Category: Thương Mại – Marketing

  • Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Chứng minh văn học là nghệ thuật ngôn từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-b%C3%A1n-h%C3%A0ng-cho-s%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A9m-may-Vi%E1%BB%87t-Ti%E1%BA%BFn-tr%C3%AAn-khu-v%E1%BB%B1c-Xu%C3%A2n-Th%E1%BB%A7y-C%E1%BA%A7u-gi%E1%BA%A5y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Một doanh nghiệp muốn kinh doanh thành công thì phải thực hiện tốt quá trình quản trị bán hàng. Xây dựng kế hoạch bán hàng là một trong ba nội dung cơ bản của quản trị bán hàng. Xây dựng kế hoạch bán hàng là công việc quan trọng hàng đầu của các nhà quản trị. Để khỏi lạc hậu so với đối thủ cạnh tranh và đảm bảo tầm nhìn xa trông rộng phải xây dựng kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng là sản phẩm của quá trình lập kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc lập kế hoạch bán hàng chi tiết cho phép doanh nghiệp hiểu và khai thác tốt các cơ hội thị trường, hình thành được khung công việc rõ ràng nhằm phối hợp tốt và tối ưu nguồn lực trong quá trình bán hàng, cũng như làm cơ sở để đánh giá kết quả và thành tích bán hàng.

    Để biết cụ thể quy trình xây dựng một kế hoạch bán hàng là như thế nào, nhóm chúng em đã thực hiện “Xây dựng kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy”. Đó chính là đề tài mà chúng em thực hiện dưới đây.

    Đề tài bao gồm 2 chương:

    Chương 1, Lý luận chung về kế hoạch bán hàng.

    Chương 2, Nội dung kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy.

    CHƯƠNG I

    XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

     

    1.1, Kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thương mại.

    1.1.1, Khái niệm kế hoạch bán hàng

    Kế hoạch bán hàng là sản phẩm của quá trình lập kế hoạch bán hàng. Kế hoạch bán hàng bao gồm các mục tiêu bán hàng, các chương trình và hoạt động bán hàng, ngân sách bán hàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

    Một bản kế hoạch bán hàng được đánh giá trên hai phương diện:

    Về hình thức: Kế hoạch bán hàng là tập văn bản được trình bày rõ ràng, sạch sẽ, logic, có tính thuyết phục và hướng dẫn cao với người sử dụng.

    Về nội dung: Kế hoạch bán hàng phải đảm bảo cung cấp đủ thông tin cho người sử dụng từ bối cảnh thị trường, mục tiêu cần đạt được, cũng như các hoạt động, các chương trình cần làm, tiến trình triển khai, trách nhiệm của từng bộ phận và cá nhân, cũng như dự trù ngân sách để triển khai kế hoạch.

    1.1.2, Nội dung của kế hoạch bán hàng

    Nội dung cơ bản của kế hoạch bán hàng bao gồm:

    – Kết quả dự báo bán hàng

    – Mục tiêu bán hàng

    – Các chương trình và hoạt động bán hàng

    – Ngân sách bán hàng

    1.1.3, Các loại kế hoạch bán hàng.

    Trong doanh nghiệp có rất nhiều loại kế hoạch bán hàng. Cụ thể phân loại kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thành các loại chính sau:

    – Phân loại theo cấp quản lý

    + Kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp.

    + Kế hoạch bán hàng của bộ phận.

    + Kế hoạch bán hàng của cá nhân.

    – Phân loại theo sản phẩm hàng hóa

    – Phân loại theo khu vực thị trường

    + Kế hoạch xuất khẩu

    + Kế hoạch bán hàng nội địa

    + Kế hoạch bán hàng theo vùng địa lý

    + Kế hoạch bán hàng ở từng thị trường của doanh nghiệp.

    – Phân Phân loại theo thời gian: Kế hoạch bán hàng ngày, tuần, tháng, quý, năm.

    – Phân loại theo phương thức bán hàng: Phân loại này sẽ có nhiều loại kế hoạch bán hàng khác nhau theo các kênh bán hàng của doanh nghiệp.

     

     

     

    1.2, Quy trình xây dựng kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp thương mại

     
       

    Sơ đồ 1, Quy trình xây dựng kế hoạch bán hàng

     

    1.2.1, Dự báo bán hàng

    1. Khái niệm:

    Dự báo bán hàng là quá trình xác định các chỉ tiêu bán hàng trong tương lai và triển vọng đạt được các chỉ tiêu đó.

    1. Vai trò:

    – Dự báo bán hàng giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bán hàng.

    – Dự báo bán hàng chỉ ra cho doanh nghiệp những hướng đi trong tương lai.

    – Dự báo bán hàng giúp doanh nghiệp chủ động đón nhận cơ hội, tránh được các rủi ro, thất thoát trong hoạt động bán hàng.

    c, Kết quả dự báo bán hàng

    Kết quả dự báo bán hàng được thể hiện thông qua hai chỉ tiêu:

    – Chỉ tiêu định lượng: Quy mô thị trường, sức mua, thị phần, tốc độ tăng trưởng thị trường…

    – Chỉ tiêu định tính: Dự báo yếu tố thời vụ, yếu tố thói quen, yếu tố cạnh tranh… dựa trên cảm nhận, giác quan để có kết quả dự báo nhất định.

    Kết quả dự báo bán hàng phải đảm bảo chứa đựng thông tin về bốn yếu tố chính sau:

    – Năng lực cạnh tranh. Đây là dự báo khối lượng hàng bán cao nhất có thể của một sản phẩm, dịch vụ trên thị trường của tất cả các đối thủ cạnh tranh, trong một giai đoạn nhất định.

    – Doanh số của ngành hàng. Đây là khối lượng hàng bán thực sự của một ngành nhất định ở thị trường cụ thể trong một giai đoạn nhất định.

    Năng lực bán hàng của doanh nghiệp. Đây là số lượng cao nhất của năng lực thị trường mà một doanh nghiệp có thể hy vọng nhận được từ các nguồn va khả năng sẵn có của nó một cách đáng tin cậy.

    – Dự báo bán hàng của doanh nghiệp. Đó là đánh giá số lượng bán bằng tiền hoặc theo đơn vị sản phẩm (dịch vụ) trong tương lai của doanh nghiệp đối với từng mặt hàng ở một thời gian nhất định trên tất cả các thị trường mà doanh nghiệp tham gia cạnh tranh.

    d, Các căn cứ dự báo bán hàng

    Thông thường khi tiến hàng dự báo bán hàng, nhà quản trị căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

    – Số dân cư, cơ cấu dân cư cho biết dung lượng thị trường và một số đặc điểm trong thói quen, tập quán mua sắm… Mật độ dân cư là chỉ số quan trọng để dự báo doanh số và phân bổ chỉ tiêu bán hàng theo khu vực thị trường.

    – GDP/ người, thu nhập, khả năng thanh toán. Chỉ tiêu này cho phép dự báo khả năng thanh toán, dự báo số lượng hàng tiêu thụ, cho phép đưa ra được những chương trình bán hàng phù hợp…

    – Số lượng điểm bán cho phép xác định mục tiêu bao phủ thị trường, cũng như dự báo rất tốt doanh số theo từng kênh bán hàng của doanh nghiệp.

    – Số lượng khách hàng. Nắm được số lượng khách hàng giúp nhà quản trị bán hàng dự tính được doanh số, hoạch định phương thức và chính sách bán hàng cho từng nhóm khách hàng, phân bổ hạn ngạch…

    – Sản lượng của ngành . Nắm được sản lượng của ngành, đi đôi với dự báo nhu cầu cho phép xác định tương quan thị phần và mục tiêu doanh số của doanh nghiệp.

    – Thị phần tương đối trong ngành làm cơ sở cho nhà quản trị bán hàng dự báo doanh số cho từng thời kỳ theo phương pháp thống kê kinh nghiệm.

    – Kim ngạch xuất nhập khẩu cho biết dung lượng thị trường và tình hình cạnh tranh.

    e, Phương pháp dự báo bán hàng

    Để dự báo bán hàng, doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một số phương pháp chủ yếu bao gồm:

    – Phương pháp chuyên gia. Nhà quản trị bán hàng dựa trên kết quả đánh giá của nhân viên bán hàng hoặc cán bộ quản lý bán hàng để tổng hợp, phân tích, xác định chỉ tiêu kế hoạch bán hàng. Theo phương pháp này, doanh nghiệp sẽ tổng hợp ý kiến và dự báo kết quả bán hàng từ các cấp bán hàng trong doanh nghiệp, sau đó tổng hợp và xử lý. Phương pháp này có ưu điểm dễ làm, nhanh và chi phí thấp. Tuy nhiên tiếp cận mới dừng ở định tính và kết quả dự báo có thể có sai lệch lớn.

    – Phương pháp điều tra khảo sát. Nhà quản trị bán hàng tiến hành điều tra thực tế nhằm có được các kết quả về hành vi khách hàng và khách hàng tiềm năng, mhu cầu mua sắm và khả năng thành toán, xu hướng phát triển tiêu dùng, tình hình kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh… Kết quả phân tích điều tra giúp nhà quản trị phân tích tổng hợp các thông tin thị trường và khả năng của daonh nghiệp để các định chỉ tiêu bán hàng. Phương pháp này đòi hỏi nhiều công sức, tiền bạc và thời gian. Hơn nữa, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực nghiên cứu thị trường tốt.

    Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng phương pháp dự báo theo nguyên nhân dẫn đến khả năng thay đổi kết quả bán hàng và phương pháp thống kê kinh nghiệm.

    Tùy theo quy mô của doanh nghiệp, các điều kiện kinh doanh và trình độ của người làm dự báo để doanh nghiệp lựa chọn phương pháp dự báo bán hàng hiệu quả và phù hợp.

    f, Quy trình dự báo bán hàng

    Doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều quy trình dự báo bán hàng khác nhau. Về phương diện tổ chức có 3 quy trình dự báo bán hàng cơ bản là từ trên xuống, từ dưới lên và hỗn hợp.

    – Quy trình từ trên xuống: Dự báo bán hàng được thực hiện ở mức độ kinh doanh chung hoặc cấp doanh nghiệp. Sau đó trên cơ sở các tiêu chuẩn như lượng bán kỳ trước và các mức độ về nguồn tiền dự báo bán được chia nhỏ dần theo các đơn vị tổ chức, kết thúc ở dự báo bán sản phẩm cho các khu vực bán hàng.

    – Quy trình từ dưới lên: Quy trình này bắt đầu với các dự báo bán hàng tương lai về từng sản phẩm từ những nhân viên bán hàng, từ các đơn vị thị trường cấp thấp. Các dự báo theo sản phẩm sau đó được tổng hợp theo tất cả sản phẩm và đơn vị để lập 1 dự báo bán hàng của công ty. Tiếp theo dự báo này có thể được xác định bởi bộ phận phân tích để tính đến các điều kiện kinh tế, khả năng tiếp thị và các sản phẩm mới.

    – Quy trình hỗn hợp: Quy trình này được thực hiện với sự tham gia cùng lúc của cả cấp công ty lẫn các cấp tác nghiệp cơ sở. Quy trình này thường áp dụng tại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.

    1.2.2, Xây dựng mục tiêu bán hàng

    a, Các loại mục tiêu bán hàng

    Mục tiêu bán hàng là kết quả bán hàng đạt được trong một thời gian nhất định nào đó. Mục tiêu bán hàng phải phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong từng giai đoạn.

    Các mục tiêu bán hàng thường chia thành hai nhóm: nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng và nhóm mục tiêu kết quả bán hàng.

    Nhóm mục tiêu kết quả bán hàng: Phản ánh kết quả bán hàng thực tế mà doanh nghiệp đạt được thể hiện bằng các con số. Nhóm mục tiêu này bao gồm:

    Doanh số:  là mục tiêu kết quả quan trọng nhất trong bán hàng.

    Lãi gộp: là mục tiêu quan trọng nhất trong bán hàng. Mục tiêu tổng lãi gộp đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Lãi gộp được tính bằng doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng hóa.

    Chi phí bán hàng: Mục tiêu này là mục tiêu phổ biến áp dụng trong bán hàng. Lực lượng bán hàng được giao mục tiêu theo định mức chi phí.

    Lợi nhuận bán hàng: Mục tiêu là mục tiêu bao trùm trong kinh doanh. Mục tiêu lợi nhuận thường được xác lập cho các cấp quản trị bán hàng trung cấp và cao cấp. Mục tiêu lợi nhuận bán hàng được đặt ra ở cấp công ty và cấp bộ phận. Mục tiêu lợi nhuận được thể hiện trên cơ sở lợi nhuận ròng, tỷ lệ doanh lợi trên tài sản.

    Vòng quay của vốn hàng hóa: Mục tiêu này ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của công tác quản trị mua hàng, bán hàng và dự trữ của doanh nghiệp.

    Nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng: Đây là mục tiêu cơ sở để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.  Nhóm mục tiêu này bao gồm:

    Mức độ hài lòng của khách hàng: Mục tiêu này thể hiện ở những phản ánh của khách hàng, thông qua thời hạn thanh toán nhanh hay chậm của khách hàng, thông qua số lần mua của khách hàng… Mục tiêu nâng cao mức độ hài lòng của khách hàng đảm bảo hoạt động bán hàng thành công.

    Phát triển thị trường: Mục tiêu này được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng doanh số, số lượng khách hàng mới, số lượng điểm bán mới, mức độ phủ sóng địa lý thị trường…

    Số lượng đại lý và điểm bán: Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển thị trường. Doanh nghiệp sẽ đặt mục tiêu số lượng điểm bán có bán hàng của doanh nghiệp, để từ đó tập trung nỗ lực của lực lượng bán hàng vào phát triển thị trường.

    –  Số lần thăm viếng khách hàng của nhân viên bán hàng sẽ chi phối doanh số đạt được. Doanh nghiệp sẽ quy định cụ thể một nhân viên bán hàng sẽ tham viếng bao nhiêu đại lý, khách hàng hàng ngày, hàng tuần. Hoặc quy định số lần tối thiểu phải thăm viếng một đại lý, một khách hàng trong khoảng thời gian quy định.

    Số cuộc điện thoại giao dịch với khách hàng: Quy định mục tiêu cần hoàn thành của từng nhân viên bán hàng phải điện thoại giao dịch hàng ngày, hàng tuần với bao nhiêu khách hàng.

    Số hồ sơ khách hàng: Nhân viên bán hàng được giao chỉ tiêu hoàn thành số hồ sơ chi tiết về khách hàng trong khoảng thời gian nhất định.

    Số khách hàng ghé thăm: Chỉ tiêu này rất hữu dụng với các loại hình bán lẻ, các chương trình bán hàng theo sự kiện.

    Mục tiêu phát triển lực lượng bán hàng: Mục tiêu này thể hiện qua số lượng và chất lượng của lực lượng bán hàng. Mục tiêu này cụ thể được đo lường thông qua chỉ tiêu số người được huấn luyện, số khóa học tổ chức, số nhân viên hoàn thành kế hoạch bán hàng, số người được thăng tiến, đề bạt…

    b, Xây dựng và lựa chọn mục tiêu bán hàng

    Mục tiêu bán hàng được xây dựng căn cứ trên kết quả dự báo bán hàng.

    Mục tiêu bán hàng có thể được xác định theo thời gian, theo thị trường, theo khách hàng, theo điểm bán hàng, theo nhân viên bán hàng, theo kênh phân phối, theo sản phẩm ngành hàng,…

    Mục tiêu bán hàng được xây dựng theo 2 quy trình:

    Quy trình từ trên xuống: Mục tiêu được xác định ở cấp cao hơn, sau đó được phân bổ xuống cho các cấp bán hàng cơ sở. Theo quy trình này, mục tiêu bán hàng có tính áp đặt và có nguy cơ làm giảm sự chủ động, sáng tạo của các cấp bán hàng cơ sở. Doanh nghiệp có thể áp dụng quy trình này cho các sản phẩm và thị trường truyền thống, có doanh số khá ổn định và ít có biến động thị trường.

    Quy trình quản trị theo mục tiêu MBO: Mỗi bộ phận, cấp bán hàng trực tiếp xác định mụ tiêu bán hàng cho mình và lập kế hoạch triển khai mục tiêu đó. Mục tiêu bán hàng của cấp cao hơn được tổng hợp từ các mục tiêu bên dưới. Quy trình giúp gia tăng tính chủ động và sáng tạo của các cấp bán hàng.

    Các mục tiêu bán hàng luôn phải đáp ứng tiêu chuẩn SMART

    S (specific) – Tính cụ thể : Một mục tiêu bán hàng phải cụ thể, không quá chung chung.

    M (measurable) – Đo lường được: Một mục tiêu phải được thể hiện thông qua các con số dù nó là mục tiêu định tính hay định lượng.

    A (achievable) – Có thể đạt được: Mục tiêu đặt ra không được quá dễ, nhưng cũng không thể quá khó tới mực không thể thực hiện được.

    R (realistic) – Tính thực tế: Mục tiêu không thể là giấc mơ, doanh nghiệp cần phải có khả năng đạt được mục tiêu. Mục tiêu hiện thực là phải xây dựng những mục tiêu nền tảng, chi tiết để đạt được những mục tiêu lớn hơn.

    T (timely) – Giới hạn thời gian: Cần phải lên kế hoạch thời gian hoàn thành mục tiêu. Mục tiêu gắn chặt với các mốc thời gian theo ngày,tuần, tháng, quý, năm,…

    1.2.3, Xây dựng các hoạt động và chương trình bán hàng

    * Các hoạt động bán hàng được chia làm nhiều nhóm khác nhau:

    – Các hoạt động chuẩn bị bán: thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, chuẩn bị hàng hóa, chuẩn bị phương án tiếp cận khách hàng,…

    – Các hoạt động phát triển mạng lưới bán hàng: Tìm, lựa chọn và ký kết hợp đồng với các nhà phân phối, các đại lý, các điểm bán.

    – Các hoạt động tuyển dụng, huấn luyện và tạo động lực cho lực lượng bán hàng.

    – Các hoạt động liên quan đến kho bãi, vận chuyển và bảo quản hàng hóa.

    – Các hoạt động liên quan đến dịch vụ sau bán.

    – Các hoạt động về kế toán tài chính.…

    * Một số chương trình bán hàng chính hay được áp dụng bao gồm: Chương trình giảm giá, chương trình chiết khấu mạnh cho các đại lý, khách hàng, chương trình khuyến mại, tặng quà, chương trình tư vấn miễn phí, sử dụng thử sản phẩm…

    1.2.4, Xây dựng ngân sách bán hàng

    a, Khái niệm ngân sách bán hàng

    Ngân sách bán hàng được hiểu là một kế hoạch toàn diện và phối hợp, thể hiện các mối quan hệ tài chính cho các hoạt động và nguồn lực của doanh nghiệp trong một thời gian cụ thể trong tương lai nhằm đạt được các mục tiêu bán hàng đề ra. Ngân sách BH cụ thể hóa các hoạt động bán hàng của doanh nghiệp thông qua ngôn ngữ tiền tệ. Ngân sách BH thực chất là bản kế hoạch tài chính của các hoạt động bán hàng được xác định cho một khoảng thời gian hoặc cho một chương trình, chiến dịch bán hàng.

    b, Vai trò của ngân sách bán hàng

    – Lập ngân sách bán hàng tạo đường hướng chỉ đạo cho hoạt động của các cá nhân và bộ phận bán hàng của doanh nghiệp.

    – Ngân sách bán hàng cho phép phối hợp đồng bộ các cấp, các bộ phận trong doanh nghiệp triển khai thực hiện mục tiêu bán hàng.

    – Ngân sách bán hàng giúp doanh nghiệp tăng cường công tác kiểm soát hoạt động bán hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính.

    c, Phương pháp xác định ngân sách bán hàng.

    * Phương pháp dựa trên các chỉ tiêu chi phí và kết quả của các kỳ trước: Nhà quản trị bán hàng căn cứ vào các định mức chi phí và kết quả bán hàng của các kỳ trước, kết hợp với mục tiêu bán hàng của kỳ kế hoạch để dự trù các khoản thu chi.

    * Phương pháp theo đối thủ cạnh tranh: Một số ngân sách bán hàng phải được hoạch định dựa trên cơ sở chi phí và kết quả của các đối thủ cạnh tranh nhằm giữ vững vị trí của doanh nghiệp trên thị trường ( Ngân sách quảng cáo, hoa hồng cho đại lý, khuyến mại…)

    * Phương pháp khả thi: Ngân sách bán hàng được xác định dựa trên cơ sở tính toán các khoản cần phải chi đáp ứng yêu cầu của hoạt động bán hàng.

    * Phương pháp hạn ngạch: Doanh nghiệp lên các phương án về thu, chi, lợi nhuận sau đó giao cho các đơn vị tự chủ động triển khai lập ngân sách trong giới hạn ngạch được giao.

    * Phương pháp tăng từng bước: Ngân sách bán hàng sẽ được phê duyệt theo nguyên lý gia tăng dần dần theo thời gian với lý do mức độ cạnh tranh trong bán hàng ngày càng gia tăng và doanh nghiệp phải chấp nhận giảm dần tỷ lệ lợi nhuận của mình.

    d, Nội dung ngân sách bán hàng

    * Ngân sách chi phí bán hàng

    Theo cách tiếp cận chi phí cố định và chi phí biến đổi, Ngân sách chi phí bán hàng bao gồm:

    Ngân sách chi phí cố định: Chi phí cố định là những khoản chi không biến đổi hoặc ít biến đổi theo doanh số bà sản lượng bán hàng.

    + Chi phí cố định bao gồm: Khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê địa điểm, văn phòng, kho bãi, quỹ lương cơ bản và bảo hiểm xã hội, chi phí lãi vay, chi phí nghiên cứu phát triển, nghiên cứu thị trường, phí và lệ phí cố định hàng năm,…

    Ngân sách chi phí biến đổi: Chi phí biến đổi là những khoản chi phí thay đổi theo doanh số và sản lượng bán.

    + Chi phí biến đổi bao gồm: Chi phí quảng cáo, chi phí khuyến mại, chi phí tiền lương theo năng suất và tiền thường, các khoản hoa hồng trả cho đại lý, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí bảo hiểm hàng hóa, kho bãi, chi phí bảo quản hàng hóa,…

    * Ngân sách kết quả bán hàng

    TT Chỉ tiêu Ý nghĩa Cách tính
    1 Doanh số BH Phản ánh kết quả bán hàng Doanh số BH = số lượng hàng bán x giá bán
    2 Doanh số thuần Doanh số thực thu về của DN Doanh số thuần = Doanh số bán hàng – các khoản giảm trừ (chiết khấu, thuế GTGT…)
    3 Giá vốn hàng bán (doanh số nhập kho) Giá mua vào của hàng hóa bán ra Giá vốn hàng bán = số lượng hàng bán x giá mua vào + các khoản chi phí mua hàng
    4 Lãi gộp Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng Lãi gộp = doanh số thuần – giá vốn hàng bán
    5 Tỷ lệ lãi gộp Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng Tỷ lệ lãi gộp = lãi gộp/doanh số thuần
    6 Lợi nhuận trước thuế Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng LNTT = lãi gộp – chi phí hoạt động của DN (bao gồm cả chi phí bán hàng)
    7 Lợi nhuận sau thuế Phản ánh hiệu quả của hoạt động bán hàng LNST = LNTT – thuế thu nhập DN
    8 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động = vốn lưu động bình quân/doanh số thuần

    1.2.5, Hoàn chỉnh kế hoạch bán hàng

    Hoàn chỉnh kế hoạch bán hàng bao gồm hai công việc cơ bản:

    Một là, tập hợp, hoàn chỉnh kế hoạch về hình thức và nội dung.

    Hai là, phê duyệt và công bố kế hoạch bán hàng.

    Quá trình phê duyệt thông qua kế hoạch bán hàng thực chất đã được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng. Tuy nhiên, bộ phận và cán bộ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch có trách nhiệm hoàn chỉnh kế hoạch thành văn bản với đầy đủ nội dung và xin nhận xét và phê duyệt của các cấp có thẩm quyền. Kế hoạch bán hàng được phê duyệt được chuyển cho các bộ phận liên quan để triển khai và theo dõi.

     

    CHƯƠNG II

    NỘI DUNG KẾ HOẠCH BÁN HÀNG CHO SẢN PHẨM VIỆT TIẾN TRÊN KHU VỰC XUÂN THỦY – CẦU GIẤY

     

    2.1, Giới thiệu về công ty Việt Tiến và sản phẩm Việt Tiến

    2.1.1, Tổng công ty cổ phần may Việt Tiến

    – Tên tiếng Việt : Tổng công ty Cổ Phần May Việt Tiến;

    – Tên giao dịch quốc tế: VIETTIEN GARMENT CORPORATION;

    – Tên viết tắt : VTEC .

    – Địa chỉ : 07 Lê Minh Xuân, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh, Việt Nam

    – Điện thoại : 84-8-38640800 (22 lines)

    – Fax : 84-8-38645085-38654867

    – Email : [email protected]

    – Website: http://www.viettien.com.vn

    Tiền thân của Việt Tiến là một xí nghiệp may tư nhân có tên gọi là “Thái Bình Dương kĩ nghệ Công ty” (Pacific Enterprise), với 8 cổ đông góp vốn, do ông Sâm Bảo Tài, một doanh nhân người Hoa, làm giám đốc. Khi đó xí nghiệp chỉ có 65 máy may và khoảng 100 công nhân. Sau năm 1975, xí nghiệp được quốc hữu hóa và giao cho Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công nghiệp) quản lí. Tháng 5/1977, xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp may Việt Tiến. Cùng với sự phát triển chung của cả nước và ngành dệt may, Xí nghiệp được đổi thành Công ty rồi Tổng Công ty nhưng cái tên Việt Tiến với hàm ý “Việt Nam tiến lên” vẫn được giữ lại theo tâm nguyện của cả tập thể những người lao động nơi đây.

    Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, dưới sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn thể CBCNV, Tổng công ty may Việt Tiến hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, bao gồm 06 xí nghiệp, 22 công ty con và công ty liên kết, với tổng số CBCNV là 22.000 người. Tổng công  ty cổ phần may  Việt  Tiến  đã trở thành doanh nghiệp tiêu biểu  nhất của ngành dệt may Việt Nam. Doanh số ngà càng tăng, thị phần ngày cang được mở rộng. Uy tín của thương hiệu Việt Tiến được  khách hàng trong và ngoài  nước tín nhiệm. Tại thị trường nội địa: Việt Tiến  hiện có trên 1380 cửa hàng, đại lý phân bổ đều  khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tại thị trường xuất khẩu: Việt  Tiến  hiện  đang  giao  dịch  với trên 50 khách hàng thuộc các  nước  trên thế  giới  như: Mỹ, Canada, Châu Âu (Anh, Pháp, Đức,  Bồ Đào Nha,  Tây Ban Nha….), Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông,  Singapore, Malaysia, Indone- sia…), Châu Úc…vv.  Cơ cấu thị trường như  sau: Nhật Bản: 31 %, EU: 27%, Mỹ: 27% và các nước khác: 15%. Với ưu thế nổi bật về kinh nghiệm thiết  kế, sản xuất các sản phẩm thời  trang & vị thế dẫn  đầu ngành hàng thời  trang công  sở tại Việt  Nam từ hơn  30 năm qua,  Việt  Tiến  kết hợp  thế  mạnh về năng lực thiết  kế và bí quyết  gia công  các sản phẩm cao cấp quốc  tế cùng  với trình độ công  nghệ  hiện  đại bậc nhất Việt Nam và ngang tầm  với khu  vực để định hướng phát triển nhiều thương hiệu  phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác  nhau. Hiện tại Việt Tiến  có 6 thương hiệu,  được đầu tư xây dựng chuyên nghiệp, cụ thể:

    + Thương hiệu  Viettien: Là thời  trang nam công  sở, lịch sự, nghiêm túc, chỉnh chu.  Đối tượng sử dụng chính là nam giới, tuổi  từ 25 đến  55. Sản phẩm chính của thương hiệu  này bao gồm:  Áo sơ mi, quần tây, quần kaki, caravatte…

    + Thương hiệu  Manhattan: là thương hiệu  thời  trang nam cao  cấp  phong cách  Mỹ  dành cho doanh nhân, nhà  quản lý, nhà  lãnh  đạo,  những người  thành đạt,  sành  điệu  … dòng sản  phẩm bao gồm:  Sơmi,  quần âu, veston, caravatte,  áo thun. Đây là thương hiệu  được  Việt  Tiến  mua bản quyền của tập đoàn Perry Ellis International – Mỹ để sản xuất và tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

    + Thương hiệu San Sciaro: Là thương hiệu thời trang nam cao cấp mang phong cách Ý. Đối tượng sử dụng là những người thành đạt, có địa vị xã hội là doanh nhân, nhà  quản lý. Sản phẩm thương hiệu này bao gồm: Áo sơ mi, quần tây, veston, áo thun …., với nguyên liệu đặc biệt cao cấp, được nhập từ các nước có nền công nghiệp dệt tiên tiến như: Nhật, Ý, Đức, Ấn Độ…

    + Thương hiệu  T_up: là thương hiệu thời trang nữ lịch sự, hiện  đại và tinh tế. Đối tượng sử dụng là nữ giới tuổi từ 27 đến 45, sử dụng trong môi trường công sở, dạo phố, mua sắm, dạ hội…  Dòng sản phẩm bao gồm: Đầm, váy, veston, quần áo thời  trang các loại …

    + Thương hiệu  Việt  Long Là thương hiệu  thời  trang nam dành cho những người  lao động bình dân  ở 2 khu  vực thành thị và nông thôn. Dòng sản phẩm bao gồm: Sơ mi, quần kaki, quần jeans,  áo thun, quần thể thao, jacket  …

    + Viettien Smart Casual: thừa hưởng thuộc tính lịch lãm, chỉnh chu của Viettien nhưng bổ sung thêm thuộc tính thoải mái & tiện dụng cho người mặc, dễ hòa nhập mọi hoàn cảnh & giao tiếp xã hội. Thương hiệu thời trang tiên phong khơi dậy sức sống mới cho giới làm việc văn phòng với một phong cách riêng: chững chạc, nhưng phóng khoáng, thoải mái. Dòng sản phẩm bao gồm: Áo sơ mi, áo chui lỗ, quần dài/sọt, quần áo thể thao/giải trí, bộ sưu tập theo mùa hay sự kiện…

    Năm 2010, doanh thu của Việt Tiến đạt 4.500 tỉ đồng (tăng 15% so với 2009), góp phần tăng thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động. Với sự  nỗ lực phấn đấu  của toàn thể cán bộ công  nhân viên Tổng công  ty trong hơn  30 năm qua,  Tổng công  ty cổ phần may  Việt  Tiến  đã vinh  dự được  Đảng và Nhà  nước  Việt  Nam trao  tặng nhiều danh hiệu  cao  quý:  Tập  thể  Anh  Hùng Lao Động, Huân chương Lao Động hạng Nhất, Nhì, Huân chương Độc  Lập hạng Ba…., đạt  danh hiệu”  Doanh Nghiệp Tiêu  Biểu Nhất Ngành Dệt  May Việt Nam” 6 năm liền, được người  tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam Chất Lượng  Cao” 13 năm liền, danh hiệu  “Sao Vàng  Đất Việt” 6 năm liền, là 1 trong 30 doanh nghiệp nằm trong chương trình thương hiệu  quốc  gia 2008,  đạt  danh hiệu  doanh nghiệp văn  hóa  UNESCO…cùng rất  nhiều giải thưởng cao quý khác. Đó là những phần thưởng cao quý cho một  DN  đã chủ động tích cực vươn  lên dẫn  đầu ngành dệt may Việt Nam và hội nhập quốc  tế.

    2.1.2, Thương hiệu  Viettien

    – Thương hiệu Viettien với 2 nhóm sản phẩm:

    + Việt Tiến thường: (có màu nâu).

    + Việt Tiến cao cấp: (có màu xanh đậm).

    – Ý nghĩa thương hiệu: Việt là Việt Nam, Tiến là tiến lên – công ty may Việt Tiến sẽ cùng đất nước Việt Nam tiến lên trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

    – Gồm các sản phẩm: Áo sơ mi, quần tây, veston, cravat, jacket, phụ trang. Sản phẩm có kích thước, màu sắc, phong phú, giúp cho lựa chọn của khách hàng dễ dàng. Đối tượng sử dụng chính là những người có thu nhập ổn định, nghiêm túc, ít thay đổi, đa số có độ tuổi từ 28 trở lên.

    – Giá của sản phẩm Việt Tiến cũng rất đa dạng:

    + Sơ mi thường có giá từ 100.000 đồng đến dưới 200.000 đồng

    + Sơ mi cao cấp có giá từ  200.000 đồng đến 500.000 đồng

    + Quần tây giá từ 175.000 đồng đến 375.000 đồng

    + Veston từ 1.100.000 đồng đến 1.200.000 đồng

    + Caravat từ 90.000 đồng đến 275.000 đồng

    + Jacket từ 79.000 đồng đến 179.000 đồng

    + Mũ 40.000 đồng

    2.2, Kế hoạch bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy.

    2.2.1, Dự báo bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy

    2.2.1.1, Phân tích thị trường

    a, Nghiên cứu số liệu sơ cấp

    Sau khi tiến hành phát 60 phiếu điều tra các khách hàng đã đang mua và sử dụng sản phẩm may Việt Tiến trên địa bàn Xuân Thủy – Cầu Giấy, chúng tôi đã thu được các kết quả như sau:

    – Thời gian khách hàng sử dụng sản phẩm may Việt Tiến đến nay:

    + Dưới 1 năm: 25%       + 1 đến 2 năm: 27%                    + Trên 2 năm: 48%

    → Thời gian khách hàng sử dụng sản phẩm của Việt Tiến chủ yếu là trên 2 năm. Khi đã sử dụng sản phẩm của Việt Tiến khách hàng khá là trung thành.

    – Sản phẩm may Việt Tiến mà hiện tại khách hàng và gia đình của họ đang sử dụng:

    + Áo sơ mi: 53%           + Quần tây: 14,5%                  + Vest: 15,7%

    + Cravat: 9,6%              + Jacket: 1,2%                         + Phụ trang: 6%

    → Khách hàng chủ yếu sử dụng sản phẩm áo sơ mi Việt Tiến.

    – Nhận xét của khách hàng về chất lượng sản phẩm may Việt Tiến:

    +Rất tốt: 14,6%         +Tốt: 73%         +Khá: 8,3%            +Trung bình: 4,1%

    → Khách hàng đánh giá tương đối cao về chất lượng sản phẩm của Việt Tiến.

    – Nhận xét của khách hàng về mẫu mã các sản phẩm may Việt Tiến:

    + Rất đa dạng: 16,7%                                   + Đa dạng: 68,7%

    + Trung bình: 12,5%                                     + Không đa dạng: 2,1%

    → Phần lớn khách hàng đánh giá mẫu mã sản phẩm may Việt Tiến đa dạng.

    – Khách hàng thường mua sản phẩm may Việt tiến dùng để:

    + Dùng: 60%                               + Biếu: 8,5%                           + Tặng: 31,5%

    – Ý kiến  của khách hàng về giá các sản phẩm may Việt Tiến đang áp dụng:

    + Rẻ: 2%           + Vừa phải   : 64,5%          + Đắt: 31,5%             + Rất đắt: 2%

    → Phần lớn khách hàng thấy giá các sản phẩm của Việt Tiến là vừa phải, hợp túi tiền.

    – Địa điểm khách hàng thường mua sản phẩm may Việt Tiến ở:

    + Siêu thị: 10%       + Đại lý của Việt Tiến: 64%        + Cửa hàng bán lẻ: 8%

    + Trung tâm thương mại: 18%                    + Chợ và các nơi khác: 0%

    – Ý kiến của khách hàng về thái độ phục vụ của nhân viên trong hệ thống đại lý của Việt Tiến hiện nay:

    + Rất hài lòng: 14,5%                                      + Hài lòng: 64,5%

    + Bình thường: 21%                                        + Không hài lòng: 0%

    → Khách hàng khá hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên bán hàng trong hệ thống đại lý của Việt Tiến.

    – Ý kiến của khách hàng về số lượng cửa hàng phân phối sản phẩm may Việt Tiến tại khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy và các vùng lân cận:

    + Rất nhiều: 4%         + Nhiều: 33%         + Vừa đủ: 42%         + Còn ít: 21%

    – Khách hàng đánh giá về sản phẩm may Việt Tiến  so với các nhãn hiệu may mặc khác trên khu vực:

    + Chất lượng tốt hơn: 36,5%

    + Sản phẩm đa dạng hơn: 17,5%

    + Kiểu dáng lịch sự, đẹp, trang nhã hơn:17,5%

    + Thương hiệu lớn, uy tín hơn: 12,5%

    + Kiểu dáng chưa được trẻ, phong phú: 8%

    + Chất lượng kém hơn: 3%

    + Giá đắt hơn: 3,5 %

    + Sản phẩm chưa phong phú đa dạng: 1,5%

    b, Nghiên cứu số liệu thứ cấp

    – Đặc điểm về dân cư: Theo thống kê, hiện nay, thành phố Hà Nội có 6.561.900 người, mật độ dân số là 1.962 người trên một km2. Đây là một con số lớn, đặc biệt khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy và các vùng lân cận nằm trong nội thành thì mật độ dân số còn tập trung cao hơn rất nhiều.

    – Đặc điểm vể kinh tế: Năm 2010, tăng trường GDP của thủ đô ước đạt 11%, thu nhập bình quân đạt khoảng 37 triệu đồng (tương đương 1.900 USD), kinh tế thủ đô năm 2010 đã phục hồi và tăng trưởng khá, tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu đề ra và gấp 1,64 lần mức tăng chung của cả nước. Theo dự đoán đến năm 2015, tăng trưởng GDP của thủ đô đạt 13%, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 80.000 triệu đồng (4.100 -4.300 USD/năm).

    – Số lượng điểm bán hiện tại của Việt Tiến tại tuyến đường Xuân Thủy – Cầu giấy hiện nay của sản phẩm may Việt Tiến là 4 đại lý cụ thể:

    + 346 Cầu Giấy                                      + 331 Cầu Giấy

    + 216 Cầu Giấy                                      + 87 Cầu Giấy

    – Năng lực sản xuất của may Việt Tiến hiện nay đạt:

    + Áo sơ mi: 8.013.000 sản phẩm /năm

    + Quần tây: 5.123.700/ năm

    + Vest: 300.000 sản phẩm/ năm

    + Mặt hàng khác: 6.000.000 sản phẩm/ năm

    – Doanh thu của Việt Tiến từ việc bán sản phẩm trên thị trường nội địa năm 2010 đạt 741.592 triệu đồng, chiếm 39,79%, tăng 40% so với năm 2009.

    – Đối tượng mà sản phẩm Việt Tiến cung cấp đó là khách hàng từ 25 tuổi đến 55 tuổi, có thu nhâp trung bình và khá. Trên khu vực tập trung rất đông lượng khách hàng có độ tuổi này, họ đa số là nhân viên công sở, họ có thanh toán và tự quyết định được hành vi mua của mình.

    2.2.1.2, Kết quả dự báo trong vòng 3 tháng tới

    Sau khi nghiên cứu các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, chúng tôi nhận thấy, số lượng khách hàng có thời gian sử dụng sản phẩm trên 2 năm chiếm 48%, đây là con số khá lớn, chứng tỏ sản phẩm được khách hàng biết đến khá lâu. Nhận xét về các yếu tố như: chất lượng 73% là tốt, 14,6 là rất tốt; mẫu mã: rất đa dạng: 16,7%, đa dạng: 68,7%; giá cả có 64,5% khách hàng đánh giá là vừa phải; về thái độ phục vụ của nhân viên rất hài lòng 14,5% và 64,5% là hài lòng, chúng ta có thể thấy rằng sản phẩm may Việt Tiến được khách hàng yêu thích và cũng đã làm hài lòng khách hàng. Bên cạnh đó, chúng ta thấy tiềm năng thị trường là rất lớn, số thu nhập của người dân ngày càng tăng cao, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thẩm mỹ làm đẹp cũng tăng, dẫn đến các sản phẩm có chất lượng, mẫu mã, có uy tín ngày càng được ưa chuộng. Trên khu vực tập trung khá đông các khu vực công sở, các trường đại học lớn, vậy đối tượng mà may Việt Tiến hướng đến là rất nhiều. Đặc biệt trong khoảng thời gian tới lượng vest được tiêu thụ sẽ tăng lên đáng kể. Từ các phân tích trên, chúng tôi đưa ra một số kết quả dự báo trong vòng 3 tháng tới ( tháng 11, tháng 12 năm 2011 và tháng 1 năm 2012) như sau:

    – Năng lực thị trường, dự báo năng lực của các đối thủ cạnh tranh cung cấp sản phẩm dành cho nam như của Việt Tến, đó là May 10, May Nhà Bè… trong vòng 3 tháng tới: 10.826 sản phẩm.

    – Doanh số của ngành may: 5.309.150.000 đồng

    – Năng lực bán hàng của may Việt Tiến: 7.846 sản phẩm

    – Dự báo bán hàng của May Việt Tiến: 6.288 sản phẩm

    2.2.2, Xây dựng mục tiêu bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    Qua việc phân tích thị trường và các kết quả dự báo bán hàng, chúng tôi xây dựng các mục tiêu bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên thị trường Xuân Thủy – Cầu Giấy trong 3 tháng tới như sau:

    2.2.2.1, Nhóm mục tiêu kết quả bán hàng

    – Doanh số bán hàng: 2.515.200.000 đồng, trong đó:

    + Vest: 1.188.000.000 đồng

    + Áo sơ mi: 756.000.000 đồng

    + Quần tây: 388.800.000 đồng

    + Caravat: 162.000.000 đồng

    + Jacket và phụ trang: 20.400.000 đồng

    – Lãi gộp: 952.080.000 đồng

    – Lợi nhuận bán hàng: 143.832.000 đồng đồng

    2.2.2.2, Nhóm mục tiêu nền tảng bán hàng

    – Mức độ hài lòng của khách hàng:

    + Số lượng khách hàng quay lại: 100%

    + Số lần mua của 1 khách trong vòng 3 tháng: 3 lần

    – Phát triển thị trường:

    + Tốc độ tăng trưởng doanh số là: 42%

    + Số lượng khách hàng mới: 5 khách hàng/ 1 ngày/ 1 cửa hàng

    – Số lượng đại lý và điểm bán: Giữ vững số lượng đại lý – 4 đại lý

    – Số cuộc điện thoại giao dịch với khách hàng: Mỗi nhân viên bán hàng phải điện thoại giao dịch mỗi tuần là 5 khách hàng.

    – Số khách hàng ghé thăm: trung bình 20 khách hàng/ 1 ngày/ 1 cửa hàng

    – Mục tiêu phát triển lực lượng bán hàng:

    + 100% nhân viên được đào tạo về kỹ năng bán hàng bằng lớp học của công ty.

    + Tối thiểu là 1 khóa học trên 1 năm cho nhân viên

    + Số nhân viên hoàn thành kế hoạch bán hàng: 40% số lượng nhân viên.

    2.2.3, Xây dựng các hoạt động, chương trình bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy

    a, Các chương trình

    Trong vòng 3 tháng tới chúng tôi sẽ tổ chức 2 chương trình bán hàng lớn, đó là: “ Tri ân nhà giáo ” và “ Cùng Việt Tiến đón Tết ”

    * Chương trình “ Tri ân nhà giáo ”

    Chào mừng Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, công ty may Việt Tiến thực hiện chương trình quà tặng khuyến mãi trong thời gian từ 1/11 đến hết 20/11/2011.

    – Khách hàng sẽ được tặng quà trị giá 5% trên tổng giá trị mua hàng.

    – Quý khách hàng sẽ được tặng những phần quà có giá trị thiết thực: bút bi Việt Tiến, mũ bảo hiểm Việt Tiến, ví da, móc đeo chìa khóa… tại tất cả các cửa hàng, đại lý Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu Giấy, căn cứ vào giá trị sản phẩm khi mua:

    + Hóa đơn từ 200.000 – 500.000 tặng 1 bút bi Việt Tiến

    + Hóa đơn từ 500.000 – 1.000.000 tặng 1 móc đeo chìa khóa

    + Hóa đơn từ 1.000.000 trở lên tặng 1 mũ bảo hiểm hoặc 1 ví da Việt Tiến.

    – Gói quà miễn phí: Khách hàng mua các sản phẩm có yêu cầu gói quà sẽ được đóng gói vào hộp quà được thiết kế riêng của Việt Tiến nhân ngày 20/11.

    * Chương trình “ Cùng Việt Tiến đón Tết ”

    Nhân dịp Tết Nguyên đán 2012, Việt Tiến tổ chức chương trình “ Cùng Việt Tiến đón Tết ” nhằm tri ân khách hàng. Trong thời gian từ ngày 25/12/11 đến ngày 23/1/12 khách hàng mua sản phẩm của Việt Tiến với trị giá từ 500.000 đồng trở lên sẽ được tặng các phiếu mua hàng với các mức giá như:

    + Nếu khách mua hàng có giá trị thanh toán từ 2.000.000 đồng trở lên thì được tặng 01 phiếu quà tặng trị giá 150.000 đồng.

    + Sơ mi giảm giá 5 đến 10% tùy theo sản phẩm.

    + Tặng thêm 1 caravat khi mua 1 bộ Vest.

    + Chiết khấu cho các đại lí: đại lí mua hàng từ 100 triệu – 200 triệu đồng trong 1 tháng được hưởng thêm 1% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng. Đại lí mua hàng từ 200 triệu – 500 triệu đồng trong 1 tháng được hưởng thêm 2% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng. Đại lí mua hàng từ 500 triệu đồng trở lên trong 1 tháng được hưởng thêm 3% chiết khấu trên tổng giá trị đơn hàng trong tháng

    b, Các hoạt động

    Để chuẩn bị cho chương trình, chúng tôi thực hiện các hoạt động:

    – Hoạt động chuẩn bị bán:

    + In pano quảng cáo và treo tại 4 đại lý: in 4 pano cho chương trình “ Tri ân nhà giáo”, 4 pano cho chương trình “ Cùng Việt Tiến đớn Tết”.

    + Chuẩn bị quà khuyến mại: 600 bút bi, 250 móc đeo chìa khóa, 120 mũ bảo hiểm, ví da và khoảng 1400 hộp quà, phiếu tặng quà…

    – Các hoạt động tuyển dụng, huấn luyện và tạo động lực cho lực lượng bán hàng: thông báo cho nhân viên nội dung của chương trình khuyến mãi, các chính sách tặng quà…

    + Nhân viên bộ phận marketing chuẩn bị pano, giới thiệu, quảng bá rộng rãi chương trình đến khách hàng trên khu vực và các vùng phụ cận. Liên hệ với nhà cung cấp hàng khuyến mại.

    + Nhân viên bộ phận kho và bảo quản hàng hóa: chuẩn bị kho và sắp xếp hàng hợp lý…

    + Nhân viên bộ phận tài chính thống kê số vốn cần cho chương trình, liên hệ với các ngân hàng nếu thiếu vốn.

    + Bộ phận bảo vệ chuẩn bị và bố trí nhân sự hợp lý, trông coi hàng hóa cũng như đồ đặc, xe của khách.

    + Bộ phận bán hàng, chuẩn bị nhân sự, đào tạo nội dung cho nhân viên có đầy đủ kỹ năng: giao tiếp, giới thiệu sản phẩm, gói quà… để giúp khách chọn sản phẩm phù hợp làm tăng sự hài lòng khách hàng.

    + Bộ phận nhân sự tổ chức và triển khai kế hoạch đào tạo nhân lực cho chương trình, xây dựng chính sách đánh giá chính xác nhân viên và khen thưởng, tuyên dương cho nhân viên đạt kết quả tốt.

    2.2.4, Xây dựng ngân sách bán hàng cho sản phẩm may Việt Tiến trên khu vực Xuân Thủy – Cầu giấy.

    Tiến hành kế hoạch bán hàng, chúng tôi xây dựng ngân sách bán hàng:

    * Ngân sách chi phí bán hàng:

    Chi phí Số lượng Đơn vị Chi tiết
    I, Chi phí biến đổi 172,304 Triệu đồng  
    1 Chi phí quảng cáo 6 Triệu đồng 8 pano cho 2 đợt khuyến mại
    2 Chi phí khuyến mại 56 Triệu đồng Chi phí đặt hàng khuyến mai:bút bi, ví da, mũ bảo hiểm, hộp quà…
    3 Chi phí chiết khấu 50,304 Triệu đồng 2 % Doanh thu
    4 Chi phí vận chuyển 54 Triệu đồng Mỗi tháng 3 đợt nhập hàng, mỗi đợt nhập 1,5 triệu đồng
    5 Chi phí đào tạo nhân viên 10 Triệu đồng Mở 1 khóa đào tạo nhân viên, gồm: chi phí cho giáo viên, địa điểm
    6 Chí phí thưởng nhân viên 2 Triệu đồng Mỗi nhân viên vượt kế hoạch sẽ được thưởng
    II, Chi phí cố định 588 Triệu đồng  
    1 Chi phí thuê địa điểm 240 Triệu đồng 4 ngôi nhà 2 tầng trong 3 tháng. Mỗi ngoi nhà 20 triệu đồng/1 tháng
    2 Chi phí nhân viên bán hàng 90 Triệu đồng Lương nhân 12 nhân viên cho 3 tháng. Mỗi cửa hàng 3 nhân viên, 2,5 triệu đồng /1 nhân viên/1 tháng
    3 Chi phí lương nhân viên hành chính 84 Triệu đồng 2 nhân viên cho cả khu vực cho 3 tháng
      Chi phí lương nhân viên quản lý 15 Triệu đồng 1 quản lý chung cho 3 tháng
    4 Chi phí đầu tư trang thiết bị 36 Triệu đồng Gồm: 1 máy tính, 1biển hiệu, 4 giá treo quần áo, 1 gương lớn, 1 điều hòa cho mỗi cửa hàng. ( Tính phần khấu hao trong 3 tháng )
    6 Chi phí nghiên cứu thị trường 15 Triệu đồng Cho nhân viên nghiên cứu và chi phí liên qua: tờ rơi, điện thoại
    7 Chi phí lương tạp vụ và bảo vệ 48 Triệu đồng Mỗi cửa hàng 1 bảo vệ và 1 tạp vụ  cho 3 tháng
    8 Chí phí khác 60 Triệu đồng Chi phí điện, nước, internet… cho 3 tháng

    Tổng chi phí = Chi phí cố định + Chi phí biến đổi

    = 172.304.000 + 588.000.000 = 760.304.000 đồng

    * Ngân sách kết quả bán hàng

    TT Chỉ tiêu Ý nghĩa Cách tính
    1 Doanh thu Doanh số thực thu về của DN 6288  x 400.000 VND = 2.515.200.000 VND
    2 Giá vốn hàng bán Giá mua vào của hàng hóa bán ra 6288 x 240.000 + 54.000 = 1.563.120.000 VND
    4 Lãi gộp Phản ánh hiệu quả của HĐBH 2.515.200.000 -1.563.120.000=952.080.000 VND
    5 Tỷ lệ lãi gộp Phản ánh hiệu quả của HĐBH 952.080.000 / 2.515.200.000 = 37,85 %
    6 Lợi nhuận trước thuế Phản ánh hiệu quả của HĐBH 952.080.000 – 760.304.000 = 191.776.000 VND
    7 Lợi nhuận sau thuế Phản ánh hiệu quả của HĐBH 191.776.000( 1 – 0,25) = 143.832.000 VND

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Việc xây dựng kế hoạch bán hàng là hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Để bán hàng thành công và đạt hiệu quả mang lại doanh thu và lợi nhuận cao cho doanh nghiệp thì phải xây dựng một kế hoạch bán hàng cụ thể. Chính vì điều đó, các nhà quản trị phải hết sức quan tâm tới việc xây dựng kế hoạch bán hàng cho doanh nghiệp. Kế hoạch bán hàng phải dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tế để xây dựng mới có hiệu quả. Đó là yếu tố mang lại thành công cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU BÌNH GIẢNG ĐOẠN VĂN TỪ “THUYỀN TÔI TRÔI TRÊN SÔNG ĐÀ. CẢNH VEN SÔNG Ở ĐÂY LẶNG LỜ… THẮT MÌNH DÂY CỔ ĐIỂN TRÊN DÒNG TRÊN” TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-v%C3%A0-bi%E1%BB%83u-hi%E1%BB%87n-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    LỜI NÓI ĐẦU

    Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trong hoạt động kinh tế, mặt trận cũng mang tính phổ biến, chẳng hạn như cung – cầu, tích luỹ và tiêu dùng, tính kế hoạch hoá của từng xi nghiệp, từng công ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng hoá … Mâu thuẫn tồn tại khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc. Trong mỗi một sự vật mâu thuẫn hình thành không phải chỉ là một mà là nhiều mâu thuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình thành…

    Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn nhưng trong những thnàh công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới. Đòi hỏi phải được giải quyết và nếu được giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế.

