Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Tiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-kinh-doanh-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-Chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-c%C3%B4ng-ty-Nestl%C3%A9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TTiểu luận quản trị kinh doanh quốc tế Chiến lược kinh doanh quốc tế của công ty Nestlé

    LỜI MỞ ĐẦU

    Giao thương quốc tế ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nó đã mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia hội nhập, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập này là các tập đoàn đa quốc gia, những tập đoàn này đã góp phần rất lớn trong việc toàn cầu hóa, thúc đẩy giao thương giữa các nền kinh tế và đóng góp không nhỏ vào các nền kinh tế các nước đang phát triển góp phần đưa kinh tế các nước này đi lên. Nestlé là một trong số đó. Ra đời cách đây hơn 1 thế kỷ, Nestlé đã và đang từng bước khẳng định chính mình bằng cách vươn xa hơn, mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn thế giới. Với những chiến lược kinh doanh đúng đắn tập đoàn này đã thực sự khẳng định được chính mình trên sân chơi kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển của mình tập đoàn cũng không khỏi mắt những sai lầm và cũng gặp không ít thất bại ở một số thị trường. Ngày nay, với sự nổ lực không ngừng tập đoàn với những chiến lược kinh doanh linh hoạt, tập đoàn không ngừng phát triển sang các thị trường tiềm năng mới góp phần vào sự thành công của tập đoàn và phát triển kinh tế thế giới.

    2

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    GIỚI THIỆU

    I. GIỚI THIỆU CHUNG

    Nestlé S.A. hay Société des Produits Nestlé S.A. là công ty thực phẩm và giải khát lớn nhất thế giới, được thành lập vào năm 1986 do nhà sáng lập Henri Nestlé. Trụ sở chính đặt tại Vevey (Thụy Sĩ), tổng số nhân viên năm 2008 là 283,000 nhân viên.

    Các sản phẩm của công ty: Thức ăn trẻ sơ sinh, cà phê, thực phẩm chế biến từ sữa, đồ ăn nhanh,bánh kẹo, nước đóng chai, kem,thức ăn vật nuôi…hiện có 500 nhà máy tại 86 quốc gia trên toàn thế giới.

    II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

    1866-1905

    Vào những năm 1860, Dược sĩ Henri Nestlé đã phát minh ra một loại thức ăn cho những trẻ sơ sinh không thể được nuôi bằng sữa mẹ. Thành công đầu tiên của ông là đã cứu sống một đứa bé sinh non không thể được nuôi bằng sữa mẹ hay những thực phẩm thay thế thông thường khác. Giá trị của sản phẩm mới này nhanh chóng được công nhận kể từ sau khi công thức mới của Nestlé đã cứu sống đứa bé sinh non. Từ đó, sữa bột Farine Lactée Henrie Nestlé đã được bày bán rộng rãi tại Châu Âu.

    1905-1918

    Năm 1905, Nestlé hợp nhất với Công ty sản xuất sữa đặc Anglo-Swiss. Từ đầu những năm 1900, công ty đã điều hành nhiều nhà máy ở M ỹ, Anh, Đức và Tây Ban Nha. Thế chiến thứ I đã tạo nên nguồn nhu cầu mới cho các sản phẩm sữa dưới hình thức những hợp đồng của chính phủ. Cuối chiến tranh, mức sản xuất của Nestlé đã được tăng hơn gấp đôi.

    1918-1938

    Sau thế chiến, các hợp đồng với chính phủ vơi dần và người tiêu dùng nhanh chóng trở về với việc dùng sữa tươi. Tuy nhiên, đội ngũ Nestlé đã có những phản ứng nhanh chóng, tổ chức hoạt động có hiệu quả và giảm thiểu nợ. Những năm 1920, Nestlé bắt đầu mở rộng sang sản xuất các sản phẩm mới và chocolat trở thành ngành hàng quan trọng đứng thứ hai của Nestlé.

    1938-1944

    Nestlé đã ngay lập tức nhận thấy tác động của Thế chiến thứ 2. Lợi nhuận giảm từ 20 triệu dollar vào năm 1938 xuống còn 6 triệu dollar năm 1939. Các nhà máy đã được đặt tại những nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Mỹ La tinh. Ngạc nhiên thay, chính chiến tranh đã giúp Công ty giới thiệu ra những sản phẩm mới, Nescafé là thức uống chủ yếu của quân đội Mỹ. Sản lượng và doanh số của Nestlé tăng nhanh chóng trong thời chiến.

    1944-1975

    3

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Kết thúc Thế chiến lần II là mở đầu cho một thời kỳ năng động của Nestlé. Nestlé liên tục phát triển nhanh chóng và thu mua lại nhiều công ty. Năm 1947 tiến đến sát nhập với hãng sản xuất bột nêm và súp Maggi. Đến năm 1960 là Cross & Blackwell và 1963 đến lượt Findus, Liffy’s 1971 và Stouffer’s năm 1973. Nestlé bắt đầu đa dạng hóa sản phẩm khi nắm cổ phần tại L’Oréal năm 1974.

    1975-1981

    Sự phát triển của Nestlé trong thị trường các nước đang phát triển một phần nào đó đã giúp bù đắp được sự xuống dốc của Công ty trên các thị trường truyền thống. Nestlé tiến hành đầu cơ lần thứ hai bên ngoài ngành công nghiệp thực phẩm qua việc mua lại Công ty Alcon Laboratories Inc.

    1981-1995

    Nestlé đã từ bỏ một số hoạt động kinh doanh từ năm 1980 – 1984. Vào năm 1984, những cải tiến mấu chốt trong hoạt động của Nestlé đã cho phép công ty tiến hành các vụ thu mua mới, quan trọng nhất là việc mua lại “người khổng lồ trong ngành thực phẩm Hoa Kỳ” Carnation.

    1996-2002

    Vào nửa đầu những năm 1990 là giai đoạn thuận lợi cho Nestlé: các rào cản thương mại được dỡ bỏ, thị trường thế giới phát triển thành các khu vực mậu dịch hội nhập. Từ năm 1996 công ty đã thu mua lại các công ty như San Pellegrino (1997), Spillers Petfoods (1998) và Ralston Purina (2002). Hai vụ thu mua lớn nhất tại Bắc Mỹ đều diễn ra vào năm 2002: tháng 7, Nestlé sát nhập ngành kinh doanh kem của họ tại Hoa Kỳ vào hãng Dreyer’s, và tháng 8, thông báo vụ thu mua lại công ty Chef America với giá 2.6 tỉ dollar.

    2003

    Năm 2003 được khởi đầu tốt đẹp bằng việc mua công ty sản xuất kem Mövenpick, củng cố vị trí đầu của Nestlé trên thế giới trong ngành hàng này. Năm 2006, Nestlé đầu tư vào Jenny Craig và Uncle Toby’s và đến năm 2007, các công ty Novartis Medical Nutrition, Gerber và Henniez cũng được sát nhập vào Nestlé.

    III. NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ NGUYÊN TẮC KINH DOANH

    Những nguyên tắc kinh doanh của tập đoàn sẽ tiếp tục được phát triển trước những thay đổi đang diễn ra trên thế giới, tuy vậy những nguyên tắc này luôn thể hiện những ý tưởng cơ bản về sự công bằng, tính trung thực và mối quan tâm chung dành cho mọi người.

    Truyền thông có trách nhiệm tới người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em

         
      Tiếp thị các sản phẩm thay thế sữa mẹ phù hợp với quy định quốc tế của Tổ chức  
    y tế thế giới (WHO Code) và các quy định luật pháp của nước sở tại  
      Áp dụng Những Quyền Cơ Bản của con người đối với toàn thể nhân viên, đối tác

    và đặc biệt là bãi bỏ việc sử dụng lao động trẻ em

    Quan hệ với nhà cung cấp Bảo vệ môi trường

    Quản lý nguồn nước vốn được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên, chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự hiện đại hóa của xã hội

    4

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Những sáng kiến nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn

    Những quy định nội bộ nhằm bảo đảm việc tuân thủ tuyệt đối những nguyên tắc này

    5

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    NỘI DUNG

    I- KHÁI NIỆM

    1. Chiến lược quốc tế ( The international Strategy)

    Sản phẩm được sản xuất tại thị trường nội địa và bán ra thị trường các quốc gia khác với sự điều chỉnh tối thiểu theo yêu cầu của địa phương khác. Chiến lược này ít chịu sức ép giảm chi phí và sức ép của yêu cầu địa phương (vì hoạt động sản xuất chủ yếu diễn ra trong nước). Nhưng nó nhạy cảm cao đối với các rủi ro về tỷ giá và rủi ro về chính trị

    Đặc trưng:

    – Khai thác lợi thế so sánh, vị trí trong nước để biến thành lợi thế cạnh tranh

    • Đi vào những thị trường thiếu kĩ năng của công ty đa quốc gia. Giá trị được tạo ra bằng sự chuyển đưa những cốt lõi cạnh tranh từ chính quốc ra nước ngoài – nơi

    mà đối thủ cạnh tranh không có khả năng phát triển, đáp ứng, duy trì

    – Thường theo một kiểu mẫu giống nhau khi mở rộng thị trường nước ngoài

    – Tập trung hóa những chức năng phát triển sản phẩm như R&D tại chính quốc, sản xuất sản phẩm theo chuwnr mực nhu cầu thị trường nội địa.

    • Thiết lập các bộ phận sản xuất, marketing tại những khu vực, quốc gia trọng yếu, nơi họ kinh doanh quốc tế
    • Trụ sở chính kiểm soát chặt chẽ những chiến lược mark và sản phẩm, sự thích ứng địa phương thực hiện giới hạn.
    • Hoạt động quốc tế xếp thứ 2 sau thị trường tại chính quốc

    Hạn chế: có thể bỏ sót cơ hội tại thị trường địa phương

    2 Chiến lược xuyên quốc gia ( The Transnational Strategy )

    Là chiến lược mà MNC tìm cách đạt hiệu quả toàn cầu và đáp ứng địa phương, có chia sẻ sứ mệnh chung của M NC nhưng có những hoạt động thay đổi theo yêu cầu của địa phương ( chuẩn hóa nơi có thể , thích ứng nơi bắt buộc ). Chọn được một địa điểm tối ưu không thể đảm bảo chắc rằng chất lượng và chi phí cho các yếu tố đầu vào

    • đó cũng sẽ tối ưu. Chuyển giao kinh nghiệm có thể là một nguồn lực cốt lõi của lợi thế cạnh tranh, nhưng kinh nghiệm không thể tự động được chuyển giao.

    6

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Đặc trưng:

    – Lợi thế cạnh tranh có thể phát triển ở bất kì đơn vị hoạt động nào của M NC

    – Cố gắng đạt chi phí thấp dựa trên kinh tế vùng ,tính kinh tế của quy mô, học tập hiệu quả cũng như tạo sản phẩm khác biệt cho khách hang ở những khu vực khác nhau, khuyến khích mở cửa ở những nơi phát triển kĩ năng hoạt động trong hoạt động toàn cầu

    – Dòng sản phẩm và kĩ năng có thể chuyển đưa giữa các đơn vị trong MNC, tập trung thúc đẩy phát triển các kĩ năng tại các cơ sở học tập toàn cầu

    – Giá trị tạo ra bằng sự đổi mới củng cố và trao đổi ý tưởng ,sản phẩm và quy trình

    Hạn chế : Thực hiện chiến lược này có nhiều khó khăn vì đáp ứng địa phương làm tăng chi phí. Cần tránh 2 khuynh hướng- tập trung hoạt động của công ty quá lớn vào một vị trí trung tâm, hoặc vì muốn tăng mức độ thích nghi theo địa phương mà phân tán hoạt động của công ty trên quá nhiều địa điểm khác nhau.

    3 Chiến lược toàn cầu ( The Global Strategy)

    Công ty đa quốc gia (MNC) mở rộng thị trường nước ngoài dựa trên sự chuẩn hóa và chi phí có tính cạnh tranh; giá trị được tạo ra dựa trên việc thiết kế sản phẩm cho thị trường toàn cầu và sản xuất, marketing hiệu quả nhất. Quy mô sản xuất, phân phối sản phẩm được nâng cao, thuận lợi cho việc đầu tư phát triển và giảm chi phí rất tích cực; nhưng khó đáp ứng nhu cầu địa phương.

    Đặc trưng:

    • Liên kết SBU ở nhiều nước để chia sẻ nguồn tài nguyên giá rẻ, nhấn mạnh đến vấn đề đảm bảo qui mô lợi suất kinh tế.
    • Chuẩn hóa sản phẩm toàn cầu để tối đa lợi nhuận vì khai thác tính quy mô, học tập kinh tế vùng (vị trí chiến lược)
    • Không cố gắng đáp ứng địa phương
    • Thích hợp cho sản phẩm công nghiệp
    • Mục tiêu chiến lược là theo đuổi chiến lược chi phí thấp trên phạm vi toàn cầu để hỗ

    trợ “ chiến lược giá công kích ” (aggressive pricing) trên thế giới

    • Phân tán vài hoạt động chủ yếu và hỗ trợ như sản xuất ,marketing ,R&D ở vài vị trí thuận lợi nhất trên phạm vi toàn cầu (outsource)
    • Quyết định tập trung hóa tại trụ sở chính

    7

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Hạn chế: không phù hợp tại những thị trường cần sự thích ứng cao

    4 Chiến lược đa nội địa (The multi-domestic Strategy)

    Những quyết định chiến lược và hoạt động phân chia theo đơn vị kinh doanh từng quốc gia. Chiến lược này có cơ hội khách hàng hóa cao nhưng hạn chế khai thác quy mô kinh tế, học tập và phối hợp thông tin

    Đặc trưng:

    • Tập trung sự cạnh tranh tại từng thị trường. Thu lợi bằng việc khách hàng hóa sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị hiếu của những thị trường quốc gia khác nhau, dẫn đến gia

    tăng giá trị sản phẩm tại thi trường quốc gia địa phương và đẩy giá sản phẩm lên cao

    – Mức độ phân quyền cho địa phương cao (gần gũi về vị trí và văn hóa )

    – Giá trị được tạo ra bằng việc giao quyền cho nhà QT địa phương để thích ứng với môi trường kinh tế luật pháp văn hóa địa phương

    – Thích hợp khi có nhiều chi nhánh tại các quốc gia và áp lực giảm chi phí không lớn

    – Thích hợp cho sản phẩm tieu dùng

    Hạn chế: chi phí cao nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.

    8

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    II- CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA CÔNG TY NESTLÉ

    1. Chiến lược quốc tế thâm nhập thị trường mới bằng các sản phẩm chủ lực

    Cũng giống như các công ty đa quốc gia khác ở thị trường Âu, Mỹ Nestlé khi mới thâm nhập vào thị trường công ty dùng chiến lược quốc tế cho các sản phẩm được sản xuất ở nhà máy chính ở Thụy Sĩ sau đó xuất khẩu sang nước khác cụ thể là 1868 Nestle thành lập chi nhánh bán hàng đầu tiên ở London (Anh), 1885 thành lập đơn vị kinh doanh ở Newzeland, ngoài ra hàng hóa còn được xuất khẩu ra nhiều nước ở châu Âu khác.

    Giai đoạn đầu các chi nhánh này có nhiệm vụ nhập khẩu và bán các sản phẩm sữa sản xuất từ nhà máy ở Thụy Sĩ. Định hướng của chi nhánh trong giai đoạn này, được quyết định chỉ từ một nguồn duy nhất là công ty mẹ của Nestlé tại Thụy Sĩ, theo đó chi nhánh chỉ kinh doanh những sản phẩm được sản xuất từ công ty mẹ ở Thụy Sĩ, Hình ảnh của chi nhánh được gắn chặt mật thiết với hình ảnh của công ty mẹ, thừa hưởng, sử dụng và phụ thuộc hoàn toàn vào hình ảnh của công ty mẹ.Trong giai đoạn thực hiện chiến lược này, Nestlé chủ yếu sản xuất sản phẩm từ nhà máy trong nước tại Thụy Sĩ rồi xuất khẩu sang các quốc gia khác- những nơi mà hiện tại công ty không có năng lực sản xuất. Nguyên nhân có thể vì lúc này Nestlé hiện không có nhà máy sản xuất tại nước ngoài hay đơn giản là vì chưa thể chuyển giao được công nghệ sản xuất ra khỏi biên giới… Kế hoạch kinh doanh, định giá sản phẩm, chiến lược Marketing, bán hàng, chiêu thị,… của các nhãn hàng ở thị trường nước ngoài đều sao chép như nguyên mẫu từ thị trường Thụy Sĩ.

    Trong giai đoạn đầu, chiến lược này đem lại một số thành công nhất định trước đây sản xuất từ dưới 1000 hộp/ngày tăng lên đến 2000 hộp mỗi ngày, nhu cầu vượt quá khả năng sản xuất của nhà máy dẫn đến nhiều đơn hàng bị bỏ lở, 1905 chấm dứt giai đoạn quốc tế hóa Nestlé sáp nhập với Anglo Swiss Condensed Milk, đây là công ty có sản phẩm chính là sữa đặt và có nhà máy sản xuất ở Chippenham (Anh) từ 1987.

    Nestlé dùng chiến lược này có thể khi xâm nhập vào thị trường mới có thể, Nestlé không có đủ nguồn lực để phát triển đa dạng những sản phẩm của mình nên việc lựa chọn chỉ một vài sản phẩm là thế mạnh để kinh doanh. Giai đoạn ban đầu khi sản phẩm chỉ vừa đến tay người tiêu dùng là rất quan trọng, Nestlé phải kiểm soát được chất lượng sản phẩm, ổn định về hình ảnh công ty, bảo chứng được thương hiệu của mình trong mắt người tiêu dùng nước ngoài. Công ty không thể dễ dàng trong việc đặt nhà máy sản xuất hay chuyển giao công nghệ khi chưa quen thuộc với thị trường mới. Điều này tạo ra rất nhiều rủi ro. Sẽ an toàn hơn cho Nestlé khi sử dụng lại những phương thức kinh doanh, định giá, Marketing, quảng cáo,… đã từng gặt hái thành công

    • Thụy Sĩ hơn là phát triển và xây dựng lại từ đầu. Có thể xem đây là những bảo chứng cho doanh thu, lợi nhuận ban đầu của sản phẩm trên đất khách. Bên cạnh đó, việc sử dụng lại cũng giúp Nestlé tiết kiệm được phần nào chi phí, từ đó khả năng hoàn vốn được nâng cao rõ rệt. Trong tâm lí một bộ phận khách hàng đã hình thành những “chuẩn mực” về Nestlé, họ tìm kiếm sản phẩm vì nhu cầu được sử dụng hàng hóa có

    9

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    “chất lượng” từ Thụy Sĩ nên ít quan tâm về giá cả mà chú trọng hơn vào nguồn gốc của sản phẩm, những “đặc sản”, những thông điệp, những quảng cáo đa tạo nên thương hiệu của Nestlé.

    2. Chiến lược xuyên quốc gia để tối ưu hóa việc phát triển sản phẩm truyền thống vào các thị trường mới

    Năm 1905 công ty sáp nhập với Anglo Swiss Condensed M ilk để mở rộng dòng sản phẩm và công ty bắt đầu theo đuổi chiến lược xuyên quốc gia. Nhưng chiến lược xuyên quốc gia này dựa trên việc sản xuất các sản phẩm truyền thống của Nestlé là các sản phẩm sữa để đáp ứng nhu cầu địa phương. Nestlé xây dựng các nhà máy sản xuất tại Mỹ và Anh vào cuối thế kỷ 19, tại Út, Nam M ỹ, Châu Phi và châu Á vào 3 thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Nhằm tối ưu hóa chi phí sử dụng nguồn nguyên liệu, chi phí vận chuyển phân phối, nhân công, thuế nhập khẩu… Năm1906 Nestlé mua lại công ty sữa đặc Cressbrook ở Brisbane, doanh số sản xuất trong vài năm sau đó tiếp tục gia tăng cùng với doanh số bán hàng khi công ty bắt đầu thay thế các đại lý bán hàng và các công ty con, đặc biệt ở thị trường châu Á phát triển nhanh chóng.

    Tuy nhiên, khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, Nestlé hoạt động, đặc biệt là ở các nước đang chiến tranh như Anh và Đức, đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mặc dù sản xuất vẫn tiếp tục duy trì tốt trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, nhưng kinh doanh sớm trở nên khó khăn hơn. Năm 1916 tình trạng thiếu sữa tươi, đặc biệt là ở Thụy Sĩ, các nhà máy của Nestlé thường được bán gần như tất cả sữa của mình để đáp ứng nhu cầu của các thị trường địa phương. Trở ngại vận chuyển, tăng sản xuất và chi phí hoạt động, và các hạn chế về việc sử dụng các cơ sở sản xuất thêm những khó khăn trong thời chiến của Nestlé, đã giảm hơn nữa lượng sữa tươi cung cấp do sự thiếu hụt của gia súc.

    Để đối phó với vấn đề này và đáp ứng nhu cầu gia tăng cho sản phẩm của mình, Nestlé quyết định mở rộng ở các nước ít bị ảnh hưởng bởi chiến tranh và bắt đầu mua các nhà máy hiện có, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, nơi nó được thành lập liên kết với các công ty hiện có. Năm 1917, Nestlé đã có 40 nhà máy, và vào năm 1918, sản lượng thế giới của nó là hơn gấp đôi vào năm 1914. Nestlé theo đuổi cùng một chiến lược tại Úc, năm 1920 hãng đã mua lại quyền kiểm soát trong ba công ty đó. Cùng năm đó, Nestlé đã bắt đầu sản xuất ở Mỹ Latinh khi nó thành lập một nhà máy ở Araras, Brazil, là người đầu tiên trong một loạt các nhà máy Mỹ Latinh. Đến năm 1921, công ty đã có 80 nhà máy và 12 công ty con và công ty liên kết. Nó cũng giới thiệu một sản phẩm mới năm sữa bột được gọi là Lactogen.

    Kết quả của việc xuyên quốc gia giai đoạn này là Nestlé và Anglo-Swiss báo cáo thua lỗ lần đầu tiên năm 1921. Công ty giải thích về sự thua lỗ 100 triệu Franc Thụy sĩ là nguyên nhân do tăng giá của các nguyên liệu như đường và than đá, và sự suy thoái thương mại đã gây ra sức mua chửng lại của người tiêu dùng, cùng với tỷ giá hối đoái giảm sau chiến tranh, buộc công ty tăng giá. Công ty đã tiến hành cải tổ, đóng của một số nhà máy hoạt động không hiệu quả ở một số nước Hoa Kỳ, Anh, Úc, Na Uy, và Thụy Sĩ. Đến năm 1923, dấu hiệu cải thiện đã hiện rõ, như vay vốn ngân hàng của Nestlé đã giảm từ 293 triệu Franc Thụy Sĩ vào năm 1921 đến 54,5 triệu Franc

    10

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    Thụy Sĩ vào năm 1923. Trong khi đó, tại Pháp, Bỉ, Ý, Đức, và Nam Phi, các cơ sở sản xuất đã được mở rộng. Bằng cách củng cố các hoạt động nhất định và mở rộng hơn, Nestlé cũng có thể mở rộng các sản phẩm truyền thống.

    3. Chiến lược đa nội địa để phát triển danh mục sản phẩm địa phương

    Với chiến lược đa nội địa công ty mở rộng danh mục sản phẩm thông qua việc mua lại các công ty địa phương và tiếp tục phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu địa phương, tận dụng thế mạnh nguyên liệu, thị hiếu tiêu dùng, chi phí vận chuyển, kênh phân phối…Năm 1929, Nestlé bước vào lĩnh vực kinh doanh sôcôla khi mua lại một công ty sản xuất sôcôla của Thụy Sĩ. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của sản phẩm mang tính cách mạng nhất của Nestlé vào năm 1938, Nescafe, thức uống cà phê hòa tan đầu tiên trên thế giới. Sau Thế chiến thứ hai, Nestlé tiếp tục mở rộng sang những lĩnh vực kinh doanh thực phẩm khác, chủ yếu thông qua việc mua lại Maggi (1947), Nestlé hợp nhất với Alimentana SA, nhà sản xuất của gia vị Maggi, nước dùng, và bột súp, và công ty đổi tên thành Công ty Nestlé Alimentana và rất thành công. Nhưng không phải lúc nào cũng đạt được thành công mà Nestlé đã gặp thất bại khi mua lại Cross & Blackwell (1960), một công ty bảo tồn và thực phẩm đóng hộp. Nestlé hy vọng 24 triệu đô la đầu tư sẽ dùng công ty như một cửa hàng tiếp thị cho các sản phẩm Maggi, nhưng kế hoạch không đem lại nhiều thành công, bởi vì Crosse và Blackwell không thể cạnh tranh ở Vương quốc Anh với Công ty HJ Heinz. Thất bại tương tự xảy ra vào năm 1963, khi Nestlé mua lại Findus thực phẩm đông lạnh ở Scandinavia với 32 triệu USD. Mặc dù công ty thực hiện tốt ở Thụy Điển, nhưng nó gặp phải khó khăn trong thị trường khác, nơi người khổng lồ Unilever Anh-Hà Lan trị vì.

    Tuy nhiên không vì những thất bại đó mà Nestlé từ bỏ chiến lược của mình, Nestlé tiếp tục mua lại các công ty khác như Findus (1962), Libby’s (1970), Stouffer’s (1973), Carnation (1985), Rowntree (1988), và Perrier (1992) tiếp tục mở rộng danh mục sản phẩm kinh doanh của mình.

    Song song với chiến đa nội địa Nestlé áp dụng chiến lược quốc tế hóa khi sản phẩm đã có vị thế vững chắc ở thị trường nội địa. Các sản phẩm này được giới thiệu sang thị trường các nước lân cận để thâm nhập mở rộng thị trường tiêu thụ và lan toả trên trên toàn thế giới và trở thành sản phẩm chủ lực trong dòng sản phẩm quốc tế của mình như các sản phẩm cà phê hòa tan Nescafe, nước chấm Maggi, bột gia vị Maggi…

    Kết quả đạt được cho chiến lược đa nội địa và quốc tế hóa là cuối thập niên 1990, Nestlé sở hữu 500 nhà máy tại 76 quốc gia và sản phẩm được bán tại 193 quốc gia, hầu như có mặt tại khắp các nước trên thế giới. Năm 1998, doanh thu công ty đạt gần 72 tỷ SWF (51 tỷ USD), trong đó quê nhà Thụy Sĩ chỉ góp 1%. Tương tự, chỉ có 3% trong số 210.000 nhân viên làm việc tại Thụy Sĩ. Nestlé là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về sản phẩm sữa bột cho trẻ em, sữa đặc, sôcôla, cà phê hòa tan, súp, và nước khoáng. Công ty đứng thứ hai về các sản phẩm kem, ngũ cốc điểm tâm, và thực phẩm cho thú nuôi. Doanh số kinh doanh thực phẩm tại châu Âu chiếm 38%, tại M ỹ chiếm 32%, tại châu Phi và châu Á chiếm 20%

    11

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    4. Chiến lược xuyên quốc gia được kết hợp với chiến lược đa nội địa và chiến lược quốc tế được áp dụng hiện nay vào các thị trường mới nổi

    Mặc cho những thành công không thể chối cãi, vào đầu thập niên 1990 Nestlé đối diện với những thách thức nghiêm trọng trong việc duy trì tỉ lệ tăng trưởng của công ty. Những thị trường to lớn Tây Âu và Bắc Mỹ đã bão hòa. Tại một số nước, tốc độ tăng dân số đã chững lại kéo theo sự sụt giảm nhẹ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm. Môi trường bán lẻ tại các nước phương Tây càng trở nên thách thức hơn, và cán cân quyền lực đã dịch chuyển từ các nhà sản xuất thực phẩm và đồ uống tên tuổi quy mô lớn sang những chuỗi cửa hàng giảm giá và siêu thị trên toàn quốc. Ngày càng có nhiều hơn các nhà bán lẻ tận dụng việc cạnh tranh giữa những nhà sản xuất thực phẩm có thương hiệu với nhau để thương lượng đòi giảm giá. Đặc biệt ở châu Âu, khuynh hướng này gia tăng bởi việc giới thiệu thành công các sản phẩm mang nhãn hiệu riêng của một số chuỗi siêu thị hàng đầu châu Âu. Kết quả dẫn đến sự gia tăng cạnh tranh về giá tại một số phân khúc chính của thị trường thực phẩm và đồ uống như ngũ cốc, cà phê, và nước ngọt.

    Nestlé bắt đầu chuyển sự chú ý đến các thị trường mới nổi tại Đông Âu, châu Á và Mỹ Latinh. Logic đơn giản và rõ ràng: một sự kết hợp giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng kinh tế, đi cùng với những chính sách kinh tế thị trường mở rộng của chính phủ tại các nước đang phát triển, tạo nên những cơ hội kinh doanh hấp dẫn. Nhiều quốc gia trong số đó vẫn còn tương đối nghèo, nhưng nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh chóng. Ví dụ, nếu những dự báo tăng trưởng kinh tế hiện tại xảy ra thì đến năm 2010 sẽ có 700 triệu người ở Trung Quốc và Ấn Độ đạt mức thu nhập tương đương với mức thu nhập tại Tây Ban Nha vào giữa thập niên 1990. Khi mức thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng tại các nước này sẽ bắt đầu chuyển sang sử dụng những thực phẩm có thương hiệu, tạo ra một cơ hội thị trường lớn cho các công ty điển hình như Nestlé.

    Bằng chiến lược xuyên quốc gia thành công của mình trước đây nhìn chung, chiến lược của công ty là thâm nhập những thị trường mới nổi từ những ngày đầu trước những đối thủ cạnh tranh, và xây dựng một vị trí vững chắc bằng việc bán những thực phẩm cơ bản nhằm thu hút số đông dân chúng địa phương như là sữa bột cho trẻ em, sữa đặc, mì và đậu hủ. Bước đầu bằng cách thu hẹp thị trường, chỉ tập trung vào một số nhãn hiệu chiến lược, Nestlé khẳng định công ty có thể đơn giản hóa cuộc sống, giảm thiểu rủi ro và tập trung nguồn lực tiếp thị của mình và những nỗ lực quản lý tại một số thị trường địa phương trọng yếu.

    Trung Quốc là một ví dụ thú vị khác về việc thích nghi địa phương và tập trung phát triển dài hạn. Sau 13 năm thương thuyết, Nestlé được chính thức mời vào Trung Quốc vào năm 1987 bởi chính quyền tỉnh Hắc Long Giang. Nestlé đã mở một nhà máy sản xuất sữa đặc và sữa bột cho trẻ em tại đó vào năm 1990, nhưng công ty nhanh chóng nhận ra cơ sở hạ tầng đường sá và xe lửa địa phương không phù hợp và làm hạn chế việc thu gom sữa cũng như vận chuyển thành phẩm. Thay vì thay đổi cơ sở hạ tầng địa phương, Nestlé bắt tay vào một kế hoạch đầy tham vọng là thành lập mạng lưới phân phối riêng, với tên gọi “những đại lộ sữa”, giữa 27 làng quê trong khu vực và các điểm thu gom sữa tại nhà máy. Những nông dân thường chở sữa bằng xe đạp hoặc xe

    12

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    thồ đến trung tâm để được cân đo và kiểm tra. Khác với chính quyền, Nestlé trả tiền tại chỗ cho người nông dân, và điều này đã đẩy mạnh việc sản xuất sữa của nông dân. Nhiều người đã tậu thêm con bò thứ hai, làm tăng số lượng bò trong khu vực từ 3.000 lên 9.000 trong vòng 18 tháng. Những nhà quản lý khu vực sau đó đã tổ chức một hệ thống vận chuyển sử dụng những xe tải gọn nhẹ để vận chuyển sữa đến nhà máy của Nestlé. cơ sở hạ tầng đã sẵn sàng tại Trung Quốc, Nestlé bắt đầu tiến hành việc sản xuất. Năm 1990, 316 tấn sữa đặc và sữa bột cho trẻ em đã được sản xuất. Tính đến năm 1994, sản lượng đầu ra vượt quá 10.000 tấn, và công ty quyết định tăng năng lực sản xuất lên gấp ba lần. Dựa trên kinh nghiệm này, Nestlé quyết định xây dựng thêm hai nhà máy sữa bột khác tại Trung Quốc với mục tiêu tạo ra 700 triệu USD doanh thu vào năm 2000.

    Nestlé đang mạo hiểm theo đuổi một chiến lược dài hạn tương tự tại Trung Đông, khu vực hiện có rất ít các công ty đa quốc gia chuyên về thực phẩm. Thị trường Trung Đông rất nhỏ, chỉ chiếm 2% tổng doanh thu toàn cầu của Nestlé. Tuy nhiên, chiến lược dài hạn của Nestlé dựa trên giả định rằng sự tranh chấp giữa các nước trong khu vực sẽ nguội dần và giao thương trong khu vực sẽ mở rộng khi các rào cản thương mại giữa các nước dần được gỡ bỏ. Một khi điều này xảy ra, các nhà máy của Nestlé sẽ tận dụng được hiệu quả kinh tế theo quy mô trong khu vực. Thấy trước được sự phát triển này, Nestlé đã cho xây dựng một mạng lưới các nhà máy tại năm quốc gia với hi vọng một ngày không xa, mỗi nhà máy sẽ cung cấp những sản phẩm khác nhau cho toàn khu vực. Công ty hiện đang sản xuất kem tại Dubai, súp và ngũ cốc tại Ả Rập Xê Út, sữa chua và nước hầm tại Ai Cập, sôcôla tại Thổ Nhĩ Kỳ, tương cà và mì ăn liền tại Syria.

    Còn hiện tại, Nestlé duy trì hoạt động tại các thị trường mới nổi trên thông qua chiến lược đa nội địa. Dẫn chứng là mặc dù công ty nổi tiếng khắp thế giới với một số nhãn hiệu quen thuộc như là Nescafe, Nestea, Maggi… công ty vẫn sử dụng các nhãn hiệu địa phương tại nhiều thị trường. Công ty sở hữu 8.500 nhãn hiệu, nhưng chỉ có

    750 trong số đó được đăng kí kinh doanh trên hơn một quốc gia và chỉ có 80 nhãn hiệu được đăng kí kinh doanh trên hơn 10 quốc gia. Trong khi công ty sử dụng “những nhãn hiệu toàn cầu” giống nhau tại hầu hết các quốc gia phát triển, tại các nước đang phát triển công ty tập trung nỗ lực tối ưu hóa các thành phần và công nghệ chế biến theo những điều kiện địa phương và sau đó sử dụng một nhãn hiệu mang âm hưởng địa phương. Ví dụ, nhà máy tại Syria phụ thuộc vào các sản phẩm sử dụng cà chua, một nông sản chủ yếu của nước này. Syria cũng trồng nhiều lúa mạch, nguyên liệu chính để sản xuất mì ăn liền. Dù cho các rào cản thương mại không sớm được dỡ bỏ, Nestlé vẫn sẽ duy trì cam kết của nó với khu vực. Mặc dù thị trường nhỏ, nhưng nhờ biết tận dụng đầu vào sẵn có tại địa phương và tập trung đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng địa phương, công ty đã gặt hái không ít lợi nhuận ở khu vực này. Công ty cũng theo đuổi chiến lược này khi thâm nhập vào Ba Lan năm 1994 bằng việc mua lại Goplana, nhà sản xuất sôcôla lớn thứ hai tại nước này. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và việc mở cửa thị trường của Ba Lan, mức thu nhập bắt đầu tăng lên qua đó nhu cầu tiêu thụ sôcôla cũng phát triển. Đã từng là một sản phẩm ít thông dụng, thị trường đã đạt mức tăng trưởng 8%/năm trong suốt thập niên 1990. Nestlé đã nắm bắt cơ hội này để làm một cuộc bứt phá. Công ty bổ nhiệm người địa phương vào các vị trí quản lý cao cấp

    13

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    và cẩn thận điều chỉnh dòng sản phẩm Goplana để phù hợp hơn với nhu cầu địa phương. Cùng lúc này, Nestlé tung tiền cho việc tiếp thị sản phẩm Goplana nhằm tranh giành thị phần với một số nhà sản xuất sôcôla khác tại đây. Cuộc cạnh tranh xảy ra khá quyết liệt. Tám công ty, bao gồm một số công ty nước ngoài, điển hình là PepsiCo, đang dẫn đầu thị trường với sản phẩm Wedel, đã tiến hành giảm giá và hạ thấp lợi nhuận biên nhằm tranh giành thị phần dù cho sản lượng kinh doanh của công ty đang tăng trưởng mạnh.Nhờ theo đuổi chiến lược như vậy, Nestlé đã chiếm được 80% thị phần cà phê hòa tan tại Mexico, 66% thị phần sữa đặc tại Philippin, và 70% thị phần súp tại Chile.

    Khi mức thu nhập tăng cao, công ty tích cực chuyển từ chiến lược đa nội địa sang chiến lược quốc tế bằng việc giới thiệu những sản phẩm cao cấp hơn như nước khoáng, sôcôla, bánh quy, và thực phẩm chế biến sẵn đến thị trường địa phương hiện tại hiện tại. Ngoài ra Nestlé còn xem xét khả năng phát triển sản phẩm của địa phương đó giới thiệu ra các nước lân cận nếu nó phù hợp với thi hiếu tiêu dùng, không bị các rào cản.

    5. Cấu trúc tổ chức của Nestlé để thực hiện chiến lược hổn hợp hiện nay

    Nestlé được quản lý theo kiểu phân quyền, các chi nhánh tại địa phương tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình, tự quyết định về chiến lược giá, phân phối, tiếp thị, nhân sự… Cùng lúc này, công ty thành lập bảy đơn vị kinh doanh chiến lược toàn cầu (SBU) chịu trách nhiệm phát triển kinh doanh và đưa ra các quyết định chiến lược cấp cao. Ví dụ, một đơn vị kinh doanh chiến lược tập trung phát triển sản phẩm cà phê và nước giải khát. M ột đơn vị khác tập trung phát triển sản phẩm bánh kẹo và kem. Những SBU này tuân thủ sự phát triển chiến lược chung, bao gồm chiến lược thâm nhập thị trường và mua lại. Trong những năm gần đây, 2/3 việc tăng trưởng của Nestlé nhờ vào việc mua lại các công ty, vì vậy đây là một chức năng rất quan trọng. Song song với cấu trúc này là việc quản lý theo khu vực, thị trường thế giới được chia làm năm khu vực địa lý chẳng hạn châu Âu, Bắc M ỹ và châu Á. Các khu vực hỗ trợ cho quá trình phát triển chiến lược chung và chịu trách nhiệm phát triển những chiến lược tại khu vực (ví dụ như trường hợp chiến lược của Nestlé tại Trung Đông được nêu ở phần trước). Tuy nhiên, các nhà quản lý SBU và khu vực không can thiệp vào các quyết định chiến lược hay hoạt động tại địa phương ngoại trừ những trường hợp đặc biệt.

    14

    Tiểu luận Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế

    KẾT LUẬN

    Nestlé cũng như bao công ty đa quốc gia khác để thâm nhập, phát triển sản phẩm, phát triển thị trường của mình thì công ty phải xây dựng cho mình các chiến lược kinh doanh quốc tế phù hợp. Tuy nhiên, bên cạnh đó luôn tồn tại những chiến lược không thành công gây ra thất bại, thua lỗ cho công ty. Đó là một quy luật tất yếu trong quá trình hình thành, hoạt động và phát triển.

    Qua việc tìm hiểu về chiến lược kinh doanh quốc tề của công ty Nestlé đã cung cấp chúng ta một số kiến thức về cơ cấu tổ chức , triết lý kinh doanh …của một tập đoàn, một công ty đa quốc gia tiêu biểu cho những “gã khổng lồ” trên thế giới với những thành công nhất định. Để có được thành công đó, Nestlé đa phải trải qua những thất bại do chiến lược kinh doanh quốc tế không phù hợp với văn hóa, phong tục một số nơi… Nestlé đa nhanh chóng nhận ra sai lầm trong việc lựa chọn chiến lược kinh doanh quốc tế và đồng thời cũng đưa ra những chiến lược tinh tế hơn, phù hợp hơn với điều kiện kinh tế thế giới hiện tại, góp phần đem lại thành công nhiều hơn nữa cho công ty.

    15


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Một số phương hướng và biện pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp


    [toc]


    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-t%C3%A0i-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-m%C3%B4-h%C3%ACnh-qu%C3%A1n-%C4%91i%E1%BB%83m-c%C3%A0-ph%C3%AA-Trung-Nguy%C3%AAn-d%C3%A0nh-cho-gi%E1%BB%9Bi-tr%E1%BA%BB-t%E1%BA%A1i-Th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề tài nghiên cứu khoa học Xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh

    TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

    Phán đoán đƣợc giới trẻ là một phân khúc mà Trung Nguyên bấy lâu nay chƣa chú tâm đến một cách sâu sắc Nhóm nghiên cứu đã phân tích rõ đ y là thị phần tiềm năng trong tiêu dùng cà phê của giai đoạn tới Thông qua những bảng hảo sát định tính và định lƣợng làm nền tảng cung cấp những thông tin về chất lƣợng cà phê trong lòng ngƣời tiêu dùng, về xu hƣớng tiêu dùng cà phê của độ tuổi đƣợc cho là giới trẻ và bảng hảo sát về thiết lập mô hình quán, nhóm nghiên cứu đã lấy đó làm căn cứ xác thực để áp dụng phân tích những vấn đề mà giới trẻ quan tâm ngày nay, đặc biệt là những yếu tố xoay quanh sản phẩm, giá cả, cách thức lựa chọn không gian, cách trang trí nội thất cũng nhƣ phong cách phục vụ và phong cách quán. Bên cạnh việc phân tích thực tế các bảng hảo sát, nhóm đã tiến hành phân tích các mô hình SWOT, 5 áp lực, Marketing Mix dựa trên những thông tin, số liệu thu thập đƣợc từ chính trang web Trung Nguyên và các trang web thống kê uy tín khác nhằm tìm ra một chiến lƣợc phát triển phù hợp với tình hình hiện tại của Trung Nguyên trong thị trƣờng cà phê nói chung và thị phần giới trẻ nói riêng. Sau khi đã phân tích và lên chiến lƣợc xong, để xây dựng đƣợc một quán điểm, nhóm đã quan sát và tìm hiểu các mô hình quán mới xuất hiện gần đ y đƣợc giới trẻ quan tâm. Từ đó nhóm đã thiết lập định hƣớng mô hình quán sắp tới cho thị phần giới trẻ đầy năng động này là một mô hình quán mở với bốn không gian khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của giới trẻ Bên cạnh đó, để đảm bảo việc tạo ra lợi nhuận cho quán điểm mới này, nhóm đã thu thập, phân tích định tính các chi phí mà Trung Nguyên đã đầu tƣ, làm cơ sở để tính toán mức chi phí cơ bản khi triển khai quán điểm cho thị phần giới trẻ Phân tích các bài đánh giá của chuyên gia trong lĩnh vực thức uống, các bài báo cáo số liệu, nhóm đƣa ra mô hình quán thu hút giới trẻ, các tiêu chí về giá trong loại hình quán mới này để tạo ra doanh thu bù đắp những chi phí cao bỏ ra trong việc xây dựng quán điểm này. Cuối cùng, với những thông tin số liệu liên quan, nhóm vận dụng phƣơng pháp phân tích, xử lý dữ liệu bằng công cụ SPSS để có căn cứ cho việc thiết lập nên mô hình quán cà phê phù hợp cho mục đ ch nghiên cứu đã nêu.

    1

    NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    1.     PHẦN MỞ ĐẦU

     

    1.1.   Lí do chọn đề tài

     

    Ngày nay, khi nói đến cà phê không chỉ ngƣời dân Việt Nam mà cả những bạn bè

    hắp nơi trên thế giới, ngƣời ta đều nghĩ ngay đến thƣơng hiệu cà phê Trung Nguyên của Việt Nam. Với sự phát triển vƣợt bậc những năm gần đ y, hình ảnh cà phê Trung Nguyên đã lan rộng hắp nơi và thâm nhập vào hầu hết các thị trƣờng, đặc biệt là thị trƣờng cấp cao. Thƣơng hiệu này cũng đã góp phần tôn lên hình ảnh đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam trên trƣờng quốc tế. Chính vì là một thức uống thơm ngon, mang đến cảm giác sảng khoái cho ngƣời dùng mà cà phê Trung Nguyên đã từng bƣớc chinh phục nhiều đối tƣợng, đặc biệt là những ai phải học tập và làm việc thƣờng xuyên, cần một thức uống để tỉnh táo và tập trung cũng nhƣ giải tỏa những căng thẳng, mệt mỏi trong công việc

    Qua các năm, cà phê Trung Nguyên đã không chỉ đƣợc nhiều giới doanh nhân chọn lựa nhƣ thức uống trong công việc, mà còn đƣợc chọn là cách thức để giải quyết công việc, đàm phán hợp đồng, …

    Thông qua tài liệu, báo chí và những thông tin trên các phƣơng tiện truyền thông cùng với những con số thống kê hết sức thuyết phục về danh tiếng, sự tiêu thụ sản phẩm cà phê Trung Nguyên, rất dễ dàng nhận thấy đƣợc ngay cà phê Trung Nguyên đã chinh phục đƣợc ngƣời đi làm, doanh nhân và những ngƣời thuộc giới thƣợng lƣu khác. Việt Nam hiện là một quốc gia có nền dân số trẻ Trong những năm gần đ y, việc giới trẻ Việt Nam đang có xu hƣớng sử dụng cà phê ngày một nhiều là một trong những lý do mà các thƣơng hiệu cà phê nổi tiếng thế giới xâm nhập vào thị phần giới trẻ Việt Nam một cách nhanh và mạnh Họ mở rộng khai thác nhanh chóng để chiếm lĩnh phân khúc thì trƣờng này. Cùng với xu thế phát triển hiện đại, giới trẻ Việt Nam đã dần tiếp nhận và sử dụng những thƣơng hiệu này. Còn Trung Nguyên thì sao? Liệu rằng cà phê Trung Nguyên có phải đã khai thác hiệu quả thị phần này tại Việt Nam hay chƣa? Để khai thác một phân khúc ở hiện tại và tƣơng lai, nâng cao và bảo vệ một thƣơng hiệu cà phê việt lớn mạnh trong lòng giới trẻ Việt Nam, đồng thời mở rộng và tăng vị thế cạnh tranh của cà phê

    2

    Trung Nguyên trên thị trƣờng thức uống cà phê, một mô hình quán độc đáo, mới lạ chƣa từng có, giành cho giới trẻ của Trung Nguyên sẽ đƣợc nhóm xây dựng, đó chính là lý do nhóm chọn đề tài “xây dựng mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh”

    1.2.     Mục tiêu nghiên cứu

    Trình bày tổng quan về Trung Nguyên. Trong bài nghiên cứu này, nhóm trình bày thực trạng của Trung Nguyên qua các năm gần đ y và đánh giá sức hấp dẫn của thị trƣờng giới trẻ lấy đó làm cơ sở xây dựng về mặt lý thuyết một mô hình quán điểm cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ

    Khảo sát và phân tích những yếu tố ảnh hƣởng đến xu hƣớng tiêu dùng, mức độ thỏa mãn của giới trẻ khi sử dụng cà phê để ết luận các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thức uống cà phê của giới trẻ

    Từ những phân tích trên, xây dựng một mô hình quán điểm của cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ, qua đó góp phần giúp Trung Nguyên có cái nhìn mới về phân khúc thị trƣờng này, đồng thời mang cà phê Trung Nguyên đến với ngƣời d n Việt Nam ngày càng gần gủi hơn

    1.3.     Đối tƣợng nghiên cứu

    Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm đã giới hạn xác định giới trẻ là những ngƣời có độ tuổi từ 15 đến 25, thuộc các thành phần học sinh, sinh viên, ngƣời mới ra trƣờng hay đã đi làm, sống học tập và làm việc tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thuộc các quận 10, quận 3, quận 5.

    1.4.     Phạm vi nghiên cứu

    Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện dựa trên các số liệu thống kê do nhóm tự thực hiện và những số liệu thống kê có sẵn do các tổ chức uy tín thực hiện tập trung tại các khu vực đông dân cƣ trong nội thành Thành phố Hồ Chí Minh.

    Phạm vi thời gian: Các thông tin đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu đƣợc thu thập từ năm 2003 đến năm 2013.

    1.5.     Nguồn dữ liệu

     

    3

    Để có đầy đủ thông tin phục vụ cho bài nghiên cứu, nhóm đã tận dụng từ các nguồn dữ liệu thứ cấp nhƣ thu thập từ sách báo, các nghiên cứu có liên quan, trang điện tử công ty Trung Nguyên và các trang thông tin hác…và nguồn dữ liệu sơ cấp từ hảo sát giấy và hảo sát qua mạng do nhóm tự thực hiện

    1.6.     Phƣơng pháp nghiên cứu

    Sử dụng những phƣơng pháp cần thiết để thực hiện thống kê và phân tích dữ liệu

    Nhóm đã vận dụng các phƣơng pháp chủ yếu nhƣ sau:

    1.6.1.  Phƣơng pháp chọn vùng nghiên cứu

    Nhóm nghiên cứu đã chọn vùng nghiên cứu là Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung thu thập số liệu tại các quận 3, quận 5, quận 10 trong phạm vi nội thành. Vì có phần đông giới trẻ sống và làm việc ở phạm vi này.

    1.6.2.  Phƣơng pháp thu thập thông tin

    Thông tin thứ cấp: Báo cáo tình hình đầu tƣ của Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên từ năm 2005 đến 2008. Và thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu đƣợc đăng tải trên các trang điện tử

    Thông tin sơ cấp: nhóm nghiên cứu đã thực hiện thu thập dữ liệu thông qua 3 bảng hảo sátbằng bảng câu hỏi trắc nghiệm sau:

    –      Bảng hảo sát tìm hiểu xu hƣớng tiêu dùng cà phê Trung Nguyên của giới trẻ. Số lƣợng: 165 bản

    • Bảng hảo sát mức độ thỏa mãn khách hàng về sản phẩm cà phê Trung Nguyên. Số lƣợng: 100 bản
    • Bảng hảo sát xây dựng mô hình quán điểm cà phê dành cho giới trẻ. Số lƣợng: 136 bản

    1.6.3.  Phƣơng pháp phân tích

    Phƣơng pháp phân tích tổng hợp: đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này để phân tích thực trạng xây dựng một quán điểm cà phê của Trung Nguyên, từ đó đánh giá hiệu quả và đề xuất các giải pháp tổng hợp tạo động lực thúc đẩy cho việc phát triển mô hình quán điểm sau này.

    4

    Phƣơng pháp thống kê: Tất cả các thông tin dữ liệu đƣợc thu thập chủ yếu bằng phƣơng pháp thống kê, sau đó sử dụng các phần mềm xử lý số liệu nhƣ: SPSS 20.0, EVIEW để phân tích các nhân tố và thực hiện iểm định ANOVA 2 yếu tố, và phân tích sâu ANOVA.

    Phƣơng pháp so sánh: là phƣơng pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách so sánh với một chỉ tiêu cơ sở, cụ thể so sánh yếu tố thị phần tiêu thụ với công ty Vinacafe từ đó định hƣớng phát triển hoàn thiện chiến lƣợc Marketing để giữ vững và mở rộng thị phần

    Một số phƣơng pháp khác: ngoài ra, đề tài cũng ết hợp thêm một số phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ phƣơng pháp: phân tích điểm mạnh điểm yếu SWOT, phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh, phân tích mô hình 4P, 4C.

    1. Nội dung nghiên cứu

    2.1. Cơ sở lí luận

     

    Theo Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con ngƣời hƣớng tới sự thỏa mãn

    nhu cầu và ƣớc muốn thông qua các tiến trình trao đổi.

    Theo Johnson và Schole định nghĩa: Chiến lƣợc là định hƣớng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt đƣợc lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trƣờng thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng và thỏa mãn ỳ vọng của các bên hữu quan.

    Kế hoạch Marketing là một ế hoạch chức năng, là công cụ để điều hành hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Các nhà quản trị Marketing phải xây dựng các ế hoạch Marketing để làm cơ sở tổ chức thực hiện. Mỗi bản ế hoạch Marketing với nội dung xác định thị trƣờng mục tiêu, các mục tiêu Marketing cụ thể, ngân sách cho hoạt động Marketing, chiến lƣợc và một chƣơng trình Marketing bao gồm biện pháp Marketing với thời gian thực hiện cụ thể

    Marketing – mix là sự tập hợp các phƣơng thức marketing có thể iểm soát đƣợc mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để tạo nên sự đáp ứng cần thiết trong thị trƣờng mục tiêu nhằm đạt đƣợc mục tiêu marketing của mình.

    5

    Chiến lƣợc Marketing cạnh tranh là sử dụng các biện pháp chính sách và nghệ thuật Marketing nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu cạnh tranh trên thị trƣờng.

    Chiến lƣợc định vị cho một thƣơng hiệu là việc doanh nghiệp lựa chọn và xây dựng trong tâm trí khách hàng một hình ảnh rõ nét và có giá trị về thƣơng hiệu này so với các thƣơng hiệu cạnh tranh.

    2.2.     Giới thiệu khái quát vềTrung Nguyên

    2.2.1.  Lịch sử hình thành và phát triển

    Ra đời vào giữa năm 1996 Trung Nguyên là một nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhƣng đã nhanh chóng tạo dựng đƣợc uy tín và trở thành thƣơng hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với ngƣời tiêu dùng cả trong và ngoài nƣớc

    • 16/06/1996: Bắt đầu sản xuất và kinh doanh trà, cà phê tại Buôn Mê Thuột.
    • 1998: Trung Nguyên xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minhvới khẩu hiệu “Mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” và con số 100 quán cà phê Trung Nguyên.
    • Năm 2000: Đánh dấu sự phát triển bằng sự hiện diện tại Hà Nội và lần đầu tiên nhƣợng quyền thƣơng hiệu ở Nhật Bản.
    • Năm 2001: Trung Nguyên có mặt rộng khắp toàn quốc và tiếp tục nhƣợng quyền tại Singapore, Campuchia, Thái Lan.
    • Năm 2002: Sản phẩm Trà Tiên ra đời.
    • Năm 2003: Ra đời cà phê hòa tan G7
    • Năm 2004: Mở thêm quán cà phê Trung Nguyên tại Nhật Bản, mạng lƣới 600 quán cà phê tại Việt Nam, 121 nhà phân phối, 7000 điểm bán hàng và 59000 quán điểm bán lẻ sản phẩm.
    • Năm 2005: Khánh thành nhà máy rang xay tại Buôn Ma Thuột và nhà máy cà phê hòa tan lớn nhất Việt Nam tại Bình Dƣơng với công suất rang xay là 10, 000 tấn/năm và cà phê hòa tan là 3, 000 tấn/năm Đạt chứng nhận EUREPGAP (Thực hành nông nghiệp tốt và Chất lƣợng cà phê ngon) của thế giới. Chính thức khai trƣơng hu du lịch văn hóa Trà Tiên Phong Quán tại L m Đồng. Phát triển hệ thống quán cà phê lên đến 1.000 quán cà phê và sự hiện diện của nhƣợng quyền

    6

    quốc tế bằng các quán cà phê Trung Nguyên tại các nƣớc Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc, Ucarine, Mỹ, Ba Lan.

    • Năm 2006: Đầu tƣ và xây dựng phát triển hệ thống phân phối G7 Mart lớn nhất Việt Nam. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống nhƣợng quyền trong nƣớc, đẩy mạnh phát triển nhƣợng quyền ở quốc tế. Ra mắt công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) có trụ sở đặt tại Singapore.
    • Năm 2008: Khánh thành Làng cà phê Trung Nguyên tại Buôn Ma Thuột. Khai trƣơng Hội quán sáng tạo Trung Nguyên tại Hà Nội, đầu tƣ trên 40 triệu USD xây dựng nhà máy chế biến cà phê với công nghệ hiện đại nhất thế giới tại Buôn Ma Thuột.
    • Năm 2009: Các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn là thống lĩnh thị trƣờng nội địa, chinh phục thị trƣờng thế giới, cụ thể:
    • Dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu.
    • Đầu tƣ về ngành.
    • Phát triển hệ thống nhƣợng quyền trong nƣớc và quốc tế.

    –      Năm 2010, xuất hẩu cà phê đến hơn 60 quốc gia trên toàn cầu nhƣ Mỹ, Canada, Nga, Anh, Đức, Nhật Bản, …

    • Năm 2012:Trung Nguyên khánh thành nhà máy ở Bắc Giang lớn nhất Đông Nam Á.
    • Đi tiên phong trong việc áp dụng mô hình kinh doanh nhƣợng quyền tại Việt Nam, Trung Nguyên đã có một mạng lƣới gần 1000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc và 8 quán ở nƣớc ngoài nhƣ: Mĩ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina. Sản phẩm cà phê Trung Nguyên và cà phê hòa tan

    G7 đã đƣợc xuất hẩu đến 43 quốc gia trên thế giới với các thị trƣờng trọng điểm nhƣ Mĩ, Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Nguyên cũng đã xây dựng đƣợc một hệ thống hơn 1000 quán điểm tiện lợi và trung tâm phân phối G7 Mart trên toàn quốc

    2.2.2.  Thị phần

    7

    Tổng quan về thị trƣờng cà phê Việt Nam: Cà phê là một trong những ngành có sức hấp dẫn cao tại Việt Nam.

    Tình hình tiêu thụ cà phê trong nƣớc:

    • Thị trƣờng bán lẻ cà phê Việt Nam đã đạt 127, 33 triệu USD trong năm 2008 và tăng lên hoảng 287, 34 triệu USD năm 2012 Mintel dự đoán sẽ tăng đến 573, 75 triệu USD vào năm 2016.
    • Thị trƣờng cà phê Việt Nam đƣợc chia thành 2 phân khúc rõ ràng. Cà phê rang

    xay (cà phê phin) chiếm hoảng 2/3 lƣợng cà phê đƣợc tiêu thụ; còn lại là cà phê hòa tan.

    • Thị phần chủ yếu là của 3 ông lớn: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafe Biên Hòa.

    Về sản xuất:

    • Hiện nay ngành cà phê Việt Nam mới chỉ có 5 Doanh nghiệp chế biến cà phê hòa

    tan với công suất hoảng 35, 000 – 40, 000 tấn tƣơng đƣơng 100, 000 tấn cà phê nhân (chiếm hoảng 5% sản lƣợng cà phê nhân hằng năm)

    • Tại các điểm bán lẻ sản phẩm cà phê hiện nay có rất nhiều loại của các hãng khác nhau nhƣ: Trung Nguyên, Nestlé, Vinacafe Biên Hòa, Maccoffee, Highlands Coffee, Mê Trang… theo đó Trung Nguyên có tới 34 sản phẩm; Neslé có 7 sản

    phẩm; Vinacafe Biên Hòa có 22 sản phẩm

    Thị trƣờng cà phê hòa tan và rang xay của Việt Nam vẫn đang hấp dẫn đối với các doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở chỗ các nhà máy của Nestlé, Vinacafe Biên Hòa, Trung Nguyên đều đã hoạt động hết công suất và họ đều đang mở rộng qui mô sản xuất

    2.2.3.  Cơ cấu sản phẩm

    Đa dạng cả về cà phê rang xay lẫn cà phê hòa tan với hoảng 34 sản phẩm. Có nhiều cách phân loại cơ cấu sản phẩm, dƣới đ y là một vài cách phân loại:

    Phân loại theo cách chế biến:

    • Cà phê rang xay: cà phê đóng gói, cà phê hạt
    • Cà phê hòa tan: các sản phẩm G7, G7 Capuchino, Passiona, … Phân loại theo dòng sản phẩm:
    • Sản phẩm cao cấp:

    8

    • Weasel: cà phê Chồn là loại đặc sản quý hiếm và đắt giá nhất thế giới
    • Diamond Collection: với năm hƣơng vị khác nhau.
    • Legendee: Công nghệ ủ men sinh học độc đáo.
    • Classic Blend: Hƣơng thơm lâu và quyến rũ, nƣớc pha màu nâu nhạt
    • Sản phẩm trung cấp: dòng cà phê G7, dòng cà phê sáng tạo 1, 2, 3, 4, 5 …
    • Sản phẩm phổ thông: loại 1, Nâus-Sức sống, loại 2: I-khát vọng, loại 3: S-chinh phục

    Phân loại theo đối tƣợng khách hàng:

    • Cà phê dành cho phái đẹp: Passiona, cà phê nụ hồng
    • Cà phê cho phái mạnh: G7 gu mạnh X2, dòng G7

    2.2.4.  Vài nét về chiến lƣợc Marketing hiện tại của Trung Nguyên

    • Chiến lƣợc sản phẩm:
    • Bao bì: Trung Nguyên coi bao bì là một ngƣời bán hàng thầm lặng mà hiệu quả. Trƣớc hi xác định đƣa ra mẫu bao bì mới cho sản phẩm, Trung

    Nguyên đã hảo sát để biết đƣợc nhận xét đánh giá của ngƣời tiêu dùng đối với các sản phẩm trên thị trƣờng. Bao bì của Trung Nguyên luôn khai thác hết t nh năng của nó với mẫu mã hiện đại, sáng tạo và đậm chất cà phê, sản phẩm G7 là một ví dụ điển hình Đối với quán điểm của chúng ta, để khách hàng nhớ đến và dễ dàng giới thiệu cho bạn bè cần phải có những nét riêng của quán điểm. Cụ thể: Với những khách hàng mua mang đi, cà phê sẽ đƣợc đựng trong ly giấy cách điệu, tông màu chủ đạo của ly là trắng và nâu. Đồng thời chiếc ly cũng sẽ nhƣ một ngƣời bán hàng âm thầm khi chúng ta giới thiệu về quán điểm trên chiếc ly đó về tên quán điểm, địa điểm, số điện thoại đặt cà phê, email góp ý hay những câu slogan mang tính sáng tạo. Tƣơng tự nhƣ chiếc ly, có thể với túi đựng ly mang đi cũng có thể sáng tạo và đầu tƣ nhƣ vậy Đối với những khách hàng uống tại quán điểm, chúng ta có thể thiết kế nhiều kiểu ly riêng cho từng nhóm hách hàng để tạo sự thích thú, loại ly phù hợp với loại thức uống là cà phê mà đƣợc giới trẻ khá ƣa chuộng nhƣ: ly sứ trắng, ly thủy tinh…

    9

    • Chủng loại, danh mục sản phẩm: Trung Nguyên cung cấp đầy đủ sản phẩm cho cả phân khúc khách hàng cao cấp, trung cấp, phổ thông. Từ hộp sang trọng đến hộp giấy bình thƣờng, dây, gói…chúng ta sẽ thể hiện điều này lên menu sản phẩm của quán điểm. Tất cả sẽ đƣợc thiết kế mang đậm chất cà phê mà không thiếu đi phần trẻ trung tƣơi sáng để phù hợp hơn với giới trẻ. Tên thức uống sẽ đƣợc sáng tạo Đầu menu sẽ là thức uống phổ thông, giá cả phổ thông. Cuối menu sẽ là những loại cà phê có giá cao hơn để có thể vẫn đáp ứng một số khách hạng sang gần đ y, ghé qua quán điểm. Có thể tham khảo một số menu đặc sắc của các quán điểm khác. Sản phẩm sẽ đƣợc trƣng bày trực tiếp tại quầy, tạo niềm tin vững chắc cho khách hàng là hàng chất lƣợng cao thƣơng hiệu Trung Nguyên.
    • Xây dựng một nhãn hàng tốt: Trung Nguyên luôn làm việc với tiêu chí thuyết phục khách hàng bằng chất lƣợng cho nên Trung Nguyên đã đƣa ra một công thức: nguyên liệu tốt, công nghệ cao và bí quyết phƣơng đông, đi

    kèm với nó là một quan điểm mới về cà phê. Cà phê có khả năng giúp   hởi

    động trí não, duy trì thƣờng xuyên sự tỉnh táo sẽ là nguồn năng lƣợng mới

    cho khả năng tƣ duy của con ngƣời và cho một nền kinh tế sáng tạo của

    tƣơng lai. Nhiều vĩ nh n trên thế giới cũng từng là những t n đồ cà phê nhƣ

    Balzac, Napoléon, Sebastian Bach… Napoléon từng có câu nói nổi

    tiếng: “Ch nh trị mà không có cà phê thì chính trị chỉ có mùi mà không có

    vị”

    • Sản phẩm mới: Để lấp đầy những chỗ trống trên thị trƣờng, Trung Nguyên đã phải dày công nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, thực hiện

    tiếp thị quảng cáo cho sản phẩm, để sản phẩm gần gũi với hách hàng hơn và thể hiện đẳng cấp ngƣời dùng hơn. Ví dụ về việc đƣa ra sản phẩm cà phê gu mạnh X2, góp phần tiết kiệm thời gian chi ph cho ngƣời dùng bởi đặc tính riêng của sản phẩm là tăng gấp đôi về số lƣợng, chất lƣợng nhƣ đúng cái tên của nó. Một ví dụ khác là việc tung ra sản phẩm cà phê tƣơi duy nhất chỉ có ởTrung Nguyên vào năm 2012. Sản phẩm này đƣợc thị trƣờng

    10

    chấp nhận với những ƣu điểm nhƣ dễ sử dụng, dễ bảo quản, tƣơi, thơm, ngon, đảm bảo chất lƣợng, tiết kiệm thời gian…Bắt kịp với việc đƣa ra sản phẩm mới của Trung Nguyên và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, quán điểm cũng phải thƣờng xuyên cập nhật menu đồng thời giới thiệu đến khách hàng về loại cà phê mới.

    • Tốc độ sáng tạo của các chuyên gia cà phê Trung Nguyên khá cao, trung bình cứ 3 tháng ra một sản phẩm mới và liên tục dẫn dắt thị trƣờng, tạo xu hƣớng trên thị trƣờng nhờ vào việc liên tục tìm tòi nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của ngƣời tiêu dùng.
    • Chu kì sản phẩm: bất cứ sản phẩm nào cũng đều trải qua 4 chu kì: giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy thoái. T nh cho đến nay, các sản phẩm của Trung Nguyên vẫn đang tiếp tục phát triển và đáp ứng ngƣời tiêu dùng, cho nên nó vẫn hoạt động trên thị trƣờng một cách ổn định. Riêng đối với

    quán điểm có thể linh hoạt đối với những sản phẩm hông đƣợc khách hàng ƣa chuộng, hoặc có biểu hiện không hài lòng. Nếu không khắc phục đƣợc những điểm yếu của sản phẩm để làm hài lòng khách hàng thì chúng ta không nên tiếp tục đối với sản phẩm đó nữa, bởi nó sẽ làm ảnh hƣởng đến uy tín của Trung Nguyên nói chung và quán điểm nói riêng.

    • Chiến lƣợc giá
    • Giá là biểu tƣợng giá trị của sản phẩm, là chi phí bằng tiền mà ngƣời mua bỏ ra để có đƣợc những lợi ích mà họ tìm kiếm ở sản phẩm. Chiến lƣợc giá là những định hƣớng dài hạn về giá nhằm đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ trong nƣớc mà còn cả ra nƣớc ngoài.
    • Giá là một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh trên thị trƣờng ngày nay. Nhận thức đƣợc điều này, Trung Nguyên luôn coi trọng việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm để n ng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng, tăng doanh số bán hàng cũng nhƣ lợi nhuận của công ty.
    • Thực hiện chính sách thiết thực cho khâu sản xuất nhƣ:

    11

    • Trung Nguyên đầu tƣ vào d y chuyền công nghệ để tăng năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm.

     

    • Cải tiến phƣơng pháp inh doanh, quản lý, động viên khuyến khích công nhân làm việc, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị nhằm n ng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm.

     

    • Có những ch nh sách đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, quản lý, cũng nhƣ ch nh sách mềm dẻo trong giá cả để thu hút thêm hách hàng và tăng t nh cạnh tranh.

     

    • Trung Nguyên cũng có những ch nh sách giá ƣu đãi, phân biệt đối với từng nhóm khách hàng Đối với những khách hàng trung gian Trung Nguyên cũng có những điều khoản về tài chính hợp lý, nhằm tạo sự ràng buộc giữa Trung Nguyên và những khách hàng trung gian.
    • Giá cả sẽ thay đổi phù hợp tùy theo sự biến động của thị trƣờng, xu hƣớng tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh trong tƣơng lai. Tập trung nổ lực nhấn mạnh sự khác biệt về chất lƣợng, lợi ích của sản phẩm để ngƣời tiêu dùng chấp nhận mức giá thay đổi thay vì chạy đua về giá theo đối thủ cạnh tranh.

    Đồng thời tổ chức theo dõi chặt chẽ sự biến động của thị trƣờng, xu hƣớng tiêu dùng để có những biện pháp hiệu quả nhằm từng bƣớc điều chỉnh giá trong tƣơng lai

    • Trên thị trƣờng, mức giá của Trung Nguyên luôn đƣợc ngƣời tiêu dùng ủng hộ, vì giá rẻ hơn so với đối thủ, định giá nhƣợng quyền thƣơng hiệu thấp hơn đối thủ, thêm vào đó chất lƣợng cà phê tốt và thƣơng hiệu nổi tiếng, n ng cao đẳng cấp cho ngƣời thƣởng thức. Có các mức giá khác nhau cho các sản phẩm khác nhau, Trung Nguyên áp dụng các mức giá riêng đối với bán sỉ cho quán điểm, đại lý và bán lẻ. Thông tin giá đƣợc niêm yết công

    hai trên các trang web đại lý cà phê Trung Nguyên. Tuy trong nƣớc Trung Nguyên định giá ở mức thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh, nhƣng ra ngoài các nƣớc khác thì lại định giá cao hơn, điều này nhằm khẳng định thƣơng hiệu, chất lƣợng cà phê việt và đẳng cấp của nó.

    12

    • Quán điểm phải thống nhất giá ngay từ đầu, tham khảo giá thị trƣờng, mặt bằng chung của các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là đối thủ vùng lân cận địa điểm quán điểm và đƣa ra mức giá phù hợp. Không nên vì một số lí do mà thay đổi menu gây hoang mang cho khách hàng và dẫn đến sự không hài lòng hông đáng có
    • Chiến lƣợc phân phối

    Hiện tại với 10 công ty thành viên, Trung Nguyên có tham vọng trở thành nhà

    cung cấp, phân phối lớn của Việt Nam. Với mặt hàng chính là cà phê, Trung Nguyên đã tận dụng cả những hình thức phân phối truyền thống và hiện đại để đạt đƣợc ết quả lớn nhất. Ta thấy hiên tại Trung Nguyên đã và đang sử dụng một hệ thống đa kênh trong việc thực hiện đƣa sản phẩm của mình đến tay ngƣời tiêu dùng. Cụ thể: Trung Nguyên đã thiết lập 5 chi nhánh tại các địa điểm sau: Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh (trụ sở chính), Lâm Đồng, Cần Thơ Là đơn vị đầu tiên ứng dụng nhƣợng quyền thƣơng hiệu vào Việt Nam, công ty duy trì hệ thống nhƣợng quyền bao gồm hơn 1.000 quán cà phê trên hắp đất nƣớc Việt Nam và 8 quán ở nƣớc ngoài nhƣ: Mĩ, Nhật, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia, Ba Lan, Ukraina. Đồng thời phát huy tối đa hiệu quả của trung gian phân phối truyền thống và kênh phân phối truyền thống, xây dựng đƣợc các nhà máy lớn tại Bình Dƣơng, Đắc Lắc và mới đ y nhất là nhà máy tại Bắc Giang vào tháng 3/2012. Ngoài ra Trung Nguyên còn có một hệ thống phân phối hiện đại, dẫn chứng là hệ thống phân phối cho sản phẩm G7 của Trung Nguyên là G7 mart: hệ thống bán lẻ theo hình thức nhƣợng quyền đầu tiên ở Việt Nam với hoảng 200 nhà cung cấp cho toàn bộ chuỗi quán điểm G7 trên cả nƣớc. Điểm nổi bật nhất của G7 mart, theo nhƣ tầm nhìn của Trung Nguyên chính là việc đáp ứng thói quen mua sắm nhỏ, lẻ của ngƣời Việt Nam và thƣờng mua gần nhà. Cho nên Trung Nguyêndàn dựng những G7 mart nhƣ những quán điểm nhỏ len lỏi trong các con hẻm. Việc ra đời hệ thống G7 mart thể hiện tầm nhìn chiến lƣợc và tham vọng muốn giành thế vững trên hệ thống phân phối của Việt Nam.

    Nhờ việc ngày càng sáng tạo và phát triển hệ thống phân phối mà Trung Nguyên có thể giảm đƣợc chi phí, bớt đi đƣợc nhiều khâu trung gian giúp ngƣời tiêu dùng hƣởng

    13

    mức giá thấp hơn mà chất lƣợng không đổi. Đồng thời dần dần thống nhất hệ thống luân chuyển sản phẩm, tính chuyên nghiệp hóa sẽ cao hơn

    • Chiến lƣợc xúc tiến:

    Xúc tiến là một bƣớc đà quan trọng trong việc đƣa tên tuổi sản phẩm tới gần hơn, nhanh hơn với ngƣời tiêu dùng. Quảng cáo là một phần trong chiến lƣợc xúc tiến sản phẩm của Trung Nguyên. Nội dung quảng cáo luôn nói lên đƣợc tính đậm đà bản sắc dân tộc của sản phẩm. Bên cạnh đó Trung Nguyên còn khai thác yếu tố tinh thần qua việc vận động thuyết phục khách hàng, các nhà phân phối ủng hộ hàng Việt chất lƣợng tốt Khơi dậy tình cảm với doanh nghiệp khi đang cố gắng vực dậy nền nông sản Việt Nam. Ngoài ra, Trung Nguyên cũng dùng những hình ảnh mang đậm màu sắc văn hóa Việt Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng để quảng cáo cho hình ảnh sản phẩm. Các quảng cáo đều rất ngắn gọn, lắng đọng và cố gắng làm nổi bật sự tinh tế trong phong cách uống cà phê chắt chiu từng “giọt đắng đại ngàn”, “ hơi nguồn sáng tạo”. Đối với các quán điểm cà phê nhƣợng quyền, Trung Nguyên sử dụng âm nhạc nhẹ nhàng, tạo một phong cách hƣởng thụ cà phê mới mẻ và tuyệt vời

    Trung Nguyên rất ít khi có chƣơng trình huyến mãi, thay vào đó Trung Nguyên cho ra nhiều dòng sản phẩm thỏa mãn hầu hết nhu cầu của mọi ngƣời. Đến năm 2011, Trung Nguyên mới tổ chức chƣơng trình huyến mãi mang tên “uống cà phê đẳng cấp, gặp vận may lớn”với nhiều giải thƣởng hấp dẫn cho ngƣời tham gia. Năm 2012, Trung Nguyên tiếp tục tổ chức chƣơng trình huyến mãi mang tên: “sáng tạo cùng Trung Nguyên, khám phá thế giới” Ông lớn này cũng rất quan tâm đến ý iến của ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ các đại lý phân phối, quán điểm bán lẻ của mình, điều này đƣợc thể hiện thông qua chƣơng trình “ngày hội bán hàng”, cho đến nay ngày hội này đã tổ chức đƣợc 10 năm tại nhiều tỉnh khác nhau.

    Ngày nay phƣơng tiện truyền thông tin đến mọi ngƣời khá phổ biến đó là facebook, các trang báo mạng. Đặc biệt với các bạn trẻ, các bạn khá nhạy bén trƣớc các kênh thông tin này. Để thực hiện tốt chiến lƣợc xúc tiến, quán điểm có thể lập một fanpage, thƣờng xuyên cập nhật các thông tin về sản phẩm, mức giá, các hoạt động của quán điểm (khuyến mãi hay tuyển dụng…), hay tổ chức các cuộc thi online với phần

    14

    thƣởng hấp dẫn là một ly cà phê miễn phí tại quán điểm, hay một cuốn sách đang đƣợc các bạn trẻ yêu thích nhằm gây hiệu ứng đám đông lên giới trẻ. Tƣơng tự nhƣ việc tổ chức các buổi giao lƣu vào cuối mỗi tháng với một ngƣời thành đạt mục đ ch thu hútnhiều bạn trẻ đến với quán điểm hơn, ngoài ra có thể tổ chức những hoạt động khác nếu tài chính cho phép.

    Về mảng PR, lần đầu tiên Trung Nguyên gây sự chú ý với ngƣời tiêu dùng là sự iện thử mù tại Dinh Thống Nhất năm 2003, với số ngƣời tham gia lên tới 11, 000 ngƣời, ết quả thử mù đã đập tan định  iến đồ ngoại tốt hơn đồ nội, từ đó G7 đã đi vào cuộc sống. Đặc biệt trong trận chiến năm 2013 vừa rồi khi Starbucks vào Việt Nam, ông Đặng Lê Nguyên Vũ đã có những phát biểu gây sốc. Tuy nó có những tiêu cực nhƣng đồng thời cũng đem lại hiệu ứng cho cả 2 thƣơng hiệu này hơn. Ngoài ra, Trung Nguyên còn phối hợp với đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh xây dựng chuỗi, các chƣơng trình dài hạn với mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ sáng tạo vì khát vọng Việt. Tặng 100 triệu cuốn sách  hởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên Việt Nam, và dành tặng riêng 10,000 cuốn sách “nghĩ giàu làm giàu”cho thanh niên Hà Nội. Xây dựng quỹ học bổng  hơi nguồn sáng tạo tài năng trẻ  huyến khích các bạn có hoàn cảnh khó  hăn và đạt đƣợc thành tích nổi bật trong học tập. Đồng hành cùng lễ hội cà phê Buôn Mê Thuột. Với một quán điểm, không thể có nguồn tài chính để làm những chƣơng trình lớn, nhƣng không phải là không thể. Thậm chí chúng ta còn có thể làm nhiều những chƣơng trình hơn, miễn là phù hợp với

    đối tƣợng khách hàng, với sản phẩm và với phạm vi tài chính.

    2.2.5.  Phân tích SWOT về Trung Nguyên

    2.2.5.1. Điểm mạnh

    Nguồn nguyên liệu đặc biệt nhất, là sự  ết của 5 loại cà phê nổi tiếng nhất thế giới:

    • Việt Nam: cà phê Robusta Buôn Ma Thuột đƣợc đánh giá cao trên thế giới với khẩu vị mạnh mẽ.
    • Ethiopia: đậm đà hƣơng vị cà phê nguyên gốc đến từ quê hƣơng Ethiopia
    • Jamaica: hạt Arabica thơm ngon của vùng đất Jamaica.
    • Brazil: thƣơng hiệu cà phê xuất khẩu nổi tiếng hàng đầu thế giới.
    • Colombia: loại cà phê mang nhều hƣơng vị khác biệt.

    15

    Công nghệ chế biến hiện đại nhất Châu Âu: Trung Nguyên đƣợc chuyển giao công nghệ hiện đại bậc nhất từ các tập đoàn hàng đầu thế giới. Đạt tiêu chuẩn HAACP (là những nguyên tắc đƣợc sử dụng trong việc thiết lập hệ thống quản lý an toàn thực phẩm) tạo ra những hạt cà phê sạch tuyệt vời nhất, đạt các tiêu chuẩn hắt khe của tổ chức FDA

    để xuất    hẩu vào các thị trƣờng Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản

    Kết hợp với bí quyết chế biến cà phê phƣơng Đông truyền thống, không thể sao

    chép, các phụ chất đƣợc theo dõi một cách chặt chẽ

    Kênh phân phối hiện đại, mạng lƣới quán điểm rộng        hắp, chuỗi quán điểm G7

    mart theo hình thức nhƣợng quyền thƣơng mại

    Đa dạng chủng loại sản phẩm từ rang xay đến cà phê hoà tan. Từ những nguồn

    nguyên liệu giống nhau Trung Nguyên đã tạo ra   hoảng 34 sản phẩm cà phê.

    Các chƣơng trình xúc tiến, truyền thông rất có hiệu quả. Ví dụ nhƣ: 23/11/2013 tổ chức ngày hội sáng tạo vì khát vọng Việt, thu hút 60,000 ngƣời tham, 14,000 lời chúc và 350 bài viết tại lễ hội, 30,000 lƣợt truy cập website, 15,000,000 ngƣời biết về lễ hội, chỉ hai tháng sau lƣợt truy cập website đã tăng lên 300,000 và 80,000 lời chúc đƣợc gửi về cho chƣơng trình “Cùng Trung Nguyên tôi chúc cho Việt Nam”

    2.2.5.2. Điểm yếu

    Không quản lý đƣợc các công ty, quán cà phê sử dụng thƣơng hiệu nhƣợng quyền

    của Trung Nguyên ồ ạt, thiếu nhất quán và đang bị vƣợt tầm  iểm soát.

    Sự thay đổi liên tục hệ thống bảng hiệu, màu sắc, iểu dáng, bao bì làm cho hệ thống vận hành một cách chậm chạp, dẫn tới sự mất dần tính ổn định và niềm tin của chính những ngƣời đang làm trong công ty. Đồng thời gây nên sự hoang mang về phía khách hàng trong việc nhận diện đ u là quán điểmTrung Nguyên thật, giả, Trung Nguyên nhƣợng quyền, Trung Nguyên cấp 1.

    Quá tham vọng hƣớng tới một tập đoàn đa ngành gây phân tán nguồn lực của công ty trong khi ngành chính của Trung Nguyên là cà phê lại không đƣợc chăm sóc ỹ trong bối cảnh là ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh từ hắp nơi trên thế giới và nhu cầu ngƣời tiêu dùng ngày càng cao hơn. Thất bại rõ nhất là việc đầu tƣ chuỗi quán điểm G7, và sự xuống cấp của cácquán điểm cà phê nhƣợng quyền

    16

    2.2.5.3. Cơ hội

    Cà phê đƣợc nhà nƣớc bảo hộ về quyền lợi và thƣơng hiệu, hỗ trợ giá thành sản phẩm và tạo điều iện xuất hẩu ra nƣớc ngoài, bên cạnh đó nhà nƣớc còn thành lập Hiệp Hội Cà Phê – Ca Cao để điều hành và phát triển cà phêViệt Nam.

    Năm 2007 sự gia nhập WTO đã giúp cho ngành cà phê Việt Nam có bƣớc chuyển mình lớnđặc biệt cà phê Trung Nguyên đƣợc biết đến không chỉ trong nƣớc mà còn cả trên thị trƣờng nƣớc ngoài, tạo thêm nhiều định hƣớng phát triển đồng thời có nhiều cơ hội và lợi thế để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.

    2.2.5.4. Thách thức

    Xu hƣớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới ngày càng lan rộng đã tác động mạnh mẽ tới tất cả các ngành sản xuất cà phê ở nƣớc ta. Nổi bật là gần đ y, nhiều thƣơng hiệu cà phê nƣớc ngoài đã có mặt tại TP Hồ Chí Minh nhƣ Starbucks, Macdonald. Cộng với xu hƣớng hƣớng ngoại, đám đông rất nhiều khách hàng đặc biệt là giới trẻ lại thích các nhãn hiệu nƣớc ngoài này. Vì vậy nguy cơ mất thị phần vào tay các đối thủ cạnh tranh đáng gờm nhƣ Nescafe của Nestle, Vinacafe của công ty cổ phần cà phê Biên Hoà, Vinamilk cà phê của công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk, Maccoffe của Food Empire Holaddings, …

    Mặt khác nguồn nguyên liệu trong nƣớc dồi dào nhƣng giá cả biến động lớn theo từng năm gây khó hăn trong việc thu mua và chi phí nguyên vật liệu đầu vào không ổn định cũng là một trở ngại lớn trong việc ƣớc lƣợng và tính giá thành sản phẩm đầu ra.

    Thu nhập và mức sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao nên đòi hỏi về chất lƣợng sản phẩm cũng nhƣ phục vụ cũng cao hơn, đ y cũng là một thách thức cho Trung Nguyên phải không ngừng sáng tạo đƣa ra nhiều sản phẩm mới lạ nhƣng đồng thời phải nâng cao hơn nữa chất lƣợng của từng sản phẩm cũng nhƣ dịch vụ chăm sóc khách hàng kèm theo.

    Trƣớc xu hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Nguyên nên tận dụng cơ hội thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tăng nguồn vốn kinh doanh và quảng bá rộng rãi thƣơng hiệu mình ra thế giới Bên cạnh đó, cũng cần lập ế hoạch đối phó với thách thức từ các thƣơng hiệu nƣớc ngoài đang dần chiếm lĩnh thị phần giới trẻ và nguy cơ mất thị phần

    17

    hiện tại vào tay các đối thủ trong nƣớc Nguồn nguyên liệu đầu vào cũng là nhân tố quan trọng tạo nên thƣơng hiệu nổi tiếng nhƣ hiện tại, vì vậy Trung Nguyên cần phát huy điểm này ết hợp với quy trình công nghệ hiện đại tạo nên những sản phẩm độc đáo chất lƣợng để giữ vũng thị phần hiện tại vừa thu hút thêm khúc thị phần giới trẻ Một vấn đề cần cân nhắc đó là Trung Nguyên nên iểm soát chặt chẽ hơn chuỗi hệ thống G7 mart và hệ thống nhƣợng quyền

    2.3. Xác định độ hấp dẫn của thị trƣờng giới trẻ và tiềm năng phát triển ở hiện tại và tƣơng lai

    Để làm rõ hơn vấn đề thị phần giới trẻ chúng tôi đi vào phân tích thực trạng tiêu dùng cà phê của giới trẻ qua mô hình 4P thấy rõ tác động của từng P lên phân khúc này. Các ết quả hảo sát, chạy dữ liệu sẽ làm cơ sở cho các vấn đề đƣợc trình bày ở trên, qua đó cho thấy yếu tố nào nổi trội có quyết định nhất sẽ đƣợc vận dụng để xây dựng ế hoạch bán sản phẩm trong thị trƣờng này.

    2.3.1.  Xác định thị trƣờng giới trẻ

    Thị trƣờng giới trẻ mà chúng tôi nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi hoảng từ 15-25, không phân biệt thu nhập và nghề nghiệp trong xã hội. Tính đến năm 2012, dân số toàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt gần 7,750,900 ngƣời, với diện tích 2,095.6 km², mật độ dân số đạt 3,699 ngƣời/ m². Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 6,433,200 ngƣời, dân số sống tại nông thôn đạt 1,317,700 ngƣời. Dân số nam đạt 3,585,000 ngƣời, trong khi đó nữ đạt 3,936,100 ngƣời. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phƣơng tăng 7,4‰, Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 2,966,400 lao động có độ tuổi từ 15 trở lên, trong đó 139 nghìn ngƣời ngoài độ tuổi lao động nhƣng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2008, lực tƣợng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên trên địa bàn thành phố gồm có 3,856,500 ngƣời, năm 2009 là 3,868,500 ngƣời, năm 2010 đạt 3,909,100 ngƣời, nhƣng đến 2011 còn số này đạt 4,000,900 ngƣời. Theo nguồn mà chúng tôi tìm hiểu có biểu đồ

    18

    về     tháp      tuổi      và      giới      tính      tại      Thành      phố    Hồ      Chí     Minh      nhƣ     sau    :

    Nguồn: Chương trình nghiên cứu đô thị vì sự phát triển (dự án PRUD số 45) Theo hình ta thấy tỷ lệ giới trẻ độ tuổi từ 15 đến 25 trong cơ cấu dân số tại Thành

    phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn từ đó cho ta biết một thị trƣờng tiềm năng cho việc phát triển thị trƣờng cà phê vào giới trẻ, tuy phía dƣới đáy hình tháp ở độ tuổi 0-14 có sự thu hẹp về số lƣợng do vấn đề chính sách ế hoạch hóa gia đình và quan niệm mới về sinh sản nhƣng nó vẫn là thị trƣờng tiềm năng phát triển trong tƣơng lai. Ngoài lí do trên giới trẻ có nhu cầu giao tiếp phát triển, họ độc lập tự chủ trong việc mua những sản phẩm phục vụ cho bản thân, mong muốn sử dụng những sản phẩm độc đáo có cá tính, họ rất thông minh trong lựa chọn sản phẩm (sản phẩm hiện đại, phù hợp với thu nhập…), dễ chạy theo mốt, quan tâm đến kiểu dáng, hình thức của sản phẩm và những chỉ tiêu khác. Với độ tuổi từ 15 đến 25, đa số họ vẫn đang trong tình trạng độc thân, những ngƣời nhóm này thƣờng ít mang gánh nặng về tài chính. Đây cũng là nhóm ngƣời tiên phong với những cái mới mẻ, năng động, phong cách. Họ thƣờng không suy nghĩ quá phức tạp về lựa chọn của mình vì họ thích thay đổi, không thích những gì quá bền chặt. Nắm bắt đƣợc điều này, quán điểm sẽ có những chiến lƣợc phù hợp với tâm lý giới trẻ hơn

    2.3.2.  Phân tích thực trạng tiêu dùng cà phê của giới trẻ

    Jonny – Chuyên gia Phân tích đồ uống toàn cầu của Mintel nhận định Việt Nam có ết cấu dân số vô cùng lý tƣởng với 89 triệu ngƣời phần lớn thuộc thế hệ trẻ có trình độ và tầng lớp trung lƣu đang nổi lên nhanh chóng với khát vọng tiếp cận các thƣơng hiệu

    19

    quốc tế. Tổ chức BMI dự báo đến năm 2016 mức tăng trƣởng trung bình hàng năm đối với doanh thu mặt hàng cà phê là 7%. Những năm vừa qua với nền kinh tế tăng trƣởng, nhu cầu về các lƣơng thực và đồ uống có giá trị cao trong đó có cà phê ngày càng tăng mạnh. Ngoài ra, ở độ tuổi bắt đầu đi làm, thu nhập đƣợc cải thiện thì họ sẽ có điều iện hơn để sử dụng các sản phẩm cà phê giá trị cao. Theo ết quả hảo sát ban đầu cứ 165

    ngƣời thì có 64.8% ngƣời sử dụng cà phê hoảng 1-3 lần/tuần và có 18 8 ngƣời sử dụng cà phê từ 4 lần/tuần trở lên (số liệu bảng 1 phụ lục trang 80) Từ đó ta thấy triển vọng lớn trong vấn đề sử dụng cà phê của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, thị trƣờng tiêu thụ cà phê của giới trẻ hiện nay có xu hƣớng sử dụng các thƣơng hiệu cà phê nổi tiếng của nƣớc ngoài, đ y thực sự là vấn đề khó hăn cho việc một quán điểm của Trung Nguyên mở ra cho giới trẻ có thể cạnh tranh tốt trên thị trƣờng, đòi hỏi quán điểm mới đáp ứng đƣợc các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ của giới trẻ để tạo lợi thế cạnh tranh riêng cho quán điểm của mình.

    Thu nhập của giới trẻ hiện nay là tƣơng đối cao

    Mức thu nhập hiện tại của bạn trong tháng (tổng thu nhập chính, thu

    nhập phụ, thu nhập khác, chu cấp của gia đình)

     

    20

      Frequenc Percent Valid Cumulative
      y   Percent Percent
             
    <1.500 54 32.7 32.7 32.7
    1.500-3.000 79 47.9 47.9 80.6
    3.000-7.000 26 15.8 15.8 96.4
    Valid  7.000-12.000 4 2.4 2.4 98.8
    12.000-18.000 1 .6 .6 99.4
    >18.000 1 .6 .6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  
             

    Với  ết quả  hảo sát 165 đối tƣợng ta có 47.9% ngƣời có thu nhập từ 1,500,000-3,000,000 ngƣời/tháng và 19 4    có thu nhập từ 3,000,000 trở lên. Đ y là điều  iện để tạo ra thị trƣờng có sự hấp dẫn cho quán điểm mới. Tuy nhiên với việc  iểm định sự phụ thuộc của hai biến mức thu nhập trong tháng và mức độ sử dụng cà phê trong tuần cho ết quả r2<0 1 cho thấy sự phụ thuộc là thấp (số liệu bảng 3 phụ lục trang 80), bảng tần số chéo giữa hai biến cho thấy đa số ngƣời có thu nhập từ 1,500,000-3,000,000 sử dụng cà phê hiều hơn so với nhóm còn lại, thu nhập từ 3,000,000 trở lên ban đầu sử dụng rất  t nhƣng càng về sau thì mức độ sử dụng càng cao. Đ y là một trong đặc điểm cho biết trong giới trẻ có tập trung thành phần  hác biệt, chịu chi tiêu ở mức độ cao và sử dụng nhiều cà phê hơn. Vậy  hi x y dựng quán điểmmới Trung Nguyên nên xem xét tạo ra các

    hông giancho những ngƣời có chung nhu cầu để ra sự hác biệt để đáp ứng yêu cầu cho sử dụng cà phê của một phần giới trẻ. Sau khi xem xét mức độ sử dụng và hả năng sử dụng của giới trẻ, chúng tôi tìm hiểu mức độ quan t m của giới trẻ đến Trung Nguyên nhƣ thế nào và sự quan t m tập trung vào vấn đề nào nhiều hơn để đƣa ra các giải pháp hoạt động. Có 66 4 số ngƣời tham gia hảo sát quan t m tới Trung Nguyên, có đến 89 7 trong số họ quan t m về chất lƣợng hơn các yếu khác, 84.2% quan tâm về giá, và có 79.4% quan tâm về chủng loại ở mức bình thƣờng trở lên. Từ những thông tin trên ta thấy giới trẻ đã bắt đầu quan t m nhiều hơn đến thƣơng hiệu cà phê trong nƣớc và tập

    21

    trung ở các vấn đề thƣờng tiếp xúc nhất hi vào quán cà phê. Vì vậy hi x y dựng quán điểm này Trung Nguyên cần phát huy lợi thế về dòng sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại để tạo ra thực đơn phong phú đáp ứng các nhu cầu, quan t m hác nhau của hách hàng nhƣ về giá, loại…

    Tiếp đến chúng tôi xem xét các yếu tố tác động việc sử dụng cà phê của giới trẻ Trong 165 ngƣời tham gia hảo sát, sau hi dùng iểm định ANOVA giữa mức độ sử dụng cà phê và 5 yếu tố tác động gồm bạn bè và ngƣời thân, thần tƣợng, cá nhân, thƣơng

    hiệu và mốt Kết quả cho thấy bạn bè và ngƣời thân, cá nh n và thƣơng hiệu có chỉ số sig<0 05 nên ta ết luận các yếu tố có tác động đến mức độ sử dụng cà phê của giới trẻ

    (bảng phân tích ANOVA 11, 12, 13, 14, 15, 16 phụ lục trang 83, 84, 85,86). Bạn bè và ngƣời th n có ảnh hƣởng lớn đến tiêu dùng cá nhân của giới trẻ, tâm lý bầy đàn đặc biệt đối với những ngƣời sống chung với gia đình hay đang đi học thì tác động này sẽ mạnh hơn, sau hi iểm định sâu ANOVA ta thấy tác động của các yếu tố này là gần nhƣ nhau

    đối với những ngƣời có mức độ thỏa mãn cao, tuy nhiên có sự hác nhau đối với những ngƣời có mực độ thỏa mãn thấp, nghĩa là nếu một ngƣời còn chƣa thỏa mãn đối với sản phẩm cà phê củaTrung Nguyên thì việc tác động từ gia đình bạn bè sẽ quyết định họ có sử dụng hay hông sử dụng sản phẩm

    Tiếp tục kiểm định sâu ANOVA về yếu tố thƣơng hiệu, đ y là yếu tố thƣờng tác động đến giới trẻ một cách thƣờng xuyên trong suốt quá trình tiêu dùng. Sự hác biệt, mới lạ, uy t nh, nổi tiếng, … sẽ là những điểm thu hút hấp dẫn giới trẻ vì vậy phải xem xét đổi mới tạo ra nét riêng, là nền tảng thu hút và giữ đƣợc hách hàng

    Yếu tố cá nhân thì trái ngƣợc với yếu tố gia đình và bạn bè. Đối với những ngƣời chƣa hài lòng với sản phẩm của Trung Nguyên thì yếu tố cá nh n tác động không nhiều, nhƣng một hi đã sử dụng thì nó lại quyết định, ảnh hƣởng rất nhiều đến việc sử dụng và

    cách thức sử dụng của họ. Bản th n cá nhân sẽ tự quyết định hi họ đã xác định rõ vấn đề là gì, vì vậy việc đáp ứng cá nhân là bƣớc quan trọng để giữ hách hàng đồng thời cũng

    tạo ra cơ hội cho quán điểm có thêm hách hàng mới. Tuy nhiên cũng không xem nhẹ các yếu tố theo ết quả chƣa đƣợc quan tâm nhƣ yếu tố thần tƣợng, thƣơng hiệu, …bởi chúng sẽ hổ trợ cho những yếu tố trên nếu biết vận dụng hợp lý

    22

    2.3.3.  Ph n t ch tác động của mô hình 4P tới nhu cầu của giới trẻ

    Về sản phẩm, chiều rộng danh mục sản phẩm của Trung Nguyên không lớn, nhƣng chiều dài của danh mục sản phẩm thì ngày càng tăng Hiện nay, danh mục sản phẩm của Trung Nguyên đang đƣợc tiếp tục mở rộng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu cà phê của tất cả các nhóm khách hàng, từ sản phẩm mang phong thái truyền thống cà phê phin tới những sản phẩm tiện dụng, tiết iệm thời gian cho khác hàng nhƣ cà phê hòa tan, cà phê tƣơi. Chất lƣợng là công cụ chủ yếu để định vị sản phẩm trên thị trƣờng mục tiêu, bao gồm độ bền, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành và sửa chữa. Chất lƣợng thể hiện

    • việc chọn lọc 4 vùng nguyên liệu ngon nhất thế giới: hạt cà phê Robusta Buôn Ma

    Thuột nổi tiếng nhất Việt Nam, cà phê nguyên gốc đến từ vùng đất quê hƣơng của cà phê Ethiopia; hạt Arabica thơm ngon đầy quyến rũ của vùng đất Jamaica; thƣơng hiệu nổi tiếng của cà phê xuất hẩu hàng đầu thế giới Brazil,… Tất cả đƣợc hội tụ, chắt lọc để nguyên liệu tạo nên những sản phẩm cà phê đặc biệt nhất Phát triển sản phẩm cũng là một vấn đề cực kì quan trọng trong chiến lƣợc sản phẩm của doanh nghiệp, là yếu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp nhƣng nó cũng hàm chứa những rủi ro, thậm chí có thể thất bại vì nhiều nguyên nh n Với quán cà phê mới chúng ta có đủ tiềm lực tạo ra những loại thức uống phối hợp của cà phê, ngoài ra có thể sử dụng thức uống này ết hợp với các loại thức ăn nhẹ để phù hợp hơn với phong cách giới trẻ ngày nay. Không những thế chất lƣợng và thƣơng hiệu sản phẩm luôn đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn, đ y là điều thuận lợi cho việc xây dựng thực đơn quán phong phú và đa dạng, việc phát triển không ngừng sản phẩm mới là yếu tố giúp nâng cao sức cạnh tranh của loại hình quán mới này. Nhƣng điều chúng tôi quan tâm là ết hợp sáng tạo loại thức uống sao cho hài hòa với không gian riêng của từng khu vực mà chúng tôi tạo ra, đảm bảo tạo sự khác lạ cho sản phẩm của mình.

    Giá cả của các sản phẩm cà phê của Trung Nguyên khá đa dạng, tùy thuộc vào loại sản phẩm, phân khúc thị trƣờng mà sản phẩm hƣớng tới và càng ngày giá thành càng hợp lý hơn thể hiện Trung Nguyên đã nỗ lực cao trong đầu tƣ máy móc, công nghệ mới trong sản xuất cà phê. Sản phẩm của Trung Nguyên có nhiều mức giá cả phụ thuộc vào chất lƣợng của sản phẩm, giá thành nguyên liệu đầu vào và quy trình sản xuất tức chi phí sản

    23

    xuất, ngoài ra giá cả của các sản phẩm của Trung Nguyên còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại vi nhƣ thị trƣờng và nhu cầu, yếu tố tâm lí của khách hàng, sản phẩm và giá cả của đối thủ cạnh tranh, chu kì sống của sản phẩm và một số yếu tố ngoại vi khác nhƣ luật pháp, điều iện kinh tế, xã hội, đặc biệt Trung Nguyên cũng sử dụng chính sách giá phân biệt với từng thị trƣờng . Đây là điều quan trọng đối với giới trẻ trong việc quyết định có nên bỏ ra chi phí để thƣởng thức ly cà phê trong loại hình quán mới này hay không. Với nhiều loại cà phê với gía cả khác nhau sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu khó hăn của giới trẻ trong xã hội hiện đại ngày nay, làm sao vừa phù hợp với túi tiền của từng ngƣời mà vẩn đảm bảo doanh thu của công ty và chất lƣợng sản phẩm. Ngoài ra giá cả còn là sự hấp dẫn, là thế mạnh cạnh tranh trên thị trƣờng hốc liệt, tuy nhiên vì nhiều lý do mà chúng ta không nên huyến khích điều này.

    Một yếu tố không thể thiếu đó là việc phân phối sản phẩm đến ngƣời tiêu dùng. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, chủ tịch HĐQT Công ty G7 đã nói: “Mục tiêu của hệ thống các quán điểm G7 là hỗ trợ mạnh mẽ chiến lƣợc phát triển thƣơng hiệu Việt và trở thành hệ thống phân phối địa phƣơng làm đối trọng với các tập đoàn phân phối nƣớc ngoài”. Có rất nhiều các hoạt động cụ thể hƣớng tới mục tiêu này nhƣ chuyên nghiệp hoá chất lƣợng phục vụ khách hàng để mở rộng thị trƣờng mạnh mẽ. Đối với quán ca phê mới giành cho giới trẻ này, chúng tôi muốn tạo ra sự khác biệt dựa trên sự đa dạng, độc đáo của loại hình phục vụ trong quán, với mong muốn đáp ứng đƣợc tối đa các yêu cầu của khách hàng nhƣ : phục vụ tận nơi, tự phục vụ, ết hợp cả hai, phục vụ riêng. Để làm đƣợc điều này quán điểm sẽ phải đào tạo một đội ngũ nhân viên phục vụ chuyên nghiệp, năng động, nhiệt tình, hòa đồng trong không gian trẻ, để nó đúng chất là một quán cà phê của giới trẻ

    Cuối cùng là xúc tiến, đ y là việc làm thƣờng xuyên và định kì mà chúng tôi quan tâm, nhằm đáp ứng xu hƣớng khách hàng và môi trƣờng cạnh tranh ngày nay. Những chƣơng trình ết nối bạn trẻ Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng là chủ đề đƣợc quán xây dựng để tuyên truyền, vận động bên cạnh việc áp dụng các chƣơng trình huyến mãi và quà tặng cá nhân, nhóm hay các cặp đôi hò hẹn Xúc tiến thông qua các màn hình ti vi, loa thông báo và tờ rơi xẽ đƣợc quán vận dụng tùy thời điểm, ngoài ra

    24

    còn có sự tƣơng tác giữa khách hàng với nhau và với nhân viên trong quán thể hiện tinh

    thần trẻ trung, năng động, nhiệt tình và sự chuyên nghiệp trong phục vụ của nhân viên.

    2.3.4.  Một số    ết quả   hác của phân tích số liệu khảo sát thực tế

    Xem xét việc quyết định sử dụng cà phê hi thu nhập thay đổi Kết quả chung cho thấy hi thu nhập tăng thì họ vẫn sử dụng cà phê nhƣ thƣờng, tuy có sự thay đổi nhƣng rất nhỏ. Vậy việc thu nhập thay đổi hông tác động hay tác động t, điều này giúp cho

    việc dự đoán và t nh toán các vấn đề dễ dàng hơn hi mức sử dụng có thể xem là dao động hông nhiều. Cùng với đó chúng tôi xem xét sự thay đổi của giá với mức độ sử dụng nhƣ thế nào, có hoảng 43 63 số ngƣời vẫn sử dụng cà phê hi giá sản phẩm tăng

    1,000-3,000 VND, có hơn 26% ngƣời vẫn sử dụng cà phê hi giá tăng >3,000 VND (số liệu phân tích bảng 22 phụ lục trang 88). Với ết quả trên việc xem xét mức giá sản phẩm cao hơn so với quán bên ngoài khác để bù đắp chi ph là điều có thể, đồng thời trong danh

    mục sản phẩm quán cũng nên có những loại sản phẩm có giá tƣơng đối cao để đáp ứng

    nhu cầu của khách hàng.

    Theo nhƣ 41 9 ý iến tham gia hảo sát cho rằng xu hƣớng tiêu dùng cà phê sắp tới là mang đi, 23% là dùng tại quán và 25.7% là dùng tại văn phòng công ty. (bảng 21 phụ lục trang 88). Để tạo sự tiện lợi đáp ứng nhu cầu của khách hàng, quán mới này cần mở một quầy cung cấp nhanh sản phẩmcho khách hàng, quầy này có thể đặt bên trong hay bên ngoài cửa hàng tùy theo đặc điểm hu vực d n cƣ xung quanh và vị tr của quán

    Khi mở quán mới của Trung Nguyên, một yếu tố tạo nên sự thành công của quán

    đó là mức độ quan t m trƣớc đó của hách hàng đối với Trung Nguyên. Có 66 1 giới trẻ tiếp nhận và sử dụng cà phê Trung Nguyên ở mức độ từ bình thƣờng trở lên, tuy mức độ này chƣa cao nhƣng cũng cho thấy triển vọng trong việc chấp nhận một sản phẩm của sinh viên. Tuy số lƣợng học sinh có nhu cầu uống cà phê là chƣa cao nhƣng sẽ là tầng lớp thay thế cho sinh viên ph a trƣớc, vì vậy cần có cách để đón đầu trƣớc những khách hàng tiềm năng này

    Địa điểm mở cửa hàng quyết định sự ph n phối sản phẩm đến ngƣời sử dụng, giá cả của sản phẩm trong cửa hàng. Có hoảng 62 6 ý iến cho rằng sẽ mua cà phê ở một địa điểm nào đó gần hu vực ở hoặc tiện trên đƣờng về Trong đó có 58 ngƣời cho rằng

    25

    mua tiệm tập hóa và l do gần nhà ở, 43 8 ngƣời cho rằng mua quán ven đƣờng là do tiện đƣờng về. Vì vậy nên chọn x y dựng cửa hàng nơi đông d n cƣ có nhiều giới trẻ hoạt động, cụ thể các đặc điểm sẽ đƣợc chúng tôi đề cập đến trong phần chọn địa điểm x y dựng quán (bảng 17, 18, 19, 20 phụ lục trang 86, 87).

    Có 43 6     ý   iến cho rằng việc uống cà phê là tùy hứng hay theo thói quen, 24 1

    • iến là tụ tập bạn bè, đồng nghiệp (bảng 28 phụ lục trang 90). Ở đ y cho thấy phù hợp với xu hƣớng giới trẻ, việc uống cà phê của họ nhằm nhiều mục đ ch, đặc biệt là đối với

    sinh viên, học sinh thì càng khó cố định, tuy nhiên hi càng lớn tuổi hơn họ có xu hƣờng dần rõ ràngtrong việc sử dụng cà phê với công việc hay gặp gỡ hàng ngày hơn Vì vậy hi tạo một cửa hàng riêng, cần phải tạo ra nhiều hông gian để đáp ứng mục đ ch khác nhau của giới trẻ, đồng thời tạo sự cố định chung trong từng không gian riêng để hông ảnh

    hƣơng tới những  hông gian  hác Việc th ch nghi đáp ứng những nhu cầu này của giới trẻ sẽ tăng sức cạnh tranh, tạo sự  hác biệt của cửa hàng mới tuy nhiên chi ph  gắn liền với vấn đề trên cũng lên cao. C n đối giữa  hông gian đáp ứng nhu cầu và chi ph  tạo ra hông gian đó là vấn đề lớn cần đƣợc Trung Nguyên t nh toán  ĩ lƣỡng trƣớc  hi thiết lập

    cửa hàng

    2.4.     Phƣơng hƣớng thiết lập

    Việc xây dựng và thiết lập quán căn cứ theo văn hóa cà phê Việt Nam nói chung và của giới trẻ nói riêng bởi văn hóa dùng cà phê là điều quyết định sẽ xây dựng quán nhƣ thế nào, không gian ra, phong cách và mô hình quán ra sao. Ngoài ra chúng tôi giới thiệu một số mô hình quán cà phê đƣợc ƣa thích hiện nay của giới trẻ và đƣa ra mô hình chung về quán cà phê của chúng tôi.

    Theo một bài viết về văn hóa cà phê, Cà phê có nguồn gốc từ phƣơng Tây, theo chân ngƣời Pháp vào Việt Nam từ thời thuộc địa. Ban đầu thức uống này chỉ dành riêng cho giới quý tộc, các quan chức Pháp hay tầng lớp trí thức nơi thành thị. Cà phê dần dần trở thành thức uống phổ biến trong cuộc sống của ngƣời dân Việt Nam đặc biệt tại 2 thành phố lớn nhƣ Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô hà nội. Có sự khác nhau rõ rệt giữa phong cách uống cà phê của ngƣời dân 2 vùng miền này. Hà Nội có phong cách thƣởng thức khác với ngƣời châu Âu: nhâm nhi và suy tƣởng Gọi một ly đen đá nhìn những giọt

    26

    cà phê tí tách rơi, rồi vừa nhấp từng ngụm nhỏ vừa đọc báo, nghe nhạc, trò chuyện cùng bạn bè, cùng đối tác làm ăn hay ngồi làm việc, và còn để suy ngẫm về cuộc sống, về con ngƣời. Có lẽ chính vì gu thƣởng thức khác lạ nhƣ vậy mà những quán cà phê Hà Nội mang một nét đặc biệt: nhỏ, không gian yên tĩnh, bàn ghế đã phai màu thời gian. Cà phê Sài thành có một văn hóa rất riêng, thoạt nhìn thì thấy bát nháo, xô bồ nhƣng thực ra rất đa phong cách, có thể dung nạp rất nhiều “t n đồ”cà phê của các nền văn hóa khác nhau. Tối ngày sáng đêm, bất ể lúc nào ngƣời Sài Gòn cũng có thể uống cà phê. Ở Sài Gòn,

    • u đ u cũng có sự hiện diện của quán cà phê, từ góc hẻm nhỏ đến những đại lộ Không ai có thể thống kê chính xác có bao nhiêu quán cà phê tại Sài Gòn vì biểu đồ cà phê ở đ y

    chi chít và biến đổi liên tục. Sự tiện dụng của các quán cà phê ở Sài Gòn phổ biến tới mức xuất hiện hầu hết trong cuộc sống đời thƣờng của ngƣời dân nơi đ y. Đãi khách, bàn công việc, gặp gỡ bạn bè, muốn yên tĩnh chiêm nghiệm bản thân – cuộc đời, muốn thƣ giãn,… đều đƣợc thực hiện ở quán cà phê. Đó có thể là một quán cà phê cầu ỳ sang trọng với máy lạnh, vật dụng trang trí đắt tiền Hay có khi quán cà phê chỉ là một rổ nhựa chứa vài cái ly cũ ỹ nơi góc cột điện với dăm chiếc ghế thấp dành cho khách ngồi. Mới hôm qua thôi, trên con đƣờng đi làm quen thuộc, bạn còn nhận thấy một quán cà phê đông ngƣời thì có thể sáng nay nó đã biến đi không tăm hơi, một sự biến mất để lại chút gì tiếc nuối trong bạn. Và biết đ u khi vừa mở cửa, trƣớc nhà bạn lại là một quán cà phê không mời mà tới! Tại sao cà phê Sài Gòn lại có một sức sống mãnh liệt nhƣ thế? Nhƣ những nơi khác trên hắp Việt Nam, giới trẻ Sài thành cũng thích thƣởng thức cà phê, ở đ y họ không tập trung uống vào những thời điểm nhất định nhƣ những ngƣời lao động trung niên khác mà tùy hứng và tùy sở thích của họ, nhƣng nhìn chung họ thƣờng uống nhiều vào buổi sớm. Có thể là do thói quen bắt đầu ngày một cách tỉnh táo với ly cà phê trên tay hay ly cà phê là một chất xúc tác để tạo động lực làm việc vào xế chiều, khi muốn thƣ giãn, tụ họp gặp gỡ bạn bè ngồi nhâm nhi từng chút để trò chuyên với nhau lâu hơn Gần đ y việc thƣởng thức ly cà phê không chỉ đơn thuần là ly cà phê ngon hay phục vụ tốt nữa mà khách hàng đã dần hình thành nên những nhu đòi hỏi hắt khe hơn khi đến với quán.

    27

    Sài Gòn có vô số các quán cà phê khác nhau phù hợp với nhu cầu và sở thích của mỗi ngƣời Hiện nay đến quán cà phê không đơn giản chỉ là tìm không gian thƣ giãn, đắm chìm hƣơng vị cà phê mà còn có thể đọc sách, xem bóng đá, lƣớt web,…Và có một xu hƣớng quán cà phê hiện nay khá phát triển đối với những bạn trẻ đó là cà phê xem phim HD. Nói nôm na, cà phê HD là nơi bạn có thể chiêm ngƣỡng rất nhiều bộ phim đẳng cấp theo phong cách riêng của mình. Nơi đ y biển thành một rạp chiếu phim mini nhƣng bạn sẽ vừa nhâm nhi tách cà phê vừa đƣợc trải nghiệm cảm giác thú vị khi xem những bộ phim với âm thanh chất lƣợng và hình ảnh thật sắc nét. Một quán cà phê HD trong tóp 10 đƣợc giới trẻ thành phố yêu thích Cà phê HD Nguyễn Hồng Đào trở thành địa chỉ quen thuộc với các bạn trẻ Sài Gòn yêu thích phong cách uống cà phê xem phim HD. Quán cà phê mang phong cách rất trẻ trung, không gian rộng, thiết ế khá bắt mắt với những gam màu sáng tối Quán có 8 phòng, mỗi phòng có sức chứa từ 2 – 25 ngƣời, thích hợp để hẹn hò hay cả họp mặt, tổ chức sinh nhật bạn bè. Quán cà phê ở đ y đƣợc xem nhƣ một rạp chiếu phim mini, mỗi phòng đều có cách trang trí khác nhau. Quán liên tục cập nhật những bộ phim mới, bạn sẽ đƣợc tha hồ lựa chọn theo sở thích của mình. Ngoài việc áp dụng các công nghệ, ĩ thuật tạo ra không gian và đáp ứng nhu cầu quen thuộc của khách hàng, có những quán điểm còn ết hợp những loài động vật gần gủi với con ngƣời hằng ngày nhƣ chó, mèo, … vào không gian riêng của quán, điều này cũng tạo nên nét đặc sắc riêng cho quán, thu hút đƣợc lƣợng lớn giới trẻ yêu thích loại hình này, một ví dụ, Ailu Cat Cà phê (284 Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh) đƣợc nhiều bạn trẻ đón nhận với vẻ đẹp đặc sắc từ những bộ lông và bƣớc đi uyển chuyển của rất đông các em mèo chạy nhảy tung tăng hắp quán. Hội tụ các giống mèo khác nhau nhƣ mèo Ba Tƣ, mèo Pháp, mèo Nga, mèo Mỹ lông dài, mèo Exotic… Và còn đƣợc đặt cho những cái tên dễ thƣơng nhƣ Lạc Lạc, Đậu Đậu, Đỗ Đỗ, Nhọ Nhọ…Ch nh cái tên Ailu cũng đƣợc rút ngắn từ tên của một vị thần của Ai Cập cổ đại là Ailuros, vị thần có diện mạo của một con mèo. Quán 2 tầng với sức chứa hoảng 100 khách, trong đó quán dành hẳn tầng 1 làm không gian dành cho cà phê mèo. Khắp nơi trong quán là những ngôi nhà gỗ nhỏ đƣợc thiết ế dành riêng cho chúng, đƣợc dựng cao cho các cô cậu mèo tha hồ leo trèo ẩn nấp Không dừng lại ở đó, việc tạo ra những quán với tên,

    28

    không gian, iến trúc độc đáo cũng hút trí tƣởng tƣợng, tò mò của giới trẻ nhƣ: cà phê nhện, cà phê âm phủ, cà phê cổ tích, cà phê take away, cà phê phố cổ… một loại hình phổ biến là cà phê sân vƣờn, nhƣng loại hình cà phê sân vƣờn thƣờng đƣợc các bạn trẻ ƣa chuộng bởi vẻ đẹp độc đáo và không gian lãng mạn. Cà phê Ân Nam tại 52 trƣơng định, phƣờng 7, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu một không gian xanh và yên tĩnh để bạn lắng nghe những giai điệu quen thuộc của các tình khúc đi cùng năm tháng của Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trịnh Công Sơn . Bên ly cà phê thơm đắng Quán đƣợc trang trí rất cổ kính theo phong cách Á Đông tạo cho bạn cảm giác gần gũi và thân thiện. Đội ngũ nhân viên lịch thiệp, luôn tự làm mới mình để không tạo sự nhàm chán đối với thực khách, nhất là đối với giới trẻ. Tuy nằm trên con đƣờng khá sầm uất nhƣng cũng có thể tạo cho bạn một không gian riêng để tán chuyện cùng bạn bè, đồng nghệp hay đối tác…

    Việc xây dựng quán cà phê của Trung Nguyên giành cho giới trẻ là điều cần thiết nhƣng cũng sẽ có những khó hăn nhất định đối với một thƣơng hiệu nổi tiếng này, làm sao vừa thu hút giới trẻ nhƣng vẩn giữ đƣợc nét độc đáo riêng của cà phê Trung Nguyên. Mô hình quán mà chúng tôi xây dựng là một không gian mở, đa dạng và dành riêng cho giới trẻ Quán sẽ chia nhiều không gian khác nhau với phong cách khác nhau để đáp ứng

    nhu cầu đa dạng của khách hàng, nhƣng tập trung vào những không gian riêng biệt mà đa

    số giới trẻ yêu thích và thƣờng gặp nhất theo     hảo sát của chúng tôi tại thành phố hcm

    nhƣ (yên tĩnh, riêng tƣ cho những ai thích học tập, họp bàn công việc, hay hẹn hò, vui nhộn sôi động cho những cuộc họp bạn bè, độc đáo cho những ngƣời thích khám phá tƣởng tƣợng hay mơ mộng, … Sẽ cần có những thay đổi nhỏ trong màu sắc, trang trí, thực đơn và phong cách phục vụ trong quán so với các quán điểm cà phê Trung Nguyên hiện tại những vẩn đảm bảo là quán cà phê thực sự mang văn hóa cà phê riêng của ngƣời việt, không chỉ tạo ra cái mới tức thời mà có hả năng duy trì lâu dài. Chúng tôi mang đến sự ết hợp hài hòa giữa cà phê việt với giới trẻ việt cả trong thực đơn phục vụ và phong cách quán.

    2.5.     Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh đối với Trung Nguyên

    Trong cuốn sách “Competitve strategy”, M.Porter đã đƣa ra mô hình 5 áp lực cạnh tranh tạo thành bối cảnh cạnh tranh trong một ngành sản xuất kinh doanh.

    29

        entrants)potential(Newngành nhậpngườiNhững    
        Đe dọa của những    
        người gia nhập ngành    
        Những nhà cạnh    
    Những người cần cung Sức mạnh trả gía tranh trong ngành Sức mạnh trả giá Những người mua
       
    cấp (Suppliers) của nhà cung cấp Mật độ của các nhà của người mua (Buyers)
           
        cạnh tranh    
        Đe dọa của    
        sản phẩm thay thế    
        Những sản phẩm thaythế(Subsitute products)    

    Sơ đồ: mô hình 5 áp lực cạnh tranh

    Nguồn: Michael E  Porter “Competitve Strategy”New York: Free Press, 1985.

    Từ hình vẽ ta thấy, sức mạnh của các áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ quyết định mức độ của đầu tƣ, cƣờng độ cạnh tranh, và mức lợi nhuận của ngành. Vì vậy khi muốn kinh doanh trên ngành bất kì, công ty cần nghiên cứu hiện trạng và xu hƣớng của các áp lực cạnh tranh, căn cứ vào những điều iện bên trong của mình để quyết định chọn một vị tr th ch hợp trong ngành nhằm đối phó với các áp lực cạnh tranh một cách tốt nhất hoặc có thể tác động đến chúng theo cách có lợi cho mình ta sẽ phân tích từng áp lực để thấy rõ điều này.

    2.5.1.  Sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn

    Thị trƣờng thức uống cà phê Việt Nam hiện nay nói chung đã có những đơn vị lớn mạnh chiếm lĩnh thị trƣờng. Các đối thủ đó gồm các đơn vị nƣớc ngoài và trong nƣớc, hiện tại đã ph n chia thị phần trên thị trƣờng gần nhƣ ro ràng, vì vậy rào cản gia nhập vào nghành ở đ y há cao Hiện nay trên thị trƣờng trƣớc áp lực gia nhập vào nghành cà phê hòa tan lớn, dƣờng nhƣ số đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng thức uống cà phê hông th y đổi trong thời gian dai, nếu tiếp tục duy trì rào cản này thì hó có những đối thủ mới gia

    30

    nhập ngành để có thể cạnh tranh với một thƣơng hiệu lớn nhƣ cà phê Trung Nguyên hiện nay.

    Sự trung thành với nhãn hiệu của khách hàng. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay thì việc xây dựng lòng trung thành của khách hàng về sản phẩm đối với doanh nghiệp đó là mục tiêu phát triển. Mức độ trung thành của khách hàng với dịch vụ và sản phẩm ở mỗi thời điểm là khác nhau. Có sáu mức độ trung thành của khách hàng là tiềm năng, triển vọng, khách hàng mua lần đầu, khách hàng mua lần hai, khách hàng thƣờng xuyên và khách hàng luôn ủng hộ nhiệt tình. Để khách hàng mua lần hai thì doanh nghiệp cần có chiến lƣợc cụ thể để thỏa mãn khách hàng về sản phẩm, giá cả, dịch vụ, … Eric Anderson, giáo sƣ marketing tại trƣờng đào tạo quản lý Kellog thuộc đại học Northwestern cho biết: “yếu tố giá cả và các chƣơng trình khuyến mãi đang ngày càng đƣợc ngành bán lẻ quan tâm nhiều hơn vì hách hàng trung thành sẽ bị tác động bởi giảm giá”, đ y là một trong các yếu tố tác động quan trọng đến việc mua của hách hàng, tuy nhiên việc vẫn dụng phải hết sức cẩn thận bởi đ y cũng là con dao hai lƣỡi

    Theo Khảo sát của nhóm nghiên cứu thực hiện trên 100 ngƣời sử dụng ít nhất 1 lần cà phê trên 1 tuần thì đã phát hiện ra có 66% ngƣời thƣờng quan tâm theo dõi về thị trƣờng cà phê, sản phẩm cà phê của Trung Nguyên. Theo đó có 64.1% câu trả lời rằng họ vẫn chấp nhận sử dụng cà phê cũ khi thu nhập tăng lên, 60.6% sẽ vẫn sử dụng cà phê Trung Nguyên khi giá tăng từ 1,000-10,000 ngàn đồng, có 52% hài lòng về cà phê Trung Nguyên và có 69.7% khách hàng sẽ giới thiệu bạn bè, ngƣời thân của mình về sản phẩm cà phê Trung Nguyên. (theo bảng 35 phụ lục trang 92)

    2.5.2.  Quyền lực thƣơng lƣợng từ phía các nhà cung ứng

    Số lƣợng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, thƣờng chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hƣởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, hiện nay, Trung Nguyên có một hệ thống sản suất hoạt động vô cùng hiệu quả Khi mà các nguồn nguyên liệu dùng cho quá trình sản xuất cà phê khác, đều là bắt nguồn từ các nông trại trồng cà phê do chính Trung Nguyên đầu tƣ và quản lý. Hay nói cách khác Trung Nguyên chính là nhà cung cấp

    31

    nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất của mình. Vì vậy, áp lực cạnh tranh từ nhà cung cấp là vấn đề mà Trung Nguyên t phải đối mặt hiện nay.

    Hiện nay, Trung Nguyên đang có chƣơng trình mở rộng 1,000 ha cà phê bền vững ở Da La góp phần tăng diện t ch nguồn nguyên liệu cà phê bền vững của Trung Nguyên lên 2,500 ha với 1,500 hộ nông dân tham gia. Nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nguyên liệu để tạo nên những sản phâm cà phê đặc biệt Áp dụng các tiêu chuẩn UTZ cho các vùng nguyên liệu Qua đó, công ty Trung Nguyên đảm bảo việc truy nguồn gốc sản phẩm, góp phần bảo vệ môi trƣờng, tuân thủ các qui định về thƣơng mại và công ƣớc lao động quốc tế, đáp ứng các tiêu chuẩn hắt khe của thị trƣờng đặc biệt là thị trƣờng thế giới

    2.5.3.  Quyền lực thƣơng lƣợng từ phía khách hàng

    Áp lực từ phía khách hàng: giảm giá và chất lƣợng phục vụ tốt Trong hầu hết các lĩnh vực, những ngƣời mua có thể đƣợc xem nhƣ một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu cầu giá thấp hơn hoặc khi họ yêu cầu dịch vụ tốt hơn mà có thể dẫn đến tăng chi phí hoạt động. Chính điều này làm cho các đối thủ cạnh tranh chống lại nhau, tất cả những điều đó làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành. Ngƣợc lại, khi ngƣời mua yếu, công ty có thể tăng giá và có đƣợc lợi nhuận cao hơn

    –    Áp lực từ phía khách hàng xuất phát từ các điều   iện sau:

    Khi số lƣợng ngƣời mua là nhỏ thì đe dọa đối với ngƣời bán là rất lớn. Những ngƣời bán phụ thuộc rất lớn vào những ngƣời mua này và một vài ngƣời mua này có thể ết hợp thông đồng với nhau gây sức ép lên ngƣời bán. Đây là một khó  hăn lớn của Trung Nguyên trong những ngày đầu thành lập vào những năm 1990, khi thu nhập bình quân của ngƣời Việt Nam mới chỉ 250 USD. Lúc này Trung Nguyên đã táo bạo lựa chọn chiến lƣợc phát triển thƣơng hiệu cà phê cao cấp, nên số lƣợng khách hàng đầu tiên của Trung Nguyên thật khiêm tốn  Khách hàng vào thời điểm này dễ dàng  ết hợp với nhau gây áp lực lên Trung Nguyên. Vậy làm sao để quán điểm của chúng ta có thể vƣợt qua đƣợc áp lực này? Trong các phƣơng tiện truyền thông hiện nay, tivi là một phƣơng tiện phổ biến nhất, Trung Nguyên cũng đầu tƣ mạnh cho các quảng cáo trên phƣơng tiện truyền thông này. Thật vậy, có đến 44.1 % câu trả lời đồng ý rằng biết đến Trung

    32

    Nguyênqua phƣơng tiện truyền thông này. Cũng có 24.8% câu trả lời lại cho rằng biết đến phƣơng tiện truyền thông này qua mạng internet, và 19, 3% qua báo chí. Chính vì vậy, quán điểm chúng tôi sẽ đẩy mạnh về truyền thông qua các trang mạng, báo chí, …để thu hút giới trẻ tới với quán điểm, nhằm giải quyết vấn đề số lƣợng ngƣời mua nhỏ Sử dụng sự khác biệt nhƣ trang trí nội thất ngoài và trong quán điểm, sản phẩm, dịch vụ, … để giữ chân và thu hút thêm khách hàng (số liệu theo bảng 31 phụ lục trang 91).

    Khi ngƣời mua mua một số lƣợng lớn và tập trung, điều này có nghĩa làsự tồn tại và phát triển của ngƣời bán bị chi phối mạnh bởi ngƣời mua do đó dẫn đến tăng sức mạnh đàm phán cho ngƣời mua. Dù có thể quán điểm tập trung vào phục vụ thức uống giải khát cà phê tại quán điểm hay mang về Khi ngƣời mua chiếm một tỷ trọng lớn trong số lƣợng của ngƣời bán, sức đàm phán, trả giá của ngƣời mua sẽ tăng lên rất lớn. Trong trƣờng hợp này sự tồn tại của ngƣời bán hoàn toàn phụ thuộc vào ngƣời mua và vì vậy ngƣời mua có thể thao túng và ép giá ngƣời bán. Điều này sẽ đúng hơn với quán điểm bán sản phẩm cà phê bột rang xay, nhƣng quán điểm của chúng tôi chỉ cung cấp cà phê pha sẵn uống tại quán điểm hoặc cà phê mang đi. Điều này có thể vẫn đúng nếu có những đối tƣợng khách hàng mua một số lƣợng lớn cà phê ví dụ mua cà phê sáng cho nhân viên trong công ty mỗi ngày. Có thể áp dụng những cách sau để giữ chân những khách hàng này: đƣa ra mức chiết hấu thích hợp, làm thẻ hách hàng v dụ tích điểm tƣơng tự nhƣ các siêu thị vẫn làm, nhƣng ở quán điểm của chúng tôi thì điểm sẽ tùy thuộc vào số ly cà phê của quán điểm đƣợc tiêu thụ bởi chủ thẻ, hay dựa trên tổng số tiền chủ thẻ bỏ ra mua cà phê tại quán điểm, dựa trên số điểm tích lũy để tri ân khách hàng, có thƣ cảm ơn hay quà tặng phù hợp, làm cho khách hàng cảm thấy đƣợc sự quan trọng của họ với quán điểm, tạo thiện chí. Không những sẽ giúp duy trì mối quan hệ mà còn có thể mở rộng quan hệ kinh doanh, nếu phục vụ tốt có thể sẽ đƣợc giới thiệu với nhiều những khách hàng có nhu cầu khác. Các sản phẩm không có tính đặc biệt và là sản phẩm cơ bản thì khách hàng dễ dàng có đƣợc sản phẩm từ các nguồn cung ứng khác nhau. Điều này đẩy ngƣời bán vào thế cạnh tranh giành khách hàng, thị trƣờng, dẫn tới những cuộc chiến về giá đ y là một sự thật đối với các mặt hàng nhƣ cà phê.

    33

    Ngƣời mua có đầy đủ thông tin về nhu cầu, giá cả thực tế của thị trƣờng, thậm chí là về giá thành của ngƣời cung ứng, thƣờng đem lại lợi thế cho khách hàng khi mặc cả giá. Với những thông tin đầy đủ khách hàng nhận đƣợc mức giá dễ chịu và phủ nhận sự đe dọa của ngƣời cung ứng về sự tồn tại của họ, ngày này giá các loại thức uống có thể biến động theo phƣơng thức pha chế của quán. Ngƣời tiêu dùng có thể tham hảo và so sánh giá tại các quán điểm khác nhau của Trung Nguyên, tuy nhiên quán điểm của chúng tôi là một dạng quán điểm đi theo hƣớng hoàn toàn mới, hƣớng đến đối tƣợng là giới trẻ, đồng thời qua nghiên cứu hảo sát cũng phân tích đƣợc giá là yếu tố có tầm ảnh hƣởng đến mức độ sử dụng sản phẩm cà phê của giới trẻ. Cụ thể: qua ết quả hảo sát và phân tích thì có đên 46% các bạn đƣợc hỏi có thu nhập trong hoảng 1,5 -3 triệu đồng/tháng, có 34% các bạn có thu nhập <= 1,5 triệu đồng/tháng. Chính vì vậy các bạn thƣờng chỉ uống cà phê 2-4 lần/tháng, và có 51% các bạn đƣợc hảo sát cho rằng mỗi lần đến quán cà phê thì các bạn chỉ chi hoảng 20- 40 ngàn đồng (số liệu phân tích theo bảng 3 phụ lục trang 80). Điều này có thể cho thấy rằng yếu tố về giá thực sự có sức ảnh hƣởng đối với đối tƣợng mà nhóm hảo sát. Dựa trên ết luận này để quán điểm đƣa ra mức giá tùy thuộc vào từng loại thức uống sao cho phù hợp với chuỗi cửa truyền thống của Trung Nguyên, phù hợp với thị trƣờng cụ thể là đối thủ cạnh tranh, làm sao vẫn đảm bảo lợi nhuận cho quán điểm, để đƣợc giới trẻ chấp nhận

    Ngƣời mua có thể ra yêu cầu với công ty hay không tùy thuộc vào quyền lực tƣơng đối của họ với công ty. Theo Porter ngƣời mua có quyền lực nhất trong các trƣờng hợp sau :

    • Khi ngành cung cấp đƣợc tạo bởi nhiều công ty nhỏ và ngƣời mua là một số ít và lớn. Trƣờng hợp này cho phép ngƣời mua lấn át các công ty cung cấp
    • Khi ngƣời mua thực hiện mua sắm khối lƣợng lớn. Trong trƣờng hợp đó ngƣời mua có thể sử dụng quyền lực mua sắm nhƣ một đòn bẩy thƣơng lƣợng để giảm giá Đối với các quán điểm cà phê, các quán điểm nƣớc giải khát lớn, nhà hàng,… Có thể nói họ là những ngƣời mua sắm khối lƣợng lớn của Trung Nguyên nên công ty phải đề ra những chính sách chiết khấu hay đƣa ra mức giá phù hợp mà vẫn đảm bảo thƣơng hiệu của mình trên thị trƣờng Đặc biệt Trung Nguyên phải

    34

    kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các đối tác, đơn vị nhƣợng quyền của mình trong hơn 13 năm qua

    Nhƣ vậy để hạn chế các áp lực từ phía khách hàng, công ty phải xem xét lựa chọn của các nhóm khách hàng nhƣ một quyết định tối quan trọng. Công ty có thể cải thiện vị trí của mình bằng cách chọn lựa những khách hàng có ít quyền lực với họ nhất. Nói cách khác, đó là việc xây dựng chiến lƣợc lựa chọn khách hàng. Riêng với Trung Nguyên hiện tại đang lựa chọn chiến lƣợc đa dạng khách hàng, tức là Trung Nguyên có đủ sản phẩm phục vụ các đối tƣợng khác nhau. Các sản phẩm đa dạng về hƣơng vị, phong cách, hƣớng đến nhiều đối tƣợng, với mức giá đƣợc công khai trong các đơn vị nhƣợng quyền của Trung Nguyên. Không dừng lại ở việc tạo sự khác biệt mà còn phải luôn đảm bảo đƣợc chất lƣợng của sản phẩm, chất lƣợng của các dịch vụ của quán điểm.

    Giới trẻ có số lƣợng lớn nhƣng sức mua t và hông tập trung đối với các thức uống cà phê của Trung Nguyên hiện tại, bài học từ Starbucks:

    Giới trẻ có số lƣợng lớn, đ y là một phần nhỏ lý do để một hãng lớn nhƣ Starbucks chọn Việt Nam làm điểm đến trong chiến lƣợc kinh doanh của mình năm 2013 vừa qua. Vậy tại sao Trung Nguyên không tận dụng điều này hay tận dụng mà chƣa thực sự hiệu quả. Chƣa ể đến việc doanh nghiệp Việt có nhiều lợi thế mà các doanh nghiệp nƣớc ngoài không thể có.

