Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E2%80%93-C%C6%A1-h%E1%BB%99i-v%C3%A0-th%C3%A1ch-th%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức

    A.LỜI NÓI ĐẦU

    Thờ i gian gầ n đây ,Bả o hiểm nhân thọ đã trở thành một chủ đề được nhắ c đế n và đã được đem ra bàn luận nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng , khen – chê đều có cả . Mặc dù Bảo hiểm nhân thọ mới được triển khai

    • Việt Nam nhưng đã có sức hấp dẫn vì vậy loại hình Bảo hiểm non trẻ này từ khi xuất hiện tới nay không ngừng tăng trưởng với tốc độ chóng mặt . Nó đem lại việc làm cho hàng chục nghìn lao động , là kênh huy động vốn hiệu qủa để đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam ….. Nhưng bên cạnh sự phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ này thì cũng còn có rất nhiều điều đòi hỏi chúng ta phải lưu tâm và cần bàn.

    Và đề hiểu rõ hơn về thị trương Bảo hiểm nhân thọ hiện nay cũng như những cơ hội, khó khăn , thách thức em đã quyết định chọn đề tài “Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – cơ hội và thách thức “ .

    Đây là một chủ đề lớn , nội dung rộng và phong phú cho nên khi thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung , vì vậy em mong rằng thày sẽ thông cảm cho những thiếu sót của em.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn PGS – TS Nguyễn Văn Định – Người đã hướng dẫn , chỉ bảo và cung cấp cho em những thônh tin quý báu để em có thể hoàn thành đề tài môn học nay.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                2

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    B. NỘI DUNG

     

    I.                   KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHNT:

    1.sự ra đời và phát triển của bhnt:

    c

    Đố i tượng tham gia của Bảo hiểm nhân thọ là r ất rộng và không có giới hạn. nó bao g ồm mọi người, mọi lứa tuổi, mọi t ầng lớp khác nhau trong xã hội. Lịch s ử ra đời củ a B ảo hiểm nhân thọ cũng rất sớm, cho đến nay nó đã được triển khai ở hầu hết các

    Hợp đồ ng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế gi ới ra đời vào năm 1583, do công dân London là ông William Gybbon tham gia. Phí b ảo hiểm ông đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết năm đó người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh

    N ăm 1759 công ty bảo hiểm ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ). Công ty này cho đế n nay vẫn còn hoạt động, nhưng lúc đầu chỉ bán bh cho các con chiên ở nhà thờ của mình. N ăm 1762, công ty bhnt Equitable ở nước Anh được thành lập và bán bhnt cho mọi người dân.

    • Châu Á, các công ty bhnt ra đời đầu tiên ở Nhật Bản. Năm 1868 công ty bh Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay.

    Các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bhnt. Công ty bhnt

    • Liên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar.

    Vi ệt Nam trước đây công ty bh Hưng-Việt ra đời vào năm 1958 đã tiến hành kinh doanh bhnt vào năm 1973.

    Xét một cách tổ ng thể thì trên thế giới, bhnt là loại hình bh phát triển nhất, n ăm 1985 doanh thu phí bhnt mới chỉ đạt 630,5 tỷ USD, năm 1989 đã lên tới 1210,2 tỷ USD và năm 1993 con số này đã lên tới 1647 tỷ USD, chiếm gần 48% tổng phí bh.

    Hiện nay có 5 thị trường bhnt l ớn nhất thế giới đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp. theo số li ệu thống kê năm 1993, thì phí bhnt của năm thị trường này được thể hiện ở bảng sau.

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
        CƠ CẤU PHÍ BHNT CỦA NĂM THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 1993
             
      Tên nước Tổng doanh thu Cơ cấu phí bảo hiểm (%)
          phí  bảo  hiểm Nhân thọ   Phi nhân thọ
          (tỷ USD)        
      1. Mỹ 522,468 41,44   58,56  
      2. Nhật 230,143 73,86   26,14  
      3. Đức 107,403 39,38   60,62  
      4. Anh 102,360 64,57   35,43  
      5. Pháp 84,303 56,55   43,65  
                     

    Nguồn: Giáo trình kinh tế bảo hiểm

    Sở dĩ BHNT phát triển rất nhanh doanh thu phí bảo hiểm ngày càng tăng bởi vì loại hình b ảo hi ểm này có vai trò rất lớn. Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không ch ỉ thể hiện trong từng gia đình và đối với từng cá nhân trong việc góp ph ần ổ n định cuộc sống, giả m bớt khó khăn v ề tài chính khi gặp các rủi ro, mà còn th ể hiện trên phạm vi toàn xã hộ i. Trên phạm vi xã hộ i, bảo hiểm nhân thọ góp ph ần thu hút vốn đầu tư n ước ngoài, huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗi nằm trong dân cư. nguồn vốn này không chỉ có tác d ụng đầu tư dài h ạn mà còn góp phần thực hành tiết kiệm chống lạm phát và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Việt Nam, Bảo hi ểm nhân thọ chính thức được triển khai từ tháng 8 năm 1996 còn trước đó chỉ là những d ự án thí đi ểm. Mặc dù nhà nước cố gắng đầu tư để phát triển lĩnh vực này trong một th ời gian nh ất định, giúp các nhà B ảo hiểm trong n ước về mặt tài chính, con người và trách nhiệm. Nhưng do sức ép quá lớn năm 1999, chúng ta phải mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân th ọ cho phép 4 công ty lớn vào Việt Nam. Và cho đến nay thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ có th ể nói là sôi động và phát tri ển nhất trong lĩnh vực Bảo hiểm với số thu phí t ăng nhanh. Bên cạnh đó là thị trường ti ềm năng lớn với số dân đông. Và có thể khẳng định chỉ một vài năm tớ i thì thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam không thua kém gì thị trường Bảo hiểm nhân thọ cuả các nước trong khu vực và thế giới.

    2. Những đặc điểm cơ bản của thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    2.1 Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro. Có thể nói đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa

    Bảo hiểm nhân thọ v ới Bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua Bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ ( gọi là phí Bảo hiểm ) cho người Bảo hiểm, người Bảo hiểm có trách nhiệm tr ả một số tiền l ớn (gọi là số tiền Bảo hiểm ) cho người được hưởng quyền lợi Bảo hi ểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện Bảo hiểm xảy ra. Số tiền Bảo hiểm

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                4

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    được trả khi ng ười được Bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nh ất định và được ấn định trong hợp đồ ng. Hoặc s ố tiền Bảo hiểm này được trả cho các thân nhân và gia đình người đượ c Bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm. Số tiền này giúp họ trang trai những chi phí cần thiết như thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái…. Chính vì vậy Bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính

    tiết kiệm vừa mang tính rủ i ro. Tính tiết kiệm được thể hi ện ngay trong từng gia đình, cá nhân một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỉ luật.

    Nội dung tiết kiệm khi mua Bảo hi ểm nhân thọ khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, ng ười Bảo hi ểm bảo đảm trả cho người tham gia Bảo hiểm hay thân nhân của họ mộ t số tiền rất l ớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người tham gia Bảo hiểm không may gặp r ủi ro trong thời hạn đ ã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền Bảo hiểm từ công ty Bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong Bảo hiểm nhân thọ.

    2.2 Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia Bảo hiểm

    Trong khi các nghiệp vụ Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia Bảo hiểm gặp s ự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia. Thì Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được nhiều mục đích, mỗi mục đích của Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn hợp đồng Bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu cho người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp ph ần ổn định cuộc sống khi họ già yếu. Hợp đồng Bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được Bảo hiểm để lại cho gia đình một s ố tiền Bảo hiểm khi họ bị tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố, như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già….Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đôi khi còn có

    vai trò như một vật thế chấp để vay vố n hoặc Bảo hiểm nhân thọ tín dụng thường bán cho các đối tượng đi vay để mua xe h ơi, đồ dùng gia đình, hoặc dùng cho các mục đích cá nhân khác… Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình Bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm.

    2.3. Các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp

    Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ được thể hiện ở ngay trong các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳ ng hạn có loại Bảo hiểm nhân thọ h ỗn hợp thời h ạn là 5 năm, 10 năm, 20 năm. mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền Bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia….Ngay cả trong một bản hợp đồng mối quan hệ giữa các

    bên cũng đa dạng và phức tạp.  
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 5
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2.4. Phí Bảo hiểm nhân thọ chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp.

    Để xác đị nh phí cho một sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ là r ất khó khăn và phức tạp bởi vì các sản phẩm này chỉ là những sản phẩm vô hình không thể nào cân đong đo đếm được do đó nó chịu tác động của rất nhiều yếu tố như.

    Tuổi thọ của người được Bảo hiểm Tuổi thọ bình quân của con người Số tiền Bảo hiểm

    Thời gian tham gia

    Phương thức thanh toán

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền Lãi suất đầu tư

    Tỷ lệ chết ……………….

    Bên cạnh đó còn có các chi phí để tạo nên sản phẩm như chi phí thiết kế sản phẩm, chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng….

    Quá trình định phí ph ải phụ thu ộc vào các yếu tố trên. Nhưng đ iều khó kh ăn và phức tạp hơn là ở chỗ đôi khi các tỷ l ệ như: tỷ lệ ch ết, t ỷ lệ lãi đầu tư, t ỷ lệ lạm phát, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng…. Đó là những tỷ lệ mà ta phải giả định để phân tích

    2.5. Bả o hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định .

    • các nước phát triển, Bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay . Ngược lại một số quốc gia cho đến nay chưa triển khai được Bảo hiểm nhân thọ mặc dù người ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó . Để lý giải vấn đề này hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng,cơ sở chủ yếu để Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát trỉên là nhờ điều kiện kinh tế phát triển .

    Những điều kiện kinh tế như :

    Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội

    Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên một đầu người Mức thu nhập của dân cư

    Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền . Tỷ lệ hối đoái ……………

    Điều kiện về dân số .

    Tuổi thọ bình quân của người dân Trình độ học vấn

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 6
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ……

    Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi tr ường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ .

    3.Các loại hình Bảo hiểm nhân thọ .

    Trong thực tế hiện nay ,có 3 loại hình Bảo hiểm nhân thọ cơ bản :

    Bảo hiểm trong trường hợp tử vong Bảo hiểm trong trường hợp sống Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

    Ngoài ra người ta còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ cơ bản như.

    Bảo hiểm tai nạn Bảo hiểm sức khoẻ

    Bảo hiểm không nộp phí khi bị thương tật Bảo hiểm cho người đón phí ……

    Thực chất các đ iều khoản bổ sung không phải là Bảo hiểm nhân thọ ,vì không phụ thu ộc vào sinh mạng ,cuốc sống và tu ổi th ọ của con người ,mà là Bảo hiểm cho các r ủi ro khác có liên quan đến con người .Nhưng đôi khi người tham gia Bảo hi ểm vẫn thấy rất cần thiết phải tham gia để bổ sung cho các hợp đồng cơ bản .

    3.1. Bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp tử vong

    Đây là loại hình phổ biến nhất trong Bảo hiểm nhân thọ và được chia thành hai nhóm .

    a.Bảo hiểm tử kỳ .

    Được ký kết Bảo hi ểm cho cái ch ết xẩy ra trong thời gian quy định của hợp đồng . Nếu cái chết không xẩy ra trong thời gian đ ó thì người được bảo hiểm không nhận đượ c bất kỳ một khoản phí nào từ số phí Bảo hiểm đã đóng . Ngược l ại ,nếu cái chết xẩy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng ,thì người Bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền Bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định .

    Đặc điểm .

    • Thời hạn Bảo hiểm xác định
    • Trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời
    • Múc phí Bảo hiểm thấp vì không phải lập lên quỹ tiết kiệm cho người được bảo hiể

    Mục đích .

    • Bảo đảm cho các chi phí mai táng ,chôn cất
    • Bảo chợ cho gia đình và người thân trong mốt thời gian ngắn
    • Thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế

    chấp của người được Bảo hiểm .

    Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoá thành các loại hình sau:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 7
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bảo hiểm tử kỳ cố định :Có mức phí Bảo hiểm và số tiền Bảo hiểm không thay đổi tróng suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng .Mức phí thấp nhất và người Bảo hiểm không thanh toán khi hết hạn hợp đồng . Hợp đồng hết hiệu lực nếu sau ngày gia hạn hợp đồng không nộp phí Bảo hiểm . Loại này chủ yếu nhằm thanh toán cho các khoản nợ tồn đọng trong trườn hợp người được Bảo hiểm bị tử vong.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục : Loại này có thể tái tục vào ngày kết thúc hợp đồng và không yêu cầu có thêm bằng chứng nào về sức khoẻ của người được Bảo hiểm , nhưng có sự giới hạn về độ tuổi (thường độ tuổi tối đa là 65 tuổi). Tại lúc tái tục , phí Bảo hiểm tăng nên vì độ tuổi của người được bảo hiểm tăng nên.

    Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi : Đây là loại hình Bảo hiểm tử kỳ cố định nhưng cho phép người được Bảo hiểm có sự lựa chọn có thể chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng đang có hiệu lực thành một hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp tại một thời điểm nào đó khi hợp đồng đang còn hiệu lực . Phí Bảo hiểm được tính dựa trên Bảo hiểm nhân thọ trọn đời hay Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ giảm dần : Đây là loại hình Bảo hiểm mà có

    một b ộ phận của s ố tiền B ảo hiể m gi ảm hàng nă m theo một mức quy định . Bộ phận này giảm tới 0 vào cuối kỳ hạn hợp đồng . Đặc điểm của loại này là:

    Phí Bảo hiểm dữ lại ở mức cố định

    Phí thấp hơn Bảo hiểm tử kỳ cố định

    Giai đoạn nộ p phí ngắn h ơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc thanh toán vào cuối thời hạn của hợp đồng khi mà số tiền bảo hiểm còn rất nhỏ .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ tăng dần :loại này được phát hành nhằm giúp người tham gia bảo hiểm có thể ngăn chặn được yếu tố lạm phát của đồng tiền . Có nghĩa là số tiền Bảo hiểm thực trong hợp đồng bị giảm do đồng tiền tụt giá trong một khoảng thời gian . Để ngăn chặn có thể:

    Tăng số tiền Bảo hiểm theo một tỷ lệ % được lập hàng năm

    Hoặc đưa ra hợp đồng ngắn hạn sau đó tái tục với một số tiền Bảo hiểm tăng dần.

    Bảo hiểm thu nhập gia đình : Loại hình Bảo hiểm này nhằm đảm bảo thu nhập cho một gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình bị chết

    .Quyền lợi bảo hiểm mà gia đình nhận được sau cái chết của người trụ cột có thể là:

    Nhận được toàn bộ (trọn gói ).

    Nhận được từng phần dần dần cho đến khi hết hạn hợp đồng.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                                 8

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nếu như ng ười được bảo hi ểm còn sống cho đến khi hết hạn h ợp đồng thì người được bảo hiểm cũng như gia đình sẽ không nhận được bất kỳ một khoản thanh toán nào từ công ty Bảo hiểm .

    Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng nên : LoạI hình Bảo hiểm này cũng nhằm tránh yếu tố lạm phát của đồng tiền . Đảm bảo các khoản thanh toán của công ty Bảo hiểm cho gia đình khi không may người được bảo hiểm bị chết , tương ưng với số tiên Bảo hiểm khi ký hợp đồng .

    Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ có đIều kiện : Điều kiện ở đây là việc thanh toán trợ cấp chỉ được thực hiện khi người được bảo hiểm bị chết , đồng thời người thụ hưởng quyền lợi Bảo hiểm được chỉ định trong hợp đồng Bảo hiểm phải còn sống .

    b.Bảo hiểm trọn đời.

    Đặc điểm :

    • Số tiền Bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết
    • Thời hạn Bảo hiểm không xác định phí Bảo hiểm có thể đóng định kỳ hay đóng một lần .
    • Phí Bảo hiểm cao hơn so với Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn . Vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xẩy ra , nên số tiền bảo hiểm chắc chắn sẽ phảI trả

    +Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là loại hình Bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt qúa trình Bảo hiểm do đó tạo nên một khoản tiết kiệm cho người thụ hưởng Bảo hiểm vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi trả số tiên Bảo hiểm .

    Mục đích:

    • Đảm bảo chi phí mai táng ,chôn cất
    • Đảm bảo thu nhập để ổn định cuộc sống cho gi đình .

    +Giữ gìn tàI sản , tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau.

    3.2. Bảo hiểm trong trường hợp sống :

    Thực chất của loạI hình Bảo hiểm này là người Bảo hiể m cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong suốt khoảng thời gian sác định hoặc trong suốt cuộc đời ngườ i tham gia Bảo hiểm . Nếu người tham gia Bảo hiểm chết trướ c ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ khoản tiền nào .

    Đặc đIểm:

    • Cấp định kỳ cho người được Bảo hiểm trong thời gian nhất định hoặc cho đến khi chết .
    • Phí Bảo hiểm đóng một lần .
    • Nếu trợ cấp định kỳ cho đến khi chết thì thời gian không xác định Mục đích :
    • Đảm bảo thu nhập cố đinh sau khi về hưu hay cao tuổi sức yếu
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 9
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +Giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cáI khi về già .

    +Bảo trợ mức sống trong suốt những năm tháng còn lạI của cuộc

    đời

    3.3.Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .

    Lo ạI hình b ảo hi ểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp người bị tử vong hay còn sống . Yếu tố tiết ki ệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãI ở hầu hết các nước trên thế giới .

    Đặc đIểm:

    • Số tiền Bảo hiểm được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực .

    +Thời hạn Bảo hiểm xác định thường là: 5 năm , 10 năm, 20 năm

    …..

    • Phí Bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời gian Bảo hiểm
    • Có thể được chia lãI thông qua đầu tư phí Bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có đIều kiện tiếp tục tham gia .

    Mục đích:

    +Đảm bảo cuộc sống cho gia đình và người thân . +Tạo lập quỹ giáo dục , hưu trí , trả nợ.

    +Dùng làm vật thế chấp để khởi nghiệp kinh doanh …..

    3.4.Các đIều khoản Bảo hiểm bổ sung .

    Khi triển khai các loạI hình Bảo hiểm nhân thọ , nhà Bảo hiểm còn nghiên cứu , đưa ra các đIều khoản bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá của khách hàng , có các đIều khoản bổ sung sau đây được vận dụng :

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm lằm viện và phẫu thuật: Có nghĩa là nhà Bảo hiểm cam kết trả các phí lằm viện và phẫu thuật khi người được bảo hiểm bị ốm đau và thương tật . Tuy nhiên , nếu người được bảo hiểm tự gây thương tích , tự tử ,mang thai và sinh nở …thì không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .

    Mục đích của đIều khoản này là nhằm trợ giúp người tham gia giảm nhen gánh nặng chi phí trong đIều trị phẫu thuật , đặc biệt là trong trường hợp ốm đau bất ngờ .

    • ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm tai nạn : Nhằm trợ giúp thanh toán chi phí trong đIều trị thương tật , từ đó bù đắp sự mất mát hoặc giảm thu nhập do bị chết hoặc thương tích của người được bảo hiểm . ĐIều khoản này có đặc đIểm là Bảo hiểm khá toàn diện các hậu quả tai nạn như : người được bảo hiểm bị tàn phế , thương tật toàn bộ , thương tích tạm thời ,tai nan sau đó bị chết . Những trường hợp tự thương , tai nạn do nghiện rượu , ma tuý … đều không được hưởng quyền lợi Bảo hiểm .
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 10
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    +ĐIều khoản bổ sung Bảo hiểm sức khoẻ : Thực chất đIều khoản Bảo hiểm này là nhà Bảo hiểm sẽ cam kết thanh toán khi người được bảo hiểm bị các chứng b ệnh hiểm nghèo như: Đau tim.

    Ung thư.

    Suy gan.

    Suy thận .

    Suy hô hấp.

    …………………..

    Mục đích tham gia Bảo hiểm ở đay nhằm có được những khoản tàI chính nhất định để trợ giúp thanh toán các khoản chi phí y tế lớn góp phần giảI quyết ,lo liệu các nhu cầu sinh hoạt trong thời gian đIều trị.

    NgoàI ra , trong một số trường h ợp các nhà Bảo hiểm đưa ra những đIểm bổ sung khác nhảutong hợp đồng Bảo hiể m của mình như: Hoàn phí Bảo hiểm , miễn thanh toán phí khi gặp tai nạn , thương tật …..nhằm tăng

    tính hấp dẫn để thu hút ngườ i tham gia .Mặc dù phí cao hơn , nhưng các hợp đồng Bảo hi ểm nhân thọ có các đIều khoản bổ sung đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tham gia .

    II-THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ .

    1.KháI niệm.

    Thị trườ ng hi ểu theo nghĩ a hẹp là sự tiếp súc giữa những người có mục đ ích giao dịch thương mạI thông qua mua bán . Như vậy thị trường là nơI có thể bán được hàng hoá và cũng là địa đIểm có thể mua được hàng hoá .

    Đứng trên góc độ là một nhà Bảo hiểm , thị trường Bả o hi ể m nhân thọ thực chất là nơI mua và bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ cũng có thể được hiểu là sự k ết hợp giữa cung và cầu sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ , trong đó , những người mua và những người bán bình đẳng, cùng cạnh tranh . S ố lượng người mua và bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường là lớn hay nhỏ .

    Dưới góc độ Marketing , thị trườ ng bao g ồm toàn bộ khách hàng hiện tạI và khách hàng tiềm năng củ a một lo ạI sản phẩm .Khách hàng hiện t ạI là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó . Khách hàng tiềm nă ng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và s ử dụ ng sản ph ẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 11
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    + Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với họ

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             12

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    2. Các bên tham gia vào thị trường Bảo hiểm nhân thọ

    Từ kháI ni ệm thị trường ở trên , th ị trườ ng Bảo hiể m nhân thọ là nơi mua và bán các các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ . Từ đó ta thấy thị trường muốn tồn tại và phát triển phải có đủ các đIều kiện sau đây :

    + Phải có người cung ứng , tức người bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ.

    • Phải có khách hàng , tức người mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ.

    2.1. Người cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ .

    Các bên tham gia vào quá trình cung ứng các sản phẩm Bảo hiểm nhân

    thọ bao gồm : Các doanh ngiệp Bảo hiểm nhân thọ , các đại lý Bảo hiểm nhân thọ ,các môI giới Bảo hiểm nhân thọ ,ngoàI ra còn có các cộng tác viên cũng tham gia vào quá trình cung ứng.

    *Doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ : Là doanh nghiệp được tổ chức và ho ạt động theo luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ .

    Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thường cung ứng các sản phẩm của mình một cách gián tiếp qua các đạI lý của công ty , qua các công ty môI giới ,các cộng tác viên , đôI khi cũng cung cẩp trực tiếp tới khách hàng ở các trụ sở , chi nhánh của mình .

    *Đại lý Bảo hiểm nhân thọ : Là tổ chức , cá nhân được doang ngiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đạI lý B ảo hiểm theo quy định của luật kinh doanh Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

    Đại lý Bảo hiểm nhân thọ có thể coi là người cung cấp chính các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường . ĐạI lý Bảo hi ểm nhân thọ được các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây :

    • Giới thiệu , chào bán các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ
    • Thu xếp , giao kết hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ

    +Thu phí Bảo hiểm

    +Thu x ếp giảI quyết bồi thường và chi trả tiền Bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện Bảo hiểm .

    +Thự c hiện các hoạt động khác có liên quan đến thực hiện hợp đồng Bảo hiểm .

    • Môi giới Bảo hiểm : Doanh ngiệp thực hiện giới Bảo hiểm theo quy định của luật kinh doang Bảo hiểm và các pháp luật khác có liên quan.

    Doanh nghiệp môI giới Bảo hiểm cũng có vai tró rất quan trọng trong việc đưa sản phẩm của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tớ khách hàng

    .Và các công việc mà các doanh nghiệp môI giói Bảo hiểm phảI làm là:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             13

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Cung cấp thông tin về loạI hình Bảo hiểm ,đIều kiện ,đIều khoản , phí Bảo hiểm , doanh nghiệp Bảo hiểm cho bên mua Bảo hiểm .
    • Tư vấn cho bên mua Bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro , lựa chọn loạI hình Bảo hiểm , đIều kiện ,điều khoản , biểu phí Bảo hiểm và doanh nghiệp Bảo hiểm .
    • Đàm phán , thu xếp hợp đồng giữa doanh nghiệp Bảo hiểm và bên mua Bảo hiểm .

    +Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện thực hiện hợp đồng Bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua Bảo hiểm .

    2.2. Khách hàng.

    Theo góc độ Marketing , thị trường bao gồm toàn bộ khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng .Qua khái niệm này ta thấy khách hàng là yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu được ,nó có vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của thị trường .Nếu không có khách hàng cũng đồng nghĩa với việc không có thị trường.

    Khách hàng hiện tại là khách hàng đang tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm đó .

    Khách hàng tiềm năng là khách hàng có thể tham gia vào quá trình mua và sử dụng sản phẩm dó trong tương lai , khách hàng tiềm năng phảI thoả mãn các đIều kiện sau :

    • Có nhu cầu về sản phẩm
    • Có khả năng tàI chính
    • Là đối tượng thoả mãn các đIều kiện của sản phẩm
    • Người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với

    họ

    Khách hàng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ là những cá nhân , các tổ chức , các hộ gia đình ,không phân chia giầu nghèo, giai cấp . Miễn là đối tượng đó có nhu cầu và quan tâm đến sản phẩm thì nhà Bảo hiểm sẵn sàng cung cấp các sản phẩm của mình.

    3.Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ .

    Về mặt lý luận và thực tiễn ,người ta coi thị trượng Bảo hiểm nhân thọ là một tổng thể. Nên các nhân tố ảnh hưởng nên thị trường này rất phong phú và đa dạng . Để đạt được hiệu quả cao trong việc nghiên cứu thị trường Bảo hiểm nhân thọ , cần phải phân loại các nhân tố trên các góc độ thích hợp *Trên góc độ sự tác động của các lĩnh vực và thị trường có thể phân

    thành các nhân tố kinh tế ,chính trị –xã hộ , tâm sinh lý……….

    • Các nhân tố kinh tế : Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với thị trường Bảo hiểm nhân thọ . Bởi vì nếu một nước có nền kinh tế phát triển , thu nhập của người dân được nâng cao, núc đó người ta mới nghĩ đến các hình thức tiết kiệm và các hình thức khác để đảm bảo cuộc sống và
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 14
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đây là đi ều kiện để họ tìm đến các sản phẩm Bảo hi ểm nhân thọ với mục đích góp phần làm ổn định cuộc số ng, giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp các rủi ro , đảm bảo cho con cái có thẻ đi học , có nguồn thu nhập khi về già.

    Và thực tế cũng cho thấy hầu hết các nước có n ền kinh tế phát triển là những nước có nền kinh tế phát triển cụ th ể là 5 thị trường Bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới hiện nay là : Mỹ , Nhật , Đức , Anh và Pháp .

    • Các nhân tố chính trị – xã hội : Các nhân tố này ảnh hưởng tới thị trường Bảo hiểm nhân thọ thông qua các chủ trương chính sách của nhà nước về chính tri , trình đôn văn hoá của nhân dân và cả thói quen của người dân .

    Các chủ trương chính sách của Nhà nước có thể là chính sách đối nội ,đối ngoại , chính sách mở cửa kinh tế , chính sách hội nhập ……..các chính sách này có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển hay thu hẹp của thị trường Bảo hiểm nhân thọ của nước đó .

    Trình độ văn hoá của người dân cũng ảnh hưởng tới nhận thức của người dân về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng như vai trò của Bảo hiểm nhân thọ đối với các cá nhân , các gia đình và toàn xã hội .

    • Các nhân tố tâm sinh lý : Đây cũng là yếu tố quan trọng bởi vì nếu các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các loại hình Bảo hiểm nhân thọ , tạo ra được liềm tin , tạo ra được cảm giác an toàn cho người tham gia Bảo hiểm thì sẽ dẫn tới các quyết định mua của khách hàng.

    *Ngoài ra còn có sự tác động của các cấp quản lý đến thị trường Bảo hiểm nhân thọ như các nhân tố quản lý vĩ mô,các nhân tố quản lý vi mô.

    • Các nhân tố quản lý vĩ mô : Như các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế , các chính sách về pháp luật , các chính sách thuế, lãi suất tín dụng

    … Các nhân tố này tạo nên môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp . Và các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cũng như các doanh nghiệp khác muốn làm ăn có hiệu quả , con đường quan trọng nhất là phải vận dụng một cách thích hợp các nhân tố này .

    • Các nhân tố vi mô là các công cụ để quản lý các doanh nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng cao và giá cả phù hợp
    • đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất dẫn tới mở rộng thị truờng của doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    III.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC.

    1.Một vài nét về thị trường Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam .

    Nói đến Việt Nam thì không ai không nhắc đến dân số Vi ệt Nam , tuy là mộ t nướ c nhỏ bé nhưng lại có dân số rất đông (Cụ thể là theo số liệu thống kê 0 giờ ngày25/10/2002 dân số Việt Nam là 80 triệu) và hiên nay

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             15

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đang đứng thứ 2 Châu Á và đứng thứ 12 trên thế giới . Qua đó ta thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là mộ t thị trường có ti ềm năng năng lớn . Và hiện nay đang được các công ty Bảo hiểm nước ngoài chú ý đến .

    Tuy vậy thị trường Bảo hiểm nhân th ọ ở Việt Nam cho đến nay mới chỉ trong giai đ oạn đầu , manh mún, và còn non trẻ.Tháng 8/1996 hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được phát hành , đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1999 , lần đầu tiên chúng ta mở cửa thị trường Bảo hiểm và trước hết là thị trường Bảo hiểm nhân thọ , và đ ó cũng là bước ngoặt quan trọng đối với thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam . Từ khi mở cửa,thị trưòng Bảo hiểm nhân thọ cho đến nay ,thị trưòng đã có 5 doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này đó là:Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA.

    Bảo hiểm nhân th ọ Việt Nam mói chỉ hoạt động được 5 năm nhưng cũng đã có thành tựu rất to lớn .

    • Hiện nay Bảo hiểm nhân thọ đã có mặt trên 61 tỉnh thành
    • Thị trường đạt tốc độ tăng trưởng siêu mã
    • Các sản phẩm ngày cảng đa dạng và phong phú , ngày càng được hoàn thiện ,đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu của người tiêu dùng.
    • Chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao .
    • Thị trường ngày càng sôi động

    M ặc dù đã có những thành tựu nh ư vậy nhưng nó vẫn còn rất nhiều vấn đề cần xẽm xét. Và để nghiên cứu kỹ hơn thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ta đi tìm hiểu các phần sau đây.

    2.Sự phát triển của thị trường B ảo hi ểm nhân thọ Việt Nam . Tháng8/1996đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường Bảo hiểm

    nhân thọ Việt Nam ,và tháng 6/2002 vừ qua là sinh nhật lần thứ 6 của thị trườ ng .Nhìn một cách tổng thể qua những n ăm hoạt độ ng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có những nét nổi bật sau đây

    2.1.Thị trường sôi động , cạnh tranh ngày càng gay gắt và toàn diện.

    Từ tháng 8/1996 đến giữa năm 1999 chỉ có Bảo Việt “Một mình một chợ “ ,đến nay thị trường đã có 5 doanh nghiệp : Bảo việt,Bảo Minh- CMG, Manulife,Prudential và AIA. Từ khi có sự góp mặt thêm của 4 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài – những tên tưổi lớn,đã có kinh nghiệm hoạt động

    • nước ngoài kèm theo cơ chế tài chính ,thù lao linh hoạt , thị trường sôi động cạnh tranh ngay càng toàn diện và phát triển với tốc độ cao .

    Tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt ,có thể thấy rõ ở các thị trường lớn như Hà Nội, Thành Phố HCM, Hải Phòng,Đà Nẵng………sự cạnh tranh thể hiện trên tất cả các mặt như thu hút khách hàng , thu hút đại lý

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 16
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    (chính sách thù lao) , sản phẩm,dịch vụ, địa bàn hoạt động ,quảng cáo , khuyến mại…….

    Nếu như mới hoạt độ ng Manulife,Prudential và AIA ch ỉ tập trung triển khai ỏ hai đia bàn là Hà Nội, Thành Phố HCM và chủ yếu hướ ng vào khách hàng có thu nhập trung bình khá trở nên , thì đến nay các công ty này đã tích cực mở rộng ph ạm vi hoạt động sang các địa bàn còn lại và h ướng tới các khách hàng có thu nhập trung bình , đến thời điểm này các đều lấy mục tiêu tăng trưởng , mở rộng thị trường là mục tiêu hàng đầu.

    Xét v ề mặt tích cực ,cạnh tranh thực sự trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường phát triển .Chính nhờ sự hoạt động mạnh mẽ của các doạnh nghiệp, đã giúp dân chúng nhận thức rõ hơn về Bảo hiểm nhân thọ, giúp đưa d ịch vụ Bảo hiể m nhân thọ đến tận nhà khách hàng, cũng nhờ cạnh tranh các doanh nghiệp đã nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chất lượng khai thác, đa dạng hoá sản ph ẩm, đồ ng thời thúc đẩy điều khoản, quy trình nghiệp vụ (như in bản mô tả quyền l ợi Bảo hiểm, đánh giá rủi ro…), bổ xung các dị ch vụ tăng giá trị( cho vay phí tự động, cho vay theo hợp đồng, khôi phục hiệu lực hợp đồ ng…), hoàn thiện mô hình tổ chức và ho ạt độ ng, trong đó đang chú trọng là mô hình đại lý, chế độ thù lao cho đại lý theo hướng hiệu qu ả hơn, phù hợp hơn v ới đặc điểm của kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ . Cạnh tranh cũng thôi thúc các doanh nghiệp tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh như ứng dụng tin học, đa dạng hoá các kênh phân phối. Thời gian qua các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ rất tích cực ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào h ầu hết các công việc như phát hành, quản lý hợp đồ ng, in hoá đơn, kế toán, thố ng kê quảng cáo giới thi ệu sản phẩm… Tuy v ậy hi ện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), cạnh tranh theo kiểu chộp giật đã xuất hiện gây tác động xấu đến thị trường làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của ngành, mặc dù các doanh nghiệp đã đạt đượ c thoả thuận hợp tác chung tại bản ghi nhớ chung ngày 10 tháng 7 năm 2000 nhằm thiết lập một thị trường cạnh tranh lành mạnh

    Hình 1: Thị ph ần Bảo hiể m nhân thọ qua các năm ( Theo doanh thu phí)

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             17

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG        
      N¨m 2000 N¨m 2001 B¶o  
         
           
    Prudentia       ViÖt  
    B¶o ViÖt     54.30%  
    l Prudent  
    71.50%      
    19.40%      
      ial      
             
        29.90%      
    Manulife AIA Manulif BM- AIA  
     
    7.60%BM-0.80% e 3.60%  
    CMG
      CMG
      10.80%    
      0.70% 1.40%    
           

    Tính đến cu ối năm 2001 , dẫn đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ vẫn là Bảo vi ệt – là doanh nghiệp nhà nước và là doanh nghi ệp duy nhất không có vốn đầu tư nước ngoài với thị phần là 54,3% , tốc độ tăng trưởng doanh thu phí đạt 64,8% và là doanh nghiệp duy nhất có mạng lưới phủ khắp các tỉnh thành .Các doanh nghiệp khác cũng đạt được kết quả rất tốt ,đặc biệt là Prudential đã đạt được kết qu ả khá ngoại mục . Chỉ trong vòng 2 năm Prudential đã vươ n nên vị trí thứ hai với gần 30% thị phần và trở thành đối trọng lớn đối v ới Bảo việt trên thị trường .AIA,BM -CMG,Manulife trong năm 2001 cũng gia tăng thị phần , tuy nhiên tính tới thời đi ểm này thì các doanh nghiệp này cũ ng chỉ chiếm được thị phần khá nhỏ . Với đặc đ iểm khách hành là các cá nhân , số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng , có thể nhận định được r ằng trong th ời gian tới thị trường Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam sẽ thêm sôi động , cạnh tranh thêm sâu sắc c ả về mọi mặt theo hướng có lợi cho khách hàng , đồng thời chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ .

    Sự hoạt động mạnh mẽ của thị tr ường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong thời gian qua còn tạo ra sự cạnh tranh liên ngành , trong đó rõ rệt nhất là cạnh tranh giữa hệ thố ng ngân hàng , b ưu điện với ngành Bảo hiểm nhân thọ trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ công chúng .

    Mặ c dù là lĩnh vực kinh doanh ch ậm có lãi (cho đến thời đ iểm hi ện nay , các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam đều chưa có lãi ), nhưng Bảo hiểm nhân thọ là lĩnh vực kinh doanh màu mỡ và bền vững , hấp dẫn các nhà đầu tư , nhất là các nhà đầu tư nước ngoài . Có thể nhận định rằng , cùng với chính sách hội nhập của Việt Nam cũng như việc thực hiện hiệp định Việt- Mỹ , trong thời gian tới chắc chắn sẽ xu ất hi ện nhiều gương mặt mới trên th ị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam làm cho thị trường thêm sôi động . Việc t ăng vố n của các doanh nghiệp đang đang hoạt động trên thị trường cũng đã khẳng định điều này.

    2.2.Thành công lớn , trưởng thành nhanh.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             18

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Mặc dù chúng ta mới thực hiện loại hình Bảo hiể m nhân thọ được vài năm nh ưng thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được kết quả rất đáng tự hào trên nhiều mặt cụ thể:

    *Tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu phí và số hợp đồng.

    Nếu như năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm Bảo hiểm nhân thọ tại một số tỉnh thành và đạt được kết quả khá khiêm tố n vơí trên 1200 hợp đồng và doanh thu phí chưa đến 1 tỷ đồng thì đến n ăm 2000 doanh thu phí Bảo hiểm nhân thọ toàn thị trường đã đạt g ần 1300 tỷ đồng và gần 1 triệu hợp đồng có hiệu lực,năm 2001 là năm đáng ghi nhớ nhất của thị trườ ng Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam với doanh thu phí đạt 2786 tỷ đồng (tương đương với 0,55% GDP),vượt khá xa so với tổng doanh thu phí Bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường ,số hiệu lực hợp đồng tính đến cuối năm 2001 đạt khoảng 1,6 triệu hợp đồng (tương đương với 1,9% dân số ).So với n ăm 2000,tốc độ tăng doanh thu phí của năm 2001 đạt 115,6%,trong đ ó tốc độ tăng doanh thu phí từ các hợp đồng mới đạt trên 89%.Nếu tính từ khi mới bắt đầu triển khai ,t ốc độ tăng doanh thu Bảo hiểm nhân thọ bình quân trong những năm qua đạt 250%/năm,còn nếu tính từ năm 1999,năm bắt đầu có sự gia nhập của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ khác ngoài Bảo Việt,tốc độ doanh thu phí bình quân đạt trên 135%/năm . Đây là tốc độ t ăng trưởng rất cao phản ánh sự trưởng thành nhanh chóng của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam .

    Năm 1997 1998 1999 2000 2001
    Tốc độ tăng 1742,1% 1060,0% 142,4% 162,6% 115,6
    doanh thu phí (so         %
    với năm tước)          
    Tû ®ång

    H×nh 2: Doanh thu phÝ b¶o hiÓm nh©n thä toμn thÞ tr−êng

    qua c¸c n¨m (tû ®ång)

    3000                                       2786  
                                           
    2500                                                
                                                   
                                                   
    2000                                                
                                  1292          
    1500                                        
                                           
    1000                                                
                                                   
                        492                    
    500             203                      
      0.95 17.5                              
                                   
    0                                      
                                         
                                                   
    1996 1997 1998 1999 2000 2001  
                          N¨m                  

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             19

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Bên c ạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí ,thì chất lượng khai thác cũ được nâng nên đáng kể ,biểu hiện qua số tiền b ảo hiểm trung bình trên hợp đồng , số phí bảo hiểm bình quân /hợp đồng ,số phí bảo hiểm bình quân trên hợp đồng ngày càng cao , công tác đánh giá rủi ro được chú trọng hơn (thông qua việc đánh giá r ủi ro sức khoẻ ,tài chính ,mục đích tham gia,quyền lợi có th ể được bảo hiểm ),tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng của toàn thị trường dưới 6%/năm (thấp hơn rất nhiều so với các thị trường khác ).

    *Thiết l ập mạng lưới kinh doanh phủ khắp toàn quốc,mô hình tổ chức quản lý kinh doanh ngày càng được hoàn thiện :

    Thời gian qua ,các doanh nghiệp và đ iển hình là Bảở Việt đã xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ khắp cả nước , nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân . Với mạng lưới phủ kh ắp các huy ện th ị và đội ngũ đại lý ,cán bộ khai thác đông đảở ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm ,từ thành thị tới nông thôn . Mô hình tổ chức và quản lý của các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả ,đi ển hình là chuyên môn hoá khai thác và thu phí .Việc đàở tạở cán bộ ,đại lý ngày càng được chú trọng và được xác định là nhân tố quan trọng quyết định dịch vụ cung cấp và thành công của doanh nghiệp .

    *Sản phẩm phong phú đa dạng,khách hàng thuộc nhiều tầng lớp .

    Khi Bảo Việt triển khai thí đ iểm Bảo hiểm nhân thọ ,ch ỉ có ba sản phẩm được đưa ra thị trường là Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn 5 năm ,

    • năm,và an sinh giáở dục .Cùng với sự phát triển của thị trường ,số sản phẩm đưa ra thị trường đã tăng nên nhanh tróng,đa dạng và ngày càng được hoàn thiện .Đến nay thị trường đã có sự hiện diện của tất cả các chủng loại Bảo hiểm nhân thọ truyền thống như hỗn hợp ,sinh kỳ ,tử kỳ ,trọn đời ,các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cách tân, các sản phẩm bảo hiểm hưu trí ,đồng thời còn nhiều loại sản phẩm bổ trợ khác .

    Với sự đa dạng về chủng loại các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng,phong phú và toàn diện của nhân dân về Bảo hiểm nhân thọ .Số liệu khai thác cho thấy , sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp và đặc biệt là bảở hiểm trẻ em là những sản phẩm bảo hiểm bán chạy nhất ,các sản phẩm mang tính bảở vệ thông thường như bảo hiểm tử kỳ ,bảo hiểm sinh kỳ ,bảo hiểm trọn đời ,bảo hiểm tai nạn ,bảo hiểm chi phí y tế ít được ưa chuộng .Điều này cho thấy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn ưa tiết kiệm,đồng thời cũng phản ánh truyền thống ưa tiết kiệm ,hiếu học ,đức tính hy sinh về con cháu của người Việt Nam ,tuy nhiên nó cũng cho thấy Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam chưa thực sự trở thành tập quán của người Việt Nam . Thêm vào đó các sản phẩm bảo hiểm ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn ,phản ánh tâm lý lo lạm phát ,e ngại đầu tư dài hạn của công chúng . Gần đây , các doanh nghiệp lần lượt

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 20
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    đưa ra các sản phẩm bảo hiểm dài hạn hơn và nhiều sản ph ẩm bổ trợ mang tính bảo vệ như bảo hiểm b ệnh hiểm nghèo,bảo hiểm chăm sóc phụ nữ toàn diện ….,cho thấy những tín hiệu ban đầu về sự chuyển dịch sản phẩm .

    Ngoài Bảo hiểm nhân thọ ,các doanh nghiệp còn cung cấp thêm các dịch vụ khác cho khách hàng tham gia Bảo hiểm nhân thọ như tư vấn du học ,cho khách hàng vay tiền theo hợp đồ ng,thẻ giảm giá ,phiếu mua hàng …Với những lỗ lực của các doanh nghiệp ,chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao và mang tính toàn diện .

    *Tạo công ăn việc làm cho nhiều người

    Thời gian qua,ngành Bảo hiểm nhân thọ đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho mộ t lực lượng đông đảo lao động dưới hình thức đaị lý chuyên nghiệp , bán chuyên nghiệp ,và cộng tác viên.

    Tính đến tháng 6 n ăm 2002 tổng số đại lý chuyên nghiệp trên toàn thị trường đã nên t ới con số 25240 người ,tăng 90,57% so với 6 tháng năm 2001 và nó được thể hiện rõ ở bảng dưới đây:

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             21

      ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:  
      NGUYỄN TIẾN DƯỠNG          
      Bảng 2:tốc độ tăng trưởng đại lý Bảo hiểm nhân thọ (người)
               
      Doanh nghiệp 6 tháng 2002 6 tháng 2001   % tăng giảm
      Tổng 52240   27413   90.57%  
      AIA 5862   3793   54.55%  
      BM-CMG 2664   1257   111,93%  
      Bảo Việt 14245   10532   35.25%  
      Manulife 5300   2626   101,83%  
      Prudential 24169   9205   162,56  

    Như v ậy qua bảng trên ta thấy chỉ trong vòng một năm trở lại đây thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam thực sự đã có bứơ c tiến dài ,số đại lý chuyên nghiệp không ngừng tăng nên với tốc độ chóng mặt ,và đ áng chú ý nhất đó là Prudential với t ốc độ tăng 162,56% so với năm 2001 và vươn nên đứng đầu trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam về số đại lý với 24169 người.

    Với những đặc trưng nổi bật :hoàn toàn độc l ập,tự chủ về thời gian ,đòi hỏi tính tự giác cao,hưở ng thù lao theo kết quả lao độ ng,tự hạch toán độ c lập không yêu cầu quá cao về bằng cấp,nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ đã thực sự trở thành một ngh ề có tính chuyên nghiệp ,được xã hội thừa nh ận là một trong những nghề có thu nhập khá cao ở Việt Nam hiện nay,đồng thời Bảo hi ểm nhân thọ Việt Nam đã tạo ra chỗ làm cho hàng nghìn người với t ư cách là cán bộ,nhân viên của các doanh nghiệp Bảo hiể m nhân thọ . Ngoài ra còn tạo việc làm cho các ngành có liên quan như công nghệ thông tin,ngân hàng, in ấn,quảng cáo…

    *Tạo kênh huy động và cung cấp vốn lớn cho nền kinh tế ,thúc đẩy nền kinh tế phát triển .

    Với chức năng gom nhặt và huy độ ng những khoản ti ền nhỏ,nhàn rỗi lằm rải rác trong dân cư ,Bảo hiểm nhân th ọ đã hình thành mộ t quỹ đầu tư lớn,cung cấp vốn cho nền kinh tế đặc biệt là nguồn vốn cung cấp dài hạn ,phục vụ đắc lự c cho công cuộc công nghệ hoá ,hiện đại hoá,góp phần phát triển kinh t ế xã hội . So v ới ngành ngân hàng,Bảo hiể m nhân thọ Việt Nam tuy mới có thâm liên hoạt động còn rất ngắn nhưng đ ã thực sự trở thành một kênh huy động và phân phố i vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Với số tài sản quản lý được tích luỹ (dướ i hình thức qu ỹ dự phòng) ngày càng lớn , cho phép các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ thực hiện những khoản đầu tư lớn dưới các hình th ức như góp vốn liên doanh,mua cổ phiếu,cho vay,tham gia dự án đầu tư,gửi tiết ki ệm ngân hàng …Lờy năm 2001 làm ví dụ ,như đã nêu trên,tổng phí Bảo hi ểm nhân thọ của toàn th ị trường đạt 2786 tỷ đồng,chiếm 0,55% GDP và như vậy tính đến thời điểm này ,tổng số vốn mà các doanh

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 22
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    nghiệp Bảo hi ểm có thể cung c ấp cho nền kinh tế nên tới 4000 t ỷ đồng (chủ yếu là quỹ dự phòng được tích tụ qua các năm ).Hoạt động đầu t ư tài chính cũng trở thành x ương sống nâng đỡ cho hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ,tạo tiền đề và điều kiện để các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tham gia vào thị trường tài chính,tạo lập các quỹ đầu tư ,trên thực t ế , các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đã tham gia vào rất nhiều các dự án đầu tư ,là cổ đông lớn trong nhiều công ty phần đồng thời cũng là thành viên th ường xuyên trong các cuộc đấu thầu tín phiếu,trái phiếu kho bạc,và cũng là người chơi lớn trên thị trường chứng khoán.

    Năm 1999,B ảo Việt thành lập công ty chứng khoán Bảo Việt- công ty chứng khoán đầu tiên của Việt Nam,t ạo ti ền đề để trở thành tập đoàn Bảo hiểm – Tài chính tổng hợp hàng đầu ở Việt Nam . Tuy nhiên,có th ể thấy,cho đến nay thị trường đầu tư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành,còn thi ếu các công cụ đầu tư,nhất là các công cụ đầu tư dài hạn,do vậy hạn chế rất nhiều hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ .

    2.3.Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện .

    Trong thời gian qua,môi trường pháp lý cho ho ạt độ ng kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện tạo đ iều kiện thuận l ợi cho hoạt động kinh doanh,từng bước thiết l ập và duy trì một th ị trường cạnh tranh lành mạnh,nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.Trước hết là sự ra đời của luật khinh doanh Bảo hiểm ,bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/4/2001,tiếp đó là các nghị định (ngh ị đị nh số 42/2001/NĐ — CP ngày1/8/2001 quy định chi tiết một số điều của luật kinh doanh Bảo hiểm , Nghị định số 43/2001/NĐ- CP ngày1/8/2001quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp Bảo hiểm và môi gi ới Bảo hiểm )và thông tư hướng dẫn (Thông tư số 71/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướng dẫn thi hành nghị định 42/2001 NĐ- CP ngày 1/8/2001 và thông tư số 72/2001/TT- BTC ngày 28/8/2001 hướn dẫn thi hành nghị định 43/2001/NĐ- CP ngày 1/8/2001của chính phủ). Tuy vậy đến nay ,hệ thống pháp luật đ iều chỉnh hoạt độ ng kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ ở Việt Nam chưa thực sự đồng bộ ,mộ t số quy định cần thiết còn thiếu ,một số quy định chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán Bảo hiểm nhân thọ , chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp . Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý ,trong thời gian qua Nhà nướ c còn có nhiều chính sách ưu đãi , hỗ trợ thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế(theo luật thuế giá trị gia tăng ,hiện nay thị trường Bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện chịu thếu).

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             23

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    3.Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ và các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ hiện đang có mặt trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    Trên thị trường Bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam tính đến thời điểm này hiện đang có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đang ho ạt động trong đ ó có một công ty trong nước và một công ty liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài.Và chúng được thể hiện rõ hơn ở bảng dưới đây.

    Bảng 2: Các DNBHNT hiện đang có mặt tại Việt Nam

    Doanh nghiệp Năm bắt Xuất xứ Loại hình Vốn(điều lệ) Vốn Vốn dự
      đầu triển   DN ban đầu hiện nay kiến xẽ
      khai               tăng
    1.Bảo Việt 1996 Việt Nhà nước 779 tỷ đồng 879 tỷ    
        Nam     (1996)   đồng    
                  (2000)    
    2.BM-CMG 1999 VN+ Liên   2 triệu USD 6 triệu 10 triệu
        ÚC doanh       USD USD  
    3.Manulife 1999 Canada 100% vốn 5 triệu USD 8,5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              
    4.Prudential 1999 Anh 100% vốn 10 triệu 40 triệu    
          nước   USD   USD    
          ngoài       6/2001    
    5.AIA 2000 Mỹ 100% vốn 5 triệu USD 5 triệu 10 triệu
          nước       USD USD  
          ngoài              

    Nguồn:Tạp chí BH số 1/2002

    Thị phần của các doanh nghiệp qua năm 2001 (theo doanh thu phí)

    B¶o ViÖt

    N¨m 2001

    54.30%

    Prudential

    29.90%

    Manulife BM-CMG A IA  
    10.80%
    3.60%  
    1.40%
     
         

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             24

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường Việt Nam.

    Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nếu như năm 1996 duy nhất chỉ có mình Bảo Việt triển khai ở hai loại hình chính là Bảo hiểm nhân thọ có thời hạn 5 năm,10 năm và chương trình đảm bảo cho trẻ em đến tuổi trưở ng thành (an sinh giáo dục ).Thì cho đến nay đã có đã có 5 doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cùng hoạt động và cạnh tranh .Việc tham gia của ngày càng đ ông các doanh nghi ệp Bảo hiể m nhân thọ trên th ị trường cũng làm cho số lượng sản pảm Bảo hiểm nhân thọ trên thị trường tăng nên đáng kể . Và sau đay là các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ của từng doanh nghiệp .

    a.Bảo Việt:

    Các sản phẩm chính:

    • Bảo hiểm và tiết kiệm trong thời hạn 5 năm,10 năm.
    • Bảo hiểm trọn đời.
    • Bảo hiểm an sinh giáo dục.
    • Niêm kinh nhân thọ.

    Các sản phẩm bổ sung.

    • Điều khoản riêng I:Bảo hiểm thương tật bộ phân,vĩnh viễn do tai nạn.
    • Điều khoản riêng II:Bảo hiểm chi phí phẫu thuật .
    • Điều khoản riêng III:Bảo hiểm sinh kỳ thuần tuý.
    • Điều khoản riêng IV:Bảo hiểm tử kỳ.

    b.Prudential:

    Các sản phẩm chính:

    • Phú trường an.
    • Phú tích luỹ an khang.
    • Phú tích luỹ giáo dục.
    • Phú tích luỹ định kỳ
    • Phú hoà nhân.

    Các sản phẩm bổ trợ:

    • Bảo hiểm từ bỏ thu phí .
    • Bảo hiểm chết do tai nạn.
    • Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn. Các sản phẩm trọn gói.
    • Phú tương lai:Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ với sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm từ bỏ thu phí.
    • Phú bảo gia :Là sự kết hợp của sản phẩm chính phú tích luỹ an khang và sản phảm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạnvà sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn .

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             25

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         
    • Phú thành đạt:Là sự kết hợp của sản phẩm chính pú tích luỹ định kỳ với sản phẩm kèm theo Bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và sản phẩm bổ trợ Bảo hiểm chết và tàn tật do tai nạn.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             26

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    c.Manulife.

    Các sản phẩm chính :

    • Bảo hiểm hỗn hợp 5 năm,10 năm,15 nă
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử vong và thương tật do tai nạn .
    • Bảo hiểm trợ cấp y tế. d. Bảo Minh – CMG.
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp .
    • Bảo hiểm trẻ
    • Bảo hiểm hưu trí .
    • Bảo hiểm tử kỳ.
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí .
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ e. AIA:
    • Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạ
    • Bảo hiểm trọn đờ
    • Bảo hiểm giáo dục h ỗ n hợp .
    • Bảo hiểm tử kỳ .
    • Bảo hiểm chết và thương tật do tai nạ
    • Bảo hiểm miễn phí trong thời hạn thương tậ

    4. Cơ hội và thách thức của thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hiện nay

     

    Với sự thay đổi và phát triển nhanh chóng của môi trường kinh doanh, thể hiện ở áp lực cạnh tranh gia tăng, khuynh hướng toàn cầu hoá, biến đổi thói quen, nhu cầu khách hàng, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã đặt nhiều thách thức cũng như các cơ hội phát triển mới cho các công ty Bảo hiểm và đặc biệt là trong lĩnh vực Bảo hiểm nhân thọ.

     

    4.1. Đáp ứng nhu cầu khách hàng.

    Đối với sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, nhu cầu khách hàng được dự báo là có những thay đổi về sản phẩm và hình thức dịch vụ sau:

    Xu hướng dân số già đi, thu nhập được tăng thêm, khách hàng có quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tài chính của họ trong những năm hưu trí, chăm sóc sức khoẻ, dẫn tới nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm tích luỹ, tử kỳ, niên kim, sẽ có nhiều triển vọng tăng trưởng. Việc quan tâm hơn của khách hàng tới những loại sản phẩm này cũng thể hiện xu hướng quan tâm hơn tới

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 27
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phòng chống rủi ro tài chính do kh ả năng biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Bên cạnh đó, v ới sự phát triển của cuộc sống hiện đại, một số loại bệnh tật dễ mắc phải là nguyên nhân chính gây tử vong cho con người cũng đã làm phát sinh nhu cầu các loại hình Bảo hiểm cho các loại bệnh hiểm nghèo.

    Do nhận thức ngày càng cao về các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ, khách hàng có yêu cầu được lựa chọn những sản phẩm tinh vi phù hợp với nhu cầu của mình. Khách hàng có yêu cầu cá nhân hoá dịch vụ- mua sản phẩm được lắp ghép và thiết kế theo nhu cầu cá nhân của khách hàng, được hưởng các dị ch vụ theo sự lựa chọn của cá nhân.

    Sự phát triển của thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư và quá trình phát triển doanh nghiệp Bảo hiểm theo hướng chuyền nghiệp hoá trong lĩnh vực đầu tư cho phép các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm Bảo hiểm – đầu tư. khách háng cũng có những hiểu biết hơn về đầu tư tài chính và có nhu cầu sử dụng một tỷ lệ tài sản của mình tham gia vào hoạt động đầu tư hấp dẫn làm tăng giá trị của hợp đồng Bảo hiểm. Bên cạnh đó, khuynh hướng hạ thấp lãi suất( do sự phát triển của thị trướng tài chính) là thách thức đối với các doanh nghiệp Bảo hiểm khi đưa ra tỷ lệ lãi suất cố định trong các sản phẩm truyền thống trước đây. Đây cũng là sức ép các doanh nghiệp Bảo hiểm cung cấp các sản phẩm kết hợp Đầu tư – Bảo hiểm. Bên cạnh đó là quá trình gắn kết chặt chẽ của khách hàng với các trung gian tài chính trong các hoạt động thanh toán, đầu tư, Bảo hiểm, tư vấn tài chính….. dẫn tới nhu cầu từ phía khách hàng là được cung cấp các dịch vụ tài chính tổng hợp, chọn gói và thuận tiện từ phía tổ chức, trái với tình trạnh hiện nay là các dịch vụ này được cúng cấp từ các tổ chức tài chính khác nhau, không thuận tiện cho khách háng.

    Nhu cầu Bảo hiểm nhân thọ là một nhu cầu thụ động, khách háng ít khi chủ động tìm đến các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ để mua các sản phẩm mà chỉ mua các sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ sau khi được người bán Bảo hi ểm thuyết phục, vận động ( thường sau rất nhiều lần ).

    Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, tin học đã góp phần vào việc gây biến đổi thói quen tiêu dùng của khách hàng, đây cũng là phương tiện tốt nhất để truyền đạt thông tin từ phía các doanh nghiệp tới khách hàng. Khách hàng có nhu cầu về sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ muốn tìm hiểu thông tin và đòi hỏi được cung cấp dịch vụ qua các phương tiện thông tin hiện đại như internet, qua điện thoại, e-mail, được cung cấp dịchvụ tài chính tổng hợp như: đầu tư – Bảo hiểm, thanh toán….. do vậy tất yếu là các doanh nghiệp Bảo hiểm phải triệt để ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin đáp ứng những yêu cầu mới của khách hàng.

    Khách hàng có yêu cầu cao hơn về dịch vụ gia tăng: do quá trình cạnh tranh đã làm đồng nhất về chất lượng dịch vụ, nên khách hàng đòi hỏi các

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 28
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    dịch v ụ gia tăng như dịch vụ cung cấp thông tin qua trung tâm dịch vụ khách hàng, cung c ấp thẻ thông tin hợp đồng hội chợ thanh toán, đầu tư vào các quyền lợi khác.

    4.2.Chế ngự sự phát triển của công nghệ .

    Việc tiếp nh ận và s ử dụng công nghệ mới,trong đó ch ủ yếu là thông tin một cách có hiệu quả là thách thức lớn nhất đối v ới doanh nhiệp Bảo hiểm . Doanh nghiệp Bảo hiểm phải cân đối giữa việc áp dụng công nghệ có sự thay đổi quá nhanh chóng để nâng cao n ăng lực cạnh tranh với những rủi ro tốn kém chi phí, năng lực qu ản lý không đáp ứng,không phù hợp vớ thình độ hiện tại của nhân lực và hiện trạng của cơ cơ cấu tổ chức .

    Việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm : *Vi tính hoá quá trình dịch vụ,giả m bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ chức, tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm theo mô hình “doanh nghiệp thông tin”, và đa d ạng hoá kênh phân phối và hình thức dịch vụ t ạo ra cơ s ở dữ liệu chung phục vụ cho nhu câù lưu trữ, tra cứu và phân tích, cho phép thay đổi

    mô hình tổ chức theo hướng gọn nhẹ và chuyên nghiệp hoá cao.

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ tăng cường dịch vụ khách hàng bằng các dị ch vụ bổ trợ kỹ thuật cao như Calling centre, xây dựng trang web, email, trả lời điện thoại, kết hợp thanh toán và các dịch vụ tài chính khác, cho phép doanh nghiệp Bảo hiểm nhân th ọ phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng, thường xuyên, rút ngắn chu kỳ hoạt động .

    *Cho phép doanh nghiệp Bảo hi ểm nhân thọ cá nhân hoá các dịch vụ qua nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu cá nhân.

    *Với sự áp dụng của công nghệ thông tin ngày càng hiện đại cho phép doanh nghiệp đưa các thông tin của mình tới khách hàng một cách nhanh nhất, cũng như thu được các thông tin quan trọng cần thiết t ừ phía khách hàng chuyển đến để từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn và vạch ra những kế hoạch chiến lược phát triển của doanh nhgiệp trong tương lai.

    *Công nghệ thông tin còn giúp các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ s ử lý thông tin một cách nhanh tróng, giúp cho việc lắm bắt thời cơ kịp thời , tránh bỏ những cơ hội lớn của công ty .

    *Hệ thống vi tính hoá còn đượ c áp dụng rộng rãi ở các phòng ban của doanh nghiệp, giúp cho việc quản lý dữ liệu,và đặc biệt giúp cho công tác kế toán, thống kê một cách chính xác và nhanh chóng.

    4.3.Đổi mới về tổ chức và quản lý công ty.

    Có một sức ép do tình hình cạnh tranh và công nghệ kinh doanh dẫn tới những yêu cầu về sự thay đôỉ tổ chức của công ty.

    *Tổ chức củ a doanh nghiệp Bảo hiểm theo định hướng khách hàng trung tâm : Vấn đề đáp ứng nhanh nhu cầu khách hàng là nhân tố quyết định

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 29
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    trong cạnh tranh do vậy về tổ chức, doanh nghiệp Bảo hiểm cần chú trọng đầu tư phát triển các b ộ phận nghiên cứu nhu cầu khách hàng, đ ánh giá thoả mãn khách hàng, thiết kế phát triển sản phẩm ,quản lý quan hệ khách hàng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng.

    *Yêu cầu đa dạng hoá hệ thống phân phối cũng làm thay đổi tổ chức của doanh nghiệp Bảo hiểm trong quản lý và phát triển các kênh phân phối mới.

    *Phát triển của công nghệ thông tin sẽ gây ảnh hưởng tới tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách thức trao đổi thông tin . Do hệ thống thông tin hỗ trợ các quá trình trao đổi thông tin đa chiều các bộ phận trong doanh nghiệp Bảo hiểm và với khách hàng qua hệ thống mạng nên các khái niệm về không gian (VD: nh ư kho ảng cách giữa các phòng ban), thời gian trao đổi thông tin bị xoá nhoà. Điều này dẫn tới sự thay đổi về cơ c ấu tổ chức doanh nghiệp Bảo hiểm và cách th ức mà doanh nghiệp Bảo hiể m quan hệ với khách hàng. Ví dụ:mô hình quản lý thông tin theo nguyên tắc mở và tập trung d ự kiến có ảnh hưởng tới t ổ ch ức, đặc biệt theo hướng các hoạt độ ng kế toán , qu ản lý hợp đồng được tiến hành tập trung, hoạt động khai thác dịch vụ khách hàng được phân tán. Như vậy, thay cho việc các doanh nghiệp ph ải thành lập nhiều nhiều công ty, chi nhánh để mở rộng h ệ thống phân qhối trên các địa bàn với cơ cấu tổ chức cồng kềnh , thì với s ự hỗ trợ củ a công nghệ thông tin ,các doanh nghiệp Bảo hiểm chỉ cần thành lập các bộ phận chuyên quản lý các đại lý để bán sản phẩm phục v ụ khách hàng . Các hoạt động hạch toán, kế toán ,quản lý hợp đồng ….được quản lý tập trung. Mô hình trên sẽ giảm

    thiểu hoạt động trùng lắp, tăng cường chuyên môn hoá ,tăng cường chỉ đạo theo định hướng chiến lược phát triển và nâng cao được năng suất lao động, giả m chi phí ho ạt động. Nhờ vậy mà doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ có thể thay đổi mô hình nhiều cấp sang mô hình ít cấp hoặc hình sao với sự trao đổi thông tin đa chiều giữa các bộ phận . Điều này sẽ góp phần giảm b ớt các cấp quản lý trung gian vố n chỉ thực hiện chức năng tập hợp, báo cáo thông tin trình lãnh đạo ra quyết định .

    *Việc áp dụng các lý thuyết mới về quản lý doanh nghiệp nhằ m độ ng viên nâng cao tính chủ động cải tiến đổi mới của cán bộ, phát huy tính tri thức của cán b ộ cũ ng đòi hỏi đến sự biến đổi về cơ c ấu tổ chức để phát huy tính trí tuệ của cán bộ ,phát duy đóng góp của cán bộ vào hoạt động quản lý doanh nghiệp.

    4.4.Phát triển hệ thống phân phối .

    Do thay đổi v ề nhu cầu được phục vụ của khách hàng cùng với sự phát triển nhanh chóng củ a công nghệ thông tin, hệ thống phân phối có một số thách thức phát triển.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             30

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    *Thách thức trong đa dạng hoá hệ thố ng phân phối :Trướ c sự biến đổi của nhu cầ u khách hàng cả về sản phẩm và dị ch vụ , với sự hỗ trợ của công ngh ệ, việc đa dạng hoá kênh phân phối là tất yếu. Các kênh phân phối chủ yếu được đưa ra vẫn là phân phối trực tiếp, phân phối qua Internet, phân phố i qua ngân hàng .Vi ệc đa dạng hoá kênh phân phối nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng hoá dịch vụ khách hàng .

    *Song song với sự phát triển về dich vụ thì khách hàng cũng có nhu cầu tư vấn tài chính , từ các tổ chứ c độc lập để đảm bảo lựa chọn dịch vụ tài chính phù hợp nhất với bản thân .

    *Thách thức trong việc nâng cao năng suất của hệ th ống đại lý :Sau nhiều cuộc thảo luận các nhà quản lý đều đi đến kết luận là trong Bảo hiểm nhân thọ ,vai trò củ a đại lý là không thể thay thế mặc dù có sự phát triển của công nghệ , do đặc trưng của sản ph ẩm Bảo hiểm nhân thọ là quan hệ giữa con người với con người .Tuy nhiên để phát huy vai trò của đại lý thì công ty cần phải:

    • Hỗ trợ hoạt động đại lý bằng những công nghệ thông tin khách hàng, web, email,…..trong giao dịch với khách hàng, phối hợp hiệu quả kênh phần phối đại lý với kênh phân phối không dùng đại lý. Chú trọng đào tạo đại lý bằng công nghệ đào tạo mới như sử dụng Audio,Tapes,Internet.

    +Tăng cường quản lý hoạt động đại lý trong đó chuyển hướng chú trọng vào chất lượng quá trình bán hàng của đại lý thay cho cách làm truyền thống là quản lý kết quả bán hàng của đại lý .

    +Tăng cường tổ chức mở các lớp đào tạo nâưng cao nghiệp vụ cho đại lý ,từ đó giúp các đại lý hoạt động ngày một hệu quả hơn.

    *Phân phối qua Internet :Việc phân phối qua Internet có triển vọng và tăng về doanh số, tuy nhiên đối với các nước chậm phát triển thì tăng cường sử dụng Internet cho công tác giới thiệu sản phẩm ,giải đáp thắc mắc và thông tin giao dịch của đại lý và công ty đối với khách hàng của mình .

    *Phát triển các hình thức bán Bảo hiểm qua ngân hàng :Tuy nhiên để thành công cần chú trọng gắn kết dịch vụ Bảo hiểm với dịch vụ tài chính, đầu tư của ngân hàng cung cấp cho khách hàng(thiết kế sản phẩm đơn giản , ví dụ : thời hạn Bảo hiểm có thể gắn với thời hạn vay vốn của khách hàng, thanh toán, trả quyền lợi Bảo hiểm gắn với dịch vụ thanh toán ,Credit Card của ngân hàng, sản ohẩm gắn với các hình thức đầu tư tại ngân hàng ). Thường xuyên trao đổi giữa lãnh đạo hai bên để thảo luận khắc phục,xác định đối tượng khách hàng, đặc biệt có các kỹ thuật hỗ trợ cho các cán bộ ngân hàng tính toán, tư vấn quyền lợi Bảo hiểm .

    4.5.Chuyên môn hoá hệ thống đại lý –Một thách thức lớn đối với các nhà quản lý Bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             31

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Lợi ích của việc chuyên môn hoá là rất rõ nét, đối vớ đại lý chuyên khai thác, nhờ không mất công sức, thời gian thu phí Bảo hiểm định kỳ nên đại lý có thể tăng s ố lượ ng h ợp đồng mới, khách hàng mới một cách nhanh chóng . Đây cũng là điều mà các công ty đều mong muốn .Không thể duy trì tình trạng mu ốn tăng doanh thu phí thì phải tăng số lượng đại lý .Vẫn bi ết đó là một quy luật tất yếu khách quan nhưng duy trì được khả nă ng vừa tăng số lượ ng đại lý v ừa tăng chất lượng khai thác củ a đại lý mới là tối ưu .Nh ờ có đại lý chuyên nghiệp thu phí,các công ty có thể thu được một số phí lớn, không nợ phí hoặc nợ phí thấp .Lúc này khách hàng sẽ là người có lợi nhất, đượ c nhiều đại lý cùng chăm sóc,d ịch vụ được thụ hưởng là dịch vụ tốt nhất cho nên khả năng huỷ bỏ hợp đồng là rất hiếm xẩy ra .

    Cuố i cùng các công ty trở thành người có ưu thế trong cạnh tranh . Vừa khai thác được nhiề u hợp đồng mới , vừa bảo đảm t ỷ lệ nợ phí, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng thấp, tính trung thành của khach hàng cao.

    Chủ trương thuyên môn hoá đại lý Bảo hiểm nhân th ọ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng muốn thực hi ện nó một cách triệt để,l ại là một công việc hết sức khó khăn và để chuyên môn hoá h ệ th ống đại lý Bảo hiểm nhân thọ thì nhất thiết phải giải quyết một số vấn đề sau đây:

    *Thứ nhất-giảm số lượ ng đại lý tổng hợp: Về tổng thể, các công ty đều đã có đại lý chyên khai thác và đại lý chuyên thu phí , nhưng số lượng đại lý tổng hợp vẫn còn khá lớn .Nguyên nhân chính là các đại lý tổng hợp trước đây vẫn hoàn thành một cách xuất sắc cả hai chức năng của mình là khai thác hợp đồng mới và thu phí Bảo hiểm định kỳ . Tuy nhiên số đại lý tổng hợp này thường được phân bố ở các vùng đặc thù xã hội, hẻo lánh, tiềm năng khai thác ít không th ể phân công được đại lý chuyên thu phí .Trong thời gian tới, cần giảm dần số lượng đại lý tổng h ợp bằng cách truyển đổi tất cả các đại lý này thành đại lý chuyên khai thác và đại lý chuyên thu .

    *Thứ hai-phân công đại lý chuyên thu theo đị a bàn và đại lý chuyên khai thác : hiện tại đại lý chuyên thu phí được giao theo dõi và thu phí các hợp đồng của nhiều đại lý chuyên khai thác,đại lý t ổng hợp khác nhau . Việc phân công như th ế này khiến đại lý chuyên thu phí mất nhiều thời gian, công sức để có thể thu đủ phí theo yêu cầu của công ty.

    Gi ải pháp tốt nhất là phân công mỗi địa bàn một đại lý chuyên thu phí chuyên trách . Ngoài ra, căn c ứ vào tình hình thực tế , khi bàn giao hợp đồn, đại lý chuyên khai thác,đaị lý tổng hợp đều có xu hướng chuyển cho những đại lý chuyên thu phí quen biết mình. Nên có thể phân công một đại lý chuyên thu phí nhận toàn bộ hợp đồng của từ1 1 đến 3 đại lý chuyên khai thác , nhất là các đại lý chuyên khai thác có mối quan hệ tốt với đại lý chuyên thu phí.

    *Thứ ba- Tăng cường hỗ trợ mạng đại lý chuyên khai thác.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 32
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Nhiệm vụ chính của đại lý chuyên khai thác là tìm kiế m khách hàng mới, thuyết phục khách hàng tham giaBảo hiểm , thu phí Bảo hiểm đầu tiên. Muố n tăng được doanh thu, t ăng s ố lượ ng h ợp đồng thì các đại lý chuyên khai thác phải nhận được phải nhận được mộ t sự hỗ trợ đặc biệt t ừ phía công ty như: Tìm kiếm các đầu mối khách hàng lớn là tổ chức, tập thể, hỗ trợ phương tiện , cơ sở vật chất để đại lý đi khai thác nh ư cung cấp tờ rơi , bố chí xe đưa đón đại lý ;trường hợp đại lý tự khai thác được các khách hàng lớn là tổ chức ,tập thể , thậm chí là các cá nhân nhưng khách hàng yêu cầu công ty đến làm việc, công ty bố trí thời gian làm việc với khách hàng , không khoán trắng đại lý ; xây dựng chế độ hoa hồng phù hợp ;tăng cường thi đua khen thưởng .

    4.6. Môi trường pháp lý trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng được hoàn thiện.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, từng bước thiết l ập và duy trì mộ t th ị trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đối v ới l ĩnh vực này, trước hết là sự ra đời của luật kinh doanh bảo hiểm, bắt đầu có hiệu l ực từ ngày 1/4/2001, ti ếp đó là nghị định và thương t ư hướng dẫn. Ngoài việc xây dựng và hoàn thiện môi trườ ng pháp lý, trong thời gian qua, nhà n ước cũng có những chính sách ưu đãi, hỗ chợ, thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ như ưu đãi về thuế (theo luật thuế giá trị gia tăng, bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện ch ịu thu ế). Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển.

    Với chính sách hội nhập kinh tế, n ền kinh tế nước ta đã và đang bước vào giai đoạn hồi phục, ổn định và phát triển với tố c độ cao, l ạm phát được đẩy lùi, thu nhập của ngườ i dân ngaỳ càng được cải thiện, tạo điều kiện tiền đề thúc đẩy thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển. Đến nay bảo hiểm nhân thọ Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, doanh thu phí chiếm 0,55% GDP (rất nhỏ so với 2%-4% GDP của các n ướ c trong khu vực và 10-12% của các nướ c phát tri ển) và khoảng 2% dân số có hợp đồng bảo hi ểm nhân thọ (tỷ lệ này ở Trung Quốc là 22%, Nh ật Bản gần 100%) như vậy tiềm năng của thị trường còn rất lớn. Cùng với sự hoàn thiện củ a môi trường pháp lý, các chính sách hỗ trơ, khuyến khích của nhà nước, sự phát triển của khoa học công nghệ với sự hoạt động mạnh mẽ của các doanh nghiệp, có th ể dự đoán rằng , thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam sẽ còn phát triển cao trong những năm tiếp theo.

    4.6. Những hạn chế của th ị trường bảo hiểm nhân thọ Vi ệt Nam. Thị trường mới chủ yếu đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và

    bền vững chưa cao. Đến nay, các doanh nghiệp v ẫn đặt trọ ng tâm và mục tiêu tăng trưởng, mở rộng thị trường. Tính không bền vững còn thể hiện ở

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 33
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    chỗ hiện nay có rất nhiều sản phẩm (phần lớn là mang tính tiết kiệm cao) được tính phí với lãi xuất k ỹ thuật khá cao điều này có thể d ẫn đến việ c lãi xuất đầu tư có thể thực hiện được trên thực tế nhở hơn so với lãi xuất đ ã đưa vào tính phí, không đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ quyền lợi bảo hiểm đã cam kết.

    Thị trường đầu t ư của Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành, còn thi ếu các công cụ đầu tư, nhất là các công cụ đầu tư dài hạn, do vậy hạn chế rất lớn hiệu qủa hoạt động đầu t ư của các doanh nghi ệp b ảo hiểm nhân thọ nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà các sản phẩm tiết kiệm chiếm phần lớn.

    Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

    • Việt Nam chưa thực sự đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy đinh chưa rõ ràng, chưa thực sự phù hợp với tập quán bảo hiểm nhân thọ, chua tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp; hiệu lực thực thi các quy định cũng như việc kiểm tra giám sát của các cơ quan trức năng trên thực tế chưa cao.

    Những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh (như tung tin giả), trục lợi bảo hiểm, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng đã xuất hiện, gây tác động xấu đến thị trường, làm tổn hại đến hình ảnh và uy tín của ngành.

    Tập quán tham gia bảo hiểm nhân thọ, phần đông dân chúng trưa hiểu rõ về bảo hiểm nhân thọ, còn e dè, ngại ngần tham gia các hợp đồng dài hạn; các phương tiện thông tin đại chúng đôi khi còn gây hiểu sai lệch về bảo hiểm nhân thọ.

    Trình độ cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ còn bất cập; ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam còn thiếu những chuyêng gia giỏi. Đây cũng là một thách thức đối với bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong những năm tới.

    5.Một số kiến nghị để phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong thời gian tới:

    Chỉ trong vòng 5 năm thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn .Tuy vậy, thị trường vẫn còn rất nhiều điều hạn chế cần khắc phục như cạnh tanh chưa lành mạnh đã xuất hiện, thị trường mới đạt được sự tăng trưởng cao, yếu tố hiệu quả và bền vững chưa cao,tập quán tham gia Bảo hiểm nhân thọ mới bắt đầu được hình thành ,phần đồng dân chúng chưa hểu rõ về Bảo hiểm nhân thọ,báo chí đôi khi đưa ra những thông tin sai lệch ,công cụ đầu tư còn nghèo làn ,khung pháp lý chưa hoàn thiện trình độcán bộ, đại lý làm Bảo hiểm nhân thọ còn bất cập, để thúc đẩy thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam phát triển bền vững,tăng cường vai trò của nó trong công cuộc công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước cần

    Khoa kinh tế Bảo hiểm 34
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    phát huy những điểm mạnh, khắc ph ục những điểm yếu tồn tại hiện thời đồng thời phải chuẩn bị tốt để đối phó với những khó khăn thách thức và sắp tới là thách thức hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế

    Để thực hi ện nh ững nhiệm vụ trên cần có những chiến l ược và giải pháp mang tính đồng bộ, cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. dưới đây là một số kiến nghị:

    Thứ nhất, nhà nước cần hoàn thi ện các quy định pháp luật điều chỉnh nhằm tạo khung pháp lý thu ận lợi cho hoạt động kinh doanh Bảo hi ểm nhân thọ. Tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia cũng như các doanh nghiệp b ảo hiểm , nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nướ c với hoạt đông kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ trong nền kinh tế thị tr ường theo định hướng xã h ội chủ nghĩa. Việc hoàn thiện môi trường pháp lý , trước hết là hoàn thiện và bổ sung các quy định phù hợp v ới tậ p quán kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ, điều kiện thực tiễn Việt nam , mục tiêu và định hướng phát triển thị trường. Song song với việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng một cơ chế ki ểm tra giám sát hữu hiệu việc thực hiện trên thực t ế nh ặm xác lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.

    Thứ hai: nhà n ước c ần có chiế n lược, đị nh hướng phù hợp trong phát triển thị trường Bảo hiểm nhân th ọ, tr ước h ết là chiến lượ c , chính sách hội nhập. Đó là cần xác định lộ trình hội nhập và mở cửa thị trường Bảo hiểm nhân thọ. Tiếp đến, nhà nước cần có chính sách phù hợp để khuyến khích phát triển thị trường Bảo hiểm nhân thọ, cụ thể:

    +Vì Bảo hiểm nhân thọ là ngành kinh doanh mang ý nghĩa xã hội sấu sắc, do vậy nhà nước cũ ng cầ n có những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy ngành Bảo hiểm nhân thọ phát tri ển nh ư chính sách về đầu t ư (ưu tiên các doanh nghi ệp Bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các công trình, dự án an toàn vốn, lợi tức đầu tư cao), chính sách thuế thu nhập đối với những ngưới tham gia Bảo hiểm nhân thọ (giống nh ư ở các nước khác )…Với chính sách ưu đãi về thuế đố i với người tham gia B ảo hiểm nhân thọ, nhà nướ c có thể thực hiện chính sách khấu trừ một phần phí Bảo hiểm nhân thọ mà cá nhân đóng phí Bảo hiểm nhân th ọ khỏi thu nh ập chịu thuế, mi ễn thuế đối với (một phần hoặc toàn bộ )số tiền bảo hiểm mà ng ưòi tham gia B ảo hiểm được nhận, cho phép tính một phần ho ặc toàn bộ số phí bảo hiểm mà doanh nghiệp đóng Bảo hiểm nhân thọ vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

    • Đối với vấn đề đại lý, do hoạt động đại lý Bảo hiểm nhân thọ có những điểm khác biệt so với các đại lý thương mại nói chung nên nhà nước cần có những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề Bảo hiểm nhân thọ. Đặc biệt để tiêu chuẩn
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 35
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    hoá được đôị ngũ đại lý Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Nhà nướ c cần quy định rõ nội dung đào tạo, đồng thời tiến hành tổ chức thi sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý, không nên giao hoặc uỷ quyền việc kiểm tra sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý cho các doanh nghi ệp. Thêm vào đó để đạt được hợp đồng đại lý Bảo hiể m nhân th ọ phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị,..(mỗi đại lý có thể được coi là một doanh nghi ệp), do vậy khi xác định thu ế thu nhập cho đại lý cũng cần có cách tính phù hợp. Ngoài ra để có thể phát triển nghề đại lý Bảo hiểm nhân thọ như là mộ t nghề chuyên nghiệp, cần bổ sung chính sách Bảo hiể m xã hộ i để đại lý yên tâm công tác lâu dài, có nguồn tài chính đảm bảo khi hết khả năng lao động(như dưới hình thức Bảo hiểm xã hội tự nguyện).