    Với mong muốn tìm hiểu thêm những vẫn đề của nền kinh tế, quan điểm lý luận cũng như những vướng mắc trong giải pháp, quy trình xử lý các vấn đề chính trị – xã hội có liên quan đến quá trình tiến hành cải cách trong việc chuyển nền kinh tế tôi chọn Mâu thuẫn biện chứng và biểu

    hiện của nó trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

    làm đề tài cho tiểu luận môn triết học Mác- Lê nin.

    Em xin chân thành cảm ơn thày !

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG:

    Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là một thể thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau….. ở đây chúng ta chia làm hai phần.

    1.Sự đấu tranh của các mặt đối lập trong một thể thống nhất:

    Trong phép biện chứng duy vật, khái niệm mặt đối lập là sự khái quát những thuộc tính, những khuynh hướng ngược chiều nhau tồn tại trong cùng một sự vật hiện tượng, tạo nên sự vật hiện tượng đó. Do đó, cân phải phân biệt rằng bất kỳ hi mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bời vì trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan không phải chỉ tồn tại hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật hiện tượng có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập. Chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật) thì có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu thuẫn. “Thống nhất” của hai mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đững cạnh nhau mà nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp cân bằng như liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình và ngược lại. Nếu thiêu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào.

    • Sự thống nhất này do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật

    tạo nên.

    Ví dụ: Trong nền kinh tê tập trung quan liêu bao cấp và nền kinh tế thị trường là điều kiện cho sự tồn tại của công cuộc đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, hai nền kinh tế khác nhau hoàn toàn về bản chất và những biểu hiện của nó nhưng nó lại hết sực quan trọng. Vì nó có sự thống nhất này nên nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể tồn tại với ý nghĩa là chính nó.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển thì cùng với nmó quan hệ sản xuất cũng phát triển. Hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của phương thức sản xuất. Nhưng trong quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:

    • Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khai quát từ các mặt

    phù hợp khác nhau phản ánh được banr chất của sự phù hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    • Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệ sản

    xuất và lực lượng sản xuất.

    • Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn. Ngoài ý nghĩa

    nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được coi là thoả đáng phái có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực lượng sản xuất.

    Tuy nhiên, khái niệm thống nhất này chỉ mang tính tương đối. Bản thân nội dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: Thống nhất của cái đối lập, trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.

    Đấu tranh các mặt đối lập.

    Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của

    4

    bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuât lạc hậu kìm hãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt. Chỉ thông qua các cuộc cách mạng xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâu thuẫn một cách căn bản.

    Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn. Thông thường, khi nó mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ xung khắc gay gắt người ta gọi đó là giai đoạn khác nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ây mới hình thành bước đầu cuả một mâu thuẫn. Khi hai mặt đối lập của một mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay gắt, nó biến thành độc lập. Sự vật cu mất đi, sự vật mới hình thành. Sau khi mâu thuẫn được giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ được thay thế bởi sự thống nhất của hai mặt đối lập mới, hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá tạo thành mâu thuẫn. mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới xuất hiện. Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên cao. Chính vì vậy, Lênin khẳng định “sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đôi lập”.

    Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đáa tranh của các mặt đối lập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa là chính nó – nhừ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: “sự thống nhất (phù

    5

    hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mtặ đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua trong tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lậpbài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động tuyệt đối”.

    1. Chuyển hoá của các mặt đối lập:

    Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phất triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện càn thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài trừ và phủ định nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt đối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con người.

    Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy moc. Thông thường thì mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:

    + Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật.

    Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.

    + Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn.

    Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan, phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn được

    6

    giải quyết, sự vật cũng mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới.

    Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn. Cứ như vậy mà các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá phát triển.

    II.                TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DƯỢNG NỀN KINH TẾ

    THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM :

    1.     Kinh tế thị truờng và những đặc điểm :

    Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử. Nó nhằm dẫn đến những mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng. Nó thay cũ đôi mới hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn, cả về kinh tế và chu trình xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.

    Như chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng, tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung, cơ chế vận hành và quảnlý kinh tế này được duy trì trong một thời gian khá dài và xem như là một đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội, là cái đổi lập với cơ chế thị trường của CNTB. Sự thực thì không phải hoàn toàn như vậy, nền kinh tế tập trung không chỉ là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng như nên kinh tế thị trường không phải duy nhất được thiết lập trong CNTB. Nền kinh tế tập trung đã được các nước tư bản áp dụng từ trước nhiều nước nước xác lập chế độ XHCN. Nhưng các nước TBCN đã xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sau khi chiến tranh kết thúc và đã đạt được những thành tựu lớn về kinh tế, xã hội. Nhưng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trường cũng chưa phải là cái duy nhất bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển của xã hội.

    Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, nền kinh tế thị trường – bước phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá – là lẽ đương nhiên. Như vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trường cũng như

    nền kinh tế tạp trung không phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu riêng của một chế độ xã hội nào vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh lịch sử nào cho phù hợp để danh hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên CNXH, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Mới chỉ có hơn chục năm đổi mới vữa qua, Việt Nam đã cho nhân dân thế giới ngỡ ngàng. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập được với các nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được khi chuyển sang nên kinh tế thị trường đã nói lên công cuộc đổi mới ở nước ta là một cuộc cách mạng thực sự.

    Ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không kém phần quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.

    Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng định những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động.

    1. Chuyển sang nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan trong

    quá trình phát triển nền kinh tế đất nước :

    Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo hướng thị trường có sự diều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.

    • nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phương

    thức để nước ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH.

    Nền kinh tế nước ta hiện nay chỉ có thể nói đang trong giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh

    8

    tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo đinh hướng XHCN. Do vậy, những đặc điểm của gia đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề rất có ý nghĩa, rất cần được nghiên cứu, xem xét. Nhận thức được nhứng đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc điểm đó, chúng ta sẽ tránh được những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí hoặc những khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản kinh tế thị trường từ bên ngoài vào.

    Như chúng ta đã biết, trong nên kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức năng kinh tế – xã hội của nền kinh tế đều được triển khai trong quá trình kế hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của Nhà nước đối với các hoạt động của sản xuất, lưu thông, phân phối… khá nặng nề. ở nước ta trước đây, chế độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là lợi ích cá nhân người lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung là chậm chạp, kém năng động.

    Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta dã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng, những thành tự cho phép chúng ta “điều chỉnh và bổ sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đường lối chủ trương, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa hcọ và thực tiễn”. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp khả năng của kinh tế thị trường trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nước.

    Kinh tế thị trường, như chúng ta đã biết, là một kiểu quan hệ kinh tế – xã hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trường, tức là gắn chặt với quân hệ hàng hoá – tiền tệ. với quan hệ cung – cầu …

    Trong nền kinh tế thị trường, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xa hội quan hệ hàng hoá.

    9

    Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu tương đối thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sử hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau, đối khi chúng còn có mâu thuẫn với nhau. Song về tổng htể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh té thị trường.

    Trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bước đầu sử dụng thị trường như là một công cụ, phương thức, trên thực tếđã đem lại những kêt quả tích cực cả về phương diện thực tiễn và phương diện nhận thức.

    Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng ta sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, hiện đã dược chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để các cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trường rõ ràng là cái khách quan và tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thnàh phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt làm cho nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất- thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới- mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định khả năng và vai trò của mình trong thị trường.

    Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trường bao nhiêu, chúng ta lại cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời sống xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế đương nhiên là một mục tiêu của phát triển xã hội; nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhưng tăng trưởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội.

    10

    Do vậy, những quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, nền kinh tế thị trường nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    11

    III.             MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

    NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM :

    1.     Thực chất nền kinh tế thị trường ở Việt Nam :

    1.1. Khái niệm kinh tế thị trường

    Kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó, sản xuất xã hội gắn chặt với thị trường, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hoá

    • tiền tệ, với quan hệ cung cầu… Trong nền kinh tế thị trường nét biểu hiện

    có tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ít nhất thì cũng phải sử dụng các quan hệ hàng hoá như mắt khâu trung gian.

    1.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

    Thành tựu của 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã có tác dụng làm cho nước ta quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lượng kinh tế trong các hoạt động xã hội ngày càng được chú ý. Những kế hoạch những hoạt động xã hội bất chấp kinh tế hoặc phi kinh tế đã giảm đáng kể. Bước chuyển sang kinh tế thị trường này đương nhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó, nhưng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của những quan hệ thị trường “ở Việt Nam, dù nền kinh tế thị trường mới chỉ đang hình thành, còn đang trong những bước chập chững ban đầu và được điều tiết một cách có ý thức theo định hướng XHCN, song cũng tác động khá rõ đến mọi mặt của đời sống xã hội và để lại đó những dấu ấn của mình…” Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiểu sở hữu thuần nhất với hai thành phần kinh tế tập thể và quốc doanh, thì hiện nay cùng với thành phần sở hữu chủ đạo chủ đạo là sở hữu nhà nước thì còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác, về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trường.

    12

    Trên con đường CNH – HĐH, việc chúng ta bắt đầu sử dụng thị trường như một công cụ,một phương thức để đảm bảo tăng trưởng kinh tế, trên thực tế, đã đem lại những kết quả tích cực về cả phương diện, thực tiễn lẫn phương diện nhận thức.

    Một hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới cho chúng ta là, sản xuất hàng hoá cùng với “nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường” hiện nay đã được chúng ta hiểu là không mâu thuẫn với CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài. Kinh tế thị trường rõ ràng là khách quan là tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH.

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối với thị trường, một mặt là nền kinh tế nước ta thực sự trở thành một thị trường thống nhất – thống nhất trong cả nước và thống nhất với thị trường thế giới, mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải tự khẳng định mình – vai trò của mình trong thị trường.

    2.     Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta :

     

    +) một số vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin về

    qua hệ giữa kinh tế và chính trị :

    Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thì kinh tế quyết định chính trị: “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”. Trong lịch sử phát triển xã hội loại người không phải báo về cũng có vấn đề chính trị. Xã hội nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội xuất hiện giai cấp và Nhà nước thì vấn đề chính trị mới hình thành. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm của vấn đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp , các lực lượng xã hội nhằm giành và giữ chình quyền nhà nước và sử dụng chính quyền đó làm công cụ dể xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bản thân vấn đềm chính trị ra đời hoàn toàn lad do kinh

    13

    tế quyết định. Chính trị không phải là mục đích, mà chỉ là phưưong tiện để thực hiện mục đích kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Đuyrich cho rằng bạo lực chính trị quyết định kinh tế, F.Engen đã khẳng định”bạo lực chỉ là phương tiện, còn lợi ích kinh tế là mục đích”. Trong tác phẩm “Lútvích Phoiơbăc và sự cáo chung của triết học cổ điểnĐức”, F.Engen đã chỉ rõ” để thoả thuận những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng là một phương tiện đơn thuần.

    Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế đọ xã hội. Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho giai cấp đó thực hiện được sự thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp, về thực chất là đấu tranh vì lợi ích kinh, được thực hiện thông qua đấu tranh chính trị. Theo F.Engen, “bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị, xét đến cùng, đều xoay quoanh vấn đề giải phóng về kinh tế”. Để nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lenin đã khẳng định” chính trị không thể chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế”Khẳng định đó của Lenin không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò quyết định của kinh tế đối voứi chính trị, mà muôns nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó được xem xét giải quết theo một lập trường chinhs trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền cũng hướng kinh tế phát triển theo lập trường chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. Và lập trường chính trị đúng hay sai sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. V.I>Lenin còn khẳng định “không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ vững đuực sự thống trị của mình và do đó cúng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vục sản xuất “. Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu câùphát triển kinh tế thì kinh tế tất yếu sẽ mở đường đi. Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế là điều kiện quyết định để thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị là thống nhất và biện chứng với nhau trên nền tảng quyết

    14

    định là kinh tế. Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991). Đảng ta đã khẳng định:

    “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cuả CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mởi trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến tất cả các mối quan hệ đặc biệt nhạy cảm và phức tạp trong xã hội, nên việc đổi mới hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn. Nhưng không vì thế mà tiến hành chậm chễ đổi mới chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các bộ, các mối quan hệ giữ Đảng và Nhà nước và cá đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế , xã hội và thực hiện dân chủ.” Điều đó cho thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đảng ta khẳng định răng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng thời với đổi mới kinh tế phải tiền hành từng bước đổi mới chính trị, nhưng phải thận trọng không gây mất ổn định về chính trị.

    Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cáh rõ ràng hơn ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7 năm 1996) của Đảng ta. Khi tổng kết các bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế vưới đổi mới chính trị. Đây là một bài học khái quát mới, hoàn toàn khoa học. Nó vừa phù hợp với lý luận của chú nghĩa Mác – Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta.

    15

    Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn định chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng như một ngịch lý nhưng hoàn toàn có lý và khoa học.

    Ổn định về chính trị, nói một cách khái quát là giai cấp cầm quyền phải tăng cường quyền lực chính trị của mình; Nhà nước của giai cấp đó phải mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh; chế độ xã hội đã xác lập phải được giữ vững. Đối với nước ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất là giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò của Nhà nước XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công CNXH.

    Thực tiẽn trên thế giới chó thây, ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trường để thu hút nguồn đầu tư trong nước và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh. Những thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua ở nước ta cũng khẳng định điều đó. Những thành từu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ được ổn định về chính trị.

    Ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhưng đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cương vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có thể tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước XHCN, và nhừ đó mới giữ vững ổn định về chịnh trị. Song đổi mới về kinh tế cũng không phải đổi mới một cách tuỳ tiện mà theo một định hướng nhất định. Đó là chuyển từ nền kinh tế kấ hoạch hoá tập trung sang “nền kinh tế nhiều thành phàn, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” hay nói ngăn gọn là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là nhằm thực hiện mục tiêu “dân

    16

    giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, và đó cũng là cơ sở để giứ vững ổn định về chính trị.

    Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đổi lập nhưng thống nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới đổi mới, và đổi mới là điều kiện để ổn định, Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.

    Như vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nước ta, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng bước phù hợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.

    Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm của 10 năm đổi mới vừa qua là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủa nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Viêt Nam. Khía quát đó hoàn toàn khoa học và có giá trị định hướng cho giai đoạn phát triển tiếp theo – giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quân hệ sản xuất:

    Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất – quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lượng này và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học Mác – Lênin, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình đọ

    17

    phst triển của lực lượng sản xuất. Chính quan hệ sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đó là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển xã hội.

    Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hế sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần được giải quyết. Nhưng giải quyết nó bằng cách nào? đó chính là các cuộc cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta là một ví dụ. Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tích chất cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

    Công nghiệp hiện đại hoá đất nước là chủ trương, biện pháp vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là nói đến nền sản xuất tiên tiến và đó chính là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoa học, đến sự anh minh, trí tuệ, là nói đến một phương thức tối ưu để thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ sở vật chất cho CNXH được xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói, mặc rách với cái cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Khẳng định cái mới, đúng đắn tự bản thân nó đã bao gồm cả ý nghĩa phủ định gạt bỏ cả quan niệm cũ sai lầm về điieù kiện và cách thức xây dựng chủ nghĩa xa hội ở nước ta. Trước đây chúng ta thiếu quan tâm đúng mức đến vai trò của trí tuệ; khoa học, đến việc tạo lập cơ sở kinh tế vật chất của CNXH. Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọng không đúng mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trường tương quan với đội ngũ những nguời lao động khác. Do thế, hậu quả tất yếu đã xảy ra là khoa học ở nước ta chậm hoặc ít có điều kiện môi trường phát triển, đất nước không thoát khỏi nền sản xuất nhỏ,

    18

    nông nghịp lạc hậu và cũng không thể nói dến công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    +) Mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trước đây và trong kinh tế thị trường:

    Trước đây người ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội là : sở hữu XHCN tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những điều kiện lịch sử khi tiến hành cách mạng CNXH và XDCNXH quyết định. Sau khi giành được chíh quyền giai cấp công nhân đứng trước hai hình thức sở hữu tư nhân khác nhau. Sở hữu tư nhân tư bản chủ nghiõa và sở hữ tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải có thái độ và phát triển giải quyết khác nhau. Đối với hình thức sở hữu tư nhân tư bản chue nghĩa bằng cách tước đoạt hoặc chuộc lại để chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân, còn đói với hình thức sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì không thể dùng những biện pháp như trên, mà phải kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng con đường hợp tác hoá hai hình thức. Sở hữu đó là hai con đường đặc thù tiến lên CNCS của giai cấp công nhân và nông dân tập thể.

    Các hình thức sở hữu trước đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Hơn mưòi năm đổi mới đát nước theo định hướng Xhcn ở nước ta đã chúng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xướngvà lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiến đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không phải chỉ có hai thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể như quan niệm trước đây…

    Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm nhiều hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở

    19

    hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có hai hình thức sở hữu cơ bản là công hữ và tư hữu, còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung gian, quá đọ hoặc hỗn hợp. ở đây , mỗi hình thức lại có nhiều phương thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng được hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực quản lý.

    Về sở hữu toàn dân : trước đây nguời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu Nhà nước.

    Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần thì đương nhiên là nó bao gồm nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách là cơ quan có quyền lực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là đại diện đối với tài sản sở hữu của toàn dân.

    Ở nước ta hiện nay, như hiến pháp và luật đất đai đã quy định rõ :” đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Xét về mặt kinh tế đất đai là phương tiện tồn tại cơ bản của cả một cộng đồng xã hội. Xét về mạt xã hội đất đai là lãnh thổ nơi cư trú của cả một cộng đồng. Thế nhưng khi xét trên cả hai phương diện có thể nói rằng đất đai không thể là đối tượng sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, suy cho cùng, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, hay nói chính xác hơn, đó là một bộ phận quan trọng của tư liệu sản xuất. Bởi thế , dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó vẫn phải vận động theo quy luật của thị trường và chịu sự điều tiết của quy luật đó. Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân , kể cả quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết cụ thể các vấn đề sở hữu , biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng. Chẳng hạn như ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân song nguời nông dân có quyền sử dụng ổn định lâu dàithì có thể đem lại một sức bật cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và

    20

    sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta đã chỉ rõ:”trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đuợc giao cho nguời nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề về thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất….” (Đảng cộng sản Việt Nam

    văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Nhà xuất bản sự thật- Hà nội năm1991). Như vậy hình thức sở hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế.

    Về sở hữu nhà nước

    Trong thời kỳ bao cấp trước đây không chỉ có nước ta mà còn có những nước khác trong hệ thống các nước xã hội chủ nghiã thưòng đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy mà trong một thời gia khá lâu , ngường ta thường bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước chỉ quan tâm đặc biệt đến sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưói hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết vơí sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta ra sức quốcdoanh hó nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ như vậy mới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể cụ thể nào cả.

    Trong xã hội mà Nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trrên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong của sở hữu nhà nước ở nước ta có lẽ chủ yếu thể hiện

    • quyền sở hữu đó ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp nhà nước.

    Về sở hữu tập thể:

    Ở nước ta trước đây sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức HTX ( gồm cả HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Vì vậy với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặc chuyển

    21

    nhượng tư liệu sản xuất, trong thực tế sản xuất và lưu thông hàng hó ở nước ta dễn ra hết sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường rất hạn chế, song đôi khi lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trá hình cũng là hiện tượng phổ biến. Để thoát khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị truờng hiện nay cần phải xác định rõ quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh doanh. Chỉ có như vậy thì sở hữu tập thể mới có thể trở thành hình thức sở hữu có hiệu qủa.

    Chúng ta đã biết, HTX không phải là hình thức riêng có, đặc trưng cho CNXH, nhưng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng ta duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây dựng chủ nghĩa xã hội như V.I Lenin đã khẳng định,” chế độ của người xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”.

    HTX là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát triển tới một trình độ nhất địng, nó sèt húc đẩy quá trình hợp tác. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu về vốn, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm .. đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Chính nhu cầu đó đã liên kết những nguời lao động lại với nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta hiện nay đã có những hình thức HTX kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển cuả cơ chế thị trường” HTX đã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao độngvà theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung”(Đảng cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội- 1996 ). Điều này cho thấy kết cấu bên trong của sở hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở đất nước ta hiện nay.

    22

    +) Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN

    Chủ tịch Hồ Chí MInh cho rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người XHCH. Yếu tố con người giứ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng , bởi vì con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá. Con nguời phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH . Chúng ta phải bắt đầu từ con người làm điểm xuất phát.

    Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con nguời với con nguời được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ trên thị trường,.Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với nguời sản xuất và người tiêu dùng. Do nẩy sinh và hoạt động một cách khách quan trong điều kiện lịch sử nhất định Kinh tế thị trường phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển xã hội là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như sự cạnh tranh lạnh lùng , tính tự phát mù quáng dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ.

    Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện nay , không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển , của cơ chế tập trung quan liêu bao câp,..nền kinh tế nước ta đa xtụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trường là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng và phát triển , phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Trên cơ sở đó , đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, những nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản ngày càng được đápứng một cách đầy đủ và nhanh chóng. Con nguời không

    23

    thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các điều kiện y tế hiện đại để chăm sóc giữ gìn sức khoẻ. Con nguời không thể có trí tuệ minh mẫn, phát triểnnếu các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học không được đáp ứng. Việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển con người cho thế kỷ XXI.

    Trong những năm qua, kinh tế thị trường ở nước ta đã được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, góp phần khơi dậy nhiều tiềm năng sáng tạo, làm cho nền kinh tế sống động hơn, bộ mặt thị trường được thay đổi và sôi động hơn. Đây là những kết quả đáng mừng, đáng được phát huy. Nó thể hiện sự phát hiện và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên CNXH từ khách quan đang trở thành nhận thức chủ quan trên quy mô toàn xã hội.

    Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần được đề cập đến : kinh tế thị truờng ở nước ta hiện nay không chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng, phát huy nguồn lực con người mà còn tạo ra môi trường thích hợp cho con người phát triển hoàn toàn, toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều đó buộc con người phải năng động sáng tạo , linh hoạt , có tác phong nhanh nhạy, có đầu óc quan sát , phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả . Từ đó, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con nguời góp phần làm giảm đi sự chậm chạp và trì trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế lạc hậu từ ngần đời con người Việt Nam. Kinh tế thị trường tạo ra những điều kiện thích hợp cho con người mở rộng các quan hệ buôn bán giao lưu, từ đó hình thành các chuẩn mực văn hoá đạo đức theo tiêu trí thị trường như chữ tín trong chất lượng và giao dịch…. Đây cũng là một hướng tốt đẹp bù đắp những thiếu hụt trong hệ giải trí của con người Việt Nam.

    Tuy nhiên, cần phải thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế thị trường là những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người . Có

    24

    những lúc, những nơi, kinh tế thị trường không những không làm cho người ta năng động hơn, tốt đẹp hơn, mà ngược lại , còn làm tha hoá bản chất con người, biến con người thành gã nô lệ sùng bái đồng tiền hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân , sẵn sàng trà đạp lên nhân phẩm, văn hoá, đạo đức, luân lý… Bên cạnh những tác động tích cực , kinh tế thị trường cũng có nhiều khuyết tật, hạn chế gây ra những tác động xấu. Đơn giản ví dụ như: tệ nạ thương mại hoá trường học, xem nhẹ truyền thống tôn sư trọng đạo. Quan hệ hàng hóa- tiền tệ làm sôi động thị trường nhưng cũng làm sói mòn nhân cách và phẩm chất con người. Ngoài ra, đi kèm với kinh tế thị trường là hàng loạt các tệ nạn xã hội đễ đưa đến rối loạn, khủng hoảng cho gia đình, hạt nhân – tế bào của xã hội . Nạn cờ bạc, rượu chè, mại dâm, ma tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng… là những căn bệnh trầm kha không dễ bề khắc phục trong kinh tế thị trường. Thật không sai khi hình dung kinh tế thị trường là con dao hai lưỡi, nếu.dùng không cẩn thận sẽ bị đứt tay.

    Những phân tích trên đây cho thấy, kinh tế thị trường là mục tiêu xây dựng con người XHCN là một mâu thuẫn biện chứng trong thực tiễn nước ta hiện nay. Đây chính là hai mặt đối lập của một mâu thuẫn xã hội. Giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người vừa có sự thống nhất, vừa có sự đấu tranh. Kinh tế thị trường vừa tạo ra những điều kiện để xây dựng, phát huy những nguồn lực con người, vừa tạo ra những độc tố huỷ hoại đầu độc con nguời. Việc giải quyết những mâu thuẫn trên đây là việc làm không hề đơn giản. Đối với nước ta mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và quá trình xây dựng con người được giải quyết bằng vai trò lãnh đạo của Đảng, bằng sự quản lý của Nhà nước theo định hướng CNXH. Đảng ta xác định “sản xuất hàng hoá không đối lập với CHXH mà là thành tựu phát triển nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng XHCN và cả khi CNXH đã được xây dựng”Như vậy Đảng ta vạch rõ sự thống nhất giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa . Việc áp dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý tầm

    25

    vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác nhận đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt các vấn đề này sẽ phát huy được những tác động tích cực to lớn cũng như ngăn ngừa hạn chế khắc phục những tiêu cực, khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải hướng vào phục vụ công cuộc xây dựng nguồn lực con người. Cần phải tiến hành các hoạt động văn hoá giáo dục nhằm loại bỏ tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý coi thường các giá trị nhân văn, phải ra sức phát huy các giá trị tinh thần nhân đạo, thẩm mỹ, các di sản văn hoá nghệ thuật của dân tộc như nôị dung của Nghị quyết TW 5 đã nêu. Đây chính là công cụ, là phương tiện quan trọng để tác động, góp phần giải quyết mâu thuẫn đã nêu trên.

    26

    KẾT LUẬN

    Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan phổ biến hình thành từ nhữnh cấu trúc và thuộc tính bên trong vốn có tự thân của tất cả các sự vật, hiện tượng trong bản thân thế giới khách quan… do đó trong hoạt động thực tiễn phân tích từng mặt độc lập tạo thành mâu thuẫn cụ thể để nhận thức được bản chất khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật hiện tượng.

    Cần nắm vững nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn. Đó là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập diễn ra theo quy luật phá vỡ những cái cũ để thiết lập cái mới tiến bộ hơn. Vì vậy, trong đời sống xã hội, mọi hành vi đấu ttranh cần được coi là chân chính khi nó thúc đẩy sự phát triển.

    Trong thời kỳ chuyền nền kinh tế ở Việt Nam từ kế hoạch tập chung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướnh Xã Hội Chủ Nghĩa. Chủ chương lãnh đạo của Đảng là rất đúng đắn tuy nhiên trong thực hiện còn nhiều thiếu sót, mâu thuẩn giữa các vấn đề nẩy sinh, nhưng những mâu thuẫn đó lại đòi hỏi chúng ta phải giải quyết có như thế nền kinh tế mới phát triển theo đúng nghĩa đổi mới của nó.

    27

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    ————–

    1. Tài liệu hướng dẫn
    1. Giáo trình triết học Mác Lênin tập 2 ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia).
    1. Tạp chí triết học số 1(101) tháng 2 năm 1998.
    1. Tạp chí triết học số 1(107) tháng 2 năm 1999.
    1. Tạp chí triết học số 3(103) tháng 6 năm 1998.
    1. Việt nam chuyển sang nền kinh tế thị trường ( Học viện chính trị quốc gia).
    1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII.

    8 . Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII.

    1. Báo nhân dân ngày 8 tháng 1 năm 1999.

    28


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận toán cao cấp C2


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Vi%E1%BB%87c-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-v%E1%BB%91n-FDI-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam

    1         VIỆC SỬ DỤNG VỐN FDI Ở VIỆT NAM

    1.1       MỞ ĐẦU

    1.1.1     NỘI DUNG

    1.2       Vai trò của FDI đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Việt Nam

    • FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

    Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồn chủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước. Trong đó, vốn trong nước được hình thành thông qua tiết kiệm và đầu tư. Vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI. Đối với các nước nghèo hoặc các nước đang phát triển, thường xuyên lâm vào tình trạng thiếu vốn thì FDI lại càng đặc biệt quan trọng. FDI cung cấp một lượng vốn cần thiết cho nền kinh tế, thúc đẩy các nước này đầu tư để phát triển, hay nói cách khác, nguồn vốn FDI góp phần tạo ra “một cú huých lớn”, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp các nước nghèo và các nước đang phát triển thoát khỏi “vòng đói nghèo luẩn quẩn” .

    • FDI giúp tạo việc làm, cải thiện nguồn nhân lực

    Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là hai nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư, làm cho số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI ở các nước này ngày càng tăng nhanh. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân ở những nước được đầu tư này.

    FDI cũng có tác động tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực của nước được đầu tư thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn hàng. Thông qua các tác động kể trên, chất lượng nguồn nhân lực ỏ những nươc nhận đầu tư càng tăng lên đáng kể, thậm chí còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.

    • FDI góp phần chuyển giao và phát triển công nghệ

    Công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.

    Chính vì vậy, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) lại càng được coi là nguồn lực quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Bởi vì các cơ sở vật chất, kĩ thuật công nghệ của các doanh nghiệp FDI cuối cùng cũng sẽ được chuyển giao lại cho nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, khả năng phát triển công nghệ còn phụ thuộc vào quá trình chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả năng công nghệ của các sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà.

    Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các các công ty xuyên quốc gia( TNC), dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước chủ nhà thông qua các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như  tiến bộ công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.

    Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNC còn góp phần làm tăng năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh), các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ  công nghệ nguồn, sau đó cải tiến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.

    • FDI giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu

    Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh các yếu tố sản xuất của nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế. Thực tế hiện nay, các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí thấp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế. Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các TNC có vị thế và uy tín trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế thực hiện. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại nhiều lợi ích thông qua việc sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất và thực hiện chuyên môn hóa sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.

    • FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại, thông qua đó, các quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho FDI hoạt động. Ngược lại, chính FDI cũng lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề mới; nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ, phát triển năng suất lao động ở nhiều ngành kinh tế. Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xóa.

    1.2.1     Hạn chế của việc sử dụng vốn FDI

    Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn FDI chỉ thực sự tích cực và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những mặt hàng khan hiếm, tăng nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai của đất nước.

    Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”) không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt. Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ, khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.

    Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3 USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng trưởng kinh tế gây ra.

    Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự án FDI, nhất là các dự án dùng nhiều đất nông nghiệp, tạo áp lực thất nghiệp và là nguồn phát thải, gây ô nhiễm môi trường lớn trong tương lai. Đặc biệt, các dự án xây dựng sân golf ở đồng bằng, vùng đất màu mỡ và những dự án “bán bờ biển” cho các nhà kinh doanh du lịch nước ngoài rất dễ làm tổn thương đến lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai.

    1.2.2     Thực trạng thu hút và sử dụng vốn FDI

    • Số vốn FDI đăng kí

    (Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD vốn đăng ký.

    Năm 2007 tăng lên 20,3 tỷ USD. Tăng 100% so với năm 2006 với 1406 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2008 đạt kỷ lục trên 64 tỷ USD, tăng trên 5 lần so với năm 2006 với 1171 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư.

    Năm 2009, ước đạt 21,48 tỷ USD bằng 1/3 so với năm 2007.

    Trong quí 1 năm 2010 vốn đăng ký là 2,139 tỷ USD, bằng 29% so với cùng kỳ năm 2009.

    • Cơ cấu FDI trong nền kinh tế
    1. Theo khu vực kinh tế

    Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 56,7%,

    Khu vực dịch vụ chiếm 41,8%,

    Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm 1,2% tổng vốn đăng ký.

    Dựa vào số liệu trên, ta nhận thấy có sự phân hóa nguồn vốn FDI ở các khu vực kinh tế. Nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; trong khi ngành nông – lâm – ngư nghiệp chiếm tỷ lệ vốn đầu tư FDI rất thấp.

    Ngoài ra, ta cũng có thể nhận thấy hiện trạng sau đây: Luồng vốn FDI vẫn tiếp tục chảy vào lĩnh vực bất động sản và du lịch. Đây là lĩnh vực chiếm rất nhiều diện tích trong đó có cả diện tích đất nông nghiệp có giá trị tăng cao vì nằm ở những khu đô thị lớn, khu công nghiệp tập trung, khu du lịch. Trong các dự án đầu tư vào bất động sản, nguồn vốn thực các doanh nghiệp đầu tư vào chỉ khoảng 15% đến 20%, còn lại chủ yếu là vay của các ngân hàng thương mại và huy động từ khách hàng. Thế nhưng kiểu kinh doanh này lại đem lại lợi nhuận rất cao, làm xuất hiện tình trạng một lượng lớn vốn FDI đổ vào các dự án bất động sản có thể phá vỡ quy hoạch phát triển trong lĩnh vực này và dẫn đến nhiều hệ lụy. Riêng trong năm 2008, ước tính khoảng 30% tổng vốn đầu tư đã thực hiện nằm trong ngành bất động sản và khách sạn, so với 13% đầu tư vào ngành công nghiệp nhẹ và 3% trong ngành nông nghiệp và thực phẩm. Đến năm 2009 con số FDI đầu tư vào bất động sản đã tăng lên 40%. Những khu vực này không tạo được nhiều việc làm và có xu hướng thâm dụng nhập khẩu, gây áp lực lên cán cân thanh toán. Thực trạng này dẫn tới hệ lụy là lạm phát, thất nghiệp đã tác động trực tiếp đến chi phí sinh hoạt và tiền lương thực tế.

    1. Theo địa phương

    Cơ cấu FDI theo vùng có sự chuyển dịch tích cực. Ngoài hai vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, nguồn vốn FDI thời gian gần đây đã dịch chuyển đáng kể sang một số điạ bàn khác thuộc các tỉnh Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long như Ninh Thuận, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Phú Yên, Kiên Giang…  là những địa bàn gặp nhiều khó khăn hơn.

    • Thực trạng thu hút đầu tư hiện nay
    • Về công tác quy hoạch:

    Nhiều địa phương cấp phép tràn lan, khai tăng vốn đăng ký của dự án để có thành tích, dẫn đến việc cấp quá nhiều giấy phép cho các dự án có cùng một loại sản phẩm mà không tính đến khả năng của thị trường, gây lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp ( đơn cử như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, sân Golf, dự án cảng biển…). Các ưu đãi quá mức về thuế (đã biến tướng để tránh các quy định của Nhà nước về thuế), đất đai, lao động… được nhiều tỉnh  tự ý “phá rào” đưa ra làm thiệt hại quyền lợi đất nước.

    Hiện nay, một số địa phương chạy đua thu hút vốn đầu tư dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Các địa phương này tìm mọi cách để thu hút FDI; họ thực hiện những ưu đãi quá mức cần thiết làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh thái, du lịch vô giá của đất nước có thể bị bán rẻ. Hệ quả là phần lợi nhuận mang lại cho Việt Nam từ FDI không tương xứng với giá trị của nguồn tài nguyên vĩnh viễn bị mất đi. Mặt khác, một số dự án đầu tư không được kiểm duyệt kĩ dẫn đến hậu quả là không những chất lượng dự án không cao, không tạo ra được nhiều việc làm và giá trị xuất khẩu mà thậm chí còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

    Trong khi dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào Việt Nam thì số việc làm được tạo ra vẫn có tăng, song chủ yếu lại là lao động rẻ mạt, không có kỹ năng. Theo điều tra năm 2007, các công ty nước ngoài đầu tư ở Việt Nam nhận cả những công nhân mù chữ và đã mở các lớp “xóa mù” chỉ để đảm bảo công nhân có thể đọc được các thông báo an toàn và những chỉ dẫn cơ bản. Về danh nghĩa, các doanh nghiệp FDI được tiếng là thu hút nhiều lao động nhưng thực chất hiện nay các doanh nghiệp này đang tìm cách khai thác triệt để nguồn lao động rẻ tiền, “vắt kiệt” mồ hôi của công nhân mà không quan tâm đào tạo trình độ và kỹ năng cho họ. Trên thực tế, mặc dù khu FDI thu hút 1,7 triệu lao độngnhưng đều là những lao động không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn ngày. Một điểm bất cập khác là dòng vốn đầu tư nước ngoài hầu như chỉ rót vào những ngành có công nghệ tương đối thấp, nặng về lắp ráp, gia công mà một số doanh nghiệp thực chất là các phân xưởng của công ty mẹ bên nước ngoài.

    • Về vấn đề đất đai và công tác giải phóng mặt bằng:

    Công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục. Nhiều địa phương đang lâm vào tình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp phép đầu tư. Việc thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay.

    Vấn đề quy mô vốn và diện tích sử dụng đối với một số dự án FDI quy mô lớn cũng đang là vấn đề đặt ra cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Việc khai tăng nhu cầu sử dụng đất sẽ tạo ra áp lực lớn cho nhà nước về tài chính cũng như các vấn đề xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng khu vực dự án, đồng thời cũng gây lãng phí nguồn lực về đất đai của quốc gia vốn ngày càng hạn hẹp. Không nên chia bãi biển cho các dự án quá nhỏ, manh mún (như ở “thành phố resort” Phan Thiết), cũng không nên tạo đặc quyền cho các dự án quá lớn, trải khắp một bãi biển rộng (như đoạn đường từ Đà Nẵng đi Cửa Đại, Hội An), vì như vậy sẽ làm cho các dự án nhỏ không đủ quy mô để phát huy lợi thế về thiên nhiên của địa phương và hiệu quả không cao, còn các dự án lớn thì tạo nguy cơ chiếm dụng đất trong tương lai, khi các bãi biển của chúng ta trở thành những khu du lịch có sức hút, những mảnh đất hiện tại được cấp với giá thấp sau này sẽ biến những người chủ sở hữu trở thành những kẻ thống trị những bãi biển giàu có đó.

    • Về xúc tiến đầu tư:

    Công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực.

    • Thực trạng thực hiện vốn FDI
    1. Số vốn FDI thực hiện

    Vốn thực hiện của các dự án cũng có sự tăng trưởng đáng kể:

    • Năm 2006 là 4,1 tỷ USD
    • Năm 2007 đạt 8 tỷ USD
    • Năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD,( gấp gần 3 lần năm 2006 va đạt mức cao nhất trong hơn 20 năm qua)
    • Năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD số vốn này chỉ giảm khoảng trên 10% so với năm 2008. Đây là kết quả đáng khích lệ trong điều kiện vốn FDI quốc tế giảm nhiều và FDI của nhiều nước trong khu vực giảm 20-30%. Thực trạng này phản ánh độ tin cậy khá cao của các nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, và với triển vọng tình hình kinh tế – xã hội năm 2010 được dự báo khá lạc quan có thể hy vọng FDI sẽ lại khởi sắc mạnh mẽ tại Việt Nam.

    Tuy nhiên tốc độ giải ngân vốn vay còn rất thấp: Tỷ lệ giải ngân so với vốn đăng ký của năm 2006 là 46,6%, năm 2007 là 37,6%, năm 2008 là 17,9% năm 2009 là 46,6% . Báo cáo tình hình FDI 3 tháng đầu năm 2010 vừa được công bố cho thấy, giải ngân vốn FDI trong tháng 3/2010 đã nhảy một bước dài khi đạt kỷ lục 1,4 tỷ USD nâng tổng số vốn FDI giải ngân trong quí 1 năm 2010 lên 2,5 tỷ USD.

    Tỷ lệ vốn giải ngâp thấp, theo đánh giá của các chuyên gia là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của suy giảm kinh tế Việt Nam và tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đến nước ta cùng với xuất nhập khẩu suy giảm, chứng khoán khó khăn.

    Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh “Tốc độ giải ngân không theo kịp nguồn tiền đổ vào khiến chúng ta đang đứng trong một vòng luẩn quẩn. Ngân hàng sẽ tăng lãi suất huy động dẫn đến việc tăng lãi suất cho vay. Gánh nặng này đè lên vai các doanh nghiệp và họ “chia sẻ” nó sang hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ… khiến cho giá cả tăng vọt và kẻ chịu trận cuối cùng chính là người tiêu dùng”.

    1. Hiệu quả của các dự án đầu tư

    Từ khi FDI vào Việt Nam, khối doanh nghiệp có FDI được kỳ vọng sẽ là lực lượng giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tạo vốn và kích thích chuyển giao và đổi mới công nghệ cho nền kinh tế. Nhưng trên thực tế, một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Artex, trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009, đặc biệt trong ba năm từ 2007 – 2009, đã đánh giá: “khu vực FDI kém hiệu quả nhất, hầu như các doanh nghiệp FDI đều lỗ”. Tại sao lại như vậy?

    Có một bộ phận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng những hình thức rất tinh vi được gọi là “chuyển giá ” để trốn thuế. Chuyện này thường xảy ra trong các công ty con đặt tại Việt Nam và công ty mẹ đặt tại nước ngoài.

    Các cuộc điều tra cũng đã cho thấy, khi nhập hàng vào gia công, các công ty con thường khai khống giá thành nguyên liệu nhập của công ty mẹ lên rất cao và khai thấp đi giá bán hàng khi xuất; kê khai giá nhập thiết bị cao chót vót để rồi hạch toán khấu hao lớn, làm tăng chi phí giá thành sản phẩm, dẫn đến việc trong sổ sách chứng từ kế toán họ triền miên khai thua lỗ.

    • Tác động đến sự phát triển kinh tế
    1. Tác động đến môi trường, tài nguyên, sinh thái

    Một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Hiện nay, hệ thống xử lý nước thải, sự cố tràn dầu,…  trong các dự án FDI đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái trong khi các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện.

    FDI cũng ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái, sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống và  nơi cư trú của các động – thực vật hoang dã đã bị xáo trộn, phá hủy.

    Sự việc công ty Vedan phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm được lấy làm ví dụ điển hình nói về tác động của các doanh nghiệp FDI tới môi trường Việt Nam và việc quản lý của các cấp chính quyền với các dự án đầu tư . Sự vi phạm nghiêm trọng những quy chuẩn về bảo vệ môi trường của nhiều công ty, tổ chức sản xuất kinh doanh hiện nay và sự làm ngơ của chính quyền địa phương đã , đang, và sẽ phá hủy những tài sản chung của xã hội chỉ để phục vụ mục đích riêng của một nhóm người thiểu số .

    “Không chỉ có Vedan, thống kê hiện nay trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ TN&MT đã, đang và sẽ tổ chức nhiều đoàn thanh tra đi khắp các địa phương, lập danh sách đen các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, có khả năng bị đóng cửa, trong đó sẽ đặc biệt chú ý đến các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, Khánh Hoà, lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy….” – Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết. Sự “đặc biệt chú ý” này có thể giải quyết được bao nhiêu phần trăm tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng đang hiện hữu ở các khu công nghiệp? Và tại sao lại chỉ quan tâm đến những doanh nghiêph gây ô nhiễm “ nghiêm trọng”? Chúng ta cần phải có những biện pháp thiết thực chứ không phải là những lời nói suông như thế. Tài nguyên thiên nhiên, sinh thái của nước ta có thể bi bán rẻ cho đến khi có một biện pháp được thực hiên một cách hiệu quả để giải quyết thực trạng này, nếu không thì cái giá phải trả có thể lớn hơn rất nhiều so với lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng ngắn hạn.

    1. Tác động đến dân cư những vùng có dự án đầu tư

    Các cộng đồng dân cư nghèo ven biển buộc phải hy sinh nhà cửa, ruộng vườn để nhường chỗ cho những resort 5 sao lộng lẫy hay các sân golf thênh thang, có được đền bù thỏa đáng hay không? Thật sự là không thể không lo ngại khi hàng loạt mảnh đất đắc địa chạy dọc “mặt tiền” bờ biển Quảng Nam, Đà Nẵng đều được “cắt” để “chia lô” cho các dự án resort, sân golf, khu biệt thự có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi các dự án đến các địa phương, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, nông dân – đối tượng đông nhất trong xã hội mà trên 83% lao động chưa qua đào tạo bị mất kế sinh nhai, khiến cho nền kinh tế phải đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng. Tình trạng thiếu việc làm khiến thu nhập và mức sống của nông dân ngày càng thấp tương đối so với mặt bằng chung của xã hội, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

    • Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án

    Tình hình đình chỉ, giảm tiến độ, xin rút dự án cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng chỉ số ICOR  của khu vực FDI rất cao,làm giảm hiệu quả dầu tư của khu vực này. Để có cái nhìn toàn diện về vấn đề nay, hãy xem xét một số ví dụ sau đây:

    Vào thời điểm cấp phép, tháng 3/2007, dự án xây dựng nhà máy thép cán nóng liên doanh trị giá 527 triệu USD của Tập đoàn ESSAR Steel, Ấn Độ (65% vốn) với Tổng Công ty Thép Việt Nam (20% vốn) và Tổng Công ty Cao su Việt Nam (15% vốn) đã hoàn chỉnh hồ sơ mời thầu để có thể khởi công vào cuối năm 2007. Đáng tiếc là việc vay vốn ngân hàng của ESSAR bị trục trặc nên dự án đã không động thổ được. Năm 2008, đối tác này đã đề nghị tạm dừng triển khai dự án để nhượng bớt phần vốn pháp định cho đối tác khác. Đến nay, tập đoàn đã phải xin rút tên ra khỏi dự án và nếu như 2 tổng công ty của Việt Nam không xoay xở được thì dĩ nhiên, dự án cũng có nguy cơ bị huỷ bỏ.

    Dự án khổng lồ gần 10 tỷ USD – khu liên hợp thép Cà Ná tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cũng sẽ bị rút giấy phép đầu tư. Đây cũng là dự án FDI có qui mô vốn lớn nhất từ trước tới nay. Dự án là “sản phẩm” liên doanh giữa Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Vinashine (30% vốn) và Tập đoàn Lion Group – Diverssifie Holding Behard (70% vốn) của Malaysia.

    Dự án liên hợp thép Tycoon – E.United ở Dung Quất, Quảng Ngãi, được cấp phép vào tháng 9/2006 với tổng vốn 1,2 tỷ USD, dự án này đã gây xôn xao dư luận và khởi động cho một chuỗi các dự án FDI “tỷ đô” ồ ạt vào Việt Nam sau đó .Thực tế, nhà máy thì chẳng thấy đâu, chỉ thấy sự thay đổi như chong chóng của phía các nhà đầu tư. Ban đầu, chủ đầu tư là liên doanh giữa Tập đoàn Tycoon (Đài Loan) và Jinnan (Trung Quốc). Chỉ sau gần 1 năm, Jinnan đã rút tên khỏi dự án và thay vào đó là Công ty E-United của Đài Loan với tỷ lệ góp vốn là 90%. Tycoon chỉ còn góp 10% vốn, đồng thời, nâng vốn đăng ký đầu tư lên 3 tỷ USD.

    Mỗi dự án liên hợp thép đã chiếm ít nhất từ 1000-3000 ha đất, chưa kể diện tích cảng biển và các ngành công nghiệp hỗ trợ. Khi dự án bị treo thì đồng nghĩa một diện tích đất lớn, cái mà nghìn hộ dân đã phải nhường mặt bằng, đã bị chiếm dụng trong nhiều năm, lãng phí hiệu quả kinh tế có thể thu được trên mảnh đất đó, làm lỡ mất cơ hội cho các nhà đầu tư khác đủ năng lực hơn và lỡ cả cơ hội có được lợi nhuận nếu như dự án đúng tiến độ.

    Cùng với thép, vốn FDI đổ quá nhiều vào bất động sản nằm trong tầm soi của nhiều chuyên gia kinh tế. Đây là những dự án đầu tư không lành mạnh, không có ích cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng, không chuyển giao công nghệ cao trong khi lại chiếm dụng nhiều đất đai.

    Chẳng hạn như dự án về khách sạn Lotus. Dự án có tổng vốn đầu tư là 500 triệu USD, nằm trong diện các công trình trọng điểm chào đón Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Dự án đã được cấp phép cho nhà đầu tư Riviera Corporation của Nhật Bản vào năm 2007 và nhà đầu tư này đã cam kết sẽ hoàn thành công trình vào cuối năm 2009. Thế  nhưng, tin tức trên VietNamNet cho thấy Riviera Corporation đã chính thức có văn bản xin rút tên khỏi dự án. Lý do chính vẫn là không thu xếp được tài chính.

    Cũng nằm trong mục tiêu hướng tới đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội và cũng đứng trước nguy cơ đổ bể là dự án tổ hợp trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cao 65 tầng mang tên Hanoi City Complex của nhà đầu tư Coralis, Luxembourg. Vào thời điểm được cấp phép cuối năm 2006 với tổng vốn đăng ký 114 triệu USD, tổ hợp này đã được quảng cáo hoa mỹ là toà nhà chọc trời của Hà Nội, là dự án có qui mô vốn FDI lớn nhất của Hà Nội. Nhà đầu tư đã cam kết sẽ triển khai trong 3 năm và phấn đấu hoàn thành trước năm 2010.

    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung uơng, Bộ Kế hoạch đầu tư đã bóc tách các con số này: năm 2008, ước khoảng 70%  vốn của các dự án  FDI đều là vốn vay, trong đó, một phần không nhỏ là vay trong nước. Một trong các hệ lụy, theo phân tích của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, là số vốn FDI được công bố không phản ánh đúng đồng vốn thực mà các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.Điều nay dẫn đến khi nguồn vốn trong nước bị thiếu hụt thì các dự án cũng chỉ có cách là nằm chờ hoặc rút lui. Hậu quả để lại, tất nhiên lại là nhân dân. Đây là hệ quả của việc cấp phép dễ dãi tại các địa phương. Việc thẩm định năng lực chủ đầu tư của chính quyền cấp tỉnh rõ ràng là có vấn đề.

    Nhìn chung, tuy Việt Nam thu hút được nhiều vốn FDI nhưng sự phân bổ vốn lại không đều giữa các ngành, nghề, các thành phần kinh tế. Việc giải ngân vốn cững chưa hiệu quả, quy trình xem xét và thẩm định dự án còn nhiều bất cập. Các yếu tố trên dẫn đến kết quả là việc sử dụng vốn FDI của Việt Nam không hiệu quả.

    1.2.3     Nguyên nhân sử dụng vốn FDI không hiệu quả

    Bên cạnh những nguồn lực nội tại của ngành kinh tế, FDI giữ một vai trò quan trọng, góp phần làm tăng tổng vốn đầu tư, tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thu ngân sách nhà nước và ổn định kinh tế vĩ mô. Một câu hỏi được đặt ra là: liệu nguồn vốn này đã được sử dụng một cách hiệu quả? Theo dõi số liệu kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì chúng ta dễ dàng nhận thấy lượng vốn đầu tư đã gia tăng đáng kể, với mức kỉ lục của năm 2008 hơn 64 tỉ USD. Nhưng lượng giải ngân chưa nhiều; việc sử dụng vốn chưa thực sự đạt hiệu quả.

