Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-huy-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BB%91n-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%B3-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ngu%E1%BB%93n-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động trên thị trường quốc tế, tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mạI diễn ra nhanh chóng, nhiều quốc gia và nhiều công ty đang nắm trong tay lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư nước ngoài. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước thiếu vốn có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy đầu tư nước ngoàI chiếm một vị trí rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay đối với không chỉ những nước phát triển mà còn quan trọng đối với những nước đang phát triển. Đặc biệt là Việt Nam đầu tư nước ngoàI nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đầu tư xây đầu tư nước ngoàI dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và sức mạnh cạnh tranh cảu hàng hoá.

    Trong bối cảnh hiện nay, các nứơc đang phát triển có thể tận dụng mọi nguồn lực của thế giới, tiếp thu được những tinh tuý của nhân loạI, những cống hiến và những phát minh vĩ đạI của các bậc thế hệ đI trước, nhằm đI tắt đón đầu trên con đuờng phát triển và thu hẹp đầu tư nước ngoàI dần khoảng cách với các nước đI trước. Khi đó đầu tư nước ngoàI có vai trò như một phương tiện đắc lực đẻ thựcn hiện chủ trương trên, là một quốc gia đang trưởng thành và phát triển đồng thời đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đạI hoá , Việt Nam cần huy động tối đa mọi nguồn lực. ĐạI hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “ Kinh tế vốn đầu tư nước ngoàI là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu đầu tư nước ngoàI, bình đẳng với các thành phần khác. Thu hút đầu tư nước ngoàI là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước” .

    Với mong muốn vận dụng kiến thức để tìm hiểu nền kinh tế Việt Nam nên

    tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp để huy động và sử dụng có hiệu quả

    nguồn vốn đầu tư của nước ngoài” . Tôi rất mong đước sự góp ý của thầy cô và bạn bè.

    Lời cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn thầy PHẠM THÀNH đã tận tình hướng dẫn tôi cùng thư viện trường ĐHKQD và cảm ơn đồng nghiệp trong việc giúp tôi hoàn thành đề án này.

    PHẦN A.      PHẦN MỞ ĐẦU

    I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

    Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tàI chính quốc tế và nhiều công ty đang năm lượng vốn dự trữ khổng lồ có nhu cầu đầu tư ra nước ngoàI. Đây là đIều kiện thuận lợi đối với các nước đang thiếu vốn, có nhu cầu đầu tư lớn. Vì vậy nhu cầu thu hút vốn đầu tư và sử dụng nguồn vốn dó là một vần đề cấp thiết, quan trọng đối vơínhiều nước trên thế giới dặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có việt nam.

    Đối với nước ta thực hiên mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế –xã hội, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàI (FDI) là một vấn đề tấtyếu không thể thiếu được đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, giai đoạn mà chúng ta thực hiện chiến lược công nghiệp hoá – hiện đạI hoá đất nước.

    Trong đIều kiện hiện nay của đất nước, nhìn nhận một cách tổng thể thì nước ta đang còn là một nước nghèo so với bạn bè trong khu vực, đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á, mặc dù chúng ta đã có những tiến bộ vượt bậc so với trước đây, đã có những đường lối, chính sách đổi mới những mà cáI mà chúng ta mong muốn thì chưa đạt được. Vì vậy để đất nước ngày một hưng thịnh phồn vinh thì chúng ta phảI có những bước đI thật đúng đắn, có sự thống nhất từ trung ương đến cơ sở nhằm tạo nên sức mạnh chung phát huy tối đa nguồn lựctong nước cũng như nước ngoàI. Chính vì vậy nghiên cứu những lĩnh vực có liên quanđến vấn đề đất nước đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội. Những vấn đề đó không thể không nhắc đến cáI tác động trực tiếp lên toàn xã hội đó là vấn đề huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoàI là một nội dung quan trọng. Nó liên quan đến sự phát triển kinh tế xã hội, chính trị của đất nước, tác động trực tiếp lên các mặt đời sống của xã hội. Do vậy nghiên cứu, mở rộng tầm hiểu biết về nó là vấn đề cần thiết.

    Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá – hiện đạI hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trên mọi lĩnh vực, nhờ sự đổi mới đó mà chúng ta thu được những kết quả quan trọng, không những vượt qua khủng hoảng triền miên trong thập kỉ 80 mà còn đạt được những thành tựuto lớn trong phát triển kkinh tế xã hội.

    Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong l5 năm liền (1993-1997) đạt mức 8-9,5 % lạm phát bị đẩy lùi, đời sống đạI bộ phận nhân dân được cảI thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này là nhờ đóng góp lớn của trực tiếp đầu tư nước ngoàI FDI.

    -1-

    Nó đã góp phần mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoạI tạo đIều kiện tăng cường củng cố và tạo ra những thế lực mới cho nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực.

    II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ TÀI .

    Bài viết dựa trên những quy luật hiện tượng khách quan. Dựa vào các quy luật của triết học như:

    • phương pháp duy vật biện chứng.
    • phương pháp lịch sử.
    • phương pháp so sánh.
    • phương pháp phân tích tàI liệu.
    • phương pháp tổng hợp đánh giá. Và một số phương pháp khác.

    III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.

    Do phạm vi của đề tàI có giới hạn cho nên trong quá trình nghiên cứu, xem xét đánh giá nó phảI có cáI nhìn sâu sắc, nhìn từ nhiều hướng, nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau trên cơ sở đánh giá sâu vấn đề. BàI viết được trình bày dưới dạng một đề án của một môn học và chỉ dừng lạI ở mức độ đề án môn học.

    PHẦN B.  NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÍ LUẬN.

     

    1. Đầu tư quốc tế

     

    • Khái niệm: Đầu tư quốc tế (Lê Nin còn gọi là xuất khẩu tư bản) là một hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoạI. Nó là quá trình trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn dể xây dựng và triển khai một dự án đâù tư quốc tế nhằm mục đích sinh lợi.
    • 2-

    Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt vớI các nước nhận đầu tư. Nó làm tăng nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tàI nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạI, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đạI trên thế giới.Mặt khác đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hoá giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tàI nguyên, ô nhiễm môI trường sinh tháI tăng tính lệ thuộc với bên ngoàI.

    • Hình thức: Có 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    2. Đầu tư trực tiếp:

    Là hình thức trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp cá nhân nước ngoàI chủ đầu tư) trực tiếp tham gia quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ ra và thu lợi nhuận.

    Đầu tư trực trực tiếp được thể hiện dươí những hình thức sau đây:

    • hợp đồng hợp tác daonh nghiệp
    • doanh nghiệp liên doanh
    • doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI

    +) Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai hay nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh đoanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân.

    +) Doanh nghiệp liên doanh

    Doanh nghiệp liên doanh là loạI hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng vời góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia xẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư.

    +) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI.

    Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàI do nhà đầu tư nước ngoàI thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.

    Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàI được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Việt Nam.

    +) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyên giao (BOT). Hình thức này đòi hỏi cần có nguồn vốn từ bên ngoàI và thường đầu tư cho các công trình kết cấu ha tầng.

    -3-

    Thông qua các hình thức trên mà các khu chế xuất, khu cộng nghiệp mới, khu công nghệ cao vv… được hình thành và phát triển.

    3. Đầu tư gián tiếp: (Lênin còn gọi là xuất khẩu tư bản cho vay)

    Là hình thức đâù tư mà quyền sở hữu tách rồi quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là nguồn có vốn không trực tiếp tham gia vào tổ chức, đIều hành dự án mà thu lợi với hình thức lợi tức cho vay (nếu là vốn cho vay) hoặc lợi tức cổ phần (nếu là vốn cổ phần) hoậc có thể không thu lợi trực tiếp (nếu là cho vay ưu đãI).

    Sự khác nhau rõ nhất giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp là ngườI đầu tư trực tiếp có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư, còn người đầu tư gián tiếp không có quyền khống chế xí nghiệp đầu tư mà chỉ có thể thu lợi tức tráI phiếu cổ phiếu và tiền lãi.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể và hình thức. Trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho đầu tư dư thừa, phân tán đầu tư nhằm loạI bớt rủi ro. Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, một bộ phận quan trọng là viện trợ phát triển chính thức (ODA) của chính phủ một số nước có nền kinh tế phát triển bộ phận này có tỷ trọng lớn và thường đI kèm với bộ phận ưu đãI. Nguồn vốn này nhằm vào các mục đích y tế và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và đào tạo, các vấn đề xã hội nghiên cứu chương trình dự án bảo vệ môI trường sinh tháI, hỗ trợ ngân sánh và hỗ trợ nghiên cứu khoa học công nghệ.

    Đầu tư thường thúc đẩy tạo đIều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các đIều kiện ưu đãI cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng vốn này thực hiện các dự án có mức đầu tư lớn, thu hút vốn đầu tư dài.

    Đầu tư nước ngoàI có lợi cho cả nước đầu tư và cho cả nước nhận đầu tư, thường dùng các công cụ đầu tư tráI phiếu, cổ phiếu.

    Nhìn chung nguồn vốn đầu tư chính để phục vụ, phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH là nguồn vốn từ bên ngoàI tức là nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (FDI).

    II.               CƠ SỞ LÝ LUẬN.

     

    • Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Vernon(Hoa kỳ)

    Trước khi lý thuyết này ra đời có nhận định cho rằng: “hầu như các nước đều phát triển toàn diện”, vì vậy ngườI ta từng ví việc áp dụng lý thuyết này như áp dụng định luật Anhxtanh trong kinh tế.

    Theo lý thuyết nàyVernon đã chứng minh rằng không có nước nào mạnh toàn diện và cũng không có nước nào yếu toàn diện .Nếu chúng ta biết hợp tác thì sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp có như thế mới có lợi cho tất cả các nước.

    Hàm sản xuất: y=f (K, L)

    -4-

    P.Vernon cho rằng nên tận dụng lợi thế sso sánh sao cho tỷ lệ K/L ngày càng cao.

    Như vậy đối với việc đầu tư ra nước ngoàI để khai thác các lợi thế so sánh của nược nhận đầu tư, các chủ đầu tư sẽ đầu tư vào tất cả những nước đang phát triển: công nghệ vốn, mặt hành mang hàm lượng chất xám cao và hàm lương công nghệ lớn. Còn các nước đang phát triển, để phát huy lợi thế so sánh của mình sẽ tiếp nhận công nghệ, vốn các loạI.

    • Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith.

    Cơ sở kinh tế của nền kinh tế mở gắn liền với thương mạI quốc tế, tức là mỗi nước khi tiến hành thương mạI quốc tế đều phảI tìm được lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Smit trong thuơng mạI quốc tế phản ánh hao phí lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hàng hoá dịch vụ xuất khẩu thấp nhất so với các nước khác, còn đối với các nước nhập khảu thì hao phí lao, động cao nhất so với các nước khác. Chính vì đIều đó mà tạo lợi cho các nước, kể cả các nước xuất khẩu, nhập khẩu. Các nước xuất khẩu có lợi là thu nhập nến kinh tế lạI tăng lên, việc làm, nhiều hơn nên tỷ lệ thất nghiệp giảm đI, nguồn lực lao động được sử dụng tốt hơn, còn đối với cấc nước nhập khẩu: thì khả năng tiếp cận với hàng hào nhiều hơn, chất lượng hàng háo nhiều hơn, chủng loạI hàng hoá – dịch vụ phong phú hơn, hàng hoá dịch vụ rẻ hơn, đồng thời vì sản xuất trong nước các nước nhập khẩu này có những đIều kiện tốt để phát triển mau chóng nền kinh tế, vì thay vào đó khoảng thời gian sảnxuất trong nước được giảm đI đáng kể , đủ thời gian để tiếp cận mau chóng nền kinh mở.

    III. CƠ SỞ THỰC TẾ.

    1.     Hiểu về vốn đầu tư nước ngoàI.

    Như ta đã biết mọi quá trình sản xuất đều gồm hai yêú tố cơ bản là tư liệu sản xuất và sức lao động. Thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào, dù là sản xuất tự cung tự cấp hay sản xuất hàng hoá. Để có được hai yếu tố đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư. Vồn đầu tư dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắm hoặc bổt sung thiết bị, tạo cơ sở vật chuất kỉ thuật, mua sắm nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động. Vốn đó cho dù khác nhau về quy mô hay cơ cấu song là quá trình cần thiết đối với quá trình sản xuất. Một bộ phận vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển đó là vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoàI (viết tắt là FDI)

    FDI là một bộ phận cấu thành của toàn bộ hoạt động đầu tư của quốc gia, mà nguồn nước trong nước xét tổng thể có ý nghĩa quyết định. FDI không thay thế

    -5-

    các nguồn vốn đầu tư khác, nhưng có thế mạnh riêng. Trước mắt, khi nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn hạn hẹp, nguồn vốn ODA chưa đáng kể thì FDI chiếm một vị trí quan trọng, góp phần cải tiến dần cơ cấu kinh tế quốc dân, tăng cường cơ sở vật chất kỉ thuật của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất và tăng trưởng kinh tế, mở rộng thu hút ngân sách nhà nước, góp phần giả quyết thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, đẩy mạnh xuất khẩu. FDI là việc tổ chức cá nhân nước ngoàI trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoàI hoặc bất kì tàI sản nào được chính phủ Việt Nam công nhận để hợp tác kinh doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài… Rõ ràng khác với ODA, FDI không gây ra tình trạng nợ nần chồng chất cho các thế hệ mai sau và không phương hạI đến chủ quyền của đất nước. FDI còn có lợi thế hơn ODA, vì vậy đây là vốn của các công ty và tư nhân của nước ngoàI đầu tư vào Việt Nam trên cơ sở hai bên cùng có lợi, chủ đầu tư buộc phảI quan tâm làm cho đồng tiền sinh lợi. NgoàI ra,về lâu dài các công trình FDI sẽ thuộc về Việt Nam. Hơn nữa thực tế đã khẳng định, vay nợ nước ngoàI tỏ ra là một nhân tố huỷ hoạI quá trình phát triển của nhiều nước trên thế giới trong thời gian 40 năm qua .Vì thế Việt Nam nên chủ yếu dựa vào thu hút FDI.

    Tuy nhiên trong quá trình thu hút vốn đầ tư cần tránh các quan đIểm:

    • Quan đIểm coi nhẹ, thậm chí lên án FDI như một nhân tố có hạI cho nến kinh tế độc lập tự chủ.
    • Quan đIểm quá đề cao FDI gắn cho nó một vai trò tích cực, bất chấp đIều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắng cảI thiện môI trường đầu tư. Quan đIểm này dẫn tới tình trạng ỷ lạI vào FDI mà không khai thác tốI đa các lợi thế bên trong. FDI tự nó chưa thể quyết định sự thành công của mục tiêu phát triển kinh tế mà nó phảI được kết hợp đồng bộ với các nguồn khác, và quan trọng là tạo ra môI trường khuyến khích mạnh mẽ tiết kiệm trong nước để tàI trợ cho qúa trình phát triển, giảm bớt lệ thuộc vào nguồn vốn của nước ngoàI.

    Ngày nay FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong đIều kiện quốc tế hoá sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói trong thời đạI ngày nay không một quốc gia nào dù lớn hay bé, dù phát triển theo con đường TBCN hay định hướng xã hội chủ lạI không cần đến nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoàI, và coi đó là một nguồn lực quốc tế cần khai thác để từng bước hội nhập,vào cộng đồng quốc tế.

    Mặt khác dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay ngay cả những nước có tiềm lực kinh tế khoa học kỉ thuật như Mỹ, Nhật, cũng như các nước EU cũng không thể tự mình giảI quyết có hiệu quả những vấn đề đã

    -6-

    và đang và tiếp tục đặt ra trên lĩnh vực khoa học công nghệ và vốn . Do vậy chỉ có con đường hợp tác, trong đó FDI là loạ hình đầu tư hợ tác có hiệu quả. Do dó không có một nước nào bỏ qua hình thức này Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.

    2) Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài

    Trong hơn 10 năm qua, nhờ những chính sách luật đầu tư nước ngoài tạI Việt Nam mà chúng ta đã đạt được những thành tựa đáng kể và quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội vào thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, tăng cường thế và lực của Việt nam trên con đường hội nhập quốc tế. Vì thế mà đầu tư nước ngoàI đang trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoạI và chủ động hội nhập quốc tế thế giơí.

    • Đầu tư nước ngoàI đã góp phần bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác triển khai và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nước như dầu khí, đIện năng và nuôI trồng và chế biến cây công nghiệp, cây lương thực. Mặt khác đầu tư nước ngoàI cũng góp phần quan trọng vào việc bù đắp thâm hụt cán cân vãng laiv à cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.
    • Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm. Nguồn thu vốn ngân sách cũng tăng liên tục qua các năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần hình thành một số nghành công nghiệp mới như khai thác và chế biến dầu khí, sản xuất lắp ráp ôtô, điện tử , xe máy ..
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động tham gia phát triển nguồn nhân lực.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần chuỷển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá – hiện đạI hoá để phát triển lực lượng sản xuất . Hiện nay đầu tư nước ngoàI tập trung vào các nghành công nghiệp và chiếm gần 35% giá trị sản lượng công nghiệp , tốc độ tăng trưởng trên 20% góp phần đưa tốc độ phát triển công nghiệp của cả nước lên trên 10%/ năm.
    • Đầu tư nước ngoàI góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệ thông cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tảI, bưu chính viễn thông, năng lượng. Đồng thời đã hình thành được 67 khu công nghiệp – khu chế xuất và khu cộng nghệ cao trên phạm vi cả nước góp phần vào việc đô thị hóa ,hình thành khu đân cư mới tạo việc làm ổn định cho hiơn 200 nghìn lao động địa phượng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ
    • 7-

    khác, ở các thành phố lớn việc hình thành các khu chế xuất , khu công nghiệp đã tạo đIều kiện cho địa phương này tách sản xuất ra khỏi khu dân cư giảm thiểu ô nhiễm bảo về môi trường đô thị.

    2.     Vai trò của FDI đối với sự phát triến kinh tế xã hội của đất nước.

     

    Trong đời sống kinh tế , FDI có vai trò quan trọng lớn :

    Trước hết, FDI cung cấp vốn bổ sung cho chủ nhà để bù đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn trong nước, hầu như các nước nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển, mà nổi bật là nước ASEAN và đông Nam á, nhờ có FDI mà giảI quyết một số khó khăn về vốn nên đã giảI quyết một phần công nghiệp hoá, đã và đang trở thành những nước công nghiêp mới (NICs).

    Thứ hai: Cùng với việc cung cấp vốn kỷ thuật qua thực hiện FDI, cấc công ty mà chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia đã chuyển giao kỉ thuật công nghệ từ các nước đầu tư sang nước chủ nhà.

    Thứ ba: Do tác động của vốn, của khoa học công nghệ, FDI sẽ tác động mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu kỉ thuật, cơ cấu sản phẩm mà lao động sẽ được biến đổi theo chiều hướng tiến bộ.

    Thứ tư: FDI là một trong những hình thức hợp tác đầu tư quốc tế thông qua hìn thức đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà sẽ có thêm đIều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.

    Vốn đầu tư nước ngoàI các năm 1991-1995 chiếm 25,7% và từ năm 1996 đến nay gần chiếm 30% tổng vốn đầu tư xã hội, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cảI thiện cán cân thanh toán quốc tế.

    Tỷ lệ đóng góp cho đầu tư nươc ngoàI trong GDP tăng dần qua các năm: 1993 3,6% đến năm 1998 lên tới 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vục đầu tư nước ngoàI: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến năm 1998 đạt 370 triệu.

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoàI tăng nhanh: năm 1996 đạt 786 triệu USD năm 1999 đạt 2200 triệu USD bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoàI đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các dịch vụ phát triển. Đầu tư nướcc ngoàI góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạI hoá, phát triển lực lượng sản xuất .Thông qua đầu tư nước ngoàI bước đầu đã hình thành hệ thống các khu vực công nghiệp, khu chế xuất, đầu tư nước ngoàI cũng đã

    -8-

    đem đến nhữnh mô hình thức quản lí tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đạI trong các ngành các đơn vị kinh tế.

    Thứ năm: Đầu tư nước ngoàI đã góp phần giảI quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực.

    Đến nay, khu vực đầu tư nước ngoàI đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiệp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ …

    Mặc dù cũng có những mặt tráI của đầu tư nước ngoàI như: thu nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyển giá , trốn lậu thuế , ô nhiễm môI trường …nhưng cũng không thể phủ nhận những tác động tích cực của đầu tư nước ngoàI

    • Việt Nam.

    Thứ sáu: Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoaì.

    Hiện nay trên thị trường đầu tư quốc tế đang có sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nhà đầu tư có nguồn vốn lớn cũng như giữa các nước tiếp nhận đầu tư của nhau qua nhiều công trình nghiên cứu các học giả kinh tế đã đưa ra 12 yếu tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư đó là:

    • Đặc đIểm của thị trường bản địa ( quy mô , dung lượng của thị truờng, sức mua của dân bản địa và khả năng mở rộng quy mô đầu tư )

    Việt Nam là một thị trường khá rộng lớn với quy mô dân số gần 80 triệu người, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, đây là một lợi thế song trên 80% dân số sống ở khu vực nông thôn thu nhập thấp, sức mau chưa cao đây là mnhân tố cản trở khả năng thu hút FDI.

    • Luật đầu tư.

    Yếu tố này có thể thúc đẩy hoặc hạn chế hoạt động của cá công ty nước ngoàI trên thị trường bản địa, luật này thương bảo vệ lợi ích của các nhà sản xuất bản xứ. Nhiêù nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoàI theo các đIều kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.

    Sau nhiều lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước ngoàI ở Việt Namđã khá thông thoáng và cởi mở, song còn tồn tạI nhiều yếu tố cần xem xét, hoàn thiện hơn nhằm thu hút FDI tạI Việt Nam.

    Thứ bảy: đặc đIểm của thị ttrường nhân lực.

    Nhân công rẻ là mối quan tâm hàng đầu ở đây đặc biệt là đối với những nhà đầu tư nước ngoàI muốn bỏ vốn vào lĩnh vực cần nhiều lao động có khối lượng sản xuất lớn như: dệt may, lắp ráp đIện tử, xe máy, … Trình độ học vấn và nghề nghiệp của công nhân đầu đàn ( có tiềm năng và triển vọng ) có ý nghĩa quan trọng .

    -9-

    Việt Nam có nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ so với các nước trong khu vực song còn tồn tạI nhiều bất cập:

    Năng suất lao động thấp do lực lượng qua đào tạo ít tình tự tay nghề thấp, thiếu đội nhũ kỹ sư công nhân lành nghề và cán bộ quản lí có năng lực thực sự. Cơ cấu lao động chưa hợp lí, xuất hiện và tồn tạI tình trạng “ Thừa thầy thỉếu thợ” cơ chế thi tuyển chưa rõ ràng, công khai và phổ biến…

    Thứ tám: chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư.

    Yếu tố ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản tệ bị nâng cao hay hạ thấp đều ảnh hưởng đến xuất khẩu.

    Thứ chín : Khả năng hồi hương vốn đầu tư .

    Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới là tiền quan trọng để thu hút vốn FDI. ở một số nước thủ tục mang ngoạI tệ ra nước ngoàI khá rầy rà , cản trở hoạt động vốn đầu tư nước ngoài.

    • Việt Nam bên cạnh việc quản lí hồi hương vốn, lợi nhuận bằng ngoạI tệ chuyển ra nước ngoàI, ở một chừng mực nhất định chúng ta đã có những chính sách hạn chế những rầy rà, tạo đIều kiện cho các nhà đầu tư.

    Thứ mười: Bảo vệ quyền sở hữu .

    Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào những nghành có hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động ở một sốnước, lĩnh vực này đựoc kiểm tra giám sát khá lỏng lẻo, chính vì vậy mà một số nước bị các nhà đầu tư loạI khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư .

    Thứ mười một: Chính sách thưong mại.

    Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vấn đề đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Hạn nghạch xuất khẩu thấp và các hàng rào khác trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng có thể không kích thích hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, chính những yếu tố này làm phức tạp cho thủ tục xuất nhập khẩu.

    Thứ mười hai: chính sách thuế và những ưu đãi.

    Nó thường được áp dụng để thu hút sách nhà đầu tư nước ngoàI. GIả thuế nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu, thuế xuất, ttăng thuế nhập thành phẩm; Miễn giảm thuế thu nhập đối với các vùng có đIều kiện khố khăn .

    Thứ mười ba: ổn định chịnh trị xã hội ở nước nhận đầu tư và trong khu vực.

    Đây là yếu tố không thể xem thường mỗI khi bỏ vốn đầu tư và rủi ro chịnh trị có thể gây thiệt haị lớn cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Chẳng hạn các nước phát triển như Mỹ la tinh cho thấy, mặc dù nguồn lực tự nhiên của các nước này

    -10-

    khá dồi dào nhưng do luôn luôn có những bất ổn về chính trong đời sống chịnh trị – xã hội nên dòng FDI đổ vào các nước này không ổn định.

    Tuy nhiên FDI không phảI khi nào và bất cứ ở đâu cũng phát huy tác động tích cực đối với đời sống kinh tế xã hội của nước chủ nhà. Nó chỉ thể phát huy tác dụng tốt trong môI trường kinh tế, chính trị xã hội ổn định và dặc biệt là nhà nước biết sử dụng và phát huy vai trò quản lý của mình. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế quá trình thu hút FDI ở nước ta.

    4. Quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn đầu tư ngoàI nước.

    Nước ta đang trong quá trình CNH-HĐH. Vốn là tiền đề quan trọng cho CNH-HĐH thành công.

    Vốn để CNH-HĐH có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoàI. Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở sản xuất là lao động thặng dư của người lao động thực chất cho các thành phần kinh tế. Con đường để giảI quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học kỉ thuật, công nghệ hợp lí hoá sản xuất. Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ trước hết và chủ yếu là khai thác sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung chung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu… Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm…

    Tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu làm cho việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền linh tế hết sức khó khăn, đặc biệt trong thời kì đầu. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn: vì nghèo nên tích lũy thấp, thì tăng trưởng kinh tế chậmvà khó thoát khỏi đói nghèo… Cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút vốn đầu tư nước ngoàI. Đây là nguồn vốn có vai trò cực kì quan trọng, không những giúp các nước nghèo khắc phục khó khăn về vốn trong thời kì đầu mà còn góp phần nâng cao tình độ quản lí công nghiệp tạo việc làm cho người lao động … Vì thế tranh thủ nhuồn vốn bên ngoàI là một là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

    Tuy nhiên mặt tráI của nguồn vốn đầu tư nước ngoàI cũng không nhỏ. Sử dụng nhuồn vốn đầu tư nước ngoàI phảI chấp nhận chịu bóc lột, tàI nguyên bị khai thác, nợ nước ngoàI tăng lên… Do vậy không kì vọng quá lớn nguồn vốn bên ngoàI. Sử dụng nguồn vốn nước ngoàI lầ rất quan trong nhưng phảI cân nhắc trước khi lựa chọn.

    -11-

    -12-

    IV.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    1/ THỰC TRẠNG:

    1.1 Vấn đề chung:

    1. Xu hướng thế giới: Tình hình vấn đề về nguồn vốn đầu tư trrên thế giới đang diễn ra hết sức sôI động và mạnh mẽ. Trong vòng những năm tiếp theo nguồn vốn đầu tư nước ngoàI vào Châu Á sẽ tiếp tục tăng, năm 2001 có thể thu hút khoảng 123,1 tỉ USD, năm 2005 ước tính lên tới 4400 tỉ USD, cao hơn mức 5 năm qua đạt 3600 tỉ USD

     

    Mỹ vẫn là một quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giới và chiếm hơn hẳn tổng nguồn toàn cầu giai đoạn này. Tuy nhiên số vốn FDI đổ vào EU vẫn vượt Mỹ trong vai đầu tư trực tiếp nước ngoàI.

    Dự báo vốn FDI sẽ đổ vào các nước hát triển là chủ yếu mặc dù các nước đang phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong tỷ giá trị vốn FDI toàn cầu tiếp nhận so với những năm gần đây. Trong số các nước đang phát triển chỉ có Trung Quốc và Brazin là một trong 10 quốc gia tiếp nhận FDI lớn nhất thế giơí. Còn Nga là nước có sự cải thiện vị trí đáng kể, từ vị trí thư 31 lên vị trí thứ 23.

     

    Theo các chuyên gia nước mngoàI dự đoán trong những năm tới đIều kiện kinh doanh trên toàn thế giới sẽ tiếp tục cảI thiện nhờ nền kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định và mức độ tự do hoá ngày càng lớn. Mỹ tiếp tục là nước có nền kinh tế thế giới mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên EU đang thu hẹp khoảng cách với Mỹ. Các nước Mỹ là tinh sẽ tiếp tục đẩy mạnh cảI cách, khu vực có tiến bộ nhất về kinh tế sẽ là Đông Âu.

    Còn đối với Việt nam thì như thế nào? Trước những xu hướng và bối cảnh quốc tế phức tạp và mang tính cạnh tranh cao đòi hỏi chung ta phảI có một chiến lược tàI tình thu hút vốn đầu tư nước ngoàI cho thời kì 2003-2010 để đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cho thời gian tới. Chính vì vậy việc xem xét đánh giá kết quả ĐTNN trong thời gian qua, kịp thời tháo gỡ những khó khăn , ách tắc và đưa ra những gỉ pháp khuyến khích thu hút ĐTNN vào nước ta đang đựoc chiính phủ quan tâm và chỉ đạo.

     

    Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam tơí nay đã có hơn 3260 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoàI được cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng kí 44 tỷ USSD trong đó có trên 2600 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng kí trên 36tỷ USD .S ố vốn thực hiện đến nay đạt gần 20tỷ USD bằng 44,5% số vốn đăng kí trong đó vốn nươc ngoàI là 18tỷ USD. Khu vực có vốn

    -13-

    FDI tạo ra trên 12% GDP, hơn 34% giá trị sản xuất công nghiệp. Hơn thế nữa, thông qua ĐTNN chúng ta đã tiếp thu dược công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lí và một số nghành sản xuất mới cho nền kinh tế.

    Nến tính riêng 5năm 1996- 2000 so với 5 năm trước thì tổng vốn đầu tư mới đạt 20,73 tỷ USD, tăng 27,5%.

    Sau một vàI năm chững lại và suy giảm do cuộc khủng hoảng tàI chính khu vực, do cạnh tranh thu hút DTNN và nhưng hạn chế của môI trường đầu tư , từ năm 2000 ĐTNN ở VIệt Nam đã có dấu hiệu phục hồi , đặc biệt trong hai tháng đầu năm 2001 đã có 35 dự án đầu tư nước ngoàI được cấp giấy phép với tôngr ssố vốn 71,3 triệu USD, tăng 16,7% về dự án , tăng 16,1% về số vốn cùng kì 2000. Nhu vậy cũng có thấy đước dấu hiệu của sự tăng trưởng ĐTNN tại Việt Nam.

    1. b) Mục tiêu.

    Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triến kinh tế –xxa hội 2001-2005, khu vực đầu tư trức tiếp nước ngoàI phảI phát triển ổn định hơn, đặc biệt là chuất lượng so với thời kì trước, để nhanh chóng công nghiệp hoá ,hiện hoá đất nước. Cụ thể hơn hoạt động đầu tư nước ngoàI trong thời kì 2001-2005 phảI đạt được các mục tiêu sau:

    • Vốn đăng kí của các dự án cấp giấy phép mới khoảng 12tỷ USD .
    • Vốn thực hiện khoảng 11tỷ USD.
    • Đến năm 2005 đóng góp khoảng 15% GDP, 25%tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% tổng thu ngân sách cả nước.
    1. c) Định hướng.
    • Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoàI vào các nghành công nghiệp sản xuất khẩu, công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án xựng dựng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử , vật liệu mới viễn thông sản xuất phát triến kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạngh tranh gắn với công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
    • Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những địa bàn có lợi thế để phát huy vai trò của các vùng động lực, tạo điều kiện liên kết phát triển các vùng khác trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh. Khuyến khích và dành các ưu đãI tối đa cho đầu tư trực tiếp nước ngoàI vào những vùng và địa bàn có đIều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo đIều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu

    -14-

    tư nước ngoàI. Tập trung thu hút đầu tư nước ngoàI và các khu công ngiệp tập trung đã hình thành theo quy hoạch được phê duyệt.

    Khuyến khích các nhà đầu tư trực tiép nước ngoàI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ dầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoàI có tiềm năng lớn về tàI chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, tiếp tục thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoàI ổ khu vực .Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chý ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ, nhưng công nghệ hiện đạI, khuyến khích tạo Việt Nam định cư ở nước ngoàI đầu tư về Việt Nam.

    1.2. Vấn dề cụ thể.

    • Về số dự án và số vốn đầu tư.

    Trong hơn 10 năm qua, từ năm 1989-1999 đã có 3087 dự án với tổng số vốn thực hiện là: 15700triệu USD, đạt tỷ lệ 39.2% so với tổng số vốn đăng kí. Đây là một tỷ lệ khá cao (đồng thời cũng khá cao so với các nước trong khu vực: Trung Quốc 31%, Idonesia 44%, ấn độ 18%/ theo số liệu thống kê của bộ kế hoạch và đầu tư, quá trình thu hút vốn và số dự án FDI qua các năm trong giai đoạn 1989-1999 được thể hiện qua biểu đồ sau:

    Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Tổng vốn thực hiện
        TriệuUSD Triệu USD
    1989 70 539 130
    1990 111 569 220
    1991 155 1388 221
    1992 193 2271 398
    1993 272 2987 1106
    1994 362 4071 1952
    1995 404 6616 2652
    1996 501 9212 2371
    1997 479 5548 3250
    1998 260 4827 1900
    1999 280 2000 1500

    Theo nguồn thông tin tài chính :số 1/1/2000

    Qua số liệu ta dễ dàng nhận thấy tổng số dự án cũng như tổng số vốn FDI trong giai đoạI 1989- 1996 tăng lên với tốc độ rất nhanh1080 số lượng vốn đầu tư thu hút được mới chỉ đạt 539 TriiêụUSD, năm 1999 đã tăng lên 6616 triệu USD và năm 19996 đạt mức 9212 triệu USD.

    Mức bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 50%. Quy mô trung bình của cũng tâưng dần qua các năm. từ 3,5 triệu USD thời kỳ 1988 đến năm 1990 tăng lên 7,5 triệu USD năm 1991 7,6 triệu USD năm 1992 10 triệu USD năm 1993 đến năm 1994 16,38 triệu USD năm 1995 và 2,3 triệu USD năm 1996. Ngày càng

    -15-

    có nhiều dự án có tổng số vốn đầu tư lớn như dự án xây khu vực đô thị Nam thăng long 2,1 tỉ USD khu đô thị nam SàI Gòn 991 triệu USD, dự án xây dựng cảng chung chuyển quốc tế Sao Mai –Bến Đình 637 triệuSSD… đIều đó cho thấy tời kỳ này việc thu hút FĐI của Việt Nam tỏ ra rất hiệu quả. Một phần đó là do Việt Nam là một thị trường mới hấp dẫn của các nhà đầu tư một phần khác là chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoàI đúng đắn của nhà nước ngoàI Việt Nam. Các khoảI đầu tư này góp phần đáng kể trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu, đóng góp vào ngân sách và kinm ngạch xuất khẩu và giải quyết công ăn việc làm: Doanh thu của các doanh nghiệp có số vốn dầu tư nước ngoàI tăng dần qua các năm: Năm 1990là 40triệu USD, năm 1991 là 149triệu USD, năm 1992 là 206triệu USD… mức tăng trưởng giai đoạn này làg 30% .Tỷ lệ xuất khẩu trên doanh thu khoảng gơn 60% năm1997và bằng 44% năm 1996, 31% cho năm 1995. GiảI quyết công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn người.

    Đa số các dự án theo hình thức kiểu liên doanh có 1337 dự án chiếm 61% tổng số dự án với số vốn trên 23,7 tỷ USD chiếm 69% tổng số vốn đăng kí. Đây là một đIểm mạnh của các dự án đầu tư nước ngoàI vì các đối tác nước ngoàI cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam . Số dự án hoạt động theo hình thức 100% số vốn nướcc ngoàI là 669 dự án chiếm 30% tổng số dự án , với số vốn 6,48tỷ USD. Số dự án hoạt động theo hình theo hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng rất thấp: có 145 nước chiếm 7% với số vốn là 3,23 tỷ USD chiếm 9,4% .Sở dĩ như vậy là do một số ngành đặc biệt như thăm dò, khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông nhà nước quy định phảI làm theo hình thức hợp doanh. Chỉ có 3 dự án hoạt động theo hình thức BOT- chủ yếu xây dựng cơ sở hạ tầng.

    Nhiều công trình, dự án quan trọng đã đI vào hoạt động, nhiều công nghệ được chuyển giao đã tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế. Tác động rõ nét. nhất là lĩnh vực công nghiệp , khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI chiếm 100% về khai thác dầu thô , lắp ráp ô tô, sản xuất bóng đèn hình; 45% về sản xuất thép, 21% về sản xuất vảI ;205 về sản suất bia…Theo thông kế trong giai đoạn 1991-1996 vốn FDI đã thực hện chiếm 40% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm. Tỷ trọng sản phẩm trong tổng GDP của khu vực đầu tư nước ngoàI cũng một ngày càng tăng . Năm 1993là 5,6%, năm 1994là 7,5%, năm 1995là 10%, đến năm 1996 là 13%. Tuy nhiên đến sau năm 1996 tình hình thu hút FDI có xu hướng chững lạI. Nến nhìn vào con sộ tống kê, số vốn đăng kí của cả năm 1996 là 9212 triệu USD tăng 39% so bvơí 1995 thì có lẽ tình hình khả quan hơn .Tuy vậy những ai quan tâm dến tình hình đầu tư đều nhận thấy rằng, nến không có hai dự án xây dựng khu đô

    -16-

    thị mới với tổng số vốn FDI năm1996 sẻ chỉ còn gần 6 tỷ USD, thầp hơn tổng số vốn FDI năm 1995.

    Bước sang năm 1998 do tiếp tục bị ảnh hưởng chủ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực kéo daì nên đầu tư nước ngoàI tạI Việt Nam bị giảm sút mạnh. Tuy vậy phảI nhờ đến chính sách phù hợp, tập trung xử lí những vướng mắc kịp thời nên năm 1998 vẫn có thêm 260 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn là 4827triệu USD. Năm 1999 số dự án là 280 song tổng số vốn chỉ đạt 2000 triệu USD.

    Như vậy trong gia đoạn 1996-1999 số dự án được cấp giấy phép liên tục giảm, tổng số vốn đầu tư cũng có chiều hướng giảm.

    • Về cơ cầu vốn đầu tư

    Đây là nột vần đề có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, nó có tác dụng to lớn đến quá trính chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung Theo số liệu thống kê, cơ cấu vốn đầu tư vào Việt Nam trong những năm qua có những bước tiến rõ rệt. Tính đến tháng 8-1993 nghành công nghiệp khai thác và khách sạn, du lịch thu hút tới 40,9% tổng số vốn đầu tư, thì năm 1998 số vốn đầu tư vào các nghành này chỉ còn 18,2% .Số vốn đầu tư vào khu vực sản xuất vật chất và xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng tăng. Tính đến năm 1998 đã có đến 21,236tỉ USD đầu tư vào khu vực này, chiếm 2/3 tổng số vốn FDI đầu tư vào Viết Nam. Nếu tính đến suốt cả thời kì 1989-1997 ngành công nghiệp có 1977 dự án với số vốn đăng kí là 11545,3triệu USD, thứ hai là nghành khách sạn, du lịch có 189 dự án với số vốn là 2785,9 triệu USD; 1527,3triệu USD. Cơ cấu này được thể hiện như sau:

    ST Ngành Số dự   Tổng Tỷ lệ Số dự Tổng số Tỷ lệ
    T   án   số %vốn án vốn %vốn
            vốn        
                     
    1 Công nghiệp chế biến 285   2328 39,6 1291 13008 40,5
                     
    2 Công nghiệp khai thác 25   1124 19,1 79 2184 6,8
                     
    3 Xây dựng 14   16 0,3 259 8228 25,6
                     
    4 Khách sạn và du lịch 86   1276 21,8 161 3650 11,4
                     
    5 Giao thông và bưu đIện 34   456 7,8 102 1465 4,6
                     
    6 Nông –lâm nghiệp 81   239 4,1 54 316 1,0
                     
    7 Ngư nghiệp 32   90 1,5 47 206 0,6
                     
    8 Các nghành khác 68   336 5,8 327 3045 9,5
                     
      Tông cộng 625   5865 100 2320 32102  
                     
          -17-        

    Nếu như thời kì đầu của ngành sản xuất chỉ chiếm từ 50-60% tổng số vốn đầu tư so với năm 1995, nghành giao thông vận tảI và bưu điện từng 89%, xây dựng và sản xuất vật liệu công nghiệp tăng 63% trong cùng kì. Điều đáng chú ý trong thời gian qua đã có một số dự án dầu tư vào cở sở hạ tầng. Ngược lại so vơí năm 1995, năm 1996 FDI trong khu vực khách sạn giảm đI 53%, văn phòng cho thuê 70% và tàI chính nhân hàng giảm 44%. Mức giảm còn mạnh hơn năm 1997-1998.

    Sự phân phối lạI nguồn vốn đầu tư trong công nghiệp chứng tỏ các nhà đầu tư nước ngoàI ngày càng tin tưởng vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, không chỉ đầu tư vào những nghành thu hồi vốn đầu tư nhanh mà họ còn yên tâm đầu tư vào các dự án phát triển dài hạn. Có được kết quả này một phần là nhờ vào việc phát triẻn các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Tuy nhiên cũng dễ nhận thấy số vốn FDI đầu tư vào các nghành công – nông –ngư nghiệp còn quá ít. Đến năm 1998 mới có 1629 triệu USD chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số vốn FDI mặc dù khu vực này có nhiều tiềm năng để khia thác như chế biến nông lâm thuỷ sản. ĐIều này cho thấy những năm tới khu vực này cần tập trung thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn nữa để có thể tận dụng tốt hơn các nguồn lực cho phát triển.

    Cơ cấu vốn đầu tư cho vùng lãnh thổ cũng đã từng bước phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế. Những năm đầu các nguồn vốn đầu tư tập trung nhiều vào các tỉnh phía nam: như TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa vũng tàu …thì hiện nay nguồn FDI có sự phân bố tương đối đồng đều giữa các vùng tập trung chủ yếu vào các khu vực kinh tế trọng đIểm như Hà Nội – HảI Phòng – Quảng Ninh…

    • Về đối tác đầu tư.

    Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều công ty, nhiều tập đoàn lớn như là: các công ty xuyên quốc gia có tiềm lớn về tàI chính như Sony, Tôyota, Hon da, Sanyo, sam sung, Motỏola, Ford của Mỹ …

    Bên cạnh đó cũng có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ngoài tham gia đầu tư tạI Việt Nam. ĐIều này cũng thực sự cần thiết vì các doanh nghiệp này thường rất năng động, thích ứng nhanh với nhứng biến động của thị trường, hoạt động có hiệu quả, từ đó sẽ là cơ sở cho các tập đoàn, các công ty lớn nhìn nhận đúng hơn môI trưòng đầu tư, kích thích họ an tâm dầu tư nhiều hơn nữa vaoViệt Nam.Theo số liệu thốg kê của bộ kế hoạch và đầu tư, các nước và vùng lãnh thổ có số vốn đầu tư lớn vào Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:

    Nước và vùng Số dự án Tỷ trọng Tổg số vốn Tỷ trọng
    lãnh thổ     đầu tư (%) (%)
             
        -18-    
    Singapore 181 9,4 6447 20
             
    đàI loan 309 16 4268 13,3
             
    Hồng công 184 9,5 3734 11,6
             
    Nhật bản 213 11 3500 11,4
             
    Hàn quốc 191 9,9 3154 9,8
             
    Pháp 96 5,0 1465 4,6
             
    Malaysia 59 3,1 1370 4,3
             
    Hoakì 70 3,6 1230 3,8
             
    TháI lan 78 4,0 1109 3,4
             
    BV. Iland 55 2,9 1089 3,2
             
    Tổng 1436 74,4 27366 85,4
             

    Các nước và vùng lãnh thổ đứng đầu về FDI ở ViệtNam

    • Hình thức đầu tư

    Tính đến năm 1994, các hình thức đầu tu đã thục hiện tạI Việt Nam là: – Xí nghiệp liên doanh có 788 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 7 tỷ USD, chiếm 70,21% vốn đầu tư.

    • Xí nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoàI có 209 dự án với tổng số vốn 1,525 tỷ USD, chiếm 15,88% vốn đầu tư.
    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 84 dự án với 1,319tỷ USD, chiếm 13,75% vốn đầu tư.

    NgoàI ra có 13 dự án liên doanh của Việt Nam đầu tư ra nước ngoàI nhưng còn rất bé, chỉ chiếm 0,16% vốn đầu tư.

    • Kết quả thực hiện dự án đầu tư.

    Nếu tính từ năm 1988 đến hết năm 1994, vốn đầu tư đãc thực hiện 3,482 triệu USD, trong đó dầu khí chiếm 1,29 triệu USD, vốn bên VIệt Nam chiếm 462 triệu USD. Như vậy nếu không tính đầu khí và phần vốn của Việt Nam (mà chủ yếu là đất) thì vốn thực hiện bên ngoàI là 1,63 triệu USD. Riêng năm 1994 đạt 140 triệu USD, từng 30% so với năm 1993.

    Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI đã tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá khoảng 1,5 triệu USD (năm 183-1994) kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ ước tính đạt 500 triệu USD.

    Bước sang 1995 tình hình thu hút đầu tư có chiều hướng gia tăng .Vốn thực hiện vào quý I/ 1995 là 420triêụ USD trong đó dầu khí là 120 triệu USD. NĂng lực chủ yếu tăng thêm là do: dầu thô 100 triệu tấn (của hai mở Đại Hùng và Thanh

    -19-

    long), bóng đèn hình 1,5 triệu chiếc, thép và sản phẩm thép 35 vạn tấn, xi măng 50 vạn tấn.

    1.3       Khó khăn và thách thức

    • Sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI giữa các nước và các khu vựa.

    Kể từ năm 1995 kinh tế Mỹ, Tây Âu và Nhật bản bắt đầu phục hồi sau một thời gian suy thoáI, tình hình đó thúc đẩy các nhà đầu tư trên thế giới dùng 70% tổng số vốn FDI đầu tư cho những nước công nghiệp phát triển. Phần vốn còn lạI là các nước đang phát triển phân chia và cạnh tranh vơí nhau. Do đó mức độ cạnh trạnh thu hút FDI càng trở nên gay gắt, nhất là khu vực Châu Á, ở đây có những thị trường mơí nổi lên như Trung quốc, Ấn Độ và Indonesia. Hàng năm trong tổng số vốn đầu tư nước ngoàI đổ vào các nước đang phát triển thì Trung Quốc tiếp nhận, Ấn Độ sau những năm gần đây sau những tích cực cảI cách nền kinh tế, môI trường đầu tư được cảI thiện nên FDI vào nước này càng tăng nhanh .So với Việt Nam thì đó là các đối thủ rất mạnh, xét về phương diện, quy mô thị trường để trình độ công nghiệp hoá và các cơ chế chính sách nhằm thu hút FDI.

    • Vấn đề công nghệ.

    Các công ty đa quốc gia luôn nắm các công nghệ hiện đạI của thế giới. Nến FDI của họ vào nước ta càng nhiều thì qúa trình chuyển giao công nghệ cũng càng nhiều. Tất cả quốc gia tiếp nhận FDI đều muộn nhận công nghệ hiện đạI, nhưng hiện đạI đến đâu còn tuy thuộc vào đIều kiện của các gia sở tạI . Việt Nam cũng như một số nước đang phát triển khác cảm giác bao trùm là các nhà đầu tư chỉ đưa đến những công nghệ cũ và lạc hậu.

    • Vấn đề thị trưòng.

    Thị trường trong nước nói là gần 80 triệu dân nhưng sức mua không lớn. Những năm gần đây nhiều mặt hàng sản xuất ra tiêu thụ rất khó hoặc bị ứ đọng đIển hình là xi măng, sắt thép hàng may mặc, đường… Một số mặt hàng như ôtô, xe máy mới đầu tư gần đây nhưng tiêu thụ chậm đã làm cho việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.

    Năm 1996 Việt Nam đã nhập khẩu hơn 11tỷ USD, phần lớn số hàng nhập khẩu này hàng trong nước chưa sản xuất được. Vì thế các công ty nước ngoàI đầu tư tạI Việt Nam đang nhằm vào sản xuất các mặt hàng mà Việt Nam phải nhập khẩu. Tuy nhiên do nhiều công ty của cả nước ngoàI cầ trong nước đều tập trung vào sản xuất ra các mặt hàng này nên cạnh tranh rất gay gắt và mức tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp cũng giảm, làm cho FDI giảm theo.

    -20-

    Bắt đầu cuộc khủng hoảng tàI chính tiền tệ Châu Á xảy ra vào cuối năm 1997 nhiều nhà kinh doanh cho rằng đó là đIều kiện thuận lợi để Việt Nam thu hút FDI. Theo họ khi các nước trong khu vực mất ổn định về tàI chính thì Việt Nam sẻ ít rủi ro hơn và có hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy cuộc khủng hoảng tàI chính không những gây thiệt haị nặng nề cho các nước đó mà còn làm cho dòng FDI vào Việt Nam và xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh.

    Trước xu thế và những khó khăn và thách thức mà Việt nam đã va đang đối mặt đòi hỏi chúng ta phảI có những biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoàI tạI VIệt Nam.

    3.     GIẢI PHÁP CỤ THỂ NHẰM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ.

    2.1) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

    • Hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về đầu tư xây dựng

    Để phù hợp với nền kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để đIều chỉnh các hành vi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng. Tuy nhiên quá trình đổi mới diễn ra nhanh chóng và sâu rộng làm cho hệ thống pháp luật và chính sách không theo kịp, khi áp dụng vào thực tế quản lí đầu tư xây dựng, chúng bộc lộ các nhược đIểm vừa chồng chéo lạI vừa sơ hở nên dễ bị lợi dụng làm thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ nhất, nên giao chức năng quản lí nhà nước về công tác đấu thầu cho bộ xây dựng quản lí. Vì mục tiêu đấu thầu là lựa chọn các nhà tư vấn, nhà thầu có đủ năng lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để thực hiện dự án đầu tư một cách có hiệu quả nhất.Chỉ có bộ xây dựng mới đủ khả năng xem xét toàn diện các năng lực này,trước hết là về công nghệ và nhân lực, sau đó là kĩ thuật xây dựng cũng như chất lượng công trình trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.

    Thứ hai, nên giao cho bộ xây dựng chức năng quản lí nhà nước một cách toàn diện trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giảm bớt chức năng quản lí các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc như hiện nay. Làm như vậy sẽ khắc phục được những bất hợp lí trong việc ban hành và quản lí các tiêu chuẩn quy phạm và định mức kinh tế kĩ thuật trong xây dựng, góp phần hạn chế lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ ba, giao bộ xây dựng và sở xây dựng quản lí thống nhất các công trình xây dựng trong đô thị, đặc biệt là hệ thống hạ tầng kĩ thuật,để tránh tình trạng đầu tư không đồng bộ nhằm hạn chế những lãng phí và thất thoát vốn đầu tư.

    Thứ tư, trên cơ sở phân định rõ chức năng của các bộ , ngành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,từng bước thể chế hoá các văn bản pháp luật,trước hết ban hành:

    -21-

    luật quy hoạch,luật xây dựng,luật nhà ở…đồng thời tổ chức lạI bộ máy của ngành xây dựng tạo đIều kiện cho ngành quản lí tốt các lĩnh vực theo luật định.

    2.2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư.

    Xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạch hoá đầu tư nhằm các mục tiêu: xoá bỏ “tình trạng ngẫu hứng”trong đầu tư. Các quyết định đầu tư vội vàng thiếu kế hoạch, vi phạm các quy trình đầu tư, khắc phục hiện tượng vừa thiết kế vừa thi công, để nâng cao chất lượng dự án, chất lượng thiết kế đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Xoá bỏ tình trạng đầu tư dàn trảI, dẫn đến dự án thiếu vốn phảI thi công kéo dàI, lãng phí thất thoát vốn đầu tư và làm mất thời cơ kinh doanh. Xoá bỏ bỏ cơ chế xin – cho, nguyên nhân phát sinh tiêu cực, làm thất thoát vốn đầu tư, làm hư hỏng cán bộ tham nhũng tháI hoá, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng ,Nhà Nước.

    Bản chất của kế hoạch hoá đầu tư là dựa trên phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, trên quy hoạch dàI hạn và ngắn hạn của các nghành dự báo thị trưòng tiêu thụ trong và ngoàI nước để định ra một bức tranh tổng thể cho đầu tư cả nước, của từng vùng, từng đạI bàn, dàI hạn và ngắn hạn .

    Trên cơ sở đó, định ra kế hoạch đầu tư 5 năm và đầu tư tháng năm. Các kế hoạch này xác định thời gian cho việc nghiên cứu dự án, tạo đIều kiện cho. Nhà nước kiểm soát hướng dẫn đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoàI. ở lĩnh vực nào đó nếu thấy đầu tư sẽ dẫn dến mất cân đối trong tiêu thụ sản phẩm hoặc cạnh tranh không lành mạnh thì Nhà Nước can thiệp, không cho phép đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư nào, mà còn có lợi cho xã hội.

    Việc nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược đầu tư và kế hoạh hoá đàu tư đòi hỏi Nhà nước phảI qủan lí chặt chẽ các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoàI. Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp liên doanh rơI vào tình trạnh thua lỗ sau một thời gian phảỉ bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoàI. Vấn đề này đến một giới hạn nào đó, không đơn thuần là kinh tế, mà còn liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia .Mặt khác cũng cần xem lạI vốn vay nước ngoàI để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

    – Để nâng cao trách nhiệm của cá nhân ra quyết định đầu tư.

    Từ trước đến nay, luật pháp nước ta chưa đặt ra các chế tàI cụ thể đối với các tổ chức và cá nhân khi ra thực hiện cho đất nước, trong lĩnh vực được giao phụ trách .Do đó trong đầu tư xây dựng , mặc dù có nhiều dự án không đạt hiệu quả, bởi các chữ kí làm nghèo đất nước , nhưng vẫn không bị truy trách nhiệm . Để tránh tình trạng này cần tăng trách nhiệm cho các cơ quan và các tổ chức quản lí .

    -22-

    Viếc đề ra trách nhiệm của người phê duyệt , quyết định dự án đầu tư sẽ hạn chế được rất nhiều hiện tượng chạy dự án như hiện nay và sự ra đời một dự án sẽ được thực nghiêm túc , chính xác , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư .

    –Bổ sung , hoàn thiện và quản lí chặt chẽ hệ thống quy phạm , định mức kinh tế – kỉ thuật và đơn giá trong đầu tư xây dựng

    Thứ nhất , giao cho bộ xây dựng là cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất và chịu trách nhiệm ban hành các quy phạm , tiêu chuẩn kỉ thuật và các định mức kihn tế kỉ thuật . Chấm dứt tình trạng thiếu thống nhất và khó kiểm soát do nhiều bộ , ngành tự ban hành các văn bản nói trên .

    Thứ hai , khẩn trương sửa đổi ban hành hệ thống quy phạm , tiêu chuẩn kĩ thuật mới phù hợp với trình độ khoa học kĩ thuật hiện nay , để tránh những bất cập do lãnh phí trong đầu tư xây dựng .

    Thứ ba, nhanh chóng sửa đổi và bổ sung hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng . thực tế hiện nay , lĩnh vực công nghiệp nước ta đã đuổi kịp nhiều nước tiên tiến trên thế giới . Đã xuất hiện nhiều chủng loạI vật liệu xây dựng mới , nhiều loại xe máy thi công hiện đạI …ở các nước có trình độ kĩ thuật công nghệ như nước ta , họ đã ban hành và sử dụng hàng ngàn định mức kinh tế kỹ thuật .

    2.3) Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra trong đầu tư xây dựng.

    Công tác kiểm tra thanh tra trong đIều tra xây dựng từ trước đến nay vẫn được thực hiện, nhưng thường với những việc riêng lẻ và thường xử lí nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Lực lượng thanh tra, kiểm tra vừa thiếu về chất lượng vừa yều về chất lượng nên hiệu lực công tác chưa cao. Để phát huy vai trò quản lí vĩ mô của nhà nước trong nền kinh tês thị trường, cônmg tác này cần được coi trọng, cần được tiến hành hường xuyên sâu rộng.

    Thứ nhất thanh tra kiểm tra trong đầu tư xây dựng cần kết hợp phổ biến giảI thích pháp luật, để ngăn ngừa các hành vi phạm luật. Đồng thời phát hiện những sơ hở trong các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng để kiến nghị các cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi thay thế bằng văn bản mới cho phù hợp phục vụ cho việc quản kí đầu tư.

    Muốn làm được như vậy phảI hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra từ trung ương đến địa phương. PhảI nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật của tổ chức kinh tế tiến hành đầu tư xây dựng. PhảI tăng cường đào tạo trình độ chuyên môn và coi trọng phẩm chất đạo đức thông qua quá trình thử thách rèn luyện đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra.

    -23-

    2.4)  Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ.

    Phân bổ vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ hợp lí sẻ tạo điêù kiện khai thác triệt để lợi thế của vùng, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Đầu tư phát triển hợp lí vùng lãnh thổ, sẻ phát huy tốt những ưu việt của từng vùng. Đảm bảo tiệt kiệm chi phi vận tảI , sản xuất đào tạo ..Và phát triển kinh tế hàng háo. Nâng cao khả năng, trình độ chuyên môn hóa, tăng năng suất lao động xã hội, góp phần tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong nước và quốc tế. Mặt khác, phân bổ vốn đầu tư hợp lí giữa các vùng còn là động lực mãnh mẽ góp phần giải quyết các mục tiêu xã hội như: xoá đói giảm nghèo, hạn chế chênh lệch giữa các vùng về mức sống, hưởng thụ văn hoá , môI trường …

    Thời gian qua, việc đầu tư pghát triển vùng lãnh thổ tuy đã đạt được những thành tựu ban đầu nhưng do còn nhiều hạn chế về cơ chế chính sách phối kết hợp, về tư duy và hành động…nên việc phân bổ vốn đầu tư còn mang nhiều yếu tố chủ quan, bình quân chủ nghĩa.

    Việc chuyển dịch hơ cấu vốn đầu tư theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2001 –2010 cần theo các hướng cụ thể sau đây:

    Một là, tập trung ưu tiên vốn đàu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinhtế kĩ thuật của các vùng kinh tế trọng đIểm, tạo đà cho sự phát triển kinhtế xã hội và khai thác tiềm năng sẵn có. Theo đó, cần chú trọng đầu tư phát triển những vùng có tiềm năng phát triển mạnh mẽ như vùng: Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông hồng, các vùng tam giác tăng trưởng

    Hai là, chú trọngđầu tư nhằm hình thành và phát triển một số vùng kinh tế đặc biệt có cơ sơ hạ tầng kinh tế xã hội và thị trường phát triển làm nhân tố khuyến khích phát triển các vùng lân cận. Những vùng này thường là những vùng có lợi thế đặc biệt so với các vùng khác về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng…như Đà lạt các vùng cửa khẩu, cảng biển, vùng đất đỏ bazan…

    Ba là, Để thực hiện CNH-HĐH trên phạm vi cả nước cần đầu tư phát triển giao thông, thuỷ lợi, đIện lực ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên và miền trung.

    Bốn là Để kết hợp mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu công bằng xã hội không chỉ tập trung đầu tư vào các vùng có đIều kiện thuận lợi về hạ tầng kỉ thuật, các khu vức thành thị và các vùng kinh tế trọng đIểm mà cần chú ý đầug tư phát triển vùng núi, vùng sâu vùng xa (ở Tây nguyên và Miền núi phía Bắc). Do đó, cần thực hiện chính sách đầu tư ưu đãI đối với cácc vùng này và kết hợp với việc phân phối lạI tích luỹ từ các vùng kinh tế trọng đIểm.

    -24-

    Năm là, chú trọng hơn nữa đầu tư nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tàI nguyên thiên nhiên sẵn có bằng cách đầu tư kết hợp, lồng ghép các chương trình. Như kết hợp chương trình xoá đói giảm nghèo với trồng rừng…

    • Đổi mới cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư

    Theo cơ cấu kỉ thuật thì tổng mức vốn đầu tư được phân thành đầu tư xây dựng lắp ráp, đầu tư thiết bị cơ bản khác. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, cơ cấu kĩ thuật của vốn đầu tư cần được đổi mới theo các hướng sau :

    Một là, chính sách đầu tư phảI thực hiện theo hướng ưu đãI, đối với các dự án có vốn đầu tư thiết bị chiếm trên 50%t ổng mức vốn đầu tư của dự án. Đồng thời thực hiện ciệc chuyển dịch từ ư đãI đầu tư sang ưu đãI sau đầu tư.

    Hai là, không phê duyệt các dự án sản xuất mà mức đầu tư xây lắp chiếm tỉ trọng trên 50% tổng mức vốn đầu tư .

    Ba là, giảm tỷ trọng chi phí xây dựng cơ bản khác trong tổng mức vốn đầu tư xuống còn 10%.

    • Đổi mới cơ cấu táI sản xuất của vốn đầu tư .

    Theo cơ cầu vốn đầu tư nó được phân thành :đầu tư xây dựng mới , đầu tư mở rộng hoặc mở rộng hoặc đổi mới máy móc thiết bị và đầu tư xây dựng lạI khôI phục năng suất sản xuất.

    Do đó trong giai đoạn tới cơ cấu tái sản xuất của vốn đầu tư cần phảI đổi mới, điều chỉnh theo hướng :

    Một là, đối với những nhóm hiện nay đang chịu sự cạnh cạnh gay gắt trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế thì kiên quyết không đầu tư xây dựng mới các cơ sở sản xuất công nghệ, thiết bị lạc hậu.

    Hai là, đối với những dự án xây dựng mới hoặc mở rộng khi cần thiết phảI đảm bảo đầu tư vào những thiết bị công nghệ tiên tiến, kết hợp hàI hoà giữa đầu tư chiều rộng và chiều sâu. Việc xét dự án ,cần chú ý lựa chọn các phương án sử dụng những thiết bị công nghệ tiên tiến một cách hợp lí với phương châm đI tắt .

    Thứ ba, thực hiện các chính sách ưu tiên về thuế, cùng với ưu đãI đặc biệt cho các dự án thiên về đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Chú trọng việc đào tạo cán bộ đội như công nhân lành nghề, có khả năng nắm bắt nhanh, vận dụng kiến thức tiên tiến và công nghệ mới vào thực tiễn.

    Bốn là, chính sách đầu tư phảI hướng vào hạn chế xây dựng mới và không được tiến hànhđầu tư đối với các cơ sở sản xuất của máy móc thiết bị đã có. Các nguồn vốn của doanh nghiệp phảI ưu tiên cho việc đầu tư chiều sâu. Muốn vậy phảI đánh giá chính xác tài sản doanh nghiệp. Thực hiện khấu hao nhanh những

    -25-

    TSCĐ cần thiết và khuyến khích doanh nghiệp nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị kỉ thuật.

    2.5)  Hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư

    Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp là nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lí để phát triển kinh tế.

    Kinh nghệm của nhiều nước cho thấy sau một thời gian thu hút vốn đầu tư nước ngoàI, cơ cấu kinh tế đã trở thành vấn đề cần giảI quyết, nền kinh tế đã phát triển thiếu cân đối lạI càng mất cân đối thêm. Do vậy cần có sự điêù chỉnh kinh tế. Đây là việc làm có hiệu quả, song có nhiều khó khăn, bởi vì làm như vậy cần có kinh tế đủ mạnh mà nhiều nước chủ nhà trước mắt không có lợi gì, thậm chí còn bị thiệt thòi.

    Do đó cần gấp rút đIều chỉnh đảm bảo đầu tư có trọng đIểm, không dàn trảI song vẫn đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đaị hoá.

    2.6)  Xây dựng và lựa chọn đối tác đầu tư

    Đây là vấn đề rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt , với chủ trương đa phương hoá. Do vậy việc lựa chọn đối tác phảI quán triệt hai vấn đề:

    Một là, phảI hướng trọng tâm lâu dàI vào công ty xuyên quốc gia, song cần chuẩn bị đIều kiện trong nước, nhất là cần có đối tác mạnh. ĐIều này đòi hỏi phảI xây dựng các tập đoàn kinh tế, đồng thời làm tốt công tác xúc tiến đầu tư thông qua việc tổ chức Form, qua các hội chợ triển lãm và các công ty tư vấn đầu tư trong nước cũng như quốc tế .

    Hai là, lựa chọn đối tác cho từng nghành, từng lĩnh vực.

    2.8)Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nước ngoàI.

    Thủ tục đầu tư cũng là một vấn đề nổi cộm đang được từng bước cảI tiến. Để đảm bảo tính hấp dẫn cần kiên quyết thực hiện “một cửa” và quy định chặt chẽ thời gian tối đa giảI quyết thủ tục, hướng sắp tới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối đa thời gian mà các nhà đầu tư phảI chi phí cho các công việc thủ tục.

    2.7)     Tăng cường kết cấu hạ tầng, hoàn thiện các chính sách khuyến khích.

    Kết cấu hạ tầng là đIều kiện tiên quyết đối với thu hút đầu tư FDI.

    Vì vậy trong thời gian trước mắt phảI tập trung thích đáng cho công việc này, nhất là hệ thống giao thông, cấp thoát nước khu đô thị, hệ thống công nghệ phụ trợ.

    -26-

    Cần đIều chỉnh sách để độ khuyến khích cao nhất và chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu tư vào kết cấu hạ tầng, nông, lâm, trung du, miền núi.

    2.9) Vấn đề bảo vệ môI trường.

    Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm từ đầu, nếu không sẽ khó khắc phục hậu quả không chỉ trứoc mắt mà còn về lâu dàI .Theo quy định hiện hành, Nhà nước đầu tư phảI báo cáo đánh giá tác động môI trường với nhiều nội dung nhiều mục tiêu kinh tế xã hội, ý nghĩa chính trị của dự án, phảI mô tả đIều kiện địa lí tự nhiên. ĐIều đó gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư, cho nên cần được quan tâm đúng mức.

    2.10) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI và đội ngũ cán bộ làm công tác

    đầu tư.

    +) Về bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI

    Cần nhanh chóng đổi mới bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI theo hướng tinh giản, gọn nhẹ có hiệu lực.

    Bộ máy quản lí đầu tư nước ngoàI dù được tổ chức như thế nào cũng cần trực thuộc Thủ Tướng Chính Phủ và về nguyên tắc Thủ tướng có quyền quyết định cuối cùng tất cả mọi dự án.

    +) Về đội ngũ cán bộ.