    +Trong Bảo hiểm nhân thọ, chính sách hoa hồng đóng một vai trò rất quan trọng. Do vậy, khi quy định định mức hoa hồ ng t ối đa áp dụng cho toàn thị trường, cần xác định định mức hoa hồng củ a các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý tương quan giữ các sản phẩm Bảo hiểm , các phương thức đóng phí , thời gian B ảo hiể m b ảo đảm sự linh hoạt cho các doanh nghiệp và có thể phát triển được độ i ngũ chuyên nghiệp trong Bảo hiểm nhân th ọ. Mặt khác cũng cần thiết lập một cơ chế kiể m tra giám sát chặt chẽ đối v ới việc sử dụng hoa hồng của các doanh nghiệp trên thực tế. Trong giai đọan hiện nay, định mứ c hoa hồng có thể quy định theo tỷ l ệ tối đ a củ a tổng hoa hồng trên tổng phí của hợp đồng (chẳng hạn với Bảo hiểm hỗ n hợp , thời hạn Bảo hi ểm 10 năm, tỷ lệ hoa hồng t ối đa là 7%) nhăm t ạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc tr ả hoa hồng vì với cùng thời hạn Bảo hiểm mỗi sản phẩm lại có cách thức nộp phí khác nhau(thời hạn nộ p phí có thể nhỏ hơn hoặc bằng thời hạn Bảo hiểm )và mỗi doanh nghiệp lại có cách th ức tr ả hoa hồng khác nhau (một số nước không quy định tỷ lệ hoa h ồng mà quy định tỷ lệ chi phí hoạt động tối đa trên tổng phí ). Tuy nhiên để đ iều tiết cạnh tranh khi thị trường mới hình thành, có thể quy định thêm tỷ lệ hoa hồng tối đa trong năm hợp đồng thư nhất. Trong giai đoạn tiếp theo, khi thị trường Bảo hiểm nhân thọ thiết lập được sự c ạnh tranh tương đối lành mạnh và đạt đến một trình độ phát triển nhất định, nhà n ước có thể thực hiện tự do hoá hoa hồng để tăng cường hiệu quả hoạt động của thị trường.

    • Một vấn đề nữa cũng cần được nhà nước quan tâm là lãi suất kỹ thuật. Được giả định cho một thời gian rất dài, lãi suất kỹ thuật được áp dụng trong tính phí Bảo hiểm nhân thọ là một yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, quyết định sự an toàn kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và việc đảm bảo quyền lợi của khách hàng. Thực tiễn vừa qua cho thấy , sự sụp đổ của hàng loạt công ty Bảo hiểm nhân thọ Nhật Bản như NISSAN,KYOEI,
    Khoa kinh tế Bảo hiểm 36
    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    DAICHI,TOHO…chủ yếu là do lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao. Do vậy, nhà nước cũ ng cần có sự quan tâm thích đáng về vấn đề này (như đưa ra mức lãi suất kỹ thuật tham khảo )để giúp các doanh nghiệp xác định được mức lãi suất thích hợp đảm bảo cho khả nămg thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai.

    • Cuối cùng, nhà nước cần có các chính sách tạo ra sự bình đẳng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có thể đứng trên cùng mặt bằng khi cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc loại hình khác trên các mặt như: tiền lương, chi phí quản lý …

    Thứ ba, các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ cần nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ, phát triển và cung cấp các dịch vụ theo hướng cung cấp “dịch vụ tổng hợp”, đó là dịch vụ Bảo hiểm kết hợp với các dịch vụ tài chính hoặc các dịch vụ khác như tư vấn đầu tư, tư vấn tiêu dùng, tư vấn luật, tư vấn y tế… Cùng với việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, các doanh nghiệp cần thực hiện đa dạng hoá kênh phân phối như phân phối qua ngân hàng , các tổ chức tài chính để bán sản phẩm, bán hàng qua Internet, qua thư trực tiếp,..

    Thứ tư, các doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp (nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền Bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi Bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…), thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp để có thể cung câp cho thị trường Bảo hiểm nhân thọ với chất lượng tốt nhất, đồng thời nâng cao uy tín của ngành trong công chúng.

    Thư năm, các doanh nghiệp cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ đặc biệt là khoa học công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí Bảo hiểm tăng khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của mội trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá của nền kinh tế tri thức.

    Thứ sáu, tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt như: đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi Bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ, đại lý xây dựng và tăng cường uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, thu thập và sử dụng số liệu thống kê liên quan. Đồng thời cần tăng cường vai trò của hiệp hội Bảo hiểm trong các lĩnh vực hợp tác nêu trên.

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             37

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
     

    C. KẾT LUẬN

     

    Tóm lại qua nghiên cứu ta thấy thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam là một thị trường trẻ, có rất nhiều tiền năng phát triển chong tương lai. Nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những khó khăn và thách thức mà đòi hỏi những năm tới chúng ta phải xây dựng hoàn thành.

    Như vậy để thị trường ngày một phát triển, thì nhà nước ta phải không ngừng có những chính sách hỗ trợ, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo ra một thị trường kinh doanh lành mạnh, thu hút các nhà bảo hiểm nhân thọ nước ngoài đầu tư vào thị trường .

    Bên cạnh đó cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đúng những chính sách mà nhà nước đặt ra, cũng như có các chương trình tuyển dụng, đào tạo cán bộ, đại lý làm bảo hiểm nhân thọ.

     

    Khoa kinh tế Bảo hiểm                                                                                                                             38

    ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ BẢO HIỂM SINH VIÊN:
    NGUYỄN TIẾN DƯỠNG    
         

    Tài liệu tham khảo

    1. Bài giảng kinh tế bảo hiểm.

     

    1. Giáo trình kinh tế boả hiểm.

     

    1. Luật kinh doanh bảo hiẻm.

     

    1. Tạp chí bảo hiểm số 4/99; số 1,2,3,4/2000; số 1,2,3,4/2001; số 1,2,3/2002
      1. Thời boá kinh tế số 99/2002

     

    1. Tạp chí tài chính tháng 4/2002

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BẢO HIỂM XÃ HỘI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-ti%E1%BB%81n-l%C6%B0%C6%A1ng-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-S%C3%B4ng-%C4%90%C3%A0.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nêu ra 3 yếu tố của lao động, đó là: lao động của con người, đối tượng lao động và công cụ lao động. Thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sản xuất sẽ không diễn ra. Nếu xét về mức độ quan trọng thì lao động của con người là yếu tố đóng vai trò quyết định nhất. Không có sự tác động của con người vào tư liệu sản xuất (2 yếu tố sau) thì tư liệu sản xuất không thể phát huy được tác dụng.

    Đối với người lao động, sức lao động họ bỏ ra là để đạt được lợi ích cụ thể, đó là tiền công (lương) mà người sử dụng lao động của họ sẽ trả. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình phân tích hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn) rất được người lao động quan tâm. Trước hết là họ muốn biết lương chính thức được hưởng bao nhiêu, họ được hưởng bao nhiêu cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và họ có trách nhiệm như thế nào với các quỹ đó. Sau đó là việc hiểu biết về lương và các khoản trích theo lương sẽ giúp họ đối chiếu với chính sách của Nhà nước quy định về các khoản này, qua đó biết được người sử dụng lao động đã trích đúng, đủ cho họ quyền lợi hay chưa. Cách tính lương của doanh nghiệp cũng giúp cán bộ công nhân viên thấy được quyền lợi của mình trong việc tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy việc nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp.

    Còn đối với doanh nghiệp, việc nghiên cứu tìm hiểu sâu về quá trình hạch toán lương tại doanh nghiệp giúp cán bộ quản lý hoàn thiện lại cho đúng, đủ, phù hợp với chính sách của Nhà nước, đồng thời qua đó cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp được quan tâm bảo đảm về quyền lợi sẽ yên tâm hăng hái hơn trong lao động sản xuất. Hoàn thiện hạch toán lương còn giúp doanh nghiệp phân bổ chính xác chi phí nhân công vào giá thành sản phẩm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhờ giá cả hợp lý. Mối quan hệ giữa chất lượng lao động (lương) và kết quả sản xuất kinh doanh được thể hiện chính xác trong hạch toán cũng giúp rất nhiều cho bộ máy quản lý doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định chiến lược để nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xuất phát từ tầm quan trọng của lao động tiền lương, trong thời gian trực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, nhờ sự giúp đỡ của phòng kế toán và sự hướng dẫn của Thầy giáo, em đã đi sâu tìm hiểu đề tài: “Hạch toán tiền lương và bảo hiểm”.

    NỘI DUNG CỦA CHUYÊN ĐỀ ĐƯỢC XÂY DỰNG GỒM 3 CHƯƠNG:

    Chương I:       Những lý luận cơ bản về tiền lương và bảo hiểm

    Chương II: Thực trạng hạch toán tiền lương và bảo hiểm tại công ty xây dựng Sông Đà.

    Chương III: Nhận xét, đánh giá và một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và bảo hiểm ở công ty xây dựng Sông Đà.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG I

    NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM

    I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG

     

    • Việt Nam trước đây, trong nền kinh tế bao cấp, tiền lương được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh nhưng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, tiền lương được hiểu theo đúng nghĩa của nó trong nền kinh tế đó. Nhà nứơc định hướng cơ bản cho chính sách lương mới bằng một hệ thống được áp dụng cho mỗi người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế quốc dân và Nhà nước công nhận sự hoạt động của thị trường sức lao động.

    Quan niệm hiện nay của Nhà nước về tiền lương như sau:

    “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng sức lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật cung – cầu”.

    Trong cơ chế mới, cũng như toàn bộ các loại giá cả khác trên thị trường, tiền lương và tiền công của người lao động ở khu vực sản xuất kinh doanh do thị trường quyết định. Nguồn tiền lương và thu nhập của người lao động là lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh (một phần trong giá trị mới sáng tạo ra). Tuy nhiên sự quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền lương đối với khu vực sản xuất kinh doanh buộc các doanh nghiệp phải bảo đảm cho người lao động có thu nhập tối thiểu bằng mức lương tối thiểu do Nhà nước ban hành để ngươì lao động có thể ăn, ở, sinh hoạt và học tập ở mức cần thiết.

    Còn những người lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp hưởng lương theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định theo chức danh và tiêu chuẩn, trình độ nghiệp vụ cho từng đơn vị công tác. Nguồn chi trả lấy từ ngân sách Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Tuy khái niệm mới về tiền lương đã thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt (là tổng thể của các mối quan hệ xã hội) và đòi hỏi phải trả lương cho người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể nhưng do đang ở thời kỳ chuyển đổi nên tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, các cơ quan hành chính sự nghiệp ở khu vực Nhà nước ở nước ta chưa hoàn toàn hoạt động trả lương như các đơn vị sản xuất tư nhân, cần có đầy đủ thời gian chuẩn bị đầy đủ điều kiện cho việc trả lương theo hướng thị trường.

    • nghĩa của tiền lương đối với người lao động, đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng to lớn nếu đảm bảo đầy đủ 4 chức năng:
    1. Chức năng thước đo giá trị: là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm cả sức lao động) biến động
    2. Chức năng tái sản xuất sức lao động: nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài, có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí cho người lao động.
    3. Chức năng kích thích lao động: bảo đảm khi người lao động làm việc có hiệu quả thì được nâng lương và ngược lại.
    4. Chức năng tích luỹ: đảm bảo có dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi người lao động hết khả năng lao động hoặc gặp bất trắc rủi ro.

    Trong bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần sử dụng một lực

    lượng lao động nhất định tuỳ theo quy mô, yêu cầu sản xuất cụ thể. Chi phí về tiền lương là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, sử dụng hợp lý lao động cũng chính là tiết kiệm chi phí về lao động sống (lương), do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, cho người lao động trong doanh nghiệp.

    Tiền lương không phải là vấn đề chi phí trong nội bộ từng doanh nghiệp thu nhập đối với người lao động mà còn là một vấn đề kinh tế – chính trị – xã hội mà Chính phủ của mỗi quốc gia cần phải quan tâm.

    II – CÁC HÌNH THỨC TRẢ TIỀN LƯƠNG

    Trong các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại lao động khác nhau; tính

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    chất, vai trò của từng loại lao động đối với mỗi quá trình sản xuất kinh doanh lại khác nhau. Vì thế, mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động sao cho hợp lý, phù hợp với đặc điểm công nghệ, phù hợp với trình độ năng lực quản lý.

    Hiện nay, việc trả lương trong các doanh nghiệp phải thực hiện theo luật lao động và theo Nghị định NĐ 197 CP 31-12-1994 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tại điều 58 Bộ luật lao động nước ta. Các doanh nghiệp có thể áp dụng 3 hình thức trả lương như sau:

    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương
    • Hình thức trả lương

    theo thời gian

    theo sản phẩm

    khoán

    A. Hình thức trả lương theo thời gian:

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là thời gian làm việc và trình độ nghiệp vụ của người lao động.

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau, mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng, trong mỗi một thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỷ luật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương nhất định.

    Tiền lương theo thời gian có thể tính theo các đơn vị thời gian như: tháng, tuần, ngày, giờ.

    Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương, nó có nhiều nhược điểm bởi không tính được người làm việc nhiều hay ít ngày trong tháng, do đó không có tác dụng khuyến khích tận dụng đủ số ngày làm việc quy định. Lương tháng thường áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất.

    Lương tuần được trả cho người lao động căn cứ vào mức lương tháng và số tuần thực tế trong tháng. Lương tuần áp dụng trả cho các đối tượng lao động có thời gian lao động không ổn định mang tính chất thời vụ.

    Lương ngày trả cho người lao động căn cứ vào mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Lương ngày thường áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương thời gian,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    tính lương cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH). Hình thức này có ưu điểm đơn giản, dễ tính toán, phản ánh được trình độ kỹ thuật và điều kiện làm việc của người lao động. Song, nó chưa gắn tiền lương với kết quả lao động của từng người nên không kích thích việc tận dụng thời gian lao động, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.

    Mức lương giờ tính dựa trên cơ sở mức lương ngày, nó thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong thời gian làm việc không hưởng theo sản phẩm. Ưu điểm của hình thức này

    là đã tận dụng được thời gian lao động của công nhân nhưng nhược điểm là vẫn chưa gắn tiền lương với kết quả lao động với từng người, theo dõi phức tạp…

    Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả lương càng gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao động.

    *Tiền lương

    Tiền lương cấp bậc

    Số ngày làm việc

     

    =

    ×

     

    tháng

    chức vụ 1 ngày

    thực tế trong tháng

     

    Tiền lương tháng

    ×

    12 tháng

     

    *Tiền lương tuần =

    Số tuần làm việc theo chế độ (52)

    Tiền lương tháng

    *Tiền lương ngày =

    Số ngày làm việc theo chế độ (26)

    Tiền lương ngày

    *Tiền lương giờ =

    Số giờ làm việc theo chế độ

    Hình thức trả lương này có nhược điểm là không phát huy đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động vì nó không xét đến thái độ lao động, đến cách sử dụng thời gian lao động, sử dụng nguyên vật liệu,

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    máy móc thiết bị, chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực tế của người lao động.

    B. Hình thức trả lương theo sản phẩm

    Theo hình thức này, cơ sở để tính trả lương là số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành.

    Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn bó chặt chẽ thù lao lao động với kết quả sản xuất, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy năng lực, khuyến khích tài năng, sử dụng và phát huy được khả năng của máy móc trang thiết bị để tăng năng suất lao động.

    Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế có thể khắc phục được như năng suất cao nhưng chất lượng kém do làm ẩu, vi phạm quy trình, sử dụng quá năng lực của máy móc… đó là do quá coi trọng số lướng sản phẩm hoàn thành và một phần cũng do các định mức kinh tế kỹ thuật xây dựng quá lỏng lẻo, không phù hợp với điều kiện và khả năng sản xuất của doanh nghiệp.

    Bởi vậy, trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm, từng công việc một cách hợp lý .

    Tuỳ thuộc vào điều kiện và tình hình cụ thể ở từng doanh nghiệp, hình thức trả lương theo sản phẩm được vận dụng theo các phương pháp cụ thể:

    • Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế
    • Trả lương theo sản phẩm gián tiếp
    • Trả lương theo sản phẩm có thưởng – phạt
    • Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến
    1. Tiền lương trả theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế

    Với cách này, tiền lương phải trả cho người lao động được trích trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá tiền lương sản phẩm đã quy định không chịu một sự hạn chế nào.

    Error!

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đơn giá tiền lương trả cho một đơn vị sản phẩm hoàn thành được xây dựng căn cứ vào mức lương cấp bậc công việc và định mức thời gian hoặc định mức sản lượng cho công việc đó. Ngoài ra , nếu có phụ cấp khu vực thì đơn giá tiền lương còn có thêm cả tỷ lệ phụ cấp khu vực.

    Error!

    hoặc

    Error!

    Hình thức trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế có ưu điểm đơn giản, dễ hiểu, quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, lương trả cho công nhân càng cao khi sản xuất ra càng nhiều sản phẩm, do đó khuyến khích được người công nhân nâng cao năng suất lao động. Đây là hình thức phổ biến được các doanh nghiệp sử dụng để tính lương phải trả cho lao động trực tiếp.Tuy nhiên cách trả lương này cũng có nhược điểm nâng cao lợi ích cá nhân, không khuyến khích người lao động quan tâm đến lợi ích chung của tập thể.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm luỹ tiến

    Theo hình thức này, ngoài tiền lương theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành tỷ lệ luỹ tiến. Mức luỹ tiến này còn có thể quy định bằng hoặc cao hơn định mức sản lượng. Những sản phẩm dưới mức khởi điểm luỹ tiến được tính theo đơn giá tiền lương chung cố định, những sản phẩm vượt mức càng cao thì suất luỹ tiến càng lớn.

    Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có tác dụng kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động, nhưng thường dẫn đến tốc độ tăng tiền lương cao hơn tăng năng suất lao động và làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, hình thức này được sử dụng như một giải pháp tạm thời như áp dụng trả lương ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc có thể áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    nào đó. Trường hợp không cần thiết thì doanh nghiệp không nên sử dụng hình thức này.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm gián tiếp

    Tiền lương của người được trả lương theo sản phẩm gián tiếp được xác định bằng cách nhân số lượng sản phẩm thực tế của người lao động trực tiếp được người đó phục vụ với đơn giá lương cấp bậc của họ (hoặc mức lương cấp bậc nhân với tỷ lệ % hoàn thành định mức sản lượng bình quân của người lao động trực tiếp).

    Tiền lương trả theo Số lượng sản phẩm   Đơn giá lương  
    =       ×      
    sản phẩm trực tiếp của công nhân trực tiếp gián tiếp  
          Số lượng sản phẩm của  
      Mức lương cấp bậc công nhân trực tiếp  
    = ×     ×100  
       
      của lao động gián tiếp Sản lượng định mức  
    Như vậy:              
        Mức lương cấp bậc của lao động gián tiếp  
    Đơn giá tiền lương gián tiếp =            
    Sản lượng định mức  
       

    Hình thức trả lương này áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như công nghệ điều chỉnh máy, sửa chữa thiết bị, bảo dưỡng máy móc, lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành phẩm…

    Trả lương theo thành phẩm gián tiếp khuyến khích những người lao động gián tiếp phối hợp với lao động trực tiếp để nâng cao năng suất lao động, cùng quan tâm tới kết quả chung. Tuy nhiên, hình thức này không đánh giá được đúng kết quả lao động của người lao động gián tiếp.

    1. Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng, phạt

    Để khuyến khích người công nhân có ý thức trách nhiệm trong sản xuất, công tác, doanh nghiệp có chế độ tiền thưởng khi người công nhân đạt được những chỉ tiêu mà doanh nghiệp đã quy định như

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    thưởng về chất lượng sản phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư.

    Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư, không đảm bảo ngày công quy định… thì có thể phải chịu mức tiền phạt trừ vào mức tiền lương theo sản phẩm mà họ được hưởng.

    Thực chất của hình thức trả lương này là sự kết hợp giữa tiền lương trích theo sản phẩm với chế độ tiền thưởng, phạt mà doanh nghiệp quy định.

    Hình thức này đánh vào lợi ích người lao động, làm tốt được thưởng, làm ẩu phải chịu mức phạt tương ứng, do đó, tạo cho người công nhân có ý thức công việc, hăng say lao động. Nhưng hình thức này nếu làm tuỳ tiện sẽ dẫn đến việc trả thưởng bừa bãi, không đúng người đúng việc, gây tâm lý bất bình cho người lao động.

    C. Hình thức trả lương khóan

    Theo hình thức này, công nhân được giao việc và tự chịu trách nhiệm với công việc đó cho tới khi hoàn thành.

    Có 2 phương pháp khoán: khoán công việc và khoán quỹ lương.

    • Khoán công việc:

    Theo hình thức này, doanh nghiệp quy định mức tiền lương cho mỗi công việc hoặc khối lượng sản phẩm hoàn thành. Người lao động căn cứ vào mức lương này có thể tính được tiền lương của mình thông qua khối lượng công việc mình đã hoàn thành.

    Mức lương quy định        Khối lượng công

    việc

     

    Tiền lương khoán công việc =

    ×

     

    cho từng công việc

    đã hoàn thành

     

    Cách trả lương này áp dụng cho những công việc lao động đơn giản, có tính chất đột xuất như bốc dỡ hàng, sửa chữa nhà cửa…

    • Khoán quỹ lương

    Theo hình thức này, người lao động biết trước số tiền lương mà họ sẽ nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào khối lượng từng công việc hoặc khối lượng sản phẩm và thời gian cần thiết để hoàn thành mà doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trả lương theo cách khoán quỹ lương áp dụng cho những công việc không thể định mức cho từng bộ phận công việc hoặc những công việc mà xét ra giao khoán từng công việc chi tiết thì không có lợi về mặt kinh tế, thường là những công việc cần hoàn thành đúng thời hạn.

    Trả lương theo cách này tạo cho người lao động có sự chủ động trong việc sắp xếp tiến hành công việc của mình từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được giao. Còn đối với người giao khoán thì yên tâm về thời gian hoàn thành.

    Nhược điểm của phương pháp trả lương này là dễ gây ra hiện tượng làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lượng do muốn đảm bảo thời gian hoàn thành. Vì vậy, muốn áp dụng phương pháp này thì công tác kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi giao nhận phải được coi trọng, thực hiện chặt chẽ.

    Nhìn chung, ở các doanh nghiệp do tồn tại trong nền kinh tế thị trường, đặt lợi nhuận lên mục tiêu hàng đầu nên việc tiết kiệm được chi phí lương là một nhiệm vụ quan trọng, trong đó cách thức trả lương được lựa chọn sau khi nghiên cứu thực tế các loại công việc trong doanh nghiệp là biện pháp cơ bản, có hiệu quả cao để tiết kiệm khoản chi phí này. Thông thường ở một doanh nghiệp thì các phần việc phát sinh đa dạng với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Vì vậy, các hình thức trả lương được các doanh nghiệp áp dụng linh hoạt, phù hợp trong mỗi trường hợp, hoàn cảnh cụ thể để có được tính kinh tế cao nhất.

    II- LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ, KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN.

    1. Bảo hiểm xã hội (BHXH):

    Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện để sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác như ốm đau, tai nạn, tuổi già mất sức lao động… nhưng những nhu cầu cần thiết của cuộc sống không những mất đi hay giảm đi mà thậm chí còn tăng lên, xuất hiện thêm những nhu cầu mới (khi ốm đau cần chữa bệnh…). Vì vậy, con người và xã

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hội loài người muốn tồn tại, vượt qua được những lúc khó khăn ấy thì phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau.

    Trong xã hội công xã nguyên thuỷ, khó khăn bất lợi của mỗi người được cả cộng đồng san sẻ gánh chịu. Còn ở xã hội phong kiến quan lại, những lúc gặp khó khăn thì cậy nhờ ở Vua, dân cư gặp khó khăn thì trông cậy vào sự đùm bọc, hảo tâm của họ hàng làng xã. Như vậy là tất cả đều ở thế bị động, thụ động trông chờ vào sự hảo tâm của phía giúp đỡ mà hoàn toàn không được chắc chắn.

    Tiến bộ hơn, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển xuất hiện mối quan hệ chủ – thợ. Khi hai bên cam kết về lao động, điều kiện về sự đảm bảo một phần thu nhập để trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn… cho người lao động đã được người lao động quan tâm đến. Tuy nhiên, mới đầu do việc đảm bảo này chỉ liên quan giữa hai bên chủ- thợ mà chủ thì rõ ràng không muốn chi ra, thợ thì luôn đòi hỏi, vì vậy, tranh chấp giữa họ luôn xảy ra.

    Điều kiện khách quan đó làm xuất hiện một bên thứ ba, là nhân vật đóng vai trò trung gian để giúp thực hiện những cam kết giữa chủ- thợ bằng những hoạt động thích hợp của nó. Nhân vật thứ ba có đủ khả năng và sự tín nhiệm để làm bên trung gian, đó là Nhà nước.

    Nhà nước quy định hàng tháng giới chủ phải trích ra một khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ trên cơ sở xác xuất những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê để giao cho bên thứ ba, khi có biến cố thì bên thứ ba chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ, số tiền không phải dùng đến (chưa phải chi trả) sẽ tồn tích lâu ngày thành quỹ.

    Việc Nhà nước can thiệp vào với vai trò là bên thứ ba, một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế trong các mối quan hệ xã hội, mặt khác làm tăng chi cho ngân sách Nhà nước.

    Nhà nước bằng những cơ sở lý luận khoa học đã buộc giới chủ đóng góp vào quỹ BHXH với một khoản tiền phù hợp đủ cho người lao động, đồng thời cũng yêu cầu giới thợ đóng góp một phần tiền lương của mình vào quỹ để đảm bảo cho cuộc sống của chính mình.

    Nhờ các hoạt động của Nhà nước này mà mâu thuẫn giữa chủ-thợ được giải quyết, cả hai bên đều hài lòng, cảm thấy mình có lợi và được bảo vệ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    Như vậy, ta có được khái niệm về BHXH như sau:

    “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”.

    • Việt Nam hiện nay, mọi người lao động có tham gia đóng BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay bắt buộc tuỳ thuộc vào loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để đảm bảo cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH thích hợ Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương quy định để đóng BHXH đối với mỗi người lao động.

    Quỹ BHXH

    Theo chế độ hiện hành, quỹ BHXH được tính theo tỷ lệ 20% trên tổng quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế trong kỳ hạch toán.

    Trong đó, 15% người sử dụng lao động phải nộp và khoản này tính vào chi phí kinh doanh, còn 5% do người lao động trực tiếp đóng góp (trừ trực tiếp vào lương).

    Chi của quỹ BHXH cho người lao động theo chế độ căn cứ

    vào:

    +Mức lương ngày của người lao động

    +Thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ)

    +Tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    2. Bảo hiểm y tế (BHYT):

    Gần giống như ý nghĩa của BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám chữa bệnh cho người lao động khi họ gặp rủi ro ốm đau, tai nạn… bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.

    Quỹ BHYT

    Quỹ BHYT được hình thành bằng cách trích 3% trên số thu nhập tạm tính của người lao động; trong đó người sử dụng lao động phải chịu

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    2%, khoản này được tính vào chi phí kinh doanh, người lao động trực tiếp nộp 1% (trừ vào thu nhập).

    Quỹ BHYT do Nhà nước tổ chức, giao cho một cơ quan là cơ quan BHYT thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để tăng cường chất lượng trong việc khám chữa bệnh. Vì vậy, khi tính được mức trích BHYT, các nhà doanh nghiệp phải nộp toàn bộ cho cơ quan BHYT.

    3. Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

    Người lao động để bảo vệ quyền lợi của mình trước giới chủ, họ lập ra tổ chức công đoàn. Tổ chức này chuyên trách việc đại diện cho người lao động để thương thuyết với giới chủ đòi quyền lợi cho công nhân và giải quyết các tranh chấp bất công giữa chủ- thợ.

    Nguôn kinh phí cho các hoạt động của tổ chức này lấy từ quỹ “Kinh phí công đoàn”

    Quỹ KPCĐ

    • mỗi doanh nghiệp đều phải có tổ chức công đoàn để đại diện bảo vệ quyền lợi của người lao động và tập thể lao độ Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm các phương tiện làm việc cần thiết để công đoàn hoạt động. Người làm công tác công đoàn chuyên trách do quỹ công đoàn trả lương và được hưởng các quyền lợi và phúc lợi tập thể như mọi người lao động trong doanh nghiệp, tuỳ theo quy chế doanh nghiệp hoặc thoả ước tập thể.

    Như vậy, KPCĐ là quỹ tài trợ cho hoạt động công đoàn các cấp. Theo chế độ hiện hành thì kinh phí công đoàn được tính theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ tiền lương phải trả cho người lao động và người sử dụng lao động phải chịu khoản chi phí này (khoản này cũng tính vào chi phí kinh doanh). Thông thường khi xác định được mức tính kinh phí công đoàn trong kỳ thì một nửa doanh nghiệp phải nộp cấp trên, một nửa thì được sử dụng để chi tiêu cho công đoàn tại các đơn vị.

    IV – NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian và kết quả lao động, tính lương và tính trích các khoản theo lương, phân bổ chi phí nhân công đúng đối tượng sử dụng lao độ
    1. Hướng dẫn kiểm tra các nhân viên hạch toán ở các bộ phận sản xuất kinh doanh, các phòng ban thực hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu về lao động, tiền lương, mở sổ cần thiết và hạch toán nghiệp vụ lao động tiền lương đúng chế độ, đúng phương pháp.
    1. Lập các báo cáo về lao động tiền lương thuộc phần việc do mình phụ trách.
    1. Phân tích tình hình quản lý, sử dụng thời gian lao động, chi phí nhân công, năng suất lao động, đề xuất các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng triệt để có hiệu quả mọi tiềm năng lao động sẵn có trong doanh nghiệ

    V- CHỨNG TỪ BAN ĐẦU ĐỂ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG, BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Sổ sách của bộ phận lao động tiền lương trong doanh nghiệp được lập dựa trên cơ sở các chứng từ ban đầu lập khi tuyển dụng nâng bậc, thôi việc… mọi biến động về lao động được ghi chép kịp thời vào sổ sách lao động làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và các chế độ khác cho người lao động được kịp thời.

    Hạch toán thời gian lao động

    Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép kịp thời chính xác số ngày công giờ công làm việc thực tế cũng như ngày nghỉ việc ngừng việc của từng người lao động, từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này để tính lương phải trả cho từng người.

    Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong các doanh nghiệp. Bảng chấm công dùng để ghi chép thời gian làm việc trong tháng thực tế và vắng mặt của cán bộ công nhân viên trong tổ, đội, phòng ban… Bảng chấm công phải lập riêng cho từng tổ sản xuất, từng phòng ban và dùng trong một tháng. Danh sách người lao động ghi trong sổ danh sách lao động của từng bộ phận được ghi trong bảng chấm công, số liệu của chúng phải khớp nhau. Tổ trưởng tổ sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực tiếp ghi bảng chấm công căn cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    đầu ngàylàm việc ở đơn vị mình. Trong bảng chấm công những ngày nghỉ theo quy định như ngày lễ tết, chủ nhật đều phải được ghi rõ ràng.

    Bảng chấm công phải để tại một địa điểm công khai để người lao động giám sát thời gian lao động của mình. Cuối tháng tổ trưởng, trưởng phòng tập hợp tình hình sử dụng lao động cung cấp cho kế toán phụ trách. Nhân viên kế toán kiểm tra và xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công. Sau đó tiến hành tập hợp số liệu báo cáo tổng hợp lên phòng lao động tiền lương. Cuối tháng, các bảng chấm công được chuyển cho phòng kế toán tiền lương để tiến hành tính lương. Đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động… thì phải có phiếu nghỉ ốm do bệnh viện, cơ sở y tế cấp và xác nhận. Còn đối với các trường hợp ngừng việc xảy ra trong ngày do bất cứ nguyên nhân gì đều phải được phản ánh vào biên bản ngừng việc , trong đó nêu rõ nguyên nhân ngừng việc và người chịu trách nhiệm để làm căn cứ tính lương và xử lý thiệt hại xảy ra. Những chứng từ này được chuyển lên phòng kế toán làm căn cứ tính trợ cấp, BHXH sau khi đã được tổ trưởng căn cứ vào chứng từ đó ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định.

    Hạch toán kết quả lao động

    Hạch toán kết quả lao động là một nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp sản xuất. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lương và trả lương chính xác.

    Tuỳ thuộc vào loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp, người ta sử dụng các chứng từ ban đầu khác nhau để hạch toán kết quả lao động. Các chứng từ ban đầu được sử dụng phổ biến để hạch toán kết quả lao động là phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành, hợp đồng giao khoán…

    Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành là chứng từ xác nhận số sản phẩm (công việc) hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân người lao động.

    Phiếu này do người giao việc lập và phải có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng sản phẩm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    và người duyệt. Phiếu được chuyển cho kế toán tiền lương để tính lương áp dụng trong hình thức trả lương theo sản phẩm.

    Hợp đồng giao khoán công việc là chứng từ giao khoán ban đầu đối với trường hợp giao khoán công việc. Đó là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán với khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán. Trường hợp khi nghiệm thu phát hiện sản phẩm hỏng thì cán bộ kiểm tra chất lượng cùng với người phụ trách bộ phận lập phiếu báo hỏng để làm căn cứ lập biên bản xử lý. Số lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành và được nghiệm thu được ghi vào chứng từ hạch toán kết quả lao động mà doanh nghiệp sử dụng, và sau khi đã ký duyệt nó được chuyển về phòng kế toán tiền lương làm căn cứ tính lương và trả lương cho công nhân thực hiện.

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động

    Hạch toán thanh toán lương với người lao động dựa trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian lao động (bảng chấm công), kết quả lao động (bảng kê khối lượng công việc hoàn thành, biên bản nghiệm thu…) và các chứng từ khác có liên quan (giấy nghỉ ốm, biên bản nghỉ việc…) kế toán tiền lương tiến hành tính lương sau khi đã kiểm tra các chứng từ trên. Công việc tính lương , tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động theo hình thức trả lương đang áp dụng tại doanh nghiệp, kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương (gồm lương chính sách, lương sản phẩm, các khoản phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm cho từng lao động), bảng thanh toán tiền thưởng.

    Bảng thanh toán tiền thưởng là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương,phụ cấp cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Bảng thanh toán tiền lương được thanh toán cho từng bộ phận (phòng ban…) tương ứng với bảng chấm công. Trong bảng thanh toán tiền lương, mỗi công nhân viên được ghi một dòng căn cứ vào bậc, mức lương, thời gian làm việc để tính lương cho từng người. Sau đó kế toán lao động tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương tổng hợp cho toàn doanh nghiệp, tổ đội, phòng ban mỗi tháng một tờ. Bảng thanh toán tiền lương cho toàn doanh nghiệp sẽ chuyển sang cho kế toán trưởng, thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Trên cơ sở đó, kế toán thu chi viết phiếu chi và thanh toán lương cho từng bộ phận.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Việc thanh toán lương cho người lao động thường được chia làm 2 kỳ trong tháng:

    +Kỳ 1: tạm ứng

    +Kỳ 2: thanh toán nốt phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản phải khấu trừ vào lương của người lao động theo chế độ quy định.

    Tiền lương được trả tận tay người lao động hoặc tập thể lĩnh lương đại diện do thủ quỹ phát. Khi nhận các khoản thu nhập, người lao động phải ký vào bảng thanh toán tiền lương.

    Đối với lao động nghỉ phép vẫn được hưởng lương thì phần lương này cũng được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Việc nghỉ phép thường đột xuất, không đều đặn giữa các tháng trong năm do đó cần tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân vào chi phí của từng kỳ hạch toán. Như vậy, sẽ không làm cho giá thành sản phẩm bị biến đổi đột ngột.

    Mức trích trước tiền lương   Tiền lương thực tế Tỷ lệ
    nghỉ phép của công nhân = của công nhân sản xuất × trích
    sản xuất theo kế hoạch   trong tháng trước

    Trong đó:

    Tỷ lệ   Tổng số tiền lương nghỉ phép kế hoạch của công nhân sản xuất
    trích =  
     
    trước   Tổng số tiền lương chính kế hoạch năm của công nhân sản xuất

    *Các chứng từ ban đầu được sử dụng để tính tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp cũng là cơ sở để tính trích quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ bởi vì các khoản này được tính theo phần trăm của lương và các khoản thu nhập khác của ngươì lao động.

    Ngoài ra, khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và từ các phiếu này kế toán phải lập bảng thanh toán BHXH.

    VI – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ TIỀN LƯƠNG:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    A. Tài khoản sử dụng:

    TK 334- “Phải trả công nhân viên”

    Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán lương cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương và các khoản có tính chất lương thuộc về thu nhập của người lao động.

    Kết cấu và nội dung của các khoản này như sau:

    • Số dư đầu kỳ (thường ghi bên Có): phản ánh các khoản tiền lương, tiền thưởng còn phải trả cho người lao động lúc đầu kỳ.
    • Phát sinh tăng (ghi bên Có): phản ánh

    . Tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận trong doanh nghiệp

    . Tính ra tiền lương phải trả cho công nhân nghỉ phép hoặc công nhân nghỉ theo mùa vụ

    + Phát sinh giảm (ghi bên Nợ): phản ánh

    . Số tiền lương doanh nghiệp đã trả cho cán bộ công nhân viên . Số tiền lương doanh nghiệp khấu trừ của cán bộ công nhân viên

    . Số tiền lương của một số người chưa nhận do đi công tác, kế toán kết chuyển về TK 338 để nhận sau.

    + Số dư cuối kỳ: tương tự như số dư đầu kỳ.

    • Tài khoản 334 có thể có số dư bên Nợ nếu số tiền đã trả quá số phải trả về tiền lương, tiền công, tiền thưởng và các khoản khác cho công nhân viên.

    TK 334 có 2 tài khoản cấp 2:

    TK 3341– Tiền lương: dùng để hạch toán các khoản tiền lương , tiền thưởng và các khoản phụ cấp trợ cấp có tính chất lương (tính vào quỹ lương của doanh nghiệp).

    TK 3342– Các khoản khác: dùng để hạch toán các khoản tiền trợ cấp, tiền thưởng có nguồn bù đắp riêng như trợ cấp BHXH, trợ cấp khó khăn, tiền thưởng thi đua…

    B. Nghiệp vụ hạch toán:

    1. Kế toán căn cứ vào các chứng từ để tính ra tiền lương phải trả cho các bộ phận: trực tiếp sản xuất, bán hàng, quản lý…

    Nợ TK 662, 627, 641, 642. Có TK 334

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp thường trả thành 2 kỳ cho cán bộ công nhân viên.
    2. Kỳ 1- tạm ứng:

    Nợ TK 141

    Có TK 111

    1. Kỳ 2- thanh toán

    Nợ TK 334

    Có TK 141, 111

    1. Phản ánh các khoản khấu trừ tiền lương của cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334 Có TK 141 Có TK 1381

    Có TK 333 (thuế thu nhập)

    4.-Kết chuyển tiền lương của những người chưa nhận về TK 3388 để nhận sau:

    Nợ TK 334

    Có TK 3388

    -Sau khi họ nhận, kế toán ghi:

    Nợ TK 3388

    Có TK 111

    5.-Tính ra số BHXH phải trả cho cán bộ công nhân viên theo chế độ:

    Nợ TK 3383

    Có TK 334

    -Khi đã trả khoản này bằng tiền cho cán bộ công nhân viên, kế toán ghi :

    Nợ TK 334

    Có TK 111

    6.Trích trước tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ (áp dụng đối với những doanh nghiệp có số lượng công nhân nghỉ phép không đồng đều giữa các tháng và đối với những doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ).

    1. Kế toán căn cứ vào kế hoạch trích trước để tính vào các tháng: Nợ TK 622, 627, 641, 642

    Có TK 335

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                   Nguyễn Thị Nga

    1. Tính ra tiền lương của công nhân nghỉ phép hoặc nghỉ theo mùa vụ phải trả trong kỳ:

    Nợ TK 335 Có TK 334

    1. Sau khi đã trả khoản này cho cán bộ công nhân viên:

    Nợ TK 334

    Có TK 1117.

    1. Tiền lương trả quá phải thu hồi.
                          Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương                  
    TK 111                         TK 334       TK 622,627,641,642
                TK 141     1                        
        2a                      
                                          TK 335                  
                                  2b                                
                                                                         
            TK 141,138,333 6b               6a              
                                                                         
                                                                         
                          3               5a         TK 338  
                                                     
                                                                     
                                                                         
                TK   338                                            
                                                           
                                                     
                                                                     
            4b                 4a           7             TK 138
                                                                   
                                                                 
                                                             
                5b                                    
                                                       
                6c                                    

    VII – HẠCH TOÁN TỔNG HỢP VỀ BHXH, BHYT, KPCĐ.

    Hạch toán BHXH

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3383- BHXH: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHXH ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số BHXH hiện có ở đơn vị đầu kỳ hạch toán

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . nộp BHXH lên cơ quan cấp trên hoặc cơ

    quan      BHXH

    . tính ra số BHXH trả tại đơn vị

    +Số dư cuối kỳ: tương tự số dư đầu kỳ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHXH phải trả cho các bộ phận

    Nợ TK 622,627,641,642 (15%)
    Nợ TK 334 (5%)
    Có TK 3383 (20%)
    1. Theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHXH lên cấp trên hoặc cơ quan BHXH:

    Nợ TK 3383

    Có TK 111,112

    1. Tính ra số BHXH trả tại đơn vị : a. Tính:

    Nợ TK 3383 Có TK 334

    1. Trả cho công nhân: Nợ TK 334

    Có TK 111

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                 Nguyễn Thị Nga      
                        Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHXH:                          
              TK 111,112 TK 338   TK 622,627,641,642      
                                                                     
                  2               1                      
                                                                     
                                                                     
                                                      TK 334      
      TK 111                                                      
        TK 334                                              
                                                                     
          3b               3a                                        
                                                               
                                                               
                                                                   
                                                TK 111,112      
                                            4                      
                                                                 
                                                                     
                                                                     
                                                                     

    Hạch toán BHYT

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3384- BHYT: phản ánh tình hình trích và thanh toán BHYT ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên Có): phản ánh số quỹ BHYT hiện có lúc đầu kỳ của doanh nghiệp.

    +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận. +Phát sinh giảm (bên Nợ): theo định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan BHYT để mua thẻ bảo hiểm. +Số dư cuối kỳ (bên Có): ghi tương tự số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán :

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra quỹ BHYT phải trả cho các bộ phận :

    Nợ TK 622,627,641,642 (2%)
    Nợ TK 334 (1%)
    Có TK 3384 (3%)

    2.Định kỳ đơn vị nộp quỹ BHYT lên cơ quan cấp trên hoặc cơ quan

    BHYT:

    Nợ TK 3384

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp   Nguyễn Thị Nga  
        Có TK 111,112          
          Sơ đồ hạch toán tổng hợp BHYT:        
    TK 111,112   TK 3384   TK 622,627,641,642  
        2   (3%) 1   (2%)    
                         
                         

    TK 334

    (1%)

    Hạch toán KPCĐ

    -Tài khoản hạch toán:

    TK 3382- KPCĐ: phản ánh tình hình trích và thanh toán KPCĐ ở doanh nghiệp

    +Số dư đầu kỳ (bên có): quỹ KPCĐ hiện có đầu kỳ tại doanh nghiệp +Phát sinh tăng (bên Có): tính ra KPCĐ phải trả cho cán bộ công nhân viên

    +Phát sinh giảm (bên Nợ): . chi tiêu qũy KPCĐ tại đơn vị

    . nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên

    +Số dư cuối kỳ (bên Có): tương tự như số dư đầu kỳ.

    -Nghiệp vụ hạch toán:

    1.Kế toán căn cứ vào quỹ lương cơ bản để tính ra KPCĐ:

    Nợ TK 622,627,641,642                         (2%)

    Có TK 3382

    1. Theo định kỳ nộp quỹ KPCĐ lên công đoàn cấp trên Nợ TK 3382

    Có TK 111,112    (1%)

    1. Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị cho các hoạt động công đoàn Nợ TK 3382

    Có TK 111,112

    1. Vượt chi KPCĐ cấp bù

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp         Nguyễn Thị Nga    
            Sơ đồ hạch toán tổng hợp KPCĐ:                    
    TK 111,112     TK 3382     TK 622,627,641,642    
                                           
      (1%) 2 (1%)   (2%) 1 (2%)          
                                         
          3             4   TK 111,112          
                             
                                         
                                         
                                           
                                           

    VIII – HÌNH THỨC TỔ CHỨC SỔ TIỀN LƯƠNG :

    Việc tổ chức hạch toán và ghi sổ tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương là phụ thuộc vào hình thức ghi sổ mà doanh nghiệp chọn.

    Chế độ hình thức ghi sổ kế toán được quy định áp dụng thống nhất đối với doanh nghiệp bao gồm 4 hình thức:

    • Nhật ký chứng từ
    • Nhật ký chung
    • Chứng từ ghi sổ
    • Nhật ký sổ cái

    Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tính toán để lựa chọn hình thức sổ kế toán phù hợp và nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của các hình thức sổ kế toán đó về các mặt: loại sổ, kết cấu các loại sổ, mối quan hệ và sự kết hợp giữa các loại sổ, trình tự và kỹ thuật ghi chép các loại sổ kế toán.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TL & BH TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty Nhà nước, đơn vị thành viên của Tổng Công ty xây dựng Sông Đà. Công ty do Bộ trưởng Bộ xây dựng quyết định thành lập theo quyết định số 130A /BXD – TCLĐ ngày 26/3/96.

    Công ty có các nhiệm vụ chính sau đây:

    • xây dựng các công trình công nghiệp, công cộng, nhà ở và xây dựng khác .
    • San lấp, đào đắp măt bằng xây dựng
    • Kinh doanh nhà ở và trang trí nội thất
    • kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    • Dược xuất nhập khẩu trực tiếp máy móc xây dựng và vật liệu xây dựng.
    • Được liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để xây dựng và kinh doanh khách sạn, du lịch.

    Công ty có :

    1. Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
    1. Tên riêng là Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ( Viết tắt là SONGDA 903)
    2. Trụ sở giao dịch đóng tại phường Văn Mỗ – thị xã Hà Đông – tỉnh Hà Tây.
    3. Con dấu, tài khoản mở tại kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong nước.
    4. Vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong phạm vi số vốn do Công ty quản lý.
    5. Bảng cân đối tài sản, các quỹ theo qui định của điều lệ tổ chức và hoạt động và qui chế tài chính của Tổng công ty Xây dựng Sông Đà.
    6. Điều lệ tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý và điều hành. * Công ty được quản lý và điều hành bởi giám đốc.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Công ty chịu sự quản lý của Nhà nước của các bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước theo qui định tại luật DN Nhà nước và các qui định khác của pháp luật.

    Công ty chịu sự điều hành và quản lý trực tiếp của Tổng công ty XD Sông Đà.

    • Đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị:

    Đơn vị hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tương ứng với các nhiệm vụ được giao, trong đó hoạt động trên lĩnh vực xây lắp là hoạt động chủ yếu của công ty.

    Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, hoàn toàn được thực hiện bởi các tổ đội sản xuất (hay các đơn vị sản xuất) của công ty. Các đơn vị sản xuất này trực thuộc, chịu sự điều hành quản lý của công ty nhưng việc hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh là hoàn toàn độc lập, chỉ có các báo cáo tài chính sau khi hoàn thành được gửi lên công ty theo định kỳ để kế toán công ty tập hợp và tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ đội sản xuất, tính ra kết quả sản xuất kinh doanh chung của cả công ty.

    * Tìm hiểu tình hình kinh doanh của công ty:

      97 98 99 (dự kiến)
           
    – Tổng giá trị sản lượng 123,4 tỉ 97,7 tỉ 105 tỉ
    Trong đó: + Xây lắp 121,6 tỉ 92,95 tỉ 98 tỉ
    + Kinh doanh khác 1,8 tỉ 4,75 tỉ 7 tỉ
           
    – Tổng doanh thu 113 tỉ 85,1 tỉ 100 tỉ
           
    – Nộp thuế vào NSNN và phụ phí cấp trên 8,2 tỉ 5,3 tỉ 6 tỉ
           
    – Thu nhập trước thuế 2,4 tỉ 1,1 tỉ 1,5 tỉ
           
    – Thu nhập bình quân/tháng người lao động 0,998 triệu 1,0 triệu 1,0 triệu
           
    • Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, giống như các công ty xây lắp khác, Xí nghiệp XD Sông Đà 903 bị ảnh hưởng khá nặng nề cụ thể là:

    + Tổng giá trị sản lượng năm 1998 giảm 21% so với năm 97.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Tổng doanh thu năm 98 giảm so với năm trước là 25%.
    • Thu nhập trước thuế năm 98 bị giảm hơn 50% so với năm 97. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty rõ ràng là bị sa sút

    nghiêm trọng, nhưng theo như dự kiến năm 99 của lãnh đạo công ty thì hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty sẽ dần được khắc phục với cố gắng của toàn bộ tập thể cán bộ công nhân viên của công ty.

    Tổng giá trị sản lượng năm 1999 công ty phấn đấu đạt 105 tỉ, tăng 7,3 tỉ so với năm 98. Trong đó, lĩnh vực xây lắp tăng 1,05 lần so với năm trước trong khi lĩnh vực kinh doanh khác tăng 1,47 lần. Như vậy là doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhằm kiếm lợi nhuận nhiều hơn, lĩnh vực hoạt động kinh doanh xây lắp có thể coi như có tăng nhưng không đáng kể thể hiện rằng lãnh đạo công ty không mấy lạc quantin tưởng vào lợi ích từ việc phát triển các ý kiến đánh giá chung của các nhà nghiên cứu về tình hình kinh tế năm 1999 nên việc chuyển hướng kinh doanh như vậy là là một quyết định đúng đắn, là một giải pháp mang lại hiệu quả cao trog tình trạng khó khăn hiện tại cả Công ty. Hơn nữa năm 1998, do hoạt động xây lắp khó khăn đơn vị đã nhanh chóng tăng cườg các hoạt động kinh doanh lên 4,75 tỉ, đóng góp thêm 1 phần không nhỏ vào lợi nhuận ít ỏi (1,1 tỉ) trong năm 1998. Đó là bước đã thuận lợi để Công ty phát triển hoạt động kinh doanh ở lĩnh vực này trong năm 99, bù đắp cho sự khó khăn của lĩnh vực kinh doanh kinh doanh xây dựng.

    Đối với chỉ tiêu tổng doanh thu, lãnh đạo Công ty cũng vạch kế hoạch cụ thể, cố gắng tăng doanh thu không để tình trạng khó khăn kéo dài. Công ty có kế hoạch đạt 100 tỷ đồng doanh thu trong năm 99, tăng 17% so với năm 1998, khắc phục được hơn 1/2 trong số 25% lượng doanh thu bị thua thiệt trong giai đoạn diễn ra cuộc khủng hoảng TC năm 1998.

    Cùng với kế hoạch tăng doanh thu, đơn vị cũng dự kiến tăng số tiền nộp ngân sách Nhà nước từ 5,3 tỷ năm 98 lên 6 tỉ năm 99. Tuy rằng con số này vẫn chưa cho thấy sự phát triển mạch của Công ty sau thời kỳ khó khăn nếu so với 8,2 tỉ nộp ngân sách Nhà nước của Công ty năm 97, nhưng để có thêm 0,7 tỷ đồng nộp ngân sách Nhà nước đơn vị cũng sẽ phải cố gắng rất nhiều nhất là trong tình hình hiện nay, cuộc khủng hoảng TC vẫn còn để lại nhiều ảnh hưởng gây khó khăn cho các

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    hoạt động kinh doanh bao gồm cả hoạt động XL và các hoạt động kinh doanh khác mà Công ty dự định sẽ đẩy mạnh phát triển trong năm 1999.

    Với phương châm nhanh chóng khắc phục khó khăn.

    Công ty dự định sẽ đạt được 1,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm 99 tức là tăng 0,4 tỷ đồng so với năm 98, tăng 41%. Nhưng con số 1,5 tỷ đồng này nếu phân tích sâu hơn thì e rằng Công ty khó mà hoàn thành được theo dự kiến doanh thu chỉ tăng 18%, tổng sản lượng tăng 7% mà lợi nhuận dự kiến tăng 41% thì quả là khó đạt được trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong lĩnh vực XL. Như vậy là khả năng nâng cao thu nhập cải thiện tình hình theo dự kiến của Công ty là rất khó thực hiện. Tuy nhiên nếu giữ được con số 1,1 tỉ đồng lợi nhuận là đã có thể coi là Công ty hoạt động bình thường có dấu hiệu của những khó khăn về Tài chính gây ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại và phát triển của Công ty.

    Mặc dù có những biến động lớn trong các chỉ tiêu như doanh thu, sản lượng, thu nhập doanh nghiệp giưã các năm 97, 98, 99 nhưng Công ty vẫn quyết giữ ổn định mức lương bình quân của CBCNV ở con số 1 triệu đồng/tháng. Đây là mức lương thuộc loại cao, có thể đảm bảo cuộc sống của người lao động đầy đủ cả về vật chất và tinh thần. Chỉ tiêu này cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc của Công ty đối với nhân viên trong doanh nghiệp là rất tốt, rất tích cực.

    Như vậy nhìn chung tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty bình thường. ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vừa qua đã có tác động nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, nhưng thiệt hại cũng chưa đến mức nghiêm trọng, cụ thể là lợi nhuận trước thuế năm 98 đạt 1,1 tỉ đồng và dự kiến sẽ nâng lên 1,5 tỉ đồng trong năm 99 (tuy nhiên, theo dự kiến thì Công ty sẽ cải thiện được tình hình, nhưng có thực hiện được hay không còn là cả một vấn đề lớn) với tình hình cả hoạt động kinh doanh trong khu vực biến động như hiện nay, không ai có thể nói chắc được điều gì. Vì vậy, lãnh đạo Công ty có vực được Công ty dậy hay Công ty lại tiếp tục xuống dốc ở một loạt các chỉ tiêu doanh thu, tổng sản lượng… thì còn phải chờ kết quả thực tế, ở các báo cáo tài chính cuối năm 1999 thì mới kết luận được. Đây cũng là tình cảnh chung của các Công ty hoạt động XL trong khu vực bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga

    II – BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY

     

         
      GIÁM ĐỐC  
         

    PHÓ GĐ

                     
      Phòng tổ chức hành   Phòng kế hoạch   Phòng tài chính kế  
      chính   tổng hợp   toán  
                     

    Các đơn vị sản xuất của Công ty

    Các đơn vị sản xuất hiện tại của Công ty gồm có:

    1. Xí nghiệp XL và thi công cơ giới thuỷ lực.
    1. Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh nhà
    1. Chi nhánh Xí nghiệp XD Sông Đà 903 tại thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Các đội xây dựng từ số 1 đến số 9 và các cửa hàng kinh doanh vật tư, vật liệu xây dựng.
    1. Trung tâm tư vấn chống thấm PosToc Sông Đà.
    1. Xưởng xây dựng và thiết kế trang bị nội thất.

    III – BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY.

    KẾ TOÁN TRƯỞNG

    Bộ phận tài   Bộ phận kế   Bộ phận kế   Bộ phận   Các phòng kế
    chính   toán văn   toán tổng hợp   kiểm tra kế   toán ở các đơn
          phòng       toán   vị sản xuất trực
                      thuộc
                         
    Kế toán vật   Kế toán   Kế toán   Kế toán   ……..  
        TSCĐ   LĐTL và các   tiêu thụ      
              khoản trích          
              theo lương          
                         
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngoài phòng kế toán ở Công ty, ở các đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty có các bộ phận kế toán riêng với nhiệm vụ kiểm tra thu thập, xử lý chứng từ ban đầu và hạch toán chi tiết, tổng hợp các hoạt động của đơn vị mình tuỳ theo sự phân cấp quản lý trong doanh nghiệp, rồi định kỳ gửi số liệu, tài liệu đã hạch toán của bộ phận mình về phòng kế toán ở Công ty. Phòng kế toán ở Công ty thực hiện việc tổng hợp số liệu báo cáo của các đơn vị sản xuất trực thuộc và hạch toán các nghiệp vụ chung toàn Công ty, lập đầy đủ các báo cáo kế toán định kỳ.

    (–> Hình thức tổ chức công tác kế toán của Công ty là theo kiểu “phân tán”)

    Phòng kế toán tại Công ty gồm 8 người (kể cả kế toán trưởng hoạt động theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của kế toán trưởng để thực hiện ba nhiệm vụ chính sau đây.

    1. Tổ chức bộ máy kế toán
    1. Tổ chức kế toán
    1. Thực hiện công tác tài chính tín dụng.

    Các phần việc được kế toán trưởng nghiên cứu và giao cho các nhân viên kế toán của phòng thực hiện, các nhân viên này sẽ chia nhau làm việc theo thông lệ: người này phụ trách tính lương và các khoản trích theo lương, người khác làm kế toán thanh toán … để hoàn thành công việc một cách nhanh nhất, kết quả kế toán được kế toán trưởng kiểm tra và chịu trách nhiệm trước Tổng Công ty và Nhà nước.

    Hình thức ghi sổ kế toán tại Công ty là hình thức Nhật ký chung, do đó trình tự ghi sổ hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHỨNG TỪ GỐC:

    • BẢNG CHẤM CÔNG
    • DANH SÁCH XÉT THI ĐUA
    • BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG
    Ghi chú: NHẬT KÝ CHUNG SỔ KẾ TOÁN CHI TIẾT

    GHI HÀNG NGÀY

    GHI CUỐI THÁNG

    QUAN HỆ ĐỐI CHIẾU

     IV – Đ

    SỔ CÁI BẢNG TỔNG HỢP CHI TIẾT

    TK 334,338

    BẢNG CÂN ĐỐI

    SỐ PHÁT SINH

    BÁO CÁO KẾ TOÁN

     

     

    IV. ĐẶC ĐIỂM VỀ LAO ĐỘ NG TIỀ N LƯƠNG Ở CÔNG TY

    QUYẾT ĐỊNH CỦA GIÁM ĐỐC CÔNG TY

    (về việc: Phê duyệt quy chế trả lương)

    GIÁM ĐỐC XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    • Căn cứ quyết định số 86/TCT – HĐQT ngày 18 tháng 09 năm 1996 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê chuyển điều lệ tổ chức và hoạt động của Xí nghiệp XD Sông Đà 903.
    • Căn cứ quyết định số: 65/TCT – TCLĐ, ngày 10 tháng 4 năm 1997 của Tổng Công ty về phân cấp quản lý tổ chức, quản lý cán bộ công nhân viên và tiền lương cho các đơn vị trực thuộc.
    • Căn cứ quyết nghị số 161/TCT – HĐQT ngày 29/8/1998 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty xây dựng Sông Đà phê duyệt quy chế

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    trả lương cho cán bộ công nhân viên Tổng Công ty xây dựng Sông Đà.

    – Xét tờ trình của Hội đồng lương Công ty.

    QUYẾT ĐỊNH

    Điều 1: Phê duyệt quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên trong toàn Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ban hành kèm theo quyết định này (có quy chế chi tiết kèm theo).

    Điều 2: Quy chế này được áp dụng từ 1/10/1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.

    Điều 3: Các ông: Giám đốc các đơn vị thành viên; Trưởng các phòng Công ty và cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty có trách nhiệm thi hành quyết định này theo đúng những quy định của Tổng Công ty, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và pháp luật Nhà nước.

    QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    CỦA XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    (Kèm theo quyết định 136/CT – TCHC, ngày 28/10/1998)

    Để cụ thể hoá quy chế trả lương cho cán bộ công nhân viên của Tổng Công ty. Nay Công ty ban hành quy chế trả lương cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty theo tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của Công ty.

    1. NGUYÊN TẮC TRẢ LƯƠNG:
    1. Cán bộ công nhân viên thuộc bộ máy quản lý của Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo đúng trình độ về chuyên môn nghiệp vụ đã được Công ty và Tổng Công ty xếp hệ số bậc lương, nhiệm vụ được giao và mức độ hoàn thành.
    2. Việc trả lương phải phù hợp với sức lao động bỏ ra của người lao động, đảm bảo tính công bằng.
    3. Để đảm bảo việc trả lương chính xác, các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phải căn cứ vào khả năng của từng người và hệ số lương của cán bộ nhân viên đang hưởng để phân công công việc cho phù hợp với trình độ của cấp bậc tiền lương đó.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh trong tháng của Công ty và các đơn vị thành viên trong Công ty và quỹ lương đã được giao trong dự toán chi phí quản lý.
    2. Căn cứ vào nhiệm vụ của từng đơn vị và các phòng Công ty để các đồng chí giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phân công nhiệm vụ cụ thể từng cán bộ nhân viên hàng tuần, tháng làm căn cứ xếp loại để trả lương.
    1. NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
    1. LAO ĐỘNG TRỰC TIẾP.
    • Đối với nhân viên trực tiếp làm các công việc như: Trực điện nước, phục vụ nước uống, nấu ăn, làm tạp vụ, vệ sinh trong cơ quan Công ty và các đơn vị thành viên được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,5 lần LCB. Đồng thời được tính thêm các khoản phụ cấp: Phụ cấp lưu động 20% LTT; Phụ cấp không ổn định sản xuất: 10% LCB.
    • Đối với công nhân lái xe con phục vụ được trả lương theo hệ số điều chỉnh là 1,8 lần LCB. Phụ cấp trách nhiệm lái xe cho Giám đốc Công ty là 20%/LTT có hệ số điều chỉnh. Đối với lái xe phục vụ còn lại phụ cấp trách nhiệm là 15%/LTT có hệ số điều chỉnh. Lái xe làm thêm các ngày chủ nhật, ngày lễ vẫn được thanh toán tăng ca.
    1. LAO ĐỘNG GIÁN TIẾP
    • Xếp loại trả lương: Căn cứ vào cấp bậc tiền lương đang hưởng để các đồng chí giám đốc các đơn vị thành viên trưởng các phòng Công ty bố trí việc làm cho phù hợp với cấp bậc tiền lương đó. Nhưng để khuyến khích những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn và đem lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại thì việc trả lương theo hình thức xếp loại là công bằng và hợp lý. Việc xếp loại hệ số điều chỉnh tiền lương tối thiểu được thực hiện như sau:

    Loại 1: Hệ số 2,3 lần lương cơ bản (LCB) những không vượt quá 50% số người trong phòng, ban.

    Loại 2: Hệ số 2,0 lần LCB nhưng không vượt quá 30% số người trong phòng ban.

    Loại 3: Hệ số 1,8 lần LCB số người còn lại.

    (Kèm theo phụ lục I quy định về tiêu chuẩn xếp loại cán bộ nhân viên của bộ máy quản lý Công ty và các đơn vị thành viên).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Phụ cấp trách nhiệm cho các chức danh lãnh đạo và phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ kiêm nhiệm công tác Đảng, Công đoàn (phụ lục II kèm theo).
    • Các loại phụ cấp (Phụ lục III kèm theo)
    • Đối với các trường hợp dưới đây:
    • Cán bộ nhân viên thuyên chuyển từ các cơ quan khác đến công tác tại bộ máy quản lý Công ty được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.
    • Đối với cán bộ do Công ty xin từ đơn vị ngoài về làm việc tại bộ máy Công ty việc trả lương sẽ có quyết định riêng.
    • Đối với sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp được hưởng mức lương bằng 85% trong vòng 12 tháng.
    • Đối với cán bộ được Tổng Công ty và Công ty cử đi học các lớp quản lý kinh tế, tập huấn nâng cao nghiệp vụ, học các lớp chính trị được hưởng 100% và các khoản phụ cấp (nếu có) và các quyền lợi khác.
    • Đối với cán bộ nhân viên được Công ty cử đi học Đại học tại chức được hưởng nguyên lương chính trong thời gian đi học (tiền học phí cá nhân tự đóng, Công ty không thanh toán)
    1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
    1. Quy chế này áp dụng để tính và trả lương cho cán bộ công nhân viên thuộc lao động trực tiếp và lao động gián tiếp của toàn Công ty trong những ngày làm việc.
    2. Những ngày lễ, tết, nghỉ phép và hưởng theo lương BHXH tính theo mức lương tối thiểu là 144.000 đồng (không có hệ số điều chỉnh).
    3. Các khoản phụ cấp trách nhiệm cho các chức vụ của bộ máy quản lý Công ty, bộ máy quản lý các đơn vị thành viên và các đoàn thể (phụ lục II kèm theo) được tính theo mức lương tối thiểu với hệ số điều chỉnh được xếp loại.
    4. Đối với cán bộ nhân viên làm thêm giờ thì các phòng bố trí nghỉ bù vào ngày thích hợp, trường hợp đặc biệt phải có kế hoạch và được Giám đốc Công ty duyệt trước khi thanh toán.
    5. Việc trả lương hàng tháng phải căn cứ vào tỷ lệ % thực hiện kế hoạch.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Căn cứ vào việc thực hiện nhiệm vụ hàng tháng các đơn vị thành viên và các phòng Công ty phải xét duyệt theo tỷ lệ để trả lương một cách công bằng và hợp lý.
    2. Thời gian áp dụng quy chế này từ ngày 1 tháng 10 năm 1998. Những quy định trước đây trái với quy chế này đều không có hiệu lực.
    3. Giao cho các Giám đốc đơn vị thành viên và trưởng các phòng Công ty phổ biến đến từng cán bộ nhân viên và tổ chức thực hiện quy chế này. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc đơn vị phản ánh về Công ty qua phòng tổ chức hành chính để trình hội đồng lương xem xét.

    PHỤ LỤC I

    QUY ĐỊNH VỀ TIÊU CHUẨN XẾP LOẠI CÁN BỘ CÔNG

    NHÂN VIÊN CỦA BỘ MÁY QUẢN LÝ.

    Việc phân loại để trả lương cho cán bộ công nhân viên Công ty được phân loại theo những tiêu chuẩn sau đây:

    Loại Tiêu chuẩn xếp loại Tỷ lệ/ Σ người
         
      – Là những người hoàn thành xuất sắc các công  
      việc được giao trong tháng phù hợp với hệ số  
      cấp bậc công việc đang hưởng lương; Có tinh  
    Loại 1 thần trách nhiệm cao, chủ động trong công 50%
      việc, có khả năng thực hiện độc lập các công  
      việc đó.  
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,3 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành tốt các công việc  
      được giao giải quyết trong phạm vi nhất định  
    Loại 2 về nghiệp vụ, hiệu quả công việc đạt mức khá. 30%
      – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 3 ngày  
      – Hệ số điều chỉnh tiền lương là 2,0 LTT  
         
      – Là những người hoàn thành công việc ở mức  
      trung bình.  
    Loại 3 – Là những người mới chuyển đến đang trong 20%
    thời gian tìm hiểu công việc được hưởng mức
      lương bằng 85% trong thời gian 3 tháng.  
      – Là học sinh ở các trường đại học, trung học  
         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chuyên nghiệp mới về nhận công tác (tập sự) được hưởng mức lương bằng 85% trong thời gian 12 tháng.

    – hệ số điều chỉnh tiền lương là 1,8 LTT

    Là những người làm các công việc như: Trực

    Loại 4 điện, nước; làm tạp vụ, vệ sinh và phục vụ nước uống ở Công ty và các đơn vị thành viên

    – Hệ số điều chỉnh là 1,5 LTT

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    PHỤ LỤC II

    MỨC PHỤ CẤP TRÁCH NHIỆM CHO CÁC CHỨC DANH

    LÃNH ĐẠO

    TT Chức danh lãnh đạo Phụ cấp, Ghi chú  
    chức vụ
           
    1 Bí thư Đảng uỷ Công ty 0.6 LTT    
             
    2 Thường trực Đảng uỷ Công ty 0.4 LTT    
             
    3 Chủ tịch công đoàn Công ty 0.5 LTT    
             
    4 Phó chủ tịch công đoàn – Kiêm trưởng 0.3 LTT    
      ban nữ công      
             
    5 Bí thư chi bộ 0.25 LTT    
             
    6 Trưởng phòng Công ty 0.4 LTT    
             
    7 Phó phòng Công ty và chức vụ tương 0.3 LTT    
      đương      
             
    8 Đội trưởng trực thuộc Công ty 0.3 LTT    
             
    9 Giám đốc đơn vị thành viên 0.4 LTT    
             
    10 P.giám đốc đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    11 Trưởng ban đơn vị thành viên 0.25 LTT    
             
    12 Phó ban đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             
    13 Các đội trưởng trực thuộc đơn vị 0.25 LTT    
      thành viên      
             
    14 Chủ tích công đoàn đơn vị thành viên 0.3 LTT    
             
    15 Phó chủ tịch CĐ đơn vị thành viên 0.2 LTT    
             

    Ghi chú: Mức lương tối thiểu để tính phụ cấp trách nhiệm căn cứ vào mức lương tối thiểu đã điều chỉnh hệ số xếp loại.

    PHỤ LỤC III

    CÁC KHOẢN PHỤ CẤP CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

    TRONG TOÀN CÔNG TY

    TT Các khoản phụ cấp % Phụ cấp Ghi chú
    1. Phụ cấp lưu động 20% LTT  
    2. Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB  
           
    • – QUÁ TRÌNH HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI CÔNG TY.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hình thức trả lương và quỹ tiền lương của Công ty

    Nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích chung của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động, đồng thời với mong muốn có hình thức trả lương đúng đắn để làm đòn bẩy kinh tế, khuyến khích người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động, đảm bảo ngày công, giờ công và năng suất lao động phòng kế toán Công ty xây dựng Sông Đà đã nghiên cứu thực trạng lao động ở Công ty (cả bộ phận làm công việc hành chính và bộ phận các xí nghiệp, tổ đội làm công tác sản xuất kinh doanh) và đưa ra quyết định lựa chọn các hình thức trả lương sau đây áp dụng tại Công ty.

    A – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THỜI GIAN THEO SẢN PHẨM

    Đây là hình thức trả lương vừa căn cứ vào thời gian làm việc theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật chuyên môn của người lao động vừa căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc đã hoàn thành.

    Tuy nhiên, khối lượng, chất lượng công việc hoàn thành (lương theo sản phẩm) trong hình thức kết hợp này chỉ là tính gián tiếp cho lương của người lao động vì hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm được Công ty áp dụng cho công nhân viên bộ phận làm công việc hành chính, không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Mức hoàn thành sản lượng kế hoạch là căn cứ để tính lương thời gian theo sản phẩm cho các nhân viên văn phòng hành chính.

    Cách tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty:

    Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng như: thang lương công nhân cơ khí, thang lương công nhân lái xe… Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo trình độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ thuật, chuyên môn mà chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức nhất định mà Công ty gọi là “Mức lương cơ bản” của mỗi người lao động.

    Mức lương cơ bản = Hệ số lương (bậc lương) x LTT

    VD: Hệ số lương = 2,5 –> Mức LCB = 2,5 x 144.000 đ = 360.000đ

    LTT: Lương tối thiểu (theo quy định là 144.000đ) đơn vị tính lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty là “ngày”

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Lương ngày là tiền lương Công ty trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng. Như vậy, tiền lương Công ty phải trả cho người lao động trong tháng được tính như sau:

    Error!

    Error!

    VD:

    Error!

    Tiền lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty cũng chia làm hai loại: – Tiền lương thời gian theo sản phẩm giản đơn

    – Tiền lương thời gian theo sản phẩm có thưởng.

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm giản đơn (tháng) = Error!

    Tiền lương thời; gian theo sản; phẩm có thưởng = Error!

    Tuỳ từng bộ phận tính lương (kế toán tính lương VP Công ty hay kế toán tiền lương ở các xí nghiệp sản xuất tính lương cho VP các xí nghiệp), giám đốc quyết định tính theo lương có thưởng hay không có thưởng. Cụ thể trong chuyên đề này, kế toán Công ty tính lương cho BP văn phòng Công ty theo tiền lương có thưởng, còn kế toán xí nghiệp kinh doanh vật tư tính lương cho bộ phận văn phòng xí nghiệp theo lương giản đơn.

    • – HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG KHOÁN

     

    • Công ty, hiện tại trong việc trả lương cho người lao động có hai hình thức khoán:

    – Khoán công việc – Khoán quỹ lương.

    + Hình thức khoán công việc được Công ty áp dụng cho những công việc lao động giản đơn mà rõ nhất là thể hiện ở việc Công ty giao khoán công việc cho các công việc bảo vệ, quản lý công trình sẽ được đề cập đến trong chuyên đề.

    Error!

    VD:  – Bảo vệ                                           400.000đ/tháng

    – Quản lý công trình          600.000đ/tháng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Hình thức khoán quỹ lương là một dạng đặc biệt của tiền lương trả theo sản phẩm (trả theo khối lượng công việc) được Công ty sử dụng để trả lương cho người lao động tại các đội xây dựng trực thuộc Công ty. Căn cứ vào các phần việc ở từng công trình, Công ty giao khoán mỗi phần việc cho các đội xây dựng chuyên môn từ số 1 đến số 9 thuộc Công ty. Mỗi phần việc tương ứng một khoản tiền mà khi đội hoàn thành công việc sẽ được quyết toán và số tiền này chính là quỹ lương của đội do Công ty giao khoán. Tiền lương thực tế của từng nhân viên trong đội xây dựng số tiền lương Công ty giao khoán sẽ được chia cho số lượng nhân viên trong đội.

    VD: Công ty giao cho tổ (đội) xây dựng: Nề

    1. Xây móng mác 75# : 169,337 m3.

    Đơn giá           : 45.000đ/m3.

    Thành tiền  : 7.620.165 đồng.

    Như vậy, sau khi hoàn thành công việc và được nghiệm thu chất lượng sản phẩm, đội Nề sẽ được hưởng 7.620.165 đồng tiền lương khoán, trên cơ sở đó tiền lương của mỗi công nhân trong đội được chia theo quy định riêng của đội (tính theo khối lượng công việc hoàn thành của mỗi người).

    C – QUỸ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY

    Công ty có bộ phận nhân viên văn phòng Công ty (quản lý) do kế toán lương Công ty phụ trách, bộ phận nhân viên các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách. Do đó, quỹ tiền lương của Công ty cũng có ba loại tương ứng.

    • Quỹ tiền lương của nhân viên quản lý Công ty do kế toán lương Công ty phụ trách.
    • Quỹ tiền lương của nhân viên các xí nghiệp do kế toán tiền lương các xí nghiệp phụ trách.
    • Quỹ tiền lương khoán của nhân viên (công nhân) các đội xây dựng do kế toán công trình phụ trách.
    1. Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ của Công ty.

    Công ty xây dựng Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước, vì vậy, Công ty là đối tượng nộp BHXH, BHYT, KPCĐ bắt buộc theo quy định của Nhà nước.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    A – Quỹ BHXH

    Không phân tách độc lập như quỹ lương, quỹ BHXH của Công ty được kế toán bảo hiểm Công ty trích lập cho cả nhân viên văn phòng Công ty (nhân viên quản lý Công ty), cả nhân viên ở các xí nghiệp sản xuất, cả công nhân ở các đội xây dựng. Cuối quý, sau khi trích lập, toàn bộ quỹ BHXH của Công ty được nộp lên cơ quan BHXH.

    Hiện nay, theo chế độ hiện hành, Công ty trích quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% tổng quỹ lương cấp bậc của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán.

    Thông thường, Công ty tiến hành trích lập 20% quỹ BHXH 3 tháng 1 lần và phân bổ với các mức như sau cho các đối tượng:

    – Nhân viên quản lý Công ty

    5% khấu trừ trực tiếp lương nhân viên

    15% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty 5% trừ trực tiếp vào lương nhân viên

    15% phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của cụ thể từng xí

    nghiệp.

    Các xí nghiệp phải trích đủ 20% và nộp lên quỹ BHXH của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác thuộc diên không tham gia đóng BHXH thì Công ty không trích quỹ BHXH cho những người này.
    • Ngoài ra, ở Công ty có những nhân viên thuộc diện nghỉ không lương, theo quy định đóng toàn bộ 20% BHXH vào quỹ BHXH của Công ty. Vì vậy, hàng quý những người này phải trực tiếp đem tiền lên nộp quỹ BHXH trên Công ty với mức 20% lương cấp bậc, Công ty không nộp % nào cho những trường hợp này.

    B – Quỹ BHYT

    Giống như quỹ BHXH, quỹ BHYT được trích lập tập trung tại Công ty với mức trích là 3% tổng quỹ lương cơ bản của người lao động trong cả Công ty thực tế trong kỳ hạch toán và được nộp cho cơ quan BHYT 3 tháng 1 lần.

    Các mức phân bổ trích BHYT như sau:

    • Nhân viên quản lý Công ty: Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1% Khấu trừ trực tiếp lương của người lao động

    2% tính vào chi phí quản lý Công ty.

    • Nhân viên các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc Công ty: 1% khấu trừ trực tiếp lương của nhân viên

    2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của từng xí nghiệp Các xí nghiệp phải trích và nộp 3% này lên quỹ BHYT tập

    trung của Công ty theo quy định.

    • Công nhân xây dựng ở các đội xây dựng trực thuộc Công ty và một số nhân viên khác không thuộc diện tham gia đóng BHYT thì Công ty không trích lập quỹ BHYT cho những người này.
    • Ngoài ra, những nhân viên nghỉ không lương ở Công ty phải mang số tiền 3% BHYT lên Công ty nộp vào quỹ BHYT Công ty ít nhất 3 tháng 1 lần (Công ty không có trách nhiệm nộp thay cho nhân viên 2%)

    C – Quỹ KPCĐ.

    Khác với quỹ BHXH, BHYT quỹ KPCĐ của Công ty không được trích lập, nộp trực tiếp lên cơ quan công đoàn cấp trên mà quỹ KPCĐ của Công ty sau khi tập trung lại sẽ nộp lên Tổng Công ty để Tổng Công ty trực tiếp thanh toán với công đoàn cấp trên.

    Quỹ KPCĐ được trích lập theo tỷ lệ 2% tổng quỹ lương thực trả cho người lao động trong Công ty trong kỳ hạch toán (quý).

    Trong 2% này, 0,8% sẽ được giữ lại làm quỹ KPCĐ chi trả cho các hoạt động công đoàn tại mỗi bộ phận tính lương (Công ty, xí nghiệp), còn lại 1,2% phải nộp tập trung lên quỹ KPCĐ của Tổng Công ty.

    Toàn bộ số tiền trích lập quỹ KPCĐ, được phân bổ hoàn toàn vào chi phí sản xuất kinh doanh, cụ thể.

    • Ở văn phòng Công ty: tính vào chi phí nhân viên quản lý.
    • Ở các xí nghiệp sản xuất kinh doanh: tính vào chi phí nhân viên
    • cụ thể từng bộ phận (nhân viên phân xưởng, nhân viên quản lý…)
    • Đối với nhân viên ở các đội sản xuất, nhân viên nghỉ không lương thì KPCĐ không được trích cho số người này.
    1. Hạch toán số lượng lao động ở Công ty

    Chỉ tiêu số lượng lao động của Công ty được phòng tổ chức hành chính theo dõi, ghi chép trên các sổ danh sách lao động. Căn cứ vào số lao động hiện có của Công ty bao gồm cả số lao động dài hạn

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    và tạm thời, cả lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp, cả lao động ở bộ phận quản lý và lao động ở bộ phận sản xuất kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính lập các sổ danh sách lao động cho từng khu vực (văn phòng Công ty, khu đầm 7, xưởng Cầu Giấy, xí nghiệp kinh doanh vật tư…) tương ứng với các bảng thanh toán lương sẽ được lập cho mỗi nhóm nhân viên ở mỗi khu vực.

    Cơ sở để ghi sổ danh sách lao động là các chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc, thôi việc…

    Mọi biến động về lao động đều được ghi chép vào sổ danh sách lao động để làm căn cứ cho việc tính lương và các chế độ khác cho người lao động.

    Ví dụ: Mẫu sổ số 1.

    Văn phòng Xí DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD
    nghiệp XD Sông Đà   Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
    903              
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Phạm Minh     5,72      
      .         .      
      .         .      
      28   Ngô Đức Dũng     1,78      
      29   Dư Đức Hiệp     1,78      
      30   Nguyễn Đình Thuận   1,78      
                       

    Kèm theo 30 hợp đồng lao động

    Người lập biểu

    (Ký tên)

    Giám Đốc

    (Ký tên)

     

    Sổ danh sách lao động của Công ty gồm 4 cột.

    • Cột 1: Ghi thứ tự Cột 2: Họ và tên

    Cột 3: Theo dõi cấp bậc công nhân (nhân viên)

    Cột 4: “Ghi chú”

    Trường hợp nhân viên hưởng lương khoán không tham gia

    đóng BHXH, BHYT thì cột này không được theo dõi theo hệ số cấp bậc mà ghi “HĐ” nghĩa là lương khoán theo hợp đồng.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Xưởng Cầu Giấy DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí  nghiệp  XD
        Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
                 
    TT Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
    1 Phạm Văn Cần   2,55   Khoán lương  
    2 Phương Đình Nga     Khoán lương  
    3 Đỗ Duy THanh     Khoán lương  
                 
        Kèm theo 3 hợp đồng lao động        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
      Đầm 7 DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông  
          Lập ngày 1/1/1999   Đà 903  
                     
    TT     Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú  
    1   Nguyễn Văn Chấp   1,85   Khoán lương  
    2   Vũ Mạnh Khiêm     Khoán lương  
                   
        Kèm theo 2 hợp đồng lao độ ng        
        Người lập biểu   Giám Đốc  
          (Ký tên)   (Ký tên)  
                         

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Đội: Nề DANH SÁCH LAO ĐỘNG Xí nghiệp XD Sông
        Lập ngày 1/1/1999   Đà 903
               
    TT   Họ và tên Cấp bậc   Ghi chú
    1 Nguyễn Văn Lợi   Lương khoán
    2 Huỳnh Đa Phước   Lương khoán
    .          
    49 Ngô Tiến Long   Lương khoán
    50 Lương Việt Hùng   Lương khoán
             
      Kèm theo 50 hợp đồng lao động    
        Người lập biểu   Giám Đốc
        (Ký tên)   (Ký tên)

    Văn phòng Xí nghiệp        DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD

    kinh doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999 Sông Đà 903
             
    TT Họ và tên   Cấp bậc Ghi chú
    1 Hoàng Anh   3,48  
    2 Hà Quang Du   2,50  
    .        
    8 Cao Hoàng Hà   1,70  
    9 Nguyễn Mạnh Chiến   1,78  
    10 Nguyễn Đình Lê   Lương khoán
             

    Kèm theo 10 hợp đồng lao động

    Người lập biểu                                                        Giám Đốc

    (Ký tên)                                                                    (Ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga
      Công trình Nhà tập võ              
      vật TT TDTT Quốc gia              
      Xí nghiệp kinh DANH SÁCH LAO ĐỘNG    Xí nghiệp XD
        doanh vật tư Lập ngày 1/1/1999   Sông Đà 903
                     
      TT   Họ và tên   Cấp bậc   Ghi chú
      1   Lê Văn Hà     2,74        
      2   Trần Thị Hường     2,21        
      8   Dương Đức Thịnh       Lương khoán  
                       
          Kèm theo 8 hợp đồng lao độ ng          
          Người lập biểu Giám Đốc
          (Ký tên)       (Ký tên)
    1. Hạch toán sử dụng thời gian lao động tại Công ty:

    Hạch toán tiền lương theo thời gian được tiến hành cho khối cơ quan đoàn thể của Công ty. Nói cách khác, đối tượng áp dụng hình thức trả lương theo thời gian ở Công ty là cán bộ công nhân viên ở các bộ phận phòng ban văn phòng Công ty và công nhận ở các đội.