    Ta có hai chỉ số chính để đo lường hiệu quả của đầu tư FDI: ICOR (đo lường hiệu quả đầu tư, tính trên lượng vốn cần tăng thêm để đạt mức gia tăng một đơn vị sản lượng) và TFP (hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp). ICOR càng cao thì càng là dấu hiệu xấu, chứng tỏ vốn đầu tư trở thành yếu tố quá quan trọng trong khi các nhân tố tăng trưởng khác lại không phát huy. Ngược lại, TFP càng cao càng là dấu hiệu tốt. Trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Vậy Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả  là thấp nhất. Còn về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp có FDI lần lượt là: 8,6; 3,1 và -17,6. Hệ số TFP của khối nhà nước cao nhất cho thấy mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Nói cách khác, doanh nghiệp công “cũng có mang lại đổi mới công nghệ”. Trong khi ở khối FDI thì chỉ số này lại âm (-17,6). “Như thế nghĩa là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, sự tăng trưởng chủ yếu nhờ các yếu tố khác, ví dụ lao động rẻ mạt, chứ không phải do công nghệ. Trên thực tế, khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết”.

    Đó là một thực trạng đã và đang tồn tại. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn này còn gặp nhiều khó khăn, báo điện tử Vneconomy có điểm qua  các “nút thắt” lớn trong vấn đề này:

    Thứ nhất, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và nhất quán giữa các luật chung và luật chuyên ngành. Bên cạnh đó thủ tục hành chính rườm rà, nhiêu khê là một cản trở không nhỏ. Bài “Thủ tục hành chính “ngáng chân” doanh nghiệp FDI” số ra ngày 21/05/2009 trên báo Đời sống & Pháp Luật: “Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam cho hay, qua khảo sát ý kiến thì có 5% doanh nghiệp Hàn Quốc có ý định giảm qui mô kinh doanh ở Việt Nam và có 2% doanh nghiệp muốn chuyển đầu tư từ Việt Nam sang nước khác.” Thủ tục hành chính phức tạp như chuyện giải thích về luật rất khác nhau là một trong những lý do lớn để số doanh nghiệp Hàn Quốc này muốn rời bỏ Việt Nam trong tương lai.

    Thứ hai, công tác quy hoạch lãnh thổ, ngành nghề, lĩnh vực, sản phẩm còn yếu và thiếu, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt để việc cấp phép và quản lý đầu tư về các địa phương, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung.

    Thứ ba, sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư. Thông thường các nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng công trình dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa để tránh tình trạng công trình dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu,

    Thứ tư, tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành như Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội… mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương…

    Theo nguồn tin từ trang tinmoi.vn thì việc tìm kiếm lao động lành nghề, nhân lực quản lý cấp trung gian có trình độ là vấn đề đau đầu của đa số các Doanh nghiệp FDI. Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Thái Lan tại Việt Nam, ông Panat Krairojananan lo lắng, các DN nước ngoài khi mới đến Việt Nam, đôi khi vẫn phải thuê người nước ngoài vào làm, bởi lẽ họ khó mà tìm được người giỏi ở Việt Nam ngay. Tuy nhiên, mức thuế thu nhập cá nhân  đối với lao động nước ngoài khá cao, xu hướng sắp tới là công ty Thái Lan sẽ phải cắt giảm lao động nước ngoài và họ sẽ phải tìm người Việt Nam cho các vị trí quan trọng. Thế nhưng, đây là việc vốn dĩ vô cùng khó, bởi vì: “Một số sinh viên Việt Nam đã ra trường mà những tính toán cơ bản lại không tính được”( Harry Beirnaert, Chủ tịch Hiệp hội DN Bỉ – Luxembourg tại Việt Nam).

    Trong thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài hầu như chỉ mới khai thác nguồn lao động chi phí thấp chứ chưa thực hiện nhiều việc chuyển giao kỹ thuật công nghệ cao và đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp nội địa. TS. Nguyễn Quang Hồng, Đại học Kinh tế quốc dân đã dẫn kết quả một cuộc khảo sát của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) được thực hiện trong hơn 100 doanh nghiệp điện tử gần đây, cho thấy các công ty trong nước tuyển dụng từ 10 – 64% lao động có trình độ cao đẳng trở lên, trong khi đó con số tuyển dụng cùng trình độ tương ứng ở khu vực FDI chỉ ở mức từ 4 – 10%.

    Sau sự kiện Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên bằng  vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao chưa phải do lao động Việt Nam đảm nhận, nên việc học hỏi, tích lũy kinh nghiệm qua thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước chưa được nhiều. Xu hướng của các doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài đang tăng lên, trong đó gần 50% lao động phổ thông và chỉ có gần 45% có trình độ đại học trở lên.

    Báo cáo của Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế Tp.HCM (nay là Viện Nghiên cứu phát triển), cho biết lao động không có chuyên môn kỹ thuật tại Tp.HCM đến năm 2010 chiếm tỷ lệ khoảng 65,6%; lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật kể cả công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng và đại học chỉ khoảng 34,4%. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải có giải pháp để tăng cường năng lực kỹ thuật cho lao động Việt Nam để tiếp thu công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.

    Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng là mặt hạn chế chậm được khắc phục trong môi trường đầu tư của ta. Trên thực tế, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nói chung và yêu cầu  thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng. Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết trước khi cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

    Việc đền bù thu hồi đất, tái định cư, giải phóng mặt bằng và xây dựng các công trình hạ tầng ngoài hàng rào kết nối vào khu vực dự án đầu tư đang là khó khăn lớn nhất đối với triển khai một số dự án FDI quy mô lớn hiện nay, đặc biệt đối với dự án 100% vốn nước ngoài. Bên cạnh đó là tình trạng cho thuê đất với “giá rẻ bất ngờ” của một số địa phương, điển hình là vụ việc xảy ra ở tỉnh Quảng Nam. Tỉnh này đã cho một doanh nghiệp nước ngoài thuê đất với giá 2,75 đồng một năm trên 1 mét vuông, rẻ hơn gấp nhiều lần so với giá 1 điếu thuốc lá- báo điện tử Vietnamnet đã đưa tin.

    Thứ sáu, chủ trương phân cấp trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài là đúng đắn. Tuy nhiên, trong điều kiện hệ thống quy hoạch chưa đồng bộ, kịp thời, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại một số địa phương còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ nên đã nảy sinh vấn đề cạnh tranh thiếu lành mạnh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, thiếu sự liên kết vùng, khu vực, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành, lĩnh vực đầu tư.

    Một số địa phương không thẩm tra kỹ về năng lực của các nhà đầu tư trong các dự án có quy mô lớn, chạy đua với nhau trong việc cấp phép các dự án lớn có quy mô hàng tỷ USD. Do vậy, khả năng triển khai các dự án này sẽ rất khó khả thi theo đúng cam kết của nhà đầu tư.

    Thứ bảy, việc xử lý chất thải của các dự án đầu tư nước ngoài tập trung tại các khu công nghiệp tập trung thuộc vùng kinh tế trọng điểm đã và đang ảnh hưởng nhất định đến môi trường tự nhiên cũng như xã hội, trong đó đặc biệt là đối với các dự án sản xuất quy mô lớn.

    Cuối cùng, công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa thực sự hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, còn chồng chéo, mâu thuẫn gây lãng phí nguồn lực. Nguyên nhân chính là do chưa có một chiến lược tổng thể về xúc tiến đầu tư, làm cho công tác xúc tiến đầu tư thiếu một tầm nhìn dài hạn, có tính hệ thống; trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; công tác quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do còn thiếu một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này.

    Cũng theo bài “Cảnh báo hiệu quả của FDI” trên trang đời sống & Pháp luật, hiệu quả đầu tư thấp còn có nguyên nhân rất lớn từ phía công tác quản lý, thanh tra, giám sát trong đầu tư và xây dựng ở các ngành, các cấp rất yếu kém. Việc thẩm định các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa phương đang “thoáng” tới mức không cân nhắc thật cẩn trọng ba yếu tố mấu chốt: quỹ đất; vấn đề đào tạo và sử dụng lao động tại chỗ; chất lượng sản phẩm đầu ra. Hai yếu tố sau có liên quan trực tiếp tới công nghệ. Tuy nhiên việc “thoáng” như thế đã gây ra hệ quả là các công ty ở Việt Nam giống như các “phân xưởng” của công ty mẹ ở nước ngoài: lương lao động  rất rẻ, bệnh nghề nghiệp nhiều. Có nhà máy mấy chục ngàn công nhân mà chỉ khoảng ba chục người được đi nước ngoài vài tuần gọi là “đào tạo”, nhập các máy móc, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu. Như vậy việc quản lý yếu kém của các nhà chức năng đã dẫn tới việc biến nước ta thành nơi chứa dựng các thiết bị lạc hậu và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt ở nước ta để sinh lợi cho họ. Chính “Bộ KH-ĐT cũng thừa nhận rằng phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ quản lý đầu tư và xây dựng còn kém, thường lợi dụng những kẽ hở của cơ chế chính sách, lợi dụng chức quyền, vị trí công tác để trục lợi bất chính nhưng lại chưa được xử lý triệt để.”- theo báo dautuxaydung.com.

    Như vậy để đạt được hiệu quả cao có lẽ phải bắt đầu từ việc xem lại cơ chế chính sách trong quản lý đầu tư và tính nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật. Đồng thời việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng cũng là một vấn đề cấp thiết cần quan tâm.

    1.3       KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

    1.3.1     Kiến nghị

    1.3.2     Giải pháp

    Trên cơ sở những phân tích tổng quan, tình hình, thực trạng sử dụng FDI … ở Việt Nam, các nhà kinh tế, các chủ doanh nghiệp, các chuyên viên phân tích đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết tình trạng sử dụng nguồn vốn FDI sẵn có không hiệu quả  như sau:

    Thứ nhất, cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp nhanh chóng, đặc biệt là các cảng biển và nhà máy điện. Mạnh dạn hơn nữa trong việc cho phép và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia phát triển hạ tầng, nhất là những công trình hạ tầng đang xây dựng dở dang và đã kéo dài nên được hoàn thành tránh sự lãng phí không đáng có.

    Thứ hai, rất nhiều ý kiến từ phía các doanh nghiệp và các đối tác nước ngoài có liên quan đều lo ngại về những luật lệ và quy định mới, do đó cần đẩy mạnh cải cách hành chính, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết.

    Thứ ba, cần công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý. Trong đó, cần rà soát lại các văn bản phát quy liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế, sửa đổi các văn bản cho phù hợp với quy định của WTO.

    Thứ tư, từng bước đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực. Phải xác định cho đúng những đối tượng cần được đào tạo và đào tạo lại, tránh tình trạng đào tạo tràn lan mà không biết sử dụng vào việc gì. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ lao động đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, có chất  lượng và tay nghề cao phục vụ cho nhu cầu của cả nước và xuất khẩu.

    Thứ năm, cần xây dựng những quy định cụ thể, chặt chẽ để ngăn chặn các hoạt động huy động vốn đầu tư trong nước của các nhà đầu tư nước ngoài ở nhiều dự án, nhất là các dự án bất động sản xây dựng căn hộ và văn phòng cho thuê. Hình thức này đang gây ra tình trạng thu hút vốn của các doanh nghiệp trong nước, tạo thêm trở ngại cho việc phát triển khu vực kinh tế trong nước trong điều kiện khó khăn hiện nay. Ðặc biệt, các cơ quan quản lý cần chú trọng hơn nữa đến những ảnh hưởng về môi trường và các thiệt hại về tài nguyên trong việc cấp phép các dự án FDI; giám sát chặt chẽ việc thực hiện các cam kết không gây ô nhiễm môi trường của các dự án đầu tư; nghiêm khắc xử lý những hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường, làm thiệt hại lợi ích của nhân dân.

    Ðể tận dụng những lợi thế và biến thách thức thành thời cơ trong thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI, nhiều chuyên gia cho rằng, cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, và đẩy mạnh giải ngân, trong đó chú trọng đến các địa phương có tiềm năng, song chưa tạo được bước đột phá trong thu hút FDI. Tập trung giải quyết những yếu kém về kết cấu hạ tầng giao thông, điện nước; về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng; về năng lực của bộ máy quản lý nhà nước; tháo gỡ những khó khăn về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn FDI đăng ký. Cần rà soát chặt chẽ và kiên quyết xử lý những dự án “treo” kéo dài, chủ đầu tư không có khả năng thu xếp vốn, dự án chuyển đổi mục đích… tạo cơ hội cho các đối tác khác vào đầu tư, tránh lãng phí về cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất, kinh doanh.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-kinh-t%E1%BA%BF-v%C4%A9-m%C3%B4-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ ở Việt Nam

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    1.     Chính sách tiền tệ

     

    1.1. Khái niệm:

    Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế.

    Tùy thuộc điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:

    Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – chính sách tiền tệ chống thất nghiệp).

    Chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

    1.2. Vị trí chính sách tiền tệ

    Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.

    Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.

    1.3. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ

    1.3.1. Mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền

    NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không, vì như vậy nền kinh tế không thể phát triển được. Trong điều kiện nền kinh tế trì trệ thì kiểm soát lạm phát ở một tỷ lệ hợp lý (thường ở mức một con số) sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại.

    Nhóm IV 3

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    1.3.2. Mục tiêu tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp

    CSTT mở rộng hay thắt chặt có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát gia tăng.

    1.3.3. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế

    Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hài hoà.

    1.3.4. Ổn định thị trường tài chính

    Tình trạng khủng hoảng tài chính có thể làm giảm khả năng của thị trường tài chính trong việc tạo ra kênh dẫn vốn cho người có cơ hội đầu tư vào sản xuất, qua đó làm giảm quy mô hoạt động kinh tế. Bởi vậy, việc tạo ra hệ thống tài chính ổn định hơn, tránh được các cuộc khủng hoảng tài chính là mục tiêu quan trọng của NHTW.

    Sự ổn định thị trường tài chính được hỗ trợ bởi sự ổn định của lãi suất, bởi vì sự biến động của lãi suất tạo ra sự bất định lớn cho các định chế tài chính. Sự gia tăng lãi suất tạo ra các tổn thất lớn về vốn cho trái phiếu dài hạn và các khoản cho vay cầm cố, cũng như những tổn thất này có thể làm cho các định chế tài chính nắm giữ nó sụp đổ.

    1.3.5. Ổn định thị trường hối đoái

    Với tầm quan trọng ngày càng tăng của tỷ giá hối đoái trong thương mại quốc tế, ổn định tỷ giá trở thành mục tiêu mong muốn của CSTT. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước so với nước ngoài. Ngoài ra, ổn định tỷ giá giúp cho các doanh nghiệp và cá nhân trao đổi hàng hoá với nước ngoài dễ dàng lập kế hoạch hơn.

    1.3.6. Ổn định thị trường lãi suất

    Sự biến động của lãi suất có thể tạo ra tính bất định trong nền kinh tế và khó khăn trong lập kế hoạch cho tương lai. Biến động của lãi suất ảnh hưởng tới lượng dự trữ, mức chi tiêu của người dân và đồng thời ảnh hưởng tới khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

    Nhóm IV 4

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Giữa các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời. Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

    • Các công cụ của chính sách tiền tệ

    2.1. Công cụ trực tiếp

    2.1.1. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Khái niệm:Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.Để hạn chế việc tạo tiền quá mức của NHTM, NHTW quy định hạn mức tín dụng tối đa cho từng NHTM.

    Ưu điểm: là công cụ quan trọng khi các công cụ truyền thống kém hiệu quả.

    Nhược điểm: khống chế hạn mức tín dụng làm lãi suất thị trường tăng, làm giảm cạnh tranh giữa các NHTM.

    2.1.2. Quản lý lãi suất của Ngân hàng thương mại

    NHTW có thể trực tiếp quy định khung lãi suất đối với các NHTM. (gồm có lãi suất trần và lãi suất sàn với các khoản huy động hoặc cho vay của NHTM).

    Ưu điểm: tác động nhanh, trực tiếp đến lãi suất của các NHTM, nhờ đó tác động đến tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Đây là một công cụ quan trọng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả.

    Nhược điểm:là một công cụ cứng nhắc, kiểm soát lã suất sẽ triệt tiêu cạnh tranh của các NHTM, dễ gây tác động xấu tới hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vì vậy, nó thườngchỉ được sử dụng trong điều kiện sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa được thiết lập, hay cácyếu tố thị trường chưa phát triển hoàn chỉnh. Ngoài ra, các NHTM có thể ngầm không tuân theo khung lãi suất quy định của NHTW.

    2.2. Công cụ gián tiếp

    Bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu và dự trữ bắt buộc.

    2.2.1. Nghiệp vụ thị trường mở

    Khái niệm: Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, chủ yếu là tín phiếu kho bạc, nhằm làm tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng. Đây là công cụ quan trọng nhất của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.

    Nhóm IV 5

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hàng hoá: (Tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, trái phiếu chính phủ)

    Cơ chế tác động:

    • Bán các giấy tờ có giá: thu hẹp tín dụng.
    • Mua các giấy tờ có giá: mở rộng tín dụng. Ưu điểm:
    • NHTW có thể kiểm soát hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường mở.
    • Linh hoạt và chính xác cao.
    • NHTW có thể dễ dàng đảo ngược tình thế của mình.
    • Nhanh chóng, ít tốn kém chi phí và thời gian.

    Nhược điểm: là công cụ được thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào chủ thể khác trên thị trường (các Ngân hàng thương mại, …).Ở Việt Nam do thị trường chứng khoán chính phủ chưa phát triển nên NHNN phát hành tín phiếu NHNN để điều tiết việc cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên do thị trường loại tín phiếu này chỉ diễn ra giữa một bên là NHNN và một bên là các NHTM nên hiệu quả điều tiết không cao, chỉ chủ yếu tác động vào dự trữ của các NHTM. Hiện nay trên thị trường mở chủ yếu là kỳ hạn 7 ngày, các kỳ hạn dài hơn hầu như chưa có.

    2.2.2. Chính sách chiết khấu

    Khái niệm: Chính sách chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi chính sáchtiền tệ, bằng cách cho vay tái cấp vốn cho các ngân hàng kinh doanh.

    Cơ chế tác động: NHTW tăng hoặc giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu phụthuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ là nới lỏng hay thắt chặt.

    Ưu điểm: NHTW là người cho vay cuối cùng, kiểm tra chất lượng tín dụng của các NHTM, bơm tiền vào nền kinh tế, NHTM sẽ có chỗ dựa là NHTW.

    Nhược điểm: NHTW thường bị động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng. NHTWchỉ có thể thay đổi lãi suất chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM đến vay chiết khấu ở NHTW.

    2.2.3. Dự trữ bắt buộc

    Khái niệm: Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà không được dùng để cho vay hoặc đầu tư. Mức dự trữ cho NHTW quy đinh và bằng một tỉ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi củakhách hàng tại các tỏ chức tín dụng.

    Cơ chế tác động:

    Nhóm IV 6

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo bội số tiền gửi của các NHTM. NHTW tăng hoặc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên.
    • Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của NHTM. Khi tỉ lệ này tăng,đòi hỏi NHTM tăng lãi suất cho vay, khả năng cho vay của NHTM giảm, lượng tiềncung ứng giảm. (và ngược lại)

    Ưu điểm:

    • Ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng.
    • Là công cụ có ảnh hưởng rất mạnh đến lượng tiền cung ứng.
    • Phức tạp, kém linh hoạt, không thể thực hiện những thay đổi nhỏ trong lượng tiềncung ứng bằng công cụ dự trữ bắt buộc.
    • Ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM.
    • Dự trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng.
    Nhóm IV 7

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM

    1. Tổng quan chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

    Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đối mặt với nhiều thách thức to lớn, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nới lỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

    Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổi mới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ, xác định giai đoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung Ương 3 (khóa XI).

    1. Thực trạng việc áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ

    Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được Ngân Hàng Nhà Nước sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng, ..

    2.1. Công cụ lãi suất

    Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, Ngân Hàng Nhà Nước trực tiếp quyết định các mức lãi suất như: lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất thị trường mở, trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạn thuộc 4 đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các Tổ chức Tín dụng.

    Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của Ngân Hàng Nhà Nước được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu, mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: lãi suất tái chiết khấu < lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn, biên độ 1-2%.

    Cơ chế điều hành các loại lãi suất được điều chỉnh linh hoạt, hợp lý và đồng bộ hơn so với những năm trước đây. Trong năm 2012, Ngân hàng Nhà Nước đã liên tiếp thực hiện giảm mặt bằng lãi suất, điều chỉnh giảm 4 lần đối với lãi suất tái cấp vốn từ 15% xuống 9%, lãi suất chiết khấu từ 13% xuống 8%. Lãi suất trên thị trường mở giảm 6 lần. Điều chỉnh giảm 4 lần trần lãi suất tiền gửi tối đa bằng VNĐ, từ 14%/năm xuống 9%/năm

    Nhóm IV 8

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng đến 12 tháng; từ 6%/năm xuống 2% năm đối với tiền gửi không kỳ hạn. Đồng thời, áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ đối với bốn lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành công nghiệp hỗ trợ), lãi suất điều chỉnh giảm từ 15% xuống còn 13%, cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14 – 17%/năm. Đặc biệt, vào thời điểm cuối năm 2012 lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8 – 9%/năm so với đầu năm, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011.

    Đồ thị 1: Diễn biến lãi suất năm 2005 – đầu năm 2013

    (Nguồn: Website Ngân hàng Nhà Nước http://www.sbv.gov.vn)

    Mới đây, theo Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3/2013 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với các Ngân hàng, NHNN thông báo chính thức điều chỉnh giảm 1% các lãi suất chủ chốt kể từ ngày 26/3/2013, cụ thểđiều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 7%/năm xuống 6%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong

    thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 10%/năm xuống 9%/năm.

    Đồng thời, NHNN quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VNĐ của tổ chức, cá nhân tại Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đối với các khoản tiền kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 12 tháng giảm từ 8%/năm xuống 7,5%/năm. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên do Tổ chức tín dụng ấn định trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường (theo Thông tư số 08/2013/TT-NHNN ngày 25/3), lãi suất cho vay ngắn hạn tối

    Nhóm IV 9

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    đa bằng VNĐ của Tổ chức tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên còn 11%/năm, giảm 1%/năm so với trước đó (Thông tư số 09/2013/TT-NHNN ngày 25/3)

    Biểu đồ 2: Diễn biến tình hình lãi suất huy động và cho vay

    (Nguồn: http://www.tinmoitonghop.com/k ho-giam-lai-suat)

    Sự đổi mới cơ chế lãi suất nói trên đã khuyến khích các Tổ chức tín dụng huy động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN không còn cơ hội cho các Tổ chức tín dụng lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn.

    2.2. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

    Cơ chế điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010.

    Theo cơ chế nói trên, chính sách dự trữ bắt buộc được căn cứ vào tính chất kỳ hạn tiền gửi (ngắn, trung, dài hạn), loại tiền gửi (VND và ngoại tệ) và ưu tiên đối tượng cho vay nông nghiệp, nông thôn. Đối với Tổ chức Tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40% thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam bằng 1/5 (một phần năm) và 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi.

    Nhóm IV 10

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các Tổ chức tín dụng đối với tiền gửi VND cố định 3% và không thay đổi. NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6 tháng 2012. Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của Tổ chức tín dụng. Vì vậy hạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống Tổ chức tín dụng

    Chính sách dự trữ bắt buộc áp dụng một mức chung cho tất cả các NHTM Việt Nam, làm cho công cụ dự trữ bắt buộc hoàn toàn trở thành vô tác dụng.

    2.3. Tái cấp vốn

    Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn của NHNN đã phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các NHTM tuy nhiên vẫn còn một số điểm hạn chế như chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các Tổ chức tín dụng, chưa tác động được nhiều đến cung

    cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường.

    Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức đã được Chính phủ duyệt hàng năm; nhiều Tổ chức tín dụng cần vay nhưng không đủ điều kiện được vay tái cấp vốn; một số Tổ chức Tín dụng đủ điều kiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay. Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các Tổ chức tín dụng không lớn; mức độ

    tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn chế.

    Với mức chênh lệch cao giữa lãi suất cho vay thỏa thuận của các Tổ chức Tín dụng với khách hàng và lãi suất cho vay thỏa thuận giữa các Tổ chức tín dụng với nhau so với lãi suất tái cấp vốn, sẽ tạo ra những cơ hội cho một số Tổ chức tín dụng tìm mọi cách để vay tái chiết khấu có lợi hơn huy động vốn từ nền kinh tế, hoặc để cho vay lại

    trên thị trường với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất.

    Tại Quyết định số 643/QĐ-NHNN ngày 25/3, NHNN điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn từ 9%/năm xuống còn 8%/năm, cùng với các lãi suất khác với mục đích NHNN muốn triển khai các giải pháp tiền tệ, tín dụng ngân hàng theo mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh

    tế ở mức hợp ý theo chỉ đạo của Chính phủ.

    Nhóm IV 11

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    2.4. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)

    Trong thời gian vừa qua, NHNN điều hành công cụ nghiệp vụ thị trường mở theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN.

    Trong thời gian qua, nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các Tổ chức tín dụng, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng

    lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và cho vay của tổ

    chức tín dụng, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

    Đánh giá một cách khách quan, trong năm 2012, NHNN điều hành nghiệp vụ thị

    trường mở OMO chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn thời gian trước đó.

    Tuy nhiên, một số vấn đề còn tồn tại như Quy chế nghiệp vụ thị trường mở chậm được điều chỉnh, sửa đổi kịp thời để đồng bộ với các văn bản pháp luật mới (đặc biệt là các quy định mới về phát hành giấy tờ có giá, tiêu chuẩn giấy tờ có giá, định giá giấy tờ có giá, ..) nếu không sớm điều chỉnh sẽ phát sinh các rủi ro về pháp lý, rủi ro về kinh tế

    cho các Tổ chức tín dụng và làm giảm hiệu quả của công cụ thị trường mở.

    Bên cạnh do, cơ chế mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở hiện hành chủ yếu là đấu thầu khối lượng, các mức lãi suất giao dịch thực tế phản ánh chưa chính xác quan hệ cung cầu vốn, không khuyến khích cạnh tranh thực sự giữa các Tổ chức tín dụng với mục tiêu hạ lãi suất thị trường. Khối lượng giao dịch bị hạn chế trong mức cung tiền mục tiêu hàng năm và khả năng, điều kiện tham gia thị trường mở của các Tổ chức tín dụng,

    làm giảm hiệu quả điều tiết, tác dụng của công cụ thị trường mở.

    Trong 2012, lạm phát giảm xuống nhanh dưới một con số, tăng trưởng tín dụng quá thấp so với mục tiêu, công cụ thị trường mở phải nhằm mục tiêu bơm tiền ra để hạ lãi suất, kích thích tăng trưởng tín dụng, nhưng lại mâu thuẫn với khả năng hấp thụ vốn của

    doanh nghiệp rất thấp, các Tổ chức tín dụng thừa tiền không cho vay được.

    2.5. Kiểm soát hạn mức tín dụng

    Nhóm IV 12

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp, mang tính hành chính của NHNN, được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.

    Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.

    Năm 2012 là lần đầu tiên NHNN quyết định phân bổ hạn mức tín dụng cho từng NHTM theo các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực và tuân thủ các quy định. Theo đó, các nhóm được phân loại bởi NHNN được áp dụng các hạn mức như sau: Nhóm thứ 1 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 17%; nhóm thứ 2 tăng trưởng tín dụng ở mức tối đa 15%; nhóm 3 được tăng trưởng 8%; nhóm 4 thuộc diện phải cơ cấu lại, không được tăng trưởng tín dụng.

    Đến tháng 6/2012, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng tăng 1,51% so với cuối năm 2011, NHNN đã cho phép tăng chỉ tiêu đối với 10 Tổ chức tín dụng có tính hình tài chính lành mạnh, đã có tăng trưởng tín dụng đạt trên 50% chỉ tiêu thông báo của NHNN từ đầu năm.

    Công cụ hạn mức tăng trưởng tín dụng mà NHNN đưa ra trong 2012 đã phát huy tác động tích cực thúc đẩy các Tổ chức tín dụng đổi mới và tái cơ cấu hoạt động theo quan điểm và mục tiêu của chính sách tiền tệ của Chính Phủ trên các mặt sau:

    • Thúc đẩy các NHTM phấn đấu nâng cao chất lượng, hiệu quả và các chỉ số an toàn hoạt động để được xếp hạng tín nhiệm cao và có được hạn mức tăng trưởng cao.
    • Điều chỉnh, hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động vốn, góp phần cải thiện tính thanh khoản của từng ngân hàng và cả hệ thống hệ thống, giảm áp lực lạm phát.
    • Tác động mạnh mẽ và có hiệu quả đến mục tiêu tái cơ cấu, sát nhập các NHTM yếu kém, tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh.

    Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ kiểm soát hạn mức tín dụng của NHNN trong thời gian qua đã cho thấy một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung nhằm phát huy hiệu quả cao hơn:

    Thời điểm áp dụng công cụ hạn mức tín dụng chưa phù hợp với giai đoạn suy kiệt tín dụng và giảm tổng cầu của nền kinh tế, nên công cụ hạn mức tín dụng không phát huy được tác dụng với nhiều tổ chức tín dụng.

    Nhóm IV 13

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    Chưa xây dựng được bộ tiêu chí phân loại các Tổ chức tín dụng và phương pháp tính toán các tiêu chí phân loại để làm căn cư phân bổ hạn mức tín dụng cho từng tổ chức tín dụng.

    3.                 Nhận định tổng quát về chính sách tiền tệ Việt Nam

     

    3.1. Những kết quả tích cực:

     

    • Những chủ trương định hướng và quan điểm chỉ đạo điều hành về chính sách tiền tệ thể hiện trong các Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, nghị quyết 01/2012/NQ-CP và nghị quyết 13/2012/NQ-CP là sự điều chỉnh đúng hướng, phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sự diễn biến của kinh tế vĩ mô và thị trường, đã kiểm soát cung tiền ở mức hợp lý, mà nhất là tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
    • Vai trò của tự chủ của NHNN trong hoạch định, điều hành thực thi chính sách tiền tệ được nâng cao và phát huy nhiều hơn trong việc quyết định, lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra.
    • Giữ được hệ thống tổ chức tín dụng không bị đổ vỡ, kiềm chế lạm phát từ mức rất

    cao 18,13% năm 2011 xuống ở mức khoảng 7% cuối 2012;

    • Thị trường tiền tệ năm 2012 đã diễn biến theo xu hướng tích cực, những áp lực tăng lãi suất năm 2011 đã chuyển hướng bằng xu hướng giảm lãi suất mạnh mẽ trong 9 tháng đầu năm và tiếp tục giảm sau đó.
    • Chínhsách tiền tệ và chính sách tài khóa ngày càng có sự kết hợp đồng bộ hơn, hiệu quả hơn so với những thời kỳ trước đây.

    Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế được điều chỉnh theo hướng hợp lý và tích cực hơn: giảm tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với các lĩnh vực đầu cơ bất động sản, chứng khoán và tăng tỷ trọng tín dụng cho 4 lĩnh vực ưu tiên: sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, sản xuất phụ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ;

    • Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở có những bước phát triển mới, tạo ra những chuyển biến tích cực hơn trên thị trường tiền tệ. NHNN đã chủ động hơn trong việc thu thập các thông tin về lãi suất và khối lượng giao dịch trên thị trường tiền tệ để sử dụng các công cụ phù hợp điều tiết cung cầu vốn trên thị trường.
    Nhóm IV 14

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    3.2. Một số vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu xử lý

    Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam 2010 đã quy định mục tiêu duy nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, nhưng trong các văn bản chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ thể hiện phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu có mức ưu tiên như nhau như: mức cung tiền M2, tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD. Do đó các giải pháp và công cụ điều hành chính sách tiền tệ nhiều khi phải ưu tiên giải quyết các mục tiêu trước mắt nhằm hỗ trợ tăng trưởng để ổn định kinh tế vĩ mô, nên kết quả chưa đảm bảo được tính bền vững và mục tiêu trung dài hạn.

    Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được kết quả khi chỉ số lạm phát xuống mức thấp dưới 2 con số nhưng kết quả chỉ mang tính thời điểm, chưa ổn định và bền vững. Khả năng kiểm soát lạm phát theo mục tiêu còn nhiều thách thức và khó khăn dài hạn.

    Những yếu tố và nguyên nhân cơ bản từ nội tại nền kinh tế làm cho lạm phát bùng phát trở lại vẫn chưa được giải quyết; nhiều biến số tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông vượt ra khỏi tầm kiểm soát của NHNN; nguồn lực tài chính của Nhà nước chưa đủ mạnh để can thiệp điều chỉnh có hiệu quả quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ.

    Công cụ lãi suất còn một số bất cập về phương pháp xác định các và cơ chế điều hành. Lãi suất huy động và cho vay của các TCTD mang nặng tính hành chính, nhiều khi chưa sát với CPI và chưa điều chỉnh kịp thời với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường.

    Lãi suất tín dụng tuy đã giảm nhiều so với 2011 nhưng vẫn còn ở mức cao vượt quá khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Hệ thống chính sách và cơ chế tín dụng chưa thực hiện được chức năng phân bổ vốn tín dụng cho khu vực hiệu quả, chưa giải quyết được tình trạng “suy kiệt tín dụng”, tác động tiêu cực đến phát triển trung dài hạn của nền kinh tế.

    Tiến trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu vẫn còn khá chậm, gây tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong năm 2012, tỉ lệ nợ xấu cao khiến chi phí của ngân hàng tăng mạnh khi phải dự phòng rủi ro lớn. Đồng thời các NHTM cũng dè dặt và chặt chẽ hơn trong việc cho vay đối với doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy về mặt danh nghĩa, lãi suất cho vay tuy có giảm nhưng nguồn vốn tín dụng vẫn chưa thực sự đến được với doanh nghiệp.

    Nhóm IV 15

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    PHẦN III. GIẢI PHÁP

    Theo đó, để giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay, NHNN cần thực hiện các giải pháp sau đây:

    • Thứ nhất: Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát tiền tệ hợp lý, phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

     

    • Thứ hai: Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường tiền tệ để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tháo gỡ khó khăn chi phí vay vốn của doanh nghiệp và nền kinh tế.

     

    • Thứ ba: Xây dựng phương án và thực hiện linh hoạt các biện pháp kiểm soát tín dụng, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tình hình hoạt động của các TCTD .
    • Thứ tư: Phối hợp với bộ, ngành, địa phương quyết liệt triển khai nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân vay vốn ngân hàng một cách hiệu quả.

     

    • Thứ năm: Tập trung các biện pháp xử lý và giảm thiểu nợ xấu.

     

    • Thứ sáu: Điều hành linh hoạt tỷ giá, thu hẹp phạm vi hoạt động ngoại hối kết hợp với xử phạt nghiêm các vi phạm trong hoạt động ngoại hối, góp phần ổn định thị trường ngoại hối, hạn chế tình trạng đô la hóa, ổn định tỷ giá.

     

    • Thứ bảy: Tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD nhằm đảm bảo an toàn hệ thống.
    • Thứ tám: Công tác báo cáo thống kê được củng cố đáp ứng nguồn thông tin, số liệu cho công tác phân tích, dự báo phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành.
    • Thứ chín: Hoạt động thông tin, truyền thông được đổi mới, chủ động cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tin, báo chí về tiền tệ, hoạt động ngân hàng để định hướng dư luận và tạo lòng tin cho doanh nghiệp và công chúng đối với các giải pháp điều hành của NHNN.

    Bên cạnh đó trong thời gian qua, NHNN đã đưa ra 6 giải pháp quan trọng sau đây:

     

    • Tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường:

     

    NHNN đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo toàn hệ thống tổ chức thực hiện chính sách

    tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2013 theo sát các chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 về những giải pháp chủ yếu

    Nhóm IV 16

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

    Cụ thể, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện các giải pháp tín dụng, lãi suất đã triển khai trong năm 2012 để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, chuyển dịch cơ cấu tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

    Phối hợp với Bộ Xây dựng dự thảo Thông tư quy định chi tiết cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ.

    Triển khai đề án cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015, khẩn trương hoàn thiện đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và đề án thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam; quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và mở rộng mạng lưới của các TCTD theo hướng thận trọng hơn đảm bảo sự phát triển an toàn,lành mạnh của hệ thống TCTD.

    – Định hướng tổng phương tiện thanh toán khoảng 14-16%, tín dụng tăng 12%:

    NHNN đưa ra định hướng điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; sử dụng chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý, đáp ứng yêu cầu thanh toán của nền kinh tế; điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến tiền tệ và các cân đối vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát.

    Theo đó, NHNN đưa ra định hướng tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng14-16%, tín dụng tăng khoảng 12%, tùy theo diễn biến và tình hình thực tế điều chỉnh phù hợp. Để kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo định hướng 12% trong năm 2013, NHNN tiếp tục thông báo tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD để đảm bảo việc mở rộng tín dụng đi đôi với việc đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng cũng như hoạt động của TCTD.

    – Điều hòa lưu thông tiền mặt:

    NHNN tập trung đảm bảo công tác điều hòa lưu thông tiền mặt, đáp ứng khả năng thanh toán, chi trả trong dịp Tết Quý Tỵ vừa qua, triển khai tốt công tác an toàn kho

    Nhóm IV 17

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    quỹ. Trên cơ sở cơ cấu mệnh giá trong lưu thông, NHNN đưa tiền ra lưu thông với cơ cấu hợp lý, đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân; việc điều chuyển tiền mặt phục vụ Tết Quý Tỵ đã được hoàn thành ngay trong tháng 01/2013.

    – Mua lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối:

    NHNN điều hành linh hoạt các kênh cung ứng tiền để kiểm soát tiền tệ hợp lý. Trong điều kiện cung cầu ngoại tệ cải thiện, xu hướng nắm giữ ngoại tệ giảm, NHNN đã mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, đồng thời ổn định tỷ giá (qua đó không làm VND mạnh lên, gây khó khăn cho xuất khẩu); song song với mua ngoại tệ giữ ổn định tỷ giá, NHNN tiếp tục thực hiện trung hòa lượng tiền đưa ra mua ngoại tệ thông qua nghiệp vụ phát hành tín phiếu NHNN, giảm áp lực cung tiền tới lạm phát. Bên cạnh đó, NHNN cũng thực hiện thu nợ đối với các khoản cho vay tái cấp vốn đến hạn.

    – Điều hành linh hoạt qua thị trường mở:

    NHNN điều hành chủ yếu thông qua nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD một cách nhanh nhạy và kịp thời, nhất là vào dịp giáp Tết Quý Tỵ khi nhu cầu rút tiền của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội thường tăng cao. Trong 2 tháng đầu năm, NHNN chào mua giấy tờ có giá với khối lượng hợp lý, phù hợp với tình hình vốn khả dụng của các TCTD; kỳ hạn 7 ngày và mở rộng lên cả kỳ hạn 14 ngày vào giáp Tết để tránh đáo hạn ngay sau Tết. Nhờ vậy, thị trường diễn biến ổn định, thanh khoản hệ thống đảm bảo, không còn là tác nhân gây ra xáo trộn về lãi suất thị trường.

    • Theo dõi sát tình hình lãi suất của TCTD:

     

    Về điều hành lãi suất, sau khi điều chỉnh giảm 1%/năm vào cuối năm 2012, trong

    năm 2013 NHNN giữ nguyên lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng ở mức 10%/năm, giảm lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm và lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm.

    Ngoài ra, NHNN theo dõi sát và tăng cường giám sát tình hình chấp hành quy địnhlãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại các TCTD.

    Nhóm IV 18

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Kinh tế Vĩ Mô – Nhà xuất bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân – 2010
    1. http://thuvienphapluat.vn/archive/Chi-thi-01-CT-NHNN-nam-2013-thuc-hien-chinh-sach-tien-te-dam-bao-hoat-dong-vb168744.aspx
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/Chinh-sach-tien-te-va-nhung-tac-dong-den-doanh-nghiep-trong-thoi-gian-qua/23904.tctc
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Kinh-te-Dau-tu/Phoi-hop-chinh-sach-tai-khoa-voi-tien-te-trong-giai-quyet-cac-van-de-kinh-te-vi-mo/24000.tct
    1. http://www.baomoi.com/Viet-Nam-lua-chon-chinh-sach-tien-te-nao/126/2914320.epi
    1. http://radiovietnam.vn/theo-dong-su-kien/2013/03/chinh-sach-tien-te-nam-2013-giam-lai-suat-tang-du-no-tin-dung/
    1. http://www.tapchitaichinh.vn/Vang-Tien-te/6-giai-phap-quan-trong-ve-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-thoi-gian-qua/22825.tctc
    Nhóm IV 19

    Chính Sách Tiền Tệ ở Việt Nam                                                                                        GVHD: TS. Bích Dung

    DANH SÁCH NHÓM

    1. Nguyễn Thị Dung

     

    1. Bạch Thị Xuân Mai

     

    1. Trần Phan Tú My

     

    1. Nguyễn Huỳnh Nam

     

    1. Ngô Minh Nghĩa

     

    1. Lê Thị Hồng Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Bích Ngọc

     

    1. Nguyễn Thị Thanh Nguyệt
    Nhóm IV 20

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-d%E1%BB%B1-%C3%A1n-kinh-doanh-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-x%E1%BA%A3-Stress.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả Stress

    Đề tài : phân tích dự án kinh doanh dịch vụ xả stress

     

    Chúng tôi sẽ phân tích trên các góc độ chủ yếu như sau :

    1. Giới thiệu dự án
    2. Kế hoạch sản phẩm
    3. Chiến lược Marketing
    4. Công nghệ và kỹ thuật của dự án
    5. Tài chính của dự án
    6. Hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án
    7. Tổ chức quản lý dự án
    8. Phương án quản trị rủi ro

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1, Giới thiệu dự án :

      1.1. Giới thiệu tóm lược công ty :

    Vị trí : Công ty do mới thành lập nên vị trí trong ngành về lý thuyết là chưa cao, tuy nhiên đây là loại hình dịch vụ còn khá mới mẻ ở nước ta, hơn nữa đối thủ cạnh tranh dường như không có cho nên có thể nói là công ty có vị trí rất thuận lợi dù xuất phát điểm rất thấp.

    Mục tiêu : của công ty trong ngắn hạn là sẽ chiếm lĩnh toàn bộ thị trường Hà Nội tiếp đến sẽ là TP Hồ Chí Minh và toàn các thành phố lớn trong cả nước. Lợi nhuận trong năm đầu tiên là 500 triệu VND và sẽ tăng trưởng với tốc độ 25% / năm trong các năm tiếp theo.

    Đường lối phát triển hoạt động kinh doanh của công ty là luôn sáng tạo và cung cấp những giá trị vượt trên những gì mà khách hàng mong muốn nhận được từ chúng ta.

       1.2. Đánh giá tổng quát môi trường kinh doanh của công ty :

    Điểm mạnh của công ty: là tiên phong trong khai phá thị trường trong nước do đó ưu thế về sự độc tôn về dịch vụ là rất lớn.

    Điểm yếu của công ty: kinh nghiệm còn ít, khả năng nắm bắt nhu cầu khách hàng có thể chưa được nhạy bén.

    Thuận lợi: Công ty với đội ngũ tràn đầy khí thế của “ người đi khai phá vùng đất mới ” khao khát thành công, không sợ khó khăn. Việt Nam là một nước đang phát triển với một tốc độ rất nhanh lượng người bị căng thẳng mệt mỏi vì thế không ngừng tăng lên do áp lực công việc ngày càng lớn, vì vậy đây là thị trường rất tiềm năng là một mỏ vàng đang chờ khai thác.

    Khó khăn: Quỹ đất của công ty không có do đó phải đi thuê mặt bằng, để thuê được một nơi có vị trí đẹp rất tốn kém trong khi nguồn vốn của công ty là hạn chế do mới thành lập nên chưa thể đi vay vì uy tín không có trên thị trường.

    Từ những lý do trên chúng tôi thấy dự án này rất cần thiết đối với công ty trong việc thực hiện đường lối, vì nó sẽ là sản phẩm đầu tiên để toàn thể mọi người trong công ty thỏa sức sáng tạo ra những giá trị hữu ích làm hài lòng khách hàng, qua đó mang lại lợi nhuận cho công ty, từng bước tạo vị thế vững chắc trong lòng khách hàng. Mặt khác nó cũng góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn vì khi con người được giải tỏa căng thẳng ức chế thì sẽ không có xung đột, gây hấn giữa mọi người, mặt khác nó tạo ra nguồn thu cho ngân sách của địa phương bằng tiền thuế các khoản phí lệ phí nộp hàng năm.

    1.3. Giới thiệu ngành nghề kinh doanh của dự án:

    – Ngành nghề kinh doanh của dự án là cung cấp dịch vụ giúp con người giải tỏa stress trong công việc và cuộc sống.

    + Tầm quan trọng: đây là một loại hình dịch vụ rất quan trọng bởi vì nó giúp con người lấy lại cảm giác thoải mái, dễ chịu, vì vậy nâng cao khả năng làm việc tăng chất lượng sống, giảm thiểu bạo lực trong gia đình và xã hội.

    + Đặc tính: đây là loại hình rất đặc biệt vì nó giúp con người trút mọi bực tức, căm giận ra ngoài do đó phương pháp và cách làm sẽ khác các loại dịch vụ thông thường khác.

    + Mức độ cạnh tranh: Hiện tại mức độ cạnh tranh gần như là bằng không tại Việt Nam

    – Khả năng sinh lời và sự phát triển của loại hình dịch vụ này ở Việt Nam là rất tiềm năng vì cho tới thời điểm hiện tại hầu như chưa có một cá nhân hay tổ chức nào tiến hành đầu tư vào loại hình này. Trong tương lai đây có thể là vùng đất màu mỡ cho mọi người khai thác với khả năng sinh lời tương đối cao.

    – Chính quyền địa phương rất ủng hộ với loại hình dịch vụ này vì nó có khả năng làm số lượng người gây rối trật tự xã hội giảm xuống, điều này sẽ làm giảm tải cho bộ máy quản lý trật tự trị an từ đó họ có thể chuyển sang hoạt động mặt khác như phòng chống ma túy, buôn người….

    2, Kế hoạch sản phẩm:

     2.1. Nghiên cứu phân tích thị trường

        2.1.1. Xác định rõ loại thị trường và đoạn thị trường sản phẩm, dịch vụ mà dự án sẽ tham gia.

    Công ty chúng tôi lựa chọn khách hàng của mình theo tuổi tác và thu nhập, tâm lý, địa vị xã hội. Tất nhiên là lứa tuổi của khách hàng có thể được chia nhỏ hơn: những khách hàng ở độ tuổi 25 có thể khác xa những người ở độ tuổi 39 về các nhu cầu tài chính. Tiềm năng sinh lời của khách hàng cũng phụ thuộc vào tài sản của họ. Một số người có thu nhập cao nhưng lại có ít tài sản, và một số khác thu nhập còn ở mức trung bình, chưa có sự tích lũy về mặt tài sản cho bản thân (ví dụ như những người mới đi làm). Tuy vậy việc lựa chọn đối tượng khách hàng căn cứ theo tuổi tác, thu nhập tâm lý, địa vị xã hội sẽ góp phần tạo ra những dịch vụ khách nhau cho những đối tượng khách hàng khác nhau.

     

    Bảng số liệu phân tích đặc điểm những khách hàng mục tiêu của dự án

      Từ 25-39 tuổi
    –         Thu nhập trung bình hàng tháng  
     + Dưới 3 triệu Trẻ, thu nhập thấp
     + 3triệu-10 triệu Trẻ, thu nhập trung bình
     + Trên 10 triệu Trẻ, thu nhập cao
    –         Đặc điểm khách hàng Có thu nhập cao, nghề nghiệp chuyên môn cao, ở thành phố.
    –    Tâm lý Là những người thích ăn ngon, thích thời trang, yêu nghệ thuật và hoạt động văn hóa, thích đi du lịch nước ngoài, thích các trò chơi giải trí.
    –         Địa vị xã hội Trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế.

    Nhân tố địa vị xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sở thích của khách hàng về quần áo, đồ đạc trong nhà, nhu cầu sử dụng các dịch vụ giải trí…do vậy, công ty thiết kế dịch vụ xả stress cho những khách hàng có địa vị xã hội nhất định.

    Ngoài ra, lựa chọn đoạn thị trường dựa trên thu nhập của khách hàng cũng rất quan trọng. Tuy nhiên thu nhập không dự báo trước khách hàng tốt nhất đối với sản phẩm dịch vụ nhất định của công ty.

    2.1.2.  Xác định nhu cầu và nhu cầu có khả năng thanh toán đối với sản phẩm, dịch vụ của dự án (gồm cả nhu cầu hiện tại và tương lai) theo từng loại và từng đoạn thị trường.

    Sức ép công việc ngày càng lớn, đòi hỏi trong công việc ngày càng cao, hơn nữa tìm được một công việc ngày càng khó… những vấn đề này dường như ai cũng gặp phải trong suốt quá trình làm việc của mình.

    Hơn thế, nhóm khách hàng mục tiêu của công ty là những trí thức , những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế luôn phải phấn đấu để hoàn thiện mình, để giữ vững được vị trí và để thăng tiến. Những người này có nguy cơ mắc bệnh stress cao nên nhu cầu xả stress là rất lớn.

    * Đặc điểm của nhóm khách hàng này
    – Thời gian làm việc dài: Đây là đặc điểm điển hình nhất, 1 ngày làm việc 8 tiếng hầu như là không đủ đối với họ, vì làm thêm, đi sớm về muộn.
    – Áp lực công việc lớn .                                              
    – Thời gian nghỉ ngơi ít:
    Do làm việc quá giờ một cách thường xuyên, không ít  người lợi dụng thời gian nghỉ cuối tuần để ngủ bù. Nhưng như thế cũng làm họ mất đi cơ hội tham gia các hoạt động vui chơi, cuộc sống ngày càng thu hẹp lại và bệnh nghề nghiệp ngày càng nhiều. Công việc quá khắc khổ làm cho họ bị rất nhiều bệnh nghề nghiệp như mỡ máu cao, mỡ gan, các bệnh về dạ dày tiêu hoá. Lại thêm các bệnh do máy tính, điều hoà, bệnh về mắt cũng “không mời mà đến”.
    – Có khoảng cách với người thân trong gia đình: Đối với những người chưa kết hôn thì phải cách một quãng thời gian dài mới được nghỉ phép về thăm bố mẹ, còn đối với những người đã có gia đình thì sáng sớm đi ra khỏi nhà khi con còn chưa thức dậy, tối khi về đến nhà thì con đã ngủ từ lâu rồi.
     – Cơ hội giao lưu ít: Ngoài ra, đối tượng khách hàng của công ty là những khách hàng có thu nhập trung bình và thu nhập cao. Do đó, tùy thu nhập và đặc điểm của khách hàng công ty sẽ cung cấp những sản phẩm dịch vụ nhất định, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng.

    2.1.3. Phân tích và đánh giá sự biến động cũng như xu hướng phát triển của thị trường sản phẩm, dịch vụ của dự án .

    Với xu thế và mức độ phát triển như hiện nay thì nhu cầu xả stress của xã hội là rất lớn và rất cấp bách và cũng là vấn đề mà xã hội đang quan tâm hàng đầu hiện nay. Hiện nay, nhiều công ty cung ứng dịch vụ xả stress ngày càng có xu hướng tăng nhanh đáp ứng nhu cầu của xã hội như karaoke, hồ bơi, tennis…Do vậy, cung ứng những sản phẩm dịch vụ xả stress hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng có nhu cầu xả stress là mục tiêu mà công ty chúng tôi hướng tới.