    Cần phải có chiến lược đào tạo cán bộ. Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phảI là những chuyên gia trong từng lĩnh vực, có phong cách giao tiếp và trình độ nhận giao thành thạo. Trứơc mắt cần phải đI đào tạo những trường, viện về chuyên ngành ngoạI ngữ. Đội ngũ này phảI qua thi cử, lựa chọn, để bổ sung cho những khuyếm khuyết hiện nay, cần tăng cường những chọn lọc các cơ quan tư vấn trong và ngoàI nước, đồng thời cần tăng cường thêm đội ngũ có trình độ tầm vĩ mô.

    2.11) Duy trì và ổn định chính trị xã hội.

    Đây là môI quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư và ruỉ ro chính trị là rất lớn. Chúng ta phải duy trì ổn định chính trị xã hội, ngăn ngừa và loại bỏ nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Tạo ra tâm lí yên tâm cho các nhà đầu tư nước ngoàI khi xem xét đầu tư vào Việt Nam.

    2.12) Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư.

    MôI trường đầu tư của nước ngoàI là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội có liên quan, tác động đến hoạt động đầu tư và đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn đầu tư nước ngoàI. Chúng ta đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môI truờng đầu tư nước ngoàI từ đó đưa ra những phương pháp hoàn, thiện môI trường

    -27-

    đầu tư nhằm đảm bảo khả năng sinh llợi của các nhà đầutư cũng như lợi ích của toàn bộ nền kinh tế:

    +) Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong giờ lĩnh lực thay vì chỉ hoạt động trong một số lĩnh vưc nhất định. Cho đến nay, theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam thì hânù như không cho các nhà đầu tư thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Chính đIều đó làm cho các nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn.

    Thứ nhất: bó buộc các chủ đầu tư phảI thánh lập một thực thể pháp luật đối với mọi dự án và như vậy xin pheps đầu tư và chi phí thành lậ sẻ buộc phảI tăng lên rất nhiều.

    Thứ hai: Nó làm chậm trễ các dự án đầu tư dẫn đến làm mất cơ hội và làm nản lòng các nhà đầu tư .

    Thứ ba: Nó không cho phép củn cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể tức là không cho phép đa dạng hoá kinh doanh và tận dụng lợi thế của nó .

    +) Mở rộng thêm đIều kiện chuyển nhượng cho các bên.

    Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế có ảnh hưởng quyết định đến việc chi tiêu ngân sách. Ngân sách càng có nguồn thu lớn thì càng tạo ra được môI truờng tốt để khuyến khích đầu tư thuế thu đủ cho chi tiêu của ngân sách góp phần hạn chế lạm phát. ĐIều đó sẽ tạo ra môI trường tàI chính thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

    Nguồn vốn ngày càng tăng tạo đIều kiện vật chất cho nhà nước đầu tư vào lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hồi vốn lâu như: cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục…và do đó tạo môI trưòng cần thiết để hấp dẫn FDI.

    Thuế là biện pháp quan trọng trong chính sách ưu đãi đầu tư, hướng đầu tư vào các dự án thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Các ưu đãI sản xuất về thuế là sự khuyến khích quan trọng về mặt tàI chính để thu hút các nhà đâù tư vào một quốc gia hay khu vực nhất định.

    Việc cảI thiện hệ thống thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI theo hướng: đơn giản hoá, dễ tính, đảm bảo lợi ích quốc gia, có tác dụng khuyến khích đầu tư và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2.13) Thực hiện chiến lược khoa học công nghệ.

    Một trong nhữn vai trò quan trọng của FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ mang một hàm ý rộng, bao gồm không chỉ từ nhập khẩu cộng nghệ đơn thuần mà còn vận hành công nghệ đó, sửa chữa bảo hành, nắm vững các nguyên lí, mô phỏng và phát triển nó .Thông qua các hình thức FDI, giữa

    -28-

    các nước đã có sự chuyển giao công nghệ và bổ sung công nghệ cho nhau. Đối với các nước đang phát triển, trình độ công nghệ lạc hậu thấp kém thì FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu để nhập khẩu công nghệ có trình độ cao hơn từ bên ngoàI. Thông qua FDI, các nước phát triển có đIều kiện xuất khẩu công nghệ trung gian và chuển giao công nghệ đã có phần lạc hậu so với trong nước . Các hình thức chuyển giao công nghệ thường có lợi cho cả hai bên phần lớn các nước đang phát triển như ở Việt Nam, có nhu cầu đổi mới về công nghệ và do đó có những biện pháp và chính sách cởi mở nhằm đẩy mạnh FDI và muốn nhập những ngành công nghiệp với công nghệ tiên tiến. Một vần đề quan trọng khác là FDI dẫn đến thay đổi về cơ cấu ngành trong nội bộ đất nước tại Việt Nam. Kể từ khi luật đầu tư nước ngoàI được ban hành đến nay đã làm xuất hiện một số nghành hoàn toàn mới như sản xuất lắp ráp ôtô, xe máy, đIện tử…

    2.14) Xử lí linh hoạt hình thức đầu tư.

    Trong hoàn cảnh nước ta, đặc biệt là các vùng kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, nhiều nguồn lực chưa được khai thác, các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực tàI chính, công nghệ, trình độ quản lí và năng lực kinh doanh quốc tế cần xử lí linh hoạt vấn đề hình thứcđầu tư theo hướng:

    • Khuyến khích hình thức doanh nghiệp 100% vốn nứơc ngoàI đối với những dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ mới; các dự án có quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dàI, độ rủi ro cao, tỷ lệ lợi nhuận thấp
    • Cho phép linh hoạt chuyển đổi hình thức đầu tư từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI. Tất nhiên việc chuyển đổi phảI đảm bảo đIều kiện ổn định đuợc việc làm cho người lao động; bảo toàn được vốn góp của bên Viêt Nam.

    -29-

    -30-

    PHẦN C: KẾT LUẬN

    Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư nước ngoàI(Viện trợ ODA, tín dụng thương mạI, vốn đầu tư trực tiếp, FDI, tín phiếu tráI phiếu, cổ phần, cổ phiếu, trong đó FDI là nguồn quan trọng nhất trong bốn nguồn đó)

    Đang trở thành bộ phận chủ yếu trong quan hệ kinh tế thế giới và là nhân tố quan trọng hàng đầu, của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu tư đang trở nên đang vô cùng cần thiết trong đIều kiện của xu hướng quốc tế hoá đơì sống kinh tế, của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và phân công lao động quốc tế ngày càng gia tăng. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoàI đang la một nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng quan trọng và một trông những chỉ số cơ bản đánh gíá khả năng phát triển.

    Việt Nam tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hôị từ đIểm xuất phát rất thấp về kinh tế, kỉ thuật xã hôị…

    Đảng và nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là phảI thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế chịnh trị – xã hội, phấn đấu vượt tình trạng nước nghèo và kém phát triển , cảI thiện đời sống nhân dân , củng cố quốc phòng an ninh, tạo đIều kiện cho cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI.

    Để đạt được mục tiêu nói trên phảI thực hiện tổng hợp nhiều biện pháp, trong đó việc đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoàI có tầm quan trọng hàng đầu.

    Cuộc vận động thu hút đầu tư nước ngoàI vừa là hoạt động mới của Việt Nam, vừa được triển khai trong bối cảnh cạnh tranh công khai quyết liệt trên trị trường đầu tư giữa cac nước trên thế giới và khu vực.

    Đây là đIều kiện không thể tránh khỏi bởi vì dòng vốn đầu tư của thế giới không lớn lắm nhưng nhu cầu về vốn đầu tư của các quốc gia lại đều rất lớn và vượt xa nguồn cung cấp.

    Đầu tư nước ngoàI tự nó chưa phảI là giảI pháp duy nhất quyết định sự phát triển kinh tế, nó cần đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoàI, giữa việc phát triển các nguồn lực trong nước là chính và chính sách mở rộng quan hệ kinh té đối ngoạI là quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoàI, tính đặc thù của sự vận động nguồn đầu tư nước ngoàI (chủ yếu dòng đầu tư trực tiếp FDI) đã cho thấy: chỉ riêng luật đầu tư nước ngoàI cởi mở, thông thoáng, luật xuất nhập cảnh tạo đIều kiện dễ dàng cho các nhà đầ tư đI lạI , cư trú hành nghề… và bản thân các biện pháp, chính sách ưu đãI… tự nó chưa đủ sức tạo ra sức thu hút mạnh

    -31-

    mẽ và tác dụng thuận lợi đối với nguồn đầu tư nước ngoàI. Khả năng tranh thủ vầ sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI đòi hỏi sự nổ lực toàn diện và triển khai theo nhiều hướng trên nhiều lĩnh vực khác như: tự nhiên, xã hội, khoa học kỉ thuật, chính trị – ngoạI giao, kinh tế – kỉ thuật, đIều kiện pháp luật, cơ chế vận hành…

    Quốc gia nào có tính hâp dẫn hơn, có môI trường đầu tư thông thoáng ổn định thuận lợi hơn, có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn đầu tư nước ngoàI thì quốc gia đó sẽ dành đực lợi thế trong cạnh tranh về nguồn đầu tư.

    MôI trường đầu tư, đó là tổng thể các yếu tố liên quan đến đIều kiện địa lí, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, pháp luật… tạo nên những đIều kiện thuận lợi và ưu thế cho các quốc gia thu hút một cách tốt nhất nguồn vốn bên ngoàI.

    Những yếu tố đó được thể hiện ra bằng cả hệ thống các giảI pháp mà phần lớn là do con người tạo nên. Những pháp đó có vai trò và vị trí không giống nhau, nhưng có mối quan hệ tác động qua lạI lẫn nhau và cùng tác động đến việc thu hút đầu tư nước ngoàI thông qua môI trường đầu tư. Vì vậy khi vận dụng, chúng ta cần đặt nó trong mối quan hệ biện chứng và và có quan đIểm hệ thống, đồng thời phảI tập trung giảI quyết các giảI pháp cấp bách trước mắt, coi đó là những giảI pháp mang tính tình thế kết hợp với các giảI pháp mang tính chiến lựơc lâu dàI. Cùng với việc thực hiện các giảI pháp trên cần chú trọng và sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả.

    Chỉ khi nào sử dụng có hiệu quả thì việc thu hút đầu tư mới có ý nghĩa thiết thực. Do đó phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ngoàI vào Việt Nam trong thời gian qua từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể để huy động tối đa nguồn vốn này cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội trong những năm tới là vấn đề cần được quan tâm.

    Do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bàI viết không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn.

    -32-


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NH%E1%BB%AENG-B%E1%BA%A4T-C%E1%BA%ACP-TRONG-THU-H%C3%9AT-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TRONG-QU%C3%81-TR%C3%8CNH-GIA-NH%E1%BA%ACP-WTO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NHỮNG BẤT CẬP TRONG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH GIA NHẬP WTO

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, những mối quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng, việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi quốc gia. Việt nam đã va đang tích cực, chủ động chuẩn bị các điều kiện để tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, trong đó có Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

    Do Việt nam là một quốc gia có tới hơn 80 triệu dân, có tiềm năng của một thị trường lớn nên nhiều nước quan tâm đến gói đàm phán gia nhập của nước này. Đầu năm 1995, Việt nam nộp đơn xin gia nhập WTO và trở thành quan sát viên của tổ chức này. Việc gia nhập WTO là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy cao đoọ nội lực, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển, góp phần đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Hiện nay, Việt nam đang tích cực tiến hành đàm phán song phương và đa phương với các nước để sớm gia nhập WTO trong một tương lai cận kề. Vì vậy, việc chuẩn bị các điều kiện tiếp theo để xúc tiến quá trình đàm phán và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại khi gia nhập WTO là những vấn đề cấp bách và hết sức cần thiết.

    Tư cách thành viên WTO là bằng chứng của một môi trường kinh doanh thuận lợi, và nhờ dó sẽ thu hút đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI) vào khu vực xuất khẩu và khu vực sản xuất cho thị trường nội địa. Nếu được điều tiết đúng đắn, FDI có thể góp phần to lớn vào việc phát triển bền vững của một quốc gia. Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiêus vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

    Trong phạm vi yêu cầu của bài tập, bài viết xin trình bày một số bất cập trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt nam trong quá trình gia nhập WTO.

    4

     

    CHƯƠNG 1

    SƠ LƯỢC VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

    1. Đầu tư nước ngoài và một số đặc điểm.

    1.1. Lợi ích và mục tiêu của đầu tư nước ngoài.

    Hoạt động cơ bản của hợp tác đầu tư nước ngoài là nhận các nguồn vốn, ngày nay thường được quy về các loại tư bản tài chính, tư bản tri thức, tư bản mạo hiểm, tư bản xã hội (hai yếu tố quan trọng nhất là hợp tác và lòng tin) cùng các loại tư bản khác trong các dạng tài sản hữu hình và tài sản vô hình từ nước ngoài hoặc đưa vốn ra nước ngoài để sản xuất kinh doanh, dịch vụ…

    Đầu tư có 2 hình thức là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Xét về mọi mặt thì đầu tư trực tiếp có vai trò quan trọng đặc biệt, trước hết đó là những đóng góp to lớn và việc phát triển kinh tế, cung cấp cho nước chủ nhà vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại.

    Mục đích chính của các doanh nghiệp – nhà đầu tư thương là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Để hoàn thành mục đích này, họ luôn luôn tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường cho hàng hóa của mình và làm giảm giá thành.

    1.2. Vốn và chuyển giao công nghệ trong đầu tư nước ngoài.

    Nước chủ nhà cũng có nhiều lợi ích từ dòng vốn của nước ngoài vào. Một lợi ích quan trọng là đầu tư nước ngoài làm tăng việc làm và mức lương tại nước chủ nhà.

    Một nguồn lợi đáng kể khác là chuyển giao kỹ thuật, nhất là trong trường hợp doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với một doanh nghiệp Việt nam sản xuất các mặt hàng phát triển từ nước tiên tiến. Doanh nghiệp nước ngoài thông thường đào tạo các nhà quản lý và kỹ thuật cho địa phương. Ngoài ra cũng có sự chuyển giao kỹ thuật gián tiếp thông quan học hỏi bằng quan sát, qua giao tiếp, qua công việc cùng làm. Bằng cách theo dõi kỹ thuật quản lý của doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong nước có thể cải tiến tổ chức sản xuất và kiểm

    5

     

    soát từ bên trong. Chuyển giao công nghệ kỹ thuật thành công ở các nước áp dụng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động hội nhập trong hoạt động hợp tác quan hệ quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết, khuyến khích phát triển các sản phẩm hàng hóa dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

    Vốn từ nước ngoài sẽ tiếp tục chảy vào với điều kiện tỷ suất sinh lợi nước chủ nhà cao hơn tỷ suất sinh lợi của nước xuất phát đầu tư. Một phần của chi tiêu Chính phủ có thể khuyến khích dòng vào của vốn nước ngoài là dùng nhân lực để phát triển một hệ thống pháp luật công bằng và hiệu quả.

    2. Lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh và cá nhân từ nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại nước sở tại.

    FDI thường cung cấp vốn, công nghệ, năng lực quản lý (qua đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm) và các nước đầu tư thường hội đủ những điều kiện sau:

    • Về khuôn khổ thể chế:
    • Có nền kinh tế mở hướng về xuất khẩu
    • Đồng tiền có thể chuyển đổi được
    • Chu trình tư nhân hóa quy mô lớn
    • Tham gia các khối thương mại trong khu vực họ định đầu tư
    • Cơ sở hạ tầng vật chất tốt, dồi dào
    • Nước nhận đầu tư thường được hưởng các mối lợi sau:
    • Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý
    • Các nhà đầu tư nước ngoài gánh chịu rủi ro sản xuất kinh doanh
    • Tăng năng suất và thu nhập quốc dân
    • Cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn
    • Tiếp cận với thị trường nước ngoài
    • Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước

    6

     

    • Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế.

    FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là:

    • Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lơi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp

    ngyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.

    • Đối với các nước nhận đầu tư, hiện nay có 2 dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
    • Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp, lạm phát… FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và

    thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác.

    + Đối với các nước đang phát triển, FDI thúc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước này khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. Theo sau FDI là máy móc, thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học – kỹ thuật mới. FDI cũng giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài.

    • Đối với Việt nam, FDI có vai trò rất quan trọng, thể hiện:

    7

     

    • Giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước.
    • Đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt

    nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động.

    • Tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học – kỹ thuật tiên tiến của thế giới,

    nhờ đó rút ngắn khoảng cách của nước ta so với thế giới.

    • Nhờ có FDI, Việt nam sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,

    khoáng sản,…

    3. Vấn đề thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam

    3.1. Yêu cầu khách quan về nguồn vốn đầu tư.

    Yêu cầu phát triển nội tại và thực tiến khách quan trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang đòi hỏi Việt nam cần tới một nguồn vốn đầu tư to lớn để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế – xã hội trên thế giới. Cụ thể là:

    • Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải ngoại lệ.
    • Tình hình cụ thể của Việt nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn,

    nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích lũy nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước nghèo.

    • Chúng ta có thể tranh thủ nguồn vốn từ các nước tư bản phát triển, mà chủ yếu là vốn của các nhà tư bản của các tập đoàn một quốc gia hay đa quốc gia, xuyên quốc gia.

    8

     

    • Vốn tư nhân vào Việt nam không thể bằng con đường viện trợ có hoàn lại

    hay bằng con đường cho vay. Hơn nữa, Chính phủ Việt nam hay bất kỳ một nước mới phát triển nào cũng không có đủ khả năng để đi vay hay sử dụng các nguồn vốn vay được trên mọi lĩnh vực. Do đó con đường chủ yếu để các nguồn tư bản nước ngoài chảy vào Việt nam là nhập khẩu vốn thông qua phương thức thu hút và nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

    3.2. Một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của

    nước ngoài.

    Đứng trên giác độ một quốc gia, việc tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau:

    • Xây dựng hệ quan điểm vè vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với

    phát triển kinh tế.

    • Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn: Đây là vấn đề có tính then chốt. Môi trường đàu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư; buộc các nhà đầu tư phải tự điều

    chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh.

    3.3. Một số nét về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam.

    Việt nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến 2 thập kỷ. Sau khi đường lối đổi mới được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt nam (1987), hoạt động đầu tư nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu. Qua hợp tác và đầu tư nước ngoài, chúng ta đã khai thác và nâng cao năng lực sản xuất của nhiều cơ sở cũ, đồng thời toạ ra năng lực sản xuất mới trong một số ngành công nghiệp dịch vụ. Vấn đề hiện đại hóa ở một số ngành (như viễn thông, bưu điện, công nghệ thông tin) được cải thiện rõ rệt.

    Thông qua đầu tư nước ngoài, đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới, phần lớn thiết bị đưa vào nước ta thuộc loại trung bình của thế giới, tiên tiến

    9

     

    hơn cái ta hiện có. Các đối tác Việt nam cũng tiếp nhận một số phương pháp quản lý tiến bộ về tổ chức sản xuất kinh doanh và tiếp cận vơi tâm lý và phong cách của nhiều đối tượng khác nhau.

    Có thể nói, mặc dù kinh nghiệm của chúng ta còn hạn chế nhưng hoạt động trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã mang lại hiệu quả nhiều mặt.

    4. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài

    4.1. Khái quát về đầu tư gián tiếp.

    Đây là những khoản đầu tư được thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ nguồn vốn thương là của các Chính phủ các nước và của các tổ chức quốc tế. Đó là các khoản tài trợ phát triển chính thức (ODA) do các tổ chức thuộc Liên hợp quốc (UNDP, UNFPA, UNICEF, FAO, PAM,…) hoặc các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đóng góp vào các khoản cho vay của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF, ADB,… và các Chính phủ các nước.

    Đầu tư gián tiếp thường thúc đẩy tạo điều kiện cho việc thu hút mở rộng đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp luôn kèm với các điều kiện ưu đãi cho nước nhận đầu tư nên có thể dùng nguồn vốn này thực hiện các dự án có mức vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

    Đầu tư gián tiếp có lợi cho cả nước đầu tư (khả năng lợi nhuận cao hơn) và cho cả nước nhận đầu tư (có thêm vốn cổ phần). Đầu tư gián tiếp thường dùng các công cụ như đầu tư trái phiếu và đầu tư cổ phiếu (quỹ quốc gia thu từ tiền gửi đầu tư cổ phiếu trực tiếp). Kinh nghiệm hoạt động kinh tế thị trường ở tất cả các nước hiện nay cho thấy để phát huy tác dụng của công cụ quản lý kinh tế vĩ mô trong lĩnh vực điều hành tiền tệ, hay trong lĩnh vực thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoai, Chính phủ phải gia tăng các hoạt động nghiệp vụ trên thị trường mở trong việc điều hành tiền tệ. Giảm bớt các biện pháp quản lý bằng công cụ hành chính trên đối với loại thị trường này. Khuyến khích các nhà đầu tư tích cực tham gia vào thị trường tài chính – tiền tệ trong nước.

    10

     

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước để quản lý có hiệu quả, đó là các vấn đề:

    • Chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên
    • Lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán
    • Tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài
    • Giảm tính tự lực và tăng tham nhũng.

    4.4. Triển khai ODA tại Việt nam.

    Hiện nay Việt nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác, bao gồm:

    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB,…)
    • Các quỹ (IMF, OEPC,…)
    • Tổ chức liên Chính phủ (EU)
    • Các tổ chức của Liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi Chính phủ
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu Á (NICs).

    Theo kinh nghiệm của các nước đã sử dụng ODA của Mỹ, Nhật bản, WB, ADB, là dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế – xã hội là yếu tố cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng được 40%. Vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế – xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ.

    5. Kinh nghiệm một số nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    5.1. Trung quốc.

    Về chính sách, Trung quốc huy động FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất liên doanh 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu vực đặc biệt.

    11

     

    Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung quốc là chính sách thuế. Trung quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư: hợp tác, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và cho 14 thành phố ven biển. Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho địa phương. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20 đến 40% và 10% cho địa phương.

    Về thuế nhập khẩu, Trung quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như: máy móc, thiết bị, bộ phận rời, vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh hoặc các máy móc, thiết bị, vật liệu cho bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lượng, đường sắt, đường bộ, đưa vào khu chế xuất 14 thành phố ven biển; các vật liệu bộ phận rời nhập để sản xuất hàng xuất khẩu. Trung quốc cũng miến thuế xuất khẩu cho các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất ở các khu chế xuất và 14 thành phố ven biển.

    Về thủ tục hành chính, Trung quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án được giải quyết mau lẹ. Các vấn đề giải phóng mặt bằng, cấp điện, nước, giao thông, môi trường được giải quyết dứt điẻm. Thực hiện chính sách “một cửa” để tạo điều kiện thu hút FDI thuận lợi.

    Ngoài các chính sách trên, để thông thoáng hơn, Trung quốc cho thời hạn hợp đồng kéo dài hơn,m có thể tới 50 năm.

    5.2. Indonexia

    Indonexia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, chế biến thành phẩm và bán thành phầm, chuyển giao công nghệ, sử dụng chuyên gia và lao động Indonexia. Ủy ban đầu tư quốc gia công bố từng thời gian khu vực nào cho phép nước ngoài kinh doanh, khu vực nào cấm kinh doanh.

    Về chính sách thuế, đối với thuế lợi tức, nếu công ty có mức lãi ròng 10 triệu rupi trở xuống đánh thuế 15%, trên 10 triệu đến 50 triệu rupi đánh thuế 25% và treen 50 triệu rupi đánh thuế 35%. Các khoản thu từ lãi suát cho vay, cho thuê, phí tài nguyên, phí kỹ thuật, phí quản lý bị đánh thuế 15% trên doanh thu. Ở Indonexia không có chế độ miễn giảm thuế doanh thu và thuế lợi tức.

    12

     

    Về thuế nhập khẩu, Indonexia có chính sách miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, phụ tùng được ủy ban đầu tư phê duyệt trong danh mục quy định. Tuy nhiên những thứ nhập theo vốn đầu tư vào Indonexia đã sản xuất được thì không được miễn thuế nhập khẩu. Ngược lại, nước ngoài mua những hàng này của Indonexia thì được thoái lại thuế nhập khẩu đã đánh vào vật liệu, nguyên liệu sản xuất ra chúng.

    Đối với hàng xuất khẩu: lãi suất tín dụng phục vụ xuất khẩu thấp hơn nhiều so với lãi suất khác. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được nhập các mặt hàng sử dụng nếu hàng trong nước không đắt hơn. Được hoàn trả hoặc miễn thuế nhập khẩu các mặt hàng. Công ty sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ được phép xuất khẩu hàng của mình mà cả hàng của Công ty khác.

    Về chính sách thị trường, để tạo lập môi trường cạnh tranh thuận lợi, Indonexia cho phép mọi ngành công nghiệp, trừ các ngành trong danh mục loại trừ và trong kho ngoại quan được tiếp cận tự do thị trường nội địa.

    Về quản lý ngoại hối, doanh nghiệp nước ngoài được phép chuyển ra nước

    ngoài các khoản thu nhập sau thuế, vốn, chi tiền cho cá nhân, khấu hao TSCĐ …

    Ngoài ra Chính phủ Indonexia từng bước hạ thấp lãi suất tiền gửi ngân hàn trung

    ương làm cho tiền gửi ngân hàng và lãi suất cho vay giảm xuống. Điều đó khuyến

    khích các doanh nghiệp hăng hái dầu tư hơn….

    13

     

    CHƯƠNG 2

    NHŨNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG

    VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Khái quát về chính sách đầu tư nước ngoài

    Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.

    Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân chia thành:

    • Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính.
    • Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu)
    • Chính sách thị trường
    • Chính sách lao động
    • Chính sách đất đai
    • Chính sách công nghệ…

    2.                 Những bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam

    2.1. Môi trường pháp lý

    2.1.1. Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài.

    Xuất phát từ đường lối đổi mới kinh tế, mở cửa và hội nhập với bên ngoài, ngày 29/12/1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam. kể từ đó đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài luôn được bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài tại Việt nam đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn tồn tại ít nhiều hạn chế.

    14

     

    Hiện nay, hai bộ luật khác biệt áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng song song tồn tại và đang tạo ra những khác biệt về môi trường đầu tư trong cùng một không gian kinh tế nhất là thủ tục, điều kiện đầu tư và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp… Điều này là không phù hợp với thông lệ quốc tế, gây cho các nhà đầu tư nước ngoài tậm lý thiếu an tâm.

    Hệ thống pháp luật chính sách chưa đồng bộ và ổn định, chưa đảm bảo tính rõ ràng và dự đoán trước. Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưa cao, một số luật, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổi nhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của chủ đầu tư nên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ. Nhiều văn bản dưới luật ban hành chậm so với quy định. Một số văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, đẻ thêm quy trình, dẫn đến tình trạng “trên thoáng, dưới chặt”. Một số chính sách mới của Chính phủ chậm đưa vào cuộc sống. Trong quá trình đầu tư tại Viẹt nam, các nhà đầu tư nước ngoài đều mong muốn được đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trước được của pháp luật, chính sách để có thể lường trước và giảm thiểu được lợi ích và rủi ro đầu tư. Quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Nghị định 12/CP về những biện pháp thỏa đáng của Chính phủ khi có sự thay đổi của pháp luật gây thiệt hịa cho nhà đầu tư vẫn chưa thực sự làm họ yên tâm.

    Hệ thống văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn tập trung vào giai đoạn thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, chưa chú ý tới việc quản lý và theo dõi các dự án từ khi triển khai thực hiện. Trong một số trường hợp, khi thẩm định cấp giấy phép đầu tư các dự án đều đưa các điều khoản có lợi thế để được hưởng tiêu chuẩn miễn giảm và thuế suất ưu đãi. Khi thực hiện lại khong đạt được các điều kiện đã cam kết nhưng vẫn được hưởng ưu đãi (vì thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế được ghi trong giấy phép đầu tư) nên đã gây thiết hại tới nguồn thu ngân sách quốc gia và tạo môi trường đầu tư, môi trường hoạt động không bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

    Về hình thức đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam vẫn chưa cho phép áp dụng một số hình thức đầu tư như Công ty đa mục tiêu, Công ty quản lý vốn,… Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tổ chức dưới nhiều loại hình, có thể chuyển đổi hình thưc đầu tư dễ dàng hơn, có điều kiện huy động vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, không phải chịu sự can thiệp quá sâu của Chính phủ nước sở tại.

    15

     

    2.1.2. Hạn chế về hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI.

    Hệ thống pháp lý liên quan trực tiếp đến FDI còn có những quy định chưa thực sự khuyến khích thu hút FDI và tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách đất đai: Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt nam. Điểm đặc thù ở Việt nam là đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân nên các nhà đầu tư nước ngoài không có

     

    quyền sở hữu về đất đai. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn liền với Luật Đầu tư nước ngoài như: Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995, Quyết định số 1477/TC/TCĐN ngày 31/12/1994 của Bộ Tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt biển áp dụng đối với các

    hình thức đầu tư nước ngoài… Tuy nhiên nhìn chung chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những hạn chế nhất định.

    Giá thuê đất của Việt nam hiện nay đã được điều chỉnh thấp hơn nhiều nước trong khu vực (giá thuê đất của Việt nam là 2,62 USD/năm/m2 – khu công nghiệp Sài Đồng, thấp hơn nhiều so với Philippin: 85 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp., hay như Singapore: 6,9 USD/năm/m2 trong khu công nghiệp). Tuy nhiên, thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư. Việc giao đất nhất là các dự án có đền bù và giải tỏa kéo dài, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp phải mất hàng năm để thực hiện việc đền bù. Thậm chí một số khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, thu hút được nhiều nhà đầu tư nhưng vẫn chưa thực hiện xong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Đây chính là yếu tố làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng như làm giảm tiến độ triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, do thiếu quy hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI, một số địa phương tùy tiện xử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    • Chính sách thuế và các khuyến khích tài chính đã đạt được mục tiêu đặt ra trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách thuế này đã hấp dẫn đối với

     

    đầu tư nước ngoài nhưng ở một khía cạnh nào đó lại ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Các văn bản về thuế được ban hành rất nhiều nhưng không có hệ thống và

    16

     

    luôn thay đổi. Vì lợi nhuận của nhà đầu tư có liên quan đến việc nộp thuế nên khi mức thuế thay đổi gây khó khăn cho họ trong việc lập kế hoạch kinh doanh. Mức thuế suất lợi tức tỏ ra ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài gồm 4 mức: 25%, 20%, 15%, 10% nhưng đối với các nhà đầu tư trong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%. Việc quy định mức thuế như vậy cũng gây nên bất bình đẳng trong việc đóng thuế của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, các loại thuế áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài vẫn còn chồng chéo, nhà đầu tư nước ngoài phải đóng 10 loại thuế như các doanh nghiệp Việt nam và nhiều loại lệ phí khác.

    * Chính sách tỷ giá và chính sách ngoại hối của Việt nam đang bộc lộ một số tác động tiêu cực đối với thu hút FDI. Điều 75 Luật Đầu tư nước ngoài 1996 quy định “tỷ giá chuyển đổi tiền nước ngoài sang tiền Việt nam và ngược lại áp dụng trong quá trình tiến hành đầu tư và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp doanh được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt nam tại thời điểm chuyển đổi”, nhưng Luật năm 2000 không sửa đổi bổ sung điều này. Như vậy, do tỷ giá hối đoái đồng Việt nam được ấn định hàng ngày bởi Ngân hàng Nhà nước mà không phải là được ấn định bởi tỷ giá trên thị trường nên hầu hết tỷ giá của Ngân hàng thường cao hơn và việc này gây thiệt hại cho các doanh nghiệp do sự chênh lệch lớn này gây ra. Việc định giá đồng Việt nam quá cao đi đôi với việc kiểm soát quá nghiêm ngặt các khoản vay nước ngoài trên một năm của các doanh nghiệp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra có thể dẫn đến việc thiếu hoặc không có khả năng cung ứng ngoại tệ cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Hiện nay, tỷ lệ kết hối quy định cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn cao (hiện nay là 50%)., ảnh hưởng tới việc chủ động sử dụng vốn của doanh nghiệp.

    • Công tác quản lý về tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn do chưa ban hành được các chuẩn mực kế toán,

    kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.

    • Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm: Việc thúc đẩy xuất khẩu mới chỉ dừng lại ở tình trạng bên nước ngoài, giá cả, tình hình lợi nhuận thu được

    từ xuất khẩu. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho Việt nam. Thêm vào đó tỷ lệ hàng xuất khẩu còn rất hạn chế trong các dự án FDI đang triển khai.

    17

     

    • Chính sách công nghệ: Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án

    phát huy tác dụng tốt trong việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, đạc biệt là lĩnh vực dầu khí, viễn thông, tin học, điện tử. Tuy nhiên công nghệ tiến tiến tiếp nhận chưa nhiều, mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Dây truyền công nghệ hiện đại nhập vào còn ít, phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Mặt khác, giá cả công nghệ được chuyển giao vào Việt nam chưa thật hợp lý. Nhiều công nghệ lạc hậu, công nghệ đã qua sử dụng nhưng giá tình vào góp vốn được các nhà đầu tư cố ý nâng cao hơn từ 10

    • 15% so với mặt bằng giá thế giới. Việc tăng giá công nghệ góp vốn vào dự án còn thông qua việc khai tăng chi phí đào tạo nhân công làm cho cơ quan quản lý

    Nhà nước khó thẩm định được chính xác giá công nghệ. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết công nghệ còn kém.

    • Chính sách lao động: Về chế độ tuyển dụng lao động, Luật Đầu tư nước

    ngoài sửa đổi bổ sung năm 2000 đã có một vài thay đổi theo hướng nới lỏng hơn, chẳng ạn như các doanh nghiệp có quyền được trực tiếp tuyển lao động Việt nam sau 15 ngày kể từ ngày nộp đơn yêu cầu cung ứng lao động cho các tổ chức cung ứng lao động Việt nam (trước đây là 30 ngày); hay các doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương tối thiểu và lương của lao động Việt nam nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 10% trở lên so với lần điều chỉnh gần nhất. Tuy nhiên quy định thì như vậy nhưng thực tế các công ty nước ngoài rất khó tuyển dụng được lao động có chất lượng như mong muốn, ở địa phương hầu như chỉ có một tổ chức cung ứng lao động và do đó chiếm vị trí độc quyền trong việc cung ứng dịch vụ này. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tuy đã được đặt ra nhưng chưa giải quyết được nhiều hoặc có tính chất tạm thời.

    Nhìn chung, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam còn đơn giản, chung chung nhưng lại dẫn chiếu đến nhiều văn bản dưới luật quá phức tạp làm giảm giá trị pháp lý của Luật Đầu tư nước ngoài, làm cho pháp luật Việt nam về đầu tư nước ngoài thiếu tính đồng bộ, trong sáng và tính dự đoán được. Hơn nữa, trìnhđộ hiểu biết pháp luật của người dân nói chung còn kém, việc tuyên truyền pháp luật còn chưa đầy đủ dẫn đến việc thực hiện pháp luật còn tùy tiện. Chính những hạn chế kể trên đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài lúng túng, gây cho họ tâm lý không an tâm khi tiến hành đầu tư và kinh doanh tại Việt nam.

    18

     

    2.2. Cơ cấu FDI

    Cơ cấu FDI đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực qua các năm, tuy nhiên vẫn còn có một số bất hợp lý.

    Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế bộc lộ sự mất cấn đối. Đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, trong khi đó, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp. Số dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này thành công không nhiều do gặp rủi ro, thiên tai, nguồn nguyên liệu không ổnđịnh, chưa xay dựng được quan hệ hợp đồng dài hạn chùng có lợi với nông dân… Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp liên tục giảm chiếm 4,13% tổng vốn đăng ký giai đoạn 1991 – 1995 và chỉ chiếm 2,2% trong lĩnh vực công nghiệp là tốt, tuy nhiên tỷ trọng đối với các dự án thay thế nhập khẩu hướng vào thị trường nội địa còn cao, nhất là các dự án của EU, Nhật, Mỹ. Trong lĩnh vực dịch vụ, tỷ trọng các dự án kinh doanh bất động sản còn lớn, thị trường về dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý còn chưa thực sự mở đối với đầu tư nước ngoài, tư vấn về kỹ thuật, chuyển giao công nghệ còn hạn chế.

    Đầu tư nước ngoài tập trungchủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh Trung Tây Nguyên và đồngbằng sông Cửu Long. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án đầu tư nước ngoài ở các địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn cũng cao hơn các địa bàn khác. Các khu công nghiệp cũng chủ yếu tập rung vào các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 34 khu, với tổng diện tích trên 8.000 ha, chiếm gần 68% tổng diện tích các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu với tổng diện tích 1.300 ha, chiếm 11% tổng diện tích các khu công nghiệp và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 7 khu với tổng diện tích 890 ha, chiếm 7,5% tổng diện tích. Như vậy, cơ cấu FDI theo vùng, địa phương còn mất cân đối, chênh lệch trìnhđọ phát triển giữa các vùng trong cả nước còn khá lớn.

    Vốn đầu tư nước ngoài từ các nước châu Á chiếm tới hơn 66%, trong khi từ Tây, Bắc Âu, Bắc Mỹ cònthấp. Do vậy, đầu tư nước ngoài ở nước ta dễ bị ảnh hưởng khi các nước xung quanh lâm vào khủng hoảng hay gặp khó khăn về kinh tế… Chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế hợp tác đầu tư với nước

    19

     

    ngoài chưa được cụ thể hóa và thiếu các chính sách cần thiết (đất đai, vay vốn…) nên các thành phần kinh tế dân doanh còn rất ít dự án đầu tư nước ngoài. Thực tế và khả năng đâu tư nước ngoài của Việt kiều còn hạn chế.

    2.3. Cơ sở hạ tầng và vai trò của phía Việt nam

    Cơ sở hạ tầng còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hệ thống giao thông vận tải, điện, nước… của nước ta hiện nay còn yếu kém, mật đọ đường bộ 1,48 km/1000 dân, đường sắt là 0,04km/1000 dân, chất lượng đường xá kém…

    Hệ thống dịch vụ đầu tư nước ngoài còn yếu, giá chi phí dịch vụ ở Việt nam cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực: giá lắp đặt điện thoại tại Hà nội là 110,33 USD, thành phố Hồ Chí Minh là 124,12 USD; trong khi đó giá lắp đặt điện thoại tại Singapore là 28,79 USD, ở Thái lan là 48,26 USD. Giá điện sản xuất tại Việt nam là 0,07 USD/Kwh đối với các nhà máy nước ngoài; 0,11 USD/Kwh áp dụng cho các văn phòng nước ngoài, giá nước là 0,21 USD/m3 đối với các nhà máy sản xuất; 0,45 USD/m3 đối với các dịch vụ công nghiệp, cao hơn gấp 2 lần giá cả tương ứng của Thái lan. Hệ thống thị trường, nhất là thị trường vốn cho hoạt động đầu tư nước ngoài còn chưa phát triển; thị trườngchứng khoán mới bước đầu còn sơ khai.

    Chính những yếu kém của cơ sở hạ tầng đã làm giảm hiệu quả kinh doanh của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn như các khu công nghiệp đã thành lập do thiếu kết cấu hạ tầng, kinh tế – xã hội chưa đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư nên mới lấp kín được gần 30% đất công nghiệp có thể cho thuê. Tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp còn chậm. Ngoài một số khu công nghiệp đã xây dựng xong hoặc cơ bản xong cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Nomura – Hải phòng, khu chế xuất Tân Thuận và khu chế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh…, các khu công nghiệp còn lại phần lớn đang trong quá trình đền bù, giải phóng mặt bằng hoặc đang san lấp mặt bằng, chuẩn bị xây dựng các công trình hạ tầng.. Nhiều khu công nghiệp ở miền Bắc và miền Trung , chi phí san lấp mặt bằng cao, tỷ lệ cho thuê đất rất thấp. Giá phí sử dụng cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp cao đã triệt tiêu lợi thế về giá thuê đất rẻ trong các khu công nghiệp. Hơn nữa, đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp như hệ thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cấp điện…

    và việc đấu nối với các công trình ngoài hàng rào đòi hỏi vốn đầu tư lớn, còn phải

    20

     

    giải quyết nhiều thủ tục có liên quan khá phức tạp và mất thời gian nên dẫn tới tình trạng ít có khu công nghiệp được xây dựng hoàn chỉnh. Điều đó dẫn đến hạn chế tính hấp dẫn của khu công nghiệp và nhiều khi bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư.

    • Vai trò của đối tác Việt nam trong liên doanh còn rất mờ nhạt: theo

    thống kê tỷ lệ góp vốn của bên Việt nam trong các liên doanh nước ngoài thường chỉ chiếm 25 – 30% và chủ yếu là bằng giá cả và quyền sử dụng đất, nhà xưởng cũ. Với tỷ lệ như thế chẳng những không thể đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động kinh doanh mà còn tăng sự phụ thuộc phía nước ngoài từ sản xuất kinh doanh, chia lợi nhuận, cũng như khó tránh khỏi việc “chia ngầm” với nhau làm thua thiệt quyền lợi của phía Việt nam cũng như của Nhà nước Việt nam.

    Cũng do vai trò quản lý của phía Việt nam mờ nhạt nên việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhất là ở những người lao động trực tiếp trong liên doanh chưa được quan tâm đúng mức. Khâu tuyển dụng, bố trí công việc, trả lương đều do phía nước ngoài đảm nhiệm hoặc chi phối, dễ tạo nên một số cán bộ người Việt nam vì lợi ích cá nhân đã không dám đấu tranh, thậm chí không làm hết trách nhiệm hoặc lại bảo vệ quyền lợi của đối tác nước ngoài. Trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, cường độ làm việc của người lao động thường cao hơn các khu vực kinh tế khác từ 1,2 đến 2 lần. Thời gian làm việc có thể kéi dài 12 giờ/ngày trong nhiều ngày liền mà không được trả thêm lương; công nhân bị xúc phạm nặng nề, sa thải vô lý đã là những nguyên nhân gây đình công, bãi công làm thiệt hại đến lợi ích cho cả liên doanh và người lao động.

    2.4. Hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

    Do những hạn chế nêu trên nên hiệu quả kinh tế – xã hội của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa cao.

    Thiết bị, máy móc nhập khẩu vào Việt nam đã có sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại ở một số ngành công nghiệp mũi nhọn và công nghệ sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, do việc kiểm tra giám sát nhập khẩu chưa nghiêm nên vẫn còn không ít thiết bị cũ, lạc hậu đã nhập khẩu vào Việt nam.Theo thống kế của Vụ Kỹ thuật – Bộ Công nghiệp, qua khảo sát 727 cơ sở có nhập máy móc thiết bị trong cả nước, thì có tới 76% thiêt bị mới nhầp về đã được sản xuất từ thời kỳ

    21

     

    1950 – 1960, trong đó có 2/3 số thiết bị đã được khấu hao hết, 50% thiết bị đã được tân trang lại, 20% thiết bị đã sử dụng trên 5 năm nhưng giá lại cao hơn giá trị thực 15 – 20%. Nhìn chung, vấn đề chuyển giao công nghệ chưa đạt được mục tiêu đề ra.

    Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm điện tử, ô tô, xe máy, phát triển sản xuất linh kiện phụ tùng tại Việt nam còn thấp, chưa đạt như mong muốn. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI gia tăng nhanh nhưng mới đạt được trên 10% (thấp hơn một số nước trong khu vực). Hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, giày dép, điện tử nên giá trị gia tăng thấp, sức cạnh tranh trên thị trường thế giới còn hạn chế. Việc cung cấp các nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất thấp, hạn chế khả năng tham gia vào chương trình nội địa hóa sản phẩm và xuất khẩu qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa đủ hấp dẫn và mạnh để định hướng lại động cơ chính của nhà đầu tư nước ngoài là nhằm vào thị trường Việt nam.

    Hiệu quả kinh doanh của các hình thức đầu tư còn thấp, đặc biệt là đối với hình thức doanh nghiệp liên doanh. Xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau về các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt nam nên trong những năm đầu hợp tác đầu tư với nước ngoài, do quan niệm hình thức doanh nghiệp liên doanh có nhiều lợi thế hơn cho phía Việt nam, chúng ta chủ trương hướng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức này. Tỷ lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo hình thức này khá cao, chiếm 40% số dự án và 59% vốn đầu tư nhưng chính doanh nghiệp liên doanh có tỷ lệ lỗ vốn, giải thể nhiều nhất, mẫu thuẫn giữa các bên liên doanh khá phổ biến. Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án liên doanh khá cao, khoảng 28% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn hiệu quả còn ít, bên Việt nam trong các liên doanh hầu hết là doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh); số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ không đáng kể. Việc góp vốn liên doanh của bên Việt nam chủ yếu bằng chuyển quyền sử dụng đất, Nhà nước cho doanh nghiệp Việt nam nhận nợ (trước đây) và ghi vốn (về sau), nhưng khi doanh nghiệp Việt nam được chia lãi hoặc liên doanh thua lỗ thì không có nguồn để hoàn trả cho ngân sách Nhà nước.

    Ngoài ra, với cơ chế hiện nay, doanh nghiệp nào có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp đó có thể liên doanh với nước ngoài, thậm chí trong những ngành

    22

     

    nghề, chuyên môn không phù hợp với chức năng, sở trường kinh doanh của bên Việt nam. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên (chiếm hơn 55% số dự án, khoảng 30% vốn đầu tư, chiếm hơn 85% số dự án được cấp phép trong các khu công nghiệp). Nhìn chung tốc độ triển khai thực hiện dự án 100% vốn nước ngoài nhanh hơn các doanh nghiệp liên doanh, tuy nhiên tỷ lệ các dự án bị thất bại còn tương đối cao. Tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn chếm 7,1% về số dự án và 17% về vốn đầu tư. Đối với các dự án theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, tỷ lệ bị giải thể trước thời hạn cũng khá cao, chiếm 26,6% số dự án và 16,3% vốn đăng ký đã cấp phép.

    23

     

    CHƯƠNG 3

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG

    ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

    1.     Các biện pháp vĩ mô.

    1.1. Tập trung vào những dự án sản xuất chế tạo, định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều nhân công (như điện tử, máy tính, thông tin liên lạc). Đây là những ngành mà Việt nam có thể phát huy được lợi thế tương đối.

    1.2. Tăng cường xã hội hóa một số ngành sản xuất, dịch vụ, chú ý hơn nữa phát triển khu vực tư nhân, cho phép các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước đóng vai trò lớn hơn theo khả năng của họ trong nền kinh tế cộng đồng.

    1.3. Cải thiện hệ thống ngân hàng và hệ thống pháp lý về ngân hàng.

    1.4. Xóa bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước mà dần tiến hànhcơ chế cạnh tranh, doanh nghiệp chứng minh được bằng khả năng thực tế – cụ thể trong thị trường, tuân thủ pháp luật, đều có cơ hội ngang nhau. (Dĩ nhiên Nhà nước vẫnl uon chú ý những doanh nghiệp có thương hiệu và thương phẩm nổi tiếng, đã chiếm lĩnh thị trường thế giới, có thể đại diện được cho thương hiệu “made in Vietnam”, và thực tế là nếu Nhà nước có ưu tiên bằng chính sách cho họ thì các doanh nghiệp khác đều công nhận, đồng thời vì quyền lợi quốc gia có thể tập trung sức lực, vốn, thông tin… để hỗ trợ thêm).

    1.5. Tiến hành cổ phần hóa mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là những doanh nghiệp thua lỗ.

    2 – Các biện pháp cụ thể, đồng bộ.

    2.1. Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt các dự án FDI, làm giảm số ngày tối đa để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.

    24

     

    2.2. Nỗ lực để ngăn chặn buôn lậu.

    2.3. Bảo đảm tính minh bạch và công bằng trong các thủ tục hải quan và luật thuế.

    2.4. Có biện pháp thật hiệu quả để ngăn chặn nạn tham nhũng.

    2.5. Giảm thuế thu nhập cá nhân cho cả người Việt nam và người nước ngoài, đồng thời xóa bỏ cơ chế hai giá.

    2.6. Giảm thuế chuyển lợi nhuận ra về nước.

    2.7. Giảm thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước hoặc có thể áp dụng mức thuế suất bằng 0.

    2.8. Giảm giá các dịch vụ tiện ích.

    2.9. Thực hiện nghiêm túc các nghị định và thông tư đã được ban hành nhằm tạo thông thoáng cho môi trường đầu tư.

    2.10. Xóa bỏ hạn chế đối với những đối tượng được phép làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. (Chống chảy máu chất xám bằng những biện pháp kinh tế – xã hội đồng bộ khác).

    2.11. Xóa bỏ:

    • Mức đầu tư tối thiểu.
    • Mức vốn pháp định tối thiểu trong tổng vốn đầu tư.
    • Lệ phí sử dụng đất quá cao.

    2.12. Cho phép thuê bất động sản với thời hạn dài hơn và cho phép được nhận thế chấp trong nước.

    2.13. Cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    2.14. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng kỹ năng công nghệ, máy móc, thiết bị và đất đai.

    25

     

    2.15. Cho phép định giá hợp lý đối với những đóng góp bằng tên hiệu, nhãn mác, uy tín, hệ thống phân phố và những tài sản vô hình khác.

    2.16. Tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực: Nhà nước, tư nhân và nước ngoài.

    2.17. Chính thức cho phép các liên doanh được chuyển thành hoàn toàn sở hữu của nước ngoài hoặc sở hữu của Việt nam nếu họ đủ điều kiện và tuân thủ đúng pháp luật.

    26

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài

     

    • Việt nam.

    Chủ biên: PGS, PTS Mai Ngọc Cường

    NXB Chính trị quốc gia.

    1. Gia nhập WTO – Việt nam kiên định con đường đã chọn

     

    NXB Chính trị quốc gia.

     

     

    1. Giáo trình Kinh tế quốc tế – Trường ĐH Kinh tế quốc dân

     

     

    1. Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế

    Tài liệu bồi dưỡng của Bộ Thương mại

    Một số tài liệu và thông tin khác trên mạng Internet.

     

    27


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Chỉ thị về một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Có thể nói trong 10 năm trở lại đây nền kinh tế của đất nước ta đã thay đổi rất nhiều. Từ một nước nông nghiệp lac hậu chúng ta đã và đang đi lên xây dựng một nước Việt Nam  ấm no, giàu đẹp, và văn minh. Chúng ta đang trên con đường xây dung đất nước công nghiệp hóa hiện đaị  hóa . Trong đó phải nói đến một sự đóng góp rất tích cực từ những nhà đầu tư nước ngoài. Họ đã mang đến cho chúng ta công nghệ mới, con người mới,  việc làm cho người lao động. Thu hút được một lượng ngân sách rất lớn cho nhà nước. ..FDI là một trong những nguồn vốn tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những năm gần đây chúng ta đang  thu hút được rất nhiều nguồn vốn này. Điều này đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt kinh tế nước ta. Nó đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giúp tăng trưởng kinh tế nước ta

    Nhận thấy việc tìm hiểu về vốn đầu tư nước ngoài FDI là một vấn đề rất hay và được nhiều sự quan tâm tìm hiểu nên em đã chọn vốn FDI làm đề tài cho bài tiểu luận của em.

    I Khái niệm

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    II Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI

    1.     Thực trạng

    Trong những năm qua đầu tư trưc tiếp nước ngoài FDI là một động lực quan trọng góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế của Việt Vam.

    Bảng 1

    Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức nhưng FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. FDI năm 2008 là hơn 64 tỷ USD vốn đăng ký và vốn giải ngân là 11 tỷ USD. Đây là một thành  tích  ấn tượng của Việt Nam trong năm 2008. FDI đăng ký tập trung chủ yếu vào  các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng số vốn đăng ký là 32,6 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăg 25,8% so với năm 2007, tạo ra trên 200.000 việc làm mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI  lên tới 1,4 67 triệu người.( bảng 2)

    Bảng số 2: vốn FDI đầu tư vào các nghành

    Trong các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    Năm 2008, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư vốn trên 1 tỷ USD. Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, Đài Loan đứng thứ hai, với 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu về số vốn đăng ký do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion Malaysia và Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ hai trong số 43 địa phương của cả nước có vốn FDI, với 4 dự án, tổng vốn đăng ký 9,35 tỷ USD.

    Năm 2008 là một năm kỷ lục về thu hút FDI dưới bất kỳ góc độ nào. Vốn đăng ký cũng như vốn giải ngân cao nhất từ trước tới nay, cao nhất trong 20 năm qua kể từ khi Việt Nam thu hút vốn đầu tư FDI đầu tiên điều này  thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với môi trường đầu tư Việt Nam hiện nay, mặc dù nền kinh tế đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như: lạm phát tăng cao, giá cả biến động, giá vật liệu xây dựng tăng cao đột biến. Trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay mà vốn FDI vẫn tăng mạnh chứng tỏ nhà đầu tư có  niềm tin rất lớn vào môi trường kinh doanh.

    2.     Vấn đề giải ngân vốn FDI

    Thực tế năm 2008 con số 64,11 tỷ  USD vốn FDI đăng ký,  mà số vốn điều lệ của các dự án chỉ là 15,429 tỷ USD, bằng khoảng 25,6%. Như vậy phần vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài dự định phải đi vay để tài trợ cho các dự án của mình là rất lớn. Điều này làm nảy sinh một số vấn đề lo ngại là sẽ có những dự án mà nhà đầu tư chỉ dăng ký xin giấy phép cũng như cấp đất sau đó sẽ vay vốn của các tổ chức tài chính của Việt Nam để thực hiện dự án. Nếu nhà đầu tư đó lẩn tránh hoặc không đử lực để thực hiện dự án thì hậu quả để lại cho các ngân hàng là rất nặng nề.

    Nhìn vào bảng số 1 ta thấy ngay được tình trạng này. Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay chính là tỷ lệ giải ngân nguồn vốn trong những năm gần đây đã giảm rất mạnh Thấp nhất phải nói đến năm 2008 chỉ với 17% .Măc dù đây là năm thu hút nhiều vôn FDI nhất nhưng lại là năm có tỷ lệ thực hiện thấp nhất cho thấy đằng sau vấn đề đó còn nhiều điều cần phải quan tâm hơn nữa . Đặc biệt có biện pháp khắc phục vấn đề này sao cho hạn chế tối đa rủi ro cho các ngân hàng của ta.

    Bảng 3: tỷ lệ vốn FDI thực hiện so với cam kết

    Nguyên nhân là do: Hiện đang có rất nhiều yếu kém tác động đến việc thực hiện cam kết cũng như tốc độ giải ngân các nguồn tiền đang đổ vào Việt Nam. Cụ thể, kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu trầm trọng đường cao tốc, bến cảng container, kẹt xe… Nếu như ở Singapore chỉ mất 2 tiếng đồng hồ để chu chuyển một container thì ở VN phải mất tới 7 ngày. Lợi thế giá nhân công thấp bị giảm hấp dẫn vì thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong 1 năm qua, mức lương các nhân sự quản lý của Việt Nam đã tăng 34% bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng này.

    Một điều nữa cần nói về vấn đề giải ngân vốn là có một số lượng lớn nguồn vốn FDI được tập trung vào các lĩnh vực bất động sản và đi vào các dự án lớn ( với quy mô  trên 1 tỷ ). Citybank ước tính vốn FDI liên quan đến các dự án bất động sản hiện nay chiếm đến 1/4 tổng vốn giải ngân. Mà thị trường bất động sản là thị trường nhạy cảm và hay biến động theo chu kỳ cho nên bất động sản hay đi vào các chu kỳ nóng rồi giảm mạnh. Cùng với sự đóng băng được dự đoán vào năm 2009 trên thị trường bất động sản thì chắc chắn nguồn vốn FDI đổ và lĩnh vực này sẽ giảm ảnh hưởng đến nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009.

    Quy mô dự án đầu tư lớn và tỷ trọng đầu tư vào bất động sản cao đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tiêu cực của nó

    Đầu tư nhiều vào bất động sản sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn, thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.

    Những dự án bất động sản cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác. Thêm nữa, dự án bất động sản thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp, thành ra phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn nóng bỏng và chưa được giải quyết rốt ráo.

    Bảng vốn FDI và bất động sản

    Quy mô dự án càng lớn thì thu hút lao động càng ít tính trên một đơn vị đồng vốn. Đến nay, FDI mới tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động. Khu vực kinh tế nhà nước cũng đang trong giai đoạn cơ cấu, sắp xếp lại, nên việc làm ở khu vực này tăng không đáng kể. Khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mới là khu vực giải quyết lao động cho hơn một triệu lao động hàng năm.

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế  Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.

    3. Đánh giá tác động của FDI tới phát triển kinh tế đất nước

    3.1 tích cực

    Bổ sung cho nguồn vốn trong nước : Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

    -Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên,  công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

    Tham gia mạng lưới toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    -Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    -Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

    Đạt được những kết quả trên là nhờ những nguyên nhân:

    + Cơ chế chính sách thu hút vốn thong thoáng, minh bạch

    + Kịp thời điều chỉnh, bổ sung và ban hành danh mục dự án gọi vốn FDI

    + Tích cực tuyên truyền, tiếp thị và quảng bá hình ảnh, môi trường và cơ hội đầu tư

    +Tổ chức tham gia hội ngị, hội thảo xúc tiến, vạn động đầu tư

    + Tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư

    Bên cạnh đó còn có những khó, khăn hạn chế

    -Việc thẩm định dự án đầu tư khá nhiều thì số dự án được cấp phép vẫn còn thấp do thẩm định dự án của bộ thường bị kéo dài, công tác xúc tiến đầu tư thiếu một chiến lược cụ thể về đối tác, thị trường và phương pháp tiếp cận thị trường

    -Công tác đào tạo cán bộ còn yếu

    -Viếc phối hợp giữa các ban nghành, địa phương trong việc giải quyết các thủ tục đầu tư còn yếu chưa chặt chẽ, chưa có quy định rõ ràng

    III.  Giải pháp trong thu hút vốn đầu tư

    -Vấn đề quy hoạch đầu tưxác đingj dự án gọi vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên về ngành ngề, thời gian, địa điểm cụ thể

    -tăng cường công tác xúc tiến, khai thác và lựa chọn đối tác đầu tư

    -cải thiện môi trường đầu tư bao gồm hoàn tiện cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính

    -Đẩy mạnh công tác đào tạo đội ngũ cán bộ cho hoạt động FDI

    -Thực hiện các chính sách thu hút vốn đầu tư

    giải pháp gia tăng hấp thụ FDI

     

    trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải pháp quan trọng hàng đầu là thúc đẩy giải ngân vốn FDI trong năm nay và trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Về luật pháp và chính sách, cần sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân…

    Về quy hoạch, cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư. Về cải thiện cơ sở hạ tầng, sẽ tiến hành tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành ngay các thủ tục thu hồi đất và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án FDI không có khả năng triển khai, hoặc chưa có kế hoạch sử dụng hết diện tích đất đã được giao để chuyển cho dự án

    Từ thực tế kinh nghiệm những năm qua => Bài học trong thu hút vốn đầu tư

    Bài học thứ nhất trong việc thu hút FDI, đó chính là nắm bắt và tận dụng cơ hội.Cần phải biết tận dụng những cơ hội để biến đó thành thế mạnh thu hút vốn đầu tư. VD: Tháng 2/1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã đã lan rộng ra nhiều nước, gây thiệt hại nặng nề đối với các nền kinh tế vốn được coi là “sự thần kỳ Đông Á”. Việt Nam khi đó vẫn nằm ngoài “rìa” vòng xoáy của cuộc khủng hoảng. Lẽ ra chúng ta có thể nhân đó biến thành lợi thế so sánh để thu hút FDI hơn nữa. Nhìn thấy cơ hội và biết nắm bắt nó để có thể làm lợi cho đất nước giữ một vai trò quyết định trong vấn đề thu hút vốn FDI.
    Nhưng điều đó cũng đã không xảy ra, do nước ta bị động đối phó nên không những không biến được cơ hội thành hiện thực mà còn chịu tác dộng tiêu cực, khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, vốn FDI cũng do đó mà ít dần.
    -Bài học thứ hai, đó chính là ba mối quan hệ lợi ích liên quan đến FDI.
    Trước hết, đó là lợi ích của nước ta và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. cần hài hòa lợi ích của cả hai bên trên cơ sở bảo đảm lợi ích chính đáng của đất nước, phải bảo đảm nhà đầu tư thu được lợi nhuận đến mức đủ hấp dẫn họ, đi cùng với sự hướng dẫn và hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong việc cấp phép và triển khai dự án.
    Tiếp theo, đó là mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng và người lao động.
    Do đó, trong các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc này. các doanh nghiệp có vốn FDI thì càng phải có cái nhìn đúng đắn hơn về vụ việc đình công bãi công của người lao động. Các cơ quan chức năng cần phải hướng dẫn người sử dụng lao động, nhà đầu tư nước ngoài tuân thủ, tôn trọng văn hóa ứng xử, tập quán của người Việt Nam để từ đó giáo dục, tổ chức người lao động làm việc có kỷ luật, năng suất và đảm bảo công bằng. –          – Bài học thứ ba, đó là lợi thế so sánh. Chúng ta cần phải biết phát huy lợi thế về lực lượng lao động của mình, cần phải có hệ giải pháp đồng bộ từ chủ trương, chính sách của Chính phủ đến vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo…
    – Bài học thứ tư về FDI, đó là chính sách. Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI và coi trọng chất lượng FDI luôn là hai mặt có quan hệ hữu cơ của thể chế và chính sách của chúng ta. Trong điều kiện hoạt động đầu tư trong nước đang gia tăng nhanh chóng thì việc lựa chọn dự án FDI cần phải bảo đảm hiệu quả kinh tế – xã hội trong mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.

    KẾT LUẬN

    Như vậy có thể sơ bộ kết luận nguồn vốn FDI của Việt Nam hiện này đang thiếu một sự định hướng và điều tiết mạnh mẽ từ chính phủ. Việc thiếu các chính sách định hướng nguồn vốn FDI khiến cho nguồn vốn này không thể phát huy tối đa hiệu quả cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể khẳng định nguồn vốn FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên công tác quản lý và định hướng nguồn vốn này nhằm phát huy tối đa hiệu quả của nó cũng như hạn chế các mặt tiêu cực đòi hỏi một chiến lược sáng suốt của chính phủ Việt Nam.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-t%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-NHTM-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-thanh-to%C3%A1n-h%C3%A0ng-nh%E1%BA%ADp-kh%E1%BA%A9u.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu

    Lời Mở Đầu

    Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại, nó hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thương của một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước cho phép làm công tác thanh toán này. Do vậy các giao dịch thanh toán trong ngoại thương đều phải qua ngân hàng. Đây là các nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao ứng dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự hoà hợp giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam và hệ thống ngân hàng thương mại thế giới, tạo hiệu quả an toàn với ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng được tiến hành an toàn, nhanh chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán tiền mặt. Ngân hàng bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán, đồng thời tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, tạo sự an tâm tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu……đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp  nhập khẩu.

    Trong giao dịch thương mại quốc tế có rất nhiều phương thức thanh tóan quốc tế khác nhau như : thanh tóan chuyển tiền trực tiếp cho nhau hoặc trước khi nhận hàng hoặc sau khi nhận hàng, thanh tóan theo phương thức nhờ thu gồm nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ,  nhờ thu trả ngay, nhờ thu trả chậm, thanh tóan theo phương thức tín dụng chứng từ . . . và mỗi phương thức khác nhau đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.  Phương thức thanh tóan bằng tín dụng chứng từ là phương thức đáp ứng được đòi hỏi của hai bên người nhập khẩu và người xuất khẩu.  Người bán và người mua không thanh toán trực tiếp với nhau mà thông qua các công cụ và sự bảo lãnh của ngân hàng để thực hiện việc thanh toán này. Do đó, các hình thức thanh toán quốc tế không thể thiếu trong vấn đề nhập khẩu hiện nay..

    Cũng chính vì điều đó mà đề tài :” Vận dụng các phương thức thanh toán quốc tế tại các NHTM Việt Nam trong thanh toán hàng nhập khẩu”, được đem ra thảo luận hôm nay .

    Chương I : Giới thiệu hoạt động Ngân hàng Thương mai.

    1.1 Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại

    1.1.1 Giới thiệu về NHTM và hoạt động kinh doanh của NHTM:

    1.1.1.1 Khái niệm về NHTM

    Hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động  kinh tế lâu đời của loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội và nền kinh tế, hệ thống ngân hàng và hoạt động của nó không ngừng được phát triển, cải thiện như ngày nay. Ngân hàng thương mại (NHTM) trở thành một tổ chức tài chính trung gian chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Khi xã hội càng đi lên, hoạt động ngân hàng càng đa dạng hơn về loại hình, các chức năng và nội dung hoạt động của nó ngày càng hoàn thiện thêm. Và do vậy những nhận thức, quan điểm khác nhau về ngân hàng cũng có những bước biến đổi theo thời gian. Ngân hàng ngày nay đã cơ bản khác với ngân hàng trước đây. Đó là kết quả của tình hình kinh tế và tiền tệ của mỗi thời kỳ. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về ngân hàng thương mại.

    Ở Hoa Kỳ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.

    Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.

    Ở Việt Nam: NHTM là loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó TCTD là doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gởi và sử dụng tiền gởi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.

    1.1.1.2 Chức năng của NHTM:

    • Chức năng trung gian tài chính:

    Đây là chức năng đầu tiên, cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM một mặt huy động và tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế, mặt khác trên cơ sở số vốn đã huy động được sẽ sử dụng để cho vay. Như vậy NHTM vừa là người cho vay vừa là người đi vay. Ngoài ra ngân hàng còn đóng vai trò làm môi giới cho người đầu tư.

    Thông qua chức năng trung gian tài chính, NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, thiết lập các dịch vụ tiện ích cho xã hội. Đối với bản than người gởi tiền họ kiếm được lợi nhuận từ số vốn tạm thời nhàn rỗi của mình bởi lãi suất tiền gởi mà ngân hàng sẽ trả cho họ, cơ hội đầu tư cho nguồn vốn cũng  nhiều hơn. Đối với người đi vay sẽ thoả mãn nhu cầu về vốn và khả năng lựa chọn nguồn vốn nhiều hơn. Đối với NHTM sẽ kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi tiền gởi hay là hoa hồng môi giới. Lợi nhuận nyà chính là cơ sở tồn tại và phát triển của NHTM.

    • Chức năng trung gian thanh toán.

    Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều công cụ thanh toán mang tính tiện ích cao như séc, thẻ tín dụng, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi…Ngân hàng sẽ thừa lệnh khách hàng để thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ cho khách hàng, từ đó đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Với chức năng này cũng cho phép NHTM tạo ra bút tệ để mở rộng quy mô tín dụng đối với nền kinh tế, tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phát triển và tiết giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông. Ngày nay có thể nói rằng hoạt động thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động của NHTM. Khi chức năng trung gian thanh toán càng được hoàn thiện thì vai trò của NHTM cũng sẽ được nâng cao hơn với tư cách “thủ quỹ của khách hàng”.

    • Chức năng tạo tiền.