    • mỗi bộ phận văn phòng (văn phòng Công ty, văn phòng các xí nghiệp) có người theo dõi thời gian làm việc của CBCNV (theo mẫu số 01 – LĐTL).
    • mỗi đội xây dựng có sự phân chia nhóm công nhân làm việc theo yêu cầu của từng công việc cụ thể được Công ty giao ở từng công trình. Mỗi nhóm cử ra một người lập bảng chấm công và theo dõi ngày làm việc thực tế của các thành viên trong nhóm

    Hàng ngày căn cứ vào sự có mặt của từng người trong danh sách theo dõi trên Bảng chấm công, người phụ trách việc chấm công đánh dấu lên Bảng chấm công ghi nhận thời gian làm việc của từng người trong ngày tương ứng từ cột 1 – cột 31. Bảng chấm công được công khai cho mọi người biết và người chấm công là người chịu trách nhiệm về sự chính xác của Bảng chấm công.

    Cuối tháng, Bảng chấm công ở các văn phòng được chuyển về phòng kế toán tương ứng (chấm công văn phòng Công ty thì chuyển về kế toán lương của Công ty, chấm công văn phòng xí nghiệp kinh

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    doanh vật tư thì chuyển về kế toán lương của xí nghiệp kinh doanh vật tư …) để làm kế toán căn cứ tính lương, tính thưởng và tổng hợp thời gian lao động sử dụng trong Công ty, trong xí nghiệp. Thời hạn nộp chậm nhất là 2 ngày sau khi hết tháng.

    Bảng chấm công ở các nhóm thuộc các đội ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng ở các công trình được theo dõi cũng theo tháng nhưng phải đến khi hoàn thành công việc được giao thì Bảng chấm công mới được tập hợp để tính ngày lao động của từng người. Số tiền lương khoán sau đó sẽ được chia cho mọi người căn cứ vào số ngày công thực tế của mỗi công nhân thể hiện trên Bảng chấm công.

    Bộ phận nhân viên hưởng lương khoán công việc thì mức lương khoán đã được tính cho tháng làm việc nên Công ty không theo dõi thời gian sử dụng lao động của số nhân viên này.

    Nếu có trường hợp CBCNV chỉ làm một phần thời gian lao động theo quy định trong ngày, vì lý do nào đó vắng mặt trong thời gian còn lại của ngày thì người chấm công căn cứ vào số thời gian làm việc của người đó để xem xét tính công ngày đó cho họ là 1 hay 1/2 hao là “0”.

    Nếu CBCNV nghỉ việc do ốm đau, thai sản… phải có các chứng từ nghỉ việc của cơ quan y tế, bệnh viện cấp, và được ghi vào bảng chấm công theo những ký hiệu quy định như: ốm “ô”, con ốm “cô”, thai sản “TS”… Trường hợp nghỉ phép “P” thì ở Công ty chỉ cần công nhân viên có báo trước cho người chấm công thì ngày nghỉ của họ được ghi là “P”.

    VD: Trên bảng chấm công T3 của bộ phận văn phòng xí nghiệp kinh doanh vật tư các ngày từ 1 –> 31 ghi 27 công nghỉ đẻ “TS” của chị Vũ Bích Phượng có chứng từ kèm theo là giấy khám bệnh của bệnh viện như sau:

    (kèm giấy xin nghỉ TS trước 1 tháng)

    PHIẾU KHÁM BỆNH

    Họ và tên: Vũ Bích Phượng

    Địa chỉ: xí nghiệp kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Khoa khám bệnh: – Sản –

    Chẩn đoán

    Ngày sinh con: 25/3 – 29/3

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Ngày nghỉ theo quy định: 4 tháng.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1999

    Giám đốc bệnh viện         Hành chính khoa                 Bệnh nhân ký

    Các cột “quy đổi” gồm 3 cột lương – lương 100% – Nghỉ không lương tuy có được thể hiện trên Bảng chấm công nhưng người phụ trách chấm công không có trách nhiệm phải ghi chép vào các cột này. Chỉ khi tính lương, các bảng chấm công mới được quy đổi ra thành số ngày tính lương thực tế, số ngày nghỉ tính lương theo chế độ 100% lương cơ bản, số ngày nghỉ không được tính lương cho mỗi người lao động ứng với mỗi dòng trên bảng chấm công.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu sổ số 2

    Văn phòng xí nghiệp       BẢNG CHẤM CÔNG         Xí nghiệp kinh doanh vật tư –
    kinh doanh vật tư         Tháng 3 năm 1999           Xí nghiệp XD Sông Đà 903 –
                                                   
                                          Quy đổi   Ghi
      STT Họ và tên 1 2 3   4 5 6 7 …… 27 28 29 30   31 lương   lương   Nghỉ chú
                                            100%   KL  
      1 Hoàng Anh x x x   x x x CN …………. x CN x x   x            
      2 Trương Bá Đức x x x   x x x   …………. x   x x   x            
                                                   
      3 Hà Quang Du x x x   x x x x …………. x   x x   x            
      4 Đỗ Hoàng Liên x x x   x x x   …………. x   x x   x            
      5 Cao Hoàng Hà x x H   H H x   …………. x   0 x   x            
                                                   
      6 Nguyễn Khánh Hùng x x x   x x x     x   x x   x            
      7 Nguyễn Ngọc Hoa 0 0 0   x x x     x   x 0   x            
      8 Vũ Bích Phượng TS TS TS   TS TS TS     TS   TS TS   TS            
                                                   
      9 Nguyễn Mạnh Chiến x x x   x x x     x   x x   x            
        Người chấm công           Phụ trách bộ phận           Giám đốc duyệt    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    1. Hạch toán kết quả lao động
    • Ở bộ phận văn phòng Công ty, để hạch toán kết quả lao động, làm cơ sở để tính lương, kế toán sử dụng các danh sách xét thi đua (Bảng xếp loại) làm chứng từ ban đầu.

    Danh sách xét thi đua do trưởng phòng của các phòng ban ở bộ phận văn phòng Công ty lập vào cuối tháng để chấm xếp loại kết quả công việc của từng nhân viên trong phòng ban của mình trên cơ sở các quy định về việc xếp loại CBCNV của bộ máy quản lý trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu trong đặc điểm LĐ TL ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903). Hệ số xếp loại hay hệ số điều chỉnh (HSĐC) được quy đổi ra cho từng nhân viên theo xếp loại trong bảng danh sách xét thi đua là một căn cứ quan trọng để tính lương cho nhân viên của bộ máy quản lý Công ty (nhân viên văn phòng Công ty).

    VD: Trưởng phòng TC – KT căn cứ vào bảng chấm công tháng 3 và kết quả công việc của Phan Đình Cường chấm xếp loại cho ông Cường HSĐC: 2,3 (loại 1) với lý do:

    – Số ngày nghỉ trong tháng không quá 2 ngày – Hoàn thành xuất sắc các công việc được giao.

    Mẫu số 3:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    DANH SÁCH XÉT THI ĐUA

    Tháng 3 năm 1999

    TT Họ và tên   Xếp loại   Ghi chú  
    2,3 2 1,8
           
    1 Ngô Doãn x        
                 
    2 Phan Đình Cường x        
                 
    3 Tăng Bích Trâm x        
                 
    4 Đặng Thị Thu   x      
                 
    5 Vũ Thị Nga x        
                 
    6 Lê Nguyên Bảo   x      
                 
    7 Phạm Thị Đà Giang   x      
                 
    8 Ngô Đức Dũng     x    
                 

    Hà nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999.

    Trưởng phòng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (kí tên)

    Một số nhân viên thuộc bộ máy quản lý công ty nhưng không thuộc phòng ban nào thì HSĐC được qui định rõ trong qui chế lương công ty là căn cứ để hạch toán kết quả lao động của họ.

    Ví dụ:

    Công nhân lái xe con → HSĐC: 1,8

    Nhân viên tạp vụ           → HSĐC: 1,5

    Hệ số điều chỉnh (HSĐC) sẽ được dùng làm căn cứ để tính “lương xếp loại” cho nhân viên bộ máy quản lý như sau:

    Lương theo;xếp loại = Mức lương;cơ bản x Hệ số;điều chỉnh

    Ví dụ: một người có mức lương cơ bản = 360.000 đ

    Trong tháng được xếp loại: 2,3

    • Lương theo xếp loại = 360.000 đ x 2,3 = 828.000 đ
    • Tuỳ theo khả năng của các xí nghiệp SXKD trực thuộc công ty mà bộ phận văn phòng của các đơn vị này có được hạch toán kết quả lao động hay không. Hiện tại, bộ phận nhân viên văn phòng XNXD và KDVT cũng được hạch toán kết quả lao động theo xếp loại HSĐC.
    • Đối với người lao động ở các đội XD của công ty, công ty giao khoán quỹ lương cho các đội và đối với các đội sản xuất ở các xí nghiệp do xí nghiệp thuê giao khoán công việc, vì vậy chứng từ hạch toán kết quả lao động của bộ phận này là Hợp đồng làm khoánbiên bản nghiệm thu kỹ thuật.

    Tháng 3 năm 1999, công ty giao khoán công việc cho đội Nề trực thuộc công ty ở công trình: Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Giữa công ty và đội ký hợp đồng làm khoán. Hết tháng, hoàn thành phần việc được giao, đội Nề và công ty lập biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc đã hoàn tất.

    Hợp đồng làm khoán hạng mục cổng, tường rào ở công trình “Trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị” và biên bản nghiệm thu kỹ thuật cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để cho phần việc khoán này là chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động tháng 3 cho đội Nề. Biên bản nghiệm thu kỹ thuật đã công nhận

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    chất lượng công việc đội Nề hoàn thành, vì vậy số tiền ghi trên hợp đồng làm khoán sẽ được công ty thanh toán và là quỹ lương khoán tháng 3 của công ty giao cho đội.

    • Còn lại, với những trường hợp nhân viên giao khoán lương (VD: bảo vệ: 400.000 đ) thì chứng từ ban đầu để hạch toán kết quả lao động là hợp đồng nhân công. Hợp đồng này là bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán về công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên khi thực hiện công việc đó. Chứng từ này là cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán.

    VD: Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903 ký hợp đồng nhân công, giao khoán cho Nguyễn Đình Lê lương bảo vệ: 300.000 đ/tháng.

    Hàng tháng, căn cứ vào số tiền ghi trong hợp đồng này, kế toán lương tính trả lương tháng cho ông Lê 300.000đ

    HỢP ĐỒNG NHÂN CÔNG Xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Hôm nay, ngày 1 tháng 1 năm 1999 Chúng tôi gồm: Hoàng Anh – Giám đốc xí nghiệp (Bên A)

    Nguyễn Đình Lê – Người lao động (Bên B)

    Hai bên cùng nhau ký kết hợp đồng với nội dung sau:

    Điều I: Trách nhiệm bên B:

    • Chịu trách nhiệm về an ninh tại trụ sở xí nghiệp (186 Ngô Gia Tự – Gia

    Lâm)

    • Chấp hành nội quy và quy định chung của xí nghiệp.

    Điều II: Trách nhiệm bên A:

    • Trả lương tháng đúng hạn (vào cuối tháng)
    • Đảm bảo điều kiện làm việc cho nhân viên. Điều III: Số tiền lương khoán 300.000đ/tháng

    Bên giao việc A                                               Bên nhận việc B

    Ký tên                                                                         Ký tên

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    • Ngoài ra, chứng từ hạch toán kết quả lao động ở Công ty còn có các báo cáo sản lượng.
      • Công ty, các báo cáo sản lượng của các xí nghiệp sản xuất được gửi lên hàng tháng thông báo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế toán tổng hợp ở Công ty tổng hợp các báo cáo sản lượng tính ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của Công ty để làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên quản lý Công ty.
    • các xí nghiệp sản xuất, các báo cáo sản lượng được lập ở các công trình, hết tháng nộp lên kế toán xí nghiệp để xí nghiệp tổng hợp ra mức hoàn thành kế hoạch sản lượng bình quân của cả xí nghiệp, lấy số liệu lập báo cáo sản lượng nộp lên kế toán Công ty đồng thời làm căn cứ tính lương thời gian theo sản phẩm cho nhân viên bộ máy quản lý xí nghiệp.
    1. Hạch toán tiền lương và thanh toán với người lao động.

    A – Tính lương:

    Công việc tính lương và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán Công ty trước khi tính lương, kế toán tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động (Bảng chấm công …) kết quả lao động (hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu sản phẩm…) và kiểm tra tính hợp lý hợp lệ của toàn bộ số chứng từ này để dùng làm căn cứ tính lương.

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương thời gian theo sản

     

    phẩm.

     

    Như đã giới thiệu sơ qua về hình thức trả lương thời gian theo sản phẩm ở Công ty (phần I), các nhân viên của Công ty áp dụng trả lương theo hình thức này được kế toán tính lương tháng như sau:

    Tháng 3 năm 1999, bộ phận quản lý Công ty được kế toán lương tính lương trên bảng thanh toán lương tháng 3 như sau:

    VD:

     

    lấy ví dụ nhân viên số thứ tự là một Phạm Minh ở văn phòng Công ty được kế toán tính lương như sau:

    * Mức lương cơ bản                               =

    Hệ số lương; (cấp bậc) x Mức lương; tối thiểu

      = 5,72 x 144.000đ
      = 823.680 đồng.
    * Lương theo xếp loại = Mức lương; cơ bản x Hệ số điều chỉnh
      = 823.680đ x 2,3 = 1.894.464 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    *

    Error!

    • 894.464đ + 28.800 + 82.368 + 198.720
    • 204.352 đ

    Trong đó các mức phụ cấp được quy định trong quy chế trả lương của Công ty (đã nêu ở đặc điểm LĐTL)

    • Phụ cấp lưu động 20% LTT = 20% x 144000đ = 28.800 đ
    • Phụ cấp không ổn định sản xuất 10% LCB = 10% x 823.680 = 82.368đ
    • Phụ cấp TN Bí thư đảng uỷ Công ty = 0,6 x 144.000 x 2,3 = 198720 đ (0,6 LTT có HSXL)

    Error!

    • 204.352 x 69%
    • 521.003 đồng

    Error! x Error!

    • Error!
    • 579.503 đồng

    Error!

    = 1.579.503 đ + 0 = 1.579.503 đ

    Tháng 3 ông Minh không có ngày nghỉ phép nào nên số tiền lương được

    trả cho thời gian làm việc trong tháng bằng số tiền tổng cộng được trả.

    *                                                         Thực                                                         lĩnh                                                         =

    Error!

    • 579.503 – 123.552 – 24.710
    • 431.241 đ

    (BHXH, BHYT bị trừ lương theo quy định sẽ được trịnh bày ở phần sau)

    • các xí nghiệp sản xuất kinh doanh, lương bộ phận quản lý xí nghiệp được tính tương tự như bên văn phòng Công ty, tuy nhiên xí nghiệp là đơn vị sản xuất nên bảng thanh toán lương có kết cấu và cách tính hơi khác một chút.

    Việc phải làm thêm công, thêm giờ là chuyện xảy ra thường xuyên đối với các bộ phận sản xuất, vì vậy trên bảng thanh toán lương của các xí nghiệp thường có thêm phần “lương tăng giờ” gồm 2 cột “Công” “Tiền” để tính trả tiền lương làm thêm giờ của nhân viên.

    BHXH, BHYT phải thu trực tiếp của người lao động không thể hiện trên bảng thang toán lương.

    VD:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nhân viên Hoàng Anh ở dòng thứ 1 trên bảng thanh toán lương tháng 3 của xí nghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư – Xí nghiệp XD Sông Đà 903, có các số liệu cơ bản như sau:

    – Cấp bậc lương : 3,48
    – HSĐC : 2,3
    – Số ngày công : 27
    • PC trách nhiệm : 0,4 x 144.000đ x 2,3 = 132.480 đồng (thường trực Đảng uỷ Công ty)

    – PC lưu động               : 66.240 (0,2 x LTT x HSĐC)

    • PC không ổn định sản xuất: 119.691đ (0,1 x LCB)
    • Tiền lương 10 công: 870.674 đ

    làm thêm giờ

    • Lương cấp bậc = 3,48 x 144.000 đ = 501.120 đồng
    • Lương theo XL = 501.120 x 2,3 = 1.152.576 đồng
    • Error!
    • Lương cơ bản; tiền lương được XN; trả cho thời gian làm; việc quy định 27 ngày = 1.196.906 đ + (132.480 + 66.240 + 119.691)
    • 515.317 đồng

    +

    Error!

    = 2.385.991 đồng

    +

    Error!

    1. Tính lương cho CBCNV áp dụng hình thức trả lương khoán:

     

    + Khoán công việc:

     

    Ở mỗi bộ phận lương trong công ty, căn cứ vào đặc điểm công việc của

    nhân viên, các việc như bảo vệ, quản lý công trình thường được khoán lương tháng cho mỗi công việc.

    Mức lương khoán được tính toán căn cứ vào công việc và mức lương theo cấp bậc công việc bình quân.

    VD:

    • Tiền lương;bảo vệ phụ = 3,125 x 144.000 đ ≈000 đ Công trình Đầm 7
    • Tiền lương;bảo vệ chính = 3,47 x 144.000 đ ≈000 đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công trình Đầm 7

    Mức lương khoán được ghi trong hợp đồng lao động và được dùng làm căn cứ để lập Bảng Thanh Toán Lương.

    * Khoán quỹ lương:

    Với các phần việc ở các công trình XD của công ty, công ty thường áp dụng hình thức khoán quỹ lương cho các đội XD để nhân viên trong các đội chia nhau hoàn thành công việc.

    Mức khoán quỹ lương thường được xây dựng dựa trên cấp công việc, mức lương theo cấp bậc công việc định mức về sản lượng, định mức về thời gian hoàn thành công việc mà Công ty giao cho.

    Error!

    VD: Trong hợp đồng làm khoán hạng mục cổng tường rào, công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị, Công ty xây dựng Sông Đà giao khoán quỹ lương cho đội Nề tháng 3 như sau:

    1. Xây móng mác 75#: 169,337 m3; Đơn giá 45.000đ/m3
    –> thành tiền 7.620.165 đồng
    2. Xây trụ tường rào 50#: 346,078 m3, Đơn giá: 45000 đ/m3
    –> Thành tiền 15.573.510 đồng
    3. Trát trụ, tường 75#: 1.066,304 m2; Đơn giá: 6000 đ/m2
    –> Thành tiền 6.397.824
         

    Tổng quỹ lương giao khoán cho đội Nề là tổng tiền sẽ thanh toán cho 100% khối lượng công việc đã giao cho đội tháng ba hoàn thành

    • 620.165 + 15.573.510 + 6.397.824
    • 591.499 đồng

    Các đội hoàn thành công việc sẽ nhận tiền lương khoán và chia theo thời gian làm việc cho mọi người (theo Bảng chấm công) VD: Tổng quỹ lương được chia cho 1480 công của đội trong tháng 3 –> 1 công = 20.000 đ –> 1 người: 30 công hưởng 600.000 đ tháng 3

    Khi thanh toán lương với người lao động, người lao động nhận lương phải có trách nhiệm ký vào cột cuối cùng của bảng thanh toán lương “ký nhận” để xác nhận việc nhận lương của mình.

    • bộ phận quản lý Công ty thì người thanh toán lương với nhân viên là kế toán lương của Công ty, còn ở đội xây dựng thì đội trưởng sau khi nhận được lương khoán sẽ thanh toán với các LĐ trong đội. Tại các xí nghiệp và thanh toán với kế toán lương ở đơn vị mình.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Khi bảng thanh toán lương đã tính và trả xong cho người lao động, kế toán các xí nghiệp tiến hành phân bổ chi phí tiền lương vào các tài khoản chi phí phù hợp (TK 622, TK 627, TK 642). Ở các đội thì bảng thanh toán lương được nộp lên phòng kế toán Công ty để kế toán Công ty phân bổ vào chi phí nhân công từng công trình để xác định giá thành công trình. Kế toán tiền lương Công ty thì phân bổ chi phí tiền lương bộ máy quản lý công ty vào chi phí quản lý Công ty (TK 6421)

    1. Tính bảo hiểm . được trích:

    BHXH, BHYT, như đã nêu ở phần quỹ BHXH, BHYT của công ty.

    Tuy nhiên, theo cách tính lương, BHXH, BHYT trích bằng cách khấu trừ lương của nhân viên văn phòng công ty hay văn phòng xí nghiệp 5% BHXH, 1% BHYT, thì cũng được trích 15% BHXH, 25 BHYT vào chi phí còn lại, KPCĐ nhân viên quản lý tương ứng.

    • bộ phận nhân viên các công trình, kế toán trích 5% BHXH, 1% BHYT khấu trừ lương những nhan viên có gia nộp bảo hiểm và đồng thời kích 15% BHXH, 4% BHYT, KPCĐ còn lại tính vào chi phí nhân viên trực tiếp xây dựng, nhân viên quản lý công trình tương ứng.

    Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động tại doanh nghiệp trong các trướng hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…(hưởng lương BHXH) được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời gian nghỉ (có chứng từ hợp lệ) và tỷ lệ trợ cấp BHXH.

    Khi người lao động được nghỉ hưởng BHXH, kế toán ở công ty (hoặc kế toán ở xí nghiệp tuỳ thuộc đối tượng nghỉ thuộc bộ phận nào quản lý) lập phiếu nghỉ lương BHXH cho từng người (mẫu số 03 – LĐTL chế độ chứng từ kế toán) và từ các phiếu nghỉ hưởng BHXH , kế toán lập bảng thanh toán BHXH, (mẫu số 04 LĐTL chế độ chứng từ kế toán). Sau đó, nếu nhân viên nghỉ hưởng BHXH ở các xí nghiệp trực thuộc thì các đơn vị này giử các chứng từ trên lên công ty để công ty gom lại lập bảng thanh toán BHXH cho toán Công ty. Các chứng từ này sẽ là chứng từ dể công ty thanh toán với cơ quan BHXH vào cuối mỗi năm.

    Các mẫu biểu các số thanh toán BHXH cho nhân viên như sau:

    Mẫu biểu: Nhân viên VBP, cấp bậc lương, 1,94 xin nghỉ đẻ từ 1.4 đếm 31.7.

    Xí nghiệp xây dựng         PHIẾU NGHỈ HƯỞNG BHXH         Công ty xây

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
        kinh doanh vật tư                 dựng Sông đà I
        Số: 15                              
        Họ tên: Vũ Bích Phượng, tuổi: 29                  
                                       
                Số ngày nghỉ Y, bác   Số   Xác  
        Tên cơ Ngày               sĩ ký     nhận  
                         
                        gnày    
        quan y tháng Lý do Tổng   Từ Đến hết tên     của phụ  
        tế năm     số   ngày ngày đóng   thực   trách  
                nghỉ    
                          dấu     BP  
                                 
                                         
        Bệnh 19/3/99   Nghỉ 4Tháng   1.4 31.7     104      
        viện C     đẻ                          
        PHẦN THANH TOÁN                      
                       
        số ngày nghỉ   Lương bình   % tính BHXH   Số tiền hưởng
        tính BHXH   quân 1 ngày             BHXH  
                           
        104   10.744.61538 Đ   100%     1.117.440    
                         
        1 tháng lương BHXH trợ các cho trường hợp nghỉ đẻ       279.360    
                               
              Tổng cộng           1.396.800    
                            Ngày 27 tháng 02 năm 1999
          Người lập       Kế toán BHXH      
          (tiền lương bình quân 1 ngày dùng làm cơ sở để tính lương nghĩ hưởng
      BHXH được tính như sau:                  
          TL bình quân 1 ngày = Error!                  
          Chị Vũ Bích Phượng:                  
          Cấp bâc: 1,94 ⇒ Tiền lương =   144.000 x 1 = 10744.61538đ      
            94 ; 26        
      Xí nghiệp XD và   BẢNG THANH TOÁN BHXH   Xí nghiệp XD Sông Đà  
        KD vật tư   Tháng 2 năm 1999   903      
                            Nợ TK 136  
                            TK 1111  
                             
    TT Họ tên   Nghỉ ốm Nghỉ con Nghỉ đẻ   Nghỉ sẩy thai sinh   Nghỉ tai nạn lao Tổng số  
      ốm     đẻ kế hoạch     động tiền   nhận
                       
                                   

    Xí nghiệp Sông Đà 903

        Chuyên đề thực tập tốt nghiệp       Nguyễn Thị Nga
                                       
          số Số số Số số Số tiền Khoản Số Khoản Số S`ố Số tiền      
          ngày tiền ngày tiền ngày chi ngày chi ngày ngày    
                                   
    1 Vũ Bính Phượng         104 1.396.800             1.396.800 (Đã ký)
      Cộng         104 1.396.800             1.396.800    

    Tổng số tiền (viết bằng chữ): một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.

          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      
      Xí nghiệp XD Sông BẢNG THANH TOÁN BHXH – Tổng Công ty xây dựng  
        Đà 903       Tháng 2 năm 1999         Sông Đà    
                              Nợ TK 3385      
                              TK 1361 – XNTL  
                                     
          Nghỉ ốm Nghỉ con ốm Nghỉ đẻ Nghỉ sẩy thai SĐKH Nghỉ tai nạn LĐ Tổng số
    TT Họ tên   số Số số   Số số   Khoản Số   Khoản Số   S`ố   Số
        Số tiền       tiền nhận
          ngày tiền ngày   tiền ngày   chi ngày   chi ngày   ngày   tiền    
    1 Vũ Bính Phượng           104 1.396.800                   1.396.800 (Đã ký)
      Cộng             104 1.396.800                   1.396.800  
            Tổng số tiền: Một triệu ba trăm chín sáu ngàn tám trăm.  
          Kế toán BHXH     Kế toán trưởng      

    Từ các giấy nghỉ của bệnh viện, phiếu nghỉ hưởng BHXH và bảng thanh toán BHXH của xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư kế toán BHXH của công ty.

    Tuy nhiên, trong tháng 3, do cả công ty (bao gồm cả các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực thuộc) chỉ có 1 trường hợp hưởng BHXH pháp minh tại xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư nên ở cả 2 bảng T.T’ BHXH đếu chỉ phương án cùng 1 nghiệp vụ pháp minh.(Tuy vậy định khoản cho số tiền thanh toán BHXH 2 nơi khác nhau.

    Error!

    Error!

    1. Hạch toán chi tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương Bh và tình hình thanh toán với ngưòi lao động tại Công ty:

    Tài khoản sử dụng hạch toán lương: TK 141 – tạm ứng TK cấp 21411-tạm ứng lương sử dụng để hạch toán thanh toán lương với lao động trực tiếp ở các công trình – TK 334- phải trả CNV.

    Trong đó, kế toán của Công ty, của các XNSX thống nhất sử dụng TK

     

    3314 để hạch toán tiền lương và tình hình thanh toán lương với CNV bộ phận quản lý (lao động gián tiếp)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Bên nợ: các khoản tiền lương tiền thưởng BHXH và các khoản khac đã trả, đã ứng cho người lao động.

    • Các khoản khấu trừ vào tiền lương của người lao động.
    • Bên có: – Các khoản tiền lương, tiền thưởng BHXH thực tế phải trả cho người lao động.

    Số dư bên có: – các khoản tiêng lương còn phải trả cho người lao động. Tài khoản sử dụng để hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ

    Để hạch toán tổng hợp BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán bảo hiển công ty sử dụng các TK cấp 2 sau: TK 3382, TK 3383, TK 3384

    TK 3382 – KPCĐ:

    Bên nợ: – chi tiêu kinh phí công đoàn tại công ty.

    • Kinh phí công đoàn đã nộp lên tổng công ty.

    Bên có: – Trích kinh phí công đoàn vào chi pí QLND

    • Báo nợ KPCĐ cho các đơn vị trực thuộc Số dư bên có: KPCĐ chưa nộp, chưa chi

    Số dư bên nợ: KPCĐ vượt chi.

    TK 3383: – BHXH.

    Bên nợ: – BHXH phải trả cho người lao động.

    • BHXH đã nộp cho cơ quan quản lý. Bên có: – Trích BHXH vào chi phí QLDN
    • Trích BHXH trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHXH của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên nợ: BHXH vượt chi

    Số dư bên có: BHXH chưa nộp.

    TK 3384 – BHYT:

    Bên nợ: – Nộp BHYT.

    Bên có: – Trích BHYT tình vào chi phí QLDN.

    • Trích BHYT trừ vào thu nhập của người lao động.
    • Báo nợ BHTYT của các đối tượng phải thu.

    Số dư bên có: – BHYT chưa nộp.

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN LƯƠNG

    1. Kế toán Công ty phân bổ tiền lương cuả bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 6421- Chi phí nhân viên quản lý Công ty:

     

    Có Tk 3341 – lương tiền lương nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Trường hợp tiền lương NC xd nhà xưởng của Công ty, kế toán ghi Nợ TK 2412- XDCB

    Có TK 3341- tiền lương

    1. Kế toán công ty phân bổ tiền lương của bộ máy quản lý Công ty vào chi phí nhân viên quản lý Công ty:

    Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp( chi tiết cho từng công trình) Nợ TK 6271- chi phí NV phân xưởng

     

    Có TK 1411 – Tam ứng chi tiết cho từng công trình

     

    1. Kế toán các XN sản xuất kinh doanh phân bổ tiền lương nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý vào chi phí sản xuất kinh doanh.

    Nợ TK: 6271 – chi phí NV phân xưởng

     

    Nợ TK 6421 – chi phí NV quản lý xí nghiệp Có TK 3341 – tiền lương

     

    1. Kế toán các xí nghiệp phân bổ chi phí nhân viên sản xuất, nhân viên quản lý vào các công trình:

    Nợ TK 622 – chi phí nhân công trực tiếp ( chi tiết cho từng công trình)

     

    Nợ TK 627 – chi phí nhân viên quản lý công trình ( chi tiết cho từng công trình ) Có TK 141 – tạm ứng (chi tiết cho từng công trình)

     

    1. Tạm ứng trước tiền lương cho nhân viên Công ty, kế toán phụ trách lương nhân viên (Kế tóan Công ty, kế toán xí nghiệp) ghi

    Nợ TK 138 – phải thu khác

     

    Có TK 1411 – Tạm ứng lương công trình ( chi tiết cho từng công trình) Ví dụ: Tại Công ty phát sinh 1 số nghiệp vụ lương sau

    + Ở BP quản lý Công ty.

     

    1a. Trả lương cho nhân viên xưởng cầu giấy: căn cứ vào bảng thanh toán lương xưởng Cầu Giấy T3, giao số tiền 893.246 đồng cho ông Phạm văn Cầu về phát lương , kế toán ghi:

    Nợ TK 3314: 893.346đ

     

    Có TK 1111 : 893.264đ

     

    1b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên xưởng cầu giấy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3314: 506736đ

     

    Có TK 3383: 220.320đ

     

    Có TK 334: 33.048đ

     

    Có TK 3388: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    (Số tiền 253.368 ở TK3388 là số tiền BHXH 220.320đ, BHYT 33.2048 ông Cần nộp thay cho vợ là nhân viên Công ty đã nghỉ không lương)

    2a- Trả lương cho nhân viên khu đầm bảy: căn cứ vào bảng thanh toán lương cho khu đầm bảy T3, giao số tiền 902.048 cho ông Nguyễn Văn Chấp về phát lương định khoản được ghi như sau:

    Nợ TK 3341: 902.048đ

    Có TK 1111: 902.048đ

    2b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên đầm bảy được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341 : 47925đ

    Có TK 3384 : 39960đ

    Có TK 3384 : 7.992đ

    3a. Trả lưong cho nhân viên khối văn phòng Công ty: Căn cứ vào bảng thanh toán tiền lương khối VPT3, giao cho Ngô Đức Dũng, nhân viên phòng TCKT số tiền

    19.326.906đ pháy lương cho nhân viên, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341: 19.326.906đ

    Có TK 1111: 19.326.960đ

    3b. Số tiền BHXH, BHYT đã khấu trừ lương của nhân viên khối Vp được định khoản như sau:

    Nợ TK 3341: 2.257.728đ

    Có TK 3383: 1.1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của khối văn phòng và khu đầm 7 vào chi phí QLND:

    Nợ TK 6421: 22.984.634 đ Có TK 3341: 22.984.634đ

    • – Phân bổ tiền lương tháng 3 của nhần viên quản lý công trình xây dựng: Xưởng cầu giấy.

    Nợ TK 2412: 950.000đ

    Có TK 3341: 950.000đ

    6- Phân bổ lượng nhân viên sản xuất đội nề T 3 vào chi phí công trình Nợ TK 1411 (công trình tram…): : 29.591.500đ

    Có TK 1111: : 29.591.500đ

    • – Trả lương cho nhân viên đội sản xuất nề

    Nợ TK 622 (công trình trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị. Có TK 1411: : 29.591.500đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    8 – BHXH, BHYT, khấu trừ lương nhân viên đội nề cho 3 tháng 1,2,3. Nợ TK 1411: 2.970.000đ

    Có TK 3383: 2.475.000đ

    Có TK 3384: 495.000đ

    + ở bộ phận xínghiệp xây dựng và kinh doanh vật tư:

    • – Người 6/3/99. Nguyễn Ngọc Hoa phòng TC – HC nhận tiền thanh toán lương tháng 2/99 cho CB CNV xí nghiệp, KT ghi

    Nợ TK 3341 : 29.741.938đ Có TK 1111: 29.741.938đ

    1. Phân bổ tiền lương phải trả: cán bộ công nhiên viên xí nghiệp Nợ TK 6271: 20.590.603đ

    Nợ TK 6421: 7.211.573đ

    Có TK 3311: 27.802.176đ

    • – Trả lương cho nhân viên công trình nhà tập võ vật quản giáo: a, trích: Nợ TK 622 (công trình nhà tập võ…): 4.374.000

    Nợ TK 627 ((công trình nhà tập võ…): 1.986.000

    Có TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 6.360.000 b. Trả lương + khấu trừ bảo hiểm:

    Khấu trừ bảo hiểm

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 604.978 đ Có TK 3383: 504.144đ

    Có TK 3384: 100.829 đ Trả lương:

    Nợ TK 1411 (công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ Có TK 1111(công trình nhà tập võ…): 5.755.027đ

    Nhiệm vụ hoạch toán…..(trang 9)

    NGHIỆP VỤ HẠCH TOÁN BHXH, BHYT, KPCĐ TẠI ĐÂY CÔNG TY

    1. Phản ánh BHYT trợ cấp cho người LĐ tại Công ty, căn cứ vào bảng thanh toán BHXH, kế toán ghi:

    Nợ TK 3383 – BHXH

     

    Có TK 3341 – tiền lương nhân viên đơn vị.

     

    Có TK 1368 phải thu nội bộ khác công ty trả cho nhân viên xí nghiệp trực thuộc.

     

    1. Khi tính trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3341 – tiền lương (trừ thu nhập nhân viên quản lý.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Nợ TK 3388 – phải tra, phải nộp khác (thu của nhân viên nghỉ không lương)

    Nợ TK 6421 – chi phí nhân viên quản lý (trích vào chi phí quản lý).

    Nợ TK 1368 – phí nội bộ khác (báo nợ cho các xí nghiệp.

    Nợ TK 1411 – tạm ứng lương nhân viên các đội sản xuất

    Nợ TK 622,627….

    Có TK 3382. TK 3383, TK 3384.

    1. Phản ánh chi tiêu kinh phí công đoàn tại đơn vị, kế toán ghi. Nợ TK 3382 – KPCĐ

     

    Có TK 111.112 – tiến mặt, tiều gửi ngân hàng.

     

    Có TK 1368 – phải thu nội bộ khác (cấp trả KPCĐ cho các xí nghiệp trực thuộc).

     

    1. KPCĐ Công ty phải nộp lên tổng Công ty theo tỷ lệ quy định vì vậy, khi tổng, Công ty báo thu KPCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 3382 – KPCĐ (trường hợp xí nghiệp xí nghiệp nộp KPCĐ lên công ty, kế toán ghi tương tự).

    Có TK 336 – phải trả nội bộ

    Nộp KPCĐ cho tổng;công ty kế toán ghi {Nợ TK 336; Có TK111} 112

    1. Khi được báo nộp BHXH, BHYT, kế toán xí nghiệp ghi: Nợ TK 3383, TK 3384

    Có TK 111,112.

     

    1. Trường hợp BHXH , KPCĐ vượt chi được cấp bù kế toán ghi: Nợ TK 111,112

    Có TK 3382, 3383

     

    * Ví dụ: Cụ thể trong 3 tháng đầu văn tài bộ phận quản lý Công ty có các

    nghiệp vụ về BHXH, BHYT, KPCĐ, phát sinh như sau:

    • – Vũ Bích Phượng (xí nghiệp) xin lấy trước tiền lương để, số tiền là 1.396.800đ. Kế toán xí nghiệp xây dựng kinh doanh vật tư chuyển bảng thanh toán BHXH lên công ty, kế toán công ty định khoản như sau:

    → Nợ TK 3383: 1.396.800đ Có TK 1368: 1.396.800đ

    1. Tính trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho quý I, kế toán ghi:

    a/ + khấu trừ lương nhân viên do kế toán lương Công ty quản lý:

    → Xưởng CG:

    Nợ TK 334: 253.368đ

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3383: 220.320đ

    Có TK 3384: 33.048đ

    • Đầm 7:
    • Văn phòng:

    Nợ TK 334: 2258.728đ

    Có TK 3383: 1881.440đ

    Có TK 3384: 376.288đ

    b/+ Thu trực tiếp của nhân viên nghỉ không lương{20% BHXH; 3% BHYT }

    Trần Thị Hà:

    • Nợ TK 3388: 337.824đ Có TK 3383: 295.760đ
    Có TK 3384: 44.064đ    
    Thu của các nhân viên:    
    Đặng Thị Phúc: BHXH (đ)   BHYT (đ)
    Văn Đức Vinh: 118.656   17.798
    Nguyễn Thị Thanh Hà:  153.792 23.069
    Nguyễn Thị Bình: 220.320 33.048
    được ghi định khoản tương tự:    

    c/+ Trích 15% BHXH, 2% BHYT tính vào 6421 cho nhân viên kế toán lương công ty quản lý:

    • 15% BHXH của khối văn phòng; Công ty + ban QLCT Đầm 7 =5.644.320đ + 119.880 = 5.764.200đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”). Nợ TK 6421: 5.764.200đ

    Có TK 3383:5.764.200đ

    • 2% BHYT của khối văn phòng; Công ty +ban QLCT Đầm 7 = 752.456đ + 15.984đ = 768.440đ

    (số liệu đã tính ở gần “tính và trích bảo hiểm”).

    • kế toán ghi:

    Nợ TK 6421: 768.440

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Có TK 3384: 768.440

    d, Báo nợ BHXH, BHYT cho các xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực

    thuộc (thu 20% và 3%)        
    –> kế toán ghi báo nợ xí nghiệp kinh doanh nhà:  
    Nợ TK 1368: 6.124.550      
    Có TK 3383: 5.325.696      
    Có TK 3384 : 798.854      
    Tương tự: BHXH BHYT  
    Xí nghiệp kinh doanh vật tư 3.010.752 459.320
    Xí nghiệp thuỷ lực   16.388.352 1.832.673

    Báo nợ các xí nghiệp này được ghi tương tự theo số liệu cụ thể tại các xí nghiêp.

    e/+ Trích KPCĐ của toàn công ty kế toán căn cứ vào lương thực trả ở mỗi bộ phận lương trích ra 2% KPCĐ và ghi vào định khoản như sau:

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp thuỷ lực): 1.183.033đ

    Nợ TK 1368 (xí nghiệp kinh doanh nhà): 1.173.506đ

    Nợ TK 6421 (vănphòng Công ty): 1.400.905đ

    Có TK 3382: 3757.444đ

    • – Tổng công ty báo thu kinh phí công đoàn 6 tháng cuối năm 1998 số tiền là 5.701.006

    → Nợ TK 3382: 5.701.006đ Có TK 336: 5.701.006đ

    4a/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp kinh doanh nhà, kế toán ghi:

    → Nợ TK 3382: 469.402đ Có TK 1368: 469.402đ

    4b/ Công ty cấp trả 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 cho xí nghiệp thuỷ

    lực:

    → Nợ TK 3381: 473.213đ

    4c/ Công ty trích 0,8% kinh phí công đoàn quý I/99 trên tổng quỹ lương thực trả của văn phòng Công ty + BLCT đầm 7 sang quỹ công đoàn văn phòng Công ty:

    → Nợ TK 3382: 560.362đ Có TK 1111: 560.362đ

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán tiền lương:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Hàng tháng, kế toán Công ty, kế toán xí nghiệp tập hợp các chứng từ hạch toán thời gian lao động, kết quả lao động ở các bộ phận nhân viên để tính lương xong trước ngày cuối tháng, làm căn cứ để trả lương cho CBCNV vào đầu tháng.

    Các nghiệp vụ hạch toán lương được ghi vào sổ kế toán theo các định khoản (đã nêu ở phần giới thiệu các nghiệp vụ hạch toán tiền lương).

    Công ty áp dụng thống nhất hình thức ghi sổ nhật ký chung vì vậy, các chứng từ hạch toán tiền lương trước tiên là được ghi vào các sổ chi tiết và sổ nhật ký chung của đơn vị. Sổ chi tiết được mở theo dõi tiền lương nhân viên quản lý đơn vị là sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương.

    Còn sổ chi tiết theo dõi tiền lương của nhân viên sản xuất ở Công ty là sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương.

    • cả kế toán Công ty và kế toán các xí nghiệp đều mở sổ chi tiết TK 1411 để theo dõi lương công nhân xây dựng cho các công trình mà mình quản lý để kết chuyển vào chi phí tính giá thành từng công trình xây dựng.

    Từ sổ nhật ký chung, kế toán theo quy tắc là phải mở sổ cái TK 3341, TK

    1411 để theo dõi lương cho 1 quý (3 tháng) nhưng ở Xí nghiệp XD Sông Đà 903, các bộ phận kế toán đều dùng sổ chi tiết TK 3341, TK 1411 mở các tháng làm căn cứ để lập bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính thay cho sổ cái và sổ cái TK 3341, 1411 không được mở.

    Các sổ chi tiết được dùng để hạch toán tiền lương tại Công ty như sau.

    1. SỔ CHI TIẾT TK 3314 VÀ SỔ CHI TIẾT TK 1411: (ĐƯỢC COI NHƯ LÀ SỔ CÁI)

    Sổ chi tiết TK 3341 – Tiền lương và sổ chi tiết TK 1411 – tạm ứng lương được mở để theo dõi tình hình thanh toán lương của Công ty với nhân viên quản lý và nhân viên sản xuất của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Mẫu biểu như sau.

    Tổng Công ty XD

    Sông Đà

    Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông Đà
    Tháng 3 năm 1999 903
    3341 – Lương  
      Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 1111 893.264   893.264
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3383 220.320   1.113.584
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3384 33.048   1.146.632
    cho NV  
                   
    122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần- Xưởng CGT.T lương T3 3388 253.368   1.400.000
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 1111 902.048   2.302.048
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3383 39960   2.342.008
    cho NV  
                   
    123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 3384 7.922   2.350.000
    cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 1111 19.326.906   21.676.906
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3383 1.881.440   23.558.346
    T3 cho NV  
                   
    124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương 3384 376.288   23.934.634
    T3 cho NV  
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 2412   950.000 22.984.634
                   
    PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương T3/99 6421   22.984.634  
          Tổng phát sinh   23.934.634 23.934.634  

    Số dư cuối kỳ:

    Ngày 12/04/1999

    Người lập biểu                                                    Kế toán trưởng

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Nga
    Sổ chi tiết TK 1411 – Tạm ứng lương .  

    Xí nghiệp XD và kinh doanh vật tư

    Sổ chi tiết tài khoản                       Xí nghiệp XD Sông

    Tháng 3 năm 1999                                           Đà 903

    1411 – Tạm ứng Lương

    Số dư đầu kỳ:

     

    SCT Ngày CT Ngày GS Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 6221   5.025.000 5.025.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 6222   7.754.000 12.779.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 6223   7.500.000 20.279.000
                   
    A76 31/3/99 31/3/99 Công trường A76 Nội Bài 1111 5.025.000   15.254.000
                   
    TDT 31/3/99 31/3/99 CT Nhà tập võ vật TT TDTT Quốc gia 1111 6.500.000   8.754.000
    T              
    PTTH 31/3/99 31/3/99 CT trường PTTH Liên Hà 1111 7.500.000   1.254.000
          Tổng phát sinh   19.025.000 7.512.779  
              Số dư cuối kỳ: 1.254.000
            Ngày 04/04/1999  
        Người lập biểu Kế toán trưởng  

    Dòng số dư đầu kỳ: được lấy số liệu từ sổ chi tiết TK 3341 của tháng trước. Cột số dư được kế toán theo dõi số dư có TK 3341 số dư Nợ được kế toán Công ty ghi âm theo quy định của BTC (ghi số dư Nợ trong ngoặc đơn).

    • tháng 3, TK 3341 của Công ty không có số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ, vì thế trên sổ chi tiết tài khoản 3341 các dòng số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ không có số liệu.
    • – SỔ NHẬT KÝ CHUNG CỦA CÔNG TY.

    Sổ Nhật ký là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của Công ty theo trình tự thời gian.

    Các số liệ ghi trên sổ Nhật ký chung được dùng làm căn cứ để ghi sổ cái của các TK.

    Sổ Nhật ký chung của Công ty có kết cấu và phương pháp ghi sổ giống như quy định của Bộ tài chính.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

        Tổng Công ty XD Sổ Nhật Ký chung Xí nghiệp XD Sông Đà
        Sông Đà   Năm 1999     903  
                       
    STT Số CT Ngày CT Ngày GS   Diễn giải   Tài Phát sinh nợ Phát sinh Có
        khoản
                     
                       
    .                  
    178 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 893.264  
              Tiền Việt Nam   1111   893.264
                   
    179 122C 31/3/99 31/3/99 Phạm Văn Cần-Xưởng CG T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 506.736  
              BHXH   3383   220.320
              BHYT   3384   33.048
              Phải trả, phải nộp khác   3388   253.368
                   
    180 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 902.048  
              Tiền Việt Nam   1111   902.048
                   
    181 123C 31/3/99 31/3/99 Nguyễn Văn Chấp – Đầm 7 T.Tlương T3 cho NV      
              Lương   3341 47.952  
              BHXH   3383   39.960
              BHYT   3384   7.992
                   
    182 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 19.326.906  
              Tiền Việt Nam   1111   19.326.906
                   
    183 124C 31/3/99 31/3/99 Ngô Đức Dũng – phòng TCKT T.Tlương cho NV      
              Lương   3341 2.257.728  
              BHXH   3383   1.881.440
              BHYT   3384   376.288
                     
    184 PBTL 31/3/99 31/3/99 Hạch toán phân bổ tiền lương tháng 3/99        
              XDCB Đ – Đầm 7   2412 950.000  
              Chi phí NV quản lý   6421 22.984.634  
              Lương   3341   23.934.634
                       

    Ghi sổ các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ tại kế toán công

    ty:

    Tương tự như trình tự ghi sổ tiền lương, các nghiệp vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ sau khi được định khoản kế toán sẽ ghi vào sổ chi tiết các TK 3382, TK3383, TK 3384 và các sổ chi tiết có liên quan khác như sổ chi tiết TK 6421, TK 1368, TK 3388… và sổ nhật ký chung của công ty. Sau đó, căn cứ vào sổ nhật ký chung kế toán ghi sổ cái TK 3382, sổ cái TK 3383 và sổ cái TK 3384.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sổ Nhật ký chung, các sổ chi tiết TK 3382, TK 3383, TK 3384 được lập

    và ghi chép tương tự như đã trình bày trong phần giới thiệu các sổ hạch toán chi

    tiết, hạch toán tổng hợp tiền lương.

    Mẫu sổ như sau:

      Tổng Công ty Sổ chi tiết tài khoản Xí nghiệp XD Sông
      XD Sông Đà Tháng 3 năm 1999   Đà 903
              3382 – Kinh phí công đoàn      
                  Số dư đầu kỳ: 6.334.426  
                         
    SCT Ngày CT Ngày GS     Diễn giải Đối ứng Phát sinh nợ Phát sinh có Số dư  
                       
    TCT01 31/3/99 31/3/99   Tổng Công ty báo thu KPCĐ 6 tháng 336 5.701.006   633.420  
      cuối 98      
                       
    126C 31/3/99 31/3/99   Vũ Thị Nga – PTCKT trích KPCĐ quý 1111 560.362   73.058  
      I/99      
                     
    KPCĐ 31/3/99 31/3/99 Trích 2% KPCĐ cho khối VP Công ty 6421   1.400.905 1.473.963  
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty báo nợ XNKD nhà KPCĐ quý 1368   1.1736.506 2.647.469  
      I/99      
                       
    XNKDN 31/3/99 31/3/99   Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNKD 1368 469.402   2.178.1067  
      nhà      
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty báo nợ XNTL KPCĐ quý I/99 1368   1.183.033 3.361.100  
                     
    XNTL 31/3/99 31/3/99 Công ty cấp trả 0,8% KPCĐ cho XNTL 1368 473.213   2.887.887  
          Tổng phát sinh   7.203.983 3.757.444    
                  Số dư cuối kỳ: 2.887.887  
                Ngày 14/04/1999    
        Người lập biểu Kế toán trưởng    

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    CHƯƠNG III

    NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM TẠI XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    1. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903 là Công ty con của Tổng Công ty và các hoạt động đặc biệt là công tác kế toán của Công ty được Tổng Công ty giám sát một cách chặt chẽ. Hệ thống máy vi tính phòng kế toán của Công ty được nối mạng với hệ thống máy vi tính của Tổng Công ty, đồng thời các mẫu sổ sách kế toán, các chương trình, công thức tính toán nói chung và tính lương nói riêng cũng do một đội ngũ cán bộ chuyên trách trên Tổng Công ty xuống đơn vị cài đặt vào máy, hướng dẫn cách làm. Có thể nói, đó là một thuận lợi lớn cho công tác kế toán của Công ty vì các mẫu sổ sách, trình tự ghi sổ, các định khoản. Công tác kế toán của Công ty đã được Tổng Công ty kiểm tra phê duyệt và hoàn toàn phù hợp với chế độ kế toán hiện hành.

    Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên làm kế toán của Công ty là những người có năng lực, trình độ chuyên môn, có trách nhiệm trong công việc nên việc vận dụng các hướng dẫn của Tổng Công ty trong công tác kế toán được thực hiện rất tốt.

    Trong công tác hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm (các khoản trích theo lương), Công ty đã thực hiện nghiêm túc với quy định của chế độ kế toán về hệ thống chứng từ, sổ sách về Tiền lương. Việc ghi sổ được kế toán tiến hành thực hiện theo đúng trình tự quy định. Việc tổ chức công tác kế toán tiền lương có thể nói là đã thống nhất với kế toán tiền lương ở các đơn vị khác trong Tổng Công ty.

    Hình thức ghi sổ nhật ký chung áp dụng ở Công ty rất phù hợp với đặc điểm công tác kế toán của đơn vị và đặc biệt rất thuận tiện trong việc kế toán Tiền lương và Bảo hiểm (Có ít nghiệp vụ phát sinh, các nghiệp vụ hạch toán lương đơn giản, dễ hiểu, dễ phân bố).

    Hình thức trả lương của Công ty rất đáng chú ý. Nó thể hiện khả năng phân tích, đánh giá, ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn kế toán Tiền lương của đơn vị một cách khoa học, hợp lý. Công ty áp dụng hình thức trả lương thời gian theo

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    sản phẩm (như đã trình bày) để tính lương cho nhân viên quản lý là rất tốt.(Họ vừa là nhân viên làm công tác hành chính, vừa là nhân viên của một Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp là chủ yếu). Trả lương theo hình thức kết hợp giữa trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm phản ánh chính sách hiệu quả (kết quả) công việc, tính đúng giá trị sức lao động của các nhân viên ở các bộ phận văn phòng Công ty. Tương tự cách trả lương khoán cho các nhân viên các đội sản xuất và nhân viên quản lý công trình ở các xưởng, các công trình (làm việc xa Công ty, không tiện quản lý theo dõi thời gian và hiệu quả lao động), cũng rất phù hợp, khuyến khích người lao động làm việc có trách nhiệm đáp ứng lòng tin của cán bộ lãnh đạo.

    Kế toán tính Tiền lương cho người lao động đầy đủ, chính xác đảm bảo lợi ích cho nhân viên của Công ty, giúp họ yên tâm làm việc, gắn bó với công việc.

    Về hạch toán BHXH, BHYT, KBCĐ cũng được Công ty quan tâm một cách thích đáng, cụ thể là

    Công ty luôn hoàn thành nộp các quỹ này đủ, đúng thời hạn.Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Công ty đối với các quyền lợi của người lao động.

    Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực trong công tác kế toán nói chung và công tác tổ chức hạch toán Tiền lương nói riêng, Công ty còn nhiều tồn tại cần giải quyết.

    1. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM Ở XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903.

    Như đã nêu trên, phần mềm kế toán tại Công ty được Tổng Công ty chuẩn hoá và cài đặt vào chương trình thực hiện kế toán của Công ty. Đó là một thuận lợi lớn cho Công ty nhưng mặt khác nó cũng tác động xấu đến việc tổ chức hạch toán của Công ty.

    Đó là việc làm kế toán theo chương trình của Tổng Công ty khiến cho bộ máy kế toán của Công ty trở lên thụ động, kém linh hoạt trong việc xử lý các công việc bất thường hay các vấn đề mà Tổng Công ty bỏ qua trong phần hướng dẫn thực hiện công tác kế toán của Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Sau khi nghiên cứu công tác tổ chức hạch toán Tiền lương và Bảo hiểm tại Công ty tôi xin nêu ra một số khuyết điểm và cách sửa đổi mà Công ty nên khắc phục như sau:

    Thứ nhất:

    Đầu tiên, trong chứng từ ban đầu hạch toán sử dụng thời gian là bảng chấm công của Công ty, việc ghi chép không được rõ ràng, thống nhất.

    • Việc theo dõi thời gian làm việc của người lao động để chấm không có mặt “O”, hay nghỉ có phép “P” không hoàn theo giấy nghỉ phép theo quy định. Chỉ cần người nghỉ có báo miệng trước cho người chấm công thì coi như ngày nghỉ đó của họ là có phép và được tính lương theo 100% LCB.Thêm vào đó, Công ty cũng không có quy định số ngày nghỉ phép tối đa được hưởng lương. Đây là một sơ hở rất lớn của lãnh đạo Công ty, và kế toán lương vốn rất biết điều này nhưng không hề có góp ý với phòng tổ chức hành chính – nơi theo dõi chấm công, là một theo sai sót không đáng có và cũng không nên tiếp tục để tình trạng này tồn tại, tái diễn. Nó sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến kỷ luật của Công ty.
    • Thứ hai: 3 cột cuối của trong mục quy đổi trên bảng Chấm công của Công ty, do không có hướng dẫn cách ghi cụ thể của kế toán cho người chấm công nên các cột này thường không dược ghi, có tháng nhân viên chấm công có ghi thì lại không ghi đúng nơi quy định nào cả.

    Việc này tuy kế toán Tiền lương ở Công ty cho là chuyện nhỏ nhưng thực chất nó gây không ít ảnh hưởng xấu đến quá trình tính lương của kế toán lương. Nếu nhìn vào bảng chấm công không có ghi gì ở phần Quy đổi này, kế toán sẽ phải mất thời gian quy đổi bảng chấm công vào các cột (làm thay cho phần việc của người chấm công) để làm căn cứ tính lương CBCNV. Còn trường hợp người chấm công có ghi chép ở các cột “quy đổi” thì cũng ghi tuỳ tiện, kế toán sẽ không chắc được là người chấm công ghi số liệu gì ở đó (nội dung của số liệu được tính), có thể là ngày công thực tế làm việc của nhân viên trong tháng hoặc là tổng số ngày công thực tế và số ngày được hưởng phép của nhân viên…

    Để chấm dứt tình trạng này, làm gọn nhẹ hơn cho công tác hạch toán lương, tôi xin đưa ra đây một giải pháp cụ thể như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Kế toán lương của Công ty thay vì sử dụng mẫu biểu Bảng chấm công như hiện nay sẽ sử dụng mẫu biểu Bảng chấm mới cho toàn Công ty.

    Trong bảng chấm công mới này, phần Quy đổi gồm 3 cột với nội dung giống như cũ nhưng tên cột được ghi rõ hơn để người chấm công chỉ cần đọc tên cột là có thể hiểu được cách ghi ở mỗi cột. Tuy nhiên bên cạnh đó, kế toán lương Công ty cũng cần ra quy định bắt buộc, các bảng chấm công trước khi gửi lên phòng kế toán phải đã được tính toán, ghi chép số liệu vào các cột “ Qui đổi” theo đúng qui định, nếu cóp sai sót trong tính toán phần này, người chấm công và người có trách nhiệm kiểm tra bảng chấm công phải hoàn chỉnh trách nhiệm. Có như vậy, việc thực hiện nghiêm chỉnh các qui định trong công tác kế toán mới được nhân viên công ty tiếp thu và chấp hành.

    Bảng chấm công T3 bộ phận văn phòng Công ty nếu áp dụng giải pháp mới sẽ được lập như sau:

    Thứ ba: Hiện tại, ở các xí nghiệp sản xuất các đội sản xuất đang sử dụng bảng chấm công để theo dõi thời gian làm thêm giờ của người lao động (là bảng chấm công thứ hai được lập song song với bảng chấm công theo dõi thời gian làm việc chính) với mẫu số bảng chấm công. Làm như vậy là rất không khoa học bởi vì thời gian làm thêm thực tế thường là tính theo giờ. Thông thường, các xí nghiệp, các đội xây dựng tính miệng thì ghi vào một công thứ tự từ cột số một đến cột số 31. Hết tháng bảng chấm công làm thêm giờ này được chuyển lên kế toán lương của xí nghiệp để tính lương cho lao động trong đội)

    Việc ghi chép thời gian làm thêm của người lao động như hiện giờ không theo dõi được chính xác số giờ công lao động thêm của nhân viên do nhẩm giờ làm theo trí nhớ rồi gộp lại ghi công Ædễ bị thiếu hoặc thừa giờ công) gây nên sự thiếu công bằng trong việc tính lương.

    Theo tôi, có thể giải quyết vấn đề này một cách đơn giản là kế toán công ty xây dựng nên có mẫu bảng chấm công làm thêm hiện tại và áp dụng thống nhất cho toàn công ty( ở các bộ phận tính lưong). Mẫu bảng chấm công giờ công làm thêm mới có như sau:

    (Lấy ví dụ áp dụng chấm công làm thêm cho bộ phận quản lý xí nghiệp XD&KD vật tư tháng 3)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ bốn: Để đảm bảo tính thống nhất của kế toán trong toàn Công ty, kế toán lương cần hướng dẫn các phòng ban ở bộ phận quản lý đơn vị( Công ty, xí nghiệp …) phải lập.

    Danh sách xét thi đua( làm căn cứ để xác định HSĐC) theo một mẫu thống nhất duy nhất. Không để tình trạng như hiện tại kéo dài: Các danh sách được lập cùng một nội dung là xếp loại HSĐC cho nhân viên trong phòng ban nhưng

    • mỗi phòng ban lại lập theo 1 mẫu riêng, mỗi danh sách có một tiêu đề khác nhau như: danh sách xếp loại, danh sách xếp thi đua, bảng xếp loại …

    Có thể thống nhất sử dụng mẫu bảng danh sách xet thi đua sau đây cho các bộ phận quản lý ở xí nghiệp, Công ty sau đây:

    XÍ NGHIỆP XD SÔNG ĐÀ 903

    Phòng TC – KT

    Danh sách xét thi đua

    Tháng 3 năm 1999

    STT Họ và tên   Xếp loại( HXĐC)   Ghi chú
               
    2.3   2   1.8  
             
                   
    1. Ngô Doãn x          
                   
    2. Phan đình Cường x          
                   
    3. Tăn bích Tâm x          
                   
    4. Đặng thị Thu     x      
                   
    5. Vũ thị Nga x          
                   
    6. Lê nguyên Bảo     x      
                   
    7. Phạm thị đà Giang         x  
                   
    8. Ngô đức Dũng         x  
                   

    Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 1999

    Trưỏng phòng

    ( ký tên)

    Thứ năm: Ở ngay phòng kế toán công ty, lương nhân viên của 2 khu vực Đầm Bảy và Cầu Giấy đều là lương khoán nhưng kế toán lương lại lập 2 bảng thanh toán lương theo 2 mẫu có kết cấu khác nhau (cùng một nội dung).

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Rồi thì sau đó, trên 2 bảng thanh toán lương này kế toán ghi tuỳ tiện các cột không cần thiết được ghi một cách miễn cưỡng, lúc có ghi, lúc không ghi bỏ trống.

    Việc này có thể hiện công tác hạch toán chưa hoàn thiện. Cho dù Tổng công ty khi hướng dẫn đã bỏ sót không đưa ra mẫu bảng thanh toán lương cho nhân viên lương khoán nhưng kế toán Công ty phải ý thức được sự thiếu hoàn thiện này chủ động lập, xây dựng 1 mẫu thống nhất áp dụng cho từ Công ty đến các đơn vị sản xuất, từng bước nâng cao chất lượng sổ sách kế toán nói chung, sổ sách kế toán lương nói riêng của Công ty.

    Ví dụ: hai bảng thanh toán lương tháng 3 cho nhân viên lương khoán Đầm 7 và xưởng Cầu Giấy đã được kế toán lập như sau:

    Xí nghiệp Sông Đà 903

      Chuyên đề thực tập tốt nghiệp     Nguyễn Thị Nga          
        Đầm 7     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Xí nghiệp XD Sông Đà 903    
                  Tháng 3 năm 1999          
                                 
      STT Họ và tên   Ngày công Bậc lương Thành tiền Tăng công tăng, tăng giờ Tổng cộng Các khoản phải trừ Số còn được Ký nhận  
                 
                  Công Tiền   BHXH (5%) BHYT (1%) lĩnh    
                         
                                 
      1 Nguyễn Văn   31 266.400 500.000     500.000 39.960 7.992 452.048    
        Chấp                        
                                 
      2 Vũ Mạnh Khiêm   31 465.120 450.000     450.000     450.000    
                                 
        Cộng             950.000 39.960 7.920 902.048    
                                 

    Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng./.

                Hà Nội , ngày 31/3/99        
      Lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
    Xưởng Cầu Giấy BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG Công ty xây dựng Sông Đà I  
          THÁNG 3/99          
                             
    TT Họ và tên Bậc lương Thành   Phụ   Cộng Các khoản phải trừ   Số còn được Ký nhận
    BHXH (20%) BHYT (3%)  
          tiền   cấp       lĩnh  
    1 Phạm Văn Cần 367.200 600.000       600.000 220.320 33.048   346.632  
    2 Phương Đình Nga   400.000       400.000       400.000  
    3 Đỗ Duy Thanh   400.000       400.000       400.000  
      Tổng cộng           1.400.000 440.640 66.096   1.146.632  

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Công ty có thể nghiên cứu mẫu Bảng thanh toán lương sau đây để áp dụng cho bộ phận nhân viên hưởng lương khoán (thống nhất toàn công ty).

      Đầm 7:     BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I    
              Tháng 3/99                
                                 
        Hệ Mức Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn    
        cấp                
    TT Họ và tên lương Cộng BHXH BHYT Ký nhận  
    số lương khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            có)   Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền      
    1 Nguyễn   Văn 1,85 266.400 500.000   5.000.000 5% 39.960 1%   7.992 452.048    
      Chấp                          
    2 Vũ Mạnh Khiêm 3,23 465.120 450.000   450.000           450.000    
      Tổng cộng     950.000   950.000   39.960     7.992 902.048    

    (Chín trăm linh hai ngàn không trăm bốn tám đồng ./…)

        Người lập biểu     Kế toán trưởng     Giám đốc  
          (ký tên)     (ký tên)       (ký tên)  
      Xưởng Cầu Giấy       BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG KHOÁN CTY XD SĐ I  
                                   
        Hệ   Mức   Lương tháng Phụ   Các khoản phải trừ   Số còn  
            cấp              
    TT Họ và tên   lương   Cộng BHXH BHYT Ký nhận
    số lương   khoán (nếu được lĩnh
        cơ bản                
            Mức tiền Tiền Mức tiền   Tiền  
                có)        
    1 Phạm Văn Cầu 2,55 367.200   600.000   600.000 20% 220.320 3%   33.048 346.632  
    2 Phương   Đình         400.000   400.000           400.000  
      Nga                            
    3 Đỗ Duy Thanh         400.000   400.000           400.000  
      Tổng cộng         1.400.000   1.400.000   220.320     33.048 1.146.632  

    (Một triệu một trăm bốn sáu ngàn sáu trăm ba mươi hai ./…)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Người lập biểu                                                        Kế toán trưởng                                                                                                Giám đốc

    (ký tên)                                                                             (ký tên)                                                                                                 (ký tên)

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Thứ sáu: bảng thanh toán lương ở các đội, tuy chia lương độc lập nhưng các bảng thanh toán lương ở các dội cũng được gửi lên phòng kế toán Công ty lưu cùng với hợp đồng giao khoán, biên bản nghiệm thu kĩ thuật … cho từng công trình. Vì vậy, kế toán lương không theo mẫu cụ thể nào như hiện nay. Ví dụ: bảng thanh toán lương

    Kế toán Công ty có thể nghiên cứu mẫu bảng thanh toán lương dưới đây để xay dựng một mẫu bảng thanh toán lưong thống nhất hướng dẫn một mẫu bảng thanh toán lương thống nhất hướng dẫn cho các đội sử dụng:

    Xí nghiệp XD Sông Đà 903

    Công trình: trạm tập kết và bảo dưỡng thiết bị

    Tổ: nề

    BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG

    TT Họ và Tên Ngày công Đơn giá/1công Thành tiền  
    (đồng) nhận  
             
                   
    1 Nguyễn Văn Lợi 30 20.000   600.000    
                   
    2 Huỳnh Đa Phước 30 20.000   600.000    
                   
    3 ……………………..            
                   
    ………………………            
                   
      Cộng       12.000.000    
                   
            Hà Nội, ngày 29/3/99  
      Đội trưởng     Người lập    

    Thứ bẩy: tại Công ty, số người không tham gia nộp Bảo hiểm khá nhiều và lẫn trong các nhân viên nộp Bảo hiểm trên bảng thanh toán lương. Vì vậy nên chăng kế toán Công ty tiến hành tách hai loại nhân viên:

    • Nộp Bảo hiểm
    • Không nộp Bảo hiểm

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    Để tính lương riêng và khấu trừ hay không khấu trừ Bảo hiểm vào lương một cách đồng loạt. Làm như vậy, dòng tổng cộng cuối mỗi bảng thanh toán lương sẽ thể hiện được rõ được:

    Tổng số tiền trích quỹ Bảo hiểm = % Bảo hiểm phải khấu trừ x tổng số quỹ lương cơ bản của số nhân viên có tham gia nộp Bảo hiểm .

    Thứ tám – Trong điều lệ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế thì mức trích quỹ BHXH, BHYT phải trích theo “tiền lương cấp bậc, chức vụ, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) ghi trong hợp đồng lao động và các khoản phụ cấp khu vực, đắt đỏ, chứcvụ, thâm niên”.

    Như vậy, nếu theo đúng quy định thì tại Công ty BHXH, BHYT phải được tính theo số tiền sau:

    Tổng tiền làm căn cứ để trích quỹ BHXH, BHYT = Mức tiền tháng cơ bản + Phụ cấp lưu động + Phụ cấp trách nhiệm (nếu có)

    Hiện tại Công ty mới chỉ trích Bảo hiểm trên mức lương cơ bản của nhân viên, như vậy là mức BHXH, BHYT đơn vị trích tính vào chi phí sản xuất kinh doanh vẫn còn ít hơn so với quy định. Đơn vị chưa làm tròn trách nhiệm đối với quyền lợi của cán bộ công nhân viên trong Công ty. Đây là một vấn đề rất quan trọng mà Công ty cần phải lưu tâm để điều chỉnh kịp thời, vào chuyện này, gây tâm lý không tốt cho người lao động đối với Công ty.

    Xí nghiệp Sông Đà 903

    Chuyên đề thực tập tốt nghiệp                                                    Nguyễn Thị Nga

    KẾT LUẬN

    Nền kinh tế hàng hoá , tiền tệ buộc các doanh nghiệp phải đối mặt với thị trường. Để tồn tại, phát triển và kinh doanh có hiệu quả thì bên cạnh các hoạt động đa dạng và phong phú về sản xuất kinh doanh, tất yếu các doanh nghiệp phải có một cơ chế dự báo, kiểm tra, giám đốc một cách toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trong quá thực tập tại Xí nghiệp XD Sông Đà 903, mặc dù chỉ đi sâu vào vấn đề lao động tiền lương của công ty nhưng qua đó có thể thấy được vai trò, tác dụng của việc tổ chức hoạch toán kinh doanh trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của công ty.

    Do điều kiện thời gian tiếp xúc với công việc thực tế không nhiều, kiến thức học ở trường về lao động tiền lương chưa sâu, kinh nghiệm viết đề tài còn ít ỏi nên khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực viết chuyên đề. Rất mong được thầy cô hướng dẫn chỉ bảo thêm để em có thể nâng cao bài viết trong luận văn sắp tới.

    Qua bài viết này, em xin chân thành cảm ơn thầy Đỗ Đức Kiên đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình viết chuyên đề.

    Em cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo công ty Xây Dựng Sông Đà, bộ phận kế toán công ty, các xí nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu cho bài viết này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tổng quan về Logistics kinh doanh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển

    LỜI MỞ ĐẦU

               Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ phát triển mới. Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế – xã hội to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất nhiều lao động.

               Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự bắt đầu phát triển từ cách đây khoảng 10 năm khi thế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo nghị định 100 CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam để từ đó, đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.

               Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, và với lòng yêu thích môn học Bảo hiểm, em xin được chọn nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển” cho bài khoá luận tốt nghiệp của mình, với nội dung:

               Chương I: Khái quát chung về bảo hiểm

               Chương II: Thực trạng hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

               Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam

               Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu, bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sẽ nhận được ý kiến chỉ bảo, đóng góp từ phía các thầy cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình. Em xin được chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này. Ngoài ra, em cũng rất cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình nghiên cứu.       

    Hà Nội, tháng 12/2003

    CHƯƠNG I:

    KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    *******************

    I.    KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM

    1. Nguồn gốc của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh phát triển rất mạnh, với tốc độ tăng trưởng trung bình khá cao. Đặc biệt, ở một số nước trên thế giới, bảo hiểm đã trở thành một phần không thể thiếu trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống nói chung. Vậy bảo hiểm có nguồn gốc như thế nào?

    Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại. Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có được câu trả lời chính xác. Ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ khá lâu, khi mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc lúa dự trữ chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa, con người đã có ý thức về những bất trắc có thể xảy đến với mình, và tìm cách phòng tránh chúng.

    Ý tưởng về sự rủi ro (risk) được hình thành một cách rõ nét vào khoảng thế kỷ XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các miền đất ở châu Á, châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên mạnh mẽ, ngành hàng hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi, và trở về với sự giàu có từ nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ những miền đất mới. Tuy nhiên, đồng hành với đó cũng là những trường hợp rủi ro không quay về được do nhiều nguyên nhân như: dông bão, lạc đường, cướp biển… Những nhà đầu tư cho những chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người bị mất trắng khoản đầu tư của mình do một hiện tượng ngẫu nhiên khiến tàu của họ bị thiệt hại hoặc mất tích. Để thực hiện điều này, người ta có hai lựa chọn: thành lập liên doanh để cùng “lời ăn, lỗ chịu”, hoặc tham gia bảo hiểm. Ở trường hợp thứ hai, một số cá nhân hay công ty sẽ nhận được phí bảo hiểm (premium) bằng tiền mặt, đổi lại là lời cam kết sẽ trả một khoản bồi thường (indemnity) cho chủ tàu trong trường hợp tàu bị mất tích. Những người bảo hiểm (the insurers) đã tạo ra một quỹ chung mà họ cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm (the insured) khi rủi ro xảy ra.

    Vào thời kỳ đầu, khi tổn thất xảy ra, người nhận bảo hiểm phải bán một số tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho người được bảo hiểm. Tuy nhiên, một số nhà kinh doanh đã nhanh chóng nhận ra rằng rất nhiều thành viên của cộng đồng không muốn nhận bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy. Và khái niệm góp vốn chung đã dược hình thành cùng với việc kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Chỉ cần các khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ, chính xác trong việc lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và số phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro cụ thể thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro. Đồng thời, các cổ đông cũng vẫn có lãi cổ phần ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình.

    Bảo hiểm hình thành do sự tồn tại các loại rủi ro và sự đòi hỏi con người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro, đồng thời, khắc phục, hạn chế những hậu quả của rủi ro. Bắt đầu từ bảo hiểm hàng hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm nhân thọ…, bảo hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều mặt và dần dần đóng vai trò rất quan trọng đối với con người.

    2. Định nghĩa

    Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quĩ tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác.

    Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler, “bảo hiểm là sự đóng góp của  số đông vào sự  bất hạnh của số ít.” Còn theo Monique Gaullier, “bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê.”

    Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc quá thiên về góc độ kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái niệm bao quát, hoàn chỉnh. Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, dựa trên cơ sở tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động nhiều người, nhiều đơn vị cùng tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm bằng tiền để bồi thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người được bảo hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”.

    Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

    Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”.

        3. Bản chất của bảo hiểm

    Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro, quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông (the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.

    Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro, tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy động phí bảo hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được sử dụng trước hết và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã hội và hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.

        4. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao ở nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc cơ bản của nó.

    4.1. Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not certainty)

    Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra.

    Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất ngờ, không lường trước được, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi lẽ, bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào. Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không đảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu không đủ khả năng đi biển… Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì đã xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng đã gặp tai nạn.

    4.2. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith)

    Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực. Nguyên tắc này thể hiện như sau:

    Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người được bảo hiểm biết. Ví dụ, trong bảo hiểm hàng hải, mặt 1 của đơn bảo hiểm bao gồm  các nội dung như điều kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm…, mặt 2 bao gồm quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.

    Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.

    Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu… Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng.

    Ví dụ, một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó. Khi bão đến gây ra thiệt hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường. Một ví dụ khác là khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường, bằng cách mua bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn, hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra.

                  4.3. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người nào có quyền lợi có thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.

    4.4. Nguyên tắc bồi thường (indemnity)

    “Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như thế.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại.

    Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm. Khi xảy ra trường hợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi của người đó. Tuy nhiên, đôi khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi ích của họ. Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.

    4.5. Nguyên tắc thế quyền (subrogation)

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu của người bảo hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa. Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất. Trong trường hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ… cần thiết cho người bảo hiểm.

    Điều cần chú ý là, người được bảo hiểm cũng có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người được bảo hiểm thu được cũng phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường. Người bảo hiểm chỉ được thực hiện thế quyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ trả. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty bảo hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình.

    5. Các loại hình bảo hiểm

    Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm ngày nay đã bao gồm nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở các tiêu chí khác nhau, chúng ta lại có được các loại hình khác nhau của bảo hiểm. Người ta có thể phân loại dựa trên cơ chế hoạt động, tính chất, đối tượng của bảo hiểm, cũng như có thể dựa theo quy định của pháp luật.

                  5.1. Căn cứ vào cơ chế hoạt động của bảo hiểm

    Theo tiêu chí này, bảo hiểm có thể phân ra thành:

                  *  Bảo hiểm xã hội (social insurance): là chế độ bảo hiểm của nhà nước, của đoàn thể xã hội hoặc của các công ty nhằm trợ cấp cho các viên chức nhà nước, người làm công… trong trường hợp ốm đau, bệnh tật, bị chết hoặc tai nạn trong khi làm việc, về hưu.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có những điểm khác biệt. BHXH có một số đặc điểm: có tính chất bắt buộc; hoạt động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến những rủi ro cụ thể; không nhằm mục đích kinh doanh… Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, hình thành chủ yếu từ các nguồn đóng góp hay ủng hộ của người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ chức, cá nhân từ thiện… Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ, quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho:

    • Chăm sóc y tế
    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thất nghiệp
    • Trợ cấp tuổi già
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp gia đình
    • Trợ cấp sinh đẻ
    • Trợ cấp khi tàn phế
    • Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

    Còn theo điều 2 Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ:

    • Trợ cấp ốm đau
    • Trợ cấp thai sản
    • Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
    • Trợ cấp hưu trí
    • Trợ cấp tử tuất

                  *  Bảo hiểm thương mại (commercial insurance): là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, kiếm lời. Khác với BHXH, loại hình bảo hiểm này có những đặc điểm: không bắt buộc, có tính đến từng đối tượng, từng rủi ro cụ thể; nhằm mục đích kinh doanh.

    Bảo hiểm thương mại hiện nay cũng có rất nhiều loại nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu
    • Bảo hiểm thân tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
    • Bảo hiểm vật chất xe cơ giới
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
    • Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
    • Bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt
    • Bảo hiểm thiệt hại máy móc
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
    • Bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
    • Bảo hiểm cây trồng
    • Bảo hiểm chăn nuôi
    • Bảo hiểm sắc đẹp

    …………

    5.2. Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm

    Theo tiêu chí phân loại này, chúng ta lại có hai loại bảo hiểm:

                  *  Bảo hiểm nhân thọ (life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Thực chất đây là bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của con người nhằm bù đắp cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người được bảo hiểm bị chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là việc bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người. Đối tượng tham gia bảo hiểm nhân thọ rất rộng, bao gồm nhiều người ở các lứa tuổi khác nhau.

    Bảo hiểm nhân thọ ngày nay phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, với doanh thu phí bảo hiểm ngày càng lớn, có lẽ bởi vai trò to lớn của nó. Đối với mỗi cá nhân, mỗi gia đình, bảo hiểm nhân thọ giảm bớt khó khăn về tài chính khi gặp rủi ro, góp phần ổn định cuộc sống. Trên phạm vi rộng, nó góp phần huy động vốn đầu tư từ các nguồn nhàn rỗi, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lạm phát và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ:

    • Bảo hiểm trọn đời
    • Bảo hiểm sinh kỳ
    • Bảo hiểm tử kỳ
    • Bảo hiểm hỗn hợp
    • Bảo hiểm trả tiền định kỳ

    …………

                  *  Bảo hiểm phi nhân thọ (non-life insurance): là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    Bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Các nghiệp vụ của bảo hiểm phi nhân thọ cũng hết sức phong phú. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam (ban hành 09/12/2000) thì bảo hiểm phi nhân thọ gồm:

    • Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người
    • Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
    • Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không
    • Bảo hiểm hàng không
    • Bảo hiểm xe cơ giới
    • Bảo hiểm cháy, nổ
    • Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu
    • Bảo hiểm trách nhiệm chung
    • Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính
    • Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh
    • Bảo hiểm nông nghiệp

    ………..

    Ngoài ra, bảo hiểm phi nhân thọ cũng còn một số loại nghiệp vụ khác như: bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm dầu khí, bảo hiểm du lịch, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động…

    5.3. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

    Nếu xem xét theo đối tượng bảo hiểm, có thể phân chia như sau:

                  *  Bảo hiểm con người (insurance of the person): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người. Bảo hiểm con người bao gồm các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người bao gồm các loại như bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm tiết kiệm và đầu tư, bảo hiểm chi phí khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn học sinh, lao động… Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ; anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; và người khác nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Trong bảo hiểm tai nạn con người, người thụ hưởng nhận được số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Còn trong bảo hiểm sức khỏe con người, người được bảo hiểm được nhận số tiền trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người đó do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra và thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

                  *  Bảo hiểm tài sản (property insurance): là loại bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm (tập thể hay cá nhân) bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Nhóm các loại sản phẩm bảo hiểm tài sản bao gồm bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm nhà, bảo hiểm công trình… Có 3 loại hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị và hợp đồng bảo hiểm trùng.

    5.4. Căn cứ vào quy định của pháp luật

                  Nếu xét trên cơ sở quy định của pháp luật, các loại hình bảo hiểm lại có thể được phân chia thành bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện.

                  *  Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện. Loại bảo hiểm này chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

    Các nước có những quy định khác nhau về các loại hình bảo hiểm bắt buộc. Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm Việt Nam được ban hành ngày 09/12/2000, các loại hình bảo hiểm sau là bắt buộc:

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người bảo hiểm hàng không đối với hành khách

    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật
    • Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
    • Bảo hiểm cháy, nổ

    Tuy nhiên, căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ trình Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.

                  *  Bảo hiểm không bắt buộc: là những loại bảo hiểm khác, không thuộc bảo hiểm bắt buộc.

    II.  SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1. Sự cần thiết của bảo hiểm

    Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh hết sức phát triển và dần trở nên một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người. Ở nhiều quốc gia, mua bảo hiểm từ lâu đã là một việc làm không thể thiếu đối với người dân. Bảo hiểm trở nên thực sự cần thiết như vậy cũng bởi rất nhiều lý do.

    1.1. Sự tồn tại của các loại rủi ro

    Trong cuộc sống sinh hoạt nói chung cũng như trong những hoạt động sản xuất – kinh doanh phục vụ cuộc sống, con người luôn gặp phải những tai hoạ, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về tài sản và con người. Những tai họa, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên ấy gọi là rủi ro. Từ thời nguyên thuỷ xa xưa đến thời đại khoa học kỹ thuật phát triển ngày nay, con người vẫn luôn phải đối mặt với những rủi ro tồn tại trong cuộc sống. Chúng diễn ra thường xuyên, liên tục và thường đặt con người vào thế bị động. Hậu quả để lại thường là những thiệt hại về vật chất và tinh thần khó khắc phục, thậm chí có khi không thể khắc phục nổi. Có nhiều loại rủi ro xuất hiện, chi phối cuộc sống của con người. Đó có thể là các rủi ro do thiên nhiên, rủi ro mang tính kỹ thuật hoặc rủi ro do môi trường xã hội gây ra.

                  * Các rủi ro xảy ra do môi trường thiên nhiên là các rủi ro do các hiện tượng trong tự nhiên như động đất, núi lửa phun, bão, lụt, sóng thần… Các rủi ro này thường mang tính bất ngờ, gây ra tác hại to lớn trên phạm vi rộng và để lại những hậu quả nặng nề, lâu dài. Ngày nay, những tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp con người phần nào hạn chế được những tổn thất do thiên tai gây ra. Bằng các phương tiện thông tin liên lạc, các phương pháp dự báo hiện đại, người ta có thể biết trước được thời gian hay địa điểm mà một cơn bão sẽ tràn tới hay một trận động đất sẽ đi qua. Tuy vậy, các thảm hoạ thiên nhiên vẫn luôn là nỗi kinh hoàng, là mối đe doạ cho cuộc sống con người, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, cùng với những biến đổi mang tính toàn cầu về môi trường, những thảm hoạ lớn như những trận bão lụt, động đất, cháy rừng tự nhiên… xảy ra ngày càng nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Hàng năm, thiên tai gây tổn thất hàng chục tỷ USD về vật chất, cướp đi sinh mạng hàng chục nghìn người, thiệt hại tinh thần không thể tính được. Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, tổn thất từ các thảm hoạ do thiên nhiên và con người gây ra trong năm 2002 là 40 tỷ USD và 19.000 người chết, trong đó, nặng nề nhất là hai trận lụt lớn ở Châu Âu vào tháng 6 va tháng 8 với tổn thất về tài sản ước tính là 3,2 tỷ USD. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 12/11/2003)

    Chỉ tính riêng vài năm trở lại đây, những cơn bão, lũ quét ở Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ tàn phá, gây  ra những thiệt hại nặng về người và của. Tháng 10/1997 cơn bão quốc tế Linda tràn vào các tỉnh nam trung bộ và nam bộ nước ta đã gây hậu quả nặng nề, 445 người chết, hơn 3000 người mất tích, thiệt hại ước tính trên 7000 tỉ VND (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số tháng 8/2000). Thiên tai đã làm cho hàng trăm người bị chết, hàng nghìn người bị mất nhà cửa, tổn thất hàng nghìn tỷ đồng về tài sản, hậu quả của nó thậm chí vẫn còn nặng nề tới nhiều năm sau.