    Theo lời nhận xét của chuyên gia Hoàng Tùng. Theo số liệu của WorldBank, năm 2011, thu nhập bình quân đầu ngƣời của Việt Nam đạt hơn 1,400 USD là quốc gia có thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp nhất trong số những thị trƣờng có sự xuất hiện của Starbucks. Dựa vào thu nhập và mức giá trung bình của Starbucks (80,000VND quy đổi theo giá 1 ly cà phê bán tại Indonesia) thìthu nhập trung bình một ngày của một ngƣời Việt Nam chƣa đủ để mua 1 cốc cà phê. Nhƣng ông lớn này đã định vị thị trƣờng ngƣời trƣởng thành thành thị có thu nhập và đi đến quyết định mở quán điểm đầu tiên ngay quận trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Theo số liệu báo cáo năm 2011 của Cục thống kê TPHCM, thu nhập bình quân đầu ngƣời của thành phố lớn nhất Việt Nam là 3,000 USD/ngƣời Hơn nữa thị trƣờng TPHCM cũng rất tiềm năng với dân số gần 8 triệu ngƣời năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê. Tại nƣớc Mỹ, nghiên cứu của một nhóm

    35

    tại trƣờng kinh doanh Harvard vào năm 2008 cho thấy Starbucks nhắm vào đối tƣợng trong độ tuổi 18 tới 24 (trong bài nghiên cứu này của chúng tôi xem nhóm khách hàng ở độ tuổi này là giới trẻ). Nhóm khách hàng này chiếm tới 61% lƣợng khách của Starbucks. Lý do đầu tiên mà nhóm khách hàng này nêu lên là do giá cả hợp lý. Với Việt Nam cũng nhƣ Indonesia, ông lớn này cho rằng nên quan tâm hơn đến những khách hàng có thu nhập ổn định trên 19 tuổi

    Tháp dân số Việt Nam năm 2011. Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Nhìn vào tháp dân số 2011 ta thấy độ tuổi giới trẻ đang chiếm số đông trong tổng dân số Việt Nam. Thêm vào đó, thu nhập tại thị trƣờng Việt Nam ngày càng tăng, dân số trẻ dễ phù hợp với văn hóa mới cộng với thói quen sử dụng cà phê, đã đang vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Trung Nguyên bởi lẽ nhiều những thƣơng hiệu khác cũng nhận ra điều này và đang tiến cũng có những chiến lƣợc nhất định để tận dụng nó triệt để Dù trƣớc nay Trung Nguyên vẫn đang thực hiện đa dạng khách hàng, nhƣng gần nhƣ Trung Nguyên chƣa thực sự có một nƣớc đi nào dành riêng cho nhóm đối tƣợng hách hàng là giới trẻ Qua bài báo trên chúng ta thấy các hãng cà phê nƣớc ngoài đã đi vào tăm lý giới

    36

    trẻ Việt Nam, mong chiếm lĩnh húc thị trƣờng này, vậy Trung Nguyên tại sao lại phải bỏ qua, sau hi chiếm đƣợc húc thị trƣờng giới trẻ việc x m nhập vào húc thị trƣờng hác của các công ty nƣớc ngoài lại dể dàng hơn và dẩn tới cạnh tranh mạnh hơn với Trung Nguyên, nếu hông xác định lại vấn đề này về l u dai sẽ trở thành vấn đề nản giải của Trung Nguyên.

    • Sự khác biệt về sản phẩm so với đối thủ:

    Sở hữu công thức riêng biệt độc đáo: Nguyên liệu tốt nhất thế giới cộng công nghệ

    hàng đầu thêm bí quyết không thể sao chép và đam mê sống chết với cà phê, mỗi sản phẩm cà phê của Trung Nguyên là sự ết tinh từ đam mê sáng tạo không ngừng của các chuyên gia cà phê. Trung Nguyên đã nghiên cứu và phát triển 34 loại cà phê pha chế có hƣơng vị riêng biệt, tạo ra 9 loại mức độ hƣơng vị khác nhau cho sản phẩm của mình. Với nỗ lực của mình Trung Nguyên đã cho ra đời những sản phẩmcà phê thƣợng hạng nhƣ: cà phê chồn, một loại cà phê đắt nhất thế giới và cũng hiếm nhất thế giới để xuất

    hẩu sang các nƣớc phát triển. Các sản phẩm nhƣ sản phẩm cà phê hòa tan G7 đƣợc đầu tƣ ỹ lƣỡng từ cách đặt tên, bao bì sản phẩm, hệ thống quảng bá, … Với tham vọng chinh phục thị trƣờng 7 nƣớc phát triển. Thể hiện ở 3 dòng sản phẩm:

    • Sản phẩm phổ thông: Nhóm sản phẩm này gồm ba loại: Loại 1: Nâu – Sức sống,

    loại 2: I – Khát vọng, loại 3: S – Chinh phục.

    • Sản phẩm trung cấp: Gồm các sản phẩm: Passiona, Cà Phê Sáng Tạo, Gourmet Blent, House Blend, Cà Phê Chế Phin, Hạt Rang Xay…
    • Sản phẩm cao cấp: Gồm các sản phẩm: Weasel, Diamond Collection (Legendee, Classic Blend)

    Các sản phẩm cà phê hòa tan của Trung Nguyên không chỉ là những sản phẩm có

    giá trị tiêu dùng đơn thuần mà còn là minh chứng thể hiện khát vọng lớn, tƣ duy đột phá, sự sẵn sàng đối đầu và cạnh tranh trực tiếp với các thƣơng hiệu đến từ các công ty đa quốc gia bằng tinh thần sáng tạo của ngƣời Việt. Công nghệ hiện đại và duy nhất chỉ có trong quá trình sản xuất cà phê hòa tan của Trung Nguyên là hả năng chiết xuất độc đáo: chỉ lấy những phần tinh túy nhất chỉ có trong từng hạt cà phê để cho ra đời sản phẩm cà phê hòa tan với hƣơng vị khác biệt, đậm đặc và đầy quyến rũ. Chính những đặc biệt trên

    37

    đã và đang tạo nên sự khác biệt riêng cho cà phê hòa tan mà không một sản phẩm mà cà phê hòa tan nào trên thị trƣờng có đƣợc. Riêng trong dòng sản phẩm G7, khách hàng cũng đã thấy đƣợc sự đa dạng sản phẩm cà phê của Trung Nguyên.

    Đối với một quán điểm của Trung Nguyên hƣớng đến ngƣời tiêu dùng giới trẻ, sản phẩm phải khác những của hàng bình thƣờng khác: hƣơng vị sản phẩm đa dạng nhƣ tên của nó, có hòa tan, có rang xay, phù hợp với cả nam và nữ. Chất lƣợng sản phẩm phải đảm bảo, tránh để ảnh hƣởng đến uy tín của các quán điểm khác của công ty. Dựa trên những nền tảng về sự khác biệt sản phẩm mà Trung Nguyên đang có để tạo nên uy tín và sự ƣa thích trong khách hàng. Đối với giới trẻ mà nói, sự đa dạng trong hƣơng vị, sự mới mẻ, độc đáo có lẽ sẽ thu hút đƣợc tính tò mò, ƣa khám phá của họ. Chính vì vậy, sự đa dạng trong hệ thống sản phẩm cuả Trung Nguyên sẽ là nền tảng để quán điểm chúng tôi phát triển danh mục sản phẩm cho phù hợp. Đi kèm với những ly cà phê của quán điểm chúng tôi sẽ có thêm những món ăn đi kèm nhƣ bánh bích quy, bánh brioches (bánh ngọt nhiều bơ và trứng), hay bánh sừng bò (croissant),… có thể những điểm nhỏ này sẽ là điểm cuốn hút với giới trẻ nhƣ một sự khác biệt Dù cho có bất cứ sự khác biệt nào thì quán điểm chúng tôi sẽ luôn đảm bảo về chất lƣợng sản phẩm thức uống cho khách hàng cũng nhƣ đảm bảo làm tốt nhất có thể dịch vụ quán điểm.

    2.5.4.  Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành.

    Nescafe của Nestle là nhãn hiệu cà phê hòa tan hàng đầu trên thế giới xuất hiện trên thị trƣờng từ nhữung năm 1866 tại thụy sỹ. Bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam năm 1990, mỗi năm đơn vị này tại VN thu mua khoảng 50.000 tấn cà phê có chứng nhận bền vững tại Việt Nam. 70% sản phẩm của nhà máy mới sẽ phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, 30% còn lại xuất khẩu sang các nƣớc ASEAN và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng. Nestlé hiện chiếm hơn 45 thị phần cà phê hòa tan tại Việt Nam, có tiềm lực tài chính dồi dào, hoạt động tiếp thị mạnh mẽ vì vậy đã trở nên quen thuộc với hầu hết mọi ngƣời. Hiện tại, Nescafe có một nhà máy sản xuất hòa tan với công suất 1,000 tấn/năm cho phép công ty có khả năng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. (số liệu theo báo cáo tài chính Neslte 2012).

    38

    Vinacafe của công ty Cổ Phần cà phê Biên Hòa bắt đầu đi vào sản xuất từ năm 1979 và hiện tại là hãng cà phê chiếm thị phần cao tại Việt Nam. Đến năm 2013 đã đƣợc công nhận vào top 50 công ty kinh doanh hiệu quả nhất Việt Nam, và là một thƣơng hiệu mạnh của Việt Nam. Với nhà máy sản xuất cà phê hòa tan với công suất 3,000 tấn/năm Vinacafe đã trở thành doanh nghiệp lớn nhất về năng lực sản xuất và dẫn đầu về công nghệ sản xuất cà phê hòa tan.

    (Nguồn: Báo cáo tài chính của Vinacafe Biên Hòa)

    Vinamikcà phê của công ty Cổ Phần sữa Vinamik Việt Nam, hiện tại, Vinamik có một nhà máy với tổng vốn đầu tƣ gần 20 triệu USD, trên diện tích khuôn viên với 60,000 m2 tại Bình Dƣơng. Nhà máy có công suất 1.500 tấn/năm, đƣợc trang bị một dây chuyền sản xuất cà phê cực kì hiện đại ở mọi công đoạn. Mặc dù trƣớc đ y, ngƣời ta chỉ biết đến Vinamik là một công ty chuyên sản xuất sữa, nhƣng với tham vọng đa dạng hóa sản phẩm, Vinamik đã nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm cà phê hòa tan lần đầu tiên xuất hiện trên thị trƣờng vào tháng 7/2006. Với bí quyết riêng giúp giữ nguyên hƣơng vị đậm đà nhƣ cà phê truyền thống Việt Nam. Đồng thời Vinamik cà phê đã có một hệ thống

    39

    phân phối rộng hắp do sản phẩm sữa Vinamik đã xây dựng đƣợc trên thị trƣờng Việt Nam. Tuy ra đời sau Nescafe, Vinacafe và Trung Nguyên nhƣng với những nỗ lực không ngừng của mình thì trong thời gian không xa Vinamik có thể tìm ra chỗ đứng của mình trên thị trƣờng này.

    Nhìn chung tình hình các doanh nghiệp cà phê trong nƣớc: Sau giai đoạn tăng trƣởng nóng với hàng loạt thƣơng hiệu tham gia, thị trƣờng cà phê hòa tan Việt Nam đang dần gói gọn lại trong tay 3 ông lớn: Vinacafe Biên Hòa – Nestle – Trung Nguyên.

    Dẫn chứng về sự vƣợt bậc của Trung Nguyên đƣợc thể hiện qua việc Nescafe có những phản ứng rõ rệt trƣớc sự chuyển biến của Trung Nguyên. Với tâm lý của ẻ mạnh, đi trƣớc, sau khi chính thức vào thị trƣờng Việt Nam, thƣơng hiệu Nescafe đã nhanh chóng đánh bại vị trí độc tôn của Vinacafe để dẫn đầu. Với hẩu hiệu toàn cầu “Khởi đầu ngày mới”truyền thông rầm rộ, Nescafe đƣợc xem là ngƣời dẫn dắt, đem “hƣơng vị cà phê toàn cầu”giới thiệu rộng rãi cho ngƣời tiêu dùng Việt. Thế nhƣng, sự thay đổi cục diện thị trƣờng ngành cà phê Việt Nam đã phá vỡ giấc mơ nhanh chóng thôn tính thị trƣờng của những tập đoàn đa quốc gia. Ngay sau thời điểm thƣơng hiệu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên ra đời với lời kêu gọi ủng hộ thƣơng hiệu nông sản Việt Nam, Nescafe buộc thay đổi slogan của mình, từ “Khởi đầu ngày mới”qua “100 cà phê Việt Nam”với chiến dịch truyền thông “Hƣơng vị Việt Nam hơn”. Đặc biệt, với phƣơng pháp “thử mù”(blind test) trong ngày đƣa ra nhãn hiệu G7 tại Dinh Thống Nhất (TP.HCM) cho

    ết quả 89% ngƣời tiêu dùng chọn G7 và 11% còn lại chọn Nescafe, đã hẳng định chất lƣợng của sản phẩm cà phê 100% Việt Nam đ ch thực. Việc Nescafe cho ra đời Nescafe Việt chỉ dành riêng cho thị trƣờng Việt Nam là sự iện chƣa từng có trong lịch sử phát triển của Nescafe . Đây là lần đầu tiên Nescafe phải tạo ra một sản phẩm riêng biệt để đáp ứng ngƣời tiêu dùng, cạnh tranh cùng thƣơng hiệu địa phƣơng. Điều này phần nào chứng tỏ sức ảnh hƣởng của Trung Nguyên lên 2 ông lớn trong làng cà phê việt này. Tuy hệ thống phân phối của Trung Nguyên không có gì đặc biệt khi vẫn sử dụng mạng lƣới phân phối truyền thống, và mức chiết hấu cao hay thấp phụ thuộc vào doanh số của các đại lý nhƣng cho đến nay về riêng cà phê hòa tan, ngay cả doanh nghiệp sừng sỏ nhất trong

    40

    ngành cà phê hòa tan là Nestlé cũng phải nhƣờng vị trí dẫn đầu thị trƣờng cà phê hòa tan tại Việt Nam cho Trung Nguyên và bị Việt hóa.

    Một số doanh nghiệp cà phê nổi tiếng khác: Highlands Coffee, Gloria Jean’s, hay The Coffee Bean, Starbucks, …. Kết quả một nghiên cứu thị trƣờng hảo sát ngƣời uống cà phê tại Việt Nam gần đ y về liên tƣởng hình ảnh thƣơng hiệu, Highland đƣợc xem là thƣơng hiệu cà phê năng động cho doanh nhân (100% ngƣời đƣợc hỏi), Coffee Bean có liên tƣởng là cà phê sang trọng dành cho giới trí thức (gần 90% ngƣời đƣợc hỏi). Trong khi đó Trung Nguyên tuy đã có những bƣớc đi đáng ghi nhận nhƣng vẫn phải tiếp tục đối mặt với một ông lớn cà phê của thế giới là Starbucks, lại cũng phải giải quyết những rắc rối xung quanh việc nhƣợng quyền, vấn đề chất lƣợng và định hình rõ đối tƣợng khách hàng. Về phần Highlands Coffee, năm 2011, Highlands Coffee bán lại 49% bộ phận kinh doanh ở Việt Nam cho Jollibee. Jollibee với kinh nghiệm và sức mạnh tài chính của một đại gia đồ ăn nhanh hàng đầu châu Á, từng đánh bại thƣơng hiệu lớn KFC tại sân nhà hoàn toàn đủ sức đối đầu các doanh nghiệp khác nhƣ Starbucks hay Trung Nguyên. Nhắc đến Gloria Jean’s là ta nhắc đến một phong cách cà phê rất “Úc”tại Hồ Chí Minh. Gloria Jean’s hiện đang hoạt động ở 25 nƣớc, với hơn 723 quán cà phê và phục vụ hơn 8.5 triệu khách mỗi ngày. Dù cho đế Việt Namtừ năm 2007, hãng cà phê này đã gặp nhiều bất cập nhƣng sƣ tồn tại và phát triển cho đến ngày nay của thƣơng hiệu này thật đáng để học hỏi. Coffee bean lại có một hƣớng đi riêng cho mình, họ không có những phản ứng mạnh mẽ nhƣ Trung Nguyên hay các thƣơng hiệu khác khi Starbucks bƣớc vào Việt Nam. Bởi họ luôn tự tin rằng thƣơng hiệu của mình đã thực sự quen thuộc đối với ngƣời dân Thành phố Hồ Chí Minh. Thƣơng hiệu cà phê này luôn có những chƣơng trình chăm sóc khách hàng đặc biệt. Để mang đến một hình ảnh thuần việt hơn trong mắt khách hàng dùng cà phê, Coffee bean đã thay đổi trang phục đồng bộ cho toàn bộ nhân viên, menu mới, mức giá hợp lý hơn. Điều đặc biệt của coffee bean là menu của học có phần đa dạng hơn vì có nhiều món ăn, chứ không chỉ dừng lại ở thức uống nhƣ cà phê. Điều này đem lại nhiều thích thú cho khách hàng. Về phần Starbucks, trƣớc khi vào Việt Nam thì ông lớn này đã là nguồn cảm hứng cho biết bao bài báo, bao nhiêu ông chủ cà phê khác, điều này cũng cho thấy sức ảnh hƣởng của thƣơng hiệu cà phê đƣợc đánh giá số 1 thế giới này. Bắt đầu

    41

    vào Việt Nam từ tháng 2/2013 với của hàng đầu tiên của mình, và doanh thu quán điểm này đã vƣợt chỉ tiêu (theo nhận định của đại diện Starbucks tại Việt Nam). Tuy đến quán điểm thứ 2 số lƣợng khách hàng không đạt nhƣ ý muốn nhƣng chính điều này đã thức tỉnh Starbucks để có những bƣớc đi chậm mà chắc sau này. Ngoài 4 ông lớn trên thì còn rất nhiều những thƣơng hiệu khác cũng đang không ngừng nỗ lực để lôi kéo khách hàng ủng hộ mình, tất cả họ đều là những đối thủ không đƣợc xem nhẹ của Trung Nguyên.

    Định luật cạnh tranh để tồn tại luôn đúng    ể cả trong bối cảnh ngày nay, đặc biệt

    trong kinh doanh quán điểm cà phê. Những quán điểm cà phê yếu kém về chất lƣợng, dịch vụ, thiếu các hoạt động huyến mãi đối với khách hàng sẽ mất lợi thế. Những quán điểm đắt đỏ về giá cả sẽ cũng nhƣ những quán điểm không biết tự đi tim khách hàng mà cứ chờ khách hàng tìm đến cũng sẽ mất lợi thế. Ngoài những tên tuổi lớn là đối thủ đối với Trung Nguyên, nhƣng với một quán điểm nhỏ thì đối thủ của họ còn rộng hơn hết, bao gồm cả các quán điểm cà phê lề đƣờng, trong hẻm. Có thể bạn nghĩ rằng thị trƣờng đã bão hòa nhƣng không, bạn có thể tìm một hoảng trống nhỏ trong phân khúc thị

    trƣờng hiện tại và lấp đầy chúng. Cũng không hẳn tìm cách để quá đặc biệt, khác lạ, nó sẽ lạ nhƣng nhanh chán. Quan trọng nhất là phải chú trọng chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, sau đó mới dồn hết lực cho sáng tạo mà khác biệt Luôn nắm bắt ịp thời đƣợc xu hƣớng thay đổi để có những chiến thuật trong kinh doanh phù hợp. Ví dụ lấy thông tin khách hàng để sau này đến ngày sinh nhật của họ có thể gửi tặng một món quà nhỏ xinh, đó cũng là một cách để cạnh tranh với các đối thủ

    2.5.5.  Sản phẩm thay thế

    Theo kinh tế học, Hàng hóa thay thế (hay còn gọi là sản phẩm thay thế) là hàng hóa có thể thay thế các loại hàng hóa khác tƣơng đƣơng về công dụng (hoặc tiêu thụ) khi có các điều iện thay đổi Hàng hóa thay thế có thể có chất lƣợng tốt hơn hoặc thấp hơn mặt hàng nó thay thế và đa số có mức giá rẻ hơn Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế gần gũi biểu hiện một sự đe dọa cạnh tranh, làm giới hạn hả năng đặt giá cao và do đó giới hạn hả năng sinh lợi của nó. Tuy nhiên, nếu sản phẩm của công ty có ít sản phẩm thay thế gần gũi, và các yếu tố khác là bình thƣờng, công ty sẽ có cơ hội tăng giá và nhận đƣợc lợi nhuận tăng thêm. Kết quả là, chiến lƣợc của nó sẽ đƣợc thiết ế để giành lợi thế

    42

    cạnh tranh từ thực tế này. Cà phê là một thức uống đặc biệt, giúp tìm nguồn cảm hứng, tỉnh táo trong công việc, tuy nhiên ngày này uống cà phê dần trở thành giải khát và là thói quen, chúng ta có thể dựa vào điểm này để khai thác triệt để nhu cầu sử dụng của giới trẻ, hạn chế việc sử dụng các loại thức uống hác để th y thế

    2.6.     Phân tích nguồn lực của Trung Nguyên trong việc xây dựng quán điểm mới

    2.6.1.  Thế mạnh tài chính của công ty

    Vì việc lấy số liệu báo cáo tài chính của công ty gặp nhiều khó khăn và mục đ ch nghiên cứu đƣa ra một ý tƣởng về mô hình cà phê dành cho giới trẻ của Trung Nguyên không đi sâu vào việc lên ế hoạch tài chính chi tiết cho dự án mới này, nên chúng tôi không đi sâu vào phân tích tài chính về mặt số liệu trên báo cáo tài chính của công ty mà phân tích thông qua các dữ liệu thứ cấp thu thập đƣợc, các nhận định, đánh giá của chuyên gia và một số trang xã hội nổi tiếng khác, lấy đó làm cơ sở dự toán tài chính sơ lƣợc đƣa ra các quyết định cho việc xây dựng quán cà phê của công ty và phục vụ cho việc nghiên cứu.

    Trung Nguyênkhông chỉ chinh phục trên thị trƣờng cà phê phin Việt Namnhiều năm qua mà cònđáp ứng những khách hàng yêu thích cà phê hòa tan bằng nhiều sản phẩm, thành công nhất phải kể đến là dòng sản phẩm cà phê hòa ta G7. Trung Nguyên đã phải đầu tƣ cho một dây chuyền sản xuất cà phê hoà tan lên tới 10 triệu USD, công suất 200 tấn/năm Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, tổng giám đốc công ty Trung Nguyên cho biết: “công ty phải dồn tổng lực cho cuộc cạnh tranh, nhờ đó G7 đã chiếm một thị phần nội địa đáng ể về cà phê hòa tan. Nhƣng lớn hơn cái lợi kinh tế vì cà phê hòa tanTrung Nguyên chủ yếu xuất khẩu và qua đó G7 đã góp phần đáng ể vào phong trào ngƣời Việt dùng hàng Việt, nâng cao ý thức doanh nghiệp trẻ dám đƣơng đầu với các tập đoàn quốc tế ngay trên s n nhà”. Về nhãn hiệu cà phê, các hộ đƣợc điều tra tại Hà Nội và TP HCM đã cho biết về các nhãn hiệu cà phê chủ yếu mà họ mua bao gồm: Trung Nguyên, Highlands, Vinacafe, Nescafe, Nestle và các nhãn hiệu khác. Trong đó, cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên đƣợc tiêu dùng nhiều nhất, chiếm khoảng 45% ở Hà Nội và khoảng 59% ở TP Hồ Chí Minh. Theo điều tra của Công ty cà phê Trung Nguyên đối với 2,000 khách hàng trong và ngoài quán cà phê thì trong số các loại đồ uống, cà phê đóng vai trò há quan trọng. Họ uống 7 lần/tuần.

    43

    Trong số các loại nƣớc uống tại quán, có tới 43% số hách đƣợc hỏi tới quán để uống cà phê.

    50

    45

    40

    35

    30

    25

    20

    15

    10

    5

    0

     Nha   Quan   Nha/Quan

    Nguồn: Công ty cà phê Trung Nguyên (2003)

    Về các loại cà phê đƣợc bán tại quán, trong 2004 hách hàng đƣợc hỏi thì có 71 thƣơng hiệu đƣợc nhắc đến đầu tiên. Trong đó thƣơng hiệu đƣợc khách hàng nhắc đến nhiều nhất, lặp lại nhiều nhất đứng đầu là cà phê Trung Nguyên (chiếm 80%), đứng thứ nhì là Nescafe chiếm 6%, đứng thứ ba là Vinacafe chiếm 2%. Những thƣơng hiệu cà phê vừa đƣợc nói ở trên là những thƣơng hiệu đƣợc biết đến hầu hết trên toàn quốc, do đó có số lƣợng khách hàng biết đến nhiều.

    44

    90

    80

    70

    60

    50

    40

    30

    20

    10

    0

    T.Nguyen Vina Nes Cafe BMT   Mehyco Me Trang
                   
      TPHCM Ha Noi Da NangCan Tho        
             
             
                   

    Nguồn: Công ty cà phê Trung Nguyên (2003)

    Tập đoàn Cà phê Trung Nguyên ngày càng lớn mạnh vƣợt bậc, đang dẫn đầu thị trƣờng cà phê hòa tan nội địa, với 40% thị phần cho mặt hàng G7, đứng trƣớc cả 2 thƣơng hiệu có vốn ngoại là Nescafe (31%) và Vinacafe (26%), theo đánh giá công bố quý I/2012 bởi 2 công ty nghiên cứu thị trƣờng hàng đầu thế giới là Kantar Worldpanel và Nielsen Việt Nam. Vài con số nói lên lợi ích đáng ể từ nghề chế biến cà phê bột, cà phê hòa tan mà doanh nghiệp này đã đóng góp cho xã hội, nhƣ sau: Năm 2011, thu mua

    trên 100 nghìn tấn cà phê nhân, chế biến tiêu thụ nội địa 78%, xuất hẩu 22%, trả lƣơng cho 2,647 nhân viên, đóng thuế các loại trên 163 tỉ đồng

    Trong thời gian từ 12 – 19/12, một đoàn doanh nghiệp Singapore, trong đó có các nhà quản lý quỹ đầu tƣ quốc tế do Công ty VGG giới thiệu, đã đến TPHCM tìm hiểu năng lực một số doanh nghiệp Việt Nam nhằm chuẩn bị lộ trình đƣa lên sàn giao dịch chứng khoán tại Singapore. Đó là thông tin ông Đặng Lê Nguyên Vũ – Tổng giám đốc Công ty cà phê Trung Nguyên vừa cho báo chí biết. Đoàn doanh nghiệp Singapore đã làm việc với Hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam tại TPHCM, để xây dựng những chƣơng trình hành động cụ thể hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hả năng cạnh tranh sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng nhƣ hả năng tiếp cận các nguồn vốn từ các quỹ đầu tƣ quốc tế và niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán. Công ty cổ phần

    45

    Trung Nguyên nằm trong số các doanh nghiệp này. Trung Nguyêncó 2 nhà máy, nhà máy Bình Dƣơng: khu công nghiệp Tân Đồng Hiệp A- Huyện Dĩ An-Bình Dƣơng với diện tích 30, 000 m2. Đây là nhà máy sản xuất cà phê nhãn hiệu G7 với công suất 3, 000 tấn/năm. Nhà máy Buôn Ma Thuột: Khu tiểu thủ công nghiệp Tân An, Phƣờng Tân An, Tp.Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc với diện tích 50,000 m2. Đây là nhà máy chế biến cà phê rang xay có công suất 10,000 tấn/năm Với mức đầu tƣ trên 40 triệu USD.Hiện Trung Nguyên có hoảng 3,000 nhân viên, doanh thu năm 2012 đạt 200 triệu USD, tăng 32% so với năm 2011. Dự iến doanh thu năm 2013 sẽ tăng gấp đôi do nhu cầu cà phê đóng gói

    • các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, … tăng mạnh. Trung Nguyên đặt ra

    mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ USD vào năm 2016. Từ những điều trên ta có thể thấy rằng tiềm lực tài chính của công ty Trung Nguyên hiện nay rất mạnh, có hả năng đầu tƣ cao vào các quán điểm. Theo một thông tin mà chúng tôi tìm đƣợc nhƣ là một ví dụ cho thấy đầu tƣ quán điểm của Trung Nguyêngiai đoạn 2005-2008.

    Nguồn vốn đầu tƣ vào hệ thống quán điểm tại công ty CP cà phê Trung Nguyên

    STT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
          7, 8,    
    1 Tổng vốn đầu tƣ Triệu đồng 834.09 570.67 18, 724.36 79, 667.23
    2 Tốc độ tăng liên hoàn %   9.4 118.47 325.47
          5, 6,    
    3 Vốn tự có Triệu đồng 569.15 362.34 12, 365.19 62, 356.65
    4 Tốc độ tăng liên hoàn %   14.24 94.35 404.29
    5 Vốn vay Triệu đồng   500 3, 200 10, 000
    6 Tốc độ tăng liên hoàn %     540 212.5
          2, 1,    
    7 Vốn huy động thêm Triệu đồng 264.94 176.02 1, 549.26 4, 762.43
    8 Tốc độ tăng liên hoàn %   -48.08 31.74 207.4
    9 Nguồn vốn  hác Triệu đồng   532.31 1, 627.91 2, 548.15
    10 Tốc độ tăng liên hoàn %     205.82 56.53

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Tổng số vốn của công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên vào hệ thống quán điểm trong những năm qua liên tục tăng và tăng với tốc độ nhanh và cao nếu nhƣ năm 2006 chỉ tăng 9.4% thì đến năm 2008 tốc độ tăng là 325.47%. Trong năm 2005 công ty bắt đầu xây

    46

    dựng quán điểm Trung Nguyên đầu tiên của mình do vậy mà lƣợng vốn đầu tƣ năm này ít nhƣng đến năm 2008, nhận thấy tiềm năng phát triển cũng nhƣ nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc tăng do sự biến động không ngừng của thị trƣòng công ty đã tăng lƣợng vốn đầu tƣ của mình để phát triển thƣơng hiệu cũng nhƣ sản phẩm của mình tại các hệ thống quán và hiện nay hệ thống hơn 1,000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc. Nguồn huy động vốn tại công ty cũng liên tục tăng và tăng với tốc độ nhanh và lớn nhƣ tốc độ tăng lƣợng vốn đầu tƣ. Ví dụ nhƣ nguồn vốn tự có của công ty năm 2006 tốc độ tăng nguồn vốn này là 14.24%, năm 2007 là 94.35%, nhƣng đến năm 2008 tốc độ tăng của nguồn vốn này là 404.29%. Cũng nhƣ nguồn vốn vay tín dụng nếu xét lƣợng tăng tuyệt đối từ nó vẫn tăng so với năm trƣớc, năm 2007 là 3, 200 triệu đồng đến năm 2008 là 10,000 triệu đồng. Bên cạnh đó nguồn vốn huy động thêm cũng tăng nhƣng năm 2006 nó lại giảm so với năm 2005 đó là vì bắt đầu từ năm 2006 công ty có thêm hai nguồn huy động vốn mới là vốn vay tín dụng và nguồn vốn khác để nhằm phân tán rủi ro cho nguồn vốn của mình và mặt khác giúp công ty có nhiều sự lựa chọn trong việc huy động vốn.

    Vậy với việc xây dựng quán cà phê mới dành cho giới trẻ Trung Nguyên cần xem xét, tính toán phù hợp trong nguồn vốn đầu tƣ vào quán điểm này. Hệ thống quán điểm cần xây dựng trong ế hoạch của mình, với nguồn lực tài chính mạnh mẽ của Trung Nguyên việc này là có thể trong hả năng của họ. Ngoài chi phí nhƣ những quán điểm trƣớc đ y, có thể giai đoạn đầu loại hình quán điểm này sẽ đẩy chi phí cao hơn do có sự khác biệt và mới mẻ trong thị hiếu của khác hàng mới. Nếu Trung Nguyên nhận ra hả năng sinh lợi mạnh mẽ và hấp dẫn của thị trƣờng này, có cách quan tâm khai thác hợp lý nguồn vốn bỏ ra thì có thể sẽ mang về nhiều hơn những gì mà họ dự đoán

    Để làm đƣợc công việc trên chúng ta hãy xem xét Trung Nguyên đã tiếp cận, huy động các nguồn vốn để xây xựng các quán điểm trƣớc đ y nhƣ thế nào? Hàng năm Trung Nguyên đã có những phƣơng án huy động vốn hả thi để đáp ứng nhu cầu đầu tƣ của công ty. Nguồn huy động vốn của công ty chủ yếu từ vốn tự có, vốn vay, vốn huy động thêm và nguồn vốn khác. Cơ cấu các nguồn vốn từ 2005-2008 đƣợc thể hiện theo bảng sau:

    47

    Cơ cấu vốn đầu tƣ theo nguồn hình thành vốn

    STT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ % 100 100 100 100
    2 Vốn tự có % 71.09 74.23 66.04 78.27
    3 Vốn vay % 0 5.83 17.09 12.55
    4 Vốn huy động thêm % 28.91 13.72 8.27 5.98
    5 Nguồn vốn  hác % 0 6.21 8.69 3.2

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Nguồn vốn tự có: Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên sử dụng một tỷ trọng lớn vốn tự có của mình vào đầu tƣ phát triển hệ thống quán điểm. Nguồn vốn tự có của công ty thƣờng xuyên chiếm trên 70 % cơ cấu vốn Phần lớn nguồn vốn này để đầu tƣ vào các dự án, điều này cho thấy hả năng tự chủ về tài chính, hả năng đứng vững trên thị trƣòng và hả năng thực hiện các phƣơng án đầu tƣ hiệu quả mà không quá phụ thuộc vào thị trƣờng bên ngoài. Nguồn vốn tự có bao gồm vốn điều lệ và trích từ lợi nhuận giữ lại qua các năm tại các hệ thống quán đã hoạt động của công ty. Nguồn vốn vay tín dụng là nguồn vốn không thể thiếu để vận hành hoạt động kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào hiện nay. Nó có thể đáp ứng vốn trong ngắn hạn và dài hạn, có thể huy động đƣợc một lƣợng vốn lớn, tức thời. Trong năm 2005 công ty không sử dụng nguồn vốn này, nhƣng từ năm 2006 công ty đã huy động và sử dụng khá hiệu quả. Để làm đƣợc điều này cần phải chú ý đến cơ cấu vốn của công ty để đảm bảo sử dụng hợp lý, đúng mục đ ch, quản lý tốt dòng tiền bởi nó nhƣ con dao 2 lƣỡi. Một mặt có thể mang lại cho doanh nghiệp những hoản tiết iệm thuế do lãi vay đƣợc tính làm chi phí trả trƣớc khi tính lợi nhuận trƣớc thuế, mặt khác sử dụng nguồn vốn này cũng gây áp lực trả nợ cho công ty thậm chí làm mất hả năng thanh toán. Trong thời gian qua tỷ trọng vốn vay công ty có xu hƣớng giảm cụ thể năm 2008 giảm xuống còn 12.55%. Hiện nay tình hình tài chính biến động khá phức tạp, lãi suất tại các ngân hàng thay đổi liên tục lúc tăng, lúc giảm nên công ty đã hạn chế dùng nguồn vốn này để đầu tƣ. Nguồn vốn huy động thêm từ các thành viên: trên cơ sở tiềm lực tài chính cá nhân, các thành viên huy động vốn theo tiến độ thực hiện dự án. Đây là một lựa chọn huy động vốn khá mới mẻ của công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên. Nguồn vốn này thƣờng đƣợc huy động vào các năm mà dự án mới

    48

    đƣợc thực hiện Lúc này, nhu cầu về vốn của công ty thƣờng tăng cao, nguồn vốn tự có không đáp ứng ịp nhu cầu, trong khi vay tín dụng cho dự án chƣa biết ết quả ra sao gây

    ra rủi ro cao cho công ty. Việc huy động vốn từ các thành viên là một lựa chọn hữu hiệu để bù đắp lƣợng vốn thiếu hụt của công ty trong năm và tạo ra sự liên ết giữa công ty với các thành viên. Nguồn vốn khác: Đ y là nguồn vốn đƣợc trích từ nguồn vốn bổ sung của công ty. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn đầu tƣ vào hệ thống quán điểm của công ty nhƣng nó có những đóng góp nhất định trong việc huy động vốn cho nhu cầu đầu tƣ hàng năm

    Qua đ y ta thấy công ty có nhiều nguồn vốn và đƣợc huy động bằng các hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn trong xây dựng quán điểm. Với nguồn lực vững mạnh của mình, công ty sử dụng nguồn vốn tự có tăng tính ổn định và hả năng chống chịu các tác động bên ngoài. Đứng trƣớc một dự án mới công ty cần xem xét với tình hình kinh tế hiện nay, công ty có nên sử dụng quá nhiều vốn tự có của mình cho việc mở loại hình quán mới này hay không hay đƣa ra cấu trúc vốn mới hơn, phù hợp hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn trong việc chi ra hoảng đầu tƣ cao vào thị trƣờng chƣa hết chỗ này. Vậy để có vốn xây dựng quán điểm mới này Trung Nguyên nên xem xét có cần thêm hình thức thu hút vốn đầu tƣ khác hay không bởi sự hấp dẫn của loại hình quán mới đối với những khách hàng tiềm năng này có thể là lợi thế thu hút vốn đầu tƣ, vì vậy có thể tăng tính năng động của nguồn vốn cả đầu vào và đầu ra, đồng thời chia sẽ rủi ro đầu tƣ giúp tình hình tài chính linh động hơn trong nhiều trƣờng hợp khó hăn

    2.6.2.  Nhu cầu nhân lực phục vụ cho thị trƣờng mới

    Hiện nay, tập đoàn Trung Nguyên có hoảng 3, 000 nhân viên làm việc cho công ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần thƣơng mại và dịch vụ G7 tại 3 văn phòng, 2 nhà máy và 5 chi nhánh trên toàn quốc cùng với công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) hoạt động tại Singapore. Ngoài ra, Trung Nguyên còn gián tiếp tạo công ăn việc làm cho hơn 15,000 lao động qua hệ thống 1,000 quán cà phê nhƣợng quyền trên cả nƣớc. Đội ngũ quản lý của tập đoàn Trung Nguyên hầu hết là những ngƣời trẻ, đƣợc đào tạo bài bản, cùng với các chuyên gia tƣ vấn có kinh nghiệm làm việc trong các tập đoàn nƣớc ngoài Với chiến lƣợc trở thành một tập đoàn kinh tế bao gồm 10 công ty thành

    49

    viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực: trồng, chế biến, xuất hẩu, chăn nuôi, truyền thông, bất động sản, … tập đoàn Trung Nguyên luôn cần bổ sung một đội ngũ nhân lực trẻ, năng động, tâm huyết và sáng tạo, sẵn sàng xây dựng Trung Nguyên thành một tập đoàn kinh tế hùng mạnh của Việt Nam. Đội ngũ nhân viên của tập đoàn Trung Nguyên luôn đƣợc tạo những điều iện làm việc tốt nhất để có thể học hỏi, phát huy hả năng và cống hiến với tinh thần “cam ết – trách nhiệm – danh dự”

    Trong mỗi hệ thống quán của Trung Nguyên nhân lực sẽ có sự thay đổi về nhân viênphục vụ tuỳ thuộc vào diện tích mỗi quán mở ra thì tổng số lƣợng sẽ thay đổi, nhƣng nhìn chung cơ cấu nhân sự mỗi quán đều phải theo một mực chuẩn nhƣ vậy. Với phƣơng châm tạo ra nhiều công ăn việc làm phát triển nghề nghiệp cho mọi ngƣời. Trung Nguyên đang ngày càng hẳng định rõ hơn vai trò của mình trong việc tạo công ăn việc làm cho rất nhiều đối tƣợng trong xã hội, từ những sinh viên mới ra trƣờng cấp bậc đại học, cao đẳng, trung cấp lẫn những nhân viên muốn tìm iếm một mục tiêu và thử thách mới hay

    cả những ngƣời chỉ mơi tốt nghiệp cấp 3 cũng có thể tìm một chỗ làm phù hợp với trìnhđộ của mình tại mỗi quán mà Trung Nguyên mở ra. Hoạt động đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên mang nhiều nội dung khác nhau, nhƣng nội dung chủ yếu mà công ty hƣớng tới là: đầu tƣ cho đào tạo nguồn nhân lực, đầu tƣ cho công tác tuyển dụng, đầu tƣ cho việc đảm bảo các phúc lợi cho ngƣời lao động và nâng cao đời sống của nhân viên. Trong giai đoạn 2005-2008 quy mô vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty ngày càng gia tăng, đó là do sự mở rộng quy mô hệ thống quán của năm sau so với năm trƣớc, cùng với sự gia tăng diện tích hệ thống quán làm cho số lƣợng nhân viên phục vụ tăng lên do vậy chi phí bình quân cho phát triển nguồn nhân lực sẽ tăng qua các năm, thể hiện qua bảng số liệu sau:

    Vốn đầu tƣ phát triển nguồn nh n lực giai đoạn 2005-2008

    STTT NĂM/CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ Triệu đồng 7, 834.1 8,570.7 18, 724/36 79, 667
    2 VĐT phát triển NNL Triệu đồng 325.24 365.58 784.65 3406.5
    3 Lƣợng tăng tuyệt đối Triệu đồng   40.34 419.07 2621.8
    4 Tốc độ tăng định gốc %   12.4 141.25 947.38
                50          
      5   Tốc độ tăng liên hoàn   %     12.4   114.63  
                334.14
      6   Tỷ trọng so với VĐT   %   4.15 4.27   4.19 4.28

    Nguồn: Phòng nhân sự công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Qua bảng thống kê về vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2005-2008. Số liệu do phòng nhân sự công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên cung cấp thì lƣợng vốn đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực, tại Trung Nguyên ngày càng tăng và tăng với tốc độ nhanh chóng. Tổng vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty giai đoạn 2005-2008 là 4,881.96 triệu đồng, trong đó nhìn chung quy mô của năm sau cao hơn năm trƣớc từ 325.24 triệu đồng năm 2005 đến 3,406.49 triệu đồng năm 2008, có sự gia tăng lớn về lƣợng vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của công ty cho hệ thống quán nhƣ trên đó là do năm 2008 công ty mở hàng loạt các quán từ số lƣợng chỉ có một quán năm 2005 thì năm 2008 con số này đã lên tới 8 quán mở thêm mới Do đặc thù của loại hình kinh doanh này đó là bán sản phẩm trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng, tiếp xúc trực tiếp với tất cả ngƣời tiêu dùng từ khó tính đến uống cà phê chỉ đam mê nên công tác nhân viên phục vụ cho hệ thống quán luôn đƣợc công ty chú trọng bởi nó ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích hình ảnh công ty cũng nhƣ có còn thu thú khách hàng đến với quán nữa không một phần nhỏ không thể không quan tâm đó chính là các nhân viên chuyên nghiệp, đáp ứng và giải đáp nhu cầu của khách hàng một cách khéo léo. Bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đƣợc thì yếu tố con ngƣời phải đƣợc coi trọng và nguồn nhân lực của công ty là yếu tố sống còn để công ty có thể phát triển đƣợc hay không. Ngƣời lao động luôn là tài sản quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp để có thể duy trì và phát triển đƣợc bộ máy hoạt động của các quán điểm không phải là một vấn đề đơn giản, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động nhiệt tình với công việc. Nhận thức đƣợc rõ đƣợc vấn đề này, Trung Nguyên luôn coi nhân viên là nhân tố mang lại sự thành công cho công ty.

    Trong giai đoạn 2005-2008 khi bắt đầu xây dựng hệ thống quán cà phê cao cấp đầu tiên hay hệ thống quán điểm Trung Nguyên, công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên đã rất chú trọng và phát triển nó thành một hệ thống rộng hắp và có sự đầu tƣ ĩ lƣỡng

    51

    cho từng công trình, từng quán. Vốn đầu tƣ xây dựng quán luôn chiếm tỉ lệ vốn lớn nhất, cao nhất trong giai đoạn này là năm 2008 với 46, 429 triệu đồng, bên cạnh đó ta cũng có thể thấy vốn đầu tƣ mua sắm máy móc thiết bị và công nghệ cho hệ thống quán cũng chiếm một tỷ trọng khá cao và tăng với tốc độ cao. Tổng vốn đầu tƣ cho xây dựng và mua sắm máy móc thiếy bị cho sự vận hành của quán luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đầu tƣ vào hệ thống quán của công ty. Trong khi đó, vốn đầu tƣ cho phát triển nguồn nhân lực và hoạt động Marketing tăng đều đặn và tăng với tốc độ phù hợp với từng chiếm lƣợc phát triển của công ty. Đặc biệt do mô hình hoạt động kinh doanh của hệ thống quán, xây dựng nhằm tạo hình ảnh thƣơng hiệu Trung Nguyên trên thị trƣòng mà trong tổng vốn đầu tƣ vào hệ thống quán công ty phải trích phần không nhỏ trong thiết ế mô hình quán, với trung bình mỗi quán chiếm hoảng 300 triệu đồng. Tìm hiểu và phân tích sâu hơn, ta nghiên cứu cơ cấu vốn mà công ty đầu tƣ vào hệ thống quán điểm đƣợc thể hiện ở bảng sau đ y:

    Cơ cấu vốn đầu tƣ phát triển của công ty CP cà phê Trung Nguyên cho hệ thống quán giai đoạn 2005-2008

        ĐƠN        
    STT NĂM/CHỈ TIÊU VỊ 2005 2006 2007 2008
    1 Tổng vốn đầu tƣ % 100 100 100 100
    2 VĐT cho thiết  ế quán % 3.83 4.2 4.51 4.32
    3 VĐT cho x y dựng quán % 58.36 56.73 56.82 58.28
      VĐT mua sắm MMTB và Công          
    4 nghệ % 29.81 27.52 27.23 27.4
    5 VĐT cho phát triển NNL % 4.15 4.27 4.19 4.28
    6 VĐT cho hoạt động Mar eting % 3.85 7.29 7.25 5.73

    Nguồn: Báo cáo tình hình đầu tư của công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Qua phân tích tỷ trọng tổng vốn đầu tƣ có thể thấy tỉ lệ vốn cho nhân lực tại công ty còn chiếm tỷ một tỷ trọng vốn đầu tƣ khá khiêm tốn vốn đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực chiếm hoảng 4% nhƣng điều này cũng dễ hiểu bởi những năm này là những năm đầu tiên công ty bắt đầu xây dựng hệ thống quán nên vốn đầu tƣ sẽ tập trung triển khai xây

    52

    dựng và mua sắm máy móc thiết bị, khi mà hệ thống quán đƣợc hoàn tất đi vào hoạt động thì lƣợng vốn đầu tƣ cho lĩnh vực trên sẽ gia tăng nhanh chóng và có sự đầu tƣ ĩ lƣỡng và hợp lý hơn. Đó là nhìn lại tình hình chung về nguồn vốn đầu tƣ vào nguồn nhân lực của công ty giai đoạn đầu xây dựng quán điểm. Nhƣng đến thời điểm này với sự trƣởng thành của mình và thƣơng hiệu trên thị trƣờng, đầu tƣ nguồn nhân lực của công ty là ở mức cao trong cơ cấu đầu tƣ vào các lĩnh vực. Với quan điểm mới này việc đầu tƣ vào thiết ế không gian quán thì việc đầu tƣ vào nhân lực là yêu cầu đòi hỏi để thành công trong thị trƣờng mà khách hàng vừa dể tính lại vửa khó tính này. Vậy cần nâng cao hơn nữa tỷ trọng vốn đầy tƣ phát triển nguồn nhân lực đối với quan điểm mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem đến chất lƣợng tốt nhất với chi phí thấp nhất có thể, đặt biệt là sự ết hợp về số lƣợng và chất lƣợng của tập thể nhân viện trong loại hình quán này là cần thiết bởi tính chất đặc biệt của khách hàng giới trẻ hôm nay khác so với quá khá và khách hàng khác. Với mô hình quán mới yêu cầu về số lƣợng nhân viên nhiều hơn so các quán điểm cũ của Trung Nguyên là điều không thể tránh hỏi bởi quy mô về không gian và sự sẵn sàng của quán với lƣợng khách hành lớn là có thể. Việc đáp ứng tốt ban đầu này sẽ tạo tiền đề cho những quán điểm tƣơng tự mọc lên sau này là điều cần thiết. Nhân lực nó chính là nguồn sáng tạo ra các nguồn lực khác. Trình độ của nguồn nhân lựcthể hiện ở trình độ quản lý của ngƣời lãnh đạo, thể hiện sự am hiểu từng công việc củanh n viên công ty, thể hiện ở trình độ văn hoá ứng xử nơi làm việc của ngƣời lao động Trình độ nguồn nhân lực góp phần nâng cao lên hình ảnh của công ty, đáp ứng đƣợc nhucầu của thị trƣòng khi đó sẽ tăng đƣợc uy tín của công ty trên thị trƣờng tiêu thụ. Nhờmột phần đó công ty có thể mở rộng thị trƣờng, nâng cao hả năng cạnh trạnh của công ty so với các thủ khác trên thị trƣờng. Nhận thức rõ đƣợc tầm quan trọng của chất lƣợng nguồn nhân lực mà hàng năm công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên chi một lƣợng vốn lớn cho công tác tuyển dụng và đào tạo nhân lực của mình. Một trong những phân khúc khách hàng mà Trung Nguyên hƣớng tới là giới trẻ năng động, thích sự sáng tạo và tìm hiếu văn hoá cà phê, do vậy mà trong việc tuyển dụng nhân viên cho các hệ thống quán công ty thƣờng tuyển những ngƣời trẻ, đầy nhiệt huyết với công ty, bởi vì họ sẽ hiếu đƣợc khách hàng trẻ cần gì, muốn gì, và dễ dàng nắm bắt đƣợc xu hƣớng của giới trẻ bây trẻ. Nhƣng

    53

    bên cạnh đó khi tuyển đƣợc ngƣời trẻ làm việc công ty có thể khai thác đƣợc tính sáng tạo lớn ở lứa tuổi này. Sáng tạo đó là thứ mà chúng ta thấy ở mỗi ly cà phê Trung Nguyên, ở cách làm việc của mỗi nhân viên Trung Nguyên. Nhƣng tuyển ngƣời trẻ thƣờng không có kinh nghiệm trong quá trình làm việc và có sự nóng vội sơ suất, do vậy hàng năm sau công tác tuyển dụng những nhân viên cho từng hệ thống quán thì công ty phải giành một lƣợng vốn đầu tƣ cho công việc đào tạo nhân viên của mình. Công ty sẽ có một chƣơng trình tổng hợp dành cho tất cả nhân viên mới. Chƣơng trình sẽ giới thiệu về lịch sử công ty, văn hoá tại nơi làm việc, các chế độ chính sách, chiến lƣợc, các công cụ phát triển và nguyên tắc, trình tự làm việc tại hệ thống quán. Các nhân viên từng quán sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của tổng quản lý và dƣới sự giám sát của trợ lý hệ thống quán. Đặc thù của hệ thống quán là kinh doanh sản phẩm cho nên cơ cấu nhân viên cũng khác nhau, có những vị trí cần phải có trình độ đại học, có kinh nghiêm nhƣ tổng quản lý và trợ lý hệ thống quán. Nhƣng có những vị trí nhƣ trƣởng ca, thu ngân chỉ cần cao đẳng hay trung cấp Hay các vị trí nhƣ trƣởng chế biến, đầu bếp lại cần những công nhân có tay nghề, đƣợc đào tạo. Nhƣng còn các vị trí nhƣ Nhân viên phục vụ chỉ cần tốt nghiệp cấp 3. Do tính chất của từng công việc từng vị trí khác nhau nên việc tuyển dụng cũng nhƣ đào tạo của Trung Nguyên rất đa dạng. Ta có thể thấy cơ cấu lao động tại hệ thống 12 quán điểm của công ty cổ phần Trung Nguyên nhƣ sau:

    Cơ cấu nh n sự hệ thống quán 2005-2008

      2005   2006 2007   2008  
    CHỈ TIÊU Số     Số   Số     Số    
      ngƣời   % ngƣời % ngƣời   % ngƣời   %
    Đại học 7   17.95 10 19.61 24   19.05 105   19.52
    Cao đẳng-Trung cấp 27   69.23 34 66.67 81   64.28 344   63.94
    Lao động  hác 5   12.82 7 13.72 21   16.67 89   16.54
    Tổng 39   100 51 100 126   100 538   100

    Nguồn: Phòng hành chính công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Theo bảng số liệu trên đội ngũ lao động tại hệ thống quán Trung Nguyên đa phần là trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm khoảng trên 60 cơ cấu lao động tại các quán. Các

    54

    nhân viên của công ty đƣợc đào tạo theo nhiều hình thức nhƣng hình thức đào tạo trực

    tiếp thƣờng là đào tạo tại chỗ, riêng bên quản lý hệ thống quán và trợ lý sẽ đƣợc đi đào

    tạo thực tế, đƣa họ vào các quán đã hoạt động sẵn trong TP HCM để có thể nắm bắt đƣợc

    quy luật hoạt động của quán. Công ty luôn chú trọng đến các chƣơng trình đào tạo và

    • ng cao trình độ học vấn của đội ngũ nh n lực bởi vì công ty luôn đòi hỏi cao về khả năng sáng tạo và kỹ năng giao tiếp của mọi nhân viên và họ chỉ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ khi họ có một kiến thức vững chắc và luôn cập nhật kiến thức của mình.

    Việc tuyển dụng nhân viên trong loại hình quán này cũng không khác so với công tác tuyển dụng cho các quán điểm trƣớc đ y. Tuy nhiên việc đào tạo ban đầu những nhân viên này sẽ khó hăn hơn so với những quán điểm đã hoạt động lâu năm hiện nay của

    công ty, bởi sự mới lạ về quán, văn hóa quán và văn hóa khách hàng mới chƣa hình thành

    và cố định rõ nét. Đôi khi việc tuyển dụng đầu vào cũng là hắc khe ban đầu cao hơn đối với những ngƣời trẻ để đảm bảo việc đào tạo, chất lƣợng phục vụvà sự dụng nhanh nguồn nhân lực mới, tiết iệm chi phí hơn. Hoặc công ty có thể tuyển mới và phân bớt phần lực lƣợng những nhân viên từ quán cũ và đào tạo lại trong quán mới tuy nhiên việc này có thể sinh ra một số vấn đề nhƣ sự hòa nhập, thói quen, mâu thuẫn trong công tác quản lý,… trong môi trƣờng này. Tại các quán cà phê Trung Nguyên hiện nay phần lớn sử dụng lao động là trình độ cấp 3 hoặc trung cấp nên khi phục vụ khách hàng nƣớc ngoài thì trình độ sử dụng ngoại ngữ không có, gây rất nhiều khó hăn cho công ty, cùng với đó phát triển các ĩ năng mềm nhƣ giao tiếp, ứng xử còn kém, do vậymà công ty hàng năm vẫn phải tiêu tốn rất nhiều tiền để đào tạo lại nguồn nhân lực này vì vậy yêu cầu trong cơ cấu nhân viên, cần có sẵn lực lƣợng nhân viên có trình độ ngoại ngữ để sẳn sàng phục vụ khách hàng là giới trẻ nƣớc ngoài và một số chƣơng trình giao lƣu tiếng anh với bạn trẻ trong nƣớc cũng là nhu cầu đang nổi trội hiện nay.

    2.6.3.  Tổ chức chiến lƣợc tiếp thị-kinh doanh-bộ phận kinh doanh

    • Chiến lƣợc giới thiệu quảng bá về quán điểm mới

    Quán điểm là quán điểm kinh doanh một mặt hàng hẹp nhƣng rất chuyên sâu, quy

    mô quán điểm ở mức trung bình, đội ngũ nhân viên bán hàng thƣờng đƣợc đào tạo khá chuyên nghiệp với những phong cách nhất định phù hợp với từng ngành hàng. Là điểm

    55

    đến ăn uống vui chơi của những ngƣời quan tâm và có nhu cầu tới các sản phẩm dịch vụ của quán điểm

    Tên quán điểm là bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể đọc đƣợc, là thƣơng hiệu gắn liền với sự thành công trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ nhƣ: T&T coffee, … Dấu hiệu của nhãn hiệu bao gồm biểu tƣợng, hình vẽ, màu sắc hay iểu chữ đặc thù, … là một bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết đƣợc nhƣng không thể đọc đƣợc. Bảng hiệu của công ty là một trong những biểu tƣợng quan trọng nhất mà doanh nghiệp nói về lĩnh vực hoạt động của mình, trên mỗi bảng hiệu thƣờng có logo công ty để tiện cho việc nhận dạng thƣơng hiệu. Nhìn chung, vật liệu làm bảng hiệu quảng cáo hiện nay rất đa dạng. Những ngƣời làm bảng hiệu thƣờng tách riêng các yêu cầu về chữ trên bảng hiệu và các yêu cầu về vật liệu nền. Vật liệu thông dụng hiện nay : Sắt, alumiun, mica, đồng, inox, gỗ, PP, Hiflex silk, …

    • Chiến lƣợc thu hút khách hàng mục tiêu của quán điểm

    Để tồn tại và phát triển lâu dài thì quán điểm cần có chiến lƣợc Marketing về các

    mảng khác nhau để thu hút và lôi kéo khách hàng vì mỗi mảng đều có những giá trị và hiệu quả nhất định Giới trẻ là nhóm khách hàng có tƣ duy sáng tạo, thích khám phá, có nhu cầu bộc lộ cá tính, phong cách qua sự lựa chọn thức uống. Vì vậy, tạo ra sự khác biệt để đem lại sự hài lòng cho khách hàng là điều mà quán điểm cần để thu hút, giữ chân khách hàng và cạnh tranh với đối thủ của mình. Nhóm nghiên cứu xin đƣa ra một số mảng khác nhau để tạo nên sự thành công lâu dài cho quán điểm:

    Về dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của nguời tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về ết quả dịch vụ đó. Chất lƣợng dịch vụ bao gồm bốn thành phần sau: chất lƣợng sản phẩm, hả năng phục vụ của nhân viên, cách trƣng bày sản phẩm, mức độ tin cậy và an toàn. Ta xét mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa chất lƣợng dịch vụ của quán, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với quán điểm cà phê.

    Về sản phẩm, yêu cầu về chất lƣợng sản phẩm ở đối tƣợng giới trẻ là khá cao, bao gồm chất lƣợng thơm ngon, hƣơng vị khó quên, đặc điểm  iểu dáng ấn tƣợng, với thiết ế sang trọng, sạch sẽ đẹp mắt, … Vì vậy quán điểm cần thƣờng xuyên cập nhật sản

    56

    phẩm có chất lƣợng nhằm gia tăng sự hài lòng của khách hàng. Giá trị mà sản phẩm mang lại cho khách hàng có thật sự đáp ứng yêu cầu của họ Không chỉ vậy, khách hàng còn quan tâm đến danh tiếng của thƣơng hiệu sản phẩm Ƣu thế đặc biệt của sản phẩm tạo nên sự khác biệt của quán so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng của mình. Ngoài ra, còn tìm hiểu về những sản phẩm của đối thủ để nắm rõ những ƣu thế cạnh tranh của sản phẩm của quán, từ đó giới thiệu cho khách hàng về những giá trị sản phẩm một cách hiệu quả nhất. Tìm hiểu ý iến hay tiến hành hảo sát khách hàng về những sản phẩm của quán đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của họ chƣa, để từ đó có chiến lƣợc phát triển sản phẩm phù hợp với quán. Sản phẩm bao hàm những yếu tố vật chất và phi vật chất, là tất cả những gì có thể thỏa mãn nhu cầu hay ƣớc muốn đƣợc đƣa ra với mục đ ch để khách hàng mua và sử dụng. Sản phẩm của cà phê Trung Nguyên dành cho giới trẻ sẽ bao gồm hai sản phẩm chính đó là sản phẩm mang giá trị cốt lõi và sản phẩm mang giá trị hiện thực. Sản phẩm mang giá trị cốt lõi nhiều khi ngƣời tiêu dùng không biết đến, ví dụ cà phê chứa nhiều chất chống oxy hóa có thể ngăn chặn quá trình hƣu hại tế bào và các loại bệnh tim mạch, ung thƣ, giảm c n… Sản phẩm mang giá trị hiện thực là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng, các đặc tính nhƣ mẫu, bao bì, iểu dáng, …

    Theo hảo sát của nhóm nghiên cứu, thì trong 165 ngƣời đƣợc hảo sát uống cà phê Trung Nguyên thì ngƣời hảo sát quan tâm đến sản phẩm của cà phê Trung Nguyên nhƣ sau: 25.5% mẫu mã sản phẩm, 33.9% theo giá, 30.3% iểu dáng, 14.5% chất lƣợng…(số liệu phân tích bảng 5, 6, 7, 8, 9, 10 phụ lục trang 81, 82). Từ đó ta thấy, khách hàng ít quan tâm đến chất lƣợng mà quan tâm nhiều hơn đến giá và iểu dáng của sản phẩm. Vì giới trẻ là những ngƣời năng động, trẻ trung, thích những sản phẩm với mẫu mã tốt, dễ chấp nhận nếu giá cả phải chăng, hợp với túi tiền vì có 32.73% ngƣời thu nhập <1,500,000 VND và 47.88% ngƣời có thu nhập trong hoảng 1,500,000-3,000,000 VND

    Thêm vào đó, cần xây dựng mối thiện cảm với khách hàng vì thái độ và hành vi của nhân viên phục vụ ảnh hƣởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ của quán điểm Khách hàng dễ chấp nhận, thỏa mãn với sản phẩm và những nhân

    57

    viên mà họ có thiện cảm đồng nghĩa họ sẽ có thể trung thành với quán điểm lâu dài, là cơ sở cho mức độ tin tƣởng và an toàn của quán điểm

    Nhƣ vậy, có thể thấy có nhiều yếu tố góp phần vào sự giải thích mức độ thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng, việc chất lƣợng dịch vụ tốt rất quan trọng trong việc phát triển quán điểm, đƣa sản phẩm tới gần hơn với ngƣời tiêu dùng hơn, quán điểm cạnh tranh với đối thủ cạnh tranh của mình.

    Đội ngũ nhân viên phải xây dựng mối thiện cảm với khách hàng vì khách hàng dễ chấp nhận và hài lòng với những ngƣời mà họ có thiện cảm hơn. Với thời đại công nghệ hiện nay, giới trẻ có xu hƣớng sử dụng máy tính xách tay lên mạng và ít quan tâm tới những chƣơng trình truyền hình, quán có thể tận dụng ƣu điểm này để thực hiện đẩy mạnh quảng cáo qua mạng thông qua một Website quảng cáo. Các quán có thể đặt banner, sản phẩm lên các trang báo điện tử uy tín. Sử dụng các trang mạng để truyền thông rất hiệu quả nhƣ: Facebook, ZingMe, … Tuy nhiên cũng cần tránh đƣa mẫu quảng cáo của quán lên các trang không uy tín để tránh giảm lòng tin ngƣời đọc

    Quảng cáo báo chí là loại hình lâu đời nhất so với các loại hình quảng cáo hiện nay nhƣng vẫn đƣợc tin dùng nhiều. Tuy đối tƣợng khách hàng giới trẻ rất ít khi đọc báo truyền thống và thay vào đó là đọc các trang báo mạng điện tử nhƣng loại hình này vẫn có những ƣu điểm mà quán nên tận dụng là các mẫu quảng cáo của bạn sẽ đƣợc chính ngƣời tiêu dùng lƣu trữ, truyền tai nhau mở rộng phạm vi quảng bá với chi phí tƣơng đối thấp. Tờ rơi cũng là hình thức phù hợp với các quán vừa thành lập, có nền tảng tài chính chƣa vững mạnh Ƣu điểm của loại hình này là có mức chi phí tƣơng đối thấp và dễ tiếp cận với sinh viên hơn khi tổ chức phát tờ rơi tại các cổng trƣờng đại học cao đẳng… nên hình thức này có phần phù hợp hơn so với 2 hình thức trên. Tuy vậy, nhiều ngƣời cầm tờ rơi trên tay thƣờng sẽ xem sơ nội dung sau đó thẳng tay ném vào sọt rác. Có 1 số ít ngƣời quan tâm sẽ lƣu lại nhƣng không ai dám đảm bảo rằng về nhà họ sẽ nhớ tới nó.

    Mar eting dƣới hình thức sử dụng ngƣời nổi tiếng: Sự quảng bá của ngƣời nổi tiếng có thể xây dựng mối quan hệ sâu sắc và lâu dài. Tuy nhiên, hình thức này có thể ẩn chứa nhiều rủi ro khi nhân vật nổi tiếng d nh vào scandal hay hông đƣợc giới trẻ yêu thích nữa.

    58

    Tổ chức sự iện: loại hình này đƣợc xem là mang lại hiệu quả nhất đối với quán khi muốn khách hàng tới quán mình. Tuy nhiên các doanh nghiệp phải lƣu ý đến thời

    gian tổ chức sự iện vì điều này ảnh hƣởng rất lớn đến hiệu quả đem lại Hình thức tổ chức sự iện đƣợc các quán ƣa chuộng hiện nay. Nhƣ đã đề cập, nhóm lựa chọn doanh nhân thành đạt hay những diễn giả nổi tiếng đƣợc giới trẻ biết đến và yêu thích để tổ chức những buổi giao lƣu, trao đổi theo chủ đề tại quán. Về lịch trình sẽ đƣợc thông báo trực tiếp tại quán và trên tất cả các kênh thông tin còn lại của quán.

    Một số chƣơng trình hoạt động của quán để thu hút giới trẻ: Quay số may mắn đầu tháng, khách hàng may mắn sẽ đƣợc miễn phí 2 ly cà phê Trung Nguyên tự chọn Giảm giá 15% cho những hóa đơn lớn hơn 200 ngàn đồng Phát thẻ hách hàng miễn phí và tích điểm cho mỗi lần đến quán. Số điểm cao sẽ nhận đƣợc phần trăm giảm giá cao hơn. Tổ chức các sự iện theo tháng, theo chủ đề

    2.7.     Mô hình quán điểm cà phê dành cho giới trẻ

    2.7.1.  Địa điểm xây dựng quán điểm

    Có một địa điểm tốt chiếm tới 40% sự thành công của quán cà phê. Các tiêu chí lựa chọn địa điểm để xây dựng của hàng cà phê cho giới trẻ:

    • Địa điểm yên tĩnh
    • Không gian xung quanh gần trung tâm thƣơng mại hay chợ, siêu thị, nhà sách, …
    • Quán có một trệt, hai lầu. Mong muốn tìm đƣợc một mặt bằng có diện tích: chiều rộng từ 4m-6m, chiều dài từ 14m-18m, tƣơng đƣơng với diện tích này, mỗi lầu sẽ có thiết ế riêng.
    • Giá thuê phù hợp với chi ph mà Trung Nguyên t nh toán, nhƣng nên chọn những địa điểm có cơ sở vật chất sẵn để hạn chế chi ph xây dựng, sữa chữa, trang tr …

    Lý do chọn các chỉ tiêu trên:

    –      Trong 136 ngƣời tham gia      hảo sát có 64         ngƣời tham gia chon nơi yên tĩnh

    trong hẻm, 21 3 chọn gần đƣờng lớn và 12 5 gần các trung tâm, ngoài ra thực tế cho thấy đa số các quán cà phê hiện nay đều mở trong các hẻm hay đƣờng nhỏ, việc giới trẻ đến đ y thƣởng thức đã trở thành thói quen, chỉ cần yêu cầu khu an ninh, có chỗ để xe và sạch sẽ (số liệu phân tích bảng 38 phụ lục trang 93).

    59

    • Việc gần các trung t m thƣơng mại, nhà sách, hu d n cƣ… giúp cho quán có cơ hội tiếp cận với hách hàng cao hơn, đồng thời việc thu hút, tìm iếm hách hàng

    cũng dễ dàng do đ y là những hu vực thƣờng tập trung nhiều thành phần giới trẻ – Việc lựa chọn diện t ch và ƣớc lƣợng số lƣợng hách để đảm bảo bù đắp đƣợc chi

    ph quán, phù hợp với thực tế một số quán cà phê bình thƣờng hiện này cũng có hả năng phục vụ tối đa hoảng 100-150 ngƣời cho một lƣợt khách.

    • Chọn giá thuê tùy theo việc nghiên cứu của Trung Nguyên sao cho phù hợp với mục tiêu mong muốn của họ, nhƣng trong nghiên cứu của chúng tôi mong muốn

    đem lại lợi  ch cho cả ngƣời bán và ngƣời mua ở góc độ  inh tế và văn hóa

    Từ những vấn đề trên, nhóm đề xuất nghiên cứu và xây dựng cửa hàng ở các quận 10, quận 3, quận 5 do có nhiều địa điểm có thể đáp ứng đƣợc các tiêu ch trên. Ngoài ra

    • y là hu vực trung t m giao thƣơng trong thành phố, tập trung các tuyến giao thông quan trọng, cũng nhƣ các trƣờng đại học lớn. Tập trung nhiều giới trẻ học tập, sinh sống,

    làm việc tại những quận này và các quận lân cận. Tuy nhiên cần c n nhắc việc x y dựng ngay bên trong các quận hay xung quoanh những quận này cũng là giải pháp thây thế, đảm bảo đáp ứng yêu cầu và tối thiểu chi ph x y dựng cửa hàng

    2.7.2.  Bố cục quán điểm

    Dựa trên ết quả hảo sát của nhóm và thực tiễn về nhu cầu, sở thích giới trẻ hiện nay, chúng tôi đƣa ra phƣơng án xây dựng quán điểm với 4 không gian đầy sáng tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của giới trẻ ngày nay đồng thời mang hƣơng vị cà phê Việt đến cho giới trẻ một cách gần gũi, dễ tiếp nhận và phù hợp với thực trạng Việt Nam ngày nay.

    Do mô hình chia làm nhiều không gian nên việc chọn địa điểm rộng và làm chi phí tăng là điều không thể tránh hỏi trong giai đoạn đầu tƣ ban đầu vào loại hình quán điểm này. Nếu dự toán chi phí là cao thì chúng ta có thể phải xem qua dự toán về doanh thu và lợi nhuận bên dƣới để có thể thấy đƣợc đ y là dự án hả thi của mô hình.

    Với 4 không gian bao gồm: không gian mở hiện đại và sôi động; không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng; không gian cho hội họp, công việc, học tập; cuối cùng là không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo và sáng tạo

        60  
    Đối với không gian mở hiện đại và sôi động: Đ y là  hu vực rộng, tập trung thu
      hút nhiều thành phần giới trẻ, sôi động và náo nhiệt không thể nào tránh khỏi tiếng
      ồn vì vậy hông gian này nên đƣợc bố trí riêng phần tầng trệt bên dƣới quán và
      ngăn cách riêng với những không gian còn lại một cách  ĩ lƣỡng và tránh gây ra
      tác động với khu vực bên ngoài. Trong không gian này bạn hay bạn bè bạn sẽ cùng
      hòa vào hông  h  vui chơi, trò chuyện, tán gẫu theo nhóm… hả năng phục vụ
      tối đa cho tầng trệt ƣớc chừng khoảng 50 ngƣời, diện tích khu vực này đƣợc chúng
      tôi đánh giá là rộng nhất do thực tế giới trẻ đa phần tập trung số đông vào  hông
      gian sôi động, vui nhộn này, điều đó còn đƣợc thể hiện thông qua kết quả khảo sát
      trong 136 ngƣời tham gia khảo sát thì có 48 5   ngƣời chọn  hông gian này (số
      liệu bảng 36 phụ lục trang 92).  
    Không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo và sáng tạo, đ y là hông gian tạo ra
      những thứ mới lạ. Tại đ y giới trẻ đƣợc tha hồ thể hiện phong cách, cá tính của
      mình bằng việc hòanhập vào không gian trang trí kiểu 3D với những tấm gƣơng
      lồi, lõm, …  hông những thế tại đ y giới trẻ có thể tự sáng tạo pha chế thức uống

    cà phêkết hợp nguyên liệu hác đƣợc chuẩn bị sẵn, ngoài ra các bạn còn đƣợc ngƣời hƣớng dẫn giúp để chắc rằngthức uống mà họ tạo ra là của riêng họ Đây là khu vực tạo ra tiếng ồn đáng ể nên với sự cá tính và sáng tạo của giới trẻ nó chiếm gần hết diện tích lầu một. Tại lầu một là khu vực pha chế sao cho đảm bảo sự liên thông liền mạch giữa tầng trệt và lầu hai, làm cho dịch vụ đến với khách hàng là phù hợp nhất. Lầu 2 có thể phục vụ tối đa 30 ngƣời cho một lƣợt khách.

    • Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng và không gian cho hội họp, công việc, học tập. Cuối cùng là hai không gian không thể thiếu trong vấn đề đáp ứng nhu cầu của giới trẻ ngày nay, chúng đƣợc bố trí tầng cao nhất, bố trí hai không

    gian đối diện nhau qua hành lang ngắn và chia hai khu vực trên cùng một tầng với diện tích bằng nhau bởi chúng có chung một số đặc điểm về không gian và trang trí nên trong quá trình hoạt động, nếu xảy ra sự quá tải của một trong hai hông gian này thì có thể dùng không gian còn lại để phục vụ hách cũng có thể thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Với hông gian thƣ giãn, hò hẹn thơ mộng họ có thể thả

    61

    mình vào bản nhạc, giấc ngủ hay tâm sự mà khó có sự làm phiền nào xảy ra xung quanh. Còn nếu họ đang ở không gian cho hội họp, công việc, học tập thì đòi hỏi sự tập trung cao độ và nghiêm túc là điều hiển nhiên sẽ đƣợc tạo ra trong không gian này, ngoài ra chúng tôitạo ra một số tiện nghi phục vụ họ trong nhu cầu trên. Toàn bộ không gian trên lầu hai này có thể phục vụ đƣợc tối đa hoảng 40 ngƣời cho một lƣợt khách.

    2.7.3.  Trang trí nội thất của quán điểm

    Trong giai đoạn 2005-2008 công ty đã tiến hành đƣa 12 quán điểm Trung Nguyên vào hoạt động trên thị trƣờng, từ năm 2007 với chiến lựơc nhằm phát triển cà phê trong nƣớc công ty đã cho lắp ráp hệ thống pha cà phê Cappuchino tại mỗi hệ thống quán, cùng với nó là cho mua sắm hàng loạt các thiết bị vật dụng khác phục vụ cho nhu cầu thiết yếu trong kinh doanh cà phê. Dƣới đ y là danh sách chi tiết máy móc thiết bị, vật dụng, thiết bị mà bất kì quán nào củaTrung Nguyên cũng phải có.

    Danh sách máy móc thiết bị cho quán điểm Trung Nguyên

          Đơn Số    
      Thiết bị cần dùng vị lƣợng Đơn giá Thành tiền
    Phòng trƣng bày và điều hành        
                216, 000,
    1 Máy lạnh loại 1 5HP Bộ 24 9, 000, 000 000
    2 Bồn rửa tay Inox cho pha chế đối chứng Bộ 12 500, 000 6, 000, 000
      ệ trƣng bày sản phẩm, bàn ph  chế đối     12, 000, 144, 000,
    3 chứng   Bộ 12 000 000
      Cửa đi, Khung kính, hình ảnh, hạt cà phê        
    4 mặt tiền   Bộ 24 3, 000, 000 72, 000, 000
      Khung nh hình hạt hạt cà phê đầu phòng        
    5 trƣng bày Bộ 12 800, 000 9, 600, 000
    6 Máy xịt phòng dùng mùi cà phê Bộ 12 450, 000 5, 400, 000
    7 Bình chữa cháy Bộ 24 800, 000 19, 200, 000
              15, 000, 180, 000,
    8 Thiết bị m thanh (Loa, ampli, VCD, …) Bộ 12 000 000
    9 Đèn Signal Bộ 24 2, 000, 000 48, 000, 000
    Khu thƣởng thức cà phê ngoài trời, trong nhà        
                900, 000,
    1 Dù vuông 2m x 2m Cái 180 5, 000, 000 000
      62          
              104, 400,  
               
    2 Đèn sƣởi Cái 180 580, 000 000  
    3 Card wifi ngoài trời Cái 60 600, 000 36, 000, 000  
              141, 120,  
    4 Bàn ngoài trời (bàn gỗ tròn) Cái 144 980, 000 000  
              123, 600,  
    5 Bàn trong nhà (vuông) Cái 120 1, 030, 000 000  
              126, 720,  
    6 Ghế ngoài trời Cái 576 220, 000 000  
              297, 600,  
    7 Ghế trong nhà Cái 480 620, 000 000  
    Nhà bếp          
            40, 000, 480, 000,  
    1 Quầy Bar Bộ 12 000 000  
    2 Card wifi Bộ 24 600, 000 14, 400, 000  
    3 Thùng đựng rác bằng nhựa (tròn 60 l t) Bộ 12 150, 000 1, 800, 000  
    4 Thùng inox đựng nƣớc đá (40 x 60cm) Bộ 12 1, 200, 000 14, 400, 000  
            25, 000, 300, 000,  
    5 Máy xay cà phê Espresso và máy Espreso Bộ 12 000 000  
              262, 980,  
    6 Vật dụng đựng và pha sản phẩm cà phê Cái 40200 463, 950 000  
            72, 835, 982, 892,  
    7 Vật dụng cho nhà bếp Cái 7584 620 400  
              132, 000,  
    8 Đồng phục nam phục vụ Bộ 600 220, 000 000  
              132, 000,  
    9 Đồng phục nữ phục vụ Bộ 600 220, 000 000  
            20, 630, 247, 560,  
    10 Tủ lạnh và tủ đông Bộ 72 000 000  
            63, 700, 644, 400,  
    11 Tủ trƣng bày bánh Bộ 24 000 000  
    Văn phòng phẩm          
    1 Vi tính Bộ 12 5, 000, 000 60, 000, 000  
    2 Máy in Bill Bộ 12 2, 000, 000 24, 000, 000  
    3 Máy tính tay Cái 48 52, 000 2, 496, 000  
    4 Đầu DVD Cái 12 605, 000 7, 260, 000  
    5 Loa Cặp 36 1, 430, 000 51, 480, 000  
    6 Súp điện Cái 12 2, 750, 000 33, 000, 000  
    7 Ampli Cái 12 2, 420, 000 29, 040, 000  
    8 ệ để giàn  m thanh Cái 12 300, 000 3, 600, 000  
        63              
      9   ệ đựng đĩa CD   Cái   70, 000   840, 000  
          12    
      10   Bộ đĩa hoà tấu   Cái 240 12, 000   2, 880, 000  
      11   Vật dụng văn phòng phẩm   Cái 948 132, 850   5, 299, 920  
      Nhà vệ sinh              
      1   Bình nƣớc nóng gián tiếp Aristone 30 l t   Bình 12 1, 700, 000   20, 400, 000  
      2   Loa loại nhỏ   Cái 24 1, 430, 000   34, 320, 000  
      3   Quạt hút gió loại lớn   Cái 24 800, 000   19, 200, 000  
                      226, 032,  
      4   Nội thất phòng vệ sinh   Bộ 204 6, 118, 000   000  
                      6, 161, 920,  
      5   Tổng cộng           320  

    Nguồn: Phòng nhượng quyền công ty CP cà phê Trung Nguyên

    Những vật dụng vừa liệt kê ở bảng trên theo nhóm chúng tôi đánh giá là cần thiết trong loại quán điểm nới này bởi đó là những tiêu chuẩn chung của Trung Nguyên. Tuy nhiên vì quy mô và phục vụ những khách hàng mới nên chắc rằng sẽ có một số thay đổi trong thiết bị máy móc. Xu hƣớng mà chúng tôi xem xét với chi phí thấp hiệu quả cao, thêm vào đó là nhu cầu đa dạng và quy mô của một quán thí điểm dành cho giới trẻ là vừa phải. Việc xem xét vấn đề này đòi hỏi Trung Nguyên phải nghiên cứu ĩ về tình hình tài chính, thị trƣờng nguyên vật liệu, có thể xem xét ết quả phân tích của nhóm chúng tôi sao cho đáp ứng đủ và phù hợp với từng không gian, vì vậy Trung Nguyên nên đƣa ra mức kinh phí của quán mới này so với các quán điểm mà mình đã xây dựng sao cho phù hợp để đạt hiệu quả cao.

    • Trang trí nội thật bên ngoài quán điểm

    Việc trang trí bên ngoài quán điểm bắt mắt, ấn tƣợng nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng là vấn đề quan trọng Qua nghiên cứu giới trẻ, nhóm chúng tôi thấy đặc điểm thu hút giới trẻ có nhiều yếu tố nhƣng yếu tố mà nhóm đánh giá cao là sự sáng tạo trong việc trƣng bày tên quán và khung cảnh trƣớc quán, đảm bảo nhận diện quán rõ từ xa, lại gần và tạo ấn tƣợng khó quên. Ngoài bảng hiệu của Trung Nguyên nhƣ thƣờng lệ phía trên, bên dƣới có thể sẽ là những hình ảnh con vật hoặc ngƣời, kí tự hay chữ viết vui nhộn, … nhƣ hình ảnh cung hoàng đạo ngày hôm nay, hay nhân vật nổi tiếng trong ngày,

    64

    chữ cái may mắn, … đƣợc quán điểm thay đổi cho mới mẻ, có thể theo tuần, tháng hoặc theo mùa. Ngoài ra hệ thống đèn hoặc bảng hiệu chiếu sáng là điều không nên xem nhẹ trong việc thu hút khách, có thể vừa làm trang trí vào buổi sáng và thắp sáng gây sự nhận biết quán vào buổi tối, tất cả cần phải tránh sự đan xen, che lẫn nhau mà nên tận dụng hoảng không gian bên trên và phần mái hiên phía trƣớc, mái hiên có thể treo nhiều loại

    chuông gió làm bằng ống lồ ô đón gió để tạo ra tiếng kêu gợi nhớ về Tây Nguyên.

    Ngay tại cửa ra vào tầng trệt là những họa tiết đƣợc trang trí bằng hình dán, có thể linh động tháo gở đề phù hợp với việc trang trí theo theo mùa, theo ngày lễ để thu hút. Phía trƣớc bên dƣới quán có thể trang trí các bảng hiệu hình thức uống hay đồ ăn nhằm thu hút sự chú ý và có thể dùng để giới thiệu sản phảm mới, chƣơng trình mới… Ngoài ra chúng ta nên chƣng ra một phần menu phía trƣớc quán để cung cấp thêm thông tin cho khách hàng, tạo độ tin cậy, quảng cáo sản phẩm giới thiệu cho mọi ngƣời

    • Trang trí nội thất bên trong quán điểm
    • Không gian mở hiện đại và sôi động

    Theo hảo sát của chúng tôi về bàn ghế dùng trong nơi nhộn nhịp có 39 4 chọn ngồi bệt, 33 8 bàn ghế cao bình thƣờng, 26 8 chọn bàn ghế thấp; trong hông gian trẻ trung sôi động có 43 9 chọn ngồi bệt, 28 8 bàn ghế cao bình thƣờng, 27 3 chọn bàn ghế thấp (số liệu phân tích bảng 42 phụ lục trang 94). Theo đó trong hông gian này giới trẻ có sự lựa chọn đa dạng về bàn ghế làm cho phần trăm sự lựa chọn đối với những ngƣời thuộc cùng hông gian gần bằng nhau, tuy nhiên để thỏa mãn nhu cầu đa dạng chúng tôi

    đề xuất nên có cả 3 loại, tuy nhiên thực tế hông gian mở sôi động của giới trẻ thƣờng là ngồi bệt hoặc bàn ghế thấp, vậy có thể xếp một phần nhỏ bàn ghế thấp ở gần cửa ra vào để trang tr và tạo cảm giác sang trọng, tiếp đến là các bộ bàn và những tấm nệm iểu cách dùng ngồi bệt, tạo sự hòa đồng thoải mái hi di chuyển hay có các hoạt động bạn bè

    Nhạc trong hông gian này là nhạc không lời, nhạc trẻ việt hay nhạc trẻ việt hông lời Do có 43 66 ngƣời tham gia hảo sát chọn nhạc hông lời, 29 58 chọn nhạc trẻ việt đối với nơi nhộn nhịp; có 34 85 ngƣời chọn nhạc hông lời và 28 79 chọn nhạc

    trẻ việt hi hông gian trẻ trung sôi động (số liệu phân tích bảng 41 phụ lục trang 94). Việc chọn chọn nhạc theo ết quả hảo là giai đoạn ban đầu, việc m nhạc trong hông

    65

    gian này cần xem xét, hảo sát thƣờng xuyên để th y đổi theo nhu cầu. Bởi giới trẻ trong hông gian này thƣờng có sở th ch thay đổi trong hoảng thời gian nhất định, việc cố

    định loại nhạc tạo ra sự nhàm chán tại  hông gian này

    Đa số ngƣời tham gia     hảo sát chợn nơi nhộn nhịp và      hông gian trẻ trung sôi

    động đều th ch đƣợc phục vụ (số liệu bảng 43 phụ lục trang 95), vì thế quán sẽ phải chuẩn bị một lực lƣợng nh n viên phù hợp đảm bảo hông quá thừa hay thiếu đối với vấn đề phục vụ hách hàng

    nh sáng trong   hông gian này đƣợc nhóm đề xuất sử dụng ánh sáng tự nhiên vào

    ban ngày đối với nhửng ngày nắng yếu hay những vùng ánh sáng  hông tới đƣợccó thể ết hợp với đèn chiếu sáng bình thƣờng của quán, vào chiều tối việc chiếu ánh sáng sẽ ph n  hông gian bên dƣới thành hai  hu  hu có ánh sáng đèn bình thƣờng,  hu có ánh

    sáng đèn yếu ết hợp với nhựng đèn mùa chiếu sáng hác làm ánh sáng có thể tháp hơn hu vực ia nhƣng có tạo ra vùng màu sắc tƣơi trẻ hông quá chói hay g y cảm giác hó

    chịu

    Quán trang trí khoảng không có tấm ngăn giữa bàn ghế, có trang bị hai ệ hai bên, trên ệ có để các loại đồ chơi, giải tr gồm báo, tạp ch , truyện, rút gỗ, cờ cá ngựa (số liệu bảng 47 phụ lục trang 96). Ngoài ra quán còn có hai màn hình ti vi dùng để chiếu phim, xem tivi, tin tức, … Bố trí một cái ở phía trong gần cửa ra vào và một cái ở đối diện. Những hình ảnh có liên quan nhằm giới thiệu Trung Nguyên đƣợc trang tr theo phong cách hác lạ trên tƣờng của quán.

    • Không gian cho phong cách, cá tính, độc đáo với sáng tạo.
    • y là không gian đặc biệt cho các bạn trẻ muốn thử sức sáng tạo và giải phóng

    một chút năng lƣợng để vui vẻ với những sáng iến mới lạ. Nó đƣợc trang trí bằng vận dụng sự khúc xạ và phản xạ của gƣơng cầu lòi, cầu lõm, gƣơng pha lệ, …làm không gian

    nhƣ rộng ra, bí hiểm, ết hợp ánh đèn có màu sắc g y cảm giác mát mẽ sinh động khác nhau tạo sự độc đáo m nhạc trong hông gian này thƣờng là những bài nhạc hông lời

    có phần sôi động để tạo cảm giác giảng hoái cho việc suy nghĩ, chế biến, … Ngay cửa ra vào là một quầy để các nguyên liệu, dụng cụ cần thiết để tạo ra các loại thức uống có cà phê của riêng khách hàng.

    66

    Do đ y là hu vực đặt biệt nên đƣợc trang tr riêng biệt đảm bảo đáp ứng nhu cầu đa dạng, tuy nhiên việc cố định bàn ghế trong hu vực sáng tạo này là hông thể bởi nó

    tùy thuộc vào chƣơng trình sáng tạo mà quán sáng tạo để  ết hợp cách bố tr bàn ghế cho
    phù hợp với hách hàng và tiết iệm ch  ph  cho quán. Trong giai đoạn này nhóm đề xuất
    nên trang tr bàng ghế thấp phù hợp với việc chế biến thức uống cho riêng  hách hàng và
    tiện cho việc vệ sinh  hi cần    
    Bên trong phòng có từ 1 đến 2, thậm chí là 3 ngƣời phục vụ nhằm giúp cho việc
    sáng tạo của khách hàng thêm hả thi và phù hợp. Tại đ y bạn có thể tự viết ế hoạch về
    chƣơng trình cho quán cà phê nhằm nâng cao hơn việc thu hút khách hàng, ết nối mọi
    ngƣời với nhau, có thể là cuộc thi, cuộc hội thảo… nếu xét thấy phù hợp và hả thi.Nó có

    thề đƣợc áp dụng trong hoảng thời gian nhất định và dỉ nhiên khách hàng sẽ đƣợc phần thƣởng xứng đáng. Tại đ y quán còn tạo ra một số mô hình thử sức sáng tạo cho những bạn vào chƣa có phƣơng hƣớng bằng một số trò chơi trí tuệ nhƣ thiết ế thiệp, dụng cụ, đồ dùng trang trí đƣợc làm từ giấy…nơi đ y cũng là không gian mở không ngăn cách, các bạn vừa sáng tạo vừa thƣởng thức món cà phê mới, vừa trao đổi đƣợc iến thức mới mẻ về cà phê hay iến thức hác với nhau và tƣơng tác với ngƣời phục vụ có chuyên môn.

    • Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng và không gian cho hội họp, công việc, học tập.
    • y là hai không gian cần sự yên tĩnh nhất định. Đối với những ngƣời chọn nơi

    hông gian riêng thì có 40 những ngƣời tham gia hảo sát chọn ngồi bệt, 32 bàn ghế bình thƣờng, 28 bàn ghế thấp; đối với những ngƣời chọn hông gian lãng mạn thì có 42 1 chọn ngồi bệt, 36 8 bàn ghế cao bình thƣờng và 21 1 bàn ghế thấp. Tại nơi đ y nhu cầu giới trẻ cũng đa dạng (số liệu phân tích bảng 42 phụ lục trang 94) Vậy việc trang

    tr  ghế trong hai   hu vực này gồm cả 3 loại bàn ghế nhƣng đối với mỗi loại   hông gian sẽ

    có sự ƣu tiên   hác nhau về số lƣợng và bố tr  bên trong.

    Đối với những ngƣời chọn       hoảng    hông gian riêng thì có 35 9             chọn nhạc

    hông lời, 28 2        chọn   hông muốn nghe nhạc; đối với những ngƣời chọn       hông gian

    lãng mạn có 26 9     chọn nhạc   hông lời, 23 07       chọn nhạc nƣớc ngoài. Đây cũng là hai

    67

    hông gian cần sự yên tĩnh nhất định, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu   hách hàng chúng tôi

    đề xuất có tai nghe cho những ngƣời muốn nghe nhạc, mở nhạc hông lời rất nhẹ, hông mở nhạc. Việc ết hợp nhƣ thế nào tùy vào không gian. Đối với hai hông gian này đa số ngƣời tham gia đều th ch đƣợc phục vụ nh sáng trong hai hông hac là hác nhau vì mục đ ch của chúng hác nhau, nên thiết ế phù hợp với từng không gian.

    Không gian thƣ giãn, hò hẹn, yên tĩnh thơ mộng : tại đ y khách hàng hòa vào tiếng nhạc trầm, nhẹ, du dƣơng, khi khí lạnh lạnh, bàn thấpcó thể ngồi bệt một cách thoải mái hoặc ngồi trên những chiếc ghế thấp, … êm nhẹ để thả mình vào giấc ngủ, vào các cuộc tâm tình bất tận. Có trang bị tai phone nghe nhạc riêng theo sở thích của bạn. Bên trong không gian này đƣợc ngăn cách bằng những tấm chắn nhựa cao, nếu họ ngồi ngay sát tƣờng sẽ có cửa kính nhỏ nhìn ra bên ngoài. Ở giữa là một ệ đƣợc thiết ế hình trụ dùng

    đựng truyện, tiểu thuyết…ph a trên tủ là hồ cá điện tử cũng hình trụ, khung chứa từ 2 đến 4 ngƣời, ánh sáng trong phòng sáng vừa phải, có cả đèn phụ cho những phòng hông có cửa nh thông với bên ngoài

    Không gian cho hội hợp, công việc, học tập: khách hàng có thể học tập, học nhóm, hợp nhóm bàn công việc thỏa thích tại đ y. Bố tr các loại bàn ghế cao, các loại bàn ghế thấp, bàn cho ngồi bệt nh sáng trong hu vực này sáng nhất tạo cho ngƣời dùng cảm giác thoải mái nhất để vận động trí nảo. Nếu nhóm quá đông có thể ghép bàn lại với nhau một cách dể dàng. Phía trƣớc là những dãy bàn đặt trong không gian mở rộng, phía sau là những đặt trong những khu nhỏ có tắm chắn ngăn cách. Tất cả bàn trong phòng đều trang bị dây phone nghe nhạc đặt cố định. Ngoài ra ngăn giữa khu có tắm chắc và khu rộng là

    ệ sách, từ điển, tài liệu, …cung cấp iến thức học tập cho mọi ngƣời Phòng tận dụng ánh sáng mặt trời vào ban ngày, cung cấp thêm ánh sáng từ đèn của quán để đủ độ sáng học tập cho các bạn vào ban đêm.

    Nhóm nghiên cứu đã thiết ế để mô phỏng các không gian ở các tầng khác nhau nhằm để hiểu rõ mô hình quán điểm mà nhóm đã trình bày (biểu đồ phụ lục trang 96, 97, 98).

    3.                 Kết luận

     

    3.1.   Tóm tắt lại nội dung của đề tài

     

    68

    Phán đoán đƣợc giới trẻ là một phân khúc mà Trung Nguyên bấy lâu nay chƣa chú tâm đến một cách sâu sắc. Nhóm nghiên cứu đã phân tích rõ đ y là thị phần tiềm năng trong tiêu dùng cà phê của giai đoạn tới

    Thông qua những bảng hảo sát định tính và định lƣợng làm nền tảng cung cấp những thông tin về chất lƣợng cà phê trong lòng ngƣời tiêu dùng, về xu hƣớng tiêu dùng cà phê của độ tuổi đƣợc cho là giới trẻ (để biết xu hƣớng tiêu dùng cà phê của các đối tƣợng này) và bảng hảo sát về thiết lập mô hình quán, nhómnghiên cứu đã lấy đó làm căn cứ xác thực để áp dụng phân tích những vấn đề mà giới trẻ quan tâm ngày nay, đặc biệt là những yếu tố xoay quanh sản phẩm, giá cả, cách thức lựa chọn không gian, cách trang trí nội thất cũng nhƣ phong cách phục vụ và phong cách quán.

    Bên cạnh việc phân tích thực tế các bảng hảo sát, nhóm đã tiến hành phân tích các mô hình SWOT, Marketing Mix dựa trên những thông tin, số liệu thu thập đƣợc từ chính trang web Trung Nguyên và các trang web thống kê uy tín khác nhằm tìm ra một chiến lƣợc phát triển phù hợp với tình hình hiện tại của Trung Nguyên trong thị trƣờng cà phê nói chung và thị phần giới trẻ nói riêng.

    Sau hi đã ph n t ch và lên chiến lƣợc xong, để xây dựng đƣợc một quán điểm, nhóm đã quan sát và tìm hiểu các mô hình quán mới xuất hiện gần đ y đƣợc giới trẻ quan tâm. Từ đó nhóm đã thiết lập định hƣớng mô hình quán sắp tới cho thị phần giới trẻ đầy năng động này là một mô hình quán mở với bốn không gian khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của giới trẻ nhiều.

    Bên cạnh đó, để đảm bảo việc tạo ra lợi nhuận cho quán điểm mới này, nhóm đã thu thập, phân tích định tính các chi phí mà Trung Nguyên đã đầu tƣ, làm cơ sở để tính toán mức chi phí cơ bản khi triển khai quán điểm cho thị phần giới trẻ. Ngoài ra phân tích các bài đánh giá của chuyên gia trong lĩnh vực thức uống, các bài báo cáo số liệu, nhóm đƣa ra mô hình quán thu hút giới trẻ, các tiêu chí về giá trong loại hình quán mới này để tạo ra doanh thu bù đắp những chi phí cao bỏ ra trong việc xây dựng quán điểm này.

    Cuối cùng, với tất cả những thông tin số liệu liên quan, nhóm đã vận dụng phƣơng pháp phân tích, xử lý dữ liệu SPSS để có căn cứ cho việc thiết lập nên mô hình quán cà phê phù hợp cho mục đ ch nghiên cứu đã nêu.

    69

    3.2.     Dự báo

    Sau khi đã xây dựng mô hình quán, nhóm đƣa ra các tiêu chí chung để đánh giá hoạt động của quán khi ứng dụng vào thực tiễn Cụ thể nhƣ sau:

    Số lƣợng khách trung bình đến quán trong một tuần: theo dõi con số này cụ thể trong bốn tuần đầu để tổng ết xem tháng đầu tiên có đạt đƣợc chỉ tiêu đề ra hay không. Con số này thể hiện rõ nét nhất mức độ ảnh hƣởng của cửa hàng đến giới trẻ trong phạm vi nghiên cứu Với hả năng phục vụ tối đa một lƣợng khách cho mỗi tầng, mỗi phòng thì số lƣợng khách thực đến quán đã vận dụng bao nhiêu phần trăm trong hả năng phục vụ của quán? Phần trăm càng lớn thì cửa hàng càng có cơ hội hơn

    Mức chi tiêu khách chi ra cho mỗi lần đến với quán thể hiện phần nào xu hƣớng sử dụng cà phê của khách hàng. Tiêu chí này dùng để cửa hàng nhận biết dòng sản phẩm nào đang đƣợc khách hàng ƣa chuộng, từ đó đƣa ra những phƣơng thức đầu tƣ hợp lý cả về chất lƣợng và phục vụ

    Không gian nào trong 4 không gian thiết ế của quán đƣợc giới trẻ quan tâm nhất? Thể hiện dựa trên số lƣợng khách hàng lui tới trung bình cho mỗi không gian trong mỗi tuần Qua tháng đầu ta có thể có một nhận định khá khách quan về điều này. Từ nhận định này để điều chỉnh trong cách phân bổ nhân viên phục vụ cho các tầng, các phòng cho phù hợp

    Quán sẽ áp dụng một bảng đáng giá ết quả hoàn thành công việc cho từng nhân viên. Kết quả cuối tháng sẽ cho thấy mức độ nhiệt tình, thái độ phục vụ trong công việc và nhiều yếu tố khác của nhân viên. Nhà quản lý sẽ dựa trên những điều này để hoàn thiện đội ngũ nhân viên của quán đồng thời phần nào hạn chế đƣợc những phản hồi tiêu cực từ phía khách hàng.

    Bằng cách nào đó để biết đƣợc mức độ hài lòng của khách hàng hiện tại của quán, tìm hiếu về mức hiệu quả của các kênh thông tin mà quán đang sử dụng Có thể nhờ sự thân thiện trong giao tiếp để tìm hiểu những điều này, một mặt hoàn thiện đội ngũ nhân viên hơn, một mặt tìm hiểu đƣợc quán của mình đang ở đ u trong lòng khách hàng qua phản ứng, thái độ hay những phản hồi từ phía khách hàng…

    70

    Quan trọng hơn hết vẫn là việc chúng ta có thể tiếp tục duy trì quán hay không? Dựa vào doanh thu của tháng đầu, con số này liệu có bù đắp đƣợc chi phí hay mục tiêu của quán đã đề ra trƣớc đó Câu trả lời là có hay không thì các nhà quản lý đều phải có hƣớng đi tiếp theo cho quán trong bất kì tình huống nào?

    Đề tài dựa trên những    hảo sát mong muốn của giới trẻ về quán của trung nguyên

    đƣợc thiết   ế đặc biệt về phong cách, có phần khác biệt và mới lạ khi           ết hợp nhiều

    không gian trong cùng một quán nên đƣợc kì vọng sẽ thu hút đƣợc một lƣợng khách hàng

    thuyết phục Tuy nhiên, không có một dự án nào là hoàn hảo, việc chấp nhận mở một quán cà phê cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang phải đối mặt với những rủi ro nhất định chẳng hạn nhƣ: ết quả hoạt động kinh doanh không nhƣ mong đợi, hệ thống quản lý chƣa ịp hoàn thiện, bị tác động bởi những rủi ro từ thị trƣờng…dẫn đến tình hình quán không hả thi nhƣ mong đợi Bởi vậy, quán cần đề ra những giải pháp hắc phục biến cố có thể xảy ra trong quá trình hoạt động của quán. Một số hƣớng hắc phục mà chúng tôi đề xuất nhƣ: có hệ thống đánh giá iểm tra chất lƣợng dịch vụ thƣờng xuyên, đào tạo nhân viên, xem xét và đổi mới hệ thống tiếp thị của quán.

    3.3.     Đóng góp của đề tài

    Nghiên cứu này đã giúp ngƣời đọc có cái nhìn tổng quan về xu hƣớng sử dụng và mức độ thỏa mãn của giới trẻ khi sử dụng cà phê Trung Nguyên ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tìm hiểu đƣợc phần nào về những mong muốn của giới trẻ đối với quán cà phê Trung Nguyên.

    Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa đối với các quán hiện tại của Trung Nguyên, mở ra cho họ những ý tƣởng mới, hƣớng đi mới trong việc đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng hiện tại và tìm iếm khách hàng tiềm năng trong tƣơng lai.

    Phát hiện ra giới trẻ có số lƣợng lớn, đa phần đều có quan tâm đến Trung Nguyên nhƣng lƣợng tiêu thụ còn hạn chế. Trong khi Trung Nguyên vẫn có phục vụ cho phân khúc thị trƣờng này, nó cho thấy giới trẻ vẫn chƣa đƣợc Trung Nguyên chú trọng và khai thác.

    Chứng minh phân khúc thị trƣờng giới trẻ là tiềm năng đối với Trung Nguyên ở hiện tại và tƣơng lai.

    71

    Đƣa ra những cách thức giúp Trung Nguyên có thể xâm nhập mạnh hơn vào thị trƣờng giới trẻ để cạnh tranh với các đối thủ khác. Cho thấy giải pháp mới để nâng cao vị thế cạnh tranh và tạo ra một văn hóa cà phê riêng của Trung Nguyên đối với giới trẻ

    Đƣa ra ý tƣởng về mô hình quán cà phê mới dành cho giới trẻ của Trung Nguyên với nhiều đặc điểm khác biệt Phác họa những tiêu chí giúp Trung Nguyên có cơ sở định

    hình rõ hơn về mô hình quán điểm sẽ xây dựng dành cho giới trẻ

    3.4.   Hạn chế của và hƣớng phát triển của đề tài sau nếu có

    Do nhiều điều   iện khách quan, bài nghiên cứu còn chứa đựng những hạn chế sau:

    Nhóm nghiên cứu đƣa ra ý tƣởng về mô hình quán cà phê dành cho giới trẻ của Trung Nguyên tại Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên bảng hảo sát thực tế. Mặc dù việc chọn đối tƣợng và địa điểm có sự chọn lọc để mỗi bảng hảo sát thu đƣợc ết quả tốt

    nhất. Tuy nhiên số lƣợng bảng  hảo sát còn hạn chế, chƣa đến 200 bảng cho mỗi loại hảo sát, để đánh giá cho khu vực Thành phố Hồ Chí Minh làm cho  ết quả chƣa có tính tổng quát cao. Đề tài đƣợc thực hiện dừng lại ở các khu vực cục bộ trong Thành phố Hồ Chí Minh, vì vậy đề tài phát triển sắp tới có thể mở rộng trên hầu hết địa bàn thành phố để đảm bảo tính xác thực và  hả thi cao khi áp dụng nghiên cứu để ứng dụng vào thực

    tiễn

    Nghiên cứu trình bày dựa trên những thông tin, số liệu báo chí uy tín trong hoảng thời gian từ năm 2003 đến 2013, đó là một hoảng thời gian khá dài, nhiều số liệu đã cũ, khác so với hiện tại làm cho những thông tin cung cấp và dự báo tƣơng lai bị hạn chế. Việc nghiên cứu đánh giá số liệu qua các kênh thông tin còn hạn hẹp, nhóm sẽ phải tìm hiểu thêm các số liệu cần thiết khi triển khai mô hình vào thực tiễn, đồng thời cần quan tâm đến các quan điểm của chuyên gia khi nhìn nhận sự xoay chuyển trong thời gian tới của nền kinh tế nói chung và thị trƣờng cà phê nói riêng. Việc phân tích của nhóm chỉ dựa trên số liệu thực tại và thông tinquá hứ, nhóm sẽ phải tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam trong tổng thể và các yếu tố riêng biệt ảnh hƣởng đến việc tiêu thụ cà phê trong thị phần giới trẻ

    Mặc dù đã vận dụng nhiều phƣơng pháp từ thống kê thực tế qua hảo sát, đến tƣ duy biện chứng qua phân tích các mô hình đã đƣợc học trong trƣờng. Nhóm nghiên cứu

    72

    nhận thấy còn nhiều hạn chế cho việc nghiên cứu vấn đề mới của một thƣơng hiệu lớn. Ngoài ra, trong khi phân tích, nhóm vẫn chƣa sử dụng triệt để các công cụ của phần mềm phân tích dữ liệu SPSS. Bài nghiên cứu chỉ đƣa ra các ý tƣởng mô hình ban đầu, vẫn chƣa xoáy sâu phân tích lời lỗ dòng tiền, dự báo của quán. Đây có thể là một đề tài khác bổ sung thêm để hoàn thiện và làm rõ hơn về tiến trình xây dựng quán.

    73

    PHỤ LỤC

    BẢNG KHẢO S           T TÌM HIỂU XU HƢỚNG TIÊU DÙNG CÀ PHÊ

        CỦA KH  CH HÀNG
    1. Bạn hãy cho biết giới tính của mình .
      ○ Nam ○ Nữ
    2. Tình trạng hôn nhân.  
      ○ Độc thân ○ Đã lập gia đình
      ○ Đang ly thân ○ Đã lập gia đình và ly hôn
    • Khác
    1. Mức độ thƣờng xuyên sử dụng cà phê của bạn trong một tuần.

    ○ 0                ○ 1                        ○ 2                        ○ 3                        ○ 4                        ○ >4

    1. Độ tuổi của bạn nằm trong hoảng nào

    ○ 15-20                             ○ 20-25                             ○ 25-35                             ○ >35

    1. Việc sử dụng hay thay đổi loại cà phê của bạn thƣờng chịu tác động bởi những đối

    tƣợng, yếu tố nào với mức độ bao nhiêu ( đánh dấu Pvào mức độ : 1- không ảnh hƣởng. 2-ảnh hƣởng rất ít, 3-bình thƣờng, 4-ảnh hƣởng khá nhiều, 5-ảnh hƣởng hoàn toàn).

    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Bạn bè, ngƣời thân          
    Thần tƣợng          
    Cá nhân ( sở thích, cá tính, kiến thức …)          
    Thƣơng hiệu (giá, dịch vụ, sản phẩm, chƣơng          
    trình…)          
    Mốt          
    1. Bạn đang quan t m vấn đề nào trong sản phẩm cà phê Trung Nguyên với mức độ

    (đánh dấu P vào ô : 1-không quan tâm, 2-hơi quan t m, 3-quan tâm, 4-quan tân khá nhiều, 5-rất quan tâm).

    Vấn đề 1 2 3 4 5
    Mẫu          
               
    Kiểu dáng          
    Bao bì          
    Giá bán          
               
    Chất lƣợng          
    Chủng loại          
               
     
    Nơi mua
    Tiệm tập hóa Quán ven đƣờng Chợ
    Siêu thị

    74

    1. Bạn cho biết mức thu nhập hiện tại của bạn là bao nhiêu trong tháng (tổng thu nhập chính, thu nhập phụ, thu nhập khác, chu cấp của gia đình)
    Đơn vị: VND  
    ○ <1, 500, 000 ○ 1, 500, 000-3, 000, 000
    3, 000, 000-7, 000, 000 ○ 7, 000, 000-12, 000, 000
    12, 000, 000-18, 000, 000 ○ >18, 000, 000
    1. Khi thu nhập tăng bao nhiêu thì bạn có những quyết định sau: (đánh dấu P vào ô)
      Thu nhập tăng   Sử   dụng Vẫn sử Sử  dụng  ít Sửdụng   Sử   dụng
      Đơn vị: VND   nhiều hơn dụng nhƣ hơn thƣơng   hoàn  toàn
            thƣờng   hiệu cà phê   loại cà phê
                  khác   khác
      < 500,000                
      500,000-1,500,000                
      >= 1,500,000                
    9.  Bạn có xu hƣớng vẫn mua loại cà phê đang sử dụng khi nó lên giá bao nhiêu.  
      ○ <1,000 VND     ○ 1,000-3,000 VND      
      ○ 3,000-10,000 VND   ○ >10,000 VND      
    1. Bạn nghĩ xu hƣớng uống cà phê sắp tới tại các thành phố lớn của Việt Nam nhƣ thế nào (nhiều lựa chọn)

    ¨ Mang đi                                  ¨ Dùng tại quán

    ¨ Văn phòng công ty ¨ Tại nhà                                    ¨ Khác                         `

    1. Theo bạn giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê Trung Nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (1-không, 2-hơi có, 3-bình thƣờng, 4-cao, 5-rất cao). Bạn thuộc đối tƣợng nào đánh dấu P vào ô.
    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Học sinh          
    Sinh viên          
    Sinh viên đã tốt nghiệp          
    Khác          

    Bạn thuộc đối tƣợng nào trong các đối tƣợng nêu trên: …

    1. Bạn thƣờng mua cà phê Trung Nguyên ở đ u và tại sao (đánh dấu Pvào ô )
    Lý do Gần Tiện Sở Thói Tuy theo giá bán khác
      khu đƣờng thích quen từng nơi  
      vực ở về        
                 

    75

    1. Bạn thƣờng uống cà phê khi nào.

    ¨ Theo chế độ riêng bản thân                ¨ Thói quen, tùy hứng

    ¨ Sau những giờ làm việc căng thẳng             ¨ Khi tụ họp bạn bè đồng nghiệp

    ¨ Trƣớc khi bắt đầu làm việc                     ¨ Bàn công việc với  hách hàng

    1. Nhận định của bạn về hệ thống phân phối của cà phê Trung Nguyên dƣới đ y

    (đánh dấu P vào ô : 1- rất kém, 2-hơi          ém, 3-bình thƣờng, 4-tốt, 5-rất tốt).

    Nhận định   1 2 3 4 5
    Số lƣợng chi nhánh, trung gian phân phối rộng            
    Hệ thống phân phối nhanh, mạnh, chuyên nghiệp            
    Chủng loại, số lƣợng, chất lƣợng trong từng hệ thống, kênh,          
    nơi cung cấp.            
    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng hảo sát của chúng tôi      
    chúc bạn ngày tốt lành, vui vẻ và thành công!        

    BẢN KHẢO SÁT MỨC ĐỘ THỎA MÃN KHÁCH HÀNG VỀ SẢN PHẨM CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN

    1. Bạn có thƣờng quan tâm theo dõi về thị trƣờng cà phê, sản phẩm cà phê…của Trung Nguyên hay không?

    ○ Có                                    ○ Không                                            ○ Bình thƣờng

    1. Bạn thƣờng uống cà phê Trung Nguyên 1 tuần bao nhiêu lần:

    ○ 0 lần                          ○ 1-3 lần                           ○ 3-5 lần                       ○ > 5 lần

    1. Bạn hãy cho biết giới tính của mình .
    1. Tình trạng hôn nhân

    ○ Độc thân                                                                              ○ Đã lập gia đình

    1. Độ tuổi của bạn nằm trong hoảng nào

    ○ 15-20                                ○ 20-25                             ○ 25-35                           ○  >35

    1. Bạn biết đến thông tin cà phê Trung Nguyên qua phƣơng tiện nào.

    ¨ Báo ¨ Đài ¨ Tivi ¨ Intenet ¨ Khác:……………

    1. Đánh giá mức độ hài lòng về cà phê Trung Nguyên (đánh dấu P vào ô 1: hoàn

    toàn hông hài lòng; 2: hài lòng t; 3: bình thƣờng; 4: há hài lòng; 5: hoàn toàn hài lòng)

    76          
               
    Sản phẩm 1 2 3 4 5
    Cà phê Trung Nguyên đảm bảo chất lƣợng thơm ngon          
    Hƣơng vị cà phê Trung Nguyên khiến bạn khó quên          
    Đặc điểm, kiểu dáng sản phẩm cà phê Trung Nguyên để lại cho          
    bạn ấn tƣợng          
    Bao bì sản phẩm cà phê Trung Nguyên tiện dụng cho bạn          
    Thiết  ế sang trọng, sạch sẽ, đẹp mắt phù hợp với yêu cầu của          
    khách hàng          
    Bạn hài lòng với cung cách phục vụ trong các cửa hàng Trung          
    Nguyên          
    Giá cả sản phẩm          

    Giá cả của các sản phẩm Trung Nguyên là phù hợp với ngƣời tiêu dùng

    Bạn mua sản phẩm với số lƣợng nhiều và đƣợc chiết khấu 1 phần

    Sản phẩm mua với số lƣợng nhiều đƣợc giao tới tận nơi có giá hông tăng lên so với bình thƣờng.

    Phân phối sản phẩm

    Bạn dễ dàng tiếp cận đƣợc các loại sản phẩm cà phê Trung

    Nguyên

    Bạn mua sản phẩm cà phê trực tiếp từ ngƣời sản xuất

    Xúc tiến thƣơng mại

    Bạn có thể nhớ và phân biệt lô-gô cà phê Trung Nguyên với các sản phẩm cà phê khác.

    Bạn biết đến hầu hết các chƣơng trình         huyến mãi của Trung

    Nguyên

    Khi nhắc đến cà phê thì bạn thì bạn nghĩ ngay đến cà phê Trung

    Nguyên

    1. Theo bạn những dòng sản phẩm mang thƣơng hiệu cà phê Trung Nguyên có

    mang tính sáng tạo, đột phá  không?

    ○ Không có                      ○ Bình thƣờng                               ○ Có

    1. Việc sử dụng hay thay đổi loại cà phê của bạn thƣờng chịu tác động bởi những

     

    đối tƣợng với mức độ bao nhiêu (đánh dấu Pvào mức độ: 1-không ảnh hƣởng, 2-ảnh hƣởng rất ít, 3-vừa phải, 4-ảnh hƣởng khá nhiều, 5-ảnh hƣởng hoàn toàn)

    Đối tƣợng 1 2 3 4 5
    Bạn bè, ngƣời thân          
    Thần tƣợng          
    Cá nhân ( sở thích, cá tính, kiến thức …)          
    Thƣơng hiệu (giá, dịch vụ, sản phẩm, chƣơng trình…)          
    Mốt          

    77

    1. Khi thu nhập tăng bao nhiêu thì bạn có những quyết định sau: đánh dấu P vào ô)
    Thu nhập tăng Sử   dụng Vẫn sử Sử  dụng  ít Sửdụng Sử   dụng
    Đơn vị: VND nhiều hơn dụng nhƣ hơn thƣơng hoàn  toàn
        thƣờng     hiệu cà phê loại cà phê
              khác khác
    < 500,000            
    500,000-1,500,000            
    >= 1,500,000            
    1. Bạn vẫn mua loại cà phê đang sử dụng khi nó lên giá bao nhiêu:

    ○ <1,000 VND ○ 1,000-3,000 VND ○ 3,000 – 10,000 VND ○ >10,000 VND

    1. Sự hài lòng của bạn khi sử dụng cà phê với thƣơng hiệu Trung Nguyên

    ○ Rất không hài lòng ○ Bình thƣờng ○ Không hài lòng ○ Hài lòng

    • Rất hài lòng
    1. Bạn sẽ giới thiệu những ngƣời thân của bạn về sản phẩm cà phê Trung Nguyên không?

    ○ Chắc chắn                                  ○ Có thể                                                            ○ Không

    1. Nhìn chung, bạn thấy cà phê Trung Nguyên nhƣ thế nào?

    ○ Trên cả tuyệt vời                                           ○ Tuyệt vời

    ○ Th ch                                                                      ○ Bình thƣờng

    ○ Tạm đƣợc

    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng   hảo sát của chúng tôi

    chúc bạn ngày tốt lành, vui vẻ và thành công.

      XÂY DỰNG MÔ HÌNH QU  N ĐIỂM CÀ PHÊ CỦA GIỚI TRẺ
    Câu 1 : Trung bình một tháng bạn đến tịệm   Câu 2: Trung bình bạn chi tiêu bao nhiêu
     
    cà phê bao nhiêu lần :   cho 1 lần đến quán cà phê?
    ¡<2 ¡ 2- 4   ¡<20,000 ¡ 20,000 – 40,000
    ¡ 4-8 ¡>8   ¡ 40,000 – 60,000 ¡> 60,000

    78

    Câu 3: Trung bình bạn dành bao nhiêu thời gian tại quán cà phê?

    ¡< 1 giờ   ¡ 1-2 giờ
    ¡ 2- 4 giờ   ¡>4 giờ
    Câu 4 : Bạn thƣờng đến quán cà phê  vào
    thời điểm nào trong ngày nhất ?
           
    ¡ Buổi sáng   ¡ Buổi chiều
    ¡ Buổi tối   ¡ Lúc rảnh rỗi

    Câu 5: Bạn muốn địa điểm quán nhƣ thế nào nhất?

    • Gần trạm xe buýt

     

    • Nơi trong hẻm, yên tĩnh

     

    • Gần đƣờng tấp nập

     

    • Gần các trung tâm mua sắm

    Câu 6: Mục đ ch Bạn đến quán cà phê là gì?

    o Đọc sách                   o Lƣớt web

    oThƣ giãn                    o Làm việc

    o Học tập                      o Làm việc nhóm

    o Trò chuyện, tán gẫu          o Khác

    Câu 7: Bạn th ch hông gian quán đƣợc trang trí theo phong cách nào nhất?

    • Cổ điển ¡ Hiện đại

    ¡ Đồng quê ¡ Phong cách trẻ ¡ Khác Câu 8: Bạn thích uống cà phê tại quán điểm nhƣ thế nào?

    • Chỉ bán cà phê và nƣớc giải khát khác

     

    • Cà phê + nƣớc giải khác + phục vụ đồ ăn nhanh
    • Thêm có vật dụng giải trí (truyện + cờ

    cá ngựa + xếp hình)

    • Thêm điểm tâm buổi sáng (Phở, Bún,

    Bánh mì) + cơm trƣa văn phòng

    • Khác.

    Câu 9: Bạn thích trong quán có những dịch vụ – trò chơi nào?

    o Truyện                       o Sách

    o Báo, tạp chí o Cờ cá ngựa o Cờ Domino o wifi o Ráp hình o Rút gỗ o Khác

    Câu 10 : Bạn thích uống cà phê tại không gian quán điểm nhƣ thế nào nhất?

    • Ngoài trời

     

    • Phòng máy lạnh

     

    • Nơi nhộn nhịp

     

    • Có khoảng không gian riêng

    Câu 11: Bạn thích uống cà phê tại quán điểm có phong cách nhƣ thế nào nhất?

    ¡Tao nhã, sang trọng            ¡Lãng mạn

    ¡Trẻ trung, sôi động             ¡Ấm cúng

    C u 12: Bạn th ch iểu bàn ghế trong quán
    cafe nhƣ thế nàonhất?
    ¡Bàn ghế thấp     ¡ Ngồi bệt
    ¡Bàn ghế cao bình thƣờng
           

    Câu 13: Bạn muốn nghe thể loại nhạc nào trong quán điểm nhất?

    ¡ Không muốn nghe

    79

    ¡Nhạc Trịnh, hải ngoại, tiền chiến

    ¡Nhạc Việt trẻ

    ¡Nhạc nƣớc ngoài

    ¡Nhạc cổ điển,   hông lời

    • u 14: Bạn mong muốn nh n viên có thái độ phục vụ nhƣ thế nào nhất?

    ¡Thân thiện, niềm nở ¡Lịch sự, chuyên nghiệp

    • Năng động, trẻ trung

    Câu 15: Bạn thích hình thức phục vụ nào nhất?

    • Tự phục vụ

     

    • Đƣợc phục vụ

    Câu 16: Bạn hãy sắp xếp theo mức độ quan tâm của bạn theo thứ tự ưu tiên từ 1-

    • (4 là cao nhất, 1 là thấp nhất).

     

    • Sản phẩm
    • Giá cả
    • Đặc điểm, vị trí cửa hiệu
    • Các chƣơng trình và dịch vụ của quán

    Xin vui lòng cho biết thông tin cá nhân:

    Bạn cho biết giới tính của bạn :

    ¡ Nam                             ¡ Nữ

    Hiện tại bạn đang là :

    ¡ Sinh viên                  ¡ Đang tìm việc

    ¡ Học sinh                   ¡ Đã đi làm

    Thu nhập hiện tại của bạn là bao nhiêu mỗi tháng :

    ¡<= 1,5 triệu ¡ 1,5 triệu – 3 triệu ¡ 3 triệu – 5 triệu ¡> 5 triệu

    Cảm ơn bạn đã hoàn thành bảng         hảo sát của chúng tôi chúc bạn ngày tốt

    lành, vui vẻ và thành công.

     

    80

    BẢNG BIỂU

    Kết quả ph n t ch xu hƣớng tiêu dùng

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid 0 27 16.4 16.4 16.4
      1 48 29.1 29.1 45.5
      2 41 24.8 24.8 70.3
      3 14 8.5 8.5 78.8
      4 4 2.4 2.4 81.2
      >4 31 18.8 18.8 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 1: : Bảng tần số thể hiện mức độ thƣờng xuyên sử dụng cà phê trong một tuần

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid  <1.500 54 32.7 32.7 32.7
    1.500-3.000 79 47.9 47.9 80.6
    3.000-7.000 26 15.8 15.8 96.4
    7.000-12.000 4 2.4 2.4 98.8
    12.000-18.000 1 0.6 0.6 99.4
    >18.000 1 0.6 0.6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  
             

    Bảng 2: Bảng tần số thể hiện thu nhập

    Model R   R Square Adjusted  R Std. Error of the Estimate
      Square
             
               
    1   .195a .038 .032 1.655
               

    Bảng 3: Bảng hồi quy thể hiện sự phụ thuộc của số lần uống vào thu nhập và sự phù hợp của mô hình

    81

        Responses   Percent
              of Cases
        N   Percent
    Valid Không quan tâm 152   15.4% 92.1%
      Hơi quan t m 181   18.3% 109.7%
      Quan tâm 278   28.1% 168.5%
      Quan t m  há nhiều 206   20.8% 124.8%
      Rất quan t m 173   17.5% 104.8%
    Total   990   100.0% 600.0%

    Bảng 4: Bảng tần số thể hiện sự quan t m của giới trẻ về sản phẩm của Trung Nguyên

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid   Không quan tâm 43 26.1 26.1 26.1
    Hơi quan t m 51 30.9 30.9 57.0
    Quan tâm 42 25.5 25.5 82.4
    Quan t m  há nhiều 21 12.7 12.7 95.2
    Rất quan t m 8 4.8 4.8 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 5: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Mẫu)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
             
    Valid  Không quan tâm 35 21.2 21.2 21.2
    Hơi quan t m 50 30.3 30.3 51.5
    Quan tâm 50 30.3 30.3 81.8
    Quan t m  há nhiều 23 13.9 13.9 95.8
    Rất quan t m 7 4.2 4.2 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 6: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Kiểu dáng)

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid  Không quan tâm 34 20.6 20.6 20.6
      Hơi quan t m 43 26.1 26.1 46.7
      Quan tâm 57 34.5 34.5 81.2
        82            
      Quan t m  há nhiều   13.3   13.3   94.5  
      22      
      Rất quan t m 9 5.5   5.5   100.0  
      Total 165 100.0   100.0      

    Bảng 7: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm  (Bao bì)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid  Không quan tâm 13 7.9 7.9 7.9
    Hơi quan t m 13 7.9 7.9 15.8
    Quan tâm 56 33.9 33.9 49.7
    Quan t m  há nhiều 46 27.9 27.9 77.6
    Rất quan t m 37 22.4 22.4 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 8: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Giá bán)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid   Không quan tâm 9 5.5 5.5 5.5
    Hơi quan t m 8 4.8 4.8 10.3
    Quan tâm 24 14.5 14.5 24.8
    Quan t m  há nhiều 41 24.8 24.8 49.7
    Rất quan t m 83 50.3 50.3 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 9: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Chất lƣợng)

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid  Không quan tâm 18 10.9 10.9 10.9
    Hơi quan t m 16 9.7 9.7 20.6
    Quan tâm 49 29.7 29.7 50.3
    Quan t m  há nhiều 53 32.1 32.1 82.4
    Rất quan t m 29 17.6 17.6 100.0
    Total 165 100.0 100.0  

    Bảng 10: Bảng tần số thể hiện sự quan tâm về các yếu tố của sản phẩm (Chủng loại)

    83

      Sum of Df   Mean F Sig.
      Squares     Square
               
    Between Groups 357.912   4 89.478 134.980 .000
    Within Groups 106.064   160 .663    
    Total 463.976   164      
                   

    Bảng 11: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động của yếu tố bạn bè, ngƣời th n tới mức độ sử dụng cà phê

        Sumof   Df   Mean   F   Sig.  
                 
        Squares     Square      
                       
                           
    Between Groups   356.697     4 89.174   132.998   .000  
    Within Groups   107.279     160 .670          
    Total   463.976     164            
                         
    Bảng 12: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động của yếu tố cá nh n  

    tới mức độ sử dụng cà phê

      Sum of df   Mean   F   Sig.
      Squares   Square    
                 
    Between Groups 28.046   4   7.012   2.573 .040
    Within Groups 435.930   160   2.725      
    Total 463.976   164          
                     

    Bảng 13: Bảng iểm định ANOVA thể hiện sự tác động yếu tố thƣơng hiệu tới mức độ sử dụng cà phê

    84

    Tukey HSD

            Mean       95% Confidence
              Std.   Interval  
    (I) BAN BE NGUOI THAN Difference   Sig.  
      Error Lower Upper
            (I-J)    
                  Bound Bound
                   
    Không ảnh hƣởng Ảnh hƣởng rất  t -.697* .187 .003 -1.21 -.18
          Vừa phải -1.622* .179 .000 -2.12 -1.13
          Ảnh hƣởng  há nhiều -3.617* .197 .000 -4.16 -3.07
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.831* .216 .000 -4.43 -3.24
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .697* .187 .003 .18 1.21
          Vừa phải -.925* .193 .000 -1.46 -.39
          Ảnh hƣởng  há nhiều -2.920* .209 .000 -3.50 -2.34
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.134* .227 .000 -3.76 -2.51
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng 1.622* .179 .000 1.13 2.12
          Ảnh hƣởng rất  t .925* .193 .000 .39 1.46
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.995* .202 .000 -2.55 -1.44
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -2.209* .220 .000 -2.82 -1.60
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 3.617* .197 .000 3.07 4.16
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t 2.920* .209 .000 2.34 3.50
          Vừa phải 1.995* .202 .000 1.44 2.55
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.214 .235 .892 -.86 .43
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 3.831* .216 .000 3.24 4.43
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t 3.134 * .227 .000 2.51 3.76
           
          Vừa phải 2.209* .220 .000 1.60 2.82
          Ảnh hƣởng  há nhiều .214 .235 .892 -.43 .86
                       

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

    Bảng 14: : Bảng ph n t ch s u ANOVA về mức độ ảnh hƣởng của yếu tố bạn bè, ngƣời th n tới mức độ sử dụng cà phê

    85

    Tukey HSD

                    95%  Confidence
            Mean       Interval  
            Difference Std.   Lower Upper
    (I) CA NHAN     (I-J)   Error Sig. Bound Bound
    Không ảnh hƣởng Ảnh hƣởng rất  t -.294 .309 .876 -1.15 .56
          Vừa phải -1.085* .265 .001 -1.82 -.35
          Ảnh hƣởng  há nhiều -2.103* .270 .000 -2.85 -1.36
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -4.100* .263 .000 -4.83 -3.37
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .294 .309 .876 -.56 1.15
          Vừa phải -.791* .232 .007 -1.43 -.15
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.808* .238 .000 -2.47 -1.15
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.806* .230 .000 -4.44 -3.17
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng 1.085* .265 .001 .35 1.82
          Ảnh hƣởng rất  t .791* .232 .007 .15 1.43
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.017* .177 .000 -1.51 -.53
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -3.015* .166 .000 -3.47 -2.56
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 2.103* .270 .000 1.36 2.85
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t 1.808* .238 .000 1.15 2.47
          Vừa phải 1.017* .177 .000 .53 1.51
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -1.997* .175 .000 -2.48 -1.51
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 4.100* .263 .000 3.37 4.83
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t 3.806 * .230 .000 3.17 4.44
           
          Vừa phải 3.015* .166 .000 2.56 3.47
          Ảnh hƣởng  há nhiều 1.997* .175 .000 1.51 2.48
                       

    *. The mean difference is significant at the 0.05 level.

