học, nghệ thuật và công nghiệp. Chính quyền hành chính sẽ do các nhà khoa học, nghệ sĩ và nhà công nghiệp điều khiển, lãnh đạo và để đạt tới phồn vinh, những nhiệm vụ cũng phải giao cho những con người có năng lực làm theo mục tiêu chung của khối liên hiệp.

    Học thuyết Saint simon là học thuyết chưa chín muồi,còn mang tính chất không tưởng và sắc thái tôn giáo.

    2. Theo quan điểm của K.Marx

    Theo ông, Nhà nước có vai trò kinh tế đặc biệt. Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội, nhà nước không còn là ăn bám trên quá trình sản xuất. Nó phải chuyển sang tổ chức thực hiện chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân, kể cả đời sống kinh tế, chính trị và văn hoá của nhân dân lao động.Nhà nước phải dựa vào công cụ kế hoạch hoá tập trung để thống nhất quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm, kiểm tra chặt chẽ mức độ lao động và mức độ tiêu dùng.

    Chủ nghĩa Mác Lê nin xem xét nền kinh tế dưới góc độ vĩ mô  từ hiện tượng

    đến bản chất. Chủ nghĩa Mác Lê nin cho rằng trong một nền kinh tế thì cần phải có

    sự can thiệp của Nhà nước. Một nền kinh tế khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường

    có rất nhiều khuyết tật. Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế tối đa

    những khuyết tật và phát huy cao độ  những mặt tích cực của kinh tế phát triển.

    Theo Mác nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì nền kinh tế không hoạt động

    bình thường được, nó sẽ trở nên rối ren mất cân đối một cách nghiêm trọng.

    Dưới chủ nghĩa Mác, Nhà nước không những chỉ có vai trò quản lý kinh tế mà

    còn có vai trò điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô  đảm bảo sự phát triển ổn định về

    nền kinh tế, chống lạm phát và khuynh hướng tạo ra sự cân đối giữa các ngành nghề

    và duy trì sự cân bằng đó Nhà nước kết nối giữa hai ngành nghề, cân đối giữa cung

    và cầu, điều tiết sự lưu thông hàng hoá và tiền tệ.

    Nhà nước đảm bảo tính hiệu quả cho sự phát triển, Nhà nước dùng các chính

    sách tiền tệ, tài chính, tài khoá… và các biện pháp đưa Khoa học kỹ thuật công nghệ

    vào nền kinh tế thúc đẩy sự nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Với công cụ là hệ

    thống luật pháp, Nhà nước sử dụng  nhằm điều chỉnh nền kinh tế phát triển đúng

    hướng, bảo đảm sự ổn định ngăn chặn những hiện tượng xấu không đáng có.

    Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin là đúng đắn nhất.Trong bất

    kỳ một quốc gia nào đều nhất thiết phải có sự tham gia điều tiết của Nhà nước. Nhà

    nước  điều chỉnh và duy trì xã hội thích nghi với những  điều kiện mới và tạo ra

    những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế. Việt Nam ta theo quan  điểm của chủ

    nghĩa Mác – Lênin đã và đang xây dựng củng cố vai trò Nhà nước CHXHCNVN

    trong nền kinh tế.

    3.Theo quan điểm của trường phái sau K.Marx

    Theo quan điểm cuả trường phái cổ điển mới

    Trường phái cổ điển mới phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Nó giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và dược chia thành 2 giai đoạn phát triển. Thời kỳ đầu, cuối thế kỷ XIX các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển mới cung giống như các nhà kinh tế thuộc trường phái cổ điển- họ ủng hộ tự do kinh doanh chống lại sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế. Họ tin tưởng chác chán rằng, cơ chế thị trường tự phát sẽ bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bình thường, tránh được khủng hoảng kinh tế.