    Như vậy, các rủi ro do môi trường thiên nhiên đã gây ra những thiệt hại nặng nề về người, về tài sản, trong đó có những cơ sở hạ tầng quan trọng với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Các thiệt hại này thường đến bất ngờ và nhanh chóng làm tiêu tan những tài sản tích luỹ của cả đời người và kết quả đầu tư bao năm của Nhà nước và nhân dân, ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

                  *  Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học – kỹ thuật là những rủi ro do chính con người gây ra trong quá trình sống và lao động sản xuất. Xét một cách toàn diện, khoa học – kỹ thuật phát triển đem lại những sự thay đổi mang tính tích cực đối với quá trình phát triển chung của loài người, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi, đem lại nhiều tiện ích cho cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên, đôi khi, chính những sản phẩm con người tạo ra được nhờ sự phát triển khoa học – kỹ thuật cũng gây hại cho chính con người.

    Những phương tiện giao thông hiện đại, đầy tiện nghi cho phép sự di chuyển từ nơi này sang nơi khác với thời gian ngày càng rút ngắn, nhưng những sự cố về tai nạn giao thông cũng ngày một gia tăng, với tổng thiệt hại ngày một lớn. Vô số những vụ tai nạn ôtô, xe máy từng giờ, từng phút vẫn liên tục xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới. Máy bay là một phát minh mang tính lích sử của loài người, mở ra một kỷ nguyên chinh phục khoảng không, và được coi là an toàn hơn so với các loại phương tiện giao thông hiện đại khác. Tuy con số tử vong do tai nạn hàng không thấp hơn nhiều so với đường bộ, đường thuỷ… nhưng những vụ tai nạn này thường vô cùng thảm khốc và con người hiếm có cơ may sống sót. Ngay cả máy bay siêu thanh Concorde, vốn được coi là loại máy bay an toàn nhất, là sản phẩm đầy tự hào của khoa học hàng không Anh – Pháp, cũng không tránh khỏi một vụ tai nạn với 114 người thiệt mạng. Ngoài ra, hàng ngày, tai nạn trong lao động – sản xuất, rủi ro trong quá trình vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa… vẫn luôn xảy ra. Những rủi ro này thường chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp, có ảnh hưởng trực tiếp tới một hoặc vài cá nhân, đơn vị sản xuất kinh doanh. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, những rủi ro này lại xảy ra với tần suất lớn và có tổng thiệt hại không phải nhỏ.

    Ngoài ra, các vụ cháy, nổ do sự bất cẩn của con người hay do các yêu cầu về kỹ thuật phòng cháy không đảm bảo đã gây ra những tổn thất vô cùng to lớn. Những vụ nổ nhà máy điện nguyên tử không chỉ gây thiệt hại về người và của hết sức thảm khốc mà những hậu quả để lại cho môi trưòng xung quanh cũng rất nặng nề và lâu dài. Các vụ cháy nổ có tổn thất lớn xảy ra nhiều ở Mỹ, đất nước được coi là đầu tầu trong phát triển khoa học – kỹ thuật. Năm 1999, thiệt hại vụ nổ một nhà máy điện là 650 triệu USD, vụ nổ một nhà máy luyện nhôm là 275 triệu USD và vụ nổ một nhà máy lọc dầu là 247 triệu USD. (Nguồn: Tạp chí Thông tin thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm số tháng 11/1999)

    Theo báo cáo Sigma của Swiss Re, các thảm hoạ do con người gây ra năm 2002 với các nguyên nhân chủ yếu là cháy, tai nạn hàng không và đổ vỡ đã làm các công ty bảo hiểm tổn thất khoảng 2 tỷ USD (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 20/10/2003). Tại Việt Nam, vụ cháy chợ Đồng Xuân trước đây đã đẩy hàng nghìn hộ kinh doanh và đại lý ở đây vào hoàn cảnh khó khăn. Mới đây, vụ cháy Trung tâm thương mại Quốc tế ITC ở thành phố Hồ Chí Minh cũng làm hàng trăm người chết và bị thương, tổn thất về tài sản là hàng chục tỷ đồng. Cháy, nổ đã làm thiệt hại đến tài sản, nhà cửa, nhà xưởng, văn phòng…, cướp đi sinh mạng của bao người. Kinh doanh gián đoạn, sản xuất ngưng trệ và nền kinh tế bị ảnh hưởng không nhỏ.

    Các tổn thất lớn trong ngành năng lượng trên thế giới

    Năm
    Nơi xảy ra

    tổn thất

    Số tiền

     

    tổn thất

    (triệu USD)

    Nguyên nhân

     

    Indonesia

    75 Giếng phụt ngoài khơi
      Singapore 100 Tổn thất tàu chở dầu do đâm va
    1997 Visakhopalam 52 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Nam Phi 151 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Malaysia 350 Nổ tại nhà máy lọc dầu
      Main Pass 15 Tổn thất trong quá trình khoan
      Mexico 30
    Hư hỏng cơ trong quá trình khoan
    1998 Biển Bắc 20 Hư hỏng cơ trong quá trình hoạt động
      Jamnagar 12 Hư hỏng cơ của hệ thống đường ống
      Lousiana, Mỹ 120 Hư hỏng của sà lan khoan
      Newfoundland 61 Cháy tại phân xưởng hydrocracking

    Nguồn: Sedgwick, 2000

                  *  Các rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một trong các nguyên nhân gây nên những thiệt hại cho con người. Môi trường xã hội, với tất cả những tính chất phức tạp và đầy biến động của nó, luôn ẩn chứa những rủi ro bất ngờ. Nhân loại đang dần tiến lên một xã hội văn minh hơn, tiến bộ hơn, nhưng ở chỗ này hay chỗ khác, con người vẫn luôn bị đe doạ bởi những tai họa có hậu quả nguy hiểm chẳng kém thiên tai, hay những tác động tiêu cực của khoa học – kỹ thuật.

    Những vấn nạn của xã hội như thất nghiệp, tội phạm… vẫn luôn là những nguy hiểm thường trực đối với loài người. Hàng năm, người lao động làm việc trong các ngành giao thông ở Châu Âu vẫn phải tổ chức những cuộc đình công đòi quyền lợi, gây bất tiện cho nhu cầu đi lại của người dân, cũng như gây tổn thất không nhỏ cho giới chủ. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo… vẫn xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là các cuộc chiến tranh với những hậu quả tàn khốc. Như vậy, những rủi ro xảy ra do môi trường xã hội cũng là một mối nguy hiểm lớn có thể gây ảnh hưởng nguy hại đến con người.

    1.2. Các biện pháp hạn chế rủi ro

                  Cho dù là vì nguyên nhân nào, rủi ro khi xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống, có thể gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của các cá nhân, tổ chức, tới đời sống xã hội… Để đối phó với các rủi ro, con người đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm hạn chế, cũng như khắc phục những hậu quả do rủi ro gây nên. Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, có hai nhóm biện pháp đối phó với rủi ro và hậu quả của nó: nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.

    1.2.1. Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro:

                  *  Tránh rủi ro (risk advoidance): nghĩa là không làm một việc gì đó quá mạo hiểm, không chắc chắn. Biện pháp này được sử dụng khá thường xuyên trong cuộc sống. Ở một chừng mực nào đó, cẩn trọng là tốt, nhưng biện pháp này cũng có nhược điểm là làm cho con người lúc nào cũng sợ sệt, không dám làm việc gì, mà như vậy cũng có nghĩa là không thu được gì. Khi tránh né rủi ro như vậy, người ta cũng đã tự loại trừ đi các cơ hội. Thực tế cho thấy, trong kinh doanh, công việc càng có mức độ rủi ro cao thì càng có khả năng thu lời lớn.

                  *  Ngăn ngừa, hạn chế rủi ro (risk prevention): là việc đưa ra những biện pháp nhằm đề phòng, ngăn ngừa, hạn chế rủi ro và các hậu quả của nó. Việc này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức sử dụng các hệ thống phòng cháy, chữa cháy, hệ thống bảo vệ chống trộm cắp, các biện pháp an toàn lao động, các biện pháp hạn chế tai nạn giao thông… Tuy nhiên, các biện pháp này cũng không thể ngăn chặn hết được các rủi ro, bởi một trong các tính chất của rủi ro là tính không lường trước được.

    1.2.2. Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro

                  *  Tự khắc phục rủi ro (risk assumption): là việc người gặp phải rủi ro tự chấp nhận, tự khắc phục khoản tổn thất do rủi ro đó gây ra. Biện pháp này thể hiện ở việc các cá nhân, tổ chức dự trữ một khoản tiền nhất định để khi có rủi ro xảy ra sẽ dùng khoản tiền đó bù đắp, giải quyết hậu quả. Nó còn được gọi là tự bảo hiểm (self insurance). Tuy nhiên, hạn chế của biện pháp này là ở chỗ không phải cá nhân, tổ chức nào cũng có, hoặc có đủ dự trữ về tài chính để bù đắp những rủi ro với tổn thất mang tính thảm hoạ. Mặt khác, khi nhiều cá nhân, tổ chức đều dành ra những khoản lớn để dự trữ như vậy sẽ gây đọng vốn lớn trong xã hội.

                  *  Chuyển nhượng rủi ro (risk transfer): là khi cá nhân, tổ chức, trước khi rủi ro xảy ra, tự thấy mình không chịu được hậu quả của nó nên tìm cách san sẻ bằng cách chuyển nhượng rủi ro cho người khác bằng cách đóng một khoản tiền. Khi đã nhận tiền từ bên chuyển nhượng rủi ro, người khác đó phải bồi thường những thiệt hại do rủi ro đã thoả thuận gây ra. Biện pháp đó chính là bảo hiểm. Nó là biện pháp tối ưu trong các biện pháp đối phó với rủi ro bởi rất nhiều ưu điểm: không gây đọng vốn trong xã hội, phạm vi, khả năng bù đắp lớn… Chính thực tế phát triển mạnh mẽ của ngành bảo hiểm cũng đã chứng minh điều này.

    Chính sự tồn tại của các loại rủi ro, cũng như nhu cầu cấp thiết phải có những biện pháp đối phó với rủi ro đã cho thấy sự cần thiết của bảo hiểm. Bảo hiểm đã tạo sự an toàn trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh và tự thân nó cũng đã, đang và vẫn sẽ là một ngành kinh doanh phát đạt. Khái niệm “bảo hiểm” trở nên gần gũi với mọi người, mọi tổ chức sản xuất – kinh doanh bởi tác dụng và vai trò của nó là rất to lớn.

    2. Tác dụng và vai trò của bảo hiểm

    Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành công nào. Trong cuốn “Các nguyên tắc bảo hiểm“, hai tác giả người Mỹ là Mehr và Commack đã viết: “Việc Anh Quốc nổi lên như một cường quốc thương mại và đồng thời loại hình bảo hiểm hoả hoạn cũng phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

    Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện. Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác. Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường…

    2.1. Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất

    Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát chính từ nhu cầu này mà bảo hiểm đã ra đời. Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người. Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất – kinh doanh.

    Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công ty bảo hiểm. Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề. Chi phí bồi thường của các công ty bảo hiểm thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí hoạt động kinh doanh, khoảng 60 – 80%. Thậm chí, chi phí bồi thường còn có thể lớn hơn, nhất là với những rủi ro do thiên tai có sức tàn phá lớn trên diện rộng. Ở Mỹ, từ năm 1949 đến năm 1994, trung bình mỗi năm có tới 25 vụ thảm họa thiên nhiên, gây tổn thất 1,6 tỉ USD/năm (theo thời giá năm 1983), trong đó, lớn nhất là cơn bão Adrew và trận động đất Northridge đều có 15,5 tỉ USD tài sản được bảo hiểm. Trong vụ nổ máy bay Concorde, các công ty bảo hiểm đã phải bồi thường một số tiền là khoảng 350 triệu USD, trong đó khoảng 260 triệu USD là để bồi thường cho gia đình các hành khách và phi hành đoàn bị thiệt mạng và 30 triệu USD bảo hiểm máy bay. (Nguồn: Báo Doanh nghiệp số 8/2000)

    Nguồn: www.baoviet.com.vn, 30/10/2003

    2.2. Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

    Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro. Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế – xã hội cũng được chủ động phòng tránh. Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại. Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra.

    Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh thần khi xảy ra tổn thất. Khi xây dựng các qui tắc, điều khoản, biểu phí… cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khi đánh giá rủi ro, ký kết hợp đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi thường, các tổ chức bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết. Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khoẻ con người, của cải vật chất của toàn xã hội.

    Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình. Đồng thời, họ cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ an toàn giao thông, an toàn lao động… Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm cho người bảo hiểm nên ở các cơ quan, xí nghiệp thường có các qui tắc, qui định cho an toàn lao động, các qui định về phòng cháy chữa cháy, các thiết bị chống trộm, báo cháy…

                  2.3. Sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào những lĩnh vực khác

    Trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh, người ta luôn phải tính đến những rủi ro có thể gặp phải, và luôn muốn chủ động trong các tình huống xấu nhất. Việc tự khắc phục rủi ro đòi hỏi các cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Xét trên toàn xã hội, tổng các quỹ dự phòng sẽ là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi lớn nếu đem đầu tư. Do vậy, người ta có thể đóng cho các công ty bảo hiểm một khoản nhỏ hơn thay vì bỏ một khoản tiền lớn lập quỹ, và có thể dùng tiền đó nâng cao đời sống hoặc đầu tư kinh doanh. Bảo hiểm đã trở thành lựa chọn tối ưu trong môi trường đầy rủi ro hiện nay, đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả năng tài chính khi xảy ra rủi ro mà vẫn không gây đọng vốn.

    Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng thì phải có một thị trường vốn phát triển lành mạnh, các kênh thu hút vốn đa dạng để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu về vốn. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn tăng tốc nền kinh tế thì tỉ lệ tích lũy vốn trong nước thường phải chiếm khoảng 30% GDP. Ngày nay, các công ty bảo hiểm là một kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và đang ngày càng được khai thác một cách hiệu quả, do phạm vi hoạt động rộng, các loại hình bảo hiểm phong phú. Thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các công ty bảo hiểm đã tập trung lượng tiền phân tán rải rác thành những quĩ tiền tệ khá lớn. Quĩ bảo hiểm đã trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng trên thị trường vốn. Đặc biệt, thông qua loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm đã khuyến khích các tầng lớp nhân dân tăng cường tiết kiệm và qua đó đã thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi để đầu tư. Tổng giá trị đầu tư của các công ty bảo hiểm của Pháp năm 1998 lên đến 4.267,5 tỷ FFR, chiếm trên 20% tổng giá trị đầu tư trong nước. Ở Đài Loan năm 1995, riêng các công ty bảo hiểm nhân thọ đã đầu tư vào nền kinh tế 39 tỷ USD, chiếm 15% tổng thu nhập quốc dân. Trong các tổ chức tài chính trung gian, các công ty bảo hiểm nhân thọ có tổng giá trị tài sản lên tới hàng nghìn tỷ USD, chỉ đứng sau các ngân hàng thương mại. Ở những nước có thị trường bảo hiểm phát triển, nhìn chung, các công ty bảo hiểm là những chủ thể tham gia tích cực vào hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 2/2001).

    2.4.  Tăng thu cho ngân sách nhà nước

    Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi, lỗ lãi rõ ràng. Vì vậy, các công ty bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế. Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình… Ngoài ra, một thị trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.

    2.5. Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống

    Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro do thiên nhiên như bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên… đang trở nên hết sức phức tạp, khó dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, đình công… không những không giảm bớt mà lại ngày càng diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới. Trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người.

     

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    *******************

    III.    SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm trên thế giới

    Khái niệm bảo hiểm đã hình thành từ lâu và ngành bảo hiểm trên thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Trước công nguyên, ở Ai Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang tính chất của bảo hiểm phát triển dần theo sự phát triển của xã hội loài người. Bắt đầu bằng hình thức các quĩ dự trữ, tương trợ đơn giản, các loại hình bảo hiểm dần dần được hình thành và phát triển.

    Bảo hiểm hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất trong các ngành bảo hiểm còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của bảo hiểm sau này. Người ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời từ những người cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia, với hình thức cho vay kiêm bảo hiểm. Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa, Italia. Tuy nhiên, đến khoảng cuối thế kỷ XV, bảo hiểm hàng hải mới thực sự phát triển. Vào thời gian này, nhu cầu giao thương giữa Châu Âu và các lục điạ tăng mạnh và hầu hết việc đi lại được thực hiện bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm hàng hải xuất hiện đảm bảo bồi thường cho các khách hàng nếu tàu của họ gặp rủi ro. Từ Italia, bảo hiểm phát triển sang Anh một cách nhanh chóng và đầy đủ hơn. Ngay từ thế kỷ XVII, Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloyd’s SG form) vẫn áp dụng cho đến ngày nay. Lloyd’s ra đời năm 1720, và dần phát triển thành hãng bảo hiểm có uy tín vào bậc nhất.

    Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời sau bảo hiểm hàng hải và là lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các công ty bảo hiểm trong thời kỳ đầu. Vào thế kỷ XVII, tại các thành phố đông đúc ở Châu Âu, nhà cửa chủ yếu được dựng bằng gỗ và lửa được dùng nhiều để sưởi ấm, chiếu sáng… Do vậy, rủi ro cháy là rất cao, đòi hỏi sự ra đời của các công ty bảo hiểm cung cấp các dịch vụ cứu hoả và bồi thường thiệt hại xảy cho người được bảo hiểm khi xảy ra cháy. Sau đám cháy khủng khiếp ở thủ đô London kéo dài 5 ngày (năm 1666), những công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên đã xuất hiện ở Anh như: The Fire Office, Friendly Society Fire Office. Sau đó, một loạt các công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh: Amicable (1696), Sun (1713), Union (1714), London (1714)… Sau đó, bảo hiểm cháy mở rộng ra các nước khác trên lục địa Châu Âu: ở Đức năm 1667, Pháp năm 1686. Sang thế kỷ XVIII, nhiều công ty bảo hiểm hoả hoạn nổi tiếng ở Mỹ cũng ra đời.

    Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải nhưng do thiếu cơ sở khoa học nên bị nhà thờ cấm đoán. Đến thế kỷ 17, Ferma, Pascal và sau đó là Bernouli khai sinh và phát triển xác suất thống kê toán. Cơ sở khoa học của bảo hiểm đã được hình thành. Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra đời ở Anh vào năm 1762. Đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, các nghiệp vụ bảo hiểm mới nối tiếp nhau ra đời để bảo đảm cho các rủi ro mới: bảo hiểm hàng không, bảo hiểm rủi ro xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm khai thác dầu khí… Bên cạnh các công ty bảo hiểm, các tổ chức tái bảo hiểm ra đời càng góp phần mang lại những bước phát triển ngày mạnh mẽ và vững chắc của bảo hiểm trên toàn thế giới.

    2. Sự hình thành và phát triển ngành bảo hiểm  ở Việt Nam

    2.1. Quá trình hình thành và phát triển

    Bảo hiểm Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của ngành bảo hiểm thế giới do nhiều điều kiện chủ quan cũng như khách quan. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm đang dần dần bắt kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi theo dõi quá trình phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam từ những ngày đầu đến nay.

    2.1.1.  Trước năm 1986

    Hoạt động bảo hiểm ở nước ta ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền.

                  *  Ở miền Nam trước năm 1975, có hơn 52 công ty trong và ngoài nước đã triển khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động… Các công ty hoạt động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường miền Nam. Các công ty bảo hiểm trong nước thường được thành lập dưới dạng Hội vô danh và Hội tương hỗ. Các công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức công ty chi nhánh. Hầu hết các công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn. Mạng lưới trung gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy, cạnh tranh lành mạnh, các công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường hợp tác. Việc quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ Tài chính. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm  quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng.

                  *  Ở miền Bắc trước năm 1975, hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động. Đây cũng là công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Từ ngày thành lập cho đến trước năm 1975, do những điều kiện khó khăn của chiến tranh, hoạt động của Bảo Việt ở miền Bắc chưa phát triển. Lúc bấy giờ, Bảo Việt chỉ có trụ sở ở Hà Nội và chi nhánh ở Hải Phòng thực hiện chủ yếu 3 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tàu và tái bảo hiểm. Tỉ lệ tái bảo hiểm cho Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan lúc đó cũng tương đối cao.

                  *  Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cũng như tất cả các ngành kinh tế khác, các công ty bảo hiểm cũ của miền Nam được tiến hành quốc hữu hoá. Công ty Bảo hiểm và Tái bảo hiểm Việt Nam được thành lập để thực hiện tiếp trách nhiệm của các công ty cũ đối với những người được bảo hiểm muốn tiếp tục hợp đồng. Đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài, công ty có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng hợp đồng. Năm 1976, khi hoàn toàn thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, công ty được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Thời kỳ này, Bảo Việt là công ty duy nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kế toán kinh tế thống nhất toàn ngành. Công ty trực thuộc Bộ Tài chính, có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất quản lý công tác bảo hiểm Nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước. Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm. Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm ở nước ta vẫn chưa phát triển.

    2.1.2. Từ năm 1986 đến nay

    Năm 1986 đánh dấu một bước ngoạt trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI diến ra vào năm này đã đưa ra chính sách đổi mới, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, Việt Nam cũng đã tiến hành mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư từ nhiều quốc gia, khu vực. Hoạt động sản xuất – kinh doanh từng bước phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao đòi hỏi ngành bảo hiểm cũng phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu, thích hợp với hoàn cảnh mới. Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm mới, công ty liên doanh, công ty cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài… sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển bảo hiểm ở nước ta.

    Ngày 18/12/1993, nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Nó phá vỡ thế độc quyền đang tồn tại, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức bảo hiểm với nhiều hình thức khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo hiểm mới ra đời: Bảo Minh, VINARE, PVI, PJICO… và các công ty liên doanh bảo hiểm như: UIC, VIA,… Ngoài ra, với khoảng 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài và hơn 70.000 đại lý bảo hiểm thị trường bảo hiểm Việt Nam đang phát triển ngày một sôi động.

    Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới đã tạo điều kiện cho bảo hiểm phát triển mạnh mẽ trong một môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản phẩm cũ, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa dạng và hấp dẫn. Người tham gia bảo hiểm có thể tự do lựa chọn người bảo hiểm, loại hình dịch vụ bảo hiểm với mức phí cạnh tranh nhất. Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn và số lượng, chủng loại sản phẩm chắc chắn sẽ còn được rộng mở. Không chỉ có vậy, để nâng cao tính cạnh tranh, công tác chăm sóc khách hàng cũng ngày càng được chú trọng. Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn đang rất giàu tiềm năng phát triển.

    2.2. Vài nét về Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam

    Nền kinh tế thị trường mở ra nhiều cơ hội kinh doanh, nhưng đồng thời, nó cũng đặt ra yêu cầu phải có những biện pháp quản lý thích hợp: chặt chẽ mà vẫn đảm bảo tính linh hoạt. Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm Việt Nam, có thể thấy, ngành bảo hiểm hiện nay đã tiến bước sang một giai đoạn mới. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng trở nên sôi động hơn, mức độ cạnh tranh cũng dần quyết liệt hơn nhiều. Yêu cầu phải có một luật riêng điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm là vô cùng cấp thiết bởi hệ thống văn bản pháp lý liên quan vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ.

    Thấy rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với nền kinh tế – xã hội, đặc biệt là sự cần thiết của việc quản lý các doanh nghiệp bảo hiểm, ngày 09/12/2000, Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 8 đã ban hành Luật kinh doanh Bảo hiểm (Luật KDBH). Đây là luật đầu tiên quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm. Luật KDBH sẽ góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Kể từ khi có hiệu lực thi hành vào ngày 01/04/2001, Luật KDBH đã phát huy tác dụng và chứng tỏ được vai trò của mình trong việc thực hiện các mục tiêu Nhà nước đã đề ra.

    Luật KDBH gồm 9 chương 129 điều, với các nội dung chính như sau:

    • Chương I (11 điều): Những quy định chung
    • Chương II (45 điều): Hợp đồng bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (18 điều): Quy định chung về hợp đồng bảo hiểm

    + Mục II (9 điều): Hợp đồng bảo hiểm con người

    + Mục III (12 điều): Hợp đồng bảo hiểm tài sản

    + Mục IV (6 điều): Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    • Chương III (26 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (12 điều): Cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    + Mục II (4 điều): Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    + Mục III (3 điều): Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

    + Mục IV (7 điều): Khôi phục khả năng thanh toán, giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm

    • Chương IV (10 điều): Đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, trong đó:

    + Mục I (5 điều): Đại lý bảo hiểm

    + Mục II (5 điều): Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    • Chương V (11 điều): Tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính
    • Chương VI (15 điều): Doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài
    • Chương VII (3 điều): Quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
    • Chương VIII (4 điều): Khen thưởng và xử lý vi phạm
    • Chương IX (3 điều): Điều khoản thi hành

    Luật KDBH đã quy định chi tiết về các loại hợp đồng bảo hiểm, về các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những nội dung cơ bản về công tác quản lý… Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho DNBH như điều kiện, hồ sơ, thời hạn cấp giấy phép… được đề cập đến một cách khá cụ thể. Luật cũng dành ra một chương quy định cụ thể về việc cấp phép, hình thức, nội dung hoạt động… của DNBH có vốn đầu tư nước ngoài.

    Một điểm mà đáng lưu tâm ở Luật KDBH là các quy định về doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Xuất phát từ các đặc trưng riêng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các DNBH được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam có các đặc trưng pháp lý riêng. Công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân không được phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm vì hai loại hình doanh nghiệp này chưa đáp ứng được các yêu cầu về bộ máy quản lý và kiểm soát, về quy mô và khả năng huy động vốn để tham gia kinh doanh. Mặt khác, do tính chất pháp lý riêng, DNBH phải hoạt động ổn định, tồn tại lâu dài và không phụ thuộc vào sự thay đổi về chủ sở hữu. Như vậy, việc thành lập DNBH tại Việt Nam có những điểm khác biệt so với những quy định tại các luật khác như Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

    Các quy định về vấn đề trên khá chi tiết và cụ thể cho thấy nỗ lực của Nhà nước trong việc tạo ra một môi trường pháp lý đầy đủ và hoàn thiện hơn. Qua hơn 2 năm đi vào thực hiện, Luật KDBH đã thực hiện tốt các chức năng của nó và đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về mặt quản lý, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta. Tuy nhiên, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm phát triển và quản lý, Luật KDBH vẫn còn nhiều chỗ chưa được phù hợp với thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung sao cho hợp lý, kịp thời đòi hỏi rất nhiều nỗ lực từ phía Nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, cũng như sự đóng góp ý kiến xác đáng từ các cá nhân, tổ chức có liên quan.

    IV.         II. CÁC TỔ CHỨC KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    Thị trường kinh doanh bảo hiểm Việt Nam đã trở nên rất sôi động từ sau khi Nhà nước có chủ trương đa dạng hoá các loại hình công ty kinh doanh bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm mới lần lượt xuất hiện, phá bỏ tình trạng độc quyền kinh doanh trước đó. Hiện nay, trên thị trường đã có nhiều loại hình công ty hoạt động tích cực, tạo ra một môi trường cạnh tranh mới.

        1. Các công ty kinh doanh bảo hiểm

    Các công ty kinh doanh bảo hiểm, hay các doanh nghiệp bảo hiểm, là doanh nghiệp được thành lập tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm. Theo Luật KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước, công ty cổ phần bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

       

    Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt

    1.1. Doanh nghiệp nhà nước

    1.1.1  Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt)

    Bảo Việt được bắt đầu đi vào hoạt động từ 15/01/1965. Công ty có các đơn vị thành viên, các chi nhánh trên toàn quốc, đồng thời tham gia góp vốn vào nhiều công ty khác như công ty liên doanh Bảo hiểm Quốc tế (VIA), công ty liên doanh bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB), công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt, quỹ đầu tư Quốc gia… Ngoài ra, Bảo Việt đã thành lập Công ty đại lý bảo hiểm tại Anh Quốc BAVINA (UK) Ltd và hiện có mối quan hệ với hơn 40 quốc gia trên khắp thế giới.

    Với kinh nghiệm, uy tín và nỗ lực hoàn thiện không ngừng, Bảo Việt đang chứng tỏ mình vẫn là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam hiện nay. Tổng doanh thu kinh doanh năm 2002 đạt 3.787 tỷ đồng, tăng 40% so với năm trước, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm đạt 3.367 tỷ. Tổng giá trị tài sản của công ty đạt 6.726 tỷ đồng. Xét về hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận trước thuế toàn tổng công ty ước đạt 129 tỷ, nộp ngân sách cũng đạt 110 tỷ đồng.

    Đến hết 6 tháng đầu năm 2003, doanh thu phí đạt gần 800 tỷ đồng, thị phần bảo hiểm phi nhân thọ đạt 46%, thị phần bảo hiểm nhân thọ cũng đạt 42%. Công ty dự kiến tổng doanh thu năm 2003 sẽ đạt gần 5.000 tỷ đồng, trong đó bảo hiểm nhân thọ chiếm khoảng 2.800 tỷ đồng, bảo hiểm phi nhân thọ chiếm khoảng 1.600 tỷ đồng và đầu tư tài chính là 450 tỷ đồng. Vào thời điểm cuối năm 2003, tổng giá trị tài sản của Bảo Việt ước đạt hơn 8.000 tỷ đồng. Trong năm 2003, Bảo Việt tiếp tục tham gia vào các dự án đầu tư lớn như dự án xây dựng dàn khoan của Tổng công ty Dầu khí trị giá gần 2 triệu USD, góp vốn đầu tư xây dựng cao ốc Ký Con trị giá 1 triệu USD. Tới nay, thu từ hoạt động đầu tư đã lên tới 200 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của công ty. (Nguồn: Thông tin từ hoạt động kinh doanh của Bảo Việtwww.baoviet.com.vn, ngày 21/11/2003). Thời gian tới, công ty sẽ được Nhà nước đầu tư thêm về vốn để trở thành tập đoàn tài chính – bảo hiểm vững mạnh nhất Việt Nam.

    1.1.2. Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh) trước đây là một thành viên của Bảo Việt, được tách ra hoạt động độc lập vào năm 1995. Bảo Minh là doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước lớn thứ hai sau Bảo Việt, kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và làm đại lý bồi thường và giám định tổn thất cho nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài và hội P&I. Hiện nay, số vốn điều lệ của công ty là 67 tỷ đồng và sắp tới sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng. Hiện nay, công ty có 22 chi nhánh và 6 văn phòng đại diện trên toàn quốc và có mối quan hệ hợp tác với nhiều công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài. Bảo Minh đã góp vốn thành lập hai công ty liên doanh bảo hiểm là UIC và  Bảo Minh – CMG.

    Năm 2002, tổng phí bảo hiểm gốc lĩnh vực tài sản – kỹ thuật và thiệt hại của Bảo Minh đạt gần 70 tỷ đồng, tăng hơn 143% so với năm 2001. Thị phần năm 2002 của công ty là 28,08%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt) Bảo Minh đã cùng với Bảo Việt, PJICO, Allianz đồng bảo hiểm một số công trình có giá trị lớn như công trình đường Hồ Chí Minh, cầu Mỹ Thuận với phí bảo hiểm 78,5 triệu đôla Australia, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3.250 triệu USD, thuỷ điện Đại Ninh 160 triệu USD… (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 30/10/2003)

    1.1.3. Bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVI)

    PVI là công ty bảo hiểm chuyên ngành đầu tiên ở nước ta, trực thuộc Tổng công ty dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), được thành lập năm 1996 với số vốn 20 tỉ đồng. Công ty chủ yếu hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí. Hiện nay, tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, PVI là một trong 3 công ty đạt doanh thu trên 500 tỷ đồng/năm. Nếu tính các chỉ tiêu năng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận và nộp ngân sách trên đầu người, PVI được đánh giá là doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Thị phần năm 2002 của công ty đã đạt 14,5%. Tính đến hết tháng 9/2003, PVI đã đạt doanh thu 426 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch cả năm 2003 do PetroVietnam giao (Nguồn: PVI, 2003). Theo số liệu công bố mới nhất của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2003, PVI là một trong những công ty có tốc độ tăng trưởng cao nhất thị trường, đồng thời dẫn đầu thị trường về bảo hiểm dầu khí, hàng hải, xây dựng lắp đặt.

    1.2. Công ty cổ phần

    1.2.1. Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập ngày 15/06/1995. Các cổ đông sáng lập của công ty đều là những tổ chức kinh tế lớn của Nhà nước, có uy tín và tiềm năng: Petrolimex, Vietcombank, VINARE, Tổng công ty thép Việt Nam, công ty điện tử Hà Nội… Là công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên ra đời tại Việt Nam, tới nay, PJICO vẫn giữ vị trí thứ 3 về bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ, với tổng giá trị hàng trăm nghìn tỷ đồng, trong đó nhiều công trình có giá trị bảo hiểm lên tới hàng trăm triệu USD như toà nhà Deawoo, Diamond Plaza, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC. Công ty cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ cùng hàng triệu người lao động, học sinh trong các hoạt động sản xuất, học tập. Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2003 của PJICO, doanh thu phí bảo hiểm của công ty đạt 138 tỷ đồng, đạt 60% kế hoạch cả năm. Tổng doanh thu kinh doanh (bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, đầu tư) của công ty đạt khoảng 160 tỷ đồng, đạt 52% kế hoạch đề ra.

    1.2.2. Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI)

    Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/9/1998 với tổng số vốn đầu tư là 70 tỉ đồng, thời hạn hoạt động là 50 năm. PTI là công ty bảo hiểm cổ phần do Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) phối hợp cùng với 6 cổ đông khác: VNPT là cổ đông lớn nhất với số vốn góp chiếm 41%, Bảo minh (10%), VINARE (8%), Ngân hàng Thương Mại cổ phần quốc tế Việt Nam, tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam và Công ty vật tư Bưu điện I. Lợi thế của PTI là có được sự tham gia của các công ty, tổng công ty có nguồn vốn dồi dào và các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm giàu kinh nghiệm. Nếu như năm 2000, tổng thu phí của công ty mới đạt gần 73 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã đạt gần 128 tỷ đồng, tăng 175%. Năm 2002, PTI chiếm 28,48% thị phần bảo hiểm gốc trong nghiệp vụ kỹ thuật. Hiện tại, công ty đang bảo hiểm cho hệ thống mạng điện thoại Cityphone với tổng giá trị bảo hiểm gần 177 tỷ đồng. Ngoài các đối tượng là đơn vị trong ngành, PTI đã phát triển dịch vụ bảo hiểm sang các ngành khác. (Nguồn: PTI, 2003)

    1.2.3. Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long)

    Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng được thành lập ngày 11/7/1995, với số vốn pháp định ban đầu là 22 tỉ đồng. Bảo Long là công ty cổ phần thứ hai ở Việt Nam, với sự tham gia của Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng cổ phần hàng hải, Ngân hàng cổ phần Á Châu, Ngân hàng Tân Việt và các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu lớn như PETEC, FIDECO, Huy Hoàng, Thêu may Thanh Ngọc… Bảo Long chủ yếu nhận bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không, bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm dân sự chủ tàu và các sản phẩm bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn con người, hoả hoạn… Bảo Long còn nhận và nhượng tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Với sự tham gia của nhiều ngân hàng và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn, Bảo Long đã tạo được uy tín và đang ngày càng khẳng định vị thế của mình. Thị phần năm 2002 của công ty mới chỉ đạt 1,09% nhưng tiềm năng phát triển của công ty còn rất lớn. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3. Công ty liên doanh

    1.3.1. Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh – CMG

    Bảo Minh – CMG là liên doanh bảo hiểm nhân thọ duy nhất ở Việt Nam giữa Bảo Minh và CMG – Colonial Mutual Group – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất của Úc. Công ty được chính phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào cuối tháng 10 năm 1999, với số vốn điều lệ ban đầu là 6 triệu USD, nay đã được tăng lên 10 triệu USD. Bảo Minh – CMG đang dần trở thành một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ có sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu năm 2002, công ty đã ký kết được hơn 15.000 hợp đồng mới với tổng doanh thu 45 tỷ đồng. (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 5/2002). Thị phần và doanh thu của công ty vẫn liên tục tăng đều. Với uy tín và kinh nghiệm của hai đối tác là một công ty bảo hiểm Nhà nước và một công ty bảo hiểm quốc tế, Bảo minh – CMG đang giành được thị phần ngày càng lớn trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.

    1.3.2. Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế (VIA)

    VIA là công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên được hình thành bởi sự hợp tác giữa Bảo Việt, Tokyo Marine and Fire Insurance và Commercial Union Assurance trong đó, số vốn góp của Bảo Việt là 51% và mỗi công ty nước ngoài góp 24,5%. Năm 2001, Tokyo Marine and Fire Insurance mua lại toàn bộ cổ phần của Commercial Union Assurance. VIA bắt đầu hoạt động năm 1996 với tổng vốn đầu tư là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Với năng lực của các bên đối tác và sự cộng tác của các công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế giới, hoạt động của VIA đã có nhiều bước phát triển mạnh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Năm 2000, tổng doanh thu phí bảo hiểm của công ty là 3,6 triệu USD và tổng lợi nhuận là 340.000 USD. Thị phần năm 2002 của công ty là 1,41%. (Nguồn: www.via.com.vn, ngày 22/11/2003)

    1.3.3. Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc (BIDV – QBE)

    Công ty liên doanh bảo hiểm Việt – Úc được thành lập năm 1999, với tổng vốn đầu tư là 4 triệu USD, thời gian hoạt động là 20 năm. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa QBE – tập đoàn bảo hiểm và tái bảo hiểm lớn nhất, có hoạt động hơn 100 năm của Úc và Ngân hàng Đầu tư và phát triển của Việt Nam, mỗi bên góp 50% số vốn. Với sự tham gia của hai đối tác tin cậy, công ty có thể kết hợp kỹ năng chuyên môn bảo hiểm hàng đầu của Úc và của thế giới với sức mạnh và uy tín của một ngân hàng lớn của Việt Nam. Đây là công ty bảo hiểm có vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp trực tiếp các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ cho khách hàng Việt Nam. Công ty ra đời nhằm đa dạng hoá sản phẩm hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và phát triển, với cam kết đảm bảo an toàn cho vốn vay và hoạt động của các khách hàng tín dụng của ngân hàng. Các nghiệp vụ chủ yếu mà công ty cung cấp là: bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt, bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, bảo hiểm máy móc thiết bị xây dựng, bảo hiểm rủi ro trong xây dựng và lắp đặt…

    1.3.4. Công ty bảo hiểm liên hợp (United Insurance Company of Vietnam – UIC)

    Công ty bảo hiểm liên hiệp UIC được thành lập năm 1997 với số vốn điều lệ là 6 triệu USD, thời gian hoạt động là 25 năm. Đây là liên doanh giữa Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh và hai tập đoàn bảo hiểm lớn của Nhật là: Mitsui Marine and Fire Insurance Co và The Yasuda Fire and Marine Insurance Co, trong đó, Bảo Minh góp 51%, mỗi bên nước ngoài góp 24,5%. Với sự am hiểu thị trường bảo hiểm Việt Nam của Bảo Minh và kinh nghiệm hoạt động lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, khả năng tài chính vững chắc của hai tập đoàn bảo hiểm lớn nhất Nhật Bản, UIC đang không ngừng phát triển. Thị phần của công ty tăng từ 1,62% năm 1998 lên 2% năm 2002. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.3.5. Công ty TNHH bảo hiểm Samsung –  Vina

    Công ty TNHH bảo hiểm Samsung – Vina được thành lập năm 2002, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD, hoạt động trên lĩnh vực phi nhân thọ. Đây là liên doanh giữa công ty VINARE và công ty Samsung Fire Marine Insurance với tỷ lệ góp vốn mỗi bên là 50%. Công ty bảo hiểm Samsung – Vina,  sẽ tận dụng được lợi thế là các khách hàng Hàn Quốc ở Việt Nam. Hiện nay, do Hàn Quốc đang đứng thứ tư về đầu tư vào Việt Nam với số vốn là khoảng 3,7 tỷ USD, công ty đang có tiềm năng phát triển rất lớn. Sắp tới, khi VINARE được cổ phần hoá, công ty bảo hiểm Samsung – Vina sẽ được củng cố và hoạt động của công ty sẽ tập trung vào các chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

    1.3.6. Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Châu Á – Ngân hàng Công thương (IAI)

    IAI là liên doanh giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam – một trong bốn Ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam và công ty bảo hiểm Châu Á – một trong những công ty bảo hiểm lâu đời và uy tín nhất tại Singapore vừa chính thức khai trương hoạt động tại Việt Nam. Với số vốn điều lệ là 6 triệu USD trong đó mỗi bên đối tác góp 50%, IAI được phép khai thác và nhận bảo hiểm tất cả các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ. Ngoài ra, công ty cũng được phép nhượng và nhận tái bảo hiểm, quản lý rủi ro, giám định tổn thất, xét bồi thường, đòi người thứ ba bồi hoàn, tham gia đầu tư và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Ngoài kinh nghiệm và uy tín của cả hai bên đối tác, mạng lưới 600 văn phòng, chi nhánh giao dịch và quỹ tiết kiệm trên toàn quốc của Ngân hàng Công thương cũng như mạng lưới kinh doanh bảo hiểm rộng khắp khu vực Đông Nam Á của Công ty bảo hiểm Châu Á cho thấy IAI sẽ là một mô hình hợp tác hiệu quả và có một tiềm năng phát triển rất lớn.

    1.4. Công ty 100% vốn nước ngoài

    1.4.1. Công ty TNHH bảo hiểm Prudential

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất nước Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất thế giới, quản lý hơn 250 tỷ USD và khoảng 21.000 nhân viên trên toàn cầu. Prudential khai trương văn phòng đại diện thứ nhất tại Việt Nam từ năm 1995 và được chính phủ cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10/1999. Hiện nay, Prudential đã có hơn 1,5 triệu khách hàng Việt Nam và với năng lực cạnh tranh của mình, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty năm 2002 đã đạt 34,94%, chỉ sau Bảo Việt. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    Tháng 6/2001, Prudential Việt Nam đã tăng vốn từ 15 triệu lên 40 triệu USD, và tháng 10/2002 công ty tiếp tục tăng vốn lên 61 triệu USD. Với số vốn đầu tư ngày càng tăng, Prudential đang tạo ra một khả năng tài chính vững chắc để có thể đầu tư vào việc đa dạng hoá sản phẩm và xây dựng hệ thống phục vụ hiệu quả nhằm đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của khách hàng. Prudential hiện có các văn phòng giao dịch, văn phòng đại lý và trung tâm phục vụ khách hàng tại 14 tỉnh, thành phố trên toàn quốc (Nguồn: prudential.com.vn, ngày 1/12/2003). Sự xuất hiện của Prudential trên thị trường bảo hiểm nhân thọ với những sản phẩm bảo hiểm nhiều ưu đãi, công tác chăm sóc khách hàng chu đáo đã tạo ra một không khí cạnh tranh mới.

    1.4.2. Công ty TNHH bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIA)

    AIA là công ty thành viên 100% vốn của tập đoàn AIG – tập đoàn hàng đầu trên thế giới về bảo hiểm và dịch vụ tài chính, đồng thời là tập đoàn thẩm định hàng đầu trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp tại Mỹ. AIA được thành lập năm 1931, là một trong những công ty bảo hiểm nhân thọ hoạt động lâu đời nhất tại Châu Á. AIA đã có hoạt động tại Việt Nam từ trước năm 1975

    và quay trở lại vào năm 1993. Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA Việt Nam được chính phủ cấp phép thành lập ngày 22/02/2000, với số vốn điều lệ là 10 triệu USD và thời gian hoạt động là 50 năm. Năm 2002, công ty đã được Bộ Tài chính phê duyệt tăng vốn lên 25 triệu USD.

    AIA là công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài đầu tiên được phép cung cấp sản phẩm nhóm tại thị trường Việt Nam: bảo hiểm nhân thọ nhóm, bảo hiểm tử vong và tàn tật do tai nạn, bảo hiểm hỗ trợ viện phí nhóm. AIA Việt Nam hiện đang hỗ trợ dự án đầu tư trị giá 580 triệu USD của AIG tại Khu công nghiệp Đình Vũ. Ngoài ra, công ty cũng đã chính thức tham gia đấu thầu trái phiếu chính phủ. Thị phần năm 2002 của công ty là 4,4%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.3. Công ty TNHH bảo hiểm Manulife

    Manulife Việt Nam vốn là công ty Chinfon – Manulife – liên doanh bảo hiểm giữa Chifon Global Group (Đài Loan), tập đoàn có số vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam và Manulife Financial (Canada). Liên doanh này được cấp giấp phép hoạt động vào năm 1999, sau đó Manulife tiến hành mua lại cổ phần của Chinfon. Công ty cung cấp cho khách hàng Việt Nam đầy đủ các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ/tiết kiệm, thu nhập hưu trí. Các sản phẩm chính của công ty là bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm giáo dục hỗn hợp, bảo hiểm bổ sung (trợ cấp y tế, tai nạn).

    Đầu năm 2002, công ty đã có 4.600 đại lý và hơn 100.000 hợp đồng còn hiệu lực. Năm 2002, công ty đã xin phép Bộ Tài chính cho tăng vốn điều lệ từ 5 triệu USD lên 10 triệu USD. Việc tăng vốn này sẽ giúp tăng thêm sức mạnh cho công ty để cạnh tranh cùng các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài khác như Prudential, AIA… Năm 2002, thị phần bảo hiểm nhân thọ của công ty là 11,92%, đứng thứ 3 tại Việt Nam. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.4. Công ty TNHH bảo hiểm Allianz

    Allianz là công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài đầu tiên và duy nhất hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, được thành lập năm 1999, với số vốn điều lệ là 5 triệu USD. Đây vốn là liên doanh giữa Allianz và AGF, tuy nhiên, mới đây, Allianz đã mua lại toàn bộ phần vốn góp là 49% của AGF. Hoạt động của Allianz sẽ tạo những cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ trên lĩnh vực bảo hiểm với các doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nay, công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu sau: bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm liên quan đến tài chính, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm phương tiện giao thông, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm thân tàu, tái bảo hiểm… Allianz chủ yếu tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2000, Allianz đã có được thị phần là 0,89% và thị phần năm 2002 là 2,62%. (Nguồn: Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt)

    1.4.5. Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam

    Groupama Việt Nam được thành lập năm 2002 với số vốn pháp định là 5 triệu USD, thời gian hoạt động là 30 năm. Đây là công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập bởi Groupama – tập đoàn bảo hiểm tổng hợp của Pháp và cũng là một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất Châu Âu. Groupama là công ty bảo hiểm nước ngoài đầu tiên được phép kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm thiệt hại ở khu vực nông thôn Nam Bộ. Công ty cung cấp các dịch vụ về sản xuất nông nghiệp và cuộc sống nông thôn, bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, tài sản, thiệt hại, vận tải hàng hoá, trách nhiệm công cộng tai nạn con người, đầu tư, giám định và phân bổ tổn thất…

    Tuy mới áp dụng ở Việt Nam từ cuối năm 2002 đến nửa đầu năm 2003, Groupama Việt Nam đã thu hút được 1.850 hợp đồng bảo hiểm các loại vật nuôi. Thời gian đầu công ty chấp nhận lỗ hoặc hoà vốn để lấy niềm tin của nông dân do bảo hiểm nông nghiệp rất có tiềm năng ở Việt Nam. Trong năm 2003, Groupama Việt Nam đã mở rộng mạng lưới hoạt động tại 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền Đông Nam bộ. Công ty đã ký hợp đồng với Ngân hàng Nông nghiệp – phát triển nông thôn trong việc thực hiện dự án bảo hiểm trọn gói 6 loại vật nuôi cho nông dân. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 7/2003)

    1.5. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

    Theo Luật KDBH Việt Nam, tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên của tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu, vừa là bên mua bảo hiểm. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính phủ quy định.

    Thực chất, đây là một hình thức bảo hiểm theo nhóm, trong đó các thành viên lập và duy trì một quỹ chung được sử dụng khi có tổn thất xảy ra với thành viên. Đây là mô hình được hình thành sớm nhất, tạo nền móng cho các tổ chức kinh doanh bảo hiểm và ngày nay phát triển rất mạnh trong các lĩnh vực như bảo hiểm nông nghiệp, hành hải và bảo hiểm nhân thọ. Rất nhiều công ty bảo hiểm hàng đầu hiện nay là công ty bảo hiểm tương hỗ. Về bản chất kinh doanh, công ty bảo hiểm tương hỗ cũng hoạt động vì mục đích lợi nhuận, nhưng loại hình công ty này nhằm phục vụ lợi ích cho chính những thành viên của mình (chủ sở hữu công ty). Ngoài ra, nó còn đảm bảo được tính độc lập và ổn định do không bị mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán (công ty bảo hiểm tương hỗ không phát hành cổ phiếu)

    Tại Việt Nam, thị trường bảo hiểm chưa phát triển cao, các doanh nghiệp bảo hiểm tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu nhưng tổ chức bảo hiểm tương hỗ chưa thực sự hình thành. Trong khi đó, mô hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ ở Việt Nam rất phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế do 80% dân số Việt Nam vẫn làm nông nghiệp. Bảo hiểm tương hỗ có ý nghĩa tích cực trong việc giúp những hộ làm nông nghiệp, thuỷ sản… có sự đảm bảo về tài chính trước rủi ro mất mùa, dịch bệnh, thiên tai… Hiện nay, Việt Nam mới thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ dưới dạng quỹ bảo hiểm ngành trên các lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản. Hiện nay, Quỹ bảo hiểm rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng cũng đang được nghiên cứu để triển khai.

        2. Tổ chức tái bảo hiểm

    Cũng như hầu hết các công ty Trách nhiệm hữu hạn khác, nhiều công ty bảo hiểm được thành lập với một số vốn nhất định. Do vậy, các công ty chỉ có khả năng nhận bảo hiểm cho một số rủi ro giới hạn trong phạm vi số vốn này. Tuy nhiên, trên thực tế kinh doanh, công ty có thể nhận được đơn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm vượt xa khả năng bồi thường của mình. Vì vậy, để có thể bảo hiểm cho những rủi ro lớn như vậy, các công ty bảo hiểm phải nhờ tới các công ty tái bảo hiểm khác trên thị trường. Các công ty tái bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro với các đối tượng có giá trị bảo hiểm lớn.

    Theo Luật KDBH của Việt Nam, kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường bảo hiểm đang trong quá trình hình thành và phát triển, số lượng công ty bảo hiểm trong nước còn ít, năng lực vốn còn hạn chế, lại chịu sự cạnh tranh từ các công ty bảo hiểm quốc tế, việc thành lập Công ty tái bảo hiểm quốc gia (VINARE) là rất cần thiết và hợp lý.

    VINARE thành lập ngày 27/09/1994, chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/1995 với số vốn được cấp ban đầu là 40 tỷ đồng. Hiện nay, vốn điều lệ của công ty là 40,5 tỷ đồng, và sẽ được tăng lên thành 70 tỷ đồng trong hai năm 2003 – 2004. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). VINARE hoạt động trên các lĩnh vực bảo hiểm tai nạn cháy, nổ, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển, bảo hiểm thân tàu, P&I, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm nhân thọ.

    3. Các tổ chức trung gian bảo hiểm

    Trong quá trình kinh doanh, để tăng cường hiệu quả hoạt động, các công ty bảo hiểm thường phải sử dụng các trung gian bảo hiểm gồm đại lý  bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Các trung gian bảo hiểm được phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, song họ không tạo ra các sản phẩm bảo hiểm, không mua bán các sản phẩm bảo hiểm mà làm cầu nối giữa người được bảo hiểm, công ty bảo hiểm gốc, công ty tái bảo hiểm. Hoạt động của các trung gian bảo hiểm là rất cần thiết trong việc tạo sự gặp nhau giữa cung và cầu trên thị trường.

    3.1. Đại lý bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hoạt động đại lý bảo hiểm, thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Nội dung hoạt động của đại lý bảo hiểm là: giới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm; thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và thực hiện các hoạt động khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm đều chú ý xây dựng hệ thống đại lý bảo hiểm bởi tầm quan trọng của nó. Đại lý bảo hiểm giúp doanh nghiệp bảo hiểm triển khai hoạt động trên một phạm vi rộng lớn, đưa sản phẩm bảo hiểm đến từng địa phương, cơ sở, đến tận đối tượng có nhu cầu bảo hiểm, từ đó góp phần làm tăng doanh thu, thị phần cho doanh nghiệp bảo hiểm. Đến nay, ở Việt Nam đã có 70.568 đại lý bảo hiểm nhân thọ và 10.548 đại lý bảo hiểm phi nhân thọ (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Đội ngũ đại lý này đang dần trở nên chuyên nghiệp hơn với chuyên môn, phong cách phục vụ, đạo đức nghề nghiệp được nâng cao.

    3.2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Theo Luật KDBH Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm với các nội dung như cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm… cho bên mua bảo hiểm, đồng thời, tư vấn cho bên mua trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm cũng tiền hành đàm phán, thu xếp giao kết và thực hiện các công việc khác liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua. Hiện trên thế giới có trên 85% các rủi ro công nghiệp được bảo hiểm qua môi giới. Môi giới bảo hiểm làm tăng thêm lợi ích cho cả người được bảo hiểm và các công ty bảo hiểm. Ở Việt Nam, sự góp mặt của các môi giới bảo hiểm đã ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Chính các nhà môi giới đã đem lại dịch vụ cho các công ty bảo hiểm trong nước và góp phần thiết kế các sản phẩm mới.

    Công ty liên doanh dịch vụ bảo hiểm Bảo Việt – AON (AIB) là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Đây là công ty liên doanh giữa Bảo Việt và tập đoàn bảo hiểm Inchcape của Anh (sau này thuộc tập đoàn bảo hiểm AON của Mỹ), được thành lập năm 1993 với số vốn điều lệ là 250.000 USD. AIB bắt đầu hoạt động từ tháng 6/1994 với nhiệm vụ thuyết phục các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tham gia bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Công ty đã góp phần không nhỏ trong việc giúp đỡ các nhà đầu tư vào Việt Nam, giúp tiết kiệm ngoại tệ của đất nước, đồng thời góp phần đáng kể vào việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Mới đây, Bộ Tài chính vừa cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt. Đây là công ty môi giới bảo hiểm có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam hiện nay với số vốn điều lệ là 6 tỷ đồng. Các lĩnh vực hoạt động chính của công ty sẽ là môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm. Cụ thể là công ty sẽ cung cấp các dịch vụ môi giới bảo hiểm theo theo các nội dung quy định của Luật KDBH. Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm Đại Việt sẽ cùng với AIB góp phần vào sự lớn mạnh của bảo hiểm Việt Nam. Tháng 9/2003, Gras Savoye, công ty môi giới bảo hiểm lớn nhất nước Pháp và lớn thứ 3 thế giới cũng đã chính thức hoạt động tại Việt Nam thay vì chỉ có văn phòng đại diện như trước kia.

    4. Hiệp hội bảo hiểm  Việt Nam (AIV)

    Trong bối cảnh ngành bảo hiểm Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, các công ty đều phải rất nỗ lực để cạnh tranh để có thể tồn tại và lớn mạnh. Trong quá trình đó, các công ty bảo hiểm cũng gặp phải nhiều khó khăn chung buộc họ phải hợp tác với nhau để cùng giải quyết. Để đảm bảo thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh, Chính phủ và Bộ Tài chính đã cho phép thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam – một tổ chức phi chính phủ, đại diện cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường. Hiệp hội được thành lập để các thành viên có thể cùng hợp tác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam ổn định và phát triển.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã được thành lập ngày 24/09/1999 với 10 sáng lập viên là các công ty bảo hiểm hàng đầu trên thị trường Việt Nam như: Bảo Việt, Bảo Minh, VINARE, các công ty bảo hiểm cổ phần và liên doanh bảo hiểm… và đến nay, Hiệp hội đã được mở rộng lên thành 16 thành viên. Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam có nhiệm vụ đại diện cho các hội viên, tham gia đóng góp ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan. Đồng thời, Hiệp hội cũng đứng ra tổ chức tuyên truyền bảo hiểm trong và ngoài nước, thiết lập mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của Hiệp hội, hợp tác với các hiệp hội bảo hiểm các nước. Khi cần thiết, Hiệp hội thực hiện việc hoà giải tranh chấp giữa các hội viên, kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm luật trong lĩnh vực bảo hiểm. Trong quá trình hoạt động của mình, Hiệp hội đã chứng tỏ vai trò là tổ chức đại diện cho tiếng nói và quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời, cũng là tổ chức đứng ra phối hợp hoạt động của các thành viên.

    Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam ra đời hoàn toàn đúng lúc và đáp ứng sự cấp thiết của thị trường, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trên con đường phát triển bảo hiểm Việt Nam. Đây cũng là bước mở đầu cho sự tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, lành mạnh hóa và thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển đúng đường lối, chính sách mà Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên, do mới được thành lập, lại chưa có kinh nghiệm quản lý, khả năng điều tiết của Hiệp hội còn rất hạn chế. Hiệp hội chưa xây dựng được các quy chế gắn kết quyền lợi của các thành viên cũng như chưa có một quy chế tự quản thích hợp. Tổ chức Hiệp hội cũng thiếu cơ quan giám sát thi hành các thoả thuận của các thành viên, dẫn tới hiện tượng vượt rào về mức phí thoả thuận cạnh tranh, tranh giành đại lý giữa các thành viên…

    V.     THỰC TRANG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

    Sau hơn 10 năm mở cửa thị trường, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới với những bước phát triển nhanh chóng. Thị trường bảo hiểm có sự tham gia ngày càng đông đảo của các công ty bảo hiểm. Số lượng công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày càng tăng, với các loại hình sở hữu đa dạng. Số lượng các sản phẩm bảo hiểm tăng lên nhanh chóng ở cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ thuộc cả ba lĩnh vực bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Sự đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cùng với việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng nhằm tạo ra tính cạnh tranh của các công ty đã và đang từng bước thoả mãn tốt hơn nhu cầu của các khách hàng.

    Tổng hợp một số chỉ tiêu bảo hiểm chủ yếu

    Đơn vị: tỷ đồng

    Chỉ tiêu 1993 1996 1999 2002 Tăng trưởng bình quân 1993 – 2002
    1. Doanh thu phí bảo hiểm 700 1.264 2.901 6.992 29,1%
    – bảo hiểm phi nhân thọ 700 1.263 1.606 2.624 19,39%
    – bảo hiểm nhân thọ   0,95 485 4.268  
    2. Tỷ trọng phí bảo hiểm/GDP 0,37% 0,46% 0,52% 1,3%  
    3. Vốn kinh doanh 145 397 980 1900  
    4. Bồi thường bảo hiểm 120 760 789 1400  
    5. Dự phòng nghiệp vụ 188 741 2.020 8.330  
    6. Nộp ngân sách Nhà nước 68 82 145 290 17%

     Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003

    Doanh thu phí bảo hiểm thị trường tăng nhanh qua các năm với tỷ lệ đóng góp vào GDP ngày càng lớn, nộp ngân sách Nhà nước cũng ngày càng tăng. Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho hàng vạn lao động. Sự tham gia của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động bảo hiểm cũng ngày một tích cực. Các doanh nghiệp bảo hiểm còn đã lập được nguồn vốn lớn và dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trong đó, sự đóng góp của các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm tỷ lệ lớn. Hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã thực sự đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định nền kinh tế – xã hội, cũng như ổn định đời sống người dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    1. Thực trạng các mặt hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua

    Sau gần 20 năm mở cửa nền kinh tế và hơn 10 năm ngành bảo hiểm có những bước đổi mới và phát triển, ngành bảo hiểm Việt Nam đã thu được những thành tựu không nhỏ trên nhiều mặt, bên cạnh đó, cũng có những hạn chế cần được khắc phục. Để có được cái nhìn toàn diện, chi tiết hơn, chũng ta sẽ xem xét cụ thể các mặt của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua.

    1.1. Số lượng, loại hình sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm

    Kể từ sau khi Nghị định 100 CP về hoạt động kinh doanh bảo hiểm ra đời, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Hàng loạt các công ty bảo hiểm ra đời thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đã tạo một diện mạo mới cho ngành bảo hiểm Việt Nam. Luật KDBH Việt Nam ra đời càng tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh của các công ty được diễn ra lành mạnh và đúng hướng.

    Nếu như trước năm 1993, ở nước ta chỉ có Bảo Việt độc quyền kinh doanh, hoạt động dưới hình thức bao cấp thì đến hết năm 2002 đã có tới 23 doanh nghiệp thuộc nhiều loại hình sở hữu tham gia kinh doanh: các doanh nghiệp nhà nước là Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và VINARE; các công ty cổ phần PJICO, PTI, Bảo Long; các doanh nghiệp liên doanh Bảo Minh – CMG, VIA, UIC, IAI, BIDV-QBE, Samsung – Vina và 5 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài gồm: Prudential, AIA, Manulife, Alianz, Groupama cùng với 5 công ty môi giới bảo hiểm: AIB, Đại Việt, Gras Savoye… Bên cạnh đó, sự hiện diện của hơn 40 văn phòng đại diện của các công ty bảo hiểm nước ngoài có uy tín càng đẩy mạnh sự phát triển của ngành bảo hiểm (Nguồn: Báo Đầu tư số tháng 11/2003).

    1.2. Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành

    Doanh thu phí bảo hiểm toàn ngành có những bước tăng trưởng mạnh mẽ kể từ khi Nhà nước quyết định mở cửa ngành bảo hiểm. Trong thời gian từ năm 1995 đến 2002, mức tăng trưởng bình quân doanh thu dịch vụ bảo hiểm là 29,1%/năm. Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng gần 6 lần, năm 2002 đạt 2.624 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ năm đầu tiên hoạt động (1996) chỉ là chưa tới 1 tỷ đồng thì tới cuối năm 2002, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường đạt 4.368 tỷ đồng. Đây là một mức tăng rất cao trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và khu vực đang lâm vào khó khăn. (Nguồn: Tạp chí Tài chính số 11/2003).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002, 11/2003

    Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bảo hiểm giàu tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, ổn định nhất trong khu vực. Qua hơn 10 năm phát triển, ngành bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng rất cao do với các nước khác. Tuy nhiên, đến hết năm 2003, tỷ lệ tổng doanh thu phí bảo hiểm trên GDP mới chỉ đạt 1,3%. Nếu đem so với tỷ lệ trung bình 8% của thế giới hay 2,5 – 7% của các nước trong khu vực thì có thể thấy con số này là quá thấp. Tổng doanh thu phí bảo hiểm mới chỉ tương đương với 3,61% tổng số tiền tiết kiệm trong dân cư. Ngay cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện đang phát triển với tốc độ cao cũng chỉ thu hút được 2% số dân tham gia trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốclà 22%, ở Nhật Bản là gần 100%. Mức tham gia bảo hiểm trung bình chỉ đạt 1,5 USD/người trong khi các nước trong khu vực đạt con số cao hơn nhiều: Singapore đạt 1.320 USD/người, Thái Lan đạt 53,4 USD/người, Indonesia đạt 12,5 USD/người. (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003)

    1.3.    Các loại hình bảo hiểm, chất lượng dịch vụ và công tác bồi thường

    Với sự gia nhập thị trường của các công ty bảo hiểm mới, số lượng sản phẩm bảo hiểm cũng tăng lên rõ rệt từ 20 sản phẩm năm 1993 đến nay đã là hơn 500 sản phẩm. Để tạo ra sức cạnh tranh cho mình, các công ty bảo hiểm đã không ngừng nghiên cứu nhằm hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ đã có, cũng như cho ra đời các loại hình dịch vụ mới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Giờ đây, khách hàng có thể lựa chọn các sản phẩm bảo hiểm thích hợp nhất, với biểu phí và điều kiện bảo hiểm tối ưu.

    Để thu hút thêm khách hàng, việc đẩy mạnh chất lượng dịch vụ là rất quan trọng. Các công ty bảo hiểm càng hiểu rõ hơn điều này, đặc biệt là trong môi trường đầy tính cạnh tranh như hiện nay. Sản phẩm có thể được cung cấp tới tận nơi cho khách hàng theo yêu cầu, cùng với đầy đủ dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ. Các kênh tiếp thị và phân phối đang ngày càng hoàn thiện. Công tác giám định tổn thất và bồi thường cũng dần trở nên nhanh chóng, chính xác và thuận tiện. Các kênh thông tin hai chiều cũng được tạo lập để có thể tiếp thu những ý kiến phản hồi từ khách hàng. Bảo Việt luôn có bộ phận cơ động trực 24/24 để giám định tổn thất và giải quyết bồi thường khi có tai nạn xảy ra. Prudential hiện cũng đã có 47 trung tâm và điểm phục vụ khách hàng ở 33 tỉnh và thành phố. Ngoài ra, các công ty đều có những hình thức ưu đãi cho khách hàng như quà tặng, phiếu giảm giá, thẻ mua hàng, hoặc thậm chí, gửi thiếp, quà chúc mừng sinh nhật cho khách hàng… Những công ty lớn còn có thể tham gia vào nhiều hoạt động xã hội, từ thiện, tài trợ cho các cuộc thi… nhằm quảng bá và nâng cao hình ảnh của mình.

    Công tác bồi thường của ngành bảo hiểm thời gian qua đóng một vai trò tích cực trong việc ổn định cuộc sống và kinh doanh. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm trong 10 năm qua là 7.600 tỷ đồng, trong đó có nhiều vụ tổn thất lớn như vụ phụt giếng khoan dầu Lan Tây, vụ cháy chợ Đồng Xuân, vụ tai nạn máy bay ở Camphuchia, những thiệt hại do cơn bão Linda… (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số tháng 4/2003). Công tác bồi thường đã được từng bước nâng cao chất lượng với thời gian, thủ tục đòi bồi thường đã được giảm đi đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thực hiện vẫn còn nhiều bất cập. Khách hàng gặp rất nhiều phiền hà, cũng như mất nhiều thời gian trong việc đòi bồi thường cho những tổn thất xảy ra với mình, mặc dù nhiều trường hợp tổn thất xảy ra nằm trong các rủi ro được bồi thường. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh đang mất lòng tin ở các công ty bảo hiểm Việt Nam bởi công tác bồi thường được thực hiện chưa tốt. Đó cũng chính là lý do tại sao khi mua bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu, cũng như mua bảo hiểm kỹ thuật cho các công trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, các chủ hàng, cũng như các chủ đầu tư thường lựa chọn các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn, có uy tín. Các công ty bảo hiểm Việt Nam chưa tận dụng được ưu thế về địa lý, sự hiểu biết về pháp luật cũng như quan hệ với khách hàng trong nước để giải quyết việc bồi thường tổn thất một cách thuận tiện, nhanh chóng. Để nâng cao ưu thế cạnh tranh với các công ty nước ngoài, đây là một trong những nhược điểm lớn mà các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải sớm khắp phục.

    1.4. Hệ thống đại lý

    Sự phát triển của bảo hiểm cũng góp phần đem lại công ăn việc làm cho khoảng gần 77.000 lao động trong ngành, trong đó khoảng 50% đang làm việc cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Mạng lưới đại lý bảo hiểm được mở rộng và đã dần phủ kín toàn quốc. Bảo Việt đã có hệ thống đơn vị thành viên ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước gồm 61 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, 56 công ty bảo hiểm nhân thọ, 5 chi nhánh bảo hiểm nhân thọ, 1 trung tâm đào tạo… với gần 5.000 nhân viên, trên 18.000 đại lý và cộng tác viên hoạt động trên khắp mọi miền đất nước (Nguồn: www.baoviet.com.vn, ngày 2/12/2003). Bằng cách mở rộng mạng lưới đại lý, ngành bảo hiểm đã góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Nếu như năm 2000, tính cả thị trường bảo hiểm nhân thọ mới có khoảng 17.000 đại lý thì đến năm 2002, số lượng đại lý của 5 công ty bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua con số 70.000, trong đó, Prudential dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng đại lý, với gần 40.000 đại lý bảo hiểm đang hoạt động (Nguồn: www.prudential.com.vn, ngày 2/12/2003).

    Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, đại lý bảo hiểm của các công ty vẫn chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu phát triển mới, chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp cần phải có. Những lao động trong ngành bảo hiểm không chỉ cần vững về chuyên môn, nghiệp vụ mà do đặc thù nghề nghiệp, họ còn phải có nhiều phẩm chất cần thiết khác như trung thực, nhiệt tình, cởi mở… Trong chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm hiện nay, việc xây dựng một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, công tác đào tạo về kiến thức chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, phong cách phục vụ khách hàng còn chưa được chú trọng đúng mức. Khách hàng của bảo hiểm nhân thọ vẫn thường phàn nàn về hiện tượng một số đại lý đã tư vấn sai, hoặc qua loa, thông đồng với khách hàng che giấu bệnh tật, hoặc không chăm sóc khách hàng chu đáo khi hợp đồng đã được ký kết… Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, tình trạng đánh giá chưa chính xác các rủi ro, sách nhiễu khách hàng khi phải bồi thường tổn thất vẫn xảy ra. Đặc biệt, khi các công ty bảo hiểm đều chú trọng ứng dụng các công nghệ mới, mở rộng hình thức tiếp cận khách hàng như giao dịch qua mạng, qua hệ thông ngân hàng, nếu không có kiến thức rộng hơn cũng như không có tính chuyên nghiệp cao thì đội ngũ nhân viên, đại lý, tư vấn sẽ không thế đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khó tính của khách hàng.

    1.5. Năng lực về vốn, công nghệ

    Các công ty bảo hiểm hiện nay cũng đang gặp phải những khó khăn chung mà các công ty hoạt động trong các ngành nghề khác đang gặp phải. Đó chính là sự hạn chế năng lực về vốn, công nghệ, đặc biệt là ở nhiều công ty bảo hiểm Nhà nước hay các công ty cổ phần. Trừ các công ty 100% vốn nước ngoài có nguồn gốc từ những tập đoàn tài chính lớn trên thế giới, nguồn vốn của hầu hết các công ty bảo hiểm Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé trong khi đăc thù của kinh doanh bảo hiểm lại đòi hỏi tiềm lực tài chính vững mạnh. Tổng vốn của công ty bảo hiểm lớn nhất của Việt Nam là Bảo Việt cũng chưa tới 52 triệu USD trong khi một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài khác là Prudential đã thực hiện việc tăng vốn lên 61 triệu USD vào năm 2002. Để có thể đứng vững trước môi trường cạnh tranh hiện nay, các công ty bảo hiểm Việt Nam cần phải có nguồn vốn lớn hơn.

    Công nghệ bảo hiểm của các công ty Việt Nam còn khá lạc hậu so với khu vực và thế giới. Công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nghiệp vụ bảo hiểm, quyết định tới 60 – 80% sự thành bại của các doanh nghiệp. Nó đơn giản hoá được một khối lượng công việc hành chính khổng lồ và nhiều nghiệp vụ phức tạp, tạo ra nhiều tiện ích cho khách hàng, cũng như hình thành nên các kênh thông tin đa chiều… Trong khi đó, việc ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ mới chỉ được tiến hành ở một số công ty lớn, lại không được thường xuyên, và tính hiệu quả cũng chưa cao. Năm 2003, Bảo Việt đã dành khoảng 6 triệu USD, tương đương 70% lợi nhuận của công ty năm 2002 để đầu tư vào xây dựng mạng nội bộ, ứng dụng các tiện ích đa phương tiện… (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 5/12/2003). Một số công ty bảo hiểm hàng đầu khác như Bảo Minh, PVI… cũng đều có bộ phận phụ trách phát triển công nghệ và đang tích cực triển khai các dự án công nghệ thông tin. Tuy nhiên, việc ứng dụng vẫn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều lý do: cơ sở hạ tầng viễn thông nước ta vẫn yếu kém, tiềm lực tài chính của các công ty còn hạn hẹp… Đặc biệt, do đặc thù của các nghiệp vụ bảo hiểm, mô hình ứng dụng công nghệ vào các công ty còn đòi hỏi sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với mục đích và trình độ quản lý, sử dụng. Trong khi đó, với sự hỗ trợ từ AIG, AIA Việt Nam đã đưa vào sử dụng những phần mềm, phần cứng do công ty mẹ cung cấp, và hiện đang có một hệ thống liên lạc hiện đại không kém so với các chi nhánh AIA toàn cầu.

    1.6. Quy tắc bảo hiểm áp dụng

    Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bảo Việt ban hành nhiều quy tắc bảo hiểm áp dụng cho các lĩnh vực, tạo rất nhiều thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Trong số đó có thể kể đến “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” lần đầu tiên ra đời năm 1965, và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1990. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ban hành được nhiều quy tắc khác như: các quy tắc về bảo hiểm thân tàu ở Việt Nam, Quy tắc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam năm 1992, Quy tắc về bảo hiểm hàng không năm 1991, Quy tắc và biểu phí bảo hiểm hỏa hoạn (1989, 1993, 1989)…

    Các quy tắc và biểu phí áp dụng trong bảo hiểm ở Việt Nam hầu hết được xây dựng dựa trên quy tắc quốc tế hoặc quy tắc của các nước có nền bảo hiểm phát triển trên thế giới. Do vậy, Việt Nam có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm và cũng tạo được sự tương đồng nhất định với quy tắc của các nước. “Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển” chủ yếu dựa trên các điều kiện bảo hiểm A, B, C của Viện ILU nước Anh (Instiute Cargo Clauses A, B, C). Quy tắc về bảo hiểm hàng không chủ yếu dựa theo các quy tắc của Anh, Mỹ, Quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn cũng được nghiên cứu dựa trên các quy tắc của Đức, Anh… Các quy tắc của Việt Nam cũng đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vời điều kiện thực tế ở Việt Nam nhưng nhìn chung các quy tắc trên cũng không tránh khỏi nhiều chỗ thiếu sót. Mặt khác, hệ thống các quy tắc bảo hiểm ở Việt Nam vẫn chưa đầy đủ. Nhiều loại nghiệp vụ bảo hiểm vẫn chưa có quy tắc riêng để áp dụng, gây khó khăn không nhỏ cho cả bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm. Điển hình là quy tắc bảo hiểm chiến tranh đình công với hàng hoá vận chuyển bằng đường hành không vẫn chưa được nghiên cứu, áp dụng trong khi hiện nay đây là một quy tắc rất cần thiết.

    1.7. Hoạt động đầu tư

    Với sự phát triển nhanh trong thời gian qua, ngành bảo hiểm đang dần chứng tỏ được vai trò của mình như một kênh huy động vốn đầu tư, một trung gian tài chính có hiệu quả. Hoạt động đầu tư của các công ty đều được thực hiện theo nguyên tắc an toàn, hiệu quả, đáp ứng kịp thời các yêu cầu chi trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm, đồng thời đem lại lợi nhuận hợp lý để trang trải cho các chi phí hoạt động và mở rộng phạm vi kinh doanh. Riêng công ty Bảo Việt cũng thời gian qua đã góp vốn vào thành lập nên 15 công ty cổ phần lớn, trong đó có các công ty như Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế, Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu… Nhiều dự án có giá trị kinh tế – xã hội cao cũng có sự tham gia góp vốn của các công ty bảo hiểm: Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, Khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây, Khu công nghiệp Đình Vũ… Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng góp vốn vào hàng trăm công trình xây dựng có giá trị đầu tư lớn.

    Doanh thu phí, tốc độ tăng và đóng góp vào các quỹ đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ.

    Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
    Doanh thu phí (tỷ VND) 0,95 17,5 203 492 1.280 2.775 4645
    Tốc độ tăng doanh thu phí (so với năm trước)   1,74% 1,06% 142% 160% 117% 167%
    Quỹ đầu tư (tỷ VND) 0,7 15 178 582 1.654 4.001 6.700

    (Quỹ đầu tư ước tính vào cuối mỗi năm tương ứng với quỹ dự phòng nghiệp vụ, không tính nguồn vốn điều lệ).

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 4/2002, 11/2003

    Tuy nhiên, kết quả hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng của mình. Hoạt động góp vốn liên doanh, cho vay theo pháp luật ngân hàng, đầu tư vào bất động sản có xu hướng giảm do lo sợ rủi ro tài chính trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng, và do sự giảm lợi nhuận trên thị trường bất động sản. Cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm vẫn còn khá đơn điệu, chủ yếu tập trung vào những công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao nhưng hiệu quả không cao. Hình thức đầu tư phổ biến nhất hiện nay (chiếm tới hơn 50%) vẫn là gửi tiền vào các ngân hàng thương mại để hưởng lãi, trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là rất thấp (ở Anh, Pháp, Đức chỉ khoảng 1,1 – 1,9%). Kinh doanh chứng khoán mới chiếm khoảng hơn 30%, trong khi ở hầu hết các nước, đây là công cụ đầu tư được sử dụng rộng rãi nhất (ở Anh là hơn 51%, ở Pháp là hơn 87%) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002). Ngoài các lý do khách quan như hạn chế của pháp luật về mức vốn đầu tư, tỷ lệ lập quỹ dự phòng theo pháp luật, môi trường đầu tư chưa thông thoáng, ổn định, thiếu các dự án khả thi, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển… các công ty bảo hiểm cũng chưa có sự quan tâm thích đáng đến việc đẩy mạnh hoạt động đầu tư. Trừ Bảo Việt đã có đơn vị độc lập chuyên về đầu tư chứng khoán (Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt), các công ty chủ yếu tiến hành hoạt động đầu tư thông qua các phòng ban ở hội sở chính.

    Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2002

    1.8. Hoạt động cạnh tranh

    Sự xuất hiện của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một môi trường cạnh tranh đầy tính tích cực. Sự cạnh tranh quyết liệt đã khiến các công ty phải giảm phí, mở rộng điều kiện, điều khoản bảo hiểm. Các công ty đều phải có chiến lược cụ thể và lâu dài vì giờ đây, khách hàng đã có nhiều lựa chọn. Và như vậy, chính khách hàng đang được hưởng lợi nhiều nhất từ những hoạt động nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các công ty. Nhận thức của các cá nhân, tập thể về vai trò của bảo hiểm cũng được nâng cao thông qua các chương trình quảng cáo. Theo Bảo Việt thì hiện nay có khoảng 76% người dân thành phố đã biết đến bảo hiểm nhân thọ. Đây là một kết quả rất đáng mừng bởi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ chỉ mới bắt đầu triển khai ở Việt Nam trong thòi gian chưa lâu.

    Tuy nhiên, do vẫn còn khá non trẻ, lại phải chịu nhiều sức ép mới, ngành bảo hiểm nước ta đã xuất hiện một số tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh cũng như đến hình ảnh của toàn ngành. Tình trạng cạnh tranh về phí bảo hiểm phi nhân thọ đang trở nên ngày càng phức tạp. Ở nhiều dự án xây dựng lớn bằng vốn đầu tư của Nhà nước, dù đã có thoả thuận đồng bảo hiểm với nhau nhưng tình trạng cạnh tranh trong giảm phí và hạ mức khấu trừ tới mức các nhà bảo hiểm đánh giá là phi kỹ thuật vẫn xảy ra. Việc mở rộng điều kiện và điều khoản bảo hiểm một cách quá mức, không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng đang xảy ra. Mức bảo hiểm kỹ thuật ở Việt Nam đang thấp hơn từ 20 – 25% so với mức phí đang áp dụng cho những dự án tương tự trên thế giới, trừ Trung Quốc. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003). Trong bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm P&I, sự cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp cũng dẫn đến tỷ lệ phí áp dụng tiếp tục giảm, nhất là phí cho những con tàu mới mua, gây ảnh hưởng lớn tới việc thu xếp tái bảo hiểm. Với đặc thù của ngành bảo hiểm, việc cạnh tranh bằng hạ phí làm năng lực tài chính của công ty bí giảm sút, sẽ gây tác động xấu trở lại khách hàng do hạ phí làm giảm khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm khi xảy ra rủi ro. Vấn đề hạ phí sẽ có tác động rất xấu khi các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực tài chính vững mạnh sẽ chấp nhận lỗ trong thời gian đầu để chiếm lĩnh thị trường rồi tiến tới lũng đoạn.

    Trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hiện tỏ ra vượt trội về nhiều mặt, đặc biệt là có ưu thế về kinh nghiệm, uy tín, khả năng phát triển hệ thống đại lý, mở rộng thị trường… Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước vốn chưa quen với việc môi trường cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường đã sử dụng nhiều biện pháp không lành mạnh như dùng mệnh lệnh hành chính để tác động đến thị trường, gây bất bình đẳng trong cạnh tranh và đi ngược lại những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, tình trạng đưa thông tin sai lệch gây tổn hại đến hình ảnh của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo khách hàng cũng thường xuyên xảy ra.

    Hiện tượng “độc quyền công ty” hiện nay cũng diễn ra phổ biến với sự tham gia của các công ty cổ phần bảo hiểm. Hầu hết các cổ đông thành lập nên các công ty cổ phần bảo hiểm là các doanh nghiệp nhà nước đang nắm vai trò quan trọng trong nền kinh tế như: xăng dầu, dầu khí, bưu điện… Điều này dẫn tới một thực tế là các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc ngành, thuộc tổng công ty có cổ phần ở công ty bảo hiểm nào sẽ phải mua bảo hiểm tại đó. Bảo Việt đã phải chuyển bảo hiểm cho hành khách đường sắt cho PJICO vì Tổng công ty đường sắt Việt Nam là cổ đông của PJICO. Tình trạng này sẽ khiến các công ty bảo hiểm ỷ lại, không chịu khó tìm kiếm thêm thị trường và nâng cao chất lượng dịch vụ.

    1.9. Công tác quản lý nhà nước và hệ thống văn bản pháp quy

    Trước năm 1986, bảo hiểm cũng như các ngành kinh tế khác hoạt động theo cơ chế bao cấp, đồng nhất quản lý với kinh doanh. Đến năm 1992, để thích ứng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, bộ phận quản lý Nhà nước chuyên trách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã được thành lập, thuộc Vụ Tài chính các Ngân hàng và các tổ chức tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 134/2003/QĐ – BTC  quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ bảo hiểm, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm trên phạm vi cả nước. Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã được ban hành. Đây là một công cụ hỗ trợ cơ quan quản lý bảo hiểm theo dõi, kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh, việc chấp hành cách chính sách, pháp luật Nhà nước của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công tác quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm đã từng bước hoàn thành các mục tiêu của mình, trong đó, việc bảo vệ tối đa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm rất được chú ý. Nhà nước buộc các công ty bảo hiểm đảm bảo khả năng tài chính bằng việc quy định mức vốn pháp định, tỷ lệ lập quỹ dự phòng… Việc quản lý nội dung, phạm vi hoạt động, quản lý đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm cũng đang dần được tiến hành một cách đầy đủ và nghiêm túc. Các biện pháp phòng ngừa trong trường hợp mất khả năng thanh toán và việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm trong các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm giải thể hoặc phá sản đều chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng là Bộ Tài chính. Công tác quản lý nhà nước cũng đã chú trọng đến việc tăng cường khả năng tài chính cho các doanh nghiệp bảo hiểm, khuyến khích việc tích luỹ vốn để tái đầu tư, đảm bảo cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định.

    Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng đã từng bước được soạn thảo, thi hành. Việc xây dựng được hệ thống văn bản pháp lý vừa tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển đúng hướng vừa bảo đảm sự kiểm tra giám sát của nhà nước. Luật KDBH có hiệu lực vào 01/04/2000 điều chỉnh các mặt của kinh doanh bảo hiểm đã đặt nền móng cho quá trình hoàn thiện môi trường pháp lý cho ngành. Kèm theo luật là các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành với nhiều chi tiết cụ thể, giúp các đối tượng điều chỉnh của Luật khỏi lúng túng trong quá trình thực hiện. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2003 – 2010, đưa ra một số chỉ tiêu, giải pháp chủ yếu để thực hiện chiến lược về phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm, quá trình thực hiện lại nảy sinh nhiều vấn đề mới, hệ thống pháp luật hiện nay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện có rất nhiều nhưng chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ. Luật KDBH không cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm là công ty Trách nhiệm hữu hạn, nhưng cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài mà theo quy định tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hai loại hình doanh nghiệp trên cũng là công ty Trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chưa chi tiết và đầy đủ, chưa đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp. Luật cần tạo sự yên tâm đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam cho các công ty nước ngoài, song cũng cần bảo hộ một cách hợp lý cho các công ty trong nước, tránh cho ngành bảo hiểm nói riêng và thị trường tài chính nói chung bị thao túng.

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua xảy ra nhiều hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại nhiều mặt cũng vì chúng ta thiếu một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh. Do chưa có Luật cạnh tranh, Nhà nước thiếu đi một công cụ hữu hiệu để quản lý và kiểm soát việc cạnh tranh, cũng như không có một chế tài xử phạt đối với các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh gây tổn hại tới đối thủ, tới khách hàng, và tới nền kinh tế – xã hội. Khi những hành vi đó gây hậu quả xấu, cũng không có cơ sở cho việc tính toán để bù đắp thiệt hại. Như vậy, đây vẫn là một kẽ hở pháp luật cần phải loại bỏ để ngành kinh doanh bảo hiểm có thể tiếp tục đi lên và đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

    1.10. Hợp tác quốc tế

    Ngành bảo hiểm Việt Nam tuy gần đây mới thực sự đạt được một số thành tựu, nhưng lại hứa hẹn rất nhiều tiềm năng. Các công ty bảo hiểm nước ngoài lớn trên thế giới đã nhìn thấy triển vọng của thị trường Việt Nam và các công ty này đã tạo một động lực phát triển mới. Việc cho phép các công ty bảo hiểm trong nước hợp tác liên doanh với các công ty bảo hiểm nước ngoài và thành lập các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không chỉ góp phần thu hút vốn đầu tư mà còn thể hiện nỗ lực hợp tác của ngành bảo hiểm Việt Nam. Các công ty bảo hiểm nước ngoài với tiềm lực kinh tế vững chắc, kinh nghiệm, uy tín lâu năm, công nghệ bảo hiểm hiện đại, quan hệ rộng khắp với các tổ chức tài chính mạnh trên thế giới sẽ đáp ứng được các nhu cầu bảo hiểm mà các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước không có khả năng, đồng thời, tạo ra môi trường cạnh tranh. Qua đó, Việt Nam cũng học tập được những kinh nghiệm quản lý tiên tiến và công nghệ bảo hiểm hiện đại. Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng nằm trong tiến trình hội nhập với khu vực và quốc tế theo các hiệp định quốc tế như Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN, WTO, Hiệp định Thương mại Việt Mỹ…

    Hiện nay, các công ty bảo hiểm đều có mối quan hệ hợp tác bảo hiểm và tái bảo hiểm với các tập đoàn bảo hiểm hàng đầu thế giới như: Commercial Union, Tokyo Marine, Yasuda, Sedgwich, Willis Corroon, Munich Re, Swiss Re… Bộ Tài Chính cũng không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác với các cơ quan quản lý bảo hiểm của EU, ASEAN, từ đó, từng bước chuẩn hóa môi trường kinh doanh bảo hiểm để phù hợp với tình hình chung của khu vực và thế giới. Nhiều nghị định, dự án hợp tác nhằm phát triển ngành bảo hiểm đã được ký kết với các tổ chức quốc tế đã và đang thu kết quả tốt như: Hiệp định hợp tác về triển khai dự án trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng về bảo hiểm giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Liên đoàn các công ty bảo hiểm Pháp ngày 21/06/1993; dự án trợ giúp sự phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam trong chương trình trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường do ủy ban Châu Âu phối hợp với Bộ Kế hoạch đầu tư và Bộ Tài chính… Ngày 11/11/2003, Thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm cũng đã được ký kết giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm liên bang Mỹ (NAIC) với những nội dung trợ giúp kỹ thuật theo định kỳ hoặc theo vụ việc.

    Trong năm 2003, Việt Nam cũng đã đứng ra tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm như diễn đàn bảo hiểm ASEAN, Hội nghị các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN lần thứ 6 (AIRM6), Hội nghị hội đồng bảo hiểm ASEAN lần thứ 29 (AIC29) và Hội nghị lần thứ 4 hội đồng các cơ quan quốc gia ASEAN… Nội dung của các hội nghị tập trung vào việc tăng cường và nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực bảo hiểm. Ngoài ra, Việt Nam đã lần đầu tiên tham gia vào “Chương trình bảo hiểm bắt buộc xe cơ giới ASEAN”. Đây là chương trình nhằm mục đích hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận tải hàng hoá quá cảnh và liên quốc gia trong các nước ASEAN. Đây là những cơ hội rất tốt cho ngành bảo hiểm Việt Nam hội nhập vào kinh tế khu vực.

    2. Nhận xét chung

    Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam trở nên sôi động, hoạt động ngày càng mạnh mẽ. Tốc độ tăng doanh thu phí của bảo hiểm Việt Nam ở mức khá cao so với thế giới và khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO… Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó đã làm cho số vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài.

    Khả năng tài chính và uy tín của các công ty bảo hiểm trong nước ngày càng lớn mạnh. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có thể phục vụ các ngành kinh tế, các tầng lớp nhân dân với việc tham gia vào nhiều hợp đồng có mức trách nhiệm lớn, lên đến hàng tỷ USD như bảo hiểm trong các lĩnh vực hàng không, dầu khí… Nhiều công trình có trị giá bảo hiểm lớn như: nhà máy xi măng Chinfon, nhà máy điện Phú Mỹ, các toà nhà, khách sạn lớn cùng với hàng nghìn nhà xưởng, văn phòng… cũng được bảo hiểm  rủi ro xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm hoả hoạn và bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại các công ty bảo hiểm Việt Nam. Hoạt động đầu tư của các công ty cũng đang tạo ra một nguồn vốn lớn cho xã hội.

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng có lợi. Các công ty bảo hiểm đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Các công ty bảo hiểm gốc cũng cùng nhau đề nghị Bộ Tài chính sửa đổi biểu phí, qui tắc của bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, theo đó Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 115/CP-1998 về bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước tiến tích cực của bảo hiểm Việt Nam.

    Ngành bảo hiểm tuy mới thực sự phát triển trong vài năm gần đây song cũng đã và đang phát triển với tính ổn định tương đối cao, từng bước hình thành một thị trường tài chính lành mạnh ở nước ta. Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng, thị trường bảo hiểm của Việt Nam vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo hiểm vẫn còn khá nhiều hạn chế. Công tác giải quyết bồi thường chưa được thực hiện tốt, chưa đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng khi gặp thiệt hại. Các sản phẩm bảo hiểm tuy đã đa dạng hơn trước, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiên tai, nông nghiệp, tín dụng và rủi ro tài chính, hoạt động hành nghề y dược, luật sư…

    Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũng như bảo hiểm nhân thọ đều chưa phát triển xứng đáng với tiềm năng. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt hơn 11 tỷ USD trong nửa đầu năm 2003 nhưng số hàng hoá mua bảo hiểm trong nước chỉ đạt khoảng 5%. Tỷ lệ mua bảo hiểm trong nước cho hàng hoá nhập khẩu cũng chỉ chiếm 24% (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 5/2003). Có thể thấy, các công ty bảo hiểm Việt Nam đã mất một nguồn thu phí bảo hiểm rất lớn vào tay các công ty bảo hiểm nước ngoài, làm chảy mất một lượng ngoại tệ lớn và giảm đáng kể nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Theo tính toán của VINARE, trung bình mỗi năm hơn 70 triệu USD phí bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bị chuyển ra nước ngoài, làm ngân sách Nhà nước mất đi một khoản thu thuế lên tới 3 triệu USD/năm. Trong những năm gần đây, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên với rất nhiều công trình xây dựng có giá trị lớn, nhưng tổng doanh thu phí mà các công ty bảo hiểm Việt Nam tham gia cung cấp dịch vụ cho các công trình này chỉ chiếm khoảng 10 – 15%. (Nguồn: www.vneconomy.com.vn, ngày 5/12/2003). Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt chưa thực sự được đẩy mạnh trong khi hàng năm, ở nước ta, tai nạn do cháy nổ vẫn gia tăng với tốc độ cao một cách đáng báo động.

    Ngay cả thị trường bảo hiểm nhân thọ gần đây trở nên rất sôi động, nay cũng đang có vài dấu hiệu chững lại. Năm 2003, do nhu cầu của khách hàng tăng chậm, các công ty không đưa ra nhiều sản phẩm bảo hiểm như năm trước. Năm 2002, trung bình một người dân mới chỉ bỏ ra 4 USD để mua bảo hiểm nhân thọ. Tỷ lệ dân chúng tham gia mua bảo hiểm mới chỉ đạt khoảng 2%, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Với số dân 80 triệu người, trong đó khoảng 1/2 trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ này là không tương xứng. (Nguồn: www.vnexpress.net, ngày 27/11/2003)

    Hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế như cạnh tranh không lành mạnh, đầu tư chưa hiệu quả… Bên cạnh yếu tố chủ quan từ các công ty, có thể thấy sự thiếu hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý Nhà nước cũng đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển lành mạnh của ngành bảo hiểm. Để đạt được những bước tiến nhanh và bền vững, đồng thời hoàn thành mục tiêu đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn phải khắc phục rất nhiều hạn chế.

    CHƯƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM VIỆT NAM

    *******************

    VI.  ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM VIỆT NAM

        1. Vai trò của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

    Như đã trình bày ở phần II của chương I, bảo hiểm có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Thực tế cho thấy, hầu hết những nền kinh tế đứng đầu hiện nay đều chú trọng phát triển ngành bảo hiểm. Với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, bảo hiểm càng đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền tài chính vững mạnh, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Ngành bảo hiểm Việt Nam đã đóng góp tích cực vào việc ổn định nền kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Mỗi năm, trung bình các doanh nghiệp bảo hiểm đã chi 1.200 tỷ để bồi thường cho các cá nhân, tổ chức gặp phải rủi ro.Năm 2002, chỉ riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đã bồi thường thiệt hại cho khách hàng gần 3 triệu USD (chưa kể những tổn thất của công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh). Trong số đó, các vụ tổn thất lớn là vụ cháy tại Công ty chế biến thực phẩm Hoàng Long ở Quảng Nam thiệt hại 560.000 USD, cháy phòng làm việc ở dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước Hà Nội thiệt hại 300.000 USD, cháy Bưu điện Quy Nhơn thiệt hại 233.000 USD… Năm 2003, bảo hiểm kỹ thuật đã bồi thường nhiều tổn thất lớn, tổng giá trị lên đến khoảng14 triệu USD: vụ rơi máy phát điện của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại 6 triệu USD, vụ cháy nhà máy chế biến thức ăn Interfood thiệt hại khoảng 6 triệu USD, thiệt hại cáp điện trong quá trình vận chuyển của nhà máy điện Phú Mỹ 3 thiệt hại khoảng 1 triệu USD, cháy nhà máy nhựa Phú Mỹ thiệt hại 500.000 USD, cháy nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 với số tiền bồi thường cũng lên tới khoảng 430.000 USD. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 9/2003)

    Ngoài tác dụng bồi thường, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho các cá nhân, tổ chức khi gặp phải những rủi ro, bảo hiểm còn là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế nước ta. Ở Việt Nam, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vốn bên ngoài tuy rất quan trọng nhưng đôi khi hạn chế và dễ bị tác động các yếu tố ngoại cảnh. Vì vậy, thu hút nguồn vốn trong nước là một việc làm hết sức cấp thiết. Bảo hiểm đã góp phần tích cực vào việc hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Các công ty bảo hiểm đã trở thành một trung gian tài chính của nền kinh tế, thu hút vốn, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhu cầu về vốn, thúc đẩy phát triển nhanh sự luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế. Phạm vi cũng như hình thức đầu tư của bảo hiểm rất đa dạng. Các công ty có thể cấp các khoản vay khác nhau hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường tự do, tạo vốn cho ngành công nghiệp và thương mại, đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, gửi tiền vào ngân hàng hoặc tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty…

    Mặt khác, hàng năm, các công ty bảo hiểm cũng đã đem lại một khoản thu không nhỏ cho ngân sách Nhà nước. Nếu như năm 1993, nộp ngân sách của các doanh nghiệp bảo hiểm mới đạt 68 tỷ đồng thì đến năm 2002 đã là 290 tỷ đồng. Đóng góp vào GDP cũng tăng từ 0,37% (1993) lên 1,3% (2002) (Nguồn: Tạp chí Tài chính 11/2003). Nhiều công ty bảo hiểm tham gia rât tích cực vào hoạt động xã hội như ủng hộ các quỹ từ thiện, Bảo hiểm cũng có vai trò lớn trong việc tăng cường công tác đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất. Nhiều công ty bảo hiểm rất tích cực nâng cao hiểu biết và trang bị dụng cụ nhằm đảm bảo an toàn lao động, an toàn cháy nổ… cho các các nhân, tổ chức. Nhờ đó, hàng năm, chúng ta tránh được nhiều thiệt hại đáng tiếc về con người, về tài sản. Ngoài ra, bảo hiểm đã tạo ra tâm lý an tâm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đời sống nhân dân, mang lại chỗ dựa về tài chính khi xảy ra những tình huống ngoài ý muốn.

                2. Định hướng phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam thời gian tới

    Để có được sự đi lên mạnh mẽ, ổn định cho ngành bảo hiểm, việc xây dựng định hướng phát triển cho ngành cần dựa trên chiến lược phát triển chung của ngành Tài chính. Bởi vì, bảo hiểm là một bộ phận không thể tách rời của ngành Tài chính, đồng thời, phát triển ngành bảo hiểm cũng là nhằm phát triển một nền tài chính vũng mạnh.

    2.1. Định hướng phát triển của ngành tài chính Việt Nam

    Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2001 – 2010, mà trước mắt là hoàn thành kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, nhiệm vụ đặt ra cho ngành tài chính là rất nặng nề. Để thực hiện những trọng trách mà Đảng và Nhà nước đã giao phó, cũng như để đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành Tài chính đã đề ra các mục tiêu chiến lược cho giai đoạn tới. Đó là: Xây dựng nền tài chính quốc gia có tiềm lực đủ mạnh, đảm bảo chiến lược tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, phục vụ sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Hệ thống chính sách động viên, phân phối tài chính công bằng, ổn định tích cực, năng động, phù hợp nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đủ sức phát triển nội lực, chủ động hội nhập, thu hút ngoại lực, quản lý và sử dụng có hiệu quả toàn bộ nguồn lực tài chính của đất nước; Xây dựng nền tài chính công khai, minh bạch, dân chủ, được kiểm toán, kiển soát, làm cho tài chính trở thành thước đo hiệu quả quá trình hoạt động kinh tế của các chủ thể trong xã hội; Năng lực hiệu lực quản lý Nhà nước về tài chính được tăng cường, đổi mới và cải cách mạnh thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hoá công nghệ quản lý tài chính, đội ngũ cán bộ tài chính thực sự là những cán bộ cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư; Củng cố và nâng cao vị trí tài chính Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

    Để thực hiện tốt tất cả các mục tiêu trên, ngành Tài chính đã đề ra các nhiệm vụ trọng tâm cho một số lĩnh vực hoạt động tài chính.

    Huy động và phân phối sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư: Ngành Tài chính sẽ kiến nghị Nhà nước ban hành các cơ chế, chính sách để cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh doanh. Ngành sẽ tiến hành xây dựng hệ thống chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực phát triển cho cả nước, phát triển mạnh mẽ thị trường vốn và thị trường các yếu tố sản xuất, xây dựng cơ chế, chính sách cho vay lại đối với khu vực tư nhân. Mặt khác, ngành Tài chính cũng sẽ tiến hành hoàn thiện chính sách quản lý tài chính, hoàn thiện hệ thống giám sát và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án và các chương trình sử dụng vốn vay nước ngoài, đảm bảo khả năng thu hồi vốn trả nợ nước ngoài đúng thời hạn. Một nhiệm vụ khác rất quan trọng hiện nay là phải nghiên cứu, ban hành chính sách tài chính nhằm tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử trong kinh doanh giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

                     *  Hoàn thiện quản lý ngân sách Nhà nước: Để thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn tới, ngành sẽ thực hiện nguyên tắc ưu tiên vốn ngân sách cho đầu tư phát triển: ưu tiên các công trình hạ tầng cơ sở không có khả năng thu hồi vốn, nhưng có tầm quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, ưu tiên các công trình trọng điểm của Nhà nước. Cơ chế hỗ trợ trực tiếp từ Nhà nước sẽ bị xoá bỏ và Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu sản phẩm hoặc lĩnh vực quan trọng. Ngành Tài chính cũng sẽ cố gắng khống chế bội chi ngân sách Nhà nước và xây dựng mức dự phòng tài chính ở mức hợp lý, đảm bảo đủ nguồn tài chính cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước. Nguyên tắc quản lý ngân sách Nhà nước tập trung, thống nhất sẽ được thực hiện đồng thời với việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành. Việc thực hiện và cải tiến cơ chế điều tiết tỷ lệ nguồn thu tiếp tục được thực hiện, theo hướng phân định rõ ràng, cụ thể, ổn định lâu dài các nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương.

                     *  Đổi mới và phát triển tài chính doanh nghiệp: Ngành sẽ tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách để hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường cho mọi loại hình doanh nghiệp, thực hiện chế độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp trong đầu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và sử dụng kết quả tài chính, giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, hỗ trợ về tài chính, củng cố và hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính…

                     * Phát triển mạnh mẽ thị trường tài chính: Hệ thống các thị trường tài chính sẽ được xây dựng và hoàn thiện nhằm hình thành một hệ thống thực hiện tài chính đồng bộ, vận hành theo các nguyên tắc thị trường với quy trình công nghệ hiện đại, chủ động hội nhập vào thị trường tài chính khu vực và thế giới theo cam kết lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính của Chính phủ. Hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư sẽ được phát triển rộng rãi, đồng thời với phát triển quỹ đầu tư phát triển ở các tỉnh, thành phố. Các công ty, doanh nghiệp cổ phần được khuyến khích phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các công cụ vay nợ khác, khuyến khích niêm yết công khai trên Trung tâm giao dịch chứng khoán.

    Ngoài ra, ngành Tài chính sẽ tiến hành cải cách lãi suất, mở rộng quy mô tín dụng, tăng tỷ lệ huy động vốn, xử lý cơ chế lãi suất nội và ngoại tệ một cách hợp lý, đồng thời, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tiến tới thành lập Ngân hàng chính sách. Các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán sẽ được hoàn thiện và thiết lập mới theo nhiều loại hình khác nhau, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo.

    Thị trường bảo hiểm sẽ được chú trọng đẩy mạnh phát triển với mức tăng trưởng bình quân 20 – 25%/năm trên cơ sở hoàn thiện và phát triển dịch vụ bảo hiểm theo hướng đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp và loại hình sản phẩm: thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm với nhiều loại hình sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là những loại giàu tiềm năng. Hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội sẽ được xã hội hoá nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời phát triển bảo hiểm tự nguyện bổ sung cho các đối tượng có yêu cầu cao hơn.

    *  Chủ động hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính: Việc chủ động hội nhập quốc tế được thực hiện trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh kinh tế và tài chính theo lộ trình đã cam kết. Ngành Tài chính sẽ phấn đấu tạo cho cán cân thanh toán luôn thặng dư. Biểu thuế nhập khẩu sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo lộ trình giảm thuế của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, đồng thời triển khai xác định giá trị hải quan và các chính sách thuế quan liên quan đến thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng…

    Lĩnh vực bảo hiểm sẽ được thực hiện mở cửa một cách thận trọng với việc quy định cụ thể nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng đại diện ở Việt Nam, tuy nhiên, cũng cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài góp vốn thành lập quỹ đầu tư. Việc mở cửa cho sự tham gia của nước ngoài vào thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam được thực hiện từng bước, theo lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính đã cam kết với các tổ chức quốc tế.

    *  Tăng cường hệ thống giám sát tài chính: Hệ thống kế toán, kiểm toán và hệ thống giám sát tài chính đủ mạnh sẽ được xây dựng và hoàn thiện. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và Việt Nam, nghiệp vụ và khả năng hội nhập quốc tế cũng phải được nâng cao.

    *  Tăng cường cải cách hành chính và nâng cao năng lực quản lý tài chính quốc gia: Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính cần được hoàn thiện hơn nữa. Trong những năm tới, bộ máy Tài chính sẽ được thiết kế theo cơ cấu tổ chức phù hợp để hình thành các bộ phận nghiên cứu và ban hành chính sách, các tổ chức quản lý chuyên ngành và tổ chức sự nghiệp… Đồng thời, công tác cải cách hành chính và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức sẽ được tiến hành sớm.

    2.2. Định hướng phát triển cho bảo hiểm  Việt Nam

    Nhận thức được vai trò quan trọng của bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế đất nước, Nhà nước đã đề ra những định hướng cụ thể nhằm xây dựng một ngành bảo hiểm lớn mạnh, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 29/08/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 175/2003/QĐ – TTG, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 – 2010″. Mục tiêu mà chiến lược đề ra là: Phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Quyết định trên cũng khẳng định: Nhà nước quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế.

    Như vậy, thời gian sắp tới, ngành bảo hiểm sẽ phải phải phát huy tối đa các nguồn lực nhằm hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu mà Nhà nước đã giao phó: Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm; Tỷ trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010. Ngoài ra, đến năm 2010, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phấn đấu tăng tổng dự phòng nghiệp vụ khoảng 12 lần; tăng tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 14 lần so với năm 2002. Ngành cũng sẽ cố gắng tạo công ăn việc làm cho khoảng 150.000 người vào năm 2010 và nộp ngân sách Nhà nước giai đoạn 2003 – 2010 tăng bình quân 20%/năm. Để thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu mà Nhà nước đặt ra, ngành bảo hiểm đã đề ra đường lối phát triển cụ thể.

    2.2.1. Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường bảo hiểm với mức tăng trưởng 24%/năm, đóng góp 2,5% trong GDP vào năm 2005 và 4,2% vào năm 2010

    Thời gian qua, ngành bảo hiểm đã có những bước phát triển tương đối nhanh chóng và đạt kết quả cao. Đóng góp vào GDP của ngành ngày càng tăng. So với quốc tế và khu vực, tốc độ phát triển tuy cao, song tỷ lệ trong GDP vẫn còn thấp. Với quy mô dân số gần 80 triệu người, nền kinh tế tăng trưởng cao trong những năm gần đây với tốc độ cao, khoảng 7 – 7,5%/năm, rõ ràng tiềm năng phát triển của bảo hiểm Việt Nam vẫn còn rất lớn. Đặc biệt, trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như môi trường kinh doanh đã và đang được xây dựng và hoàn thiện. Chính vì vậy, ngành bảo hiểm đang có những tiền đề kinh tế, kỹ thuật rất thuận lợi để có thể đạt được những mục tiêu phát triển mà Chính phủ đã giao phó.

    Bảo hiểm đang ngày càng chứng tỏ là một trung gian tài chính hiệu quả của nền kinh tế. Do vậy, đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành bảo hiểm cũng là nâng cao khả năng huy động vốn cho một nền kinh tế đang rất cần những khoản đầu tư như nước ta. Việc hoàn thành các mục tiêu phát triển trên sẽ tạo thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển. Ngoài ra, việc thúc đẩy bảo hiểm phát triển cũng sẽ góp phần tăng thu ngân sách, giảm gánh nặng cho Nhà nước cũng như các cá nhân, tổ chức khi xảy ra những rủi ro, gây tổn thất về các mặt kinh tế và đới sống xã hội.

    2.2.2. Hoàn thiện và phát triển các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm, tập trung phát triển các loại hình còn nhiều tiềm năng khai thác

    Trong giai đoạn tới đây, việc hoàn thiện những sản phẩm bảo hiểm đã có, đồng thời nghiên cứu, phát triển thêm các nghiệp vụ bảo hiểm mới là việc làm rất quan trọng. Hầu hết các công ty bảo hiểm hiện nay đều cố gắng thực hiện chiến lược “đa dạng hoá sản phẩm” nhằm hướng tới phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau của nhiều đối tượng khách hàng hơn nữa. Việc đa dạng hoá sản phẩm không chỉ là nghiên cứu, áp dụng những sản phẩm mới, mà đó cũng có thể là việc kết hợp các sản phẩm đã tồn tại để cho ra đời một loại hình mới đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng. Trong chiến lược phát triển ngành bảo hiểm, điều này có ý nghĩa rất lớn nhằm mở rộng thị phần của các công ty bảo hiểm nói riêng, và mở rộng phạm vi hoạt động của toàn ngành bảo hiểm nói chung, đưa bảo hiểm đến với đông đảo các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế cũng như toàn xã hội.

    Mặt khác, khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều sản phẩm bảo hiểm hiện nay không còn đáp ứng được những yêu cầu mới. Nhiều lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, hậu quả kinh tế – xã hội lớn chưa được sự quan tâm đúng mức của bảo hiểm. Bảo hiểm trong nông nghiệp, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp… là rất cần thiết, và cũng có nhiều tiềm năng song vẫn mới được triển khai ở một mức độ rất hạn chế. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm đã rất phổ biến ở các nước, nhưng ở Việt Nam vẫn còn là một khái niệm rất xa lạ như bảo hiểm sắc đẹp, bảo hiểm giọng hát, bảo hiểm mỹ thuật… Chính vì vậy, hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ bảo hiểm, trong đó tập trung vào những loại hình giàu tiềm năng là một nhiệm vụ mà ngành bảo hiểm Việt Nam cần quan tâm và tập trung các nguồn lực để thực hiện.

               2.2.3. Xã hội hoá hoạt động bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo hướng giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

    Hiện nay ở Việt Nam có 3 hệ thống bảo hiểm tồn tại độc lập:

    –       Bảo hiểm xã hội, do cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý.

    • Bảo hiểm y tế, do Bộ y tế quản lý.

    –     Bảo hiểm thương mại, do các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành dưới sự quản lý của Bộ Tài chính.

    Do những đặc thù riêng, các dịch vụ bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) đều do các tổ chức thuộc Nhà nước cung cấp và quản lý. Tuy nhiên, trước những yêu cầu phát triển mới, ngành BHXH và BHYT đều đang gặp phải nhiều khó khăn với những gánh nặng mà ngân sách Nhà nước rất khó có thể đáp ứng đầy đủ. Nhu cầu xã hội hoá một số lĩnh vực thuộc BHXH, BHYT đang được đặt ra hết sức cấp thiết từ nhiều phía, từ người được bảo hiểm cũng như cơ quan quản lý. Mặt khác, việc thực hiện xã hội hoá BHXH, BHYT với sự trợ giúp của các công ty bảo hiểm đáp ứng được yêu cầu không chỉ giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước mà còn mở ra một triển vọng phát triển mới. Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi hoạt động, đồng thời, những người được bảo hiểm có thể được hưởng những chăm sóc tốt hơn, đầy đủ hơn.

    Tuy nhiên, do có thể gây ra những tác động to lớn trên nhiều mặt nên việc xã hội hoá hai lĩnh vực bảo hiểm này cần phải được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm ở các nước khác, đồng thời nghiên cứu một cách kỹ lưỡng tình hình cụ thể ở nước ta. Việc xã hội hoá chỉ nên thực hiện ở một số lĩnh vực ít gây ảnh hưởng lớn, đồng thời, chỉ nên giao cho những doanh nghiệp bảo hiểm lớn, có uy tín và trách nhiệm.

    2.2.4. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với nhiều hình thức sở hữu, trong đó doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo

    Các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam thời gian qua đã trở nên rất đa dạng với các doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Thời gian tới đây, các loại hình doanh nghiệp sẽ được đa dạng hoá với nhiều hình thức sở hữu hơn nữa. Trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010, Chính phủ cũng đã chú trọng tới việc phát triển và sắp xếp các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục tiêu phát triển các loại hình doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc, tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

    Theo hướng phát triển mới, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ không được phép dùng vốn Nhà nước để thành lập thêm doanh nghiệp bảo hiểm mới hoặc các công ty bảo hiểm chuyên ngành. Các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay sẽ được sắp xếp lại để nâng cao năng lực tài chính, giữ vững thị trường lớn trên thị trường trong nước, tiến tới tham gia thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế. Bảo Việt sẽ trở thành doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước duy nhất kinh doanh bảo hiểm. Công ty sẽ được xây dựng thành một tập đoàn tài chính – bảo hiểm lớn mạnh nhất Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, đầu tư, chứng khoán, trong đó hoạt động chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm. Vốn điều lệ của công ty sẽ được tăng từ 776 tỷ đồng như hiện nay lên mức 3000 tỷ đồng vào năm 2005 và 5000 tỷ đồng vào năm 2010. Bảo Việt sẽ thành lập Bảo Việt nhân thọ vào năm 2003 và Bảo Việt phi nhân thọ vào năm 2004. Đây sẽ là hai công ty hạch toán độc lập, trực thuộc Bảo Việt, do Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003)

    Các công ty bảo hiểm Nhà nước khác như Bảo Minh, VINARE, PVI sẽ được tiến hành cổ phần hoá. Bảo Minh sẽ được chuyển thành công ty bảo hiểm cổ phần có vốn Nhà nước chi phối, chủ yếu kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Số vốn điều lệ của công ty cũng sẽ được tăng từ 67 tỷ hiện có lên 70 tỷ trong 2 năm tới. Công ty cũng sẽ phát hành cổ phiếu mới, trị giá tối thiểu 500 tỷ đồng (Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số tháng 10/2003). Khi thị trường tiếp tục mở cửa, công ty hoạt động đơn ngành như PVI sẽ khó có khă năng cạnh tranh, do vậy PVI sẽ chuyển thành một cổ đông của Bảo Minh, phần vốn Nhà nước của PVI sẽ là cổ phần của PVI sẽ là cổ phần của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam trong Bảo Minh. VINARE cũng sẽ được tiến hành cổ phần hoá thành công ty cổ phần, vốn do Nhà nước chi phối và sẽ là công ty hoạt động trên lĩnh vực tái bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam. Việc cổ phần hoá VINARE sẽ được tiến hành theo hướng Nhà nước nắm cổ phần chi phối với sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động trên thị trường nhằm nâng cao mức giữ lại để hạn chế việc chuyển phí tái bảo hiểm ra nước ngoài, duy trì sự an toàn và ổn định của thị trường bảo hiểm Việt Nam.  Đến năm 2005, VINARE sẽ đủ sức giữ vai trò điều tiết thị trường tái bảo hiểm Việt Nam, không phụ thuộc vào thị trường tái bảo hiểm quốc tế trong việc thu xếp các dịch vụ bảo hiểm phức tạp như tái bảo hiểm hàng không, dầu khí, năng lượng… Tới năm 2010, VINARE sẽ có đủ năng lực tài chính và năng lực kinh doanh để tham gia thị trường tái bảo hiểm quốc tế.

    Việc sắp xếp lại, chuyển đổi hình thức sở hữu của các công ty Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình công ty bảo hiểm mới. Việc giảm bớt sự chi phối của Nhà nước trong các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn, khuyến khích sự thành lập của các công ty mới. Ngoài ra, hiện nay, loại hình tổ chức bảo hiểm tương hỗ đang rất cần được nghiên cứu, triển khai mạnh mẽ. Tính hiệu quả của các tổ chức này đã được chứng minh bằng thành công ở nhiều quốc gia nhưng ở Việt Nam, đây vẫn còn là một khái niệm xa lạ với nhiều người. Việc không cho phép thành lập thêm các doanh nghiệp bảo hiểm chuyên ngành cũng sẽ tạo thuận lợi cho mô hình này phát triển.

    VII.    KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

    Nền kinh tế Việt Nam mới bắt đầu phát triển từ sau khi Đảng và Nhà nước đề ra chính sách đổi mới cách đây chưa đầy 20 năm. Đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nhiều lĩnh vực kinh tế vẫn còn rất mới mẻ với nước ta, do vậy, việc học hỏi kiến thức, kinh nghiệm từ các nước đi trước là hết sức quan trọng. Bảo hiểm là một ngành kinh tế mới mẻ, đang trong quá trình định hình, lại đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, do vậy, chúng ta cũng cần thận trọng nghiên cứu quá trình phát triển của ngành bảo hiểm ở các nước có nền bảo hiểm phát triển để từ đó có những áp dụng thích hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

    1. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở các nước Châu Âu.

    Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử rất lâu đời về phát triển bảo hiểm. Những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu, và những nghiệp vụ bảo hiểm đầu tiên cũng được ra đời ở đây. Tính đến nay, qua nhiều bước phát triển thăng trầm, bảo hiểm đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều nước EU. Hàng năm, doanh thu từ phí bảo hiểm của các nước chiếm khoảng 8% GDP (tương đương 670 USD). Để có được sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệ thống pháp luật cùng các hoạt động quản lý Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng.

    Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, ở Châu Âu tồn tại song song hệ thống pháp luật chung (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental Law). Tuy nhiên, dù theo hệ thống pháp luật nào, các nước Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm. Đến nay, với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU đã thống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm… thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ. Nhìn chung, hoạt động bảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay Luật về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồng bảo hiểm. Một số loại bảo hiểm đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm… thường được điều chỉnh bằng các văn bản luật riêng. Trong các chừng mực khác nhau và tuỳ theo trường hợp cụ thể, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, thương mại, lao động… cũng có thể được dẫn chiếu.

    Các nước EU đều nhất trí rằng một thị trường cạnh tranh và ít có sự can thiệp của Nhà nước sẽ có lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như có lợi cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế – xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia, ngay từ khi mới ra đời, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU đã chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực thuộc các bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại… như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý… hoặc Cơ quan quản lý Dịch vụ tài chính như Anh, có những nước dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm vị trí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng (Đức). Mục tiêu hoạt động của các cơ quan quản lý bảo hiểm là bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nàylà “đầy đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch”. Tại hầu hết các nước EU, ngân sách dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm được hình thành từ các khoản đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm, rất ít nước phải dùng đến tài trợ của ngân sách Nhà nước.

    Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân. Hình thức doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu và hình thức pháp lý. Về cơ bản, loại hình phổ biến nhất là công ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các Hội (hay công ty) bảo hiểm tương hỗ và các chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài. Tuỳ theo quy định của pháp luật mỗi nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn có thể tiến hành thông qua công ty bảo hiểm Nhà nước (Ý, Bồ Đào Nha), Lloyd’s (Anh), hội hợp tác (Bỉ), các hội tiết kiệm (Thụy Điển)… Theo quy định của các luật về doanh nghiệp bảo hiểm, một công ty không được phép kinh doanh đồng thời cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

    Tại tất cả các nước EU, một tổ chức nhất thiết phải có giấy phép mới được kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Giấy phép này có giá trị trong toàn bộ EU và được cấp cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể (bao gồm cả nội dung kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm). Thông thường, giấy phép kinh doanh bảo hiểm được cấp vô thời hạn. Việc cấp giấy giấy phép kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU chỉ căn cứ vào các yêu cầu về tài chính, pháp lý, kế toán, kỹ thuật, nhân sự theo nguyên tắc thận trọng mà không phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế. Thời hạn xét cấp giấy phép được quy định là 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Trong các điều kiện cấp giấy phép, điều kiện về tài chính được đặt lên hàng đầu. Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định, tuỳ thuộc vào loại nghiệp vụ. Tuy nhiên, số vốn pháp định nói trên sẽ được tăng lên do các yếu tố lạm phát và sự phát triển của thị trường. Ngoài ra, số vốn cổ phần đã đóng không được thấp hơn vốn pháp định và không thấp hơn 20 – 50% số vốn điều lệ của công ty. Các nước cũng quy định mức yêu cầu ký quỹ tương đương 25% vốn pháp định.

    Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập đủ các khoản sự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, các nước EU đã từ bỏ việc áp dụng chế độ tái bảo hiểm bắt buộc cho một tổ chức do Chính phủ chỉ định. Trừ các loại hình bảo hiểm bắt buộc, các bên tham gia bảo hiểm có toàn quyền thoả thuận các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm, cũng như ấn định mức phí bảo hiểm thích hợp.

    Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được EU kiểm soát khá chặt chẽ. Pháp luật các nước đều có sự phân định các loại tài sản mà một doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác. Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tài sản phải tuân theo các quy định riêng về đầu tư. Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp đều phải tuân thủ là “đa dạng hoá, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản cao” nhằm đáp ứng các yêu cầu về độ an toàn và khả năng sinh lời. Mặc dù có mức độ tự do hoá cao, các nước EU vẫn chú trọng yêu cầu “nội địa hoá tài sản đầu tư”, theo đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán phải được cất giữ lại một nước EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình.

    Do những đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm được kiểm soát chặt chẽ hơn qua việc quản lý các thoả thuận tái bảo hiểm của các công ty nhượng tái và hoạt động tái bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc trong nước. Các nước đều áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các công ty nhận tái bảo hiểm là các công ty có uy tín trên thị trường và có năng lực tài chính tốt, đảm bảo đáp ứng các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng tái bảo hiểm.

    Tất cả các nước EU đều duy trì ít nhất một loại bảo hiểm bắt buộc. Đó là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba. Ngoài ra, ở một số nước, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người làm công, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng là bắt buộc. Thông thường, phí bảo hiểm bắt buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý bảo hiểm.

    2. Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm ở Trung Quốc.

    Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Trung Quốc đã có những bước phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ. Theo Uỷ ban giám sát quản lý bảo hiểm Trung Quốc, trong thời gian qua, các công ty bảo hiểm trong nước của Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ rất tốt. So với cùng kỳ năm 2002, tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng hơn 58%, trong đó bảo hiểm nhân thọ tăng hơn 84%. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia, trong 5 năm tới, nhịp độ tăng trưởng của ngành bảo hiểm Trung Quốc có thể đạt tới 20 – 30%, và xu thế này có thể kéo dài trong 15 – 20 năm. Đến năm 2005, tổng doanh thu phí bảo hiểm thương nghiệp của Trung Quốc sẽ đạt tới 5000 tỷ NDT, chiếm 12% GDP, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ sẽ đạt tới 3000 tỷ NDT, chiếm 6,8% GDP, sẽ vượt qua Anh, Đức, Pháp, về tổng doanh thu phí sẽ đứng thứ 5 thế giới. (Nguồn: www.vnn.vn, ngày 3/12/2003)

    Sự ra đời của Công ty bảo hiểm Tân Cương vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX và hàng loạt các công ty bảo hiểm mới cùng với sự tham gia của các tập đoàn bảo hiểm nước ngoài đã xoá bỏ tình trạng độc quyền của Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc (PICC), tạo môi trường cạnh tranh mới. Hệ thống thị trường bảo hiểm được xây dựng, trong đó không chỉ có sự tham gia của người bảo hiểm, người được bảo hiểm mà còn có các cơ quan môi giới bảo hiểm. Hiệp hội bảo hiểm Trung Quốc được thành lập với ính chất là một bộ máy tổ chức toàn quốc có tính tự nguyện. Hội những người tiêu dùng cũng được hình thành nhằm nâng cao hiểu biết, bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm. Hệ thống pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm chuyên nghiệp được xây dựng với Luật bảo hiểm và Uỷ ban giám sát, quản lý bảo hiểm có chi nhánh ở các địa phương trong nước. Sau khi đã kiện toàn về pháp lý giám sát, quản lý bảo hiểm Trung Quốc mới tiến hành thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm để tránh gây rối loạn thị trường.

    Trước thách thức cạnh tranh của hàng chục công ty bảo hiểm nước ngoài thâm nhập vào thị trường, Trung Quốc cũng đã tham khảo, học tập các kinh nghiệm thành công và các biện pháp quản lý tiên tiến của các công ty bảo hiểm nước ngoài để đổi mới các công ty bảo hiểm trong nước. Trung Quốc đã tiến hành cải cách mô hình tổ chức ở các công ty bảo hiểm và thực hiện những biện pháp quản lý mới. Cách thức tổ chức theo kiểu cũ với hình thức quản lý, phân cấp theo hệ thống dọc đã được thay thế bằng mô hình tổ chức mới có tính co giãn linh hoạt. Mô hình này có rất ít cấp quản lý, giảm bớt rất nhiều các cấp trung gian trong bộ phận chức năng của doanh nghiệp. Nhiều ban, nhóm được hình thành với những cán bộ chuyên trách để tăng hiệu quả làm việc, đồng thời các công ty cũng tiến hành đào tạo hoặc tuyển dụng từ nước ngoài những nhân tài có phẩm chất tốt.

    Việc học hỏi kinh nghiệm phát triển ở những nước có nền bảo hiểm phát triển như các nước EU cũng như từ Trung Quốc – nước có nhiều mặt tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết. Để ngành bảo hiểm Việt Nam có được những bước tiến vững chắc, quá trình nghiên cứu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, cũng như việc áp dụng sẽ phải rất linh hoạt.

    VIII.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

    Để hoàn thành tốt những mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra, ngành bảo hiểm sẽ phải nỗ lực rất nhiều để tăng tốc độ phát triển trong khi vẫn đạt hiệu quả cao. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực từ rất nhiều phía: các cơ quan Nhà nước, các công ty bảo hiểm trên thị trường, cũng như những cá nhân, tổ chức khác có lên quan. Các bộ phận trên cần thực hiện tốt những chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời, phải có được sự phối hợp chặt chẽ với nhau để có thể đạt được những mục tiêu mà chiến lược phát triển ngành bảo hiểm đã đề ra.

    1. Về phía nhà nước

    Ngành bảo hiểm nước ta vẫn còn rất non trẻ, mới thực sự bắt đầu phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây nên. Đây lại là một ngành có nhiều đặc thù riêng và có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế. Do vậy, vai trò của Nhà nước trong quản lý, phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm là rất to lớn. Trong giai đoạn tới đây, Nhà nước cần thực hiện tốt công tác quản lý, tạo được môi trường pháp lý thuận lợi, đồng thời có những cơ chế, chính sách ưu đãi để ngành bảo hiểm có được những bước phát triển ổn định và đúng hướng.

    1.1. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước

    Luật KDBH đã có những quy định rất rõ ràng về các cơ quan quản lý Nhà nước và các nội dung quản lý về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo điều 121, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm với cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ là Bộ Tài chính. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng có trách nhiệm quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Như vậy, để hoạt động kinh doanh bảo hiểm được diễn ra thuận lợi và đúng luật, các cơ quan kể trên sẽ phải hoàn thành tốt công tác quản lý, cụ thể là 10 nội dung quy định tại điều 120 của Luật KDBH.

    Để tạo sự yên tâm cho các công ty kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước cần phải tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh an toàn, ổn định,  bình đẳng và thuận lợi. Điều này thể hiện trước hết ở việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường. Trong công tác quản lý, Nhà nước cần sử dụng các công cụ pháp lý một cách thích hợp và hiệu quả, đặc biệt cần phải hạn chế tối đa sự cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát độc quyền, đảm bảo một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng. Nhà nước cũng phải có chủ trương đổi mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo hiểm quốc tế.

    Việc thực hiện các chính sách vĩ mô cũng cần được tiến hành một cách tích cực và đảm bảo hiệu quả cao. Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng quản lý kinh tế của các cơ quan Nhà nước cần được phân biệt rõ ràng. Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và kiểm tra, xử lý vi phạm theo pháp luật, không can thiệp hành chính vào hoạt động của các doanh nghiệp. Tới đây, Nhà nước sẽ chỉ đạo việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam để Hiệp hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.

    Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước cũng cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị trường. Việc duy trì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước vẫn hết sức quan trọng, nhằm tránh những tác động xấu của ngoại cảnh, cũng như tránh sự thâu tóm của các công ty nước ngoài. Việc thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ để nắm thế chủ động, trong khi vẫn tạo môi trường tự do kinh doanh là rất khó khăn, đòi hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm, cũng như sự linh hoạt trong việc áp dụng các công cụ quản lý Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phải mở cửa thị trường theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải có những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm là rất cấp thiết.

    1.2. Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ, thống nhất

    Luật KDBH được ban hành từ cuối năm 2000 và có hiệu lực từ 01/04/2001 đã tạo cơ sở pháp lý căn bản cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Cùng với Luật là rất nhiều văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành một cách cụ thể, tạo rất nhiều thuận lợi cho các đối tượng tham gia hoạt động bảo hiểm. Tuy nhiên, thực tế áp dụng trong thời gian qua cho thấy Luật và nhiều văn bản Luật vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, chưa đầy đủ, hoặc chưa thích hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Chính vì thế, tới đây, những nhà làm luật cần học hỏi thêm kinh nghiệm xây dựng luật của các nước, đồng thời có những nghiên cứu cụ thể các điều kiện của Việt Nam để có những điều chỉnh thích hợp hơn nữa.

    Sự thiếu hụt một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh ở nước ta hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của nhiều ngành nghề, trong đó bảo hiểm chịu tác động không nhỏ. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong thời gian tới là Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan tiến hành nghiên cứu, soạn thảo và trình Quốc hội thông qua Luật Cạnh tranh. Trước khi Luật Cạnh tranh được ban hành, các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cụ thể là Bộ Tài chính, cần ban hành thông tư, chế tài cụ thể để quản lý, kiểm soát hoạt động cạnh tranh và xử lý vi phạm về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm.

    1.3. Tạo cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi để phát triển hoạt động bảo hiểm

    Ngoài việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý đầy đủ, thống nhất, Nhà nước sẽ phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu hội nhập, đồng thời vẫn bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Một chính sách phù hợp để khuyến khích việc tham gia bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức, khuyến khích việc mở rộng thị trường, phạm vi hoạt động của các công ty bảo hiểm là rất cần thiết.

    Trước hết, Nhà nước sẽ có chính sách khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ như sử dụng các ưu đãi về thuế như thực hiện việc khấu trừ một phần phí bảo hiểm mà người được bảo hiểm phải đóng ra khỏi thu nhập chịu thuế. Chính sách ưu đãi về thuế cũng có thể áp dụng cho số tiền bảo hiểm mà người được bảo hiểm được nhận bằng cách miễn một phần hay toàn bộ thuế phải đóng.

    Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách cho hưởng chính sách ưu đãi khi cung cấp các dịch vụ bảo hiểm trong các lĩnh vực có ý nghĩa kinh tế – xã hội cao như bảo hiểm nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có tính chất đầu tư dài hạn… đặc biệt là ưu đãi cho những doanh nghiệp bảo hiểm chú trọng mở rộng phạm vi hoạt động đến các vùng sâu, vùng xa. Doanh nghiệp bảo hiểm được phép thành lập quỹ đầu tư, quỹ tín thác và công ty quản lý quỹ theo qui định của pháp luật. Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng phí bảo hiểm thu được để đầu tư tại Việt Nam cũng được áp dụng các cơ chế, chính sách về đầu tư như các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Nhà nước cũng có thể ưu tiên các doanh nghiệp bảo hiểm bảo hiểm nhân thọ được đầu tư vào các dự án, công trình có độ an toàn về vốn lớn, lợi tức đầu tư cao… Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm cần được khuyến khích hiện đại hoá công nghệ quản lý kinh doanh, đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ trình độ theo các chuẩn mực quốc tế, được thuê chuyên gia trong nước và ngoài nước để quản lý một số lĩnh vực hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

    2. Về phía các công ty bảo hiểm

    Để phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, bên cạnh những điều kiện thuận lợi mà Nhà nước tạo ra, sự cố gắng hơn nữa của các công ty bảo hiểm trong việc phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực để tạo sức mạnh bền vững là điều kiện tiên quyết.

    2.1. Nâng cao hơn nữa năng lực, tính cạnh tranh của các công ty bảo hiểm

    Đối với một công ty bảo hiểm, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Nếu không tự hoàn thiện và nâng cao năng lực, các công ty bảo hiểm trong nước sẽ khó có thể đứng vững và thành công trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay. Trong giai đoạn tới, khi Nhà nước thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước chỉ giữ lại Bảo Việt, các công ty này sẽ phải tự hoạt động, cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Vì vậy, ngay từ bây giờ, các công ty bảo hiểm trong nước cần tự tạo cho mình một vị thế vững chắc, duy trì và mở rộng thị phần, tạo niềm tin ở khách hàng. Các công ty bảo hiểm không những phải đa dạng hoá sản phẩm,  nâng cao chất lượng dịch vụ, mà cũng phải chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng, giải quyết nhanh chóng, hợp lý công tác bồi thường tổn thất trong các trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ kinh doanh,  đại lý môi giới bảo hiểm cũng rất cần thiết.

    Các công ty bảo hiểm cũng cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí quản lý, hạ phí bảo hiểm một cách hợp lý. Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả, bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài chính, tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư vào các công trình, các dự án có vốn lớn, các công ty cần chú trọng công tác thẩm định để đảm bảo mức độ an toàn, tính thanh khoản cũng như khả năng sinh lời cho đồng vốn.

    Hoạt động cạnh tranh trong thời gian tới báo hiệu sẽ rất sôi nổi, gay gắt. Tuy nhiên, trong quá trình củng cố chỗ đứng trên thị trường, các công ty cũng cần chú ý đến việc cạnh tranh một cách lành mạnh bằng chính chất lượng dịch vụ, uy tín nghề nghiệp, cùng với việc đầu tư hiệu quả, tiết kiệm chi phí hoạt động… Có như vậy, các công ty mới tạo được hình ảnh tốt, uy tín lớn đối với khách hàng. Với sự tham gia của nhiều công ty nước ngoài hơn trong thời gian tới, thị trường bảo hiểm hứa hẹn sẽ có những bước phát triển mới đòi hỏi tất các các công ty phải có chiến lược phát triển cụ thể để có thể thích nghi với môi trường kinh doanh mới, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hướng tới nền kinh tế tri thức.

    2.2. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại

    Trong tình hình cạnh tranh đang ngày càng mạnh mẽ, hoạt động xúc tiến thương mại là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên thành công của một doanh nghiệp. Trong lĩnh vực bảo hiểm, yếu tố này có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay, khi mà nhận thức của người dân về sự cần thiết của bảo hiểm đối với nền kinh tế, cũng như đối với đời sống xã hội vẫn còn hạn chế. Đây là một cơ hội tốt để các doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao hiểu biết của người dân về bảo hiểm, đồng thời xây dựng được hình ảnh của công ty mình trong những khách hàng tiềm năng. Việc quảng bá các sản phẩm bảo hiểm, khuếch trương hình ảnh của công ty thông qua quảng cáo, qua các hoạt động xã hội mang tính nhân đạo là những phương thức mà các công ty nên hướng tới. Thực tế là cũng đã có nhiều công ty bảo hiểm thành công bằng phương pháp này như Bảo Việt, Prudential, AIA…

    Các công ty cũng nên thực hiện việc đa dạng hoá các kênh phân phối thông qua nhiều hình thức khác nhau. Một trong các phương pháp thường gặp hiện nay ở các công ty bảo hiểm là tiến hành qua hệ thống ngân hàng, qua các tổ chức tài chính. Qua đây, các công ty bảo hiểm sẽ có cơ hội tiếp cận với đông đảo các khách hàng giàu tiềm năng với khả năng tài chính cao và nhu cầu lớn. Ngoài ra, việc tiếp cận khách hàng bằng thư trực tiếp hoặc Internet cũng có thể mang lại hiệu quả rất cao. Trong xu thế thương mại điện tử đang ngày càng phát triển như hiện nay, việc bán bảo hiểm qua mạng đang ngày càng phổ biến. Hầu hết các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam đều đã có website riêng, song mới chỉ có một vài công ty cho phép khách hàng đăng ký mua bảo hiểm, cũng như thanh toán trực tuyến. Việc triển khai hình thức này vẫn còn nhiều khó khăn, do hạ tầng thông tin nước ta còn yếu kém, việc thanh toán bằng tiền mặt vẫn rất phổ biến… song đây cũng là một phương thức hiệu quả mà các công ty bảo hiểm cần lưu tâm.

    2.3. Tăng cường hợp tác trong nước, quốc tế

    Để tăng cường sức mạnh trong môi trường kinh doanh mới, bên cạnh việc phát huy nội lực, các công ty bảo hiểm rất cần phải bắt tay hợp tác với nhau trong nhiều mặt. Thông qua Hiệp hội bảo hiểm, các thành viên có thể có những tác động tích cực nhằm mở rộng, định hướng cho thị trường, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh, chống trục lợi bảo hiểm… tạo điều kiện phát triển có lợi cho toàn ngành. Các công ty trong Hiệp hội nên cùng nhau thiết lập những quy tắc kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong ngành, xử lý những trường hợp vi phạm. Ngoài ra, các công ty cũng có thể liên kết với nhau tạo ra một tiếng nói chung để đóng góp ý kiến, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước những giải pháp phát triển chung cho ngành bảo hiểm cũng như cùng nhau có những bước đi thích hợp khi thị trường có những diễn biến xấu. Đồng thời, việc hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc đào tạo cán bộ, đại lý, thu thập, sử dụng các số liệu thống kê liên quan, xây dựng, tăng cường uy tín và hình ảnh tốt đẹp của toàn ngành… sẽ giúp các công ty sử dụng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả khai thác nguồn thông tin, nguồn nhân lực…

    Không chỉ tăng cường hợp tác trong nước, các công ty bảo hiểm Việt Nam cũng phải đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Các công ty có thể tạo lập, củng cố mối quan hệ với các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm có kinh nghiệm, uy tín trong khu vực và quốc tế nhằm hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực, trợ giúp về kỹ thuật, công nghệ, trao đổi thông tin… Việc thúc đẩy hợp tác quốc tế cũng sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh mới cho cả hai phía, tạo thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam vươn ra với thế giới.

    3. Về phía các tổ chức khác

    Để hoàn thành các mục tiêu mà Chính phủ đề ra cho ngành bảo hiểm trong giai đoạn 2003 – 2010, bên cạnh các việc những nỗ lực từ phía Nhà nước, từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm, sự tham gia của các tổ chức khác có liên quan sẽ có vai trò rất to lớn. Các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế đều cần có nhận thức rõ ràng hơn về tầm quan trọng của bảo hiểm, đồng thời, tích cực chủ động tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, con người, cũng như trách nhiệm dân sự. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm thiết yếu như bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trong nông nghiệp… chưa được các cá nhân, đơn vị quan tâm một cách đúng mức. Đặc biệt, với những lĩnh vực có tiềm năng lớn như bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm hàng không… các công ty bảo hiểm rất cần sự hợp tác của các bên liên quan. Các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần nhận thức ý nghĩa của việc giành quyền mua bảo hiểm, để chuyển từ tập quán bán FOB, mua CIF sang bán CIF, mua FOB. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng nên chú trọng mua bảo hiểm ở những công ty trong nước, vừa tiết kiệm ngoại tệ, vừa thuận tiện trong giao dịch, trong giải quyết bồi thường, lại góp phần vào việc phát triển nền bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng không thể tách rời khỏi sự phát triển chung của thị trường tài chính. Thời gian tới, thị trường chứng khoán, thị trường liên ngân hàng… phải được phát triển hơn nữa, đồng thời, các ngành bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán cần đẩy mạnh hợp tác. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh bất động sản cũng phải được chuẩn hoá theo nguyên tắc kinh tế thị trường.

     

    KẾT LUẬN

               Bảo hiểm là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu phát triển ngành bảo hiểm như đã được đề ra trong “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, ngành bảo hiểm Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, trong đó, cả Nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân liên quan đều phải hết sức nỗ lực và có sự phối hợp tích cực với nhau.

               Với đề tài “Bảo hiểm Việt Nam – thực trạng và giải pháp phát triển”, em hy vọng có thể mang lại cái nhìn tổng thể nhất về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay, cũng như đưa ra được những giải pháp thiết thực cho sự lớn mạnh của ngành. Những nghiên cứu của em có thể còn chưa hoàn toàn chính xác và đầy đủ, do vậy, em rất mong nhận được đóng góp nhiệt tình của thầy cô và các bạn. Một lần nữa, em xin được chân thành cảm ơn những người đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này, đặc biệt là thầy giáo TS. Vũ Sĩ Tuấn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Bảo hiểm trong kinh doanh, TS. Hoàng Văn Châu, TS. Vũ Sĩ Tuấn, TS. Nguyễn Như Tiến, NXB Khoa học kỹ thuật, 2002
    2. Bảo hiểm – nguyên tắc và thực hành, TS. David Bland, NXB Tài chính, 1998.
    3. Giáo trình bảo hiểm, PGS.TS Hồ Sĩ Hà (chủ biên), NXB Thống kê, 2000.
    4. Nghị định 100/1993/NĐ – CP của Chính phủ về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
    5. Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10
    6. Nghị định 42/2001/NĐ – CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    7. Thông tư 71/2001/TT – BTC của Bộ Tài chính qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
    8. Nghị định 77/2003/ NĐ – CP của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính
    9. Quyết định 153/2003/QĐ – BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm
    10. Quyết định 175/2003/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”
    11. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2002 – Bảo Việt
    12. Các công ty bảo hiểm trên thị trường Việt Nam – Bảo Việt, 2002
    13. Giới thiệu Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tại các nước thuộc Liên minh Châu Âu – Bảo Việt
    14. Làm thế nào để bảo hiểm nhân thọ trở thành thói quen của người dân Việt Nam (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    15. Cải cách mô hình tổ chức của công ty bảo hiểm Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 3/2001)
    16. Tăng nhanh tốc độ thị trường hoá tỷ lệ phí bảo hiểm ở Trung Quốc (Tạp chí bảo hiểm – số 4/2001 và số 3/2002)
    17. Nhìn lại thị trường bảo hiểm nhân thọ sau 5 năm hoạt động (Tạp chí bảo hiểm – số 1 và 2/2002)
    18. Kinh doanh bảo hiểm – kênh huy động vốn đầu tư có hiệu quả (Tạp chí Tài chính – số 2/2001)
    19. Nâng cao tiềm lực tài chính quốc gia, đảm bảo chíên lược thị trường kinh tế nhanh, bền vững (Tạp chí Tài chính – số 1/2001)
    20. Luật KDBH – các đặc trưng cơ bản của các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (Tạp chí Tài chính – số 5/2001)
    21. Nhằm phát triển bền vững thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 4/2002)
    22. Bảo hiểm và thị trường chứng khoán (Tạp chí Tài chính – số 11/2002)
    23. Bước đột phá của ngành bảo hiểm Việt Nam (Tạp chí Tài chính – số 11/2003)
    24. “Xã hội hoá bảo hiểm xã hội (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 6/1/2003)
    25. Tiềm năng thị trường bảo hiểm còn lớn (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 2/6/2003)
    26. Doanh thu phí bảo hiểm đầu tư vào đâu (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 23/6/2003)
    27. Cạnh tranh bảo hiểm phi nhân thọ (Thời báo Kinh tế Việt Nam – 15/9/2003)
    28. Thông tin từ các website:

    + www.laodong.com.vn

    + www.vnexpress.net

    + www.vnn.vn

    + www.vneconomy.com.vn

    + www.mofa.gov.vn

    + www.mof.gov.vn

    + www.media.vdc.com.vn

    + www.tintucvietnam.com

    + www.vcci.com.vn

    + www.saigonnet.vn

    + www.vietlaw.gov.vn

    + www.baoviet.com.vn

    + www.prudential.com.vn

    + www.pjico.com.vn

    + www.aia.com.vn

    + www.via.com.vn

    + www.dddn.com.vn

    + www.bussiness.com.vn

    + www.aon.com.vn

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Công cụ hữu hiệu quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-v%C3%A0-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-Vi%E1%BB%87t-Nam-trong-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-chuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%8Bch-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-kinh-t%E1%BA%BF.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nước ta đang bước đầu thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển theo hướng mở cửa, hội nhập quốc tế. Để thực hiện tốt được quá trình trên thì yếu tố có vai trò quan trọng nhất là yếu tố con người. Nguồn nhân lực có trình độ cao, chất lượng tốt thì sẽ làm cho quá trình đổi mới đất nước diễn ra nhanh chóng hơn và đạt được kết quả cao hơn. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay thì chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là công tác giáo dục và đào tạo nước ta còn yếu kém, tồng tại nhiều hạn chế, bất cập. Do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ tốt cho công cuộc đổi mới đất nước thì trước hết phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho phát triển toàn diện nguồn nhân lực.

    Chính vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài: “Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.

    Bao gồm các chương:

    Chương I: Lý luận về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Chương II: Đánh giá thực trạng của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay.

    Chương III: Giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo trong quá trình em thực hiện đề án này.

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

    VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    I. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    1. Khái niệm

    Đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của xã hội.

    Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.

    Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm hai nội dung:

    Đào tạo kiến thức phổ thông

    Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp

    Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.

    Như vậy có thể thấy đào tạo nguồn nhân lực là một nội dung của phát triển nguồn nhân lực. Đào tạo nguồn nhân lực chỉ nhằm giúp cho người lao động năng cao trình độ và kỹ năng của mình trong công việc hiện tại, giúp cho người lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Còn phát triển thì có phạm vi rộng hơn, nó không chỉ bó hẹp trong việc phục vụ cho công việc hiện tại mà còn nhằm mở ra cho họ những bước phát triển mới trong tương lai, giúp họ hoàn thiện hơn trên mọi phương diện.

    2. Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự phát triển của một đất nước: Con người, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Nhưng hơn tất cả là yếu tố con người. Con người là trung tâm của mọi hoạt động và là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước.

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Một đất nước có khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì sẽ điều kiện lớn để phát triển nền kinh tế .Tuy nhiên con người lại là người phát minh, tạo ra khoa học công nghệ. Con người có trình độ cao thì mới có khả năng tạo ra được khoa học công nghệ hiện đại, có bước đột phá. Và hiện nay thì tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định. Nhiều quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế ( Nhật Bản, Hàn Quốc…) nhưng lại có một nền kinh tế rất phát triển do có khoa học kỹ thuật hiện đại nên có khả năng tìm ra các nguồn nguyên liệu mới thay thế cho các nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên

    Như vậy ta có thể thấy là nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia. Nguồn nhân lực mà có trình độ cao thì sẽ tạo ra một nền khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng khai thác một cách tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hiện đại, phục vụ cho sự phát triển ngày cành mạnh mẽ của đất nước. Ngược lại nguồn nhân lực mà có trình độ thấp thì việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn, tài nguyên thiên không được khai thác tốt, gây lãng phí, dẫn đến kết quả là đất nước sẽ ngày càng tụt hậu so với các nước trên thế giới.

    Như vậy ta có thể thấy là việc nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một thực tế khách quan không thể không quan tâm. Xu hướng hiện nay của thế giới là đầu tư phát triển nguồn nhân lực, tiến tới “ nền kinh tế tri thức”.

    3.                 Các chương trình đào tạo

     

    • Định hướng lao động: Mục đích của chương trình này là phổ biến thông tin, định hướng và cung cấp kiến thức mới cho người lao động
    • Phát triển kỹ năng: Những người lao động phải đạt được những kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc và các kinh nghiệm để họ đạt được các kỹ năng mới khi công việc của họ thay đổi hôặc có sự thay đổi về máy móc công nghệ
    • Đào tạo an toàn: Loại đào tạo này được tiến hành để ngăn chặn và giảm bớt các tai nạn lao động và để đáp ứng đòi hỏi của luật pháp

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    • Đào tạo nghề nghiệp: Nhằm tránh việc kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp bị lạc hậu. Việc đào tạo này nhằm phổ biến các kiến thức mới hoặc các kiến thức thuộc lĩnh vực liên quan đến nghề mang tính đặc thù
    • Đào tạo người giám sát và quản lý: Những người quản lý và giám sát cần được đào tạo để biết cách ra các quyết định hành chính và cách làm việc với con người

    II. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1. Khái niệm

    Cơ cấu kinh tế là tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển

    Thực chất của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các ngành. Ngành nào có tốc độ phát triển cao hơn tốc dộ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại, ngành có tốc độ thấp hơn sẽ giảm tỷ trọng. Nếu tất cả các ngành có cùng một tốc độ phát triển thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành.

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là sự chuyển dịch sang một cơ cấu kinh tế có khả năng tái sản xuất mở rộng cao, phản ánh được năng lực khai thác, sử dụng các nguồn lực và phải phù hợp với các quy luật, các xu hướng của thời đại

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là sự phát triển trong quá trình hội nhập.

    2.                 Phân loại cơ cấu kinh tế

     

    • Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân
    • Cơ cấu kinh tế lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Trong cơ cấu ngành kinh tế, lãnh thổ có sự biểu hiện củ

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Tuỳ theo tiềm nang phát triển kinh tế gắn với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó

    • Cơ cấu thành phần kinh tế biểu hiện hệ thôngd tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội

    Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ trong quá trình phát triển

    Ba loại hình kinh tế trên đặc trưng cho cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Và cơ cấu ngành kinh tế cũng phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia. Chính vì vậy mà sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có quan hệ mật thiết tới sự chuyển dịch cơ cấu lao động.

    III. Tác động giữa nguồn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh

    tế

    1.     Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động

    Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có quan hệ mật thiết và có tác động qua lại với nhau. Khi cơ cấu kinh tế thay đổi thì đồng nghĩa với việc thay đổi tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế. Ngành nào có tỷ trọng tăng lên thì nguồn lực cho ngành đó sẽ phải tăng lên để có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành, đồng thời nguồn lực trong các ngành có tỷ trọng giảm cũng sẽ giảm theo. Chính vì vậy mà khi quá trình chuyển dịch kinh tế diễn ra sẽ làm thay đổi tỷ trọng lực lượng lao động trong các ngành. Lao động sẽ chuyển từ ngành có tỷ trọng giảm (thừa lao động) sang ngành có tỷ trọng tăng (thiếu lao động), do đó dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Ngày nay cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật thì cá ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ cũng ko ngừng phát triển, tỷ trọng của các ngành này trong nền kinh tế cũng không ngừng tăng lên dẫn đến quá trình dịch chuyển lụ lượng lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, quá trình chuyển dịch lao động diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong các ngành

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Như vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường diễn ra trước và định hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động.

    2. Nguồn nhân lực tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Nguồn nhân lực được coi là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình phát triển kinh tế , và có có tác động to lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế .

    Nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao… thì khả năng tư duy sáng tạo, và tinh thần làm việc cũng như tinh thần trách nhiệm và tính tự giác sẽ cao hơn, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ cũng cao hơn. Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong các ngành sản xuất phát triển, cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suât lao động, thúc đẩy các ngành dịch vụ kỹ thuật cao phát triển, do đó làm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh hơn. Tỷ trọng các ngành này trong nền kinh tế cũng tăng lên tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đi đúng hướng , thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.

    Ngược lại, nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ thấp thì sẽ không đủ khả năng để tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại. Khoa học kỹ thuật thì lạc hậu, năng suất lao động thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “ dậm chân tại chỗ” thậm chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển một cách chậm chạp.

    Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức. Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta thì điều này càng cần phải được quan tâm nhiều hơn. Nước ta là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên con đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình độ học vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Do đó để có thể theo kịp được các nước trên thế giới và khu vực thì nước

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    ta cần phải đầu tư phát triển các nguồn lực đất nước nhiều hơn nữa trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quan trọng quyết định tới sự phát triển của đất nước.

    Hiện nay, lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ của nước ta đã qua đào tạo là rất ít, và số đã qua đào tạo thì trình độ cũng còn rất hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu của quá trình công nghiệp hoá. Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ: Đại học/Trung cấp/Công nhân kỹ thuật ở các nước phát triển trên thế giới là 1/4/10, trong khi tỷ lệ này ở nước ta là 1/1.2/2.7. Như vậy có thể thấy là nước ta có số lượng lao động với trình độ Trung cấp và trình độ kỹ thuật còn thiếu rất nhiều đặc biệt là lực lượng công nhân kỹ thuật. Vì vậy, cần phải chú trọng hơn vào công tác đào tạo công nhân kỹ thật trong các ngành công nghiệp và dịch vụ và tập trung chủ yếu vào các nghề như cơ khí, chế tạo và chế biến, công nghệ… Các ngành xây dựng và kiến trúc, y tế, tài chính và bưu chính viễn thông…

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNG II

    ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    I. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực

    1. Quy mô nguồn nhân lực

    Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số rất đông và có tốc độ gia tăng dân số lớn. Do đó mà quy mô của nguồn nhân lực cũng rất lớn và tốc độ gia tăng cũng rất cao, khoảng gần 1,5%. Đây là một thách thức rất lớn đối với nền kinh tế trong vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao trình độ cho người lao động. Năm 2001 quy mô lực lượng lao động của cả nước là 39489804 người, đến năm 2002 là 40716856 người và đến năm 2003 là 41313288. Cho thấy là quy mô nguồn nhân lực của nước ta vẫn không ngừng tăng lên nhưng với tốc độ ngày càng giảm. Vì vậy mà để phát triển đất nước thì nước ta cần chú trọng làm giảm tỷ lệ tăng dân số và đảm bảo chất lượng cho nguồn nhân lực đang ngày càng tăng lên.

    1. Cơ cấu nguồn nhân lực theo tuổi

    Nước ta là một nước thuộc loại dân số trẻ. Số lao động trong độ tuổi từ 15-44 chiếm gần 80% lao động độ tuổi trên 60 chiếm khoảng 3% tổng lao động của cả nước. Nguồn nhân lực của nước ta rất dồi dào và đang ngày càng tăng nhanh. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi 15-34 và độ tuổi trên 60 thì có xu hướng giảm còn độ tuổi từ 35-59 lại có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, sự thay đổi này là rất nhỏ không đáng kể. Trong tổng số lao động của cả nước thì lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2002 cả nước có 31012699 lao động nông thôn (chiếm 76,17% lao dộng cả nước) năm 2004 thì có 31298750 lao động nông thôn (chiếm 75,76 lao động cả nước). Lượng lao động nông thôn

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    vẫn ngày càng tăng tuy nhiên tỷ trọng trong tổng số lao động cả nước thì đang có xu hướng giảm dần.

    Tỷ lệ lao động nông thôn lớn, mà đa số lại không có trình độ đang là một thách thức rất lớn đối với phát triển nền kinh tế. Yêu cầu giáo dục, đào tạo đối với họ là cấp thiết không thể không triển khai nếu muốn phát triển nền kinh tế đất nước.

    Trong khi đó thì khu vực thành thị có lượng lao động thất nghiệp tương đối cao và có xu hướng ngày càng tăng. Năm 2002 là 6,85% và năm 2003 là 7,22%

    Bảng 1: Lực lượng và cơ cấu lao động chia theo nhóm tuổi của cả nước

            Đơn vị: người
             
    Các chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
             
    Tổng số Tỷ lệ (%) Tổng số   Tỷ lệ (%)
       
               
    Chung cả nước 40716856 100 41313288   100
               
    15-24 8868700 21,78 8895951   21,53
               
    25-34 11346249 27,87 11164509   27,02
               
    35-44 11216660 27,55 11496511   27,83
               
    45-54 6544274 15,07 7175375   17,37
               
    55-59 1289063 3,11 1411690   3,42
               
    >=60 1450858 3,60 1168413   2,83
               

    Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Như vậy ta có thể thấy là nguồn nhân lực của nước ta có nhu cầu đào tạo rất lớn do số lượng lao động đông tỷ lệ trong độ tuổi lao động cao và số lượng lao động nông thôn cũng rất lớn. Mặt khác thì hiện nay trình độ của lực lượng lao động nước ta rất thấp, một khối lượng lớn người lao động chưa được giáo dục đào tạo. Do đó, muốn đáp ứng được nhu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu thì lao động cần phải được đào tạo, trang bị và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ tay nghề

    1. Cơ cấu nguồn nhân lực theo giới tính Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Lực lượng lao động nước ta có tỷ lệ lao động nữ chiếm gần 52% trong đó lao động nữ trong và trên độ tuổi lao động nhiều hơn lao động nam đặc biệt là lao động nữ trên độ tuổi lao động cao hơn rất nhiều so với lao động nam (gấp 2 lần).

    Như vậy có thể thấy là lao động nữ nước ta trong tổng số lao động của cả nước là lớn và đây là một lực lượng lao động rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển của đất nước.

    Theo điều tra lao động – việc làm 1/7/2004 tỷ lệ lao động nữ trong độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động xã hội chiếm khoảng 77,4%

    Bảng 2: Cơ cấu lao động theo giới tính của cả nước

        Đơn vị: %
         
    Các chỉ tiêu Nữ Nam
         
    Chung 51,4 48,6
         
    Trong độ tuổi lao động 50,74 49,26
         
    Trên độ tuổi lao động 63,5 36,5
         

    Nguồn: Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010

    Do đặc điểm về giới tính và chức năng của người phụ nữ nên tỷ lệ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế ít hơn so với nam giới ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Đây là một sự lãng phí rất lớn nguồn nhân lực của đất nước.

    Khu vực nông thôn tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao hơn thành thị (81,3% ở nông thôn so với 67,3% ở khu vực thành thị). Điều này cho thấy

    • nông thôn chủ yếu là lao động nông nghiệp nên thu hút nhiều lao động nữ hơn khu vực thành thị

    Bảng 3: Tỷ lệ người tham gia hoạt động kinh tế chia theo giới và khu vực

                  Đơn vị: %  
                     
      Các chỉ tiêu Chung Thành thị Nông thôn  
                     
      Nam Nữ Nam Nữ Nam   Nữ  
           
                     
    Từ 15 tuổi trở lên 75,51 67,62 68,9 57,95 77,9   71,3  
                       
                       
      Hoàng Mai Dung                

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Trong độ tuổi lao động 81,9 77,4 76,07 67,3 84,16 81,3
                 

    Nguồn: Điều tra lao động- việc làm 1/7/2004

    Lao động nữ chiếm tỷ lệ tương đương với lao động nam trong lực lượng lao động của cả nước. Tuy nhiên, thì tỷ lệ lao động nữ tham gia vào hoạt đông kinh tế lại ít hơn so với lao động nam (77,4% so với 81,9%) và nhất là ở khu vực thành thị thì khoảng cách chênh lệch tỷ lệ nàylà rất cao (tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế là 67,3% trong khi tỷ lệ nam là 76,6%)

    Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị

          Đơn vị: %
           
    Các chỉ tiêu   Năm 2002 Năm 2003
           
    Chung   6,01 5,78
           
    Lao động nữ   6,85 7,22
           
      Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003
    • khu vực thành thị tỷ lệ lao động nữ thất nghiệp cao, cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung và ngày càng có xu hướng tăng lên (năm 2002 là 6,85% năm 2003 là 7,22%). Như vậy để có thể phát huy hết nguồn lực phát triển đất nước thì cần phải có giải pháp để tăg tỷ lệ lao động nữ tham gia vào hoạt động kinh tế, và giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ cũng như tỷ lệ thất nghiệp chung của lao động cả nước nhằm tận dụng hết nguồn lực bên trong, phát triển đất nước.
    1. Theo trình độ học vấn

    Trình độ học vấn và dân trí của nước ta hiện nay là khá cao nhờ phát triển mạnh nền giáo dục và coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đây là chìa khoá quan trọng để tiếp thu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.

    Bảng 5: Số lượng và loại hình các trường trung học trong cả nước

    Đơn vị: Trường

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

      Trung học cơ sở   Trung học phổ thông
                   
      Tổng CL   NCL Tổng CL NCL
                   
    2000-2001 7733 7635   98 1251 905 346
                   
    2001-2002 8092 7997   95 1397 995 402
                   
    2002-2003 8396 8314   82 1532 1090 442
                   

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945- 2005

    Quy mô giáo dục vẫn không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng.

    Số lượng trường cấp II và cấp III tăng nhanh theo thời gian, cùng với sự gia tăng của trường công lập thì số lượng trường ngoài công lập cũng không ngừng tăng lên. Cho thấy là nước ta đã hình thành được một hệ thống trường học đa dạng về hình thức nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, cũng như đã khai thác được triệt để hơn các nguồn lực trong nhân dân, phục vụ cho công tác đào tạo nước ta ngày càng tốt hơn.

    Không chỉ quy mô hệ thống trường học tăng lên mà quy mô học sinh

    trong các cấp học cũng không ngừng tăng lên, phản ánh nhu cầu học tập ngày

    càng tăng của nhân dân. Trong đó thì số học sinh nữ cũng tăng qua các thời

    kỳ cho thấy sự bình đẳng giới trong xã hội đã được quan tâm, chú ý nhiều hơn

    vào việc đào tạo lao động nữ. Tổng số học sinh tốt nghiệp cũng tăng qua các

    năm làm cho lượng lao động có trình độ học vấn ngày càng tăng lên.

    Bảng 6: Tổng số học sinh trung học phổ thông trong cả nước

                    Đơn vị: Người
                       
            Ngoài   Trong tổng số
      Năm Tổng số Công lập            
      công lập Nữ   Mới   Tốt nghiệp
                tuyển
                     
                         
    2000-2001 2199814 1444376 755438 1028351   830826   598957  
                         
    2001-2002 2328965 1545120 783845 1091430   853998   634628  
                         
                         

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    2002-2003 2458446 1656942 801504 1164367 942111 686478
                 

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945- 2005

    Tuy nhiên tỷ lệ tốt nghiệp này là chưa cao chỉ khoảng 28% trong tổng số học sinh. Như vậy có thể thấy là chất lượng giáo dục vẫn chưa cao, phương pháp giảng dạy vẫn chưa được tốt nên học sinh ít chú trọng vào việc học tập, và chất lượng quá trình học tập cũng không được cao. Do đó tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ học vấn vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy để nâng cao chất lượng giảng dạy thì cần phải có biện pháp nhằm làm cho học sinh chú tâm nhiều hơn vào việc học, thích thú hơn với việc học tập và quan trọng nhất là phải giáo dục cho họ ý thức được tầm quan trọng của việc học tập rồi từ đó mà tự giác học tập. Có vậy mới nâng cao được chất lượng giáo dục đào tạo.

    Bảng 7: Lực lượng lao động chia theo trình độ văn hoá phổ thông

          Đơn vị: Người
           
    Các chỉ tiêu   Năm 2002 Năm 2003
           
    Tổng cả nước   40716856 41313288
           
    Không biết chữ   1523001 1752393
           
    Chưa tốt nghiệp cấp 1   6433724 6393460
           
    Tốt nghiệp cấp 1   12911678 13017458
           
    Tốt nghiệp cấp 2   12400369 12560352
           
    Tốt nghiệp cấp 3   7447084 7589625
           
      Nguồn: Lao động – việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Trong tổng số lao động của cả nước số lao động biết chữ là khá cao chiếm gần 95%, số lao động không biết chữ chiếm khoảng gần 5%, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng tăng, năm 2002 là 3,74% đến năm 2003 là 4,24% và năm 2004 là 5% chủ yếu tập trung ở các vùng núi, cao nguyên và miền nông thôn. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở và tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học có tăng nhưng không đáng kể và tỷ lệ này vẫn còn thấp so với yêu cầu của xã hội. Một điều đáng quan tâm là có sự cách biệt về trình độ học vấn giữa lực lượng lao động thành thị và nông thôn, giữa các vùng lãnh thổ. Vùng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    núi và cao nguyên thì tỷ lệ người mù chư cao hơn và người tốt nghiệp các cấp thì thấp hơn so với vùng đồng bằng. Năm 2004 ở đồng bằng sông Hồng cứ

    • người tham gia lực lượng lao động thì só 27 người tốt nghiệp phổ thông trung học, 51 người tốt nghiệp phổ thông cơ sở và chỉ 3 người mù chữ hoặc chưa tốt nghiệp tiểu học. trong khi đó ở đồng bằng sông Cửu Long có các chỉ số tương ứng là 11,16 và 33. Tây Bắc là 12,23 và 35. Tây Nguyên là 16,26 và
    1.  

    Như vậy, có thể thấy là lực lượng lao động nước ta có trình độ học vấn vẫn còn hạn chế và trình độ này cũng không đều giữa các vùng, miền. Lực lương lao động ở thành thị có trình độ cao hơn lao động ở nông thôn, và lao động ở các vùng đồng bằng có trình độ cao hơn nhiều so với lao động ở các vùng núi và cao nguyên.

    1. Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

    Trình độ chuyên môn kỹ thuật là chỉ tiêu thể hiện chất lượng nguồn nhân lực và tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực. Do đó để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.

    Tính đến nay cả nước đã có 127 trường cao đẳng, 87 trường đại học, học viện, 147 cơ sở đào tạo sau đại học, 95 cơ sở đào tạo tiến sĩ. Hệ thống các trường đào tạo của nước ta ngày càng tăng về số lượng và loại hình. Số trường dân lập cũng ngày càng tăng lên cùng với sự gia tăng của loại hình công lập.

    Bảng 8: Số lượng và tỷ lệ các trường dân lập trong cả nước

          Đơn vị: Trường
           
    Đại học- cao đẳng Trung học chuyên nghiệp
           
    Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
           
    27 21,7 30 11
           
        Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945-2005

    Số lượng giáo viên giảng dạy trong các trường ngoài công lập cũng ngày càng tăng lên nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn chất lượng đào tạo và

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân. Tỷ lệ giáo viên được đào tạo đạt chuẩn đối với trung học chuyên nghiệp là 86,3%, đại học – cao đẳng có 45% giáo viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên.

    Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của hệ thống cơ sở giáo dục đào tạo thì quy mô tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và các trường trung học chuyên nghiệp cũng không ngừng tăng lên

    Trong tổng số sinh viên tuyển mới vào các trường đại học và cao đẳng thì số sinh viên vào các trường đại học là chủ yếu, trong đó phần lớn là vào các trường công lập. Cho thấy nhu cầu đào tạo đại học là rất lớn, lớn hơn rất nhiều so với các loại hình khác. Đây vừa là điểm tốt vừa là điểm không tốt. Tốt vì nó cho thấy được nhu cầu đào tạo đại học, cao đẳng của nhân dân ngày càng tăng, làm cho số dân có trình độ cao ngày càng tăng. Tuy nhiên đây cũng lại là thách thức lớn đối với công tác giáo dục, đào tạo của đất nước. Do nền kinh tế còn yếu kém nên đầu tư cho giáo dục đào tạo còn nhiều hạn chế, do đó không thể đáp ứng tốt được nhu cầu của người dân và chất lượng đào tạo cũng không được cao, gây lãng phí rất lớn nguồn nhân lực.

    Bảng 9: Số sinh viên tuyển vào các trường theo cấp và loại hình

    Đơn vị: Trường

    Năm Tổng số Chia ra   Loại hình  
    tuyển mới            
    ĐH CL   BC DL
       
                   
    2000-2001 215281 59892 155389 187330   6535 21416
                   
    2001-2002 239584 68643 170941 207902   7959 23723
                   
    2002-2003 256935 70378 186557 225528   7065 24342
                   

    Nguồn: Giáo dục Việt Nam 1945-2005

    Cùng với việc tăng nhanh số lượng sinh viên thì tình hình thất nghiệp của đội ngũ tốt nghiệp đại học cũng là một vấn đề nổi cộm.

    Trước tình hình trên một luồng ý kiến khác phổ biến đã nảy sinh: không nên gia tăng số lượng sinh viên đại học nữa, vì xã hội không có nhu cầu, tăng số lượng sinh viên chỉ làm tăng đội quân thất nghiệp đại học. Thật ra nếu xem xét kỹ hơn thì vấn đề sẽ được nhìn theo cách khác. Trước hết, tuy Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    số lượng sinh viên nước ta tăng nhiều, nhưng con số hiện tại chưa phải là cao: tính trên một vạn dân, ta chỉ có khoảng 130 sinh viên, và tỷ lệ độ tuổi đại học ta chỉ đạt cỡ 8%. Như vậy tỷ lệ độ tuổi đại học của nước ta chỉ đạt cỡ một nửa yêu cầu của giai đoạn giáo dục đại học đại chúng, tương ứng với nền kinh tế công nghiệp.

    Do đó có thể thấy số lượng sinh viên đại học được đào tạo ở nước ta hiện nay không phải là quá lớn và từ đó tạo nên thất nghiệp đại học, cũng không phải chúng ta cần ngăn chặn sự phát triển về số lượng, mà vấn đề quan trọng là ở chỗ chúng ta phải đảm bảo và tăng cường chất lượng đào tạo đại học.

    Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì dạy nghề là một bộ phận thuộc giáo dục nghề nghiệp. Hiện nay mạng lưới cơ sở dạy nghề của nước ta cũng đang ngày càng lớn mạnh, đa dạng hoá về loại hình và lĩnh vực đào tạo. Tính đến 30-6-2004 mạng lưới cơ sở dạy nghề trong cả nước có: 226 trường dạy nghề, trong đó 199 trường công lập, 27 trường ngoài công lập; 113 trường thuộc bộ, ngành (trong đó có 17 trường dạy nghề của quân đội, 46 trường thuộc Tổng công ty nhà nước); 98 trường công lập thuộc địa phương (trong đó có 5 trường của quận huyện); 24 trường dân lập, tư thục; 2 trường có vốn đầu tư của nước ngoài. 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có ít nhất một trường dạy nghề; riêng 3 tỉnh mới được thành lập, Đắc Nông đã quyết định thành lập trường dạy nghề, Lai Châu và Hậu Giang đang xúc tiến thành lập trường dạy nghề; 320 trung tâm dạy nghề, trong đó: 210 trung tâm dạ nghề ngoài công lập(trong đó có hơn 100 trung tâm dạy nghề quận, huyện) và

    • trung tâm dạy nghề ngoài công lập; 965 cơ sở dạy nghề gắn với cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cơ sở giáo dục khác. Các trường dạy nghề tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đông nam bộ, vùng đông bắc. Ba vùng này chiếm 70% tổng số trường dạy nghề trong cả nước. Để đáp ứng ngàycàng tốt hơn yêu cầu đào tạo thì đội ngũ giáo viên cũng phải không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Số lượng giáo viên dạy nghề

    của các trường dạy nghề đã tăng từ 5849 người ( năm 1998) lên 7056 người (năm 2003), giáo viên trong các trung tâm dạy nghề năm 2003 là 2036 người. Tuy nhiên, so với tốc độ tăng quy mô đào tạo thì tốc độ tăng số lượng giáo viên chưa tương ứng. Tỷ lệ học sinh học nghề dài hạn/ 1 giáo viên ở các

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    trường dạy nghề năm học 2002-2003 là: 28 học sinh/ 1 giáo viên. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở các trường dạy nghề là 71%, ở các trung tâm dạy nghề là 54%; trình độ chuyên môn của giáo viên dạy nghề ở các trường dạy nghề là 70% có trình độ cao đẳng trở lên; 12,2 % trình độ công nhân lành nghề và 17,8% trình độ khác; ở các trung tâm dạy nghề tương ứng là 65%; 15,2%; 19,8%. Trình độ sư phạm của giáo viên dạy nghề: 82% giáo viên các trường dạy nghề, 60% giáo viên các trung tâm dạy nghề đã được đào tạo, bồi dưỡng bậc I và bậc II về sư phạm kỹ thuật; 63% giáo viên các trường dạy nghề có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ A trở lên; 56,3% giáo viên có chứng chỉ tin học trình độ cơ sở trở lên, nhiều giáo viên dạy nghề có thể tham khảo tài liệu nước ngoài và ứng dụng tin học vào bài giảng.

    Từ những năm 1998 đến năm 2003 quy mô tuyển sinh dạy nghề tăng bình quân 15,65%/ năm, trong đó quy mô tuyển sinh dài hạn tăng 19,14%/năm, ngắn hạn tăng 15,15%/năm. Như vậy là số lượng và tỷ lệ người lao động được đào tạo dài hạn, chính quy ngày càng được tăng lên, đảm bảo tốt hơn chất lượng đào tạo cho người lao động.

    Do đó chất lượng đào tạo nghề của nước ta trong những năm gần đây cũng đạt được nhiều thành quả nhất định: tỷ lệ học sinh xếp loại đạo đức tốt chiếm trên 60%, đạo đức yếu chỉ trên 1%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt trên 96%, trong đó tỷ lệ tốt nghiệp loại khá trở lên tăng từ 26,26% năm học 1998-1999 lên 32,2% năm 2002-2003. Học sinh tốt nghiệp trường dạy nghề đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, ở một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, dầu khí… học sinh tốt nghiệp trường các trường dạy nghề đã có trình độ tương đương quốc tế và khu vực, thay thế được công nhân nước ngoài. Khoảng 70% học sinh học nghề tìm được việc làm ngay sau khi tốt nghiệp (ở các trường thuộc doanh nghiệp và ở một số nghề tỷ lệ này đạt trên 90%). Kết quả này cũng phần nào phản ánh chất lượng dạy nghề ở nước ta đã có tiến bộ.

    Tuy đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nhìn chung chất lượng nguồn lao động nước ta vẫn còn rất thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    Trình độ văn hoá và dân trí của nước ta cũng đã tăng qua các thời kỳ, tuy nhiên chất lượng thì vẫn chưa tốt, đặc biệt là lao động ở vùng nông thôn và miền núi, cao nguyên thì tỷ lệ mù chữ là rất cao và tỷ lệ tốt nghiệp các cấp học vẫn còn thấp. Không chỉ có trình độ học vấn chưa cao mà trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động nước ta cũng còn rất thấp.

    Bảng10: Lực lượng lao động chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

        Đơn vị: Người
         
      Năm 2002 Năm 2003
         
    Không có chuyên môn kỹ thuật 33090589 33575528
         
    Có trình độ từ sơ cấp, học nghề trở lên 7564874 8625038
         
    Từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên 4800517 4887362
         

    Nguồn: Lao động- việc làm ở Việt Nam 1996-2003

    Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo, không có chuyên môn kỹ thuật trong tổng lao động là rất cao, chiếm gần 80%. Trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề là rất thấp chiếm trên 10% tổng lực lượng lao động, các công nhân kỹ thuật được đào tạo thì chủ yếu là qua hình thức đào tạo nghề ngắn hạn, không chính quy. năm 2004 chỉ có khoảng 17,3% là đào tạo dài hạn chính quy. Do không được đào tạo một cách chính quy nên khả năng làm việc và phát triển nghề cuả họ không cao. Một vấn đề cần được quan tâm nữa hiện nay là cơ cấu đào tạo, tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ ở Việt Nam năm 2002 là 1/1/3,65, năm 2004 là 1/1,2/2,7, trong khi đó thì tỷ lệ này của các nước phát triển trên thế giới là 1/4/10. Như vậy có thể thấy là cơ cấu đào tạo của nước ta đang có sự mất cân đối lớn và lại có xu hướng ngày càng bất hợp lý hơn, gây ra tình trạng thừa thầy thiếu thợ làm hạn chế rất lớn việc sử dụng nguồn nhân lực làm lãng phí nguồn nhân lực của đất nước, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp mà lượng lao động đã qua đào tạo thì chất lượng cũng không được cao. Thể hiện ở năng suất lao động thấp và tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao.

    Năng suất lao động chung của cả nước năm 2002 là 7,974 triệu VNĐ/LĐ, năm 2003 tăng lên là 8,212 triệu VNĐ/LĐ như vậy năng suất lao

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    động của cả nước có xu hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ tăng là không đáng kể, và mức năng suất lao động này là còn rất thấp so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Tỷ lệ lao động thất nghiệp của nước ta là khá cao, trong đó thì những lao động đã qua đào tạo bị thất nghiệp cũng còn khá lớn, ngoài ra thì với các lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thì tỷ lệ đào tạo lại công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng là khá cao, chiếm hhơn 20% tổng số lao động được chọn. Qua đó ta có thể thấy chất lượng của nguồn nhân lực nước ta là rất thấp. tuy những năm gần đây đã có những sự thay đổi tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Do đó để có thể thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thì cần phải chú trọng hơn nữa đến công tác giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lực lượng lao động – nguồn lực bên trong của đất nước.

    2.     Những kết quả đã đạt được và những mặt còn hạn chế của đào tạo nguồn nhân lực

    Trong những năm qua thì công tác giáo dục, đào tạo của nước ta đã đạt được những kết quả nhất định

    Trong thời gian qua tỷ lệ người biết chữ ở nước ta có xu hướng tăng và chiếm tỷ lệ cao. Đến năm 2000 toàn quốc đạt tiêu chuẩn quốc gia vè xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đàu chuyển sang thời kỳ mới- thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở.

    Nước ta đã có một hệ thống các trường dạy học có quy mô lớn và ngày càng được mở rộng hơn, có nhiều tiềm năm để phát triển đào tạo một cách đa dạng và phong phú, đội ngũ giáo viên giảng dạy cũng liên tục tăng cả về số lượng và chất lượng. Các lĩnh vực và loại hình đào tạo ngày càng được mở rộng và đa dạng hơn đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tạo của nhân dân, và yêu cầu của quá trình đổi mới nền kinh tế. Số lượng lao động được đào tạo ngày càng nhiều đa dạng về lĩnh vực, loại hình đào tạo và chất lượng đào tạo cũng ngày càng tốt hơn.

    Công tác giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã được quan tâm nhiều hơn. tỷ lệ người mù chữ đã giảm và số lượng người dân tộc thiểu số được cử đi học ngày càng nhiều. Không chỉ tăng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    về số lượng các trường dạy học mà cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc giảng dạy cũng được trang bị nhiều hơn. Đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và cao nguyên đã được cải thiện đáng kể, giảm bớt tình trạng vô cùng khó khăn do thiếu thốn trang thiết bị trong công tác giảng dạy.

    Phương pháp giáo dục đào tạo cũng đã được đổi mới cho phù hợp với tình hình phát triển của xã hội và sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Một số trường và cơ sở đào tạo đã có Phương pháp đào tạo và trang thiết bị hiện đại có thể sánh ngang với các nước tiên tiến trong khu vực. Hiện nay đào tạo nghề đã gắn liền với giải quyết việc làm và yêu cầu của thị trượng lao động, nhằm giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng thiếu lao động trong một số lĩnh vực, ngành nghề mới đáp ứng được phần nào nhu cầu của xa hội.

    Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng công tác giáo dục, đào tạo nước ta còn nhiều mặt hạn chế cần được khắc phục để nâng cao trình độ của người lao động. Chất lượng giáo dục phổ thông chưa được cao, học sinh bị hạn chế về tính linh hoạt, độc lập sáng tạo trong tư duy cũng như kỹ năng thực hành, khả năng vận dụng kiến thức vào các tình huống thực tiễn.

    Chất lượng đào tạo chuyên môn kỹ thuật chưa cao, còn đại trà, Phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới trong đào tạo các ngành mũi nhọn và các lĩnh vực công nghệ mới ở các bậc đại học và sau đại học còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực cả về nội dung lẫn phương pháp đào tạo. Làm cho các ngành kỹ thuật công nghệ thiếu nhân lực trình độ cao. Hiện nay cơ cấu đào tạo nghề còn bất hợp lý với 85% là đào tạo ngắn hạn, 15% là đào tạo chính quy dài hạn. Các cơ sở đào tạo nghề phân bố không đều tập trung nhiều ở các vùng đồng bằng và các thành phố lớn, làm cho chất lượng của lực lượng lao động chưa cao và có sự chênh lệch giữa các vùng và khu vực.

    • tất cả các cấp học và bậc học phương pháp giảng dạy còn nặng nề về

    lý thuyết, nhẹ về thực hành chưa phát huy được tinh thần sáng tạo và tư duy của học viên. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho đào tạo chuyên môn kỹ thuật, dạy nghề còn nhiều bất cập, vừa thiếu về số lượng, vừa lạc hậu về

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    chất lượng (số trang thiết bị phục vụ tốt cho công tác dạy nghề chỉ đạt 20%) đặc biệt là trang thiết bị đào tạo nghề trong các ngành cơ khí, hoá chất, luyện kim,sửa chữa thiết bị chính xác, in ấn…

    Đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu nhiều về số lượng ( đội ngũ giáo viên đại học- cao đẳng và dạy nghề chỉ gần bằng 50% so với chuẩn quy định) và trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì còn thấp so với yêu cầu đổi mới giáo dục, đa số còn lúng túng trong đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt nhiều giáo viên còn có biểu hiện về sự tha hoá đạo đức, phẩm chất, thiếu tinh thần trách nhiệm và chưa tâm huyết với nghề.

    Hiện nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các cấp trình độ ở nước ta là 1/1,2/2,7, cơ cấu đào tạo này còn nhiều bất cập đã gây nên tình trạng “ thừa thầy thiếu thợ” đang ngày một gia tăng, gây nhiều khó khăn cho sự phát triển kinh tế.

    Nhìn chung lực lượng lao động ở nước ta đã qua đào tạo và chất lượng lao động là rất thấp, khả năng thực hành và tác phong công nghiệp cũng như khả năng tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến còn rất thấp. Do đó để đổi mới nền kinh tế thì cần nhanh chóng đổi mới công tác giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    3. Nguyên nhân của thực trạng trên

    Công tác đào tạo của nước ta còn nhiều bất cập như trên là do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân về công tác giáo dục đào tạo:

    Trong giáo dục phổ thông thì việc học đối phó là rất phổ biến (học không vì kiến thức mà chỉ để đối phó với các kỳ kiểm tra, kỳ thi), học sinh ít được thực hành, chưa có thói quen tự học một cách nghiêm túc có hiệu quả.

    Đối với công tác giáo dục đại học thì hệ thống các trường đại học, cao đẳng nước ta vẫn chưa được thống nhất về loại hình (dân lập, công lập, tư

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    thục) gây khó khăn rất nhiều trong việc ban hành các chính sách và công tác quản lý.

    Mạng lưới các trường dạy học, dạy nghề phân bố không đều theo vùng lãnh thổ, tập trung nhiều ở vùng đồng bằng và các thành phố lớn gây khó khăn trong việc đào tạo lao động tại các vùng sâu, vùng xa. Đội ngũ giáo viên còn hạn chế về chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, khả năng thực hành cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới, nên Phương pháp giảng dạy còn lạc hậu, chậm đổi mới.

    Ngân sách Nhà nước cho giáo dục còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của giáo dục, cơ sở vật chất thì thiếu thốn, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy thì vừa thiếu vừa lạc hậu. Việc áp dụng những công nghệ tiên tiến vào việc giảng dạy còn nhiều hạn chế. Việc phân bổ ngân sách còn nhiều bất cập chưa hợp lý. Công tác đầu tư cho giáo dục còn dàn trải chưa tập trung cao cho mục tiêu ưu tiên. Công tác dạy nghề chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức của người dân và của toàn xã hội về tầm quan trọng của công tác giáo dục nói chung và công tác dạy nghề nói riêng là chưa thật sự đúng đắn, không coi trọng việc dạy nghề, học nghề mà chỉ quan tâm đến giáo dục đại học.

    Việc tổ chức thực hiện các chính sách giáo dục còn nhiều bất cập. Trình độ và năng lực điều hành của một bộ phận các cán bộ quản lý giáo dục còn yếu kém, tính chuyên nghiệp chưa cao, gây khó khăn nhiều cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.

    II. Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1.     Những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm qua

    Kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong những năm đổi mới được thể hiện ở các khía cạnh cơ cấu khác nhau, trong đó rõ nét nhất và đặc trưng nhất là từ góc độ cơ cấu ngành.

    Cơ cấu kinh tế phân chia theo 3 nhóm ngành lớn: Nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghịêp), công nghiệp (bao công nghiệp và

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    xây dựng) và dịch vụ (bao gồm các ngành kinh tế còn lại) đã có sự chuyển dịch tích cực: Tỷ trong nông nghiệp trong GDP giảm dần, tỷ trong công nghiệp và dịch vụ tăng hàng năm.

    Bảng 11: Cơ cấu ngành của nền kinh tế

    Đơn vị: %

    Năm 1991 1995 2000 2001 2002 2003
                 
    GDP 100 100 100 100 100 100
                 
    Nông – lâm – thuỷ sản 40,5 27,5 24,3 23,2 23,0 22,4
                 
    Công nghiệp, xây dựng 23,8 30,1 36,6 38,1 38,6 39,8
                 
    Dịch vụ 37,5 42,4 39,1 38,7 38,4 37,8
                 

    Nguồn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta trong những năm qua đã đi đúng hướng và đạt được những kết quả nhất định.

    Nhìn một cách tổng thể chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp đã theo hướng tích cực và tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng ngày càng nhanh (năm 2001 là 76,8%, năm 2002 là 77% đến năm 2003 tăng lên 77,6%). Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn tăng dầnvới tốc độ bình quân khoảng hơn 5%, tuy vậy so với công nghiệp và dịch vụ thì tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp vẫn chậm hơn nên kết quả là tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần mặc dù giá trị tuyệt đối của toàn ngành vẫn tăng (tỷ trọng ngành năm 2002 là 23,0% đến năm 2003 giảm còn 22,4%). Các ngành đã nỗ lực vượt qua những trở ngại, thách thức (nông nghiệp thì vượt qua thiên tai, dịch bệnh, cong công nghiệp thì vượt qua thách thức”cơn bão” nguyên liệu và cạnh tranh quốc tế) mở rộng quy mô sản xuất đáp ứng các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Sự chuyển dịch cơ cấu nội tại các ngành kinh tế thể hiện rõ nét hơn động thái chuyển từ khai thác yếu tố sẵn có sang sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của thị trường trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biểu hiện ngày càng rõ hơn không chỉ với sản xuất công nghiệp mà còn cả với ngành sản xuất nông nghiệp. Sự tăng lên đột biến của một số

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    ngành công nghiệp (đồ gỗ, đóng tàu…) thể hiện sự năng động trong nắm bắt thời cơ do thị trường mang lại.

    Việc sử dụng các quan hệ thị trường trong điều tiết sản xuất và phân bố các nguồn lực có các chuyển biến nhất định (Nhà nước từ tác động trực tiếp chuyển sang vai trò định hướng qua các cơ chế chính sách khuyến khích và hỗ trợ, sự tác động của thị trường đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng tăng lên…)

    Trong nội bộ các ngành kinh tế cũng có những chuyển biến tích cực: Trong những năm đổi mới, cơ cấu kinh tế ngành nông- lâm- ngư nghiệp tiếp tục có những chuyển biến đáng kể, những lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng đã được khai thác và phát huy, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển với tốc độ cao, cải thiện chất lượng tăng trưởng.

    Bảng 12: Cơ cấu GDP của khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản qua các năm

            Đơn vị: %
             
    Năm   Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
             
    2000   80,8 5,5 13,8
             
    2001   78,5 5,4 16
             
    2002   78,2 5,3 16,5
             
    2003   76,9 5,2 17,9
             
      Nguồn: Tổng cục thống kê – Niên giám thống kê hàng năm

    _Tỷ trọng nông nghiệp mặc dù đã giảm từ năm 2000 đến nay, nhưng vẫn còn ở mức khá cao. Tỷ trọng lâm nghiệp liên tục giảm sút, mặc dù lâm nghiệp có nhiều tiềm năng về rừng và đất rừng. Tỷ trọng thuỷ sản cũng đã tăng nhưng vẫn còn ở mức thấp.

    Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi tăng từ 16,5% năm 2000 lên 17,5% năm 2002; trồng trọt giảm từ 81% xuống còn 80%. Riêng trong ngành trồng trọt, tỷ trọng giá trị sản xuất cây lương thực giảm nhẹ, từ 60,7% năm 2000 xuống còn 60% năm 2002; cây công nghiệp giảm từ 24% xuống còn 23%; giá trị sản xuất các cây trồng khác tăng mạnh từ

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    15,3% lên 17%. Cơ cấu sản phẩm chuyển dần sang hướng thích ứng với thị trường, người sản xuất không chỉ quan tâm tới số lượng mà còn phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Cơ cấu sản xuất cũng chuyển dịch theo hướng đa dạng hoá với nhiều loại cây, con và nhiều loại sản phẩm khác nhau, đảm bảo an toàn hơn trước biến động của thị trường.

    Ngành lâm nghiệp tiếp tục chuyển từ một nền lâm nghiệp nặng về khai thác tự nhiên sang nền lâm nghiệp dựa vào lâm sinh và từ chỗ chủ yếu dựa vào quốc doanh sang nền sản xuất có tính xã hội hoá cao với nhiều thành phần kinh tế tham gia.

    Ngành thuỷ sản tiếp tục có bước chuyển mạnh từ khai thác tự nhiên sang nâng cao tỷ trọng nuôi trồng; từ đánh bắt ven bờ với tàu công suất nhỏ với các loại sản phẩm có chất lượng và giá trị thấp sang bước đầu đánh bắt xa bờ với trang thiết bị lớn hơn, sản phẩm đánh bắt có chất lượng và giá trị cao hơn.

    _Trong những năm gần đây công nghiệp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, phát huy được lợi thế so sánh trong việc khai thác tài nguyên và phát huy lợithế về sử dụng sức lao động.

    Cơ cấu công nghiệp có sự chuyển dịch tích cực. Tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng tăng từ 34,5% năm 1999 lên 39,8% năm 2003, trong đó tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến tăng từ 18% lên 21% so với GDP toàn nền kinh tế.

    Đến năm 2002, công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất toàn ngành, công nghiệp chế tác chiếm 79%( trong đó công nghiệp thực phẩm chiếm 23,6%), công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước chiếm khoảng 6%.

    Hiện nay một số ngành mới được hình thành sản xuất ra các sản phẩm quan trọng phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đã nâng dần được tỷ trọng, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp trong những năm qua. Nhìn chung các ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu tăng nhanh nhằm đảm bảo yêu cầu cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng của dân cư và đẩy mạnh xuất khẩu. Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    cũng được chú ý phát triển như là tư liệu phục vụ cho ngành nông nghiệp, xây dựng cơ bản…. những ngành sử dụng nhiều lao động cũng được đẩy mạnh.

    Ngành công nghiệp khai thác phát triển mạnh, chủ yếu là khai thác dầu khí, đã có vai trò quan trọng đóng góp cho sự khởi động của quá trình công nghiệp hoá đất nước. Sản lượng dầu thô quy đổi năm 2003 đạt khoảng 20 triệu tấn, đạt 3 tỷ USD. Trong những năm tới nguồn tài nguyên này đang được gia tăng khai thác, đặc biệt la dầu khí, tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp chế biến đi theo, tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra những ngành công nghiệp khai thác có tốc độ phát triển cao đang dần chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển công nghiệp những năm tới, đáng chú ý là công nghiệp nguyên nhiên liệu như dầu khí, than, khai thác quặng kim loại…

    Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo hiện nay chiếm trên 80% trong tổng gí trị sản xuất công nghiệp, đã từng bước đổi mới công nghệ trong một số ngành nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, hướng mạnh về xuất khẩu. Đã có xu hướng hình thành những ngành công nghiệp có công nghệ cao. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng đi từ thu hút nhiều lao động với công nghệ thấp sang ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động với công nghệ tiên tiến và hiện đại. Đó là các ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin.

    _ Kể từ khi tiến hành đổi mới, nhất là từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây khu vực dịch vụ của nước ta đã phát triển nhảy vột cả về chất là lượng. Tuy nhiên tốc độ này lại rất không đều qua các thời kỳ khác nhau, tăng nhanh trong thời kỳ 1990-1995 rồi liên tục giảm và chỉ có dấu hiệu hồi phục nhẹ trong mấy năm gần đây.

    Tốc độ tăng trưởng của toàn bộ ngành dịch vụ phục thuộc vào tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực kinh tế dịch vụ hợp phần, đặc biệt là các lĩnh vực chủ chốt có tỷ trọng cao.

    Bảng 13: Tỷ trọng của một số lĩnh vực chủ chốt

    Đơn vị: %

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

      Năm 1995 Năm 2002  
           
    Thương nghiệp/ sửa chữa xe gắm máy, 16,38 14,11  
    đồ dùng có nhân và gia đình
         
           
    Khách sạn và nhà hàng 3,77 3,2  
           
    Vận tải, kho bãi- thông tin liên lạc 3,98 3,94  
           
    Tài chính tín dụng 2,01 1,82  
           
    Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn 5,41 4,56  
           
    Giáo dục và doanh thu 3,62 3,38  
           

    Nguồn: Tổng cục thống kê- Niên giám thống kê năm 2002

    Tỷ trọng trong GDP của các lĩnh vực dịch vụ chủ chốt năm 2002 đều thấp hơn so với năm 1995. Điều này cho thấy một phần của quá trình chuyển dịch cơ cấu của ngành dịch vụ.

    Theo đánh giá khái quát thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta trong thời kỳ đổi mới là đúng hướng, đã khắc phục dần những bất hợp lý của cơ cấu kinh tế nặng về nông nghiệp chuyển dần sang công nghiệp. Tuy nhiên quá trình chuyển dịch này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

    Nhược điểm lớn nhất của quá trình chuyển dịch cơ cấu cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa qua là yếu tố hiện đại hoá chưa được quan tâm đúng mức. Công nghiệp chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tập trung vào các ngành sử dụng nhiều lao động, tính hướng nội cao. Ngành dịch vụ giảm tỷ trọng là một sự lãng phí lớn nguồn nhân lực của đất nước.

    Trong công nghiệp thì ngành công nghiệp khai thác tài nguyên ( than, dầu khí… ), công nghiệp gia công cho nước ngoài ( giày dép, dệt may…) chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài. Trong nông nghiệp chăn nuôi còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong giá trị sản xuất của ngành ( trong nhiều năm chưa vượt qua 21% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp và nhiều vùng chưa thoát khhỏi địa vị ngành sản xuất phụ). Trong dịch vụ chủ yếu mới tạp trung vào những dịch vụ phổ thông ( thương mại, du lịch..) thiếu vắng hoặc phát triển ở

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    trình độ thấp những dịch vụ cao cấp và những dịch vụ thiết yếu của kinh tế thị trường ( tài chính, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, giáo dục…). Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế về cơ bản chưa có sự chuyển biến đáng kể, chưa tương ứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, tuy giá trị tuyệt đối của các ngành dịch vụ có sự gia tăng nhưng gia tăng với tốc độ không cao, do đó tỷ trọng trong cơ cấu ngành kinh tế có xu hướng giảm. Điều này không tương thích với xu thế chung của thế giới là tỷ trọng dịch vụ có xu hướng tăng nhanh và ngày càng trở thành ngành có địa vị hàng đầu trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Như vậy ta có thẻ thấy là hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và cơ cấu nội tại từng ngành kinh tế là chưa cao, còn nhiều hạn chế cần khắc phục để điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho hợp lý nhằm phát triển đất nước.

    2. Những định hướng nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    _ Đối với nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trước hết phải ưu tiên cho mục tiêu an ninh lương thực quốc gia và tăng nguồn nông sản cho chế biến xuất khẩu. Muốn thế phải tiếp tục phát triển thuỷ lợi, làm tốt công tác chuyển giao giống mới, kỹ thuật canh tác tiến bộ, tập trung cao vào những loại sản phẩm mà thị trường có nhu cầu và nước ta có lợi thế so sánh. Tăng kim ngạch xuất khẩu nôgn sản từ 4 tỷ USD năm 2002 lên 10 tỷ USD năm 2010. Mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng cây công nghiệp, rau,hoa, quả, tiến tới cung cấp đủ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào khâu sau thu hoạch để giảm tổn thất hoa hụt lúa gạo, rau quả còn dưới 10% và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu, áp dụng công nghệ, thiết bị chế biến bảo quản nông sản để có sản phẩm chế biến chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu.

    _ Đối với công nghiệp cơ cấu công nghiệp phải đổi mới, mở rộng theo các hướng:

    Công nghiệp gắn với nông nghiệp tạo thành mắt xích công- nông nghiệp trên phạm vi vùng, không bị chia cắt, giới hạn ở từng địa phương.

    Tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các thành phần kinh tế khác. Chú trọng phát triển một số ngành mới

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    mà nước ta có thế mạnh, có triển vọng như công nghiệp phần mềm, công nghệ sinh học, đóng tàu và sửa chữa tàu thuỷ…

    Công nghiệp chuyển mạnh từ hướng khai thác tài nguyên là chủ yếu sang hướng khai thác lao động lành nghề, áp dụng khoa học công nghệ. Cơ cấu các sản phẩm công nghiệp chủ yếu, trọng điểm và muũi nhọn cần phải được xem xét định kỳ theo kế hoạch 5 năm và hàng loạt, laọi bỏ các sản phẩm có sức cạnh tranh kém, hiệu quả thấp và bổ sung các sản phẩm mới, lập danh mục các sản phẩm được ưu tiên khuyến khích đàu tư phát triển.

    _ Đối với dịch vụ, xu hướng ngày nay các nước đều đẩy mạnh tăng trưởng dịch vụ, chú ý một số ngành sau:

    Dịch vụ công nghệ thông tin và phần mềm: thúc đẩy phát triển thị trường phần mềm bằng cách khuyến khích tất cả các tổ chức kinh tế – xã hội, tin học hoá hoạt động của mình và có sự hỗ trợ của Nhà nước.

    Phát triển thương mại thúc đẩy mở rộng thị trường, phương thức lưu chuyển hàng hoá trong và ngoài nước ngày càng tiến bộ, hiện đại theo kịp trình độ trong khu vực, tiếp cận với thương mại điện tử. Khai thác lợi thế về cảnh quan, về truyền thống văn hoá, lịch sử và liên kết với các nước trong khu vực để phát triển mạnh du lịch thành một ngành dịch vụ mũi nhọn

    Dịch vụ vận tải hàng không: Nâng cấp những sân bay có khả năng khai thác cao, bao gồm cả hệ thống nhà ga, khu vực sân đỗ, đường băng cũng như các trang thiết bị phục vụ tại các sân bay, đặc biệt sân bay quốc tế đầu mối.

    Dịch vụ xây dựng: phát triển các tổ chức nghiên cứu, tư vấn, thiết kế xây dựng, các trang thiết bị công nghiệp trong xây lắp. Thực hiện chính sách hiện đại hoá công nghệ phù hợp với trình độ phát triển, tận dụng tối đa lao động thủ công trong nước. Khuyến khích xuất khẩu lao động kỹ thuật ra nước ngoài cũng như việc thực hiện tham gia đấu thầu và nhận công trình ở nước ngoài. Không hạn chế các công ty nước ngoài nhận thầu thiết kế và xây lắp các công trình trong nước.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    CHƯƠNGIII

    NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    I. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tới

    1.     Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Bước vào thế kỷ XXI, cùng với những thuận lợi cơ bản thì sự phát triển nguồn nhân lực nước ta đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn rất nghiêm trọng. Để có những định hướng đúng đắn và giải phắp hữu hiệu vượt qua những thách thức trên, thì trước hết phải quán triệt những quan điểm cơ bản về phát triển nguồn nhân lực:

    Phát triển nguồn nhân lực phải là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá của chiến lượnc phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay.

    Chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải hướng vào việc xây dựng đội ngũ những người lao động có phẩm chất và năng lực ngày càng cao với cơ cấu hợp lý về trình độ, ngành nghề và theo lãnh thổ.

    Coi trọng việc phát hịên, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn vinh nhân tài.

    Phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của nhà nước và của toàn xã hội.

    Đảm bảo công bằng xã hội trong phát triển nguồn nhân lực, quan tâm nhiều hơn đến phát triển nguồn nhân lực các vùng kém phát triển và các bộ phận dân cư hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn, thực hiện mục tiêu đoàn kết, ổn định xã hội và phát triển bền vững.

    1. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh

     

    tế

    Mục tiêu tổng quát của phát triển nguồn nhân lực là : nâng cao dân trí, tri thức, phát triển kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện con người Việt Nam về chính trị, trí tuệ, đạo đức, ý chí, tầm vóc, thể trạng và thể lực. Hình thành đội ngũ lao động có trình độ và cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. bảo đảm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là bộ phận nhân lực trình độ cao, có năng lực tham gia phát triển các ngành đem lại giá trị tăng cao trong công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện và các cơ hội để người lao động phát triển năng lực sáng tạo trong một số lĩnh vực khoa học, công nghệ cao.

    2. Yêu cầu của nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Những năm qua, trong khi cơ cấu kinh tế có những động thái tích cực thì cơ cấu lao động lại chưa có sự chuyển biến rõ nét, đang diễn ra một cách hết sức chậm chạp. Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao động xã hội ( chiếm 58,35% tổng lực lượng lao động của cả nước năm 2003). Như vậy cho thấy lad tuy công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế nhưng Việt Nam chưa thoát khỏi trạng thái của một nước nông nghiệp . Để có thể tiến hành quá trình chuyển dịch cơ cấu một cách có hiệu quả thì chúng ta cần phải đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng của lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của lao động nông nghiệp trong cơ cấu lao động xã hội, bên cạnh đó thì cũng cần phải nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ lao động của đất nước để có thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế, phát triển đất nước. Do đó cần chú trọng hơn nữa vào công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực.

    II. Giải pháp nhằm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    Chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay còn rất thấp, để có thể phát triển một cách toàn diện nguồn nhân lực thì cần phải chú ý các vấn đề sau:

    Nâng cao một cách liên tục, bề vững tầm vóc của người Việt Nam, thể hiện bằng việc tăng chiều cao ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đồng thười không ngừng cải thiện thể trạng để đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, tăng cường trạng thái sức khoẻ chung, đặc biệt là sự phát triển hài hoà về tố chất thể lực cần thiết (sức bền,

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho lao động, học tập, sáng tạo và các hoạt động bình thường khác của mỗi người.

    Giáo dục, bồi dưỡng tác phong công nghiệp, tăng tính tổ chức, kỷ luật, tinh thần hợp tác, lương tâm nghề nghiệp, tính tự trọng, long tin, tính cộng đồng và trách nhiệm công dân. Đây là việc làm rất khó khăn không thể hoàn thành trong thời gian ngắn, song nhất thiết phải thực hiện và cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, bền bỉ, kiên trì, sâu rộng và bằng nhiều hình thức khác nhau ở mọi nơi, mọi lúc, sao cho những đức tính đó ngấm dần một cách tự nhiên vào tâm khảm và trở thành thói quen tự giác của mọi người.

    Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Tiếp thu những tinh hoa nhân loại, giúp hình thành và phát triển con người văn hoá Việt Nam.

    Trong thời gian qua công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết nên chất lượng đào tạo vẫn chưa được cao . Để khắc phục cần chú ý vào một số giải pháp quan trọng sau:

    _Để nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết phải có một chiến lược về đào tạo hợp lý, xây dựng và hoàn thiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với tình hình mới.

    _ Đổi mới tư duy và nhận thức của xã hội và nhân dân về vai trò của dạy nghề. Hiện nay tình trạng thừa thày thiếu thợ là do nhận thức của sai lầm của người dân, không coi trọng vấn đề học nghề mà chỉ chú ý đến đào tạo đại học và cao đẳng. Cần chú trọng hơn nữa vào đào tạo nghề, đào tạo chuyên môn kỹ thuậ để làm hợp lý cơ cấu đào tạo của nước ta, cần tăng cường chương trình đào tạo chính quy dài hạn để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

    _Đổi mới quản lý giáo dục

    Đổi mới về cơ bản tư duy phương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu lực chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Đổi mới cơ chế và phương thức quản lý giáo dục theo hướng phân cấp hợp lý nhằm phải phóng và phát huy tiềm năng, sức sáng tạo giải quyết có hiệu quả những bất cập của toàn hệ thống giáo dục và đào tạo trong quá trình

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    phát triển. Tập trung vào làm tốt 3 nhiệm vụ chủ yếu sau: Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục; xây dựng cơ chế chính sách và quy chế quản lý nội dung chất lượng đào tạo; tổ chức thanh tra kiểm tra và kiểm định. Trong đó thì đặc biệt chú trọng công tác thanh tra giáo dục và đảm bảo chất lượng giáo dục.

    Thực hiện phân cấp mạnh về quản lý giáo dục cho các bộ ngành và các địa phương. Tăng cường chất lượng của công tác lập kế hoạch, dự báo thường xuyên và cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực của xã hội nhằm điều tiết quy mô, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp. Thực hiện cải cách hành chính trong giáo dục và đổi mới phương thức quản lý giáo dục. Xây dựng và thựchiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức. ứng fụng công nghệ mới để nâng cao hiệuquả quản lý, xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục.

    Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu giáo dục, thường xuyên đánh giá kết qủa thực hiện các chủ trương, chính sách, các giải pháp đổi mới giáo dục.

    _ Tiếp thục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục, đào tạo.

    Hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá, liên thông, liên kết từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến cao đẳng, đại học và sau đại học. Tổ chức phân luồng sau trung học cơ sở và trung học phổ thông. Khắc phục các bất hợp lý về cơ cấu trình độ ngành nghề và cơ cấu vùng miền. Gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ. Ưu tiên các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng gặp nhiều khó khăn .

    Cơ cấu lại hệ thống giáo dục phù hợp với nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới. Cơ cấu lại cá trình độ đào tạo theo chuẩn quốc tế, đổi mới quy chế, đổi mới tuyển sinh, đa dạng hoá phượng thức đào tạo…

    Triển khai thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng. Xây dựng và phát triển các trường trọng điểm, thành lập một số trường đại học công nghệ, trường cao đẳng kỹ thuật ở gần khu công nghệ cao, vùng

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    kinh tế trọng điểm. mở thêm trường ở những vùng đông dân, nhu cầu đào tạo lớn mà chưa có trường đại học, cao đẳng. Mở rộng hình thức giáo dục từ xa. Đẩy mạnh công tác vừa giáo dục vừa nghien cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong các trường đại học và cao đẳng.

    Đổi mới cơ cấu hệ thống dạy nghề: Nhanh chóng hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành. Thực hiện giáo dục đào tạo theo 4 phân hệ: Phân hệ giáo dục –đào tạo cơ bản cho mọi người; phân hệ giáo dục- đào tạo chất lượng cao; Phân hệ đào tạo thích hợp; phân hệ giáo dục- đào tạo thường xuyên và chúng được đặt trong một hệ thống đào tạo giáo dục thống nhất.

    Cần có một quy hoạch về hệ thống đào tạo nghề và chuyên môn hợp lý để phát triển tăng quy mô và năng lực đào tạo.

    _ Đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường nguồn tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục

    Tăng ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục ( 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 và 20% năm 2010). Ngân sách Nhà nước tập trung nhiều hơn cho giáo dục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền nuúi, vùng có nhiều khó khăn, cho đào tạo trình độ cao, tạo điều kiện học tập cho con em người có công, cho con em gia đình nghèo. Dành nhiều ngân sách cho việc đưa cán bộ khoa học đi đào tạo, bồi dưỡng ở các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến.

    Huy động nghiều nguồn tài chính khác: Đóng góp của học viên, nguồn lực của cáccơ sở đào tạo, nguồn lực của các doanh nghiệp, kết hợp với các nguồn vốn của các cad nhân và các tổ chức trong và ngoài nứơc.

    Tăng cường và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ đổi mới chương trình, nội dung và Phương pháp giáo dục.

    _ Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục

    Nhà nước khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục nhằm tăng cường trách nhiệm và nguồn lực cho giáo dục và đào tạo. Mở rộng các quỹ khuyến học , quỹ bảo trợ giáo dục, khuyến khích cá nhân và tập thể đầu tư mở thêm trường mới. Mở rộng tăng cường các mối quan hệ của nhà trường với các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… tạo điều kiện để xã hội có thể đóng góp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, góp ý kiến cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động

    _ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục

    Khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác về đào tạo, nghiên cứu với các nhà trường, các cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín và chất lượng cao trên thế giới, đặc biệt là tiếp thu những kinh nghiệm tốt phù hợp về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục hiện đại và tiên tiến.

    KẾT LUẬN

    Nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với tình hình và khả năng của đất nước. Để đẩy nhanh tốc độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì yếu tố quan trọng là yếu tố nguồn nhân lực. Do đó chất lượng nguồn nhân lực một phần quyết định kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới đất nước. Trong khi chất lượng nguồn nhân lực của nước ta còn nhiều hạn chế thì chúng ta cần phải cải thiện nguồn nhân lực cả về mặt thể chất và dân trí, cần đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Muốn vậy thì cần có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước cũng như toàn xã hội đối với công tác giáo dục, đào tạo của nước nhà. Toàn xã hội phải cùng nhau xây dựng một hệ thống giáo dục lành mạnh với quy mô và chất lượng tiên tiến, sánh ngang cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Hoàng Mai Dung

    Đề án môn học Kinh tế Lao động


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Tuyển dụng là hoạt động then chốt của quản trị nguồn nhân lực trong mọi tổ chức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-%C4%90%E1%BA%A7u-t%C6%B0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    LỜI NÓI ĐẦU

    N

    guồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của quá trình đầu tư phát triển của xã hội. Tuy nhiên nguồn lực này lại đặc biệt hơn các nguồn lực khác ở chỗ, đây là nguồn lực tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội nhưng cũng lại chính là đối tượng tiêu dùng những sản phẩm đó. Hơn nữa, tài nguyên con người là nhân tố cần có cách quản lý và khai thác khác hẳn so với những tài nguyên khác. Vì vậy, vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng mang nhiều đặc điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư phát triển nói chung. Việc nghiên cứu về đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là một trong những vấn đề cần thiết cấp bách, vì vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với xã hội (vĩ mô) nói chung, và sự sống còn của các doanh nghiệp (vi mô) nói riêng.

    Hơn nữa, Việt Nam vừa mới tham gia WTO trong điều kiện vẫn chưa hoàn thiện nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng đang được đặt ra cấp bách để đáp ứng được những yêu cầu của thế giới, của quốc gia về một đội ngũ lao động chất lượng cao, tay nghề giỏi để có thể xây dựng nền kinh tế nước ta thêm mạnh mẽ vững chắc. Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có những đổi mới theo chiều hướng đúng đắn. Trong quá trình này, con người luôn chiếm vị trí trung tâm, là đối tượng và mục tiêu phát triển.

    Vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung gì, hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua có những gì nổi bật, và nước ta cần có những cải cách gì đối với hoạt động này để có thêm sức mạnh khi tham gia hội nhập với thế giới. Sau đây chúng tôi xin được đưa ra một số hiểu biết của mình về vấn đề này.

     

    Chương I: Một số hiểu biết chung về đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    I. Nguồn nhân lực

    1.1.1        1. Khái niệm nguồn nhân lực

    Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

    – Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động.

    – Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội.

    – Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên.

    Định nghĩa trên mới phản ánh về mặt số lượng chưa nói lên mặt chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe, trình độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được, ý thức tác phong của người lao động.

    Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau về định nghĩa, khái niệm về nguồn nhân lực của một quốc gia nhưng có thể hiểu 1 cách nôm na nguồn nhân lực chính là nguồn lao động. Theo người Việt Nam, khái niệm ít tranh cãi thì nguồn lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động.

    1.1.2                    2. Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực.

    Nguồn nhân lực ở đây được biểu hiện qua hai khía cạnh là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, vì vậy để đánh giá nguồn nhân lực thì chúng ta có hai nhóm chỉ tiêu sau.

    1.1.2.      2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực.

    Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lượng nguồn nhân lực nhưng tiêu biểu thì người ta hay dùng các chỉ tiêu sau :

    -Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số.

    -Tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số

    -Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động.

    -Tỷ lệ lao động có việc làm  trong lực  lượng lao động.

                            2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.

    Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:

                            2.2.1. Chỉ  tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.

    Một người có sức khoẻ không đơn thuần là người đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.

    Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

    – Tuổi thọ bình quân.

    – Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.

    – Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.

    – Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.

    – Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc HIV/AIDS…

                            2.2.2. Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.

    Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là:

    – Tỉ lệ người lớn biết chữ.

    – Tỉ lệ đi học chung.

    – Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    2.2.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.

    Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó( nó biểu hiện trình độ đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:

    – Tỉ lệ cán bộ tổ chức.

    – Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học

    – Tỉ lệ cán bộ trên đại học.

                            2.2.4. Chỉ số phát triển con nguời HDI

    HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người trên ba phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:

    – Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình.

    – Kiến thức được đo bằng tỉ lệ nguời lớn biết chữ ( với quyền số 2/3) và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học,trung học và đại học (với quyền số 1/3)

    – Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người (tính theo sức mua tương đương PPP USD Mỹ)

    Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng xã hội.

                            2.2.5. Một số chỉ tiêu khác.

    Bên cạnh những chỉ tiêu có thể lượng hoá được như trên, người ta còn xem xét đến các chỉ tiêu định tính thể hiện năng lực phẩm chất của người lao động. Chỉ tiêu này được thể hiện qua các mặt:

    -Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ Quốc.

    – Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc.

    – Phong tục tập quán, lối sống

    II. Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản mới, năng lực sản xuất mới, vì mục tiêu phát triển.

    Đầu tư phát triển bao gồm:

    – Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)

    – Đầu tư phát triển tài sản vô hình.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư phát triển những tài sản vô hình. Nó cũng là việc chi dùng vốn hiện tại, tiến hành các hoạt động làm tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động.

    1.1.3        1. Vĩ mô.

    Trên quan điểm vĩ mô, nhà nước luôn luôn có những chính sách để đầu tư phát triển nguồn nhân lực hiệu quả nhất. Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng việc phát triển mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Gia nhập WTO được gần 2 năm, Việt Nam gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức trên con đường phát triển. Trong đó có việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực thế nào để đạt hiệu quả? Chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của vấn đề này để từ đó tìm ra những giải pháp và hướng đi đúng đắn cho bài toán nan giải này. Về cơ bản, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung sau:

    – Đầu tư cho hoạt động giáo dục đào tạo ( chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ…)

    – Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khoẻ.

    – Đầu tư cho tiền lương.

    – Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động.

    1.1.3.      1.1. Đầu tư cho giáo dục

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội. Kinh tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, thu hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư, đều phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực. Và giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực. Chính vì vậy, đầu tư nguồn nhân lực cũng là đầu tư vào giáo dục-đào tạo của đất nước. Đầu tư cho giáo dục đào tạo bao gồm các nội dung sau đây:

                            1.1.1. Đầu tư cho chương trình giảng dạy

    Chương trình giảng dạy là những nội dung sẽ được đưa vào giảng dạy tại các trường học, là những kiến thức mà người học sẽ trực tiếp thu nhận. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực có đảm bảo hay không là phụ thuộc nhiều vào chương trình giảng dạy có phù hợp với người học hay không, và khả năng tiếp thu của người học với những kiến thức đó là như thế nào. Nên đầu tư vào chương trình giảng dạy ở mỗi nước cần được coi trọng, và phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu trong công cuộc đầu tư vào giáo dục đào tạo. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

    – Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.

    – Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

    – Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.

    – Giáo dục đại học và sau đại học (trong Luật gọi chung là giáo dục đại học), đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

    Ngoài ra, bên cạnh hệ thống giáo dục quốc dân của Việt nam thì còn có các cơ sở giáo dục khác đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực. Các cơ sở giáo dục khác bao gồm:

    – Nhóm nhà trẻ.

    – Các lớp độc lập: lớp mẫu giáo, lớp xoá mù chữ, lớp ngoại ngữ, lớp tin học, lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường, lớp dành cho trẻ tàn tật, khuyết tật, lớp dạy nghề và lớp trung cấp chuyên nghiệp được tổ chức tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    – Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp; trung tâm dạy nghề; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm học tập cộng đồng.

    – Viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ.

    Quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu được khẳng định từ nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển đất nước, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Ở Việt Nam hiện nay chương trình giảng dạy chủ yếu là từ sách giáo khoa (SGK), và giáo trình. Nên SGK, cũng như giáo trình phải đảm bảo chuyển tải được những kiến thức cho người học một cách logic, đầy đủ, được gia công về mặt sư phạm một cách kĩ lưỡng, phù hợp với trình độ người học và thời gian học tập, có sự tham gia của các học giả, các nhà giáo kinh nghiệm để đảm bảo hệ thống kiến thức trong đó phải chính xác. Và ngoài phần kiến thức, SGK, giáo trình còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy môn học.

    Ở các nước trên Thế giới có nhiều nước, ở các cấp phổ thông có nhiều bộ SGK cho cùng một môn học, nhưng hiện nay ở Việt Nam mỗi môn học cấp phổ thông chỉ có một bộ SGK, hơn nữa hệ thống SGK còn khá hạn chế, dù đã cải cách, cũng như sửa đổi nhiều lần. Chương trình đào tạo của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo của xã hội nói chung.

                            1.1.2. Đầu tư về đội ngũ cán bộ giảng dạy và phương pháp dạy học

    Để tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, trước hết cần đầu tư cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, là những người hướng dẫn và trực tiếp truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinh viên. Họ phải là những người có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ sư phạm, và đạo đức nghề nghiệp. Người học muốn giỏi cần có người dạy giỏi, vì vậy cần đảm bảo làm sao đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, bảo đảm cơ cấu các Thầy, Cô giáo dạy đủ các môn, tăng cường chất lượng toàn đội ngũ, thanh lọc những người không đủ tiêu chuẩn giảng dạy cho đào tạo, bồi dưỡng bổ sung, làm cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng mạnh về chất lượng, tăng cường nề nếp, trật tự, kỷ cương.

    Phương pháp giáo dục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên…Phương pháp dạy học có phù hợp, và thực sự cuốn hút mới có thể làm người học hứng thú với việc học. Ở nước ta hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như

    – Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên là người truyền đạt một chiều đến học sinh, mà không có tương tác ngược lại giữa học sinh tới giáo viên. Giáo viên đọc, học sinh chép và hầu như chỉ học lượng kiến thức mà giáo viên cho ghi, không có sự sáng tạo.

    – Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học sinh là người tự tìm hiểu kiến thức. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn còn học viên phải tự học hỏi, tự tìm tòi qua sách báo và các phương tiện khác. Theo phương pháp này thì học sinh chủ động hơn trong cách học, vì vậy tăng khả năng sáng tạo, tìm tòi của học sinh, sinh viên.

    Ở Việt Nam, thì phương pháp giáo dục truyền thống vẫn phổ biến hơn cả. Dù chúng ta đang dần thay đổi phương pháp dạy học, song việc thay đổi cần sự đầu tư cả về thời gian cũng như đầu tư về cơ sở vật chất. Đầu tư về đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là nhân tố quan trọng cho việc phát triển giáo dục đào tạo, rất cần sự quan tâm của nhà nước.

                            1.1.3. Đầu tư về cơ sở hạ tầng vật chất cho giáo dục

    Giáo dục là sự nghiệp chung, Nhà nước chăm lo xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục và ban hành những chính sách phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Một trong những nội dung đầu tư giáo dục đào tạo là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục. Nhà nước ta hiện nay đã đầu tư ngân sách cho giáo dục một phần không nhỏ, trong đó có đầu tư xây dựng trường học, trang thiết bị trường học phục vụ cho việc dạy và học, các công cụ cho phương pháp giảng dạy mới như giảng dạy bằng slide, thảo luận, hội thảo…Đặc biệt ngân sách cho đầu tư phát triển hệ thống trường học đào tạo nghề tăng cao…Việc đào tạo nghề đang được nước ta coi là quốc sách đầu tư quan trọng, là nhân tố cho việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    Bên cạnh việc đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng giáo dục tại thành thị, nhà nước quan tâm đến việc xây dựng trường học tại vùng sâu vùng xa miền núi, hay hải đảo.

    1.1.3.      1.2. Đầu tư cho y tế

    Sức khoẻ là vốn quý của con người. Để có thể sống, học tập và làm việc một cách hiệu quả và năng suất thì con người cần phải có sức khoẻ tốt. Có thể khẳng định rằng đầu tư chăm sóc sức khoẻ con người hay đầu tư vào lĩnh vực y tế cũng là đầu tư phát triển.

    Đặc biệt, đầu tư phát triển nguồn nhân lực thì không thể không đầu tư phát triển y tế và chăm sóc sức khoẻ người lao động. Dịch vụ y tế được coi là hàng hoá không thể thẩm định được. Vì vậy, đầu tư vào lĩnh vực này cũng có nhiều điểm khác biệt với các ngành khác.

    Trên góc độ vĩ mô, đầu tư phát triển trong lĩnh vực y tế bao gồm một số nội dung sau:

                            1.2.1. Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh.

    Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân thì ở đâu cũng có, vì vậy hệ thống bệnh viện cần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh mọi nơi, mọi lúc.

    Hệ thống bệnh viện có thể chia làm 3 tuyến chính:

    • Tuyến cơ sở: thường là các trạm y tế xã, phường… với trang thiết bị thô sơ, nhân viên y tế thường chỉ là y tá, y sĩ trình độ không cao lắm, chỉ có thể đáp ứng nhu cầu tạm thời, sơ cứu trong những trường hợp khẩn cấp.
    • Tuyến địa phương: là những bệnh tuyến huyện, tuyến tỉnh… có đội ngũ y bác sĩ trình độ cao hơn, đáp ứng hầu hết nhu cầu khám chữa bệnh trong địa phương trực thuộc.
    • Tuyến trung ương: bao gồm những bệnh viện tập trung đội ngũ y bác sĩ lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại… chuyên khám chữa những ca bệnh nguy hiểm, phức tạp…

    Đầu tư cơ sở hạ tầng bệnh viện bao gồm xây dựng phòng khám, trang bị giường bệnh và những dụng cụ y tế cơ bản, đảm bảo đầy đủ để có thể khám chữa bệnh cho người dân.

                           

                            1.2.2. Đầu tư sản xuất, lắp đặt trang thiết bị y tế (TTBYT).

    TTBYT bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    Nghề y là một nghề đặc biệt mà ở đó cơ sở vật chất, phương tiện hành nghề chiếm vị trí cực kỳ quan trọng – bác sĩ giỏi nhưng không có máy móc, TTBYT hiện đại, tiên tiến thì hiệu quả khám chữa bệnh cũng khó có hiệu quả cao.

    Đầu tư TTBYT phải dựa trên các tiêu chí sau:

    • Đảm bảo cung cấp đủ TTBYT cho bệnh viện các tuyến (tuyến cơ sở, tuyến địa phương và tuyến trung ương).
    • Từng bước hiện đại hoá TTBYT nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho người dân.
    • Ðào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành để khai thác sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa và kiểm chuẩn trang thiết bị y tế.
    • Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá sản xuất trong nước và tiến tới tham gia xuất khẩu.

    Để thực hiện được những mục tiêu trên, chính phủ cần có những chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển TTBYT trong nước, tìm tòi, sáng tạo những phương pháp chữa trị bệnh mới có hiệu quả ngày càng cao.

    Bên cạnh đó cũng cần có chính sách ưu đãi đối với hàng hoá TTBYT như giảm thuế nhập khẩu, củng cố và phát triển hợp lý hệ thống mua bán hàng hoá TTBYT…

    Đồng thời hỗ trợ hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, đảm bảo cho việc vận hành và bảo dưỡng TTBYT luôn làm việc hiệu quả, lâu dài.

    Đặc biệt là chính phủ phải có chính sách huy động vốn cho lĩnh vực này, vì TTBYT thường là những máy móc, dụng cụ có kỹ thuật phức tạp, hiện đại, yêu cầu kỹ thuật cao nên giá thành tương đối lớn. Có biện pháp thúc đẩy sản xuất, chế tạo TTBYT trong nước giúp hạ giá thành cũng như chi phí về trang thiết bị.

     

                            1.2.3. Đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế.

    Nếu như khoa học cần có các nhà nghiên cứu, phát minh thì ngành y tế cũng không thể thiếu đội ngũ nhân viên y tế. Máy móc thiết bị có hiện đại bao nhiêu mà không có bác sĩ thì cũng không thể hoạt động được. Vì vậy, một đội ngũ nhân viên y tế lành nghề, có lương tâm trong mỗi cơ sở y tế luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của xã hội. Vì vậy, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế là rất càn thiết.

    Trước hết, cần phải đầu tư đào tạo nhân viên y tế một cách bài bản, không chỉ có tay nghề giỏi mà còn có tấm lòng đối với bệnh nhân. Như Bác Hồ từng nói “Có tài mà không có đức thì cũng là người vô dụng”, đặc biệt là người thầy thuốc, cần nhấn mạnh về giáo dục tư tưởng, lòng nhiệt tình với nghề và lương tâm đối với người bệnh.

    Bên cạnh đó, dạy và học cần đi đôi với hành. Người thầy thuốc là người nắm sự sinh tử của bệnh nhân trong tay, nếu không được thực hành một cách kỹ lưỡng trước khi thực sự làm việc thì khó có thể lường trước được hậu quả.

    Chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ nhân viên y tế là không thể không chú trọng, người thầy thuốc mang trên mình trọng trách lớn lao yêu cầu tinh thần trách nhiệm lớn nhưng lại thường không được đánh giá đúng mực. Vì vậy, chế độ lương thưởng phù hợp giúp đội ngũ y bác sĩ có thể tập trung vào chuyên môn của mình mà không phải lo lắng đến những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

    1.2.4. Y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.

    Thông thường người ta chỉ hay đi khám bệnh khi cảm thấy trong người không được khoẻ mà ít chú trọng tới việc phòng bệnh, khi ấy mới chịu bỏ ra rất nhiều chi phí để chạy chữa tốn kém mà thực tế chi phí cho việc phòng bệnh ít hơn rất nhiều. Vì vậy, đầu tư cho y tế dự phòng và truyền thông, giáo dục chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là góp phần giảm chi phí xã hội một cách hiệu quả.

    Đẩy mạnh nghiên cứu các biện pháp phòng chống những bệnh thường gặp, ngăn chặn ngay từ sớm nguy cơ mắc bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho người dân, giảm thiểu chi phí cho xã hội.

    Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân về những căn bệnh thường gặp và cách phòng chống qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Đưa vào trường học, cơ quan giáo dục chăm sóc sức khoẻ bản thân, đẩy lùi những nạn dịch có nguy cơ phát triển nhanh trong xã hội.

    1.1.3.      1.3. Đầu tư cho tiền lương

    Một số quan điểm cho rằng: Tiền lương là nhân tố có ảnh hưởng quyết định nhất tới quyết định chọn việc làm, thái độ làm việc của người lao động. Vậy nhà nước nói chung, và các doanh nghiệp nói riêng đã làm gì để thu hút, khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả công việc cao nhất.

    Có thể khẳng định tiền lương là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới quyết định làm việc của người lao động.

    Tăng lương cũng chính là tăng đầu tư nguồn nhân lực.

    + Tăng lương chính là một trong các biện pháp tăng đầu tư cho nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

    + Tăng lương chính là việc đầu tư cho con người. Đầu tư cho con người chính là một trong những hình thức đầu tư phát triển mang lại hiệu quả cao nhất, vì đây là việc đầu tư để nâng cao nguồn nhân lực.

    + Định hướng chính sách tiền lương cũng sẽ liên quan đến việc đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng được thu phí dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ về chi phí hoạt động.

    + Theo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bên cạnh việc kiềm chế lạm phát, tăng cường công tác thanh kiểm tra của Nhà nước, Chính phủ cần sớm nghiên cứu trình Quốc hội ban hành Luật tiền lương tối thiểu, trong đó quy định rõ các nguyên tắc xây dựng thang bảng lương.

    Đầu tư xây dựng và điều chỉnh chính sách tiền lương thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý: Quy định mức lương tối thiểu, thang bậc lương, phụ cấp và trợ cấp đối với các đối tượng đặc biệt.

    Đầu tư cho hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách tiền lương của các doanh nghiệp, đảm bảo tính công bằng cho người lao động.

    1.1.3.      1.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc

    Khá nhiều nhận định cho rằng tiền lương không phải là yếu tố duy nhất quyết định tới nguồn lực. Ngoài tiền lương còn môi trường làm việc, điều kiện thăng tiến … Vậy môi trường làm viêc ảnh hưởng như thế nào tới quyết định làm việc của người lao động và nàh nước cũng như doanh nghiệp phải đầu tư như thế nào để có được môi trường làm việc tốt nhất cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực.

    Môi trường làm việc tốt là môi trường làm việc mà người lao động cảm thấy hứng thú với công việc của mình trong môi trường đó.

    Nhà nước đã có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mang lại cho người lao động môi trường làm việc hiệu quả nhất. Bên cạnh đó nhà nước cũng đầu tư cơ sở hạ tầng khu vui chơi giải trí phục vụ cho người dân, nâng cao đời sống nhân dân, giúp cho người lao động có thể lấy lại cân bằng sau những ngày làm việc mệt mỏi. Vậy chính phủ đầu tư vào những lĩnh vực gì, cần đầu tư vào những lĩnh vực gì tiếp theo. Đó là câu hỏi luôn được cac nhà quản lý tìm câu trả lời thích hợp để mang lại không gian làm việc thoải mái cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng lao động, nâng cao năng suất lao động của nguồn nhân lực nước ta. Với các hoạt động cụ thể như quy định những điều kiện cần thiết về công đoàn, môi trường làm việc tối thiểu cho người lao động nói chung. Nhà nuwocs có một cơ chế đúng với việc cải thiện môi trường làm việc của người lao động. Và luôn luôn có những chế tài định chế phù hợp để tạo công bằng cho người lao động nói chung và cải thiện môi trường làm việc nói riêng.

    Đầu tư cho tăng cường điều kiện lao động

    • Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.
    • Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    1.1.4        2. Vi mô

    1.1.4.      2.1. Các doanh nghiệp đầu tư cho nâng cao trình độ người lao động.

    Giáo dục – Đào tạo có vai trò quyết định đối với việc hình thành quy mô và chất lượng nguồn nhân lực cho doanh nghiệp và các nhà tuyển dụng. Nghiên cứu nội dung đầu tư vào giáo dục-đào tạo ở tầm vi mô gồm những nội dung sau:

                            2.1.1. Đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại nhà trường đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp:

    Giáo dục đại học và kỹ thuật nghề nghiệp là bộ phận chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhưng giáo trình ở bậc đại học còn nhiều hạn chế trong việc cập nhật thông tin tình hình thực tế, việc dạy và học thụ động vẫn còn tồn tại làm giảm khả năng sáng tạo cũng như làm sinh viên có tâm lý ỷ lại, phụ thuộc vào giáo trình…. Chương trình giảng dạy ở các trường kỹ thuật nghề nghiệp còn chưa hiệu quả, các loại hình dạy nghề còn chưa đa dạng. Hiện nay đào tạo tại các nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, giải quyết việc này cần sự nỗ lực của 3 phía: nhà tuyển dụng, người học, nhà trường.

    Nhiều trường đại học đã có chuyển rất mạnh sang mô hình đào tạo theo nhu cầu, chủ động tìm đến doanh nghiệp tìm kiếm sự hợp tác, tìm kiếm “khách hàng”. Nhiều doanh nghiệp đã tài trợ cho nhà trường với số trang thiết bị lên đến hàng triệu USD.Và nhà trường cũng phối hợp để điều chỉnh, thay đổi chương trình giảng dạy cho phù hợp.

                                        2.1.2. Đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực của chính các doanh nghiệp

    Hiện tượng “khát” nhân lực có tay nghề diễn ra ở hầu hết các khu công nghiệp và khu chế xuất và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp xác định rằng đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai. Doanh nghiệp nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp với việc đào tạo nhân lực..Và ngày càng quan tâm đến việc tham gia vào công tác đào tạo, khắc phục tình trạng thừa lao động chưa được đào tạo, thiếu lao động có kỹ năng theo tiêu chuẩn công nghiệp. Nhà tuyển dụng không chỉ nói rõ nhu cầu của họ với nhà trường về các kỹ năng họ yêu cầu, mà còn trực tiếp tham gia vào công tác đào tạo.

    Hiện nay dù việc các doanh nghiệp tham gia đào tạo còn gặp nhiều khó khăn nhưng họ vẫn liên tục xây trường học, mở nhiều lớp đào tạo kỹ năng, tặng học bổng cho sinh viên các trường đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp, thực hiện các dự án giáo dục cộng đồng.

    1.1.4.      2.2. Doanh nghiệp đầu tư cho y tế

    Thông thường đầu tư trong lĩnh vực y tế do chính phủ bỏ vốn là chủ yếu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng không được xem nhẹ hoạt động này trong nội bộ doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải có đội ngũ nhân viên có đủ sức khoẻ để làm việc với hiệu quả tốt nhất.

    Xét trên góc độ doanh nghiệp, đầu tư phát triển y tế bao gồm:

                            2.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở vật chất trạm y tế trong công ty.

    Nếu như bệnh viện là nơi người dân tìm đến khi có dấu hiệu sức khoẻ không bình thường thì trạm y tế là nơi nhân viên trong công ty tìm đến khi cảm thấy không khoẻ mạnh.

    Đầu tư cơ sở vật chất trên tầm vóc doanh nghiệp thì mức độ tuỳ thuộc vào quy mô doanh nghiệp. Cơ bản là phải đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của lao động trong cơ quan, có thể xử lý tạm thời những ca nghiêm trọng nhằm làm giảm nguy cơ xấu cho người bệnh.

                            2.2.2. Đầu tư hoạt động tổ chức khám chữa bệnh định kì cho người lao động.

    Mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng nhưng hầu như ngành nào cũng sẽ có bệnh nghề nghiệp. Tổ chức khám chữa bệnh định kì cho nhân viên vừa đảm bảo phát hiện kịp thời và chữa đúng bệnh, vừa làm an tâm người lao động, giúp họ yên tâm sản xuất, kinh doanh.

    Doanh nghiệp nên lập kế hoạch khám bệnh cho nhân viên thường xuyên, khám toàn diện và kỹ càng, đảm bảo sức khỏe người lao động.

                            2.2.3. Tuyên truyền phòng chống dịch bệnh.

    Dịch bệnh không chừa một ai, vì vậy các doanh nghiệp cần chú ý tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho nhân viên về những bệnh thường gặp. Tổ chức các buổi giáo dục phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường làm việc lành mạnh, giảm nguy cơ nhiễm bệnh

    1.1.4.      2.3. Tiền lương trong doanh nghiệp

                            2.3.1. Tiền lương.

    Doanh nghiệp với các chiến lược riêng của mình cũng đã có những tác động nhất định tới tiền lương nhằm khuyến khích người lao động làm việc với hiệu quả và năng suất cao nhất.

    Đối với doanh nghiệp thì tiền lương là 1 khoản chi phí cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Tiền lương phải trả cho công nhân là yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp.

    Các doanh nghiệp cũng đã sử dụng tiền lương làm đòn bấy để nhằm khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả hơn và thu hút nhân tài cho doanh nghiệp mình. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề tiền lương tới thái độ và cung cách, hiệu quả làm việc của người lao động. Trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp đều có những chiến lược với việc trả lương.

    Việc trả mức lương như thế nào cho người lao động cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Tùy vào chiến lược phát triển của doanh nghiệp, điều kiện làm việc của người lao động mà nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có những điều chỉnh mức lương phù hợp nhằm đạt hiệu quả của người lao động, và chi phí phù hợp nhất cho sản phẩm hay dịch vụ mà công ty cung cấp.

                            2.3.2. Tiền thưởng

    Gần đây, tiền thưởng cho nhân viên là một nét văn hóa trong kinh doanh của người Việt Nam. Các doanh nghiệp cũng đã tận dụng tốt điều này để khuyến khích người lao động gắn bó với doanh nghiệp. Tiền thưởng cũng là một yếu tố quan trọng khẳng định thương hiệu của doanh nghiệp, những doanh nghiệp ăn nên làm ra thườn có mức thưởng lớn cho nhân viên của mình. Vậy các doanh nghiệp đã áp dụng những chính sách tiền thưởng như thế nào?

    Tiền thưởng: là một khoản tiền tặng không mà người được phục vụ trả cho người phục vụ để khuyến khích và động viên người phục vụ. Tiền thưởng có thể bằng tiền hoặc một giá trị như cổ phiếu.

    Có nhiều loại tiền thưởng:

    • Tiền thưởng người mua là khoản tiền mà người bán thưởng cho người mua khi đã mua tới một kim ngạch nhất định, trong một kì hạn nhất định; có thể biểu thị bằng một khoản giảm giá mà người bán dành cho người mua;
    • Tiền thưởng xuất khẩu là khoản tiền nhà nước thưởng cho các nhà xuất khẩu về việc đã xuất được những mặt hàng cần đẩy mạnh xuất khẩu hoặc đã xuất được vào những thị trường khó cạnh tranh, Tiền thưởng này có thể biểu thị bằng một khoản thuế được miễn giảm, hoặc bằng một tỉ giá hối đoái ưu đãi;
    • Tiền thưởng hoàn thành kế hoạch là khoản Tiền thưởng dành cho đơn vị hoặc cá nhân đã hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh về giá trị, khối lượng và tiến độ…;
    • Tiền thưởng cuối năm là khoản tiền mà một xí nghiệp hay hãng công ti thưởng cho người làm công vào dịp cuối năm…;
    • Tiền thưởng phát minh, sáng kiến;
    • Tiền thưởnghoàn thành nhiệm vụ đột xuất.

    Trong các doanh nghiệp, Tiền thưởng là khoản tiền ngoài lương mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận còn lại hàng năm (sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước) để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp.

    Mức tiền thưởng phần nào thể hiện được tình hình kinh doanh của công ty trong năm. Vì vậy các doanh nghiệp luôn muốn công khai mức tiền thưởng của mình là một kênh markerting cho công ty, và doanh nghiệp cũng muốn tiền thưởng cho công nhân ở mức cao hơn các doanh nghiệp khác cùng ngành để khuếch trương uy tín công ty.

    Mức tiền thưởngphù hợp, đúng người đúng việc sẽ khuyến khích đngười lao động. Nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng mặt trái, gây gánh nặng cho các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ vẫn phải chi một khoản lớn để thưởng cho nhân viên mặc dú công ty đang làm ăn chưa thuận lợi.

    1.1.4.      2.4. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của công nhân trong doanh nghiệp

    “Doanh nghiệp tìm đỏ cả mắt” đó là câu mà các chuyên gia kinh tế hay nhắc tới khi nói tới nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Hiện nay, các doanh nghiệp cũng đã có những chế tài phù hợp để thu hút nguồn nhân lực cho riêng doanh nghiệp của mình. Vậy các doanh nghiệp cần phải làm gì để thu hút nguồn nhân lực cho doanh nghiệp mình và phát triển nguồn nhân lực với năng suất hiệu quả cao nhất.

    Người lao động mong muốn gì ở những gì từ những người lãnh đạo các doanh nghiệp: ngoài tiền lương, người lao động còn cần một môi trường làm việc phù hợp.

    Trước tiên, các doanh nghiệp nên có đội ngũ giám sát công sở và phản hồi của nhân viên. Người lãnh đạo cần phải biết nhân viên của họ yêu cầu và mong muốn gì? Một số doanh nghiệp đã dành hàng tháng trời để thăm dò các nhân viên để biết được các cuộc trao đổi, họp bàn diễn ra như thế nào và ở đâu là thích hợp nhất. Thách thức sau đó chính là cân bằng được các phản hồi này với thực tế. Môi trường làm việc chính là yếu tố quyết định tới thái độ hứng thú làm việc của người lao động, việc giám sát và phản hồi của nhân viên mang lại rất nhiều điều cho doanh nghiệp.

    Những thay đổi không gian cho tập thể. Một trong những lời phàn nàn phổ biến nhất là cách bố trí phòng làm việc không hợp lý, không tạo điều kiện thuận cho giao tiếp xã hội trong doanh nghiệp. Hiện nay một số doanh nghiệp cũng đã có những khoản đầu tư thích hợp để cải thiện môi trường làm việc cho người lao động.

    Ngắt quãng cho giải trí và các trò chơi. Việc này giúp cho nhân việc có thể thư giãn đầu óc, tạm dừng suy nghĩ về công việc. Điều này sẽ làm nhân viên cảm thấy bớt căng thăng trong giờ làm việc. Và những không gian làm việc, mang tính cộng tác còn thu hút nhiều nhân viên triển vọng đến làm việc. Doanh nghiệp cần đầu tư

    – Đầu tư tăng cường điều kiện lao động.

    – Đầu tư tăng cường bảo hộ lao động.

    – Đầu tư giảm tai nạn lao động.

    – Đầu tư cho bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội.

    1.1.5        3 Vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1.1.5.      3.1 Vĩ mô:

    Nguồn nhân lực là nguồn lực con người – là một trong những nguồn lực quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Vai trò của nguồn nhân lực thể hiện trong các mặt sau:

                            3.1.1. Nguồn nhân lực là động lực phát triển kinh tế – xã hội:

    Cùng với khoa học – công nghệ, vốn đầu tư, nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế – xã hội ở nước ta. Chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Không thể không khẳng định vai trò của con người trong việc sáng tạo ra công cụ lao động, rồi vận hành và cải tiến chúng trong quá trình lao động, từ đó thúc đẩy quá trình sản xuất. Nguồn lực của con người  chính là tổng hợp năng lực được huy động vào trong quá trình sản xuất. Năng lực đó chính là động lực quan trọng cho sự phát triển.

    Với mỗi quốc gia, nguồn nhân lực là nguồn lực dồi dào cần cho sự phát triển. Đặc biệt, đối với nước ta có nền kinh tế đang phát triển, với dân số đông,và dân số trẻ là tiềm năng cho nguồn nhân lực dồi dào. Nếu biết khai thác hợp lý nó sẽ tạo nên một động lực to lớn cho sự phát triển.

                3.1.2. Nguồn nhân lực là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội:

    Phát triển kinh tế-xã hội là nhằm  phục vụ nhu cầu của con người, cải thiện đời sống con người, làm xã hội ngày càng hiện đại, văn minh. Con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội, nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.

    Có thể khẳng định rằng nhu cầu tiêu dùng của con người cũng là nhân tố quyết định tác động tới quá trình sản xuất, định hướng cho sản xuất thông qua quá trình vận động cung-cầu trên thị trường. Trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó và ngược lại. Đời sống con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu của con người cả về vật chất và tinh thần cũng tăng lên, những nhu cầu đa dạng đó làm tác động tới sự phát triển của xã hội, vì con người không chỉ là mục tiêu của sự phát triển kinh tế-xã hội mà còn tạo điều kiện tự hoàn thiện mình.

    3.1.3. Nguồn nhân lực là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển

    Lịch sử phát triển của loài người, từ thời kỳ đồ đá đến thời kỳ hiện đại đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao động hàng triệu năm của con người đã làm tăng động lực phát triển xã hội. Như vậy, động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người. Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển.

    1.1.5.      3.2. Vi mô

    1.1.5.      Nguồn nhân lực có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của doanh nghiệp

    Một doanh nghiệp muốn có sức mạnh để phát triển cần phải có được đội ngũ lao động có trình độ tay nghề thỏa mãn nhu cầu công việc ,và nguồn chất xám cũng như nhân lực kỹ thuật đủ để luôn đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Doanh nghiệp đã kinh doanh là muốn thành công, nên cái gì thực sự có ích cho họ thì họ sẽ làm. Thời gian trước doanh nghiệp tham gia vào đào tạo còn ít là bởi rất nhiều đơn vị chỉ dừng ở phương thức sản xuất gia công, nên nhu cầu nhân lực trình độ cao còn ít. Và gần đây khi lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng, các doanh nghiệp cần phát triển các sản phẩm mới sâu hơn thì lúc đó xuất hiện nhu cầu nhân lực trình độ cao.

    Để đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nói chung, cũng như vì sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, việc tuyển dụng nhân lực của mỗi doanh nghiệp phải có những đòi hỏi cao về chất lượng, về kỹ năng mềm cũng như chuyên môn của người lao động.

     

    1.1.5.      4. Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    Nhân lực không chỉ đơn thuần là một trong những nguồn lực sản xuất, mà đó còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác, là chủ thể tích cực của tất cả các hoạt động sản xuất và hoạt động thị trường. Trong khi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác trong quá trình lao động thì sẽ trở thành vô dụng, thì lao động là nguồn lực duy nhất có khả năng phát hiện, khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác. Chỉ có con người mới có khả năng nhận biết các quy luật. Ta chỉ có thể thuê vốn con người.

    Lợi ích có được từ đầu tư vào nhân lực mang một số đặc trưng khác hẳn với các loại đầu tư khác.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực không hề bị giảm giá trị trong quá trình sử dụng mà ngược lại càng được sử dụng nhiều, khả năng tạo thu nhập và do vậy thu hồi vốn càng cao.

    Đầu tư vào nguồn nhân lực có chi phí tương đối không cao trong khi đó khoảng thời gian sử dụng lại lớn, thường là khoảng thời gian làm việc của một đời người.

    Các hiệu ứng gián tiếp, và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư và vốn nhân lực là rất lớn. Trình độ nhân lực trung bình ở một nước cao hơn cũng cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các vấn đề dân số, kế hoạch hóa gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.

    Đầu tư vào con người không chỉ là phương tiện để đạt thu nhập mà còn là mục tiêu của xã hội, giúp con người thưởng thức cuộc sống đầy đủ hơn.

    Đầu tư vào con người không chỉ do tỷ lệ thu hồi đầu tư trên thị trường quyết định.

    Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các lợi ích thu được từ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực thu được chỉ trong điều kiện được sử dụng hiệu quả và có môi trường phát triển phù hợp và thuận lợi. Ngược lại sẽ là sự lãng phí đầu tư. Trong mọi sự lãng phí, lãng phí nguồn nhân lực con người là mất mát to lớn và đáng sợ nhất

     

    1.1.5.      5.Các yếu tố ảnh hưởng tới đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    5.1. Vốn.

    Đặc điểm đầu tiên của đầu tư phát triển chính là hoạt động này cần lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng không phải là ngoại lệ. Thậm chí đây còn là lĩnh vực cần nhiều vốn như: đầu tư giáo dục với những thiết bị dạy học quy mô và hiện đại, đầu tư y tế thì cần những trang thiết bị y yêu cầu độ chính xác cao, hệ thống xử lý rác thải y tế cực kì tốn kém, còn trong đầu tư cải thiện chế độ làm việc thì cần nhiều vốn mới có thể cung cấp cho người lao động cuộc sống vật chất và tinh thần không quá nghèo nàn. Vì vậy, để đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống cần rất nhiều vốn.

    Việc thu hút nguồn vốn cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, ví dụ như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất và tỷ giá hối đoái, thu nhập của người dân…

                            5.2. Các phương hướng, chiến lược của nhà nước về đầu tư phát triển nguồn nhân lực.

    Thông thường, đầu tư bao giờ cũng phải dựa trên phương hướng, chiến lược phát triển của ngành, vùng, đất nước. Đầu tư nguồn nhân lực phù hợp chiến lược phát triển quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi xin tài trợ vốn, vay vốn, xin cấp phép đầu tư…

                           

    5.3. Trình độ phát triển của đất nước.

    Khi đất nước còn nghèo, hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp cần nhiều lao động, phát triển nguồn nhân lực ít được chú trọng, chủ yếu chỉ là sự gia tăng dân số nhằm đảm bảo nhu cầu lao động.

    Khi đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bắt đầu thể hiện vai trò của mình vì lao động trong các xí nghiệp ít nhất cũng phải có tay nghề và cần được đào tạo.

    Trong xã hội liên tục đổi mới và phát triển, mở cửa và hội nhập hiện nay, đầu tư phát triển nguồn nhân lực trở nên cực kì quan trọng. Phát triển nguồn nhân lực không còn đơn giản là gia tăng số lượng hay đào tạo lao động công nghiệp giản đơn nữa. Mà người lao động thời đại này cần tri thức, sự hiểu biết nhiều hơn. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cần có định hướng, chiến lược quy mô và toàn diện.

     

    Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực Việt Nam từ năm 2000 đến nay

     I. Tình hình đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ năm 2000 đến nay.

    1.1.6        1. Tình hình đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

    1.1.6.      1.1. Tình hình chi ngân sách cho giáo dục đào tạo:

    Theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, ngân sách nhà nước cho giáo dục năm 2006 tăng so với năm 2005 là 13.940 tỷ đồng, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 11.400 tỷ đồng. Riêng phần ngân sách cho chi thường xuyên của năm 2006 là 42.625 tỷ đồng, của năm 2007 là 51.860 tỷ đồng.  Trong giai đoạn 2002 – 2006, Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT đã tăng gấp 2,4 lần, từ hơn 22.600 tỷ đồng năm 2002 lên đến gần 55.000 tỷ đồng năm 2006. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GDĐT trong GDP tăng từ 4,2% (năm 2002) lên 5,6% (năm 2006). Theo Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, đây là mức chi cao so với các nước trong khu vực và thế giới dành cho GDĐT. Trong đó, chi thường xuyên cho GD Đại học đã tăng hơn 2,4 lần trong giai đoạn 2002 – 2006. Từ năm 2000, chi ngân sách cho GDĐT từ 15%, đã tăng đến năm 2008 là 19,7%. Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GD ĐT trong GDP tăng từ 3,0%năm 2000 đến 5,9% năm 2008

    Bảng chi Ngân sách nhà nước cho GDDT qua các năm

    Năm Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT trong GDP (%) Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT (% so với tổng chi Ngân sách nhà nước) Trong đó
    Chi thường xuyên (% so với tổng chi về GDĐT) Chi Chương trình MTQG (% so với tổng chi về GDĐT) Chi đầu tư (% so với tổng chi về GDĐT)
    2000 3.0 15,0 71,6 4,8 23,5
    2001 4,1 15,3 73,0 4,0 22,3
    2002 4,2 15,6 71,0 4,0 24,9
    2003 4,7 16,4 81,7 4,3 14,0
    2004 4.9 17,1 79,0 4,3 16,7
    2005 5,1 18,1 79,8 4,3 15,9
    2006 5,6 18,4 82,5 5,4 17,5
    2007 5,6 18,1 77,6 5,1 17,2
    2008 5,9 18,2* 73,9 8,9 17,2

    Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục. Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD&ĐT

    Ghi chú: (*) Tỷ lệ này sẽ là 19,7% nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ chi cho chương trình kiên cố hóa trường học.