    Bảng 15: Bảng ph n t ch s u ANOVA mức độ ảnh hƣởng của yếu tố cá nh n tới mức độ sử dụng cà phê

    Tukey HSD

      Mean     95%   Confidence  
      Std.   Interval    
    (I) THUONG HIEU Difference Sig.    
    Error Lower Upper  
      (I-J)  
          Bound Bound  
           
    Không ảnh hƣởng   Ảnh hƣởng rất  t -.841 .470 .384 -2.14 .46  
                 
            86                
          Vừa phải   .412   .881   -1.53   .75  
          -.388        
          Ảnh hƣởng  há nhiều -1.122 .457   .106   -2.38   .14  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -1.174 .487   .118   -2.52   .17  
    Ảnh hƣởng rất  t Không ảnh hƣởng .841 .470   .384   -.46   2.14  
          Vừa phải .453 .379   .753   -.59   1.50  
          Ảnh hƣởng  há nhiều -.281 .427   .965   -1.46   .90  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.333 .459   .950   -1.60   .93  
    Vừa phải   Không ảnh hƣởng .388 .412   .881   -.75   1.53  
          Ảnh hƣởng rất  t -.453 .379   .753   -1.50   .59  
          Ảnh hƣởng  há nhiều -.735 .362   .258   -1.73   .27  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.787 .400   .286   -1.89   .32  
    Ảnh hƣởng Không ảnh hƣởng 1.122 .457   .106   -.14   2.38  
    nhiều     Ảnh hƣởng rất  t .281 .427   .965   -.90   1.46  
          Vừa phải .735 .362   .258   -.27   1.73  
          Ảnh hƣởng hoàn toàn -.052 .446   1.000   -1.28   1.18  
    Ảnh hƣởng hoàn Không ảnh hƣởng 1.174 .487   .118   -.17   2.52  
    toàn     Ảnh hƣởng rất  t .333 .459   .950   -.93   1.60  
                 
          Vừa phải .787 .400   .286   -.32   1.89  
          Ảnh hƣởng  há nhiều .052 .446   1.000   -1.18   1.28  
                             

    Bảng 16: Bảng ph n t ch s u ANOVA về mức độ ảnh hƣởng của yếu tố thƣơng hiệu tới mức độ sử dụng cà phê

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
               
    Valid Gần  hu vực ở 80 48.5 58.0 58.0
      Tiện đƣờng về 25 15.2 18.1 76.1
      Sở th ch 5 3.0 3.6 79.7
      Thói quen 12 7.3 8.7 88.4
      Tùy theo giá bán từng nơi 9 5.5 6.5 94.9
      Khác 7 4.2 5.1 100.0
      Total 138 83.6 100.0  
    Missing System 27 16.4    
    Total   165 100.0    
               

    Bảng 17: : Bảng tần số thể hiện lý do chọn tiệm tập hoá

    87

                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
                             
        Valid Gần hu vực ở 17 10.3 13.3 13.3  
          Tiện đƣờng về 56 33.9 43.8 57.0  
          Sở th ch 21 12.7 16.4 73.4  
          Thói quen 14 8.5 10.9 84.4  
          Tùy theo giá bán từng nơi 9 5.5 7.0 91.4  
          Khác   11 6.7 8.6 100.0  
          Total   128 77.6 100.0    
        Missing System 37 22.4      
        Total     165 100.0      
                         
        Bảng 18: Bảng tần số thể hiện lý do chọn quán ven đƣờng      
                             
                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
        Valid Gần hu vực ở   30 18.2 25.2 25.2  
          Tiện đƣờng về   38 23.0 31.9 57.1  
          Sở th ch   9 5.5 7.6 64.7  
          Thói quen   10 6.1 8.4 73.1  
          Tùy theo giá bán từng nơi   17 10.3 14.3 87.4  
          Khác     15 9.1 12.6 100.0  
          Total     119 72.1 100.0    
        Missing System   46 27.9      
        Total       165 100.0      
                       
        Bảng 19: Bảng tần số thể hiện lý do chọn chợ          
                             
                  Frequency   Percent Valid Cumulative  
                    Percent Percent  
                         
        Valid Gần hu vực ở   36   21.8 25.9 25.9  
          Tiện đƣờng về   18   10.9 12.9 38.8  
          Sở th ch   25   15.2 18.0 56.8  
          Thói quen   36   21.8 25.9 82.7  
          Tùy theo giá bán từng nơi   12   7.3 8.6 91.4  
          Khác   12   7.3 8.6 100.0  
          Total   139   84.2 100.0    
        Missing System   26   15.8      
        Total       165   100.0      
                             

    Bảng 20: Bảng tần số thể hiện lý do chọn siêu thị

    88

        Responses   Percent of
        N Percent Cases  
    Valid Mang đi 80 41.9%   49.7%
      Dùng tại quán 44 23.0%   27.3%
      Văn phòng công ty 49 25.7%   30.4%
      Tại nhà 17 8.9%   10.6%
      Khác 1 .5%   .6%
    Total   191 100.0%   118.6%
               

    Bảng 21: Bảng tần số thể hiện xu hƣớng uống cà phê tại các thành phố lớn trong tƣơng lai

        Bạn có xu hƣớng vẫn mua loại cà phê đang sử dụng hi nó lên giá bao
        nhiêu                
        <1, 000 đ 1, 000-3, 000 đ 3, 000-10, 000 đ >10, 000 đ
          Column     Column   Column   Column
        Count N % Count   N % Count N % Count N %
    Mức 0 9 25.7% 11   15.3% 6 14.3% 1 6.3%
    độ 1 10 28.6% 23   31.9% 11 26.2% 4 25.0%
    thƣờng 2 7 20.0% 18   25.0% 14 33.3% 2 12.5%
    xuyên 3 0 0.0% 7   9.7% 4 9.5% 3 18.8%
    sử  
    4 1 2.9% 2   2.8% 1 2.4% 0 0.0%
    dụng  
    >4 8 22.9% 11   15.3% 6 14.3% 6 37.5%
    cà  phê  
                       
    của                    
    bạn                    
    trong                    
    một                    
    tuần                    
      TỔNG                  
      CỘNG 35 100% 72   100% 42 100% 16 100%
    Bảng 22: Bảng tần số chéo thể hiện quyết định hi giá loại cà phê đang sử dụng tăng lên

    Bảng tần số thể hiện mức độ quan t m của giới trẻ nói chung

        Responses    
        N Percent Percent of Cases
    GHEP CAU 12a Không 97 11.8% 58.8%
      Hơi có 183 22.2% 110.9%
          89              
        Bình thƣờng     25.5%   127.3%  
          210    
        Cao   271 32.8%   164.2%  
        Rất cao   64 7.8%   38.8%  
      Total     825 100.0%   500.0%  
                     
      Bảng 23: Bảng tần số thể hiện mức độ quan t m của giới trẻ nói chung    
                       
                  Valid Cumulative  
              Frequency Percent Percent Percent  
      Valid Không   47 28.5 28.5 28.5  
        Hơi có   60 36.4 36.4 64.8  
        Bình thƣờng   39 23.6 23.6 88.5  
        Cao   12 7.3 7.3 95.8  
        Rất cao   7 4.2 4.2 100.0  
        Total   165 100.0 100.0    
                         

    Bảng 24: Bảng tần số giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (Học sinh)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 18 10.9 10.9 10.9
      Hơi có 32 19.4 19.4 30.3
      Bình thƣờng 66 40.0 40.0 70.3
      Cao 39 23.6 23.6 93.9
      Rất cao 10 6.1 6.1 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 25: Bảng tần số thể hiện giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (Sinh viên)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 9 5.5 5.5 5.5
      Hơi có 12 7.3 7.3 12.7
        90            
      Bình thƣờng   25.5   25.5   38.2  
      42      
      Cao 75 45.5   45.5   83.6  
      Rất cao 27 16.4   16.4   100.0  
      Total 165 100.0   100.0      
                     

    Bảng 26: Bảng tần số giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê trung nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (sinh viên đã tốt nghiệp)

            Valid Cumulative
        Frequency Percent Percent Percent
    Valid Không 21 12.7 12.7 12.7
      Hơi có 20 12.1 12.1 24.8
      Bình thƣờng 62 37.6 37.6 62.4
      Cao 42 25.5 25.5 87.9
      Rất cao 20 12.1 12.1 100.0
      Total 165 100.0 100.0  
               

    Bảng 27: Bảng tần số thể hiện giới trẻ tiếp nhận, sử dụng sản phẩm cà phê Trung

    Nguyên hiện nay là với mức độ nhƣ thế nào (đối tƣợng hác)          
                               
                          Percent
                  Responses     of Cases
                  N     Percent      
      Valid  Theo chế độ riêng của bản than     29 12.0% 17.6%
        Thói quen, tùy hứng       105 43.6% 63.6%
        Sau những giờ làm việc căng thẳng     23 9.5% 13.9%
        Khi tụ tập bạn bè đồng nghiệp       58 24.1% 35.2%
        Trƣớc hi bắt đầu làm việc       21 8.7% 12.7%
        Bàn công việc với  hách hàng       5 2.1% 3.0%
      Total           241 100.0% 146.1%
                           
    Bảng 28: Bảng tần số thời điểm uống cà phê                
    KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ THOẢ MÃN            
                           
            Frequency Percent Valid   Cumulative  
            Percent   Percent      
                           
        Valid   66 66.0 66.0     66.0    
          Không   22 22.0 22.0     88.0    
          Bình thƣờng   12 12.0 12.0     100.0    
          Total   100 100.0 100.0          

    91

    Bảng 29: Sự quan t m theo dõi thị trƣờng cà phê

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
               
    Valid 1-3 lần 82 82.0 82.0 82.0
      3-5 lần 9 9.0 9.0 91.0
      >5 lần 9 9.0 9.0 100.0
      Total 100 100.0 100.0  

    Bảng 30: Bảng tần số thể hiện số lần uống/tuần

        Responses   Percent
           
        N Percent of Cases
    Valid Báo 31 19.3% 32.0%
      Đài 13 8.1% 13.4%
      Tivi 71 44.1% 73.2%
      Internet 40 24.8% 41.2%
      Khác 6 3.7% 6.2%
    Total   161 100.0% 166.0%

    Bảng 31: Phƣơng tiện thông tin đại chúng đƣợc tiếp nhận

        Frequency Percent Valid Cumulative
        Percent Percent
           
    Valid Không hài lòng 5 5.0 5.1 5.1
      Bình thƣờng 26 26.0 26.5 31.6
      Hài lòng 51 51.0 52.0 83.7
      Rất hài lòng 16 16.0 16.3 100.0
      Total 98 98.0 100.0  
    Missing System 2 2.0    
    Total   100 100.0    

    Bảng 32 Sự hài lòng      hi sử dụng cà phê Trung Nguyên:

    92

            Responses       Percent of
            N     Percent   Cases  
        Valid Không ảnh hƣởng     123     24.8%       123.0%
          Ảnh hƣởng rất  t     65     13.1%       65.0%
          Vừa phải     136     27.4%       136.0%
          Ảnh hƣởng  há nhiều     109     22.0%       109.0%
          Hoàn toàn ảnh hƣởng     63     12.7%       63.0%
        Total       496     100.0%       496.0%
    Bảng 33: Sự tác động của các yếu tố nói chung tới việc uống cà phê          
                                     
                Responses           Percent of
                N   Percent     Cases  
        Valid Không hài lòng   101   8.5%     102.0%
          Hài lòng ít   192   16.2%     193.9%
          Bình thƣờng   500   42.1%     505.1%
          Khá hài lòng   279   23.5%     281.8%
          Hoàn toàn hài lòng   115   9.7%     116.2%
        Total       1187   100.0%     1199.0%
    Bảng 34: Sự hài lòng nói chung đối với các thông điệp của Trung Nguyên  
                             
                  Responses       Percent of
                  N   Percent       Cases  
        Valid  Sử dụng cà phê nhiều hơn   40   8.4%   40.8%
          Vãn sử dụng cà phê nhƣ thƣờng   301   63.5%   307.1%
          Sử dụng cà phê  t hơn   66   13.9%   67.3%
          Có sử dụng loại cà phê  hác   54   11.4%   55.1%
          Chuyển hoàn toàn sang nhãn hiệu cà   13   2.7%   13.3%
          phê khác                        
        Total         474   100.0%   483.7%
                                       

    Bảng 35: Quyết định chung khi thu nhập tăng

    93

    KẾT QUẢ BẢNG MÔ HÌNH

          Frequency   Percent   Valid   Cumulative
              Percent   Percent
                       
      Valid Tao nhã, sang trọng 27     19.9   19.9 19.9
        Trẻ trung, sôi động 66     48.5   48.5 68.4
        Lãng mạn 19     14.0   14.0 82.4
        Ấm cúng 24     17.6   17.6 100.0
        Total 136     100.0   100.0    
      Bảng 36: Bảng tần số thể hiện hông gian quán đƣợc chọn        
                             
            Frequency Percent   Valid   Cumulative
              Percent   Percent
                         
      Valid Ngoài trời     40 29.4   29.4   29.4
        Nơi nhộn nhịp     71 52.2   52.2   81.6
        Có  hoảng  hông gian riêng   25 18.4   18.4   100.0
        Total     136 100.0   100.0    

    Bảng 37: Bảng tần số thể hiện phong cách quán

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Gần trạm xe buýt 3 2.2 2.2 2.2
    Nơi trong hẻm, yên tĩnh 87 64.0 64.0 66.2
    Gần đƣờng tấp nập 29 21.3 21.3 87.5
    các trung t m mua sắm 17 12.5 12.5 100.0
    Total 136 100.0 100.0  

    Bảng 38: Bảng tần số thể hiện địa điểm đƣợc chọn

                         
              Trò     Làm    
      Đọc   Thƣ Học chuyện, lƣớt Làm việc   Tota
      sách   giãn tập tán gẫu web việc nhóm khác l
    Gần trạm xe buýt   1 1 1 2 0 1 2 0 3
    Nơi trong hẻm, yên   13 62 16 58 23 5 21 8 87
    tĩnh                    
    Gần đƣờng tấp nập   1 13 5 22 7 5 7 0 29
                         
            94                          
      Gần các trung t m   6   2   14   5   2   2   0   17  
      0                
      mua sắm                                  
        15 82   24   96   35   13   32   8   136  

    Bảng 39: Bảng tần số thể hiện mối quan hệ giữa mục đ ch đến quán và địa điểm đƣợc chọn

      Frequency Percent Valid Cumulative
      Percent Percent
         
    Valid   Bàn ghế thấp 37 27.2 27.2 27.2
    Bàn ghế cao bình thƣờng 47 34.6 34.6 61.8
    Ngồi bệt 52 38.2 38.2 100.0
    Total 136 100.0 100.0  
             

    Bảng 40: Bảng tần số về loại bàn ghế trong quán

      Responses    
      N Percent Percent of Cases
    Valid   Không muốn nghe 27 14.1% 19.9%
    Nhạc Trịnh, hải ngoại, tiền chiến 14 7.3% 10.3%
    Nhạc Việt trẻ 36 18.8% 26.5%
    Nhạc nƣớc ngoài 29 15.1% 21.3%
    Nhạc cổ điển 30 15.6% 22.1%
    hông lời 56 29.2% 41.2%
    Total 192 100.0% 141.2%

    Bảng 41: Bảng tần số thể hiện loại âm nhạc đƣợc chọn

        Ngoài trời   Nơi nhộn nhịp Có    hoảng hông
          gian riêng    
                     
        Count   Column Count Column Count   Column
          N % N %   N %
                 
    Câu  Bàn ghế thấp 11   27.5% 19 26.8% 7     28.0%
    12 Bàn  ghế  cao  bình 15   37.5% 24 33.8% 8     32.0%
           
      thƣờng                  
      Ngồi bệt 14   35.0% 28 39.4% 10     40.0%

    Bảng 42: Bảng tần số chéo thể hiện mối liên hệ giữa hông gian đƣợc chọn và bàn ghế trong quán

    95

          Câu 15            
          đƣợc phục vụ   tự phục vụ    
            Row  N Table     Row  N  
          Count Total  N Count   Table Total N %
          %   %
            %      
                     
    Câu Ngoài trời 30 75.0% 22.1% 10   25.0% 7.4%
    10 Nơi nhộn 56 78.9% 41.2% 15   21.1% 11.0%
      nhịp                
      hoảng 20 80.0% 14.7% 5   20.0% 3.7%
      không gian              
      riêng                

    Bảng 43: Bảng tần số chéo về mối quan hệ giữa cách phục vụ trong từng hông gian đƣợc chọn

        Responses   Percent of
        N Percent Cases  
    Ghép câu 6 Đọc sách 15 4.9%   11.0%
      Thƣ giãn 82 26.9%   60.3%
      Học tập 24 7.9%   17.6%
      Trò chuyện, tán gẫu 96 31.5%   70.6%
      lƣớt web 35 11.5%   25.7%
      Làm việc 13 4.3%   9.6%
      Làm việc nhóm 32 10.5%   23.5%
      Khác 8 2.6%   5.9%
    Total   305 100.0% 224.3%

    Bảng 44: Bảng tần số mục đ ch đến quán

        Câu 15          
        đƣợc phục vụ   tự phục vụ  
          Row N Table   Row N Table
        Count Total N Count Total N
        % %
          %   %
               
    Câu  Tao nhã, sang trọng 21 77.8% 15.4% 6 22.2% 4.4%
    11 Trẻ trung, sôi động 49 74.2% 36.0% 17 25.8% 12.5%
     
      Lãng mạn 17 89.5% 12.5% 2 10.5% 1.5%
      Ấm cúng 19 79.2% 14.0% 5 20.8% 3.7%
                   

    Bảng 45: Bảng tần số chéo về mối quan hệ giữa cách phục vụ và phong cách quán

    96

      Responses   Percent  of
         
           
      N Percent Cases
           
    $gheps8a Chỉ bán cà phê và nƣớc giải khát khác 15 8.1% 11.0%
    Cà phê + nƣớc giải khác + phục vụ đồ ăn nhanh 78 41.9% 57.4%
    Thêm có vật dụng giải trí (truyện + cờ cá ngựa + 70 37.6% 51.5%
    xếp hình)      
    Thêm  điểm tâm buổi sáng (Phở, Bún, Bánh mì) 13 7.0% 9.6%
    + cơm trƣa văn phòng      
    Khác. 10 5.4% 7.4%
    Total 186 100.0% 136.8%
           
    Bảng 46: Bảng tần số thức ăn  èm trong quán      

    $gheps9 Frequencies

        Responses   Percent   of
        N Percent Cases
      Truyện 49 12.7% 36.0%
      Báo, tạp chí 58 15.1% 42.6%
      Cờ Domino 29 7.5% 21.3%
      Ráp hình 24 6.2% 17.6%
    $gheps9 Sách 10 2.6% 7.4%
      Cờ cá ngựa 59 15.3% 43.4%
      Wifi 23 6.0% 16.9%
      Rút gỗ 102 26.5% 75.0%
      Khác 31 8.1% 22.8%
    Total   385 100.0% 283.1%

    Bảng 47: Bảng tần số các trò chơi trong quán

    97

    Bản vẽ 1: tầng trệt

     

    98

    Bản vẽ 2: lầu 1

     

    99

    Bản vẽ 3: lầu 2

     

    100

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tiếng Việt

    1. Báo cáo tình hình đầu tƣ của công ty Cổ Phần cà phê Trung Nguyên, 2005-2008
    1. Báo cáo điều tra tiêu dùng của công ty Trung Nguyên, 2005
    1. Chương trình nghiên cứu đô thị vì sự phát triển (dự án PRUD số 45), 2012
    1. PGS TS Trƣơng Đình Chiến, Giáo trình Quản Trị Marketing, NXB Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
    1. Nguyễn Hữu Lam, Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan, Quản trị chiến lược phát triển vị thế cạnh tranh, in lần thứ 1, NXB giáo dục, 1998
    1. Website công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên
    1. Báo cáo tình hình đầu tư của Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên, 2006
    1. Tổng cục thống kê, năm 2003 đến nay
    1. Trần Thị Quỳnh Chi, Muriel Figue, Trần Thị Thanh Nhàn, Nghiên cứu tiêu thụ phê trong nước tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu của viện chính sách và chiến lƣợc phát triển nông nghiệp nông nghiệp Hà Nội, 2006

     

    1. Nguyễn Ninh Tuấn, Định hướng mới đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, 2008.
    1. Báo cáo tài ch nh Phòng nhƣợng quyền công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên
    1. Hiệp hội cà phê – cao Việt Nam
    1. Báo cáo tài chính của Vinacafe Biên Hòa, năm 2013
    1. Báo cáo tài chính Neslte, năm 2012
    1. Philip Kotler, Mar eting căn bản, NXB Hà Nội
    1. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1, 2.

     

    1. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang, Nghiên Cứu Thị Trƣờng, NXB Đại Học Quốc Gia TP.HCM, 2007
    1. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang, Nguyên Lý Marketing, NXB Lao Động.

    Tiếng Anh

    1. Philip Kotler, Marketing Insights from A to Z
    1. Philip Kotler, Kevin Lane Keller, Marketing Management, 1967
    1. Michael E. Porter, Competitve Strategy, New York: Free Press, 1985.

    MÃ SỐ: ………….

    TÊN CÔNG TRÌNH:

    XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUÁN ĐIỂM CÀ PHÊ TRUNG NGUYÊN DÀNH CHO GIỚI TRẺ TẠI THÀNH

     


    T?i xu?ng tài li?u h?c t?p PDF mi?n phí

    [sociallocker id=”19555″] T?i Xu?ng T?i Ðây [/sociallocker]
  • Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BA%A9y-m%E1%BA%A1nh-ti%C3%AAu-th%E1%BB%A5-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-TNHH-%C3%9AC-%C4%90%E1%BA%A0I-L%E1%BB%A2I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    LỜI NÓI ĐẦU

    Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết. Đối với một doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô vừa và nhỏ thì việc duy trì hoạt động và kinh doanh có lãi là vô cùng khó khăn.

    Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả là do không tìm được đầu ra hay còn hạn chế trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Yếu kém trong việc tiêu thụ sản phẩm không những ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn làm gián đoạn quá trình lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng tới việc sản xuất hàng hoá, kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước.

    Trong bối cạnh tranh gay gắt đó, công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  cũng gặp rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển. Tuy hàng năm doanh thu của công ty vẫn tăng với tỷ lệ khá nhưng vẫn còn một số hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm. Đây là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh và là khâu giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, giúp công ty có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường.

    Vậy làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đây là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản trị công ty cũng như sinh viên khoa Quản trị kinh doanh. Do đó trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI em đã chọn đề tài:

    Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI“  làm đề tài chuyên đề tốt nghiệp.

    Em hy vọng với đề tài này sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty và giải đáp thắc mắc bấy lâu của mình.

    Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm có 3 chương:

    Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

    Chương II: Khảo sát và phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Chương III: Các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    CHƯƠNG  I

            NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIÊU THỤ

    SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG  NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    I.  VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP.

    1/ Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm.

    Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng.

    * Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh  và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.

    Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp. Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó. Doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầu thị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp phá sản.

    * Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng đồng thời thu tiền về.

         Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền thực hiện vòng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội.

    Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    2.  Vai trò của tiêu thụ sản phẩm.

    2.1. Đối với doanh nghiệp.

    Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa đóng vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhờ tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra thường xuyên liên tục, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp bù đắp dược những chi phí, có lợi nhuận đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng.

    Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Bởi khi khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình quân của một đơn vị sản phẩm giảm từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanh nghiệp càng cao.

    Thông qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế hoạch kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu của xã hội trong thời gian tới.

    2.2. Đối với xã hội.

    Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất với những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi trảy tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.

    3. Thị trường và chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hóa.

    3.1. Khái niệm về thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường qua cách hiểu cổ điển là nơi diễn ra các quá trình trao đổi buôn bán.

    Theo Marketing thị trường bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó.

    Theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc vào số người có cùng nhu cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập lượng tiền mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua sắm hàng hóa để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó. Quy mô thị trường không phụ thuộc vào số người có nhu cầu và mong muốn khác nhau.

    Theo khái niệm mà các nhà kinh doanh thường dùng thì thị trường chứa tổng cung, tổng cầu về một loại hàng hóa hay một nhóm hàng hóa nào đó. Trên thị trường luôn luôn diễn ra các hoạt động mua bán và các quan hệ hàng hóa, tiền tệ.

    Tái sản xuất hàng hóa bao gồm các khâu sản xuất phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Thị trường là khâu tất yếu của sản xuất hàng hóa, thị trường chỉ mất đi khi hàng hóa không còn. Thị trường là một phạm trù riêng của sản xuất  hàng hóa, hoạt động cơ bản của thị trường được biểu hiện qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ mật thiết đó là nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, cung ứng hàng hóa và dịch vụ và giá cả hàng hóa. Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua người bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc quyết định có nên mua hay không do cung cầu quyết định. Từ đó ta thấy rằng thị trường là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữ hai khâu: sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    3.2. Các chức năng chủ yếu của thị trường tiêu thụ hàng hóa.

    Thị trường được coi là phạm trù trung tâm vì qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả. Thị trường tồn tại khách quan, mỗi doanh nghiệp phải trên cơ sở nhận biết nhu cầu của thi trường và xã hội cũng như thế mạnh của mình trong sản xuất và kinh doanh hàng hóa để có chiến lược, kế hoạch và phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường và xã hội. Thị trường có vai trò to lớn như vậy vì do nó có những chức năng chủ yếu sau.

    3.2.1. Chức năng thừa nhận.

    Chức năng này thể hiện hàng hóa của doanh nghiệp có bán được không, nếu bán được có nghĩa là thị trường chấp nhận, có nghĩa là người mua chấp nhận và quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện. Thị trường thừa nhận giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa, sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói nên sự thừa nhận của thị trường.

    3.2.2. Chức năng thực hiện.

    Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua và bán hàng hóa. Người bán cần bán giá trị của hàng hóa còn người mua cần lại cần giá trị sử dụng của hàng hóa. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hóa hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

    3.2.3. Chức năng điều tiết và kích thích.

    Chức năng này được thể hiện ở chỗ nó cho phép người sản xuất bằng nghệ thuật kinh doanh của mình tìm được nơi tiêu thụ hàng hóa với hiệu quả hay lợi nhuận cao và cho phép người tiêu dùng mua được những hàng hóa có lợi cho mình.

    3.2.4. Chức năng thông tin.

    Chức năng này chỉ cho người sản xuất biết nên sản xuất hàng hóa nào, khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường ở thời điểm nào là thích hợp nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những hàng hóa nào ở thời điểm nào có lợi cho mình. Chức năng này có được do trên thị trường chứa đựng thông tin về: Tổng số cung, tổng số cầu đối với từng loại hàng hóa, chất lượng sản phẩm hàng hóa, các điều kiện tìm kiếm hàng hóa.

    II. NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP.

    Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập và phải tự mình giải quyết ba vấn đề trung tâm cơ bản của tổ chức kinh tế. Lợi nhuận là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp. Muốn có lợi nhuận, doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa, sản phẩm của doanh tnghiệp phải phù hợp với nhu cầu của thị trường. Vì vậy để tồn tại và phát triển lâu dài thì mỗi doanh nghiệp cần xác định được chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    Chiến lược tiêu thụ là định hướng hoạt động có mục đích của doanh nghiệp và hệ thống các giảI pháp, biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong tiêu thụ. Mục tiêu của chiến lược tiêu thụ thường bao gồm: mặt hàng tiêu thụ, tăng doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.

    Chiến lược tiêu thụ của một doanh nghiệp giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu khách hàng từ đó chủ động đối phó với mọi biến động của thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thêm thị trường mới, kế hoạch hóa về khối lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận chọn kênh tiêu thụ và các đối tượng khách hàng. Chiến lược tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giữ vai trò quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược kinh doanh và bao gồm các bước sau:

    1. Nghiên cứu thị trường.

    Để thành công trên thương trường, đòi hỏi bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện công tác nghiên cứu thăm dó và xâm nhập thị trường của doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu mà doanh nghiệp cần thoả mãn cũng như khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó tìm kiếm các giải pháp nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường, đây là công việc hết sức cần thiết khi sản xuất kinh doanh một hàng hóa nào đó.

    Trước hết nghiên cứu thị trường là việc xác định nhu cầu thị trường, xác định những sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp cần sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả cao nhất. Nghiên cứu thị trường là bước khởi đầu quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của bất kì một doanh nghiệp nào, nó quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp xác định chính xác nhu cầu thị trường thì sẽ có những quyết định sản xuất kinh doanh hợp lí mang lại hiệu quả kinh tế cao, vì khi đó sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận. Ngược lại, khi sản xuất kinh doanh một sản phẩm hàng hóa không phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, thì không thể tiêu thụ được doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn và có thể thất bại nặng nề. Điều này cũng có nghĩa là ‘‘Chúng ta phải bán những thứ mà thị trường cần, chứ không phải bán những thứ mà chúng ta có’’.

    Nội dung của nghiên cứu thị trường bao gồm:

    –    Nghiên cứu các nhân tố môi trường để phân tích được các ràng buộc ngoài tầm kiểm soát của công ty cũng như những thời cơ có thể phát sinh.

    –    Thu thập thông tin khái quát về qui mô thị trường chủ yếu qua các tài liệu thống kê về tiêu thụ và bán hàng giữa các không gian thị trường.

    –    Nghiên cứu tổng quan kết cấu địa lý, mặt hàng, phân bố dân cư và sức mua, vị trí và sức hút, cơ cấu thị trường người bán hiện hữu của thị trường.

    –    Nghiên cứu động thái và xu thế vận động của thị trường ngành, nhóm hàng, lĩnh vực kinh doanh.

    Từ những kết quả phân tích các nội dung trên, doanh nghiệp có đánh giá tiềm năng thị trường tổng thể, đo lường thị phần và tập khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải chú ý tới việc nghiên cứu khách hàng tiềm năng. Nghiên cứu tập tính và thói quen, cấu trúc logic lựa chọn của khách hàng và nghiên cứu động cơ mua sắm và hành vi ứng xử của khách hàng tiềm năng.

    2. Chiến lược sản phẩm hàng hóa.

    2.1. Khái niệm.

    Chiến lược sản phẩm là phương thức kinh doanh hiệu quả, dựa trên cơ sở bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.2. Vai trò của chiến lược sản phẩm.

    Chiến lược sản phẩm hàng hóa có vai trò quan trọng được coi là xương sống của chiến lược tiêu thụ. Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chiến lược sản phẩm hàng hóa càng trở nên quan trọng. Chiến lược sản phẩm không những chỉ bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tiêu thụ sản phẩm.

      2.3. Nội dung của chiến lược tiêu thụ sản phẩm .

    + Chiến lược thiết lập chủng loại giữ vị trí vốn có của sản phẩm trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp đạt được. Chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức được các sản phẩm hiện có tương ứng với khúc thị trường nào và sản phẩm có phù hợp với sự đòi hỏi của khúc thị trường đó hay không. Nếu đáp ứng được thiết lập chủng loại đó, giữ vị trí vốn có của sản phẩm đó trên khúc thị trường hiên có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến sản phẩm.

    + Chiến lược hoàn thiện sản phẩm, cải tiến các thông số của chất lượng sản phẩm theo định kỳ, chiến lược này được thực hiện theo các phương án sau.

    • Cải tiến về chất lượng nhằm làm tăng độ tin cậy, độ bền và các tính năng khác của sản phẩm.
    • Cải tiến kiểu dáng sản phẩm bằng cách thay đổi mầu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu của sản phẩm.
    • Cải tiến các tính năng của sản phẩm, bổ sung thêm tính năng sử dụng của sản phẩm.

    + Chiến lược phát triển sản phẩm mới: phát triển sản phẩm mới ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Yêu cầu phải nghiên cứu sản phẩm mới xuất phát từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và cạnh tranh trên thị trường có xu hướng ngả sang cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm hiện có thì mới giành được lợi thế trong cạnh tranh. Mặt khác, mỗi loại sản phẩm có chu kì sống nhất định, khi sản phẩm cũ đã bước sang giai đoạn suy thoái thì doanh nghiệp phải có sản phẩm mới thay thế nhằm đản bảo tính liên tục của qua trình sản xuất kinh doanh.

    3. Chiến lược giá cả.

       3.1. Khái niệm.

    Chiến lược giá là đưa ra các loại giá cho một loại sản phẩm hàng hóa, tương ứng với thị trường, tương ứng với từng thời kỳ để bán được nhiều nhất và lãi cao nhất.

    Mức giá doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận nhưng lại phù hợp với người tiêu dùng và người tiêu dùng chấp nhận được. Mức giá đó sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm vì thế doanh nghiệp cần nhận thức một cách chính xác để có thay đổi hợp lí nhất. 

    3.2. Vai trò của chiến lược giá.

    Mặc dù trên thi trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá đã nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng và dịch vụ nhưng giá cả vẫn có vai trò quan trọng nhất định. Giá cả vẫn còn quan trọng trong việc xác định lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua. Nếu chiến lược sản phẩm định hướng cho việc sản xuất thì chiến lược giá cả định hướng cho việc tiêu thụ.

    Chiến lược giá có mối quan hệ mật thiết với chiến lược sản phẩm hàng hóa. Chiến lược sản phẩm dù rất quan trọng và đã được xây dựng một cách chu đáo sẽ không đem lại hiêụ quả cao nếu không có chiến lược giá hoặc chiến lược giá mang nhiều thiếu sót.

    Các doanh nghiệp mới thành lập hay thâm nhập thị trường mới thường áp dụng chiến lược giá cả để thu hút khách hàng về phía mình để chiếm lĩnh một phần thị trường. Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập dân cư còn thấp, yêu cầu vè chất lượng sản phẩm chưa cao thì cạnh tranh bằng chiến lược giá vẫn còn là vũ khí lợi hại. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vào việc cạnh tranh bằng giá vì nó có thể phản tác dụng gây tổn hại cho doanh nghiệp.

      3.3. Phân loại chiến lược giá.

    Doanh nghiệp có thể lựa chọn các chiến lược giá khác nhau để thực hiện mục tiêu của mình.

    • Chiến lược ổn định giá: là chiến duy trì bằng được mức giá hiện đang bán. chiến lược này áp dụng khi giá bán đã đáp ứng được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu của doanh nghiệp.
    • Chiến lược tăng giá: là chiến lược đưa giá lên cao hơn các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi hàng hóa của doanh nghiệp đang được ưa chuộng về chất lượng kiểu dáng và các dịch vụ bán hàng của doanh nghiệp.
    • Chiến lược giảm giá: là chiến lược hạ thấp các mức giá đang bán của doanh nghiệp. Chiến lược này được áp dụng khi xuất hiện dấu hiệu giảm cầu hay có sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh.

     

    3.4. Nội dung của chiến lược giá.

    3.4.1. Căn cứ vào mục tiêu của định giá có thể sử dụng hai chiến lược sau:

    Chiến lược giá hướng vào doanh nghiệp: có nghĩa là hướng vào mục tiêu nội tại của doanh nghiệp, vào chi phí và lợi nhuận.

    Chiến lược giá hướng ra thị trường : chiến lược này dựa trên 2 yếu tố quan trọng tiềm năng thị trường về nhu cầu, sự giãn nở nhu cầu cạnh tranh, về giá sản phẩm hàng hóa cạnh tranh, so sánh các chi phí dịch vụ của các doanh nghiệp, lấy giá thị trường làm chuẩn để định giá hướng ra thị trường.

    3.4.2.  Philip Kotler đã đưa ra các chiến lược hình thành giá như sau:

    Xác định giá cho hàng hóa mới bao gồm xác định giá cho sản phẩm mới thực sự thì có thể chọn hoặc là chiến lược “Hốt phần ngon” hoặc là chiến lược bám chắc thị trường.

    Chiến lược “hốt phần ngon’’: là chiến lược định giá cao do tạo ra sản phẩm mới được cấp bằng sáng chế.

    Chiến lược bám chắc thị trường: là chiến lược định giá thấp cho sản phẩm mới  nhằm thu nhiều người mua và giành được thị phần.

    Định giá theo nguyên tắc địa lý là chiến lược định giá khác nhau cho người tiêu dùng ở những vùng địa lý khác nhau.

    Xác định giá có chiết khấu bù trừ để thưởng cho người tiêu dùng vì những hành động nhất định như thanh toán sớm các hoá đơn, mua một khối lượng lớn hàng hóa hay mua trái mùa vụ.

    Xác định giá khuyến khích tiêu thụ trong những hoàn cảnh nhất định, các công ty, tạm thời định cho sản phẩm của mình những giá thấp hơn giá ghi trong bảng, và đoi khi thậm chí còn thấp hơn cả giá thành.

    4. Chiến lược phân phối.

     4.1. Khái niệm.

    Chiến lược phân phối sản phẩm dịch vụ là phương hướng thể hiện cách mà doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàngcủa mình trên thị trường lựa chọn.

      

    4.2. Vai trò của chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Mỗi chiến lược phân phối hợp lý sẽ làm cho quá trình kinh doanh an toàn, tăng cường khả năng liên kết trong kinh doanh, giảm được sự cạnh tranh và làm cho quá trình lưu thông hàng hóa nhanh chóng.

    Chiến lược phân phối có liên hệ chặt chẽ với chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả, một mặt nó chịu ảnh hưởng của chiến lược sản phẩm và chiến lược giá cả. Nhưng mặt khác nó cũng tác động trở lại đối với việc xây dựng và triển khai các chiến lược trên.    

    4.3. Phân loại chiến lược phân phối.

    Chiến lược phân phối có thể  được phân thành nhiều loại khác nhau:

    * Căn cứ vào sự tiếp xúc giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng

    Chiến lược phân phối trực tiếp: là chiến lược phân phối mà người sản xuất bán thắng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua bất cứ một khâu trung gian nào. Chiến lược này làm cho người sản xuất kinh doanh biết rõ nhu cầu của thị trường, tạo cơ hội thuận lợi cho người sản xuất nâng cao uy tín và ứng phó kịp thời sự thay đổi có thể có của thị trường, tuy nhiên nó làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa chậm lại.

      Chiến lược phân phối gián tiếp: là chiến lược được tiến hành thông qua một số khâu trung gian.

    * Căn cứ vào hình thức bán hàng:

     Chiến lược phân phối theo hình thức bán lẻ: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Chiến lược này do người sản xuất hoặc người đại lý bán lẻ thực hiện.

    Chiến lược phân phối theo hình thức bán buôn: là chiến lược phân phối hàng hóa dịch vụ cho người mua để bán lại.

      4.4. Nội dung của chiến lược phân phối.

    Xác định mục tiêu của chiến lược phân phối: chiến lược phân phối có nhiều mục tiêu khác nhau nhưng có bốn mục tiêu chính là; bảo đảm phân phối nhanh chóng; tiêu thụ được khối lượng lớn sản phẩm dịch vụ;đảm bảo chất lượng hàng hóa; chi phí thấp. Tùy thuộc vào mục tiêu tổng quát trong chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong những nục tiêu chủ yếu là cơ sở xây dựng chiến lược phân phối.

           Lựa chọn căn cứ xây dựng chiến lược phân phối:

    Căn cứ vào đặc điểm hàng hóa có thể chia thành ba nhóm: những hàng hóa khó bảo quản rễ hư hỏng đòi hỏi phải tiếp cận thị trường trực tiếp; những hàng hóa đơn chiếc; những hàng hóa có kỹ thuật đặc biệt cần phả bán trực tiếp; những hàng hóa muốn bán với khối lượng lớn phải qua các khâu trung gian.

    Căn cứ vào đặc điểm khách hàng: khách hàng đông hay lẻ tẻ, tập chung hay phân tán, mức độ ổn định trong tiêu dùng.

    Xác định kênh phân phối: nội dung quan trọng của chiến lược phân phối là phải chọn kênh phân phối phù hợp với đặc điểm của sản phẩm và đặc điểm khách hàng, nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu của chiến lược phân phối.

    5. Chiến lược giao tiếp khuếch trương.

    Chiến lược giao tiếp khuếch trương là chiến lược sử dụng kỹ thuật yểm trợ bán hàng nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động tiêu thụ. Trong nền kinh tế chỉ huy, người sản xuất không cần quan tâm xây dựng chiến lược giao tiếp khuếch trương, bởi lẽ họ là người giao nộp chứ không phải người bán. Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của người bán là lợi nhuận, do vậy phải thu hút khách hàng, thực hiện các hoạt động yểm trợ bán hàng. Vì vậy, vai trò của chiến lược giao tiếp khuếch trương trở nên cực kỳ quan trọng trong chiến lược tiêu thụ. Chiến lược giao tiếp khuếch trương là công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối.

           Chiến lược giao tiếp khuếch trương bào gồm những chiến lược sau:

    Chiến lược quảng cáo: là chiến lược sử dụng các phượng tiện thông tin để truyền tin về sản phẩm hàng hóa hoặc cho người trung gian, hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

    Chiến lược xúc tiến bán hàng : là chiến lược sử dụng những kỹ thuật đặc thù nhằm gây ra một sự gia tăng nhanh chóng  nhưng tạm thời trong doanh số bán bằng việc cung cấp một lợi ích ngoại lệ cho người mua. Xúc tiến bao gồm những kỹ thuật như; bán hàng có thưởng, khuyến mại, giảm giá tức thì, giảm giá nhân ngày lễ, khai trương…

    Chiến lược yểm trợ bán hàng: là chiến lược hoạt động của người bán hàng nhằm gắn bó chặt chẽ với người mua hoặc gắn những ngưoừi sản xuất kinh doanh với nhau thông qua việc sử dụng hoạt động của hiệp hội kinh doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hội nghị khách hàng, hội chợ…

    III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP.

    1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.

      1.1. Giá cả hàng hóa.

    Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động tới hoạt động tiêu thụ – Giá cả hàng hóa có thể kích thích hay hạn chế cung cầu trên thị trường và do đó ảnh hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ  thu hút được khách hàng đảm bảo khả năng tiêu thụ thu được lợi nhuận cao nhất hay tránh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Tuỳ từng môi trường, từng đoạn thị trường mà các doanh nghiệp nên đặt giá cao hay thấp để có thể thu hút được nhiều khách hàng, và do đó sẽ bán được nhiều hàng hóa, tăng doanh số bán hàng cho doanh nghiệp mình. Hơn nữa giá cả phải được điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn kinh doanh, từng thời kỳ phát triển hay chu kỳ kinh doanh để nhằm thu hút khách hàng và kích thích sự tiêu dùng của họ, làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Giá cả ảnh hưởng mạnh tới hoạt động tiêu thụ do vậy nó cũng được sử dụng như một vũ khí trong cạnh tranh nhất là trong đIều kiện thu nhập của người dân còn thấp. Tuy nhiên trong cạnh tranh nếu lạm dụng vũ khí gía cả nhiều trường hợp “ gậy ông sẽ đập lưng ông” không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà còn bị thiệt hại. Do đó phải hết sức thận trọng trong việc cạnh tranh bằng giá, việc định hướng, xây dựng kế hoạch đúng đắn về giá cả là một đIều kiện quan trọng cho việc tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp hiện nay.

    1.2. Chất lượng sản phẩm

    Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội.

    Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng “chiến thắng vững chắc”. Đây cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất. Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình. Khi khách hàng biết đến chất lượng sản phảm hàng hóa của doanh nghiệp và tin vào chất lượng thì họ sẽ mua hàng của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được  thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.

    Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    1.3. Cơ cấu mặt hàng.

    Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp bởi vì nhu cầu tiêu dùng trên thị rất đa dạng, phong phú, như vậy để đáp ứng nhu cầu hơn nữa và tăng tốc độ tiêu thụ của đoanh nghiệp cần có cơ cấu mặt hàng hợp lí, đủ chủng loại. Hơn nữa, một cơ cấu mặt hàng hợp lí sẽ dễ dàng đáp ứng sự thay đổi nhanh của nhu cầu thị trường và giảm rủi ro cho doanh nghiệp.

    1.4. Các biện pháp quảng cáo.

    Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay quảng cáo đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.

    Do quảng cáo là rất tốn kém vì thế để đảm bảo quảng cáo có hiệu quả cần thuê công ty quảng cáo để soạn thảo chương trình quảng cáo, thuê chuyên gia phân tích, kích thích tiêu thụ để xây dựng các chương trình quảng cáo, khuyến mãi để tạo hình ảnh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quảng cáo trên báo chí, truyền hình, truyền thanh dùng thư chào hàng .v.v  để quảng cáo sản phẩm của mình cho phù hợp nhất.

    Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo tốt đã tăng nhanh doanh số bán và có những doanh nghiệp chi rất nhiều tiền cho quảng cáo nhưng nội dung quảng cáo không hợp lí dẫn đến tình trạng người tiêu dùng không những không mua sản phẩm mà họ còn phản đối quyết liệt. Vì vậy khi xây dựng chương trình quảng cáo doanh nghiệp phải hết sức thận trọng để hoạt động quảng cáo thúc đẩy nhanh mức tiêu thụ của doanh nghiệp.

    1.5. Mạng kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng.

    Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cuả các doanh nghiệp, kênh phân phối bao gồm mạng lưới bán buôn, bán lẻ, đại lý được tổ chức một cách hợp lý khoa học sẽ chiếm lĩnh được không gian thị trường, tạo điều kiện thuận cho người tiêu dùng và kích thích hơn nữa nhu cầu của họ. Doanh nghiệp thường sử dụng ba loại kênh tiêu thụ sau:

         Kênh cực ngắn: đây là kênh phân phối trực tiếp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng không qua trung gian, doanh nghiệp tự tổ chức tiêu thụ qua các cửa hàng bán lẻ của mình.

        Kênh ngắn: là kênh trong đó doanh nghiệp sử dụng một người trung gian là người bán lẻ.

       Kênh dài: là kênh có từ hai người trung gian trở nên trong phân phối.

    Thiết lập mạng lưới kênh tiêu thụ cần căn cứ vào chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, vào nguồn lực của doanh nghiệp, vào đặc tính của khách hàng, thói quen tiêu dùng và các kênh của đối thủ cạnh tranh.

    Để làm tốt việc phân phối doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh lịch sự, đúng hẹn trong giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng tới mua hàng. hơn nữa phải linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm bảo hai bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng. ngoài ra những dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa, làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng sảncủa doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và nhiều hơn làm tăng việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

     2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.

    2.1. Các yếu tố kinh tế.

        Thu nhập bình quân đầu người (GNP): Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng, GNP càng tăng cao sẽ kéo theo sự tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng loại, chất lượng, thị hiếu.v.v.. Làm cho tốc độ tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp tăng lên.

    Yêú tố lạm phát: Lạm phát tăng làm tăng giá cả của yếu tố đầu vào, làm tăng giá bán hạn chế mức tiêu thụ.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh tăng dẫn đến giá bán tăng và tiêu thụ giảm.

    Chính sách thuế: Thuế tăng làm giá thành hàng hóa tăng, tiêu thụ giảm.

     

    2.2. Số lượng các đối thủ cạnh tranh.

    Kinh doanh trên thi trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với nhau. Tốc độ tiêu thụ hàng hóa một phần phụ thuộc vào quy mô, số lượng đối thủ cạnh tranh. Nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Ngoàira tốc độ tiêu thụ còn phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ thị phần của doanh nghiểp trên thị trường.

    2.3. Thị hiếu của người tiêu dùng.

    Sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có như vậy mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu thụ. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường. Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu đối với họ.

    IV. SỰ  CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP.

    1.Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo tăng doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Đây là yêu cầu biểu hiện mặt kinh tế và biểu hiện mặt lượng kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Lợi nhuận cao là mục tiêu trực tiếp của doanh nghiệp, giưa tăng doanh số và tăng lợi nhuận không phải luôn luôn đồng hướng . Nói chung tốc độ tăng của lợi nhuận và doanh số không luôn luôn cùng tỷ lệ. Thật vậy doanh số không chỉ phụ thuộc vào khối lượng tiêu thụ mà còn phụ thuộc vào chính sách bán hàng và giá thành sản phẩm hàng hóa. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường, cái mà doanh nghiệp cần, quan tâm hàng đầu không phải là mức lợi nhuận tối đa trong một đơn vị sản phẩm mà là tổng lợi nhuận. Mặt khác doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm hàng hóa nó tiêu thụ, vào các chính sách kinh tế vỉ mô của nhà nước.

    2. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo phát triển thị phần của doanh nghiệp.

    Tiêu thụ hàng hóa nhằm mở rộng thị trường, khám phá những thị trường mới, thị trường tiềm năng. Mức độ thực hiện yêu cầu này còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó tập trung nhất là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thật vậy, để tiêu thụ ngày càng nhiều sản phẩm hàng hóa trên thị trường, mở rộng thị trường cho mình và loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp cần phải có những lợi thế so với đối thủ cạnh tranh của mình: Lợi thế chi phí, lợi thế kinh nghiệm, lợi thế về quy mô, mẫu mã , kiểu dáng, giá bán. Khi doanh nghiệp đã có những lợi thế đó thì cần phải phát huy một cách tối đa trước đối thủ cạnh tranh và không ngừng hạn chế hay đi trước lợi thế cạnh tranh của đối thủ, có như vậy mới ngày càng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa cuả doanh nghiệp. Từ đó làm tăng thị phần của doanh nghiệp trên thi trường.

    3. Tiêu thụ hàng hóa đảm bảo tăng tài sản vô hình cho doanh nghiệp.

    Tài sản vô hình của doanh nghiệp ở đây tập trung vào việc làm tăng uy tín, tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở nhiều yếu tố trong đó biểu hiện trực tiếp ở hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp và phù hợp của sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp bán ra với yêu cầu của khách hàng: gồm mạng lưới bán, chất lượng sản phẩm, thái độ bán hàng, cách thức bán hàng, trách nhiệm đến đâu khi hàng hóa đã được bán. Khách hàng sẽ có thiện cảm hay ác cảm đối với sản phẩm của doanh nghiệp, mỗi khi nhắc tới doanh nghiệp. Xét về lâu dài, chính nhờ xây dựng phát triển tài sản vô hình đã tạo nên cơ sở nền tảng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

    4. Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo dịch vụ đối với khách hàng.

    Khi tiêu thụ song hàng hóa, không có nghĩa doanh nghiệp hết trách nhiệm đối với hàng hóa đó. Việc tiêu thụ hàng hóa kế tiếp có thuận lợi hay không phụ thuộc vào việc thực hiện các dịch vụ đối với khách hàng đến đâu. doanh nghiệp phục vụ khách hàng đảm bảo về chất lượng hàng hóa chủng loại, số lượng, phong cách phục vụ và ngày càng đáp ứng tốt hơn cho những yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.

    Khi hàng hóa được tiêu thụ nhiều có nghĩa là doanh nghiệp đã thực hiện tốt dịch vụ đối với khách hàng, tạo niềm tin đối với khách

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II

    PHÂN TÍCH

    TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI

    CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI  LỢI

    I. QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI được thành lập theo quyết định               số 2897/TL – DN do uỷ ban thành phố Hà Nội cấp. Đăng ký kinh doanh          số 44410 ngày 15/1/2000 do Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI có tên gọi tắt là: UDL– CO – LTD. Có trụ sở đặt tại 72 NGÔ QUYỀN– HÀ NỘI.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do hai thành viên sáng lập lên. Đây là một Công ty vừa và nhỏ chuyên sản xuất các mặt hàng polime (chủ yếu là bộ đồ đi mưa) đồng thời kinh doanh các mặt hàng khác như hàng điện máy, tư liệu tiêu dùng và một số hàng hoá khác.

    Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty cũng trải qua những khó khăn bởi sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường.Tuy nhiên do sự năng động của ban lãnh đạo đã đưa Công ty phát triển đúng hướng, phù hợp với năng lực và sực mạnh của mình. Đặc biệt lãnh đạo, công nhân viên luôn gắn bó sát cánh bên nhau, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn vươn lên phía trước.

    Năm 2000 do mới thành lập cho nên hoạt động kinh doanh của Công ty gặp rất nhiều khó khăn, doanh thu cả năm đạt  923 triệu đồng, doanh thu từ sản xuất là 393 triệu, doanh thu từ thương mại là 530 triệu, tổng lợi nhuận  chỉ có 43,8 triệu đồng.

    Năm 2001 hoạt động của Công ty đã đi vào thế ổn định, vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm khả quan hơn rất nhiều. Trong năm 2001 doanh thu của Công ty tăng rất mạnh đạt 2548 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 1045 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 1503 triệu, tổng lợi nhuận đạt 197,2 triệu.

    Năm 2002 hoạt dộng kinh doanh của  Công ty tiếp tục phát triển,  ông ty đã kinh doanh thêm một số mặt hàng mới và mở rộng cơ sở của mình. Trong năm này doanh thu của Công ty là 4196 triệu, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2003 triệu, doanh thu từ hoạt động thương mại là 2196 triệu, với tổng lợi nhuận đạt 543 triệu.

    Năm 2003 hoạt động kinh doanh của Công ty  gặp khó khăn, nguyên nhân chính là do Công ty đã có rất nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, bên cạnh đó Công ty chưa có những thay đổi mạnh cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, vì thế mức răng trưởng chậm và có nguy cơ suy giảm. Tuy nhiên doanh thu của Công ty vẫn tăng đạt 4621 triệu đồng,với 2134 triệu từ hoạt động sản xuất và 2487 triệu từ hoạt động thương mại, lợi nhuận thu được là 628 triệu đồng.

    Năm 2004 Công ty đã có những thay đổi nhất định vì vậy hoạt động kinh doanh đã có bước tiến triển, doanh thu đã bắt đầu tăng mạnh trở lại đạt    5837 triệu đồng, doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2975 triệu, doanh thu  từ hoật động thương mại là 2862 triệu, đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất cao hơn doanh thu từ hoạt động thương mại, tổng lợi nhuận Công ty đạt được là 768 triệu đồng .

    II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG TỚI TỐC ĐỘ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Sản phẩm của Công ty.

    1.1Sản phẩm sản xuất của Công ty.

    Công ty chuyên sản xuất các loại quần áo đi  mưa với tổng sản lượng 171500 sản phẩm năm 2004.

    Biểu 1: Danh mục sản phẩm Công ty sản xuất năm 2004.

    TT          Tên sản phẩm Sản lượng (cái)
    1. Bộ quần áo đi mưa. 16600
    2. Aó đi mưa có tay 15700
    3. Aó đi mưa không có tay 49350
    4. Aó đi mưa có hai mũ 20500
    5. Aó đi mưa mỏng 69300

    + Bộ quần áo đi mưa là sản phẩm sản xuất ít nhất nhưng lại có giá trị cao tạo ra doanh thu lớn cho công ty. Đây là sản phẩm rất tiện dụng cho người đi xe máy, tuy nhiên giá thành của nó còn cao nên mức tiêu thụ không lớn nắm.

    + Aó đi mưa có tay là loại áo mưa thông dụng nhất tiện lợi cho người sử dụng. Công ty sản xuất nhiều loại áo có tay với chất lượng và mẫu mã khác nhau nhằm phục vụ thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng.

    + Aó đi mưa không có tay là loại áo sản xuất từ thời kì đầu có ưu điểm là kín do không phải thò tay ra ngoài, nhưng nó rất bất tiện và khó khăn khi phải làm một việc gì đó bằng tay. Chính vì thế nhu cầu loại áo này ngày càng giảm, tuy nhiên do giá cả của nó rẻ nên phù hợp với một bộ phận người dân ở những vùng nông thôn.

    + Aó đi mưa dành cho hai người là loại áo mưa có tay được cải tiến để có thể cùng một lúc hai người cùng sử dụng được. Loại áo này có hai mũ do đó rất tiện cho hai người khi đi xe máy, loại áo này ra đời đánh dấu sự phát triển của Công ty và đem lại nguồn  doanh thu đáng kể.

    + Aó mưa mỏng là loại áo dùng tạm thường chỉ sử dụng một vài lần là rách, đây là loại áo rẻ tiền nhất, thoả mãn nhu cầu của những người đi đường khi gặp những cơn mưa bất chợt .

    Danh mục sản phẩm nhằm duy trì phát triển sản xuất của công ty, phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong xã hội.

    1.2. Những hàng hóa Công ty kinh doanh.

    Công ty kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận

    Biểu 2: Hàng hóa công ty kinh doanh.

    TT Tên hàng hóa Công ty kinh doanh
    1. Hàng điện máy (phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới..)
    2. Hàng tư liệu tiêu dùng (vải ra, vải bạt, dây điện, quạt điện,
    3. Hàng hóa khác

    Hàng điện máy là nhóm hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty được công ty nhập về từ các đơn vị khác nhau và bán lại cho khách hàng có nhu cầu. Đây chủ yếu là các phụ tùng dùng để thay thế, ngoài ra có một số thiết bị thi công dùng cho xây dựng loại nhỏ và có giá trị không lớn.

    Hàng tư liệu tiêu dùng gồm có nhiều loại như vải ra, vải bạt cung cấp cho các đơn vị  sản xuất kinh doanh khác, còn dây điện,quạt điện cung cấp cho người tiêu dùng.

    Hàng hóa khác gồm nhiều loại khác nhau với khối lượng tiêu thụ nhỏ và có giá trị nhỏ.

    2. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

     2.1. Chức năng của Công ty.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là doanh nghiệp ngoài quốc doanh với chức năng chủ yếu là sản xuất quần áo đi mưa với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau.

    Ngoài ra Công ty còn có chức năng thương mại với việc kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau như :

    • Hàng tư liệu sản xuất: Chủ yếu là vật tư thiết bị phụ tùng ô tô, máy, thiết bị thi công cơ giới.
    • Hàng tư liệu tiêu dùng: Vải da, vải bạt, dây điện, quạt điện.
    • Mua bán kí gửi hàng hóa khác:
    •  

    2.2.  Nhiệm vụ của công ty.

    Công ty cần xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng của mình đã đăng kí.

    Tìm mọi biết pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.

    T ổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động.

    Công ty phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ do nhà nước quy định.

    2.3.  Loại hình tổ chức của công ty: Bộ máy của UĐV – CO – LTD được tổ chức theo kiểu kết hợp trực tuyến và chức năng. Một mặt giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của toàn công ty, không qua cấp quản trị trung gian. Mặt khác các phòng chức năng có chức năng tham mưu cho giám đốc để quản trị các lĩnh vực chuyên sâu trong Công ty.

    Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty.

     
       

         Giám đốc: Là một trong những sáng lập viên đầu tiên, chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty, ban hành quy định và các quyết định cuối cùng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Công ty.

    Phòng kinh doanh: Chức năng xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty dựa trên các hợp đồng đã ký.

          Nhiệm vụ:

    • Lập kế hoạch sản xuất tiêu thụ các sản phẩm của Công ty.
    • Dự thảo và chỉnh lý các hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật, quản lý và theo dõi thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
    • Tổ chức làm tốt công tác thống kê báo cáo .

        Phòng kế toán: Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế  độc lập được tổ chức theo mô hình hạch toán tập trung, trước nó không có các đơn vị hạch toán phụ thuộc. Vì thế phòng kế toán có chức năng quản lý sự vận động của vốn, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ hạch toán kế toán.

         Nhiệm vụ:

    • Thực hiện tốt điều lệ kế toán trưởng và pháp lệnh thống kê do nhà nước ban hành.
    • Tổ chức hạch toán các dịch vụ và đề xuất các giải pháp giải quyết công tác sản xuất có hiệu quả kinh tế cao.
    • Giao dịch, quan hệ đảm bảo đủ vố từ các nguồn để phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
    • Giữ bảo toàn và phát triển vốn, đề xuất các biện pháp đưa vốn vào sản xuất kinh doanh đúng pháp luật.

    Phòng vật tư: Tổ chức thu mua hàng hóa, nguyên vật liệu để đảm bảo cho quá trình sản xuất và quá trình bán hàng của doanh nghiệp.

           Nhiệm vụ:

    • Tạo được mối quan hệ với bạn hàng, đảm bảo nguyên liệu và hàng hóa ổn định về chất lượng quy cách và chủng loại.
    • Phối hợp đồng bộ với phòng kinh doanh khi thực các hiện hợp đồng nhằm đáp ứng kịp thời hàng hoá nguyên vật liệu.

    Phòng marketing: Tìm các biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.

     

        Nhiệm vụ:

    • Tìm kiếm thị trường, tìm kiếm bạn hàng mới cho Công ty.
    • Tìm hiểu nhu cầu thị trường, phân tích thị trường của Công ty.
    • Khuyếch trương sản phẩm của Công ty, nâng cao uy tín của Công ty.

    Phân  xưởng: là nơi tổ chức sản xuất hàng hoá.

    3. Các yếu tố sản xuất.

    3.1. Đặc điểm lao động của Công ty.

    Tổng số lao động của Công ty là 41 người (trong đó nữ là 29 người).

    Lao động gián tiếp là 10 người, lao động trực tiếp là 31 người chiếm 75,6% lao động của Công ty.

    Trong tổng số lao động của công ty chỉ có 5 người có trình độ đại học chiếm 12% lao động của Công ty còn lại đa phần là công nhân bình thường. Như vậy có thể tỷ lệ lao động tri thức trong công ty còn thấp, công ty cần tuyển chọn thêm lao động có trình độ để có thể đáp ứng nhu cầu phát triển. Có như vậy chất lượng lao động của công ty mới tăng lên và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao cuả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với những đòi hỏi khắt khe  của thị trường.

    3.2. Đặc điểm nguyên liệu của Công ty.

    Nguyên liệu sản xuất chủ yếu của Công ty là các loại nhựa polime đă chế biến, có nghĩa là các loại nhựa này không còn ở dạng thô nữa mà đă được tạo ra thành các tấm mỏng. Chính vì thế giá sản xuất đầu vào của Công ty vẫn còn cao, gây khó khăn cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác giá cả nguyên vật liệu thường xuyên biến độngvà đôi khi chịu ảnh hưởng của những cơn sốt giá, điều này làm cho Công ty bị phụ thuộc, bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sang năm 2005 Công ty dự định nhập dây chuyền sản xuất hiện đại để có thể tạo ra các tấm polime từ nguyên liệu thô để giảm bớt chi phí đầu vào và chủ động nguyên liệu cho sản xuất, tạo thêm việc làm cho công nhân.

    89

     

    3.3. Đặc điểm máy móc của Công ty.

    Hệ thống máy móc thiết bị của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI do Việt Nam sản xuất chế tạo. Tuy nhiên phần lớn máy móc của Công ty là máy cũ và đã lạc hậu, điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm tăng cường hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm.

    Hiện nay, việc hiện đại hóa máy móc thiết bị phục vụ sản xuất là phương châm hành động của lãnh đạo công ty nhằm tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Tạo điều kiện cho hoạt động tiêu thụ hàng hóa phát triển tăng doanh thu, tăng lợi nhuận cho công ty.

    Biểu 3: Máy móc của công ty.

           Tên máy móc thiết bị         Số lượng (cái)
    1.Máy cắt

     

    –         Máy cắt thẳng lớn

    –         Máy cắt nhỏ

    –         Máy cắt vòng

    6

     

    1

    4

    1

    2.Máy hàn

     

    –         Máy hàn ép

    –         Máy hàn trơn

    –         Máy hàn ống

    12

     

    6

    4

    2

    3.Máy đột khuy 5
    4.Máy may 1
    5.Máy in lưới 1

    Với điều kiện máy móc như vậy có thể thấy hoạt động sản xuất của Công ty chưa được hiện đại hoá cao, mọi hoạt động vẫn dựa vào con người là chủ yếu. Tuy nhiên các máy móc của Công ty được bảo dưỡng thường xuyên nên vẫn hoạt động tốt, đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra bình thường.

     

     

    III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Kết quả hoạt động  tiêu thụ hàng hóa là toàn bộ doanh thu từ các mặt hàng của Công ty sau một năm hoạt động. Đây là yếu tố quan trọng bậc nhất để đánh giá dự thành công hay thất bại của Công ty trong hoạt động kinh doanh. Doanh thu của Công ty càng cao có nghĩa là hoạt động tiêu thụ sản phẩm đang rất tốt, còn nếu doanh thu năm sau thấp hơn năm trước thì hoạt động tiêu thụ đang suy giảm cần có biện pháp khắc phục.

    Phân tích hoạt động tiêu thụ hàng hóa giúp nhà quản trị biết được thế mạnh của Công ty, cũng như những hạn chế yếu kém mà Công ty cần giải quyết khắc phục. Qua đó ban lãnh đạo Công ty sẽ có chiến lược kinh doanh thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo tái đầu tư mở rộng tăng thị phần.

    Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH.Công tác thiết lập và ký kết hợp đồng kinh tế đàm phán do ban giám đốc và phòng kinh doanh đảm nhiệm với hai kênh tiêu thụ chủ yếu:

    Công ty                Người bán buôn               Bán lẻ            Người tiêu dùng

    Công ty                       Đại lý                      Người tiêu dùng

    1. Phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    1.1 Đánh giá tốc độ tăng giảm của tổng doanh thu qua các năm từ 2000 – 2004.

    Phân tích tốc độ phát triển doanh thu qua các năm để thấy được sự biến động và xu hướng phát triển của doanh thu bán hàng làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch trung hạn hoặc dài hạn của Công ty.

                     

     

     

     

     

          Biểu 4: Tốc độ phát triển chỉ tiêu doanh thu      

                                                                                             (Trích năm 2004)                            

    Năm Mi Ip Moi Ti Toi
    2000 923 1,00 923 100 100
    2001 2548 1,21 2105,78 228,14 228,14
    2002 4196 1,12 3746,43 177,91 405,88
    2003 4621 1,09 4239,45 113,16 459,29
    2004 5837 1,10 5306,36 125,16 574,85
    • Mi là doanh thu bán hàng kì i của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.
    • Ip chỉ số giá so với năm gốc.
    • Moi doanh thu bán hàng theo giá kì (i-1).
    • Ti là tỷ lệ phát triển liên hoàn.
    • Toi là tỷ lệ phát triển định gốc.

    Ta có tỉ lệ phát triển bình quân 5 năm: 154,84%

    Doanh thu bán hàng của Công ty qua các năm luôn luôn tăng trưởng, tỷ lệ tăng thấp nhất là 13,16%, cao nhất là 128,14%, tỷ lệ tăng bình quân 54,84%. Điều đó đã giúp Công ty ngày càng phát triển và có vị thế trên thị trường.

    1.2. Đánh giá mức tăng giảm của doanh thu bán hàng trong  Công ty qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

     

    Biểu 5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

    Các chỉ   tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so    với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

         Tổng

     doanh thu

    4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    DT từ hoạt động sản

    xuất

    2003 47,67 2134 46,18 2975 50,96 134 6,7 841 39,41
    DT từ hoạt

     

    động kinh

    doanh TM

    2196 52,33 2487 53,82 2862 49,04 281 13,25 375 15,08

    Qua bảng số liệu ta có thể thấy:

    Năm 2003 tổng doanh thu của Công ty là 4621 triệu đồng tăng 425 triệu đồng tỷ lệ tăng là 10,13% so với năm 2002.đây là một sự tăng trưởng rất tốt nhằm củng cố và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Có được kết quả khả quan như vậy là do Công ty đã phát triển được cả hoạt động sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh thương mại của mình.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu tăng 134 triệu đồng với tỷ lệ tăng 6,7% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 46,18% làm cho tổng doanh thu tăng 134 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng là do thời kì này công ty sản xuất thêm một số sản phẩm có mầu sắc khác nhau, thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm, vì thế sản phẩm sản xuất ra  tăng rất nhiều . Ngoài ra trong năm này công ty áp dụng hình thức bán hàng trả chậm, đây là hình thức bán hàng mới kích thích việc tiêu thụ hàng hóa, nhưng mới chỉ áp dụng cho những khách hàng quen, thân thiết của Công ty.

    Năm 2003 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2487 triệu tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng 13,25% so với năm 2002 chiếm tỷ trọng 53,82% làm cho doanh thu của Công ty tăng 281 triệu đồng.

    Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng mạnh với tỷ lệ tăng là 13,25% là do thời kì này nhu cầu về một số mặt hàng Công ty kinh doanh tăng mạnh như phụ tùng ô tô, thiết bị thi công cơ giới, dây điện. Ngoài nhu cầu của thị trường tăng nên thì Công ty cũng có thêm một số bạn hàng mới, làm cho việc tiêu thụ hàng hóa tăng cao đem lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2004 so với năm 2003 tổng doanh thu tăng 1216 triệu đồng tỷ lệ   tăng  là 26,31%. Đây là một tỷ lệ tăng rất nhanh chứng tỏ hoạt động sản xuất cũng như việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty rất tốt đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững trong tương lai.

    Doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu tăng 841 triệu tỷ lệ tăng là 39,41%, chiếm tỷ trọng 50,96% tăng 4,78% (46,18% – 50,96%) so với 2003 làm cho tổng doanh thu của Công ty tăng 841 triệu. Đây là lần đầu tiên doanh thu từ hoạt động sản xuất vượt qua doanh thu từ hoạt động thương mại. Điều này chứng tỏ rằng sản phẩm của Công ty đang chiếm lĩnh được thị trường tiêu thụ, đây là một dấu hiệu rất tốt bởi sản xuất là hoạt động chính của Công ty, là lợi thế để công ty giành thế chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

    Năm 2004 có thể nói là năm hoạt động sản xuất phát triển rất nhanh kể từ khi thành lập Công ty, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt trong năm 2004 nhờ sự nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng, Công ty đã cho sản xuất loại áo mưa dùng cho hai người khi đi xe máy. Đây là loại áo mưa rộng, có hai mũ có khả năng che kín hai người khi đi trời mưa vì thế được người tiêu dùng ưa chuộng. Loại áo mưa này tuy mới được sản xuất nhưng khối lượng tiêu thụ rất cao mang lại nguồn doanh thu lớn cho Công ty. Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng nhanh với tỷ lệ tăng là 39,41%

    Tuy nhiên do khả năng tiêu thụ còn hạn chế vì thế chưa phát huy được hết năng lực sản xuất của công ty. Công ty chỉ mới sản xuất 85% năng lực của mình mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của tiêu thụ, thậm chí vẫn còn dự trữ. Nhất là sang năm 2005 công ty dự định đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại thì việc đẩy mạnh tiêu thụ là hết sức cần thiết, như vậy mới có thể tận dụng được hết năng lực sản xuất của mình.

    Đối với hoạt động kinh doanh thương mại năm 2004 cũng đạt được những thành công to lớn góp phần vào việc phát triển của Công ty. Trong năm 2004 doanh thu từ hoạt động thương mại là 2862 triệu đồng tăng 281 triệu với tỷ lệ tăng là 15,08% so với năm 2003 chiếm tỷ trọng 49,04% làm tổng doanh thu của công ty tăng 281 triệu đồng. Doanh thu từ hoạt động thương mại tăng là do Công ty luôn đảm bảo chất lượng hàng hóa, giao hàng đúng hẹn, nhất là mức giá của công ty luôn hấp dẫn hơn so với các đơn vị khác vì thế việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty vẫn diễn ra tốt đẹp. Tuy nhiên, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động thương mại sẽ có xu hướng giảm dần trong tổng doanh thu của Công ty vì hoạt động sản xuất của Công ty vẫn là chính và Công ty sẽ tập chung mạnh vào lĩnh vực này.

    Ta có thể thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI là một Công ty kinh doanh tổng hợp vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại. Cả hai nghiệp vụ kinh doanh chiếm tỷ trọng tương đương nhau không quá chênh lệch về phía nào. Tuy nhiên trong tương lai Công ty dự định đầu tư mạnh vào sản xuất vì đây là thế mạnh của công ty, lúc đó chắc chắn hoạt động sản xuất sẽ mạnh mẽ hơn và chiếm tỷ trọng cao hơn.

    2. Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm theo cơ cấu mặt hàng của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm (2002, 2003, 2004).

         Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty để thấy được cơ cấu sản phẩm, sản lượng tiêu thụ của mỗi loại cũng như ảnh hưởng của các loại sản phẩm tới việc tăng doanh thu trong hoạt động sản xuất của Công ty.Ta sẽ biết được được đâu là sản phẩm chủ chốt, sản phẩm chiến lược, đâu là sản phẩm lạc hậu, sản phẩm cần cải tiến từ đó có biện pháp thích hợp để xử lý đảm bảo hoạt động sản xuất luôn ổn định phát triển.

     

     

      Biểu 6: Kết quả tiêu thụ sản phẩm của công ty.   

                                                                                                          

    Mặt hànag Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003
    SL % SL % SL % SL % SL %
    Bộ quần áo  đi mưa 12,8 9,67 13,5 9,16 16,65 9,71 0,7 5,47 3,15 23,33
    Aó mưa không tay 27,4 20,7 25,6 17,37 15,7 9,15 -1,8 -6,57 -9,9 -38,6 7
    Aó mưa có tay 42,7 32,3 45,9 31,14 49,35 28,77 3,2 7,49 3,45 7,52
    Aó  cho hai người 20,5 11,95 20,5  
    Aó mưa mỏng 49,4 37,33 62,4 42,33 69,3 40,41 13 26,31 6,9 11,06

    Tổng sản lượng

    132,3 100 147,4 100 171,5 100 15,1 11,41 24,1 16,35

    Qua bảng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI ta thấy doanh thu bán sản phẩm của công ty liên tục tăng qua các năm, làm cho tổng doanh thu của công ty tăng lên.

    Năm 2002 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2003 triệu đồng với mức sản lượng tiêu thụ là 132,3 nghìn sản phẩm.

    Năm 2003  với mức sản lượng tiêu thụ là 147,4 nghìn sản phẩm tăng 15,1 nghìn sản phẩm, đã tạo ra doanh thu từ hoạt động sản xuất là 2134 triệu đồng tăng 134 triệu so với năm 2002.

    Năm 2004 doanh thu từ hoạt động sản xuất đạt 2975 triệu đồng so với kế hoạch là 2500 triệu, bằng 119% so với kế hoạch. Năm 2004 sở dĩ doanh thu từ việc tiêu thụ sản phẩm của công ty tăng nhanh như vậy là do Công ty đã sản xuất thêm một loại áo đi mưa mới rất tiện lợi cho hai người khi đi xe máy. Với việc sản xuất thêm loại sản phẩm mới này đã thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty, năm 2004 công ty đã tiêu thụ được 171,5 nghìn sản phẩm tăng 24,1 nghìn cái với tỷ lệ tăng là 16,35%.

    Có được kết quả cao như vậy là do Công ty đã phát huy được khả năng của mình, tạo ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, luôn tận dụng tốt mọi cơ hội có được. Ngoài ra Công ty luôn chú trọng tới việc tiêu thụ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tiêu thụ.

    Đối với bộ quần áo đi mưa, đây là sản phẩm truyền thống của Công ty và đem lại doanh thu khá lớn trong tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất do giá trị sử dụng của nó cao. Tuy nhiên khối lượng tiêu thụ của loại sản phẩm này lại thấp hơn so với các mặt hàng khác. Năm 2002 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 12,8 nghìn sản phẩm, năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 13,5 nghìn sản phẩm tăng 0,7 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng là 5,47% so với năm 2002, chỉ đạt được 95,2% so với kế hoạch đặt ra. Tuy nhiên đến năm 2004 do nhu cầu về sản phẩm trên thị trường tăng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Năm 2004 bộ quần áo đi mưa tiêu thụ là 16,65 nghìn sản phẩm tăng 3,15 nghìn sản phẩm với tỷ lệ tăng 23,33% so với 2003, vượt mức kế hoạch đề ra bằng 110% so với kế hoạch đề ra.

    Đây là sản phẩm có vị trí quan trọng vì thế cần giữ vững, phát huy khả năng tiêu thụ nhằm tăng doanh thu tăng lợi nhuận cho Công ty.

    Đối với áo mưa không có tay, đây cũng là một sản phẩm Công ty sản xuất từ khi thành lập và đã từng là sản phẩm chủ chốt của Công ty. Tuy nhiên, hiện nay sản phẩm này đã lạc hậu không được người tiêu dùng ưa chuộng nữa nhất là người dân thành thị. Chính vì thế mức độ tiêu thụ ngày một giảm sút ảnh hưởng đáng kể tới doanh thu của Công ty.

    Năm 2002 loại áo đi mưa không có tay tiêu thụ được 27,4 nghìn chiếc chiếm 20,71% sản lượng tiêu thụ. Đến năm 2003 sản lượng tiêu thụ chỉ đạt 25,6 nghìn sản phẩm giảm 1,8 nghìn chiếc với tỷ lệ giảm là 6,57%. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ của loại áo mưa không có tay tiếp tục giảm mạnh, trong năm 2004 sản lượng tiêu thụ chỉ còn 15,7 nghìn sản phẩm giảm 9,9 nghìn sản phẩm, với tỷ lệ giảm là 38,67%. Có lẽ đây đang là thời kì suy thoái của loại sản phẩm này trong chu kì sống của nó, do vậy Công ty cần có biện pháp thích hợp để sử lí, tốt nhất Công ty nên hạn chế sản xuất loại sản phẩm này để giảm bớt chi phí cũng như tránh việc tồn kho hàng hóa.

    Đối với loại áo mưa có tay đây là loại sản phẩm Công ty bắt đầu sản xuất từ năm 2001, nhưng tốc độ tiêu thụ của nó là khá cao bởi đây là loại áo mưa phổ biến nhất đối với người tiêu dùng. Công ty sản xuất loại áo mưa này với nhiều chủng loại mầu sắc, chất lượng cũng như giá cả khác nhau nhằm thoả mản nhu cầu của mọi khách hàng khác nhau. Chính vì thế nhu cầu về loại áo mưa này là rất lớn, tạo nên sự  phát triển sản xuất ổn định cũng như mang lại sự thành công cho Công ty.

    Năm 2002 sau một năm loại sản phẩm này được sản xuất khối lượng tiêu thụ của nó là rất cao đạt 42,7 nghìn chiếc đạt 142% so với kế hoạch, tạo nên doanh thu không nhỏ cho Công ty. Sang năm 2003 sản lượng tiêu thụ áo đi mưa có tay tiếp tục tăng với việc cải tiến chất lượng tạo nên một loại áo mưa mềm, dầy rặn và rất bền. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ là 45,9 nghìn chiếc tăng 3,2 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng là 7,49% so với năm 2002. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ tiếp tục tăng đạt 49,35 nghìn chiếc  tăng 3,45 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 7,52% so với năm 2003 nhưng chỉ đạt 98,4% so với kế hoạch đề ra. Có thể thấy đây là loại sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh, vì thế Công ty cần tập trung khai thác thị trường, để  nâng cao sản lượng tiêu thụ thúc đẩy sự phát triển của Công ty.

    Đối với loại áo mưa dùng cho hai người, đây là loại sản phẩm cải tiến của Công ty dược sản xuất năm 2004 có ưu điểm rất lớn đó là có hai mũ và rộng hơn rất nhiều áo mưa bình thường, vì thế có thể cùng một lúc hai người sử dụng vẫn thoải mái. Tuy mới được sản xuất nhưng phù hợp với người tiêu dung, đặc biệt cho những người đi xe máy nên khối lượng sản phẩm tiêu thụ là rất khả quan. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ đạt 20,5 nghìn sản phẩm và được coi là sự thành công lớn trong việc phát triển sản phẩm mới. Nhờ việc phát triển sản phẩm mới này công ty đã tạo thêm việc làm cho người lao động, ổn định sản xuất. Loại áo mưa dùng cho hai người được coi là sản phẩm chiến lược của Công ty trong thời gian tới vì thế công ty đang tập chung nhằm hoàn thiện hơn nữa sản phẩm của mình, tạo ra một sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường.

    Đối với loại áo mưa mỏng, đây có thể coi là loại áo mưa tạm thời đối với người sử dụng, vì loại áo mưa này chỉ dùng một vài lần là rách, người tiêu dùng mua khi họ gặp mưa bất chợt không có sự chuẩn bị. Tuy nhiên loại áo mưa này có giá trị rất nhỏ vì thế khối lượng tiêu thụ là rất lớn, mang lại một phần doanh thu cho Công ty. Năm 2002 sản lượng tiêu thụ loại áo mưa mỏng này là 49,4 nghìn sản phẩm. Năm 2003 sản lượng tiêu thụ tăng rất mạnh do nhu cầu người tiêu dùng là rất lớn, đạt 62,4 nghìn chiếc tăng 13 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 26,3% so với năm 2002 đạt 135% so với kế hoạch đề ra. Năm 2004 sản lượng tiêu thụ mặt hàng này tiếp tục tăng mạnh đạt 69,3 nghìn chiếc tăng 6,9 nghìn chiếc với tỷ lệ tăng 11,06% so với 2003.

    3. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI qua 3 năm ( 2002, 2003, 2004).

    Hoạt động kinh doanh thương mại là lĩnh vực kinh doanh bổ trợ có tính chất không thường xuyên liên tục. Tuy nhiên do tính chất của hàng hóa là có giá trị cao, lên doanh thu từ hoạt động thương mại cũng rất cao thậm chí cao hơn doanh thu từ hoạt động sản xuất. Điều đó có nghĩa là kết quả từ hoạt động kinh doanh thương mại có ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ Công ty. Phân tích tình hình kinh doanh thương mại sẽ biết được những mặt hàng Công ty kinh doanh và những đặc điểm của nó.

     

     

     

     

     

     

    Biểu 7: Kết quả hoạt động kinh doanh thương mại của công ty.

    Mặt hànag Năm 2002

    Năm 2003

    Năm 2004

    Năm 2003 so với 2002 Năm 2004 so với 2003

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    DT từ thương mại 2196 100 2487 100 2862 100   281 13,25   375 15,08

    Hàng   Điện máy

    1210  55,1 1563 62,85 1821 63,62 353 29,17 258 16,51
    Tư liệu tiêu dùng 756 34,42 650 26,13 900 31,45 -106 -14,1 250 38,46

    Hàng hóa khác

    230 10,47 274 11,02 141 4,93 44 19,13 -133 -48,5 4

    Theo số liệu ở bảng ta có thể thấy Công ty kinh doanh ba nhóm hàng khác nhau là: Hàng điện máy, hàng tư liệu tiêu dùng và một số hàng hóa khác. Mỗi nhóm hàng lại có những mặt hàng khác nhau đảm bảo việc đa dạng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

    * Hàng điện máy bao gồm các loại phụ tùng ôtô, phụ tùng máy công nghiệp, thiết bị thi công cơ giới. Nhóm hàng này có ảnh hưởng rất tới hoạt động kinh doanh thương mại bởi nó chiếm phần lớn doanh thu từ hoạt động này.

    Năm 2002 hàng điện máy đạt doanh thu 1210 triệu đồng chiếm 55,1% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu là 1563 triệu tăng 29,17% so với năm 2002 làm doanh thu từ hoạt động thương mại tăng 353 triệu đồng. Doanh thu hàng điện máy tăng nhanh là do nhu cầu về loại hàng này năm 2003 tăng mạnh nhất là phụ tùng ôtô và thiết bị thi công xây dựng. Đặc biệt, do Công ty đã liên tục đi thăm dò thị trường chào mời khách hàng mua hàng  hóa của mình, lên tốc độ tiêu thụ mặt hàng này rất tốt  mang lại hiệu quả cao.

    Năm 2004 doanh thu tiếp tục tăng đạt 1821 triệu đồng chiếm 63,6% doanh thu từ hoạt động thương mại, tăng 258 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 16,5% so với năm 2003. Có được kết quả tốt như vậy là do Công ty luôn bám sát thị trường để có thể mua hàng với mức gía hợp lí, giảm được mức giá đầu ra lên kích thích được tiêu thụ. Công tác tiếp thị của Công ty ngày một tốt hơn đem lại hiệu quả cao hơn.

    *   Hàng tư liệu tiêu dùng bao gồm một số mặt hàng vải bạt, dây điện, quạt điện có doanh thu tương đối, nhưng tốc độ tiêu thụ không đều lên phần nào gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh.

    Năm 2002 doanh thu từ mặt hàng này đạt 756 triệu đồng chiếm 34,42% doanh thu từ hoạt động thương mại.

    Năm 2003 doanh thu chỉ đạt 650 triệu giảm 106 triệu với tỷ lệ giảm 14,1% so với năm 2002. Doanh thu giảm là do hàng vải ra, vải bạt trong năm này tiêu thụ rất khó khăn bởi cung vượt cầu quá nhiều trên thị trường. Doanh thu giảm làm cho doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 106 triệu.

    Năm 2004 doanh thu mặt hàng này đột ngột tăng vọt đạt 900 triệu đồng tăng 250 triệu với tỷ lệ tăng là 38,46% so với 2003, chiếm tỷ trọng 31,45% tổng doanh thu từ hoạt động thương mại làm cho doanh thu từ hoạt động này tăng 250 triệu đồng. Doanh thu tăng đột ngột là do mặt hàng quạt điện tiêu thụ mạnh, nhất là loại quạt thông gió công suất lớn  lắp đặt tại các xưởng sản xuất. Bên cạnh đó hàng vải bạt, vải ra đã có sự tiêu thụ trở lại nhưng còn rất chậm, vì vậy năm 2005 Công ty cần có những giản pháp thích hợp nhằm thúc đẩy tiêu thụ một cách ổn định.

    *  Một số hàng hóa khác như thiếc, đồng lá, thiết bị cách nhiệt, cách điện…có doanh thu thấp lên không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động kinh doanh. Năm 2002 doanh thu từ hàng hóa này đạt 230 triệu chiếm 10,47%, năm 2003 doanh thu là 247 triệu tăng 44 triệu so với 2002, làm tổng doanh thu từ thương mại tang 44triệu. Năm 2004 doanh thu giảm mạnh chỉ đạt 141 triệu đồng tỷ lệ giảm 48,54% làm doanh thu từ hoạt động thương mại giảm 133 triệu đồng, đây là mức giảm tương đối lớn vì thế Công ty cần khắc phục để tránh đánh mất mặt hàng kinh doanh trên thị trường.

    Qua việc phân tích tình hình tiêu thụ hàng hóa tại UDL– CO – LTD ta thấy hoạt động kinh doanh thương mại của công ty cũng khá phát triển, doanh thu tăng mạnh qua các năm.

    Trong các mặt hàng Công ty kinh doanh thì mặt hàng điện máy luôn chiếm tỷ trọng cao nhất 63,62% đạt doanh thu 1821 triệu đồng năm 2004. Hàng điện máy chủ yếu được nhập theo đơn đặt hàng của khách hàng, có nghĩa là khi nào có khách hàng cần mua hàng loại nào thì Công ty mới nhập về, do đó giảm được chi phí bảo quản cũng như chi phí do tồn đọng vốn. Tuy nhiên việc kinh doanh như vậy Công ty sẽ không chủ động được trong kinh doanh dễ bị nhà cung cấp gây khó khăn khi hàng hóa khan hiếm.              Trong tổng doanh thu từ hàng điện máy thì doanh thu là từ việc bán thiết bị thi công cơ giới chiếm khoảng 70%, doanh thu phụ tùng máy công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất chỉ có khoảng 9%.

    4. Phân tích tiêu thụ theo phương thức bán trong 3 năm (2002, 2003, 2004).

    Việc bán hàng trong Công ty được thực hiện bằng những phương thức khác nhau: Bán buôn, bán đại lí và bán trả chậm. Mỗi phương thức bán có đặc đIểm kinh tế kỹ thuật khác nhau và có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    Phân tích doanh thu bán hàng theo phương thức bán nhằm mục đích đánh giá tình hình và khả năng đa dạng hóa các phương thức bán hàng của Công ty, qua đó tìm ra những phương thức bán hàng thích hợp để vừa đẩy mạnh bán hàng tăng doanh thu vừa đảm bảo lợi nhuận cho Công ty.

    Biểu 8: Kết quả bán hàng theo phương thức bán.

    Các chỉ

     

    tiêu

    Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 2003 so    với 2002 2004 so   với 2003

    SL

    % SL % SL % SL % SL %
    DT bán buôn 2415 57,6 2178 47,1 2963 50,8 -237 -9,81 785 36,04
    Bán đại lí 661 15,7 760 16,5 725 12,4 99 14,98 -35 -4,6
    Bán trả chậm 1120 26,7 1683 36,4 2149 36,8 563 50,27 466 27,69
    Tổng cộng 4196 100 4621 100 5837 100 425 10,13 1216 26,31

    Từ bảng tổng hợp số liệu trên ta thấy:

    *  Năm 2003 so với 2002 doanh thu bán buôn giảm 237 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 9,81%, chiếm tỷ trọng 47,1% giảm 10,5% (57,6% – 47,1%). Doanh thu bán đại lí tăng 99 triệu tỷ lệ tăng 14,98%, chiếm tỷ trọng 16,5% tăng 0,8% (15.7% – 16,5%). Doanh thu hàng bán trả chậm tăng 563 triệu tỷ lệ tăng 50,27%, chiếm tỷ trọng 36,4% tăng 9,7% .

    *  Năm 2004 so với 2003 doanh thu bán buôn tăng 785 triệuđồng tỷ lệ tăng là 36,04%, chiếm tỷ trọng 50,8% tăng 3,7% (47,1% – 50,8%). Doanh thu bán đại lí giảm 35 triệu, tỷ lệ giảm 4,6%, chiếm tỷ trọng 12,4% giảm 4,1% (16,5% – 12,4%). Doanh thu bán trả chậm tăng 466 triệu tỷ lệ tăng 27,69%, chiếm tỷ trọng 36,8% tăng 0,4% (36,4% – 36,8%).

    + Nhận xét: Trong các hình thức bán hàng của doanh nghiệp thì doanh thu bán buôn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và có sự tăng giảm qua các năm.

    Bán buôn là hình thức bán hàng chủ yếu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa với khối lượng lớn và thu hồi vốn nhanh. Năm 2004 doanh thu bán buôn đạt 2968 triệu góp phần lớn vào việc tiêu thụ hàng hóa. Những khách hàng mua buôn luôn được hưởng mức giá ưu đãi tuỳ thuộc vào lượng hàng họ mua, khách hàng mua từ 50 – 100 triệu được giảm giá 5%, khách hàng mua từ 100 – 200 triệu được giảm giá 7% và mua từ 200 triệu trở nên được giảm 10% giá trị của hàng hóa. Chính vì thế những khách hàng lớn luôn muốn mua buôn để được hưởng mức giá ưu đãi

    Bán đại lí chiếm tỷ trọng thấp nhất và có doanh thu giao động qua các năm. Các đại lí này không thuộc công ty mà chủ yếu là của các hộ tư nhân, công ty liên hệ nhờ họ làm đại lí. Các đại lí này được hưởng hoa hồng là 15% doanh thu bán hàng và có nhiệm vụ giới thiệu sản phẩm của công ty. Vì chi phí cho đại lí là khá lớn nên Công ty chỉ liên hệ ba đại lí với hai đại lí ở phía Bắc và một ở miền Trung. Năm 2002 doanh thu từ các đại lí này là 661 triệu đồng, năm 2003 doanh thu là 760 triệu đồng tăng 99 triệu với tỷ lệ tăng là 14,98% so với năm 2002, năm 2004 doanh thu từ các đại lí là 725 triệu đồng giảm 35 triệu với tỷ lệ giảm là 4,6% so với năm 2003. Bán hàng thông qua các đại lí tuy không trực tiếp với Công ty và Công ty phải bỏ ra một lượng chi phí, nhưng nó có ưu điểm là có thể mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của Công ty, và phản hồi nhanh chóng những góp ý của khách hàng. Cho nên Công ty cần giữ vững những đại lí này và có thể mở rộng thêm các đại lí khác nhằm khuyếch trương sản phẩm của Công ty.

    Đặc biệt là bán trả chậm, đây có thể coi là một biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa. Doanh thu bán trả chậm khá cao và tăng mạnh qua các năm, tuy nhiên nó cũng gây tình trạng tồn đọng vốn khá lớn. Bán trả chậm chỉ áp dụng đối với khách hàng thân thiết và có uy tín đối với Công ty với lượng hàng có giá trị không quá 100 triệu, nhằm tránh hiện tượng thất thoát vốn của Công ty. Những khách hàng trả chậm sẽ không được hưởng mức giá ưu đãi của Công ty và phải thanh toán tiền đầy đủ như cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên đối với khách hàng có lượng vốn hạn chế thì việc mua hàng trả chậm luôn là phương thức mua hàng được lựa chọn. Chính vì thế doanh thu từ hình thức bán hàng trả chậm là khá cao và tăng mạnh qua các năm. Năm 2002 doanh thu là 1120 triệu đồng thì năm 2003 doanh thu từ hình thức này đã là 2683 triệu đồng tăng 563 triệu với tỷ lệ tăng là 50,27% so với năm 2002. Năm 2004 doanh thu từ hình thức bán này đã tăng nên 2149  triệu đồng tăng 466 triệu với tỷ lệ tăng 27,69% so với năm 2003.

    Tuy hình thức bán hàng này thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa nhưng việc tồn đọng vốn là khá cao tạo nên sự thiếu hụt vốn trong hoạt động kinh doanh của Công ty, bên cạnh đó khả năng thất thoát vốn là khá lớn cho nên Công ty cần tính toán sao cho hợp lí để vừa thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa vừa bảo toàn vốn kinh doanh.

    IV. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Biểu 9: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty.

    Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004      2003   so với 2002      2004    so với 2003
    SL % SL %
    Tổng doanh thu 4196 4621 5837 425 10,13 1216 26,31
    Tổng chi phí 3653 3993 5069 340 9,31 1076 26,95
    LN trước thuế 543 628 768 85 15,65 140 22,29
    Nộp ngân sách 173,76 200,96 245,76 27,2 15,65 44,8 22,29
    LN sau thuế 369,24 427,04 522,24 57,8 15,65 95,2 22,29
    Tổng quỹ lươnag 175,25 202,93 253,57 27,68 15,79 50,64 24,95
    Mức lương bình quân 0,4868 0,4973 0,5154 0,0105 2,157 0,0181 3,639

    Nhờ quá trình phát triển đa dạng hóa sản phẩm với nhiều chủng loại áo đi mưa khác nhau đã thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho doanh thu từ hoạt động sản xuất tăng mạnh qua các năm. Bên cạnh sự thành công của hoạt động sản xuất , hoạt động kinh doanh thương mại cũng rất thành công bởi sự năng động của phòng kinh doanh cũng như của lãnh đạo Công ty. Từ kết quả đó làm cho tổng doanh thu của Công ty liên tục tăng qua các năm.

    Năm 2004 doanh thu của công ty đạt 5837 triệu đồng tăng 1216 triệu đồng  với tỷ lệ tăng 26,31%. Như vậy doanh thu của công ty đã có sự tăng nhanh trở lại, đây là một dấu hiệu rất tốt chứng tỏ rằng Công ty có khả năng đứng vững trên thị trường. Có được sự thành công như vậy là do có sự lỗ lực cố gắng rất lớn của lãnh đạo Công ty cũng như của công nhân viên. Lãnh đạo Công ty đã không ngừng tìm kiếm thị trường, phát triển sản phẩm mới, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.

    Mặc dù doanh thu của Công ty liên tục tăng nhưng chi phí của Công ty cũng tăng đáng kể, làm giảm lợi nhuận của Công ty. Chi phí bao gồm chi phí mua nguyên liệu, chi phí mua hàng hóa, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất, chi phí bán hàng .v.v…

    Năm 2003 tổng  chi phí của Công ty là 3993 triệu đồng tăng 340 triệu so với năm 2002, tuy nhiên tỷ lệ tăng chi phí là 9,31% thấp hơn tỷ lệ tăng doanh thu vì vậy việc quản lí chi phí của Công ty là tốt không bị lãng phí.

    Năm 2004 tổng chi phí của Công ty là 5069 triệu đồng  tăng 1076 triệu so với 2003. Nguyên nhân chính của việc tăng chi phí mạnh như vậy là do năm 2004 Công ty sản xuất thêm mặt hàng mới, đó là loại áo mưa dành cho hai người. Tuy nhiên tỷ lệ tăng tổng chi phí trong năm này là rất cao đạt 26,95% cao hơn tỷ lệ tăng doanh thu chứng tỏ rằng Công ty đã gây lãng phí trong hoạt động kinh doanh của mình. Lãnh đạo Công ty cần xem xét lại và có biện pháp thích hợp sử lí để hoạt động kinh doanh đem lại kết quả cao nhất.

       Do tổng doanh thu có xu hướng tăng mạnh trở lại vì thế các khoản nộp ngân sách cho nhà nước vẫn tăng đều qua các năm. Năm 2003 Công ty nộp ngân sách 200,96 triệu, tăng 27,2 triệu đồng với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 Công ty nộp ngân sách 245,76 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng 22,29%. Đây là năm Công ty nộp thuế cao nhất cho ngân sách nhà nước.

    Do doanh thu của Công ty tăng cho lên mức lương bình quân của Công nhân cũng tăng. Năm 2004 mức lương bình quân tính theo đầu người / tháng là 515.000 đồng tăng 18100 đồng so với năm 2003. Tuy nhiên tỷ lệ tăng mức lương bình quân là khá thấp so với tỷ lệ tăng doanh thu, tỷ lệ tăng lương chỉ đạt 3,639% trong khi đó tỷ lệ tăng doanh thu là 26,31%. Đây cũng là một mức lương không cao nắm so với tình hình lương thực tế trong xã hội,rất có thể trong năm sau mức lương bình quân của công nhân sẽ được cải thiện nhiều hơn để có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động.

    Về chỉ tiêu lợi nhuận hàng năm của Công ty không ngừng tăng lên tạo đIều kiện cho Công ty phát triển và mở rộng hoạt động kinh doanh. Năm 2003 lợi nhuận sau thuế của Công ty là 427,04 triệu tăng 57,8 triệu với tỷ lệ tăng 15,65% so với năm 2002. Năm 2004 lợi nhuận đạt được là 522,24 triệu đồng tăng 95,2 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29%. Điều này cho thấy Công ty không những bảo toàn được vốn mà còn có lãi với tỷ lệ tăng khá cao. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào số tuyệt đối của chỉ tiêu lợi nhuận thì không thể nói khi con số tăng thì hiệu quả kinh doanh của Công ty tăng và hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng được. Bởi vì khi doanh thu của Công ty hàng năm lớn nhưng chi phí cũng tăng tương ứng hay tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng doanh thu thì số tuyệt đối lợi nhuận tăng nhưng rõ ràng không hiệu quả. Vì thế ta phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận/ doanh thu để đánh giá, thì hiệu quả sử dụng vốn của Công ty năm 2003 tốt hơn năm 2002, nhưng hiệu quả sử dụng vốn năm 2004 kém hơn năm 2003.

    Như vậy sau hơn 5 năm thành lập và hoạt động trong nền kinh tế thị trường Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã từng bước khẳng định dược vị trí của mình, tổng doanh thu cũng như lợi nhuận của Công ty liên tục tăng qua các năm. Đây cũng là thành tích phản ánh sự tăng trưởng và phát triển của Công ty.

    2. Những thành tựu đạt được của Công ty.

    Qua biểu phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty ta thấy Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI đã đạt được những thành tựu to lớn tạo điều kiện cho Công ty phát triển cũng như nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường.

    * Đối với Công ty

    Qua 5 năm thành lập doanh thu bán hàng của Công ty liên tục tăng, làm cho lợi nhuận của Công ty cũng tăng mạnh.

    • Năm 2000 lợi nhuận của Công ty chỉ có 43,8 triệu đồng đây là năm công ty có lợi nhuận thấp nhất.
    • Năm 2001 lợi nhuận là 197,2 triệu đồng tăng 153,4 triệu đồng so với năm 2000
    • Năm 2002 lợi nhuận là 543 triệu đồng.
    • Năm 2003 lợi nhuận là 628 triệu đồng .
    • Năm 2004 là năm có lợi nhuận cao nhất của Công ty đạt 768 triệu.

    + Nhờ có được mức lợi nhuận cao như vậy nên công ty đã có những đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động sản xúât kinh doanh của mình, làm cho quy mô kinh doanh ngày càng được mở rộng, sản phẩm sản xuất của Công ty ngày càng được nâng cao về chất lượng,  hàng hóa của Công ty ngày càng đa dạng về mẫu mã và chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tăng doanh thu của Công ty.

    + Từ đầu năm 2004 nhờ tăng cường công tác tiêu thụ hàng hóa, Công ty đã kí thêm một số hợp đồng với những khách hàng ở Miền Trung nên đã thúc đẩy khả năng  tiêu thụ của Công ty.

    + Do công ty liên tục cải tiến mẫu mã sản phẩm cũng như đảm bảo về chất lượng hàng hóa cho nên khách hàng hết sức tin tưởng vào Công ty, hay Công ty đã tạo được uy tín của mình trên thị trường.

    + Có được thành quả như ngày hôm nay là nhờ vào sự nỗ lực rất lớn của lãnh đạo công nhân viên toàn Công ty. Họ luôn đoàn kết gắn bó tạo ra nội bộ doanh nghiệp vững mạnh là điểm tựa vững chắc đưa Công ty phát triển đi lên.

    * Đối với xã hội.

    Thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Công ty đã tạo ra một loại sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu của người dân, nâng cao đời sống vật chất của người dân trong xã hội.

    Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty góp phần vào việc phát triển sản xuất của xã hội, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI tuy là một Công ty nhỏ nhưng cũng tạo ra việc làm ổn định cho một bộ phận người lao động, nhờ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội cũng như tạo ra cuộc sống ổn định của một số hộ gia đình. Bên cạnh đó Công ty còn tham gia vào các hoạt động xã hội khác như bảo vệ môi trường, các phong trào hoạt động của phường nơi Công ty hoạt động

    * Đối với Nhà nước.

    Thành tựu quan trọng nhất của Công ty đối với Nhà nước là việc Công ty ngày càng phát triển, doanh thu từ hoạt động sản xuất ngày càng cao. Nhờ  đó Công ty nộp thuế cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng, năm 2002 Công ty nộp ngân sách  là 173,76 triệu đồng, năm 2003 nộp ngân sách là  200,96 triệu đồng tăng 27,2 triệu so với năm2002, năm 2004 Công ty nộp thuế cho ngân sách tiếp tục tăng cao đạt 245,76 triệu đồng tăng 44,8 triệu với tỷ lệ tăng là 22,29% so với năm 2003.

    Với việc nộp thuế ngày càng tăng Công ty đă góp phần vào việc tăng ngân sách nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư phát triển của nhà nước

    3. Những tồn tại và nguyên nhân.

      3.1. Những tồn tại cần khắc phục.   

    Ngoài những thành tựu to lớn mà Công ty đã đạt được ta vẫn thấy còn có những tồn tại khó khăn  nhất định mà nếu không kịp thời khắc phục sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai.

    + Công ty chưa đầu tư  thích đáng vào việc nghiên cứu nhu cầu thị trường, do đó thông tin về nhu cầu đối với sự phát triển của Công ty có được là rất hạn chế . Nhất là kể từ khi thành lập đến nay Công ty chưa sử dụng bất kì hình thức quảng cáo nào để giới thiệu sản phẩm hàng hóa của mình. Do vậy sản phẩm hàng hóa của Công ty không được người tiêu dùng nhận thức đầy đủ nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tiêu thụ hàng hóa.

    Công ty vẫn còn hạn chế trong việc xác định thị phần của mình trên thị trường và của đối thủ cạnh tranh, chưa nắm rõ được điểm mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Do vậy rất khó khăn trong việc xác định được chiến lược chiếm lĩnh thị trường hạn chế sự cạnh tranh của đối thủ

    Năm 2004 sản phẩm hư hỏng tuy đã giảm nhưng vẫn còn cao làm chi phí của doanh nghiệp tăng lên. Khâu mua hàng vẫn chưa thật sự tốt, nhất là việc bảo quản hàng hóa lên vẫn gây tình trạng lãng phí không đáng có, vì thế cần phải khắc phục.

    Vẫn cồn tình trạng giao hàng chậm cho khách, đặc biệt là vào mùa mưa lượng tiêu thụ hàng quần áo đi mưa tăng mạnh. Điều này ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.

       3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên.

    Công ty mới thành lập tiềm lực kinh tế cũng như kinh nghiệm còn ít không thể cùng một lúc thực hiện được tất cả mọi việc một cách suôn sẻ.

    Hệ thống máy móc thiết bị nhà xưởng của Công ty còn lạc hậu và nhỏ hẹp, hệ thống thu mua và phân phối hàng hóa đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nên không thể tránh được thiếu sót.

    Vốn cho sản xuất và đầu tư đổi mới trang bị còn bị hạn chế. Trên thực tế đây là nguyên nhân quan trọng nhất làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Trình độ của công nhân còn hạn chế do chưa được đào tạo và thời gian làm việc chưa nhiều.

     

    CHƯƠNG III

    CÁC BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI

    I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1.  Dự báo nhu cầu sản phẩm của công ty năm 2005.

    Theo dự đoán của phòng Marketing thì nhu cầu về sản phẩm của công ty năm 2005.

    Năm 2005 nhu cầu sản phẩm của Công ty tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ tăng sẽ chậm lại do có sự cạnh tranh ngày càng tăng.

    Dự kiến sản phẩm áo đi mưa mỏng vẫn đạt sản lượng cao nhất khoảng 72003 sản phẩm tăng 3,8%, áo đi mưa cho hai người dự định có tốc độ tăng cao nhất đạt 30000 sản phẩm tăng 46,3% so với năm 2004, áo đi mưa có tay đạt 50000 sản phẩm tăng 1,3%, áo đi mưa không tay tiếp tục có xu hướng giảm đi, dự kiến chỉ có thể tiêu thụ được 10000 sản phẩm giảm 36,3% so với năm 2004.

    Về sản phẩm của Công ty có xu hướng tăng trưởng chậm lại do hiện tại Công ty cũng gặp một số khó khăn do bị cạnh tranh. Bên cạnh đó chi phí mua hàng còn khá lớn làm cho giá bán bị nâng cao. Mặt khác nếu không có sự thay đổi nhất định Công ty sẽ không  chủ động được trong việc mua hàng, như vậy sẽ hạn chế việc tiêu thụ hàng hóa.

    2. Kế hoạch mua hàng, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.

    Việc mua nguyên vật liệu cũng như mua hàng cần phải có kế hoạch cụ thể và phải có sự tính toán chi tiết để mua được hàng hóa với giá phù hợp hạn chế được chi phí mua hàng, thiết lập hệ thống thu mua hợp lí, tăng hiệu quả.

    Sản xuất: Dự tính trong năm 2005 Công ty sẽ đầu tư mở rộng nhà xưởng để lắp đặt dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc, nhằm nâng cao  năng suất chất lượng của mặt hàng quần áo đi mưa và có thể sản xuất thêm một số măt hàng khác như đồ dùng bằng nhựa. Từ đó có thể nâng cao doanh thu bán sản phẩm lên hơn 3000 triệu đồng.

    Mục tiêu kế hoạch năm 2005:

    *Doanh thu đạt 6500 triệu đồng tăng 11,36% so với thực hiện năm 2004.

    • Doanh thu từ bán sản phẩm là 3400 triệu tăng 14,28% so với 2004.
    • Doanh thu từ bán hàng hóa là 3100 triệu tăng 8,32% so với 2004.

    II. CÁC BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    1. Các biện pháp công ty đã và đang áp dụng để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty.

    1.1.Công tác nghiên cứu thị trường của Công ty TNHH  ÚC ĐẠI LỢI.

    Trong nền kinh tế thị trường , nền kinh tế của sản xuất hàng hóa, cung luôn luôn lớn hơn cầu, thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ trong tất cả các ngành nghề khác nhau. Trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI cũng vậy có rất nhiều các doanh nghiệp khác nhau cùng tham gia hoạt động. Chính vì thế việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty mình là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Với phương châm “ Chủ động tìm người mua để bán hàng và tìm nơi có nhu cầu để kí kết hợp đồng “ ban giám đốc và phòng Marketing đã đi nhiều nơi nhằm duy trì khách hàng cũ khai thác khách hàng mới, vì thế năm 2004 công ty đã kí thêm được 6 hợp đồng cung cấp sản phẩm thường xuyên trong đó có 2 hợp đồng trị giá trên 100 triệu đồng.

    Phòng marketing có chức năng quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm cuả Công ty. Các nhân viên của phòng marketing thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của thị trường, tìm kiếm những thị trường mới còn bỏ ngỏ hay những thị trường có sức cạnh tranh không cao, để có thể đưa sản phẩm của Công ty vào tiêu thụ một cách hiệu quả nhất. Từ việc nghiên cứu thị trường Công ty sẽ nắm bắt được những thông tin phản hồi để từ đó cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã, mầu sắc cũng như cung cấp những hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàng.

    Nhờ quá trình nghiên cứu thị trường, tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Công ty ngày một tăng đem lại hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động kinh doanh. Đặc biệt năm 2004 nhờ quá trình nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng Công ty đã cảo tiến sản phẩm, cho ra đời một sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng, tạo nên sự phát triển mới cho hoạt động sản xuất cũng như tạo lên một sức cạnh tranh mạnh mẽ cho Công ty.

    Tuy nhiên nếu đánh giá một cách  toàn diện thì việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của Công ty chưa được cao nắm, hay Công ty chưa đầu tư xứng đáng cho việc khuyếch trương sản phẩm, thúc đẩy tiêu thụ. Hiện tại Công ty mới chỉ có các đại lí tiêu thụ nhưng lại không phải trực tiếp của Công ty, Công ty chưa có các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của chính mình, vì thế việc tiếp xúc với khách hàng cũng như tạo ra các mối quan hệ lâu dài thường xuyên và ổn định là rất khó khăn, từ đó việc giới thiệu sản phẩm cũng như thu thập ý kiến phản hồi của người tiêu dùng còn thấp.

    Với hai kênh tiêu thụ như vậy giúp công ty tiêu thụ sản phẩm hàng hóa một cách nhanh chóng, đảm bảo việc quay vòng vốn nhanh chóng cũng như thúc đẩy sản xuất.

    1.2 Bán hàng trả chậm và bán hàng với giá ưu đãi.

    *   Bán hàng trả chậm: Là phương thức bán hàng mà người mua có thể thanh toán tiền hàng sau một thời gian nhận hàng theo sự thỏa thuận trong hợp đồng. Phương thức này đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa của Công ty bởi vì người mua hàng chưa có tiền hoặc thiếu tiền nhưng vẫn có thể mua được hàng hóa của Công ty, sau đó họ bán hết  hàng mới đến thời gian phải thanh toán. Như vậy họ đã nhờ vào vốn của Công ty để kinh doanh và thu lợi nhuận, lên có nhiều khách hàng muốn mua hàng theo phương thức này. Tuy nhiên, những khách hàng này thường phải chịu một mức giá cao hơn so với mức giá bình thường và do việc bán hàng theo phương thức này gặp nhiều rủi ro, nên Công ty chỉ áp dụng đối với khách hàng quen thuộc và có uy tín cao.

    *  Bán hàng với giá ưu đãi : Là phương thức bán hàng với mức giá thay đổi theo doanh số bán. Tức là nếu người mua hàng mua với khối lượng lớn trở lên và thanh toán ngay sau khi giao hàng sẽ được hưởng phần trăm theo doanh số bán, với khách hàng mua 50 – 100 triệu thì được giảm giá 5%, với khách hàng mua từ 100 – 200 triệu thì được giảm giá 7%, còn với        khách hàng mua từ 200 triệu trở lên sẽ được giảm giá 10%. Phương thức bán hàng này kích thích nhu cầu người tiêu dùng, nhất là những khách hàng có tiềm lực tài chính vì khi mua hàng họ được hưởng một khoản lợi không nhỏ. Phương thức bán này vừa kích thích được nhu cầu vừa giúp Công ty quay vòng vốn nhanh hơn, tuy nhiên Công ty cũng phải chịu thiệt do giảm giá bán.

    1.3. Đảm bảo chất lượng sản phẩm tạo lòng tin cho khách hàng.

    Uy tín của công ty là một yếu tố hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phát triển bàn vững của Công ty. Vì vậy Công ty luôn cố gắng làm sao chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình được đảm bảo, như vậy khách hàng luôn yên tâm khi quyết định mua sản phẩm của Công ty. Tạo được uy tín đối với khách hàng sẽ giữ được  khách hàng truyền thống và lôi kéo khách hàng mới đến với Công ty, và Công ty sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm  hàng hóa hơn. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình trước hết công ty luôn chú trọng tới việc mua hàng hoá và nguyên vật liệu. Lãnh đạo công ty chỉ đạo trực tiếp cho phòng cung ứng vật tư bất cứ giá nào cũng phải đảm bảo nguyên vật liệu cả về số lượng cũng như chất lượng nhằm đáp ứng tốt cho hoạt động sản xuất.

    Khâu sản xuất cũng có tính chất quyết định tới chất lượng của sản phẩm. Tuy máy móc của công ty còn lạc hậu yếu kém, nhưng nhờ có sự chỉ đạo tích cực của cấp trên lên công nhân viên của công ty làm việc rất có trách nhiệm, cho lên những sản phẩm bị lỗi đều được loại bỏ để xử lí sau, đảm bảo sản phẩm suất xưởng luôn đảm bảo chất lượng.

    Việc bảo quản sản phẩm hàng hóa cũng là khâu quan trọng trước khi đưa ra thị trường. Với tính chất của hàng hóa công ty cho bảo quản trong những kho khô và mát để tránh cho sản phẩm khỏi bị huỷ hoại.

    Nhờ những lỗ lực và tinh thần trách nhiệm to lới, sản phẩm hàng hóa của công ty luôn đảm bảo chất lượng tạo lòng tin cho khách hàng , cũng có nghĩa tốc độ tiêu thụ của công ty ngày một tăng lên.

    1.4.  Đảm bảo dịch vụ trong và sau bán hàng.

    Trong nền kinh tế thị trường dịch vụ trong và sau bán có ý nghĩa hết sức quan trọng, ảnh hưởng nhiều tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Do nhận thúc đúng đắn được vấn đề này mà Công ty rất chú trọng tới công tác phục vụ khách hàng. Trong quá trình bán hàng Công ty luôn hướng dẫn khách hàng cách bảo quản hàng hóa một cách chi tiết để giữ cho sản phẩm hàng hóa không bị hư hại, đối với khách hàng ở gần Công ty luôn phục vụ vận chuyển một cách tận tình đến tận nơi cho khách, đối với khách hàng ở xa nếu không phục vụ được Công ty sẽ đảm bảo gửi hàng đến tận nơi cho khách. Đối với sản phẩm chủa Công ty nếu có sự hư hỏng, rách nát Công ty sẽ chịu trách nhiệm và bồi thường thiệt hại, còn với hàng hóa nếu hư hỏng do phía công ty thì công ty sẽ có trách nhiệm đổi lại. Tuy nhiên việc phải đổi đi đổi lại sản phẩm hàng hóa rất hiếm khi sẩy ra vì công ty luôn kiểm tra nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa của mình. Nhờ đảm bảo dịch vụ cho khách hàng nên khách hàng rất yên tâm khi mua hàng, đồng thời kích thích được nhu cầu người tiêu dùng, tăng khả năng tiêu thụ của công ty.

    2. Một số ý kiến của em để đẩy mạnh tiêu thụ  sản phẩm hàng hóa của Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI.

    Ngoài việc Công ty tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp đã và đang áp dụng nhằm củng cố việc tiêu thụ, Công ty lên áp dụng một số biện pháp sau để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình.

    2.1. Đối với hoạt động sản xuất.

    Hoạt động sản xuất có thể coi là hoạt động chính của Công ty vì thế việc mở rộng quy mô sản xuất là đIều kiện hết sức cần thiết đối với sự phát triển của Công ty. Để có thể mở rộng quy mô sản xuất thì khâu tiêu thụ phải được đảm bảo để tránh ứ đọng hàng hóa. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa ta có thể sử dụng một số biện pháp sau:

    2.1.1. Tăng cường hoạt động quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới.

    Kể từ khi thành lập đến nay Công ty hầu như chưa sử dụng một biện pháp quảng cáo nào cho sản phẩm của mình, bởi vì chi phí cho hoạt động quảng cáo là khá cao mà tiềm lực Công ty còn hạn hẹp.

    Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay Công ty phải đương đầu với khá nhiều đối thủ cạnh tranh.Vì thế để đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa Công ty nên áp dụng một số biện pháp quảng cáo dù là rất đơn giản để có thể giới thiệu rộng rãi sản phẩm ra thị trường.

    Với đặc điểm hàng hóa của mình Công ty cũng không cần phải quảng cáo trên truyền hình hay rađio cho tốn kém, mà Công ty chỉ cần áp dụng một số biện pháp quảng cáo đơn giản như dùng catalô, khuếch trương khuyến mại, đặc biệt là dùng biện pháp chào hàng. Chào hàng có thể nói là một biện pháp thích hợp nhất để quảng bá sản phẩm của Công ty. Ta có thể chào hàng  cho các nhà buôn ở các tỉnh thành phố cũng có thể chào hàng cho các cửa hàng bán lẻ tại Hà Nội. Các cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội rất nhiều, nhân viên của Công ty có thể mang sản phẩm của mình đến chào bán với mức giá thích hợp để có thể cạnh tranh với các sản phẩm khác. Đây sẽ là cơ hội để Công ty tìm kiếm thêm bạn hàng và thúc đẩy hoạt động tiêu thụ của mình.

    Nhờ có quảng cáo Công ty sẽ tăng thêm niềm tin của khách hàng giữ vững được thị trường hiện có đồng thời qua đó sẽ có những khách hàng biết đến Công ty và việc mở rộng thị trường là đương nhiên.

    Công ty nên thiết lập một số cửa hàng nhằm giới thiệu và bán sản phẩm và nắm bắt nhanh được ý kiến của khách hàng đồng thời phục vụ khách hàng được tốt hơn.

    2.1.2. Đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn.

    Đổi mới trang thiết bị thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp đem lại niềm tin cho khách hàng. Bởi vì khi Công ty đầu tư trang thiết bị sản xuất hiện đại cho thấy Công ty đang trên đà phát triển, khách hàng sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi giao dịch với Công ty, họ yên tâm về chất lượng sản phẩm, yên tâm về số lượng hàng hóa Công ty cung ứng. Nhờ đầu tư thiết bị hiện đại sẽ sản xuất ra hàng hoá chất lượng cao hơn mang lại uy tín cho Công ty và khách hàng trung thành với sản phẩm của Công ty.

    Trước đây với máy móc lạc hậu thì có rất nhiều sản phẩm hư hỏng làm tăng chi phí sản xuất, nếu được đầu tư hiện đại sẽ giảm bớt lượng hàng hóa hư hỏng, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm sản xuất, việc tiêu thụ rễ ràng hơn tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

    Theo như dự định năm 2005 công ty sẽ nhập dây chuyền sản xuất hiện đại của Trung Quốc. Đây là một dấu hiệu rất tốt trong việc đầu tư phát triển sản xuất của Công ty. Tuy nhiên Công ty cần tập trung tạo mọi nguồn lực của mình để có thể nhanh chóng thực hiện được những kế hoạch đề ra.

    2.1.3. Cần đa dạng hóa sản phẩm.

    Đa dạng hóa sản phẩm luôn là biện pháp tích cực để mở rộng sản xuất cũng như đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, nâng cao khả năng tiêu thụ của Công ty. Hiện nay, sản phẩm của Công ty còn đơn chiếc do vậy rất rễ gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, chính vì vậy việc đa dạng hóa sản phẩm là một việc cần thiết và phải được ưu tiên hàng đầu, có như vậy hoạt động tiêu thụ mới phát triển mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh mới ổn định.

    Hiện tại Công ty có thể phát triển thêm những sản phẩm cũng thuộc hàng polime như túi ninon. Đây là mặt hàng cũng rất đa dạng và phong phú với nhiều chủng loại và mẫu mã khác nhau. Đặc biệt sức tiêu thụ của mặt hàng này  trên thị trường là rất lớn, vì thế Công ty sẽ có cơ hội xâm nhập thị trường đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của mình.

    Ngoài ra trong tương lai khi sự phát triển của công ty mạnh lên công ty có thể đầu tư sản xuất các mặt hàng bằng nhựa phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong cuộc sống. Đây là mặt hàng cũng rất được người tiêu dùng ưa chuộng và hứa hẹn nhiều thành công khi Công ty tham gia vào sản xuất.

    Như vậy đa dạng hoá sản phẩm  là cơ sở để Công ty phát triển hoạt động sản xuất cũng như nâng cao tốc độ tiêu thụ của mình.

    .  Đối với hoạt động thương mại.

    Hoạt động kinh doanh thương mại cũng có ảnh hưởng rất mạnh tới hoạt động của toàn Công ty. Do vậy việc đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa là rất cần thiết nhất là khi cạnh tranh trong các doanh nghiệp cùng ngành ngày càng mạnh mẽ.

    2.2.1. Hoàn thiện hơn nữa khâu cung ứng hàng hóa.

    Công tác mua hàng có ý nghĩa rất lớn tới việc tiêu thụ hàng hóa, mua hàng tốt giúp cho việc bán hàng thuận lợi hơn rất nhiều, đảm bảo nâng cao tốc độ tiêu thụ. Bởi vì tổ chức tốt việc cung ứng sẽ đảm bảo chất lượng, số lượng chủng loại hàng hóa cung ứng ra thị trường, ngoài ra Công ty sẽ giảm tối thiểu chi phí mua hàng nhờ vậy có thể giảm được giá thành tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

    Hoàn thiện khâu cung ứng hàng hóa trước hết công ty cần lựa chọn nhiều nhà cung ứng và là những nhà cung ứng có uy tín cao. Như vậy đảm bảo cho hàng hóa không bị thiếu cũng như lựa chọn được hàng hóa có chất lượng cao và gía thành thấp nhất.

    Ngoài ra những người được giao nhiệm vụ đi mua hàng phải là những người có trình độ hiểu biết về hàng hóa mình đi mua, như vậy mới có thể biết được những hàng hóa tốt nhất mua về cho Công ty.

    Việc vận chuyển hnàg hóa cũng là một yếu tố quan trong ảnh hưởng tới chi phí đầu vào. Cần lựa chọn phương tiện vận chuyển phù hợp với hàng hóa mua về để tiết kiệm chi phí.

    Nếu hoàn thiện được khâu cung ứng chắc chắn hàng hóa của Công ty bán ra thị trường có chất lượng tốt giá thành hạ đảm bảo cho cạnh tranh thúc đẩy tiêu thụ.

    2.2.2. Thiết lập cửa hàng chuyên bán hàng hóa của  Công ty.

    Công ty nên mở cho mình một cửa hàng để có thể tiếp cận nhanh chóng với người tiêu dùng . Công ty sẽ nắm bắt được nhũng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng, là cơ hội để Công ty phát triển thêm hàng hóa của mình, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa, tăng doanh thu. Thông qua cửa hàng Công ty vừa bán buôn vừa có thể bán lẻ được hàng hóa, bán lẻ tuy số lượng mỗi lần bán ít nhưng bán lẻ cho nhiều người thì doanh thu cũng không phải nhỏ.

    Như vậy mở cửa hàng trực tiếp cũng là một biện pháp thích hợp để đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ hàng hóa của Công ty.

    III. NHỮNG KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC.

    1. Cần có chính sách vay vốn với mức lãi suất hợp lí.

    Lãi suất cho vay của ngân hàng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước. Với một mức lãi suất hợp lí sẽ kích thích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Bởi vì nó giúp các doanh nghiệp vay vốn hạ được chi phí sản xuất từ đó giảm giá thành sản phẩm kích thích tiêu dùng, tăng doanh thu tăng lợi nhuận.

    Ngoài ra nhà nước cần có chính sách vay vốn thông thoáng tránh rườm rà, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn một cách nhanh nhất, giúp họ nắm bắt được cơ hội kinh doanh.

    2. Cần có sự điều chỉnh chính sách thuế cho hợp lí.

    Tránh tình trạng các doanh nghiệp bị đánh thuế chồng chéo ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó các doanh nghiệp yên tâm hoạt động sản xuất và đóng góp cho ngân sách theo đúng luật định đảm bảo thoả mãn nhu cầu cả hai bên.

    Các doanh nghiệp sẽ có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất.

    3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường sản xuất kinh doanh cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

    Tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ như Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI. Môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp các công ty yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy lợi thế của mình. Tránh tình trạng Công ty lớn lấn áp Công ty bé dẫn đến độc quyền sản xuất, mua, bán hàng hóa, làm mất ổn định nền kinh tế và gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

     

     

    KẾT LUẬN

    Qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH ÚC ĐẠI LỢI  được tiếp xúc với những người làm công tác quản lí, em càng hiểu rõ hơn về sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa. Mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài đòi hởi phải giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hay đầu ra của doanh nghiệp. Sản phẩm tung ra thị trường không phải lúc nào cũng được thị trường chấp nhận, chỉ có những hàng hóa mà” thượng đế” có cầu về nó mới chấp nhận. Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp ngày càng phát triển song cũng có những doanh nghiệp có hàng hóa tồn đọng hàng tỷ đồng, làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp, hạn chế khả năng quay vòng vốn dẫn tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp. Vậy giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ sản phẩm là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp.

    Để tăng cường hơn nữa công tác tiêu thụ sản phẩm của mình , một trong các giải pháp được giới thiệu là: tăng cường công tác nghiên cứu thị trường ; tăng cường hoạt động quảng cáo giới thiệu sản phẩmvà giữ vững thị trường hiện có phát triển thị trường mới ; đổi mới trang thiết bị công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn, hoàn thiện khâu cung ứng hàng hoá. Có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh đưa doanh nghiệp phát triển vững mạnh. Đây sẽ là cơ sở để phát triển nền kinh tế, thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Đất nước.

     

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Kinh tế doanh nghiệp Thương Mại – ĐH KTQD – 2002.
    • Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp TM – DV – ĐHTM.
    • Giáo trình thương mại doanh nghiệp – Quản trị tiêu thụ sản phẩm và quản trị vật tư- ĐHKTQD – 2001.
    • Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường – NXB Giáo dục – 1999.
    • Nghệ thuật bán hàng – NXB Thành phố Hồ Chí Minh – 2002.
    • Lựa chọn tối ưu phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – NXB Chính trị Quốc gia – 1995.
    • Marketing căn bản – Philip Kotle – NXB Thống kê – 2000.
    • Quản trị sản xuất và tác nghiệp – NXB Giáo dục – 2002.
    • Marketing trong quản trị kinh doanh – NXB Thống kê – 2001.

    10- Giáo trình quản trị hoạt động thương mại trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    11- Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp – NXB Giáo dục – 2001.

    12- Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh qua các năm 2000 – 2004 của Công ty TNHH.

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-cung-c%E1%BA%A5p-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-Internet-v%C3%A0-vi%E1%BB%85n-th%C3%B4ng-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-ty-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-c%C3%B4ng-ngh%E1%BB%87-%E2%80%93-FPT.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT

    I.       LỜI NÓI ĐẦU

     

        Trong qúa trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng thì cùng với nó sự trao đổi thông tin giữa các quốc gia , giữa các doanh nghiệp cũng như giữa doanh nghiệp với thị trường với người tiêu dùng ngày càng trở nên nhanh chóng . Internet và dịch vụ viễn thông đóng góp một phần lớn trong quá trình trao đổi thông tin và góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa . Và đi kèm với nó là một lĩnh vực kinh doanh mới mang nhiều tiềm năng đó là phục vụ khai thác các thông tin và cung cấp dịch vụ Internet và dịch vụ viễn thông . Inetrnet và dịch vụ viễn thông làm cho mọi người trên toàn thế giới co thể cùng nói chuyện với nhau cùng một thời điểm và xóa đi khoảng cách về không gian do đó quá trình giao dịch trở nên thuận tiện và kịp thời .

    Được nhận định những thập kỷ tiếp theo là thập kỷ của Internet và viễn thông . Và internet sẽ trở thành thông dụng trên toàn thế giới và thị trường  cung cấp dịch vụ Inetrnet và dịch vụ viễn thông sẽ trở thành một trong những ngành hàng đầu mạng lại lợi nhuận cao nhất .

    Ở Việt Nam lĩnh vực cung cấp dịch vụ internet và viễn thông tuy không còn mới mẻ nữa tuy nhiên nó vẫn còn chứa đựng những bí mật mà các doanh nghiệp Việt Nam đang khám phá và cũng mang lại nhiều khó khăn và thách thức đối với doanh nghiệp . Nhu cầu sử dụng Internet của người dân Việt Nam ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng đó cũng là một thời cơ và cũng là một thách thức lớn cho những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet . Thực tế thì hiện nay ở Việt Nam chất lượng cung cấp dịch vụ Internet còn thấp hơn rất nhiều so với các nước trên thế giới đó là do nhiều nguyên nhân khác nhau mang lại như công nghệ , như trình độ … Bên cạnh đó chúng ta cũng có nhiều lợi thế mà các quốc gia khác không có . Để ngày càng đáp ứng càng cao nhu cầu của khách hàng và ngang tầm với các quốc gia khác thì cần phải nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông .

    Trong quá trình thực tập tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT , em nhận thấy hoạt động cung cấp dịch vụ internet và dịch vụ viễn thông của công ty còn nhiều hạn chế  và bất cập chưa thỏa mãn được khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng mới , tuy nhiên được đánh gía là một công ty lớn hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và là Công ty mạnh và có tốc độ phát triển cao . Để thực hiện chiến lược phát triển của công ty , trong nhưng năm qua Công ty FPT  đã áp dụng hệ thống ISO 9001 nhằm ngày càng nâng cao vị thế của công ty trong lĩnh vục cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông .

       Nhận thúc được tầm quan trong của việc nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Interet và viễn thông của công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT , em đã quyết định lựa chọn đề tài : Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT.

    Mục đích nghiên cứu đề tài :

    – Làm rõ những vấn đề chung về chất lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và dịch vụ viễn thông

    – Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông của Công ty FPT.

    Phạm vi nghiên cứu đề tài :

    – Nghên cứu khảo sát tình hình chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viên thông của Công ty FPT.

    Nội dung nghiên cứu đề tài gồm 2 phần :

      Chương I: Thực trạng chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty Phát triển Đầu tư Công nghệ – FPT

      Chương II: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lương cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông tại Công ty FPT

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn Thạc sỹ  Trần Bình Trọng cùng các cô , các bác và anh chị trong Công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong  quá trình thực tập và hoàn thành đề tài này .

    II.    CHƯƠNG I

    III. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET VÀ VIỄN THÔNG TẠI CÔNG TY PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ FPT

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    1.1.1. Hoàn cảnh ra đời

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đặt ra một trong những nhiệm vụ trước mắt là xây dựng đất nước , xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp . Theo tinh thần đó Nghị định của chính phủ ra đời mở đường cho các cơ quan khoa học được thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra kinh phí để tự giải quyết công việc , phát triển các hoạt động khoa học .

    Theo tinh thần của nghị định , Viện cơ học được phép ký kết các hợp đồng kinh tế . trong quan hệ lúc bấy giờ , hai Viện hàn lâm khoa học Liên Xô và Viện khoa học Việt Nam đã ký hợp đồng trao đổi thiết bị , tinh thần của hợp đồng là phía Viện khoa học Việt Nam chuyển cho Viện hàn lâm khoa học Liên Xô máy tính , ngược lại phía bạn chuyển cho ta thiết bị khoa học , các nguyên vật liệu và phương tiện vận tải . Vì vậy Viện khoa học Việt Nam đã giao cho Viện cơ học thực hiện hợp đồng này và Viện cơ học lại giao cho nhóm trao đổ Nhiệt – Chất của Viện thực hiện .

    Để có thể thực hiện tốt hợp đồng này thì ngày 13/ 9 / 1988 Công ty FPT ra đời theo quyết định số 80-88 QĐ/ VCN do Viện trưởng Viện công nghệ Quốc gia ký với tên gọi ban đầu là Công ty công nghệ thực phẩm , tên giao dịch là : Food Prossesing Technology Company viết tắt là FPT do tiến sĩ Trương Gia Bình làm Giám Đốc .

    1.2.2. Quá trình xây dựng và phát triển

    Quá trình xây dựng và phát triển của Công ty FPT trải qua hai giai đoạn :

    Giai đoạn 1988- 1990 :

    Khi mới ra đời Công ty có trụ sở chính tại 30 Hoàng Diệu- ba Đình – Hà Nội  . Trong giai đoạn này Công ty hoạt đọng chủ yếu trong lĩnh vực Công nghệ chế biến thực phẩm.

    Ngày 20/11/1988 công ty chuyển sang trụ sở Viện cơ học tại 224 Đội Cấn – Ba Đình – Hà Nội .

    Năm 1989 Công ty được nàh nước cấp cho 3.150 mét vuông để xây dựng nàh cho cán bộ nhân viên và 2.700 mét vuông đát để xây dựng trụ sở chính là trụ sở làm việc hiện nay của Công ty .

    Để có máy tính xuất khẩu sang Liên Xô , Công ty đã quan hệ với hãng máy tính Olivetti , đay là quan hệ đầu tiên của Công ty với một hãng máy tính thuộc loại mạnh ở phương tây .

    Giai đoạn 1990 tới nay :

    Ngày 31/ 3/ 1990 chi nhánh Công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh ra đời đánh dáu một bước phát triển về chất và lượng của Công ty .

    Ngày 5/ 6/ 1990 trụ sở được chuyên sang một tòa nhà trương PTTH Giảng Võ . Thời kỳ này định hướng cho phương hướng sản xuất kinh doanh của Công ty đã rõ ràng , hướng chủ đạo vào lĩnh vực tin học .

    Ngày 27/ 10/ 1990 Công ty đổi tên thành Công ty phá triển đầu tư công nghệ – FPT với tên giao dịch quốc tế là : The Corporation for Financing and Promoting  Technology và năm 1991 Công ty đã đổi Lôg như hiện nay .

    Ngày 15/ 1/ 1992 Công ty chuyển trụ sở ra 25 Lý Thường Kiệt .

    Ngày 29/ 9/ 1993 Chính phủ ra Nghị Định 65/ CP về việc sát nhập Viện nghiên cứu công nghệ Quốc gia và Viện năng lượng nguyên tử Quốc gia về Bộ khoa học công nghệ và môi trường , từ đây Công ty chịu sự quản lý của Bộ khoa học công nghệ và môi trường .

    Ngày 20/ 3/ 1995 Công ty chuển  trụ sở sang Yết Kiêu .

    Ngày 21/ 10/ 1995 Công ty FPT và sở GD & ĐT Hà Nội ký biên bản thỏa thuận về việc phổ cập tin học trong các trường phổ thông .

    Tháng 2 năm 1996 Công ty chuyển trụ sở sang 89 Láng Hạ .

    Ngày 13/ 9/ 1997 Công ty FPT được Tổng cục bưu điện cho phép là nhà cung cấp thông tin , sau đó là nhà cung cấp dịch vụ Internet.

    Ngày 28/ 2/ 2002 theo Quyết định 178/ QĐ- TT của thủ Tường Chính phủ về quyết định chuyển doanh nghiệp Nhà nước Công ty phát triển đầu tư công nghệ – FPT thành Công ty cổ phần.

    Mười sau năm xây dựng và trưởng thành FPT đã thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược , trở thành nhà cung cấp , đại lý phân phối , dịch vụ ủy quyền của gần 200 Công ty hàng đầu thế giới như : Inter , Microsoft , Oracle, HP, 3Com , Cisco, Apple … Với hệ thống đối tác này của FPT có thể cung cấp các sản phẩm , giải pháp và dịch vụ tổng thể , toàn diện , tối ưu và hiện đại nhất , đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng .

    Phát triển tập trung theo xu hướng Hội tụ số ( Digital Convergence ) , FPT lựa chọn đối tác chủ yếu ở các lĩnh vực sau : Thiết bị công nghệ thông tin , công nghệ bảo mật , công nghệ mạng , công nghệ và giải pháp lưu trữ , thiết bị và giải pháp chuyên dụng , phần mềm , giải pháp viễn thông , đào tạo .

    1.3.3.Chức năng nhiệm vụ của Công ty FPT

    Trải qua 16 năm hình thành , phát triển và trưởng thành , tập đoàn FPT đã liên tục trở thành tập đoàn tin học lớn nhất Việt Nam , tạo đà phát triển vững chắc cho giai đoạn tiếp theo . Tập đoàn FPT có lĩnh vực kinh doanh rộng đặc biệt chuyên sâu vào lĩnh vực tin học và chuyển giao công nghệ.

    Lĩnh vực hoạt động hiện nay của Công ty FPT là :

    + Tích hợp hệ thống cho các dự án công gnhệ thông tin của khách hàng

    + Phân phối các sản phẩm tin học

    + Phất triển phần mềm ứng dụng

    + Sản xuất phần mềm đáp ứng thị trường nội địa và xuất khẩu

    + Cung cấp các giải pháp , dịch vụ viễn thông và Internet

    + Đào tạo lập trình viên Quốc tế

    + Sản xuất máy tính thương hiệu Việt nam

    + Phân phối điện thoại di động

    + Cung cấp thiết bị công nghệ : Diện , viễn thông , dầu khí…

    + Nghiên cứu thiết kế , sản xuất chuyên giao công nghệ Tin học và ứng dụng vào các công gnhệ khác , xuất nhập khẩu thiết bị , sản phẩm công gnhệ tin học và các công nghệ khác .

    + Ngiên cứu phát triển sản xuất kinh doanh , tư vấn đầu tư chuyên giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường .

    + Tư vấn đầu tư nước ngoài và đào tạo …

    + Tư vấn quản lý nguồn lực

    Hoạt động chính của công ty là:

    + Ngiên cứu , thiết kế , sản xuất chuyển dao công nghệ tin học và ứng dụng vào các công nghệ khác

    + Sản xuất phần mềm máy tính

    + Cung cấp các dịch vụ Internet và gia tăng tên mạng

    + Đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu cho công nghiệp phần mềm

    + Mua bán thiết bị máy móc trong lĩnh vực Y tế , giáo dục đào tạo , khoa học kỹ thuật công nghệ , công nghệ môi trường, Viễn thông vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng ô tô xe máy

    + Dịch vụ đầu tư chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường , giáo dục đào tạo , Y tế

    + Sản xuất chế tạo lắp ráp tủ bảng điện

    + Đại lý bán vé máy bay

    + Đại lý mua, đại lý bán , ký gửi hàng hóa

    + Tư vấn đầu tư

    + Sản xuất chế tạo lắp ráp các thiết bị công nghệ thông tin

    + Kinh doanh dịch vụ kết nối Internet (IXP)

    Với các chức năng kinh doanh gồm :

    + Nghiên cứu, thiết kế , sản xuất , chuển giao công nghệ tin học và ứng dụng công nghệ , xuất nhập khẩu thiết bị , sản phẩm công nghệ tin học và các công nghệ khác

    + Xuất nhập khẩu ủy thác …

    + Nhập khẩu và kinh doanh các thiết bị viễn thông …

    + Nghiên cứu phát triển sản xuất kinh doanh , tư vấn đầu tư chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực môi trường

    II.CÁC ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CHỦ YẾU ẨNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET VÀ VIỄN THÔNG

    1.4.1. Đặc điểm về sản phẩm .

    1.1 . Một số khái niệm liên quan

    Hệ thống thiết bị Internet là tập hợp các thiết bị điện tử , viễn thông , tin học và các thiết bị phụ trợ khác bao gồm cả phần cứng lẫn phần mềm được Công ty thiết lập tại một địa điểm có địa chỉ và phạm vi xác định để phục vụ trực tiếp cho việc cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet

    Kết nối là việc liên kết các hệ thống thiết bị Internet với nhau và với mạng viễn thông công cộng trên cơ sở các đường truyền dẫn viễn thông tự xây dựng hoặc thuê của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông .

    Mạng lưới thiết bị Internet là tập hợp các hệ thống thiết bị Internet của đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet được kết nối với nhau bằng các đường truyền dẫn viễn thông .

    Dịch vụ truy nhập Internet là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập đến Internet thông qua hệ thống thiết bị Internet đặt tại điểm truy nhập Internet của đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ .

    Dịch vụ kết nối Internet quốc tế phục vụ việc trao đổi lưu lượng thông tin giữa hệ thống thiết bị Internet của các đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong nước với Internet quốc tế .

    Dịch vụ kết nối Internet trong nước phục vụ việc trao đổi lưu lượng thông tin giữa các hệ thống thiết bị Internet của các đơn vị , doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet trong nước với nhau

    Tên miền ( Domain name ) là định danh Website trên Internet. Tên miền thường gắn kèm với tên công ty , tên doanh nghiệp và thương hiệu của doanh nghiệp . Tên miền là duy nhất và được cấp phát cho chủ thể dăng ký trước . Tên miền có hai dạng :

    + Tên miền quốc tế dạng : www.tenongty.com (.net ;.biz ;.org…)

    + Tên miền quốc gia dạng : www.tencongty.com.vn( hoặc .net.vn; .biz.vn …)

    1.2 . Đặc điểm sề sản phẩm dịch vụ Internet

    1. Những giá trị sử dụng của dịch vụ Internet

    – Trao đổi thông tin : gửi,  nhận thư điện tử ( Email)

    – Tra cứu thông tin : dịch vụ WWW ( World Wide Web)

    – Truyền dữ liệu : dịch vụ FTP ( File Transfer Protocol )

    – Quảng cáo thông tin trên Internet : Dịch vụ thiết kế Web

    – Internet cung cấp cho người dùng phườn tiện truyền tin nnhanh , chính xác, chi phí thấp

    1. Những sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực Internet

    + Internet thuê bao

    + Internet Card

    + Gọi 1280

    + Internet Phone

    + Internet băng thông rộng – ADSL Megahome, MegaNet, MegaBiz

    + Kênh thuê riêng

    + Thư điện tử dùng riêng – Mail relay

    + Thư điện tử ảo – Virtual mail

    + Đăng ký tên miền

    + Thiết kế Web

    + Giải pháp điện tử

    + Lưu trữ Web

    + Thuê chỗ đặt máy

    + Máy chủ dùng riêng

    + Bảo trì và cập nhật Website

    + Quảng cáo Internet

    1. Những đặc trưng

    Dịch vụ thư tín điện tử : Khách hàng có thể nhận , gửi thư điện tử trên quy mô toàn cầu. Khi sử dụng dịch vụ cung cấp Internet của Công ty FPT với đường truyền băng thông rộng ADSL thì mỗi khách hàng sẽ có một hộp thư trên máy chủ của FPT với dung lượng không quá 20 MB

    Dịch vụ Mail relay : khách hàng được cung cấp 1 Email domain name, số lượng địa chỉ email không hạn chế , hộp thư giao dịch nằm trên máy chủ của khách hàng . Đảm bảo tính bảo mật và an toàn thông tin , và định kỳ máy chủ của káhch hàng được kết nối với máy chủ của FPT để thực hiện truyền tải thồn thư.

    Dịch vụ Virtual mail : khách hàng được cung cấp một email domain name , một số lượng  địa chỉ email nhất định , hộp thư giao dịch nằm trên máy chủ của FPT, Vói dịch vụ này thì thư được gửi nhanh và đảm bảo tính bảo mật .

    Dịch vụ kết nối Internet qua đườn leased line : khách hàng được sử dụng Internet 24/ 24 qua đường truyền riêng với mọi dịch vụ hiện tại của Việt Nam

    Dịch vụ truy nhập các cơ sở dữ liệu World Wide Web : Người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin dưới các dạng ngôn ngữ văn bản , hình ảnh , đồ họa …v..v . Người sử dụng sẽ dễ dàng truy cập các trang Web khác nhau trên toàn thế giới .

    Truyền dữ liệu : Người sử dụng có thể download ( lấy về ) các dữ liệu cần thiết như các phần mềm , trò chới , sách … hoặc đua các dữ liệu lên mạng ( upload) với mục đích chia sẻ thông tin .

    Cho thuê chỗ trên máy chủ : Người sử dụng có thể thuê một khoảng trên máy chủ để lưu trữ thông tin của mình với mục đích  quảng cáo.

    Dịch vụ tạo tên miền : khách hàng có địa chỉ riêng trên Internet

    Thiết kế Web : thiết kế các website trên Internet nhằm mục đích quảng cáo sản phẩm , giới thiệu thông tin về tổ chức, cá nhân…

    Báo điện tử : Xuất bản thông tin trên Internet trên site có địa chỉ www.vnexpress.net . Thông tin trên báo được cập nhật 24/24 và trở thành một báo điện tử có danh tiếng ở Việt Nam

    1.5.2. Đặc điểm về thị trường cung cấp dịch vụ Internet

    Thị trường cung cấp dịch vụ Internet của Công ty FPT chủ yếu là thị trường trong nước . Hiện nay trong nước ngoài Công ty FPT còn có 6 Công ty khác cùng cung cấp dịch vụ Internet đó là : VNPT, Saigon Postel, Viettel, Hanoi Telecom, Viễn thông hàng hải , Viễn thông điện lực. Do vậy sự cạnh tranh của các công ty rất cao . Để có thể cạnh tranh mạnh với các công ty khác thì Công ty FPT đã chia thị trường trong nước thành các đối tượng khác hàng nhỏ khác nhau, đó là :

    + Thị trường các cá nhân đại lý

    + Thị trường các doanh nghiệp

    + Thị trường các cơ quan nhà nước .

    Đối với từng đối tượng khác nhau thì có những chính sách về dịch vụ cung cấp có sự nổi trội khác nhau để đáp ứng yêu cầu của khách hàng .

    Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ Internet chiếm 4,6 % trong tổng doanh thu từ lĩnh vực hoạt động kinh doanh tin học . Tuy tỷ lệ này còn thấp so với tổng doanh thu trong lĩnh vực tin học . Nhưng so với trên thị trường thì trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ Internet thì Công ty FPT liên tục tăng trưởng và trở thành doanhnghiệp cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu tại Việt Nam với 600 000 thuê bao Internet trong đó có 20 000 thuê bao Internet băng thông rộng và vài trăm khách hàng sử dụng kênh thuê bao riệng , chiếm 30% thị phần Internet Việt Nam.

    Ngoài ra Công ty FPT cũng là nhà cung cấp thông tin trên mạng Internet được công nhận tại Việt Nam . Hệ thống báo điện tử VnExpress.net và các trang thông tin Ngoisao.net , Danduong.net , Sohoa.net đã trở thành top 10 Website có số lượng người truy nhập đông nhất Việt Nam , trong đó VnExpress đang tiến gần đến top 500 Website có số lượng người truy nhập lớn nhất trên toàn thế giới ( theo thống kê của Alexa ) .

    1.6.3. Đặc điểm quá trình cung cấp dịch vụ Internet

    Lưu đồ cỏc quỏ trỡnh cung cấp dịch vụ Internet

     
       

     

     

     

    Qua sơ đồ trên ta thấy quá trình cung cấp dịch vụ Internet bao gồm 8 quy trình khép kín . Trong đó quy trình triển khai dịch vụ và bảo đảm hoạt động của mạng đóng vai trò quan trọng , để nâng cao được uy tín cung cấp dịch vụ và thu hút được khách hàng thì rất cần thiết các hoạt động này phải đạt hiệu quả.

    Mục tiêu của từng quy trình trong quá trình cung cấp dịch vụ Internet:

    – Hoạt động Marketing : nghiên cứu , tạo hình ảnh tốt nhất của FPT Internet nhằm mở rộng thị phần khách hàng sử dụng dịch vụ Internet. Giới thiệu dịch vụ , thuyết phục khách hàng để ký hợp đồng sử dụng dịch vụ của FPT Internet .

    – Quản lý thông tin khách hàng : Quản lý và kiểm soát thông tin về khách hàng .

    – Triển khai dịch vụ : Cài đặt Internet và hướng dẫn khách hàng sử dụng Internet .

    – Đảm bảo hoạt động mạng :

    + Thực hiện việc đảm bảo cung cấp đầy đủ và an toàn những dịch vụ mạng như đã thỏa thuận với khách hàng .

    + Vận hành tốt hệ thống máy chủ 24/ 24 ( Web server, Mail Sever , FTP Sever , database Sever, Remote Access Sever , Modem )

    + Đảm bảo về chất lượng truy cập và chất lượng dịch vụ Internet hỗ trợ cho khách hàng

    + Đảm bảo tính riêng tư và bảo mật cho khách hàng ( Email, mật khẩu , thông tin cái nhân )

    + Đảm bảo việc trao đổi thông tin nội bộ thông suốt

    – Hỗ trợ khách hàng : Đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng , giải quyết các sự cố kỹ thuật trong quá trình sử dụng dịch vụ.

    – Thu tiền từ khách hàng : Thu tiền đầy đủ , chính xác cước phí và các khoản thu có liên quan do khách hàng sử dụng dịch vụ mang lại .

    1.7.4. Đặc điểm về lao động

    Là nơi hội tụ , đồng thời là cái nôi phát triển của nhiều chuyên gia cao cấp hàng đầu thế giới , trong suốt nhiều năm qua FPT luôn được đánh giá là Công ty có đội ngũ chuyên gia đông đảo và chuyên nghiệp nhất Việt Nam. Tập trung được đội ngũ đông đảo gần 4000 nhân viên năng động và trẻ trung  được đào tạo chuyên nghiệp và bài bản ở các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước ( Anh , Pháp , Mỹ , Đức , Uc,…) và tiếp tục đào tạo và nâng cấp thường xuyên về công nghệ và giải pháp cùng với kinh nghiệm tích lũy qua hàng trăm các dự án công nghệ phức tạp , quy mô lớn được triển khai hàng năm . Công ty luôn nhận được sự tín nhiệm của các khách hàng lớn ở Việt Nam và các nước trong khu vực .

        4.1.Tăng Trưởng Nhân Sự

    Đơn vị : Người

    Năm 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2005
    FPT 40 393 499 825 1083 2780 3426

    Nguồn : Báo cáo nhân sự hàng năm

    Biểu đồ thay đổi nhân sự của FPT

    4.2.Trình Độ Học Vấn Và Cơ Cấu Nghiệp Vụ

    Các nhân viên FPT có trình độ học thức cao. Số nhân viên có trình độ học vấn trên đại học là 101 người ( chiếm 2,9% ) số người có trình độ đại học là 2761 người ( chiếm 80,5% )

    Số lượng cán bộ quản lý là 360 người ( chiếm 10,5 %) .cán bộ kinh doanh là 689 người (chiếm 20,1 %) , cán bộ kỹ thuật là 1035 người ( chiếm 30,2 %).Đội ngũ phần mềm là 1097 người ( chiếm 32.0 % ) . Đội ngũ chức năng là 245 người (chiếm7,1%)

    Về chuyên gia kỹ thuật và lập trình để thực hiện cung cấp dịch vụ Internet , hiện nay có 628 nhân viên kỹ thuật , 41 chuyên gia phần mềm , cán bộ kinh doanh gồm có 321 người . Với độ tuổi trung bình là 26 tuổi trong đó trình độ trên đại học có 7 người ( chiếm 0,88% ) và trình độ đại học là 495 người ( chiếm 39,45 %) và 743 người có trình độ dưới đại học ( chiếm 59,67 % ) . Với công việc cung cấp dịch vụ Internet thì trình độ này còn thấp , đây có thể là một nguyên nhân dẫn đến chất lượng cung cấp dịch vụ của Công ty còn hạn chế .

    Nhưng với đội ngũ cán bộ kinh doanh trẻ và có năng lực thì đây là một lợi thế để mở rộng kinh doanh trong tương lai .

    1.8.5. Đặc điểm về tài chính

    5.1 Tài Sản – Nguồn Vốn

    Công ty FPT được thành lập từ năm 1988, với số vốn đăng ký kinh doanh 11,982 tỷ đồng . Hiện nay số vốn kinh doanh cảu Công ty là 288.5 tỷ đồng.

    (đơn vị : tỷ đồng)

           Chỉ tiêu      Năm 2003       Năm 2004      Năm 2005
    Tài sản lưu động           509.8            917.1        1,476.6
    Tài sản cố định             40.5              62.0             88.5
    Tổng tài sản           550.4            919.2        1,565.1
    Nợ ngắn hạn           419.1            716.7        1,060.2
    Nợ dài hạn             94.5              84.5           162.6
    Tổng nợ           517.3            806.7        1,233.8
    Vốn kinh doanh             30.0            150.0           288.5

    Nguồn ; Báo cáo tài chính

    Tổng tài sản của Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ FPT tăng khá mạnh quả các năm, đặc biệt là từ năm 2004 đến năm 2005 , tổng tài sản của FPT tăng từ 919.2 tỷ lên tới 1,565.1 tỷ , tăng 70%. Đây là nỗ lực của công ty với mục đích hỗ trợ tốt nhất , bảo đảm cho hoạt động kinh doanh.

    Vốn kinh doanh của Công ty FPT tăng mạnh qua các năm nhưng đặc biệt là năm 2003 đến năm 2004, Vốn kinh doanh từ 30.0 ty lên đến 150 tỷ và đến năm 2005 thì số vốn kinh doanh của công ty đạt 288.5 tỷ. Trong đó bao gồm vốn của Nhà nước cấp , được cụ thể theo bảng sau:

    Đơn vị : tỷ đồng

               Chỉ tiêu   Năm 2003   Năm 2004   Năm 2005
    Nguồn vốn kinh doanh       30.0        150.0      288.5
      + Vốn Nhà Nước       15.3          15.3        46.2
      + Vốn tự có       14.7        135.7      242.3

    Nguồn : Báo cáo tình hình huy động vốn

    Để đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh , Công ty FPT còn áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt . Công ty ngoài sử dụng vốn vay Ngân hàng còn tìm mọi biện pháp để huy động tín dụng từ các đối tác nước ngoài với tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi.

    Công ty còn có khả năng huy động vốn tín dụng của của các hãng HP,IBM, 3COM, NOVEL, APC,CISCO, MICROSOFT, ORACLE, ESRI với số vốn có thể huy động là 9,020,000 USD .Và để đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh , Công ty FPT còn áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt . Công ty ngoài sử dụng vốn vay Ngân hàng còn tìm mọi biện pháp để huy động tín dụng từ các đối tác nước ngoài với tinh thần hợp tác đôi bên cùng có lợi .

    1- Hạn mức tín dụng ngân hàng
     Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VCB)             20 triệu USD
     Ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV)                  28 triệu USD
     Ngân hàng Nông nghiệp  (VBARD)                       20 triệu USD
     Ngân hàng Công thương (ICB)                                 6 triệu USD
    2- Nguồn vốn tín dụng từ nhà cung cấp              Giá trị (USD)
    Vốn tín dụng của HP                  3,700,000
    Vốn tín dụng của IBM                  3,000,000
    Vốn tín dụng của 3COM                       50,000
    Vốn tín dụng của NOVEL                     500,000
    Vốn tín dụng của APC                     400,000
    Vốn tín dụng của CISCO                     750,000
    Vốn tín dụng của MICROSOFT                     120,000
    Vốn tín dụng của ORACLE                     100,000
    Vốn tín dụng của ESRI                     400,000

    Nguồn : Bóa cáo tài chính

    5.2 Tình Hình Tài Chính Của Công Ty

    Tình hình tài chính của Công ty được thể hiện qua bảng cân đối kế toán hàng năm của Công ty tại thời điểm 31/12 hàng năm:

    Đơn vị : 1,000,000đồng

                     Chỉ Tiêu      2003      2004     2005
    Tài sản 550.408 979.232 1.583.705
    A. Tài sản lưu động và ĐT ngắn hạn 509.891 917.139 1.495.173
    I. Tiền mặt 102.746   79.956    372.681
    II. Đầu tư ngắn hạn      
    III. Các khoản phải thu 275.854 619.655    756.304
    IV. Hàng tồn kho 124.333 206.909    355.824
    V. Tài sản lưu động khác     6.956   10.618      10.363
    B. Tài sản cố định và ĐT dài hạn   40.516   62.093      88.532
    I. Tài sản cố định   36.650   55.806      74.636
    II. Đầu tư tài chính dài hạn     3.790     3.905        5.464
    III. Xây dựng cơ bản dở dang          75          75        2.762
    Nguồn vốn 550.408 979.232 1.583.705
    A. Nở phải trả 517.349 806.761 1.271.656
    I. Nợ ngắn hạn 419.101 716.760 1.098.058
    II. Nợ dài hạn   94.562   84.531    162.668
    III. Nợ khác     3.685     5.469      10.930
    B. Nguồn vốn chủ sở hữu   33.058 172.470    312.048
    I. Nguồn vốn – quỹ   31.254 169.699    297.439
    II. Nguồn kinh phí     1.804     2.771      14.608

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    Qua bảng cân đối kế toán tóm tắt của Công ty ta thấy được những đặc điểm nổi bật về tình hình tài chính của Công ty như sau:

    + Về tài sản : giá trị tài sản của công ty tăng mạnh qua hàng năm . Năm 2003 là 550.408 triệu đồng đến năm 2004 đạt 979.232 triệu đồng (tăng 77,9%) và đến năm 2005 đạt 1.583.705 triệu đồng (tăng 61,7%). Tài sản tăng là do công ty đã dành một phần lớn lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng và xây dựng cơ bản. Công ty đã không ngừng mở rộng quy mô sản xuất .

    + Về nguồn vốn : nguồn vốn của công ty không ngừng tăng nhanh . Nguyên nhân là do nguồn vốn chủ sở hữu không ngừng tăng mạnh , năm 2003 vốn chủ sở hữu đạt giá trị là 33.058 triệu đồng đên năm 2004 đạt 172.470 triệu đồng  tăng gấp hơn 5 lần và đến năm 2005 đạt giá trị 312.408 triệu đồng tăng gấp gần 2 lần .Nguyên nhân là do vốn kinh doanh của công ty tăng nhanh và khả năng huy đông vốn từ các nguồn tín dung khác của công ty. Chứng tỏ một tiềm lực tài chính mạnh , thể hiện sự lớn mạnh của công ty .

     5.3 Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp

    Công ty FPT được đánh giá là một Công ty lớn mạnh nhất trong lĩnh vực Công nghệ thông tin ở Việt Nam . Để đạt đuợc những kết quả đó là nhờ vào những đường lối kinh doanh hợp lý và mang lại hiệu quả cao , điều đó được thể hiện qua kết quả kinh doanh của Công ty qua hàng năm:

    a.Lãi / Lỗ

    Đơn vị :1.000.000 Đồng

                 Chỉ Tiêu       2003      2004    2005
    Doanh thu thần 1.514.960 4.148.297 8.734.780
    Giá vốn hàng bán 1.361.251 3.890.027 8.196.631
    Lợi nhuận gộp    135.708    258.269    538.149
    Doanh thu hoạt động Tài chính        3.173        2.164        4.389
    Chi phí Tài chính        3.843      32.639      28.325
    Chi phí bán hàng      81.803    110.994    158.411
    Chi phí quản lý doanh nghiệp      50.788      72.980    164.054
    Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD      21.116      43.819    191.747
    Lợi nhuận khác             36      74.661        1.027
    Tổng lợi tức trước thuế      17.979      43.894    192.775
    Thuế thu nhập doanh nghiệp        5.753      14.046      53.871
    Lợi nhuận sau thuế      12.225      29.848    138.904

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    + Doanh thu thuần của Công ty tăng nhanh qua từng năm . Năm 2003 doanh thu thuần đạt 1.514.960 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 4.148.297 triệu đồng (tăng 173,8%) và năm 2005 đạt 8.734.780 triệu đồng (tăng 110,5%) . Doanh thu thuần tăng là do Công ty luôn đầu tư mở rộng mạng lưới tiêu thụ với những mặt hàng có giá phù hợp với những người có thu nhập thấp cũng như những người có thu nhập cao. Đặc biệt công ty còn tham gia đầu tư vào những lĩnh vực mới như truyền hình, và do doanh thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ mang lại .

    +  Lợi nhuận của công ty năm 2003 là 12.225 triệu đồng đến năm 2004 là 29.848 triệu đồng tăng gấp 1,4 lần và đến năm 2005 đạt 138.904 triệu đồng tăng gấp hơn 3 lần so với năm 2004. nguyên nhân là do lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng mạnh trong khi đó các chi phí khác có tăng nhưng không đáng kể.

    Trong đó đóng góp của kết quả kinh doanh cung cấp dịch vụ Internet được thể hiện qua báo cáo kết quả kinh doanh tin học :

    Đơn vị : 1.000.000.000VND

            Lĩnh vực tin học Năm 2003  Năm 2004  Năm 2005
    I. Doanh Thu Thuần      
       1. Hàng hóa tin học    1183,8   2395,1     4098,4
       2. Phần mềm        40,9       64,3       122,6
       3. Dịch vụ tin học        35,7       64,1         94,7
       4. Dịch vụ Internet        66,2      106,4       186,8
             Tổng    1326,6    2629,9     4052,5
    II. Giá Vốn      
       1. Hàng hóa tin học   1124,7    2286,4     3919,6
       2. Phần mềm       10,1        22,4         33,6
       3. Dịch vụ tin học       14,2        33,7         29,0
       4. Dịch vụ Internet       42,4        69,2         98,8
             Tổng   1191,4    2411,7     4081,0
    III. Lãi Gộp      
       1. Hàng hóa tin học      59,1      108,7      178,8
       2. Phần mềm      30,7        41,8        89,0
       3. Dịch vụ tin học      21,5        30,3        65,6
       4. Dịch vụ Internet      23,8        37,1        87,9
             Tổng    135,1      217,9      421,3
    IV. Chi Phí Kinh Doanh Tin Học    120,6      181,4      271,9
    V. Lợi Tức Trước Thuế Tin Học      14,5        36,5      149,4

    Nguồn : Báo cáo tài chính

    Ta thấy doanh thu thần của dịch vụ Internet mạnh qua từng năm , năm 2004 tăng 60,6% ( 106,4 tỷ đồng) so với với năm 2003 ( là 66,2 tỷ đồng ) và tới năm 2005 thì tăng 75,5% so với năm 2004. Do đó nó đã chiếm 5,5% trong tổng doanh thu thuần tin học vào năm 2003 và chiếm 4,0 % năm 2004 và năm 2005 là 4,6% . Nguyên nhân giảm tỷ lệ đóng góp trong doanh thu không phải do giảm doanh thu thuần dịch vụ Internet mà do có sự tăng mạnh của hàng hóa tin học.

    1. Một Số Chỉ Tiêu Đánh Giá Khái Quát Thực Trạng Tài Chính Và Kết

    Quả Kinh Doanh Nghiệp

                     Chỉ Tiêu Đơn vị 2003 2004 2005
    I. Bố trí cơ cấu tài sản & cơ cấu nguồn vốn        
    1. Bố trí cơ cấu tài sản        
    Tài sản cố định / Tổng số tài sản     % 7,36 6,34 5,59
    Tài sản lưu động / Tổng số tài sản     % 92,64 93,66 94,41
    2. Bố trí cơ cấu nguồn vốn        
    Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn    % 93,99 82,39 80,30
    Nguôn vốn chủ sở hữu / Tổng nguồn vốn    % 3,01 17,61 19,70
    II. Khả năng thanh toán        
    1. Khả năng thanh toán hiện hành   Lần 1,06 1,21 1,25
    2. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn   Lần 1,22 1,28 1,36
    3. Khả năng thanh toán nhanh   Lần 0,25 0,11 0,34
    III. Tỷ suất sinh lời        
    1.Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu        
    Tỷ suất lợi nhận KD / Doanh thu thần    % 1,39 1,06 2,19
    Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Thu nhập    % 1,19 0,96 2,06
    2.Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản        
    Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Tổng tài sản   % 3,26 4,48 12,17
    3. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế / Nguồn vốn chủ sở hữu   % 54,39 25,45 61,78

    + Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty tăng qua từng năm trong khi đó lượng tiền mặt trong Công ty không ngừng tăng lên và các khoản nợ ngắn hạn cung tăng đồng thời chứng tỏ tình hình tài chính của Công ty ổn định .

    + Khả năng thanh toán hiện hành tăng đều theo từng năm chứng tỏ khả năng thanh toan hiện hành của Công ty cao, nguyên nhân là do tài sản của Công ty tăng nhanh hơn số nợ của công ty phải trả.

    + Khả năng thanh toán nhanh của Công ty thấp , tuy có tăng qua từng năm nhưng lượng tăng không đấng kể .Nguyên nhân là do lương tiền mặt trong Công ty luôn nhỏ hơn nợ ngắn hạn và không có khoản đầ tư ngăn hạn nào . Mtạ khac lương tiền mạt tăng nhưng tốc độ tăng không nhanh bằng tốc độ tăng của nợ ngắn hạn . do đặc tính kinh doanh của Công ty cho nên lượng tiền mặt của công ty chỉ được thu hồi sau khi đã thực hiện xong các dự án thầu lớn.

    c.Tình Hình Thực Hiện Nghĩa Vụ Với Nhà Nước

    Tình hình tài chính của Công ty còn được thể hiện thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của Công ty với Nhà nước. Trong 15 năm phát triển và trưởng thành , Công ty FPT luôn nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ của mình với nhà nước . Công ty không ngừng nâng cao mức đóng góp của công ty đối với Chính phủ và Xã hội các khoản thuế đều nộp đầy đủ và kịp thời.

    Đơn vị : 1.000.000đồng

                  Chỉ Tiêu     2003     2004     2005
    1.Thuế GTGT hàng nội địa       5.948  225.662     9.350
    2.Thuế GTGT hàng nhập khẩu     43.460  110.967 226.588
    3.Thuế xuất , nhập khẩu     84.191  174.999 280.464
    4.Thuế thu nhập doanh nghiệp      5.328    16.038     5.649
    5. Tiền thê đất         119        119        119
    6.Các loại thuế khác         275        276     1.764
    7.Các khoản phải nộp khác       0       0        0,442
                 Tổng Cộng   139.453   528.075 523.937

    1.9. 6. Đặc điểm về cơ chế bộ máy quản lý.

    6.1. Cơ cấu tổ chức 

    Để phù hợp với quy mô ngày càng lớn mạnh và sự phát triển vượt bậc của mình , FPT được tổ chức theo hướng năng động về kinh doanh , chuyên môn hóa về công nghệ , giải pháp, dịc vụ

    Năm 2003 được đánh dấu là một mốc chuyển mình mới , có tính quyết định tới tính phát triển của Công ty FPT , khi FPT bắt đầu thực hiện mô hình quản lý và kinh doanh theo hướng tập đoàn kinh tế

                                 6.2.đặc điểm về cơ chế và bộ máy quản lý

    Các bộ phận của Công ty bao gồm:

    + Các bộ phận hỗ trợ : thực hiện các công việc của quá trình hỗ trợ của Công ty , các bộ phận hỗ trợ của Công ty được tổ chức theo mô hình phòng , ban , tổ , chức năng .

    + Các bộ phận sản xuất kinh doanh : thực hiện các công việc của quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty. Các bộ phận sản xuất kinh doanh của Công ty có thể được tổ chức dưới hình thức hạch toán độc lập , hạch toán phụ thuộc, hạch toán báo số hoặc hình thức khác .

    + Các bộ phận nghiên cứu và phát triển : thực hiện các công việc của quá trình nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực khoa học công nghệ của Công ty . Các bộ phận nghiên cứu và phát triển của công ty có thể được tổ chức theo mô hình các viện , các trường hoặc các trung tâm .

    Ngoài ra các phòng đại diện của Công ty thực hiện chức năng đại diện cho công ty tại các địa phương trong và ngoài nước .Các chi nhánh của công ty thực hiện một phần hoặc toàn bộ chức năng của Công ty tại các địa phương trong và ngoài nước.

    Bộ máy quản lý của Công ty thể hiện trong sơ đồ sau:

    Chú thích viết tắt các phòng ban :

    + HC & PT : Hành chính và các bộ phận phi tin học

    + CL&TH:Chất lượng và các bộ phận dự án và dịch vụ công nghệ thông tin

    + TC &PP : Tài chính và các bộ phận phân phối công nghệ thông tin

    + FAD : Văn phòng Công ty FPT

    + FSC : Tổ thư ký

    + FQA : Trung tâm bảo đảm chât lượng FPT

    + FSM : Trung tâm bảo hành

    + FAF : Phòng tài chính kế toán

    + FBP : Phòng kế hoạch kinh doanh

    + GDA : Trọ lý Tổng Giám Đốc

    + GHR : Phòng nhân sự

    + FSOFT : Trung tâm xuất khẩu phần mềm FPT

    + FPT- USA : Văn phòng đại diện FPT tại Mỹ

    + FPT –HCM : Công ty FPT chi nhánh Hồ Chí Minh

    + FPT- INDIA : Công ty FPT chi nhánh ấn Độ

    Nguồn : Sổ tay chất lượng Công ty FPT

    Qua hai sơ đồ trên ta thấy bộ máy quản lý và quản lý chất lượng của Công ty được triển khai theo kiểu trực tuyến . Người đứng đầu bộ máy quản lý của Công ty là Tổng giám đốc do hội đồng Quản trị quyết định bầu ra nhưng người đứng đầu bộ phận quản lý chất lượng của Công ty là đại diện lãnh đạo FPT về chất lượng do Tổng giám đốc chỉ định chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các vấn đề chất lượng của Công ty .

    Bộ máy này tăng cường trách nhiệm của mọi người và tránh tình trạng người thừa hành phải nhận nhiều mệnh lệnh từ nhiều người khác nhau từ đó tạo điều kiện để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ . Nhưng bộ máy này không thu hút được nhiều chuyên gia giỏi và có nhiều hạn chế như các quyết định là mệnh lệnh từ trên xuống , thông tin chỉ có tính một chiều do đó ban lãnh đạo không hiểu được tâm tư nguyện vọng và những phản ánh của cấp dưới , điều này sẽ gây ra sự khó chịu , chán nản và bất mãn của cấp dưới từ đó ảnh hưởng đến quá trình cung cấp dịch vụ và sản phẩm.

    III. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TRONG NHỮNG NĂM QUA

    1.10.      1.Những tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ Internet và đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ

    1.1 Quá trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ ADSL

     
       

     

    Hoạt động Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    1. Tiếp thị và đăng ký dịch vụ Đầu vào Thông tin về khách hàng, thị trường

     

    Thụng tin từ hệ thống bỏo cỏo nội bộ

    Chính xác và được tổng hợp
    Đầu ra Hợp đồng

     

    Báo cáo định kỳ về khách hàng đó hoặc chưa ký hợp đồng

    Hợp đồng được ký

     

    Hỗ trợ kinh doanh

    Điều kiện thực hiện Cỏc nguồn lực cần thiết Đầy đủ
    Chỉ tiêu đánh giá Tỷ lệ khỏch hàng ký hợp đồng/ kế hoạch ≥85%
    Quỏ trỡnh liờn quan Quản lý thụng tin khỏch hàng

     

    Thu tiền từ khỏch hàng

    + Hồ sơ hợp đồng, BB nghiệm thu, BB khảo sát, phiếu đăng ký.

     

    + Hóa đơn

    2. Khảo sỏt và triển khai dịch vụ Đầu vào Hợp đồng được ký, Phớ cài đặt thu đầy đủ. Đầy đủ, chính xác
    Đầu ra Biên bản nghiệm thu được ký Đầy đủ, chính xác
    Điều kiện thực hiện Đảm bảo cơ sở hạ tầng mạng, vật tư, dụng cụ thi công, bảo hộ lao động

     

    Điều kiện về thiết bị của khách hàng đó sẵn sàng

    01.9-HD/IN/HDCV/FPT
    Chỉ tiêu đánh giá ● Tỉ lệ khảo sát đúng hạn/ tổng số khách hàng.

     

    (Tính từ thời điểm INF tiếp nhận hồ sơ khách hàng phải có kết quả khảo sát trong vũng 4 giờ đối với MegaBIZ, MegaOFFICE, và 24 giờ đối với cỏc dịch vụ ADSL khỏc).

    ●Tỉ lệ triển khai đúng hạn/ tổng số khách hàng triển khai.

    (Tớnh từ ngày ký hợp đồng là:

    + Trong vũng 7 ngày làm việc đối với các dịnh vụ ADSL trừ MegaBIZ và MegaOFFICE.

    + Trong vũng 4 ngày làm việc đối với MegaBIZ và MegaOFFICE)

     ≥95 %

     

    ≥90 %

    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Account ADSL

    Hoá đơn thu cước phí

    Yêu cầu đảm bảo mạng

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

     

    1.2. Chỉ tiêu đánh giá sản phẩm dịch vụ Internet

    STT Chỉ tiêu
    chất lượng
    Đơn vị
    đo
    Yờu cầu Cỏch đo
    01 Tỷ lệ thời gian mạng hoạt động tốt % ³ 95% D=1-Tf/Tr

     

    Trong đó :

    – Tf là thời gian mạng cú sự cố thuộc trỏch nhiệm của FPT

    – Tr là tổng thời gian hoạt động của mạng (tớnh theo thỏng)

    02 Thời gian mở dịch vụ Giờ 02h Khoảng thời gian tớnh từ lỳc khỏch hàng yờu cầu mở dịch vụ cho đến khi yờu cầu này được đáp ứng
    03 Thời gian hỗ trợ kỹ thuật Giờ 02h Khoảng thời gian tớnh từ lỳc khỏch hàng yờu cầu hỗ trợ cho đến khi yờu cầu này được thỏa món (kỹ thuật cú mặt tại địa điểm của khỏch hàng để hỗ trợ trực tiếp)
    04 Tỷ lệ hợp đồng Thiết kế web đúng tiến độ % ³ 90% Số hợp đồng đúng tiến độ/ Tổng số hợp đồng trong thỏng
    05 Số độc giả Số đếm ³100.000 Tổng số mỏy tớnh truy cập tới tờ bỏo trong 1 thỏng
    06 Tỷ lệ khách hàng khiếu nại về cước phí % £ 1% Số trường hợp khiếu nại/ 100 khách hàng trong năm
    07 Tỷ lệ khiếu nại của khỏch % £ 2% Số trường hợp khiếu nại/ 100 khách hàng trong năm
    08 Thời gian giải quyết khiếu nại giờ <24h Thời gian phản hồi khiếu nại của khỏch – Thời gian khỏch khiếu nại

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

    1.3. Quy trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng họat động mạng Internet

     
       
    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Yờu cầu đảm bảo mạng Rừ ràng, đầy đủ, chớnh xỏc
    Đầu ra Cỏc yờu cầu đảm bảo mạng được thực hiện Mạng hoạt động tốt
    Điều kiện thực hiện Trang thiết bị, mỏy múc, phần mềm liờn quan.

     

    Quản trị mạng đủ trỡnh độ

    Tốt nhất cú thể với điều kiện cõn đối giữa lợi nhuận và đầu tư.

     

    Cú kiến thức vững về những dịch vụ đang cung cấp, cú khả năng tiếp thu nhanh cụng nghệ mới

    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian mạng hoạt động tốt

     

    Thời gian xử lý sự cố

    >= 95%

     

    < 1h

    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Hỗ trợ khỏch hàng

    Yờu cầu đảm bảo hoạt động mạng

     

    Yờu cầu đảm bảo hoạt động mạng

    Nguồn : Sổ tay quy trình chất lượng

    1.4. Quy trình và chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động hỗ trợ khách hàng

     

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Yờu cầu hỗ trợ Thụng tin cập nhật rừ ràng, chớnh xỏc
    Đầu ra Biờn bản nghiệm thu sửa chữa, Bỏo cỏo Thông tin đầy đủ và chính xác
    Điều kiện thực hiện – Điện thoại

     

    – Hệ thống Inside

    – Máy đo đứt cáp

    – Đồng hồ VOM

    – Thang tre

    – Modem test

    – Bảo hộ an toàn lao động (giày, mũ, dây bảo hiểm,…)

    Đầy đủ
    Chỉ tiêu đánh giá Tỉ lệ hỗ trợ kỹ thuật đúng hạn/ tổng khỏch hàng yờu cầu hỗ trợ

     

     

    Hoàn tất hỗ trợ trong vũng 4 giờ đối với dịch vụ BDSL và Leased line,  24 giờ với MegaBIZ và MegaOffice) và 48 giờ đối với các dịch vụ khác.

    ≥95%
    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Biờn bản nghiệm thu cài đặt

     

    Biờn bản nghiệm thu bàn giao

    1.5. Quy trình và tiêu chuẩn chất lượng hoạt động thu tiền từ khách hàng

     

     
       

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Cước dịch vụ mà khách hàng phải thanh toán Cước phải chính xác
    Đầu ra Khỏch hàng đó thanh toán cước phí Thanh toỏn đầy đủ, đúng hạn
    Điều kiện thực hiện Cú thiết bị đầy đủ (mỏy tớnh, mỏy in, mỏy đếm tiền, kột đựng tiền)

     

    Nhõn viờn cú trỡnh độ nghiệp vụ về kế toỏn tiền mặt, nghiệp vụ ngõn quỹ, ngoại tệ và tỷ giỏ thanh toỏn

     
    Chỉ tiờu đánh giỏ Nợ quỏ hạn

     

    Xử lý khiếu nại của khỏch hàng (nếu cú)

    < 10% tổng cước phải thu

     

    Phản hồi trong 24 tiếng

    Tỷ lệ khiếu nại <= 1%/ năm

    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Tài chớnh

    Hoỏ đơn phí hoà mạng

     

    Hoỏ đơn dịch vụ

    Chứng từ, bảng kờ sộc & tiền mặt

    1.6. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng triển khai dịch vụ Internet

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Hợp đồng đó được ký Đầy đủ, chớnh xỏc
    Đầu ra Biờn bản nghiệm thu được ký Đầy đủ và chớnh xỏc
    Điều kiện thực hiện Điều kiện về thiết bị của khỏch hàng đó sẵn sàng. -Mỏy tớnh

     

    -Modem

    -Đường dây điện thoại.

    -Mạng cục bộ

    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian cài đặt và hướng dẫn

     

    Thời gian mở dịch vụ

    Mức độ hài lũng của khỏch hàng

    <= 2 tiếng

     

    <= 2 tiếng

    >= 80%

    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Internet Account

    Hoỏ đơn thu cước phí

    Yờu cầu đảm bảo mạng

    1.7. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động Marketing

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Thông tin về khách hàng, thị trường

     

    Thụng tin từ hệ thống bỏo cỏo nội bộ

    Chớnh xỏc và được tổng hợp
    Đầu ra Hợp đồng

     

    Bỏo cỏo định kỳ về khỏch hàng đó hoặc chưa ký hợp đồng

    Hợp đồng được ký

     

    Hỗ trợ kinh doanh

    Điều kiện thực hiện Cỏc nguồn lực cần thiết Đầy đủ
    Chỉ tiờu đánh giỏ Tỷ lệ (doanh số/ hợp đồng được ký)/ Kế hoạch >=85%
    Quỏ trỡnh liờn quan Triển khai dịch vụ

     

    Thiết kế web

    Quản lý thụng tin khỏch hàng

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Hợp đồng

     

    Hợp đồng

    Hồ sơ hợp đồng

    Hoỏ đơn

     

    1.8. Quy trình và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng quản lý khách hàng

     
       

     

     

     

    Thụng số Mụ tả Yờu cầu
    Đầu vào Thụng tin về nhu cầu của khỏch hàng Thụng tin chớnh xỏc, đầy đủ
    Đầu ra Thụng tin về khỏch hàng đó được cập nhật và xử lý Cập nhật chớnh xỏc và đỳng thời hạn
    Điều kiện thực hiện Yờu cầu của khỏch hàng Thụng tin chớnh xỏc
    Chỉ tiờu đánh giỏ Thời gian truy cập thụng tin <=5 phỳt
    Quỏ trỡnh liờn quan Marketing

     

    Triển khai dịch vụ

    Thu tiền từ khỏch hàng

    Đảm bảo hoạt động của mạng

    Hợp đồng

     

    Biờn bản nghiệm thu cài đặt và hồ sơ

    Hoỏ đơn thanh toán

    Yờu cầu đảm bảo mạng

     

    1.11.      2. Những biện pháp Công ty đã thực hiện để nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet

    Theo những phân tích ở trên đã đề cập thì chất lượng cung cấp dịch vụ Internet phụ thuộc vào các yếu tố : Yếu tố thị trường , thời gian triển khai dịch vụ , yếu tố đảm bảo hoạt động của mạng , hỗ trợ khách hàng , con người và quản lý. Bộ phận cung cấp dịch vụ Internet ( FOX ) đã thực hiện các biện pháp để những yếu tố này tác động tích cực tới chất lượng cung cấp dịch vụ Internet là :

    * Yếu tố thị trường :

    Do đặc điểm của thị trường là chủ yếu là thị trường trong nước . Và những hợp đồng lắp đặt cung cấp dịch vụ chỉ có được nhờ hoạt động Marketing và quá trình thương lượng nằhm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng . Do vậy trong thời gian qua hoạt động nghiên cứu thị trường được Công ty chú trọng , điều đó được thể hiện khá rõ khi Công ty chia thị trường cung cấp dịch vụ Internet thành các thị trường nhỏ khác nhau , bao gồm thị trường cá nhân và đại lý , thị trường doanh nghiệp và thị trường cơ quan nhà nước . Và tập trung nghiên cứu từng nhu cầu riêng của cac thị trường này . Do vậy thỏa mãn nhu cầu của khách hàng , do vậy mà thị phần của công ty không ngừng tăng lên và hiện nay Công ty đang chiếm 30 % thị phần Internet ở Việt Nam.

    * Thời gian triển khai :

    Tất cả các hợp đồng cung cấp dịch vụ tại FOX đều được lập kế họach cụ thể và chi tiết và thực hiện theo đúng yêu cầu của hợp đồng . Điều này đảm bảo cho việc phân bổ lực lượng để thực hiện các hợp đồng khác và tìm kiếm hợp đồng mới đặc biệt là đối với những hợp đồng thiết kế Website.

    Tuy nhiên , việc thực hiện kế hoạch thực hiện hợp đồng còn yếu và chưa có sự vượt bậc rõ rệt . Theo như báo cáo chất lượng thì năm 2004 thì tỷ lệ thực hiện đúng hợp đồng chỉ hoàn thành vừa đúng kế hoạch , nhưng đến năm 2005 thì tỷ lệ không hoàn thành theo kế họach là 5,87% . Việc thực hiện hợp đồng chậm không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ mà còn dẫn đến sự lãng phí thời gian và nguồn lực .

    * Yếu tố đảm bảo hoạt động của mạng :

    Được xem là một nhân tố quan trọng trong quá trình cung cấp dịch vụ Internet . Để đảm bảo hoạt động của mạng thì Công ty đã đưa ra những giải pháp cụ thể tác động vào những nhân tố tác động vào quá trình hoạt động của mạng , như đường truyền dẫn , các máy móc thiết bị và quan trọng nhất là hệ thống máy chủ , các phần mềm liên quan , đặc biệt là nâng cao trình độ của nhân viên quản trị mạng . Nhằm đảm bảo tính bảo mật , nâng cấp hệ thống  và khả năng xử lý sự cố một cách nhanh chóng .

    FOX luôn tìm cách để nâng cao thời gian hoạt động mạng tốt là tối đa và những giải pháp đã mang lại hiệu quả rõ rệt . Thời gian mạng hoạt động tốt đã vượt mức kế hoạch là 0,46% so với chỉ tiêu thời gian mạng hoạt động tốt là 99% năm 2004 và đến năm 2005 thì vượt mức kế hoạch là 0,87 % . Đây là việc đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ rất có hiệu quả , không chỉ tiết kiệm được thời gian khắc phục sự cố mà còn tránh việc lãng phí nguồn lực cho quá trình khắc phục sự cố do đó giảm được chi phí rất lớn.

    * Hoạt động hỗ trợ khách hàng

    Công ty luôn hướng vào việc chăm sóc khách hàng , và xem đây là một giải pháp để mở rộng thị trường và không ngừng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng . Do đó Công ty thực hiện các giải pháp nhằm rút ngắn khoảng cách của mình với khách hàng hiện tại cũng như tương lai thông qua hệ thống Call Center và Call 1280  và trả lời thông qua Website

    Để nâng cao hoạt động hỗ trợ khách hàng thì Công ty luôn cố gắng cung cấp những thông tin về dịch vụ cung cấp Internet một cách đày đủ và chi tiết nhất . đồng thời luôn cố gắng ngày một nâng cao khả năng đáp ứng những khiếu nại của khách hàng một cách nhanh chóng và thảo mãn được thắc mắc của khách hàng .

    * Về con người

    Đánh giá và nhận thức một cách đúng đắn về nhân tố con người nên Công ty đã có những chính sách cụ thể để phát triển nguồn nhân lực và khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên này . Triết lý của Công ty FPT khẳng định con người là tài sản quý giá nhất . Trọng dụng con người, trọng dụng hiền tài , đem lại cho mỗi thành viên của mình điều kiện phát triển tốt nhất về tài năng , và một cuộc sống đầy đủ về vật chất , phong phú về tinh thần là những cam kết của công ty đối với toàn bộ công nhân viên FPT.

    Do có triết lý đó mà Công ty có phương châm là:

    + Đầu tư vào phát triển năng lực cá nhân

    + Đầu tư nâng cao môi trường làm việc

    + Đầu tư vào tối ưu hóa môi trường và phương pháp làm việc

    * Về quản lý

    Sự cam kết và tham gia của lãnh đạo trong việc xây dựng , áp dụng duy trì và hoàn thiện hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 là một nhân tố quan trọng và được coi làmột nhân tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm . Thiếu sự quan tâm và hỗ trợ của ban lãnh đạo sẽ ảnh hưởng tới sự hăng hái trong công tác của các thành viên và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các sản phẩm cung cấp dịch vụ Internet.

    Sự cam kết của lãnh đạo FOX về đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet được thể hiện qua việc FOX có một bộ phận riêng chuyên trách về vấn đề đảm bảo chất lượng . Các hợp đồng cung cấp dịch vụ và các dụ án thiết kế Website cho khách hàng luôn được phòng chất lượng lên kế hoạch đánh giá ít nhất một lần một tháng , đây là hoạt động quan trọng trong việc đảm bảo và cải tiến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet.

    Việc lập kế hoạch chưa tốt cho triển khai thực hiện các hợp đồng đã khiến cho các hợp đồng bị chậm tiến độ và ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet .Do vậy trươc khi thực hiện hợp đồng cần phải lập kế hoạch thực hiện một cách hợp lý và thực sự có hiệu quả , phải phòng ngừa được các sự cố có thể xảy ra để việc thực hiện hợp đồng có thể thành công và đảm bảo chất lượng.

    1.12.      3. Thực trạng chất lượng cung cấp dịch vụ Internet và viễn thông của                           Công ty FPT

    3.1 Tình hình chất lượng cung cấp dịch vụ Internet

    Những đánh giá về chất lương cung cấp dịch vụ Internet được dựa trên các chỉ tiêu đánh giá theo hệ thống ISO 9001  và được thể hiện thông qua bảng sau:

    Kết quả thực hiện mục tiêu chất lượng

    TT Chỉ tiêu chất lượng Đơn vị Năm 2004 Năm 2005
    Thực tế Tăng /giảm so với tiêu chuẩn (%) Thực tế Tăng /giảm so với tiêu chuẩn (%)
    1 Thời gian mạng hoạt động ổn định % 99 2 98.9 -0.1
    2 Thời gian xử lý sự cố Giờ <=1 0 0.29 -71
    3 Thời gian đáp ứng yêu cầu của khách hàng Giờ <=1 1 <=1 1
    4 Tỷ lệ đáp ứng yêu cầu của khách hàng % >=98 1 98.11 0.11
    5 Tỷ lệ khiếu nại % 0.05 -50 0.02 -96

    Qua bảng trên ta thấy thời gian mạng hoạt động tốt của năm 2005 chưa hoàn thành kế hoạch, chỉ hoàn thành được 99,9% kế hoạch . Nhưng năm 2004 hoàn thành vượt mức kế hoạch là 2%. Điều đó chưa thể hiện được ràng chất lượng dịch vụ giảm mà nguyên nhân là do số thêu bao Internet tăng mạnh so với sụ cải tiến và nâng cấp hệ thống máy chủ. Điều đó được khẳng định rõ hơn ở tỷ lệ khiếu nại không tăng mà còn giảm đó là năm 2004 giảm so với kế hoạch là 50 % và năm 2005 thì giảm so với kế hoạch là 96 %. Tuy nhiên tỷ lệ đáp ứng yêu cầu của năm 2005 tăng ( 0.11%) nhưng không mạnh bằng năm 2004 (1%).

    TT Chỉ tiêu đánh giá Đơn vị          Năm 2004        Năm 2005
     Dự kiến Thực tế  Thực tế  Thực tế
    1 Mức độ hài lũng của khỏch hàng % 80 98 80 85.73
    2 Số độc giả/ Tháng Người 500000 835000 800000 1210181
    3 Thời gian cài đặt và hướng dẫn Giờ 2 0.7 2 0.6
    4 Thời gian hỗ trợ kỹ thuật Giờ 2 0.8 1 0.6
    5 Thời gian mạng hoạt động tốt % 99 99.97 99 99.4
    6 Thời gian mở dịch vụ Giờ 2 0.5 2 0.6
    7 Thời gian phản hồi giải quyết khiếu nại Giờ 24 0.61 24 11.18
    8 Thời gian truy cập thụng tin Phỳt 5 4 5 4.55
    9 Thời gian xử lý sự cố Giờ 1 0.5 1 0.29
    10 Tiến độ triển khai hợp đồng đúng hạn % 90 90 90 84.63
    11 Tỷ lệ hợp đồng được ký theo kế hoạch % 85 73.6 85 96.39
    12 Tỷ lệ khiếu nại về cước phí % 1 0.09 0.25 0.28
    13 Tỷ lệ khiếu nại về dịch vụ hỗ trợ % 1 0.08 0.5 0.45
    14 Tỷ lệ nợ quỏ hạn thỏng % 10 2,69 10 13.78
    15 Tỷ lệ sai sút % 1 0 1 0.05

    Qua các biểu đồ trên ta thấy :

    + Mức độ hài lòng của khách hàng năm 2004đã vượt mực kế hoạch và đạt 99,97% so với kế hoạch là 80%  như vậy đã tăng 19,97 % . Đến năm 2005 thì vẫn tăng nhưng không lớn bằng chỉ đạt 80,73% so với chỉ tiêu là 80%

    + Tỷ lệ sai sót ta thấy trong năm 2004 không xảy ra sai sót nhưng đến năm 2005 thì tỷ lệ sai sót là 0,05 nhưng vẫn không vượt mức kế hoạch dặt ra là 1.

    + Tỷ lệ hợp đồng được ký theo kế hoạch năm 2004 giảm so với kế hoạch đặt ra , nó chỉ đạt 73,6% so với kế hoạch là 85% thì nó giảm 11,4 % nhưng đến năm 2005 thì có sự tăng đáng kể đạt 96,39% so với kế hoạch là 85% và đã tăng được 11,39%.

    + Tiến độ thực hiện hợp đồng đúng hạn trong năm 2004 thì đảm bảo tiêu chuẩn đề ra và đạt 90% tức là vãn còn 10 % hợp đồng không đảm bảo đúng hạn . Đến năm 2005 thì giảm mạnh và chỉ đáp ứng được 84,63 % hợp đồng là đúng hạn giảm so với chỉ tiêu 90% là 5,37 % điều đó cũng có nghĩa là tỷ lệ hợp đồng không đúng hạn là 15,37 % .

    + Thời gian xử lý sự cố trong năm 2004 đã vượt mức kế hoạch và khả năng xử lý sự cố chỉ trong 0,5 giờ anh gấp đôi so với kế hoạch là 1 giờ . Đến năm 2005 thì hời gian xử lý sự cố còn nhanh hơn và chỉ mất 0,29 giờ để xử lý .

    + Thời gian hoạt động tốt trong năm 2004 thì thời gian này vượt mức kế hoạch và đạt 99,97 % trong tổng thời gian hoạt động vượt mức kế hoạch là 99% . Đến năm 2005 thì vẫn tăng nhưng không đáng kể mà chỉ đạt 99,4% so với kế hoạch là 99%.

    3.2. Các hành động khắc phục phòng ngừa

    Các hành động khắc phục phòng ngừa của năm 2004 và 2005 được thể hiện trong bảng sau:

    TT Hạng mục Tổng số Tổng số đó đóng Số ngày thực hiện TB đối với cỏc NX/NC đó đóng
    2004 2005 2004 2005 2004 2005
    1 Cỏc NC/NX từ đánh giỏ nội bộ của FPT trong kỳ 12 12 12 12 20 30
    2 Cỏc NC/NX từ đánh giỏ của bờn ngoài trong kỳ 1 15 1 10 30 18
    3 Cỏc NC/NX cũn tồn đọng từ kỳ trước 0 4 0 4   20
    4 Cỏc NC/NX khỏc 0 0 0 0    
    Tổng hợp: 13 27 13 22   26

    Qua bảng số liệu trên ta thấy các NX/ NC từ đánh giá nội bộ của FPT không cao và được khắc phục hết trong kỳ , năm 2004 cũng như năm 2005 có tổng số 12 NX/NC và khác phục đóng hết . Nhưng số ngày thực hiện trung bình năm 2004 chỉ 20 ngày nhưng đến năm 2005 thì đã tăng lên tới 30 ngày

    Các NX/NC từ đánh giá , giám sát từ bên ngoài trong năm 2004 chỉ phát sinh co 1 NX/NC và được khắc phục hết nhưng thời gian khắc phục lại rất dài đó là 30 ngày . Nhưng đến năm 2005 thì phát sinh 14 NX/NC và chỉ káhc phục được 10 NX/NC nhưng thời gian khắc phục tương đối nhanh 18 ngày.         Nhìn chung thì các hành động khắc phục phòng ngừa tương đối tốt .

    3.3. Các phản hồi và khiếu nại cảu khách hàng

    1. Cỏc phản hồi và khiếu nại của khỏch hàng và kết quả xử lý trong năm 2004 (kể cả cỏc phàn nàn nội bộ) được tổng hợp lại như sau :

    Nguyờn nhõn chủ yếu của cỏc khiếu nại:

    Bị mất mật khẩu truy cập Internet: Hiện tượng này trong năm 2003 tuy đó giảm nhiều nhưng vẫn xảy ra một số trường hợp. Nguyên nhân của hiện tượng này là do có một chương trỡnh Trojan thường trú trong máy tính của khách hàng.

    Quản lý mật khẩu truy cập khụng tốt: Hiện tượng này thường diễn ra ở các cơ quan, công ty dẫn đến nhiều người biết mật khẩu, cho người ngoài công ty sử dụng dấn đến cước phí sử dụng tăng vọt.

    Giải thích các chính sách khuyến mại chưa rừ ràng đó dẫn đến có trường hợp khách hàng thắc mắc về chính sách khuyến mói.

    Thẻ Internet card và Internet phone mới dùng 01 lần đó khụng sử dụng được. Nguyên nhân là khách hàng không để ý đến thời hạn sử dụng của thẻ.

    TT Loại Số đầu kỳ Số phỏt sinh Số đó xử lý Số tồn đọng Số yờu cầu KPPN
    1 Thanh toán cước phí   89 89 0  
    2 Tăng cước   89 89 0  
    3 Thỏi độ phục vụ, đường truyền   0 0 0  
    4 Tổng hợp   89 89 0  
    5 Cấp bộ phận   89 89 0  
    6 Cấp cụng ty/CN   0 0 0  

    Đánh giá sự hài lũng của khỏch hàng  năm 2004

    Đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ triển khai:

    + 98% khỏch hàng hài lũng với thỏi độ phục vụ của nhân viên

    + 99% khỏch  hàng hài lũng với chất lượng đường truyền

    Đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ hỗ trợ:

    + 93% khỏch hàng hài lũng về thỏi độ phục vụ cũng như tiến độ hỗ trợ của nhõn viờn

    + 96% khỏch hàng hài lũng với chất lượng và tốc độ đường truyền sau khi nhận được hỗ trợ.

    1. Cỏc phản hồi và khiếu nại của khỏch hàng và kết quả xử lý trong năm 2005 (kể cả cỏc phàn nàn nội bộ) được tổng hợp lại như sau :

                 KẾT QUẢ XỬ LÝ PHẢN HỒI Và KHIẾU NẠI KHỎCH HàNG

    STT Loại Số đầu kỳ Số phỏt sinh Số đó xử lý Số tồn đọng Số yờu cầu KPPN
    11 Kỹ thuật   35 35 0  
    22 Cước phí   34 34 0  
    33 Khỏc   20 20 0  
    44 Tổng hợp   89 89 0  
    55 Cấp         bộ phận   89 89 0  
    66 Cấp      cụng ty/CN   0 0 0  

    Các khiếu nại về kỹ thuật liên quan phần lớn đến chất lượng đường truyền (đứt dây, máy khách hàng có virus…), gây ra việc khách hàng kết nối mạng khó khăn.

    Có một số trường hợp khiếu nại về việc triển khai dịch vụ chậm.

    Khiếu nại về cước phí liên quan một phần đến việc khách hàng chuyển đổi dịch vụ nhưng chưa làm thanh lý dứt điểm dịch vụ trước (mặc đù đó được hướng dẫn).

     

    Đánh giá sự hài lũng của khỏch hàng

    Con số khỏch hàng hài lũng ở mức 89.6%. Tuy nhiờn, với tỡnh hỡnh cung đang vượt quá cầu như hiện nay, con số này cũng không phản ánh được thực trạng thái độ đánh giá của khách hàng đối với công ty.

    Số lượng cuộc gọi đến Call Center (chỉ tính cuộc gọi đến bàn hỗ trợ) mới đáp ứng được về chất lượng trả lời, tư vấn cho khách hàng, nhưng chưa đáp ứng được số cuộc gọi đến được phúc đáp. Hiện nay, tỷ lệ cuộc gọi được đáp ứng  mới ở mức 83.6% trên tổng cuộc gọi đến bàn hỗ trợ.

    Để tăng chất lượng và làm cho khách hàng hài lũng với dịch vụ của mỡnh, cụng ty cần nâng cấp hệ thống và tăng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của khách hàng ở mọi bộ phận: hỗ trợ gián tiếp, hỗ trợ trực tiếp, triển khai, xử lý khiếu nại khỏch hàng.

    1. Tổng hợp những đánh giá phản hồi của khách hàng

    Chất lượng đường truyền sau khi hỗ trợ dịch vụ

       Tốc độ kết nối ra Internet (ví dụ: www.yahoo.com)

     

    Sự hài lũng với thỏi độ phục vụ của nhân viên hỗ trợ của Công ty FPT không?

     

    Thụng tin ADSL của FPT  được biết thụng qua hỡnh thức

     

    IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET CỦA CÔNG TY FPT

    1.13.      1. Những kết quả chất lượng đã đạt được

    Tổ chức được hệ thống tài liệu chất lượng:

    • Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu hoạt động của Công ty, TCN của Bộ BCVT.
    • Cấu trúc tài liệu dễ tiếp cận, dễ phổ biến, và có tính mở (do đặc thù hoạt động kinh doanh của FOX đa dạng hoá dịch vụ).

    Đưa các hoạt động của các ban chức năng vào nề nếp:

    • Toàn bộ hoạt động các ban chức năng đều đi vào qui củ: từ chỗ rất thiếu (hầu như không có) đến đầy đủ hồ sơ, thực hiện đúng qui định của Công ty như Hành chính, Thương hiệu, Tổng hội, Truyền thông.

    Kiểm soỏt trờn hệ thống qui trỡnh Internet chặt chẽ:

    • Kiểm soỏt việc thực hiện tạm ứng và quyết toán vật tư chặt chẽ nhằm giới hạn và giảm thiểu thời gian vật tư trôi nổi.
    • Các sai sót của các bộ phận liên quan trong hoạt động Kinh doanh, Triển khai, Hỗ trợ đều được kiểm tra để có hành động khắc phục và phũng ngừa lặp lại.
    • Toàn bộ cỏc khiếu nại của khách hàng liên quan đến chất lượng phục vụ như triển khai chậm, hỗ trợ chậm đều được xử lý ngay lập tức.
    • Rà soát các báo giá cũng như tờ rơi quảng bá dịch vụ tại đầu mối thiết kế và in ấn đảm bảo không có sai sót.

    1.14.      2. Những vấn đề chất lượng còn tồn tại .

         Chất lượng dịch vụ:

    Tính ổn định của đường truyền xDSL (bao gồm khách hàng ADSL và một số khách hàng của TEL) không cao dẫn đến sự không hài lũng, chậm thanh toỏn cước phí và huỷ hợp đồng.

    Tốc độ truy nhập vào trang web chậm, đặc biệt là số mẫu thử có tốc độ chậm đều rơi vào phép thử truy  nhập trang chủ www.fpt.vn.

         Chất lượng phục vụ:

    Chậm trễ trong tiến độ triển khai do năng lực quản lý và đốc thúc tiến độ của cán bộ quản lý bộ phận Triển khai xDSL cũn kộm và do hạ tầng luụn trong tỡnh trạng khụng đủ năng lực đáp ứng.

    Chậm trễ trong tiến độ hỗ trợ do thiếu nhân sự.

    Quá tải trong hoạt động hỗ trợ trả lời khách hàng tại Call Center do thiếu nhân lực, hệ thống gặp lỗi nên sự cố xuất hiện ở hàng loạt khách hàng, tổng đài khi chuyển sang số Viettel hay gặp trục trặc (khách hàng gọi đến bị báo bận).

          Kiểm soỏt thi cụng lỏng lẻo:

    Các kiểm soát viên không hoàn thành nhiệm vụ đã bỏ qua các trường hợp kiểm tra thấy dấu hiệu có vi phạm. Đôi khi hoạt động kiểm soát chỉ mang tính hình thức và mang nhiều tính chủ quan , các kiểm soat viên chỉ làm việc chủ yếu trên bàn giấy chứ không thực sự tìm hiểu và thông qua quá trình .

    1. Những vấn đề đặt ra đối với chất lượng dịch vụ Internet.

    Qua những phân tích trên ta thấy chất lượng cung cấp dịch vụ Internet của Công ty đã được cải tiến nhiều và có uy tin trên thị trường cung cấp dịch vụ Internet trong nước . Nhưng để thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ Internet của Công ty đến năm 2010 trở thành nhà cung cấp dịch Internet hàng đầu Việt Nam và một trong số tờ báo điện tử thuộc top 500 trên toàn thế giới thì ban lãnh đạo Công ty còn nhiều việc để làm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet và có được uy tín trên toàn thế giới . Để thực hiện được điều đó Công ty cần:

    – Xây dựng cho bộ phận cung cấp dịch vụ Internet một chính sách chất lượng cụ thể cho từng hoạt động . Trong đó cần chú trọng đến hoạt động đảm bảo họat động mạng . Chính sách chất lượng được coi là con đường dẫn dắt doanh nghiệp tiến tới sự thành công , được xem như là con mắt của doanh nghiệp , tạo cho mọi thành viên có nhận thức đúng đắn về chất lượng sản phẩm cùng phấn đấu vì mục đích chung cảu doanh nghiệp . Mặt khác nó là cồn cụ cạnh tranh trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế .Nhưng hiện nay chính sách chất lượng dịch vụ Internet chỉ mạng tính chất tập trung vào những hạot động chủ yếu và còn nhiều hoạt động khác của hoạt động cung cấp dịch vụ chưa có chính sách chất lượng cụ thể như hoạt động tổng hợp thông tin khách hàng , hay hỗ trợ khách hàng, cung cấp đường truyền ADSL …

    – Đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ nhân viên trong Công ty nhận thức về chất lượng và đạo tạo nâng cao đội ngũ quản trị mạng và đội ngũ tiếp thị về dịch vụ Internet .

    – Thiết lập các nhóm chất lượng . Nhóm chất lượng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chất lượng và giải quyết những vấn đề chất lượng phát sinh , ở đó các ý kiến đưa ra và được tập hợp lại và từ đó phát huy tinh thần tập thể .

    – Tổ chức mạng lưới thu thập và xử lý ý kiến đánh giá và khiếu nại của khách hàng . Những ý kiến của khách hàng có vai trò quan trọng giúp Công ty khắc phục và phòng ngừa các lỗi có thể xẩy ra đối với các dự án cung cấp dịch vụ hay quá trình triển khai dịch vụ , và đồng thời rút ra được những kinh nghiệm quý báu .

    – Quản lý tốt chi phi chất lượng . Chi phí chất lượng phản ánh những chi phí phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Internet đồng thời cũng cho thấy các khoản chi phí không phù hợp phát sinh nhiều hay ít và nó chỉ cho các thành viên trong Công ty thấy được cần phải giảm thiểu các khoản chi phí nào.

    – Nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 : 2000. Ngoài ra Công ty cũng cần phải tổ chức quản lý một cách có hiệu quả , lập kế hoạch chi tiết cho các quá trình cung cấp dịch vụ Internet cũng như quá trình nghiên cứu và phát triển thị trường . Để Công ty có thể sử dụng các nguồn lực có hiệu quả , tránh sự lãng phí nguồn lực …

    – Lập kế hoạch đổi mới công nghệ đẻ đảm bảo họat động mạng ngày một tốt hơn và ngăn ngừa được các sự cố có thể xảy ra. Đặc biệt chú  ý đến vấn đề kỹ thuật trong quá trình triển khai lắp đặt đường truyền ADSL đảm bảo ngày càng tăng tính đúng hạn trong việc triển khái đường truyền ADSL . Cho nên ccàn quan tâm đến nhân tố quản lý trong quá trình triển khai nhằm nâng cao chất lượng quản lý để đảm bảo đúng tiến độ.

     

     

    IV. CHƯƠNG III

    V.   MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    VI.           CUNG CẤP DỊCH VỤ INTERNET TẠI CÔNG TY FPT

    I. MỤC TIÊU CHẤT LƯỢNG ĐẾN NĂM 2010.

    Để trở thành nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu ở Việt Nam vào năm 2010 , ban lãnh đạo Công ty FPT đã ra mục tiêu chất lượng cho mình . Mục tiêu chất lượng được thể hiện thông qua bảng sau :

    Mục tiêu chất lượng năm 2010

    T

     

    T

               Chỉ Tiêu Đánh Giá  ĐV Tính Năm 2006 Năm 2010
    1 Thời gian mạng hoạt động tốt % >= 95 99.5
    2 Thời gian xử lý sự cố Giờ <=1 <=0.6
    3 Tỷ lệ triển khai đúng hạn / Tổng số khách hàng ADSL % >=85 >=90
    4 Tỷ lệ khảo sát đúng hạn/ tổng số khách hàng ADSL % >= 90 >=95
    5 Tỷ lệ hỗ trợ đúng hạn % >= 90 >=98
    6 Tỷ lệ sai sót % 1 0.5

    II. PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ INTERNET CỦA CÔNG TY FPT

    Để thực hịên mục tiêu chất lượng đặt ra , Công ty FPT cũng đặt ra một số phương hướng nằhm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet của Công ty :

    – Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực , đặc biệt là các cán bộ quản trị mạng và đội ngũ thiết kế Website.

    – Nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng .

    – Tiến hành thu hồi phản ánh của khách hàng và sự hài lòng và những khiếu nại thắc mắc của khách hàng đối với dịch vụ Internet của Công ty và thái độ phục vụ của các cán bộ cung cấp dịch vụ .

    – Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và đưa ra những giải pháp chính sách cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng

    – Tăng cường hoạt động đánh giá và kiểm soát quá trình thực hiện hợp đồng và triển khai dịch vụ

    – Thực hiện thiết lập các chính sách chất lượng cụ thể cho từng hoạt động của quá trình cung cấp dịch vụ , từ nghiên cứu thị trường, Marketing đến ký kết hợp đồng đến triển khai.

    – Lập kế hoạch chi tiết thời gian thực hiện hợp đồng và triển khai dịch vụ .

    III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG CẤP DỊCH VỤ  VÀ VIỄN THÔNG TẠI CÔNG TY FPT .

    Công ty thâm gia vào hạot động cung cấp dịch vụ Internet chỉ mới được 8 năm kể từ năm 1997 . Trong khoảng thời gian ngắn đó công ty đã không ngừng cố gắng vươn lên và đạt được những kết quả như hiện nay .Trong quá trình nghiên cức thực tế tại Công ty, em xin được nêu ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ để Công ty đạt được những kết quả mong muốn trong tương lai.

    1.1.      1. Giải pháp 1 : Xây dựng chính sách chất lượng cho từng hoạt động cung cấp dịch vụ và chú trọng đến hoạt động đảm bảo hoạt động của mạng.

    Chính sách chất lượng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp . Nó được coi là con đường dẫn dắt mọi thành viên trong doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của công việc mà mình đang thực hiện , thấy được trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng là khách hàng sử dụng dịch vụ , đối với xã hội và đối với doanh nghiệp . Chính sách chất lượng khuyến khích mọi người cố gắng hết sức mình vì mục tiêu chất lượng chung của doanh nghiệp .

    Bên cạnh đó chính sách chất lượng còn là một công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp . Một doanh nghiệp muốn ký kết được các hợp đồng kinh tế với khách hàng , các đối tác … Thì doanh nghiệp đoc phải có chính sách chất lượng . Không phải ngẫu nhiên mà chính sách chất lượng lại là một trong những yếu tố trong Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2001.

    1. Cơ sở thực tiễn .

    Trong Công ty hiện nay tuy hoạt động cung cấp dịch vụ Internet đã co chính sách chất lượng của riêng mình nhưng lại không được cụ thể ở các khâu, các hoạt động hay ở các quy trình cụ thể . Để tất đảm bảo họat động kinh doanh của dịch vụ Internet thì đòi hỏi các hột động khác cũng phải có chính sách chất lượng riêng cho từng hoạt động và được xây dựng dựa trên chính sách chất lượng chung của họat động cung cấp dịch vụ . Đây là giải pháp quan trọng mang tính chất lâu dài vì sẽ tạo một nhận thức chung thống nhất cho tất cả các hoạt động củ tất cả cán bộ nhân viên trong Công ty từ đó hướng họ tới đáp ứng những yêu cầu của khách hàng.

    1. Nội dung giải pháp .

    Để xây dựng chính sách chất lượng cho từng hoạt động cung cấp dịch vụ Internet cần phải thực hiện qua các bước sau :

    • Nắm được ý kiến của khách hàng :

    Để thu được ý kiến đánh giá của khách hàng về chất lượng cung cấp dịch vụ, Công ty cần thành lập một nhóm chuyên trách hoặc có thể giao cho bộ phận Marketing thu hồi những đánh giá của khách hàng . Công việc điều tra có thể tiến hành bằng phỏng vấn trực tiếp rồi ghi chép lại , thư gửi , qua báo hạơc tạp chí , trên các phương tiện thông tin đại chúng khác theo một mẫu điều tra thống nhất do Công ty tự lập . Khi lập mẫu điều tra cần lưu ý tới câu hỏi và cá thuật ngữ được sử dụng . Các câu hỏi cần đơn giản , dễ hiểu và các thuật ngữ cần được hiểu một cách thống nhất . Và lưu ý nếu đối tượng điều tra là người nước ngoài thì cần phải dịch ra thứ tiếng thông dụng nhất đó là tiếng Anh . Và cần phải đưa ra kế họach về chi phí cho hoạt động điều tra một cách cụ thể để đề ra những hoạt động và quy mô điều tra để tránh sự lãng phí và quá tốn kém.

    Sau khi đã có mẫu điều tra , tiến hành đào tạo trong thời hạn 1 ngày cho các điều tra viên để họ hiểu về thông tin cần thu nhập và giải thích cho đối tượng điều tra khi họ không hiểu rõ câu hỏi . Và cần tính cụ thể chi phí đào tạo ( điều này phụ thuộc vào quy mô của hoạt động điều tra)

    Khi đào tạo xong thì tiến hành điều tra . công việc điều tra phải được tiến hành trong thời kỳ cụ thể . Cần lưu ý khi tiến hành điều tra qua thư hoặc qua báo chí thì cần phải giải thích rõ về mục đích của cuộc điều tra , các câu hỏi , thuật ngữ , thời gian thu lại phiếu điều tra và địa điểm thu lại phiếu điều tra .

    • So sánh với đối thủ cạnh tranh :

    Qua kết qủa phân tích của cuộc điều tra lấy ý kiến của khách hàng cùng với việc đánh giá công tác quản lý chất lượng và quản lý chung của Công ty và các đối thủ cạnh tranh như : VNPT, Viettel, Saigon Postel, Hanoi telecom, Viễn thông hằng hải … Nhóm tiến hành sẽ phân tích và so sánh chất lượng sản phẩm dịch vụ Internet , công tác quản lý chất lượng và quản lý chung của công ty đối với chất lượng của các đối thủ cạnh tranh .

    • Tự đánh giá trình độ chất lượng dịch vụ , quản lý chất lượng và quản lý chung của Công ty

    Thông qua việc so sánh với cá đối thủ cạnh tranh Công ty sẽ thấy được những điểm hơn và những điểm yếu kém so với đối thủ chẳng hạn như tính đúng hạn , chất lượng đường truyền , chính sách dịch vụ cung cấp … với những điểm yếu kém hơn cần phải tập trung vào việc xác định những nguyên nhân gây ra và từ đó đưa ra hướng giải quyết .

    • Tìm kiếm cơ hội phát triển các điểm mạnh hiện có và tiềm năng

    Khi đánh giá được trình độ của bản thân công ty cùng với việc so sánh với các đối thủ cạh tranh , Công ty sẽ phân tích để tìm kiếm cơ hội phát triển các diểm mạnh hiện có và các tiềm năng trong bối cảnh có biến cố về môi trường kinh doanh , pháp lý …

    • Đưa ra tầm nhìn trong 5 năm hay 10 năm

    Ban lãnh đạo của công ty cần đưa ra tầm nhìn chung về bối cảnh phát triển của Công ty cũng như sụ phát triển của cồn nghệ thông tin và công nghệ viễn thông , kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ở mức độ nào trong khoảng thời gian đó có chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế hay tài chính không .

    • Ý đồ phát triển của Công ty nói chung và chất lượng nói riêng

    Ban lãnh đạo Công ty đã đưa ra ý đồ cảu Công ty là đến năm 2010 công ty trở thành Công ty cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu Việt Nam , và ban lãnh đạo cũng phải đưa ra ý đò về chất lượng.

    Sau khi các công việc đã được hoàn tất , Ban lãnh đạo Công ty cùng với những người chuyên trách sẽ họp để đưa ra những định hướng cơ bản về chất lượng . Trên cơ sở đó sẽ đưa ra chính sách chất lượng cho từng hoạt động trong quá trình cung cấp dịch vụ .

    1. Hiệu quả của giải pháp

    Với chính sách chất lượng được thiết lập cùng với những định hướng và giải pháp thực hiện chính sách chất lượng , mọi thành viên trong bộ phận sẽ có được sự thống nhất về chiến lược chất lượng của Công ty , thấy được những yêu cầu của khách hàng mong đợi ở dịch vụ Internet do Công ty cung cấp từ đó tạo cho họ ý thức , trách nhiệm đối với khách hàng , xã hội , và Công  ty . Thấy được tương lai của của mình do đó họ sẽ cố gắng hết mình để thực hiện chiến lược chất lượng của Công ty .

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    Công ty cần lập kế hoạch cụ thể về thời gian thực hiện từng công việc và thời gian hoàn thành .

    Cần lựa chọn những người có năng lực , hiểu biết về chất lượng cung cấp dịch vụ Internet trong số thành viên của công ty để thực hiện .

    Nhóm điều tra cần được cung cấp các phương tiện đi lại phục vụ cho việc đi lại và các thiết bị cần thiết để phân tích , xử lý các ý kiến của khách hàng  thu được .

    Cần phải có nguồn tài chính nhất định để công việc được tiến hành thường xuyên liên tục mà không bị gián đoạn  .

    1.2. Giải pháp 2: Tăng cường công tác đào tạo nhận thức về chất lượng của CBNV và đào tạo nâng cao trình độ của chuyên gia thiết kế Website và cán bộ quản trị mạng .

    1. Cơ sở lý luận

    Con người là chủ thể của mọi quá trình kinh tế xã hội . Đào tạo và bồi dưỡng cho người lao động là cơ sở thực hiện chiến lược phát huy nhân tố con người . Điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của Công ty . Sản phẩm dịch vụ Internet không chỉ là được cấu thành từ  chính sách dịch vụ mà người triển khai cũng như thực hiện đưa dịch vụ đó đến với khách hàng cũng đóng vai trò quan trọng quyết định chất lượng cũng như kết quả kinh doanh của Công ty . Vì vậy muốn nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ Internet thì khong chỉ luôn phải nâng cao chính sách dịch vụ mà còn phải nâng cao trình độ , kinh nghiệp , sự hiểu biết và nắm bắt tâm lý khách hàng của các cán bộ trực tiếp hay gián tiếp tham gia cung cấp dịch vụ , đặc biệt là chuyên gia thiết kế Website cũng như quản trị mạng .

    Trong doanh nghiệp , chất lượng các cán bộ quản trị mạng cũng như chuyên gia thiết kế Website đóng vai trò quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng cung cấp dịch vụ Internet. Do vậy việc đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên phải được thực hiện liên tục . Việc đào tạo phải được tiến hành trên cơ sở nhu cầu của thị trường , sự phát triển công nghệ thông tin và chiến lược phát triển của Công ty .

    1. Cơ sở thực tiễn

    Trong quá trình cung cấp dịch vụ thì đội ngũ nhân viên được xem là linh hồn của dịch vụ cung cấp , đặc biệt thể hiện rõ nhất là cán bộ thiết kế Website và cán bộ quản trị mạng. Tuy ràng hai lực lượng này trong Công ty đều có trình độ Đại Học . Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đòi hổi vấn đề kiến thức phải thường xuyên được cập nhật .

    Lực lượng lao động hiện nay ở Công ty phần lớn là CBNV trẻ có năng động , nhiệt tình được đào tạo bài bản song thiếu kinh nghiệm thực tế .

    Xuất phát ttừ lý do trên Công ty cần phải đào tạo nâng cao nhận thức về chất lượng cho CBNV và nâng cao trình độ cho nhân viên thiết kế trang Web và nhân viên quản trị mạng

    1. Nội dung của giải pháp
    • Đối tượng đào tạo :

    – Cán bộ quản lý

    – Các chuyên gia quản trị mạng và thiết kế Website

    – Cán bộ trẻ chưa đáp ứng được yêu cầu công việc

    – Đào tạo các cán bộ nhân viên trong toàn công ty về hệ thống quản lý chất lượng

    • Nội dung đào tạo :

    – Đào tạo trang bị kiến thức về quản lý chất lượng , các phương pháp quản lý chất lượng và sử dụng cồn cụ thống kê trong quản lý chất lượng

    – Đào tạo nâng cao trình độ các chuyên gia thiết kế trang web và các cán bộ quản trị mạng . Đặc biệt đào tạo về hệ thống bảo mật thông tin , tiếp thu các công nghệ mới …

    – Đào tạo và kắhc phục phòng ngừa . Sau mỗi hợp đồng triển khai Công ty nên tổ chức đúc rút kinh nghiệm , tìm ra những hạn chế , những khó khăn trong quá trình triển khai cung cấp dịch vụ . Có thể tổ chức theo quy mô nhỏ ( Nhóm ) hoặc có thể tổ chức theo quy mô lớn tùy vào tính phức tập và quy mô của hợp đồng triển khai.

    – Đào tạo theo chiến lược của Công ty . Công ty cần có một chiến lược kế hoạch háo nguồn nhân lực trong 5 hay 10 năm nhằm mục tiêu thích ứng với cường độ cạnh tranh ngày càng cao và nhu cầu tăng trưởng , phát triển của Công ty trong tương lai . Kế hoạch hóa nguồn nhân lực sẽ dúp cho công ty nắm bắt được trình độ học vấn , trình độ chuyên môm của từng người , các tiềm năng cần khai thác để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ .

    • Hình thức đào tạo

    – Các CBNV được đào tạo về kiến thức chất lượng sẽ được đào tạo định kỳ 6 tháng một lần trong thời hạn 2 ngày

    – Đối với CBNV được đào tạo nhậ thức về chất lượng :

    + Đào tạo tại chỗ do trưởng phòng chất lượng của Công ty ( EQA) hoặc một người có kinh nghiệm hay thuê chuyên gia đào tạo chất lượng đào tạo tại Công ty . Việc đào tạo tại chỗ sẽ giúp các học viên có thể vừa học vừa làm và vận dụng ngay lý thuyết vừa học vào thực tế .

    + Kết hợp đào tạo chất lượng , tiến hành đào tạo họ tại trường . Hình thức này nên được kết hợp giữa hoạc lý thuyết với thực hành có nghĩa là học một thời gian tại trường sau đó trở về công ty thực hành một thời gian rồi lại quay trở lại trường học tiếp.

    + Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chất lượng.

    – Đối với các cán bộ thiết kế trang web và cán bộ quản trị mạng :

    + Gửi đến học tập trung tại trung tâm đào tạo quản trị mạng và thiết kế  và có thể tham gia vào đào tạo lập trình viên quốc tế APTECH của Công ty .

    + Gửi đến các trường đào tạo nước ngoài

    + Tổ chức cho đi học và lấy chứng chỉ về bảo mật thông tin và bảo mật hệ thống.

    4.Hiệu quả của giải pháp

    Với giải pháp trên CBNV trong công ty sẽ được nâng cao cả về số lượng và chất lượng . Nhận thức của các cán bộ quản lý chất lượng và những thành viên khác trong Công ty về chất lượng được nâng cao > trình độ chuyên môn quản trị mạng và thiết kế Web được nâng cao làm cho chất lượng cung cấp dịch vụ được đảm bảo , giảm thiể các sai sót cũng như gải quyết sự cố nhanh chóng hơn .

    Mặt khác không ngừng nâng cao trình độ chuyên môm sẽ giúp các quản trị viên và lập trình viên mới vào làm có thể nhanh chónh đảm nhận được công việc của mình.

    5 . Điều kiện thực hiện giải pháp

    Công ty cần lập kế hoạch cụ thể trên cơ sở đánh giá , phân loại nguồn lực lao động , đồng thời chuẩn bị các nguồn lực cần thiết cho công tác đào tạo

    Thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng công tác đào tạo .

    Đòi hỏi phải có sự tham gia của mọi thành viên trong Công ty .

    Có nguồn kinh phí cho các học viên đi học .

    Thật công bằng khách quan trong việc lựa chọn các học viên và công khai vì sao lại chọn .

    Các học viên được cử đi học phải có tinh thần ham học , cố gắng tìm tòi để có những kiến thức mới để đảm nhiệm công việc tốt hơn .

    1.3.Giải pháp 3: Thiết lập nhóm chất lượng.

    1. Cơ sơ lý luận.

    Nhóm chất lượng được ra đời tại Nhật Bản vào năm 1962 và đã mang lại những thành quả to lớn cho người Nhật. Kể từ đó nhóm chất lượng đã được rất nhiều các tập đoàn kinh tế trên thế giới cũng như nhiều nước vận dụng. Hoạt động của nhóm chất lượng mang tính chất chất tập thể, ở đó mọi người cùng nhau đưa ra ý kiến, cùng nhau giải quyết và tập hợp lại thành một giải pháp tốt nhất cho vấn đề chất lượng.

    Mặt khác trong qua trình cung cấp dịch vụ Internet thì có nhiều ca nhân thực hiện những hợp đồng khác nhau do đó giữ các thành viên không có sự hội ý chia sẻ kinh nghiệm cũng như trình bày các ý kiến , giải pháp. Chỉ khi xẩy ra sụ cố thì trưởng bộ phận hay người quản lý cán bộ đó mới tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ hay triển khai cung như trong quá trình marketing.

    1. Cơ sở thực tiễn

    Hiện nay bộ phận cung cấp dịch vụ Internet của công ty có trên 1245 CBNV, mỗi người đảm nhiệm những công việc khác nhau, họ không trao đổi ý kiến hay cùng làm việc với nhau trừ khi họ gặp vấn đề. Hoạt động của mỗi phòng ban cũng hoàn toàn tách biệt nhau và không có sự tham gia góp ý giữa các phòng ban với nhau.

    Vì các lý do trên mà bộ công ty cần thiết phải lập các nhóm chất lượng. Nhóm chất lượng sẽ giúp các thành viên trong công ty thực hiện công việc tốt hơn đồng thời cũng giảm thời gian khắc phục của dự án.

    1. Nội dung của giải pháp

             Thu hút sự tham gia của mọi người: Việc làm đầu tiên khi xây dựng nhóm chất lượng là thu hút sự tham gia của mọi người trong công ty trên tinh thần tự giác không cưỡng ép. Trưởng các phòng ban trong công ty sẽ chịu trách nhiệm thu hút, lôi cuốn mọi người trong phòng ban mình phụ trách tham gia vào việc thiết lập nhóm chất lượng, thông qua phổ biến cho thấy được những lợi ích có thể đạt được khi nhóm chất lượng được thành lập và có sự tham gia của họ.

             Phân nhóm: Sau khi thu hút được sự tham gia của mọi người sẽ tiến hành phân nhóm. Mỗi người sẽ được phát một phiếu đăng ký và họ sẽ đăng ký vào nhóm mà họ cảm thấy thích thú và có ích cho họ trong công việc. Người trong nhóm có thể là người trong cùng phòng  ban, cùng thực hiện một công việc, hay bao gồm những ngừời thuộc các phòng ban khác nhau, thực hiện các công việc khác nhau, miễn sao họ cảm thấy  thích thú khi tham gia vào hoạt động của nhóm. Số lượng người trong nhóm có thể từ 4 đến 6 người.

             Bầu nhóm trưởng: Các thành viên trong mỗi nhóm sẽ tiến hành bầu người đứng đầu nhóm. Nhóm trưởng phải là ngửòi có năng lực lãnh đạo nhóm hoặc được mọi người trong nhóm tín nhiệm.

            Bầu thư ký: Sau khi các nhóm được thiết lập, các thành viên của các nhóm sẽ bầu một người làm thư  ký. Thư ký sẽ là người ghi chép lại nội dung của cuộc họp khi có các nhóm cùng tham gia để giải quyết vấn đề về chất lượng hay hoạch định công tác chất lượng khi cần có sự tham gia của các nhóm khác nhau.

            Triển khai nhóm: Sau khi các công việc trên hoàn thành, nhóm chất lượng sẽ đi vào hoạt động. Mới đầu có thể ngày nào cũng họp nhóm sau đó có thể vài ba ngày họp một lần và khi nhóm đã đi vào nề nếp thì số lần họp tốt nhất là 2 lần trong một tháng. Thời gian họp được tiến hành ngoài giờ làm việc, có thể trước khi làm việc, sau khi hết thời gian làm việc hay trong giờ giải lao. Đối với các nhóm mà số ngừơi trong nhóm cùng làm việc với nhau hay trong cùng một phòng ban thì số lần họp có thể ít hơn. Thời gian cho mỗi cuộc họp có thể kéo dài trong 15 phút, 30 phút hay 1 tiếng.

    1. Hiệu quả của giải pháp:

            Kết quả lớn nhất, quan trọng nhất do các nhóm chất lượng mang lại là chất lượng dịch vụ Internet của công ty sẽ được bảo đảm và nâng cao do ý thức tự nguyện tham gia của mọi thành viên, cụ thể:

                – Mọi người trong công ty sẽ tự kiểm soát, kiểm tra chất lượng công việc được giao.

    – Công tác kiểm soát, kiểm tra chất lượng dịch vụ Internet trở thành một công tác của toàn công ty, do vậy có tính hệ thống, toàn diện và không chỉ là phát hiện lỗi mà còn là phòng ngừa.

    – Trình độ và trách nhiệm của mọi người được nâng cao điều đó làm cho mọi người trong công ty gắn bó với công việc. Quan hệ giữa mọi người trong công ty được cải thiện.

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    –  Được sự ủng hộ của ban lãnh đạo công ty

    –  Mọi người trong công ty có tinh thần ham học hỏi

    –  Sự tham gia của mọi người là tự nguyện không cưỡng ép

    –  Có trợ cấp cho thời gian họp

    –  Mọi người quyết tâm xây dựng làm nên một tạp thể vững mạnh.

    1.4.Giải pháp 4: nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2001

    1. Cơ sở lý luận

    Như chúng ta đã biết để đạt được chứng chỉ ISO 9001 các công ty phải bỏ ra từ 25 đén 30 nghìn USD cùng với nỗ lực cao của các CBNV trong Công ty . Nhưng khi đã có được chứng chỉ , các doanh nghiệp phải duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu lực của hệ thống đó . Đây là yêu cầu bắt buộc của tiêu chuẩn ISO 9001: 2001 . Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp chỉ coi chứng chỉ ISO 9001 là phương tiện để quảng bá cho sản phẩm và là giấy thông hành để vào các thị trường khó tính vì vậy họ cố gắng đạt được chứng chỉ rồi bỏ đó không quan tâm xem hệ thống quản lý chất lượng có được duy trì và cải tiến hay không . Do vậy việc nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng là yêu cầu bắt buộc của doanh nghiệp nếu họ muốn nâng cao chất lượng sản phẩm .

    1. Cơ sở thực tiễn

    Mặc dù công ty FPT đã nhậ được chứng chỉ ISO 9001:2000 và chuyển đổi thành công sang phiên bản ISO9001:2001 nhưng hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng ở FPT không được cao . Điều nầy được thể hiện ở:

    – Các tài liệu khó áp dụng do việc xây dựng tài liệu đó khó hiểu, một số tài liệu còn mâu thuẫn nhau.

    – Chưa có hệ thống giúp tìm đọc và khai thac các tài liệu ISO phầm mềm một cách dễ dàng và đơn giản

    – Nhận thức của CBNV về ISO còn mơ hồ .

    1. Nội dung giải pháp

    Để nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý chất lượng , Công ty cần thực hiện các công việc sau :

    – Định kỳ 6 tháng một lần tiến hành đào tạo bổ sung kiến thức về quản lý chất lượng cho mọi thành viên trong Công ty trong 2 ngày . Thực tế tại công ty chỉ có trưởng các phòng ban mới được đi bổ sung kiến thức về quản lý chất lượng . Việc đào tạo bổ sung kiến thức này có thể thực hiện bằng cách đào tạo tập trung cho trưởng các phòng ban sau đó trưởng các phòng ban sẽ đào tạo lại cho các thành viên trong phòng ban mình phụ trách.

    – Tổng giám đốc cần quan tâm hơn nữa tới công tác quản lý chất lượng của Công ty bằng cách định kỳ đánh giá lại tính hiệu quả và hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng thông qua việc xem xét hệ thống tài liệu có phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn và có được áp dụng đúng như đã viết không, việc duy trì hồ sơ chất lượng và hủy bỏ những tài liệu lỗi thời.

    – Nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý cấu hình đây là qui trình hay gặp NC nhất ở công ty. Công ty cần đạo tạo một đội ngũ cán bộ chuyên thực hiện công việc quản lý cấu hình và cần có các hướng dẫn cụ thể hơn nữa cho qui trình này. Hiện nay công ty đã có những hướng dẫn rất cụ thể về quản lý cấu hình được thể hiện trong phần hướng dẫn công việc của sổ tay qui trình phần mềm nhưng mỗi bộ phận lại chỉ có duy nhất một quyển sổ tay do cán bộ quản lý chất lượng trực tiếp quản lý. Do đó việc tra cứu thường không thuận lợi và gặp nhiều khó khăn. Công ty nên để các hướng dẫn đó tại vị trí trong bộ phận sao cho mọi người trong bộ phận đều có thể tra cứu một cách thuận lợi khi cần thiết.

    – Công ty cần viết lại sổ tay hướng dẫn công việc lập trình sao cho dễ hiều và rõ ràng hơn vì sổ tay hướng dẫn này bị coi là khó hiểu, không rõ ràng đồng thời cần thống nhất các thuật ngữ trong sổ tay vì các thuật ngữ không thống nhất nên đôi khi mọi người hiểu không thống nhất.

    1. Hiệu quả của giải pháp

    Với việc nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lướng sẽ đảm bảo dịch vụ Internet do công ty cung cấp sẽ luôn đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đảm bảo các hoạt động quản lý chất lượng của công ty được thông suốt và không gắp trở ngại khi BVQI tiến hành đánh giá lại hệ thống quản lý chất lượng của công ty.

    1. Điều kiện thực hiện giải pháp

    Để thực hiện giải pháp này những người lãnh đạo trong công ty cần quan tâm hơn nữa tới công tác quản lý chất lượng và có sự cam kết của họ về nâng cao hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng. Thực tế cho thấy nếu như lãnh đạo công ty không quan tâm tới công tác chất lượng thì mọi người trong công ty cũng không quan tâm.

    1.5.Giải pháp 5: Tổ chức mạng lưới thu thập ý kiến đánh giá và khiếu nại của khách hàng.

    Em đang tìm tài liệu để hòan thành giải pháp này


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp xây dựng Binh đoàn 11


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Qu%E1%BA%A3ng-c%C3%A1o-tr%C3%AAn-truy%E1%BB%81n-h%C3%ACnh-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-tri%E1%BB%83n-v%E1%BB%8Dng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam – Thực trạng và triển vọng

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lời cảm ơn

    Luận văn này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Văn Thoan, giảng viên bộ môn Marketing, trường ĐH Ngoại Thương. Cùng với kiến thức chuyên môn sâu rộng và sự yêu nghề, thầy đã giúp tôi có cơ hội tìm hiểu sâu sắc hơn những tri thức trong lĩnh vực Marketing nói chung, lĩnh vực quảng cáo nói riêng và kiên trì giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, tổ chức, các cá nhân: Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình, Đài Truyền hình Việt Nam – TVAd, phòng quảng cáo Đài truyền hình Hà nội, Công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình, Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nelson Sofres, phòng tư liệu Bộ văn hóa thông tin, thư viện Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thư viện Quốc gia,… đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu cũng như đưa ra những lời khuyên, góp ý cho luận văn được hoàn thành tốt đẹp.

    Hà nội, ngày 15/12/2003

    Sinh Viên

    Trần Xuân Thành

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    Hiện nay, tất cả các công ty dù hay nhỏ đều phải để ý không chỉ đến sản xuất, cung ứng mà còn phải quan tâm đến khâu tiêu thụ sản phẩm, cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó trên thương trường. Một trong những công cụ hiệu quả để thu hút, thuyết phục khách hàng, thúc đẩy hoạt động bán hàng là hoạt động quảng cáo. Đối với các doanh nghiệp, bên cạnh việc để ý đến các yếu tố như chất lượng, giá cả hay dịch vụ, họ còn quan tâm đến quảng cáo như một vũ khí sắc bén, lợi hại nhằm thu hẹp khả năng chiếm lĩnh và cuối cùng đánh bại các đối thủ cạnh tranh trên thị trường mà mình hoạt động.

    Mặc dù mới chỉ hơn một thập kỉ kể từ khi Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng ngành quảng cáo của Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt là lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.Trong nhiều năm tới, do thị trường canh tranh vô cùng khốc liệt, cho nên hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam sẽ vẫn còn vươn mình mạnh mẽ. Tuy nhiên, do mới chỉ hình thành và phát triển trong hơn 10 năm qua, nên quan điểm và cách tiếp cận quảng cáo trên truyền hình còn chưa được hiểu và đánh giá một cách đúng mực, phương pháp và quá trình quảng cáo vẫn còn mang tính tự phát. Hoạt động quảng cáo trên truyền hình nước ta cho đến nay vẫn trong tình trạng lộn xộn, kém hiệu quả và đôi khi còn gây tác hại cho người tiêu dùng. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để cải thiện tình hình và nâng cao hiệu quả hoạt động quảng cáo để từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như tạo lợi ích cho người tiêu dùng cũng như cho toàn xã hội.

    Bài khoá luận của tôi có tựa đề “ Quảng cáo trên truyền hình ở Việt

    Nam: Thực trạng và triển vọng “ được kết cấu thành 3 chương :

    Chương 1: Lý luận chung về quảng cáo và quảng cáo trên truyền hình

    Chương 2: Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

    Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Khoá luận tốt nghiệp

     

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO VÀ QUẢNG CÁO

    TRÊN TRUYỀN HÌNH

    1. QUẢNG CÁO

    1.1. Khái niệm về quảng cáo

    Trên thế giới hiện nay, quảng cáo đã trở thành một phần không thể tách rời cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Nó xuất hiện khắp nơi, gõ cửa đến các góc cạnh của cuộc sống đời thường. Mặc dù được áp dụng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, nhưng hiên nay vẫn chưa có một định nghĩa nào mang tính chất khái quát nhất, chung nhất về một nghiệp vụ vốn mang trong mình những nội hàm đầy phức tạp và tinh vi như nghiệp vụ quảng cáo. Do vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau, ở mỗi hiệp hội khác nhau, trong mỗi nền kinh tế khác nhau, khái niệm về quảng cáo lại được trình bày và được hiểu theo những cách khác.

    (i). Ở những nước phát triển, đặc biệt là ở Hoa Kì, quảng cáo đã trở thành một ngành công nghiệp: Ngành công nghiệp quảng cáo. Theo hiệp hội quảng cáo Mĩ (American Advertising Association), một hiệp hội quảng cáo lâu đời và uy tín nhất trên thế giới, “ Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở có thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”.

    (ii). Philip Kotler, một trong những cây đại thụ trong ngành Marketing nói chung và ngành quảng cáo nói riêng trên thế giới lại đưa ra cho mình những khái niệm khác nhau về quảng cáo. Trong cuốn sách “Marketing căn bản”, năm 1998, nhà xuất bản thống kê, trang 376, ông định nghĩa: “Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí.

    Khoá luận tốt nghiệp

    (iii). Tuy nhiên, trong giáo trình “Quản trị Marketing” (Marketing Management ), chương 20, trang 678, của mình, Philip Kotler lại đưa ra một khái niêm khác về quảng cáo: “Quảng cáo là một hình thức trình bày gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá hay dịch vụ được người bảo trợ nhất điinh trả tiền.

    (iv). Một cách đơn giản hơn, theo giáo trình nguyên lý Marketing của trường Đại học Ngoại Thương, trang 108 “Quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người mua để kích thích họ dẫn đến hành động mua những sản phẩm dịch vụ mà quảng cáo đã giới thiệu và để xuất.”

    Ngay ở Việt Nam, một quốc gia mới bước vào nền kinh tế thị trường từ cuối những năm 80, với ngành công nghiệp quảng cáo đang dần được hình thành, cũng đã có rất nhiều những khái niệm khác nhau về hoạt động quảng cáo.

    (v). Theo pháp lệnh về quảng cáo số 39/ 2001 PL- UBTVQH10 ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, quy định: “ Hoạt động quảng cáo bao gồm việc giới thiệu và thông báo rộng rãi về doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, biểu tượng theo nhu cầu hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ”.

    (vi). Hay trong giáo trình “Nghiệp vụ quảng cáo và tiếp thị”,( do Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật phát hành năm 1994, trang 7) Quảng cáo được định nghĩa như sau: “ Quảng cáo là dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính phi cá nhân về sản phẩm (hàng hoá hay dịch vụ) hay ý tưởng do bên thuê mua thông báo qua các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thuyết phục hay ảnh hưởng tới hành vi của một số đối tượng nào đó”.

    Các khái niệm về quảng cáo nêu trên tuy có một số điểm khác nhau về ngôn ngữ cũng như cách thế hiện, song nhìn chung vẫn toát nên được những đặc tính cơ bản của quảng cáo. Những đặc tính đó là: Quảng cáo là một thông điệp được đáp lại, quảng cáo thường đưa ra thông tin trên các thông tin đại chúng, quảng cáo nhằm mục đích thông báo thuyết phục mọi người về một

    Khoá luận tốt nghiệp

    sản phẩm hay dịch vụ để họ quan tâm, tin tưởng rồi tiến tới mua sản phẩm hay dịch vụ đó.

    Tựu chung, trong một thế giới kinh doanh canh tranh khốc liệt, Quảng cáo đã, đang và sẽ vẫn là một trong năm vũ khí đắc lực chủ yếu của hoạt động yểm trợ trong hoạt động Marketing hỗn hợp (Quảng cáo, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm, quan hệ công chúng và xúc tiến bán hàng) mà hầu hết các công ty sử dụng để truyền bá, thuyết phục và sau cùng là bán được hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng. Nói chung, kết quả cuối cùng của hoạt động quảng cáo là tăng lượng bán, tối đa hóa doanh thu và lợi nhuận cho người cung ứng hàng hoá, dịch vụ hay ý tưởng, là sự chủ động của người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hoá và dich vụ, là tối thiểu hoá thời gian thu thập, tìm kiếm thông tin về các hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng cần.

    1.2. Chức năng của quảng cáo

    Quảng cáo không phải là mục đích sau cùng mà chỉ là một phương tiện, một công cụ giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu mình. Nói chung, tuỳ thuộc vào mục tiêu chiến lược marketing của doanh nghiệp mà hoạt động quảng cáo có những chức năng sau.

    1.2.1. Đặc trưng hoá sản phẩm

    Trong một môi trường canh tranh gay gắt, các doanh nghiệp luôn luôn cố gắng làm cho sản phẩm của mình có những tính năng khác so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh thông qua hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, Hoạt động quảng cáo không chỉ nhằm lôi cuốn sự chú ý, sự thích thú của khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng đối với các sản phẩm đã được đặc trưng hoá mà còn nâng cao hơn nữa uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp. Đặc trưng hoá sản phẩm dẫn đến đặc trương hoá nhãn hiệu, tên tuổi của doanh nghiệp trên thương trường là một trong những chức năng cơ bản nhất của hoạt động quảng cáo. Nó giúp cho doanh nghiệp tạo dựng được lòng

    Khoá luận tốt nghiệp

    tin từ phía khách hàng, thực hiện được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá doanh thu bán hàng, đồng thời đạt được mức lợi nhuận cao nhất.

    1.2.2. Cung cấp thông tin về sản phẩm

    Hoạt động quảng cáo là công cụ hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp sử dụng để thực hiện chức năng thông tin sản phẩm. Đối với một sản phẩm mới, việc cung cấp các thông tin chính xác về sản phẩm là vô cùng cần thiết. Mặt khác, không một công cụ yểm trợ, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nào lại tác động cùng một lúc đến đông đảo khách hàng với đạt hiêu quả lan truyền nhanh như ở hoạt động quảng cáo. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền các thông tin về sản phẩm thông qua hoạt động quảng cáo còn có tác dụng lôi kéo một lượng lớn cách khách hàng tiềm năng chưa sử dụng sản phẩm hay các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp. Mới đây, công ty Yamaha có tiến hành một loạt các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu với khách hàng về mẫu sản phẩm mới có nhãn hiệu là MIO.

    1.2.3. Hướng dẫn sử dụng sản phẩm

    Đối với một số sản phẩm có tính năng sử dụng tương đối phức tạp hoặc cần phải có một số những hiểu biết nhất định mới có thể sử dụng được như máy móc, mỹ phẩm. .. thì hoạt động quảng cáo là phương tiện tốt nhất để tiếp cận với một lượng lớn khán giả trong một thời gian ngắn. Hoạt động quảng cáo thực hiện chức năng hướng dẫn cách sử dụng sản phẩm thực chất là nhằm tạo cho khách hàng cảm thấy an tâm hơn khi mua sản phẩm của công ty. Và đây cũng là con bài để nâng cao uy tín hình ảnh của công ty trước mắt người tiêu dùng.Chẳng hạn như các chương trình quảng về dược phẩm thường nêu ra một số hướng dẫn cũng như cấm chỉ định đối với một số trường hợp như “ không cho trẻ em dưới 2 tuổi và phụ nữ mang thai sử dụng” hay “ không sử dụng khi lái xe”…

    5

    Khoá luận tốt nghiệp

    1.2.4. Mở rộng mạng lưới phân phối

    Mục đích của các hoạt động và xúc tiến kinh doanh là nhằm đẩy nhanh lượng bán và mở rộng hơn nữa mạng lưới bán hàng, tăng thị phần của mình trên thị trường. Bằng việc thực hiện các chương trình quảng cáo, doanh thu từ việc bán hàng sẽ tăng lên thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng hơn nữa số lượng các nhà phân phối, các đại lý, các nhà bán buôn, bán lẻ để đáp ứng được tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, công ty bia Sài Giòn tiến hánh khá nhiều chương trình quảng bá sản phẩm bia của mình trên truyền hình trên cả nước, nhằm lấy đà mở rộng mạng lưới bán hàng ra các tỉnh phía bắc.

    1.3. Các nguyên tắc trong quảng cáo

    • bất cứ quốc gia nào trên thế giới, khi các doanh nghiệp tiến hành triển khai hoạt động quảng cáo cần phải thực hiện được các nguyên tắc cơ bản nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng cũng như tạo một môi trường canh tranh lành mạnh.

    1.3.1. Tính pháp lý

    Người quảng cáo (hay chủ thể tiến hành quảng cáo) chịu trách nhiệm về các tin tức quảng cáo, đảm bảo được đúng các yêu cầu của luật pháp các nước khi tiến hành quảng cáo ở quốc gia đó như thời lượng quảng cáo, các đợt quảng cáo, ngôn ngữ trong quảng cáo.. .Theo pháp luật Việt Nam, tất cả các cá nhân, tổ chức đều được phép quảng cáo, tuy nhiên chỉ có những cá nhân, tổ chức có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh mới có quyền kinh doanh dịch vụ quảng cáo.

    1.3.2. Trung thực

    Các thông tin về quy cách phẩm chất, giá cả, kiểu dáng, chủng loại, nhãn hiệu, công dụng, bao bì , xuất xứ, thời gian sử dụng, thời gian bảo hành, dịch vụ hậu mại khi đưa ra quảng cáo cần phaie trung thực, đúng với hàng hóa được bán ra thị trường, không đánh lừa người tiêu dùng. Những quảng cáo có thể gây ra sự hiểu lầm từ phía người tiêu dùng làm tôn hai đến người tiêu

    Khoá luận tốt nghiệp

    dùng về các mặt sức khoẻ, sự an toàn, kinh tế ở các nước đều được coi là vi phạm các quy định của pháp luật.

    1.3.3. Không so sánh

    Khi tiến hành quảng cáo, các doanh nghiệp không được nói xấu, so sánh hoặc gây nhầm lẫn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá , dịch vụ của người khác, không dùng danh nghĩa, hình ảnh của các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân khác để quảng cáo mà không được sự chấp thuân của tổ chức, các nhân, hoặc doanh nghiệp đó.

    1.3.4. Văn hoá – thẩm mĩ

    Các hoạt động quảng cáo có tính chất kì thị chủng tộc, ảnh hưởng đến tự tín ngưỡng, sử dụng các ngôn từ, hình ảnh, minh hoạ hay gợi ý ảnh hưởng đến thuần phong mĩ tục, truyền thồng, đạo đức của quốc gia mà hoạt động quảng cáo được tiến hành đều bị ngăn cấm.

    1.4. Các phương tiện quảng cáo

    Quảng cáo được coi là nghệ thuật trong hoạt động kinh doanh. Do đó, hoạt động quảng cáo được sử dụng rất nhiều các phương tiện khác nhau nhằm thực hiện được chức năng của mình. Về phương tiện quảng cáo, hoạt động quảng cáo gồm những nhóm phương tiện chính sau đây:

    (i). Nhóm các phương tiện quảng cáo nghe nhìn: Quảng cáo trên truyền hình, quảng cáo trên đài phát thanh, và quảng cáo trên internet.

    (ii). Nhóm các phương tiện quảng cáo in ấn: Quảng cáo trên báo chí, quảng cáo trên tạp chí, quảng cáo trên Catalogue, tờ rơi, lịch quảng cáo..

    (iii). Nhóm các phương tiện quảng cáo ngoài trời: Panô quảng cáo, biển quảng cáo điện tử, biển tôn có đèn rọi, hộp đèn quảng cáo, đèn màu uốn.

    (iv). Nhóm các phương tiện quảng cáo di động: quảng cáo trên các phương tiện giao thông ,quảng cáo tên các vật liệu quảng cáo( chẳng hạn như áo phông, mũ mang biểu tượng và logo của doanh nghiệp)

    Khoá luận tốt nghiệp

    (v). Nhóm các phương tiện quảng cáo khác: Quảng cáo băng cá sự kiện kì là, quảng cáo nhờ trên các sản phẩm khác.

    2. QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    2.1. Khái niệm quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một loại hình quảng cáo khá phổ biến được sử dụng từ những năm 50 của thế kỉ 20. Do là loại hình quảng cáo hiệu quả nên, quảng cáo trên truyền hình ngày càng phát triển. Cùng với sự thành công của ngành công nghiệp truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống hàng này của mọi người.

    Quảng cáo trên truyền hình là một phương pháp truyền tin từ người thuê quảng cáo qua phương tiện truyền hình đến nhiều người.

    Do là một bộ phận của hoạt động quảng cáo và xúc tiến kinh doanh nên quảng cáo trên truyền hình cũng có nhiều đặc điểm tương tự như các hoạt động trên. Tuy nhiên, khái niệm về quảng cáo trên truyền hình có phạm vi nhỏ hơn so với các khái niệm của quảng cáo nói chung. Khái niệm về quảng cáo trên truyền hình đã đặc định hoá phương tiện truyền thông tin từ người thuê quảng cáo đến người tiêu dùng.

    2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình bị tác động bởi rất nhiều nhân tố khách quan lẫn chủ quan. Tuy nhiên, có một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện hữu rõ nét nhất đó là : nhân tố kinh tế-xã hội, vấn đề văn hoá và tôn giáo, trình độ kĩ thuật, đặc tính của sản phẩm , chi phí và giá thành.

    2.2.1. Nhân tố kinh tế- xã hội

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình được xem như là một phần của hoạt động kinh doanh nên nó chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi yếu tố kinh tế xã hội. ở môi trường kinh tế xã hội khác nhau, chiến lược quảng cáo trên

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình sẽ được tiến hành và diễn biến khác nhau cho tường nhóm sản phẩm khác nhau. Nhân tố kinh tế xã hội thể hiện ở mức thu nhập bình quân cá nhân hay mức độ bình quân hộ gia đình, sự phân bổ chi phí tiêu dùng hàng ngày cơ cấu dân số, phân bố dân cư, trình độ học vấn của người tiêu dùng…

    Trong khi tiến hành hoạt động quảng cáo trên truyền doanh nghiệp phải xem xét kĩ lưỡng ảnh hưởng của các yếu tố trên.

    2.2.2. Vấn đề văn hoá và tôn giáo

    Do các dân tộc khác nay có các nền văn hoá, tôn giáo khác nhau, nên khi triển khai một chương trình quảng cáo, doanh nghiệp phải tính đến yếu tố văn hoá và tôn giáo. Một chương trình quảng cáo trên truyền hình có thể được diễn ra thành công ở nước này song khi đem sang nước khác rất có thể sẽ thất bại thảm hại do doanh nghiệp không lường hết được các yếu tố văn hóa và tôn giáo. Chẳng hạn như một chương trình quảng cáo trên truyền hình có hình ảnh các cô gái “ thiều vải” được thực hiện sẽ là bình thường đối với các nước phương tây song nó lại có tác động phản cảm đối với người tiêu dùng ở các nước phương đông đặc biệt là các nước theo đạo hồi.

    2.2.3. Trình độ kĩ thuật

    Trình độ kĩ thuật cũng góp phần quan trọng trong việc xác lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp. Trình độ kĩ thuật giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều sáng tạo trong quảng cáo trên truyền hình nhằm mục ngày càng thu hút sự chú ý của khán giả theo dõi chương trình quảng cáo của mình. Tuy nhiên,do trình độ kĩ thuật ở các nước khác nhau nêu chất lượng các chương trình quảng cáo, hiệu quả thông tin của các chương trình quảng cáo là rất khác nhau.

    2.2.4. Đặc tính của sảm phẩm

    Các nhóm sản phẩm khác nhau sẽ có những đặc tính khác nhau, tập chung vào các nhóm khách hàng khác nhau. Do đó việc nghiên cứu đặc tính của sản phẩm từ đó xác định nhóm khách hàng mục tiêu cũng như xác định

    9

    Khoá luận tốt nghiệp

    chương trình quảng cáo phù hợp là vô cùng cần thiết. Vì thế hiển nhiên các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm, đồ uống và các sản phẩm được sử dụng hàng ngày sẽ được lên chương trình quảng cáo nhiều hơn so với các sản phẩm mang tính chất thời vụ và các sản phẩm mang tính chất kĩ thuật.

    2.2.5. Chi phí, giá thành

    Một doanh nghiệp sẽ thực hiện chương trình quảng cáo trên truyền hình chỉ khi chương trình đó đem lại hiệu quả nhất định đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, có rất nhiều các doanh nghiệp nhận thức được hiệu quả của quảng cáo trên truyền hình song lại không có đủ khả năng đáp ứng các chi phí đắt đỏ của một chương trình quảng cáo trên truyền hình hoặc doanh lợi thu được từ hoạt động bán hàng không đủ bù đắp được các khoản chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Có thể nói, chi phí và giá thành cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    2.3. Đối tượng của quảng cáo trên truyền hình

    Quảng cáo trên truyền hình là một dịch vụ kinh doanh nên tham gia vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình phải có ít nhất 2 đối tượng là bên thuê quảng cáo và phương tiện truyền thông hay đài truyền hình. Tuy nhiên trong nền kinh tế đang ngày càng được phân công hoá, do trình độ và kĩ thuật quảng cáo ngày càng được nâng cao thì công việc quảng cáo lên các chương trình quảng cáo được các công ty thuê quảng cáo giao phó cho các công ty quảng cáo thực hiện. Ngoài ra còn xuất hiện các thành viên thực hiện các dịch vụ hỗ trợ. Do đó trong quá trình quảng cáo trên truyền hình hiện đại thường xuất hiện bốn đối tượng tham gia.

    2.3.1. Bên thuê quảng cáo trên truyền hình

    Bên thuê quảng cáo trên truyền hình là các cá nhân hay tổ chức tìm cách bán sản phẩm của mình hoặc ảnh hưởng đến đối tượng khách hàng thông qua quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    2.3.2. Công ty quảng cáo

    Công ty quảng cáo là một tổ chức độc lập chuyển hoạch định, phát triển và thực hiện chiến dich quảng cáo nói chung và chiến dịch quảng cáo trên truyền hình noí riêng thay mặtt cho bên thuê quảng cáo

    2.3.3. Phương tiện truyền thông

    Phương tiên truyền thông trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình là các đài truyền hình. Đây là kênh thông tin mà qua đó thông điệp cần được quảng cáo sẽ tiếp cận đến đối tượng mà bên thuê quảng cáo cần nhằm tới.

    2.3.4. Các dịch vụ hỗ trợ

    Các dịch vụ hỗ trợ là các cá nhân hay tổ chức tham gia trong quá trình sản xuất mẫu quảng cáo trên truyền hình. Các dịch vụ này có thể độc lập hoặc là một bộ phận trong công ty quảng cáo chẳng hạn như diễn viên, người lồng tiếng…

    2.4. Phân loại quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình xuất hiện từ rất lâu và được coi là một phương hữu hiệu để truyền đi các thông điệp quảng cáo từ phía người sản xuất, kinh doanh đến khách hàng. Quảng cáo trên truyền hình có những ưu điểm vượt trội mà các loại hình quảng cáo khác không có.

    Dưới đây mới chỉ là những điểm mạnh chủ yếu của hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, quảng cáo trên truyền hình có phạm vi truyền thông tin quảng cáo rất rộng, khả năng tiếp cận được thị trường lớn. Có thể thấy rằng, khó có một phương tiện truyền thông nào qua mặt được truyền hình khi muốn tiếp cận được thị trường rộng lớn trong một thời gian ngắn. Một nguyên nhân đơn giản đó là truyền hình thuộc về mọi người. Nói chung, truyền hình hầu như không có tính chọn lọc khán giả như những phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí (chỉ tập chung ở tầng lớp chí thức) hay có thời

    Khoá luận tốt nghiệp

    lượng quảng cáo nhiều như Internet 24/24 giờ (song số lượng người truy cập thấp chỉ chiếm khoảng 4-5% dân số) nên quảng cáo trên truyền chiếm được lượng khán giả theo dõi nhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thông.

    Hai là, quảng cáo trên truyền hình tạo sự sức hút mạnh mẽ do các thông điệp rong quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hình ảnh của quảng cáo ấn phẩm và quảng cáo ngoài trời, âm thanh của quảng cáo trên radio, cử động, các kĩ sảo truyền hình do đó tạo sự chú ý, cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả để đạt được mục tiêu quảng cáo.

    Ba là, các mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể dễ dàng chuyển sang phương tiên truyền thông khác. Chẳng hạn, hình ảnh quảng cáo trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể chuyển thành các mẫu quảng cáo trên báo chí, in ấn, hay quảng cáo ngoài trời.. Bên cạnh đó, âm thanh trong mẫu quảng cáo trên truyền hình có thể được biến thành mẫu quảng cáo trên radio..

    Bốn là, truyền hình là một phương tiện để giao lưu văn hoá giưã các quốc gia do đó các mẫu quảng cáo trên truyền hình ở nước này có thể được mang sang quảng cáo ở nước khác. Hình ảnh, cảnh vật cũng như diễn viên của nước này có thể xuất hiện ở trên các chương trình quảng cáo ở nước khá mà vấn tạo được hiệu quả quảng cáo, cũng như đạt được ý đồ của công ty quảng cáo hay bên thuê quảng cáo.

    Hiện nay trên thế giới tồn tại hai loại truyền hình: truyền hình vô tuyến và truyền hình hữu tuyến hay còn gọi là truyền hình cáp. Do có sự khác nhau giữa 2 loại hình truyền hình này mà bên thuê quảng cáo cũng như công ty quảng cáo cần phải cân nhắc để lựa chọn loại hình quảng cáo trên truyền hình nào là tối ưu nhất, đem lại hiệu quả nhất. Nói chung, hai loại quảng cáo trên truyền hình nêu trên hỗ trợ cho nhau khá ăn khớp, yếu điểm của hình thức này thường lại là ưu điểm của hình thức kia.

    12

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 1.1: So sánh ưu nhược điểm của quảng cáo trên vô tuyến truyền hình và quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến

    Chỉ tiêu Quảng cáo trên truyền Quảng cáo trên truyền hình
      hình vô tuyến hữu tuyến ( truyền hình cáp)
         
    Tính chọn lọc đối Thấp Cao
    tượng    
         
    Chi phí thuê quảng Cao Thấp
    cáo    
         
    Hiệu quả chi phí Cao Thấp
    quảng cáo    
         
    Độ năng động trong Thấp Cao
    thời lượng quảng    
    cáo    
         

    Nguồn: Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    Nhìn chung, việc lựa chọn quảng cáo trên truyền hình vô tuyến hay quảng cáo trên truyền hình hữu tuyến còn phụ thuộc vào đặc tính của sản phẩm, nguồn ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nghiên cứu, đánh giá khác nhau về việc tiếp cận khán giả thông qua việc đánh giá chỉ số tiếp cận khán giả hay việc xem xét đến hiệu quả chi phí tiếp cận khán giả mục tiêu thông qua việc xác định chỉ số CPP (Cost Per ratings Point) (chỉ số này cho biết để tiếp cận 1% khán giả mục tiêu, doanh nghiệp cần phải chi bao nhiêu tiền.. .

    3. QUY TRÌNH QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH

    3.1. Mục đích của quảng cáo trên truyền hình

    Mục đích cuối cùng của bất kĩ hoạt động quảng cáo, xúc tiến kinh doanh nào cũng là nhằm doanh số, tăng thị phần và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, nếu ta xét chi tiết hơn thì quảng cáo trên truyền hình thực hiện nhằm vào 3

    Khoá luận tốt nghiệp

    mục đích chính: thông tin, thuyết phục và nhắc nhở. Trong toàn bộ chu kì sống của sản phẩm, các mục đích quảng cáo trên truyền hình thể hiện với những mức độ khác nhau. Do đó, tuỳ thuộc vào chu kì của sản phẩm mà các chương trình quảng cáo được sử dụng với đúng mục đích chính và thể hiện rõ được nhiệm vụ của nó. Chẳng hạn trong giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm: giai đoạn giới thiệu sản phẩm, thì quảng cáo trên truyền hình có mục đích chính là thông tin giới thiệu sản phẩm. Trong thời kì cuối của giai đoạn

    • và giai đoạn 2: giai đoạn tăng trưởng thì quảng cáo trên truyền hình lại thực hiện nhiệm vụ thuyết phục cũng như hình thành sự ưu thích nhãn hiệu. Còn ở giai đoạn chín muồi, quảng cáo thường thực hiện mục đích là nhắc nhở.

    3.1.1. Quảng cáo thông tin

    Mục đích của quảng cáo thông tin là thông báo cho thị trường biết về sản phẩm mới, thuyết minh những ứng dụng mới của hàng hoá hiện có. Ngoài ra còn thông báo cho người tiêu dùng biết những thông tin sau:

    • Thông báo sự thay đổi về giá của sản phẩm hoặc/và dịch vụ,
    • Giải thích nguyên tắc hoạt động của hàng hoá,
    • Mô tả dịch vụ,
    • Đính chính những quan niệm không đúng hay giảm sự sợ hãi, e ngại của người tiêu dùng,
    • Hình thành hình ảnh của công ty.

    3.1.2. Quảng cáo thuyết phục

    Mục đích của quảng cáo thuyết phục là hình thành sự ưa thích nhãn hiệu, xây dựng lòng tin của khách hàng đối với nhãn hiệu của công ty từ đó tạo dựng đội ngũ các khách hàng trung thành đối với nhãn hiệu cũng như đối với công ty. Ngoài ra quảng cáo thuyết phục còn nhằm những mục đích sau:

    • Khuyến khích chuyển sang nhãn hiệu của mình
    • Thay đổi sự chấp nhận của người tiêu dùng về tính chất của hàng hoá
    • Thuyết phục người tiêu dùng mua ngay sản phẩm của công ty.

    14

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.1.3. Quảng cáo nhắc nhở

    Mục đích chủ yếu của quảng cáo nhắc nhở là gợi cho khách hàng nhớ đến sản phẩm mà họ có thể cần đến trong thời gian tới, nhắc nhở người tiêu dùng về nơi bán sản phẩm, lưu lại trong trí nhớ của người tiêu dùng những hiều biết về hàng hoá …

    3.2. Các hình thức quảng cáo trên truyền hình.

    3.2.1. Bảo trợ

    Bảo trợ trên truyền hình là hành động doanh nghiệp bỏ chi phí ra để tiến hành sản xuất hoặc mua phát hành một hay nhiều chương trình có bản quyền nào đó trên truyền hình.Khi doanh nghiệp chọn hình thức bảo trợ trên truyền hình, doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc sản xuất và mua phát sóng chương trình truyền hình đó và cùng với chương trình bảo trợ của mình, doanh nghiệp có quyền được quyền phát sóng các quảng cáo của mình trong chương trình đó. Hiện nay trên truyền hình xuất hiện hai kiểu bảo trợ. Một là tiến hành bảo trợ các chương trình phim truyện (thường là dài tập) có bản quyền, lấy ví dụ như chương trình phim truyện dài tập “Tiếu Ngạo Giang Hồ” đang được phát sóng trên đài truyền hình Hà Nội do nhãn hiệu Omo của công ty Unilever tài trợ. Hai là tiến hành bảo trợ cho các chương trình giải trí, ca nhạc…chẳng hạn như chương trình “Hành trình văn hoá” phát sóng hàng tuần trên đại VTV3 do nhãn hiệu Double Rich của tập đoàn LG tài trợ..

    Mặc dù phí bảo trợ khá cao, nhưng hình thức quảng cáo này vẫn được sử dụng nhiều bởi những ưu điểm của nó. Thứ nhất là khán giả có thể thấy tên của nhà bảo trợ, Logo của nhà tài trợ và nghe một đoạn thông điệp ngắn giới thiệu về nhà bảo trợ trước và sau chương trình này. Thứ hai là tạo được uy tín tới trong nhận thức của người xem.

    3.2.2. Tự giới thiệu

    Hình thức tự giới thiệu là hành động doanh nghiệp mới phóng viên của đài truyền hình đều đến quay và giới thiệu về hoạt động và sản phẩm của

    Khoá luận tốt nghiệp

    mình như một đoạn phóng sự. Hình thức quảng cáo này có hai ưu điểm chính: Một là doanh nghiệp không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn như hình thức bảo trợ các chương trình truyền hình. Hai là, hình thức tự giới thiệu thương trông không giống như quảng cáo mà giống như bài phóng sự đưa tin do phóng viên của đài truyền hình biên tập do đó hiệu quả trong việc truyền thông tin có vể khách quan và dễ dàng được khách hàng tin tưởng và chấp nhận. Nhược điểm của hình thức này là không được phát nhiều lần như các phim quảng cáo khác.Ví dụ, gần đây, tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam có tiến hành một “show” quảng cáo tự giới thiệu về hoạt động kinh doanh và sảm xuất của công ty mình.

    3.2.3. Mua Spot

    Một hình thức quảng cáo khác trên truyền hình ít tốn kém hơn là hình thức mua Spot quảng cáo, mỗi Spot bằng với thời gian một phim quảng cáo dao động từ 15 đến 30 giây. Hình thức này có ưu điểm cho phép doanh nghiệp thuê nhiều khoảng thời gian ngắn trên nhiều đài truyền hình khác nhau. Một ưu điểm khác là doanh nghiệp có thể tiếp cận đựơc khán giả mục tiêu mà ngân sách của mình không bị lãng phí nhiều, họ có thể mua nhiều hoặc ít Spot tại các phân đoạn thị trường mà doanh nghiệp xét thấy phù hợp với mình nhất. Tuy nhiên việc mua Spot cũng có một vài nhược điểm đó là việc mua Spot tại nhiều đài khác nhau có thể trở nên phức tạp vì doanh nghiệp phải liên hệ, thương lượng giá phát sóng, lên lịch phát sóng … với nhiều đài cùng một lúc. Tuy nhiên, hiện nay việc mua Spot là hình thức phổ biến và mang lại hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp cũng như cho các đài truyền hình.3.3. Lịch quảng cáo

    Trong một chiến dịch quảng cáo người làm quảng cáo cần phải lên lịch quảng cáo chung cũng như lịch quảng chi tiết cho từng chương trình.

    16

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.3. Lịch quảng cáo

    3.3.1. Lịch quảng cáo chung

    Lịch quảng cáo chung được xem như thời gian biểu phù hợp cho chiến dịch quảng cáo sản phẩm của công ty. Dựa vào những phân tích đánh giá lượng khách hàng theo dõi các chương trình trên truyền hình, mức thu nhập của khách hàng, tính chất của hàng hoá dịch vụ mà xác định xem việc quảng cáo được tiến hành theo thời vụ hay không theo thời vụ hay được tiến hành liên tục trong năm.

    3.3.2. Lịch quảng cáo chi tiết

    Dựa vào việc phân bổ ngân sách dành cho quảng cáo trên truyền hình cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến lịch quảng cáo trên truyền hình khác như số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình của khán giả để có thể đưa ra được lịch quảng cáo trên truyền hình một cách chi tiết đồng thời đạt hiệu quả tác động cao nhất.

    Số lần tiếp xúc thông điệp quảng cáo trên truyền hình nói trên được tính bằng phạm vi tác động của thông điệp quảng cáo nhân với tấn suất tác động của thông điệp. Trong đó, phạm vi tác động được tính trên số người hay hộ gia đình khác nhau được tiếp xúc với mục tiêu quảng cáo trên truyền hình ít nhất một lần trong một thời kì , còn tần suất tác động được tính trên số lần mà một người hay một hộ gia đình tiếp xúc với một thông tin quảng cáo trên truyền hình. Hai nhân tố dùng để xác định số lần tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trên truyền hình có mức độ tác động hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, trong thời khi mới tung sản phẩm thị trường hay đối với sản phẩm có mức độ sử dụng thường xuyên thì phạm vi tác động được coi là quan trọng hơn. Trái lại, trong một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thì tần suất được xem là quan trọng hơn.

    Các kiểu lên lịch quảng cáo này hình thành trên dượi trên số lần xuất hiện trên truyền hình. Số lần xuất hiện trên truyền hình có thể tập trung vào

    Khoá luận tốt nghiệp

    một thời điểm, gián đoạn hay liên tục trong cả thời kì. Bên cạnh đó, Nó còn hình thành dựa trên cường độ tác động. Cường độ tác động có thể là tăng dần, giảm dần, thay đổi hay đều đặn trong cả thời kì.

    Mô hình 1.1 : Các kiểu lên lịch quảng cáo trên truyền hình

    Ổn định Tăng dần Giảm dần Thay đổi

    Trung bình

    Liên tục

    Gián đoạn

    Nguồn: Mô hình hoá lịch quảng cáo trên truyền hình, Lê Hoàng Quân, năm 1994, Nghiệp vụ quảng cáo và Marketing, trang 272.

    3.4. Thông điệp quảng cáo

    Khi mở một chiến dịch quảng cáo, doanh nghiệp luôn phải xác định rõ thông điệp quảng cáo. Trước hết, thông điệp quảng cáo phải trung thực. Thông điệp quảng cáo trên truyền hình có thể nói nên điều gì đó mà khách hàng đang mong đợi hay thể hiện được những đặc trưng của hàng hoá dịch vụ mà các nhãn hiệu khác không có… Các thông điệp quảng cáo khác nhau có thể tác động đến các góc độ thoả mãn khác nhau như: thông điệp quảng cáo nằm vào lợi ích của khách hàng (hay còn gọi là nhằm vào sự thỏa mãn lý trí),

    Khoá luận tốt nghiệp

    thông điệp quảng cáo nhằm vào tình cảm hay cảm xúc của khách hàng… Tựu chung, một thông điệp quảng cáo nhất thiết phải đáp ứng được những cầu sau:

    • Lôi cuốn sự chú ý
    • Tạo hứng thú
    • Gây lòng ham muốn
    • Hướng tới hành động mua hàng.

    Do thời gian quảng cáo của các chương trình quảng cáo trên truyền hình có hạn nên nhiêm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của một chương trình quảng cáo trê n truyền hình là nắm bắt được sự chú ý, sự tò mò của đối tượng khán giả trong vòng 3 đến 5 giây đầu tiên. Nếu không gây được sự chú ý, cũng như sự tò mò trong khoảng thời gian này, thì những quãng thời gian còn lại coi như không có tác dụng. Sau khi gây được sự chú ý, nhiệm vụ tiếp theo của một chương tình quảng cáo là truyền tải thông điệp của người thuê quảng cáo đồng thời duy trì sự quan tâm của đối tượng (khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng). Từ việc quan tâm đến sản phẩm đối tượng theo dõi có thể dẫn đến mong muốn có được hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo. Và cuối cùng là hành động mua hàng của khách hàng.

    Khác với quảng cáo trên báo chí cũng như quảng cáo ngoài trời, thông điệp quảng cáo trên truyền hình được đặc trưng hoá, hay nói cách khác là “mã hoá” trong sự kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ.. tạo thành những cảnh sinh động thu hút sự chú ý của khán giả xem truyền hình.

    3.4.1. Hình ảnh trong quảng cáo trên truyền hình

    Truyền hình là một phương tiện để xem và quảng cáo trên truyền hình nên sử dụng triệt để lợi thế của loại phương tiện truyền thông này. Sử dụng quảng cáo trên truyền hình người quảng cáo có thể trình bày thông điệp một cách hấp dẫn bằng cách thay đổi cảnh trí thông qua một chuỗi các hình ảnh kế tiếp nhau, trong khi hình ảnh của quảng cáo trên báo chỉ có một cảnh hoặc

    19

    Khoá luận tốt nghiệp

    một bố cục. Cơ hội thay đổi cảnh giúp cho người quảng cáo có thể sử dụng tốt bối cảnh thích hợp trong trình tự hợp lý để đạt ý tưởng chính.

    Kỹ thuật hình ảnh trong một quảng cáo truyền hình có thể mang nhiều hình thức và được thể hiện theo nhiều mô típ khác nhau nhằm thu hút sự chú

    • của khán giả. Trong đó có một số hình thức, hay mô típ được sử dụng tương đối phổ biến như: Sử dụng pháp ngôn viên đưa ra những bằng chứng khoa học hay các bằng chứng thử nghiệm, giải thích lợi ích sản phẩm cúng đưa ra những chỉ tiêu kĩ thuật, cảnh mô tả tinh huống trong thực tế cuộc sống hoặc cảnh câu chuyện kể liên quan đến sản phẩm, phỏng vấn khách hàng sử dụng, so sánh sản phẩm của hãng so với các sản phẩm cùng loại, nhân vật biểu tượng để nhân cách hoá sản phẩm

    3.4.2. Âm thanh trong quảng cáo trên truyền hình

    Mặc dù lợi thế của quảng cáo truyền hình là yếu tố hình ảnh nhưng yếu tố âm thanh cũng là một phần cơ bản và thống nhất trong quảng cáo trên truyền hình. Hình ảnh hiếm khi truyền tải hết được nội dung thông điệp. Chính lời nói, âm nhạc và hiệu quả âm thanh sẽ mang lại ý nghĩa cho toàn bộ bức tranh quảng cáo. Hình ảnh đưa ra cho đối tượng một bức tranh hay, ấn tượng, còn âm thanh trình bày và nhấn mạnh các chi tiết của bức tranh đó.

    Ngôn ngữ cũng như lời nói thuyết minh trong các chương trình quảng cáo thường được sử dụng theo 2 hướng khác nhau. Hướng thứ nhất sử dụng những ngôn ngữ, lời thuyết minh đơn giản nhẹ nhàng như thực tế đời thường, Trái lại hướng thứ hai tiếp trong việc sử dụng ngôn ngữ, lời thuyết lại đi sau vào chiều sâu, hàm chứa nhiều ý nghĩa, tạo cho khán giả xem truyền hình phải đăm đo, suy nghĩ từ đó hình thành hình ảnh nhãn hiệu trong trí nhớ của người xem.

    20

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.5. Ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.5.1. Các phương pháp xác lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Đối với một doanh nghiệp, nguồn kinh phí dành cho quảng cáo chi phối trực tiếp nhất đến việc lựa chọn xây dựng các chương trình quảng cáo trên truyền hình, thời gian quảng cáo trên truyền hình và phạm vi quảng cáo trên truyền hình… Do đó để xây dựng thành công một chương trình quảng cáo trên truyền hình, doanh nghiệp cần phải xác định rõ nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là bao nhiêu?. Dưới đây là một số cách thực khác nhau để xác ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Một là, phương pháp tỉ lệ % doanh số bán: Phương pháp này xác định chi phí quảng cáo trên truyền hình của doanh nghiệp bằng tỉ lệ % nhất định của doanh số bán dự kiến. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở đây sẽ thay đổi tuỳ theo khả năng dự kiến của doanh nghiệp. Phương pháp này thể hiện khá rõ đến mối liên hệ giữa chi phí dành cho sản xuất và chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ ước lượng và tính toán đến việc tiêu thụ sản phẩm, ít đề cập đến mức độ nhận biết, mức độ trung thành đối với nhãn nhiệu của doanh nghiệp.

