Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/LU%E1%BA%ACN-V%C4%82N-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-t%C4%83ng-c%C6%B0%E1%BB%9Dng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Cao-B%E1%BA%B1ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: LUẬN VĂN Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng

    Lời mở đầu

    Bên cạnh vốn trong nước thì vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn quan trọng với phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nhận thức được điều này, trong những năm gần đây thu hút đầu tư nước ngoài đã được các cấp lãnh đạo Cao Bằng quan tâm đặc biệt. Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng chủ yếu gồm hai loại: ODA, FDI. Vốn ODA đã được tỉnh sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, các chương trình xoá đói giảm nghèo, cung cấp điện nước… Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông rất bất lợi, nên khả năng thu hút FDI của Cao Bằng còn hạn chế. Tỉnh đã dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn song vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng.

    Sau một thời gian thực tập tại sở Kế hoạch và Đầu tư Cao Bằng, qua tìm hiểu tình hìnhthực tế em nhận thấy trong điều kiện Cao Bằng hiên nay tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết, làm tốt công tác này sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng” cho chuyên đề thực tập của mình.

    Kết cấu của chuyên đề:

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

     

    Chương I. Những vấn đề lý luận chung.

    I. Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển.

    1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển.

    Đầu tư : Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động có mục đích nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên; là thời gian, sức lao động trí tuệ.

    Kết quả đem lại có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền), tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Những kết quả đó có vai trò quan trọng trong mọi trường hợp, không chỉ với nhà đầu tư mà còn với cả nền kinh tế quốc dân.

    Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác.

    Đầu tư phát triển: Là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn vật chất, nguồn lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    Qua định nghĩa về đầu tư và đầu tư phát triển cho thấy với bất cứ sự phát triển nào cũng gắn với hoạt động đầu tư, bởi vậy đầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhà ở cũng chung mục đích đem lại cho tương lai một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.

    2. Vai trò của đầu tư phát triển.

    2.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước.

    – Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu.

    • Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nền kinh tế, chiếm khoảng 24 – 28% trong cơ cấu tổng cầu. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản lượng cân bằng tăng theo và giá cả của các cầu vào tăng theo.

     

     

    • Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên. Sản lợng tăng giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.

    – Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

    Khi tăng đầu tư cầu của các yếu tố đầu vào tăng vừa làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng, đến một mức nào đó dẫn đến lạm phát. Lạm phát làm kinh tế phát triển chậm lại, mặt khác khi tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội, tạo điều kiện cho

    sự phát triển nền kinh tế. Khi giảm đầu tư cũng tác động đến hai mặt, nhng theo chiều h-ướng ngược lại.

    – Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

    Muốn giữ tốc độ tăng trởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước.

    Vốn đầu tư

    ICOR =

    Mức tăng GDP

    Vốn đầu tư

    Mức tăng GDP =

    ICOR

    Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP phụ thuộc vào vốn đầu tư.

    – Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

    Chính sách đầu tư quyết định qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.

    Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.

    – Đầu tư với việc tăng cường khả năng KH & CN của đất nước.

    Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay.

    Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài. Dù tự nghiên cứu hay nhập khẩu từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phơng án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi.

    2.2. Đối với phát triển vùng lãnh thổ.

    Vùng lãnh thổ trên một bình diện nào đó là một nền kinh tế thu nhỏ nên hoạt động đầu tư trên phạm vi vùng lãnh thổ cũng có vai trò như là hoạt động đầu tư trên phạm vi quốc gia: tác động đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá; đến sự ổn định của nền kinh tế, tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ. Nét khác biệt giữa vùng lãnh thổ và quốc gia là vùng lãnh thổ có điều kiện về tự nhiên và xã hội tư-ơng đối đồng nhất trong khi trên phạm vi quốc gia có sự khác biệt giữa các vùng do vậy trong chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ vừa chịu sự ảnh hưởng từ chính sách vĩ mô của Nhà nước, vừa thể hiện sự sáng tạo trong việc vận dụng vào điều kiện cụ thể trong khi chính sách đầu tư của quốc gia thực hiện sự linh hoạt giữa các vùng khác nhau.

    2.3. Trên giác độ các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.

    Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển nhanh của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời bất kỳ cơ sở sản xuất kinh doanh nào đều phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, lắp đặt máy móc… Các hoạt động này là các hoạt động đầu tư. Sau một thời gian các máy móc này bị hỏng hoặc hao mòn. Để hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục cần phải đầu tư kinh phí để sửa chữa và bảo hành. Chứng tỏ đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô.

    3. Các nguồn vốn đầu tư.

    Theo nguồn hình thành, vốn đầu tư bao gồm:

    3.1. Nguồn vốn trong nước.

    Đây là nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của nền kinh tế. Nó không những có ý nghĩa to lớn đối với sản xuất kinh doanh trong nội bộ nền kinh tế mà còn có ảnh hưởng to lớn đối với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn tích luỹ trong nước tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra cơ sở hạ tầng, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút và tiếp nhận đầu tư nước ngoài, đồng thời giữ thế chủ động không phụ thuộc vào nước ngoài.

    Nguồn vốn trong nước được hình thành từ hai nguồn chính: Đó là nguồn vốn Nhà nước và nguồn vốn tư nhân.

    Vốn của Nhà nước bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách, vốn tín dụng đầu tư và vốn của doanh nghiệp Nhà nước. ở nước ta, các nguồn vốn này thờng đợc Nhà nước đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Nguồn vốn từ ngân sách chiếm khoảng 21% tổng vốn đầu tư xã hội đợc sử dụng đầu tư cho xây dựng cơ bản, hạ tầng kinh tế xã hội và các công trình công cộng không có khả năng thu hồi vốn; nguồn vốn tín dụng đầu tư chiếm khoảng 6% tổng số vốn đầu tư và đợc sử dụng tập trung cho các dự án sản xuất kinh doanh theo hướng ưu tiên của kế hoạch Nhà nước và dự án công trình công cộng có khả năng thu hồi vốn như bưu điện, bưu chính viễn thông… Vốn của doanh nghiệp Nhà nước đầu tư chiếm trên 13% tổng số vốn đầu tư. Từng bước điều chình mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước một cách hợp lý hơn, nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp Nhà nư-ớc trong sản xuất kinh doanh.

    Nguồn vốn của tư nhân bao gồm tích luỹ của các doanh nghiệp tư nhân và tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn này chủ yếu để đầu tư sản xuất kinh doanh với mục đích lợi nhuận. Thời gian qua nguồn vốn này chiếm khoảng trên 30% tổng vốn và góp phần rất quan trọng vào việc tăng trởng kinh tế và ổn định đời sống dân cư, nhất là tạo công ăn việc làm cho cả nông thôn và thành thị.

    3.2. Nguồn vốn huy động từ nước ngoài.

    Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, còn đang ở trong tình trạng thiếu vốn gay gắt. Nhờ có nguồn vốn này tạo nên một động lực lớn giúp các nƯớc này giải quyết được những vấn đề kinh tế xã hội to lớn, nâng cao năng lực công nghệ và khả năng lao động… nhanh chóng công nghiệp hoá hiện đại hoá đa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài đƯợc chia thành: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign direct Investment) và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (ODA: Offical Development Assitance).

    Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):

    Đầu tư nước ngoài là sự chuyển dịch tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu .

    Đầu tư trực tiếp : nhà đầu tư bỏ vốn và trực tiếp quản lý vốn

    Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều nguồn khác nhau: vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, vốn của tư nhân bao gồm vốn của người nước ngoài hay của người Việt Nam ở nước ngoài.

    Mục đích của đầu tư nước ngoài là thu về lợi nhuận do vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tư vào những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, thời gian hoàn vốn nhanh, những lĩnh vực ít rủi ro. Bởi vậy nước tiếp nhận đầu tư nếu không biết điều chỉnh sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế.

    Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (vốn ODA).

     

    Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA (Official Development Assistance, viết tắt là ODA) được ngân hàng thế giới định nghĩa: “ODA là khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại, hoặc tín dụng u đãi của các tổ chức Chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển”.

    ODA bao gồm: ODA không hoàn lại và ODA cho vay u đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25% giá trị khoản vay.

    Thời gian vay nợ khá dài thờng từ 30 – 40 năm (kể cả thời gian ân hạn). Ngoài khoản viện trợ không hoàn lại thì nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp (0-5% /năm).

    Mục tiêu tổng quát là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện chơng trình phát triển và tăng phúc lợi của mình. Tuy nhiên tính ưu đãi thường kèm theo các điều kiện ràng buộc t-ơng đối khắt khe như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vố và thanh toán… Đôi khi ODA được cung cấp từ Chính phủ còn gắn với những ràng buộc về mặt chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự.

    Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh rằng ODA là nguồn vốn vay nợ nước ngoài mà nư-ớc đi vay phải thanh toán trong một thời gian nhất định. Chính vì vậy cần phải xem xét dự án viện trợ trong điều kiện tài chính tổng thể nếu không việc tiếp nhận viện trợ sẽ trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài đối với mỗi quốc gia.

    II. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    1. Vai trò.

    Chuyển giao công nghệ :

    Đa số các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến. Họ có thể sẵn sàng chuyển giao công nghệ đó cho chủ nhà nếu chuyên gia địa phương có thể tiếp cận công nghệ sau khi huấn luyện.

    Tạo công ăn việc làm :

    Hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động địa phương, đặc biệt là các nghành sử dụng nhiều lao động giản đơn như dệt may, da giày…

    Kích thích các doanh nghiệp địa phương:

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kích thích các doanh nghiệp địa phương tham gia manh mẽ vào việc cung cấp nguyên vật liệu, các linh kiện rời và các dịch vụ cho họ…

    Kinh nghiệm quản lý :

    Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang theo kinh nghiệm quản lý và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành các nhà quản trị tại chỗ nhằm bổ xung vào đội ngũ quản trị của họ.

    2.  Các

    nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài.

    Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài ở nước nhận đầu tư. Nó bao gồm các yếu tố: tình hình chính trị, chính sách-pháp luật, vị trí địa lí-điều kiện tự nhiên, trình độ kinh tế,

    đặc điểm văn hóa-xã hội. Các nhóm yếu tố này có thể làm tăng khả năng sinh lãi hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư.

    Tình hình chính trị:

    Tình hình ổn định chính trị của nước tiếp nhận đầu tư là cơ sở quan trọng hàng đầu để thực hiện các cam kết bảo đảm an toàn sở hữu tài sản và các khuyến khích đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Mặt khác, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết để ổn định tình hình kinh tế xã hội, nhờ đó giảm được rủi ro cho các nhà đầu tư. Một nước không thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nếu tình hình chính trị luôn luôn mất ổn định.

    Chính sách pháp luật:

    Các nhà đầu tư nước ngoài rất cần một môi trường pháp lý hợp lý và ổn định của nước chủ nhà. Môi trường này gồm những chính sách, qui định đối với đầu tư nước ngoài và tính hiệu lực của chúng trong thực hiện. Đây là những căn cứ pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các nhà đầu tư trong nước khi tính toán đến làm ăn lâu dài.

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

    Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, đa dạng hóa các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu đầu vào phong phú với giá rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn. Những yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ.

    Trình độ phát triển kinh tế:

     

    Trình độ phát triển kinh tế là các mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà. Những nước có trình độ quản lý vĩ mô kém thường dẫn đến tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, các thủ tục hành chính rườm rà, nạn tham nhũng … Cơ sở hạ tầng cứng bao gồm các yếu tố như sân bay, cảng biển, giao thông, điện lực, viễn thông, còn cơ sở hạ tầng mềm bao gồm chất lượng lao động, dịch vụ công nghệ, hệ thống tài chính. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và giảm chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.

    Đặc điểm văn hóa xã hội:

    Đặc điểm phát triển văn hóa-xã hội của nước chủ nhà được coi là hấp dẫn đầu tư nước ngoài nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ, tôn giáo, các phong tục tập quán đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đặc điểm này không chỉ giảm được chi phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo điều kiện cho họ hòa nhập vào cộng đồng nước sở tại.

    III. Các hình thức đầu tư nước ngoài ( ODA và FDI).

     

     

     

    1.     ODA.

    1.1. Khái niệm.

    ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống liên hợp quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nứoc đang và chậm phát triển.

    1.2. Đặc điểm.

    Vốn ODA mang tính ưu đãi : Vốn ODA có thời gian cho vay dài, có thời gian án hạn dài. Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho các nứoc vay vốn. Vốn ODA của WB.ADB. Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản- Japan Bank for intenational Cooperation JBIC , co’ thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian án hạn là 10 năm.

    Vốn ODA mang tính rằng buộc :

    ODA có thể rằng buộc nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra, mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những rằng buộc khác và nhiều khi các rằng buộc này rất chặt chẽ với nước nhận.

    ODA là vốn có khả năng gây nợ :

    Khi tiếp nhận sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng không hiệu quả ODA, có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đàu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó trong khi hoạch định chính sách sư dụng ODA phải phối hợp với các loại nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

    1.1.1.3. Phân loại ODA

    * Theo tính chất:

    Viện trợ không hoàn lại: Các khoản cho không, không phải trả lại.

    Viện trợ có hoàn lại: Các khoản vay ưu đãi (tín dụng với điều kiện mềm)

    • Viện trợ hỗn hợp: Gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức tín dụng (có thể là ưu đãi hoặc thương mại).

    * Theo mục đích

    • Hỗ trợ cơ bản: Là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Đây thường là những khoản cho vay ưu đãi.
    • Hỗ trợ kỹ thuật: Là những nguồn lực doanh nghiệp dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư. Phát triển thể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.

    * Theo điều kiện:

    • ODA không ràng buộc nước nhận: việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.
    • ODA có ràng buộc nước nhận
    • Bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là việc mua sắm hàng hoá. Trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vốn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát ( đối với viện trợ song phương) hoặc các công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

    Bởi mục đích sử dụng: Chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể:

    • ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chi
    • bất cứ nơi nào.

    * Theo đối tượng sử dụng:

    Hỗ trợ dự án; Là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc cho vay ưu đãi.

    • Hỗ trợ phi dự án: Bao gồm các loại hình như sau:
    • Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá hỗ trợ qua nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách.

    Hỗ trợ trả nợ

    Viện trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

    2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ).

     

    2.1. khái niệm : Là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời và phát triển của đầu tư trự tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế.

    2.2 Đặc điểm.

    Một là: các chủ đầu tư phải góp một số vốntối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam , khi liên doanh, số vốn góp của bên nứoc ngoài phải lớn hơn hoạc bằng 30% vốn pháp định.

    Hai là: quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Đối với doanh nghiệp liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền quản lý doanh nghiệp và quản lý đối tượng hợp tác tùy thuộc vào mức góp vốn của các bên tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì người nước ngoài toàn quyền quản lý doanh nghiệp.

    Ba là: lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn.

    Bốn là: đầu tư trự tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đanh hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.

    Năm là: đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư.

    Sáu là: đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.

    1.3. Phân loại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Nếu căn cứ vào tính pháp lý của đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể chia FDIv thành các loại: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh doanh nghiệp

    100% vốn nước ngoài. Ngoài ra còn có thêm các hình thức đầu tư khác đó là hợp đồng xây dựng kinh doanh – chuyển giao (BOT), xây dựng – chuyển giao kinh doanh (BTO) xây dựng chuyển giao (BT). Trong các hình thức trên thì doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức pháp nhân mới và luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam gọi chung là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Nếu căn cứ vào tính chất đầu tư có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành hai loại: đầu tư tập trung trong khu công nghiệp khu chế xuất và đầu tư phân tán. Mỗi loại đầu tư có ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ cấu công nghiệp của từng quốc gia.

    Nếu căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm…

    Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các hình thức đầu tư nước ngoài vào

    Việt Nam gồm bốn hình thức sau:

    • Hợp đồng hợp tác kinh doanh
    • Doanh nghiệp liên doanh
    • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
    • BOT

    Chương II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    I. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Cao Bằng có ảnh hưởng đến việc

    thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

    Cao Bằng là một tỉnh vùng cao biên giới phía đông bắc nước Việt Nam. Nhân dân các dân tộc giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Cao Bằng là miền đất địa đầu Tổ quốc, có từ thời kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỷ II trước công nguyên. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử và văn hoá rất đáng tự hào và trân trọng. Lịch sử truyền thống của Cao Bằng gắn liền lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu dựng nước và giữ nước. Cuộc chiến đấu đầu tiên của nhân dân Âu Lạc bảo vệ Tổ Quốc, trong đó có nhân dân Cao Bằng chống quân xâm lược nhà Tần do Thục Phán đứng đầu dành thắng lợi.

    Ngày nay nhân dân các dân tộc Cao Bằng đang cùng nhau thực hiện Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bác mong tỉnh Cao Bằng sớm trở thành một trong những tỉnh g-ơng mẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nh trớc đây Cao Bằng là một trong những tỉnh đi đầu trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc”.

    Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển và tăng trởng khá,GDP tăng bình quân 9-10%/ năm; nhng nhìn chung kinh tế của tỉnh so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp. Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, để thực hiện sự nghiệp CNH-HDH, Cao Bằng cần tận dụng mọi khả năng và nguồn lực sẵn có để hoà nhập vào tiến trình phát triển của cả nước; do đó Cao Bằng rất cần sự hơp tác, giúp đỡ của Chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức trong và ngoài nước.

    1. Điều kiện tự nhiên.

     

    Cao Bằng có tiềm năng về đất đai, khí hậu để phát triển các trang trại, vùng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu. Cao Bằng có thế mạnh và những đặc sản độc đáo nh: Hạt dẻ, lê, cam quýt, hồng, thuốc lá sợi vàng, đậu tơng, chè đắng trúc sào, hồi…

    Thiên nhiên cũng u đãi cho Cao Bằng một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng như: Quặng sắt; quặng mangan, quặng thiếc, quặng bô xít, ngoài ra còn có kẽm, niken, vàng, ăngtimon, quặng uranium…, có điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp khoáng sản. đặc biệt sản phẩm gang đúc của Cao Bằng đã đợc trao Huy chương vàng tại Hội chợ triển lãm ” Hàng Công nghiệp Việt Nam” năm 2000.

    Cao Bằng có cửa khẩu quốc gia Tà Lùng, Hùng Quốc và Sóc Hà rất thuận lợi cho giao lưu, buôn bán với nước bạnTrung Quốc. Tiềm năng du lịch Cao Bằng rất phong phú và đa dạng; Cao Bằng nổi tiếng với nhiều di tích lịch sử nh Pác Bó, Khu rừng Trần Hưng đạo, di tích Chiến thắng đông Khê, Thành Nà lữ…, cùng với những danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp nh Thác Bản Giốc, động Ngờn Ngao, Hồ Thang Hen và nhiều lễ hội văn hoá truyền thống đặc sắc của các dân tộc, tất cả đã tạo nên một tiềm năng lớn để phát triển ngành du lịch Cao Bằng.

    Cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm phát triển; thông tin liên lạc thuận tiện nhanh chóng; điện lưới quốc gia đã đến các huyện thị trong tỉnh; các tuyến đường trong tỉnh được đầu tư nâng cấp. Một số cơ sở công nghiệp hoạt động đạt kết quả như: Xí nghiệp Luyện gang; Nhà máy đường, Nhà máy gạch Tuy Nen; Nhà máy Xi Măng…, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như vùng nguyên liệu mía, vùng thuốc lá, vùng trồng trúc…

    Cao Bằng tuy có tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH nhng do là tỉnh miền núi, xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước, nền kinh tế đợc xây dựng từ xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh; do đó để tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển Cao Bằng cần mở rộng, chào đón các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trong và ngoài nước đến với Cao Bằng và tạo mọi điều kiện ưu đãi trên cơ sở bình đẳng, hợp tác hữu nghị, cùng phát triển.

    2. Vị trí địa lí.

     

    Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông bắc nước ta. Hai mặt bắc và đông bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài 311 km. Phía Tây giáp với hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều bắc – nam 80 km, từ 23007’12” – 22021’21” vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông – tây 170 km, từ 105016’15” – 106050’25” kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).

    Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên dới 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 m so với mặt nớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Hình thành 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

    Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế. Cao Bằng có khí hậu ôn đới. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 25 -28 độ C, mùa đông là 16 – 17độ C. Một số vùng núi cao như Trùng Khánh, Trà Lĩnh về mùa đông có tuyết rơi.

    Nhìn chung khí hậu Cao Bằng mát mẻ quanh năm lại cú nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, du lịch. Từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến thị xã Cao Bằng khoảng 272 km .

    3. Dân số và lao động.

    Toàn tỉnh Cao Bằng có 12 huyện thị và có 189 xã, phường thị trấn. : Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng khánh, Nguyên Bình, Hòa An, Quảng Hòa, Hạ Lang, Thạch An.

    Bao gồm các Dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Mông, Việt (Kinh), Hoa, Sán Chay…

    Dân số: (01/04/1999): 491.055 người.

    II. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1999 – 2003.

    1.Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên điạ bàn tỉnh thời kỳ 1999-

    2003.

    Bảng 1: tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh ( 1999-2003).

    đơn vị: tỷ đồng.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    TVĐT của tỉnh 209.2 185.5 238.5 428.9 441
               
    TVĐT nước ngoài 52 38 106.1 54 193.5
               
    trong đó          
               
    ODA 52 38 98.6 54 85
               
    FDI     7.5   108.5
               
    Tỷ trọng VĐTNN/TVĐT 24.85 20.49 44.49 12.59 43.88
               
    Tỷ trọng vốn ODA/VĐTNN 100 100 92.93 100 43.93
               
    Tỷ trọng vốn FDI/VĐTNN 0 0 7.07 0 56.07
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Cao Bằng thời kỳ 1999-2003.

      1999 2000 2001 2002 2003
               
    Tổng VĐTNN 100 73.1 279.2 50.9 358.3
               
    ODA 100 73.1 259.5 54.8 157.4
               

    Nguồn: Sở Kế hoạch Đầu tư Cao Bằng.

    2.Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI của tỉnh.

    Năm 2001 , tỉnh đã cấp giấy phép đầu tư cho dự án “ Công ty KOHKL Việt Nam “, 100% vốn Nước ngoài, sản xuất nấm xuất khẩu, với số vốn 500.000 USD.

    Đến ngày 1/9/2003 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép đầu tư cho công ty liên doanh Minh Châu Cao Bằng, kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, vui chơi, giải trí có thưởng tại của khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hòa với số vốn đầu tư trên 7 triệu USD, hiện nay đang thực hiện dự án.

    3.Tình hình thu hút vốn đầu tư ODA của tỉnh.

    Tình hình thực hiện oda giai đoạn 1993- 2003 và định hướng sử dụng oda tới năm

    2010

    3.1.Khái quát tình hình vận động và thu hút ODA của Cao Bằng.

    Việc thu hút nguồn vốn ODA tại Cao Bằng chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1995 bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC) đầu tư cho khôi phục đường giao thông. Nguồn vốn này tiếp tục được khai thác đầu tư cho các lĩnh vực giao thông và phát triển lưới điện. Bên cạnh đó các nguồn ODA khá cũng dần được khai thông cả về số lượng dự án và qui mô. Đó là dự án phát triển nông thôn Cao Bằng- Bắc Cạn, sử dụng viện trợ không hoàn lại của EU; Các tiểu dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn vốn ADB và

    AFD; Dự án phát triển các trường tiểu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật bản.

    Những nguồn vốn ODA này là rất quan trọng đối với Cao bằng trong việc bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội tại địa phương, điều này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với Cao bằng một tỉnh còn rất nghèo trong cả nước.

    3.2. Tình hình thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh Cao bằng.

    Dự án cơ sở hạ tầng nông thôn (vốn ADB và AFI): Thời gian thực hiện 1998-2003, tổng vốn 85 tỷ đồng. Đến nay đã thực hiện được khoảng 65 tỷ đồng. Dự án đầu tư cho các lĩnh vực thủy lợi, cấp nước sinh hoạt và giao thông nông thôn.

    Dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn Cao Bằng được chia làm 3 giai đoạn

    • Giai đoạn I: Tổng vốn đầu tư là 38,5 tỷ đồng
    • Giai đoạn II: Tổng vốn đầu tư là 38,1 tỷ đồng
    • Giai đoạn III: Sau khi triển khai thực hiện giai đoạn I và II. Vốn kết dư còn lại

    Dự án phát triển Nông thông Cao Bằng- Bắc Cạn (EU): Dự án do liên minh Châu Âu viện trợ không hoàn lại cho 2 tỉnh Cao Bằng và Bắc Cạn với số vốn 19,5 triệu EURO, trong đó Cao Bằng được hưởng 2/3 tổng số vốn. Dự án bắt đầu thực hiện từ năm 1999 và sẽ kết thúc năm 2004. Dự án gồm 5 hợp phần: Khuyến nông; phát triển nông nghiệp; giao thông nông thôn; thủy lợi và cấp nước sinh hoạt nông thôn.

    Phát triển lưới điện nông thôn đầu tư bằng nguồn vốn OECF Nhật Bản (nay là vốn JBIC), với số vốn là 7,95 tỷ đồng, thực hiện các dự án từ năm 1998- 2002

    Nguồn vốn JBIC tài khóa 2000 (15 tỷ đồng): đầu tư cho các dự án giao thông và điện. Tỉnh đã tiếp tục xây dựng các dự án đăng ký sử dụng vốn JBIC và được JBIC chấp nhận 54, 502 tỷ đồng cho các dự án điện và giao thông (theo hiệp định ký kết giữa 2 Chính phủ ngày 31/3/2003).

    Nguồn vốn phi dự án Nhật Bản: Năm 2002 được ghi chỉ tiêu 8 tỷ đồng cho dự án Giao thông

    Dự án cải tạo, mở rộng hệ thống cấp nước Thị xã Cao Bằng: Từ năm 1997 đến 1999 đã thực hiện xong, công suất 12.000m3/ngày đêm, sử dụng ODA Pháp, với số vốn 17 triệu Fran Pháp.

    Dự án hỗ trợ y tế quốc gia (WB): Do Bộ Y Tế làm chủ quản đầu tư, hô trợ đầu tư cho lĩnh vực y tế, thực hiện từ 1999 đến 2003, với tổng mức đầu tư trên 36 tỷ đồng.

    Cao Bằng cũng được hưởng thụ dự án vốn WB từ năm 2001 do Công ty Điện lực 1 làm chủ đầu tư.

    Ngoài ra còn có các dự án đang thực hiện nguồn vốn ODA trên địa bàn tỉnh như

    sau :

    Năm 2003: Bộ tài chính thông báo tỉnh Cao Bằng được sử dụng ODA ITALYA 380.000 EURO cho thiết bị cấp nước.

    Tỉnh Cao Bằng đã được chính phủ phê duyệt vào danh mục sử dụng vốn ODA Phần Lan, dự kiến vốn ODA là 3,5 triệu USD đầu tư cho trang thiết bị y tế.

    Tỉnh Cao Bằng đẫ đăng ký sử dụng ODA Đức cho chương trình phòng chống HIV-AIDS ngày 7/5/2003.

    Năm 2000-2001 tỉnh Cao Bằng được thụ hưởng dự án hỗ trợ các trường tiêu học miền núi phía Bắc, sử dụng viện trợ không hoàn lại của chính phủ Nhật Bản cho 17 điểm trường, với tổng sơ vốn hơn 54,75 tỷ đồng.

    Tổng cộng từ các doanh nghiệp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh các doanh nghiệp đã tham gia tích cực vào phát triển sản xuất và cải thiện cở sở hạ tầng. Do đó trong những năm tới cần vận động các doanh nghiệp đóng góp vốn để phát triến sản xuất kinh doanh cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên việc huy động phải linh hoạt phù hợ với đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp băng cách tổ chức liên doanh kết nghĩa doanh nghiệp với huuyện tỉnh để đầu tư phát triển một số lĩnh vực tỉnh, huyện đang cần đầu tư.

    4. Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Cao Bằng giai đoạn 1999-2003.

    4.1. Kết quả đạt được.

    Đầu tư đầu tư nước ngoài thời gian qua đã đóng góp ngày càng lớn vào tăng tr-ưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá và mở rộng thị trường của tỉnh. Thu hút được nhiều lao động và không ngừng tăng thu cho ngân sách, nâng cao trình độ công nghệ, tạo điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, sử dụng công nghệ hiện đại, nâng cao mức sống dân cư.

    Nhiều công trình, chương trình trọng điểm của tỉnh được thực hiện tốt, đặc biệt tạo ra một không khí sôi động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, số dự án tăng nhanh qua các năm, các doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn ra để kinh doanh, đầu tư công nghệ vào sản xuất.

    Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm sống động môi trường đầu tư của tỉnh. Nhiều dự án đã và đang đi vào hoạt động mang lại những hiệu quả thiết thực, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, cải thiến và nâng cao đời sống của nhân dân, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.

    Những thành quả trên là kết quả của sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân tỉnh Cao Bằng trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh nhằm thu hút ngày một nhiều hơn đầu tư nước ngoài vào tỉnh. Những nỗ lực đáng được ghi nhận có thể kể ra đó là:

    Tỉnh đã ban hành Quy định về quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA trên địa bàn.

    Tỉnh đã chủ động đẩy mạnh việc vận động ODA.

    Đã phê duyệt Quy trình cấp, điều chỉnh, bổ sung giấy phép đầu tư cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.

    4.2. Tồn tại.

    Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một tỉnh nào đó, nơi nhận đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như : cơ sở hạ tầng đủ đảm bảo các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Chính vì vậy, các nước phát triển, các doanh nghiệp ngoài nước thường chọn nước nào, khu vực nào, tỉnh nào có điều kiện kinh tế tương đối phát triển hơn để đầu tư trước. Còn khi đầu tư vào các nước, tỉnh lạc hậu, chưa có điều kiện tối thiểu cho việc tiếp nhận đầu tư cũng phải dành một phần vốn cho việc xây dựng hệ thống cơ sơ

    Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình tự nhiên và giao thông bất lợi so với các tỉnh bạn nên đã ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút vốn FDI còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù luật đầu tư nước ngoài dành nhiều ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh nhưng vẫn chưa đủ sức thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Cao Bằng, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài vào Cao Bằng trong thời gian qua vẫn chủ yếu là các dự án hỗ trợ phát triển ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh vẫn rất khiêm tốn, tới năm 2001 mới có một dự án được cấp giấy phép và tới năm 2003 mới được thêm một dự án.

    Chương III. Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nứớc ngoài trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2005 – 2010.

    I. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-2010 tại Cao Bằng.

    1. Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo.

    Tiếp tục duy trì phương hướng phát triển KT-XH theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo mọi điều kiện chuyển dịch nhanh nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần .Chủ động vươn lên phát huy đầy đủ và khai thác triệt để những nguồn nội lực như tiềm năng đất đai nông lâm nghiệp, tài nguyên rừng, khoáng sản, cửa khẩu, lao động , truyền thống và cơ sở kĩ thuật, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế có hiệu quả để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình phát triển chung của vùng đông bắc và cả nước, tránh tụt hậu xa về kinh tế . Có chương trình hội nhập kinh tế khu vực, nhất là khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc.

    Đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới toàn diện mà trước hết là nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch . . .

    Phát triển kinh tế phải gần với giải quyết tốt vấn đề xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường.

    Từ 2000 đến 2010 cần tập trung đầu tư để tạo bước chuyển biến tích cực. Tạo ra những tiền đề cho các năm tiếp theo phát triển nhanh hơn. Trước hết tập trung nâng cấp các trục giao thông chính và phát triển giao thông nông thôn, cấp nước, điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục. . .

    • Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân để thực hiện phát triển nhanh kinh tế xã hội.

    2. Kế hoạch huy động và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài cho giai đoạn 2006-

    2010.

    Tổng mức đầu tư cần thiết để đạt mục tiêu:

    Qua tính toán, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế mỗi năm tăng trên 10% giai đoạn 2006-2010, nhu cầu cần khoảng 3.500 tỷ đồng.

    Trong đó:

    Nhu cầu cho lĩnh vực công nghiệp- XD-GTVT khoảng: 1.383 tỷ đồng.

    Nhu cầu cho lĩnh vực nông nghiêp. khoảng : 752 tỷ

    Nhu cầu cho lĩnh vực dịch vụ khoảng 1365 tỷ

    Nguồn huy động đầu tư : Để đáp ứng nhu cầu vốn đàu tư phát triển, nhoài việc tăng cường tích lũy từ nội bộ kinh tế xong còn phải chủ trương biện pháp huy động hữu hiệu từ các nguồn đầu tư nước ngoài ODA và FDI.

    II. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (2005-2010).

    Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành một phương thức hữu hiệu nhất, một yếu tố quan trọng nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển, một hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế…

    Hoạt động đầu tư nước ngoài ở Cao Bằng đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong thời gian qua song có thể nói, cho đến nay hoạt động này vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các giải pháp đề ra là nhằm tháo gỡ những khó khăn tồn tại cho cơ chế đầu tư , tiếp tục khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước mạnh dạn hơn nữa bỏ vốn ra đầu tư. Các giải pháp một mặt phải dựa trên cơ sở pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước, mặt khác phải vận dụng vào điều kiện, tình hình cụ thể của Cao Bằng. Do vậy, để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần thực hiện một số giải pháp theo hướng sau đây:

    Thứ nhất, xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm đa ra những cơ chế chính sách sát thực phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và có tính khả thi cao để tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thông thoáng thúc đẩy phát huy đợc nội lực từ bên trong và tăng cường hấp dẫn đầu tư từ bên ngoài.

    Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cải cách thủ tục hành chính để dự án nhanh đi vào thực tiễn bằng việc xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các quy trình thủ tục, thiết lập cơ chế phối hợp và cơ chế “một cửa ” liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư trong đó đặc biệt chú trọng đến khâu thụ lý hồ sơ dự án cấp giấy phép cho các dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba, từng bước thực hiện việc đầu tư nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ, trong đó đặc biệt chú trọng đến hệ thống giao thông trong địa bàn tỉnh , giữa tỉnh với các tỉnh khác và hệ thống giao thông tới các cửa khẩu.

    Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại, yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

    Thứ năm, nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư

    Thứ sáu, một số giải pháp khác.

    Các giải pháp cụ thể là:

    1. Xây dựng chiến lược đầu tư và cụ thể hoá cơ chế chính sách.

    Tỉnh Cao Bằng đã có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, các cấp nhưng còn thiếu nhiều quy hoạch chi tiết. Cần xác định rõ chiến lược đầu tư và tiến hành lập các dự án quy hoạch chi tiết để đầu tư phát triển. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến quy hoạch vùng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, quy hoạch các cụm công nghiệp nhỏ và danh mục các dự án đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng mang tính đột phá trong việc cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Cao Bằng nhằm thu hút các dự án đầu tư nước ngoài.

    Việc cụ thể hoá cơ chế chính sách trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài cần tiến hành với những nội dung chính sau đây:

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Mục tiêu: Khuyến khích và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh.

    Nội dung: Soát xét lại giá cho thuê đất, miễn giảm tiền cho thuê đất trong một vài năm đầu cho một số khu vực ưu tiên đầu tư. Cần áp dụng một số chính sách ưu đãi để tận dụng tối đa diện tích đất cho thuê như giảm giá thuê đất, giá kinh doanh hạ tầng (điện, nước, dịch vụ viễn thông), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp đợc thuận lợi, nhanh chóng… Giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng gây ách tắc đối với việc triển khai dự án. Cần sớm chấm dứt cơ chế các doanh nghiệp góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển sang chế độ Nhà nước cho thuê đất.

    Bổ sung các chính sách ưu đãi có sức hấp dẫn cao đối với những lĩnh vực, địa bàn và dự án cần thu hút đầu tư nước ngoài như: công nghệ cao, xuất khẩu lớn, đầu tư vào nông thôn miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; nông lâm trồng rừng bảo vệ môi trờng; các dự án phát triển hạ tầng xã hội.

    Thứ hai, tổ chức thẩm định, phê duyệt dự án nhanh chóng, đảm bảo tính thời gian, chất lượng và thủ tục đơn giản trong qúa trình thẩm định dự án đầu tư nước ngoài.

    Thứ ba là cơ chế chính sách vận động viện trợ và gọi vốn đầu tư trực tiếp nước

    ngoài.

    Mục tiêu: Khuyến khích các ngành, các cấp chủ động và năng động tổ chức vận động viện trợ và khuyến khích các doanh nghiệp năng động tìm kiếm đối tác nước ngoài để hợp tác đầu tư.

    Nội dung: Tạo nguồn kinh phí để lập dự án, tổ chức kêu gọi vốn viện trợ tìm kiếm đối tác đầu tư; quy định chế độ ưu đãi khi nhà đầu tư đang thực hiện dự án đầu tư tại tỉnh mà vận động về cho tỉnh thêm dự án đầu tư khác; quy định chế độ đãi ngộ cho người có công vận động được dự án ODA hoặc giới thiệu được đối tác nớc ngoài có dự án đầu tư vào tỉnh Cao Bằng.

    2. Hoàn thiện cơ chế quản lý hành chính Nhà nước.

    Nhằm tạo môi trường thông thoáng trong việc thụ lý hồ sơ dự án trong lĩnh vực thẩm định dự án đầu tư, thẩm định dự án để cấp đăng ký kinh doanh, thẩm định để cấp giấy phép đầu tư, triển khai các thủ tục hành chính để thực hiện dự án. Tỉnh Cao Bằng cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính với những mục tiêu sau:

    • Thiết lập chế độ “một cửa” trong công tác quản lý các dự án và các nguồn vốn đầu tư trong việc giải quyết các thủ tục hành chính từ khâu hình thành dự án đến khâu thực hiện dự án.
    • Xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý và quy trình thụ lý hồ sơ dự án.
    • Tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu

    tư.

    Thứ nhất, là ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Cao Bằng.

    Để quy trình quản lý và xử lý công việc đi vào hiện thực và đảm bảo tính thời gian theo quy định và hoàn thành trách nhiệm trong công việc ở từng công đoạn, cần thiết lập chế độ “một cửa” xử lý từng công việc ở từng cơ quan đơn vị. Tránh những thủ tục hành chính rờm rà, phải qua nhiều cửa, nhiều cơ quan để xin làm thủ tục thuê đất, thành lập doanh nghiệp… cũng cần tránh hiện tượng “một cửa” mà lại nhiều “khoá”. Yêu cầu chế độ

    “một cửa” ở đây là từng cơ quan chức năng liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể theo chức năng quản lý của cơ quan mình cần bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn đảm đơng nhiệm vụ đầu mối trong cơ quan mình. Đích danh cán bộ là đầu mối chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ công việc, giúp lãnh đạo của mình tổ chức triển khai giải quyết công việc và bàn giao công việc cho các cơ quan liên quan đúng thời hạn quy định.

    Thứ hai, là việc xây dựng đầy đủ các quy trình quản lý, thụ lý hồ sơ dự án:

    Trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước và các văn bản cụ thể hoá công tác quản lý và phân giao trách nhiệm của tỉnh về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từng ngành chức năng và các cấp liên quan tiến hành việc rà soát lại chức năng nhiệm vụ được giao; tiến hành việc xây dựng đầy đủ các quy trình thủ tục hành chính cho việc thực hiện các loại công việc như lập dự án, thẩm định dự án, thẩm định thiết bị công nghệ, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trờng, thẩm định thiết kế kỹ thuật – tổng dự toán, cấp đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép đầu tư, cấp chứng chỉ quy hoạch, cấp giấy phép xây dựng, cấp quyền sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao đất cho chủ dự án, triển khai các thủ tục hành chính thực hiện dự án đầu tư, giải ngân cấp phát vốn, quyết toán vốn đầu tư, thanh tra kiểm tra cấp giấy phép lao động, giới thiệu nhân sự tham gia quản lý liên doanh. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc xử lý từng công việc cụ thể.

    Thứ ba, là tăng cường công tác quản lý đầu tư để nâng cao hiệu quả kinh tế hoạt động đầu tư:

    Để tăng cờng công tác quản lý đầu tư cần phải có những điều kiện sau đây:

    Phải có cơ chế quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài thích ứng và linh hoạt. Cơ chế quản lý thể hiện ở những hình thức tổ chức quản lý và phương thức quản lý. Cơ chế quản lý phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài nhằm xác định đầu mối rõ ràng, thống nhất về quản lý đầu tư và có những phương pháp

    quản lý hữu hiệu. Một mặt cơ chế quản lý đầu tư nước ngoài phải phù hợp và thông thoáng, cởi mở nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Tăng cường công tác bồi dưỡng và đào tạo lại trình độ chuyên môn và trình độ quản lý dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của đội ngũ cán bộ hiện thời. Từng bước cải thiện điều kiện và phương tiện làm việc cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý đáp ứng yêu cầu đặt ra.

    Đặc biệt đối với lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, cần chú trọng nâng cao năng lực và hiệu lực công tác của cơ quan đầu mối trực tiếp tham mưu về kinh tế đối ngoại của tỉnh như bố trí đủ cán bộ có năng lực cả chuyên môn và ngoại ngữ trang bị đầy đủ phơng tiện hoạt động, cài đặt phần mềm vi tính quản lý dự án kể cả nối mạng với các Bộ TW nếu thấy cần thiết.

    Các công cụ quản lý hoạt động đầu tư phải đủ mạnh và hiệu quả. Các công cụ quản lý đầu tư bao gồm: hệ thống luật có liên quan đến hoạt động đầu tư, các chính sách và đòn bẩy kinh tế, các quy hoạch tổng thể và chi tiết của ngành và địa phương về đầu tư, các tài liệu phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư, các thông tin về tình hình cung cầu, giá cả; kinh nghiệm quản lý, các phơng tiện quản lý, các phương tiện quản lý hoạt động đầu tư như hệ thống lưu trữ và xử lý thông tin, hệ thống bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc. Các công cụ này được nhà quản lý sử dụng để tác động trực tiếp đến đối tượng bị quản lý là hoạt động đầu tư vì thế nó có ý nghĩa quan trọng để làm tăng hiệu quả quản lý.

    3. Cải thiện điều kiện hấp thụ dự án đầu tư.

     

    Để cải thiện môi trờng hấp thụ dự án đầu tư, cần tập trung giải quyết một số vấn đề chính sau đây:

    • Tập trung một nguồn lực tài chính cần thiết để đầu tư và nâng cấp một số công trình cơ sở hạ tầng, dịch vụ trọng điểm và quan trọng mang tính then chốt ở Cao Bằng nhằm cải thiện môt bước về cơ sở hạ tầng và dịch vụ ở tỉnh.
    • Cân đối đủ nguồn vốn đối ứng cho các dự án ODA và cho các dự án đầu tư trong nước cần vốn đối ứng, dành một lượng vốn để hỗ trợ đầu tư theo phơng châm “Nhà nước hỗ trợ dân làm là chính” nhằm huy động mạnh vốn đầu tư từ dân.
    • Thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư ngoài nước.

    Thứ nhất, tập trung đầu tư nâng cấp một số cơ sở hạ tầng, dịch vụ quan trọng nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

    • Đầu tư nâng cấp tỉnh : đầu tư một số công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm của tỉnh như nâng cấp đường và lát vỉa hè; đầu tư điện chiếu sáng, cải tạo hệ thống biển báo thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải…
    • Nâng cấp khách sạn Cao Bằng đạt tiêu chuẩn khách sạn có sao đủ điều kiện đón nhận các nhà đầu tư nước ngoài.
    • Xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ phục vụ cho sự phát triển , hệ thống trường học, bệnh xá, dịch vụ thương mại, khu chung cư…

    Thứ hai, tăng cường nguồn lực tài chính để kích thích đầu tư và hấp thụ dự án đầu tư nước ngoài: Ngân sách tỉnh hàng năm đảm bảo cân đối đủ nguồn vốn đối ứng để

    thực hiện các dự án ODA đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng quan trọng, đầu tư phát triển hoặc các dự án vay vốn thương mại nước ngoài cần thiết; cân đối nguốn vốn hỗ trợ dân đầu tư.

    Thứ ba , chuẩn bị tốt điều kiện đất đai để thực hiện dự án đầu tư:

    – Quy hoạch sẵn và công khai quỹ đất dành cho các dự án đầu tư xây dựng nhà x-ưởng mới để các nhà đầu tư lựa chọn; áp dụng giá thuê ưu đãi nhất và chế độ miễn giảm tối đa (áp dụng mức giá thấp nhất trong khung quy định của Chính phủ hoặc có thể miễn hoàn toàn). Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng và giao đất cho chủ đầu tư một cách nhanh chóng, đúng tiến độ.

    • Phát triển thêm một số cụm công nghiệp xung quanh thi xã, hoặc ở những nơi có vùng nguyên liệu tập trung để có đất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thành lập.

    Thứ tư, thiết lập hệ thống cung cấp thông tin và thực hiện tốt các biện pháp cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

    • Cần hình thành tổ chức làm dịch vụ tư vấn cung cấp thông tin để giúp các nhà đầu tư có được những thông tin và các kỹ năng cần thiết từ khâu lập dự án đến khâu thực hiện dự án đầu tư, các thông tin về thị trường, thông tin về thiết bị công nghệ.
    • Lập danh mục các dự án ưu tiên đầu tư để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Giới thiệu tiềm năng và các cơ hội đầu tư của tỉnh.

    4. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế của tỉnh, khắc phục triệt để những tồn tại yếu kém trong bố trí cơ cấu đầu tư và điều hành thực hiện.

     

    Việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư để sử dụng các nguồn vốn đầu tư đúng mục tiêu là giải pháp tích cực và hiệu quả nhất trong tình hình mà nguồn vốn còn nhiều hạn chế. H-ớng điều chỉnh tập trung vào các lĩnh vực sau:

    Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu nông lâm sản, sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng tiêu dùng; chú ý phát triển những ngành công nghệ ít vốn thu hút nhiều lao động. Phát triển những ngành truyền thống, có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và đảm bảo được hiệu quả, tiện khai thác và chế biến theo hướng chiều sâu là chính để cải tạo các cơ sở có hiệu quả và phát triển một số cơ sở mới.

    Phát triển mạnh một số loại hình dịch vụ như bưu chính, viễn thông dịch vụ du lịch, vận tải thương mại, dịch vụ khoa học công nghệ theo hớng vừa phát triển thị trường nội địa vừa nhanh chóng vươn ra thị trường bên ngoài.

    Đối với những nhóm mặt hàng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng nội địa, trong nước và quốc tế, kiên quyết không đầu tư mới các cơ sở sản xuất với công nghệ, thiết bị lạc hậu, tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh kém. Tập trung cải tạo công nghệ, thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đáp ứng kịp thời thị hiếu của người tiêu dùng, hạ giá thành sản phẩm.

    5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư.

    Cùng với thực hiện các giải pháp mang tính trực tiếp để thu hút vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển thì nâng cao hiệu quả đầu tư là một giải pháp mang tính gián tiếp có tác động kích thích qúa trình tái đầu tư. Hiệu quả đầu tư cao là tín hiệu để thu hút, huy động các nguồn vốn trực tiếp ngược lại việc đẩy mạnh đầu tư luôn luôn phải đi đôi với nâng cao hiệu quả đầu tư thì hoạt động đẩy mạnh đầu tư đó mới có ý nghĩa, vừa tiết kiệm đươc nguồn vốn đầu tư vừa không tạo ra gánh nặng cho tương lai.

    6. Một số giải pháp khác.

    Đầu tư phát triển khoa học công nghệ và đầu tư phát triển nguồn nhân lực là 2 nội dung của hoạt động đầu tư phát triển mang tính chất hỗ trợ cho qúa trình thu hút vốn đầu tư. Trong thời điểm hiện nay và trong tương lai, 2 nhân tố này được xác định là 2 nhân tố quan trọng nhất của nền kinh tế, quyết định đến tốc độ tăng trởng và qúa trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.

    6.1. Đầu tư phát triển công nghệ.

    Tăng cường năng lực công nghệ sẽ có tác động tốt đến qúa trình sản xuất kinh doanh: giảm chi phí nhân công, nguyên vật liệu; tăng doanh thu, lợi nhuận; tăng khả năng cạnh tranh, vị thế của sản phẩm từ đó dẫn đến tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế, doanh nghiệp. Nguồn tích luỹ này sẽ bổ sung cho hoạt động đầu tư phát triển.

    Cao Bằng là tỉnh miền núi phía Bắc, để đảm bảo phát triển bền vững và ổn định nguồn công nghệ ngoài việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài thì thời gian tới tỉnh cần tích cực đầu tư nghiên cứu, ứng dụng công nghệ theo hướng sau:

    Về lĩnh vực nông nghiệp: Tăng cường đầu tư cho những mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhân rộng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Đa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất tiến tới làm chủ công nghệ sản xuất giống, từng bước cơ khí hoá trong sản xuất, ứng dụng công nghệ sinh học trong bảo quản, chế biến, sản xuất thực phẩm sạch.

    Đối với lĩnh vực công nghiệp: Cần có cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư đổi mới công nghệ thông qua hỗ trợ từ khoản thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng có được thêm do đổi mới công nghệ. Có chế độ thưởng cho các doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hỗ

    trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm mới; bảo vệ nhãn mác, thương hiệu của những sản phẩm có uy tín chống hiện tượng làm hàng giả, hàng nhái.

    6.2. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp từ ngoài tỉnh vào các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng “chất xám” cao Tiếp nhận và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, những sinh viên có thành tích nghiên cứu, học tập xuất sắc từ các trường đại học trong và ngoài tỉnh.

    Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân

    Trong điều kiện nguồn đầu tư có hạn, muốn phát triển Kinh tế xã hội nhanh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, giảm bớt khoảng cách, tránh tụt hậu xa về kinh tế so với mức trung bình của cả nước thì phải lựa chọn trọng điểm đầu tư tạo ra khâu đột phá đưa kinh tế bứt lên.

    Sau khi nghiên cứu các trọng điểm đầu tư đã lựa chọn của quy hoạch trước và qua thự hiện quy hoạch một số năm, với những phân tích qua khảo sát tình hình thực tế tranh thủ ý kiến các chuyên gia,.. nên tâp. trung đầu tư vào các lĩnh vực sau đây :

    Nâng cao dân trí và phát triển nhanh nguồn nhân lực.

    Nâng cấp và phát triển giao thông trực chính, giao thông nông thôn, giao thông vùng tập trung tài nguyên, giải quyết điện nước.

    Kết luận

    Đầu tư phát triển đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và trong những thập niên tới là con đường hữu hiệu nhất, là cơ sở để phát triển kinh tế xã hội địa phương. Cao

    Bằng đã có một số tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế có tiềm năng về tự nhiên đa dạng phong phú, có lích sử phát triển lâu đời. Nhưng làm thế nào để phát huy tối đa những tiềm năng đó, Cao Bằng cần huy động mọi nguồn vốn của các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư cho phát triển kinh tế. Cần có những biện pháp xúc tiến đầu tư nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Cần có sự phối hợp giải quyết đồng bộ của các ngành, các cấp và sự hỗ trợ tích cực của nhà nước, địa phương về các vấn đề như: xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển giao thông vận tải, xây dựng hệ thống thị trường trong và ngoài nước, xoá bỏ sự phân cách giữa thành thị và nông thôn, miền núi, phát triển khoa học kỹ thuật và văn hoá giáo dục…Có như vậy thì việc mở rộng đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là đầu tư nước ngoài để phát triển cao bằng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá mới mang lại những hiệu quả thiết thực.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Liệu có nên cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần bằng ngoại tệ hay không?


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

     

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động chiếm vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam. Đây được coi là đòn bẩy nhằm giúp đất nước thoát khỏi “cái vòng luẩn quẩn” về kinh tế. Thực tế cho thấy, thời gian vừa qua vốn FDI đã và đang là một kênh bổ sung vốn rất quan trọng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế. Những thành tựu đạt được trong việc thu hút nguồn vốn FDI thời gian qua đã tạo cho đất nước nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực cho các ngành công nghiệp như dầu khí, hóa chất, lắp ráp ô tô, công nghệ thông tin…Bên cạnh đó nguồn vốn FDI cũng góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất và đặc biệt là khu công nghệ cao.

    Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực đó, đầu tư nước ngoài có những mặt hạn chế gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế, nổi cộm là vấn đề chuyển giá. Hiện có nhiều doanh nghiệp FDI đang tận dụng việc chuyển giá để làm cho kết quả kinh doanh của họ tại Việt Nam bị lỗ. Mục đích của việc chuyển giá này nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận từ nước có thuế suất cao sang nước có thuế suất thấp để đóng thuế ít hơn. Cách làm này của các doanh nghiệp đã gây thất thoát nguồn thu thuế trong nước.

    Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm 3 đã chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến quý 3/2012” với mong muốn nhìn nhận lại một cách rõ nét và chi tiết tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đánh giá những mặt được và chưa được nhằm đưa ra định hướng, giải pháp để tăng cường thu hút vốn FDI trong thời gian tới, nâng cao hiệu quả và lợi ích của việc thu hút vốn FDI để phát triển nền kinh tế Việt Nam bền vững.

    Nội dung đề tài bao gồm 3 phần:

    Phần mở đầu

    Phần nội dung chính: Bao gồm 3 chương

    • Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
    • Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
    • Chương 3: Giải pháp nâng cao đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

    Kết luận

    1. Mục tiêu nghiên cứu
    2.  
    3.  

    2.1 Mục tiêu chung

    Đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ 2008 đến quý 3/2012, từ đó đưa ra giải pháp giải pháp khắc phục những yếu kém hiện tại song song đó đưa ra các giải pháp tăng cường việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2.2Mục tiêu cụ thể

    – Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.

    – Đánh giá thực trạng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    – Đưa ra giải pháp khắc phục yếu kém và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Phương pháp nghiên cứu

    Phương pháp thu thập số liệu: dữ liệu thứ cấp được thu thập website tổng cục thống kê, Ngân hàng Nhà nước, niên giám thống kê…

    Phương pháp phân tích số liệu:

    • Phương pháp so sánh số tương đối. So sánh số liệu giữa các năm bằng cách tính phần trăm, năm sau bằng bao nhiêu năm trước từ đó so sánh đưa ra nhận định tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm.

    So sánh hai số liệu cùng khác năm: % thay đổi = x 100%

    Xác định năm sau so với năm trước tăng hay giảm nhiêu phần trăm từ đó đưa ra nhận xét.

    • Phương pháp so sánh số tuyệt đối để phân tích số liệu cần nghiên cứu.

    DY = Y1 – Y2

    Tính tăng hay giảm cụ thể là con số bao nhiêu rồi đưa ra nhận xét.

    1. Phạm vi nghiên cứu

    4.1. Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Việt Nam.

    4.2. Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng cho đề tài này được thực hiện từ 2008 đến tháng 11/2012.

    1. 3. Đối tượng nghiên cứu: Lĩnh vực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    1.1.         KHÁI NIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

    Đầu tư là sự hi sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để được kết quả đó.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

    Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

    Về bản chất đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau, trong chiến lược chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn hiện nay, đặc biệt là các công ty đa quốc gia. Đối với họ việc buôn bán hàng hóa ở nước khác là một bước đi thăm dò thị trường, luật lệ và cơ hội để đưa ra một quyết định đầu tư. Nó như một chiếc chìa khóa vàng mở cửa cho lợi nhuận chảy vào túi của nhà tư bản, khi họ được khai thác nguồn tài nguyên phong phú, và xuất khẩu một khối lượng lớn máy móc và trang thiết bị cho các nước đó. Còn đối với nước sở tại, việc chấp nhận đầu tư nước ngoài cũng là tạo cơ hội mới cho mình trong việc phát triển nền kinh tế. Đó là điều kiện tốt để các nước này tận dụng tốt nguồn vốn nước ngoài, tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ lao động – phát triển được một số ngành cơ sở. Bên cạnh đó cũng thu được một khoản lợi nhuận từ các nhà đầu tư nước ngoài.

    Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì “đầu tư trực tiếp nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài.

    1.2 . CÁC HÌNH THỨC FDI

                1.2.1 Các hình thức phân theo bản chất đầu tư

                1.2.1.1.  Đầu tư phương tiện hoạt động

    Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.1.2  Mua lại và sát nhập

    Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.

                1.2.2 Các hình thức đầu tư phân theo tính chất dòng vốn

                1.2.2.1 Vốn chứng khoán

    Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

                1.2.2.2  Vốn tái đầu tư

    Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.

                1.2.2.3  Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

    Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.

    1.2.3 Các hình thức đầu tư phân theo cách thức tổ chức quản lý:

                1.2.3.1  Hợp đồng hợp tác kinh doanh

    Là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên. Đây là hình thức đầu tư dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế.

                1.2.3.2 Doanh nghiệp liên doanh

    Là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập  theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư (trong đó hình thức hợp  tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%).

                1.2.3.3  Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

    Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước muốn đầu tư. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất  kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

    Ngoài ra còn có một số hình thức đặc biệt : BTO (Build Transfer Operate), BOT (Build Operate Transfer), BT (Build Transfer).

    1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

                1.3.1 Nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô

    1.3.1.1 Chiến lược thu hút vốn để phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, chính sách thuế, ưu đãi.

    Chiến lược thu hút vốn là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút vốn FDI, chiến lược này thể hiện tập trung ở một số điểm như: Mở cửa thu hút vốn bên ngoài hay không? Giai đoạn nào thì nên tập trung nguồn vốn trong nước hay ngoài nước, đối với nguồn vốn ngoài nước thì nên lựa chọn tập trung vào nguồn nào nhưu đi vay thương mại, ODA hay vốn FDI… định hướng các lĩnh vực thu hút, tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án đầu tư của nước ngoài.

    1.3.1.2 Độ mở cửa kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận, luật đầu tư:

    Hợp tác cùng tồn tại và phát triển là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới ngày nay. Hợp tác trong kinh tế quốc tế là đem lại lợi ích trước hết cho quốc gia, dân tộc mình nhằm phát triển đất nước mình đồng thời cũng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia mình với quốc gia khác. Tham gia quan hệ kinh tế quốc tế, các nước có cơ hội trao đổi thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học công nghệ… Nhiều quốc gia khi thực hiện mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế của khu vực và quốc tế, hoạt động ngoại thương phát triển nhanh chóng, thu hút đầu tư nước ngoài gia tăng, chất lượng đầu tư nước ngoài được cải thiện đáng kể.

    1.3.1.3 Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa – tiền tệ:

    Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô như ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là điều kiện hết sức quan trọng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất hạn chế khi tham gia đầu tư vào những nước có môi trường kinh tế vĩ mô kém ổn định vì khi đầu tư vào những nơi này sẽ tạo ra những rủi ro kinh doanh mà các nhà đầu tư không thể lường trước được. Khi có bất ổn về môi trường kinh tế vĩ mô, rủi ro gia tăng thì các dòng vốn FDI trên thế giới sẽ chững lại và vốn đầu tư sẽ di chuyển đến những nơi an toàn và có mức sinh lời cao hơn, ngay cả khi đã đầu tư rồi mà có sự bất ổn, nhất là bất ổn về chính trị thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm mọi cách để rút lui vốn. Vì vậy muốn thu hút được vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài thì các nước phải ổn định được môi trường kinh tế vĩ mô trước.

    1.3.1.4. Hệ thống pháp luật của nước tiếp nhận vốn FDI:

    Luật pháp đóng vai trò hết sức quan trọng, là hành lang pháp lý đảm bảo sự an tâm cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống pháp luật được xây dựng theo hướng thông thoáng, đầy đủ chặt chẽ là cơ sở tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Hoạt động FDI liên quan đến nhiều chủ thể tham gia và có yếu tố nước ngoài vì vậy các văn bản ngoài yếu tố đồng bộ, chặt chẽ, tránh chồng chéo gây khó hiểu, còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Hệ thống pháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà còn có chức năng ngăn cản những tác động tiêu cực mà các nhà đầu tư cố tình vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia và tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư.

    1.3.1.5 Cở sở hạ tầng

    Để có thể thực hiện được các dự án thì đòi hỏi rất nhiều điều kiên. Các nước sở tại phải tiến hành đầu tư xây dựng các khu chế xuất và các khu công nghiệp đặc biệt, và hệ thống đường xá (hệ thống sân bay, bến cảng, cầu cống… ) đây là những yếu tố hết sức quan trọng đến quyết định đầu tư hay không của các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2 Nhân tố liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài

    1.3.2.1 Môi trường kinh tế thế giới:

    Đây là nhân tố khách quan tác động đến các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào các nước. Khi nền kinh tế thế giới có sự ổn định sẽ tác động tích cực đến sự di chuyển các dòng vốn đầu tư nước ngoài, làm cho quá trình thu hút đầu tư của các nước thuận lợi hơn rất nhiều, ngược lại khi môi trường thế giới không ổn định, suy thoái kinh tế siễn ra nhiều nơi thì sẽ khó khăn cho các nước tiếp nhận đầu tư.

    1.3.2.2 Hướng dịch chuyển của dòng vốn FDI quốc tế:

    Đây là nhân tố bên ngoài có ý nghĩa quyết định đến khả năng thu hút vốn FDI của quốc gia, mức độ tăng, giảm của việc thu hút vốn FDI chịu sự chi phối vủa xu hướng vận động của các dòng vốn FDI trên thế giới.

    1.3.2.3 Chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài:

    Ngoài các nhân tố trên, các nước còn phải quan tâm đến chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài. Những nhà đầu tư như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ.. có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong đầu tư quốc tế, có uy tín trong kinh doanh, chiến lược kinh doanh của họ có xu hướng đầu tư vào các ngành công nghệ cao, ngành chế tác, sử dụng lao động có tay nghề và vào các khu vực có triển vọng trong kinh doanh.Đối với các nhà đầu tư như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan.. thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực chế biến, lắp ráp, khai thác tài nguyên… Tùy vào chiến lược đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài mà các nước có các ưu thế tương ứng có cơ hội để thu hút các nhà đầu tư này.

    1.3.2.4 Tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài:

    Các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính, năng lực kinh doanh tốt sẽ đóng góp nhiều cho sự phát triển kinh tế, tạo ra nhiều tác động lan tỏa tích cực thúc đẩy, lôi cuốn các nhà đầu tư nước ngoài khác đầu tư vào nước tiếp nhận.

     

     

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

    Trong chương 1, nhóm tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Khái niệm, các hình thức đầu tư nước ngoài, và những nhân tố tác động đến đầu tư nước ngoài. Như vậy qua chương 1, nhóm tác giả giúp người đọc có cái nhìn khái quát hơn về lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Trong chương 2, nhóm tác giả sẽ đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 2008 đến những tháng cuối năm 2012.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY

     

    2.1 PHÂN TÍCH TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

                2.1.1. Số lượng và quy mô dự án

    Biểu đồ 1: Tổng vốn đầu tư FDI đăng ký qua các năm ở Việt Nam.

                                        Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam

            2.1.1.1Năm 2008:

    Việt Nam đồng thời chịu hai cú sốc liên tiếp có chuyên gia gọi là hai cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng thứ nhất là đó là cuộc khủng hoảng giá nhiên liệu, giá lương thực, sắt thép… trên thế giới. Điều đó tác động lớn đến Việt Nam, cùng một lúc với lạm phát, Việt Nam còn bị nhập siêu cao. Trong tình huống đó chính phủ đã chuyển đổi mục tiêu ưu tiên từ ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát. Thực hiện tám nhóm giải pháp, trong đó biện pháp quan trọng hàng đầu là thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ… Nhờ vậy hai vấn đề nóng nhất là lạm phát và nhập siêu được hạ nhiệt. Nhưng hai vấn đề vừa được giải quyết cuộc khủng hoảng địa ốc, cho vay dưới chuẩn ở Mỹ đã có vấn đề từ hơn một năm trước, bùng phát vào giữa tháng 9, đã lan nhanh sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, kinh tế, lao động việc làm và lan nhanh sang các khu vực, các nước.