        2.1.4  Đánh giá khả năng chiếm lĩnh thị trường, hoạt động tiếp thị của dự án ( giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo…)

    Theo như chúng tôi được biết thì mô hình xả stress đã hình thành ở Nhật Bản cũng rất thành công. còn ở Việt Nam thì quá mới mẻ và chưa có một mô hình nào có thể đáp ứng được nhu cầu ấy . Cuộc sống hiện đại với biết bao áp lực công việc và những lo toan đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho căn bệnh stress được dịp sinh sôi, nảy nở. Không dừng lại ở những liệu pháp quen thuộc như massage, spa, yoga, giờ đây, dịch vụ xả stres của công ty chúng tôi còn cho ra đời nhiều dịch vụ xả stress độc đáo.

      Hoạt động tiếp thị dự án:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet).

    – Trên các tờ rơi và băng rôn áp pích .

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn

    2.1.5 Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của các đối thủ trên tất cả các phương diện quy mô, thị phần, điểm mạnh, điểm yếu, lợi thế cạnh tranh và xu hướng phát triển…

    Phân tích những đối thủ cạnh tranh gần nhất của công ty. Đó là những đối thủ tìm cách thỏa mãn cùng những khách hàng và những nhu cầu giống nhau và cung cấp những dịch vụ tương tự.

    Thu thập thông tin về những chiến lược, mục tiêu, mặt mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh. Khi biết được các chiến lược của từng đối thủ cạnh tranh, công ty có thể phát hiện ra những đối thủ cạnh tranh gần nhất và có bước đi phù hợp. Biết được mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh, công ty có thể hoàn thiện dịch vụ của mình để giành ưu thế trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh đồng thời tránh được những dịch vụ sản phẩm là thế mạnh của đối thủ cạnh tranh.

    Qua tìm hiểu thị trường thì đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty là:

    + Những trung tâm chiếu phim

    + Những quán karaoke

    – Quy mô: khá lớn, đông người qua lại, ở đường lớn

    – Điểm mạnh:

    Rạp chiếu phim: cung cấp dịch vụ chiếu phim, kèm theo dịch vụ giải trí nhằm giúp khách hàng cảm thấy thoải mái, thư giãn khi sử dụng dịch vụ, nhân viên phục vụ nhiệt tình. Chất lượng rạp tốt, có chỗ gửi xe rộng, chất lượng hình ảnh tốt (ví dụ như rạp chiếu phim quốc gia, …

    – Điểm yếu: những dịch vụ giải trí rạp cung cấp chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng trong thời gian ngắn trong khi nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng ngày càng tăng cao

    … những lọai hình dịch vụ này cũng không là trở ngại lớn đối với chúng tôi . vì một khi công ty chúng tôi ra đời là chúng tôi đã đáp ứng đấy đủ mọi điều kiện chăm sóc khách hàng một cách tốt nhất .

    3, Chiến lược Marketing

    Theo một nghiên cứu gần đây, tại Việt Nam, tỉ lệ người rơi vào tình trạng căng thẳng, mệt mỏi là 52%. Ở Hà Nội và TP.HCM, con số này kên đến 55%. Điều này cho thấy stress gần như là căn bệnh gắn liền với xã hội công nghiệp.

    3.1. Đoạn thị trường cung ứng dịch vụ:

    Thị trường mục tiêu của dự án kinh doanh dịch vụ xả stress là những đối tượng trí thức, những thương nhân, những người họat động trong lĩnh vực kinh tế , hàng ngày luôn phải đối mặt với áp lực cao trong công việc nên nhu cầu để xả stress là rất lớn , để họ trực tiếp có thể tự mình xả stress rũ bỏ hết phiền muộn sau một ngày làm việc .

    Tuổi tác: 22 tuổi đến độ tuổi trung niên.

    Xác định các thông số về các giai đoạn chu kỳ đời sống gia đình

    Giai đoạn vòng đời Nhu cầu xả stress
    1.  Tuổi trẻ  
    1.1  Sống độc thân tách khỏi bố mẹ   Tăng nhẹ
    1.2  Kết hôn, chưa có con   Tăng
    1.3 Vợ chồng trẻ có con cái (1-2con, dưới 10 tuổi) Giai đoạn này gia đình thường rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong việc thỏa mãn các nhu cầuànhu cầu xả stress tăng mạnh.
    2.  Tuổi trung niên  
    2.1  Sống độc thân Tăng
    2.2  Kết hôn chưa có con Tăng
    2.3  Kết hôn có con nhỏ (dưới 10 tuổi) Tăng
    2.4  Gia đình con cái ở tuổi thành niên Giảm dần

    – Nghề nghiệp: nhân viên văn phòng, thương nhân…

    – Tình trạng kinh tế: thu nhập trung bình, thu nhập cao.

    – Nhân cách khách hàng: tính tự tin, tính thận trọng, tính tự lập, tính khiêm nhường, tính thích hơn người (hiếu thắng), tính ngăn nắp, dễ dãi, tính năng động, tính cởi mở, tính bảo thủ.

    à Hiểu được nhân cách người tiêu dùng sẽ tạo được sự thiện cảm ở họ khi chào bán sản phẩm, dịch vụ, thuyết phục mua và truyền thông.

    3.2. Những thuộc tính cơ bản của dịch vụ:

    – Tính độc đáo: Bạn đang bị stress nặng nhưng lại không biết làm cách nào để giải toả? Bạn đang đau khổ và muốn tìm một nơi yên tĩnh để “ tự kỉ” một chút ? Bạn đang bực dọc và muốn trút giận vào đâu đó nhưng lại chẳng biết chỗ nào? Vậy giải pháp cho tất cả những điều trên là gì? Là gì? Và là gì ?

    + Xả stress với phòng xả stress.

    Ví dụ như phòng cách âm, phòng đập chén đĩa. Tại sao lại gọi là phòng xả stress ( hay gọi là phòng tự sướng hoặc phòng tự kỉ đều được )? Nó có điểm gì khác so với các căn phòng bình thường khác?

    Phòng xả stress gọi như vậy vì chức năng chính của phòng là để xả stress. Bạn có thể vào phòng để lá ó, hò hét, đấm đá, khóc lóc hay tự kỉ và tự sướng nhiều kiểu tuỳ thích mà không sợ bị ca thán hay làm phiền( nói chung đây là một chốn riêng tư hết mức). Vậy nên, nó có thể giúp bạn giải toả bớt những bực dọc và phiền muộn. Mặt khác, nó cũng giúp bạn tránh một số rắc rối do va chạm xã hội trọng khi đang có tâm trạng.Đó có lẽ là những khác biệt ( và có thể coi như là ưu điểm) của căn phòng này so với các căn phòng bình thường khác.

    – Cấu trúc : Để đảm bảo việc xả stress của bạn không bị gián đoạn bởi những tiếng la ó khác bên ngoài, bạn cần cách âm cho phòng.

    Công ty chúng tôi cũng có thể sắm bất cứ thứ gì cho căn phòng nếu bạn muốn: giàn loa để nghe nhạc tự kỉ, gấu bông,hình nộm, gối, giấy, bóng bay, đồ thuỷ tinh, sành sứ, gậy  …. Chúng tôi mở cửa và phục vụ khách hàng ngày cũng như đêm và suốt bảy ngày trong tuần. Với số tiền từ 100.000 đến 200.000VND, bạn sẽ nhận bát đĩa, những vật bằng sành sứ, thuỷ tinh dễ vỡ …và thoả thích đập trong mười phút. Đồng thời, khách hàng được mặc những trang phục bảo hiểm để tránh bị thương. Những bức tường được gắn đèn neon sáng choang, kích thích khách hàng trút hết bực dọc vào đó.

    – Tính bảo mật: Những căn phòng như thế này gần như là không gian riêng của bạn khi bạn ở trong đó. Nên có thể nói tính riêng tư và độ bảo mật là khá cao.

    + Xả stress với phòng có những hình nộm và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó.

    Mỗi người mỗi ngày hay mỗi tuần đều có những phút bực bội hay vui sướng tột độ, hoặc đơn giản chỉ là “ngứa chân, ngứa tay”. Trong những lúc như thế họ thường “chia sẻ” tâm sự bằng một vận động tay chân mạnh, như đập bàn, đấm gối bông, hay phát vào ai đó thân thiết một cái thật mạnh. Từ thực tế trên, công ty chúng tôi đã có ý tưởng làm những con bù nhìn hình dáng ngộ nghĩnh (ví dụ, Bin Laden, hay một cô gái sexy, hoặc một con quỷ) bằng chất liệu mềm, như cao su mềm, bị bông cho võ sĩ boxing chẳng hạn, trong đó có cơ chế thu và chuyển cơ năng thành điện năng.

    Khi bạn cần xả stress, chia sẻ nỗi bực dọc, và bạn muốn đấm bốc để xả cơn giận của mình lên những thân hình nộm đó thì những hình nộm đó sẽ nhận được một năng lượng đáng kể. Để cho hấp dẫn, công ty chúng tôi có đặt thêm một đồng hồ đo lực đấm để mọi người biết cú đấm của mình “trị giá” bao nhiêu về năng lượng.

    Với cách thu năng lượng đó, không những có thể giúp mọi người giải trí, mà cách thiết kế cơ chế thu năng lượng cũng đơn giản, đầu tư ít.. đồng thời tạo sự thoải mái tốt nhất cho bạn sau những lấn làm việc căng thẳng, giúp bạn lấy lại sự tự tin của bản thân , đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn, không những vậy mà còn góp một phần nhỏ cho xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress này.

    + Xả stress với phòng massage

    Phòng massage thư giãn là một không gian hoàn hảo, màu sắc đủ êm dịu cho sự thanh thản, một chút âm thanh nhẹ nhàng, sâu lắng và trong sáng. Tại đó công ty chúng tôi có các nhân viên massage chuyên nghiệp được đào tạo bài bản, có hiểu biết và đôi tay điêu luyện của nhà vật lý trị liệu, phong cách giao tiếp cởi mở, nhẹ nhàng phù hợp với những khách hàng có lứa tuổi, nghề nghiệp và mức thu nhập khác nhau… nhằm đem đến hiệu quả thư giãn tuyệt đối.

    Với mức thu nhập trung bình, khách hàng vẫn có đủ khả năng được hưởng thụ cảm giác thư giãn trong bất kỳ một salon chuyên nghiệp nào.

    Tác dụng tuyệt vời của massage: liệu pháp massage cung cấp nhiều lợi ích sức khỏe quan trọng bao gồm:

    • Cải thiện lượng máu lưu thông
    • Thư giãn cơ thể
    • Tăng mức độ endorphin (chất hóa học trong cơ thể làm cho bạn cảm thấy khỏe hơn)

    3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) về địa điểm kinh doanh của dịch vụ:

    Chọn địa điểm kinh doanh ở HN, đặc biệt là ở những trung tâm thương mại lớn .vì ở đây là nơi tập trung một đội ngũ công nhân viên , những người trí thức , những thương nhân làm ăn … đang trực tiếp phải đối mặt với những áp lực cao trong công việc ..Dự kiến mặt bằng lựa chọn có diện tích khoảng 130m2.

    Chúng tôi dự định sẽ thuê tầng hầm của những trung tâm thương mại lớn. Tầng hầm này được chia thành nhiều phòng tương ứng với mỗi dịch vụ công ty cung cấp. Mỗi phòng sẽ được trang trí bằng các hình vẽ, hoạ tiết hay hình thù kỳ lạ, bắt mắt. Đó có thể là hình một khuôn mặt đang giận dữ, nhăn nhó hay cười khoe răng. Thậm chí,có phòng công ty đã sử dụng các hoạ tiết của nghệ thuật graffiti để trang trí. Tại căn phòng này, chúng tôi lắp đặt các dụng cụ xả stress như hình nộm, bát đĩa..

    3.4  Xác định kênh phân phối dịch vụ đối với khách hàng với mục đích đảm bảo cho khách hàng được hưởng quyền lợi chính đáng

    + Kênh phân phối sản phẩm: Sử dụng kênh phân phối trực tiếp, công ty kinh doanh dịch vụ xả stress bán trực tiếp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ công ty sử dụng lực lượng tiếp thị, quảng cáo dịch vụ đến từng hộ gia đình thông qua phát tờ rơi, băng rôn áp pích hay thiết kế catalog bắt mắt, ấn tượng có in hình ảnh, những thuộc tính cơ bản của các sản phẩm, dịch vụ… công ty cung cấp. Điều này cho phép người tiêu dùng lựa chọn dịch vụ họ mong muốn trước khi họ có nhu cầu tìm đến với các dịch vụ của công ty.

    Ngoài ra, công ty có thể sử dụng một số phương thức quảng cáo khác như:

    – Quảng cáo trên truyền hình và thông tin đại chúng (như báo, đài, internet): Ví dụ, khi công ty mới khai trương, một trong số những cách tiếp cận khách hàng nhanh và hiệu quả nhất đó là công ty mời người nổi tiếng đến tham quan và mời họ sử dụng thử các dịch vụ do công ty cung cấp. Tiếp đó, thông qua các phương tiện  quảng cáo trên truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng, công ty có thể thu hút được lượng khách hàng mới đáng kể.

    – Liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn:

    3.5  Dự kiến chính sách giá cả, các khung giá và mức giá cụ thể:

    – Theo nghiên cứu mới nhất của chúng tôi là, khách hàng có thể phải bỏ ra tới 500.000VND trở lên để có thể xả stress với những hình thức thông thường mà khách hàng hay lui tới.

    – Còn với chúng tôi thì chỉ phải bỏ từ 100.000 đến 200.000VND là có thể được xả stress một cách khoa học, đem lại cảm giác thư thái và lấy lại sự tự tin trong cuộc sống , mà dần dần căn bệnh stress này có thể bị đẩy lùi và biến mất .

    + Dự kiến khung giá, mức giá cụ thể cho các sản phẩm dịch vụ

    Danh mục Mức giá
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    100.000-200.000 VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi  
    5. Tâm lý trị liệu …  
    6. Phòng massage . 400.000-500.000VNĐ

    3.6 Xác định ngân sách cho hoạt động Marketing cho toàn bộ dự án và cho từng mặt hàng, dịch vụ chủ yếu.

    Ngân sách cho hoạt động marketing cho toàn bộ dự án là 80.000.000 VNĐ sẽ được phân ra hai phần ba dành cho truyền hình, báo chí và một phần ba dành cho việc quảng cáo bằng các tờ rơi và băng rôn áp phích, liên kết với các trung tâm tư vấn và trung tâm thành đoàn.

     

     

     

    Bảng ngân sách cho hoạt động marketing cho từng dịch vụ:

    Danh mục Ngân sách marketing
    1. Phòng cách âm để có thể khách hàng la hét

     

    2. Phòng có những hình nộm cho những ai muốn đấm bốc để xả cơn giận

    3. Phòng đập chén đĩa, đồ thủy tinh dễ vỡ

    10.000.000VNĐ
    4. Phòng nghỉ trưa, phòng ngủ oxi 25.000.000VNĐ
    5. Tâm lý trị liệu … 10.000.000VNĐ
    6. Phòng massage . 15.000.000VNĐ
    7. Phòng đội ngũ chuyên gia tư vấn tâm lý chuyên nghiệp

     

    8. Câu lạc bộ trò chuyện

    20.000.000VNĐ

    Nội dung quảng cáo sẽ nhấn mạnh đến việc đem lại sự thoải mái, lấy lại trạng thái cân bằng về tâm lý, giúp cho khách hàng yên tâm hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống. Quan điểm thực hiện quảng cáo sẽ xoay quanh chủ đề mở một công ty về dịch vụ xả stress , vừa có thể giúp bản thân mình ,vừa giúp mọi người có thể tự xả stress cho bản thân.

    4, Công nghệ và kỹ thuật của dự án:

          Đây là loại hình dịch vụ xả stress nên công nghệ kỹ thuật áp dụng không phải là những dây chuyền trang thiết bị giống như dự án sản xuất, mà chúng tôi chỉ sử dụng những máy móc cần thiết theo loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Cụ thể như sau:

    – Phòng cách âm: Công nghệ kính cách âm, tường cách âm theo tiêu chuẩn Nhật Bản.

    – Phòng massage: Phương pháp massage cổ truyền ( châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, tắm thảo dược…) kết hợp hiện đại máy massage, thiết bị tạo xung động cơ giúp hết đau mỏi, xông hơi nước, xông hơi khô, tắm tia, bể xục nóng, bể xục lạnh và các bồn ngâm thuốc. Ngoài ra còn có máy điều hòa, giường, ghế massage…

    – Phòng ngủ oxi: Thiết bị lọc bụi bẩn vi khuẩn giúp không khí trong lành, máy tạo oxi làm giàu lượng oxi, thiết bị cách âm.

    – Phòng xả giận, đập phá: công nghệ cách âm, bao bố hình nộm kỳ dị cho mọi người thỏa sức đấm đá, gào thét; bát, đĩa …đồ sành sứ để khách hàng có thể thỏa sức đập phá ( tương ứng với số tiền bỏ ra ).

    Trong tất cả các phòng còn sử dụng công nghệ âm thanh stereo, ánh sáng tương ứng mỗi phòng là một loại nhạc phù hợp với tâm trạng cũng như ý đồ phục vụ của chúng tôi.

    5, Phương án tài chính.

     

    STT Loại tài sản Đơn vị Diện tích Đơn giá Thành tiền
     

    Nhà cửa vật kiến trúc                    SL

    1 Nhà kho 1 m2 9 600 5.400
    2 Phòng điều khiển trung tâm 1 m2 20 1.000 20.000
    3 Phòng tiếp khách 1 m2 15 800 12.000
    4 Phòng tư vấn 1 m2 15 1.000 15.000
    5 Nhà vệ sinh 2 m2 20 500 10.000
    6 Phòng ngủ oxi 1 m2 15 800 12.000
    7 Phòng massage 1 m2 20 1.000 20.000
    8 Phòng đập phá, la hét 2 m2 30 1.000 30.000
    9 Phòng karaoke, chiếu phim 1 m2 30 1.000 30.000
    10 Phòng bảo vệ – 1 phòng 1 m2 8 500 4.000
     

    Tổng cộng

    158.400

    Bảng dự trù về thiết kế và lắp đặt cho dự án                                                                  Đơn vị 1000 đồng

     

     Dự trù về thiết bị cho dự án

    Đơn vị: 1000đ

    STT Thiết bị SL Đơn giá Thành tiền
    1 Máy tính để bàn 5 5.000 25.000
    2 Máy điều hòa 9 4.000 36.000
    3 Máy chiếu 1 15.000 15.000
    4 Dàn karaoke 1 15.000 15.000
    5 Máy lọc không khí 2 5.000 10.000
    6 Điện thoại: 4 để bàn, 2 di động T.bé   10.000
      Tổng cộng     110.000

    Bảng dự trù nguồn vốn cho dự án

    Đơn vị: 1000 đồng

    STT Nội dung Thành tiền  
    1 Vốn thuê đất (1 năm) 480.000  
    2 Vốn thiết kế và lắp đặt 158.400  
    3 Vốn thiết bị 110.000
    4 Vốn nguyên vật liệu (1 năm) 102.606  
    5 Chi phí khác 30.000  
    6 Tổng cộng 881.006  
    7 Dự phòng 15% 132.150  
      Tổng vốn của dự án 1.013.156  
             

     

    5.1 Cơ cấu nguồn vốn:

    • Tổng vốn đầu tư dự án 1.013.156.000
    • Vốn góp: 215.000.000
    • Vay ngân hàng: 800.000.000
    • Lái suất 11%/năm
    • Thời hạn vay: 3 năm
    • Phương thức thanh toán: mỗi năm trả nợ gốc + lãi

    5.2  Dự kiến kế hoạch trả nợ

     

    Năm D­ự nợ đầu năm Trả nợ trong năm D­ư nợ cuối năm
    Trả nợ gốc Tiền lãi

    Tổng cộng

     

    Lãi suất

    11%      
    Năm 1 800.000.000 266.666.667 88.000.000 354.666.667 445.333.333
    Năm 2 445.333.333 266.666.667 48.986.667 315.653.334 129.679.999
    Năm 3 129.679.999 266.666.667 14.264.799 280.931.466  0

     

    5.2.1  Dự kiến doanh thu năm đầu:

    1 tỷ/năm, số vốn đầu tư còn lại sẽ thu hồi trong  2 năm sau.

    5.2.2  Xác định chi phí dự án bao gồm:

     

     

     

     

    + Chi phí nguyên vật liệu đầu vào

    STT Tên nguyên vật liệu Đơn vị Sl cả năm Đơn giá (ko VAT) Thành tiền
    1. Chén, đĩa, bát Kg 10.000 3.000 3.000.000
    2. Hình nộm Con 100 70.000 7.000.000
    3. Phim hài DVD 100 6.000 600.000
    4. Truyện hài Quyển 200 10.000 2.000.000
    5. Điện KWH 45.375 1.058 48.006.750
    6. Thông tin liên lạc Tháng 12 1.000.000 12.000.000
    7. Vật liệu khác       30.000.000
      Tổng cộng       102.606.750

     

    + Chi trả lương người lao động: 90.000.000

    + Chi phí sửa chữa: 30.000.000

    + Chi phí trả lãi vay đầu tư: 151.251.466

    Năm 1: 88.000.000

    Năm 2: 48.986.667

    Năm 3: 14.264.799

    + Chi phí thuê đất đai: 480.000.000/năm

    + Chi phí quản lý: 1% doanh thu = 12.000.000

    + Chi phí quảng cáo: 10% doanh thu = 120.000.000

    TT

    Nội dung

       
    Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5  
    1 Nguyên vật liệu 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750 102.606.750  
    2 Chi phí lao động 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000 90.000.000  
    3 Chi phí sửa chữa (khấu hao) 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000 30.000.000  
    4 Chi phí trả lãi vay 88.000.000 48.986.667 14.264.799 0 0  
    5 Chi phí thuê đất 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000 480.00.000  
    6 Chi phí quản lý 12.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000 14.000.000  
    7

    Chi phí quảng cáo

    120.000.000 140.000.000 160.000.000 100.000.000 90.000.000  
     

    Tổng

    1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000  

    Bảng xác định chí phí hoạt động kinh doanh năm

    TT

    Chỉ mục

     

     

    Năm1

    Năm2  

     

    Năm3

     

     

    Năm4

     

     

    Năm5

    1 Tổng doanh thu 1.000.000.000 1.200.000.000 1.400.000.000 1.600.000.000 1.800.000.000
    2 Tổng chi phí 1.040.606.750 905.593.417 850.871.549 816.606.750 806.000.000
    3 Thu nhập chịu thuế -40.606.750 294.406.683 549.128.451 783.393.250 994.000.000
    4 Thuế thu nhập 0 73.601.646 137.282.113 195.848.313 248.500.000
    5 Lợi nhuận ròng -40.606.750 220.805.012 441.846.338 587.554.973 745.500.000

    Bảng dự trù lỗ lãi

    5.3   Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

      5.3.1  Thời gian hoàn vốn

    Thời gan hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án thu lại những chi phí đã bỏ ra , nói cách khác thời gian hoàn vốn là thời gian cần phải chờ đợi trước khi dự án bắt đầu sinh lợi nhuận .

    Xác định thời gian hoàn vốn :

    * Phương pháp không tính đến giá trị thời gian của tiền:

    – Thời gian hoàn vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần:

    Ta có :

    Trong đó :

    Ti: thời gian thu hồi vốn

    K: tổng số vốn đầu tư

    LR:lãi ròng hàng năm

    LR =  ( -40606750 + 220805012+441846338+587554973+745500000) /  5

    = 391019914.6 (đ)

    Ti    =  1,013,156,000 / 391,019,914.6   = 2.591 (năm)

    • Thời gian thu hồi vốn đầu tư từ lợi nhuận thuần và khấu hao :

    Ti  =

    Với tỷ lệ khấu hao tài sản cố định 10%/ năm , tổng giá trị khấu hao :

    KH = 268,400,0000.1 5 = 134, 200,000 (đ)

    Thời gian thu hồi vốn :

    Ti  = 1,013,156,000/ ( 391,019,914.6 + 134,200,000) =1.929 (năm)

    * Phương pháp có tính đến giá trị thời gian của tiền

    5.3.2  Điểm hòa vốn:

    Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu từ cung cấp dịch vụ từ đầu đời dự án bằng tổng chi phí khả biến từ đầu đời dự án đến điểm đó cộng vói tổng định phí của cả đòi dự án

    Tổng chi phí cố định bao gồm :chi phí quản lý , chi phí thuê mặt bằng , chi phí sử dụng vốn, chi phí quảng cáo . Tổng chi phí cố định của toàn bộ dự án : 3,221,251,466 đ

    Biến phí của 1 đơn vị sản phẩm: 31,801

    • Số lượng hòa vốn = 3,221,251,466 /(200,000-31,801) = 19151
    • Doanh thu hòa vốn = 200,000 19151 = 3,830,200,000 đ
    • Mức hoạt động hòa vốn : là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng hòa vốn so với tổng sản lượng hoặc doanh thu hòa vốn với tổng doanh thu

    Tổng sản lượng của dự án : 35,000

    Mức hoạt động hòa vốn =   100% = 54.47%

    Mức hoạt động hòa vốn của dự án khá cao chứng tỏ công ty phải hoạt động trong một thời gian tương đối lâu để đạt được tới điểm hòa vốn .

    5.3.3  Giá trị hiện tại thuần (NPV)

    NPV là hiện giá thu hồi thuần của dòng lợi ích gia tăng

    NPV  = –

    Trong đó :

    -Bi : lợi ích thuần trong năm i

    – r: lãi suất

    – n : tuổi thọ của dự án

    – Ci: chi phí trong năm i

    +  Hệ số chiết khấu :

    ở đây ta chọn hệ số chiết khấu bằng với lãi suất ngân hàng : 11%

    + Xác định giá trị hiện tại của:

    Các khoản chi :

    +  3,310,879,365 đ

    Các khoản thu :

    +Xác định NPV:

    NPV  =  5,020,697,704  –  3,310,879,365  = 1,709,818,339  đ    > 0

    Với giá trị NPV đã được xác định như trên cho thấy việc đầu tư vào dự án này là xứng đáng bởi nó đem lại cho nhà đầu tư một khoản lợi nhất định hay dự án có khả năng sinh lời .

    5.3.4  Hệ số hoàn vốn nội bộ ( IRR)

    Hệ số hoàn vốn là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản thu ,chi phí của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng doanh thu sẽ cân bằng với tổng chi  hay  NPV=0 . Nghĩa là các nguồn tiền của dự án chỉ đủ để hoàn vốn đầu tư  và trả lãi suất cho việc sử dụng nguồn vốn đó .

    Vì trong quá trình hoạt động dự án ko có sự thay đổi về vốn lưu động nên ta có

    Dòng tiền ròng (NCF )= lợi nhuận sau thuế + khấu hao (M­­­i)

    Tổng chi cho các thiết bị, máy móc là 110.000.000

    Khấu hao tài sản bằng pp thời hạn sử dụng giảm dần

    M­­­i = 110,000,000 x Ti

    STT Số năm sd còn lại Ti M­­­i = 110,000,000 x Ti

     

    (4)

    Lợi nhuận sau thuế

     

    (5)

    NCF

     

    (6) = (4) + (5)

    1. 5 5/15 36.666.667 -40.606.750 -3.940.083
    2. 4 4/15 29.333.333 220.805.012 250.138.345
    3. 3 3/15 22.000.000 441.846.338 463.646.338
    4. 2 2/15 14.666.667 587.554.973 602.221.640
    5. 1 1/15 7.333.333 745.500.500 752.833.833
    Tổng = 15          

    Căn cứ vào bảng trên dùng excel tinh IRR

    IRR = 20%

    5.3.5   Tỷ lệ lợi ích/ Chi phí ( B/C)

    Với lãi suất r = 11%

    B/C =    =  = 1.516

    Trong đó :

    Bi: lợi ích ở năm i

    Ci : chi phí ở năm i

    r: lãi suất trong năm

    Tỷ lệ B/C >1 chứng tỏ dự án này có khả năng bù đắp chi phí và có lãi nên công ty nên lựa chọn đầu tư vào dự án này

    5.3.6  Tỷ lệ lợi ích thuần / vốn đầu tư ( NB/ K)

         Tỷ lệ NB/K là chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn vốn đầu tư ban đầu của dự án bằng dòng lợi ích thuần . Tỷ lệ NB/K được xác định bằng quan hệ tỷ lệ giữa tổng giá trị hiện tại của dòng lợi ích thuần khi dòng này nhận giá trị dương chia cho giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu .

    – Xác định giá trị hiện tại của vốn đầu tư ban đầu:

    1,013,156,000(    =          3,744,520,239  đ

    – Xác định giá trị hiện tại lợi ích thuần :

    NB/K  =   = 0.358

    5.3.7  Mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán

    Mức an toàn vốn thể hiện ở 2 chỉ tiêu :

    – Tỷ lệ vốn riêng :

    215,000,000/ 1,013,156,000  =  0.2122

    – Tỷ lệ vốn tự có và vốn vay :

    215,000,000 /800,000,000  =  0.26875

    Qua hai chỉ tiêu trên ta nhận thấy mức độ an toàn về vốn và khả năng thanh toán của dự án là rất thấp .Tuy nhiên , đây là một dự án khá triển vọng nên các chỉ số trên có thể cho phép thấp hơn so với mức trung bình một chút.

    6, Hiệu quả kinh tế xã hội

    Việc công ty dịch vụ chúng tôi ra đời đã một phần nào đó làm giảm bớt gánh nặng cho xã hội. Giúp cho những người đang hàng ngày phải đối mặt với áp lực công việc cao, cảm thấy thoải mái tự tin hơn, lấy lại được tinh thần và sức khỏe sau những làm việc căng thẳng, không những vậy mà dần dần có thể giảm stress và đẩy lùi được căm bệnh này. Không những vậy mà còn giúp cho những thanh thiếu niên có hướng đi đúng và nhận thức rõ hơn về bản thân mình đối với xã hội, không lao vào những trò xả strees vô bổ gây hại cho bản thân, gia đình và xã hội.

    – Việc ra đời loại hình dịch vụ này đã dần từng bước giúp xã hội đẩy lùi được căn bệnh stress mà giờ nó rất phổ biến đối với những nước có nến kinh tế phát triển và đang phát triển như Việt Nam, cũng có nghĩa là giảm được một chi phí không nhỏ cho nhà nước về các vấn đề xã hội .

    – Với nhu cầu xả stress ngày càng lớn của xã hội, thì việc ra đời của công ty đã góp một phần không nhỏ vào nhu cầu chung đó của xã hội .

    – Nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên và xã hội ngày một hoàn thiện hơn .

    Về mặt kinh tế sau khi ra đời công ty sẽ tạo một khoản thu cho ngân sách địa phương nhờ việc đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại phí lệ phí. Chúng tôi cũng sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội trong phạm vi khả năng cho phép của ngân quỹ tài chính công ty.

     7, Tổ chức quản lý

    7.1  Lựa chọn hình thức tổ chức dự án

    Do dự án này có tầm quan trọng chiến lược đối với sự tồn tại và phát triển của công ty nên chúng tôi quyết định sử dụng hình thức “tổ chức theo dự án”

     

    Sơ đồ tổ chức theo dự án

     

     

    7.2 Quản trị thời gian và tiến độ dự án

     

    Xác định các công việc dự án ,mỗi quan hệ và trình tự thực hiện các công việc:

      Thứ tự Công việc Thời gian (tháng)      Mối liên hệ
         A1 Nghiên cứu thị trường 6 Không có
         A2 Thống kê tài sản 2           Không có
         A3 Tham gia khóa học thêm về lĩnh vực mình kinh doanh. 4 Sau A1
         A4 Tuyển lao động 2 Sau A3
         A5 Đào tạo lao động 8 Sau A4
         A6 Thuê mặt bằng và đăng ký kinh doanh 2 Sau A2
         A7 Xây dựng cơ sở vc-kt 10 Sau A6
         A8  Mua và Lắp đặt trang thiết bị 12 Sau A7
         A9 Chiến dịch marketing 3 Sau A4,A8

       

     A2Theo sơ đồ trên ta thấy có  3 tiến trình cơ bản:

    + Tiến trình 1: Bao gồm  A1—-A3—-A4——-A5

    +Tiến trình 2:                    A2—-A6—–A7—–A8—-A9

    Như vậy tiến trình có tổng thời gian lớn nhất là  tiến trình 1 (29 tháng) là tiến hành Gantt. Các công việc A2, A6, A7, A8, A9 là các công việc của Gantt.Thời gian Gantt của dự án là 29 tháng đây là thời gian để hoàn thành dự án theo sơ đồ PERT

     

    8, Phương án quản trị rủi ro

    8.1 Các loại rủi ro

    Đây là loại hình dịch vụ còn mới mẻ ở  Việt Nam, nên có thể nhiều người còn chưa biết tới và không tin tưởng để bỏ những thói quen xả stress thông thường để đến với công ty.

    Từ trước đến nay, người Việt Nam thường quen với các kiểu xả stress thông thường như: vào các  trung tâm massage hay các rạp chiếu phim, nghe ca nhạc, chơi thể thao, tệ hơn là có thể mắng chửi vợ, con hay những người xung quanh hoặc gây gổ đánh nhau….họ chưa nghe đến dịch vụ  này bao giờ. Bởi vậy, thay đổi thói quen không  phải việc dễ dàng với họ, đòi hỏi cần phải có thời gian. Bên cạnh đó, một số người còn chưa hiểu rõ về stress, đơn giản họ chỉ thấy mệt mỏi rôì đi đâu đó hay làm cái gì mình thích là được nên có thể trung tâm không có mấy khách.

    –  Vì là một công ty mới bước vào thương trường kinh doanh, nên có thể còn có nhiều hạn chế và kinh nghiệm trong trong kinh doanh, nắm bắt nhu cầu, đặc điểm của những khách hàng khó tính.

    Khi bắt đầu kinh doanh một dịch vụ mới, công ty nào cũng phải đương đầu với các rủi ro về tài chính, thị trường hoặc về chất lượng, hình thức dịch vụ… những rủi ro đó có thể khiến khách hàng xa lánh công ty. Viêc thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh là vấn đề không phải nhỏ chính vì vậy, đây là một trong những điểm làm tăng mức độ rủi ro của dự án.

    – Rủi ro về các đối thủ cạnh tranh, (như các trung tâm và các loại hình dịch vụ có liên quan..) . Như những trung tâm massage, những câu lạc bộ chiếu phim, những khu giải trí tổng hợp như Thiên Đường Bảo Sơn …

    Như ở trên chúng tôi đã nói ở trên, để thay đổi thói quen của một người không phải dễ mọi người đã quá quen thuộc với các cách giải trí trước đây, trong khi các trung tâm giải trí này đã có từ lâu. Họ trang bị cho mình kinh nghiệm đúc rút qua từng thời kỳ kinh doanh nên đối thủ cạnh tranh của công ty không phải là tầm thường, chúng ta cũng phải kể đến số lượng đối thủ  không phải là ít.

    8.2  Phương án quản trị rủi ro.

    Vì đây là loại hình dịch vụ khá  mới mẻ, mặt khác người Việt Nam có tính tò mò và hiếu kỳ rất cao, nên đây cũng là điểm mạnh để cho khách hàng có thể tìm hiểu và tới để thử xả stress theo một cách mới hơn.

    Do đó để thu hút khách hàng chúng tôi sẽ sử dụng những chiêu thức Marketing độc đáo như:

    – Tạo ra những quảng cáo gây tò mò, những video độc đáo để thu hút sự chú ý của khách hàng, có thể và cần thiết chúng tôi sẽ mời những ca sĩ diễn viên nổi tiếng để PR cho dịch vụ này.

    – Luôn tạo sự quan tâm tốt nhất cho khách hàng. Khách hàng đến với công ty chúng tôi sẽ được hưởng những dịch vụ sau bán như được gửi thư chúc mừng sinh nhật, các ngày lễ, tết; các phương pháp luyện tập để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống.

    – Luôn tạo ra sự khác biệt trong chiến lược kinh doanh.

    – Vì chúng tôi có những phương pháp khoa học và có những hướng đi đúng giúp khách hàng có thể cân bằng lại tâm hồn và thể xác của mình, giúp họ lấy lại được sự tự tin, vui vẻ trong cuộc sống và công việc.

    – Công ty có một độ ngũ nhân viên có trình độ và luôn quan tâm tới khách hàng một cách ân cần và với phong cách chuyên nghiệp nhất.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

          Với một sản phẩm dịch vụ mới khá độc đáo, chúng tôi tự tin là sẽ tạo ra một trào lưu mới về phương pháp stress của người dân Việt Nam. Bằng những chiến lược và chiến thuật kinh doanh cụ thể, các mục tiêu tài chính, kinh tế tài chính và văn hóa của công ty được xác định rõ ràng trong cả ngắn và dài hạn thì có thể nói rằng dự án này nhất định sẽ thành công.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Marketing-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-SWOT-c%C3%B4ng-ty-b%C3%A1nh-k%E1%BA%B9o-Bibica.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica

    Chương I :

    TÌM HIỂU CHUNG VỀ MA TRẬN SWOT

          1.1 :-Khái niệm ma trận Swot

    Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh. Nói một cách hình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lại các chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty, phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp. Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạch kinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường, phát triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu .. đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.

     

    1.2:- Nguồn gốc của ma trận swot

    Mô hình phân tích SWOT là kết quả của một cuộc khảo sát trên 500 công ty có doanh thu cao nhất do tạp chí Fortune bình chọn và được tiến hành tại Viện Nghiên cứu Standford trong thập niên 60-70, nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân vì sao nhiều công ty thất bại trong việc thực hiện kế hoạch. Nhóm nghiên cứu gồm có Marion Dosher, Ts. Otis Benepe, Albert Humphrey, Robert Stewart và BirgerLie.

    Việc Du Pont lập kế hoạch kinh doanh dài hạn vào năm 1949 đã khơi mào cho một phong trào “tạo dựng kế hoạch” tại các công ty. Cho tới năm 1960, toàn bộ 500 công ty được tạp chí Fortune bình chọn đều có “Giám đốc kế hoạch” và các “Hiệp hội các nhà xây dựng kế hoạch dài hạn cho doanh nghiệp”, hoạt động ở cả Anh quốc và Hoa Kỳ.

    Tuy nhiên, tất cả các công ty trên đều thừa nhận rằng các kế hoạch dài hạn này không xứng đáng để đầu tư công sức bởi không có tính khả thi, chưa kể đây là một khoản đầu tư tốn kém và có phần phù phiếm.

    Trên thực tế, các doanh nghiệp đang thiếu một mắt xích quan trọng: làm thế nào để ban lãnh đạo nhất trí và cam kết thực hiện một tập hợp các chương trình hành động mang tính toàn diện mà không lệ thuộc vào tầm cỡ doanh nghiệp hay tài năng của các chuyên gia thiết lập kế hoạch dài hạn.

    Để tạo ra mắt xích này, năm 1960, Robert F. Stewart thuộc Viện Nghiên cứu Standford, Menlo Park, California, đã tổ chức một nhóm nghiên cứu với mục đích tìm hiểu quá trình lập kế hoạch của doanh nghiệp nhằm tìm ra giải pháp giúp các nhà lãnh đạo đồng thuận và tiếp tục thực hiện việc hoạch định, điều mà ngay nay chúng ta gọi là “thay đổi cung cách quản lý”.

    Công trình nghiên cứu kéo dài 9 năm, từ 1960 đến 1969 với hơn 5000 nhân viên làm việc cật lực để hoàn thành bản thu thập ý kiến gồm 250 nội dung thực hiện trên 1100 công ty, tổ chức. Và sau cùng, nhóm nghiên cứu đã tìm ra 7 vấn đề chính trong việc tổ chức, điều hành doanh nghiệp hiệu quả.

    Tiến sĩ Otis Benepe đã xác định ra “Chuỗi lôgíc”, hạt nhân của hệ thống như sau:
    1. Values (Giá trị)

    1. Appraise (Đánh giá)
    2. Motivation (Động cơ)
    3. Search (Tìm kiếm)
    4. Select (Lựa chọn)
    5. Programme (Lập chương trình)
    6. Act (Hành động)
    7. Monitor and repeat steps 1 2 and 3 (Giám sát và lặp lại các bước 1, 2 và 3).

    Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, không thể thay đổi giá trị của nhóm làm việc hay đặt ra mục tiêu cho nhóm làm việc, vì vậy nên bắt đầu bước thứ nhất bằng cách yêu cầu đánh giá ưu điểm và nhược điểm của công ty. Nhà kinh doanh nên bắt đầu hệ thống này bằng cách tự đặt câu hỏi về những điều “tốt” và “xấu” cho hiện tại và tương lai. Những điều “tốt” ở hiện tại là “Những điều hài lòng” (Satisfactory), và những điều “tốt” trong tương lai được gọi là “Cơ hội” (Opportunity); những điều “xấu” ở hiện tại là “Sai lầm” (Fault) và những điều “xấu” trong tương lai là “Nguy cơ” (Threat). Công việc này được gọi là phân tích SOFT.
    Khi trình bày với Urick và Orr tại Hội thảo về Lập kế hoạch dài hạn tại Dolder Grand, Zurich, Thụy Sĩ năm 1964, nhóm nghiên cứu quyết định đổi chữ F thành chữ W và từ đó SOFT đã chính thức được đổi thành SWOT.

    Sau đó, SWOT được Urick và Orr quảng bá tại Anh quốc như một dạng bài tập cho tất cả mọi người. Những điều cần phải làm trong khi lập kế hoạch chỉ là phân loại các vấn đề theo một số danh mục được yêu cầu.

    Bước thứ hai được điều chỉnh thành “Nhóm sẽ làm gì?” với từng phần trong danh mục. Quá trình lập kế hoạch này sau đó được thiết kế thông qua phương pháp “Thử và sai” mà kết quả là một quá trình gồm 17 bước, bằt đầu bằng SOFT/SWOT với mỗi mục ghi riêng vào từng trang.

    Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và xuất bản năm 1966 dựa trên hoạt động của công ty Erie Technological Corp. ở Erie Pa. Năm 1970, phiên bản này được chuyển tới Anh dưới sự tài trợ của công ty W.H.Smith & Sons PLC và được hoàn thiện năm 1973. Phương pháp phân tích này cũng đã được sử dụng khi sáp nhập các cơ sở xay xát và nướng bánh của CWS vào J.W.Frenhch Ltd.

    Kể từ đó, quá trình này đã được sử dụng thành công rất nhiều lần ở nhiều doanh nghiệp và tổ chức thuộc các lĩnh vực khác nhau. Và tới năm 2004, hệ thống này đã được phát triển đầy đủ, đã chứng minh được khả năng giải quyết hàng loạt các vấn đề hiện nay trong việc xác lập và nhất trí các mục tiêu mang tính thực tiễn hàng năm của doanh nghiệp mà không cần dựa vào các cố vấn bên ngoài.

         

           

     

     

     

     1.3 ;- Vai trò và ý nghĩa:

             1.3.1: – Vai trò :

                SWOT là một trong những kỹ năng hữu ích nhất. Nhờ công cụ này, nhà lãnh đạo làm việc hiệu quả, giảm thiểu stress, cải tiến khả năng quyết định, tối đa hóa hiệu quả cá nhân và còn nhiều hơn nữa.

                Phân tích SWOT (SWOT Analysis) là một kỹ thuật phân tích rất mạnh trong việc xác định Điểm mạnhĐiểm yếu để từ đó tìm ra được Cơ hộiNguy cơ.

                Sử dụng trong ngữ cảnh kinh doanh,nó giúp bạn hoạch định được thị trường một cách vững chắc.

         1.3.2: – Ý nghĩa:

    Phân tích SWOT rất đơn giản nhưng là một cơ chế rất quan trọng để dánh giá  Điểm mạnh yếu cũng như phân tích Cơ hội, nguy cơ mà bạn phải đối mặt. Nó là một sự đánh giá khả năng trong nhận xét và phán đoán bản thân cũng như các nhân tố bên ngoài của chính bạn.Vận dụng thành công sẽ giúp bạn có một trong những kỹ năng phân tích và đánh giá tình huống tốt.

    Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh nào.SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay của một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ…

    Điều gì làm cho Phân tích SWOT trở nên có sức  mạnh như vậy, đơn giản mà nghĩ, nó có thể giúp bạn xem xét tất cả các cơ hội mà bạn có thể tận dụng được. Và bằng cách hiểu được điểm yếu của bạn trong kinh doanh, bạn sẽ có thể quản lý và xóa bỏ các rủi ro mà bạn chưa nhận thức hết.

    Hơn thế nữa, bằng cách sử dụng cơ sở so sánh và phân tích SWOT giữa bạn và đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phác thảo một chiến lược mà giúp bạn phân biệt bạn với đối thủ cạnh tranw, vì thế mà giúp bạn cạnh tranh hiệu quả trên thị trường.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương II :

     PHÂN TÍCH SWOT TRONG KINH DOANH

           2.1:- Các bước phân tích Swot

    Albert Humphrey, nhà kinh tế, thành viên Ban quản trị của cùng lúc 5 công ty đồng thời là chuyên gia cố vấn cho hơn 100 công ty tại Anh, Mỹ, Mê-hi-cô, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Na Uy và Đan Mạch, đã cụ thể hóa SWOT thành 6 mục hành động           sau:
    1. Sản phẩm (Chúng ta sẽ bán cái gì?)

    1. Quá trình (Chúng ta bán bằng cách nào?)
    2. Khách hàng (Chúng ta bán cho ai?)
    3. Phân phối (Chúng ta tiếp cận khách hàng bằng cách nào?)
    4. Tài chính (Giá, chi phí và đầu tư bằng bao nhiêu?)
    5. Quản lý (Làm thế nào chúng ta quản lý được tất cả những hoạt động đó?)

    6 mục trên cung cấp một cái khung để phát triển các vấn đề trong SWOT. Đây có thể coi là một “bước đột phá”, vì vậy, chắc hẳn cần phải giải thích thêm đôi chút. Các yêu cầu trong SWOT được phân loại thành 6 mục như trên sẽ giúp đánh giá các mục theo cách định lượng hơn, giúp các nhóm làm việc có trách nhiệm hơn trong bối cảnh hoạt động của doanh nghiệp hay tổ chức, từ đó dễ dàng quản lý các hành động hơn. Mục tiêu hết sức quan trọng của quá trình là đạt được cam kết giữa các nhóm tham gia – phần này được giải thích bằng mô hình TAM (Team Action Management Model – Mô hình quản lý hoạt động nhóm) của Albert Humphrey.
    Chừng nào còn phải xác định các hành động được cụ thể hóa từ SWOT, các nguyên nhân và mục đích phân tích SWOT, chừng đó, khả năng và quyền hạn quản lý nhân viên của bạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc đưa đến một sự nhất trí về ý tưởng và phương hướng hoạt động.

    Dựa vào bối cảnh cụ thể, một mô hình phân tích SWOT có thể đưa ra một, hay một vài mục trong danh sách 6 bước hành động nói trên. Dù trong trường hợp nào đi nữa, SWOT về cơ bản cũng sẽ cho bạn biết những gì là “tốt” và “xấu” trong công việc kinh doanh hiện tại hay đối với một đề xuất mới cho tưong lai.
    Nếu đối tượng phân tích SWOT của bạn là công việc kinh doanh, mục tiêu phân tích là cải thiện doanh nghiệp, thì SWOT sẽ được hiểu như sau:

    Điểm mạnh    (Duy trì, xây dựng và làm đòn bẩy)

    Cơ hội    (Đánh giá một cách lạc quan)

    Điểm yếu    (Phương thuốc để sửa chữa hoặc để thoát khỏi điểm yếu)

    Nguy cơ    (Các trở ngại)

    Nếu phân tích SWOT được dùng để đánh giá một ý tưởng hay đề xuất, nó có thể chỉ ra rằng ý tưởng hay đề xuất đó quá yếu (đặc biệt khi so sánh với việc phân tích các đề xuất khác) và không nên đầu tư vào đó. Trong trường hợp này, không cần đưa ra các kế hoạch hành động tiếp theo.

    Nếu phân tích cho thấy ý tưởng hay đề xuất nào đó thực sự có khả năng

    thành công, bạn có thể coi đây là một công việc kinh doanh, và chuyển các mục trong SWOT thành hành động phù hợp.

    Trên đây là nội dung chính lý thuyết của Albert Humphrey liên quan đến việc phát triển các mục trong phân tích SWOT thành hành động nhằm mục tiêu thay đổi doanh nghiệp hoặc tổ chức.

    Ngoài ra, SWOT còn có một số cách áp dụng khác, tùy theo hoàn cảnh và mục đích của bạn, chẳng hạn, nếu bạn chỉ tập trung vào một bộ phận chứ không phải cả doanh nghiệp, bạn nên sắp xếp lại 6 mục nêu trên sao cho nó có thể phản ánh đầy đủ các chức năng của bộ phận, sao cho các mục trong SWOT có thể được đánh giá cụ thể nhất và được quản lý tốt nhất.

          2.2 :-Khung phân tích SWOT

    Mô hình phân tích SWOT được áp dụng trong việc đánh giá một đơn vị kinh doanh, một đề xuất hay một ý tưởng. Đó là cách đánh giá chủ quan các dữ liệu được tổ chức theo một trình tự lô-gíc nhằm giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, từ đó có thể thảo luận và ra quyết định hợp lý và chính xác nhất.

    Khung phân tích SWOT dưới đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ một cách chuyên nghiệp và đưa ra quyết định ở thế chủ động chứ không chỉ dựa vào các phản ứng bản năng hay thói quen cảm tính.

    Khung phân tích SWOT thường được trình bày dưới dạng lưới, bao gồm 4 phần chính thể hiện 4 nội dung chính của SWOT: Điểm mạnh, Điểu yếu, Cơ hội và Nguy cơ, một số các câu hỏi mẫu và câu trả lời được điền vào các phần tương ứng trong khung. Những câu hỏi nêu dưới đây chỉ là ví dụ, người đọc có thể thay đổi cho phù hợp với từng đối tượng phân tích cụ thể. Một điều cần hết sức lưu ý, đó là đối tượng phân tích cần được xác định rõ ràng, vì SWOT chính là tổng quan của một đối tượng – có thể là một công ty, một sản phẩm, một dự án, một ý tưởng, một phương pháp hay một lựa chọn…

    Sau đây là ví dụ về những đối tượng tiềm năng có thể được đánh giá thông qua phân tích SWOT:

    – Một công ty (Vị thế của công ty trên thị trường, khả năng tồn tại,…)

    – Một phương pháp phân phối hoặc bán hàng.

    – Một sản phẩm hoặc một nhãn hiệu.

    – Một ý tưởng kinh doanh.

    – Một sự lựa chọn chiến lược, chẳng hạn như thâm nhập thị trường mới hay tung ra sản phẩm mới.

    – Một cơ hội thực hiện sát nhập.

    – Một đối tác kinh doanh tiềm năng.

    – Khả năng thay đổi nhà cung cấp.

    – Khả năng thuê ngoài (outsource) một dịch vụ hay nguồn lực.

    – Một cơ hội đầu tư.

     

     

     

     

     

    Sau đây là khung phân tích SWOT

     

     

     

     

     

    Chương III

    MA TRẬN SWOT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN BIBICA

          3.1 :- Giới thiệu về Công ty cổ phần Bibica

    Lĩnh vực kinh doanh:

    – Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước trên các lĩnh vực về công nghiệp chế biến       bánh-kẹo-nha.
    – Xuất khẩu các sản phẩm bánh – kẹo – nha và các loại hàng hóa khác.

    – Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của Công ty.

                Sơ lược quá trình phát triển:

    – Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Biên Hòa được thành lập từ việc cổ phần hóa  03 phân xưởng: bánh, kẹo, nha thuộc Công ty Đường Biên Hòa.

    – Ngày 17/12/2001, BBC chính thức niêm yết trên sàn Hostc.

    – Ngày 30/08/2006, BBC phát hành thêm cổ phiếu với tỷ lệ 10:2.

    – Ngày 20/4/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100:12.

    – Ngày 14/12/2007, BBC trả cổ tức bằng cổ phiếu với tỷ lệ 100: 6.

    – Vốn điều lệ hiện tại của BBC là 154,2 tỷ đồng.