    Ngoài việc thực hiện chức năng trung gian tài chính từ việc thu hút tiền gởi và cho vay trên số tiền gởi đó, NHTM còn tạo ra tiền gọi là bút tệ. Số tiền cho vay sẽ không trên cơ sở số tiền gởi mà khoản tín dụng đó do ngân hàng tạo ra tiền để cho vay. Đến hạn người vay trả nợ, tiền vay rút khỏi lưu thông quay về ngân hàng và bị huỷ bỏ. Như vậy bút tệ chỉ tạo ra khi ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại ngân hàng. Do đó nó không có hình thái vật chất và chỉ là những con số trên tài khoản. Việc tạo ra bút tệ là một bước quan trọng trong công nghệ ngân hàng, là công cụ thanh toán linh động và hữu ích. Tuy nhiên việc tạo ra bút tệ phải phù hợp với nhu cầu tiền tệ cho sự phát triển của nền kinh tế để tránh bị suy thoái và cần có những quy định cụ thể.

    • Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia.

    Để ổn định tiền tệ, tạo điều kiện ổn định giá cả, các ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ điều tiết nhạy bén linh hoạt đối với NHTM để đưa thêm tiền vào lưu thông hay rút bớt tiền vào lưu thông quay về ngân hàng. Qua đó tạo ra sự phù hợp giữa khối lượng tiền tệ với yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhất định.

    Nền kinh tế phát triển, vai trò của tín dụng NHTM càng tăng lên trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế xã hội. Phạm vi tín dụng mở rộng, hình thức cho vay vốn tín dụng đa dạng không chỉ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp mà còn phục vụ các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện các chương trình, mục tiêu chính sách xã hội của Nhà nước. Ngoài ra, NHTM còn góp phần thúc đẩy việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, thu vốn nước ngoài….làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.

    1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM:

    1.1.2.1 Huy động vốn

    Là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này NHTM được sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Có thể nói đây là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Thành phần nguồn vốn của NHTM bao gồm:

    • Vốn điều lệ và các quỹ: là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong suốt quá trình hoạt động. Vốn điều lệ là số vốn ban đầu khi thành lập ngân hàng được ghi vào điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng vốn pháp định do chính phủ quy định.

    Các quỹ ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng.

    • Vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các TCTD, cá nhân dân cư…bao gồm:

    Tiền gởi không kỳ hạn :đây là khoản tiền mà người gởi có thể rút ra sử dụng bất cứ khi nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng, bao gồm tiền gởi thanh toán và tiền gởi không kỳ hạn.

    Tiền gởi có kỳ hạn: là khoản tiền có sự thoả thuận thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng.

    Tiền gởi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân, được gởi vào ngân hàng nhằm được hưởng lãi suất theo định kỳ. Có 2 loại tiền gởi tiết kiệm là tiền gởi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gởi tiết kiệm không  kỳ hạn.

    • Vốn đi vay

    Bên cạnh các hình thức huy động dưới dạng nhận tiền gởi, các ngân hàng còn huy động dưới hình thức phát trái phiếu của ngân hàng. Đây là dạng đi vay dài hạn của công chúng.

    Trong quá trình hoạt động của mình nhiều khi phát sinh các nghiệp vụ cùng một lúclàm cho nguồn vốn của ngân hàng không đảm bảo đáp ứng các nhu cầu hoạt động của mình, vì thế ngân hàng phải tiến hành vay vốn của NHTW thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu, vay của các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng , vay của các ngân hàng nước ngoài hoặc tiếp nhận vốn từ các TCTD ngân hàng, từ ngân sách nhà nước…

    • Vốn tiếp nhận: đây là các nguồn vốn tiếp nhận từ các TCTD, từ ngân sách nhà nước để tài trợ theo các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh. Nghiệp vụ này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng, mục tiêu đã được xác định trước.
    • Vốn khác: là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

    1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn:

    Đây là nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng bao gồm:

    • Dự trữ: mặc dù hoạt động của ngân hàng là nhằm mục đích kiếm lời, song cũng cần đảm bảo an toàn để giữ vững lòng tin cho khách hàng do vậy ngân hàng cần để dành một phần nguồn vốn gọi là dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán khi khách hàng có nhu cầu rút tiền.
    • Cấp tín dụng: số nguồn vốn còn lại sau khi để danh một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế.
      • Cho vay: là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Khi huy động tiền gởi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gởi còn lại. Hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn của tích sản NHTM do vậy tiền lãi thu được từ hoạt động này là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng, đồng thời cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Việc cho vay được phân chia trong phạm vi các khoản mục cho vay bao gồm:
        • Cho vay trực tiếp: là một loại hình tín dụng nghiệp vụ của NHTM trong đó ngân hàng sẽ cấp vốn cho người đi vay để sản xuất kinh doanh, đầu tư hay tiêu dùng đồng thời kiểm soát toàn bộ quá trình sử dụng vốn. Đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi cho ngân hàng.
        • Chiết khấu: đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
      • Cho thuê tài chính: ngân hàng phải thành lập công tythuê mua tài chính độc lập có tư cách pháp nhân. Công ty thuê tài chính sẽ dùng nguồn vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và cho thuê trong một thời gian nhất định kèm theo lời hứa là sẽ bán lại về sau.
      • Bảo lãnh ngân hàng: trong nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh, nhờ đó khách hàng được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã được ký kết.
      • Đầu tư: đây là khoản mục có vị trí quan trọng thứ hai sau cho vay mang lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Ngân hàng có thể đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, mua cổ phần cổ phiếu của công ty, trái phiếu của Chính phủ, chính quyền địa phương.
      • Tài sản Có khác: là những khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là tài sản lưu động – cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động của ngân hàng.

    1..1.2.3 Hoạt động kinh doanh dịch vụ

    Ngày nay với xu hướng kinh doanh đa năng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng cũng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ cho các nghiệp vụ chủ yếu, vừa tạo ra các khoản tiền hoa hồng, lệ phí,…đem lại khoản thu nhập đáng kể cho ngân hàng. Hoạt động này đang dần có một vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của NHTM. Các hoạt động này bao gồm:

    • Các dịch vụ thanh toán, thu hộ và chi hộ cho khách hàng.
    • Bảo quản tài sản quý giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng cho dân chúng.
    • Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng.
    • Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý..
    • Tư vấn tài chính, giúp các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu

    Chương II : Vận dụng các phương thức thanh toán trong NHTM trong thanh toán hàng nhập khẩu.

    I. Phương thức mở sổ

     

    1.Khái niệm

    Người bán mở một tài khoản hoặc một quyển sổ để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hay dịch vụ, đến từng định kỳ có thể là tháng, quý hoặc năm người mua trả tiền cho người bán.

    Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản, bên người bán chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người mua mở tài khoản để ghi, tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh toán giữa hai bên.  

    2.Quy trình thực hiện 

    Trình tự thực hiện nghiệp vụ

    Những điều cần chú ý khi áp dụng phương thức ghi sổ

    Thứ  nhất, phải quy định thống nhất đồng tiền ghi trên tài khoản.

    Thứ hai, căn cứ ghi nợ của người bán thường là hóa đơn giao hàng.

    Thứ ba, căn cứ nhận nợ của người mua hoặc là dựa vào trị giá hóa đơn giao hàng hoặc là dựa vào kết quả nhận hàng ở nơi nhận hàng.

    Thứ tư, phương thức chuyển tiền hoặc là bằng thư hoặc là bằng điện cần phải thỏa thuận thống nhất giữa hai bên.

    Thứ năm, giá hàng trong phương thức ghi sổ này thường cao hơn giá hàng bán tiền ngay, chênh lệch này là tiền lãi phát sinh ra của số tiền ghi sổ trong khoảng thời gian bằng định kỳ thanh toán theo mức lãi suất được người mua chấp nhận.

    Thứ sáu, định kỳ thanh toán có hai cách quy định hoặc là quy định X ngày kể từ ngày giao hàng đối với từng chuyến hàng, hoặc là quy định theo mốc thời gian của niên lịch. Ví dụ: 60 ngày kể từ ngày ký phát hóa đơn thương mại hoặc là từ ngày ghi trên vận đơn giao hàng, hoặc là cuối mỗi quý thanh toán một lần.

    Thứ bảy, việc chuyển tiền thanh toán chậm của người mua được giải quyết thế nào, có phạt chậm trả không, mức phạt bao nhiêu, tính từ lúc nào?

    Thứ tám, nếu phát sinh sự khác nhau giữa số tiền ghi nợ của người bán và số tiền nhận nợ của người mua thì giải quyết thế nào?

    Nhận xét

    Trong phương thức ghi sổ, thực chất là người bán cho người mua vay số tiền trả chậm, tuy nhiên ở đây người bán có tính lãi trên số tiền trả chậm này. Như vậy, hàng hoá sau khi đã giao cho người mua thì người bán mới chỉ nhận được một phần số tiền hàng, do vậy mặc dù có tính lãi trên số tiền trả chậm thì rủi ro đối với người bán là vẫn cao. Đối với người mua thì có thể giải quyết được vấn đề thiếu vốn tức thời, nhưng họ lại phải chịu giá cao hơn do phải trả lãi trên số tiền sẽ trả định kỳ.

    Trường hợp áp dụng

    Với đặc điểm của phương thức ghi sổ, nó sẽ phù hợp trong trường hợp nhà nhập khẩu khan hiếm ngoại tệ, khi đó họ chấp nhận trả giá cao hơn, đổi lại họ sẽ mua được hàng hoá. Nó cũng phù hợp trong các mối quan hệ mua bán hàng đổi hàng hoặc hàng bán giao làm nhiều lần. Phương thức này chỉ áp dụng giữa các bên có quan hệ mua bán thường xuyên và tin cậy lẫn nhau, giữa nội bộ các công ty với nhau, giữa công ty mẹ và công ty con. Nó cũng có thể được áp dụng trong các thanh toán phi mậu dịch.

    II.Phương thức chuyển tiền

    1.Khái niệm

    Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng – người trả tiền – yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác – người hưởng lợi, ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách yêu cầu.

    1. Các bên tham gia trong phương thức chuyển tiền

    Người trả tiền – người mua, người mắc nợ – hoặc người chuyển tiền – người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài – là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.

    Người hưởng lợi – người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư – hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.

    Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    1. Trình tự thực hiện nghiệp vụ

     

    Các nghiệp vụ ngân hàng chuyển tiền  

    Đối với ngân hàng có hai nghiệp vụ chuyển tiền đi và chuyển tiền đến.

    Khi chuyển tiền đi, nghiệp vụ ngân hàng diễn ra theo 4 bước: (1) tiếp nhận hồ sơ xin chuyển tiền; (2) Kiểm tra hồ sơ chuyển tiền đi; (3) Lập điện chuyển tiền và (4) Hạch toán – Lưu hồ sơ. (Hình 4.2.)

    Khi chuyển tiền đến, ngân hàng thực hiện thanh toán theo ba bước: (1) Tiếp nhận lệnh chuyển tiền; (2) Thanh toán cho người hưởng lợi và (3) Lưu hồ sơ. (Hình 4.3.) 

    1. Hình thức chuyển tiền

    Chuyển tiền có thể thực hiện dưới hai hình thức: chuyển bằng thư (Mail transfer – M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – T/T). Theo hình thức thứ nhất, ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gửi thư cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo hình thức này, chi phí chuyển tiền thấp, nhưng tốc độ chậm, do vậy dễ bị ảnh hưởng nếu có biến động nhiều về tỷ giá.

    Chuyển tiền bằng điện tức là ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi. Theo cách này, chi phí chuyển tiền cao hơn nhưng nhanh chóng hơn, do vậy ít bị ảnh hưởng của biến động tỷ giá.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua

    Nhận xét

    Phương thức chuyển tiền thủ tục đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, việc trả tiền nhanh hay chậm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí người chuyển tiền hay người trả tiền, nếu trong quan hệ thương mại thì đó chính là người mua, người nhập khẩu. Do vậy phương thức này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, tức là người hưởng lợi, tốc độ thanh toán thường chậm.

    Trường hợp áp dụng

    Do phương thức chuyển tiền mức độ an toàn trong thanh toán thấp, nó chỉ nên sử dụng cho các mối quan hệ giữa các đối tác tin cậy lẫn nhau hoặc quy mô thanh toán nhỏ. Nó thường được áp dụng cho các trường hợp chuyển vốn đầu tư, chuyển tiền tư nhân, chuyển tiền chính phủ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài hoặc cho các nghiệp vụ thanh toán phi mậu dịch khác. Tronhg quan hệ thanh toán mậu dịch, không nên sử dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu mà chỉ nên sử dụng trng thanh toán hàng nhập khẩu.

    Thông thường, phương thức chuyển tiền được thực hiện sau khi giao hàng, trên thực tế người ta có thể thực hiện chuyển tiền trước khi giao hàng trong trường hợp người mua ứng trước một phần tiền hàng cho người bán. Khoản tiền này thực chất là một khoản tín dụng do người mua cấp cho người bán, hay cũng có thể coi là một khoản tiền đặt cọc để tạo sự yên tâm cho bên bán giao hàng đồng thời ràng buộc người mua phải nhận hàng. Trong tình huống này, hai bên cần ghi rõ trong hợp đồng mua bán. Người ta cũng có thể vận dụng hình thứuc chuyển tiền trả chậm một khoảng thời gian sau khi giao hàng mà thực chất đây là một hình thức mua bán chịu. Ngược lại với tình huống trên, trong tình huống này chính là người bán cấp tín dụng cho người mua, nó có lợi cho người mua.

    III.Phương thức nhờ thu

    1. Khái niệm

    Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.

            2.Các bên tham gia phương thức nhờ thu

    Người bán tức là người hưởng lợi (Principal)

    Ngân hàng bên bán là ngân hàng nhận sự ủy thác của người bán (Remitting Bank)

    Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là ngân hàng ở nước người mua (Collecting Bank and/or Presenting Bank)

    Người mua tức là người trả tiền (Drawee) 

    3.Các loại nhờ thu

    Thanh toán bằng phương thức nhờ thu sẽ giảm thiểu một phần rủi ro cho nhà xuất khẩu vì chứng từ chỉ được giao cho người nhập khẩu khi người nhập khẩu thanh toán tiền hàng hoặc đã ký chấp nhận hối phiếu (đối với nhờ thu chứng từ). Tuy nhiên thanh toán theo phương thức này người bán/xuất khẩu vẫn phải chịu rủi ro trong trường hợp người mua/nhập khẩu không chấp nhận chứng từ hoặc từ chối thanh toán hối phiếu khi đáo hạn

    • Căn cứ theo thời hạn, có 2 loại Nhờ thu:

    – Nhờ thu trả ngay (D/P): Phương thức này qui định người mua/người nhập khẩu phải thanh toán tiền ngay khi nhận bộ chứng từ.

    – Nhờ thu trả chậm (D/A): Phương thức này cho phép người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người bán/người xuất khẩu. Thông thường hối phiếu đã chấp nhận sẽ được giữ tại nơi an toàn của ngân hàng nhờ thu (ngân hàng người nhập khẩu) cho đến ngày đáo hạn. Tới ngày này, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận.

    • Căn cứ theo chứng từ, có 2 loại Nhờ thu:

    Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection) là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng .

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sau đây (Hình 4.5.):

     

    (1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và ủy thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu

    (2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu itền, còn gọi là Ngân hàng phục vụ bên mua

    (3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu nếu mua chịu

    (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán 

      Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán do việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trả tiền. Đối với người mua áp dụng phương thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ (Documnetary Collection)

    Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ cũng giống như nhờ thu phiếu trơn, chỉ khác ở khâu (1) là lập một bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo, ở khâu (3) là ngân hàng đại lý chỉ trao cho người mua nếu như người mua trả itền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu. Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. (Hình 4.6)  

    Nhận xét và trường hợp áp dụng

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua, nhờ đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một số mặt yếu. Người bán thông qua ngân hàng mới khống chế được quyền định đoạt hàng hóa của người mua chứ chưa khống chế được việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng được khi tình hình thị trường bất lợi với họ. Việc trả tiền thường quá chậm chạp từ lúc giao hàng đến lúc nhận được tiền có thể kéo dài vài tháng hoặc nửa năm. Trong phương thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là người trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm về việc trả tiền của người mua.

    Qui trình nghiệp vụ ngân hàng trong phương thức nhờ thu 

    Trên thực tế thanh toán quốc tế, trong hai phương thức nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ thì các nhà xuất nhập khẩu sử dụng phương thức nhờ thu kèm chứng từ nhiều hơn. Trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò là người chuyển chứng từ thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người nhập khẩu thu hộ tiền cho nhà xuất khẩu. Qui trình nghiệp vụ của ngân hàng trong trường hợp này thể hiện trong hình 4.7 dưới đây.

    Cụ thể nhờ thu chứng từ nhập khẩu như sau :
    Khi nhận bộ chứng từ nhờ thu từ Ngân hàng nước ngoài gởi đến hoặc do người Bán gởi trực tiếp, Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK ngay trong ngày.

     

    Đối với nhờ thu trả ngay (D/P):

    Trên cơ sở Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của bộ chứng từ hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp, Nhà NK nhận bộ chứng từ ngay khi Nhà NK có công văn chấp nhận thanh toán.

    Đối với nhờ thu trả chậm (D/A):

    Nhà NK nhận chứng từ ngay sau khi ký chấp nhận thanh toán hối phiếu vào ngày đáo hạn. Đến hạn thanh toán Ngân hàng sẽ thông báo cho Nhà NK trước khi thực hiện thanh toán và Ngân hàng sẽ thực hiện thanh toán khi đến hạn.

    Lưu ý :

    Khi giao dịch nghiệp vụ nhờ thu tại Ngân hàng, Nhà NK cần có các chứng từ cần thiết sau:
    1. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký mã số thuế (Nếu Quý khách đến giao dịch lần đầu)

    1. Bản sao hợp đồng ngọai thương có xác nhận sao y bản chính của thủ trưởng Doanh nghiệp (Đối với chứng từ nhờ thu trả chậm D/A)

    Ký hậu vận đơn trước khi chứng từ nhờ thu gởi đến Ngân hàng:

    Trường hợp hàng về Việt Nam trước khi chứng từ nhờ thu được gởi đến Ngân hàng, nếu Nhà NK muốn nhận hàng ngay (Khi Nhà NK đã ký quỹ đủ trị giá của hóa đơn hoặc có bảo lãnh của và Phòng Tín Dụng Doanh Nghiệp – Đối với chứng từ nhờ thu trả ngay D/P) Ngân hàng sẽ ký hậu vận tải đơn do người bán gởi trực tiếp đến Quý khách trên cơ sở công văn đề nghị ký hậu vận tải đơn và chấp nhận thanh toán bộ chứng từ nhờ thu.

    Khi bộ chứng từ nhờ thu về đến Ngân hàng, Ngân hàng sẽ thông báo ngày thanh toán cho Nhà NK và sẽ thực hiện thanh toán theo điều kiện của bộ chứng từ nhờ thu.

    Thủ tục, hồ sơ :

    Nhờ thu hàng nhập khẩu:

    – Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp (đối với khách hàng lần đầu giao dịch): Quyết định thành lập doanh nghiệp (đối với DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập tổ chức do cơ quản chủ quản cấp (đối với những DN thành lập trước năm 1999), Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh, Quyết định bổ nhiệm Giám đốc kinh doanh của Hội đồng sáng lập viên Công ty hoặc quyết định bổ nhiệm người đứng đầu tổ chức do cơ quan cấp trên trực tiếp ban hành, Điều lệ công ty (nếu có)

    – Hợp đồng ngoại thương và các phụ lục (nếu có)

    – Giấy phép nhập khẩu hoặc hạn ngạch (nếu cần)

    – Hợp đồng ngoại hối (theo mẫu của ngân hàng/ trong trường hợp khách hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán);

     

    IV.Phương thức CAD (Cash against Documents) – Phương thức giao chứng từ nhận tiền.

    1.Khái niệm.

    CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân hàng mở tài khoản ký thác ( Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ những chứng từ yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho Ngân hàng để nhận tiền thanh toán.

    Phương thức thanh toán này rất có lợi cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho họ có thể thanh toán được nhanh và chắc chắn.

     

    2.Quy trình.

     

     

    (1) Sau khi ký hợp đồng ngoại thương với nhà xuất khẩu ( trong đó phương thức thanh toán được quy định là CAD), người nhập khẩu cần đến Ngân hàng phục vụ mình yêu cầu thực hiện dịch vụ CAD.

    Để làm được điều đó, người nhập khẩu và Ngân hàng sẽ thỏa thuận và ký một bản ghi nhớ gồm những nội dung sau:

    • Phương thức thanh toán: CAD
    • Số tiền ký quỹ trị giá 100% thương vụ.
    • Những chứng từ yêu cầu.

    Thông thường phí dịch vụ này do nhà xuất khẩu chịu( 0.25% trị giá thương vụ)

    (2) Sau khi nhà nhập khẩu chuyển đầy đủ số tiền ký quỹ, một tài khoản ký thác sẽ được mở để ghi số tiền ký quỹ, đồng thời Ngân hàng cũng thông báo cho người xuất khẩu về tài khoản ký thác đã hoạt động.

    (3) Nhà xuất khẩu giao hàng cho vận tải để chuyển đến nơi nhà nhập khẩu yêu cầu.

    (4) Người xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng thì xuất trình những chứng từ mà Bản ghi nhớ yêu cầu tại Ngân hàng.

    (5) Ngân hàng tiến hành kiểm tra chứng từ theo yêu cầu của Bản ghi nhớ, nếu thấy phù hợp thì tiến hành ghi có cho người xuất khẩu và ghi nợ vào tài khoản ký quỹ của người nhập khẩu, sau khi đã thu phí dịch vụ Ngân hàng theo chỉ thị trong Bản ghi nhớ.

    (6) Ngân hàng giao chứng từ cho nhà nhập khẩu.

     

    3.Trường hợp áp dụng:

    Quan hệ bạn hàng tốt và thân tín giữa hai bên xuất và nhập khẩu. Đặc biệt người nhập khẩu phải rất tin tưởng người xuất khẩu.

    Khi bán những mặt hàng khan hiếm trên thị trường và người xuất khẩu muốn có đảm bảo chắc chắn trong thanh toán .

    Nhà nhập khẩu phải có đại diện bên nước nhà xuất khẩu vì trong bộ chứng từ mà nhà nhập khẩu yêu cầu nhà xuất khẩu xuất trình có giấy chứng nhận của đại diện người mua về việc giao hàng hóa

     Ưu điểm 

    –           Thủ tục thanh toán đơn giản.

    –           Người Bán thanh toàn bằng phương thức này rất có lợi :giao hàng xong là được tiền ngay, Bộ chứng từ xuất trình giản.

    Nhược điểm

    –           Người Mua phải có đại diện hay chi nhánh ở nước Người Bán vì phải xác nhận hàng hoá trước khi gửi.

    –           Việc kí quỹ để thực hiện CAD, sẽ dẫn đến ứ đọng vốn tại Ngân hàng, Nếu người Bán ko giao hàng thì tiền kí quỹ sẽ ko được hưởng lãi xuất

    V. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ :

    1. Quy trình thanh toán

    Trong nghiệp vụ này Ngân hàng thực hiện chức năng là Ngân hàng mở L/C, đứng ra cam kết trả tiền cho nhà nhập khẩu nước ngoài. Đây là nghiệp vụ có nhiều khả năng rủi ro nhất cả về thiệt hại tài chính và thường tổn đến uy tín của Ngân hàng. Quy trình nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu được chia làm hai mảng:

    • Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ
    • Tiếp nhận, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ và trả tiền.

    Quy trình này được khái quát hoá theo sơ đồ dưới đây:

    (3)                          (4)

    (5)

    * Mở, điều chỉnh L/C và ký quỹ.

    (1). Doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng Thương mại đã ký kết với nhà xuất khẩu nước ngoài, lập thư xin mở L/C và xuât trình cho VietcomBank với đầy đủ các tài liệu:

    • Giấy xin mở L/C
    • Bản sao hợp đồng Thương mại hoặc điện, Telex giao dịch mua bán.
    • Uỷ nhiệm chi thanh toán và thủ tục phí.
    • Hợp đồng vay ngoại tế.

    Các thủ tục bảo lãnh theo quy định hiện hành nếu mở L/C mua chịu.

    (2). Mở L/C. Khi nhận được yêu cầu mở hoặc điều chỉnh L/C của hkách hàng thanh toán viên kiểm tra được nội dung theo mẫu quy định Ngân hàng: Kiểm tra nguồn vố (vốn vay, vốn tự có) và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C yêu cầu mở để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điền kiện miễn giảm ký quỹ theo quy định của Giám đốc chi nhánh. Sau khi kiểm tra nếu hợp lệ thanh toán viên lập hồ sơ L/C, đưa số liệu vào máy vi tính theo quy định. Việc mở L/C được thực hiện bằng một trong những phương thức sau:

    – Bằng điện:

    + Bằng Swift

    + Bằng telex: Có mã khoá.

    – Bằng thư: Theo mẫu quy định của VietcomBank và phải có đầy đủ chữ ký được uỷ quyền.

    Sau đó hạch toán tiền ký quỹ và thu thủ tục phí theo biểu phí dịch vụ hiện hành của Ngân hàng.

    Mức ký quỹ của khách hàng từ 0% đến 100% giá trị thanh toán, các mức ký quỹ phổ biến ở Ngân hàng được quy định như sau:

    + Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là các khách hàng có thị trường tiền gửi lớn tại Ngân hàng, hoạt động kinh doanh ổn định, cso tín nhiệm vao trong thanh toán.

    + Các khách hàng ký quỹ từ 10%-30% trị giá L/C là trường hợp phổ biến nhất.

    + Các khách hàng ký quỹ 100% trị giá L/C là những khách hàng mới lần đầu đến giao dịch hoặc tình hình tài chính gần đây không tốt.

    Nếu khách hàng yêu cầu điều chỉnh L/C mà phí điều chỉnh do người hưởng lợi chịu trong điện thư của Ngân hàng thông báo phải nêu rõ: Phí điều chỉnh sẽ được trừ vào tiền hàng khi thanh toán L/C hoặc lập thư đòi phí sau. Thanh toán viên phải có hồ sơ theo dõi các khoản phí đã đòi Ngân hàng nước ngoài, trong vòng 30 ngày không nhận được tiền phí thì phải nhắc Ngân hàng thông báo.

    Đối với các yêu cầu huỷ L/C trong thời hạn hiệu lực L/C: Nếu Ngân hàng thông báo yêu cầu huỷ L/C thì thanh toán viên phải thông báo ngay cho người mua và đề nghị họ trả lời bằng văn bản, khi nhận được trả lời của khách hàng bằng văn bản thì báo ngay cho Ngân hàng thông báo biết. Nếu người mua yêu cầu huỷ L/C, căn cứ  vào thư yêu cầu của khách hàng, Ngân hàng điện báo cho Ngân hàng thông báo biết, trong nội dung điện thông báo phải ghi rõ: trong vòng 07 ngày làm việc nếu không nhận được trả lời thì L/C tự động huỷ.

    Trường hợp khách hàng yêu cầu mở L/C xác nhận trước khi mở L/C ngoài việc kiểm tra nguồn vốn L/C, thanh toán viên phải kiểm tra điều khoản quy định phí xác nhận. Trong L/C xác nhận phải chi ra tên và địa chỉ đầy đủ của Ngân hàng xác nhận, nếu Ngân hàng xác nhận không phải là Ngân hàng thông báo thì phải liên hệ trước với một Ngân hàng đại lý có quan hệ tốt với Ngân hàng đề nghị họ xác nhận Ngân hàng sẽ không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ sự chậm trễ nào gây ra do chậm xác nhận của Ngân hàng nước ngoài. Nếu Ngân hàng nước ngoài yêu cầu ký quỹ thì phải yêu cầu họ phải trả lãi trên số tiền ký qũy đó. Thanh toán viên phải theo dõi chặt chẽ và hạch toàn tiền kỹ quỹ không được thấp hơn số tiền Ngân hàng phải ký quỹ tại Ngân hàng nước ngoài.

    * Tiếp nhận, kiểm ta chứng từ, giao chứng từ, trả tiền.

    (3). Kiểm tra chứng từ trước khi giao hàng khách hàng.

    Khi nhận được chứng từ trước khi giao cho khách hàng. Việc kiểm tra này đảm bảo rằng Ngân hàng mở phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện, điều khoản của L/C đồng thời làm tốt vai trò cố vấn cho khách hàng của mình. Cũng giống Ngân hàng thông báo Ngân hàng mở chỉ kiểm tra tính chính xác trên bề mặt chứng từ mà không cần biết đến tính chất thật giả của chứng từ. Đó chỉ là kiểm tra xem chứng từ xuất trình cóđúng thời hạn hiệu lực của L/C hay không, việc giao hàng có đúng thời hạn hay không, các chứng từ có đầy đủ về mặt số lượng, số loại, có khớp đúng với các quy định của L/C hay không…

    (4) Giao chứng từ cho khách hàng.

    Đây là bước thực hiện sau khi Ngân hàng đã kiểm tra chứng từ với sự cẩn thận thích đáng.

    (5). Trả tiền cho nước ngoài

    Có hai trường hợp xảy ra:

    + Trường hợp cho phép đòi tiền bằng điệu:

    Khi nhận được điện đòi tiền của Ngân hàng xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên thực hiện việc trả tiền theo chỉ dẫn trên lệnh chuyển tiền đồng thời thông báo cho Ngân hàng đòi tiền biết nếu họ yêu cầu mẫu điện , trừ phí trên số tiền phải trả và hạch toán theo chế độ Kế toán hiện hành:

    Mặc dù đã trả tiền theo điện đòi tiền nhưng khi nhận được chứng từ thanh toán viên phải kiểm tra nếu phát hiện thấy chứng từ không phù hợp với điền kiện L/C phải thông báo ngay cho khách hàng biết đồng thời thông báo ngay cho Ngân hàng nước ngoài, trong thông báo phải chỉ ra những điểm không phù hợp và ghi rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Khi nhận được điện của Ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, thanh toán viên phải thông báo ngày cho khách hàng những điểm không phù hợp và yêu cầu người mua trả lời bằng văn bản trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Ngân hàng. Nếu chấp nhận thanh toán thì thực hiện việc thanh toán theo quy định, nếu không chấp nhận thanh toán hoặc chỉ chấp nhận thanh toán một phần thì phải thông báo ngay cho Ngân hàng đòi tiền biết.

    Trường hợp L/C cho phép đòi tiền bằng chứng từ.

    Khi nhận được chứng từ nước ngoài xác nhận chứng từ phù hợp, thanh toán viên kiểm tra chữ ký được uỷ tiền, kiểm tra nội dung chứng từ. Nếu phù hợp thì trả tiền và giao chứng từ cho khách hàng. Nếu chứng từ không phù hợp với các điền kiện, điều khoản của L/C thanh toán viên phải báo ngay cho người mua những điểm không phù hợp, yêu cầu họ trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo Ngân hàng phải có ý kiến bằng văn bản về bộ chứng từ đó đồng thời phải điện báo cho Ngân hàng chuyển chứng từ  những điểm không phù hợp, trên điện báo phải nêu rõ: Chúng tôi đang giữ chứng từ và chờ sự định đoạt của các ông.

    Đối với các L/C thanh toán có kỳ hạn (L/C trả chậm) sau khi kiểm tra chứng từ nếu phù hợp phải lập biện, thư chấp nhận hối phiếu hoặc ký hậu hối phiếu gửi Ngân hàng chuyển chứng từ 30 ngày trước ngày đến hạn của hối phiếu, phải nhắc khách hàng thanh toán đúng hạn. Nếu đến hạn người mua không có khả năng  thanh toán phải kịp thời báo cáo lãnh đạo phòng để có hướng xử lý.

    Trường hợp chứng từ đến sau hàng hoá, nếu người mua yêu cầu Ngân hàng phát hành bảo lãnh nhận hàng để nhập hàng theo L/C, người mua phải cam kết bằng văn bản trả tiền kể cả khi chứng từ không phù hợp  và thủ tục phí phải theo thủ tục phí hiện hành của Ngân hàng .

    Nếu khách hàng yêu cầu chỉ định Ngân hàng hoàn trả ngay từ khi mở L/C , Ngân hàng sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định có chấp nhận chỉ định Ngân hàng hoàn trả hay không. Trường hợp Ngân hàng hạn chế L/C thanh toán tại một Ngân hàng thương lượng, số tiền tối đa của một L/C là 5 triệu USD hoặc tương đương, Ngân hàng được chỉ định hoàn trả phải là Ngân hàng giữ tài khoản và Ngân hàng đại lý chính của Ngân hàng. Sau khi mở L/C hoàn trả, thanh toán viên tiến hành lập uỷ quyền gửi Ngân hàng hoàn trả bằng SWIFT, bằng telex hoặc bằng thư. Trong trường hợp cần sử đổi hoặc huỷ việc uỷ quyền thanh toán viên phải thông báo ngay cho Ngân hàng được uỷ quyền biết.

    2. Đánh giá hiệu quả

    Để đánh giá hiệu quả của quy trình thanh toán L/C nhập cũng tương tự như quy trình thanh toán L/C xuất phải xem xét dựa trên một số điểm sau:

    – Tính chặt chẽ của quy trình

    + Trong mọi trường hợp khi nhận được thư yêu cầu mở và điều chỉnh L/C của khách hàng, sau khi kiểm tra nội dung theo mẫu quy định của ngân hàng sẽ kiểm tra nguồn vốn và khả năng thanh toán của khách hàng đối với L/C để yêu cầu ký quỹ hoặc xem xét điều kiện miễn giảm ký quỹ theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh.

    + Mặc dù bộ chứng từ gửi hàng đã được ngân hàng gửi chứng từ kiểm tra tính phù hợp so với L/C trước khi chuyển tới song tại các kiểm soát viên vẫn phải kiểm tra lại trước khi thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nếu kiểm tra thấy sai sót sẽ thông báo kịp thời cho các bên liên quan và hoãn việc thanh toán.

    – Sơ hở còn tồn tại trong quy trình thanh toán

    Trường hợp nhà nhập khẩu không chịu nhận chứng từ gửi hàng để lãnh hàng mặc dù bộ chứng từ trên hoàn toàn phù hợp với L/C sẽ gặp phải một số khó khăn nhất định.

    – Sự phù hợp của quy trình thanh toán đối với hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tham gia

    + Thuận tiện

    Mức ký quỹ của khách hàng từ  0% – 100% giá trị thanh toán các mức ký quỹ phổ biến ở được quy định như sau:

    • Các khách hàng không phải ký quỹ mở L/C là những khách hàng tài khoản tiền gửi lớn tại Ngân hàng, Hoạt động kinh doanh ổn định, coa tín nhiệm cao trong thanh toán
    • Các khách hàng ký quỹ 10% – 30% giá trị L/C là trường hợp phổ biến nhất
    • Các khách hàng ký quỹ 100% giá trị L/C là những khách hàng lần đầu đến giao dịch tại Ngân hàng hay tình hình tài chính gần đây không tốt.

    + Bất tiện

    Bộ chứng từ trước khi tới tay nhà nhập khẩu phải được giao cho ngân hàng gửi chứng từ, ngân hàng mở L/C. Tuy nhiên trên thực tế hàng hóa thường tới trước bộ chứng từ gửi hàng và do vậy với quy định trên sẽ dẫn đến khó khăn, thiệt hại cho nhà nhập khẩu do có thể phải chịu chi phí lưu kho nhưng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Đây là môi quan hệ mà Ngân hàng cần quan tâm xem xét để hoàn thiện quy trình thanh toán hàng nhập và nâng cao hiệu quả của công tác trên.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    1. Kiến nghị đối với doanh nghiệp nhập khẩu

    * Thận trọng trong việc lựa chọn đối tác

    Thu thập thông tin về đối tác qua các nguồn khác nhau như ngân hàng, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, báo chí, qua phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.

    * Nâng cao nghiệp vụ ngoại thương và nghiệp vụ thanh toán quốc tế để có thể đảm bảo hiệu quả khi ký kết các hợp đồng ngoại thương.

    * Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tế

    + Đối với nhà nhập khẩu để giảm bớt rủi ro khi mở L/C cần bám sát hợp đồng, ghi rõ ràng cụ thể trách nhiệm giao hàng cung cấp hàng của người bán, đặc biệt điều khoản về hàng hoá, chủng loại, phảm chất, đơn giá phải ngắn gọn, rõ ràng tránh để người bán cố tình hiểu sai.

    1. Kiến nghị với NHTM

    * Ngân hàng có thể giới thiệu cho khách hàng một bộ mẫu chuẩn, đẹp để họ căn cứ vào vào đó lập theo tránh chứng từ sai sót, trình bày lộn xộn, tránh gây phiền hà cho ngân hàng (chỉ càn giới thiệu một làn, sau đó họ có thể tự lập).

    * Khi Ngân hàng  mở L/C thường trước khi bên bán rút tiền theo chứng từ ngân hàng nên liên hệ với người mua để năm vững thông tin bên bán đã giao hàng như thế nà, bên mua có chấp nhận trả tiền không để đè phòng rủi ro. Muốn làm được như vậy Ngân hàng trong vòng 7 ngày phải chỉ ra lỗi chứng từ và thông báo ngay. Đó chính là thời gian Ngân hàng nhận chỉ thị từ người mua.

    * Vận đơn được coi là chứng từ quan trọng của bộ chứng từ. Do đó cần chú trọng với việc kiểm tra và từ chối trong các trường hợp sau: Bảo lãnh xuất trình muộn, không sạch nội dung không đúng quy định, người ký không chỉ rõ năng lực, do công ty vận tải không có tư cách phát hành…

    Trên đây là những giải pháp chung và những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán xuất nhập khẩu bằng thư tín dụng tại Ngân hàng.

    Kết luận :

    Việc hoàn thiện để phát triển hoạt động TTQT có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt động TTQT là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng, trên cơ sở đó ngân hàng tăng được quy mô hoạt động của mình, giúp cho ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo được niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng phát triển được nghiệp vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Nếu hoạt động TTQT được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ TTQT qua ngân hàng.

    Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTQT của các NHTM giúp quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không có đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu bộ chứng từ. Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng. Làm cho việc nhập khẩu của các doanh nghiệp thanh toán thong qua trung gian ngân hàng sẽ trở nên đơn giản và thuận tiện hơn bao giờ hết .


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/C%C3%A1c-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-%C4%91i%E1%BB%81u-ch%E1%BB%89nh-c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam

    +

    Chương 3: Các biện pháp điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế Việt Nam.

    3.1 Phương hướng điều chỉnh cán cân thanh toán

    Các chuyên gia kinh tế cho rằng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam chưa tới mức nghiêm trọng mà vẫn có thể kiểm soát được. Vì các lý do khác nhau mà cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam vẫn chưa bị coi là tình trạng báo động. Lý do thứ nhất, là do các món nợ ngắn hạn của Việt Nam vẫn có thể được trả đúng hạn. Mức độ dự trữ hiện nay là cao hơn so với các năm trước và vì có ít yêu cầu trả các khoản nợ nhỏ ngắn hạn, nên không có thúc bách lớn cần phải dự trữ quốc tế trong ngắn hạn và trung hạn. Các dự trữ đủ lớn với kim ngạch nhập khẩu và sự mất cân đối thương mại của Việt Nam đã có dấu hiệu chứng tỏ được phục hồi. Hơn nữa, các dòng vốn quốc tế được dự báo sẽ trở lại xu thế như trước đây, khi nền kinh tế thế giới khởi sắc trở lại vào năm 2010. Điều quan trọng là Việt Nam vẫn giữ được niềm tin đối với nền kinh tế, đảm bảo làm giảm thiểu sự di chuyển vốn.

    Thứ nhất, Việt Nam có thể xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu cao về nhập khẩu của một số nước, việc áp các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ làm mất tính cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai, việc áp dụng chính sách thương mại thay đổi như vậy có thể dẫn đến tình trạng một số dự án đầu tư có vốn trực tiếp nước ngoài sẽ rút về hoặc đóng băng, vì những dự án này cần nhập khẩu cho đầu vào hoặc công nghệ của họ. Thứ ba, những biện pháp như vậy có thể gây mất lòng tin của nhà đầu tư đối với viễn cảnh kinh tế của Việt Nam. Điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng di chuyển vốn và tạo ra áp lực làm mất giá đồng tiền Việt Nam.

    Tiến sĩ Võ Trí Thành – chuyên gia kinh tế khi nhìn nhận về viễn cảnh kinh tế và tầm nhìn chính sách Việt Nam 2010 cho rằng: Cần phải tính đến việc can thiệp của chính sách vĩ mô trong giai đoạn của khủng hoảng và rút lui ra khỏi khủng hoảng như thế nào ? Vấn đề mất cân đối có mang tính chất bền vững không ? Không có nền kinh tế nào có thể cân đối cả bên trong và bên ngoài, trong nền kinh tế có mức độ đôla hóa như của Việt Nam các chính sách tài khóa và tiền tệ rất khó thống nhất điều này tạo điều kiện cho các nhà đầu cơ tài chính. Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam có vấn đề, nợ nước ngoài tăng nhanh… trong 2 năm qua Việt Nam đã sử dụng quá nhiều biện pháp hành chính nên đặt nền kinh tế hiện tại trong một trạng thái rất khó. Ví dụ: trần lãi suất, trần về thâm hụt ngân sách… các mất cân đối đang diễn ra nghiêm trọng và có xu hướng tăng. Các giải pháp: thắt chặt chính sách tiền tệ, đồng Việt Nam phải được bảo vệ bằng cách tăng lãi suất, nhưng vấn đề đặt ra là tiến độ chính sách là ngay lập tức hay từ từ ?

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực song vẫn còn nhiều mặt hạn chế như áp lực lạm phát tăng cao, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam về hàng hóa xuất khẩu còn kém, mức tiết kiệm trong nước còn rất thấp, thiếu vốn đầu tư, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao, nhập siêu vẫn kéo dài… Tuy cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam đã thặng dư và sẽ tiếp tục thặng dư song cán cân thương mại ngày càng thâm hụt do nhập siêu. Sự thặng dư ở đây là do nguồn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng và lượng kiều hối chuyển về nước cũng tăng mạnh. Mà đối với một nước luôn nhập siêu như Việt Nam hiện nay thì việc cán cân thanh toán thặng dư do thặng dư cán cân vốn bù đắp cho thiếu hụt cán cân vãng lai thì chưa chắc đã là một dấu hiệu tốt. Nếu Việt Nam sử dụng vốn đầu tư ( vốn vay) kém hiệu quả thì nợ quốc gia sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng, gây áp lực phải trả nợ rất lớn đối với Ngân sách Nhà nước. Như vậy, mức thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam có thể tài trợ đư,ợc nhưng chính phủ cũng nên có các biện pháp tích cực để cải thiện cán cân vãng lai nhàm đảm bảo cân đối bên ngoài một cách vững chắc. Nhiệm vụ chính của các chính sách kinh tế Việt Nam hiện nay là phải đảm bảo thiết lập được cả cân đối bên trong và cân đối bên ngoài. Định hướng điều chỉnh cán cân thanh toán của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

    –    Tăng cường hơn nữa thu hút vồn đầu tư nước ngoài bằng cách nâng cao hiệu quả sư dụng vốn nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tăng cường dự trữ ngoại tệ và phục vụ cho phát triển kinh tế.

    –    Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam không thể đảm bảo cân bằng cán cân vãng lai và phải chấp nhận sự thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng vấn đề là phải duy trì được khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai. Tức là phải duy trì khả năng thanh toán của quốc gia. Một yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam là phải tạo ra thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai (không bao gồm các khoản trả lãi) đủ để hoàn trả các khoản nợ hiện tại. Nhưng sự đảo ngược trong các chính sách kinh tế (như một sự thắt chặt đột ngột) kèm theo một sự khó khăn vĩ mô như giảm mạnh các hoạt động kinh tế và tiêu dùng thì sự thiếu hụt cán cân vãng lai của Việt Nam trong hiện tại mới được coi là có khả năng chịu đựng.

    Như vậy trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần phải hạn chế mức độ thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng không để ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và việc làm. Đồng thời cố gắng duy trì và nâng cao khả năng chịu đặng thiếu hụt cán cân vãng lai để không xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán bằng cách cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô trên.

    3.2 Những biện pháp nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán Quốc tế của Việt Nam

    3.2.1 Những biện pháp khuyến khích xuất khẩu

    Chính sách khuyến khích xuất khẩu nhằm mục đích chuyển dịch chi tiêu nước ngoài vào các sản phẩm nội địa. Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu bao gồm: mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm và bỏ thuế xuất khẩu, xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu, cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động xuất khẩu… Tác dụng của các biện  pháp này là làm tăng khối lượng xuất khẩu, làm giảm thâm hụt cán cân thương mại và đồng thời còn làm tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai. Nó cho pháp cán cân vãng lai thiếu hụt lớn mà không dẫn đến một cuộc khủng hoảng bên ngoài nào. Đặc biệt trong điều kiện khủng hoảng kinh tế hiện nay, khuyến khích xuất khẩu lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

    Đẩy mạnh xuất khẩu là cách tốt nhất để Việt Nam có thể cải thiện được cán cân thương mại, đẩy lùi được tình trạng nhập siêu và có nguồn vốn để trả nợ nước ngoài. Hơn nữa vẫn đảm bảo được mục tiêu cân đối bên trong như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và giải quyết việc làm.Trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải đảm bảo tốc độ tăng xuất khẩu lớn hơn tốc độ tăng nhập khẩu để có thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.Chính vì vậy, Chính phủ cần quan tâm đến các biện pháp nhằm khuyến khích xuất khẩu.

    Trong thực tế,hoạt động nhập khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với một số trở ngại.Trở ngại lớn nhất đối với xuất khẩu là các chính sách thuế nhập khẩu,hạn ngạch nhập khẩu..làm mất đi các lợi thế xuất khẩu của Việt Nam. Do hệ thống thuế và hệ thống quản lý thương mại là nhằm sản xuất thay thế hang nhập khẩu và sản xuất các loại hàng hóa,dịch vụ thương mại dẫn đến việc bảo hộ cho những ngành không có hiệu quả. Còn những ngành có lợi thế và khả năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng.Hơn nữa,khi vực kinh tế tư nhân có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì không được đầu tư các nguồn lực thích đáng. Hơn nữa,khu vực kinh tế có nhiều tiềm năng xuất khẩu thì chưa được chú ý phát triển. Thêm vào đó, thị trường xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới đang bị cạnh tranh gay gắt mà sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thì yếu, thì trường thương mại dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của xuất khẩu,tình trạng gian lận trong buôn bán vẫn còn xảy ra. Trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của của Việt Nam thì tỷ trọng hàng thô và sơ chế còn cao, hàng gia công chiếm tỷ trọng lớn.. khiến cho giá trị xuất khẩu chưa cao và không có sức cạnh tranh.Mặt khác,các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn nhiều hạn chế về kỹ thuật kinh doanh, chưa am hiểu đầy đủ về luật pháp và thông lệ quốc tế,chưa có độ nhanh nhạy nắm bắt thông tin thị trường nên dẫn đến việc bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh có lợi,phải chịu những thiệt hại không đáng có trong hoạt động sản xuất..Vậy nên,Chính phủ cần có những biện pháp vừa giải quyết được những khó khăn trở ngại trong hoạt động xuất khẩu lại vừa đẩy nhanh tốc độ tăng xuất khẩu nhằm cải thiện được tình trạng thâm hụt thương mại hiện nay.

    Một số biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới:

    – Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng phát triển,cải tiến chế độ phân phối,chế độ xuất nhập khẩu,tạo ra một sự phân phối nhịp nhàng,chặt chẽ giữa các doanh nghiệp cùng làm nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu với cùng một ngành hàng,không phân biệt đó là doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao vị thế và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Bên cạnh đó,trong tiến trình hội nhập,Việt Nam cần phấn đấu thực hiện những mục tiêu như: đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi với tất cả quốc gia trên mọi lĩnh vực,thúc đẩy tự do hóa thương mại bằng các biện pháp giảm bớt thuế,dần tiến tới phi thuế;hủy bỏ việc cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tăng năng suất lao động,giảm bớt chi phí sản xuất hàng hóa để tăng sức mạnh về giá;đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu,thủ tục đầu tư,thủ tục hải quan,ngoại hối,ngân hàng..

    – Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.Tập trung các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu.Đặc biệt chú trọng những ngành hàng có khả năng tăng trưởng ổn định ,sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu trong nước,đặt yêu cầu năng cao tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa lên hàng đầu,gắn sản xuất với yêu cầu của thị trường về chất lượng và mẫu mã sản phẩm…Đồng thời chuyển dịch mạnh cơ cấu đầu tư theo hướng tăng đầu tư Nhà nước để phát triển các ngành dịch vụ và một số ngành sản xuất với công nghệ cao nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ cho phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế dịch vụ và kinh tế tri thức.

    – Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu,phát triển và đa dạng hóa với những mặt hàng chủ lực,gắn yêu cầu của thị trường đối với tường loại sản phẩm chính.Về đổi mới cơ cấu hàng xuất, Việt Nam cần phải chuyển nhanh và mạnh sang phần lớn hàng chế biến,giảm mức tối đa xuất hàng nguyên liệu và hàng sơ chế.

    – Chính phủ cần quan tâm đến việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng,nhất là các doanh nghiệp trong các ngành chế tạo có định hướng xuất khẩu cao.Hỗ trợ nhiều hơn cho các tổ chức ,doanh nghiệp và cá nhân để phát triển các mặt hàng mới và thị trường mới.

    – Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu.Thực hiện phương châm đa dạng hóa,đa phương hóa thị trường và đối tác,hạn chế việc xuất khẩu một mặt hàng bị phụ thuộc vào một số thị trường,chú trọng các thị trường có sức mua lớn như : Mỹ,EU,Nhật Bản,Trung Quốc,Đông Nam Á..đồng thời tìm cách thâm nhập và gia tăng sự hiện diện của hàng hóa Việt Nam ở các thị trường châu Phi,Mỹ La tinh;tăng cường các hình thức buôn bán hàng đổi hàng…

    – Chính phủ cũng nên tăng cường rà soát và xác định cụ thể những nguyên nhân làm chậm trễ hoặc cản trở việc thực hiện các chính sách hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu để xử lý kịp thời.Đồng thời thực hiện bổ sung,sửa đổi các cơ chế,chính sách,quy định chưa hợp lý;tiếp tục cải cách hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu.

    3.2.2 Những biện pháp nhằm điều tiết nhập khẩu

    Chính sách hạn chế nhập khẩu nhằm mục đích cố gắng dịch chuyển chi tiêu nội địa từ nước ngoài và hàng hóa trong nước. Các biện pháp hạn chế nhập khẩu bao gồm: thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, yêu cầu bắt buộc kết hối ngoại tệ, cấm nhập khẩu, yêu cầu cấp giấy phép nhập khẩu… Tác dụng của biện pháp này là làm giảm số lượng hay giá trị nhập khẩu trong một khoảng thoài gian nhất định. Do đó, ban đầu nó có tác động trược tiếp cải thiện cán cân thương mại nói riêng và cán cân vãng lai nói chung. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân vãng lai lúc ban đầu. Nhưng sau đó, do giảm suất khẩu, người tiêu dùng trong nước sẽ quay sang mua hàng hóa sản xuất trong nước làm tăng tổng cầu đối với nền kinh tế dẫn đến sản lượng và thu nhập quốc dân tăng lên. Thư nhập quốc dân sẽ làm cho nhập khẩu tăng và cuối cùng làm cho sự cải thiện cán cân vãng lai ban đầu giảm đi.

    Song trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, do luồng vốn đầu tư vào trong nước ngày càng tăng mạnh kèm thao nhu cầu nhập khẩu lớn để tăng trưởng kinh tế nên Chính phủ đã phải thực hiện một số nới lỏng trong chính sách hạn chế nhập khẩu. Thêm nữa, Việt Nam đang tăng cường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên việc sử dụng các hạn chế thương mại sẽ dần dần được loại bỏ. Như vậy, trong tương lai, việc sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu sẽ rất khó thực hiện và có thể không thể thực hiện nữa.

    Để vừa đảm bảo các mục tiêu kinh tế, vừa giảm bớt được tình trạng nhập siêu trong giai đoạn hiện nay,Việt Nam cần thực hiện các việc sau:

    • Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    • Khuyến khích gia tăng sử dụng vật tư, thiết bị trong nước đã sản xuất được để tiết kiệm ngoại tệ và pháy triển hàng hóa sản xuất trong nước.
    • Thúc đẩy phát triển sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu như bông, nguyên liệu thuốc lá, ngô, đậu tương, đa nguyên liêu…và áp dụng các công cụ thuế mới nhằm giảm kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này
    • Hạn chế tối đa việc nhập khẩu hàng tiêu dùng và kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu ô tô và linh kiện xe hai bánh gắn máy.
    • Thực hiện chính sách giảm chi ngoại tệ nhập khẩu đối với một số ngành dịch vụ có nhập khẩu các loại trang thiết bị chuyên dụng, thiết bị và vật liệu rẻ tiền nhanh hỏng mà tập trung tạo điều kiện sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu…

    Nói chung, những biện pháp hạn chế nhập khẩu chỉ là tạm thời, hiệu quả không cao và có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. trong tình thế hiện nay, để giảm được thâm hụt thương mại, Việt Nam có thể tập trung vào các biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu thay vì việc tập trung để giảm nhập khẩu như trước đây.

    3.2.3 Biện pháp thu hút chuyển tiền nước ngoài

    Do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,thị trường trong nước và thị trường ngoài nước được mở rộng và gắn kết với nhau nên lượng người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài và lao động xuất khẩu ngày càng tăng lên. Và thực tế cho thấy,số tiền do những người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước luôn là nguồn tài trợ quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra, nguồn kiều hối gửi về Việt Nam đã bị giảm sút do phần còn lại của thế giới cũng lâm vào tình trạng khó khăn. Để có thể khai thác triệt để nguồn ngoại tệ này, Chính phủ cần có những biện pháp nhằm khắc phục một số vướng mắc hiện tại. Các biện pháp có thể áp dụng như thiết lập thêm mấy kênh chuyển tiền mới  giúp cho kiều bào an tâm chuyển tiền,nâng cao chất lượng dịch vụ chuyển tiền,đơn giản hóa các thủ tục có liên quan tới hệ thống ngân hàng,cải thiện môi trường đầu tư,khuyến khích kiều bào tăng cường đầu tư vào thị trường trong nước,tiếp tục thực hiện chính sách thu hút kiều hối thông thoáng…

    Các biện pháp kiểm soát trực tiếp nêu trên đếu có tác dụng làm giảm thiếu hụt cán cân thương mại ,tăng khả năng chịu đựng của cán cân vãng lai nên Việt Nam cần phải chú trọng tới những biện pháp này. Nhất là trong tình hình hiện nay thì việc đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút tối đa luồng kiều hối là hết sức quan trọng. Nó không những cải thiện cán cân vãng lai trong hiện tại mà còn đảm bảo thặng dư cán cân vãng lai trong tương lai giúp thanh toán những khoản nợ nước ngoài,đảm bảo ổn định nền kinh tế.

    3.2.4 Những biện pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nước ngoài

    Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đứng trước hai vấn đề quan trọng có liên quan đến vốn đầu tư để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:

    • Tỷ lệ huy động vốn trong nước thông qua kênh tiết kiệm và các khoản thu của Nhà nước không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư.
    • Tình trạng nhập siêu không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa đất nước dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai và sự thiếu hụt ngoại tệ trong một thời gian dài.

    Cả 2 vấn đề này có thể giải quyết bằng cách thu hút vốn ngoài nước, trong đó có FDI và ODA. Cho nên để tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, cải thiện cán cân thanh toán, Chính phủ nên thu hút các luồng vốn này. Tuy việc thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng, tạo việc làm và tài trợ cho thiếu hụt cán cân vãng lai nhưng cũng sẽ làm tăng thiếu hụt cán cân vãng lai do tăng nhập khẩu và tăng các khoản trả lợi nhuận, lãi vay cho nước ngoài.Do vậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng xuất khẩu giải quyết việc làm, Việt Nam phải chấp nhận thâm hụt cán cân vãng lai trong giới hạn khả năng chịu đựng để không dẫn đến cuộc khủng hoảng bên ngoài.

    3.2.4.1   Thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)

    Trong các luồng vốn nước ngoài vào,đầu tư nước ngoài vào,đầu tư trực tiếp được coi là luồng vốn không tạo ra dư nợ nên Chính phủ cần tập trung khai thác luồng vốn này.Để thu hút được nhiều vốn FDI, Chính phủ có thể thực hiện có biện pháp sau:

    • Tìm kiếm thị trường và đối tác mới: trong khi vẫn coi trọng các thị trường và đối tác hiện nay, mà chủ yếu là Châu Á và các doanh nghiệp vừa,cần mở rộng việc thu hút FDI từ thị trường mới nhất là Mỹ – một nước có tiềm năng lớn và có quan hệ thương mại gia tăng mạnh mẽ với nước ta trong những năm qua.
    • Nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường thế giới: trên cơ sở thường xuyên quan tâm đến việc xếp hạng của các tổ chức quốc tế về năng lực cạnh tranh trong đầu tư của từng nước, cũng như sự đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài đối với nước ta để sửa đổi,bổ sung những nhân tố có liên quan làm cho vị thế nước ta ngày càng cao hơn trong bảng xếp hạng của thế giới.
    • Tạo lập môi trường đầu tư tốt nhất: đảm bảo tính minh bạch và ổn định của luật pháp để các nhà đầu tư có thế tính được xu thế phát triển của dự án đầu tư.Cải cách cơ bản thủ tục hành chính theo nguyên tắc hoạt động đầu tư thuộc quyền của các doanh nghiệp.
    • Nâng cao chất lượng quy hoạch tổng thể thu hút vốn FDI phù hợp và gắn liền với quy hoạch ngành, lãnh thổ, lĩnh vực ưu tiên, mặt hàng chủ lực, khả năng thu hút lao động cao… từ đó lựa chọn dự án khả thi, dự án ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đã được cấp phép triển khai nhanh hoạt động xử lý linh hoạt chuyển đôi các hình thức đầu tư. Ngoài các dự án không cấp phép đầu tư do yêu cầu an ninh quốc gia, cần mở rộng danh mục các dự án cho phép nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn các hình thức đầu tư xuất phát từ hiệu quả kinh doanh.
    • Đáp ứng đủ nguồn vốn đối ứng: Khả năng tiếp cận FDI của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng là nhân tố quyết định đến hiệu quả đầu tư. FDI chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi Việt Nam có khả năng tiếp năng tiếp nhận vốn và ngược lại sẽ bị phụ thuộc vào nước ngoài. Để tiếp nhận hiệu quả vốn FDI đòi hỏi phải có một tỉ lệ vốn đối ứng hợp lý.

    3.2.4.2  Quản lý, sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức(ODA)

    So với FDI, Việt Nam sẽ tiếp nhận nguồn vốn ODA sớm hơn. Nhưng thực chất nguồn vốn ODA là nguồn vốn ưu đãi.vì chỉ có khoảng 10-15%  là viện trợ không hoàn lại. Vì vậy, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn này là hết sức cần thiết.

    Các biện pháp cụ thể là:

    • Sức hấp dẫn của ODA nằm ở chỗ khâu lập hồ sơ nhanh chóng, sát với nhu cầu thực tế, các chủ dự án có năng lực cao. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần giải quyết các vấn đề này để thu hút thêm nhiều ODA phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Công tác vận động vốn ODA cần được đổi mới cơ bản về nội dung và phương pháp thực hiện, chú trọng khâu lập dự án nghiên cứu khả thi bảo đảm chất lượng trước khi đàm phán. Trong quá trình vận động tổ chức vốn cần xuất phát từ lợi ích tổng thể quốc gia, hiệu quả công việc trên cơ sở nâng cao tính chủ động của phía Việt Nam với bên nước ngoài, cần mạnh dạn chối bỏ các nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
    • Thực hiện nghiêm chỉnh các nghi quyết của Đảng và Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cả những côngty lớn trong hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt. Một khi chính những công ty nhà nước đã thực hiện đa sở hữu hóa thì đây chính là một động lực để thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn ODA.
    • Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn quan trọng này, bao gồm cả yêu cầu về giải ngân, Chính phủ cần đổi mới công tác tổ chức điều hành các dự án công trình quan trọng quốc gia có sử dụng nguồn vốn ODA. Đối với những công trình, hạng mục công trình quan trọng nên tổ chức đấu thầu chọn chủ dự án, công trình, mà tốt nhất là doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa hay công ty cổ phần có vốn góp của nhà nước. Vốn đối ứng để thực hiện dự án công trình, ngoài ngân sách nhà nước, cần huy động thêm từ xã hội thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu công trình.
    • Nâng cao nhận thức và thống nhất quan điểm về vốn ODA. Nếu coi là nguồn viện trợ thuần túy thì dẫn đến sử dụng kém hiệu quả, lãng phí, không tră được nợ và cuối cùng bị lệ thuộc vào bên ngoài. Viện trợ không hoàn lại cần đựoc quản lý như đối với nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho đầu tư phát triển, phần vay ưu đãi được hạch toán bù đắp bội chi ngân sách nhà nước, kiên quyết không vay cho chi thường xuyên.
    • Để cải thiện tình hình giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA, chính phủ cũng cần tiếp tục cải thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo môi trường rõ ràng hơn và thuận lợi hơn cho quản lý và sử dụng ODA.

    3.2.5 Tăng tiết kiệm

    Như phần trên đã phân tích, chúng ta biết rằng thiếu hụt cán cân vãng lai bằng lỗ hổng tiết kiệm và đầu tư của 1 quốc gia. Đối với Việt Nam thì lỗ hổng này chủ yếu xuất phát từ khu vực tư nhân. Chính vì vậy, để giảm thâm hụt cán cân vãng lai đòi hỏi chính phủ phải có các biện pháp nhằm tăng cường tiết kiệm quốc gia, đặc biệt là tiết kiệm tư nhân. Mặt khác, nếu chính phủ thu hút được nguồn vốn này để phục vụ cho đầu tư trong nước thì sẽ giảm đựoc vay vốn nước ngoài. Giảm vay vốn đầu tư nước ngoài sẽ giảm được nhập khẩu, do đó giảm được thâm hụt thương mại và giảm bớt các khoản nợ nước ngoài.

    Hiện tại, Việt Nam chủ yếu thu hút các nguồn tiết kiệm tư nhân thông qua hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm. Song lượng tiền gửi vào chưa nhiều và phần lớn các luồn tiền gửi vào ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn. Kết quả là trong thực tế, Việt Nam là thiếu vốn trung và dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, ngân hàng cần tích cực thu hút các luồng vốn trung và dài hạn bằng cách khuyến khích phát triển thị trường trái phiếu.

    Để đạt được ti lệ tích lũy cao hơn, Chính phủ cần phải cải thiện môi trường tổng thể sao cho thuận lợi hơn, cải thiện khuôn khổ các biện pháp khuyến khích và cần có 1 chiến lược phát triển dựa trên xuất khẩu để tăng mức thu nhập. Ngoài ra, nâng cao vai trò quan trọng ccủa nhà nước trong việc duy trì môi trường với lãi suất thực dương; đảm bảo về mặt pháp lý cho tính chất toàn vẹn lâu dài của các quyền về tài sản và sở hữu của caỉ vật chất; điều chỉnh tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát ở mức hợp lý để cho người gửi tiền tiết kiệm có thể yên tâm về giá trị lâu dài của đồng tiền; xây dựng 1 hệ thống ngân hàng an toàn và lành mạnh để người dân yêu tâm gửi tiền; và một hệ thống thuế công bằng, hợp lý không de dọa tịch thu tiết kiệm và của cải trong tương lai.

    3.2.6 Giảm chi tiêu

    3.2.6.1 Sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.

    Ngoài những biện pháp kiểm soát trực tiếp, để điều chỉnh cán cân thanh toán,các chính phủ còn có thể sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô như các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Chính sách tiền tệ liên quan đến cung tiền của NHTƯ của một nước và chính sách tài khóa liên quan đến những thay đổi trong chi tiêu Chính phủ và thuế quan. Việc sử dụng hai chính sách này vẫn đảm bảo được cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Tuy nhiên, để có thể phát huy một cách có hiệu quả các chính sách kinh tế vĩ mô cho việc thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế,yêu cầu phải có thị trường tài chính và đặc biệt phải tự do hóa về tài chính.

    Theo quan điểm của Mundell ,trong điều kiện tự do hóa thương mại và tài chính với chế độ tỷ giá cố định,cân đối bên trong và bên ngoài có thể đạt được thông qua chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý. Như vậy là chính sách tài khóa được phân cho mục tiêu cân đối bên trong và chính sách tiền tệ được phân cho mục tiêu cân đối bên ngoài (vì chính sách tiền tệ có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên ngoài và chính sách tài khóa có lợi thế tương đối trong thực hiện cân đối bên trong). Trên cơ sở đó, Mundell đã đưa ra một số gợi ý chính sách điều chỉnh như sau:

    Chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm thiết lập cân đối bên trong và bên ngoài.

    Trạng thái nền kinh tế Chính sách tiền tệ Chính sách tài khóa
    Thất ngiệp và thặng dư

     

    Lạm phát và thặng dư

    Lạm phát và thâm hụt

    Thất nghiệp và thâm hụt

    Mở rộng

     

    Mở rộng

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

     

    Thắt chặt

    Thắt chặt

    Mở rộng

    NHTW điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ điều chỉnh như: nghiệp vụ thị trường mở,tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,lãi suất triết khấu… Chính phủ điều hành chính sách tài khóa thông qua biện pháp tăng hoặc giảm chi tiêu của chính phủ và thuế.

    Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng tức là tăng cung tiền bằng cách mua vào các trái phiếu trên thị trường mở,dẫn đến giá trái phiếu tăng và mức lãi suất giảm; lãi suất giảm kích thích đầu tư tăng;đầu tư tăng làm tăng thu nhập quốc dân; thu nhập quốc dân tăng làm tăng nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm cho cán cân thanh toán xấu đi.

    Ngược lại, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt tức là giảm cung tiền bằng cách bán ra các trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến giá trái phiếu giảm và mức lãi suất tăng : lãi suất tăng kìm hãm đầu tư; đầu tư giảm làm giảm thu nhập quốc dân ; thu nhập quốc dân giảm làm giảm nhập khẩu. Như vậy ,chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm cho cán cân thanh toán được cải thiện.

    Còn khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng tức là tăng chi tiêu của chính phủ bằng cách bán ra trái phiếu trên thị trường mở, dẫn đến tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của chính phủ. Tuy nhiên ,chính sách tài khóa mở rộng cũng không hẳn làm cho cán cân thanh toán xấu đi. Do chính phủ bán trái phiếu ra nên giá trị trái phiếu giảm và lãi suất tăng;lãi suất tăng dẫn đén giảm đầu tư;điều này phần nào làm giảm đi hiệu ứng tăng thu nhập thông qua thừa số chi tiêu của Chính phủ ;đồng thời lãi suất tăng sẽ kích thích luồng vốn chảy vào làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Tương tự ,khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt cũng vậy,nó không hẳn làm cho cán cân thanh toán được cải thiện. Do việc khó xác định được chính xác ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên cán cân thanh toán cho nên tùy thuộc vào từng thời kỳ cụ thể mà các nước cần có sự kết hợp hài hòa giữa các chính sách tài khóa và tiền tệ .