    Theo những số liệu trên ta có thể thấy đó là những cố gắng của nhà nước trong việc đầu tư cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Để nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu chung của xã hội và trên thế giời, cần nguồn vốn rất lớn cho đầu tư về mọi mặt của giáo dục.

    Về vấn đề  xã hội hoá giáo dục, tính đến ngày 30-10-2007, đã có 31 bộ, ban, ngành ban hành cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền nhằm đẩy mạnh phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục đào tạo; sắp xếp các trường trực thuộc theo hướng đa dạng hóa. Hầu hết các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án Xã hội hóa giáo dục.

    Xét năm 2006, đối với tất cả các trường công lập từ mầm non đến đại học, tổng chi từ Ngân sách nhà nước (kể cả công trái giáo dục và xổ số kiến thiết) là 59.239 tỉ đồng, chiếm 87,2%. Đóng góp của người dân (bao gồm học phí, xây dựng trường học, học thêm…) cho hệ thống giáo dục khoảng 8.658 tỉ đồng (chiếm 12,8%). Nếu tính đóng góp của người dân cho hệ thống giáo dục đào tạo là chi học tập của con em ở trường công lập và cả trường ngoài công lập thì tỷ lệ đóng góp của nhà nước cho giáo dục đào tạo cả nước là 75%, tỷ lệ đóng góp của người dân là 25%.

    Từ chủ trương Xã hội hoá, bộ mặt trường lớp đã ngày càng khang trang hơn: Trong 4 năm  (2002-2006), cả nước có 74.011 phòng học mới được xây dựng; góp phần xóa 4.206 phòng học 3 ca; thanh toán 55.848 phòng học tạm tranh tre nứa lá… Tổng số vốn đã huy động cho kiên cố hóa trường lớp là 9.310 tỉ đồng, ngân sách Trung ương hỗ trợ 5.223 tỉ đồng; ngân sách địa phương: 3.174 tỉ đồng. Các nguồn huy động từ nhân dân, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm là 913 tỉ đồng. Tiêu biểu như tại Đồng Nai, trong 3 năm từ 2003-2006 đã huy động 511 tỉ đồng từ ngân sách địa phương thực hiện Đề án Kiên cố hóa trường lớp học, tạo nên một diện mạo mới về trường lớp trên địa bàn với 2.200 phòng học, 49 ngôi trường mới, nâng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 35 trường.

    Đầu tư Ngân sách nhà nước về giáo dục hiện đã đảm bảo được kinh phí cho giáo dục phổ cập, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ trọng điểm, ưu tiên vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người. Nhiều dự án tài trợ và vốn vay nhằm hỗ trợ giáo dục các vùng khó khăn, dân tộc ít người đã được triển khai và góp phần tạo cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho trẻ nghèo như: Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn tại 222 huyện với 5.000 trường tiểu học và 15.000 điểm trường lẻ; Dự án giáo dục tiểu học bạn hữu cho trẻ em…

    Sự đóng góp của người học và xã hội cho giáo dục đào tạo được thể hiện hết sức phong phú, đa dạng trong thực tế. Tính đến ngày 25-5-2007, cả nước đã có 150 tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể và hơn 150 cá nhân có đóng góp xuất sắc cho giáo dục đào tạo với tổng số hơn 900 tỉ đồng; hơn 22.356.000 USD; 232.000 bảng Anh và 1.500.000m2 đất. Từ sự hỗ trợ này, hàng nghìn phòng học; hàng trăm nhà công vụ cho giáo viên, nhiều thư viện với các thiết bị dạy học,… đã được đưa vào sử dụng. Hiện nay, ngành giáo dục đã có mối quan hệ và hợp tác với 70 nước, hơn 20 tổ chức quốc tế và hơn 70 tổ chức phi chính phủ. Các nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức quốc tế bình quân hàng năm chiếm 7,5 – 8% tổng kinh phí dành cho giáo dục đào tạo. Đến nay, đã có khoảng 114 chương trình, dự án hợp tác với tổng kinh phí hơn 1.000 triệu USD.

    Vào tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh trên cả  nước , được biết  tổng đầu tư cho dự án là 64 triệu USD, trong đó có 50 triệu do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho vay và 14 triệu USD là nguồn vốn đối ứng của Việt Nam.

    Đầu tư cho giáo dục mầm non:

    Đầu tư cho giáo dục mầm non là một trong những nội dung quan trọng của đầu tư phát triển nguồn nhân lực, bởi lẽ đầu tư cho giáo dục mầm non là đào tạo con người trong những giai đoạn đầu đời- đây có thể là giai đoạn đầu tư hiệu quả – là nền tảng cho đào tạo các cấp cao hơn. Trong những năm qua nhà nước ta đã quan tâm đến đầu tư cho giáo dục mầm non phù hợp nhu cầu thực tế.

    Theo báo cáo của các tỉnh, thành, năm 2007 số trường mầm non và số trẻ ăn bán trú trong toàn quốc tăng rõ rệt, đứng đầu là TP.HCM (100% trẻ nhà trẻ và 93% trẻ mẫu giáo được ăn tại trường); kế đến là Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình, Bắc Giang… Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm từ 11% (năm 2005-2006) xuống còn 10%… Ở TP.HCM, hiện đã có 35/48 trường mầm non bán công chuyển sang công lập tự chủ về tài chính, hầu hết các trường vẫn được nhận kinh phí của Nhà nước từ 20 – 50% tổng mức chi hằng năm. Còn Hà Nội đang có dự án chuyển đổi 5 trường mầm non trọng điểm sang mô hình tư thục chất lượng cao, nhằm cạnh tranh với các trường mầm non dân lập chất lượng cao và các cơ sở giáo dục quốc tế đang mọc lên như “nấm sau mưa”.

    Dưới đây là bảng về quy mô giáo dục mầm non và phổ thông giai đoạn 2000-2008

    Đội ngũ giáo viên  mầm non cũng được nâng cao chất lượng và đạo đức nghề nghiệp. Về chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non, giáo viên hợp đồng được hưởng chế độ tiền lương, các khoản phụ cấp, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các danh hiệu tôn vinh nhà giáo như giáo viên trong biên chế, tiền lương, phụ cấp, các khoản bảo hiểm phải đóng được chi trả từ nguồn thu học phí và các khoản thu hợp pháp khác.

    Đối với những cơ sở giáo dục mầm non bán công, nếu nguồn thu nêu trên không đủ để chi trả tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho giáo viên hợp đồng thì phần còn thiếu được ngân sách nhà nước chi hỗ trợ để bảo đảm đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trả tiền lương của những giáo viên này không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    Đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, TH cơ sở, THPT :

    Sau giáo dục đào tạo mầm non, thì đầu tư giáo dục đào tạo cấp phổ thông là cơ sở hình thành cho sự phát triển nguồn nhân lực.

    Trong đó, giáo dục tiểu học là điều kiện cơ sở nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính vì vậy, thời gian qua Nhà nước dành ngân sách thích đáng để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học. Nhà nước có chính sách động viên các nguồn tài chính khác trong xã hội, lập Quỹ giáo dục quốc gia, nhằm hỗ trợ kinh phí cho sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học. Các trường tiểu học sẽ là những đơn vị chủ yếu tổ chức và kiểm tra bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên theo nhu cầu nhằm hoàn thiện năng lực sư phạm cho giáo viên theo yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp. Hiện nay, để phù hợp với điều kiện từng vùng, Vụ Giáo dục Tiểu học đang xây dựng chương trình “Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học – SEQAP” với đề xuất về 2 mô hình dạy học cả ngày: T30, T35 tuỳ theo điều kiện cụ thể của các trường. Theo đó, T30 (học 30 tiết/tuần) chủ yếu áp dụng cho các vùng khó khăn, tập trung tăng cường Tiếng Việt và Toán và dạy tiếng dân tộc; T35 (học 35 tiết/tuần) áp dụng cho vùng thuận lợi, cho trường thuận lợi ở vùng khó khăn. Đến năm 2025, phấn đấu các trường tiểu học trong cả nước sẽ học 35 tiết/tuần

    Về giáo dục cấp trung học cơ sở, tháng 8/2007, tại Hà Nội đã diễn ra lễ khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) vùng khó khăn nhất, bao gồm 103 huyện khó khăn của 17 tỉnh. Dự án được bắt đầu từ năm 2007 và kết thúc vào năm 2014. Mục tiêu dự án hướng tới là nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó khăn, vùng dân tộc, góp phần khắc phục tình trạng không đồng đều giữa các vùng, các dân tộc; hỗ trợ các mục tiêu về phổ cập giáo dục THCS, bình đẳng giới và chính sách đối với nhóm đối tượng đặc biệt; đồng thời tăng cường năng lực quản lý giáo dục.

    Trong những năm gần đây sự hình thành mạng lưới trường lớp  rất đa dạng, nhất là sự lớn mạnh của hệ thống trường ngoài công lập. Hiện nay, cả nước có 6.049 cơ sở mầm non ngoài công lập, chiếm 52,2%; 90 trường tiểu học, chiếm 0,61%; THCS: 49 trường, chiếm 0,47% và THPT có 617 trường, chiếm 26,2%; Hệ thống trường ngoài công lập đã đóng góp đáng kể vào việc chia sẻ trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi học tập của mọi trẻ em, tăng quy mô giáo dục.

    Trong năm học 2006 – 2007, trong khuôn khổ dự án phát triển THPT, Bộ GD-ĐT đã đầu tư 5,2 triệu USD mua sắm thiết bị bổ sung cho 64 trường THPT, 22 trường THPT nội trú, 4 trường THPT kỹ thuật, 4 trường sư phạm thực hành; sửa chữa, xây mới 1.400 phòng học, phòng thí nghiệm. Các tỉnh, thành phố đầu tư 480 tỉ đồng để xây mới 4.000 phòng học.

    Đầu tư phát triển giáo dục đại học, cao đẳng, kỹ thuật chuyên nghiệp

    Để huy động thêm các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học (GD ĐH), Nhà nước đã đầu tư bằng các Dự án ODA và nhiều Dự án nâng cao năng lực GD ĐH bằng các nguồn vốn viện trợ không hoàn lại khác. Ngoài ra, khuyến khích các cơ sở GD ĐH thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn và chuyển giao công nghệ để tăng nguồn thu. Tuy nhiên, so với nhu cầu của ngành GD, hàng năm các cơ sở GD vẫn thiếu kinh phí để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Nhà nước huy động các nguồn lực từ xã hội, vay tín dụng nước ngoài để bổ sung nguồn vốn cho phát triển GDĐT, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ĐH, CĐ.

    Ngoài ra, riêng chính sách về đất đai, Bộ TC đề nghị, các địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế thì khi quy hoạch đất làm khu công nghiệp, khu kinh tế phải dành một phần diện tích đất cho việc xây dựng trường, cơ sở đào tạo, không thu tiền thuê đất.

    Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 7/2007, cả nước có 325 Học viện, trường ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH; 170 trường CĐ (gồm cả các trường thuộc khối an ninh quốc phòng). Có 54 trường ĐH, CĐ ngoài công lập.Tổng số sinh viên CĐ, ĐH năm 2006 – 2007 là 1.415.563 (tăng 10,21% so với năm 2005 – 2006). Tỉ lệ sinh viên/giảng viên bình quân trung của cả hệ thống giáo dục ĐH năm học 2006 – 2007 là 27,15 sinh viên/1 giảng viên. Khối các trường ngoài công lập, bình quân 31,1 sinh viên/giảng viên.

    Các dự án đầu tư xây dựng trường đại học đã và đang được triển khai trên nhiều địa bàn. Thời gian gần đây, trước đòi hỏi của các nhà tuyển dụng, cũng như của xã hội, các trường đại học đang đầu tư điều chỉnh chương trình giảng dạy, đầu tư xây dựng mở rộng giảng đường, khu vực nghiên cứu khoa học, thư viện, phòng thí nghiệm, …các điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên, học viên…Các trường đại học đang liên kết với các doanh nghiệp, với ngân hàng, công ty thực hiện nhiều hội thảo hướng nghiệp, tạo mối liên kết , đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, ngoài các doanh nghiệp trong nước mà ta thường thấy ở các trường ĐH như: Vietcombank, Techcombank, Mobifone, ACCA…Nhiều trường còn liên kết đào tạo với các trường ĐH nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tạo ra một môi trường GD quốc tế, tiến tới ngang tầm khu vực và đạt trình độ thế giới.

    Về đầu tư phát triển trường đào tạo nghề, kỹ thuật chuyên nghiệp. Hiện cả nước có khoảng 355 cơ sở dạy nghề (CSDN) thuộc các doanh nghiệp ở các thành phần kinh tế, bao gồm: hơn 100 trường Trung cấp nghề (TCN), Cao đẳng nghề (CĐN) (trong đó có 47,57% trường ngoài công lập); còn lại khoảng 250 CSDN (trong đó có 67% ngoài công lập) và hàng trăm CSDN khác tham gia dạy nghề ngắn hạn.

    Những năm qua, bình quân mỗi năm các trường nghề thuộc doanh nghiệp đào tạo khoảng 90.000 – 100.000 học sinh hệ dài hạn và hàng trăm ngàn học sinh học nghề ngắn hạn Trường CĐN mỏ Hữu Nghị (bình quân 4.000 học sinh/năm); Các trường thuộc Tổng công ty VINASHIN hàng năm đào tạo được 6.000 – 7.000 học sinh…); Trường CĐN LILAMA 2 (bình quân 2.500 học sinh/năm). Qua gần 33 năm hoạt động, Trường Cao đẳng nghề dầu khí (trường đào tạo nhân lực dầu khí trước đây) đã đào tạo, bồi dưỡng cho các DN dầu khí hơn 60.000 lượt người với trên 100 chương trình; đào tạo được hơn 12.500 công nhân kỹ thuật vớí 27 nghề khác nhau…

    Trong thời gian qua bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và DN trong dạy nghề. Có nhiều hình thức hợp tác giữa nhà trường và DN, như tổ chức cho học sinh thực tập, thực hành tại DN sau khi đã học lý thuyết tại trường (Trường CĐN LILAMA 1 và 2, các trường của VINASHIN…); DN đầu tư trang thiết bị thực hành cho trường (như tập đoàn Compal Đài Loan, Nhà máy đóng tầu VINASHIN, TOYOTA Việt Nam, một số DN của Tập đoàn LILAMA…); đào tạo theo hợp đồng của DN thông qua việc ký kết giữa địa phương với DN và trường hoặc trực tiếp giữa DN và trường (Hà Tây, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm, Hữu Nghị,…).

    1.1.6.      1.2. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp.

    Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển rất nhanh, trong khi xã hội nói chung chưa được chuẩn bị để đối phó với những đòi hỏi mới về nhân lực chất lượng cao. Đầu tư vào việc đào tạo nhân viên ngay trong công việc là một giải pháp tự đáp ứng nhu cầu về chất lượng nguồn nhân lực. Song mỗi doanh nghiệp, tại mỗi thời điểm có những nhu cầu và điều kiện làm việc đặc thù, do đó khó có thể nói tới một hình thức đào tạo chung chung cho tất cả các công ty. Việc đào tạo nhân viên cũng trở thành một chiến lược kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp. Hiểu về các hình thức đào tạo khác nhau có thể giúp nhà lãnh đạo lựa chọn một hình thức phù hợp nhất với đặc điểm doanh nghiệp mình.

    Về việc đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp thời gian qua, việc đào tạo như thế nào cho hiệu quả với các doanh nghiệp đã trở thành vấn đề bức thiết, doanh nghiệp phải chọn cho mình một địa chỉ đào tạo đáng tin cậy. Các tiêu chí để chọn một dịch vụ đào tạo chất lượng bao gồm: chương trình học, danh sách giảng viên, lĩnh vực chuyên môn, danh sách khách hàng của dịch vụ, ý kiến phản hồi từ các khách hàng. Trong các doanh nghiệp luôn liên tục diễn ra tập huấn và tái tập huấn cho người lao động, đào tạo nhập môn cho người lao động mới làm.

    Với quan  điểm GD&ĐT phải là “bạn đồng hành” của doanh nghiệp, các doanh nghiệp chủ động gặp gỡ, tìm đối tác liên kết đào tạo, tháo gỡ những vướng mắc, điều phối sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường. Đào tạo nhân lực cho những doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 1 tỷ USD, doanh nghiệp cần thông báo sớm về nhu cầu đào tạo, tuyển dụng, mức lương dự kiến trả cho người lao động sau khi tốt nghiệp.

    Các doanh nghiệp hiện nay thường chọn các hình thức đào tạo nguồn nhân lực: 62% doanh nghiệp lựa chọn đào tạo tại chỗ theo nhu cầu công việc, tiếp theo là gửi nhân viên tập huấn lớp ngắn hạn, chiếm 30%, và tự mở lớp đào tạo, 8%. Đào tạo tại chỗ là cách rẻ nhất và nhanh nhất để phục vụ nhu cầu trước mắt của doanh nghiệp, nhưng về mặt chiến lược, hình thức này không trang bị được cho nhân viên những kiến thức bài bản, có hệ thống, do đó hiệu quả về lâu dài không cao

    Một số doanh nghiệp cho rằng mối lo ngại của họ sau khi gia nhập WTO là nạn chảy máu chất xám và đào tạo nguồn nhân lực. Việc các doanh nghiệp nước ngoài với môi trường làm việc chuyên nghiệp và mức lương hấp dẫn, chắc chắn sẽ thu hút được một số lượng lớn các lao động trẻ có tài năng. Để tránh tình trạng này, các doanh nghiệp đã  xây dựng cho minh một chiến lược phát triển nguồn nhân lực rõ ràng.

    Một số doanh nghiệp có cách tiếp cận rất hay. Chẳng hạn như bằng cách tài trợ cho chương trình của một trường đại học nào đó, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận với những sinh viên năng động để có thể phát triển, nuôi dưỡng tài năng cho doanh nghiệp. Cách khác có thể kết hợp với phòng đào tạo của nhà trường trong tuyển dụng, thường xuyên tổ chức các cuộc nói chuyện với sinh viên các trường đại học, vừa là để quảng bá về doanh nghiệp tới các bạn sinh viên, vừa là để lắng nghe tâm tư nguyện vọng của họ để có thể có được những chiến lược phù hợp trong công tác tuyển dụng và “giữ chân lao động”.

    Bên cạnh đó, có thể nhận thấy một điều rằng mặc dù biết đầu tư cho nguồn nhân lực là rất quan trọng, song việc đầu tư nhân lực trong doanh nghiệp vẫn hạn chế, bởi ít có khả năng thu hồi được lợi ích từ việc bỏ vốn cho giáo dục đào tạo. Do đó, các Doanh nghiệp không bao giờ đầu tư ở mức tối ưu. Có Doanh nghiệp thậm chí đã thôi không cử cán bộ đi học nước ngoài nữa. Hơn nữa, các Doanh nghiệp có xu hướng đầu tư vào các kỹ năng nào không chuyển giao được, ít đầu tư vào những kỹ năng và nghiên cứu cơ bản.

     

    1.1.7        2. Đầu tư cho y tế

    1.1.7.      2.1. Chi ngân sách cho đầu tư phát triển y tế.

    Việt Nam được đứng gần chót bảng xếp loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân (xếp thứ 183/190 nước), bởi trong tổng chi phí cho y tế, Nhà nước mới chỉ đóng góp 30%, người dân phải chi đến 60%, số còn lại từ các nguồn khác. Trong khi đó, theo WHO, để bảo đảm sự công bằng, phần của người dân phải dưới 50%.

    Trong thời kỳ vừa qua, Nhà nước ta cũng đã có quan tâm đầu tư trong lĩnh vực y tế.

    Từ biểu đồ thể hiện tỉ lệ chi ngân sách nhà nước cho y tế ta có thể thấy nhà nước ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của đầu tư phát triển y tế, tỷ lệ chi ngân sách nhà nước đã tăng gấp đôi trong vòng 8 năm từ 2000 đến 2008 (3,17% ngân sách nhà nước cho y tế năm 2000 tăng lên đến 6,1% năm 2008). Tuy nhiên, có thể nói tỷ lệ này vẫn còn rất thấp, Bộ y tế hiện đang có đề nghị tăng chi ngân sách cho y tế lên 10%.

    Về giá trị tuyệt đối của nguồn vốn đầu tư, ta có thể thấy dưới biểu đồ sau:

    Như vậy, ngay cả vốn chi ngân sách cho y tế cũng tăng lên đáng kể, từ 6189,5 tỷ đồng năm 2001 lên đến 27 463 tỷ đồng năm 2008. Điều này cũng có thể cho thấy sự gia tăng trong nhu cầu khám chữa bệnh của người dân kéo theo sự cần thiết phải đầu tư cho y tế.

    Bên cạnh đó, nhu cầu đầu tư rất lớn trong lĩnh vực y tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên nhưng mức chi tiêu cho y tế còn ở mức thấp so với thế giới (chỉ chiếm 1,48% GDP, trong khi của Mỹ là 15,3% GDP hay của Thái Lan là 6% GDP),

     

    1.1.7.      2.2. Tình trạng cơ sở vật chất khám chữa bệnh và đội ngũ nhân viên y tế.

     

     

     

    Bảng thống kê tình hình cơ sở vật chất khám chữa bệnh 2000 – 2007

    (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

    Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
    Số cán bộ ngành y (nghìn người) 173,5 176,4 181,6 184,6 188,6 194,1 200,2 211,3
    Số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân (người) 5 5,2 5,6 5,8 6,1 6,2 6,3 6,4
    Số giường bệnh tính bình quân trên 1 vạn dân (giường) 24,7 24,5 24,2 23,8 23,9 23,7 23,6 24,8
    Số cơ sở khám chữa bệnh (cơ sở) 13 117 13 172 13 095 13 162 13 149 13 243 13 232 13 438

    Qua số liệu dễ dàng nhận thấy, tuy số cán bộ y tế tuyệt đối tăng về số lượng (từ 173,5 nghìn người năm 2000 lên 211,3 nghìn người năm 2007) nhưng chưa theo kịp tốc độ tăng dân số. Tỷ lệ số cán bộ y tế bình quân trên 1 vạn dân là quá nhỏ, với tỷ lệ này thì trung bình 1 nhân viên y tế phải chăm sóc cho 1562,5 người (= 10 000/6,4), con số này là quá lớn, không thể đảm bảo chăm sóc sức khoẻ người dân một cách cẩn thận và chu đáo.

    Về số cơ sở khám chữa bệnh đã có sự gia tăng, từ 13 117 cơ sở năm 2000 lên 13 438 cơ sở năm 2007. Tuy nhiên, số giường bệnh lại quá ít. Bình quân 10 000 người mới có 24,8 giường bệnh. Tình trạng thiếu giường bệnh là hiện tượng không hề hiếm, đặc biệt là những bệnh viện tuyến trên, bệnh viện lớn, 2- 3 bệnh nhân nằm chung 1 chiếc giường nhỏ hẹp, không đảm bảo nhu cầu điều trị bệnh hiệu quả.

    Như vậy, đầu tư thế nào và đầu tư ra sao đang là vấn đề cấp thiết đối với ngành y tế nước ta.

     

    1.1.7.      2. 3. Tình hình cung cấp trang thiết bị y tế.

    Hiện nay, các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực trang thiết bị y tế còn quá ít và nghèo nàn, phạm vi hạn hẹp, quy chế thử lâm sàng phức tạp và quá tốn kém. Đáng nói, một số sản phẩm ít ỏi được nghiên cứu, sản xuất thành công, có giấy phép lưu hành nhưng khó tìm nơi bán, mặc dù các sản phẩm này, ở tất cả các cơ sở y tế đều thiếu trầm trọng.

    Phần lớn các trang thiết bị y tế hiện đại như máy X-quang các loại, hệ thống chụp cắt lớp vi tính CT- scanner, máy điện tim và nhiều thiết bị y tế khác như máy thở, máy gây mê, siêu âm…đều phải nhập khẩu. Các sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước đơn thuần là những trang thiết bị thông dụng, công nghệ thấp như thiết bị nội thất BV, vật tư y tế tiêu hao…

    Hầu hết TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao.

    Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Thắng, đội ngũ giáo sư, bác sĩ Việt Nam rất giỏi chuyên môn, không thua kém bất cứ nước nào trong khu vực nhưng chúng ta lại thiếu một số TTBYT hiện đại để phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh nên nhiều bệnh nhân phải ra nước ngoài điều trị.

    Bộ trưởng Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết, bình quân trên toàn quốc chỉ có 0,79 cán bộ/bệnh viện đủ khả năng vận hành, khai thác và sửa chữa các TTBYT có trị giá hàng trăm triệu, thậm chí lên tới cả chục tỷ đồng.

    1.1.7.      2. 4. Về y tế dự phòng.

    Trong khi các bệnh dịch mới nguy hiểm như SARS, cúm H5N1 liên tiếp xuất hiện, các bệnh “cổ điển” như tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết vẫn hoành hành thì y tế dự phòng lại được đầu tư rất thấp, chỉ chiếm 10-12% trong đầu tư y tế, trong khi khuyến cáo của WHO là tối thiểu 30%. Xu thế của thế giới hiện nay là tập trung vào khâu phòng bệnh thay vì chỉ chú trọng chữa bệnh.

    Với mỗi tỷ đồng đầu tư cho y tế dự phòng có thể tiết kiệm cho chúng ta 4 tỷ đồng nếu để dịch bệnh xảy ra rồi mới lo chạy chữa. Vì vậy, Bộ y tế cũng đang có kiến nghị ngân sách nhà nước cấp vốn khoảng 30% đầu tư y tế để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh, tiết kiệm chi phí.

     

    1.1.8        3. Đầu tư cho tiền lương

    1.1.8.      3.1. Vĩ mô

    Để bảo vệ quyền lợi của người lao động trước chủ lao động, Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đều quy định định mức lương tối thiểu cho lao động. Khác với các nước trên thế giới áp dụng một mức lương tối thiểu chung cho cả nước thì chúng ta phân biệt mức lương tối thiểu ở doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sự chênh lệch về mức lương tối thiểu giữa 2 khu vực này tạo ra lợi thế tương đối về chi phí của doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài. Đây là sự ưu đãi của chính phủ dành cho các doanh nghiệp trong nước khi sức cạnh tranh của chúng còn yếu, tuy nhiên 2 mức lương tối thiểu này sẽ dần được tăng lên theo hướng mức tăng ở doanh nghiệp trong nước tăng nhanh hơn mức tăng ở doanh nghiệp FDI. Dự kiến đến năm 2012, 2 mức lương này sẽ được thống nhất theo cam kết của Việt Nam gia nhập WTO.

    Lương tối thiểu ở Việt Nam có quá nhiều ràng buộc với hệ thống an sinh. Nếu như ở các nước, lương tối thiểu gắn với yếu tố lạm phát, thường được điều chỉnh kịp thời dựa trên những thay đổi về chỉ số giá sinh hoạt, thì ở Việt Nam, lương tối thiểu còn là cơ sở để điều chỉnh lương hưu, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc. Mục đích của nhà nước là rất rõ ràng, đó là tạo ra sự công bằng hơn cho tất cả mọi đối tượng hưởng lương, nhưng điều đó lại tạo ra sự mất linh hoạt trong cơ chế điều chỉnh lương, đặt lên vai ngân sách nhà nước một gánh nặng quá lớn.

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2008

    Đơn vị :đồng/tháng

      Hà Nội, TP HCM Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Vũng Tàu (*) Địa bàn khác
    Doanh nghiệp trong nước 620.000 580.000 540.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.000.000 900.000 800.000

     

     

     

     

    Bảng 5: Mức lương tối thiểu chung áp dụng từ 1/1/2009

    Đơn vị :đồng/tháng

      Vùng I Vùng II Vùng III
    Doanh nghiệp trong nước 800.000 740.000 690.000
    Doanh nghiệp nước ngoài 1.200.000 1.080.000 950.000

    Vùng 1: Doanh nghiệp hoạt động tại các quận và TP Hà Đông thuộc Hà Nội; các quận thuộc TPHCM

    Vùng 2: Doanh nghiệp hoạt động tại các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Thường Tín, Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Quốc Oai và TP Sơn Tây thuộc Hà Nội; các huyện thuộc TPHCM; các quận, huyện Thủy Nguyên, An Dương của Hải Phòng; các quận, huyện thuộc Đà Nẵng; các quận Ninh Kiều, Bình Thủy thuộc Cần Thơ; TP Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh; TP Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương; TP Vũng Tàu và huyện Tân Thành của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Vùng 3: Doanh nghiệp hoạt động tại các TP trực thuộc tỉnh (trừ các TP thuộc tỉnh nêu tại vùng 2) và các huyện còn lại của TP Hà Nội; một số TP, thị xã, huyện của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Quảng Ninh; TP Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc thuộc Lâm Đồng; TP Nha Trang, thị xã Cam Ranh thuộc Khánh Hòa; huyện Trảng Bàng thuộc Tây Ninh; các huyện còn lại của Bình Dương, Đồng Nai; thị xã Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước thuộc tỉnh Long An; các quận, huyện còn lại thuộc TP Cần Thơ; thị xã Bà Rịa và các huyện Châu Đức, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu

    Vùng 4: Gồm Doanh nghiệp đóng trên các địa bàn còn lại 650.000, 920.000

    Mức lương tối thiểu năm 2009 đã tăng trung bình 20% so với năm 2008. Cho thấy việc quan tâm tới người dân lao động thông qua chính sách điều chỉnh mức lương cơ bản phù hợp với tình hinh flamj phát cũng như bảo bảo đời sống của người dân. Mức lương tối thiểu tăng lên đồng nghĩa với lao động của người lao động được trả với giá cao hơn. Nguười lao động sẽ có hứng thú hơn với công việc của mình. Tuy nhiên mức điều chỉnh lương cơ bản này vẫn chưa thực sự bảo đảm việc nâng cao đời sống của người lao động khi mức lạm phát chính thức của năm 2008 được công bố là 12.6%, vậy thực ra cược sống của người lao động có được thay đổi nhiều hay không khi lương không đủ để chống lại với lạm phát. Chính phủ đã có những biện pháp gì để nâng cao cuộc sống cho người lao động?

          Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực nhà nước có một số vấn đề cần giải quyết: sự bảo hộ về cạnh tranh, sự thiếu ràng buộc về ngân sách, và việc đảm bảo việc làm vĩnh viễn đã dẫn đến tình trạng tuyển quá nhiều lao động so với mức cần thiết,nhiều doanh nghiệp quốc doanh trả lương cho công nhân rất hậu và thường cao hơn nhiều so với hiệu quả công việc của họ. Tiền lương có xu hướng bình quân hơn: trả lương quá cao cho lao động không có trình độ chuyên môn cao, đối với lao động có trình độ chuyên môn cao lại trả lương thấp hơn khu vực ngoài quốc doanh. Điều này dẫn đến hiện tượng ”chảy máu chất xám” đối với các lao động có trình độ cao từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, các hợp đồng lao động quá chặt chẽ không những làm cho chi phí kinh doanh tăng thêm mà còn giới hạn quyền của người chủ sử dụng lao động trong quá trình thuê, sử dụng, sa thải và tổ chức lao động.

    Hiện nay khi nền kinh tế thế giới suy giảm, có ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể là thất nghiệp tăng lên, đời sống của người lao động rất khó khăn.

    1.1.8.      3.2. Vi mô

                                        3.2.1. Tiền lương.

    Hiện nay, việc trả lương cho công nhân được mọi doanh nghiệp đặt lên hàng đầu với việ cân nhắc làm sao trả lương cho công nhân một cách hợp lý nhất. Nhưng đây là một câu hỏi không dễ trả lời đối với các doanh nghiệp.

    Điều đáng bàn có thể nằm ở một khía cạnh khác của vấn đề, mà niềm vui được tăng thu nhập không nên làm khuất lấp. Ấy là cái cuộc cải cách tiền lương lần này dường như vẫn chưa dứt khoát hẳn với cách làm cũ. Rất thông cảm với những người làm chính sách khi phải co kéo “tấm chăn” ngân sách cho đều khắp cơ thể kềnh càng của bộ máy hành chính cũng như số lượng người về hưu đông đảo. Nhưng nếu cứ dàn hàng ngang mà tiến với quỹ lương dù phình to thêm 20.000 tỉ đồng thì rốt cuộc giá trị của đợt tăng lương này chỉ còn vài trăm ngàn đồng mỗi người mà thôi. Một thực tế mà ai cũng thấy là mức lương nhà nước hiện nay, dù đã tăng, vẫn còn rất xa mới đủ để người cán bộ, công chức, viên chức yên tâm làm việc. Song với một lực lượng ăn lương đông đảo như hiện nay, nếu trả một mức lương để cho họ đủ sống và nuôi được con cái thì ngân sách nhà nước không đủ sức. Trong khi đó, công cuộc cải cách hành chính hướng vào việc tinh giản bộ máy đang được triển khai quá chậm chạp và gặp rất nhiều lướng vướng.

                            3.3.2. Tiền thưởng.

    Trong những năm gần đây tiền thưởngđã trở thành chủ đề “nhạy cảm” đối với các doanh nghiệp. Ngay cả những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả trong những năm vừa qua cũng rất ngại chia sẻ

    Năm 2007, hai doanh nghiệp được ghi nhận có mức thưởng Tết cao nhất là Công ty Motorola (Hà Nội) và Bayer Việt Nam (Đồng Nai) với mức thưởng 124 triệu đồng và 110 triệu đồng. Theo Vụ Tiền công-Tiền lương (Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội) mức thưởng Tết bình quân vào dịp Tết âm lịch năm 2007 khoảng 1,2 triệu đồng/người. Mức thưởng Tết thấp nhất trong năm cũ theo thống kê là 100.000đ/người.

    Tới năm 2008, thưởng tết của các doanh nghiệp cũng có nhiều thay đổi. Ở TPHCM, cá nhân có mức thưởng cao nhất tính đến hiện nay thuộc về một đơn vị tư vấn luật nước ngoài với 98,5 triệu đồng. Doanh nghiệp ở Bình Dương có mức thưởng thấp nhất là 450 nghìn đồng/người và cao nhất là 40 triệu đồng/người. Vụ Tiền lương, tiền công tổng hợp mức thưởng bình quân trong dịp Tết Âm lịch đạt trên 1,2 triệu đồng/người (gần bằng 1 tháng lương bình quân).

    Bình quân các doanh nghiệp Nhà nước thưởng Tết khoảng 1,4 triệu đồng/người. Các doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn Hà Nội là 1 triệu đồng/người; TP.HCM là 1,69 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,1 triệu đồng/người.

    Còn các doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP.HCM có mức thưởng Tết trung bình 4,134 triệu đồng/người; Hà Nội là 1 triệu đồng/người; Đồng Nai là 1,06 triệu đồng/người; Bình Dương là 1,4 triệu đồng/người .

    Nhưng năm 2009, tết kỷ sửu,  khi kinh tế thế giới cũng như Việt Nam rơi vào khủng hoảng thì tiền thưởngđược nhắc tới như là một gánh nặng cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nghĩ tới tiền thưởngtết mà … run. Đó là câu được các báo giật tít nhiều trong tet xuân Kỷ Sửu. Khá nhiều doanh nghiệp khi thấy đặt vấn đề tìm hiểu tình hình lương, thưởng Tết cho người lao động đã nhẹ nhàng… từ chối vì không muốn hình ảnh của đơn vị bị ảnh hưởng. Vay ngân hàng để lo thưởng Tết cho công nhân có lẽ là biện pháp chủ yếu mà các doanh nghiệp dùng để giải quyết  “bài toán” thưởng Tết .

    Tại Hà Nội, mức thưởng cao nhất 80 triệu đồng thuộc về doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất đồ uống; thấp nhất là 100.000 đồng thuộc về doanh nghiệp nhà nước và dân doanh.

    Ở khối doanh nghiệp nhà nước, thu nhập bình quân năm nay của lao động tăng 1,4 lần so với năm 2007, khoảng 2,5 triệu đồng một tháng, thì tiền thưởngTết lại giảm 6%, trung bình chỉ 1,1 triệu đồng; thấp nhất là 100.000 đồng/ người.

    Thu nhập cao nhất là 20 triệu đồng/tháng, rơi vào công ty kinh doanh dịch vụ. Đây cũng là đơn vị có mức thưởng Tết cao nhất với 30 triệu đồng/người.

    Khối Doanh nghiệp FDI, tiền lương bình quân là 2.066.000 đồng, giảm 11,9% so với năm 2007. Mức thưởng Tết bình quân là 3,1 triệu đồng/người, tăng 1,5 lần so với năm 2007. Thưởng Tết thấp nhất là 300.000 đồng/người. Mức thu nhập thấp nhất của lao động tại khối này là 1 triệu đồng một tháng, đúng bằng mức lương tối thiểu vùng.

    Mức thu nhập bình quân cao nhất ở khối FDI Hà Nội là 32 triệu đồng một người một tháng, thuộc về một Doanh nghiệp chuyên sản xuất thiết bị điện tử. Doanh nghiệp có mức thưởng Tết cao nhất 80 triệu đồng/người thuộc về 1 Doanh nghiệp sản xuất đồ uống rượu bia.

    Khối Doanh nghiệp dân doanh, nơi có số lao động đông đảo nhất, mức thu nhập bình quân trong năm chỉ 1,5 triệu đồng/người/tháng, giảm hơn 9%. Mức thu thập thấp nhất 700.000 đồng.

    1.1.9        4. Đầu tư cải thiện môi trường lao động.

    Những năm gần đây, nhiều khu công nghiệp lớn ở nước ta được hình thành và phát triển với hàng loạt các nhà máy, xí nghiệp và các dịch vụ kèm theo đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lao động lớn. Song đi kèm với sự phát triển nhanh và mạnh của các cơ sở đó thì vấn đề môi trường làm việc của người lao động phải cần được nhà nước cũng như các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa. Vậy thực trạng đầu tư phát triển môi trường làm việc ở Việt Nam hiên nay như thế nào, đạt được những thành tựu gì và còn tồn tại những khó khăn nào? Để trả lời cho câu hỏi đó trước hết ta đi xem xét tình hình đầu tư  phát triển môi trường làm việc ở tầm vĩ mô hay ở phía các cơ quan quản lý.

    1.1.9.      4.1. Về công đoàn.

                            4.1.1. Vĩ  mô.

    Công đoàn là tổ chức đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống  vật chất, tinh thần của người lao động.(Trích Luật Công Đoàn).

    Trong điều khiện kinh tế thị trường như hiện nay thì sự hoạt động của tổ chức công đoàn là không thể thiếu, ý thức được điều đó nhà nước ta đã đầu  tư phát triển một hệ thống tổ chức công đoàn từ trung ương đến địa phương, hoạt động theo luật Công đoàn và luật Lao động. Nhà nước thường xuyên đôn đốc kiểm tra hoạt động của các tổi chức này, cứ 5 năm 1 lần nhà nước tổ chức họp Đại hội Công đoàn trong đó đánh giá hoạt động trong một nhiệm kì chỉ ra các thành tựu cũng như các mặt còn hạn chế để từ đó đề ra các biện pháp, phương hướng hoạt động của tổ chức trong nhiệm kỳ kế tiếp. Trong nhiệm kỳ 2003-2008, tổ chức công đoàn đã đẩy mạnh hơn việc chăm lo đời sống, đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CNVC-LĐ. 5 năm qua, cơ cấu đội ngũ công nhân viên chức lao động (CNVC-LĐ) nước ta đang diễn ra theo hướng tăng tỷ lệ trong các ngành giáo dục, y tế, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Số lượng công nhân lao động hiện có khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỉ lệ 11% dân số và 21% lực lượng lao động xã hội… Bình quân mỗi năm có khoảng 1,5 triệu lao động được tạo việc làm, tỉ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm giảm dần. Đến hết năm 2007, tổ chức công đoàn trên cả nước đã phát triển vượt chỉ tiêu 2 triệu đoàn viên mới, nâng tổng số đoàn viên công đoàn lên hơn 6 triệu người với trên 93.000 công đoàn cơ sở.

    Tuy nhiên trước bối cảnh nước ta đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO với những tác động yêu cầu hoạt động công đoàn phải năng động linh hoạt hơn nữa để có thể thích ứng được với sự biến động thường xuyên của nền kinh tế thị trường.Hiện nay nền sản xuất nước ta chưa ổn định vững chắc,lại đã và đang chịu sự tác động tiêu cực kép của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới nên yêu cầu về các tổ chức công đoàn lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Và việc đầu tư cho các hoạt động cưa công đoàn đòi hỏi dặt ra rất cần thiết với những chính sách tác động phù hợp của nhà nước.

    Ngân sách CĐ gồm 3 nguồn chủ yếu là kinh phí CĐ, đoàn phí CĐ và các nguồn thu khác. Nguồn thu ngân sách công đoàn tương đối ổn định, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng bình quân trên 10%/năm, trong đó phần lớn (80%) là từ nguồn kinh phí CĐ khu vực HCSN và Doanh nghiệp NN. Thu kinh phí CĐ khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ và còn thất thu nhiều. Thu đoàn phí CĐ được đánh giá là đạt kết quả khá, năm sau cao hơn năm trước, mức tăng trên 20%/năm. Tuy nhiên cũng như thu kinh phí CĐ, khu vực ngoài nhà nước cũng xảy ra tình trạng thất thu. Việc phân phối tài chính CĐ được thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của nhà nước và TLĐ. Các cấp công đoàn đã chủ động khai thác nguồn thu, tiết kiệm chi, đảm bảo kinh phí cho bộ máy và hoạt động phong trào. Công tác quản lý ngân sách CĐ được các cấp CĐ quan tâm. Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TLĐ (khoá IX) của TLĐ về tăng cường công tác quản lý ngân sách công đoàn, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng, các cấp công đoàn đã có bước chuyển biến tích cực. Thực hiện định mức, chế độ chi tiêu theo đúng quy định của Nhà nước và TLĐ. Các cấp CĐ đã chú trọng dành kinh phí cho hoạt động phong trào, chiếm khoảng 60%, chủ yếu là chi cho công tác tuyên truyền giáo dục, tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng, các hoạt động xã hội, phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS. Tuy nhiên trong đó, kinh phí chi cho công tác đào tạo CBCĐ còn hạn chế, mới chỉ chiếm 1,6%; chi hành chính CĐ còn chiếm tỉ trọng lớn (lên đến 22%, bao gồm cả các khoản chi khác). Kiểm toán quyết toán thu chi ngân sách công đoàn năm 2006 tại 27 đơn vị cho thấy các đơn vị đều thực hiện tốt, không có sai phạm lớn.

    Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế phân phối tài chính CĐ theo QĐ 699/QĐ-TLĐ cũng bộc lộ một số nhược điểm. Quy định phân phối chỉ dựa vào chỉ tiêu lao động là không phù hợp, do nguồn thu còn dựa vào tiền lương, thu nhập, điều kiện KT-XH của từng vùng. Số LĐ theo báo cáo dự toán và quyết toán là số liệu thống kê nên chưa chính xác, cấp hỗ trợ kinh phí dựa trên số thu, không khống chế mức cấp hỗ trợ tối đa là không hợp lý, tạo tư tưởng bao cấp, ỷ lại cho một số đơn vị. Quy định thưởng đơn vị thu vượt kế hoạch tại QĐ này cũng dẫn đến tình trạng có những đơn vị xây dựng kế hoạch thấp để giảm nộp, duyệt kế hoạch NGÂN SÁCH hàng năm thấp, không sát thực tế.

                             4.1.2. Vi mô

    Hoạt động của Công đoàn ngày càng trở nên hết sức quan trọng,các doanh nghiệp cũng đang dần ý thức một cách rõ ràng rằng Công đoàn chính là cầu nối giữa lãnh đạo Doanh nghiệp và NLĐ và cầu nối này là con đường ngắn nhất để chủ Doanh nghiệp và NLĐ hiểu biết lẫn nhau và có những trao đổi kịp thời, tránh dẫn tới bức xúc, hiểu lầm làm tổn hại đến quan hệ lao động nên việc thành lập các tổ chức Công đoàn ở các Doanh nghiệp kể cả Doanh nghiệp NN và Doanh nghiệp ngoài nhà nước đang được quan tâm phát triển. Mặc dù vậyj nhưng hiện nay vẫn có 85% doanh nghiệp dân doanh, 65% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa có tổ chức công đoàn cơ sở. Bên cạnh đó vẫn tồn tại hiện tượng Doanh nghiệp đổ xô xin thành lập CĐ để đối phó với quy định mới của Nhà nước về đăng ký thang, bảng lương vào cuối quý I/2008. Khi tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng có nhiều Doanh nghiệp nước ngoài được thành lập và hoạt động ở nước ta thu hút một số lượng lớn lao động tham gia, nhưng ở các Doanh nghiệp này hầu hết thì các tổ chức Công đoàn còn chưa được thành lập mặc dù đại bộ phận người lao động ở đây phải làm việc với cường độ làm việc cao.

    Việc thành lập Công đoàn đã khó, duy trì hoạt động và chăm lo tốt cho người lao động còn khó hơn. Hoạt động của các CĐCS còn kém hiệu quả, theo số liệu thống kê thì số cuộc đình công qua các năm đều tăng , nhưng 100% tất cả các cuộc đình công đó đều không do công đoàn cơ sở lãnh đạo. Năm 2006, cả nước xảy ra

    387 vụ đình công, năm 2007 xảy ra 541 vụ; song chỉ riêng 3 tháng đầu năm 2008 đã có tới gần 300 vụ.

    Còn những khó khăn trên một phần là do đội ngũ cán bộ Công đoàn bán chuyên trách yếu về năng lực và khồng ổn định. Hiện nay ở các Doanh nghiệp việc tìm một người đủ năng lực đảm đương chức vụ Chủ tịch Công đoàn là rất khó và thực tế đội ngũ này thường xuyên biến động. Một phần do các Doanh nghiệp còn chưa đầu tư  nhiều cho phát triển các tổ chức Công đoàn nên hoạt động của các cán bộ công đoàn còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù có quỹ hỗ trợ cán bộ công đoàn nhưng thực tế cho thấy chủ Doanh nghiệp mới là người trả lương chính cho cán bộ công đoàn nên CBCĐ không dám đứng ra lãnh đạo, tổ chức đòi quyền lợi cho công nhân. Đã có nhiều trường hợp, chủ Doanh nghiệp lại chấm dứt HĐLĐ với CBCĐ vào thời điểm hết HĐLĐ, chứ không phải ngay sau thời điểm diễn ra đình công.

    1.1.9.      4.2.  Đầu tư cải thiện điều kiện làm việc.

                            4.2.1. Vĩ mô.

    Trong những năm vừa qua, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, số vụ cháy nổ làm chết và bị thương nhiều người, gây thiệt hại lớn về tài sản có xu hướng tăng lên hàng năm. Năm 2008 đã xảy ra 5.836 vụ tai nạn lao động làm 6.047 người bị nạn, có 508 vụ tai nạn lao động chết người, làm 573 người bị chết và 1262 người bị thương nặng. Các loại TNLĐ phổ biến vẫn là điện giật, ngã cao, máy, thiết bị cuốn, cán. Các lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người là: xây dựng, công nghiệp và công trình giao thông; khai thác khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng; cơ khí. Nguyên nhân chủ yếu của nhiều vụ TNLĐ và cháy nổ trong thời gian qua là do doanh nghiệp thiếu ý thức cải thiện điều kiện làm việc, do người sử dụng lao động và người lao động vị phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn. Nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận, không quan tâm vấn đề cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động.

    Trước tình hình đó các cấp công đoàn đã đẩy mạnh hoạt động bảo hộ lao động chủ yếu như: tham gia với Nhà nước xây dựng các văn bản pháp luật, chỉ đạo, hướng dẫn các cấp công đoàn về BHLĐ; tổ chức và tham gia tuyên truyền về BHLĐ cho người lao động và người sử dụng lao động; củng cố mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở cơ sở, tổ chức hội thi an toàn vệ sinh viên giỏi ở cấp cơ sở và cấp tỉnh, CĐ ngành TW; triển khai các nội dung hoạt động hàng năm về BHLĐ của Công đoàn. Kết quả, năm 2008 các cấp công đoàn đã tổ chức treo 158.497 khẩu hiệu, panô, tranh BHLĐ, phân phát 641.778 tờ gấp, 43.093 bản tài liệu, đĩa CD về ATVSLĐ; tham gia vận động chiến dịch “Trồng 3 tỉ cây xanh vì hoà bình”; đã tổ chức thăm hỏi 2.101 nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân bị TNLĐ, BNN có hoàn cảnh khó khăn.

    Các cấp quản lý ngày càng tăng cường hơn nữa việc giám sát, kiểm tra, đôn đốc các Doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc theo Luật lao động, ngày càng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về các điều kiện, tiêu chuẩn VSATLĐ nhằm một điều kiện làm việc  tốt nhất cho người lao động. Mặc dù đã có quy định cụ thể về tiêu chuẩn  VSATLĐ song việc thực hiện còn chưa nghiêm túc. Theo số liệu thống kê năm 2008 nguyên nhân chủ yếu xảy ra tai nạn lao động chết người: Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 20,02% và do người lao động chiếm 34,93% tổng số vụ, cụ thể là:

    – Người sử dụng lao động vi phạm Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật, Quy phạm an toàn chiếm 5,60% tổng số vụ

    – Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 2,66% tổng số vụ

    – Chưa huấn luyện an toàn lao động cho người lao động, không có phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 7,77% tổng số vụ

    – Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 2,78% tổng số vụ; không có thiết bị an toàn chiếm 1,21% tổng số vụ

    – Người lao động vi phạm quy trình quy phạm an toàn lao động chiếm 30,38% tổng số vụ

    – Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 4,55% tổng số vụ

                            4.2.2. Vi mô.

    Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm an toàn Theo quy định của Bộ Luật lao động, người chủ sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo chế độ,trang bị đầy đủ các phương tiện BHLĐ bảo đảm ATLĐ cho NLĐ. Trong những năm gần đây, mặc dù các doanh nghiệp (Doanh nghiệp) đã nhận thức được tầm quan trọng, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với công tác an toàn và vệ sinh lao động (ATVSLĐ), tuy nhiên vẫn còn nhiều nơi, kể cả Doanh nghiệpNN chưa thật sự chú ý đầu tư cơ sở vật chất cho công tác này, thậm chí có Doanh nghiệp còn trang bị theo kiểu đối phó với các đợt thanh, kiểm tra, nhất là các Doanh nghiệp trong ngành xây dựng, khai thác đá, vận hành thiết bị chịu áp lực. Còn với các cơ sở sản xuất nhỏ thì tuân thủ các quy định về ATVSLĐ vẫn là chuyện xa vời. Qua công tác thanh, kiểm tra, ngành chức năng đã phát hiện nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ hầu như không nắm được các văn bản pháp quy của Nhà nước về BHLĐ. Vì vậy, các nội dung về BHLĐ chưa được thực hiện nghiêm túc, không đảm bảo an toàn trong hoạt động sản xuất.Vì thế chuyện  TNLĐ xảy ra nhiểu,theo số liệu thống kê thì trong số các vụ TNLĐ đã xảy ra , nguyên nhân do vi phạm quá trình kiểm tra ATLĐ chiếm 29,67%, do thiết bị sản xuất không an toàn: 1,1%, Doanh nghiệp không có biện pháp kiểm tra ATLĐ: chiếm 1,1%, do các nguyên nhân khác chiếm 68,13%.

    Chủ các Doanh nghiệp còn chưa coi trọng vấn đề về quần áo bảo hộ,điều kiện làm việc cho người lao động trong khi số lượng lao động hoạt động trong Doanh nghiệp có môi trường độc hại ngày càng gia tăng dẫn đến bệnh nghề nghiệp của người lao động ngày càng có xu hướng tăng cao. Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế, hàng năm chỉ có khoảng 18 – 20% số cơcó  sở có nguy cơ cao được giám sát về môi trường lao động. Chỉ có 22 – 25% số người lao động được khám sức khoẻ định kỳ và dưới 10% số người lao động tiếp xúc với các yếu tố nguy hiểm độc hại được khám sức khoẻ nghề nghiệp. Còn theo Cục An toàn lao động (Bộ LĐTBXH), có hơn 1,33 triệu công nhân và người lao động đã được tập huấn về ATVSLĐ trong năm 2008, tăng 156% so với năm 2007, song số lượng các vụ tai nạn lao động và tử vong vẫn tiếp tục.Đa phần NLĐ xuất phát từ nông thôn đi làm thuê,không được đào tạo qua trường lớp;các Doanh nghiệp thì chưa thực sự chú trọng đên s công tác huấn luyện ATLĐ nên NLĐ hầu như chỉ được hướng dẫn thao tac công việc ít được hướng dẫn các biện pháp ATLĐ,cảnh báo những nguy hiểm nên TNLĐ thường xảy ra.Công nhân ở các Doanh nghiệp thường phải nộp tiền  mới được cấp quần áo BHLĐ,còn xưởng làm việc chỉ cấp mũ và khẩu trang.Tuy vậy chất lượng của các bộ quần áo này vẫn  còn đang là vấn đề nhức nhối.

    1.1.9.      4.3. Đời sống văn hóa tinh thần của người lao động.

                            4.3.1. Vĩ mô

    Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu châu á nói chung và đến VN nói riêng là không thể phủ nhận. Đời sống của người lao động vì thế mà ngày càng khó khăn cả về vật chất và tinh thần. Trước thực tế khó khăn chung của cả nước khiến một bộ phận người LĐ bị mất việc trong năm 2008, và dự báo LĐ thất nghiệp sẽ tiếp tục tăng lên trong năm 2009, chính sách của nhà nước thì chưa thực sự quan tâm đến vấn đề tinh thần cho người lao động. Việt Nam lại chưa có hệ thống an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho người thất nghiệp. Chưa đầu tư vào các vấn đề về các khu vui chơi giải trí, tổ chức các hoạt động du lịch lành mạnh cho họ. Nhiều người còn sống trong các khu nhà tạm bợ, không đủ các điều khiện tối thiểu để sinh hoạt.

    Hiện nay nhà nước Đảng đã đề ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện tình trạng này. Chính sách về tiền lương tối thiểu có hiệu lực năm 2009 này là một trong những biện pháp tích cực để cải thiện tình hình trên.

    Xây dựng đội ngũ CN vững vàng về chính trị tư tưởng, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỷ luật LĐ, tác phong công nghiệp và có nếp sống văn hoá, thực sự là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước… là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có tổ chức CĐ.

                            4.3.2. Vi mô

    Do sức ép về việc làm của các địa phương ngày càng gia tăng, dòng người LĐ di cư từ các nơi đến thành thị cũng ngày càng đông. Phần lớn số LĐ này trình độ văn hoá, tay nghề còn thấp, tác phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật còn hạn chế. Trong khi đó, việc xây dựng các KCN-KCX chưa gắn với quy hoạch đô thị, đặc biệt là xây dựng nhà ở, các công trình phúc lợi công cộng và hình thành các thiết chế văn hoá đi kèm… Điều này khiến cho đa phần người LĐ buộc phải sống, sinh hoạt trong những khu nhà trọ tạm bợ, nhếch nhác mọc lên tự phát xung quanh các KCN-KCX. Đây là môi trường thuận lợi cho các loại tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn ma tuý, mại dâm rình rập lôi kéo người LĐ. Nếu chúng ta không cải thiện được tình hình trên thì nguy cơ tha hoá một bộ phận đội ngũ CN là hiện thực. Đây là một thực tế rất đáng lo ngại. Quả thật có nhiều doanh nghiệp mới chỉ chăm chú báo cáo con số bình quân lương tháng của NLĐ, mà hoàn toàn quên “phần hồn” của họ.tiền lương thâm chí ko đủ ăn chứ không nói gì đến giải trí. ngay trong “hàng rào” doanh nghiệp, quan hệ chủ thợ vẫn  rất phức tạp, điều kiện làm việc của người CN còn xấu, quyền lợi về vật chất và văn hoá, tinh thần của người LĐ còn bị vi phạm.

    Điển hình là một số thành phố lớn trong cả nước:

    Hà Nội:  số liệu điều tra 45 Doanh nghiệp của CĐ thủ đô cho thấy với 60% số CNLĐ không xem tivi, 85% không đọc báo, 80% không tập thể dục và 65% không tham gia các hoạt động văn hoá…

    Nhiều Doanh nghiệp không đảm bảo điều kiện LĐ, ký HĐLĐ, ký TƯLĐTT, đóng BHXH cho NLĐ…

    Qua một điều tra gần đây ở tỉnh Bình Dương cho thấy, CN phụ thuộc hoàn toàn vào các hình thức giải trí được cung cấp sẵn, rẻ tiền hoặc miễn phí như: 89,4% (người được hỏi) giải trí bằng ti vi; 82,4% nghe đài; sử dụng Internet 1,2%.

    Nhưng 71,8% (số người được hỏi) không đến rạp chiếu phim (trong vòng một năm), tương tự 88,2% không đến nhà hát; 77,6% không đến bảo tàng; 74,1% không đến các di tích lịch sử văn hóa; 76,5% không đến danh lam thắng cảnh; 84,7% không đến nhà thi đấu thể thao; 95,3% không đến câu lạc bộ; 91,8% không đến cung văn hóa; 89,4% không đến thư viện; 62,4% không đến các khu vui chơi giải trí…

    Tóm lại, đời sống văn hóa tinh thần rất nghèo.trước tình hình đó LĐLĐVN đã đề ra một số kiến nghị.

    1.1.9.      4.4. Bảo hiểm

    1.1.9.                  4.4.1. Vĩ mô

    Nhà nước hiện nay đã có rất nhiều chế tài quy định về bảo hiểm cho người lao động với những quy định chế tài phù hợp với việc ban hành luật bảo hiểm chính thức có hiệu lực 1/1/2007, quy định bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp… Tất cả những nội dung trong luật nhằm bảo vệ người cuộc sống của người lao động hiện tại và cả trong tương lai. Việc đầu tư cho vấn đề bảo hiểm cũng được nhà nước chú trọng. Và đã đạt được những kết quả thiết thực. Tính đến cuối năm 2008, cả nước có 8,527 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, chiếm gần 70% số lao động thuộc diện tham gia bắt buộc. Bên cạnh đó, có trên 6.200 người tham gia BHXH tự nguyện, trong đó chủ yếu là những người trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc. Đồng thời, số tiền nợ đóng BHXH là 2000 tỷ đồng, chiếm 7,0% tổng số phải thu theo chỉ tiêu được giao. Số tiền nợ trong hai năm qua tập trung chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp. Trong đó, riêng năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH. Và cuối năm 2008 đã giải quyết trên 117.700 người hưởng BHXH hàng tháng, trong đó hưu trí là 96.500 người, giải quyết chế độ BHXH ngắn hạn cho 2,5 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, gần 600. 000 lượt người hưởng chế độ thai sản, trên 4.500 người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN và khoảng 500.000 lượt người hưởng trợ cấp dưỡng sức, phụ hồi sức khỏe. Việc thực hiện đầu tư với một cơ chế đồng bộ về bảo hiểm cho người lao động của nhà nước phần nào đã đảm bảo cuộc sống cho người lao động tạo sự an tâm làm việc của họ. Bên cạnh đó nhà nước cũng đã xó những chính sách nhự trợ cấp phụ cấp cho người lao động khi ốm đau bệnh tật từ quỹ của BH.

                            4.4.2.Vi mô.

    Bảo hiểm xã hội là cầu nối trung gian khiến các chủ Doanh nghiệp và NLĐ giữ được mức ổn địng về đời sống vật chất ,tinh thần truớc mắt cũng như lau dài góp phần an sinh xã hội.Và mặc dù đóng BHXH,BHYT là một trong các nội dung mà pháp luật nước ta yêu cầu các Doanh nghiệp phải thực hiện để đảm bảo  quyền và nghĩa vụ đối với người lao động thế nhưng ở nước ta trong thoèi gian qua vẫn còn nhiều Doanh nghiệp chưa chấp hành tốt chế độ BHXH cho NLĐ.Trong cả nước năm 2008, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 35%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 33% tổng số tiền chậm đóng, nợ đóng BHXH.

    Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp tìm mọi cách né tránh với lý do làm ăn không hiệu quả, sản xuất kinh doanh thua lỗ; chế tài xử lý các trường hợp vi phạm còn bất cập cả về mức xử phạt và cơ chế phối hợp khi kiểm tra, xử lý các vi phạm. Một số đơn vị khi có đoàn thanh tra xuống kiểm tra thì vin vào cớ là làm thủ tục chưa xong, khi đoàn kiểm tra đi rồi thì đâu lại vào đấy, 2 năm sau xuống kiểm tra vẫn… chưa xong! Một số doanh nghiệp còn né tránh việc ký kết hợp đồng lao động cho lao động có thời gian từ 3 tháng trở lên, hoặc ký hợp đồng với mức lương thấp hơn mức tiền lương quy định, gây khó khăn cho công tác thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế. Việc xây dựng thang bảng lương ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc trích nộp Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế.

    Ở khu vực kinh doanh nhỏ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các hộ sản xuất những mặt hàng tiêu dùng như bánh kẹo, ô mai, do chỉ mang tính chất “tự sản, tự tiêu” nên số lao động được đóng bảo hiểm hầu như không có.

    Những cơ sở có quy mô nhỏ, lao động thời vụ khó khăn đã đành, nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn làm ăn có lãi cũng tìm cách trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội, ở một số địa phương tình trạng đã đến mức báo động. Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội, tỉnh Bắc Kạn hiện có 117 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động nhưng mới chỉ có 18 đơn vị tham gia đóng bảo hiểm cho 191 lao động, chiếm 15% tổng số doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp xây dựng lớn có quy mô hoạt động rộng với lực lượng công nhân tới vài trăm người, nhưng vẫn không chịu tham gia đóng bảo hiểm cho người lao động.

    Doanh nghiệp vì lợi nhuận cố tình chây ỳ trách nhiệm, người lao động tuy rất muốn tham gia bảo hiểm xã hội, song lại không dám đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng của mình do sợ bị đuổi việc. Thống kê sơ bộ, tổng số tiền nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp đã lên đến 1.500 tỷ đồng.

    Tuy nhiên, biện pháp xử lý những “con nợ” kiểu này dường như chưa đủ sức răn đe ngăn ngừa. Một chuyên viên Vụ Bảo hiểm xã hội Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết, cơ quan bảo hiểm xã hội chỉ có quyền kiến nghị, yêu cầu thành lập các đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra việc tuân thủ Luật Lao động của các doanh nghiệp. Quyết định xử phạt do các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra nhưng thường số tiền phạt không thấm vào đâu so với số nợ và tiền lãi phát sinh, thậm chí có quyết định xử phạt rồi doanh nghiệp chây ỳ vẫn không làm gì được họ.

    Biện pháp khấu trừ tài khoản của doanh nghiệp chậm nộp bảo hiểm xã hội cũng không có tác dụng vì thiếu sự phối hợp với các ngân hàng thương mại. “Cực chẳng đã, có lần cơ quan chức năng ra quyết định phong tỏa tài khoản, nhưng khi kiểm tra lại không có một đồng nào vì đó chỉ là tài khoản “ma” doanh nghiệp dùng để đối phó với các cơ quan chức năng.

     

    II. Thành tựu và thách thức đặt ra cho vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

    1.1.10    1.Thành tựu

    1.1.10.  1.1. Về sức khỏe

    Chiều cao trung bình: Nam:163,5cm. Nữ :152,7cm

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi :16 phần ngàn ( 2007);

    Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: 21,2% (2007)

    Tuổi thọ trung bình :71,3 tuổi

    Chiều cao trung bình của thanh thiếu niên và người trưởng thành đã được cải thiện rõ rệt, trong đó chiều cao trung bình của thanh niên từ 18-19 tuổi tăng 4,5 cm và nữ tăng 4,5 cm so với lứa tuổi này cách đây 25 năm .Hiện tại, nam thanh niên VN 20 tuổi đã cao hơn 4,7cm so với năm 1975 (163,7cm so với 159cm), nữ thanh niên cao hơn (153m so với 149cm) nhưng vẫn chậm nếu đem so với quốc tế.Tuy nhiên, so với Nhật Bản, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 8 cm (Việt Nam 163,5 cm – Nhật Bản: 172 cm); chiều cao trung bình của nữ thanh niên cũng thấp hơn 4 cm (Việt Nam: 152,7 cm – Nhật 157 cm). Nếu so với chỉ số trung bình của thế giới thì càng kém (hiện nay, chiều cao trung bình của thế giới là 176,8 cm với nam và 163,7 cm với nữ).So với thanh niên Singapore kém 6-7cm , so với Thái Lan kém 2cm.Tầm vóc nam thanh niên 18 tuổi của ta kém châu Âu 13,1cm (163,7cm so với 176,8cm), nữ thanh niên thì kém 10,7cm (153cm và 163,7cm). Thể lực cũng thua kém nhiều, đặc biệt là sức bền. Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam chỉ ngang thanh niên Lào, Myanmar và thấp hơn chiều cao trung bình của thanh niên Campuchia.

    Các chỉ số khác như: dung lượng tim, sức bền… của thanh niên Việt Nam cũng thấp.Chỉ số công năng tim trong vận động (theo dõi nhịp tim khi đứng lên ngồi xuống 30 lần/30 giây), thanh niên VN đạt loại kém… phản ánh thực trạng ít vận động, dẫn đến béo phì, trầm cảm, ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ.

    Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 44,4 phần ngàn năm 1989 xuống còn 16 phần ngàn năm 2007; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm nhanh từ 51,5%năm 1990 xuống còn 21,2% năm 2007. Năm 2007, chiều cao trung bình của trẻ dưới 2 tuổi đã tăng 5 cm so với 22 năm trước, nhưng vẫn thấp hơn 5 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Đó là kết quả điều tra mới nhất của ngành dinh dưỡng, vừa hoàn thành vào cuối năm 2007. Theo điều tra này, lứa tuổi càng lớn, khoảng cách giữa chiều cao trung bình của trẻ em Việt Nam với chuẩn càng xa. Trẻ 5 tuổi tuy đã cao hơn gần 6 cm so với thời điểm 1985 nhưng vẫn phải cố 7 cm nữa mới đạt mức chuẩn 109,4 cm mà Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra.

    Trong những năm qua tuổi thọ trung bình của Việt Nam không ngừng tăng lên. Năm 2003 tuổi thọ trung bình của Việt Nam là 68,6 tuổi, năm 2004-69 tuổi, năm 2005-70,5 tuổi và năm 2006 tăng lên 71,3 tuổi. Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.

    1.1.10.  1.2. Về trình độ văn hóa

    Tỷ lệ người biết chữ từ 88% năm 1989 tăng lên 93% năm 2000. Đến hết năm 2000, 100% các tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù, các tỉnh thành phố đã thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở.

    1.1.10.  1.3. Về chuyên môn kỹ thuật

    Thống kê cho thấy, cho đến nay, tỉ lệ công nhân đã tốt nghiệp tiểu học là 7,4%, tốt nghiệp THCS là 28,4% và tốt nghiệp PTTH trở lên là 62,3%. Cả nước có khoảng 25% công nhân và 39% lao động phổ thông chưa qua đào tạo tay nghề, đặc biệt là lao động trong một số khu vực ngành nghề như cao su, thuỷ sản…(12/02/2007)

    Hiện nay cả nước có 65% dân số trong độ tuổi lao động (khoảng 53 triệu người), trong đó, chỉ có 27,5% đã qua đào tạo (trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này là 60 – 70%). Theo Bộ LĐ-TB-XH, lực lượng lao động ở VN chủ yếu là lao động nông thôn (chiếm trên 50%), trong khi có đến khoảng 70% lao động ở khu vực này chưa qua đào tạo,0,8% có trình độ cao đẳng, 0,7% ở trình độ đại học và tương đương, trình độ chuyên môn, tay nghề yếu, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém.

    Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên có sự cách biệt khá lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa nam và nữ, giữa các vùng lãnh thổ kinh tế về trình độ giáo dục. Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận ở nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn 8,6 lần và nhân lực, trong đó đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị. Cơ cấu lao động theo trình độ kỹ thuật cũng có những điểm mất cân đối so với yêu cầu của sự phát triển. Lao động trí óc ở thành thị chiếm 30%, ở nông thôn chỉ là 4,4%.

    Hiện tại VN đang nhập khẩu khoảng 2% lao động đối với một số nhóm ngành đặc biệt. Hiện tại, các doanh nghiệp ở một số khu công nghiệp đang trong tình trạng thiếu lao động, trong khi một số địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu về nhân lực. Năng suất lao động của VN chỉ đứng thứ 77/125 quốc gia, thấp hơn nhiều với cả các nước như Philíppin, Thái Lan, Malaixia.

    Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng các nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

    1.1.10.  1.4. Về số lượng lao động.

    Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động năm 2005 và đã tăng lên khoảng 63,4 triệu năm 2007.

    Ông Nguyễn Bá Thủy, Thứ trưởng Bộ Y tế, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số – KHHGĐ cho biết, từ năm 2007, cơ cấu dân số (DS) nước ta bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại và tỷ lệ DS phụ thuộc dưới 50%.

    Giai đoạn “cơ cấu DS vàng” dự báo kéo dài 15 năm, từ 2007 đến 2012, đây là khoảng thời gian ngắn so với nhiều nước trên thế giới. Đến năm 2015, tỷ lệ DS trong độ tuổi lao động đạt giá trị cực đại, chiếm tới 68,2% DS, theo đó có 63,4 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 94,3 triệu dân.

    Đồng thời, số người bước vào tuổi lao động mỗi năm là 1,6 triệu người khiến nhu cầu về giải quyết việc làm tăng. Do vậy, giải quyết việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào sẽ là một thách thức đối với nền kinh tế nước ta trong những năm tới.

    Mỗi năm có khoảng 200.000 sinh viên tốt nghiệp ra trường (chưa kể số lượng công nhân kỹ thuật tốt nghiệp từ các trường đào tạo nghề – PV). GS-TS Hồ Đức Hùng (Viện Nghiên cứu kinh tế TP.HCM) nói: “Đội ngũ này chỉ nặng về lý thuyết mà yếu về kỹ năng thực hành”. Các doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động phải đào tạo lại từ kỹ năng cho đến ý thức hệ và tính kỷ luật công nghiệp”.

    1.1.11    2. Hạn chế

    Ngoài những ưu thế phần nhiều mang đặc tính số lượng, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện vẫn còn phải đối mặt với rất nhiều hạn chế về mặt chất lượng, trong đó, những hạn chế nổi bật nhất là:

    Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị

        2006 2007 Ước tính năm 2008
             
    CẢ NƯỚC 4,82 4,64 4,65
             
      Đồng bằng sông Hồng 6,42 5,74 5,31
      Trung du và miền núi phía Bắc 4,18 3,85 4,13
      Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 5,50 4,95 4,73
      Tây Nguyên 2,38 2,11 2,49
      Đông Nam Bộ 5,47 4,83 4,85
      Đồng bằng sông Cửu Long 4,52 4,03 4,08

    – Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn rất thấp.

    Đến 1/7/2002, tính chung trong cả nước, số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chỉ chiếm có 19,62% tổng lực lượng lao động. Riêng đối với nữ, tỷ lệ này còn thấp hơn, chỉ có 15,67%

    Hơn thế nữa, cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý: số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật còn quá thiếu so với yêu cầu. Số này chủ yếu chỉ tập trung tại các thành phố và khu đô thị lớn (Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố, trung tâm công nghiệp lớn khác). Trong khi đó, ngành nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước, nhưng chỉ chiếm 3,85 % số người được đào tạo. Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến việc tăng cơ hội việc làm và thu nhập, mà còn là yếu tố làm hạn chế sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    Bảng 5 : Cơ cấu lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (đến 1/7/2002)
      Không có TĐ

     

    chuyên môn kỹ thuật

    Có trình độ

     

    CMKT

    Trong đó chia ra theo trình độ
    Sơ cấp/

     

    Chứng chỉ

    CN KT  không bằng CN KT

     

    có bằng

    Trung

     

    học CN

    CĐ, ĐH

     

    trở lên

    Cả nước: số lao động (người) 32.710.127 7.984.233 265.875 307.393 352.903 307.393 332.144
    Chiếm tỷ  lệ (%) 80.38 19.62 3.33 3.85 4.42 3.85 4.16
    Theo giới tính:              
    Nữ (người) 16.917.831 3.143.631 81.106 78.276 79.220 132.661 121.344
    Chiếm tỷ lệ (%) 84.33 15.67 2.58 2.49 2.52 4.22 3.86

    Nguồn: Báo cáo kết quả “Điều  tra lao động, việc làm”, Bộ LĐ-TB-XH, 1/7/2002

    – Đội ngũ “lao động chất xám” còn thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng

    Tình hình học sinh bỏ học là vấn đề đang được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Năm học 2007-2008, cả nước có 215,1 nghìn học sinh bỏ học, chiếm gần 1,4% tổng số học sinh, bao gồm 32 nghìn học sinh tiểu học, chiếm 0,5% tổng số học sinh tiểu học; 105,2 nghìn học sinh trung học cơ sở, chiếm 1,8% số học sinh trung học cơ sở; 77,9 nghìn học sinh trung học phổ thông, chiếm 2,6% số học sinh trung học phổ thông. Nguyên nhân của tình trạng bỏ học chủ yếu do học sinh có học lực yếu kém hoặc hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, không có điều kiện theo học tiếp.

    – Thể lực của người lao động Việt Nam còn kém

    Theo số liệu điều tra về tình trạng thể lực của lao động Việt Nam năm 1996, người lao động Việt Nam có thể lực kém, thể hiện qua các chỉ số về cân nặng, chiều cao trung bình, sức bền. Cụ thể là trong khi chiều cao trung bình của người lao động Việt Nam là 1,47 m; cân nặng 34,4 kg thì các con số tương ứng của người Philipin là 1,53 m; 45,5 kg; người Nhật là 1,64 m; 53,3 kg. Số người không đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm tới 48,7%. Số lượng người lớn suy dịnh dưỡng là 28%, phụ nữ thiếu máu là 40 % (số liệu điều tra năm 2000). Các số liệu điều tra năm 2001 đối với người lao động trong một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy số người mắc bệnh nghề nghiêp chiếm 54%.

    Người từ 60 đến 69 tuổi chiếm 4,61% (gần bốn triệu người), từ 70 đến 79 tuổi chiếm 3,41% (khoảng 2,9 triệu người).

    Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp còn chưa cao

     

    Chương 3: Một số giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực

    1 Giải pháp cho việc đầu tư phát triển giáo dục đào tạo

    1.1.12    1.1 Vĩ mô:

    Thứ nhất, đầu tư đổi mới chương trình giảng dạy, chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, một số ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt mềm dẻo hơn, đáp ứng dụng cầu học tập thường xuyên; tạo ra nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học.

    Đối với giáo dục đại học, đầu tư thay đổi chương trình giảng dạy phù hợp với yêu cầu nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp, ngoài các kiến thức cần giảng dạy thêm kỹ năng nghề nghiệp, để thực hiện được yêu cầu này có sự đầu tư và quan tâm của nhà nước đối với giáo dục đại học,  từ đó có những giải pháp cân đối ngân sách nhà nước,và bên cạnh đó là duy trì các chính sách khuyến khích đối với sinh viên giỏi, sinh viên nghèo vượt khó như: chế độ học bổng , miễn giảm học phí cho các đối tượng thuộc chính sách xã hội, học bổng cho các sinh viên học giỏi, thực hiện tín dụng sinh viên, miễn học phí cho các sinh viên theo học tại các trường sư phạm

    Thứ hai, chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GD.. Tiến hành đổi mới kiểm tra, đánh giá cho tất cả Giáo viên từ cấp tiểu học đến THPT. Triển khai chương trình xây dựng nhà công vụ cho giáo viên bằng ngân sách nhà nước và huy động sự đóng góp của xã hội. Thực hiện việc cử luân phiên giáo viên làm công tác ở các vùng khó khăn theo Nghị định của Chính phủ từ năm học 2007-2008. Đầu tư triển khai cuộc vận động nâng cao đạo đức nhà giáo (xây dựng quy tắc ứng xử, tiêu chí đánh giá đạo đức nhà giáo), chống bạo hành trong nhà trường. Thực hiện thí điểm đánh giá giảng viên ĐH, CĐ thông qua ý kiến của SV, từng bước mở rộng sang TCCN và dạy nghề. Xây dựng chương trình chuẩn bồi dưỡng về quản lý GD cho các hiệu trưởng trường mầm non, phổ thông, TCCN, CĐ, ĐH. Tổ chức các lớp bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông, hiệu trưởng ĐH

    Thứ ba: Đầu tư đổi mới cơ chế tài chính của nền GD, thực hiện xã hội hoá GD-ĐT:

    Tăng ngân sách cho GD-ĐT và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách: Thực hiện kế hoạch ngân sách trung hạn (3-5 năm); triển khai chương trình mục tiêu quốc gia GD-ĐT đến 2010 gắn với tiêu chí hiệu quả (xây dựng trường lớp, trang bị phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu khoa học, tin học hoá quản lý, triển khai đào tạo theo các chương trình tiên tiến…); thực hiện phân bổ kinh phí theo nguyên tắc công khai, hiệu quả, cạnh tranh; gắn kết giữa chi của ngân sách và các dự án ODA, khuyến khích sự tham gia góp vốn của các doanh nghiệp, địa phương. Tập trung đầu tư cho các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ, các huyện, xã khó khăn.

    Triển khai và giám sát việc thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để học ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề.  Thực hiện xã hội hoá giáp dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáp dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp… để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.

    Hoàn thiện các cơ sở pháp lý và chính sách để phát triển hệ thống các trường ngoài công lập, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào GD-ĐT bằng các chính sách khuyến khích về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ đào tạo GV; Xây dựng văn bản hướng dẫn về chuyển đổi loại hình từ trường bán công sang công lập hoặc tư thục, trường dân lập sang tư thục… Tăng cường hợp tác quốc tế về GD – ĐT, tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới.

    Thứ tư: Đầu tư thực hiện phân cấp và quản lý theo tiêu chí chất lượng

    Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đầu tư tiến hành phân cấp mạnh mẽ hơn, ví dụ phân cấp quản lý đối với các trường ĐH trọng điểm; Phân cấp cho HĐND các tỉnh thành quyết định mức học phí các trường phổ thông ở địa phương, phát triển GD phổ thông và phát triển dạy nghề… tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục. Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.

    1.1.13     1.2. Vi mô:

    Như ta đã biết các doanh nghiệp coi việc đào tạo cho người lao động là đầu tư cho tương lai và có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp bao gồm:

    Thứ nhất: Các doanh nghiệp kết hợp với các trường đại học, cũng như trường đào tạo nghề, các doanh nghiệp sẽ nói cho nhà trường biết các yêu cầu của họ về kỹ năng cũng trình độ của người lao động mà họ cần, nhà trường cam kết sẽ đào tạo được số lượng học viên đáp ứng yêu cầu đó, thì đổi lại doanh nghiệp sẽ đầu tư các trang thiết bị, điều kiện cơ sở vật chất, phục vụ cho việc học tập tại trường.

    Thứ hai, thực hiện dạy nghề, đào tạo lại cho công nhân mới vào làm. Dù cách này chỉ mang tính nhất thời trước mắt, nhưng việc đào tạo lại cho người lao động mới vào làm là cần thiết trong điều kiện hiện nay giáo dục của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của việc làm. Việc đào tạo này đỏi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư về vốn và đội ngũ giảng dạy, để tổ chức các khóa đào tạo lại, ngoài ra các doanh nghiệp có thể kết hợp với các trường đại học và trường đào tạo nghề để thực hiện việc này.

    Thứ ba, Đầu tư thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ khen thưởng cho sinh viên, học viên các trường đại học, đào tạo nghề. Trao học bổng, khen thưởng các sinh viên giỏi cũng như sinh viên nghèo vượt khó, tổ chức các hội thảo hướng nghiệp, các dự án giáo dục nhằm tiếp cận và tìm kiếm những sinh viên xuất sắc, có tiềm năng cho công việc của doanh nghiệp. Còn hình thức nữa mà doanh nghiệp có thể dùng để thực hiện công tác đào tạo người lao động ngoài các quỹ hỗ trợ cho sinh viên ra, doanh nghiệp có thể thực hiện hỗ trợ nghiên cứu sinh trong việc nghiên cứu khoa học, hỗ trợ các dự án giáo dục , các hoạt động phong trào tại trường mà doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng

    Thứ tư, tổ chức cho người lao động đi sang nước ngoài du học nâng cao trình độ và tay nghề. Tận dụng điều kiện thuận lợi về khoa học công nghệ nước ngoài, cũng như trình độ quản lý tiên tiến ở nước ngoài, người lao động có thể nâng cao hiểu biết, áp dụng khoa học của những nước ấy sau khi về nước. Tuy nhiên để tránh tình trạng người lao động ra nước ngoài mà không quay lại nữa, cần doanh nghiệp có những quy định ràng buộc người lao động về hợp đồng tiền lương, hay tạo các điều kiện làm việc hấp dẫn cho người lao động sau khi đi du học trở về nước.

    2.Một số giải pháp đối với ngành y tế

    1.1.14    2.1. Đối với vấn đề thiếu vốn.

    1.1.14.  – Xã hội hoá ngành y tế.

    Để có nền y tế phát triển thật sự bền vững, điều kiện đầu tiên đó là y tế phải thuộc về xã hội. Xã hội hoá y tế dể huy động tối đa các nguốn lực trong xa hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở y tế và tư nhân, khuyến khích tạo cơ hội đầu tư cho các cơ sở y tế có tiềm năng để có những bước phát triển vượt trôi, hỗ trợ các cơ sở y tế chưa có tiềm năng không bị thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hoá về trình độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi ngưòi dân đều có cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao.

    “ Phải đẩy mạnh xã hội hoá y tế, mọi thành phần kinh tế và mọi nguồn lực đầu tư phát triển ngành y tế, coi xã hội hoá là một giải pháp song song với việc tăng cường đầu tư của nhà nước cho phát triển y tê”.

    1.1.14.  – Số hoá ngành y tế.