     

     

     

    3.1.1:- Năng lực và công nghệ

     
    Dây chuyền kẹo

    Sản phẩm kẹo cứng và kẹo mềm của Công ty được sản xuất trên các dây chuyền liên tục với các thiết bị của Châu Âu. Với năng suất : 10.000 tấn/năm, Công ty là một trong những nhà sản xuất kẹo lớn nhất của Việt nam. Do được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu chất lượng cao, đặc biệt là mạch nha, nên sản phẩm kẹo cứng của Công ty có hương vị vượt trội so với các sản phẩm cùng loại khác.

     
    Dây chuyền nha

    Sản phẩm mạch nha của Công ty được sản xuất bằng công nghệ Enzym và tẩy màu bằng than hoạt tính và trao đổi ion. Có thể nói sản phẩm mạch nha của chúng tôi có chất lượng hàng đầu ở Việt Nam. Sản phẩm của Công ty có thể đạt độ màu nhỏ hơn 10 độ Icumsa.

     
    Dây chuyền layer cake

    Sản phẩm layer cake (bánh bông lan kẹp kem) được sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Ý: đồng bộ, khép kín, áp dụng các nguyên tắc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt. Do đó, sản phẩm của Công ty có thời hạn sử dụng tới 1 năm, trong khi các sản phẩm bánh tươi khác chỉ có thể sử dụng trong vòng 1 tuần. Công ty là nhà sản xuất bánh kẹo đầu tiên ở Việt nam đầu tư sản xuất loại sản phẩm này với sản lượng hàng năm hơn 1500 tấn.Sản phẩm chocolate của Công ty  Công ty  có chất lượng không hề thua kém các sản phẩm của Châu Âu. Bởi vì, ngoài các nguyên liệu đều nhập từ Châu Âu, chocolate của Công ty còn được sản xuất theo công nghệ và thiết bị của Anh. Hàng năm, chúng tôi có thể sản xuất được hơn 600 tấn chocolate các loại Ngoài các sản phẩm trên, Công ty còn có các sản phẩm khác: bánh biscuit các loại (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Anh); bánh cookies (sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Mỹ); bánh xốp phủ chocolate; snack các loại; kẹo dẻo… Tổng cộng hàng năm, Công ty cung cấp cho thị trường hơn 15.000 tấn bánh kẹo các loại.

     

    3.1.2 :-   Các thành tựu:

    Chứng nhận “Hàng Việt Nam Chất lưọng cao” 1997-2006 Tiêu chuẩn ISO 9001: 2000

     

    Năm 2004

    Top 5 ngành hàng bánh kẹo Chứng nhận “Thương hiệu mạnh”
    Cúp vàng “Thương hiệu an toàn vì sức khoẻ cộng đồng” Siêu cúp “Thương hiệu nổi tiếng vì sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ và phát triển cộng đồng “
    Huy chương vàng “Mumsure& Growsure” Chứng nhận “Doanh nghiệp có giải pháp thị trường xuất khẩu tốt nhất sang thị trường các nước và khu vực”

     

     

    3.1.3 Bộ máy tổ chức:

     

      3.2:- Các phân tích Swot với Công ty Cổ phần Bibica

    3.2.1:- Thông tin về kế toán và kết quả kinh doanh

    BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN (Triệu VNĐ)                                        

      31/12/2006 31/12/2007 30/09/2008
    TÀI SẢN 242,977 379,172 628,911
     TSNH 156,307 179,079 417,172
      Tiền & tương đương tiền 22,569 44,423 19,801
      Khoản đầu tư ngắn hạn 35,000 14,055 220,055
      Khoản phải thu ngắn hạn 33,167 30,318 76,795
      Hàng tồn kho 63,823 86,851 92,569
      TSNH khác 1,748 3,432 7,952
    TSDH 86,670 200,093 211,738
      Khoản phải thu dài hạn
      Tài sản cố định 64,627 149,435 179,983
      Đầu tư dài hạn
      BĐS đầu tư 9,753 38,499 19,709
      TSDH khác 12,290 12,159 12,046
    NGUỒN VỐN 242,977 379,172 628,911
     Nợ phải trả 59,618 172,177 146,116
      Nợ ngắn hạn 56,439 141,006 132,702
      Nợ dài hạn 3,179 31,170 13,414
     Vốn CSH 183,359 206,996 482,795

     

    KẾT QUẢ KINH DOANH (Triệu VNĐ)

    Chỉ tiêu 2006 2007 Quý III/2008 9 tháng đầu 2008 Chỉ tiêu TC (30/09/2008) 2006 2007 9 tháng đầu 2008
    Doanh thu thuần 341,331 453,975 146,135 377,842 TSNH/Tổng TS (%) 64.33% 47.23% 66.33%
    Giá vốn hàng bán 254,909 335,662 109,781 290,302 Nợ PT/ VCSH (lần) 0.33 0.83 0.30
    Lợi nhuận trước thuế 25,332 33,325 12,581 9,177 KH TT Nhanh (lần) 1.02 0.41 1.81
    Lợi nhuận sau thuế 19,183 24,443 11,019 5,865 Giá vốn/ DTT (%) 74.68% 73.94% 76.83%
              ROA (%) 7.89% 6.45% 0.93%
              ROE (%) 10.46% 11.81% 1.21%
              ROS (%) 5.62% 5.38% 1.55%
              EPS (đồng) 2,134 2,269 380
              BV (đồng) 20,396 19,218 31,306

    CƠ CÂU CỔ ĐÔNG (BCB 31/12/2008)                                                                  

     

     

      Cá nhân Tổ chức Số lương Tỷ lệ%
    Tổng số cổ phần 7.570.097 3.200.685 10.770.782 100
    Chưa lưu ký 108.315 5.533 113.848 1,06
    Lưu ký 7.461.782 3.195.152 10.656.934 98,94
    Trong nước 7.278.938 1.037.524 8.316.462 77,21
    Nước ngoài 291.159 2.163.161 2.454.320 22,79
    Cổ đông lớn :        
    Cổ đông sở hữu

     

    1-5%

    4.273.089 2.133.556 6.406.645 59,48
    Cổ đông sở hữu

     

    5-10%

    1.116.074 999.215 2.115.289 19,64
    THÔNG TIN GIAO DỊCH (10/12/2008)

     

    _______________________________________________

    Tổng số CP                                                     :   15,421,700 cp

    Số CP niêm yết                                               :   15,421,700 cp

    Số CP đang lưu hành                                      :   15,421,700 cp

    Giá cao nhất từ khi niêm yết                           :  107.000 đồng

    Giá thấp nhất từ khi niêm yết                          :  13.200 đồng

    Vốn hóa thị trường                                          :   207 tỷ đồng

    Giá hiện tại                                                      :   13.400 đồng

    P/E    (10/12/2008)                                          :   16,5 lần

    P/B    (10/12/2008)                                          :    0,43 lần

     

    3.2.2:- Phân tích Swot

    Điểm mạnh:

    – Thương hiệu Bibica luôn được người tiêu dùng tín nhiệm bình chọn đạt danh hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao từ năm 1997-2006. Thương hiệu Bibica được chọn là thương hiệu mạnh trong top 100 thương hiệu mạnh tại Việt Nam.

    – Sản phẩm của Công ty được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường trong nước. Doanh thu tiêu thụ trong nước chiếm 96% – 97% tổng doanh thu của Công ty, doanh thu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, 42 nhà phân phối  tại khu vực Đông Nam Bộ, 23 nhà phân phối tại khu vực miền Trung và 30 nhà phân phối tại khu vực miền Bắc. Đến nay, sản từ xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 3% – 4% tổng doanh thu với sản phẩm xuất khẩu phần lớn là các sản phẩm nha.

    – Công ty hiện có 108 nhà phân phối, trong đó 13 nhà phân phối phẩm của Công ty đã được tiêu thụ trên phạm vi cả nước.

    Điểm yếu:

    – Bánh kẹo không phải là nhu yếu phẩm, không phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người, và cũng có rất nhiều những sản phẩm khác để sử dụng thay thế, do đó sức mua của người dân giảm sẽ tác động làm sụt giảm doanh thu của Công ty.

    – Hàng năm Công ty phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất như bột mì, hương liệu, bột sữa… Do vậy, khi tỷ giá biến động kéo theo chi phí đầu vào thay đổi, tác động lên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

    Cơ hội:

    – Nên kinh tế Việt Nam những năm gần đây tăng trưởng 7-8%/năm, điều này sẽ kích thích nhu cầu người dân cho tiêu dùng, đó sẽ là cơ hội cho BBC tăng trưởng kinh doanh.

    Thách thức:

    – Khi Việt Nam gia nhập AFTA, thuế suất thuế nhập khẩu các sản phẩm bánh kẹo sẽ giảm xuống. Giá bán các sản phẩm này do đó có thể cạnh tranh hơn, vì vậy có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty.

    – Nguyên vật liệu nhập khẩu và đường nguyên liệu chiếm khoảng 20% giá thành các sản phẩm của Công ty. Do vậy, những thay đổi trong các thông tư, nghị định liên quan đến nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp đến giá nguyên vật liệu đầu vào.

    – Sản phẩm nhập khẩu chiếm 30% thị phần (bao gồm chính thức và phi chính thức), chủ yếu từ Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Hồng Kông và Trung Quốc… Một số sản phẩm bánh kẹo nhập khẩu hiện nay các đơn vị trong nước vẫn chưa sản xuất được.

    -Thị trường trong nước, BCC phải cạnh tranh với công ty Kinh Đô, công ty bánh kẹo Hải Hà, công ty bánh kẹo Hải Châu.

                    PHÂN TÍCH NGÀNH

     

     

    Bánh Kẹo
    Ma  

     

    GIÁ

     

    Vốn hóa thị trường kết quả kinh doanh Chỉ số tài chính Cơ cấu vốn
    DTT LNST ROA (%) ROE (%) ROS (%) EPS  (Đồng) BV (Đồng) P/E P/B Nợ/VCSH Tỷ trọng đầu tư tài chính
    BBC 13.4 2,066,387,200 377,842 5,865 0.93 1.22 1.55 380 31,308 35.2 0.4 30.3 49.9
    HHC 15.5 848,625,000 282,011 9,681 4.76 9.49 3.43 1768 19,470 8.8 0.8 90.8
    NKD 24.8 2,499,765,600 451,714 35,473 5.82 13.11 7.85 3519 27,263 7.0 0.9 121.9 71.2
    KDC 26.5 15,135,422,000 1,046,095 129,551 3.89 5.46 12.38 2268 42,834 11.7 0.6 37.3 68.1

    Chú giải :   Mã       BBC : Công ty Cổ phần Bibica

    HHC : Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà

    NKD : Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm Kinh đô

    KDC : Công ty Cổ phần Kinh Đô

    – Tỷ lệ nợ phải trả trên VCSH của công ty khá thấp cho thấy công ty đã hạn chế sử dụng nguồn vốn vay, điều này sẽ giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh của công ty. Mặc dù vậy, các chỉ số về khả năng sinh lời và khả năng thanh toán của công ty khá tốt cho thấy công ty kinh doanh khá hiệu quả.

    – BBC là công ty có EPS thấp nhất ngành và P/E cao nhất ngành, điều này cho thấy công ty đang được đánh giá cao hơn giá trị.

     

                    TỪ CÁC PHÂN TÍCH TRÊN CHÚNG TA ĐƯA RA CHIẾN LƯỢC KINH DOANH    

    Bibica mở rộng thị trường, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao công nghệ; có khả năng tư vấn, định hướng chiến lược, tư vấn quản trị điều hành, tư vấn quản trị tài chính, tư vấn các cơ hội, các dự án đầu tư mới.

    – Tập trung phát triển thực phẩm dinh dưỡng gồm: Thực phẩm bổ sung vi chất và thực phẩm chức năng trở thành sản phẩm chiến lược của Bibica, cụ thể doanh thu nhóm sản phẩm dinh dưỡng đưa mức tăng trưởng lên 150%.

    – Củng cố và phát triển hệ thống phân phối Công ty:

    + Thị phần nội địa BBC: mỗi năm cần phải tăng 3 – 5% thị phần bánh kẹo so với năm trước.

    + Phát triển điểm bán lẻ: hiện nay 10% trên tổng số điểm bán lẻ có bán sản phẩm + Mở rộng quy mô và phạm vi các kênh phân phối, phát triển thị trường tới những vùng sâu vùng xa thông qua hệ thống đại lý và nhà phân phối. Xây dựng mối quan hệ gắn bó, cùng hợp tác cùng phát triển với các nhà cung ứng, nhà phân phối, đại lý.

    – Phát triển thị trường xuất khẩu:

    Thị trường: Philippines, Bangladesh, Cambodia, Taiwan, Japan, Singapore, Hong Kong (Trung Quốc), Hoa Kỳ, Thailand, Reunion, Laos, các nước Trung Đông, Châu Phi doanh số xuất khẩu: 1,5 triệu USD .

                 KẾT LUẬN VỀ BIBICA

    – BIBICA là một doanh nghiệp đã khẳng định thương hiệu vững chắc tại thị trưòng bánh kẹo trong nước .Với chiến lược phát triển rõ ràng với hàng loạt dự án lớn đã và đang triển khai sẽ là lực đẩy  cho quá trình tăng trưởng và phát triển của BBC trong tương lai .Đặc biệt ,với việc kí kết hợp đồng  hợp tác chiến lược với công ty Lotte Hàn quốc là một bước ngoặt quan trọng  trong quá trình phát triển của Công ty, mở ra cơ hội rất lớn trong việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,hướng đến mục tiêu trở thành Công ty dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam.

    – Cổ phiếu cảu BBC là một cổ phiếu tốt và đã được thị trường đánh giá cao từ lâu ,cộng với Bibica là doanh nghiệp có nhiều khả năng tăng trưởng cao trong tương  lai nên sẽ là địa chỉ đáng tin cậy để nhà đầu tư quan tâm

       

     

     

     

     

     

     

     

                                             


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thị trường ngoại hối Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-ph%C3%A2n-t%C3%ADch-chi%E1%BA%BFn-l%C6%B0%E1%BB%A3c-kinh-doanh-c%E1%BB%A7a-toyota.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota

    I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TOYOTA MOTOR CORPORATION

    1. Giới thiệu chung:

    Toyota Motor Corporation (gọi tắt là Toyota) là một tập đoàn sản xuất ô tô xuyên quốc gia có trụ sở chính đặt tại Nhật Bản. Toyota được thành lập vào ngày 28/08/1937 bởi Kiichiro Toyota từ một phần tách ra khỏi Toyota Industries. Sau một thời gian dài phát triển, đến nay Toyota đã vươn lên trở thành tập đoàn sản xuất xe lớn nhất thế giới xét về doanh số bán hàng. Theo báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (từ ngày 01/04/2008 tới ngày 31/03/2009), Toyota cung cấp việc làm cho 320.808 người lao động, có 529 công ty con, với tổng số vốn của công ty lên tới 397,05 tỷ yên.

    Hoạt động chủ yếu của công ty là thiết kế, lắp ráp và bán các loại xe hơi, xe đua, xe tải, xe chuyên chở và các loại phụ tùng liên quan. Toyota được biết đến với những nhãn hiệu xe nổi tiếng như Prius (dòng xe nhiên liệu sạch hybrid), Lexus và Scion (dòng xe sang trọng), Tundra (dòng xe tải)…Toyota sở hữu một lượng cổ phần lớn trong các hãng xe hơi Daihatsu và Hino, Fuji Heavy Industries, Isuzu Motors, Yamaha Motors, và tập đoàn Mitsubishi Aircraft. Ngoài sản xuất xe ô tô, Toyota còn cung cấp các dịch vụ tài chính (Toyota Financial Services), tham gia chế tạo robot, công nghệ sinh học…

    Thị phần của Toyota trải rộng toàn thế giới. Trong số đó 26% tại Nhật Bản, 29% tại Bắc Mỹ, 14% tại Châu Âu… Toyota xây dựng những nhà máy tại mọi nơi trên thế giới, sản xuất hoặc lắp ráp xe phục vụ nhu cầu tại chính thị trường đó. Những nhà máy này có mặt tại Apan, Úc, Ấn độ, Sri Lanka, Canada, Indonesia, Ba Lan, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Colombia, Anh, Mỹ, UAE, Pháp, Brazil, Bồ Đào Nha, Argentina, Cộng hòa Séc, Mexico, Malaysia, Thailand, Pakistan, Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam, Venezuela, Philippine, và Nga.

    Toyota bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2010. Với Toyota 2009 là năm thua lỗ đầu tiên trong vòng 70 năm trở lại đây. Toyota ngập trong nợ và phải vay 270 tỷ từ ngân hàng tài trợ bởi chính phủ Nhật Bản. Trong năm 2010, hình ảnh Toyota bị giảm sút nặng nề khi công ty buộc phải thực hiện những vụ thu hồi xe lớn trên toàn Châu Âu và Châu Mỹ do các lỗi ở chân ga và phanh xe.

          2. Triết lý của công ty Toyota

    Công ty Toyota toàn tâm toàn ý để cung cấp xe ôtô cho khách hàng. Việc bán xe chỉ có thể được coi là hoàn tất khi khách hàng đã sử dụng xe và hoàn toàn hài lòng về nó. Triết lý của Toyota đặt ra những thứ tự ưu tiên như sau:

    1. Khách hàng
    2. Đại lý/Nhà phân phối
    3. Nhà sản xuất

    II. PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TOYOTA.

    1 Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện hữu

    1.1. Tốc độ tăng trưởng ngành

    Theo như ước tính thì thị trường ôtô toàn cầu sẽ tăng trưởng từ 65,2 triệu chiếc trong năm 2006 lên 77,6 triệu chiếc đến năm 2014 tương đương 19,1%. Phần lớn của sự gia tăng này là ở các thị trường đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ trong khi đó các quốc gia phát triển được kì vọng là chỉ chiếm 1/3 mức tăng trưởng này. Liên minh Châu Âu EU kì vọng tăng khả năng sản xuất trong năm 2014 lên 6,6% trong khi đó Bắc Mỹ tăng 4,5%. Tại Nhật Bản-  một trong những quốc gia phát triển nhất tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì lại kì vọng vẫn giữ nguyên mức cũ.

    1.2. Phân biệt sản phẩm

    Toyota luôn đặt ra nhiệm vụ quan trọng nhất cho mình: đổi mới không bao giờ tự thỏa mãn và luôn đi trước một bước so với xu hướng trên thị trường. Khâu phát triển sản phẩm hàng ngày tại các trung tâm nghiên cứu vận tải của Toyota đã và đang tạo ra các cải tiến liên tục từ mẫu xe này tới mẫu xe khác. Tuy nhiên đặc điểm nổi bật của Toyota là nó đột phá theo định kỳ từ khuôn mẫu truyền thống và phát triển một mẫu xe mới với cách tiếp cận mới mẻ. Chẳng hạn như trong giai đoạn đầu Toyota tập trung vào sản xuất những mẫu xe có chất lượng tốt, hiệu suất nguyên liệu cao, giá thành hợp lý. Tuy nhiên khi nhận thấy rõ tiềm năng phát triển của các loại xe hạng sang, Toyota đã cho ra mắt một thương hiệu mới nhằm đến những khách hàng có điều kiện tài chính cao hơn với sự trải nghiệm về những chiếc xe hơi đầy đủ tiện nghi và thoải mái. Đây là kết quả của sự không thỏa hiệp với những yêu cầu khắt khe tưởng chừng như không thể thực hiện được dành cho các kĩ sư thiết kế.

    Hiện nay Toyota đang tập trung vào việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất đại trà những dòng xe thân thiện môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Theo chiến lược phát triển sản phẩm này, chiếc Prius, dòng xe hybrid sản xuất đại trà đầu tiên của thế giới, đã được ra mắt vào tháng 10/1997. Chiếc xe không chỉ mang ý nghĩa mở ra một định hướng mới cho sản xuất của Toyota cho thời đại vấn đề môi trường được đặt lên hàng đầu; mà còn khẳng định đẳng cấp của công ty này. Toyota chỉ mất có 12 tháng để có thể cho ra mắt một sản phẩm xe mới trong khi đó các công ty sản xuất ô tô khác phải mất tới 2 năm.. Sau đây là một vài đặc điểm của một số dòng xe Toyota

    Toyota Venza: xuất hiện đầu năm 2009 với giá trên 60.000 USD. Venza có kích thước rộng rãi nhưng lại không quá cồng kềnh phù hợp cho mục đích sử dụng cá nhân hay gia đình. Xe sử dụng hệ thống 4 bánh toàn thời gian AWD, điều hoà tự động 2 vùng, sưởi hàng ghế trước, khởi động không dùng chìa. Khoảng sáng gầm của Venza cao hơn Camry 66mm đủ để khách hàng yên tâm trước những con đường ngập nước trong mùa mưa.

    Toyota Camry: mang đến hình thức mới với lưới tản nhiệt, cản sốc trước thay đổi, đèn pha lớn với kiểu dáng mới. Trong cabin Camry tuỳ chọn hệ thống âm thanh tích hợp cổng USB, công nghệ Bluetooth, radio vệ tinh, đầu đọc CD và MP3. Hơn thế nữa phiên bản Camry Hybrid có mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình ấn tượng 6,92L/100km

    Toyota Fortuner: được xem là đối thủ trực tiếp của Ford Everest  và Chevrolet Captiva và là sản phẩm khu vực hoá của Toyota. Xe có mức giá phù hợp với người có thu nhập trung bình ở các nước Đông Nam Á ( 38.300 USD). Khoản sáng của gầm xe cao hơn Innova 29mm – yếu tố lấy điểm trong mắt người tiêu dùng của Fortuner. Hơn nữa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách xe còn được đa dạng tới 4 phiên bản động cơ.

    Toyota Vios trang bị động cơ 1.5 với 16 van DOHC và công nghệ VVT-i nên động cơ xe luôn được vận hành và tăng tốc ở chế độ ổn định, đốt cháy triệt để và tiết kiệm nhiên liệu, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Được đánh giá là hình ảnh của sự trẻ trung và năng động, Vios mới 2010 có các màu xanh (8S9), đỏ (3PO) dành cho Vios 1.5G và Vios 1.5E, đen (209) dành cho Vios 1.5C

    Toyota Innova là sản phẩm của dòng xe đa dụng hiện đại mang tính toàn cầu (IMV). Ngay từ tên gọi, Innova đã thể hiện sự đổi mới, tân tiến. Với động cơ thế hệ mới 2.0 lít có trang bị van điều tiết thông minh nên hoạt động của Innova mạnh mẽ hơn, tiết kiệm hơn và thân thiện với môi trường.

    1.3. Rào cản rời ngành

    Chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của Toyota là tài sản cố định chiếm 75,6% tổng tài sản trong đó tài sản cố định hữu hình( nhà máy, trang thiết bị, công nghệ sản xuất) chiếm 33% tài sản cố định. Năm 2009 Toyota đã đầu tư134,5 tỷ Yên vào tài sản, nhà máy và trang thiết bị để chuẩn bị cho việc tung ra sản phẩm mới, đổi mới và nâng cấp công nghệ sản xuất, đẩy mạnh R&D trong đó đầu tư vào tài sản, trang thiết bị và nhà máy chiếm52,8 tỷ Yên. Với mức đầu tư lớn như trên thì thiệt hại do lỗi sản phẩm đã gây ra cho công ty thiệt hại không nhỏ.

    Ngoài ra, Toyota còn sở hữu một tài sản vô hình là nền tảng để tạo nên thành công của mình đó là Hệ thống sản xuất Toyota (TPS). TPS không thể bắt chước vì nó không chỉ đơn giản là gắn kết các kỹ thuật sản xuất mà là sự liên kết tất cả các nhân tố lại với nhau thành một hệ thống mà yếu tố quan trọng vào bậc nhất là con người. TPS được hình thành dựa trên 14 nguyên lý cơ bản chia thành 4 nhóm chính

    1. Triết lý dài hạn
    2. Quy trình đúng mang lại kết quả đúng
    • Giải quyết liên tục vấn đề gốc rễ định hướng học hỏi trong tổ chức
    1. Gia tăng giá trị cho tổ chức bằng cách phát triển con người và đối tác

    Các nguyên lý này giúp các nhà lãnh đạo công ty đưa ra được những quyết định trong dài hạn. Điều này được thể hiện rõ trong việc đầu tư vào công nghệ mới từ rất sớm của Toyota và không ngừng tiên phong trong những dòng sản phẩm có nhiều tính năng mới. Tuy vậy, lại rất ít công ty có thể đạt được thành công như Toyota. Đó chính là vì họ không làm được theo những nguyên lý hướng về con người. Đây là yếu tố kết nối mọi hoạt động và tạo ra giá trị bền vững cho Toyota.

    2. Nguy cơ nhập cuộc của những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng

    2.1 Sức hấp dẫn của ngành

    Hiện nay thị trường ôtô đang tồn tại rất nhiều các nhà sản xuất có danh tiếng cùng với những dòng xe chất lượng cao như Volkswagen, Mercedes Benz, BMW, Opel, Cadilac…  Mặc dù các công ty đều bị ảnh hưởng không nhỏ bởi sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tuy nhiên nhờ các gói kích cầu của Chính phủ các nước cùng chính sách ” đổi ôtô cũ lấy ôtô mới” của các nhà sản xuất làm cho thị trường ôtô vấn không kém phần sôi động và hấp dẫn.

    Dự kiến trong năm 2010 triển vọng dường như không sáng sủa bằng năm 2009 do dấu hiệu phục hồi nền kinh tế toàn cầu còn khá mong manh, điều này sẽ làm cho thị trường ôtô trở nên cạnh tranh khắc nghiệt hơn. Tại thị trường Mỹ nơi đã từng mang lại thành công cho Toyota – doanh thu của /Toyota đã giảm 25% do sự cố kĩ thuật trong khi đó hãng Volkswagen của Đức lại vẫn trụ vững trong khủng hoảng nhờ hướng tới các thị trường mới nổi.

    2.2. Tính kinh tế của quy mô

    Tính đến 31 tháng 3 năm 2009 Toyota có:

    Với quy mô phát triển rộng rãi ra toàn cầu như của Toyota với mạng lưới đại lí phân phối, chế tác, nhà cung cấp lớn ở các thị trường không chỉ trong nước Nhật mà ngoài thế giới, chi phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ hơn so với các hãng ô tô qui mô nhỏ khác.

    2.2. Lợi thế người dẫn đầu

    Trong bất cứ một ngành công ngiệp nào thì uy tín về chất lượng cũng là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Đối với người dẫn đầu họ có thể đặt ra các tiêu chuẩn một ôt ô như thế nào là đạt yêu cầu về chất lượng hay học ó khả năng tiếp cận với những nhà cung cấp đầu vào giá rẻ thậm chí họ cũng  có thể giành được sự ưu đãi từ phía chính phủ . Để có được uy tín đó thì Toyota đã phải bỏ ra hàng thập kỉ cần mẫn đầu tư, nghiên cứu và chinh phục thị trường. Toyota, một trong những công ty lớn hàng đầu của Nhật bản luôn được chính phủ nước này dành cho rất nhiều ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, do quy mô và uy tín của mình, Toyota đã xây dựng được hệ thống khách hàng và nhà cung cấp trung thành nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất và phát triển thị trường xe của công ty.

    2.3. Tiếp cận phân phối và mối quan hệ

    Sự hạn chế về khả năng sản xuất trong việc mở rộng các kênh phân phối và chi phí cao để phát triển các kênh mới  là những rào cản lớn đối với những đối thủ mới. Những công ty mới gia nhập ngành ôtô không dễ gì vượt qua được mạng lưới phân phối của những người đi trước. Toyota đặc biệt đã xây dựng cho mình hệ thống phân phối rộng khắp không chỉ tại Nhật mà còn rất nhiều quốc gia khác trên thế giới.

    3. Sự đe dọa của các sản phẩm thay thế:

    Có thể thấy, các sản phẩm xe ô tô chính của Toyota là xe hơi, xe 7 chỗ, xe chuyên dụng.Trên thực tế, không có nhiều sản phẩm thay thế nào được coi là mối đe dọa nghiêm trọng của ô tô bởi tính tiện dụng của chúng. Hiện có một số sản phẩm thay thế cơ bản cho phương tiện giao thông này như: xe máy, xe đạp, tàu điện ngầm, tàu hỏa, máy bay…

    Mối đe dọa của các sản phẩm thay thế này có thể phụ thuộc vào vị trí địa lý của người tiêu dùng. Ví dụ: ở một số thành phố như New York hoặc Chicago, tàu điện ngầm lại là phương tiện giao thông thuận tiện hơn cả. Còn ở những vùng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đường còn hẹp và khó đi, chưa có khu vực đậu xe an toàn thì sản phẩm thay thế tốt nhất của ô tô có thể là xe đạp hoặc xe máy. Nhằm mở rộng thị trường, Toyota đã cho ra đời một loạt các dòng xe với nhiều tính năng khác nhau, đáp ứng được phần lớn nhu cầu khách hàng (về giá cả cũng như các loại xe thích hợp với từng kiểu địa hình). Trên thực tế, ô tô vẫn được coi là một phương tiện giao thông cực kỳ tiện lợi và phổ biến bởi tính ưu việt mà chúng mang lại cho người tiêu dùng, chẳng hạn như: ô tô có thể cho phép chở được số lượng người nhiều hơn xe máy hoặc xe đạp; tàu điện ngầm sẽ khiến người tiêu dùng bị phụ thuộc về thời gian và địa điểm trong khi sử dụng ô tô thì sẽ giúp họ chủ động hơn… Do đó thị trường xe của Toyota ngày càng được mở rộng.

    Một mối đe dọa lớn có thể kể đến cho các dòng ô tô hiện nay, cụ thể là các dòng ô tô của Toyota, đó là ô tô cũ đã qua sử dụng. Với mức giá thấp hơn giá xe ô tô mới rất nhiều, (giá xe Toyota mới nằm trong khoảng từ 15,000 – 66,000 USD) ô tô cũ đã qua sử dụng có thể trở thành lựa chọn của nhiều khách hàng có thu nhập thấp và trung bình. Một khi mà tính năng của dòng ô tô cũ đã qua sử dụng không có điểm gì khác biệt quá lớn với dòng ô tô mới, thì đây có thể được coi là một sản phẩm thay thế tiềm năng, một mối đe dọa lớn đối với ngành sản xuất ô tô nói chung và đối với công ty Toyota nói riêng. Bởi sự sẵn sàng chuyển đổi của khách hàng sang sử dụng dòng ô tô cũ đã qua sử dụng sẽ tạo nên sức ép giảm giá cho các hãng sản xuất ô tô và điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận và doanh thu của các hãng này.Tuy nhiên, nếu xét về thời hạn sử dụng còn lại của sản phẩm thì việc tiếp tục tiêu dùng ô tô cũ, không ảnh hưởng nhiều lắm tới doanh số của các hãng sản xuất ô tô. Bởi vậy, mối đe dọa của các sản phẩm thay thế trong ngành này có thể coi là chưa đến mức nghiêm trọng.

    4. Sức mạnh mặc cả

    4.1. Sức mạnh mặc cả từ người cung cấp của Toyota.

    Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp khá là thấp trong ngành công nghiệp ô tô nói chung và Toyota nói riêng. Để làm nên một chiếc xe hoàn chỉnh cần rất nhiều bộ phận. Ban đầu, khi các công ty ô tô chưa tự sản xuất được một số linh kiện quan trọng, rất nhiều nhà cung cấp đã đứng ra sản xuất. Và hiện nay, khi có quá nhiều nhà cung cấp trong ngành công nghiệp ô tô, thì chi phí chuyển đổi của người sản xuất giảm xuống tương đối thấp. Điều này cũng có nghĩa, nhà cung cấp không có sức mạnh mặc cả cao trong lĩnh vực này.

    Hơn nữa, Toyota luôn áp dụng nguyên tắc: Đối xử với đối tác và nhà cung cấp như một phần mở rộng công việc kinh doanh của bạn.” Điều này có nghĩa Toyota duy trì nguyên tắc hiệp hội, xem các nhà cung cấp như các đối tác làm ăn. Toyota đòi hỏi ở các nhà cung cấp khá tỉ mỉ và gắt gao về mặt chất lượng cũng như các thông số kỹ thuật. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, nhà cung cấp nào được Toyota lựa chọn đều coi đó một điều may mắn lớn. Vì như thế họ đã khẳng định được độ tín nhiệm của mình trên thị trường sản xuất ô tô. Toyota thường đặt hàng hợp đồng dài hạn và ít thay đổi người cung cấp trừ khi xảy ra sai lầm tai họa. Ngoài ra thì các nhà cung cấp cũng được Toyota hướng dẫn và cùng phát triển. Tất cả những điều này đã làm sức mặc cả của nhà cung cấp cho Toyota giảm đi đáng kể.

    4.2. Sức mạnh mặc cả của khách hàng

    Chi phí chuyển đổi: Hiện nay trên thị trường ô tô có rất nhiều hãng xe đang cạnh tranh nhau khắt khe. Người mua có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn chiếc xe riêng cho mình. Chi phí chuyển đổi xe ô tô cũng rất thấp, nếu họ thích, chỉ cần bán chiếc xe cũ đi và mua một xe mới là ổn thỏa. Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, các hang xe còn cho khách hàng trả góp, trả chậm để mua ô tô. Điều này càng làm chi phí chuyển đổi giảm xuống.

    Hơn nữa, hiện nay thong tin liên quan tới sản phẩm ô tô của các hang xe khá rõ rang giúp cho người mua kịp thời nắm bắt được các thong tin quan trọng , các thong số kĩ thuật, từ đó họ có thể so sánh sự ưu việt của các sản phẩm. Càng làm sức mặc cả của khách hàng tăng lên.

    Ngoài ra, chi phí để mua một chiếc ô tô cũng là khá đắt đỏ, do đó, khách hàng thường rất nhạy cảm với giá cả của mặt hàng này.

    Quay trở lại với Toyota, sản phẩm của hang đều vượt trội về chất lượng, kiểu dáng. Trong chiến lược phát triển của mình, Toyota luôn chú trọng tới việc giảm tối đa chi phí sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm, đồng thời cũng tìm cách chế tạo sao cho giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng cho khách hàng. Sản phẩm của Toyota rất đa dạng , đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mọi tầng lớp mua xe (từ những người có nhu cầu thu nhập trung bình, tới những tầng lớp thượng lưu ưa chuộng kiểu dáng sang trọng của dòng xe Lesus, Camry), mọi nhu cầu về xe ô tô (xe đi du lịch, đi các loại địa hình…). Khách hàng hoàn toàn an tâm với các sản phẩm tới từ Toyota.

    Toyota bên cạnh đó cũng rất quan tâm tới dịch vụ khách hàng (các thủ tục mu axe đơn giản), dịch vụ hậu mãi, chăm sóc khách hàng làm cho khách hàng (tổ chức các party khách hàng)  khó long có thể tìm một hang xe thứ 2 tốt hơn để lựa chọn.

    Với chiến lược tiếp cận khách hàng hợp lí, Toyota đã giảm tối đa sức mặc cả của người mua xe ô tô, tạo điều kiện để Toyota căng buồm đi tới.

         III.  PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG

    Mô hình PEST bao gồm các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô cũng có tác động không nhỏ đến hoạt động của các doanh nghiệp và Toyota cũng không ngoại lệ. Sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến Toyota trong phạm vi Nhật Bản và phạm vi quốc tế sẽ lần lượt được đề cập.

    1. Các yếu tố Thể chế – Pháp luật (Political)

    Môi trường chính trị – pháp luật Nhật Bản có ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động của các doanh nghiệp Nhật Bản trong đó có Toyota. Thời gian gần đây, tình hình chính trị Nhật Bản có rất nhiều biến động. Chỉ trong vòng 3 năm 2007 – 2009, chính trường Nhật Bản đã chứng kiến 3 lần từ chức của tổng thống Shinzo Abe, Yasuo Fukuda và  Taro Aso trước khi thủ tướng đương nhiệm Yukio Hatoyama lên nắm quyền. Các vị trí chủ chốt trong nội các cũng theo đó mà thay đổi. Toyota vốn là một công ty có được sự ủng hộ lớn từ chính phủ Nhật Bản nên những biến động dồn dập trên chính trường Nhật Bản sẽ làm cho mối quan hệ này bị lung lay.

    Một vấn đề không kém phần quan trọng là chính sách của chính phủ Nhật. Chính sách thương mại của Nhật Bản là chủ yếu tập trung hướng về xuất khẩu.  Nhật Bản thực hiện các chính sách thuế quan nhằm hạn chế và bảo hộ trong nước làm giảm sức mua của người Nhật Bản, giảm hàng nhập khẩu và tăng hàng xuất khẩu. Nhằm đẩy mạnh xuất khẩu được hàng hoá của mình, Nhật Bản đã áp dụng biện pháp khuyến khích và ưu đãi cho các nhà xuất khẩu như: miễn giảm thuế cho các công ty xuất nhập khẩu; thông qua các ngân hàng phát triển của Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu, cấp vốn với lãi suất thấp, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Đặc biệt, chính phủ đã thành lập các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu trong lĩnh vực thăm dò và tìm kiếm các thị trường bên ngoài. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu để hỗ trợ tín dụng cho cho những dự án xuất khẩu có kim ngạch lớn như trong đó có ô tô. Nhật Bản có một chính sách kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu rất khắt khe nhằm không cho hàng kém phẩm chất lọt ra thị trường bên ngoài để giữ uy tín. Chính việc kiểm tra chặt chẽ chất lượng hàng xuất khẩu của Nhật Bản đã làm cho những nhà nhập khẩu tin tưởng vào hàng của Nhật và góp phần thúc đẩy việc tăng xuất khẩu của nước này. Với chính sách ưu tiên xuất khẩu như vậy, Toyota nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ Nhật Bản. Như vậy xét chung về môi trường chính trị – pháp luật trong nước, Toyota có được nhiều thuận lợi.

    Vì Toyota là một công ty xuyên quốc gia nên tất nhiên chịu ảnh hưởng của môi trường chính trị của các thị trường nước ngoài cũng như  môi trường chính trị quốc tế. Trung Quốc là một trong những thị trường lớn nhất của Toyota. Trong đó, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ ô tô lớn nhất thế giới nhưng chính sách thuế của Trung Quốc lại nhằm hạn chế nhập khẩu ô tô, điều này khiến cho Toyota gặp phải khó khăn khi muốn xuất khẩu ô tô nguyên chiếc sang Trung Quốc, thay vào đó phải phát triển loại hình công ty con tại Trung Quốc.

    2. Các yếu tố Kinh tế (Economic)

    Giai đoạn 2007-2009, kinh tế Nhật Bản cũng như kinh tế thế giới đi vào thời kỳ suy thoái.

    Nhật Bản đang hồi phục dần sau khủng hoảng, tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng âm và tỷ lệ thất nghiệp cao vẫn đang là  những vấn đề nan giải.

    Bảng 1. Báo cáo kinh tế hàng tháng của Nhật Bản (tháng6/2009)

      Số liệu mới nhất Số liệu trước đó
    Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế 

     

    (hàng quý)

    Quý I /2009

     

    -3,8%

    Quý IV/2008

     

    -3,6%

    Tỷ lệ tăng trưởng GDP tính theo năm -14,2% -13,5%
    Tỷ lệ thất nghiệp (hàng tháng, được điều chỉnh theo mùa) Tháng 5/2009

     

    5.2% / 3.470.000 người

    Tháng 4/2009

     

    5.0% / 3.460.000 người

    Chỉ số giá tiêu dùng ( hàng tháng) 100.5 100.7
    Tỷ giá ngoại tệ (hàng tháng) Tháng 6/2009

     

    1 USD = 95.56 JPY

    1 EURO = 135,53  JPY

    Tháng 5/2009

     

    1 USD = 96,45 JPY

    1 EURO = 134,65  JPY

    (Nguồn: Văn phòng Ni các Nhật Bản)

    Tỷ lệ thất nghiệp cao dẫn đến việc giá tiêu dùng năm 2009 giảm 1,7% so với năm 2008. Chỉ số tiêu dùng chính, giảm 9 tháng liên tiếp, dẫn đến hiện tượng giảm phát và gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế bởi lợi nhuận của công ty thấp, người tiêu dùng cũng tiết kiệm hơn và do đó nhu cầu sẽ giảm…Kinh tế khó khăn sẽ làm giảm lượng cầu sản phẩm của Toyota.

    Trước tình hình kinh tế suy thoái, chính sách trong ngắn hạn của chính phủ Nhật Bản là nỗ lực duy trì một đồng yên yếu (tỷ giá USD/JPY, EUR/JPY luôn được cố gắng giữ ở mức cao) nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu. Với chính sách tỷ giá như vậy và với các gói kích cầu của chính phủ Nhật Bản, Toyota cũng nhận được sự trợ giúp nhất định.

    Tuy nhiên xét trong dài hạn, Nhật Bản đã là một nước phát triển nên ít nhiều sẽ chịu ảnh hưởng của xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp sang dịch vụ. Xu hướng này sẽ gây khó khăn cho một công ty trong ngành công nghiệp chế tạo như Toyota khi mà ưu tiên cho ngành này đang dần giảm sút.

    Xét đến môi trường ngoài nước, điển hình như Mỹ – thị trường lớn nhất của Toyota, kinh tế suy thoái đã gây nhưng ảnh hưởng nặng nề đến các doanh nghiệp sản xuất ô tô, trong đó có Toyota. Mỹ phải đối đầu với vấn đề tăng trưởng thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, vấn đề lạm phát. Khủng hoảng kinh tế làm cho Mỹ – một thời là “con nghiện tiêu dùng” – trở nên hạn chế chi tiêu tiêu dùng. Điều này chắc chắn làm cho việc duy trì doanh số bán xe, xây dựng thêm nhà máy tại Mỹ của Toyota trở nên khó khăn.

    Tóm lại, dưới tác động của khủng hoảng tài chính vừa qua, môi trường kinh tế tác động đến Toyota theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn là tích cực.

    3. Các yếu tố Văn hóa – Xã hội (Social)

    Các yếu tố này tác động đến Toyota trên cả phương diện hoạt động sản xuất, quản lý và định hướng khách hàng.

    Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cần phải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì du nhập vào để chúng biến thành kiểu Nhật Bản. Xã hội Nhật Bản tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân và vì xã hội.Có một câu nói rằng: “Người Nhật kết hôn 2 lần trong cuộc đời của mình, một là với công việc, hai là với người vợ, chồng của mình“. Người Nhật Bản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với doanh nhân hơn với gia đình của mình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức. Là một doanh nghiệp Nhật Bản, Toyota cũng kế thừa và phát huy phẩm chất của người Nhật Bản. Toyota giai đoạn mới thành lập cũng phải học hỏi chế tạo sản phẩm dựa theo xe ô tô của Mỹ nhưng không sao chép hoàn toàn mà tính năng, chất lượng sản phẩm bao giờ cũng được nâng cao. Lãnh đạo Toyota cũng lấy đại cục làm trọng: Chủ tịch Toyota Kiichiro Toyoda đã tự nguyện từ chức vào năm 1950 để làm nguôi ngoai những công nhân trước tình trạng thất nghiệp gia tăng thời kỳ hậu Thế chiến II. Với sự ảnh hưởng tính cách, văn hóa dân tộc như vậy chắc chắn Toyota sẽ góp phần vực dậy kinh tế Nhật Bản trong thời gian sau cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính.

    Bản thân thị trường Nhật Bản cũng là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 của Toyota nên những đặc điểm về văn hóa xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đặc điểm sản phẩm. Nhật Bản là một nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới hiện nay. Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Đối với người tiêu dùng Nhật, giá cả là một tín hiệu của chất lượng. Bên cạnh lương tháng, hầu hết người lao động được thưởng một năm hai lần. Tiền thưởng mỗi lần bằng khoảng 1 đến 3 tháng lương. Đối với người lao động, các chi phí sinh hoạt bình thường hàng ngày được thanh toán từ lương tháng còn tiền thưởng dùng tiết kiệm hay chi cho mua sắm tốn kém như là mua ô tô. Về cơ cấu chi tiêu, chi tiêu cho đi lại chỉ đứng sau thực phẩm, hơn nữa chi tiêu cho đi lại của các hộ gia đình Nhật Bản lại có xu hướng tăng lên trong những năm vừa qua. Đây là ảnh hưởng thuận lợi và định hướng sản phẩm cho Toyota thiên về chất lượng cao, kiểu dáng không cần quá thời trang và giá cả phải chăng.

    Tương tự như vậy các yếu tố cơ cấu dân số, thu nhập, trình độ văn hóa, … của các nước khác mà Toyota coi là thị trường tiêu thụ cũng ảnh hưởng đến đặc điểm của sản phẩm Toyota tại thị trường đó. Với một công ty đa quốc gia có thị trường rộng khắp thì cần phải có sản phẩm đa dạng về mức giá, kiểu dáng…

    4. Yếu tố về Công nghệ (Technological)

    Toyota cũng được hưởng lợi từ chính sách nghiên cứu – phát triển công nghệ của Nhật Bản. Hiện nay Nhật Bản vẫn là nước có tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu trong GDP lớn nhất thế giới. Hơn nữa việc hợp tác nghiên cứu công nghệ hiện đại giữa chính phủ và doanh nghiệp lại được ủng hộ. Như vậy, môi trường nghiên cứu khoa học – công nghệ trong nước tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao nói chung cũng như Toyota nói riêng.

    Tham gia ngành ô tô – một ngành mà yếu tố công nghệ có vai trò nhất định, Toyota cũng chịu tác động của việc công nghệ thường xuyên được cải tiến, điều này buộc cho Toyota phải không ngừng tự nghiên cứu, áp dụng công nghệ hiện đại vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm. Công nghệ hiện đại cho phép năng lượng sử dụng ngày càng giảm, trọng lượng, kích thước của xa ngày càng giảm, độ an toàn càng cao. Đặc biệt gần đây, công nghệ hybrid nổi lên như một tiến bộ mới trong việc tiết kiệm năng lượng, hạn chế khí thải ô nhiễm môi trường. Tính không ngừng cập nhật, không ngừng đổi mới của khoa học – công nghệ đòi hỏi Toyota phải nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới liên tục để cắt giảm chi phí, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, tạo những sản phẩm hiệu quả về cả mặt kinh tế cũng như môi trường.

          IV.CÁC CHIẾN LƯỢC NHẰM TẠO RA LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA TOYOTA

    Ngành sản xuất ô tô bị ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Điều này được thể hiện rõ bằng sự sụp đổ của tập đoàn General Motor. Tính đến 31/12/2009, Toyota là tập đoàn sản xuất ô tô lớn nhất thế giới với doanh thu quý cuối đạt 5.292.890 triệu yên. Toyota đã đạt được những thành công từ quá trình phát triển để trở thành hãng sản xuất ô tô uy tín trong nước rồi tiếp tới vươn ra trở thành tập đoàn toàn cầu.

    * Chu kỳ ngành: Hiện nay, ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, châu Âu, ngành công nghiệp ô tô đang ở trong giai đoạn tăng trưởng bền vững. Các hãng sản xuất đang đua nhau cho ra đời sản phẩm mới, và họ đang tập trung vào các loại xe sử dụng ít nhiên liệu hoặc năng lượng sạch như điện hay năng lượng mặt trời.

    Ở các quốc gia châu Á, ngành lại đang ở thời kì đầu. Các hang sản xuất không đủ cầu, doanh số bán hàng tăng mạnh, lợi nhuận thu về rất lớn, và là một thị trường tiềm năng hưa hẹn cho các hang sản xuất xe ô tô.

    1.   Phương thức sản xuất độc đáo

    Trong quá trình phát triển của mình Toyota đã dần hình thành nên một phương thức sản xuất đặc trưng, nổi tiếng hiệu quả trong việc giảm chi phí đến mức tối đa, có thể cung cấp cùng một dòng xe cùng chất lượng nhưng lại có giá thấp hơn rất nhiều so với đối thủ. Phương thức này tập trung vào 3 yếu tố chính: luồng một sản phẩm, quan hệ với nhà cung cấp và vận chuyển, con người.

    1. Luồng 1 sản phẩm

    Có thể hiểu luồng một sản phẩm qua ví dụ đơn giản trong việc sản xuất ô tô được tổ chức thành 3 phòng riêng biệt: phòng 1 sản xuất động cơ, phòng 2 lắp ráp khung, phòng ba thử xe. Theo cách thức sản xuất thông thường (quy trình sản xuất quy mô lớn), phòng vật tư sẽ quyết định chuyển mỗi lần một lô gồm 10 sản phẩm. Mỗi phòng mất 1 phút để làm ra sản phẩm theo chức năng của mình. Do đó sẽ mất 10 phút để lô sản phẩm 10 chiếc trải qua từng phòng khác nhau. Như vậy nếu không tính đến thời gian giao vật tư giữa các phòng khác nhau thì cũng phải mất 30 phút để hoàn thành và thử nghiệm xong một lô đầu gồm 10 sản phẩm để đem giao cho khách hàng. Phải mất 21 phút để có được chiếc ô tô đầu tiên, mặc dù công việc này chỉ cần đến 3 phút.

    Phòng sản xuất động cơ

    ;;;;;;;;;;

    Phòng lắp ráp khung

    Phòng kiểm nghiệm xe

    þþþþýþþþþþ

    Luồng 1 sản phẩm: chỉ lấy những thiết bị máy móc cần thiết để làm động cơ từ bộ phận sản xuất động cơ, thiết bị máy móc để lắp ráp khung từ phòng lắp khung, và bộ kiểm nghiệm từ phòng kiểm nghiệm và đem cả ba cái này nhập làm một. Có nghĩa là ta đã tạo ra một bộ phận mà sẽ làm theo luồng một sản phẩm. Những người trực tiếp sản xuất không được phép để tồn kho trong suốt quá trình sản xuất. Ví dụ, người sản xuất động cơ không được phép sản xuất một động cơ khác nếu người lắp ráp khung chưa lắp xong khung. Nói cách khác, mọi người chỉ được phép sản xuất những gì đang cần đến ngay tức khắc. Kết quả là những người trực tiếp sản xuất trong một tổ luồng một sản phẩm chỉ mất 12 phút để sản xuất ra 12 chiếc ô tô, trong khi quy trình sản xuất theo lô lớn phải mất hơn 30 phút mới sản xuất được 10 cái. Thực tế là 3 phút là thời gian tạo ra giá trị gia tăng.

    • Chiếc xe thứ nhất xong trong 3 phút.
    • 10 xe xong trong 12 phút.

    ;

    þþþþýþþþþþ

    Theo quy trình sản xuất này, luồng một sản phẩm không tạo ra hàng tồn kho. Như vậy sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí lưu kho. Đặc biệt hơn, luồng một sản phẩm giúp kiểm lỗi một cách dễ dàng. Trong hình trên một chiếc ô tô đã bị lỗi trong quá trình sản xuất, mà được đánh dấu X. Chiếc xe này bị phát hiện ra trong quá trình thử nghiệm. Theo phương pháp sản xuất theo lô lớn trước khi phát hiện lỗi, có ít nhất 21 bộ phận trong quá trình sản xuất bị hỏng. Và nếu sản phẩm hỏng này xảy ra ở phòng sản xuất động cơ, phải mất đến 21 phút trong phòng thử nghiệm thì mới tìm ra được sản phẩm hỏng. Ngược lại, trong luồng một sản phẩm, khi chúng ta phát hiện sản phẩm hỏng có thể chỉ có hai chiếc xe trong quá trình sản xuất có hỏng hóc và thời gian tối đa phát hiện ra hỏng hóc của hai chiếc xe là hai phút kể từ khi bị hỏng hóc. Thực tế là trong quy trình sản xuất lô lớn, có khi phải mất đến một tuần làm việc hoặc thậm chí vài tuần hoặc vài tháng mới phát hiện ra sản phẩm hỏng. Rồi khi mọi dấu vết về nguyên nhân hỏng hóc hầu như không còn nữa thì gần như không thể hiểu tại sao lại hỏng.