    Đối với tình hình Việt Nam hiện nay,các chính sách tiền tệ và tài khóa cần phải đảm bảo cả mục tiêu cân đối bên trong và mục tiêu cân đối bên ngoài. Do đó,Chính phủ có thể áp dụng các chính sách cụ thể như sau:

    Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là mở rộng tiền tệ. Việc tăng cung tiền sẽ được thực hiện chủ yếu thông qua tăng dự trữ quốc tế (do cán cân thanh toán thặng dư) và tăng số nhân tiền bằng cách thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc .Kết hợp vói giảm lãi suất để duy trì cung tiền bằng cầu tiền. Cụ thể:

    • Tăng dự trữ quốc tế phù hợp với yêu cầu tăng nhập khẩu phục vụ phát triển kinh tế ,đồng thời có tác dụng hạn chế việc tăng giá đồng Việt Nam khi thu hút vốn nước ngoài và hạn chế được tốc độ tăng lạm phát.
    • Giảm lãi suất để hạn chế thu hút vốn ngắn hạn và tăng vốn đầu tư trong nước.
    • Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ý nghĩa là giảm thuế đánh vào hệ thống ngân hàng, có tác dụng giảm lãi suất nội địa và giảm chênh lệch lãi suất cho vay. Do đó ,nó đảm bảo vừa tăng được đầu tư vừa khuyến khích được tiết kiệm trong nước.

    Chính sách tài khóa mở rộng hiện nay là: Giảm thuế suất và mở rộng diện nộp thuế;tăng chi tiêu đầu tư và xã hội để xây dựng cơ sở hạ tầng,xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục đồng thời hạn chế chi tiêu thường xuyên .Thiếu hụt NSNN được bù đắp bằng cách Chính phủ bán công trái và trái phiếu kho bạc .Cụ thể:

    –      Mở rộng diện thu thuế là cần thiết để tăng thu ngân sách vì Việt Nam còn nhiều nguồn thu bị bỏ qua như thu thuế,phí từ thị trường đất đai,bất động sản,thu nhập cá nhân…

    –      Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,việc để thuế giá trị gia tăng,thuế suất nhập khẩu cao là không hợp lý làm triệt tiêu động lực của sản xuất ,giảm sức cạnh tranh.Việc giảm thuế này về dài hạn sẽ thu lại nguồn thu lớn nhờ sản xuất được mở rộng.

    –       Để phát triển kinh tế bền vững lâu dài,cần tăng chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ,giáo dục,xóa đói,y tế,môi trường… Đồng thời trong ngắn hạn đây cũng là một biện pháp làm tăng tổng cầu và giải quyết việc làm.

    –     Bán công trái và trái phiếu kho bạc sẽ có tác dụng thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân làm tăng tiết kiệm tư nhân.

    Mặc dù tác động cải thiện cán cân vãng lai không rõ ràng nhưng chính sách tiền tệ và tài khóa lại có tác dụng cải thiện các chỉ số kinh tế vĩ mô đảm bảo cho khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai để tránh không gây ra một cuộc khủng hoảng bên ngoài như chỉ số: tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng ;tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa/GDP tăng ,tỷ giá đồng nội tệ giảm phù hợp với tỷ giá thực…

    3.2.6.2 Biện pháp điều chỉnh tỷ giá

    Thực tế cho thấy, các hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia phụ thuộc vào cơ cấu hàng xuất khẩu của quốc gia đó. Qua phân tích, chúng ta thấy rằng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là những mặt hàng thô, sơ chế, những mặt hàng chế biến chiếm tỷ trọng nhỏ. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều phụ thuộc vào nhu cầu trên thị trường thế giới và giá cả do thị trường thế giới quyết định. Do đó, Việt Nam có giảm giá các mặt hàng này cũng không thể tăng được số lượng xuất khẩu và tăng giá thì không xuất khẩu được. Còn những mặt hàng  công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam thì chủ yếu là hàng gia công, nguyên liệu đầu vào phàn lớn phải nhập khẩu và có giá trị gia tăng thấp. Do đó nếu Việt Nam phá giá đồng nội tệ thì cũng không giảm được giá xuất khẩu đối với những mặt hàng này. Có thể nói, hệ số co giãn nhu cầu hàng xuất khẩu của Việt Nam là rất thấp và gần như không co giãn nên việc phá giá sẽ không làm tăng được doanh thu xuất khẩu của Việt Nam. Đối với hàng nhập khẩu của  Việt Nam cũng vậy, hệ số co giãn nhu cầu nhập khẩu là rất thấp, thậm chí là không co giãn ở Việt Nam. Vì hiện nay Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nên rất cần nhập khẩu các máy móc thiết bị, phụ tùng và nguyên nhiên liệu ( trong nước không sản xuất được). Đây cũng chính là những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam. Do đó, việc phá giá đồng nội tệ cũng không thể giẩm bớt những chi phí nhập khẩu của Việt Nam.

    Như vậy là việc phá giá đồng nội tệ ở Việt Nam hoàn toàn không có tác dụng cải thiện can cân thương mại cả trong ngắn hạn và dài hạn, không đẩy nhanh được tốc độ tăng trưởng kinh tế, không giải quyết được thất nghiệp. Không những thế,  phá giá đồng nội tệ còn làm cho lạm phát ở Việt Nam tăng cao. Vì vậy, khi xem xét vấn đề phá giá đồng Việt Nam cho việc thanh toán các khoản nợ nước ngoài, ảnh hưởng không tốt đến quá trình công nghiệp hóa đất nước( do hạn chế nhập khẩu)… Trong bói cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, chính phủ không nên phá giá đồng nội tệ.

    Một số biện pháp về chính sách tỷ giá trong thời gian tới mà Việt Nam cần thực hiện là:

    • Chính sách tỷ giá phải giữ vững thế cân bằng nội và cân bằng ngoại.
    • Ổn định tỷ giá trên mối tương quan cung cầu trên thị trường xuất khẩu,kích thích xuất khẩu,hạn chế nhập khẩu,cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trự ngoại tế.
    • Từng bước nâng cao uy tín VNĐ,tạo điều kiện cho VNĐ có thể trở thành đồng tiền chuyển đổi.
    • Phối hợp với chính sách ngoại hối để chống hiện tượng đô la hóa.

    Ngoài ra ,Chính phủ cần hoàn thiện hơn chính sách ngoại hối để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế vừa thúc đẩy các hoạt động thương mại,dịch vụ,du lịch,kiều hối,đầu tư,…nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: GIẢI BÀI TẬP MÔN TIỀN TỆ THANH TOÁN QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-theo-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-t%C3%ADn-d%E1%BB%A5ng-ch%E1%BB%A9ng-t%E1%BB%AB.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

    LỜI CẢM ƠN

     

    Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và tập thể cán bộ phòng thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

     

     

     

    Sinh viên

     

     

    Đỗ Thị Thúy Mai

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng. Sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã  đòi hỏi qúa trình thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên.

    Sau thời gian thực tập tại phòng Thanh toán quốc tế – Sở giao dịch I ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (SDG I – NHĐT&PTVN), em nhận thấy tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất hiện nay.  Bởi lẽ nó đáp ứng được nhu cầu của hai phía: Người bán hàng đảm bảo nhận tiền, người mua nhận được hàng và có trách nhiệm trả tiền. Đây là  phương thức tín  dụng quốc tế được áp dụng phổ biến và an toàn nhất hiện nay, đặc biệt là trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu.

    Trong năm qua SGD I – NHĐT&PTVN đã không ngừng đổi mới và nâng  cao các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ  tốt cho khách hàng, đáp ứng  nhu cầu thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng. Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó, hình thức thanh toán tín  dụng chứng từ ngày càng được phát triển và hoàn thiện hơn.

    Xuất phát từ vấn đề nêu trên, Em muốn đi sâu  nghiên cứu đề  tài: “Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ” (Nghiên cứu tại SGD I – NHĐT&PTVN) nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I – NHĐT&PTVN. Đồng thời tìm ra giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD I.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương:  Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ.

    Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng

    chứng từ tại SGD I – NHĐT&PTVN.

    Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGD I –

    NHĐT&PTVN.

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

     

    1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ.

    1.1.1 Khái niệm:

    Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một số nước mà hoạt động mua bán đã lan rộng ra khắp các nước, các khu  vực trên  toàn thế giới. Vì vậy, một nghiệp vụ mới ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó. Đó là: “ Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.

    Như vậy,thanh toán quốc tế là việc chi trả cá nghĩa vụ tiền tệ phát sinh trong các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau.

    1.1.2. Các điều kiện thanh toán quốc tế.

    Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế.

    Mặt khác, nghiệp vụ Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện Thanh toán quốc tế. Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồng mua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người  bán.

    Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm: Điều kiện tiền tệ, điều  kiện  về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện về phương thức thanh toán.

    Điều kiện tiền tệ:

    Trong thanh toán quốc tế các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của một nước nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền tệ. Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợp đồng

    ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước. Đồng thời điều kiện này cũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động. Người ta có thể chia thành hai loại tiền sau:

    • Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thể

    hiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng.

    • Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợ nần, hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền của  nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy định thanh toán của nước thứ

    Điều kiện về địa điểm thanh toán:

    • Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa các bên. Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩu hay có thể là một nước thứ
    • Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán. Sở dĩ như vậy vì thanh toán tại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến ngày mới phải chi tiền, đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu, hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuển vốn nhanh nếu là người xuất khẩu, hay có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thế giới…
    • Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán là nước ấy.

    Điều kiền về thời gian thanh toán:

    Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với  việc luân chuyển  vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán. Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.

    Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:

    • Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay một phần tiền hàng sau khi hai bên ký kết hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu chấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu.
    • Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu hoàn hành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc  sau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
    • Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho gnười xuất khẩu sau một

    khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.

    Điều kiện về phương thức thanh toán:

    Đây là điều kiện quan trọng nhất trong hoạt động thanh toán quốc  tế.  Phương thức thanh toán là cách mà người mua trả tiền và  người bán thu tiền về  như thế nào. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau. Tuỳ từng điều  kiện cụ thể mà người mua và người bán có thể thoả thuận để xác định phương thức thanh toán cho phù hợp.

    1.1.3. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại.

    a.     Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại (KTĐN).

    Thanh toán quốc tế là khâu then chốt, cuối cùng để khép kín một chu trình mua bán hàng hoá hoạc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau.

    Thanh toán quốc tế là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, nếu  không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại. Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Việc tổ chức Thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tam và đẩy mạnh hoạt động XNK của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.

    Đồng thời, hoạt động Thanh toán quốc tế góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng thanh

    toán của người mua gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác Thanh toán quốc tế thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.

    Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có tốt hay không. Thanh toán quốc tế  tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá.

    b.     Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.

    Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng. Nó không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

    • Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển  thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
    • Thứ hai, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ Thanh toán quốc tế qua ngân hàng.
    • Thứ ba, giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ đó Ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác.
    • Thứ tư, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thông qua lượng tiền ký quỹ.Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng khách hàng cụ thể. Song xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát  sinh một cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán,

    ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, thậm

    chí có thể sử dụng để kinh doanh,đầu tư ngắn hạn để kiếm lời.

    • Hơn thế nữa, hoạt động thanh toán quốc tế còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.

    Có thể nói, trong xu thế ngày nay hoạt động Thanh toán quốc tế có vai trò  hết sức quan trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động KTĐN nói chung. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụ Thanh toán quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

    1.1.4. Các phương thức thanh toán quốc tế.

    a.     Phương thức chuyển tiền.

    • Định nghĩa:

    Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (Người trả  tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người  khác (Người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển  tiền cho khách hàng theo yêu cầu.

    *   Các bên tham gia

    • Người yêu cầu chuyển tiền(Remitter): là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Họ thườg là người nhập khẩu, mắc nợ hoắc có nhu cầu chuyển vốn.
    • Người thụ hưởng (Beneficicary): là người nhận được số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng. Họ thường là gười xuất khẩu, chủ nợ hoặc nói chung là người yêu cầu chuyển tiền chỉ định.
    • Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng phục vụ người chuyển tiền.
    • Ngân hàng trả tiền (Paying bank):là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng.Thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh ngân hàng chuyển tiền và ở nước người thụ hưởng.

    *   Quy trình thực hiện

    Sơ đồ 1: trình tự nghiệp vụ chuyển tiền

     

           
           
     
    NH Đại lý
    NH Chuyển tiền

    (3)

    (2)                                                                                                                   (4)

    Người hưởng
    Người chuyển

    (1)

    (1): Giao dịch thương mại.

    (2): Người mua sau khi nhận hàng tiến hành viết đơn yêu cầu chuyển tiền ( bằng thư hoặc bàng điện)cùng với uỷ nhiệm chi(nếu có tài khoản mở tại ngân hàng) gửi đến ngân hàng phục vụ mình.

    (3): Ngân hàng chuyển tiền kiểm tra chứng từ nếu thấy hợp lệ thì tiến hành chuyển tiền qua ngân hàng dại lý.

    (4): Ngân hàng đại lý tiến hành chuyển tiền chongười hưởng lợi.

    *  Trường hợp áp dụng.

    • Phương thức chuyển tiền được áp dụng trong trường hợp trả tiền hàng hoá xuất khẩu nước ngoài, thường là khi nhận đầy đủ hàng hoá hoặc chứng từ gửi hàng.
    • Thanh toán hàng hoá trong lĩnh vực thương mại và các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá, chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu thương mại, chuyển kiều hối

    *  Các yêu cầu về chuyển tiền.

    • Muốn chuyển tiền phải có giấy phép của Bộ chủ quản hoặc Bộ Tài chính, hợp đồng mua bán ngoại thương, giấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu, bộ chứng từ, UNC ngoại tệ và phí chuyển tiền.
    • Trong đơn chuyển tiền càn ghi đầy đủ tên, địa chỉ của người hưởng lợi,số tài khoản nếu người hưởng lơi yêu cầu,số ngoại tệ,loại ngoại tệ,ý do chuyển tiền và những yêu cầu khác ,sau đó ký tên và đóng dấu.

    b.     Phương thức nhờ thu.

    • Định nghĩa:

    Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng sẽ uỷ thác cho Ngân hàng của mình thu hộ số tiền từ người mua trên cơ sở chứng từ lập ra.

    Đây là phương thức thanh toán an toàn hơn so với phương thức chuyển tiền. Tuy nhiên phương thức này có thể mang lại rủi ro cho người bán trong trường hợp người mua có thể đơn phương huỷ hợp đồng. Ngân hàng thu không chịu trách nhiệm trong trường hợp này. Họ chỉ việc chuyển chứng từ thông báo cho  người  bán trong trường hợp người mua không trả tiền. Chính vì vậy, phương thức thanh toand này không được sử dụng phổ biến , nó chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.

    *  Trường hợp áp dụng.

    Thứ nhất, người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau, hoặc giữa công ty mẹ công ty con, hoặc giữa các chi nhánh của cùng một công ty với nhau.

    Thứ hai, hàng mua bán lần đầu mang tính chất chào hàng. Thứ ba, hàng ứ đọng khó tiêu thụ.

    *  Các bên tham gia gồm 4 bên:

    • Người nhờ thu là bên giao chỉ thị nhờ thu cho một ngân hàng, thông thường là người xuất khẩu, cung ứng dịch vụ.
    • Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng mà người nhờ thu đã giao chỉ thị nhờ
    • Ngân hàng thu là bất kỳ một ngân hàng nào ngoài ngân hàng chuyển tiền

    thực hiện quá trình nhờ thu.

    • Người trả tiền là người mà chứng từ xuất trình đòi tiền anh ta,là người nhập

    khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng( người mua).

    * Các hình thức của phương thức nhờ thu.

    Theo loại hình người ta có thể chia thành nhờ thu phiếu trơn, và nhờ thu kèm chứng từ.

    – Nhờ thu phiếu trơn:

    Đây là phương thức thanh toán trong đó người người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ  gửi hàng thì gửi thẳng cho cho người mua không qua Ngân hàng.

    Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu phải trải qua các bước sau:

    (1): Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mu, họ sẽ lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán kiểm tra chứng từ, sau đó  gửi thư uỷ thác  nhờ thu kèm hối phiếu cho ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu trả tiền ngay)

    hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu).

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ. Nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển lại cho người bán. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên.

    Sơ đồ 2 : Trình tự nhờ thu phiếu trơn.

     

     

     
       
    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

    (4)

    (1)                (4)                                                                  (4)                  (3)

           
           

    Gửi hàng & Chứng từ

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn chỉ áp dụng trong các trường hợp người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty

    mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau. Hoặc trong trường hợp thanh toán về

    các dịch vụ có liên quan tới xuất khẩu hàng hoá.

    Phương thức nhờ thu phiếu trơn không áp dụng thanh toán nhiều trong mậu dịch và nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán. Đối với người mua, áp dụng phương thức này cũng gặp nhiều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không.

    Nhờ thu kèm chứng từ:

    Đây là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ và bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì Ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng.

    Sơ đồ 3: Trình tự nhờ thu kèm chứng từ

     

     

    NH thu & xu ất trì nh ch ứng từ
    NH Chuyển chứng từ

    (2)

           
           

    (4)

    (1)              (4)                                                                    (4)                 (3)

    Người mua
    Người bán

    Gửi hàng

     
       

    (1): Người bán sau khi gửi hàng cho người mua, lập bộ chứng từ nhờ ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo.

    (2): Ngân hàng phục vụ người bán uỷ thác cho ngân hàng đai lý của mình ở  nước người mua nhờ thu tiền.

    (3): Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền. Ngân hàng chỉ trao chứng từ

    gửi hàng cho người mua nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu.

    (4): Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho nguời bán thông qua ngân hàng chuyển chứng từ.

    Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bàn ngoài việc nhờ thu hộ tiền còn có việc nhờ ngân hàng khống chế chứng từ vận tải đối với người mua.  Với cách  khống chế này thì quyền lợi người bán được đảm bảo hơn.

    Tuy nhiên, nó có nhược điểm là người bán không khống khế được việc trả tiền của người mua, người mua có thể kéo dài thời gian tả tiền  khi thấy tình hình  thị trường bất lợi cho họ hay việc trả tiền tiến hành quá chậm chạp.Mặt khác, Ngân hàng chỉ đóng vai trò là trung gian thu tiền hộ, chứ không có trách nhiệm đến việc trả tiền của người mua.

    c.  Thanh toán biên giới.

    * Định nghĩa.

    Thanh toán biên giới là hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tại khu

    vực biên giới đường bộ các nước.

    Đặc điểm của thanh toán biên giới.

    Thanh toán biên giới có những đặc điểm sau:

    • Đồng tiền sử dụng trong thanh toán biên giới là đồng nội tệ, đồng tiền của nước có chung biên giới và đồng ngoại tệ mạnh.
    • Phương thức giao dịch được sử lý trực tiếp giữa hai Ngân hàng, không phải sử dụng thanh toán quốc tế qua mạng.
    • Ngân hàng được phép hoạt động thanh toán biên giới được trực tiếp giao dịch mở tài khoản, thực hiện các nghiệp vụ liên quan với Ngân hàng nước có  chung biên giới.

    Điều kiện của thanh toán biên giới.

    • Ngân hàng được thực hiện thanh toán biên giới trên cơ sở các điều kiện

    sau:

    • Chính phủ, ngân hàng Nhà nước đã cho phép ngân hàng đó thanh toán biên

    giới với nước bạn.

    • Đã có hiệp định hoặc văn bản pháp lý được ký kết chính thức giữa ngân hàng đó với ngân hàng nước bạn.
    • Ngân hàng đó có đủ cán bộ có trình độ cần thiết về chuyên môn, ngoại ngữ

    và công cụ phương tiện làm việc giao dịch với ngân hàng bạn.

    d.  Tín dụng chứng từ (L/C).

    Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng thương mại hiện nay. Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of Credit, Credit, Document Credit. ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có các tên khác như L/C, thư tín dụng …Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ.

    Vậy tín dụng chứng từ là gì?

    1.2. TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CHỦ YẾU

    VÀ QUAN TRỌNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

    1.2.1. Định nghĩa:

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một  Ngân  hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người  yêu cầu  mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.

    1.2.2. Các bên tham gia.

    Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng

    từ gồm 4 bên.

    Thứ nhất là người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người mua, người nhập

    khẩu hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác.

    Thứ hai là người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán, người xuất khẩu.

    Thứ ba là ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là Ngân hàng phát hành L/C, là Ngân hàng phục vụ người mua.

    Thứ tư là ngân hàng thông báo (Advising Bank): là Ngân hàng ở nước người hưởng lợi.

    Ngoài ra, trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: Ngân hàng xác nhận (Congiring Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank)…

    1.2.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Sơ đồ 1. Trình tự nghiệp vụ thanh toán L/C.

    Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
    Ngân hàng phát hành (Issing Bank)

    (3)

     
       

    (6)

    (7)

    (2)        (8)        (9)                                        (4)          (6)      (7)

    (1)

    Người yêu cầu mở

    L/C

    (5)

    Người thụ hưởng

    (Benificiary)

    • : Trong quá trình thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu, người xuất khẩu và người nhập khẩu ký hợp đồng thương mại với nhau. Nếu người xuất khẩu yêu cầu thanh toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ thì trong hợp đồng thương mại phải có điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
    • : Người nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng thương mại lập đơn xin mở L/C

    tại Ngân hàng phục vụ mình.

    • : Ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra xem đơn mở thư tín dụng đó đã hợp lệ hay chưa. Nếu đáp ứng đủ yêu cầu Ngân hàng sẽ mở L/C và thông báo qua Ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu về việc mở L/C và chuyển 1 bản gốc cho người xuất khẩu.
    • : Khi nhận được thông báo về việc mở L/C và 1 bản gốc L/C, Ngân hàng thông báo chuyển L/C cho người thụ hưởng.
    • : Người xuất khẩu khi nhận được 1 bản gốc L/C, nếu chấp nhận nội dung L/C thì sẽ tiến hành giao hàng theo đúng quy định đã ký kết trong hợp đồng. Nếu không họ sẽ yêu cầu Ngân hàng chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của mình rồi mới tiến hành giao hàng.
    • : Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phát hành thông  qua Ngân hàng thông báo để yêu cầu được thanh toán. Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng được chỉ định thanh toán được xác định trong L/C.
    • : Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp  với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ sơ  cho người xuất khẩu.
    • : Ngân hàng phát hành giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người xuất

    khẩu và yêu cầu thanh toán.

    • : Người phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ và tiến hành hoàn trả tiền cho

    ngân hàng.

    • Trên đây là toàn bộ trình tự nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phương thức

    tín dụng chứng từ.

    1.2.4. Thư tín dụng.

    a.     Khái niệm:

    Thư tín dụng là một phương tiện rất quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ. Nếu không mở thư tín dụng thì phương thức thanh toán này không thể xác lập được và người xuất khẩu sẽ không giao hàng cho người nhập khẩu.

    Vậy thư tín dụng là gì?

    Thư tín dụng là một bức thư do Ngân hàng lập ra trên cơ sở yêu cầu của khách hàng, trong đó Ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu họ xuất trình đầy đủ bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng.

    b.  Vai trò.

    Thư tín dụng là một văn bản mang tính pháp lý nó là căn cứ pháp lý để Ngân hàng quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở  để  người mua có trả tiền cho Ngân hàng hay không. Ngoài ra thư tín dụng là một công cụ hiệu quả trong việc cụ thể, chi tiết, hoàn thiện hoá những nội dung mà hợp đồng chưa bàn tới, khắc phục những sai sót, những điều khoản không có lợi trong hợp đồng nếu xét thấy việc huỷ hợp đồng là có lợi.

    Thư tín dụng có vai trò rất quan trọng như vậy vì tuy được thành lập trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi được mở nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.Điều này có nghĩa là khi thanh toán, các ngân hàng chỉ căn cứ vào các bộ chứng từ phù hợp mà thôi. Tính chất độc lập tương đối của thư tín dụng đã  chi  phối toàn bộ các khâu của quá trình thanh toán, quy định toàn bộ nghĩa vụ của các bên tham gia.

    Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng.

    c.  Nội dung của thư tín dụng.

    Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Một thư tín dụng có thể có những điều khoản sau:

    • : Số hiệu, địa điểm, và ngày mở L/C.
    • : Tên và địa chỉ của những người có liên quan tới phương thức tín dụng

    chứng từ.

    • : Số tiền của L/C.

    Số tiền của L/Cvùa được nghi băng số ,vừa được nghi bằng chữ và phải  thống nhất với nhau. Đồng thời, tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng.

    • : Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C.

    Thời hạn hiệu lực

    Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp  với những điều kiện ghi trong L/C.Thời hạn hiệu lựuc L/C bắt đầu tính từ  ngày mở  L/C đến ngày hết hiệu lực L/C.

    Thời hạn trả tiền của L/C

    – Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc  quy định của hợp đồng.

    Thời hạn trả tiền có thể nằm trong hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.

    Thời hạn giao hàng.

    Thời hạn giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.

    • : Những nội dung về hàng hoá như: Tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả,

    quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…cũng được ghi trong L/C.

    • : Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng (FOB, CIF, CFR…), nơi gửi và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng.
    • : Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là một nội dung then

    chốt của L/C, bởi vì bộ chứng từ quy định trong L/C là một bằng chứng của

    người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định của L/C. Do vậy, Ngân hàng phải tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C.

    • : Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C, đây là nội dung cuối cùng của L/C. Nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C. Ngân hàng cam kết sẽ trả tiền khi người xuất khẩu trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ.
    • : Những điều khoản đặc biệt khác.

    (10): Chữ ký của Ngân hàng mở L/C.

    L/C thực chất là một khế ước dân sự, do vây, người ký  nó cũng phải là  người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện quan hệ dân luật.

    d.   Hình thức thư tín dụng (L/C).

    Có rất nhiều cách phân loại thư tín dụng. Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại khác nhau.

    • Theo loại hình người ta có thể chia làm hai loại là L/C có thể huỷ ngang

    và L/C không huỷ ngang.

    L/C có thể huỷ ngang.

    • Đây là loại L/C mà người yêu cầu mở có toàn quyền đề nghị Ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó mà không cần báo trước cho người hưởng lợi biết (Đương nhiên là việc huỷ bỏ phải được thực hiện trước khi L/C thanh toán).
    • Như vậy, L/C có thể huỷ ngang thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, loại thư tín dụng này không đảm bảo được quyền lợi của người bán vì người mua có thể đơn phương huỷ bỏ L/C. Chính vì vậy ngày nay loại L/C này ít được sử dụng trong thương mại quốc tế.

    L/C không thể huỷ ngang.

    Đây là loại L/C  mà sau khi  mở  thì mọi  việc liên quan đến sửa đổi, bổ  xung

    hoặc huỷ bỏ nó Ngân hàng phát hành chỉ có thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả

    thuận của các bên có liên quan. Vì thế quyền lợi của người bán được đảm bảo. Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không có nghĩa không thể huỷ bỏ.  Trong trường hợp các bên đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó được công nhận là không còn giá  trị thực hiện. Đây là loại L/C được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc  tế ngày nay.

    • Theo phương thức sử dụng người ta phân chia L/C thành nhiều loại khác

    nhau.

    L/C không huỷ ngang có giá trị trực tiếp.

    Đây là loại L/C mà chứng từ được yêu cầu xuất trình trực tiếp để thanh toán tại Ngân hàng phát hành. Do vậy, thời hạn hiệu lực sẽ kết thúc tại Ngân hàng phát hành.

    Trong thư tín dụng này sẽ không thể hiện điều khoản chiết khấu và chỉ định ngân hàng chiết khấu. Mặc dù thư tín dụng không có giá trị chiết khấu và cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành chỉ có giá trị duy nhất đối với người hưởng, ngân hàng chuyển chứng từ cũng có thể ứng tiền cho khách hàng nếu chứng từ  hoàn toàn hợp lệ.Sau khi nhận được chứng từ hợp lệ,ngân hàng phát hành chuyển trả tiền cho người hưởng theo chỉ dẫn của ngân hàng chuyển chứng từ.Vai trò của ngân hàng chuyển chứng từ là bảo vệ quyền lợi của người hưởng và cũng chính là bảo vệ quyền lợi của chính mình nếu họ đã chiết khấu chứng từ.

    L/C không huỷ ngang, miễn truy đổi.

    • Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang mà sau khi thụ hưởng sẽ được hoàn tiền thì Ngân hàng mở không có quyền đòi lại tiền trong bất kỳ tình huống nào.
    • Khi sử dụng loại thư tín dụng này, người xuất khẩu phải ghi trên hối phiếu

    “Miễn truy hồi người ký phát” đồng thời thư tín dụng cũng phải ghi như vậy.

    L/C không huỷ ngang và có xác nhận.

    Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được một Ngân hàng khác đảm

    bảo trả tiền cho người thụ hưởng theo yêu cầu của Ngân hàng mở thư tín dụng đó.

    Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán, và đương nhiên phải thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận.Trên thực tế, nhu cầu thư tín dụng này phụ thuộc nhiều yếu tố song chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm và tình hình tài chính của ngân hàng mở thư tín dụng.

    L/C tuần hoàn.

    Đây là loại L/C mà sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực lại có

    giá trị như cũ và được trực tiếp sử dụng sau một thời gian nhất định.

    Thư tín dụng tuần hoàn được chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng,số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.Đồng thời, cũng phải quyđịnh số dư của hạn nghạch L/C dùng chưa hết lần trước được hay lhông được cộng dồn vào hạn nghạch  L/C  sử dụng lần kế tiếp.

    L/C với điều kiện “Đỏ”.

    Đây là loại L/C mà theo đó người mở L/C cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay sau khi thư tín dụng được mở. Hai bên đối tác phải có quan hệ làm ăn lâu dài và uy tín. Phía nhập khẩu phải là công ty đủ vốn, phía xuất khẩu phải có nguồn  hàng hoá, sản xuất nhưng thiếu vốn.

    Với điều kiện Đỏ, ngân hàng phát hành cam kết ứng một số tiền nhất định( khoảng 30 hoặc 50% trị giá L/C)khi nhận được các chứng từ, thông thường là: hối phiếu của số tiền ứng trước,hoá đơn, cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận.

    L/C dự phòng.

    Là loại thư tín dụng được phát hành với mục tiêu nhằm trực tiếp bảo vệ

    quyền lợi cho bên mua.

    Bên mua yêu cầu bên bán thông qua ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng dự phòng cho bên mua hưởng.Trong trường hợp bên bán vi phạm hợp đồng thương mại đã ký kết gây thiệt hại cho họ thì ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán đền bù những thiệt hại đó.

    L/C chuyển nhượng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang mà Ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn bộ một phần số tiền của thư  tín dụng cho một người hay nhiều người theo  lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Một thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư tín dụng phải ghi”có thể chuyển nhượng được”.Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ được thực hiệnmột lần cho thư tín dụng đó.

    L/C giáp lưng.

    Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của một thư tín dụng khác đã được mở trước.Loai thư tín dụng này thường được sử dụng nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu.Vieeecj vận hành nói chung khá phức tạp,đặc biệt là những điều kiện về thời hạn,về bộ chứng từ…

    L/C đối ứng.

    Là loại L/C không thể huỷ ngang chỉ bắt đầu có giá trị hiệu lực khi L/C đối ứng với nó đã được mở ra, thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng, ngoài ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thức gia công.Tuy nhiên việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp.

    1.2.6. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ.

    a.  Ưu điểm.

    Đối với người mua.

    Phương thức thanh toán L/C giúp người mua  có thể mở rộng nguồn cung  cấp hàng hoá cho mình mà không phải tốn thời gian, công sức trong việc tìm đối  tác uy tín và tin cậy. Bởi lẽ, hầu hết các giấy tờ chứng từ đều được Ngân hàng đối tác kiểm tra và chịu trách nhiệm hoàn toàn về sai sót này. Người mua được đảm  bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trả tiền hàng. Ngoài ra,  các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.

    Đối với người bán.

    Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ chứng từ hợp lệ. Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Người bán sau khi giao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C  sẽ được thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh toán. Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng vốn trong thời gian thanh toán.

    Đối với Ngân hàng phát hành.

    Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng thu được các khoản phí thủ tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền khá lớn (Khi có ky quỹ). Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được một số  nghiệp vụ  khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ… Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trương tài chính quốc tế được củng cố và mở rộng.

    b.  Nhược điểm.

    Có thể nói, thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ là hình thức  thanh toán an toàn và phổ biến nhất trong thương mại quốc tế hiện nay. Hình thức này có nhiều ưu việt hơn hẳn các hình thức thanh toán quốc tế khác. Tuy nhiên, nó cũng không tránh khỏi những nhược điểm.

    • Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên nhân để từ chối thanh toán. Đối với Ngân hàng phát hành, sai sót trong  việc kiểm tra chứng từ cũng dẫn đến hậu quả rất lớn.
    • Với các phương thức thanh toán quốc tế đề cập ở trên, việc lựa chọn phương thức nào trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng đối với các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện hầu hết các hình thức nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế khách quan cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức mà phương  thức thanh toán theo tín dụng chứng từ hiện là phương thức thanh toán phổ biến tại các Ngân hàng thương mại Việt

    v

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

    TẠI SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

     

     

    2.1.  GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SGDI-NGÂN HÀNG ĐT&PT VN

    2.1.1.   Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của SGDI-ngân hàng

    ĐT&PT VN

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam ( NHĐT&PTVN ) là một trong  bốn ngân hàng quốc doanh lớn nhất Việt Nam với 100 chi nhánh tại các tỉnh thành phố, gần 5000 cán bộ, quan hệ đại lý với hơn 500 ngân hàng trong và ngoài nước, cùng với 45 năm hình thành và phát triển, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nói chung và sự lớn mạnh của hệ thống ngân hàng VN nói riêng.

    Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt  Nam với tư cách là một NHTM của  Nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng nhiệm vụ Nhà nước giao. Vì vậy cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Ngân hàng đã có những bước thay đổi có tính chất lịch sử nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ mới đề ra. Ngày 26/4/1957, theo quyết định số 177- TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập với nhiệm vụ chính là cấp phát vốn xây dựng đầu tư cơ bản theo kế hoạch Nhà nước.

    Năm 1981, với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý vốn xây dựng đầu tư cơ bản, Chính phủ ra quyết định 259- CP chuyển Ngân hàng  Kiến  thiết trực thuộc Bộ Tài Chính sang trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng  Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập. Nhiệm vụ của Ngân hàng là cho  vay vốn đầu tư cho các công trình XDCB không do NSNN cấp và cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh  vực XDCB, bên cạnh hoạt động  cho vay từ nguồn vốn do Ngân sách cấp.

    Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân hàng đổi

    mới theo mô hình đa năn và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư và

    phát triển Việt Nam ( BIDV ) với chức năng nhiệm vụ sau:

    • Huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
    • Nhận vốn ngân sách cấp để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước.
    • Kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh

    vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.

    Từ năm 1995 hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được giao hoàn toàn cho Tổng Cục đầu tư bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạch Nhà Nướcl

    Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt

    động như một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Quyết  định này chính thức đưa NHĐT&PT chính thức trở thành một bộ phận trong hệ thống NHTM, tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các hình thức huy động vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố vị thế của mình trên thị trường góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

    Đến nay, sau 45 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước, NHĐT&PTVN trở thành Ngân hàng có uy tín lớn trong nước và quốc tế, ngày càng khẳng định vị thế một trong bố  NHTM chủ chốt của nền  kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như sự phát triển và thành đạt của các doanh nghiệp VN nói riêng.

    SGD I là đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN , hạch toán nội bộ trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, trụ sở đặt tại tầng 1 và tầng 2 toà nhà số 53 phố Quang Trung, Hà Nội.

    Sở giao dịch I được thành lập theo thông báo 572 TCBB/ĐT ngày  26/12/1990 của vụ tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy Ngân

    hàng ĐT & PT và theo quyết định349 QĐ/NH5 ngày 16/10/1997 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về điều lệ phê chuẩn tổ chức hoạt động của NHĐT&PTVN.

    Các chức năng chủ yếu của Sở giao dịch I:

    SGD I được huy động vốn trung và dài hạn , ngắn hạn bằng VNĐ và  ngoại  tệ từ nguồn trong và ngoài nước dưới các hình thức chủ yếu sau:

    –    Nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi thanh

    toán của tất cả các tổ chức, dân cư.

    –    Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu dưới tên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và các loại giấy tờ có giá khác.

    • Vay vốn của các Tổ chức tín dụng trên các thị trường.

    Các nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ ngân hàng chủ yếu Sở giao dịch I

    thực hiện là:

    • Cho vay ngắn trung dài hạn theo cơ chế tín dụng hiện hành.
    • Chiết khấu các hình thức có giá.
    • Các nghiệp vụ bảo lãnh.

    Trực tiếp thực hiện hoặc làm đại lý cho thuê tài chính theo sự  uỷ  nhiệm của Tổng giám đốc hoặc Công ty cho thuê Tài chính Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngoại hối.
    • Dịch vụ thanh toán trong và ngoài nước.
    • Tham gia đấu thầu mua trái phiếu, tín phiếu chính phủ, trái phiếu Ngân hàng Nhà nước tổ chức khi được Giám đốc cho phép.
    • Dịch vụ tư vấn cho khách hàng.

    SGD I là nơi thử nghiệm đầu tiên cho những cơ chế chính sách, dịch vụ mới của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam. Từ khi thành lập  SGD không ngừng  phát triển góp phần không nhỏ vào sự thành công cũng như mở rộng uy tín về hệ thống ngân hàng.

    2.1.2.    Mô hình hoạt động kinh doanh của SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN.

     

    Về cơ cấu tổ chức, hiện nay SGDI có trụ sở chính tại 53 Quang Trung – Quận Hai Bà Trưng-HN. Có 14 phòng ban với hơn 200 cán bộ công nhân viên và 14 đơn vị trực thuộc. Ban giám đốc gồm giám đốc và 3 phó giám đốc.

    SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC SGDI – NHĐT&PT VIỆT NAM:

     
       

     

    2.1.3.   Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003 của SGDI-Ngân hàng

    ĐT&PT VN.

    Năm 2002 là một năm có nhiều biến động đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế đất nước nói riêng.Trước tình hình đó, NHĐT&PTVN đã có định hướng hoạt động phát triển cho toàn ngành như tích cực cơ cấu lại tài sản Nợ

    – Có theo hướng bền vững, xử lý nợ quá hạn tồn đọng, chú trọng phát triển dịch vụ Ngân hàng và huy động vốn…

    Với tinh thần nỗ lực phấn đấu theo định hướng của ngành , năm 2002, SGD đã đạt được những kết quả chính sau:

    a. Hoạt động nguồn vốn-Huy động vốn.

    Công tác nguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng giúp ban giám đốc quản lí sử dụng nguồn vốn hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo an toàn, sinh lợi. Bước đầu thực hiện việc kinh doanh tiền tệ nhằm tăng thêm thu nhập cho Ngân Hàng.

    Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2001 đạt 3.193.859 triệu đồng, trong đó tiền gửi khách hàng và phát hành kì phiếu, trái phiếu đạt 1.007.182 triệu, chiếm 21% nguồn vốn của SGD.

    Năm 2002, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạt  tổng nguồn vốn huy động của sở đạt 5.339.022 triệu, tăng 67.2% so với năm 2001, Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 35.6%. Trong năm, cùng với toàn hệ thống, Sở Giao Dịch đã thực hiện phát hành trái phiếu đợt 3 năm 2002 theo chỉ  định của NHĐT&PTVN với tổng số huy động được gần 397 tỉ đồng (USD là 93%) chiếm gần 30% số trái phiếu huy động đợt 3 của toàn nghành, đưa số dư huy động trái phiếu đạt hơn 1265 tỉ VND (bao gồm cả ngoại tệ qui đổi), tăng 5.2%  so  với đầu năm, cải thiện cơ cấu kì hạn của nguồn vốn huy động.

    Đến 31/12/2003, nguồn vốn huy động là 6.650.856 triệu, tăng 24.6% so với năm 2002, trong đó huy động vốn dân cư tăng 17.8%, tiền gửi khách hàng tăng

    31.5% giữ vững được thị phần huy động vốn của sở, góp phần tạo một nền vốn tương đối ổn định cho hoạt động Ngân Hàng .

    b.  Hoạt động tín dụng

    Trên cơ sở nguồn huy động vốn như trên Sở cũng đã thực hiện hàng loạt  danh mục đầu tư, cho vay theo đúng tính  chất của một Ngân hàng hiện đại, đáp  ứng phần nào nhu cầu vốn, của các doanh nghiệp, của nền kinh tế. Ví dụ tín dụng ngắn, trung, dài hạn, cho vay theo kế hoạch Nhà nước, cho vay uỷ thác, làm trung gian giải ngân vốn ODA, FDI, cho vay đồng tài trợ.

    Tình hình tín dụng của Sở giao dịch I

    (Đơn vị: tỷ đồng)

    Chỉ tiêu Năm

     

    2001

    Năm 2002 Năm 2003
    Dư nợ ± (%) Dư nợ ± (%)
    1.Cho vay NH 565 939 374 166 1.310 371 140
    2.Cho vay T-DH 547 726 179 133 1.813 1.087 250
    3.Cho vay KHNN 2.147 2.491 344 116 1.027 -1.464 41
    4.Cho vay uỷ thác ODA 409 357 -48 87 388 31 109
    5.Cho vay TCTD khác 10 43 33 430 381 338 888
    6.Cho vay đồng tài trợ 381 342 41 90 305 -37 89
    Tổng 4.059 4.897 838 121 5.224 327 107

    ( Nguồn: Phòng Nguồn vốn kinh doanh, SGDI-NHĐT&PTVN)

    Với nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm. Sở giao dịch cũng đã thực hiện tốt công tác sử dụng và quản lý vốn, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Tính đến 31/12/2003, dư nợ tín dụng là 5224 tỷ, tăng 7% so với 31/12/2002 tương đương với 327 tỷ đồng.

    Trong tổng số dư nợ đó thì lượng nội tệ đạt 2.677 tỷ đồng chiếm 51.25% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ bằng ngoại tệ (đổi sang VND) là 2547 tỷ VND chiếm  48,75% tổng số dư nợ cho vay.

    + Tín dụng ngắn hạn: đều tăng nhanh qua các năm, nhất là nội tệ. Doanh số cho vay trong năm 2003 là 1310 tỷ. Trong năm ngân hàng đặc biệt chú trọng đến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách hàng mới, chú trọng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Đến 31/12/2003 dư nợ  tín dụng ngắn hạn ngoài quốc doanh đạt 117 tỷ VND. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thực hiện chính sách khách hàng trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá khách

    hàng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồng khung, hợp đồng hạn mức tín dụng thường xuyên cả bằng VND và ngoại tệ đối với các tổng công ty, các khách hàng có quan hệ thường xuyên, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn bảo đảm an toàn tín dụng, áp dụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giao dịch.

    Kết quả là có nhiều khách hàng có doanh số và dư nợ thường xuyên lớn như: PETROLIMEX, công ty dệt Hà Nội, công ty FPT, LILAMA, tổng công ty cơ khí xây dựng…

    + Tín dụng trung và dài hạn thương mại:

    Xác định đây là hoạt động chủ yếu của Sở giao dịch khi tín dụng T-D hạn  giảm dần, ngay từ đầu năm 2003, Sở giao dịch đã triển khai tích cực công tác tín dụng đầu tư, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, tiếp xúc và làm việc với các doanh nghiệp nhanh chóng làm hoàn thiện hồ sơ để có thể ký hợp đồng tín dụng. Doanh số cho vay trong năm 2003 đạt gần 2000 tỷ VND, trong đó doanh số cho  vay bằng VND đạt gần gấp 3 lần và doanh số cho vay ngoại tệ đạt gần gấp 4 lần doanh số cho vay trong năm 2002 đưa số dư tín dụng trung và dài hạn thương mại chiếm gần 42% tổng dư nợ. Các dự án lớn như: nhà máy xi măng CHINFON Hải Phòng, tổng công ty Sông Đà…

    +Tín dụng kế hoạch nhà nước:

    Ta thấy rằng tín dụng kế hoạch nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho thị trường, nó chiếm đến hơn 50 % vào các năm 2001,2002 nhưng sang năm 2003 thì dư nợ tín dụng đối với kế hoạch  nhà nước chỉ còn 1027 tỷ VND giảm 1464 tỷ VND hay giảm 59% so với năm 2002 và chiếm 20%.

    + Phần tín dụng với các tổ chức tín dụng khác cũng tăng một cách đáng kể. Năm 2001 đạt 10 tỷ VND chiếm 0,25% trong tổng tín dụng sang năm 2002 dư nợ này tăng lên 43 tỷ VND tốc độ tăng đến 330 % chiếm 0,88%, sang năm  2003 dư  nợ đạt 381 tỷ VND tăng 788% chiếm 7,3%.

    + Với các khoản cho vay đồng tài trợ ta thấy: doanh số giảm liên tục qua các năm. Cụ thể năm 2001 đạt 381 tỷ VND, sang năm 2002 chỉ còn 342 tỷ VND giảm 10%, sang năm 2003 đạt 305 tỷ VND giảm 11% so với năm 2002

    c.  Hoạt động Thanh toán quốc tế .

    Năm 2003, SGDI tiếp tục mở rộng các nghiệp vụ Thanh toán quốc tế. Cuối năm 2003 ngân hàng đã có quan hệ đại lý và thanh toán với hơn 690 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài.Tuy nhiên, hoạt động thanh toán XNK năm  2003 lại có chiều hướng giảm so với năm 2002.

    Bảng 3: Doanh số Thanh toán xuất nhập khẩu của SGDI:

    Nội dung Số phát sinh tăng
    Năm2001 Năm 2002 Năm 2003
    Sốmón Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    ( 1000 USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    I. L/Cnhập khẩu 850 165,000 1.200 290,000 750 123,000
    II. L/C xuất khẩu 550 35,000 800 75,000 700 ,47,500
    Doanh số Thanh toán quốc tế 550,000 680,000 650,000
    Doanh số XNK 360,000 400,000 450,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2001,2002,2003 của SGDI – NHĐT&PTVN

    Về nhập khẩu, năm vừa qua ngân hàng đã mở được 750 L/C trị giá 123 triệu

    USD,giảm 57% so với năm 2002.

    Về xuất khẩu, ngân hàng đã gửi chứng từ đòi tiền và thanh toán được 700

    món, trị giá 47,5 triệu USD, giảm 36% so với năm 2002.

    Về hình thức nhờ thu, ngân hàng đã thu 230 món, trị giá 6,2 triệu USD, giảm

    72% so với năm 2002.

    Như vậy, trong năm 2001, doanh số Thanh toán Quốc tế Sở đã đạt được 550triệu USD, tăng 18%. Năm 2002, doanh số đó đã tăng 23%, tức là đạt được 680 triệu USD.Bước sang năm 2003 doanh số Thanh toán quốc tế chỉ đạt 650 triệu  USD, giảm 4,4% so với năm 2002, nhưng doanh số XNK lại tăng 12,5% so với  năm 2002.

    Năm 2003, tỷ giá giữa đồng USD, đồng EURO và đồng VN  không ngừng  tăng trong khi giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng giảm mạnh như cà phê,gạo và các mặt hàng nông sản khác làm cho xuất khẩu chậm. Bên cạnh đó, bài học Mỹ kiện Việt Nam bán phá giá cá Basa và Tôm đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức và sức ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại  nhập gây tâm lý cho nhiều doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng làm cho nguồn ngoại tệ vốn đã khan hiếm từ năm 2002 thì sang năm 2003 lại càng khó khăn hơn.Thấu hiểu những khó khăn của doanh nghiệp cũng là khó khăn của ngân hàng nhất là trong Thanh toán quốc tế nên SGD đã tìm nhiều biện pháp khắc phụcnhằm cung ứng đủ lượng ngoại tệ cần thiết cho doanh nghiệp thanh toán nhập khẩu.Do đó phần lớn các nhu cầu về ngoại tệ trong năm đều được đáp ứng đầy đủ, không để xảy ra tình trạng thanh toán chậm.

    Kết quả trong năm qua, doanh số XNK của SGD đã tăng từ 400 Triệu USD năm 2002 lên 450 Triệu USD (tăng 12.5%). Có được kết quả khả quan như vậy là nhờ có sự cố gắng của toàn thể cán bộ nhân viên và ban Giám đốc SGD.Bên cạnh đó,SGD đã phát hành nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ(kể cả nhân dân tệ)và tổ chức   thanh toán mậu biên nhằm đảm bảo thuận lợi cho khách hàng có qua hệ với Trung Quốc.

    2.1.4.   Hoạt động của phòng Thanh toán quốc tế.

    Cùng xu thế phát triển mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của các  doanh nghiệp, đầu năm 1999 phòng Thanh toán Quốc tế trước đây trực  thuộc Trung  Ương đã tách ra thành trực thuộc SGD I. Bước đầu phòng đã gặp rất nhiều  khó khăn do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, máy móc thiết bị lạc hậu, thêm vào đó, bản thân các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu cũng chưa có những cán bộ am hiểu về Thanh toán Quốc tế cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức thanh toán này. Vì  vậy, để hoạt động Thanh toán quốc tế của ngân hàng diễn ra  một cách an toàn, hiệu quả và  tuân thủ những quy định của pháp luật về Thanh  toán quốc tế, bản thân SGD đã tự xác định hoạt động Thanh toán quốc tế phải phù hợp với thông lệ về thanh toán do phòng thương mại quốc tế(ICC) ban hành như

    UCP500, URR525, URC522 cùng các quy định của pháp luật, Chính phủ, NHNN Việt Nam và các hiệp định, thoả thuận quốc tế mà tổng giám đốc  NHĐT&PTVN đã ký kết.

    Tuy nhiên, do hoạt động trên địa bàn Hà Nội, một địa bàn đầy khó khăn  phức tạp với sự tồn tại của nhiều ngân hàng thương mại trong và ngoài nước nên hoạt động Thanh toán quốc tế của SGD vấp phải sức ép cạnh tranh rất lớn. Song  với quan điểm cho rằng cạnh tranh là động lực của sự phát triển nên trong quá trình hoạt động ban lãnh đạo Ngân hàng đã chỉ đạo sát sao mọi nghiệp vụ ngân hàng,  một mặt không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng như tư vấn miễn  phí cho khách hàng khi mở L/C, giảm thiểu các thủ tục không cần thiết  gây phiền hà cho khách hàng khi thực hiện các dịch vụ Thanh toán Quốc tế, mặt khác Ngân hàng còn không ngừng nâng cao trình độ cho cán bộ thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn , dài hạn về ngoại ngữ, nghiệp vụ Thanh toán Quốc tế, tăng số lượng cán bộ của phòng lên 13 người để xử lý công việc được nhanh hơn, không ngừng đầu tư phát triển hệ thống Thanh toán Điện tử, củng cố và mở rộng các quan hệ đại lý với các Ngân hàng nước ngoại trong khu vực và trên Thế giới. Do đó, hoạt đông Thanh toán quốc tế dần được củng cố và hoàn thiện.

    Nhiệm vụ chính của phòng là thực hiện các hoạt động thanh toán Quốc tế và thực hiện Bảo lãnh nước ngoài. Trong đó hoạt động thanh toán theo phương thức Tín dụng chứng từ vẫn chiếm ưu thế hơn so với nhưng phương thức khác. Có thể nói,tuy hoạt động chưa lâu nhưng với tinh thần phục vụ hết mình cho khác hàng  nên phòng Thanh toán quốc tế –SGDI NHĐT&PTVN rất được khác hàng tín nhiệm.Hàng năm đội ngũ cán bộ của phòng đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của toàn SGD.

    2.2.  THỰC TRẠNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI SGDI-NHĐT&PTVN.

    Năm 2003, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,24%, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 17 tỷ, tăng 12% so với năm 2002.

    Nhập khẩu đạt trên 20 tỷ đồng, tăng 20,1% so với năm 2002.

    Cùng với sự phát triển nền kinh tế đất nước, trong những năm qua , SGDI đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán, đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán L/C để phục vụ tốt cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu  cầu thanh toán hàng hoá XNK qua SGD, từ đó ngân hàng đã thu dược nhiều kết  quả đáng khích lệ.

    2.2.1.   Thực trạng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ.

    Hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ cho hàng hoá nhập khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN không những đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn góp phần nâng cao uy tín của hệ thống NHĐT&PT Việt Nam.

    Thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đang là một hoạt động chủ yếu của phòng thanh toán quốc tế Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.Bởi lẽ:

    • Trước hết, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức Thanh toán quốc

    tế phổ biến và an toàn nhất trong điều kiện hiện nay.

    • Thứ hai, hầu hết khách hàng có giao dịch thanh toán với SGD chỉ chuyên kinh doanh hàng nhập khẩu.
    • Thứ ba, do đặc điểm kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay đã có những bước

    phát triển mới, giao lưu thương mại quốc tế đã tăng lên nhiều lần.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI được diễn ra theo một trình tự nhất định theo quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI –NHĐT&PTVN.

    Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.

    Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương  thức tín dụng chứng từ yêu cầu ngân hàng mở L/C thì phải gửi đến ngân hàng một bộ hồ sơ bao gồm:

    • Thư yêu cầu mở L/C. Trong thư khách hàng phải điền đầy đủ, chính xác

    các thông tin phù hợp với thư yêu cầu của mình.

    • Bản sao có xác nhận sao y bản chính của khách hàng ( ký, đóng

    dấu).Khách hàng chịu trách nhiệm pháp lý về việc sao y từ văn bản chinhd .

    • Hợp đồng nhập khẩu .
    • Văn bản cho phép nhập khẩu của bộ thương mại hoặc cơ quan chủ quản

    quản lý chuyên nghành.(đối với ngành hàng kinh doanh có điều kiện)

    • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số XNK.(đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên
    • Vào bìa hồ sơ L/C.

    Sau khi tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, thanh toán viên tiến hành kiểm  tra hồ sơ mở L/C, kiểm tra nội dung thư yêu cầu mở L/C. Nếu nộidung không rõ ràng, các điều kiện, chỉ thị có sự mâu thuẩn, thanh toán viên sẽ hướng dẫn khách hàng hoàn chỉnh trước khi mở L/C. Thanh toán viên không tự đông sửa chữa hoặc bổ sung các chi tiết thay khách hàng. Thư yêu cầu mở L/C phải có đầy đủ chữ ký của chủ tài khoản và kế toán trưởng.

    Khi kiểm tra hồ sơ xong nếu thấy phù hợp thanh toán  viên sẽ  tiến hành xác định mức ký quỹ.

    -Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng, cán bộ tín dụng theo dõi khách hàng sẽ đề suất mức ký quỹ, phụ trách phòng tín dụng ký và trình lãnh đạo duyệt.

    -Đối với khách hàng không có quan hệ tín dụng thì Giám đốc sẽ giao cho phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế đề suất mức ký quỹ,sau đó trình lãnh đạo duyệt .

    Sau khi xác định mức ký quỹ, khách hàng phải chuyển đủ số tền vào tài khoản ký quỹ trước khi mở L/C. Trưởng phòng kế toán sẽ xác định số tiền ký quỹ và ký tên.

    Tiếp theo thanh toán viên sẽ tiến hành kiểm tra nguồn vốn thanh toán L/C.

    -Nếu khách hàng đề nghị thanh toán  L/C hoàn toàn bằng vốn tự có với mức

    ký quỹ thấp hơn 100% trị giá l/C, cán bộ tín dụng hoặc thanh toán viên sẽ xem xét

    và đề xuất với lãnh đạo( trong truờng hợp khách hàng có quan hệ tín dụng). Sau đó phụ trách phòng tín dụng hoặc phòng Thanh toán quốc tế ký và trình duyệt lãnh  đạo trên cơ sở các điều kiện cụ thể.

    -Nếu khách hàng đề nghị vay vốn ngân hàng để thanh toán L/C số tiền còn  lại sau khi ký quỹ bằng vốn tự có:

    + Phòng tín dụng sẽ xét duyệt mức cho vay theo chế độ tín dụng hiện hành của Tổng giám đốc NHĐT&PTVN.

    +Nếu đồng ý vay ngân hàng và khách hàng sẽ ký sẵn đơn xin vay, giấy nhận nợ nhưng để trống ngày nhận nợ. Ngày ngân hàng thanh toán bộ chứng từ là ngày hạch toán nhận nợ vay và được ghi vào giấy nhận nợ.

    +Trong hồ sơ thanh toán bằng vốn tín dụng phải có đơn xin vay, khế ước nhận nợ. Lưu ý rằng, khách hàng mở L/C chính là người ký đơn xin vay, giấy nhận nợ để thanh toán L/C đó.

    Mở L/C nhập khẩu .

    Khi hồ sơ của khách hàng đã có đầy đủ các diều kiện, thanh toán viên sẽ tién

    hành mở L/C theo trình tự.

    -Đăng ký số tham chiếu L/C.

    -Chọn ngân hàng thông báo/ ngân hàng thương lượng.

    -Đưa dữ liệu vào máy vi tính để mở thư yêu cầu của khách hàng.

    -L/C phải dẩn chiếu UCP500 nếu mở băng Telex hoặc thư. Nếu mở bằng

    SWIFT thì không cần.

    -Hạch toán nội bảng số tiền ký quỹ hoặc lập phiếu báo nợ gửi tới bộ phận kế toá, nhập ngoại bảng số tiền mở L/C, thu phí mở L/C theo quy định hiện hành của NH ĐT&PTVN.

    -Chuyển toàn bộ hồ sơ cùng điện mở L/C trình phụ trách phòng, báo cáo  trình lãnh đạo ký duyệt.

    -Giao một bảng gốc cho khách hàng có dấu chữ ký của lãnh đạo SGD.

    Sửa đổi L/C.

    Trong quá trình giao dịch, nếu khách hàng có nhu cầu cần sửa đổi một số nội dung trong L/C thì họ sẽ xuất trình thư yêu cầu sửa đổi L/C( theo mẫu in sẵn của ngân hàng ) kèm theo văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán(nếu có).

    Căn cứ theo yêu cầu của khách hàng thanh toán viên phát hành sửa đổi  và  gửi ngân hàng thông báo.

    Trong trường hợp có ý kiến của người hưởng lợi về sửa đổi L/C, trong nội dung phảo ghi rõ:”Trong vòng 2 ngày làm việc nếu không nhận được ý kiến gì từ phía các Ngài, sửa đổi này coi như được chấp nhận”.Nếu phí sửa đổi do người hưởng lợi chịu, trong sửa đổi L/C phải ghi rõ :” phí do người hưởng lợi chịu và sẽ được trừ khi thanh khoản”.

    Sau đó thanh toán viên sẽ chuyển hồ sơ cùng điện sửa đổi L/C trình  phụ  trách phòng, báo cáo lãnh đạo ký duyệt và giao một bản gốc cho khách hàng.

    .Xử lý điện đòi tiền của ngân hàng nước ngoài.

    Sau khi nhận được L/C và các sửa đổi có liên quan, người bán sẽ tiến hành giao hàng và lập bộ chứng từ thanh toán gửi đến ngân hàng thông qua ngân hàng của người bán. Tại SGD sau khi nhận điện, in bảng kê điện đã nhận, phụ trách phòng xem xét rồi giao cho thanh toán viên. Thanh toán viên kiểm  tra điện đòi  tiền.

    +Nếu phù hợp, thanh toán viên kiểm tra nguồn tiền thanh toán L/C đồng thời thông báo ngay cho khách hàng và gửi phòng tín dụng ( nếu thanh toán bằng vốn tín dụng) về việc ngân hàng nước ngoài đòi tiền để cho vay, hạch toán ngày nhận nợ.

    Tiếp theo thanh toán viên trả tiền bằng điện SWIFT rồi trích ký quỹ, thu phí , hạch toán xuất ngoại bảng số tiền thanh toán, rút số dư trên bìa hồ sơ L/C. Thanh toán viên chuyển toàn bộ điện trả tiền, các chứng từ liên quan và hồ sơ L/C trình phụ trách phòng ký duyệt.

    +Nếu điện báo không phù hợp, thanh toán viên phải gửi thông báo cho khách hàng kèm một bản sao điện của ngân hàng nước ngoài thông báo chứng từ không phù hợp, yêu cầu khách hàng trong vòng 3 ngày làm việc phải có ý kiến bằng văn bản để SGD trả lời ngân hàng nước ngoài.Nếu khách hàng chấp nhận sai sót và

    đồng ý thanh toán thì ngân hàng tiến hành thanh toán. Nếu khách hàng không chấp nhận sai sót, ngân hàng sẽ lập điện từ chối thanh toán theo mẫu SWITF, trình phụ trách phòng báo cáo lãnh đạo SGD ký gửi ngân hàng nước ngoài.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thự hiện thống nhất theo quy định

    thông nhất của NHĐT&PTVN, cụ thể như sau:

    Phí sửa đổi L/C                                                    :10$

    Phí bảo lãnh nhận hàng không kèm vận đơn  :30$

    (Thu thêm 20$ nếu không hoàn trả bảo lãnh sau một tháng kể từ ngày ký) Phí huỷ L/C                                                                               :10$

    Phí phạt trả chậm                                                :150% lãi sất vay ngoại tệ /số

    ngày trả chậm.

    b.  Hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Thanh toán hàng nhập khẩu là một trong những nghiệp vụ rất được SGDI_NHĐT&PTVN quan tâm và dần hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của hoạt động này.Mặc dù quy mô còn nhỏ bé nhưng SGD đã thực sự  khẳng định được vị  trí và chỗ đứng vững chắc của mình trong quá trình thực hiện nghiệp vụ này.

    Để có thể thấy được những kết quả mà SGDI-NHĐT&PTVN đã đạt được trong năm qua, chúng ta hãy cùng xem xết tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng này.

    Bảng 4: Giá trị L/C được mở qua các năm 2001-2002-2003.

     

     

     

     

    Nội dung

    Phát sinh tăng
    Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    Số món Doanh số

     

    (1000USD)

    L/C nhập khẩu 850 165,000 1,200 290,000 750 123,000
    1.Trả ngay 760 85,000 1,120 265,000 700 120,000
    2. Trả chậm dưới 1 năm 60 75,000 80 25,000 50 3,000

    Nguồn: Báo cáo thường niên của SGD I – NHĐT&PTVN trong năm

    2001, 2002,2003

    Năm 2001 là năm mà hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGD đã có những thay đổi đáng kể.SGD đã vượt qua mhững khó khăn do dư âm của cuộc khủng khoảng tài chính- tiền tệ năm 1997.Vì thế, cùng với sự cố gắng của đội ngũ cán bộ phòng Thanh toán quốc tế mà số lượng L/C dược mở là 850 món với tổng trị giá là 165 triệu USD, trong đó L/C trả ngay là 760 món, trị giá 85 triệu USD chiếm  51.5% tổng số L/C nhập khẩu.Điều này cho thấy rằng ngay trong thời kỳ khó khăn ngân hàng vẫn duy trì được một doanh số giao dịch tương đối ổn định.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán  hàng hoá nhập khẩu bằng L/C  có sự gia tăng đột biến, số món L/C được mở là 1200 món với tổng trị giá là 290 triệu USD, tăng 75.7% so với năm 2001.Trong đó số L/C nhập khẩu trả ngay tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2001, chiếm 91% trong tổng số L/C nhập khẩu. Đây quả là một kết quả rất đáng khích lệ với ngân hàng.

    Tuy nhiên, năm 2003 doanh số thanh toán hàng hoá nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ lại có sự giảm sút lớn. Số món L/C được mở giảm xuống còn 750 món, trị giá 123 triệu USD, giảm 167 triệu USD( giảm 57%) so với năm 2002. Phần lớn kết quả của những biến động này xuất phát từ sự thay đổi bất thường trong doanh số giao dịch của khách hàng. Các doanh nghiệp đã co hẹp hoạt động nhập khẩu do có nhiều biến động trên thế giới về chính trị, kinh tế.

    Mặt khác, trên thực tế, các khách hàng của ngân hàng khi kinh doanh hàng nhập khẩu chỉ có nhu cầu sử dụng các loại L/C không huỷ ngang, L/C không huỷ ngang có xác nhận, còn các loại hìn L/C khác vẫn chưa được sử dụng nhiều. Điều này có thể do đặc điểm kinh doanh chưa cần thiết hoặc chưa phù hợp để sử dụng các hình thức đó.

    Một tiêu thức nữa giúp chúng ta có thể nhận thức đầy đủ hơn về tình hình thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN là xem xét doanh số XNK mà sở đã đạt được trong năm qua.

    Biểu đồ 1: tỷ trọng thanh toán L/C nhập khẩu tại SGDI.

     

     

    Nhìn vào biểu đồ ta thấy, hoạt động Thanh toán Quốc tế qua hình th

     

    Nhi

    Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt động thanh toán XNK. Trong 3 năm qua hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể. Năm 2001 doanh số L/C nhập khẩu đạt 165 triệu USD chiếm 45,8% trong tổng doanh số XNK.

    Bước sang năm 2002, hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của ngân hàng thực sự có hiệu quả. Đây là một kết quả rất khả quan, để có được thành công này ngân hàng đã không ngừng đổi mới trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá trình thanh toán. Ngân hàng đã cho lắp đặt Internet để khai thác tin tức kinh tế thương mại, pháp luật qua mạng ;lắp đặt mạng thanh toán SWIFT với các ngân hàng trên thế giới. Kết quả là, năm 2002 doanh số thanh toán tăng từ 165 triệu  USD năm 2001 lên 290 triệu USD. Bên cạnh đó doanh số XNK cung tăng lên đáng kể, đạt  400 triệu USD. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu chiếm 72,5% tổng doanh số XNK, gấp hơn 1.5 lần so với năm 2001.

    Tuy nhiên, năm 2003 lại cho thấy một kết quả không mấy khả quan trong hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của sở. Năm 2003 doanh số thanh toán L/C nhập khẩu giảm mạnh từ 290 triệu USD năm 2002 xuống còn 123 triệu USD, giảm 57,5% so với năm 2002. Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu tuy có giảm mạnh nhưng bên cạnh đó doanh số XNK vẫn tăng đều qua các năm, năm 2003 tăng

    12,5% so với năm 2002. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do ảnh hưởng của các chính sách thắt chặt với các doanh nghiệp kinh doanh XNK như giới hạn mức Quata một mặt hàng. Một nguyên nhân nữa đó là trong năm nay hoạt động chuyển tiền của sở đã dược thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiệ, an toàn với chi phí thấp nên rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển sang lựa chọn phương thức này.

    Như vậy, có thể nói hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã đạt đựợc những thành tựu đáng kể , đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng và cho khách hàng. Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều những hạn chế  mà SGD cần khắc phục để đưa hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ ngày một phát triển, có thể sánh ngang với  các  ngân hàng truyền thống trong lĩnh vực này như ngân hàng Ngoại thương  Việt  Nam.

    2.2.2.   Thực trạng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức

    tín dụng chứng từ tại SGDI-NHĐT&PTVN.

    Song song với hoạt động thanh toán hàng hoá nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ, SGDI-NHĐT&PTVN cũng rất quan tâm tới việc mở rộng hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu theo  phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên,  do khách hàng của Ngân hàng chủ yếu là kinh doanh hàng nhập khẩu nên hoạt  động thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng còn có nhiều hạn chế. Đây được coi là một thị trường tiềm năng để phát triển trong thời gian tới.

    Mặc dù vậy, trình tự thực nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ vẫn được thực hiện theo đúng quy định của NHĐT&PTVN.

    a.  Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    SGDI-NHĐT&PTVN là đầu mối thực hiện các giao dịch với ngân hàng  nước ngoài, tất cả các L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về trước khi chuyển đến chi nhánh đều phải được sở giao dịch kiểm tra xác thực. Sau khi SGD kiểm tra  xong sẽ gửi chuyển xuống cho các chi nhánh ngân hàng của SGD.