    Một nền kinh tế mà tăng trưởng dựa tới gần 60% vào vốn đầu tư, có định hướng xuất khẩu (xuất khẩu so với GDP lên tới 70%), vừa mới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được 2 năm, lại vừa trải qua lạm phát, nhập siêu cao…, nên cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động lớn đến Việt Nam, tuy có chậm hơn một số nước (do độ mở cửa về tài chính chưa rộng, đồng tiền chưa chuyển đổi, do có sự chủ động ứng phó…), nhưng cũng rất lớn và khá rộng. Tưởng chừng điều đó sẽ tác động đến FDI rất lớn vậy mà trong năm 2008 những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá. Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã tạo nên một góc sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2008, nếu nhìn trên các con số. Với nhiều dự án quy mô vốn đặc biệt lớn, FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm tại Việt Nam năm 2008, tính đến 19/12, đã đạt 64,011 tỷ USD, trong đó vốn thu hút mới là 1.171 dự án với giá trị hơn 60,2 tỷ USD. Số vốn tăng thêm từ các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm nay là 3,74 tỷ USD.  Với một con số quan trọng hơn – vốn giải ngân, thì năm 2008 cũng xác lập kỷ lục. Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đã giải ngân số vốn lên tới 11,5 tỷ USD. Quy mô dự án đầu tư bình quân là 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

            2.1.1.2 Năm 2009:

    Ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008. Tính đến 15/12/2009, trong năm 2009 cả nước có 839 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 16,34 tỷ USD. Tuy chỉ bằng 24,6% so với năm 2008 nhưng đây là cũng là con số khá cao trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Trong năm 2009, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008. Tính chung cả cấp mới và tăng vốntrong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.

            2.1.1.3 Năm 2010:

    Uớc tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Các dự án đầu tư nước ngoài triển khai trong năm 2010 đạt được mục tiêu giải ngân đề ra .Tính đến ngày 21 tháng 12 năm 2010 cả nước có 969 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 17,23 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2009. Cũng trong năm nay có 269 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 1,37 tỷ USD, bằng 23,5% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 12 tháng đầu năm 2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD, bằng 82,2% so với cùng kỳ 2009.

    2.1.1.4 Trong năm 2011:

    Tổng vốn đăng ký là 14 tỷ USD và vốn giải ngân đạt gần 11 tỷ USD. Như vậy, vốn đăng ký năm nay giảm tương đối nhiều so với với năm 2010 (khoảng 24%), vốn giải ngân có sụt giảm nhưng không đáng kể. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp đáng kể về thu hút đầu tư với gần 400 dự án có tổng số vốn ước tính 6,5 tỷ USD, chiếm khoảng 47% tổng vốn đầu tư năm 2011.

            1.1.1.5 Tính đến ngày 20/11/2012:

    Cả nước có 980 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 7,25 tỷ USD, bằng 60,4% so với cùng kỳ năm 2011. Trong khi đó, đã có 406 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,92 tỷ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.

    Kết quả này khá lạc quan hơn hẳn so với 10 tháng đầu năm 2011, khi thống kê của 10 tháng đầu năm 2012 ghi nhận lượng vốn đầu tư đăng ký là 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% so với cùng kỳ 2011. Đóng góp lớn vào sự tăng trưởng này phải kể đến việc cấp phép tăng vốn cho dự án Samsung tại Bắc Ninh với số vốn tăng thêm đạt 830 triệu USD và dự án xây dựng nhà máy sản xuất điện thoại di động Nokia vào tháng 04/2012 với quy mô gần 300 triệu USD (200 triệu Euro). Trong 11 tháng đầu năm 2012, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD,  bằng 99,5 % so với cùng kỳ năm 2011.

    Trong khi đó, xuất khẩu của khu vực FDI trong 11 tháng đầu năm 2012 dự kiến đạt 65,61 tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm 2011 và chiếm 63,09% tổng kim ngạch xuất khẩu. Con số này cũng có sự đóng góp đáng kể từ gần 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của Samsung Electronics.

                2.1.2. Lĩnh vực đầu tư

    • Năm 2008:

    Vốn FDI đăng ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp.

    2.1.2.2 Năm 2009:

                Dịch vụ lưu trú và ăn uống là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Trong đó, có 32 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư là 4,9 tỷ USD và 8 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD. Kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7,6 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.

    BẢNG 1 TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH NĂM 2009

                                                                                                                 Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 DV lưu trú và ăn uống 32 4,982.6 8 3,811.7 8,794.2
    2 KD bất động sản 39 7,372.4 4 236.1 7,608.5
    3 CN chế biến,chế tạo 245 2,220.0 131 749.3 2,969.2
    4 Xây dựng 74 388.3 11 99.2 487.4
    5 Khai khoáng 6 397.0 0 0.0 397.0
    6 Nghệ thuật & giải trí 12 291.8 0 0.0 291.8
    7 Bán buôn, bán lẻ; sửa chữa 115 191.7 14 46.5 238.2
    8 Vận tải kho bãi 26 109.8 5 74.8 184.6
    9 SX,PP điện, khí, nước, điều hòa 16 129.0 1 27.9 156.9
    10 HĐ chuyên môn, KHCN 148 89.0 7 10.9 99.9
    11 Thông tin & TT 63 67.6 17 25.5 93.1
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 16 62.4 8 22.5 84.9
    13 Giáo dục và đào tạo 8 5.2 3 23.7 28.9
    14 Dịch vụ khác 22 14.9 5 7.9 22.7
    15 Cấp nước; xử lý chất thải 5 8.4 0 0.0 8.4
    16 Y tế và trợ giúp XH 6 7.4 1 0.9 8.3
    17 Hành chính và dvụ hỗ trợ 5 7.9 0 0.0 7.9
    18 Tài chính 1 0.0 0 0.0 0.0
    Tổng số 839 16,345.4 215 5,136.7 12,482.1

    Nguồn: Tổng cục thống kê

    Trong đó có một số dự án có quy mô lớn được cấp phép trong năm như khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có quy mô vốn đăng ký lớn thứ ba trong năm 2009 với 2,97 tỷ USD vốn đăng ký, trong đó có 2,22 tỷ USD đăng ký mới và 749 triệu USD vốn tăng thêm.

    2.1.2.3 Năm 2010:

                Với dự án Khu du lịch tổng hợp cao cấp Mũi Dinh tỉnh Ninh Thuận có quy mô vốn 4,5 tỷ USD, khu nghỉ dưỡng cao cấp phức hợp Nam Hội An do Công ty liên doanh đầu tư Genting VinaCapital tại thành phố Hội An- Quảng Nam vốn đầu tư lên tới 4 tỷ USD, lĩnh vực kinh doanh bất động sản vươn lên đứng thứ nhất. Trong đó có 27 lượt dự án cấp mới và 6 dự án tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 6,84 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đầu tư đăng ký vào Việt Nam.

                Trong năm 2010, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lĩnh vực thế mạnh và là lĩnh vực thu hút được sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài luôn duy trì ở vị trí cao. Lĩnh vực này dẫn đầu về số lượt dự án đăng ký cấp mới và dự án tăng vốn đầu tư trong năm 2010. Có 385 dự án cấp mới với tổng vốn đầu tư trên 4 tỷ USD và 199 dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 1 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 5,1 tỷ, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Đứng thứ 3 là lĩnh vực sản xuất phân phối điện, khí nước, điều hòa với 6 dự án đầu tư có tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm là 2,95 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư đăng ký trong năm 2010.

    2.1.2.4 Đến 20/5/2011

                Thì lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ nhất với 151 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 2,737  tỷ USD, chiếm 58,4% tổng vốn đầu tư đăng ký từ đầu năm đến nay. Trong khi đó, đứng thứ 2 là lĩnh vực Xây dựng với 36 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 352,66 triệu USD, chiếm 7,5%. Tiếp theo là lĩnh vực Dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 350,98 triệu USD.

    2.1.2.5 Tính đến 20 tháng 11 năm 2012

    Về lĩnh vực đầu tư, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 431 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8,5 tỷ USD, chiếm 69,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 11 tháng.

    Bảng 2 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành  từ 01/01/2011 đến 20/05/2011

       Đơn vị tính: Triệu USD

    TT Ngành Số dự án cấp mới Vốn đăng ký cấp mới Số lượt dự án tăng vốn Vốn đăng ký tăng thêm Vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm
    1 CN chế biến, chế tạo 151 2,107.15 86 630.0 2,737.17
    2 Xây dựng 36 211.32 4 141.3 352.66
    3 Dvụ lưu trú và ăn uống 4 142.97 1 208.0 350.98
    4 Cấp nước;xử lý chất thải 1 322.21 0 0.0 322.21
    5 KD bất động sản 6 266.27 1 30.0 296.27
    6 Pp điện, khí, nước,đ.hòa 1 266.00 0 0.0 266.00
    7 Nghệ thuật và giải trí 2 0.16 1 138.2 138.34
    8 Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa 43 90.75 2 3.5 94.25
    9 HĐ chuyên môn, KHCN 38 49.15 1 3.5 52.65
    10 Y tế và trợ giúp XH 2 40.00 0 0.0 40.00
    11 Thông tin và truyền thông 14 12.40 2 1.8 14.20
    12 Nông,lâm nghiệp;thủy sản 4 6.77 2 5.0 11.77
    13 Vận tải kho bãi 3 8.00 0 0.0 8.00
    14 Giáo dục và đào tạo 4 2.79 0  0.0 2.79
    15 Hành chính và dvụ hỗ trợ 3 0.53 0 0.0 0.53
    16 Dịch vụ khác 1 0.05 1 0.3 0.32
    Tổng số 313 3,526.51 101 1,161.6 4,688.13

    Nguồn: Tổng cục thống kê

          Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 9 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,84 tỷ USD, chiếm 15,1%.

          Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 169 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 465,6 triệu USD, chiếm 3,8% và tiếp theo là lĩnh vực thông tin và truyền thông với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 403,4 triệu USD.

     

     

     

    Biểu đồ 2: 6 lĩnh vực thu hút nhiều vốn FDI nhất

    Đơn vị tính: Triệu USD

     
       

                             Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài.

    2.1.3. Vùng đầu tư

    2.1.3.1  Năm 2009:

    Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong năm 2009 với có 3 dự án với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, nổi bật với dự án nhà máy thép do Công ty cổ phần China Steel Sumikin Việt Nam, liên doanh  của Tập đoàn China Steel (Đài Loan), Sumitomo Metal Industries và Sumitomo Corporation (Nhật Bản), làm chủ đầu tư. Nhà máy thép có diện tích 109 ha tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A2 (Bà Rịa – Vũng Tàu), có công suất 1,6 triệu tấn/năm, sản xuất sản phẩm thép cao cấp phục vụ công nghiệp đóng tàu, chế tạo máy, sản xuất ôtô xe máy, điện, điện tử… Vốn điều lệ của dự án là 574 triệu USD, gần bằng 1/2 tổng vốn đăng ký (1,148 tỷ  USD).

    Tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    2.1.3.2 Năm 2010:

    Quảng Nam vươn lên vị trí dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI với dự án lớn: dự án Công ty TNHH phát triển Nam Hội An (Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An) do nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư 4 tỷ USD. Dragon Beach do nhà đầu tư Dragon Beach Group (liên doanh giữa hai công ty của Hoa Kỳ là Tano Capital LLC và Global D&C INC) làm chủ đầu tư có tổng vốn đăng ký đầu tư 4,15 tỉ USD, triển khai trên diện tích 400ha tại xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,56 tỷ USD, 2,2 tỷ USD USD, 2 tỷ USD và 1,3 tỷ USD. Trong số các dự án cấp mới trong 12 tháng năm 2010, đáng chú ý có các dự án lớn được cấp phép là: Công ty TNHH điện lực AES-TKV Mông Dương (BOT nhiệt điện Mông Dương 2) xây dựng nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh với tổng vốn đầu tư là 2,1 tỷ USD; Dự án Công ty Sắt xốp Kobelco Việt Nam sản xuất phôi thép tại Nghệ An với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; Công ty TNHH Skybridge Dragon Sea của Hoa Kỳ, mục tiêu xây dựng, kinh doanh Khu trung tâm hội nghị triển lãm, trung tâm thương mại, kinh doanh bất động sản tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư 902,5 triệu USD.

    2.1.3.3 Năm 2011:

    TP Hồ Chí Minh là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 1,274 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm. Trong tháng này, Hà Nội đã vươn lên đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 446,86 triệu USD. Đà Nẵng đứng thứ 3 với 423,57 triệu USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Tiếp theo là Đồng Nai, Ninh Thuận, Bắc Giang với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 296,29 triệu USD, 266 triệu USD và 254,5 triệu USD.

    Một số dự án lớn được cấp phép trong 5 tháng đầu năm 2011 là: dự án Công ty TNHH sản xuất First Solar Việt nam, thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo do Singapore đầu tư tại TP Hồ Chí Minh với tổng vốn đầu tư hơn 1 tỷ USD; dự án Công ty TNHH Gamuda Land Việt Nam do Malaysia đầu tư, tổng vốn đầu tư 322,2 triệu USD với mục tiêu thiết kế, xây dựng và lắp đặt các hạng mục công trình xử lý nước thải tại Hà Nội; dự án Công ty TNHH một thành viên Enfinity Ninh thuận với tổng vốn đầu tư 266 triệu USD do Hồng Kông đầu tư với mục tiêu sản xuất điện tại Ninh Thuận; dự án Công ty TNHH Wintek Việt Nam, tổng vốn đầu tư 250 triệu USD do Samoa đầu tư tại Bắc Giang với mục tiêu sản xuất và gia công tấm cảm ứng, thiết bị thể hiện tinh thể lỏng LCD modum; dự án Công ty Bến du thuyền Đà Nẵng của nhà đầu tư BritishVirginIslands với tổng vốn đầu tư 174 triệu USD, dự án Công ty TNHH Whitestone Investmnet Hội An do Síp đầu tư tại Quảng Nam với tổng vốn đầu tư là 137 triệu USD, đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ du lịch.

     2.1.3.4 Tính đến 8 tháng đầu năm 2012:

    Hai địa phương thu hút được trên 1 tỷ USD vốn ĐTNN là Bình Dương (xếp thứ nhất; 1,85 tỷ USD, chiếm 21,8% tổng vốn ĐTNN) và Hải Phòng (xếp thứ hai; 1,05 tỷ USD; 12,4%). Tổng hợp 20 địa phương thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất trong cả nước 8 tháng đầu năm 2012 như sau:

    Bảng 3: 20 địa phương thu hút FDI nhiều nhất 8 tháng năm 2012

     

    Đơn vị tính: Triệu USD

    STT Tên địa phương Số cấp mới Số tăng thêm Tổng
    Dự án Vống đăng ký Dự án Vống đăng ký
    1 Bình Dương 61 1.462,24 22 387,37 1.849,61
    2 Hải Phòng 20 1.037,51 17 16,85 1.054,36
    3 Đồng Nai 34 591,91 38 380,98 972,89
    4 TP Hồ Chí Minh 211 396,72 49 526,24 922,96
    5 Bắc Giang 10 33,10 3 869,60 902,70
    6 Hà Nội 130 148,82 41 264,30 413,11
    7 Quảng Ninh 4 390,44 1 0,00 390,44
    8 Hưng Yên 14 95,25 10 150,65 245,90
    9 Khánh Hòa 2 180,30 4 18,88 199,18
    10 Ninh Bình 2 186,57 1 4,00 190,57
    11 Tiền Giang 6 158,25 1 20,00 178,25
    12 Bắc Ninh 20 82,49 11 88,50 170,99
    13 Bà Rịa-Vũng Tàu 11 147,27 2 18,00 165,27
    14 Bình Phước 10 60,08 3 22,48 82,56
    15 Đà Nẵng 15 57,16 6 23,92 81,08
    16 Bến Tre 8 74,88 1 1,55 76,43
    17 Long An 30 43,60 10 27,44 71,05
    18 Yên Bái 2 63,94 0 0,00 63,94
    19 Hải Dương 12 27,29 3 25,02 52,31
    20 Đắc Lắc 1 14,70 1 30,00 44,70

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

        

     

    2.1.4. Các đối tác chủ yếu

    Trong năm 2008, có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam trong năm 2008. Malaysia đứng đầu với 55 dự án, vốn đăng ký  hơn 14 tỷ USD. Đài Loan đứng thứ hai, có 12 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD. Nhật Bản đứng thứ ba, có 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD.

    Trong năm 2009: Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ với tổng vốn đăng ký là 9,8 tỷ USD chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, Cayman Islands đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%, đứng thứ 3 là Samoa với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%; Hàn Quốc đứng thứ 4 với 1,66 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 7,7% tổng vốn đầu tư đăng ký.

    Trong năm  2010: Có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore vươn lên dẫu đầu các nhà đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,43 tỷ USD chiếm 23,8 % tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hà Lan đứng  thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm  trên 2,37 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,36 tỷ USD, chiếm 12,7% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 2011: Đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 1,132 tỷ USD, chiếm 24,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hồng Kông đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 627,03 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư;Trong tháng 5/2011, Hàn Quốc đã vươn lên đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 522,89 triệu USD, chiếm 11,2% tổng vốn đầu tư; Tiếp theo là Malaysia đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 416,08 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 375,73 triệu USD, chiếm 8% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

    Trong năm 8 tháng đầu năm 2012: Với số vốn đầu tư hơn 4,332 tỷ USD, Nhật Bản đã tạo một khoảng cách khá xa so với các nhà đầu tư khác và trở thành nhà đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam (chiếm hơn 51,1% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam).

    Dưới đây là 10 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng đầu năm 2012:

    Đơn vị tính: Triệu USD

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

    Bảng 4: 8 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam 8 tháng năm 2012

    STT Nhà đầu tư Số dự án cấp mới Vốn đăng ký Số dự án tăng thêm Vốn đăng ký Tổng
    1 Nhật Bản 174 3.598,49 65 733,65 4.332,14
    2 Samoa 4 19,5 2 870,3 889,8
    3 Hàn Quốc 136 391,81 45 262,91 654,72
    4 Singapore 60 420,67 25 102,62 523,29
    5 BritishVirginIslands 13 30,47 10 484,12 514,59
    6 Hồng Kông 23 418,55 9 88,93 507,48
    7 Trung Quốc 38 197,25 9 29,99 227,24
    8 Đài Loan 31 87,03 29 118,86 205,88

    2.2 ĐÁNH GIÁ ĐÓNG GÓP CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ

    2.2.1 Mặt tích cực

    Khu vực kinh tế có vốn Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động.

    2.2.1.1 Về kinh tế

    • ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế.
    • Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn. Năm 2008 tuy 3/4 thời gian thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và 1/4 thời gian bị tác động của khủng hoảng kinh tế thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 189,9 nghìn tỷ đồng tăng 46,9% và chiếm 29,8% tổng vốn đầu tư của xã hội. Trong năm 2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó, giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài ước đạt 8 tỷ USD. Trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011.
    • Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Năm 2008, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,23% (nông lâm ngư nghiệp tăng 3,79%; công nghiệp xây dựng tăng 6,33%, dịch vụ tăng 7,2%). Tính chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng (GDP) 5,32% so với năm 2008 (Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%). Năm 2010, tốc độ tăng bình quân của GDP đạt 6,78% và năm 2011 đạt 5,89%. Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn nghiêng hướng khoảng 6%.
    • ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
    • Từ năm 1986 đến nay, ĐTNN đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của Quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu…
    • Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm.
    • ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.
    • Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, trong tổng số lao động tăng thêm từ 1990 – 2009 (15.634.9 nghìn người): Nhóm nghành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản đã thu hút thêm 2.148,7 nghìn người, chiếm 13,8% tổng số tăng. Nhóm ngành công nghiệp xây dựng đã thu hút thêm 6.079,8 người chiếm 38,9% tổng số tăng. Nhóm ngành dịch vụ thu hút thêm 7.396,4 nghìn người, chiếm 47,3 tổng số tăng
    • Do năng suất lao động của nhóm ngành Công nghiệp – Xây dựng (62.924 nghìn đồng/người) và nhóm ngành dịch vụ (46.849 nghìn đồng/người) nên con đường chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, rút bớt lao động nhóm ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp – Thủy sản sang làm Công nghiệp – Xây dựng và dịch vụ là con đường nâng cao năng suất lao động chung và cũng là con đường cải thiện mức sống dân cư, giảm tỷ lệ nghèo…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
    • ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy… Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v)
    • Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.
    • Trong Nông – Lâm – Ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.
    • Tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế:
    • Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô:
    • Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp ĐTNN đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp ĐTNN đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng 2 năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD (năm 2007 hơn 1,5 tỷ USD), gấp đôi thời kỳ 1996-2000 và bằng 83% thời kỳ 2001-2005.
    • ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu…
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế:
    • Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.
    • Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ.
    • Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

    2.2.1.2 Về xã hội

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực:
    • Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,7 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của World Bank cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2-3 lao động gián tiếp phục vụ trong khu vực dịch vụ và xây dựng, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống một bộ phận trong cộng đồng dân cư, đưa mức GDP đầu người tăng lên hàng năm. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiên đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
    • Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại.
    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới:
    • ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO. Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.

    2.2.1.3 Về môi trường

    • Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế trung ương), đa số (chứ không phải toàn bộ) các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam). Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước).

    2.2.2 Mặt tiêu cực:

                2.2.2.1 Hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Năm 2009 toàn quốc có 1.358 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI đang hoạt động thì có 56% doanh nghiệp báo cáo làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp này hầu hết có các công ty mẹ tại nước ngoài, 99% hàng sản xuất ra xuất khẩu sang nước thứ ba. Do lỗ nên các doanh nghiệp này không nộp thuế. Ví dụ có doanh nghiệp thuộc quận Bình Tân, TP.HCM năm 2008 lỗ 2.668 tỷ đồng; năm 2009 lỗ 2.654 tỷ đồng. Có điều lạ là lỗ như vậy nhưng doanh nghiệp này vẫn mở rộng sản xuất, năm sau cao hơn năm trước. Có thể khá dễ dàng nhận thấy đây là hình thức chuyển giá để trốn thuế. Cụ thể nguyên liệu đầu vào nhập từ các công ty mẹ với giá cao ngất ngưởng; hàng đầu ra xuất sang các nước có thuế suất thấp nên báo cáo lỗ ở công ty con nhưng lãi cực lớn ở công ty mẹ

    Năm 2010. Một trong những doanh ngiệp FDI lợi dụng chuyển giá đã bị ngành thuế Lâm Đồng phát hiện, và chính từ sự kiện này đã đánh lên hồi chuông cảnh báo về thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây. Tại Lâm Đồng, tổ khảo sát đã khảo sát tất cả các hồ sơ khai thuế, đồng thời sử dụng mọi biện pháp nghiệp vụ để thu thập thông tin liên quan… Sau đó sàng lọc, nghiên cứu từng hồ sơ, hợp đồng xuất khẩu, báo cáo kế toán của từng doanh nghiệp FDI để so sánh với các doanh nghiệp trong nước có cùng lĩnh vực kinh doanh. Việc kiểm tra đã phát hiện ra rằng, giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI luôn thấp hơn rất nhiều so với giá thành sản xuất. Một cán bộ thanh tra của ngành thuế tỉnh Lâm Đồng cho biết, sau khi chế biến ra trà thành phẩm, các doanh nghiệp đóng gói xuất sang Đài Loan với giá chỉ từ 2,8 đến 4 USD/kg, trong khi chi phí sản xuất 1 kg trà thành phẩm là 8 – 9 USD/kg. Sau khi chuyển về công ty mẹ, sản phẩm trà được phân nhỏ rồi mới gắn nhãn mác và bán với giá bao nhiêu thì không rõ. Qua điều tra, chính các doanh nghiệp cũng thừa nhận, giá xuất khẩu thực tế là từ 5,5 đến 11,6 USD/kg (gấp 2 – 3 lần so với báo cáo). Với kết quả như vậy, ngành thuế tỉnh đã xác định, từ năm 2005 đến nay, các doanh nghiệp FDI kể trên đã kinh doanh có lãi và năm 2010 là thời điểm hết hạn miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (được khấu trừ 50% thuế thu nhập doanh nghiệp theo chính sách ưu đãi cho 4 năm tiếp theo). Các doanh nghiệp này đã chấp nhận và đồng tình thực hiện. Theo Cục Thuế Lâm Đồng, thông qua kiểm tra, hướng dẫn 17 doanh nghiệp FDI trong ngành chè, đã xử lý hết số lỗ lũy kế trong hạn chuyển lỗ đến hết ngày 31/12/2009 là trên 316,5 tỷ đồng, trong đó, Công ty TNHH HaiYih xử lý lỗ lũy kế với số tiền là 63,6 tỷ đồng, Công ty TNHH Trà Kinh Lộ 56,8 tỷ đồng, Công ty TFP Việt Nam 47,9 tỷ đồng… đồng thời các doanh nghiệp này cũng đã kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền gần 8 tỷ đồng

    Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, hiện đến năm 2011 có đến 20- 30% trong tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2- 3 năm, thậm chí 5 năm. Rõ ràng, theo các quy định hiện hành, với tình trạng kinh doanh thua lỗ, doanh nghiệp đó sẽ tránh được việc nộp thuế. Dễ dàng để nhận ra đó là chuyển giá nhưng kiểm soát thì lại là một vấn đề khó khăn. Ông Thomas McClelland, chuyên gia thuế của Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam cho biết, khó khăn của cơ quan thuế tại Việt Nam trong việc thực hiện kiểm soát về chuyển giá bắt nguồn từ sự kém hiểu biết về hoạt động chuyển giá và sự thiếu dữ liệu trong những giao dịch chuyển giá của các doanh nghiệp FDI. Mặc dù Thông tư 117/2005/TT- BTC của Bộ Tài chính ban hành vào tháng 12/2005 đã có những quy định cơ bản về thủ thuật chuyển giá và những yêu cầu về mặt cung cấp tài liệu, nhưng ông McClelland cho rằng, nhiều người nộp thuế vẫn lờ đi những yêu cầu này và thậm chí, chỉ nộp những tài liệu bắt buộc đối với việc báo cáo về những giao dịch với các bên liên quan

    2.2.2.2 Chuyển giao công nghệ lạc hậu

    • Do thiếu kinh nghiệm một số tỉnh đã để nhiều nhà đầu tư nước ngoài (chủ yếu là Đài Loan) tranh thủ đưa vào các dự án công nghệ đơn giản, lạc hậu, tận dụng lực lượng lao động giá rẻ tại chỗ (Công ty Wei Xern Sin Industrial Đà Nẵng).
    • Lợi dụng sự chạy đua thu hút vốn  FDI của các địa phương, nhiều DN FDI cố tình nhập khẩu công nghệ lỗi thời về sản xuất ở Việt Nam. Điều này không chỉ khiến chúng ta lạc hậu về khoa học kỹ thuật mà còn gây tác hại lâu dài cho môi trường, điều kiện sống sau này. Chính sự “nhắm mắt làm ngơ”, dễ dãi của các địa phương đối với các DN FDI, đã  khiến Việt Nam trở thành điểm đến cho những dự án “xuất  khẩu” ô nhiễm của các nước phát triển. Do đó, không ít dự án gây ô nhiễm môi trường kéo dài, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, môi trường sinh thái và cuộc sống của người dân.
    • FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái. Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho ngành Du lịch Việt Nam thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần đây đã đặt môi trường tự nhiên Việt Nam trước những thách thức lớn. Nguy cơ ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông. Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy. Trong khi đó, vấn đề bảo vệ tốt môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay.

                2.2.2.3 Phân cấp quản lý cho các địa phương:

    • Trước hết, phải khẳng định rằng, chủ trương phân cấp quản lý FDI đã có tác động tích cực đến tính chủ động của chính quyền các tỉnh, thành phố trong hoạt động xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu phiền hà và tiết kiệm thời gian và chi phí đầu tư cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, quá trình thực hiện cơ chế phân cấp thời gian qua cũng đã nảy sinh nhiều bất cập. Tư duy nhiệm kỳ khiến nhiều địa phương chạy đua thu hút đầu tư bằng mọi giá, gây phá vỡ quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, làm mất cân đối nguồn lực. Chưa kể, việc cấp chứng nhận đầu tư mà không chú ý tới chất lượng, hiệu quả, trong khi lại chưa coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, dẫn đến tình trạng nhiều dự án đã được cấp phép, nhưng không triển khai theo đúng tiến độ, gây lãng phí nguồn lực.
    • Bên cạnh đó, cũng có tình trạng việc tiếp xúc, lựa chọn nhà đầu tư chưa thận trọng, nên một số nhà đầu tư dù không đủ năng lực tài chính, nhưng vẫn được cấp chứng nhận đầu tư dự án hàng trăm triệu USD để bán lại, làm méo mó thị trường, sai lệch thông tin và cản trở cơ hội của các nhà đầu tư chân chính…
    • Lãnh đạo địa phương chưa khai thác tốt lợi thế của từng tỉnh, thành phố gắn với lợi thế từng vùng lãnh thổ, chưa tạo ra sự khác biệt trong cơ cấu vốn FDI. KCN trên địa bàn cả nước hầu như cùng một dạng, cũng may mặc, giày da, chế biến thức ăn gia súc, điện tử, đồ dùng gia đình. Một số địa phương đã ban hành và thực hiện các quy định về ưu đãi đầu tư trái pháp luật làm tổn hại lợi ích chung của đất nước.
    • Năng lực thẩm định của cán bộ một số địa phương đối với dự án FDI lớn rất hạn chế, nên đã xảy ra tình trạng cấp phép mà không đảm bảo các điều kiện cần thiết, thậm chí cùng thời gian đã có các dự án xi măng, sắt thép quy mô lớn được nhiều địa phương cấp phép, không phù hợp với quy hoạch ngành và vùng lãnh thổ.

    2.2.2.4  Mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế:

    • FDI thường tập trung vào những ngành có khả năng sinh lợi cao như khai thác tài nguyên khoáng sản, dầu khí, công nghiệp nặng,…. Trong khi những ngành như nông nghiệp lại thu hút được rất ít nguồn FDI. Điều này, dẫn tới sự mất cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, 11 tháng đầu năm 2012 lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 258 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 5,50 tỷ USD, chiếm 68,5% tổng vốn đầu tư đăng ký.
    • Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2 với 7 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 1,61 tỷ USD, chiếm 20,1% vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, với 102 dự án đăng ký mới, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 314,2 triệu USD, chiếm 3,9%. Tiếp theo là lĩnh vực vận tải, kho bãi; y tế và trợ giúp xã hội với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 198,1 triệu và 83,8 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu khiến cho FDI đổ vào lĩnh vực nông nghiệp hết sức èo uột là do chúng ta chưa có cơ chế hỗ trợ hợp lý, rõ ràng đối với các ngành nông nghiệp để tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó là thời gian thu hồi vốn khi đầu tư vào các ngành này là khá lâu và khả năng thu hồi vốn là khá khó khăn dân đến việc e ngại của các nhà đầu tư.

    2.2.2.5 Tạo áp lực cạnh tranh:

    • Sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh có tác động hai mặt, thứ nhất làm đối thủ cạnh tranh yếu hơn có nguy cơ bị thu hẹp thị phần, giảm sản xuất, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường. Đây là mặt tiêu cực của cạnh tranh.
    • Tuy nhiên, cạnh tranh lại kích thích các đối thủ tự đầu tư đổi mới để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng lực sản xuất được cải thiện. Nhưng chúng ta cũng cần có cái nhìn khách quan là hạn chế này có nguồn gốc xâu xa là do năng lực quản lý, điều hành kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa quá yếu kém, các nhà quản lý chưa vươn được đến tầm quốc tế để có cái nhìn xa hơn mà chỉ thấy được lợi ích trước mắt nên việc bị các doanh nghiệp FDI lợi dụng rồi ”hất cẳng” là chuyện tất yếu. Điển hình như trường hợp Cocacola liên kết với Chương Dương rồi dìm chết Chương Dương cách đây nhiều năm là một ví dụ rõ nét.

    2.2.2.6 Rửa tiền

    • Xuất hiện nguy cơ rửa tiền. Theo cảnh báo của WB thì Việt Nam sẽ bị các tổ chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức còn cao. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên con đường mở cửa kinh tế và được đánh giá là nền kinh tế có tính chất mở hàng đầu thế giới. Việc kiểm soát lỏng lẻo các dòng tiền vào ra đã tạo điều kiện thuận lợi để tội phạm thực hiện hoạt động rửa tiền. Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động rửa tiền. Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động mà nhằm hợp pháp hóa các khoản tiền bất hợp pháp. Điển hình như vụ Nguyễn Đức Chi đầu tư vào các dự án tại Khánh Hòa thông qua Công ty Russaka – Invest để rửa tiền từ hoạt động phạm tội tại Nga, lợi dụng danh nghĩa công ty để lừa đảo, đưa hối lộ; vụ Lê Thị Mai đầu tư tiền từ hoạt động ma túy vào các dự án của Công ty Viet Can Resorts & Plannation; Vụ Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã nhận được email từ một số doanh nhân Nigeria yêu cầu mở tài khoản 28 triệu USD, hứa hẹn sẽ chi lại 15% tổng số tiền…
    • Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam chưa có vụ án rửa tiền nào bị khởi tố điều tra mà hành vi rửa tiền chỉ bị phanh phui, xử lý như một trong tổng thể các hành vi phạm tội của một vụ án. Bởi hoạt động rửa tiền diễn ra hết sức tinh vi, đa dạng, bọn tội phạm sử dụng các hoạt động nghiệp vụ kinh tế như tài chính, kế toán, ngân hàng nên rất khó bị phát hiện. Thêm vào đó là những doanh nghiệp Việt Nam quá ham mê chạy theo mức lợi nhuận “khủng” hứa hẹn sẽ có được mà không biết tỉnh táo suy xét cẩn thận trong quá trình hợp tác, đầu tư.

    2.2.2.7 Mâu thuẫn giữa chủ doanh nghiệp với người lao động:

    • Có tới 70% số vụ đình công, bãi công xảy ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp da giày, may mặc.
    • Khảo sát 2011của Viện Công nhân và Công đoàn cho thấy, chỉ có khoảng 60% số hợp đồng làm việc với công ty có vốn FDI trực tiếp là tuân theo đúng luật Việt Nam. Nguyên nhân của các vụ tranh chấp lao động và đình công này đều bắt nguồn từ chế độ lương thưởng của người lao động. Theo Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Mai Đức Chính, số vụ đình công bắt nguồn từ những bất cập trong vấn đề lương thưởng chiếm khoảng 80% số vụ đình công diễn ra trong nửa năm qua. Nhà nước đã đặt ra mức lương tối thiểu nhưng nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng quy định đó để trả lương cho người lao động ở mức thấp.
    • Qua khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn, khu vực doanh nghiệp FDI cũng là khu vực vi phạm pháp luật lao động nhiều nhất. Điển hình làm thêm giờ quá nhiều. Trong khi đó, vai trò của tổ chức công đoàn ở nhiều địa phương và doanh nghiệp còn rất mờ nhạt. Cũng theo kết quả thống kê của Viện công nhân và Công đoàn cách đây 1 năm thì bình quân tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp FDI là 1,82 triệu đồng/tháng, trong khi doanh nghiệp tư nhân là 1,98 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp nhà nước có mức lương cao nhất là 2,25 triệu đồng/tháng. Khảo sát này cũng cho thấy, mức lương của người lao động ở từng vị trí công việc có sự chênh lệch rất lớn, đặc biệt là trong khu vực doanh nghiệp FDI. Trong khi mức lương bình quân phân theo chức danh công việc, cấp quản lý hơn 3,1 triệu đồng/tháng thì người lao động trực tiếp chỉ hơn 1,6 triệu đồng/tháng. Khảo sát chỉ ra rằng, mức độ hài lòng của người lao động về tiền lương hiện tại chỉ chiếm có 3,9%, trong khi mức không hài lòng chiếm tới 50,9%. Về thu nhập, mức độ hài lòng cũng chỉ chiếm 6,3% với việc làm hiện tại và có tới 30,9% người lao động không hài lòng.

    2.2.2.8 Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư

    • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để chúng ta có thể tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh có được bằng cái của người khác.

    2.2.2.9 Chi phí cho thu hút FDI và sản xuất hàng hóa không thích hợp

    • Chi phí của việc thu hút FDI
    • Để thu hút FDI, các nước nhận đầu tư phải áp dụng một số chính sách ưu đãi cho các nhà đầu tư như giảm thuế hoặc miễn thuế trong một thời gian khá dài cho phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài. Hoặc việc giảm tiền cho việc thuê đất, nhà xưởng và một số các dịch vụ trong nước là rất thấp so với các nhà đầu tư trong nước. Hay trong một số lĩnh vực họ được Nhà nước bảo hộ thuế quan…. Và như vậy đôi khi lợi ích của nhà đầu tư có thể vượt lợi ích mà nước chủ nhà nhận được. Thế mà, các nhà đầu tư còn tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào (như các nguyên vật liệu, bán thành phẩm, máy móc thiết bị mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư). Việc làm này mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư chẳng hạn như trốn được thuế, hoặc giấu được một số lợi nhuận thực tế mà họ kiếm được. Từ đó hạn chế cạnh tranh của các nhà đầu tư khác xâm nhập vào thị trường. Ngược lại, điều này lại gây chi phí sản xuất cao ở nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa do các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất với giá cao hơn.
    • Tuy nhiên việc tính giá cao chỉ xảy ra khi nước chủ nhà thiếu thông tin, trình độ kiểm soát, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn yếu, hoặc các chính sách của nước đó còn nhiều khe hở khiến cho các nhà đầu tư có thể lợi dụng được.
    • Sản xuất hàng hóa không thích hợp:
    • Các nhà đầu tư còn bị lên án là sản xuất và bán hàng hóa không thích hợp cho các nước kém phát triển, thậm chí đôi khi còn lại là những hàng hóa có hại cho khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dùng thuốc lá, thuốc trừ sâu, nước ngọt có ga thay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng vv…
    • Những mặt trái khác
    • Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo kiểu “diễn biến hòa bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù địch nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra dưới mọi hình thức tinh vi và xảo quyệt. Trường hợp chính phủ Xanvado Agiende ở Chile bị giật dây lật đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của các công ty xuyên quốc gia ITT (công ty viễn thông và điện tín quốc tế) và chính phủ Mỹ can thiệp công việc nội bộ của Chile.
    • Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị.
    • Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ bản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hy vọng vào FDI và cần phải có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại của FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
      KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

    Trong chương 2, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài FDI tại việt nam từ năm 2008 đến cuối năm 2012 qua các chỉ tiêu như: số lượng và quy mô dự án, lĩnh vực đầu tư, vùng nhận đầu tư cũng như các nhà đầu tư chủ yếu. Dựa vào đó, nhóm tác giả tiếp tục đánh giá điểm mạnh, điểm yếu và ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Việt Nam, môi trường đầu tư hứa hẹn nhiều tiềm năng cho các doanh nghiệp FDI, tuy nhiên hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về thể chế pháp luật, chính sách, kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng…nên các doanh nghiệp FDI chưa phát huy hết tiềm năng của mình, nhà nước chưa quản lý hết được những điểm hạn chế từ các doanh nghiệp FDI. Đó là những tiền đề để nhóm tác giả đưa ra những giải pháp góp phần đẩy lùi những hạn chế đồng thời nâng cao chất lượng đầu tư, tăng cường thu hút vốn đầu tư có chọn lọc, và một số kiến nghị đối với cơ quan có thẩm quyền trong chương tiếp theo.

     

    CHƯƠNG 3

    GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẦU TƯ

    TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

     

    3.1 Dự báo lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013

    Dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 sau khi chững lại vào năm 2008- 2009. Năm 2011, thế giới đã thu hút được khoảng 1.500 tỷ USD. Trong đó, các nước phát triển thu hút 748 tỷ USD, tăng 21% vào năm 2010 và các nước đang phát triển thu hút 684 tỷ USD, chiếm 45% tổng FDI toàn thế giới; các nền kinh tế đang chuyển đổi thu hút 92 tỷ USD, tăng 25% và chiếm 6% FDI toàn cầu. Năm 2012, dự kiến FDI toàn thế giới sẽ đạt khoảng đạt xấp xỉ 1.600 tỷ USD; năm 2013, FDI toàn thế giới sẽ lên tới 1.800 tỷ USD và năm 2014 là 1.900 tỷ USD. Trong đó, các nước Đông Á và Asean vẫn là điểm đến hấp dẫn để thu hút đầu tư.

    Theo đó, xu hướng FDI thế giới trong thời gian tới là đầu tư vào kinh tế xanh, và những ngành công nghiệp sạch sẽ tăng mạnh. Mặt khác, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đóng vai trò quan trọng và là nguồn cung cấp FDI lớn nhất. Tại sao có sự chuyển dịch này, bởi các TNCs có nhu cầu tìm kiếm, mở rộng thị trường và các nguồn lực, sự ổn định về chính trị và những chính sách ưu đãi FDI, ngoài ra khả năng sinh lợi từ nguồn vốn là động lực để TNCs đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài.

    Những quốc gia muốn tiếp nhận được nhiều FDI phải tạo ra những điều kiện đáp ứng mục đích kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư. Và quan trọng là, phải có những chính sách thu hút FDI hoàn chỉnh, bao gồm những chính sách đất đai, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, chính sách lao động, chính sách ưu đãi tài chính,…

    Mặc dù dòng vốn FDI trên thế giới đã có sự phục hồi từ năm 2010 và dự báo sẽ tiếp tục tăng vào năm 2012, tuy nhiên ở Việt Nam dòng vốn FDI trong 2 năm qua chưa thấy tăng lên mà lại có chiều hướng giảm dần. Cụ thể, năm 2010, Việt Nam thu hút được 18,59 tỷ USD thấp hơn con số 21,48 tỷ của năm 2009; năm 2011 dù đã đặt ra mục tiêu thu hút khoảng 20-21 tỷ USD vốn FDI, nhưng kết quả cũng chỉ thu hút được 14,7 tỷ. Năm 2012, đặt mục tiêu thu hút 15-17 tỷ USD, nhưng 10 tháng đầu năm Việt Nam mới chỉ thu hút được 10,49 tỷ USD, bằng 75,3% cùng kỳ 2011.

    Chưa thể khẳng định kết quả này là do chúng ta chậm đổi mới các chính sách thu hút FDI thời gian qua, nhưng nếu nhìn sang các nước lân cận thì thấy rằng, chính sách thu hút FDI của họ đã có nhiều đổi mới, để phù hợp với từng giai đoạn nhất định.

    Với tình hình kinh tế Việt Nam được dự báo trong năm 2013 dần dần phục hồi, tốc độ tăng trưởng GDP khoản 5.9% nên dòng vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2013 theo nhóm dự báo Việt Nam sẽ thu hút 16-17 tỷ USD. Tập trung vào một số ngành như công nghiệp chế biến chế tạo, thông tin truyền thông, vận tải kho bãi, xây dụng… Và vẫn tập trung vốn vào một số khu vực có cở sở hạ tầng phát triển như: Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Bắc Giang…

    3.2.  Giải pháp hạn chế chuyển giá của các doanh nghiệp FDI

    Như phần trước đã trình bày, nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là lúc nào cũng có lợi. Bên cạnh đem lại nguồn vốn, việc làm… thì sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Thu hút FDI với mục chuyển giao công nghệ thì về kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cũng không hoặc ít diễn ra. Và gần đây nhất là thủ thuật chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chuyển giá làm thất thu ngân sách, môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thay vì lợi ích giảm nhập siêu thì chuyển giá lại làm nên những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu. Tìm được nguyên nhân và cách thức mà các doanh nghiệp sử dụng trước hết em xin đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết tình trạng chuyển giá.

    3.2.1. Về phía nhà nước

    • Để khắc phục tồn tại phát sinh trong lĩnh vực nhạy cảm, có liên quan đến hoạt động đối ngoại quốc tế cũng như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cần có sự chỉ đạo tích cực từ cấp Trung ương đến từng địa phương. Trước mắt, Nhà nước cần có văn bản quy định nhiệm vụ cụ thể cho các ngành có liên quan như: cơ quan thuế, hải quan, quản lý đầu tư, công an, viện kiểm sát, toà án, ngân hàng thực hiện tốt việc phối hợp theo thẩm quyền về trao đổi, cung cấp thông tin, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giao dịch liên kết và chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Theo đó, cơ quan quản lý thuế được quyền áp dụng những biện pháp tạm dừng hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp khai báo kết quả kinh doanh lỗ quá vốn chủ sở hữu cho đến khi doanh nghiệp khắc phục được tình trạng liên tục kê khai lỗ, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa đồng bộ với Bộ Luật Dân sự của Việt Nam quy định về các điều kiện tồn tại pháp nhân kinh tế.

    3.2.2. Về phía doanh nghiệp

    • Buộc doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước. Thực tế, doanh nghiệp thực hiện được hoạt động chuyển giá là nhờ mua nguyên liệu với giá cao, bán sản phẩm cho công ty mẹ ở nước ngoài với giá thấp. Do vậy, buộc doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước (chỉ những nguyên liệu trong nước không có mới được nhập), ít nhất cũng giải quyết được vấn đề tiêu dùng nguyên liệu trong nước, đồng thời giảm nhập siêu. Vấn đề còn lại là cơ quan chức năng kiểm tra chặt chẽ giá đầu ra, nếu doanh nghiệp bán sản phẩm cho duy nhất công ty mẹ với giá thấp thì có biện pháp đối chiếu, xử lý.

    3.2.3. Về phía cục thuế

    • Cần xem xét lại việc ưu đãi thuế GTGT cho doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay. Việc ưu đãi thuế GTGT 0% cho doanh nghiệp xuất khẩu đã là ưu thuế quá lớn đối với những doanh nghiệp trong khu chế xuất. Bởi thực tế, số thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp trong khâu chế xuất nộp rất ít, họ lại được hưởng ưu đãi về đất đai, vị trí, lao động nhân công rẻ, đường xá… Cùng với kiểu chuyển giá, báo cáo lỗ như hiện nay là vấn đề cần xem xét lại để tạo công bằng giữa các doanh nghiệp

    3.3 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN

    • Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng trên thực tế gần đây có nhiều bất cập như thủ thuật chuyển giá. Để tăng cường hiệu quả từ nguốn vốn này trước hết phải có giải pháp hạn chế như chuyển giá đã nêu ở trên. Bên cạnh đó phải có các chính sách tăng cường thu hút vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng phát triển của Việt Nam hiện nay nhất là khi Việt Nam đang mở cửa hội nhập quốc tế. Và quan trọng hơn hết là phát huy các lợi ích mà nguồn vốn này mang lại. Dưới đây là một số biện pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài

    3.3.1. Các chính sách kinh tế xã hội

    • Xây dựng các phương thức và chính sách phù hợp để có thể kêu gọi các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào Việt Nam. Áp dụng các giải pháp khuyến khích đầu tư bằng các chính sách về vốn, thuế, tuy nhiên cần có sự hợp lý đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp trong nước. Một trong những yêu cầu rất quan trọng là chúng ta phải chủ động kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng các dự án công nghệ cao, đặc biệt trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, tin học, phần mềm, vật liệu mới… Đối với các nhà đầu tư này, chúng ta càng chuẩn bị tốt các điều kiện cho họ bao nhiêu thì tác động, lôi cuốn tới các nhà đầu tư khác sẽ càng tăng bấy nhiêu
    • Cần tích cực đẩy mạnh chương trình đổi mới d, đặc biệt đẩy nhanh doanh nghiệp nhà nước việc cổ phần hoá để thu hút nguồn vốn đầu tư mới từ xã hội thông qua thị trường chứng khoán.

    3.3.2 Chính sách pháp luật

    • Thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu nhằm thực hiện đúng tiến độ và bảo đảm được hiệu quả của dự án, đặc biệt rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng. Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra giám sát của chủ đầu tư, của các cơ quan quản lý nhà nước để chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, tạo niềm tin cho nhân dân khi tham gia vốn và đầu tư

    3.3.3 Cải cách thủ tục hành chính

    • Cần có sự thống nhất hơn trong các thủ tục hành chính chống gần phiền nhiễu hay những thủ tục rườm rà không đáng có. Đổi mới quan điểm về thủ tục hành chính. Các cơ quan nhà nước cần có tư duy sát thực hơn về hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết đây vừa là lợi ích, vừa là trách nhiệm của họ. Cơ quan quản lý nhà nước phải nhận thức, quán triệt quan điểm phục vụ trong chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trung tâm theo hướng nhận khó khăn về phía mình để tìm cách đơn giản hoá thủ tục hành chính tới mức cao nhất, đem lại thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mọi thủ tục hành chính cần hướng vào việc tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế theo hướng để khi doanh nghiệp thực hiện với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Từ điều này sẽ tìm ra nhiều cách sáng tạo thực hiện.

    3.3.4 Xây dựng cơ cấu hạ tầng

    • Cần có hệ thống đường xá cầu cống ổn định hơn, các tuyến và các trục đường chính tùy theo khu vực trục đường mà mở rộng, sửa chữa đảm bảo thông suốt, hạn chế ùn tắc như hiện nay. Tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020, huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

    3.4 KIẾN NGHỊ

                3.4.1 Đối với cục thuế

    • Cần có thái độ nghiêm minh với các doanh nghiệp đã vi phạm, nhằm buộc các doanh nghiệp phải kê khai chính xác về giá đối với các hoạt động giao dịch liên kết (phạt về hành vi gian lận thuế, trốn thuế; truy cứu trách nhiệm hình sự; cấm hoạt động kinh doanh tại Việt Nam…)
    • Cơ quan thuế cần phải có biện pháp thu thập được giá thị trường khách quan, cụ thể thu thập thông tin; phân tích theo từng ngành nghề, lĩnh vực, trao đổi thông tin với phía nước ngoài từ đó dễ dàng nhận diện các trường hợp dùng thủ thuật chuyển giá

    3.4.2 Đối với nhà nước

    • Đưa ra ban hành các văn bản pháp quy quy định cụ thể hơn nữa về chuyển giá, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan thu thuế thực hiện. Cần xây dựng Luật Chống chuyển giá, đồng thời sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Dân sự. Hình thành cơ quan chuyên trách chống chuyển giá ở cấp Trung ương và các tỉnh, thành phố nhằm chỉ đạo thực hiện thông suốt. Có như vậy mới chống được hành vi chuyển giá, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm thu đúng, thu đủ vào ngân sách Nhà nước.

       

     

     KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

    Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ở chương 2, nhóm tác giả đã đưa ra dự báo về lượng vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam trong năm 2013 và một số giải pháp chủ yếu như: hạn chế việc chuyển giá của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Về phía nhà nước cần hoàn thiện hệ thống hành lanh pháp lý để phù hợp với thông lệ quốc tê, về phía doanh nghiệp FDI buộc oanh nghiệp FDI phải sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, về phía cục thuế cần xem xét lại việc ưu đãi thếu suất thuế giá trị gia tăng 0% hiện nay. Ngoài việc hạn chế việc chuyển giá thì nhóm tác giả còn đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư nhưng có chọn lọc. Cuối cùng là một số kiến nghị đối với cục thuế và đối với nhà nước.

    KẾT LUẬN

    Sau hơn 20 năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nước ta đã có những khởi sắc nhiều so với thời kỳ đầu đổi mới. Sản phẩm của FDI với nhiều mẫu mã và chất lượng cao, phần đưa về chính quốc để hoàn chỉnh, phần xuất khẩu, phần bổ sung vào quỹ hàng hoá xã hội của ta để bớt phần nhập khẩu trực tiếp. Với sự đóng góp khoảng 16-18% GDP trong những năm gần đây, FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo đường hướng mới, được kỳ vọng là động lực quan trọng cho công cuộc đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mang lại thì gần đây, lợi dụng các chính sách ưu đãi của nhà nước các doanh nghiệp FDI sử dụng thủ thuật chuyển giá gây thất thoát một nguồn thuế lớn .Nói như vậy không phải là phủ nhận vai trò của FDI, nhận thấy cái xấu cái tốt từ đó đưa ra nâng cao chất lượng của nguồn vốn này phải là một mục tiêu hàng đầu.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%C4%83ng-k%C3%BD-thay-%C4%91%E1%BB%95i-c%C3%B4ng-ty-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-n%C6%A1i-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-m%E1%BB%9F-t%C3%A0i-kho%E1%BA%A3n-giao-d%E1%BB%8Bch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

    BỘ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
    Thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính
    ______________________________
     
     

    Thủ tục: Đăng ký thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch

     

    – Trình tự thực hiện:

    1. Nộp hồ sơ

    – Nhà đầu tư nước ngoài gửi hồ sơ đề nghị chấp thuận thay đổi công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch đến Trung tâm Lưu ký Chứng khoán trực tiếp tại trụ sở Trung tâm Lưu ký Chứng khoán hoặc theo đường bưu điện

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán tiếp nhận hồ sơ

    2. Thẩm định hồ sơ

    Trung tâm Lưu ký Chứng khoán thẩm định hồ sơ.

    – Trung tâm Lưu ký Chứng khoán yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ (nếu có)

    – Nhà đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu của Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (nếu có).

    3. Ra quyết định chấp thuận

    Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán chấp thuận việc thay đổi công ty chứng khoán. Trường hợp từ chối, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

    – Cách thức thực hiện:

    + Gửi Hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Trung tâm LK Chứng khoán

    + Hoặc theo đường bưu điện

    – Thành phần, số lượng hồ sơ:

     

    Thành phần hồ sơ, bao gồm:

     

    +      Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi do đại diện có thẩm quyền của nhà đầu tư nước ngoài ký

    +      Thông báo xác nhận về mặt nguyên tắc việc đóng tài khoản giao dịch tại Công ty chứng khoán cũ

    Lưu ý: Hồ sơ được lập thành hai (02) bộ, một (01) bộ gốc và một (01) bộ sao. Mỗi bộ hồ sơ gồm hai (02) bản, một (01) bản bằng tiếng Việt và một (01) bản bằng tiếng Anh, trong đó các tài liệu tiếng Anh phải được hợp pháp hóa lãnh sự, các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt phải được tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng của Việt Nam. Các văn bản tiếng Việt là bản gốc (hoặc sao từ bản gốc tiếng Việt) và được lập tại Việt Nam không cần phải dịch ra tiếng Anh.

     

    Số lượng hồ sơ: 02 bộ (01 bộ gốc, 01 bộ sao); mỗi bộ hồ sơ gồm 02 bản (01 bản tiếng Việt, 01 bản tiếng Anh).

    – Thời hạn giải quyết: 02 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

    – Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức/Cá nhân

    – Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

    + Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Trung tâm LKCK Việt Nam

    + Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Trung tâm LKCK Việt Nam

    – Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định chấp thuận

    – Lệ phí (nếu có):

    – Tên mẫu đơn, mẫu t khai (nếu có):

    + Phụ lục V: Giấy đề nghị chấp thuận thay đổi

    – Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):

    – Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

     

    +    Luật Chứng khoán số 70/QH11 ngày 29/6/2006; có hiệu lực ngày 01/01/2007

    +    Quyết định 121/2008/QĐ-BTC ngày 24/12/2008 về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; hiệu lực ngày 18/02/2008

    Phụ lục V/ Appendix 5

     MẪU THÔNG BÁO/ĐỀ NGHỊ CHẤP THUẬN VỀ MỘT SỐ THAY ĐỔI CỦA TỔ CHỨC NƯỚC NGOÀI  (NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LẬP)

    (Ban hành kèm theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam)

    Tên nhà đầu tư nước ngoài/ Foreign investor’s name:

     

    Mã số giao dịch/ Securities Trading Code Number:

    REGISTRATION APPLICATION FORM FOR …..

    Kính gửi: Trung tâm lưu ký chứng khoán

    To: Vietnam Securities Depository

    1.       Tên / Applicant

     

    (Applicants name shall be same as indicated on supporting identification documents)

    2.       Giấy phép thành lập và hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Certificate For Business Registration
    3.       Ngày thành lập/Establishment Date:
    4.       Quốc gia nơi thành lập/Country of domicile
    5.       Loại hình tổ chức /Type of Applicant

     

    (Please check applicable box and fill in relevant information, as appropriate)

    □      Quỹ đầu tư / If Applicant is a fund investment manager □     Không phải là quỹ đầu tư/If Applicant

     

    is not a fund investment manager

    Loại hình/Type:

     

    Quỹ dạng pháp nhân/a fund established as a corporation.

    Quỹ dạng hợp đồng/ a trust fund

    Quỹ thành viên/ a fund established as a partnership

    Quỹ hưu trí/ a pension fund

    Quỹ mở (quỹ tương hỗ)/a mutual fund/ open-ended fund

    Quỹ đóng/ a closed-ended fund

    Hợp đồng ủy thác/ an unit trust

    Loại hình khác/ Others__________

     Loại hình/Type:

     

    Ngân hàng thương mại/ a commercial/merchant bank

    Ngân hàng đầu tư /Investment bank

    Công ty bảo hiểm/an insurance company

    Công ty chứng khoán/ a broker firm or a futures commission merchant

    Công ty quản lý quỹ/ a fund (asset) management company

    Loại hình khác/Others ____________[1]

    6.       Mã số Giao dịch/Securities Trading Code
    7.       Nội dung thay đổi (Ghi N/A, nếu không có sự thay đổi phù hợp)

     

    Content to change (Please mark N/A, if such item is not applicable)

    Nội dung cũ

     

    Original Information

    Nội dung mới

     

    New Information

    Tên

     

    Original Name

    Địa chỉ

    Original Address

    Tel/Fax/Email

    Thành viên lưu ký

    Original Custodian

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán

    Securities Company

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp cũ

    Foreign Indirect Investment Account

    Đại diện

    Representative/Agent

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Tên mới (nếu có)

     

    New Name (if any)

    Địa chỉ mới (nếu có)

    New Address (if any)

    Tel/Fax/Email (if any / nếu có)

    Thành viên lưu ký mới (nếu có)

    New Custodian (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Công ty chứng khoán mới (nếu có)

    New Securities Company (if any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Ngân hàng lưu ký nơi mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới (nếu có)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Số tài khoản vốn đầu tư gián tiếp mới

    New Foreign Indirect Investment Account (if any)

    Đại diện mới (nếu có)

    New Representative/Agent (If any)

    Địa chỉ

    Address

    Điện thoại

    Tel/Fax

    Đại diện giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nếu có)

     

    Representative/Agent in Vietnam (if any)

     
    Người liên lạc:

     

    Contact person

     
    Ngày nộp hồ sơ

     

    Application Date:

     
    Những thay đổi khác như địa vị pháp lý, mô hình tổ chức hoạt động, đại diện có thẩm quyền … (liệt kê chi tiết)

     

    Other changes to type of applicant, Authorized Representative as Chairman of the Board of Director, President or CEO (Please fill in relevant detailed information, as appropriate)

    8.  Cam kết:  (có hiệu lực kể từ ngày ký)

     

    Declaration: (effective from the date this registration from is signed)

    8.1   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên và nội dung của toàn bộ hồ sơ và các tài    liệu kèm       theo là hoàn toàn chính xác, trung thực

    I hereby certify that all the imformation above is correct, the attached documents and the contents therein are true and accurate.

    8.2   Tôi xin cam kết sẽ tuân thủ pháp luật Việt Nam, không có các hành  vi giao dịch trái luật làm ảnh hưởng tới sự công bằng và trật tự thị trường tài chính, thị trường chứng khoán của Việt Nam

    I  hereby undertake to comply to the Vietnamese law and  not knowingly to take such measures to threatening to the stability or order of the Vietnam’s financial/securities market.

    8.3   Tôi xin cam đoan những thông tin nêu trên hoàn toàn đúng và hiện nay không bị kết án về bất kì hoạt động tội phạm nào ở nước sở tại cũng như ở nước ngoài (cam kết của nhà đầu tư là cá nhân).

    I hereby certify that I am not and have not been convicted of any criminal offence either inside the country of birth or of permanent resident or of any other country. (applicable for individual investor).

    Hồ sơ kèm theo

     

    Attachments

    1.           Giấy ủy quyền cho đại diện tại Việt Nam

    Power of attorney to agent or letter of appointment to representative.

    2.           Các hồ sơ khác theo quy định

    Documents evidencing that the applicant meets these Guidelines.

    Nhà đầu tư:

     

    Applicant: ____________________________________________

    Tên và chữ ký của đại diện có thẩm quyền

    Name and Signature

    of Authorized Signatory: ___________________________________

    Chức danh

    Title: ________________________________________________

    Ngày thực hiện

    Execution Date: ________________________________________

         

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Quy định về thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-n%E1%BB%81n-kinh-t%E1%BA%BF-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tác động của vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam

     

    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế không chỉ đem lại nguồn lợi rất lớn cho các nước đầu tư mà còn đem lại nguồn lợi không nhỏ cho các nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì Việt Nam không thể không nhờ đến sự đầu tư về vốn cũng như công nghệ kỹ thuật, tổ chức quản lý tiên tiến của các nước trên thế giới. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ. Như vậy, đầu tư nước ngoài có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Để làm rõ ta đi phân tích tác động của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt nam.

     

    NỘI DUNG

    Kinh tế xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tiêu cực của kinh tế thế giới cộng với những hạn chế của nội tại nền kinh tế dẫn đến những bất ổn của kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của các bộ, ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, nền kinh tế nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì mức tăng trưởng khá. Khu vực đầu tư nước ngoài với tỷ trọng chủ yếu là phần vốn FDI vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan, thể hiện trên các mặt sau:

    • Thứ nhất, vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD đã đóng góp 25,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011. Trong bối cảnh thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ, đầu tư của khu vực nhà nước tiếp tục suy giảm, thì đây là một trong những nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển.
    • Thứ hai, mặc dù vốn đăng ký mới và tăng thêm chỉ đạt 14,7 tỷ USD, nhưng vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đã cấp phép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 1,65 lần mức vốn đăng ký tăng thêm của năm 2010 (1,89 tỷ USD). Điều này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư tại Việt Nam vẫn có sự đánh giá tích cực về môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
    • Thứ ba, cơ cấu vốn đăng ký đã có những chuyển biến tích cực, phù hợp với định hướng thu hút FDI, đó là tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng – chiếm 76,4% (cao hơn so với năm 2010 là 54,1%); kinh doanh bất động sản chỉ chiếm 5,8% vốn đăng ký (so với năm 2010 là 34,3%).
    • Thứ tư, xuất khẩu đạt tăng trưởng khá, ước đạt 54,46 tỷ USD (kể cả dầu thô), chiếm 59% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tăng 39,3% so với năm 2010) – cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước (26,1%). Chính sự tăng trưởng cao của xuất khẩu khu vực FDI đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu năm 2011 của cả nước lên mức 33,3% và góp phần làm giảm gánh nặng cho cán cân thương mại. Nhập khẩu của khu vực FDI là 47,8 tỷ USD, tăng 29,3% so với năm 2010.
    • Thứ năm, thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) cũng có sự tăng trưởng, ước đạt 3,5 tỷ USD, chiếm trên 19% tổng thu nội địa (tăng 15% so với năm 2010). Riêng thu từ dầu thô ước đạt 4,8 tỷ USD, vượt dự toán năm gần 44%.

    1. Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam giai đoạn 2001 – 2011

    1.1 Vốn và số dự án đăng ký, thực hiện

    Từ khi nước ta thực hiện chủ trương đổi mới (từ năm 1986 đến nay) đã trên 20 năm, với chính sách mở cửa hội nhập, đẩy mạnh giao lưu kinh tế, hợp tác giữa với các quốc gia, khu vực trên thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và thu hút vốn đầu tư nhiều hơn. Việc gia nhập WTO thành công là một cơ hội lớn để nước ta có thể thu hút lượng vốn đầu tư lớn, hội nhập kinh tế thế giới dễ dàng hơn.

    Nhịp độ thu hút FDI nhìn chung có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế vào cuối năm 2008 trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của các quốc gia lớn, nhỏ trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam. Kết quả tổng vốn đăng ký năm 2009 đã giảm đi nhiều so với năm 2008 và có xu hướng giảm đến năm 2011.

    Tình hình vốn FDI thực hiện có xu hướng tăng lên về số lượng. Bên cạnh đó chúng ta cũng cần đánh giá tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký để có thể biết được mức độ đóng góp thực tế của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế. Tức là qua tỷ lệ này cho biết các dự án đầu tư được thực hiện trong thực tế là bao nhiêu, sự đóng góp của chúng vào nền kinh tế của Việt Nam. Hay nói khác đi điều này sẽ phản ánh chất lượng, mức độ triển khai dự án.