    Thời kỳ sau là vào đầu thế kỷ XX, lúc này phương Tây đang ở vào thời kỳ đầu của chủ nghia tư bản độc quyền. Độc quyền ra đời tự do cạnh tranh, nhưng lại không loại bỏ cạnh tranh mà tồn tại cung cạnh tranh, thống trị cạnh tranh ngày càng đa dạng phong phú và phức tạp. Trong khi chưa khôi phục lại những chấn động do cuộc đại chiến thế giới thứ nhất gây ra, chủ nghĩa tư bản lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế có phạm vi thế giới với mức độ nặng nề và thơi gian dài nhất từ trước tới nay, khiến cho nền  kinh  tế phương Tây lâm vào những khó khăn chua từng có. Đặc biệt là sự xuất hiện của xã hội chủ nghĩa đầu tiên, do kết quả của cuộc cách mạng T10 Nga mang lại, là một đòn nặng nề giáng vào thế giới tư bản chủ nghĩa. Nó bắt đầu một thời kỳ phát triển mới, trong đó nền kinh tế không còn là thuần nhất tư bản chủ nghĩa nữa.

    Các học thuyết kinh tế trong thời kỳ này không những chỉ đi sâu vào việc phân tích những vấn đề cung cầu, giá cả trong điều kiện cạnh tranh mà còn chú ý tới các vấn đề cạnh tranh độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế, thuyết số lượng về tiền đặc biệt là các học thuyết kinh tế của họ ít nhiều có sắc thái về tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế và phân tích vĩ mô.

    Theo quan điểm của Keneys

    Lý thuyết sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế

    Nhà nước phải có chương trình kinh tế đấu tư trên quy mô lớn và thông qua đó mà thực hiện sự can thiệp trong quá trình kinh tế. Keneys cho rằng để đảm bảo sự công bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải cần sự can thiệp của nhà nước. Thông qua sự hỗ trợ của nhà nhà nước như là biện pháp để duy trì cầu đầu tư thông qua những hỗ trợ tín dụng hổ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước hệ thống thu mua của nhà nước. Mục đích để ổn định về môi trường kinh doanh ổn định thị trường. Rồi từ đó ổn định về lợi nhuận cho các công ti

    Sử dụng hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiên tệ. ở trong lý thuyết của keyness chúng cũng là những công cụ quan trọng. Mục đích để kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của các doanh nhân. Để đạt được mục đích này  ông chủ trương tăng thêm khối lượng tiền đưa vào lưu thông tăng gía cả hàng hóa (nếu các yếu tố đầu vào chưa kịp điều chỉnh giá) sẽ là tăng phần lời triển vọng tăng hiệu quả giới hạn của tủ bản tăng giới hạn đầu tư tư bản. Khi khối lượng tiền đưa vào lưu thông tăng lên cũng dẫn tới lạm phát. Tuy nhiên lạm phát lúc nào cũng có hại nhà nước có thể chủ động tạo ra lạm phát nếu kiểm soát được làm phát sẽ làm giảm lãi suất tăng giới hạn đầu tư tư bản

    +Để trang trảng những khoản chi tiêu của nhà nước bù đắp những khoản thâm hụt của nhà nước và mở rộng đầu tư của nhà nước. Keynes chủ trương in thêm tiền giấy

    +Để thực hiện sự điều tiết kinh tế keynes chủ trương tăng thuế đối với người lao động để làm giảm đi phần tiết kiện của dân cư. Thực chất nhà nước đã giúp họ chuyển khoản tiết kiệm sang đầu tư. Nhưng vấn đề là phải làm sự phản ứng của dân chúng ông chủ trương tăng việc làm.

    +Để nâng cao tổng cầu và việc làm keynes chủ trương mở rộng đầu tư theo ông đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt miễn tạo ra việc làm và tăng thu  nhập. Kể cả những hoạt động đầu tư cho sản xuất vũ khí, chạy đua vũ trang quân sự hóa nền kinh tế để tăng thu nhập vì vậy ông bị nhiều phê phán

    Keynes chủ trương khuyến khích tiêu dùng cá nhân đối với mọi tầng lớp kể cả người lao động, doanh nhân nhà, tư bản. Những biện pháp đó của ông không đạt được mục đích vì tăng thuế, chính sách ‘‘ướp lạnh tiền lương’’,tăng gía cả.