    Tiếp nhận, thông báo L/C đến chi nhánh.

    Khi nhận được L/C, sửa đổi L/C do ngân hàng nước ngoài gửi về thanh toán

    viên có trách nhiệm:

    -Trước hết thanh toán viên phải kiểm tra tính xác thực của L/C. Đồng thời,

    thanh toán viên kiểm tra L/C phải có dẫn chiếu UCP500.

    -Tiếp theo thanh toán viên đăng ký số tham chiếu của L/C vào sổ theo dõi thông báo L/C, nhập dữ liệu vào máy tính để theo dõi.

    -Lập thông báo cho khách hàng, hoặc cho ngân hàng chi nhánh. Thư thông

    báo L/C, sửa đổi L/C lập thành 02 bản, lưu một bản tại hồ sơ L/C.

    -Lập phiếu thu dịch vụ, chuyển kế toán hạch toán.

    Sau đó, phụ trách phòng hoặc kiểm soát viên có trách nhiệm kiểm tra nội dung L/C hoặc nội dung sửa đổi L/C trước khi chuyển cho lãnh đạo hoặc người được uỷ quyền ký duyệt.

    -Sau khi hoàn tất việc kiểm tra, kiểm soát ( lưu ý L/C gốc phải đóng dấu và ghi ngày ký), ngân hàng sẽ giao một bản gốcL/C cho người thụ hưởng. Thanh toán viên theo dõi việc thông báo cho khách hàng. Đông thời thanh toán viên thông báo cho ngân hàng phát hành về việc nhận được L/C, sửa đổi L/C hoặc ý kiến của  khách hàng về sửa đổi L/C nếu được yêu cầu.

    Kiểm tra chứng từ.

    -Thanh toán viên tiếp nhận bộ chứng từ của khách hàng xuất trình bao gồm bản gốc L/C,các sửa đổi L/C có liên quan(nếu có )cùng thư thông báo L/C,sửa đổi L/C có xác nhận chữ ký m.

    -Thanh toán viên tiến hành kiểm tra sơ bộ chứng từ, số hiệu của từng loại chứng từ và thư yêu cầu thanh toán của khách hàng. Sau đó thanh toán viên ký  nhận chứng từ, phải ghi rõ ngày giờ nhận chứng từ trên thư yêu cầu thanh toán của khách hàng.

    -Tiếp theo thanh toán viên tiến hành kiểm tra sự phù hợp về nội dung, số lượng chứng từ so với các kiều kiện, điều khoản quy định trong L/C và sửa đổi liên

    quan (nếu có). Kiẻm tra sự phù hợp giữa các chứng từ với nhau, kiểm tra sự phù hợp của chứng từ với UCP500.

    -Khi kiểm tra xong, thanh toán vien phải ghi ý kiến của mình  trên phiếu  kiểm tra chứng từ và chuyển toàn bộ hồ sơ, chứng từ liên quan đén kiểm soát viên hoặc phụ trách phòng.Kiểm soát viên sẽ kiểm tra lại toàn bộ chứng từ, các ý kiến của thanh toán viên và ghi rõ ý kiến của mình trên phiếu kiểm tra chứng từ, ký tên và chuyển lại cho thanh toán viên.

    -Sau khi có ý kiến của phụ trách phòng về tình trạng bộ chứng từ, nếu chứng

    từ có sai sót, thanh toán viên phải thông báo ngay cho khách hàng.

    Gửi chứng từ và đòi tiền.

    -Trong tất cả các trường hợp thanh toán viên chỉ lập điện, thư đòi tiền theo quy định của L/C khi có ý kiến của kiểm soát viên hay phụ trách phòng.

    Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp, không có sai sót, ngân  hàng sẽ lập thư gửi chứng từ và lệnh đòi tiền bằng thư hoặc bằng điện rồi gửi cho ngân hàng nhận chứng từ được chỉ định trong L/C.Điện đòi tiền và thư đòi  tiền  kèm bộ chứng từ trước khi gửi đi phải được kiểm soát viên hay phụ trách phòng trình lãnh đạo ký duyệt, ký hậu hối phiếu nếu cần thiết.

    Tiếp theo đó, thanh toán viên nhập ngoại bảng trị giá bộ chứng từ đã gửi đi  để theo dõi.

    Thanh toán, chấp nhận thanh toán L/C xuất khẩu.

    Khi nhận được thông báo của ngân hàng nước ngoài thanh toán viên thực  hiện như sau:

    -Chuyển kế toán báo có cho khách hàng sau khi đã khấu trừ chiết khấu ( nếu

    có), lãi chiết khấu và thu phí theo quy định hiện hành của SGDI-NHĐT&PTVN.

    -Hạch toán suất ngoại bảng số tiền ngân hàng nước ngoài thanh toán.

    -Hạch toán xuất ngoại bảng số dư L/C sử dụng không hết.

    Việc hạch toán thu phí dịch vụ được thực hiện theo quy định của SGDI- NHĐT&PTVN.

    Phí thông báo L/C                        :15$ Thông báo sửa lỗi                                                             :10$

    Đòi tièn theo bộ chứng từ           :0.2%/giá trị bộ chứng từ.

    b.   Hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu tại SGDI_NHĐT&PTVN.

    Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI_NHĐT&PTVN tuy chưa thật đều đặn, an toàn và  hiệu quả,song đã  góp một phần nhỏ bé vào sự tăng trưởng của hoạt động thanh toán quốc tế nói  chung & hoạt động thanh toán L/C nói riêng của Ngân hàng.

    Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của cuộc  khủng hoảng kinh tế –  Tài chính khu vực, sự thay đổi của tỷ giá, sự khan hiếm ngoại tệ nên doanh số  thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN có nhiều thay đổi đáng kể.

    Bảng 5: Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng

    chứng từ tại Chi nhánh NHNN & PTNT Hà Nội.

    Đơn vị: USD.

    Năm Thanh toán xuất khẩu bằng L/C Doanh số TT

     

    XNK bằng L/C

    Tỷ trọng

     

    XK/NK (%)

    Doanh số +/- (%)
    1999 1.370.000 70.760.000 1.93
    2000 2.642.000 +92.8 101.225.000 2.61
    2001 2.359.051 -10.7 110.014.402 2.14
    2002 1.589.830 -32.6 90.709.327 1.75

    (Nguồn: Báo cáo TTQT – NHNN & PTNT Hà Nội).

    Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 đã ảnh hưởng kéo dài tới những năm sau.Hơn nữa, do kinh nghiệm trong hoạt động thương mại nước ta còn ít nên thị trường xuất khẩu nước ta chủ yếu là các nước Châu á ( theo số lượng ước tính thì 70% kinh nghạch mậu dịch của Việt Namlà với các nước Đông Nam  á). Thậm chí, có khi muốn xuất khẩu sang các nước Châu âu, ta  phải đưa hàng  sang các nước Châu á rồi từ đó hàng mới có thể đi tiếp. Chính vì thế kim nghạch xuất khẩu của nước ta còn thấp.

    Bắt đầu từ năm 1999, chính sách của Đảng và nhà nước cho phép mọi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu nếu có khả năng, do đó, số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đã có sự thay đổi đáng   kể. Năm 2001 doanh số thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ đạt 35 triệu USD.

    Sang năm 2002, nhờ sự cố gắng của cán bộ, nhân viên cùng sự quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn của ban lãnh đạo SGD nên doanh số thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGD đã tăng đột biến, đạt 75 triệu USD, tăng 114,2% so với năm 2002.Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu chiếm 18,7% trong  tổng số doanh số XNK. Như vậy, chúng ta có thể thấy năm 2002 là một năm rất thành công của SGD trong hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ.

    Tuy nhiên, bước sang năm 2003 doanh số hoạt động thanh toán hàng xuất khẩu lại giảm rõ rệt. Năm 2003, doanh số chỉ đạt 47,5 triệu USD, giảm 36,6% so với năm 2002 kéo theo tỷ trọng hàng xuất khẩu cũng giảm xuông 10,5 % so với năm 2002. Sở dĩ có sự giảm sút đáng kể như vậy, một mặt là do sự biến động của thị trường làm cho tỷ giá thay đổi  , khan hiếm ngoại tệ…Khi đồng Việt Nam bị  phá giá ở mức cao đã tạo sức ép đối với hàng nhập khẩu Việt Nam sang thỉtường thế giới phải giảm giá, nếu không họ sẽ không nhập hàng xuất khẩu của ta. Do vậy nguồn thu từ xuất khẩu hàng hoá đã giảm bớt do giá xuất khẩu giảm làm cho các

    doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu có thể phải ngừng sản xuất vì doanh thu

    không đủ để trang trải các yếu tố đầu vào.

    Mặt khác trong năm qua chúng ta liên tiếp phải đối mặt dịch bệnh :dịch SARS, cúm gà …cùng với bài học Mỹ kiện Việt Nam  bán phá giá cá Basa  và Tôm  đông lạnh cộng với việc các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trươc thách thức  và sức  ép cạnh tranh với hàng hoá ngoại nhập, đã tạo nên lý e dè trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho doanh   số L/C xuất khẩu trong năm qua giảm mạnh đến như vậy.

    Bảng 6: Trị giá đòi tiền L/C xuất khẩu qua các năm tại SGDI-

    NHĐT&PTVN.

     

     

     

     

     

     

     

    Chỉ tiêu

    Năm 2002 Năm 2003
    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2001

    Số món Trị giá

     

    (Triệu$)

    +/- (%)

     

    /2002

    Thông báo 270 36 +227.2 250 25 -30.5
    Thanh toán 530 39 +62.5 450 22.5 -42.3

    (Nguồn :Báo cáo tổng kết hoạt động Thanh toán quốc tế tại SGDI_NHĐT&PTVN)

    Nhìn vào số liệu trên ta thấy số món và trị giá thanh toán hàng xuất  khẩu  theo phương thức tín dụng chứng từ nhỏ hơn rất nhiều so với số món và trị giá  thanh toán hàng nhập khẩu. Nếu như năm 2002, số món gửi chứng từ  đòi tiền là 270 món với trị giá là 36 triệu USD thì năm 2003, số món gửi đòi tiền giảm xuống 250 món với giá trị chỉ đạt 25 triệu USD, giảm 30.5% so với nam 2002. Điều này bắt nguồn từ những khó khăn mà ngân hàng phải đối mặt.

    Có thể nói, tình hình thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI còn thấp. Câu hỏi đặt ra là làm như thế nào để thúc đẩy nhanh hoạt động thanh toán hàng hoá xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ

    tạiSGDI-NHĐT&PTVN luôn là nỗi bức xúc của toàn thể cán bộ công nhân viên Ngân hàng. Đây thực sự là bài toán khá hóc búa của Ngân hàng trong tương lai.

    Như vậy, từ thực trạng nghiệp vụ thanh toán hàng hoá XNK tại SGDI_NHĐT&PTVN, trên nền một số thành quả nhất định là một loạt vấn đề nổi cộm, cần tìm được nguyên nhân giải quyết.

    2.2.3.   Đánh giá thành quả đạt được và những hạn chế.

    a.   Thành quả đạt được.

    Sau hơn 6 năm thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI- NHĐT&PTVN đã thu được những kết quả đáng khích lệ.

    • Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu tại SGDI-ngân hàngĐT&PT VN.Điều gì đã giúp SGDI có được kết quả đó? Lý do ở chỗ, nghiệp vụ thanh toán ngày càng rút ngắn về thời gian, độ chính xác an toàn cao, đạt được sự tín nhiệm của khách hàng. Mặt khác, trong thời gian qua tại Chi nhánh chưa xảy ra một trường hợp nào bị từ chối thanh toán do bộ chứng từ có lỗi hay có tranh chấp xảy ra.Hay có thể nói, SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN hoàn toàn có uy tín tốt trong Thanh toán quốc tế.
    • Để làm được điều này phải kể đến đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi. Hầu hết nhân viên phòng thanh toán quốc tế đều có trình độ đại học, trình độ tiếng Anh, sử dụng thành thạo mạng Swift với các Ngân hàng trên thế giới. Phong cách giao dịch với khách hàng tận tình, văn minh, lịch sự, sẵn sàng hướng dẫn khách hàng giải quyết mọi vướng mắc trong khâu dự thảo,ký hợp đồng hay tư vấn cho khách hàng về các điều khoản trong thư tín dụng sao cho có lợi cho khách hàng nhất.
    • Đặc biệt, Ngân hàng còn xúc tiến tăng cường mối quan hệ đại lý với các Ngân hàng trên thế giới, do vậy, quan hệ thanh toán được mở rộng. Mạng lưới Ngân hàng rộng khắp đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh toán của Ngân hàng. Cho đến nay ngân hàng đã có quan hệ đại lý với hơn 690 ngân hàng, và có quan hệ đại lý với hơn 70 nước. Điều đó chứng tỏ uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên trên thị trường quốc tế và trong lòng khách hàng. Chính điều đó đã

    giúp ngân hàng từng bước thâm nhập thị trường quốc , từng bước mở rọng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế nói chung và nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ nói riêng.

    • Ngoài ra, với biểu phí dịch vụ hấp dẫn nên NHNN & PTNT Hà Nội có khả năng thu hút được nhiều khách hàng.

    -Với phương châm “nhanh chóng, chính xác, an toàn” trong tất cả các lĩnh vựchoạt động,công tác Thanh toán quốc tế của ngân hàng đã được tổ chức chặt chẽ,bỏ đi các khâu trung gian phiền hà, rắc rối mất nhiều thời gian cho khách hàng.Đồng thời quy trình thanh toán được cải tiến và phù hợp, đảm bảo thông tin nhanh chóng kịp thời cho khách hàng, kiểm tra chính xác, kịp thời, nhanh  chóng.Tất cả đều là kết quả, là thành công nỗ lực của bản thân ngân hàng trong  hoạt động kinh doanh.

    • Những kết quả mà NHNN & PTNT Hà Nội đã đạt được thật đáng biểu dương, khích lệ. Song cũng rất thiếu sót nếu không đề cập đến những hạn chế tồn tại.Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng hoàn thiện mình để trong tương lai không xa  sẽ vươn tới đỉnh cao trong hoạt đông kinh danh đối ngoại.

    b.   Hạn chế.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN vẫn còn nhiều hạn chế làm kìm hãm tốc độ tăng trưởng của hoạt động thanh toán hàng xuất nhập khẩu qua Ngân hàng.

    Từ số liệu thực tế cho thấy kinh doanh thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ tạiSGDI-NHĐT&PTVN chưa mở rộng diện phục vụ. Số lượng khách hàng đến tham gia thanh toán tại Ngân hàng chưa nhiều, đặc biệt số lượng khách hàng thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn ít.

    c.  Nguyên nhân.

    Sở dĩ hoạt đông thanh toán hàng XNK theo phương thức tín dụng chứng từ

    còn nhiều hạn chế do nhiều nghuyên nhân khác nhau,cả khách quan lẫn chủ quan.

    Nguyên nhân khách quan.

    • Môi trường pháp lý:

    Cho đến nay,chính sách của Nhà nước và các văn bản của các nghành chưa đồng bộ và chưa phù hợp với tình hình phát triển của công tác thanh toán.Các văn bản pháp quy của nghành ngân hàng cho nghiệp vụ thanh toán quốc tế chưa đáp ứng kịp thời hoăc đầy đủ.

    Trong thời kỳ mở cửa lợi dụng kẽ hở của hành lang pháp lý và cán bộ kém năng lực, nhiều doanh nghiệp  vay vốn Ngân hàng sử dụng trái mục đích, đồng  thời không trả được nợ Ngân hàng dẫn đến các Ngân hàng không dám đầu tư, hoạt động thanh toán quốc tế giảm sút.

    • Sự cạnh tranh của Ngân hàng khác.

    Năm 2002, sau khi thực hiện đề án chấn chỉnh lại hoạt động NHTMCP trên địa bàn HN có 36 NHCP trong đó có 21NHCP đô thị và 15  NHCP nông thôn. Chính vì vậy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng quyết liệt.Các ngân hàng này thường có vốn điều lệ lớn nên được cho phép vay dự án lớn, nhờ  vậy có điều kiện ràng buộc người vay thanh toán qua họ.Như vậy, với số lượng đông đảo các ngân hàng trên địa bàn chật hẹp, việc chia sẻ khách hàng, phân tán nghiệp vụ là điều không thể tránh khỏi.Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài lại có lợi thế về công nghệ thông tin hiện đại,thủ tục tín dụng đơn giản,có kinh nghiệm trong chính sách khách hàng. Chính ví vậy,SGDI không thể tránh khỏi những khó khăn trong việc thu hút khách hàng.

    • Trình độ kinh nghiệm của khách hàng :

    Mặc dù số lượng khách hàng được phép trực tiếp kinh doanh  XNK ngày  càng tăng nhưng kinh nghiệm trong thanh toán XNK vẫn chưa có, trình độ am hiểu về công tác Thanh toán quốc tế còn hạn chế gây không ít khó khăn cho ngân hàng

    Hầu hết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam rất yếu về các nghiệp vụ ngoại thương. Ngoài ra các doanh nghiệp vẫn chưa nắm rõ luật kinh tế , thủ tục tố tụng nên trong trường hợp có tranh chấp thì không khiếu nại kịp thời,đúng chỗ mà chỉ biết khiếu nại ngân hàng. Từ chỗ không nắm vững được luật pháp sẽ dẫn  đến những sơ hở về mặt pháp lý trong việc ký hợp đồng thương mại.

    • Ngân hàng luôn đối phó với những hành vi lừa đảo: Là một trung gian thanh toán nên Ngân hàng luôn phải đối đầu với các hành vi lừa đảo có thể xuất phát từ ngươì xuất khẩu, người nhập khẩu hoặc người vận chuyển. Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều công ty ma, với nhiều thủ thuật lừa đảo ngày càng tinh vi. Do đó Ngân hàng cần có cơ chế quản lý giám sát chặt chẽ để tránh mọi rủi ro có thể xảy

    Nguyên nhân chủ quan:

    Thứ nhất, Công tác Marketing chưa được vận dụng một cách triệt để trong

    hoạt động thanh toán của Ngân hàng .

    Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng số lượng khắch  hàng mà  phòng Thanh toán quốc tế thu hút không nhiều.Ngân hàng chưa có chương trình công tác cụ thể theo đuổi các mục tiêu chung trong chiến lược khách hàng tại ngân hàng.

    Mặt khách tuy đã ứng dụng Marketing vào quá trình cung ứng dịch vụ Thanh toán quốc tế nhưng vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Trong quá trình giao dịch với khách hàng,thái độ nhân viên rất đúng mực,lịch sự,có tinh thần trách nhiệm với khách hàn,không gây phiền hà, không để khách hàng khiếu nại.Song đến nay ngân hàng vẫn chưa có phòng Marketing riêng.

    Hơn nữa, hoạt đông thanh toán hàng xuất khẩu chưa thực sự  được quan  tâm đúng mức.Thực tế cho thấy,thanh toán hàng xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ còn rất hạn chế so với thanh toán hàng nhập khẩu.Hầu hết khách hàng của ngân hàng đều là những doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu hoặc một số khách hàng có kinh doanh cả hàng hoá xuất khẩu nhưng lại thanh toán hàng xuất ở ngân hàng khác, do vậy không thúc đẩy hoạt động Thanh toán quốc tế.

    • Thứ hai, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban, đặc biệt là giữa phòng kinh doanh và thanh toán quốc tế trong công tác tìm hiểu khách hàng.

    Điều này có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của phong Thanh toán quốc  tế  tại SGDI-NHĐT&PT VN.Nếu thực hiện được điều này công tác thanh toán  L/C  nói riêng sẽ tiết kiệm được rất nhiều về cả thời gian và nhân sự. Không chỉ có vậy, thông qua sự phối hợp này,mọi hợp đồng L/C sẽ có được hàng rào bảo hiểm trước

    rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tác nghiệp- loại rủi ro cơ bản của nghệp vụ thanh

    toán L/C.

    • Thứ ba, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ nhân viên còn nhiều hạn

    chế.

    Mặc dù ngân hàng đã thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn cho đội

    ngũ cán bộ bằng việc tạo điều kiện đi khảo sát và trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ với các chi nhánh thực hiện Thanh toán quốc tế trong hệ thống cũng như học tập nghiệp vụ ngân hàng hiện đại tại các ngân hàng đại lý song vẫn còn thua kém  những ngân hàng nước ngoài. Họ có chiến lược khách hàng hợp lý, theo dõi khách hàng sát sao, áp dụng triệt  để Marketing ngân hàng trong hoạt động kinh doanh  nên tác phong của họ phần nào cũng năng động hơn.

    • Thứ tư, hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị và giờ làm việc.

    Mặc dù trụ sở SGDI-ngân hàng ĐT&PT VN khá đủ điều kiện và  tiên nghi khá tốt. Tuy nhiên, diện tích phòng làm việc thì lại nhỏ. Điều này gây cho khách hàng tâm lý chưa thoải mái trong giao dịch tại ngân hàng.Hơn nữa cũng ảnh hưởng tới điều kiện làm việc của cán bộ ngân hàng.

    Mặt khác, trang thiết bị của ngân hàng dù đã được trang bị khá hiện đại song

    vẫn còn nhiều hạn chế, điều này làm chậm tiến trình giao dịch với khách hàng.

    Giờ làm việc của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cũng không thể cạnh tranh  với các ngân hàng nước ngoài. Trong khi các ngân hàng nước ngoài mở cửa làm việc đến 18h thì ngân hàng đóng cửa vào lúc 16h30.Điều này làm hạn chế lượng khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.

    • Thứ năm, hạn chế về Ngân hàng đại lý.

    Với số lượng ngân hàng đại lý như hiện nay, SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN vẫn chưa đủ khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác( chẳng hạn ngân hàng Ngoại thương VN có 1600 ngân hàng đại lý).

    Hơn nữa,ngân hàng chưa nắm bắt được các chính sách, quy định của các ngân hàng đại lý ở nước ngoài trong các giao dịch thanh toán với các ngân hàng

    VN, chưa khai thác tối đa dịch vụ ngân hàng do họ cung cấp để đáp ứng nhu cầu

    giao dịch với khách hàng.

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG

    CHỨNG TỪ TẠI SGDI – NGÂN HÀNG ĐT&PTVN

    VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

     

     

    3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA SGDI-NGÂN HÀNG

    ĐT&PTVN TRONG THỜI GIAN TỚI.

    Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển từ một cơ quan cấp phát vốn ngân sách, đến nay NHĐT&PTVN đã trở thành một trong bốn NHTM quốc doanh có  ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường tài chúnh NH Việt Nam, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ tốt cho đầu tư phát triển  kinh tế xã hội Những kết quả đạt được trong suốt thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước công nhận bằng việc trao tặng những phần thưởng cao quý, bạn hàng tin tưởng và hợp tác.Cho đến tháng tư này kỷ niện 46 năm ngày truyền thống của ngân hàng , tổng tài sản của NHĐT&PTVN đã vượt qua con số 80.000 tỷ đồng. Đây là điều rất đỗi tự hào song cũng là trách nhiệm nặng nề của BIDV và nhiệm vụ này càng nặng nề hơn khi đất nước đang trong tiến trình CNH_HĐH  đất nước, từng bước hội  nhập kinh tế quốc tế.

    Nhận thức được những thời cơ và thách thức, quán triệt chủ trương và đường lối của Đảng và Chính phủ SGDI_NHĐT&PTVN đã đề ra định hướng phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế trong giai đoạn tới như sau:

    Thứ nhất, một mặt củng cố và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ, mặt khác phát triển đồng bộ các  phương  thức thanh toán khác nhau như phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền,thanh toán mậu biên…đáp ứng nhanh chóng chính xác nhu cầu giao dịch thanh toán của khách hàng.

    Thứ hai, hoàn thiện hơn các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, đáp ứng đủ nhu cầu

    ngoại tệ cho khách hàng trong thanh toán hàng hoá XNK.

    Thứ ba, mở rộng có hiệu quả mạng lưới ngân hàng đại lý và cơ cấu tiền gửi hợp lý. Đây là nhiệm vụ chiến lược trong việc phát triển và mở rộng nghiệp vụ Thanh toán quốc tế ở ngân hàng.Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải cân đối nguồn ngoại tệ dự trữ để cho hoạt động Thanh toán quốc tế đạt hiệu quả cao.

    Thứ tư là hiện đại hoá công nghệ thanh toán ngân hàng theo hướng hội nhập

    với cộng đồng thế giới.

    Thứ năm, phối hợp tác nghiệp hơn nữa giữa các phòng nghiệp vụ chuyên  môn để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu Thanh toán quốc tế.

    Thứ sáu,tiếp tục đào tạo trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác Thanh toán quốc tế, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong  giao dịch với khách hàng.

    Thứ bảy, tổ chức thanh toán quốc tế tại các chi nhánh ngân hàng quận.

    3.2. Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán L/C tại chi nhánh NHNN

    & PTNT.

    Với những gì đã nghiên cứu ở trên, chúng ta thấy việc mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là một định hướng hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề đặt ra là phải tiếp cận định hướng đó bằng cách nào để biến nó thành hiện thực? Sau đây em xin mạnh  dạn đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN. Cơ cấu lại phòng Thanh toán quốc tế theo hướng nghiệp vụ thanh toán đa năng.

    3.1.1. Phát triển tổ chức nhân sự, đào tạo mở rộng phạm vi hoạt động.

    Con người là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Việc xây dựng một mẫu hình con người có nhân cách tốt, biết lấy lợi ích chung làm mục tiêu hành động sẽ tạo nên nhân tố mấu chốt cho sự phát triển nhanh chóng bền  vững của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN.

    Để quy trình thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ được nhanh chóng, có hiệu quả và tránh được nhiều rủi ro,thanh toán viên phải có

    khả năng xử lý nghiệp vụ một cách thuần thục, chính xác, phù hợp với các thông lệ quốc tế.Muốn vậy thanh toán viên không chỉ có trình độ về công tác Thanh toán quốc tế mà còn cần các kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực ngoại thương và các thị trường mà mình phụ trách.Do đó,SGDI cần tiêu chuẩn hoá  đội ngũ cán bộ bằng  các biện pháp sau:Thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, học tập kinh nghiệm lẫn nhau để nâng cao trình độ hiểu biết về các nghiệp vụ ngoại thương, bảo hiểm

    ,vận tải.Đồng thời, trang bị kiến thức về pháp luật cho cán bộ,mời các chuyên gia giỏi về đào tao nghiệp vụ,đào tạo và âng cao trình độ ngoại ngữ của các thanh toán viên.

    Về vấn đề đạo đức, Ngân hàng cần tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện đạo đức Ngân hàng cho cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực, kịp thời thay thế các cán bộ yếu kém về năng lực, thoái hoá về phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ cho cán bộ Ngân hàng đặc biệt là nâng cao trình độ tin học, trình độ lập trình quản lý cho cán bộ kỹ thuật.

    Ngoài ra, ngân hàng cần thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý và điều hành kinh doanh,phát huy tính chủ động sáng tạo của từng cán bộ nhân viên.

    3.1.2. Cải tiến kỹ thuật công nghệ:

    Trước hết Ngân hàng cần sử dụng hiệu quả mạng thanh toán SWIFT. Việc ngân hàng tham gia mạng SWIFT không chỉ đơn thuần nhằm phục vụ nhu cầu phát triển nghiệp vụ Thanh toán quốc tế mà còn nhằm chuẩn bị các điều kiện tham  gia thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán quốc tế. Do đó, ngân hàng cần giải quyết tốt vấn đề luân chuển chứng từ Đi-Đến trong nội bộ ngân hàng bằng cách phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, tự động hoá các giao dịch trong nước, chuẩn hoá nghiệp vụ.

    Hơn nữa, ngân hàng cần cải tiến đầu tư kỹ thuật và trang thiết bị công nghệ phục vụ thanh toán. Trong  những năm tới, Ngân hàng cần tiếp tục đầu tư trang  thiết bị máy tính có công suất lớn, đọc và xử lý chứng từ một cách tự động, đồng

    thời cần đầu tư thực hiện các chương trình phần mềm cho đồng bộ với việc đầu tư phần cứng nhằm nâng cao tính an toàn trong thanh toán.Mặt khác, phải tiếp tục chương trình cải tiến và hoàn thiện hạch toán kế toán ngân hàng.

    3.1.3. Đẩy mạnh tài trợ hoạt động xuất nhập khẩu.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ phụ thuộcvào tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá XNK. Nếu các doanh nghiệp này được tài trợ nguồn vốn sẽ kinh doanh có hiệu quả, có uy tín từ đó giúp đẩy mạnh họt động thanh toán hàng hoá XNK.

    Thực trạng của SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN là yếu kém về mảng thanh toán L/C xuất khẩu và sự chênh lệnh nhau quá lớn giữa thanh toán nhập khẩu và thanh toán xuất khẩu gây mất cân đối ngoại tệ. Điều này cho thấy giải  pháp hữu hiệu  nhất hiện nay là Ngân hàng cần cân đối hoạt động tài trợ cho các doanh nghiệp  kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu .

    3.1.4. Xây dựng chính sách khách hàng phù hợp, phân tích đối thủ cạnh

    tranh và áp dụng Marketing vào hoạt động TTQT.

    -Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt bởi sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng thương mại cổ phần,nhất là sự có mặt của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài,SGDI-ngân hàng ĐT&PTVN cần có chính sách khách hàng hấp dẫn, linh hoạt và hiệu quả.

    -Trước hết ngân hàng cần chủ động tìm kiếm khách hàng.Đây là hoạt đông không thể thiếu nhằm giúp ngân hàng mở rộng và nâng cao số lượng khách hàng đến với mình.

    -Thưa hai,ngân hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, tăng cường công tác tư vấn và đẩy mạnh công tác tiếp thị quảng cáo để củng cố khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng tiềm năng.

    – Bên cạnh những biện pháp trên, Ngân hàng  cần phân tích và nắm rõ các đối

    thủ cạnh  tranh  của  mình.  Từ  đó đưa ra  các biện pháp  hơn hẳn  để thu hút khách

    hàng. Đồng thời Ngân hàng cũng cần phải tự xét thấy các mặt ưu nhược điểm của

    mình để phát huy đồng thời khắc phục những yếu kém còn tồn tại.

    3.1.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát.

    Để đảm bảo hoạt động Thanh toán quốc tế đặc biệt là hoạt động thanh toán hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ đi đúng định hướng phát triển và theo đúng hành lang pháp lý của Nhà  nước,của ngân hàng ĐT&PTVN,SGDI  cần tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát.

    Trước hết, Ngân hàng cần lựa chọn cán bộ tham gia kiểm tra kiểm soát là những người công tư phân minh, thiết tha với sự nghiệp phát triển của Ngân hàng. Các cán bộ kiểm tra, kiểm soát phải phát hiện, uốn nắn kịp thời nâng cao nhận thức toàn diện cho nhân viên. Hơn nữa trong thời gian tới, Ngân hàng cần đẩy mạnh công tác kiểm toán nội bộ cho các lĩnh vực như: kiểm toán báo cáo tài chính…

    3.1.6. Đa dạng hoá các ngoại tệ trong kinh doanh và dịch vụ.

    Cùng với sự khôi phục lại của nền kinh tế các nước Châu á sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, thị trường Châu á đang dần chiếm lại niềm tin đối với các đối tượng Phương Tây và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng sẽ có cơ hội tăng trưởng, nhu cầu về ngoại tệ sẽ tăng lên. Do đó, Ngân hàng cần khai thác các nguồn vốn ngoại tệ mạnh để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu  thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng.

    3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

    3.3.1.Đối với cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự  quản lý  ĩ mô của nhà nước,theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò điều khiể vĩ mô Nhà nước ngày càng được khẳng định. Hơn nữa, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế của thế  giới đã  đem lại cho mỗi quốc gia những cơ hội đồng thời cũng là những  thách  thức lớn.Lức này, cần phải có bàn tay định hướng của Nhà nước để đưa đất nước đi  đúng mục tiêu của mình.

    Đối với hoạt động Thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán

    hàng hoá XNK theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng trong mỗi thời kỳ rất

    cần đến sự lãnh đạo và định hướng của chính phủ để ngày càng mở rộng và phát triển, đồng thời tránh các rủi ro có thể xảy ra cho các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp kinh doanh XNK.

    Như vậy, với thực trạng hệ thống pháp luật chưa đồng bộ như nước ta hiện nay, Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản pháp luật cho giao dịch thanh toán XNK, như các văn bản luật, dưới luật quy định và hướng dẫn giao dịch thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, trong đó quy định rõ quyền lợi và  nghĩa vụ của người mua và người bán trong hợp đồng ngoại thương cũng như quyền và lợi ích của các ngân hàng tham gia trong giao dịch thanh toán tín dụng chứng từ.

    Hiệu quả của hoạt động thanh toán hàng hoá XNK bằng phương thức tín  dụng chứng từ chịu sự ảnh hưởng của chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK.Do đó, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong chính sách tiền tệ để khuyến khích và thúc đẩy hoạt động XNK.

    Mặt khác, để đẩy mạnh hoạt động XNK, Nhà nướccần có chính sách đẩy mạnh công tác đối ngoại, đặc biệt là công tác thương mại với các thị trường mới như Nhật Bản,Mỹ, các nước trong khối ASEAN…, tham gia tổ chức thương mại  thế giới WTO.

    Ngoài ra,Nhà nước cần củng cố và phát triển Hiệp hội ngân hàng VN, tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại VN hợp tác tìm hiểu khách hàng và đối tác,giúp đở và tương trương trợ lẫn nhau trong quá trình hoà nhập vào cộng đồng thế giới, cùng nghiên cứu trao đổi, hạn chế bớt rủi ro.

    Hơn nữa, cần cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chín trong quản lý XNK, tinh giảm thủ tục hải quan.Tăng cường hơn nữa công tác chống buôn lậu  và  quản lý thị  trường nội địa nhằm tăng thu ngân sách, bảo hộ nền sản xuất trong nước,  tăng cường ngoại tệ thanh toán qua ngân hàng.

    Hiện nay, tỷ giá giữa đồng VND $ USD, EURO liên tục biến động đã tác động tới tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp XNK. Vì vây, ngân  hàng cân có chính sách điều tiết tỷ giá thích hợp theo hướng tự do hoá với những bước đi thích hợp nhằm kích thích xuất khẩu và bảo hộ nhập khẩu trong nước.

    3.3.2. Đối với ngân hàng Nhà nước.

    a.    NHNN cần có những biện pháp hoàn thiện và phát triển thị trường

    mua bán ngoại tệ liên ngân hàng.

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường nhằm giải quyết các quan hệ trao đổi, cung cấp ngoại tệ giữa NHNN với các ngân hàng thương mại và giữa các ngân hàng thương mại với nhau.

    Vì vậy, để SGDI_NHĐT&PTVN mở rộng quan hệ thanh toán quốc tế, phục vụ  tốt cho hoạt động XNK hàng hoá thì việc phát triển thị trường ngoại tệ liên  ngân hàng là rất cần thiết.

    Trong thời gian tới, để hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng Ngân hàngà nước và các đối tượng có liên quan cần thực hiện các công việc sau:

    Thứ nhất, cần giám sát và buộc các NHTM phải xử lý trạng thái ngoại hói  của mình trong ngay bằng việc mua bán ngoại tệ trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng.

    Thứ hai, mở rộng đối tượng tham gia vào thị truờng.

    Thứ ba, phát triển các nghiệp vụ vay mượn ngoại tệ, nghiệp vụ đầu cơ và các

    hình thức mua bán ngoại tệ như mua bán kỳ hạn, hợp đồng tương lai…

    b.   Ngân hàng Nhà nước nên thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thích

    hợp sao cho tỷ giá luôn dảm bảo có lợi cho các nhà XNK.

    NHNN với vai trò tham mưu cho Chính Phủ đưa ra những chính sách quản   lý ngoại tệ có hiệu quả nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động XNK.

    3.3.3. Đối với SGDI-NHĐT&PTVN.

    SGD cần chú trọng tới công tác đào tạo và tái đào tạo các thanh toán  viên,  tạo cơ hội cho họ cập nhật những kiến thức mới trong lĩnh vực Thanh toán quốc tế. Hơn nưa, ngân hàng nên thành lập quỹ đào tạo, liên hệ với các ngân hàng đại lý cử cán bộ đi học hỏi kinh nghiệm và thực tế ở nước ngoài.

    Mặt khác, đội ngũ cán bộ thanh toán viên của ngân hàng còn thiếu, đặc biệt  là ở các chi nhánh. Một cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau, giải quyết công việc đôi khi bị chồng chéo. Do đó, NHĐT&PTVN cần bổ xung nhân  lực cho các chi nhánh, nhất là cán bộ có kiến thức chuyên môn, giỏi ngoại ngữ và am hiểu tin học.

    Bên cạnh đó NH nên đa dạng hoá các hình thức cho vay tai trợ, nâng cao  mức chiết khấu bộ chứng từ và có chính sách cho vay ưu đãi đối với các khách  hàng có uy tín, có nguồn trả nợ bảo đảm.

    Hơn thế nữa, NH nên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, phù hợp đảm bảo cạnh tranh, hội nhập, mở rộng thị phần, nhất là ở những địa bàn trọng điểm.

    Cuối cùng, NH cần quan tâm mở rộng mạng lưới quan hệ đại lý với các NH đại lý trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Thanh toán quốc tế. Từ  đó nâng cao chất lượng và phạm vi hoạt  động Thanh toán quốc tế theo phương  thức tín dụng chứng từ.

    KẾT LUẬN

     

    Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường và hội nhập vào nền kinh tế mậu dịch thế giới từ cuối thập niên 80. Hoạt động thương mại và Ngân hàng đang ngày một sôi động và phát triển, nhất là khi có sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. Hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu không những tăng lên về kim ngạch mà tăng lên cả về quy mô và chất lượng.

    Cùng với sự phát triển đó, hoạt động của các Ngân hàng thương mại trong nước ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng vấp phải rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt với các Ngân hàng liên doanh, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. SGDI_NHĐT&PTVN cũng là một trong số các Ngân hàng thương mại nước ta đang đứng trước thực trạng đó. Để đứng vững duy trì và phát triển uy tín của mình trên thị trường quốc tế thì  việc nâng cao chất lượng thanh  toán hàng hoá theo phương thức tín dụng chứng từ là yêu cầu bức thiết với Ngân hàng.

    Em hy vọng với chừng mực nào đó, những nghiên cứu và giải pháp nêu trên sẽ giúp ích đối với công việc của cán bộ thanh toán quốc tế, góp  phần mở  rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại SGDI- NHĐT&PTVN .

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS. Mai Thanh Quế và các anh chị phòng Thanh toán quốc tế – SGDI- NHĐT&PTVN để em có thể hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/T%C3%ACnh-h%C3%ACnh-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-c%C3%A1c-ph%C6%B0%C6%A1ng-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế ở Việt Nam

     

     

    LỜI MỞ ĐẦU

    &

    Trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay,khi hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra ngày càng nhiều và các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng trở nên phổ biến, việc thanh toán giữa người bán và người mua ở những vị trí địa lí cách xa nhau, với những rào cản về ngôn ngữ, thói quen mua bán, luật lệ…không hề đơn giản.Dẫn tới nhu cầu cần thiết phải có các phương tiện để thanh toán tiện lợi, ít rủi ro. Do đó các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phổ biến.

    Với mỗi phương thức thanh toán khác nhau, người mua phải trả tiền bằng cách nào, người bán sẽ nhận tiền ra sao, họ giao nhận trực tiếp hay thông qua trung gian…Giữa các hình thức thanh toán đa dạng, tại sao công ty A lại áp dụng loại này, công ty B áp dụng kiểu kia…

    Tất cả những thắc mắc trên sẽ được giải đáp phần nào trong bài tiểu luận này.

    A.Các Loại Phương Thức Thanh Toán Quốc Tế ở

     Việt Nam.

    I. Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection):

    Nghiệp vụ thanh toán nhờ thu được hướng dẫn theo “Quy tắc thống nhất về nhờ thu” do Phòng Thương mại quốc tế sửa đổi và ban hành theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996 (The Uniform Pules for Collection-ICC Pub. No 522-1995 Revision).

    1. Khái niệm:

    Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ giao hàng thì lập hối phiếu gửi đến ngân hàng nhờ thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Trong trường hợp này ngân hàng đóng vai trò trung gian giúp thu hộ tiền và được hưởng tỷ lệ phần trăm trên số tiền thu được.

    2. Chúng từ trong phương thức nhờ thu:

    • Chứng từ tài chính (financial documents): hối phiếu đòi nợ (bill of exchange), hối phiếu nhận nợ (promissory note), séc (cheque),…
    • Chứng từ thương mại (commercial documents): hoá đơn thương mại (invoice), chứng từ vận tải (transport documents), chứng từ sở hữu hoặc các chứng từ khác có giá trị tương đương, hoặc chứng từ khác không phải là chứng từ tài chính.

    3. Các hình thức thanh toán nhờ thu:

    • Nhờ thu trơn (clean collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán (nhà xuất khẩu) giao hàng hoá hoặc thực hiện dịch vụ sẽ gửi chứng từ tài chính nhờ ngân hàng đòi tiền người mua (nhà nhập khẩu) mà không kèm theo chứng từ thương mại.

    Sơ đố nhờ thu phiếu trơn

    Giải thích sơ đồ:

    • Người bán giao hàng lập bộ chứng từ gửi thẳng người mua.
    • Người bán ký hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó.
    • Ngân hàng bên bán chuyển hối phiếu cho ngân hàng bên mua và nhờ ngân hàng này thu hộ tiền ở người mua.
    • Ngân hàng bên mua chuyển hối phiếu cho người mua và yêu cầu trả tiền.
    • Người mua trả tiền hoặc từ chối trả tiền, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của họ. Nói chung sau khi nhận hàng người mua mới trả tiền.
    • Ngân hàng bên mua chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho ngân hàng bên bán.
    • Ngân hàng bên bán chuyển tiền hoặc hoàn lại hối phiếu bị từ chối trả tiền cho người bán.

     

    *Trường hợp áp dụng:

    • Hai bên mua bán tin cậy lẫn nhau hoặc hai bên cùng trong nội bộ công ty với nhau.
    • Dùng đề thanh toán cước phí vận tải, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức,…
    • Phương thức này chỉ áp dụng cho hình thức trả ngay và trả sau.
    • Nhờ thu kèm chứng từ (documentary collection): là phương thức nhờ thu mà sau khi người bán giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ sẽ nhờ ngân hàng đòi tiền người mua dựa trên:
      • Chứng từ thường mại + chứng từ tài chính, hoặc
      • Chứng từ thương mại.

    Tuỳ theo thời hạn trả tiền ta chia phương thức này làm 2 loại:

    • Nhờ thu trả tiền đổi chúng từ (deliver documents against payment-D/P): người mua phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ.

    Ví dụ thực tế: ta có bảng hợp đồng nhờ thu sau

    Hợp đồng ngoại thương này được ký kết bởi:

                      Nhà xuất khẩu: Bình đông Fisheries Joint stock Company, địa chỉ: đường 49 bến Bình Đông, phường 11, quận 8, Tp,HCM

                      Và nhà nhập khẩu:

    Effegi Service S.P.A, địa chỉ: Via Spallanzani, 2  46100 Mantova, Italy.

    Theo hợp đồng, sẽ tiến hành thanh toán bằng phương thức  D/P trả ngay ,theo đó Công ty Bình đông Fisheries Joint stock sẽ sản xuất và giao hàng lên tàu, sau đó làm BCT  đưa lên ngân hàng Đông Á, ngân hàng Đông Á sẽ gửi BCT tới ngân hàng người mua và ngân hàng này sẽ giao BCT cho Effegi Service S.P.A với điều kiện Công ty này phải trả tiền thanh toán ngay.

    • Nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ (deliver documents against acceptance-D/A): người mua khộng phải thanh toán ngay khi nhận bộ chứng từ mà phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu và sẽ thanh toán vào ngày đáo hạn.

    =>So với phương thức nhờ thu phiếu trơn thì phương thức nhờ thu kèm chứng từ có tính an toàn trong thanh toán cao hơn vì ngân hàng thay mặt người bán dùng bộ chứng từ khống chế người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Tuy nhiên , nhờ thu kèm chứng từ cũng không phải là phương thức thanh toán an toàn tuyệt đối với người xuất khẩu vì việc nhờ ngân hàng thu hộ tiền chỉ diễn ra sau khi người xuất khẩu đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng.

    4.Nhận Xét:

    Ưu điểm:

    An toàn cho cả người mua và người bán (đối với hình thức D/P)

    • Người mua:
    • Chủ động trong việc thanh toán
    • Nguời bán:
    • Đảm bảo việc thanh toán từ người mua (đối với hình thức D/P).

    Nhược điểm:

    • Người mua:
    • Nhận BCT giả.
    • Không đảm bảo về số lượng và chất lượng của lô hàng.
    • Người bán:
    • Tốc độ thanh toán chậm.
    • Không bảo đảm quyền lợi cho người mua vì việc thanh toán tuỳ thuộc vào ý thiện chí của người mua.
    • Người mua không nhận hàng.

    => Trong phương thức thanh toán này người bán chịu rủi ro co nhất.

    Giải pháp: nhằm giảm rủi ro cho người bán:

    • Người mua đặt cọc trước số tiền thanh toán.
    • Người mua mở L/C dự phòng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bán.
    • Đối với trường hợp người mua không nhận hang: người bán coá thể đàm phán với người mua để giảm giá, hay kiếm đối tác khác để bán.

     

     

    5.Giới thiệu nguồn pháp lý quốc tế điều chỉnh phương thức nhờ thu-URC (Unifprm Rules for Collection):

    URC do ICC (Phòng thương mại quốc tế trực thuộc Liên Hiệp quốc) ban hành vào năm 1956.

    Mục đích ra đời:

    • Thống nhất cách hiểu về phương thức nhờ thu.
    • Làm cơ sở giải pháp tranh chấp (nếu có).

    Do sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế , URC đã sửa đổi 3 lần . Gần đây nhất là URC 522  theo xuất bản số 522 năm 1995, có hiệu lực thực hiện từ 01/01/1996. Gồm 7 phần và 26 điều khoản:

    • Những điều khoản và định nghĩa chung.
    • Hình thức và cấu trúc của nhờ thu.
    • Hình thức nhờ thu.
    • Trách nhiệm và nghĩa vụ.
    • Thanh toán.
    • Lãi, phí và các chi phí khác.
    • Các điều khoản khác.
    • Văn bản này mang tính tuỳ ý.

     

    II. Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance):

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu, người mắc nợ…) uỷ nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định chuyển cho một người khác (người bán, người xuất khẩu, chủ nợ,…) ở một địa điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.

    2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền:

    Quy trình thanh toán chuyển tiền ứng trước (toàn bộ):

     

     

     

    Giải thích qui trình:

    • Người mua đến ngân hàng viết lệnh chuyển tiền và nộp các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của ngân hàng (hợp đồng ngoại thương một bản chính, một bản sao, giấy phép nhập khẩu nếu có…).
    • Nhân viên ngân hàng sau khi kiểm tra hồ sơ của nhà nhập khẩu thì thực hiện chuyển tiền bằng điện (TT) hoặc bằng thư (MT) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài, đồng thời thông báo cho nhà nhập khẩu biết lệnh chuyển tiền của họ đã được chấp thuận (2b).
    • Ngân hàng dịch vụ đại lý báo cho người bán.
    • Người bán giao hàng theo hợp đồng ngoại thương đã ký.

    Quy trình thanh toán chuyển tiền trả ngay hoặc trả chậm:

     
       

    Giải thích quy trình:

    • Sau khi thoả thuận đi đến ký hợp đồng mua bán ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho người nhập khẩu, đồng thời chuyển giao toàn bộ chứng từ cho người nhập khẩu.
    • Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ, hoá đơn… viết lệnh chuyển tiền gửi đến ngân hàng phục vụ mình.
    • Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền, gửi giấy báo nợ và giấy báo đã thanh toán cho nhà nhập khẩu.
    • Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh (bằng thư hay điện báo) cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài để chuyển tiền trả cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu (trực tiếp hoặc gián tiếp qua ngân hàng khác) và gửi giấy báo cho đơn vị đó.

     

    3.Hình thức chuyển tiền:

    Hình thức điện báo (telegraphic transfer-T/T)

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách ra lệnh bằng điện cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    Ví dụ thực tế: Ta có bảng hợp đồng ngoại thương sau

    Giải thích:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

                      Nhà xuất khẩu: Công ty Phong Cách Việt. địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quãn Bình Thạnh, Tp.HCM.

                      Và nhà nhập khẩu: Carmen Wallstein, địa chỉ: 8 Steen Lane, Somerset West 7129 Capetown, South Africa.

    Theo qui định hợp đồng áp dụng phương thức thanh toán T/T theo qui định hợp đồng, Carmen Wallstein sẽ trả trước 50% giá trị của hợp đồng tức là số tiền 549 USD, phần còn lại sẽ được trả sau khi Carmen Wallstein nhận được bản B/L qua fax từ Công ty Phong Cách Việt.

    Hình thức thư chuyển tiền (mail transfer-M/T):

    Ngân hàng chuyển tiền thực hiện việc chuyển tiền theo cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người hưởng lợi.

    =>Trong hai hình thức trên thì hình thức chuyển tiền bằng điện có lợi chi nhà xuất khẩu vì nhận tiền nhanh nhưng điện phí cao.

    4. Nhận xét:

    Ưu điểm:

    • Qui trình đơn giàn, dễ thực hiện.
    • Chi phí rẻ.
    • Thủ tục nhanh chóng.
    • Hạn chế sử dụng tiền mặt.

    Nhược điểm:

    Người mua:

    • Trả ngay khi nhận BCT: không yên tâm về chất lượng, số lượng hàng hoá.
    • Trả trước: Người bán không giao hang, giao hang thiếu.

    Người  bán:

    Không nhận được tiền thanh toán từ người mua.

    III. Phương thức đổi chứng từ trả tiền (Cash against documents-CAD)

    1. Khái niệm:

    Đây là phương thức thanh toán mà người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoả ký thác (Trust Account) để thanh toán tiền cho ngừơi xuất khẩu khi người xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu.

    Phương thức thanh toán này rất được ưa chuộng và khá phổ biến trên thế giới vì nhận tiền nhanh trong ngày và thủ tục ít phức tạp.

    Sơ đồ qui trình CAD:

    3.Nhận xét:

    Ưu điểm:

    Ngừơi bán: Nhà xuất khẩu thanh toán bằng phương thức này rất có lợi.

    • Giao hàng xong là lấy được tiền ngay và bộ chứng từ xuất trình đơn giản.
    • Đảm bảo vịêc thanh toán từ người mua.

    Người mua:

    • Không sợ BCT giả.
    • An tâm về việc giao hang của người bán vì đã sự giám sát của người đại diện.

    Nhược điểm:

    • Người mua: Không chắc đủ số lượng, chất lượng và người bán giao hang không đúng thời hạn.
    • Người bán: Người mua nhận được BCT nhưng chưa chắc họ trả tiền liền.

    3. Điều kiện áp dụng:

    • Người mua và người bán có quan hệ mua bán tốt, tin tưởng lẫn nhau.
    • Áp dụng trong mua bán những mặt hàng khan hiếm, bán chạy, thị trường ở bên người xuất khẩu.
    • Áp dụng cho phương thức trả tiền ngay, không áp dụng cho phương thức trả tiền chậm.

    IV. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (documentary credit):

    1. Khái niệm:

    Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngừơi thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp những quy định đã đề ra trong thư tín dụng.

     

     

    2.. Thư tín dụng (Letter of credit-L/C):

    a.Khái niệm:

    Thư tín dụng là một bức thư do ngân hàng viết ra theo yêu cầu của người nhập khẩu (người mở tín dụng thư) cam kết trả tiền cho người xuất khẩu ( người hưởng lợi) số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong lá thư đó.

                      Theo UCP 600:Thư tín dụng là bất cứ sự thoả thuận nào,dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không huỷ ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành về việc thanh toán cho bộ chứng từ hợp lệ.

    Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng của phương thức tín dụng thư.

    Tín dụng thư hoạt động theo 2 nguyên tắc:

    • Độc lập:

    Theo điều 4 UCP 600:

    Một thư tín dụng về bản chất là những giao dịch độc lập với hợp đồng thương mại hay các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở cho thư tín dụng. Ngân hàng không có ràng buộc với hợp đồng như vậy,ngay cả khi trong thư tín dụng có dẫn chiếu đến những hợp đồng này.Vì thế,cam kết của ngân hàng về việc thanh toán,chiết khấu hay thực thi bất cứ nghĩa vụ nào của Thư tín dụng không phụ thuộc vào sự khiếu nại hay biện hộ của người mở phát sinh từ mối quan hệ của người mở với ngân hàng phát hành hoặc với người hưởng.

    Bất kì trường hợp nào,người hưởng không được lợi dụng quan hệ giữa các ngân hàng hay giữa người mở với ngân hàng phát hành.

    Một ngân hàng phát hành không khuyến khích bất kì cố gắng nào của người mở để đưa những bản hợp đồng tiềm ẩn,hoá đơn tạm va những cái tương tự như vậy vào thư tín dụng như một bộ phận không thể tách rời.

    Theo điều 5 UCP600:

      Chứng từ và hàng hoá,dịch vụ hay các giao dịch khác ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ chứ không phải hàng hoá,dịch vụ hay giao dịch khác mà chứng từ đó có thể liên quan.

    • Tuân thủ nghiêm ngặt

    Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ giao hàng hoàn toàn phù hợp với L/C, đúng với các chỉ dẫn của người mua.

    b.Các loại thư tín dụng.

    Trong thanh toán quốc tế có những loại L/C thông dụng sau:

    b.1. Thư tín dụng có thể hủy bỏ( Revocable Letter of Credit):

    Nhận dạng loại L/C này:

    • Theo UCP -400, nếu L/C không ghi rõ chữ “Irrevocable” hoặc ghi rõ chữ “Revocable” thì đều là các loại L/C có thể hủy bỏ.
    • Nhưng theo UCP -500, trên L/C phải ghi rõ “Revocable L/C” thì mới coi là loại L/C có thể hủy bỏ.

    Đây là loại L/C mà ngân hàng mở L/C có thể sửa đổi, bổ sung hoặc có thể hủy bỏ L/C bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại L/C có thể hủy bỏ này trong thanh toán quốc tế ít được sử dụng bởi vì L/C có thể hủy bỏ thực chất chỉ là lời hứa trả tiền chứ không phải là sự cam kết.

    Những trường hợp áp dụng L/C có thể hủy bỏ :

    Người mua mở L/C có thể hủy bỏ để người bán có cơ sở xin phép giấy phép xuất khẩu. Sau khi nhận được giấy phép xuất khẩu, có 2 trường hợp:

    • Thư tín dụng có thể hủy ngay tự động có hiệu lực như một thư tín dụng không thể hủy ngang. Điều này cần phải định rõ trong L/C .
    • Người mua yêu cầu ngân hàng mở tín dụng không thể hủy ngang có nội dung tương tự như thư tín dụng hủy ngang đã mở.

    Các hợp đồng mua bán được kí kết qua điện thoại, telex, fax, email thường không được tin cậy và không đầy đủ để thực hiện hợp đồng. Do đó người mua thường mở thư tín dụng có thể hủy ngang để dễ dàng bổ sung và hoàn thiện. Khi người bán chấp nhận thư tín dụng này thì người mua mở thư tín dụng không thể hủy ngang cho người bán .

    Đối với thư tín dụng có thể hủy ngang, ngân hàng mở thư tín dụng vẫn có một số trách nhiệm như sau:

    • Hoàn trả tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản tiền thanh toán ngay, chấp nhận hoặc chiết khấu theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.
    • Hoàn lại tiền cho chi nhánh hoặc ngân hàng khác khi nơi này đã thanh toán những khoản trả chậm theo đúng các điều khoản của thư tín dụng trước khi nhận được thông báo của ngân hàng phát hành về việc sửa đổi hoặc hủy bỏ thư tín dụng đó.

    b.2 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C)

    • Việc hủy bỏ hay sửa đổi L/C phải được chấp thuận của Người thụ hưởng, ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận (nếu có).
    • Được sử dụng phổ biến rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế bởi vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu.
    • Theo UCP500, nếu tín dụng thư ghi không rõ có thể hủy ngang hay không hủy ngang thì được coi là không thể hủy ngang.
    • Theo UCP600, thư tín dụng là bất cứ sự thỏa thuận nào, dù được gọi hay mô tả như thế nào thì nó cũng không hủy ngang và vì vậy tạo thành cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành về việc thanh toán Bộ chứng từ hợp lệ.

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ KHÔNG HỦY NGANG

     

    Giải thích sơ đồ:

    (1) Người nhập khẩu và người xuất khẩu ký kết hợp đồng thương mại với điều khoản thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.

    (2) Người nhập khẩu làm giấy đề nghị mở tín dụng thư gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu.

    (3) Căn cứ vào yêu cầu và giấy đề nghị mở tín dụng thư, ngân hàng phát hành một thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo.

    (4) Ngân hàng thông báo nhận được bản gốc thư tín dụng sẽ thông báo ngay cho nguời xuất khẩu.

    (5) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng. Nếu không chấp nhận thì đề nghị người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng và tiến hành giao hàng.

    (6) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của thư tín dụng. Tuỳ theo nội dung L/C mà người xuất khẩu sẽ xuất trình đến ngân hàng được quy định trong L/C.

    (7) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ thanh toán, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hanh trả tiền cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng thông báo. Nếu thấy không phù hợp ngân hàng từ chối thanh toán và có thể gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu.

    (8) Ngân hàng mở thư tín dụng giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người nhập khẩu và yêu cầu thanh toán bồi hoàn.

    (9) Người nhập khẩu hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng.

    Ví dụ thực tế, ta có hợp đồng ngaọi thương sau:

    Giải thích bảng hợp đồng ngoại thương trên:

    Hợp đồng ngoại thương giữa:

    Nhà nhập khẩu:

    Công ty Phương Đông, địa chỉ :107 Võ Trần Toản, Phường 2, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

    Và nhà xuất khẩu:

    B.Q  Plast Public Company Limited, địa chỉ: 19/111 Moo 7 Thkarm Rd, Samaedam Bangkhuntien, Bangkok 10150, Thailand.

    Theo hợp đồng sẽ thanh toán bằng phương thức L/C trả ngay không hủy ngang giá trị hóa đơn. Theo đó ngày 12/3/09, Công ty Phương Đông đến ngân hàng Đông Á đề nghị mở L/C trị giá 37400USD. Ngân hàng Đông Á sau khi xem xét và tiến hành mở L/C dựa trên hợp đồng số PN 387 ngày 07/03/09.

    Sau đó ngân hàng Đông Á gửi L/C đến ngân hàng người thụ hưởng là Bankok bank publicCo.,LTD, khi nhận được L/C, ngân hàng này sẽ thông báo đến BQ. Plast Public Company Limited; nếu không tu chỉnh thì nhà xuất khẩu sẽ tiến hành giao hàng theo qui định trong hợp đồng. Tiếp theo nhà xuất khẩu sẽ hoàn chỉnh bộ chứng từ và đem đến cho Bankok bank publicCo.,LTD kiểm tra và nhận tiền .

     b.3 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed Irrevocable L/C):

    Là loại L/C không thể hủy ngang và được một ngân hàng có uy tín đảm bảo thanh toán theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C.

    Loại L/C này được yêu cầu khi người bán không hiểu rõ khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành. Ngân hàng đảm bảo này được gọi là ngân hàng xác nhận (Confirming bank). Phí xác nhân rất cao, gấp 3 lần phí mở L/C.

     

    Ký kết hợp đồng ngoại thương
    Nhà xuất khẩu
    Nhà nhập khẩu

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ XÁC NHẬN

           
         
     
       

    b.4 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C)

    • Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.
    • Người thụ hưởng đầu tiên chỉ được chuyển nhượng cho một hoặc nhiều người thụ hưởng thứ hai.
    • Có thể chuyển nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C .
    • Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ CHUYỂN NHƯỢNG

    b.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C):

    Là L/C không hủy ngang, trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất giá trị hợp đồng. Loại L/C này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu, nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không đổi.

    • L/C tuần hoàn chia làm 2 loại
      • Loại L/C tuần hoàn có tích lũy : là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
      • Loại L/C tuần hoàn không tích lũy: là loại L/C không cho phép chuyển số dư của đợt giao hàng trước vào đợt giao hàng sau
    • L/C có thể chia ra làm 3 cách tuần hoàn
      • L/C tuần hoàn tự động : hết hạn đợt giao hàng trước thì đợt giao hàng sau tự động có giá trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C
      • L/C tuần hoàn không tự động: đợt giao hàng sau muốn có giá trị, phải có sự thông báo của ngân hàng mở L/C .
      • L/C tuần hoàn bán tự động: nếu sau ngày kể từ ngày mở L/C, trước thời hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị L/C mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C sau sẽ tự động có hiệu lực

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ TUẦN HOÀN

     
       

    b.6 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) :

    • Là loại L/C mở dựa vào một L/C khác . Nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình, người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng mình mở một L/C khác dựa vào L/C gốc cho nhà cung cấp hàng hóa với nội dung gần giống như L/C ban đầu  (master L/C) .L/C mở sau gọi là L/C giáp lưng.
    • Loại L/C này thường áp dụng đối với trường hợp mua bán qua trung gian
    • Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc
    • Kim ngạch L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc.
    • Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc.

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ GIÁP LƯNG

     

    b.7.Thư tín dụng dự phòng (Stand-by letter of credit):

    • L/C quy định ngân hàng thanh toán thay cho người xuất khẩu/ nhập khẩu nếu họ không thực hiện theo cam kết như L/C quy định .
    • Trị giá của L/C Stand-by khoảng 2%-15% trị giá hợp đồng ngoại thương.
    • Thường áp dụng đảm bảo cho nghiệp vụ thanh toán tiền ứng trước , hoàn tiền đặt cọc , đảm bảo giao hàng…
    • Loại L/C này được áp dụng phổ biến ở Anh và Mỹ.

     

     

     

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ DỰ PHÒNG

     

     

     

    b.8 Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red-clause L/C):

    Là một sự ủy quyền của ngân hàng mở L/C đối với ngân hàng chiết khấu ,ứng trước một khoản tiền cho người được hưởng, để giúp người này có thê nguồn vốn giao hàng cho L/C đã mở. Theo L/C này khi nhận tiền thanh toán người được hưởng chỉ nhận được số tiền bằng số tiền  của hóa đơn trừ đi số tiền đã ứng trước theo điều khoản đỏ.

    L/C này được chia làm 2 loại:

    • L/C điểu khoản đỏ không đảm bảo: là khoản tiền ứng trước không được đảm bảo đối với ngân hàng mở L/C.
    • L/C điều khoản đỏ có đảm bảo: là bên cạnh các giấy tờ trên, người xuất khẩu còn phải xuất trình thêm chứng từ có giá trị như bảo lãnh của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu hay giấy nhập kho.

     

     

     

     

     

    SƠ ĐỒ QUY TRÌNH TÍN DỤNG THƯ ĐIỂU KHOẢN ĐỎ

     

     

     

     

    b.9 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C):

                      Là loại L/C được qui định là chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng với nó được mở ra. Nghĩa là khi người xuất khẩu nhận được L/C do người nhập khẩu mở, thì mở lại một L/C tương ứng thì mới có giá trị.

                      L/C ban đầu thường có ghi: “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để chỉ người mở L/C này hưởng” và trong L/C đối ứng phải ghi câu “L/C này đối ứng với L/C số…ngày…qua ngân hàng…”.

                      L/C đối ứng thường được sử dụng trong việc mua bán trên cơ sở đổi hàng (Barter), ngoài ra không loại trừ khả năng dùng để thanh toán trong những phương thức gia công quốc tế có nhiều phức tạp.

    Sơ đồ qui trình nghiệp vụ thư tín dụng đối ứng:

     

     

     

     

     

     

     

    Ngoài ra còn có các loại thư tín dụng đặc biệt khác:

    • Thư tín dụng thanh toán (payment credits)
    • Thư tín dụng chấp nhận (acceptance credits)
    • Thư tín dụng thương lượng (negotiation credits)
    • Thư tín dụng nhờ thu (collection credits)
    • Thư tín dụng có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng điện (TTR credits)
    • Thư tín dụng không có điều khoản bồi hoàn bằng điện (non-TTR credits)

    3. Ưu và nhược điểm:

    • Ưu điểm:
    • Rất an toàn cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu
      • Nhược điểm:
        • Chi phí cao
        • Thời gian thanh toán chậm.
        • Phức tạp
        • Tuy an toàn nhưng vẫn tồn tại một số rủi ro.

     

    4. Rủi ro và cách phòng tránh:

    Đối với nhà xuất khẩu:

                      Phương thức thanh toán L/C là phương thức thường được áp dụng nhiều nhất vì nó đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong thanh toán. Tuy nhiên đây không phải là phương thức an toàn tuyệt đối cho nhà xuất khẩu. Sau đây là một số rủi ro mà nhà xuất khẩu thường  gặp:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung của rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Rủi ro từ phía ngân hàng phát hành L/C không có uy tín thanh toán. Ngân hàng không giữ đúng cam kết thanh toán
    1. Lựa chọn ngân  ngân hàng đích danh có uy tín ngay từ khâu ký kết hợp đồng.
    2. L/C được xác nhận bởi ngân hàng được nêu đích danh hoặc chi nhánh của ngân hàng phát hành tại nước xuất khẩu.
    2. Rủi ro doanh nghiệp xuất khẩu không thực hiện được đúng những điều kiện mà L/C quy định a. Thời gian giao hàng chậm so với quy định củ L/C.

     

    b. Chuyên chở hàng hóa không đúng qui định của L/C.

    c. Giao hàng không đúng cơ cấu yêu cầu.

    Dùng kinh nghiệm thực tế để lập bảng chiết tính thời gian, gồm hai bảng:

     

    • Thời gian thu mua và chuẩn bị hàng hóa
    • Thời gian đưa hàng lên tàu

    Nếu không thỏa mãn với khung thời gian cho phép trong L/C thì phải tu chỉnh ngay.

    Trường hợp chuyển tải:

    −    Điều tra từ trước về tuyến đường vận tải

    −    Xem hãng tàu mạnh ở tuyến nào.

    −    Thuê tàu chuyến nếu tàu lớn.

    −    Tu chỉnh rồi mới giao hàng nếu không giải quyết vấn đề chuyển tải được.

    Trường hợp giao hàng từng phần, nhà xuất khẩu đọc kỹ L/C và đề nghị tu chỉnh khi cần.

    −    L/C cho phép giao hàng mấy lần

    −    Thời gian, khối lượng của từng lần giao hàng

    o   Đọc kỹ L/C và chuẩn bị hàng hóa theo đúng qui định.

    o   Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

    3. Rủi ro trong khâu thanh toán Người xuất khẩu lập BCT lập không đúng quy định của L/C.
    • Bố trí nhân sự giỏi về nghiệp vụ ở khâu lập BCT.
    • Lụa chọn đối tác nhập khẩu có thiện chí.
    • Đọc nghiên cứu kỹ qui định của L/C đối với BCT.
    • Nghiên cứu kỹ những rủi ro sai sót thường gặp đối với từng chứng từ lập và cách khắc phục.