    Hai là, phương pháp cân bằng cạnh tranh: Phương pháp này xác định ngân sách quảng cáo trên truyền hình của dựa theo nguyên tắc đảm bảo ngang bằng với chi phí của đối thủ cạnh tranh, Nhiều ý kiến cho rằng chi phí của các đối thủ cạnh tranh thể hiện sự sáng suốt tập thể của ngành và duy trì cân bằng cạnh tranh.Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là khó xác định được chi phí của đối thủ cạnh tranh. Mặt khác, do nhãn hiệu, sản phẩm của các doanh nghiệp khác nhau có mức độ tin cậy và mức độ trung thành khác nhau, nên việc xác định ngân sách theo phương pháp này sẽ là bất hợp lý.

    Ba là, phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ: Phương pháp này đòi hỏi người làm Marketing phải xác định cụ thể mục tiêu của mình và xác định những nhiệm vụ cần phải hoàn thành để đạt được những mục tiêu rồi

    Khoá luận tốt nghiệp

    ước tính chi phí để thực hiện nhiệm vụ đó. Theo phương pháp này, quảng cáo trên truyền hình được coi là một hoạt động đầu tư, trong đó các mục tiêu là mục đích kinh doanh dài hạn còn nhiệm vụ là công việc kinh doanh ngắn hạn.

    Ngoài ra, còn có một số phương pháp xác định khác để xác định ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chẳng hạn như xác định dựa trên khả năng tài chính có thể vươn tới của doanh nghiệp, hay xác định dựa trên thị phần quảng cáo trên một thị trường cụ thể…

    Nói chung các phương pháp đều có những mặt ưu nhược điểm khác nhau do đó không nên áp đặt một phương pháp cho tất cả hoàn cảnh mà phải dựa vào tình hình cụ thể ( như khả năng của doanh nghiệp, thực tế của thị trường, đặc tính của sản phẩm, đặc trương của nhóm khách hàng mục tiêu….) mà doanh nghiệp lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp nhất.

    3.5.2. Quy trình lập ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Dưới đây là quy trình để thiết lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình. Quy trình được diễn ra theo 4 bước chính: bước 1: phân tích mục tiêu và các thông tin hiệ có, bước 2: áp dụng các biện pháp xác đinh ngân sách, bước 3: đánh giá dữ liệu và các nguồn ngân sách thiết lập, bước 4: đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất.

    Bước thứ nhất của quá trình lập ngân sách là nghiên cứu mục tiêu marketing, mục tiêu quảng cáo trên truyền hình cũng như xem xét cách ngân sách đã được thực hiện trong quá khứ, điều tra thu thập các thông liên quan đến chi phí quảng cáo của đối thủ cạnh tranh, tính toán thị phần và doanh thu dự kiến của doanh nghiệp, xem xét giai đoạn trong vòng đới sản phẩm, ước lượng khả năng thay thế sản phẩm… Nói chung, bước đầu tiên cần phải đánh giá toàn cảnh thị trường, đặc trưng sản phẩm, vòng đới sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, nguồn tài chính hiện có…

    22

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ hai trong quá trình lập ngân sách sẽ dựa vào những kết qủa phân tích, thu thập ở bước thứ nhất, xác định nguồn ngân sách thông qua các phương pháp xác lập khác nhau. Do các cách thức tính toán khác nhau nên các kết quả tính toán nguồn ngân sách cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ khác nhau.

    Mô hình 1. 2: Quy trình lập ngân sách quảng cáo trên truyền hình.

    Bước 1: Phân tích  
    mục tiêu và các thông  
    tin hiện có Không hợp lý
     
    Bước 2: Áp dụng   Bước 3: Đánh giá
    các phương pháp   dữ liệu và các
    xác định ngân sách   nguồn ngân sách
        thiết lập
         

    Hợp lý

    Bước 4: Đưa ra

    nguồn ngân sách

    phù hợp nhất

    Bước thứ ba trong quá trình lập ngân sách sẽ xem xét lại các thông số đã phân tích trong bước thứ 1đồng thới sẽ đánh giá các kết quả tính toán ở bước thứ 2. Nếu thấy những phân tích cũng như những giả định là không phù hợp với mục tiêu quảng cáo, doanh nghiệp sẽ quay trở về phân tích, tính toán lại những dữ liệu cũng như những thông tin ở bước thứ nhất và bước thứ 2, còn nếu thấy hợp lý sẽ được chuyến sang bước thứ tư.

    23

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bước thứ tư trong quá trình lập ngân sách là đưa ra một nguồn ngân sách phù hợp nhất dựa trên những tính toán khả thi cũng dựa trên kinh nghiệm sẵn có của doanh nghiệp.

    Nói chung, các doanh nghiệp luôn luôn muốn hướng tới một ngân sách quảng cáo thấp nhấp đồng thới đem lại cho doanh nghiệp lơi ích lớn nhất. Do đó, một quyết định đúng đắn sẽ tạo cho chương trình quảng cáo trên truyền hình mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.

    3.6. Đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    3.6.1. Hiệu quả truyền thông và hiệu quả thương mại

    Việc xác định nguồn ngân sách quảng cáo trên truyền hình, tung ra các chương trình quảng cáo trên truyền hình là nhằm nâng cao đường cong nhu cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp…Tuy nhiên, mức độ nâng cao hình ảnh của doanh, cũng như nhu cầu về sản phẩm lên bao nhiêu, hiệu quả chi phí cho hoạt động quảng cáo là như thế nào cần phải có sự đánh giá hợp lý:

    Nói chung có 2 các định lượng hiệu quả của một chương trình quảng cáo trên truyền hình: đó là phương pháp định lượng hiệu quả truyền thông và phương pháp định lượng hiệu quả thương mại.

    Phương pháp hiệu qủa truyền thông nói lên mức độ đảm bảo truyền thông đạt hiệu quả như thế nào. Phương pháp này có thể được thực hiện thông qua việc phỏng vấn khách hàng trước và sau khi mở chiến dịch quảng cáo trên truyền hình, từ đó ước lượng mức độ nhận biết hàng hoá đó cuả người tiêu dùng tiềm năng, mức độ ưa thích, trung thành nhãn hiệu sản phẩm của người tiêu dùng hiện tại….

    Phương pháp hiệu quả thương mại xác định khối lượng tiêu thu sản phẩm do hoạt quảng cáo trên truyền hình mang lại. Việc định lượng chính xác khối lượng trên là không dễ dàng bởi mức độ tiêu thu sản phẩm còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như giá cả, chất lượng sảm phẩm, thời vụ tiêu thụ sản

    Khoá luận tốt nghiệp

    phẩm…. Do đó muốn xác định được mức độ  tiêu thụ tương đối chính xác

    nhấtdo hoạt động quảng cáo mang lại cần dựa trên những phân tích lâu dài trong việc tiêu thụ sản phẩm, loại bỏ đi các yếu tố chủ quan cũng như khách quan nêu trên.

    3.6.2. Tác động của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đến hành vi của người tiêu dùng

    Peter Drucker, một nhà quản lý nổi tiếng của Mĩ trong cuốn sách “the Practice of Management” có nói rằng “ Nếu cần định nghĩa kinh doanh là gì thì chỉ có một định nghĩa có thể tin cậy đó là tạo ra khách hàng. Để tạo cho hoạt động kinh doanh thành công, doanh nghiệp cần phải hiểu rõ được nhu cầu của khách hàng, động cơ mua hàng của khách hàng cũng như thói quen mua hàng của khách hàng.

    3.6.2.1. Nhận thức nhu cầu, động cơ mua xắm và hành động của khách hàng.

    “Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được”, Philip Kolter. Xác định nhu cầu và thoả mãn nhu cầu là nhiệm vụ của hoạt động marketing nói chung và hoạt động quảng cáo truyên truyền hình nói riêng. Tuy nhiên nhu cầu của con người khá đa dạng và phức tạp. Abraham Maslow căn cứ vào tính chất của nhu cầu đã tiến hành phân cấp các nhu cầu. Mặt khác, theo tâm lý học khi một nhu cầu nào đó được thoả mãn thí lại xuất hiện sự đòi hỏi những nhu cầu tiếp theo ở cấp độ cao hơn.

    25

    Khoá luận tốt nghiệp

    Mô hình 1.3: Thứ bậc nhu cầu của A. Maslow.

    Nhu cầu

    tự khẳng

    Nhu cầu được tộn

    trọng

    Nhu cầu xã hội

    Nhu cầu an toàn

    Nhu cầu sinh lý

    Thứ bậc nhu cầu theo Abraham Maslow

    Nguồn: Giáo trình nguyên lý Marketing trường ĐH Ngoại Thương ( trang 4)

    Một là nhu cầu sinh lý. Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản, mang tính sống còn của con người như thức ăn, nhà ở …

    Hai là nhu cầu an toàn. Nhu cầu an toàn là những nhu cầu đảm bảo sự an toàn cho sức khoẻ, tính mạng của người sử dụng.

    Ba là nhu cầu xã hội. Nhu cầu xã hội là những nhu cầu tương tác giữa cá nhân và xã hội bao gồm những nhu cầu được yêu thương, chấp nhận.

    Bốn là được tôn trọng. Nhu cầu được tôn trọng là nhu cầu được thể hiện mình, được kính trọng, được công nhận.

    Năm là nhu cầu tự khẳng định. Nhu cầu tự khẳng định là bất kĩ nhu cầu nào làm cho con người có thể thể hiện được mọi tiềm năng, nhân cách của mình để chứng minh mình là người rất đặc biệt

    26

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tất cả những nhu cầu nêu trên tạo nên động cơ mua sắm. Khi nhu cầu xuất hiện sẽ thúc đẩy người tiêu dùng tìm kiến thông tin liên quan đến hàng hoá, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Nếu như cường độ động cơ hướng tới hàng hoá và dịch vụ cụ thể để thoả mãn nhu cầu của mạnh thì ngoài những thông tin vốn có, người tiêu dùng sẽ bổ sung thông tin về đối tượng được hướng tới thông qua nguồn thông tin các nhân, cũng như những nguồn thông tin khác, trong đó có những thông tin từ các chương trình quảng cáo trên truyền hình…

    Sau khi động cơ mua sắm và thông tin liên quan đến đối tượng đã được bao phủ, người tiêu dùng sẽ tiến hành lựa chọn các phương án để đưa ra quyết định, hành động mua xắm của mình.

    Nhìn chung thì quá trình dẫn đến hành động mua sắm của người tiêu dùng thường được diễn biến trong 3 giai đoạn chính : Hiểu biết – Cảm nhận – Hành vi

    3.6.2.2. Phản ứng đáp lại của người tiêu dùng

    Một chương trình quảng cáo trên truyền hình thành công phải dẫn dắt người tiêu dùng từ chỗ xuất hiện nhu cầu về hàng hoá hay dịch vụ đến hành động mua sắm hay hành động chấp nhận nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể nói, quá trình phản ứng đáp lại của người tiêu dùng là một quá trình rất phức tạp. Tuy nhiên, ta có ta có thể mô hình hoá quá trình phản ứng tích cực của người tiêu dùng dựa theo 3 giai đoạn chính của quá trình hình thành quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Ba giai đoạn chính trong quá trình hình thành quyết định mua sắm của mgười tiêu dùng là : giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức. giai đoạn 2: giai đoạn cảm nhận và giai đoạn 3: giai đoạn hành vị.

    Mô hình 3: Quá trình phản ứng của người tiều đối với hoạt động quảng cáo

     

    27

    Khoá luận tốt nghiệp

    Giai đoạn Mô hình Mô hình thứ bậc Mô hình chấp Mô hình
      AIDA của hiệu quả nhận đổi mới xử lý
            thông tin
             
        Để ý   Tiếp xúc
    Giai đoạn Chú ý     Để ý
    Nhận thức     Biết đến  
        Hiểu biết   Nhận biết
             
      Quan tâm Thích   Thái độ
          Quan tâm  
    Giai đoạn   Ưa thích    
    cảm nhận        
      Mong muốn Tin tưởng Đánh giá Có ý định
          Dùng thử
    Giai đoạn Hành động Mua Hành vi
    Hành vi     Chấp nhận

    Nguồn: G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 147

    Các mô hình trên đã đặc định hoá là phản ứng tích cực của người tiêu dùng đối với các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Trong các mô hình trên, kết quả hành vi thu được là khác nhau đối với từng mô hình. Bởi phản ứng đáp lại của từng nhóm khác nhau là khác nhau. Đối với những người luôn muốn đổi mới thường dẫn đến hành vi mua hàng sau khi xem chương trình quảng cáo trên, truyền hình, còn đối với những người thuộc nhóm bàng quan

    28

    Khoá luận tốt nghiệp

    thì dẫn đến hành vi dùng thử trước khi chấp nhận sản phẩm, cuối cùng đối với nhóm người xem khó chấp nhận thì chỉ dẫn đến hành vi để ý tới các dịch vụ hàng hóa được quảng cáo trên truyền hình.

    Tuy nhiên trên thực tế, một số các chương trình quảng cáo lại gây ra phản ứng tiêu cực từ phía người tiêu dùng đối với hàng hóa dịch vụ được quảng cáo. Và kết quả thật rõ ràng nhân thấy đó là hành động người tiêu dùng sẽ từ chối mua sản phẩm vĩnh viễn và đổi sang sử dụng nhãn hiệu khác.

    29

    Khoá luận tốt nghiệp

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở

    VIỆT NAM

    1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH QUẢNG CÁO MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

    1.1. Vài nét về tình tình quảng cáo ở các nước phát triển

    • các nước phát triển, hoạt động quảng cáo trên truyền hình đã từ lâu trở thành một vũ khí quan trọng trong cạnh tranh. Ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình là một trong những ngành đóng góp một phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của các nước này. Trên thế giới, Mĩ được coi là cường quốc số một trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình. Theo số liệu của Ac Nielsen ( www. Ac neilsen.com) năm 2001, chi phí quảng cáo cáo của Mĩ là 227,7 tỷ USD trong dó chi phí quảng cáo trên truyền chiếm 60% (tương đương với hơn 125 tỷ USD), đạt mức tăng trưởng thấp 0,8% so với năm 2001. Ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của một công ty lớn hàng năm thường ở mức trên 200 triệu.

    Bảng 2.1: 10 công ty thuê quảng cáo hàng đầu nước Mĩ.

    Stt   Công ty thuê quảng cáo Chi phí quản cáo trên truyền
          hình
          (triệu USD)
    1   P & G 641,3
    2   General Motors 500,9
    3   Phillp Morris 475,3
    4   Johnson & johnson 388,6
    5   Pepsi 362,1
    6   Ford Motor 360,3
    7   McDonald’s 622,4
    8   Kellogg 271,7
    9   Chrysler 239,7
    10   Unilever 232,6
        Nguồn : G. Belch & M. Belch, Advertising and Promotion, trang 342
      Đi cùng với những nỗ lực để giới thiệu, nhắc nhở, thuyết phục khách

    hàng sử dụng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ của các công ty thuê quảng cáo là

    Khoá luận tốt nghiệp

    hoạt động lập chiến lược quảng cáo trên truyền hình, sản xuất các chương trình quảng trên truyền hình, đánh giá hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo trên truyền hình. Cũng riêng ở Mĩ, một công ty quảng cáo trên truyền hình lớn hàng năm cũng thu được một khoản thu nhập trên 100 triệu USD. Dưới đây là danh sách 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ .

    Bảng 2.2 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu nước Mĩ

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (triệu USD)
    1 Leo Burnett Co. 370,6
    2 J.Walter Thompson Co. 347,0
    3 Grey Advertising 326,7
    4 DDB Needham Worldwide 284,7
    5 McCann-Erickson Worldwide 279,6
    6 Saatchi & Saatchi Advertising 275,5
    7 BBDO Worldwide 259,5
    8 Foote, Cone & Belding Communications 244,2
    9 Ogilvy & Mather Worldwide 209,5
    10 Young & Rubicam 205,8

    Nguồn : Advertising and Promotion ( Belch & Belch), trang75.

    Một số nước khác như Nhật Bản, Đức, Anh cũng đã có một ngành công nghiệp quảng cáo trên truyền hình hết sức hiện đại và chuyên nghiệp. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của các nước này thường đạt nước tăng trưởng 5-8%.(đánh giá chi phí quảng cá o truyền hình của một số nước phát triển của Ac Nielsen _www.acnielsen.com)

    Nếu Mĩ được coi là cường quốc số 1 về quảng cáo trên truyền hình trên thế giới thì Nhật Bản được xem như một “ông vua nhỏ “ ở khu vực châu á. Quảng cáo trên truyền hình ở Nhật chiếm 52% tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Năm 2001 chi phí cho hoạt động quảng cáo đạt 2079,2 tỷ Yên, đạt mức tăng trưởng 8,7% so với năm 2000. Cũng giống như ở Mĩ các công ty quảng cáo ở Nhật Bản cũng làm ăn khá tốt. Hàng năm các

    31

    Khoá luận tốt nghiệp

    công ty này thu về một khoản thu nhập khá lớn khoảng 100 tỷ Yên. Dưới đây là 10 công ty quảng cáo có thu nhập lớn nhất ở Nhật.

    Bảng 2.3 : 10 công ty quảng cáo hàng đầu Nhật Bản.

    Stt Công ty quảng cáo Tổng thu nhập
        (tỷ Yên)
    1 Denstu 1476
    2 Hakuhodo 740
    3 Asatsu DK 341
    4 Tokyo Agency 197
    5 Daiko 158
    6 Yomiruri-Kokokusha 117
    7 I&S BBDO 100
    8 JR Higashinihon Kikaku 92
    9 McCann-Erickson 79
    10 Asahi Kokoku 60

    Nguồn: Avertising Economy Institute năm 2002, www.afa.com

    Trong xu thế hội nhập ngày càng cao, bên cạnh việc vươn mình ra thế giới của các công ty, các tập đoàn sản xuất khổng lồ của các nước phát triển như Mĩ, Nhật, Anh, Đức.. là hoạt mở rộng thị trường trên toàn thế giới của các công ty quảng cáo vốn có thiết bị hiện đại, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp cũng như một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình, các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty quảng cáo này đã, đang và sẽ vẫn làm mưa làm gió trong lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình.

    1.2. Vài nét về tình hình quảng cáo ở các nước đang phát triển.

    Trong thế giời của các đang phát triển, nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình mới đang dần được hình thành và phát triển. Tốc độ gia tăng ngân sách dành cho hoạt quảng cáo trên truyền hình ngày một tăng, với mức trung bình luôn khoảng 2 con số. Một nguyên nhân chủ yếu cho việc gia tăng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở các nước này một phần là do sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế . Mặt khác là do mức độ cạnh tranh trong các ngành kinh tế ở các nước này đang ngày càng khốc liệt. Do đó, muốn không bị loại

    Khoá luận tốt nghiệp

    ra khỏi ngành các công ty ra sức thực hiện các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh trong đó quảng cáo trên truyền hình là một công cụ quan trọng nhất ở các nước này.

    Trong thế giới các nước đang phát triển, Trung Quốc được coi là một tiềm lực kinh tế hiện nay. Cùng với chính sách mở cửa nền kinh tế kết hợp với sự hoạt động của hơn 1000 đài truyền hình từ trung uơng đến địa phương (trong đó có 8 kênh truyền hình trung ương), hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc luôn có mức tăng trưởng trên 20% ( riêng năm 1997 mức độ tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc là 47%) và đứng thứ 2 châu á (sau Nhật Bản) nếu xét về tồng chi phí dành hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Theo như số liệu của AC Nielson thì chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của Trung Quốc đạt 8,1 tỷ USD năm 2001 đạt mức tăng trưởng 17% (chiếm tỷ trọng 70% trong tổng chi phí quảng cáo ở Trung Quốc). Trong các sản phẩm được quảng cáo trên truyền hình ở Trung Quốc, thì các sản phẩm y dược luôn luôn đứng đầu. Trong số 10 công ty quảng cáo hàng đầu của Trung Quốc, có 8 công ty dược phẩm Trung Quốc và 2 công ty bia cũng của Trung Quốc. Nói chung, trong tương lai gần, hoạt động quảng cáo trên truyền hình của đất nước trên tỷ dân này sẽ ngày càng phát triển do các chính sách kinh tế ngày càng được mở rộng hơn nữa, đặc biệt sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của WTO cùng với sự thâm nhập của các công ty, các tập đoàn kinh tế hàng đầu trên thế giới vào mảnh đất đầy béo bơ nay.

    Hàn Quốc, với mức thu nhập trung bình 8581 USD một năm, cùng với tỷ lệ sử hữu tivi trên 98%, là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình mạnh thứ 3 châu á chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc. Chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Hàn Quốc năm 2001 là 1,520 tỷ USD giảm đi so với năm 2000 là 5,1% ( chi phí quảng cáo trên truyền hình của Hàn Quốc năm 2000 là 1,601 tỷ USD). Tỷ trọng của quảng cáo trên truyền hình của Hàn

    33

    Khoá luận tốt nghiệp

    Quốc không lớn như các nước châu á khác chỉ chiếm khoảng 35% trên tổng chi phí dành cho quảng cáo của cả nước này.

    Trong các nước Đông Nam á, Philịppin là quốc gia có chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhiều nhất. Mức tăng trưởng trong hoạt động quảng cáo hàng năm trăng trung bình 15%. Chi phí quảng cáo trên truyền hình ở Philippin luôn chiếm tỷ trọng khoảng 65% tổng chi phí quảng cáo. Theo số liệu của AC Neilson, năm 2001 Philippin có chi phí cho quảng cáo trên truyền hình là 907 triệu USD tăng 14,8% so với năm 2000 (trong số đó chi phí quảng cáo trên truyền hình vô tuyến là 859 triệu USD tăng 13% so với năm 2000, chi phí quảng cáo trên truyền cáp là 48 triệuUSD tăng 59% năm). Sau Philippin, Thái Lan cũng là nước có hoạt động quảng cáo trên truyền hình diễn ra mạnh mẽ. Tổng chi phí quảng cáo năm 2001 của Thái Lan là 1,2 tỷ USD trong đó quảng cáo trên truyền hình chiếm 62% tương đương với 747 triệu USD đạt mức tăng trưởng là 7,9% so với năm 2000. Inđônêsia là nước có tốc độ gia tăng ngân sách quảng cáo trên truyền hình lớn nhất luôn đạt trên 20%, năm 2001 chi phí quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng 67% tổng chi phí quảng cáo tương ứng với mức chi phí là 611,7 triệu USD, với mức tăng trưởng 23,6% so với năm 2000. Tiếp theo phải kể đến là Singapo và Malaysia, với chi phí quảng cáo trên truyền hình namư 2001 tương ứng là 310 triệu USD (đạt mức tăng trưởng 11%) và 231 triệu USD (giảm so với năm 2000 6%). Các nước Đông Nam á kể trên được coi là 5 nước có ngành côn nghiệp quảng cáo trên truyền hình phát triển vượt trội so với các nước khác trong khu vực.

    (tất cả các số liêu nêu trên là những đánh giá về chi phí quảng cáo của các nước châu Á Thái Bình Dương năm 2000, 2001, 2002 của công ty AC Nielsen _www.acnielsen.com)

    34

    Khoá luận tốt nghiệp

    2. KHÁI QUÁT CHUNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày càng lớn. Mặt khác, theo số liệu thống kê của công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, hiện nay ở 4 thị trường chủ lực là vùng đồng bằng bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), vùng duyên hải miền trung (Đà nẵng, Huế), vùng đông nam bộ ( Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương), và vùng đồng băng sông cửu long (Cần Thơ) có khoảng gần 90% số hộ gia đình có sở hữu ít nhất một chiếc Tivi ( trong đó có 95% hộ gia đình ở thành thị, và 84% hộ gia đình ở nông thôn. Nếu đem so sánh tỷ lệ con số sở hữu tivi theo hộ gia đình ở Việt Nam so với các nước trong khu vực thì có thể nói là cao, thâm chí vượt cả Trung Quốc ( Tỷ lệ sở hữu tivi ở Trung Quốc ước khoảng 75%). Trong những năm gần đây, số lượng người nghe đại có xu hướng giảm dần và trong khi số lượng người xem cũng như thời lượng xem ngày càng tăng lên. Theo bản điều tra về thói quen nghe và xem các chương trình trên các đài phát thanh và truyền hình của các khán giả từ 15 tuổi trở lên, số lượng người xem truyền hình lớn gấp 12 lần so với nghe đài

    Bảng 2.4 : So sánh lượng khán giả và thời lượng

    xem truyền hình và nghe Radio.

    Loại hình Số lượng khán giả (%) Thời lượng (%)
         
    Truyền hình 14,8 87,5
         
    Radio 1,5 25,5
         

    Nguồn: Báo Vietnam Economic Times, tháng 3 năm 2001, trang 14.

    Trong số lượng khán giả xem cáo chương trình trên các đài truyền hình tính từ năm 1990 trở lại đây, thì tỷ lệ nữ giới luôn chiếm vị trí đa số, khoảng 53 – 54 %, trong khi đó các khàn giả là nam giới chỉ chiếm có 46 – 47%. Nhìn chung, dựa trên tỷ lệ khản giả xem truyền hình, các công ty thuê quảng cáo cũng như các công ty quảng cáo sẽ định vị tốt hơn được các chương trình quảng cáo của mình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nếu xem xét đến độ tuổi xem truyền hình, thì đổ tuổi từ 35 đến 49 chiếm tỷ lệ cao nhất với mức 24% trong khi đó số lượng người xem ở độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ thấp nhất ở mức 18%.Còn các độ tuổi từ 15 đến 34 có mức độ xem tương đối hơn so với các nhóm tuổi khác chiếm 40% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. ( tuổi từ 15-24 chiếm 20%, 25-34 chếm 20% lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình.

    Biểu 1:Số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình chia theo giới tính và lứa tuổi.

    18%                         19%

    Nam     20%
    46% 24%  
    54%      
          20%  
      4-14 15-24 25-34 35- 49

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam.,năm 2002

    Nhưng nhìn chung, số lượng người xem truyền hình tính theo lứa tuổi không có sự chênh lệch rõ nét như số lượng tính theo giới tính ở trên và tính theo thu nhập ở dưới đây.

    Biểu 2.2 : Phân bổ khán giả theo dõi các chương trình truyền hình theo thu nhập

    15%

    26%

    34%

    25%

     trªn $500  $350-500  $36150-350  d−íi $150

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nguồn: Công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Các hộ gia đình có thu nhập ở mức trung bình thường xem các chương tình truyền hình nhiều hơn nhiều so với số lượng các hộ gia đình có số thu nhập hàng tháng cao hoặc thấp hoặc tương đối thấp. Các hộ gia đình có mức thu nhập trên 500 USD một tháng chỉ chiến có 15% trong tổng số các khán giả theo dõi các chương trình truyền hình, trong khi các hộ có mức thu nhập trung bình chiếm 57% lượng khán giả dõi theo các chương trình truyền hình trên cả nước.

    Mặt khác, trên các đài truyền hình, hàng ngày các chương trình truyền hình đuợc phân phối theo các chủ đề như tin tức, chính trị, kinh tế, giải trí, phim truyện, giáo dục … với thời lượng phát sóng khác nhau. Các chương trình truyền hình trên cũng thu hút số lượng khán giả xem khác nhau. Do vậy, các doanh nghiệp muốn thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình của mình được hiệu quả hơn cần phải đánh giá, đo lường được chính xác số lượng khán giả xem các chương trình khác nhau,.

    Bảng 2.5: Phân bố thời lượng phát sóng và số lượng khán giả theo các loại chương trình truyền hình.

    Loại chương trình truyền hình Thời lượng phát sóng Số lượng
      (%) khán giả (%)
         
    Tin tức, chính trị, kinh tế 15,3 9,3
         
    Phim dài tập 22 25,5
         
    Thể thao 9,8 7,8
         
    Phóng sự, tài liệu 2,9 7,2
         
    Giáo dục 2,4 2,9
         
    Giải trí 13,2 13,7
         
    Đời sống 1,6 3,5
         
    Các vấn đề được quan tâm chung 19,5 6,9
         
    Phim truyện 3,2 9,3
         

    37

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình khác 10,2 13,9
         

    Nguồn : Tổng hợp báo cáo của Tayor Nelson Sofres Việt Nan, năm 2002

    Theo như tổng kết của công ty nghiên cứu thị trường Tayor Nelson Sofres Việt Nam, số lượng khán giả theo dõi các chương trình phim truyện dài tập chiếm số lượng cao nhất, tiếp theo là các giải trí, trong khi số lượng người xem các chương trình giáo dục đào tạo, đới sống là thấp nhất.Các chương trình phim dài tập chiếm 22 % tổng thời lượng phát sóng và thu hút hơn 25% lượng khái giả theo dõi các chương trình truyền hình.. Các chương trình giả trí tuy có thới lường lượng phát sóng không thực sự nhiều song lại có tỷ lệ khái giả xem khá đông, chiếm hơn 13 % tổng lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình. Trong khi đ, các chương trình giáo dục, đào tạo có tính chọn lọc khán giả cao nhất nên có lượng khán giả theo dõi ít nhất khoảng gần 3%.

    Tựu chung, do số lượng người xem truyền hình ngày càng lớn dẫn đến việc rất nhiều doanh nghiệp tiến hành khuyếch trương, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình thông qua hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Hiện nay, bên cạnh các chương trình truyền hình vô tuyến và hữu tuyến được phát sóng trên hơn 60 kênh truyền hình trong nước là các chương trình thông tin quảng cáo. Các chương trình quảng cáo giờ đây đã trở thành một phần không thể tách rời của đời sống.

    3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM TRONG MỘT SỐ NĂM TRỞ LẠI ĐÂY.

    3.1. Chi phí quảng cáo trên truyền hình trong một số năm trở lại đây

    Có thể nói rằng, chỉ khi nước ta chính thức thi hành mô hình cơ chế thị trường và áp dụng các biện pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp, thì ngành quảng cáo trên truyền hình mới thực sự phát triển một cách chóng mặt với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn vượt 100% trong những năm đầu tiên, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình từ năm

    38

    Khoá luận tốt nghiệp

    1993- 1996 luôn ở mức năm sau tăng gần gấp đôi năm trước. Chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1995 tạt 34 triệu USD tăng 180% so với năm 1994, năm 1994 so vơi năm 1993 tăng 150% chỉ đạt 13 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng như vũ bão của hoạt động quảng cáo trên truyền hình đánh giá từ góc độ chi phí quảng cáo trên truyền hình đólà sự xuất hiện của các công ty liên doanh nước ngoài, cùng với các nhãn hiệu mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam của các doanh nghiệp liên doanh này. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển này, ngành quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam chủ yếu phát triển về quy mô theo hướng tự phát, chất lượng của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong giai đoạn này vẫn chưa thực sự được chú ý.

    Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 ước tính
                  2003
    Chi phí quảng cáo 42843 41604 47443 70793 81072 92442 105000
    (1000 USD)              
    Tỷ lệ tăng trưởng   97,1% 114% 149,2% 114,5% 114,0% 113,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng   – 2,9% 14% 49,2% 14,5% 14% 13,6%
    (%)              
    Tốc độ tăng trưởng       14,53%      
    trung bình (%)              

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam.

    Trong một số năm trở lại đây, hoạt động quảng cáo trên truyền hình bắt đầu hướng tới con đường chuyên nghiệp hơn. Tốc độ tăng trưởng xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình so vời thời kì trước có phần chững lại. Tốc độ tăng trưởng trung bình từ năm 1997 đến tháng 7 năm 2003 vào khoảng 14.5% năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Malaysia thì tốc độ tăng trưởng trong khoảng thời gian này vẫn được xem như là coi số mơ nước, đặc biệt ấn tượng khi mà các hoạt động quảng cáo trên mà hoạt động quảng cáo trên truyền

    39

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình ở Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn phát triển ổn định. Cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của quảng cáo trên truyền hình ở Malyisa gần như không tăng, thậm chí năm 2001 còn xuất hiện tình trạng tăng trưởng âm (- 6,1%) so với năm 2000, Thái Lan tuy có khá hơn song mức tăng trưởng trung bình trong thời kì này cũng chỉ đạt mức dưới 2 con số, khoảng 7,5% năm, còn Singapore cũng chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 10 % năm.

    Trong khoảng từ năm 1997-2003, năm 1998 có tốc độ tăng trưởng được coi là thấp nhất kể từ khi ngành quảng cáo trên truyền hình bắt đầu thức sự xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1998, mức chi phi dành cho quảng cáo trên truyền hình là 41,6 triệu USD, tăng trưởng âm 2,9% so với namư 1997. Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, thậm chí tăng trưởng âm so với các năm khác chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu á vào cuối năm 1997 đầu năm 1998. Trái với năm 1998, năm 2000 có tốc độ tăng trưởng nhảy vọt, tăng 49% so với năm 1999 lớn nhất trong 7 năm qua. Chi phí quảng cáo trên truyền hình của riêng năm 2000 là 70,793 triệu USD. Những lí do giải thích cho sự nhảy vọt trong chi phí quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở Việt Nam là do tình hình kinh tế các nước đã thoái ra khỏi thỏi kì khủng hoảng tài chính, cũng như những những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh hút vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp trong nước phát triển…của nhà nước như tiến hành áp dụng luật doanh nghiệp cuối năm 1999, cũng như thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sửa đổi…Trong khi đó, từ 2001 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng quảng cáo trên truyền hình duy trì ở mức ổn định 14% năm, tăng nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước trong cùng thời kì, điều đó có nghĩa là mức độ đóng góp của quảng cáo trên truyền hình vào GDP ngày càng tăng nên, vị trí của quảng cáo trên truyền hình ngày các trở nên quang trọng trong việc phát triển

    40

    Khoá luận tốt nghiệp

    xây dựng doanh nghiệp mà còn trong việc góp phần xây dựng, phát triển đất nước.

    Trong toàn bộ lĩnh vực quảng cáo, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn ở mức trên 50% trong tổng chi phí cho hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp. Theo thống kê của công ty phân tích thị trường AC Nelson năm 2002, tỷ trọng các loại hình quảng cáo ở Việt Nam như sau:

    Bảng 2.7: Tỷ trọng các loại hình quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Loại hình quảng cáo Tỷ trọng (%)
       
    Truyền hình 56%
       
    Tạp chí, ấn phẩm 27%
       
    Ngoài trời 10%
       
    Radio 5%
       
    Các loại hình khác 2%
       
    Tổng 100%
       

    Nguồn : Dựa trên số liệu AC Nielsen Việt Nam.

    Có thể nói, hoạt động quảng cáo trên truyền hình là loại hình có chi phí lớn nhất, ưu việt nhất hiện nay ở Việt Nam. Chi phí quảng cáo trên truyền hình gấp11 lấn so với hoạt động quảng cáo trên radio, gấp trên 5 lần so với chi phí cho các dịch vụ quảng cáo ngoài trời.

    Chỉ xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo của hoạt động quảng cáo trên truyền hình và quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm là hai hoạt động quảng cáo có chi phí lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo nói chung, chiếm trên 80% tổng chi phí quảng cáo chung và cũng là hai loại hình quảng cáo khá phổ biến

    • Việt Nam hiện nay. Trong một vài năm trở lại đây, Chi phí quảng cáo trên tạp chí và ấn phẩm thường chiếm tỷ trọng khoảng 25-28% năm, tốc độ tăng

    41

    Khoá luận tốt nghiệp

    trưởng trung bình hàng năm của hoạt động quảng cáo này cũng luôn đạt 2 con số. Tuy nhiên, nêu đem so sánh với mặt chi phí với quảng cáo trên truyền hình, thì quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm luôn chỉ bằng khoảng gần một nửa. Tính riêng năm 2002, chi phí quảng cáo trên tạp chí, ấn phẩm có mức tăng trưởng 27% so với năm 2001, đạt 54, 531 triệu USD, song cũng chỉ bằng 68% chi phí của quảng cáo trên truyền hình trong năm đó.

    Biểu 2.3: Chi phí quảng cáo trên truyền hình và trên tạp chí ấn phẩm trong một năm gần đây

    1000 USD

    150000

    100000

    50000

    0

    1998                 1999                2000                 2001                2002             −íc tÝnh

    2003

     

            N¨m
             
        Chi phÝ qu¶ng c¸o truyÒn h×nh   Chi phÝ qu¶ng c¸o t¹p chÝ, ©n phÈm
         
         
             

    Nguồn: Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002

    Trong một năm, chi phí quảng cáo nhìn chung cũng phân bổ không đều mà chia theo từng đợt một.

    Xem bảng phân bổ chi phí quảng cáo theo từng tháng cho thấy, thường chi phí quảng cáo trên truyền hình thường cao ở các tháng cuối năm và tháng đầu năm sau đó, cũng như một số tháng giữa năm, tạo thành một số đợt rõ rệt.

    42

    Khoá luận tốt nghiệp

    Lấy thí dụ năm 2002, chi phí dành cho quảng cáo cho tháng 1, tháng 5,6 và tháng 12 luôn luôn ở mức cao hơn so với các tháng khác. Việc phân bổ không đều của chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình theo từng tháng chủ yếu hình thành trên các đợi quảng cáo của các doanh nghiệp, tuy nhiên nguyên nhân chính ở đây lại là nhận thức về các đợi, các mùa mua xắm của người tiêu dùng. Chẳng hạn, tháng 1 và tháng 12 là các tháng gần tết, nhu cầu mua xem của người tiêu dùng luôn lớn nhất trong cả năm. Do đó, muốn lôi kéo khách hàng, thông tin nhắc nhở khách hàng về các sản phẩm, nhãn hiệu của doanh nghiệp mình, các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh hoạt động quảng cáo trên truyền hình vào các tháng then chốt này. Trong khi đó, tháng 2 là tháng có nhu cầu mua xăm nói chung ít nhất trong năm, nên chi phí dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình của các doanh gnhiệp thường rất thấp, thường chỉ bằng 60% so với chi phí quảng cáo trên truyền hình vào tháng 1 hay tháng 12 năm trước đó.

    Bảng 2.8: Chi phí quảng cáo trên truyền hình chi tiết theo tháng.

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
    T1 3582 3436 3589 5522 7184 8034 9915
    T2 2521 2236 3039 3477 4520 5254 5622
    T3 2944 2672 3041 4987 5496 5398 9140
    T4 2908 2934 3492 6187 5678 7336 10427
    T5 3343 3449 3948 6011 7186 8585 10476
    T6 3481 4212 4042 7572 7218 9719 11446
    T7 3599 3815 3456 5604 6455 7390 10228
    T8 3473 3172 3902 5734 7585 8152  
    T9 3576 3202 3898 5293 8157 7812  
    T10 4043 3501 4128 5046 6062 7377  
    T11 4267 4014 5050 6938 7302 7429  
    T12 5106 4961 5858 8422 8229 9956  
    Chi phí quảng 42843 41604 47443 70793 81072 92442 67254
    cáo 1000 USD              

    Nguồn: Số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam

    Tóm lại, quảng cáo trên truyền hình là loại hình quảng cáo được các doanh nghiệp chi phí cho nhiều nhất trong hoạt động quảng cáo nói chung.

    43

    Khoá luận tốt nghiệp

    Chi phí quảng cáo trên truyền hình tăng trưởng với tốc độ vừa cao vừa ổn định, trung bình trong một vài năm trở lại đây là 14,5%. Chi phí cho các chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo biến động theo từng tháng và có xu hướng gắn liền với vòng quay mua xắm của người tiêu dùng Việt Nam.

    3.2. Thực trạng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam theo lĩnh vực sản phẩm

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình trong những gần đây tập trung vào các sản phẩm như mĩ phẩn và các sản phẩm làm đẹp, thực phẩm , đồ uống, các sản phẩm gia dụng, dược phẩm là chủ yếu.

    Biểu 2.4 : Phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam

     

    44

    Khoá luận tốt nghiệp

    T û lÖ ph © n bæ c h i ph Ý the o lÜnh v ùc qu ¶ n g c ¸ o

    1 0 0 %

    9 0 %

    8 0 %

    7 0 %

    6 0 %

    5 0 %

    4 0 %

    3 0 %

    2 0 %

    1 0 %

    0 %

    1 9 9 9 2 0 0 0 2 0 0 1 2 0 0 2 2 0 0 3
        N ¨ m    
    K h ¸c      
    ¤ t« , X e m ¸y      

     T h ù c p h Èm

     D − î c p h Èm

     C¸c s¶m p h Èm lμm s¹ch tro n g g ia ® ×n h

    • å u è n g

     M Ü p h Èm v μ c¸c s¶m p h Èm lμm ® Ñp

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002.

    Có thể nói rằng trong một vài năm trở lại đây, các sản phẩm làm đẹp, mĩ phẩm luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí quảng cáo (thường chiếm khoảng 25% tổng chi phí quảng cáo), điểm hình như các sản phẩm như sữa rửa mặt, các sản phẩm làm trắng da của các hãng sản xuất tên tuổi như P & G, Unilever, Kao, LG.. . Cũng chiếm một tỷ trọng không kém lĩnh vực làm đẹp, các sản phẩm đồ uống cũng chiếm một vị trí đáng kể trong tổng số chi phí chi cho quảng cáo trên truyền hình, khoảng 15-17% với những sảm phẩm nổi tiếng như nước ngọt của Coca Cola, Pepsi Cola, nước tăng lực Number 1 của công ty bia Bến Thành, nước uống tinh khiết Vital, các sản phẩm bia nổi tiếng như Tiger, Heineken của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam… Các sản phẩm khá cá biệt như dược phẩm cũng được quảng cáo một

    45

    Khoá luận tốt nghiệp

    cách khá công phu và tốn kém với chi phí quảng cáo chiếm khoảng 6%, Mức độ quảng cáo các sản phẩm thực phẩm, Các sản phẩm làm sạch trong nhà cũng có chi phí quảng cáo trên truyền hình tương tự ( cũng khoảng 6%). Số chi phí còn lại giành cho quảng cáo các sản phẩm như ô tô, xe máy, các sản phẩm điên tử..

    Cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình như vậy là hợp lý. Bởi các sản phẩm như đồ uống, thực phẩm, các sản phẩm làm đẹp, các sản phẩm làm sạch trong gia đình là các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày, do đó quảng cáo trên truyền hình hàng ngày là mồt biện pháp trực quan vô cùng hữu hiệu nhằm mục đích nhắc nhở người tiêu dùng nhớ đến các sản phẩm của doanh nghiệp mình. Một lí do khác là số lượng các doanh nghiệp trong các lĩnh vực nêu trên khá lớn, thị trường cạnh tranh khốc liệt, do đó dẫn đến một thực tế là muốn tồn tại các doanh nghiệp buộc phải thực hiên các biện pháp để yểm trợ, xúc tiến hoạt động bán hàng và không một biện pháp tiếp cận nào lại có thể thu hút người tiêu dùng một cách nhanh nhất với lượng nhiều nhất như

    • hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Lí do tiếp theo để giải thích sự hợp lí trong cơ cấu phân bổ chi phí quảng cáo trên truyền hình theo lĩnh vực đó là kênh phân phối. Các doanh nghiệp, các tập đoàn sản xuất các sản phẩm nêu trên chỉ có thể tiếp cận gián tiếp đến người tiêu dùng thông quan mạng lưới các đại lý, các nhà bán lẻ.. . do vậy để tiếp cận một cách “ trực tiếp “ với người tiêu dùng các doanh nghiệp này chỉ còn có mỗi một biện pháp hữu hiệu để giới thiệu một cách chính xác nhất các đặc tính, các công dụng của sảm phẩm đó là quảng cáo trên truyền hình.

    3.3. Các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm gần đây.

    Tính đến giữa năm 2002 số lượng các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt nam là 680 chỉ tăng 4 đơn vị thuê quảng cáo trên truyền hình so với năm 2001 (báo Vietnam Economic Times số tháng 7 năm 2002).

    46

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nhìn chung, các công ty thuê quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đa phần là các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc các công ty liên doanh. Với một ngân sách quảng cáo khổng lồ, các doanh nghiệp này tiến hành các chiến lược quảng cáo rầm rộ trên truyền hình với nhiều đợt quảng cáo khác nhau. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước do có nguồn vốn hạn chế, ngân sách dành cho quảng cáo bị bó hẹp nên việc quảng cáo trên truyền hình có phần âm thầm và lẻ tẻ không hình thành các chiến dịch quảng cáo cũng như các đợt quảng cáo, chỉ có một vài các doanh nghiệp thực sự thực hiện được các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình một cách chuyên nghiệp và bài bản chẳng hạn như công ty bia Bến Thành, công ty bia Hà Nội hay công ty bia Halida.. Dưới đây là 4 công ty thuê quảng cáo lớn nhất ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.

    Trong 5 năm qua, Unilever Việt Nam vẫn khẳng định mình là nhà thuê quảng cáo hàng đầu ở Việt Nam với chi phí quảng cáo trung bình trong năm

    • triệu USD ( theo số liệu của AC Nelsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam). Trong năm 1999, Unilever Việt Nam chi khoảng 14 triệu USD cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đến năm 2000 con số đạt mức kỉ lục là 20 triệu USD tương đương với 34% tổng chi phí dành cho quảng cáo ở Việt Nam của năm 2000. Trong 7 tháng đầu năm 2003 các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình tuy không rầm rộ bằng năm 2002 song cũng tốn kém khoảng hơn 6 triệu USD.

    Tiếp theo phải kể đến đối thủ số một của Unilever ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đó là P&G . Với số lượng nhãn hiệu kinh doanh ở Việt Nam ít hơn nên chi phí dành cho quảng cáo trên truyền hình của hãng cũng ít hơn nhiều so với Unilever. Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của P&G Việt Nam hàng năm chỉ vào khoảng 3-4triệu USD, trong đó chi phí quảng cáo trên truyền hình của hãng năm 1999 là 4.118.000 USD, năm 2000 là 3.290.000 USD và ước tính năm 2003 chi phí quảng cáo trên truyền hình của P&G Việt Nam ước tính cũng khoảng gần 4 triệu USD.

    47

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam trong những năm gần đây đã thu được nhiều thành công đáng kể, chiếm được thị phần khá lớn trên thị trường đồ uống Việt Nam. Thông qua hai công ty quảng cáo hàng đầu trên thế giới là Bates Worldwide và Lowe & Partners, tập đoàn các nhà máy Việt Nam đã trình diễn những chương trình quảng cáo ngoạn mục theo những trường phái khác nhau cho 2 loại sản phẩm bia là Tiger và Heineken.Chi phí quảng cáo trên truyền hình hàng năm của công ty trong những năm qua vào khoảng 2,4 triệu USD( trong đó năm 1999 là 1.668.000 USD, năm 2000 là 2.056.000 USD, năm 2002 với show quảng cáo “ The Quest” với thời lượng kỉ lục 120 giây đã làm cho chi phí cho quảng cáo trên truyền hình của hãng tăng lên đáng kể hơn 4 triệu USD.

    Coca Cola Việt Nam, tuy không còn rấm rộ như một vài năm trước song vẫn đứng trong top 10 nhà thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam trong vòng 5 năm trở lại đây. Với chi phí quảng cáo trên truyền hình lên tới hàng triệu USD, Coca Cola luôn tạo ra những chương trình quảng cáo trẻ trung, mới lạ , Hàng năm công ty bỏ ra khoảng 2,5 triệu USD phục vụ hoạt động quảng bá thương hiệu của mình trên truyền hình (chi phí quảng cáo trên truyền hình năm 1999 là 2.721.000 USD, năm 2000 là 3.452.000 USD, năm 2003 với chiến dịch quảng cáo “anthem” Coca cola cũng bỏ ra khoảng gần 2 triệu USD).

    3.4. Các nhãn hiệu được quảng cáo trên truyền hình trong một số năm gần đây.

    Từ năm 1999 trở lại đây, đã có nhiều chiến dịch quảng cáo trên truyền hình khác nhau được tung ra để khẳng định các nhãn hiệu cũng như thương hiệu của các doanh nghiệp. Bằng việc xuất hiện nhiều lần trên truyền hình mà tên của một số nhẫn hiệu đã được người tiêu dùng sử dùng để thay thế cho tên một mặt hàng nào đó.

    Năm1999, nhãn hiệu bột giặt Omo được Unilever cho xuất hiện trên truyền với số lần phát sóng nhiều nhất trong 5 năm trở lai đây hơn 3000 lần.

    48

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tiếp theo phải kể đến là chương trình quảng cáo giới thiệu sản phẩm xe máy Future mới của công ty Honda Việt Nam, các chiếc xe Future lần lượt xuất hiện trên truyền hình đến 1549 lần trong năm 1999. thuê quảng cáo trên truyền hình lớn ở Việt Nam. Hai nhãn hiệu khác của Unilever là đầu gội đầu Sunsil và Clear cũng được trình làng khá thuyết phục với số lần xuất hiện trên truyền hình trên 2000 lần.

    Bảng 2.9: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 1999.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 1999 (1000USD) truyền hình
    Bột giặt Omo 1862 3225
    Xe máy Honda 1391 1549
    Dầu gội đầu Sunsil 1334 2322
    Nước ngọt Coca – 1118 1858
    cola    
    Dầu gội đầu Clear 1097 2087

    Nguồn: Tổng kết số liệu của AC Nelsen Việt Nam/ Vietnam Consumers and Advertising, năm 2000.

    Trong năm 2000, nhãn hiệu dầu gôi đầu Clear của Unilever Việt Nam vươn lên vị trí số 1 xét về số lần quảng cáo trên truyền hình. Số lần được quảng cáo trên truyền hình của nhãn hiệu này trong năm 2000 là 2010 là, vượt xa nhãn hiệu thứ 2 là kem đánh răng P/S. Nhãn hiệu P/S cũng của Unilever Việt Nam có số lần phát sóng trên truyền hình là 1609 lần.Đứng thứ 3 cũng là một nhãn hiệu khác của Unilever Việt Nam, đó là nhãn hiệu bột giặt Omo, xuất hiện trên truyên hình tận 1204 lần. Nhãn hiệu Coca cola vẫn giữ được vị trí so với năm trước và có số lần phát sóng là 1200 lần trong năm 2000. Tuy có chi phí quảng cáo thấp, song nhãn hiệu Doublemin lại có số lần phát sóng tương đối lớn, 1195 lần, đứng thứ năm trong bản tổng sắp 5 nhãn hiệu có số lần quảng cáo

    49

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.10 : Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2000.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2000 (1000USD) truyền hình
    Dầu gội đầu Clear 920 2010
    Kem đánh răng P/S 905 1609
    Bột gặt Omo 826 1204
    Nước ngọt Coca – cola 1038 1200
    Kẹo cao su Doublemin 396 1195

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2001

    Trong năm 2001, nhãn hiệu nước tăng lực Number 1, của một doanh nghiệp trong nước đầu tiên, công ty bia Bến Thành được xếp vào trong top 5 nhãn hiệu, có số lần phát sóng truyên truyền hình 1495, chỉ đứng sau nhãn hiệu Lifebouy của P&G với số lần xuất hiện trên truyền hình là 1785lần và nhãn hiệu Cool air 1698 lần. Nhãn hiệu Number 1,vượt qua cả nhãn hiệu kem đánh răng P/S với số lần xuất hiện là 1139 lần và Doublemin 898 lần.

    Bảng 2.11: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2001.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên Số lần xuất hiện trên
      truyền hình 2001 truyền hình
      (1000USD)  
    Xà phòng tắm Lifebouy 590 1485
    Kẹo Cool air 526 1698
    Nước tăng lực Number 156 1495
    1    
    Kem đánh răng P/S 449 1139
    Kẹo cao su Doublemin 243 898

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2002.

    Năm 2002, với những chương trình quảng cáo truyền hình rầm rộ, oộng với hàng loại các chương trình tài trợ trên truyền hình, nhãn hiệu bia Tiger của tập đoàn các nhà máy bia Việt Nam được đưa lên truyền hình nhiều nhất vớí số lần xuất hiện là 1918. Xếp thứ hai là một loạt các sản phẩm điện gia dụng mang nhãn hiệu Toshiba với số lần phát sóng là 1485 lần. Nhãn hiệu nước tăng lực Number

    50

    Khoá luận tốt nghiệp

    1của công ty bia Bến Thành tụt xuống vị trí thứ 4 với số lần phát sóng là 1039 lần, đứng sau nhãn hiệu Doublemin với 1209 lần. Đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu làm đẹp Hazeline của Unilever với số lần xuất hiện trên truyền hình là 982 lần.

    Bảng 2.12: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình năm 2002

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền Số lần xuất hiện trên
      hình 2002 (1000USD) truyền hình
    Bia Tiger 1218 1918
    Toshiba 654 1485
    Keo cao su Doublemin 257 1209
    Nước tăng lực Number 1 71 1039
    Mĩ phẩm Hazeline 283 972
         

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, đầu năm 2003.

    Trong 6 tháng đầu năm 2003, nhãn hiệu bia Tiger vẫn giữ nguyên phong độ so với năm 2002 dẫn đầu với số lần phát sóng1803 lần, tiếp theo là sản phẩm nước làm mền vải Comfort của Unilever Việt Nam với số lần phát sóng là 1602 lần. Đứng thứ 3 và 4 là hai nhãn hiệu của các công ty 100% vốn trong nước là nhãn hiệu nước tăng lực Number 1 và nhãn hiệu bột gặt Viso chanh với số lần phát sóng trên truyền hình lần lượt là 1585 và 1086 lần. Cuối cùng trong nhóm 5 nhãn hiệu có số lần phát sóng nhiều nhất là nhãn hiệu Toshiba.

    Bảng 2.13: Các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình 6 tháng đầu năm 2003.

    Nhãn hiệu Chi phí quảng cáo trên truyền hình 6 Số lần xuất hiện
      tháng đầu năm 2003 (1000USD) trên truyền hình
    Bia Tiger 1147 1803
    Nước mền vải Comfort 849 1602
    Nước tăng lực Number 1 368 1585
    Bột gặp Viso 616 1084
    Toshiba 572 952

    Nguồn : Tổng hợp số liệu của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, 6 tháng đầu 2003.

     

    51

    Khoá luận tốt nghiệp

    Tuy nhiên, bảng xếp loại các nhãn hiệu được xuất hiện nhiều nhất trên truyền hình này chỉ tính đến 6 thàng đầu năm 2003. Thứ tự của các nhãn hiệu này sẽ thay đổi rất lớn, do cuối năm các doanh nghiệp thường đua nhau tiến hành các chương trình quảng cáo trên truyền hình nhăm thu hút sự chú ý của khách hàng, đặc biệt là những tháng gần tết. Bởi đầy là thời kì người tiêu dùng mua xắm nhiều nhất trong năm.

    3.5.Các chương trình quảng cáo nổi bật trong một số năm trở lại đây

    Trong những năm trở lại đây, càng ngày càng có nhiều hơn các chương trình quảng cáo chất lượng tốt, có nội dụng nổi bật. Dưới đây là một số các chương trình được đánh giá là nổi bật nhất.

    Trước tiên phải kể đến là các chương trình quảng cáo của nhãn hiệu bia Heineken. Bền bỉ và rất sáng tạo, các chương trình quảng cáo ( như mẫu quảng cáo tắt đèn, hay rào cản khó khăn) của Heineken hầu như loại bỏ đi những lời thuyết minh, tập trung đưa ra những hình ảnh hấp dẫn và luôn kết thúc với tagline ‘Chỉ có thể là Heineken” đã gấy được nhiều ấn tượng tốt đối với người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là đối với giới trê Việt Nam. Lấy ví dụ mẫu quảng cáo rào cản khó khăn, một chàng trai trong quàn bả phải vất vả lục tay xuống tận đáy thùng nước đá, mò mẫn mãi mới được chia Heineken mong ước, lúc này tay chàng trai đã run lên lập cập vì lạnh. Mẫu quảng cáo được đánh giá là mẫu quảng cáo tiêu biểu mang phong cánh rất Heineken, trong đó người làm quảng cáo đã rất kéo léo trong việc gắn kết nhãn hiệu Heineken với bản lính và các tính của người đàn ông hiện đại.

    Trái với các mẫu quảng cáo độc đáo của Heineken, chương trình quảng cáo của nhãn hiệu dich vụ S-fone lại hướng đến những hình ảnh giàu cảm xúc, có tính liên tưởng cáo nhằm thể hiện tần quan trọng của lời nói trong cuộc sống hàng ngày. Với lời thuyết minh khá ngắn gọn và xúc tích, nhất quán trong từng hình ảnh minh họa: lời nói theo suôt cuộc đời, lời nói truyền cảm hứng, lời nói

    52

    Khoá luận tốt nghiệp

    làm nhói đau…Tất cả các thông điệp và hình ảnh đều nhằm lm nổi bật thông điệp

    “ Lời nói sẽ thên sức mạnh với S-fone”. Mẫu quảng cáo này cũng được đánh giá rất cao, nó vừa có tính liên tưởng cao, song lại vẫn dễ hiểu, dễ cảm nhận, tác động mạnh mẽ đến nhiều đối tượng tiêu dùng khác nhau.

    Khác so với 2 mô hình quảng cáo ở trên, các mẫu quảng cáo của Kotex lại hướng vào đới sống sôi động hàng ngày của thanh niên hiện nay. Các mẫu quảng cáo Kotex sử dụng tốt đa hiệu ứng âm thanh. Những lời hát nền trong mẫu quảng cáo Kotex như “ tôi muốn vô tư cùng bạn bè đi khắp nơi…” khá độc đáo và dễ đi vào lòng người, đặc biệt ấn tượng đối giới trẻ nữ.

    Ba mẫu quảng cáo với 3 phong cách thể hiện khác nhau ( mẫu một chú ý đến tình huống, mẫu thứ 2 tập trung vào những hình ảnh giàu cảm xúc, mấu thứ 3 chú ý khai thác tốt đa hiệu ứng âm thanh) trong rất nhiều các mẫu chương trình quảng cáo trên truyền hình đặc sắc và nổi bật. Nói chung, các mẫu quảng cao muốn thành công cần phải đảm bảo trước hết các nguyên tắc trong quảng cáo nói chung (như tính trung thực, tính pháp lý và đặc tính thẩm mĩ, văn hoá), tiếp tới phải tận dụng tối đa được các yêu tố kĩ thuật của hoạt động quảng cáo trên truyền hình: đó là yếu tố hinh ảnh, âm thanh, nội dung, tình huống, cốt truyện…

    3.6. Môt số bất cập trong các chương trình quảng cáo hiện nay ở Việt Nam

    Hoạt động quảng cáo trên truyên hình hiện nay đang ngày càng đi theo con đường chuyên nghiệp. Các chương trình quảng cáo trên truyền bắt đầu gây được nhiều ấn tưởng sâu sắc, có chất lượng và nội dung ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tốt của đạt được, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn còn một số bất cập. Đó là các hiện tượng quảng cáo phóng đại, quảng cáo lừa bịp, quảng cáo gây nhầm lẫn và gay bực bội cho người xem.

    53

    Khoá luận tốt nghiệp

    Các chương trình quảng cáo với những lời thuyết minh quá phóng đại, những lời thuyết minh mập mờ lừa bịp về chất lượng của sản phẩm dịch vụ vẫn còn xuất hiện khá nhiều trên truyền hình như sản phẩn dịch vụ “số một thế giới”, sản phẩm dịch vụ “có chất tốt nhất” mà không đưa ra một bằng chứng cụ thể nào. Thâm chí một số chương trình quảng cáo còn đưa ra những thông tin hoàn toàn sai lệch về công dụng của hàng hóa. Mới đây trên chương trình thới sự ngày 14 tháng 12 năm 2003 có nêu lên hiện tượng một số sản phẩm y dược có nội dung quảng cáo không đúng với công dung của sản phẩm.

    Ngoài ra, còn có một số chương trình quảng cáo đưa ra những hiệp hội này, hiệp hội kia để lừa bịp khách hàng. Lấy quảng cáo về kem làm trắng răng là một ví dụ. Cả ba cơ quan như Tổ chức Quản lý Dược và Thực phẩm, Cục Thương mại Liên bang và Hiệp hội về Răng (Mỹ) đều không thể nào xác định thế nào là kem đánh răng làm trắng răng, các thành phần hay công nghệ sản xuất của nó ra sao. Thế mà, Close-Up cam đoan làm cho răng ngày càng trắng hơn, P/S hứa hẹn đẩy lùi các vết ố… Trên thực tế, kem đánh răng chỉ làm sạch răng, làm chúng có vẻ trắng hơn. Mặt khác, theo chí Consumer Reports (Bản tin Người tiêu dùng của Mỹ) đã thử nghiệm 14 loại kem đánh răng được quảng cáo là làm trắng răng thì không sản phẩm nào có thể làm trắng men răng. Như vậy, các quảng cáo như trên là sai sự thật, đó là hành vi lừa gạt tâm lý người tiêu dùng.

    Bên cạnh những quảng cáo mập mờ, phóng đại thậm chí lừa bịp người tiêu dùng, là những chương trình quảng cáo gây xúc phạm. Nhìn chung, các chương trình quảng cáo luôn phải thể hiện tính văn hoá, trách gây ra những liên tưởng gây xúc pham đến người xem. Mới đây, Unilver Việt Nam có tiến hành quảng cáo nhãn hiệu P/S sữa mới với hình ảnh một chàng bác sĩ cho bò nghe nhạc Briney Spear để có được nhiều sữa hơn cho việc sản xuất kem

    54

    Khoá luận tốt nghiệp

    đánh răng P/S làm cho người xem cảm thấy thực sự bị xúc phạm đặc biệt là người yêu quý những bài hát của nữ ca sĩ Briney Spear.

    Ngoài ra, cón có một số chương trình quảng cáo gây cho người xem bực bội, nguyên nhân chủ yếu là do có sự khác biệt về các giá trị đạo đức cũng như sự phác biệt về thuần phòng mĩ tục. Gần đây, tập đoàn LG có tung ra một chương trình quảng cáo cho máy bơm Wilo. Hình ảnh những thiếu nữ trong những chiếc áo dài truyền thống vốn chỉ trưng diện trong các ngày lễ hộ trang trọng, uy nghiệm thì lại được các nhà quảng cáo cho nhảy múa dưới những vòi nước với những chiếc áo dài trắng ướt sũng bó sát cơ thể, làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy vô cùng bực bội, đặc biệt là những khán giả nữ giới.

    Trên đây chỉ là một trong số những ví dụ về những bất cập trong hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam. Những bật cập nêu trên cần phải được xoá bỏ nhằm cho hoạt động quảng cáo trở nên lành mạnh hơn, thực sự tạo cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình là cầu nối vững chắc nhất giữa người sản xuất và người tiêu dùng.

    3.7. Các tổ chức quảng cáo ở Việt Nam

    3.7.1. Các tổ chức quảng cáo trong nước

    Chỉ trong vòng vài năm trở lại đây số lượng các công ty quảng cáo trong nước tăng lên đáng kể. Hiện nay số lượng các công ty quảng cáo trong nước có khoảng gần 300 công ty. Các công ty quảng cáo trong nước nhìn chung chưa cơ sở và kĩ thuật thực sự hiên đại để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình thực sự xuất sắc như các tổ chức quảng cáo trên truyền hình nước ngoài. Tuy nhiên, các công ty, các tổ chức quảng cáo lại có lợi thế tuyệt đối về mức phí để sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Thông thường mức phí để sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình do công ty quảng cáo trong nước thực hiện giao động trong khoảng từ 10 đến 300 triệu ( tức là khoảng 1500 USD) hay khoảng từ 2 – 4 % tổng chi

    Khoá luận tốt nghiệp

    phí dành cho quảng cáo của một doanh nghiệp tuỳ thược vào mức độ kĩ sản dựng hình. Chẳng hạn như, chi phí để sản xuất chương trình quảng cáo cho pin con ó Đồng Nai là 15 triệu, hay cho ổn áp Rôbốt là 18 triệu. Nếu đem so sánh với mức phí sản xuất một chương trình quảng cáo trên truyền hình của một tổ chức quảng cáo nước thì mức phí này là quá thấp chỉ bằng khoảng 20-25%. Nói chung giá sản xuất các chương quảng cáo do các tổ chức quảng cáo trong nước thực hiện khá phù hợp với đa số các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam. Với một mức phí không lớn, các công ty có nguồn vốn hạn chế cũng có thể có cơ hội thực hiện các chương trình giới thiệu các sản phẩm của mình trên truyền hình.Tuy số lượng các công ty quảng cáo trong nước nhiều song chỉ có khoảng vài chục công ty là có quy mô nổi bật nhất như trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình thuộc đạic truyềnhình VIệt Nam (TVAd), công ty dịch vụ quảng cáo và thương mại Vinadex, công ty quảng cáo và hội chợ thương mại Vinexad, công ty quảng cáo VMC, công ty quảng cáo Trẻ,côngty quảng cáo Đất Việt, công ty quảng cáo Sài Gòn, côngty quảng cáo Goldsun ..

    3.7.2. Các công ty quảng cáo nước ngoài

    Sau khi luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ban hành tháng 12/1989 và có hiêu lực vào đầu năm 1990, các công ty sản xuất và cung cấp các dịch vụ trong đó có một số công ty quảng cáo lớn trên thế giới lác đác có mặt tại Việt Nam để khai thác những tiềm năng to lớn của thị trường đầy mới mẻ này. Đặc biệt là sau khi Mĩ rỡ bỏ lệnh cấm vân kinh tế Việt Nam, số lượng các công ty, các tập đoàn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng đầu của thế giới bắt đầu tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, kéo theo sự gia tăng của các công y sản xuất là các tập đoàn, các công ty dịch vụ đặc biệt là các công ty quảng cáo nôit tiếng trên thế giới như công ty quảng cáo Bates của Mĩ, Claude của Pháp, Denstu của Nhật bản, Optel Media của úc…

    56

    Khoá luận tốt nghiệp

    Sau khi tham gia vào thị trường Việt Nam, với một bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực quảng cáo, các công ty quảng cáo nước ngoài băt đầu tiến hành những khâu cơ bản trong nghiệp vụ quảng cáo. Đó là việc khai thác các thị trường quảng cáo mới thông qua các cuộc điều tra về thị trường, các cuộc điều tra xã hội học và tâm lý học cũng như những cuộc điểu tra về phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp Việt Nam. Sau khi đã nắm bặt đước sự phát triền của dich vụ quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam cũng như những hành vi tiêu dùng của người Việt Nam, trong một thời gian ngắn các công ty đã bắt đầu thiết kế những chương trình quảng cáo khá ấn tượng.

    Nhìn nhận thực tế là các tập đoàn lớn thường không thuê các công ty quảng cáo trong nước trực tiếp làm quảng cáo cho họ. Bởi do các công ty này yêu cầu những công ty quảng cáo phải thực sự chuyên nghiệp trong việc xây dựng các chiến dịch quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình noi riêng, thực hiện các chiến dịch quảng cáo nghiêp cứu và đánh giá các chương trình quảng cáo. Đồng thời các công ty quảng cáo nước ngoài có công nghệ, máy móc chuyên dụng trong việc thực hiện các đoạn phim quảng cáo.

    Mặt khác, các công ty nước ngoài thường đã có các hợp đồng dài hạn kí với các công ty quảng cáo nước ngoài thậm chí trước khi đặt chân lên thị trường Việt Nam. Chẳng hạn, Công ty Denstu làm các dịch vụ quảng cáo cho Honda trên toàn thế giới, cũng như ở đâu có Heineken thì ở đó có Bates & Worldwide. Sở dĩ các công ty sản xuất thường thực hiện hợp đồng dài hạn với các côngty quảng cáo bởi các công ty quảng cáo hiện thời đã có cái nhìn tổng quát về thực tế kinh doanh và sản xuất của các công ty trên.

    Bên cạnh đó, Các công ty sản xuất và kinh doanh ở Việt Nam lại chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, khả năng trang trải cho các chương trình quảng cáo truyền hình đồ sộ là không khả thi, nên cũng rất ít công ty trong nước thuê các công ty quảng cáo nước ngoài thực hiện các chương trình quảng cáo cho mình. Một thí dụ thực tế đơn giản, công ty Honda Việt Nam hiện đang

    57

    Khoá luận tốt nghiệp

    tiến hành chiến dịch quảng cáo lấy tên “ Tôi yêu Việt Nam” thông qua công ty quảng cáo Denstu Việt Nam với chỉ chi phí làm phim thôi cũng đã mất khoảng hơn 80.000 USD. Nói chung các chi phí thủ lao cho các công ty quảng cáo nước ngoài thường vào khoảng 15- 20% tông chi phí thực hiện chương trình quảng cáo, con số này gấp 2 lần so với chi phí bỏ ra để thuê các công ty quảng cáo trong nước. Tuy khoản phí giành cho quảng cáo tuy lơn nhưng cũng phải nói rằng chất lượng của các chương trình quảng cáo luôn có chất lượng tốt. Chính vì thế mà rất nhiều các công ty quảng cáo lớn đã và đang đăng kí kinh doanh ở Việt Nam.

    Trong số các công ty quảng cáo nước ngoài hiện nay, có khoảng hơn 20 công ty quảng cáo nước làm ăn phát đạt, đồng thời chiếm lính hầu hết các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Có thể liêu kê một số các công ty tiêu biểu:

    Bảng 2.14 : Một số công ty, văn phòng đại diện quảng cáo nước ngoài ở Việt Nam

    Stt Tên công ty Địa chỉ
         
    1 J. Watlter Thompson Co. 2E, Nguyễn Thành ý, Q1, HCM.
         
    2 Bates Worldwide 88 Mạc Đĩnh Tri, Q1 , HCM
           
    3 Leo Burnett Co. 27 Nguyễn Trung Trực, Q1, HCM.
           
    4 Saatchi & Saatchi Advertsing 72 Võ Thị Sáu, Q1, HCM
         
    5 Ogilvy & Mather 55 Hồ Văn Hơn, Q1, HCM.
         
    6 BBOO Worldwide 1A, Công trường Mê Linh , Q1, HCM
           
    7 Grey Indochina 35 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         
    8 Optel Media 120 Nguyễn Văn ThụmQ1, HCM
         
    9 McCann Erickson Worldwide 429 Võ Văn Tần, Q3, HCM
         
    10 Hakuhodo 65 Lê Lợi, Q1, HCM
         
    11 Denstu 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
         
    12 Dai – Ichi Kikaku 115 Nguyễn Huệ, Lầu 8, Q1, HCM
           

    58

    Khoá luận tốt nghiệp

    13 Prakit- FCB 106 Nguyễn Đình Chiểu, Q1, HCM
         
    14 Denstu Young – Rubicam 8 Nguyễn Huệ Q1, HCM
         
    15 Asatsu – DK 115 Nguyễn Huệ, Q1, HCM
         

    Nguồn : www. svhtt.hochiminh.vn/thông tin/quảng cáo

    3.8. Các tổ chức truyền thông

    Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 60 đài truyền hình cả trung ương lẫn địa phương.Tất cả các đài truyền hình trên cả nước được coi là các tổ chức, các doanh nghiệp nhà nước nhằm phục nhu cầu phát triển đất nước cũng như nhu cầu thông tin giải trí cho nhân dân. Tuy là các tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, song tất cả các đài tuyền hình trên cả nước đều thực hiện dịch vụ cho thuê phát sóng quảng cáo trên các đài truyền hình của mình với các mức phí cho thuê phát sóng khác nhau. Tuy nhiên, Hoạt động cung cấp các phát sóng quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự cạnh tranh giữa

    • đài truyền hình lớn: đài truyền hình Việt Nam, đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, và đài truyền hình Hà Nội.

    Đài truyền hình Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về phạm vi phủ sóng. Các chương trình truyền hình được phát trên đài truyền hình Việt Nam được thu phát trên toàn quốc, tuy nhiên chi phí cho thuê phát song lại tương đối cao so với các đài truyền hình khác.

    Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh và đài truyền hình Hà Nội tuy có diện phủ sóng nhỏ hơn rất nhiều so với đài truyền hình Việt Nam, song đối với tổ chức thuê quảng cáo thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đươc coi là

    • trọng điểm kinh tế lớn nhất trong cả nước, ngoài ra chi phí quảng cáo tại hai đài này lại khá phải chăng so với đài truyền hình Việt Nam.

    Các đài truyền hình thương thực hiện các hình thức kinh doanh như: thực hiện các phòng sự, phim chuyên quảng cáo nhằm giới thiệu doanh nghiệp, sảm phẩm của daonh nghiệp (các phim chuyên quảng cáo theo nghi định 24/2003 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo có thời lượng

    Khoá luận tốt nghiệp

    phát sóng liên tục trên 10 phút), bán spot quảng cáo, kêu gọi tài trợ cho các chương trình phát sóng trên truyền hình có bản quyền như các chương trình khoa học, phim truyện cũng như tài trợ cho các chương trình vui chơi giải trí…

    Được biết, mức doanh quảng cáo trên truyền hình của chỉ ba đài truyền hình kể trên năm 2002 đạt khoảng 83 triệu USD (chiếm khoảng 90% tổng doanh thu từ hoạt động quảng trên truyền hình trong cả nước. Trong 3 đài truyền hình kể trên thì đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh được coi là hoạt động có hiệu quả nhất, mức doanh thu hàng năm của của đài thường chiếm khoảng 40 – 45 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình trong cả nước. Đài truyền hình Việt Nam có mức doanh thu thường chiếm 20-24 % tổng doanh thu quảng cáo trên truyền hình

    4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHI PHÍ QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    Các nhân tố ảnh tác động trực tiếp đến chi phí quảng cáo trên truyền hình gồm có phí quảng cáo và hành lang pháp luật.

    4.1. Phí quảng cáo trên truyền hình

    Yếu tố phí quảng cáo trên truyền hình nêu ra ở đây bao gồm các chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình và phí phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Mức phí sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình rất đa dạng. Nó phụ thuộc vào yếu tố kĩ thuật hình thành nên chương trình quảng cáo, cũng như phụ thuộc vào công ty quảng cáo sản xuất chương trình quảng cáo đó. Các chương trình quảng cáo đơn gian, có thời lượng quảng cáo ngắn, sử dụng ít kỹ xảo sản xuất thường có mức phí sản xuất từ 1000- 10.000 USD, trong khi các chương trình quảng cáo có chất lượng kĩ thuật cao, có quy mô lớn thường có chi phí cao hơn nhiều. Chi phí sản xuất chương trình quảng cáo trên truyền hình của các công ty trong nước sản xuất thời thấp hơn từ 4-5 lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    so với các chương trình quảng cáo được sản xuất bởi các công ty liên doanh và các công ty nước ngoài. Chi phí sản xuất quảng cáo do các công ty liên doanh thường chiếm khoảng 15-20% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp. Trong khi đó, chi phí sản xuất các chương trình quảng cáo của các công ty trong nươc chỉ chiếm khoảng 3 – 5% tổng chi phí dành cho cả chương trình quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp thuê quảng cáo.

    Cũng giống như chi phí sảm xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình cũng khá đa dạng. Chi phí phát sóng các chương trình quảng cáo có sự khác biệt không chỉ giữa các đài truyền hình khác nhau mà còn sự khác biệt trong từng thời điểm phát sóng. Mức phí quảng cáo còn có sự phân biệt đối với các sản phẩm dịch vụ nước ngoài, liên doanh với các hàng hoá dịch vụ của các doanh nghiệp trong nước.

    Chẳng hạn như biểu giá quảng cáo trên truyền hình năm 2003 của đài truyền hình Việt Nam (VTV) (xem phụ lục), Chi phí quảng cáo tối thiểu cho

    • giây quảng cáo trên truyền hình vào lúc 6 giờ đến 12 giờ ngoài các chương trình phim và giải trí là 1,5 triệu đối với các sản phẩm và dịch vụ nước ngoài, liên doanh và 1,125 triệu đối với các sản phẩm dịch vụ trong nước. Chi phí lớn nhất cho 10 giây quảng cáo là vào lúc 20 giờ đến 23 giờ trong các chương trình phim và giải trí đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 11,063 triệu và đối với sản phẩm dịch vụ liên doanh và nước ngoài là 13,750 triệu. Chi phí phát sóng này sẽ tăng lên theo thời lượng phát sóng, như cho 10 giây, 15 giây, 20, 30 giây phát sóng. Ngoài ra, VTV còn ấn định mức phí phát sóng các chương trình quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp có độ dài từ 3 phút đến 10 phút voí mức phí là 15 triệu một phút cho các doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài, liên doanh, và 12 triệu/phút cho các doanh nghiệp trong nước.

    61

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.15: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2003

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịch vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 2.250.000 22.125.000 3.000.000   29.500.000
               
    HTV 480.000 7.650.000 810.000   17.010.000
               
    EAC 260.000 3.900.000 150.000   1.950.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biều giá quảng cáo của VTV,HTV và EAC, năm 2003.

    Trên đây là biểu phí quảng cáo của 3 đài truyền hình: đài truyền hình Việt Nam (VTV), đài truyền hình Hà Nội (HTV) và công ty quảng cáo và thiết bị truyền hình (EAC) cho 30 giây quảng cáo.

    Các đài truyền hình khác nhau có đưa ra những biểu phí phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình khác nhau. Nguyên nhân giải thích sự khác biệt trong biểu phí của các đài truyền hình là do yếu tố cạnh tranh cũng như phạm vi phủ sóng. Chẳng hạn như, biểu giá quảng cáo của đài truyền hình Hà Nội luôn thấp hơn so với biểu phí quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam, do phạm vi phủ sóng của đài truyền hình Việt Nam lớn hơn nhiều so với đài truyền hình Hà Nội.

    Ngoài ra, ta có thể nhận thấy biểu phí quảng cáo của các đài truyền hình có xu hướng tăng lên theo thời gian, đặc biệt là đối với các hàng hoá dịch vụ trong nước. Nếu như giá tối thiểu cho 30 phút/ lần phát sóng của VTV năm 2001 đối với sản phẩm dịch vụ trong nước là 1,5 triệu đồng, thì đến năm 2003 mức giá tối thiểu này đã tăng lên 525.000 đồng tức là giá tối thiểu hiện nay là 2,25 triệu đồng. Biểu phí quảng cáo cho các hàng hoá dịch vụ nước ngoài là liên doanh cũng có tăng nhưng tỷ lệ tăng thấp hơn so với các sản phẩm dịch vụ trong nước.

    62

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bảng 2.16: Biểu giá tối thiểu và tối đa của một số đài truyền hình cho 30 giây quảng cáo áp dụng cho 2001

              Đơn vị: đồng
             
      Sản phẩm dịch vụ trong nước Sản phẩm dịc vụ liên doanh, nước
          ngoài  
               
      Giá tối thiểu Giá tối đa Giá tối thiểu   Giá tối đa
               
    VTV 1.500.000 5.500.000 6.000.000   24.500.000
               
    HTV 240.000 3.500.000 120.000   17.500.000
               

    Nguồn: Tổng hợp biểu giá của VTV và HTV cho năm 2001.

    Bên cạnh việc đưa ra biểu phí quảng cáo, các đài truyền hình còn đưa ra những mức giảm giá và tỷ lệ giảm giá khác nhau. Mức độ giảm giá này có sự khác biệt rõ ràng giữa các sản phẩm trong nước và các sản phẩm dịch vụ nước ngoài , liên doanh. Bên cạnh đó, các đài truyền hình còn ấn định tỷ lệ giảm giá tương đối khác nhau đối với các khách hàng. Các công ty quảng cáo thường được hưởng mức giảm giá cao hơn so với các đối tượng khác. Mức giảm giá của đài truyền hình Hà Nội theo mức độ giảm giá có tỷ lệ giảm giá cao hơn 2% so với các đối tượng khác. Nguyên nhân chủ yếu của việc giảm giá nhiều hơn này, là do các công ty quảng cáo là những khách hàng thường xuyên của các đài truyền hình. ( Mức độ và tỷ lệ giảm giá chi tiết trong phụ lục).

    4.2. Quản lý nhà nước đối với quảng cáo trên truyền hình

    Tổng chi phí quảng cáo trên truyền hình hình thành trên cơ sở các loại phí quảg cáo trên truyền hình cũng như thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Hiện nay, ở Việt thời lượng quảng cáo bị chi phối trực tiếp bởi các quy định của luật pháp. Theo Nghị đinh 24/ 2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo, thời lượng quảng cáo cũng như các quy định về đợt quảng cáo trên truyền hình là vô cùng khắt khe. Mỗi chương trình phim truyện trên đài truyền hình không được ngắt quảng cáo quá 2 lần, mỗi lần

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo không quá 5 phút, mỗi chương trình vui chơi giải trí không được quảng cáo quá 5 phút. Mỗi đợt phát sóng quảng cáo cho một sản phẩm không được quá 8 ngày liên tục. Ngoài ra, một số các sản phẩm còn bị cấm quảng cáo như không được quảng cáo giấy vệ sinh, và bao cao su vào những giờ ăn…

    Bên cạnh đó, việc xét duyệt các chương trình quảng cáo của các doanh nghiệp cũng bị chi phối bởi rất nhiều các bộ chủ quản chẳng hạn như Bộ Văn hoá-Thông tin, và các bộ chức năng như Bộ y tế hợp tác trong việc xét duyệt đối với các chương trình quảng cáo các sản phẩm y dược, đổ uống, thực phẩm, Bộ khoa học công nghệ hợp tác trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, bộ kế hoạch và đầu tư phụ trách việc cấp phép kinhdoanh cho các doanh nghiệp, các công ty quảng cáo, các văn phòng đại diện của các công ty qyảng cáo…Do mối liên kết giữa các bộ phận nhà nước có liên quan chưa thật sự đồng bộ nên cũng ảnh hưởng khá lớn đến đến việc phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình.

    Nói chung, những quy định luật pháp càng rườm rà bao nhiêu càng ảnh hưởng đến ngành quảng cáo trên truyền hình bấy nhiêu.

    CHƯƠNG 3

    NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TRÊN VỌNG QUẢNG

    CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    1. Triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo ở Việt Name

    1.1. Tính tất yếu của hoạt động hoạt động quảng cáo trên truyền hình

    Hoạt động quảng cáo ở nhiều nước, kể cả những nước Đông Nam á, hiện đang trở thành một ngành kinh tế có tiềm năng lớn, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. Ở Việt Nam, chỉ qua một thời gian ngắn phát triển, quảng cáo đã khẳng định được vị trí của mình trong nền

    Khoá luận tốt nghiệp

    kinh tế quốc dân, thể hiện ở sự đóng góp ngày một tích cực vào các lĩnh vực kinh tế cũng như trong đời sống xã hội .

    Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình tăng khá nhanh, luôn ở mức hai con số. Doanh thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình mỗi năm đạt hàng trăm triệu USD. Nguồn thu từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đó thường chiếm tỷ trọng khoảng 60% tổng doanh thu từ hoạt động quảng cáo nói chung. Mặt khác, đóng góp của quảng cáo trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) ở nước ta cũng rất đáng kể. Theo ước tính, quảng cáo đã chiếm 4,6% GDP khu vực dịch vụ nói riêng và 1,8% GDP nói chung. Trong khi đó, tỉ lệ của quảng cáo nói chung đối với GDP nước ta trong năm 1996 chỉ là 1,1%. Vì vậy, có thể nói, quảng cáo phát triển mạnh đã có những đóng góp ngày càng đáng kể làm tăng thu nhập quốc dân của đất nước.

    Quảng cáo cũng góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước. Với mức thuế đối với các loại hình quảng cáo hiện nay là 10%, hàng năm Nhà nước ta đã thu được hàng chục triệu USD từ hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nếu Nhà nước có những quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động của các văn phòng đại diện của công ty nước ngoài, thì nguồn thu cho ngân sách nhà nước của hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ lớn hơn gấp nhiều lần.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình thúc đẩy sản xuất do tác động kích cầu của nó. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu chất lượng cũng như giá cả của mình. Nhờ đó, danh mục hàng hoá trên thị trường nước ta ngày càng phong phú, đa dạng hơn đủ đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng. Từ đó, quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, khiến các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hạ giá

    65

    Khoá luận tốt nghiệp

    thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hoá dịch vụ của daonh nghiệp mình.

    Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồm những người làm quảng cáo chuyên nghiệp trong các đơn vị kinh doanh quảng cáo như hoạ sĩ, nhà thiết kế, nhà tạo mẫu, người xây dựng, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhà nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, … Mặt khác, nhờ quảng cáo, hàng hoá được tiêu thụ mạnh hơn, sản xuất được mở rộng, do đó thu hút thêm được nhiều lao động vào quá trình sản xuất.

    Hơn nữa, cùng với xu hướng thế phát triển hiện nay, các đài truyền hình

    • Việt Nam bắt đầu tách ra khỏi sự bao cấp của nhà nước để tiến hành tự hạch toán kinh doanh. Do đó, để tạo nguồn thu phục vụ cho hoạt động của mình, các đài truyền hình bắt đầu dựa dần vào hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua các dịch vụ như cho thuê phát sóng, thu hút tài trợ các chương trình truyền hình…. Có thể nói rằng, trong tương lai không xa, hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ là nguồn thu chính của các đài truyền hình ở Việt Nam. Các khoản đầu tư để nâng cấp, đổi mới trang thiết bị kĩ thuật của các đài truyền hình cũng sẽ được lấy từ nguồn thu do hoạt động quảng cáo trên truyền hình màng lại.

    Không chỉ có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc dân, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn có nhiều tác dụng tích cực đối với đời sống văn hoá – xã hội của người dân Việt Nam.

    Thông qua các hình thức tài trợ, các nhà sản xuất, các hãng quảng cáo đã không tiếc tiền để đưa tên tuổi của mình đến với công chúng một cách văn hoá như tài trợ cho các cuộc thi đấu thể thao … Hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng đã hỗ trợ cho các hoạt động văn hoá thể thao có những bước khởi sắc mới. Lấy một ví dụ tiêu biểu, nhờ có các hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền

    66

    Khoá luận tốt nghiệp

    hình nói riêng giúp Việt Nam giảm khá nhiều kinh phí cho việc tổ chức đại hội thể thao các nước đông nam á SEAGAME 22 đang diễn ra ở Việt Nam. Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp cho các vận động viên đạt được nhiều thành tích hơn trong thi đấu. Nói chung, hiện nay, theo số liệu của Bộ Văn hoá và Thông tin, có hơn 70% kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động kể trên là từ nguồn tài trợ quảng cáo của các doanh nghiệp.

    Ngoài ra, thông qua việc tài trợ cho các chương trình ca múa nhạc, các nhà sản xuất, các công ty quảng cáo một mặt có thể quảng bá rộng rãi thương hiệu của mình, mặt khác nâng cao hơn đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam.

    Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn tiến hành nhiều chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăn… chẳng hạn như chương trình” Đèn đom đóm” của công ty sữa cô gái Hà Lan, chương trình “ OMO ngời sáng tương lai” của Unilever Việt Nam hay chương trình “Super Dream vun đắp những ước mơ” của Honda Việt Nam…Các chương trình khuyến học, các chương trình trao học bổng cho các sinh viên, học sinh xuất sắc có hoàn cảnh khó khăm.. nêu trên có ảnh hưởng vô cùng tích cực, đem lại hiệu quả xã hội rất lớn cho sự phát triển của Việt Nam.

    Quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng còn giúp Chính phủ tăng cường tuyên truyền và nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho các chương trình nhân đạo xã hội. Mặc dù mục đích của các chương trình này không được coi là đối tượng quảng cáo của các doanh nghiệp, nhưng việc quảng cáo các sản phẩm liên quan đã có tác dụng không nhỏ đối với việc triển khai sâu rộng các chương trình đó. Chẳng hạn, quảng cáo bao cao su giúp ích cho chương trình kế hoạch hoá gia đình và phòng chống AIDS, quảng cáo

    67

    Khoá luận tốt nghiệp

    muối iốt là một phần quan trọng trong chương trình toàn dân sử dụng muối iốt phòng ngừa bệnh bướu cổ, giảm tỉ lệ trẻ em mắc bệnh đần độn …

    Các hình ảnh đẹp, cũng như những ngôn từ văn minh hiện trong hoạt động quảng cáo trên truyền cũng làm ảnh hưởng tích cực đối vợi một số tầng lớp người dân. Thông qua các chương trình quảng cáo trên truyền hình, rất nhiều người nhận ra những nét hay nét đẹp trong các chương trình quảng cáo đó từ đó thay đổi một cách tích cực hơn trong đời sống văn hoá ứng xử cũng như trong thói quen ăn mặc hàng ngày.

    Tóm lại, sự tồn tại và phát triển của hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng là một tất yếu khách quan đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như ở Việt Nam. Có thể khẳng đinh rằng: Hoạt động quảng cáo trên truyền hình đem lại nhiều nguồn lợi cho người người xem truyền hình, cho người sản xuất, cho các đài truyền hình, cho nhà nước và cho toàn xã hội. Bởi lẽ đối với người xem truyền hình, nhờ có các chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ nắm được thông tin về sản phẩm mới, được xem những chương trình hay, được mua hàng với giá rẻ hơn rất nhiều; đối với truyền hình, quảng cáo trên truyền hình giúp đầu tư thiết bị, nâng cấp chương trình phát sóng, nhờ đó phục vụ tốt hơn cho đông đảo khán giả, bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng được tạo cơ hội tốt quảng bá sản phẩm trước đông đảo người tiêu dùng, đối với nhà nước, hoạt động quảng cáo trên truyền hình cũng đem lại nhiều nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các chương trình xã hội một cách dễ dàng hơn, đối với xã hội, hoạt động quảng cáo trên truyền hình làm cho đời sống văn hoá, nghệ thuật của nhân dân trở nên phong phú hơn

    1.2. Triển vọng phát triển hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới

    Hiện nay, hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam đã thoát khỏi thời kỳ tự phát và bắt đầu bước vào giai doạn phát triển mang tính

    68

    Khoá luận tốt nghiệp

    chuyên nghiệp hơn, hướng vào chất lượng quảng cáo cao hơn, đồng thời cũng đi vào giai đoạn ổn định hơn.

    Có thể dự đoán chắc chắn rằng, nền kinh tế Việt Nam trong vài năm tới vẫn giữ được đà tăng trưởng như 2 năm trở lại đây. Đời sống xã hội sẽ vẫn trên con đường cải thiện một cách đáng kể. Bên cạnh đó, nhà nước cũng có nhiều biện pháp hỗ trợ khuyến khích hơn đối với các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Những yếu tố nêu trên một phần tạo đà phát triển ồn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong những năm tới đây.

    Ngoài ra, việc ban hành pháp lệnh quảng cáo cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh quảng cáo cũng là một phần tăng thế ổn định cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình, đồng thời loại bỏ được rất nhiều bất cập trong giai đoạn bùng nổ tự phát của hoạt động quảng cáo trên truyền hình, như hiện tượng quảng cáo sai, phóng đại, quảng cáo gây hiểu lầm…

    Các chương trình truyền quảng cáo trên truyền hình trong những năm tới sẽ hướng nhiều hơn đến yếu tổ mĩ thuật, nghệ thuật và ngày càng gần gũi hơn đối với các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức, cũng như nền văn hóa lâu đời của người Việt Nam.

    Do rất nhiều yếu tố thuận lợi tác động nên tốc độ tăng trưởng trung bình trong một vài năm tới có thể sẽ cao hơn so với tôc độ tăng trưởng trong một vài năm vừa qua, và đạt mức khoảng 16% năm. Đến năm 2005, chi phí cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình sẽ đạt 145 triệu USD.

    Tốc độ tăng trưởng tuy đạt mức cao, song vẫn chỉ phân bổ chỉ yếu cho các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như mĩ phẩm và các sản phẩm làm đẹp, đồ uống, thực phẩm, dược phẩm, các sản phẩm điện gia dụng, các sản phẩm ô tô, xe máy

    Trong một vài năm tới, số lượng các công ty quảng cáo sẽ không tăng nhiều, hay nói cách kháclà có xu hướng ổn định. Các công ty quảng cáo, đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước sẽ buộc phải hoạt động hiệu quả hơn, chú ý đến chất lượng cũng như chất sàng tạo nhiều hơn trong việc sản

    69

    Khoá luận tốt nghiệp

    xuất các chương trình quảng cáo. Ngoài ra, các công ty quảng cáo cũng sẽ mở rộng hơn nữa lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

    Nếu như số lượng các công ty quảng cáo không có xu hướng tăng nhiều, thì số lượng các doanh nghiệp thuê quảng cáo đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn 100% trong nước sẽ tăng với một lượng lớn, do cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khốc liệt hơn.

    Tóm lại, có thể nói rằng triển vọng hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam trong một vài năm tới là vô cùng khả quan.

    2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CÁO HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM

    2.1. Đối với nhà nước

    Do mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng khoảng hơn chục năm trở lại đây, cho nên ngành quảng cáo nói chung và ngành quảng cáo trên truyền hình nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt đông quảng cáo trên truyền hình nói riêng diễn ra lộn xộn, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hình thức quảng cáo này còn chồng chéo, thiếu tính khoa học do tính chất đặc thù vốn vô cùng phức tạp của hoạt động quảng cáo.

    Để quản lý tốt hơn hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, nhà nước Việt Nam đã bãi bỏ một số các văn bản pháp luật như nghị định 194/CP năm 1994 quy định về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam, chường 2(từ điều 11 đến diều 25) của nghị định 32/1999/NĐ-CP của chính phủ về khuyến mại, quảng cáo thương mại, hộ chợ và triểm lãm thương mại… và ban hành pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 cùng với nghị định 24/2003/ND-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo. Tuy đã được phân chia rõ trách nhiệm quản lý đối với hoạt động quảng cáo giữa các bộ ban ngành, song trên thực tế sự liên kết, phối hợp giữa các bộ còn nhiều bất cập. Nhà nước cần có đưa ra những quy

    Khoá luận tốt nghiệp

    định chi tiết hơn nũa về trách nhiệm, quyền hạn của các bộ phận liên quan đến hoạt động quản lý hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo nói riêng, đặc biệt đưa ra mức thời hạn thẩm định của các bộ phậm chức năng nhằm mục đích đảm bảo không qua 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ văn hoá thông tin, hoặc sở văn hoá thông tin có thể cấp phép thực hiện quảng cáo.

    Bên cạnh đó, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến nội dung, hình ảnh các chương trình quảng cáo. Điều 3 của nghị định 24/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo mới chỉ nêu ra một số hành vi nghiêm cấm trong hoạt động quảng cáo. Tuy nhiên, những quy định nêu trong nghị định quá chung chung, đặc biệt là vấn đề ngôn ngữ dùng trong hoạt động quảng cáo nói chung và hoạt động quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Ngoài ra, do hoạt động quảng cáo một mặt tác động đến hoạt động kinh doanh, đời sống kinh tế, mặt khác tác động xâu sắc đến lối sống, văn hóa của quần chúng nhân dân do đó cần phải gắn những giá trị truyền thống, những thuần phong mĩ thục tốt đẹp của Việt Nam. Xin lấy một ví dụ nhỏ, theo như nghị định trên trên thì việc quảng cáo lấy hình ảnh một cô gái ăn mặc “thiếu vải” sẽ được sẽ được quảng cáo, trong khi hình ảnh đó lại có tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá của người Việt Nam. Bên cạnh đó , nhà nước cầm có những biện pháp khuyến kích các chương trình quảng cáo trên truyền hình được sảm xuất tại Việt Nam, dùng hình ảnh Việt Nam, dùng hình ảnh con người Việt Nam để quảng cáo. Trái lại, đối với các chương trình quảng cáo trên hình nhập ngoại, có hình ảnh, ngôn ngữ nước ngoài… nhà nước cần phải có những biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ, đồng thời áp đặt một mức thuế cao.

    Mặt khác, quảng cáo trên truyền hình là hoạt động kinh doanh của các đài truyền hình, trong khi các đài truyền hình đều nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Vì thế, nhà nước cần mở rộng quyền tự chủ kinh doanh hơn nữa cho các đài truyền hình trên cả nước, đồng thời hỗ trợ trang thiết bị kỹ thuật,

    71

    Khoá luận tốt nghiệp

    áp dụng các biện pháp ưu đãi cho các đài truyền hình trên cả nước. Tuy nhiên, cũng để tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các đài truyền hình, nhà nước nên đưa ra quy định về mức giá sàn cho từng thời lượng quảng cáo trên truyền hình.

    Về thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo, cũng như các đợt phát sóng cần được tăng cường hơn nữa nhằm tạo cho hoạt động quảng cáo đem lại nhiều hiệu quả hơn cho cácdoanh nghiệp, các công ty tiến hành quảng cáo đồng thời tạo tăng thêm doanh thu cho các đài truyền hình.

    Theo xu thế hội nhập và hợp tác trên thế giới, Việt Nam đã băt đầu cho cho phép các công ty quảng cáo nước ngoài được phép kinh doanh sinh lợi trên lãnh thổ Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với tổ chức và cá nhân Việt Nam. Nhìn chung việc tham gia vào thị trường quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam của các công ty nước ngoài là vô cùng cần thiết. Sự có mặt của các công ty đến từ các quốc gia đã có nền kinh tế phát triển sẽ đưa đến cho Việt Nam nhiều bài học quý giá trong xây dựng chiến lược quảng cáo, trong lĩnh vực quản lý, thực hiện để phát triển tốt hơn ngành quảng cáo non trẻ của Việt Nam. Do đó, nhà nước nên có những biện pháp thiết thực nhằm thu hút tổ chức này thông qua những ưu đãi về thuế quan, về thủ tục hành chính….

    Bên cạnh những chính sách khuyến khích nhằm thu hút các công ty quảng cáo nước ngoài, Nhà nước cũng hình thành một số những hàng rào bảo hộ quảng cáo trong nước. Đây là điều kiện có tính sống còn, tránh cho các công ty quảng cáo trong nước khỏi tình trạng bị chiếm mất thị phần hoặc “bị chết yểu” do không thể cạnh tranh được với các công ty quảng cáo nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các công ty quảng cáo mới được thành lập trong vòng trên dưới 10 năm, nguồn vốn kinh doanh hạn chế, điều kiện vật chất kỹ thuật, đọi ngũ lao động chuyên nghiệp còn nhiều thiếu thốn chưa đủ để đảm nhiệm công việc của một công ty quảng cáo lành nghề…Những biện

    72

    Khoá luận tốt nghiệp

    pháp bảo hộ nói chung chỉ nhằm mục đích giúp các công ty quảng cáo trong nước khắc phục những khó khăn trong giai đoạn đầu phát triển của ngành, đồng thời đẩy lùi hiện tượng quá ỷ lại vào hoạt đông bảo hộ của các công ty quảng cáo trong nước.

    Ngoài những biện pháp bảo hộ quảng cáo trong nước, nhà nước cần có biệt pháp giúp đỡ đào tạo nguôn nhân lực, đội ngũ kĩ thuật chuyên nghiệp phục vụ cho ngành quảng cáo. Hiện nay, đội ngũ làm hoạt động quảng cáo nói chung chỉ đông về số lượng chứ chưa đạt chất lượng. Nguyên nhân chủ yếu là chưa có một trường đại học nào đào tạo những kĩ năng cơ bản về chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nguyên nhân thứ hai là công việc quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình đòi hỏi những kĩ năng sâu rộng bao phủ một loạt các lĩnh vực từ khả năng ngôn ngữ, kĩ năng đồ hoạ, thiết kế, đến những kiến thức về marketing, bán hàng, tâm lý học… Do đó nhà nước nên khuyến khích, tạo điều kiện hình thành nhiều hơn nữa các trung tâm đào tạo chuyên ngành quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng tại một số trường đại học, cao đẳng…

    2.2. Đối với các công ty thuê quảng cáo

    Thông tin, quảng cáo là yếu tố vô cùng quan trọng đặc biệt lá đối với các doanh nghiệp mới đi vào kinh doanh hoặc đối với loại hàng hoá mới tung ra thị trường. Chi phí dành cho hoạt động quảng cáo, trong đó có quảng cáo trên truyền hình cần phải ở mức 25-30% doanh thu. Tuy nhiên, rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng không cần thiết phải bỏ ra qua nhiều chi phí cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến hỗ trợ kinh doanh nói chung và chi phí cho quảng cáo trên truyền hình nói riêng. Nhìn chung, đó cũng là một lý do mà rất nhiều các sản phẩm của họ tuy có chất lượng tốt, giá cả hợp lý song vẫn chứa tạo ra được tiếng vang trên thị trường. Để khỏi bị bỏ lại đằng sau, trong một thế giới bị chàn ngập thông tin, các công ty Việt Nam cấn nhìn nhận lại chiến

    Khoá luận tốt nghiệp

    lược phát triển lâu dài, đồng thời có cái nhìn chiến lược hơn nữa đối với các hoạt động yểm trợ, xúc tiến bán hàng, đặc biệt là hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Nói chung, để hoạt động có hiệu quả hơn các doanh nghiệp Việt Nam cần cân nhắc đế những vấn đề sau:

    Một là, Doanh nghiệp cần phải xác lập chiến lược marketing cũng như chiến lược quảng cáo nói chung và chiến lược quảng cáo trên truyền hình trong ngắn hạn và dài hạn.

    Hai là, Dựa vào chiến lược quảng cáo và các phân tích tình hình thị trường, tình hình tài chính hiện tại, doanh nghiệp sẽ hình thành ngân sách hợp lý. Ngân sách dành cho quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình cần phải cân nhắc một cách khoa học không nên chỉ dựa vào số lượng hàng hóa sắp bán ra.

    Ba là, doanh nghiệp cần tạo dựng thông điệp quảng cáo trên hình thật ấn tượng nhằm thu hút sự chú ý, tính tò mò cũng như lôi kéo, khêu gợi đến lợi ích và tạo ra sự ham muốn sở hữu sảm phẩm từ phía khán giả xem truyền hình. Thông điệp quảng cáo của doanh nghiệp ngoài chức năng thông tin công dụng sản phẩm mà còn phải hàm chứa tính nghệ thuật và mĩ thuật cao trong đó, trách lặp lại lối mòn của các chương trình quảng cáo trên truyền hình trước đây vốn chỉ chú ý đến công dụng sản phẩm, thiếu sự xem xét đến tính thầm mĩ của thông điệp nên đôi khi gây phản cản đối với người xem.

    Bốn là, duy trì số lần phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình ở một mức độ nhất định. Nói chung, quảng cáo trên truyền hình hầu như không mang lại hiệu quả cho doanh. Do đó, doanh nghiệp cần phải lập lên một lịch quảng cáo hiệu quả phù hợp với ngân sách dành cho hoạt động quảng cáo trên truyền hình nhằm mục đích truyền tải được thông tin quảng cáo đến một lượng lớn khán giả, hình thành hình ảnh, tên nhãn hiệu trong trí nhở của người xem, dần dần hướng người xem đến lựa chọn sản phẩm của doangh nghiệp mình.

    74

    Khoá luận tốt nghiệp

    Năm là, tiến hành đánh giá hiệu quả của hoạt động quảng cáo trên truyền hình thông qua việc đánh giá số lượng hàng hoá bán ra, đánh giá uy tín hình ảnh của doanh nghiệp, của thương hiệu… ước lượng số khách hàng trung thành tăng hay giảm, số lượng người thử các hàng hoá dịch vụ của daonh gnhiệp mình, ước lượng số lượng khách hàng để ý đến nhãn hiệu của doanh nghiệp…

    2.3. Đối với công ty quảng cáo

    Hiện nay, số lượng các công ty quảng cáo ở Việt Nam tương đối nhiều đặc biệt là các công ty quảng cáo trong nước. Tuy nhiên, hầu hết các công ty quảng cáo này đều thiếu tốn các thiết bị kĩ thuật hiện đại, hoạt động quản lý và phương thức kinh doanh còn nhiều bất cập. Do không có đủ các trang thiết bị hiện đại cho nên một số chương trình quảng cáo trên truyền hình được sản xuất ở các công ty này thường không tải hết được những nội dung thông điệp mà người thuê quảng cáo yêu cầu. Chính vì lẽ đó, mà rất nhiều các chương trình quảng cáo không đến tay những công ty sản xuất, thực hiện các chương trình quảng cáo trên truyền hình như vậy. Vì thế, để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững trong quá trình hoạt động các công ty quảng cáo đặc biệt là các công ty quảng cáo truyền hình trong nước cần tăng cường đầu tư để đổi mới và cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng chương trình quảng cáo sản xuất ra, đảm bảo sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được với nhu cầu của thị trường. Đặc biệt, chú ý đến việc đầu tư cho những thiết bị chuyên dùng phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Ngoài ra, các công ty cần tận dụng tối đa những công cụ, những thiết bị hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của người thuê quảng cáo.

    Cùng với việc đầu tư cho thiết bị kĩ thuật phục vụ quá trình sản xuất các chương trình quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cũng cần đầu tư để đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp làm công tác quảng cáo, đồng thời tuyển dụng thêm các nhân viên mới nhiệt tình, có óc sáng táo, có chuyên môn cao trong lĩnh vực quảng cáo đặc biệt là trong lĩnh

    Khoá luận tốt nghiệp

    vực quảng trên truyền hình. Nói chung, yếu tố con người trong hoạt động quảng cáo, đặc biệt là quảng cáo trên truyền hình là yếu tố quang trọng nhất. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các công ty quảng cáo. Một công ty quảng cáo dù được trang bị kĩ thuật tối tân hiện đại đến đâu chăng nữa nhưng nếu thiếu đi một ê kíp các nhân viên quảng cáo có chuyên môn cao, cótinh thần đổi mới cũng như ó óc sáng tạo phong phú thì cũng không thu hút được các doanh nghiệp tiến hành thuê quảng cáo.

    Bên cạnh các dịch vụ sản xuất các chương trình quảng cáo nói chung và các chương trình quảng cáo trên truyền hình nói riêng, các công ty quảng cáo cần mở rộng các hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động quảng cáo trên truyền hình như tư vấn các chiến lược quảng cáo trên truyền hình, các tư vấn liên quan đến thông điệp quảng cáo trên truyền hình, tư vấn về thời điểm, cường độ và mức độ quảng cáo trên truyền hình, thực hiện các dịch vụ đánh giá hiệu quả các chương trình quảng cáo trên truyền hình…Tuy nhiên, để mở rộng được các hoạt động kinh doanh nêu trên, doanh nghiệp ngoài việc có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên nghiệp. Trước khi thực hiện các chương trình tư vấn lên kế hoạt chiến lược quảng cáo trên truyền hình, tư vấn thông điệp quảng cáo trên truyền hình, các công ty quảng cáo cần phải hiểu rõ được chiến lược phát triển chung của công ty thuê tư vấn, hiểu rõ các chiến lược phát triển trong ngành hàng công ty thuê tư vấn đang hoạt động, hiểu rõ được khả năng cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp trong ngành…Để có thể dễ dàng bao quát tất cả các thông tin liên quan đến thị trường của các công ty thuê tư vấn, các công ty quảng cáo cần phải tạo ra nhiều mối quan hệ chặt chẽ với các công ty nghiên cứu thị trường, các tổ chức, các trung tâm nghiên cứu tâm lý học, nghiên cứu dư luận xã hội…

    Mặt khác các doanh nghiệp quảng cáo cần có sự liên kết, hợp tác lẫm nhau, tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hai đến hoạt động kinh doanh của các công ty quảng cáo .Ngoài ra, các doanh nghiệp

    76

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo, đặc biệt là các doanh nghiệp quảng cáo trong nước nên xúc tiến tham gia, gia nhập vào các hiệp hôi quảng cáo trong nước và quốc tế, chẳng hạn như Hiệp hội quảng cáo Việt Nam hay Hiệp hội quảng cáo Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tham gia, gia nhập vào các hiệp hội sẽ mang lại cho doanh nghiệp nhiều lợi ích khác nhau. Nói chung, khi trở thành thành viên trong hiệp hội, các quyền lợi của các doanh nghiệp quảng cáo được đảm bảo một cách bình đẳng. Ngoài ra, hiệp hội quảng cáo được coi là nhịp cầu mối giữa các doanh nghiệp quảng cáo và các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời tiến hành giải quyết những vướn mắc, những tranh chấp của các doanh nghiệp quảng cáo là thành viên của hiệp hội.Khi tham gia vào các hiệp hội quảng cáo công ty có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu công nghệ tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý, trình độ tổ chức… của các công ty thành viên khác.

    2.4. Đối với các đài truyền hình

    Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 60 đài truyền hình trung ương và địa phương thực hiện hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình. Do đó, sự cạnh tranh giữa các đài truyền hình là không thể tránh khỏi. Ngoài pháp như áp dụng mức giá quảng cáo thấp, các đài truyền hình áp dụng hình thức giảm giá quảng cáo trong năm, cho phép ký hợp đồng vào những thời điểm thích hợp. Nói chung, các giải pháp về giá chỉ là những giải pháp tạm thời. Muốn phát triển bền vững, lâu dài, các đài truyền hình cần tiến hành các biện pháp nhằm đầu tư, nâng cấp trang thiết bị kĩ thuật, cũng như nội dung, chất lượng các chương trình truyền hình nhằm thu hút nhiều hơn nữa lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình của mình. Khi nội dung cũng như chất lượng các chương trình truyền hình trở nên hấp dẫn hơn, tốt hơn, số lượng khán giả theo dõi các chương trình truyền hình nhiều hơn, các đài truyền hình sẽ dễ dàng thu hút được các doanh nghiệp thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Bên cạnh đó, các đài truyền hình cũng cần tiến hành đào tạo, đào tại lại đội ngũ nhân viên. Việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ công nhân viên là vô cùng cần thiết. Nó giúp cho các đài truyền hình có thể triệt để tận dụng các trang thiết bị hiện có, cũng như khai thác tốt đa các thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm có được các chương trình truyền hình có chất lượng tốt nhất phục vụ người xem truyền hình.

    Ngoài ra, với mục đích nhằm nâng cao doanh từ hoạt động quảng cáo, các đài truyền hình địa phương và trung ương nên tăng thời lượng phát sóng truyền hình. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có một đài truyền nào tiến hành phủ sóng truyền hình 24/24 giờ. Do nhà nước Việt Nam áp dụng việc ấn định một thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trước, trong và sau các chương trình truyền hình là khá cố định, cho nên việc tăng thời lượng phát sóng các chương trình truyền hình, đông nghĩa với việc tạo điều kiện cho các đài truyền hình thu được nhiều tiền hơn từ hoạt động cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình do tăng thời lượng phát sóng quảng cáo trong khoảng thời gian phát sóng thêm của các đài truyền hình.

    Cùng với việc cho thuê phát sóng quảng cáo trên truyền hình, các đài truyền hình nên tăng cường mở rộng các hạng mục kinh doanh như làm phim quảng cáo giới thiệu doanh nghiệp, sản xuất băng hình quảng cáo cho các doanh nghiệp thuê quảng cáo. Do có những thiết bị chuyên dụng cùng với một đội ngũ kĩ thuật giàu kinh nghiệm, các đài truyền hình dễ dàng có thể tiến hành là các chương trình chuyên quảng cáo có thời lượng phát sóng tương đối dài thường trên 10 phút để giới thiệu hình ảnh các doanh nghiệp muồn quảng bá thương hiệu hoặc/ và nhãn hiệu của danh gnhiệp mình.

    Gần đây, các đài truyền hình lớn như đại truyền hình Việt Nam, đài truyền hình Hà Nội và đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiên khá nhiêu biện pháp nhằm thu hút tài trợ, bảo trợ các chương trình phim truyện, thể thao giải trí phát sóng, thực hiện đổi quảng cáo lấy các chương trình

    78

    Khoá luận tốt nghiệp

    truyền hình…Thiết nghĩ, đây cũng là một hình thức mà các đài truyền hình khác nên học hỏi. Bởi nếu không được tài trợ, đài truyền hình muốn có những chương trình truyền hình hay, có chất lượng tốt buộc phải mình bỏ một khoản tiền khá lớn để mua bản quyền các chương trình nêu trên.

    2.5. Đối với người tiêu dùng

    Hiện nay, một số người Việt Nam vẫn có nhận thức không thật sự đúng về hoạt động quảng cáo trên truyền hình. Đôi khi một số người xem truyền hình cảm thấy bực bội khi các chương trình quảng cáo trên hình chen ngang các chương trình yêu thích của họ. Một số người khác lại kêu ca răng thời lượng phát sóng các chương trình quảng cáo trên truyền hình là quá dài… Tuy nhiên, cùng với thời gian, rất nhiều người Việt Nam đã có một cái nhìn thân thiện hơn với hoạt động quảng cáo trên truyền hình.

    Các chương trình quảng cáo trên truyền hình mang đến cho người xem nhiều thông tin chính xác nhất. Bởi những thông tin nêu trong các chương trình quảng cáo trên truyền hình là những thông tin mà người sản xuất và cung ứng mong muốn gửi đến các khách hàng của mình nhằm mục đích thu hút, lôi cuốn khách mua sản phẩm dịch vụ của mình. Về phía người tiêu dùng, họ có thể lựa chọn được những hàng hoá và dịch vụ vừa có chất lượng tốt vừa có giá cả phù hợp thông qua các thông tin trực tiếp từ phía người sản xuất và cung ứng.

    Mặt khác, trong một cơ chế thị trường diễn ra vô cùng sôi động, người Việt Nam trở nên năng động hơn cùng với nhịp sống công nghiệp đầy vội vã. Do đó, người tiêu dùng Việt Nam càng ngày càng có ít thơì gian hơn trong vấn đề mua sắm. Do bị hạn chế về thời gian, người tiêu dùng nên sử dụng các thông tin trên các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Bởi lẽ, đó là những thông tin chính xác nhất liên quan đến các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.

    Thêm vào đó, người xem truyền hình Việt Nam cũng bắt đầu hiểu được rằng cuộc sống của các đài truyền hình chủ yếu là nhờ vào hoạt động cho thuê

    Khoá luận tốt nghiệp

    quảng cáo trên truyền hình. Đồng thời, ngoài những thông tin liên quan đến các hàng hoá dịch vụ ma người xem truyền hình cần, họ còn nhận được từ hoạt động quảng cáo nhiều lợi ích khác. Một lợi ích mà người xem truyền nào cũng nhận thấy là nhờ có những chương trình quảng cáo trên truyền hình mà họ có được các chương trình thể thao, phim truyện, các chương trình giải trí hấp dẫn…, nhờ có hoạt động quảng cáo trên truyền hình, người xem có cơ hội được thưởng thức những chương trình truyền hình có chất lượng ngày càng tốt hơn.

    80

    Khoá luận tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Hiện nay ở Việt Nam, các hoạt động kinh doanh diễn ra vô cùng sôi động, kèm theo đó là sự canh tranh khốc liệt. Để khỏi bị thua cuộc trong của cuộc chiến kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã tìm kiếm đến vũ khí quảng cáo trên truyền hình.

    Quảng cáo trên truyền hình hiện nay là một hoạt động khá quan trọng có vai trò. Nó góp phần quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Nếu quảng cáo có hiệu quả sẽ giúp cho khách hàng hiểu biết, tin tưởng vào hàng hoá của doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, đồng thời khuyếch trương được danh tiếng, tên tuổi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo trên truyền hình vẫn được xem như là một bài toán khó khăn và tốn kém đối với bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường, đặc biệt là trong nền công nghiệp quảng cáo trên truyền hình vẫn đang được hình thành và phát triển như ở Việt Nam.

    Nhận thức được điều này nên trong quá trình học tập tôi đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam: thực trạng và triển vọng ”.

    Đề tài đã giải quyết được những nội dung và yêu cầu cơ bản sau:

    • Chương 1: Trình bày một cách khái quát các lý luận chung về quảng cáo nói chung và quảng cáo trên truyền hình nói riêng, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến quy trình tiến hành một chương trình quảng cáo trên truyền hình.
    • Chương 2: Nêu lên vài nét về tình hình quảng cáo trên truyền hình trên thế giới và đặc biệt là nêu được tổng quan hoạt động quảng cáo trên truyền hình hiện nay ở Việt Nam.

    -Chương 3: Nêu ra tính tất yếu và triển vọng phát triển của hoạt động quảng cáo trên truyền hình trong một vài năm tới, gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao triển vọng phát triển quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam.

    Một lần nũa tôi xun chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Thoan đã giúp tôi hoàn thành bài khoá luận này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Nguyên lý Marketing, trường Đại Học Ngoại Thương
    1. Philip Kotler, Marketing căn bản, năm 1998, nhà xuất bản ( NXB) Thống kê.
    1. Quản Trị Marketing ( Marketing Management), Phipip Kotler, năm 2002, NXB Prentice Hall Inc..
    2. Otto Klepper, Thomas Russell, Glenn Verrill, Công nghệ quảng cáo, năm 1992, nhà xuất bản khoa học kĩ thuật.
    3. Lê Hoàng Quân, Nghiệp vụ quảng cáo và marketing, năm 1994, NXB khoa học kĩ thuật.
    4. George E Belch & Micheal A. Belch, Advertising and Promotion, năm 1998, NXB McGraw Hill.
    5. Retail Marketing Management, Chương 12: Quảng cáo, năm 1999
    1. Nguyễn Cao Vân, Marketing quốc tế, năm 1997, NXB giáo dục
    1. Các qui định của pháp luật về hoạt động quảng cáo ( Nghi định 194/1994/CP, Nghị định 24/2003/NĐ-CP, Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001, Luật thương mại 1997)
    2. Nghiên cứu về quảng cáo ở Việt Nam của công ty Tayor Neislon Sofres đang trên tạp chí Vietnam Economic Times 2000- 9/2003
    1. Công ty Ac Nielsen Việt Nam, VietNam FactBook, năm 2003.
    1. Những đánh giá về các chương trình quảng cáo trên truyền hình trên tạp chí “Nhà quản trị”
    2. Báo doanh nghiệp các số 12-2002, 1-2003,7-2003, 10-2003
    1. Ngô Việt Đức, khoá luận tốt nghiệp năm 2001, “Hoạt động kinh doanh quảng cáo của đài truyền hình Việt Nam: Thực trạng và hướng phát triển”
    2. Trang web afaa.com
    1. .Trang web www.acnielsen.com

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤC LỤC

    PHỤ LỤC 1

     

    ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

    TRUNG TÂM TVAD

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    * * *

    THÔNG BÁO

    Giá – Mức và tỷ lệ giảm giá quảng cáo năm 2003

    1. Giá quảng cáo năm 2003

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨ M DỊCH VỤ NƯỚC NGOÀI VÀ LIÊN DOANH Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    Đơn vị: 1000VNĐ/spot

            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A   Từ 6h – 17h          
                                     
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 7.000
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 3.600 4.320 5.400 7.200
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A4   10h -12h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A5   12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        A6   14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 2.500 3.000 3.750 5.000
        GIỜ B     Từ 17h –          
                  24h            
                             
        B1   17h – 17h Ngoài Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
            50                
        B2   17h – 17h Trong Phim và Giải trí 8.000 9.600 12.000 16.000
            50                
        B3                 Trước 18h 6.000 7.200 9.000 12.000
        B4                 Trước 19h 7.500 9.000 11.250 15.000
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 10.800 12.960 16.200 21.600
        B6 19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
        B7 19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
        B8                 Sau 23h 7.500 9.000 11.250 15.000
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                          
                         
              Từ 6h – 12h Cả tuần        
                                     

    Khoá luận tốt nghiệp

      D1   6h – 8h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D2   6h – 8h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      D3   8h – 10h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D4   8h – 10h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
                        Từ thứ 2 đến thứ 6        
      D5 10h – 12h   Ngoài Phim và Giải trí 1.500 1.800 2.250 3.000
      D6 10h – 12h   Trong Phim và Giải trí 2.500 3.000 3.750 5.000
      GIỜ C                        
                               
          Từ 12h-24   Từ thứ 2 đến thứ 6        
      C1 12h – 14h   Ngoài Phim và Giải trí 4.000 4.800 6.000 8.000
      C2 12h – 14h   Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
      C3 14h – 16h   Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 6.500 7.800 9.750 13.000
                        trí        
      C4.1 16h – 19h   Ngoài Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
      C4.2 16h – 19h   Trong Phim và Giải trí 11.000 13.200 16.500 22.000
            Từ 10h –   Thứ bảy – Chủ nhật        
              24h              
      C5 10h   11h   Ngoài GNCT,Olympia 10.000 12.000 15.000 20.000
      C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 13.250 15.900 19.875 26.500
      C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 12.000 14.400 18.000 24.000
                        nhi        
      C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 11.000 13.200 16.500 22.000
      C8               Trong CNKD, ONCN 13.750 16.500 20.625 27.500
      C9               Ngoài Phim VNCN 9.250 11.100 13.875 18.500
      C10               Trong Phim VNCN 12.000 14.400 18.000 24.000
      C16               Ngoài Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
      C17               Trong Phim ĐACT7 10.000 12.000 15.000 20.000
      C11               Ngoài phim và giải trí 9.250 11.100 13.875 18.500
      C12               Trong phim và giải trí 12.250 11.700 18.375 24.500
                        Buổi tối các ngày        
      C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 13.750 16.500 20.625 27.500
      C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 14.750 17.700 22.125 29.500
      C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 5.850 7.020 8.775 11.700
      C15               Sau 23 5.850 7.020 8.775 11.700
      Giờ F             VTV2 : ( 10h -24h) 2.500 3.000 3.750 5.000

    Khoá luận tốt nghiệp

    BIỂU GIÁ QUẢNG CÁO THỰC HIỆN NĂM 2003 TRÊN VTV ÁP DỤNG

    ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỊCH VỤ TRONG NƯỚC

    Ban hành kèm theo thông tư số 947/QC – THVN

    1. GIÁ QUẢNG CÁO ( đơn vị tính 1.000đ/spot quảng cáo)
            Thời Thời điểm   Giá quảng cáo  
        Hiệu     gian Quảng cáo        
    10 giây 15 giây 20 giây 30 giây
                  VTV1 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ A       Từ 6h – 17h            
                               
        A1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.813 3.750
        A2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 2.700 3.240 4.050 5.400
        A3     8h – 10h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A4     10h -12h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A5     12h – 14h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        A6     14h – 17h Trong (ngoài chương trình) 1.875 2.250 2.813 3.750
        GIỜ B     Từ 17h – 24h            
                       
        B1   17h – 17h 50 Ngoài Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        B2   17h – 17h 50 Trong Phim và Giải trí 6.000 7.200 9.000 12.000
        B3             Trước 18h 4.500 5.400 6.750 9.000
        B4             Trước 19h 5.625 6.750 8.438 11.250
        B5     19h45 Sau Bản tin thời sự 8.100 9.720 12.150 16.200
        B6   19h50 – 23h Ngoài Phim và Giải trí 10.313 12.375 15.469 20.625
        B7   19h50 – 23h Trong Phim và Giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
        B8             Sau 23h 5.625 6.750 8.438 11.250
                  VTV3 : PHỦ SÓNG TOÀN QUỐC        
      GIỜ D                      
                             
                  Từ 6h – 12h   Cả tuần        
                           
        D1     6h – 8h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D2     6h – 8h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        D3     8h – 10h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D4     8h – 10h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
                          Từ thứ 2 đến thứ 6        
        D5     10h – 12h Ngoài Phim và Giải trí 1.125 1.350 1.688 2.250
        D6     10h – 12h Trong Phim và Giải trí 1.875 2.250 2.183 3.750
        GIỜ C                      
                           
                Từ 12h – 24h Từ thứ 2 đến thứ 6        
        C1     12h – 14h Ngoài Phim và Giải trí 3.000 3.600 4.500 6.000
        C2     12h – 14h Trong Phim và Giải trí 4.500 5.400 6.750 9.000
        C3     14h – 16h Ngoài hoặc Trong Phim và Giải 4.875 5.850 7.313 9.750
                          trí        
        C4.1     16h – 19h Ngoài Phim và Giải trí 6.188 7.425 9.281 12.375
        C4.2     16h – 19h Trong Phim và Giải trí 8.250 9.900 12.375 16.500
                Từ 10h – 24h Thứ bảy – Chủ nhật        
                                   

    Khoá luận tốt nghiệp

    C5 10h – 11h   Ngoài GNCT,Olympia 7.500 9.000 11.250 15.000
    C6.1 10h – 11h   Trong GNCT,Olympia 9.938 11.925 14.906 19.875
    C6.2 11h-11h 30   Ngoài trong chươn trình thiếu 9.000 10.800 13.500 18.000
          nhi        
    C7 12h -13h 30   Ngoài CNKD, ONCN 8.250 9.900 12.375 26.500
    C8     Trong CNKD, ONCN 10.313 12.375 15.469 20.625
    C9     Ngoài Phim VNCN 6.938 8.325 10.406 13.875
    C10     Trong Phim VNCN 9.000 10.800 13.500 18.000
    C16     Ngoài Phim ĐACT7 5.625 6.750 8.438 11.250
    C17     Trong Phim ĐACT7 7.500 9.000 11.250 15.000
    C11     Ngoài phim và giải trí 6.938 8.325 10.406 13.875
    C12     Trong phim và giải trí 9.188 11.025 13.781 18.375
          Buổi tối các ngày        
    C13 19h45 – 21h   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C14 19h45 – 21h   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C18 21h – 22h30   Ngoài phim và giải trí 10.1313 12.375 15.469 20.625
    C19 21h – 22h30   Trong phim và giải trí 11.063 13.275 16.594 22.125
    C20 22h30 – 23h   Trong (ngoài) chương trình 9.375 11.250 14.063 18.750
    C15     Sau 23h 4.388 5.265 6.581 8.775
    Giờ F   VTV2 : ( 10h -24h) 1.875 2.250 2.813 3.750
    1. CÁC HÌNH THỨC QUẢNG CÁO KHÁC: (như insert logo, chạy chữ, panel…)

    Tuỳ thuộc vào nội dung và yêu cầu hai bên sẽ thoả thuận và kí hợp đồng.

    III. GHI CHÚ

    – Giá bào gồm cả thuế giá trị gia tăng 10% Chọn vị trí :cộng thêm 5% trên đơn giá gốc

    Các spots quảng cáo được tính theo mức chuẩn 10’’, 15’’, 20’’, 30’’, 45’’, 60’’, 120’’, các spots quảng cáo có thới lượng quảng cáo cáo trên mức chuẩn được tính theo giá các mức chuẩn có thời lượng cao hơn kế tiếp.

    Các spots quảng cáo phát sóng trên VTV phải qua khâu xét duyệt. Các loại thông tin không mang tính chất quảng cáo: Phát sóng giờ B3 + Thông tin cổ động tuyên truyền miễn phí

    + Thông tin mang tính chất nhân đạo: 200.000 đồng/lần

    + Tuyển sinh,mới họp và một số thông tin đặc biệt :1.200.000đồng/ 30 giây

    Khoá luận tốt nghiệp

    B.MỨC VÀ TỶ LỆ GIẢM GIÁ QUẢNG CÁO NĂM 2003

    1. Nguyên tắc :
    1. Ưu tiên cho khách thường xuyên, có ký hợp động quảng cáo dài hạn cả năm, khách hàng có doanh số quảng cáo lớn, các khách hàng có các chương trình hay hợp tác với VTV và các khách hàng thanh toán tiền trước.
    1. Ưu tiên cho khách hàng là nhà sản xuất, các sản phẩm mới sản xuất.
    1. Quy định về mức và tỷ lệ giảm giá trên đơn giá
    1. Đối với khách hàng là các đơn vị hoạt động quảng cáo tại Việt Nam.  
               
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
       
               
    1   Từ 90.000 – 300.000 Từ 420.000 – 1.260.000 08  
               
    2   Trên 300.000 – 450.000 Trên 1.260.000 -2.520.000 10  
               
    3   Trên 450.000 – 600.000 Trên 2.520.000 – 4.200.000 12  
                 
    4   Trên 600.000 – 750.000 Trên 4.200.000 – 6.300.000 14  
                 
    5   Trên 750.000 – 1.500.000 Trên 6.300.000 – 8.400.000 16  
               
    6   Trên 1.500.000 Trên 8.400.000 18  
                 
    1. Đối với khách hàng là các nhà sản xuất và các đối tượng khác ( như các đại lý, các doanh nghiệp…) có sản phẩm được phép quảng cáo tại Việt Nam.
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ  
    trong nước (1.000 VND) LD & NN (1.000) giảm (%)  
     
             
    1 Từ 15.000 – 30.000 Từ 420.000 – 140.000 4  
               
    2 Trên 30.000 – 90.000 Trên 140.000 – 420.000 6  
             
    3 Trên 90.000 – 150.000 Trên 420.000 – 8.400.000 8  
               
    4 Trên 150.000 – 200.000 Trên 8.400.000 – 1.400.000 10  
               
    5 Trên 200.000 – 250.000 Trên 1.400.000 – 2.100.000 12  
               
    6 Trên 250.000 – 350.000 Trên 2.100.000 – 2.800.000 13  
             
    7 Trên 350.000 – 1.050.000 Trên 2.800.000 – 6.000.000 15  
             
    8 Trên 1.050.000 Trên 6.000.000 18  
                 

    Khoá luận tốt nghiệp

    Ghi chú : Mức tính giảm giá được tính = Đơn giá ( theo từng khung giá)* thời lượng quảng cáo.

    III.Chế độ giảm giá bổ xung.

    Áp dụng cho những khách hàng có doanh số quảng cáo đã vượt quá mức được hưởng giảm giá cao nhất, khách hàng có các chương trình hợp tác với Đài mang lại hiệu quả lớn, khách hàng thanh toán tiền trước .. .cụ thể cho các trường hợp sau:

    1. Khách hàng nếu thực hiện việc thanh toán tiền trước khi phát sóng quảng cáo (doanh số quảng cáo tính theo thực tế từng tháng), được hưởng thêm 1,5 % giảm giá ngoài mức giảm giá theo quy định.
    1. Khách hàng trong năm đạt doanh số vượt trên 350% so với mức được hưởng giảm giảm gía18% và thanh toán đầy đủ, thì ngoài mức giảm giá 18%, sẽ được hưởng thên giảm giá bổ sung. Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền hình sẽ căn cứ vào tình hình thực tế quảng cáo và thanh toán tiền của từng đơn vị để xét vào cuối năm.
    2. Khách hàng có doanh số quảng cáo vượt trên 40 tỷ đồng, ngoài việc được hưởng giảm giá bổ sung ngoài mục B.III.2, riêng phần doanh số vượt đó sẽ được hưởng mức giảm giá ít nhất là 23%.
    1. Khách hàng trong năm đạt tổng doanh số quảng cáo sản phẩm trong nước và sản phẩm nước ngoài và liên doanh nước ngoài => 20 tỷ đồng thì tổng doanh số này sẽ được lấy là mức để xác định tỷ lệ giảm giá chung cho khách hàng đó.
    2. Khách hàng đăng ký quảng cáo nhãn hiệu vào một thời gian quảng cáo nhất định trên sóng VTV trong cả năm đạt mức doanh số trên 1,5 tỷ đồng thì ngoài tỷ lệ giảm giá theo quy định, được hưởng thêm tỷ lệ giảm giá khuyến mại khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.
    3. Nhãn hiệu mới được sản xuất ở Việt Nam, khi quảng cáo trên sóng VTV và đạt doanh số => 500.000.000 đồng thì ngoài tỷ lệ khuyến khích 1% cho riêng nhãn hiệu sản phẩm đó.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Khách hàng trong năm có tham gia tài trợ để sản xuất các chương trình trên các kênh VTV, thì số tiền tài trợ được cộng vào để tính doanh số xét quyền lợi của khách hàng vào cuối năm

    VI.Chương trình giới thiệu doanh nghiệp.

    Là những chương trình có độ dài khoảng 3 phút đến 10 phút, giới thiệu về công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, về khả năng tài chính, quản lý đầu tư.. .

    Giá phát sóng chương trình giới thiệu doanh nghiệp

    Doanh nghiệp NN và LDNN Doanh nghiệp trong nước
    15.000.000 đ/phút 12.000.000 đ/phút
    1. Hoa hồng môi giới.

    Các cá nhân, tổ chức thực hiện công việc môi giới quảng cáo thông qua các hợp đồng với trung tâm Quảng Cáo, được hưởng tỷ lệ hoa hồng 1% trên trị giá quảng cáo và đã trả tiền cho Trung tâm 9 nếu là cá nhân phải khấu trừ thuế thu nhập.

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 2

    QUY ĐỊNH VỀ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ NĂM 2003 CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI (Thực hiện từ 01/01/2003)

    1- ĐIỀU KIỆN KÝ HỢP ĐỒNG VÀ PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo ký Hợp đồng với Đài phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Đơn vị quảng cáo về hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ của mình phải có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
    • Hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được quảng cáo phải có đủ các điều kiện theo quy định.

    – Quảng cáo phải được duyệt trước khi phát hành.

    2- HÌNH THỨC PHÁT HÀNH QUẢNG CÁO:

    • Trên sóng phát thanh và truyền hình Hà Nội.
    • – Trên truyền hình cáp hữu tuyến Hà Nội (HCATV).
    • Trên website của Đài Phát thnah – Truyền hình Hà Nội (hanoitv.org.vn; www.htv.org.vn).

    3- GIÁ QUẢNG CÁO VÀ DỊCH VỤ:

    3.1. Giá quảng cáo ban hành kèm theo quy định này.

    3.2. Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo quảng cáo 10 giây.

    3.3. Chọn vị trí ưu tiên trong chương trình quảng cáo: đầu, cuối cộng (+) 8%; các vị trí thứ 2,3 và sát cuối, áp sát cuối cộng (+) 5%, tính theo mức giá chuẩn 30 giây trở lên.

    3.4. Các thông tin như: Thông báo, Tuyển sinh, Mời họp, Lễ hội…: 500.000/1 lần phát (giờ C4; C5; S1; S3). Các giờ T1, T2 thu bằng 50% đơn giá QC.

    3.5. Các thông tin phát sóng vào thời điểm quy định: Tin tang lễ, Lời cảm ơn tang lễ, Tìm trẻ lạc, Rơi giấy tờ: 200.000đ/ 1 lần phát (giờ C4;S1;S3); riêng lời cảm ơn tang lễ nếu khách hàng có nhu cầu phát thêm nội dung (tối đa không quá 90’’) thu 500.000đ/ 1lần phát.

    Khoá luận tốt nghiệp

    3.6. Các thông tin kinh tế, giới thiệu sản phẩm, giới thiệu doanh nghiệp…dưới

    03 phút tính theo giá quảng cáo, từ 03 phút trở lên phát sóng ngoài các

    chương trình Phim và Giải trí, thu bằng 30% đơn giá quảng cáo. Giá trị trên

    được cộng vào giá trị hợp đồng quảng cáo dài hạn (nếu có).