    Theo quan điểm của trường phái chính hiện đại

    Chính phủ có 4 chức năng chính:

    Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật.Chính phủ đề ra quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ. Điều này bao gồm quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh,các trách nhiệm tương hỗ của liên đoàn lao động, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế.

    Các luật lệ đưa ra nhằm đáp ứng những giá trị và quan điểm được đồng tình rộng rãi về sự công bằng hơn là qua một sự phân tích kinh tế được mài dũa cẩn thận về chi phí và lợi lộc. Nhưng khuôn khổ pháp luật có thể tác đông sâu sắc tới các ứng xử kinh tế của con người.

    Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả

    Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó không có hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền. Cần phải nói rằng, lợi dụng ưu thế của mình, các tổ chưc độc quyền có thể quy định giá cả đẻ thu lợi nhuận và do vậy, phá vỡ ưu thế của cạnh tranh hoàn hảo. Vì vâỵ, cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ để hạn chế độc quyền, đảm bảo tính hiệu quả của cạnh tanh thị trường.

    Thứ hai, những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động thị trường và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp.Chính phủ phải sử dụng đến luật lệ để điều hành kinh tế như là một phương pháp để ngăn chặn những tác động bên ngoài như ô nhiễm nước và không khí, khai thác đến cạn kiệ, khoáng sản, chất gây nguy hiểm cho thức ăn, đồ uống, thiếu an toàn về chất phóng xạ…

    Thứ ba, chính phủ phải đảm nhận việc sản xuất các hàng hoá công cộng. Theo các nhà kinh tế, hàng hoá tư nhân là một loại hàng hoá mà nếu như một người đã dùng thì người khác không thể dùng được nữa. Còn hàng công cộng là một loại hàng hoá mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được.

    Thứ tư là thuế. Trên thực tế, phần chi phí của chính phủ phải được trả bằng tiền thuế thu được. Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế. Chính phủ phải can thiệp vào thị trường để nâng cao hiệu quả của thị trường. Chính phủ đề ra luật lệ đi đường và mua hàng công cộng như đường sá, do đó, tạo điều kiện dễ dàng cho tư doanh hoạt động trôi chảy, năn cản sự lạm dung của các doanh nghiệp, khi họ trở thành những kẻ tham lam, độc quyền chiếm đường và kiềm chế hoạt động của các doanh nghiệp khác

    Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng. Chính phủ cần phải thông qua những chính sách để phân phối thu nhập.Ngoai ra chính phủ cần phải hỗ trợ thu nhập để giúp cho người già, người mù, người tàn tật, người phải nuôi con và bảo hiểm thất nghiệp cho những người không có công ăn việc làm. Cuối cùng nhà nước phải trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu nhập thấp bằng cách phát tem phiếu thực phẩm, trợ cấp y tế cho thuê nhà rẻ…

    Chức năng thứ tư là ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ sử dụng các chính sách tiền tệ, tài chính tác dộng tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết nạn thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát,…Chính phủ sử dụng hai quyền lực chính của mình là quyền lực về tài chính (quyền đánh thuế và chi tiêu), quyền lực về tiền tệ (quyền điều tiết về tiền tệ và hệ thống ngân hàng) để tác động tới công ăn việc làm và giá cả.

    Tóm lại chính phủ thực hiện các chức năng trên thông qua ba công cụ là các loại thuế, các khoản chi tiêu, lãi suất, thanh toán chuyển nhượng, những khối tiền tệ và  những quy định hay kiểm soát. Thông qua công cụ thuế chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tư của tư nhân khuyến khích hoặc chế hoạt động kinh doanh của doanh nhân. Các khoản chi tiêu của chinh phủ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hoá hay dịch vụ và những khoản tiền trợ cấp thu nhập.Theo quan điểm của trường phái hiện đại thì nhà nước có vai trò quan trọng.