    Thỏa thuận ngay với nhà nhập khẩu từ khâu ký hợp đồng ngoại thương về các chứng từ cần xuất trình khi thanh toán.

    Đề nghị tu chỉnh L/C khi cần.

     

    Đối với nhà nhập khẩu:

    Nguồn gốc rủi ro Nội dung rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro
    1. Từ phía nhà xuất khẩu Không cung cấp được hàng hóa theo đúng qui định của L/C mặc dù người nhập khẩu đã khuynh loát vốn cho L/C. o Tìm hiểu kỹ bạn hàng

     

    o Tham vấn ý kiến ngân hàng về lịch sử kinh doanh của người cung cấp.

    o Quy định trong hợp đồng điều khoản Penalty, trong đó quy định phạt bên nào khọng thực hiện nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ.

    o Yêu cầu kí quỹ cả hai bên tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện hợp đồng.

    o Yêu cầu những công cụ của ngân hàng như: Standby letter of credit, Bank Guaratee, Performance bond…để bảo vệ quyền lợi nhà nhập khẩu.

    2. Thanh toán dựa trên chứng từ mà thôi o Chứng từ giả

     

    o Chứng từ không trung thực

    o Mâu thuẫn giữa hàng hóa và chứng từ

    o Yêu cầu về nội dung chứng từ và hình thức chứng từ phải rất chặt chẽ, không yêu cầu chung chung.

     

    o Những chứng từ phải do các cơ quan đáng tin cậy cấp.

    o Vận đơn do hãng tàu đích danh lập với lô hàng nhập khẩu lớn. Khi xếp hàng hóa phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu  để kịp thời đối chiếu sự thật giả của vận đơn và lịch trình tàu.

    o Đề nghị nhà xuất khẩu gởi ngay 1/3 bộ vận đơn gốc thẳng tới nhà nhập khẩu.

    o Hóa đơn thương mại có thể được đòi hỏi phải có sự xác nhận  của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc của phòng thương mại hoặc đòi hẳn hóa đơn lãnh sự.

    o Giấy chứng nhận số lượng, chất lượng phải có sự giám sát của đại diện phía nhà nhập khẩu hoặc đại diện của thương mại Việt Nam.

    o Cung cấp giấy chứng nhận, kiểm tra.

    3. Các rủi ro khác Hãng tàu không tin cậy

     

    Hư hỏng hàng hóa

    o Giành quyền chủ động thuê tàu(nhập khẩu theo điều kiện nhóm F)

     

    o Chỉ định hãng tàu nổi tiếng, đặc biệt nên thuê tàu của các hãng có văn phòng giao dịch tại nước nhà nhập khẩu.

    o Mua bảo hiểm cho hàng hóa.

    o Trong hợp đồng nên ràng buộc trách nhiệm của nhà xuất khẩu trong vấn đề xếp hàng lên tàu như nhập khẩu theo điều kiện FOB stowed, CFR stowed, CIF stowed…

    4. Rủi ro từ phía ngân hàng mở L/C Ngân hàng này không đảm bảo khả năng thanh toán. o Yêu cầu mở L/C tại các ngân hàng uy tín, có tên tuổi

     

    o Ngân hàng xác nhận được chỉ đích danh hay là ngân hàng đại lý của ngân hàng phát hành L/C tại nước xuất khẩu.

     

     

    5.Giới thiệu “Qui tắc và thực hiện thống nhất về tín dụng chứng từ”

    1. UCP 500:

                      UCP 500 – Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ là những quy định được soạn thảo bởi Phòng thương mại quốc tế( (Paris) có hiệu lực từ 01/01/1994, nhưng được coi là “luật” quốc tế về ngân hàng trong giao dịch tín dụng chứng từ và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

    UCP 500 gồm 7 phần, 49 điều khoản:

    Quy định chung và định nghĩa                                                Từ điều 1 đến điều 5

    Hình thức và thông báo tín dụng thư                                     Từ điều 6 đến điều 12

    Nghĩa vụ và trách nhiệm                                                         Từ điều 13 đến điều 19

    Chứng từ                                                                                 Từ điều 20 đến điều 38

    Những quy định khác                                                             Từ điều 39 đến điều 47

    Tín dụng thư chuyển nhượng                                                 Điều 48

    Chuyển nhượng tiền hàng xuất khẩu                                      Điều 49

    a.1 Phạm vi áp dụng:

    • Áp dụng tất cả các tín dụng chứng từ, kể cả tín dụng thư dự phòng, nếu tín dụng thư có dẫn chiếu áp dụng bản quy tắc này.
    • Trừ khi tín dụng thư quy định khác, bảng quy tắc ràng buộc tất cả các bên liên quan.

     

     

     

    b.UCP 600:

    b.1 Lý do chỉnh sửa UCP 500:

    • Nhằm giảm thiểu về các tranh chấp trong giao dịch tín dụng chứng từ giữa các quốc gia do các điều khoản của UCP 500 không rõ ràng.
    • Nhằm giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp trong việc tranh cãi các chứng từ không phù hợp với L/C.
    • Nhằm đơn giản hóa, giải thích rõ nghĩa các quy tắc của UCP 500.
    • Nhằm chuẩn hóa các điều khoản L/C phù hợp với thực tế trong giao dịch thương mại quốc tế.

    b.2 Những điều khoản thay đổi của UCP 600:

    • UCP 600 gồm 39 điều khoản và đã loại bỏ 8 điều khoản của UCP 500.
    • Các điều khoản giải thích rõ ràng dễ hiểu.
    • Xác định rõ ràng về mối quan hệ giữa tín dụng thư và hợp đồng, trách nhiệm ngân hàng phát hành về tu chỉnh L/C.
    • Quy định tiêu chuẩn kiểm chứng từ, từ chối và thông báo chứng từ bất hợp lệ.
    • Quy định cụ thể các chứng từ liên quan vận tải, bảo hiểm.

    Hiệu lực của UCP 600

    Có hiệu lực từ 01/07/2007.

    V. Phương thức thanh tóan ghi sổ ( Open Account):

    1. Khái niệm:

    Là phương thức thanh toán mà trong đó người xuất khẩu sau khi thực hiện giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu, thì mở một tài khoản (hoặc 1 cuốn sổ) ghi nợ cho người mua và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện sau một thời hạn nhất định do 2 bên mua bán thỏa thuận trước.

    Phương thức này chỉ thực hiện khi người xuất khẩu tin tưởng hoàn toàn vào khả năng tài chính của người mua vào ngày đáo hạn và đây cũng là hình thức cấp tín dụng thương mại của người xuất khẩu cho người nhập khẩu.

    2. Quy trình thanh toán ghi sổ:

    (1)              người bán giao hàng và gửi bộ chứng từ cho người mua.

    (2)              người bán gửi giấy báo nợ cho người mua.

    (3)              người mua đến ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền trả cho người bán.

    (4)              ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền trả cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng dịch vụ người xuất khẩu.

    (5)              ngân hàng báo có cho người xuất khẩu.

    3. Nhận xét:

    • Ưu điểm:
      • Ngân hàng không tham xử lý các chứng từ và can thiệp vào quá trình thanh toán nên các thủ tục được giảm nhẹ, tiết kiệm được chi phí thanh toán.
      • Đối với người xuất khẩu: đây là hình thức khuyến mãi bán chịu, tăng khả năng bán hàng, thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài đối với bên mua.
      • Đối với người mua: đây là phương thức thanh toán rất có lợi, thường bán xong hàng mới trả tiền. quyền định đoạt về hàng hóa và thanh toán do người mua quyết định.
    • Nhược điểm:
      • Đây là phương thức thanh toán không có lợi đối với người xuất khẩu: rủi ro trong thanh toán cao, vốn lưu động bị ứ đọng.

    4. Điều kiện áp dụng:

    Khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam nên áp dụng trong các trường hợp:

    • Là nhà nhập khẩu.
    • Áp dụng thanh toán giữa công ty mẹ và các công ty con có trụ sở đóng ở các nước.
    • Người bán và người mua có quan hệ tin cậy, người bán khống chế được sự trả tiền của người mua.

    VI. Mua bán đối lưu( Counter Trade):

    1.Khái niệm:

    Thực chất đây là phương thức thanh toán không sử dụng tiền làm phương tiện toán, mà dùng hàng hóa đổi lấy hàng hóa.

    Có 2 hình thức mua bán đối lưu cơ bản

    • Barter: hàng đổi hàng, người bán đồng thời là người mua, người mua đồng thời là người bán: Giao gạo để lấy phân bón, bán phân bón để mua gạo
    • Buy-Back: là hình thức người bán cung cấp máy móc, thiết bị, công nghệ…và người mua sử dụng chúng để làm ra sản phẩm giao lại cho người bán.

    2.Nhận xét:

    • Ưu điểm của hình thức thanh toán hàng đổi hàng là mở rộng khả năng xuất khẩu sang thị trường thiếu ngoại tệ mạnh để mua hàng. Giảm được sự rủi ro trong thanh toán, khi có sự biến động về tỉ giá hối đoái.
    • Nhược điểm: thực hiện thanh toán và đảm bao hàng đổi hàng phức tạp đặc biệt trong trường hợp nhu cầu về trao đổi hàng hai bên mua bán khác nhau: ví dụ bán gạo để mua phân bón nhưng người mua phân bón cần café.

    VII. Trả tiền mặt ( by cash):

    Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn đặt hàng của người mua.

    Phương thức thanh toán này tuy đơn giản nhưng hiện nay ít được áp dụng trong thanh toán quốc tế vì rủi ro cao và hiệu quả thấp.

     

    B. Tình Hình Sử Dụng các Phương Thức Thanh Toán Của Một Số Doanh Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố:

    1. Công ty Bắc Sinh. (Nguồn: do chị Dương Thị An Ry, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Bắc Sinh cung cấp)
    • Địa chỉ: 170 QL1A, phường Tân Thới Nhất, Quận 12, TP.HCM
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực gia công hàng may mặc xuất khẩu.
    • Thị trường xuất khẩu: Châu Âu nhưng chủ yếu là Mỹ.
    • Phương thức thanh toán quốc tế mà Công ty áp dụng: do là một đơn vị gia công nên Công ty sử dụng phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức T/T

                      Do Công ty làm ăn dựa trên sự tin tưởng với khách hàng và giá trị hợp đồng không cao => khả năng xảy ra rủi ro thấp . Vì vậy theo Công ty, nhà nhập khẩu không cần đặt cọc truớc số tiền thanh toán

    1. Công Ty Cổ Phần Thủ Công Mỹ Nghệ Phong Cách Việt – Viet Style Handicrafts Corporation.(Nguồn: do chị Lê Thị Trúc Mai, nhân viên xuất nhập khẩu của Công ty Phong Cách Việt cung cấp)
    • Địa chỉ: 16/38 đường 304, phường 25, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Lĩnh vực kinh doanh: Công ty chuyên về lĩnh vực xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: tranh sơn mài, các loại bàn ghế bằng mây, tre…
    • Thị trường xuất khẩu chủ yếu là châu âu.
    • Các phương thừc thanh toán quốc tế mà Công ty thường sử dụng trong các hợp đồng:
    • Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

    Đối với những trường hợp: giá trị đơn đặt hàng lớn, bảo đảm đúng thời gian cho nhà nhập khẩu …, những khách hàng mà Công ty không tin tưởng vào  khả năng thanh toán của họ (Châu Phi) =>  Công ty thường áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Các bước thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ của công ty và nhà nhập khẩu hoàn toàn tương tự như lý thuyết đã nêu ở mục A. Ngân hàng thông báo của Công ty là ngân hàng Vietcombank. Loại L/C mà Công ty thường áp dụng là L/C không huỷ ngang.

    • Phương thức thanh toán chuyển tiền bằng hình thức điện báo (T/T) (thường áp dụng nhiều nhất):

    Đối với phương thức thanh toán bằng T/T,  đa phần khách hàng của Công ty phải đặt cọc 40% số tiền thanh toán. Sau khi Công ty hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và fax B/L cho nhà nhập khẩu thì nhà nhập khẩu sẽ chuyển 60% số tiền thanh toán còn lại cho Công ty và Công ty sẽ gửi bộ chứng từ cho người bán.

    Công ty chọn giải pháp đặt cọc tiền để tránh trường hợp nhà nhập khẩu không nhận hàng hoặc nếu có thì thiệt hại sẽ được giảm bớt.Trong trường hợp đối tác là khách hàng tin cậy, làm ăn lâu năm, Công ty sẽ giảm số tiền đặt cọc xuống. Công ty thường áp dụng phương thức này đối với những hợp đồng có giá trị không cao chỉ vào khoảng 5-10 triệu USD.

    Phân tích mô hình Swot về vấn đề lựa chọn phương thức thanh toán T/T:

    Điểm mạnh Điểm yếu
    o Việc nhà nhập khẩu đặt cọc 40% số lượng tiền thanh toán giúp cho Công ty giảm thiểu được rủi ro trong việc thanh toán

     

    o Nhận được tiền thanh toán nhanh giúp cho Công ty có thể xoay vòng vốn nhanh.

    o Thủ tục nhanh chóng, đơn giản, chi phí thấp.

    o Việc nhận hàng phụ thuộc vào ý muốn của nhà nhập khẩu. Do đó Công ty dễ gặp rủi ro nếu nhà nhập khẩu không thanh toán 60% số tiền thanh toán còn lại.

     

    o Hàng hóa bị tồn đọng do nhà nhập khẩu không nhận hàng, gây khó khăn cho Công ty

    Cơ hội Thách thức
    o Nhà nhập khẩu đặt cọc trước 40% :

     

    ·   Sẽ làm gia tăng nguồn vốn sản xuất kinh doanh của Công ty, do đó tránh được tình trạng vay ngân hàng khi Công ty thiếu vốn

    ·   Tạo điều kiện cho Công ty thực hiện tốt hợp đồng nhằm tạo uy tín cho Công ty, nhờ vậy nhận được nhiều hợp đồng hơn.

    o Công ty cần tạo sự tin tưởng cho bên mua vì có những trường hợp nhà xuất khẩu nhận tiền đặt cọc nhưng không chịu sản xuất.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Các phương thức thanh toán quốc tế trong kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-n%C3%A2ng-cao-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-b%E1%BA%B1ng-LC-t%E1%BA%A1i-Sacombank.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Giải pháp nâng cao dịch vụ thanh toán quốc tế bằng L/C tại Sacombank

    Phần 1: Cơ Sở Lý Luận Về Thanh Toán Quốc Tế

    I.             Khái quát chung:

    Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn.

    Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thương đối với các nước tư bản chủ nghĩa có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức thanh toán chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ…Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Vì vậy việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp,  phải được hai bên bàn bạc thống nhất ghi vào hợp đồng mua bán ngoại thương.

    II.           Một số phương thức thanh toán quốc tế

    1.    Phương thức chuyển tiền: (Remittance-Remise)

    Phương thức chuyển tiền là phương thức đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người trả tiền, người nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác ( người thụ hưởng, người xuất khẩu) ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định.

    Trong phương thức chuyển tiền có các bên liên quan

    • Người phát lệnh chuyển tiền,
    • Ngân hàng nhận thực hiện việc chuyển tiền(ngân hàng nơi đơn vị chuyển tiền mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ).
    • Ngân hàng chi trả, chuyển tiền (ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền).
    • Người nhận chuyển tiền (người bán, tổ chức xuất khẩu)

    Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai cách:

    • Chuyển tiền bằng điện (T/T Telegraphic Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.
    • Chuyển tiền bằng thư (M/T Mail Transfer): ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền bằng cách gửi thư ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.

    Trong phương thức chuyển tiền Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thực hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng thủ tục phí(hoa hồng) và không bị ràng buộc gì cả. Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua do đó nếu dùng phương thức này quyền lợi của tổ chức xuất khẩu không đảm bảo. Phương thức chuyển tiền ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế. Nó được sử dụng chủ yếu trong thanh toán phi mậu dịch, cũng như các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như cước vận tải, bảo hiểm, bồi thường…

    2.    Phương thức ghi sổ (Open account-Compte Ouvert)

    Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu khi xuất khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ thì ghi nợ cho bên nhập khẩu vào một cuốn sổ riêng của mình và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện trong thời kỳ nhất định (hàng tháng, quý).

    Khi thực hiện phương thức này, tức là tổ chức xuất khẩu đã thưc hiện một tín dụng thương mại. Thông thường phương thức này chỉ áp dụng trong thanh toán giữa hai đơn vị quan hệ thường xuyên và tin cậy lẫn nhau.

    3.    Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment-Encaissement)

    Phương thức thanh toán nhờ thu được thực hiện theo “quy tắc thống nhất về nghiệp vụ nhờ thu” do phòng thương mại quốc tế ban hành số xuất bản 522-1995 có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1996 (The uniform rules for collection-ICC- PUB N-522-1995 Revision).

    Phương thức nhờ thu là nghiệp vụ xử lý của ngân hàng đối với các chứng từ quy định theo đúng chị thị nhận được nhằm để:

    • Chứng từ đó được thanh toán hoặc được chấp nhận.
    • Chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoặc chuyển giao khi chứng từ được thanh toán hoăc được chấp nhận
    • Chuyển giao chứng từ theo đúng các điều khoản và điều kiện khác.

    Chứng từ (Documents) bao gồm:

    • Chứng từ tài chính (financail documents): hối phiếu, lệnh phiếu, séc…
    • Chứng từ thương mại (commercail documents):hóa đơn, vận đơn, giấy chứng nhận số lượng, chất lượng, phiếu đóng gói,….

    Người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra.

    Các thành phần chủ yếu tham gia phương thức thanh toán này như sau:

    • Người xuất khẩu
    • Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu
    • Ngân hàng đại lý của ngân hàng phục vụ người xuất khẩu (đó là ngân hàng quốc gia của người nhập khẩu)
    • Người nhập khẩu

    Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau:

    1. Nhờ thu trơn (Clean Collection): Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra, không kèm theo một điều kiện nào cả của việc trả tiền.

    Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu. Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian đơn thuần, thu được hay không thì ngân hàng cũng thu thù tục phí, Ngân hàng không chịu trách nhiệm nếu bên nhập khẩu không chịu thanh toán. Vì vậy nếu là tổ chức xuất khẩu ta chỉ sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu trơn trong trường hợp là tín nhiệm hoàn toàn tổ chức nhập khẩu, hoặc là giá trị xuất khẩu nhỏ, thăm dò thị trường, hàng hóa ứ đọng khó tiêu thụ…

    1. Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng.

    Như vậy trong trường hợp đơn vị nhập khẩu không đồng ý trả tiền, thì ngân hàng không giao bộ chứng từ tức là hàng hóa đã cung ứng qua nước nhập khẩu vẫn thuộc quyền sở hữu của nước nhập khẩu.

    Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ có hai trường hợp:

    • Nếu là nhờ thu trả tiền ngay (D/P- Documents against payment) thì tổ chức nhập khẩu phải trả tiền thanh toán ngay, ngân hàng mới gia bộ chứng từ gốc để nhân hàng.
    • Nếu là nhờ thu chấp nhận trả tiền theo chứng từ (D/A- Documents against acceptance) thỉ tổ chức nhập khẩu chỉ cần ký chấp nhận lên hối phiếu, Ngân hàng sẽ giao bộ chứng từ.

    Theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ này ngân hàng không chỉ là người thu hộ tiền mà còn là người khống chế bộ chứng từ hàng hoá. Vai trò Ngân hàng được nâng cao thêm trách nhiệm.Với cách khống chế này quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo hơn.

    III.          Phương thức tín dụng chứng từ:

    Trong các phương thức thanh toán đã trình bày ở phần trước, chúng ta thấy rằng ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán mà  không hề có cam kết gì về việc chắc chắn thu được tiền cho nhà xuất khẩu, cho nên, quyền lợi của nhà xuất khẩu vẫn chưa được đảm bảo. Muốn có sự cam kết thu được tiền từ phía ngân hàng, nhà xuất khẩu nên dùng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

    1.    Sơ lược về ICC-UCP 500

    Nội dung phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực hiện theo bản “Quy tắc và thực hành  thống nhất về tín dụng chứng từ” (UCP-Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) do Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC- International Commercial of Chamber) ban hành. Văn bản đầu tiên được xuất bản năm 1933 sau đó được sửa đổi và bổ sung qua các năm 1951,1962,1974,1983 (thường gọi là UCP 400) và năm 1993 (UCP 500) có giá trị hiệu lực kể từ ngày 1/1/1994. Gần đây nhất là ngày 25/10/2006 ICC đã công bố UCP 600 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2007.

    UCP là một văn bản pháp lý quốc tế không mang tính chất bắt buộc các bên mua bán quốc tế phải áp dụng. Do đó nếu áp dụng UCP thì phải dẫn chiếu điều ấy trong thư tín dụng của mình. Đến nay đã có hơn 160 nước trên thề giới công nhận và tuyên bố áp dụng UCP. Điều đáng lưu ý là các văn bản ra đời sau không hủy bỏ các văn bản trước đó, cho nên các văn bản đều có giá trị thực hành trong thanh tóan quốc tế.

    Ngoài ra UCP 500 còn nhân mạnh đến việc thanh toán chỉ dựa vào chứng từ, đồng thời đa dạng hóa việc sử dụng thư tín dụng (L/C) ngoài việc dùng chủ yếu trong thương mại, nay còn có thể sử dụng các hoạt động phi thương mại như đầu tư, dịch vụ du lịch…UCP500 chỉ áp dụng trong thanh toán quốc tế không áp dụng trong thanh toán nội địa

    Nội dung của UCP500 gồm 49 điều khoản chia ra làm 7 phần:

    • Phần A gồm 5 điều (1-5) các quy định chung và định nghĩa
    • Phần B gồm 7 điều (6-12) quy định các hình thức và thông báo thư tín dụng
    • Phần C gồm 7 điều (13-19) quy định nghĩa vụ và trách nhiệm của ngân hàng, các trường hợp miễn trách.
    • Phần D gồm 19 điều (20-38) quy định về các loại chứng từ, chủ yếu là chứng từ vận tải, bảo hiểm, hóa đơn thương mại.
    • Phần E gồm 9 điều (39-47) các quy định khác như thời hạn hiệu lực, dung sai, số lượng, số tiền, thời gian xuất trình.
    • Phần F gồm 1 điều (48) quy định về việc chuyển nhượng số tiền thu được của người hưởng lợi.
    • Phần G gồm 1 điều (49) quy định nhượng tiền thu được

    Khi thực hiện phương thức tín dụng chứng từ cần tham khảo thêm:

    Bản Quy tắc thống nhất hoàn trả liên bang theo tín dụng chứng từ (The Uniform Rules For Bank-To-Bank Reimbursement Under Documentary Credits-URR 525-1995-ICC) có giá trị từ 1/7/1996.

    Phụ bản của UCP: bao gồm UCP 500.1 và UCP 500.2

    UCP 500.1 hay còn gọi là eUCP (The Supplement To The Uniform And Practice For Documentary Credits For Electronic Presentation) xuất bản 1/2002 áp dụng cho xuất trình chừng từ điện tử theo L/C. eUCP co 12 điều khoản.

    UCP 500.2 hay còn gọi là ISBP 645 (The International Standard Banking Pratice For Examination For Documents Under Documentary Credits). Thực hành nghiệp vụ ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ theo L/C xuất bản 10/2002

    • Một số điểm khác nhau cơ bản giữa UCP 500 và UCP 600:

    Thứ nhất, về hình thức, UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500), trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500. Chẳng hạn, điều 2 “Definitions” (Định nghĩa) của UCP 600 đã nêu ra một loạt định nghĩa như: Advising bank, Applicant, Beneficiary, Complying presentation, Confirmation, Confirming bank, Credit, Honour, Negotiation, Presentation…

    Thứ hai, UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ.

    Thứ ba, UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C.

    Thứ tư, theo UCP 600, ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ cho người yêu cầu mở thư tín dụng khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của họ.

    2.    Khái niệm về tín dụng chứng từ

    Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng-mở L/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp thuận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ

    Qua khái niệm phương thức tín dụng chứng từ, ta có thể thấy các bên tham gia gồm có:

    • Người xin mở L/C ( Applicant): thông thường là người mua, tổ chức nhập khẩu.
    • Người hưởng lợi (Beneficiary): là người bán hay là người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở hay ngân hàng phát hành thư tín dụng (The Issuing Bank): là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhâp khẩu và xuất khẩu thỏa thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng thương mại. Nếu không có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn.
    • Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The Advising Bank): là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, thông báo cho nhà xuất khẩu biết thư tín dụng đã mở. Ngân hàng này thường là ở nước người xuất khẩu và có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành thư tín dụng

    Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này, bao gồm:

    • Ngân hàng xác nhận (The Confirming Bank): là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho bên xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể vừa là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do bên xuất khẩu yêu cầu. Thường là một ngận hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế.
    • Ngân hàng thanh toán (The Paying Bank): có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác do ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền hay chiết khấu hối phiếu cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng thương lượng (The Negotiating Bank): là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C quy định thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định.
    • Ngân hàng chuyển nhượng (The Transfering Bank), Ngân hàng chỉ định (The Nominated Bank), Ngân hàng hoàn trả (The Reimbursing Bank), Ngân hàng đòi tiền (The Claiming bank), Ngân hàng chấp nhận (The Accepting Bank), Ngân hàng chuyển chứng từ (The Remitting Bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng.

    3.    Nội dung thư tín dụng (L/C):

    Mặt khác khái niệm tín dụng chứng từ còn cho chúng ta thấy rằng tín dụng thư hay còn gọi là thư tín dụng là văn bản quan trọng nhất trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Vậy thư tín dụng là gì?

    • Thư tín dụng (Letter of Credit) gọi tắt là L/C là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người thụ hưởng một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định nếu người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã nêu trong văn bản đó

    Thư tín dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng thương mại, tức là phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu của hợp đồng để người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng. Nhưng sau khi đã được mở, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hoạt động thương mại đó. Điều đó có nghĩa là khi thanh toán, ngân hàng chỉ căn cứ vào nội dung thư tín dụng mà thôi.

    Nội dung thư tín dụng gồm có các phần sau:

    • Số hiệu mở L/C:

    Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C. Số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C.

    • Địa điểm mở L/C:

    Là nơi ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Địa điểm này có liên quan đến việc tham chiếu luật lệ áp dụng, giải quyết xung đột, bất đồng xảy ra (nếu có).

    • Ngày mở L/C:

    Là ngày bắt đầu phát sinh vá có hiệu lực về sự cam kết của ngân hàng mở L/C đối với người thụ hưởng, là ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của người nhập khẩu. là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cũng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhâp khẩu có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn như trong hợp đồng không.

    • Loại thư tín dụng:

    Mỗi loại L/C đều có tính chất, nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của những người liên quan cũng rất khác nhau. Do đó khi mở thư tín dụng, người có nhu cầu cần phải xác định cụ thể loại thư tín dụng cần mở.

    • Tên và địa chỉ của những người liên quan:

    Người yêu cầu mở L/C, người hưởng lợi L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C…

    • Số tiền của thư tín dụng:

    Là một nội dung rất quan trọng. vì vậy việc quy định nó trong L/C cũng rất chặt chẽ, thể hiện qua việc vừa ghi bằng số vừa ghi bằng chữ và phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, cụ thể. Theo điều 39 UCP 500 thì các từ “vào khoảng”, “xấp xỉ”, “độ chừng” được hiểu là cho phép dung sai 10%.

    • Thời hạn hiệu lực của L/C:

    Là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều đã quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Ngày mở L/C trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý.

    • Thời hạn trả tiền của L/C:

    Điều này hoàn toàn tùy thuộc vào quy định của hợp đồng. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong  thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả ngay) hoặc có thề nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C (nếu trả chậm).

    • Thời hạn giao hàng:

    Được ghi trong thư tín dụng và cũng do hợp đồng thương mại quy định. Đấy là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực. thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ với thời hạn hiệu lục của thư tín dụng.

    • Điều khoản về hàng hóa:

    Gồm có tên hàng, số lượng và trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký hiệu…

    • Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa:

    Điều kiện, cơ sở giao hàng (FOB, CIF, C&F), nơi gởi hàng, nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Thông thường điều kiện giao hàng tùy thuộc vào khả năng cng ứng hàng của nhà xuất khẩu, khả năng nhận hàng của nhà nhập khẩu, khả năng vận chuyển của phương tiện vận tải. Nếu nhận thấy những điều kiện giao hàng ghi trong L/C không thể thực hiện được thì người xuất khẩu có thể đề nghị điều chỉnh L/C.

    • Các chứng từ phải xuất trình:

    Yêu cầu về việc ký phát các loại chứng từ cần phải được nêu rõ ràng cụ thể và chặt chẽ trong L/C. Các yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của hàng hóa, của phương thức vận tải, của công tác thanh toán và tín dụng, của tính chất hợp đồng và các nguồn pháp lý có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng đó.

    • Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C:

    Là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C đối với L/C này.

    • Những điều kiện đặc biệt khác như:

    Phí ngân hàng được tính cho bên nào, điều kiện đặc biệt hướng dẫn đối với ngân háng chiết khấu, dẫn chiếu số UCP áp dụng…

    • Chữ ký của ngân hàng mở L/C:

    L/C thực chất là một khế ước dân sự. Do đó người ký L/C cũng phải là người có năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia vào thực hiện một quan hệ dân luật. Nếu gởi bằng Telex, Swift thì không có chữ ký, khi đó căn cứ vào mã khóa (textkey).

    4.    Các loại thư tín dụng chủ yếu là:

    1. Thư tín dụng có thể huỷ ngang (Revocable L/C): Đây là loại thư tín dụng mà sau khi đã được mở thì việc bổ sung sửa chữa hoặc huỷ bỏ có thể tiến hành một cách đơn phương.
    2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C): Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở thì việc sữa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ chỉ được ngân hàng tiến hành theo thoã thuận của tất cả các bên có liên quan. Trong thương mại quốc tế thư tín dụng này được sử dụng phổ biến nhất.
    3. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Confirmed irrevocavle L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được một ngân hàng khác đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tín dụng.
    4. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền được trả hoàn toàn hay trả một phần của thư tín cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên.

    Và còn nhiều loại khác nữa. Tuy nhiên, hiện nay thì các ngân hàng thường sử dụng L/C không thể hủy bỏ có xác nhận. Nhưng cần lưu ý nếu L/C không ghi rõ là L/C “irrevocable” hay “revocable” thì đó là Irrevocable tức là không được hủy bỏ. Tương tự như vậy, nếu L/C không ghi rõ là L/C “confirmed” thì đó là L/C “inconfirmed” tức là không có xác nhận.

    5.    Quy trình phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.

     
       

     

     

     

     

     

     

    • Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký hợp đồng thương mại.
    • Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng.
    • Ngân hàng mở L/C mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
    • Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở.
    • Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập khẩu.
    • Người xuất khẩu sau khi giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng thông báo để được thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang để ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền.
    • Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp thì trích tiền chuyển sang ngân hàng thông báo để ghi có cho người thụ hưởng. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán.
    • Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu.
    • Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhâp khẩu.
    • Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhâp khẩu có thể nhận hàng.

    Qua nội dung và trình tự các bước tiến hành thanh toán như trên, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. trong phương thức này ngân hàng đóng vai trò chủ động trong thanh toán chứ không phải chì làm trung gian đơn thuần như những phương thức thanh toán khác. Chính vì vậy, hiện nay phương thức này được sử dụng nhiều nhất trong thanh toán quốc tế.

    6.    Đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ.

    1. Phương thức thanh toán chứng từ liên quan đến hai quan hệ hợp đồng độc lập:

    Đó là quan hệ giữa người mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu.

    Thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành là một hợp đồng kinh tế dịch vụ. Người nhập khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng, trả một khoản lệ phí mở thư tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng. Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu trình. Nếu chứng từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của L/C thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng.

    1. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có 2 nguyên tắc cơ bản:

    Nguyên tắc độc lập của thư tín dụng: tuy thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu và nhập khẩu, nhưng khi ra đời, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng. Thay vào đó, nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với thư tín dụng của nhà xuất khẩu. Ngân hàng mở thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán với lý do người xuất khẩu đã giao hàng kém chất lượng, hay vì một lý do tương tự. Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C.

    Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: khi kiểm tra các chứng từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của thư tín dụng.

    1. Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hóa:

    Các chứng tử xuất trình là căn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi thư tín dụng, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về số phận thật sự của hàng hóa mà bất cứ chứng từ nào đại diện. Như vậy trong phương thức tín dụng chứng từ, các chứng từ có một tầm quan trọng to lớn, nó là minh chứng cho giá trị hàng hóa mà người bán đã giao và là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng và cũng là cơ sở để ngân hàng chấp nhận hay thanh toán cho người xuất khẩu.

    1. Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương.

    Trong quan hệ mua bán, người mua luôn muốn nhậ được hàng hóa rồi mới trẻ tiền, còn người bán lại muốn giao hàng xong là được thanh tóan ngay. Trong ngoại thương. Việc giải quyết mối quan hệ này gặp nhiều khó khăn hơn so với mua bán nội địa do khoảng cách về không gian giữa người mua và người bán. Do đó, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức đáng tin cậy nhất: khi người bán lập được bộ chứng từ xem như đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, còn người mua nhận được bộ chứng từ có thể yên tâm là hàng hóa đã được giao.

    1. Ngân hàng phát hành L/C là người phải thanh toán cho người hưởng lợi:

    Khi quyết định việc mở L/C, ngân hàng mở L/C phải hiểu rằng chính ngân hàng mở L/C là người thanh toán cho người hưởng lợi khi họ thực hiện đúng các quy định trong L/C cho dù người mở L/C có tiền hay không có tiền, còn tồn tại hay phá sản. Do đó ngân hàng mở L/C phải đánh giá khả năng kinh doanh, tài chính của người mở. Đặc biệt là hiệu quả của phương án nhập hàng.

    Phần 2:Giới Thiệu Tổng Quan Về Ngân Hàng Thương Mại Cố Phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)

    I.             Giới thiệu về ngân hàng Sacombank

    Tên ngân hàng:

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

    Tên giao dịch quốc tế:

    SAIGON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK

    Tên viết tắt:  SACOMBANK

    Hội sở : 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

    Điện thoại:(84-8) 9320 420

    Fax:(84-8) 9320 424

    Website: www.sacombank.com.vn

    Logo

    Vốn điều lệ: 4.449.000.000.000 đồng

    Giấy phép thành lập:Số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của UBND TP.HCM

    Giấy phép hoạt động:Số 0006/GP-NH ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

    Giấy CNĐKKD: Số 059002 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư TP. HCM cấp

    (đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 24ngày 10/04/2006)

    Tài khoản: Số 4531.00.804 tại Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM

    Mã số thuế:0301103908

    Ngành nghề kinh doanh:

    • Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi;
    • Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;
    • Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn;
    • Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá; Hùn vốn và liên doanh theo pháp luật;
    • Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
    • Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, thanh toán quốc tế;
    • Huy động vốn từ nước ngoài và các dịch vụ khác

    II.           Lịch sử hình thành và phát triển

    Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thành lập theo.Quyết định số 05/GP-UB ngày 03/01/1992 của Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh và hoạt động theo Quyết định số 0006/NH-GP ngày 05/12/1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sacombank chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/12/1991, trên cơ sở chuyển thể
    Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp và sáp nhập 03 Hợp tác xã tín dụng Tân Bình-Thành Công – Lữ Gia. Vào thời điểm đó, cả 04 đơn vị này đều trong giai đoạn cực kỳ khó khăn về tài chính.

    Giai đoạn 1991 – 1995, khởi đầu với số vốn điều lệ ban đầu chỉ có 3 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động chủ yếu ở các quận ven, phạm vi kinh doanh đơn điệu, Sacombank đã tạo được những điểm son đáng ghi nhận trong những năm đầu thành lập thông qua các quyết sách, chủ trương như tập trung xử lý các khoản nợ khó đòi, mở rộng mạng lưới, phát hành kỳ phiếu, thực hiện dịch vụ chuyển tiền nhanh, …

    Giai đoạn 1995 – 1998, Sacombank tập trung cho nhiệm vụ hoạch định và phát triển song song với việc tiếp tục củng cố và chấn chỉnh. Với sáng kiến phát hành cổ phiếu đại chúng, vốn điều lệ của Sacombank đã tăng từ 23 tỷ đồng lên 71 tỷ đồng, qua đó bước đầu xác lập được năng lực tài chính đối với quá trình phát triển của Sacombank.

    Giai đoạn 1999 – 2001, vốn điều lệ từ 71 tỷ đồng tăng lên 190 tỷ đồng; xây dựng Hội sở khang trang tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nâng cấp trụ sở các Chi nhánh trực thuộc; mở rộng mạng lưới đến hơn 20 tỉnh thành và các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời xác lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên khắp thế giới. Đồng thời, Sacombank trở thành thành viên của Hiệp Hội Viễn Thông Liên Ngân Hàng toàn cầu (SWIFT), Visa và Master Card

    Giai đoạn 2001 – 2005, hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế và mục tiêu phát triển đề ra cho thời kỳ kế hoạch 5 năm. Đặc biệt với sự tham gia góp vốn của 03 cổ đông nước ngoài là  các tổ chức tài chính – ngân hàng mạnh trên thế giới và khu vực đã hỗ trợ Sacombank tiếp cận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản trị điều hành hiện đại, chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, Ngân hàng bước đầu phát triển thành công mô hình hợp tác liên doanh, liên kết thông qua việc góp vốn thành lập Công ty liên doanh quản lý quỹ – Công ty chứng khoán – Công ty bảo hiểm, …

    Giai đoạn 2006: Cổ phiếu của Sacombank được niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

    Qua hơn 15 năm hoạt động, Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, tăng từ 190 tỷ đồng năm 2001 lên 4.449 tỷ đồng vào tháng 12/2007. Mạng lưới hoạt động với trên 210 chi nhánh và phòng giao dịch trải rộng từ Bắc vào Nam, đội ngũ nhân viên gồm 6.000 người, quan hệ với trên 9.700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên thế giới. Sacombank còn là ngân hàng TMCP có số lượng cổ đông đại chúng lớn nhất Việt Nam với hơn 37000 cổ đông, các cổ đông chiến lược của Sacombank là các tập đoàn tài chính và ngân hàng lớn trên thề giới như:

    • Dragon Financial Holdings thuộc Anh Quốc
    • International Financial Company (IFC) trực thuộc World Bank
    • Tập đoàn Ngân hàng Australia và Newzealand (ANZ)

    Cùng với những thành quả đạt được, Sacombank hướng đến mục tiêu trở thành một ngân hàng bán lẻ đa năng – hiện đại – tốt nhất Việt Nam và có quy mô lớn trong khu vực

    I)      Cơ cấu tổ chức

     

    III.          Chức năng và nhiệm vụ:

    1. Khối doanh nghiệp

    Quản lý, phát triển, tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH doanh nghiệp.

    Quản lý công tác chăm sóc, xây dựng chính sách KH doanh nghiệp

    Quản lý công tác TTQT, chuyển tiền quốc tế.

    Quản lý hệ thống Swift

    Thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các định chế tài chính.

    Quản lý ngân hàng đại lý.

    Quản lý tài khoản Nostro

    1. Khối cá nhân

    Quản lý, phát triển và tiếp thị sản phẩm truyền thống cho KH cá nhân.

    Xây dựng, quản lý và điều phối chỉ tiêu bán hàng theo các sản phẩm cụ thể.

    Tiếp thị và phát triển kinh doanh.

    Quản lý mạng lưới ATM.

    1. Khối tiền tệ

    Kinh doanh trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.

    Quản lý và điều hành thanh khoản của ngân hàng

    Thực hiện kinh doanh ngoại tệ,vàng

    Xây dựng và phát triển các sản phẩm của khối tiền tệ

    1. Khối đầu tư

    Đầu mối tiếp nhận thông tin về dự án đấu tư. Dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác để cho vay hợp vốn.

    Thẩm định các dự án ngân hàng tài trợ

    Quản lý hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần bằng nguồn vốn tự có của Ngân hàng

    1. Khối điều hành

    Tham mưu xây dựng và triển khai chiến lược phát triển của Ngân hàng

    Tổng hợp báo cáo hoạt động của toàn Ngân hàng.

    Công tác mở rộng mạng lưới.

    Quản lý chính sách tín dụng

    Quản lý quy trình chất lược, công tác pháp chế, cơ cấu tổ chức bộ máy.

    Công tác xây dựng và kiểm tra chế độ tài chính kế toán.

    Tham mưu xây dựng các chính sách về quản lý rủi ro.

    Quản lý thu hồi nợ, rủi ro tín dụng và phi tín dụng.

    Tái thẩm định hồ sơ cấp tín dụng vượt hạn mức phán quyết của các chi nhánh liên quan đến khách hàng và thẩm định các hồ sơ theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

    1. Khối hỗ trợ

    Quản lý và phát hành văn thư, công tác hành chính phục vụ

    Quản lý chi phí điều hành.

    Quản lý hoạt động quan hệ công chúng.

    Quản bá thương hiệu

    Quản lỳ công tác xây dựng cơ bản

    Đào tạo theo kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý công tác thanh toán nội địa.

    Quản lý công tác ngân quỹ,thực hiện hỗ trợ cho họat động khối tiền tệ

    1. Khối CNTT

    Công tác quản trị mạng

    Công tác an toàn và bảo mật thông tin

    Phân tích và mô tả các yêu cầu về sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, về khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi, về xây dựng các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    Phân tích thiết kế và lập trình các phân hệ phần mềm để thực hiện các yêu cầu về sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng, và để khai thác hệ thống thông tin, dữ liệu trên hệ thống ngân hàng lõi và các ứng dụng phần mềm ngoài hệ thống ngân hàng lõi

    1. Kiểm tra, kiểm soát nội bộ

    Kiểm tra, giám sát tuân thủ các quy định cảu pháp luật và các quy chế, quy trình nghiệp vụ, quy định nội bộ của Ngân hàng.

    Đánh giá kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ

    1. Nhân sự

    Tuyển dụng nhân sự.

    Quản lý nhân sự.

    Xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng.

    Quản lý cơ chế tiền lương và chính sách đãi ngộ nhân sự

    IV.         Các sản phẩm của Sacombank

    1.    Cá nhân

    j)      Sản phẩm tiền vay

    Cho vay tiêu dùng đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho  vay  cầm  cố  chứng  từ  có  giá,  vàng, ngoại tệ

    Cho vay phục vụ đời sống

    Cho vay liên kết mua xe ô tô

    Cho vay mua chứng khoán

    Cho vay liên kết chuyển nhượng bất động sản

    Cho vay liên kết mua nhà, sửa chữa nhà

    Cho vay cán bộ nhân viên

    Cho vay lãi cấn trừ bất động sản

    Cho vay tiểu thương chợ

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    Cho vay cầm cố thẻ tiền gửi

    Cho vay sản xuất kinh doanh mở rộng tỷ le đảm bảo

    Cho vay nông nghiệp

    Cho vay du học

    k)    Tiền gửi :

    Chứng chỉ huy động vàng và VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng

    Tiết kiệm không kỳ hạn

    Tiết kiệm bậc thang

    Tiền gửi thanh toán

    Tiết kiệm tích lũy

    Tiết kiệm có kỳ hạn

    Tài khoản Âu Cơ

    l)       Thẻ

    Thẻ  Ladies First

    Thẻ  thanh  toán  quốc  tế  Sacombank  Visa

    Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa Credit

    Thẻ đồng thương hiệu VNPAY

    Thẻ tín dụng nội địa SacomPassport

    Thẻ thanh toán nội địa SacomPassport

    m) Chuyển tiền

    Chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam

    Chuyển tiền nhanh tận nhà

    Chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài

    Chuyển tiền trong nước

    Chuyển tiền bằng BankDraft

    n)    Khác:

    Dịch vụ giữ hộ tài liệu

    E-banking

    Mobile Banking

    Phone Banking

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ bảo lãnh

    Dịch vụ hỗ trợ du học

    Cho thuê ngăn tủ sắt

    2. Doanh nghiệp:

    1. Sản phẩm tiền vay:

    Cho vay SXKD đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời

    Cho vay bằng nguồn vốn RDF II

    Cho vay bằng nguồn vốn SMEDF

    Cho vay kinh doanh trả góp doanh nghiệp vừa và nhỏ

    Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng từ có giá

    Cho vay dự án – đầu tư

    Cho vay sản xuất kinh doanh

    1. Sản phẩm tiền gửi:

    Tiền gửi định kỳ doanh nghiệp

    Tiết kiệm tích lũy thưởng

    Tiền gửi có kỳ hạn

    Tiền gửi thanh toán

    1. Khác:

    Dịch vụ chi trả hộ lương cho CB-CNV

    Dịch vụ thấu chi tài khoản

    Dịch vụ chuyển đổi ngoại tệ

    Dịch vụ thu chi hộ

    Dịch vụ thanh toán quốc tế

    Dịch vụ bảo lãnh

    Bao thanh toán nội địa

    V.          Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank từ 2005-2007

    2)    Các chỉ số tài chính chủ yếu: (đơn vị: Tỷ đồng)

    (Bản Tin Sacombank 2008)

    3)    Tình hình tăng trưởng qua các năm

    Tổng tài sản của Sacombank tăng đều qua các năm từ 2002-2005 và tăng vọt trong năm 2007 lên đến con số ấn tượng 63.484 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 156% so với năm 2006. dự kiến trong năm nay đạt kế hoạch 93.000 tỷ đồng. Sacombank là một trong những ngân hàng TMCP có tổng tại sản lớn nhất Việt Nam hiện nay.

    Năm 2007 vừa qua là năm thứ 16 Sacombank liên tục có lãi và cũng là năm đạt lợi nhuận cao nhất từ trước đến giờ, lợi nhuận trước thuế đạt 1452 tỷ đồng đạt mức tăng trưởng 167% so với năm 2006. Tổng vốn huy động quy VNĐ đạt 54.777 tỷ đổng , tăng 155%  và dư nợ cho vay tăng gần 136% đạt mức 34.317 tỷ đồng. Nhìn chung tình hình huy động vốn và cho vay của Sacombank đạt ở mức cao, tốc độ tăng trưởng cao hơn bình quân ngành (cả nước trung bình cho vay 38% và huy động vốn đạt 37.5%)

    VI.         Chiến lược phát triển dài hạn của Sacombank

    Mục tiêu chiến lược thời kỳ 2007-2010 là quyết tâm xây dựng Sacombank trở thành Ngân hàng bán lẻ, hiện đại, đa năng, đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực và từng bước hình thành một Tập đoàn tài chính đa chức năng, trong đó Sacombank là đơn vị hạt nhân trong giai đoạn 2011-2020.

    • Về năng lực tài chính

    Tiếp tục tăng nhanh vốn tự có bằng việc tăng cường tích lũy thông qua việc phát triển mạnh các quỹ dự trữ và dự phòng, phấn đấu đến cuối năm 2010 vốn tự có đạt khoảng 16.000 – 16.500 tỷ đồng (tương đương 1 tỷ dollars Mỹ). Trong đó, vốn điều lệ tính đến năm 2010 đạt khoảng trên 11.500 tỷ đồng chủ yếu bằng phương thức tái đầu tư từ cổ tức của cổ đông hiện hữu.

    • Về tổng tài sản

    Tổng tài sản của Sacombank đến năm 2010 dự kiến sẽ đạt mức tối thiểu 155.000 tỷ đồng tăng gấp gần 10,5 lần so với cuối năm 2005. Trong đó, giai đoạn 2007-2010 nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng bình quân 60-65%.

    • Về hoạt động tín dụng

    Tổng dư nợ cho vay đến cuối năm 2010 dự kiến sẽ đạt 82.000 – 85.000 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 65% – 70% trên tổng nguồn vốn huy động, tăng bình quân mỗi năm khoảng 55% -60% so với năm trước. Trong đó, dư nợ cho vay nhỏ, phân tán phải chiếm tỷ trọng 55% -60%. Nợ quá hạn chiếm tỷ trọng dưới 2%/ tổng dư nợ tín dụng.

    • Về kinh doanh dịch vụ

    Trong thời kỳ kế hoạch 2006 – 2010, Sacombank sẽ tập trung hết sức vào quá trình phát triển mở rộng các dịch vụ ngân hàng; quan tâm đặc biệt đến các dịch vụ ngân hàng điện tử, ngân hàng quốc tế. Dự kiến đến năm 2010 thu nhập phi tín dụng phải chiếm tỷ trọng khoảng 32% – 35% trên tổng thu nhập của ngân hàng.

    • Về lợi nhuận và các chỉ tiêu tài chính

    Trong những năm 2007 – 2010 đảm bảo lợi nhuận trước thuế tăng bình quân mỗi năm 55% – 60% so với năm trước. Tỷ suất lợi nhuận/ tổng tài sản vào năm 2010 dự kiến đạt 1,7% -1,9% và tỷ suất sinh lời/ vốn vào năm 2010 đạt 22% – 23%.

    • Về mạng lưới hoạt động

    Phấn đấu đến cuối năm 2010, mạng lưới chi nhánh của Sacombank sẽ có mặt tại tất cả các tỉnh, thành miền Nam, miền Trung và tại tất cả các tỉnh thành kinh tế trọng điểm miền Bắc. Dự kiến mạng lưới hoạt động của Sacombank vào năm 2010 sẽ đạt trên 320 điểm. Đồng thời tiến hành thành lập các chi nhánh tại các quốc gia lân cận, văn phòng đại diện tại Mỹ, Châu Âu và Châu Úc.

    • Về hệ thống công nghệ thông tin

    Mục tiêu đặt ra Sacombank phải là một trong những ngân hàng có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại và tiên tiến nhất trong hệ thống các ngân hàng thương mại trong cả nước.

    • Về phát triển nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố cốt lõi để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Dự kiến đến năm 2010 đội ngũ CBNV của Ngân hàng đạt trên 5.800 người, Sacombank sẽ khẩn trương xây dựng Trung tâm đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo căn bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo nâng cao và đào tạo cán bộ quản lý điều hành các cấp.

    • Về tái cấu trúc tổ chức và hoạt động của Ngân hàng

    Hoàn thiện bộ máy điều hành theo dòng sản phẩm hướng về khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên theo hướng chuyên nghiệp hóa, tăng cường kỹ năng quản trị – điều hành – giám sát, đồng thời trong năm 2007 hoàn tất chương trình chuẩn mực hóa, mô hình hoá các quy trình tác nghiệp để nâng cao năng suất lao động và chăm sóc tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng.
    Phần 3: Quy Trình Thanh Toán Bằng L/C Nhập Khẩu  Tại Sacombank

    I.             Những thủ tục cần thiết khi mở L/C tại Sacombank.

    • Giấy yêu cầ mở L/C (theo mẫu).
    • Hợp đồng ngoại thương (bản sao y).
    • Hợp đồng bảo hiểm (nếu có).
    • Giấy phép nhập khẩu (mặt hàng nhập khẩu theo giấy phép).
    • Hợp đồng bảo lãnh (L/C trả chậm).
    • Bản sao hồ sơ pháp lý (đối với khách hàng giao dịch lần đầu tiên).
    • Tờ trỉnh tín dụng được duyệt, phương án vay ốn (nếu ngân hàng có tài trợ).
    • Đơn xin mua ngoại tệ.
    • Giấy ủy quyền cử người đại diện giao dịch với ngân hàng.
    • Văn bản cam kết lịch thanh toán (L/C trả chậm).

    II.           Quy trình phương thức thanh toán bằng L/C nhập khẩu tại Sacombank

    1.    Quy trình phát hành L/C

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ khách hàng theo các tiêu chí sau:

    Hồ sơ đủ loại chứng từ từ

    Chứng từ có chữ ký thẩm quyền

    Giấy yêu cầu mở L/C không thiếu các chi tiết quan trọng, nếu có chỉnh sửa phải có dấu xác nhận chỉnh sửa của đơn vị.

    Nội dung HĐ bảo hiểm phù hợp với nội dung L/C yêu cầu mở.

    1. Lập tờ trình:

    Trên tờ trình cần thể hiện:

    Hàng hóa nhập khẩu: mãi lực, mức độ chuyên dùng và mục đích sử dụng tại đơn vị nhập khẩu có thuộc diện cấm nhập hoặc nhập khẩu có điều kiện không.

    Nhà cung cấp là đối tác quen thuộc của nhà nhập khẩu, có uy tín trên thương trường quốc tế.

    Trường hợp có tài trợ thì hồ sơ tài trợ được lập và lưu theo đúng cơ chế cho vay sản xuất kinh doanh hiện nay.

    1. Thực hiện ký quỹ, xuất nhập ngoại bảng, soạn và in điện L/C:

    Tiến hành các bước trong giao dịch mở L/C của phân hệ tài trợ thương mại- Smartbank để thực hiện ký quỹ, nhập ngoại bảng, soạn điện L/C và in bản thảo điện MT700 từ Smartbank. Căn cứ có giá trị pháp lý duy nhất để soạn thảo L/C là giấy yêu cầu phát hành L/C của khách hàng, HĐ chỉ có giá trị tham khảo.

    Kiểm tra nội dung bản thảo điện L/C.

    1. Trình ký và trình duyệt điện phát hành L/C

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện ở bước trên cho kiểm soát/trưởng phòng kiểm tra, có ý kiến và trình tiếp cho giám đốc.

    Trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt ký quỹ và và ký duyệt điện phát hành L/C để chuyển điện L/C lên hội sở.

    • Lưu ý:

    Trường hợp có tài trợ khách hành thanh toán L/C: phải hoàn tất hồ sơ vay song song với hồ sơ L/C để trình ban lãnh đạo chi nhánh duyệt một lần, L/C chỉ được phát hành khi tờ trình L/C được duyệt.

    Trường hợp bảo lãnh thanh toán trả chậm: việc phát hành L/C chỉ được thực hiện khi hoàn tất hồ sơ cầm cố/ thế chấp tài sản để ngân hàng bảo lãnh và không được hoàn lại vì bất cứ lý do gì.

    Trường hợp trình phát hành L/C vượt hạn mức phán quyết của GĐCN, GĐCN phải có ý kiến đế xuất, trình Ban Tổng Giám Đốc.

    1. Hội sở tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Trường hợp 1: Hồ sơ phát hành thuộc hạn mức GĐCN

    Kiểm tra nội dung L/C để đảm bảo các điều khoản quy định rõ ràng, hợp lý, không mâu thuẫn nhau. Nếu có mâu thuẫn giữa bản thảo và đơn xin mở thì căn cứ vào bản thảo đã có chữ ký của GĐ để điều chỉnh.

    Kiểm tra và xác định lại ngân hàng nhận điện L/C

    Trình kiểm soát viên / trưởng phòng hội sở ký

    Đối chiếu file điện MT700 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã ký duyệt. Nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT700 để điều chỉnh.

    Trường hợp 2: Hồ sơ vượt hạn mức phát hành của GĐCN

    Thực hiện các bước như trường hợp 1

    Có ý kiến đề xuất trên tờ trình về việc phát hành L/C vượt hạn mức chi nhánh

    Trình KSV hội sở/ TP hội sở ký

    Trình Ban Tổng Giám Đốc ký duyệt tờ trình.

    1. Hội sở chuyển điện Swift ra nước ngoài:

    Sau khi hồ sơ phát hành L/C được duyệt, tiến hành duyệt điện từ Smartbank qua Swift.

    Vào Swift duyệt bước 1.

    Duyệt điện swift bước 2.

    Duyệt điện swift bước 3.

    Trả điện về chi nhánh

    1. Hoàn tất hồ sơ phát hành:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift

    Mở bìa lưu hồ sơ

    • Tại chi nhánh:

    Nhận điện 700 hội sở chuyển về

    In điện từ Smartbank, trình ký GĐCN.

    Giao điện L/C cho khách hàng.

    Mở bìa lưu hồ sơ.

    2.    Quy trình tu chỉnh L/C

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    1. Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ:

    Tiếp nhận giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    Kiểm tra nội dung yêu cầu tu chỉnh. Nếu yêu cầu tu chỉnh chưa hợp lệ, yêu cầu khách hàng chỉnh sửa.

    1. Xử lý hồ sơ:

    Thực hiện ký quỹ, hạch toán ngoại bảng (TH tu chỉnh tăng tiền).

    Thực hiện các bước trong giao dịch tu chỉnh L/C-phân hệ TTTM, Smartbank và soạn điện MT707. Căn cứ duy nhất để soạn điện tu chỉnh là giấy yêu cầu tu chỉnh của khách hàng.

    In điện tu chỉnh từ Smartbank.

    1. Trình ký và trình duyệt điện Smartbank chuyển lên hội sở

    Trình toàn bộ hồ sơ vừa thực hiện cho KSVCN/TP kiểm tra, có ý kiến để trình tiếp GĐCN.

    Trình GĐCN ký duyệt, đóng dấu lên bản thảo điện tu chỉnh

    Trình GĐCN duyệt điện tu chỉnh trên Smartbank

    Chuyển điện lên hội sở

    1. Hội sở tiếp nhận và xử lý hồ sơ từ chi nhánh:

    Kiểm tra nội dung tu chỉnh để đảm bảo các điều khoản tu chỉnh rõ ràng, hợp lý không gây bất lợi cho ngân hàng. Nếu có bất hợp lý trên bản thảo điện thì căn cứ vào bản thảo điện có chữ ký của GĐCN để điều chỉnh.Trình kiểm soát/TP ký trên bản thảo điện.

    Nếu tu chỉnh tăng tiền vượt hạn mức CN, trình hồ sơ qua lãnh đạo phòng có ý kiến trước khi trình ban TGĐ.

    Đối chiếu file điện MT707 chi nhánh gửi lên bằng smartbank và bản thảo điện GĐCN đã duyệt. nếu có sai biệt thì căn cứ vào bản thảo điện MT707 để điều chỉnh.

    1. Duyệt và chuyển điện Swift ra:

    TTVHS duyệt trên Smartbank căn cứ trên các chỉnh sửa trên bản thảo có đầy đủ chữ ký của GĐCN và TP TTQT, chuyển điện từ Smartbank qua Swift.

    Duyệt điện Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Trả điện về chi nhánh.

    1. Hoàn tất hồ sơ tu chỉnh:
    • Tại hội sở:

    In điện Swift, Mở bìa lưu hồ sơ.

    • Tại chi nhánh:

    In điện, giao điện tu chỉnh cho khách hàng, mở bìa lưu hồ sơ

    3.    Quy trình xử lý L/C

     

    1. Tiếp nhận BCT từ nước ngoài gửi về

    Mở bì thư, đóng dấu Chứng Từ Đến.

    Lưu lại một bộ photo các chứng từ cùng chỉ dẫn thanh toán (cover letter) của ngân hàng nước ngoài.

    1. Kiểm tra BCT:

    Cơ sở kiểm tra:

    • L/C do Sacombank phát hành
    • UCP theo qui định trong L/C

    Thông báo BCT đã về cho khách hàng bằng phương tiện nhanh nhất trong vòng 24h để khách hàng chuẩn bị nguồn thanh toán

    `Cập nhật dữ liệu chứng từ về vào Smartbank để theo dõi ngày đến hạn thanh toán và cập nhật lên bìa hồ sơ 2 chi tiết chính: ngày chứng từ về, trị giá BCT

    Nếu BCT hợp lệ, yêu cầu khách hàng nộp tiền thanh toán và trao toàn bộ BCT gốc cho khách hàng (trừ Cover Letter gốc).

    Nếu BCT bất hợp lệ, chuyển lên hội sở bản gốc Cover Letter, bản sao Hối Phiếu, Invoice, B/L và các chứng từ khác có bất hợp lệ

    1. Xử lý chứng từ BHL:
    • Gửi thông báo BHL:

    Soạn điện thông báo BHL trên Smartbank, in điện trình KSVCN/TPCN kiểm tra và trình tiếp GĐCN ký và duyệt trên Smartbank.

    Gửi thông báo cho phòng TTQT: ngày Fax thông báo BHL cho P.TTQT chậm nhất 16h ngày làm việc thứ 5 kể từ ngày chứng từ đến chi nhánh, ghi rõ các điểm sai biệt.

    Thông báo cho khách hàng, chi nhánh chỉ được thông báo các BHL cho khách hàng bằng văn bản sau khi đã thống nhất với P.TTQT.

    P.TTQT tiếp nhận hồ sơ từ chi nhánh và kiểm tra hồ sơ

    Trình lãnh đạo phòng ký

    Duyệt điện trên Smartbank chuyển vào Swift

    Duyệt Swift bước 1, bước 2, bước 3

    Kết nối Swift, chuyển điện ra nước ngoài.

    Chuyển điện về chi nhánh, chí nhánh in điện giao cho khách hàng

    • Gia hạn thanh toán:

    Việc gia hạn thanh toán phải được hoàn tất trước ngày đáo hạn L/C

    Nhận văn bản của KH

    Thực hiện các bước trên Smartbank, soạn điện đề nghị nước ngoài gia hạn thanh toán.

    Trình KSVCN/TPCN có ý kiến và trình tiếp GĐCN ký bản thảo và duyệt điện trên Smartbank chuyển về hội sở.

    TTVHS duyệt điện trên Smartbank trình KSVHS/TPHS ký

    Duyệt điện Smartbank qua Swift. Kết nối chuyển điện ra nước ngoài và chuyển điện về chi nhánh

    Chi nhánh thông báo cho khách hàng kết quả khi nhận điện của hội sở.

    Cập nhật ngày thanh tóan mới nếu được gia hạn

    • Giảm giá trị thanh toán:

    Thực hiện giống như gia hạn thanh toán trừ trường hợp ngân hàng chuyển chứng từ chủ động gởi điện đồng ý giảm giá trị thanh toán.

    • Hoàn trả BCT:

    Việc từ chối thanh toán và việc hoàn trả BCT chỉ được thực hiện khi có văn bản chính thức của khách hàng với điều kiện:

    BCT bất hợp lệ

    Có điện yêu cầu ngân hàng hoàn trả chứng từ

    Xác định thương vụ có tích chất lừa đảo

    Nhận văn bản của KH, lập phiếu đề nghị, trình KSVCN/TPCN và GĐCN ký rồi chuyển BCT và 2 văn bản này lên P.TTQT.

    TTVHS bảo quản toàn bộ BCT nghiêm ngặt

    Lập Cover Letter hoàn trả BCT khi nhận diện có mật mã đồng ý thu hồi lại BCT của ngân hàng chuyển BCT, trình KSVHS/TPHS và ban TGĐ ký.

    Photo toàn bộ bản gốc BCT lưu hồ sơ

    Chi nhánh thu phí phát sinh

    Cập nhật phát sinh vào chương trình Smartbank và bìa hồ sơ.

    1. Ký hậu vận tải đơn/ phát hành thư bảo lãnh nhận hàng:

    Chi nhánh chỉ được ký hậu vận tải đơn cho KH khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ với ngân hàng (nộp đủ tiền thanh toán, hoàn tất thủ tục cầm cố, thế chấp và quản chấp hàng hóa-nếu có yêu cầu tài trợ).

    Trích chuyển tiền tập trung thanh toán vào tài khoản ký quỹ hoặc phong tỏa phần tiền chờ thanh toán nếu BCT chưa về đến nhằm tránh tình trạng tài khoản không đủ số dư thanh toán.

    Giao vận đơn và BCT bản chính cho KH ký nhận

    Lưu bản sao vận đơn đã được GĐCN ký hậu vào hồ sơ L/C

     

    4.    Quy trình thanh toán L/C

     

     

     

    1. L/C trả ngay

    BCT hợp lệ: phải thanh toán trong vòng 7 ngày làm việc(đp61i với UCP 500) và 5 ngày (đối với UCP 600) từ ngày nhận chứng từ.

    BCT có BHL: khi thanh toán phải phiếu đề nghị ký hậu vận đơn đã có chữ ký xác nhận của GĐCN.

    GDVCN cho khách hàng ký quỹ bổ sung và, xuất ngoại bảng,lập phiếu thanh toán theo mẫu 02-TTQT. GDVTK xác nhận số dư hạch toán.

    Tiến hành soạn điện MT202, MT576, MT999(nếu có) trên chương trình Smartbank, in điện trình ký kiểm soát ở các bước 1 và 3 qua KSCVN/TPCN, trình tiếp toàn bộ hồ sơ và B/L (ký hậu) cho GDCN. Duyệt điện chuyển lên hội sở đồng thời chuyển bản thảo điện, phiếu thanh toán có chữ ký GĐCN và phiếu chuyển khoản về hội sở.

    Hội sở căn cứ vào điện MT202 chỉnh sửa cho đúng ký thuật thanh toán, duyệt điện Smartbank vào Swift và chuyển điện ra nước ngoài. Sau đó chuyển điện đã duyệt về cho chi nhánh.

    Cập nhật và mở bìa lưu hồ sơ.

    Chi nhánh nhận điện từ hội sở, in điện, giao điện cho khách hàng, tách chứng từ giao kế toán và lưu hồ sơ.

    1. L/C trả chậm:

    Sau khi nhận hối phiếu đã được khách hàng ký chấp nhận thanh toán, chi nhánh chuyển phiếu đề nghị đi điện chấp nhận thanh toán lên hội sở, đến ngày đáo hạn mới thực hện thanh toán như trên.

    1. L/C xác nhận:

    Việc phát hành, tu chỉnh, thanh toán sẽ được xử lý theo từng trường hợp tùy theo yêu cầu cụ thể của khách hàng và của ngân hàng xác nhận.

    5.    Quy trình hủy L/C

    1. Hủy L/C còn hiệu lực
    • Điều kiện:

    L/C không hủy ngang chỉ được hủy khi có sự đồng ý của các bên tham gia.

    Chỉ được thực hiện yêu cầu hủy L/C của KH khi BCT chưa được xuất trình hoặc đã thanh toán hết các BCT đã xuất trình.

    • Người mở yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN tiếp nhận, kiểm tra điều kiện hủy.

    Tiến hành các bước trên smartbank, soạn điện hủy L/C gửi đến ngân hàng người thụ hưởng yêu cầu họ thông báo đến cho người thụ hưởng và điện xác nhận lại cho Sacombank.

    Trình KSVCN/TPCN kiểm soát và trình tiếp GĐCN duyệt.

    Chuyển bản thảo và truyền điện lên P.TTQT

    P.TTQT kiểm tra và duyệt điện theo nội dung bản thảo rồi kết nối chuyển điện ra nước ngoài.

    Sau khi nhận được điện trả lời từ nước ngoài xác nhận người thụ hưởng đồng ý hủy L/C. P.TTQT giao điện cho chi nhánh.

    GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH, đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    • Ngân hàng thông báo yêu cầu hủy L/C:

    GDVCN nhận điện từ P.TTQT, thông báo ngay cho người mở L/C và đề nghị trả lời bằng văn bản.

    Sau khi nhận được văn bản trả lời từ KH, nếu ngân hàng nước ngoài yêu cầu, chi nhánh phải soạn điện phúc đáp, trình KSVCN/TPCN ký, rồi chuyển bản thảo và file điện lên P.TTQT để gửi ngân hàng nước ngoài.

    TTVHS kiểm tra nội dung bản thảo điện, trình ký KSVHS+TPHS.

    Tiến hành duyệt điện Smartbank và đẩy điện ra nước ngoài qua Swift.

    Nếu L/C được hủy, GDVCN tiến hành giải tỏa tiền ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và đóng hồ sơ.