    1. CHẾ ĐỘ GIẢM GIÁ VÀ KHUYẾN KHÍCH:

     

    • Doanh số trên HĐ là doanh số còn lại sau khi giảm giá.
    • Mức giảm giá được tính bằng:

    Đơn giá (theo từng khung giá) x Thời lượng QC – Giá trị giảm giá được hưởng

    4.1. Giảm giá trên Hợp đồng:

    4.1.1. Đối với khách hàng là Công ty Quảng cáo:

    Mức Doanh số quảng cáo sản phẩm   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    dịch vụ trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 50.000 – 150.000   Từ 500.000 – 1.000.000 08
             
    2 Trên 150.000 – 350.000   Trên 1.000.000 -1.500.000 10
             
    3 Trên 350.000 – 500.000   Trên 1.500.000 – 1.500.000 12
             
    4 Trên 500.000 – 650.000   Trên 2.500.000 – 3.500.000 14
             
    5 Trên 650.000 – 800.000   Trên 3.500.000 – 4.500.000 16
             
    6 Trên 800.000 – 1.000.000   Trên 4.500.000 – 6.000.000 18
             
    7 Trên 1.000.000   Trên   6.000.000 20
             
    4.1.2. Đối với khách hàng là đối tượng khác:      
           
    Mức Doanh số QC sản phẩm dịch vụ   Doanh số QC sản phẩm dịch vụ Tỷ lệ
    trong nước (1.000 VND)   LD & NN (1.000) giảm (%)
       
             
    1 Từ 30.000 – 50.000   Từ 100.000 – 200.000 06
             
    2 Trên 50.000 – 90.000   Trên 200.000 – 500.000 08
             
    3 Trên 90.000 – 165.000   Trên 500.000 – 1.000.000 10
             
    4 Trên 165.000 – 275.000   Trên 1.000.000 – 1.500.000 12
             
    5 Trên 275.000 – 90.000   Trên 1.500.000 – 2.000.000 14
             
    6 Trên 390.000 – 550.000   Trên 2.000.000 – 3.000.000 16
             
    7 Trên 550.000   Trên 3.000.000 18
             

    Khoá luận tốt nghiệp

    4.2. Giảm giá bổ sung:

    4.2.1. Khách hàng có doanh số đạt trên 12 tỷ đồng sản phẩm LD & NN hoặc

    • tỷ đồng sản phẩm trong nước sẽ được hưởng mức giảm giá 22 %. Khách hàng có doanh số đạt trên 15 tỷ đồng sẽ được hưởng mức giảm giá 24%.
    • 2. Khách hàng ký hợp đồng quảng cáo dài hạn (doanh số trên 01 tỷ đồng đối với sản phẩm LD & NN; trên 500 triệu đồng đối với sản phẩm trong nước) thực hiện việc thanh toán tiền trước và phát sóng quảng cáo sau (tính theo từng tháng), được giảm giá bổ sung 1,5% ngoài mức giảm giá theo quy định.
    • Chế độ khuyến khích:

     

    • 1. Khách hàng đạt doanh số trên 15 tỷ đồng sẽ được quyền tính gộp doanh số các sản phẩm và hưởng tỷ lệ giảm giá chung cho toàn bộ Hợp đồng.
    • 2. Đối với khách hàng tham gia tài trợ sản xuất và phát sóng các trương trình của Đài, doanh số tài trợ sẽ cộng vào tổng doanh số của Hợp đồng quảng cáo (nếu có).
    • Các chương trình tự giới thiệu doanh nghiệp sản xuất tại Đài được giảm 10% so với giá ở mục 3.6. Các bảng quảng cáo sản phẩm và dịch vụ sản xuất tại Đài được giảm giá 20% so với bảng giá cho 05 lần phát sóng đầu tiên.
    • 4- Chế độ hoa hồng:

     

    Khách hàng không hưởng giảm giá trên hợp đồng sẽ được hoa hồng, nếu giá trị quảng cáo đạt từ 3.000.000đ trở lên được hưởng mức 03% với điều kiện phải nộp 100% tiền mặt ( nếu các nhân thì phải khấu trừ thuế thu nhập).

     

    • 5- Chế độ miễn phí:

     

    Miễn phí đối với các thông tin đặc biệt về chính tri, xã hội của Thành phố, các thông tin tìm tung tích nạn nhân, Lệnh truy nã của C.A từ cấp thành phố trở lên.

     

    5- VIỆC DUYỆT BĂNG QUẢNG CÁO:

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Các mẫu mã quảng cáo phải được Đài duyệt trước khi phát hành từ 5 -7

    ngày.

    • Nội dung xét duyệt sẽ được xác nhận bằng “ Phiếu nghiệm thu”.
    • Các mẫu quảng cáo sau khi được duyệt sẽ có mã số để đưa vào sản xuất và phát sóng theo hợp đồng.

    Quy định này thực hiện kể từ ngày 01/01/2003 và thay thế cho các quy định về quảng cáo trên sóng Phát thanh – Truyền hình Hà Nội trước đây. Trường hợp đặc biệt Giám đốc Đài sẽ có quyết định cụ thể.

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN 6 KÊNH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI

    Thực hiện từ ngày 01/01/2003

    Ban hành theo quy định số 869/QĐ-PTTH ngày 05/12/2002

    (Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng)

          Đơn vị tính: 1.000USD  
               
      CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG GIÁ SP GIÁ SP  
    THỜI GIAN TRONG
    HIỆU CÁO LD & NN  
      NƯỚC
             
        BUỔI SÁNG      
               
    06h00 – 06h45 S1 Ngoài Bản tin, Chuyên đề sáng 480 810  
               
    06h45 – 08h30 S2 Trước Phim & Giải trí sáng 600 1.020  
               
    08h30 – 09h50 GTs1 Trong Phim & Giải trí sáng 1.350 3.000  
               
    09h50 – 11h45 S3 Trước Bản tin trưa 750 1.260  
               
    11h45 – 12h00 S4 Trước Phim & Giải trí trưa 3.300 5.520  
               
    12h00 – 13h00 GTs2 Trong Phim & Giải trí trưa 4.740 10.500  
               
        BUỔI CHIỀU      
               
    13h00 – 15h00 C1 Sau Phim & Giải trí trưa 480 810  
               
    15h00 – 16h00 C2 Sau Bản tin chiều 480 810  
               
    16h00 – 17h00 C3 Trước Chương trình thiếu nhi 480 810  
               
    17h00 – 17h30 TNc Trong Chương trình thiếu nhi 630 1.410  
               
    17h30 – 17h40 C4 Trước Phim & Giải trí chiều 1.200 2.010  
               
    17h40 – 18h25 GTc Trong Phim & Giải trí chiều 3.390 7.500  
               
    18h25 – 18h30 C5 Trước Thời sự chiều 3.000 5.010  
               
        BUỔI TỐI      
               
    18h55 – 19h00 T1 Trước thời sự THVN 4.500 7.500  
               
    19h45 – 20h30 T2 Sau thời sự THVN 4.500 7.500  
               

    Khoá luận tốt nghiệp

    20h30 – 21h00 T3 Trước Phim và Giải trí tối 6.000 10.020  
               
    21h00 – 21h50 GTt1 Trong Phim và Giải trí tối 7.650 17.010  
             
    GTt2 Trong bóng đá Italia 4.500 10.020  
     
               
    21h50 – 22h45 T4 Sau Phim và Giải trí tối 3.000 5.010  
               
    Sau 22h45 GTt3 Trong CT Thể thao (T2 – T7) 1.800 3.000  
               
    • Giá trên đã bao gồm thuế GTGT
    • Quảng cáo có thời lượng < 10 giây được tính theo giá quảng cáo 10 giây.
    • Giá quảng cáo được tính theo các mức chuẩn 10’’, 20’’, 30’’, 35’’…(khoảng cách giữa các mức chuẩn là 05’’), quảng cáo có thời lượng trên mức chuẩn được tính theo giá của mức chuẩn cao hơn kế tiếp.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Khoá luận tốt nghiệp

    PHỤ LỤC 3

    CÔNG TY DỊCH VỤ QUẢNG CÁO VÀ THIẾT BỊ TRUYỀN HÌNH (EAC)

    Địa chỉ: 65 Lạc Trung, Hà Nội

    Số điện thoại : (04) 6364007, Fax : (04)6364005

    BẢNG GIÁ QUẢNG CÁO TRÊN CÁC KÊNH TRUYỀN HÌNH KỸ THUẬT SỐ

    1. Bảng giá quảng cáo cho năm 2003

    Đơn giá 30 giây cho 1 lần phát sóng (VND)

    Ký hiệu Thời gian Thời điểm quảng cáo Giá quảng cáo
         
             
          Sản phẩm và dịch vụ đối với
               
          Trong nước   Nước ngoài
               
      Bóng đá quốc tế trên kênh ESPN, STAR SPORT  
               
    A1 19:30 – 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 3.900.000   1.950.000
               
    A2 Sau 23:00 Trước và giữa 2 hiệp 2.600.000   1.300.000
               
      Phim nước ngoài trên các kênh HBO,CINEMAX, MTV    
               
    B1 0:00 – 24:00 Trong phim 2.600.000   1.300.000
             
      CARTOON NETWORK, DISCOVERY, ANIMAL PLANET, CNN
               
    C1 19:30 – 23:00   1.300.000   650.000
               
    C2 Sau 23:00   900.000   450.000
               
        Các kênh Việt Nam  
               
    D1 19:30 – 23:00   1.950.000   1.000.000
               
    D2 Sau 23:00   1.500.000   800.000
               
        DW, CCTV4, TV5    
               
      19:30   400.000   150.000
               
      Sau 23:00   260.000   130.000
               

    Lưu ý: Giá ghi trên bao gồm 10% thuế VAT

    Khoá luận tốt nghiệp

    1. Tỷ lệ và mức giảm giá

    1.Đối với khách hàng thực hiện quảng cáo ở Việt Nam

    Mức Doanh số quảng cáo (VND) Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến  
    1 Dưới 30.000.000   10%
    2 30.000.000 50.000.000 15%
    3 50.000.000 100.000.000 18%
    4 100.000.000 200.000.000 20%
    5 200.000.000 300.000.000 25%
    6 Trên 300.000.000   30%
    1. Đối với các khách hàng là nhà sản xuất
    Mức Doanh số quảng cáo (VND)   Tỷ lệ giảm (%)
      Từ Đến    
    1 10.000.000     10%
    2 10.000.000   20.000.000 12%
    3 20.000.000   30.000.000 15%
    4 30.000.000   50.000.000 18%
    5 Trên 50.000.000     20%

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:CÂU HỎI ÔN TẬP CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CÓ ĐÁP ÁN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-C%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-ho%C3%A1-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-ho%C3%A1-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-qu%E1%BB%91c-d%C3%A2n-l%C3%A0-nhi%E1%BB%87m-v%E1%BB%A5-trung-t%C3%A2m-trong-su%E1%BB%91t-th%E1%BB%9Di-k%E1%BB%B3-qu%C3%A1-%C4%91%E1%BB%99-%C4%91i-l%C3%AAn-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

    LỜI MỞ ĐẦU

    Công cuộc xây dựng xã hội mới phải được tiến hành toàn diện trên các mặt: quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, nền văn hoá và những con người của xã hội đó. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước. Tuy nhiên, tuỳ từng nước khác nhau, do điểm xuất phát tiến lên không giống nhau nên cách thức tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.

    Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như nước ta, nền sản xuất nhỏ, là thuật thủ công là chủ yếu… công nghiệp hoá là quá trình chủ mang tính quy luật để tạo ra cơ sở vật chất – là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.

    Chính vì vậy tại đại hội VIII Đảng ta khẳng định: tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên CNXH – là nhiệm vụ sắp tới của dân tộc ta.

    Những thành tựu sau 10 năm đổi mới, đặc biệt là kết quả thực hiện vượt mức những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm1991 – 1995 đã đưa nền kinh tế nước ta khỏi khủng hoảng và tạo được nhứng tiền đề cho phép chuyển sang giai đoạn của sự phát triển đất nước.

    Cũng tại đại hội lần thứ VIII của Đảng công sản Việt Nam xuất phát từ nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Từ điều kiện và khả năng thực tế của đất nước trong bối cảnh và xu thế của thời đại ngày nay đã khẳng định quyết tâm

    1

    phấn đấu đưa nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào khoảng năm 2020.

    Từ lý do trên em quyết định chọn đề tài “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Cho bài tiểu luận này.

    Với chút hiểu biết ít ỏi của mình, em mạnh dạn xin được trình bày một số ý kiến cá nhân mình với hy vọng góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm hệ thống lý luận trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này để bài viết hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng ý kiến đóng góp.

    2

    PHẦN NỘI DUNG

    I.                   Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.

     

    1. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến độ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.

    2. Tình tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    Cơ sở vật chất – kỹ thuật của một xã hội toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.

    Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở – vật chất – kỹ thuật của một xã hội là: sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển khoa học – kỹ thuật, tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.

    Nói cơ sở vật chất kỹ thuật là một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở vật chất kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương thức sản xuât đó được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất và được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ và được phát triển trên cơ sở bản thân đó.

    Đặc trưng của cơ sở vật chất – kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở

    vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của nó là nền đại công nghiệp cơ khí hoá vàchỉ đến khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới trở thành phương thức sản xuất thống trị.

    Chủ nghĩa xã hội – giai đoạn phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa tư bản – đòi hỏi một cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ, kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại.

    Do vậy có thể hiểu: cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hôị sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Đố là vì, cơ sở vật chất – kỹ thật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quan đến sự phát triển về chất đổi mới với lực lượng sản xuất và năng suất lao động, đối với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.

    3. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    “Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý nghĩa lớn lao, như vậy nó phải được thực hiện triệt để, sâu rộng trong toàn nhân dân. Có nghĩa là phải tập trung mọi lực lượng trong nhân dân, khuyến khích phát triển nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích mọi doanh nghiệp, các nhân trong và ngoài nước cùng tham gia vào sự nghiệp chung góp phần

    tăng trưởng kinh tế -xã hội của đất nước như lời: tổng bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu tại hội nghị lần thứ VI ban chấp hành trung ương Đảng VIII:” Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nắng vững lợi thế so sánh, dựa vào sức mạnh nôi lực, phát huy cao độ nỗ lực của mọi người, mọi cấp, mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, nắm thời cơ, tranh thủ nguồn từ bên ngoài vượt qua khó khăn thách thức, giữ vững ổn đinh và phát triển kinh tế xã hội, từng bước tạo điều kiện để cần thiết cho phát triển nhanh và bền vững khi có điều kiện”.

    Điều kiện quan trọng ở đây là:” phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân, phát triên nhiều thành phần kinh tế nhưng trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo vận hành theo cơ chế thị trường cơ sự quản lý của nhà nước”. Đây chính là một bài học quan trọng mà Đảng rút ra sau 10 năm đổi mới. Sở dĩ chúng ta giành được những thắng lợi khả quan sau 10 đổi mới, ngoài những bài học khác thì một phần nhờ vào việc Đảng ta xác định chính sách kinh tế đúng đắn. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.

    Kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu thế, tác động tích cực tới sự phát ytiển kinh tế -xã hội nhưng đồng thời nó cũng có những mặt tiêu cực, khuyết tật ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội như hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh, chèn ép lẫn nhau, phân hoá giàu nghèo dần đến khủng hoảng hoặc gây rối loạn xã hội, làm cho kinh tế phát triển không ổn định, gẵn liền với hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội… Vì thế nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN. Do đó Nhà nước phải nâng cao năng lưc quản lý vĩ mô nhằm phát huy tính tích tích cực đi đôi với ngăn ngừa và hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp văn minh. Cạnh tranh vì lợi

    5

    ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau làm chệch hướng đi lên chủ nghĩa xã hội

    Muốn vậy cần phải xác định rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ( đó là các doanh nghiệp nhà nước), phải làm sao để cho kinh tế nhà nước thực sự làm ăn có hiệu quả, phát huy tối đa vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã, phấn đấu dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

    Tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng an ninh. Đây là những ngành kinh tế chính yếu, là “bộ xương sống” của toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

    II công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam

    1.Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để tự trang bị.

    Thế giới đã trải qua hai cuộc chiến tranh kỹ thụât: cuộc cách mạng kỹ thuật mà nội dung chủ yếu của nó là cơ khí hoá xuất hiện đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ 17 và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ 19. Đến khoảng giữa thế kỷ 20 xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại. Mấy thập niên đã trải qua, nhất là thập niên gần đây loài người đang chứng kiến những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.

    Từ nội dung của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, mặc dù còn có thể có ý kiến nào đó khác nhau, song ý kiến nhất trí cho rằng cuộc cách mạng nàycó hai đặc trưng chủ yếu:

    Một là, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Cách đây hơn một trăm năm. Các Mác đã dự đoánvề mối quan hệvà sự phát triển giữa khoa

    6

    học và lực lượng sản xuất. Người viết: “ Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu xe lửa, điện báo… Tất cả các thứ đólà thành quả sáng tạo của bộ óc con người, được bàn tay con người tạo ra là sức mạnh tri thức đã được vật hoá. Sự phát triển của vốn cố định là chỉ tiêu cho thấy rằng tri thức xã hội chung đã biến thành lực lượng sản xuất với mức độ bào, và do đó cũng là chỉ tiêu nói lên mức độ phụ thuộc và biến đổi của chính những điều kiện hoạt động đối với trí tuệ chung”

    Nói khoa học trở thành lực lượng sản xuất trưc tiếp là nó bao gồm cả khoa học tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế, nó do con người toạ ra thông qua con người- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể-đến lực lượng sản xuất. Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu tư đúng đắn cho khoa học- kỹ thuật. Ngày nay, bất cứ một tiến bộ nào của kỹ thuật “công nghệ” sản xuất đều phải dựa trên những thành tựu khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.

    Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế chio phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại, phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất đời sống ngày càng mở rộng.Đặc trưng này làm cho tài sản cố trong qúa trình sử dụng thậm trí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị hao mòn hữu hình mà còn bị hao mòn vô hình nhanh chóng hơn trước. Nó đòi hỏi cần được kêt hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học –kỹ thụât với chiến lược kinh tế –xã hội.

    • nước ta, một nước bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá được tiến hành trong điều kiện thế giới trải qua hai cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá. Trong hoàn cảnh đó công cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuât ở nước ta phải bao gồm cả cơ khí hoá và hiện đại hoá, coi nó là then chốt và coi khoa học- công nghệ là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững.

    7

    2. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội

    Từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa trong quá trinh công nghiệp hoá tất yếu phải phân công lại lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, tức là sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội bộ và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân. Nhân công lao động có tác động to lớn: nó là đòn bẩy của sự phát triển công nghệvà năng xuất lao động; cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự phân công lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau:

    • Tỷ trọng vầ số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày càng tăng
    • Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội.

    +Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh hơn mức độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.

    Nước ta hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại những thành công nhất định. Song trong việc bố trí cơ cấu kinh tế có những sai lầm không nhỏ về cơ cấu ngành, chạy theo công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí quá nhiều, công nghiệp lạc hậu… Qua nhiều lần đại hội, dưới ánh sáng của sự đổi mới nói chung, trong đó có đổi mới việc xây dựng cơ cấu kinh tế, đến nay đã đưa lại chuyển động bước đầu quan trọng. Thông qua cách mạng khoa học-kỹ thuật và phân công lại lao động với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nước ta. Đảng ta đã xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà “ bộ xương” của nó là: “cơ cấu kinh tế công nông nghiệp- dịch vụ gắn liền với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng, sẽ cho phép nước ta kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”

    8

    Cơ cấu nói trên ở nước ta trong thời kỳ qúa độ được thực hiện theo phương châm: Kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn- tiên tiến vừa vận dụng được nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép rút ngắn khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nước, lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính quy mô lớn nhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện. Giữ được nhịp độ phát triển hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành hàng hoá, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh tế.

    III.Những điều kiện- giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện

    đại hoá

    Sự nghiệp công nghiệp hoá mà sự thắng lợi của nó phụ thuộc vào nhưng điều kiện tiền đề (nhất là ở những nước có nền kinh tế kém pháp triển như ở nước ta) có 4 loại điều kiện tiền đề sau đây:

    1. Tạo nguồn vốn tích luỹ để công nghiệp hoá

    Công nghiệp hoá là để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật ngày một hiện đại, nên đòi hỏi nhiều vốn. Nguồn gốc của tích luỹ vốn là lao động thặng dư, cơ sở tự nhiên và cũng là biện pháp cơ bản tăng năng suất lao động. Cơ cấu vốn tích luỹ để công nghiệp hoá bao gồm: Tích luỹ vốn từ nguồn trong nước và tích luỹ vốn từ nguồn bên ngoài. ở nước ta, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp cũng như nhiều nước kém hoặc đang phát triển, thời kỳ đầu đều phải dựa vào nguồn vốn nước ngoài, nước ta không thể là ngoại lệ.Tất nhiên phải rất coi trọng tạo ra chính sách đối ngoại hữu hiệu và việc sử dụng vay vốn có hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.

    2. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.

    Vị trí then chốt của khoa học- kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải đặt khoa học và công nghệ như một “quốc sách”. Chính nó đã góp phần đưa nền kinh tế hàng hoá ở nước ta phát triển cả về chiều rộng

    lẫn chiều sâu, nhất là chiều sâu góp phần nâng cao năng lực tích luỹ vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.

    3. Làm tốt công tác về điều tra cơ bản

    Nước ta, công nghiệp hoá mới chỉ bắt đầu, tài nguyên khoáng sản tương đối nhiều nhưng chưa được khai thác. Do vậy, điều tra cơ bản thăm dò địa chất là điều kiện tiền đề không thể thiếu của công nghiệp hoá. Sẽ mất lợi thế nếu khai thác chậm, trước sự bùng nổ của vật liệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tác động và tạo ra khả năng thay thế nguyên liệu tự nhiên trong thế kỷ 21 và tiếp theo.

    4. Đào tạo cán bộ khoa học- kỹ thuật , khoa học quản lý và công nhân lành nghề cho công nghiệp hoá.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá là sự nghiệp của quần chúng lao động xây dựng nên, trong đó cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và nhân công có tay nghề cao có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, phải làm cho họ có tri thức phải đào tạo họ.

    Những điều kiện tiền đề nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, nó đòi hỏi phải có mới tiến hành công nghiệp hoá được. Nước ta không thể không hoà nhập với các nước trong cộng đồng quốc tế, không thể không nẵm bắt những lý thuyết hiện đại để ứng dụng cho các nước kém phát triển.

    • Lý thuyết về lợi thế so sánh
    • Lý thuyết cân bằng
    • Lý thuyết cất cánh

    Mỗi lý thuyết về nội dung của nó đều có mặt tích cực và mặt hạn chế của nó,do vậy trong việc vận dụng phải biết vận dụng và phát huy mặt tích cực, khắc phục một cách có hiệu quả những hạn chế của nó. Bằng cách đó sớm đưa sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta nhanh đến thắng lợi

    10

    KẾT LUẬN

    Tóm lại, nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm tạo ra năng xuất lao động và tổ chức xã hội ngày càng tiên tiến.

    Nhiệm vụ ấy chỉ có được trên cơ sở công nghiệp hoá ,hiên đại hoá, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hiệu quả. Do đó, tiến hành công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để xây dựng nền cơ cấu nền kinh tế hợp lý là nhiệm vụ quan trọng, đó là nền tảng chiến lược đưa đất nước vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng van minh sánh vai cùng các cường quốc năm châu.

    11

    12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-v%C3%A0-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận Văn Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam

    Khoá luận tốt nghiệp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã và đang đem lại những chuyển biến mạnh mẽ trên toàn thế giới. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh tế đem lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội.

    Thương mại điện tử là lĩnh vực hoạt động kinh tế không còn xa lạ với nhiều quốc gia. Người ta không còn phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc…cho những giao dịch kinh tế. Việc áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tất yếu của thời đại. Và Việt Nam – trong quá trình hội nhập không nằm ngoài xu hướng phát triển đó. Tuy thương mại điện tử không còn là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam, nhưng rất nhiều người Việt Nam thậm chí còn chưa hiểu rõ bản chất, lợi ích của thương mại điện tử chứ chưa nói đến việc áp dụng nó. Do đó, quá trình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu khách quan về quy luật vận động và phát triển thương mại điện tử để từ đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vực hoạt động thương mại này.

    Xuất phát từ những yêu cầu đó, với mong muốn mỗi người dân Việt Nam sẽ hiểu biết ngày một sâu sắc tầm quan trọng của thương mại điện tử, đưa thương mại điện tử vào trong hoạt động phát triển nền kinh tế quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Nội dung của khoá luận sẽ giúp người đọc hiểu rõ khái niệm, yêu cầu, lợi ích và tầm quan trọng của thương mại điện tử nói chung và những định hướng, bước đi trong chặng đường phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói riêng, qua đó sẽ thấy được những vấn đề bức thiết cần làm để nâng cao hiệu quả của thương mại điện tử.

    Trong quá trình thực hiện, do trình độ và thời gian có hạn cùng với điều kiện thực tế là thương mại điện tử ở Việt Nam mới chớm phát triển, việc lấy thông tin chính xác còn nhiều hạn chế, do đó khoá luận không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ, trao đổi, động viên của các cấp, các ngành, các

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    nhà nghiên cứu, các thày cô và những ai quan tâm đến thương mại điện tử để khoá luận “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” ngày một hoàn thiện.

    Xin trân trọng cảm ơn!

    LỜI CẢM ƠN

    Trước hết tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó giáo sư, Nhà giáo ưu tú Vũ Hữu Tửu – người đã hướng dẫn tận tình cho tôi từ lúc tôi bắt đầu thực hiện cho đến khi khoá luận “Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” được hoàn thành. Xin cảm ơn về những chỉ dẫn hết sức quý báu của thầy để em có thể mạnh dạn thực hiện và tin tưởng vào khoá luận tốt nghiệp của mình.

    Tôi cũng xin ghi nhận sự đóng góp của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, bạn bè tôi và đặc biệt là Công ty vận tải thuỷ Bắc đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện khoá luận.

    Và trên hết tôi muốn gửi lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi, những người đã luôn động viên, khuyến khích và tạo cho tôi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn tất khoá luận này.

     

    -2-

    Khoá luận tốt nghiệp

    TÓM TẮT KHOÁ LUẬN

    Khoá luận Thương mại điện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam gồm 03 chương:

    Chương I: Giới thiệu chung về thương mại điện tử, nêu lên những khái niệm, lợi ích và các đòi hỏi của thương mại điện tử. Mục đích là giúp bước đầu tìm hiểu về thương mại điện tử trong quá trình tiến tới một nhận thức toàn diện và để đầy đủ hơn về một thách thức đồng thời là một cơ hội mới khi tham gia vào lĩnh vực thương mại này.

    Chương II: Để hiểu rõ thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam, trước hết chương II đánh giá các yếu tố về hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam từ đó nêu lên tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong những năm gần đây, đồng thời cũng nêu lên triển vọng về phát triển thương mại điện tử

    • Việt Nam trong tương lai.

    Chương III: Như đã đề cập ở Lời nói đầu, quá trình phát triển thương mại điện tử

    • Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Để có các giải pháp khắc phục, trước hết cần phải có các quan điểm chủ trương đúng mức. Chương này đề cập đến hệ thống các giải pháp phát triển thương mại điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2020, trong đó nêu rõ các giải pháp vĩ mô ở tầm

    -3-

    Khoá luận tốt nghiệp

    quốc gia và các giải pháp vi mô ở cấp độ doanh nghiệp phù hợp với các quan điểm chủ trương phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

    Để tiện cho việc so sánh sự phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam với các nước khác trên thế giới. Phần phụ lục nêu rõ tình hình thương mại điện tử trên thế giới và một số khu vực, quốc gia. Từ đó ta có thể xem xét, nghiên cứu, học hỏi về quá trình phát triển thương mại điện tử ở các nước tiên tiến nhằm đưa thương mại điện tử Việt Nam tiến những bước dài trên con đường phát triển.

    CHƯƠNG I

    GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

    I. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    Sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “cách mạng số hoá”, thúc đẩy sự ra đời của “kinh tế số hoá”, và “xã hội thông tin” mà thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành. Thương mại điện tử là việc sử dụng các

     

    phương pháp điện tử để làm thương mại, trong đó “thương mại” (commerce) không phải chỉ là buôn bán hàng hoá dịch vụ (trade), mà – như được các nước thành viên Liên hợp quốc thoả thuận- bao gồm hầu như tất cả các dạng hoạt động kinh tế, và việc chấp nhận và áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi toàn bộ hình thái hoạt động của xã hội.

    1. Số hoá và nền kinh tế số hoá.

    Cho tới đầu thế kỷ này, để liên lạc với nhau, người ta sử dụng các hệ thống ký hiệu như âm thanh, hình ảnh, và chữ viết. Trong nửa đầu thế kỷ, kỹ thuật số (digital technique) trên cơ sở hệ nhị phân ( binary system, dùng hai chữ số, 0 và 1; mỗi số đó gọi là 1 bit, 8 bit gọi là một byte, biểu diễn điện tử tương ứng của hai ấy là “mạch mở” và “mạch đóng”) bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần. Hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các ký hiệu khác), và âm thanh đều được số hoá thành các nhóm bit điện tử, để ghi lại, lưu giữ trong môi trường từ, truyền đi và đọc bằng điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng (300 nghìn km/giây).

    Kỹ thuật số được áp dụng trước hết vào máy tính điện tử, tiếp đó sang các lĩnh vực khác (cho tới điện thoại di động, thẻ tín dụng v.v.). Việc áp dụng các kỹ thuật số có thể được gọi là một cuộc Cách mạng vĩ đại trong lịch sử nhân loại, gọi là cuộc cách mạng số hoá ( digital revolution), mở ra “kỷ nguyên số hoá” (Digital Age).

    Cách mạng số hoá diễn ra với tốc độ rất cao. Trong bối cảnh ấy, hoạt động kinh tế nói chung và thương mại nói riêng (kể cả khâu quản lý) cũng chuyển sang dạng “số hoá”, “điện tử hoá”; khái niệm “thương mại điện tử” dần dần hình thành, và ứng dụng “thương mại điện tử” ngày càng mở rộng.

    2. Thương mại điện tử là gì?

    Thương mại điện tử là một trong những lĩnh vực tương đối mới, ngay tên gọi cũng có nhiều: có thể gọi là “thương mại trực tuyến” (online trade) (còn gọi là “thương mại tại tuyến”), “thương mại điều khiển học” (cybertrade), “kinh

    doanh điện tử” (electronic business), “thương mại không có giấy tờ” (paperless –

    Khoá luận tốt nghiệp

    commerce hoặc paperless trade) v..v; gần đây “thương mại điện tử” (electronic commerce) được sử dụng nhiều và trở thành quy ước chung, đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù rằng các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và được hiểu với cùng một nội dung.

    Theo định nghĩa rộng rãi nhất, giản dị nhất và đã được chấp nhận phổ biến, thì thương mại điển tử là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn, thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.

    Trong định nghĩa trên đây, “thông tin” (information) không được hiểu theo nghĩa hẹp là “tin tức”, mà là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tệp văn bản (text-based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bản tính (spreadsheet), các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử (computer-aid design: CAD), các hình đồ hoạ (graphical image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động (video image), âm thanh v.v.

    Cần chú ý rằng, chữ “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” (electronic commerce) cần được hiểu như cách diễn đạt sau đây của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế, đã được ghi trong Đạo luật mẫu vầ thương mại điện tử do Uỷ ban này thảo ra và đã được Liên hiệp quốc thông qua:

    Thuật ngữ thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; thoả thuận khai thác; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh

    Khoá luận tốt nghiệp

    doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

    Như vậy, “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” (electronic commerce) không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của gần như tất cả các hoạt động kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.

    3.                 Các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thương mại điện tử.

     

    • Điện thoại:

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại. Một số loại dịch vụ có thể cung cấp trực tiếp của điện thoại (như dịch vụ bưu điện, ngân hàng, hỏi đáp, tư vấn, giải trí); với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn.

    Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được mọi cuộc giao dịch cuối cùng cũng phải kết thúc bằng giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài và điện thoại ngoài nước vẫn còn cao.

    – Máy điện báo (Telex) và máy Fax:

    Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống, ngày nay nó gần như đã thay thế hẳn máy Telex chỉ truyền được lời văn. Nhưng máy Fax có một số mặt hạn chế như: không thể truyền tải được âm thanh, chưa truyền tải được các hình ảnh phức tạp, ngoài ra giá máy và chi phí sử dụng còn cao.

    – Truyền hình:

    Khoá luận tốt nghiệp

    Số người sử dụng máy thu hình trên toàn thế giới hiện nay là rất lớn đã khiến cho truyền hình trở thành một trong những công cụ điện tử phổ thông nhất ngày nay.

    Truyền hình đóng vai trò quan trọng trong thương mại, nhất là trong quảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ quảng cáo trên truyền hình, một số dịch vụ đã được cung cấp qua truyền hình (như các chương trình đặt trước.v.v.) . Song truyền hình chỉ là một công cụ viễn thông “một chiều”; qua truyền hình khách hàng không thể tìm kiếm được các chào hàng, không thể đàm phán với người bán về các điều khoản mua bán cụ thể. Nay máy thu hình được nói kết với máy tính điện tử, thì công cụ của nó được mở rộng hơn.

    – Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử:

    Mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc mua bán là người mua nhận được hàng và người bán nhận được tiền trả cho số hàng đó. Thanh toán, vì thế, là khâu quan trọng bậc nhất của thương mại, và thương mại điện tử không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác (nay xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thông qua các “túi tiền điện tử”: electronic purse). Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng (credit card) các loại, thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card: thẻ từ có gắn vi chip điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất nhỏ) v.v.

    – Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ:

    Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một xí nghiệp và các liên lạc đủ kiểu giữa các máy tính điện tử trong cơ quan xí nghiệp đó, cộng với liên lạc di động. Theo nghĩa hẹp, đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau (gọi là mạng cục bộ: Local Area Network – LAN); hoặc nối kết các máy tính trong một khu vực rộng lớn hơn (gọi là mạng miền rộng: Wide Area Network – WAN). Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành liên

    Khoá luận tốt nghiệp

    mạng nội bộ (cũng có thể gọi là “mạng ngoại bộ” – extranet) và tạo ra một cộng đồng điện tử liên xí nghiệp (inter-enterprise electronic community).

    – Internet và Web:

    Năm 1969, Cơ quan các dự án nghiên cứu cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu nghiên cứu các tiêu chuẩn và công nghệ – thiết bị truyền gửi dữ liệu cho phép lập một mạng toàn quốc, nối ghép các mạng cục bộ và miền rộng sử dụng các chuẩn công nghệ khác nhau thành một mạng chung để trao đổi thông tin nhanh chóng và kịp thời. Năm 1983 dự án này thành công, một mạng toàn cục ra đời, sau đó tách thành hai mạng: MILnet chuyên dùng cho quân đội và ARPAnet dùng cho nghiên cứu và giáo dục. Các mạng máy tính đều có thể kết nối với ARPAnet, vì thế nó được đặt tên là Internet (tức “liên mạng”). Năm 1994 toàn thế giới có khoảng 3 triệu người kết nối Internet; năm 1996 con số đã lên trên 67 triệu người, năm 1997 đã có 110 quốc gia kết nối vào mạng Internet; năm 1998, toàn thế giới có khoảng 100 triệu người sử dung Internet/Web.

    Từ năm 1995, Internet được chính thức công nhận là mạng toàn cầu, nó là “mạng của các mạng” (the network of the networks) một máy tính có địa chỉ Internet thoạt tiên được nối vào mạng LAN, rồi tới mạng WAN, rồi vào Internet. Nhờ đó các mạng và các máy tính có địa chỉ Internet có thể giao tiếp với nhau, truyền gửi cho nhau các thông điệp (gọi là thư điện tử: electronic mail, tức e-mail), và các dữ liệu thuộc hàng trăm ứng dụng khác nhau.

    Việc kết nối các mạng như trên được thực hiện trên cơ sở các tiêu chuẩn truyền dẫn dữ liệu trong môi trường Internet (Internet Standards), chủ yếu là giao thức chuẩn TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) do Bộ Quốc phòng Mỹ (DOD: Department Of Defense) khởi thảo và phát triển (như đã nói ở trên). Trong đó TCP chịu trách nhiệm đảm bảo việc truyền gửi chính xác dữ liệu từ người sử dụng tới máy chủ (server) ở nút mạng, còn IP có trách nhiệm chuyển các gói dữ liệu (packet of data) từ nút mạng này sang nút mạng khác theo địa chỉ Internet.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Khi nói Internet, ta nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP. Công nghệ Internet thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế HTML (HyperText Transfer Protocol: Giao thức chuẩn truyền siêu văn bản) với các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ HTML (HyberText Markup Language), tạo ra nhiều dịch vụ khác nhau, mà tới nay nổi bật nhất là dịch vụ Word Wide Web ra đời năm 1991 (thường gọi tắt là Web, và viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyberlink, hybertext) tạo ra các văn bản có chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác, cho phép người sử dụng tự động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu kia, bằng cách đó mà truy cập các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau và dưới các hình thái khác nhau (văn bản, đồ hoạ, âm thanh), vừa phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về hình thức. Bằng dịch vụ Web, người sử dụng đọc được các thông tin viết bằng ngôn ngữ HTML, và truyền từ nơi này sang nơi khác trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế FTP (File Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tệp), POP (Post office Protocol: giao thức chuẩn truyền thông điệp đơn giản), NNTP (Net News Transfer Protocol: giao thức chuẩn truyền tin qua mạng; cho phép những người sử dụng mạng thảo luận xung quanh một hoặc nhiều vấn đề cùng quan tâm).

    Web giống như một thư viện khổng lồ có nhiều triệu cuốn sách, hay như một cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang (gọi là “trang web”-Web page) chứa một gói thông tin có nội dung nhất định: một trang quảng cáo, một bài viết v.v. mà số trang không ngừng tăng lên, và không theo một trật tự nào cả. Tính phức tạp và hỗn độn đó của Web dẫn tới việc nghiên cứu và cho ra đời các phần mềm công cụ tìm kiếm (search engine) chỉ dẫn người sử dụng tìm ra địa chỉ của thông tin theo chủ đề trong “biển thông tin” mênh mông của Web. Các “trình duyệt Web” được dùng phổ biến nhất hiện nay là Netscape Navigator

    Khoá luận tốt nghiệp

    (chiếm trên 50% thị trường), Microsoft Internet Explorer (chiếm gần 23% thị trường), và American Online (AOL: chiếm trên 16% thị trường).

    Ngày nay, do công nghệ Internet được áp dụng rộng rãi vào việc xây dựng các mạng nội bộ và mạng ngoại bộ, nên ngày nay người ta càng hiểu mạng nội bộ và mạng ngoại bộ là các “phân mạng” (subnet) của Internet. Và sau này, khi đã chấp nhận Internet như một công cụ giao tiếp chung, ta sẽ hiểu Internet như bao gồm cả các phân mạng ấy. Internet ra đời và phát triển đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá.

    Internet với tới mọi nơi trên thế giới, nên nó mang ý nghĩa toàn cầu rõ rệt. Các xu hướng hội tụ (convergence), tương tác (interactivity), và di động (mobility) được thúc đẩy mạnh mẽ sẽ làm thay đổi một cách căn bản tính chất và phẩm chất hoạt động của từng người, quan hệ người-với-người, người-với-vật thể trong những năm sắp tới. Khái niệm nền “kinh tế trực tuyến” (Online Economy, cũng gọi nền “kinh tế tại tuyến”) trong từng quốc gia, từng khu vực, và toàn thế giới ngày nay gắn liền với Internet. Gọi là “trực tuyến” (hay “tại tuyến”) vì tất cả các tế bào xã hội, con người cũng như phương tiện sản xuất và sản phẩm hàng hoá đều có thể liên lạc trực tiếp với nhau, và liên tục thông qua Internet với thời gian liên lạc gần như bằng không, không cần đến giấy tờ, càng không cần đối mặt trực thể. Mọi thông tin giao tiếp đều thông qua Internet/Web, và các phương tiện truyền thông hiện đại khác. Vì thế, “kinh tế trực tuyến” còn có các tên gọi khác là “kinh tế ảo” (virtual economy), “kinh tế điều khiển” (cybereconomy).

    Internet tạo ra bước chuyển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế giới “một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và đã trở thành công cụ quan trọng nhất của thương mại điện tử. Dù rằng không dùng Internet/Web vẫn có thể làm thương mại điện tử (qua các phương tiện điện tử khác, qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ). Song ngày nay, nói tới thương mại điện tử thường có nghĩa là nói tới Internet và Web, vì thương mại đã và đang trong quá trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, và các xu hướng ấy đều đòi hỏi

    Khoá luận tốt nghiệp

    phải sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao.

    4.                 Các hình thức hoạt động thương mại điện tử.

     

    • Thư tín điện tử:

    Các đối tác (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư tín điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin dưới dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận (là điều khác với “trao đổi dữ liệu điện tử” sẽ nói dưới đây).

    – Thanh toán điện tử:

    Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử (electronic message) thay cho việc trao tay tiền mặt, việc trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v. đã quen thuộc lâu nay thực chất đều là các dạng thanh toán điện tử.

    • Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử.
    • Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong phạm vi cả một nước cũng như giữa các quốc gia. Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hoá” (digital cash). Công nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này có tên gọi là “mã hoá khoá công khai/bí mật” (Public/Private Key Cryptography). Tiền mặt Internet được người mua hàng mua bằng đồng nội tệ, rồi dùng Internet để chuyển cho người bán hàng.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Túi tiền điện tử (electronic purse; còn gọi tắt là “ví điện tử”) nói đơn giản là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ khôn minh (smart card, còn có tên gọi là thẻ giữ tiền: stored value card). Tiền được trả cho bất cứ ai đọc được thẻ đó. Kỹ thuật của túi tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật” tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”.
    • Thẻ khôn minh (smart card, còn gọi là “thẻ thông minh”) nhìn bề ngoài tương tự như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì cho dải từ, lại là một chip máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hoá. Tiền ấy chỉ được “chi trả” khi người sử dụng và thông điệp (ví dụ như xác nhận thanh toán hoá đơn) được xác thực là “đúng”.
    • Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking), và giao dịch chứng khoán số hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống: (1) thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, các điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, vấn tin…), (2) thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị…), (3) thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng, (4) thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác.
    • Trao đổi dữ liệu điện tử

    Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin).

    EDI này càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu, chủ yếu phục vụ cho mua và phân phối hàng (gửi đơn hàng, các xác nhận, các tài liệu, hoá đơn v.v.), nhưng cũng dùng cho cả các mục đích khác nữa như thanh toán tiền khám

    Khoá luận tốt nghiệp

    bệnh, trao đổi các kết quả xét nghiệm v.v. EDI chủ yếu được thực hiện thông qua các mạng ngoại bộ (extranet) và thường được gọi là “thương mại võng mạng” (net-commerce). Cũng có cả hình thức “EDI hỗn hợp” (Hybrid EDI) dùng cho trường hợp chỉ có một bên đối tác dùng EDI, còn bên kia vẫn dùng các phương thức thông thường (như fax, thư tín qua bưu điện).

    EDI được áp dụng từ trước khi có Internet. Khi ấy, người ta dùng “mạng giá trị gia tăng” (Value Added Network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau; cốt lõi của VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được với nhau, và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm gọi. Khi nối vào VAN, một doanh nghiệp có thể liên lạc được với nhiều nghìn máy tính điện tử nằm ở nhiều trăm thành phố trên khắp thế giới. Nay EDI chủ yếu được thực hiện thông qua Internet.

    Thương mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về bản chất chính là trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) giữa các doanh nghiệp mà được thực hiện giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung:

    giao dịch kết nối đặt hàng

    giao dịch gửi hàng (shipping) thanh toán

    Trên bình diện này, nhiều khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn bán giữa các nước có chính sách, và luật pháp thương mại khác nhau về căn bản, đòi hỏi phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hoá thương mại và tự do hoá việc sử dụng Internet. Chỉ như vậy mới đảm bảo được tính khả thi, tính an toàn, và tính có hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).

    • Giao gửi số hoá của các dung liệu: (Dung liệu (content) là các hàng hóa mà người ta cần đến nội dung của nó (chính nội dung là hàng hoá). Các ý kiến tư

    Khoá luận tốt nghiệp

    vấn, vé bán máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm v.v. nay cũng được đưa vào danh mục các dung liệu).

    Trước đây dung liệu cũng được trao đổi dưới dạng hiện vật (physical form) bằng cách đưa vào đĩa, vào băng, in thành sách báo, thành văn bản, đóng gói bao bì chuyển đến tay người sử dụng, hoặc đến điểm phân phối (như cửa hàng, quầy báo v.v.) để người sử dụng đến mua và nhận trực tiếp. Ngày nay, dung liệu được số hoá và truyền gửi theo mạng, gọi là “giao gửi số hoá” (digital delivery). Ở Mỹ hiện nay 90% dân số dùng Web/ Internet để thu nhận tin tức và thông tin, khoảng 80,5% sử dụng Web/ Internet làm công cụ phục vụ cho nghiên cứu.

    Các tờ báo, các tư liệu công ty, cataloge sản phẩm lần lượt được đưa lên Web (gọi chung là “xuất bản điện tử”). Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể truyện v.v được số hoá, truyền qua Internet để người tiêu thụ sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử (hoặc của “sách điện tử” chuyên dụng). Các chương trình phần mềm được chuyển qua mạng, rồi được người sử dụng tải xuống (download). Đặt chỗ trên máy bay, rạp hát qua Internet (gọi là vé điện tử: electronic ticket) ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng tới 70%. Người tiêu thụ dùng Internet để liên lạc trực tuyến với các cơ quan tín dụng ngân hàng để biết các thông tin về bảo hiểm và số liệu phút chót về tài chính của mình (tiền tiết kiệm, tiền gửi, tiền sắp phải trả v.v.).

    Trên giác độ kinh tế thương mại, các loại thông tin kinh tế và kinh doanh trên Internet đều có ở mức phong phú, và một nhiệm vụ quan trọng của công tác thông tin ngày nay là khai thác Web và phân tích tổng hợp.

    – Bán lẻ hàng hoá hữu hình:

    Cho tới năm 1994-1995, hình thức bán hàng này còn chưa phát triển, ngay ở Mỹ cũng chỉ có vài cửa hàng có mặt trên Internet, chủ yếu là các cửa hàng bán đồ chơi, thiết bị tin học, sách, rượu. Nay, danh sách các hàng hoá bán lẻ qua mạng đã mở rộng ra, từ hoa tới quần áo, ôtô và xuất hiện hẳn một loại hoạt động gọi là “mua hàng điện tử” (electronic shopping), hay “mua hàng trên mạng”. Ở một số

    Khoá luận tốt nghiệp

    nước Internet đã bắt đầu trở thành công cụ để cạnh tranh bán lẻ hàng hoá hữu hình (Retail of tangible goods). Tận dụng tính đa năng phương tiện (multimedia) của môi trường Web và Java, người bán hàng xây dựng trên mạng các “cửa hàng ảo” (virtual shop) để thực hiện việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, xác nhận mua hàng, và trả tiền bằng thanh toán điện tử. Lúc đầu, việc mua bán như vậy còn ở dạng sơ khai: người mua chọn hàng rồi đặt hàng thông qua mẫu đơn (form) cũng đặt ngay trên Web. Nhưng có trường hợp muốn lựa chọn giữa nhiều hàng hoá ở các trang Web khác nhau (của cùng một cửa hàng) thì hàng hoá miêu tả nằm ở một trang, đơn đặt hàng lại nằm ở trang khác, gây ra nhiều phiền toái. Để khắc phục, các hãng đưa ra loại phần mềm mới gọi là “xe mua hàng” (shopping cart, shopping trolley), hoặc “giỏ mua hàng” (shopping basket, shopping bag) mà trên màn hình cũng có dạng tương tự như giỏ mua hàng hay xe mua hàng thật mà người mua thường dùng khi vào cửa hàng, siêu thị. Xe hoặc giỏ mua hàng này đi theo người mua suốt quá trình chuyển từ trang Web này sang trang Web khác để chọn hàng, khi chọn được món hàng vừa ý, người mua ấn phím “hãy bỏ vào xe/giỏ” (Put into shopping cart/bag”, các xe/giỏ này có nhiệm vụ tự động tính tiền (kể cả thuế, cước vận chuyển) để thanh toán với khách mua. Nay, các hãng bán hàng đã chuyển sang hệ thống phần mềm mới hơn nữa (gọi là “thương điểm điện tử”: store-front, hay: store-building) có tính năng cao hơn, cho phép người mua giao tiếp thoải mái hơn nữa với cửa hàng và hàng hoá v.v. Vì là hàng hoá hữu hình, nên tất yếu sau đó các cửa hàng phải dùng tới các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách. Điều quan trọng nhất là: khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home shopping), mà không phải đích thân đi tới cửa hàng.

    5. Giao dịch thương mại điện tử.

    Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction), với chữ “thương mại” được hiểu với đầy đủ các nội dung như đã ghi trong Đạo luật mẫu về thương mại điện tử của Liên hiệp quốc, bao gồm bốn kiểu:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Người với người: qua điện thoại, máy Fax, và thư điện tử (electronic mail)
    • Người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử (electronic form), qua “võng thị toàn cầu” (World Wide Web).
    • Máy tính điện tử với Máy tính điện tử: qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI: electronic data interchange), thẻ khôn minh (smart card), các dữ liệu mã hoá bằng vạch (barcode data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch)
    • Máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự động sản xuất ra, máy fax, và thư điện tử.

    6.                 Các bên tham gia thương mại điện tử.

    Điện thoại, các biểu mẫu điện tử, thư điện tử, FAX

    NGƯỜI TIÊU DÙNG Điện thoại, các biểu mẫu  
    điện tử, thư điện tử, FAX  
     

    Điện thoại, thư điện tử

    DOANH NGHIỆP       CHÍNH PHỦ

     

    EDI, các biểu mẫu điện tử, thẻ khôn minh, mã vạch

    DOANH

    NGHIỆP

    FAX, các biểu mẫu điện tử Điện thoại, FAX,

    thư điện tử

    CHÍNH

    PHỦ

    Điện thoại, các

    biểu mẫu điện

    tử, thư điện tử

    Giao dịch thương mại điện tử (electronic commerce transaction) diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) doanh nghiệp; (2) chính phủ; và (3) người tiêu thụ. Các giao dịch này được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm:

    • Giữa các doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích cuối cùng là dẫn tới việc người tiêu thụ có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới cửa hàng (home shopping).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Giữa các doanh nghiệp với nhau: trao đổi dữ liệu, mua bán, thanh toán hàng hoá và dịch vụ, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh.
    • Giữa các doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm vào các mục đích:
    • mua sắm chính phủ theo kiểu trực tuyến (online goverment procurement), (2) các mục đích quản lý (thuế, hải quan v.v.), (3) thông tin.
    • Giữa người tiêu thụ với các cơ quan chính phủ: các vấn đề về (1) thuế, (2) dịch vụ hải quan, phòng dịch v.v., (3) thông tin.
    • Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin.

    Trong bốn cấp độ giao dịch nói trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau là dạng chủ yếu của giao dịch thương mại điện tử, và giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau chủ yếu dùng phương thức trao đổi dữ liệu điện tử, tức EDI.

    7. Hình thái hợp đồng thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử bao quát cả giao dịch có hợp đồng và giao dịch không có hợp đồng. Xét riêng về giao dịch có hợp đồng, thì do đặc thù của giao dịch điện tử, hợp đồng thương mại điện tử có một số điểm khác biệt so với hợp đồng thông thường (hợp đồng ở dạng văn bản):

    • Địa chỉ pháp lý của các bên: ngoài địa chỉ địa lý, còn có địa chỉ e-mail, mã doanh nghiệp.
    • Có các quy định về phạm vi thời gian, và phạm vi địa lý của giao dịch.
    • Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm hoặc dụng liệu trao đổi, và quy định trách nhiệm về các sai sót trong văn bản hoặc ảnh chụp.
    • Có các xác nhận điện tử (chứng nhận/xác thực: certification/authentication) các giao dịch (kể cả cơ quan chứng thực) về quyền truy cập và cải chính thông tin điện tử, và cách thực thi quyền này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Có các quy định đảm bảo rằng các giao dịch điện tử được coi là chứng cớ pháp lý về bản chất và ngày tháng giao dịch.
    • Có các quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử.
    • Có quy định về trung gian đảm bảo chất lượng (nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng).

    II. LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    1. Nắm được thông tin phong phú.

    Thương mại điện tử (đặc biệt là khi sử dụng Internet/Web) trước hết giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú vè kinh tế-thương mại (có thể gọi chung là thông tin thị trường), nhờ đó có thể xây dựng được các chiến lược sản xuất và kinh doanh thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực, và thị trường quốc tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ – động lực phát triển chủ yếu trong các nền kinh tế hiện nay.

    2. Giảm chi phí sản xuất.

    Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất, trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng không giấy tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần (trong đó khâu in ấn gần như bỏ hẳn). Theo số liệu của hãng Genaral Electricity của Mỹ, tiết kiệm theo hướng này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển sẽ đưa đến những lợi ích to lớn và lâu dài.

    3. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.

    Thương mại điện tử giúp giảm thấp chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Bằng phương tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất nhiều khách hàng, ca-ta-lô điện tử (electronic catalogue) trên Web phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với ca-ta-lô in ấn chỉ có khuôn khổ

    -21-

    Khoá luận tốt nghiệp

    giới hạn và luôn luôn lỗi thời. Theo số liệu của hãng máy bay Boeing của Mỹ, nay đã có tới 50% khách hàng đặt mua 9% phụ tùng qua Internet (và có nhiều hơn nữa các đơn đặt hàng về lao vụ kỹ thuật), và mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại.

    4. Giảm chi phí giao dịch.

    Thương mại điện tử qua Internet/Web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán). Thời gian giao dịch qua Internet chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua Fax, và chỉ bằng 0,5 phần nghìn thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng khoảng 5% chi phí giao dịch qua Fax hay qua bưu điện chuyển phát nhanh. Chi phí thanh toán điện tử qua Internet chỉ bằng 10% tới 20% chi phí thanh toán theo lối thông thường.

    TỐC ĐỘ VÀ CHI PHÍ TRUYỀN GỬI

    (MỘT BỘ TÀI LIỆU 40 TRANG)

    * Từ New York tới Tokyo Thời gian Chi phí (USD)
    Qua bưu điện 5 ngày 7.40
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 26.25
    Qua máy Fax 31 phút 28.83
    Qua Internet 2 phút 0.10
    * Từ New York tới Los Angeles Thời gian Chi phí (USD)
    Qua bưu kiện 2-3 ngày 3.00
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 15.50
    Qua máy Fax 31 phút 9.36

    Khoá luận tốt nghiệp

    Qua Internet                                                                             2 phút                                   0.10

    5. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác.

    Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào quá trình thương mại. Thông qua mạng (nhất là dùng Internet/Web) các thành tố tham gia (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) có thể giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau (liên lạc “trực tuyến”) gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa, nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục. Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.

    6. Tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá.

    Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt thương mại điện tử sẽ kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế (ở Mỹ đã chiếm tỷ trọng khoảng 12-13% và sẽ lên trên 15% trong tương lai không xa). Nhìn rộng hơn, thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá (digital economy) mà xu thế và tầm quan trọng đã được đề cập ở trên. Lợi ích này có một

    • nghĩa đặc biệt đối với các nước đang phát triển: nếu không nhanh chóng tiếp cận vào nền kinh tế số hoá, hay còn gọi là “nền kinh tế ảo” (virtual economy) thì sau khoảng một thập kỷ nữa các nước đang phát triển có thể bị bỏ rơi hoàn toàn. Khía cạnh lợi ích này mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và tính chính sách phát triển mà các nước chưa công nghiệp hoá cần chú ý; vì có những luận điển cho rằng: sớm chuyển sang kinh tế số hoá thì một nước đang phát triển có thể tạo ra một bước nhảy vọt (leapfrog), có thể tiến kịp các nước đã đi trước trong một thời gian ngắn hơn.

    Khoá luận tốt nghiệp

    III. CÁC ĐÒI HỎI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.

    1. Hạ tầng cơ sở công nghệ.

    Thương mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế, chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành thương mại điện tử có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc (bao gồm hai nhánh: tính toán điện tử và truyền thông điện tử).

    Hạ tầng cơ sở ấy bao gồm từ các chuẩn của doanh nghiệp, của cả nước và sự liên kết của các chuẩn ấy với các chuẩn quốc tế, với kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng dụng. Và không chỉ của riêng từng doanh nghiệp, mà phải là một hệ thống quốc gia, với tư cách như một phân hệ của hệ thống công nghệ thông tin khu vực, và toàn cầu (trên nền tảng của Internet hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là bao gồm các phân mạng, và hệ thống liên lạc viễn thông toàn cầu). Và phải tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại (cho tới từng cá nhân người tiêu thụ).

    Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu (availability; nay cũng thường dùng “tính thường hữu” để diễn tả cả sắc thái ổn định), mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability); nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính, modem v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được. Điều này có ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nước đang phát triển, mức sống nói chung còn thấp.

    Cũng cần lưu ý thêm rằng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có và hoạt động đáng tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định và với mức giá hợp lý.

    Thiết lập và củng cố được một hạ tầng công nghệ trên nền tảng công nghiệp điện năng như vậy đòi hỏi thời gian, hơn nữa phải đầu tư rất lớn, là điều đặc biệt khó khăn đối với các nước đang phát triển.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Theo đà phát triển của thương mại điện tử, nay đang có xu hướng mạnh mẽ ghép cả công nghệ bảo mật và an toàn <nói ở dưới> vào hạ tầng cơ sở công nghệ của thương mại điện tử. Bảo mật và an toàn không chỉ có ý nghĩa đối với các thực thể kinh tế, mà còn có ý nghĩa an ninh quốc gia.

    2. Hạ tầng cơ sở nhân lực.

    Thương mại trong khái niệm “Thương mại điện tử” động chạm tới mọi con người, từ người tiêu thụ tới người sản xuất, phân phối, tới các cơ quan chính phủ, tới cả các nhà công nghệ và phát triển.

    Áp dụng thương mại điện tử là tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng; hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá nói chung và thương mại điện tử nói riêng (nay đã đổi mới ở mức hàng tuần), cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn vào người khác.

    Ngoài ra, nếu sử dụng Internet/Web, thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinh doanh trực tuyến là tất cả những người tham gia đều phải giỏi Anh ngữ vì tới nay (và có lẽ còn tới một thời điểm rất xa nữa) ngôn ngữ được sử dụng trong thương mại nói chung và thương mại điện tử qua mạng Internet nói riêng, vẫn là tiếng Anh (đương nhiên đây chủ yếu chỉ là “vấn đề” đối với các nước ít phát triển).

    Đòi hỏi này của thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo.

    3. Bảo mật, an toàn.

    Giao dịch thương mại bằng phương tiện điện tử đặt ra đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là khi hoạt động trên Internet/Web.

    Cho tới nay nhiều người vẫn không dám giao dịch qua Web. Trong lĩnh vực mua bán thuần tuý, người mua thì lo các chi tiết trong thẻ tín dụng của mình bị

    Khoá luận tốt nghiệp

    lộ, và kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng đã được “ký kết theo kiểu điện tử” qua Web. Trong các lĩnh vực khác, điều đáng ngại nhất là an toàn và bảo mật dữ liệu. Điều lo sợ ấy là có căn cứ vì số vụ tấn công vào Internet ngày càng tăng, kể cả vào những mạng được bảo vệ nghiêm ngặt. (Cuối năm 1996, trang Web của Bộ tư pháp Mỹ và của CIA bị truy nhập và bị thay đổi một số nội dung, đầu năm 1997 một loạt địa chỉ Internet của Mỹ phải ngừng dịch vụ Web và E-mail trong một tuần vì bị “giặc máy tính” tấn công). “Giặc máy tính” (hacker) dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu (nhất là mật khẩu yếu), vi-rút và các chương trình “phá từ bên trong” giả mạo địa chỉ Internet (IP Spoofing), phong toả dịch vụ (DOS – denial of service).

    Kỹ thuật mã hoá (cryptography) hiện đại (trong đó có kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật) đã nói ở trên), với khoá dài tối thiểu tới 1024, thậm chí tới 2048 bit, cộng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề “chữ ký điện tử” hay “chữ ký số hoá” (digital signature), là chữ ký được biểu diễn bằng các bit điện tử và được xác thực thông qua giải mã. Song bản thân các mã mật cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng cấp công nghệ cao hơn hẳn. Cho nên một chiến lược quốc gia về mã hoá kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp và của cá nhân đang trở thành một vấn đề rất lớn.

    Trên quan điểm giao lưu quốc tế, vấn đề bảo mật và an toàn còn có thêm một khía cạnh nữa: Ngày càng có nhiều nước áp dụng các luật ngăn cản không cho dữ liệu được truyền gửi tới các nước không có phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, nhằm tránh rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, vũ khí giết người hàng loạt, quan hệ quốc tế…). Vì vậy, nếu không có các luật và phương tiện tốt để bảo vệ thông tin, thì một nước rất có thể sẽ bị cách ly khỏi hoạt động thương mại điện tử quốc tế.

    Khoá luận tốt nghiệp

    4. Hệ thống thanh toán tài chính tự động.

    Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế khi đã tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính (financial payment) phát triển, cho phép thực hiện thanh toán tự động (trong đó, thẻ khôn minh có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh doanh bán lẻ). Khi chưa có hệ thống này, thì thương mại điện tử chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc bằng các phương tiện thanh toán truyền thống. Khi ấy hiệu quả của thương mại điện tử bị giảm thấp và có thể không đủ để bù các chi phí trang bị công nghệ đã bỏ ra.

    Hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá, hay “đánh số sản phẩm” (product numbering) là vấn đề không chỉ có tính quốc gia, mà có tính quốc tế trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN International và Uniform Code Council, thể hiện dưới dạng các vạch gọi là mã vạch (bar – code). Theo đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều được mã hoá bằng một số

    • con số, và tất cả các công ty đều có địa chỉ của mình bằng một mã có từ 100 đến 100.000 con số (mã vạch là hệ thống mã dùng các vạch đen, trắng, màu có độ rộng khác nhau để biểu diễn các con số. Một máy quét dùng tế bào quang điện sẽ nhận dạng các vạch này, biến đổi thành con số rồi tự động đưa vào máy tính để tính toán). Việc hội nhập và thiết lập toàn bộ hệ thống mã sản phẩm và mã công ty (gọi chung là mã hoá thương mại: commercial coding) cho một nền kinh tế (đặc biệt là nền kinh tế của nước đang phát triển) nói chung cũng không đơn giản.

    5. Bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Càng ngày, giá trị sản phẩm càng cao ở khía cạnh “chất xám” của nó, mà không phải là bản thân nó, tài sản cơ bản của từng đất nước, từng tổ chức và từng con người đã và đang chuyển thành “tài sản chất xám” là chủ yếu. Thông tin trở thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có ý nghĩa là bảo vệ thông tin. Vì lẽ

    Khoá luận tốt nghiệp

    đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin trên Web (các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng v..v..).

    Riêng đối với dung-liệu, vấn đề được đặt ra là bản thân việc số hoá nhị-phân các dữ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh để thành dung liệu truyền gửi đã là một hành động “sao chép”, “phiên dịch” và phải được tác giả đồng ý (giống như dịch một tác phẩm ra một ngôn ngữ khác). Nhưng vì đưa lên mạng nên “số bản in” không thể biết được là bao nhiêu nên việc thoả thuận và xử lý trở nên hết sức khó khăn.

    • tầm xa hơn, người ta đã tính tới khía cạnh phức tạp hơn nữa của vấn đề là việc “phân chia tài sản trí tuệ” mua bán qua mạng. Thực ra người xem không quan tâm tất cả các chi tiết của chương trình, mà chỉ quan tâm một số trong đó. Vậy tiền bán chương trình sẽ được phân phối như thế nào cho các thành phần tham gia chương trình. Từ đây bắt đầu nảy sinh các định nghĩa mới, cụ thể hơn, chi tiết hơn và mang tính pháp lý hơn về “thế nào là tác giả”, và khái niệm “thanh toán vi phân” (micro – payment) mà sẽ phải xử lý bằng các công cụ kỹ thuật cao cấp.

    6.                 Bảo vệ người tiêu dùng.

    Nhìn nhận trên cơ sở lý luận thương mại và lý thuyết thông tin thì từ xưa tới nay, một thị trường bị sụp đổ bao giờ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là “thông tin không đối xứng” (asymmetric information), nghĩa là cái người bán biết khác với cái người mua biết. Tại thị trường ấy, người bán không có cách nào để thuyết phục người mua về chất lượng sản phẩm của mình. Người mua, do đó, chỉ chấp nhận trả một giá trung bình cho sản phẩm đó. Kết quả là họ chỉ mua được các sản phẩm chất lượng thấp (vì các sản phẩm chất lượng cao người bán lại biết rõ).

    Trong thương mại điện tử, thông tin về hàng hoá đều là thông tin số hoá, nói giản dị là người mua không có điều kiện “nếm thử” hay “dùng thử” hàng

    Khoá luận tốt nghiệp

    trước khi mua. Chưa kể tới khả năng bị nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức phi pháp có mặt trên mạng. Vì thế, đang xuất hiện nhu cầu phải có một trung gian bảo đảm chất lượng (quality guarantor) mà hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém. Đây là một khía cạnh cơ chế đáng quan tâm của thương mại điện tử mà đang được chú ý ngày càng nhiều trước thực tế các rủi ro ngày càng gia tăng, đả kích vào quyền lợi của người tiêu thụ. Cơ chế đảm bảo chất lượng đặc biệt có ý nghĩa với các nước đang phát triển, nơi mà dân chúng cho tới nay vẫn có tập quán tiếp xúc trực tiếp với hàng hoá để kiểm tra (nhìn, sờ, nếm, ngửi…) để thử (mặc thử, đội thử, đi thử…) trước khi mua.

    7. Tác động văn hoá xã hội của Internet.

    Tác động văn hoá xã hội của Internet đang là mối quan tâm quốc tế, vì hàng loạt tác động tiêu cực của nó đã xuất hiện: Internet trở thành một “hòm thư” giao dịch mua – bán dâm, ma tuý và buôn lậu, các lực lượng phản xã hội đưa lên Internet phim con heo (pornography), các tuyên truyền kích dục có mục đích đối với trẻ em, các hướng dẫn làm bom thư, làm chất nổ phá hoại, các loại tuyên truyền kích động bạo lực, phân biệt chủng tộc, kỳ thị tôn giáo v..v..Ở một số nơi (như Trung Quốc, Trung Đông…). Internet đã trở thành một phương tiện thuận lợi cho các lực lượng chống đối sử dụng để tuyên truyền, kích động lật đổ chính phủ và/hoặc gây rối loạn trật tự xã hội.

    Ngoài ra phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sống không phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề đang được đặc biệt quan tâm ở Châu á.

    Mặc dù công nghệ đánh giá dung liệu (content rating), lọc dung liệu (content filtering) đã và đang phát triển, nhưng về cơ bản tới nay vẫn chưa có biện pháp đủ hữu hiệu để chống trả các mặt trái nói trên của Internet/Web.

    8. Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý.

    – Môi trường quốc gia: Trước hết, Chính phủ từng nước phải quyết định

    xem xã hội thông tin nói chung và Internet nói riêng là một hiểm hoạ hay là một -29-

    Khoá luận tốt nghiệp

    cơ hội. Quyết định đó không dễ dàng, ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 97 – 98 mới quyết định được và tuyên bố rằng “đây là cơ hội” (sau một thời gian dài chống lại Internet vì nó chiếm mất vị trí của mạng Minitel vốn rất phổ biến trong nội bộ nước Pháp). Từ khẳng định mang tính nhận thức chiến lược ấy mới thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội (kể cả văn hoá, giáo dục) cho nền kinh tế số hoá nói chung và cho thương mại điện tử nói riêng (ví dụ quyết định đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế và các dịch vụ khác như thư tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe v..v..) và đưa các nội dung của kinh tế số hoá vào văn hoá và giáo dục các cấp.

    Riêng về pháp lý có các vấn đề:

    • Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thương mại điện tử.
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (electronic signature) – tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu (data message) và chữ ký số hoá (digital signature) – tức biện pháp biến đổi nội dung thông điệp dữ liệu, khi dùng mã hoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu; và có các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác thực / chứng nhận (authentication/certification) chữ ký điện tử và chữ ký số hoá.
    • Bảo vệ pháp lý các Hợp đồng thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế hoá các cơ quan phát hành các thẻ thanh toán).
    • Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ Nhà nước (các cơ quan Chính phủ và Trung ương), chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước (trong đó có các vấn đề phải giải quyết như: Nhà nước có phải là chủ nhân của các thông tin có quyền được công khai hoá và các thông tin phải giữ bí mật hay không? Người dân có quyền đòi công khai hoá các số liệu của chính quyền hay không? Khi công khai hoá thì việc phổ biến các số liệu có được xem là một nguồn thu cho ngân sách hay không? v..v..).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác giả) liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử.
    • Bảo vệ bí mật riêng tư một cách “thích đáng” (đề ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp, không chỉ tên tuổi, dung mạo mà còn cả các bí mật khác liên quan đến sức khoẻ, tôn giáo, quan điểm chính trị, giới tính, tình dục…).
    • Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu thập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virut phá hoạiv..v..; tới nay từng nước rất có thể đã có các luật đơn hành về các tội này, vấn đề là sẽ phải đưa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia.

    Tất cả những việc trên đây chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở mỗi quốc gia trước hết phải thiết lập một hệ thống “mã nguồn” cho tất cả các thông tin số hoá, bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ đó trở đi; tiếp đó Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế số hoá. Tiếp đó đến các chính sách, các đạo luật và các quy định cụ thể tương ứng được phản ánh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống nội luật.

    – Môi trường quốc tế.

    Các vấn đề môi trường quốc tế, pháp lý và xã hội quốc gia cũng sẽ in hình mẫu của nó vào vấn đề môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế, cộng thêm với các phức tạp khác của kinh tế thương mại qua biên giới, trong đó khía cạnh quan trọng nhất là thương mại điện tử mang tính không có biên giới, do đó làm mất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính cố hữu của ngoại thương truyền thống dẫn tới những khó khăn to lớn về luật áp dụng và điều chỉnh hợp đồng, về thanh toán đặc biệt là về thu thuế.

    Ví dụ: Một dữ liệu với tư cách là một dịch vụ được chuyển từ nước A đến

    một địa chỉ Internet ở nước B, tiếp đó lại chuyển đến người nhận thực sự ở nước -31-

    Khoá luận tốt nghiệp

    • (rất có thể cơ sở kinh doanh của người chủ địa chỉ Internet ở nước B được đặt ở nước C); vậy việc thu thuế sẽ thực hiện bằng cách nào và dùng luật nước nào để điều chỉnh thương vụ này. Một ví dụ khác: một người Đức đang đi du lịch bên Mỹ đặt mua một lô rượu vang Australia giao tới một nơi nghỉ mát tại Pháp mà anh ta sắp du hành tới, thuế của thương vụ này sẽ do nước nào thu và thu bằng cách nào.

    Vấn đề còn khó khăn hơn nữa là đánh thuế các dung liệu, tức là các hàng hoá “phi vật thể” (như âm nhạc, chương trình truyền hình, chương trình phần mềm …giao trực tiếp giữa các đối tác thông qua mạng).

    Ngoài ra, cũng nảy sinh các khó khăn như: thu thuế trong trường hợp thanh toán vô danh (anonimous payment) bằng thẻ khôn minh; vấn đề cách kiểm toán các công ty buôn bán bằng phương thức thương mại điện tử, vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ chính trị và bảo vệ bí mật riêng tư trong thông tin xuyên quốc gia trên mạng Internet giữa các nước có hệ thống luật pháp và hệ thống chính trị khác nhau; vấn đề pháp luật quốc tế về sử dụng không gian liên quan đến việc phóng và khai thác các vệ tinh viễn thông v..v..

    Tất cả những vấn đề ấy đòi hỏi phải có các nỗ lực tập thể đa biên nhằm đạt tới các thoả thuận quốc tế làm căn bản cho “con đường tơ lụa” mới và trước hết là nhằm bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển, còn ở tầm thấp về công nghệ thông tin, về cơ chế thuế khoá, về bảo mật và an toàn.

    9. Vấn đề lệ thuộc công nghệ.

    Không thể không thừa nhận rằng nước Mỹ đang khống chế toàn bộ công nghệ thông tin quốc tế, cả phần cứng cũng như phần mềm (phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng), chuẩn công nghệ Internet cũng là chuẩn Mỹ, các phần mềm tầm cứu và “võng thị” (Web) chủ yếu cũng là của Mỹ, nước Mỹ cũng đi

    Khoá luận tốt nghiệp

    đầu trong kinh tế số hoá và thương mại điện tử (Mỹ hiện chiếm trên một nửa tổng doanh số thương mại điện tử toàn cầu, chủ yếu là buôn bán trong nước).

    • một tầm cao hơn, có thể nhận xét rằng từ nhiều chục năm nay, trong khi đa số các nước còn đang vật lộn trong nền “kinh tế vật thể” thì Mỹ đã vượt lên và tiến nhanh trong nền “kinh tế ảo”, lấy “kinh tế tri thức”, “sở hữu trí tuệ”, “giá trị chất xám” làm nền móng. Đó là sự khác biệt căn bản giữa Mỹ và các nước khác. Sự khác biệt đó bộc lộ ngày càng rõ theo tiến trình nền kinh tế toàn cầu chuyển sang “kỷ nguyên số hoá” như đi theo một xu hướng tất yếu khách quan. Điều này giải thích vì sao trong đàm phán thương mại của Mỹ với bất cứ nước nào, vấn đề “sở hữu trí tuệ” luôn luôn nổi lên hàng đầu: đó chính là giá trị thực của nước Mỹ. Điều này cũng giải thích vì sao Mỹ là nước biện hộ, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho thương mại điện tử: một khi thương mại được số hoá thì toàn thế giới trên thực tế sẽ nằm trong tầm khống chế công nghệ của Mỹ, Mỹ sẽ giữ vai trò người bán công nghệ thông tin cho toàn thế giới với công nghệ được đổi mới hàng ngày và thuần tuý ở “nền kinh tế ảo”, “kinh tế tri thức”; các nước khác tiếp tục sản xuất các “của cải vật thể” phục vụ cho nước Mỹ. Bức tranh ấy nay đã khá rõ nét và để thay đổi nó chắc chắn phải cần đến những nỗ lực chiến lược lớn lao từ phía các đối thủ của Mỹ trong những quãng thời gian lịch sử. Mà trong những quãng thời gian ấy bản thân nước Mỹ cũng không lùi lại và đứng yên. Những nước ít phát triển hơn, đã chậm chân, rất có thể mãi mãi phải ở một tầm thấp dưới và bị phụ thuộc hoàn toàn về công nghệ vì điều kiện thực tế vĩnh viễn không cho phép họ đuổi kịp nữa.

    Sự phụ thuộc ấy không chỉ thể hiện ở những thiệt thòi về kinh tế, mà ở tầm cao hơn: Mỹ và các nước tiên tiến gần Mỹ về công nghệ thông tin có thể “biết hết” thông tin của các nước thuộc đẳng cấp công nghệ thấp hơn. Nhiều cơ quan nghiên cứu đánh giá rằng rất có thể đây sẽ là một trong những nét đặc trưng cơ bản của trật tự thế giới mới trong thế kỷ 21 và đã lên tiếng cảnh báo các nước còn yếu kém về công nghệ thông tin.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Vì lẽ đó, thương mại điện tử đang được các nước xem xét một cách chiến lược: sự du nhập vào nó là không thể tránh được, hơn thế còn là cơ hội: nhưng nếu chỉ vì bức bách mà tham gia hay chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế vật chất cụ thể thì không đủ, mà phải có một chiến lược thích hợp để khỏi trở thành quốc gia thứ cấp về công nghệ.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG

    MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    I. TÌNH HÌNH VỀ HẠ TẦNG CƠ SỞ CHO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM.

    1. Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin.

    Công nghệ thông tin (information technology) gồm hai nhánh: tính toán (computing) – cũng gọi là nhánh máy tính; và truyền thông (communication), trên cơ sở của một nền công nghiệp điện lực vững mạnh, là nền tảng của “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng.

    Về công nghệ tính toán, người Việt nam đã biết đến máy tính điện tử từ năm

    1968 khi chiếc máy tính đầu tiên do Liên Xô viện trợ được lắp đặt tại Hà Nội. Trong những năm 1970 ở phía Nam cũng có sử dụng một số máy tính lớn của Mỹ. Tới cuối những năm 1970 cả nước có khoảng 40 dàn máy tính vạn năng thuộc các dòng Minsk và ES ở Hà Nội và IBM 360 ở Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đầu những năm 1980, máy vi tính bắt đầu được nhập khẩu vào Việt nam, mở đầu một thời kỳ phát triển nhanh việc tin học hoá trong nước. Từ năm 1995 là năm bắt đầu triển khai Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin, cũng là lúc các công ty hàng đầu thế giới như IBM, Compaq, HP v..v..bắt đầu tham gia thị trường Việt nam, lực lượng máy vi tính nhập khẩu tăng vọt với tốc độ +50%/năm. Theo số liệu của Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin (dựa trên thống kê của Tổng cục Hải quan) tới nay máy vi tính các loại nhập vào Việt nam đã lên tới tổng số hơn 400 nghìn chiếc; nếu tính cả máy lắp ráp trong nước thì có nguồn tin (đã đăng tải trên phương tiện phát thanh truyền hình) đưa số liệu khoảng 500 nghìn chiếc; ngoài ra cũng có một số máy tính lớn thế hệ mới và khoảng 200 máy mini. Máy tính cá nhân lắp ráp trong nước (linh kiện nhập khẩu) đang phát triển nhanh và theo ước tính đã chiếm khoảng 70% thị phần với khối lượng sản xuất 80 – 100 nghìn máy tính một năm, doanh số máy tính lắp ráp năm 1998 là khoảng 65 triệu USD.

    Tại nhiều cơ quan và doanh nghiệp, dữ liệu có cấu trúc đã được quản lý bằng nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau; đang xây dựng 6 cơ sở quốc gia cỡ lớn phục vụ mục tiêu tin học hoá quản lý Nhà nước. Hiện nay hầu như mọi cơ

    -35-

    Khoá luận tốt nghiệp

    quan nhà nước đều sử dụng máy tính cá nhân. Tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức bổ trợ cho công việc của người sử dụng PCs là chính, chưa có tác dụng nhiều trong việc giải quyết các mối liên hệ giữa người này với người khác, giữa tổ chức này với tổ chức khác – mà đây chính là đặc trưng của ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay.

    Tới năm 1993, gần 99% máy tính nằm trong các tổ chức nhà nước. Hiện nay bức tranh phân bố đã thay đổi với tỷ lệ gần đúng sau đây: 75% ở các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp, 10% ở các cơ quan nghiên cứu và quốc phòng, 10% ở các cơ sở giáo dục (trường học, trung tâm…) và 5% ở các gia đình. Trong tổng số máy đã nhập vào tới nay và máy lắp ráp trong nước, nhiều máy đã thôi hoạt động vì hỏng hoặc không còn phù hợp về tính năng, nên theo ước tính số máy thực tế đang hoạt động hiện nay chỉ khoảng 350 nghìn chiếc. Tức là cường độ trang bị máy mới đạt khoảng gần 5 máy/1000 người (so với 80 ở Singapore và 140 ở Hàn Quốc) với mác máy bình quân tương đối thấp (ví dụ, trong số trên 3000 máy đang hoạt động của Tổng cục bưu điện, 90% là máy 486 trở xuống). Cường độ sử dụng máy còn thấp: ở nhiều cơ quan đơn vị, máy tính được làm việc như máy đánh chữ là chủ yếu. Trang bị công nghệ thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp và gia đình mất cân đối nghiêm trọng: phần cứng chiếm tới 80% tổng chi phí (lẽ ra ở giai đoạn này, phần mềm phải chiếm tỷ trọng 35%. Nếu tính cả xây dựng đề án, đào tạo, triển khai, bảo hành v.v. cũng là các yếu tố thuộc phần mềm thì tỷ trọng phải lên tới 60% mới hợp lý).

    Công nghiệp phần mềm Việt nam ít phát triển, hoạt động phần mềm chủ yếu là dịch vụ cài đặt và hướng dẫn sử dụng. Số công ty sản xuất và kinh doanh phần mềm còn ít, sản phẩm phần mềm chủ yếu là các chương trình văn bản tiếng Việt; giáo dục, văn hoá, kế toán tài chính, khách sạn, quản lý văn thư, điều tra thống kê ít có các phần mềm trọn gói có giá trị thương mại cao. Các công ty trong nước mới đạt 10% thị phần thị trường phần mềm. Tình hình phần mềm như trên do các nguyên nhân chủ yếu sau đây gây ra:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Khách hàng (các cơ quan đơn vị và cá nhân) chưa quan niệm phần mềm là quan trọng và thiết yếu trong sử dụng thiết bị tin học (khi mua thiết bị thường không đưa ra được đòi hỏi về phần mềm, thậm chí có khách hàng không rõ trang bị phần mềm để làm gì). Vì vậy, phần mềm sản xuất ra khó bán được.
    • Phần mềm của nước ngoài và của các công ty khác trong nước sản xuất ra bị sao chép bất hợp pháp một cách lan tràn khiến những nhà sản xuất phần mềm nản lòng sáng tạo, không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. (Ví dụ, phần mềm từ điển Anh – Việt của công ty Lạc Việt vừa ra thị trường đã bị sao chép bất hợp pháp, bán với giá chỉ bằng 1/2 giá nguyên gốc).

    Thị trường công nghệ tin học Việt nam năm 1997 đạt tổng doanh số khoảng

    • triệu USD (mới bằng 1,7 GDP của Việt nam; 1/5 doanh số thị trường công nghệ tin học Châu Á, và khoảng 0,2% thị trường công nghệ tin học toàn thế giới), trong đó phần cứng chiếm khoảng 80%, phần mềm 5%, truyền dữ liệu 5%, dịch vụ 10%. Năm 1998 do bị khủng hoảng của nền kinh tế khu vực, doanh số sụt còn khoảng 300 triệu USD (trong đó các công ty Việt nam chiếm 100 triệu USD phần cứng và 80 triệu USD phần mềm. Phần mềm Việt nam hạn chế trong một ít bản tiếng Việt dịch từ các phần mềm ngoại quốc, các chưong trình quản lý trong mạng máy tính ngân hàng, tài chính trong phạm vi vừa và nhỏ). Về dung lượng, thị trường công nghệ tin học Việt nam mới đứng hàng thứ 13 – 15 trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Yếu tố tích cực có thể kể tới là thị trường này đang phát triển với tốc độ tăng trưởng cao (khoảng 40 – 50%/năm). Theo đề án “Phát triển chuyên nghiệp phần mềm Việt nam 2000-2005” thì thị trường công nghệ phần mềm và dịch vụ nội địa nước ta đến năm 2005 sẽ vào khoảng 230 – 320 triệu USD.

    Việt nam gia nhập mạng toàn cầu tương đối chậm: tháng 11 năm 1997 mới chính thức bắt đầu nối mạng Internet, tới đầu năm 1999 mới có khoảng 17 nghìn thuê bao, chủ yếu thông qua ba nhà cung cấp dịch vụ Internet lớn nhất là VDC (Công ty dịch vụ gia tăng và truyền số liệu), FPT (Công ty phát triển đầu tư công

    Khoá luận tốt nghiệp

    nghệ) và Netnam (Viện công nghệ thông tin, thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia).

    Đến nay Việt nam có khoảng 150 nghìn thuê bao và phát triển với tốc độ tăng thêm khoảng 7000 – 8000 thuê bao/tháng.

    Tóm lại, tuy có tốc độ tăng trưởng cao trong vài năm gần đây nhưng nền công nghệ tính toán của Việt nam vẫn còn rất nhỏ bé, đặc biệt là công nghệ phần mềm.

    Ngành truyền thông Việt nam những năm gần đây tăng trưởng tới 70%/năm. Liên lạc viễn thông qua vệ tinh đã được ứng dụng, sử dụng vệ tinh thuê của nước ngoài (đã có chương trình thuê phóng vệ tinh riêng). Các thiết bị và công nghệ điều khiển tiên tiến đã được áp dụng trong ngành địa chính, ngành hàng không…

    Năm 1993, Tổng cục Bưu chính viễn thông thiết lập một mạng toàn quốc truyền dữ liệu trên X.25, gọi là mạng VIETPAC, nối 32 tỉnh và thành phố (tức một nửa tỉnh thành cả nước), mạng này không đủ đáp ứng nhu cầu truyền dữ liệu ngày càng tăng nên gần đây Tổng cục đã phát triển một mạng khung toàn quốc tên là VNN nối với Internet và mạng nội bộ của các cơ quan nhà nước và tư nhân.

    Nhờ các mạng nội bộ và mạng quốc gia, công việc quản lý một số ngành đã được tin học hoá. Tuy nhiên, tính tin cậy của dịch vụ truyền thông còn thấp và chi phí còn rất cao so với mức trung bình của người dân, vì vậy tính phổ cập chưa cao.

    Ngành điện lực (là nền của hai nhánh tính toán và truyền thông) đang gặp khó khăn: những năm gần đây, tiêu thụ điện toàn quốc tăng khoảng 15%/năm. Trước đây dự tính sẽ thừa điện, phải xuất khẩu, hai năm nay đã ở tình trạng thiếu điện (nhất là vào mùa khô, vì gần 70% sản lượng điện là từ thuỷ điện). Năm 1998 sản xuất ở mức 60 triệu kwh/ngày, thiếu hụt 200 triệu kwh; năm 1999 thiếu hụt 400 triệu kwh (vì hạn nặng). Tình trạng thiếu điện sẽ nghiêm trọng hơn trong

    những năm sắp tới, buộc phải chuyển một phần đáng kể sang điện nguyên tử, -38-

    Khoá luận tốt nghiệp

    nhưng chưa có tiến độ và chương trình cụ thể. Hệ thống phân phối điện hạ áp đang ở tình trạng chắp vá, cung cấp điện năng chưa ổn định. Tuy nhiên mới đây, công ty điện lực thành phố Hồ Chí Minh cho biết sẽ đầu tư 3500 tỉ đồng cho lưới điện thành phố vào năm 2005 và sẽ khắc phục triệt để các sự cố về điện của thành phố. Hy vọng rằng trong giai đoạn 2005 – 2010 ngành điện thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung sẽ vươn lên ngang bằng trình độ phát triển chung của các nước tiên tiến trong khu vực.

    2. Cơ sở hạ tầng nhân lực.

    Gồm các chuyên gia công nghệ và đông đảo dân chúng. Cho tới năm 1980,

    • nước ta chưa có khoa tin học tại các trường đại học, cũng chưa có hệ thống đào tạo chuyên gia và cán bộ cho ngành này.

    Từ năm 1980, các trường đại học trong cả nước mở thêm khoa tin học, việc đào tạo trong nước dần dần được mở rộng. Hiện nay có 6 trường đại học của nhà nước được Nhà nước đầu tư cho các khoa công nghệ thông tin với mục tiêu đào tạo 2000 cử nhân và kỹ sư tin học mỗi năm. Trong 4 năm qua 6 trường này đã đào tạo được khoảng 7000 cử nhân và kỹ sư. Tất cả các trường đại học khác đều có bộ môn tin học và tất cả các sinh viên đều được đào tạo về tin học đại cương. Nếu tính cả các trường khác và tự đào tạo hay tái đào tạo (các nhà kinh tế, kỹ sư các ngành khác chuyển sang) có thể ước lượng được mỗi năm chúng ta có thêm khoảng 3.500 người được đào tạo cơ bản về tin học.

    • Lực lượng chuyên gia công nghệ thông tin ở Việt nam hiện nay có thể chia thành một số nhóm:

     

    • Các chuyên gia kiến thức cao, được đào tạo ở nước ngoài hoặc các nhà toán học nhiều năm qua đã chuyển hướng sang tin học.
    • Các cán bộ đào tạo từ khoa tin học của các trường đại học (chủ yếu là Đại học tổng hợp, Đại học Bách Khoa), mỗi năm ra trường trên 1000 người. Theo đánh giá của Hội tin học Việt nam, trong vài năm gần đây, các sinh viên

    Khoá luận tốt nghiệp

    chuyên ngành tin học khi tốt nghiệp ra trường đã có trình độ khá cao và trình độ được nâng lên khá nhanh sau khi họ được sử dụng vào thực tế.

    • Một lực lượng đông đảo thanh niên đã qua đào tạo tin học trong khi học phổ thông và đại học, hoặc đào tạo tại các trường, các trung tâm tin học trong toàn quốc. Số này ước tính vài vạn người.
    • Ngoài ra cần tính tới đội ngũ Việt kiều làm tin học. Theo thống kê chưa đầy đủ có tới 50 nghìn người. Lực lượng này được các nước đánh giá là giỏi, nhiều người có trình độ rất cao (nhất là những người ở Mỹ, Pháp và Ca-na-đa), một số người là chuyên gia đầu đàn của các tổ chức tin học thế giới, có người làm cố vấn về phát triển tin học cho Tổng thống nước ngoài.

    Ưu điểm chính của lực lượng làm tin học nước ta được đánh giá là thông minh, cần cù, sáng tạo và thích ứng nhanh với các xu hướng phát triển mới của công nghệ thông tin. Đặc biệt có khả năng làm việc tốt ngay cả trong những điều kiện khó khăn, thiếu thốn. Tuy nhiên, lực lượng chuyên gia tin học của ta cũng có một số nhược điểm:

    • Cho đến nay, các trường đại học trong nước chủ yếu đào tạo cán bộ làm phần mềm (chỉ có Đại học Bách Khoa có một lớp dạy phần cứng). Đó là do lĩnh vực phần cứng đòi hỏi hạ tầng cơ sở mà ta chưa có, mặt khác cũng thiếu thày để dạy. Vì vậy, hiện nay ta bị thiếu chuyên gia phần cứng.
    • Trong lĩnh vực phần mềm, các chuyên gia Việt nam chưa phải đã đủ năng lực để xử lý các hệ thống và các ứng dụng toàn cục quy mô lớn. Nguyên nhân chủ yếu là hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin toàn quốc chưa hình thành vững chắc nên chưa có môi trường thuận lợi cho tin-học-hệ-thống được ứng dụng và phát triển ở Việt nam. Chúng ta cũng thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý dự án, phân tích hệ thống và đặc biệt là đội ngũ lập trình viên chuyên nghiệp. Chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập do đội ngũ giáo viên không đủ điều kiện để cập nhật thông tin, không đủ điều kiện được nâng cao trình độ, thiếu phương tiện

    Khoá luận tốt nghiệp

    nghiên cứu và giảng dạy, ít gắn bó với nhu cầu thực tiễn của sản xuất. Đến nay, Internet vẫn như là món hàng xa xỉ đối với giáo viên và sinh viên.

    • Lực lượng cán bộ đào tạo từ các trường khá phong phú nhưng chưa tận dụng được. Một số xin việc ở các công ty nước ngoài, các công ty liên doanh nhưng chủ yếu làm tiếp thị, văn phòng, một số vào các công ty chuyên doanh công nghệ tin học, nhưng đa số làm tiếp thị, một số tự đứng ra mở cửa hàng kinh doanh thiết bị phần cứng. Vì thế lực lượng đã qua đào tạo không thể tập hợp nhau lại trong các đề án lớn để phát triển, mà ngược lại, kiến thức kém dần đi, tới một lúc không phát huy được nữa.
    • Dân chúng đông đảo:

    Đào tạo tin học và thông tin tin học rộng rãi (nhất là từ khi triển khai Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin) đã làm cho tin học phổ thông không còn xa lạ với đông đảo dân chúng ở thành thị và các tụ điểm buôn bán khác.

    Tuy nhiên vẫn còn nhiều khoảng cách giữa việc “có biết đến” máy tính điện tử và các ứng dụng công nghệ thông tin, với khả năng “ứng dụng thực” các phương tiện đó, đặc biệt là ứng dụng Internet/Web. Ở nhiều cơ quan và doanh nghiệp, nhiều cán bộ, nhân viên chưa từng dùng máy tính điện tử. Những người được coi là biết sử dụng máy mới chỉ làm được và chỉ làm văn bản ở mức độ thấp, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin vào mục đích quản lý và kinh doanh nói chung còn rất thấp, thậm chí hoàn toàn chưa có.

    Riêng về ứng dụng Internet/Web, tỉ lệ người sử dụng Internet trên 1000 dân mới đạt 1,8. Cả nước chỉ có công ty VDC là nhà cung cấp duy nhất đầu vào mạng (IAP) và năm nhà cung cấp dịch vụ (ISP) kể cả VDC (so với 16 của Thái Lan và

    • ở Philipin). Một số cơ quan đã nối mạng vào Internet nhưng hiệu quả sử dụng rất kém (một phân do chưa có kỹ năng sử dụng và do trình độ Anh ngữ còn quá yếu so với yêu cầu của việc khai thác thông tin trên Internet). Xét cả về khía

    cạnh hạ tầng cơ sở công nghệ lẫn con người, có thể nói Việt nam vẫn là một nước -41-

    Khoá luận tốt nghiệp

    kém phát triển và bị tụt hậu khá xa so với các nước tiên tiến trên thế giới về công nghệ tin học. Cho dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng đến nay, Việt nam vẫn chưa có một ngành công nghiệp tin học thực sự.

    Tại hội thảo tuần lễ tin học (tháng 11 năm 1997 tại Hà Nội), các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin Việt nam đã chỉ ra nguyên nhân của tình huống này:

    • Thiếu một chiến lược nhà nước về phát triển ngành điện tử-tin học. Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực điện tử – tin học: năm 1975 đã ban hành một loạt nghị định liên quan đến phát triển các ứng dụng tin học, thành lập Tổng cục điện tử tin học, Viện tin học quốc gia, đồng thời xây dựng các chương trình quốc gia về nghiên cứu, ứng dụng toán tin và khiển học. Tháng 8/1993 đã ra quyết định số 49/CP về việc phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 và thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin. Song cho tới nay, vẫn chưa có một chiến lược được công bố về phát triển ngành điện tử – tin học, thiếu vắng một định hướng tổng thể cho các nhà hoạch định ra chính sách, và tiếp đó là các chương trình cụ thể để phát triển.
    • Thiếu đầu tư đầy đủ và cân đối: những năm qua, nhánh truyền thông được đầu tư nhiều hơn, nhánh tính toán ít được đầu tư (ví dụ: Tổng công ty điện tử và tin học, một doanh nghiệp nhà nước với gần 20 đơn vị và liên doanh, những năm qua hoàn toàn không được Nhà nước đầu tư, chỉ sử dụng vốn tự có rất nhỏ bé (tổng cộng 18 triệu USD, chia ra hàng chục đơn vị thành viên).
    • Bất cập về chính sách: Các chính sách cụ thể không thể hiện được ý đồ phát triển công nghiệp thông tin. Trái lại, có nhiều chính sách bất hợp lý về thuế (quá cao so với các ngành sản xuất khác), về lập nghiệp (thủ tục phiền hà), về bảo hộ (bảo vệ sản xuất và bảo hộ sở hữu trí tuệ), chính sách Việt kiều (còn thiếu tác dụng khuyến khích).

    3.                 Hạ tầng cơ sở kinh tế.

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Qua hơn mười năm đổi mới, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế ổn định, cơ bản thoát khỏi khủng hoảng và đạt được tỷ lệ tăng trưởng nhờ vào cải cách kinh tế vĩ mô. Thu nhập trung bình trên đầu người tăng 5%/năm, năng suất sản lượng tăng với tốc độ cao, lạm phát giảm đáng kể (từ 17,6% năm 1992 xuống 3,6% vào năm 1997 và 0,1% vào năm 1999). Lượng hành hoá xuất khẩu cũng tăng nhanh chóng (đạt 22%/năm). Những thành tựu này đã cải thiện mức sống người dân.

    Tuy nhiên, nhìn chung nền kinh tế vẫn còn là “nông nghiệp lạc hậu”. Hơn

    70% dân số Việt nam sống ở nông thôn và 2/3 lực lượng lao động của đất nước hiện còn làm nông nghiệp. Năng suất lao động còn thấp so với khu vực và thế giới, tỷ lệ hộ nghèo đói còn ở mức cao (18%), thất nghiệp còn nhiều (khoảng 27% số người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm, gồm 6% hoàn toàn thất nghiệp). Nhờ có những thay đổi chính sách của Chính phủ về nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời gian gần đây, nền nông nghiệp Việt nam đã phần nào được cải thiện, tổng sản phẩm nông nghiệp thời kỳ 93 – 95 đã tăng 17,5% so với thời kỳ 89 – 92.

    Về công nghiệp, những năm gần đây ngành này đã đứng ở vị trí hàng đầu trong tăng trưởng kinh tế ở Việt nam nhưng đang bắt đầu có dấu hiệu chững lại. Một nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn chưa hình thành ở Việt nam (công nghiệp mới chỉ chiếm 32% GDP), các khu vực tư nhân chưa được huy động tham gia tích cực vào các chương trình phát triển đa dạng của Chính phủ.

    Xét riêng về buôn bán hàng hoá và dịch vụ thì thương mại còn ở mức phát triển thấp. Dân số gần 80 triệu người nhưng tổng doanh số bán lẻ hàng năm chỉ đạt 180 – 190 nghìn tỷ đồng, tính bình quân mới ở mức 200USD/người/năm. Mặc dù đã tăng với tốc độ cao trong nửa đầu những năm 90, nhưng đến năm 2001 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 15,1 tỷ USD, tính trên đầu người chưa tới 200USD/người. Hàng xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô (dầu mỏ, than đá…), nông thuỷ sản (gạo, lạc, cà phê, thuỷ sản…) và hàng công nghiệp mức độ chế biến

    Khoá luận tốt nghiệp

    thấp (may mặc, giầy dép…). Chỉ riêng bốn mặt hàng dầu thô, gạo, hải sản và cà phê đã chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu, dệt may và giầy dép chiếm trên 20%. Hàng chế biến sâu và hàng chế tạo chiếm chưa tới 25% tổng kim ngạch xuất khẩu.

    Các công ty quốc doanh chiếm trên 40% GDP và khoảng 70% tổng sản lượng công nghiệp nhưng hiệu quả hoạt động thấp. Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội tháng 7/1998, có tới 36% các công ty quốc doanh đang thua lỗ. Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước mới ở giai đoạn đầu. Tới cuối năm 1999 mới cổ phần hoá được 370 doanh nghiệp. Một trong các đặc điểm đáng lưu ý của hoạt động buôn bán hàng hoá và dịch vụ của ta là ở mức độ giao dịch rất thấp, cả ở trong và ngoài nước. Riêng về buôn bán đối ngoại, tuy có trao đổi hàng hoá và dịch vụ với trên 100 nước và địa khu nhưng vẫn tập trung chủ yếu vào các bạn hàng truyền thống trong vùng (như Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan…). Châu Á chiếm tới gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu. Mạng lưới bạn hàng trong và ngoài nước của các công ty nói chung rất hẹp. Đa số công ty thiếu thông tin về thị trường, hàng hoá, bạn hàng nên cơ hội kinh doanh bị hạn chế.

    Trên quan điểm “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử ” nói riêng, hạ tầng cơ sở kinh tế như trên đặt ra hàng loạt vấn đề, trong đó đáng kể nhất là:

    • Do năng lực kinh tế thấp và cách làm kinh tế còn lạc hậu, hệ thống tiêu chuẩn theo đúng nghĩa vẫn chưa hình thành, hệ thống thông tin kinh tế quốc gia cũng không tương thích với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, bản thân hệ thống này cũng mâu thuẫn và không thống nhất, hệ thống mã quốc gia chưa có, là điều sẽ gây trở ngại lớn cho việc chuyển sang một nền “kinh tế số hoá”.
    • Năng suất lao động thấp, tổ chức lao động lạc hậu, tỷ lệ thất nghiệp thực còn ở mức khá cao, chưa tạo ra động lực thực tế đẩy tiết kiệm cao độ chi phí vật chất và thời gian (là các mục tiêu rất cơ bản của “thương mại điện tử”).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Mức sống không cho phép đông đảo dân chúng và đông đảo doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng với các phương tiện của “kinh tế số hoá”: người dân bình thường không có đủ tiền để trang bị các phương tiện của “thương mại điện tử” và trả các chi phí dịch vụ “thương mại điện tử”.
    • Chưa hình thành hệ thống thanh toán tài chính tự động, tức là thiếu hẳn một trong những thành tố nhất của thương mại điện tử, là thành tố không chỉ bảo đảm cho tính kinh tế mà cả tính khả thi cuả thương mại điện tử. Việc xây dựng hệ thống này sẽ là một quá trình, vì còn phải khắc phục thói quen dùng tiền mặt của đa số dân chúng. Ví dụ: Ngân hàng công thương đã thử nghiệm hệ thống giao dịch tiết kiệm “gửi một nơi lĩnh ra ở nhiều nước”, nhưng nhìn chung nhu cầu của khách hàng ở mức rất thấp.
    • Chưa hình thành và thực thi việc tiêu chuẩn hoá toàn bộ nền kinh tế (mã hoá và tiêu chuẩn hoá toàn bộ các doanh nghiệp, hàng hoá, dịch vụ), đa số hàng hoá vẫn còn trao đổi theo mẫu và theo quan sát trực tiếp, hàng hoá giả còn phổ biến chưa nói tới thống nhất mã thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới (liên quan đến thương mại điện tử qua biên giới). Riêng mã số mã vạch tới nay mới thể hiện trên khoảng 10% sản phẩm bán lẻ lưu thông trên thị trường và theo dự kiến sau 5 năm nữa mới đạt tỉ lệ 80%.
    • Thiếu một chiến lược mã quốc gia làm cơ sở phát triển công nghệ mã hoá phục vụ mục đích bảo đảm an toàn dữ liệu và thông tin.

    4.                 Hạ tầng pháp lý.

    Hệ thống pháp luật hiện đại đang mới ở giai đoạn hình thành đầu tiên và còn chưa hoàn thiện. Đến nay tuy Việt nam đã có luật bảo hộ bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ, nhưng luật này chỉ mới áp dụng tương đối tốt trong lĩnh vực truyền hình và phim ảnh, ở những khía cạnh khác trong lĩnh vực CNTT thì nhìn chung chưa hiệu quả.

    Chính phủ cũng có luật quản lý các hệ thống và dịch vụ liên quan tới

    Internet được thành lập theo quyết định 136/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày -45-

    Khoá luận tốt nghiệp

    5/3/1977 có trách nhiệm điều chỉnh, kết hợp các hoạt động quản lý và phát triển các dịch vụ và hệ thống Internet ở Việt nam. Bên cạnh đó Chính phủ cũng ban hành Nghị định 21/CP ngày 5/5/1997 về quản lý, thành lập và sử dụng Internet.

    Mới đây, vào ngày 23/8/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng Internet thay thế cho Nghị định 21/CP cũ.

    Tuy nhiên, còn hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan đến thương mại điện tử chưa được phản ánh trong Bộ luật thương mại, Bộ luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự và các Bộ luật khác có liên quan, trong đó có các vấn đề như luật pháp về giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử, về xác thực và chứng nhận chữ ký điện tử, về chống xâm nhập trái phép vào các dữ liệu v..v..Hiệu lực thi hành và do đó hiệu lực điều chỉnh của các luật đã ban hành vẫn còn thấp, ngay cả trong hoàn cảnh kinh tế và thương mại còn đang được vận hành trên cơ sở giấy tờ.

    5. Hạ tầng cơ sở chính trị, xã hội.

    Trong quá trình đổi mới hơn 10 năm qua, đất nước đã chuyển một bước đáng kể sang hướng “mở cửa”. Song, do hàng loạt các đặc thù, nhiều thứ chịu sự chế định của hoàn cảnh lịch sử – xã hội, ta chưa thể mở tới mức độ như “kinh tế số hoá nói chung” và “thương mại điện tử” nói riêng đòi hỏi hoặc mong muốn. Các thế lực thù địch còn tiếp tục các hoạt động chống phá mạnh mẽ, nên về mặt chính trị, Internet/Web mặc nhiên trở thành phương tiện tốt cho các hoạt động này, buộc Nhà nước phải có các biện pháp bảo vệ thích hợp. Ngay từ năm 1996 đã có chỉ thị về tăng cường chỉ đạo, quản lý, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch dùng phương tiện thông tin điện tử để chống phá ta, trong đó đã đề cập đến các phương tiện điện thoại, Fax, kênh truyền hình TVRO, kết nối mạng thông tin Internet và các hoạt động mua bán, trao đổi thông tin giữa một số cơ quan nhà nước và nước ngoài v..v..việc sử dụng Internet phải có sự giám sát nhất định. Hoàn cảnh đặc thù ấy chưa hoàn toàn thích hợp với “thương

    Khoá luận tốt nghiệp

    mại điện”, nhưng chưa thể làm khác được vì đề phòng phá hoại chính trị còn phải quản lý Internet/Web để chống lại tác hại của phim ảnh không lành mạnh. Các lối sống xa lạ với bản sắc văn hoá dân tộc được truyền qua mạng nay đã bắt đầu tác động vào một bộ phận thanh thiếu niên. Về cách sống và làm việc, đa số dân chúng vẫn còn quen giao dịch trên văn bản, giấy tờ, mua hàng nhất thiết phải trải qua công đoạn nhìn, sờ, nếm, thử…; thích đếm tiền mặt v..v.., đều là các thói quen khác biệt một cách căn bản với thương mại điện tử; đồng thời cũng là những thói quen không thể nhanh chóng thay đổi được.

    Về mặt xã hội, cũng phải lưu ý tới nhận xét của nhiều học giả rằng: do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã”, đông đảo dân chúng Việt nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồng đội” (teamwork) ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, cũng như chưa có được lối sống theo pháp luật chặt chẽ, theo kỷ luật lao động công nghiệp tiêu chuẩn hoá, đều là những yếu tố mà “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng đòi hỏi một cách nghiêm ngặt.

    • Tất cả các hạ tầng cơ sở nói trên đều cho thấy môi trường điển hình cho nền “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng chưa hình thành đầy đủ ở Việt nam, đòi hỏi nhất thiết phải có một quá trình chuẩn bị. Quá trình đó dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều quan điểm chung, cách nhận thức vấn đề và cách triển khai thương mại điện tử.

    II. CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM.

    1.     Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt nam trong những năm gần đây.

    Thương mại điện tử ở Việt nam, nếu xét theo nghĩa rộng (bao gồm cả các phương tiện truyền thống như: điện thoại, telex, fax…hay việc sử dụng máy tính như một công cụ độc lập) thì đã hình thành từ lâu. Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa chặt chẽ hơn (thương mại điện tử chủ yếu là tiến hành trao đổi dữ liệu và mua

    Khoá luận tốt nghiệp

    bán dung liệu, hàng hoá, dịch vụ qua mạng Internet và các phân mạng của nó) thì sự tham gia của Việt nam chỉ mới bắt đầu từ cuối năm 1997.

    Tuy những điều kiện cơ sở hạ tầng cần thiết cho sự phát triển của thương mại điện tử chưa hình thành đầy đủ, nhưng do các hoạt động hội nhập của nước ta cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, Việt nam đã bắt đầu có những bước đi nhất định để tham gia vào thương mại điện tử:

    • Nghị quyết số 26/NQ/TƯ, 30/3/1991 của Bộ chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn điện tử, tin học…”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương (khoá VII), 30/7/1994 xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII nhấn mạnh: “ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế…Hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”…Để thế chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt nam trong những năm 90”
    • Tháng 11/1997, Việt nam chính thức kết nối vào mạng Internet. Ngày 05/03/1997, Nghị định 21/CP được ban hành kèm theo quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt nam. Đến nay Việt nam đã có khoảng hơn 200.000 máy tính có thể truy cập vào Internet, chủ yếu là ở các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
    • Từ đó đến nay khái niệm thương mại điện tử được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, các buổi hội thảo…
    • Là thành viên của ASEAN và APEC, Việt nam đã tham gia các buổi thảo luận và cam kết quốc tế về thương mại điện tử ở hai tổ chức này.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • ASEAN: Sau khi gia nhập tổ chức này, Việt nam đã tham gia hội nghị ASEAN về thương mại điện tử vào tháng 10/1997. Việt nam cũng tham gia hoạt động trong Tiểu ban điều phối về thương mại điện tử (CCEC) của ASEAN. Tiểu ban này tại cuộc họp lần thứ hai (9/1998) đã thông qua bản “Các nguyên tắc chỉ đạo về thương mại điện tử ASEAN”
    • APEC: Việt nam đã thoả thuận tham gia vào “Chương trình hành động về thương mại điện tử APEC”.
    • Để xúc tiến hoạt động thương mại điện tử tại Việt nam, tháng 6/1998, Ban chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin thành lập Tổ công tác thương mại điện tử nằm trong ban này. Đến tháng 12/1998, Bộ thương mại (cơ quan được Thủ tướng Chính phủ giao là đầu mối chủ trì phối hợp các hoạt động về thương mại điện tử) đã thành lập Ban thương mại điện tử trực thuộc Bộ với các chức năng giúp Bộ trưởng quản lý chung và xây dựng chiến lược phát triển thương mại điện tử quốc gia; quản lý các dự án, các chương trình quốc gia liên quan đến thương mại điện tử ; triển khai thương mại điện tử trong phạm vi trách nhiệm của Bộ; phối hợp nghiên cứu các phương án tham gia vào thương mại điện tử toàn cầu nhằm tăng cường thương mại điện tử Việt nam, phù hợp với các quy định quốc tế.
    • Trên phạm vi toàn quốc cũng đã diễn ra rất nhiều buổi hội thảo về thương mại điện tử:
    • 3/1999: Bộ thương mại đã tổ chức cuộc hội thảo quốc tế lần thứ nhất.
    • 6/1999: Tổng cục Bưu điện phối hợp với Bộ thương mại tổ chức hội thảo quốc tế lần thứ hai.
    • 5/7/2000: Tại Hà Nội, Bộ thương mại phối hợp với Bộ Khoa học-Công nghệ-Môi trường, dự án Công nghệ thông tin Việt nam – Canada, Tổng cục Bưu điện đã tổ chức buổi Hội thảo về thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Trong tháng 7 và tháng 9 năm 2000, Bộ thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) và VASC cũng đã tổ chức một số buổi hội thảo về thương mại điện tử tại Hà nội và TP. Hồ Chí Minh.
    • Bộ thương mại đã mở một số buổi tập huấn để nâng cao nhận thức chung về thương mại điện tử cho các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên hầu hết các tỉnh và thành phố trong cả nước và vẫn đang xúc tiến phối hợp với các Bộ khác tiếp tục mở các lớp tập huấn như vậy cho các doanh nghiệp.
    • Nhằm định hướng tiếp cận thương mại điện tử một cách có hệ thống và trên quan điểm chiến lược, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ thương mại chủ trì phối hợp các Bộ, ngành có liên quan hình thành một số tài liệu mang tính định hướng quốc gia.
    • Đầu 4/1999, Bộ thương mại đã trình Chính phủ bản “Đề án thành lập Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử” với sự đóng góp của các Bộ, ngành có liên quan.
    • Cuối 4/1999, Bộ thương mại cùng Tổng cục Bưu điện trình Chính phủ bản “Phương án từng bước tham gia và áp dụng thương mại điện tử”.
    • Giữa năm 1999, Chính phủ giao cho Bộ thương mại chủ trì dự án quốc gia “Kỹ thuật thương mại điện tử”. Dự án này được phân thành 14 tiểu dự án, bao gồm các mặt hạ tầng cơ sở của thương mại điện tử, đồng thời với các hoạt động nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng và thử nghiệm. Một số tiểu dự án nhận được sự hỗ trợ từ phía các đối tác nước ngoài.
    • Trong năm 2000, Chính phủ giao cho Bộ thương mại làm đầu mối đàm phán với các nước ASEAN xây dựng Hiệp định khung E-ASEAN và hiệp định này sau đó đã được lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN ký tại Singapore ngày 24/11/2000.
    • Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2001 – 2005 nhằm tạo môi trường

    Khoá luận tốt nghiệp

    thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, kinh doanh, sản xuất và cung ứng dịch vụ phần mềm.

    • Ngày 17/10/2000, Bộ chính trị có chỉ thị số 58-CT/TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá”. Thực hiện chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2002 về “Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm”.
    • Trong năm 2000, Thủ tướng Chính phủ cũng ký một loạt quyết định và nghị định nhằm mở rộng việc sử dụng hệ thống thông tin điện tử tạo tiền đề cho sự phát triển của thương mại điện tử trong tương lai: Quyết định 19/2001/QĐ-TTg, quyết định 81/2001/QĐ-TTg, Nghị định số 55/2001/NĐ/CP. Trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX tháng 04/2001 cũng đã khẳng định quyết tâm phải phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Đây chính là kim chỉ nam quan trọng mở đường và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin và thương mại điện tử ở Việt nam.
    • Quyết định 112/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/7/2001 nhằm thiết lập hệ thống thông tin từ Trung ương đến các Bộ, ngành, địa phương phục vụ công tác điều hành các hoạt động của Chính phủ. Đề án 112 này cũng nằm trong quá trình thực hiện cam kết của Chính phủ Việt nam với các nước ASEAN theo hiệp định khung e-ASEAN.
    • Cuối năm 2001, Bộ thương mại đã hoàn thành và trình lên Chính phủ bản đề án Phát triển thương mại điện tử tại Việt nam giai đoạn 2001-2005. Bản đề án này giúp Chính phủ có những đánh giá về hiện trạng ban đầu về tình hình phát triển thương mại điện tử trong nước và trên thế giới. Từ những đánh giá này, Chính phủ cũng có những định hướng thống nhất và tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Có thể coi Bản đề án trên là một bước đi quan trọng và thiết thực thể hiện quyết tâm của Việt nam hội nhập vào nền kinh tế kỹ thuật số của khu vực và thế giới.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Như vậy, nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử trong thời đại mới. Việt nam đã có những mối quan tâm nhất định nhằm phát triển hình thức này tại Việt nam. Tuy nhiên, do trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp, những điều kiện cơ sở hạ tầng cho sự phát triển của thương mại điện tử còn chưa hình thành đầy đủ nên những bước đi của Việt nam phần nào còn mang nặng tính “hưởng ứng”, “thăm dò”.

    Các hoạt động ứng dụng thương mại điện tử trong kinh doanh tại Việt nam hiện nay vẫn diễn ra khá lẻ tẻ, yếu ớt. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu giao dịch với nhau bằng điện thoại, fax và mới đây là e-mail. Hiện nay cả nước có khoảng 1500 Website doanh nghiệp, nhưng nhìn chung các Website này còn khá đơn điệu, chủ yếu là để quảng cáo. Số đơn vị có quảng cáo trên Web cũng chỉ có vài ngàn. Đến nay, ở Việt nam ngoài các tổng công ty lớn như : Bưu điện, Hàng không, Du lịch thì hầu hết các doanh nghiệp đều chưa nghĩ đến việc thiết kế một trang Web nhằm mục đính kinh doanh.

    Nói một cách lạc quan, thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt nam mới chỉ dừng lại ở mức tiền giao dịch, việc mua bán trên mạng hầu như chưa có.

    Về phía người dân, đa số còn khá xa lạ với Internet, chỉ một bộ phận nhỏ dân chúng (chủ yếu là tầng lớp trí thức) thường xuyên tiếp cận với Internet để gửi e-mail, tìm nguồn thông tin hay để giải trí. Một bộ phận khác, chủ yếu ở tuổi thanh thiếu niên, chỉ biết đến Internet qua dịch vụ trò chuyện qua mạng (chat) và các dịch vụ giải trí khác. Hiểu biết và nhận thức của đông đảo mọi người đối với thương mại điện tử vẫn còn chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ, cá biệt có người nhìn nhận vấn đề hoàn toàn sai lệch.

    • Việt nam cũng đã bắt đầu xuất hiện các của hàng ảo trên mạng (Cypermall, siêu thị máy tính BLUE SKY, siêu thị nhà đất…). Tuy nhiên mức độ mua hàng từ mạng tại Việt nam vẫn còn khá nhỏ nên các cửa hàng này cũng chỉ giới hạn mục tiêu giai đoạn của mình là để giới thiệu, làm quen với khách hàng một phương thức mua bán mới mà chưa thể nghĩ đến lợi nhuận trong giai đoạn này. Chính vì

    Khoá luận tốt nghiệp

    việc thương mại điện tử mới chỉ bắt đầu “chớm” phát triển ở Việt nam nên theo báo cáo của IDC-tập đoàn dữ liệu quốc tế – thì doanh số thương mại điện tử ở Việt nam năm 1999 mới chỉ dừng lại ở con số 2 triệu Baht (khoảng 60.000 USD) so với 1,229 tỷ Baht ở Thái Lan; 38,38 tỷ Baht ở Singapore.

    Doanh số thương mại điện tử ở một số nước ASEAN (triệu Baht)

    Nước 1988 1999 2003 (ước)
           
    Inđônêsia 249 1.323 61.680
           
    Malaysia 684 2.237 78.610
           
    Philipin 259 881 38.120
           
    Singapore 1.337 38.380 106.780
           
    Thái Lan 370 1.229 60.920
           
    Việt nam 2 1.284
           

    Nguồn: IDC 2000

    Tóm lại, những dấu hiệu đầu tiên của thương mại điện tử đã bắt đầu hình thành ở Việt nam. Tuy nhiên, quy mô của nó còn hết sức nhỏ bé và vẫn chưa có những ảnh hưởng nào đáng kể làm thay đổi cách thức kinh doanh của doanh nghiệp cũng như cách thức sinh hoạt của người dân. Những bước đi đầu tiên của Nhà nước nhằm thúc đẩy hình thức thương mại điện tử mới chỉ ở bề nổi. Các hoạt động nhằm hướng vào xây dựng một môi trường toàn diện và thực sự cho thương mại điện tử (chủ yếu là môi trường Công nghệ thông tin, môi trường pháp lý, môi trường thanh toán tài chính và môi trường xã hội) thì hầu như chưa có hoặc chưa được tiến hành một cách có hệ thống.

    2. Triển vọng tương lai.

    Hiện nay, xét về tất cả các mặt, môi trường cho thương mại điện tử đúng

    nghĩa chưa hình thành ở Việt nam. Nhưng trong khi đó, với tư cách là thành viên -53-

    Khoá luận tốt nghiệp

    APEC và ASEAN, Việt nam đã có các cam kết tham gia. Tình huống đó cho thấy Việt nam “không thể sớm cũng không thể muộn” triển khai theo hướng thương mại điện tử.

    Không thể sớm có nghĩa là: Để có thể thực sự tham gia một cách có hiệu quả, đóng góp thực tế vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại, vào việc công nghiệp hoá và hiện đại hoá (mà không phải chỉ tham gia một cách “phô diễn”), cần sớm bắt tay vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho thương mại điện tử, bao gồm: trước hết là hạ tầng cơ sở pháp lý, tiếp đó là hạ tầng kinh tế chuẩn hoá, song song với đó là phát triển và nâng cao hạ tầng công nghệ thông tin (tính toán và viễn thông) sao cho cập cách về cả hai mặt: trình độ công nghệ và tính phổ cập (đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có thể có điều kiện phương tiện thiết bị và phương tiện tiền bạc để truy cập vào mạng thông tin toàn quốc và quốc tế); hạ tầng nhân lực thương mại điện tử (đông đảo doanh nghiệp và dân chúng có đủ năng lực kỹ thuật để làm việc trên mạng thông tin).

    Không thể muộn nghĩa là: Ngay bây giờ đã phải nhận thức đầy đủ về tính tất yếu và mức độ tác động của “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử nói riêng”, tiếp đó triển khai xây dựng một chiến lược quốc gia về hình thành nền “kinh tế số hoá” và nền “thương mại điện tử” ở Việt nam làm định hướng chỉ đạo lâu dài, sau đó thiết lập một chương trình hành động trước mắt phù hợp với tình hình thực tế ở Việt nam và các thoả thuận mà Việt nam đã cam kết. Trên cơ sở đó, triển khai nhanh việc phổ cập, đào tạo, thử nghiệm v..v..Trong hai nhánh hoạt động trên đây, nên coi trọng nhánh chuẩn bị môi trường lâu dài, tránh sa vào các hoạt động “phô diễn” ít hiệu quả, mà có thể đưa lại các hiệu quả không mong muốn.

    Để làm việc trên, nên thành lập ngay một “đầu mối quốc gia” về “kinh tế số hoá” và “thương mại điện tử”. Một Hội đồng quốc gia về “thương mại điện tử” gồm đại diện của nhiều Bộ, ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ được kiến thức và sự nhìn nhận từ nhiều góc cạnh. Vì hội đồng là một tổ

    Khoá luận tốt nghiệp

    chức mang tính tư vấn là chủ yếu, nên theo kinh nghiệm các nước, sẽ cần tới một Ủy ban quốc gia có chức năng và quyền hạn ra quyết định, chỉ đạo và xử lý giải quyết. Hội đồng và Ủy ban sẽ là đầu mối vạch chiến lược cũng như chương trình hành động trước mắt, đồng thời chỉ đạo thực hiện chiến lược và chương trình đó; tránh được các xu hướng thiếu toàn diện hoặc cho là chưa thể làm gì với thương mại điện tử. Hoặc ngược lại, tiến hành một cách vội vã, nặng “phô diễn”, không thu được kết quả mong muốn và để lại hậu quả khó khắc phục sau này, nhất là các hệ quả an ninh trên bối cảnh của công cuộc vừa xây dựng vừa bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh.

    Trong khi vạch chiến lược “kinh tế số hoá” và “thương mại điện tử”, cũng như lập chương trình hành động và các phương án tham gia thương mại điện tử, Hội đồng quốc gia và Uỷ ban quốc gia về thương mại điện tử sẽ tham khảo chiến lược và chương trình đã có của các nước, đặc biệt là các nước có trình độ phát triển gần với Việt nam, và tính tới các đặc thù quốc gia để có cách đi và bước đi thích hợp.

    Trong khi thực hiện các bước mang tính cơ bản ấy, vẫn có thể cần nhanh chóng triển khai các công việc có thể tiến hành như: Phổ cập kiến thức, đào tạo, thử nghiệm v..v.., và có quan điểm nhất quán trong việc tham gia vào các hoạt động liên quan tới thương mại điện tử trong khuôn khổ ASEAN, Cộng đồng Pháp ngữ, APEC, WTO….

    Khoá luận tốt nghiệp

    CHƯƠNG III

    HỆ THỐNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

    I.                   QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CHIẾN LƯỢC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ.

    1.     Quan điểm phát triển thương mại điện tử tại Việt nam trong điều kiện hội nhập.

    Như chúng ta đã biết, thế giới đang trải qua một thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ mà theo cách gọi của nhiều nhà kinh tế, nghiên cứu trong nước và quốc tế thì đó là thời kỳ quá độ của một nền “kinh tế cũ” (nền kinh tế vật chất – physical economy) thành một nền “kinh tế mới “ (nền kinh tế tri thức, kinh tế thông tin). Trong nền kinh tế đó, thương mại điện tử đóng vai trò là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng. Sự phát triển đi lên một nền kinh tế tri thức là một đòi hỏi tất yếu của một nền kinh tế nào nếu không muốn bị tụt hậu xa so với các quốc gia khác trên thế giới. Trên thực tế, tất cả các quốc gia áp dụng thương mại điện tử đều được hưởng lợi từ quá trình đó. Nhận thức rõ điều này, tại Hội nghị BCH TW Đảng lần X khoá 8 đã khẳng định Việt nam cần “phải đón đầu xu hướng của nền kinh tế mới – nền kinh tế tri thức”.

    Trong năm 2000, Chính phủ cũng đã chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan đến thương mại điện tử (như Bộ thương mại, Bộ KHCN&MT, Viện CNTT…) thực hiện một chương trình nghiên cứu hoàn thiện về thương mại điện tử và điều này khẳng định quan điểm ủng hộ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đối với thương

    Khoá luận tốt nghiệp

    mại điện tử và coi đây như là một điều kiện cần thiết để nền kinh tế Việt nam có thể đẩy mạnh tăng trưởng nền kinh tế, đạt mục tiêu đề ra từ nay đến 2020.

    Gần đây, Bộ thương mại vừa trình lên Chính phủ bản đề án phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2001-2005. Đây có thể coi là bước đi quan trọng trong việc xây dựng thương mại điện tử ở Việt nam theo tinh thần Chỉ thị 58/CT/TƯ của Bộ chính trị và Hiệp định khung ASEAN về thương mại điện tử.

    Thương mại điện tử chỉ có thể phát triển khi và chỉ khi các yếu tố nền tảng thiết yếu như hạ tẩng CNTT, hạ tầng pháp lý, hạ tầng tính toán …phát triển. Do đó việc hoàn thiện các cơ sở hạ tầng này là điều kiện tiên quyết cho thương mại điện tử. Theo tiến sỹ Chu Hảo, thứ trưởng Bộ KHCN&MT, Việt nam cần mở của đón làn sóng kinh tế mới, tận dụng cơ hội “đi tắt, đón đầu”, đi thẳng vào những ngành công nghệ cao của nền kinh tế tri thức. Có như vậy mới có cơ hội mở rộng không gian kinh tế, hiện đại hoá các nghành sản xuất truyền thống, tăng sức cạnh tranh và tạo được thêm nhiều ngành nghề mới. Cũng theo TS Chu Hảo và TS Nguyễn Trọng thì “chúng ta đã nhường bước cho Bangkok trong con đường hàng không, nhường bước Singapore trong con đường hàng hải và đang thua tất cả họ trong con đường Internet, con đường vận tải hàng hoá quan trọng bậc nhất của thế kỷ XXI…Chúng ta phải đầu tư hết sức để mở con đường Internet trong khi không thể xem nhẹ các con đường tự nhiên là đường bộ, đường không, đường thuỷ. Tìm mợi cách thu hút hàng hoá cuồn cuộn chảy trên những con đường đó cả trên những con đường physical lẫn những con đường electronic” (Trích báo cáo tại hội thảo tuần lễ CNTT lần 5 tại TP.HCM).

    Phát triển thương mại điện tử trong điều kiện Việt nam hiện nay sẽ tập trung vào ngoại thương điện tử, thông qua thương mại điện tử nâng cao ưu thế cạnh tranh của hàng hoá Việt nam trên trường quốc tế.

    Quá trình phát triển thương mại là một quá trình lâu dài trong thời kỳ nền kinh tế nước ta quá độ lên nền kinh tế mới, do đó cần tránh sự quá nóng vội trong phát triển thương mại điện tử dẫn đến ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Phát triển thương mại điện tử không đơn thuần chỉ là việc dùng phương tiện điện tử truyền thông để thực hiện các hành vi buôn bán truyền thông mà nên hiểu rằng khi chấp nhận và áp dụng thương mại điện tử thì toàn bộ hình thái hoạt động của một đất nước sẽ thay đổi, cả hệ thống giáo dục, cả tập quán làm việc và sinh hoạt hàng ngày cũng sẽ thay đổi theo. Do đó cần phải nghiên cứu toàn diện mọi khía cạnh của thương mại điện tử (mặt phải và mặt trái của thương mại điện tử) để có những chính sách phù hợp nhất.

    Phát triển thương mại điện tử phải dựa trên phát huy tối đa lợi thế so sánh từng vùng, từng địa phương nhằm mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá ra thị trường thế giới.

    Phát triển thương mại điện tử phải gắn liền với quá trình tự do hoá thương mại – toàn cầu hoá trên phạm vi quốc tế ngày càng được đẩy mạnh. Nền kinh tế Việt nam không nằm ngoài xu thế này, do đó Việt nam cần tranh thủ vận dụng xu thế này để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế của mình. Các doanh nghiệp cũng cần có chiến lược cụ thể, toàn diện để có thể tận dụng, phát huy lợi ích của thương mại điện tử.

    2. Chủ trương.

    Thực hiện quan điểm trên, Nhà nước chủ trương:

    • Ứng dụng và phát triển thương mại điện tử là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu, rút ngắn khoảng cách về kỹ thuật số với các nước.
    • Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội…. đều phải ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển.
    • Mạng thông tin quốc gia và Chính phủ điện tử là kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội quan trọng, phải tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Phát triển nguồn nhân lực cho công nghệ thông tin và thương mại điện tử là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển hình thức thương mại điện tử.
    • Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt là công nghiệp phần mềm.

    3.                 Mục tiêu.

    Đến năm 2010, thương mại điện tử Việt nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực với một số mục tiêu cơ bản sau đây:

    • Thương mại điện tử được úng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
    • Phát triển mạng thông tin quốc gia phủ trên cả nước, với lượng thông tin lớn, tốc độ và chất lượng cao, giá rẻ, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt mức trung bình trên thế giới. Công nghiệp công nghệ thông tin trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ và chất lượng cao nhất so với khu vực khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng.
    • Hoàn thành việc xây dựng Chính phủ điện tử (e-Government) tạo điều kiện nhanh chóng và thuận lợi cho các giao dịch hành chính.
    • Phấn đấu trong thời gian đến năm 2020, việc phát triển thương mại điện tử sẽ nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt nam, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô đã đề ra, góp phần hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt nam vào năm 2020.

    II.               HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP.

     

    Nền kinh tế Việt nam đang đứng trước thử thách rất lớn là cần thiết phải phát triển mạnh mẽ hơn hoạt động của thương mại điện tử, vì chỉ có như vậy mới

    Khoá luận tốt nghiệp

    có thể giúp các doanh nghiệp Việt nam (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ) trụ vững trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại. Song để làm được điều này nó đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của Đảng, Nhà nước và Chính phủ và cả bản thân các doanh nghiệp trong việc bỏ rào cản đặt ra trên con đường vào thương mại Việt nam, tham gia làm “thương mại điện tử ” toàn cầu. Trên cơ sở những phân tích giải pháp để phát triển thương mại điện tử từ nay đến năm 2020 khi mà nền kinh tế Việt nam hoàn thành quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước. Hệ thống giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Việt nam cần được thực hiện theo các bước sau:

    Chuẩn bị: Gồm hàng loạt các hoạt động từ việc nâng cao nhận thức, kiến thức tiếp đó xác định mức độ sẵn sàng đối với thương mại điện tử để biết những yếu tố cần phải thay đổi hoặc cải thiện nhằm đảm bảo thích ứng trên mọi bình diện. Các khía cạnh pháp lý, công nghệ và giáo dục phải đi trước một bước, tạo môi trường kinh doanh “mềm” cho thương mại điện tử phát triển. Quá trình này sẽ kéo dài cho đến khi xuất hiện cơ sở hạ tầng cần thiết. Đây chính là giai đoạn mà Việt nam đang bắt đầu tiến hành.

    Chấp nhận: Là thừa nhận về mặt pháp lý đối với thương mại điện tử sau khi đã thích ứng các yếu tố của nó vào hệ thống nội luật và đã tạo dựng được một môi trường thuận lợi cho thương mại điện tử.

    Ứng dụng: Từng bước ứng dụng thương mại điện tử vào mọi lĩnh vực hoạt động, từ từng phần tới toàn diện.

    Qua những giải pháp trên ta thấy trách nhiệm của Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử ở nước ta là vô cùng to lớn và cũng đầy khó khăn. Việt nam chúng ta còn là một nước chậm phát triển với những điều kiện về vốn, cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ nguồn nhân lực – những điều kiện tiên quyết cho việc phát triển nền kinh tế số hoá – còn nhiều hạn chế. Tiềm lực của chúng ta không cho phép xây dựng ngay một hệ thống thương mại điện tử trong khi nền tảng của nó còn chưa vững chắc, điều này đòi hỏi chúng ta phải có một

    Khoá luận tốt nghiệp

    cách tiếp cận cân bằng (balanced approach): xây dựng thương mại điện tử song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, hệ thống tài chính ngân hàng, hệ thống thể chế chính sách và năng lực quản lý của Nhà nước. Trong đó cần chú trọng đến các yếu tố “mềm” trong hệ thống các yếu tố để cho thương mại điện tử phát triển như chính sách của Nhà nước, hệ thống pháp lý, nguồn nhân lực.

    Với nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thương mại điện tử và với những biện pháp hữu hiệu từ phía Nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của hình thức này, hy vọng trong một tương lai không xa, thương mại điện tử sẽ giúp Việt nam nhanh chóng đón đầu và bắt kịp với trình độ phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới.

    1.                 Các giải pháp vĩ mô ở tầm quốc gia

     

    • Nhà nước cần đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông để đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của thương mại điện tử.

     

    • Về công nghệ: đòi hỏi đầu tư cơ bản lớn và được xây dựng trên cơ sở một nền sản xuất công nghiệp hoá đã phát triển. Trong những năm trước mắt, bên cạnh việc nhập khẩu thiết bị để bổ sung, cần tận dụng khả năng hợp tác liên doanh và chuyển giao công nghệ để phát triển một số cơ sở sản xuất, lắp ráp thiết bị tin học theo những phương án được tính toán là có lợi nhuận, đồng thời phát triển các cơ sở thiết kế, chế tạo các thiết bị truyền thông và thiết bị tin học chuyên dụng đáp ứng nhu cầu trong nước, đặc biệt đối với các nhu cầu tự động hoá và hiện đại hoá truyền thông dữ liệu.

    Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở công nghiệp không chỉ là có tính hiện hữu (availability) mà còn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (affordability), nghĩa là chi phí trang bị các phương tiện công nghệ thông tin và chi phí dịch vụ truyền thông phải đủ rẻ để đông đảo người sử dụng có thể tiếp cận được.

    Để làm được điều này, Việt nam cần phải xây dựng cho mình một nền công nghiệp điện năng vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định và có

    mức giá hợp lý. Theo đó cần sớm xây dựng được nhà máy điện nguyên tử để -61-

    Khoá luận tốt nghiệp

    phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet, thương mại điện tử.

    • Về viễn thông: Theo ông Dave Perks, giám đốc kỹ thuật Intel Châu Á-TBD thì một trong những trở ngại lớn nhất để Việt nam tham gia vào Internet là đường truyền hạn chế và giá cước truyền thông thì vào loại cao nhất thế giới.