     

    Biểu 01: Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký (2001-2011)

    Năm Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) Tổng số vốn
    thực hiện
    (Triệu đô la Mỹ)
    Tỷ lệ % số vốn thực hiện so với vốn đăng ký
    2001 555 3142.8 2450.5 77.97
    2002 808 2998.8 2591.0 86.40
    2003 791 3191.2 2650.0 83.04
    2004 811 4547.6 2852.5 62.73
    2005 970 6839.8 3308.8 48.38
    2006 987 12004.0 4100.1 34.16
    2007 1544 21347.8 8030.0 37.62
    2008 1557 71726.0 11500.0 16.03
    2009 1208 23107.3 10000.0 43.28
    2010 1237 19886.1 11000.0 55.32
    2011 1186 15598.1 11000.0 70.52

    Qua các năm tỷ lệ số vốn đầu tư trực tiếp thực hiện so với số vốn đầu tư trực tiếp đăng ký có xu hướng tăng. Trong các năm 2001 đến 2004, tỷ lệ vốn thực hiện là khá cao, cho thấy hiệu quả triển khai các dự án khá tốt. Đến năm 2005 – 2008 tỷ lệ vốn thực hiện giảm dần, năm 2008 tỷ lệ vốn thực hiện thấp nhất, chỉ đạt 16,03%. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được tương tự như đối với tình hình tăng giảm số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Năm 2008, không chỉ có tổng số vốn đầu tư đăng ký giảm mà tỷ lệ thực hiện các dự án cũng giảm mạnh do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Từ năm 2009 đến 2011, tổng vốn đăng ký có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ số vốn thực hiện so với số vốn đăng ký lại tăng lên đáng kể. Nguyên nhân có thể do các dự án đầu tư khả thi hơn, có thể thực hiện trong điều kiện nền kinh tế trong nước và thế giới đang dần phục hồi sau khủng hoảng, hiệu quả của các chính sách kinh tế mà Việt Nam sử dụng (2 gói kích cầu năm 2009).

     

    1.2 Cơ cấu vốn đầu tư

    1.2.1 Các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    Biểu 02: Tình hình vốn đầu tư của các chủ đầu tư chủ yếu vào Việt Nam

    (tính đến 31/12/2011)

    TT Quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ) (*)
    1 Nhật Bản 1555 24381,7
    2 Hàn Quốc 2960 23695,9
    3 Đài Loan 2223 23638,5
    4 Xin-ga-po 1008 22960,2
    5 Quần đảo Vigin thuộc Anh 503 15456,0
    6 Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 658 11311,1
    7 Ma-lai-xi-a 398 11074,7
    8 Hoa Kỳ 609 10431,6
    9 Quần đảo Cay men 53 7501,8
    10 Thái Lan 274 5853,3

     

    (*) Gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Theo số liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp Nhật Bản đạt 4,68 tỷ USD, tương đương hơn 49% tổng FDI của cả nước. Kết quả này đã đưa Nhật trở thành nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam hiện nay.

    Theo số liệu của Cơ quan Xúc tiến ngoại thương Nhật (Jetro), kể từ sau cú đột phá năm 2008, lượng dự án của doanh nghiệp nước này  được cấp phép tại Việt Nam tăng liên tục từ 77 (2009) lên 208 (2011). Kể từ 2010, giá trị FDI hằng năm được đưa từ Nhật vào Việt Nam hầu như đều đạt trên 1,85 tỷ USD, trong khi suốt giai đoạn 1992 – 2009 (ngoại trừ 2008), con số này thường xuyên ở dưới mốc 500 triệu USD. Các doanh nghiệp Nhật cũng được xem là “người đi đầu” trong việc đưa vốn vào lĩnh vực chế biến – chế tạo, vốn đang được Chính phủ Việt Nam khuyến khích. Theo đó, trong tổng số hơn 1.700 dự án FDI của Nhật tại Việt Nam hiện nay, có tới hơn 990 trường hợp thuộc lĩnh vực này, với tổng vốn ước khoảng 23,3 tỷ USD (tương đương hơn 81%). Sau Nhật Bản là Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan là 3 nhà đầu tư lớn vào Việt Nam với số vốn xấp xỉ so với Nhật (trên 20 triệu Đôla Mỹ).

    1.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    Một nội dung khác phản ánh cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp trong nền kinh tế đó là cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế. Dựa trên số liệu về số dự án và vốn đăng ký của các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011 ta có thể dễ dàng tính toán số vốn bình quân 1 dự án trong biểu 03. Số liệu trong bảng được sắp xếp theo số dự án của các ngành theo thứ tự từ cao đến thấp.

    Biểu 03: Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành kinh tế

    (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2011)

    TT Ngành Số dự án Vốn đăng ký                   (Triệu USD) (*) Vốn bình quân 1 dự án (Triệu USD)
      Tổng số 13440 199078.9  
    1 Công nghiệp chế biến, chế tạo 7661 94675.8 12.358
    2 Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 1162 976.1 0.840
    3 Xây dựng 852 10324.1 12.117
    4 Thông tin và truyền thông 736 5709.5 7.757
    5 Bán buôn và bán lẻ; sử chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 690 2119.1 3.071
    6 Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 495 3264.5 6.595
    7 Hoạt động kinh doanh bất động sản 377 48155.9 127.734
    8 Vận tải, kho bãi 321 3256.8 10.146
    9 Dịch vụ lưu trú và ăn uống 319 10523.3 32.988
    10 Giáo dục và đào tạo 154 359.2 2.332
    11 Nghệ thuật, vui chơi và giải trí 131 3602.6 27.501
    12 Hoạt động khác 114 711.5 6.241
    13 Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 107 188.0 1.757
    14 Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 76 1081.9 14.236
    15 Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 75 1321.6 17.621
    16 Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí 72 7391.6 102.661
    17 Khai khoáng 71 3015.5 42.472
    18 Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải 27 2401.9 88.959

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Qua biểu ta thấy ngành công nghiệp chế tạo thu hút được số vốn đăng ký cao nhất trong các ngành kinh tế với 7661 dự án, tổng số vốn lên tới 94675,8 triệu USD, tiếp đến là hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ với 1162 dự án nhưng vốn kinh doanh chỉ chiếm 976,1 triệu USD. Trong khi đó xây dựng có số dự án là 852 nhưng vốn đầu tư gấp gần 10 lần so với hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ.

    Có thể thấy số vốn bình quân của các dự án thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ rất thấp và thấp nhất trong số tất cả các ngành. Điều này có vẻ như là một dấu hiệu không tốt đối với sự phát triển bền vững lâu dài của nền kinh tế. Bởi chỉ khi nắm trong tay những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, những phương thức sản xuất hiện đại, có nghiên cứu đào sâu chuyên môn thì việc phát triển kinh tế bền vững mới thực hiện được. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản nổi bật với số dự án hạn chế (chỉ xếp thứ 7 trong các ngành kinh tế) nhưng số vốn đầu tư thì rất lớn và cũng do vậy số vốn bình quân 1 dự án cũng rất lớn chỉ đứng sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư theo địa phương

    Từ số liệu của Tổng cục thống kê về cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương năm 2011 ta có thể đưa ra tỷ trọng vốn đầu tư của 6 vùng kinh tế của nước ta minh họa trong đồ thị dưới đây:

    Đồ thị 03

     (*) bao gồm cả vốn tăng thêm của dự án đã được cấp phép từ các năm trước

    (Nguồn: Tổng cục thống kê)

    Nhìn vào đồ thị có thể thấy vốn đầu tư cho vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm tỷ trọng chủ yếu. Các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có ít vốn đầu tư. Đặc biệt khu vực Tây Nguyên tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 0,08% so với tổng số vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Nguyên nhân chính do các vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường có điều kiện cơ sở hạ tầng kém phát triển, khó có thể phát triển kinh tế, không hấp dẫn các nhà đầu tư. Mặc dù vậy chính những vùng kinh tế này rất cần vốn đầu tư để có thể phát triển. Đất nước ta đã và đang cố gắng phát triển các chính sách nhằm giúp phát triển kinh tế ở các vùng này.

    2. Tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt nam

              Đầu tư gián tiếp nước ngoài FII (Foreign Indirect Investment) là các khoản vốn đầu tư nước ngoài thực hiện qua các định chế tài chính trung gian như các quỹ đầu tư, đầu tư trực tiếp vào cổ phần, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khi thực hiện đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến quá trình sản xuất kinh doanh thực tế mà chỉ quan tâm đến lợi tức (với một mức rủi ro nhất định) hoặc sự an toàn của các chứng khoán họ đầu tư (với một mức lợi tức nhất định). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao vai trò quản ký của nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.

    Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt nam với sàn giao dịch đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000 và sàn giao dịch Hà Nội vào tháng 3 năm 2005 cùng với sự phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đã giúp Việt nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy trong 3 năm (2002-2005) và 10 tháng đầu năm 2006 đã có khoảng 23 quỹ có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập mới ở Việt nam với tổng số vốn trên 1,6 tỷ USD, nâng tổng số vốn FII trên 2,4 tỷ USD. Mặc dù tăng trưởng một cách đáng kể nhưng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn 4,5% trên GDP Việt nam và chỉ bằng 42,1% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2005.

    • Năm 2006 đầu tư gián tiếp nước ngoài ròng đổ vào Việt nam đạt 1,3 tỷ USD, tăng mạnh so với mức 861 triệu USD của năm 2005 do quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp đã thông thoáng theo hướng nâng cao tỷ lệ tham gia đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư nước ngoài lên 49% và sự kiện Việt nam tham gia vào WTO đã mở ra một cơ hội lớn cho Việt nam trong phát triển kinh tế.
    • Năm 2007, các nhà tài trợ quốc tế đã đưa ra mức tài trợ lớn chưa từng có cho Việt nam, tới trên 4,5 tỷ USD. Qua đó đã làm thị trường chứng khoán nóng lên. Tuy nhiên chưa có dấu hiệu nào cho thấy vốn đầu tư gián tiếp ngăn hạn của nước ngoài vào nhiều, tỷ lệ đó chỉ khoảng 1% là không đáng kể.
    • Năm 2008, do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra tác động đến thị trường chứng khoán do tâm lý lo ngại của các nhà đầu tư, dòng vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán giảm khiến FII ròng giảm mạnh so với năm 2007.
    • Năm 2009, những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến FII vào Việt nam. Vốn FII rút ra khỏi Việt nam trong 10 tháng đầu năm 2009 lên tới 500 triệu USD và đạt khoảng 600 triệu USD (tương đương dòng vốn rút ra năm 2008).
    • Trong năm 2010, mặc dù có nhiều biến động trong năm nhưng khác với những năm trước lượng vốn thường được rút ra khỏi Việt nam thì cả năm 2010 tổng mức vốn thuần vào Việt nam khoảng 1,1 tỷ USD.

    3. Tác động của đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đối với nền kinh tế Việt nam

    3.1 Tác động tích cực

    – Đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế

    Công thức tính GNP theo phương pháp luồng sản phẩm như sau:

    GNP = GDP ± NIA

    = C + I + G + NX ± NIA

    Trong đó

    C: Tiêu dùng cá nhân về hàng hóa, dịch vụ

    I: Tổng đầu tư trong nước

    G: Chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ

    NX: Xuất khẩu ròng

    NIA: Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài

    Từ công thức tính GNP có thể thấy ngày được đóng góp của bộ phận I (đầu tư) vào sự tăng trưởng của thu nhập quốc dân của một quốc gia. Trong đó có sự đóng góp của đầu tư nước ngoài. Như vậy tốc độ tăng trưởng của GNP cũng có thể được sử dụng như một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế. Cụ thể, tại Việt Nam,theo số liệu thống kê từ năm 1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Cùng với sự tăng lên của GNP này là sự tăng lên của vốn đầu tư nước ngoài qua các năm như đã phân tích ở trên.

    – Đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp qua các năm

    Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5 năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và 2005. Đặc biệt,  một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ này đạt đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.

    Giá trị sản xuất xây dựng năm 2011 theo giá thực tế cả nước ước tính đạt 676,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 119,6 nghìn tỷ đồng; khu vực ngoài nhà nước đạt 529,4 nghìn tỷ đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 27,4 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 và bằng 34,6% GDP (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện năm 2011 bằng 90,6% năm 2010), bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 309,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%.

    ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…

    – Đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào Ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô: Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005 – 2010. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc.

    3.2 Tác động tiêu cực

    Tuy đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, nhưng hoạt động ĐTNN tại Việt Nam còn những mặt hạn chế như sau:

    – Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ:

    Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài. VD: Đầu tư cho lĩnh vực chuyên môn, khoa học công nghệ, dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản…

    Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án ĐTNN nhất. Trong khi đó, các tỉnh miềm núi, vùng sâu, vùng xa như khu vực Tây Nguyên và khu vực vùng núi phía Bắc – những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm.

    Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được ĐTNN nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước. Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án ĐTNN, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp.

    Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN.

    – Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời.

    Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của người lao động. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.

    – Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ

    Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp ĐTNN thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta.

    Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác. Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới. Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam.

     

    KẾT LUẬN

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Hơn mười năm qua, đầu tư nước ngoài là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, bổ sung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội.

    Sau hàng loạt bất ổn mang tính cơ cấu được phát hiện, nền kinh tế Việt Nam đang đi những bước đầu tiên, nhưng căn bản để thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, trong lúc này, nguồn lực đầu tư trong nước lại bị giới hạn do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới kéo dài, đòi hỏi sự tham gia tích cực và hiệu quả của các dòng vốn từ bên ngoài, đặc biệt là vốn FDI.

    Như vậy, việc thay đổi định hướng thu hút FDI thế nào, đặt lại vị trí của FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn tới ra sao… cần phải có những nghiên cứu thấu đáo, những quy hoạch cụ thể giữa các ngành kinh tế, các vùng kinh tế; cần quan tâm nhiều hơn đến các chủ đầu tư lớn vào Việt nam. Đặc biệt, cần phải có chiến lược rõ ràng để dẫn hướng cho từng bộ phận của nền kinh tế, từ các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương trong xây dựng chính sách để lựa chọn và tiếp nhận dòng vốn quan trọng này, đảm bảo đúng tín hiệu thị trường và mục tiêu của nền kinh tế.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-V%E1%BA%ACN-D%E1%BB%A4NG-M%E1%BB%98T-S%E1%BB%90-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-TH%E1%BB%90NG-K%C3%8A-PH%C3%82N-T%C3%8DCH-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-%C4%90%E1%BA%A6U-T%C6%AF-N%C6%AF%E1%BB%9AC-NGO%C3%80I-V%C3%80O-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

    Mở đầu

    Cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, là một trong các nhân tố giúp nước ta nhanh chóng ttực hiện thành công sự nghiệp công nghiệo hoá – hiện đại hoá đất nước, đồng thời nó cũng góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới của nước ta diễn ra một cách khẩn trương hơn.

    Trong hơn mười năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, kết quả đem lại là rất lớn và đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên để có thể đánh giá được toàn diện kết quả của đầu tư nước ngoài cần phải có một thời gian dài, hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác và phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan ban ngành. Trong nội dung chuyên đề này, em còng xin góp một phần rất nhỏ vào những đánh giá đó qua việc vận dụng các phương pháp thống kê đã lĩnh hội được trong thời gian học tại trường.

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề này gồm phần chính :

    Phần I : một số vấn đề lý luận chung về các phương pháp thống kê.

              Phần II :thực trạng đầu tư nước ngoài vào  Việt nam thời gian qua.

    Phần III : vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt nam.

    Đề tài này hoàn thành với sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của TS. Trần Kim Thu cùng các thầy cô giáo khoa Thống kê và các bác, các cô công tác tại vụ Xây dùng – Giao thông – Bưu điện Tổng cục Thống Kê. Cho phép em lời cảm ơn vì tất cả những gíup đỡ và chỉ bảo đó.

    CHƯƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ.

     

    Thống kê học chính là môn khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm, thời gian cụ thể. Các hiện tượng kinh tế – xã hội luôn có hai mặt chất và lượng không tách rời nhau. Mặt chất Èn sâu bên trong, còn mặt lượng là những biểu hiện bên ngoài, bề mặt của hiện tượng, nhưng mặt chất là cốt lõi, bản chất của hiện tượng. Nhiệm vụ của phân tích thống kê là phải thông qua con số (mặt lượng của sự vật) để tìm ra cốt lõi bên trong (mặt chất của hiện tượng) bằng các phương pháp khoa học. Trong chương một của chuyên đề này xin giới thiệu một số phương pháp thống kê thông dụng hay được sử dụng trong phân tích thống kê.

    I.      PHÂN TỔ THỐNG KÊ.

    Phân tổ thống kê có rất nhiều ý nghĩa trong nghiên cứu thống kê, nó là phương pháp cơ bản, tiền đề để tiến hành phân tích và vận dụng các phương pháp thống kê khác.

    1.Phân tổ thống kê.

    a.Khái niện, vai trò của phân tổ thống kê.

    Khái niệm phân tổ thống kê :là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau.

    Khi phân tổ thống kê, các đơn vị được tập hợp lại thành một số tổ, trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị chỉ giống nhau theo tiêu thức ngiên cứu (tiêu thức phân tổ) giữa các tổ có sự khác nhau theo tiêu thức phân tổ. Chẳng hạn khi phân tổ dân cư theo tiêu thức trình độ văn hoá thì những nhóm dân cư trong cùng mét  tổ sẽ có trình độ văn hoá bằng nhau nhưng sẽ khác nhau theo các tiêu thức khác như giới tính, ngề ngiệp…

    Từ khái niệm trên ta có thể rót ra một số vai trò cơ bản của phân tổ thống kê sau :

    -Phân chia các loại hình kinh tế – xã hội của hiện tượng nghiên cứu. Dùa vào lý luận kinh tế xã hội, phân tổ thống kê phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất và tồn tại khách quan trong nội bộ hiện tượng.

    -Biểu hiện kết cấu của hiện tượng ngiên cứu. Muốn biểu hiện được kết cấu của hiện tượg ngiên cứu phân tổ thống kê phải xác định chính xác các bộ phận khác nhau trong tổng thể, sau đó tính toán tỷ trọng.

    Trong quá trình phân tổ thống kê, một nhiệm vụ quan trọng là phải xác định số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    b.Số tổ và khoảng cách giữa các tổ.

    *Số tổ : việc phân chia tổng thể ngiên cứu thành bao nhiêu tổ và xác định số tổ cần thiết là một việc khó, đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ và kinh nghiệm. Thông thường việc xác định số tổ cần thiết tuỳ thuộc vào tiêu thức ngiên cứu.

    -Nếu là tiêu thức thuộc tính : các tổ được hình thành do các loại hình khác nhau. Một số trường hợp phân tổ dễ dàng vì các loại hình Ýt thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ, chẳng hạn như phân tổ nhân khẩu theo giới tính… Trong trường hợp phức tạp thì tương ứng với mỗi loại hình là một tổ chẳng hạn như phân tổ hàng hoá theo giá trị sử dụng.

    -Nếu là tiêu thức số lượng : tuỳ thuộc lượng biến của tiêu thức nhiều hay Ýt mà phân nhiều tổ hay Ýt tổ. Trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên Ýt như bậc thợ, số người trong một hộ gia đình thì tương ứng với lượng biến là một tổ. Trong trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên nhiều thì phải chú ý đến quan hệ lượng chất để phân tổ cho hợp lý.

    *Khoảng cách tổ : mỗi tổ sẽ bao gồm một phạm vi lượng biến có hai giới hạn : giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để hình thành tổ đó, giới hạn trên là lượng biến mà nếu quá nó thì chất đổi và hình thành một tổ mới.

    Nếu có khoảng cách tổ đều nhau, thì trị số khoảng cách tổ h sẽ là :           h= Xmax – Xmin

    Xmax : lượng biến lớn nhất.

    Xmin : lượng biến nhỏ nhất.

    n     : số tổ định chia.

    Trong phân tổ thống kê, có ba loại hình phân tổ chính sau :

    c.Phân tổ thống kê – các loại hình phân tổ.

    * Phân tổ theo một tiêu thức : là xây dựng tần số phân bố của tổng thể ngiên cứu theo một tiêu thức. Đây là cách phân tổ đơn giảm nhất và cũng thương được áp dụng nhất.

    Tuy nhiên khi ngiên cứu mối liên hệ của nhiều tiêu thức thì không thể sử dụng hình thức phân tổ trên, mà phải sử dụng một trong hai loại sau:

    * Phân tổ kết hợp : đầu tiên ta phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân, sau đó mỗi tổ lại được phân tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai. đây là hình thức phân tổ phổ biến khi ngiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức.

    *Phân tổ nhiều chiều : trong phân tổ nhiều chiều, các tiêu thức nguyên nhân đồng thời là tiêu thức hân tổ, vì vậy người ta phải đưa các tiêu thức phân tổ về dạng một têu thức tổng hợp rồi căn cứ vào tiêu thức tổng hợp này để tiến hành phân tổ theo một tiêu thức.

    Các bước tiến hành :

    – Các lượng biến của tiêu thức được ký hiệu Xij (i=1,n ;j =1.k) trong đó i là thứ tự của lượng biến, j là thứ tự của tiêu thức.

    – Tiêu thức tổng hợp : nhằm đưa các lượng biến vốn khác nhau về dạng tỷ lệ bằng cách lấy các lượng biến chia cho sè trung bình của các  lượng biến đó   Pij =

    cộng các Pij có cùng thứ tự của tiêu thức ta được åPij hoặc lấy                      ta có thể coi hoặc là tiêu thức phân tổ.

    Đây là một hình thức phân tổ phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành nhiều bước và tương đối khó so với phân tổ kết hợp, song trong nhiều trường hợp ta buộc phải dùng chúng vì chúng có vai trò to lớn sau :

    Nghiên cứu kết cấu của tổng thể theo một tiêu thức cơ bản có mối liên hệ với nhau.

    • Dùng phân tổ nhiều chiều để nghiên cức mối liên hệ giữa nhiều tiêu thứckhi dùmg phân tổ kết hợp không giải quyết được.

    -Dùng để xác định lại tài liệu đồng nhất của tài liêu ban đầu nhằm vận dụng các phương pháp thống kê toán.

    Kết quả của quá trình phân tổ thống kê thương được đưa ra dưới dạng một bảng thống kê. Vậy bảng thống kê là gì, có vai trò như thế nào?

    2.Bảng thống kê.

    Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng ngiên cứu.

    Bảng thống kê có nhiều tác dụng trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế – xã hội. Các tài liệu trong bảng thống kê đã được xắp sếp một cách khoa học, giúp cho chóng ta dễ ràng so sánh đối chiếu, phân tích đối tượng theo các hướng khác nhau, nhằm nêu lên một cách sâu sắc bản chất của hiện tượng ngiên cứu.

    a.Cấu thành của bảng thống kê.

    Bất kỳ một bảng thống kê nào cũng phải có đủ hai thành phần : là hình thức bảng và nội dung bảng.

    -Về mặt hình thức: bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu. Hàng và cột phản ánh quy mô của mỗi bảng, còn tiêu đề phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trong bảng, số liệu được ghi vào trong  các ô của bảng, mỗi con số phản ánh đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu.

    -Về mặt nôi dung: bảng thống kê gồm phần chủ từ và phần giải thích. Phần chủ từ nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng, phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu.

    Trong nghiên cứu thống kê, bảng thống kê được sử dụng rất rộng rãi với nhiều loại bảng khác nhau. Tuy nhiên căn cứ vào một số tiêu thức quan trọng ta có thể phân chia các loại bảng này thành một số dạng sau:

    a.Các loại bảng thống kê.

    Căn cứ vào chủ đề của bảng có thể phân thành 3 loại bảng: bảng giản đơn, bảng phân tổ, bảng kết hợp.

    -Bảng giản đơn: là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ xắp xếp các đơn vị tổng thể theo tên gọi.

    -Bảng phân tổ: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó.

    -Bảng kết hợp: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ đề được phân tổ theo 2 hoặc 3 tiêu thức kết hợp với nhau. Thường được dùng để biểu hiện kết qủa của việc phân tổ theo nhiều tiêu thức.

    Để dùng bảng thống kê đạt kết quả cao, giúp cho người theo dõi dễ nắm bắt, dễ hiểu nội dung của bảng. Quá trình xây dựng bảng phải tuân theo một số nguyên tắc sau:

    b.Các nguyê tắc phải tuân theo khi xây dựng bảng thống kê.

    -Quy mô bảng không nên quá lớn( không  quá nhiều tổ và chỉ

    tiêu ).

    -Các tiêu đề và đề mục cần ghi chính xác, rõ ràng, đầy đủ.

    • Các hàng ngang và cột dọc nên ký hiệu bằng chữ hoặc số.
    • Cách ghi chép chỉ tiêu cần được xắp xếp theo thứ tự hợp lý, các ký hiệu phải tuân theo nguyên tắc chung. Phải chỉ rõ đơn vị tính cụ thể cho từng chỉ tiêu.

    Trong nghiên cứu thống kê, để biểu hiện bằng hình ảnh mối liên hệ giữa các tiêu thức ta sử dụng phương pháp đồ thi thống kê. Phần tiếp theo xin trình bày sơ lược về phương pháp đồ thi trong thống kê.

    3.Đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê. Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với các hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặc điểm số liệu của hiện tượng.

    Với những đặc điểm đặc biệt này đồ thị thống kê có những vai trò quan trọng sau:

    • Biểu hiện kết hợp kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến đổi của kết cấu.
    • Biểu hiện sự phát triển của hiện tượng theo thời gian.
    • Biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng và quan hệ so sánh giữa các mức độ của hiện tượng.

    Đồ thị thống kê là phương pháp có sức hấp dẫn và sinh động, tính quần chúng cao làm cho người hiểu biết Ýt về thống kê  vẫn lĩnh hội được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng.

    a.Phân loại đồ thị thống kê.

    Đồ thị thống kê gồm rất nhiều loại, thông thường người ta căn cứ vào các tiêu thức sau để phân loại:

    • Căn cứ vào nội dung phản ánh, người ta chia đồ thị thống kê thành các loại sau: đồ thị kết cấu, đồ thị phát triển, đồ thị liên hệ so sánh.
    • Căn cứ vào hình thức biểu hiện có thể phân chia thành các loại sau: biểu đồ hình cột, biểu đồ tượng hình, biểu đồ diện tích…

    Khi xây dựng một đồ thị thống kê phải chú ý sao cho người đọc dễ xem, dễ hiểu và đảm bảo tính chính xác. Muốn vậy khi xây dựng đồ thị thống kê phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:

    b.Nguyên tắc xây dựng đồ thị thống kê .

    • Xác định quy mô đồ thị cho vừa phải đảm bảo quan hệ giữa đồ thị và các phần khác.
    • Lùa chọn các ký hiệu hình học hoặc hình vẽ cho phù hợp vì mỗi hình có khả năng diễn tả một ý riêng.
    • Các thang đo tỷ lệ và độ rộng của đồ thị phải được xác định chính xác.

    II.HỒI QUY TƯƠNG QUAN.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thế giới vật chất là một thể thống nhất, trong đó các hiện tượng có liên quan hữu cơ với nhau, tác động và ràng buộc lẫn nhau,các hiện tượng kinh tế –-xã hội cũng phát sinh và phát triển theo nguyên lý đó.

    Do tính chất phức tạp của các hiện tượng kinh tế – xã hội, các mối liên hệ giữa các hiện tượng tồn tại rất phong phú và nhiều vẻ, tính chất và hình thức khác nhau. Ta có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa hai hiện tượng hoặc giữa nhiều hiện tượng. Để nghiên cứu các hiện tượng kinh tế – xã hội, thống kê thường sử dụng các phương pháp như: Phân tổ thống kê, dẫy số thời gian, chỉ số và hồi quy tương quan cũng là một công cụ sắc bén hay được sử dụng.

    1. Thế nào là hồi quy tương quan.

    a.Khái niệm hồi quy tương quan.

    Hồi quy và tương quan là các phương pháp toán học, được vận dụng trong thống kê học để biểu hiện và phân tích mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế – xã hội. Đây là hai phương pháp khác nhau nhưng quan hệ rất chặt chẽ với nhau.

    Phân tích tương quan là đo lường mức độ kết hợp giữa hai biến, chẳng hạn như quan hệ giữa nghiện thuốc là và ung thư phổi. Phân tích hồi quy là ước lượng và dự báo một biến trên cơ sở biến đã cho. Hai phương pháp này có quan hệ rất chặt chẽ và bổ chợ cho nhau lên người ta thường sử dụng kèm chúng với nhau.

    Vận dụng phương pháp hồi quy tương quan vào phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội, ta phải giải quyết được hai vấn đề sau:

    b.Nhiệm vụ của phân tích hồi quy tương quan.

    Một là: Xác định tính chất và hình thức của mối liên hệ, có nghĩa là xem xét mối liên hệ giữa các tiêu thức nghiên cứu có thể biểu hiện dưới dạng mô hình nào (liên hệ tuyến tính, phi tuyến tính). Nhiệm vụ cụ thể là:

    • Dùa trên cơ sở phân tích lý luận giải thích sự tồn tại thực tế và bản chất của mối liện hệ bằng phân tích lý luận. Bước này được thực hiện nhằm tránh hiện tượng hồi quy tương quan giả (tức là hiện tượng không tồn tại liên hệ nhưng vẫn xây dựng mô hình hồi quy) và xác định tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả.
    • Lập phương trình hồi quy để biểu hiện mối liên hệ đó. Muốn lập đúng phương trình, căn cứ vào số tiêu thức được chọn, hình thức và chiều hướng của mối liên hệ.
    • Tính và giải thích ý nghĩa của các hàm số trong phương trình.

    Hai là: Đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ nghiên cứu qua các chỉ tiêu: Hệ số tương quan, tỷ số tương quan. Đây là nhiệm vụ quan trọng của việc phân tích tương quan vì căn cứ vào chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ và vai trò của tiêu thức.

    Phân tích các hiện tượng kinh tế – xã hội bằng phương pháp hồi quy tương quan được thể hiện qua việc phân tích phương trình hồi quy. Vì vậy việc quan trọng trước tiên là phải xây dựng được một phương trình chính xác phù hợp với lý thuyết kinh tế.

    2. Phương trình hồi quy.

    Phương trình hồi quy gồm có nhiều loại, nhưng có thể kể ra các dạng chính sau đây: Phương trình hồi quy tuyến tính đơn, phương trình hồi quy tuyến tính bội, phương trình hồi quy phi tuyến tính đơn và bội.

    Thông thường người ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn để phân tích các hiệ tượng kinh tế – xã hội, bởi vì quá trình tính toán sẽ đơn giản hơn mà kết quả cũng khá chính xác.

    a.Phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    • Phương trình hồi quy tuyến tính đơn mô tả quan hệ tương quan giữa hai tiêu thức số lượng, với dạng phương trình sau :

    x  = a +bx

    trong đó : x là tiêu thức nguyên nhân.

    x : trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y theo mối quan hệ với x.

    a,b là các tham số của phương trình.

    Các tham số này được xác định sao  cho đường hồi quy lý thuyết mô tả gần đúng nhất mối liên hệ với thực tế. Giá trị của tham sè a,b được xác định bằng phươg pháp bình phương nhỏ nhất,sao cho :

    å(y-x)2 = min­­­­

    để thoả mãn yêu cầu này a, b phải thoả mãn hệ phương trình sau :

    åy =na + bå x

    å xy =aå x  + bå

    hoặc được xác định trực tiếp qua công thức :

    b =

    a =

    a : là mức độ xuất phát đầu tiên của đường hồi quy lý thuyết, đây là tham số tự do, nó nói lên ảnh hưởng của các nhân tố ngoài x tới y.

    b : là mức độ quy định độ dốc của đường hồi quy lý thuyết, được gọi là hệ số hồi quy, nó nói lên ảnh hưởng của tiêu thức nguyên nhân tới tiêu thức kết quả. Dấu của b thể hiện chiều của mối liên hệ giữa x và y.

    Phân tích hồi quy tương quan phải tính được hệ số tương quan r để đánh giá trình dé chặt chẽ của mối liên hệ giữa x và y.

    Hệ số hồi quy r là hệ số tương đối ( biểu hiện bằng đơn vị lần) dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa hai thức số lượng.

    Hệ số tương quan r được tính từ các công thức :

    r =   ;  =…

    Giá trị của r thuộc đoạn –1 đến 1 (-1£ r £ 1) và dấu của nó trùng với dấu của b.

    • Khi r mang dấu dương (+) thì mối liên hệ tương quan giữa x và y là tương quan thuận, và ngược lại khi r mang dấu âm thì liên hệ giữa x và y là tương quan ngịch.
    • Khi r = 0 thì giữa x và y không có liên hệ tương quan.

    Để đánh giá tốc độ biến thiên của các tiêu thức ta có thể tính độ co giãn.

    Hệ sè co giãn E­(x)

    công thức:

    Ex = b.

    E(x) có một số ý nghĩa sau :

    – Nếu ½E(x)½ > 1 : biến thiên của y nhanh hơn biến thiên của x, và ngược lại.

    – Nếu  ½E(x)½ = 1 : biến thiên của y trùng với biến thiên của x.

    Như đã trình bày ở trên, khi nghiên cứu mối liên hệ giữa hai tiêu thức số lượng phát sinh trong các hiện tượng của quá trình kinh tế -xã

    hội, người ta thường sử dụng tương quan tuyến tính, nhưng trong thực tế có mối liên hệ không phải tương quan tuyến tính. Chẳng hạn mối liên hệ giữa tổng chi phí sản xuất và khỗi lượng sản phẩm ( có dạng y= ao +a1x +a2+ a3) vì vậy người ta phải sử dụng các mô hình liên hệ phi tuyến tính để biểu diễn những mối liên hệ này.

    • Phương trình hồi quy phi tuyến tính.

    Phương trình hồi quy phi tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng có rất nhiều dạng, ở đây xin giới thiệu một số dạng cơ bản.

    Phương trình Parabol bậc hai :

    y = a          y = a0 + a1.x + a2. x2

    • Phương trình Hyperbol :
    • Phương trình hàm mò :

    Trong các phương trình hồi quy trên, các tham sè a,b cũng được xáa định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất.

    Với phương trình Parabol bậc hai : y = a0 + a1.x + a2. x2

    Xác định a0 , a1, a2 bằng hệ phương trình

    Phương trình Parapol thường được sử dụng khi các trị số của tiêu thức kết quả tăng (hoặc giảm) và việc tăng (hoặc giảm) đạt đến trị số cực trị rồi sau đó tăng hoặc giảm.

    Với phương trình Heperpol :

    Các tham sè a, b thoả mãn hệ

    Mô hình này thường được sử dụng biểu diễn những mối liên hệ có dạng khi trị số của tiêu thức nguyên nhân tăng lên thì trị số của tiêu thức kết quả giảm và đến giới hạn nào đó ( x =a) thì hầu như không  giảm.

    Phương trình mò :

    Các  tham sè a,b phải thoả mãn hệ phương trình :

    Phương trình mũ được vận dụng khi cùng với sự tăng lên của tiêu thức nguyên nhân thì các trị số của tiêu thức kết quả thay đổi theo cấp số nhân, nghiã là tốc độ phát triển sấp xỉ bằng nhau.

    Trên đây là ba dạng phương trình hồi quy phi tuyến tính tiêu biểu, để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan phi tuyến tính, người ta sử dụng tỷ số tương quan h.

    Tỷ số tương quan h

    Tỷ số tương quan h là một số tương đối (biểu hiện bằng lần) được dùng để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan, h được tính theo công thức:

    h có giá trị trong đoạn  [ 0;1 ]

    Tính chất của h : khi n= 0 thì không tồn tại quan hệ tương quan giữa x và y, khi h = 1 x và y có liên hệ hàm sè, h càng gần tới 1 thì hệ số tương quan càng chặt chẽ.

    Trên đây là các mô hình tuyến tính và phi tuyến tính biểu diễn mối liên hệ giữa hai tiêu thức, được gọi là mô hình tuyến tính đơn. Để biểu diễn mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức, trong đó có một tiêu thức kết quả và Ýt nhất là hai tiêu thức nguyên nhân người ta sử dụng các phương trình hồi quy bội.

    b.Phương trình hồi quy bội

    Mô hình hồi quy bội cũng có nhiều dạng, trong phạm vi chuyên đề này chỉ giới thiệu về mô hình hồi quy bội tuyến tính

    Dạng tổng quát : x1,x2,…xn  = a0 + a1x1 + a2x2 +  …  +  anxn

    Trong đó : x1, x… xn là các tiêu thức nguyên nhân

                                x1,x2,…xn  là trị số điều chỉnh của tiêu thức kết quả y.

            Các tham sè ai được xác định bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất, sao cho các ai  thoả mãn hệ:

    Trong liên hệ hồi quy tương quan bội, người ta sử dụng hệ số hồi quy bội R để đánh giá trình độ chặt chẽ của mối liên hệ.

    Công thức xác định R:

    Tính chất của hệ số tương quan bội R cũng giống hệ số tương quan r. nhưng khoảng phân bố hẹp hơn ( 0;1).

    III.PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN .

    1.Khái niện về dãy số thời gian.

    Mặt lượng của hiện tượng kinh tế – xã hội không ngừng biến đổi qua thời gian. Để thông qua sự biến đổi của mặt lượng ta có thể vạch ra xu hướng và quy luật của sự phát triển, đồng thời có thể dự đoán được các mức độ của hiện tượng trong tương lai người ta sử dụng phương pháp dãy số thời gian, vậy phương pháp dãy số thời gian là gì?

    a.Khái niện, thành phần của dãy số thời gian.

    Dãy số thời gian là dãy các trị số của chỉ tiêu thống kê xắp xếp theo thứ tự thời gian.

    Một dãy số thời gian gồm hai thành phần : thời gian và chỉ tiêu về hiện tượng nghiên cứu. Thời gian có thể là ngày, tháng, quý, năm …Độ dài giữa hai thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian. Trị số của chỉ tiêu nghiên cứu được gọi là mức độ của dãy số thời gian. Cả hai thành phần này cùng biến đổi tạo ra sự biến động của hiện tượng qua thời gian.

    Dãy số thời gian có hai loại :  dãy số thời điểm và dãy số thời kỳ.

    -Dãy số thời kỳ biểu hiện quy mô của hiện tượng trong từng khoảng thời gian nhất định.

    -Dãy số thời điểm : biểu hiện quy mô của hiện tượng tại những thời điểm nhất định.

    2.Các chỉ tiêu của dãy số thời gian.

    Để phản ánh đặc điểm biến động qua thời gian của hiện tượng, người thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

    a.Mức độ trung bình qua thời gian.

    Chỉ tiêu này phản ánh  mức độ đại biểu của mức độ tuyệt đối trong một dãy số thời gian. Tuỳ theo dãy thời kỳ hay dãy số thời điểm ta có công thức tính sau:

    – Đối với dãy số thời kỳ, công thức tính là :

    =

    – Đối với dãy số thời điểm, công thức tính tương ứng với hai trường hợp :  + trường hợp mét : có khoảng cách thời gian bằng nhau :

    + Trường hợp hai : có khoảng cách thời gian không bằng nhau :

    b.Lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Chỉ tiêu này phản ánh sù  thay đổi về mức độ tuyệt đối giữa hai thời gian ngiên cứu. Tuỳ theo mục đích ngiên cứu, ta có các chỉ tiêu về lượng tăng giảm tuyệt đối sau :

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của kỳ đứng liền trước (yi-1).

    di = yi – yi-1

    -Lượng tăng ( giảm) tuyệt đối định gốc : là hiệu số giữa mức độ kỳ ngiên cứu (yi) và mức độ của một kỳ nào đó được chọn làm gốc thường là mức độ đầu tiên (y1)

    Di = y– y1

    Mối liên giữa Di và di là : Di  = å

    -Lượng tăng giảm tuyệt đối trung bình là trung bình cộng của các lượng tăng ( giảm) tuyệt đối liên hoàn.

    id

    d.Tốc độ phát triển.

    Tốc độ phát triển là một số tương đối biểu hiện bằng lần hoặc % phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng qua thời gian. Tốc độ phát triển  có ba chỉ tiêu :

    -Tốc độ phát triển liên hoàn phản ánh sự biến động của hiện tượng giữa hai thời gian liền nhau :

    Trong đó ti là tốc độ phát triển liên hoàn của cả thời gian (i) so với thời gian (i-1).

    -Tốc độ phát triển định gốc phản ánh sự biến động  của hiện tượng trong những khoảng thời gian dài:

    (i= 2,3,…n)

    Mối liên hệ giữa Ti  và ti  : Ti =  Pti

    -Tốc độ phát triển trung bình là mức độ đại biểu cho các tốc độ phát triển liên hoàn

    e.T ốc độ tăng hoặc giảm

    Chỉ tiêu này phản ánh mức độ của hiện tượng ngiên cứu giữa hai thời kỳ đã tăng hoặc giảm bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu %. Ta có ba chỉ tiêu sau :

    -Tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên hoàn .

    -Tốc độ tăng hoặc giảm định gốc ; là tỷ số so sánh giữa lượng tăng hoặc giảm định gốc với mức độ kỳ gốc cố định:

    -Tốc độ tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân : là chỉ tiêu tương đối nói lên nhịp điệu tăng hoặc giảm đại diện trong một thời kỳ nhất định .

    e.Giá trị tuyệt đối của 1% tăng hoặc giảm.

    Chỉ tiêu này nói lên rằng cứ 1% tăng  hoặc giảm của tốc độ tăng liên hoàn thì tương ứng với một số tương đối là bao nhiêu?

    Chỉ tiêu chỉ tính với tốc độ biến động  liên hoàn chứ không tính với định gốc vì kết quả luôn bằng y1\ 100.

    Sự biến động của hiện tượng qua thời gian chịu sự tác sự tấc động của nhiều nhân tố, ngoài các nhân tố chủ yếu, cơ bản quyết định xu hướng biến động  của hiện tượng, còn những yếu tố ngẫu nhiên gây ra hiện tượng biến động sai lệch khỏi xu hướng. Vì vậy  cần sử dụng các phương pháp thích hợp để trong một trừng mực nhất định nào đó loại bỏ tác động của những nhân tố ngẫu nhiên nêu lên xu hướng và tính quy luật của sự biến động  của hiện tượng.

    3.Phương pháp biểu diễn xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng.

    a.Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian.

    Phương pháp này được sử dụng khi một dãy số thời kỳ có khoảng cách thời gian tương đối ngắn và có nhiều mức độ mà qua đó chưa phản ánh được xu hướng biến động của hiện tượng.

    Cách làm : ghép một số thời gian liền nhau vào thành một khoảng hời gian dài hơn. ví dụ ghép 3 tháng thành một quý.

    b.Phương pháp số trung bình trượt.

    Sè trung bình trượt là số trung bình cộng của một nhóm nhất định các mức độ của dãy số được tính bằng cách loại dần các mức độ đầu, đồng thời thêm vào các mức độ tiếp theo, sao cho tổng giá trị các mức độ tham gia tính số trung bình trượt không thay đổi.

    Khi sử dụng phương pháp này, việc lùa chọn nhóm bao nhiêu mức độ để tính trung bình trượt đòi hỏi phải dùa vào đặc điểm biến động của hiện tượng và số lượng các  mức độ của dãy thời gian.

    c.Phương pháp hồi quy.

    Trên cơ sở dãy số thời gian, người ta tìm một hàm số gọi là hàm hồi quy phản ánh sự biến động của hiện tượng qua thời gian, có dạng tổng quát :

    Trong đó :

    : mức độ lý thuyết

    a1, a0, ,….an : các tham sè.

    t : thứ tự thời gian.

    Để xây dựng được một phương trình hồi quy phản ánh xu hướng biến động của hiện tượng phải dùa trên cơ sở phân tích đặc điểm của hiện tượng qua thời gian đồng thời kết hựop với các phương pháp khác.

    d.Phương pháp biến động thời vụ.

    Sự biến động của một số hiện tượng kinh tế – xã hội thường có tính thời vụ, nghĩa là hàng năm, trong từng thời gian nhất định sẽ biến động lặp đi lặp lại. Ví dụ các sản phẩm của ngành công nghiệp thực phẩm như bánh kẹo thường tăng số lượng vào các dịp lễ tết,..biến động thời vụ làm cho hoạt động của một số ngành khi thì căng thẳng, khi thì nhàn rỗi,.. vì vật nhiệm vụ của nghiên cứu thống kê biến động thời vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động thời vụ với sản xuất và sản xuất và sinh hoạt xã hội.

    Nghiên cứu biến động thời vụ ta phải tìm ra chỉ số thời vụ thông qua số liệu của nhiều năm (tối thiểu là 3 năm).

    Trường hợp sự biến động không có gì đặc biệt, ta xác định hệ số biến động thời vụ theo công thức :

    Trong đó :

    : sè trung bình của tất cả các mức độ của thời gian cùng tên i

    : sè trung bình của tất cả các mức độ trong dãy số.

    Ii : chỉ số biến động thời vụ của thời gian i

    Trường hợp có sự không ổn định trong biến động, thì chỉ số thời vụ được tính theo công thức :

    yij : mức độ thực tế ở thời gian i của năm j

    : mức độ tính toán (có thể là số trung bình trượt hoặc dùa vào phương trình hồi quy ở thời gian i của năm thứ j)

    IV.PHƯƠNG PHÁP CHỈ SỐ.

    Muốn so sánh được hai đại lượng, trước hết phải đo lường được chung, và muốn có được kết quả đo lường chính xác ta phải hết sức chú ý đến đợn vị đo lường, thông thường người ta sử dụng đơn vị đo lường chung để đo lường trong sè so sánh các đại lượng với nhau. Chương này sẽ giới thiệu đến việc so sánh các hiện tượng bằng phương pháp chỉ số.

    1.Khái niệm chỉ số.

    Chỉ sè trong thống kê là phương pháp biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó của hiện tượng kinh tế. Chỉ số trong thống kê là một khái niệm khá rộng rãi. Trong công tác thực tế, đối tượng chuy yếu của phương pháp chỉ số thường là các hiện tượng kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị, nhiều phần tử có tính chất khác nhau.

    Khi vận dụng phương pháp chỉ số, phải chú ý đến một số đặc điểm sau của phương pháp này :

    -Trước hết ta phải chuyển các đơn vị hoặc phần tử có tính chất khác nhau thành dạng giống nhau để có thể so sánh được.

    -Khi có nhiều nhân tố cùng tham gia vào tính chỉ số, phải giả định có một nhân tố thay đổi, còn các nhân tố khác không thay đổi. Việc giả định này để loại trừ khả năng ảnh hưởng của nhân tố không nghiên cứu đối với kết quả so sánh.

    Trong phân tích thống kê, phương pháp chỉ số có những vai trò đặc

    Biệt quan trọng sau :

    – Biểu hiện biến động của hiện tưong qua thời gian- chỉ số phát triển, qua những điều kiện không gian- chỉ số không gian.

    – Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch- chỉ số kế hoạch.

    – Phân tích vai trò ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đối với biến động của toàn bộ hiện tượng kinh tế phức tạp.

    Trong nghiên cứu chỉ số, người ta căn cứ vào phạm vi tính toán và tính chất của chỉ tiêu để phân chia thành các loại chỉ số cơ bản.

    – Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu, người ta chia chỉ số thành hai loại :

    +Chỉ số chỉ tiêu chất lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : giá cả, giá thành, năng suất lao động,…

    +Chỉ số chỉ tiêu khối lượng : nói lên biến động của các chỉ tiêu như : sản lượng, lượng hàng hoá tiêu thụ,…

    – Căn cứ vào phạm vị tính, người ta chia thành hai loại :

    +Chỉ số cá thể : nói lên biến động của từng đơn vị, từng phần tử cá biệt trong hiện tượng phức tạp.

    +Chỉ sè chung : nói lên biến động của tất cả các đơn vị, các phần tử của hiện tượng nghiên cứu. Nó được sử dụng nhiều trong phân tích thống kê.

    Sau đây xin giới thiệu một số loại chỉ số chủ yếu :

    2.Chỉ số đơn.

    Chỉ số đơn được dùng để so sánh các trị số của hiện tượng nào đó ở một thời kỳ nào đó được lấy làm gốc. Chẳng hạn so sánh giá mặt hàng A ở thời điểm 1995 so với 1990.

    Công thức là : i95/90  =  P95/P90

    Chỉ số đơn có một số có một số đặc điểm chủ yếu sau :

    Tính nghịch đảo : nếu ta hoán vị kỳ gốc và kỳ ngiên cứu ta sẽ thu được giá trị ngịch đảo của trị số cũ.

    Tức là :

    Tính liên hoàn : tích của các chỉ số liên hoàn hoặc tích của các chỉ số định gốc liên tiếp, bằng chỉ số định gốc tương đối.

    Tính thay đổi gốc : ta có thể suy ra chỉ số gốc năm x0 từ các chỉ số gốc năm x1 và x2, bằng cách nhân hai chỉ số gốc x0  cho chỉ số x1/x0 của chỉ số gốc x0 .

    3.Chỉ số tổng hợp giá cả

    Theo các cách chọn quyền số khác nhau, ta có hai chỉ số tổng hợp giá cả.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ q0, ta có chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu q1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Trong hai chỉ số trên, thì chỉ số Paaches tính hiện thực cao hơn, tuy nhiên việc tính toán nó phức tạp hơn.

    Nhà thống kê học Fishes đã đề nghị dùng một loại chỉ số tổng hợp giá cả có công thức sau :

    Vì nó có thể khắc phục được nhược điểm không có tính chất ngịch đảo và liên hoàn của hai chỉ số trên.

    4.Chỉ số tổng hợp khối lượng.

    Cũng giống như  chỉ số tổng hợp giá cả, tương ứng với cách chọn quyền số ta có các chỉ số sau.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ gốc P0 , ta có chỉ số chỉ số tổng hợp Laspeyres.

    -Nếu chọn quyền số ở kỳ ngiên cứu P1, ta có chỉ số tổng hợp Paaches.

    Và ta cũng có chỉ số tổng hợp khối lượng Fisher là trung bình nhân của hai chỉ số tổng hợp khối lương trên.

    5.Hệ thống chỉ số.

    Các chỉ số đơn, chỉ số tổng hợp chỉ có thể đánh giá ảnh hưởng riêng lẻ của từng yếu tố tới hiện tượng kinh tế mà ta nghiên cứu, vì vậy cần phải có một phương pháp nào đó mà có thể nêu lên ảnh hưởng của từng nhân tố cũng như ảnh hưởng của tổng hợp của các nhân tố tới hiện tượng nghiên cứu.

    a.Hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Ta có giá trị của hàng hoá = giá cả * sè lượng

    Từ đó ta có : chỉ số giá trị = chỉ số giá * chỉ số lượng.

    Hệ thống chỉ số được hình thành trên cơ sở một tập hợp các chỉ số có liên hệ với nhau.

    Trong thống kê, người ta xây dựng được hệ thống chỉ số thích hợp và đơn giản sau :

    Ipq   =   Ip         *     Iq

    Trong công thức trên, chỉ số tổng hợp giá cả là của Paaches, còn chỉ số tổng hợp khối lượng là của Laspeyres.

    Trong phân tích kinh tế, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số vì nó có những tác dụng sau đây :

    -Phân tích mối liên hệ giữa các hiên tượngtrong quá trình biến động, xác định vai trò ảnh hưởng biến động của mỗi nhân tố đối với biến động của hiện tượng gồm nhiều nhân tố, tìm ra nguyên nhân chủ yếu.

    -Trong nhiều trường hợp, có thể tính một chỉ số khi đã biết các chỉ số khác trong thống kê.

    b.Hệ thống chỉ số trung bình.

    Trong sự biến của động tổng thể nghiên cứu, sự biến động của từng bộ phận cấu thành tổng thể sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biến động chung. Để đánh giá được biến động chung và ảnh hưởng của từng bộ phận, người ta thường sử dụng hệ thống chỉ số tổng hợp.

    Chẳng hạn khi tỷ trọng công nhân có năng suất lao động cao trong doanh ngiệp tăng lên, thì năng suất lao động bình quân trong doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng lên.

    Hệ thống chỉ số

    (a)                 (b)                  (c)

    a: chỉ số năng suất lao động trung bình.

    b: chỉ số năng suất lao động đã loại trừ thay đổi kết cấu.

    c: chỉ số nêu lên ảnh hưởng thay đổi kết cấu đến năng suất lao động trung bình

    V. PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THỐNG KÊ NGẮN HẠN.

    Ngày nay, dự đoán được sử dụng nhiều trong mọi lĩnh vực, khoa học -kỹ thuật, kinh tế – chính trị – xã hội với nhiều loại và phương pháp khác nhau.

    1.Khái niệm về dự đoán thống kê ngắn hạn.

    Dự đoán thống kê ngắn hạn là việc dự đoán quá trình tiếp theo của hiện tượng trong những khoảng thời gian tương đối ngắn nối tiếp với hiện tại bằng việc sử dụng các thông tin thống kê và các phương pháp thích hợp.

    Sau đây xin giới thiệu một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn

    hạn thường gặp.

    2.Mét số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn.

    a.Dự đoán dùa vào dãy số thời gian.

    Trong một dãy số thời gian, ta có thể tính được một số chỉ tiêu biểu hiện của dãy số như : tốc độ phát triển bình quân, lượng tăng giảm tuyệt đối bình quân… và dùa vàođó để dự đoán cho một số mức độ trong thời gian gần.

    b.Dựa vào lượng tăng giảm tuyệt đối.

    Người ta xây dựng được mô hình :

    Trong đó :

    là lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối bình quân.

    yn là mức độ cuối cùng của dãy số thời gian.

    h : là tầm xa dự báo.

    : là mức  độ dự báo.

    Phương pháp này chỉ nên áp dụng khi các lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối xấp xỉ băng nhau.

    c.Dựa vào tốc độ phát triển bình quân.

    Ta có mô hình :

    Với :

    : là tốc độ phát triển bình quân

    d.Dự báo dùa vào phân tích  hồi quy.

    Bản chất của phương ttrình này là dùa vào mối quan hệ tương quan để ngoại suy cho tương lai.

    Mô hình hồi quy tổng quát của hồi quy bội

    Y= f (x1,x2,....xn/ a0,a1,…an)

    y-biến phụ thuộc hay tiêu thức kết quả

    xi-các  tiêu thức nguyên nhân

    ai – các tham số hồi quy

    Dự đoán bằng phương pháp hồi quy bội ta phải chọn quan sát sao cho đủ lớn để quy luật số lớn phát huy tác dụng. Người ta thương áp dụng tiêu chuẩn “ khi xây dựng mô hình hồi quy thì số quan sát phải lớn hơn số các nhân tố khoảng 8 lần”.

     

     

    d.Dự đoán bằng phương pháp san bằng mũ.

    Giả sử thời gian t, ta có mức độ thực tế là yt và mức độ dự đoán là ,    Dù đoán mức độ ở thời gian kế tiếp theo là , tức là t+1, ta có thể viết :

    ®Æt

    Từ mô hình trên cho ta thấy một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dự đoán là việc lùa chọn giá trị tham sè san a. Nếu a được chọn càng lớn thì nhân tố cũ yt càng Ýt được chú ý, và ngược lại nếu a càng nhỏ thì các yếu  cò càng được đánh giá cao. Dùa vào kinh ngiệm thực tế người ta cho rằng nên lấy a trong khoảng (0.1; 0.4).

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.

     

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP  NƯỚC NGOÀI (FDI).

    1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Đầu tư theo nghĩa chung nhất là một quá trình bỏ vốn ra hay hy sinh một nguồn lực hiện tại nhằm thu về một kết quả cao hơn trong tương lai.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiệ từ khá lâu, tuy rằng không có nhiều tranh luạn xung quanh khái niện đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) song đến nay cũng chưa có một khái niện nào được coi là hoàn chỉnh. Khía niện được chấp nhận rộng rãi hơn cả là khái niệm do quỹ tiền tệ thế giới IMF đưa ra, nó được định nghĩa như sau : “ đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi Ých lâu dài trong mét doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế nước khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là việc dành được tiến nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”.

    Ta có thể hiểu một cách khái quát khái niện trực tiếp trên như sau  Đầu tư trực tiếp nước là hoạt động đầu tư với những đặc điểm  :

    -Có sự thiết lập quyền sử dụng vốn và tài sản của người nước này ở một nước khác.

    -Chủ đầu tư chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý dự án và hiệu quả của vốn đầu tư.

    -Thường do các cá nhân hoặc do các công  ty đặc biệt là các công ty đa quốc gia tiến hành thông qua việc thành lập mới hoặc mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có.

    Một hình thức đàu tư  nước ngoài khác tồn tại song song với đầu tư trực tiếp là đầu tư gián tiếp. Khác với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (ODA) thườn do các chính phủ hay các tổ chức tài chính quốc tế cho một nước khác (thường là các nước đang phát triển) vay vốn, theo hình thức đầu tư này bên nhận vốn trở  thành con nợ nhưng có toàn quyền quyết định sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả cao nhất, còn bên cho vay không tham gia vào quá trình dụng và quản lý vốn cũng như hoàn toàn không chịu trách nhiệm về rủi ro và hiệu quả của vốn cho vay. Loại hình đầu tư này thường đi kèm theo các điều kiên ràng buộc về kinh tế hay chính trị bất lợi cho nước nhận vốn vay.

    So với ODA, FDI có một số lợi thế hơn hẳn. Đối với các nước đang phát triển, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất lớn, trong lóc kinh mgiệm quản lý còn yếu kém nên hiệu quả vốn đầu tư thấp, do vậy các nước này vay vốn sẽ có nhiều rủi ro, khả năng thu hồi vốn thấp. Trong hòan cảnh đó đầu tư trực tiếp là tốt nhất bởi vì kèm theo vốn là công nghệ tiên tiến, kinh ngiệm sản xuất nên hiệu quả vốn sẽ cao hơn, mặt khác nữa là FDI không đưa đến gánh nặng nợ nần, không bị ràng buộc về kinh tế, chính trị bất lợi cho đất nước. Tuy thế nó cũng có một số hạn chế là nếu nước tiếp nhận đầu tư không có định hướng rõ ràng, không quản lý tốt sẽ dẫn đến hiện tượng mất cân đối trong phát triển, tạo ra một cơ cấu đầu tư và kinh tế không hợp lý.

    2. Lịch sử phát triển  quan hệ đầu tư nước trên thế giới.

    Trong lịch sử kinh tế thế giới, FDI xuất hiện ngay từ thời tiền tư bản .

    Thế kỷ XVII các công ty của Anh, Hà lan, Tây ba nha là các công ty đi đầu trong trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước Châu á để khai thác đồn điền và vcùng với nó là những ngành khoáng sản nhằm cung cấp nguyên liêu các ngành công nghiệp ở chính quốc. Khi chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn mới thì hoạt độn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có quy mô to lớn hơn.

    Ngay từ những năm 1871, đầu tư ra nước ngoài của Anh đã đạt giá trị 800 triệu Bảng . Năm 1875 lên tới 2.1 tỷ Bảng. Đến năm 1913 quy mô đầu tư FDI của Anh đã đạt 3.5 tỷ Bảng, trong đó khoảng một nửa đầu tư vào các nước thuộc địa và khối liên hiệp Anh. Sau Anh thời kỳ này Mỹ là nước có quy mô FDI lớn thứ hai : năm 1889, Mỹ đầu tư ra nước ngoài khoảng 500 triệu USD/ năm, năm 1909 là 2 tỷ USD. Mỹ đầu tư chủ yếu vào các nước Mỹ latinh. Việc xuất khẩu tư bản của Đức cũng có quy mô ngày càng lớn. Nó mở đầu ngay từ những năm 70-80 của thế kỷ XIX nhưng quy mô chưa đáng kể do tình trạng lạc hậu chung của nền kinh tế Đức. Vào cuối thế kỷ XIX việc xuất khẩu tư bản của Đức bắt đàu mở rộng, Pháp cũng là nước có số tư bản đầu tư ra nước ngoài tương đối lớn, 10 tỷ Phrăng năm 1869, 20 tỷ Phrăng 1890…

    3.Tính tất yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    1. Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là việc xuất “hiện tư bản thừa” trong các nước phát triển, ở các nước tư bản phát triển khi quá trình tích tụ và tập trung đã đạt đến một trình độ nhất định thì xuất hiện nhu cầu đầu tư ra nước ngoài do sự xuất hiện của một lượng vốn nhàn rỗi. Mặt khác taị các nước kém phát triển đang rất cần lượng vốn này để phát triển nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu của mình. Theo Lênin thì “ xuất khẩu tư bản” là một trong các đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản các nước tư bản thực hiện việc bóc lột các nước lạc hậu mà thườn là thuộc địa của nó. Nhưng chính Lênin đã nói người cộng sản phải biết lợi dụng khoa học kỹ thuật và những thành tựu kinh tế của chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm này nhiều nước chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, như vậy còn có thể nhanh hơn là tự vận động hay đi vay vốn để mau các kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
    2. Theo học thuyết kinh tế học của D.Ricardo, mỗi nước có một lợi thế riêng về các yếu tố sản xuất mà ông vẫn gọi là lợi thế so sánh, ở các nước phát triển đó là lợi thế về vốn, công nghệ, kinh ngiệm sản xuất, còn ở các nước đang phát triển đó là nguồn lao động mạt dẻ mạt, tài nguyên phong phú, thị trương sơ khai. Chi phí sản xuất ở các nước phát triển thường cao nên họ thường tìm cách đưa vốn sang các nước đang phát triển để tận dụng lợi thế so sánh của mội nước, bằng cách đó họ nâng cao được lợi nhận trên chi phí biên.

    c.Các nước đi đầu tư thường có trình độ công nghệ cao hoặc tương đối cao so với nước nhận đầu tư. sau một thời gian hoạt động tại nước mình các công nghệ đó sẽ tương đối cũ và hỏi phảicó sự thay thế. Do đó các nước đi đầu tư sẽ chuyển giao công ngệ này một mặt sẽ bù đắp được phần nào chi phí cho sù thay thế công nghệ, mặt khác nó giúp cho việc kéo dài vòng đời công nghệ và nâng cao hiẹu quả sử dụng công nghệ ra nó thì vẫn còn mới và phát huy tác dụng đối với các nước phát triển vốn rất lạc hậu về công nghệ.

    d.Xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và các vùng lãnh thổ từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó, chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. Mét  quốc gia, vùng lãnh thổ khó tách biệt được thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã lôi kéo con người ở khắp nơi trên thế giới xích lại gần nhau hơn, và dưới những tác động quốc tế khác buộc các nước phải mở cửa với bên ngoài.

    Trong những thập kỷ gần đây, hoạt động đầu tư nước ngoài có những su hướng khác nhau. Chẳng hạn việc các nước NIC đầu tư sang khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu, việc các nước đang phát triển không chỉ là nhà tiếp nhận đầu tư mà cũng đi đầu tư sang các nước khác…nên việc giải thích cho câu hỏi tại sao lại có hoạt động đầu tư nước ngoài là rất khó trả lời và chưa có một học thuyết nào giải thích được đầy đủ các lý do cho hiện tượng kinh tế này. Trong nội dung chuyên đề này, do thời gian có hạn và trình độ hàn chế nên chỉ xin nêu ra một số nguyên nhân chính như trên.

    4.Tính tất yếu của hoạt động đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt nam và sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.

    Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam gắn liền với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước Đại hội Đảng lần thứ VI, mọi hoạt động kinh tế của đất nước đều do nước trực tiếp quản lý, nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp do Nhà nước cấp phát, khu vực tư nhân bị cấm hoạt động. Do vậy trong một thời kỳ dài nền kinh tế bị kìm hãm, không có tích luỹ nội bộ. Sau đại hội Đảng lần thư VI, nền kinh tế được cởi trãi, thoát khỏi cơ chế quản lý cũ, mọi nguồn lực đều được huy động để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp nên nguồn vốn đầu tư tư nội bộ nền kinh tế rất hạn chế, các nguồn viện trợ từ Liên Xô và Đông Âu cũng bị cắt giảm nhiều, vì ậy chúng ta phải tìm ra những nguồn lực mới để tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Mặt khác, nước ta lại nằm trong khu vực Đông Nam á, khu vực phát triển kinh tế sôi động nhất trên thế giới. Các nước trong khu vực rất thành công trongviệc huy động các nguồn vốn nước ngoài phục vụ phát triển kinh tế. Tiếp thu kinh nghiệm đó, chúng ta mạnh rạn mở cửa hợp tác kinh tế với nước ngoài, chủ động kêu gọi các cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam.

    Nhằm làm cho các nhà đầu tư thực sự tin tưởng vào đường lối của Đảng và Nhà nước và mạnh dạn bỏ vốn vào làm ăn tại Việt nam, chóng ta đã cụ thể hoá chủ trương này bằng việc cho ra đời Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam vào năm 1987.

    5.Vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) với sự phát triển kinh tế nước ta.

    Vai trò của FDI với sù  phát triển kinh tế nước ta được thể hiệ trên một số mặt sau :

    a.Đối với nước ta, FDI không  những đóng vai trò như một cú huých mà còn là chất xúc tác thu hót các nguồn tài chính khác. Việc các nhà đầu tư tư nhân đến Việt nam ngày càng nhiều, việc có mặt một số công ty đa quốc gia của Nhật Bản, Mỹ, Hàn quốc,Pháp,Đức…đã giúp cho các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế tin tưởng hơn vào chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, và do đó họ dành cho ta những khoản vốn ODA lớn.         b.Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần rót  ngắn khoảng cách giữa các sản phẩm Việt nam và thị ường quốc tế, giúp các doanh nghiệp Việt nam tiếp cận với thị trường quốc tế nhanh hơn, thuận lơi hơn.
    b.§Çu t­ trùc tiÕp n­íc ngoµi gãp phÇn rót  ng¾n kho¶ng c¸ch gi÷a c¸c s¶n phÈm ViÖt nam vµ thÞ ­êng quèc tÕ, gióp c¸c doanh nghiÖp ViÖt nam tiÕp cËn víi thÞ tr­êng quèc tÕ nhanh h¬n, thuËn l¬i h¬n.

    c.Đầu tư nước ngoài với công nghệ và kỹ năng quả lý hiện đại đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ của nước ta trong nhiều ngành ngề, nhiều lĩnh vực : công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, hàng không, khai thác dầu khí …các liên doanh với nước đã làm tăng tính cạnh tranh của thị trường Việt nam, giúp các doanh nghiệp Việt nam đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần đào tạo một đội ngò các bộ doanh nghiệp và công nhân có trình kỹ thuật cao,có sự say mê công việc, kỷ luật cao…

    II.THỰC TRẠNG THU HÓT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam được quốc hội thông qua ngày 29/12/1987, cho đến nay đã hơn 10 năm thực hiện, dòng FDI vào Việt nam ngày càng sôi động, tuy giai đoạn hiện nay có dấu hiệu giảm sút. Đầu những năm 90, tốc độ FDI vào Việt nam tăng rất nhanh với cả số vốn đăng ký và số dự án cấp giấy phép.

    Năm 1988, năm bắt đầu thực hiện luật đầu tư nước ngoài, nước ta mới chỉ thu hót được 37 dự án với 366 triệu USD thì đến năm 1992 đã có 192 dự án với 2.2 tỷ USD và năm 1996 con số đó là 368 với số vốn đăng ký trên 6 tỷ USD. Từ năm 1997 lại đây có trững lại và giảm sút đáng kể. Tính tới nay Bộ kế hoạch và đầu tư đã cấp phép cho 2806 dự với số vốn đăng ký  là 36609 triệu USD.

    Trong hơn mười năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, ta có thể chia ra làm ba giai đoạn sau :

    1.Giai đoạn khởi động :1988-1990.

    Giai đoạn này, chúng ta mới bước đầu tiếp cận với lĩnh vực này, vừa chưa có kinh nghiệm là vừa thiếu mạnh rạn trong quyết định, người nước ngoài thì đến với nước ta như đến với một miền đất mới, vừa hấp dẫn, vừa xa lạ, họ thận trọng không dám mạo hiểm, chỉ làm thử để thăm dò cơ hội nên số lượng dự án nhiều, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư chậm.

    Trong giai đoạn này vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào hia lĩnh vực là thăm dò dầu khí và viễn thông, còn các lĩnh vực khác hầu như mới chỉ có một Ýt dự án và phần đa là chưqa triển khai. Các đối tác đầu tư nước ngoài chủ yếu là các công ty nhỏ thậm chí có cả công ty môi giới, quy mô bình quân một dự án còn nhỏ, các khoản nép ngân sách Ýt, sè lao động trong các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chưa nhiều. Do vậy chưa thực sự thu hót được sự quan tâm và chú ý của các cơ quan trung ương cũng như địa phương. Thái độ  của chúng ta là “trải chiếu hoa đón các nhà đầu tư nước ngoài” kể cả những nhà đầu tư thực và rởm nên hoạt động đầu tư gặp không Ýt khó khăn cả khi xin cấp giấy phép đầu tư cho đến khi triển khai thực hiện dự án.

    Năm Số dự án

    Số vốn đăng ký

    (triệu USD)

    88 37 367
    89 69 581
    90 108 635
    Tổng 214 1583

     

     

     

    2.Giai đoạn tăng trưởng nhanh : 1991-1995.

    Đây là giai đoạn tăng trưởng nhanh và thay đổi về chất lượng trong hoạt động đầu tư nước ngoài. Tháng 3 năm 1991 một diễn đàn quốc tế về hoạt động đầu tư nước ngoài có quy mô lớn với sự tham gia của hơn 650 khách nước ngoài và đại diện của nhiều tổ chức quốc tế như UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP đã được tổ chức thành công tại TP Hồ Chí  Minh. Đó là một sự kiện quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta, mở đầu thời kỳ mới trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới.       §©y lµ giai ®o¹n t¨ng tr­ëng nhanh vµ thay ®æi vÒ chÊt l­îng trong ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi. Th¸ng 3 n¨m 1991 mét diÔn ®µn quèc tÕ vÒ ho¹t ®éng ®Çu t­ n­íc ngoµi cã quy m« lín víi sù tham gia cña h¬n 650 kh¸ch n­íc ngoµi vµ ®¹i diÖn cña nhiÒu tæ chøc quèc tÕ nh­ UNIDO, IMF, WB, ADB, UNDP ®· ®­îc tæ chøc thµnh c«ng t¹i TP Hå ChÝ  Minh. §ã lµ mét sù kiÖn quan träng trong ho¹t ®éng kinh tÕ ®èi ngo¹i cña n­íc ta, më ®Çu thêi kú míi trong qu¸ tr×nh héi nhËp víi kinh tÕ thÕ giíi.

    Số vốn đăng ký trong giai đoạn này là 16.245 triệu USD với 1397 dự án, năm 1991 là 1.294 triệu USD gần bằng cả nước trong ba năm trước cộng lại, tốc độ tăng trưởng bình quân cao và khá ổn định trong cả giai đoạn. Các dự án trong giai đoạn này được phân bố tương đối đều, ổn định và hợp lý. Nhiều ngành công nghiệp mới như công nghiệp điện tử, chế tạo lắp ráp ôtô, xe máy… đã ra đời. Nhiều dự án có quy mô hàng trăm triệu USD được triển khai, một số khu công nghiệp, khu chế xuất bắt đầu được xây dựng. Kết quả của một số dự án thăm dò dầu khí đã tạo cơ sở để phát triển ngành công nghiệp lọc dầu, hoá dầu của nước ta. Nét nổi bật trong giai đoạn này là hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài đã được thể hiện ngày càng rõ.

    Số vốn thực hiện trong 5 đạt trên 6 tỷ USD, nếu đem so với tổng số vốn đầu tư của cả nước trong giai đoạn này là trên 16 tỷ USD thì nó chiếm trên dươí 40% điều này đã phần nào nói lên tính quan trọng  của đầu tư nước ngoài.

    Doanh số và kim ngạch xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ngoài tăng dần và tăng với tốc độ ngày càng nhanh vào cuối giai đoạn này. Doanh thu 149 triệu USD năm 1991 tăng lên 1387 triệu USD năm 1995, còn kim ngạch xuất khẩu từ 52 triệu USD năm 1991 lên 440 triệu USD 1995.

    Các khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước ở cuối giai đoạn này tăng lên đáng kể mặc dù phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang trong thời gian miễn thếu và giảm thuế nhập khẩu đối với vật tư máy móc, nhập khẩu để tạo tài sản cố định, vật tư nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và chưa kể đến những đóng góp của lĩnh vực dầu khí. Các khoản nép ngân sách năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1995 là 195 triệu USD.

    Hàng chục vạn người có việc làm ổn định và nhiều vạn người cũng có việc làm gián tiếp nhờ có hoạt động đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân tương đối cao so với thu nhập trung bình của xã hội.

    Tuy nhiên vào cuối của giai đoạn này đã xuất hiện nhiều vấn đề về quan điểm, nhận thức, về quản lý vĩ mô cũng như vi mô và nhiều vấn đề cụ thể khác, do vậy môi trường đã giảm bớt tính hấp dẫn. Đã xuất hiện đòi hỏi phải thay đổi thuế nhập khẩu, đặc biệt là không miện thuế nhập khẩu ôtô đối với xí ngiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Một số cơ quan quản lý Nhà nước ở cả trung ương và địa phương ban hành thêm nhiều quy định về thủ tục hành chính tạo thêm những phức tạp đối với các nhà đầu tư, đã xuất hiện đòi hỏi của một số địa phương về việc phân cấp quyền hạn cấp giấy phép đầu tư. Ở cấp trung ương đx xuất hiện nhiều vấn đề liên ngành, trong đó một số vấn đề tồn tại khá lâu nhưng vẫn không giải quyết được như thủ tục miễn thuế có quan hệ đến Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Hải quan…vì vậy đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cơ chế, chính sách nhằm làm giảm bớt phiền phức cho nhà đầu tư.

    Năm Số dự án Số vốn đăng ký

     

    (triệu USD)

    91 151 1275
    92 197 2027
    93 274 2589
    94 364 3746
    95 408 6608
    Tổng 1397 16245

    3.Giai đọan1996 đến nay.

    Bèn  năm gần đây, cũng như tình trạng suy giảm chung của nền kinh tế, hoạt động đầu tư nước ngoài cũng xuất hiện những dấu hiệu suy giảm. Theo con số thống kê số vốn đăng ký của năm 1996 là 8.667 triệu USD, tăng 31% so với năm 1995 (6.616 triệu USD) thì có lẽ tình hình vẫn khả quan. Tuy vậy cần lưu ý rằng những ngày cuối năm 1996 đã có hai dự án xây dựng đô thị với số vốn lên tới hơn 3 tỷ $, có lẽ rất khó thực hiện mà cũng chẳng ai bá ra chõng Êy vốn một lúc, mà chỉ cần bỏ khoảng 10-15% vốn ban đầu sau đó quay vòng. Do vậy nếu hai dự án này được thực hiện thì cũng chỉ nên tính khoảng 400-500 triệu $ vào tổng vốn đầu tư mà thôi. Cách tiếp cận như vậy nhằm làm rõ và đánh giá đúng tình hình đầu tư nước ngoài trong năm 1996. Năm 1997, vốn đăng ký là 4.649 triệu $, năm 1998 là 3.897 triệu $ thấp hơn rất nhiều so với hai năm trước đó, năm 1999 là 1.562 triệu $ thì ta thấy tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt nam giảm sút rất mạnh. Trong những năm gần đây không chỉ vốn đăng ký giảm sút, mà cả số khách nước ngoài vào tìm kiếm cơ hội đầu tư cũng Ýt đi, tỷ lệ thuê phòng trong các khách sạn khá thấp, một số công ty lớn đã cắt giảm số nhân viên, và cả những tuyên bố công khai của một số nhà đầu tư lớn và môi trường đầu tư đã trở lên không thuận lợi ở nước ta.

    Tuy nhiên, nếu xét vốn đầu tư thực hiện trong các năm gần đây, năm 1996, 1997, 1998 trên 8 tỷ $ doanh thu khoảng gần 10 tỷ $, xuất khẩu 4 tỷ $,… thì sẽ thấy được vai trò ngày càng to lớn của đầu tư nước ngoài. Nhưng đó là kết quả của những năm trước, bây giê mới khai triển. Do vậy điều đáng lo ngại là sự giảm sút trong vốn đăng ký hiện nay chính là đối với sự tăng trưởng của những năm tới.

    Cần lưu ý hai sự kiện quan trọng có tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Đó là việc bộ Luật đầu tư nước ngoài mới được sửa đổi và ban hành vào năm 1996 được coi là khá thông thoáng, kèm theo thay đổi một số chính sách như thuế nhập khẩu vật tư, phương tiện vận tải. Việc ngân hàng Nhà nước ban hành chủ chương mới vệ ngoại tệ đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc phân cấp quyền cấp giấy phép đầu tư. Đó là việc thay đổi tổ chức quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư : sát nhập Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước về hợp tác và đầu tư với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thành Bộ Kế hoạch đầu tư, tiếp đó là thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước các dự án đầu tư, ban quản ý khu chế xuất, khu công nghiệp. Những cải cách này đã giảm bớt phiền hà cho các nhà đầu tư, tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.

    III.NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    Thực tiễn hơn mười năm qua đã chỉ rõ việc thu hót vả dụng vốn FDI là chủ trương đúng đắn cảu Đảng và Nhà nước ta, đã góp phần quan trọng vào giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của đường lối đổi mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, củng cố và tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế của Việt nam trong khu vực và trên thế giới. Mười năm qua FDI là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển kinh tế cao của Việt nam, nó là một trong các các bộ phận quan trọng và có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cải thiện cán cân thanh toán và cán cân thương mại của nước ta, FDI bổ xung nguồn vốn đầu tư quan trọng cho việc phát triển kinh tế xã hội. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế Việt nam.

    Những đóng góp cụ thể của FDI vào nền kinh tế Việt nam thời gian qua là rất lớn, mặt được là chủ yếu, những thiếu sót, nhược điểm, sơ hở và thua thiệt diễn ra chủ yếu trong khâu thực hiện và nằm trong phạm vi doanh nghiệp, không phải trên những vấn đề có tính chất nguyên tắc, chủ trương và có thể khắc phục được.

     

     

    1.Những đóng góp của FDI vào phát triển kinh tế xã hội.

    a.Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho phát triển kinh tế.

    Trong những năm đầu tiên bắt đầu công cuộc đổi mới, nguồn viện trợ nước ngoài (chủ yếu là từ Liên Xô và Đông Âu) bị cắt giảm đột ngột và nguồn vốn nội lực từ nền kinh tế còn rất hạn chế, thì chủ trương thu hót vốn FDI với việc ra đời Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài là đúng đắn và kịp thời, đã bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.

    Với số vốn đầu tư đã thực hiện trên 17 tỷ USD, các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể vào vốn đầu tư toàn xã hội. Trong thời kỳ 1991-1995, phần vốn đầu tư nước ngoài đưa vào nước là trên 6 tỷ USD, trong khi vốn đầu tư toàn xã hội là trên 18 tỷ USD thì vốn đầu tư FDI chiếm trên dưới 30%. Năm 1996 tổng vốn đầu tư toàn xã hội là 6.3tỷ USD thì FDI thực hiện đạt 2.2 tỷ USD chiếm trên 30%, năm 1997 vốn đầu tư thực hiện đạt trên 2.95 tỷ USD (trong đó vốn góp của bên nước ngoài là 2.5 tỷ USD) cũmg chiếm trên 30% vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 1.7 lần vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước và bằng 1.6 lần vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước. Trong sự phát triển kinh tế thời kỳ 1991-1995 FDI đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng 8.5%, và điều quan trọng là nhờ nguồn vốn FDI nhiều nguồn lợc trong nước đã được khai thác và phát huy tác dụng.

    Tỷ lệ đóng góp của FDI trong GDP tăng dần qua các năm, 1992 là 2%, 1993 là 3.6%, 1996là 8.2% đến năm 1997 kể cả xây dựng cơ bản và dịch vụ khác là trên 10%.

    Khu vực FDI đã cung cấp cho thị trường một khối lượng hàng hoá lớn. Đến hết năm 1995 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã sản xuất được: trên một triệu tấn dầu thô, 60 vạn tấn thép, 50.000 tấn dầu nhờn, sản xuất và lắp ráp được 70.000 xe ôtô các loại, 30.000 cọc sợi, 35 triệu mét vải các loại, một triệu bóng đèn hình mầu, trông 13.500 ha  rừng, xây dựng 2500 phòng khách sạn đủ tiêu chuẩn quốc tế … các doanh nghiệp có vốn FDI đã góp phần tạo cho thị trường nước ta một khối lượng hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lượng tốt, đã góp phần bình ổn giá cả thị trường.

    Khu vực FDI đã góp một lượng vốn lớn vào tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày một tăng, tạo khả năng giảm thu bội chi, chủ động hơn trong cân đối ngân sách. Nguồn vốn FDI đưa vào Việt nam là của tư nhân do phía Nhà nước ngoài tự cân đối ngoại tệ và bảo lãnh là chính nên không ảnh hưởng đến nợ chính phủ. Mặt khác thế mạnh của FDI trong xuất khẩu cộng đóng góp tiềm năng vào lĩnh vực thu ngoại tệ khác đã góp phần cải thiện cán cân vãng lai. Trong thời kỳ đầu tuy  nhập khẩu của khu vực FDI lớn hơn xuất khẩu, nhưng việc nhập khẩu này là tích cực vì tạo tài sản cố định và tiềm lực phát triển công nghệ, khi hoạt động của FDI đã đi vào ổn định thì khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ được thu hẹp lại và về lâu dài FDI sẽ có tác động tốt với cán cân thương mại.

    b.Nguồn vốn FDI góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

    FDI chủ yếu đầu tư vào khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, góp phần nâng cao tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Đặc biệt là, nhờ hoạt động FDI nhiều ngành sản xuất quan trọng của nền kinh tế đã xuất hiện như thăm dò, khai thác dầu khí, lắp dáp sản xuất ôtô xe máy,  viễn thông quốc tế và nội hạt…

    Hiện nay, khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu khí; 53,8% cán thép; 24% xi măng, trong công nghiệp điện tử, vốn FDI chiếm trên 50%, trong đó 100% về các sản phẩm phẩm như tụ điện, mạch trong, máy thu băng, đầu  video, 70% về đèn hình các loại. Trong công nghiệp dệt may, vốn FDI chiếm 100% về năng lực sản xuất sợi PE,PES , 55% năng lực kéo sợi, 39,3 năng lực may, 32% sản xuất giầy dép. Ngoài ra khu vực FDI còn chiếm 18% chế biến thực phẩm, 14% sản phẩm hoá chất. Với năng suất lao động cao và khả năng tạo ra 25% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng 21-24%/năm, khu vực FDI có tác động ngày càng lớn đến nền kinh tế.

    Khu vực FDI đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của nền sản xuất nước ta. Nhiều công nghệ mới đã được nhập vào nước ta như thiết kế, chế tạo máy biến thế, dây truyền tự động lắp dáp hàng điện tử, lắp ráp tổng đài điện thoại tự động kỹ thuật số, công nghệ sản xuất cáp điện, cáp thông tin…nhìn chung các thiết bị là đồng bộ, có trình độ cao bằng hoặc cao hơn các thiết bị tiên tiến trong nước và thuộc loại phổ biến ở các nước trong khu vực. Các doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới, kiểu dáng đẹp, chất lượng tiêu chuẩn Việt nam, một số đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    c.Khu vực có vốnFDI đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực

    Cho đến nay khu vực FDI đã thu hót được vạn 30 vạn lao động trực tiếp, nếu tính cả gián tiếp (xây dựng, dịch vô …) ước tính lên tới gần 40 vạn người, với mức lương trung bình 70USD/ tháng, ước tính thu nhập hàng năm lên tới trên 300 triệu USD.  Qua hợp tác đầu tư người lao động Việt nam có điệu kiên nâng cao tay ngề, tiếp thu kỹ năng, công nghệ và kinh ngiệm quản lý tiên tiến, tác phong lao đông công nghiệp ..

    d.Đầu tư nước ngoài giúp sản phẩm Việt nam gia nhập thị trường quốc tế nhanh hơn, giúp các nhà sản xuất Việt nam nhanh chóng tiếp thu trình độ và phương pháp quản lý tiên tiến. đầu tư nước ngoài tạo ra một sức cạnh tranh mới cho thị trường Việt nam, buộc các nhà sản xuất Việt nam phải năng động, tiếp thu công nghệ tiên tiến…

    e.Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng hợp tác với nước ngoài theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt nam vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay có trên 60 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt nam, trong đó có nhiều tập đoàn, công ty lớn có nhiều tiềm năng về công nghệ và tài chính như P&G, tập đoàn ôtô FORD, TOYOTA,…điều đó đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo thuận lợi cho Việt nam tham gia ASEAN, ký hiệp định kkhung với Châu Âu bình thương hoá quan hệ với Mỹ, phá thế bao vây cấm vận và nâng vị thế của Việt nam tại khu vực và trên thế giới.

    Bên cạnh những mặt tích cực trên, trong hoạt động đầu tư nước ngoài cũng còn một số hạn chế, yếu kém gây cản trở tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội.

    2.Mét số mặt chưa được trong quan hệ đầu tư nước ngoài.

    a.Mức nép ngân sách Nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của nó. Nguyên nhân chính là do nhiều doanh nghiệp còn bị thua lỗ hay đang trong thời kỳ miên giảm thuế.

    b.Tốc độ triển khai dãy sè  còn chậm so với dự kiến ban đầu, do các thủ tục sau khi cấp giấy phép phức tạp, kéo dài, đặc biệt là các vấn đề đất đai, nhập  khẩu thiết bị đã qua sử dụng.

    c.Vấn đề lao động và tiền lương : các địa phương chưa chú trọng đến công tác đào tạo lao đọgn cung cấp cho các doanh nghiệp mà việc này là  phần  lớn các doanh nghiệp phải tự tổ chức nên hiệu quả không như mong muốn, có nhiều trường hợp làm trái với quy định của Nhà nước. Các cơ quan làm nhiệm vụ cung cấp lao động thường không chịu trách nhiệm về chất lượng của người lao động, dẫn đến việc đưa cả người không lương thiện vào làm việc, gây mất an ninh trong doanh nghiệp.

    Về tiền lương, hiện nay vẫn còn tình trạng cố tình vận dụng sai chính sách quy định để giảm tiền lương của người lao động. Theo quy định, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải trả lương công nhân bằng ngoại tệ do vậy ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngoại tệ của doanh nghiệp, gầm đây Bộ Lao động thương binh và xã hội đã đề nghị Chính phủ cho phép các doanh nghiệp trả lương công nhân bằng nội tệ nhưng không được chấp nhận.

    d.Vấn đề môi trường : đây là vấn đề quan trọng nhưng chưa được chú ý đúng mức. Nhiều dừ án đã đi vào sản xuất nhưng chưa có công trình sử lý nước thải, đặc biệt là chất rắn, gây ô nhiễm môi trường, nhiều dự án xây dựng xong mới báo cáo đánh giá tác động môi trường.

    e.Cơ sở hạ tầng : hiện nay các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung vào các ngành sản xuất vật chất và dịch vụ là những ngành có rủi ro thấp mà thu hồi vốn nhanh mà Ýt dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng do vậy cơ sở hạ tầng nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

    Trên đây là một số hạn chế của hoạt động đầu tư nước ngoài, chúng ta đã nhìn nhận thấy từ lâu và cố gắng khắc phục, tuy nhiên có nhiềi vấn đề động đến lợi Ých của nhà đầu tư nên không thể giải quyết trong một chốc lát mà phải làm từ từ và có sự cộng tác chặt chẽ với nhà đầu tư mới hy vọng giải quyết triệt để được.

    IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÓT VỐN ĐÂU  TƯ  NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có được thực hiện hay không, điều đó tuỳ thuộc vào cả hai phía, bên đi đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư vì vậy để thu hót và sử dụng có hiệu quả FDI cần thiết phải kết hợp được hài hoà lợi Ých giữa hai bên. Trong điều kiện hiện nay hoạt động đầu tư nước ngoài  gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng  của cuộc khung hoảng tài chính trong khu vực, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp không Ýt khó khăn. Để gây được lòng tin của nhà đầu tư chúng ta cần có những biện pháp giúp đỡ các doanh nghiệp đang hoạt động tháo gỡ khó khăn và giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà đối với các nhà đầu tư tạo điều kiện cho họ giảm bít  được chi phí đầu tư và nhanh chóng đưa dự án đi vào hoạt động.

    Hơn nữa, hiện nay có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước thu hót vốn đầu tư  nước ngoài. các quốc gia như Trung Quốc, Ên Độ …luôn cải cách các thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trương đầu tư để tăng cường thu hót vốn FDI. Việt Nam muốn thu hót  được nhiều hơn nữa vốn FDI cũng buộc phải có những cải cách thực sự.

    Để tăng cường thu hót vốn đàu tư  nước ngoài hơn nữa, trong thời gian tơí, chúng cần tập chung giải quyết một số việc sau :

    1.Tập trung cao độ công tác quản lý, điều hành tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các dự án đang hoạt động

    Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, các cơ quan quản lý Nhà  nước các cấp phải có thái độ thực sự chia sẻ, coi các khó khăn của họ là khó khăn của mình, từ đó tập trung chỉ đạo và điều hành xử lý các vấn đề phát sinh, tạo điều kiện cho họ vượt qua tác động của cuộc khủng hoảng, an tâm tiếp tục đầu tư, hết sức để tránh xẩy ra đổ vỡ và họ rót  lui. Đó cũng là cách làm có tính thuyết phục cao để gây dựng lòng tin với các nhà đầu tư đang hoạt động và để thu hót các nhà đầu tư mới, các dự án mới. Tại cuộc gặp và làm việc với các công ty dầu khí  nước ngoài tại Hà nội ngày 7/7/1998, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh “ chính phủ sẽ chia sẻ rủi ro, thiệt hại với các nhà đầu tư. Việt Nam làm ăn với  nước ngoài luôn có trước có sau, chúng tôi không muốn ai vào Việt Nam mà về tay không. chính phủ sẽ có gắngd tháo gỡ, ngiên cớu chính sách, để sửa đổi một cách nhanh chóng theo định hướng tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, vì điều này có lợi cho các nhà đầu tư  nước ngoài và có lợi cho Việt Nam, nghĩa là hai bên chúng ta cùng có thắng”.

    Trên tinh thần đó đề nghị các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các địa phương nhanh chóng rà soát tất cả các dự án trên địa bàn để có biện pháp sử lý, hỗ trợ thích hợp.

    a.Đối với các dự án đang làm thủ tục hành chính hoặc đang xây dựng cơ bản, chưa đi  vào hoạt động cần tiến hành các biện pháp sau :

    – Kiểm tra tình hình triển khai các dự án để tìm hiểu kỹ các nguyên nhân, tập chung tháo gỡ các thủ tục hành chính gây phiền hà cản trở tiến độ triển khai dự án, xử lý các hiện tượng gây phiền hà sách nhiễu đói với nhà đầu tư, bãi bỏ các thủ tục giấy tờ không cần thiết, công bố rõ quy trình, trách nhiệm và thời  gian sử lý các thủ tục quy định. Cố gắng tập trung các đầu mối về sở kế hoạch và Đầu tư, tránh phân quyền cho quá nhiều cơ quan làm phức tạp quá trình xử lý gây phiền hà.

    – Kiến nghị  Nhà  nước cho phép một số doanh ngiệp có vốn FDI có nhu cầu thực sự và khả năng trả nợ vay vốn  tại các ngân hàng Việt Nam. Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước phối hợp ban hành các quy chế về cầm cố, thế chấp để doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài có thể vay vốn của các ngân hàng trong và ngoài  nước, của các tổ chức tài  chính quốc tế.

    -Chỉ đạo thực hiện nhanh chóng việc đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã cấp giấy phép. Kiến ngị Bộ Tài chính khả năng đưa chi phí đền bù vào giá tiền thuê đất, đảm bảo tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp trong  nước về giá tiền thuê đất. Hoãn hoặc miễn tiền thuê đất đối với các dự án xin dừng hoặc giãn tiến độ triển khai vì gặp khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực.

    b.Đối với các dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Cho các dự án  đã  cấp giấy phép đầu tư hưởng ngay những ưu đãi của quy định về thuế lợi tức, giá thuê đất mới, xem xét miễn giảm thuế đất đối với các doanh nghiệp thực sự lỗ vốn …hỗ trợ bán ngoại tệ cho các doanh nghiệp đang thực sự khó khăn do khủng hoảng kinh tế khu vực, xuất khẩu  bị thu hẹp.

    -Cho phép các dự án sản xuất hàng xuất khẩu  đang gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu được điều chỉnh tỷ lệ tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm mà trong  nước vẫn nhập khẩu, thị trường trong  nước có nhu cầu hoặc chuyển đổi mặt hàng kinh doanh. Khuyến khích đối đa các doanh nghiệp xuất khẩu , các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trung gian phục vô  xuất khẩu, tạo mọi thủ tục nhanh chóng dễ  dàng thuận tiện cho xuất khẩu  sản phẩm.

    – Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một số trường hợp áp dụng chế độ kế toán thống kê thông dụng quốc tế, xem xét lai thời hạn bắt buộc tất cả các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán Việt Nam, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính doanh nghiệp FDI nhằm khắc phục sơ  hở gây thiệt hại đến lợi Ých Nhà nước Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam. Cần sớm có luật về kiểm soát bán phá giá và chống độc quyền, luật kinh doanh bất động sản…

    Cho phép chuyển một số liên doanh làm ăn thua lỗ nặng mà  phía Việt Nam không có  khả năng cùng gánh chịu thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

    Ngừng việc cấp giấy phép xây dựng mới và giãn tiến độ xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất để tập trung vào các khu công ngiệp hiện có. Đối với các khu công nghiệp đã cấp giấy phép nhưng chưa triển khai xây dựng thì tạm ngừng triển khai xây dựng, đối với các khu công nghiệp đang bắt đầu đầu tư thì giãn tiến độ đầu tư. Các khu công nghiệp phải chuyển trọng tâm và hoạt động vận động đầu tư để lấp đầy đủ diện  tích cho thuê.

    2.Tăng cường quán triệt đầy đủ, nhất quán Nghị quyết Đại hội trung ương Đảng lần thứ IV về phát huy nội lực, thực hiện nhất quán chính sách thu hót các nguồn lực bên ngoài.

    Để tăng cường thu hót vốn đầu tư nước ngoài, trong thời gian tới, chúng ta phải đổi mới công tác vân động đầu tư theo hướng gắn liền với các dự án, chương trình cụ thể, các cơ  quan hữu quan phải có trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn các chủ đầu tư trong quá trình tìm hiểu, chuẩn bị dự án. soạn thảo phổ biến chính sách tài liệu bằng các thứ tiếng thông dụng, sử dụng Iternet trong công tác tuyên truyền vận động đầu tư.

    3. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam.

    Để cải thiên mạnh mẽ môi trường đầu tư, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng liên quan đến FDI : nghị định 12/CP ; nghị định 08/1/98 NĐ-CP. Các bộ, ban , ngành đã ban hành hàng loạt văn bản hướng dẫn thực hiện các nghị định, chỉ thị nêu  trên.

    4.Bè trí cán bộ có năng lực, phẩm chất vào vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp liên doanh.Bồi dưỡng đào tạo lại cán bộ đang làm việc tại gần một ngìn liên danh, xây dựng và phát huy vai trò của tổ chức Đảng, công đoàn.

    Trên đây là một số giải pháp tình thế trước mắt nhằm giảm bớt các khó khăn cho các doanh nghiệp có vốn FDI và xây dựng lòng tin với các nhà đầu tư. Về lâu về dài chúng ta phải đưa ra những biện pháp có tính chiến lược như sau :

    5.Thiết lập hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất.

    Nước ta vẫn được các nhà đầu tư đánh giá là  nước có thể chế chính trị ổn định. Tuy nhiên, họ cũng rất băn khoăn về tình trạng thiếu tính hệ thống của pháp luật, tạo nhiều lỗ hổng về mặt pháp lý, đặc biệt các nhà đầu tư kêu ca về tình trạng thay đổi quá nhanh và đôi khi tuỳ tiện một số quy định về mức thuế, thời hạn áp dụng. Do vậy việc hoàn chỉnh hệ thốngpháp luật được coi là nhiệm vụ quan trọng và cần phải được quan tâm giải quyết.

    6.Cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư .

    Đối với các nhà đầu tư “ thời gian là vàng” chỉ cần chậm chân có khi chỉ một vài ngày là đã mất cơ hội làm ăn. Trong khi đó thủ tục hành chính của  nước ta vẫn còn rất nhiều điều gây phiền hà, mất thời gian cho các nhà đầu tư. Một số không  Ýt công chức Nhà nước quá lạm dụng quyền hạn của mình mà quên mất trách nhiệm hướng dẫn taọ điều kiện cho nhà đầu tư. Vì vậy một trong các nhiệm không thể chậm chễ là phải cải cách hành chính ở tất cả các khâu một cách tối ưu.

    7.Lập quy hoạch chi tiết vùng lãnh thổ, chuẩn bị những điều kiện cần thết cho quá trình chuẩn bị đầu tư.

    Trong công tác quy hoạch vùng chúng ta còn nhiều bất cập, vì vậy dẫn đến hiện tượng vốn FDI tập trung quá nhiều vào các vùng có điều kiện thuận lợi, để tạo thuận lợi cho việc phát triển đồng đều giữa các vùng, chúng ta phải lập được quy hoạch chi tiết về vùng lãnh thổ.

    Chương III

    Vận dông một số phương pháp thống kê vào phân tích thực trạng đầu tư  nước ngoài vào Việt nam thời gian qua.

     Thu hót  đầu tư nước ngoài là một trong các chính sách kinh tế quan trọng nó góp phần không nhỏ vào phát triển nền kinh tế nước ta trong giai đọan hiện nay.

    Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của các cô chú trên vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện, em đã có được một số tài liệu phản ánh thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ  1988 – 1999 bao gồm các số liệu cụ thể sau:

    Số liệu về số dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đầu tư, số vốn đầu tư thực hiện. Các số liệu trên được phân theo năm, theo nghành kinh tế và theo đối tác đầu tư. Với nguồn số liệu này cho phép phân tích tình hình thu hót và thực hiện vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua, phân tích cơ cấu vốn đầu tư theo nghành kinh tế, cơ cấu theo vùng kinh tế, theo đối tác đầu tư và biến động cơ cấu theo tiêu trên.

    Số liệu về một số kết quả mà hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại như : sè liệu về doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, về tình hình xuất nhập khẩu của bộ phận có vốn đầu tư nước ngoài, về nép ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm  cho người lao động.  Với các số liệu này cho phép em phân tích một số chỉ tiêu kết quả do hoạt động đầu tư nước ngoài mang lại và mối liên hệ giữa các chỉ tieeu trên với chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện.

    Dưới đây xin trình bày cụ thể kết quả  phân tích các chỉ tiêu trên qua các phương pháp thống kê thông dụng.

    I . VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÃY SỐ THỜI GIAN PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.TỪ 1988 –1999.

    Để nghiên cứu thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt nam, ta có thể ngiên cứu qua một số chỉ tiêu chủ yếu như : sè vốn đăng ký ,sè  dự án được cấp giấy phép, số vốn thực hiện, một số chỉ tiêu kết quả chủ yếu… Đây là các chỉ tiêu chình, thường được sử dụng trong việc đánh giá hoạt động đầu tư nước ngoài.

    1.Ngiên cứu biến động của : sè dự án được cấp giấy phép đầu tư, số vốn đăng ký, số vốn thực hiện  và quy mô bình quân một dự án.

    a.Số vốn đăng ký

    Trong hơn 10 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã thu được một kết quả rất lớn được thể hiện trong bảng sau đây.

    Biểu số 1:vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam thơig kỳ 1988-1999

    Năm Số dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Quy mô bình quân của dự án
    88 37 367 9,9
    89 69 581 8,4
    90 108 635 5,9
    91 151 1275 8,4
    92 197 2027 10,3
    93 274 2589 9,4
    94 367 3746 10,2
    95 408 6608 16,2
    96 265 8640 32,6
    97 346 4654 13,4
    98 275 3925 14,2
    99 309 1562 5,0
    Tổng 2,806 36609 13,1

    Như vậy, kể từ khi đưa luật đầu tư nước ngoài vào thực hiện đến nay cả nước ta đã thu hót được 2806 dự án với số vốn đăng ký là 36609 triệu USD, nhìn vào biểu trên ta thấy trong cả thời kỳ trên có thể chia ra làm ba giai đoạn sau căn cứ vào xu hướng biến động riêng của từng giai đoạn

    Giai đoạn mét :1988-1990 giai đoạn “khởi đầu”, sau một thời kỳ dài nền kinh tế bị trãi buộc dưới cơ chế quản lý tập trung, đất nước ta rơi vào một cuộc khủng hoảng kéo dài. Tại Đại Hội Đảng lần thứ VI năm 1987 Đảng và Nhà nước ta quyết định chuyển hướng nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước  đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế kêu gọi các nhầ đầu tư quốc tế đầu tư vào Việt nam, Luật Đầu Tư Nước Ngoài được ban hành cuối năm 19887 là sự cụ thể hoá chủ trương này

    Giai đoạn này, cả nước thu hót được 214 dự án, với số vốn đăng ký là 1583 triệu USD, tốc độ phát triển của số dự án và vốn đăng ký là khá cao  bình quân 170% với dự án và 162% với vốn đăng ký, nhưng lượng tăng tuyệt đối thì khá nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do cả phía ta và nhà đầu tư. Về phía ta, do đây là buổi ban đầu nên chúng ta cũng chưa thật sự tin tưởng, điều này được thể hiện qua bộ luật đầu tư bn hành năm 1987 còn khá chặt chẽ với các nhà đầu tư. Về phía các nhà đầu tư họ chưa quen với thị trương Việt nam nên cũng rất thận trọng trong các bước đi.
    Nguyªn nh©n chñ yÕu do c¶ phÝa ta vµ nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa ta, do ®©y lµ buæi ban ®Çu nªn chóng ta còng ch­a thËt sù tin t­ëng, ®iÒu nµy ®­îc thÓ hiÖn qua bé luËt ®Çu t­ bn hµnh n¨m 1987 cßn kh¸ chÆt chÏ víi c¸c nhµ ®Çu t­. VÒ phÝa c¸c nhµ ®Çu t­ hä ch­a quen víi thÞ tr­¬ng ViÖt nam nªn còng rÊt thËn träng trong c¸c b­íc ®i.

    Giai đoạn hai :1990-1995 “giai đoạn tăng trưởng nhanh”

    Giai đoạn này cả nước thu  hót được 1397 dự án, với số vốn đăng ký là 16245 triệu USD, sự tăng trưởng trong giai đoạn này là khá nhanh, tốc độ phát triển bình quân của dự án là : 130% của sè  vốn đăng ký là : 150%, lượng tăng tuyệt đối bình quân : dù án là 75 dự án/năm, số vốn đăng ký là 2882 là triệu USD/ năm, so với thời kỳ trước số dự án gấp 6,5 lần số vốn đăng ký gấp 10,26 lần.

    Đạt được kết quả này là do chóng ta đã mạnh dạn tin tưởng vào vào đường lối đề ra, Luật đầu tư  nước ngoài hai lần được sửa đổi bổ xung vào các năm 1990 và1992 nhằm làm cho môi trường đầu tư thông thoáng hơn và phù hợp với tình hình, về phía các nhà đầu tư họ đã mạnh dạn đầu tư vào Việt nam vì nước ta là một nước với thị trường rộng mở, lao động rẻ, tài nguyên phong phú và nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới.

    Giai đoạn 1996-1999

    Trong cả giai đoạn này cả nước thu hót được 1195 dự án với số vốn đăng ký là 19389 triệu USD, so với giai đoạn trước số vốn mới cấp tăng 120%. Điều đáng nhắc đến trong giai đoạn này là với nỗ lực rất lớn của Chính phủ Việt nam thể hiện bằng việc năm 1996 bộ luật đầu tư mới được ban hành được coi là rất thông thoáng thì lượng vốn đăng ký ngày càng giảm dần : trung bình 30% năm. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã ảnh hưởng mạnh tới các nhà đầu tư lớn vào Việt nam như ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc. Một lý do khác nữa là môi trường đầu tư nước ta còn nhiều khó khăn trở ngại cho nhà đầu tư,

    Về quy mô dự án : nhìn chung quy mô dự án tăng dần theo thời gian  giai đoạn 1988-1990 quy mô trung bình một dự án là 7,4 triệu USD, giai đoạn 1991-1995 là 11,6 triệu USD một dự án, giai đoạn 1996-1999 là 16,25 triệu USD một dự án. Qua quy mô dự án ta thấy phần nào sự chuyển hướng trong đầu tư.

    So với kế hoạch đề ra phải thu hót được từ 35-40 tỷ USD vốn đầu tư giai đoạn 1991-2000 thì kết quả như trên đã là đạt mục tiêu đề, tuy nhiên kết quả yếu kém trong thời gian gần đây sẽ là một khó khăn lớn trong việc thực hiện kế hoạch của giai đoạn tới.

     

     

     
    Vốn đầu tư đăng ký theo thơi gian

    b.Vốn đầu tư thực hiện.

    Trong hoạt động đầu tư nước ngoài, việc thu hót được nhiều dự án và vốn đăng ký là việc rất quan trọng tạo ra cơ sở nền tảng cần thiết, nhưng một việc không kém phần quan trọng là đưa số dự án được cấp giấy phép và vốn đăng ký vào hoạt động. Đây là một việc phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan nhà đầu tư, vai trò của chúng ta là phải làm sao cho họ thật sự tin tưởng, mạnh dạn bỏ vốn cũng như hỗ trợ họ trong quá trình thực hiện đầu tư.

    Luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực kể từ năm 1988, nhưng vốn đầu tư thực sự đưa vào Việt nam nhiều kể từ 1991 sau khi  các dự án hoàn tất các thủ tục đầu tư vào các nhà đầu tư thật sự tin tưởng vào chính sách thu hót vốn FDI của Việt nam, số liệu thực hiện vốn đầu tư từ 1988 đến 1999.

     
    Biểu sè 2: Vốn đầu tư thực hiện từ 1991 đến 31/12/1999
    Năm Vốn ĐT thực hiện(triệuUSD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển%
    Liên hoàn Định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 477      
    92 536 59 59 120 120
    93 1090 554 643 203 243
    94 2204 1114 1757 202 493
    95 2720 516 2273 123 608
    96 2836 116 3173 104 643
    97 3620 784 1687 127 809
    98 2134 -1486 1079 58 477
    99 1526 -608 1049 71 341
    Tổng 15015        

    Nhìn vào biểu trên ta thấy, lượng vốn tăng mạnh từ năn 1991 đến 1997, tốc độ tăng trong giai đoạn này là khá cao bình quân là 141% năn, lượng tăng tuyệt đối bình  quân là 628,6 triệu USD năn, tổng vốn đầu tư thực hiện trong cả thời kỳ này là 15015 riệu USD, Tuy nhiên cùng với sự suy giảm chung của nền kinh tế đất nước, vốn đầu tư thực hiện trong hai năm gần đây liên tục giảm : năm 1998 giảm so với 1997 là 42% tức 1486 triệu USD, năm 1999 giảm so với 1998 là 29% tức 608 triệu USD.

    So với vốn đăng ký, tỷ lệ vốn đưa vào thực hiện đạt trung bình là 41%, tỷ lệ này so với các nước trong khu vực là tương đối thấp. Ta thấy có một hiện tượng là nếu những năm liền trước có nhiều vốn đăng ký thì năm

    sau vốn thực hiện cũng cao. Tức là có hiện tượng “trễ” so với vốn đăng ký, vốn thực hiện năm nay thường là kết quả của vốn đăng ký những năm liền trước, vì vậy năm 1997 trong khi vốn đăng ký giảm so với vốn thực hiện là

    46% thì vốn thực hiện lại tăng 127%, do vậy kết quả yếu kém trong thu hót vốn đầu tư những năm gần đây sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch trong những năm đầu của thập kỷ này.

    Vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    c.Vốn đầu tư thực hiện và tương quan với vốn đầu tư toàn xã hội.

    Trong cả thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều nguồn lực cho phát triển kinh tế, mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu, hàng năm vốn đầu tư luôn ở mức rất cao, lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau.

    Vốn đầu tư FDI và vôn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 1990- 1999

    Năm Vốn đầu tư toàn xã hội (A) Tốc độ phát triển của A (%) Vốn FDI (B) Tốc độ phát triển của B
    90 7581 990
    91 13470 177 1926 194
    92 24736 183 5185 269
    93 42176 170 10621 204
    94 54296 128 16500 155
    95 68047 125 22000 133
    96 79367 116 22700 103
    97 96870 122 30300 133
    98 96400 99 24300 80
    99 103900 106 18900 77
    Tổng 586840   158820  

    Trong cả thời kỳ vừa qua, vốn đầu tư toàn xã hội là 586840 tỷ đồng, trong đó vốn FDI là 158820 tỷ, chiếm 27%, để huy động được lượng vốn khổng lồ này. Nhà nước ta phải huy động từ rất nhiều nguồn : từ NSNN, vốn vay trong dân( qua các loại công trái ), vay nước ngoài (vay các chính phủ và các tổ chức tài chính thế giới). Trong các nguồn trên ta thấy có hai nguồn là : từ vay trong dân và vốn FDI là hai nguồn có tiềm năng nhất, do đó việc khai thác tốt hai nguồn này sẽ tạo ra động lực rất lớn cho việc phát triển. Nguồn vốn từ trong dân có thể coi là nội lực, còn nguồn FDI được coi là “cú huých”, tất cả các nước đang phát triển trong đó có Việt nam nguồn vốn này vai trò của nó rất quan trọng.

    Qua biểu trên ta thấy : so với tốc độ biến động của vốn đầu tư toàn xã hội tốc độ biến động của vốn FDI biến động nhanh hơn : giai đoạn đầu vốn FDI tăng rất nhanh : 194% năm 1991; 269% năm 1992; 204% năm 1994 và 155% năm 1995. Sau đó tốc độ tăng chững lại và giảm dần từ năm 1997 trong khi vốn đầu tư toàn xã hội vẫn tiếp tục tăng , điều này phần nào thể hiện sự giảm dần tính hấp dẫn trong môi trườn đầu tư nước ta.

    2.Phân tích FDI theo biến động  cơ cấu .

    a.Biến động cơ cấu kinh tế

    Cơ cấu vốn đầu tư trong cả thời kỳ 88-99

    Trong một thời kỳ dài trước đây trước đây chúng ta chủ trương xây dựng đất nước theo hướng “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển công nghiệp nhẹ và nông ngiệp” có thể thấy đây là một nhận thức giáo điều, dập khuôn theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Từ khi mở cửa nền kinh tế đất nước quan điểm của chúng ta còng thay đổi với chủ trương “phát triển nông lâm ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tăng cường phát triển công ngihệp nhẹ và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển có chọn lọc một số ngành công ngiệp nặng mòi nhọn”

    Xuất phát từ quan điểm này chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế với cơ cấu ngành theo hướng của một nc công nghiệp phát triển với các chỉ tiêu cụ thể sau đây : ngành nông ngiệp chiếm từ 19-20% GDP, ngành công nghiệp chiếm từ 35-40% GDP, ngành dịch vụ chiếm khoảng 40% GDP.

    Trong quan hệ hợp tác đầu tư với nước ngoài, chúng ta cũng định hướng thu hót vốn và các dự án theo hướng chú trọng vào phát triển công nghiệp trọng điểm, công nghiệp chế biến để làm ngòi nổ cho các ngành khác phát triển.

    Biểu sè 4: Cơ cấu vốn đầu tư  phân theo ngành kinh tế từ 1988-1999

    Ngành Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK (%) Vốn TH/Dự án (triệu USD)
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    N.N 363 12,3 1361 3,7 1123 6,2 82,5 3,09
    C.N 187 62,9 18978 52,0 9795 57,2 51,6 4,95
    D.V 742 24,8 16269 44,3 6420 37,6 39,4 8,65
    Tổng 2806 100,0 36609 100,0 17184 100,0 0,47 6,12

    Số dự án được cấp giấy phép đầu tư phân theo nghành kinh tế

    Ta thấy ngành công ngiệp là ngành có nhiều dự án đầu tư nhất với 1823 dự án chiếm 62,9% tổng số, tiếp đến là ngành dich vụ với 720 dự án và sau đó là ngành nông ngiệp chỉ với 352 dự án,

     

    Trong nội bộ ngành công nghiệp nghành công nghiệp chế tạo máy móc thu hót được 535 dự án chiếm gần 30%, ngành công nghiệp nhẹ và công ngiệp chế biến thu hót được 958 dự án chiếm trên 50%.

     
    Số dự án phân theo ngành  kinh tế
     

    So với ngành nông nghiệp và dịch vụ, công nghiệp thu hót được nhiều vốn nhất với 18.956 triệu USD chiếm 52%, ngành dịch vụ có 16250 triệu USD chiếm 44,3%, ngành nông ngiệp chỉ có 1.360 triêu USD chiếm 3,7% tổng số vốn đầu tư. Về quy mô bình quân một dự án thì ngành công nghiệp là 10,4 triệu USD /một dự án, ngành dịch vụ là 22,5 triệu USD lớn hơn công ngiệp rất nhiều, có hiện tượng này là các dự án đầu tư vào xây dựng khu đô thị được tính vào ngành dịch vụ.

    Nhìn vào biểu tên ta thấy, ngành công nghiệp là ngàng có vốn đầu tư thực hiện cao nhất với 9498 triệu USD chiếm 55,2%, tiếp đến là ngành dịch vụ có 6420 triệu USD triệu USD chiếm 37,6% tổng số, ngành nông ngiệp chỉ với 1420 triệu USD bằng 8,2% có tỷ trọng nhỏ nhất.

    Ngành công ngiệp có vốn đầu tư  lớn vì : so với ngành dịch vụ và ngành nông ngiệp thì vốn đầu tư cho một dự án thuộc lĩnh vực công ngiệp cần phải có lượng vốn đầu tư lớn hơn, có dù  án vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD như VIETSOVPETRO, dự án trương trình dầu khí Nam Côn Sơn  và các dự khác trong lĩnh vực chế tạo ôtô, xe máy…hơn nữa là đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công ngiệp thực phẩm vòng quay của vốn rất nhanh lại rễ đạt được lợi nhuận cao nên có nhiều dù  án được thực hiện, lĩnh vực dầu khí là lĩnh vực mà các nhà đầu tư tham gia đầu tư là những nhà đầu tư có tiềm lực tài chính mạnh nên khả năng thực hiện cũng rất cao.

     
     
    Vèn ®Çu t­ thùc hiÖn ph©n theo ngµnh kinh tÕ

     

    Biểu sè 5: Tỷ trọng trong GDP của một sè  nước Châu á năm 1990         đơn vị %

    Nước Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Hàn Quốc 6 43 51
    Đài Loan 4,2 42,3 53,5
    Malaixia 13,5 42,2 44,3

    So sánh với các nước trên, là các quốc gia tương đối phát triển trong khu vực, ta thấy vốn FDI đầu tư vào nước ta cũng đi theo hướng của một nước công nghiệp phát triển như chủ trương mà chúng ta đã đề ra từ đầu.Biến động cơ cấu theo thời gian

    Biến động  cơ cấu vốn đầu tư theo theo thời gian.

     

    Biểu sè 6: Biến động vốn đầu tư đăng ký

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 314,5 20 752 47,5 518 32,5
    91-95 670,4 4,1 8852,8 54,5 6721 41,2
    96-99 376 2 9081,6 48,5 9296 49,5

    Nhìn vào biểu trên cho ta thấy : ngành công nghiệp có lượng vốn đầu tư tương đối ổn định, nhành dịch vụ có lượng vốn đầu tư vào liên tục tăng, nguyên nhân chính là hai ngành mới được đầu tư với số vốn đăng ký đến là ngành xây dựng khu công nghiệp- khu chế xuất, và ngành xây dựng khu đô thị thuộc lĩnh vực dịch vụ. Ngành nông nghiệp có tỷ trọng vốn đầu tư liên tục giảm, nhưng điều đáng mừng là những dự án đầu tư vào ngành nông nghiệp phần nhiều thuộc lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng và chế biến nông sản.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư đăng ký theo thời gian

    Biểu sè 7: biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian 88-99

    Ngành Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vô
    Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số vốn (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    88-90 25 5,8 752,0 47,5 245 46,7
    91-95 430 5,9 8852,8 54,5 2979 39,6
    96-99 695 7,1 9081,6 69,5 3196 23,4
    Chung 1150 4,4 18686,4 71,2 6420 24,4

    Qua biểu trên ta thấy, vốn đầu tư thực hiện có xu hướng tăng rõ rệt trong ngành công nghiệp, nếu giai đoạn trước (1991-1995) nó chiếm tỷ trọng là 45,5% thì trong giai đoạn này tăng lên là 61,4%, Ngành nông nghiệp cũng tăng nhẹ (do tốc độ chậm nên tỷ trọng giảm từ 9,7 xuống còn 7,1%), riêng ngành dịch vụ giảm xuống từ 47,8% còn 31,5%.

    Như vậy ta thấy có xu hướng chuyển dịch vốn đầu tư từ các lĩnh vực dịch vụ sang lĩnh vực sản xuất, đây là một sự chuyển dịch hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư.

     
     
     

    Biến động vốn đầu tư thực hiện theo thời gian

    1. Cơ cấu lãnh thổ.

    Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu phát triển của chúng ta là mang đến sự phồn vinh cho tất cả mọi cá nhân trong xã hội, xây dựng một nền kinh tế phát triển cân đối giữa các vùng các địa phương trong cả nước. Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp, vốn đầu tư cho phát triển có hạn do đó không thể đầu tư dàn trải mà phải có trọng điểm nên phần nào đã làm mất cân đối giữa các vùng trong cả nước. Hơn nữa các nhà đầu tư luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên họ luôn tìm nơi có điều kiện thuận lợi, chi phí đầu tư thấp để bỏ vốn, do đó để thực hiện mục tiêu phát triển cân đối ngày càng trở nên khó thực hiện.

    Nghiên cứu vốn đầu tư theo lãnh thổ ta chia cả nước thành ba miền : miên Bắc – miền Nam – miền Trung, và hai vùng : đồng bằng và miền núi.

    Biểu sè 8 vốn đầu tư phân theo lãnh thổ giai đoạn 88-99
    Miền Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lượng Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    Bắc 792 28,2 12659 34,6 5057,7 30 39,9 6,4
    Trung 210 7,5 3832 10,5 772,5 4,5 20,2 3,6
    Nam 1803 64,3 20122 55,1 11353,8 65,5 56,42 6,3
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Về vốn đầu tư đăng ký

    Nhìn vào hai biểu trên cho ta nhận định vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam với 1577 dự án chiếm 64,3% và 18662triệu USD chiếm 55,1% số vốn đăng ký. Tiếp theo là các tỉnh phía Bắc với 692 dự án chiếm 28,2% và 11743 triệu USD chiếm 34,6% vốn đăng ký, miền Trung chỉ có 184 dự án với số vốn đăng ký là 3554 triệu USD. Trong hai miền trên vốn đầu tư cũng chỉ tập chung ở hai trng tâm kinh tế lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.

    Vốn đầu tư cũng tập trung rất Ýt ở các tỉnh miền núi, trong hơn 10 năm các tỉnh miền núi chỉ thu hót được 125 dự án (5% số dự án ) và 1632triệu USD vốn đăng ký.

    Vốn đầu tư tập trung ở hai khu vực tên tuy đã góp phần xây dựng nên hai trung tâm kinh tế lớn là :TP Hồ Chí Minh- Vũng Tàu và Hà Nội- Hải Phòng –Quảng Ninh, nâng cao đáng kể thu nhập của dân cư ở các trung tâm này nhưng nó cũng đồng thời tạo ra sự mất cân đối lớn giữa các vùng lãnh thổ, không tạo ra nguồn lực để phát huy thế mạnh ở các tỉnh không thuộc hai trung tâm này đồng thời cũng không cải thiện được thu nhập của phần đông dân cư tập trung ở nông thôn và miền núi.

     

    Nhận biết được điều này ,Chính phủ đã có nhiều biện pháp kích thích đầu tư vào các tỉnh miền núi và có điều kiện khó khăn như tăng thời hạn miễn thuế, giảm thuế, tăng tỷ lệ tiêu thụ nội địa cho các doanh ngiệp đầu tư vào các tỉnh trên nhưng kết quả cũng không được như mong muốn.

    Vốn đầu tư đăng ký theo lãnh thổ

                        Về vốn đầu tư thực hiện

    Cũng như vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện tập trung chủ yếu ở miền Bắc với 3432,2 triệu USD chiếm 30% và niềm Nam với 7805 triệu USD chiếm 65,5. Hai trung tâm lớn là Hà nội  và TP Hồ Chí Minh có 5168 triệu USD chiếm 44%, Ngoài các yếu tố về lợi thế thương mại, cơ sở hạ tầng tương đối hiện đại thì yếu tố quản lý cũng là một yếu tố khiến vốn tập trung ở hai vùng này cao. Niềm Nam vốn tập trung cao còn do các  khu công ngiệp, khu chế xuất tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, đây có thể dường như là một mất cân bằng trong quy hoạch vùng của chúng ta

     

    Vốn đầu tư thực hiện phân theo vùng lãnh thổ

    1. Cơ cấu đầu tư theo đối tác

    Cho đến nay đã có 66 quốc gia và vũng lãnh thổ tham gia đầu tư vào Việt nam, trong số các nước này ta có thể phân ra thành 4 nhóm sau :

    Nhóm mét : các nước vùng Đông Bắc Á bao gồm : Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông.

    Nhóm hai : các nước công nghiệp hàng đầu châu Âu và Bắc Mỹ bao gồm : Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Canada.

    Nhóm ba gồm các nước ASEAN.

    Nhóm bốn :các nước còn lại.

    Biểu sè9 : vốn đầu tư phân theo đối tác đầu tư 1988-1999
    Khu vực Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn thực hiện Vốn TH/Vốn ĐK Vốn TH/Dự án
    Số lương Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%) Số lượng (triệu USD) Tỷ trọng (%)
    ASEAN 516 20 8493 23,3 3082 18 36,3 5,9
    Đông Bắc Á 4131 51 14790 40,4 7963 46,3 53,8 5,56
    Châu Âu+Bắc Mỹ 420 15 8237 22,5 3713 21 45,8 8,98
    Các nước khác 392 14 5418 13,8 2426 14,7 44,77 6,2
    Tổng 2806 100 36609 100 17184 100    

    Dẫn đầu trong các nhà đầu tư vào Việt nam là các nước và vũng lãnh thổ Châu Á, nếu gộp cả hai nhóm nước ASAEN và Đông Bắc Á thì hai nhóm này chiếm 70% số dự án (1774 dự án ) và 63,7% số vốn đăng ký (22639 triệu USD). Đây là nhóm các nước bị ảnh hưởng nặng nhất của cuộc khủng hoảng vừa qua nên qua đây ta cũng phần nào thấy được nguyên nhân dẫn đến tình hình đầu tư vào nước ta thời gian gần đây suy giảm.

    Hiện nay tham gia đầu tư vào Việt nam đã có các công ty hàng đầu của Châu á như : Toyota, Sony, Huyndai, Samum…và một số công ty hàng đầu của Mỹ và Châu Âu. Tuy vậy số đến từ Châu Âu và Mỹ là các công ty xuyên quốc gia và các tập đoàn lớn chưa nhiều, theo  một số thì Việt nam không phải là lùa chọn số một của họ, trong thời gian gần đây chúng ta chủ trương sang thu hót vốn đầu tư từ Châu Âu và Mỹ vì đây là những nước luôn đi đầu trong cung cấp vốn FDI nên chúng ta phải tăng cường hơn nữa việc vận động đầu tư đối vơí các nhà đầu tư của hai khu vực này.

    Cơ cấu vốn đầu tư  đăng ký theo đối tác đầu tư
     
     
     

    Về cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác, ta thấy dẫn đầu cũng là các nước vùng Đông bắc Á chiếm 46,3%, tiếp đến là các nước hàng đầu Châu Âu và Bắc Mỹ chiếm 21%, các nước ASEAN đứng ở vị trí tiếp theo với 18%. Ta thấycó sự chuyển dịch vị trí so với vốn đăng ký, các nước Châu Âu và Bắc Mỹ đã nhẩy lên vị trí thứ hai về vốn đầu tư thực hiện vị trí mà các nước ASEAN chiếm giữ trong vốn đầu tư đăng ký. Qua đó ta  thấy được khả năng đưa dự án vào thực hiện của các nước Châu Âu và Bắc Mỹ là 45,8% cao hơn so với các nước ASEAN 36,3%, phải chăng ngoài tiềm lực tài chính mạch hơn các nhà đầu tư ASEAN các nhà đầu tư Châu Âu và Bắc Mỹ luôn ngiên cứu kỹ cơ hội hơn khi quyết định đăng ký đầu tư nên các dự án đầu tư của họ tính khả thi cao hơn.

     

     

     

     

     

     

    Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo đối tác

     

     

     

     

     

     

     

     

    3.Vận dụng phương pháp dãy số thời gian phân tích một số chỉ tiêu kết quả.

    a.Chỉ tiêu doanh thu.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất với hoạt động của một doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài cũng phần nào căn cứ vào chỉ tiêu này để đánh giá tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta.

    Biểu sè10 doanh thu của bộ phận FDI trong thơig kỳ 91-99

    Năm Doanh thu (triệu USD) Lượng tăng tuyệt đối Tốc độ phát triển (%)
    Liên hoàn định gốc Liên hoàn Định gốc
    91 149  
    92 208 59 59 139 139
    93 449 241 300 215 301
    94 952 503 803 212 639
    95 1872 920 1723 196 1256
    96 2583 711 2434 138 1733
    97 3605 1133 3456 139 2419
    98 3823 218 3674 106 2565
    99 4600 777 4451 120 3087
    Tổng 18241        
     

    Ta thấy tổng doanh thu trong hơn mười năm hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI đạt 18241 triệu USD, Năm 1991 mới đạt khoảng 149 triệu USD thì đến năm 1999 đã tăng lên là 4600 triệu USD gấp khoảng 30 lần, tốc độ tăng bình quân của tổng doanh thu là 153% ( khoảng 556 triệu USD\năm ) đặc biệt các năm 1992 và 1993 doanh thu tăng  bình quân là  trên  200%  năm.

    Doanh thu của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài

    Về lợi nhuận : theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống Kê, có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn có lãi, năm 1994 tổng lợi nhuận của các doanh ngiệp có vốn FDI là 452,2 triệu USD, năm 1995 là 494,2 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1996 là 289,5 triệu USD. Đây là lợi nhuận sau khi đã bù trừ đi phần thua lỗ của các doanh ngiệp làm ăn chưa gặp thuận lợi và chịu thua lỗ. Các con số này tuy chưa phải là nhiều nhưng cũng phần nào khẳng định tính hiệu quả trong làm ăn ở Việt nam.