    III.Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế nước ta hiện nay

    Ở Việt Nam hiện nay, nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng.Nền kinh tế của nước ta phát triển dựa vào đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của  ĐCS Việt Nam.Song những đường lối, quan điểm tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hoá thành hệ thống pháp luật, chương trình kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và được triển khai bằng nhà nước, thông qua nhà nước và dưới sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhà nước tác động trực tiếp tới sự vận động của nền kinh tế thị trường. Nhà nước ta ưu tiên bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động trên cả 3 lĩnh vực:

    Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhà nước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

    Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách… tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung gian nhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp.

    Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực – trực tiếp là bộ phận kinh tế nhà nước – để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phối lại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sách xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…

    Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vai trò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng kinh tế.

    Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngày một gia tăng.

    Vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế thị trường được thể hiện ở việc nhà nước góp phần đắc lực vào việc tạo môi trường cho thị trường phát triển, như tạo lập kết cấu hạ tầng kinh tế cho sản xuất, lưu thông hàng hóa; tạo lập sự phân công lao động theo ngành, nghề, vùng kinh tế qua việc nhà nước tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế theo lợi thế từng vùng, ngành và nhu cầu chung của xã hội… Là chủ thể trực tiếp sở hữu hoặc quản lý, khai thác những cơ quan truyền thông mạnh nhất của quốc gia, nhà nước góp phần cung cấp thông tin thị trường cho các chủ thể kinh tế để các chủ thể này chủ động lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, đối tác kinh tế, thời điểm thực hiện các giao dịch kinh tế, cách thức sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất trong điều kiện cụ thể của mình…

    Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, nhà nước góp phần khởi đầu và có tác động tích cực vào quá trình thiết lập quan hệ quốc tế. Đại diện cho đất nước tham gia vào các quá trình soạn thảo và thông qua chuẩn mực luật pháp kinh tế, các hiệp định kinh tế, các nghị định thư…, Nhà nước ta góp phần tạo cho chủ thể kinh tế của đất nước vị trí có lợi trong quan hệ kinh tế quốc tế như tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

    Nhà nước ta đã đầu tư cho giáo dục- y tế như xây dựng tu bổ cơ sở hạ tầng tạo điều kiện tốt nhất cho công tác giảng dạy và chữa bệnh.Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đào tạo lao đông có trình độ tay nghề và sức khỏe tốt.

    Nhà nước ta lấy hệ tư tưởng cách mạng khoa học( chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) làm 1 trong những cơ sở quan trọng trong việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế.

    Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy, Nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về chế độ sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch theo hướng tạo động lực và điều kiện thuận lợi hơn cho khai thác các tiềm năng trong và ngoài nước để phát triển kinh tế- xã hội. Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 – 1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt 4,5%/năm; 1996 – 2000: 7%/năm; 2001 – 2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt 8,48%. Năm 2008, dù phải đối mặt với không ít khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23%.

    Nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy vai trò các nhân tố nội lực, coi trọng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế. Trong năng lực nội sinh, chúng ta coi trọng trước hết nhân tố con người. Do vậy, Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục – đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13,5% năm 1996 tăng lên 19,7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12,31% lực lượng lao động được đào tạo, đến nay, tỷ lệ này đạt 31%. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế: năm 1990, tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2,9%, năm 2004 là 35,15% và những năm gần đây đều có xu hướng tăng lên…

    Nhà nước cũng có nhiều chính sách khai thác ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực cho sự phát triển. Biểu hiện rõ nhất là Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,… Từ năm 1988 đến hết năm 2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký 74 tỉ USD. Năm 2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế; xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5 triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm 2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.

    Nhờ vào chính sách đúng đắn của nhà nước mà thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể. Năm 1995, GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005: 639 USD; năm 2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000 USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp

    Vai trò của Nhà nước ta có vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế gần đây. Trên cơ sở tiên định những diễn biến xấu có thể xảy ra, Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp đó, Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10 giảm 0,19%, tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định: thu chi ngân sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả năm, tăng 26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, vượt kế hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28% so với năm 2007. Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]