    Do đó Chính phủ cần đẩy mạnh việc hiện đại hoá hệ thống truyền thông, áp dụng công nghệ thông tin và gia tăng tốc độ đường truyền đặc biệt sớm triển khai công nghệ ADSL (Asymmetric Digital Subcribers Lines) và nâng cao công suất của băng thông.

    Nhanh chóng giảm giá cước viễn thông và cước truy cập Internet để thương mại điện tử có thể tiếp cận với tất cả mọi người.

    • Nâng cao nhận thức và đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử.

     

    • Về việc nâng cao nhận thức: Theo báo cáo gần đây của Liên hợp quốc, vấn đề chính gây trở ngại cho tiến trình phát triển thương mại điện tử tại các nước đang phát triển lại nằm ở vấn đề nhận thức của các doanh nghiệp và người dân. Hầu hết các doanh nghiệp và dân chúng tại các nước này chưa hiểu hết tầm quan trọng và những lợi ích mà thương mại điện tử đem lại.

    Theo khảo sát của Hội tin học Việt nam, hiện có tới 90% trong số 70.000 doanh nghiệp và trên 1,4 triệu hộ kinh doanh cá thể ở nước ta vẫn thờ ơ với thương mại điện tử và coi thương mại điện tử là “chuyện của người ta”.

    Do đó, vấn đề rất quan trọng đặt ra cho Chính phủ Việt nam là phải nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và nhân dân về thương mại điện tử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, các buổi hội thảo, chuyên đề….Dùng

    nhiều hình thức phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp, nhất là đội ngũ doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ) hiểu sâu hơn về thương mại điện tử cũng như cách thức ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Các lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử thuộc hội đồng quốc gia về

    Khoá luận tốt nghiệp

    thương mại điện tử cần đẩy mạnh hoạt động tư vấn, hướng dẫn các doanh nghiệp lên mạng, giúp doanh nghiệp giải quyết mọi khó khăn vướng mắc về thương mại điện tử.

    • Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thương mại điện tử: Để xây dựng một nguồn nhân lực đủ khả năng tham gia có hiệu quả vào thương mại điện tử, chúng ta cần xây dựng một đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển để phục vụ cho kinh tế số hoá, song song với việc phát triển một bộ phận đông đảo dân cư quen thuộc và thành thạo các thao tác trên mạng và biết sử dụng tiếng Anh. Các loại chuyên viên cần có ở nước ta trong những năm tới gồm: chuyên viên phân tích và thiết kế hệ thống, lập trình, giáo viên và nghiên cứu viên về công nghệ thông tin, chuyên gia biên soạn tài liệu, kỹ sư lắp đặt, bảo trì, sửa chữa các thiết bị máy tính, kỹ sư hệ thống để cài đặt và bảo dưỡng các hệ thống phần mềm, kỹ sư mạng máy tính và truyền thông, chuyên viên phân tích hệ thống đối với các hệ thống tin học, chuyên viên quản trị các dự án tin học.

    Bên cạnh đó khuyến khích mở các trường, lớp đào tạo người sử dụng máy tính với các chương trình có tính chất thực hành ngắn hạn thuộc các trình độ khác nhau, nhằm mục đích trang bị khả năng sử dụng máy tính – một công cụ lao động cho một bộ phận lao động ngày càng đông đảo. Nhà nước hỗ trợ Hội tin học và các tổ chức tin học khác trong việc phát triển các chương trình phổ biến kiến thức về công nghệ thông tin bằng các hình thức báo chí, phát thanh, truyền hình….

    • Nhà nước cần sớm xây dựng hạ tầng thanh toán điện tử (đẩy nhanh áp dụng các phương tiện thanh toán hiện đại vào hoạt động ngân hàng như: thẻ thông minh (smart card), chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng…)

    Như đã phân tích hạ tầng thanh toán rất quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, nó thể hiện sự liên kết quan trọng giữa thương mại điện tử và nền tảng tài chính của nền kinh tế quốc gia mà theo khảo sát phần lớn các doanh nghiệp đều cho rằng việc thu phương tiện thanh toán qua mạng là một

    Khoá luận tốt nghiệp

    trong những trở ngại của thương mại điện tử ở Việt nam. Phương tiện thanh toán điện tử phải mang đặc tính dễ sử dụng và phải an toàn bởi trên thực tế theo báo cáo của Gartner Group thì lượng thẻ thanh toán bị làm giả lớn gấp nhiều lần so với thẻ thanh toán truyền thống. Chi phí làm thẻ thanh toán qua mạng do đó tăng hơn 67%. Do vậy khi nghiên cứu áp dụng phương tiện thanh toán điện tử, chúng ta cần đảm bảo được tính dễ sử dụng, an toàn, đồng thời chi phí cũng phải phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp.

    Để tạo khung pháp lý cho thanh toán điện tử, Ngân hàng trung ương cần sớm đưa ra các văn bản pháp lý liên quan tới hoạt động này.

    • Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp lý hỗ trợ cho thương mại điện tử được thực sự phát triển ở Việt nam.

    Hiện nay ở Việt nam đã có trên 150.000 thuê bao Internet, chủ yếu là các doanh nghiệp, mở ra cơ hội đáng kể cho các doanh nghiệp này khai thác ưu thế của thương mại điện tử. Song trên thực tế, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thương mại điện tử thì các doanh nghiệp Việt nam mới ở giai đoạn I của quá trình phát triển thương mại điện tử, nghĩa là các doanh nghiệp mới chỉ thực hiện các hoạt động quảng cáo, tìm kiếm thông tin, đối tác trên mạng, song vẫn chưa thể thực hiện được các giao dịch qua mạng. Điều này đã làm cản trở việc phát triển thương mại nhất là hoạt động ngoại thương.

    Do đó, Nhà nước, thông qua Hội đồng quốc gia thương mại điện tử sớm ban hành các văn bản pháp lý, theo đó cần xác định việc áp dụng Internet/thương mại điện tử là một cơ hội chứ không phải là một hiểm hoạ cho sự phát triển kinh tế đất nước. Cần xác định sự cần thiết phải phát triển thương mại điện tử ở Việt nam như là một công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam. Đồng thời theo khuyến cáo của Hội đồng các chuyên gia về thương mại điện tử (thuộc UNCTAD) trong quá trình nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp lý cho thương mại điện tử cần chú ý sử dụng hệ thống mô hình luật cho thương mại điện tử của UNCITRAL cũng như hệ thống các văn bản pháp lý khác liên quan đến

    Khoá luận tốt nghiệp

    thương mại điện tử của UNCITRAL như là cơ sở cho sự hoàn thiện hệ thống luật Việt nam.

    Về cơ bản nội dung của văn bản pháp lý cần phải:

    • Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch thương mại điện tử (thông qua mạng Internet).
    • Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (electronic signature-chữ ký dưới dạng đặt vào một thông điệp dữ liệu (data message) và chữ ký số hoá (digital signature – tức là biện pháp biến đổi nội dung thông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mã mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu).
    • Bảo vệ pháp lý các Hợp đồng thương mại điện tử.
    • Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế hoá các cơ quan phát hành các thể thanh toán).
    • Bộ tài chính cần có các văn bản pháp lý qui định những vấn đề liên quan tới tài chính và thuế trong hoạt động thương mại điện tử.
    • Quy định pháp lý đối với các dữ liệu xuất xứ từ nhà nước (các cơ quan Chính phủ và Trung ương), chính quyền địa phương, doanh nghiệp nhà nước (trong đó có vấn đề phải giải quyết như: Nhà nước có phải là chủ nhân các thông tin có quyền được công khai hoá và các thông tin phải giữ bí mật hay không? Người dân có quyên đòi công khai hoá các số liệu của chính quyền hay không? Khi công khai hoá thì việc phổ biến các dữ liệu đó có được xem là một nguồn thu cho ngân sách hay không? …v..v..)
    • Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác giả) liên quan đến mọi hình thức giao dịch điện tử.
    • Bảo vệ bí mật riêng tư một cách thích đáng (để ngăn cản các bí mật đời tư bị đưa lên mạng một cách phi pháp, không chỉ tên tuổi, dung mạo mà còn cả bí mật khác liên quan đến sức khoẻ, tôn giáo, quan điểm chính trị, giới tính, tình dục…).

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các mục đích bất hợp pháp như thu thập tin tức mật, thay đổi các thông tin trên các trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền virus phá hoại….; Tới nay từng nước đã có thể có luật về các tội này, vấn đề là sẽ phải đưa vào bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia. Mọi cố gắng xây dựng hệ thống thương mại điện tử sẽ trở nên vô nghĩa, thậm chí còn tác động xấu tới nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng nếu các thông tin không được bảo mật. Bên cạnh đó ngày càng có nhiều nước áp dụng các luật ngăn cản không cho dữ liệu được truyền gửi tới các nước không có phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin, nhằm trách rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, vũ khí giết người hàng loạt…). Vì vậy, nếu không có các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin thì một nước rất có thể bị cách ly khỏi hoạt động thương mại điện tử quốc tế.

    Tất cả các việc trên chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở mỗi quốc gia trước hết phải thiết lập một hệ thống “mã nguồn” cho tất cả các thông tin số hoá: bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ nước đó trở đi: tiếp đó Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế số hoá, tiếp đó đến các chính sách, đạo luật, và các quy định cụ thể tương ứng, được phản ánh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống nội luật.

    Về văn hoá xã hội nổi lên vấn đề là phải có những quy định luật pháp cụ thể trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng. Đồng thời cũng cần có những biện pháp quản lý, ngăn chặn những luồng thông tin xấu từ bên ngoài làm hư hỏng một bộ phận nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên quản lý không phải là việc đưa ra các cấm đoán một cách cực đoan, như vậy vừa bị động, vừa không có hiệu quả. Trong lĩnh vực truyền thông, cốt tử là nâng cao dân trí rồi từ đó người dân sẽ tự trau dồi khả năng chọn lọc và tiếp nhận những giá trị văn hoá, đồng thời họ sẽ tự rèn luyện khả năng đề kháng trước những cái xấu, cái dở.

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Xúc tiến nhanh việc thành lập Hội đồng quốc gia (HĐQG) về thương mại điện tử.

    Hội đồng này sẽ chịu trách nhiệm trước Chính phủ và nó có nhiệm vụ nghiên cứu, phổ biến các hoạt động thương mại điện tử trên phạm vi cả nước, đồng thời tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại điện tử. Hội đồng cũng có nhiệm vụ hỗ trợ cho các dự án xây dựng các siêu thị, xa lộ thông tin, các tiêu chuẩn cho các sản phẩm, vấn đề bảo mật an toàn, công nghệ thẻ thông minh (smart card), các trung tâm xác thực và chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá. Việc thành lập một Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử giúp đẩy nhanh quá trình đưa hoạt động thương mại điện tử vào thực tiễn ở Việt nam, tránh được các tình trạng chồng chéo, phức tạp của các Ban thương mại điện tử thuộc các Bộ, các cơ quan liên quan, quy hoạt động thương mại điện tử về một mối. Thực tế cho thấy thời gian qua mặc dù Chính phủ đã thành lập dự án quốc gia về “kinh tế thương mại điện tử”. Song việc dự án được chia nhỏ cho các Bộ, ngành thành các điểm dự án và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan này đã làm cản trở tiến độ của dự án. Theo kế hoạch dự án sẽ kết thúc vào giữa năm 2000, song thực tế đến tháng 8/2000 dự án vẫn còn đang thực hiện, do đó Chính phủ cần phải thống nhất quản lý và nghiên cứu thương mại điện tử.

    Cơ cấu của Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử gồm đại diện các Bộ, ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần có để hội tụ những kiến thức, những quan điểm và sự nhìn nhận toàn diện về nhiều góc cạnh. Hội đồng quốc gia cần có quyền huy động nhân lực của một số Bộ ngành cho hoạt động của mình, có chức năng và quyền hạn ra quyết định chỉ đạo và xử lý giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại điện tử ở cấp quốc gia.

    Cách thức hoạt động của Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử bằng công cụ Internet trên cơ sở kết nối với các bên có liên quan, Hội đồng quốc gia cần đi tiên phong trong việc ứng dụng Internet vào hoạt động của mình. Hội đồng quốc gia cần thành lập ra lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử (E-Commerce

    Khoá luận tốt nghiệp

    Taskforce) đặt chi nhánh tại các nơi trọng điểm trong cả nước có nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu và tư vấn cho doanh nghiệp, cơ quan, dân chúng về các vấn đề liên quan tới thương mại điện tử. Lực lượng đặc nhiệm thương mại điện tử được nối mạng trực tiếp với Hội đồng quốc gia để kịp thời thông tin cho nhau để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Hội đồng quốc gia.

    – Đẩy mạnh sự phát triển của nghành công nghiệp phần mềm

    Công nghiệp phần mềm như đã phân tích đóng một đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Theo báo cáo mới đây của Viện nghiên cứu chiến lược của Bộ KH&ĐT thì sản phẩm phần mềm được xếp váo nhóm Việt nam có khả năng cạnh tranh cao nếu như được Nhà nước hỗ trợ, đầu tư phát triển thích đáng và giúp phát huy tối đa lợi thế so sánh của Việt nam là nguồn nhân lực dồi dào và có trình độ tương đối cao so với nhiều quốc gia đang phát triển (Tạp chí Thương mại, 2/2000). Do đó đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng chiến lược hỗ trợ đầu tư thực sự để xây dựng công nghiệp phần mềm thông qua tạo lập môi trường thuận lợi, trước hết là chính sách và các biện pháp hỗ trợ, bảo hộ, đầu tư tiền của, trí tuệ, sức lực vào ba lĩnh vực chiến lược chính: xây dựng hoàn thiện môi trường thuận lợi cho công nghiệp phần mềm Việt nam phát triển (môi trường pháp lý, tạo điều kiện ưu đãi, cơ sở hạ tầng…), phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm, liên kết chặt chẽ các công ty nước ngoài (thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kỹ năng và đào tạo), hỗ trợ các công ty trong nước phát triển mạnh hơn.

    • Trong quá trình phát triển thương mại điện tử, Nhà nước cần chú trọng hỗ trợ ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống.

    Thương mại điện tử thực tế đã mở ra cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp lớn. Do đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tiếp cận với hoạt động thương mại điện tử.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Nhà nước cần chú ý tới việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn lên mạng. Ở đây Hội đồng quốc gia về thương mại điện tử cần thành lập một nhóm đặc nhiệm thương mại điện tử về hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn kết nối và tham gia vào mạng Internet. Để thực hiện dự án này, Nhà nước cần kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, vốn ODA, vốn ngân sách….Trong quá

    trình thực hiện cần tranh thủ sự giúp đỡ của của các doanh nghiệp của làng nghề truyền thống được lên mạng và thực hiện kinh doanh qua mạng. Đây là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh rất lớn (do tính chất độc đáo của sản phẩm) nếu như được mở rộng kinh doanh thông qua thương mại điện tử (theo kinh nghiệm của một số quốc gia như Campuchia, Ấn độ cho thấy) tính hiệu quả rất lớn khi đưa các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm truyền thống lên mạng.

    • Nhà nước cần đi tiên phong trong hoạt động thúc đẩy thương mại điện tử thông qua việc ứng dụng các nguyên tắc hoạt động thương mại điện tử vào quản lý bộ máy Chính phủ và vào các hoạt động mua sắm của Chính phủ cũng như trong hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng, bước đầu xây dựng Chính phủ điện tử (E-Government).

    Kinh nghiệm ở các quốc gia công nghiệp mới (Singapore, Hàn quốc) và các quốc gia phát triển (Ấn độ) cho thấy Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thương mại điện tử bởi sự tham gia trực tiếp của Chính phủ vào hoạt động này. Ở đây, Chính phủ đóng vai trò là chất xúc tác cho sự mở rộng ứng dụng thương mại điện tử vào khu vực doanh nghiệp tư nhân. Singapore là một trường hợp điển hình. Chính phủ quốc gia này đã khuyến khích hoạt động thương mại điện tử thông qua phát triển hệ thống mua sắm của Chính phủ qua mạng Internet. Do đó, ở Việt nam trong thời gian tới Chính phủ cần khẳng định “niềm tin’ cho các doanh nghiệp bằng việc tích cực hơn nữa trong việc tham gia vào các hoạt động mua sắm điện tử (e-procuroment) đồng thời phát triển dịch vụ công cộng qua mạng (như trong ngành hải quan, thuế vụ, điện lực…)

    Khoá luận tốt nghiệp

    Đồng thời, để thực hiện cam kết trong hiệp định khung ASEAN về Chính phủ điện tử, Nhà nước cần từng bước xây dựng một Chính phủ điện tử. Việc xây dựng Chính phủ điện tử là xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc gia trong tương lai. Trên thế giới và trong khu vực, Chính phủ các nước đã và đang thực hiện kế hoạch này. Malaysia, Thái Lan, Indonesia,….đều đã đưa ra chiến lược

    phát triển công nghệ thông tin, trong đó có việc thành lập Chính phủ điện tử. Đặc biệt là Singapore đầu tư 1,4 tỷ đô la trong năm 2002 để thực hiện kế hoạch này.

    Có rất nhiều lý do để đưa các hoạt động của Chính phủ lên mạng, trong đó trước hết là vấn đề hiệu quả. Khái niệm hiệu quả có nghĩa là tiết kiệm đáng kể các chi phí từ việc mua sắm tới việc quản trị nhân lực và giúp các doanh nghiệp tiếp xúc dễ dàng hơn với Chính phủ. Không chỉ tiết kiệm được các nguồn lực mà chất lượng các dịch vụ do Chính phủ cung cấp cũng được cải thiện đáng kể. Việc phê duyệt các vấn đề cần thiết cũng sẽ trở nên nhanh chóng hơn, tạo môi trường hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Ngoài ra, việc xây dựng thành công Chính phủ điện tử cũng sẽ là một ví dụ điển hình cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp nhận khái niệm thương mại điện tử, qua đó mà gia tăng hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế.

    Việc xây dựng Chính phủ điện tử cần có sự phối hợp tốt giữa các Bộ, ngành, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức và các doanh nghiệp trên cả nước.

    Theo ý kiến ông David Barns, phó chủ tịch chương trình Chính phủ thương mại điện tử của IBM khu vực Châu Á- TBD, để giảm nhiều rủi ro, việc xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt nam cần có những bước đi thận trọng và sử dụng phương pháp có thể đánh giá được. Cần bắt đầu từ những mô hình đơn giản nhất, thực hiện những bước cơ sở trước và khi thành công rồi mới thực hiện các bước tiếp theo.

    Khi xây dựng Chính phủ điện tử có 3 điểm cần lưu ý:

    Khoá luận tốt nghiệp

    • Những công nghệ áp dụng để xây dựng Chính phủ điện tử không cần quá phức tạp nhưng phải đáng tin cậy và nhanh.
    • Khi phần đông dân chúng vẫn chưa thể tiếp cận Internet dễ dàng thì những công cụ truyền thống như điện thoại và tiếp xúc trực tiếp vẫn đóng vai trò quan trọng.
    • Dân chúng và các doanh nghiệp phải nhận thức được sự tồn tại của các dịch vụ chính phủ điện tử và thế mạnh của những dịch vụ đó.
    • Nhà nước cần tích cực đẩy mạnh tham gia hợp tác quốc tế xây dựng các chiến lược, dự án phát triển thương mại điện tử ở các cấp độ khu vực (ASEAN, APEC), thế giới (UNCTAD, ICC, WIFPO, UNDP…), đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của quốc tế đối với sự phát triển thương mại điện tử ở Việt nam, nhất là ở khu vực nông thôn và làng nghề thủ công truyền thống. Ở cấp độ khu vực, Việt nam đã đạt được các thoả thuận về các nguyên tắc chỉ đạo chung (trong ASEAN), Hiệp định khung ASEAN về thương mại điện tử và Chương trình hành động (trong APEC) về thương mại điện tử. Việc tham gia vào các tổ chức, khu vực trong hoạt động phát triển, ứng dụng thương mại điện tử tạo cho Việt nam cơ sở vững chắc hơn để phát triển có hiệu quả thương mại điện tử từ việc có được sự hỗ trợ của các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới, nhất là những nước đã có kinh nghiệm trong việc áp dụng thương mại điện tử.

    Ngoài ra Việt nam cần đẩy mạnh và phát triển hệ thống Trade – Point (Tâm điểm mậu dịch) ở Việt nam. Hỗ trợ và giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào hệ thống này. Từ đó sẽ tạo ra nền tảng cho Việt nam tham gia sâu và hiệu quả vào hệ thống thương mại điện tử toàn cầu. Như chúng ta đã biết thì Trade-Point là một chương trình được khởi xướng bởi Tổ chức Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD). Theo đó, Trade-Point có chức năng là đưa dẫn các công ty XNK tham gia vào mạng điện tử toàn cầu hay nói đúng hơn góp phần xúc tiến thương mại điện tử toàn cầu. Lợi ích của việc tham gia Trade-Point là rất to lớn. Qua điều tra của UNCTAD thì ở một số nơi

    Khoá luận tốt nghiệp

    các Trade-Point đã và đang phát huy tác dụng giúp các doanh nghiệp (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít, trang bị công nghệ thông tin thiếu và yếu) tiếp thị trên mạng, giao dịch sơ bộ với bạn hàng, cung cấp thông tin thị trường. Với việc phần lớn các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã kết nối vào mạng Internet và nhiều doanh nghiệp đã và đang xây dựng Website trên mạng sẽ tạo thuận lợi lớn cho Việt nam tham gia vào mạng Trade-Point toàn cầu, nâng cao được sức cạnh tranh và phát huy cao độ lợi thế so sánh doanh nghiệp.

    • Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn, công nghệ cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh trên mạng cũng như hỗ trợ cho mọi người dân được tham gia vào mạng Internet.

    Theo đó, Nhà nước cần hình thành một kênh vốn riêng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau trên cơ sở cân đối các nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt cần tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong việc phát triển thương mại điện tử ở Việt nam. Trong đó Nhà nước cần đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận sâu hơn với Internet thông qua việc giảm chi phí truy cập Internet (phần giảm chi phí được bù đắp bằng nguồn vốn mà Nhà nước huy động để phục vụ cho phát triển thương mại điện tử). Ngoài ra các khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa…đều được ưu tiên hỗ trợ trong việc kết nối vào mạng Internet để có thể nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng thương mại điện tử góp phần đưa các vùng này phát triển. Trước mắt nhà nước cần tập trung vào hỗ trợ khu vực kinh tế trang trại (đây là khu vực kinh tế sẽ tạo động lực chủ yếu cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá) tiếp cận với Internet đồng thời từng bước ứng dụng thương mại điện tử.

    2.                 Các giải pháp vi mô ở cấp độ doanh nghiệp.

     

    • Nâng cao nhận thức và trau dồi trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ quản trị và các nhân viên trong công ty.

     

    Khoá luận tốt nghiệp

    Ban giám đốc các công ty cần nhận thức một cách toàn diện và đầy đủ về thương mại điện tử. Hiểu hết những lợi ích mà thương mại điện tử mang lại để tận dụng và khai thác, đồng thời hạn chế và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà nó có thể mang lại. Sau đó phải truyền lại cho toàn thể nhân viên công ty hiểu và thấm nhuần thương mại điện tử là yêu cầu tất yếu để có thể nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể trụ vững và vươn lên trong thời gian tới, nhất là khi Việt nam bắt đầu tham gia vào lộ trình giảm thuế AFTA và sau đó là việc gia nhập WTO. Những doanh nghiệp cục bộ, không tiếp cận được với thương mại điện tử như một thứ vũ khí cạnh tranh chắc chắn sẽ không thể tồn tại.

    Doanh nghiệp cũng phải thường xuyên đào tạo và cho nhân viên tham dự các khoá học về tin học và ngoại ngữ. Việc đào tạo có thể dưới hình thức cấp kinh phí cho nhân viên đi học hoặc tổ chức những buổi học ngay tại công ty.

    – Tin học hoá hệ thống quản lý thông tin doanh nghiệp

    Xét về lâu dài, để tham gia vào thương mại điện tử điểm cốt lõi là phải xây dựng được cho doanh nghiệp một hệ thống thông tin được tin học hoá. Và cơ sở để đưa ứng dụng từ các mạng Intranet, Extranet và Internet vào các hoạt động giao dịch của mình. Thực tế qua khảo sát của 36 doanh nghiệp nhà nước thực hiện tin học hoá ở TP. HCM cho thấy 81% các công ty cho rằng tin học hoá giúp cho họ giảm chi phí. 67% các công ty tin rằng tin học hoá giúp họ tăng năng suất. 56% cho rằng tin học hoá giúp họ tăng lợi nhuận. 53% cho rằng tin học hoá tạo lợi thế cho khách hàng và tạo nét riêng cho sản phẩm. Điều này cho thấy việc tin học hoá là yếu tố hết sức quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo tiền đề để các doanh nghiệp tham gia vững chắc vào hoạt động thương mại điện tử .

    Tuy nhiên cần lưu ý: Việc mua sắm thiết bị tin học để tăng cường cho bộ máy quản lý là điều cần thiết. Nhưng không phải chỉ cần các công cụ tin học cộng với quản lý cũ là lập tức đã mang lại hiệu quả mong muốn. Thực tế cho thấy

    Khoá luận tốt nghiệp

    không ít doanh nghiệp đã không gặt hái được mấy thành công sau khi đã ứng dụng tin học. Quan trọng là phải tuân thủ một số nguyên tắc trong xây dựng hệ thống tin học quản lý. Đó là các nguyên tắc:

    • Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Khi nghiên cứu ứng dụng tin học vào quản lý phải xem xét một cách toàn diện các vấn đề kinh tế, kỹ thuật và tổ chức của guồng máy quản lý. Việc tối ưu hoá một vài bộ phận mà không tính đến mối liên hệ với các phân hệ khác sẽ không mang lại hiệu quả tối ưu cho toàn bộ hệ thống (nguyên lý Nash-Perato).
    • Nguyên tắc tính toán chi phí hiệu quả: điều này rất cần thiết vì đầu tư cho một hệ thống tin học cũng như việc xây dựng và duy trì Website cần một khoản tiền không nhỏ.
    • Nguyên tắc đảm bảo độ tin cậy: Thông tin cần được cập nhật và lưu trữ thường xuyên để đảm bảo khi cần có thể cung cấp kịp thời, đầy đủ và chính xác. Bên cạnh đó phải đảm bảo tính bảo mật và độ tin cậy của hệ thống.
    • Nguyên tắc hướng tới tương lai: Hệ thống tin học mà doanh nghiệp xây dựng phải phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và có khả năng đáp ứng những nhu cầu phát sinh trong tương lai.

    Khi tin học hoá, có hai phương pháp: hoặc tin học hoá từng phần (là tiến hành tin học hoá từng chức năng quản lý theo một trình tự nhất định) hoặc tin học hoá đồng bộ (tin học hoá đồng bộ tất cả các chức năng quản lý và xây dựng một hệ thống quản lý thay thế hoàn toàn cho hệ thống quản lý cũ). Phương pháp tin học hoá từng phần thường được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng vì có ưu điểm dễ dàng thực hiện và vốn đầu tư ban đầu không lớn. Theo tôi, đây là phương pháp phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp Việt nam.

    – Xây dựng chiến lược kinh doanh trên mạng

    Sau khi đã quyết định đưa doanh nghiệp lên mạng, cần thiết phải xây dựng một chiến lược kinh doanh qua mạng. Vì chi phí xây dựng và duy trì một

    Khoá luận tốt nghiệp

    Website là rất tốn kém nên doanh nghiệp cần có một chiến lược kinh doanh phù hợp để hoạt động của mạng thực sự đem lại hiệu quả cao. Bước đầu, để giảm chi phí về Website, các doanh nghiệp cần tích cực tham gia các chương trình xây dựng Website hỗ trợ (của nhà cung cấp dịch vụ Internet như VNN, FPT) hay có thể tham gia vào siêu thị điện tử (cybermall) mà đang được xây dựng ở Việt nam để quảng bá sản phẩm của mình ra thế giới. Đồng thời cần xây dựng quan hệ tốt với đối tác qua Internet, nên tham gia vào các mạng chung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc của hiệp hội ngành để có thể học hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác. Bởi thực tế chứng minh rằng những doanh nghiệp tham gia vào “cụm” (cluster) các doanh nghiệp thì thường có khả năng sáng tạo hơn, năng động hơn và có lợi thế cạnh tranh cao hơn.

    • Các bước xây dựng chiến lược kinh doanh trên mạng.

     

    • Khi lập chiến lược Internet, doanh nghiệp cần chắc chắn rằng tất cả các quản trị viên cao cấp – tất cả cho tới Tổng giám đốc nếu có thể – là có liên quan. Các quản trị viên giao dự án một cách dễ dàng và đơn giản cho các bộ phận công nghệ thông tin hay bộ phận thị trường là phạm phải sai lầm. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước hết nên đầu tư cho xây dựng máy tính nối mạng Internet, phải cần thiết có ít nhất một cán bộ quản lý thông tin (CIO) có đủ năng lực trình độ làm nhiệm vụ quản lý và điều hành hệ thống thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    • Việc đầu tiên mà một tổ chức cần cân nhắc cái gì là lợi ích chủ yếu – không phải là về kinh doanh trên mạng, mà cho kinh doanh chung của nó. Công ty có thể theo đuổi sự gia tăng bán hàng của một sản phẩm nào đó, sự nhận biết tên hãng, các quan hệ đầu tư mạnh hơn, các quan hệ cộng đồng, tăng cường dịch vụ khách hàng, giảm giá bán, mở rộng kênh bán hàng sang địa hạt mới hoặc có thể tìm kiếm sự tiết giảm chi phí phân phối các sản phẩm vi vật lý như phần mềm, công việc dịch thuật hoặc soạn thảo.

    Khoá luận tốt nghiệp

    Cũng rất quan trọng xem xét lại xem liệu Internet có phải đúng là phương tiện cần thiết cho các mục tiêu của doanh nghiệp.

    • Cần xây dựng kế hoạch nguồn lực phục vụ cho kinh doanh trên mạng như: đội ngũ quản trị mạng, đội ngũ bán hàng và tiếp thị trên mạng, nhà cung ứng, quan hệ đối tác (một nhân tố được đánh giá là rất quan trọng trong chiến lược kinh doanh trên mạng và được đánh giá là một thành tố mới (partnering) trong chiến lược Marketing mix. Đồng thời doanh nghiệp cần phải xây dựng kế hoạch duy trì phát triển trang Web.

    Theo Bill Gates, chủ tịch tập đoàn Microsoft, thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới sẽ là thập kỷ của tốc độ. Thời gian không chở đợi một ai. Những doanh nghiệp nào nhanh chân tận dụng những thành tựu mà công nghệ thông tin mang lại sẽ nhanh chóng bứt lên phía trước. Các doanh nghiệp thờ ơ với những thành tựu mà công nghệ thông tin mang lại sẽ bị tụt lại và phải gánh chịu những hậu quả đáng tiếc. Thương mại điện tử ra đời là cơ hội lớn cho Việt nam sau gần 200 năm. Cơ hội đầu tiên đã bị Việt nam bở lỡ vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 khi triều đình nhà Nguyễn từ chối mở cửa đất nước tiếp cận với cuộc cách mạng công nghiệp từ Châu Âu và Nhật Bản. Liệu Việt nam có bỏ lỡ cơ hội lần hai?

    Lời giải đáp cho câu hỏi trên nằm ở thái độ và lòng quyết tâm của Chính phủ và các doanh nghiệp Việt nam.

    Khoá luận tốt nghiệp

    KẾT LUẬN

    Đứng trên quan điểm khoa học nghiên cứu, tôi đã cố gắng rút ra những điểm đặc trưng cũng như những quy luật vận động và phát triển của thương mại điện tử ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đồng thời cũng phân tích ảnh hưởng của nó tới năng lực cạnh tranh của quốc gia, để từ đó xây dựng một cái nhìn toàn diện, khách quan và sâu sắc hơn về thương mại điện tử.

    Trong khoá luận tốt nghiệp có sử dụng kết quả nghiên cứu của nhiều quốc gia, tổ chức và các công ty trên thế giới về thương mại điện tử và trên cơ sở hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam, tôi rút ra một số kết luận sau:

    1. Thương mại điện tử thực sự đã đem lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội. Không một quốc gia nào phủ nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử, các nước ngày càng đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia.
    1. Phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam là một tất yếu khách quan trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
    2. Để thương mại điện tử phát triển cần phải có sự hỗ trợ, định hướng, giám sát từ phía Nhà nước, Chính phủ trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho các hoạt động thương mại điện tử, đẩy mạnh phát triển hạ tầng thanh toán, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng nhân lực…

    Khoá luận tốt nghiệp

    1. Bản thân các doanh nghiệp trong nước cũng cần phải nhận thức được tầm quan trọng của thương mại điện tử. Tận dụng những cơ hội mà thương mại điện tử đem lại, vượt qua các khó khăn thách thức để có thể đứng vững và vượt lên trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế ngày một gay gắt.
    1. Thương mại điện tử không chỉ tác động đến khía cạnh thương mại mà còn tác động lên toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá…Do đó, Nhà nước và Chính phủ cần thiết phải có một hệ thống chính sách toàn diện để phát huy những mặt tích cực của thương mại điện tử và đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó lên nền kinh tế.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Phần Bài tập nghiệp vụ ngân hàng thương mại


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Ph%C3%A1t-huy-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%E1%BB%A7a-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt N

    am

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Như một quy luật có tính phổ biến ở nhiều nước trên thế giưói, đó là ở đâu có thị trường chứng khoán phát triển, thì ở đó hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, các Ngân hàng thương mại phát triển. Ngược lại, ở đâu có cạnh tranh hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tài chính sôi động, thì ở đó giao dịch trên TTCK cũng nhộn nhịp. Hay nói cách khác, không thể nói đến sự tham gia tích cực của các tổ chức trung gian tài chính. Ngân hàng thương mại đã thực sự giữ một vai trò rất quan trọng đối sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam đang trong giai đoạn đầu xây dựng và phát triển. Việc tham gia của các định chế tài chính đặc biệt là các Ngân hàng thương mại hiện nay còn rất hạn chế. Trong khi đây là một trong những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động chứng khoán một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, trong phạm vi kiến thức của mình, em đã lựa chọn đề tài: “Phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam” làm công trình nghiên cứu khoa học của mình với hi vọng có thể đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này.

    Về kết cấu của công trình nghiên cứu khoa học này, ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 3 chương:

    Chương 1: Lý luận về Ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán

    Chương 2: Hoạt động của các Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 1:

    LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    1.1 Thị trường chứng khoán và hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán

    1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán

    Trong các sách báo kinh tế ở Việt Nam hiện tồn tại nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau về thị trường chứng khoán. Một số tác giả gắn thị trường chứng khoán với cụm từ Securities Market và cho rằng thị trường chứng khoán là “nơi giao dịch chứng khoán và công cụ tài chính có liên quan đến chứng khoán”. Ở đây, nếu từ Securities được giải nghĩa theo cụm từ Written evidence of ownership, bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu, thị trường tài chính. Một số tác giả khác giải thích thị trường chứng khoán xuất phát từ cụm từ Stock Market và cho rằng, thị trường chứng khoán “là đối với chứng khoán thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung”. Cách giải thích này nhấn mạnh thị trường chứng khoán với tư cách lĩnh vực trao đổi những loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu và công cụ tài chính phát sinh. Các tác giả của Trường đại học Tài chính – kế toán cho rằng “thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đặc tính của chứng khóan trong việc huy động vốn dài hạn”. Các tác giả của trường Đại học Ngoại thương nêu ra định nghĩa: “thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời”.

    Những cách định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán như trên cho thấy, bản thân thị trường chứng khoán là một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau. Hơn nữa, thị trường chứng khoán là một hiện

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tượng kinh tế khách quan có sự phát sinh, phát triển. ở từng giai đoạn phát triển của mình thị trường chứng khoán cũng mang những nội dung khác nhau về mô hình tổ chức, chủng loại hàng hoá và về phương thức giao dụch. Chính vì thế, mặc dù cách định nghĩa khác nhau nhưng về nội dung khái niệm thị trường chứng khóan, các tác giả đều thng nhất ở một số điểm sau:

    Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một dạng thị trường đặc biệt, nằm trong một thị trường lớn hơn gọi là thị trường tài chính.

    Sơ đồ cấu trúc thị trường tài chính

    Thị trường tài chính

    Thị trường tín dụng                                            Thị trường trao đổi các giấy tờ có giá

    Thị trường tiền tệ                                                Thị trường chứng khoán

    • Thị trường tài chính là lĩnh vực trao đổi các giấy tờ có giá và quan hệ vay mượn qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tín dụng: thị trường vay và cho vay qua các tổ chức tín dụng.
    • Thị trường tiền tệ: trao đổi các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường dưới một

    năm).

    • Thị trường chứng khoán: thị trường trao đổi các giấy tờ có giá dài hạn (thường trên một năm).

    Thứ hai, hàng hoá trao đổi trên thị trường chứng khoán chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu dài hạn. Ngoài ra, trên các thị trường chứng khoán phát triển còn trao đổi các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu và trái phiếu, như chứng quyền, khế quyền, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai…

    Thứ ba, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường sơ cấp (thị trường phát hành) và thị trường thứ cấp (thị trường mua – bán lại).

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ tư, thị trường chứng khoán bao gồm hai mô hình tổ hức quản lý chính, đó là Sở giao dịch chứng khoán và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC).

    Từ những nội dung căn bản của thị trường chứng khoán như trên, có thể nêu khái quát: thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phát sinh từ cổ phiếu, trái phiếu theo những phương thức có tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán, giao dịch trực tiếp và qua mạng.

    1.1.2 Hoạt động của thịh trường chứng khoán

    1.1.2.1 Thị trường chứng khoán chính thức

    Đây là TTCK tập trung, hoạt động đúng theo các quy định của pháp luật, là nơi giao dịch mua bán các loại CK đã được đăng ký (listed or registered securities) hay được biệt lệ. Vì lẽ đó, nó còn được gọi là thị trường niêm yết tập trung.

    CK đã được đăng ký là loại CK đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian, các môi giới và công ty môi giới. Chứng khoán sau khi phát hành đại chúng, nếu hội đủ một số yêu cầu chọn lọc, thì có thể niêm yết trên sàn giao dịch. Các tiêu chuẩn niêm yết thường chú trọng thâm niên hoạt động, thành tích lợi nhuận, quy mô cổ phần và lượng cổ đông. Sở dĩ như vậy là vì Sở giao dịch muốn chứng khoán niêm yết phải là loại đủ chất lượng và lượng cổ phần phải lớn, cổ đông nhiều thì mới có mua bán liên tục, sôi nổi và đảm bảo uy tín thị trường. Người đầu tư khi mua chứng khoán trong một đợt phát hành đại chúng(tức mua các IPO), dù đang mạo hiểm vào một chứng khoán mới, nhưng xem như họ được bảo vệ tối đa. Cả hệ thống dường như đã sàng lọc cho họ rồi, Trong đó Sở giao dịch là một khâu then chốt trong một hệ thống vận hành đồng bộ, Ta cũng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là đồng bộ. Ta cúng nên biết rằng, chỉ có các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua và bán chứng khoán tài sản giao dịch(tranding

    4

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    floor) của Sở giao dịch đó. Các yêu cầu về mua của người có tiền (cầu) và bán của người có chứng khoán (cung) sẽ được các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch, quá trình mua bán đó diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đầu gía. Còn lại, nói chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giớivà kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác.

    CK biệt lệ là loại CK được miễn giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, do Chính phủ trong các cơ quan công quyền phát hành và bảo đảm.

    TTCK chính thức là một tổ chức có thực thể, là thị trường minh bạch và được tổ chức cao, có địa điểm nhất định, với những trang thiết bị cần thiết, ở đó các CK được giao dịch theo những quy chế nghiêm ngặt và nguyên tắc nhất định.

    TTCK chính thức có thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định trên cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát của hội đồng chứng khoán quốc gia. Việc mua bán CK được thực hiện tại sàn giao dịch thể hiện bằng các Sở giao dịch chứng khoán. Chính vì vậy, TTCK tập trung (hay TTCK có tổ chức – Organnied market) còn được gọi là Sở giao dịch, quá trình mua bán (The Stock Exchange). Tại Sở giao dịch, quá trình mua bán chứng khoán diễn ra chỉ thoáng qua bằng động tác đấu giá. Còn lại chuyện mua bán thực sự sẽ được giải quyết ở các công ty môi giới kinh doanh chứng khoán, có thể có sự tham gia của một số định chế khác. Nó đóng vai trò là nơi tập trung thông tin và duy trì sự rõ ràng đáng tin cậy để người mua kẻ bán tiện tham khảo, tạo điều kiện cho những nhà đấu tư chẳng hề biết nhau vẫn có thể an tâm làm ăn với nhau. Nó là một định chế đầu mối (đầu mối chớ không phải trung gian hoặc chợ), là nơi tạo ra niềm tin, sự công bằng, trung thực và trật tự cho những nhà đầu tư chứng khoán. Những nhà đầu tư chứng khoán đều phải tốn tiền để mua những thứ đó từ Sở giao dịch. Nó là nơi tập hợp và chuyển hoá niềm tin thành những kết ước cụ thể của những nhà đầu tư chứng khoán.

    Hoạt động nhộn nhịp của Sở giao dịch có vẻ như là thứ hào quang chói sáng lấn át, làm cho người ta khó phân biệt. Khi nhắc đến TTCK, hầu như mọi

    5

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    người có thói quen liên tưởng ngay dến một Sở giao dịch (Stock exchange) nào đó. Nói đến TTCK là người ta hình dung đến các sàn giao dịch (tranding floor) được vận hành với những phương tiện hiện đại, là bàn bạc về một thị trường diễn biến nhộn nhịp nhưng lại có tiếng là trật tự và trung thực, với sự trợ giúp của các ngành kỹ thuật cao. Thế nhưng hoạt động tại các sàn giao dịch chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh TTCK. Cùng với cả một hệ thống vận hành đồng bộ, Sở giao dịch là một khâu then chốt tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi, vì vậy người ta gọi chung bối cảnh đó là thị trường. Các yêu cầu về mua của người có tiền(cầu) và bán của người có chứng khoán(cung) sẽ được các thông tin môi giới và kinh doanh chứng khoán đem đến Sở giao dịch để giao mua bán chào bán(bid và offer). Tại Sở giao dịch; quá trình mua bán đó bằng động tác đấu giá công khai (open/auction). Các nhà môi giới phải la lớn lên giá “bid” và “offer” của họ ngay tại các nhà môi giới là thành viên của một Sở giao dịch mới được mua bán chứng khoán tại sàn giao dịch của Sở giao dịch đó. Và dù Sở giao dịch là nơi rất tập trung, nó cũng chỉ giữ nhiệm vụ là một khâu trong TTCK.

    1.1.2.2 Thị trường chứng khoán bán chính thức hay thị trường chứng khoán bán tập trung (thị trường OTC)

    Đây là thị trường không có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh CK như ở Sở giao dịch chứng khoán, không có khu vực giao dịch diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, vào thời điểm và tại chỗ mà những người có nhu cầu mua bán CK gặp gỡ nhau. Đây là một loại thị trường bậc cao, được tự động hoá cao độ, hàng ngàn hãng môi giới trong cả nước giao dịch mua bán CK với nhau thông qua hệ thống điện thoại và hệ thốngvi tính nối mạng. Nó không phải là thị trường hiện hữu, vì vậy còn được gọi là thị trường giao dịch không qua quầy – thị trường OTC (Over-the-Counter Market). Thông thường, đối với các nước phát triển và các nước có TTCK phát triển và các nước có TTCK phát trin, mới có điều kiện hình thành loại thị trườngbậc cao này, vì chỉ các nhà đầu tư ngoài quỹ đầu tư, qũy hưu bồng, các công ty lớn mới có khả năng

    6

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, còn tham gia nối mạng máy lớn thì rất khó khăn, còn các nhà đầu tư nhỏ khó có thể trang bị cho mình những phương tiện máy móc thiết bị hiện đại, vì vậy thị trường OTC chưa thích hợp với các nước đang phát triển.

    Thị trường OTC có những nét đáng chú ý sau đây:

    +Về đặc điểm của thị trường OTC: thị trường OTC không có trung tâm giao dịch, mà giao dịch mua bán CK thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại. Một điều quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán CK như trong phòng giao dịch của Sở giao dịch chứng khoán, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông. Thị trường OTC là thị trường thương lượng, không có vị trí tập trung để trực tiếp gặp nhau. Việc giao dịch được điều khiển thông qua điện thoại và mạng vi tính để liên lạc giữa những dealer chứ không đối mặt trực tiếp (face- to – face) như tại SGDCK. Thị trường OTC được quy định luật lệ bởi Hiệp hội những người kinh doanh CK (NASD). Một giao dịch CK trên OTC thường bắt đầu khi một khách hàng đặt một lệnh và người môi giới (broker) điền vào phiếu lệnh. Sau đó phiếu lệnh được chuyển đến nhân viên giao dịch trên OTC (OTC trader) của công ty để thi hành. Nhân viên giao dịch sẽ xác định người kinh doanh CK (dealer) đề ra thương lượng các điều khoản của giao dịch. Một người kinh doanh CK trên OTC (OTC dealer), người cung cấp liên tục các giá hỏi mua (bids) và giá chào bán (offers) cho một CK cụ thể thì được cho là “tạo một thị trường” (make a market) cho CK đó và được gọi là người tạo ra thị trường (market/ a market). Người tạo ra thị trường mua và bán CK vì lợi nhuận của chính họ và chấp nhận rủi ro. Nếu ở Sở giao dịch chứng khoán chỉ có một người tạo ra thị trường cho mỗi loại CK (chuyên gia- specialist) thì trên OTC có thể có nhiều người tạo ra thị trường cho một loại CK. Một người tạo ra thị trường phải sẵn sàng bán hay mua cổ phiếu tại giá đưa ra (quoted price). Trừ khi công bố giá được định trước, tất cả các báo giá được đưa ra từ công ty CK.

    Có nhiều loại giao dịch trên OTC, bao gồm (nhưng không có giới hạn): cổ phiếu và trái phiếu công ty; trái phiếu chính quyền địa phương; chứng khoán

    7

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chính phủ Mỹ; và chứng khoán cơ quan Chính phủ Mỹ (U.S. Government Agency Securities).Khi việc giao dịch CK này được thương lượng giữa người mua và người bán, phải có mạng lưới liên lạc nối liền những người kinh doanh (dealer) và biểu diễn những thông tin báo giá. Có 2 hình thức chính của việc liên lạc là bảng điện và in ấn.

    Công ty chứng khoán trên OTC tương tự như công ty môi giới hoạt động trên một Sở giao dịch chứng khoán, do đó nó có tên gọi khác nữa là công ty giao dịch – môi giới. Công ty CK OTC luôn bán các loại CK phi tập trung cho các khách hàng của mình.

    Nhà môi giới trung gian là một loại công ty môi giới nhất định mà khách hàng của nó là các nhà giao dịch và môi giới trên thị trường. Các công ty thông báo cho nhà môi giới trung gian loại CK mà họ muốn mua hoặc muốn bán. Sau đó, nhà môi giới trung gian thông báo các yêu cầu này qua mạng lưới thông tin cho các thành viên khác biết.

    Thị trường OTC thực hiện vai trò của thị trường thứ cấp, tức là thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn để đưa vào đầu tư phát triển kinh tế. Nhờ có thị trường OTC, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể yên tâm đầu tư vào CK vì khi cần tiền họ có thể bán lại các CK của mình cho các nhà đầu tư khác trên TTCK. Có tiền, thấy có lợi, hoặc thích là mua. Kẹt tiền, thấy không hấp dẫn nữa hoặc không thích thì bán. Nếu không có thị trường thứ cấp, có lẽ người đầu tư mua cổ phần, trái phiếu sẽ còn bị kẹt dài dài.

    Các công ty thực hiện môi giới và kinh doanh CK là cầu nối giữa những người đầu tư trên thị trường OTC. Nhờ có các công ty này, quan hệ cung cầu CK trên thị trường được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện hơn. Các công ty muốn hoạt động môi giới và kinh doanh CK phải được phép của cơ quan có thẩm quyền (NASD). Thông thường các công ty CK thường được phép thực hiện cả nghiệp vụ môi giới và kinh doanh mua bán CK cho chính mình.

    Các công ty CK trên thị trường OTC có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh mua bán một số loại CK nhất định. Các công ty

    8

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    CK giao dịch mua bán CK cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại CK đó. Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh CK như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán CK cho khách hàng dịch vụ tư vấn đầu tư CK, bảo lãnh phát hành.

    • Niêm yết Ck trên thị trường OTC: các CK buôn bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng (các nhà đầu tư) biết để cócác quyết định đầu tư. Các CK được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện được niêm yết không quá nghiêm ngặt, chỉ cần được phép phát hành là CK có thể giao dịch trên thị trường này. Như vậy, hầu như tất cả các CK không được niêm yết để giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán đều được giao dịch ở đây. Các CK buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán. Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán CK trên thị trường này là lớn hơn Sở giao dịch chứng khoán. Từ điều kiện niêm yết thông thường hơn mà CK của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số CK được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán cũng được mua bán ở thị trường này.

    yết giá trên thị trường OTC được thể hiện trên hệ thống màn hình yết giá tự động, tuỳ theo độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của một loại CK nhất định mà nó có các loại yết giá như: yết giá chắc chắn, yết giá phụ thuộc, yết giá có chủ định.

    Từ việc buôn bán giao dịch CK trên thị trường OTC không tại một địa điểm nhất định mà thay vào đó là tại các công ty CK và thực hiện các giao dịch thông qua hệ thống viễn thông, nên việc niêm yết công khai cũng được đa dạng và đơn giản hơn. Giá thị trường hiện tại của các loại CK phổ biến trên thị trường OTC được thông bán trên hệ thống màn hình yết giá tự động của NASDAQ.

    Ngoài ra, yết giá công khai trên thị trường OTC còn được thực hiện dưới các hình thức ra các yết giá có chọn lọc là các yết giá do NASDAQ tập hợp hàng ngày các mức giá chào bán và giá đặt mua của một số loại CK trên thị trường

    9

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    OTC theo một danh sách có chọn lọc thông qua Uỷ ban yết giá của nó, sau đó nó được công bố trên nhiều tờ báo hàng ngày trong khắp cả nước. Các thông báo yết giá màu hồng là do một tổ chức có tên là Phòng yết giá quốc gia (National Quotation Bureau) xuất bản. Nó xuất bản hàng ngày giá bán buôn các loại CK trên thị trường OTC kèm theo đó là tên của những nhà giao dịch hay nhà giao dịch có liên quan. Các thông báo yết giá màu hồng không được phổ biến rộng rãi mà chỉ được phân phối cho các công ty đặt mua. Các công ty niêm yết CK trên thị trường OTC cũng phải công khai các thông tin về tình hình của công ty cho công chúng đầu tư biết. Quy trình công khai thông tin, các vấn đề, báo cáo cần công khai cho công chúng cũng như các yêu cầu công khai về thông tin công ty cũng tương tự như trên Sở giao dịch chứng khoán.

    • Giao dịch mua bán CK trên thị trường OTC: hoạt động giao dịch buôn bán CK trên thị trường OTC cũng diễn ra khá đơn giản. Khi một khách hàng muốn mua một số lượng CK nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh này ra cho công ty CK đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình. Thông qua hệ thống viễn thông, công ty môi giới – giao dịch sẽ biết được giá chào bán thấp nhất của loại CK đó. Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện.

    CK giao dịch trên thị trường OTC không đòi hỏi điều kiện các tiêu chuẩn như giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán. Điều kiện duy nhất là loại CK đó được phép phát hành và chưa được đăng ký yết giá tại trụ sở giao dịch nào cả. Hầu hết các loại CK mới phát hành lần đầu đều giao dịch qua thị trường OTC, sau đó mới xin đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán.

    Quản trị thị trường OTC là Hiệp hội các nhà kinh doanh CK quốc gia. Hiệp hội có nhiệm vụ ban hành quy chế. Thành viên của Hiệp hội cũng là thành viên của TTCK và ngược lại.

    1.2 Hoạt động của NHTM trên TTCK

    1.2.1 Các mô hình hoạt động của NHTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Hiện nay, mô hình NHTM hoạt động trên TTCK, trên thế giới có 2 loại:

    * Mô hình chuyên doanh (hay còn gọi là mô hình đơn năng)

    Theo mô hình này, các công ty chứng khoán là công ty chuyên doanh độc lập, các NHTM và các tổ chức tài chính khác không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là hạn chế rủi roc ho hệ thống ngân hàng do những ảnh hưởng tiêu cực của thị trường chứng khoán, và các ngân hàng không được sử dụng vốn huy động để đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán: mặt khác, với sự chuyên môn hoá tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển. Điển hình cho mô hình này là các công ty chứng khoán

    • Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, có sự tách bạch giữa hoạt động ngân hàng và lĩnh vực chứng khoán. ở Mỹ, đạo luật Glass-Steagall 1933 bắt buộc hai hoạt động này tách biệt nhau Glass – Steagall chỉ cho phép các ngân hàng thương mại tiến hành chào bán các loại chứng khoán chính phủ mới phát hành lần đầu; nhưng cấm các tổ chức này bảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môI giới chứng khoán. Tuy nhiên, hiện nay tại Mỹ, người ta đề nghị huỷ bỏ đạo luật Glass-Steagall, cho phép các ngân hàng được tham gia vào lĩnh vực chứng khoán. Tháng 7 năm 1988, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ đã cho phép thí điểm ngân hàng J.P Morgan được phép bảo lãnh phát hành tráI phiếu công ty từ tháng 1 năm 1989 và được phép bảo lãnh phát hành cổ phiếu từ tháng 9 năm 1990, tiếp đó dần dần mở rộng cho các ngân hàng khác.
    • Mô hình đa năng bao gồm:

    Một là mô hình ngân hàng đa năng hoàn toàn: Mô hình này không có sự tách bạch nào giữa hoạt động ngân hàng và chứng khoán. NHTM không những được hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ mà còn được hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và bảo hiểm. (Các hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán gồm bảo lãnh phát hành, môI giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư, tham gia vào lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán). Nó được áp dụng ở các nước Bắc Âu, Hà Lan, Thuỵ Sĩ, áo… Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó mà giảm bớt rủi roc ho hoạt động kinh doanh chung và có khả năng về tài chính chịu đựng các biến động của thị

    11

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường chứng khoán. Tuy nhiên, mô hình đa năng hoàn toàn có một số hạn chế: thị trường chứng khoán phát triển chậm vì hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng dùng vốn để cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán, do đó ngân hàng thường quan tâm đến lĩnh vực chứng khoán. Điều này đã thể hiện sự kém phát triển ở thị trường chứng khoán Châu Âu tương quan với thị trường chứng khoán Mỹ. Bên cạnh đó, còn nhược điểm là trong trường hợp biến động trên thị trường chứng khoán, hậu quả có thể tác động tiêu cực đến lĩnh vực kinh doanh tiền tệ giữa hai loại hình kinh doanh này. Thực tế đã chứng minh thông qua cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, hay vụ phá sản ngân hàng Barings của Anh năm 1995. Ngược lại, trong trường hợp thị trường tiền tệ biến động có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán của các ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở TháI Lan là một minh chứng.

    Hai là mô hình đa năng một phần: Các ngân hàng muốn hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phảI thành lập công ty con- công ty chứng khoán , hoạt động độc lập. Mô hình này được áp dụng ở Anh và những nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, úc. Mô hình này có ưu điểm các ngân hàng được kết hợp kinh doanh ngân hàng và kinh doanh chứng khoán, do đó tận dụng được thế mạnh về tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới khách hàng rộng khắp của ngân hàng. Bên cạnh đó, bởi vì có quy định hoạt động riêng rẽ giữa hai hoạt động trên cho nên hạn chế được rủi ro nếu có sự biến động của một trong hai thị trường. Đặc biệt, mô hình này phù hợp với những nước mới thành lập thị trường chứng khoán khi mà cần có tổ chức tài chính lành mạnh tham gia vào thị trường và khi hệ thống luật, kiểm soát… còn nhiều mặt hạn chế.

    Mỗi một mô hình có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, tuỳ vào thể chế chính trị, đặc điểm nền kinh tế mỗi quốc gia nên chọn cho mình một mô hình phù hợp nhất để có thể phát huy một cách có hiệu quả nhất vai trò của NHTM đối với TTCK.

    1.2.2 Các nghiệp vụ của NHTM trên TTCK

    1.2.2.1 Ngân hàng thương mại với hoạt động kinh doanh chứng khoán

    12

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Kinh doanh chứng khoán là nghiệp vụ mua bán chúng khoán cho chính mình và tự gánh chịu rủi ro. Với vai trò kinh doanh chứng khoán, các trung gianm chứng khoán là một thành viên quan trọng của thị trường chứng khoán, có tác dụng làm cho hoạt đọng của thị trường đều đặn, không bị gián đoạn và sôi nổi. Là một nhà đầu tư có tổ chức, hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM được xem là yếu tố trợ giúp cho việc tăng chất lượng và hiệu quả của thị trường. Có thể chia hoạt đọng kinh doanh chứng khoán của NHTM thành hai nhóm, đó là: hoạt động ngân quỹ và hoạt động đầu tư chứng khoán

    Hoạt động ngân quỹ là hoạt động của NHTM thường đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và có tính ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được… chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, nhu cầu dự phòng và nhu cầu tích trữ. Hoạt động ngân quỹ là cầu nôí quan trọng giữa tín dụng trầm lắng, một bộ phận vốn trên thị trường tín dụng sẽ được chuyển sang thị trường chứng khoán thông qua hoạt động kinh doanh chứng khoán của NHTM và ngược lại. Việc dịch chuyển vốn giữa hai thị trường giúp cho các NHTM có thể sử dụng tối đa các nguồn vốn để sử dụng có hiệu quả hoạt động. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường này cũng làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính.

    Khác với hoạt động ngân quỹ, hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM mang tính đa dạng hơn ít tập trung vào một loạI chứng khoán và với thời hạn đầu tư dàI hơn. Là một định chế trung gian tích cực nhất trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NHTM tham gia trên TTCK với tư cách là nhà đầu tư và nhà tài trợ cho doanh nghiệp đầu tư chứng khoán. NHTM có thể sử dụng các khoản vốn huy động để thường xuyên tham gia TTCK bằng cách mua các loại cổ phiếu và trái phiếu. Thực chất của hình thức kinh doanh này là NH luôn luôn mua CK của khách hàng bằng tiền mặt của mình và bán cho khách hàng không vì mục đích ăn hoa hồng, mà là lợi nhuận chênh lệch giữa thị giá mua và thị giá bán. Nghĩa là NH sẽ tìm cách mua CK với giá thấp nhất và bán vơí giá cao nhất có thể. ở các Sở Giao dịch Chứng khoán khác nhau, thị giá của cùng một loại chứng

    13

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán cũng khác nhau. Giữa các Sở GDCK có mối liên hệ về thông tin rất chặt chẽ. Do đó, các NH sẽ mua các CK ở nơi có thị giá thấp để bán ở nơi có thị giá cao để kiếm lời cho tới khi thị giá được cân bằng giữa các thị trường. Khi mua cổ phiếu NHTM có thể trở thành cổ đông lớn của công ty cổ phần tham gia vào việc điều hành và kiểm soát công ty. Bằng nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm dày dạn trong kinh doanh tiền tệ, NHTM có ưu thế hơn các nhà đầu tư khác trong việc nắm bắt thông tin, phân tích chứng khoán và TTCK đúng lúc đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, bằng những phương tiện sẵn có, ngân hàng có thể đầu tư theo danh mục, quản lý danh mục đầu tư, thành lập quỹ đầu tư, để đầu tư trên TTCK có hiệu quả cao nhất và rủi ro thấp nhất. Khi mua trái phiếu, NHTM đã thực hiện các chức năng cho vay của mình. Trái phiếu thường có độ rủi ro tương đối thấp nên việc đầu tư vào trái phiếu là một hoạt động thường xuyên của NHTM. Hơn nữa với tính thanh khoản cao của NHTM có thể bán trái phiếu bất cứ lúc nào khi cần thu hồi vốn.

    1.2.2.2 NHTM với nghiệp vụ huy động vốn trên TTCK

    NHTM là một tổ chức kinh doanh, cũng cần có vốn để hoạt động. Vốn của NHTM có thể hình thành từ nhiều nguồn. Một nguồn vốn quan trọng của NHTM trong nền kinh tế thị trường là huy động vốn trên TTCK. Luật pháp từng nước khác nhâu, song về cơ bản, cá NHTM có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư đẻ huy động vốn trên thị trường.

    Về phát hành cổ phiếu, đối với các NHTM cổ phần thì đây là một nguồn vốn đặc biệt quan trọng. Ngân hàng phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn khi thành lập ngân hàng và trong quá trình hoạt động có nhu cầu tăng vốn ngân hàng có thể phát hành thêm số phiếu mới. Khi phát hành cổ phiếu lần đầu hay cổ phiếu mới, ngân hàng phải tuân thủ theo các quy định của TTCK.

    Về phát hành trái phiếu, NHTM khi có nhu cầu huy động vốn với số lượng lớn có thể phát hành trái phiếu trung và dài hạn. Để thu hút các nhà đầu tư và chiều theo thị hiếu khách hàng có nhiều loại tráI phiếu NHTM đã ra đời như: TP có lãI chuyển đổi, TP chiết khấu, TP có lãI suất thả nổi, TP có lãi suất cố

    14

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    định. Đối với NHTM sẵn có chuyên môn và cơ sở vật chất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn được xem như là giải pháp mang tính hiệu quả cao.

    Có thể thấy, với tính chuyên nghiệp cao, với uy tín lớn trên thị trường tài chính, và các mối quan hệ rộng rãi của NHTM, hoạt động phát hành chứng khoán của các NHTM có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp thông thường khác, bên cạnh đó NHTM có thể tự đứng ra phát hành làm giảm chi phí huy động vốn. Do vậy, chứng khoán của các NHTM phát hành dễ dàng được chấp nhận hơn so với các doanh nghiệp khác.

    1.2.2.3 NHTM với các nghiệp vụ trung gian trên TTCK

    Bản thân NHTM là một định chế tài chính trung gian rất phổ biến và hoạt động rất tích cực trên thị trường tài chính, do đó nó góp phần cực kỳ quan trọng trong hoạt động trung gian trên TTCK. Nghiệp vụ trung gian bao gồm nhiều hoạt động mà NHTM đều có thể tham gia với tư cách của một công ty chứng khoán con. Công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, các tổ chức tín dụng. Công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải khai báo thành lập công ty chứng khoán độc lập.

    * Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

    Đây là dịch vụ ngân hàng rất phát triển ở các nước trên thế giới đã có TTCK, gọi là dịch vụ môi giới chứng khoán (Brokerage service). Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng sẽ đảm trách dịch vụ này và mang lại cho ngân hàng những lợi nhuận từ lệ phí giao dịch hay hoa hồng giao dich rất lớn. Công ty chứng khoán thuộc ngân hàng có những ưu thế hơn so với các công ty chứng khoán khác trong nghiệp vụ môi giới vì:

    Thư nhất, Ngân hàng đã có mối quan hệ sâu sắc với các doanh nghiệp qua việc tín dụng thanh toán, nắm được các thông tin cần thiết cho việc môi giới chứng khoán, tạo được uy tín với khách hàng.

    15

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Thứ hai, Ngân hàng đã có sẵn cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật một mạng lưới chi nhánh, đại lý rộng khắp sẵn sàng phục vụ mọi yêu cầu của nhà đầu tư.

    Thứ ba, Ngân hàng có đội ngũ cán bộ, nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn về kinh doanh tiền tệ liên quan chặt chẽ và gần gũi với nghiệp vụ môi giới chứng khoán.

    Trong nghiệp vụ này, NHTM tiến hành các hoạt động như: đại diện cho khách hàng của mình để thương lượng mua bán chứng khoán sao cho có lợi nhất cho thân chủ. Ngân hàng cũng thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan tuỳ theo sự uỷ nhiệm quyền tự do linh hoạt, quyết đoán trong việc mua bán chứng khoán hộ cho họ mà không cần phải thông báo cho họ biết đã mua hoặc bán chứng khoán cho ngân hàng ký hợp đồng uỷ nhiệm nhận mua hộ và bán chứng khoán hộ không chỉ cho một khách hàng mà cho nhiều khách hàng, ngân hàng với tư cách là đối tác của khách hàng sẽ được hưởng nhiều khoản lợi nhuận qua việc mua bán chứng khoán (nếu mua hoặc bán chứng khoán của mình cho khách hàng theo thị giá) thì hoa hồng thực hiện lệnh mua hoặc lệnh bán, khoản thù lao môi giới.

    * Nghiệp vụ tư vấn chứng khoán

    Đây là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên quan đến chứng khoán, hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên quan đến chứng khoán. Một trong những trở rngại quan trọng đối với thị trường tài chính là vấn đề thông tin không cân xứng, sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Với chức năng là thủ quỹ doanh nghiệp, thực hiện kiểm soát vàgiám sát bằng đồng tiền đối với nên kinh tế quốc dân, NHTM có đặc quyền về việc thu thập các thông tin về các doanh nghiệp có phát hành chứng khoán qua mối quan hệ lâu năm rất sâu sát trong quan hệ tín dụng, thanh toán. Từ đó có thể phân tích mọi mặt sản xuất kinh doanh, các nguồn tài trợ và cả xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Nguồn thông tin này là cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc phân tích và đánh giá doanh nghiệp, định giá chứng khoán, từ đó

    16

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    có thể thực hiện việc tư vấn đầu tư cho khách hàng một cách nhanh chóng hiệu quả.

    * Nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán

    NHTM thông thường là cơ quan thích hợp nhất đảm nhiệm việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Với một mạng lưới nhiều cơ sở của ngân hàng, công ty chứng khoán con sẽ có chứng khoán rộng rãi phục vụ nhu cầu của nhà đầu tư.

    Nghiệp vụ phân phối chứng khoán có thể thực hiện thông qua phương thức bảo lãnh phát hành hay đại lý phát hành.

    Về đại lý phát hành chứng khoán:

    • Công ty nhận phân phối chứng khoán ra thị trường cho cơ quan phát hành để hưởng hoa hồng. Khi thực hiện nghiệp vụ này:
    • Công ty không hứa mua trực tiếp số chứng khoán phân phối hộ.
    • Công ty không hứa bán với một giá nhất định
    • Công ty không hứa bán hết hay mua số chứng khoán không bán hết.

    Về bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện việc bảo lãnh phát hành chứng khoán khi có một khả năng tài chính vững mạnh, thường đó là một tập đoàn tài chính bao gồm cả NHTM đứng ra đảm nhận thực hành công việc phát hành chứng khoán với chủ thể phát hành bằng cách:

    – Hứa mua trực tiếp toàn bộ hay một phần số chứng khoán được phát

    hành.

    • Đảm bản bán chứng khoán với một giá nhất định
    • Cam kết mua lại số chứng khoán không bán được.

    * Nghiệp vụ đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán

    Là một nghiệp vụ rất phổ biến, tại các nước phát triển đã có TTCK nhằm tạo sự tiện ích trong đầu tư.

    • Hoạt động đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán bao gồm: + Đăng ký chứng khoán

    17

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    • Thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán, nếu tất cả cá khoản thanh tón đều thực hiện bằng tiền mặt thì sẽ mất đi tính sôi động. Để giải quyết được nhược diểm trên người ta áp dụng thanh toán bằng chuyển khoản, đã giảm đi một gánh nặng lớn, theo đó tất cả những người mua và người bán , các môi giới, kinh doanh chứng khoán đều có tài khoản ở ngân hàng, khi các giao dich mua bán kết thúc thì mỗi người đều nhận được các giấy báo nợ, báo có mà không cần quan tâm đến tiền mặt nữa. Đây là một bước tiến giúp cho TTCK hoạt động một cách trôi chảy hơn. Việc thực hiện công tác thanh toán đều do các ngân hàng đảm nhận, nếu công tác này được tiến hành tốt sẽ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự thành công của một thị trường chứng khoán
    • Lưu giữ, bảo quản chứng chỉ chứng khoán: Từ hoạt động kinh doanh của mình như huy động vốn, kinh doanh vàng, bạc, đá quý hay cho vay thanh toán, NHTM có nhiều kinh nghiệm trong việc thu nhận, quản lý, cắt giữ chứng từ có giá trị. Những nhà đầu tư cầm chứng khoán trong công ty với số lượng lớn sẽ không an toàn, họ có nhu cầu như ai đó quản lý hộ chẳng hạn như thuê két sắt và NHTM là một tổ chức rất ưu thế trong lĩnh vực này. Thông thường, khách hàng ngoài việc nhờ NHTM bảo quản hộ chứng khoán còn muốn ngân hàng cung cấp thêm một số các dịch vụ khác có liên quan như: mua, bán, thanh toán, giao hoán chứng khoán khi khách hàng thực hiện các giao dịch, chuyển những quyền sử dụng của khách hàng.
    • Hạch toán ghi sổ chứng khoán thông qua việc mở tài khoản lưu ký thông qua việc mở tài khoản lưu ký chứng khoán cho khách hàng.
    • Các dịch vụ khác theo uỷ quyền của khách hàng có chứng khoán lưu ký.

    Trên đây là những nghiệp vụ cơ bản đã minh chứng được phần nào vai trò và ảnh hưởng to lớn của NHTM đối với TTCK. Có thể nói phát triển các hoạt động của NHTM trên TTCK là một trong những yêu cầu kiên quyết cho sự thành công của TTCK.

    18

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động của Ngân hàng thương mại và hoạt động của thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính bậc cao, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường phát triển. Để thị trường chứng khoán có thể hoạt động minh bạch, hiệu quả và an toàn, không thể thiếu được các tổ chức tài chính trung gian trong đó phải kể đến đầu tiên vai trò của ngân hàng thương mại mà đại diện là các công ty chứng khoán thuộc sở hữu của ngân hàng đó. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu được lưu thông tấp nập trên thị trường, qua đó một lượng vốn nhàn rỗi được đưa vào đầu tư cho phát triển kinh tế từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng.

    Nói đến vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán có thể đến các khía cạnh sau: về hàng hoá, về tổ chức trung gian, về thông tin , về sự điều tiết cung cầu và về các đinh chế tài chính trên thị trường. Đó là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự phát triển của một thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Thông qua việc phân tích những ảnh hưởng và tác động của ngân hàng thương mại đến các yếu tố trên của thị trường chứng khoán sẽ cho ta thấy được hơn hết vai trò to lớn của ngân hàng thương mại đối với thị trường chứng khoán.

    1.3.1 Vai trò của Ngân hàng thương mại trong việc tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoá

    Hàng hoá của thị trưòng nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng (chứng khoán) là yếu tố không thể thiếu cúạư tồn tại và phát triển của thị trường. Chứng khoán có thể định nghĩa như sau: Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư ( tư bản đầu tư ), chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đợin hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời gian nào đó.

    19

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngân hàng thương mại có vai trò rất to lớn trong việc tạo ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán dưói hai góc độ trực tiếp và gián tiếp

    Trên góc độ trực tiếp, các ngân hàng thương mại có thể tham gia hoạt động với tư cách là người phát hành và bán cổ phiếu của mình( ngân hàng cổ phần). Các ngân hàng cổ phần phát hành cả cổ phiếu để tạo nguồn vốn khi mới thành lập hoặc vốn bổ sung thêm trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, tất cả các Ngân hàng thương mại không phân biệt thành phần sở hữu đề có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn từ nền kinh tế. Những việc này đã tạo cho thị trường chứng khoán một khối lượng hàng hoá rất lớn ở thị trường thứ cấp. Như vậy, với tư cách là một tổ chức kinh doanh đơn thuần trên thị trường, Ngân hàng thương mại thông qua các hoạt động phát hành của mình đã cung cấp một lượng chứng khoán lớn phong phú, đa dạng và đặc biệt là có chất lượng cao cho thị truờng. Ngoài các loại chứng khoán truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, các công ty chứng khoán thuộc Ngân hàng thương mại hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (trung ương và địa phương), chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh doanh. Trong những thị trường mới nổi, hàng hoá và dịch vụ còn nghèo nàn, đơn diệu, nếu được tổ chức phát triển tốt, các Ngân hàng thương mại có thể góp phần cải thiện môi trường đầu tư này. Một môi trường đầu tư tốt đa dạng về sản phẩm, với chi phí dich vụ thấp và có lợi nhuận thoả đáng sẽ thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi cho tăng trưởng kinh tế.

    Bên cạnh đó, Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian, thực hiện các nghiệp vụ trung gian chứng khoán như bảo lãnh phát hành, tư vân đầu tư chúng khoán, ….. đã góp phần không nhỏ giúp các doanh nghiẹp khác phát hành

    chứng khoán, gián tiếp tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Thứ nhất, phải kể đến đó là Ngân hàng thương mại là nhân tố góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần. Ngân hàng tham gia vào việc thành lập công ty cổ phần hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước với tỷ lệ cổ phiếu đáng kể để có đủ điều kiện tham gia quản trị kinh doanh, tín nhiệm. Công ty cổ phần dù mới thành lập hay cổ phần

    20

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hoá, vốn vẫn còn hạn hẹp so với yêu cầu của kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó ngân hàng phải là trợ thủ đắc lực cho công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các công ty vay tín dụng. Như vậy, chính chế độ tín dụng và ngân hàng đã xã hội hoá các nguồn vốn, giải quyết các mâu thuẫn trong sự vận động của nguồn vốn giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ tính chất tư nhân các biệt của nguồn vốn trong công ty cổ phần. Một doanh nghiệp có thể bắt đầu hoạt động của mình bằng một món nợ vay ngân hàng. Vay ngân hàng là một cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp và năng lực kinh doanh của họ. Các ngân hàng là ngưòi đầu tiên đã lập ra việc kiểm tra các hoạt động của công ty, họ quyết định có nên cho vay hay không và có nên tiếp tục cung cấp tín dụng hay không. Ngân hàng sẽ cung cấp kinh doanh nếu biết được rằng một Công ty thành công cuối cùng có thể hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán. Như vậy kỷ cương tài chính của ngân hàng sẽ đưa công ty vào thị trường chứng khoán, gián tiếp bổ sung một lượng hàng hoá cho thị trường. Thứ hai, ngân hàng thương mại cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp các công ty phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Khi những nhà sáng lập một công ty nào đó muốn phát hành chứng khoán để thu hút vốn, họ có thể dựa vào uy tín, và kinh nghiệm của ngân hàng để ký hợp đồng về việc phát hành và bán các chứng khoán của mình. Như vậy, Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng môi giới phát hành chứng khoán giữa người muốn bán và ngưỡi muốn mua chứng khoán. Khi đảm nhận vai trò này, Ngân hàng sẽ giúp cho những người sáng lập công ty chọn lựa loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán, và các vấn đề kỹ thuật khác. Trong những trường hợp đặc biệt, như sẽ phát hành một lượng chứng khoán khá lớn, các Ngân hàng có thể cùng nhau chia sẻ việc dự định số phát hành này nhằm giảm thiểu rủi ro, hoặc mua toàn bộ các cổ phiếu, trái phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Bên cạnh đó, bằng cách cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản

    21

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư của mình, bằng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm hàng hoá nới cho thị trường.

    1.3.2 Vai trò trung gian chứng khoán của Ngân hàng thương mại

    Bất kể một thị trường nào, thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng muốn hoạt động và phát triển thì ddeuf đến vai trò của các trung gian. Không phải nhà kinh doanh nào cũng có thể gặp ngay được những đối tượng cần mua chứng khoán để cả hai cùng thực hiện việc mua bán lẫn nhau. Cũng như không phải bất kỳ người dân nào muốn đầu tư vào chứng khoán cũng có thể nhanh chóng đủ hiểu biết, đủ thông tin để tìm được cho mình nơi mua loại chứng khoá hợp túi tiền, có mức lãi suất và thời gian đáo hạn đúng như ý muốn. Do những hạn chế này và nhu cầu tiẹn lợi cho các chủ thể, trên thị trường xuất hiện những người trung gian đưa đường dẫn lối, để người bán và người mua gặp nhau theo đúng yêu cầu của cả hai bên. Các trung gian sẽ giúp cho hoạt động của các thị trường được suôn sẻ, nhanh chóng và hiệu quả, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển của thị trường. Và Ngân hàng thương mại chính là một tổ chức trung gian quan trọng nhất trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Trong thị trường chứng khoán, vói tư cách là một tổ chức trung gian, Ngân hàng thương mại sẽ đưa đường dẫn lối để hai bên gặp nhau thông qua các nghiệp vụ của ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Ngân hàng thương mại với kiến thức rộng, am hiểu tình hình kinh tế chung và rất rành hoạt động của các công ty. Do vậy, ngân hàng thương mại không phải là một người môi giới thông thường, mà giữ vai trò vô cùng chủ động trong việc thương lượng chứng khoán, thay thế thân chủ để cam kết mua bán chứng khoán với giá định sẵn do chính trung gian chứng khoán lựa chọn. Với các nghiệp vụ chủ yếu của minh trên thị trường chứng khoán như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán và bảo lãnh chứng khoán đã góp phần vào hoạt động có hiệu quả của thị trường chứng khoán. Quả thật, Ngân hàng thương mại thông qua các công ty chứng khoán của mình đã thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà

    22

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nề n kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh chứng khoán, nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với các doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh thị trường chứng khoán cho các doanh nghiệp. Khi thực hiện môi giới chứng khoán, các công ty chứng khoán có hai nhiệm vụ chính là: nhiêm vụ cung cấp thông tin và tư vấn khách hàng ( thông qua các nhân viên lành nghề, công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư); đồng thời, cung cấp các sản phẩm và dich vụ tài chính, giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng. Với nhiệm vụ này, nhân viên môi giới nhận đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch cho họ. Quá trình này bao gồm các tác nghiệp từ hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại công ty, tiến hành truyền lệnh, xác nhân giao dịch,thanh toán và chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng. Không chỉ dừng ở đó, sau khi giao dịch đã được thực hiện, người môi giới còn phải tiếp tục quản lý tài koản của khách hàng, đưa ra những khuyến cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống, công việc… của khách hàng mà có thể dẫn đến những thay đổi trong tình trạng tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất chiến lược đầu tư mới thích hợp hơn. Trên thị trường sơ khai, khi sản phẩm hàng hoá còn đơn giản, nhà đầu tư có thể chưa có nhu cầu sủ dụng dịch vụ tư vấn và do mặt bằng dân trí thấp nên hoạ động tiếp thị, giới thiệu sản phẩm trên diện rộng lại giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Có thể nói, hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán dồng thời chứa đựng hàm lượng tư vấn đầu tư khá cao, người đàu tư trông chờ người môi giới cho biết khi nào thì nên mua, lúc nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường.

    Quả thật với vai trò một trung gian trên thị trường chứng khoán, ngân hàng thương mại đã đóng góp rất to lớn vào sự phát triển của thị trường. Để kể thêm vào những đóng góp của ngân hàng thương mại với tư cách một trung gain chứng khoán, ta có thể kể đến vai trò của ngân hàng nhu quản lý tài khoản tiền

    23

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    gởi của pháp nhân và thể nhân tạo tiền đề cho việc tích luỹ vốn để mua bán chứng khoán, kinh nghiệm về hoạt động tín dụng của ngân hàng tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được thuận lợi khi có nhu cầu đầu tư và đặc biệt là kinh nghiệm về tổ chức thanh toán giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt việc chi trả trong mua bán chứng khoán. Khi có thị trường chứng khoán, các quan hệ mua bán chứng khoán diễn ra thường xuyên, nhiều khi chóng mặt nhất là thị trường chứng khoán thứ cấp. Các quan hệ mau bán bao giờ cũng kéo theo quan hệ thanh toán: Người mua trả tiền cho người bán, người bán giao chứng khoán cho người mua. Có thể tới hàng trăm mối quan hệ thanh toán diễn ra với tốc độ rất nhanh, hàng ngàn giao dịch mỗi ngày tại Sở giao dịch chứng khoán của nhiều nước. Qua đó có thể thấy vai trò làm trung gian thanh toán của NHTM trên TTCK là không thể phủ nhận, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán.

    1.3.3 Vai trò điều chỉnh cung cầu chứng khoán của NHTM trên TTCK.

    Ngân hàng thường mại là một trung gian tài chính quan trên thị trường tài chính với hoạt động cơ bản nhất đó là nhận tiền gửi và tiến hành cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Và chính hoạt động này có tác động rất lớn đến hoạt động của thị trường chúng khoán, mà cụ thể là giá cả, cung và cầu của chứng khoán trên thị trường. Bơi lẽ xet cho cùng, mục đích của bất kỳ nhà đầu tư nào dưới bất kỳ hình thức nào cũng xuất phát từ mục tiêu cuối cùng, đó là mục tiêu lợi nhuận. Việc họ quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào là tuỳ thuộc vào những nhận định và dự đoán của họ về khả năng sinh lời, đem lại thu nhập, và mức đọ rủi ro của nó. Chính vì vậy mà lãi suất tiền gửi và cho vay của các ngân hàng cũng có tác động không nhỏ đến mức cung cầu chứng khoán trên thị trường và giá của những chứng khoán đó.

    Khái niệm lãi suất dùng để chỉ mức lãi suất áp dụng cho cá khoản vay và cho vay giữa cá ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng và các khách hàng của họ trên thị trường. Còn lợi suất cổ phiếu hay trái phiếu, nói chung là lợi suất

    24

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    chứng khoán là mức lãi suất qui định sẵn trên mỗi trái phiếu hoặc mức lãi dự kiến sẽ nhận được vào lúc chia cổ tức của cổ phiếu. Đồng thời, đối với cổ phiếu đó là kỳ vọng tương lai về giá cổ phiếu gia tăng.

    Quan hệ giữa lãi suất và lợi suất chứng khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đối với giá của chứng khoán. Nếu lãi suất cao hơn lợi suất chúng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm. Ngược lại, nếu lãi suất thấp hơn lợi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ tăng. Trường hợp lãi suất ngân hàng giữ ở mức thấp hơn có thể dẫn đến hiện tượng gọi là phi trung gian hàng hoá. Lúc đó mọi người sẽ đổ xô đến rút tiền tuết kiệm và dùng nó để mua chứng khoán. Ngược lại, khi lãi suất ngân hàng cao, điều này sẽ khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.

    Thị giá chứng khoán không phải chỉ căn cứ vào số tiền ghi trên chúng khoán mà còn phụ truộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa lãi suất tiền gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán. TTCK chỉ có thể hoạt động bình thường nếu lãi suất tiềm gửi tiết kiệm và tỷ suất lợi tức của chứng khoán cạnh tranh được với nhau và hoà nhập với nhau, giữa người mua và người bán chỉ còn việc lựa chọn khả năng rủi ro và quyết định mạo hiểm. Chẳng hạn, nếu cổ tức quá bấp bênh và chỉ ở mức tối đa là 30%/năm, trong khi đó lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm là 50%/năm, thì không ai mua cổ phiếu và TTCK sẽ khó vận hành. Ngược lại, nếu lợi tức cổ phần là 30%/ năm và lãi suất ngân hàng là 25%/ năm, thì bắt đầu có sự lựa chọn. Người ưa mạo hiểm và thích lãi suất cao sẽ đầu tư tiền của mình để mau cổ phiếu, còn người thích an bài sẽ gửi tiền của mình vào ngân hàng. Xu hướng này sẽ tạo điều kiện để vận hành TTCK.

    Một vai trò khác của NHTM đối với cung cầu chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là cung cấp cơ chế giá cho các khoản đầu tư. Thứ nhất, NHTM sẽ tạo cơ chế giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp thông qua các Sở GDCK. Công ty chứng khoán có vai trò giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác giá trị khoản đầu tư của mình thông qua trình độ chuyên môn chuyên nghiệp, kinh nghiệm dày dăn, và thông tin chính xác, đầy đủ. Toàn bộ các lệnh

    25

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    mua bán chứng khoán được tập hợp tại thị trưòng giao dịch tập trugn thông qua các công ty chứng khoán của NHTM, và trên cơ sở đó giá chứng khoán sẽ được xác định theo quy luật cung cầu. Ngoài ra, thông qua hạot động tự doanh, các công ty chứng khoán của NHTM còn có một chức năng quan trọng là can thiệp vào thị trường, góp phần điều chỉnh giá chứng khoán. Thứ hai, NHTM còn tạo cơ chế giá trên thị trường sơ cấp: khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán thực hiện vai trò tạo cơ chế giá chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành mức giá phát hành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành. Thông thường, mức giá phát hành thường do các công ty chứng khoán xác định trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu, thoả thuận với các nhà đầu tư tiềm năng trong đợt phát hành và tư vấn cho tổ chức phát hành.

    1.3.4 Vai trò của NHTM trong việc cung cấp thông tin trên TTCK

    Đối với thị trường chứng khoán, thông tin giữ một vai trò hết sức quan trọng giúp cho thị trường duy trì và phát triển. Thông tin giúp các nhà đầu tư quyết định những phương án đầu tư để thu được lợi nhuận lớn nhất và tránh được những rủi ro trên thị trường. Thông tin giúp cho những cơ quan quản lý thị trường giám sát, quản lý thị trường một cách chặt chẽ và hiệu quả. Có thể nói, NHTM có một ý nghĩa rất lớn trong việc cung cấp một kênh thông tin rất phong phú và tương đối đáng tin cậy cho thị trường. Hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại luôn chứa đựng cả hàm lượng tư vấn đầu tư cao, người môi giới chứng khoán cho biết khi nào nên mua, khi nào nên bán chứng khoán và cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trường. Các công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ đầy đủ không chỉ thực thực hiện lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua nghiên cứu thị trường rồi cung cấp thông tin đó cho các tổ chức và cá nhân đầu tư. Các dịch vụ ấy bao gồm: thu thập thông tin cung cấp theo yêu cầu của khách hàng; cung cấp thông ti về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng

    26

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng cân nhắc. Bên cạnh đó, các NHTM cũng cung cấp các thông tin rất đáng tin cậy về tình hình diễn biến thị trường giúp các cơ quan quản lý thị trường có những điều chỉnh phù hợp nhất. Đó là một vài ví dụ về vai trò cung cấp thông tin của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    1.3.5 Vai trò của NHTM về định chế quản lý TTCK.

    Chính hoạt động của cá Công ty chứng khoán thuộc các NHTM và các nhân viên môi giới của họ là một yếu tố góp phần hoàtn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ và việc thực hiện không nghiêm thì mâu thuẫn sẽ phát sinh có thể dẫn đến làm đổ vỡ thị trường. Công ty chứng khoán cùng cá nhân viên của mình sẽ đưa pháp luật đến với người đầu tư, giúo người đầu tư luôn có ý thức tìm hiểu và tuân thủ pháp luật trong quá trình tìm kiếm lợi ích; đồng thời các công ty chứng khoán cũng kịp thời phản ánh cho cá nhà làm luật kịp thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật.

    27

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Chương 2:

    HOẠT ĐÔNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

    2.1.Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

    Thị trường chứng khoán là một dạng của thị trường mà ở đó đối tượng được giao dịch là loại giấy tờ có giá ( chứng khoán ). TTCK là một dấu hiệu đồng thời là một bộ phận quan trọng của một nền kinh tế thị trường đang hoạt động. Sớm nhận thức được vai trò của TTCK, ngay từ những năm đầu của công cuộc cải tổ nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phải xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam có trật tự, dưới sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở đạt được sự chính muồi về cá điều kiện thiết nhằm khai thác và sử dụng có hiệu qua nhất nguồn vốn hạn hẹp của nền kinh tế, đảm bảo các mục tiêu vốn trong nước là quyết định trong chiến lược huy động và sử dụng cá nguồn vốn. Trên cơ sở chủ trương này, ngay từ đầu những năm 1990 chúng ta đã rất tích cực học hỏi kinh nghiệm từ cá nước đi trước, đồng thời chuẩn cá điều kiện cần thiết cho việc hình thành và phát triển TTCK Việt Nam.

    Ngày 20/7/2000, Trung tâm giao dịch chưnứg khoán Tp. Hồ Chí Minh đã chính thức khai trương đi vào hoạt động, đây là cột mốc quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam, đồng thời là một bước đột phá cơ bản, quan trọng trong chiến lược khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ 21. Sau hơn hai tháng chính thức đi vào hoạt động, Trung tâm giao dịch chứng khoán thu hút một lượng nhất định cá nhà đầu tư tham gia giao dịch mua bán trên thị trường, trong hai tuần đầu thị trường khá sôi động nên chỉ số giá chứng khoán và khối lượng vốn giao dịch trên thị trường liên tục tăng lên, phiên

    28

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    cao nhất đạt khối lượng giao dịch đã đạt gần 2,5 tỷ đồng gấp 25 lần so với phiên giao dịch đầu tiên. tuy nhiên, hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh nói riên và TTCK Việt Nam nói chung trong thời gain này vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.

    Cho đến năm 2003, sau hơn hai năm hoạt động, trên sàn giao dich của TTGDCK đã có 19 loại cổ phiếu và 28 loại trái phiếu được niêm yết. Tuy nhiên, đây vẫn là thời kỳ thử nghiệm để đi đến xây dựng Trung tâm này thành một SDGCK hiện đại, hoàn chỉnh. Chúng ta vẫn chưa có một TTCK đầy đủ theo đúng nghĩa, sự tham gia của các định chế tài chính trung gian vào thị trường này còn ở mức độ thăm dò,nhiều tổ chức còn đứng ngoài cuộc. Đến năm 2003, sao hai năm hoạt động của TTCK VIệt Nam có thể được chia làm hai thời kỳ rõ rệt, thời kỳ tăng trương và thời kỳ suy thoái.

    • Thời kỳ tăng trưởng bắt đầu từ phiên giao dịch đầu tiên ( ngày 27/7/2000 ) đén ngày 25/6/2001 là thời kỳ giá CK tăng liên tục ; số lượng tài khoản mở tại cá công ty CK cãng tăng rất nhanh, trung bình có 1000 tài khoản được mở trong một tháng; chỉ số VN- index tăng hơn 400%, đạt trên 500 diẻm, cao hơn cả TTCK Thái Lan và Thượng Hải – những thị trường ra đời trước thị trường của ta hàng chục năm.
    • Thời kỳ suy thoái bắt đầu từ ngày 26/6/2001 đến năm 2003, TTCK Việt Nam luôn ở trogn tình trạng sụt giảm cả về sức cầu lẫn các chỉ số đặc trưng của thị trường khiến các nhà quan sát đã phải dùng đến những từ “ ảm đạm”, “ngủ gật”, “sớm nắng chiều mưa”,v.v để chỉ tình trạng của TTCK Việt Nam. Cho đén phiên giao dịch lần thứ 419 ngày 13/11/2002, chỉ số VN- index sụt xuóng chỉ còn 175,63 điểm.

    Theo tư liệu của TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, trong 10 tháng đầu năm 2002 có 193 phiên giao dịch vớ tổng khối lượng đặt mua là 49.081.240 CK (bình quân một phiên là 251.119); tổng khối lượng đặt bán là 51.071.580 CK ( bình quân 280.017 CK một phiên). Khối lượng CK được đặt bán cao hơn được đặt mua là 1.990.340. Hiện có khoảng 13.000 tài khoản giao dịch mở tại cá công ty chứng khoán nhưng thực tế giao dịch thực hiện chỉ ở triên vài trăm tài khoản.

    29

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong số cá nhà đầu tư có tổ chức, chỉ có duy nhất công ty Dragon Capital là tích cực tham gia mua cổ phiếu; số tổ chức còn lại thì hầu như hoạt động cầm chừng hoặc án binh bất động. Trước tình hình giao dịch CK ngày càng kém sôi động trên thị trường, một nhóm cá nhà đầu tư cá nhân kêu gọi thành lập Hiệp hội các nhà đầu tư CK để có tiếng nói mạnh hơn với cá nhà quản lý thị trường CK và bảo vệ quyền lợi của mình.

    Trên đây là một vài nét phác thảo qua về sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam trong những năm đầu mới thành lập, qua đó thấy được một chặng đường cũng vói những thành tích đã đạt được và những tồn tại của thị trường ( phần này sẽ được phân tích kỹ hơn trong mục sau nói về thực trạng của thị trường chúng khoán Việt Nam hiện nay)

    2.1.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay

    2.1.2.1 Những đánh giá chung về thị trường chứng khoán hiện nay

    Sau gần bốn năm hoạt động, thị trường đã dần định hình và phát triển. Bắt đầu với hai công ty niêm yết vào năm 2000, hiện nay TTCK đã có 24 công ty niêm yết với tổng giá trị vốn điều lệ là 1240 tỷ đồng, 147 loại phiếu trái phiếu của chính phủ, hai laọi trái phiếu của Ngân hàng đầu tư và phát triển, 01 loại trái phiếu đô thị với tổng giá trị niêm yết trên 17300 tỷ đồng. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã cấp phép hoạt động cho 13 công ty chứng khoán, 01 công ty quản lý quỹ đầu tư và 5 ngân hàng lưu ký. Năm 2004, quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên đã tiến hành huy động vốn và đi vào hoạt động. Tính đến hết tháng 6/2004, có 820 phiên giao dịch đã được thực hiẹn thành công tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị giao dịch trung bình mỗi phiêm hơn 17 tỷ đồng. Ngày 30/6/2004, chỉ số chứng khoán VN Index là 249,7 điểm, tăng 80,5 điểm cơ sở (khoảng 47,6%) so với đầu năm.Tổng giá trị thị trường tính cùng thời điểm là 3,4% GDP, tăng hơn hai lần so với năm 2003.

    Ngày 28/ 11/2003, Nghị định số 144/CP cua rChính phủ về chứng khoán và TTCK (NĐ/144) đã được ban hành thay thế cho Nghị định 48/CP trước đây.

    30

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Nghị định này bao gồm những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc niêm yết của các công ty, sự vận hành của thị trường và yêu cầu bảo vệ nhà đầu tư. Với quan diểm khuyến khích đầu tư và huy động vốn, NĐ 144 đã có những bước tiến đáng kể bằng cách áp dụng một hệ thống các itêu chuẩn và điều kiện niêm yết linh hoạt hơn, cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với TTCK tập trung để huy động vốn. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định cũng được mở rộng đối với hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng. Đây là một thay đổi hết sức có ý nghĩa nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, NĐ 144 mới đã cho phép đa dạng hoá ccá loại hình đầu tư chứng khoán để có thể khuyến khích mọi tầng lớp từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến nhà đầu tư có tổ chức tham gia TTCK

    Tuy ở giai đoạn đầu phát triển, TTCK đã có những bước tiếp cận nhất định với những chuẩn mực quốc tế trong việc phát triển TTCK và thu hút nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Kiểm toán và công bố thông tin là điều kiện bắt buộc đối với các tổ chức phát hành và niêm yết. Các thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt đã được áp dụng trên TTCK nhằm tăng cường chất lượng của chứng khoán niêm yết. Hiện nay, tất cả những công ty niêm yết đều phải tuân thủ và áp dụng Điều lệ mẫu được ban hành vào tháng 11/2002

    Sau hai năm hoạt động, nhận thức được tầm quan trọng của việc mở cưa thị trường chứng cho nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ đã nới rộng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các công ty niêm yết từ 20% lên 30%, không hạn chế sở hữu cảu người nước ngoài đối với trái phiếu. Chính phủ đã cho phép các tổ chức kinh doanh trái phiếu nước ngoài được góp vốn với đối tác trogn nước thành lập công ty chứng khoán liên doanh với tỷ lệ tối đa là 49%. Các chính sách về ngoại hối đã được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đầu tư chứng khoán ra nước ngoài. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng như nước ngoài còn được miễn thuế thu nhập cá nhân khi đầu tư vào thị trường chứng khoán; Chính phủ đã bãi bỏ việc đánh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

    31

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để tạo ra định hướng cơ bản cho việc phát triển TTCK về trugn và dài hạn, ngay 5/8/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Chiến lược phát triên TTCK đến năm 2010. Việc xác định một quan điểm chiến lược trong phát triển TTCK và thiết lập một chứng trình hành động cụ thể chi từng năm là một nhiên\mj vụ được UBCK cho là có tầm trọng hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển TTCK. Trên cơ sở Chiến lược, Bộ Tài chính đã xác định mô hình TTCK là: TTGDCK Tp HCM là thị trường tập trung, phát triển thàh Sở Giao Dịch Chứng Khoán có khả năng liên kết với các thị trường trong khu vực; TTGDCK Hà Nội là thị trường giao dịch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển thành thị trường phi tập trung phù hợp với quy mô của TTCK. Cùng với việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các TTGDCK; phát triển các định chế tài chính trung gian, phát triển cơ sở các nhà đầu tư , tiến trình xây dựng một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ hiện đang được xuac tiến khẩn trương.

    Những con số và sự kiẹn vừa nêu là những bằng chứng sinh động về sự phát triển tuy chưa được nư kỳ vọng, song rát đáng khích lệ của một TTCK còn non tre và đang ở giai đoạn ban đầu như thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều trở ngại và hạn chế về mặt khuôn khổ pháp lý, thành viên thị trường và cơ sở đầu tư khiến TTCK chưa thể được coi là một thị trường hàon thiện

    2.1.2.2 Một số hạn chế và trở ngại của TTCK

    Một là, những hạn chế về mặt khuôn khổ pháp luật và năng lực hoạch định chính sách. Xét trên phương diện khuôn khổ luật pháp, trở ngại lớn nhất hiện nay là TTCK chưa có một Luật Chứng khoán toàn diện và đầy đủ. Lĩnh vực khoán và thị trường chúng khoán còn chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật phá sản. Do vị thế của NĐ 144 thấp hơn các Luật liên quan mà môi trưòng pháp lý hiện hành cón chưa đây đủ thì những bất cập và xung đột giữa các văn bản pháp luật liên quan đến TTCK là điều khó tránh khỏi. Một môi

    32

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường pháp lý ổn định và đầy đủ là yếu tố đầu tiên để đảm bảo lòngtin của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài chỉ có thể đầu tư vào TTCK nếu họ nhận thấy rằng vốn đầu tư cũng như kỳ vọng sinh lời của họ được bảo vệ bởi một khuôn khổ pháp luật minh bạch và an tàon. Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng một Luật chứng khoán. Bên cạnh đó, năng lực hoạch định chính sách và thực thi luật pháp cũng là một vấn đề cần tính đến. Đánh giá một cách khách quan, UBCK và những cơ quan quản lý liên quan khác trên thị trường vốn chưa có đủ năng lực càn thiết để thực hiện chức năng giám sát, quản ly và cướng chế thực thi các chính sách trên TTCK một cách hiệu quả. Điều này xuất phá từ thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý thị trường thiếu kinh nghiệm, khả năng xây dựng và thực thi các chính sách thích hợp nhằm khuyển khích sự phát triển cảu thị trường, thu hút và bảo vệ nhà đầu tư.

    Hai là những hạn chế về mặt thể chế thị trường. Xét về goc độ thu hút vốn đầu tư những hạn chê về mặt thể chế thị trường là một trở ngại đáng kể, không chỉ trên phương diện đảm bảo an toàn cho chu trình lưu chuyển vốn đầu tư mà còn trên phương diện duy trì tính toàn vẹn của thị trường và niềm tin của công chúng đầu tư trong và nước ngoài. Đối với một thị trường mới hình thành à phát triển thì việc chưa có được một thể chế thị trường hoàn chỉnh là điều tất yếu. Sự vắng mặt của các tổ chức tự quản, tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, phạm vi hoạt động hạn hẹp, và tính chuyên môn hoá chưa cao của các công ty chứng khoán là những điểm yếu khiến cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài coi việc đầu tư vào TTCK phần nào mang tính chất mạo hiểm. Bên cạnh đó, sự thiếu hoàn thiện trong thể chế thị trường cũng khiến cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài gặp phải những khó khăn trong việc ra quyết định đầu tư và phải đối mặt với những rủi ro.

    Ba là những trở ngại và hạn chế về nguồn cung ứng chứng khoán. Một hạn chế nổi bật về nguồn cung ứng chứng khoán xét từ góc độ thu hút đầu tư trong nước và nước ngoàilà số lượng hàng hoá ít ỏi và chất lượng hàng hoá chưa cao. Một TTCK với 24 cổ phiếu niêm yết của những công ty có quy mô vốn chưa phải là lớn không thể đại diện cho nền kinh tế Việt Nam để các nhà đầu tư

    33

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nước ngoài có thể nhìn nhận và đánh giá sức khoả cũng như triển vọng của toàn bộ nền kinh tế nhằm đưa ra các quyết định đầu tư có cư sở. Tương tự, số lượng chứng khoán niêm yết quá ít ỏi trên thị trường cũng khiến cho cá nhà đầu tư trong nước chưa có nhiều sự lựa chọn để thay thế các khoản tiền gửi ngân hàng theo truyền thống của mình. Các cổ phiếu niêm yết trêb thị trường chưa thực sự là cổ phiếu của những công ty mạnh nhất để thuyết phục nhà đầu tư trong nước và nước ngoài rằng tiền bạc của họ sé sinh lời thông qua những cổ phiếu đó. Tuy nhiênm cần phải xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng hàng hoá trên TTCK còn thưa thớt và chất lượng chưa cao. Có thể nhận diện một số nguyên nhân như sau: Nguyên nhân thứ nhất là sự bất cập của tiến trình cổ phần hoá. Từ năm 1992 đến nay, việc thực hiện CPH chỉ đạt 63% kế hoạch đặt rta xét về mặt số lượng các doanh nghiệp cần cổ phàn hoá; con số 6% số vốn tại doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá trong suốt thời kỳ này lại càng cho thấy những doanh nghiệp dược cổ phần hoá chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự bất cập này bắt nguồn từ những khó khăn trong định giá tài sản, xử lý nợ quá hạn, những hạn chế về năg lực và những tồn tại về mặt tư tưởng và nhận thức của những người quản lý doanh nghiệp. Nguyên nhân thứ hai là các doanh nghiệp chưa có nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc ra niêm yết tại TTCK. Chưa quen với một văn hoá kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp coi việc công bố thông tin và đáp ứng những chuẩn mực về kiểm toán, kế toán, quản trị công ty là một gánh nặng và không muốn ra niêm yết trên TTCK. Nguyên nhân thư ba là xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam là sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh để vay vốn hoạt động. Mặc dù đã thực hiện sự chuyển đổi cơ chế thị trường và cổ phần trong một thời gian đáng kể, song cơ chế bao cấp tín dụng, tâm lý lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng vẫn còn phổ biến khiến cho các doanh nghiệp chua thực sự có nhu cầu và nhận thức được lợi ích của việc huy động vốn trên TTCK. Sự hội tụ những yếu tố kể trên là những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hàng hoá chứng khoán niêm yết còn chua đáng kể trên thị trường.

    34

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Bốn là những trở ngại và hạn chế về cơ sở nhà đầu tư. Do bối cảnh kinh tế và xã hội, TTCK chưa có được một cơ sở nhà đầu tư hoàn thiện bao gồm các nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nhu những thị trường phát triển khác. Phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường là nhà đầu tư nhỏ lẻ và chưa có đầy đủ kinh nghiệm cũng như kiến thức về đầu tư chứng khoán. Đây là một vấn đề có tính hia mặt. TTCK chưa hoàn thiện, thiếu các định chế có vai trò trụ cột trong kiến tạo thị trường; hệ thống văn bản pháp quy chưa đầy đủ, hàng hoá ít ỏi là một nguyên nhân khiến TTCK chưa hấp dẫn các nhà đầu tư lại khiến thị trường không có động lực phát triển cần thiết. Các nhà đầu tư nước ngoài còn dè dặt cới TTCK do chưa tiếp cận được với những thông tin doanh nghiệp cần thiết để ra quyết định đầu tư. Trong khi đó, nhà đầu tư trong nước lại gặp phải những trở ngại về mặt kiến thức và kinh nghiệm. Trong 2 năm, từ 2001-2003, đã có nhiều đợt biến động giá cổ phiếu trên TTCK theo chiều hướng xấu trong khi tình hình hoạt động của nền kinh tế và cá doanh nghiệp niêm yết vẫn đang trên đà phát triển. Nghịch lý này tồn tại chủ yếu là do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về đầu tư tài chính nói chung và trên TTCK nói riêng. Đa số quyết định đầu tư của công chúng mang tính chất đầu cơ giá lên và tâm lý hơn là dựa trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của cá công ty niêm yết. Tuy nhiên, từ cuối năm 2003, chính các nhà đầu tư nước ngoài với nhứng quyết định đầu tư chuyên nghiệp hơn đã góp phần định hướng cho nhà đầu tư trong nước và giúp TTCK quay trở lại với nhịp độ phát triển phù hợp với quy luật thị trường. Điều này lại càng cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập song song cơ sở nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trong quá trình phát triển TTCK.

    Vấn đề là thế nào để thị trường chứng khoán trở thành, một kênh huy động vốn trong nước và nước ngoài một cách hiệu quả cho đầu tư, phát triển theo đúng chức năng của một TTCK là một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho chính phủ và các cơ quan lý thị trường. Một TTCK chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu có thể thu hút được các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài. Ngược lại, các nguồn vốn tiết kiệm dân cư, các luồng tiền nhàn rỗi trong nước và những nguồn vốn nước ngoài đang ngày càng gia tăng trong xu thế hội hập và trào lưu tìm

    35

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    kiếm những thị trường mới của các nhà đầu tư quốc tế chỉ có thể được phân bổ và sử dụng một cáh hiệu quả thông qua một TTCK được vận hành an toàn, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.

    2.2 Sự tham gia của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    2.2.1 NHTM tham gia với tư cách tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua các công ty chứng khoán của mình

    Tại Việt Nam, việc tham gia TTCK của các định chế tài chính trung gian hiện nay còn rất khiêm tốn. Trong khi đây là những định chế gần gũi và có khả năng tiếp cận với các hoạt động CK một cách hiệu quả nhất. Hiện Việt Nam có vài chục NHTM và các định chế trung gian phi ngân hàng khác có khả năng thành lập công ty CK theo kiểu công ty con trực thuộc làm nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán, nhưng mới chỉ có chưa đầy 10 công ty chứng khoán được thành lập và tham gia làm thành viên của TTGDCK. Hơn nữa, hiện nay chúng ta chưa có công ty đầu tư Nhà nước để bình ổn thị trường thì vai trò của các công ty chứng khoán có nguồn gốc từ các định chế ngân hàng và tài chính là rất lớn. Công ty CK có thể tham gia vào hoạt động giao dich cả trên thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, có thể hoạt động theo mô hình đa năng hoặc chuyên doanh nhưng nói chung hiện nay, ở nước ta công ty CK hoạt động với các nghiệp vụ chính là: môi giới CK, bảo lãnh phát hành, tự kinh doanh… Kỳ vọng đối với hoạt động của các công ty chứng khoán là lớn nhưng kết quả hoạt động thực tế của các công ty chứng khoán trong bốn năm qua còn rất nhỏ bé. Nhìn chung, trong giai đoạn tăng trưởng của TTCK, các công ty chứng khoán đều kinh doanh có lãi. Song đến htời kỳ suy thoái thì ngược lại, các tài khoản khách hàng lần lượt bị đóng, cá công ty chứng khoán bị giảm cơ hội kinh doanh. Sở dĩ như vậy là vì các công ty chúng khoán mặc dầu có vốn không nhiều nhưng chỉ mới triển khai một số nghiệp vụ đơn giản không cần vốn nhiều như tư vấn, môi giới CK còn các nghiệp vụ khác như tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, v.v… là những nghiệp vụ có ý nghĩa lớn trong việc bình ổn thị

    36

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trường, điều tiết quan hệ cung cầu thì các công ty chứng khoán chưa triển khai được nhiều, thậm chí các công ty chứng khoán phải đem nguồn vốn của mình gửi vào ngân hàng để hưởng lãi tiền gửi. Như vậy, việc tham gia TTCK của cá định chế trung gian tài chính thông qua các công ty chứng khoán của mình là rất quan trọng và cần thiết. Nhưng để cho các công ty chứng khoán hoạt động có hiệu quả, bước đầu các chủ sở hữu phải hỗ trợ công ty chứng khoán cảu mình không những về vốn, về cung cấp và đào tạo cán bộ mà cả việc sử dụng những dịch vụ và tiện ích sẵn có của mình phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán, đặc biệt là mạng lưới thông tin và hệ thống cá chi nhánh, nhằm mở rộng các đối tượng khách hàng và phát triển thêm nhiều loại hình dịch vụ mới. Chẳng hạn, công ty chứng khoán của Ngân hàng á Châu đã sử dụng mạng thông tin nhanh có sẵn của ACB để giúp khách hàng của mình trên khắp cả nước có thể giao dịch tức thời với sàn giao dịch tại trung tâm. Những khách hàng ở xa vẫn có thể biết được thời giá và đặt lệnh mua bán rất thuận lợi. Công ty chứng khoán ACB cũng đã giúp các khách hàng của mình mở một tài khoản đặc biệt tại Ngân hàng ACB, gọi là “ tìa khoản giao dịch CK’. Bằng tài khoản này, khách hàng vừa có thể sử dụng như một tài khoản tiền gửi thanh toán bình thường, vừa có thể sử dụng để giao dịch CK. Do đó, khách hàng chỉ cần gửi tiền tại một nơi duy nhất, nhưng có thể chủ động chi tiêu theo nhu cầu của mình, vừa có quyền đặt lệnh mua- bán CK bất kỳ lúc nào có phiên giao dịch mà không cần phải làm thủ tục ký quỹ trước.

    Đến nay, TTCK Việt Nam có 13 công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động trong đó bao gồm 6 công ty chứng khoán thuộc NHTM: Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán ACB, công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Công thương ( cấp phép năm 2000 ), công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ( cấp phép năm 2001), Công ty trách nhiệm hữu hạn chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương ( cấp phép năm 2002 ), Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông á.

    37

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Từ khi được cấp phép hoạt động, các công ty chứng khoán không ngừng củng cố, hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình, mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc mở rộng đại bàn hoạt động bằng việc mở thêm chi nhánh tại Hà Nội, Tp. HCM, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh tại Hà Nội, Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Cần Thơ…. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh cũng

    được cá công ty từng bước hoàn thiện qua việc mở rộng sàn giao dịch, trang bị thêm các thiết bị công bố thông tin, thiết lập trang Web riêng của công ty tạo điều kiện cho người đầu tư có thể tiếp cận được với công ty ở mọi nơi. Một số công ty chứng khoán sau một thời gian hoạt động đã xin tăng vốn để thực hiện thêm nghiệp vụ như cong ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng vốn lên 100 tỷ để gia tăng tiềm lực tài chính, có điều kiện mở rộng các loại hình kinh doanh chứng khoán.

    Về nhân lực, các công ty chứng khoán đã chú trọng tuyển chọn, những người có kinh nghiệm quản lý ở những ngành có liên quan, những người được đào tạo cơ bản ở nước ngoài về làm việc cho công ty với chính sách đãi ngộ thoả đáng. Mặt bằng trình độ chuyên môn ở các công ty chứng khoán hiện nay đều từ trình độ cử nhân trở lên, nhiều vị trí chủ chốt trong cong ty được sự đảm nhận bởi những người có học vị cao. Được sự giúp đỡ của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong việc đào tạo nhân lực cho ngành chứng khoán, đến nay tổng số nhân viên của các công ty chứng khoán được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh là

    • người trong tổng số trên 400 người hiện đang làm việc cho các công ty chứng khoán.

    Việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự, đầu tư thêm cơ sở vật chất, tăng vốn đã cho phép các công ty mở rộng triển khai các nghiệp vụ của mình. Chúng ta có thể điểm qua một số nét về tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán qua các nghiệp vụ kinh doanh của công ty

    Đến nay, nghiệp vụ môi giới vẫn là một trong các nghiệp vụ được cá công ty triển khai tích cực nhất. Nếu như ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động chỉ có khoảng 500 tài khoản người đầu tư mở tại các công ty chứng khoán thì

    38

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    đến cuối tháng 5/ 2004 đã có 18700 tài khoản trong đó có 170 nhà đầu tư có tổ chức. Các công ty ty chứng khoán đã thực hiện khá chính xác cá lệnh giao dịch của kháchhàng. Khi có sai sót trong việc thực hiện lệnh, các công ty chứng khoán cùng hợp tác, trợ giúp nhau khắc phục. Hình thức nhận lệnh giao dịch của khách hàng cũng đã phong phú hơn trước với các hình thức như qua điện thoại, qua fã, qua Internet. Nhờ đó góp phần giúp công ty chứng khoán mở rộng đối tượng khách hàng.

    Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng đã thực hiện tốt các dịch vụ phụ trợ cho hoạt động môi giới như cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch cho nhà đầu tư, tổ chức các buổi phân tích hiễn biến tình hình thị trường cho nhà đầu tư, phối hợp các NHTM thực hiện dịch vụ cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán. Nhờ đó khách hàng có thể đưa ra cá quyết định đúng đắn, kịp thời và gia tăng khoản đầu tư của mình, công ty chứng khoán cũng gia tăng giá trị giao dịch. Chính sách phí môi giới cũng được các công ty chứng khoán áp dụng linh hoạt trên cơ sở mức trần do pháp luật quy định. Mức phí thường được ưu đãi đối với những lệnh giao dịch lớn và với khác hàng có gái trị giao dịch lớn tính trong một thời gian nhất định ( hàng tuần, hàng tháng). Mức phí môi giới hiện nay cũng là một công cụ để các công ty chứng khoán cạnh tranh nhau. Tình hình thực hiện các nghiệp vụ của các công ty chứng khoán thuộc NHTM cụ thể như sau:

    2.2.1.1 Về nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

    Tự doanh chứng khoán là nghiệp vụ kinh doanh do công ty chứng khoán thực hiện vì lợi ích của chính mình. Như vậy, khi thực hiện nghiệp vụ nay, công ty chứng khoán đóng vai trò là người đầu tư có tổ chức trên thị trường. Nghiệp vụ tụ doanh cũng được các công ty chú trọng thực hiện, nhiều công ty tăng vốn điều lệ để được thực hiện nghiệp vụ này. Tổng giá trị giao dịch và doanh thu tự doanh đã tăng mạnh qua cá năm mặc dù mức độ có khấc nhau ở từng công ty. Hiện nay sự thay đổi về kết cấu danh mục đầu tư chứng khoán tự doanh ở các công ty chứng khoán. Nếu như 2 năm đầu đi vào hoạt động cá công ty tập trung

    39

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    bào tự doanh cổ phiếu chưa niêm yết thì bắt đầu vào nửa cuối năm 2002 đến nay các công ty tập trung vào tự doanh trái phiếu và cổ phiếu niêm yết. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Đệ Nhất, công ty chứng khoán ACB. Những công ty chứng khoán tự doanh nhiều cổ phiếu là công ty chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng công thương, công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Gần đây, giá trị trái phiếu tự doanh tăng là do một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ theo hình thúc cam kết chắc chắn và thực hiện giao dịch trái phiếu theo hợp đồng có kỳ hạn. Điều này góp phần kích hoạt thị trường thứ cấp về trái phiếu điều mà hơn 2 năm trước đây không có được.

    2.2.1.2 Về nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán:

    Cả 13 công ty chúng khoá trong đó có 6 công ty của các NHTM hiện nay đều được cấp phép để thực hện nghiệp vụ này. Những ngày đầu thị trường mới đi vào hoạt động, các công ty chúng khoán cũng là những chủ thể góp phần tuyên truyền, phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK cho công chúng đầu tư. Đến nay, ngoài việc tư vấn đầu tư trực tiếp cho khác hàng, cung cấp miễn phí các báo cáo giao dịch định kỳ có phân tích, khuyến cáo, giúp cho người đầu tư nhìn nhận diễn biến thị trường, lựa chọn chứng khoán đầu tư dưới con mắt của người đầu tư chuyên nghiệp, công ty chứng khoán đã mở rộng hình thức tư vấn có tính chất lượng chuêyn môn sâu hơn như tư vấn phát hành cho một số công ty niêm yết trên TTGDCK có ý định phát hành thêm, tư vấn tái cấu trúc tái chính, tư vấn dự án cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

    Đặc biệt trong thời gian qua, các công ty chứng khoán đã tích cực tham gia mạnh mẽ vào tiến trình cổ phần hoá bằng việc tư vấn cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp, tổ chức bán đấu giá cổ phần cho công ty cổ phần. Trong đó, đặc biệt có hợp đồng lớn như hợp đồng tư vấn cổ phần hoá Tổng công ty (TCty) Saigontourist, tổ chức đấu giá cho Công ty bảo hiểm Bảo Minh, TCty Sữa Việt Nam (Vinamilk). Có thể nói đây là nghiệp vụ có tính chuyển biến rõ rệt nhất

    40

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trong số các nghiệp vụ mà các công ty chứng khoán đã thực hiện. Ngoài ra, cùng với số lượng công ty được niêm yết trên TTGDCK tăng lên cũng là từng đó số công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niêm yết thành công. Về hoạt động tư vấn phát hành và tư vấn niêm yết, ngoài việc phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của công ty chứng khoán, còn phụ thuộc rất lứon vào tình hình giao dịch trên thị trường chính thức. Trong giai đoạn thị trường đi xuống ( từ cuôi năm 2001 đến hết quý III/2003), việc tư vấn niêm yết và tư vấn phát hànhlà đặc biệt khó khăn, nhiều hợp đồng đã được ký kết nhưng vẫn trong giai đoạn triển khai do thị trường chưa thuận lợi mặc dù vẫn được các công ty chứng khoán duy trì. Vì thế, số lượng công ty cổ phần được công ty chứng khoán tư vấn niem yết thành công đều qua các năm như năm 2002 có thêm 11 công ty niêm yết, năm 2003 có thêm 2 công ty niêm yết và 5 tháng đầu năm 2004 có thêm 3 công ty niêm yết.

    Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế trong việc thực hiện nghiệp vụ nay, đó là: nghiệp vụ tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán đã xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi tham gia đấu thầu các hợp đồng tư vấn, đặc biệt là giữa các công ty chứng khoán trên cùng đại bàn. Trong việc tư vấn phát hành, tư vấn niêm yết, các công ty chứng khoán mới chỉ thể hiện vai trò qua việc chuẩn bị hồ sơ xin niêm yết nhưng kể cả việc làm này vẫn chưa được tốt. Vai trò tư vấn sau niêm yết chưa được thể hiện, bằng chứng là đa phần các công ty niêm yết chưa thực hiện tốt quy định về công nố thông tin và một số công ty niêm yết còn lúng túng trong việc xử lý tình huống bất lợi phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.

    2.2.1.3 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư:

    Đây thực chất là hoạt động quản lý vốn cho khách, vì quyền lợi củakhách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết. Trong những năm đầu, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư đều chưa triển khai tại hầu hết các công ty chứng khoán được cấp phép nghiệp vụ này. Trong Quý I/2003 không có công ty chứng khoán nào có doanh thu từ hoạt động quản lý danh mục đầu tư. Các công ty vẫn tiếp tục thục

    41

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện các hợp đồng đã ký kết nhưng gặp rất nhiều khó khăn do tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi. Đến nay đã có 12 công ty chứng khoán được cấp giấy phép hoạt dộng nghiệp vụ này và trong đó mới có công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển thuộc hệ thống NHTM đã triển khai nghiệp vụ này. Tuy nhiên, sang năm 2004, đã có dấu hiệu nghiệp vụ này được tăng cường hoạt động, đã có thêm công ty chứng khoán ACB, công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn bắt đầu có xu hướng triển khai nghiệp vụ này với các hợp đồng có giá trị lớn hàng trăm, hàng chục tỷ đồng. Hiện tại, công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển vẫn chưa ký kết được một hợp đồng quản lý danh mục quản lý danh mục dầu tư nào. Nhưng công ty cũng mạnh dạn thí điểm các hình thức ban đầu của hoạt động quản lý dnah mục đầu tư như: hợp đồng uỷ thác giao dịch, hợp đồng bán hộ trái phiếu niêm yết,…

    Tuy nhiên , theo đánh giá một cách khách quan và tổng thể, nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư vân tiếp tục dậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch của nghiệp vụ này không cao, còn dè dặt, mang tính tập dượt. Điều này một phần là do xu hướng của người đầu tư trong giai đoạn đầu thường thích tự đầu tư hơn là uỷ thác cho người khác quản lý, đầu tư hộ mình. Thêm vào nữa, đây là nghiệp vụ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao trong khi khả năg đáp ứng của công ty chứng khoán trong giai đoạn này còn rất khiêm tốn. Ngoài ra, do hàng hoá trên tị trường chưa nhiêu, số lượng cổ phiếu thực được giao dịch thấp hơn nhiều so với số lượng chứng khoán phát hành do tỷ lệ cổ phần của Nhà nước ở các doanh nghiệp này còn lứon, chưa đa dạng nên không có diều kiện triển khai.

    2.2.1.4 Về nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán

    Ngiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán của NHTM là việc NHTM tiến hành nhứng hoạt động cần thiết nhằm giúp cho tổ chức phát hành thực hiện thành công việc chào bán cổ phiếu ra công chúng. Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, bảo lãnh phát hành chứng khoán được coi là một nghiệp vụ quan tọng và là một trong số 5 nghiệp vụ được cấo giấy phép cho hoạt động của các công ty chứng khoan thuộc NHTM. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng

    42

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    khoán trong đó quan trọng nhất là mang lại tính chuyên nghiệp cho thị trường. Tuy nhiên, hiện nay nghiệp vụ này mới chỉ được các công ty chứng khoán tiếp cận bước đầu. Theo quy định hiện hành và qua thực tế của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, thì boả lãnh phát hành chứng khoán ở nước ta hiện nay được chia làm hai loại: Bảo lãnh phát hành trái phiếu, hiện có trái phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và vừa rồi là trái phiếu đô thị TP.HCM; và bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần ra công chúng. Hiện tại, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chỉ quản lý việc phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu trên TTGDCK, còn việc phát hành trái phiếu chính phủ thì thực hiện theo các qy định của Bộ Tài chính, tức là hầu như Bộ này quản lý việc phát hành trái phiếu chính phủ. Thực tê thì các NHTM mới chỉ triển khai hoạt động nhiều tỏng việc bảo lãnh trái phiếu chính phủ có độ rui ro rất thấp, còn việc triển khai các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu của các công ty cổ phần thì còn rất nhiêu hạn chế.Trong năm 2001, chỉ có công ty IBS có doanh thu từ nghiệp vụ này. trong năm 2002, chưa có công ty nào thực hiện được bảo lãnh phát hành cổ phiếu. Công ty VCBS thực hiện việc bảo lãnh 6 đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ (qua Quỹ Hỗ Trợ Phát triển). Một số công ty chứng khoán khác như ASC, ACBS và VCBS đã làm đại lý phát hành kỳ phiếu của một số tổ chức tín dụng như Ngân hàng Phát triển nhà Đồng Bằng sông Cửu Long, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hoặc đại lý phát hành cổ phiếu Công ty cổ phần Bảo Hiểm Nhà Rồng. Đến 31/3/2003 có một số công ty chứng khoán có doanh thu tư hoạt dộng bảo lãnh phát hành chứng khoán, hoạt động này tập trung ở một số công ty chứng khoán như: BVSC, VCBS, ARSC. Ngoài ra, các công ty còn ký tiếp các hợp đồng bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển Việt Nam.

    Nguyên nhân khiến việc bảo lãnh cổ phiếu của các công ty cổ phần còn hạn chế bên cạnh những lý do từ phía thị trường và các công ty cổ phần, thi còn xuất phát tù những hạn chế của những công ty chứng khoán của các NHTM. Các công ty chứng khoán hiện nay yếu cả về tiềm lực vốn và nghiệp vụ chuyên môn

    43

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    để có thể đảm đương được vai trò của đơn vị bảo lãnh phát hành. Với mức vốn đáp ứng ở mức yêu cầu tối thiểu khi đăng ký như hiện nay, các công ty chứng khoán chỉ dám tham gia với vai trò làm đại lý phân phối cho tổ chức phát hành. Có thể nói nghiệp vụ này cũng chỉ được áp dụng tại một số NHTM có quy mô lớn, chủ yếu là các NHTMNN. Các NHTM cổ phần chưa mạnh dạn áp dụng nghiệp vụ này. Tuy nhiên, đối với những đợt phát hành có giá trị vài chục tỷ đồng thì bản thân các công ty chứng khoán này cũng sẽ gặp khó khăn về vốn nhất là trong diều kiện các công ty chứng khoán chưa có thói quen liên kết thành tổ hợp bảo lãnh phát hành. Đội ngũ cán bộ của các công ty chứng khoán hiện nay còn có nhuẽng hạn chế khi triển khai nghiệp vụ bảo lãnh phát hành. Hầu hết các cán bộ hoạt động tỏng các công ty chứng khoán là những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế. Trong khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành đòi hỏi những cán bộ không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn phải có nững kinh nghiêm về ngành hay lĩnh vực hoạt động của tôt chức phát hành. Kinh nghiệm từ các thị trường khác cho thấy, tổ chức bảo lãnh phát hành thường phải tổ chức thành những nhóm hay có những cá nhân chuyên trách thực hiện nghiên cưu, phân tích và thường xuyên công bố các nghiên cứu của mình theo từng laọi cổ phiếu mà đơn vị tham gia bảo lãnh phát hành. Công việc này tốn kém nhưng cần thiết để hướng dẫn đầu tư cho thị trường. Đối với TTCK Việt Nam, các công ty chứng khoán hầu như chưa tổ chức thực hiện được công việc này. Có rất ít những nghiên cứu hay bài phân tích được công bố một cách có hệ thống nhằm thu hút nhà đầu tư mua cổ phiếu được đơn vị đó bảo lãnh phát hành. Đó chính là những thực tế đáng quan tâm đối với các NHTM để đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán.

    2.2.1.5. Hoạt động lưu ký chứng khoán

    Hoạt động lưu ký chứng khoán la hoạt động mà các công ty chứng khoán đặc biệt là các công ty thuộc các NHTM rất quan tâm. Nhìn chung, các thanh viên luôn tìm cách thu hút số khách hàng vào lưu ký tại công ty mình ngày càng nhiều, song do ngày càng nhiều các thanh viên được cấp phép hoạt động lưu ký

    44

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    nên đã diên ra sự cạnh tranh giữa các thanh viên. Tuy vậy, cũng có thành viên mới được cấp phép hoạt động đã khẳng định vị thế của mình trên thị trường như Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCBS), đã chiếm được 5,09% thị phần, trong khi đó có một số thành viên khác mặc dù có thời gian hoạt động từ khi thị trường thành lập nhưng vẫn chỉ đạt được mức khiêm tốn như công ty CK Đệ hất và công ty CK Thăng Long.

    Tính đến 31/12/2004 số thành viên lưu ký chứng khoán là 18 tổ chức trong đó có: 13 Công ty chứng khoán (6 công ty chứng khoán thuộc các NHTM); 02 Ngân hàng thương mại trong nước; 03 chi nhánh ngân hàng nước ngoìa; số nhân viên nghiệp vụ lưu ký là 115 nhân viên.

    Tính đến cuối năm 2004 đã có 26 loại cổ phiếu, 207 loại trái phiếu, o1 loại chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết tại TTGDCK T.p Hồ Chí Minh. Là trên 234 triệu trái phiếu ( chiếm trên 98% tổng số trái phiếu phát hành) và trên 123 triẹu cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư ( chiếm trên 75% tổng số cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang lưu hành). Đối vơi nghiệp vụ này, có thể nói các NHTM đã tham gia rất tích cực sử dụng nhứng kỹ thuật vốn có và những kinh nghiệm quý báu của mình trên lĩnh vực hoạt động chủ yếu của mình là tín dụng để đẩy mạnh hơn nũa nghiệp vụ này, hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển thuận lợi của thị trường. Trong năm 2004, các công ty chứng khoán của NHTM trên 12 công ty triển khai nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho khách hàng. Tổng số phiếu cấm cố / tổng số cổ phiếu niêm yết là cổ phiếu chiếm 0,45%. Tỷ lệ cầm cố trái phiếu/ tổng số trái phiếu niêm yết đạt là trái phiếu chiếm 3,12%. Tỷ lệ cầm cố trái chứng chỉ quỹ đạt xấp xỉ 4%. Việc giải toả chứng khoán do mất khả năng thanh toán.

    2.2.1.6 Hoạt động thanh toán bù trừ qua Ngân hàng chỉ định thanh toán

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được UBCK lựa chọn làm Ngân hàng chỉ định thanh toán. Hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của Ngân hàng chỉ định thanh toán cho đến nay được thực hiện tốt, không có hiện tượng vi phạm nguyên tắc thanh toán. Doanh số thanh toán bù trừ

    45

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    tiền/chứng khoán tăng liên tục qua các năm. Năm 2000, doanh số thanh toán bù trư tiền/ chứng khoán đạt gần 39 tỷ đồng, năm 2001 là 396 tỷ đồng, năm 2002 là

    • tỷ đồng, năm 2003 đạt 839 tỷ đồng và năm 2004 doanh số thanh toán bù trừ tiền/ chứng khoán đạt gần 32.382 tỷ đồng.

    Hoạt động thanh toán các giao dịch chứng khoán được thực hiện đúng quy định kịp thời dảm bảo hời gian thanh toán chứng khoán, góp phần tăng tính thanh khoản của các chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán tập trung, Ngân hàng chỉ định than toán đã mở rộng cung cấp dịch vụ như dịch vụ cho vay tiền thực hiện các giao dịch chứng khoán, ứng trước tiền thanh toán giao dịch chứngkhoán cho khách hàng… Tính đến cuối năm 2004 số tiền cho vay ứng trước cho thanh toán giao dịch chứng khoán của Ngân hàng đạt gầ 300 tỷ đồng.

    Một đặc điểm dễ nhận thấy hệ thống bù trừ thanh toán ở Việt Nam hoạt động theo 2 cấp, TTGDCK chỉ mở tài khoản cho thanh viên lưu ký, quan rlý và thực hiện lưu ký, bù trừ thanh toán theo thanh viên lưu ký, còn các thành viên lưu ký quản lý và cung cấp dịch vụ lưu ký, bù trừ và thanh toán chi tiêt ho các nhà đàu tư. Trong hoạt động thanh toán, việc chyển giao chứng khoán diễn ra tại TTGDCK, còn thanh toán tièn do ngân hàng chỉ định thanh toán do ngân hàng chỉ định thanh toán thực hiện dực trên kết quả bù trừ của TTGDCK. Hệ thống thanh toán bù TTCKừ chứng khoán có những hạ hcế như sau: thứ nhất, đó là chưa đạt tính đồng bộ và hoàn thiện về mặt pháp lý, và chưa tạo dựng được các yếu tố thị trường đồng bộ. Thứ hai, là thiéu một cơ chế quản lý việc in ấn và lưu ký chứng khoán thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ ba là các biện pháp khắc phục lỗi giao dịch chưa chủ động và hiệu quả. Thứ ba là năng lực của hệ thống phần mềm phục vụ cho các hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán chưa cao. Thưa tư, khả năng khắc phục rủi ro thanh toán của quỹ hỗ trợ thanh toán chưa cao. Và cuối cùng là các biện pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro chưa hoàn hảo. Đó là những mặt được và hạn chế của hệ thống ngân hàng trong hoạt động thanh toán bù trừ chứng khoán.

    46

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.2. Sự tham gia vào TTCK của các NHTM với tư cách là chủ thể phát hành chứng khoán.

    2.2.2.1 Tình hình hoạt động của các NHTM cổ phần.

    NHTM cổ phần là loại hình tổ chức tín dụng được hình thành từ trước khi có Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính . Sau khi điều chỉnh theo các Pháp lệnh trên ở nước ta, có 53 NHTM cổ phần, trong đó có 32 NHTM cổ phần đo thị và 20 NHTM cổ phần nông thônm được phân bố ở các thành phố lớn và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long là những vùng có nên kinh tế hàng hoá tương đối phát triển. Đến ngày 31/12/2002, sau hơn 3 năm thực hiện Đề án chấn chỉnh, củng cố sắp xếp lại các NHTM cổ phần,còn 24 NHTM cổ phần đô thị và 15 NHTM cổ phần nông thôn.

    Với tư cách là doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu lần đầu để thành lập ngân hàng hoặc phát hành các lần tiếp theo để tăng vốn điều lệ. Tuy nhiên do cá NHTM cổ phần chưa thực sự lớn mạnh, số lượng vốn huy động còn nhỏ nên hiện nay, các n cổ phần Việt Nam mới chỉ thực hiện phương thực hiện phát hành riêng lẻ, nghĩa là huy động vốn cổ phần dưới hình thức kêu gọi các cổ đông hoặc nhóm cổ đông quen biết lẫn nhau cùng góp vốn. Chưa có ngân hàng nào phát hành, niêm yết giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Các ngân hàng này mới chỉ có duy nhất loại cổ phiếu phổ thông có ghi tên, mỗi ngân hàng páht hành với một mệnh giá khác nhau: nếu ngân hàng có các cổ đông với tiềm lực vốn lớn thì mệnh giá thường cao ( 5 triệu đến 10 triệu đồng/ 1 cổ phiếu), những ngân hàng có cổ đông đại chúng thì mệnh giá thấp ( ngoài NHTM cổ phần Sài Gòn thương tín phát hành mệnh giá 0,2 triệu đồng/ 1 cổ phiếu, đa số các ngân hàng pháthành với mệnh giá 1 triệu đồng / cổ phiếu). Tính đến 31/12/2002/, toàn hệ thống NHTM cổ phần huy động được trên 2.200 nghìn tỷ đồng vốn điều lệ, nếu tính tho mệnh giá 10.000đ/1cổ phiếu thì hiện nay, các nnn này năm giữ trên 200 nghìn tỷ cổ phiếu. Việc các NHTM cổ phần được phát hành cổ phiếu ra công chúng, được niêm yết và giao dịch cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ giúo

    47

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    các ngân hàng có cơ hội nâng quy mô về vốn, gia tăng một khối lượng hàng hoá đáng kể cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, để thực hiện được thực hiện điều này, không phải điều dễ dàng đặc biệt là những trở ngại về cơ sở pháp lý. Thủ tướng Chính phủ đã có Ưuyết định số 172/1999/QĐ- TTg bgày 19/8/1999 “V/v các tổ chức tín dụng thành lập Công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng khoán”. Theo đó, về chủ trương, các NHTM cổ phần được phát hành và niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, chủ trương chưa được triển khai trong thực tiễn, do Ngân hàng Nhà nước chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các NHTM cổ phần, thúc đẩy sự tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường vào tạo cơ sở pháp lý cần thiết để Ngân hàng Nhà nước xem xét, chấp nhận cho một số NHTM cổ phần đã có hơn và hồ sơ xin niêm yết cổ phiếu trên Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy đinhk về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát triển cổ phiếu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành văn bản quy định về việc cho phép các NHTM cổ phần được tham gia niêm yết, giao dịch và phát hành cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán.