    Về thua lỗ : năm 1994 có 197 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 54,3 triệu USD, 6 tháng đầu năm 1997 có 342 dự án làm ăn thua lỗ với quy mô lỗ là 96 triệu USD. Nguyên nhân thua lỗ chủ yếu là do các doanh ngiệp đưa toàn bộ chi phí hình thành doanh nghiệp vào giá thành những năm đầu và một yếu tố nữa là khấu hao tài sản quá lớn. Phải chăng ở đây có vấn đề giá thành máy móc thiết bị đưa vào liên doanh quá cao so với thực tế và phía nước ngoài muốn nhanh chóng thu hồi vốn về quá nhanh mà Nhà nước chưa kiểm soát được.

    b.Kim ngạch xuất khẩu

     Các doanh nghiệp có vốn FDI tham gia hoạt động trong nên kinh tế Việt nam đã xuất khẩu được một khối lượng hàng hoá đáng kể, thể hiện qua bảng sau:

    Biểu sè 11: kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời kỳ 91-98

    Năm Tổng KNXK triệu USD (A) Xuất khẩu FDI triệu USD (B) B/A (%) Tốc độ phát triển của A (%) Tốc độ phát triển của  (B)
    91 2087 52 2,5
    92 2580 112 4,3 124 215
    93 2985 257 8,6 116 229
    94 4054 352 8,7 136 113
    95 5448 440 8,08 134 125
    96 7255 786 10,83 133 179
    97 9185 1786 19,48 127 228
    98 9361 1982 21,17 102 110
    Tổng 42957 5771 13,4    

    Kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn FDI trong giai đoạn từ 1991-1995 đạt 5771 triệu USD, tốc độ phát triển bình quân của chỉ tiêu này là 168% năm, đây là một tốc độ phát triển khá cao, vì vậy sau 8 năm quy mô xuất khẩu tăng lên 38 lần. Năm 1997 được coi là một mốc son trong tiến trình này đánh dấu con số trên 1 tỷ USD trong kim ngạch xuất khẩu (1786 triệu USD) và tốc độ phát triển so với 1996 là 228%.

    Với giá trị 5771 triệu USD trong cả giai đoạn này, so với cả nước là 42957 triệu USD chỉ bằng 13%, tuy vậy kết quả đạt được là ở chỗ tỷ trọng của bộ phận này liên tục tăng, năm 1991chỉ chiếm 2,5% thì đến năm 1998 đã đạt trên 20%. Một kết quả nữa là xuất khẩu của khu vực này đã khắc phục được khá nhiều nhược điểm  xuất khẩu của Việt nam như mặt hàng chưa qua chế biến hoặc giá trị gia công thấp chiếm tỷ trọng cao, xuất khẩu của khu vực FDI hầu hết các sản phẩm đã qua chế biến (trừ dầu thô) và Ýt trường hợp xuất khẩu qua nước trung gian.

     
     
     

    Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 91-98

    c.Đóng góp vào nền kinh tế đất nước.

    Đóng góp vào nền kinh tế đất nước của khu vực FDI được thể hiện qua hai chỉ tiêu là : Nép NSNN và đóng góp vào GDP.

     

    Biểu sè 12 : Đóng góp vào nền kinh tế quốc dân

    Năm Nép NSNN triệu USD (A) Tốc độ phát triển của (A) Tỷ trọng trong GDP (%)
    91    
    92 91(*) 2
    93 120 3,6
    94 128 107 6,1
    95 195 152 6,3
    96 263 135 9,1
    97 315 120 10,1
    98 317 101  
    99      
    Tổng      
     

    Nép NSNN của khu vực FDI trong thời kỳ vừa qua đạt 1492 triệu USD, mặc dù còn nhiều doanh nghiệp đang trong giai đoạn miễn và giảm thuế, tuy nhiên tỷ lệ đóng góp vào NSNN đạt 6 -7% tổng thu, nếu tính cả các khoản thu từ dầu khí thì tỷ lệ này khoảng trên 20%. So với các khu vực khác nép NSNN từ khu vực FDI bằng 63% từ khu vực kinh tế Nhà nước và băng 200% các khoản thu từ các khu vực tư nhân và cá thể.

    Nép  ngân sách Nhà nước từ 92-98

     

     d.Giải quyết việc làm cho người lao động

    Tình hình giải quyết việc làm cho người lao động trong thời gian qua của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thể hiện qua biểu dưới đây

    Biểu số13:giải quyết việc làm cho người lao động 94-99
    Năm 94 95 96 97 98 99
    Tính đến 31/12 hàng năm 88000 139000 173000 250000 270000 296000
    Tăng hàng năm 51000 34000 77000 20000 26000

    Tính đến nay, các doanh nghiệp có vốn FDI đã giải quyết việc làm cho gần 300 nghìn lao động (đây là theo cách tính của Việt nam , còn theo cách tính của ngân hàng thế giới WB thì con số này là gần một triệu người). So với trên 40 triệu lao động con số này chưa phải là lớn, tuy nhiên nhưng cái được mà nhờ hoạt động đầu tư nước ngoài là lao động Việt nam đã học hỏi được, điều đó lại không nằm trên những con số cụ thể như : những lao động Việt nam làm việc trong các doang nghiệp này có điều kiện tiếp xúc với công nghệ mới, cách thức quản lý tiên tiến, được đào tạo qua thực tế thành những người lao động có trình độ cao và kỷ luật tốt, điều này càng có tác dụng lớn hơn khi nó tạo được hiệu ứng lan toả sang các bộ phận khác trong toàn nền kinh tế.

    Một điều nữa là thu nhập trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường cao hơn các khối khác, theo kết quả điều tra năm 1996 thì thu nhập bình quân của lao động Việt nam trong các doanh nghiệp có vốn FDI là 94USD\ tháng, đây cũng là một yếu tố kích thích sự cạnh tranh giữa những người lao động, buộc họ phải chăm chỉ học hỏi nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.

     
     
     

     

    II. PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU KẾT QUẢ.

    Vốn đầu tư thực hiện là số vốn thực tế đã đi vào sản xuất kinh doanh hoặc đang trong quá trình xây dựng lắp  đặt để chuẩn bị cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn đầu tư thực hiện có thể coi là đầu vào của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, muốn thực hiện bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào điều cần thiết và tất yếu là phải có một lượng vốn nhất định.

    Một số chỉ tiêu kết quả ở đây như là : doanh thu, kim ngạch xuất khẩu, nép ngân sách Nhà nước …đây có thể coi là đầu ra của hoạt động đầu tư.

    Như vậy thực chất của mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và một số chỉ tiêu kết quả trên là mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình đầu tư. Trong mối liên hệ này, các chỉ tiêu kết quả là tiêu thức phụ thuộc, còn vốn đầu tư thực hiện là tiêu thưcá nguyên nhân.       .

     

     

    1.Mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện – doanh thu.

    Từ kết quả thực tiễn của hoạt động đầu tư thời gian vừa qua, cho ta một nhận định là : khi vốn đầu tư thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu của bộ phận FDI cũng tăng lên, nhưng tốc độ tăng của hai tiêu thức này không cùng một tỷ lệ, mà với tốc độ khác nhau. Do đó tồn tại mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và doanh thu, nhưng đây không phải là mối liên hệ hoàn toàn chặt chẽ mà là liên hệ tương quan vì nói chung là khi vốn thực hiện tăng lên thì tổng doanh thu cũng tăng lên, nhưng doanh thu không chỉ phụ thuộc vào vốn đầu tư thực hiện mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác như giá cả, sức mua của thị trường.

    Để phản ánh mối liên hệ này ta sử dụng phương trình hồi quy thị tuyến tính đơn. Mô hình có tổng quát dạng sau :  xn.a +b.x

    đơn vị: tỷ  USD

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Doanh thu (y) x.y x2
    91 0,213 0,149 0,031 0,045
    92 0,394 0,208 0,081 0,155
    93 1,099 0,449 0,493 1,207
    94 1,946 0,952 1,852 3,786
    95 2,671 1,872 5,000 7,134
    96 2,646 2,583 6,834 7,001
    97 3,250 3,605 11,716 10,562
    98 1,956 3,505 6,855 3,825
    Tổng 13,800 13,323 32,866 33,825

    Các tham sè a, b được tìm từ hệ sau :

    x = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay các trị tính được từ bảng vào ta có hệ

    13,323 = 8.a+ 13,8.b

    32,866 = 13,8 +33,825.b

    Giải hệ phương trình trên cho ta kết quả a= 0.036 ; b =0.986

    đây là phương trình hồi quy phản ánh mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện (x) và doanh thu (y) trong hoạt động đầu tư trực tiếp  nước ngoài thời gian vừa qua.

    Trong phương trình này, giá trị của tham sè a= 0.036 có thể xem là ảnh hưởng của các nguyên nhân khác đến doanh thu như sự biến động của giá cả thị trường…b= 0.986 nói lên ảnh hưởng cảu vốn đầu tư thực hiện đến doanh thu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiên tăng thêm một đơn vị thì doanh thu tăng bình quân là 0.986 đơn vị.

    Hệ số tương quan :

    = =0,886

    r= 0.886 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa daonh thu và vốn đầu tư thực hiên là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Độ co giãn E(x) =  b.0,986  =  =1,021

    êE(x)ê  = 1.021 >  1   nên biến thiên của doanh thu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

     
       

    2.Mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu.

    Vốn đầu tư thực hiện là yếu tố tiền đề của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Khi vốn đầu tư được vận hành nó sẽ tạo ra các sản phẩm hàng hoá, quy mô của nền sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và quy mô của nền sản xuất quyết định khối lượng hàn hoá nó tạ ra. Khi vốn đầu tư tăng lên thì quy mô của nền sản xuất sẽ tăng và khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất cũng tăng. Các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt nam đều phải cam kết một tỷ lệ nhất định sản phẩm do họ sản xuất ra sẽ được xuất khẩu và vì vậy khi khối lượng sản phẩm họ sản xuất ra tăng lên thì khối lượng sản phẩm xuất khẩu cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ giữa tiêu thức vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu (của các doanh nghiệp có vôn đầu tư nước ngoài). Đây là mối liên hệ tương quan, bởi vì ta thấy vốn đầu tư thực hiện có quan hệ với kim ngạch xuất khẩu nhưng không có tính chất quyết định hoàn toàn, kim ngạch xuất khẩu còn phụ thuộc vào thị trường, vào giá cả quốc tế…

    Để biểu diễn mối liên hệ tương quan giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu ta sử dụng phương trình hồi quy tuyến tính đơn.

    Mô hình tổng quát :  xn.a +  b.x

    Năm Vốn đầu tư thực hiện (x) Kim ngạch xuất khẩu (y) x.y .x2
    91 0,213 0,052 0,011 0,045
    92 0,394 0,112 0,044 0,155
    93 1,099 0,257 0,282 1,207
    94 1,946 0,352 0,684 3,786
    95 2,671 0,440 1,175 7,134
    96 2,646 0,786 2,079 7,001
    97 3,250 1,790 5,817 10,562
    98 1,956 1,982 3,876 3,825
    Chung 13,800 5,177 13,968 33,825

    Các tham sè a, b được xác định từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    thay số vào ta được          5,177=8.a +13.8.b

    13,968 = 13,8.a +33,825.b                                  13,968 = 13,8.a +33,825.b

    giải hệ phương trình cho ta kết quả : a=-0,231;  b = 0,508

    Trị số của tham sè a= – 0.231 nói lên ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài vốn đầu tư thực hiện như giá cả trên thị trường quốc tế …tới kim ngạch xuất khẩu. Có thể giải thích dấu âm (-) ở đây là khi bắt đầu quá trình  đầu tư, lúc này chưa thể có sản phẩm để xuất khẩu mà còn phải nhập  khẩu nên kim ngạch xuất khẩu sẽ âm.

    Trị số của tham sè b= 0.508 nói lên ảnh hưởng của vốn đầu tư thực hiện tới kim ngạch xuất khẩu, cụ thể là khi vốn đầu tư thực hiện tăng thêm một đơn vị thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng bình quân là 0.508 đơn vị.

    Hệ số tương quan

    = = 0.861

    =1,725 ; 1,665 ; =4,108

    dX = 1,307 ;    dY =1,343

    r= 0.861 cho ta kết luận là mối liên hệ giữa vốn đầu tư thực hiện và kim ngạch xuất khẩu là mối liên hệ thuận và khá chặt chẽ.

    Hệ số co giãn E(x) : EX = b.=0,508. =1,35

     

    çE(x)ê =1.354 >  1  nên cho ta nhận định là tốc độ tăng của kim ngách xuất khẩu nhanh hơn vốn đầu tư thực hiện.

    3.Mối liên hệ giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước.

    Doanh thu là một trong các chỉ tiêu kết quả quan trọng nhất trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng. Khi quy mô sản xuất của các doanh nghiệp tăng lên thì doanh thu cũng có su hướng tăng lên, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp họ đều phải đóng góp cho Nhà nước thông qua các khoản thúc và các khoản đóng góp cũng tăng lên khi quy mô sản xuất tăng lên.

    Dùa vào kết quả hoạt động của hoạt động đầu tư nước ngoài ta thấy rằng, khi mà doanh thu tăng lên thì đóng góp vào ngân sách Nhà nước cũng tăng lên. Như vậy là có mối liên hệ tương quan giữa doanh thu và nép ngân sách Nhà nước đây chỉ là mối liên hệ tương quan bởi vì doanh thu quyết định nhưng không quyết định hoàn toàn mức nép ngân sách Nhà nước vì mức đóng góp vào ngân sách còn do mức thuế suất, lợi nhuận của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …

    Để biểu biểu diễn mối quan hệ này ta dùng mô hình hồi quy tuyến tính dơn có dạng tổng quát sau đây :

    Mô hình tổng quát : x =n.a +b.x

    Năm Doanh thu Nép ngân sách Nhà nước x.y X2
    93 499 120 53880 14400
    94 952 128 121856 16384
    95 1872 195 365040 38025
    96 2583 263 679329 69169
    97 3605 315 1135575 99225
    98 3823 317 1211891 100489
    Tổng 13284 1338 3567282 337692

    Tìm tham sè a,b từ hệ phương trình sau :

    y = n.a + b.x

    xy = a. x + b. x2

    Thay các giá trị từ bảng trên vào hệ phương trình :

    1338= 6a +13284b

    3567282= 138284 + 337692.b

    = 2,69 +0.2 x

    Từ hệ trên ta có giá trị của a,b là: a= 2,69 ; b= 0,2.

    Từ kết  quả trên cho ta mô hình cụ thể sau

    a= 2,69 cho ta biết các nhân tố khác bên ngoài doanh thu ảnh hưởng tới nép ngân sách Nhà nước của khu vực FDI.   a= 2,69 cho ta biÕt c¸c nh©n tè kh¸c bªn ngoµi doanh thu ¶nh h­ëng tíi nép ng©n s¸ch Nhµ n­íc cña khu vùc FDI.

    b= 0.2 cho ta nhận định rằng khi mà doanh thu tăng lên 1 đơn vị thì nép ngân sách Nhà nước tăng bình quân là 0.2 đơn vị.

    Hệ số hồi quy    HÖ sè håi quy

    x=2214; =223; =594547

    dX = 1257,3 ;    dY = 80,97

    =

    r = 0,88 cho ta rót ra nhận xét là: mối quan hệ giữadoanh thu và nép ngân sách Nhà nước là mối quan hệ thuận và rất chặt chẽ, cụ thể là mức tăng lên của nép ngân sách Nhà nước do doanh thu quyết định 98%

    E      EX = b. =

    êE(x)ç =1,985 > 1 cho ta nhận định là tốc độ tăng của doanh thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chậm hơn tốc độ nép ngân sách Nhà nước.

     
       

    I.      MỘT SỐ KIẾN NGHỊ.

    Đầu tư nước ngoài là một vấn đề rất rộng, có liên quan hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. phạm vi hoạt động của đầu tư nước ngoài cũng rất rộng, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có sự tham gia hoạt động của đầu tư nước ngoài, ngoài ra đầu tư nước ngoài còn hoạt động ở ngoài  thềm lục địa.

    Hơn nữa, đầu tư nước ngoài còn là một lĩnh vực mới, do đó thống kê hoạt động đầu tư nước ngoài là một việc làm phức tạp, có liên quan đến nhiều cấp, ngành, địa phương trong cả nước. Trong hơn 10 năm hoạt động của đầu tư nước ngoài công tác thống kê đầu tư nước ngoài cũng trưởng thành dần và ngày càng khăngr định vai trò của mình trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động này, tuy nhiên do tính chất phức tạp của công việc, nên cũng tồn tại khá nhiều vấn đề trong thực tế hoạt động mà công tác thống kê chưa giải quyết được.

    Dưới đây xin nên nêu một số kiến nghị nhá :

    Sự thiếu thốn nhất trong số liệu về đầu tư nước ngoài.Trong thực tế hiện nay, tồn tại khá nhiều nguồn số liệu về đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là : nhiều cơ quan Nhà nước vì yêu cầu công việc nên tổ chức thu thập và xử lý thông tin về đầu tư nước ngoài theo yêu câù và mục đích sử dụng thông tin của mình. các nguồn số liệu này lại không thống nhất với nhau.

    Chẳng hạn, số liệu về đầu tư nước ngoài do Bộ Kế hoạch và đầu tư cung cấp và do Tổng cục Thống kê cung cấp thường có sự chênh lệch nhau. Một nguyên nhân nữa dẫn đến hiện tượng này là quan điểm của các cơ quan thu thập số liệu cũng có sự khác nhau. Theo quan điểm của Bộ Tài chính vốn đầu tư thực hiện có tính đến cả diện tích mặt đất, mặt biển,….được đưa vào sử dụng trong quá trình đầu tư, theo quan điểm của Bộ Kế hoạch và đầu tư thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà hai bên hoặc các bên đưa vào hoạt động, còn theo quan điểm của WB thì vốn đầu tư thực hiện là số vốn mà các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào hoạt động.

    Chính vì những nguyên nhân trên nên số liệu đầu tư nước ngoài thường không thống nhất với nhau đẫn đến khó khăn cho người sử dông . do đó, để hoàn thiện công tác thống kê chúng ta phải thống nhất tổ chức thu thập và xử lý thông tin trong toàn quốc.

    KẾT LUẬN

    “Non sông Việt nam có trở nên vẻ vang hay không,dân téc Việt nam có sánh vai được với các cường quốc nam châu hay không, đó chính nhõ phần lớn vào công học tập của các cháu”

    Noi theo lời dạy của Bác, bao thế hệ cha anh chóng ta đãkhông quản hy sinh vất vả để xây dựng một nước Việt nam tươi đẹp như ngày.

    Tuy nhiên so với bạn bề trên thế giới chúng ta còn phải làm rất nhiều việc, tiếp nối thế hệ cha anh, tôi và các bạn phải chung laòng gánh vác sự nghiệp đó, để Việt nam có thể trử thành một nước công nghiệp phát triển trong tương lai, để khi nhắc tới Việt nam bên cạnh những chiến tích lịch sử hoà hùng, bạn bè quốc tế còn phải nghĩ tới một nước “giầu về kinh tế, coa về trí tuệ, đẹp về văn hoá” và đi đầu trong nhiều lĩnh vực khoa học quan trọng.

    Để những mong muốn trên sớm trở thành hiên thực, phát triển kinh tế là một trong các nhiệm vụ quan trọng hàng đầu tạo ra tiền đề về vật chất kỹ thuật cho sự phát triển lâu dài và ổn đĩnh xuất phát từ yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế và tiếp thu kinh nghiệp của các nước trong khu vực trong, chóng ta đã mạnh dạn mở cửa làm ăn với nước ngoài.

    Trong quá trình mở cửa và hội nhập có những mặt được và cũng tông tại những mặt chưa được , nhiện vụ của các nhà thống kê là phải phản ánh chính xác kịp thời hiện tượng, giúp các nhà cơ quan quản lý Nhà nước có những thông tin đúng về tình hình kinh tế xã hội nhằm giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn kịp thời. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công việc chúng ta ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phải hết sức chăm chỉ học hành nâng cao kiến thứcvà rèn luyện đạo đức tốt.

    Cuối cùng xin cảm ơn TS . Trần Kim Thu và các thầy cô giáo cùng các cô các chú công tác tại Vụ Xây dựng – Giao thông – Bưu điện đã giíup êm hoàn thành giai đoạn thực tập tốt nghịêp và chuyên đề này.

    Hà nội  6- 2000.

    (*) Tæng nép ng©n s¸ch cho ®Õn n¨m 1991


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-Vi%E1%BB%87t-Nam-d%C6%B0%E1%BB%9Bi-g%C3%B3c-%C4%91%E1%BB%99-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Đầu tư quốc tế Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài

    Lời mở đầu

    Đầu tư trực tiếp có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trong của nguồn vốn này hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giớ đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA. Tuy nhiên đây lại phụ thuộc vào chính sách phát triển và khả năng phát triển của mỗi nước. Đối với Việt Nam chúng ta cũng vậy, để hoàn thành sự nghiệp Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa của Đảng và nhà nước, nước ta đã chủ trương thực hiện chính sách mở cửa thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức. Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng đã khẳng định vốn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những chủ trương hàng đầu, góp phần khai thác nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. tạo nên sức mạnh phục vụ cho Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa, phất triển đất nước.

    Để bắt kịp với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế nhằm cải thiện môi trường đầu tư cho Việt Nam, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm đã nghiên cứu chọn đề tài: “Đánh giá môi trường đầu tư Việt Nam dưới góc độ nhà đầu tư nước ngoài giai đoạn 2013- 2014”

    Nội dung

     

    I.                   Tổng quan về môi trường đầu tư

    1.     Khái niệm môi trường đầu tư

    Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào quốc gia đó.

    2.     Các tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư

    • Các yếu tố kinh tế
      • Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, mỗi giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình
      • Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán, thu chi ngân sách quốc gia
      • Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành, giảm thuế, trợ cấp…
      • Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP, tỉ suất GDP trên vốn đầu tư
    • Các yếu tố Thể Chế – Luật Pháp
      • Sự bình ổn: Xem xét sự bình ổn của các yếu tố chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp. Sự bình ổn cao sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh và ngược lại.
      • Chính sách thuế: Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ, thuế thu nhập…
      • Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật lao động, luật chống độc quyền, chống bán phá giá…
      • Chính sách: Các chính sách thương mại, chinh sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chinh sách điều tiết cạnh tranh,bảo vệ người tiêu dùng.
    • Các yếu tố văn hóa xã hội

    Những giá trị văn hóa là những giá trị làm nên một xã hội, có thể vun đắp cho xã hội đó tồn tại và phát triển.Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dung tại các khu vực đó.

    Các yếu tố xã hội thì mang tính quyết định khi các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường, bởi đây là yếu tố sẽ chia cộng đồng thành những nhóm khách hàng có đặc điểm, tâm lý,thu nhập khác nhau.

    • Yếu tố công nghệ
    • Đầu tư của chính phủ, doanh nghiệp vào công tác R&D: kết hợp giữa các doanh nghiệp và chính phủ nhằm nghiên cứu đưa ra các công nghệ mới,vật liệu mới
    • Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu
    • Khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh

    2.5      Yếu tố hội nhập

    • Chính sách kinh tế đối ngoại của chính phủ
    • Các rào cản thương mại mà các nhà đầu tư phải vượt qua khi muốn gia nhập thị trường
    • Mức độ tham gia vào các tổ chức quốc tế cũng như ký kết các hiệp ước quốc tế
    • Độ mở cửa của nền kinh tế, mức độ thu hút đầu tư và đầu tư ra nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế…

    II.               Đánh giá tình hình môi trường quốc tế của Việt Nam hiện nay dưới góc độ của nhà đầu tư nước ngoài

    1.     Thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam năm 2013-2014

    Cục đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch đầu tư) cho biết đến hết năm 2013, Việt Nam thu hút được gần 22 tỷ đôla vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) gồm cả vốn đăng ký mới và vốn tăng thêm. Dòng vốn FDI được đánh giá là thay đổi tích cực cả về chất và lượng, đặc biệt là giải tỏa bớt khó khăn cho nền kinh tế về mặt vốn đầu tư trong bối cảnh 2013 không phải là một năm khả quan.Theo số liệu thống kế, vốn FDI thực hiện trong năm 2013 đạt mức cao nhất kể từ năm 2008 và chất lượng vốn đầu tư cũng được xem là từng bước cải thiện, chẳng hạn, tỷ lệ đầu tư vào các dự án có quy mô lớn với hàm lượng công nghệ cao, công nghệ chế biến và chế tạo đều tăng.

    Theo báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tháng 2/2014 mà Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư) vừa công bố, tính đến ngày 20/2/2014 cả nước có tổng cộng 122 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 830,87 triệu USD. Con số này chỉ bằng 80,7% so với cùng kỳ năm 2013.

    Với 41 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư, tổng vốn đăng ký tăng thêm ở mức 708,79 triệu USD, vỏn vẹn bằng 3% so với cùng kỳ năm 2013. Như vậy, tính chung trong 2 tháng đầu năm 2014, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm vào Việt Nam đạt mức 1,54 tỷ USD, giảm 62,5% so với cùng kỳ năm 2013. Tuy vậy, vốn giải ngân ước đạt 1,12 tỷ USD, vẫn tăng 6,7% với cùng kỳ năm 2013.

    Báo cáo cũng cho biết, trong 2 tháng đầu năm 2014, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 14 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực Công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm nhất với 62 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm đạt 1,18 tỷ USD, chiếm 76,5% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 2 tháng.

    Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm ở mức 278,33 triệu USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư. Và kế đến là vận tải kho bãi với 9 dự án đầu tư mới, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 21,75 triệu USD.

    Trong tổng số 29 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Hàn Quốc đang chiếm vị trí dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 468,98 triệu USD, chiếm 30,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 264,55 triệu USD, chiếm 17,2% tổng vốn đầu tư. Trong tháng 2/2014, Nhật Bản chỉ đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 263,36 triệu USD, chiếm 17,1% tổng vốn đầu tư.

    Hiện tại, trong cán cân thương mại của Việt Nam, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn chiếm vị trí “áp đảo” với con số 65,8% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước 2 tháng đầu năm. Xuất khẩu của khu vực này (kể cả dầu thô) dự kiến đạt 13,86 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2013. Nhập khẩu đạt 11,86 tỷ USD, tăng 17,1% so cùng kỳ và chiếm 56,48% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tính chung 2 tháng, khối doanh nghiệp này đã xuất siêu trên 2 tỷ USD.

    2.     Vị trí của Việt Nam trong các bảng xếp hạng môi trường đầu tư năm 2013

    • Bảng xếp hạng khu vực

    Dựa theo bản báo cáo “Asia Pacific Investment Climate Index 2013” của Vriens & Partners, chúng ta có các số liệu chính phân tích chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013.

     

     

     

     

     

     

    Chỉ số môi trường đầu tư Châu Á Thái Bình Dương năm 2013

    Thứ hạng

     

    tổng kết

    Quốc Gia Xếp hạng quy định pháp luật Xếp hạng mức độ mở cửa  KTQT Xếp hạng ổn định chính trị Xếp hạng mức  áp thuế Xếp hạng mức độ tham nhũng Xếp hạng quản trị tài chính tiền tệ Tổng điểm
    1 Singapore 2 2 2 2 2 1 89.8
    2 Hong Kong 4 1 5 1 4 3 87.0
    3 New Zeland 1 3 1 3 1 6 86.9
    4 Australia 3 4 4 10 3 4 81.1
    5 Brunei 8 10 3 4 7 2 73.8
    6 Đài Loan 6 5 7 7 6 7 73.0
    7 Nhật Bản 5 8 6 11 5 11 72.2
    8 Hàn Quốc 9 7 8 6 8 5 69.9
    9 Malaysia 7 6 9 5 9 9 66.8
    10 Thái Lan 10 9 12 9 10 10 57.9
    11 Trung Quốc 11 15 10 15 11 8 54.1
    12 Philippines 13 11 14 14 13 13 50.0
    13 Indonesia 16 12 18 12 16 12 47.7
    14 Campuchia 17 14 15 8 17 15 46.3
    15 Việt Nam 15 17 11 16 15 16 45.8
    16 Sri Lanka 14 13 16 19 12 19 45.1
    17 Ấn Độ 12 17 17 18 13 17 44.8
    18 Lào 18 20 13 17 19 14 40.8
    19 Myanmar 19 16 19 20 18 18 37.9
    20 Bangladesh 20 19 20 13 20 20 35.9

     

    So sánh chỉ số này giữa các năm:

    Nguồn:  Vriens & Partners

    Năm 2013, Việt Nam chỉ xếp hạng thứ 15 (tụt 3 hạng so với năm 2012) về tổng điểm đánh giá môi trường đầu tư trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bảng phân tích này đưa ra xếp hạng về các chỉ số: quy định pháp luật, mức độ mở cửa kinh tế quốc tế, mức độ ổn định chính trị, mức áp thuế, mức độ tham nhũng và mức độ quản lý tài chính tiền tệ.

    Về tổng điểm,Việt Nam chỉ xếp trên các nước Sri Lanka, Ấn Độ, Lào, Myanmar và Bangladesh. Còn trong các chỉ số đầu tư, chỉ số được đánh giá cao nhất của Việt Nam là mức độ ổn định chính trị (hạng 11/20) và chỉ số bị đánh giá thấp nhất lại chính là mức độ mở cửa kinh tế quốc tế (hạng 17/20).

    • Bảng xếp hạng thế giới

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2012

    Nguồn:  A.T.Kearney Foreign Direct Investment Confidence Index 2012

    Theo nghiên cứu về chí số tin tưởng FDI năm 2012 của A.T.Kearney, Việt Nam đứng thứ 14/25 và mặc dù tuột 2 hạng so với năm 2010 thì Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường đầu tư quốc tế có mức tin tưởng cao, vượt trên cả các nước Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản ….

     

     

    Bảng: Chí số tin tưởng FDI năm 2013

    Tuy nhiên tới năm 2013, chỉ có duy nhất Việt Nam đã tuột khỏi bảng xếp hạng này trong khi các quốc gia Châu Á khác vẫn trụ lại. Điều này chứng tỏ môi trường đầu tư của Việt Nam đang dần mất đi tính cạnh tranh và giảm mạnh sự thu hút đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

    Còn trong báo cáo về môi trường kinh doanh toàn cầu Best countries for business 2013 của Global Finance,Việt Nam xếp hạng thứ 99 về mức độ thuận lợi trong kinh doanh trên tổng số 185 nước nghiên cứu (tụt 1 hạng so với năm 2012) và chỉ xếp hạng thứ 108/ 185 (tụt 5 hạng so với năm 2012) về mức độ thuận lợi khi bắt đầu kinh doanh – bao gồm các yếu tố thủ tục, thời gian, chi phí để đăng ký kinh doanh.

    Nguồn: Global Finance

    Theo báo cáo thường niên về Môi trường Kinh doanh thế giới 2013 được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 29/10/2013, đây là năm thứ 8 liên tiếp, Singapore giữ vị trí đầu bảng xếp hạng của WB. Góp mặt trong top 10 nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất còn có sự hiện diện của Malaysia với vị trí thứ 6,Thái Lan vị trí thứ 18. Trái ngược với đà bứt phá mạnh mẽ của các nước láng giềng, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn bị đánh giá là chưa có biến chuyển tích cực nào.

    Điều đáng nói là trong số 10 chỉ tiêu đánh giá của WB, có tới 7 chỉ tiêu bị rớt điểm. Trong đó, riêng lĩnh vực nộp thuế tụt 11 bậc, từ xếp hạng 138 trên 183 quốc gia, xuống vị trí 149 trên 189 quốc gia. Ngoài ra, nhiều chỉ tiêu khác lại bị đánh giá ở mức cực kỳ thấp, thậm chí là gần như đội sổ toàn cầu. Ví dụ: tiêu chí xếp thành lập doanh nghiệp xếp hạng thứ 109/189, tiêu chí về cấp điện xếp hạng 156/189, tiêu chí về bảo vệ đầu tư đứng thứ 157/189, và tiêu chí xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đứng thứ 149/189… Chi tiết xếp hạng các chỉ số:

    Các tiêu chí đánh giá Năm 2013

     

    (trên 189 nước)

    Năm 2012

     

    (trên 183 nước)

    Mức độ thuận lợi kinh doanh 99 99
    1. Thành lập doanh nghiệp 109 108
    2. Cấp phép xây dựng 29 28
    3. Tiếp cận điện năng 156 155
    4. Đăng kí tài sản 51 48
    5. Vay vốn tín dụng 42 40
    6. Bảo vệ nhà đầu tư 157 169
    7. Nộp thuế 149 138
    8. Thương mại quốc tế 65 74
    9. Thực thi hợp đồng 46 44
    10. Xử lí doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 149 149

    Nguồn: World Bank

    2.     Thế mạnh của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về chính trị: Môi trường chính trị Việt Nam được đánh giá là tương đối ổn định. Theo báo cáo Chỉ số Hòa Bình toàn cầu năm 2013 của Viện Kinh tế và Hòa Bình, Việt Nam xếp hạng thứ 41/158 nước và vùng lãnh thổ và được đánh giá cao về ổn định chính trị.
    • Về pháp luật:
    • Bên cạnh việc ban hành những văn bản Luật doanh nghiệp chung, Luật đầu tư chung, luật kế toán, kiểm toán, Luật cạnh tranh ở cấp độ Nhà nước thì ở cấp Bộ và thành phố đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và đặc biệt xây dựng nhiều chương trình, đề án có mục tiêu và nội dung trực tiếp cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao chất lượng môi trường. Mới đây, vào ngày 19/2/2014, Bộ Kế Hoạch và Đầu tư đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến về Luật Đầu tư sửa đổi nhằm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi, minh bạch để thu hút đầu tư; tạo bước chuyển biến mới về cải cách thủ tục hành chính trong thực hiện dự án đầu tư; giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp.
    • Các cổng thông tin và cổng đăng ký trực tuyến về đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp được phát triển giúp các doanh nghiệp tiết kiệm thời gian làm thủ tục hành chính và được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch hơn.Ngày 14/3/2014, Bộ Ngoại giao, Bộ thông tin truyền thông phối hợp với Văn phòng đại diện Ngân hàng thế giới tại Việt Nam chính thức đưa vào sử dụng hệ thống quản lý cấp thị thực trực tuyến từ nguồn vốn ODA của World Bank.
    • Lộ trình điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ 32% (1997) cho đến 25% (2009) và gần đây nhất là 22%(hiệu lực 01.01.2014), 20% (hiệu lực 01.01.2016) đã tạo một bước tiến lớn.
    • Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế giảm thuế đối với các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; sản xuất sản phẩm phần mềm, hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá…nhằm thu hút và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư quan tâm đến các lĩnh vực này.
    • Luật thuế XNK cho phép miễn thuế trong các trường hợp: hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất của các dự án thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư… cùng với đó là sự ra đời những hiệp định về ưu đãi thuế xuất nhập khẩu trong phạm vi các nước ASEAN, WTO đã giúp các nhà đầu tư giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất sản xuất, xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng như quốc tế.
    • Về văn hóa – xã hội: Theo nhìn nhận của một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, Việt Nam là nước có lực lượng lao động dồi dào và ngày càng được nâng cao chuyên môn tay nghề. Hơn nữa, các nhà đầu tư Nhật Bản còn đánh giá, nhân lực Việt Nam không những dồi dào (63% dân số dưới tuổi 35), lương thuê công nhân rẻ (thu nhập bình quân 100 USD/tháng đối với lao động phổ thông, khoảng 210 USD/tháng với lao động có bằng cấp), giá nhân công Việt Nam đang thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực.và áp lực tăng lương không cao, bước đầu tạo thuận lợi cho những nhà đầu tư mới.
    • Về môi trường kinh tế:
    • Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ [1] , ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế[2]
    • Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5), các nước trong nhóm G8; nâng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược toàn diện, gia tăng nội hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện ở nước ngoài cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ quán, 20 tổng lãnh sự quán, 4 phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phòng kinh tế văn hóa.
    • Lần đầu tiên, Việt Nam được bầu vào Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao nhất trong số các nước ứng cử; được đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) niên khóa 2013-2014, tiếp đó là được bầu vào Uỷ ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO nhiệm kỳ 2014-2017. Việt Nam sẽ tổ chức hội nghị Liên Nghị viện IPU vào năm 2015. Lần thứ hai trong APEC, Việt Nam đươc tín nhiệm giao đăng cai tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC 2017, và hiện nay đang tích cực triển khai cho việc tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, ứng cử lần thứ hai vào Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021, ứng cử vào Ủy ban Kinh tế – Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018).
    • Về khoa học – công nghệ
    • Hiên nay, Việt Nam đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học. thêm vào đó là khoảng hơn 2 triệu công nhân kĩ thuật, trong ssos có hơn 34 nghìn người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực Khoa học – công nhệ thuộc khu vực nhà nước.
    • Hệ thống pháp luật về khoa học và công nghệ được tạo lập và ngày càng hoàn thiện với 8 đạo luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, Nhà nước cũng ban hành 6 bộ luật về khoa học – công nghệ, trong đó có Luật Năng lượng nguyên tử và công nghệ cao được xem là đầu tiên trên thế giới.
    • Việt Nam xây dựng được một mạng lưới các tổ chức Khoa học – công nghệ với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức nước ngoài, 197 trường đại học và cao đẳng, hạ tầng của các Viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin Khoa học – công nghệ, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    3.     Các hạn chế của môi trường đầu tư Việt Nam

    • Về yếu tố kinh tế: Trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng 2013, Việt Nam được 31 điểm, và nằm trong số 69% các quốc gia có điểm số dưới 50. Điều này phản ánh tình trạng “tham nhũng nghiêm trọng” trong giới công chức.

    Bảng: Xếp hạng mức độ tự do kinh tế 2014

    • Về xếp hạng mức độ tự do kinh tế tính tới đầu năm 2014 của Quỹ Di Sản và nhật báo phố Wall, Việt Nam xếp thứ 147 trên tổng số 186 nước trên thế giới. Nhìn vào bảng xếp hạng dưới đây, với số điểm là 50,8 chứng tỏ mức độ tự do kinh tế ở Việt Nam còn thấp.
    • Các hoạt động dịch vụ tư vấn đầu tư, xúc tiến đầu tư tại Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu.Hệ thống các công ty tư vấn dịch vụ đầu tư chưa được kiện toàn tăng cường về tổ chức, cán bộ. Phần lớn các công ty này mới tập trung làm các dịch vụ đầu tư thông thường như tổ chức, hướng dẫn đoàn khảo sát, làm thị thực … chứ chưa đi sâu tư vấn dịch vụ các vấn đề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xây dựng dự án và thực hiện dự án sau giấy phép.
    • Về Thể Chế – Luật Pháp:
    • Về việc chấp hành thủ tục hải quan ở Việt Nam vẫn còn chưa được rõ ràng, minh bạch. Nhiều thương vụ đã không tuân thủ làm đúng theo thủ tục của hải quan như trốn tránh làm thủ tục để lách thuế, xuất nhập khẩu các mặt hàng trái với quy định của pháp luật. các hàng hóa bị quốc cấm vẫn được xuất khẩu hay nhập khẩu vào Việt Nam. Về phía ngoài nước, làm giảm uy tín của Việt Nam trong con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Bên trong không chỉ làm rối loạn sự kiểm soát nền kinh tế trong nước, làm mất cân bằng xuất nhập khẩu mà còn gây ra bao nhiêu tệ nạn xã hội.
    • Việc kiểm soát biên giới Việt Nam với các nước lân cận cũng chưa có hiệu quả. Nhất là phía bên biên giới giáp Trung Quốc còn nhiều sơ hở để các hàng hóa “lậu” phía bên trung quốc đẩy sang tràn ngập. Hàng hóa Trung Quốc đánh bật các hàng hóa trong nước. Khi các sản phẩm ấy vào trong nước nhiều quá thì nhu cầu về loại hàng hóa đó được đáp ứng tại Việt Nam, nhưng đồng thời nó lại làm mất đi tính năng thu hút đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài về các sản phẩm đó. Làm giảm thu chỉ số đầu tư nước ngoài ở trong nước.
    • Một số luật và quy định khác về kinh doanh liên quan nhiều đến đầu tư nước ngoài chưa được ban hành như luật lao động, kinh doanh bất động sản, khai mỏ… Một số chính sách chưa được xác định rõ nên chưa thể chế hoá hoặc đã có chính sách làm cơ sở nhưng văn bản pháp quy ban hành chậm; có tình trạng chồng chéo và mâu thuẫn giữa một số văn bản.
    • Về văn hóa – xã hội: Đối với lực lượng lao động của Việt Nam hiện nay, tác phong làm việc vẫn là một vấn đề nan trải và cần được thay đôi trong nhận thức của từng cá nhân. Có nhiều ý kiến bên các công ty nước ngoài cho thấy, công nhân Việt Nam còn chưa có ý thức làm việc tốt, mặc dù có năng lực làm việc nhưng tinh thần kỷ luật lại chưa cao. Nhiều công ty nước ngoài tuyển lực lượng lao động Việt Nam nhưng không hài lòng về phong cách làm việc với hầu hết là các nguyên do:
    • Đi làm không đúng giờ
    • Không có ý thức bảo vệ tài sản hàng hóa của công ty
    • Thường xuyên làm những việc cản trở sự hoạt động của công ty như: bãi công, biểu tình.
    • Về khoa học – công nghệ:
      • Số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển của Việt Nam dù đã gia tăng nhưng còn rất khiêm tốn so với các nước như Hoa Kỳ (hơn 1,4 triệu người), Trung Quốc (1,2 triệu người), Nhật Bản (656 nghìn người), Nga (442 nghìn người), Đức (327 nghìn người), Hàn Quốc (264 nghìn người ), Pháp (234 nghìn người).
      • Về chỉ số cạnh tranh toàn cầu, năm 2013, Việt Nam xếp thứ 70/148 quốc gia; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 76/141 quốc gia. Trong khi Singapore ở tốp 3 thế giới và các nước Malaysia, Thái Lan đều đứng trên Việt Nam.
      • Tỷ lệ kết quả nghiên cứu trong nước được thương mại hóa và ứng dụng trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh rất thấp.

    III.            Các giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư Việt Nam

    • Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư theo hướng nhất quán, công khai, minh bạch, có tính dự báo, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

    Theo đó, nghiên cứu sửa đổi Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp bối cảnh mới; rà soát tổng thể hệ thống luật pháp hiện hành liên quan đến đầu tư, kinh doanh theo hướng đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ với các quy định của Luật Đầu tư; quy định rõ hơn những đặc thù về thủ tục và điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài…

    • Điều chỉnh việc quản lý và phân cấp đầu tư theo hướng phát huy tính năng động, sáng tạo, chịu trách nhiệm của địa phương, đồng thời đảm bảo quản lý thống nhất của trung ương.

    Theo đó, cơ quan cấp GCNĐT chủ trì thẩm tra theo quy định hiện hành, trình Thủ tướng Chính phủ báo cáo thẩm tra đồng thời gửi Bộ Kế hoạch – Đầu tư để thẩm định độc lập. Trên cơ sở hồ sơ và báo cáo thẩm tra, bộ Kế hoạch – Đầu tư sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các chuyên gia và nhà khoa học… thẩm định dự án: ảnh hưởng, tác động của dự án đối với phát triển kinh tế – xã hội của vùng, quốc gia và các ngành; tính khả thi của các nguồn lực cho dự án (lao động, kết cấu hạ tầng, điện, nguyên liệu…); khả năng huy động vốn…

    • Khắc phục tình trạng chồng chéo, kém hiệu quả trong hoạt động xúc tiến đầu tư: Bộ Kế hoạch – Đầu tư cần hàng năm và từng thời kỳ dựa trên nhu cầu thực tế ban hành bộ tiêu chí hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư.

    Đặc biệt, coi trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ, tăng cường hỗ trợ các dự án đã được cấp GCNĐT để các dự án này triển khai hoạt động một cách thuận lợi, có hiệu quả, tăng cường đối thoại với các nhà đầu tư để giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp lý của doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

    • Về chính sách ưu đãi đầu tư, cần được sửa đổi bảo đảm tính hệ thống từ ưu đãi thuế, ưu đãi tài chính đến ưu đãi phi tài chính; thống nhất giữa chính sách thuế và chính sách đầu tư; thực hiện ưu đãi đầu tư có chọn lọc phù hợp với định hướng mới đối với thu hút FDI.

    Bổ sung ưu đãi đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp. Bỏ bớt các hạn chế không cần thiết và cho phép tham gia nhiều hơn vào các thị trường vốn, thị trường tài chính trên nguyên tắc hiệu quả nhưng chặt chẽ. Bổ sung tiêu chí để xét ưu đãi đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, dự án có giá trị gia tăng cao, dự án sử dụng nhiều nguyên liệu, vật tư trong nước và dự án cam kết chuyển giao công nghệ tiên tiến…

    • Về chính sách khuyến khích, Luật Công nghệ cao sửa đổi sẽ bổ sung quy định về tiêu chí doanh nghiệp công nghệ cao theo hướng phù hợp với điều kiện thực tế nước ta, có tính đến nhóm dự án có quy mô lớn, doanh thu hàng năm lớn, sử dụng nhiều lao động chất lượng cao…
    • Về đất đai, thu hẹp sự phân biệt giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước trong việc tiếp cận đất đai; sửa đổi Nghị định 69/2009/NĐ-CP nhằm điều chỉnh giãn lộ trình tăng giá đất, quy định cụ thể hệ số hỗ trợ thu hồi đất; sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, mở rộng phạm vi kinh doanh bất động sản đối với nhà đầu tư nước ngoài và bổ sung quy định về hình thức góp vốn bằng quyền phát triển dự án.
    • Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp FDI đào tạo nghề cho người lao động; tạo thuận lợi hơn đối với việc cấp phép cho lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn, trình độ, công nghệ cao mà lao động trong nước chưa đáp ứng được; đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đào tạo lao động trong nước thay thế đối với các vị trí nghề nghiệp này.
    • Đẩy mạnh đầu tư phát triển và nghiên cứu công nghệ bằng cách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ nguồn, công nghệ cao và có cơ chế đầu tư đặc biệt để triển khai một số dự án khoa học và công nghệ quy mô lớn. Đổi mới hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ theo hướng quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ và các trường đại học; xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trong các trường đại học.

     

    Kết luận

    Có thể thấy rằng chúng ta thu hút đầu tư vào tất cả các lĩnh vực từ cơ sở hạ tầng đến lĩnh vực giáo dục, công ngiệp, nông nghiệp, dịch vụ…và chúng ta gặt hái được nhiều thành tựu đáng kể qua những con số về trình độ dân trí, về lượng FDI và ODA vào Việt Nam, về những công trình xây dựng đã và đang được đầu tư và phát triển., về những dự án đang được đầu tư tại Việt Nam…đó là kết quả của quá trình mở cửa, hội nhập, là kết quả của Việt Nam đã không ngừng nỗ lực, phấn đấu để cải thiện cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài.

    Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộ những hạn chế nhất định, trong đó có cả từ phía quản lý nhà nước. Theo đó, mặc dù có sự hoàn thiện dần về hành lang pháp lý đối với hoạt động đầu tư  nước ngoài, song thể chế chính sách chưa thực sự hoàn chỉnh, thường đi chậm so với thực tế, do đó chưa phát huy tác động một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của hoạt động này. Việc quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn nhiều bất cập, từ khâu quản lý tiền đầu tư đến khâu hậu kiểm. Việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn chưa đầy đủ, trong khi đó, lại chưa có các chế tài xử lý việc nhà đầu tư không thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo.

    Hy vọng rằng với, những thay đổi đáng kể trong môi trường kinh doanh, Việt Nam sẽ sớm được công nhận là một đất nước có nền kinh tế thị trường hoàn toàn với môi trường đầy cạnh tranh và hấp dẫn.

    [1]  Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế

    [2]   Theo các Báo cáo của các Bộ/ngành của Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/M%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-nh%E1%BB%AFng-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-nh%E1%BA%B1m-gia-t%C4%83ng-kh%E1%BA%A3-n%C4%83ng-thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bài bản PDF tại đây: Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Môi trường đầu tư quốc tế, những giải pháp để hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

           I.            Những hiểu biết về môi trường đầu tư :

    1.      Khái niệm :

    Môi trường đầu tư là tổng thể các yếu tố về pháp luật, kinh tế, xã hội, văn hóa và các yếu tố cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan. Ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trong và ngoài nước.

    2.      Kết cấu :

    • Môi trường chính trị và pháp luật.
    • Môi trường văn hóa
    • Môi trường kinh tế và tài nguyên
    • Môi trường tài chính
    • Môi trường cơ sở hạ tầng
    • Môi trường lao động.

       II.            Vai trò của nghiên cứu môi trường đầu tư :

    1.      Đối với những người quản lý nhà nước :

    Theo nhóm em, những người quản lý nhà nước khi nghiên cứu môi trường đầu tư sẽ hoàn thiện về những văn bản luật (Luật Đầu Tư,Luật Doanh nghiệp …) tạo nhiều điều kiện, chính sách ưu đãi hơn để thu hút vốn đầu tư.Cải thiện tình trạng cơ sở hạ tầng,giao thông.Ngoài ra còn tạo khả năng cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước khác.Tăng khả năng phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh tế Thế giới.Tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế của các nước khác, phát huy lợi thế.

    2.      Đối với các nhà đầu tư :

    Khi họ nghiên cứu môi trường đầu tư thì sẽ biết những ngành(nghề),lĩnh vực hoặc sản phẩm mà họ muốn đầu tư hoặc kinh doanh.

    Họ sẽ biết được những thuận lợi và khó khăn ở môi trường đầu tư đó để có những kế hoạch hoạt động hoặc có những quyết định có nên đầu tư (tiếp tục đầu tư) hay ko?

    III.            Thứ hạng về môi trường đầu tư của Việt Nam :

     

    Việt nam và các nước trong khu vực.

     

    Nền kinh tế Xếp hạng “Dễ dàng thực hiện kinh doanh” Bắt đầu kinh doanh Đăng ký giấy phép Tuyển nhân viên Đăng ký tài sản
    Viet nam 104 97 25 104 34
    Thailand 18 28 3 46 18
    Malaysia 25 71 137 38 66
    Philippines 126 108 113 118 98
    Indonesia 135 161 131 140 120
    Campuchia 143 159 159 124 100
     Lao PDR 159 73 130 71 148
    Timor 174 160 173 115 172

    (Nguồn của Bộ Tài Chính)

    Để biết rõ chi tiết về thứ hạng môi trường kinh doanh ở Việt Nam, ta hãy xem bảng sau :

    Vietnam
    Region: East Asia & Pacific
    Income category: Low income
    Population: 82,966,000
    GNI per capita (US$): 620.00
    Country laws: see our Law Library
     
    Ease of… 2006 rank 2005 rank Change in rank
    Doing Business 104 98 -6
    Starting a Business 97 89 -8
    Dealing with Licenses 25 28 +3
    Employing Workers 104 137 +33
    Registering Property 34 30 -4
    Getting Credit 83 76 -7
    Protecting Investors(bảo vệ cho nhà  đầu tư) 170 170 0
    Paying Taxes 120 116 -4
    Trading Across Borders(buôn bán qua biên giới) 75 68 -7
    Enforcing Contracts(hiệu lực của những hợp đồng) 94 90 -4
    Closing a Business(đóng cửa doanh nghiệp) 116 105 -11

    Starting a Business (2006)

    The challenges of launching a business are shown below. Included are: the number of steps entrepreneurs can expect to go through to launch, the time it takes on average, and the cost and minimum capital required as a percentage of gross national income (GNI) per capita.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 11 8.2 6.2
    Time (days) 50 46.3 16.6
    Cost (% of income per capita) 44.5 42.8 5.3
    Min. capital (% of income per capita) 0.0 60.3 36.1
    • Để khởi sự một doanh nghiệp, nhà kinh doanh phải trải qua 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và một khoản chi phí tương đương với 44,5% thu nhập bình quân đầu người. Các con số tương ứng trong khu vực là 8,2 bước thủ tục, 46,3 ngày và 42,8% thu nhập bình quân. Ưu điểm của Việt Nam trong tiêu chí này là không đòi hỏi mức vốn tối thiểu cần có khi thành lập doanh nghiệp

    Dealing with Licenses (2006)

    Shown below are the procedures, time, and costs to build a warehouse, including obtaining necessary licenses and permits, completing required notifications and inspections, and obtaining utility connections.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 14 17.6 14.0
    Time (days) 133 147.4 149.5
    Cost (% of income per capita) 56.4 207.2 72.0
    • Giải quyết giấy phép :Các bước thủ tục, thời gian và chi phí bỏ ra để giải quyết các giấy phép hoạt động kinh doanh ở Việt Nam tương đối gọn nhẹ so với khu vực nhờ những nỗ lực cải cách hành chính liên tục trong lĩnh vực kinh doanh. Nhà đầu tư mất 14 bước thủ tục, 133 ngày và 56% thu nhập bình quân đầu người; trong khi mức bình quân toàn khu vực là 17,6 bước thủ tục, 147,4 ngày và 207,2% mức thu nhập bình quân. Việc thực hiện tiêu chí này ở Việt Nam thậm chí còn tốt hơn các nước phát triển trong khối OECD và đã tăng ba bậc, từ hạng 28 lên hạng 25

    Employing Workers (2006)

    The difficulties that employers face in hiring and firing workers are shown below. Each index assigns values between 0 and 100, with higher values representing more rigid regulations. The Rigidity of Employment Index is an average of the three indices.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Difficulty of Hiring Index 0 23.7 27.0
    Rigidity of Hours Index 40 25.2 45.2
    Difficulty of Firing Index 70 19.6 27.4
    Rigidity of Employment Index 37 23.0 33.3
    Nonwage labor cost (% of salary) 17.0 9.4 21.4
    Firing costs (weeks of wages) 86.7 41.7 31.3
    • Thuê mướn nhân công :Những khó khăn khi thuê mướn và sa thải công nhân, tập trung ở sáu yếu tố:độ khó khi thuê người, tính cứng nhắc của giờ giấc làm việc, độ khó khi sa thải, độ linh hoạt của việc sử dụng lao động, chi phí tuyển dụng (tỷ lệ so với tiền lương) và chi phí sa thải (số tuần lương phải bồi hoàn). So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam là nơi dễ tuyển lao động nhất, nhưng năm yếu tố còn lại đều khó khăn hơn. Ví dụ độ khó trong việc sa thải lao động ở các nước trong khu vực là 19,6% trong khi ở Việt Nam là 70%, chi phí sa thải lao động tương đương 41,7 tuần lương trong khi ở Việt Nam là 86,7 tuần lương. Tuy nhiên, so với năm ngoái tiêu chí này đã tăng 33 bậc, từ hạng 137 lên 104.

    Registering Property (2006)

    The ease with which businesses can secure rights to property is shown below. Included are the number of steps, time, and cost involved in registering property.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 4 4.2 4.7
    Time (days) 67 85.8 31.8
    Cost (% of property value) 1.2 4.0 4.3
    • Đăng ký tài sản :Doanh nghiệp có dễ dàng bảo đảm quyền sở hữu tài sản hay không? Ở Việt Nam doanh nghiệp cần trải qua bốn bước thủ tục, mất 67 ngày và tốn 1,2% giá trị tài sản để có được sự bảo đảm này. Các chỉ số này tốt hơn so với mức bình quân khu vực (4,2 bước thủ tục, 85,5 ngày và 4% giá trị tài sản) nhưng tiêu tốn nhiều thời gian hơn các nước phát triển.

    Getting Credit (2006)

    Measures on credit information sharing and the legal rights of borrowers and lenders are shown below. The Legal Rights Index ranges from 0-10, with higher scores indicating that those laws are better designed to expand access to credit. The Credit Information Index measures the scope, access and quality of credit information available through public registries or private bureaus. It ranges from 0-6, with higher values indicating that more credit information is available from a public registry or private bureau.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Legal Rights Index 4 5.0 6.3
    Credit Information Index 3 1.9 5.0
    Public registry coverage (% adults) 2.7 3.2 8.4
    Private bureau coverage (% adults) 0.0 10.1 60.8
    • Đi vay :Tiêu chí này xem xét các biện pháp chia sẻ thông tin tín dụng, quyền lợi hợp pháp của người vay và người cho vay. Ở Việt Nam, quyền lợi hợp pháp này chỉ được đánh giá ở mức điểm 4/10, nghĩa là sự tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp còn bị hạn chế trong khi mức bình quân của khu vực là 5/10 và ở các nước OECD là 6,3/10. Doanh nghiệp khó thu nhận được thông tin về quy mô, cách tiếp cận và chất lượng của tín dụng thông qua các văn phòng đăng ký công cộng. Chỉ số thông tin tín dụng ở Việt Nam là 3/6; cao so với khu vực (1,9/6) nhưng rất thấp so với khối OECD (5/6). Văn phòng tư nhân trong lĩnh vực thông tin tín dụng gần như không tồn tại.

    Protecting Investors (2006)

    The indicators below describe three dimensions of investor protection: transparency of transactions (Extent of Disclosure Index), liability for self-dealing (Extent of Director Liability Index), shareholders’ ability to sue officers and directors for misconduct (Ease of Shareholder Suits Index) and Strength of Investor Protection Index. The indexes vary between 0 and 10, with higher values indicating greater disclosure, greater liability of directors, greater powers of shareholders to challenge the transaction, and better investor protection.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Disclosure Index 4 5.2 6.3
    Director Liability Index 0 4.4 5.0
    Shareholder Suits Index 2 6.1 6.6
    Investor Protection Index 2.0 5.2 6.0
    • Bảo vệ nhà đầu tư :Tâm lý ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam thể hiện trong các chỉ số này. Tiêu chí 6 xem xét ba phương diện bảo vệ nhà đầu tư gồm có tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm pháp lý của giám đốc và khả năng của cổ đông kiện các nhà quản trị có hành vi sai trái. Tính tổng thể Việt Nam chỉ đạt 2/10 trong khi khu vực là 5,2/10 và khối OECD là 6/10. Yếu kém nhất là chỉ số về trách nhiệm của giám đốc (0/10), quyền khiếu kiện của cổ đông và tính minh bạch đều thấp (2/10 và 4/10). So với năm ngoái, thứ hạng của tiêu chí này không thay đổi.

    Paying Taxes (2006)

    The data below shows the tax that a medium-size company must pay or withhold in a given year, as well as measures of the administrative burden in paying taxes. These measures include the number of payments an entrepreneur must make; the number of hours spent preparing, filing, and paying; and the percentage of their profits they must pay in taxes.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Payments (number) 32 29.8 15.3
    Time (hours) 1,050 290.4 202.9
    Profit tax (%) 21.6 19.7 20.7
    Labor tax and contributions (%) 19.7 10.9 23.7
    Other taxes (%) 0.2 11.6 3.5
    Total tax rate (% profit) 41.6 42.2 47.8
    • Thuế khóa :Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam không nặng, mức chính thức là 28% nhưng tính ra doanh nghiệp phải chi đến 41,6% lợi nhuận cho thuế thu nhập doanh nghiệp, có thể vì ngành thuế không chấp nhận nhiều khoản chi phí khấu trừ. Mức này chưa bằng mức 42,2% của khu vực và 47,8% ở các nước OECD. Nhưng thủ tục thuế nhiêu khê, làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp là vấn đề đáng lưu ý. Bình quân doanh nghiệp phải nộp 32 lần và mất 1.050 giờ làm việc trong khi ở các nước trong khu vực là 29,7 lần nộp và 290,4 giờ làm việc. So với năm ngoái giảm bốn bậc, từ 116 xuống 120.

    Trading Across Borders (2006)

    The costs and procedures involved in importing and exporting a standardized shipment of goods are detailed under this topic. Every official procedure involved is recorded – starting from the final contractual agreement between the two parties, and ending with the delivery of the goods.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Documents for export (number) 6 6.9 4.8
    Time for export (days) 35 23.9 10.5
    Cost to export (US$ per container) 701 885 811
    Documents for import (number) 9 9.3 5.9
    Time for import (days) 36 25.9 12.2
    Cost to import (US$ per container) 887 1,037 883
    • Buôn bán xuyên biên giới :Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam đã cải thiện nhiều, chi phí và thủ tục đã giảm nhưng vẫn còn mất thời gian. Để xuất một container hàng, doanh nghiệp phải có sáu loại hồ sơ, mất 35 ngày và tốn 701 đô la. Con số này ở các nước trong khu vực là 6,9 loại hồ sơ, 23,9 ngày và 885 đô la. Tương tự để nhập khẩu một container, doanh nghiệp cần có chín loại hồ sơ, mất 36 ngày và 887 đô la. Con số tương tự ở khu vực là 9,3 loại hồ sơ, 25,9 ngày và 1.037 đô la.

    Enforcing Contracts (2006)

    The ease or difficulty of enforcing commercial contracts in is measured below. This is determined by following the evolution of a payment dispute and tracking the time, cost, and number of procedures involved from the moment a plaintiff files the lawsuit until actual payment.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Procedures (number) 37 31.5 22.2
    Time (days) 295 477.3 351.2
    Cost (% of debt) 31.0 52.7 11.2
    • Thực hiện hợp đồng :Ở Việt Nam, việc cưỡng chế thực hiện hợp đồng thương mại tương đối thuận lợi. Doanh nghiệp chỉ phải trải qua 37 bước thủ tục tốn 295 ngày và 31% giá trị món nợ là hợp đồng được thi hành, trong khi ở khu vực bình quân phải qua 31,5 bước thủ tục, tốn 477,3 ngày và 52% giá trị khoản nợ.

    Closing a Business (2006)

    The time and cost required to resolve bankruptcies (phá sản) is shown below. The data identifies weaknesses in existing bankruptcy law and the main procedural (thủ tục) and administrative bottlenecks (tắc nghẽn) in the bankruptcy process. The recovery rate, expressed in terms of how many cents on the dollar claimants recover from the insolvent firm, is also shown.

    Indicator Vietnam Region OECD
    Time (years) 5.0 2.4 1.4
    Cost (% of estate) 14.5 23.2 7.1
    Recovery rate (cents on the dollar) 18.0 27.5 74.0

    (Theo nguồn của World Bank)

    • Đóng cửa doanh nghiệp :Việc phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiêu khê. Thủ tục phá sản phải mất ít nhất năm năm, tốn kém đến 14,5% giá trị tài sản của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp vỡ nợ thì cứ 1 đồng tiền đầu tư chỉ thu hồi được 18 xu. Ở các nước, thủ tục phá sản chỉ cần 2,4 năm, chi tiêu 23,2% giá trị tài sản doanh nghiệp và thu hồi được 27,5 xu cho mỗi đồng đầu tư.

     IV.            Những thành công và những hạn chế trong môi trường đầu tư ở Việt Nam :

    1.      Thành công :

    • Việt Nam đã tổ chức thành công APEC, gia nhập WTO và được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận trao Quy chế quan hệ mậu dịch bình thường vĩnh viễn (PNTR). Những thành quả này đã thúc đẩy những tiến bộ của môi trường thương mại và đầu tư Việt Nam, được minh chứng do những kết quả xuất sắc về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), số lượng dự án ODA và tăng trưởng thương mại quốc tế.
    • GDP (danh nghĩa) : ước khoảng 60 tỷ USD,tức là khỏang 974 ngàn tỷ đồng tăng trưởng GDP ở mức 7,5-8%.
    • Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2006: đạt : 8.17%.
    • VN cải thiện 3 bậc trong bảng xếp hạng về tham nhũng.
    • VN đã đạt điểm tiến bộ hơn khi từ hạng 13 năm ngoái (7,91 điểm) nhảy lên hạng 10 (7,54 điểm, với điểm 0 là tốt nhất và điểm 10 là tham nhũng nhất), theo kết quả xếp hạng mức độ tham nhũng của Trung tâm Tư vấn rủi ro về chính trị và kinh tế (PERC, trụ sở tại Hong Kong) công bố ngày 13-3.