    Tuy nhiên luồng một sản phẩm vấp phải một nhược điểm quan trọng về vấn đề vận chuyển. Vấn đề này nếu không được giải quyết công ty đi ngược lại lợi thế quy mô lớn.

    1. Nhà vận chuyển và cung cấp

    Để tạo ra luồng một sản phẩm thành công Toyota buộc phải có những nhà cung cấp có khả năng đáp ứng những phụ tùng chất lượng cao kịp thời. Những nhà cung cấp trong ngành xe hơi đều cho rằng Toyota là khách hàng tốt nhất của họ đồng thời cũng khó tính nhất. Khó tính không có nghĩa là khó mà giao thiệp hay tỏ ra vô lý. Nó có nghĩa Toyota đặt ra các tiêu chuẩn rất cao về sự tuyệt hảo và kỳ vọng mọi đối tác đều vươn tới những chuẩn mực đó. Quan trọng hơn, Toyota sẽ giúp các đối tác làm được điều đó. Phòng mua bán vật tư của Toyota có những chuyên gia về hệ thống sản xuất Toyota và chất lượng của riêng nó để giao dịch với các nhà cung cấp mỗi khi có xảy ra trục trặc, mà trục trặc nghiêm trọng nhất là khi một nhà cung cấp khiến dân chuyền lắp ráp của Toyota phải ngừng hoạt động do sự cố về chất lượng hoặc không đủ sản phẩm. Một ví dụ điển hình về vấn đề này xảy ra tại nhà máy TMI, một nhà cung ứng của Toyota. Máy tính của TMI ngừng chạy chỉ trong ba tiếng đồng hồ nhưng với hệ thống rất tinh gọn của TMI (được các chuyên gia của Toyota giúp đỡ tạo nên), điều đó cũng đủ để làm ngưng trệ dây chuyền của Toyota. Ngay lập tức một phái đoàn chuyên gia chất lượng của Toyota xuống ngay nhà máy TMI và ở đó hàng ngày trong 2 tuần. TMI được gán cho điểm 2 trong thang điểm xếp hạng nhà cung cấp của Toyota, nghĩa là họ bị vào vòng kiểm soát và phải báo cáo hàng tháng về những cải tiến dựa trên phân tích nguyên nhân gốc và những biện pháp giải quyết rõ ràng. Thực tế là TMI đã có nhiều điểm đen về giao linh kiện trước đây và Toyota xem đây là một dấu hiệu nữa của một vấn đề sâu xa hơn. Giải pháp của Toyota: phân tích mọi khía cạnh của công ty này, bao gồm hoạch định chất lượng, quá trình tuyển chọn nhân công, việc huấn luyện, cơ cấu nhóm làm việc, quy trình giải quyết sự cố, hệ thống kéo và các nghiệp vụ chuẩn. Cơ bản là cấp quản lý gần như tái tạo lại công ty. Nhờ những trợ giúp của Toyota, TMI giờ đây thường xuyên được xếp hạng là nhà cung cấp ghế ô tô hàng đầu về chất lượng.

    Trong vấn đề vận chuyển, Toyota xây dựng nên các bãi tập kết hàng để nhận những đơn hàng từ những nhà cung cấp ở xa một vài lần trong ngày, tạm thời lưu giữ chúng và rồi đóng vào xe để gửi đến nhà máy lắp ráp dưới dạng những lô hàng hỗn hợp chừng 12 lần một ngày. Các nhà máy sẽ nhận được những lô hàng thường xuyên và các xe tải luôn đầy hàng từ nhà cung cấp tới bãi tập kết và từ bãi tách hàng đến nhà máy lắp ráp. Bãi tách hàng này ứng dụng mọi nguyên tắc của hệ thống sản xuất Toyota. Nó là một cơ sở xuyên suốt, các nhân viên tham gia vào quá trình cải tiến liên tục, các bảng biểu bằng hình ảnh và các công cụ kiểm lỗi được dán khắc nơi để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy, còn các tài xế xe tải nắm được vai trò của mình trong việc giao nhận với những yêu cầu khắt khe về thời hạn, đồng thời với việc tham gia kiểm tra chất lượng sản phẩm.

    Do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà cung cấp, nhà vận chuyển và các nhà máy, người ta có thể điều khiển nhịp nhàng dòng chảy của các linh kiện giao đến nhà máy và các công-ten-nơ rỗng trả lại thông qua bãi tách hàng. Cơ bản là trao đổi một – đối – một giữa các thùng chứa rỗng và các công-ten-nơ rỗng trả lại. Toyota đã nỗ lực trong việc sắp xếp kế hoạch cho nhà máy lắp ráp, nhờ đó cân đối được việc giao nhận trong toàn mạng lưới.

    1. Con người

    Bất kỳ ai tại Toyota khi nói về hệ thống sản xuất Toyota đều đề cao tầm quan trọng của tinh thần tập thể. Tất cả cơ cấu ở đó là dùng để hỗ trõ cho nhóm làm việc thực hiện các công việc mang lại giá trị gia tăng. Nhưng nhóm làm việc không làm tăng giá trị, mà chính là các cá nhân. Toyota đã thiết lập một sự cân bằng tuyệt hảo giữa công việc cá nhân và công việc theo nhóm cũng như giữa thành tích cá nhân và hiệu quả của tập thể. Mặc dù tinh thần tập thể là quan trọng, nhưng tập hợp mọi người làm việc chung một nhóm sẽ không đủ bù đắp nếu thiếu đi sự vượt trội của một cá nhân hay thiếu sự am hiểu cá nhân đối với hệ thống của Toyota. Các cá nhân làm việc xuất sắc được đòi hỏi bù đắp cho tập thể. Điều này lý giải tại sao Toyota lại bỏ ra nhiều công sức để tìm kiếm và sàng lọc nhiều nhân viên tiềm năng. Họ muốn có được nhân sự tốt để có thể giao quyền làm việc trong nhóm. Khi Toyota chọn ra được một từ hàng trăm người xin việc sau nhiều tháng, họ sẽ gửi đi một thông điệp trong đó nêu rõ những khả năng và khí chất quan trọng đối với một cá nhân. Người ta sẽ bỏ ra nhiều năm để từng cá nhân phát triển sâu rộng kiến thức kỹ thuật, các kỹ năng làm việc. Một sự am hiểu gần như tự nhiên về những triết lý của công ty sẽ nói lên tầm quan trọng của cá nhân đó trong hệ thống của Toyota. Chính yếu tố con người tạo nên văn hóa công ty khiến khó có công ty nào có thể bắt chước phương thức sản xuất Toyota một cách hoàn hảo.

    Gốc rễ thành công của Toyota rút lại chỉ một dòng: biến công việc thành một chuỗi các thực nghiệm đan xen và diễn ra cùng một lúc. Làm thế nào để cụ thể hóa điều này? Có bốn bí quyết, được coi là “chìa khóa vàng”.

    Thứ nhất: Quan sát công việc. Tại Toyota, mọi người phải quan sát, nắm chắc công việc phải làm trước khi bắt tay vào việc. Điều đó có nghĩa là nghĩ kỹ trước khi hành động. Công nhân phải quan sát các quy trình động tác của mình. Lãnh đạo phải quan sát công nhân để tìm cách sắp xếp hợp lý các thao tác.

    Một nhà quản lý phải bỏ ra 12 tuần, đó là thời gian ngồi quan sát thao tác của các công nhân, nghiên cứu từng động tác, quy trình để có khi chỉ đổi một cái nút bấm từ bên trái sang bên phải chẳng hạn. Hoặc là thay đổi vị trí các linh kiện để giảm thời gian đi lại, mang vác.

    Toyota coi trọng việc tìm cách cải thiện quy trình, tính tới việc giải quyết các lỗi có thể phát sinh, hơn là đi giải quyết các sự cố đã xảy ra.

    Thứ hai:  Mọi thay đổi lãnh đạo muốn làm, đều phải coi là thử nghiệm. Không phải cứ lãnh đạo cho ý kiến đều là đúng cả. Các nhà quản lý phải được trang bị tư tưởng này và sẵn sàng cùng thử nghiệm. Nguyên tắc này giúp tìm ra khá nhiều những giải pháp đúng và tốt hơn hết.

    Thứ ba: Cả công nhân lẫn các nhà quản lý, luôn luôn thử nghiệm để đổi mới, càng nhiều càng tốt. Toyota muốn tiến hành nhiều thí nghiệm nhỏ để học hỏi trước khi bắt tay vào các thí nghiệm lớn hơn. Điều này giúp các sai lầm nếu xảy ra cũng không quá lớn và có thể được nhanh chóng sửa chữa.

    Thứ tư:  Người quản lý đóng vai trò như các huấn luyện viên và để cho nhân viên tiến hành các công việc cụ thể và thực hiện những thay đổi cần thiết. Điều này giúp cả hai phía cùng phải thử nghiệm thực tế, phát triển sáng tạo.

    2.   Chiến lược phát triển của Toyota cho từng mảng thị trường

    Toyota luôn hướng tới việc đáp ứng nhu cầu của từng đất nước và khu vực. Theo đó, chiến dịch sản phẩn cơ bản từ 2000 đến nay của Toyota là cung cấp mọi loại xe cho tất cả các nước, tất cả các khu vực. Tính đến năm 2009 Toyota đã hình thành nên một mạng lưới toàn cầu với 11 trung tâm nghiên cứu phát triển, 75 trung tâm sản xuất tại Nhật Bản và nước ngoài; mạng lưới bán hàng đã có mặt tại hơn 170 nước và vùng miền. Tuy nhiên, giữa những điều kiện thị trường ô tô khắc nghiệt như ngày nay, việc mở rộng theo cách thức này trở nên khó khăn hơn trong khi Toyota vẫn phải thực hiện vai trò của mình như một nhà sản xuất ô tô góp phần vào một xã hội phong phú, tăng trưởng kinh tế và tương lai môi trường của trái đất. Vì vậy, trong thời gian tới Toyota phải xác định nơi nó muốn cạnh tranh và những vùng cần có những bước đi cẩn thận.

    Hiện nay, Toyota đã xây dựng chiến lược riêng dành cho mỗi mảng thị trường lớn trên thế giới: với các nước đang phát triển (đặc biệt là Trung Quốc) cạnh tranh bằng chiến lược giá, thị trường nội địa tập trung vào chất lượng sản phẩm, thị trường Bắc Mỹ phát triển theo hướng tự cung tự cấp, thị trường Châu Âu sử dụng lợi thế của dòng xe nhiên liệu sạch.

    Bảng 1: Tỷ trọng doanh thu theo vùng của Toyota trong năm tài chính 2009

    1. Chiến lược mở rộng thị phần tại các thị trường đang phát triển để thu lợi nhuận.

    Đây là chiến lược được Toyota đặt lên hàng đầu trong thời điểm lập báo cáo thường niên năm tài chính 2009 (kết thúc ngày 31/3/2009). Trung quốc và các quốc gia mới nổi tại châu Á, Trung và Nam Mỹ hứa hẹn trở thành động lực quan trọng cho sự tăng trưởng trong tương lai của Toyota. Đặc biệt, thị trường Trung Quốc có tiềm năng phát triển tương đương thị trường Mỹ. Toyota đang trong quá trình hình thành một mô hình giúp các kỹ sư chế tạo nhìn nhận vấn đề theo con mắt của khách hàng. Đối với những nước châu Á còn lại cũng như Nam Mỹ và những vùng khác, vẫn còn có những vùng mà thị phần của Toyota rất thấp trong khi nhu cầu thì ngày càng tăng. Sản phẩm chiến lược là những chiếc xe chất lượng cao, giá hợp lý. Toyota cũng sẽ phát triển những sản phẩm IMV (Innovative International Multipurpose) như những mô hình chiến lược quan trọng.

    1. Những thay đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng tại thị trường Nhật Bản

    Tại Nhật Bản, doanh số bán hàng kể cả xe mới và cũ đạt tổng số 12 triệu chiếc năm tài chính 2009. Trong đó xe mới đóng góp xấp xỉ 3 triệu chiếc. Trong khi đó 75 triệu xe được đăng ký tại Nhật Bản trong năm tài chính 2009. Điều này cho thấy Toyota vẫn còn rất nhiều cơ hội phát triển trong nước. Để có thể khai thác tối đa cũng cơ hội này, chiến lược phát triển của Toyota tập trung vào những biến đổi và đặc trưng sản xuất hướng về khách hàng.

    Sự nhận thức về môi trường của khách hàng Nhật đang ngày càng gia tăng. Chính phủ Nhật đẩy mạnh thực hiện các chương trình nhằm thay thế những dòng xe cũ và tăng nhu cầu sử dụng dòng xe thân thiện môi trường. Toàn ngành sản xuất ô tô Nhật cũng nhấn mạnh vấn đề môi trường và năng lượng. Từ thực tế như vậy Toyota tiếp tục đẩy mạnh việc quản cáo chiếc Prius và các dòng xe hybrid khác.

    Thêm vào đó công ty dự định phát triển những ý tưởng mới phù hợp với nhu cầu tiềm năng của khách hàng và tái cấu trúc những sản phẩm của mình để có thể tạo nên những chiếc xe thực sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

    1. Đẩy mạnh mô hình tự cung tự cấp trong nghiên cứu phát triển và sản xuất tại Bắc Mỹ

    Bắc Mỹ là một thị trường cực kì quan trọng đối với Toyota. Chiến lược trong thời gian tới của Toyota tại Bắc Mỹ là đẩy mạnh xây dựng mạng lưới các cơ quan nghiên cứu phát triển và các nhà máy sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu khu vực.

    1. Đẩy mạnh quá trình xâm nhập và dành được những thị trường lớn tại Châu Âu

    Châu Âu có nhiều nhà sản xuất xe hơi truyền thống lớn thống lĩnh thị trường khu vực. Đối với Toyota, cách tốt nhất để tiếp cận thị trường này không chỉ đơn giản là bán nhiều xe hơn hoặc tăng thị phần mà phải hình thành được thương hiệu với những sự khác biệt hóa. Châu Âu  là một thị trường quan trọng đối với Toyota. Với những quy tắc môi trường được quản lý gắt gao, Toyota dự định khai thác kỹ thuật hybrid kết hợp với các hoạt động nhằm củng cố hình ảnh của mình trên thị trường.

    3.   Chiến lược dịch vụ hoàn hảo của Toyota

    Những hoạt động Dịch vụ chất lượng Toyota đã được thiết lập để gắn kết chặt chẽ Đại lý và TMC nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng bao gồm:

    • Cung cấp sản phẩm có chất lượng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp những chiếc xe thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và phù hợp với môi trường sử dụng.

    • Dịch vụ sau bán hàng số 1:

    Điều này có nghĩa là cung cấp dịch vụ tốt nhất trong khu vực. Nó cũng có nghĩa là cung cấp tốt hơn các đối thủ để sao cho chiếc xe của khách hàng luôn ở trong tình trạng tốt nhất. Vì vậy, khách hàng luôn tự tin khi vận hành xe.

    • Dịch vụ chăm sóc khách hàng:

    Khách hàng có 4 điều trông đợi ở dịch vụ sau bán hàng như sau:

    1. Đối xử chân thành
    2. Sửa chữa chính xác và tin cậy
    3. Giá cả hợp lý
    4. Sửa chữa hiệu quả và nhanh chóng

    Nhiều khách hàng cũng trông đợi”những điều đặc biệt”, như sự giúp đỡ có ích, cung cấp những dịch vụ phụ như tra dầu vào bản lề cửa bị kêu, hay đưa ra những lời khuyển chuyên nghiệp về lái xe ở vùng núi.

    Không ngừng nâng cao sự hài lòng của khách hàng sẽ không chỉ giúp đem lại thịnh vượng cho công ty của bạn mà nó còn nâng cao sự hài lòng về công việc của chính bản thân bạn. Điều đó cũng có nghĩa là sự hài lòng của khách hàng sẽ phản ánh vào sự đánh giá của công ty bạn.

    Nó sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn. Ví dụ, môi trường làm việc có thể được cải thiện, bạn sẽ được đối xử tốt hơn (thu nhập, thăng tiến v.v.) từ phía công ty, và bạn có thể có được công việc ổn định.

     

    Đánh giá:

    Với phương thức sản xuất hình thành trong suốt quá trình hoạt động lâu dài, Toyota sở hữu một giá trị nội tại bền vững. Văn hóa công ty cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị công ty. Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển quá nhanh chóng của công ty, mở rộng quy mô với tốc độ quá lớn khiến công ty phải đối mặt với những vấn đề về chất lượng. Hiện nay, sau một loạt các vụ thu hồi xe, Toyota đã thay đổi chiến lược trung hạn của mình từ tập trung thống lĩnh thị trường sang nâng cao chất lượng sản phẩm. Nâng cao niềm tin chất lượng sản phẩm, khôi phục danh dự của thương hiệu sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất của Toyota trong năm 2010. Nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này, Toyota có cơ hội phát triển hơn nữa và thu lợi nhuận khổng lồ từ lợi thế người dẫn đầu.

    V. PHÂN TÍCH SWOT

    1. Các điểm mạnh (strengths)

    Toyota là một trong những hang xe hàng đầu xét trên phạm vi 170 quốc gia trên thế giới. Với doanh số bán hàng phát triển không ngừng qua các năm. Toyota có sức mạnh tài chính cao, doanh thu tăng trưởng khoảng 29,3%/ năm. Toyota được thế giới biết đến như một thương hiệu lớn mạnh về cả chất lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm, sự thân thiện với môi trường của sản phẩm, và hệ thống khách hàng rộng lớn trên toàn thế giới. Đây là một công ty đi đầu trong ngành, khuếch đại lới nhuận dựa vào những nguyên tắc chặt chẽ và hiệu quả riêng của Toyota như quản lý tổng quát chất lượng, “just in time”, cải tiến các chức năng và bước đi của sản phẩm( điều này đã được đề cập tới ở mục phân tích chiến lược cạnh tranh của công ty).

    Ngoài ra, thị phần chính của Toyota là Nhật bản và Mỹ. Đây là hai thị trường tiềm năng vì người dân các nước này rất chuộng sử dụng xe ô tô. Chính phủ Nhật bản dành cho công ty rất nhiều ưu đãi như một doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Nhật.

    2. Yếu điểm (weaknesses)

    Toyota tuy có rất nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó vẫn bộc lộ những hạn chế của mình. Rất nhiều chuyên gia về xe đều đánh giá phần thiết kế của Toyota là hơi thô, không thời trang như các hang xe lớn khác. Sản phẩm của Toyota đôi khi vẫn có lỗi kỹ thuật (có thể kể tới vụ Toyota thu hồi xe do hỏng bàn đạp chân ga đầu năm 2010). Ngoài ra, là một hãng xe thâm nhập vào thị trường lớn như Mỹ, Toyota bị người dân Mỹ nhìn dưới con mắt là một hãng xe nhập khẩu của Nhật, điều này phần nào tạo nên một rào cản vô hình cho người tiêu dùng ở Mỹ với hãng.

    3. Cơ hội (opportunities)

    Trong tình hình giá xăng dầu thế giới đang leo thang, khách hàng sử dụng xe có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm tiết kiệm xăng dầu hoặc sử dụng nguồn năng lượng sạch. Toyota đang theo đuổi dự án chế tạo xe chạy bằng khí ga và hydro bằng cách áp dụng những thành tựu và kỹ thuật tân tiến của thế giới và kết quả của hoạt động R&D. Trong khi khách hàng đang tìm kiếm nguồn thay thế dầu thì đây quả là một dự án béo bở cho công ty.

    Hiện nay ở rất nhiều quốc gia nơi nhu cầu về xe là lớn nhưng nguồn cung vẫn còn hạn chế. Toyota có thể mở rộng thị trường ra các quốc gia này. Chế tạo thêm xe đáp ứng các yêu cầu của điều kiện địa lí, mở rộng khách hàng mục tiêu ra các giới trẻ hiện đại cũng là những cơ hội giúp Toyota nâng cao thị phần của mình.

    4. Thách thức (Threats)

    Như đã phân tích ở trên, có rất nhiều các hãng xe khác trên thế giới đã và đang gia nhập thị trường. Điều này là một thách thức lớn cho Toyota khi vừa phải nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các hãng xe hiện hữu, vừa phải tìm cách để cạnh tranh với các đối thủ tiềm tàng. Bên cạnh đó, việc thay đổi tỉ giá giữa đồng USD và JPY cũng dẫn tới lợi nhuận của công ty bị sụt giảm, chi phí nguyên liệu thô tăng lên, gây khó khăn cho việc sản xuất.

    Sau đợt khủng hoảng kinh tế kéo dài này, chính phủ các nước được dự báo là sẽ ban bố chính sách thắt chặt chi tiêu, dân tới doanh số và doanh thu của các hãng xe sẽ giảm. Chính phủ các nước cũng đang khuyến khích người dân thay vì sử dụng những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường như ô tô, xe máy thì nên sử dụng những phương tiện công cộng để di chuyển như xe lửa, bus, tàu cao tốc.

    Bên cạnh đó, việc thay đổi nhân khẩu học như các gia đình giờ chuộng sử dụng những mẫu xe lớn, sự thay đổi trong cách sử dụng xe của gia đình như sử dụng ít xe hơn trong việc đưa trẻ tới trường, các dịch vụ giao hàng tận nhà, cũng làm giảm cầu của các dòng xe giảm xuống đáng kể.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Marketing-Nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Marketing Nghiên cứu thị trường tiêu dùng

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc mua bán, trao đổi hàng hoá ngày càng được chú trọng và quan tâm. Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn, nhiều cơ hội để tìm cho mình một loại sản phẩm phù hợp nhất và giá cả lại phải chăng. Trong các bạn, có lẽ không ai là không biết đến sản phẩm bột giặt OMO của tập đoàn Ulinever. Và chúng ta cũng biết rằng khi một thương hiệu đã chiếm được khối óc của người tiêu dùng thì đích đến cho nó là chiếm trái tim của họ. Điều này đúng với OMO- thương hiệu bột giặt dẫn đầu tại thị trường Việt Nam. Đây là một trong những lí do quan trọng đầu tiên thu hút chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu vế sản phẩm này.

    Trong xã hội hiện đại ngày nay, đối với mỗi gia đình, bột giặt là một trong những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu. Điều kiện sống càng phát triển thì nhu cầu của con người về những sản phẩm hoàn thiện cũng tăng lên. Theo chúng tôi, OMO đã đáp ứng tốt được phần nào mong muốn của khách hàng về chất lượng sản phẩm. Một sản phẩm muốn đứng vững trên thị trường, muốn tạo được niềm tin về chất lượng nơi người tiêu dùng không phải dễ. Song, OMO đã làm được điều ấy. Và giờ đây, sản phẩm này đã, đang và sẽ càng khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường Việt Nam và nước ngoài.

    Trên đây là một vài lí do chủ yếu khiến chúng tôi chọn OMO là sản phẩm để tìm hiểu và nghiên cứu.

    Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi trước tiên là khảo sát thực trạng khách hàng, tình hình của công ty. Từ đó tìm ra các ưu, nhược điểm và các đối thủ cạnh tranh để tìm ra giải pháp. OMO hiện đang là một sản phẩm có thương hiệu mạnh song về đối thủ cạnh tranh không phải là không có. Vì vậy việc nghiên cứu này rất cần thiết để có thể giữ vững vị trí của OMO trên thị trường. Chúng tôi nghĩ rằng, việc tìm hiểu, nghiên cứu này cần được diễn ra thường xuyên để có thể theo dõi được biến động của thị trường, để đưa ra được các giải pháp kịp thời, phù hợp.

    Khi chọn OMO là đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ khảo sát khách hàng là những sinh viên trong trường Đại học Công nghiệp TPHCM và người dân thành phố Thái Bình. Đây là một phạm vi không gian thích hợp và thuận tiện đêt chúng tôi nghiên cứu, nó gồm nhiều thành phần đối tượng với các mức thu nhập khác nhau. Vì vậy sẽ đảm bảo tính công bằng, khách quan của cuộc nghiên cứu. Phương pháp mà chúng tôi chọn là xác suất ngẫu nhiên phân tổ. Đây là một phương pháp ít tốn kém, có tính hiệu quả và ưu việt so với các phương pháp khác.

    Nội dung nghiên cứu của chúng tôi gồm 3 phần chính:

    –         Chương1: Tổng quan

    –         Chương 2: Kết quả nghiên cứu

    –         Chương 3: Giải pháp, kiến nghị

    Đây là lần đầu tiên thực hiện đề tài này nên chúng tôi không tránh khỏi một vài thiếu sót. Mong các bạn và thầy cô góp ý để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện hơn. Và chúng tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô khoa Kinh tế, đặc biệt là thầy Bùi Văn Quang đã giúp đỡ chúng tôi hoàn thành bài tiểu luận này.

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

     

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG

    1.1 Phân tích thị trường

    1.1.1: Thực trạng

    Đứng trứơc cơn lốc cạnh tranh của nền kinh tế thời hội nhập WTO, các doanh nghiệp luôn ý thức được về sự sống còn của sản phẩm là do người tiêu dùng quyết định. Tại Việt Nam những năm gần đây sức cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước và hàng hoá nước ngoài diễn ra hết sức quyết liệt đặc biệt là những sản phẩm có xuất xứ từ những công ty đa quốc gia và Unilever Việt Nam cũng là một trong những đại gia lớn trên thị trường hàng tiêu dùng, hàng thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng Việt Nam như bột giặt Omo. Omo đến với Việt Nam khi thị trường hàng tiêu dùng ở đây còn mới nên có nhiều đất để kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam còn thấp nên khả năng tiêu thụ cao. Hiện nay thị phần của bột giặt Omo khá rộng và có uy tín đối với người tiêu dùng trên cả nước nhưng thời gian gần đây trên thị trường xuất hiện những thương hiệu bột giặt khác như: Tide, Viso, Surf, Vì Dân, Hoa Mơ…đe doạ thị phần của bột giặt Omo.

    Bên cạnh đó, nạn hàng nhái, hàng giả nhãn mác bột giặt Omo làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và lợi nhuận của công ty.

    1.1.2: Thị hiếu

    Gắn với nhu cầu thường xuyên, bột giặt trở thành mặt hàng thiết yếu và không thể thiếu trong mỗi gia đình. Với công việc bận rộn và có ít thời gian vì vậy bột giặt Omo tạo ra những tâm lý thích giặt trắng, giặt sạch, tẩy vết bẩn nhanh…đã đưa vào những sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu, sở thích , thị hiếu của người tiêu dùng. Tại nước ta thị phần của bột giặt Omo chiếm khá cao và được người tiêu dùng tin tưởng về cả chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Omo kết hợp 3 yếu tố: độ an toàn cho da tay, độ giặt tẩy trắng và hương thơm của bột giặt vào cùng một sản phẩm tung ra thị trường đã thu hút được sư yêu thích sản phẩm.

    Bột giặt Omo là một trong những mặt hàng giặt tẩy được các bà nội trợ Việt Nam rất tin dùng và ưa chuộng. Đồng thời nhắm vào tâm lý người Việt luôn đề cao lòng nhân ái, các bậc phụ huynh mong con em mình học được những điều tốt đẹp nhất nên những chương trình như: “Omo – áo trắng ngời sáng tương lai”, “ Triệu tấm lòng vàng”, “ Tết làm điều phúc sung túc cả năm”…càng làm tăng uy tín cho thương hiệu bột giặt Omo. Mặc dù hai thương hiệu Omo và Tide đều dễ nhớ, ngắn gọn nhưng nhiều bà nội trợ Việt Nam cho biết họ lựa chọn bột giặt Omo vì nhãn hiệu Omo dễ nhớ trong khi đó thì Tide lại mang lại cho họ cảm giác ngại ngùng khi đọc tên nhãn hiệu bột giặt Tide.

    Hơn nữa nguời tiêu dùng Việt Nam rất tin vào quảng cáo. Công ty Nielen công bố kết quả nghiên cứu thị trường Việt Nam đứng thứ 8 trong top 10 quốc gia tin vào quảng cáo nhất vì vậy Omo có những chiêu thức quảng cáo rất hay thu hút được nhiều nguời tiêu dùng chú ý đến chất lượng và mẫu mã sản phẩm.

    Tâm lý chung của khách hàng rất thích các hình thức khuyến mãi. Đánh vào tâm lý này Omo đã có những chương trình khuyến mãi rất hấp dẫn và có những hoạt động gắn kết với cộng đồng đã khẳng định thương hiệu trên thị trường, tạo được sư tin tưởng của khách hang.

    1.1.3: Khả năng đáp ứng

    Omo là một thương hiệu bột giặt nổi tiếng không chỉ ở thị trường trong nước mà còn là một thương hiệu bột giặt có uy tín trên thị trường quốc tế. Hơn nữa thị phần của thương hiệu bột giặt Omo chiếm 60% thị trường bột giặt trong nước, Tide-đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Omo chiếm 30% thị phần, 10% còn lại dành cho các thương hiệu bột giặt khác vì vậy khả năng đáp ứng của bột giặt Omo rất lớn cung cấp đủ nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều thương hiệu bột giặt khác như: Tide, Hoa Mơ, Surf, Vì Dân… vì thế người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn và điều này đang đe doạ thị phần của bột giặt Omo do đó Omo luôn tung ra những sản phẩm mới với nhiều tính năng để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hang đồng thời cũng để giữ được thị phần và chiếm lĩnh 10% thị phần của các thương hiệu bột giặt khác trên thị trường.

    Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao có nhiều gia đình sử dụng máy giặt vì vậy Omo không chỉ phát triển dòng sản phẩm giặt tay mà còn phát triển cả dòng sản phẩm giặt máy với những tính năng giặt tẩy khắc phục được một số nhược điểm khi giặt quần áo bằng máy giặt .

    1.2 Phân tích về khách hàng

    Nghiên cứu thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm bột giặt OMO  và các nhà sản xuất khác nhau – nghiên cứu uy tín của các thương hiệu (sự hiểu biết của người tiêu dùng về thương hiệu, về những đặc điểm chính của sản phẩm), những liên kết góp phần tạo giá trị hoặc làm giảm giá trị của thương hiệu.

    Nếu như trước kia nước ta ở thời kì bao cấp, bột giặt vẫn còn là hàng hóa xa xỉ hiếm có, thì hiện nay khi đã hội nhập với thế giới- là thành viên của WTO-thì việc mua bán bột giặt trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Bột giặt OMO đã có mặt ở khắp mọi nơi. Người tiêu dùng có thể mua bột giặt tại các siêu thị, đại lý, cửa hàng tạp hóa đến những cửa hàng nằm trong phố một cách dễ dàng.

    Unilever đã phối hợp với các chương trình quảng cáo trên các phương tiện truyền thông (nhất là TV, vì ở Việt Nam TV vẫn là kênh thông tin chủ lực, có sức lan tỏa lớn và nhanh), do đó dược nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng ngày càng nhiều.

    Người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn khi mua sản phẩm OMO. Vì OMO có đa dạng chủng loại: OMO tẩy trắng, OMO hương ngàn hoa, OMO tẩy hết 99% vết bẩn, OMO matic dùng cho máy giặt… khiến người tiêu dùng hứng thú với sản phẩm hơn.

    Ngoài ra, Unilever còn có tên trong danh sách các sản phẩm đạt danh hiệu Rồng vàng Việt Nam. Đây cũng chính là “tem bảo đảm” đối với người tiêu dùng khiến họ an tâm hơn khi sử dụng bột giặt OMO.

    Đồng hành với các hoạt động mở rộng thương hiệu Unilever còn đấu tranh mạnh mẽ với tệ nạn làm hàng giả, hàng nhái bằng cách thành lập Ban phòng chống hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tham gia vào Hội chợ hàng tiêu dùng và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam…Nhân viên Unilever đến tận nơi khoanh vùng sản xuất và nhập khẩu hàng nhái, hàng buôn lậu, rồi kết hợp với cơ quan chức năng lùng bắt,triệt phá tận hang ổ. Mặt khác, nhân viên của Unilever còn tổ chức các buổi nói chuyện tại các chợ, các khu dân cư về hậu quả tac hại của việc sản xuất, buôn bán, tiêu thụ, sử dụng hàng nhái, hàng giả, hàng buôn lậu. Trong quá trình sản xuất mẫu mã kiểu dáng sản phẩm, nhãn mác, Unilever cố gắng tạo nhiều dấu hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết hàng thật, hàng giả. Do vậy đã hạn chế được nạn hàng nhái, hàng giả. Không những đem lại được nhiều lợi nhuận cho công ty mà còn được người tiêu dùng tin tưởng và chọn lựa.

    Không chỉ vì lợi nhuận Unilever đã biết quan tâm khách hàng. Một mặt, sản phẩm luôn được đổi mới và cải tiến để làm sạch quần áo đến mức tối ưu. Mặt khác, Omo Matic đã kết hợp với các hãng sản xuất máy giặt hàng đầu như Sam Sung, Toshiba, Sanyo, LG, Electrolux, Daewoo trong chiến dịch giới thiệu sản phẩm và chăm sóc khách hàng lâu dài. Ví dụ sự kết hợp giữa máy giặt Electrolux và bột giặt OMO đã để lại ấn tượng mạnh trong tâm trí người tiêu dùng. Khi nghĩ đến Electrolux người tiêu dùng nghĩ ngay đến OMO và ngược lại.

    Sự kết hợp giữa OMO và Comfort đã chinh phục người tiêu dùng khi Unilever thường khuyến mãi mua OMO tặng Comfort. Nhất là khi trong cuộc cạnh tranh với bột giặt Tide và nước xả vải Downy, OMO đã thành công. Vì khi P&G kết hợp bột giặt Tide với nước xả vải Downy vào chung thì vô tình đã hạ thấp Downy ( dùng bột giặt Tide có Downy thì không phải dùng Downy nữa)

    Trong cuộc đua với Tide – đối thủ cạnh tranh “ nặng ký” nhất, OMO định vị sản phẩm là “trắng sạch” trong khi Tide định vị sản phẩm là “không hại da tay” thì OMO đã được người tiêu dùng lựa chọn. Vì theo như số đông người tiêu dùng thì bột giặt nào cũng có chất tẩy rửa nên không tránh khỏi không hại da tay (đối với giặt tay) nên lấy không hại da tay ra làm tiêu chí như của Tide là sự thất bại rất rõ ràng. Bên cạnh đó, người tiêu dùng thường chọn OMO chứ không chọn Tide mặc dù cả hai thương hiệu này đều mạnh và tên gọi thì dễ nhớ, dễ gọi. Tuy nhiên người tiêu dùng đã chọn OMO vì khi nói tên gây được sự hứng thú của họ hơn. Họ ngại khi nói “bán cho tôi bột giặt Tide (thai) nghe nó… kỳ kỳ.

    Tuy nhiên giá của OMO vẫn cao hơn Vì Dân. Do đó, người tiêu dùng ở nông thôn thường mua Vì Dân vì giá rẻ hơn nên OMO có ít thị phần ở nông thôn hơn.

    Thói quen và hành vi của người tiêu dùng – mức mua hàng, sự ưa thích đối với các địa điểm bán hàng, các địa điểm bán hàng truyền thống, những phàn nàn của người tiêu dùng

    Người tiêu dùng thường thích mua sản phẩm giá rẻ nhưng chất lượng tốt. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thu nhập, sở thích, tuổi tác… của từng người mà có những thói quen và hành vi mua sắm khác nhau. Nếu thu nhập thấp thì người tiêu dùng quan tâm đặc biệt đến giá cả. Vậy nên yếu tố chất lượng bị đặt thấp hơn chứ không hẳn là không quan tâm. Ngược lại người có thu nhập cao họ quan tâm đến chất lượng hơn là giá cả. Vì họ có đủ khả năng chi trả và sẵn sàng “rút hầu bao” để mua sản phẩm  có chất lượng tốt hơn.

    Thường thì những người có thu nhập thấp, sống ở nông thôn, những gia đình ít người, thường mua ít , số lượng nhỏ (gói nhỏ) nhưng thường xuyên ( vì bột giặt là sản phẩm thiết yếu). Họ thường chọn các địa điểm gần gũi, truyền thống, giá rẻ, dễ tìm: chợ, tạp hóa. Những người có thu nhập cao thường tìm đến siêu thị, các đại lý bán buôn, bán lẻ (tuy nhiên cũng không ít người mua ở chợ và tạp hóa hoặc ở gần nơi làm việc vì địa điểm thuận lợi, nhanh chóng). Vậy nên chợ và tạp hóa vẫn là nơi phân phối nhiều nhất,  là nơi được nhiều người tiêu dùng chọn lựa. Người mua khối lượng lớn, nhất là sản phẩm dùng riêng cho máy giặt, họ thường mua ở siêu thị, đại lý.

    1.3 Phân tích đối thủ cạnh tranh

    Gắn với nhu cầu tiêu dùng thường xuyên mỗi ngày, bột giặt trở thành mặt hàng thiết yếu và nhà sản xuất đã tạo ra những trào lưu mới từ tâm lý thích làm trắng, tẩy vết bẩn nhanh, không làm hại ra tay …của các bà nội trợ. Nắm được tâm lý đó các nhà sản xuất bột giặt đã tạo ra những dòng sản phẩm làm hài lòng đại đa số khách hàng. Hiện nay trên thi trường có khá nhiều loại bột giặt của các nhà sản xuất khác nhau, bởi vậy nên có sự cạnh tranh quyết liệt để giành được thị phần của các doanh nghiệp. Dưới đây là bảng so sánh những đặc điểmcủa nhãn hiệu bột giặt Omo so với Tide, Vì dân:

    Các đặc điểm, yếu tố Omo Tide Vì dân
    1.Sản phẩm

     

    – Chất lượng

    – Kiểu dáng

    – Độ an toàn cho da

    – Tên gọi

    -Chủng loại

    Tốt

     

    Đa dạng

    Tương đối

    Đơn giản,dễ nhớ, được người tiêu dùng ưa thích

    Đa dạng

    Tốt

     

    Đa dạng

    Tương đối

    Đơn giản, dễ nhớ,không được người tiêu dung đánh giá cao

    Tương đối

    Bình thường

     

    Bình thường

    Tương đối

    Gần gũi với người dân Việt

    Ít

    2.Giá cả Đắt Đắt Rẻ
    3.Phân phối Rộng khắp Rộng khắp Trong phạm vi lãnh thổ
    4.Quảng cáo Hay, nhiều, hấp dẫn Hay, chưa nhiều Ít
    5.Khuyến mãi Nhiều, hấp dẫn Nhiều Ít
    6.Công nghệ Hiện đại Hiện đại Hiện đại
    7. Sự nổi tiếng của thương hiệu Nổi tiếng, có uy tín Nổi tiếng, uy tín Bình thường
    8.Quy mô Rộng lớn Rộng lớn Trong pham vi
    9.Khả năng quản lý Tốt Tốt Tốt

    Có thể nói, trước mối đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh trong cuộc đua dành thị phần, các đại gia mỹ phẩm đã phải thay đổi đáng kể phong cách quảng cáo và chiến lược Marketing. Và dường như, đó cũng là xu hướng chung mà nhiều doing nghiệp cần nhận thấy để có những thay đổi kịp thời trong các chiến lược kinh doanh tiếp thị của mình.

    Kỹ thuật quảng cáo và các hình thức đã làm tăng đáng kể thị phần của các nhãn hiệu bột giặt. Trước năm 1995, nhãn hiệu bột giặt không là vấn đề quan trọng, người tiêu dùng chủ yếu mua sản phẩm đang sẵn có ở các chợ, tiệm tạp hoá. Cuối năm 1995, khi Omo chính thức ra mắt và dồn dập quảng bá thương hiệu, nhãn hiệu Tide cũng lao vào cạnh tranh thì cuộc chiến giành thị phần mới thực diễn ra.

    Người tiêu dùng bị cuốn vào các lời mời gọi hấp dẫnmời dùng thử sản phẩm miễn phí, tham dự các buổi giới thiệu công nghệ mới của siêu thị…Hai nhãn hiệu bột giặt này đẩy lùi các loại bột giặt khác về vùng nông thôn, chiếm kênh phân phối siêu thị, chợ, cửa hang. Tide là một đối thủ nặng kí của nhãn hiệu bột giặt Omo. Một ví dụ dưới đây sẽ minh hoạ cho việc chiến đấu không khoan nhượng để bảo vệ thi phần của 2 nhãn hiệu bột giặt này. Năm 2002, thị trường chứng kiến cuộc chiến một mất một còn giữa hai nhãn hiệu bột giặt Omo và Tide. Tide là bên khởi đọng cuộc chiến với việc giảm giá bán 20%. Ngay lập tức doanh số của Tide tăng vọt. Không chịu ngồi yên, Omo lập tức giảm giá xuống 20%. Tide cắt tiếp 15% giá bán, đồng thời thanh toán bù giá cho toàn bộ lượng hàng thị trường đẫ nhập về đợt trước. Lần này Omo cũng không chịu ngồi yên, họ giảm giá lần hai và đẩy mạnh việc khoá công suất sản xuất của đối thủ bằng các hợp đồng gia công bột giặt độc quyền với các tháp phun sấy bột giặt trên toàn quốc. Khi gviảm giá đến mức sàn, nhắm không gồng nổi nữa họ bèn rủ nhau tăng giá. Lúc này người tiêu dùng đã quen thuộc với thương hiệu Omo nên dù có tăng giá đôi chút họ vẫn sẵn sang móc hầu   bao ra trả, Omo bảo vệ được thị phần.
    Omo và Tide là hai nhãn hiệu được người tiêu dùng đánh giá là chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, mùi hương dễ chịu…và được phân phối rộng khắp nhưng Omo vẫn chiếm được thị phần lớn. Một trong những lý do khiến Omo chiếm thị phần vượt trội so với bột giặt Tide chính là vì người tiêu dùng thích nhãn hiệu bột giặt này. Hai nhãn hiệu này dều có tên gọi ngắn gọn và dễ nhớ thế nhưng nhiều bà nội trợ Việt Nam cho biết họ lựa chọn Omo vì nhãn hiệu này dễ nhớ trong khi Tide lai mang đến cảm giác …áo trắng sạch hờ có Tide(thai).

    Thương hiệu bột giặt Omo không chỉ thành công  nhờ quảng cáo dày đặc trên truyền hình mà còn nhờ các chương trình khuyến mãi, triển lãm, tài trợ học sinh nghèo hiếu học và đặc biệt là xây dựng quỹ khuyến học…nên có ảnh hưởng tích cực đến thái độ người mua. Với sản phẩm “Omo…..” Lever VN tiếp tục thành công khi khẳng định “sức mạnh giặt tẩy” của bột giặt nhãn hiệu Omo. Do vậy, đối thủ Proter & Gamble VN ( P& G) đã phải chuyển hướng chọ mùi thơm làm thế mạnh cho sản phẩm bột giặt Tide. Từ Tide cỏ mùa xuân đến Tide hương nắng mai, P& G đã hướng người tiêu dùng đến một nhu cầu mới: bột giặt thơm. Tuy nhiên Lever mới thực sự là kẻ nhanh chân. Lần này không phải là Omo mà là nhãn hiệu Viso (1 dòng sản phẩm của Lever) đã ngáng đường Tide.

    Hiện nay trên thị trường có nhiều loại bột giặt mà người mua thường dùng ngoài Omo, Tide còn có Surf, Viso, Vì dân… Nhưng không thể nói Surf và Viso là đối thủ cạnh tranh của Omo vì hai nhãn hiệu bột giặt này đều là của Univer. Do đó Tide vẫn là đối thủ cạnh tranh trực tiếp và có sức ảnh hưởng lớn đối với Omo. Còn nhãn hiệu bột giặt khác cũng là đối thủ nhưng không đáng lo ngại đối với một nhãn hiệu mạnh như Omo hiện nay. Tuy nhiên, có một vài ưu điểm của nhãn hiệu bột giặt Vì dân mà Omo phải quan tâm đó là: Bột giặt Vì dân áp dụng khá thành công các đặc tính về kỹ thuật nên được chuyển tải thông qua những gì đơn giản và dễ hiểu ở thị trường mục tiêu của họ. Chiếm lĩnh thị phần tại nông thôn, bột giặt Vì dân với giá rẻ, bao bì sản phẩm viết đầy đủ tất cả các thông tin về đặc tính của sản phẩm, xác nhận thông qua các chứng nhân của bên thứ ba – theo một số chuyên gia thì thông tin như vậy quá dầy và không dễ tiếp thu. Tuy nhiên đối tượng là người dân sống ở vùng nông thôn Việt Nam, họ không muốn mua sản phẩm giá cao như Omo hoặc Tide, thì việc đưa sản phẩm mới vào, họ cần biết sản phẩm tốt hay xấu. Việc ghi thông tin dầy đặc và chi tiết trên bao bì đã đưa đến thành công cho Vì dân.

    1.4: Phân tích tình hình công ty

    Trong những năm gần đây, sức cạnh tranh giữa hàng hoá Việt Nam và hàng hoá thị trường nước ngoài diễn ra hết sức quyết liệt, đặc biệt là các sản phẩm có xuất xứ từ các công ty đa quốc gia hiện đang có mặt và thống lĩnh trên thị trường Việt Nam. Unilever – Việt Nam cũng là một trong số trong những công ty đại gia lớn trên thị trường hàng tiêu dùng, hàng năm đã cung cấp một lượng lớn các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng Việt Nam như: Kem đánh răng P/S, dầu gội Sunsilk, bột giặt Omo…Đây không chỉ là mối đe doạ cho các nhà sản xuất trong nước mà còn là tấm gương để các doanh nghiệp học hỏi về kinh nghiệm Marketing của một công ty đa quốc gia lớn có tầm cỡ thế giới. Có thể nói, công ty Unilever đã có chiến lược tiếp thị chu đáo và đầy tính sáng tạo nhằm đánh bóng tên tuổi và thu hút sức tiêu thụ của khách hàng đối với sản phẩm của công ty. Công ty đã tận dụng những điểm mạnh tối đa vốn có của mình cũng như phát huy được những cơ hội của thị trường để mang lại doanh thu khổng lồ hàng năm cho công ty. Sau đây là một vài phân tích cơ bản về chiến lược marketing của công ty.

    1.4.1: Điểm mạnh của công ty:

    –  Được sự hỗ trợ của tập đoàn Unilever toàn cầu nên có tài chính vững mạnh

    – Chính sách thu hút tài năng hiệu quả: Quan điểm của công ty là “Phát triển thông qua con người, thông qua các ngày hội việc làm cho các sinh viên sắp tốt nghiệp của các trường đại học danh tiếng để từ đó đào tạo nên các quản trị viên tập sự sáng giá cho nguồn nhân lực của công ty. Ngoài ra, công ty cũng có chế độ lương bổng, phúc lợi thoả đáng và các khoá học tập trung trong và ngoài nước cho nhân viên nhằm nâng cao nghiệp vụ của họ…

    – Tình hình nghiên cứu và phát triển công nghệ của Unilever Việt Nam luôn được chú trọng và đầu tư thoả đáng. Đặc biệt, công tác R& D rất hiệu quả trong việc khai tháctính truyền thống của dầu gội như dầu gội bồ kết, kem đánh răng muối. Công nghệ hiện đại kế thừa từ Unilever toàn cầu, được chuyển giao nhanh chóng và có hiệu quả rõ rệt.

    – Giá tương đối chấp nhận được, trong khi chất lượng rất cao, không thua hàng ngoại nhập.

    – Môi trường văn hoá doanh nghiệp mạnh, đội ngũ nhân viên trí thức và có tinh thần trách nghiệm vì mục tiêu chung của công ty, đặc biệt các quan hệ với công chúng rất chú trọng tại công ty.

    1.4.2. Điểm yếu của công ty:

    – Gần đây công ty đã cắt giảm ngân sách ít nhiều do những khó khăn mà sự kiện 11-9 gây ra cho nền kinh tế thế giới.

    – Các vị trí chủ chốt trong công ty vẫn người nước ngoài năm giữ

    – Vẫn còn những công nghệ không áp dụng được tại Việt Nam do chi phí cao, vì vậy phải nhập khẩu ngoài nên tốn kém chi phí không tận dụng được hết nguồn lao động dồi dào và có năng lực ở Việt Nam.

    – Giá cả của Unilever còn khá cao so với thu nhập của người Việt Nam, nhất là những vùng nông thôn.

    – Là một công ty có nguồn gốc Châu Âu, chiến lược quảng bá sản phẩm của Unilever còn chưa phù hợp với văn hoá Á Đông.

    1.4.3. Cơ hội các yếu tố môi trường bên ngoài:

    – Chủ trương của các bộ nghành Việt Nam là cùng thống nhất xây dựng nền kinh tế Việt Nam theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; trong đó ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia như Unilever để tăng ngân sách.

    – Thị trường trong nước(bán buôn, bán lẻ, lưu chuyển hàng hoá…)đã phát triển nhiều hơn. Và cơ sở hạ tầng ở các thành phố lớn, nhất là Tp HCM đã và đang được đầu tư thích đáng, trước mắt là ngang bằng với các nước trong khu vực.

    – Trong bối cảnh khủng bố, dịch bệnh, chiến tranh,… thời gian qua, nền chính trị Việt Nam được đánh giá là ổn định và được bầu chọn là một trong những điểm an toàn nhất khu vực châu Á Thái Bình Dương nói riêng và mang lại sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    – Trình độ dân trí Việt Nam tương đối cao, nhất là khu vực thành thị. Tỷ lệ người tốt nghiệp đại học, cao đẳng…khá cao so với các nước; hơn nữa lao động trí óc ở Việt Nam giỏi xuất sắc về công nghệ nên đây cũng là một nguồn nhân lực khá dồi dào cho công ty.

    – Khách hàng mục tiêu của nhiều sản phẩm mà Unilever Việt Nam kinh doanh là giới trẻ thế hệ X(những bạn trẻ tuổi 18-29), hiện có phần tự lập và phóng khoáng, tự tin hơn thế hệ trước. Họ sẽ là người đưa ra quyết địnhcho phần lớn các vấn đề trong cuộc sống, bao gồm chọn mua những sản phẩm hàng tiêu dùng.

    – Việt Nam là một quốc gia tự do về tôn giáo nên việc phân phối, quảng cáo sản phẩm không phải chịu ràng buộc khắt khe như nhiều nước châu Á khác.

    – Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ và phổ biến là gia đình mở rộng(ông bà, cô chú,…), tạo nhiều cơ hội cho Unilever Việt Nam vì đây chính là khách hàng mục tiêu của công ty.

    – Việt Nam nằm ở vị trí tương đối thuận lợi trong khu vực, có đường bờ biển dài, có nhiều cảng biển lớn thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá khi công ty Unilever Việt Nam bắt đầu chú trọng đến việc xuất khẩu trong tương lai gần.

    – Unilever đến Việt Nam khi thị trường hàng tiêu dùng ở đây còn mới, có nhiều “Đất” để kinh doanh.

    1. Thách thức từ các yếu tố môi trường bên ngoài:

    -Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam còn thấp cho thấy khả năng tiêu thụ                                            sản phẩm cao.

    – Tài chính, tín dụng của Việt Nam không phát triển, thị trường chứng khoán còn manh mún. Thêm vào đó, hệ thống viễn thông, thông tin liên lạc, cước điện thoại, bưu điện và internet có mức giá thuộc hàng cao nhất thế giới. Do đó, việc đưa internet vào kinh doanh là không thể thực hiện được đối với Unilever, mặc dù công ty đã nhiều lần đề cập đến mục tiêu này như một cách tiếp cận khách hàng và quảng bá sản phẩm thành công ở các nước công nghiệp phát triển.

    – Bộ luật thương mại còn nhiều bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, nhất là chính sách thuế quan và thuế suất cao đánh vào các mặt hàng được coi là “xa xỉ phẩm” mà Unilever kinh doanh như kem dưỡng da sữa tắm…

    – Giới trẻ Việt Nam cũng bị nhiều chì trích từ phía xã hội do xu hướng ăn chơi hưởng thụ của không ít thanh niên đã gây bất bình trong người lớn tuổi, nghiêm khắc…Một số ý kiến đã cho rằng, chính những công ty đa quốc gia đã cổ động, mang lại lối sống hưởn thụ phương Tây, vốn xa lạ với người châu Á mà nhất là một nước còn ít nhiều tư tưởng phong kiến lễ giáo như Việt Nam.