    2.2.2.2 Vấn đề cổ phần hoá NHTMNN.

    Trong chỉ thị 11/2004/Ct-TTg để đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 9 và tổ chức triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp nhà nước, Thủ tướng chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ tài chính và cá cơ quan cos liên quan xyâ dứng đề án CPH Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cưu Long, trình Thủ tướng Chính phủ xem xet quyết định trước ngày 30/6/2004. Cho đến nay, Đề án CPH VCB đã được xây dựng và trình thông đốc Ngân hàng Nhà nước. Trả lời báo chí, thông đốc Ngân hàng Việt Nam Lê Đức Thuý cho hay, tiến trình CPH VCB sẽ chậm hơn dự kiến khoảng 15 tháng. Trên cơ sở thực hiện Đề án CPH VCB sẽ rút kinh nghiệm để CPH Ngân hàng Đồng bằng sông Cửu Long và tiến toiư CPH cac NHTM nhà nước khác.

    48

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Trong bối cảnh hiện nay, chủ trương CPH cá NHTM nhà nước có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với ngành ngân hàng , mà còn tác động tích cực đến cá doanh nghiệp là khách hàng truyền thống của hệ thống ngân hàng này và có thể tạo “ đòn bẩy kép” cho sự phát triển của TTCK. Trên thực tế, các NHTM đều đang có nhu cầu về vốn cấp bách phải nâng cao năng lực về vốn, về quản trị điều hành và hiệu quả kinh doanh để có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tê. Trong khi nguôn lực của Nhà nước có hạn, việc CPH NHTM nhà nước la fdiều tất yếu và sẽ mang lại lợi ích nhiều mặt đối với Nhà nước, xã hội và bản thân ngân hàng. CPH NHTM nhà nước , nếu được thực hiện thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, chính là tạo điều kiện cho công chúng đầu tư được cùng Nhà nước tham gia trực tiếp vào việc kiểm soát ngân hàng. Bên cạnh đó, cơ chế sở hữu cổ phiếu của cán bộ nhân viên Ngân hàng được xác lập thông qua CPH là nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên đội ngũ nhân viên năng động và tích cực cho ngân hàng, đồng thời góp phần tăng cường công tác kiểm soát nội bộ. Là những doanh nghiệp có uy tín, ngân hàng thực hiện CPH thường gắn liền với việc niêm yết cổ phiếu trên TTCK có tổ chức. Sự tham gia của ngan hàng vào TTCK không những làm tăng uy tín, hình ảnh của ngân hàng, mà còn làm tăng giá trị và tính thanh khoản cho cổ phiếu của ngân hàng; từ đó mở ra khả năng huy động những nguồn vốn lớn một cách thường xuyên và chủ động để đáp ứng yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Như vậy, CPH NHTM nhà nước không những thúc đẩy quá trình xã hội hoá đầu tư, tạo điều kiện cho những ngân hàng này tăng, giảm vốn một cách linh hoạt cùng với quy mô hoạt động mà còn tăng cường tính đại chúng của ngân hàng và sự giám sát của xã hội đối với hoạt động của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng không thể cho vay dễ dãi và không chờ Nhà nước khoanh nợ, xoá nợ cho cá khoản tín dụng xấu. Các doanh nghiệp khách hàng của ngân hàng do đó cũng sẽ phải tìm kiếm các nguồn vốn khác trên thị trường để bổ sung cho tín dụng ngân hàng, nhất là nguồn vố trùn và dài hạn. Vì những lợi ích to lớn đó, CPH hay đại chúng hoá chính là con đường phát triển của nhiều tập đoàn, công ty lớn trên thế giới trong đó có ngân hàng.

    49

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán.

    Một điều dễ nhận thấy là vai trò của NHTM đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán là còn rất hạn chế, các NHTM chưa thực sự vào cuộc, cùng bắt tay sẻ chia những khó khăn voiư sthị trường chứng khoán nhằm đưa TTCK phát triển. Các hoạt động của NHTM vẫn còn mang tính chất tham dò và tiến hành cá nghiệp vụ ít rủi ro, và không đòi hỏi vốn lớn. Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu không phải là các NHTM không thấy được tiêm năng to lớn của TTCK và vai trò của mình trên TTCK mà đó xuất phát từ những hạn chế, yếu kém về năng lực và nguồn lực bên trong của các NHTM Việt Nam.

    Thứ nhất, về năng lực tài chính của các NHTM. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “ sau 15 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển ban đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam còn yếu, nợ quá hạn cao, nhiều rủi ro.”Tuy chiếm gần 80% thị phần tín dụng nhưng vốn tự có của cá NHTM nhà nước thấp và chưa tương xứng với thị phần. Vốn tự có của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chỉ chiếm 4,1% trong tổng nguồn vốn; Ngân hàng Công thương là 2,9%. Tỷ lệ này là quá thấp so với chuẩn mực quốc tế 8%. Tính đến tháng 3/2003, NHTM nhà nước có vốn điều lệ lớn nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Viêt Nam với số vốn là 4.320tỷ đồng, tương đương với 280 triệu úD. Mức vốn này chỉ ngang với tổng vốn đầu tư của một dự án lớn của một doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, chứ chưa nói đến việc so sánh với vốn điều lệ hàng tỷ, hàng chục tỷ của cá ngân hàng nước ngoài. Trong khi đó, vốn tự có đóng vai trò quan trọng đói với hoạt động của một ngân hàng, vừa là nguồn lực đảm bảo sức mạnh tài chính vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Nếu không tăng được vốn ở mức cần thiết thì khó có thể nói đến việc tài trợ hiệu quả cho những dự án lớn, khách hàng lớn. Đồng thời, khi không có nguồn lực thì khó có thể đầu tư cho công nghệ hiện đại, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, không có khả năng đầu tư tài chính, vươn ra cạnh tranh trên các thị trường tài chính khu vực và thế giới. Để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về vốn, đến năm 2010, các

    50

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    NHTM nhà nứoc cần bổ sung khoảng 117.000 tỷ đồng. Nguồn vốn nói trên namư ngoài khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.

    Thứ hai, về công nghệ ngân hàng, tuy vấn đề hiện đại hoá công nghệ ngân hàng đã được quan tâm và đầu tư song chủ yếu cũng mới ở giai đoạn thử nghiệm và cũng mới được thực hiện ở một số ngân hàng lớn, thuộc khu vực đô thị. Còn lại phần lớn hệ thống ngân hàng có trình độ cơ giới thấp, công nghệ lạc hậu, mạng lưới chi nhánh rộng nhưng hoạt động kém hiệu quả. Các tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các ngân hàng thương mại mà đặc biệt là các Ngân hàng thương mại Nhà nước đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Đó là một trở ngại, một vấn đề lớn cần quan tâm của hệ thông ngân hàng Việt Nam hiện nay.

    Thứ ba, Về năng lực quản trị của các NHTM mà dặc biệt là các ngân hàng thương mại Nhà nước là rất thấp. Hiện nay, “đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam tương đối đông về số lượng nhưng trình độ chuyên môn thấp, nhất là cán bộ quản lý”. Năng lực quản trị của các NHTM không thể cải thiện được một khi cung cách hoạt động của ngân hàng vẫn mang nặng tính bao cấp, trông chờ bảo hộ, khoanh nợ, xoá nợ của Nhà nước. Năng lực của nhân viên ngân hàng còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hôi nhập, đáp ứng được xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Đó là một hiện tượng đáng báo nói đến hiện nói. Nói riêng về các công ty chứng khoán hiện nay, nhân viên của họ được đào tạo tương đối bàn bản và quy củ nhưng họ thiếu nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh chứng khoán , vốn là một lĩnh vực hết sức khó khăn và phức tạp. Vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các NHTM còn dè dặt khi tham gia vào TTCk và chưa thực sự trở thành cầu nối giữa những tổ chức phát hành chứng khoán và những nhà đầu tư.

    Chương 3:

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NNTM ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

    51

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    3.1 Mục tiêu chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

    Quan điểm chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam là đi từ quy mô nhỏ đến lớn, theo định hướng XHCN, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; xây dựng thị trường hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả, bảo vệ người đầu tư, và có thể linh hoạt thích ứng thực tế, đồng thời tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với thị trường.

    Mục tiêu tổng quát của chiến lược là “củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường, từng bước mở rộng phạm vi, quy mô htij trường; tăng cường hiệu quả quản lý giám sát thị trường, bảo vệ người đầu tư. Góp phần phát triển thj trường tài chính Việt Nam, đảm bảo ổn định và an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia; nâng khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Tạo ra một môi trường nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và huy động nguồn vốn cho đầu tư pahs triển

    Mục tiêu giai đoạn 2003- 2005 là củng cố TTCK và hoàn thiện xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho thị trường, từng bước phát triển quy mô, phạm vi hoạt động TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động TTCK; tăng cung hàng hoá; hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật của thị trường; xây dựng và phát triển các định chế hoạt động trên thị trường.

    Mục tiêu gia đoạn 2006- 2010 là tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng hoạt động cung cấp dịc vụ của TTCK. Nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng và tăng cường năng lực của thị trường, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ; khuyến khích, tăng cường khả năng cạnh tranh; thúc đẩy hội nhập quốc tế

    Đó là những mục tiêu chính trong chiến lược phát triển ngành chứng khoán. Dựa vào đó ta có thể đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển thị trường mà ở trong phần nghiên cứu này em chỉ dám đua ra một vài những ý kiến nhằm phát huy vai trò của Ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán.

    3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của NNTM trên TTCK

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Để phát triển TTCk hiện nay, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giã hoạt động của các trung gian tài chính với sự điều tiết nhanh nhạy của cá nhà uản lý thị trường, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước về luật pháp, chính sách và cũng không loại trừ cả những giải pháp mạnh ở tầm vĩ mô lúc cần thiết. Trong tình hình hiện nay, ở Việt Nam nếu không có sự kết hợp đồng các tổ chức nói trên thì khó có thể phát huy được hết vai trò của các NNTM cũng như sự phát triển hon nữa của thị trường.

    3.2.1 Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý thị trường

    3.2.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho TTCK Việt Nam và công tác pháp chế của UBCKNN

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK hiện nay với văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Nghị Định số 144/2003/NDD-CP tuy đã khắc phục được nhiều mặt hạn chế, thiếu sót của Nghị định số 48/1998/NDD-CP nhưng do là văn bản dưới luật nên tính pháp lý của hệ thông pháp luật về chứng khoán và TTCK chua cao, chưa đồng bộ, không thể giải quyết được một cách triệt những mâu thuẫn xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan, chưa tạo được môi trường pháp lý đầy đủ, ổn định để điều chỉnh mọi hoạt động trên TTCK phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển TTCK Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và TTCK Việt Nam hiện nay là chính là xây dựng Luật Chứng khoán. Đây cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK. Luật Chứng khoán với những ưu thế rất lớn sẽ tạo ra một môi trường pháp luý ổn định, vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích của cá chủ thể tham gia thị trường. Góp phần xây dựng và phát triển TTCK Việt nam trở thành một kênh huy động vốn quan trọng và thiết yếu đáp ứng cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Hoàn thiện khung pháp lý TTCK Việt nam là một trong những giải pháp nhằm bình ổn và phát triển TTCK, mở rộng phạm vi, quy mô của thị trường, đảm bảo

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    xây dựng một TTCK hoạt động có tổ chức, an toàn, hệu quả, được quản lý một cách chặt chẽ. Qua đó cũng tạo điều kiên thuận lợi, khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia của các NHTM trên TTCK.

    3.2.1.2 Hiện đại hoá các hệ thống và nâng cấp hoạt động của TTCK

    Hoàn thiện hệ thống giao dịch theo hướng đảm bảo sự kết hợp giữa các điều kiện sẵn có của môi trường kinh tế với nhu cầu của các đối tượng tiềm năng tham gia TTCK, trong đó tập trung vào các yêu tố như: Tính ổn định của thị trường; tính đơn giản; tính thích nghi; tính bảo mật. Trong thời gian qua, mặc dù hệ thống gaio dịch của TTGDCK được xây dựng từ các nguồn cung cấp khác nhau nhưng bước đầu đã đáp ứng được các nhu câu giao dich chứng khoán trên thị trường. Tuy nhiên, hệ thống giao dịch hiện tại sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu cho giao dịch sắp tới, đòi hỏi chúng ta cần phải thiết kế, xây dựng hệ thống mang tính đồng bộ, có công suất lớn và đảm bảo được sự tương thích giữa các hệ thống và có tính mở để có thể nâng cấp và khả năng kết nối với các hệ thống khác từ công ty chứng khoán, trung tâm lưu ký, trung tâm thanh toán ……,

    từng bước cho phép ứng dụng các giao dịch trực tuyến trên TTCk, tạo điều kiện dễ dàng và thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc tiếp cận các phòng giao dịch thông qua mạng Internet; Mobile phne; fax; telex v.v..Cần pahir đưa hẹ thống giao dịch tự đọng mới vào vận hành, có thể khớp lệnh liên tục hoặc định kỳ. Kết nối mạng diện rộng với các công ty chứng khoán thành viên, áp dụng hệ thống ngừng giao dịch tự động khi đưa hệ thống khớp lệnh liên tục vào hoạt động.

    Hiện đại hoá hệ thống giám sát thị trường, xây dựng hệ thống giám sát tự động kết nối với các hệ thống giao dịch, công bố thông tin, lưu ký, thanh toán

    Nâng cấp hệ thống công bố thông tin, đảm bảo có một hệ thống công bố thông tin có thể truyền phát rộng và truy cập dễ dàng cho các đối tượng tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư. Mở rộng phạm vi thông tin cần công bố trên cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đầy dủ bao gồm thông tin giao dịch

    54

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    trên thị trường, thông tin về các công ty niêm yết, thông tin về các tổ chức trung gian thị trường và thông tin quản lý thị trường.

    Tự động hoá một bước hệ thống lưu ký, và thanh toán bù trư chứng khoán. Thực hiện dịch vụ lưu ký cho các chứng khoán chưa niêm yết.; giảm thời gian thanh toán; tự đọng hoá tứng bước hệ thống lưu ký, thanh toán bù trừ; thực hiện nối mạng giữa các thanh fvieen lưu ký và TTGDCK

    3.2.1.3 Hoàn thiện thể chế TTCk va tăng cường năng lực cho các định chế trung gian khác

    Để đảm bảo một môi trường đầu tư ổn định, giảm thiểu rủi ro thị trường, hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước, thể chế TTCK cần được hoàn thiện thông qua một số các hoạt động sau đây: Củng cố và hiện đại hoá các định chế thị trường thị trường đã có như các TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.Bên cạnh đó, cũng cần phải phát triển và hoàn thiện hơn nữa những thể chế khác cho TTCk. Các quỹ đầu tư chứng khoán với quy mô ài chính lớn và kỹ năng chuyên nghiệp cân được khuyến khích hoạt động mạnh mẽ hơn nhằm chuyên môn hoá hoạt động đầu tư chứng khoán và tạo đinh hướng cho nhà đầu tư nhỏ lẻ. Việc phát triển các định chế quỹ đầu tư chứng khoán sẽ tạo ra một đội ngũ các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp định hướng đầu tư cho thị trường.

    Bên cạnh đó các định chế mang tính chất thiết yếu trong cấu trúc thị trường như tổ chức định mức tín nhiệm, trung tâm lưu ký, ddanwg ký và thanh toán bù trừ chứng khoán độc lập cần được xây dưng và sớm đi vào hoạt động. Việc thành lập cá tổ chức tín nhiệm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu cũng như tổ chức tốt một thị trường trái phiếu thứ cấp. Có thể thành lập một tổ chức định mức tín nhiệm dưới hình thức một công ty cổ phần với sự tham gia của các định chế ngân hàng, tài chính và có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm Việt Nam cần phải đáp ứng được các tiêu chí xếp hạng và nguyên tắc hoạt động cơ bản của một tổ chức định mức tín nhiệm trên thế giới, nhưng cần phải phù hợp với bối cảnh hiện tại ở Việt Nam.

    55

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    Ngoài ra vai trò của những tổ chức tự quản như Hiệp hôi ngành chứng khoán và Hiệp hôi các nhà đầu tư tài chính cần được phát huy để có thể thực hện được các chức năng tự quản đối với các thanh viên tham gia thị trường, giảm nhẹ gánh nặng quản lý cho cơ quan quản lý nhà nước, và tăng cường hiệu quả quản lý thị trường thông qua cơ chế kiểm tra và điều chỉnh.

    3.2.2 Các giải pháp đối với các NHTM

    3.2.2.1 Nâng cao vai trò cầu nối của các Cty chứng khoán của các NHTM

    Hiện nay, các hoạt động của NHTM tham gia vào TTCk mới chỉ chủ yếu là thông qua các công ty chứng khoán giông như nhiều các công ty chứng khoán khấc không thuộc ngân hang. Như vây, các NHTM chưa thuạc sự pahts huy dược vai trò của minh, thế mạnh của mình trên thị trường chứng khoán. Các công ty chứng khoán của các NNTM cần phải phát huy hiưn nữa vai trò cầu nối trung gian của minhf giữa các nhà đầu tư với các doanh nghiệp, góp phần tạo kênh huy động vốn mới thực sự hiệu quả cho nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh hơn nữa nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh phát hành chứng khoán; nâng cao chất lượng và mở rộng hơn nữa tư vấn đầu tư chứng khoán, tăng cường tiếp xúc với cá doanh nghiệp dưới mọi hình thức nhằm giới thiệu khả năng huy động vốn qua kênh TTCK cho các doanh nghiệp; nâng khả năng và tính chuyên nghiệp cho các công ty chứng khoán là một đòi hỏi rất quan trọng. Bên cạnh đó, bằng cachs cung cấp dịch vụ tư vấn CPH, tư vấn niêm yết thực hiện BLPH chứng khoán, cá công ty chứng khoán se phát huy vai trò tạo cơ chê giá, giup cá doanh nghiệp đánh giá phát ành hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành và giúp nhà đầu tư đánh giá đúng và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình bắng cách dó công ty chứng khoán sẽ phát huy được vai trò tạo sản phẩm mới cho thị trường. Cuối cùng, công ty chứng khoán cần quan tâm hơn nữa tới việc tăng cường cầu nối trung gian trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường tiếp cận với khách hàng tiềm năng, góp phần tạo nên văn hoá đầu tư, tạo thói quen đầu tư trên TTCK cho nhà đầu tư, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng

    56

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    dịch vụ tư vấn đầu tư thông qua việc xây dựng hình ảnh của công ty, tạo niềm tin và sự tín nhiệm của khách hàng đối với cá nhân người hành nghề kinh doanh chứng khoán và đối với chính công ty.

    3.2.2.2 Tăng cường đào tạo đội ngũ nhân viên chứng khoán của các NHTM

    Thứ nhất, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên tác nghiệp tại các công ty chứng khoán và công tác đào tạo cấp giấy phép hành nghề chứng khoán có tình độ và kỹ năng nghề nghiệp ngang tầm với cá nước trong khu vực; đảm bảo chất lượng đào tạo và thi tuyển cấp phép hành nghề ngang tầm khu vực.

    Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ tư vấn đầu tư chứng khoán: Ngoài những kiến thức nền tảng về kinh tế tài chính, đội ngũ này cần có hiểu biết sấu sắc về kỹ năng phân tích chứng khoán và lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán, có khả năng tìm tòi, khai thác, phân tích tổng hợp thông tin.

    Các công ty chứng khoán nên phối hợp với TTNCKH& DDTCK cử các chuyên gia giảng dạy đối với từng nghiệp vụ chuyên sâu, cũng như thông tin tình hình của thị trường.

    3.2.2.3 Hiện đại hoá trang thiết bị cho các NHTM

    Hoạt động chứng khoán là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi những công nghệ và thiết bị hiện đại. Để phát huy được vai trò của mình trên thị trường chứng khoán, cùng với sự đổi mới toàn ngành, hệ thống ngân hàng không thể không đổi mới công nghệ của minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các NHTM cần đầu tư đổi mới các cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho các hoạt động giao dịch và thanh toán được nhanh chóng và hiệu quả, áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của NHTM. Hiện đại hoá hệ thống htoong tin, nối mạng giữa các công ty chứng khoán với TTGDCK và người đầu tư; phát triển hệ thống tác nghiệp tập trung cho các công ty chứng khoán để hiện đại hoá hệ thống tác nghiệp trên cơ

    57

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sở tiết kiệm chi phí, dễ dàng chia sẻ thông tin giupc ho việc quản lý được thuận tiện , nâng cao chaat lượng xử lý giao dịch và dễ dàng nâng cấp trong tương lai.

    3.2.2.4 Cổ phần hoá NHTMNN nhằm nâng cao tiêm lực về vốn

    Có thể thấy, cổ phần hoá NHTMNN là một nhu cầu cần thiết và thực tế, một xu hướng tất yếu khi mà định hướng chung của kinh tế nước ta là hội nhập với kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cần phải quan tâm đến những yêu cầu sau đây:

    Một là, CPH các NHTMNN phải nằm trong kế hoạch tổng thể cơ cấu lại và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam. Một trong những trọng tâm của nó là việc nâng vốn của các NHTMNN lên càng sớm càng tốt, để khi tiến hành CPH xong thì tỷ lệ an toàn vốn phải đạt chuẩn mực quốc tế

    Hai là, CPH các NHTMNN cần phải tiền hành từng bước thận trọng. Do tính chất tương đối đặc thù, ngân hàng vốn được coi là một ngành nhạy cảm, hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng raat to lớn đến hầu hết cá ngành khác trong nền kinh tế. Do đó, CPH các NHTMNN cần hết sức thận trọng để đảm bảo độ an toàn và bên vững của không những hệ thống ngân hàng mà còn của toàn bộ nền kinh tế.

    Ba là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với việc nâng cao điều hành, quản trị, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, tạo ra cá sản phẩm ngân hàng mới, có sức cạnh tranh cao

    Bốn là, CPH các NHTMNN phải gắn liền với trình xử lý các yếu kém tồn tại, lành mạnh hoá tài chính, giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn.

    Năm là, CPH các NHTMNN phải được tiến hành theo hướng công khai, minh bạch theo hướng đa sở hữu trong đó Nhà nwocs nắm giữ cổ phần chi phối. Tránh hiện tượng CPH khép kín. Hơn nữa, CPH NHTMNN không phải là bán tài sản hiện tại của Nhà nước cho khu vực tư nhân mà là giữ nguyên tài sản Nhà nước với mức tăng hàng năm do tái đầu tư bình thường, đồng thời huy động thêm vốn mới từ công chúng, nhằm nâng cao tiêm lực tài chính và quy mô hoạt dộng của các NHTMNN. Ngoài việc đảm bảo an toàn cho hoạt động cho cả hệ thống ngân hàng , cơ sở vốn bền vững còn là điều kiện cần thiết và là cơ hội để

    58

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    hiện đại hoá công nghệ và quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện vai trog, vị thế và uy tín quốc tế của hẹ thống tài chính, ngân hàng Việt Nam, đồng thời có thể hỗ trợ đặc lực cho phát triển thị trường chứng khoán của nước ta.

    3.2.2.5 Tạo điều kiện cho phép các NHTM cổ phần mở rộng quy mô vốn

    Một trong những vấn đề đang thời sự hiện nay là ch phép các NHTM cổ phần niêm yết phát hành cổ phiếu trên TTGDCK để huy đông vốn, tăng thêm vốn điều lệ cho các ngân hàng này.Đó là một tỏng những giải pháp quan trọng được đưa ra bàn bạc sôi nổi trong thời gian qua. Được biết UBCKNN cũng mong muốn triển khai vấn đề này vì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK Việt nam lên tầm cao mới , trước mắt là tăng thêm số lượng cổ phần giao dịch trên TTGDCK Tp.HCM. Đồng thời cho đến nay, Thống đốc NHNN cũng ủng hộ chủ trương nói trên. Hiện nay, trên thực tế, nhiều NHTM cổ phần trong nước làm ăn có bài bản, lãi lớn, hoạt động ổn định, hạch toán rõ ràng, được kiểm toán quốc tế hay kiểm toán độc lập, có uy tín trong nước và quốc tế, tạo được lòng tin trong dân chúng, nên chắc chắn việc niêm yết và phát hành cổ phiếu trên TTGDCK sẽ thành công.

    59

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    KẾT LUẬN

    Thị trường chứng khoán là thể chế tài chính bậc cao voíư sự tham gia của các tổ chức trung gian, trong đó có vai trò quan trọng của các tổ chức trung gian đặc biệt là các ngân hàng thương mại

    Thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn đầu hình thành và triển. Thị trường chứng khoán đang dần đi vào ổn định, và đã thu được một số kết qảu đáng khích lệ nhưng bên cạnh đó cũng không ít những hạn chế và tồn tại. Có thể nói, ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại có nhiều lợi thế nhất trong việc trở thành trung gian, hỗ trợ cho sự páht triển thị trường. Nhưng trên thực tế, việc tham gia của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán là rất hạn chế, còn dè dặt, chưa phát huy được hết vai trò của các ngân hàng làm cầu nối trung gian trên thị trường chứng khoán.

    Bằng việc vận dụng những kiến thức đã học và sự tìm tòi tham khảo các tài liẹu thực tiến em đã nghiên cứu được một số vấn đề sau:

    Thứ nhất, nêu được những lý luận cơ bản về thị trường chứng khoán và vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường này.

    Thứ hai, phân tích thực trạng việc các ngân hàng thương mại thực hiện các vai trò của mình trên thị trường chứng khoán

    Thứ ba, đưa ra một số giả pháp nhằm phát huy vai trò của các ngân hàng thương mại để thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển.

    Tuy nhiên, đay là một vấn đề mới, rất đa dạng và phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiến. Qua bài nghiên cứu nay, em chỉ hi vọng đóng góp một cái nhìn nhỏ bé của mình về vấn đề này, va mong rằng thì trường chứng khoán Việt Nam

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    sẽ phát triển trong một tương lai không xa với sự tham gia tích cực của các ngân hàng thương mại. Đồng thời, em rất mong muốn nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các độc giả để có thể lĩnh hội và có hiểu biết sâu sắc hơn về lĩnh vực mà em đã quan tâm nghiên cứu.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ts Lê Văn Tư, “Ngân hàng thương mại” Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “Thị trường chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    1. Ts Lê Văn Tư, “ Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản thống kê.
    2. Phan Thị Thu Hà, “Giáo trình Ngân hàng thương mại- Quản trị và nghiệp vụ”
    1. Ts Phan Đình Nam (chủ biên), “Giáo trình Thị trưòng chứng khoán”, Nhà xuất bản thống kê
    2. Trần Thị Minh Châu, “ Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế-xã hội nhình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    3. Đỗ Đức Sơn- TC 41A, Luận văn tốt nghiệp “ Một số giải pháp nhằm thúc

    đẩy sự tham gia các hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán của chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hải Phòng”.

    1. Tạp chí Ngân hàng
    1. Tạp chí Chứng khoán Việt Nam
    1. Một số tạp chí khác.

    61

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    62

    Khoa Ngân hàng – Tài chính

    63


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận Văn Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thương mại Tân Vĩnh Phát


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-c%C3%A1c-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay.-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận Văn Hoạt động tín dụng trong các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Giải pháp

    LỜI MỞ ĐẦU.

    Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phát triển nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệp đã cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình. Ở nước ta hiện nay thì chủ yếu mới chỉ có hoạt động tín dụng ngân hàng là thực hiện nhiệm vụ này, và các NHTM ngày càng phát triển thực hiện tốt chức năng vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

    Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động tín dụng trong các NHTM và vai trò to lớn của nó trong nền kinh tế thị trường nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, em xin chọn đề tài “Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”. Bài viết bao gồm những nội dung sau:

    • Chương I: Lý luận chung về NHTM và tín dụng ngân hàng.
    • Chương II: Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM ở Việt Nam.
    • Chương III: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Em hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về NHTM, hoạt động tín dụng ngân hàng, và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTM Việt Nam hiện nay. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp

    • của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

    1

    CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Ngân hàng thương mại.

    1/ Khái niệm Ngân hàng thương mại.

    Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:” Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

    Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trong nền kinh tế quốc dân.

    2/ Các nghiệp vụ của NHTM.

    Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).

    2.1/ Nghiệp vụ nợ.

    Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau:

    2.1.1. Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ.

    • Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành lập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên

    2

    doanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NHTM được pháp lệnh quy định cụ thể.

    • Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.
    • Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.

    2.1.2/ Nguồn vốn quản lý và huy động.

    Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng có thời hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:

    • Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó có mục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.
    • Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây là khoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiền khi đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước với điều kiện phải báo trước và có thể bị hưởng lãi suất thấp hơn. Mục đích của người gửi chủ yếu là lấy lãi.
    • Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có 2 hình thức: một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, là tiền gửi đến kỳ mới được rút.
    • Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh toán.

    Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là: phát hành theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn); hai là:phát hành dưới hình thức chiết khấu (người

    3

    mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn).

    2.1.3/ Vốn vay.

    Bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước … Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.

    2.1.4/ Các nguồn vốn khác.

    Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng.

    2.2/ Nghiệp vụ có.

    Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

    2.2.1/ Nghiệp vụ ngân quỹ.

    • Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.
    • Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệ nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trung ương; tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán…

    2.2.2/ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư.

    • Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:

    4

    • Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định. Có 2 loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
    • Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
    • Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
    • Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
    • Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
    • Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức là hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.

    – Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu

    5

    tư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.

    Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động.

    2.3/ Nghiệp vụ trung gian.

    • đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:

    – Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.

    – Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.

    – Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.

    – Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích… nhằm thu hút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.

    – Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản( đá quý, chứng khoán…), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân hàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.

    2.4/ Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ.

    Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động qua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải

    6

    có vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được mở rộng. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển.

    Giữa nghiệp vụ nợ – có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại lẫn nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng, họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có phát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung gian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ – có, khi thực hiện các nghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác, thương mại … sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốn để tiến hành cho vay.

    Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng. Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những người gửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn khả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng sẽ giảm xuống. Ngược lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển được nghiệp vụ nợ.

    Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.

    II/ Hoạt động tín dụng của NHTM.

    Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất được các ngân hàng quan tâm, trong khuôn khổ đề tài này em xin được đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.

    1/ Khái niệm tín dụng ngân hàng.

    1.1/ Định nghĩa tín dụng.

     

    7

    Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.

    Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.

    Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.

    1.2/ Tín dụng ngân hàng.

    Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế.

    Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.

    Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu

    8

    mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi.

    1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.

    • Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân.
    • Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
    • Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoá không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thông hàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.
    • Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hình thức khác là:

    Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

    Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

    Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

    2/ Phân loại tín dụng ngân hàng.

     

    9

    Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau:

    • Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau:
    • Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân.
    • Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
    • Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

    Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.

    • Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
    • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
    • Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên.
    • Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
    • Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.
    • Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối

    10

    với ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ…

    Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.

    3/ Lãi suất tín dụng ngân hàng.

    3.1/ Khái niệm.

    Trước hết ta cần xem xét lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay do việc sử dụng tiền vay của người này.

    • đây người đi vay sử dụng vốn vay được để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận được tạo ra trong quá trình này tất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đáng giữa người cho vay và người đi vay tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuất kinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay này được gọi là lợi tức.

    Thực chất lợi tức là giá cả của lượng hàng hoá (tức lượng tiền tệ ) cho vay. Giá cả này lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhưng khác với các hàng hoá thông thường khá là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị của chúng, còn giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn, nó còn phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của 2 bên. Chính vì vậy, lợi tức chưa phản ánh được hiệu quả của số vốn cho vay phát ra.

    Như vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã so sánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có định nghĩa khái quát về lãi suất tín dụng như sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó.

    3.2/ Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà các loại lãi suất tín dụng cũng được hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúng đều do ngân hàng trung ương kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suất

    11

    càng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vì chính lãi suất là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phải phân biệt được các loại lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy được hiệu quả của chúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.

    Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau:

    • Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho các NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.
    • Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc do NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
    • Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ương dành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.
    • Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực:

    Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước.

    Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực như sau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự đoán.

    Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì không phải lúc nào cũng dương, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãi suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho người cho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy ngân hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thực dương.

    4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.

     

    12

    Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động nhất định đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, nó có vai trò khá quan trọng:

    4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá

    trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.

    Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng cường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tín dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanh chóng, rút ngắn thời gian phát triển.

    Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.

    4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất.

    Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.

    Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượng vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh tranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.

    13

    4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các ngành.

    Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.

    Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng… do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.

    14

    CHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM VÀ BIỂU HIỆN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM.

    Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như: Môi trường kinh doanh, môi trường pháp luật, địa bàn hoạt động… Tuy nhiên trong chương này sẽ chỉ đề cập về một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát được có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong các NHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam.

    I/ Quy trình tín dụng.

    Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lại doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc cho vay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậy để đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thực hiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã được quy định. Quy trình cho vay đối với các đối tượng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụ thể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng như sau:

    1/ Hình thành khoản vay.

    Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay được bắt đầu bằng việc khách hàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cần thiết vào đơn xin vay. Trong trường hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệp thì thường bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng. Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay.

    2/ Xử lý yêu cầu vay vốn.

    Sau khi nhận được một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lý yêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủ các câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xin vay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay.

    Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu

    thập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà cán bộ còn phải đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiên cứu. Ngoài ra còn phải điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệt là việc thực thi các quan hệ tín dụng trước đó của doanh nghiệp thông qua tiếp xúc với các chủ nợ trước đó. Xác định các thông tin doanh nghiệp đã cung cấp và khám phá các thông tin mới cần thiết về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định rõ thì ngân hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và có thể gợi ý sự sửa đổi.

    3/ Đưa ra quyết định cho vay.

    Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tín dụng sẽ tiến hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem dòng tiền và các tài sản dự phòng của khách có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩn bị một bản báo cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để gửi cho người có thẩm quyền xem xét. Từ đó rút ra kết luận chính xác về điểm mạnh điểm yếu trong yêu cầu xin vay của khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sách tín dụng và mục đích, mục tiêu của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyết định có nên cho vay hay không và doanh nghiệp phải được thông báo ngay lập tức. Nếu yêu cầu được chấp thuận cán bộ tín dụng phải trao cho người vay danh mục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và đưa ra ngày dự tính ký kết.

    4/ Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay.

    Một khoản vay có cấu trúc hoàn hảo là khoản vay đáp ứng được nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp đồng thời cũng thoả mãn các tiêu thức tín dụng của ngân hàng. Cấu trúc của khoản vay gồm các yếu tố: lãi suất; thời hạn và lịch hoàn trả; sự đảm bảo; người bảo lãnh; các hạn chế và kiểm soát. Các yếu tố này phụ thuộc vào sự đàm phán thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp xin vay.

    Sau khi đã đạt được thoả thuận vay vốn thì hai bên cần xây dựng một hợp đồng tín dụng làm sao cho phù hợp với tình hình riêng biệt cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng. Và cuối cùng là việc ký kết khoản vay. Trước khi ký kết cần phải chuẩn bị lập ra một danh mục kiểm tra toàn bộ các chứng từ tài liệu cần thiết, và ngày ký kết phải có đầy đủ 2 bên, và đảm bảo cả 2 đều phải hiểu cặn kẽ giấy tờ vay vốn. Việc ký kết khoản vay được quản lý tốt sẽ có tác

    16

    dụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn tốt giữa ngân hàng và doanh nghiệp.

    5/ Kiểm soát khoản cho vay.

    Ký kết tín dụng chưa phải là đã kết thúc một quá trình cho vay mà ngân hàng còn phải tiếp tục theo dõi khoản cho vay này để đảm bảo rằng khách hàng sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi như đã cam kết. Còn với các khoản cho vay thương mại lớn cán bộ tín dụng phải đến và kiểm tra công việc kinh doanh của khách hàng định kỳ, đồng thời phải tổ chức quá trình kiểm soát cẩn thận và nghiêm túc để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quan trọng nhất đối với khoản vay như: đánh giá quá trình thanh toán, đánh giá chất lượng, tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính của người vay… Tiến hành theo dõi thường xuyên hơn đối với những khoản cho vay có vấn đề.

    Kiểm soát tín dụng là rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Nó không chỉ giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoản cho vay có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được vấn đề các cán bộ tín dụng có tuân thủ đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không.

    6/ Xử lý khoản vay có vấn đề.

    Mặc dù đã có những biện pháp quản lý an toàn áp dụng trong các chương trình cho vay song việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế không thể tránh khỏi, có nghĩa là người vay đã không thực hiện thanh toán đúng kế hoạch hay giá trị tài sản thế chấp đã sụt giảm đáng kể.

    Khi cán bộ tín dụng nhận ra khoản vay có vấn đề thường thì cán bộ tín dụng cần phải liên lạc với doanh nghiệp để giám sát khoản vay. Nếu ngân hàng và doanh nghiệp muốn sửa chữa khoản vay thì phải xác định được nguyên nhân của vấn đề và tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngân hàng phải giám sát việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáo thường xuyên và cả 2 bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyên thận trọng phân tích kết quả của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàng chỉ tiến hành thủ tục pháp lý để thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng các biện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu quả.

    17

    7/ Thu nợ.

    Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thận trọng cân nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện điều đó. Thường thì ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp của mình, nếu không được thì ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi tài sản cầm cố thế chấp và bán hoặc cho thuê tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làm đảm bảo phải chú ý thực hiện đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vì nếu không ngân hàng sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối với khách hàng.

    • Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toàn chắc chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng nó còn nhiều tồn tại như: thủ tục, giấy tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộ nông dân vay, đó là những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư trú của người vay phân tán, trình độ dân trí thấp, nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tục vay vốn của họ lại rất phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuân thủ theo đúng quy trình của cán bộ tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vay vốn trong việc cung cấp thông tin, giám sát… cũng là một vấn đề bức xúc, do trình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán bộ tín dụng đôi khi không thực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác khiến cho việc cho vay gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện nay vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi trong các NHTM là rất lớn, một phần là do quy trình thủ tục cho vay không được đảm bảo thực hiện đúng như quy định, đồng thời biện pháp thu hồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây dựng tổ chức tốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi hỏi các cán bộ tín dụng khi cho vay cần đảm bảo thực hiện đầy đủ và đảm bảo các bước trong quy trình cho vay mà các ngân hàng đều đã cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của mình.

    II/ Các phương thức tín dụng.

    Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp. Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng một khối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ phương

    thức cấp tín dụng như thế nào. Ở Việt Nam các phương thức cho vay còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có chứ không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần, do đó kém sức hấp dẫn và khó mở rộng tín dụng. Trong Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc “Ban hành quy chế cho vay của các Tổ chức tín dụng đối với khách hàng” có quy định về một số phương thức cho vay của các tổ chức tín dụng. Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức cho vay sau:

    1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
    2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.
    1. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
    2. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
    1. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi.
    1. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.

    19

    1. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
    2. Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước.
      • Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với các NHTM việc áp dụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngân hàng, và tất nhiên có bao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khác nhau quy định cụ thể về các phương thức cho vay. Nhưng có những điều mà các NHTM lại không thích quy định cụ thể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bị mắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không có chỗ “lùi” khi mà quy định của ngân hàng mình lại “chặt” hơn ngân hàng bạn do đó giảm khả năng cạnh tranh. Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nên sửa đổi quy định về phương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phương thức cho vay trong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tự quy định dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiện nay.

    III/ Lãi suất tín dụng.

    Như ta đã biết lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó trong một thời gian nhất định. Cái giá đó sẽ quyết định việc khách hàng có vay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khả năng tín dụng ngân hàng. Để sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất trong phát triển tín dụng ta cần xem xét vấn đề sau:

    1/Nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng ngân hàng.

    • 1/ Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường.

     

    – Lãi suất huy động vốn < lãi suất cho vay. Điều này là đương nhiên nó cho phép đảm bảo tính có lợi nhuận của kinh doanh ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM kinh doanh có lãi, từ đó mới có thể tồn tại và phát triển được.

    • Lãi suất tín dụng bao giờ cũng dương (lãi suất thực >0) và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân. Lãi suất thực phải >0 thì mới đảm bảo có lãi cho ngân hàng, và tối đa bằng suất lợi nhuận bình quân vì ngân hàng cũng là một ngành trong nền kinh tế.
    • Lãi suất phi kinh tế là lãi suất của tín dụng nặng lãi, nó rất cao so với mặt bằng lãi suất tín dụng bình thường và suất lợi nhuận bình quân, do đó khoản vốn vay này không thể sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh mà chỉ sử dụng với mục đích phi sản xuất. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của nguồn vốn cho vay, khả năng chịu đựng của người đi vay và tính chất xã hội hoá hoạt động của màng lưới ngân hàng.

    1.2/ Những nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng theo luật định.

    Trong nền kinh tế thị trường, thông thường ngân hàng trung ương ấn định thống nhất một khung lãi suất trong từng thời kỳ và các tổ chức tín dụng tự xác định lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Ngân hàng trung ương xác định lãi suất theo nguyên tắc sau:

    • Với lãi suất huy động vốn.
    • Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn < lãi suất tiền gửi có kỳ hạn.
    • Lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế < lãi suất tiền gửi của dân cư.
    • Lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân cư là cao nhất.
    • Với lãi suất cho vay.
    • Lãi suất cho vay ngắn hạn < lãi suất cho vay dài hạn.
    • Lãi suất cho vay các ngành sản xuất < lãi suất cho vay các ngành thương mại, dịch vụ.
    • Lãi suất các khoản cho vay đến hạn < lãi suất các khoản cho vay quá

    hạn.

    • Lãi suất các khoản cho vay ưu đãi theo chính sách của Chính phủ là thấp

    nhất.

    2.Phân loại lãi suất.

    Ở đây ta phân loại lãi suất dựa theo cách phân loại các hoạt động tín dụng.

    • Theo thời hạn tín dụng thì có lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

    Đây là cách phân loại lãi suất theo độ dài thời gian mà ngân hàng cho các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vay. Cơ sở của nguyên tắc này là ở

    21

    chỗ thời gian cho vay vốn càng dài thì lợi nhuận làm ra càng nhiều đồng thời tính rủi ro mất vốn càng cao do đó thời hạn càng dài thì giá của quyền sử dụng vốn càng cao. Do vậy, lãi suất cho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay trung hạn, lãi suất cho vay trung hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.

    Tuy nhiên trên thực tế nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Chính phủ dùng công cụ lãi suất để điều chỉnh cơ cấu sản xuất xã hội hay chống khủng hoảng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh chẳng hạn, khi đó cần vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản, kiến thiết nền sản xuất… do đó lãi suất trung, dài hạn có khi lại thấp hơn so với ngắn hạn.

    • Xét theo tính chất của các ngành nghề sản xuất kinh doanh thì có các loại lãi suất sau: lãi suất cho vay kinh doanh, lãi suất cho vay nông nghiệp, lãi suất cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay bất động sản.

    Lãi suất cho vay kinh doanh là lãi suất áp dụng cho các loại hoạt động kinh doanh, về mặt lý thuyết thì lãi suất này thường là thấp nhất trong số các loại lãi suất cho vay của NHTM vì thời hạn thu hồi vốn nhanh.

    Lãi suất cho vay nông nghiệp: thường thì nó cao hơn lãi suất sản xuất kinh doanh vì nó có rủi ro khách quan lớn (do biến động của khí hậu, thời tiết, điều kiện tự nhiên, sâu bọ, bệnh tật mà con người không kiểm soát được)và quy mô sản xuất lại nhỏ hơn, và thời gian thu hồi vốn lâu hơn (do tính thời vụ trong nông nghiệp).

    Lãi suất cho vay tiêu dùng: thường cao hơn các lãi suất cho khoản vay khác vì nó có quy mô nhỏ, rủi ro nhiều và khả năng trả nợ thấp.

    Lãi suất cho vay bất động sản: lãi suất tương đối cao do bị ảnh hưởng bởi kỳ hạn vay, tỷ lệ cho vay, nhu cầu về thanh khoản và tính chất đảm bảo hay bảo hiểm bởi một cơ quan khác.

    • Ngoài ra còn các hình thức lãi suất phụ thuộc vào chính sách tín dụng của nhà nước như: lãi suất thông thường, lãi suất ưu đãi, lãi suất quá hạn, lãi suất co dãn hoặc lãi suất cứng.

    3/ Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất.

    Đối với các NHTM thì để đưa ra mức lãi suất nào cho thoả đáng với mỗi khoản vay thì cần phải xem xét các yếu tố sẽ ảnh hưởng tới lãi suất sau:

    22

    • Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ thuộc và khoản vốn huy động dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiền vay Chính phủ thì giá vốn huy động nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiện của thị trường tiền tệ, hơn nữa thị trường tiền tệ lại quyết định sức hấp dẫn của các dự án đầu tư, do đó nó ảnh hưởng đến lãi suất cho vay.
    • Rủi ro: cho vay là một hoạt động luôn mang tính rủi ro, và lãi suất sẽ thay đổi theo mức độ rủi ro. Món vay có khả năng rủi ro càng cao, thì yêu cầu lãi suất càng lớn và ngược lại.
    • Lãi suất cố định và lãi suất có thể điều chỉnh: một món vay không bị điều chỉnh lãi suất trong một thời gian càng dài thì rủi ro do những biến động trong tương lai của điều kiện thị trường tiền tệ càng lớn nên lãi suất cho vay yêu cầu càng cao. Mặc dù hệ thống lãi suất thả nổi hay có thể điều chỉnh là kém hấp dẫn theo quan điểm của một số doanh nghiệp, hay có thể tạo ra một số vấn đề về quản lý và tính toán đối với ngân hàng, nhưng chắc chắn nó thể hiện là cách tính lãi suất tốt nhất cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
    • Các chi phí hoạt động và quản lý: Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngân hàng phải bỏ ra các chi phí tiền lương, tiền thuê và các phương tiện… Do đó ngân hàng phải đạt được mức lợi tức đủ để trang trải các chi phí này và cần phải có lợi nhuận, tăng tích luỹ… vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc xác định lãi suất.
    • Thời hạn hoàn trả: do trong thời gian dài sẽ có rất nhiều biến động trong tình hình tài chính của doanh nghiệp, hay giá trị của tài sản bảo đảm sẽ giảm sút, do đó rủi ro càng lớn yêu cầu lãi suất càng cao và ngược lại, thời hạn ngắn hơn thì lãi suất sẽ thấp hơn.
    • Cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, để có thể cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất hợp lý để vừa đảm bảo thu hút khách hàng vừa đảm bảo lợi nhuận tối ưu.
    • Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: các chính sách của Nhà nước (chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất…); sự ổn định của nền kinh tế, lạm phát; tỷ suất lợi nhuận bình quân…
      • Hiện nay ở Việt Nam sau khi Nhà nước chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản từ 2/8/2000 thì các NHTM có thể chủ động linh hoạt thay đổi lãi suất cho phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể, vì vậy đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranh

    23

    lãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như “phá giá” lãi suất, gây áp lực cho các ngân hàng nhỏ, đồng thời môi trường hoạt động khó khăn…Vì vậy các NHTM muốn cạnh tranh thì cũng cần phải quan tâm đến các loại hình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất để có thể đưa ra những khung lãi suất các loại một cách đúng đắn sao cho đảm bảo được hiệu quả tín dụng, mở rộng tín dụng phải có lợi nhuận, đặc biệt quan tâm đến sự phát triển chung của nền kinh tế.

    IV/ Chính sách tín dụng.

    Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêu chuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách cho vay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay và xây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánh những gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảy ra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thông thường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:

    • Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụ như nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loại hình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).
    • Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục cho vay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.
    • Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩm định tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.
    • Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng.
    • Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lại trong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết…).

    24

    Những hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp cho các món vay.

    • Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất cho vay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.
    • Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.
    • Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoản cho vay có vấn đề…
      • Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, các bước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hàng hướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăng cường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơ quan quản lý.

    Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chính sách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầu mới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nội lực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tín dụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vay vốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bị thiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và phát triển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêu chuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội. Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ý thích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phần khuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.

    V/ Rủi ro tín dụng.

    • Việt Nam từ khi chuyển sang nền cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng phong phú và sôi động. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xẩy ra với các ngân hàng và nhất là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vay

    25

    không có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cách đầy đủ và đúng hạn.

    1/ Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM.

    Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảy ra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn của mình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc “xoá sổ” những khoản thất thoát này nữa và ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chí dẫn đến phá sản.

    2/ Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.

    Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàng mất khả năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chia làm 2 loại nguyên nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát và không thể kiểm soát.

    • Những nguyên nhân có thể kiểm soát:
    • Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thông tin không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểu thiếu sót.
    • Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo.
    • Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay.
    • Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.
    • Những nguyên nhân không thể kiểm soát được:
    • Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếu vốn và khả năng cạnh tranh yếu…
    • Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi ro bất chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị …

    khiến ngân hàng không thể thu hồi được khoản nợ…

    26

    Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúp cho ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi ro mà nguyên nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hành lang và môi trường hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là các quy định điều kiện cụ thể đối với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác định các điều kiện và hình thức về giá trị vật chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vay tuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình sản xuất kinh doanh, uy tín và mức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉ có cách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả năng chống đỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao, tính chủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.

    3/ Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng.

    Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đã và đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:

    • Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khối lượng tín dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng. Chất lượng tín dụng chính là kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng các cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản lý, tiềm năng, các chính sách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho khách hàng vay bao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.
    • Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinh doanh của người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm cho các khoản tín dụng không được thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thu được gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ yếu vào việc người vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả hay không.

    27

    • Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìm hiểu và đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩm chất đạo đức kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong việc chấp hành luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết đối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ.
    • Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định đó. Việc có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hề chịu ảnh hưởng bởi những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoải mái khi đưa ra quyết định cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗi khoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đến những sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi ngân hàng chịu trách nhiệm hoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải hoàn toàn chủ động với quyết định của các khoản vay đó.
    • Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi ro được thực hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗi ngân hàng không nên tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự án lớn cần huy động nhiều ngân hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay, hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro, tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng, làm cho ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán rủi ro là một yêu cầu và xu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.
    • Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vay vốn thì điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo có thể bằng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì có thể dùng tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sản phải có giá trị, và bản thân nó phải trở thành hàng hoá để có thể chuyển thành giá trị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
    • Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc bảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng.

    28

    Theo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giá của NHNN đối với nợ xấu của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng, tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên nguồn tin từ các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rất lớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như: chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việc quyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc các cơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay…; hay các tài sản đảm bảo nợ vay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trị được, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó. hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý do về trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý…; đồng thời môi trường kinh doanh của nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hở khiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo. Vì vậy đã xảy ra những vụ rủi ro tín dụng lớn như trong vụ án TAMEXCO, Minh Phụng – Epco… mà đó chính là một bài học đắt giá cho các NHTM Việt Nam.

    Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sức quan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăng cường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng như hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    29

    CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁC NHTM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

    I/ Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    1/ Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay.

    Hiện nay môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầy đủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa, bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiện nay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏ làm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tập trung ban hành trong thời gian qua bao gồm:

    Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng như: Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ “về đảm bảo tiền vay của TCTD”; Quyết định số 266/2000 của NHNN, ngày 18/8/2000 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số 283/2000 ngày 25/8/2000 Của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng; Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 của NHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD…

    Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số 03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD.

    Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về “Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn”; NHNN ban hành Quyết định số 428/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đối với kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP “về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước”; Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi

    30

    ro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 8/2/1999; Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ…

    Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổ chức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày 26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng…

    Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hành cho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình. Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số 180/QĐ/HĐQT về việc ban hành quy định cho vay đối với khách hàng và có Quy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướng dẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướng dẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác…

    Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêm nhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổi khiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạo điều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

    2/ Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay.

    Trong những năm qua, bối cảnh kinh tế nước ta xuất hiện nhiều yếu tố thuận lợi cho việc phát triển hoạt động tín dụng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng khá, tiêu biểu là hoạt động xuất nhập khẩu, có nguyên nhân quan trọng từ các giải pháp tiền tệ tín dụng; đồng thời đó cũng là tiền đề cho tăng trưởng tín dụng an toàn. Đặc biệt tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả, thuỷ sản, hạt điều…đây là thuận lợi cho vốn tín dụng của các NHTM đầu tư trong các khâu sản xuất như thuê mua, chế biến, xuất khẩu… Các ngành trước đây hoạt động thua lỗ, nợ đọng vốn với ngân hàng lớn như xi măng, mía đường,…thì nay giá bán đã cải thiện, tình hình khả quan hơn, tiền vốn vay và lãi

    31

    treo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển tín dụng, mở rộng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng.

    Môi trường vĩ mô cho hoạt động tín dụng ngân hàng dần dần đi vào ổn định, rõ ràng và an toàn hơn, thể hiện các đối tượng khách hàng sau:

    • Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại. Một số doanh nghiệp được cổ phần hoá và nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được hiệu quả của mình.
    • Luật doanh nghiệp mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000. Theo số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết tháng 11/2000 trong cả nước đã có trên 12000 doanh nghiệp với đủ các loại hình được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký trên 10000 tỷ đồng. Do đó tư cách pháp lý, số vốn tự có thực sự…

    của doanh nghiệp được khẳng định.

    • Các hộ gia đình ở nông thôn đang định hình rõ nét: hộ làm ngành nghề, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ, hộ có trang trại, hộ nuôi trồng thuỷ sản… Ngành chức năng đã ban hành tiêu chí cụ thể xếp loại trang trại, từ đó có các quy chế cụ thể về hoạt động tín dụng thực hiện đối với họ.

    3/ Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng.

    Những năm gần đây, điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là thay đổi cơ cấu thu nhập, nhất là đối với các NHTM có quy mô lớn. Nhìn chung tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng giảm xuống ở hầu hết các ngân hàng, thu từ dịch vụ và nghiệp vụ khác như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán, đầu tư vào giấy tờ có giá…tăng lên. Tuy nhiên hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính của các NHTM. Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số thách thức đáng lưu ý sau:

    Với cơ chế điều hành lãi suất cơ bản từ đầu tháng 8/2000 của NHNN, đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cạnh tranh về lãi suất, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong lĩnh vực tín dụng giữa các NHTM, tuy nhiên nó lại dẫn đến những khó khăn cho các NHTM cổ phần quy mô nhỏ.

    Cạnh tranh về cung cấp vốn đầu tư, trong khi tổng đầu tư xã hội sụt giảm thì đầu tư của Nhà nước lại tăng nhanh, nhưng trong tổng nguồn vốn đầu tư chỉ có khoảng 10% là vốn huy động trong nước còn lại là nguồn vốn ODA, vốn đầu tư, tài trợ nước ngoài. Sự hiện diện của các nguồn vốn ưu đãi quốc tế rõ ràng sẽ làm giảm các cơ hội cung cấp tín dụng của các NHTM.

    32

    Tuy nền kinh tế tăng trưởng khá nhưng lại xuất hiện một số khó khăn mới như các ngành trước đây có kim ngạch xuất khẩu cao như hàng dệt may, giày da… nhưng năm 2000 lại không đạt kế hoạch, diễn biến không ổn định làm ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các hợp đồng tín dụng. Trước đây một số lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu lớn như gạo, cà phê…thì giờ lại gặp khó khăn làm cho vốn tín dụng cho vay cũng phải giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, khoản cho vay cũ chưa thu được lại phải cho vay mới. Nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long do lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho số vốn phải khoanh nợ, giãn nợ lên tới gần 1000 tỷ đồng. Đồng thời thị trường cũng bị ảnh hưởng biến động, khó dự đoán, gây áp lực lên chất lượng tín dụng ngân hàng.

    Tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường rủi ro đạo đức là rất lớn, do chính cán bộ tín dụng trong việc thực hiện các thể lệ chế độ gây ra. Dư nợ tiếp tục tăng nhanh trong khi số lượng cán bộ tín dụng hầu như không tăng, điều kiện giao thông nông thôn, miền núi không được cải thiện làm tăng lên áp lực quá tải của cán bộ tín dụng.

    Đó chính là một số thuận lợi và thách thức đối với các NHTM trong hoạt động tín dụng hiện nay, họ phải biết tận dụng và phát huy những thuận lợi và dám đương đầu với những thách thức để đưa hoạt động tín dụng tăng trưởng có hiệu quả và khẳng định được vai trò của mình trong thời đại mới.

    II/ Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam.

    1/ Một số kết quả đạt được.

    -Ước tính đến hết tháng 12/2000, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng 21% so với cuối năm 1999, tăng đáng kể so với mức tăng 19,1% của năm 1999;16,4% của năm 1998. Đồng thời ước tính tỷ lệ nợ quá hạn chỉ ở mức 11,7%, giảm gần 1,28% so với 13,5% của năm 1999. Và trong 6 tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế khoảng 9,1% so với 31/12/2000, so với cùng kỳ tăng 24,5%. Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã ngày càng được mở rộng.

    -Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngân hàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống

    ngang hàng với DNNN, lãi suất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường và khách hàng, làm cho tín dụng được mở rộng, và đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.

    • Hiện nay, các NHTM đã quan tâm đến việc thiết kế các loại sản phẩm tín dụng bán ra, quan tâm đến sức mua của khách hàng. Như ngân hàng Á Châu và Ngân hàng Sài Gòn thương tín là 2 ngân hàng có nhiều sản phẩm được “thiết kế” khá công phu và được khách hàng tiếp nhận như: cho vay theo dự án BOT, cho vay mua hàng trả góp, cho vay đối với CBCNVC trả dần từ lương, cho vay hộ kinh doanh ở các chợ trả lãi và góp vốn mỗi ngày, mỗi tuần. Ngoài ra còn có thẻ tín dụng thấu chi cho một số khách hàng, bên cạnh đó còn có cả dự án cho vay mua nhà trả góp với thời hạn cho vay lên đến 10 năm. Tóm lại, đã có nhiều loại cho vay cụ thể để khách hàng lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu và khả năng của họ.
    • Thực hiện theo đúng đường lối chính sách đổi mới của Đảng về nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 là: “Đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm,

    ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản”, hệ thống ngân hàng nhất là NHNO& PTNT đã tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp nông thôn. Ước tính đến hết tháng 6/2001, dư nợ cho vay khu vực này

    đạt khoảng 48500 tỷ đồng, tăng 12,7% so với 31/12/2000, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 4,6%. Cụ thể: NHNO&PTNT cho vay 32300 tỷ đồng, Ngân hàng Công thương 3000 tỷ đồng, Ngân hàng ngoại thương1900 tỷ đồng… So với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nước thì khu vực nông nghiệp và nông thôn có tốc độ tăng trưởng khá hơn.

    • Thực tế từ khi ra đời và đi vào hoạt động cho đến nay, ngân hàng người nghèo (NHNg) đã thực hiện cho người nghèo vay với lãi suất ưu đãi (lãi suất

    thấp hơn nhiều so với lãi suất thị trường, chỉ bằng khoảng 60%-80% lãi suất của NHNO&PTNT cùng thời kỳ). Cụ thể, hiện nay NHNO&PTNT cho vay 1,0% thì NHNg cho vay là 0,7%. Nhờ vậy, nó đã giúp người nghèo khắc phục được những khó khăn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, khuyến khích được các hộ nghèo mạnh dạn tính toán vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Và đã đạt được một số kết quả khá khả quan, tính đến 30/9/2000 đã có hơn 5,3 triệu lượt

    34

    hộ nghèo nhận được vốn tín dụng với tổng số tiền là 8396 tỷ đồng đầu tư vào sản xuất đạt hiệu quả, và ngân hàng cũng đã thu được nợ đạt 4017 tỷ đồng.

    • Bên cạnh đó ngân hàng còn cho vay phục vụ các đối tượng chính sách và chương trình phát triển kinh tế của Chính phủ đã mang lại hiệu quả rõ rệt về mặt xã hội, thông qua các chương trình như: Cho vay khắc phục hậu quả cơn bão số 5; cho vay tôn nền và làm sàn nhà trên cọc, chương trình một triệu tấn đường, chương trình đánh bắt cá xa bờ… nhờ đó đã giúp đồng bào sông Cửu Long khắc phục hậu quả lũ lụt, hay vực dậy và phát triển đội tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ, xây dựng các vùng mía nguyên liệu…

    2/ Những vấn đề còn tồn tại.

    • Mức tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng vẫn còn chậm, mức tăng trưởng tín dụng thấp hơn tốc độ tăng trưởng vốn huy động, một số nguyên nhân chính là do: nhiều công ty làm ăn thua lỗ, phá sản, hàng loạt vụ án lớn đối với doanh nghiệp vay vốn bị đưa ra xét xử khiến ngân hàng e ngại không dám mở rộng cho vay như trước. Nhiều doanh nghiệp chưa đủ điều kiện pháp lý đảm bảo an toàn cho vay, không có dự án khả thi nên khó tiếp cận với vốn ngân hàng. Ngoài ra còn một số ngành trước đây tăng trưởng khá thì nay lâm vào tình trạng khó khăn do biến động của thị trường hay rủi ro thiên tai. Vì vậy ngân hàng gặp khó khăn trong phát triển tín dụng.
    • Từ 2/8/2000 khi NHNN áp dụng điều hành theo lãi suất cơ bản, dẫn đến tình trạng cạnh tranh lãi suất. Bên cạnh một số mặt tích cực cũng đang bộc lộ một số tồn tại đáng lo ngại như: Hạ lãi suất theo kiểu “phá giá”. Theo quy định của NHNN thì lãi suất cơ bản hiện nay là 0,75%/tháng với biên độ giao động tối đa tới 0,5%/tháng. Tuy vậy đã có NHTM hạ lãi suất cho vay xuống còn 0,6%/tháng, thậm chí thấp hơn cả lãi suất cho vay người nghèo. Với lãi suất đầu vào còn cao như hiện nay rõ ràng với lãi suất đó chỉ có tác dụng lôi kéo khách

    hàng chứ không thu được lợi nhuận, và nó sẽ gây khó khăn cho các ngân hàng có môi trường kém thuận lợi hơn như NHNO&PTNT. Vì cạnh tranh các ngân hàng sẽ nới lỏng các điều kiện vay vốn như quy trình thẩm định cho vay, bảo đảm tiền vay như vậy sẽ dẫn đến những rủi ro tín dụng tiềm tàng, hậu quả khó lường. Đồng thời khách hàng sẽ lợi dụng đòi hạ lãi suất, nới lỏng điều kiện vay vốn, vay của ngân hàng này với lãi suất thấp hơn để trả cho ngân hàng kia.

    35

    • Trong nền kinh tế thị trường tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên. Thể hiện ở chỗ tổng số vốn bị nợ quá hạn tăng lên, bên cạnh đó xuất hiện một loạt khoản nợ khoanh mới không thể hiện trong tỷ lệ nợ quá hạn; xuất hiện các khoản dư nợ được điều chỉnh kỳ hạn, được giãn nợ…mà cũng còn nằm ngoài tỷ lệ nợ quá hạn. Hiện nay vấn đề nợ tồn đọng, xử lý nợ xấu là vấn đề rất khó khăn và cần phải tiếp tục giải quyết. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có chiều hướng giảm nhưng giá trị tuyệt đối lại tăng lên. Tiến độ xử lý các khoản nợ có liên quan tới vụ án và việc phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ xấu phát sinh từ những năm trước, mặc dù đã được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, nhưng kết quả đạt được là chậm so với yêu cầu đặt ra. Cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản thế chấp liên quan đến nợ xấu hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều khách hàng cố tình gây cản trở việc phát mại tài sản, không giao nộp tài sản thế chấp cho ngân hàng, hay trốn chạy khiến cho việc xử lý, thu hồi nợ xấu gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
    • Mặc dù một số ngân hàng đã có quan tâm đến việc đưa ra những loại cho vay cụ thể phù hợp với yêu cầu khách hàng nhưng trên thực tế hiện nay các loại cho vay của ta còn quá nghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có mà không thật quan tâm đến cái mà khách hàng cần. Trong khi ngân hàng thiết kế công phu các thể lệ huy động vốn bao nhiêu thì các sản phẩm đầu ra lại đơn điệu bấy nhiêu, có những ngân hàng mà huy động loại nào thì cho vay loại đó, ví dụ như vốn huy động 6 tháng thì cho vay 5 tháng 25 ngày. Một số NHTM thường ít áp dụng phương thức cho vay luân chuyển mà chỉ cho vay theo từng món độc lập vì thế vốn tín dụng thường không tiếp cận kịp thời với đối tượng cho vay. Như vậy, thực tế hiện nay các khách hàng hầu như ít có cơ hội lựa chọn, nhiều khách hàng cần vốn dài hạn nhưng bắt buộc phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến tình trạng lúng túng về tài chính. Đây cũng là điều bất cập mà ngay cả ngân hàng cũng lúng túng khi khách hàng đáo hạn phải dàn xếp cho khách hàng gia hạn hay đảo nợ mà đáng lẽ các ngân hàng có thể khắc phục được bằng việc đưa ra các loại cho vay phù hợp với yêu cầu của khách hàng.

    -Tuy tín dụng ngân hàng phục vụ đối tượng chính sách đạt được những kết quả đáng khích lệ nhưng nó vẫn còn một số tồn tại vướng mắc, nhất là khả năng thu hồi vốn rất thấp, nợ quá hạn ngày càng gia tăng. Nhiều ngân hàng chỉ thu

    36

    được một phần số lãi phát sinh, còn vốn gốc chỉ thu được một tỷ lệ không đáng kể. Thực trạng này đã không những làm suy yếu năng lực tài chính của NHTM mà nguy hại hơn, đã hình thành tư tưởng ỷ lại trong một bộ phận dân cư, cho rằng đó là nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ nên chậm hoàn trả nợ ngân hàng khi đến hạn. Hậu quả là việc cho vay chính sách đã mang lại gánh nặng tài chính cho chính các ngân hàng thực thi chính sách này.

    • Ngoài ra còn một số khó khăn về cán bộ tín dụng, tình trạng quá tải của cán bộ tín dụng hiện nay là một thực tế phổ biến, gây nhiều khó khăn trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nên việc thẩm định cho vay có trường hợp không đầy đủ, đúng quy trình…

    3/ Một số giải pháp khắc phục những vấn quả của hoạt động tín dụng ngân hàng hiện

     

    đề còn tồn tại và nâng cao hiệu nay.

     

    Trên đây ta đã thấy một số mặt được và chưa được trong hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM, để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế nước ta hiện nay thì cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn tại theo một số giải pháp sau:

    • Để có thể mở rộng tín dụng, mỗi NHTM cần phải xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng, xác định rõ chiến lược phát triển, xây dựng chiến lược kinh doanh trước mắt và lâu dài.

    Tăng cường công tác quảng cáo, tiếp thị phù hợp với chiến lược khách hàng của từng NHTM, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Tăng cường cho vay đối với tất cả các thành phần kinh tế, đồng thời xây dựng nhiều phương thức cho vay mới, đa dạng phù hợp với nhiều loại khách hàng. Các chi nhánh NHTM trên địa bàn cần kịp thời phát hiện, xử lý và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cụ thể trên địa bàn mình. Đồng thời các cấp lãnh đạo, quản lý cũng cần có những sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách có liên quan một cách kịp thời và đúng đắn.

    Về mặt cán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ cán bộ theo nhiều phương thức, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ… Do đặc điểm của tín dụng là cơ chế chính sách thay đổi thường xuyên, nên mỗi khi có các văn bản bổ sung sửa đổi mới cần

    được tổ chức phổ biến, đào tạo ngắn ngày cập nhật thông tin cho cán bộ nghiệp vụ.

    • Đối với vấn đề lãi suất, nhằm khắc phục những hạn chế trong cạnh tranh lãi suất cần thực hiện một số biện pháp sau: NHNN cần ban hành lãi suất sàn trong cho vay để đảm bảo thực thực thi công cụ lãi suất, đem lại môi trường kinh doanh bình đẳng hơn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng, làm đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao tỷ suất lợi nhuận trong kinh doanh nói chung; từ đó mở rộng đầu tư cho tín dụng ngân hàng, khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế. Các NHTM cần mở rộng các hình thức cạnh tranh mang tính chủ động thông qua chất lượng và công nghệ, do đó các NHTM cần chủ động cải tiến chất lượng, quy trình tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, cải tiến chất lượng phục vụ, đồng thời phải nghiên cứu áp dụng công nghệ mới trong hoạt động ngân hàng, cải tiến các vấn đề nhân sự, chi phí quản lý…giảm tối đa chi phí kinh doanh. Ngoài ra còn cần phải chú trọng đến công tác tiếp thị thường xuyên lắng nghe, thấu hiểu khách hàng. Mở rộng tín dụng đến nhiều đối tượng khách hàng, đa dạng hoá các loại hình tín dụng để tăng trưởng tín dụng cân bằng với huy động vốn… nói chung có nhiều biện pháp nhằm khắc phục hạn chế của cạnh tranh lãi suất, tuy nhiên áp dụng linh hoạt biện pháp nào và vào khi nào, nơi nào cụ thể thì phải tuỳ theo đặc điểm, tính chất hoạt động của từng NHTM.
    • Về việc xử lý nợ xấu thì cần có giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm xử lý tốt nợ xấu của NHTM. Việc xoá bỏ nợ xấu không chỉ là nhiệm vụ của riêng hệ thống ngân hàng mà còn của cả nền kinh tế, nó không chỉ tuỳ thuộc vào các biện pháp của ngân hàng trung ương, NHTM, hay khách hàng vay mà còn tuỳ thuộc vào cả một hệ thống pháp lý đồng bộ, hoàn chỉnh, một môi trường kinh tế thuận lợi. Cần thành lập một tổ chức mua bán nợ- một tổ chức tài chính- tín dụng đặc thù có trách nhiệm xử lý nợ xấu. (Mô hình này đã được ngành ngân hàng xem xét áp dụng, nhưng đến nay đề án thành lập của NHNN trình Chính phủ không khả thi, thay vào đó, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đang phối hợp với ngành ngân hàng xúc tiến hoàn chỉnh đề án thành lập một uỷ ban chuyên trách có chức năng xử lý nợ xấu). Cần tập trung tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, thủ tục pháp lý: hoàn chỉnh, bổ sung thủ tục giấy tờ đối với những tài sản

    38

    bảo đảm tiền vay để có thể bán, cho thuê…Đồng thời cần thực hiện phân loại tài sản “Có” trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng; nâng cao chất lượng tín dụng của các khoản cho vay ngay từ những khâu đầu tiên của quy trình tín dụng.

    • Để tăng hiệu quả của tín dụng chính sách của Nhà nước cần nhanh chóng tách bạch việc cho vay thực hiện chính sách với cho vay thương mại của các ngân hàng. Nếu cần, các NHTM có thể thực hiện theo sự uỷ thác của Chính phủ để hưởng phí hoặc hoa hồng trên số vốn đã thực hiện. Như vậy, các ngân hàng sẽ nâng cao tính chủ động và tự chịu trách nhiệm trong công việc của mình. Hơn nữa cần quan tâm đến khía cạnh kinh tế khi giải quyết các vấn đề xã hội, nếu không sẽ mang lại hậu quả ngược lại. Và một vấn đề quan trọng nữa là cần xem lại cơ chế tài chính trong việc thực hiện các chương trình kinh tế mang tính chính sách như trên, và nhất thiết phải có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng. Nên chăng có thể khoán thu ở mức tối thiểu nào đó để các ngân hàng cố gắng và có trách nhiệm trong việc thu hồi nợ, số còn lại có thể cho phép trừ vào các khoản phải nộp ngân sách hoặc ngân sách cấp hỗ trợ trực tiếp.

    Các giải pháp trên tuy chưa phải là đầy đủ, tối ưu song cũng có thể để tham khảo nhằm khắc phục những vấn đề còn hạn chế và cũng là để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng trong các NHTM.

    39

    PHẦN KẾT LUẬN.

    Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Tín dụng ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống tín dụng ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động tín dụng trong các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết.

    Trong khuôn khổ hạn hẹp của đề tài em đã trình bày một số lý luận cơ bản về NHTM và hoạt động tín dụng của nó, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Đăng Khâm đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành đề án này. Song do trình độ và thời gian có hạn nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, ngày 10/11/2001.

    40

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.- Nguyễn Đức Thảo. TpHCM.
    1. Ngân hàng thương mại. – Reed Edward, Gill Edwardk. TpHCM.
    1. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. – DCox. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền và hoạt động ngân hàng. – Lê Vinh Danh. Nxb Chính trị quốc gia.
    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính. – Frederic. S. Mishkin.
    1. Quản trị ngân hàng thương mại. – Peter S.Rose. Nxb Tài chính.
    1. Tạp chí Ngân hàng.
    1. Thời báo Ngân hàng.
    1. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ.

    41


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C6%A1-s%E1%BB%9F-h%E1%BA%A1-t%E1%BA%A7ng-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-th%E1%BB%9Di-gian-qua-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-trong-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi-nh%E1%BA%B1m-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-tr%E1%BB%B1c-ti%E1%BA%BFp-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

    Đề án Kinh tế đầu tư

    LỜI NÓI ĐẦU

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.

    Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.

    Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao… Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, hơn nữa được hướng dẫn, giúp đỡ của Thầy Minh em đã nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:

    “Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “

    Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc…mà thời gian nghiên cứu hạn chế, nên em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.

    Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:

    Trang 1

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Chương I: Cơ sở lý luận chung.

    Chương II: Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua.

    Chương III: Phương hướng và giải pháp đối với vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm thu hút FDI trong thời gian tới.

    Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo nhằm giúp đỡ em trau dồi và nắm chắc hơn những gì mình đã học, những gì mình có thể vận dụng cho thực tiễn.

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

    I.                   MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.

     

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển

    Trong thời đại ngày nay, đầu tư đã trở thành một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia. Thuật ngữ “đầu tư ” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tựu chung lại có thể coi “đầu tư là việc bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng các nguồn lực khác trong hiện tại để thực hiện một hoạt động nào đó để tạo ra, khai thác sử dụng tài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai”.

    Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật nhằm tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống, tạo ra những tài sản mới cũng như duy trì được những tiềm lực sẵn có của nền kinh tế.

    Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đã có. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó còn phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.

    2. Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    2.1. Khái niệm.

    • Khái niệm: Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.

    Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính

    Đề án Kinh tế đầu tư

    vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.

    * Phân loại

    Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại

    • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
    • Cơ sở hạ tầng xã hội.
    • Cơ sở hạ tầng môi trường

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.

    Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.

    Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    2.2.Đặc điểm

    Trang 4

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc điểm sau:

    • Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các cồn trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác để thu hồi vốn.

    Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán khác.

    • Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, tư nhân thì rất ít, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
    • Hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính kỹ thuật cao, quy mô lớn nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người… trong hiện tại và cả trong tương lai nữa. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ là rất lâu dài. Vì thế những sai lầm trong bố trí địa điểm, áp dụng công nghê sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động trong tương lai.

    Trang 5

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.

    3.                 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    3.1. khái niệm.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các pháp nhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư.

    Xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, FDI nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống các quan hệ kinh tế quốc tế. Đến nay khi FDI đã trở thành xu hướng của thời đại thì cũng là một nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh lợi thế so sánh của các nước và mang lại quyền lợi cho cả đôi bên.

    3.2. Vai trò.

    Việc tiếp nhận FDI là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau. Đứng dưới góc độ nước nhận đầu tư, FDI có một vai trò sau:

    • FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kem phát triển.

    Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái vòng luẩn quẩn, đó là: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.

    Trang 6

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Nhiều nước lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của vòng luẩn quẩn này. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên để tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích luỹ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi là sự tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó.

    Mặt khác theo lý thuyết hai lỗ hổng của Cherery và Strout, có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư gọi là lỗ hổng tiết kiệm; (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩu không đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu gọi là lỗ hổng thương mại. Hầu hết ở các nước đang phát triển, hai lỗ hổng trên là rất lớn. Vì vậy FDI là nguồn quan trọng không chỉ bổ xung sự thiếu hụt về vốn nói chung mà cả sự thiếu hụt ngoại tệ nói riêng.

    • Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn, trình độ quản lý tiên tiến của các nươc đi trước.

    Đứng về lâu dài, đây là lợi ích căn bản nhất đối với nước nhận đầu tư, FDI có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật, trong các nước nhận đầu tư như là góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm…thúc đẩy sự phát triển của các nghề mới đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có tác dụng đối với quá trình công nghệ hoá – hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư.

    FDI mang lại kinh nghiệm quản lý, kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận đầu tư thông qua các chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa làm. FDI còn thúc đẩy các nước nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo ra những kỹ sư, nhà quản lý có trình độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.

    Trang 7

    Đề án Kinh tế đầu tư

    * Lợi ích về công ăn việc làm

    Thực ra đây là một tác động kép: tạo thêm công ăn việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước.

    FDI ảnh hưởng trực tiếp tới cơ hội tạo việc làm thông qua việc cung cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hàng hoá dịch vụ từ các nhà sản xuất trong nước hoặc thuê họ qua các hợp đồng gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã góp phần tích cực tạo ra công ăn việc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chế biến.

    * Thông qua FDI các nước nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế

    giới.

    Các nước đang phát triển nếu có khả năng sản xuất ở mức chi phí có thể cạnh tranh được thì lại rất khó khăn trong việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Trong khi đó, thông qua FDI các nước này có thể thâm nhập vào thị trường thế giới. Bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này lại có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thanh thế và uy tín của họ về chất lượng và kiểu dáng của các sản phẩm, việc giữ đúng thời hạn…

    Với những vai trò của FDI đã trình bày ở trên, một lẫn nữa khẳng định FDI là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được coi là nguồn lực quốc tế cần được khai thác để từng bước hội nhập vào cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết về vốn. Một cách tiếp cận thông minh để bước nhanh trên con đường phát triển.

    Trang 8

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3.3 Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của các nước đang phát triển đối với FDI.

    Nhiều nghiên cứu gần đây đã đưa ra nhận xét: Thành công của các nước đang phát triển trong thu hút FDI có thể được đặc trưng bởi sự kết hợp hài hoà giữa các nhân tố về sự ổn định chính trị, kinh tế – xã hội. Nó bao gồm một loạt các yếu tố như tăng trưởng nhanh, sự phát triển của thị trường trong nước, những điều kiện thuận lợi và tiềm năng của các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên và con người, điều kiện hoàn hảo về cơ sở hạ tầng

    Vấn đề đặt ra là liệu các nhân tố như vậy có thực sự đóng góp vào việc thu hút đối với đầu tư nước ngoài hay không.

    Trong thực tế không có một lý thuyết đơn nhất nào có khả năng khái quát một cách toàn diện hiện tượng FDI và các điều kiện cần thiết để thu hút nó. Trong một chuẩn mực nhất định, các yếu tố quyết định tính hấp dẫn đối với FDI của mỗi nước là khác nhau, mối liên hệ giữa các yếu tố này với sự vận động của từng nền kinh tế cũng khác nhau. Mặc dù không phải là lý thuyết chuyên về đầu tư quốc tế nhưng “hệ phương pháp luận về sản xuất quốc tế thuộc phái trung dung” (J.H Dunning 1988) đã nêu ra hai tiền đề quan trọng.

    • Đó là các yếu tố thuộc về tiền năng các nguồn lực của nền kinh tế và khả năng kết hợp một cách linh hoạt các nguồn lực đó.
    • Những nhân tố thuộc thị trường nhằm vào việc tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một trong các nhân tố thuộc loaị này.

    Đứng trên góc độ các nhà đầu tư, nhân tố này rất quan trọng bởi đó là chỉ dẫn đại thể về mức độ hấp dẫn của nước chủ nhà. FDI sẽ được đẩy mạnh khi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, sự phát triển của FDI tại Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh và một số tỉnh duyên hải là một ví dụ. Điều này cũng phù hợp với các

    Trang 9

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nghiên cứu gần đây đối với các thành phố duyên hải của Trung Quốc: chính vì hệ thống giao thông thuận lợi, khoảng cách đến các cảng lớn ngắn đã thu hút mạnh FDI vào khu vực này. ngược lại các nghiên cứu tại phía Nam Sahara cho thấy hệ thống đường xá kém phát triển, liên lạc viễn thông xấu không có khả năng thu hút FDI vào khu vực này.

    Qua việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến cơ sở hạ tầng và FDI chúng ta đã phần nào thấy được mối quan hệ giữa hệ thống cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI. Song để hiểu rõ hơn mối quan hệ này chúng ta cần phải nghiên cứu tiếp.

    II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN FDI.

    1. Đặc điểm của hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng .

    Các công trình cơ sở hạ tầng khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu và thường là việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua các ngành kinh tế khác. Do vậy, khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán kỹ vấn đề kinh tế kỹ thuật trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Công tác thăm dò tài nguyên, xác định nhu cầu sử dụng cơ sở hạ tầng mỗi vùng là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả của công trình. Bên cạnh đó, phương hướng phát triển của vùng, lãnh thổ cũng là nhân tố quyết định đến việc bố trí đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng của vùng.

    Với vai trò là nền tảng tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển, là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn đối với FDI nên khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng phải lựa chọn các công trình có hàm lượng kỹ thuật cao, đây là vấn đề đảm bảo tính hiệu quả. Nếu tồn tại tình trạng lạc hậu cac cơ sở hạ tầng thì công trình không còn

    Trang 10

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mang tính hiệu quả nữa, thậm chí ảnh hưởng tới các ngành khác và nhịp độ thu hút FDI là điều không tránh khỏi.

    Hoạt động đầu tư thường được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, xong đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp, chủ thể tham gia có thể là các chủ thể nươc sở tại hoặc nước ngoài. Dưới hình thức chủ đầu tư bỏ vốn và trực tiếp tham gia điều hành, quản lý công trình.

    Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ sở hạ tầng hết sức yếu kém, cần được củng cố và hoàn thiện. Tuy nhiên vồn đầu tư cho cơ sở hạ tầng hết sức hạn hẹp. Khu vực tư nhân không thể đáp ứng nhiều về vốn trong lĩnh vực này. Do vậy, hình thức BOT ra đời là giải pháp tốt nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhưng dù hoạt động đầu tư có được tiến hành dưới hình thức nào đi chăng nữa thì hiệu quả đầu tư không được coi nhẹ. Bởi đây là vấn đề hết sức phức tạp, bao gồm những nội dung mang tính tổng hợp.

    Để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và vốn đầu tư, người ta sử dụng mô hình Harrod- bomar. Nếu gọi K là tỷ số giữa vốn và đầu tư (ICOR), ta có:

    K =

    Trong đó:

    It là vốn đầu tư

    Yt, Yt+1 sản lượng năm t & t+1.

    -> ICOR là thước đo năng lực của vốn đầu tư, nó nói lên rằng để tạo ra một đơn vị sản lượng cần bao nhiêu vốn đầu tư. ICOR càng nhỏ chúng tỏ hiệu quả đầu tư càng lớn và ngược lại.

    Trang 11

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Theo ước tính, năm 2000 hệ số ICOR mọt số ngành nước ta như sau:

    Nông – lâm – nghiệp 1,5 – 2,5
    Công nghiệp 2,5 – 3,5
    Cơ sở hạ tầng 3 – 5

    Như vậy, qua đó ta thấy ICOR của lĩnh vực cơ sở hạ tầng là cao hơn so với các ngành khác. Song tại sao chúng ta vẫn phải giành một vốn lớn cho cơ sở hạ tầng.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng với quá trình thu hút FDI.

    Cơ sở hạ tầng là một trong số các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn với FDI nên thực tế cũng cho thấy những quốc gia nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém rất khó thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, khi đã không thu hút được đầu tư nước ngoài thì khả năng tạo cơ sở hạ tầng cũng rất hạn chế. Do đó để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cần đi trước một bước, tiến hành đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu FDI đặt ra với lĩnh vực này.

    Khi một thị trường mới xuất hiện, thời gian đầu luôn là thời kỳ thăm, ào ạt vào thời gian đầu là những công ty nhỏ, thậm chí có cả những môi giới đầu tư. Những đầu tư vào lúc này vốn không lớn, thời gian không dài và chủ yếu ở khu vực dịch vụ và sản xuất nhỏ. Trong khi đó, các nhà đầu tư lớn lại đứng ở ngoài quan sát để quyết định xem có đầu tư hay không.

    Điều này cũng có nghĩa: để thu hút được dòng FDI và nước chủ nhà cần phải chuẩn bị một môi trường đầu tư thuận lợi với các chính sách, quy tắc được nới lỏng theo hướng khuyến khích FDI, cải thiện cơ sở hạ tầng … Như vậy, để thu hút được FDI có rất nhiều việc phải làm, song điều quan trọng hơn là làm sao để dòng chảy đó được duy trì liên tục. Câu trả lời: phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bởi số lượng FDI có tăng lên hay không theo thời gian còn

    Trang 12

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phụ thuộc vào sự thoả mãn thường xuyên về cơ sở hạ tầng như đường xá, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Tăng trưởng cao của FDI thường đi đôi với kế hoạch triển vọng về phát triển cơ sở hạ tầng của nước chủ nhà. Malaixia với những dự án khổng lồ về xây dựng cơ sở hạ tầng cho đến năm 2020 của thủ tướng Mahathir, là một trong những minh chứng rõ ràng nhất về thu hút FDI.

    Về vai trò của cơ sở hạ tầng, theo kết quả khảo của nhóm 25 nước bao gồm nước: Indonêxia, Hàn Quốc …. Trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương

    cho thấy những chỉ tiêu cụ thể như số máy điện thoại trên 100 người dân, mức độ hiện đại của hệ thống thông tin liên lạc, chất lượng của đường bộ, đường sắt … là một trong những điều hiện được xem xét để duy trì FDI ở nước này.

    Vì vậy, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình thu hút FDI. Và vốn đầu tư vào lĩnh vực này không đúng hướng và hợp lý thì sẽ làm mất đi một động lực quan trọng trong thu hút FDI. Để không rơi vào tình huống này. Chúng ta cần phải biết được thực trạng hiện nay của các công trình hạ tầng kỹ thuật, nắm bắt được những thành tựu đã đạt được và những mặt tồn tại của nó cũng như các yêu cầu của FDI đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó, ở phần sau chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua.

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT VÀ TÌNH HÌNH THU HÚT FDI TRONG THỜI GIAN QUA

    Kể từ khi áp dụng chính sách “mở cửa” nền kinh tế vào cuối thập niên trước đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế nổi bật. Chẳng hạn, từ một nước nghèo, nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nước ngoài, Việt nam đã vươn lên trở thành một trong số ít các quốc gia xuất khẩu gạo lớn

    Trang 13

    Đề án Kinh tế đầu tư

    nhất thế giới. Những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này ta nhờ một phần đóng góp không nhỏ của FDI. Có thể coi FDI như một trong các nguồn năng lượng quan trọng khởi động cho cỗ máy kinh tế Việt Nam đi vào quỹ đạo của sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây xu thế FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Có nhiều nguyên nhân để giải thích trình trạng trên, xong theo các chuyên gia thì việc lợi thế so sánh của Việt nam đang bị giảm dần là một trong những lý do chính dẫn đến trình trạng trên.

    Muốn phát huy được những lợi thế so sánh, điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là nắm được những yêu cầu của FDI. Đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng vậy, FDI có những yêu cầu riêng đối với hệ thống này.

    1. NHỮNG YÊU CẦU CỦA FDI ĐỐI VỚI CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT. Theo sự thăm dò ý kiến của hơn 3000 bạn đọc của kinh tế Viễn Đông ở
    • nước Châu Á, được công ty ASIA Studies LTD Hồng Kông thưc hiện từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1995. Hầu hết các doanh nghiệp khi được hỏi “Những trở ngại lớn nhất cho việc làm ăn ở các nền kinh tế đang nên như Việt nam, Trung Quốc, Myanma là gì ?” thì những khó khăn được độc giả đưa ra là:
    • Sự bất ổn không thể đoán trước được là trên 70 %
    • Sự bảo đảm về pháp luật là trên 70%
    • Tệ quan liêu trên 70%
    • Nạn tham nhũng trên 60%
    • Cơ sở hạ tầng phù hợp trên 60%

    Như vậy, sự phù hợp của cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình thu hút vốn FDI. Riêng đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì sự phù hợp

    Trang 14

    Đề án Kinh tế đầu tư

    mà FDI yêu cầu cần phải được xem xét ở hai khía cạnh: Sự hiện đại, đồng bộ và một mức giá hợp lý.

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư đều nhằm 3 mục tiêu chính, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn lực và tìm kiếm hiệu quả.

    Do đó, một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đồng bộ sẽ la ba đỡ cho hoạt động đầu tư của họ. Thực tế cho thấy, ở nước ta trong thời gian qua hệ thống cơ sở hạ tàng kỹ thuật còn tồn tại sự mất cân đối giữa các vùng, miền đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động đầu tư nước ngoài. Có nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào các vùng miền núi để khai thác tài nguyên phải bỏ dở cũng chỉ vì lú do ở đó chưa có điện, thêm vào đó đường đi đến các vùng này là khó khăn.

    Vì vậy, tính đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đồng bộ giữa mạng và nguồn, giữa đường sắt và đường bộ, giữa cảng với đường sắt, đường bộ…)là điều kiện cần làm cho hoạt động đầu tư được thuận lợi. Đồng thời hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải đạt được sự hiện đại cần thiết, sự hiện đại đó sẽ đem lại hiệu quả cao trong hoạt động đầu tư.

    Tình hình thu hút FDI tại Bình Dương xẽ là một minh chứng rõ ràng nhất cho yêu cầu này. Nếu không tính đến các dự án dầu khí ở tỉnh Quảng Ngãi thì Bình Dương là tính dẫn đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài đến nay, Bình Dương đã có 227 dự án có vốn FDI với tổng vốn đầu tư 1,75 tỷ USD, hàng năm tạo ra giá trị lượng hàng hoá trên 110 tỷ USD. Vậy bằng cách nào Bình Dương đã hấp dẫn được các nhà đầu tư ? .

    Bình Dương không chỉ trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư với chính sách thông thoáng, cởi mở, thủ tục hành chính nhanh gọn mà còn đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại cho các nhà đầu tư .Với hệ thống đường giao thông từ Bình Dương tới TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác có mặt đường rộng

    Trang 15

    Đề án Kinh tế đầu tư

    3,6 m với tổng chi phí 100 tỷ đồng và nhiều tuyến đường đã được nhựa hoá,

    100% xã đều có đường ôtô.

    Bưu chính viễn thông và điện nước luôn được đảm bảo cho nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt và sử dụng điện năng trong sinh hoạt và sử dụng đến nay đã có 100% xã có điện và điện thoại.

    Tuy nhiên, để hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của FDI thì sự đồng bộ, hiện đại thôi là chưa đủ. Đi liền với nó phải có một mác giá hợp lý cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Sở dĩ các nhà đầu tư phải tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài là do các nguồn lực trong nước họ trở nên khan hiếm. Vì vậy, chi phí cho các nguồn lực này là rất cao. Điều này đã làm cho chi phí các yếu tố đầu vào tăng lên, dẫn đến lợi nhuận bị giảm sút. Như vậy, vấn đề mấu chốt là chi phí các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Nơi nào có chi phí thấp tất yếu dòng đầu tư sẽ chảy về đó. Bản thân các nhà đầu tư cũng hiểu rằng chi phí đầu vào thấp là tốt nhưng thấp quá không phải đã là tốt. Nếu thấp quá, các nước nhận đầu tư sẽ không có điều kiện tích luỹ. Khi đó, các yếu tố cần thiết cho hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ không được đảm bảo. Xong cũng không được quá cao, nếu cao hơn chi phí ở nước họ thì cũng chẳng cần đầu tư ra từ nước ngoài làm gì.

    Với các nước nhận đầu tư, điều này dường như là vô lý nhưng thực ra nó lại rất có lý bởi đó chính là chi phí cơ hội cho việc tiếp nhận đầu tư.

    Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, giá cả cho việc sử dụng các dịch vụ này được coi là yếu tố đầu vào và được xác định trên cơ sở có lợi cho nhà đầu tư nước ngoài nhưng cũng không được quá thấp. Mức giá này không đứng một cách cô lập, bên cạnh nó phải là sự đồng bộ, hiện đại của hệ thống này. Dù cho đó là những khía cạnh khác nhau xong giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong đó giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật là yếu tố

    Trang 16

    Đề án Kinh tế đầu tư

    quyết định. Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật dù hiện đại, đồng bộ đến mấy mà chi phí cho cho những dịch vụ này quá cao thì hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó cũng không có tác dụng lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài, ngược lại cũng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ đó nhưng nước chủ nhà lại đưa ra một mức giá quá thấp thì sẽ không có điều kiện tích luỹ để đầu tư phát triển chánh hệ thống cơ sỏ hạ tầng kỹ thuật đó, làm cho nó trở nên lạc hậu. Từ đó cũng lại không có khả năng thu hút FDI.

    Do đó, yêu cầu của FDI đối với nước chủ nhà là phải xác định được một mốc giá hợp lý bên cạnh sự hiện đại, đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Trong thời gian qua, ở Việt nam các nhà đầu tư nước ngoài than phiền rất nhiều về giá cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mức giá này theo các nhà đầu tư là quá cao, đặc biệt là giá cước viễn thông, hàng không và hàng hải. Đây được coi là một trong những nguyên nhân làm cho FDI vào Việt nam đang chững lại và có phần giảm sút.

    Theo số liệu điều tra của WB, cước phí vận tải container bằng đường biển từ Nhật về các cảng ở Việt Nam thường cao hơn gấp hai dến ba lần so với đến Singapore, Thái Lan, và Philippines. Chẳng hạn cước phí vận chuyển một container 20 feet từ Tokyo đến Singapore khoảng 500 USD, đến Bangkok khoảng 450-750 USD trong khi đến cảng Đà Nẵng trên 1 500 USD, Hải Phòng từ 1000 đến 1500 USD và cảng Sài Gòn là gần 900 USD.

    Nguyên nhân là các cảng của Việt nam không thể đón các tàu lớn và do khối lượng hàng hoá ít nên phải trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông, đôi khi để đi đến được Đà Nẵng hay Hải Phòng các tàu phải ghé qua TP.HCM để tiếp nhiên liệu

    Trang 17

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tương tự, cước phí vận tải hàng không cũng vào loại đắt nhất trong khu vực làm cho việc đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường không chậm phát triển.

    Về giá dịch vụ viễn thông, sở dĩ phải thu giá cước điện thoại quốc tế cao là để bù lỗ cho dịch vụ bưu chính và duy trì mạng viễn thông mà quốc tế cao. Còn cước nội tỉnh lại rất thấp hay nói cách khác: người có nhiều tiền nhất phải trả giá cao nhất.

    Như vậy, để thu hút FDI thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải đáp ứng được hai yêu cầu: sự đồng bộ, hiện đại và một mức giá hợp lý.Trong hai yêu cầu trên có một yêu cầu chúng ta chưa đáp ứng được, đó là việc xác định một mức giá hợp lý. Còn trên thực tế yêu cầu về sự hiện đại , đồng bộ có được đảm bảo hay không. Để trả lời câu hỏi này thì phải biết được hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta hiện nay và ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    II.               THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam nhìn chung còn yếu kém trên nhiều phương diện cả về số lượng và chất lượng, lại chưa được xây dựng theo một quy hoạch thống nhất dẫn đến tình trạng khập khiễng, chắp vá và chưa đồng bộ đang là vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhịp độ thu hút FDI.

    1. Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam

    1.1 Hệ thống giao thông.

    Trang 18

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Hệ thống giao thông Việt nam được đưa vào khai thác từ hơn 100 năm nay. Trong cả thời gian này không được đầu tư đúng mức để bảo dưỡng, cải tạo, nâng cấp. Vì vậy sau một thời gian dù khai thác và trải qua hai cuộc chiến tranh, đến nay hệ thống giao thông Việt nam không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế

    Từ cuối những năm 80, Chính phủ Việt nam đã dành ưu tiên nguồn vốn NSNN và tín dụng ra ưu đãi đầu tư nước ngoài cho các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biến và hàng không. Đến nay, nước ta đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phong phú. Xong chất lượng còn chưa cao.

    • Đường bộ:

    Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là thấp so với các nước trong khu vực.

    Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài 2300 km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan trọng, công trình có kỹ thuật cao như cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông nội thị ở các thành phần phố lớn. Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung.

    Tuy nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.

    – Đường rải nhựa chiếm 22%
    • Đường nhựa bán thành nhập 38%

    Trang 19

    Đề án Kinh tế đầu tư

    – Đường đá 15%
    – Đường đất 25%
    • Đường sắt:

    Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài 1726 km, tuyến Hà nội – Lào Cai 230 km, tuyến Hà nội-Hải phòng 100km. Hai tuyến trên vận tải quốc tế Hà nội – Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và Hà nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động .

    • Đường biển

    Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và tổng công suất trên nên trục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Xong đó chỉ là số ít, phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho việc bốc dỡ hàng hoá cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    • Hàng không

    Hiện có gần 100 vị trí sân bay lớn nhỏ trong nước, trong số gần 20 sân bay đã được đưa vào khai thác sử dụng, có 3 sân bay cấp IV là Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng đạt tương đương tiêu chuẩn quốc tế.

    1.2 Bưu chính viễn thông:

    Đã triển khai chiến lược tăng tốc, mạng thông tin mở rộng nhanh, đi vào kỹ thuật hiện đại hoà nhập với quốc tế, các dịch vụ bưu chính viễn thông đang có nhiều cố gắng cải thiện đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nói chung và thu hút FDI nói riêng.

    Trang 20

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Tuy phát triển tăng tốc xong còn ở mức độ thấp, mới chỉ tập trung ở đô thị, đáp ứng được nhu cầu trước mắt với chất lượng chưa cao và chi phí đắt. Mạng cáp nội hạt quá cũ , bố trí cáp treo thiếu quy hoạch, kém an toàn và mất mỹ quan. Mạng viễn thông có hệ thống thiết bị chưa đồng bộ, tồn tại nhiều hệ khác nhau, chưa phát triển nhiều dạng thông tin, giá cả còn mang tính độc quyền.

    1.3 Cung cấp điện.

    Đã phát triển nhanh chóng nguồn điện, đến năm 98 sản lượng điện đạt 21,77 tỷ kwh, tốc độ tăng sản lượng điện thời kỳ 91-95 đạt bình quân 10,2%/ năm với việc đưa vào vận hành đường dùng 500 KV Bắc Nam tạo điều kiện khai thác hợp lý các nguồn điện trong cả nước, cung cấp điện an toàn, liên tục cho nhu cầu các vùng và toàn bộ đất nước.

    Cung cấp điện năng bình quân đầu người tăng lên đáng kể ( năm 90: 135 Kwh, 95: 175 kwh, 98: 279 kwh). Hệ thống lưới chuyển tải được mở rộng, lưới phân phối được cải tạo hoàn thiện từng bước. Đến nay đã có 85% số huyện và 60% số xã được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Tuy nhiên, thời gian qua phát triển nguồn điện chưa cân đối về cơ cấu, thuỷ điện chiếm tỷ trọng cao gần 71% năm 95 cả về công suất lẫn sảnlượng gây ra tính kém ổn định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn (năm 95 là 19%). Hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện đạt rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.

    Phần tiếp theo sau đây, chúng ta đi vào nghiên cứu, phân tích tình hình đầu tư phát triển và kết quả, hiệu quả đạt được trong quá trình xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Việt Nam trong thời gian qua.

    2. Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt nam trong thời gian qua.

    Trang 21

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Cùng với tiến trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đang tập trung cải tạo, nâng cấp, xây mới vừa góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước vừa đảm bảo điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI, hướng tới mực tiêu hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Như phần trước đã phân tích và chỉ ra cho chúng ta thấy một thực cảnh về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta: lạc hậu và không đồng bộ. Thực trạng đó bắt nguồn từ những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, được tiếp nối bởi sự dẫn dắt của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, trì trệ, kém năng động và cuối cùng là thời gian đã tàn phá và hao mòn, huỷ hoại dần từng mảng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta. Nhiệm vụ đặt ra đối với chúng ta lúc này phải từng bước hiện đại hoá hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đang ngày càng bức thiết.

    Nắm bắt được điều đó, các cơ quan chức năng đã đề ra mục tiêu đén năm 2020: mạng lưới giao thông vận tải phát triển, kết hợp hài hoà giữa các chủng loại có chất lượng cao, đảm bảo vận tải tiện lợi, nhanh chóng và an toàn Mạng bưu chính viễn thông đạt trình độ trung bình tiên tiến của thế giới, tham gia mạng thông tin siêu tốc toàn cầu, nối mạng đến xã, máy điện thoại đạt bình quân 20 máy/100 người. Mạng điện quốc gia phủ khắp các đô thị đến nông thôn, đạt 100% điện khí hoá toàn quốc, có thể có điện nguyên tử.

    Để thực hiện được những mục tiêu thên đã đề ra thì vấn đề khó khăn lớn nhất với chúng ta chính là vốn đầu tư. Theo dự báo của chính phủ, trong vài ba năm tới cầu đầu tư khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP) để đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, ngân sách chỉ đáp ứng chừng 3% GDP, nguồn ODA thêm chừng 2% GDP nữa. Khoảng 7% GDP hay chừng 2,1 tỷ USD hàng năm chỉ có thể trông chờ vào các nguồn vốn đầu tư khác. Do đó, một giải pháp lớn được đặt ra là thực hiện chiến lược thu hút, huy

    Trang 22

    Đề án Kinh tế đầu tư

    động một nguồn vốn đầu tư, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước. Vậy thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như thế nào, chúng ta sẽ đi vào phân tích va đánh giá.

    Vốn đầu tư chính là điều kiện tiền đề để thực hiện các dự án đầu tư, từ đó góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội. Đối với các công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nên cũng cần một khối lượng vốn lớn.

    Trong thời qua, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho việc củng cố và phát triển cơ sỏ hạ tầng của đất nước được thể hiện trong bảng sau:

    Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

          Đơn vị: tỷ đồng
               
    Năm 1990 1995   2000  
    Ngành       ( ước tính )  
               
    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 4.732,5 41.849,3   92.452  
               
    Ngành khác 5.6000,5 26.198,3   23.548  
               
    Tổng số 10.333 68.047,6   116.000  
               

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 10+11/2000

    Tính toán các số liệu trong bảng 1 ta thấy được tỷ trọng vốn đầu tư của các ngành trong tổng vốn đầu tư như sau:

    Trang 23

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thời gian qua

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Cơ sở hạ tầng 45,8 61,5 79,7
           
    Ngành khác 54,2 38,5 20,3
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Từ số liệu hai bảng trên ta thấy được rằng: vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số vốn. Vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật của năm 2000 ước tính 116.000 tỷ đồng chiếm 79,7%. Nếu so với các ngành khác thì quả là sự chênh lệch khá lớn. Điều này thể hiện những đặc điểm cơ bản trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật…đó là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư từ NSNN, ít có sự tham gia của các thành phần khác trong lĩnh vực này.

    Theo số liệu ở bảng 2, trong năm 1990 tỷ trọng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm 45,8% trong tổng vốn đầu tư. Các năm sau 1990 và 2000 lượng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tỷ trọng ngày càng cao 61,5% và 79,7%. Tại sao vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lại tăng cao như vậy, có thể giải thích rằng trước những năm 1990 thì thấy cơ sở hạ tầng còn rất lạc hậu và xuống cấp do hậu quả của những năm chiến tranh, sau đó đất nước lại rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế.

    Trang 24

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để đưa đất nươc ra khỏi khủng hoảng và hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đảng và Nhà Nước thực hiện chủ trương mở cửa về kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài. Vì vậy nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trở nên hết sức cấp bách. Hơn nữa, do vừa trải qua cuộc khủng hoảng nên tích luỹ trong nước rất thấp, nguồn vốn đầu tư XDCB hết sức hạn hẹp. Chúng ta muốn chuyển dịch sơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, thúc đẩy quá trình thu hút vốn FDI thì việc ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là lẽ đương nhiên.

    Bên cạnh đó, việc đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng đã có những bước tiến đáng kể. Để cụ thể hơn chúng ta sẽ xem xét dựa trên số liệu trên bảng sau:

    Bảng 3: vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống CSHT kỹ thuật thời gian qua.

          Đơn vị: tỷ đồng.
             
    Năm 1990 1995 2000  
    Ngành     ( ước tính )  
             
    Giao thông -Bưu điện 1.102,7 11.341,2 21.633,8  
             
    Công nghiệp 2.423,0 5.482,3 18.582,9  
             
    Nông nghiệp 1.206,8 25.025,8 52.235,3  
             
    Tổng số 4.732,5 41.849,3 92.452  
             

    Nguồn : Tạp chí Kinh tế và dự báo số 10 + 11/2000

    Trang 25

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Để tiện theo dõi, chúng ta sẽ tính tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực trong tổng số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vào bảng sau:

    Bảng 4: Tỷ vốn đầu tư phát triển các lĩnh vực trong hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thời gian qua.

    Đơn vị: %

    Năm 1990 1995 2000
    Ngành      
           
    Giao thông – bưu điện 23,3 27,1 23,4
           
    Công nghiệp 51,2 13,1 20,1
           
    Nông nghiệp 25,5 59,6 56,5
           
    Tổng số 100 100 100
           

    Nhìn vào bảng 4 có thể thấy rằng, thời gian qua vốn đầu tư cho ngành giao thông – bưu điện mặc dù có sự tăng về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng của chúng trong tổng vốn đầu tư cho CSHT kỹ thuật lại có xu hướng giảm. Điều này đã phản ảnh đúng thực trạng của các lĩnh vực này. Bên cạnh đó đầu tư cho các lĩnh vực trong hệ thống cũng còn tồn tại sự mất cân đối, cụ thể trong hai năm 1995 và 2000 đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trong rất cao 59,6% và 56,5% lớn hơn cả các lĩnh vực giao thông -bưu điện và công nghiệp cộng lại. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho các lĩnh vực của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đều có sự tăng lên về số tuyệt đối. Đây cũng là điều đáng mừng, nhưng là việc đầu tư đó có đem lại kết quả hay không, để trả lời cho câu trả lời đó trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi vào đánh giá kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    III.            ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA.

    Trang 26

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1.Đánh giá tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

    Khách quan mà nói, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua đã đạt được một thành tựu đáng kể.

    • Cải thiện hệ thống đường giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Trong đó, hai hệ thống đường bộ và đường không có sự chuyển biến đáng kể. Một loạt các tuyến đường đã được đầu tư xây dựng, nâng cấp và cải tạo như đường Mai Dịch – Nội Bài, quốc lộ 5, nhiều đoạn của quốc lộ 1, quốc lộ 18… cũng trong thời gian qua các các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất được xây dựng, bổ xung, hiện đại hoá máy bay và hệ thống thông tin liên lạc dưới mặt đất.

    Sự phát triển đó đã góp phần vào việc nâng cao khả năng lưu thông hàng hoá và đáp ứng phần nào yêu cầu của nhà đầu tư.

    • Xây dựng được mạng lưới thông tin liên lạc rộng khắp và kém hiệu quả trên toàn quốc. Đặc biệt ngành bưu chính viễn thông, từ một mạng lưới nhỏ và lạc hậu trược những năm 90, đến nay Việt Nam đã có mạng viễn thông hiện đại ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật số. Tốc độ tiếp thu dịch vụ mới của các ngành này tăng khá nhanh, trung bình có sau 6 tháng kẻ từ khi một dịch vụ mới được tung ra trên thị trường quốc tế.
    • Hệ thống điện năng từng bước được nâng cấp, giải quyết cơ bản nhu cầu điện cho sản xuất và tiêu dùng. Đến cuối năm 1999, tổng công suất lắp đặt các hệ thống điện nước ta đạt 5.774 MM, tổng sản lượng điện đạt khoảng 23.740 triệu Kwh. Lưới điện truyền tải có chiều dài 109.977 Km và dung lượng các trạm truyền tải lên tới 14.709 MA. Tất cả các tính toán trên toàn quốc đã có lưới điện quốc gia, 95,7% số huyện và 77,2% số xã, 68,1% số hộ trong nước đã có điện.

    Số liệu về phát triển của ngành điện và bưu chính viễn thông.

    Trang 27

    Đề án Kinh tế đầu tư

      1990 2000
         
    Sản lượng điện (tỷ Kwh) 8,79 2,5
         
    Số máy điện thoại trên 100 người dân 0,4 4
         

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn tồn tại nhiều yếu kém, cụ thể:

    • Giao thông đường bộ và đường sắt còn ở thế độc tuyến, chúng ta chưa có đường bộ cao tốc, đường sắt đôi, nhiều điểm vượt sông không có cầu…mặc dù mỗi năm giao thông đường bộ được đầu tư 5000 tỷ đồng từ MSNN xong chỉ đáp ứng đủ 30 – 40 % nhu cầu. Vì vậy các công trình gần đây được đầu tư xây dựng một cách tình thế. Kết quả là đến nay còn 515 xã chưa có đường ôtô về trung tâm, trung bình 10km đường bộ có 4 km chưa được trải nhựa và khoảng 70% chiều dài toàn bộ nằm trong tình trạng này.

    Cả nước có gần 1000 cây cầu yếu, hàng nghìn km đường bị ngập và ách tắc. Chỉ cần 1 tai nạn gây ách tắc ở một đoạn đường sẽ gây ách tắc giao thông toàn tuyến, một ví dụ rất rõ là tình hình lũ lụt tại miền trung tháng 10/ 1999 gây áhc tắc giao thông từ nam ra bắc hoặc sự cố cầu Bến Lức tháng 1/2000 gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

    *Các cảng biển có chất lượng dịch vụ cao vẵn còn chưa nhiều. Trong lúc hiện nay ở các cảng trên thế giới năng suất qua lại đạt đến 4000 tấn/m cầu tàu thì ở Việt Nam con số phổ biến từ 500 m- 1000 tấn/m cầu tàu. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cảng nào đủ điều kiện thu hút cac tàu contenner trên 1.200 TEU và đáp ứng được dịch vụ tiếp vận phân phối hàng, vận tải đa phương theo tiêu chuẩn quốc tế.

    Trang 28

    Đề án Kinh tế đầu tư

    • Chính phủ đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao sản lượng điện cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng như xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện mới (Sông Hinh, Yaly…) cải tạo hệ thống nhiệt điện nhưng nếu cân đối với các yêu cầu phát triển kinh tế trong tương lai, rõ ràng ta chưa thể đáp ứng được. Nếu so sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực thì quả thật chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

    So sánh ngành điện Việt Nam với các nước trong khu vực.

      Việt Nam Thái Lan Indonexia Philipin Malaysia
               
    Tỷ lệ hộ có điện (%) 51 87 39 58 90
               
    Năng lượng (Mw) 4.890 13.003 14.327 9.539 7.391
               
    Sản lượng điện năm 19.151 80.068 61.199 29.697 45.453
    97 (Gwh)          
               
    Tiêu  thụ  điện  đầu 204 1294 315 399 2.032
    người mỗi năm (Kwh)          
               
    Tỷ lệ hao hụt điện qua 16 9 12 17 11
               

    Trang 29

    Đề án Kinh tế đầu tư

    phân phối (%)

    Bên cạnh đó tiền điện dùng cho kinh doanh thuộc vào loại khá cao ảnh hưởng không nhỏ tới lợi thế so sánh của nước ta.

    So sánh chi phí đầu tư tại Hà nội, Tp Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn.

      Hà nội Tp. HCM Thượng Hải Bangkok Jakarta Kuala Lampar
                 
    – Phí điện thoại quốc tế 8,52 8,52 4,3 3,11 2,59 2,61
    (3 phút gọi dang Nhật)            
                 
    – Tiền điện dùng cho 0,07 0,07 0,035 0,03 0,0177 0,06
    kinh doanh / kwh            
                 
    – Vận chuyển container 1.825 1.375 880 1.466 1.252 895
    (40ft/container) chuyển            
    từ  nhà máy đến cảng            
    gần nhất ở Nhật – cảng            
    Yukohama            
                 

    Từ thực trạng kết quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua như vừa nêu trên, cho thấy mặc dù đầu tư khá nhiều, xong nhìn chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật nước ta còn lạc hậu, chưa đồng bộ còn chi phí cho các dịch vụ này rất cao. Như vậy, những yêu cầu mà FDI đặ ra đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chúng ta chưa cung cấp được một cách hoàn hảo nhất. Điều đó là do việc đầu tư còn dàn trải, chưa xác định được những màu đột phá trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nguồn vốn còn eo hẹp bởi huy động được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào làm việc này rất khó khăn.

    Thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nước ta được thể hiện rõ hơn qua sự so sánh ở bảng sau:

    So sánh môi trường đầu tư “cứng” của các nước ASEAN.

    Tên nước Sân bay Cảng biển Giao thông Điện lực Viễn thông Bình quân
                 
    Singapore 4,9 4,9 4,6 4,4 4,7 4,7
                 

    Trang 30

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Brunay 3,3 3,3 3,3 3,6 3,5 3,3
                 
    Thailan 3,1 2,5 1,6 2,7 3,0 2,6
                 
    Philipines 2,3 2,4 2,9 2,2 2,7 2,3
                 
    Indonesia 3,0 2,4 2,3 2,6 2,7 2,6
                 
    Malaysia 3,1 3,1 2,7 2,6 3,2 2,9
                 
    Myanma 1,6 1,5 1,6 1,4 1,4 1,5
                 
    Lào 1,5 1,5 1,5 1,7 1,5 1,5
                 
    Campuchia 1,6 1,5 1,8 1,4 1,4 1,5
                 
    Việt Nam 1,9 2,0 1,9 1,9 2,2 2,0
                 

    Xếp hạng: 5 điểm lớn nhất.

    Tuy sự so sánh trên còn có phần chưa thoả đáng vì nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, mọi điều kiện về vật chất, con người còn nhiều hạn chế so với các nước đã có quá trình phát triển trước rất nhiều năm. Nhưng dù sao khoảng cách khá chênh lệch đó cuĩng đòi hỏi nhiều hơn nữa cho việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này.

    Trên đây chúng ta đã đánh giá được một số vấn đề trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian qua. Trong quá trình đánh gía, chúng ta đã thấy được những thành tựu và những yếu kém. ở phần tiếp theo chúng ta sẽ đánh giá đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật với qua trình thu hút FDI.

    2. Đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với quá trình thu hút vồn FDI.

    Trang 31

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ tiền ra đầu tư vào một nơi nào đó, xem xét rất kỹ lưỡng mọi khía cạnh. Trong đó có khía cạnh rất quan trọng từ cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy những nơi nào có kết cấu hạ tầng phát triển thì nơi đó có nhiều dự án đầu tư. Nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những kết quả dáng khích lệ trong việc thu hút vốn FDI.

    Tính đến thời điểm 30/6/2000 đã có gần 3100 dự án của 65 nước và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép, tổng vốn đầu tư đăng ký gần 43 tỷ USD, trong đó vốn tăng thêm của các dự án đang thực hiện là trên 5,5 tỷ USD. Tìm các dự án hết hạn, giải thể, hiện có khoảng 2500 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt gần 36 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt gần 18 tỷ USD và hiện chiếm tới 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Khu vực đầu tư nước ngoài không những đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, mà còn khai thác, đưa vào sử dụng nhiều nguồn lực trong nước như đất, tài nguyên, lao động.

    Để đạt mục tiêu đến năm 2005 GDP tăng gấp hai năm 95, sơ bộ

    • nhu cầu vốn đầu tư phát triển của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 khoảng
    • – 62 tỷ USD, trong đó dự kiến vốn đầu tư nước ngoài khoảng 25 tỷ USD. Vì vậy tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây xu thế vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang chững lại và có phần giảm sút, cụ thể:

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

    Đơn vị: triệu USD.

      91 92 93 94 95 96 97 98 99 2000
                         

    Trang 32

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Vốn 1275 2027 2589 3746 6607 8640 4649 3897 1567 1600
    cam kết                    
                         
    Vốn 432 478 871 1936 2363 2447 4768 2062 1758 1800
    thực                    
    hiện                    
                         

    Theo số liệu ở bảng trên ta thấy rằng, năm 96 là năm có số vốn thu hút cao nhất từ trước đến nay. Sau thời kỳ ấy biểu đồ ngày càng đi xuỗng và đến thời điểm năm 2000 (dự kiến) cũng chỉ hơn năm 91 chút ít cũng sau thời điểm 96 đến nay FDI suy giảm cả về vốn cam kết và vốn thực hiện. So với cùng kỳ năm trước, nbịp tăng vốn đăng ký của các dự án FDI năm 97 giảm 49%, năm 98 giảm 16%, năm 99 giảm 60%. Số vốn thực hiện từ năm 97 – 99 giảm khoảng 40%. Sự suy giảm FDI đã gây ảnh tiêu cực đến việc huy động vốn đầu tư phát triển và tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và một số năm tới.

    Ngoài những nguyên nhân khách quan như tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thu hút FID của các quốc gia thì nguyên nhân chính vẫn thuộc về chúng ta. Mặc dù, cơ chế chính sách, luật pháp đã có sự thông thoáng cởi mở. Song hệ thống CSHT kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu của FDI đã dẫn đến chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, đã là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lưu lượng của dòng chảy FDI vào Việt Nam.

    Để Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới chúng ta cần phải cố gắng hơn nữa trong việc đề ra những giải pháp cho vấn đề này.

    Trang 33

    Đề án Kinh tế đầu tư

    CHƯƠNG III

    PHƯONG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT NHẰM THU HÚT VỐN FDI TRONG THỜI GIAN TỚI

    I.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trong phần này chúng ta sẽ đề cập tới định hướng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong thời gian tới và một số giải pháp để giải quyết những tồn tại trong thời gian qua. Nhưng dù có định hướng hay giải pháp gì đi chăng nữa thì cơ bản việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải tuân theo những nguyên tắc sau

    Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật một cách hoàn chỉnh, đồng bộ theo một quy hoạc tổng thể ngay từ ban đầu.

    Trang 34

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Trong điều kiện hạn chế về vốn có thể hoàn thành từng phần tránh đầu tư manh mún dẫn đến thất thoát, lãng phí và hiệu quả thấp.

    Cần có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật .

    1. Hệ thống giao thông vận tải.

    Phương hướng phát triển hệ thống giao thông là tạo sự chuyển biến cơ bản về cơ cấu, quy mô, trình độ kỹ thuật công nghệ, trong đó phát triển nhanh ngành hàng hải và hàng không, tận dụng tốt các đường sông, ngăn chặn sự xuống cấp, từng bước nâng cấp các tuyến đường bộ, đường sắt trọng điểm, giải quyết giao thông đường bộ ở các vùng kinh tế trọng điểm. Hoàn chỉnh tuyến trục Bắc-Nam, củng cố các tuyến lên Tây Nguyên và xuống đồng bằng Cửu Long, cải thiện mạng lưới giao thôgn đồng bằng sông Hồng và giao thông các thành phố lớn. Mở rộng, hiện đại hoá các đầu mối giao lưu quốc tế: cảng biển, cảng hàng không, phát triển các tuyến nối trục giao thông quốc tế xuyên A’ và các nước láng giềng.

    Phát triển tuyến vận tải ven biển và các cảng nước sâu trên các vùng.

    Nâng cấp toàn bộ tuyến quốc lộ 1 từ Đồng Đăng đến Năm Căn Là trục huyết mạch, đến năm 2005 hoàn thành và nối kết các mạng đường bộ các vùng.

    Nghiên cứu khả thi và xây dựng dẫn trục xa lộ Bắc Nam để đáp ứng cho thời kỳ CNH-HĐH từ sau năm 2000.

    Nâng cấp tuyến đường sắt xuyên Việt để tạo nên tuyến đường vận tải hàng hoá có khối lượng lớn từ Bác đến Nam và các tính miền Trung, một tuyến vận chuyển hành khách đường dài nhanh chóng tiện lợi.

    Tăng năng lực vận chuyển trên các tuyến hàng không hướng Bắc-Trung-Nam, và nâng cấp các sân bay này.

    Trang 35

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Triển khai chương trình giao thông nông thôn, giải quyết đường đến huyện và 599 xã cũng 15 điểm cụm xã có tổng chiều dài là 7425 km.

    2. Bưu chính viễn thông.

    Tăng cường và phát triển mạng bưu chính viễn thông công cộng cũng như chuyên dùng theo hướng đi thẳng vào kỹ thuật hiện đại, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá bằng kỹ thuật số, quang học với công nghệ tiên tiến để có dung lượng lớn, tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu 3T (tốc độ, tiêu chuẩn, tin học và đồng thời cập nhật kịp thời những công nghệ mới)

    Mở rộng các dịch vụ mới: Điện thoại thấy hình, hội nghị truyền hình, truyền số liệu tốc độ cao nhằm, internet, thư điện tử, bưu phẩm khai giá

    Đưa các dịch vụ đối với khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi, văn minh lịch sự. Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dịch vụ, bỏ độc quyền dịch vụ bưu chính viễn thông.

    3. Cung cấp điện

    ưu tiên khai thác thuỷ năng, trước hết tập trung vào các công trình có hiệu quả kinh tế cao như Sông Đà, Sông Đồng Nai và một số công trình vừa và nhỏ trên các lưu vực sông khác nhằm kết hợp thuỷ điện và thuỷ lợi, phát triển nhiệt điện dùng than ở các tỉnh phía Bắc trên cơ sở tăng cường khai thác sử dụng than Quảng Ninh.

    Tích cực chuẩn bị cho phát điện nguyên tử sau năm 2000

    Liên kết tất cả các huyện thị vào mạng lưới quốc gia. Phấn đấu đến năm

    2010 có 70% số hộ được cung cấp điện từ lưới điện quốc gia.

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hoá lưới điện chuyển tải và phân phối nhằm nâng cao độ tin cây, chất lượng cung cấp và giảm tỷ lệ hao hụt xuống còn khoảng 10%.

    II.GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐẦU TƯ VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào sự đánh giá về tình hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở phần trước, căn cứ vào định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật . Trong thời gian tới để tăng cường thu hút vốn FDI một mặt chúng ta cần cải thiện và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đáp ứng những yêu cầu của FDI đối với lĩnh vực này. Mặt khác cần tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để thu hút FDI có hiệu quả. Nhưng xuất phát từ việc bài viết trên lĩnh vực kinh tế đầu tư nên đưa ra những giải pháp thuộc lĩnh vực kinh tế đầu tư chứ không thể đưa ra những giải pháp dựa trên lĩnh vực kỹ thuật.

    1.Giải pháp cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

    Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hiện đại là yếu tố quan trọng trong thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt nam. Do đó, để cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần phải thực hiện một số giải pháp sau:

    • Thứ nhất: Tổ chức này cấp hệ thống đường bộ các nước trên quan điểm phá vỡ thế lực tuyến (như hiện nay-vừa qua, dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 1 từ 2000-2003 đã được khởi công). Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện thành công dự án này nhằm giải quyết hướng ra trong tương lai đối với giao thông đường bộ.
    • Thứ hai: Để khai thức có hiệu quả lợi thế về vị trí địa chính tạo trong thu hút FDI cần đầu tư hienẹ đại bản 3 sân bay Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm

    Trang 37

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đáp ứng các chuyến bay trong và ngoài nước. Bên cạnh đó ngành hàng không cũng cần phải tổ chức lại. Nếu tình trạng bù lỗ cứ kéo dài như hiện nay, chúng ta sẽ không có nguồn vốn cho đầu tư phát triển, dẫn đến tình trạng lạc hậu so với hàng không các quốc gia khác trong khu vực.

    • Thứ ba: Cải thiện hệ thống giao thông đô thị và chú ý phát triển mạng lưới giao thông ở các vùng nông thôn, vùng xa… ở các đô lớn như Hà nội, TP Hồ Chí Minh… hệ thống giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện đại , chưa kể đến tầm phát triển trong tương lai. Điều này đã làm ngao ngán không ít các nhà đầu tư. Điển hình, tại TP HCM nạn kẹt xe ngày càng có xu hướng trầm trọng hơn. Tại Hà nội, trong các giờ cao điểm trên trục đường hệ số sử dụng lòng đường đã vượt 1 đến 3 làn do lòng đường nội thành quá chật hẹp, các giao cắt đường mốc quá gần nhau, do đó đã dẫn đến tình trạng ùn tắc, lộn xộn mất trật tự.

    Như vậy, hệ thống giao thông đô thị đến nay đã trở lên quá tải, trong khi việc sửa chữa, áp dụng kỹ thuật còn quá thô sơ, manh mún, mang tính chắp vá không hề cải thiện tình hình giao thông. Việc xây dựng những con đường mới thực hiện quá chậm, thậm chí không đảm bảo chất lượng. Đó là thực trạng ửo các thành phố lớn nói chung ở nước ta hiện nay. Còn ở những thị xã, quận huyện xa thì vấn đề giao thông còn ách tắc hơn, gây cho nhà đầu tư tâm lý muốn đầu tư vào các đô thị lớn, nơi có môi trường đầu tư t*88 cả nước. Do đó, một mặt cần cải thiện hệ thống giao thông đô thị, mặt khác phải chú ý xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông ửo các vùng nông thôn, vùng núi, vùgn xa căn cứ trên quy hoạch chi tiết của từng địa phương.

    +Thứ tư: Đầu tư cải thiện hệ thống cảng biển trên quan điểm”cảng biển Việt nam cần chất lượng “ vì vậy cần tiếp tục đầu tư cải tạo và nâng cấp hiệu quả hoạt động của cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và cảng Hải Phòng tạo lên khu vực

    Trang 38

    Đề án Kinh tế đầu tư

    cảng lớn, mặt khác tập trung đầu tư phát triển hệ thống cảng biển miền Trung như Đà Nẵng, Ba Ngòi…. Và đặc biệt là cảng Dung Quất. Đội tàu viễn dương

    của ta đã quá cũ kỹ lạc hậu, vận tải đường biển còn kém phát triển trong khi đây là xu thế cảu Việt nam. Do vậy việc đầu tư hiện đại háo những cơ sở để phát triển kinh tế và thu hút FDI.

    • Thứ năm: hợp tác với các nước láng giềng để mở rộng hệ thống giao thông quốc tế, cụ thể: làm một hệ thống truvj giao thông sang Lào, Campuchia và Trung Quốc trên cơ sở hệ thống giao thông đã có, khai thông tuyến giao thông quốc tế đến Hà nội, mở rộng hệ thống giao thông đường sắt với Trung Quốc.

    +Thứ sáu:

    Đầu tư phát triển và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc đặc biệt cần tăng số kênh thông tin quốc tế, tìm kiếm nguồn vốn để xây dựng hệ thống cáp quang biển hoà chung vào mạng cáp quang biên thông tin quốc tế khu vực nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của chủ đầu tư, điều chỉnh mức cước phí thông tin và bưu điện theo hướng phù hợp với nguồn sử dụng trong nước và hợp lý trong khu vực.

    Để thực hiện các giải pháp đầu tư cải thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cảu nền kinh tế, một vấn đề cần giải quyết trước mắt là tìm kiếm, xác định được nguồn vốn đầu tư.

    Cũng như các nước đang phát triển khác, nhu cầu về vốn đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất lớn, trong khi đó nguồn vốn dành cho đầu tư lại hạn chế do nguồn thu ngân sách không đảm bảo. Do đó, để giải quyết bài toàn về vốn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần có những giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư một cách hợp lý.

    2. Giải pháp tổ chức thực hiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật

     

     

     

     

     

    Trang 39

    Đề án Kinh tế đầu tư

    Thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên quan điểm “tập trung dứt điểm” không đầu tư dàn trải và hậu quả của việc đầu tư dàn trải sẽ không cao, thực hiện đầu tư nhiều công trình nhưng đều chậm hoàn thành và khó đưa vào sử dụng do thiếu vốn. Muốn vậy cần có quy hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thống nhất và hợp lý. Những công trình trong tình trạng phân phối đều vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các địa phươgn mà phải căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế các địa phương.

    • Phải thực hiện chặt chẽ công tác phân cấp quản lý và đầu tư đói với những công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuộc hế thống quốc gia như đường quốc lộ, những cồng trình mang tính chất liên ngành, liên vùng, những công trình hàng không, cảng biển quốc gia và hệ thống đường sắt. Tránh tình trạng chia nhỏ như trước đây, mỗi địa phương quản lý một đoạn quốc lộ v tổ chức thu kinh phí cho ngân sách địa phương. Cần tập trung nguồn thu này do ngân sách và điều phối một cách hợp lý, không quản lý manh mún, kém hiệu quả và việc đầu tư lại mang tính chắp vá như hiện nay.

    Đồng thời phải có sự phân cấp quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật một cách rõ ràng, chi tiết: bộ máy quản lý thành phố, tỉnh phải khác với huyện, xã. các công trình loại I, loại II thuộc trung ương thì phân cấp thế nào? Phạm vi nào thuộc quyền của tỉnh, lĩnh vực nào của Trung ương… một thực tế là sẹ phân cấp và phối hợp trong quản lý hệ thống giao thông còn rất yếu kém. Tại các thành phố, thị xã có quốc lộ đi qua thì Bộ giao thông vận tải quản lý, một số đoạn lại do sở giao thông công chính đảm nhiệm đầu tư xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng, còn cấp thoát nước, xây dựng mạng lưới điện, điện thoại lại do các cơ sở chuyên ngành nên có tình trạng đường làm xong thì phải đào lên để mắc điện thoại, làm cống thoát nước,/… đây là việc phân cấp quản lý vì mục đích chung lâu dài chứ không phải vì lợi ích nhất thời dàn trải. Việc đầu tư vào các hệ lĩnh vực thuộc hệ

    Trang 40

    Đề án Kinh tế đầu tư

    thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ do từng địa phương thực hiện một ngân sách để thực hiện tài trợ trong những trường hợp đặc biệt.

    Thực hiện xây dựng “Nhà nước và nhân dân cùng làm” nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đối với những công trình mang tính chất phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phải được bàn bạc từ Trung ương đến địa phương để không lặp lại? Trung ương cho gì, địa phương nhận “và” địa phương xin, Trung ương xem và cho”. Mặt khác, cần có sự chỉ đạo thống nhất trong xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật giữa Trung ương và địa phương. Các nguồn vốn được cấp, sử dụng đều phải có sự giám sát của Họi đồng nhân dân và ở mức độ cho phép thì có sự tham gia của nhân dân.

    • hoàn thiện từng bước các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở hạ tầ

    Trong những năm tới, chỉ riêng 4 lĩnh vực điện, đường bộ, viễn thông và cấp nước mỗi năm cần đầu tư hơn 3,5 tỷ USD, gấp 3 lần nguồn vốn ngân sách (bao gồm cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức –ODA) của Chính phủ dành cho cơ sở hạ tầng nói chung.

    Cho đến nay ngân sách vẫn là nguồn tài chính chủ yếu cho dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng như thế thì không thể đáp ứng hết các yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng. Do vậy cần phải có các biện pháp huy động vốn từ các doanh nghiệp, để bù đắp khoảng trống giữa cung, cầu về vốn.

    Từ những năm 92, chúng ta đã bắt đầu chú ý đến việc thu hút nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằng cách đưa ra những chính sách ưu đãi về thuế, giá thuế đất và đưa hình thức đầu tư BOT vào các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài … từ đó đến nay nhiều đường quốc lộ đã được nâng cấp bằng nguồn vốn của doanh nghiệp như QL5L từ TP HCM

    Đề án Kinh tế đầu tư

    đi vũng tàu, đường Láng-Hoà Lạc ở Hà nội, quốc lộ 14.. Tuy đã có một số kết quả nhưng các chính sách về thuế, đất đai vẫn chưa thuyết phục được ccs doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào cơ sở hạ tầng.

    Trong thời gian tới cần tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia rộng rãi hơn vào một số lĩnh vực dịch vụ cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang do các Doanh nghiệp Nhà nước kiểm soát bằng cách cổ phần hoá từng bước các mảng dịch vụ phân phối điện, dịch vụ viễn thông và đấu thầu khai thác các cảng biển cũng như sân bay.

    Trang 42

    Đề án Kinh tế đầu tư

    KẾT LUẬN.

    Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Hiện nay việc huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vào hiệu quả của các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng đang là vấn đề nóng bỏng. Trong thời gian tới, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự cạnh tranh quyết liệt trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các quốc gia, chắc chắn rằng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt nam sẽ có những bước tiến đáng kể đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư. Chính vì thế ngay từ bây giờ chúng ta phải có sẹ tìm hiểu cụ thể thực trạng của hệ thống này để thấy được vai trò của nó đối với quá trình thu hút FDI. Qua đó tìm ra những giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại trong việc đầu tư phát triển hệ thống này.

    Trên cơ sở như vậy. bài viết được hoàn thành. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài rất rộng, trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Trang 43

    Đề án Kinh tế đầu tư

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế đầu tư. NXB giáo dục – 1998.

     

    1. Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giáo trình kinh tế phát triển. NXB Thống kê – 1997.

     

    1. Bộ Kế hoạch – Đầu tư. Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam

     

    1. Nguyễn Anh Tuấn. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam: cơ sở pháp lý, thực trạng và triển vọng. NXB Thế giới – 1994.

     

    1. Vũ Chí Lộc. Giáo trình đầu tư nước ngoài. NXB Giáo dục – 1997.

     

    1. Tổng cục Thống kê. Cơ sở hạ tầng Việt Nam 10 năm đổi mới (1985 –

     

    1995).

     

    1. Niên giám Thống kê Việt Nam các năm 96, 97, 98.
    1. Các báo, tạp chí sau:
    • Kinh tế và dự báo số 1+2/97, 4/98, 3/200, 10+11/2000
    • Thời báo kinh tế Sài Gòn số 27, 28, 36/2000
    • Nghiên cứu kinh tế số 1/98, 7/98, 4/99, 11/99, 9/2000
    • Kinh tế Châu á – Thái Bình Dương số 4/97
    • Thông tin kinh tế xã hội số 2/96
    • Kinh tế và phát triển số 38/2000
    • Công nghiệp số 23/99
    • Phát triển kinh tế số 102/99
    • Thương mại số 1/2000
    • Giao thông vận tải số 1+2/2000

    Trang 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]