    1. Hủy L/C đã hết hạn hiệu lực

    GDVCN tiến hành giải tỏa ký quỹ cho KH đồng thời thu các phí phát sinh, xuất ngoại bảng và thông báo cho hội sở đóng hồ sơ với điều kiện.

    L/C đã hết hạn hiệu lực sau 15 ngày, KH phải yêu cầu hủy bằng văn bản.

    L/C hết hạn hiệu lực chưa đến 15 ngày, KH phải cam kết đảm bảo thanh toán nếu sau khi rút tiền ký quỹ, có chứng từ gửi đến phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C.

    Trường hợp L/C hết hạn hiệu lực 3 tháng trở lên và không nhận được văn bản đề nghị của KH. Chi nhánh lập văn bản thông báo cho KH, đề nghị KH có ý kiến về việc đóng hồ sơ. Nếu KH đồng ý đóng hồ sơ, GDVCN thu phí, xuất ngoại bảng đồng thời thông báo cho Hội sở.

    6.    Đánh giá quy trình thực hiện:

    1. Thuận lợi:

    Quy trình thực hiện phương thức thanh toán chứng từ nhập khẩu của Sacombank được chuẩn hóa theo một mô hình và tiêu chuẩn hợp lý từ giai đoạn phát hành L/C cho đến giai đoạn kết thúc.

    Thời gian phát hành một L/C cho khách hàng nhanh chóng, thủ tục đơn giản.

    Mỗi giai đoạn của một quy trình luôn luôn được thực hiện qua hai bước kiểm duyệt từ cấp chi nhánh và một bước kiểm duyệt từ hội sở để đảm bảo độ chính xác và hạn chế rủi ro cho cả phía khách hàng lẫn ngân hàng Sacombank.

    Sử dụng hệ thống xử lý Smartbank online trên toàn hệ thống, giao diện thân thiện, dễ sử dụng, luôn luôn cập nhật kịp thời số dư tài khoản của khách hàng để đảm bảo thanh toán kịp thời cho các khách hàng.

    Trình độ nhân viên giao dịch cao,làm việc chuyên nghiệp. trong quá trình kiểm tra bộ chứng từ chính xác và nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng là các doanh nghiệp nhậu khẩu.

    Việc thanh toán phí được thực hiện theo từng giai đoạn rõ ràng cho khách háng dể hiểu và thuận tiện cho việc kiểm toán về sau.

    Việc lưu hồ sơ khách hàng được phân chia nhằm quản lý những khách hàng giao dịch thường xuyên và khách hàng mới để có những chính sách cũng như ưu đãi đối với từng loại khách hàng.

    1. Hạn chế:

    Hệ thống xử lý Smartbank vẫn còn nhiều bất cập, thường xuyên xảy ra tình trạng treo hệ thống, quá trình tạo báo cáo mất nhiều thời gian dẫn đến công tác thực hiện của các giao dịch viên bị chậm trễ,  mất thời gian chờ đợi của khách hàng.

    Chưa áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO

    Việc trình ký nhiều lần cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tiến độ thực hiện bị gián đoạn.

    Chứng từ kế toán còn nhiều loại.

    III.          Tình hình hoạt động của phòng TTQT qua các năm

    1.   Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm qua

    Sacombank là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, tuy không giống ngân hàng ngoại thương (Vietcombank) có bề dày kinh nghiệm và mạng lưới khách hàng xuất nhập khẩu rộng lớn, nhưng được sự quan tâm của ban lãnh đạo ngân hàng, cùng với sự vươn lên của bản thân, hoạt động TTQT của Sacombank cũng như dịch vụ thanh toán bằng L/C nhập khẩu đã từng bước trưởng thành và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường TTQT Việt Nam vô cùng sôi động và cạnh tranh quyết liệt.

    Tình hình xuất nhập khẩu trong những thời gian qua:

    (tốc độ tăng trưởng so với năm trước)

    Đơn vị: tỷ USD

      Kim ngạch XNK Tốc độ tăng trưởng Xuất khẩu Tốc độ tăng trưởng Nhập khẩu Tốc độ tăng trưởng
    2005 69.42 18.8% 32.44 22.4% 36.98 15.7%
    2006 84.7 22% 39.8 22.8% 44.9 21.4%
    2007 111.2 31.3% 48.5 21.9% 62.7 40%

    (Tổng cục hải quan www.gso.gov.vn)

    Trong 3 năm vừa qua, kim ngạch xuất nhập khẩu đều tăng, đặc biệt trong năm 2007, với việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 111.2 tỷ USD đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay với 31.3%, trong đó nhập khẩu luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhâp khẩu, tổng kim ngạch nhập khẩu tăng gần 40% so với năm 2006. Việc mới tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, hợp tác với nhiều đối tác mới nước ngoài thì việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ là phổ biến nhất. Việc tốc độ tăng trưởng hàng nhập khẩu tăng đồng nghĩa với việc thanh toán với đối tác nước ngoài là khá lớn. Do đó đây vừa là một cơ hội cho bộ phận thanh toán quốc tế vừa là một áp lực cho ngân hàng Sacombank nói riêng và hệ thống các ngân hàng nói chung.

    2.    Những kết quả  tích cực:

     

    • Doanh số TTQT (Đơn vị: tỷ USD)
      2005 2006 2007
    Tổng DT TTQT 1.52 1.92 3.1
    Tăng trưởng 25% 26% 60%

    ( Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

     

    Doanh số của Sacombank trong lĩnh vực hoạt động thanh toán quốc tế tăng đều qua các năm. Trong năm 2007 doanh số từ hoạt động này đạt gần 3.1 tỷ USD, tăng gần 60% so với năm 2006.

    Cùng với sự tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước ta, sự gia tăng doanh số của phòng TTQT , đặc biệt trong năm 2007 doanh số TTQT tăng đến gần 60% cho thấy Sacombank đã có được tầm nhìn xa, biết nắm lấy thời cơ, cơ hội của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và có những chiến lược phát triển đúng đắn, những chính sách tài trợ thương mại hiệu quả cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và đã lôi kéo được nhiều khách hàng về Ngân hàng. Doanh số tăng đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của Ngân hàng và giá trị thanh toán ngày càng lớn, đây là một thành tựu đáng khích lệ.

    Cùng với việc đạt được doanh số TTQT cao, tính từ đầu năm 2007, đã 4 lần Sacombank nhận giải thưởng lớn về thanh toán quốc tế từ các ngân hàng danh tiếng trên thế giới gồm: HSBC, Wachovia, Standard Chartered và American Express.

    • Tổng số tiền của thư tín dụng quy đổi VND còn hiệu lực cho đến cuối năm:

    (ĐVT: triệu VND)

    Năm 2005 2006 2007
    L/C trả ngay 1. 119.224 2.103.415 5.873.117
    L/C trả chậm 83.389 119.213 265.046

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2005, 2006, 2007)

    Cho đến cuối năm 2007 vừa qua , tổng số dư thanh toán toán bằng LC trả ngay quy đổi còn hiệu lực lên đến con số 5.873.117 triệu VND, trong khi L/C trả chậm chỉ đạt 265.046 triệu VND, sự chênh lệch này cho thấy việc thanh toán bằng L/C trả ngay chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá tri thanh toán bằng L/C, con số này còn nói lên hoạt động phương thức thanh toán bằng L/C chiếm một tỷ trọng khá lớn trong hoạt động TTQT nói chung của Sacombank

    Tổng giá trị quy đổi của dịch vụ thanh toán bằng L/C tăng đều qua các năm, đặc biệt việc tăng nhanh từ con số 2.103.415 triệu VND lên đến 5.873.117 triệu VND trong một năm cho thấy hoạt động thanh toán bằng LC của Sacombank chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong các phương thức thanh toán như D/P, D/A, TTR  và đã đạt được một kết quả khả quan nhất định, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quyết liệt của các hệ thống ngân hàng với nhau.

     

    • Mạng lưới đại lý ngân hàng ngày càng được mở rộng:
    Năm 2005 2006 2007
    Số đại lý 6500 8900 9700

    (Báo cáo thường niên Sacombank 2007)

    Việt Nam gia nhập WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp mở rộng quan hệ mua bán với nhiều đối tác nước ngoài trên thế giới. nắm bắt được cơ hội đó cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đại lý trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, từ năm 2005 đến nay, Sacombank không ngừng mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài. Số lượng ngân hàng đại lý và số nước thiết lập quan hệ đại lý với Sacombank ngày càng nhiều. Từ chỗ hoàn toàn không có quan hệ với nước ngoài trong những năm đầu, đến năm 2007, Sacombank đã có hơn 9700 đại lý thuộc 250 ngân hàng tại 91 quốc gia trên toàn thế giới.

    • Thương hiệu của Sacombank ngày càng được nâng cao:

    Cùng với việc thiết lập nhiều mối quan hệ đại lý với các ngân hàng lớn trên thế giới, Sacombank đang ngày càng khẳng định mình trên con đường hội nhập quốc tế, ngày càng được nhiều đối tác lớn nước ngoài biết đến, đó cũng là một trong những tiền đề giúp cho Sacombank ngày càng phát triển vững mạnh hệ thống TTQT.

    Đối với một nước có truyền thống nhập khẩu lớn như Việt Nam thì việc chọn một ngân hàng có nhiều đại lý trên thế giới là một ưu tiên hàng đầu của các doanh nhiệp nhập khẩu, giúp họ hạn chế tối đa về mặt chi phí khi không phải thông qua nhiều trung gian ngân hàng khác. Và Sacombank được biết đến như là một trong những ngân hàng có mạng lưới đại lý rộng khắp

    Việc xây dựng hoàn thành Trung tâm dữ liệu lớn nhất trong hệ thống ngân hàng đầu năm 2008 vừa qua cũng là một thành tựu to lớn góp phần vào việc phát triển hệ thống TTQT nói riêng và toàn bộ hệ thống xử lý giao dịch của Sacombank nói chung.

    3.    Những mặt hạn chế:

    Bên cạnh những kết quả khả quan thì hoạt động TTQT của Sacombank cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.

    Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên đến 111.2 tỷ USD trong năm 2007, mà doanh số thanh toán quốc tế của Sacombank chỉ đạt được 3.1 tỷ USD, chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước, trong khi đó, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đạt 26.32 tỷ USD, chiếm hơn 23% mặc cho sự cạnh tranh khốc liệt về tỷ giá, lãi suất chiết khấu; phí thanh toán, thủ tục thanh toán; dịch vụ chăm sóc, phục vụ khách hàng v.v ..Điều này cho thấy hoạt động TTQT của Sacombank chỉ chiếm một thị phần nhỏ trong toàn hệ thống ngân hàng chưa xứng đáng với quy mô cũng như mạng lưới hoạt động của Sacombank.

    Xét trên phạm vi toàn quốc, thị phần TTQT nói chung và thị phần thanh toán hàng nhập nói riêng của Sacombank không thực sự cạnh tranh lắm.

    Sacombank chưa áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, chưa tạo được lòng tin tuyệt đối từ phía khách hàng.

    Phí dịch vụ chưa mang tính cạnh tranh cao (phí ký hậu vận đơn tại Sacombank là 5 USD, trong khi tại ACB chỉ có 2 USD)

    Dịch vụ thanh toán quốc tế tại Sacombank chưa mang tính cạnh tranh cao, chưa có tiêu chí phân loại khách hàng rõ ràng để có những ưu đãi cho từng đối tượng khách hàng cụ thể, điều này có thể làm giảm mức tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng

    Chưa xây dựng cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên thực sự cụ thể, nên không có tác dụng kích thích nhân viên phấn đấu hơn trong công việc.

    Sự cạnh tranh về doanh số so với các ngân hàng khác trong hệ thống chưa cao: VCB có doanh số thanh toán xuất nhập khẩu lớn nhất với khách hàng là các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, Ngân hàng Đông Á đứng đầu về doanh số chi trả kiều hối và có nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ phát triển; ACB với chiến lược marketing rất chuyên nghiệp.

    Công nghệ ngân hàng chưa cao: hiện nay Sacombank sử dụng chương trình Smartbank do FPT cung cấp để quản lý và xử lý các giao dịch phát sinh hàng ngày. Chương trình Smartbank vẫn còn nhiều bất cập khi số lượng truy cập hệ thống cùng lúc lớn , trong khi đó ACB và EAB đã có những hệ thống xử lý giao dịch có khả năng xử lý lớn hơn (ACB sử dụng chương trình TCBS, còn EAB sử dụng chương trình Flexcube như giải pháp ngân hàng lõi)

     

    Phần 4: Giải Pháp Và Đề Xuất Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Thanh Toán Tín Dụng Chứng Từ Nói Riêng Và Hoạt Động TTQT Nói Chung Tại Sacombank

    I.             Mục đích việc đưa ra các giải pháp

    Với mục tiêu chiến lược là quyết tâm xây dựng và phát triển  Sacombank trở thành một Ngân hàng bán lẻ hiện đại đa năng đạt mức tiên tiến trong khu vực, được biết đến với chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt và phong cách phục vụ chuyên nghiệp. Với định hướng như vậy, Sacombank cần phải nổ lực hoàn thiện mình từng trong từ khâu, từng lĩnh vực để có thể thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng, kể cả khách hàng khó tính nhất, tạo cho khách hàng sự hài lòng tuyệt đối, có lòng tin vào dịch vụ mà Sacombank cung cấp. Đặc biệt trong  lĩnh vực TTQT, một trong những mũi nhọn đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng

    II.           Giải pháp về quy trình thanh toán bằng L/C nhập khẩu

    Quy trình thanh toán cần luôn luôn được cập nhật, bổ sung, sửa đổi trực tiếp từ các qui trình thực tế của các giao dịch viên, cũng như từ những thay đổi về các điều lệ và quy định của ICC cho phù hợp với quy trình thanh toán của thế giới.

    Cần nâng cấp và cải tiến phần mềm quản lý Smartbank, tránh tình trạng hệ thống thường xuyên bị treo làm chậm tiến độ thực hiện.

    Nên áp dụng theo một tiêu chuẩn thanh toán quốc tế để tạo và nâng cao niềm tin cũng như sự tin tưởng của khách hàng.

    Có những chính sách ưu đãi dành cho những khách hàng lớn và thường xuyên thanh toán bằng thư tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng.

    Bộ phận TTQT cần giữ quan hệ chặt chặt chẽ và mật thiết với bộ phận tín dụng để luôn luôn cập nhật và bổ sung hồ sơ của khách hàng một cách thường xuyên.

    Hạn chế và giảm thiểu những chứng từ kế toán không cần thiết hoặc kết hợp chung để giảm tính phức tạp, tiết kiệm thời gian nhân viên giao dịch làm thay công việc kế toán.

    Đặc điểm kinh doanh của Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động nhập khẩu chiếm một tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với hoạt động xuất khẩu, do đó gặp nhiều khó khăn trong việc cân đối nguồn ngoại tệ.. Vì vậy Ngân hàng cần có những chính sách, chương trình phù hợp để thu hút khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn nhằm tái tạo và cân bằng nguồn ngoại tệ.

    Nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn, đa số thanh toán bằng vốn vay. Do đó khi sử dụng hết hạn mức vay tại ngân hàng này, khách hàng sẽ tìm đến một ngân hàng khác xin cấp một hạn mức tín dụng khác để nhập khẩu, đó cũng là tình trang chung hiện nay của các doanh nghiệp nhập khẩu. Vì vậy Sacombank cần có những chính sách ưu đãi về hạn mức tín dụng đối với những khách hàng lớn và tiềm năng, thường xuyên giao dịch với ngân hàng. Để thực hiện tốt việc này, phòng TTQT cần kết hợp với phòng tín dụng, cán bộ tín dụng cần làm tốt công tác thẩm định dự án, quản lý tài sản đảm bảo đánh giá chính xác năng lực tài chính doanh nghiệp, xếp loại chất lượng tín dụng cho từng khách hàng, trên cơ sở đó xây dựng những hạn mức mở L/C, hạn mức chiết khấu bộ chứng từ.

    Xác lập những chi nhánh Ngân hàng hoạt động tốt, có doanh số cao để nâng cao hạn mức mở L/C cấp chi nhánh, tạo điều kiện cho việc thanh toán nhanh chóng, tiện lợi.

    Vì thanh toán bằng L/C nhập khẩu là một trong những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Sacombank trong hoạt động thanh toán quốc tế, do đó cần tăng cường các công tác kiểm tra kiểm soát hoạt động, quy trình một cách thường xuyên nhằm đản bảo thực hiện đúng quy trình, pháp luật, phù hợp thông lệ quốc tế, nhanh chóng phát hiện ra sai sót để xử lý kịp thời.

    III.          Giải pháp về hoạt động TTQT tại Sacombank:

    SWOT O

     

    ·Việt Nam là thành viên tổ chức WTO.

    ·Tổng giá trị kim ngạch XNK Việt Nam lớn.

    ·Chính sách XNK ngày càng thông thoáng.

    T

     

    ·Nhiều ngân hàng 100% vốn nước ngoài đang thâm nhập vào VN.

    ·Cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng trong nước.

    S

     

    ·Có hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới.

    ·Mạng lưới hoạt động rộng lớn.

    ·Trình độ NV TTQT cao

    S1/O1

     

    S3/O2, O3

    S2, S3/ T1, T2
    W

     

    ·Chiến lược Marketing còn yếu.

    ·Hệ thống phần mềm giao dịch còn nhiều vấn đề

    W1/O1,O2 W1/T1,T2

    Kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu của Sacombank với các cơ hội và đe dọa từ môi trường bên ngoài, có thể đưa ra một số giải pháp sau:

    • Kết hợp S/O

    Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO trong năm vừa qua là một cơn hội lớn cho các tổ chức tài chính nói chung và Sacombank nói riêng, tranh thủ sự kiện đó Sacombank cần kết hợp những điểm mạnh của mình như thiết lập thêm nhiều quan hệ đại lý với các ngân hàng có uy tín trên thế giới. việc mở rộng quan hệ đại lý sẽ cho ta học hỏi được phong cách làm việc và các phương thức TTQT hiện đại của các ngân hàng lớn trên thế giới. Từng bước thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới bằng cách mở các văn phòng đai diện tại nước ngoài, mà việc thành lập văn phòng đại diện tại Trung Quốc trong năm vừa qua là một bước khởi đầu.

    Luôn luôn nâng cao kiến thức chuyên môn và thực tiễn cho nhân viên giao dịch TTQT cho phù hợp với tiến độ phát triển của thế giới.

    • Kết hợp S/T

    Đi cùng với những cơ hội to lớn khi Việt Nam gia nhập WTO là những thách thức và đe dọa không nhỏ. Với một hệ thống mạng lưới rộng lớn sẵn có,  Sacombank cần tiếp tục mở rộng hệ thống chi nhánh trong cả nước, phù hợp với mục tiêu chiến lược là có mạng lưới hoạt động trải dài từ Bắc vào Nam, vừa tranh thủ được lộ trình thâm nhập vào Việt Nam của các tổ chức tài chính lớn trên thế giới để phát huy thế mạnh và chiếm một thị phần lớn, vừa nâng cao vị thế cạnh tranh của Sacombank đối với các ngân hàng trong nước.

    Việc mở rộng hệ thống chi nhánh sẽ tạo cơ hội cho Sacombank tiếp cận được nhiều hơn với các doanh nghiệp và hoạt động TTQT cũng sẽ được đẩy mạnh hơn.

    • Kết hợp W/O, W/T

    Xây dựng chiến lược Marketing bài bản, chuyên nghiệp, quảng bá hình ảnh Sacombank không chỉ trong nước và khu vực mà còn mở rộng ra toàn thế giới.

    Kết hợp với những chương trình khuyến mãi để thu hút thêm nhiều khách hàng nhằm nâng cao thị phần TTQT của Sacombank so với các ngân hàng khác.

    Cần nâng cấp hệ thống phần mềm giao dịch, cải tiến quy trình làm việc cho chuyên nghiêp, phù hợp với trình độ chung của thế giới, nhăm nâng cao năng lực của Sacombank so với các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới khi họ thâm nhập vào Việt Nam.

    Đa dạng hóa sản phẩm dịch TTQT, tìm hiểu và phát triển những phương thức thanh toán còn mới ở Việt Nam.

    1.    Giải pháp về quản lý đào tạo.

    Để hạn chế đa các rủi ro trong thanh toán bằng thư tín dụng nhập khẩu, các cán bộ phòng TTQT phải thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức về pháp luật quốc gia và quốc tế. Nắm vững các quy định quy chế có liên quan đến hoạt động thanh toán bằng chứng từ nhập khẩu của Ngân hàng nhà nước.

    Các giao dịch viên luôn nắm vững các quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán nhập khẩu, các thao tác xử lý và vai trò của mình trong từng giao dịch, thực hiện tuân thủ chặt chẽ các bước trong quy trình nghiệp vụ.

    Chủ động thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, phối hợp với các cơ quan tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ có liên quan đến TTQT, gửi cán bộ đi đào tạo nghiệp vụ tại các ngân hàng lớn trên thế giới.

    Tiêu chuẩn hóa các cán bộ làm công tác TTQT: bố trí các cán bộ đủ năng lực trình độ chuyên môn và ngoại ngữ phù hợp với công việc.

    Thường xuyên cập nhật những thông tin quốc tế nhằm tạo điều kiện cho cán bộ bắt kịp tình hình biến động của thế giới.

    Cần thiết lập cơ sở đánh giá năng lực làm việc của nhân viên một cách rõ ràng, cụ thể. Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực khó có thể xác định những tiêu chí để đánh giá đúng năng lực của nhân viên, vì thế bộ phận nhân sự nên có những chỉ tiêu nhằm đánh giá khả năng làm việc của nhân viên.

    Có cơ chế chính sách khuyến khích bằng cách hình thức vật chất hoặc khen thưởng cho các cán bộ TTQT tự học để nâng cao trình độ phù hợp với cương vị được giao.

    2.    Giải pháp về công nghệ.

    Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng theo trình độ của một tập đoàn tài chính lớn trong khu vực., điều này không chỉ nâng cao chất lược dịch vụ TTQT tại Sacombank mà còn cung cấp cho ngân hàng một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động TTQT trong toàn hệ thống. Việc xây dựng Trung tâm dữ liệu ở tỉnh Bình Dương vừa qua được xem như là bước đi đầu tiên trong việc hiện đại hóa công nghệ.

    Hiện đại hóa ngân hàng với sự hỗ trợ của các chuyên gia quốc tế trong toàn hệ thống Sacombank.

    Phát triển và nâng cao các hệ thống, chế độ bảo mật các phòng ban, nâng cao mức độ chính xác an toàn, bảo mật trong giao dịch, hạn chế được nguy cơ bị xâm nhập hệ thống.

    Song song với việc hiện đại hóa công nghệ, Sacombank cần nghiên cứu, tìm hiểu và mở rộng các phương thức thanh tóan quốc tế để áp dụng tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các các ngân hàng khác trong cùng khối.

    3.    Giải pháp về Marketing

    Tìm hiểu hoạt động thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng lớn trên thế giới để học tập và cải tiến những điều mà Sacombank còn yếu kém trong nghiệp vụ và tổ chức quản lý.

    Tìm hiểu chiến lược cạnh tranh mà các Ngân hàng khác đang áp dụng để có chiến lược phù hợp-trước mắt là các Ngân hàng trong nước và dài lâu là những ngân hàng nước ngoài.

    Xây dựng một phòng quan hệ khách hàng hoàn chỉnh và hiệu quả, là cầu nối giữa Sacombank và khách hàng. Cán bộ là TTQT luôn bận rộn với việc giải quyết những nghiệp vụ phát sinh hàng ngày nên không có nhiều thời gian hướng dẫn và tìm hiểu tâm tư khách hàng. Trong khi đó vẫn có rất nhiều khách hàng cần được hướng dẫn và giúp đỡ ở mức độ khác nhau. Do đó phòng quan hệ khách hàng đóng vai trò khá quan trọng trong việc tìm hiểu và tìm kiếm khách hàng.

    Xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh cao

    Cần phải lưu ý đến vai trò của các dịch vụ bổ sung trong chính sách sản phẩm của mình. Những dịch vụ cộng thêm này không nhằm mục đích sinh lời cho ngân hàng, nhưng trong trong điều kiện môi trường cạnh tranh như ngày nay, chúng sẽ giúp ngân hàng duy trì được lượng khách hàng hiện hữu, làm tăng sự trung thành của họ và thu hút thêm khách hàng mới. Với việc thực hiện những dịch vụ bổ sung có hiệu quả sẽ là một lợi thế cạnh tranh của ngân hàng so với các đối thủ trên thị trường.

    Từ việc tiếp xúc với khách hàng thường xuyên, phòng quan hệ khách hàng sẽ có được những thông tin phản hồi tốt nhất từ khách hàng để tham mưu cho ban lãnh đạo và phòng TTQT để có những chính sách khách hàng hợp lý, tăng khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng về dịch vụ TTQT của Sacombank.

    Xây dựng một chiến lược Marketing bài bản và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu Sacombank trong khu vực và quốc tế.

    Cần áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000, vì ISO 9000 là một trong các tiêu chuẩn thương mại quan trọng và như một chứng chỉ để tham gia vào thị trường quốc tế và đặc biệt quản lý hướng vào khách hàng, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Những ngân hàng không có được chứng nhận ISO, sức cạnh tranh kém và sẽ chịu nhiều thua thiệt

    Từng bước thiết lập quan hệ và mở các văn phòng đại diện tại các nước trong khu vực để tìm hiểu và thâm nhập vào thị trường tài chính tiền tệ thế giới, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp và góp phần thúc đẩy Sacombank trở thành một tập đoàn tài chính lớn.

    4.    Giải pháp về việc lựa chọn và phát triển các ngân hàng đại lý

    Tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động TTQT, củng cố mối quan hệ đối ngoại vốn có với các ngân hàng đại lý nước ngoài.

    Tiếp tục mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng nước ngoài theo định hướng lựa chọn các ngân hàng, các đối tác nước ngoài có uy tín, phù hợp trong từng lĩnh vực để xây dựng các mối quan hệ ngân hàng đại lý chặt chẽ.

    Những thuận lợi của việc sử dụng mối quan hệ với các ngân hàng đại lý là chi phí thâm nhập thị trường nước ngoài thấp, học hỏi được những kinh nghiệm cũng như công nghệ của họ.

    Việc mở rộng quan hệ đại lý còn là một trong những yếu tố giúp lôi kéo khách hàng về Sacombank do chi phí thanh toán và trung gian cho việc thanh toán nước ngoài thấp hơn so với một ngân hàng trong nước không có quan hệ đại lý với nước ngoài.

    Định kỳ đánh giá, cập nhật thông tin về ngân hàng đại lý để có sự điều chỉnh quan hệ đại lý phù hợp với tình hình vận động của thế giới.

    Đánh giá uy tín của các ngân hàng nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm lực chọn những ngân hàng đại lý có uy tín cao trên thị trường quốc tế. việc đánh giá này phải dựa vào những tài liệu của các tổ chức quốc tế có uy tín,có độ tin cậy cao.

    Một số tiêu chí đánh giá uy tín của các ngân hàng đại lý:

    Môi trường kinh tế toàn cầu

    Những thành tựu đạt được.

    Uy tín, thương hiệu

    Phần 5: Một Số Kiến Nghị

    I.             Một số kiến nghị với Nhà nước:

    Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động TTQT và kinh doanh tiền tệ đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, minh bạch, phù hợp với các thông  lệ quốc tế.

    Ban hành các chính sách và cơ chế thích hợp vừa phù hợp với lộ trình thực hiện cam kết của WTO  trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng vừa bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước trước sự tham gia ngày càng rộng lớn của các tập đoàn tài chính lớn nước ngoài.

    Ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các ngân hàng trong việc đầu tư nhằm hiện đại hóa ngân hàng.

    Công tác xúc tiến thương mại cần được củng cố và duy trì thường xuyên, thông qua các tham tán thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, giới thiệu các ngân hàng trong nước đến nước ngoài, đồng thời cung cấp các thông tin về các ngân hàng nước ngoài cho các ngân hàng trong nước.

    Ngoài ra, Hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành, trực tiếp phục vụ công tác dự báo kinh tế chưa có tính thống nhất. Hiện tại. các thông tin kinh tế thường của Việt Nam bị phân tán và thiếu chuẩn hóa thống nhất giữa các nguồn và đơn vị quản lý. Cần phải khắc phục và hoàn thiện

    Nhà nước cần có những chính sách quản lý, dự báo hợp lý để vận hành tốt thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung, tránh tình trạng xảy ra lạm phát cao như năm nay, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của hệ thống ngân hàng trong nước.

    II.           Một số kiến nghị với Ngân hàng trung ương

    Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành, Ngân hàng nhà nước cần phải có các văn bản dưới luật hướng dẫn các nghiệp vụ thanh toán quốc tế.

    Cần phải có văn bản quy định mối quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi của nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các ngân hàng tham gia sử dụng phương thức thanh toán bằng L/C trên cơ sở luật quốc gia

    Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường trao đổi cung cấp các loại ngoại tệ nhằm giải quyết các mối quan hệ ngoại tệ giữa các ngân hàng với nhau. Vì vậy việc hoàn thiện và phát triển thì trường này của ngân hàng nhà nước Việt Nam  vừa là một trong những điều kiện quan trọng để các ngân hàng thương mại mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh vừa là cơ sở cho việc hình thành thị trường hối đoái hoàn chỉnh ở Việt Nam .

    Xây dựng cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thực tế.

    Ngân hàng nhà nước cần nâng cao dự trữ ngoại tệ tương ứng với nhịp độ phát triển của kim ngạch xuất nhập khẩu, xác định cơ cấu dự trữ trên cơ sở đa dạng hóa rổ ngoại tệ mạnh, không nên neo giữ đồng VND và USD trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ có nhiều biến động lớn.

    Cần phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn về thị trường tài chính tiền tệ quốc tế cũng như trong nước, tránh tình trạng như năm vừa qua việc Ngân hàng nhà nước yêu cầu các Ngân hàng TMCP mua tín phiếu bắt buộc làm ảnh hưởng đến nguồn vốn hoạt động của các Ngân hàng kéo theo hậu quả là việc tài trợ thương mại bị giảm sút vì các Ngân hàng TMCP không đủ nguồn vốn cho vay.

    Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước còn cần phải có những quy định về các phương thức thanh toán quốc tế hiện đại như Factoring, Forfeighting (Factoring và Forfeiting cũng gần gần giống nhau nghĩa là đều là dạng tài trợ những khoản phải thu nhưng Factoring dành cho những khoản tài trợ ngắn hạn còn Forfeiting dành cho những khoản trung và dài hạn và withour recourse.), Packing Credit (tài trợ pre shipment), Bill Purchase…vốn đã rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là một dịch vụ còn rất mới ở Việt Nam..

    Không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của trung tâm tín dụng Ngân hàng nhà nước (CIC)

    III.          Một số kiến nghị với Sacombank.,

    Về việc xây dựng lại biểu phí hợp lý mang tính cạnh tranh hơn: những phí còn thấp so với các ngân hàng khác thì nên tăng lên nhằm tăng doanh thu , chẳng hạn việc tính phí cho một BCT có BHL chỉ là 40$ trong khi các ngân hàng quốc tế khác phí bất hợp lệ cao hơn nhiều.

    Cần nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn về sản phẩm của Ngân hàng cho nhân viên quan hệ khách hàng nói riêng và toàn bộ nhân viên Ngân hàng nói chung, tránh tình trạng khi khách hàng cần tư vấn thì nhân viên không đủ nghiệp vụ và chuyên môn, làm khách hàng phàn nàn.

    Cần xây dựng một hệ thống tuyển dụng nhân sự bài bản, chuyên nghiệp, đưa ra được những nhu cầu, tiêu chỉ tuyển dụng rõ ràng. Tránh tình trạng tuyển dụng không mục đích làm gia tăng chi phí. Cần học hỏi những kiến thức từ các ngân hàng khác trong cùng hệ thống ngành.

    Nên áp dụng một hệ thống đo lường tiêu chuẩn nhất định để chuẩn hóa quy trình hoạt động của hệ thống ngân hàng Sacombank nói chung và phòng thanh toán quốc tế nói riêng vừa nhằm nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên, vừa tạo được uy tín, niềm tin nơi khách hàng.

    Cũng như việc tuyển dụng nhân sự, Sacombank cần có một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá ngân hàng đại lý nhằm mở rộng những đại lý nước ngoài có uy tín và chấm dứt quan hệ những đại lý hoạt động không hiệu quả.

    Vì phòng TTQT và phòng kinh doanh ngoại tệ có quan hệ mật thiết với nhau, do đó phòng kinh doanh ngoại tệ cần phải có những chích sách và chiến lược kinh doanh đúng đắn và phù hợp nhằm hạn chế việc không đủ nguồn ngoại tệ cho việc tài trợ thương mại, dẫn đến việc khách hàng sẽ tìm kiếm một ngân hàng khác.

    Phát triển đa dạng các loại hình thanh toán quốc tế nhăm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngaybản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Trắc nghiệm thanh toán quốc tế có lời giải


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-L%C3%BD-thuy%E1%BA%BFt-t%C3%A0i-ch%C3%ADnh-ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-c%C3%A1c-h%C3%ACnh-th%E1%BB%A9c-thanh-to%C3%A1n-kh%C3%B4ng-d%C3%B9ng-ti%E1%BB%81n-m%E1%BA%B7t-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Lý thuyết tài chính tiền tệ: Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam

     
    CHƯƠNG 2 :

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

     

    LỜI NÓI ĐẦU

     

    Sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển đã kéo theo các phương thức thanh toán phát triển, phương thức này là sự kế thừa và phát triển của phương thức trước đó. Khắc phục những nhược điểm của phương thức thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán mới ưu việt hơn, đáp ứng một cách tốt hơn cho yêu cầu của sự phát triển kinh tế.

     

    Hiện nay ở rất nhiều nước trên thế giới việc thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên quen thuộc với mỗi người dân, trong khi đó ở Việt Nam khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt còn chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Thanh toán không dùng tiền mặt chưa được người dân chấp nhận rộng rãi, thậm chí nhiều người còn chưa nhìn thấy tờ séc, tấm thẻ tín dụng bao giờ. Có thể nói một chúng ta chưa phát huy được tính ưu việt của thanh toán không dùng tiền mặt và như vậy chúng ta chưa tận dụng hết các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của nền kinh tế.

     

    Hiện nay khi mà thanh toán bằng tiền mặt đang là phổ biến thì việc tìm ra giải pháp cho sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết tuy rằng điều đó không đơn giản. Nó đòi hỏi phải có sự quan tâm, nghiên cứu một cách đầy đủ, phải có cái nhìn sâu hơn, rộng hơn. Với mong muốn các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ ngày càng được chấp nhận rộng rãi em đã chọn đề tài : “Một số giải pháp phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam”.

     

    Nội dung chính của đề tài bao gồm :

     

    CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.

     

     

     

    THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

     

     

     

     

    CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

     

    1

     

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Giới hạn Đề tài :Với mong muốn thanh toán không dùng tiền mặt sẽ phát triển và được chấp nhận rộng rãi, nhất là các cá nhân, ở đề án này em chỉ tập trung vào hai hình thức thanh toán là Séc và Thẻ Thanh Toán – hai hình thức tiện dụng nhất và các cá nhân nên sử dụng nhất.

     

    • Đối tượng của Đề án : Chủ yếu của đề án là các cá nhân, người tiêu dùng trong các hoạt động thanh toán.

     

    • Phương pháp nghiên cứu :

    Đây là đề tài rộng, phức tạp và được nhiều ngưòi quan tâm, vì vậy với kiến thức còn hạn chế trong phạm vi đề tài này em mới chỉ dừng lại ở việc tổng hợp lại một số lý thuyết đã có, tham khảo các tài liệu, tạp chí, so sánh với thực trạng của Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra một số nhận xét ban đầu và các giải pháp cho vấn đề này.

    Do khả năng phân tích đánh giá thực tế và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, đề tài rộng, thời gian nghiên cứu không nhiều cho nên những vấn đề đưa ra, các nhận xét đánh giá và kiến nghị chắc chắn không tránh khỏi sai sót, lệch lạc. Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo để đề án của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    Hà Nội, 10/2004.

    2

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 1

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT.

    1.1 lưu thông tiền tệ.

    1.1.1 Khái niệm và vai trò của lưu thông tiền tệ.

    • Lưu thông tiền tệ là sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế để thực hiện các quan hệ thương mại, hàng hoá, phân phối thu nhập, hình thành nguồn vốn và phúc lợi xã hội.

    Có thể nói, sự lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế đóng vai trò như hệ thống mạch máu trong một cơ thể sống, nếu hệ thống mạch máu này hoạt động tốt thì cơ thể sẽ khoẻ mạnh và phát triển, ngược lại nếu hệ thống mạch máu này hoạt động trục trặc, hoặc hơn thế nữa là bị tắc nghẽn thì cơ thể sẽ ốm yếu và sẽ không thể phát triển bình thường.

    1.1.2 Các hình thức lưu thông tiền tệ.

    1.1.2.1     Lưu thông bằng tiền mặt:

    +khái niện: Đó là sự vận động của tiền mặt trong nền kinh tế phục vụ cho các quan hệ thương mại với quy mô nhỏ và trong nội bộ dân cư là chính.

    Đây là hình thức trong đó tiền tệ và hàng hoá đồng thời vận động với nhau.

    • Ưu điểm : Đây là hình thức đơn giản, chu chuyển nhanh, không gây ách tắc trong chu chuyển và nó có hiệu quả kinh tế cao đối với người tham gia lưu thông.
    • Nhược điểm :
    • Tốn kém về mặt chi phí lưu thông tiền tệ như : in ấn, bảo quản, tổ chức lưu thông…

    3

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    – Gây ra những hiện tượng tiêu cực xã hội : Trộm cắp, rửa tiền, trốn

    thuế…

    – Nạn tiền giả.

    1.1.2.2 Lưu thông không dùng tiền mặt:

    • khái niệm: Đây là hình thức lưu thông trong đó tiền tệ và hàng hoá vận động tưông đối độc lập với nhau, đáp ứng cho nhu cầu thanh toán với quy mô lớn, thông thường là các doanh nghiệp.
    • Nhược điểm :
    • Phải có trình độ nhất định mới tham gia được.
    • Mọi thanh toán phải thông qua ngân hàng.
    • Trang bị cơ sở vật chất ban đầu khá tốn kém.

    -Vấn đề bảo mật.

    • Ưu điểm :
    • Khắc phục được một phần chi phí lưu thông.
    • Tăng cường khẳ năng kiểm soát của nhà nước, của ngân hàng.
    • Tạo ra sự văn minh lịch sự trong thanh toán

    1.2 Sự cần thiết phải phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    1.2.1 Nguồn gốc của thanh toán không dùng tiền mặt.

    Trong xã hội loài người, nếu còn sản xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá, thì sự tồn tại của mối quan hệ Tiền – Hàng là một tất yếu khách quan. Đó là mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau.

    Theo tiến trình lịch sử hình thành tiền tệ, đồng tiền đã có những bước phát triển từ thấp đến cao. Trong nền kinh tế tự nhiên khép kín, do nhu cầu còn rất

    4

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    đơn giản con người tự sản xuất được những gì mình cần và do đó họ không có nhu cầu trao đổi. Khi xã hội phát triển và mở rộng hơn, họ thấy rằng mình không thể tự sản xuất mọi thứ mà mình cần do nhiều lý do, lúc này nhu cầu trao đổi xuất hiện và vấn đề là trao đổi như thế nào. Vấn đề trùng lắp nhu cầu xuất hiện. Nhưng không phải lúc nào và ở đâu cũng có sự trùng lắp nhu cầu. Muốn trao đổi được hàng hoá người ta nghĩ tới một hàng hoá mà nhiều người cùng cần, đó là vật đứng ra làm vật ngang giá chung – hình thức đầu tiên của tiền tệ. Lúc đầu vật ngang giá chung rất đơn giản, nó có thể là vỏ sò vỏ hến hay con bò, miếng đồng…Do yêu cầu thuận tiện trong trao đổi người ta thấy rằng cần phải có vật ngang giá chung thế nào đó dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ, không hao mòn và có thể tích trữ dùng cho sau này. Con người đã chọn vàng.

    Sản suất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá đưa vào lưu thông càng nhiều, đòi hỏi phải có thêm lượng tiền đưa vào thêm đáp ứng nhu cầu của hàng hoá đưa vào lưu thông. Hơn nữa người ta thấy rằng trong mua bán chịu, tờ giấy ghi nợ cũng có giá trị như tiền vậy. Tiền giấy ra đời và nó đã giúp cho việc trao đổi hàng hoá diễn ra thuận lợi hơn rất nhiều.

    Nhưng sản xuất không ngừng phát triển, khối lượng tiền đưa vào lưu thông ngay một lớn, đặc biệt là khi có lạm phát. Tiền giấy bộc lộ những hạn chế nhất định như : Chi phí in ấn, bảo quản, tiền giả, kiểm đếm…Hơn nữa trong nền kinh tế phát triển như ngày nay khối lượng tiền trong một giao dịch là rất lớn, nếu thanh toán bằng tiền mặt thì rõ ràng là bất tiện. Như vậy đòi hỏi phải có phương thức thanh toán mới ưu việt hơn khắc phục được những hạn chế trên, phù hợp với một giai đoạn phát triển kinh tế mới.Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện như một tất yếu, thể hiện bước phát triển và hoàn thiện

    • đỉnh cao của lịch sử phát triển của tiền tệ.

    1.2.2 Sự cần thiết phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

    5

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Thanh toán là cầu nối giữa sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng. Đồng thời nó cũng là khâu mở đầu và là khâu kết thúc của quá trình tái sản xuất xã hội. Tổ chức tốt công tác thanh toán nói chung sẽ tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách trôi chảy nhịp nhàng. Ngược lại việc thanh toán bị trục trặc, ách tắc thì quá trình sản xuất kinh daonh sẽ lâm vào trì trệ.

    Hiện nay khi mà nền kinh tế thế giới đã phát triển sang một giai đoạn mới, lúc này ngân hàng phải phát huy đầy đủ các chức năng của mình đó là trung tâm thanh toán trong nền kinh tế.

    • đây ta hiểu thanh toán không dùng tiền mặt là sự vận động của tiền tệ với chức năng là phưong tiện thanh toán giữa các tổ chức cá nhân trong xã hội bằng cách trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác.

    Đối với nền kinh tế thị trường thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò rất lớn.

    • Đối với nền kinh tế nói chung :
    • Thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ phục vụ cho các hoạt động của các tổ chức, cá nhân mà nó còn góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
    • Thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hoá , vật tư, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.
    • Đối với ngân hàng :
    • Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng tập chung được các nguồn vốn trong dân cư.

    6

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Giúp cho ngân hàng có được khoản thu từ phí cung cấp dịch vụ thanh toán ổn định và an toàn.
    • Tạo điều kiện cho Ngân hàng nhà nước kiểm soát và điều tiết lượng tiền đi vào lưu thông, từ đó có các chính sách phù hợp tác động vào nền kinh tế.

    -Với vai trò là các trung gian tài chính việc thanh toán qua ngân hàng giúp cho việc thu thập các nguồn thông tin về doanh nghiệp và sự chuyển dịch vốn trong nền kinh tế. Tạo điều kiện cho việc thẩm định các dự án đầu tư được tố hơn.

    • Đối với xã hội :

    – Tạo môi trường thanh toán văn minh, lịch sự, thuận tiện và nhanh chóng.

    • Giúp người dân có thói quen thanh toán qua ngân hàng và sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
    • Hạn chế nạn tiền giả, rửa tiền, thành lập các quỹ đen…

    1.3  Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Theo quyết định 22/NH 21/01/1994 do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng trong hệ thống ngân hàng bao gồm : Séc, Uỷ nhiệm chi, Uỷ nhiệm thu, Thư tín dụng, Ngân phiếu thanh toán, Thẻ thanh toán.

    Quyết định 22/QĐ-NH1 ngày 21/12/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là văn bản hướng dẫn đầy đủ nhất về TTKDTM. Tuy nhiên, bản thân nội dung văn bản này cũn nhiều bất cập. Điều 7 Quyết định đưa ra các hỡnh thức TTKDTM: sộc, ủy nhiệm chi – chuyển tiền, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, thẻ thanh toán. Một số chuyên gia cho rằng ngân phiếu thanh toán không phải là TTKDTM mà chẳng qua là một loại tiền mệnh giá lớn. Cũn nếu coi ủy nhiệm chi – chuyển tiền là một thể thức TTKDTM thỡ

    7

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    là sai về khỏi niệm, vỡ ủy nhiệm chi là một thể thức thanh toỏn, nhưng chuyển

    tiền lại là phương thức thanh toán…

    Gần đây nhất theo quyết định số 235/2002/QĐ-NHNN ngày 27/03/2002 của thống đốc NHNN về việc chấm dứt việc phát hành trái phiếu thanh toán. Theo đó kể từ ngày 1/4/2002 NHNN sẽ không phát hành ngân phiếu thanh toán nữa. Vậy nên với nội dung chính của đề tài là các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay tại Việt Nam nên em xin không đề cập đến hình thức thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán, Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiệm chi.

    1.3.1 Thanh toán bằng Séc.

    Séc là một tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một khách hàng của ngân hàng ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình mở tại ngân hàng để trả cho người cầm Séc hoặc cho người được chỉ định trên tờ Séc ( tổ chức kinh tế hay cá nhân ).

    Séc là một mệnh lệnh, chứ không phải là một yêu cầu, do đó khi nhận được Séc Ngân hàng chấp nhận vô điều kiện, trừ trường hợp tài khoản của người phát hành không đủ hoặc không có tiền trả.

    Cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt của nước ta quy định về xử phạt những tờ Séc phát hành quá số dư tiền gửi hoặc tiền lưu ký như sau :

    + Người phát hành Séc phải chịu phạt bằng 30% số tiền phát hành quá số

    dư.

    • Người phát hành Séc phỉa chịu phạt về chậm trả ( kể từ ngày tờ Séc quay về ngân hàng phục vụ người phát hành Séc đến ngày có đủ tiền thanh toán).

    Ngoài ra nếu người chủ tài khoản vi phạm phát hành Séc đến tờ thứ hai, Ngân hàng nhà nước trung ương sẽ thông báo đến tất cả các ngân hàng, khách hàng phát hành Séc quá số dư sẽ bị đình chỉ việc sử dụng loại Séc đó, thời gian

    8

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    đình chỉ tối thiểu là 3 tháng. Trường hợp việc vi phạm nguyên tắc phát hành Séc dẫn tới hậu quả nghiêm trọng thì Người phát hành Séc sẽ bị truy tố theo quy định của pháp luật.

    Các loại Séc bao gồm :

    – Séc chuyển khoản.

    Séc chuyển khoản – Séc thông thường là loại Séc được sử dụng rộng rãi, nó có giá trị thanh toán như tiền tệ, do đó trên tờ séc phải có đầy đủ những yếu tố bắt buộc theo luật định. Thông thường séc được in sẵn, người phát hành chỉ việc điền vào chỗ quy định bằng loại mực không phai.

    Viẹc ghi trên tờ séc phải bảo đảm tính hợp lệ, hợp pháp đối với việc sử dụng Séc. Séc chuyển khoản cũng như các loại séc khác chỉ có hiệu lực trong phạm vi thời hạn nhất định. Bởi vậy trong thời hạn hiệu lực của tờ Séc ngân hàng phải thanh toán ngay khi người thụ hưởng Séc nộp Séc vào ngân hàng. Cơ chế sử dụng Séc chuyển khoản hiện nay quy định : Thời hạn hiệu lực của Séc là 10 ngày và séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày.

    – Séc bảo chi và Séc định mức.

    Séc bảo chi và Séc định mức là loại Séc xác nhận được ngân hàng bảo đảm khả năng thanh toán và chống lại việc phát hành khống.

    – Séc chuyển tiền.

    Séc chuyển tiền hay Séc chuyển tiền cầm tay là một loại chuyển tiền được sử dụng theo yêu cầu của khách hàng. Việc chuyển tiền mặt giữa các tỉnh thành phố qua ngân hàng được các ngân hàng thực hiện bằng phương thức chuyển tiền nhanh bằng điện đến địa chỉ người lĩnh tiền, hoặc cấp séc chuyển tiền cho khách hàng.

    9

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    – Séc cá nhân.

    Séc cá nhân được áp dụng đối với khách hàng có tài khoản tiền gửi đứng tên cá nhân tại ngân hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán khác.

    Hiện nay theo quy định của ngân hàng Séc cá nhân có số tiền trên 5 triệu phải làm thủ tục bảo chi Séc, người thụ hưởng phải yêu cầu người phát Séc xuất trình CMND để kiểm tra và chỉ nhận Séc do đích thân người có tên trên và sau tờ Séc và phải ký tên tại chỗ.

    Thời hạn hiệu lực của Séc cá nhân là 10 ngày và chỉ được áp dụng thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ và giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày.

    1.3.2 Thanh toán bằng hình thức thẻ thanh toán.

    Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng dụng trong ngân hàng. Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng của mình ( các doanh nghiệp, cá nhân ) để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh toán nợ và lĩnh tiền mặt. Ở một số nước các hãng, các công ty lớn cũng phát hành thẻ thanh toán để thu tiền bán hàng của hãng mình.

    Thẻ thanh toán bao gồm thẻ từ và thẻ điện tử. Thẻ từ là loại thẻ dùng kỹ thuật băng từ để ghi và đọc thông tin trên thẻ. Thẻ điện tử là loại thẻ có gắn bộ nhớ vi điện tử trên thẻ, ghi và đọc thông tin qua bộ nhớ vi điện tử.

    Có 3 loại thẻ thanh toán được áp dụng :

    –  Thẻ thanh toán không phải ký quỹ.

    10

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Người sử dụng thẻ không phải lưu ký tiền vào tài khoản để đảm bảo thanh toán. Căn cứ để thanh toán là số dư tài khoản tiền gửi của người chủ sở hữu thẻ mở tại ngân hàng với hạn mức tối đa do ngân hàng quy định. Hạn mức được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử, vào giải băng từ nếu là thẻ điện tử.

    • nước ta quy định thẻ thanh toán không phải ký quỹ là loại thẻ A. nó được áp dụng cho những khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán tốt và thường xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng.
    • Thẻ thanh toán phải ký quỹ trước tại ngân hàng .

    Người sử dụng thẻ phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản để đảm bảo thanh toán. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của thẻ.

    Loại thẻ này được quy định là loại thẻ B, nó được áp dụng với mọi loại khách hàng.

    – Thẻ tín dụng.

    Thẻ tín dụng là loại thẻ không phải ký quỹ và được quy định là loại thẻ C. Nó được áp dụng đối với những khách hàng được vay vốn ngân hàng. Mức tiền cho vay là hạn mức tín dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ.

    11

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 2

    THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG

    TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    2.1 Những quy định mang tính nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt .

    Thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng, nghiệp vụ này có liên quan chặt chẽ đến quan hệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ của tất cả các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế. Để hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt diễn ra thuận lợi, an toàn, bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia, cần phải thống nhất công tác tổ chức và có những quy định cụ thể. Ngân hàng nhà nước đã có quy định như sau :

    2.1.1 Quy định chung.

    Các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đoàn thể, cá nhân được quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoảngiao dịch và thực hiện thanh toán.

    Việc mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, kho bạc nhà nước thì thực hiện qua tài khoản được ghi bằng đồng Việt Nam. Trường hợp ghi bằng ngoại tệ phải thực hiệntheo quy chế quản lý ngoại hối của chính phủ Việt Nam ban hành.

    2.1.2 Quy định đối với ngân hàng.

    Thực hiện uỷ thác thanh toán của chủ tài khoản, bảo đảm chính xác, an toàn, thuận tiện. Các ngân hàng và kho bạc có trách nhiệm chi trả bằng tiền mặthoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản.

    12

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện thanh toán và được uỷ quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền, đồng 1thời không chịu trách nhiệm về những nội dung liên đới của bên khách hàng.

    Nừu thiếu sót trong quá trình thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng thì ngân hàng và kho bạc phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ thiệt hại mà có thể bị xử lý theo pháp luật.

    Khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng ngân hàng được thu phí theo quy định của thống đốc Ngân hàng nhà nước.

    2.1.3 Quy định đối với khách hàng.

    Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ tài khoản phải có đủ tiền trên tài khoản, mọi trường hợp thanh toán quá số dư là phạm pháp và phải xử lý theo quy định của pháp luật.

    Chủ tài các chứng từ hàng.

    khoản phải lập chứng từ theo mẫu in sẵn do ngân hàng ấn hành và phải đầy đủ các yếu tố quy định về mẫu, chữ ký dăng ký tại ngân

    2.2  Thực trạng về các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

    Đã có một thời, việc kiểm soát tiền mặt tồn quỹ được thực hiện ráo riết, tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt (qua ngân hàng) tăng cao, thanh toán bằng tiền mặt giảm mạnh. Nhưng biện pháp hành chính đó không phù hợp với cơ chế thị trường. Đến nay, nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 30% tổng doanh số thanh toán trong nền kinh tế. Nhiều nghìn tỷ đồng tiền mặt đang rải rác trong từng cá nhân, gia đình, quỹ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để thanh toán trực tiếp khi mua hàng, kể cả mua bất động sản trị giá hàng tỷ đồng. Sử dụng tiền mặt phổ biến trong thanh toán vừa gây nhiều lãng phí, vừa là kẽ hở lớn

    13

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế luồn lách, lẩn trốn sự kiểm soát của Nhà nước và xã hội.

    Đến nay dân số Việt Nam có 80 triệu người, trong đó 80% là nông nghiệp có thu nhập thấp, 20% còn lại phân bổ thu nhập không đều. Bình quân thu nhập 400 USD/ 1 người/ 1 năm (là nước có thu nhập thấp so với thế giới) hệ thống ngân hàng Việt Nam gồm Ngân hàng Trung Ương và 64 chi nhánh trong cả nước. Hệ thống các ngân hàng Thương mại và tổ chức tín dụng đa dạng (80 đơn vị); bao gồm: 5 ngân hàng Thương mại Quốc doanh, 24 NHCP đô thị; 12 NHCP nông thôn; 4 ngân hàng liên doanh, 34 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 quý tín dụng nhân dân trung ương và 90 quý tín dụng nhân dân cơ sở và 13 tổ chức tài chính phi ngân hàng. Về giải pháp công nghệ mới có 0,8 ngân hàng đã có hệ thống kế toán tập trung tài khoản, 12 ngân hàng đã có máy ATM, 20 ngân hàng đã phát hành thẻ thanh toán, 42 ngân hàng đã tham gia hệ thống thanh toán quốc tế, 3 ngân hàng đang triển khai ứng dụng dịch vụ Internet banking. Với hệ thống rộng lớn này là các điều kiện rất cơ bản, có nhiều cơ hội sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động ngân hàng

    Trong thời kỳ tập trung bao cấp, Nhà nước ta cũng rất quan tâm đề ra những chủ trương lớn về việc sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cơ chế mệnh lệnh hành chính quan liêu cùng với hệ thống ngân hàng một cấp, việc mở rộng thanh toán chuyển khoản chỉ phát huy hiệu lực trong bộ phận kinh tế nhà nước. Lợi ích chính đáng và hợp pháp của chủ thể thanh toán không được tôn trọng đúng mức chính là lý do làm cho những chủ trương nói trên trở nên kém thực thi, thậm chí còn bị biến dạng trở thành phương tiện thể hiện quyền lực nhằm mục đích gây sách nhiễu, phiền hà. Trước năm 1985, thanh toán không dùng tiền mặt chiếm 80%, nhưng trong cuộc lạm phát phi mã 1985 – 1988, thanh toán

    14

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    không dùng tiền mặt sút giảm ghê gớm vì tiền mặt khan hiếm đến mức các ngân hàng quốc doanh khi đó, với thế độc quyền, đã khất chi tiền mặt. Một cái séc chuyển khoản nộp vào ngân hàng phải 15 ngày sau mới tính ra bằng tiền mặt được.

    Thực tế trên đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay, nhất là khi nền kinh tế đã chuyển sang cơ chế thị trường. Mọi việc lại trở nên “quá đà” khi xã hội không chấp nhận rộng rãi các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Hệ thống thanh toán thông qua định chế tài chính – ngân hàng mặc dù có bước phát triển vượt bậc so với trước đây, nhưng nhìn chung còn bất cập trong xu thế hội nhập quốc tế, chưa đi vào cuộc sống, thậm chí còn rất xa lạ với đại đa số dân cư.

    Thực trạng xã hội nước ta vẫn là “một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt” như nhận xét của nhiều khách nước ngoài. Thực trạng đó theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng : “…làm cho việc điều hoà lưu thông tiền tệ và quản lý kho quỹ rất khó khăn, phân tán, tốn kém, ảnh hưởng rất lớn đến việc hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và cấu trúc lại hệ thống…”.

    2.2.1 Thanh toán bằng Séc.

    Ngày 9/5/1996, chính phủ đã ban hành nghị định 30 về phát hành và sử dụng Séc. Ngày 27/12/1996 Ngân hàng nhà nước đã ban hành thông tư 07 hướng dẫn việc thi hành nghị định trên của chính phủ. Những văn bản pháp quy về phát hành và sử dụng Séc có hiệu lực hơn 5 năm nay. Nhưng, Séc vẫn chưa đi vào cuộc sống. Như vậy, những văn bản pháp quy trên, nhất là thông tư 07 của Ngân hàng nhà nước có những điểm chưa phù hợp, nên Séc chưa đi vào cuộc sống. Ta có thể thấy rõ điều này qua các con số thống kê về thanh toán không dùng tiền mặt tại TP. Hồ Chí Minh.

    15

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    TP.HCM là một thành phố lớn có tốc độ phát triển và thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước. Nhưng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng phát triển rất “ì ạch”.Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi được ưa chuộng nhất trong khâu thanh toán do thủ tục đơn giản, hiện đang chiếm vị trí tuyệt đối trong khâu thanh toán giữa các thể nhân và pháp nhân khác nhau trong nền kinh tế. Tính hết 6 tháng đầu năm nay, thể thức này chiếm tỷ trọng 90,97% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Trong khi đó, tỷ trọng thanh toán bằng séc qua ngân hàng còn rất khiêm tốn, tỷ trọng này chỉ là 0,31% trong tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt tại Tp.HCM tính đến 6 tháng đầu năm nay. Còn uỷ nhiệm thu, tỷ trọng thanh toán cũng rất thấp, chỉ bằng 2,07% tổng doanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Vậy vì sao các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt ở một đô thị lớn như Tp.HCM lại phát triển chậm và lệch lạc như vậy?… dẫu rằng không phải chúng không thấy được tác dụng tích cực của nó.

    Đây là một ví dụ, dẫn chứng thực tế :

    Vừa qua, các doanh nghiệp (DN) lắp ráp xe gắn máy hai bánh đó mua linh kiện của cỏc DN sản xuất trong nước, thực hiện nội địa hoá, với số tiền hơn tỷ đồng, thanh toán một lần bằng tiền mặt để trốn thuế. Xảy ra hiện tượng này một phần là do dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng (NH) chưa phát triển, Chính phủ chưa ban hành cơ chế; phạm vi và số tiền tối đa được thanh toán bằng tiền mặt.

    • Mặc dù có nhiều công cụ thanh toán hiện đại xuất hiện, nhưng séc vẫn là một công cụ thanh toán phổ biến trên thế giới. Phần lớn ở các nước đều có Luật séc riêng, hoặc séc sẽ được quy định trong luật Thương Mại, hoặc nếu không sẽ sử dụng ngay Luật Thống nhất về séc, nên khi sử dụng séc tính pháp lý rất cao, quyền lợi của người sử dụng séc được đảm bảo. Còn ở Việt Nam chưa có luật Séc, trong Luật Thương mại cũng không quy định mà mới chỉ

    16

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    được ban hành dưới dạng Nghị định của Chính phủ. Song thực tế Nghị định này và Thông tư hướng dẫn của NHNN để thực hiện Nghị định về séc còn nhiều điểm chưa phù hợp, do vậy tính khả thi không cao, tính pháp lý chưa đảm bảo vững chắc, quyền lợi và nghĩa vụ của những người tham gia sử dụng séc không rõ ràng.

    NGUYÊN NHÂN.

    • Một là, vấn đề mở tài khoản :

    Trong thông tư của Ngân hàng nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định 30 về phát hành và sử dụng séc chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và văn bản pháp quy của Ngân hàng nhà nước. Trong thông tư 07 dùng ngôn từ “tài khoản thanh toán” trong khi đó hệ thông kế toán của ngân hàng thương mại do Ngân hàng nhà nước ban hành chỉ có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Trên thế giới, doanh nghiệp, cá nhân cùng một lúc mở hai tài khoản tiền gửi tại ngân hàng và chỉ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mới có quyền rút tiền mặt hoặc thanh toán không dùng tiền mặt.

    • Hai là, Hình thức tờ Séc do Ngân hàng nhà nước thiết kế không phù hợp với thực tế.

    Theo mẫu Séc kèm theo thông tư 07 của Ngân hàng nhà nước, người phát hành Séc ngoài việc ghi họ tên người thụ hưởng còn phải gi số ngày cấp và nơi cấp CMND ; số hiệu tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và địa chỉ người thụ hưởng. Điều này thực tế rất khó thực hiện. Ngườiphát hành Séc và người thị hươngr cùng thành phố, phải gặp nhau mới thực hiện được nội dung tờ Séc này yêu cầu.

    Nội dung trên là không cần thiết mà nên dành cho chi nhánh ngân hàng hoặc kho bạc nhà nước tiếp nhận tờ Séc. Khi đó người thụ hưởng Séc phải xuất trình Séc cùng chứng minh thư.

    17

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Trên tờ Séc đòi hỏi hai chữ ký : Kế toán trưởng và chủ tài khoản. Điều này gây phiền phức cho bên phát hành Séc. Các chuyên gia cho rằng trên tờ Séc chỉ cần một chữ ký của chủ tài khoản hoặc người dược chủ tài khoản uỷ quyền.

    – Ba là, phạm vi thanh toán của Séc qúa hẹp.

    Như trong phần lý luận chung ta đã thấy thanh toán bằng séc có phạm vi khá hẹp, không cho thanh toán ngoài hệ thống, ngoài địa bàn thành phố nên bị hạn chế. Thủ tục luân chuyển séc cũng chậm vì còn yêu cầu ghi nợ trước, ghi nợ sau. Trường hợp 2 đơn vị mua bán có tài khoản tại 2 nơi khác nhau, phải mất thời gian chuyển cho ngân hàng bên mua để ghi nợ trước rồi ngân hàng bên bán mới được ghi có sau vào tài khoản đơn vị bán. Việc này áp dụng với cả séc bảo chi gây không ít phiền hà cho khách vì phải lưu ký tiền trên tài khoản mà không rút ngắn được thời gian luân chuyển chứng từ.1

    – Với các dịch vụ thanh toán, việc sử dụng các công cụ thanh toán ban hành theo Nghị định 91/CP, Quy định 22-NH và Thông tư 08 của Ngân hàng Nhà nước về kinh doanh thương mại hiện nay không còn phù hợp với thực tế. Các hình thức thanh toán như séc định mức, thư tín dụng hoàn toàn không được sử dụng, séc chuyển tiền chỉ được sử dụng rất ít.

    – Một số thủ tục còn rườm rà như trong chế độ quy định khi mua séc, chủ tài khoản phải lập giấy đề nghị bán séc, đồng thời uỷ nhiệm chi trích tài khoản tiền gửi để mua séc, hay loại chứng từ cho cùng một nội dung. Một số trường hợp như người thụ hưởng séc nộp séc vào ngân hàng quá thời hạn thanh toán, đơn vị thu hộ chuyển séc chậm cho đơn vị thanh toán… phải đến UBND xã, phường nơi cư trú hoặc đóng trụ sở để xin xác nhận lý do bất khả kháng. Quy định này khiến cho công chúng cân nhắc việc lựa chọn sử dụng séc vì các cơ

    1 Theo thời báo ngân hàng ngày 11/1/2002

    18

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    quan chức năng nói trên chưa chắc đã am tường về séc để dễ dàng xác nhận trên chứng từ. Do đó, cần xác định rõ thế nào là yếu tố “bất khả kháng” để các cơ quan chức năng có thể dễ dàng xác nhận.

    Với tài khoản cá nhân, chỉ được uỷ quyền từng lần phát hành séc hoặc uỷ quyền trong một thời gian nhất định, mỗi lần uỷ quyền phải ra UBND huyện, quận xác nhận. Đối với pháp nhân, chủ tài khoản là người toàn quyền chịu trách nhiệm về sử dụng tài khoản của mình. Mỗi khi uỷ quyền tạm thời cho người khác, chủ tài khoản cũng phải ra UBND quận huyện xác nhận là điều vô lý. Đối với thời hạn hiệu lực, nếu chỉ cho phép có 15 ngày thì quá ngắn so với thông lệ ở các nước khác 6 tháng hay 1 năm. Do hiện nay, séc được phép chuyển nhượng nên nếu kéo dài thời hạn hiệu lực của tờ séc sẽ làm cho người thụ hưởng séc an tâm hơn, không phải lo đi minh chứng yếu tố bất khả kháng tại các cơ quan chức năng. Theo các chuyên gia, không cần ghi địa chỉ người phát hành séc vì họ đã có tài khoản tín dụng, và địa chỉ của họ đã lưu trong hồ sơ mở tài khoản. Cũng không cần ghi số chứng minh nhân dân của người thụ hưởng trên tờ séc vì một khi séc đã cho phép chuyển nhượng thì người thực sự trình séc lãnh tiền ở ngân hàng có thể không phải là người thụ hưởng có tên ghi trên séc, còn với séc vô danh thì người nào trình séc người đó lĩnh tiền.

    2.2.2 Thẻ thanh toán.

    Thanh toỏn bằng thẻ, dự cũn khỏ khiờm tốn nhưng được coi là khả quan và có chiều hướng phát triển vỡ đang hấp dẫn cá nhân sử dụng. Sau thời kỳ hoàng kim những năm đầu thập kỷ 90, tỡnh hỡnh sử dụng thẻ tớn dụng tại Việt Nam đó chững hẳn lại, và chỉ gần đây mới sôi động lên với sự tham gia của nhiều ngân hàng phát hành và thanh toán.

    19

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Ta có thể thấy thực trạng của hoạt động thanh toán thẻ qua sự phát triển và một số vấn đề của hình thức thanh toán này ở các ngân hàng lớn tại Việt Nam.

    2.2.2.1 Cỏc ngõn hàng trong cuộc đua ATM .

    Theo ông Nguyễn Thanh Toại, phó tổng giám đốc Ngân hàng Á châu (ACB): Rồi đây, trong cuộc đua sử dụng thẻ rút tiền tự động, các ngân hàng VN sẽ đi vào vết xe đổ như từng xảy ra tại Singapore: một siêu thị có tới hàng chục máy rút tiền.

    Automated Teller Machine (ATM) là hỡnh thức đang được nhiều ngân hàng thương mại phát triển, chủ yếu tại các thành phố lớn, nhằm giảm tải nhu cầu giao dịch bằng tiền mặt. Máy này cho phép chủ tài khoản có thể rút, chuyển tiền, xem số dư tài khoản…

    Hiện nay, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng công thương, ACB, Vietcombank… đang ráo riết thương thảo các hợp đồng thuê chỗ đặt máy ATM. Sẽ lắp thêm 100 máy ở một số tỉnh, thành trong cả nước. Và hiện đang có 400 máy ATM khăp cả nước.