    Dưới đây là xếp hạng về tham nhũng của 13 nền kinh tế châu Á:

    (Theo nguồn www.tuoitre.com.vn ngày 14/03/2007)

    Nước Xếp hạng
    Singapore 1
    Hong Kong 2
    Nhật Bản 3
    Ma Cau 4
    Đài Loan 5
    Malaysia 6
    Trung Quốc 7
    Hàn Quốc 8
    Ấn Độ 9
    Việt Nam 10
    Indonesia 11
    Thái Lan 12
    Philippines 13
    • Hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là cảng biển, đường hàng không, đường bộ tại Việt Nam đang được cải thiện và mở rộng tới nhiều trung tâm kinh tế trong khu vực.
    • Tăng trưởng kinh tế mạnh, quá trình công nghiêp hóa nhanh, chính trị ổn định.
    • Xếp hạng rủi ro kinh tế, chính trị: VN xếp thứ 7/12 nền kinh tế châu Á : Theo báo cáo so sánh độ rủi ro các quốc gia năm 2007 (CCRR) vừa được Tổ chức Tư vấn rủi ro kinh tế và chính trị (PERC) công bố, VN là một trong những nước châu Á có độ rủi ro về kinh tế, chính trị và xã hội ở mức thấp. Đây là kết quả khảo sát do PERC thực hiện trên gần 1.500 doanh nghiệp tại 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á, cùng với Mỹ và Úc.
    • dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2007 đã tăng thêm 3 tỷ USD, đạt mức 15 tỷ USD”.

    2.      Hạn chế :

    • Việc thực hiện các chính sách đều hành vĩ mô đối với môi trường kinh doanh còn yếu kém, làm mất nhiều thời gian của các nhà kinh doanh .
    • Nạn tham nhũng, quyền sở hữu trí tuệ, tính minh bạch và có thể dự báo của hệ thống pháp luật, chất lượng hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng.
    • Vẫn còn nạn thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
    • Tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông đang là vấn đề cấp bách nhưng chưa được giải quyết triệt để
    • Chưa giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam .

        V.            Những giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư :

    • Chính phủ tăng cường hỗ trợ thông tin về thương mại, tài chính, công nghệ cho doanh nghiệp thông qua cho phép hình thành Trung tâm Thông tin độc lập ứng dụng công nghệ truyền thông đa phương tiện để doanh nghiệp có thể nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh nhất, nhằm đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.
    • Việt Nam cần phải cải thiện hệ thống giáo dục vì giáo dục trực tiếp ảnh hưởng đến các chọn lựa và tiềm năng của thế hệ tương lai.
    • Nâng cao bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
    • Sớm có các qui định hướng dẫn thực hiện luật.
    • Nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng,và hiệu quả làm việc của hệ thống hành chính.
    • Cải thiện tình hình giáo dục, y tế, an toàn giao thông và giải quyết vấn đề nhà ở cho người nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam, để nhằm biến Việt Nam thành một điểm đến đầu tư thân thiện và hấp dẫn hơn.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Thu-h%C3%BAt-v%E1%BB%91n-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-h%E1%BB%99-c%C3%A1c-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-trong-n%C6%B0%E1%BB%9Bc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và bảo hộ các nhà đầu tư trong nước

    PHÁP LUẬT KINH TẾ

     

             —-***—-

     

    Đề tài:        Tại sao phải thu hút vốn đầu tư nước ngoài? Theo em Nhà nước Việt Nam nên có những quy định như thế nào để vừa thui hút được vốn nước ngoài, vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo vốn cạnh tranh?

    Bài làm:

    Hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài đang trở thành bộ phận chủ yếu của quan hệ kinh tế thế giới. Nó là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nước nhằm hỗ trợ và phát huy lợi thế của mỗi quốc gia phát triển và là đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố chủ yếu cho sự tăng trưởng kinh tế, là một trong những chỉ số căn bản đánh giá khả năng phát triển. Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển ngoại thương, thực hiện tốt chương trình hàng xuất khẩu thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là những nhiệm vụ có tầm chiến lược quan trọng trước mắt, là lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

    Trong điều kiện hiện nay, khi mà nguồn vốn đầu tư ngày càng khan hiếm, cuộc cạnh tranh để thu hút vốn ngày càng trở nên gay gắt, các nước đều nhận thức được vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và luôn có những quyết sách thích hợp để cải thiện môi trường đầu tư. Các biện pháp khuyến khích đầu tư ngày càng mở rộng phong phú hơn, cùng với nền tảng bảo hộ pháp chế chắc chắn tạo nên môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.

    Việt Nam, sau hơn 10 năm ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), đã có những đổi mới căn bản trong nhận thức và đường lối, chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài đã đạt được thành tựu đáng khích lệ, nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý đã bước đầu được thu hút, tốc độ tăng

    trưởng kinh tế được thúc đẩy theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng chững lại, gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để đẩy mạnh hơn nữa việc thu hút đầu tư  nước ngoài vào Việt Nam cần có những biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sao cho thoáng hơn nữa nhằm tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để có thể cạnh tranh với các nhà đầu tư trên thế giới. Đặc biệt, đó là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    1. Lợi ích của việc thu hút vốn đầu tưu nước ngoài:

    Trước hết chúng ta phải khẳng định là: Đầu tư nước ngoài đem lại nhiều lợi ích cho thúc đẩy phát triển kinh tế, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam:
    1. Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh tế:

    Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.Việt Nam là một trong những nước đang phát triển. Vì vậy mà chúng ta rất cần nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế,xây dựng đất nước. Nhưng  hiện tại đất nước rất thiếu vốn, đầu tư trong nước không đủ nên ta phải đi huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài. Việc huy động, thu hút vốn từ nước ngoài sẽ giúp nước ta có nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, tận dụng và khai thác hiệu quả các nguồn lực của đất nước như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,…
    2 Khi thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài chúng ta còn có thể thu hút được khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới.

    Điều đó góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển kinh tế trong nước.. Thu hút được các chuyên gia nước ngoài vào làm việc, từ đó tạo điều kiện cho đội ngũ kỹ sư trong nước Có điều kiện học hỏi, trau dồi kiến thức, kinh nghiệm tiến tới làm chủ công nghệ.

    Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng “chính sách thắt lưng buộc bụng”. Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.
    3. Tạo  công ăn việc làm cho người lao động, nhất là ở các vùng kinh tế còn kém phát triển.

              Từ đó góp phần nâng cao mức sống của người dân, tránh lãng phí nguồn lực lao động(nước ta lại là nước có cơ cấu dân số trẻ có nguồn lực lao động dồi dào). Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

           Ở Việt Nam,  bình quân trong thời kỳ 2001 – 2006 khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo việc làm thêm cho khoảng 11 vạn việc làm mỗi năm đưa tổng số lao động trực tiếp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2006 lên 1, 13 triệu người. Ngoài ra khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra khoảng vài triệu lao động gián tiếp trong 6 năm qua.
    4. Giúp tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước:

               Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006

    FDI cũng đã giúp Việt Nam có một bước tiến lớn hơn vào các thị trường quốc tế, cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Việt nam. FDI chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các ngành công nghiệp chủ đạo của Việt Nam, cụ thể là 42% công nghiệp giầy da, 25% trong may mặc và 84% trong điện tử, máy tính và các linh kiện. Đóng góp của FDI cho Ngân sách Nhà nước trong giai đoạn 2001 – 2005 là khoảng 3,67 tỷ đô-la Mỹ, với mức tăng nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm 2006 đạt 1,4 tỷ USD, tăng 36,3% so với năm 2005.
    5. Học tập được kinh nghiệm quản lý, lãnh đạo điều hành doanh nghiệp công ty chuyên nghiệp của các nước tiên tiến hơn. Từ đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các nhà lãnh đạo trong nước.
    6. Tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

    Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

    1. Tạo đà phát triển cho kinh tế trong nước.

    Việt Nam đã công nhận một cách chính thức và rộng rãi rằng FDI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam trên nhiều phương diện: vốn, công nghệ, nâng cao khả năng thanh toán quốc tế, phát triển xuất khẩu, tham gia vào các thị trường quốc tế, ….FDI đã hỗ trợ Việt Nam một cách tích cực trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để Việt nam gia nhập ASEAN, ký kết thoả thuận khung với EU, bình thường hoá quan hệ và thoả thuận thương mại song phương với Mỹ.

    Trong những năm gần đây, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã tăng lên đáng kể. Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến 20/8, tổng số dự án đăng ký cấp mới đã đạt con số 658 với trị giá 10,79 tỷ USD, giảm khoảng 10% về số dự án nhưng tăng 41% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2009.
    Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường vốn cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều áp lực, nhất là khi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế Việt Nam là chưa cao. FDI có nhiều tác động tích cực, nhưng tác động đó không tự nhiên xảy ra.

    Vì vậy, bên cạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhà nước ta cũng phải xem xét những chính sách bảo hộ cho nhà đầu tư trong nước, và điều chỉnh theo bối cảnh nền kinh tế.

    1. Những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất:

    Về ngắn hạn, các chính phủ cần khuyến khích các nhà đầu tư bằng những chính sách trợ cấp hoặc miễn thuế. Tuy nhiên về lâu dài, những chính sách như vậy lại có thể làm giảm năng suất của các khoản đầu tư.  

    Các mức thuế thấp hơn dẫn đến việc cắt giảm các dịch vụ công cộng (gồm giáo dục khoa học và kỹ thuật, cơ sở hạ tầng), khiến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và những mối lợi từ FDI sẽ giảm sút.

    Trong một báo cáo mới đây, tổ chức Conference Board của Canada chuyên nghiên cứu và phân tích xu hướng kinh tế thế giới đã đưa ra 10 kết luận về những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài tốt nhất.

    Báo cáo nêu rõ muốn thu hút các nhà đầu tư ở khắp nơi trên thế giới, quốc gia sở tại cần hội tụ các yếu tố cần như cơ sở hạ tầng vững mạnh, sự bảo vệ pháp lý đáng tin cậy, lực lượng lao động được đào tạo tốt, những chính sách hỗ trợ tăng năng suất và tăng trưởng kinh tế thực.

    Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những lợi ích kinh tế ròng cho nước đầu tư lẫn nước nhận đầu tư.

    Qua nghiên cứu, tổ chức Conference Board đã tổng kết những thông lệ chính sách tốt nhất để thúc đẩy đầu tư nước ngoài. Theo đó, các chính phủ trước hết cần khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế, bảo đảm một chế độ pháp lý minh bạch và đáng tin cậy, có lực lượng lao động chuyên môn lành nghề, cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông tốt và một môi trường khuyến khích sáng tạo nhằm cải thiện sức hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Việc tập trung hoạt động kinh tế ở địa phương cũng có thể khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng cần có chính sách hợp lý và cơ quan công quyền hiệu quả, đáng tin cậy. Đầu tư trực tiếp hướng ngoại cũng có thể làm lợi cho nước đi đầu tư vì nó giúp mang lại những kỹ năng và tri thức chuyên ngành từ các dự án đầu tư.

    Các cơ quan xúc tiến đầu tư nên tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài về những lợi thế của một địa phương và giảm bớt tệ quan liêu đang làm tăng chi phí cũng như rủi ro đối với các nhà đầu tư.

    Việc buộc các nhà đầu tư nước ngoài phải mua nguyên vật liệu của các nhà cung cấp địa phương hoặc phải liên doanh với các đối tác địa phương không giúp tăng cường lợi ích từ các khoản đầu tư nước ngoài, thậm chí còn cản trở FDI.

    Như vậy, các thông lệ FDI tốt nhất bao gồm những chính sách khung, giúp tăng cường khả năng sản xuất của nền kinh tế quốc gia hay địa phương, cải thiện hiệu quả làm việc của chính quyền, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, cũng như tăng cường khả năng sáng tạo.

    III. Chính sách bảo hộ các nhà đầu tư  của Việt Nam:

    Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Nhà đầu tư được nhà nước Việt Nam đảm bảo các nội dung sau:

    1. Bảo đảm về vốn và tài sản

    – Vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

    – Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư thì nhà đầu tư được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm công bố việc trưng mua, trưng dụng.

    Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

    – Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài.

    – Thể thức, điều kiện trưng mua, trưng dụng theo quy định của pháp luật.

    1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

    Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    1. Mở cửa thị trường, đầu tư liên quan đến thương mại

    Để phù hợp với các quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Nhà nước bảo đảm thực hiện đối với nhà đầu tư nước ngoài các quy định sau đây:

    – Mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết;

    – Không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu sau đây:

    + Ưu tiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước;

    + Xuất khẩu hàng hóa hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước;

    + Nhập khẩu hàng hóa với số lượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu;

    + Đạt được tỷ lệ nội địa hóa nhất định trong hàng hóa sản xuất;

    + Đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước;

    + Cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài;

    + Đặt trụ sở chính tại một địa điểm cụ thể.

    1. Chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài

    – Sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài các khoản sau đây:

    + Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh;

    + Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật, dịch vụ, sở hữu trí tuệ;

    + Tiền gốc và lãi các khoản vay nước ngoài;

    + Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

    + Các khoản tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư.

    – Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho các dự án đầu tư được chuyển ra nước ngoài thu nhập hợp pháp của mình sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam.

    – Việc chuyển ra nước ngoài các khoản trên được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi theo tỷ giá giao dịch tại ngân hàng thương mại do nhà đầu tư lựa chọn.

    –  Thủ tục chuyển ra nước ngoài các khoản tiền liên quan đến hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

    1. Áp dụng giá, phí, lệ phí thống nhất

    Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước kiểm soát.

    1. Bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực.

    – Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây:

    + Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;

    + Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;

    + Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;

    + Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    – Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà đầu tư.

    1. Giải quyết tranh chấp

    – Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật.

    – Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam.

    – Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây:

    + Toà án Việt Nam;

    + Trọng tài Việt Nam;

    + Trọng tài nước ngoài;

    + Trọng tài quốc tế;

    + Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập.

    – Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    So với pháp Luật về bảo đảm đầu tư trước đây, Luật đầu tư quy định cụ thể hơn các nguyên tắc và nội dung bảo đảm đầu tư của Nhà nước. Đó là: Việc thanh toán hoặc bồi thường tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của nhà đầu tư được quyền chuyển ra nước ngoài; Khẳng định bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của Pháp luật có liên quan; Trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hóa, dịch vụ do nhà nước kiểm soát.

    Đặc biệt, trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, Luật quy định nhà đầu tư được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau đây: Tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi; Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án; được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

    Ngoài ra Việt Nam cần có những quy định nhằm bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. An ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài có thể được xem xét ở một số khía cạnh nhất định. Các khía cạnh này bao gồm:

    – Quy định các lĩnh vực cấm đầu tư, hạn chế đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư hoặc quy định mức góp vốn trong các dự án quan trọng chỉ ở một tỷ lệ nhất định.

    – Tỷ trọng vốn đầu tư nước ngoài trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và thông thường phương châm được quán triệt là “Vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng”.

    – Quy định cơ cấu nhân sự và nguyên tắc nhất trí của hội đồng quản trị. Nếu tổng giám đốc là người nước ngoài thì phó tổng giám đốc thứ nhất là người trong nước. Đây là việc quy định một cơ cấu điều hành và quyền lực lãnh đạo doanh nghiệp có sự chế ước song hoặc đa phương.

    – Quy định không quốc hữu hoá, trưng dụng, tịch thu hoặc sử dụng các biện pháp hành chính để can thiệp vào hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài để tránh tình trạng rút vốn ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài gây đổ bể dự án. Đồng thời, áp dụng nguyên tắc “không hồi tố” đối với trường hợp chính sách có sự thay đổi bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.

    – Quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài như tranh chấp được giải quyết công khai nếu các bên không tự giải quyết bằng thương lượng và hoà giải.

    – Các hiệp định song phương và đa phương được soạn thảo và ký kết về đầu tư nước ngoài để tạo ra sự bảo đảm quốc tế đối với hoạt động đầu tư nước ngoài cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu những mâu thuẫn và xung đột về lợi ích của các bên đối tác trong các dự án phát sinh không giải quyết được, đòi hỏi sự tham gia của chính phủ các bên có liên quan.

    – Các cam kết về góp vốn bằng tài sản hữu hình và vô hình hoặc dịch vụ, quy định về thời hạn, quy định về việc tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán… nhằm bảo đảm lợi ích thoả đáng cho các bên.

    – Các khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc khu kinh tế, khu kinh tế mở… là những địa điểm chịu sự chi phối rất lớn của nhà đầu tư nước ngoài.

    – Thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài, có thể các thông tin kinh tế – xã hội cơ bản bị tiết lộ, nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng về thói quen, tập quán, nhận thức… Thậm chí có thể xuất hiện những vụ bạo động do các phần tử quá khích hoặc các thế lực phản động quốc tế lợi dụng việc nghiên cứu cơ hội đầu tư nước ngoài để thực hiện “diễn biến hoà bình”, các chi nhánh của các công ty xuyên quốc gia tham gia sâu hơn vào công việc nội bộ về kinh tế như chi phối thị trường, chi phối quá trình hoạch định chính sách, lũng đoạn thị trường…

    1. Các giải pháp bảo đảm an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

    Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và tự do hoá đầu tư đang gia tăng, chính sách đầu tư trong nước được coi trọng sửa đổi, hoàn thiện theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, nhiều cơ hội mở ra và đồng thời rất nhiều thách thức vừa ngấm ngầm, vừa lộ rõ đang ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến an ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh việc bảo đảm an ninh cho nhà đầu tư nước ngoài, việc coi trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, địa phương, doanh nghiệp, người lao động… cần được quan tâm hữu hiệu. Việt Nam là một nước chủ yếu coi trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc chú trọng bảo vệ an ninh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và người dân là hoàn toàn cần thiết.

    F Để bảo đảm anh ninh trong thu hút đầu tư nước ngoài từ góc độ của nước tiếp nhận, cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau:

    Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về an ninh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với quan niệm truyền thống, an ninh được hiểu là sự độc lập hoàn toàn trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài. An ninh quốc tế ngày nay cần được hiểu là sự chế ước lẫn nhau giữa các lực lượng trong nền kinh tế toàn cầu. An ninh kinh tế đang ngày càng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống an ninh quốc tế khi xu hướng hợp tác, sự phụ thuộc lẫn nhau và toàn cầu hoá kinh tế ngày càng nổi trội. An ninh là một khái niệm đa nghĩa, một quan niệm có tính chất “động” và đang ngày càng phản ánh khả năng tăng ảnh hưởng lẫn nhau, tăng tính chất đối trọng trong việc ra quyết định giữa Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài trong các giao dịch đầu tư nước ngoài. Do đó, việc thực hiện theo chiều rộng và chiều sâu chính sách đối ngoại hợp tác, rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá sẽ tạo cơ hội cho việc khai thác tác động nhiều chiều của các lực lượng khác nhau trong nền kinh tế toàn cầu, hình thành thế trận an ninh theo cách tiếp cận mới đặc biệt là cách tiếp cận chi phí- lợi ích và cần quán triệt nguyên tắc đôi bên cũng có lợi, đôi bên cùng an toàn trong đầu tư .

    Thứ hai, cần có cơ chế theo dõi, giám sát hợp lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài để giảm thiểu những tác động bất lợi của hoạt động thu hút đầu tư đến an ninh quốc gia. Cơ chế giám sát này, cần bảo đảm nguyên tắc tôn trọng lợi ích và những quyền kinh doanh hợp pháp của nhà đầu tư, thiện chí hợp tác và làm ăn lâu dài và cần có chế độ cảnh báo sớm những thua thiệt về lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, lợi ích người lao động trong thu hút đầu tư nước ngoài để có đối sách thích hợp. Việc tiếp tục hoàn thiện chính sách đầu tư theo các cam kết của Việt Nam trong WTO cần cân nhắc các loại lợi ích của các đối tượng có liên quan, trong đó có khía cạnh về an ninh.

    Thứ ba, các chính sách, quy định ban hành trong thu hút đầu tư nước ngoài cần tính đến lợi ích về an ninh lâu dài của bên Việt Nam, tránh làm tổn hại về an ninh của quốc gia, ngành, doanh nghiệp, người lao động. Cách hiểu an ninh cần toàn diện và các biện pháp áp dụng càng mềm dẻo và sâu sắc hơn. Đặc biệt, cần có giải pháp thích hợp để bảo đảm an ninh cho doanh nghiệp và người lao động khi xuất hiện làn sóng sáp nhập và mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam có khả năng bùng phát trong thời gian tới. Chính sách an sinh xã hội, cơ chế bảo hiểm đầu tư, chính sách trợ cấp việc làm, trợ cấp thất nghiệp… cần được hoàn thiện để phù hợp với những biến động mới của thị trường đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, cần đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài để đội ngũ này trở thành những nơi quan sát hữu hiệu hoạt động nhà đầu tư nước ngoài, một mặt, học tập cách thức lãnh đạo, điều hành hoạt động doanh nghiệp; mặt khác, có những đối sách phù hợp để đấu tranh bảo vệ an ninh việc làm cho người lao động, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và phát triển quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững trong thu hút đầu tư nước ngoài. Nghĩa là cả các khía cạnh hợp tác và đấu tranh cần được hiểu biết sâu sắc và được “thẩm thấu” trong đội ngũ cán bộ và được khai thác một cách hợp lý nhất.

    Thứ năm, cần phát triển học thuyết về xây dựng thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế làm sao cho mỗi người dân trở thành một chiến sỹ an ninh đáng tin cậy, mỗi doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế là một trụ cột về an ninh kinh tế… và gắn với các tác động quốc tế. Học thuyết này, cần lấy nền tảng là lực lượng quần chúng nhân dân gắn với việc xây dựng lực lượng an ninh tinh nhuệ và chuyên nghiệp, khai thác triệt để cơ hội và sự tương tác lẫn nhau giữa các lực lượng an ninh quốc tế và giảm thiểu tối đa những thách thức về an ninh trong đầu tư nước ngoài. Điều đó, đòi hỏi phải tăng cường công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về chiến lược an ninh nhân dân cho mỗi người dân, từng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các cán bộ quản lý nhà nước, các doanh nhân… Tạo được sự đồng thuận cao trong mọi tầng lớn nhân dân về ý thức bảo vệ an ninh, lợi ích đất nước, dân tộc, doanh nghiệp, tập đoàn, con người… trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.

    1. Kết luận

    Như vậy, để vừa thu hút được vốn đầu tư nước ngoài vừa bảo hộ được các nhà đầu tư trong nước và đảm bảo có cạnh tranh thì Nhà nước ta cần: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, trong đó có các giải pháp: Rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với nền kinh tế thị trường và các điều ước quốc tế; Hoàn thiện các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều chỉnh việc xây dựng quy hoạch, mở rộng lĩnh vực ưu đãi đầu tư; Hoàn thiện các ưu đãi về thuế; Hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai; Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại; Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Hi vọng rằng, bằng những quy định sáng suốt và hợp lý nền kinh tế của Việt Nam sẽ từng bước phát triển hội nhập với nền kinh tế thế giới.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiều luận môn Đầu tư nước ngoài

    Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%81u-lu%E1%BA%ADn-m%C3%B4n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận môn Đầu tư nước ngoài

     

    Câu hỏi:

    Nguyên nhân của việc luân chuyển vốn đầu tư từ nước này sang nước khác và những chỉ tiêu đánh giá về hiểu quả đầu tư quốc tế trên quan điểm vĩ mô, dưới góc độ của nước nhận đầu tư.

     

    1. Các khái niệm:

    1.1. Đầu tư quốc tế:

    Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội, tạo ra sự di chuyển vốn qua khỏi biên giới các quốc gia.

    Các loại hình đầu tư quốc tế: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

    1.2. Luân chuyển vốn quốc tế:

    – Luân chuyển vốn quốc tế là sự vận động của vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tìm nơi đầu tư có lợi.

    Đặc điểm:

    – Tiền tệ và các tài sản khác giữa các quốc gia sẽ vận động để điều chỉnh tỷ lệ kết hợp giữa các yếu tố sản xuất nhằm đạt được lợi ích tối đa.

    – Quá trình di chuyển vốn quốc tế làm hình thành 2 dòng chảy của vốn đối với từng quốc gia: dòng vốn chảy vào và dòng vốn chảy ra. Những dòng chảy này sẽ đưa vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác, làm cho vốn sinh sôi nhanh hơn.

    2. Nguyên nhân của luân chuyển vốn:

    2.1. Nguyên nhân chung:

    2.1.1. Tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu tạo ra việc luân chuyển vốn:

      Đây là nguyên nhân hết sức quan trọng gây nên tình trạng luân chuyển vốn một cách thường xuyên và liên tục giữa các quốc gia trên thế giới. Khi nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái toàn cầu thì làm cho nguồn vồn thay đổi dòng chảy một cách mạnh mẽ, nguồn vốn sẽ di chuyển ra khỏi những nước có nền tài chính đang bị khủng hoảng và sẽ tập trung đến những nước vẫn có nền tài chính ổn định. Bên cạnh đó khủng hoảng kinh tế toàn cầu còn làm cho nguồn vốn quốc tế ở các quốc gia nhận đầu tư giảm sút tầm trọng và xu hướng là nguồn vốn đó sẽ quay trở lại nước đầu tư, làm cho nguồn vốn ở các nước đầu tư đột ngột tăng mạnh. Bởi vì lúc đó các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh việc chuyển lợi nhuận về nước, cùng với đó là vốn tài trợ của công ty mẹ ở bản quốc cho các công ty con ở nước nhận đầu tư giảm sút nghiêm trọng. lúc này, các nước phát triển thay vì đầu tư ra nước ngoài, đã quay lại ngăn chặn suy giảm kinh tế trong nước. Chính vì sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu mà đã tạo nên làn sóng bảo hộ trong nước, điều đó tạo nên sự bất lợi cho việc thu hút nguồn vốn quốc tế.

    Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài co lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), FDI vào các nước đang phát triển đạt khoảng 500 tỉ USD (năm 2008), giảm xuống chỉ còn khoảng 400 tỉ USD (năm 2009). Theo Tổ chức Bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA), FDI cho các nước đang phát triển giảm 30% trong 2009, chỉ đạt khoảng 385.000 triệu đôla. Các nước đang phát triển sẽ rơi vào tình trạng thiếu vốn vào năm 2010. Do vậy, tăng trưởng của các nền kinh tế dựa vào FDI sẽ bị ảnh hưởng. Các nước có nợ nước ngoài lớn sẽ phải đối mặt với khả năng trả nợ giảm. Lãi suất cao tại Mỹ sẽ hút nguồn vốn USD trên toàn thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước từng thu hút lượng lớn FDI như Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng.

    Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm cho tình hình kinh doanh quốc tế xấu nghiêm trọng, mức độ rủi ro cao, thiếu vốn nên nhiều tập đoàn phải điều chỉnh chiến lược đầu tư kinh doanh, điều chỉnh địa bàn và các dịnh hướng đầu tư dẫn đến thu hẹp phạm vi đầu tư, đồng thời cắt giảm vốn nhằm giảm thiểu rủi ro kinh doanh.

    Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã ngày càng tác động mạnh đến kế hoạch đầu tư của các công ty xuyên quốc gia TNCs (Transnational Corporations). Lợi nhuận suy giảm do khối lượng buôn bán giảm sút đã làm hạn chế xu hướng đầu tư. Đây chính là tác động của “khủng hoảng kinh tế” (economic crisis). Mặt khác, chi phí kinh tế tăng và khả năng tiếp cận tín dụng giảm làm cho các công ty khó có khả năng tiếp cận được với nguồn tài chính bên ngoài để đầu tư cho các dự án mới (bao gồm cả các dự án sáp nhập và mua lại M&A và các dự án môi trường xanh (greenfield). Đây được coi là tác động của “đổ vỡ tín dụng và khủng hoảng tài chính” (financial crisis and credit crunch). Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nhiều công ty do dự trong việc chọn lựa xu hướng đầu tư và thường thiên về chọn lựa các chiến lược đầu tư ít rủi ro, có số lượng vốn đầu tư không nhiều.

    2.1.2. Sự thay đổi bối cảnh kinh tế của một quốc gia:

    Dòng vốn quốc tế luôn có sự di chuyển đến những nơi mà phần thưởng đối với nó là cao nhất. Những nước có tiềm lực phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp chính sách về ĐTQT hoàn chỉnh, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng cho hoạt động đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư Quốc tế sẽ là nơi nguồn vốn tập trung nhiều nhất. đồng thời các nhà đầu tư cũng tranh xa những nước có sự bảo hộ của nhà nước và môi trường đầu tư xấu. Theo Báo cáo tổng quan triển vọng đầu tư thế giới WIPS (World Investment Prospects Survey) các nền kinh tế mới nổi nhờ có tiềm lực tài chính tốt, tỷ lệ giới trẻ cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng lâu dài nên càng thu hút giới đầu tư quốc tế và các công ty xuyên quốc gia TNCs. Từ đó sẽ làm cho lượng vốn chuyển từ các nước đã phát triển lâu dài và đang có xu hướng chững lại sang các nước có nền kinh tế mới nổi.

    Điển hình như FDI của Hàn Quốc trong 7 tháng đầu năm 2009 tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Hàn Quốc đang tiếp tục tạo dựng môi trường “ngoại thương thân thiện” thông qua nhiều biện pháp khuyên khích đầu tư nước ngoài. Cụ thể, chính phủ miễn hoàn toàn thuế thuê đất cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài để sản xuất vật liệu và phụ tùng máy móc. Trong số 5 địa điểm thu hút FDI lớn nhất thế giới, thì các nền kinh tế mới nổi chiếm tới 4, đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga. Từ năm 2007 đến nay, FDI vào Trung Quốc mỗi năm đạt khoảng 87 tỷ USD và chiếm khoảng 6% tổng FDI toàn cầu. Trong cuộc khảo sát về triển vọng đầu tư do Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) công bố ngày 7/2009, có 240 công ty đa quốc gia TNCs khẳng định Trung Quốc vẫn là điểm đến hàng đầu cho FDI đứng trên cả Mỹ, Brazil và Nga.

    Dưới đây là Top 10 điểm đến hấp dẫn nhất thế giới của vốn FDI trong năm 2010 theo báo cáo của A.T. Kearney:

     

    1. 1. Trung Quốc

    Xếp hạng: 1 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Không thay đổi)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 89

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 108,3 tỷ USD

    GDP 2009: 4.900 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 3.680 USD

    Trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, các nhà đầu tư nước ngoài từ mọi ngành công nghiệp lớn khắp nơi trên thế giới bị hấp dẫn bởi thị trường khổng lồ của nước này. Nhu cầu nội địa tại Trung Quốc tăng và sự dịch chuyển hướng tới một lực lượng lao động chất lượng cao hơn là những yếu tố mà các doanh nghiệp FDI đánh giá cao hơn thị trường này. Tuy nhiên, lạm phát tiền lương lại đang là một mối lo ngại gia tăng tại các công ty nước ngoài làm ăn tại Trung Quốc.

    1. Mỹ

    Xếp hạng: 2 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 4

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 316,1 tỷ USD

    GDP 2009: 14.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.460 USD

    Bất chấp khủng hoảng và suy thoái, nước Mỹ vẫn tăng một bậc về Chỉ số niềm tin FDI trong báo cáo năm nay của A.T. Kearney. Điều này cho thấy giới đầu tư toàn cầu muốn tìm nhiều hơn đến với những điểm đến có độ an toàn cao. Với môi trường kinh doanh tương đối thông thoáng và mức giá gần đây đã xuống thấp cho các thương vụ mua bán và sáp nhập, đặc biệt là trong ngành tài chính, nước Mỹ đã tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các lĩnh vực khác có sức hút cao ở Mỹ là dược phẩm và năng lượng xanh.

    1. Ấn Độ

    Xếp hạng: 3 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 1 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 133

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 41,6 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 1.100 USD

    Mặc dù lần này Ấn Độ tụt một bậc so với báo cáo trước, nước này vẫn là một điểm đến được giới đầu tư đánh giá cao. Thế mạnh của quốc gia châu Á này trong mắt giới đầu tư nước ngoài là các ngành dịch vụ phi tài chính, tài chính, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Tuy nhiên, điểm yếu của Ấn Độ là môi trường kinh doanh có độ cởi mở còn thấp so với nhiều nước khác.

    1. Brazil

    Xếp hạng: 4 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 2 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 129

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 45,1 tỷ USD

    GDP 2009: 1.500 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.940 USD

    Sự phục hồi mạnh của kinh tế Brazil trong năm 2009 và tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển là những yếu tố hút vốn FDI hàng đầu ở Brazil hiện nay. Ngoài ra, Brazil đã nổi lên là một lựa chọn hàng đầu cho các công ty châu Âu và Mỹ muốn đầu tư ở các thị trường gần “sân nhà”.

    1. Đức

    Xếp hạng: 5 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 25

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 24,9 tỷ USD

    GDP 2009: 3.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.800 USD

    Là điểm đến FDI hàng đầu tại châu Âu năm nay, Đức được giới đầu tư xem trọng trong các lĩnh vực dịch vụ phi tài chính và tài chính. Những dự án vốn FDI lớn vào Đức thường đến từ các nền kinh tế phát triển khác như Mỹ, Anh và Nhật Bản.

    1. Ba Lan

    Xếp hạng: 6 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 16 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 72

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 16,5 tỷ USD

    GDP 2009: 441,9 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 11.580 USD

    Sự vươn lên mạnh mẽ của Ba Lan trong Chỉ số niềm tin FDI chủ yếu là do thành công của nước này trong việc vượt khủng hoảng kinh tế, đặc biệt nếu so sánh với các nước láng giềng ở Đông Âu. Các nhà đầu tư nước ngoài bị hút tới Ba Lan bởi mức lương thấp, cơ hội đầu tư ở nhiều lĩnh vực và chương trình tư nhân hóa mạnh mẽ của Chính phủ nước này.

    1. Australia

    Xếp hạng: 7 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 4 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 9

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 46,8 tỷ USD

    GDP 2009: 996,1 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 46.860 USD

    Sự tiếp cận dễ dàng với các nguồn tài nguyên và môi trường kinh doanh hấp dẫn là những lý do đưa Australia vào vị trí thứ 7 trong xếp hạng. Các nhà đầu tư nước ngoài xem Australia là điểm đến hấp dẫn thứ ba đối với các khoản đầu tư vào tài nguyên. Điều này càng nhấn mạnh thêm sức hút của Australia ở sự dồi dào tài nguyên thiên nhiên và vị trí cửa ngõ vào các thị trường lớn khác trong khu vực châu Á của nước này.

    1. Mexico

    Xếp hạng: 8 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 11 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 51

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 22,9 tỷ USD

    GDP 2009: 868,3 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 7.810 USD

    Mexico là một điểm đến được giới đầu tư công nghiệp nhẹ đánh giá cao. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng bất lợi của khủng hoảng kinh tế, Mexico vẫn được lợi từ chiến lược đầu tư gần của các công ty Mỹ và Canada.

    1. Canada

    Xếp hạng: 9 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Tăng 5 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 8

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 44,7 tỷ USD

    GDP 2009: 1.300 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 39.890 USD

    Các nhà đầu tư FDI tiếp tục dành cho Canada sự tin tưởng lớn. Việc Canada sở hữu trữ lượng dầu khí thứ hai thế giới sau Saudi Arabia lý giải vì sao quốc gia này được giới đầu tư khai thác tài nguyên đánh giá cao. Các ưu điểm khác của Canada bao gồm mức độ ổn định cao và một nền kinh tế khá vững vàng sau khủng hoảng.

    1. Anh

    Xếp hạng: 10 (Thay đổi so với xếp hạng 2007: Giảm 6 bậc)

    Xếp hạng về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh: 5

    Thu hút vốn FDI năm 2008: 96,9 tỷ USD

    GDP 2009: 2.200 tỷ USD

    GDP/đầu người 2009: 35.630 USD

    Nguyên nhân tụt hạng của Anh chủ yếu là do nước này chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, sự đi xuống của giá địa ốc ở xứ sở sương mù đang thu hút sự trở lại của giới đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ lợi ích quốc gia. Mặc dù ngành tài chính của Anh vừa trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ, sự đa dạng của nền kinh tế này vẫn đem đến cho các nhà đầu tư nước ngoại vô số cơ hội, đặc biệt là với chi phí khá phải chăng hiện nay.

    Đứng ở vị trí thứ 12 trong xếp hạng chung Chỉ số niềm tin FDI, Việt Nam được báo cáo của A.T. Kearney xếp ở vị trí thứ 93 về mức độ thông thoáng của môi trường kinh doanh (Ease of Doing Business Ranking). Trong số các nước Đông Nam Á lọt vào Top 25 của xếp hạng Chỉ số niềm tin FDI 2010, Việt Nam đứng trên Indonesia (vị trí 21), Malaysia (vị trí 20), và Singapore (vị trí 24).

    2.1.3. Tác động của tình hình chính trị – xã hội và an ninh của một quốc gia làm luân chuyển vốn quốc tế:

    Dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển từ các nước có tình hình chính trị bất ổn, nơi thường xảy ra các cuộc biểu tình của nhân dân và thường xuyên xảy ra những cuộc đảo chính bất ngờ. Những quốc gia có nguy cơ khủng bố cao cũng bị các nhà đầu tư dần dần rút vốn ra để tập trung đầu tư vào những nước có tình hình chính trị –  xã hội và an ninh quốc gia được đảm bảo.

    Tình hình chính trị – xã hội và an ninh của Thái Lan bất bình ổn từ cuối năm 2008 khiến cho dòng vốn quốc tế có xu hướng di chuyển ra khỏi Thái Lan. Điển hình là ngành công nghiệp du lịch, chiếm tới gần 7% GDP và cũng là ngành sử dụng nhiều nhân công ở Thái Lan, bị thiệt hại mạnh. Thái Lan đang phải trải qua đợt suy giảm mạnh nhất của ngành du lịch trong gần 5 thập kỷ qua. Năm 2009, ngành du lịch Thái Lan thất thu hơn 200 tỷ Baht do bất ổn chính trị và con số này được dự báo sẽ không khả quan trong năm 2010. Để khắc phục tình trạng này, ngành du lịch Thái Lan đang nỗ lực thúc đẩy du lịch nội địa để bù đắp sự sụt giảm du khách quốc tế. Các doanh nhân nước ngoài đang làm ăn tại Thái Lan lo ngại bất ổn chính trị tại Thái Lan sẽ bùng phát trở lại và có khả năng kéo dài, làm ảnh hưởng đến kế hoạch làm ăn. Và nếu các cuộc biểu tình dẫn tới đối đầu với quân đội và cảnh sát và xung đột leo thang thì sẽ dẫn tới những hậu quả khó lường. Đây cũng chính là nhân tố khiến các nhà đầu tư chuyển hướng đầu tư từ Thái Lan sang các nước có tình hình chính trị – xã hội ổn định hơn, như Việt Nam.

    Với nền chính trị ổn định, Singapore đã thu hút được các nhà đầu tư nước ngòai và cũng lập kỷ lục mới khi lượng FDI đổ vào khoảng 37 tỷ USD

    2.2. Nguyên nhân nguồn vốn vào và ra đối với Việt Nam:

    2.2.1. Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN):

    Thứ nhất là việc thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Trong năm qua, hàng loạt sự kiện quan trọng đã diễn ra, đó là: thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X với việc khẳng định chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế, tăng cường thu hút ĐTNN. Việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tổ chức thành công Tuần lễ cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội, tiếp theo là việc Hoa Kỳ thông qua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam.

    Thứ hai nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và mức sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện đã góp phần mở rộng dung lượng thị trường trong nước. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường tiêu thụ được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.

    Thứ ba là sự ổn định về chính trị – xã hội cùng với sự đảm bảo về an ninh đã làm cho nước ta được cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn.

    Thứ tư là hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đã tiếp tục được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, minh bạch, bình đẳng và thông thoáng hơn cho hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong năm qua Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu thầu, đồng thời tiếp tục chỉnh sửa nhiều chính sách liên quan đến đầu tư. Nhiều luật mới cũng đã được Quốc hội thông qua, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ hơn, như Luật Chứng khoán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ Luật Lao động liên quan đến đình công.

    Thứ năm là hoạt động xúc tiến đầu tư đã được triển khai tích cực ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng. Đặc biệt việc tổ chức các Hội thảo, Diễn đàn đầu tư trong khuôn khổ các chuyến thăm các nước của Lãnh đạo Chính phủ ta đã thu hút mối quan tâm của hàng trăm tập đoàn, công ty lớn của nước ngoài.

    Thứ sáu là cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư được tăng cường thông qua nhiều diễn đàn, nhất là Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ đã tạo thêm lòng tin của các nhà đầu tư đối với Chính phủ, các Bộ ngành và chính quyền địa phương.

    2.2.2. Nguồn vốn ra khỏi Việt Nam:

    2.2.2.1. Các nhà ĐTNN rút vốn:

    Môi trường đầu tư tại Việt Nam chưa thật sự hấp dẫn.

    – Tư duy kinh tế chậm đổi mới. Chưa tạo lập đồng bộ các loại thị trường theo nguyên tắc thị trường. Nhận thức về chung về ĐTNN đều thống nhất như các chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước là coi ĐTNN là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, thực tế xử lý các vấn đề cụ thể ở nhiều Bộ, ngành và địa phương vẫn còn phân biệt rất khác nhau giữa đầu tư trong nước và ĐTNN, chưa thực sự coi ĐTNN là thành phần kinh tế của Việt Nam. Điều đó thể hiện ngay từ khâu quy hoạch sản phẩm, phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế (lao động, đất đai, vốn…) cũng chưa thực sự cho phép ĐTNN tham gia. Việc xử lý tranh chấp kinh tế giữa các bên cũng thiên về bảo vệ quyền lợi cho phía Việt Nam. Trong những thời điểm khó khăn, ta tranh thủ vốn ĐTNN nhưng khi điều kiện thuận lợi lại có xu hướng không khuyến khích ĐTNN mà để trong nước tự làm; những biểu hiện này có tác động làm  nản lòng nhà ĐTNN.

    – Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán. Một số Bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của Chính phủ.

    – Môi trường đầu tư – kinh doanh nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt được còn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt.

    – Định hướng chiến lược thu hút vốn ĐTNN hướng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nhưng sự liên kết, phối hợp giữa các doanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước còn yếu nên giá trị gia tăng trong một số sản phẩm xuất khẩu (hàng điện tử dân dụng, dệt may) còn thấp. Nhiều tập đoàn công nghiệp định hướng xuất khẩu đầu tư tại Việt Nam buộc phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu đầu vào vì thiếu nguồn cung cấp ngay tại Việt Nam.

    – Công tác quy hoạch còn có những bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành còn nặng về xu hướng bảo hộ sả n xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế.

    – Nước ta có xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, quy mô nền kinh tế nhỏ bé; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội yếu kém; các ngành công nghiệp bổ trợ chưa phát triển; trình độ công nghệ và năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất cao. Chính sách, biện pháp để khuyến khích huy động tốt nguồn lực trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế.

    – Sự phối hợp trong quản lý hoạt động ĐTNN giữa các Bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Đánh giá tình hình ĐTNN vẫn nặng về số lượng, chưa coi trọng về chất lượng, còn bệnh thành tích trong cơ quan quản lý các cấp.

    – Tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác kinh tế đối ngoại còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ, không loại trừ một số yếu kém về phẩm chất, đạo đức, gây phiền hà cho doanh nghiệp, làm  ảnh hưởng xấu đến môI trường đầu tư-kinh doanh.

    Khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

    Khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu đã làm cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong năm 2009 giảm đáng kể.

    Theo báo cáo mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng vốn đầu tư đăng ký gồm cả cấp mới và tăng thêm trong năm 2009 chỉ bằng 30% của 2008.

    Yếu tố chủ quan từ phía nhà đầu tư.

    Có nhiều dự án chậm triển khai, hết thời hạn giấy phép, công ty mẹ ở nước ngoài bị phá sản. Không những thế, hàng loạt dự án tỷ USD được cấp phép rầm rộ vào vài năm trước với khá nhiều kỳ vọng về sự “đổi đời” cho nhiều vùng đất, vẫn tiếp tục im hơi lặng tiếng…

    2.2.2.2. Đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam:

    Đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN) là vấn đề mang tính chất toàn cầu và là xu thế của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới nhằm mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận gần khách hàng hơn, tận dụng nguồn tài nguyên, nguyên liệu tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hóa, tránh được chế độ giấy phép xuất khẩu trong nước và tận dụng được quota xuất khẩu của nước sở tại để mở rộng thị trường, đồng thời, tăng cường khoa học kỹ thuật, nâng cao nâng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới

    Tính đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 265 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 2,006 tỷ USD, vốn thực hiện đạt khoảng 800 triệu USD, chiếm 40% tổng vốn ĐTRNN. Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án. Qua từng giai đoạn, quy mô vốn đầu tư đã tăng dần, điều này cho thấy tác động tích cực của khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam; cũng như sự trưởng thành về mọi mặt của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào hoạt động ĐTRNN.

     

    Bảng số liệu Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn 1989 – 2007.

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI THEO NĂM

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính những dự án còn hiệu lực)

    STT Năm Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 1991 3 4,000,000 2,000,000
    2 1992 3 5,282,051 1,300,000
    3 1993 5 690,831
    4 1994 3 1,306,811
    5 1998 2 1,850,000 1,500,000
    6 1999 10 12,337,793 138,752
    7 2000 15 7,165,370 1,231,142
    8 2001 13 7,696,452 2,622,000
    9 2002 15 191,459,576 37,618,572
    10 2003 24 62,390,970 8,743,252
    11 2004 17 12,463,114 4,761,752
    12 2005 37 437,905,179 4,853,946
    13 2006 36 349,106,156
    14 2007 80 911,819,885 110,000
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

     

    ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI PHÂN THEO NƯỚC

    (Tính tới ngày 31/12/2007 – Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    STT Nước tiếp nhận Số dự án TVĐT ĐT thực hiện
    1 Lào 98 1,040,310,380 7,511,733
    2 Angieri 1 243,000,000 35,000,000
    3 Nadagasca 1 117,360,000
    4 Malaysia 4 112,736,615 6,576,840
    5 Irắc 1 100,000,000
    6 Campuchia 28 89,399,869 1,394,014
    7 Liên Bang Nga 12 78,067,407 2,010,000
    8 Hoa Kỳ 30 68,182,754 1,100,000
    9 Cuba 1 44,520,000
    10 Singapore 17 27,565,473 2,460,000
    11 CH liên bang Đức 5 11,542,372 100,000
    12 Thái Lan 4 10,405,200
    13 Indonesia 2 9,400,000 3,240,000
    14 Trung Quốc 5 3,704,150
    15 Tajkistan 2 3,465,272 2,222,000
    16 Angola 4 3,432,387
    17 Ukraina 4 3,357,286 957,286
    18 Myanmar 1 2,314,760
    19 Nhật Bản 6 2,306,050 422,885
    20 Hàn Quốc 6 1,961,000
    21 Cộng Hoà Séc 2 1,935,900 912,000
    22 Hồng Công 6 1,881,513 394,558
    23 Ba Lan 2 1,810,000
    24 Ustrailia 5 1,237,200 378,100
    25 Bỉ 2 1,052,000
    26 Cô oét 1 999,700
    27 Nam Phi 1 950,000
    28 Bristish Virgin Islands 1 900,000
    29 Braxin 1 800,000
    30 Vương quốc Anh 3 500,000
    31 Đài Loan 2 468,000
    32 Italia 1 350,000
    33 CH Uzbekistan 2 850,000 200,000
    34 Bungari 1 152,280
    35 Ấn Độ 1 150,000
    36 Pháp 1
    Tổng số 265 2,006,037,568 64,879,416

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ kế hoạch Đầu tư

    3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    3.1. Khái niệm:

    Đối với các nước nhận đầu tư, có 3 hình thức đầu tư chính là ODA, FDI và FPI.

    ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA – viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.

    FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, viết tắt của cụm từ Foreign Direct Investment) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (theo tổ chức Thương mại thế giới).

    FPI: Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI – viết tắt của cụm từ Foreign Portfolio Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.

    3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Mục đích đánh giá hiệu quả đầu tư quốc tế:

    Để xác định khả năng đem lại lợi ích của vốn đầu tư từ nước ngoài, từ đó đưa ra những giải pháp nếu hiệu quả đầu tư còn thấp, hay giữ vững và phát huy khi hiệu quả đầu tư cao.

    3.2.1. Hệ số ICOR:

    3.2.1.1. Khái niệm:

    ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. Đây là tập hợp các chữ cái đầu của cụm từ tiếng Anh Incremental Capital Output Rate. Trong tiếng Việt, ICOR còn được gọi là hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm.

    3.2.1.2. Phương pháp tính:

     

    ICOR = I/∆ GDP

    (∆ GDP = GDPt – GDPt-1)

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng một đơn vị cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư.

    Hệ số ICOR càng lớn sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư, vì lúc này để tăng 1 đồng GDP phải bỏ ra nhiều đồng vốn đầu tư hơn.

    Công thức trên có thể được phát triển thành:

    ICOR = k/g

    với k=I/GDP, g= ∆GDP/GDP

    Trong đó:       ICOR: tỷ lệ giữa vốn đầu t­ư và tăng tr­ưởng kinh tế;

    I: vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế­; I = ID+IF

    DGDP: mức tăng tổng sản phẩm quốc nội

    k: tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tổng sản phẩm quốc nội

    g: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

    Ý nghĩa:  Để GDP tăng tr­ưởng 1% đòi hỏi tỷ lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP phải đạt bao nhiêu %.

    Hệ số ICOR càng cao sẽ càng cho thấy sự kém hiệu quả của việc dùng vốn đầu tư. Vì ICOR nghịch biến với g, nếu ICOR tăng thì g giảm tương đối, mang‎ ý nghĩa mức độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp lượng vốn đầu tư.

    Ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nước đang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồn cốn đầu tư. Điều này ví như một học sinh trung bình phấn đấu trở thành học sinh khá thì dễ hơn một học sinh khá phấn đấu trở thành học sinh giỏi.

    3.2.1.3. Tình hình về hệ số ICOR ở Việt Nam trong những năm gần đây:

    Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực. Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến 43.1%, còn đến hết tháng 8 năm 2009 tỷ lệ này là 43,9%. Dù đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 – 8.5%, và đến năm 2009, mức tăng trưởng cao của Việt Nam cũng chỉ dừng ở 5,2%, do đó, hệ số ICOR luôn ở mức cao.

    ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.

    Ngay từ năm 2007, khi hệ số ICOR của Việt Nam dừng ở mức 5-6, đã có những cảnh báo về sự lãng phí trong đầu tư và hiệu quả thấp trong sử dụng nguồn lực của Việt Nam.

    Ông Trần Đức Nguyên, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, đã phân tích trên Tuần Việt Nam: chỗ yếu của nền kinh tế nước ta là tăng trưởng kém chất lượng. Hệ số ICOR của nước ta trong các năm 2001-2007 là 5,2 nghĩa là cần 5,2 đồng vốn đầu tư để tăng được một đồng GDP, cao gấp rưỡi đến gấp hai nhiều nước xung quanh trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá. Các nước làm giỏi, ICOR của họ thời kỳ đầu CNH là trên dưới 3.

     

    Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Đông Á

     

    Quốc gia Giai đoạn GDP (%) Đầu tư/GDP ICOR
    Hàn Quốc 1961-1980 7.9 23.3 3.0
    Đài Loan 1961-1980 9.7 26.2 2.7
    Indonesia 1981-1995 6.9 25.7 3.7
    Thái Lan 1981-1995 8.1 33.3 4.1
    Trung Quốc 2001-2006 9.7 38.8 4.0
    Việt Nam 2001-2006 7.6 39.9 5.3

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Ông Nguyên chỉ rõ, năm 2007, vốn đầu tư thực hiện so với GDP là 45,6%, nếu hạ được hệ số ICOR xuống, bước đầu ở mức 4,5 thì tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã là 10%.

    Dù các chuyên gia quan ngại và lên tiếng cảnh báo từ lâu nhưng, đến 2008, chỉ số ICOR Việt Nam lại vượt ngưỡng, lên mức 6,66. Và năm 2009, một lần nữa, chỉ số ICOR ở mốc mới. Theo tính toán của Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, hệ số ICOR năm 2009 của Việt Nam đã lên tới 8, mức cao nhất từ trước tới nay.

    Cho rằng chỉ số ICOR tuyệt đối chỉ mang tính tham khảo, vì có thể có sự khác nhau trong cách tính, tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương, chuyên gia kinh tế độc lập, quan ngại, chỉ so với năm 2008, hệ số ICOR năm 2009 đã tăng 17,5%. “Những nỗ lực của chúng ta trong việc nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế đã không mang lại hiệu quả như mong muốn, thậm chí còn khiến tình hình kém hơn”.

    Điều này đồng nghĩa với việc trong cuộc “so găng” với các đối thủ trong khu vực, với thể trạng kinh tế yếu như hiện nay, nếu các nước chỉ cần một lần có thể nhấc được mục tiêu, thì Việt Nam phải tốn sức gấp đôi, thậm chí gấp ba.

    Đặt trong tương quan với việc Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cũng như của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, việc hệ số ICOR tăng thể hiện rõ xu hướng đi xuống của nền kinh tế.

    Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, có hai yếu tố cân nhắc: đầu tư đúng đối tượng, và môi trường kinh doanh liên tục được cải thiện (tính cạnh tranh) để tiền rót vào được sử dụng hiệu quả. Đáng tiếc, soi vào thực tế Việt Nam, cả hai yếu tố đó đều có vấn đề.

    Ông Chương nêu cụ thể: “Danh chính, ngôn thuận thì mọi việc làm mới thuận. Việt Nam nói là kích cầu, nhưng thực chất lại dùng kích cung để thông qua đó hy vọng đẩy cầu lên. Cầu có thật thì cung mới có thật. Trong bối cảnh khủng hoảng, các doanh nghiệp co cụm, kích cung chỉ có thể mang lại hiệu quả giới hạn. Rút cuộc, bỏ ra lượng vốn lớn, nhưng chúng ta không tăng được sự linh hoạt của thị trường, kéo theo đó là hiệu quả đầu tư giảm đi”.

    Đặc biệt, đối tượng thụ hưởng chính của các chính sách kích cầu của Chính phủ là khối các doanh nghiệp nước ngoài, khu vực vốn được nhiều ưu đãi và gây nhiều quan ngại cho các kinh tế gia Việt Nam.

    Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2009, tổng số vốn rót ra cho đầu tư công đã tương đương với cả năm ngoái 2008. Theo báo cáo của Chính phủ gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội mới đây, tổng vốn đầu tư phát triển cho cả năm chiếm gần 43% GDP. Trong đó, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt khoảng 161 ngàn tỉ đồng, tăng tới 63% so với thực hiện năm 2008 và tăng 42,7% so với kế hoạch năm.

    Trong khi đó, Báo cáo của Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia cho hay, doanh thu sản xuất thuần được tạo ra bởi 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài thấp. Trong năm 2006 cứ 1 đồng vốn tại doanh nghiệp nước ngoài tạo ra được 0,61 VNĐ doanh thu, chưa bằng một nửa của doanh nghiệp tư nhân trong nước, chỉ bằng 2/3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Lực lượng lao động do doanh nghiệp nước ngoài sử dụng chỉ bằng khoảng 28,4% tổng số lao động của các doanh nghiệp trong khi đó doanh nghiệp tư nhân thu hút 50%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 21,4%.

    Đầu tư công cũng chính là khu vực mà cách đây một năm, Nhà nước quyết tâm siết chặt, rà soát lại, để tăng cường hiệu quả. Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, khu vực này lại được tái đầu tư với một số lượng tiền khổng lồ.

    Hơn nữa, hệ thống ngân hàng của Việt Nam được xếp hạng sức khỏe thấp nhất châu Á, chỉ trên Pakistan, thế nhưng, trong điều kiện suy thoái, các ngân hàng đều báo cáo đạt mức lợi nhuận kỷ lục. Liệu trong phần lợi nhuận đó, có bao nhiêu phần thu lợi từ việc kích cầu của chính phủ, và bao nhiêu phần đóng góp cho việc tăng hệ số ICOR của Việt Nam?

    Hướng rót vốn như vậy, nên việc hệ số ICOR tăng không có gì khó hiểu, ông Chương bình luận. Và gắn với hệ số cao ấy, là nguy cơ lạm phát trở lại. Năm 2009, khi nền kinh tế Việt Nam chậm lại, nguy cơ đó chưa rõ ràng, nhưng năm tới, khi kinh tế phục hồi, nếu không có giải pháp sớm, cơ thể kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với đợt sốt mới.

    Ông Chương cảnh báo, với những gì Việt Nam đang làm, nếu kinh tế thế giới không cải thiện sớm và mạnh mẽ trong năm 2010, Việt Nam khó có thể vượt qua được những yếu kém của mình. Vẫn còn một xác suất khá cao là Mỹ và các nước Tây Âu phải cần nhiều năm để vượt qua giai đoạn suy thoái, đi vào phục hồi ổn định. Trong tình huống này, tình hình kinh tế Việt Nam sẽ còn nguy kịch hơn cả đầu năm 2009, bởi khi bệnh, nền kinh tế Việt Nam đã không được uống thuốc đúng khiến cho thể trạng đi xuống, trong đó có cả tác dụng những phản ứng phụ của liều thuốc “kích cầu” vừa qua.

    Lúc này, việc thay đổi nếp sống kinh tế thường nhật, để rèn và nâng cao thể lực của nền kinh tế là cần thiết. Nói cách khác, việc tái cấu trúc cần được đẩy mạnh một cách quyết liệt hơn nữa. Đáng tiếc, yêu cầu này còn bị kìm giữ bởi việc thiếu ý chí đủ mạnh và tập quán “nước tới cổ mới bơi, chứ không chỉ nước tới chân mới nhảy”, ông Chương quan ngại. Việt Nam vẫn còn lờ đờ bước, trong khi những nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao hơn, hiệu quả đầu tư lớn hơn đã tăng tốc tái cấu trúc.

    3.2.2. Hệ số TFP:

    3.2.2.1. Khái niệm:

    TFP (Total Factor Productivity –  Hệ số năng suất các nhân tố tổng hợp) là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hiệu quả các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất và được đo lường bằng tỷ số giữa đầu ra (được tính theo giá so sánh) với mức kết hợp có quyền số giữa các đầu vào. TFP phản ánh hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng vào sản xuất. Ngoài ra TFP còn phản ánh hiệu quả do thay đổi công nghệ, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ quản lý, thời tiết…

    3.2.2.2. Phương pháp tính:

    GA = GGDP ßKGK  ßLGL

    Trong đó:

    GA: Tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp.

    GGDP: Tốc độ tăng trưởng GDP.

    ßK: Tỷ trong của thặng dư sản xuất trong GDP.

                         ßL: Tỷ trọng của thù lao lao động trong GDP.

                         GK: Tốc độ tăng trưởng của vốn.

    GL: Tốc độ tăng trưởng của lao động.

    Khi biết GGDP, ßKGK  ßLGL có thể tính được đóng góp của công nghệ và quản l‎ý GA hoặc ngược lại có thể ước lượng tốc độ tăng trưởng GDP.

    3.2.2.3. Tình hình về hệ số FTP của Việt Nam qua các thời kỳ:

    HỆ SỐ FTP CỦA VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

      GDP NN Tư nhân FDI K NN Tư nhân FDI L NN Tư nhân FDI TFP NN Tư nhân FDI
    2000-2009 88,5 71,9 88,9 149,8 54,3 46,2 61,1 65,7 14,0 11,6 11,8 242,3 20,2 14,1 16,0 -158,2
    %         61% 69% 64% 44% 16% 16% 13% 162% 23% 20% 18% -106%
    2004-2009 42,3 28,7 45,8 76,4 30,5 20,7 38,0 48,7 5,2 -0,5 4,8 45,3 6,7 8,6 3,1 -17,6
    %         72% 72% 83% 64% 12% -2% 10% 59% 16% 30% 7% -23%

    Nguồn: chuyên gia kinh tế Bùi Trinh

    Tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên sự đóng góp ngày càng nhiều của vốn và sự giảm dần mức độ đóng góp của lao động. Trong đó, cơ cấu tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước – khu vực tập trung nhiều vốn nhất của nền kinh tế – đã cho thấy sự chuyển dịch, đặc biệt về mật công nghệ trong 5 năm trở lại đây, lao động àm việc trong khu vực này giảm, trong khi nguồn vốn hút về vẫn tăng.

    Tuy nhiên, xét theo quy mô vốn sử dụng thì rõ ràng hiệu quả kinh tế cao nhất vẫn thuộc doanh nghiệp các khối tư nhân. Đây là khu vực sử dụng nhiều lao động nhất nhưng dường như vốn đầu tư vẫn chưa đạt mức tương xứng. FDI là khu vực đóng góp ít nhất cho tăng trưởng kinh tế.

    3.2.3. Tỷ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn FDI:

    3.2.3.1. Khái niệm:

    Đây là tỷ lệ giữa số lượng hàng hóa xuất khẩu nhờ vào vốn đầu tư FDI/tổng số lượng hàng xuất khẩu của một quốc gia. Tỷ lệ này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn càng cao.

    3.2.3.2. Tình hình về vốn FDI của Việt Nam qua các năm gần đây:

    FDI hàng năm đều tăng, từ 346 triệu USD năm 1988 lên tới hơn 8.199 tỷ USD năm 1996. Do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997, luồng FDI có xu hướng suy giảm. Tổng đầu tư trong hai năm 1997 và 1998 (khoảng 8,8 tỷ) mới bằng năm 1996. Tuy nhiên, từ cuối năm 2000, Chính phủ đã có những cải cách và cố gắng nhằm thúc đẩy đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư vào công nghiệp chế tạo. Đến nay, có thể đánh giá là khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng lên đáng kể cả về số lượng và chất lượng, thực sự trở thành một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nước ta. Vốn FDI chiếm từ 20 đến 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tính đến tháng 12.2003 có 5.393 dự án của 74 nước được cấp phép với tổng số vốn đăng ký lên đến 44,7 tỷ USD. Trên thực tế, lẽ ra chúng ta đã có thể thu hút được nhiều FDI hơn nữa trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, nếu không có sự cấm vận của Mỹ kéo dài đến năm 1994.

    Trong giai đoạn đầu FDI vào Việt Nam, xây dựng và dịch vụ là những lĩnh vực chính thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, đến năm 2001 các dự án công nghiệp chế tạo đã chiếm 80,7% tổng số dự án được phê duyệt so với 26,3% trong khoảng thời gian 1988-1991; về mặt tỷ trọng vốn, các dự án công nghiệp chế tạo cũng đã tăng từ 22% lên 76,4%. Trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 2001, các dự án công nghiệp chế tạo chiếm 53,5% tổng số dự án (3.575 dự án), các ngành sơ chế nông lâm sản chiếm 13,7%, xây dựng cơ bản chiếm 12,3%, khối ngành dịch vụ chiếm 19,2%.

    Một đặc điểm nổi bật trong vấn đề đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là sự phát triển của các liên doanh.  Trong giai đoạn 1988-1994, các liên doanh chiếm trên 70% tổng số dự án được phê duyệt và 75% tổng số vốn đăng ký. Trong đó, đa số các liên doanh có đối tác là các doanh nghiệp nhà nước. Điều này đã mang lạicho các doanh nghiệp nhà nước một sức sống mới. Tuy nhiên từ cuối năm 1996, tỷ lệ đầu tư của các dự án liên doanh giảm sút một cách rõ rệt, thay vào đó là xu hướng gia tăng của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đến năm 2001, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 66,8% tổng số vốn đăng ký, trong khi đó liên doanh chỉ còn chiếm 15,6% tổng số vốn đầu tư. Cùng với sự gia tăng trong đầu tư là xu hướng thôn tính của các tập đoàn nước ngoài đối với các liên doanh.

    Có thể nói, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đóng góp đáng kể vào việc mở rộng xuất khẩu ở Việt Nam. Tỷ trọng (%) của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầu thô) trong tổng kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm: Từ 4% năm 1991 lên 33,8% năm 2000.

    Bảng dưới đây thể hiện sự đóng góp của FDI đối với nền kinh tế nước ta:

    Năm 1991-1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 11/2004
    Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 1.230 920 1.790 1.982 2.590 3.320 3.673 4.602 6.225 7.788
    Nộp ngân sách

     

    (triệu USD)

      263 315 317 271 324 373 459 500 728
    Tỷ trọng trong GDP

     

    (%)

      7,4 9,1 10,0 11,8 12,7 13,1 13,9 14,3  
    Tạo việc làm

     

    (1.000 người)

      220 250 270 296 379 450 590 665 734

    Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Đến năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chế tạo của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 56,8%. Trong giai đoạn 1988-1990, hầu hết FDI trong công nghiệp chế tạo là định hướng sản xuất cho thị trường nội địa, số dự án được phê duyệt có tỷ lệ xuất khẩu trên 50% sản lượng chỉ chiếm dưới 20%. Giai đoạn 1999-2001 đánh dấu một bước tiến mới trong xuất khẩu của các dự án đầu tư có vốn nước ngoài, trên 70% số doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu từ 50% sản lượng trở lên (đa số có tỷ lệ xuất khẩu từ 80 đến 100%).

    Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế nước ta. Tỷ trọng của các doanh nghiệp này trong GDP tăng từ 1,4% năm 1991 lên 14,3% năm 2003, và chiếm khoảng 20% trong tổng số gia  tăng GDP thực tế của giai đoạn này. Tổng sản lượng công nghiệp của khu vực này cũng liên tục tăng qua các năm: Từ 25% năm 1995 lên tới 35,5% vào năm 2000.

    Tuy nhiên, sự đóng góp của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài vào vấn đề giải quyết việc làm không lớn như đóng góp của nó vào tăng trưởng GDP và sản lượng công nghiệp. Đến năm 2004, tổng số việc làm trong các doanh nghiệp khu vực này khoảng 700.000 người, tức là chỉ đạt khoảng 1% tổng số việc làm của toàn bộ nền kinh tế. Con số này phản ánh xu hướng sử dụng nhiều vốn và hàm lượng công nghệ trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, FDI đã góp phần tạo được một đội ngũ quản lý, lao động có chất lượng cao, phong cách làm việc công nghiệp. Nếu có kế hoạch sử dụng tốt lực lượng này thì đây sẽ là cơ sở để cải thiện chất lượng đội ngũ lao động của chúng ta.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Luận văn Thực trạng và giải pháp để huy động vốn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-th%C3%BAc-%C4%91%E1%BA%A9y-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i-v%C3%A0o-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-b%E1%BB%91i-c%E1%BA%A3nh-to%C3%A0n-c%E1%BA%A7u-ho%C3%A1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    LỜI NÓI ĐẦU

    Trong giai đoạn hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, đầu tư nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới. Đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và trong nhiều lĩnh vực vì nó mang lại nguồn lợi rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư. Do đó các nước đầu tư tích cực tìm kiếm thị trường mới, hấp dẫn để đầu tư thu lợi nhuận, còn nước nhận đầu tư cũng tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư

    3

    nước ngoài. Trong bối cảnh đó Việt Nam cũng đang tích cực tham gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó thu hút đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Việt Nam có những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Tình hình thực tiễn nước ta cho thấy nước ta rất cần công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về vốn, tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ

    Nhận thấy vai trò to lớn của đầu tư nước ngoài đối với việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá tôi chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” làm khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế ngoại thương trường Đại học Ngoại thương. Đây là một đề tài tương đối rộng và hấp dẫn. Do giới hạn của khoá luận tôi xin chỉ tập trung chủ yếu phần “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Phần “Hỗ trợ phát triển chính thức” tôi xin được giới thiệu sơ lược.

    Xin chân thành cảm ơn ThS. Nguyễn Thị Việt Hoa đã giúp tôi hoàn thành đề tài này

    Hà nội ngày 11-03-2003

    Người thực hiện

    Nguyễn Đình Cẩn

    4

    CHƯƠNG 1

    LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ TOÀN CẦU HOÁ

    I.Khái niệm và đặc điểm đầu tư, đầu tư nước ngoài

    1.Khái niệm và đặc điểm đầu tư

    Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội.

    Nguồn vốn đầu tư này có thể là những tài sản hữu hình như đất đai, nhà cửa, nhà máy, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết

    5

    thương mại… Các doanh nghiệp còn có thể đầu tư bằng cổ phần, trái phiếu, các quyền về sở hữu tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố hoặc các quyền có giá trị về mặt kinh tế như các quyền thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên.

    Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu tư được tiến hành ở một thời kỳ nhất định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lượng đầu tư của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lượng sản xuất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện đời sống trong tương lai.

    Có hai đặc trưng quan trọng để phân biệt một hoạt động được gọi là đầu tư hay không, đó là: tính sinh lãi và rủi ro của công cuộc đầu tư. Thực vậy, người ta không thể bỏ ra một lượng tài sản vào một việc mà lại không dự tính thu được giá trị cao hơn giá trị ban đầu. Tuy nhiên, nếu hoạt động đầu tư nào cũng sinh lãi thì trong xã hội ai cũng muốn trở thành nhà đầu tư. Chính hai thuộc tính này đã sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy sản xuất-xã hội phát triển.

    2.Khái niệm và đặc điểm đầu tư quốc tế

    Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định.

    Đầu tư quốc tế mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung. Tuy nhiên, nó có thêm một số đặc điểm quan trọng khác so với đầu tư nội địa:

    • Chủ đầu tư là người nước ngoài. Đặc điểm này có liên quan đến các khía cạnh về quốc tịch, luật pháp, ngôn ngữ, phong tục tập quán,…Nói chung, đây là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các chủ đầu tư ở nước ngoài.

    6

    • Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới. Đặc điểm này có liên quan chủ yếu đến các khía cạnh về chính sách, pháp luật, hải quan và cước phí

    vận chuyển.

    Về bản chất, đầu tư quốc tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ xung và hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp, việc buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Đến lượt mình, việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư ở nước sở tại lại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư nguyên liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà.

    Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ hợp thành những dòng chính trong trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu. Sự phát triển của đầu tư quốc tế gắn liền với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các quốc gia và sự phát triển của xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Nhu cầu về vốn của các nước đang phát triển và sự thay đổi các yếu tố sản xuất kinh doanh ở các nước sở hữu vốn làm cho đầu tư quốc tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, đa dạng và rộng khắp.

    II.Phân loại đầu tư nước ngoài

    1.Đầu tư tư nhân

    1.1.Đầu tư trực tiếp :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại.

    Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm sau :

    7

    Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế

    Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỉ lệ góp vốn của mình. Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tư chỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và chỉ được tham gia liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49%; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ. Trong khi đó, Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức 100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án.

    Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý…Đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được

    Nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được.

    1.2.Đầu tư chứng khoán :

    Đây là hình thức đầu tư quốc tế quan trọng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức mua chứng khoán của các công ty ở nước sở tại để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp công ty.

    Hình thức đầu tư này có những đặc điểm sau :

    8

    Phạm vi đầu tư có giới hạn vì các chủ đầu tư nước ngoài chỉ quyết định mua cổ phần của những doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc có triển vọng phát triển trong tương lai.

    Số lượng cổ phần mà các công ty nước ngoài được mua bị khống chế ở mức độ nhất định tuỳ theo từng nước để không có cổ đông nào chi phối doanh nghiệp. Thông thường số cổ phần này dưới 10 đến 20% vốn pháp định.

    Chủ đầu tư nước ngoài không tham gia điều hành hoạt động doanh nghiệp, do đó bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong kinh doanh. Thu nhập của chủ đầu tư nước ngoài có thể cố định hoặc không cố định tuỳ thuộc vào loại chứng khoán mà họ đầu tư.

    Doanh nghiệp có khả năng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp nhưng ngược lại doanh nghiệp được đầu tư không có cơ hội tiếp thu kinh nghiệm quản lí hiện đại và công nghệ kỹ thuật tiên tiến.

    1.3.Tín dụng thương mại :

    Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay.

    Tín dụng thương mại có những đặc điểm sau :

    Vốn đầu tư dưới dạng tiền tệ để chuyển thành các phương tiện đầu tư khác, doanh nghiệp vay vốn toàn quyền sử dụng các khoản vốn vay

    Ngân hàng cung cấp vốn tuy không tham gia vào hoạt động doanh nghiệp, nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự án đầu tư, có yêu cầu về thế chấp các khoản vay hoặc bảo lãnh để giảm rủi ro

    Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng theo khế ước vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vay, có quyền sử dụng những tài sản đã thế chấp hoặc yêu cầu cơ quan bảo lãnh thanh toán khoản vay trong trường hợp bên vay không có khả năng thanh toán.

    9

    2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

    Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ có hoàn lại của chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.

    Hỗ trợ phát triển chính thức có các đặc điểm sau :

    Là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà có quyền quản lí sử dụng vốn ODA, nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận với các nhà tài trợ

    Hỗ trợ phát triển chính thức chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.

    Các nước nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được

    nhận tài trợ. Điều kiện này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ

    Nguồn vốn ODA gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản viện trợ ưu đãi.

    Tuy vậy nếu quản lí, sử dụng vốn ODA kém hiệu quả vẫn có thể để lại gánh

    nặng nợ nần cho tương lai

    Các hình thức cơ bản của ODA :

    2.1.Hỗ trợ dự án : Đây là hình thức đầu tư chủ yếu của vốn ODA. Nó có thể bao gồm những hỗ trợ cơ bản cho các dự án cải thiện, nâng cấp hoặc xây dựng mới cơ sở hạ tầng và những hỗ trợ về mặt kĩ thuật cho dự án như chuyển giao tri thức, tăng cường lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu lập luận chứng kinh tế – kĩ thuật của dự án, trợ giúp hoạch định chính sách

    2.2. Hỗ trợ phi dự án : Chủ yếu là viện trợ chương trình đạt được sau khi kí các hiệp định với đối tác tài trợ dành cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, không cần xác định chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào

    10

    2.3.Hỗ trợ cán cân thanh toán : Bao gồm các khoản hỗ trợ tài chính trực tiếp bằng tiền hoặc hỗ trợ bằng hiện vật, hoặc hỗ trợ cho nhập khẩu

    2.4. Tín dụng thương mại : Đây là những khoản tín dụng dành cho chính phủ các nước sở tại với các điều khoản ‘mềm” về lãi suất, thời gian ấn hạn, thời hạn trả dài nhưng có những ràng buộc nhất định. Nguồn vay tín dụng thương mại này có thể từ các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB). Chẳng hạn, Quỹ tiền tệ quốc tế có thể cho vay dưới nhiều hình thức như tín dụng thông thường, tín dụng dài hạn hoặc bổ sung, tín dụng bù đắp thất thu xuất khẩu, tín dụng điều chỉnh cơ cấu.

    III.Đầu tư nước ngoài trong xu thế toàn cầu hoá

    1.Khái niệm và đặc trưng của toàn cầu hoá:

    Toàn cầu hoá là quá trình hình thành một chỉnh thể thống nhất toàn thế giới, là sự ảnh hưởng, tác động, xâm nhập xuyên biên giới trong các lĩnh vực đời sống, kinh tế xã-hội và phát triển trong một trật tự hệ thống toàn cầu.

    Toàn cầu hoá được thể hiện qua một mạng lưới rất dày đặc các hoạt động kinh tế trên phạm vi quốc tế và các cơ cấu biểu hiện tính tuỳ thuộc lẫn nhau gia tăng.

    Trào lưu này dựa trên quá trình tự do hoá các chính sách kinh tế, dựa trên tiến bộ công nghệ, khoa học kĩ thuật tăng nhanh trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, truyền thông.., đồng thời dựa trên xu hướng quốc tế hoá ngày càng mạnh mẽ trong các hoạt động doanh nghiệp

    Toàn cầu hoá tạo ra sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia, các dân tộc, giữa các lĩnh vực sản xuất khác nhau, giữa các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội khác nhau trong sự phát triển. Toàn cầu hoá là tất yếu, nó thể hiện nhiều mặt, nhiều tầng nấc và nhiều yếu tố cấu trúc

    11

    khác nhau, như mặt nền tảng vật chất kỹ thuật, công nghệ (quá trình sản xuất và sản phẩm làm ra) ngày càng có hàm lượng tri thức cao và có thể do nhiều công ty của nhiều nước hợp tác chế tạo. Mức độ liên kết thị trường thế giới về hàng hoá, về tài chính thành một hệ thống quan hệ tương tác ngày càng tăng; hệ thống thông tin toàn cầu càng kết nối thành mạng lưới chặt chẽ tác động mạnh mẽ đến mọi người, mọi tổ chức, mọi quốc gia. Ngoài ra toàn cầu hoá còn thể hiện ở các mặt khác như : toàn cầu hoá về kinh tế kỹ thuật (tự do hoá thương mại toàn cầu, hệ thống phân công lao động quốc tế, hệ thống tài chính tiền tệ quốc tế) và toàn cầu hoá về mặt thể chế các tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc-UN, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng thế giới-WB, Ngân hàng phát triển châu á-ADB) và cả thể chế, đặc thù các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường).

    Tham gia vào quá trình toàn cầu hoá là những nước khác nhau về tiềm lực, khả năng, hoàn cảnh, điều kiện lợi ích và mục tiêu. Hệ quả là tiến trình phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hoá nhất định bị tác động theo những hướng khác nhau như tính không thống nhất về lợi ích, kéo theo đó là sự phức tạp của các mối quan hệ tác động khác làm cho sự lựa chọn giải pháp hội nhập vào toàn cầu hoá của mỗi quốc gia trở nên khó khăn hơn, mặt khác nó cũng tạo ra những yếu tố cạnh tranh thuận lợi hơn cho mỗi quốc gia.

    2.Xu thế toàn cầu hoá trong những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây quá trình toàn cầu hoá diễn ra với quy mô ngày càng lớn, với một tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như buôn bán, tổ chức sản xuất, nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như cả lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá và lối sống. Điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, giữa chúng có sự tuỳ thuộc lẫn nhau. Quá trình

    12

    toàn cầu hoá này diễn ra ở những cấp độ khác nhau và ngày càng trở nên gay gắt : không những vấn đề lương thực, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề dân số và cả vấn đề nợ nước ngoài. Nhất thể hoá kinh tế được tăng cường với sự nương tựa vào nhau ngày càng nhiều giữa các quốc gia. Xu hướng khu vực hoá thể hiện ở việc hình thành các liên kết khu vực với các hình thức đa dạng: Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tế châu á – Thái Bình Dương (APEC).

    Xu hướng toàn cầu hoá đặt ra một yêu cầu tất yếu: Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế và khu vực để có được khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển của mình. Nếu quốc gia kém phát triển, đơn thương độc mã, không có bạn hàng lâu dài, không có đối tác thực sự với nền kinh tế yếu kém rất dễ bị tổn thương và dễ trở thành vật hi sinh cho lợi ích của các nước khác. Chỉ lấy việc gia nhập WTO cũng đủ thấy được tầm quan trọng của vấn đề toàn cầu hoá đối với mỗi quốc gia. Một nước chỉ khi gia nhập tổ chức này mới tránh được sự phân biệt đối xử của các nước – cộng đồng quốc tế trong quan hệ thương mại, được hưởng các ưu đãi và miễn trừ theo quy định quốc tế của WTO, trong đó có điều kiện ưu đãi tối huệ quốc và ưu đãi thuế quan phổ cập, hàng hoá của nước đó mới có điều kiện đi vào thị trường rộng lớn và ít gặp trở ngại. Mặt khác, đối với những quốc gia mà trình độ khoa học kỹ thuật còn non yếu, khi gia nhập WTO sẽ tranh thủ được sự trợ giúp kỹ thuật, công nghệ, đào tạo nhân lực, đồng thời cũng là điều kiện cần để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào nước đó. Như vậy lợi ích mà toàn cầu hoá mang lại chính là một trong những nguyên nhân đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và làm cho nó diễn ra ngày càng gay gắt.

    3.Tác động của toàn cầu hoá đến đầu tư nước ngoài:

     

    13

    Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang trở thành động lực đưa nền kinh tế các nước liên kết, ảnh hưởng lẫn nhau trên hầu hết các lĩnh vực. Kết quả của quá trình hoà nhập là từng bước làm lu mờ dần những đường biên giới quốc gia trên sa bàn hoạt động của một số công ty xuyên quốc gia lớn trên thế giới. Nhiều công ty loại này đã bỏ vốn đầu tư, tận dụng những lợi thế của nước nhận đầu tư để sản xuất hàng hoá tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường mới, thay vì trước đây họ phải thông qua con đường xuất khẩu hàng hoá chịu nhiều lực cản. Toàn cầu hoá và đầu tư nước ngoài đã tác động, chi phối lẫn nhau một cách đáng kể. Đầu tư nước ngoài thúc đẩy toàn cầu hoá nhanh chóng, ngược lại, toàn cầu hoá là điều kiện quan trọng làm tăng lượng vốn đầu tư của toàn thế giới.

    Trong bối cảnh hiện nay, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, với quy mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế dân tộc ngày càng ra tăng. Nền kinh tế dân tộc đều theo xu hướng mở cửa và theo quỹ đạo của kinh tế thị trường. Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất , khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên, mức độ chi phí ở các nước khác nhau, nguồn vốn đầu tư quốc tế với tư cách của loại hàng hoá đặc biệt tất yếu sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn theo tiếng gọi của lợi nhuận cao

    Hiện nay, trình độ chênh lệch phát triển giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ngày càng dãn cách ra, nhưng sự phát triển của một nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước tư bản phát triển không chỉ coi các nước đang phát triển là địa chỉ đầu tư hấp dẫn do chi phí thấp-lợi nhuận cao, thuận lợi cho việc dịch chuyển thiết bị công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Về phần mình

    14

    các nước đang phát triển cũng trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá , khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Như vậy, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy đầu tư quốc tế phát triển đáp ứng nhu cầu mạnh mẽ của cả các nước nước đầu tư và nước nhận đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu.

    4.Tình hình đầu tư nước ngoài của các quốc gia trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá:

    Từ cuối những năm 1980 trở lại đây, sự vận động và các điều kiện của thế giới có những chuyển biến căn bản, sâu sắc với sự tan rã về mặt thể chế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Sự cách biệt giữa hai hệ thống đã giảm dần; nền kinh tế của hầu hết các quốc gia đều theo thể chế thị trường; xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh. Lĩnh vực đầu tư nước ngoài chịu sự tác động mạnh của xu hướng thị trường hoá toàn cầu, trong đó thị trường vốn quốc tế dưới hình thức đầu tư nước ngoài là một trong những địa hạt được giải phóng mạnh mẽ. Tham gia thị trường vốn đầu tư giờ đây không chỉ có những nước theo cơ chế kinh tế thị trường truyền thống, mà các thành viên đã mở rộng hầu như không có ngoại lệ ở phía “cầu” và thêm không ít những thành viên, nhất là các nước công nghiệp mới ở phía “cung”. Điều quan trọng hơn cả của sự gia tăng về số lượng này có lẽ phải nói đến một môi trường cơ chế kinh tế nói chung cũng như không khí kinh doanh tạo dòng di chuyển vốn đầu tư nước ngoài có được những thuận lợi hơn bao giờ hết. Đầu tư nước ngoài đang ngày càng trở thành loại hình hoạt động kinh tế sôi động trên thế giới, và được biểu hiện như sau:

    -Lượng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, trong đó các nước phát triển luôn chiếm tỷ trọng chủ yếu kể cả lượng vốn đầu tư ra lẫn lượng vốn tiếp nhận vào. Tỷ trọng của các nước phát

    15

    triển trong tổng vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới năm thấp nhất cũng chiếm tới 84,9% lượng vốn đầu ra, và 57,9% lượng vốn tiếp nhận vào. (nguồn: Vietnam Economic time, 2002).

    -Trong các nước đang phát triển thì các nước châu A là khu vực thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ở mức cao nhất so với các khu vực khác. Các nước Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản là nhóm nước chủ yếu cung cấp lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng như là địa bàn tiếp nhận phần lớn vốn đầu tư nước ngoài của thế giới.

    -Các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng thể hiện vai trò chi phối mạnh mẽ đối với vốn đầu tư nước ngoài trên toàn thế giới. Hiện nay, chiến lược chính của các công ty xuyên quốc gia là bành trướng mạnh ra nước ngoài bằng cách đầu tư trực tiếp dưới các hình thức: lập liên doanh với một hoặc nhiều đối tác ở nước nhận đầu tư, lập chi nhánh với 100% vốn công ty, hợp nhất hoặc mua lại quyền sở hữu của một hãng ở nước nhận đầu tư, liên minh với một hoặc nhiều công ty xuyên quốc gia khác để đầu tư đến địa bàn thích hợp. Nhìn chung lượng vốn FDI trên thế giới hiện nay chủ yếu được xuất phát từ các công ty xuyên quốc gia.

    • Trong thời gian qua đã có sự chuyển hướng căn bản của các nhà đầu tư. Vào những năm 1980, các nhà đầu tư thường tìm kiếm để đầu tư vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên, và các ngành sản xuất vật chất là chủ yếu. Thời gian gần đây các nhà đầu tư lại quan tâm nhiều hơn đến việc đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất có công nghệ cao, các ngành dịch vụ và cơ sở hạ tầng, nhất là ngành viễn thông, điện, nước, giao thông vận tải.

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ

     

    16

    I.Tính tất yếu khách quan của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Bối cảnh thế giới tác động đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam :

    Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế giới đang tiến dần đến một chỉnh thể thống nhất. Nó tạo điều kiện cho các nước tham gia vào “sân chơi” chung rộng lớn trên trường quốc tế, giúp cho các nước có điều kiện tốt hơn để tạo ra môi trường kinh tế, chính trị-xã hội thuận lợi cho sự phát triển của mình. Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự gia tăng của các hoạt động đầu tư nước ngoài. Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế như trao đổi thương mại, chuyển giao khoa học- công nghệ và đặc biệt là hợp tác đầu tư. Các nước công nghiệp phát triển đang ra sức tìm kiếm thị trường đầu tư thuận lợi để đem lại lợi nhuận cao. Trong khi đó, các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là một thị trường đáng chú ý đối với các nhà đầu tư vì đầu tư vào các nước đang phát triển, các nhà đầu tư có thể giảm được chi phí do sử dụng lao động và nguồn tài nguyên rẻ, ngoài ra các nhà đầu tư có thể giải quyết được tình trạng thừa vốn và kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm của doanh nghiệp ở thị trường này. Trong khu vực Đông A- Tây Thái Bình Dương Việt Nam có vị trí địa lý chính trị quan trọng với nhiều ưu thế hấp dẫn các nhà đầu tư. Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của họat động đầu tư quốc tế, nhu cầu đầu tư của các nước công nghiệp phát triển và sự hấp dẫn của thị trường Việt Nam đã thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    2. Nhu cầu thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam:

     

    Từ năm 1986 Việt Nam khủng hoảng , thực hiện

    đã nhận thấy một trong các giải pháp để thoát khỏi thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá

    17

    đất nước, từng bước tham gia quá trình toàn cầu hoá đó là phát triển kinh tế đối ngoại. Trong đó , thu hút đầu tư là vấn đề quan trọng vì nó đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình thực tiễn ở Việt Nam, đó là :

    -Tình hình cụ thể của Việt Nam đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao thu nhập quốc dân. Đòi hỏi đó buộc chúng ta phải có một nguồn vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn này không thể hoàn toàn trông chờ vào nguồn tích luỹ nội bộ trong một thời gian ngắn của một đất nước còn nghèo. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ. Điều đó đã hạn chế đến qui mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra tình trạng mất cân đối trong xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán thường xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ. Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài giúp Việt Nam giải quyết các khó khăn về khả năng tích luỹ vốn thấp và bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.

    -Công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu, năng suất thấp do trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học ở trong nước còn hạn chế. Việt Nam có rất ít khả năng phát triển công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến. Mặt khác khả năng tự nhập khẩu công nghệ của Việt Nam cũng rất hạn chế . Đầu tư nước ngoài sẽ giúp Việt Nam thu được công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài.

    -Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, nền công nghiệp còn nhỏ bé, lực lượng lao động dư thừa còn rất nhiều. Đầu tư quốc tế sẽ giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam. Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mới hoặc làm tăng quy mô của các đơn vị kinh tế đầu tư quốc tế tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động, bên cạnh đó, đầu tư quốc tế góp phần cải tiến cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

    18

    hoá và đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.

    Như vậy, yêu cầu phát triển nội tại và thực tiễn khách quan trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã và đang đòi hỏi Việt Nam cần tới nguồn đầu tư nước ngoài để hội nhập cùng dòng chảy kinh tế-xã hội trên thế giới. Do đó đầu tư quốc tế là xu thế tất yếu, là con đường hiệu quả nhất mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm khi có đủ điều kiện, và buộc phải thực hiện bởi các sức ép bên trong, bên ngoài nước và nước ta cũng không phải là ngoại lệ.

    II.Thực trạng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua

    1.Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua.

    1.1.Vốn và số dự án đăng ký:

    Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ.Tính đến tháng 12 năm 2002 có 4301 dự án FDI hoạt động ở Việt Nam, sử dụng 60 vạn lao động trực tiếp với tổng số vốn đăng ký là 42870 triệu USD. Tính bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 286 dự án với mức 2858 triệu USD vốn đăng ký (theo Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003).

    Bảng 1 “Vốn và số dự án FDI vào Việt Nam” (trang 19) dưới đây cho thấy nhịp độ thu hút FDI của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ năm 1988 đến năm 1995 cả về số dự án cũng như vốn đăng ký. Sở dĩ năm 1996 có lượng vốn tăng vọt là do có hai dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được phê duyệt với qui mô dự án lớn (hơn 3 tỷ USD/2 dự án). Như vậy, nếu xét trong suốt cả thời kỳ 1988-2002 thì năm 1995 có thể được xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam cả về vốn đăng ký cũng như quy mô dự án

    19

    Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam giảm mạnh xuống còn 2189 triệu USD (tính theo vốn thực hiện) vào năm 1998 và khoảng 1933 triệu USD năm 1999 khi Việt Nam bắt đầu phải chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở châu A. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 1999 là 1,5 tỷ USD, tức là khoảng 40,2% so với mức 3,8 tỷ USD của năm 1998. Khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực đã ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Phần lớn vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%) vào Việt Nam là xuất phát từ các nhà đầu tư châu A (trong đó các nước ASEAN chiếm gần 25 %, các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc A như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan chiếm trên 31%). Khi các nền kinh tế này lâm vào khủng hoảng, các nhà đầu tư ở đây rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, khả năng đầu tư ra nước ngoài bị giảm sút. Sự đột biến về kinh tế theo chiều hướng xấu như vậy đã buộc họ xin hoãn việc thực hiện dự án, hay một số công ty đang trong thời kỳ lập kế hoạch đầu tư ra nước ngoài bị mất đi khả năng thực hiện kế hoạch đã định. Ngoài ra, việc cắt giảm một số ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam cũng là những nguyên nhân làm cho tình hình đầu tư vào Việt Nam trong giai đoạn này bị giảm sút đáng kể. Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký năm 2000 là hơn 2 tỷ USD tăng 30 % so với cùng kỳ năm trước. Năm 2001 tổng số vốn đầu tư trực tiếp theo đăng ký là 2,5 tỷ USD nhưng sau đó giảm xuống còn 1,3 tỷ USD vào năm 2002.

    Nếu theo số lượng vốn đăng ký thì quy mô dự án bình quân của thời kỳ 1988-2002 là 13,44 triệu USD/dự án. So với một số nước ở thời kỳ đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì quy mô dự án đầu tư vào nước ta bình quân ở thời kỳ này là không thấp. Nhưng, có vấn đề rất đáng quan tâm là quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999

    20

    lại nhỏ đi một cách đột ngột (5,04 triệu USD/dự án). Quy mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999 chỉ bằng 37,5% quy mô bình quân của thời kỳ 1988-2002 và chỉ bằng 28,5% quy mô dự án bình quân của năm cao nhất (năm 1995). Quy mô vốn bình quân của các dự án mới được cấp phép trong năm 2000 tuy đã tăng lên (bằng 107,5% mức bình quân của năm 1999), nhưng sang năm 2001 mặc dù có thêm một số dự án với quy mô đầu tư lớn (dự án nhà máy điện Phú Mỹ III có số vốn đăng ký 412,9 triệu USD; dự án xây dựng mạng điện thoại di động có số vốn đăng ký 230 triệu USD; dự án chế biến nông sản tại TP Hồ Chí Minh có số vốn đăng ký 120 triệu USD; dự án máy in phun của công ty trách nhiệm hữu hạn CANON Việt Nam có vốn đăng ký 76,7 triệu USD;..) nhưng quy mô vốn bình quân của các dự án cũng chỉ đạt ở mức bằng 97,4% mức bình quân của năm 2000. Khối lượng đầu tư nước ngoài được cấp phép trong năm 2001 vốn đã không phải là lớn, vậy mà năm 2002 còn đạt thấp hơn năm 2001 là 46% (đó là chưa kể đã có thêm 93 dự án cũ bị giải thể trước thời hạn với tổng vốn đăng ký gần 700 triệu USD). Hơn nữa, với 670 dự án mới cấp phép này mà tổng vốn đăng ký chỉ hơn 1,33 tỷ USD thì quy mô đầu tư mỗi dự án chưa đầy 2 triệu USD và tập trung vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, dịch vụ. Điều đó chứng tỏ, năm 2001, 2002 có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là thuộc các dự án quy mô nhỏ.

    Như vậy, từ năm 1988-2002 vốn FDI theo đăng ký tăng lên đến đỉnh điểm là năm 1996 sau đó có xu hướng giảm dần. Trong giai đoạn hiện nay, tuy luồng FDI vào Việt Nam bị suy giảm, nhưng Việt Nam vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi để phấn đấu nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực trong thu hút FDI.

    21

    Bảng 1: Số dự án và vốn FDI được cấp giấy phép tại Việt Nam. (chưa kể

    các dự án của VIETSOVPETRO) :              
                       
    Năm Số Vố n đăng Qui Số dự án Vố n đăng Qui
      dự án (triệuUSD so với so  với so với
        (triệuUSD /dự án)   năm   năm trước năm  
            trước. (%) (%)   trước(%)
    1988 37 371,8 10,05              
                       
    1989 68 582,5 8,57   183,78   156,67 85,27  
                       
    1990 108 839,0 7,77   158,82   144,03 90,67  
                       
    1991 151 1322,3 8,76   139,81   157,60 112,74  
                       
    1992 197 2165,0 11,0   130,46   163,73 125,57  
                       
    1993 269 2900,0 10,78   136,55   133,95 98,00  
                       
    1994 343 3765,6 10,98   127,51   129,85 101,85  
                       
    1995 370 6530,8 17,65   107,87   173,43 160,75  
                       
    1996 325 8497,3 26,15   87,84   130,11 148,16  
                       
    1997 345 4649,1 13,48   106,15   54,71 58,23  
                       
    1998 275 3897,0 14,17   79,71   83,83 105,12  
                       
    1999 311 1568,0 5,04   113,09   40,24 35,57  
                       
    2000 371 2012,4 5,42   119,3   128,3 107,5  
                       
    2001 461 2436,0 5,28   124,3   121,0 121,0  
                         
    2002 670 1333,2 1,98   145,3   54,7   37,8  
                         
    Tổng 4301 42870 13,42              
                         

    Nguồn : Niên giám thống kê 2000, NXB Thống kê, Hà nội-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002

    Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003 1.2.Cơ cấu vốn đầu tư :

    22

    1.21.Cơ cấu vốn đầu tư theo chủ đầu tư :

    Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2002 đã có 62 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam : Tính theo vốn đăng ký (cấp mới) thì trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ 1988-2002 có khoảng 66% từ các nước châu A, khoảng 20% từ các nước châu Âu, hơn 13% từ các nước châu Mỹ. Tuy nhiên, số liệu thống kê địa chỉ của các nhà đầu tư như trên cũng chưa thể phản ánh đúng các chủ đích thực sở hữu các nguồn vốn. Trong xu thế phát triển chung hiện nay, nhiều doanh nghiệp, công ty, tập đoàn đã mở rộng mạng lưới đại diện, các công ty con ra nhiều quốc gia khác (có điều kiện thành lập thuận lợi và được hưởng nhiều ưu đãi..). Thông qua hệ thống này họ thực hiện các dự án đầu tư vào Việt Nam, ví dụ : các tập đoàn HSBC Holdings (Anh), ABB (Thụy Điển), Keppel (Singapo), đã thông qua các chi nhánh của họ tại Hồng Kông để đầu tư vào Việt Nam; Công ty Unilever (Anh) thông qua công ty con có trụ sở ở Singapo để đầu tư vào Việt Nam;…

    Trong tổng số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam có 42 nước và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đầu tư (đăng ký) từ 10 triệu USD trở lên, theo thứ tự như sau : (Bảng 2 trang 21)

    23

    Bảng 2 : Chủ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam có tổng số vốn đăng ký hơn 10 triệu USD (tính đến hết tháng 12 năm 2002)

    Th Nước Số Vốn đăng Thứ Nước   Số Vốn  đăng
    ứ tự   dự ký(triệu tự     dự án ký   (triệu
        án USD)         USD)
    1 Singapo 263 7242,42 22 Quần  đảo 12 193,55
              Măng sơ    
    2 Đài Loan 923 5131,34 23 Philipin 19 184,30
    3 Nhật Bản 368 4283,96 24 Đan Mạch 8 113,34
    4 Hàn Quốc 474 3625,66 25 In-đô-nê- 7 107,70
              sia      
    5 Hồng 262 2899,53 26 Bỉ   19 52,03
      kông              
    6 Pháp 126 2098,88 27 Thổ nhĩ 5 51,00
              kỳ      
    7 Quần  đảo 156 1801,11 28 Canađa 30 46,97
      Vigin              
      (Anh)              
    8 Hà Lan 44 1658,27 29 Niu di lân 9 40,53
    9 Nga 40 1507,17 30 Ân Độ   9 36,16
    10 Anh 49 1217,39 31 Cộng hoà 6 36,08
              Séc      
    11 Thái Lan 110 1167,95 32 Luých   11 35,89
              XămBua    
    12 Ma-lai-xia 117 1114,26 33 Na Uy   9 33,73
    13 Mỹ 153 1111,38 34 Y   8 28,37
    14 Thụy Sĩ 23 504,59 35 I Rắc   2 27,10
    15 Uc 76 508,96 36 Ba Lan 3 26,30
    16 Thụy 9 454,35 37 Liechtens- 2 23,90
      Điển       tein      
    17 Quần Đảo 10 451,54 38 Ucraina 6 21,13
      Cai-man              
    18 Trung 196 362,79 39 Ao   7 20,35
      Quốc              
                    24
    19 B.West 3 261,54 40 Mauritius 6 19,85
      Indies            
    20 Bermuda 5 260,32 41 Panama 3 14,73
    21 Đức 42 242,14 42 Lào 4 11,05

    Nguồn: Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Đài Loan, Singapo, Hàn Quốc và Hồng Công là những đối tác đầu tư chính ở Việt Nam. Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ khu vực châu A, kể cả Malaixia và Thái Lan chiếm khoảng 2/3 luồng FDI vào Việt Nam. Điều này giải thích vì sao tổng số vốn FDI đăng ký ở Việt Nam giảm mạnh từ 8,4 tỷ USD năm 1996 xuống còn 4,6 tỷ USD năm 1997, và xuống còn 3,8 tỷ USD năm 1998 khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lan rộng ở các nước khu vực. Cuộc khủng hoảng đó đã tác động lên FDI , khiến cho tỷ lệ FDI thấp. Những năm gần đây, do sự phục hồi của kinh tế các nước trong khu vực châu A, đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước này đã có xu hướng tăng lên. Đặc biệt tháng 7 năm 2000 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được sửa đổi đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam. Điều này làm tăng thêm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

    Nhật Bản là nước đang đầu tư trực tiếp với số vốn đầu tư thực tế nhiều nhất vào Việt Nam. Vốn đầu tư thực tế từ năm 1989 là năm Nhật Bản bắt đầu đầu tư trực tiếp vào Việt Nam đến năm 2001 là 3,2 tỷ USD, ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp Nhật Bản trong khu vực Đông Nam A cũng đang đầu tư vào Việt Nam. Trong 5 năm từ năm 1989 đến năm 1993 số lượng đầu tư là

    • dự án. Các nhà sản xuất lớn trên các lĩnh vực như xi măng, đồ điện dân dụng, ô tô , xe máy, máy tính đã tập trung nhiều sang thị trường Việt Nam và tạo nên hiện tượng bùng nổ đầu tư vào Việt Nam trong những năm này. Tuy nhiên, từ năm 1996, do ảnh hưởng của đồng Yên bị mất giá và nền kinh

    25

    tế Nhật Bản bị ngưng trệ, các dự án đầu tư lớn vào Việt Nam bị giảm xuống. Đặc biệt sau năm 1998, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu A đã dẫn đến sự suy giảm kinh tế của Nhật Bản, mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được hoàn thiện nên đầu tư vào Việt Nam bị giảm nhanh chóng. Kinh tế các nước châu A đang phục hồi đã nâng số lượng dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam tăng hơn so với năm 2000. Bước vào năm 2001, để giảm rủi ro của việc tập trung đầu tư nhiều vào Trung Quốc, các doanh nghiệp Nhật Bản đă bắt đầu chú ý đến việc quay trở lại đầu tư vào Việt Nam, những dự án lớn sản xuất lớn đã được quyết định tiếp tục tiến hành, vì vậy so với năm trước đầu tư trực tiếp đã tăng đáng kể. Vào năm 2002 các dự án đầu tư trực tiếp của Nhật Bản đang tăng lên chủ yếu là các doanh nghiệp gia công xuất khẩu quy mô nhỏ.

    Nguồn FDI đầy tiềm năng vào Việt Nam là các nhà đầu tư từ Mỹ. sự tham gia hạn chế của các nhà đầu tư Mỹ vì nhiều lý do như : lệnh cấm vận thương mại của Mỹ áp đặt đối với Việt Nam cho đến năm 1994; Hiệp định thương mại song phương Mỹ-Việt ngày 13-07-2000 được hai chính phủ Việt Nam và Mỹ ký, nhưng đến ngày 06-09-2001 mới được Hạ nghị viện Mỹ thông qua và ngày 03-10-2001 được Thượng viện Mỹ thông qua, cùng nhiều vấn đề khác cần được tiếp tục giải quyết

    Sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận vào tháng 2-1994, các doanh nghiệp Mỹ bắt đầu đầu tư vào Việt Nam. Vào thời điểm tháng 12-2002, Mỹ đứng thứ 13 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam, với 153 dự án, trị giá 1,1 tỷ USD. Đầu tư của Mỹ tăng từ 120 triệu USD năm 1994 lên 392 triệu USD năm 1995. Từ năm 1996, đã giảm dần và xuống tới mức thấp nhất là vào năm 1999 với vốn đăng ký là 96 triệu USD. Năm 2000, 2001, mới có một vài dự án trong ngành dầu khí được duyệt. Các dự án đầu tư của Mỹ với 100% sở hữu của Mỹ chiếm 5,5 % số dự án và 49,5 % tổng số vốn đầu tư. Mặc dù mới có mặt

    26

    • Việt Nam nhưng hoạt động đầu tư của Mỹ tương đối nổi bật nhờ sự góp mặt của một số hãng có tên tuổi trên thế giới.

    1.2.2.Vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực đầu tư :

    Trong những năm từ 1988 đến 1994 hầu hết FDI được đầu tư vào các dự án dầu khí ngoài khơi đó là các dự án ít phải chịu những rủi ro về chính trị và kinh tế, tiếp đến là ngành khách sạn và du lịch, là ngành dễ thực hiện và quản lý. Trong giai đoạn thứ hai (thời gian từ 1995 đến nay), FDI mở rộng sang lĩnh vực sản xuất nhiều hơn. Tính cả thời kỳ 1988-2002, các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số lượng dự án lẫn vốn đầu tư, tiếp đến là lĩnh vực khách sạn, du lịch, ngành nông, lâm nghiệp có số dự án lớn nhưng tổng vốn đầu tư thấp hơn (chứng tỏ quy mô dự án ở lĩnh vực này tương đối nhỏ). Đáng chú ý là, lĩnh vực công nghiệp, bao gồm các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp dầu khí (không kể liên doanh dầu khí Việt-Xô, Vietsovpetro, hình thành trước Luật Đầu tư nước ngoài), công nghiệp thực phẩm, xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp-khu chế xuất, chiếm hơn 61% về vốn đăng ký, gần 67% vốn thực hiện, 71% số lao động, khoảng 94% doanh thu và 91% giá trị xuất khẩu của toàn khu vực đầu tư nước ngoài ( không kể dầu thô)

    Bảng 3 : FDI vào Việt Nam theo ngành kinh tế từ 1988 đến hết 2002 (thứ tự theo vốn):

           
    Thứ Ngành kinh tế Vốnđăngký Tỉ lệ (%)
    tự   (triệuUSD)  
    1 Công nghiệp 19229,3 44,8
           
    2 Các ngành dịch vụ khác(*) 7699,9 17,9
           
    3 Khách sạn du lịch 4983,4 11,6
           
    4 Xây dựng (**) 4696,5 10,9
           
    5 Công nghiệp dầu khí 4229,3 9,8
           

    27

    6 Giao thông vận tải, Bưu điện 3673,9 8,5
    7 Nông, lâm nghiệp 1427,8 3,3
    8 Văn hoá, y tế, giáo dục 603,4 1,4
    9 Thủy sản 379,9 0,8
    10 Tài chính, ngân hàng 243,1 0,5

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2002-2003

    • Bao gồm cả xây dựng văn phòng và căn hộ (**) Bao gồm cả xây dựng khu chế xuất

    Nhìn chung, trong giai đoạn 1988-2002, FDI (tính theo tổng số vốn thực hiện) tập trung vào những lĩnh vực sau đây: dầu khí (20%); bất động sản (18%); công nghiệp nặng (15%); công nghiệp nhẹ (12%)

    Xét trên bình diện tổng thể, cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp hơn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta. Nếu chỉ xem xét đơn thuần trên số liệu thống kê về vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành như trên, có thể dễ dàng nhận thấy sự phù hợp tương đối của các chỉ số này với yêu cầu về cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, công nghiệp hoá: công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Nhưng, trong điều kiện ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và tham gia phân công lao động quốc tế và với đặc trưng của nền kinh tế trong đó nông nghiệp nhiệt đới đang là một trong những thế mạnh của Việt Nam thì tình hình thu hút đầu tư vào lĩnh vực này như hiện nay đang là vấn đề cần suy nghĩ và điều chỉnh. Sở dĩ như vậy là vì đối với Việt Nam, nông nghiệp là một trong những lĩnh vực đang có nhiều tiềm năng mà chúng ta chưa có điều kiện để khai thác. Và từ đặc điểm phân bố dân cư, lao động, việc làm như hiện nay thì thành công trong phát triển nông thôn, nông nghiệp là một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá,

    28

    hiện đại hoá trong quá trình hội nhập. Thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông thôn, nông nghiệp cũng tức là tạo ra việc làm và thu nhập cho số đông lao động cũng như tác động làm chuyển biến đáng kể đến sản xuất và đời sống của đa số dân cư Việt Nam.

    1.2.3.Vốn đầu tư theo hình thức đầu tư:

    Đa số các dự án FDI ở Việt Nam trong cả giai đoạn 1991-2002 là liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước, chiếm 57% trong vốn đăng ký và khoảng 40% số dự án. Các liên doanh với doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 2% do công ty tư nhân chưa phát triển mạnh ở Việt Nam và được phép trở thành đối tác của các nhà đầu tư nước ngoài sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi vào năm 1992. Sở dĩ liên doanh là hình thức phổ biến nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam là vì trong thời kỳ đầu các thủ tục để triển khai thực hiện dự án đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc, và rất phức tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế – xã hội và pháp luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực hiện dự án đầu tư. Trong hoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lựa chọn hình thức liên doanh để bên đối tác Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của doanh nghiệp. Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang ngày càng có xu hướng tăng lên. Nếu thời kỳ đầu chỉ có gần 10% số dự án và vốn đăng ký hoạt động theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì đến nay con số đó đã lên tới 55,5% số dự án và 29,4% vốn đăng ký (đến hết năm 2002, có 2615 dự án 100% vốn nước ngoài còn hiệu lực với 15,45 tỷ USD vốn đăng ký). Hình thức đầu tư này gia tăng vì sau một thời gian hoạt động trong môi trường

    29

    đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu A có điều kiện để hiểu biết hơn về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Sự am hiểu của các nhà đầu tư được nâng lên trong điều kiện các thủ tục cấp phép của Việt Nam đang từng bước được cải tiến theo hướng ngày càng đơn giản hơn trước, và cùng với sự xuất hiện các tổ chức tư vấn giúp các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các thủ tục triển khai, tổ chức sản xuất kinh doanh của các dự án tương đối có hiệu quả. Vì vậy, nhu cầu có đối tác Việt Nam để tiến hành các thủ tục, đối với nhà đầu tư nước ngoài đã giảm đi một cách đáng kể. Không những thế, khi tham gia liên doanh do khả năng của phía Việt Nam thường yếu cả về vốn góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành doanh nghiệp với bên Việt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có đối tác Việt Nam trong hoạt động đầu tư.

    Hình thức nữa của FDI là hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Đến nay hình thức này chỉ chiếm 5% số dự án và 10,5% số vốn đầu tư (đến hết năm 2002 có 265 dự án còn hiệu lực với 5,72 tỷ USD vốn đăng ký), chủ yếu trong các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí và dịch vụ viễn thông, in ấn và phát hành báo chí.

    Việt Nam bắt đầu áp dụng hình thức “hợp đồng xây dựng –kinh doanh-chuyển giao” (BOT) từ năm 1993. Hình thức này có đặc điểm là : phần lớn các dự án có phạm vi áp dụng không rộng, điều kiện thực hiện phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm phán, ký kết hợp đồng, hợp đồng mua bán sản phẩm, phương án tài chính, thực hiện giải phóng mặt bằng…Không những thế, đây lại là hình thức mới, phía Việt Nam còn ít kinh nghiệm nên tiến độ triển khai dự án thuộc hình thức này thường chậm hơn các hình thức khác.

    30

    Bảng 4 : FDI tại Việt Nam phân theo hình thức đầu tư (chỉ tính các dự án còn hiệu lực đến 20 tháng 12 năm 2002)

    Hình thức đầu tư Số dự án Vốn đăng ký Vốn thực hiện
        (tỷ USD) (tỷ  USD)
    100% vốn nước ngoài 2615 15,45 7,11
           
    Liên doanh 1694 27,13 10,91
           
    Hợp đồng hợp tác 265 5,72 5,6
    kinh doanh      
    BOT, BT, BTO 7 1,97 0,22
    Tổng số 3663 39,09 20,74
           

    Nguồn : Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003 1.2.4.Vốn đầu tư theo địa bàn đầu tư :

    Tính đến hết năm 2002 đã có 60 tỉnh, thành phố thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do trình độ phát triển hạ tầng kinh tế – kỹ thuật và vị trí kinh tế rất khác nhau nên kết quả thu hút đầu tư nước ngoài giữa các địa bàn chênh lệch nhau rất lớn. Các chỉ số thống kê cho thấy, khoảng 95% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực tập trung vào 3 nhóm sau đây:

    -Nhóm 1 gồm 6 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 1 tỷ USD trở lên là TP Hồ chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-vũng tàu và Hải Phòng.

    -Nhóm 2 gồm 8 địa bàn có số vốn đăng ký còn hiệu lực từ 300 triệu USD đến gần 900 triệu USD là Lâm Đồng, Hải Dương, Thanh Hoá, Long An, Hà Tây, Kiên Giang, Khánh Hoà và Vĩnh Phúc

    -Nhóm 3 gồm 13 địa bàn có số vốn đăng ký từ còn hiệu lực từ gần 100 triệu USD đến gần 300 triệu USD là Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nghệ An, Tây Ninh, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Phú Thọ, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận, Cần Thơ, Tiền Giang và Hưng Yên.

    31

    Bảng 5 :Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam phân theo địa bàn

    đầu tư đến 20 tháng 12 năm 2002 (Đơn vị : triệu USD) :

    Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn Thứ Địa bàn Vốn
    tự đầu tư đăng ký tự đầu tư đăng tự đầu tư đăng ký
                   
    1 TP 10374,79 21 Phú Thọ 136,43 41 Bình. 20,57
      HCM           Phước  
    2 Hà Nội 7524,93 22 Quảng 133,90 42 Nam 18,70
            Nam     Định  
    3 Đồng 5482,5 23 Phú Yên 107,31 43 Vĩnh 15,71
      Nai           Long  
    4 Bình 2952,22 24 Bình 99,06 44 Bắc Cạn 15,24
      Dương     Thuận        
    5 Bà Rịa- 1864,62 25 Cần Thơ 98,21 45 An 15,03
      V.Tàu           Giang  
    6 Hải 1321,28 26 Tiền 95,99 46 Bắc 13,38
      Phòng     Giang     Giang  
    7 Lâm 859,06 27 Hưng 95,27 47 Yên Bái 10,22
      Đồng     Yên        
    8 Hải 486,15 28 Ninh 67,73 48 Đồng 10,18
      Dương     Bình     Tháp  
                    32
    9 Thanh 443,61 29 Thái 54,63 49 Quảng 9,63
      Hoá     Nguyên     Trị  
    10 Long An 429,80 30 Q.Bình 32,33 50 H.Bình 6,11
    11 Hà Tây 414,69 31 L.Sơn 32,00 51 Bến Tre 5,86
    12 K.Giang 393,17 32 B.Định 31,41 52 Cà Mau 5,18
    13 K.Hoà 384,20 33 H.Tĩnh 30,44 53 L.Châu 4,50
    14 V.Phúc 373,97 34 Lào Cai 29,23 54 KonTum 4,40
    15 Q.Ninh 266,28 35 Gia Lai 27,85 55 T.Bình 2,68
    16 Đ.Nẵng 235,52 36 Q.ngãi 26,32 56 TràVinh 1,61
    17 Nghệ An 231,32 37 N.Thuận 25,77 57 S.Trăng 1,14
    18 Tây 217,44 38 Đắc Lắc 24,18 58 Hà Nam 1,00
      Ninh              
    19 Bắc 153,71 39 Bạc Liêu 22,58 59 Tuyên 1,00
      Ninh           Quang  
    20 T.T-Huế 138,50 40 Sơn La 22,57 60 C. Bằng 0,50

    Nguồn : Báo “Vietnam Investment Review” ngày 23/03/2003

    Với mong muốn thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng nên Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào “những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn; miền núi, vùng sâu, vùng xa”. Tuy vậy, cho đến nay vốn nước ngoài vẫn được đầu tư tập chung chủ yếu vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (tính theo tổng số vốn đăng ký) vào các vùng lãnh thổ Việt Nam được xếp theo thứ tự như sau:

    Bảng 6: FDI vào các vùng lãnh thổ Việt Nam

    Thứ tự Vùng lãnh thổ So với tổng vốn đăng ký (%)
         
    1 Đông Nam Bộ 53,13%
         
    2 Đồng bằng sông Hồng 29,6%
         
    3 Duyên hải Nam Trung Bộ 7,64%
         
    4 Đông Bắc 4,46%
         

    33

    5 Đồng bằng sông Cửu Long 2,46%
         
    6 Bắc Trung Bộ 2,38%
         
    7 Tây Nguyên: 0,16%
         
    8 Tây Bắc: 0,15%
         

    Nguồn : tổng hợp Thời báo kinh tế Việt Nam 2002, 2003

    Mức độ trênh lệch giữa các vùng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối lớn. Số liệu trên cũng phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong nước, đạt kết quả chưa cao. Như vậy, đây cũng là một trong những vấn đề cần được chú ý để điều chỉnh hoạt động của Việt Nam đối với lĩnh vực này trong thời gian tới.

    1.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI :

    1.3.1.Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam:

    Kể từ năm Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực (1988) đến nay đã có 4301 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng hơn 42 tỷ USD và vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 24 tỷ USD. Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam kể từ năm 1991 đến năm 2002 được thể hiện như sau:

    Bảng 7 : Tiến độ thực hiện vốn đầu tư của các dự án FDI tại Việt Nam

    Năm Vốn   thực So với vốn đăng ký Vốn nước ngoài Vốn trong
      hiện mới trong năm (%) góp (triệuUSD) nước góp
      (triệu USD)     (triệuUSD)
    1991 478 37,49 432 46  
               
    1992 542 26,74 478 64  
             
    1993 1097 42,37 871 226  
             
    1994 2213 59,08 1936 277  
             

    34

    1995 2761 41,79 2363 398
           
    1996 28337 32,84 2447 390
           
    1997 3032 62,53 2768 264
           
    1998 2189 56,17 2062 127
           
    1999 1933 123,36 1758 175
           
    2000 2100 105,69 1900 200
           
    2001 2300 94,42 2100 200
           
    2002 2350 176,29 2148 202
           
    Tổng 23832 58,01 21263 2569
             

    Nguồn Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế 2001-2002 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    Đến hết năm 2002, trong tổng số 3663 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đang còn hiệu lực hoạt động tại Việt Nam đã có khoảng 1800 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh có tổng vốn đăng ký khoảng 25 tỷ USD. Đây chính là nền móng cho việc hình thành và phát triển của khu vực doanh nghiệp mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi từ đó tạo ra 2014 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động (trong đó có 1137 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), cùng 1584 cơ sở sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào những doanh nghiệp này (nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003)

    Tính đến hết năm 2002 tổng số vốn đã thực hiện bằng 58,01% của tổng số vốn đã đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước

    35

    ngoài còn nhiều biến động, thị trường phát triển chưa đầy đủ…thì tỉ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Cá biệt có những năm (1999, 2000, 2002) số vốn thực hiện của các dự án lại còn lớn hơn cả số vốn đăng ký được phê duyệt trong năm đó. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm, các dự án sau khi được phê duyệt thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay (từ năm 1988 đến năm 1990 chưa có vốn thực hiện); do đó, số vốn thực hiện trong năm chủ yếu là của các dự án đã được phê duyệt từ các năm trước đó. Cho nên nếu so sánh số vốn thực hiện của từng năm với số vốn đăng ký còn lại ( tổng vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện) thì tỷ lệ vốn thực hiện diễn biến theo xu hướng thiếu ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến năm 1997 và sau đó giảm dần từ năm 1998 đến 1999, năm 2000, 2001, 2002 đã có biểu hiện của xu hướng tăng lên. Tình trạng này có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng có nguyên nhân rất đáng được chú ý là một số nhà đầu tư khi lập dự án đã tính toán chưa thật sát với thực tế nên khi triển khai dự án họ gặp phải một số vấn đề phát sinh vượt cả khả năng tài chính cũng như các yếu tố, điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có một số nhà đầu tư nước ngoài, thực chất là yếu về năng lực tài chính nên mặc dù đã được cấp phép đầu tư, nhưng do không huy động được vốn đúng như dự kiến, buộc phải triển khai dự án chậm, có khi mất khả năng thực hiện.

    Nhìn tổng quát ta thấy, các dự án trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là những dự án hoạt động đạt kết quả tốt nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ các dự án loại này, các nhà đầu tư không phải mất nhiều thời gian giải quyết các thủ tục đất đai, xây dựng…còn về năng lực thì hầu hết các dự án loại này đều do các nhà đầu tư là các công ty xuyên quốc gia có thế mạnh về tài chính và công nghệ. Về loại hình doanh nghiệp,

    36

    các dự án 100% vốn nước ngoài có tiến độ thực hiện nhanh hơn hẳn các doanh nghiệp liên doanh, vì các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài không mất thời gian để đàm phán, thoả thuận với bên đối tác Việt Nam (thông thường những công việc này mất khá nhiều thời gian).

    1.3.2.Tình hình góp vốn của các bên đối tác trong các dự án đầu tư:

    Theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì bên Việt Nam có thể góp vốn tham gia liên doanh bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên, giá trị sử dụng mặt nước, mặt biển, thiết bị máy móc, nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, các dịch vụ,…Thực tế lâu nay, Việt Nam góp vốn tham gia liên doanh chủ yếu bằng quyền sử dụng đất và giá trị thiết bị, nhà xưởng hiện có. Tất cả những tài sản này thường được góp một lần ngay vào thời điểm bắt đầu triển khai thực hiện dự án đầu tư. Cũng theo quy định của “Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” thì đối tác nước ngoài có thể góp vốn vào liên doanh bằng tiền nước ngoài, tiền Việt Nam có nguồn gốc từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam, thiết bị máy móc nhà xưởng, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. Số vốn thực hiện được thống kê ở bảng 7 (trang 30) là bao gồm cả vốn thực hiện của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và cả số tiền “khai vống giá trị tài sản” của đối tác nước ngoài khi đưa thiết bị vào thực hiện dự án đầu tư. Bên nước ngoài góp vốn chủ yếu bằng tiền mặt và trang thiết bị, do đó trong giai đoạn đầu triển khai dự án, thực hiện các công việc xây dựng cơ bản bị phụ thuộc rất nhiều vào tiến độ góp vốn của bên nước ngoài. Trong giai đoạn xây dựng cơ bản, đối tác nước ngoài gần như nắm quyền điều hành toàn bộ các hoạt động của liên doanh. Do trình độ cán bộ, nên rất ít liên doanh mà trong đó cán bộ của đối tác Việt Nam giành được tiếng nói chi phối các hoạt động này. Đến hết năm 2002, các đối tác nước ngoài đã đưa vốn vào thực hiện các dự án

    37

    đầu tư tại Việt Nam (kể cả vốn của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) là 21263 triệu USD (gấp 8,2 lần số vốn của Việt Nam đã góp).

    Nếu xét trên tổng thể hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam (không phân chia theo hình thức đầu tư) thì tỷ trọng vốn nước ngoài đang chiếm phần lớn (89%) trong tổng sô vốn hoạt động. Không những thế, tỷ trọng vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên, còn tỷ trọng vốn của Việt Nam đã thấp lại đang có xu hướng giảm xuống đáng kể. Với tỷ trọng và xu hướng như vậy cũng là điều đặt ra cần nghiên cứu về khả năng chi phối và lợi ích mà Việt Nam có thể thu được qua hoạt động kinh tế đặc biệt này. Qua thực tế hoạt động có 76 dự án liên doanh đã thực hiện chuyển quyền sở hữu vốn giữa các bên tham gia liên doanh, hay giữa bên đang tham gia liên doanh cho chủ mới. Trong số đó có 59 dự án đã chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (riêng năm 1999 đã có 25 dự án) và 13 dự án chuyển từ liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam. Sự thay đổi sở hữu như vậy là chuyện bình thường, nhưng với số lượng liên doanh chuyển cho chủ nước ngoài đã gấp hơn 4,5 lần số lượng chuyển cho chủ Việt Nam thì quả là điều đáng suy nghĩ. Điều này phần nào chứng tỏ vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào liên doanh đang giảm đi một cách đáng kể.

    “Hợp đồng xây dựng-kinh doanh – chuyển giao” là hình thức nước ta đưa vào áp dụng với mong muốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Mặc dù nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho hình thức này như : Không thu tiền thuê đất, được hưởng các mức thuế thấp nhất, được chuyển đổi ngoại tệ…nhưng số dự án thuộc hình thức này vẫn còn rất ít. Sở dĩ như vậy là vì giữa hai bên chưa thật sự “gặp nhau” trong các ý tưởng khi thương lượng. Vấn đề rõ nét nhất là nhiều lúc hai bên không thống

    38

    nhất được về cách tính giá cả đầu vào, đầu ra đối với các đối tác cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu và mua sản phẩm.

    1.3.3.Tình hình triển khai hoạt động của các dự án FDI theo lĩnh vực kinh tế:

    -Lĩnh vực dầu khí: So với các ngành kinh tế việt Nam thì dầu khí là một trong rất ít ngành thu hút được các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới đến tham gia đầu tư. Tổng vốn FDI theo đăng ký trong ngành công nghiệp dầu khí từ 1988 đến hết năm 2002 là 4,2 tỷ USD. Đến nay, chúng ta đã cấp 45 giấy phép hoạt động cho các nhà đầu tư tương đối có tiềm lực về mọi mặt thuộc Bắc Mỹ, châu Âu, châu Uc, châu A. Hình thức hoạt động chủ yếu của các nhà đầu tư này là hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), liên doanh (JV). Hiện nay, một số mỏ đã tiến hành khai thác như : Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng Ngọc, Bunga, Kekwa, và chuẩn bị khai thác các mỏ khí Lan Đỏ, Lan Tây, Rồng Đôi, Hải Thạch, Emeral….(ngoài các mỏ Bạch Hổ, Rồng do Vietso Petro thực hiện).

    Bảng 8: Tình hình khai thác của một số công ty có vốn FDI trong lĩnh vực dầu khí tại Việt Nam tính đến hết tháng 12 năm 2002:

    Số thứ Công  ty  điều Mỏ Sản lượng dầu Sản lượng khí (tỷ
    tự hành   (triệu tấn/năm) mét khối/năm)
             
    1 Vietsovptro Bạch Hổ 12,77 1,674
      (Nga-Việt Nam)      
             
    2 JVPC (Nhật) Rạng Đông 2,14 0,03
             

    39

    3 Petronas CV Hồng Ngọc 1,03  
      (Malaysia)      
             
    4 Lundin Bunga 0,37  
             

    Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003.

    -Lĩnh vực công nghiệp ô tô và xe máy: Đây cũng là một trong những lĩnh vực thu hút được nhiều nhà đầu tư thuộc các hãng lớn mà sản phẩm của họ đã trở thành nổi tiếng và có lợi thế cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thế giới như Toyota, Ford, Honda, Suzuki. Đến nay, chúng ta đã cấp giấy phép hoạt động cho 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô và 4 dự án đầu tư sản xuất xe máy. Số vốn thực hiện của các dự án đầu tư sản xuất ô tô đến nay là

    • triệu USD (bằng 43,12% vốn đăng ký), với số sản phẩm sản xuất bình quân 140.000 xe ôtô/năm. Trong số 14 dự án đầu tư sản xuất ô tô có 3 dự án không triển khai (Chrysler, Nissan và Vietsin), 1 dự án tuy đã triển khai (đã đầu tư 16 triệu USD) nhưng tạm thời không đầu tư tiếp (dự án Mercedes-Ben) và liên doanh Mê Kông đã ngừng sản xuất. Một đặc điểm tương đối nổi bật nữa của các dự án đầu tư sản xuất ô tô, xe máy là bên cạnh các hoạt động của chính bản thân thì các dự án này có tác động đến việc hình thành các dự án sản xuất linh kiện, phụ tùng tương ứng. Tức là, thường đi cùng với các dự án đầu tư loại này là một loạt các dự án đầu tư sản xuất linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bổ trợ, cùng triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu đồng bộ về sản xuất ô tô và xe máy. Các dự án đầu tư dạng vệ tinh này thường là các đối tác truyền thống của các nhà đầu tư hoặc là các doanh nghiệp cơ khí sẵn có của Việt Nam, trong đó có cả những doanh nghiệp đang gặp khó khăn rất lớn trong sản xuất kinh doanh, thậm chí có nguy cơ phá sản.

    Lĩnh vực công nghiệp điện tử : Đây là lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài có mặt tương đối sớm, vốn thực hiện chiếm tỷ lệ cao so với vốn đăng ký, có tiến độ thực hiện đúng với cam kết được ghi trong giấy phép đầu tư

    40

    và đây là lĩnh vực rất sớm phát huy hiệu quả. Đến nay, đã có 22 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký 615 triệu USD, trong đó có hơn 60% số vốn đã được thực hiện (379 triệu USD). Số vốn thực hiện trên được tập trung chủ yếu vào thời kỳ 1991-1995. Một trong những yếu tố hơn hẳn so với nhiều lĩnh vực khác là các nhà đầu tư vào lĩnh vực này phần lớn thuộc các công ty xuyên quốc gia và các hãng điện tử lớn trên thế giới như : Sony, JVC, Toshiba, Philip, Matsushita, Fujitsu, LG, Samsung, Daewoo…

    -Lĩnh vực viễn thông: Đến nay đã có 20 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đăng ký là trên 2 tỷ USD. Trong số các dự án đầu tư ở lĩnh vực này, có đến 94% số dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh dịch vụ viễn thông, 6% số dự án đầu tư theo hình thức liên doanh để sản xuất các thiết bị vật tư bưu điện.