    – Chính sách dân số-kế hoạch hoá của chính phủ sẽ khiến trong vài thập niên nữa lớp trẻ sẽ già đi và cơ cấu dân số già sẽ không là lợi thế cho Unilever. Ngoài ra những gia đình mở rộng ở mức trung lưu (cư cấu gia đình phổ biến nhất Việt Nam), việc chọn mua một sản phẩm nhất là sản phẩm cao cấp, thường được cân nhắc rất kĩ lưỡng. Vì vậy, nhóm này tiêu thụ những mặt hàng chăm sóc cá nhân (peronal care ) cao cấp không nhiều như nhóm SSWD (single-độc thân, saparate-sống riêng, widowe-goá phụ, divorced-li dị) ở các nước tư bản.

    – Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm không phù hợp với một số sản phẩm có xuất xứ từ công ty mẹ ở châu Âu.

    – Trong bối cảnh thị trường hàng tiêu dùng cung đang lớn hơn cầu, nhiều công ty mới “chen chân” vào và cạnh tranh sẽ rất gay gắt cho công ty Unilever.

    Trên cơ sở điểm mạnh – điểm yếu, cơ hội-nguy cơ,Unilever đã thực hiện chiến lược Marketing-mix ở thị trường Việt Nam nhơ sau:

    ØĐịa điểm phân phối

    Năm 1995, Unilever vào Việt Nam đã tạo ra một hệ thống tiếp thị và phân phối toàn quốc, bao quát hơn 100.000 địa điểm.Unilever đã đưa khái niệm tiêu thụ bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhân viên bán hàng trực tuyến, những nhân viên này có nhiệm vụ chào các đơn hành mới, giao hàng và cấp tín dụng cho các đơn hàng tiếp theo.Các điểm bán lẻ được cấp tủ bày hàng năm sử dụng tối đa không gian trong cửa hàng và tính bắt mắt sản phảm. Ngoài ra, công ty còn giúp đỡ các hãng phân phối các khoản cho vay mua phương tiện đi lại, đào tạo quản lývà tổ chức bán hàng.

    ØSản phẩm

    Công ty đã vận dụng những tiêu chuẩn quốc tế cho sản phẩm nhưng thích nghi với người tiêu dùng Việt Nam. Họ đã mua lại từ các đối tác của mình những nhãn hiệu có uy tín nhiều năm tại Việt Nam như bột giạet Viso, và kem đánh răng P/S. Sau đó, cải tiến công thức chế tạo bao gói và tiếp thị để gia tăng tiêu thụ những nhãn hiệu này. Bên cạnh đó, công ty cũng tìm hiểu sâu sắc nhu cầu người tiêu dùng Việt Nam đẻ “Việt Nam hoá” sản phẩm của mình.

    Với tầm quan trọng về uy tín thương hiệu, trong những năm qua Unilever Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc chống hàng gỉa để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tụe và uy tín với thương hiệu hàng hoá.Các sản phẩm của công ty hiện nay đã có thêm TEM BẢO HÀNH HÀNG THẬT, hay LÔG CHỐNG HÀNG GIẢ BẢO ĐẢM HÀNG THẬT nhằm giúp khách hàng có thể nhận biết rõ hàng giả – hàng thật và mang lại cảm giác an tâm khi sử dụng.

     

     

    ØQuảng bá

    Unilever có hai mảng chính trong hệ thông chiến lược quảng bá của mình là “Above-the-line” (quảng bá trực tiếp) và “below-the-line” (quảng bá gián tiếp)

    ØChính sách giá cả:

    Nhận biết 80% người tiêu dùng Việt Nam sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp, Unilever Việt Nam đã đề ra mục tiêu giảm giá thành sản xuất nhằm đem lại mức giá cả hợp lý cho người tiêu dùng. Công ty đã dựa vào các doanh nghiệp nhỏ ở địa phương để tìm các nguyên liệu tại chỗ thay thế một số loại phải nhập khẩu; điều này vừa giảm được chi phí mua hàng vừa đóng thuế nhập khẩu ít hơn.

    Ngoài ra công ty cũng phân bố sản xuất, đóng gói cho các vệ tinh tại các khu vực Bắc, Trung, Nam để giảm chi phí vận chuyển và kho bãi. Unilever cũng đã thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính giúp các doanh nghiệp địa phương có thể nâng cấp trang thiết bị sản xuất, chuyển giao kĩ thuật, tổ chức các chương trình huấn luyện sản xuất.

    ØNguồn nhân lực:

    Cùng với việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh, Unilever Việt Nam luôn coi trọng việc phát triển nguồn nhân lực là bước đột phá về chất cho sự phát triển bền vững lâu dài, cả khi xã hội tiến vào nền “Kinh tế  tri thức” hoặc “kinh tế sinh học”. Để hiểu thấu đáo người tiêu dùng Việt Nam và phát triển hệ thống rễ giúp công ty có thể bám sâu vào thị trường, Unilever đã xây dựng một đội ngũ nhân viên bản địa chuyên nghiệp và thường xuyên chú trọng đến các chương trình huấn luyện nhân viên. Quan điểm của Unilever là “phát triển thông qua con người”, nên công ty luôn quan tâm đến quyền lợi của nhân viên và sẵn sàng hỗ trợ họ trong các lĩnh vục công tác. Hiện nay, đội ngũ quản lý Việt Nam đã thay thế các vị trí chủ chốt trước kia do các chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm.

    ØCông nghệ:

    Việc chuyển giao công nghệ trực tiếp được tiến hành đối với chuyển giao máy móc và hệ thống công thức cũng như đảm bảo chất lượng và những phân tích. Những nhà quản lý của Unilever cung cấp dịch vụ hỗ trợ thiết thực để giúp những nhà sản xuất tăng tính hiệu quả đồng thời nâng cao chất lượng và vòng đời sản phẩm.

    ØThương hiệu:

    Nhìn chung quãng đường định vị theo hướng mới của Omo vẫn chưa đủ dài song những gì họ làm được đáng để coi là thành công. Thành công trong việc mở cho mình một lối đi riêng trên thị trường Việt Nam, thành công trong việc nâng cao giá trị thương hiệu của một sản phẩm thuộc hàng tiêu dùng thiết yếu. Sau nay rất có thểnhững đối thủ cạnh tranh sẽ theo bước chân định vị của họ.Song Omo có lợi thế là người tiên phong trên thị trường, mà cái gì đầu tiên thường để lại ấn tượng lâu phai trong tâm trí khách hàng.

    Với chiến lược Marketing trên, công ty đã chiếm được cảm tình của đa số người tiêu dùng Việt Nam trong gần một thập niên qua. Trong tương lai, Unilever sẽ ra đời nhiều sản phẩm mới lạ và độc đáo hơn với hy vọng vẫn là người bạn đồng hành, thân thiết trong sinh hoạt của mọi nhà.A

     

     

     

    CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    2.1: Miêu tả nội dung nghiên cứu:

    –  Nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu hành vi khách hàng về loại bột giặt Omo

    – Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là sinh viên ngoài ra còn nhiều đối tượng khác nữa

    + Độ tuổi chia thành nhiều nhóm tuổi khác nhau nhưng tập trung vào sinh viên với độ tuổi từ 18- 24 tuổi.

    + Giới tính: 80% khách hàng được phỏng vấn là nữ, 20 % là nam.

    + Ngành nghề: sinh viên chiếm phần lớn, còn lại là các ngành nghề khác: bà nội trợ, công nhân viên chức, người buôn bán kinh doanh…

    + Thu nhập: phần đông sinh viên nhận tiền từ gia đình nên chi phí sinh hoạt tính trên tháng khoảng dưới 1 triệu.Các ngành nghề khác có mức thu nhập cao hơn ( từ 1 triệu trở lên).

    2.2: Kết quả nghiên cứu

    Sau khi khảo sát thực tế 100 khách hàng tại 3 địa điểm: Trường Đai học công nghiệp TPHCM, trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, người dân xung quanh trường công nghiệp TPHCM nhóm chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

    Về các loại bột giặt khách hàng từng sử dụng:

    Biểu đồ 2.1a: Các loại bột giặt khách hàng đã từng sử dụng

    Qua biểu đồ 2.1 ta thấy:

    • Số lượng khách hàng đã từng sử dụng bột giặt Omo chiếm tỉ lệ cao nhất: 75%
    • Ở vị trí tiếp theo là Tide và Surf chiếm 43% và 34%.
    • Hoa mơ là loại bột giặt không được khách hàng ưa dùng.

    Khách hàng vẫn ưu ái sử dụng loại bột giặt Omo và Tide nhiều nhất. Surf cũng là một loại bột giặt cũng được người tiêu dùng sử dụng nhiều. Trong khi đó bột giặt Hoa mơ hầu như không được khách hàng biết đến.

    Các loại bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Biểu đồ 2.1b: Các loại bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Qua biểu đồ 2.1b ta thấy:

    • Omo là loại bột giặt được khách hàng sử dụng nhiều nhất là 68%.
    • Ở vị trí thứ 2 là loại bột giặt Surf chiếm tỉ lệ 16%.
    • Tiếp theo là bột giặt Tide chiếm 9%.
    • Hoa mơ không được khách hàng chú ý tới: 0%

    Hiện nay bột giặt Omo vẫn chiếm vị trí thứ nhất. Nếu như trước kia người tiêu dùng ưa chuộng bột giặt Tide hơn Surf  thì nay xu hướng đã chuyển sang dùng bột giặt Surf và Tide đã xuống vị trí thứ ba. Bột giặt Hoa mơ vẫn không chiếm được sự quan tâm của người tiêu dùng.

    Biểu đồ 2.2: Kênh thông tin mà khách hàng sử dụng để biết sản phẩm

    Qua biểu đồ 2.2 ta thấy:

    • Quảng cáo là kênh thông thông tin được khách hàng sử dụng nhiều nhất để biết đến sản phẩm, chiếm tỉ lệ 74%.
    • Kênh thông tin qua bạn bè, người thân và người tiêu dùng cũng chiếm tỉ lệ khá cao, lần lượt là 34% và 23%.
    • Kênh thông tin được người tiêu dùng sử dụng nhiều thứ 2 là qua bạn bè, người thân: 34%.
    • Internet là kênh thông tin được khách hàng sử dụng ít nhất.

    Quảng cáo là kênh thông tin được khách hàng sử dụng nhiều nhất vì nó rất phổ biến và tiện lợi. Còn hiện nay người tiêu dùng ít biết đến sản phẩm qua Internet.

    Địa điểm khách hàng chọn mua sản phẩm

    Biểu đồ 2.3: Địa điểm người tiêu dùng chọn lựa sản phẩm.
    Qua biểu 2.3 đồ ta thấy:

    • Địa điểm được khách hàng chọn lựa mua sản phẩm nhiều nhất là cửa hàng tạp hoá chiếm 68%.
    • Người tiêu dùng chọn lựa mua sản phẩm tại siêu thị và chợ cũng chiếm tỉ lệ khá cao, lần lượt là 18% và 20%.
    • Các nơi khác chiếm một tỉ lệ khá khiếm tốn là 11%.

    Cửa hàng tạp hoá là địa điểm được khách hàng lựa chọn nhiều nhất để mua sản phẩm vì đây là nơi thuận tiện và giá cả phải chăng. Hiện nay hệ thống các siêu thị cũng đang phát triển nhưng do mức giá còn cao và tốn nhiều thời gian của người tiêu dùng nên cũng ít được lựa chọn hơn.

    Mức độ thuận tiện khi mua sản phẩm

    Biểu đồ 2.4: Mức độ thuận tiện khi mua sản phẩm

    Qua biểu đồ 2.4 ta thấy:

    – Người tiêu dùng cảm thấy dễ dàng khi mua loại bột giặt với tỉ lệ là 50%.

    – Mức độ rất dễ dàng cũng chiếm một tỉ lệ khá lớn chiếm 40%, số lượng khách hàg cảm thấy khó khăn hoặc rất khó khăn là không có(0%).

    Do hệ thống cửa hàng tạp hoá là rộng khắp nên mọi người thấy rất dễ dàng và dễ dàng khi chọn mua sản phẩm.

    Dòng bột giặt khách hàng đang sử dụng

    Biểu đồ 2.5: Dòng bột giặt mà khách hàng đang sử dụng

    Qua biểu đồ 2.5 ta thấy:

    • Khách hàng chủ yếu chọn dòng sản phẩm bột giặt tay chiếm 83%
    • Trong đó khách hàng sử dùng dòng sản phẩm giặt máy chỉ là 17%.

    Việc lựa chọn dòng sản phẩm bột giặt tay là chủ yếu được lý giải là do thu nhập của người tiêu dùng.

    Chỉ tiêu đánh giá sản phẩm của khách hàng

    Biểu đồ 2.6: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu đánh giá sản phẩm của khách hàng

    Qua biểu đồ 2.6 ta thấy:

    – Chất lượng của bột giặt được khách hang rất quan tâm chiếm tới 68%

    – Khách hang cũng rất quan tâm đến giá cả của sản phẩm chiếm tỉ lệ

    48%

    – Đồng thời đặc tính của sản phẩm như sự an toàn cho da cũng được khách hang chú ý chiếm 50%

    – Thương hiệu của sản phẩm ít được chú ý hơn chiếm khoảng 30%

    Khách hang quan tâm đến những chỉ tiêu trên để dễ dàng chọn được cho mình một sản phẩm phù hợp với thu nhập và sở thích của mình

    Trọng lượng khách hàng chọn lựa

    Biểu đồ 2.7: Biểu đồ trọng lượng bột giặt được khách hàng chọn lựa

    Qua biểu đồ 2.7 ta thấy:

    –    Trọng lượng bột giặt dưới 500g chiếm 19%

    • Khách hang lựa chọn trọng lượng từ 500g- 1kg khi mua bột giặt với tỉ lệ khá cao chiếm 34%
    • Tỉ lệ khách hang lựa chọn trọng lượng bột giặt từ 1-2 kg và 2-3 kg chiếm 34%
    • Trọng lượng trên 3kg chiếm 13%

    Việc lựa chọn trọng lượng bột giặt như thế để phù hợp với sự tiêu dùng của khách hang và sự tiện lợi khi mua

    Việc lựa chọn hình thức khuyến mãi

    Biểu đồ 2.8: Biểu đồ thể hiện sự lựa chọn hình thức khuyến mãi

    Qua biểu đồ 2.8 cho ta thấy:

    • Đa số khách hang thích giảm giá sản phẩm chiếm đến 44%
    • Ngoài ra khách hang cũng rất quan tâm đến hình thức khuyến mãi tăng khối lượng của sản phẩm chiếm 32%
    • Hình thức tặng kèm sản phẩm cung được chú ý chiếm 28%
    • Hình thức rút thăm trúng thưởng ít được quan tâm hơn chiếm 11%
    • Các hình thức được ít khách hang quan tâm chiếm 6%

    Nhận xét của khách hàng về giá cả loại bột giặt đang dùng

    Nguồn: Do nhóm sinh viên khảo sát trực tiếp( phụ lục          )

    Biểu đồ 2.10: Mức giá của sản phẩm so với mức thu nhập hiện tại của khách hàng

    NX: Theo số liệu khảo sát trực tiếp, với mức thu nhập hiện tại của khách hàng thì mức giá của sản phẩm được coi là bình thường có số lượng cao nhất chiếm tới 60%, sau đó dứng thứ hai với mức giá được coi là đắt chiếm 34%, nhưng ngược lại ở mức đánh giá quá rẻ thì 0%, còn ở mức giá quá đắt và rẻ thì chiếm phần trăm xấp xỉ bằng nhau chỉ 2%,4%.

    2.3: Nhận xét chung:

    Cuộc điều tra cho thấy phần lớn người tiêu dùng  đã và đang dùng bột giặt OMO. Khách hàng đã dành nhiều ưu ái khi được hỏi về lơại bột giặt này. Hầu hết mọi người đều cho rằng OMO có những đặc điểm vượt trội hơn hẳn so với các loại bột giặt khác trên thị trường hiện nay. OMO có chất lượng tốt, công dụng tẩy sạch vết bẩn cao, mùi hương dễ chịu, an toàn cho da tay… Không những thế hình ảnh bột giặt OMO đã trở nên quá quen thuộc  với người tiêu dùng bởi nó có những chương trình quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ. Đây là một trong những chiêu thức có hiệu quả nhất để đưa sản phẩm đến gần với người tiêu dùng hơn. Để làm được điều này chất lượng sản phẩm cũng quyết định một phần. Chất lượng sản phẩm có tốt thì mọi người sau khi dùng thử mới giới thiệu cho bạn bè, người thân. Vậy là sản phẩm của OMO lại một lần nữa được “ quảng cáo” có hiệu quả hơn. Còn một khía cạnh nữa mà khách hàng cũng rất quan tâm đó là kênh phân phối. Khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng, thoải mái khi mua được sản phẩm của mình ở bất cứ nơi đâu. OMO cũng đã làm được điều này. Ở bất cứ nơi đâu: chợ, siêu thị, cửa haàg tạp hoá,… bạn đều có thể chọn mua sản phẩm của công ty. OMO là hãng bột giặt luôn đi đầu  về công nghệ và quảng cáo.

    Bên cạnh những ưu điểm kể trên OMO cũng còn một số tồn tại cần khắc phục. Với mức thu nhập hiện nay, có một số khách hàng còn phản ánh rằng giá cả của OMO còn hơi cao, chưa phù hợp với người dân. Đây cũng là một trong những trở ngại đáng kể khiến OMO khó chiếm được thiện cảm của người tiêu dùng. Theo một phần nhỏ khách hàng thì bột giặt OMO vẫn còn gây hại cho da tay. Sau khi giặt xong, da tay bị khô rát. Theo họ có lẽ chất giặt tẩy của OMO quá cao ảnh hưởng không tốt đến da tay. Hiện nay trên thị trường, OMO đã chiếm được một vị trí khá tốt. Song với sự phát triển của nền kinh tế, của các hoạt động thương mại, OMO ngày càng gặp phải nhiều đối thủ cạnh tranh lớn mạnh: TIDE, SURF… Điều này đòi hỏi OMO cần chú trọng hơn nữa về các chương trình khuyến mãi và quảng cáo. Một số khách hàng cho rằng OMO chưa cải tiến nhiều về các hình thức quảng cáo và các chương trình khuyến mãi còn ít. Chúng  ta đều biết rằng người tiêu dùng muốn mua một loại sản phẩm điều đầu tiên mà họ quan tâm, tìm hiểu chính là mẫu mã, bao bì của sản phẩm. Họ chưa biết chất lượng ra sao nhưng nếu mẫu  mã đẹp, thu hút thì họ sẽ có cảm tình. Nhưng với OMO việc thay đổi mẫu mã, kiểu dáng bao bì còn hạn chế. Thực sự OMO chưa tạo được sự khác biệt rõ rệt với các sản phẩm bột giặt khác.

    Qua khảo sát, nghiên cứu, công ty đã tìm hiểu được thị trường của sản phẩm OMO. Và công ty cũng đã đưa ra các giải pháp phù hợp hi vọng sẽ đáp ứng được tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và đưa vị trí của OMO ngày càng được khẳng định và giữ vững.

    KẾT LUẬN

    Việc nghiên cứu hành vi khách hàng là một việc làm cần thiết. Nó giúp cho công ty hiểu rõ hơn vị trí sản phẩm của mình trên thị trường cũng như hiểu rõ hơn về tâm lí khách hàng. Kết quả của cuộc điều tra chính là một căn cứ để giúp công ty đưa ra những quyết định hiện tại cũng như trong tương lai. Qua điều tra khảo sát thực tế chúng ta biết được khách hàng đánh giá về chất lượng sản phẩm của mình ra sao, giá cả thế nào, các hình thức khuyến mãi, quảng cáo có hấp dẫn không, hệ thống phân phối có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không. Từ đó chúng ta có thể so sánh sản phẩm của công ty với đối thủ cạnh tranh trên tất cả các phương diện . Và có hiểu được đối thủ cạnh tranh chúng ta mới có thể đưa ra đựơc các giải pháp cho hợp lí.

    Nhìn chung bột giặt OMO đã đạt được những kết quả đáng tự hào trong quá trình xây dựng thương hiệu. Sản phẩm OMO được khách hàng đánh giá cao hơn hẳn đối thủ cạnh tranh ở tất cả các mặt. Nhưng họ vẫn còn một số tồn tại chưa làm hài lòng người tiêu dùng. Chính nhờ cuộc điều tra nghiên cứu này công ty sẽ tìm ra những giải pháp tối ưu để đáp ứng nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-s%E1%BB%B1-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-trong-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%E1%BB%91t-h%C6%A1n-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-th%E1%BB%9Di-gian-t%E1%BB%9Bi.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Chúng ta đã biết được quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hoá .Do đó mà ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự xuất hiện cuả quy luật giá trị.Mọi hoạt động cuả các chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hoá đều chịu sự tác động cuả quy luật này.Quy luật giá trị là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kì,phân hoá giàu nghèo,những cuộc cạnh tranh không lành mạnh…Chính vì thế chúng ta cần nghiên cứu về quy luật giá trị,tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế,đặc biệt là trong thời kì phát triển nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay.

    Bài viết này chia thành 2 chương, bao gồm:

    Chương I: Cơ sở lí luận về quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị với nền kinh tế thị trường.

    Trong phần này sẽ trình bày những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về quy luật giá trị, bản chất, vai trò quy luật giá trị và nội dung của quy luật giá trị.

    Chương II: Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường và giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta thời gian tới.

    Chương này sẽ nghiên cứu cụ thể sự vận dụng quy luật giá trị ở nước ta, các đặc trưng và cấu trúc nền kinh tế thị trường ở nước ta.

    Em xin gửi lời chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Việt Tiến đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. Trong bài viết còn nhiều sai sót mong thầy chỉ bảo để em rút kinh nghiệm lần sau sửa chữa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

    1.1. NỘI DUNG CUẢ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ

    • Khái niệm quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất cuả sản xuất và trao đổi hàng hoá .Chừng nào còn sản xuất và trao đổi hàng hoá thì chừng đó còn quy luật giá trị.

    1.1.2 Nội dung và sự vận động của quy luật giá trị.

    Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá.Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và lưu thông hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,cụ thể là:

    -Trong sản xuất thì hao phí lao động cá biệt phải phù hợpvới hao phí lao động xã hội cần thiết.Vì trong nền sản xuất hàng hóa ,vấn đề đặc biệt quan trọng là hàng hóa sản xuất ra có bán được hay không.Để có thể bán được thì hao phí lao động để sản xuất ra hàng hóa cuả các chủ thể kinh doanh phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội có thể chấp nhận được .Mức hao phí càng thấp thì họ càng có khả năng phát triển kinh doanh,thu được nhiều lợi nhuận,ngược lại sẽ bị thua lỗ,phá sản…

    -Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết,tức là tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá,hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau,nhưng có lương giá trị bằng nhau thì phải trao đổi ngang nhau.

    Đòi hỏi trên của quy luật là khách quan ,đảm bảo sự công bằng ,hợp lí,bình đẳng giữa những người sản xuất hàng hoá.

    Quy luật giá trị bắt buộc những người sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo yêu cầu hay đòi hỏi cuả nó thông qua “ mệng lệnh” của giá cả thị trường.

    Tuy nhiên trong thực tế do sự tác động cuả nhiều quy luật kinh tế ,nhất là quy luật cung cầu làm cho giá cả hàng hoá thường xuyên tách rời giá trị.

    Nhưng sự tách rời đó chỉ xoay quanh giá trị,C.mác gọi đó là vẻ đẹp của quy luật giá trị.Trong vẻ đẹp này ,giá trị hàng hoá là trục ,giá cả thị trường lên xuống quanh trục đó.Đối với mỗi hàng hoá ,giá cả của nó có thể cao thấp khác nhau,nhưng khi xét trong một khoảng thời gian nhất định ,tổng giá cả phù hợp với tổng giá trị của nó

    Giá cả thị trường tự phát lên xuống xoay quanh giá trị là biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị.

    1.1.3 Mối quan hệ giữa giá cả, giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng hoá.

    Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản thành quy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và thành quy luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền). Nó tiếp tục tồn tại và hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở các nước và ở nước ta.

    Ta xét mối quan hệ giữa giá cả , giá cả thị trường , giá cả độc quyền với giá trị hàng hoá :

    Gía cả : là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá . Gía trị là cơ sở của giá cả .Khi quan hệ cung cầu cân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị của hàng hoá quyết định

    Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuống xoay quanh giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, cạnh tranh và sức mua của đồng tiền.Sự hoạt động của quy luật giá trị biểu hiện ở sự lên xuống của giá cả trên thị trường.Tuy vậy, sự biến động của giá cả vẫn có cơ sở là giá trị , mặc dầu nó thường xuyên tách rời giá trị.Điều đó có thể hiểu theo hai mặt:

    .Không kể quan hệ cung cầu như thế  nào, giá cả không tách rời giá trị xã hội

    .Nếu nghiên cứu sự vận động của giá cả trong một thời gian dài thì thấy tổng số giá cả  bằng tổng só giá trị , vì bộ phận vượt quá giá trị sẽ bù vào bộ phận giá cả thấp hơn giá trị (giá cả ở đây là giá cả thị trường. Gía cả thị trường là giá cả sản xuấtgiữa người mua và người bán thoả thuận với nhau)

    Giá cả sản xuất là hình thái biến tướng của giá trị , nó bằng chi phí  sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân.

    Trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh do hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân nên hàng hoá không bán theo giá trị mà bán theo giá cả sản xuất

    Gía trị hàng hoá chuyển thành  giá cả sản xuất không phải là phủ nhận quy luật giá trị mà chỉ là biểu hiện cụ thể của quy luật giá trị trong giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh.Qua hai điểm dưới đây sẽ thấy rõ điều đó:

    . Tuy giá cả sản xuất của hàng hoá thuộc nghành cá biệt có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị , nhưng tổng giá trị sản xuất của toàn bộ hàng hoá của tất cả các ngành trong toàn xã hội đều bằng tổng giá trị của nó.Tổng số lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được cũng bằng tổng số giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra.

    .Giá cả sản xuất lệ thuộc trực tiếp vào giá trị . Gía trị hàng hoá giảm xuống, giá cả sản xuất giảm theo, giá trị hàng hoá tăng lên kéo theo giá cả sản xuất tăng lên.

    Giá cả độc quyền :

    Trong giai đoạn tư bản độc quyền, tổ chức độc quyền đã nâng giá cả hàng hoá lên trên giá cả sản xuất và giá trị . Gía cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền vượt quá lợi nhuận bình quân.

    Khi nói giá cả độc quyền thì thường hiểu là giá cả bán ra cao hơn giá cả sản xuất và giá trị, đồng thời cũng cần hiểu còn có giá cả thu mua rẻ mà tư bản độc quyền mua  của người sản xuất nhỏ, tư bản vừa và nhỏ ngoài độc quyền.

    Gía cả độc quyền không  xoá bỏ giới hạn của giá trị hàng hoá , nghĩa là giá cả độc quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dư do xã hội sản xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà những người bán ( công nhân, người sản xuất nhỏ , tư bản vừa và nhỏ…) mất đi.Nhìn vào phạm vi toàn xã hội , toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả không độc quyền về đại thể bằng toàn bộ giá trị .

    1.2 VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .

    1.2.1. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Thực chất điều tiết sản xuất cuả quy luật giá trị là điều chỉnh tự phát các yếu tố sản xuất như: tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn từ ngành này sang ngành khác,từ nơi này sang nơi khác.Nó làm cho sản xuất hàng hoá của ngành này ,nơi này được phát triển mở rộng ,ngành khác nơi khác bị thu hẹp,thông qua sự biến động giá cả thị trường.Từ đó tạo ra những tỷ lệ cân đối tạm thời giữa các ngành ,các vùngcủa một nền kinh tế hàng hoá nhất định.

    Quy luật canh tranh thể hiện ở chỗ :cung và cầu thường xuyên muốn ăn khớp với nhau,nhưng từ trước đến nay nó chưa hề ăn khớp với nhau mà thường xuyên tách nhau ra và đối lập với nhau.Cung luôn bám sát cầu ,nhưng từ trước đến nay không lúc nào thoả mãn được một cách chính xác

    Chính vì thế thị trường xảy ra các trường hợpsau đây:

    -Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá,trường hợp này xảy ra một cách ngẫu nhiên và rất  hiếm.

    -Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị ,hàng hoá bán chạy,lãi cao .Những người đang sản xuất những loại hàng hoá này sẽ mở rộng quy mô sản xuất và sản xuất hết tốc lực ;những người đang sản xuất hàng hoá khác ,thu hẹp quy mô sản xuất cuả mình để chuyển sang sản loại hàng hoá này.Như vậy tư liệu sản xuất ,sức lao động, tiền vốn được chuyển vào ngành này tăng lên,cung về loại hàng hoá này trên thị trường tăng lên .

    -Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị,hàng hoá ế thừa ,bán không chạy,có thể lỗ vốn.Tình hình này bắt buộc những người đang sản xuất loại hàng hóa này phải thu hẹp quy mô sản xuất ,chuyển sang sản xuất loại hàng hoá có giá cả thị trường cao hơn ;làm cho tư liệu sản xuất ,sức lao động và tiền vốn ở ngành hàng hoá này giảm đi.

    Thực chất điều tiết lưu thông của quy luật giá trị là điều chỉnh một cách tự phát khối lượng hàng hoá từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao,tạo ra mặt bằng giá cả xã hội.Giá trị hàng hoá mà thay đổi ,thì những điều kiện làm cho tổng khối lượng hàng hoá có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi .Nếu giá trị thị trường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong những giới hạn nhất định ,có thể thu hút những khối lượng hàng hoá lớn hơn.Nếu giá trị thị trường tăng lên thì nhu cầu xã hội về hàng hoá sẽ thu hẹp và khối lượng hàng hoá tiêu thụ cũng sẽ giảm xuống.Cho nên nếu cung cầu đIũu tiết giá cả thị trường hay nói đúng hơn đIũu tiết sự chênh lệch giũa giá cả thị trường và giá trị thị trường thì trái lại chính giá trị thị trường điều tiết quan hệ cung cầu ,hay cấu thành trung tâm ,chung quanh trung tâm đó những sự thay đổi trong cung cầu làm cho những giá cả thị trường phải len xuống.

    Trong xã hội tư bản đương thời ,mỗi nhà tư bản  công nghiệp tự ý sản xuất ra cái mà mình muốn theo cách mình muốn ,và với số lượng theo ý mình .Đối với họ số lượng mà xã hội cần là một lượng chưa biết ,cái mà ngày hôm nay cung cấp không kịp thì ngày mai lại có thể cung cấp nhiều quá số yêu cầu .Tuy vậy người ta cung thoả mãn được nhu cầu một cách miễn cưỡng ,sản xuất chung quy là căn cứ theo những vật phẩm người ta yêu cầu

    “… Khi thực hiện quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá trong xã hội gồm những người sản xuất trao đổi hàng hoá cho nhau ,sự canh tranh lập ra bằng cách đó và trong điều kiện nào đó một trật tự duy nhất và mộy tổ chức duy nhất có thể có cuả nền sản xuất xã hội .Chỉ có do sự tăng hay giảm giá hàng mà những người sản xuất hàng hoá riêng lẻ biết được rõ ràng là xã hội cần vật phẩm nào và với số lượng bao nhiêu”(C.mác:sự khốn cùng của triết học ,nhà xuất bản Sự thật  {8,19_20})

    1.2.2. Kích  thích lực lượng sản xuất phát triển,tăng năng suất lao động xã hội

    Để tránh bị phá sản ,giành được ưu thế trong cạnh tranh và thu hút được nhiều lãi, từng người sản xuất hàng hoá đều tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật ,hợp lý hoá sản xuất, ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất để giảm hao phí lao động cá biệt của mình ,giảm giá trị cá biệt của hàng hoá do mình sản xuất ra.Từ đó làm cho kỹ thuật của toàn xã hội càng phát triển lên trình độ cao hơn,năng suất càng tăng cao hơn.

    Như thế là chúng ta thấy phương thức sản xuất tư liệu sản xuất luôn bị biến đổi ,dẫn đến sự phân công tỉ mỉ hơn dùng nhiều máy móc hơn,lao động trên một quy mô lớn  đưa đến lao động trên một quy mô lớn hơn như thế nào.

    Đó là quy luật luôn hất sản xuất ra con đường cũ và luôn buộc sản xuất phải làm cho sức sản  xuất của lao động khẩn trương hơn .Quy luật đó không gì  khác mà là quy luật nhất định giữ cho giá cả hàng hoá nghang bằng với chi phí sản xuất của chính hàng hoá đó ,trong giới hạn của những biến động chu kì của thương mại.”…Nếu một người nào sản xuất dược rẻ hơn ,có thể bán được nhiều hàng hoá hơn và do đó chiếm lĩnh được ở trên thị trường một địa bàn rộng hơn bằng cách bán ra hạ giá hơn giá cả thị trường hiện hành hay hạ hơn giá trị thị trường thì anh taẽ làm ngay như thế và do đóẽ mở đầu một hành động dần dần buộc những người khác cũng phải áp dụng các phương pháp ít tốn kém hơn và làm cho thời gian lao động xã hội cần thiết giảm xuống một mức thấp hơn.

    Theo Mác thì trong sự vận động bên ngoài những tư bản ,những quy luật bên trong của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bắt buộc của sự cạnh tranh, rằng dưới hình thức đó đối với những nhà tư bản những quy luật biểu hiện thành động cơ của những hoạt động của họ,rằng như vậy là muốn phân tích một cách khoa học sự  cạnh tranh thì trước đó phảI phân tích tính chất bên trong của tư bản ,cũng như chỉ người nào hiểu biết sự vận động thực sự của các thiên thể –tuylà các giác quan không thể thấy được ,-thì mới có thể hiểu được sự vận động bề ngoài của những thiên thể ấy;

    1.2.3. Phân hoá những người sản xuất thành người giàu,người nghèo.

    Trong xã hội những người sản xuất cá thể , đã có mầm mống của một phương thức sản xuất mới .Trong sự phân công tự phát ,không có kế hoạch nào thống trị xã hội, phương thức sản xuất ấy đã xác lập ra sự phân công ,tổ chức theo kế hoạch ,trong những công xưởng riêng lẻ ;bên cạnh sản xuất của những người sản xuất cá thể nhỏ đã làm xuất hiện sản xuất xã hội .Sản phẩm của hai loại  sản xuất đó cùng bán trên một thị trường ,do đó giá cả ít ra cũng sấp xỉ nhau.Nhưng so với sự phân công tự phát thì tổ chức có kế hoạch đương nhiên mạnh hơn nhiều ;sản phẩm của công xưởng dùng lao động xã hội là rẻ hơn so với sản phẩm của những người sản xuất nhỏ,tản mạn.Sản xuất của những người sản xuất cá thể gặp thất bại từ nghành này đến nghành khác .Trong nền sản xuất hàng hoá ,sự tác động cuả các quy luật kinh tế ,nhất là quyluật giá trị  tất yếu dẫn đến kết quả:những người có điều kiện sản xuất thuận lợi ,nhiều vốn,có kiến thức và trình độ kinh doanh cao ,trang bị kĩ thuật tốt sẽ phát tài ,làm giàu.Ngược lại không có các điều kiện trên ,hoặc gặp rủi ro sẽ mất vốn phá sản.Quy luật giá trị đã bình tuyển ,đánh giá những người sản xuất kinh doanh .

    Sự bình tuyển tự nhiên ấy đã phân hoá những người sản xuất kinh doanh ra thành người giàu người nghèo.Người giàu trở thành ông chủ người nghèo dần trở thành người làm thuê.Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá đã chỉ ra là quá trình phân hoá này đã làm cho sản xuất hàng hoá giản đơn trong xã hội phong kiến dần dần nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    “ …Mỗi người đều sản xuất riêng biệt ,cho lợi ích  riêng của mình ,không phụ thuộc vào nhà sản xuất khác .Họ sản xuất cho thị trường ,nhưng dĩ nhiên không một người nào trong số họ biết được dung lượng của thị trường .Mối quan hệ như vậy giữa nhưng người sản xuất riêng rẽ ,sản xuất cho một thị trường chung,thì gọi là cạnh tranh,Dĩ nhiên trong nhữnh điều kiện ấy,sự thăng bằng giữa sản xuất và tiêu dùng chỉ có thể có được sau nhiều lần biến động.Những người khéo léo hơn ,tháo vát hơn và có sức lực hơn sẽ ngày càng lớn mạnh nhờ những sư biến động ấy;còn những người yếu ớt ,vụng về thì sẽ bị sự biến động đó đè bẹp .Một vài người trở nên giàu có,còn quần chúng trở nên nghèo đói,đó là kết quả không tránh khỏi của quy luật cạnh tranh .Kết cục là những người sản xuất bị phá sản mất hết tính chất độc lập về kinh tế của họvà trở thành công nhân làm thuê trong công xưởng đã mở rộng của đối thủ tốt số của họ” (V.Lenin:Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường{9,127}

    Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ,cùng sự bần cùng hoá của nhân dân là những hiện tượng ngẫu nhiên.Hai điều đó tất nhiên đi kèm với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội.Vấn đề thị trường hoàn toàn bị gạt đI,vì thị trường chẳng qua chỉ là biểu hiện của sự phân công đó và của sản xuất hàng hoá.Người ta sẽ thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không những là có thể cómà còn là sự tất nhiên nữa,vì một khi kinh tế xã hội đã xây dựng trên sự phân công và trên hình thức hàng hoá của sản phẩm ,thì sự tiến bộ về kỹ thuật không thể không dẫn tới chỗ làm cho chủ nghĩa tư bản tăng cường và mở rộng thêm.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI

    2.1 KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN  KINH TẾ THỊ TRỪONG Ở VIỆT NAM.

    2.1.1Khái niệm kinh tế thị trường .

    Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường.

    2.1.2Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.

    Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế –xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất để trao đổi và bán trên thị trường .Mục đích là thoả mãn nhu cầu của ngươI mua tức là thoả mãn nhu cầu xã hội.

    Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá ,trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường .Kinh tế thị trường và kinh tế hàng hoá không đồng nhất với nhau,chúng khác nhau về trình độ phát triển,nguồn gốc và bản chất.

    Ở nước ta tồn tại những cơ sở khách quan để phát triển kinh tế thị trường như

    2.1.2.1Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của hàng hoá được phát triển cả chiều rộng và chiều sâu

    Phân công lao động trong từng khu vực ,từng địa phương ngày càng phát triển,nó thể hiện một cách phong phú ,đa dạng và ngày càng cao.

    2.1.2.2Tồn tại nhiều hình thức sở hữu .

    Đó là sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể ,sở hữu tư nhân(sở hữu cá thể ,sở hữu tiểu chủ,sở hữu tư bản tư nhân),sở hưu hỗn hợp…

    2.1.2.3Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có những khác biệt nhất định.

    Tuy cùng dựa trên chế độ công hưu về tư liệu sản xuất nhưng mỗi đơn vị kinh tế lại có những quyền tự chủ ,lợi ích riêng.Mặt khác còn có sự khác nhau vểtình độ kĩ thuật, công nghệ,tổ chức quản lý.

    2.1.2.4Quan hệ hàng hoá tiền tệ cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại

    Ttrong bối cảnh phân công lao động quốc tế ngày càng phát triển sâu sắcthì mối quan hệ đó càng cần thiết vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt,là người chủ sở hữu đối vớihàng hoá trao đổi trên thị trường thế giới.

    Như vậy kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu,khách quan,không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ được.

        2.2 MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA.

    Việt nam với tư cách là nước phát triển muộn về kinh tế thị trường , lại diễn ra trong bối cảnh thời đại mới khác nhiều so với trước.Để nắm bắt” cơ hội’ , vượt qua “thách thức”, rút ngắn khoảng cách lạc hậu , “tụt hậu” xa so với các nước, giữ vững địng hướng xã hội chủ nghĩa đã chọnh , không thể phát triển theo mô hình kinh tế thị trường cổ điển, mà nên chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường rút ngắn, hiện đại là thích hợp.Tất nhiên không hoàn toàn giống như các nước đã đi theo mô hình này, nhất là về tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nó. Mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩả nước ta bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau:

    2.2.1 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự với quy luật phát triển nhảy vọt.

    2.2.2 Phát triển cùng một lúc ba trình độ phát triển của hình thái kinh tế hàng hoá, đó là kinh tế hàng hoá giản đơn, kinh tế thị trường tự do(cổ điển) và kinh tế thị trường hỗn hợp(hiện đại). Tất nhiên, trong từng thời điểm, tính trội của mỗi trình dộ có khác nhau.

    2.2.3 Phát triển trong sự kết hợp hài hoà giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời dại, coi trọng việc kết hợp vai trò thúc đẩy sự ra đời các nhân tố của kinh tế thị trường và vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước xa hội chủ nghĩa trong qúa trình chuyển sang kinh tế thị trường hiện đại .

    Ba đặc trưng nói trên có quan hệ mật thiết với nha, trong đó đặc trưng thứ ba có  ý nghĩa quyết định .

    2.3THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CŨNG NHƯ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

    Nền kinh tế nước ta dang từ sản xuất nhỏ đi lên san xuất lớn xã hội chủ nghĩa ,từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa .Quy luật giá trị gắn liền nền sản xuất hàng hoá đó còn hoạt động trên một phạm vi khá rộng và trong một thời gian dài.Vai trò và phạm vi hoạt động của nó biển đổi từng thời kì cùng với sự chuyển biến của quan hệ sản xuất ,của lực lượng sản xuất với sự phát triển của phân công lao động xã hội.Vì vậy trong khi xác nhận vai trò chủ đạo quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa,chúng ta cần nhận thức đúng quy luật giá trị,tự giác vận dụng quy luật giá trị và những phạm trù kinh tế gắn liền với qui luật đó như tiền tệ ,giá cả ,tín dụng ,tài chính ..để kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển ,thúc đẩy nền kinh tế nước ta tiến nhanh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Theo văn kiện đại hội đảng IX”Đảngvà nhà nước tachủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường , có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Với các đặc trưng của mô hình này như đã nói ở trên, các quy luật kinh tế được phép phát huy tác dụng của nó trong đó quy luật giá trị đóng vai trò là quy luật kinh tế căn bản chi phối toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế  .

    Như đã phân tích ở trên, quy luật giá trị có vai trò lớn trong nền sản xuất hàng hoá . Chúng ta đã vận dụng quy luật giá trị vào:

     2.3.1.Trong lĩnh vực sản xuất.

    Nền sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu sự điều tiết của quy luật giá trị mà chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội và quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân .Tuy nhiên ,quy luật giá trị không phảI không có ảnh hưởng đến sản xuất.Những vật phẩm tiêu dùng cần thiết để bù vào sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất ,đều được sản xuất và tiêu thụ dưới hình thức hàng hoá và chịu sự tác động của quy luật giá trị .Trong những thành phần kinh tế khác nhau ,tác động của quy luật giá trị có những điểm không giống nhau.Nhà nước ta đã chủ động vận dụng quy luật giá trị vào lĩnh vưc sản xuất.Vì thế các xí nghiệp của chúng ta không thể và không được bỏ qua quy luật giá trị

    Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng hoá.Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị _ sản xuất và trao đỏi hàng hoá phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:

    Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuát các sản phẩm  đều cố gắng làm cho thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội .

    Xét ở tầm vĩ mô:Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao động , chất lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết.

    Do vậy, nhà nước đua ra các chính sách để khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn.Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến may móc, mẫu mã, nâng cao tay nghề lao động. Nếu không, quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đào thảicủa nó: loại bỏ những cái kém hiệu quả , kích thích các cá nhân,nghành, doanh nghiệp phát huy tính hiệu quả . Tất yếu điều đó dẫn tới sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trong đó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến. Và cùng với nó, sự xã hội hoá, chuyên môn hoá lực lượng sản xuất cũng được phát triển.Đây là những vận dụng đúng đắn của nhà nước ta.

    Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì trong sản xuất giá trị cá biệt của từng xí nghiệp phải phù hợp hoặc thấp hơn giá trị xã hội,do đó quy luật giá trị dùng làm cơ sở cho việc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong sản xuất kinh doanh .Các cấp quản lí kinh tế cũng như các nghành sản xuất ,các đơn vị sản xuất ở cơ sở ,khi đặt kế hoạch hay thực hiện kế hoạch kinh tế đều phải tính đến giá thành ,quan hệ cung cầu ,để định khối lượng ,kết cấu hàng hoá…

    2.3.1.1 Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.

    Việc chuyển từ chế độ tầp trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho, cấp phát , bảo hộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán, không bị ràng buộc  quá đángbởi các chỉ tiêu sản xuất mà nhà nước đưa ra và phải tự  nghiên cứu để tìm ra thị trường phù hợp với các sản phẩm của mình; thực hiện sự phân đoạn thị trường để xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì.

    Mặt khác, cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA , WTO; mỗi cá nhân , mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để có thể đứng vững khi bão táp của qúa trình hội nhập quốc tế ập đến. Sức cạnh tranh được nâng cao ở đây là nói đến sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp trong nươc, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, giữa các cá nhân trong nước với cá nhân trong nước, giữa cá nhân trong nước với cá nhân nứoc ngoài (cũng có thể coi đây là hệ quả tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất)

    2.3.1.2 Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường Việt Nam.

    Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến một hệ quả tất yếu là làm cho nền kinh tế năng động lên .Vì trong cạnh tranh, mỗi người sẽ tìm cho mình một con đường đi mới trong một lĩnh vực sản xuất, kinh doánhao cho tạo nên sự sản xuất hiệu quả nhất.Các con đường đó sẽ vô vàn khác nhau,các con đường đó luôn tạo ra những lĩnh vực sản xuất mới.Và hơn nữa, cạnh tranh năng dộng sẽ làm cho sản phẩm hàng hoá đa dạng về mẫu mã, nhiều về số lượng, cao về chất lượng. Bởi vì, sự đào thải của quy luật giá trị sẽ ngày càng làm cho ssản phẩm hoàn thiện hơn, mang lại nhiều lơi ích cho người tiêu dùng.

    Sự năng động còn thể hiện ở sự phát triển nhiều thành phần kinh tế. Bởi vì, việc phát triển nhiều thành phần kinh tế có tác dụng thu hút nguồn nhân lực vào các thành phần kinh tế, phát huy nội lực, tận dụng nội lực để sản xuất ra nhiều hàng hoá thu lợi nhuận(lợi nhuận siêu nghạch, lợi nhuận độc quyền) hay nâng cao trình độ sản xuất trong một nghành, một lĩnh vực nhất định .

    2.3.1.3 Thúc đẩy quá trình hộinhập quốc tế.

    Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, siêu lợi nhuận . Sự đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài ngày càng phát triển, hay nói cách khác là thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.

    Mỗi nước đều có những ưu thế, lợi thế riêng. Do thời gian và trình độ xuất phát điểm của nền kinh tế khác nhau nên khi nước này cần vốn thì nước kia lại thừa.Do tốc độ phát triển khác nhau nên khi nước này phát triển thì nước kia lại quá lạc hậu ; do sự phân bố tài nguyên khác nhau nên nước này có điều kiện sản xuất cía này, nước kia có điều kiện sản xuất cái kiavà tạo ra một lợi thế so sánh trên thương trường.Điều này thúc đẩy sự chuyên môn hoá, hiệp tác hoá sản xuất để có chi phí sản xuất thaaps và tuân theo sự điều tiết của quy luật giá trị , chi phí sản xuất thấp sẽ làm cho giá cả thấp, và do đó thắng trên thương trường.

    Ngoài  ra khi quy luật giá trị tác động như vậy sẽ có tác dụng giáo dục những cán bộ lãnh đạo kinh tế tiến hành sản xuất một cách hợp lí,và khiến họ tôn trọng kỉ luật .Nhờ đó mà học hỏi tính toán tiềm lực của sản xuất ,tính toán một cách chính xác ,tính đến tình hình thực hiện của sản xuất ,biết tìm ra những lực lượng dự trữ tiềm tàng giấu kín trong sản xuất

    Tuy nhiên điều tai hại là các cán bộ lãnh đạo ,các nhà chuyên môn về công tác kế hoạch ,trừ số ít đều hiểu không thấu đáo tác dụng của quy luật giá trị ,không nghiên cứu và không biết chú ý đến tác dụng đó trong khi tính toán .Đó là nguyên nhân vì sao chính sách nước ta còn hay mơ hồ.

    2.3.2. Trong lĩnh vực lưu thông .

    Phân phối và lưu thông trong xã hội chủ nghĩa có sự tác động khách quan của quy luật giá trị .Việc vận dụng quy luật trong lưu thông ,phân phối được thể hiện ở những mặt sau

    2.3.2.1. Hình thành giá cả.

    Hình thức vận dụng quy luật giá trị tập trung nhất là khâu hình thành giá cả.Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị,cho nên  khi xác định giá cả phải đảm bảo yêu cầu khách quan là lấy giá trị làm cơ sở,phản ánh đầy đủ những hao phí về vật tư và lao động để sản xuất hàng hoá .Giá cả phải bù đắp chi phí sản xuất hợp lí ,tức là bù đắp giá thành sản xuất ,đồng thời phải bảo đảm một mức lãi thích đángđể tái sản xuất mở rộng.Đó là nguyên tắc chung áp dụng phổ biến cho mọi quan hệ trao đổi ,quan hệ giữa các xí nghiệp quốc doanh với nhau ,cũng như nhà nước với nông dân  .

    Giá cả là một phạm trù phức tạp ,sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị là một tất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa .Nhà nước ta đã vận dụng quy luật giá trị vào những mục đích nhất định  ,đã phảI tính đến những nhiệm vụ kinh tế ,chính trị trước mắt và lâu dàI,căn cứ vào nhiều quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    2.3.2.2.Nguồn hàng lưu thông.

    Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ,việc cung cấp hàng hoá cho thị trường dược thực hiện một cách có kế hoạch.Đối với nhưng mặt hàng có quan hệ lớn đến quốc kế dân sinh,nếu cung cầu không cân đối thì nhà nươc dùng biện pháp đẩy mạnh sản xuất,tăng cường thu mua ,cung cấp theo định lượng ,theo tiêu chuẩn mà không thay đổi giá cả.Chính thông qua hệ thống giá cả quy luật có ảnh hưởng nhất định đến việc sự lưu thông của một hàng hoá nào đó.Giá mua cao sẽ khơi thêm nguồn hàng ,giá bán hạ sẽ đẩy mạnh việc tiêu thụ,và ngược lại.Do đó mà nhà nước ta đã vận dụng vào việc định giá cả sát giá trị ,xoay quay giá trị để kích thích cải tiến kĩ thuật ,tăng cường quản lí.Không những thế nhà nước ta còn chủ động tách giả cả khỏi giá trị đối với từng loại hàng hoá trong từng thời kì nhất định ,lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị để điều tiết một phần sản xuất và lưu thông ,điều chỉnh cung cầu và phân phối Giá cả được coi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạch hoá sự tiêu dùng của xã hội

    Ví dụ như là giá cả của sản phẩm công nghiệp nặng lại dặt thấp hơn giá trị để khuyến khích sự đầu tư phát triển ,áp dụng kĩ thuật vào sản xuất.

    Tuy nhiên sự đIều chỉnh này ở nước ta không phảI bao giờ cung phát huy tác dụng tích cực,nhiều khi những chính sách này lại làm cho giá cả bất ổn,tạo đIều kiện cho hàng hoá nước ngoài tràn vào nước do giá cả hợp lí hơn .