    Giải bài toán đầu tư phát triển dịch vụ thẻ thanh toán không phải dễ, cần có thời gian cho nhân viên làm quen với công việc mới cũng như để khách hàng chấp nhận sử dụng tiện ích mới. Vietcombank bắt đầu phát hành thẻ này từ năm 1993, nhưng đến tháng 12/1999 phải cho ngừng hoạt động vỡ khụng hiệu quả.

    Chi phí để mua máy (30.000 USD/máy) không tốn bằng chi phí vận hành hệ thống máy. Mỗi năm, ACB đó phải chi bạc tỷ cho trung tõm thẻ hoạt động, trong khi phải mất đến 5 năm, trung tâm này mới làm ra lói.

    Ngân hàng Nhà nước TP HCM vừa khuyến nghị các ngân hàng thương mại nên cân nhắc khi đầu tư và phát triển hệ thống ATM sao cho hiệu quả. Do

    20

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    thiếu phối hợp trong khâu phát hành thẻ nên thẻ của ngân hàng nào chỉ có thể rút được tiền từ máy của ngân hàng đó.

    Do vậy, nếu muốn tạo thuận lợi cho người rút tiền thỡ cựng một nơi công cộng, phải trang bị nhiều loại máy của từng ngân hàng khác nhau, rất lóng phớ. Trờn thực tế, hầu hết cỏc mỏy rỳt tiền hiện chỉ được lắp đặt tại ngay trụ sở ngân hàng, chưa có tại nơi công cộng, do vậy ít người sử dụng.

    2.2.2.2     Chưa thể ngăn chặn nạn dùng thẻ tín dụng giả.

    Thanh toán bằng thẻ tín dụng mới xuất hiện ở Việt Nam, nhưng đă xảy ra nhiều vụ sử dụng thẻ giả để mua hàng hóa, ăn chơi, thậm chí “móc trộm” của ngân hàng cả trăm nghń USD. Tuy nhiên, việc điều tra, tấn công loại tội phạm này mới dừng lại ở phần ngọn

    Trung tâm an toàn thẻ của tổ chức Master Card khu vực Châu á đánh giá cao công tác chống loại tội phạm này ở Việt Nam. Tuy nhiên, mọi việc điều tra, thu giữ, giám định thẻ giả được thực hiện lâu nay mới chỉ là phần ngọn, cṇ phần gốc là những tổ chức đường dây làm thẻ giả th́rất mờ mịt.

    Cơ quan Điều tra (Bộ Công an), cho biết, sử dụng thẻ tín dụng giả để lừa đảo xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Là thị trường mới áp dụng thẻ thanh toán không dùng tiền mặt, Việt Nam đang trở thành “điểm hẹn” của bọn tội phạm tiêu thụ thẻ giả, mà chủ yếu là người nước ngoài.

    2.2.2.3 Hệ thống ATM có được khai thác hiệu quả?.

    Hiện nay, hệ thống ATM đó bắt đầu được triển khai khá rộng rói tại cỏc ngõn hàng Việt Nam. Cú nhiều nguồn tin cho rằng việc đầu tư vào các hệ thống ATM là không có hiệu quả, bởi vỡ chi phớ vận hành hàng năm cho một máy ATM có thể lên tới 300 triệu đồng, trong khi đó số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ này thỡ lại quỏ ớt.

    21

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Hiện nay cú rất nhiều ý kiến cho rằng, cỏc ngõn hàng nờn cõn nhắc khi đầu tư và phát triển hệ thống ATM

    Khi cỏc ngõn hàng cú một khoản chi phớ, thay vỡ mua hoặc xõy thờm một trụ sở hay mở thờm một chi nhỏnh họ sẽ đầu tư trang bị máy ATM. Hệ thống ATM sẽ giúp cho xó hội được văn minh hơn và tăng các giao dịch không sử dụng tiền mặt. Việc đầu tư thêm thiết bị mới sẽ giúp các ngân hàng có phương tiện để kinh doanh hiệu quả hơn. Tuy nhiên, việc đầu tư vào hệ thống ATM để có lợi nhuận ngay thỡ đến nay trên thế giới vẫn chưa có ngân hàng nào thực hiện được, bởi vỡ để tính chi phí và doanh thu riêng cho một dịch vụ là rất khó. Một cá nhân sử dụng dịch vụ ATM có thể thực hiện nhiều giao dịch có liên quan khác như: kiểm tra các thông số về thẻ tín dụng, gửi nhận tiền và các dịch vụ khác… Do vậy việc đánh giá hiệu quả của dịch vụ này ngay khi đầu tư là rất khó.

    Cú một tỡnh trạng hiện nay là thẻ của ngõn hàng nào thỡ chỉ cú thể rỳt tiền từ mỏy ATM do ngõn hàng đó trang bị, điều này đó gõy ra rất nhiều bất lợi cho người sử dụng và lóng phớ. Cần phải làm gỡ để giải quyết được vấn đề này? Các ngân hàng có nên liên minh về hệ thống ATM?

    Đây là vấn đề sử dụng một hay nhiều thẻ. Nếu như không có một chuẩn công nghệ chung thỡ sẽ cú tỡnh trạng hàng trăm hệ thống dịch vụ sẽ tương ứng với hàng trăm loại thẻ khác nhau. Do vậy ở đây cần phải có vai trũ của Chớnh phủ trong việc tạo ra một cơ sở pháp lý để các ngân hàng hoạt động thống nhất với nhau trên một nền tảng công nghệ chung. Nền tảng công nghệ chung ở đây có nghĩa là mỗi ngân hàng có thể có một kiến trúc khác nhau nhưng sẽ có một chuẩn công nghệ quốc gia để các ngân hàng có thể giao tiếp được với nhau và các dịch vụ của ngõn hàng cú thể cung cấp cho khỏch hàng theo nhiều kờnh khỏc nhau. Và khi cú vai trũ của Chớnh phủ, thỡ chỉ cần cú một thẻ mà cỏc ngõn hàng vẫn thể cạnh tranh một cỏch bỡnh đẳng.

    22

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Cũn việc liờn minh giữa cỏc ngõn hàng về hệ thống ATM thỡ đây là vấn đề tự các ngân hàng nhận thấy là có cần thiết hay không? Về bản chất ATM chỉ là một trong 16 kênh dịch vụ của ngành tài chính ngân hàng.

    Xu hướng phát triển các dịch vụ từ hệ thống ATM?

    Hệ thống ATM không đơn giản là dịch vụ rút tiền tự động, mà hệ thống ATM cũn cho phộp ngõn hàng triển khai cỏc dịch vụ như tra cứu số dư tài khoản, tra cứu thông tin về tỷ giá, lói suất của ngõn hàng, chuyển khoản, thanh toỏn cỏc loại hoỏ đơn như tiền điện thoại, điện, nước, trả lương cho cán bộ công nhân viên. Thậm chí, hệ thống ATM có thể phát hành được các ấn phẩm như tem, vé xem phim…

    Hơn thế nữa, hệ thống ATM không chỉ dùng cho các giao dịch của ngân hàng, mà nó cũn liờn quan đến ngành thuế, hải quan, bảo hiểm và các ngành kinh tế khác. Trong tương lai, khi xó hội ngày càng phỏt triển thỡ khối lượng giao dịch tiền mặt sẽ ngày càng thấp đi, và xu hướng giao dịch bằng một thẻ sẽ là tất yếu. Trong xó hội hiện đại đó, một thẻ có thể dùng cho mọi giao dịch liên quan như: chứng minh thư, bảo hiểm, y tế, ngân hàng, các hệ thống siêu thị…

    Và người dùng sử dụng dịch vụ nào sẽ trả tiền cho dịch vụ đó. Tại khu vực châu Á, Hồng Kông và Malaysia là hai ví dụ điển hỡnh trong việc xõy dựng một lộ trỡnh hướng tới mọi giao dịch thông qua một thẻ duy nhất.

    Nếu ai đó từng sống hay đi qua các nước kinh tế phát triển, sẽ thấy các giao dịch thanh toán của người dân thông qua dùng thẻ thanh toán hay thẻ tín dụng là rất phổ biến, thậm chí có nước giá trị thanh toán đó lên đến trên 90% tổng giá trị thanh toán tiêu dùng. Vậy tại sao thanh toán bằng thẻ vẫn chưa thành hỡnh ở nước ta như ở các nước phát triển, thiết nghĩ cú 3 yếu tố:

    • Thứ nhất, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin của họ rất đầy đủ. Bởi vậy, hầu như tất cả các cửa hàng, thậm chí ở trong trường học họ đều có máy

    23

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    thanh toán tiền trực tuyến. Điều này Việt Nam chưa hội đủ điều kiện. Mặt khác luật pháp của Việt Nam chưa có quy định nào bắt buộc các cơ sở kinh doanh phải có máy thanh toán (quy định này có thể nằm trong Luật Doanh nghiệp chứ không cần phải quy định trong Luật các Tổ chức Tín dụng hay Luật Ngân hàng Nhà nước).

    • Thứ hai, nhỡn về vấn đề thu nhập ở các nước kinh tế phát triển, người dân có thu nhập đều và cao, do đó số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán là khoản tiền ổn định và khá lớn, số tiền này được gọi là khoản vốn vóng lai trong hoạt động ngân hàng. Do ngân hàng có thể sử dụng một phần số tiền đó để kinh doanh, nên khi người sử dụng tài khoản thanh toán thỡ chỉ phải trả một khoản phớ rất nhỏ hoặc thậm chớ bằng khụng. Núi dựng tiền mặt “rẻ hơn” tiền thẻ là hoàn toàn đúng với Việt Nam. Trên thực tế các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ khó có thể đưa ra giá thành rẻ hơn.
    • Thứ ba, về thói quen người tiêu dùng và trỡnh độ nhận thức, một phần do người dân và một phần do cả Ngân hàng Nhà nước cũn chưa quan tâm đến việc khuyến khích người dân dùng thẻ thanh toán. Thực sự ngạc nhiên, tại sao Ngân hàng Công thương lại lắp đặt hai máy rút tiền tự động trong Sở Giao dịch của Ngân hàng Nhà nước. Trong khi muốn để người dân tiếp cận việc thanh toán thẻ, cần có sự tiện lợi rút và gửi tiền qua các máy ATM. Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước chủ yếu lại là nơi giao dịch của các doanh nghiệp ngân hàng và một bộ phận nhỏ là cán bộ của Ngân hàng Nhà nước. Nếu số tiền đầu tư cho hai máy ATM trên được lấy từ quỹ hiện đại hóa ngân hàng do World Bank tài trợ thỡ quả là phớ, khụng hiệu quả về mặt kinh tế và chưa phục vụ cho việc phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    Thiết nghĩ, trên góc độ phát triển kinh tế, Ngân hàng Nhà nước nên quan tâm và đưa chiến lược phát triển thanh toán thẻ vào trong những chiến lược phát triển và củng cố hệ thống ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay.

    24

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng xét về tổng thể, thanh toán thẻ sẽ giảm chi phí cho nền kinh tế về in tiền, hủy tiền hiện nay, hạn chế tiền giả, tăng tính minh bạch trong nền kinh tế, kích thích tiêu dùng và đồng thời giúp cho việc chống tham nhũng ở nước ta. Theo nghiên cứu về kinh tế của nhiều nước, họ đều kết luận rằng người sử dụng thẻ tiêu dùng cao hơn dùng tiền mặt. Trong khi Chính phủ Việt Nam đang cần kích cầu nền kinh tế, thiết nghĩ đây có thể sẽ là đũn bẩy quan trọng.

    2.3      ĐÁNG GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT

    2.3.1 MẶT TÍCH CỰC

    +Thị trường thẻ tín dụng “nóng” trở lại .

    Trong những năm đổi mới hệ thống các công cụ chủ yếu của Việt Nam bao gồm: séc; uỷ nhiệm chi; uỷ nhiệm thu; thư tín dụng; thanh toán điện tử – thẻ thanh toán, các công cụ thanh toán này được thực hiện trên các hệ thống thanh toán: Thanh toán điện tử liên ngân hàng: thanh toán bù trừ (trên địa bàn tỉnh, thành phố) thanh toán chuyển tiền điện tử liên ngân hàng; thanh toán nội bộ các ngân hàng và thanh toán quốc tế. Đến nay các phương tiện thanh toán này phát huy tác dụng phục vụ nền kinh tế đang chuyển đổi và phát triển (theo bảng thống kê).

    BẢNG CÔNG CỤ THANH TOÁN 2002 – 2003

                Đơn vị: Tỷ đồng  
                       
      STT Các công cụ TT Số món Số tiền Số món Số tiền Số món %   Số tiền %
          (2002) (2002) (2003) (2003)      
                       
      1 Séc 252.135 35.609 323.821 74.946 Tăng 28%   Tăng
                      110%
                       
        Trong đó: Séc bảo chi 54.509 5.010 38.310 4.638 Giảm   Giảm 7%
                       
                      25
                     

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

                30%  
                   
    2 Uỷ N/ chi:c/ tiền 9.918.307 3.768.006 12.752.256 4.320.663 Tăng Giảm
                29% 15%
                   
    3 Uỷ nhiệm thu 440.968 88.780 343.579 43.912 Giảm Giảm
                22% 52%
                   
    4 Thẻ 340.142 156.603 1.157.593 21.694 Tăng Giảm
                240% 86%
                   
    5 P/ tiện TT khác 7.121.952 2.580.261 9.063.847 3.752.114 Tăng 27% Tăng 45%
                   

    PHƯƠNG TIỆN THANH TOÁN 2002 – 2003

    Đơn vị: Tỷ đồng

    STT Các công Số món Số tiền Số món Số tiền Số món Số tiền
      cụ TT (2002) (2002) (2003) (2003) % %
                   
    1 TT nội bộ 12.526.386 3.955.786 16.671.557 5.332.503 Tăng Tăng
                33% 35%
                   
    2 TT 4.248.196 1.511.073 4.858.500 1.446.797 Tăng Giảm
      bù trừ         14% 4%
                   
    3 TT qua 714.896 832.139 981.169 1.121.863 Tăng Tăng
      TK NHNN         37% 35%
                   

    Thanh toán điện tử liên Ngân hàng chính thức hoạt động từ tháng 5/2002. Đến nay đã qua hơn 2 năm hoạt động. Bình quân 9.000 – 10.000 món/ ngày. Chỉ tính riêng từ 1/1/2004 đến 31/7/2004 toàn hệ thống có 1.538.395 món giao dịch, với doanh số là 930.958 tỷ đồng. Luồng giá trị thấp mới thì điểm ở Hà Nội từ 3/11/2003 (TP. HCM triển khai từ 28/7/2004), đã có 27.193 món giao dịch với doanh số 1.139 tỷ. Hệ thống thẻ điện tử và máy rút tiền tự

    26

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    động (ATM) có bước phát triển nhanh: 400 máy đã được lắp đặt, 356.250 thẻ đã được phát hành, trong đó, 256.250 thẻ trong nước và 100.000 thẻ quốc tế. Intêrnt Banking, E – Banking, Tel – Banking…đang được các Ngân hàng nghiên cứu, từng bước ứng dụng. Do môi trường pháp lý và nhiều yếu tố khách quan tác động chưa thuận lợi, vì vậy việc ứng dụng còn hạn chế, bước đầu chỉ dành cho các doanh nghiệp truyền thống của Ngân hàng.

    Hệ thống Thanh toán điện tử liên Ngân hàng trong những năm tới sẽ có mức tăng trưởng bình quân cao. Hàng năm có thể đạt mức tăng trưởng là 35% đối với số lượng giao dịch (số món), doanh số tăng 24%/ năm. Như vậy, sau 3 năm có thể đạt mức tăng trưởng 200% về số lượng giao dịch và sau 4 năm tăng 200% về doanh số. Tương ứng, bình quân theo ngày sẽ đạt 20 đến 25 ngàn giao dịch và doanh số là 10 đến 15 ngàn tỷ đồng. Lượng giao dịch trong nền kinh tế có thể đạt tới con số 15 triệu món/ ngày. Thẻ thanh toán có thể đạt 13 đến 15 triệu thẻ, doanh số trên hệ thống này là 21 đến 25 ngàn tỷ đồng. Số lượng máy ATM có thể lên đến 1.500 đến 2.000 chiếc.

    +Là nước đi sau:

    Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước, nhờ đó có thể tránh được một số rủi ro nhất định.

    • Người tiêu dùng Việt Nam

    Rất nhanh trong việc thích nghi và ứng dụng các dịch vụ mới. Ví dụ : Dịch vụ điện thoại thẻ, điện thoại di động, dịch vụ Internet trong một thời gian ngắn đã phát triển rất nhanh chóng trong khi nhu cầu thực sự không đến mức như vậy. Như vậy không có lý do gì mà không thể phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt – một hình thức thanh toán rất tích cực và văn minh. Đó là xu hướng chung của thế giới.

    2.3.2 MẶT HẠN CHẾ

    27

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Thời gian không còn sớm đối với yêu cầu phải đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghệ ngân hàng đối với các ngân hàng trong nớc. Trong lộ trình hội nhập, những hàng rào bảo hộ dần đợc gỡ bỏ, các ngân hàng trong nớc sẽ phải đối mặt với những cạnh tranh của ngân hàng nớc ngoài mạnh hơn nhiều lần, đặc biệt khi mà chỉ còn vài năm nữa, những rào cản trong lĩnh vực ngân hàng phải đợc dỡ bỏ theo Hiệp định Thơng mại Việt – Mỹ. Hiện tại, nhiều ngân hàng đang chạy đua phát triển đa dạng dịch vụ của mình.

    Qua thực trạng và các nguyên nhân trên ta có thể đưa ra nhận xét sơ bộ ban đầu như sau:

    + Thiếu cơ sở pháp lý cho thanh toỏn khụng dựng tiền mặt.

    Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng là hai văn bản pháp lý cao nhất quy định về hoạt động thanh toán không dựng tiền mặt (TTKDTM). Tuy nhiên, việc áp dụng thể thức thanh toán này vẫn dựa trên những văn bản dưới luật ra đời cách đó 2-4 năm và đang gây nhiều khó khăn cho hoạt động tài chính.

    • Dùng tiền mặt phổ biến hơn thanh toán qua ngân hàng.

    Những khó khăn mà các ngân hàng đến nay vẫn đề cập là sự chậm chạp trong việc cải tiến các hình thức thanh toán qua ngân hàng, việc thay đổi tập quán thanh toán tiền mặt trong rất nhiều giao dịch. Đề cập riêng ở lĩnh vực thẻ thanh toán – một phơng tiện thanh toán tiên tiến và phổ biến trên thế giới, thế nhưng đến nay cũng chỉ mới có ba ngân hàng trong nớc là có phát hành thẻ tín dụng quốc tế với số lợng chỉ vài chục ngàn thẻ. Đối với giao dịch của cá nhân trong nước, chỉ mới có 20 ngân hàng đã phát hành thẻ thanh toán. Như vay cũng chưa đủ để hình thức mới này trở nên phổ biến – thanh toán không dùng tiền mặt.

    28

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    • Thu nhập bình quân chưa cao

    Thu nhập của dân cư nói chung còn thấp, nhu cầu thiết yếu dân cư còn mua ở chợ “ tự do” là chủ yếu; thêm vào dó la thói quen sự dụng tiền mặt đơn giạn thuận tiện bao đời nay không dễ một sớm , một chiều thay đổi được; đòng thời muốn sự dụng phương tiện thanh toán hiện đại lại cũng cần co sợ hiểu biết nhất định

    • Cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán

    Đang trong giai đoạn hình thành với việc vận dụng các kỹ thuật , qui trình công nghệ thông tin, thanh toán hiện đại, một vấn đề phức tập rất cần có sự phối hợp trên nhiều phương tiện : vốn, phương tiện thanh toán va kỹ thuật thanh toán mới tiên tiến, lượng thời gian cần thiết trình độ tổ chức vận hành thực hiện. V. v.

    Đồng thời các khu công nghiệp, siêu thị tập trung chưa phát triển , dang trong giai đoạn qui hoạch , nên chư có điều kiện thu hút tiêu dùng cua dân cư, nên chưa được sụ dụng các công nghệ hiện đại tương thích.

    +Các ngân hàng vẫn thiếu sự hợp tác với nhau.

    Mặc dù có những nỗ lực cải tiến công nghệ, đa dạng các dịch vụ ngân hàng, nhưng theo nhiều ý kiến chuyên viên, việc tự mỗi ngân hàng vận động mà không có sự hợp tác đã làm giảm đi hiệu quả đầu tư, đơn cử như trong lĩnh vực phát hành và thanh toán thẻ. Mới đây nhất là việc cùng lúc nhiều ngân hàng cùng tự trang bị máy rút tiền tự động ATM chỉ để sử dụng cho thẻ của riêng ngân hàng mình. Theo Trung tâm thẻ ACB, chi phí đầu tư trang bị và vận hành máy ATM không nhỏ. Trung bình giá mỗi máy ATM khoảng 30.000 USD, nhưng đáng kể hơn còn chi phí tốn kém thường xuyên trong các hoạt động phục vụ khách hàng từ máy này. Trong khi đó, mỗi máy lại chỉ phục vụ

    29

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    cho việc rút tiền của một loại thẻ thay vì cần đợc sử dụng chung cho các loại thẻ của các ngân hàng khác nhau.

    Tuy đi sau nhưng chúng ta đang đi theo vết xe đổ của một số nước trong khu vực : Sảy ra tình trạng trong một cửa có hàng chục loại máy ATM của các ngân hàng khác nhau.

    Tại sao chúng ta không thống nhất sử dụng một chuẩn công nghệ chung, như thế vừa tiết kiệm, vừa thuận lợi cho khách hàng, lại vừa dễ quản lý ?

    30

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Chương 3

    GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG

    DÙNG TIỀN MẶT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    3.1 Một số đinh hướng phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại việt nam.

    • Hình thành môi trường minh bạch, lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động tiền tệ – ngân hàng. Ứng dụng phổ biến công nghệ thông tin, mở rộng nhanh các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán qua ngân hàng. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, cho vay, cung ứng các dịch vụ và tiện ích ngân hàng thuận lợi và thông thoáng đến mọi doanh nghiệp và dân cư, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh và đời sống, chú trọng khu vực nông nghiệp, nông thôn.
    • Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền tệ – ngân hàng.
    • Cùng với việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức, đào tạo cán bộ, xây dựng hoàn chỉnh cơ chế chính sách, hệ thống thanh tra, kiểm soát… Ngành Ngân hàng cần đặc biệt chú ý đến lĩnh vực đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng nhanh sự tiến bộ của Khoa học Công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động Ngân hàng.
    • Ứng dụng các thiết bị hiện đại cho hoạt động Ngân hàng.

    Trong cơ chế thị trường, để phục vụ cho nền kinh tế, tăng cường sức cạnh

    tranh lành mạnh của từng Ngân hàng: Mở rộng, đa dạng các loại hình dịch vụ và hoạt động Ngân hàng của một Ngân hàng hiện đại, nhất thiết phải đầu tư, trang bị các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, xây dựng một hệ thống kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại. Việc xác định điểm xuất phát, lựa chọn giải pháp và hướng đi là bài toán khó, cho dù chúng ta có lợi thế của “người đi sau”, thông qua những kinh nghiệm của “người đi trước”. Tuy nhiên, vấn đề này

    31

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    phải được nghiên cứu thận trọng, tỷ mỷ, khoa học trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam để quyết định một hướng đi, một giải pháp khoa học. Chúng ta không thể theo giải pháp “đóng” của các nước đã đi trước khi mà xu thế của thế giới là toàn cầu hóa, đa dạng hóa. Giải pháp “mở” sẽ tạo ra chúng ta nhiều cơ hội thuận lợi trong đầu tư những thiết bị mạnh nhất, phù hợp với khả năng tài chính và kỹ thuật.

    • Nhân lực cho công nghệ. Đây là yếu tố rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công.

    Khi đổi mới từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, không chỉ trang bị thêm cho đội ngũ cán bộ Ngân hàng kiến thức quản lý mới, nghiệp vụ mới, mà còn phải trang bị thêm những kiến thức công nghệ hiện đại, thay đổi cách nghĩ, cách làm, kỹ năng mới. Trong chiến lược cán bộ thì đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ Ngân hàng hiện có mang ý nghĩa quan trọng; bởi lẽ, đây là đội ngũ nòng cốt, có bề dày công tác, nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ. Đồng thời, tăng cường chất lượng lực lượng cán bộ trẻ được đào tạo chính quy tại các trường đại học trong nước, ngoài nước để vận hành, quản lý Ngân hàng hiện đại trong tương lai. Khi đó, không chỉ đơn thuần trong mối quan hệ điều hành giữa Người với Người trước đây, nó được thay thế bằng mối quan hệ giữa Người với Máy tính. Sự điều hành, tác nghiệp của mỗi cán bộ Ngân hàng trên cơ sở những thông tin chính xác do máy tính thu nhận, phân tích và cung cấp. Vì vậy, đòi hỏi từ thực tiễn phải chuẩn bị một lực lượng khoa học công nghệ cho hiện tại và tương lai.

    • Sử dụng các công cụ Marketing nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng.

    3.2 Giải pháp.

    32

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Qua việc phân tích thực trạng, thuận lợi, khó khăn và hướng phát triển nêu trên, để có thể mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, phát huy đầy đủ thế mạnh và vai trò của nó trong nền kinh tế thiết nghĩ cần phải thực hiện một số giải pháp sau :

    • thứ nhất, xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp quy có hiệu lực cao để tạo môi trường và hành lang pháp lý vững chắc cho các hoạt động thanh toán.

    Cần hoàn thiện Luật Séc. Hiện nay Séc vẫn là công cụ thanh toán rất phổ biến ngay cả khi có các công cụ thanh toán mới xuất hiện như thẻ thanh toán. Do vậy cần hoàn thiện luật Séc, có vậy thì mới điều chỉnh được các quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên liên quan. Cả khách hàng và ngân hàng sẽ thực sự yên tâm hơn khi sử dụng Séc.

    + Thứ hai, thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.

    Đầu tư trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ ngân hàng để thực hiện nhanh chóng, an toàn và chính xác là chủ trương lớn mà nghành ngân hàng đã đề ra từ nhiều năm nay.

    • Ngân hàng nhà nước phải có kế hoạch, biện pháp tiếp nhận và sử dụng hợp lý các nguồn tài trợ của nước ngoài, đặc biệt là của WorldBank.
    • Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại phải phối hợp với nhauđể nghiên cứu xây dựng quy trình chuyển tiền thanh toán điện tử đồng bộ, thống nhất dựa trên một số nguyên tắc chung nhất. Tránh tình trạng tự phát gây sự lãng phí lớn và thiếu đồng bộ.
    • Thứ ba, là tiếp tục triển khai, khuyến khích tổ chức cá nhân mở tài khoản và thanh toán tại ngân hàng.
    • Ngân hàng phải cung cấp các thông tin về hoạt động của ngân hàng, các tiện ích của các dịch vụ mà ngân hàng cung ứng bằng cách tuyên truyền,

    33

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    quảng cáo bằng nhiều hình thức khác nhau. Đây phải là việc làm thường xuyên tích cực chứ không phải qua loa đại khái, hình thức. Nói cách khác các ngân hàng phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

    • Trong giai đoạn đầu, để khuyến khích sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, chúng ta có thể chú trọng phát triển theo chiều rộng để người dân thấy được ưu điểm của nó. Các ngân hàng nên thu phí dịch vụ thấp, thậm chí chịu lỗ trong giai đoạn đầu, thể hiện sự “nhìn xa trông rộng của mình”.
    • Thứ tư, la nâng cao năng lực trình độ của cán bộ làm công tác thanh toán, tiếp xúc khách hàng.
    • Trong hoạt động ngân hàng nói chung và lĩnh vực thanh toán nói riêng, yếu tố tổ chức và con người là quyết định. Do vậy người làm công tác thanh toán phải có đầy đủ năng lực, chuyên môn. Ngoài ra còn phải nắm vững luật pháp và chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, của nghành.
    • Tất cả những yếu tố như cơ sở vật chất, con người…dưới con mắt khách hàng đó là hình ảnh của ngân hàng. Vì vậy cần hết sức lưu ý. Chúng ta phải xây dựng hệ thống ngân hàng hiện đại nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh. Đại bộ phận dân cư còn có mức thu nhập thấp, họ rất ngại đến ngân hàng và tiếp xúc với nhân viên ngân hàng. Hình ảnh một nhân viên tiếp xúc khách hàng với vẻ mặt khó đăm đăm, hành chính là rất khó chịu với khách hàng. Đây cũng là yếu tố khiến cho cách hoạt động của ngân hàng chưa được xã hội hoá.

    Vì vậy phải đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng cỏi mở, phải xây dựng hình ảnh ngân hàng luôn là bạn tốt của Doanh nghiệp, của người dân. Không những cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng mà còn có khả năng tư vấn, hỗ trợ khách hàng.

    -Vấn đề an toàn, bảo mật :

    34

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Hiện nay rất nhiêu người còn e dè chưa giám sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt vì vấn đề an toàn và bảo mật thông tin. Nhà nước nên coi các hành vi trộm cắp các thông tin về tài khoản, mã số …là hành

    • vi phạm pháp luật và có khung hình phạt thích đáng. Đồng thời các ngân hàng phải phối hợp tìm giải pháp bảo mật thông tin cho khách hàng. Phải để khách hàng thấy rằng gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và kinh tế hơn là cất trong két sắt. Điều còn có lợi cho ngân hàng trong việc huy động vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
    • Các cơ quan nhà nước nên đi đầu trong lĩnh vực này. Chẳng hạn thay vì dùng thủ quỹ trả lương cho nhân viên như hiện nay chúng ta chuyển lương vào tài khoản của nhân viên mở tại ngân hàng, tạo thói quen và nhân rộng các hoạt động thanh toán qua ngân hàng .
    • Về phía ngân hàng, phải làm tốt thanh toán liên hàng nói riêng và sự hợp tác giữa các ngân hàng nói chung.

    Trên đây là một số giải pháp chung, cơ bản để có thể phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay.

    • Thứ năm, có chính sách vĩ mô về quản lý bằng tiền mặt, trước mắt là các tổ chức , doanh nghiệp nhà nước.

    3.3 KIẾN NGHỊ

    • Ngân hàng Nhà nước:
    • Nên khuyến khích các ngân hàng thương mại trích một phần vốn điều lệ đang được Chính phủ xem xét tăng cho ngân hàng thương mại quốc doanh để đầu tư vào mạng lưới thanh toán thẻ.
    • Không nên chỉ để cho ngân hàng thương mại quốc doanh độc quyền kinh doanh hoạt động thanh toán thẻ. Theo kinh nghiệm điển hỡnh của Nhật

    35

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    Bản, Cụng ty Dịch vụ Tiết kiệm của Tổng cụng ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam.

    + Tổng công ty Bưu chính Viễn thông:

    Cần đầu tư xây dựng và giảm chi phí thuê bao đường truyền thanh toán trực tuyến cho các cửa hàng.

    + Chớnh phủ:

    Nên có quy định bắt buộc các cơ sở bán hàng, dịch vụ có số vốn lớn, như các siêu thị, phải trang bị thiết bị thanh toán thẻ. Xét trên khía cạnh tài chính chống thất thu thuế, đây có thể là giải pháp rất hiệu quả.

    + Bộ tài chớnh:

    Nên miễn khoản thuế thu nhập từ hoạt động kinh doanh thanh toán cho các ngân hàng thương mại.

    3.4 Kết luận.

    Phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là rất cần thiết đối với Việt Nam hiện nay.

    • Đối với nền kinh tế nó làm tăng tốc độ chu chuyển vốn; huy động tốt hơn các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức cá nhân; hình thành môi trường thanh toán minh bạch, thuận tiện và văn minh; góp phần chống lại các tệ nạn xã hội;

    Và nó đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện hiện nay khi mà cả nước đang như một công trường xây dựng, nhu cầu về vốn là rất lớn. Chúng ta vẫn phải vay vốn nước ngoài, điều kiện thì khó khăn, phải trả lãi cao, chịu sự can thiệp về chính trị… trong khi hàng tỷ đôla đang vẫn nằm nhàn rỗi trong tay dân cư trong nước. Nếu huy động được thì đó là nguồn vốn hiệu quả nhất, hiệu quả về

    36

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    nhiều mặt. Chúng ta có thể làm được điều này bằng cách khuyến khích người dân mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng.

    • Đối với tổ chức cá nhân đó là sự tiện lợi, nhanh chóng; an toàn; thể hiện trình độ dân trí cao.
    • Đối với ngân hàng : Nhiều nghìn tỷ đồng tiền mặt đang rải rác trong từng cá nhân, gia đình, quỹ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp để thanh toán trực tiếp khi mua hàng, kể cả mua bất động sản trị giá hàng tỷ đồng sẽ được huy động phục vụ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đồng thời là nguồn thu phí dịch vụ quan trọng cho ngân hàng .
    • Đối với quản lý xã hội : Sử dụng tiền mặt phổ biến trong thanh toán vừa gây nhiều lãng phí, vừa là kẽ hở lớn cho nạn tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế luồn lách, lẩn trốn sự kiểm soát của Nhà nước và xã hội.

    Tác dụng của thanh toán không dùng tiền mặt là rất tích cực, chúng ta đã biết, nhưng để thanh toán không dùng tiền mặt đi vào cuộc sống thì thật không đơn giản, nó là cả một qua trình. Nó phải được cả xã hội quan tâm ủng hộ.

    Là một sinh viên kinh tế, em thực sự mong muốn thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam sẽ phát triển cả về chất và về lượng phục vụ tốt nhất cho phát triển Kinh tế –Xã hội.

    37

    Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính (Frederic S. Mishkin)
    1. Lý thuyết Tài chính- tiền tệ (Đại học tài chính-kế toán)
    1. Giáo trình Kinh tế-chính trị Mác-Lê nin (Đại học kinh tế quốc dân)
    1. Bài giảng Lý thuyết tài chính- tiền tệ (Ts. Đặng Ngọc Đức và Ts. Trần Thu Hà- Giảng viên trường ĐH KTQD – HN )
    1. Tạp chí Ngân Hàng, Thời báo Ngân hàng
    1. Tạp chí Thị trường tài chính-tiền tệ
    1. Tạp chí tài chính.
    1. Báo điện tử : vnexpress, vneconomy, Nhân dân, Lao động, Sài Gòn Giải Phóng.

    38


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-c%C3%A1n-c%C3%A2n-thanh-to%C3%A1n-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-2001-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2001 đến nay

    Đề tài:

    PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÁN CÂN

    THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 ĐẾN NAY

    I.Khái niệm:

    Cán cân thanh toán (Balance of Payment) của một quốc gia là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép tất cả các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và người không cư trú trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

    Cán cân thanh toán gồm 4 bộ phận chính: cán cân vãng lai, cán cân vốn, cán cân tổng thể, cán cân bù đắp chính thức.

    II.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam từ 2001 đến nay:

    Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến rất quan trọng, đặc biệt là vào 11/07/2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, đã khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Điều đó làm nền kinh tế nước ta thay đổi đáng kể, vậy trước đó, từ năm 2001 đến 2006, nền kinh tế Việt Nam mà cụ thể là cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam như thế nào?

    1.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam từ 2001 đến 2006:

    Bảng thống kê sau thể hiện tình hình BOP của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006:

    BẢNG I

    USDmillion 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Cán cân thương mại 481 -1,054 -2,581 -3,854 -2,439 -2,776
    Cán cân dịch vụ -572 -749 -778 61 -219 -8
    Cán Cân thu nhập -477 -721 -811 -891 -1,219 -1,429
    Chuyển nhượng ròng 1,250 1,921 2,239 3,093 3,380 4,049
    Khu vực tư nhân 1,100 1,767 2,100 2,919 3,150 3,800
    Khu vực nhà nước 150 154 139 174 230 249
    Cán cân vãng lai 682 -603 -1,931 -1,591 -497 -164
    Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1,300 1,400 1,450 1,610 1,889 2,315
    Khoản vay trung và dài hạn 139 -51 457 1,162 921 1,025
    Khoản vay ngắn hạn -22 7 26 -54 46 -30
    Danh mục vốn đầu tư 865 1,313
    Tài khoản tiền gửi -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535
    Tài khoản vốn 220 1,980 2,533 2,753 3,087 3,088
    Lỗi và sai sót -862 -1,020 777 -279 -459 1,398
    Cán cân tổng thể 40 357 2,151 883 2,131 4,322
    % GDP 2001 2002 2003 2004 2005 2006

    (nguồn IMF và GSO)

    • Cán cân vãng lai:

    Bảng sau thể hiện “khả năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai” giai đoạn 2001-2006:

    BẢNG II

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Cán cân vãng lai (% GDP) 2.3 -1.9 -4.9 -3.4 -0.9 -0.3
    Cán cân vãng lai loại trừ

     

    chuyển giao ròng (%GDP)

    -1.8 -9.8 -10.5 -8.9 -7.3 -6.9
    Cán cân  thương mại (% GDP) 1.9 -3 -6.5 -5 -4.6 -4.6
    Xuất khẩu (% GDP) 46.2 47.7 50.9 58.2 61.2 65.2
    Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/xuất khẩu  (%) 10.6 8.6 7.8 6.0 5.6 5.3
    Nợ nước ngoài /GDP (%) 41.6 35 33.7 33.5 32.2 30.2
    Nợ nước ngoài/xuất khẩu (%) 89.4 78.3 67.1 53 48.3 43
    Dự trữ ngoại hối/nhập khẩu (%) 23.6 20.7 24.7 21.9 24.5 26.9
    Dự trữ ngoại hối/ nợ nước ngoài (%) 26.3 28.2 41.5 41.3 50.8 62,6
    Cán cân tiết kiệm đầu tư (%GDP) 2.2 -1.9 -4.9 -3.4 -0.9 -0.3
    Dự trữ ngoại hối (triệu USD) 3387 3692 5619 6314 8557 11483
    Nợ nước ngoài (triệu USD) 12874 13083 13535 15266 16833 18330

    Nguồn: IMF Country Report, No 03/382, December, 2003.

    IMF Country Report, No 07/338, December 2007.

                                           Economist Intelligece Unit, Country Report Vietnam, May 2008

    Thâm hụt cán cân vãng lai Việt Nam giai đoạn 2001-2006 ( % so với GDP):

    Khả năng chịu đựng được của cán cân vãng lai “được định nghĩa nhằm hàm ý thể hiện tính bền vững của các nguồn tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai trong điều kiện:

    -Nhập khẩu tăng cùng với mức tăng của GDP thực.

    -Không có sự sụt giảm các dòng thanh toán quốc tế bình thường

    -Không có sự sụt giảm dự trữ ngoại hối

    Thâm hụt cán cân vãng lai được coi là có khả năng chịu đựng được do được đánh giá trên những tiêu chí sau:

    • Mức thâm hụt cán cân vãng lai/GDP giai đoạn 2001-2006 luôn ở mức thấp và giảm dần đến 2006 đạt con số ấn tượng 0.3%
    • Tỉ lệ nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam trong duy trì ở mức dưới 40% so với ngưỡng an toàn là 50%.
    • Bên cạnh đó, các chỉ tiêu như nợ nước ngoài so với xuất khẩu, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài trên xuất khẩu luôn nằm ở mức an toàn (ngưỡng an toàn cho phép của nợ nước ngoài/xuất khẩu là 150, ngưỡng cho phép của nghĩa vụ trả nợ trên xuất khẩu là 25%.
    • Tình trạng nhập siêu đã dần được cải thiện, kông đáng lo ngại.

    1.2 Tình hình cụ thể của cán cân thương mại:

    *Tình hình nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2006:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Giá trị nhập khẩu (triệu USD) 14,546 17,760 22,730 30,339 34.886 42,602
    Tốc độ tăng trưởng (%) 3,37 22,10 27,98 33,48 14,99 22,12

    *Tình hình xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2006:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Giá trị xuất khẩu (triệu USD) 15,027 16,706 20,149 26,485 32,447 39,826
    Tốc độ tăng trưởng (%) 4.01 11.17 20.61 31.45 22.51 22.74

    Nhận xét:

    Việt Nam là quốc gia nhập siêu, hàng năm đều phải nhập về nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, trong khi lại xuất đi chủ yếu là nông phẩm và những mặt hàng có giá trị không cao nên tình trạng thâm hụt thương mại thường xuyên xảy ra.(Bảng II)

    Nguyên nhân gây thâm hụt thương mại cán cân vãng lai là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư. Cán cân dịch vụ, thu nhập đầu tư ròng trong thời gian qua đều có tác động tiêu cực đến cán cân vãng lai: cán cân dịch vụ thường xuyên thiếu hụt trong khoảng 200-800 triệu USD trong giai đoạn 2001-2006. Tuy nhiên, mức độ đóng góp vào thâm hụt cán cân vãng lai của hai nhân tố này đã giảm từ 59,4% năm 2002 xuống còn 34% năm 2006. Trong khi đó, thâm hụt thương mại ngày càng có xu hướng tăng, trong giai đoạn 2002-2006, thâm hụt thương mại bình quân khoảng 5% GDP, cán cân vãng lai năm 2005 chỉ chiếm 0,9% GDP, giảm mạnh so vơi smwcs thâm hụt 969 triệu USD (2,1% GDP) của năm 2004, chủ yếu do cán cân thương mại và dịch vụ được thu hẹp: kim ngạch xuất khẩu 32,447 triệu USD, tăng 22,51% so với năm 2004, trong khi chỉ tiêu đề ra là 30,7 triệu USD, đồng thời tiền tư nhân ( chủ yếu là chuyển tiền kiều hối) chuyển đạt 3 triệu USD tiếp tục duy trì thặng dư ở mức cao, tương đương mức thăng dư của cán cân vốn.

    Tuy nhiên, ta thấy mức độ thâm hụt giảm dần theo từng năm, đặc biệt năm 2006 đạt con số ấn tượng 0.3% GDP. Tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu và nhập khẩu tương đương nhau thậm chí tốc độ tăng trưởng xuất khẩu còn nhỉnh hơn tốc độ tăng trưởng nhập khẩu. Ngoài ra, năm 2005 chính phủ phát hành 750 triệu USD trái phiếu, thu về nguồn ngoại tệ tương đối lớn giúp giảm áp lực đáng kể lên cán cân vãng lai.

    1.3 Cán cân vốn:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    FDI 1300 1400 1450 1610 1899 2315
    Nợ trung và dài hạn 139 -51 457 1162 921 1025
    Nợ ngắn hạn -22 7 26 -54 46 -30
    Danh mục vốn đầu tư _ _ _ _ 865 1313
    Tài khoản tiền gửi -1197 642 1372 35 -634 -1535
     Tài khoản vốn 220 1980 2533 2753 3087 3088
    % GDP 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    FDI 4 4 3,7 3,5 3,6 3,8
    Nợ trung và dài hạn 0,4 -0,1 1,2 2,6 1,7 1,7
    Nợ ngắn hạn -0,1 0 0,1 -0,1 0,1 0
    Danh mục vốn đầu tư _ _ _ _ 1,6 2,2
     Tài khoản tiền gửi -3,7 1,8 3,5 0,1 -1,2 -2,5
    Tài khoản vốn 0,7 5,6 6,4 6 5,8 5,1

    Tài khoản vốn giai đoạn 2001-2006 luôn dương, luồng tiền đi vào trong nước ở các khoản mục nhìn chung có xu hướng tăng dần.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục gia tăng do môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện hơn, lợi thế về chi phí đầu tư, như chi phí lao động, giá điện đang cạnh tranh với các nước trong khu vực. Đặc biệt, việc tăng cường công tác xây dựng pháp luật trong thời gian qua theo yêu cầu của việc gia nhập WTO phù hợp với luật quốc tế Việt Nam thể hiện việc chấp nhận luật chơi chung. Đây là nguồn vốn quan trọng giúp phát triển nền kinh tế Việt Nam, tiềm năng thu hút vốn FDI còn có thể tăng nữa nếu như Việt Nam chú trọng hơn nữa tới việc thực hiện các dự án.

    Nợ trung và dài hạn tuy chiếm tỉ trọng thấp trong GDP, trong đó có vốn việc trợ ODA đóng vai trò quan trọng, nguồn vốn này thường được dung trong các lĩnh vực đầu tư của nhà nước như cầu đường, giáo dục, y tế…

    Nợ  ngắn hạn và danh mục đầu tư chiếm tỉ trọng khá nhỏ trong tổng GDP. Tại Việt Nam chính là các dòng vốn gián tiếp đầu tư qua các Quỹ. Nhìn chung vốn ngắn hạn có chi phí cao và thường đi kèm với kỳ vọng mang lại lợi nhuận nhanh chóng. Nợ ngắn hạn biến động ít, thường xuyên quanh mốc 0. Đó là dấu hiệu đáng mừng thể hiện tình trạng phát triển của kinh tế Việt Nam.

    Về tài khoản tiền gửi, do hiện nay số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động nhiều, lương ngoại hối cũng theo đó tăng lên. Đây là một nguồn tiền quan trọng, đóng góp vào nguồn quỹ dự trữ quốc gia để điều hành tỉ giá. Đến 2 năm 2005, 2006 chúng ta thấy cán cân tài khoản tiền gửi của Việt Nam âm ( -634 triệu USD và đến năm 2006 đột biến là -1353 triệu USD) điều này có thể giải thích do trong hai năm 2005, 2006 số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc tăng lên.

    1.4 Về tỉ lệ dự trữ ngoại hối:

    Trong giai đoạn 2001-2006 dự trữ ngoại hối của Việt Nam theo thống kê của IMF như sau:

    Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
    Dự trữ ngoại hối (triệu USD) 3387 3692 5619 6314 8557 11483
    TỐC ĐỘ TĂNG (%) 11,78 9,00 52,19 12,24 35,52 34,19

    Theo thống đốc NHNN lúc bấy giờ, lượng dự trữ ngoại hối năm 2005 tăng đột biến, tốc độ tăng 35,52% tuy chưa phải mức tăng cao nhất trong giai đoạn nhưng lại đạt trên 10 tuần xuất khẩu, con số chưa từng có.

    Nguyên nhân của việc tăng dự trữ ngoại hối bên cạnh việc gia tăng của tài khoản tiền gửi còn do các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn vào Việt Nam thông qua các kênh như ODA, FDI, FII,…

    2.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam năm 2007 và 2008:

    2.1 Cán cân vãng lai:

    Nếu nhìn nhận cán cân vãng lai theo giao dịch cán cân vãng lai bao gồm các giao dịch về xuất nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ,thu nhập và chuyển tiền. Trước những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, việc hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng đã tác động tới cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam. Thâm hụt cán cân vãng lai tăng mạnh, vượt xa mức cảnh báo với mức tăng từ 0,27% GDP năm 2006 lên mức 9,8% GDP năm 2007 và tiếp tục gia tăng tới trên 20% GDP trong 6 tháng đầu năm 2008 do cán cân thương mại, dịch vụ, thu nhập đều thâm hụt, đặc biệt là sự mở rộng về thâm hụt cán cân thương mại từ mức 4,6% GDP năm 2006 lên mức 15% GDP trong năm 2007 và khoảng 30% trong 6 tháng đầu năm 2008.

    2.1.1 Cán cân thương mại:

    Trong cán cân vãng lai của việt nam,xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm tỷ trong lớn nhất trong tổng thu chi của cán cân vãng lai.

    Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3%.

    Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của các loại hàng hoá đều tăng so với năm 2007, chủ yếu do giá trên thị trường thế giới tăng. Xuất khẩu dầu thô ước tính đạt 13,9 triệu tấn, tương đương 10,5 tỷ USD, tuy giảm 7,7% về lượng nhưng tăng 23,1% về kim ngạch so với năm trước do giá dầu tăng cao trong những tháng giữa năm.

    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 5,4 tỷ USD,. Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng 31,7%. Nhập siêu năm 2008 ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng 27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhập siêu đã giảm nhiều so với dự báo những tháng trước đây nhưng mức nhập siêu năm nay vẫn khá cao.

    Thâm hụt thương mại năm 2008 là 17,5 tỷ USD.

    2.1.2 Cán cân dịch vụ :

    Cùng với sự mở cửa nền kinh tế,các ngành kinh doanh dịch vụ phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu chi cán cân vãng lai. Tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,1 tỷ USD, tăng 9,8% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4 tỷ USD, tăng 7,2%; dịch vụ vận tải hàng không đạt 1,3 tỷ USD, tăng 23,7%; dịch vụ vận tải biển đạt 1 tỷ USD, tăng 27,7%. Tổng trị giá nhập khẩu dịch vụ năm 2008 ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 10,3% so với năm 2007, trong đó dịch vụ du lịch 1,3 tỷ USD, tăng 6,6%; dịch vụ vận tải hàng không 800 triệu USD, giảm 2,4%; dịch vụ hàng hải 300 triệu USD, tăng 20%.

    Nhập siêu dịch vụ năm 2008 là 0,8 tỷ USD.

    2.1.3 Cán cân thu nhập:

    Xuất phát từ nền kinh tế thếu vốn, việt nam đã chú trọng việc thu hút vốn nước ngoài(chủ yếu dưới dạng đầu tư trực tiếp vốn nước ngoàivà vay nợ nước ngoài)

    Cán cân vãng lai tiếp tục được hỗ trợ bởi thặng dư lớn trong hạng mục chuyển tiền tư nhân, các nhà đầu tư trên thế giới tiếp tục tin tưởng vào sự phát triển kinh tế Việt Nam trong trung hạn, điều này phản ánh qua số vốn cam kết không ngừng tăng lên: Trong 8 tháng đầu năm, số vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt tới 47,15 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 32,1% so cùng kỳ, trong đó khoảng 80-90% là giải ngân của phía nước ngoài; Luồng vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm 2007 tăng gấp 3 lần so với năm 2006, giá trị chứng khoán do nhà đầu tư nước ngoài mua vào nhiều hơn bán ra ở mức trên 6 tỷ USD.

    2.1.4 Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai:

    Thâm hụt cán cân vãng lai gia tăng bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân:

    • Thứ nhất, nhu cầu đầu tư và tiêu dùng gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
    • Thứ hai, nhu cầu nhập khẩu cao nhờ được tài trợ bởi luồng vốn nước ngoài như nguồn vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và các khoản vay nước ngoài.
    • Thứ ba, giá cả hàng hoá quốc tế tăng cao, đặc biệt là giá các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất đã khiến kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh.
    • Thứ tư, nhập khẩu tăng mạnh và cao hơn nhiều so với xuất khẩu chứng tỏ khi thực hiện các cam kết đa phương trong WTO, giảm nhiều dòng thuế đã làm cho hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam, trong khi đó muốn tăng trưởng xuất khẩu lại cần có thời gian.
    • Thứ năm, lạm phát trong nước cao hơn lạm phát của các đối tác thương mại, trong khi tỷ giá danh nghĩa giữa VND và USD và tỷ trọng thương mại của Việt Nam với các nước tương đối ổn định khiến VND lên giá thực, tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu.

    Một trong những nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại nặng nề ở Việt Nam trong những năm qua là VND đã lên giá so với đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu. Tỷ giá hiệu dụng thực của VND giảm trong giai đoạn 2000 – 2003 nhưng sau đó gần như tăng liên tục, làm cho nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.

    Bên cạnh đó, tuy vốn đầu tư gián tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, song khả năng cạnh tranh hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam còn thấp; tăng trưởng kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu; sản xuất trong nước phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài; thâm hụt cán cân vãng lai tăng mạnh bởi đầu tư đang vượt xa so với mức tiết kiệm hiện có của nền kinh tế; mặc dù thu hút vốn FDI mang lại nhiều lợi thế cho Việt Nam như tận dụng được lợi thế chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, nhưng vẫn có một số vấn đề đối với luồng vốn này; và hiệu quả sử dụng vốn thấp…

    2.1.5 Giải pháp:

    Khai thác lợi thế so sánh để tăng kim ngạch xuất khẩu theo hướng tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh các mặt hàng nông sản, hàng gia công, thủ công mỹ nghệ mang giá trị gia tăng cao; Tăng cường công tác dự báo thị trường, xu hướng diễn biến của giá cả hàng hoá, điều tiết lượng hàng xuất khẩu hợp lý để đảm bảo xuất khẩu hàng hoá với mức giá cao nhất có thể. Tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường và mặt hàng xuất khẩu; Hạn chế những mặt hàng chưa thiết yếu để giảm nhập siêu; việc giảm nhập siêu được xem xét không những theo mặt hàng mà cần có chiến lược giảm nhập siêu đối với các đối tác thương mại lớn như Trung Quốc, Đài Loan; Đồng thời, phát triển các ngành dịch vụ theo hướng tăng thu xuất khẩu. Tiếp tục thu hút nguồn và sử dụng có hiệu quả nguồn kiều hối để cải thiện cán cân vãng lai, tránh tình trạng găm giữ ngoại tệ trong dân; để cải thiện cán cân vãng lai, cần tăng cường tiết kiệm quốc gia, giảm và nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế; điều chỉnh cơ cấu luồng vốn theo hướng khuyến khích luồng vốn trung dài hạn, giảm bớt luồng vốn ngắn hạn thông qua áp dụng các biện pháp lọc vốn để đảm bảo cơ cấu tài trợ cán cân vãng lai lành mạnh, không chứa đựng rủi ro rút vốn đột ngột; đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn FDI và ODA cho các dự án đầu tư hiệu quả.

    2.2 Cán cân vốn:

    Kiều hối theo thống kê của NHNN năm 2008 đạt 8 tỷ USD, viện trợ chính thức không hoàn lại ước đạt 0,188 tỷ USD (theo số liệu chính thức từ Tổng cục thống kê ngày 23/9/2008).

    Theo số liệu từ Tổng cục thống kê, trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạt mức kỷ lục 64 tỷ USD, gần gấp 3 lần năm 2007, trong đó 60,3 tỷ USD là vốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng ký tăng thêm. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký tương đương 32,6 tỷ USD; lĩnh vực dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm 45,5%. Tuy nhiên con số trong khoản mục đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng thì chúng ta chỉ tính đến con số giải ngân thực tế.

    Vay nợ dài và trung hạn năm 2008 ước đạt 1,227 tỷ USD

    Vay nợ ngắn hạn năm 2008 là 0,261 tỷ USD

    Đầu tư danh mục chứng khoán ròng năm 2008 là -1,82 tỷ USD,

    Năm 2008 đầu tư danh mục chứng khoán ròng của các nhà đầu tư nước ngoài là -31.005 tỷ đồng. Trong đó danh mục trái phiếu bán ròng 37.383 tỷ đồng (-2,2 tỷ USD), danh mục trái phiếu mua ròng 6.378 tỷ đồng (+0,38 tỷ USD).

    Cán cân thanh toán tổng thể năm 2008 đạt mức thặng dư 0,16 tỷ USD đưa mức dự trữ ngoại hối cuối năm 2008 đạt 23,76 tỷ USD.

    3.Tình hình cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009:

    Thâm hụt cán cân thanh toán năm 2009 của Việt Nam không quá nghiêm trọng,dự báo thâm hụt cán cân thanh toán năm này chỉ khoảng 0.5 tỷ USD, đây là mức không lớn so với con số trên 24 tỷ USD dự trữ ngoại hối của NHNN hiện nay.

    3.1 Cán cân vãng lai:

    Trong nửa đầu năm 2009, cán cân vãng lai của Việt Nam đang âm 2,4 tỷ USD.

    3.1.1 Cán cân thương mại:

    Cán cân thương mại 6 tháng đầu năm chỉ thâm hụt 2.1 tỷ USD, thấp hơn con số 13.77 tỷ USD của cùng kỳ năm trước, dự báo xuất khẩu năm 2009 sẽ giảm 15%, còn nhập khẩu giảm 23%, thâm hụt thương mại năm nay vào khoảng 8.4 tỷ USD.

    6 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 14 tỷ USD, tăng 0,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,6 tỷ USD, giảm 19%. Nếu loại trừ vàng tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đạt 25,1 tỷ USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu 6 tháng giảm chủ yếu do giá cả trên thị trường thế giới giảm sút và đứng ở mức thấp.

    Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2009 sang các thị trường chủ yếu đều giảm so với cùng kỳ năm trước.

    Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,1% so với cùng kỳ năm 2008.Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng giảm do một số mặt hàng nhập khẩu giảm về lượng, nhưng chủ yếu là do giá trên thị trường thế giới giảm: Nhập siêu hàng hoá tháng 6/2009 ước tính 1,2 tỷ USD, thấp hơn mức nhập siêu 1,25 tỷ USD của tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2009 nhập siêu 2,1 tỷ USD, bằng 14,7% cùng kỳ năm trước. Nếu loại trừ vàng tái xuất của quý I thì nhập siêu hàng hoá 6 tháng là 4,6 tỷ USD, trong đó quý I nhập siêu 1 tỷ USD; quý II nhập siêu 3,6 tỷ USD.

    3.1.2 Cán cân dịch vụ:

    Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 ước tính đạt 2737 triệu USD, giảm 25,7% so với cùng kỳ năm trước, Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng ước tính đạt 3256 triệu USD, giảm 26,2% so với cùng kỳ năm 2008.

    Nhập siêu dịch vụ 6 tháng là 519 triệu USD, giảm 29,1% so với 6 tháng đầu năm 2008.

    3.1.3 Cán cân thu nhập:

    Trong 6 tháng đầu năm 2009, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4 tỷ USD, bằng 81,6% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó vốn từ nước ngoài dự kiến 3,3 tỷ USD. So với mục tiêu giải ngân 8 tỷ USD năm 2009, trong 6 tháng đầu năm 2009 cả nước có 306 dự án mới được cấp GCNĐT với tổng vốn đăng ký 4,7 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 13,3% so với cùng kỳ 2008   Trong 6 tháng đầu năm 2009, có 68 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,1 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 6 tháng đầu năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 8,87 tỷ USD, bằng 22,6% so với cùng kỳ 2008.

     3.2 Cán cân vốn:

    Nếu tính cả tái xuất vàng, về phía cán cân vốn, dù được “hỗ trợ” của 3 tỷ USD giải ngân vốn FDI, nhưng cân đối vĩ mô này vẫn còn âm 1,15 tỷ USD,6 tháng đầu năm, Việt Nam chỉ thu hút được gần 9 tỉ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài, bằng khoảng 1/5 so với cùng kỳ năm ngoái.

    Đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm cả về tỷ trọng và giá trị tuyệt đối. Vốn FDI giải ngân trong 6 tháng đầu năm 4 tỷ USD, giảm 18.4%, vốn FDI đăng ký giảm 77.4% so với cùng kỳ năm trước, dự báo FDI giải ngân năm nay sẽ giảm 30% so với năm 2008. Tức là số vốn giải ngân năm nay chỉ khoảng 8.2 tỷ USD. Giải ngân vốn ODA trong 6 tháng đầu năm tăng 1.27 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Bất chấp khó khăn của kinh tế thế giới, vốn ODA vào Việt Nam vẫn tăng và dự báo giải ngân có thể đạt 2.5 tỷ USD trong năm nay.

    3.3 Biện pháp:

    1 – Chính sách tỷ giá: Trong thời gian qua, Chính phủ đã điều hành chính sách tỷ giá theo hướng tích cực: mở rộng biên độ dao động lên ± 5% và cho phép tỷ giá VND/USD biến động theo hướng phù hợp với thực trạng cung, cầu ngoại hối trên thị trường.

    2 – Chính sách hỗ trợ tín dụng xuất khẩu: Nguồn kinh phí của gói kích cầu 1 tỷ USD cần được sử dụng đúng nơi, đúng chỗ nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu

    3 – Chính sách hỗ trợ chi phí xuất khẩu: Hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu để giảm các loại chi phí liên quan tới xuất khẩu như chi phí tại cảng biển, sân bay và chi phí vận tải; giảm tối đa thủ tục hành chính gây phiền hà cho doanh nghiệp xuất – nhập khẩu

    4 – Đa dạng hóa cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu: Cơ cấu thị trường xuất – nhập khẩu của nước ta cho thấy, thị trường xuất – nhập khẩu của Việt Nam tập trung cao độ vào một số thị trường trọng điểm đang chịu ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới. Do vậy, cần mở rộng thị trường mới.

    5 – Cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất – nhập khẩu: Việc cải thiện cơ cấu mặt hàng xuất – nhập khẩu không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, cần xây dựng lộ trình cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hàng hóa sản xuất trong nước, đặc biệt là các sản phẩm xuất khẩu truyền thống, đồng thời tìm thị trường cho các sản phẩm xuất khẩu mới

    6 – Khai thác thị trường trong nước: Cần khai thác tối đa thị trường trong nước để giảm quy mô nhập khẩu, nhằm giảm mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào các thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đối với các nước trong khu vực

    7 – Chính sách thưởng xuất khẩu và giảm thuế cho các doanh nghiệp xuất khẩu: Có cơ chế thưởng xuất khẩu xứng đáng, đồng thời giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp xuất khẩu

    8 – Các chính sách tài khóa khác: Để giảm tác động tiêu cực của suy giảm sản xuất xuất khẩu, đặc biệt là vấn đề công ăn việc làm và thu nhập cho công nhân sản xuất hàng xuất khẩu, Chính phủ cần nghiên cứu chế độ trợ cấp thất nghiệp cho công nhân của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất khẩu bị mất việc làm.

    9 – Chính sách tiền tệ: Cần nới lỏng chính sách tiền tệ một cách từ từ, nhằm tạo thanh khoản và huy động nguồn lực cho chính sách tài khóa của Chính phủ .

    KẾT LUẬN

     

    Mất cân đối cán cân thanh toán thể hiện ở cả cán cân vãng lai và tài khoản vốn. Tính đến hết 6 tháng đầu năm nay, cán cân thanh toán của Việt Nam đang đứng trước sức ép rất lớn từ khoản thâm hụt lên tới gần 3,6 tỷ USD này. Và tình hình dường như đang xấu hơn vì những dẫn chứng mà đại diện IMF tại Việt Nam đưa ra chưa tính đến khoản xấp xỉ 3 tỷ USD nhập siêu trong hai tháng gần đây (tháng 7 và tháng 8).

    III.Cán cân thanh toán quốc tế của Trung Quốc hiện nay:

    Mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới nhưng Trung Quốc đã có những dấu hiệu phục hồi kinh tế một cách nhanh chóng.

    Kinh tế Trung Quốc phục hồi nhanh chóng như thế là bắt nguồn từ 3 nỗ lực bao gồm các gói kích thích kinh tế, ngân hàng tự do cho vay chính phủ hỗ trợ xuất khẩu mạnh mẽ. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực nới lỏng việc cho vay và hỗ trợ xuất khẩu.

    Thậm chí Trung Quốc còn miễn giảm thuế và áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ đắc lực khác cho các nhà xuất khẩu. Các biện pháp hỗ trợ bao gồm đặt nhiều rào cản lên nhập khẩu và ngăn chặn sự can thiệp sâu sắc vào thị trường tiền tệ để giữ giá đồng nhân dân tệ, giúp xuất khẩu của Trung Quốc cạnh tranh thậm chí ngay trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bị suy yếu.

    Hơn thế nữa, ở các cấp chính quyền khác nhau, nhiều chính sách hỗ trợ cũng được áp dụng. Các số liệu thống kê cho thấy nhập khẩu từ Trung Quốc chỉ giảm 14,2% trong 7 tháng đầu tiên trong năm nay trong khi nhập khẩu từ các quốc gia còn lại tăng tới 32,6%. Thặng dư thương mại của Trung Quốc vốn đứng đầu thế giới, đạt 108 tỷ USD cho 7 tháng đầu năm.

    Hệ thống ngân hàng được vốn hoá tốt cũng cho phép đầu tư nhanh chóng. tổng nợ tồn đọng của các định chế tài chính được bảo hiểm bởi FDIC đã giảm 249 tỷ USD, tức 3,2% trong nửa đầu năm nay.

    Dự trữ ngoại hối trên 2.100 tỷ USD, thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai lớn, ngân sách quốc gia dồi dào chính là những đòn bẩy cho nền kinh tế và hệ thống tài chính Trung Quốc.

    Quý 2/2009, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt 35 tỷ USD, thấp hơn 40% so với cùng kỳ năm trước. Thặng dư tài khoản vãng lai cũng sụt giảm, ước tính chỉ còn 6% GDP trong năm nay so với mức 11% GDP của năm 2007.

    So với Trung Quốc nền kinh tế nước ta cũng đang phục hồi tuy nhiên vẫn chưa bằng Trung Quốc, bởi các lý do sau:

    Trước hết, Việt Nam có cán cân thanh toán yếu hơn Trung Quốc và phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp) mà hiện nay đang bị suy giảm, để duy trì mức tăng trưởng cao.

    Thứ hai, Việt Nam công bố kế hoạch kích thích tài chính với giá trị tương đương 6 tỷ đô la Mỹ (100 nghìn tỉ đồng), hoặc 6,8% GDP. Song, tăng trưởng ở Việt Nam phục hồi sau giai đoạn tăng trưởng thấp kỷ lục trong thập kỷ vào quí 1-2009. Mức tăng trưởng GDP giảm còn 3,1% ( so với cùng kỳ năm ngoái) trong quí 1. Nhờ chính sách kích thích phát huy được tác dụng, mức tăng trưởng đã đạt được mức 4,5% (so với cùng kỳ năm ngoái) trong quí 2.

    Lạm phát lại tái diễn. Mặc dù tỷ lệ lạm phát giảm từ mức đỉnh điểm là 27,9% vào tháng 9/2008 xuống mức 2,0% và tháng 8 năm nay, nhưng áp lực về giá lại bắt đầu gia tăng. Khi lạm phát gia tăng, lãi suất thực sẽ giảm, làm gia tăng động lực cho cầu, bao gồm cả nhập khẩu.

    Lĩnh vực xuất khẩu vẫn ở mức tăng trưởng chậm. Các lô hàng xuất cảng trong tháng 8 đã giảm 18,9% so với năm ngoái. Bên cạnh đó, nhập khẩu đã tăng trở lại trong tháng 8 – lần đầu tiên sau 10 tháng, tăng 5,1% so với năm ngoái.

    Thứ ba, thâm hụt thương mại hàng tháng đáng kể lại xuất hiện. Từ chỗ thặng dư trong quí 1, cán cân thương mại đã xấu đi nhanh chóng khi nhập khẩu bắt đầu hồi phục trong khi xuất khẩu vẫn còn yếu. Ngược lại, cán cân thương mại và cán cân tài khoản vãng lai của Trung Quốc duy trì ở mức thặng dư ổn định.

    Khi cán cân thương mại xấu đi, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng rút bớt. Đây là sự xảy ra đồng thời đáng lo ngại. Việc giải ngân FDI giảm xuống còn 22,5% trong tháng 7 ở mức 4,6 tỉ đô la Mỹ; số vốn FDI cam kết năm nay cũng giảm xuống còn khoảng 80%, xuống mức 10,1 tỉ đô la Mỹ.

    Thứ tư, mức nợ của các ngành kinh tế công so với GDP vào cuối năm 2008 ở mức 38% GDP (số liệu của Trung Quốc là 17%).


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]