    Hoạt động kinh doanh khách sạn và du lịch : Đây là lĩnh vực mà ngay từ đầu có biểu hiện còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác nên kể từ khi bước vào thực hiện chính sách đổi mới nhiều doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đầu tư vào lĩnh vực này. Và, đây cũng là ngành ngay từ đầu đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài. Cho đến nay đã có tới 237 dự án với 7585 triệu USD vốn đăng ký đầu tư xây dựng khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, phát triển đô thị, trong số đó đã có 33,66% (2553 triệu USD) vốn đã được thực hiện-Đây cũng là lĩnh vực đã xuất hiện tình trạng cung vượt quá cầu ở một số thành phố như TP.Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Nẵng, Hải Phòng.

    -Lĩnh vực công nghiệp hoá chất: Đến hết năm 2000, lĩnh vực này thu hút

    • dự án với tổng vốn đăng ký trên 2 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 682 triệu USD; trong đó thời kỳ 1996-2000 cấp phép 163 dự án với 1,7 tỷ USD vốn đăng ký. Năm 1999 tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm tới 26,5% trong tổng giá trị sản xuất của toàn

    41

    ngành Hoá chất Việt Nam. Điều đáng chú ý ở đây là, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong ngành này đã sản xuất ra nhiều loại sản phẩm có chất lượng cao như : một số hoá chất cơ bản, sơn thuốc sát trùng, dầu nhờn, thuốc trừ sâu…

    Lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực này được tập trung chủ yếu vào trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc, trồng rừng và chế biến gỗ. Phần lớn các dự án loại này thường thực hiện ở những vùng có điều kiện kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng phát triển kém hơn nhiều vùng khác: Mía đường ở các huyện miền núi Nghệ An, Thanh Hoá, Tây Nguyên, Nam Bộ; trồng chè ở các tỉnh miền núi Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lâm Đồng; trồng rau, hoa ở Hoà Bình, Hải Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng. Đến nay, ta đã cấp phép đầu tư cho

    • dự án với 1,86 tỷ USD vốn đăng ký vào lĩnh vực này. Trong đó, hiện có
    • dự án còn hiệu lực và số vốn đã thực hiện 852 triệu USD.

    -Lĩnh vực dệt, may, giày dép: Đây là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, suất đầu tư cho mỗi lao động thấp, triển khai sản xuất-kinh doanh nhanh; đặc điểm này rất thích hợp với điều kiện kinh tế và trình độ phát triển ở thời kỳ đầu bước vào hội nhập nền kinh tế quốc tế của nước ta. Đến nay, chúng ta đã cấp phép 250 dự án với tổng số 2396 triệu USD vốn đăng ký đầu tư vào lĩnh vực này (dệt: 87 dự án với 1649 triệu USD vốn đăng ký; may:118 dự án với 281 triệu USD vốn đăng ký; giày dép:45 dự án với 466 triệu USD vốn đăng ký). Trong số đó, số vốn đã thực hiện là 1079 triệu USD (bằng 45% tổng vốn đăng ký). Đây là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ vốn thực hiện đạt vào loại cao.

    • Đánh giá tác động của FDI đối với Việt Nam

     

    1.Tác động tích cực :

     

    42

    Sau khi đường lối “đổi mới” được Đại hội Đảng lần thứ VI thông qua, và nhất là sau khi Việt Nam công bố Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam (1987), hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài bước đầu đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đó là :

    1.1.Hoạt động FDI đã tạo ra được nguồn vốn đáng kể. Đây là nguồn vốn

    quan trọng và là một trong những điều kiện để nước ta phát triển kinh tế.

    -Từ khi thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài cho đến nay, vốn đầu tư

    nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bình quân 1737,7 triệu USD/năm. Đối

    với một nền kinh tế có quy mô như của nước ta thì đây là một lượng vốn đầu

    tư không nhỏ, nó   thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến

    không chỉ về quy mô đầu tư mà điều quan trọng hơn là nguồn vốn này có vai

    trò như “chất xúc tác” để việc đầu tư của ta đạt hiệu quả nhất. Nếu so với

    tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản xã hội thời kỳ 1991-2000 thì vốn đầu tư

    xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 24,8%.

    Và, lượng vốn đầu tư này có xu hướng tăng lên qua các năm.

    Bảng 9:Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng vốn đầu tư xây dựng thực hiện toàn xã hội thời kỳ 1991-2002 tại Việt Nam

    Năm Tổng vốn Vốn Vốn đầu tư trực tiếp của
      đầu tư trong nước nước ngoài
      (tỷ đồng) (tỷ đồng)
         
          Số lượng (tỷ đồng) So với tổng số%

    43

    1991 13471 11545 1926 14,3
             
    1992 24737 19552 5185 21,0
             
    1993 42177 31556 10621 25,2
             
    1994 54296 37796 16500 30,4
             
    1995 68048 46048 22000 32,3
             
    1996 79367 56667 22700 28,6
             
    1997 96870 66570 30300 31,03
             
    1998 97336 73036 24300 31,3
             
    1999 105,200 86300 18900 18.0
             
    2000 120600 98200 21800 18,2
             
    2001 163500 133500 30000 18,3
             
    2002 180400 146400 34000 18,8
             
    Tổng 1045402 807170 238232 22,8
             

    Nguồn :Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2000-2001 Thời báo kinh tế Việt Nam, kinh tế 2002-2003

    -Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (không kể dầu khí) đã thực hiện nộp ngân sách nhà nước (thời kỳ 1994-2002) với số tiền 2472 triệu USD. Có thể nói đây cũng là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng góp phần tích cực trong việc làm cân đối cán cân thanh toán quốc tế. Số tiền nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các năm như sau:

    Bảng 10 : Tình hình nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp có vốn FDI (triệu USD)

    Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                       
    Nộp ngân 128 195 263 315 317 271 260 373 350
                       

    44

    sách

    Nguồn : Trang web của Thời báo kinh tế.

    Vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng giúp Việt Nam phát triển một nền kinh tế cân đối và bền vững : Khi các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư thì Chính phủ ta có thể dành số vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những ngành trọng điểm và những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài, cũng như đầu tư vào những địa bàn khó khăn nhằm tạo nên một sự phát triển cân đối, giữa các ngành, các vùng của đất nước.

    Hoạt động của đồng vốn có nguồn gốc từ đầu tư nước ngoài là một trong những động lực gây phản ứng dây chuyền thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước. Theo các chuyên gia kinh tế : cứ một đồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động sẽ làm cho bốn đồng vốn trong nước hoạt động theo. Như vậy, có thể nói đây là một trong những tác nhân có khả năng làm cho việc hình thành tại Việt Nam một thị trường vốn thực sự có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

    1.2.Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần tạo ra phương thức sản xuất kinh doanh mới và sản phẩm mới :

    Trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất kinh doanh thụ động theo sự chỉ thị kế hoạch của cấp trên, không cần đầu tư, cải tiến, không cần tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị ; sản phẩm sản xuất ra không bị cạnh tranh…trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giành sự chú ý đáng kể cho công tác nghiên cứu thị trường, tiếp thị, quảng cáo, khuyến mãi. Ngoài ra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho ra đời những sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ hơn, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng hơn các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp trong nước. Để có

    45

    thể tồn tại được các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn con đường duy nhất là phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ, phương thức sản xuất kinh doanh, trình độ của người lao động. Như vậy, Sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất -kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị trường.

    Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài một mặt, đã tạo ra một loạt các doanh nghiệp có nhiều tiềm lực trên đất Việt Nam, đây là môi trường bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu trong cuộc cạnh tranh để tồn tại và trưởng thành. Mặt khác, chúng còn là lực lượng có khả năng cung ứng cho thị trường nội địa nước ta nhiều hàng hoá, dịch vụ góp phần làm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất và đời sống nhân dân cũng như đáp ứng cho thị trường nước ta những hàng hoá trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đây vừa là nguồn bổ xung hàng hoá quan trọng cho thị trường vừa là điều kiện tốt để tiết kiệm được lượng ngoại tệ mà trước đây phải dùng cho việc nhập khẩu hàng hoá.

    1.3. Đầu tư nước ngoài đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá :

    Trong ngành công nghiệp, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những có tỷ trọng cao mà còn có xu hướng tăng lên đáng kể trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài luôn tạo ra hơn 25% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp ; tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực này đạt từ 25,1% (1995) ; 26,73% (1996) ; 28,9% (1997) ; 31,98% (1998) ; 34,73% (1999) ; 35,5% (2000); 34,3% (2001); 35,2% (2002)

    46

    Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có vị trí chủ đạo, với tỷ trọng 79% giá trị sản xuất của toàn ngành. Tiêu biểu mức tỷ trọng ở một số năm như sau : 77,8%(1995) ; 78%(1996) ; 77,7%(1997) ; lên 81,4%(1998). Đặc biệt, giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thô và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra, với các mức cụ thể như sau : 99,7%(1995) ; 99,7%(1996) ; 99,8%(1997) ; 99,8%(1998). Điều mà chúng ta rất dễ nhận biết là nếu như không có đầu tư nước ngoài thì tin chắc chúng ta chưa thể tiến hành được công tác khai thác dầu thô và khí đốt.

    Trong công nghiệp chế biến, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 22% và có xu hướng ngày càng tăng, từ 18,1% (1995) ; 20,1% (1996) ; 22,9% (1997) lên 25,3% (1998). Trong đó, ở một số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như sau : 71% trong ngành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ ; 44,3% trong ngành sản xuất sản phẩm bằng da và giả da ; 100% trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà không khí, đầu video… ; 67% trong ngành sản xuất radio, tivi, thiết bị truyền thông ; 31% trong ngành sản xuất kim loại ; 22% trong ngành sản xuất thiết bị điện, điện tử, 20,1% trong ngành sản xuất hoá chất ; 19,1% trong ngành may mặc…

    Nhìn tổng thể tỷ trọng GDP của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP của ngành công nghiệp có sự chuyển biến gần như đồng biến với tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Điều này chứng tỏ rằng, trong số các nhân tố ảnh hưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài không những có vai trò rất quan trọng trong phát triển công nghiệp, mà nó còn có tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng hình thành một cơ cấu kinh tế công nghiệp hoá, hiện đại hoá

    47

    Bên cạnh những kết quả trên đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể nâng cao năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp, chuyển giao cho lĩnh vực này nhiều giống cây, giống con, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông, lâm sản hàng hoá. Nếu như trước đây đầu tư nước ngoài chỉ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến gỗ, lâm sản,thì những năm gần đây nhiều dự án đã đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất giống, trồng trọt, sản xuất thức ăn chăn nuôi, mía đường, trồng rừng, sản xuất nguyên liệu giấy, chăn nuôi. Các dự án đầu tư nước ngoài trong nông-lâm-ngư nghiệp đã góp phần cải thiện đáng kể đời sống của đông đảo nhân dân Việt Nam cư trú ở nông thôn ; góp phần đầu tư, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở lạc hậu, yếu kém ở nhiều địa phương, tạo nhiều việc làm cho lao động ở nông thôn, tạo ra khả năng tiếp nhận những công nghệ tiên tiến cho sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp.

    1.4. Đầu tư nước ngoài đã giúp Việt Nam tiếp cận nhanh chóng kịp thời công nghệ kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại :

    Thông qua đầu tư của nước ngoài, Việt Nam đã tiếp nhận một số kỹ thuật, công nghệ mới. Phần lớn thiết bị, công nghệ đưa vào nước ta thuộc loại tiên tiến hơn cái ta hiện có. Cụ thể, các công nghệ đang sử dụng trong lĩnh vực dầu khí, viễn thông, hoá chất đều thuộc loại công nghệ hiện đại và các công nghệ này thực sự đã góp phần tạo nên bước ngoặt tích cực trong quá trình phát triển kinh tế của nước ta. Đa số công nghệ sử dụng trong các ngành công nghiệp điện tử, hoá chất, ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng đều là những dây chuyền tự động hoá tương đối hiện đại. Một số sản phẩm điện tử, vi mạch, người máy công nghiệp được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến. Các khách sạn, văn phòng cho thuê đều được trang bị các thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế.

    48

    1.5.Hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc trực tiếp và gián tiếp có thu nhập cao, đồng thời góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam. Tính đến năm 2002 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra cho người lao động Việt Nam khoảng 600.000 chỗ làm việc trực tiếp và khoảng hơn 2 triệu lao động gián tiếp (bao gồm công nhân xây dựng và các ngành sản xuất, dịch vụ phụ trợ có liên quan). Số lao động làm việc trong các bộ phận có liên quan đến hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài bằng khoảng 39%-40% tổng số lao động bình quân hàng năm trong khu vực nhà nước.

    Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nước. Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sự cạnh tranh nhất định trên thị trường lao động. Tuy nhiên, lao động trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ cao, kỷ luật lao động nghiêm khắc. Trong một số lĩnh vực còn có yêu cầu đối với lực lượng lao động phải có trình độ cao về tay nghề, học vấn, ngoại ngữ. Sự hấp dẫn về thu nhập cùng với đòi hỏi cao về trình độ là những yếu tố buộc người lao động Việt Nam có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ và tay nghề để có đủ điều kiện được tuyển chọn vào làm việc tại các doanh nghiệp loại này.

    Khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầu hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam những chuyên gia giỏi, đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức kinh doanh hiện đại nhằm thực hiện dự án có hiệu quả. Đây chính là điều kiện tốt một mặt để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, học tập và nâng cao trình độ kinh nghiệm quản lý ; Mặt khác, để liên doanh có thể hoạt động được tốt, nhà đầu tư nước ngoài cũng buộc phải đào

    49

    tạo cán bộ quản lý cũng như lao động Việt Nam đến một trình độ đủ để đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, công nghệ đang sử dụng trong các dự án. Như vậy, dù không muốn thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam. Đến nay chúng ta có khoảng 6000 cán bộ quản lý, 25000 cán bộ kỹ thuật đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ chủ yếu là những kỹ sư trẻ, có trình độ, có thể cùng các chuyên gia nước ngoài quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả .

    1.6.Đầu tư nước ngoài thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới :

    Trong xu thế quốc tế hoá và khu vực hoá các hoạt động kinh tế hiện nay, mức độ thành công của mở cửa và hội nhập với thế giới sẽ có tác động chi phối mạnh mẽ đến sự thành công của công cuộc đổi mới, đến kết quả của sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá cũng như đến tốc độ phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hướng mở cửa và hội nhập tương đối có hiệu quả. Chúng ta biết rằng, Việt Nam triển khai thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp trong bối cảnh quan hệ kinh tế đối ngoại chỉ ở phạm vi rất hẹp. Các quốc gia có quan hệ hợp tác với Việt Nam chủ yếu thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa. Một hệ thống bao gồm các nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Đây là thời kỳ mà Việt Nam ở vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế-xã hội và cũng là thời kỳ cả hệ thống xã hội chủ nghĩa đang lâm vào thoái trào. Việt Nam lúc này đang rất khó khăn lại mất đi nguồn viện trợ, mất đi những bạn hàng truyền thống và dễ tính, những đối tác hợp tác quốc tế có nhiều ưu ái với mình. Bên cạnh đó, cùng với chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ đã làm cho Việt Nam rất khó xác lập được những mối quan hệ kinh tế với các nước khác. Tuy vậy, với chính sách đầu tư nước ngoài được đánh giá là có

    50

    sức hấp dẫn lúc bấy giờ, nhiều nhà đầu tư thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đã tìm đến và chấp nhận làm ăn với Việt nam. Những kết quả mà các nhà đầu tư đạt được trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam cùng với chính sách đối ngoại rộng mở của chính phủ Việt Nam không những xóa đi những mặc cảm, định kiến của một số nước mà còn chính các nhà đầu tư đã tạo ra sức ép đối với một số chính phủ (trong đó có chính phủ Mỹ) trong việc cải thiện quan hệ với Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài cùng với các hoạt động thực hiện dự án đầu tư đã trở thành “cầu nối”, là điều kiện tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác được với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, cũng như những trung tâm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ mạnh của thế giới.

    1.7.Đầu tư nước ngoài là một trong những phương thức đưa hàng hoá sản xuất tại Việt Nam xâm nhập thị trường nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.

    Hoạt động xuất khẩu những hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam. Đối với nước ta, mặc dù yêu cầu mở rộng thị phần ở nước ngoài là rất lớn và cấp bách, nhưng do hạn chế về năng lực tiếp thị quốc tế, trình độ công nghệ và quản lý nên rất khó khăn khi trực tiếp giải quyết yêu cầu này. Công việc này đối với các nhà đầu tư nước ngoài lại rất có ưu thế vì họ là những người tương đối am hiểu thị trường thế giới, có các cơ sở tiếp thị ở những thị trường quan trọng, có tiềm lực về vốn và công nghệ, có sẵn những mối quan hệ làm ăn cũng như kinh nghiệm buôn bán, có nhiều thủ thuật để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Nếu có các công ty xuyên quốc gia nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để sản xuất hàng xuất khẩu thì họ sẽ trở thành pháp nhân Việt Nam xuất hiện trên thương trường

    51

    thế giới. Đây là cơ hội tốt cho Việt Nam tiếp cận được với thị trường nước ngoài một cách thuận lợi .

    2.Tác động tiêu cực, những tồn tại và hạn chế của đầu tư nước ngoài :

    2.1. Tác động tiêu cực của đầu tư nước ngoài :

    -Bên nước ngoài hầu hết là những công ty, hãng tư nhân, họ là người sở hữu thực sự tài sản mà họ đem góp vào liên doanh. Cho nên từ quan niệm, cách nhìn nhận cho đến cách hành động, hoạt động sản xuất kinh doanh, họ đều thể hiện tính chất tư bản tư nhân. Mục đích tối thượng của họ là lợi nhuận, nên họ bằng mọi cách để đạt được lợi nhuận tối đa. Trong một số trường hợp một số nhà đầu tư đã bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc. Ngoài ra, chủ đầu tư lợi dụng những “khe hở” của luật pháp nước ta và khai thác những mặt yếu kém của các nhà doanh nghiệp trong nước để trục lợi.

    -Đầu tư nước ngoài còn làm cho số lượng các doanh nghiệp trong nước giảm, làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng cao, cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt và làm gia tăng hiện tượng chảy máu chất xám. Bên cạnh đó, một số hãng hoặc xí nghiệp nước ngoài tuy đem lại việc làm cho người lao động nhưng lại khai thác sức lao động của công nhân hay nhân viên sở tại một cách quá đáng. Mối quan hệ chủ thợ không bình đẳng, một số người lao động còn bị đối xử ngược đãi.

    -Các chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong ngành khai thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, việc khai thác và chế biến quá mức các loại khoáng sản và tài nguyên của các công ty này đã nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước ta.

    2.2. Hạn chế của đầu tư nước ngoài :

     

    52

    -Trong thời gian qua đầu tư nước ngoài được thực hiện chưa được đồng bộ và đầy đủ. Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo ngành kinh tế và vùng lãnh thổ chưa đạt được như mong muốn, nhất là còn tương đối bất cập với yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng như sự phát triển bền vững của đất nước. Nước ta đã có các chính sách ưu đãi để hướng dẫn thu hút đầu tư nước ngoài theo chiến lược phát triển kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ. Thế nhưng, các cấp độ ưu đãi chưa tương xứng với mức độ trênh lệch về điều kiện giữa các ngành, các vùng nên đầu tư trực tiếp vẫn tập trung chủ yếu vào những vùng có khả năng đạt hiệu quả cao, những địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế-xã hội. Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông-lâm nghiệp tuy đã có những đóng góp tích cực, làm thay đổi đáng kể bộ mặt kinh tế-xã hội nông thôn, nhưng sự biến động của đầu tư nước ngoài trong khu vực này đang có xu hướng chững lại và giảm dần, vì đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi ro, thời gian thu hồi vốn dài…Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào nông-lâm-ngư nghiệp liên tục giảm từ 21,6% (thời kỳ 1988-1990), xuống 14,3% ( thời kỳ 1991-1995), và xuống mức chỉ còn gần 3% (thời kỳ 1996-2000). Đối với các lĩnh vực khác, ta thấy số dự án đầu tư nước ngoài vẫn tập trung chủ yếu vào các địa phương có điều kiện thuận lợi-chỉ riêng 10/61 tỉnh, thành phố có điều kiện thuận lợi đã thu hút tới 87,8% tổng số đầu tư nước ngoài vào cả nước.

    -Phần vốn góp của Việt Nam trong liên doanh với nước ngoài còn thấp (thường từ 20-30 % tổng vốn). Vốn góp của Việt Nam chủ yếu là quyền sử dụng đất và một số nhà xưởng đã cũ. Điều này làm quyền hạn của phía Việt Nam trong công ty bị hạn chế và phần lợi nhuận được phân chia không cao. Bên cạnh đó, một số đối tác nước ngoài tham gia liên doanh không phải bằng vốn thực có của mình (hoặc nếu có thì cũng chỉ có ở một tỷ lệ thấp) mà

    53

    chủ yếu góp vào liên doanh bằng vốn vay. Các trường hợp này, khi việc tiến hành vay vốn gặp khó khăn dễ dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc triển khai dự án. Hoặc sau khi vốn vay đã đưa vào thực hiện, nếu trường hợp sản xuất của liên doanh gặp khó khăn (thậm chí đang trong giai đoạn hoạt động bình thường) nhưng vẫn có những đối tác nước ngoài đã thiếu trách nhiệm trong việc cùng đối tác Việt Nam tính toán, thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cá biệt, có những đối tác nước ngoài cố tình dây dưa, lẩn tránh việc thanh toán nợ và sau đó đề nghị ngân hàng “phát mại”…tạo điều kiện để họ có thể thôn tính liên doanh (điển hình cho dạng này là liên doanh Saigon Lodge Hotel)

    -Việc chuyển giao công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài chưa được thực hiện triệt để và chưa được thực hiện với sự tự nguyện hoàn toàn, do đó người tiếp nhận công nghệ gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng công nghệ vào thực tiễn. Các công nghệ được chuyển giao đôi khi không thích hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam. Trong mối tương quan giữa vốn thu hút và vốn công nghệ của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì tạm thời chúng ta phải chấp nhận thực tế là chưa có thể có điều kiện tự do lựa chọn công nghệ tiên tiến như ý muốn, do đó kỹ thuật, công nghệ và thiết bị đưa vào nước ta phần lớn thuộc loại trung bình trên thế giới. Ngoài ra, do các dự án sử dụng phần lớn công nghệ nước ngoài nên việc nhập khẩu nguyên liệu và tư liệu sản xuất trong nhiều trường hợp trở nên bắt buộc. Vì vậy mức độ phụ thuộc này đôi khi quá lớn và không khỏi gây những trở ngại cho tiến trình xây dựng và khai thác dự án.

    2.Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) :

    2.1.Tình hình thu hút và triển khai ODA tại Việt Nam :

    2.1.1Vốn và giải ngân ODA trong thời gian qua :

    Hiện nay Việt Nam có quan hệ ODA rất đa dạng, phong phú với nhiều đối tác đó là :

    54

    • Các tổ chức của liên hợp quốc
    • Các tổ chức phi chính phủ
    • 1 tổ chức liên chính phủ (EU)
    • Hơn 20 nước công nghiệp phát triển
    • Một số nước công nghiệp mới phát triển ở châu A
    • Các ngân hàng quốc tế (WB, ADB )
    • Các quỹ (IMF, OPEC)

    Giai đoạn 1995-1999, bình quân mỗi năm Việt Nam đã huy động được hơn

    • tỷ USD từ các nguồn tài trợ phát triển chính thức của quốc tế. Đến năm 2000, các hiệp định ODA ký kết vốn đầu tư tăng lên 2,4 tỷ USD, vượt xa so với giai đoạn trước. Năm 2001 tổng vốn ODA cam kết là 2,4 tỷ USD và đến năm 2002 số vốn này đạt 2,5 tỷ USD. Cũng trong năm 2002 số vốn này được giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD, bao gồm 1,2 tỷ USD vốn vay và 320 triệu USD viện trợ không hoàn lại. Như vậy kể từ năm 1993 đến nay, tổng số vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam lên đến 22,43 tỷ USD, chưa kể phần tài trợ riêng để thực hiện cải cách kinh tế. Trong đó, tính đến hết năm 2002, tổng số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định đạt khoảng 16,5 tỷ USD và tổng số vốn đã được giải ngân đạt khoảng 11,04 tỷ USD. Rõ ràng, vốn giải ngân đạt tỷ lệ chưa cao so với vốn hiệp định và nếu so với vốn cam kết thì còn thấp hơn nữa, mới chỉ đạt 49,2%. Theo “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và công bố tại Văn bản số 2685/VPCP-QHQT ngày 21 tháng 5 năm 2002, thì trong thời kỳ 2001-2005 Việt Nam cần thực hiện số vốn ODA trị giá khoảng 9 tỷ USD ( theo giá năm 2000), bao gồm khoảng 7,5 tỷ USD vốn vay và khoảng 1,5 tỷ USD vốn viện trợ không hoàn lại. Nghĩa là mỗi năm cần thực hiện khoảng 1,8 tỷ USD. Bảng dưới đây

    55

    cũng cho thấy kết quả đạt được trong 2 năm qua còn khá thấp so với yêu cầu đề ra.

    Bảng 11: Cam kết và giải ngân vốn ODA 1993-2002 tại Việt Nam (tỷ USD quy tròn)

    Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
                         
    Cam 1,81 1,94 2,26 2,43 2,40 2,20* 2,1** 2,4 2,4 2,5
    kết                    
    Giải 0,41 0,72 0,74 0,90 1,00 1,24 1,35 1,65 1,50 1,53
    ngân                    

    Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.

    • Chưa kể 0,5 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế
    • Chưa kể 0,7 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế

    Trong thời gian qua ODA được dùng vào việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng cơ sở quan trọng ở Việt Nam, việc xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội là yêu cầu cấp bách, nhưng nguồn vốn trong nước chỉ có thể đáp ứng 40%, vì vậy ODA chủ yếu để đầu tư cho hạ tầng kinh tế- xã hội, điều này cũng phù hợp với định hướng của các nước và tổ chức tài trợ

    2.1.2.Cơ cấu vốn và dự án ODA theo nhà tài trợ :

    Hiện nay có hơn 20 nước và tổ chức quốc tế cung cấp ODA cho Việt Nam, nhưng trên 80% tổng giá trị hiệp định tập trung vào 3 nhà tài trợ lớn là Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu A (ADB) và Nhật Bản. Chẳng hạn, trong tổng giá trị hiệp định ký kết năm 2002 là 1.574 triệu USD thì Ngân hàng thế giới chiếm hơn 499,5 triệu USD, Ngân hàng phát triển châu A chiếm hơn 264 triệu USD và Nhật Bản chiếm trên 536 triệu USD. Trong những năm qua rất nhiều công trình quan trọng đã được xây dựng nhờ vốn của ODA, gây dấu ấn đậm nét như :

    -Cầu Mỹ Thuận ( ODA của Australia )

    56

    -Cầu Sông gianh (ODA của Pháp )

    -Nâng cấp quốc lộ 1A (ODA của WB và ADB )

    Trong hơn 10 năm qua Nhật Bản luôn là nhà tài trợ lớn nhất. Điều đặc biệt là khối lượng ODA cam kết hàng năm của Nhật Bản cho Việt Nam tăng đều đặn, kể cả trong những năm nền kinh tế Nhật bản gặp khó khăn, buộc phải cắt giảm tài trợ cho các nước khác. Theo thoả thuận giữa hai nước, ODA Nhật Bản tập trung vào 5 lĩnh vực chủ yếu sau đây : phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế, trong đó chú trọng hỗ trợ Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường; hỗ trợ xây dựng và cải tạo các công trình điện và giao thông vận tải; hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển cơ sở hạ tầng

    • nông thôn và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo và y tế; hỗ trợ bảo vệ môi trường.

    Số vốn ODA lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng hơn cả vẫn là các khoản tín dụng ưu đãi. Tính đến nay, Chính phủ Việt nam đã ký với Chính phủ Nhật Bản trên 60 hiệp định vay tín dụng với tổng trị giá trên 600 tỷ Yên, tương đương trên 5 tỷ USD để triển khai thực hiện trên 30 công trình và chương trình phát triển kinh tế lớn của Việt Nam.

    2.1.3.Dự án ODA theo ngành, lĩnh vực :

    -Về năng lượng, có những dự án xây dựng nhiệt điện Phú Mỹ 1, nhiệt điện Phả lại 2 nhiệt điện Ô Môn, thuỷ điện Đại Ninh, cụm thuỷ điện Hàm Thuận-Đa Mi, phục hồi thuỷ điện Đa Nhim và nhiệt điện Cần Thơ, cải tạo và mở rộng nhà máy nhiệt điện Uông Bí…

    -Về giao thông vận tải, có những dự án phục hồi và xây mới các cầu lớn trên quốc lộ 1, nâng cấp cảng Hải Phòng, xây dựng cảng nước sâu Cái Lân, mở rộng cảng Đà Nẵng, nâng cấp quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 18, xây dựng cầu Bính, cầu Thanh Trì, cầu Cần Thơ, thay thế những cầu yếu đường sắt Thống Nhất, xây dựng hầm đường bộ đèo Hải Vân, nâng cấp hệ thống giao

    57

    thông đô thị Hà Nội, xây dựng hạ tầng đô thị Hà Nội, xây dựng đường Đông-Tây Tp. Hồ Chí Minh, xây dựng hệ thống thông tin cứu hộ ven biển, xây dựng hệ thống viễn thông nông thôn 10 tỉnh miền trung, Đài truyền hình trung ương, xây dựng nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất…

    -Về cấp thoát nước, có những dự án xây dựng hệ thống thoát nước Hà Nội, xây dựng hệ thống cấp nước tại tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, thực hiện chương trình phục hồi và nâng cấp đường, cơ sở cấp nước và cơ sở phân phối điện tại các vùng nông thôn…

    -Về nông nghiệp, có 33 dự án với tổng vốn ODA khoảng 700 triệu USD, trong đó có những dự án lớn, như “trương trình di dân và kinh tế mới” (300 triệu USD), phát triển dâu tằm tơ (120 triệu USD). Thuỷ lợi có 41 dự án với khoảng1,5 tỷ USD, trong đó dự án quy mô lớn nhất là Cửa Đạt ở Thanh Hoá (200 triệu USD), Thuỷ lợi Tả Trạch ở Thừa Thiên-Huế (170 triệu USD), hệ thống kênh mương cấp 2 ở Đồng bằng sông Cửu long(120 triệu USD)…Lâm nghiệp có 15 dự án với tổng vốn trên 400 triệu USD. Thuỷ sản có 15 dự án với khoảng 600 triệu USD. Giáo dục – đào tạo có 24 dự án với 400 triệu USD, lớn nhất là trang bị Đại học quốc gia Hà Nội (75 triệu USD).

    -Lĩnh vực y tế – xã hội có 42 dự án với khoảng 1 tỷ USD. Văn hoá thông tin có 11 dự án với khoảng 300 triệu USD, lớn nhất là tháp truyền hình Hà Nội (133 triệu USD). Lĩnh vực khoa học- công nghệ – môi trường có 35 dự án với trên 1,5 tỷ USD, lớn nhất là khu công nghệ cao Hoà lạc (480 triệu USD), xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn, các cơ sở sử lý chất thải (200 triệu USD). Trong bưu chính viễn thông có 5 dự án với khoảng 450 triệu USD, lớn nhất là cáp quang biển trục Bắc-Nam (200 triệu USD), mạng cáp nội hạt các tỉnh(100 triệu USD)…Ngoài ra còn có hàng chục dự án hỗ trợ kỹ thuật cho các ngành, lĩnh vực, mỗi dự án có vốn đầu tư từ 10 triệu USD trở xuống..

    58

    2.2. Đánh giá kết quả ODA đem lại cho Việt Nam :

    Cùng với nguồn vốn FDI, nguồn vốn ODA là một kênh vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với Việt Nam. Tính đến hết năm 2002 tổng vốn ODA cam kết giành cho Việt Nam là 22,43 tỷ USD. Tổng số vốn cam kết được giải ngân là 49% tương đương 11,04 tỷ USD. Kể từ năm 1993 đến nay đã diễn ra

    • lần Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế. Qua các lần hội nghị, số vốn cam kết giành cho Việt Nam mỗi năm một tăng. Song, điều có ý nghĩa hơn là số vốn được hợp thức hoá bằng các hiệp định ký kết giữa đại diện Chính phủ Việt Nam với các đại diện các nhà tài trợ. Đặc biệt Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ quốc tế diễn ra hồi tháng 12 năm 2002 tại Hà Nội đã cam kết tiếp tục dành cho Việt Nam khoản ODA trị giá 2,5 tỷ USD (bao gồm vốn vay và viện trợ không hoàn lại), được Bộ kế hoạch và đầu tư đánh giá là đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay.

    Trong thời gian qua nguồn vốn ODA không những góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam mà còn tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Nhiều dự án đã được thực hiện bằng nguồn vốn ODA như các dự án phát triển ngành năng lượng, giao thông vận tải, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn. Các dự án này đã làm thay đổi đáng kể “bộ mặt“ của đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và tạo ra hàng vạn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó công tác đào tạo cán bộ bằng nguồn vốn ODA cũng đạt được những kết quả tốt đẹp. Hàng ngàn cán bộ, chuyên gia của Việt Nam đã được đào tạo, hướng dẫn tiếp thu công nghệ kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

    59

    CHƯƠNG 3

    CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ.

    I.Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá

    1.Cơ hội đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, các hoạt động xuất khẩu, liên doanh, đầu tư ra nước ngoài đã trở thành những yếu tố chi phối, quyết định khả năng tồn tại và phát triển của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư ra nước ngoài là một trong những điều kiện chủ yếu để các công ty xuyên quốc gia thực hiện việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ để kéo dài chu kỳ kỹ thuật, chu kỳ sản phẩm nhằm tiếp tục thu được lợi nhuận

    60

    cao nhưng đồng thời vẫn có điều kiện để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả. Do đó hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nước công nghiệp phát triển có xu hướng tăng lên. Đây là một cơ hội tốt cho nước ta trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Việt Nam bắt đầu thu hút đầu tư nước ngoài muộn hơn các nước trong khu vực từ một đến hai thập kỷ. Như vậy, qua những hoạt động thu hút đầu tư của các nước này nước ta có thể có được những bài học kinh nghiệm cho mình vì nước ta có những nét tương đồng với các nước trong khu vực về văn hoá, địa lý….Và, đây cũng là điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư từ các nước trong khu vực đến đầu tư tại Việt Nam.

    Việt Nam đã tạo ra được một sự ổn định về chính trị, xã hội, giữ vững được nền an ninh quốc phòng, giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài có được tâm lý tin tưởng, yên tâm về sự an toàn trong hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, tài nguyên thiên nhiên Việt Nam rất phong phú và đa dạng, bao gồm đất đai, khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển. Theo đánh giá của các nhà đầu tư, Việt Nam có một vị trí địa-kinh tế khá thuận lợi. Vị trí của Việt Nam nằm trên các đường hàng không và hàng hải quốc tế quan trọng. Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không những cho nền kinh tế Việt Nam mà cả các quốc gia lân cận, đặc biệt là vùng Tây Nam lục địa Trung Hoa. Vị trí địa lý của Việt Nam tạo khả năng phát triển các hoạt động trung chuyển, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hoá qua các khu vực lân cận. Do đó nếu đầu tư vào Việt Nam các nhà đầu tư không những tiếp cận được nhu cầu của một thị trường hơn 80 triệu dân ở nước sở tại mà còn là địa bàn để cung cấp hàng hoá cho một số thị trường của các nước lân cận. Sự thuận lợi về vị trí địa lý là một tài nguyên vô hình và nó cũng là vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm trong việc tìm kiếm thị trường để đầu tư.

    61

    Lực lượng lao động của Việt Nam rất dồi dào, có trình độ học vấn trung bình tương đối cao, có nhiều khả năng tiếp thu kiến thức tiên tiến và có nhiều sáng tạo. Trong điều kiện trình độ của nền sản xuất như hiện nay thì về cơ bản người lao động Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư và giá nhân công tương đối rẻ. Mặt bằng tiền lương của Việt Nam nhìn chung thấp hơn so với các nước trong khu vực. Đây cũng là một trong những lợi thế cạnh tranh của nước ta trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Với đường lối đúng đắn, Việt Nam đã giành được sự thành công nhất định trong việc thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập. Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước phát triển khả quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Việt Nam cũng đã tạo ra một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế rộng rãi và tương đối có hiệu quả. Vị thế của Việt Nam trên thế giới, ngày càng được củng cố, cải thiện và tăng cường về nhiều mặt. Bên cạnh đó nước ta cũng đã xác định đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thành phần bình đẳng trong tổng thể các thành phần của nền kinh tế Việt Nam. Sự đánh giá cao và nhất quán này là yếu tố tạo thêm sức hấp dẫn về môi trường đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư trên thế giới.

    2.Thách thức đối với Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hoá:

    Tiềm lực của Việt Nam được coi là có nguồn nhân lực lớn nhưng chất lượng không cao , không đồng đều. Ngoài ra, thói quen làm ăn manh mún của người Việt Nam vẫn còn, tính kỷ luật chưa cao do đó khó phát huy được lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp nhận khoa học- công nghệ và các nguồn lực khác có sẵn từ bên ngoài để đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nước ta chưa có quy hoạch đào tạo một cách có hệ thống cho hoạt

    62

    động kinh tế đối ngoại-nhất là cho lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó phần đông số cán bộ Việt Nam tham gia quản lý trong các liên doanh còn bất cập về trình độ cũng như năng lực so với yêu cầu của cương vị mà họ đang đảm nhận. Hay nói cách khác, hiện chúng ta đang rất thiếu những nhà doanh nghiệp giỏi (có trình độ, khả năng và kinh nghiệm trong tổ chức quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài) và những công nhân kỹ thuật lành nghề.

    Sức cạnh tranh quốc tế của Việt Nam nhìn chung còn thấp, trong khi đó, Việt Nam phải cạnh tranh ngay từ đầu với các đối thủ mạnh hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn. Trong tình hình cấp thiết về nhu cầu vốn đầu tư hiện nay trên thế giới, nhất là các công trình lớn, kỹ thuật cao, các nước xung quanh đã nhận thức được ngay nguy cơ “đói vốn ”, họ kiên quyết và nhạy bén trong việc thay đổi chính sách, làm thông thoáng môi trường đầu tư, để cạnh tranh gay gắt với các nước đang phát triển khác trong đó có Việt Nam. Các nước cạnh tranh đáng chú ý nhất hiện nay trong khu vực là Trung Quốc, Ân Độ, Thái Lan, Philipin.

    Các điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài còn rất thiếu, yếu và lạc hậu. Chẳng hạn, chúng ta đang rất thiếu vốn trong nước để tham gia, đối ứng với các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi đó thị trường vốn vừa yếu, vừa thiếu đồng bộ, các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ còn rất lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại. Việt Nam là một trong những nước có thu nhập bình quân đầu người thuộc vào loại thấp trong khu vực. Nhưng giá đất và các dịch vụ sinh hoạt khác thuộc vào loại cao. (ví dụ : Một cú điện thoại gọi từ Hà Nội đi Washington D.C mất khoảng 3 USD/phút, trong khi đó gọi từ Washington D.C về chỉ mất 0,75 USD/phút) Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thu của các Công ty cung ứng dịch vụ Internet mức phí vào loại cao

    63

    nhất thế giới. Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang tiếp tục có những điều chỉnh giá cả các dịch vụ trên để có thể cạnh tranh với các nước khác trong khu vực.

    Theo thống kê, Việt Nam hiện có hệ thống đường bộ cũ kỹ, với khoảng 105000 km, chỉ một phần tư trong số đó được trải nhựa, nhưng lại không được bảo trì tốt. Hệ thống đường sắt dài khoảng 2600 km cũng cần phải được nâng cấp. Khoảng 87% tổng chiều dài đường sắt có chiều ngang hẹp (1m). Nhiều đầu tầu đã vượt tuổi thọ tối đa. Hệ thống đường thuỷ mà tàu bè có thể chạy được là 17700km. Trong số đó, chỉ có 5149km có thể chạy vào mọi thời điểm bởi tầu bè cần một độ sâu tối thiểu của nước là 1,8 m. Như vậy, điều kiện cơ sở hạ tầng của Việt Nam so với các nước trong khu vực còn thấp, đây là một trong những bất lợi của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.

    Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến hệ thống ngân hàng ở nước sở tại. Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam còn trong giai đoạn non trẻ và phải đối mặt với nhiều vấn đề : vốn còn ít, nợ khó đòi, nợ nần nhiều và quản lý kém hiệu lực. Ngoài ra, đồng nội tệ không chuyển đổi được, trong khi số lượng ngoại tệ còn rất hạn chế. Hầu hết mọi giao dịch kinh doanh đều thực hiên bằng tiền mặt, vì thẻ tín dụng chưa được chấp nhận rộng rãi. Chính phủ Việt Nam đã cho phép ấn hành chi phiếu từ năm 1997, nhưng do còn nhiều thủ tục nên nhiều khi chi phiếu không sử dụng được. Một hạn chế nữa là chi phiếu chỉ có giá trị trong vòng 15 ngày. Việc kiểm soát quá mức và tình trạng còn sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã làm khách hàng gặp khó khăn trong việc sử dụng chi phiếu và các dịch vụ ngân hàng để cất gửi số tiền của mình

    -Thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam là cao so với mức thuế trong khu vực và thế giới. Đối với người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam mà có thu nhập

    64

    hàng năm khoảng 25700USD-43000USD, thì thuế suất thu nhập cá nhân là 40%. Đối với những khoản thu nhập hàng năm vượt quá 43000USD, thuế suất áp dụng là 50%. Trong khi đó ở Thái Lan thuế suất 30% được áp dụng cho mức thu nhập cá nhận từ 25000 USD-102000USD và 37% cho thu nhập trên 102000USD. Hơn nữa, hệ thống thuế ở Thái Lan cho phép khấu trừ thuế theo trợ cấp cá nhân. Thuế suất thu nhập cá nhân của Trung Quốc còn thấp hơn cả Thái Lan

    Nhiều nhà đầu tư lớn cho rằng môi trường đầu tư ở Việt Nam mới bắt đầu khai phá, khả năng làm ăn lớn, nhưng trước mắt, độ rủi ro cao hơn các nước xung quanh do dung lượng thị trường còn hạn chế, thủ tục hành chính còn rườm rà, tệ quan liêu tham nhũng vẫn còn nhiều, luật pháp và chính sách chưa ổn định, các chính sách đôi khi chưa được nhất quán. Bên cạnh đó,chế độ thuế ở Việt Nam còn rắc rối, sân chơi giữa các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp nước ngoài chưa được bình đẳng.

    II.Các giải pháp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

     1.Nhóm giải pháp chung :

    1.1/Đổi mới về quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài:

    Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải luôn giữ vững kỷ cương pháp luật, thực hiện nhất quán các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trước mắt, chính phủ cần phải rà soát và sửa đổi các quy định và trình tự hình thành, thẩm định, phê duyệt dự án (kể cả nội dung, quy trình, thành phần hội đồng thẩm định), trong đó đặc biệt lưu ý và xem xét lại thủ tục cấp đất, xây dựng, thuế theo hướng đơn giản hoá về hành chính, chặt chẽ về luật pháp, rút ngắn thủ tục, thời gian gắn với việc tăng hiệu quả kinh tế-xã hội. Chỉ có quyết tâm cải cách theo hướng này chúng ta mới có thể giành lại các ưu thế và cạnh tranh được với các nước trong khu vực để thu

    65

    hút vốn nước ngoài phục vụ cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

    -Tinh giản bộ máy quản lý, đơn giản hoá các thủ tục hành chính. Điều này không chỉ là những thủ tục liên quan đến việc cấp phép đầu tư như các loại giấy tờ và thời gian xét duyệt mà bên cạnh đó là cả một hệ thống liên quan đến thuê đất, thủ tục xuất nhập khẩu, thủ tục về thuế và hải quan. Đây là những vấn đề mà đầu tư nước ngoài sẽ gặp phải khi triển khai thực hiện dự án đã được cấp phép. Việc thanh tra, kiểm tra của các cơ quan Nhà nước đối với doanh nghiệp phải theo đúng chức năng, đúng thẩm quyền và đúng luật pháp.

    • Quán triệt cơ chế “một cửa, một dấu”, thực hiện nghiêm túc tinh thần quản lý văn minh hiện đại đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng một quy chế thống nhất để phát huy vai trò quản lý Nhà nước của các cơ quan chức năng, khắc phục một số biểu hiện của tệ chồng chéo, phân tán và kém hiệu lực vẫn còn tồn tại hiện nay. Cần phải kiên quyết loại bỏ những ràng buộc bởi quan niệm cũ, sự quan liêu của bộ máy điều hành. Sự nửa vời, chắp vá sẽ làm mất cơ hội phát triển, và sau nữa là khiến Chính phủ thụ động chạy theo giải quyết những đòi hỏi cục bộ từ phía các doanh nghiệp -Cần có những chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với các dự án đầu tư vào các lĩnh vực và địa bàn có điều kiện ưu tiên phát triển, phù hợp với quy hoạch và nhu cầu của nước ta. Mặt khác, cần dứt khoát thống nhất về các chủ trương đầu tư nước ngoài, để phù hợp với các mục tiêu chung của đất nước, xây dựng chiến lược quy hoạch cơ cấu phải do Chính phủ trung ương lãnh đạo điều hành, dù thực hiện phân cấp, phân quyền nhưng vẫn phải đảm bảo mục đích đại cục của chiến lược phát triển quốc gia, chấm dứt hẳn tình trạng cát cứ, phân tán, địa phương, có lúc tuỳ tiện chấp nhận hay không chấp nhận việc xây dựng các xí nghiệp được đầu tư trên địa bàn mình. Điều này là cần

    66

    thiết cho vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thực hiên mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hướng mạnh về xuất khẩu

    1.2/ Phát triển cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh và trong cuộc sống:

    So với các nước trong khu vực, cơ sở hạ tầng của Việt nam chưa phát triển. Như vậy, nâng cấp cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư và tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Do đó Việt Nam cần có chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng. Cụ thể đó là: tiến hành nâng cấp hệ thống đường bộ, đường thuỷ và đường sắt, mở rộng thêm các đường bay trực tiếp quốc tế, đảm bảo ổn định nguồn điện, nước cho các đơn vị kinh tế, xây dựng hệ thống kho bãi với số lượng, quy mô và tiêu chuẩn kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất và phân phối của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, thông tin, bưu điện là nhu cầu không thể thiếu được trong các hoạt động điều hành kinh doanh và trong cuộc sống của các nhà đầu tư nước ngoài. Bởi thế, việc xây dựng một hệ thống thông tin bưu điện đạt chất lượng cao là một trong những biện pháp ưu tiên phát triển hàng đầu để tăng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng đòi lượng kinh phí rất lớn và thời gian thu hồi vốn đầu tư dài. Vì vậy Nhà nước Việt Nam cần huy động các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nhận viện trợ, vay nợ chính phủ (ODA) hoặc khuyến khích đầu tư tư nhân (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) tham gia dưới hình thức BOT, BT.

    -Tích cực chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc liên quan đến đất đai sử dụng trong kinh doanh thuộc khu vực đầu tư nước ngoài. Hiện nay, nhìn chung giá thuê đất của nước ta đã cao hơn các nước xung quanh, đất cho thuê lại chưa được chuẩn bị các điều kiện hạ tầng (đường sá, điện nước, mặt bằng) việc đền bù, giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề nan giải, tốn kém

    67

    thời gian và tiền bạc cho các nhà đầu tư, thậm chí làm cho một số dự án không thể triển khai, thực hiện được hoặc làm các dự án đi lệch khá xa khỏi dự tính ban đầu về kế hoạch sản xuất kinh doanh. Hậu quả của nó là khó quy trách nhiệm của sự thua lỗ hay đình đốn trong điều hành, thực thi các kế hoạch sản xuất kinh doanh về một nguyên nhân, hay đối tượng cụ thể nào. Trong thời gian tới, các vấn đề về đất đai cần phải sớm được khắc phục từ khâu văn bản chỉ đạo, biện pháp quản lý, phối hợp các ngành, phương án di dời dân một cách hiệu quả để các nhà đầu tư có thể nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư nước ngoài. Uỷ ban nhân dân địa phương cần kiên quyết hơn nữa trong việc tổ chức cưỡng chế thực hiện việc giải phóng mặt bằng các trường hợp đã được đối xử theo đúng chính sách và quy định của Nhà nước nhưng vẫn không chấp hành.

    1.3/ Điều chỉnh lại chế độ thuế cho phù hợp và dễ thực hiện

    Trong thời gian qua Việt Nam đã có những ưu đãi về thuế để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài như miễn thuế nhập khẩu máy móc, nguyên liệu. Tuy nhiên, do chế độ thuế hiện nay của Việt Nam còn rắc rối và việc áp dụng chưa đồng nhất Nhà nước Việt Nam cần cải cách hệ thống thuế cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và các cam kết quốc tế, cần áp dụng hệ thống thuế chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sản xuất phụ tùng, linh kiện, cần có một chính sách thuế phù hợp : cho phép các dự án sản xuất nguyên liệu phụ trợ phục vụ hàng xuất khẩu được hưởng ưu đẵi tương tự như các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, ngoài ra cần bảo hộ hợp lý đối với một số sản phẩm quan trọng.

    68

    Hiện nay thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam còn cao so với các nước trong khu vực do đó Việt Nam nên giảm thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài để tạo khả năng cạnh tranh với các nước khác trong thu hút đầu tư. Theo các nhà đầu tư thì cần giảm thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thuế giá trị gia tăng cho nguyên liệu nhập khẩu không sản xuất được trong nước và cho phép khấu trừ thuế đối với lãi phải trả cho những khoản mà doanh nghiệp vay.

    1.4/ Đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài :

    Công tác đào tạo cán bộ kinh tế đối ngoại nói chung và trong lĩnh vực đầu tư phát triển nói riêng trong thời đại kinh tế tri thức phát triển là một nhiệm vụ chủ chốt. Các cơ quan chức năng cần tích cực khuyến khích các hình thức truyền bá kiến thức, công nghệ của nước ngoài ở Việt Nam. Ví dụ bằng cách sử dụng tài trợ khoa học kỹ thuật của các chương trình ODA, có thể tiếp nhận chuyên gia, tổ chức đào tạo ngắn hạn trong, ngoài nước, tổ chức hội thảo để nâng cao trình độ nghiệp vụ của người lao động Việt Nam. Để tăng cường khả năng thu hút đầu tư nước ngoài đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư Nhà nước Việt Nam cần chú trọng tăng cường công tác cán bộ và đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức đối với cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài, cán bộ quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thường xuyên tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, luật pháp cho cán bộ Việt Nam hiện nay đang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, tổ chức đào tạo công nhân lành nghề làm việc cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trước hết là phục vụ cho các khu công nghiệp lớn đáp ứng nhu cầu về nhân lực của các nhà đầu tư. Ngoài ra Nhà nước cần có những quy định về những điều kiện phải có đối với cán bộ Việt Nam tham

    69

    gia Hội đồng quản trị và quản lý các doanh nghiệp liên doanh, quy định cụ thể tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi của những người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam cần thực hiện “chiến lược con người”: tranh thủ đào tạo nguồn nhân lực khoa học-công nghệ trong nước, nhất là nhân lực có trình độ cao, đa dạng hoá, đa kênh hoá các hình thức đào tạo, huy động các nguồn vốn bên ngoài cũng như trong nước, kể cả ngân sách hoặc tín dụng của Nhà nước. Xây dựng văn hoá tổ chức, văn hoá trong hoạt động khoa học, công nghệ để góp phần cho sự thành công của nền kinh tế tri thức trong thời đại mới. Đó là những yếu tố như đầu óc rộng mở cho sự đổi mới và sáng tạo; sự sẵn sàng và kỹ năng hợp tác để đổi mới, sáng tạo và phát triển, đồng thời khắc phục được những đặc điểm bất lợi có tính tiểu nông, cản trở việc hợp tác đầu tư có hiệu quả trong tâm lý của người Việt Nam mà lâu nay nhiều học giả vẫn nói đến.

    1.5/ Đổi mới về nội dung và phương thức vận động xúc tiến đầu tư :

    Đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư thông qua các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các diễn đàn quốc tế, các hoạt động hợp tác xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ hợp tác AIA, ASEAN, APEC, ASEM, các cuộc hội thảo về đầu tư ở trong và ngoài nước; sử dụng tổng hợp các phương tiện xúc tiến đầu tư qua truyền thông đại chúng, tiếp xúc trực tiếp, mạng Internet.

    Hoàn thiện hệ thống thông tin về đầu tư nước ngoài. Mở rộng tuyên truyền đối ngoại trên cơ sở sử dụng thông tin hiện đại. Đẩy mạnh hoạt động của trang web về đầu tư trực tiếp nước ngoài để phục vụ việc cung cấp thông tin cập nhật về chủ trương, chính sách pháp luật về đầu tư, giới thiệu các dự án kêu gọi đầu tư, biểu dương những dự án thành công….

    70

    Triển khai các chương trình xúc tiến đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tượng cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ nguồn. Căn cứ vào Danh mục dự án quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài, chuẩn bị kỹ một số dự án đầu tư quan trọng, lựa chọn, mời trực tiếp một vài tập đoàn lớn trong ngành, lĩnh vực đó vào để đàm phán, tham gia đầu tư vào các dự án.

    Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách đầu tư ra nước ngoài của các nước các tập đoàn và công ty lớn từ đó có chính sách thu hút đầu tư cho phù hợp. Ngoài ra các cơ quan chức năng cần nghiên cứu luật pháp, chính sách, biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực để có đối sách thích hợp tạo khả năng cạnh tranh với các nước này.

    2.Giải pháp riêng đối với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào

    Việt Nam :

    2.1/ Nghiên cứu xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển theo đúng định hướng của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Cụ thể đó là :

    2.1.1.Mở rộng thêm điều kiện chuyển nhượng vốn cho các bên tham gia liên doanh vì theo các nhà đầu tư nước ngoài việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh còn bị hạn chế và điều này gây trở ngại đối với việc đầu tư.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, hình thức pháp luật của công ty liên doanh là một công ty trách nhiệm hữu hạn chứ không phải là công ty cổ phần do đó thiếu tự do trong việc chuyển nhượng vốn góp trong các công ty liên doanh. Để bán toàn bộ hay một phần vốn góp của mình cần phải có ssự

    71

    cho phép trước của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư. Điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của các nhà đầu tư và kìm hãm đầu tư. Để khắc phục tình trạng này Nhà nước Việt Nam có thể cho phép việc chuyển nhượng vốn giữa các đối tác nước ngoài không cần phải có giấy phép của Cơ quan cấp giấy phép đầu tư mà chỉ cần khai báo với cơ quan này và nếu sau một số ngày mà không có ý kiến phản đối thì mặc nhiên được coi như việc chuyển nhượng được chấp nhận.

    2.1.2. Xem xét lại nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị của doanh nghiệp liên doanh.

    Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Hội đồng quản trị cần phải có sự nhất trí của toàn thể thành viên mới có thể thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo. Điều này làm cho các nhà đầu tư lo ngại vì quyền phủ quyết của mỗi thành viên hội đồng quản trị có thể làm cho công ty liên doanh lâm vào bế tắc. Do đó Việt Nam cần cho phép thông qua những vấn đề liên quan đến ngân sách, vay nợ, thay đổi điều lệ, duyệt quyết toán tài chính hàng năm và bổ nhiệm lãnh đạo mà không cần sự nhất trí của toàn thể thành viên hội đồng quản trị.

    2.1.3. Cho phép thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực thay vì chỉ hoạt động trong một lĩnh vực nhất định.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam thì các nhà đầu tư không được thành lập các doanh nghiệp đa mục đích hay đa dự án. Như vậy các nhà đầu tư phải thành lập một thực thể pháp luật đối với mỗi dự án do đó việc xin phép đầu tư và chi phí thành lập sẽ phải tăng lên rất nhiều. Bên cạnh đó các dự án đầu tư sẽ bị chậm trễ vì các dự án này chỉ có thể triển khai sau khi có Giấy phép đầu tư. Để giải quyết vấn đề này Chính phủ Việt Nam cần cho phép các nhà đầu tư thành lập liên doanh hoạt động trong nhiều lĩnh vực

    72

    vì điều này sẽ làm giảm chi phí và thời gian cho các nhà đầu tư trong việc thành lập và triển khai các dự án, ngoài ra nó cho phép củng cố các kết quả đã đạt được ở các dự án khác nhau cùng thực thể bằng cách lấy phần lợi nhuận ở một số hoạt động để bù đắp về mặt thuế khoá cho phần lỗ ở các hoạt động khác.

    2.2/ Đa dạng hoá các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới.

    Thực hiện các hình thức đầu tư như công ty hợp danh, công ty quản lý vốn. Mở rộng lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cho phép doanh nghiệp có vốn đầu trực tiếp nước ngoài được chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này được đăng ký tại thị trường chứng khoán. Cho phép nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài được đầu tư vào dịch vụ nhập khẩu, dịch vụ phân phối trong nước. Thu hẹp danh mục hàng hoá không thuộc đối tượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài mua để xuất khẩu.

    2.3/ Hoàn thiện chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Tiến hành cải cách chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Ban hành các quy định hướng dẫn các nghị quyết của Chính phủ về đảm bảo vay vốn, cầm cố thế chấp, bảo lãnh đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

    Cải tổ lại hệ thống ngân hàng tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động đầu tư . Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép bán sản phẩm dịch vụ tại thị trường Việt Nam bằng ngoại tệ và được mua ngoại tệ nếu số ngoại tệ này dùng để nhập khẩu nguyên liệu hoặc để chuyển lợi nhuận về nước.

    73

    2.4/ Giải quan trọng để tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đó là cần phải đảm bảo sự ổn định về chính trị-xã hội.

    Giữ vững sự ổn định về chính trị có ý nghĩa quyết định đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vì nếu chính trị không ổn định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi của các mục tiêu, sự thay đổi phương thức để đạt được mục tiêu đó. Các nhà đầu tư nước ngoài thường lấy mức độ ổn định chính trị-xã hội, tính nhất quán và bền vững trong các chính sách của nước nhận đầu tư để xác định hệ số an toàn, cũng như khả năng sinh lời của đồng vốn mà họ bỏ ra đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đầu tư hoặc nếu đã có các dự án đầu tư, thì họ sẵn sàng rút vốn khỏi các quốc gia có tình hình chính trị không ổn định, các chính sách hay biến động và thiếu nhất quán. Các nhà đầu tư chỉ muốn đầu tư ở những quốc gia có điều kiện để thực hiện các cam kết với độ tin cậy cao.

    2.5. Tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí một giá áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước ngoài.

    đầu tư và tiến tới chế độ nước và đầu tư trực tiếp

     

    Nhà nước Việt Nam cần giảm giá đất và các dịch vụ tiện ích để có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực do hiện nay giá đất và các dịch vụ tiện ích

    • Việt Nam cao hơn các nước này. Bên cạnh đó Nhà nước Việt Nam cần tạo cơ hội bình đẳng như nhau cho mọi khu vực Nhà nước, tư nhân và nước ngoài như xoá bỏ độc quyền đối với điều kiện xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp nhà nước, tiến hành cơ chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp đều có cơ hội ngang nhau trong hoạt động kinh doanh.

    3.Những bài học kinh nghiệm và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA tại Việt Nam:

    Nhà tài trợ nước ngoài đòi hỏi vốn ODA của họ phải được sử dụng đúng mục đích, đúng chỗ, đúng người thụ hưởng. Vì vậy muốn dùng được vốn

    74

    của họ thì bản thân nước nhận tài trợ, hoặc ngành, địa phương được thụ hưởng không những cần phải chuẩn bị tốt dự án, các dự án phải đủ tính thuyết phục, có tính khả thi, nhất là có đủ vốn đối ứng cần thiết, mà còn phải tiếp cận và vận dụng được các cơ chế đó, nghĩa là phải hội nhập “luật chơi” của từng nhà tài trợ.

    Trong việc sử dụng ODA, kinh nghiệm của thế giới cho thấy thường xảy ra các trường hợp cần phải lường trước, để quản lý có hiệu quả – đó là các vấn đề: chính phủ không kiểm soát được các mục tiêu ưu tiên, lãng phí trong sử dụng và bố trí nguồn vốn phân tán, tăng thêm gánh nặng nợ nước ngoài, giảm tính tự lực và tăng tham nhũng. Do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA, trong năm 2001 Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định 17/2001NĐ-CP về quản lý và sử dụng vốn ODA và Quyết định 64/2001/QĐ-TTg về quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Nhờ đó, việc phân cấp thẩm định và phê duyệt các chương trình, dự án ODA đã được mở rộng.

    Đối với Việt Nam trong đầu tư bằng ODA, phải đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, dùng nhiều vốn ưu tiên cao cho việc tạo ra các tài sản cố định, góp phần làm tăng trưởng nhanh GDP. Dùng vốn vay ưu đãi cho công trình cơ sở hạ tầng kinh tế, dùng vốn không hoàn lại cho các công trình hạ tầng phúc lợi công cộng xã hội

    Các quốc gia nhận ODA chủ yếu nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng trong trường hợp cụ thể như ở nước ta, có thể sử dụng ODA cho các công trình cá biệt như điện, phân bón… ODA nên tập trung cho ba vùng kinh tế trọng điểm, trong đó đầu tư các dự án quy mô vừa phải cho các tỉnh nghèo.

    Như vậy, để sử dụng ODA có hiệu quả, phù hợp với mục tiêu chiến lược, cần chuẩn bị và thông qua định hướng, qui hoạch cũng như chương trình, dự án ưu tiên có sẵn của nhà nước trên cơ sở cân nhắc nhiều mặt. Sau khi được

    75

    các cấp thẩm quyền Nhà nước cao nhất phê duyệt, các văn kiện này là cơ sở chung để các ngành và các địa phương thực hiện.

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    76

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I.Tài liệu bằng tiếng Việt

    1.Lê Thanh Bình: Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn cầu hoá. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002

    2.Phùng Xuân Nhạ: Đầu tư quốc tế. Nhà xuất bản Đại học quốc gia. Hà Nội,

    2001

    3.Vũ Chí Lộc: Giáo trình đầu tư nước ngoài. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội,

    1997

    4.Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội, 2001

    5.Các tạp chí như : Ngân hàng, Tài chính từ 2000 đến 2003

    6.Các báo Nhân Dân, Đầu tư, Thời báo kinh tế Việt Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn từ 1990 đến 2003

    II.Tài liệu bằng tiếng Anh

    7.Vietnam Economic Time 1999

    8.Vietnam Economic Time 2000

    9.Vietnam Investment Review 2002

    10.Vietnam Investment Review 2003

    77

    KẾT LUẬN

    Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Qua hình thức đầu tư nước ngoài nước ta đã huy động được nguồn vốn đáng kể đáp ứng được nhu cầu về vốn để phát triển kinh tế-

    78

    xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề chuyển giao công nghệ cũng như giải quyết việc làm cũng được khai thác một cách có hiệu quả. Đầu tư nước ngoài đã tạo ra hàng chục vạn chỗ làm cho người lao động Việt Nam, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động của nước ta. Nhờ có đầu tư nước ngoài chúng ta có cơ hội nắm bắt được những công nghệ khoa học tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, khả năng tổ chức sản xuất-kinh doanh của nền kinh tế thị trường hiện đại. Đặc biệt, đầu tư nước ngoài là một trong nhữnh kênh đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới tương đối có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài, nước ta không tránh khỏi những hạn chế, những tiêu cực mà đầu tư nước ngoài mang lại. Để hạn chế những tiêu cực và tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, bên cạnh việc cải cách hành chính và thể chế cần thiết để cải thiện môi trường hoạt động cho các công ty đầu tư nước ngoài, Nhà nước cần có những giải pháp khuyến khích đầu tư như chính sách thuế, điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường kinh doanh bình đẳng…Đây cũng là những giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế phù hợp với xu thế toàn cầu hoá hiện nay.

    79

    80


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]