    Kinh tế thi trường tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá hàng hoá , theo đuổi hiệu

    quả phân phối tối ưu của các nguồn.Thứơc đo giá trị chú trọng hiệu quả kinh tế hình thành trong điều kiện kinh tế thị trường ; một khi được mở rộng, vận dụng vào lĩnh vực đời sống xã hội và quan hệ con người , không tránh khỏi sản sinh những quan khác nhau gắn bó với đạo đức con người đó là chuẩn mực giá trị” coi trọng tình nghĩa, xem thường lợi ích” hay “coi trọng lợi ích, xem thường tình nghĩa “.Do vậy , ở nước ta, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải chú ý sự chuyển đổi quan niệm giá trị xã hội sao cho phù hợp với đạo đức dân tộc truyền thống và hiện đại .Thể hiện rõ nhất ở nước ta hiện nay là nạn hàng giả, trốn thuế, buôn lậu…

    2.4NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ VẬN DỤNG TỐT HƠN QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA THỜI GIAN TỚI.

    2.4.1Những giải pháp của đảng và nhà nước ta.

    Để phát huy các tác động tích cực, đẩy lùi các tác động tiêu cực của kinh tế thị trường cần nâng cao vai trò quản lý của nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch , công cụ tài chính,; qua các phương thức kích thích , giáo dục, thuyêt phục và cả cưỡng chế nữa. Chủ trương của Đảng ta trong thời gian tới là :

    2.4.1.1 Phát triển kinh tế , công nghiệp hoá, hiện đại hoá là trung tâm .

    Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta.Phát triển kinh tế,công nghiệp hoá ,hiện đại hoá để từ đó tạo đà để thực hiện những nhiệm vụ khác,đưa nước ta nhanh chóng phát triển ,tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa

    2.4.1.2 Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.

    Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế  cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

    2.4.1.3Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thi trường, tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước .

    Đây là một yêu cầu cấp thiết ,là đIều kiện cơ bản để xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới.

    2.4.1.4 Giải quyết tốt các vấn đề xã hội , nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Đây là nhiệm vụ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị với nền kinh tế nước ta

    2.4.1.5 Chủ động hội nhập kinh tế quốc tếvà khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế , bảo đảm độc lập, tự chủvà định hướng xã hội chủ nghĩa , bảo vệ lợi ích dân tộc , giữ vững an ninh quốc gia , giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

    2.4.2Những giải pháp của bản thân.

    Em xin đưa ra một số biện pháp nhỏ nhằm vận dụng tốt hơn quy luật giá trị ở nước ta hiện nay.

    2.4.2.1Giải phóng lực lượng sản xuất ,huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá,hiện đại hoá,nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội,cải thiện đời sống nhân dân.NHà nước bằng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để dẫn dắt ,hướng dẫn cho hệ thống thị trường phát triển,nhànước có vai trò quan trọng trong quá trình phân phối đảm bảo công bằng ,hiệu quả,hướng tới xã hội công bằng,dân chủ,văn minh.

    2.4.2.2Nhà nước cần chú ý hơn tới vấn đề đồng bộ hệ thống thị trường ở nước ta

    ở nươc ta một số loại thị trường thì phátt triển nhanh chóng,phát huy được hiệu quả trong nền kinh tế thị trường,trong khi đó một số loại thị trường còn rất sơ khai,chưa hình thành một cách đầy đủvà bị biên dạng.Vì thế nhà nước cần có những biện pháp để vực dậy một số thị trường còn bỏ ngỏ.

    2.4.2.3Việc vận dụng quy luật giá trị trong  định giá giả cả phải có giới hạn,có căn cứ kỉnh tế .Như vậy mới có tác dụng trong việc phát triển sản xuất

    2.4.2.4Nhà nước ta khivận dụng quy luật  giá trị phảI xuất phát từ nhiều quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội.,căn cứ vào nhiệm vụ kinh tế ,chính trị từng thời kì  .

    PHẦN KẾT LUẬN:

    Quy luật giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế thi trường , nó là quy luật kinh tế căn bản chi phối sự vận động của nền kinh tế thị trường . Sự tác động của quy luật giá trị một mặt thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác gây ra các hệ quả tiêu cực …Đối với nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta giai đoạn hiện nay, quy luật giá trị đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên có phát huy được các mặt tích cưc , đẩy lùi các mặt tiêu cực còn là một vấn đề phụ thuộc nhiều vào vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước và nhận thức của mỗi công dân.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận – Phân tích dự án đầu tư căn tin


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-Nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-chung-v%E1%BB%81-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-m%E1%BB%9F-c%E1%BB%A7a-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-Trung-%C6%AF%C6%A1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận môn Thị trường tài chính Những vấn đề chung về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Trung Ương

    CHƯƠNG I

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    I. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    1. Khái niệm

    Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá (GTCG) giữa một bên là Ngân hàng Nhà nước với bên kia là các tổ chức tín dụng (TCTD) trong đó NHNN đóng vai trò là người điều hành hoạt động thị trường. Nghiệp vụ TTM là một trong các công cụ được NHNN sử dụng để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

     2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở

    Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ cả về mặt giá và mặt lượng.

    1. Về mặt lượng – Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng

    Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham gia OMO).

    Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng

    Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân hàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽ làm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Sự giảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngân hàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khi NHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngân hàng tăng lên. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác động đến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.

    1. Về mặt giá – Tác động qua lãi suất

    Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau:

    Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn hạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽ truyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tại một mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định.

    Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất

     

    Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu về loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷ trọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu AD và sản lượng.

    Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường. Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làm tăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướng tăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãi suất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãi suất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽ giảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống và góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.

    3. Vai trò của nghiệp vụ thị trường mở

    1. Đối với ngân hàng trung ương

    Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thực thi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thị trường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốc gia làm thay đổi cung – cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ. Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhất đến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTW hạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT.

    Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông qua mua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về định hướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt. Đặc biệt khi thực hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn chế những biến động của lãi suất thị trường.

    OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ động khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO có thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao dịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG.

    OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt khác, với công cụ OMO, NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông.

    1. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương

    Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.

    Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường.       . Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tin cậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bên cạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịch trong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từ đó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dự trữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng.

    Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường.

    OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thị trường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động như một hình thức “đánh thuế” đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB. Lãi suất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt như trong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW.

    Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng.

    1. Đối với nền kinh tế

    Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính và NHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.

    Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể của thị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này. Điều này góp phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế.

    Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng.

    Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam á đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế vào khu vực và thế giới.

    4. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở

    4.1. Ngân hàng trung ương

    NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêu CSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phương tiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

    Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó.

    4.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương

    1. Các ngân hàng thương mại

    Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tác quan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả.  Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi.

    Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọng xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ.

    1. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng

    Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham gia OMO. Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … coi thị trường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để mua bán các GTCG.

    1. Các nhà giao dịch sơ cấp

    Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung gian trong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác. Các nhà giao dịch sơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính. Thực tế ở nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện thông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG với các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín phiếu kho bạc.

    5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở

    5.1. Tín phiếu kho bạc

    Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng.

    Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.

    5.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương

    Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công cụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng

    Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chi phí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với Bộ Tài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tín phiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trung mua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tín phiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành các GTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hàng hoá này.

    5.3. Trái phiếu Chính phủ

    Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lên đến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong các giao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tài chính.

    5.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương

    Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phương khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp của NHTW thông qua việc mua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ.

    5.5. Chứng chỉ tiền gửi

    Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 năm nhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II.

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ  CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

     

    I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào hoạt động. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình. Công cụ OMO liên tục được NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN.

    1. Doanh số trúng thầu nghiệp vụ thị trường mở

    Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định OMO sẽ là một công cụ chủ yếu trong điều hành CSTT của NHNN. Để đạt được mục đích đó, NHNN đã tập trung thực hiện việc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ này. Điều này thể hiện ở doanh số mua bán GTCG trên thị trường mở tăng nhanh qua các năm. Những năm gần đây, tốc độ này đạt trên 200%.

    Bảng  1. Tổng doanh số trúng thầu OMO qua các năm

    Đơn vị: tỷ đồng

    Năm thực hiện Số phiên thực hiện Khối lượng trúng thầu theo các                           phương thức giao dịch
    Mua kỳ hạn Mua hẳn Bán kỳ hạn Bán hẳn Tổng cộng
    2000 17 873,50 480,00   550,00 1.903,50
    2001 48 3.253,81 60,00 50,00 570,00 3.933,81
    2002 85 7.245,53     1.900,00 9.145,53
    2003 107 9.844,15     11.340,00 21.184,15
    2004 123 60.985,91     950,00 61.935,91
    2005 159 100.679,15   700,00 1.100,00 102.479,15
    10t/2006 133 26.332,77   200,00 77.102,00 103.634,77
    Tổng cộng 672 209.214,82 540,00 950,00 93.512,00 304.216,82

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Thông qua hoạt động OMO, NHNN không chỉ mua GTCG để bơm thêm vốn khả dụng khi thị trường thiếu hụt vốn khả dụng và mà còn bán GTCG để hút tiền nhàn rỗi khi thị trường dư thừa vốn nhằm thực hiện mục tiêu CSTT. Doanh số trúng thầu OMO tăng mạnh qua các năm, trung bình tăng 1,9573 lần/năm, qua đó tăng khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của TCTD cũng như các điều kiện tiền tệ.

    Từ năm 2002-2004, doanh số trúng thầu tăng trưởng hàng năm trên 100% và năm 2004 bằng 2,924 lần năm 2003 và 15,74 lần năm 2001. Doanh số trúng thầu tăng nhanh bởi các phiên OMO đã được tổ chức thường xuyên hơn, và doanh số giao dịch từng phiên tăng lên. Năm 2005, doanh số trúng thầu bằng 165,5% so với năm 2004.

    Doanh số mua vào qua OMO tăng nhanh qua các năm từ khi khai trương đến nay và nhìn chung tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng doanh số giao dịch OMO. Đặc biệt doanh số mua vào năm 2004 tăng đột biến, bằng 6,2 lần so với năm 2003. Doanh số mua vào năm 2005 bằng 165,1% so với doanh số mua vào năm 2004. Điều này chứng tỏ sự thay đổi của NHNN trong điều hành CSTT và diễn biến thị trường thường xuyên thiếu vốn khả dụng. Bên cạnh đó, tỷ trọng doanh số mua vào tăng từ 71,1% năm 2000 lên đến 98,2% vào năm 2005. Chỉ có năm 2003, tỷ trọng này giảm chỉ còn 46,5%.

    Doanh số trúng thầu bình quân của từng phiên cũng tăng tăng lên qua các năm. Năm 2000 mới đạt 112 tỷ đồng thì năm 2005 đã đạt 649 tỷ đồng, bằng 5,8 lần năm 2000. Bên cạnh đó, doanh số trúng thầu cao nhất trong một phiên cũng tăng lên theo các năm. Năm 2000, doanh số trúng thầu tối đa trong một phiên là 250 tỷ thì đến năm 2005 là 3.939 tỷ đồng. Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của các TCTD và các điều kiện của thị trường tiền tệ ngày càng tăng.

    2. Tần suất và phương thức giao dịch trên thị trường mở

    2.1. Tần suất giao dịch

    Để tăng cường khả năng tác động của công cụ này, NHNN đã tăng tần suất giao dịch thị trường mở. Trong thời gian đầu khi mới triển khai, các phiên OMO được tổ chức với tần suất 10 ngày/phiên. Ngày giao dịch OMO được tính theo ngày làm việc. Từ phiên thứ 14 vào ngày 29/11/2000, OMO được thực hiện với tần suất 1 tuần/phiên vào ngày thứ Tư hàng tuần. Điều này đã giúp cho các TCTD chủ động điều chỉnh kịp thời, linh hoạt vốn khả dụng của mình. Từ năm 2001, Ban điều hành OMO đã tăng định kỳ tổ chức các phiên giao dịch OMO 2 phiên/1 tuần vào ngày thứ 3 và thứ 5 hàng tuần. Ngoài ra để đáp ứng kịp thời vốn khả dụng cho TCTD, NHNN đã tổ chức các phiên đấu thầu đột xuất theo ngày, cá biệt 2 phiên/ngày trong thời gian giáp Tết Nguyên đán. Việc tổ chức các phiên đột xuất đã hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khả dụng, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ. Bắt đầu từ tháng 11/2004, giao dịch OMO đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, vào ngày thứ 2, 4 và 6, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD. Trong năm 2005, NHNN đã tổ chức được 158 phiên thị trường mở, tăng 28,5%so với năm 2004. Mặc dù hiện nay đã giao dịch với tần suất 3 phiên/tuần nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu giao dịch vốn của các ngân hàng.

    Bảng 2. Số lượng các phiên giao dịch OMO

     

     

    Năm

    Số phiên Số phiên mua Số phiên bán Tần suất giao dịch
    Mua hẳn Mua có kỳ hạn Bán hẳn Bán có kỳ hạn
    2000* 17 4 10 3 0 10 ngày/phiên
    2001 48 3 39 5 1 1 tuần/phiên
    2002 85 1 58 26 0 1 tuần/2 phiên
    2003 107 0 52 55 0 1 tuần/2 phiên
    2004 123 0 109 0 14 1 tuần/3 phiên
    2005 158 0 150 6 2 1 tuần/3 phiên

    Tổng số

    538 8 418 95 17  

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (*) từ 12/7 đến 31/12/2000

    NHNN chủ yếu thực hiện các giao dịch nhằm cung ứng vốn khả dụng cho TCTD, chiếm tới 79,2% tổng số phiên OMO. Các phiên giao dịch nhằm hấp thụ vốn dư thừa của hệ thống ngân hàng được tổ chức rất ít, điều này xuất phát từ thực tế của hệ thống ngân hàng là thường xuyên thiếu hụt vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng và thanh toán của nền kinh. Trong 2 năm gần đây, NHNN chỉ tổ chức 22 phiên bán GTCG trong tổng số 281 phiên OMO.

    2.2. Phương thức đấu thầu, xét thầu

    Bảng  3. Phương thức đấu thầu, xét thầu trên thị trường mở

    Năm Tổng số Phương thức đấu thầu Phương thức xét thầu
    Lãi suất khối lượng Riêng lẻ Thống nhất
    2000* 17 13 4 14 3
    2001 48 14 34 12 36
    2002 85 68 17 67 18
    2003 107 88 19 86 21
    2004 123 123 0 83 40
    2005 158 158 0 84 74

    Tổng số

    538 464 74 346 192

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, (*) từ 12/7 đến 31/12/2000

    Về phương thức giao dịch trên thị trường mở, NHNN chủ yếu sử dụng phương thức đấu thầu lãi suất và phương thức xét thầu riêng lẻ. Phương thức đấu thầu lãi suất đã được NHNN sử dụng trong 86,2% số phiên giao dịch trong 5 năm qua và tới 100% số phiên trong 2 năm gần đây. Điều này xuất phát từ lý do NHNN đang điều hành CSTT theo khối lượng tiền tăng thêm nên nhu cầu giao dịch GCTG của NHNN thường được xác định trước. Ngoài ra, NHNN cũng sử dụng phương thức xét thầu riêng lẻ trong 65,3% số phiên giao dịch. Trong nửa cuối năm 2005, NHNN hầu như chỉ áp dụng phương thức xét thầu thống nhất trong các phiên OMO.

    2.3 Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở

    Nhìn chung, lãi suất OMO khá bám sát các lãi suất khác của NHNN công bố như lãi suất cơ bản, lãi suất TCV và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu thường nằm giữa mức lãi suất TCV và lãi suất chiết khấu. Lãi suất trúng thầu, trong các phiên đấu thầu lãi suất, thể hiện khá chính xác và phù hợp với diễn biến thị trường.

    1. Lãi suất công bố trong phương thấu đấu thầu khối lượng

    Trước khi thực hiện các phiên đấu thầu khối lượng, Ban điều hành OMO công bố lãi suất để các thành viên đặt thầu mua bán GTCG. Lãi suất công bố này là lãi suất trúng thầu trong các phiên. Vì vậy, lãi suất trúng thầu trong các phiên đấu thầu khối lượng thường chỉ có một lãi suất nhất định. Tuy nhiên, do lãi suất trúng thầu đã được NHNN xác định nên các thành viên không có sự lựa chọn về lãi suất khi giao dịch với NHNN và lãi suất này chưa phản ánh được nhu cầu về vốn của các thành viên trên thị trường. Đây là một nhược điểm của phương thức đấu thầu khối lượng trong giao dịch thị trường mở. Vì thế, trong 2 năm trở lại đây, NHNN đã không áp dụng phương thức đấu thầu khối lượng trong các phiên OMO nữa.

    1. Lãi suất trúng thầu trong phương thức đấu thầu lãi suất

    Trước mỗi phiên đấu thầu, Ban điều hành OMO dự kiến khối lượng GTCG cần giao dịch. Khối lượng giao dịch có thể được NHNN thông báo hoặc không thông báo trước. Đồng thời, căn cứ vào dự báo tình hình vốn khả dụng, NHNN cũng xác định một lãi suất chỉ đạo làm điểm dừng khi giao dịch. Lãi suất này không thông báo cho các thành viên thị trường khác. Trường hợp NHNN mua GTCG, lãi suất chỉ đạo sẽ là lãi suất mua thấp nhất của NHNN và ngược lại. Mục đích của NHNN khi đưa ra lãi suất chỉ đạo là để định hướng lãi suất trên thị trường tiền tệ.

    Trường hợp áp dụng phương thức xét thầu thống nhất, lãi suất trúng thầu chỉ có một mức nhất định. Trường hợp áp dụng phương thức xét thầu riêng lẻ, nhìn chung sẽ có nhiều mức lãi suất trúng thầu. Do lãi suất trúng thầu trong các phiên OMO theo phương thức đấu thầu lãi suất phản ánh chính xác hơn diễn biến của thị trường nên tại Việt Nam, NHNN chủ yếu thực hiện OMO theo phương thức đấu thầu lãi suất, chiếm tới 86,2% tổng số phiên và 100% số phiên trong 2 năm gần đây.

    3. Kết quả đạt được của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở

    Thứ nhất, các cơ chế và quy trình OMO đã được không ngừng cải tiến và hoàn thiện

    Dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành OMO, các Vụ Cục chức năng của NHNN đã kịp thời sửa đổi, bổ sung cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật có liên quan. Về cơ bản, các vướng mắc về cơ chế, quy trình và hạ tầng kỹ thuật đã được từng bước xử lý, khắc phục. Công tác tổ chức, điều hành hoạt động OMO của NHNN được thực hiện bài bản, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong các phiên giao dịch.

    Các GTCG được sử dụng trong OMO đã được mở rộng theo tinh thần Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN năm 2003. Đến nay các GTCG được giao dịch không chỉ gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN mà còn cả các loại trái phiếu dài hạn do ngân sách trung ương thanh toán.

    Quy trình thanh toán từng bước được rút ngắn. Từ thanh toán sau 2 ngày kể từ ngày đấu thầu (T+2) năm 2000, thanh toán sau ngày đấu thầu 1 ngày (T+1) năm 2001 và từ năm 2002 đến nay việc thanh toán được thực hiện ngay trong ngày đấu thầu (T+0). Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN đưa vào vận hành từ tháng 5/2003 đã tạo điều kiện cho các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và OMO được thanh, quyết toán tức thời, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các TCTD.

    Tần suất giao dịch cũng được từng bước tăng cường từ 10 ngày/phiên trong thời gian bắt đầu hoạt động lên 1 tuần/phiên trong năm 2001, 2 phiên/tuần năm 2002. Từ tháng 11/2004 hoạt động OMO đã thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD. Trong những dịp giáp Tết, NHNN đã thực hiện giao dịch hàng ngày và tổ chức thêm các phiên giao dịch đột xuất (cá biệt 2 phiên/ngày), giúp các TCTD đáp ứng kịp thời vốn đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hệ thống.

    Thủ tục đấu thầu ngày càng được cải tiến. Nhất là từ ngày 15/12/2004, NHNN đã bắt đầu áp dụng công nghệ trang Web trong giao dịch OMO, cho phép thành viên kết nối trực tuyến với NHNN, không phải đầu tư máy chủ, tiết kiệm chi phí đầu tư khi tham gia nghiệp vụ này. Điều này đã tạo điều kiện thu hút thêm thành viên tham gia thị trường, qua đó nâng cao vai trò điều tiết của công cụ này.

    Thứ hai, OMO được kết hợp chặt chẽ và đồng bộ với các công cụ khác nhằm phát tín hiệu điều hành CSTT và thực hiện mục tiêu CSTT.

    Từ tháng 7/2000 đến năm 2002, việc NHNN mua bán GTCG thông qua OMO đã góp phần điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các TCTD theo mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Nhất là trong thời điểm các TCTD gặp khó khăn về vốn khả dụng, OMO đã được kết hợp sử dụng đồng bộ với các công cụ CSTT khác như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ, nghiệp vụ cho vay cầm cố để hỗ trợ kịp thời cho các TCTD đảm bảo khả năng thanh toán, góp phần duy trì ổn định tiền tệ và thực hiện mục tiêu CSTT.

    Tỷ trọng doanh số mua qua OMO trong tổng doanh số hỗ trợ vốn của NHNN qua các kênh (TCV, OMO và Swap) ngày càng tăng qua các năm, từ khoảng 45% năm 2001 lên 75% năm 2003 và khoảng 82% từ năm 2004 đến nay. Điều này cho thấy vai trò điều tiết vốn khả dụng của OMO ngày càng đóng vị trí quan trọng.

    Trong năm 2003, do NHNN tăng cường mua ngoại tệ từ các TCTD nên vốn khả dụng của các TCTD tăng lên. Để điều hoà vốn khả dụng VND của hệ thống ngân hàng, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN thông qua OMO. Từ tháng 4-7/2003, trước xu hướng các TCTD liên tục tăng lãi suất huy động VND trong khi vốn khả dụng vẫn dư thừa khá lớn, bên cạnh việc điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, giảm tỷ lệ DTBB, NHNN đã liên tục chào mua GTCG trong các phiên giao dịch OMO với lãi suất thấp nhằm phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng vốn khả dụng với chi phí thấp, các TCTD cần theo dõi và chủ động cân đối vốn hợp lý. Trong năm 2004 và 2005, chỉ số giá tiêu dùng CPI liên tục tăng trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng kinh tế vẫn được Chính phủ và NHNN hết sức quan tâm thực hiện. NHNN liên tục chào mua GTCG để cung ứng vốn ra nền kinh tế nhằm góp phần hạ nhiệt lãi suất thị trường. Chính vì vậy mà doanh số giao dịch OMO tăng đột biết trong 2 năm 2004-2005.

    Nhìn chung, việc điều hành OMO đã được kết hợp tương đối đồng bộ với các công cụ CSTT khác nhằm thực hiện mục tiêu CSTT. Lãi suất OMO đã kết hợp khá chặt chẽ với lãi suất TCV, lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suất thị trường.

    Thứ ba, OMO là kênh để NHNN có được nguồn thông tin về tình hình nguồn vốn của các TCTD và về tình hình thị trường tiền tệ nói chung, làm cơ sở cho việc điều hành CSTT.

    Trong điều kiện thông tin về thị trường tiền tệ còn chưa thu thập được đầy đủ và kịp thời, kết quả hoạt động OMO có thể coi là kênh thông tin hữu hiệu phản ánh một phần tình hình thị trường tiền tệ phục vụ cho điều hành CSTT. Thông qua việc tổng hợp, phân tích các thông tin về khối lượng, lãi suất đặt thầu và trúng thầu trong các phiên giao dịch OMO cũng có thể đưa ra các nhận định về vốn khả dụng của các TCTD, cũng như xu hướng lãi suất thị trường.

    Trong điều kiện NHNN chuyển sang điều hành bằng các công cụ tiền tệ gián tiếp như hiện nay, việc dự báo trước các diễn biến của thị trường để có quyết định phù hợp và kịp thời về việc điều chỉnh các công cụ CSTT ngày càng đóng vai trò quan trọng. Bằng việc theo dõi, dự báo thường xuyên vốn khả dụng của các TCTD, NHNN đã nắm bắt được các diễn biến về vốn của các TCTD để đưa ra các quyết định điều hành OMO và điều hành CSTT nói chung.

    Thứ tư, hoạt động OMO đã góp phần phát triển thị trường tiền tệ, hỗ trợ các TCTD sử dụng vốn có hiệu quả.

    Thông qua hoạt động OMO, tính thanh khoản của các GTCG do các TCTD nắm giữ được tăng cường. Điều này góp phần thúc đẩy hoạt động của thị trường sơ cấp, giúp cho các TCTD yên tâm hơn khi đầu tư vào các trái phiếu dài hạn của Chính phủ, khuyến khích các hoạt động mua bán lại trái phiếu chính phủ.

    Nhiều TCTD không chỉ coi việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ là hình thức đầu tư an toàn mà còn là hình thức dự trữ thanh khoản có hiệu quả cao. Khi cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán, các TCTD có thể sử dụng các GTCG trong các giao dịch OMO cũng như các nghiệp vụ thị trường tiền tệ nói chung, tạo điều kiện cho các TCTD điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tăng tỷ suất đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

    Qua theo dõi, phân tích các kết quả hoạt động OMO được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin, các TCTD có thể tham khảo về diễn biến thị trường để quyết định việc tham gia các hoạt động thị trường tiền tệ, nắm bắt tín hiệu về định hướng điều hành CSTT của NHNN để có hướng cân đối nguồn vốn thích hợp.

    Thứ năm, công tác phân tích, dự báo vốn khả dụng của các TCTD làm cơ sở cho việc quyết định giao dịch OMO ngày càng được tăng cường.

    Bộ phận quản lý vốn khả dụng đã cố gắng cải tiến phương pháp dự báo, nâng cao chất lượng dự báo vốn khả dụng, khắc phục khó khăn trong thu thập thông tin, khai thác tối đa các nguồn thông tin khác, thường xuyên trao đổi với các TCTD nhất là các NHTMNN để nắm bắt diễn biến thị trường, qua đó giảm sai số khi dự báo, đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của công cụ này.

    Bằng việc đưa hệ thống thông tin báo cáo mới của NHNN theo Quyết định số 477/2004/QĐ-NHNN vào áp dụng, NHNN đã bước đầu có điều kiện khai thác một số thông tin về vốn khả dụng qua mạng. Thông tin về vốn khả dụng của các TCTD đã được phản ánh toàn diện và kịp thời hơn. Các thành viên OMO đã có sự quan tâm, chú trọng hơn đối với việce theo dõi, phân tích và dự báo luồng vốn, thực hiện quản lý vốn ngày càng hiệu quả hơn để có thể tăng cường tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền tệ, nhất là nghiệp vụ OMO.

    4. Những hạn chế và nguyên nhân

    1. Những hạn chế

    Qua các năm triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả khả quan của hoạt động OMO thì vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định:

    Thứ nhất, tác động của OMO đến thị trường tiền tệ còn hạn chế

    – Công cụ OMO chủ yếu phát huy vai trò điều tiết khối lượng vốn khả dụng của các TCTD hơn là điều tiết lãi suất của thị trường. Nguyên nhân là do NHNN đang thực hiện khối lượng tiền chứ không phải điều tiết lãi suất.

    – Mặc dù lãi suất thị trường mở mang tính thị trường nhưng NHNN vẫn phải áp dụng lãi suất chỉ đạo mang tính hành chính trong một số phiên giao dịch OMO, để qua đó có thể can thiệp tới lãi suất của thị trường. Ngoài ra mối quan hệ giữa lãi suất OMO cũng như các lãi suất khác của NHNN và lãi suất thị trường chưa thật chặt chẽ.

    – Doanh số giao dịch OMO thấp, bình quân 373 tỷ đồng/phiên, nên mức độ tác động của OMO đến các điều kiện thị trường vẫn còn khá khiêm tốn.

    – Chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa hoạt động của thị trường mở với tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế.

    Như chúng ta đã biết, OMO tác động trực tiếp đến số dư tiền gửi của các ngân hàng tại NHNN, là một bộ phận của tiền cơ sở MB. Mặt khác, MB lại là nhân tố cấu thành M2. Vì vậy, về mặt lý thuyết thì giữa số dư ròng OMO và M2 phải có mối quan hệ hàm số với nhau.

    Qua theo dõi sự biến động theo từng quý của số dư ròng OMO và M2 tại Việt Nam trong 5 năm qua (22 quan sát), có thể nhận xét như sau: Nhìn chung giữa số dư ròng của OMO và M2 có sự biến động không cùng chiều với nhau và không có mối quan hệ hàm số. Cụ thể: M2 tăng trưởng đều hàng quý, với tỷ lệ tăng trưởng hàng quý bình quân khoảng 6,05% trong khi số dư ròng OMO biến động không đều, lúc tăng lúc giảm với biên độ khá lớn.

    Thứ hai, hoạt động thị trường mở còn một số bất cập

    – Tốc độ và chất lượng đường truyền kết nối qua mạng giữa NHNN và các thành viên còn chậm và đôi lúc bị ngắt quãng, nhất là khi nhiều thành viên đồng thời giao dịch với NHNN;

    – Các ngân hàng khi muốn lưu ký GTCG để tham gia các giao dịch với NHNN đều phải đến trực tiếp Sở Giao dịch NHNN để hoàn thành các thủ tục. NHNN chưa cho phép đăng ký lưu ký GTCG thông qua trang Web của NHNN để giảm thiểu thủ tục giấy tờ và việc nhập liệu thủ công của Sở Giao dịch NHNN.

    – NHNN không thông báo định hướng phân bổ tỷ trọng mua/bán giữa các loại GTCG như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, công trái … trước từng phiên giao dịch. Nhiều ngân hàng đã bị trượt thầu trong một số phiên do không nắm được định hướng tỷ lệ phân bổ xét thầu cho từng loại GTCG của NHNN nên đã đặt thầu giao dịch với các loại GTCG mà NHNN mua/bán với khối lượng thấp mặc dù đã đặt thầu ở mức lãi suất cạnh tranh.

    – NHNN chưa chấp nhận hoàn toàn các chữ ký điện tử trong các giao dịch với NHNN. Hiện nay mặc dù bản đăng ký mua bán GTCG và hợp đồng, phụ lục hợp đồng đều được ký duyệt chữ ký điện tử trên mạng, Sở Giao dịch NHNN yêu cầu phải có chữ ký của lãnh đạo NHTM trên bản in để chuyển tiền, không chấp nhận chữ ký điện tử và chữ ký cấp phòng của NHTM được uỷ quyền.

    – Thời gian để rút được GTCG lưu ký ra khỏi NHNN phải chờ đợi lâu (thường đến 5-7 ngày), do Trung tâm giao dịch chứng khoán TPHCM phải đợi bản gốc văn bản của NHNN gửi đến mới hoàn tất thủ tục cho khách hàng.

    Thứ ba, hoạt động của thị trường mở chưa thực sự sôi động.

    Tuy thời gian triển khai không còn ngắn nhưng công cụ OMO vẫn đang còn là một nghiệp vụ mới đối với một số các TCTD, nhất là các NHTMCP. Việc tham gia thị trường mở vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, hạn chế. Các NHTMCP tham gia không thường xuyên và không nhiều. Điều này xuất phát từ nguyên nhân các NHTMCP chưa nhận thức được đầy đủ các ưu điểm của công cụ này. Bên cạnh đó, vấn đề tâm lý khi giao dịch với NHNN vẫn chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn.

    Trong mỗi phiên giao dịch OMO thường chỉ có từ 1 đến 5 thành viên tham gia, chiếm tỷ lệ tương đối thấp so với tổng số các thành viên đăng ký tham gia OMO và chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số các TCTD. Các thành viên tích cực tham gia vẫn là các NHTMNN và một số NHTMCP. Điều này làm giảm hiệu quả và mức độ tác động của NHNN tới dự trữ của hệ thống ngân hàng.

    Thứ tư, kỳ hạn mua bán GTCG ngắn và chưa đa dạng

    Hiện nay, NHNN chỉ thực hiện thống nhất một loại kỳ hạn giao dịch trong một phiên đấu thầu. Điều này đã hạn chế sự lựa chọn về kỳ hạn của các thành viên thị trường, mặc dù nhu cầu về khối lượng và thời gian của các thành viên là khác nhau. Bên cạnh đó, NHNN chỉ thực hiện giao dịch theo một chiều nhất định (mua hoặc bán GTCG) trong một phiên và chủ yếu thực hiện việc mua GTCG nên các TCTD cũng không thể tham gia nếu không phù hợp với nhu cầu vốn của họ. Điều này đã được chứng minh trong thực tế khi tại nhiều phiên giao dịch, không có thành viên nào tham gia.

    Mặc dù về quy định là kỳ hạn giao dịch đã được đa dạng hoá từ 7 ngày đến 182 ngày nhưng trên thực tế, NHNN thường chỉ giao dịch với các kỳ hạn từ 7-30 ngày, dẫn đến các khoản thanh toán với NHNN đến hạn dồn dập trong một thời gian ngắn và tăng gánh nặng thanh toán cho các NHTM.

    1. Nguyên nhân

    Thứ nhất, thị trường tiền tệ ở Việt Nam còn chưa thực sự phát triển, các kênh truyền dẫn tác động CSTT chưa hoàn thiện làm hạn chế hiệu quả các công cụ CSTT. Việc thu thập thông tin về tình hình thị trường tiền tệ còn nhiều khó khăn. Đến nay NHNN vẫn chưa có hệ thống theo dõi kịp thời và đầy đủ các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Việc theo dõi, dự báo vốn khả dụng vẫn còn có những khó khăn nhất định. Trong khi đó, bản thân một số TCTD thành viên cũng gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về tình hình thị trường. Việc đánh giá, phân tích tình hình thị trường thông qua xem xét phản ứng của một số thành viên đôi khi không chính xác diễn biến thực tế.

    Chính vì vậy cho đến nay, NHNN vẫn chưa xây dựng được cơ chế truyền tải của CSTT và chưa lượng hoá được mức độ tác động của các công cụ CSTT đến M2 và các chỉ tiêu vĩ mô khác của nền kinh tế. Đây là một trong những nhược điểm lớn trong điều hành CSTT của NHNN.

    Thứ hai, cơ sở hạ tầng cho hoạt động OMO còn bất cập. Sự không đồng bộ trong ứng dụng công nghệ thông tin giữa NHNN và các thành viên thị trường làm hạn chế số lượng thành viên tham gia, đặc biệt là các NHTMCP (các chương trình phần mềm ứng dụng từ năm 2000-2004 còn có sự tách biệt nên khó sử dụng đối với các thành viên ít giao dịch). Việc nâng cấp hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho các nghiệp vụ thị trường mở nói riêng và các nghiệp vụ của NHNN nói chung còn chậm làm hạn chế đến tiến độ triển khai các ứng dụng công nghệ hiện đại vào các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ trong đó có nghiệp vụ OMO.

    Thứ ba, nhiều TCTD vẫn chưa quan tâm và chưa nhận thức đầy đủ tính hiệu quả của công cụ này. NHNN đã tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, tổ chức tập huấn triển khai hoạt động thị trường mở … nhằm phát triển hoạt động OMO nói riêng cũng như các hoạt động thị trường tiền tệ nói chung nhưng vẫn chưa được một số TCTD thực sự quan tâm. Số lượng thành viên thường xuyên tham gia OMO đã tăng nhưng vẫn còn hạn chế, chỉ có 14/29 TCTD thường xuyên tham gia các giao dịch OMO. Điều này không chỉ làm hạn chế sự tác động của OMO đến thị trường mà còn hạn chế khả năng sử dụng vốn hiệu quả của TCTD.

    Thứ tư, hàng hoá của OMO tuy đã được mở rộng nhưng vẫn chưa thực sự đa dạng hoá. Trong thời gian từ năm 200-2003, công cụ giao dịch OMO chỉ bao gồm các GTCG ngắn hạn. Thực hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật NHNN, danh mục GTCG đã được mở rộng, lượng GTCG có thể giao dịch trong OMO đã tăng lên, song vẫn tập trung tại các NHTMNN.

    Kỳ hạn của trái phiếu, tín phiếu Chính phủ – loại hàng hoá chủ yếu trong OMO – vẫn chưa thực sự đa dạng hoá, nhất là các tín phiếu kho bạc với thời hạn dưới 364 ngày ít được phát hành. Điều này cũng làm cho nhiều NHTM khó có điều kiện đầu tư vào GTCG, tạo hàng hoá tham gia OMO và các nghiệp vụ thị trường tiền tệ khác.

     

     

     

    CHƯƠNG III.

    GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

    CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

    1. Bổ sung thêm hàng hoá giao dịch trên thị trường mở

    Để hoạt động trên thị trường thực sự sôi động thì một trong những điều kiện cần thiết là phải bổ sung thêm các loại hàng hoá cho thị trường. Vì vậy, trong thời gian tới, NHNN cần xem xét bổ sung thêm các loại GTCG được phép giao dịch trên thị trường mở.

    Bên cạnh các GTCG do Bộ Tài chính phát hành thì NHNN có thể chấp thuận các loại GCTG khác do các tổ chức tài chính, tín dụng lớn, có uy tín, các chính quyền địa phương hoặc các tổng công ty lớn của Nhà nước được phép giao dịch trên thị trường mở như: trái phiếu của Quỹ Hỗ trợ phát triển, trái phiếu của các NHTMNN, trái phiếu đô thị của UBND các tỉnh, thành phố lớn đã tự chủ được ngân sách địa phương, trái phiếu của các Tổng công ty dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam. Việc đa dạng hoá hàng hoá giao dịch trên thị trường mở sẽ thúc đẩy các NHTM đầu tư vào các GTCG này, từ đó tăng thêm tính thanh khoản của các GTCG này và thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán trái phiếu.

    2. Đa dạng hoá các kỳ hạn giao dịch và tiến tới giao dịch nhiều kỳ hạn trong một phiên

    Hiện nay, phần lớn trong một phiên giao dịch chỉ có một kỳ hạn và giao dịch theo một chiều mua hoặc bán nên các thành viên thị trường mở không có nhiều sự lựa chọn. Kỳ hạn giao dịch ngắn nhất là 7 ngày và thường giao dịch với kỳ hạn 15 ngày và 30 ngày.

    Để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong việc lựa chọn kỳ hạn giao dịch, NHNN cần đa dạng hoá hơn nữa các kỳ hạn giao dịch trong một phiên giao dịch. Trong thời gian trước mắt, NHNN có thể áp dụng 2 kỳ hạn giao dịch trong một phiên. Việc áp dụng nhiều kỳ hạn trong một phiên sẽ cho phép các thành viên có thêm sự lựa chọn phù hợp với dự báo nhu cầu vốn của họ. Qua đó, sẽ tạo thêm cơ hội và tăng sự hấp dẫn của thị trường mở đối với các thành viên.

    Bên cạnh đó, NHNN cần phân bổ hợp lý các kỳ hạn giao dịch. Trong thời gian chưa triển khai được việc đa dạng kỳ hạn giao dịch trong một phiên, NHNN cần phân bổ kỳ hạn hợp lý nhằm tránh tình trạng các thành viên phải dồn trả nhiều hợp đồng vào cùng một ngày hoặc vào các ngày quá gần nhau làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của họ, ví dụ hợp đồng 30 ngày và hợp đồng 15 ngày đáo hạn cùng một thời điểm.

    NHNN cũng cần tiến tới áp dụng giao dịch mua bán kỳ hạn qua đêm đối với OMO. NHNN sẽ định hướng đưa ra giao dịch repo kỳ hạn qua đêm để thúc đẩy thị trường hoạt động linh hoạt và kịp thời. Công tác dự đoán và quản lý vốn của NHNN và NHTM do đó được tiến hành trên cơ sở từng ngày, đảm bảo chính xác và hiệu quả. Để giao dịch ở kỳ hạn này, NHNN và NHTM cần có những cải tiến và hoàn thiện về mặt quản lý, trình độ và công nghệ. Đây là một đòn bẩy để giúp thị trường vốn phát triển theo xu hướng quốc tế.

    3. Tăng tần suất giao dịch trên thị trường mở, tiến tới giao dịch 02 phiên/ngày

    Hiện nay, tần suất giao dịch thị trường mở là 3 phiên/tuần, nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của thị trường, nhất là vào những thời kỳ mà nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng tăng nhanh. Chính vì vậy, việc gia tăng tần suất giao dịch của thị trường mở là hết sức cần thiết để tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng thêm mức độ can thiệp của NHNN đến thị trường.

    Trước mắt, trong năm 2006, NHNN có thể định kỳ tổ chức 01 phiên/ngày vào lúc 11 giờ sáng, tức là 5 phiên/tuần, tăng thêm 2 phiên/tuần so với hiện nay. Điều này cho phép NHNN có thể bổ sung hoặc hấp thụ vốn kịp thời từ hệ thống ngân hàng, tăng thêm khả năng và mức độ can thiệp thị trường của NHNN. Ngoài ra cũng cho phép NHNN có thể kịp thời sửa chữa các sai lầm của mình trong các phiên trước đó.

    Sau đó, cùng với sự gia tăng của các thành viên thị trường và khối lượng giao dịch trên thị trường, NHNN cần tiến tới tổ chức giao dịch 2 phiên/ngày vào lúc 11 giờ sáng và 3 giờ chiều. Khi đó, NHNN có thể can thiệp kịp thời tới thị trường để đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng nhu cầu vốn của các TCTD thành viên cũng như hệ thống ngân hàng.

    4. Hoàn thiện các quy định lưu ký giấy tờ có giá tại Ngân hàng Nhà nước

    Hiện nay, mặc dù việc đặt thầu, xét thầu và thông báo đều đã thực hiện qua mạng nhưng việc theo dõi, lưu ký GTCG của NHNN thực hiện hoàn toàn thủ công bằng văn bản. Điều này làm kéo dài thời gian giao nhận GTCG giữa NHNN và các TCTD khi thực hiện các giao dịch thị trường mở. Vì vậy, việc theo dõi lưu ký GTCG bằng phần mềm sẽ góp phần khắc phục hạn chế này. Phần mềm lưu ký GTCG phải cho phép nối mạng giữa NHNN, các thành viên thị trường và các tổ chức lưu ký. Khi các TCTD có nhu cầu giao dịch với NHNN thì việc giao nhận GTCG cần được thực hiện nhanh chóng. Các GTCG đang lưu ký tại các tổ chức lưu ký như Trung tâm giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, các công ty chứng khoán có thể nhanh chóng được chuyển vào tài khoản lưu ký GTCG của NHNN. NHNN cũng có thể kiểm tra tức thời các tài khoản lưu ký GTCG này để thực hiện các giao dịch với các TCTD.

    Mặt khác, NHNN cần tiến tới việc quản lý lưu ký GTCG trong hệ thống NHNN tập trung về Hội sở chính của NHNN. Việc quản lý lưu ký GTCG của NHNN hiện nay đang thực hiện phân tán tại Sở Giao dịch NHNN và các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Điều này cho phép Ban điều hành OMO và các đơn vị liên quan tại NHNN có thể theo dõi sự luân chuyển GTCG chặt chẽ hơn.

    5. Cải tiến, nâng cấp và hoàn thiện hạ tầng công nghệ cho thị trường mở

    Bên cạnh việc cải tiến, hoàn thiện các quy định thì NHNN cần thực hiện đồng bộ việc cải tiến, nâng cấp hạ tầng công nghệ của thị trường mở. Để làm được điều đó, NHNN cần phải thực hiện một số biện pháp sau :

    – Tiếp tục nâng cấp và đồng bộ hoá các trang thiết bị phần cứng, hoàn thiện chương trình phần mềm ứng dụng đối với OMO để tạo điều kiện cho các TCTD thành viên thực hiện nghiệp vụ một cách nhanh chóng, thông suốt, đáp ứng yêu cầu phát triển của nghiệp vụ này;

    – Hiện nay tốc độ đường truyền giữa NHNN với các TCTD đã được nâng lên tới 64kps nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về tốc độ. Hiện tượng quá tải và nghẽn mạch đường truyền đã xảy ra khi cùng lúc có nhiều thành viên đăng nhập giao dịch. Chính vì vậy, NHNN cần phải nhanh chóng tăng tốc độ đường truyền. NHNN có thể tăng cường tốc độ đường truyền bằng cách mở rộng băng thông đường truyền, nhất là đường truyền giữa các TCTD và NHNN và giữa Sở Giao dịch NHNN với Cục Công nghệ tin học ngân hàng. Việc nâng cấp đường truyền cần được thực hiện nhanh chóng để đáp ứng sự gia tăng về thành viên và khối lượng giao dịch của thị trường mở trong tương lai. Bên cạnh đó, NHNN cũng cần xây dựng các kênh dự phòng để đảm bảo giao dịch được thực hiện thông suốt, không bị đứt quãng.

    – NHNN cần tích hợp phần mềm giao dịch OMO với phần mềm đấu thầu tín phiếu kho bạc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý GTCG, thao tác nghiệp vụ và luân chuyển thông tin giữa 2 thị trường sơ cấp và thứ cấp.

    – Kết nối với hệ thống lưu ký GTCG, hệ thống kế toán, thanh toán để thống nhất quản lý GTCG từ khi phát hành, luân chuyển giữa các TCTD, thanh quyết toán và sử dụng trong các giao dịch trên thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng và thị trường chứng khoán.

    – NHNN cũng cần tăng cường an ninh trên mạng máy tính, nhất là với các thông tin mang tính nhạy cảm của NHNN. Đến nay, mặc dù chưa để xảy ra trường hợp thông tin bị lấy cắp hay can thiệp trái phép trên đường truyền nhưng không vì thế mà công tác an ninh mạng có thể lơ là. Bên cạnh việc sử dụng các tính năng bảo mật của các phần mềm thì NHNN cần trang bị các thiết bị an ninh mạng chuyên dụng và tăng cường nhân lực về công nghệ thông tin để đảm bảo an toàn, bảo mật các thông tin trong giao dịch thị trường mở, đảm bảo mạng máy tính hoạt động thông suốt, an toàn, phát hiện và xử lý kịp thời các truy nhập, can thiệp trái phép vào hệ thống.

    6. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, thông tin rộng rãi về OMO để thu hút thêm các TCTD tham gia thị trường mở

    Mở rộng hệ thống công nghệ thông tin OMO từ chỗ chỉ là nơi thuần tuý thực hiện các giao dịch mua bán GTCG phát triển thành cổng thông tin của thị trường tiền tệ như thông tin về nhu cầu vốn khả dụng, nhu cầu mua bán GTCG của các TCTD, thông tin về khối lượng GTCG do NHNN và Bộ Tài chính phát hành, khối lượng GTCG do NHNN và các TCTD nắm giữ.

    Hiện nay, dù đã qua 5 năm hoạt động nhưng số lượng thành viên tham gia còn ít, nhất là các NHTMCP và chi nhánh NHNg. Điều này làm hạn chế tính hiệu quả của công cụ và giảm mức độ can thiệp của NHNN đối với thị trường tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Do đó, việc tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về tính ưu việt, tiện dụng, hiệu quả của nghiệp vụ OMO là hết sức cần thiết. Mục tiêu là đến năm 2007 phải đạt được 40 thành viên tham gia OMO và có tới 25 thành viên hoạt động thường xuyên.

    Để thực hiện được mục tiêu này, NHNN cần tăng cường biện pháp trao đổi thông tin giữa NHNN và các thành viên thị trường để kịp thời nắm bắt diễn biến thị trường làm cơ sở cho việc thực hiện OMO nói riêng và điều hành CSTT nói chung. NHNN cần công bố tỷ lệ định hướng xét thầu giữa các loại GTCG trong từng phiên để các thành viên có cơ sở đặt thầu cạnh tranh. Việc công bố định hướng điều hành của NHNN có thể thông qua Website của NHNN. NHNN cũng cần cho phép các thành viên thị trường mở có thể theo dõi trực tiếp các GTCG của mình đang lưu ký tại Sở Giao dịch NHNN và tình trạng giao dịch của các GTCG đó, đồng thời bổ sung kịp thời các thông tin về kết quả chi tiết của các phiên đấu thầu thị trường mở như thông tin cập nhật trên mạng tin Reuters.

    Bên cạnh đó, các TCTD cũng cần quan tâm hơn nữa đến các tín hiệu và cảnh báo của NHNN trên thị trường tiền tệ để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

    7. Nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành nghiệp vụ thị trường mở

    Con người luôn là yếu tố then chốt và quyết định trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội. Chính vì vậy, việc nâng cao trình độ của cán bộ NHNN trong xây dựng và điều hành CSTT là nhu cầu vừa mang tính cấp thiết vừa lâu dài.

    Theo kinh nghiệm của các quốc gia điều hành thành công CSTT thì năng lực và kinh nghiệm của các cán bộ xây dựng và điều hành CSTT được đặc biệt chú trọng. Tại một số quốc gia, như Mỹ, Hội đồng lãnh đạo NHTW có nhiệm kỳ làm việc rất dài. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ NHTW cao hơn chế độ thông thường.

    Do vậy, để hoàn thiện và triển khai hiệu quả OMO tại Việt Nam, điều quan trọng là phải nâng cao năng lực cán bộ xây dựng và điều hành OMO, không chỉ tại NHNN mà còn tại các TCTD thành viên. NHNN và các ngân hàng cần phải thường xuyên đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý ngân hàng, cán bộ nghiệp vụ. Chương trình đào tạo cần phải được chuẩn hoá và phù hợp với yêu cầu, xu thế phát triển của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đào tạo lý thuyết cơ bản thì cũng cần tiến hành các khoá học ở trong nước và nước ngoài.

    8. Mở rộng các thành viên thị trường mở

    Hiện nay, thành viên thị trường mở chủ yếu là các ngân hàng và tại Việt Nam vẫn chưa hình thành các nhà giao dịch sơ cấp. Điều này là phù hợp với thực tế và trình độ quản lý hiện nay của NHNN cũng như các TCTD.

    Trong tương lai, để tăng cường khả năng can thiệp của NHNN thông qua thị trường mở, NHNN cần nghiên cứu mở rộng các thành viên thị trường. Theo đó, các tổ chức như Quỹ Hỗ trợ phát triển, Kho bạc Nhà nước, Quỹ Bảo hiểm xã hội, Công ty tiết kiệm bưu điện … sẽ được chấp thuận là thành viên của thị trường mở. Điều kiện tiên quyết là các tổ chức này phải có tài khoản giao dịch tại NHNN và có hệ thống máy tính nối mạng với NHNN. Việc mở rộng thành viên thị trường mở cho phép các tổ chức sử dụng vốn nhàn rỗi hiệu quả hơn trên thị trường.

    9. Công nhận chữ ký điện tử trong các giao dịch thị trường mở

    Hiện nay, mặc dù tại các bản đăng ký mua, bán GCTG và hợp đồng, phụ lục hợp đồng đều được ký duyệt trên mạng nhưng NHNN vẫn yêu cầu phải có chữ ký của lãnh đạo các TCTD trên các bản in để thực hiện chuyển tiền, không chấp nhận chữ ký điện tử hay chữ ký của người được uỷ quyền. Tại các TCTD, hiện nay việc thực hiện các giao dịch trên thị trường tiền tệ thường do Lãnh đạo của bộ phận phụ trách nguồn vốn trực tiếp thực hiện. Do đó, việc yêu cầu các giấy tờ có chữ ký của lãnh đạo các TCTD đã tăng thêm các thủ tục hành chính trong các giao dịch giữa NHNN với các TCTD.

    Để giảm bớt thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian hoàn thành các giao dịch thị trường mở, NHNN cần chấp nhận sử dụng các chữ ký điện tử của lãnh đạo TCTD hoặc những người được uỷ quyền trong các giao dịch này. Để thực hiện được điều này, NHNN cần bổ sung quy định về việc sử dụng chữ ký điện tử trong các giao dịch tiền tệ với NHNN và chấp nhận hoàn toàn chữ ký điện tử trong các giao dịch thị trường mở. Các TCTD cần thông báo và đăng ký các chữ ký của những người chịu trách nhiệm thực hiện các giao dịch thị trường mở với NHNN. Bên cạnh đó, NHNN cũng cần tăng cường công tác bảo mật chữ ký điện tử và an ninh mạng nhằm tránh trường hợp các chữ ký này bị sử dụng ngoài ý muốn của TCTD và các hoạt động thị trường mở bị can thiệp bất hợp pháp.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]