    Công nghệ thông tin (CNTT) đang dần chứng tỏ tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn “đỡ đầu” cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong KCB như chụp cắt lớp, mổ nội soi… thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử…

    Tại hội nghị về ứng dụng CNTT trong ngành y tế vừa được tổ chức vào cuối tháng 2/2009, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu đã yêu cầu: “Với nhận thức sâu sắc vai trò của CNTT đối với công tác y tế hiện đại, ngành y tế cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công cụ này vừa để nâng cao chất lượng công tác quản lý điều hành và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí…”.

    1.1.14.  – Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển TTBMM y tế nhằm giảm chi phí mua sắm trang thiết bị.

    Bộ Y tế cần có giải pháp đồng bộ để xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất TTBYT. Khuyến khích dùng TTBYT sản xuất trong nước, giảm dần nhập khẩu.

    Đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những TTBYT chưa sản xuất được trong nước. Từng bước xây dựng và trình Chính phủ xem xét ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất TTBYT thay thế hàng nhập khẩu. Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản xuất TTBYT.

    1.1.15    2.2. Đối với vấn đề quản lý vốn trong ngành y tế.

    1.1.15.  – Mô hình viện – trường

    Mô hình này giúp các y bác sỹ có thể vừa hoạt động khám chữa bệnh vừa tham gia nghiên cứu phát triển y tế dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, các học sinh sinh viên học tại trường có cơ hội chứng kiến thực tế nhiều hơn, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân mình.

    1.1.15.  – Đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân.

    Để ngành y tư nhân phát triển nhanh, Bộ cần thành lập một ban chuyên trách y tế tư nhân. Ban này sẽ hỗ trợ về nhiều mặt như xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực qua việc cho phép mở các trường đại học y khoa tư nhân.

    Ngoài ra, khi khu vực tư nhân phát triển sẽ khiến sự cạnh tranh hoàn hảo hơn. Các dịch vụ y tế sẽ phải không ngừng nâng cao chât lượng dịch vụ của mình, giá cả cung cấp dịch vụ phù hợp, người dân sẽ cơ hội được sử dụng dịch vụ y tế chất lượng cao với chi phí không quá tốn kém.

    1.1.16    2.3. Cải cách chế độ viện phí và chính sách đãi ngộ đối với y bác sỹ.

    Để thu hút các bác sỹ giỏi làm việc các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng cao… cần liên tục đào tạo và cử tuyển chứ không phải thi tuyển, tăng phụ cấp, luân chuyển cán bộ y bác sỹ.

    Viện phí chính là một nguồn thu đối với các cơ sở y tế. Ngày nay nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng nhiều trong khi đội ngũ nhân viên y tế không tăng đáng kể khiến ngành y tế đã phải tận dụng hết mức nguồn lực trong khi chế độ viện phí đã quá lỗi thời. Vì vậy cần phải cải cách chế độ viện phí phù hợp, cải thiện cuộc sống của đội ngũ nhân viên y tế.

    3. Một số giải pháp cho vấn đề tiền lương

    • Tăng lương cơ bản đi đôi với kiềm chế lạm phát
    • Tiền lương phải phản ánh đúng chất lượng người lao động
    • Thưởng mang đúng nghĩa và phản ánh đúng thực lực người lao động cũng như tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

    4. Giải pháp cho vấn đề môi trường lao động.

    1.1.16.  4.1.Vĩ mô.

    Đứng trước thực trạng hiện nay ở các Doanh nghiệp về vấn đề môi trường lao động như :công đoàn ,vệ sinh an toàn lao động,bảo hộ lao động,tham gia BH cho người lao động,nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động…còn nhiều bất cập,chúng tôi xin đề ra một số biện pháp giải quyết sau:

    Tuyên truyền vận động các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chính sách về lao động đối với công nhân lao động; chú trọng chăm lo đời sống tinh thần lẫn vật chất; Công đoàn ở các doanh nghiệp KCN phải thường xuyên giáo dục tuyên truyền các chính sách pháp luật của nhà nước cho công nhân lao động ở đơn vị mình, đặc biệt là pháp luật về lao động.

    Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội trong việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động như: bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, khám sức khỏe định kỳ, các chế độ chính sách đối với lao động nữ, lao động nữ khi đang mang thai,…

    .    Sớm ban hành thống nhất cơ chế chính sách, hỗ trợ ưu đãi đầu tư đối với việc xây dựng nhà ở cho người lao động làm việc trong các KCN. Quy hoạch KCN phải gắn với quy hoạch khu nhà ở cho công nhân, đáp ứng quy hoạch chung của đô thị. Việc quy hoạch xây dựng nhà ở cho công nhân phải gắn với các dự án nhà ở thương mại hoặc các dự án khu đô thị mới để bảo đảm tính đồng bộ về cơ sở hạ tầng xã hội. Cần có quy định điều kiện và ràng buộc trách nhiệm đối với Công ty đầu tư hạ tầng KCN trong việc quy hoạch và triển khai xây dựng hạ tầng KCN đồng bộ, thống nhất. Công ty đầu tư hạ tầng KCN phải bảo đảm tối thiểu 10% chỗ ở cho người lao động trong KCN với giá cả hợp lý. Đồng thời cho phép các doanh nghiệp sản xuất trong KCN được giao đất theo quy hoạch xây dựng nhà ở cho người lao động theo cơ chế hạch toán vào chi phí sản xuất để tự doanh nghiệp có thể bảo đảm 40-50% chỗ ở cho công nhân của mình với quy mô, giá cả phù hợp. Nhà nước có chính sách đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư nhà ở cho công nhân về giải phóng mặt bằng, miễn tiền thuê đất, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp… Đa dạng hóa các hình thức đầu tư, xã hội hoá xây dựng nhà ở cho công nhân nhưng không thả nổi cho thị trường tự điều tiết và có quy định các điều kiện thiết yếu cũng như quản lý nhân khẩu, an ninh trật tự… Đồng thời nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể trong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, góp phần tích cực nâng cao cuộc sống cho người lao động. Đặc biệt cần có tổ chức Đảng trong mỗi doanh nghiệp cũng như KCN vì ở đó tập trung cao những người lao động là giai cấp công nhân. Tuy nhiên KCN lại thuộc địa bàn nhiều ,tỉnh ,huyện hoặc nhiều xã nên phải có cách thức tổ chức phù hợp để sự chỉ đạo đạt tính thống nhất và nâng cao hiệu quả.

    Tăng cường đối thoại, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của người lao động, những ý kiến đề xuất của tổ chức Công đoàn, của chủ doanh nghiệp để có hướng giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc.

    Mặt khác, cần tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao trình độ chính trị, hiểu biết pháp luật, nhất là pháp luật về lao động, về quyền lợi chính đáng và hợp pháp của người lao động để họ có ý thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và tự giác tuân thủ pháp luật lao động

    Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư các cơ sở dạy nghề với các phương tiện kỹ thuật hiện đại; đầu tư nâng cấp các cơ sở dạy nghề hiện có; tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề; thực hiện tốt công tác dự báo nhu cầu lao động, ngành nghề đào tạo; gắn công tác đào tạo nghề sát với nhu cầu của các doanh nghiệp.

    Cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp các nghành có lien quan để đồng bộ thực hiện cac biện pháp này.

    1.1.16.  4.2.Vi mô.

    Nhóm giải pháp ở phía các Doanh nghiệp.

    Mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công việc như:máy điều hòa ,hệ thống máy tính ,cung cấp các tài liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu,hệ thongs hút bụi trong các phân xưởng hay ngay cả việc cung cấp các thiết bị văn phòng cần thiết khác như bàn làm việc,phòng làm việc các thức tổ chức…Điều kiện lao động là vấn đề mà người lao động luôn quan tâm hàng đầu khi chấp nhận công việc cho Doanh nghiệp.

    Thực hiện các chính sách nhằm hỗ trợ chỗ ở,cuộc sống cho đội ngũ các nhà khoa học như:chính sách cấp nhà đât,hỗ trợ tài chính cho họ ổn định cuộc sống

    Chú trọng các hoạt động cải thiện điều kiện lao động, thực hiện tốt quy định về thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi, chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo các chế độ phúc lợi xã hội… đối với lao động .

    Quan tâm tổ chức nâng cao đời sống tinh thần cho chị em; tạo điều kiện cho lao động nữ hoàn thành tốt các công việc của gia đình và ở nơi làm việc, trở thành người phụ nữ giỏi việc nước, đảm việc nhà, đáp ứng được các yêu cầu mới trong giai đoạn phát triển hiện nay

    Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, nâng cao nhận thức an toàn vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ; tăng cường phổ biến các biện pháp cải thiện điều kiện lao động đến các phân xưởng ,xí nghiệp

    Tổ chức vệ sinh cơ quan, xí nghiệp, trường học, trồng và chăm sóc caay xanh, thực hiện tốt nôi quy an toàn, vệ sinh lao động nơi sản xuất… sẽ hạn chế được nhiều sự cố mất an toàn, gây tai nạn cho người lao động. Bên cạnh đó, nên phát huy sáng kiến, nghiên cứu đề tài khoa học về BHLĐ nhằm đảm bảo an toàn lao động cho công nhân.

    Khi tổ chức thực hiện, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp cần nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm về AT – VSLĐ mà luật pháp đã qui định tại Điều 13 của Nghị định 06/CP ngày 20/1/1995 như: Khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp AT – VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động; trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, thực hiện tốt các chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, chế độ đối với lao động nữ, chế độ bồi thường TNLĐ, BNN, các qui định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trang bị các phương tiện cấp cứu, kiểm tra đo đạc các yếu tố độc hại, khi phát hiện có bất thường phải kịp thời kiểm tra, xử lý; xây dựng nội qui, qui trình AT – VSLĐ phù hợp với từng loại máy, thiết bị, công nghệ đúng theo tiêu chuẩn của Nhà nước; tổ chức khám sức khoẻ, huấn luyện AT – VSLĐ cho NLĐ; thực hiện  nghiêm chỉnh các qui định về đăng ký, kiểm định khi sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về AT – VSLĐ; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện…

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Nguồn nhân lực nước ta hiện nay có thể nói là “thiếu về số lượng và yếu về chất lượng”, chưa đảm bảo để có thể tận dụng hết mọi cơ hội phát triển của đất nước. Nếu không khắc phục được những khó khăn này thì việc Việt Nam đuổi kịp những nước châu Á mới phát triển ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo sẽ trở thành những mục tiêu khó đạt được.

    Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua đã có một thành tựu đáng kể đến, tuy nhiên hạn chế cũng không phải là ít, vì vậy, cần phải thực hiện hoạt động này một cách quy củ và hợp lý hơn nữa, đảm bảo cung cấp cho đất nước lực lượng lao động tiên tiến trong quá trình hội nhập quốc tế.

    Con người lúc nào cũng là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội, là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế. Đầu tư cho con người là đầu tư một cách vững chắc cho tương lai. Để tương lai Việt Nam sáng sủa hơn nữa thì chúng ta cần đầu tư lĩnh vực này nhiều hơn và hiệu quả hơn nữa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    1. Kỷ yếu hội thảo văn hoá, con người và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI (Hội đồng lý luận TW và Viện KHXH Việt Nam, Hà Nội 2004)
    2. Kỷ yếu Đại hội lần thứ nhất Hội Khoa học và phát triển nguồn nhân lực và nhân tài Việt Nam, Hà Nội 2005
    3. Tạp chí Nghiên cứu con người, các số năm 2006,2007
    4. Website tổng cục thống kê Việt Nam.
    5. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    6. Website Bộ Y tế.
    7. Website Bộ Lao động và thương binh xã hội.
    8. vietbao.com
    9. nhandan.com
    10. bài “Chất lượng nguồn nhân lực quá yếu”, của Nguyễn Xuân Hãn, báo Lao Động ngày 06-10-2007

    Và một số bài báo điện tử khác.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-%C4%91%E1%BB%83-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-c%E1%BB%A7a-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-ph%E1%BB%A5c-v%E1%BB%A5-cho-s%E1%BB%B1-nghi%E1%BB%87p-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-ho%C3%A1-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-ho%C3%A1-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có nguồn

    nhân lực , vốn và tài nguyên . Đối với Việt Nam , cả hai nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên đều rất hạn chế nên nguồn lực con người đương nhiên đóng vai trò quyết định .So với các nước láng giềng chúng ta có lợi thế đông dân , tuy nhiên nếu không được qua đào tạo thì dân đông sẽ là gánh nặng dân số còn nếu được qua đào tạo chu đáo thì đó sẽ là nguồn nhân lực lành nghề ,có tác động trực tiếp lên tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Một đội ngũ nhân lực lành nghề và đồng bộ cũng tạo nên sức hấp dẫn to lớn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam . Vì thế báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần 8 đã chỉ rõ : “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu , phương hướng chung trong nhiều năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ”. Báo cáo chính trị đại hội Đảng toàn quốc lần 9 cũng nêu : “Phải tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta có thể và cần rút ngắn thời gian . Thực tế cho thấy, sự phát triển kinh tế – xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố , nhiều điều kiện nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào con người .Điều khẳng định trên lại càng đúng với hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn cách mạng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. So sánh các nguồn lực với tư cách là điều kiện , tiền đề để phát triển đất nước và tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nguồn nhân lực có vai trò quyết định . Do vậy

    1

    • hơn bất cứ nguồn lực nào khác ,nguồn nhân lực phải chiếm một vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước ta . Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực , là nhân tố quan trọng bậc nhất để đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp phát triển . Do vậy , khai thác ,sử dụng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Muốn có được một nguồn nhân lực có chất lượng tốt , chúng ta phải có những hoạt động tích cực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước nhà ,trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục và đào tạo. Giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng là trang bị kiến thức truyền thụ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng kỹ xảo trong hoạt động , hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng , đạo đức và tâm lý , tạo nên những mẫu hình con người đặc trưng và tương ứng với mỗi xã hội nhất định , tạo ra năng lực hành động cho mỗi con người Nội dung của giáo dục , đào tạo quy định nội dung của các phẩm chất tâm lý tư tưởng , đạo đức và định hướng sự phát triển của mỗi nhân cách . Chúng ta đang đặt con người vào vị trí trung tâm vì khi con người ở đúng vị trí của nó thì nó mới phát huy hết tiềm lực đang ngủ yên của Việt Nam . Đó là một chiến lược đúng đắn của nước ta hiện nay

    .Muốn làm được điều đó chúng ta cần phải nghiên cứu thực trạng một cách chính xác để đề ra giải pháp hợp lý, để làm sao nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Đây là vấn đề hết sức quan trọng đối với nước ta hiện nay, do đó em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp

    để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”

    2

    NỘI DUNG

    I.                   MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN.

     

    1.                 Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là gì.

    Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình chuyển đối căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng xuất xã hội cao.

    Chúng ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa do đó ta cần quan tâm đến nội dung cơ bản của công nghiệp hoá – hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là ta phải phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại; chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, hợp lý hoá và hiệu quả cao; thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    2.                 Vai trò của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.

    Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối công nghiệp hoá và coi công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội. Phân tích những tác dụng cơ bản của công nghiệp hoá đối với nền kinh tế đất nước hiện nay càng làm rõ ý nghĩa vai trò trung tâm của công nghiệp hoá.

     

    Công nghiệp hoá ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Đó là một quá trình thực hiện chiến lược

    phát triển kinh tế – xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngàycàng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm là nền nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng đất thấp, 80% dân cư nông thôn có mức thu nhập rất thấp sức mua hạn chế. Vì vậy công nghiệp hoá là quá trình tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết về con người và khoa học – công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực để không ngừng tăng năng xuất lao động làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    Quá trình công nghiệp hoá tạo ra cơ sở vật chất để làm biến đổi về chất lực lượng sản xuất, nhờ đó mà nâng cao vai trò của con người lao động – nhân tố trung tâm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá mang lại, là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quả của bộ máy quản lý kinh tế nhà nước.

    Quá trình công nghiệp hoá tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ ở đó mà thực hiện tốt sự phân công và hợp tác quốc tế.

    Sự nghiệp công nghiệp hoá thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quá trình quy hoạch vụng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên

    4

    canh tập chung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất cao hơn.

    Công nghiệp hoá không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền dề vật chất để xây dựng, phát triển và hiện đại hoá nền quốc phòng an ninh. Sự nghiệp quốc phòng và an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triển văn hoá, kinh tế xã hội.

    Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kin tế cho sự phát triển đồng bộ về kinh tế – chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng và an ninh. Thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định sự thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Chính vì vậy mà công nghiệp hoá kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    3. Lý luận nguồn nhân lực.

    Ngày nay khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì một trong những yêu cầu để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới là phải có được một nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng đựơc những yêu cầu của trình độ phát triển của khu vực, của thế giới, của thời đại.

    Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nôid tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.

    Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế – xã hội là khả năng lao động cả xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.

    Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh

    5

    thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.

    Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con người muốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động).

    Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế – xã hội, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu nhất định. Vì vậy, nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng lao động đã có và sẽ có mà nó còn phải bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ và phong cách làm việc… tất cả các yếu tố đó ngày nay đều thuộc về chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá là một chỉ tiêu tổng hợp là văn hoá lao động. Ngoải ra, khi xem xét nguồn nhân lực, cơ cấu của lao động – bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng.

    Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.

    Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo, phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một quốc gia có lực lượng lao động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao động đông đảo đó không

    6

    những không trở thành nguồn lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển.

    3.                 Vai trò của nguồn nhân lực với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và với nền kinh tế tri thức ở nước ta.

    Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới. Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ yăng trưởng chưa từng thấy. Tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hoá kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới. Trong bối cảnh đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất. Một trong những yếu tố chủ chốt thức đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực.

     

    Nền kinh tế tri thức là kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… Để có được nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu tư cho phát triển giáo dục đào tạo hay nói cách khác phải đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực. Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đàu tư phát triển nhân tài. Nhà kinh tế học người Mỹ, ông Garry Becker- người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992, đã khẳng định: ” không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư cho giáo dục” (Nguồn: The Economist 17/10/1992). Nhờ có sự đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.

    7

    Việt Nam là nước đang phát triển có lực lượng sản xuất ở trình độ thấp, nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam là khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Do vậy, có ý kiến cho rằng nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam hiện nay quá xa và không hiện thực; cho rằng Việt Nam phải xây dựng xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá để làm tiền đề cho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, kinh tế tri thức không chỉ bao gồm các ngành mới xuất hiện dựa trên công nghệ cao, mà còn cả các ngành truyền thống đựoc cải tạo bàng khoa học công nghệ cao. Do đó không nên chờ cho đến khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết thúc mới tiến hành xây dựng kinh tế tri thức, mà ngay trong giai đoạn này, để phát triển và theo kịp các nước trên thế giới, chúng ta phải đồng thời phải quan tâm tới những lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp cận.

    Đối với Việt Nam, một đất nước nông nghiệp, rõ ràng chúng ta không thể xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức như các nước công nghiệp phát triển. Thực ra đó là sự tiếp tục quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ở một trình độ cao hơn, dựa trên chất xám của con người. Mặt khác do xuất phát điểm của lực lượng sản xuất của ta thấp, mà tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam phải phù hợp với điều kiện của Việt Nam, tức mang những đặc thù của mình. Do đó việc xác định nội dung các ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuẩn bị các điều kiện vật chất và con người để tiếp cận kinh tế tri thức trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mọi cấp, mọi ngành, nhất là các cấp hoạch định chiến lược. Trong việc chuẩn bị ấy việc nghiên cứu thực trạng mạnh, yếu và tìm ra giải pháp phát triển nguồn nhân lực là quan trọng và cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay.

    Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì nếu chỉ có lực lượng lao động đông và rẻ thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, mà đòi hỏi phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao. Chính nhờ lực lượng có trình độ chuyên môn cao mà Nhật Bản và các nước Nics (các nước công nghiêpj mới) vận hành

    8

    có hiệu quả công nghệ nhập khẩu hiện đại, sản xuất ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh cao với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới.

    Để đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trì to lớn không những trong đời sông kinh tế mà con trong lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là người lao động sản xuất, mà với tư cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại… Không thể thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, biết nhìn xa trông rộng.

    Vào những năm 80, quan điểm phát triển nguồn nhân lực đã trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt ở Châu Á – Thái Bình Dương. Con người đợc coi là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển. Trong thời đại mới, muốn giải quyết hài hoà các yếu tố cung và cầu có liên quan đến chiến lược ohát triển nguồn nhân lực thì cần xem xét khía cạnh nguồn nhân lực theo quan hệ một phía. Phải thấy được vai trò sản xuất của nguồn là vấn đề cốt lõi của học thuyết vốn con người. Và vai trò sản xuất của nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với vai trò tiêu dùng được thể hiện bằng chất lượng cuộc sống. Cơ chế nối liền hai vai trò là trả công cho người lao động tham gia các hoạt động kinh tế và thu nhập đầu tư trở lại để nâng cao mức sống của con người tạo nên khả năng nâng cao mức sống cho toàn xã hội và làm tăng năng suất lao động… Các nước nghèo ở Châu Á đều nhận thức do tốc độ tăng dân số quá nhanh nhiều quốc gia coi việc giảm đói nghèo còn quan trọng hơn cả giáo dục, đó là một thiệt hại to lớn.

    Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý vĩ mô của nhà nước với mục tiêu bảo đảm cho dân

    9

    giàu, nước mạnh, xã hội công bàng văn minh, an ninh quốc gia và sự bền vững của môi trường. Nền kinh tế Việt Nam chỉ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, Hiệu quả kinh tế xã hội cao khi nền kinh tế ấy thực sự dựa trên cơ sở công nghiệp hóa, hiện đại hoá, trong đó phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu cơ bản cho sự phát triển bền vững.

    II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CHO SỤ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM.

     

    1.     Thực trạng nguồn nhân lực nước ta.

    1. Số lượng (quy mô) Nguồn nhân lực Việt Nam. Quy mô nguồn nhân lực Việt Nam.

     

    Việt Nam là một trong những nước đông dân, dân số với quy mô dân số

    đứng thứ hai Đông Nam Á và thứ mười ba trên thế giới. Một đất nước với cơ cấu dân số trẻ với số người trong độ tuổi 16 – 34 chiếm 60% trong tổng số 35,9 triệu người lao động: Nguồn bổ sung hàng năm là 3% – tức khoảng 1,24 triệu người. Theo tổng điều tra dân số ngày 1-4-1999, quy mô dân số nước ta là 76,3 triệu người và dự tính đến năm 2010 quy mô dân số nước ta khoảng 95 triệu và số người trong độ tuổi lao động gần 58 triệu, chiếm 60,7% dân số . Dự báo thời kỳ 2001 đến 2010 cần tạo thêm chỗ làm việc mới cho khoảng 11 – 12 triệu lao động (chưa kể số lao động tồn đọng các năm chuyển sang), bình quân mỗi năm phải tạo thêm 1,1 đến 1,2 triệu chỗ làm việc mới. Tính đến 1/7/2000, tổng lực lượng lao động cả nước có 38.643.089 người, so với kết quả điều tra tại thời điểm 1/7/1996 tăng bình quân hàng năm là 975.645 người, với tốc độ tăng 2,7% một năm, trong khi tốc độ tăng bình quân hàng hàng năm của thời kỳ này là 1,5% một năm.

    Quy mô nguồn nhân lực qua đào tạo của Việt Nam và việc sử dụng nguồn nhân lực này.

    10

    Việt Nam tuy có lực lượng lao động dồi dào nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo thực tế lại thiếu, đó là mâu thuẫn về quy mô của nguồn nhân lực nước ta, chúng ta vừa thừa vừa thiếu nguồn nhân lực.

    Hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước thuộc các bộ, các ngành ở các cơ quan trung ương có 129763 người, trong đó có 74% công chức có trình độ từ đại học trở lên.

    1. Về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam.

    Theo số liệu điều tra lao động việc làm từ năm 1996 – 1999 thì đối với 35,866 – 37,784 triệu người lao động trong cả nước , số người lao động chưa biết chữ vẫn còn tới 5,75% năm 1996, 5,10% năm 1997, 3,84%năm 1998 và 4,10% năm 1999

    Trong số người chưa biết chữ , có vùng chiếm tỷ lệ cao như đồng bằng sông Cửu Long ( vùng chiếm 21% lao động cả nước ) năm 1999 còn tới 33% , vùng đông Bắc ( vùng chiếm 15% lao động cả nước) còn tới 19%…..

    Trong số người biết chữ , vẫn còn nhiều người chưa tốt nghiệp cấp Ι .Năm 1996 có 20,92 , năm 1997 có 20,26%năm 1998 có 18,50% và năm 1999 còn18,00%. Số người tốt nghiệp phổ thông trung học chỉ có 13– 14% các năm 1996-1997 và 16- 17% năm 1998, 1999

    Nhìn chung trình độ văn hoá của người lao động đã khá hơn sau 10 năm , số người biết chữ nâng lên từ 84% năm 1989 lên 96% năm 1999. Số người biết chữ nhưng chưa tốt nghiệp cấp Ι cũng giảm dần, tuy còn chậm , lớp học bình quân của người lao động đã tăng từ 3,3/12năm 1997 lên lớp 7,4/12năm1999 Bên cạnh đó chỉ số HDI của Việt Nam năm 2000 xếp thứ 100/171 nước . Qua “ điều tra lao động – việc làm ở Việt Nam ” các năm 1996 – 1999 cho thấy

    • lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn – kỹ thuật chiếm trong tổng số lực lượng lao động được điều tra ( 35,8 – 37,7 triệu người ) ngày càng giảm qua các năm . Cụ thể như sau :

    11

    Năm Lực lượng lao động không có trình độ/ tổng số lao động
    1996 87,69%
    1997 87,71%
    1998 86,69%
    1999 86,13%
    2000 80 – 82%

    Tuy nhiên ở nhiều vùng số lao động không có trình độ, chuyên môn kỹ thuật còn chiếm tỷ lệ khá cao : năm1999 số không có chuyên môn nghiệp vụ ở vùng Tây Bắc là 92,36% ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là91,7%

    Số lao động có chuyên môn ngày càng tăng mặc dù không cao. Năm 1996 là 12,31%, năm 1997 : 12,29% năm 1998: 13,31% năm 1999 : 13,87% và đến năm 2000 là 18 – 20%

    Về trí lực và thể lực.

    Người Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, ham học hỏi, Cầu tiến bộ, có ý chí và tinh thần tự lực tự cường dân tộc phát triển khá về thể lực, trí lực, có tính cơ động cao có thể tiếp thu nhanh kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, có thể nói đây là một trong số các lợi thế so sánh của ta trong quá trình hội nhập.

    Bảng: một số chỉ tiêu về sức khoẻ, y tế của các nước ASEAN.

    Chỉ tiêu Thời gian Việt Brunây Inđônêxia Malaixia Philippin Thái Xingap
        Nam         Lan o
                     
    Tuổi thọ bình quân 1992 63,4 74 62 70,4 64,4 68,7 74,2
                     
    Cung cấp calo bình quân/người 1988-1990 2220 2860 2610 2670 2340 2280 3210
                     
    Tỷ lệ cung cấp calo/người so 1988-1990 102 _ 112 124 108 100 144
    với nhu cầu tối thiểu(%)                
                     
    Tỷ lệ được dịch vụ y tế(%) 1985-1990 90 96 80 90 75 70 100
                     
    Tỷ lệ được dùng nước sạch(%) 1988-1991 27 95 51 72 82 76 100
                     

    Nguồn: chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người. NXB Thống Kê. Hà Nội

    1995.

    12

    Qua bảng trên ta thấy: các chỉ số của Việt Nam luôn luôn ở mức thấp, có những chỉ số ở mức thấp nhất trong khu vực. Những chỉ tiêu liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, thể lực của người lao động Việt Nam rất thấp: Cung cấp cao bình quân đầu người chỉ có 2220 calo, thấp nhất trong khu vực. Về tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người so với nhu cầu bình quân tối thiểu, Việt Nam chỉ cao hơn Thái Lan (100%), Inđônêxa (122%), Xingapo (144%), Philippin (108%), Malaixia (124%). Một loạt các chỉ tiêu khác liên quan đến y tế, chăm sóc sức khoẻ của Việt Nam cũng còn ở mức thấp, điều đó lý giải phần nào sự hạn chế về mặt thể lực của nguồn nhân lực Việt Nam. Cho đến nay thể lực của người lao động Việt Nam còn chưa đáp ứng được những yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp lớn và ỏ đây đã bộc lộ một trong những yếu điểm cơ bản của nguồn nhân lực Việt Nam.

    Những mặt mạnh từ trước đến nay của người lao động Việt Nam vẫn được nhắc đến là: có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vượy khó và đoàn kết cao, thông minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, có khả năng thích ứng với nhiều tình huống phức tạp. Nhưng thực tế cũng cho thấy những điểm yếu không thể không thừa nhận là trình độ kỹ thuật, tay nghề, kỹ năng trình độ và kinh nghiệm quản ký của người Vệt Nam còn rất thấp, chưa kể những tác hại của thói quen và tâm lý của người sản xuất nhỏ.

    Khả năng tư duy của lao động nước ta.

    Nguồn nhân lực Việt Nam với xuất phát điểm thấp, trước yêu cầu lớn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế tỏ ra bất cập. Từ nền kinh tế nông nghiệp, phong cách tư duy con người Việt Nam còn mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, thủ công, lạc hậu. Sản xuất và quản lý bằng kinh nghiệm theo kiểu trực giác, lấy thâm niên công tác, cụ thế nghề nghiệp và lòng trung thành để đánh giá kết quả lao động và phân chia thu nhập. Lao độgn chưa

    13

    được đào tạo và rèn luyện trong môi trường sản xuất công nghiệp nên hiệu xuất lao động chưa được đề cao và đánh giá đúng mức. Khi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại được thâm nhập và chuyển giao vào Việt Nam thì mâu thuẫn giữa trình độ hiện đại của trang thiết bị kỹ thuật – công nghệ với trình độ lạc hậu của người sử dụng xuất hiện. Người quản lý người sử dụng công nghệ thì không thể tiếp thu, càng không thể khai thác có hiệu quả công nghệ, nên giảm hiệu xuất của vốn đầu tư.

    Hiện nay, công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém. Trong các ngành công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới. Các chỉ tiêu chủ yếu cề tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu gáp 1,5 đến 2 lần mức chung của thế giới, giá thành sản phẩm cao, năng suất lao động công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới ( theo số liệu báo cáo cuả GS đặng hữu tại hội cán bộ khoa học công nghệ toàn quốc ngày 12/2/1995). Số nhân công có trình độ bậc 4 trở lên chỉ bằng 1/3 tổng số công nhân kỹ thuật, công nhân có trình độ bạc 7 chỉ có 4000 người nà đa phần tuổi đã cao. Thiếu công nhân kỹ thuật, đặc biệt là công nhân bậc cao là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao công nghệ, làm giảm hiệu xuất sử dụng của thiết bị công nghệ.

    Hiện nay các nhà công nghệ, công trình sư, kỹ sư thực hành nước ta rất thiếu, nhất là cán bộ ở các ngành công nghệ thông tin, vi điện tử sinh học, tự động hoá sản xuất… Số cán bộ khoa học thuộc các ngành kỹ thuật liên quan đến công nghệ chỉ chiếm 11% tổng cán bộ trong cơ chế kinh tế cũ nên kinh nghiệm, năng lực sáng tạo thực tiễn, khả năng sáng tạo công nghệ yếu.

    Sự lạc hậu, non yếu về trình độ của nguồn nhân lực Việt Nam so với nhân lực trong khu vực và thế giới.

    Trình độ lao động kỹ thuật nước ta vừa yếu, vừa thiếu, vừa bất hợp lý về cơ cấu đào tạo, vừa phân bố không đồng đều giữa các ngành, các vùng, các

    14

    thành phần kinh tế. Trình độ non kém, lạc hậu về khoa học công nghệ, tác phong lao dộng, kỷ luật, sự thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, tính từ chịu trách nhiệm cá nhân thấp ảnh hưởng đến cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam khi hoà nhập vào thị trường nhân lực tiên tiến của thế giới.

    Hiện nay, nguồn nhân lực đồi dào, giá nhân công rẻ, về lâu dài không thể là lợi thế phảt triển Việt Nam, Vì lợi thế nhân công rẻ trên thế giới đang dần mất đi và thay vào đó là trình độ trí tuệ cao đồng đều của nhân công.

    Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trình độ, năng lực của các bộ đối tác, sự sắc sảo mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt trong ngoại giao của cán bộ ảnh hưởng rất đến lợi ích của những quốc gia. Để giảm được những bất lợi, tạo ra sự tương đồng trong hoà nhập, cạnh tranh với thị trường nhân lực khu vực và thế giới, người lao động Việt Nam phải được trang bị các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp, ngoại ngữ, lao động, kỷ luật, tác phong lao động và nhận thức đúng đắn mối quan hệ chủ – thợ trong nền kinh tế thị ỷường, phải hiểu biết được phong tục tập quán, đặc điểm của các nước bạn tong cùng thị trưòng lao động.

    Trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lao động Việt Nam cũng bộc lộ những nhược điểm lạc hậu về trình độ kỹ thuật – công nghệ, kỷ luật và thói quen lao động. Năng lực quản lý kinh tế yếu kém, tính tuỳ tiện của người sản xuất nhỏ, ý thức dân tộc, ý thức cộng đồng chưa cao tạo nên bất lợi và thua thiệt về kinh tế cho phía Việt Nam.

    1. Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực nước ta.

    Cấu trúc đào tạo nguồn nhân lực nước ta không hợp lý cả về cơ cấu các loại lao động và cơ cấu đầu tư ngân sách giữa các bậc học. Trong thời gian vừa qua, mặc dù nhà nước đã rất nỗ lực điều chỉnh thực trạng trên nhưng hiệu qua mang lại chưa cao. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh hiện có 86% lao động đang làm việc nhưng chỉ có 2% được đào tạo dưới các hình thức. Hơn nữa, ngân sách chi cho giáo dục của chúng ta còn quá thấp. Mặc dù có tăng hơn thời

    15

    kỳ trước nhưng trong các năm từ 1990 đến 1992 ngân sách dành cho giáo dục chỉ chiếm 10-11% trong tổng ngân sách nhà nước. So với các nước trong khu vực thì sự đầu tư này của chúng ta còn kém xa. Chẳng hạn ngân sách dành cho giáo dục của Xinhgapo là 23%, của Malaixia là 20%… số học sinh trung học (kể cả trung học chuyên nghiệp) Chiếm 1/4 tổng số học sinh, sinh viên cả nước nhưng chỉ được đầu tư 8-9% ngân sách giáo dục, trong khi đó số sinh viên đại học chiếm gần 7% tổng số học sinh nhưng lại được đầu tư 15% ngân sách. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong hệ thống giáo dục và đào tạo hiẹen nay (số liệu từ “Thông tin tài chính” – số 3 tháng2/1998).

    Cấu trúc đào tạo của lực lượng lao động đã qua đào tạo vốn đã rất bất hợp lý lại càng bất hợp lý hơn. Năm 1996, cấu trúc đào tạo là 1-1, 7-2,4 (tức là ứng 1 lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thì có 1,7 lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và 2,4 lao động có trình độ sơ cấp/họcnghề/công nhân kỹ thuật); năm 2000 cấu trúc này là 1-1,2-1,7 trong khi mục tiêu của Nghị quyết Trung ương đề ra là 1-4-10 (“Thông tin thị trường lao động”, ).

    16

    1. Phân bố nguồn lực của nước ta.

    Nguồn nhân lực nước ta phân bố không đồng đều giữa các lĩnh vực sản xuất, giữa các vùng trong cả nước và các ngành kinh tế quốc dân. Thực tế này ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội nước ta.

    Theo ngành.

    Về cơ bản, nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu. Chính vì vậy lực lượng lao động chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực sản xuất truyền thống là nông – lâm – ngư nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, sự phân bố trên sẽ có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lực lượng lao động trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp và tăng dần trong các ngành công nghiệp dịch vụ. Năm 2000 có sự chuyển dịch rõ rệt so với năm 1996 theo hướng: giảm cỏ về số lượng lao động và tỷ lệ lao động làm việc làm việc trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Năm 1996 có 32.601.918 người làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, chiếm 69,80% so với tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân nói chung, đến năm 2000 giảm xuống còn 22.669.907 người, chiếm 62,56%, trong khi đó, lao động làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 3.566.513 người (năm 1996) tăng lên 4.743.795 người (năm 2000) và tỷ lệ so tổng số đã tăng từ 10,55% lên 13,15%; lao động làm việc trong các ngành dịch vụ cũng tăng nhanh cả về số lượng và tỷ lệ: từ 6.643.564 người lên 8.791.950 người và từ 19,65% lên 24,29% (TS. Trương Văn Phúc- thực trạng lực lượng lao động ở Việt Nam giai đoạn 1996-2000 và khả năng giải quyết việc làm giai đoạn 2001-2005).

    Theo khu vực.

    Cũng giống như các nước đang phát triển khác trên thế giới, lực lượng lao động nước ta hiện nay chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn và rất ít ở khu vực thành thị và ngày càng có xu hướng tăng dần ở khu vực thành thị, giảm dần

    17

    • khu vực nông thôn. Năm 1996, lực lượng lao động khu vực thành thị chỉ chiếm 19,06% tổng lực lượng lao động cả nước, năm 2000 đã tăng lên 22,56%; trong khi tỷ lệ lực lượng lao động ở khu vực nông thôn giảm được từ 80,94% xuống còn 77,44%. Dự báo trong những năm tới, tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị còn tiếp tục tăng nhanh hơn cùng với sự phát triển của quá trình đô thị hoá.

    Sự phân bố lực lượng đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở lên cũng như từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, đặc biệt là các khu đô thị trọng điểm. Lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 77,44% nhưng lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp/học nghề trở lên chỉ chiếm 46,26% trong tổng số lao động đã qua đào tạo của cả nước; với lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên tỷ lệ này chỉ có40,96%. Trong tương lai, với sự tác động của nhiều hoạt động của nhà nước cùng với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đã qua đào tạo ở khu vực nông thôn sẽ ngỳ càng tăng cả về quy mô và tỷ trọng so với khu vực thành thị.

    1. Lợi thế và thách thức nguồn nhân lực nước ta.

     

    Lợi thế nguồn nhân lực nước ta.

     

    Nước ta có quy mô dân số lớn, xếp thứ 12 trên thế giới; có nguồn lao động

    rất dồi dào, đặc biệt là nguồn lao động trẻ ở nhóm tuối từ 16 – 35 (chiếm 65,2% trong dân số), nhóm có ưu thế về sức khoẻ, sức vươn lên, năng động và sáng tạo.

    Tỷ lệ dân số biết chữ chiếm khoảng 90%, riêng lực lượng lao động biết chữ chiếm khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo năm 1998 gần đạt 15% và bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo là 15% trong giai đoạn 1998 – 2000. Đây là lợi thế rất cơ bản để tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho tăng

    18

    trưởng kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội đất nước; đồng thời tăng sức cạnh tranh của lao động trên thị trường sức lao động trong nước và quốc tế.

    Đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng đã mở ra khả năng phát triển nền kinh tế đa phần, đa dạng hoá việc làm, thu hút được nhiều lao động, sử dụng tốt hon năng lực nguồn nhân lực (đặc biệt là sử dụng lao động ở trình độ cao ở các khu công nghiệp, khu chế xuất); đường lối đổi mới đã giải quyết việc làm cho lao động xã hội thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình, trang tại, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khôi phục và phát triển làng nghề, phổ nghề, khu vực phi kết cấu…

    Lần đàu tiên trong những năm 1996-1998 bình quân mỗi năm tạo thêm chỗ làm việc mới cho khoảng1,2 đến 1,3 triệu lao động, tương đương với số lao động trẻ mới bước vào tuổi lao động mỗi năm.

    Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm, chính sách phát triển nguồn nhân lực ngày càng được hoàn thiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay, Bộ luật lao động đàu tiên ở nước ta được ban hành có hiệu lực và đang phát huy trong cuộc sống. Bộ luật lao động điều chỉnh các quan hệ lao động theo một cơ chế mới, dựa trên cơ sở tự do hoá lao động, giải phóng mọi tiềm năng lao động và nâng cao tính năng động xã hội của lao động. Thị trường sức lao động đã hình thành và ngày càng phát triển trở thành một thị trường thống nhâts, xoá br hàng rào hành chính, người lao động được tự do di chuyển và hành nghề theo pháp luật và sự hướng dẫn của nhà nước. Tiền công lao động ngày càng phản ánh đúng giá trị và giá cả lao động, có tính đến quan hệ cung cầu lao động tên thị trường sức lao động. Lao động được tự do, được giải phóng tạo ra động lực mới để mọi người lao động, sáng tạo có năng suất cao. Nếu ta tiếp tục có chính sách khuyến khích lao động chất xám và tay nghề tốt hơn, sẽ là yếu tố năng lực nội sinh to lớn phát triển nguồn nhân lực đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai.

    Những khó khăn thách thức trong tương lai.

    19

    Nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và nước ta cũng ssang tiến hành môtj số nặt có thể của nó. Nền kinh tế tri thức có một số đặc trưng nổi bật sẽ đòi hỏi ở nguồn nhân lực tương ứng phải được đào tạo đặc biệt về nội dung và phương pháp mới. Những nét khái quát về nền kinh tế tri thức với các đặc trưng của nó đã đủ nhận thấy sẽ xuất hiện một thị trường lao động hết sức đặc biệt với thách thức mới đối với nguồn nhân lực. Đó là cơ cấu ngành nghề mới do cơ cấu công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, năng lượng và vi điện tử đòi hỏi. Rõ ràng đội ngũ lập trình viên kỹ thuật giỏi; các chuyên gia công nghệ phần mềm ở mọi lĩnh vực và các lao động kỹ thuật sử dụng Internet giỏi là yêu cầu mới của nhân lực trong thị trường lao động mới của nền kinh tế thị trường.

    Nguồn nhân lực trong tương lai sẽ phải được coi trọng giáo dục về tư duy sáng tạo, về năng lực tự chủ, tự học hỏi và cần được đào tạo kỹ năng thành thạo, linh hoạt về công nghệ mới; về quản lý mạng và đặc biệt là năng lực về kinh doanh; về tính nhạy cảm với cái mới và sự bền vững trong phát huy bản sắc dân tộc với nền văn hoá vững chắc.

    Cũng cần nhấn mạnh đến một vài phương tiện quan trọng của nguồn nhân lực mới trong nền kinh tế thị trường, đó là năng lực sử dụng máy vi tính, năng lực sử dụng ngoại ngữ và năng lực giao tiếp, đó là những phương tiện giúp cho lao động kỹ thuật phát huy với hiệu quả cao không chỉ ở thị trường lao động trong nước mà cả ở thị trường lao động quốc tế.

    Dân số trẻ về lâu dài là một thế mạnh, song trước mắt xét về mặt kinh tế, nếu không có một chính sách phù hợp sẽ bất lợi, do bình quân số người phải nuôi dưỡng (trẻ em ăn theo) trên một lao động cao hơn các nước khác, kèm theo đó là những khó khăn về việc làm, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội khác

    Tốc độ tăng nguồn lao động còn ở mức cao, đến năm 2000 bình quân mỗi năm tăng nguồn lao động khoảng 2,95%. Thời kỳ 2001 đến 2010, số lao động

    20

    cần giải quyết việc làm mới vào khoảng 11-12 triệu người, hầu hết là lao động trẻ, trong khi nguồn lực đầu tư cả trong nước và quốc tế cho phát triển sản xuất rất hạn chế. Theo tính toán, sau năm 2000 trên tổng thể nước ta vẫn dư thừa lao động. Mặt khác tỷ lệ thất nghiệp thành thị hiện nay còn rất lớn và đang có xu hướng tăng lên. Năm 1999 tỷ lệ đó là 6,85%, tăng thêm 0,84% so với năm 1997; đặc biệt là Hà Nội, tỷ lệ đó là 9,09% so tổng lực lượng lao động. Trong nông thôn, tình trạng thiếu việc làm rất nghiêm trọng và cũng đang có xu hướng tăng lên, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động trong nông thôn của lực lượng lao động trong độ tuổi, năm 1998 là 71,13%, so với 1997 giảm 2,01% (1997 là 73,14%). Trong khi đó lại thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật cao. Nhiều lĩnh vực như: láp ráp ô tô, đóng tàu, dầu khí v.v. phải thuê lao động ở nước ngoài, đó là một mâu thuẫn gay gắt hiện nay.

    Chính sách của nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhất là chính sách thuế, đất đai, tín dụng v.v. chưa khuyến khích và tạo ra động lực đẩy mạnh đầu yư trong nước để phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, trong khi nguồn vốn còn trong dân rất lớn, nhưng dân chưa đầu tư vào các ngành chính sản xuất, mà chủ yếu đầu tư vào dịch vụ, buôn bán phi sản xuất. Trong hoạt động mở rộng thị trường, kể cả thị trường nội địa và ngoài nước thì năng lực tổ chức thị trường còn yếu kém; chưa có chính sách khuyến khích tiêu dùng hàng nội để kích thích sản xuất trong nước phát triển, từ đó tạo thên nhiều chỗ làm việc mới. Tất nhiên hàng trong nước cũng phải nâng chất lượng, mẫu mả và giá cả hợp lý.

    Với chủ trương tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là công nghiệp, hoá hiện đại hoá nông thôn, tập trung phát triển các ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm có lợi thế. Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, nước ta phải đối mặt với một thách thức lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Tỷ lệ nguồn lao động qua đào tạo rất thấp (năm 1998 tỷ lệ này là 17,8%). Chưa có chính sách phân luồng trong giáo

    21

    dục và đào tạo, cơ cấu đào tạo bất hợp lý, tỷ lệ giữa đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật là 1-1,6-3,6. Trong khi các nước khác là 1-4-10; giáo dục, đào tạo nặng về bằng cấp, thi cử, xu hướng thương mại hoá trong đào tạo khá phổ biến; đào tạo không gắn với sản xuất và thị trường sức lao động (không gắn với sử dụng); lao động trong nông nghiệp nông thôn hầu như không được đào tạo. Có thể nói điểm yếu cơ bản nhất của giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực nước ta thời gian qua là chưa tạo ra được một đội ngũ có năng lực và có tính năng động xã hội cao, đáp ứng yêu cầu của sản xuất, của thị trường sức lao động.

    Với những lợi thế trên, Việt Nam có nhiều cơ hội để tiến tới nền kinh tế tri thức vào những thập kỷ tới của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bước đột phá sẽ phải từ việc đổi mới tư duy và thể chế quốc gia trong điều kiện mới của đất nước và của thế giới, đồng thời tập trung cao vào việc giáo dục đào tạo nguồn nhân lực mới chất lượng cao, phù hợp và đón đầu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam tới những năm 2020.

    Nguồn nhân lực Việt Nam hơn bao giờ hết cần được đào tạo để phát triển nội lực với giá trị mới và vượt qua được những thách thức mới cuae thị trường lao động trong nền kinh tế tri thức tương lai.

    1. Một số giải pháp nhằm giải quyết hợp lý vấn đề về nguồn nhân lực. Nhìn rõ được thực trạng về nguồn nhân lực của nước ta để chúng ta phát

    huy những điểm mạnh, khắc phục và hạn chế những điểm yếu đồng thời đưa ra được những yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Một mặt pphải trực tiếp giải quyết vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực, về trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn kỹ thuật, mặt khác phải giải quyết vấn đề nâng cao thể lực người lao động và phân phối nguồn lao động một cách hợp lý. Trong trình tự giải quyết phải đi tuần tự từ tiếp tục xoá mù chữ, phổ cập tiểu học, trang bị những kiến thức cơ bản, đào tạo nghề từ sơ cấp đến các bậc cao hơn

    22

    nhưng phải tạo ra một bộ phận người lao động có chất lượng cao, đặc biệt phải chú trọng đào tạo lao động kỹ thuật, nhằm đáp ứng nhu cầu của những ngành công nghệ mới, các khu công nghiệp và các khu kinh tế mở.

    Trước tiên , việc mở rộng quy mô giáo dục đào tạo là rất cần thiết. Nhưng cố gắng mở rộng quy mô giáo dục đào tạo của nước ta vẫn không theo kịp được tốc độ gia tăng dân số. Quy mô mọi ngành, bậc học hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu theo học của mọi lứa tuổi. Nhìn chung số học sinh và số trường lớp ở mọi ngành học từ mẫu giáo, các cấp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao dẳng, đại học đều tăng. Các hệ thống trung tâm xúc tiến việc làm, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và nhiều cơ sở dạy nghề bán công, dân lập tư thục được thành lập. Quy mô đào tạo có chuyển biến là nhờ tăng cường hình thức đào tạo ngắn hạn. Riêng đối với quy mô của hệ thống đào tạo nghề này càng bị thu hẹp. Đảng và nhà nước cần có chính sách khuyến khích mở rộng và hỗ trợ cho các trường dạy nghề nhằm thu hút học sinh, sinh viên, khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu ngành học, bậc học của giáo dục đào tạo. Giáo dục mầm non có tầm quan trọng đặc biệt đứng từ gọc độ chuẩn bị nền tảng về thể lực và trí lực cho nguồn nhân lực. Giáo dục phổ thông , đặc biệt là giáo dục tiểu học theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định các cơ hội và tăng trưởng kinh tế. Giáo dục đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kỹ thuật ngoài ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế còn đặc biệt quan trọng trong việc phát triển, giảm nguy cơ tụt hậu. Tuy nhiên những bất cập giữa những ngành đào tạo, giữa các bậc học đã gây khó kăn không ít cho sự phát triển của nền kinh tế. Một số ngành được học sinh, sinh viên theo học như một phong trào, một số ngành thì rất ít người theo học. Nế không có sự điều chỉnh kịp thời, Việt Nam sẽ nhanh chóng gặp phải khó khăn về đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật như ở nhiều nước Asean, nhất là ở Thái Lan.

    23

    Giáo dục và đào tạo ở thành phố, đồng bằng có điều kiện phát triển hơn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu vùng xa. Vì vậy, việc giáo dục đào tạo con người ở những vùng này rất khó khăn. Để nâng cao trình độ của nguồn nhân lực ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, Nhà nước đã có chính sách cấp học bổng, giảm học phí, ưu tiên các học sinh nghèo vượt khó. Từ đó giúp họ có điều kiện học tập, tìm kiếm việc làm nâng cao mức sống. Chính nhờ những chủ trương đúng đắn này mà những bất hợp lý trong cơ cấu vùng, miền của giáo dục đào tạo nguồn nhân lực được điều chỉnh phần nào.

    Yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực là việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo. Việc hội b\nhập và cạnh tranh kinh tế đòi hỏi hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn quốc tế để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, từ đó đòi hỏi phải có trình độ công nghệ cao và khả năng sử dụng tương ứng các công nghệ đó. Ngoài giáo dục đào tạo văn hoá chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý điều kiện thực hành, ứng dụng, giáo dục kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng và khả năng thích ứ của nền kinh tế thị trường. Song song với vấn đề giáo dục, đào tạo con người, chúng ta phải quan tâm đến vấn đề dân số, sức khoẻ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm sức ép đối với quy mô và chất lượng giáo dục,

    Trong điều kiện của VIệt Nam hiện nay, yêu cầu đa dạng hoá các loại hình đào tạo rất cần thiết để bổ xung, cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực nhằm khắc phục những bất hợp lý về việc phân bổ nguồn lực, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục đào tạo để phục vụ nhu cầu phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục hướng nghiệp, chúng ta cần phải kết hợp một cách khoa học giữa kế hoạch phát triển toàn diện với chính sử dụng sau đào tạo hợp lý để giảm lãng phí về chi phí giáo dục đào tạo của xã hội và của gia đình. Người lao động đào tạo ra được làm việc đúng ngành, đúng nghề đúng khả năng và sở trường của mình.

    24

    Ngoài ra, giáo dục hướng nghiệp cũng đòi hỏi phải có công tác dự báo nghề để xác định được xu hướng phát triển và nhu cầu về lao động trong từng giai đoạn. Giáo dục đào tạo chính quy, dài hạn là cơ sở để hình thành nên bộ phận người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao có kỹ năng tiếp cận với khoa học, công nghệ mới hiện đại. Ngoài ra cần mở rộng các loại hình đào tạo ngắn hạn để cải thiện hiện trạng nguồn nhân lực hiện nay và nhanh chóng nâng cao số lao động đã qua đào tạo của ta lên. Hình thức giáo dục tại chức và từ xa cần chú ý hơn đến chất lượng và hiệu quả của giáo dục.

    KẾT LUẬN

    Trong bất kỳ một xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Nguồn nhân lực đó được đào tạo một cách có chất lượng tốt, nâng cao trình độ của nguồn nhân lực thì lực lượng sản xuất mới có thể phát triển mạnh được, trình độ lực lượng sản xuất mới có thể nâng cao hơn, bởi lẽ lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và con người. Con người là nguồn nhân lực, lực lượng sản xuất phản ánh mối quan hệ, sự tác động kích thích của con người vào tư liệu sản xuất, con người có được đào tạo, được trang bị thì mới có thể có trình độ để sử dụng tư liệu sản xuất một cách hiệu quả. Điều này càng quan trọng càng trở nên cấp thiết khi tư liệu sản xuất ở đây lại là máy móc, công nghệ khoa học kỹ thuật, tư liệu sản xuất này đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có đầy đủ trình độ thì mới có thể thực hiện có hiệu quả được. Vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá quả thực

    25

    là vấn đề không dễ thực hiện được vì thực hiện được vấn đề này có nghĩa là chuyển đổi từ lực lượng sản xuất thấp kém sang một lực lượng sản xuất có trình độ cao, hiện đại. Điều này càng trở nên khó khăn đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển thậm chí cả với những nước đang phát triển, những nước có nền kinh tế cơ bản là nông nghiệp, có nguồn vốn ít ỏi và khoa học thấp kém. Nước ta là một nước đang phát triển và cũng đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những khó khăn kể ở trên nước ta đều có cả, song dựa vào đâu mà Đảng và nhà nước ta đã quyết định thực hiện chiến lược này. Điều đó đã được Đảng và nhà nước ta thông qua thực trạng nguồn nhân lực của nước ta thấy được những thuận lợi và lợi thế mà nước ta hoàn toàn có khả năng thực hiện được sự nghiệp này. Nước ta có dân số lớn, có nguồn lao động dồi dào đặc biệt là lực lượng lao động trẻ ở nhóm tuổi từ 14-35 nhóm có ưu thế về sức khoẻ, sức vươn lên, năng động và sáng tạo. Đường lối đổi mới của Đảng đã mở ra khả năng phát triển nền kinh tế, quản lý nhà nước về nguồn nhân lực ngày càng được quan tâm. Chúng ta có rất nhiều lợi thế khác, bên cạnh đó có hạn chế khó khăn và thách thức, song phân tích được thực trạng Đảng và nhà nước ta đã có giải pháp khắc phục giải quyết hợp lý đảm bảo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ đi đến thắng lợi. Điều quan trọng nhất là chúng ta bởi lẽ chúng ta có truyền thống là dân tộc anh hùng, đoàn kết và có lòng yêu nước cao cả, sự thông minh vốn có chắc chắn chúng ta sẽ là một nước phát triển trong tương lai sẽ tạo ra được nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    26

    TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình kinh tế chính trị học.
    1. Văn kiện đại hội Đảng.
    1. Nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế xã hội quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
    1. Nghiên cứu nghị quyết của Đảng về vấn đề công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.
    1. Tạp chí Giáo dục số 11 ( 8/ 2001)
    1. Tạp chí Thông tin kinh tế số 5,7 –1999 ; số 6 – 2000
    1. Tạp chí Lao động & Xã hội số tháng 1/2001
    1. Các sách báo tạp chí.

    27

    28


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Xây dựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng tại Công ty cổ phần Vật tư Vận tải Xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-T%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-v%C3%A0-vi%E1%BB%87c-H%E1%BA%A1ch-to%C3%A1n-t%C3%A0i-s%E1%BA%A3n-c%E1%BB%91-%C4%91%E1%BB%8Bnh-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-TNHH-Nh%E1%BA%A5t-Vi%E1%BB%87t-H%C3%A0-N%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn tốt nghiệp Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trải qua hơn mười năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã có những bước chuyển mình khởi sắc. Đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rất cần nhà ở và các công trình xây lắp…Tạo cơ sở hạ tầng vững mạnh cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp thành công trong nghành xây lắp nói riêng, của nền kinh té quốc dân nói chung, dã nhận thấy rằng: TSCĐ đóng vai trò không nhỏ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Chỉ cần một biến động nhỏ về TSCĐ cũng ảnh hưởng tới giá thành, tới lợi nhuận của Công ty.

    Một trong những biện pháp bền vững là phải sử dụng hợp lý và hiệu quả khi đưa vào sản xuất kinh doanh. Tổ chức hạch toán TSCĐ sẽ giúp cho các nhà quản lý lập dự toán chi phí TSCĐ, lập kế hoạch vật tư cung cấp kịp thời cho sản xuất. Làm tốt công tác hạch toán TSCĐ sẽ giúp doanh nghiệp vươn lên hơn nữa trên thương trường và ngày càng khẳng định mình không chỉ trong nước mà cả trên thế giới.

    Hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này,trong thời gian đi sâu nghiên cứu, tìn hiểu tại công ty Nhất Việt được sự giúp đỡ tận tình của cán bộ phòng tài chính- kế toán, được sự chỉ đạo tận tình của thầy giáo Hà Đức Trụ em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Tài sản cố định và việc Hạch toán tài sản cố định tại công ty xây dựng TNHH Nhất Việt-Hà Nội”

    Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

    CHƯƠNG I :Lý luận chung về công tác hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp CHƯƠNG II:Thực trạng tổ chức Hạch toán tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt

    CHƯƠNG III:Những tồn tại và một số ý kiến đề xuất hoàn thiện công tác Hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 1 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP

    I.Khái niệm, đặc điểm và vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    1.Khái niệm TSCĐ:

    TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam các tài sản được coi là TSCĐ phải đồng thời thoả mãn 4 tiêu chuẩn sau (theo quy định tại chuẩn mực kế toán số 3) :

    • Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
    • Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
    • Thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
    • Có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên

    2.Đặc điểm của TSCĐ;

    Tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh khác nhau nhưng không thay đổi hình thái vật chất lúc ban đầu cho đến khi bị hư hỏng .

    Giá trị TSCĐ hao mòn dần và chuyển dịch tong phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.

    Vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ thường lớn, thời gian thu hồi vốn dài

     3.Vai trò TSCĐ trong doanh nghiệp:

    Thông qua công tác hạch toán TSCĐ các nhà quản lý và những người quan tâm nắm bắt được tình hình thực tế về TSCĐ trong doanh nghiệp

    Công tác hạch toán TSCĐ phản ánh được tình hình tăng giảm hiện có của TSCĐ tại công ty.Từ đó giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược cho công ty một cách chính xác và hiệu quả.

    4.Yêu cầu của công tác quản lý trong doanh nghiệp:

    Xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải quản lý TSCĐ chặt chẽ về cả hiện vật và giá trị.

    Về mặt hiện vật:Đòi hỏi phải ghi chép, phản ánh đầy đủ số lượng TSCĐ cũng như việc bảo quản và sử dụng chúng ở các đặc điểm khác nhau.

    Nguyễn Đức Hạnh – 2 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Về mặt giá trị:đòi hỏi kế toán phải tính toán, xác định giá TSCĐ, hao mòn và giá trị còn lại của TSCĐ và kết quả kiểm kê, đánh giá lại TSCĐ.

    II.Phân loại và đánh giá TSCĐ

    1.Phân loại TSCĐ:

    Để đáp ứng yêu cầu quản lý và công tác kế toán, TSCĐ được phân theo các tiêu thức khác nhau sau đây:

    a.Theo hình thái vật chất:

    TSCĐ hữu hình:Là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho thuê hoặc cho hoạt động hành chính doanh nghiệp, phúc lợi phù hợp vưói tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng

    TSCĐ hữu hình gồm có;

    • Nhà cửa vật kiến trúc
    • Máy móc thiết bị
    • Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
    • Thiết bị, dụng cụ quản lý
    • Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
    • TSCĐ hữu hình khác

    TSCĐ vô hình:là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ trong sản xuất hay cung ứng dich vụ, cho các đối tượng khác thuê hoặc dùng cho mục đích quản lý.

    TSCĐ vô hình gồm có:

    • Quyền sử dụng đất
    • Quyền phát hành
    • Bản quyền, bằng sáng chế
    • Nhãn hiệu hàng hoá
    • Phần mềm máy vi tính
    • Giấy phép và giấy nhượng quyền
    • TSCĐ vô hình khác
    Nguyễn Đức Hạnh – 3 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    b.Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu:  

    Căn cứ vào quyền sở hữu đối với TSCĐ thì TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành:

    • TSCĐ tự có: Là những tài sản được xây dựng, mua sắm, hình thành từ nguồn vốn ngân sách cấp hoặc cấp trên cấp, bằng nguồn vốn vay, nguồn vốn liên doanh, các quỹ của doanh nghiệp và các TSCĐ được quyền tặng, viện trợ không hoàn lại
    • TSCĐ thuê ngoài:là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành do đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định theo hợp đồng thuê TSCĐ. TSCĐ

    thuê ngoài được chia thành:TSCĐ thuê tài chính, TSCĐ thuê hoạt động

    Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ với TSCĐ tự có của doanh nghiệp.

    c.Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:

    • TSCĐ hìmh thành từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp (nếu là doanh nghiệp nhà nước)
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn vay
    • TSCĐ hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung
    • TSCĐ nhận vốn góp liên doanh bằng hiện vật

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp sử dụng phân phối nguồn khấu hao được chính xác, theo dõi chi tiết nguồn hình thành TSCĐ.

    d.Phân loại TSCĐ theo công dụng và tình hình sử dụng:

    • TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh
    • TSCĐ dùng cho đơn vị hành chính sự nghiệp
    • TSCĐ dùng cho phúc lợi, an ninh, quốc phòng, dự trữ
    • TSCĐ không cần dùng chờ thanh lý, giải quyết

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 4 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua cách phân loại trên, giúp doanh nghiệp có thông tin về cơ cấu TSCĐ tính toán và phân bổ chính xác số khấu hao cho các đối tượng sử dụng và có biện pháp đối với TSCĐ chờ thanh lý.

    2.Tính giá TSCĐ.

    TSCĐ được ghi sổ hạch toán và tính giá theo từng TSCĐ hoàn chỉnh chúng có thể là những TSCĐ độc lập hoậc một hệ thống các tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chứuc năng nhất định. Như vậy, đối tượng ghi TSCĐ có thể là một dây chuyền sản xuất đồng bộ và hoàn chỉnh.TSCĐ được hạch toántheo nguyên giá, giá trị còn lại và giá trị hao mòn.

    a.Nguyên giá TSCĐ

    Nguyên giá TSCĐ là giá trị ban đầu (giá trị nguyên thuỷ) của TSCĐ khi nó được xuất hiện lần đầu ở doanh nghệp. Nguyên giá TSCĐ chỉ thay đổi khi nâng cấp trang thết bị thêm cho TSCĐ hay tháo bớt một số bộ phận không dùng dến hoặc đánh giá lại TSCĐ. Tuỳ nguồn hình thành của TSCĐ mà nguyên giá được tính nhưu sau: *Trường hợp mua sắm TSCĐ được xác định theo nguyên tắc:

     

    Nguyên giá TSCĐ Mua sắm

    = Giá      + phí tổn trước  + thuế nhập khẩu

    mua                Khi dùng                           (nếu có)

    – giảm giá (nếu có)

     

    *Trường hợp tự xây dựng, chế tạo mới:

     

    Nguyên giáTSCĐ do XDCB bàn giao

    giá trị dự án duyệt

    =

    lần cuối TSCĐ

    +

    phí tổn trước

    khi dùng

     

    *Trường hợp TSCĐ được cấp:

    Nguyên giá TSCĐ Gía trị trên “biên bản chi phí trước
    = +    
    được cấp giao nhận” TSCĐ khi dùng (nếu có)
    *Trường hợp nhận TSCĐ của đơn vị khác góp vốn liên doanh  
           
    Nguyên giá TSCĐ nhận  =  giá trị do hội đồng liên + phí tổn khác
      Góp liên doanh doanh đánh giá   (nếu có)
    Nguyễn Đức Hạnh – 5 –   Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
           
    *Trường hợp TSCĐ được quyền tặng, biếu, viện trợ không hoàn lại:
      Nguyên giá TSCĐ được  = Gía thị trường của  
      biếu tặng, viện trợ TSCĐ tương đương

    *Trường hợp TSCĐ được điều chuyển nội bộ cho đơn vị cấp dưới:

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán độc lập

    Nguyên giá TSCĐ = giá trị còn lại + chi phí phát sinh liên quan (nếu có)

    Nếu đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc TSCĐ đó, chi phí liên quan tính vào chi phí hoạt động

    *Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính:

    Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính ở đơn vị thuê như đơn vị chủ sở hữu tài sản.

    Nguyên giá TSCĐ  =     giá    +    chi phí trước     +         thuế và lệ phí

    Thuê tài chính                     mua             khi dùng                            trước bạ (nếu có)

    Phần chênh lệch tiền thuê TSCĐ phải trả cho đơn vị cho thuê và nguyên giá TSCĐ đó được hạch toán vào chi phí kinh doanh phù hợp vói thời hạn của hợp đồng thuê tài chính.

    Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá có tác dụng trong việc đánh giá khách quan đúng năng lực sản xuất, trình độ trang bị, cơ sở vật chất kĩ thuật và quya mô vốn đầu tư của doanh nghệp, đồng thời làm cơ sở cho việc tính khấu hao.

    Nguyên giá TSCĐ trong doanh nghiệpchỉ được thay đổi trong các trường hợp

    sau

    • Đánh giá lại TSCĐ
    • Xây dựng trang bị thêm
    • Cải tạo nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động kéo dài tuổi thọ của TSCĐ
    • Tháo dỡ một hay một số các bộ phận của TSCĐ

    b.Gía trị còn lại của TSCĐ:

    Gía trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế còn lại của TSCĐ tại thời điểm báo cáo

    Gía trị còn lại của TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ –  số khấu hao luỹ kế

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 6 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp     ĐH Quản lý và kinh doanh HN
                 
    Gía trị còn lại của TSCĐ được xác định lại nếu nguyên giá TSCĐ được đánh giá
    lại và tính như sau:          
    Giá trị còn lại   Gía trị còn lại của     Giá trị đánh giá lại TSCĐ
    Của TSCĐ = TSCĐtrước khi x      
         
        được đánh giá     Nguyên giá TSCĐ
           

    Theo chuẩn mực của kế toán quốc tế thì gía trị còn lại trong trường hợp đánh giá lại được tính như sau:

    Gía trị còn lại  = Gía trị đánh giá lại    –  Số khấu hao luỹ kế

    III.Nội dung công tác Kế toán TSCĐ:

    1.Nhiệm vụ Kế toán TSCĐ:

    TSCĐ là tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSCĐ thường có giá trị lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số giá trị tài sản cảu doanh nghiệp.Quản lý và sử dụng tốt tài sản của doanh nghiệp không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động tốt trong kế hoạch sản xuất mà còn là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốnhạ giá thành sản phẩm. Để góp phần quản lý và sử dụng TSCĐ tốt, hạch toán TSCĐ phải thực hiện theo các nhiệm vụ sau:

    Theo dõi, ghi chép, quản lí chặt chẽ tình hình sử dụng và thay đổi của từng TSCĐ trong doanh nghiệp

    • Tính và phân bổ khấu hao TSCĐ cho các bộ phận sử dụng
    • Tham gia và lập kế hoạch và theo dõi tình hình sửa chữa TSCĐ

     2.Kế toán chi tiết TSCĐ

    Để phục vụ cho nhu cầu thông tin một cách cụ thể,chi tiết đối với từng loại, nhóm và đối tượng ghi TSCĐ cần thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ theo địa điểm sử dụng và tại phòng kế toán của đơn vị việc vào sổ kế toán chi tiết TSCĐ cần tiến hành theo từng đối tượng ghi TSCĐ : đối tượng ghi TSCĐ hữu hình và vô hình

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở địa điểm sử dụng, bảo quản

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 7 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Để quản lý theo dõi TSCĐ theo địa điểm sử dụng người ta mở sổ “sổ TSCĐ theo đơn vị sử dụng” cho từng đơn vị bộ phận. Sổ này dùng để theo dõi tình hình tăng giảm TSCĐ

    *Kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận Kế toán

    Bộ phận Kế toán TSCĐ sử dụng thẻ TSCĐ để theo dõi chi tiết cho từng TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình thay đổi nguyên giá và giá trị hao mòn đã trích hàng năm của tiừng TSCĐ. Thẻ TSCĐ do kế toán TSCĐ lập cho từng đối tượng ghi TSCĐ. Thẻ TSCĐ được lưu ở phòng kế toán trong suốt quá trình sử dụng.

    Để tổng hợp TSCĐ theo từng loại, nhóm TSCĐ kế toán còn sử dụng “sổ TSCĐ” Mỗi loại TSCĐ được mở riêng từng sổ hoặc một số trang trong sổ TSCĐ.

    3.Kế toán tổng hợp TSCĐ

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình:

    Kế toán sử dụng TK 211,411 và một số TK có liên quan khác

    TK 211 “TSCĐ hữu hình dùng để phản ánh tình hình tăng giảm và hiện có của TSCĐ hữu hình theo nguyên giá”

    *Nguyên tắc đánh giá TSCĐ – TK 211

    Giá trị TSCĐ phản ánh trên TK211 theo nguyên giá, kế toán phải theo dõi chi tiết nguyên giá của từng TSCĐ

    Mọi trường hợp tăng giảm TSCĐ hữu hình đều phải lập biên bản giao nhận TSCĐ và phải thực hiện đúng thủ tục quy định.

    TSCĐ hữu hình phải được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng ghi TSCĐ, theo từng loại TSCĐ và điều kiện bảo quản sử dụng, quản lý TSCĐ.

    Khi xây dựng cơ bản và mau sắm TSCĐ hoàn thành bằng nguồn vốn khấu hao, bằng nguồn vốn kinh doanh, thì chi phí ghi tăng giá trị TSCĐ không được ghi tăng nguồn vốn kinh doanh.

    Trường hợp TSCĐ được xây dựng cơ bản hoàn thành bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, bằng quỹ phát triển kinh doanh, thì kế toán phải ghi tăng giá trị TSCĐ

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 8 –                                                                             Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    và đồng thời ghi tăng nguồn vốn kinh doanh, ghi giảm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản,ghi giảm quỹ phát triển kinh doanh

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình được phản ánh sơ đồ 1 trang phụ lục

    4.Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính:

    Kế toán sử dụng TK 212 “TSCĐ thuê tài chính” để phản ánh tình hình tăng, giảm và hiện có của TSCĐ thuê tài chính theo nguyên giá

    Nguyên tắc kế toán TSCĐ thuê tài chính- TK212

    –  Không phản ánh vào TK 212 giá trị của các TSCĐ thuê có tính chất hoạt động

    Các TSCĐ được coi là TSCĐ thuê tài chính phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:

    • Quyền sở hữu TSCĐ thuê được chuyển sang cho bên đi thuê khi hết hạn hợp

    đồng.

    • Hợp đồng cho phép bên đi thuê được lựa chọn mua TSCĐ thuê với giá thấp hơn giá trị thực tế của TSCĐ thuê tại thời điểm mua lại
    • Thời hạn thuê theo hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4 thời gian hữu dụng của TSCĐ thuê
    • Giá trị hiện tại của các khoản chi theo hợp đồng ít nhất bằng 90% giá trị của TSCĐ thuê .

    Một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn một trong những điều kiện sau: – Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền sở hữu tài

    sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.

    – Nội dung hợp đồng thuê có quy định :khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại

    – Thời hạn thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.

    Nguyễn Đức Hạnh – 9 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    –   Tổng số tiền thuê một số loại tài sản quy định tại một hợp đồng thuê ít nhất phải tương đương với giá của tài sản đó trên thị trường vào thời điểm kí hợp đồng.

    Theo hình thức thuê TSCĐ tài chính, bên đi thuê ghi sổ kế toán giá trị TSCĐ theo nguyên giá tại thời điểm đi thuê như là đã được mua và ghi sổ nợ dài hạn.

    Bên cho thuê TSCĐ tài chính được coi hoạt động này là hoạt động đầu tư tài chính, vì vậy phải tổ chức theo dõi đầy đủ các quá trình: đầu tư cho thuê, tính chi phí về cho thuê TSCĐ (khấu hao) thu hồi vốn đàu tư, lỗ lãi của hoạt động đầu tư cho thuê

    TK 212 được mở chi tiết theo dõi từng loại, từng TSCĐ cho thuê tài chính

    *Kế toán tổng hợp tăng giảm TSCĐ thuê tài chính được phản ánh qua sơ đồ2 trang phụ lục

    5.Kế toán TSCĐ vô hình:

    Hạch toán TSCĐ vô hình được phản ánh trên TK 213, TK213dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của toàn bộ TSCĐ vô hình của doanh nghiệp

    * Nguyên tắc kế toán TSCĐ vô hình TK213

    Nguyên giá của TSCĐ vô hình là tổng số tiền chi trả hoặc chi phí thực tế về thành lập doanh nghiệp, chuẩn bị sản xuất, về công tác nghiên cứu phát triển.Số chi trả về mua quyền hoặc nhượng quyền, bằng phát minh sáng chế.

    Toàn bộ chi phí thực tế phát sinh có liên quan đến TSCĐ vô hình trong quá trình hình thành trước hết được tập hợp vào TK214- XDCB dở dang sau khi kết thúc quá trình đầu tư phải xác định tổng chi phí đầu tư thuê từng đối tượng tập hợp chi phí,ghi tăng nguyên giá TSCĐ vô hình vào bên nợ TK213

    Trong quá trình sử dụng phải trích khấu hao TSCĐ vô hình theo mức độ hao mòn của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh. TSCĐ vô hình được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi TSCĐ trong “sổ TSCĐ”

    *Kế toán tổng hợp tăng, giảm TSCĐ vô hình được phản ánh qua sơ đồ 3 trang phụ lục

    6.Kế toán TSCĐ thuê hoạt động:

    Nguyễn Đức Hạnh – 10 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    *Kế toán tại đơn vị đi thuê:  

    Kế toán tăng giảm TSCĐ thuê hoạt động được phản ánhtrên tài khoản ngoài bảng TK 001 “TSCĐ thuê ngoài”. Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị của tất cả tài sản mà đơn vị thuê của đơn vị khác.

    Tài khoản này theo dõi chi tiết thuê từng đối tượng cho thuê và từng loại cho

    thuê

    Trình tự kế toán TSCĐ thuê hoạt động theo sơ đồ 4 trang phụ lục *Kế toán tại đơn vị cho thuê:

    Nghiệp vụ cho thuê TSCĐ hoạt động được coi là hoạt động bất thường. Trình tự kế toán TSCĐ theo sơ đồ 5 ttrang phụ lục

    Các chi phí khác

    7.Kế toán khấu hao TSCĐ

    Hạch toán hao mòn TSCĐ được phản ánh trên TK214.Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐtrong quá trình sử dụng do trích khấu hao TSCĐ và những khoản tăng giảm hao mòn khác.

    Nguyên tắc kế toán hao mòn TSCĐ -TK214

    Mọi TSCĐ của doanh nghiệp đều phải được huy động và sử dụng và đều phải trích khấu hao cơ bản, thu hồi đủ vốn trên cơ sở tính đúng, tính đủ nguyên giá TSCĐ. Các trường hợp đặc biệt không trích khấu hao cơ bản, doanh nghiệp phải chấp hành đúng theo quy định quản lý hiện hành của nhà nước.

    Căn cứ vào quản lý tài chính hiện hành của nhà nướcđối với doanh nghiệp và căn cứ vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp để lựa chọn phương pháp trích tỉ lệ và mức trích khấu hao cho thích hợp, nhằm kích thích sự phát triển của sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho việc thu hồi vốn nhanh, đầy đủ và phù hợp với khả năng trang trải chi phí của doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp phải chấp hành ngiêm chỉnh các quy định về điều hoà và sử dụng vốn khấu hao TSCĐ.

    Đối với các TSCĐ đã tính đủ khấu hao cơ bản thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyễn Đức Hạnh – 11 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đối với các TSCĐ vô hình phải tuỳ theo thời gian phát huy hiệu quả của từng TSCĐ để trích khấu hao cơ bản tính từ khi TSCĐ đưa vào hoạt động.

    Đối với TSCĐ thuê tài chính, trong quá trình sử dụng bên đi thuê phải trích khấu hao cơ bản trong thời gian thuê theo hợp đồngtính vào chi phí sản xuất kinh doanh, đảm bảo thu hồi vốn. Bên cho thuê phải tính chi phí đầu tư tài chính theo mức khấu hao của TSCĐ cho thuê.

    Đối với TSCĐ đầu tư mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào hoạt động văn hoá, phúc lợi thì không trích khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh mà chỉ tính hao mòn TSCĐ.

    Phương pháp khấu hao

    Phương pháp khấu hao TSCĐ phải phù hợp vói đặc điểm của doanh nghiệp và đảm bảo tính nhất quán cho các niên độ kế toán

    Các phương pháp khu hao cơ bn

    Khấu hao theo đường thẳng (khấu hao tuyến tính), khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.

    Do đặc điểm hình thành và sự vận động tăng giảm của TSCĐ nên để đơn giản trong công tác Kế toán thì những TSCĐ tăng, giảm trong kì sang kì sau mới tính khấu hao tăng giảm. vì vậy số khấu hao TSCĐ phải trích trong kì tính như sau:

    Mức khấu hao TSCĐ = M ức KH TSCĐ + mức KH TSCĐ Phải trích trong kì đã trích kì trước tăng trong kì

    – mức KH TSCĐ giảm trong kì

     

    Hiện nay việc tính khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của bộ trưởng Bộ tài Chính

    Mức KH TSCĐ phải   Nguyên giá TSCĐ  x tỷ lệ khấu hao trong kì
    Trích hàng tháng =    
    12 tháng

    Phương pháp Kế toán khấu hao TSCĐ

    Để phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng và các khoản tăng giảm giá trị hao mòn kế toán sử dụng TK214 “hao mòn TSCĐ”.

    Nguyễn Đức Hạnh – 12 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Trình tự hạch toán khấu hao và hao mòn TSCĐ được phản ánh theo sơ đồ 6 trang phụ lục

    8.Kế toán sửa chữa TSCĐ

    Sửa chữa TSCĐ là việc duy trì, bảo dưỡng, sửa chữa những hư hỏng phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm khôi phục lại năng lực hoạt động bình thường của TSCĐ.

    Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, TSCĐ bị hao mòn dần và hư hỏng từng chi tiết bộ phận.

    Để duy trì và tiếp tục cho TSCĐ hoạt động bình thường, khôi phục duy trì năng lực hoạt động TSCĐ cần tiến hành sửa chữa thay thế những bộ phận chi tiết của TSCĐ bị hư hỏng.

    Căn cứ vào quy mô, tính chất công việc sửa chữa cũng như mức độ chi phí sửa chữa và khả năng thực hiện mà doanh nghiệp có thể tiến hành sửa chữa TSCĐ theo phương thức tự làm hoặc thuê ngoài.

    Kế toán sử dụng TK241 (TK2413-sửa chữa lớn TSCĐ)

    Trình tự hạch toán theo sơ đồ 7 trang phụ lục

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I.Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt

    Công ty xây dựng TNHH Nhất Việt là một doanh nghiệp tư nhân, được thành lập theo giấy phép số 240/GP_UB ngày 05/03/1997do UBND thành phố Hà Nội cấp. Giấy phép đăng kí kinh doanh 110786035 của UBKH thành phố Hà Nội cấp ngày 10/05/1997

    Tên công ty: Công ty TNHH NhấT Việt

    Tên giao dịch:Nhat Viet Construction Company Limited

    Trụ sở đặt tại: toà nhà A4 .Làng quốc tế Thăng Long.Trần Đăng Ninh.HN

    ĐT: (84-4) 7 567 567

    Fax: (84-4)7 567 777

    Có tài khoản riêng tại Ngân Hàng Công Thương Hai Bà Trưng-Hà Nội

    Nguyễn Đức Hạnh – 13 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Có con dấu riêng, là doanh nghiệp tư nhân

    Ban đầu thành lập công ty chỉ có hơn 20 cán bộ công nhân, hầu như chưa có đội ngũ cán bộ chuyên ngành, vốn liếngcơ sở vật chất kĩ thuật buổi ban đầu rất nhỏ bé hạn hẹp. Là một đơn vị kinh tế độc lập, hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu, có chức năng hành nghề. Nhận thầu thi công xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ chăm sóc nhà cửa.Với đội ngũ cán bộ công nhân viên phát huy năng lực, kế thừa những thành tích và những thuận lợi cùng kinh nghiệm của lớp trước, tìm tòi sáng tạo để tìm ra hướng đi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

    Phát huy nội lực để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời liên kết hợp tác với các doanh nghiệp để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đảm bảo đời sống cho CBCNV

    Với những thành tích đạt được trong những năm qua, công ty đã tự khẳng định mình, đứng vững và đang trên đà phát triển của nền kinh tế thị trường mở của nước ta hiện nay

    II.Chức năng và nhiệm vụ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

    Là doanh nghiệp thi công công trình xây dựng hạ tầng xây lắp, các công trình mà công ty tự nhận thầu.

    Địa bàn hoạt động của công ty là chuyên xây dựng cơ bản các công trình dân dụng, công nghiệp do đó địa bàn hoạt động của công ty rất phong phú và đa dạng Tổ chức cán bộ công nhân viên chức thi đua, quản lý doanh nghiệp theo

    quy định của pháp luật

    Đảm bảo việc làm, cải thiện điều kiện nâng cao đời sống tinh thần, nâng cao thu nhập và phúc lợi của công nhân lao động

    Phát hiện đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tiêu cực, vận động cán bộ công nhân viên học tập, nâng cao trình độ chính trị, kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ tổ chức hoạt động xã hội

    Nguyễn Đức Hạnh – 14 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của công ty

    Góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước III.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty (sơ đồ 8 phần phụ lục)

    Trong thời kỳ đổi mới của nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý và định hướng của nhà nước, để nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, đòi hỏi tổ chức bộ máy của công ty phải được củng cố và kiện toàn với cơ cấu đơn giản, hiệu quả cao. Mặt khác để mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty, buộc công ty phải có một bộ máy quản lý hợp lý.

    Từ những yêu cầu và đòi hỏi như vậy, công ty đã cố gắng điều chỉnh và kiện toàn cơ cấu tổ chức, các lực lượng lao động, sắp xếp được hợp lý theo từng công việc phù hợp trình độ của mỗi người.

    Đứng đầu công ty, giám đốc công ty, giám đốc là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn thể công ty trước pháp luật. Giám đốc chịu trách nhiệm chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp phụ trách khâu tổ chức lao động kế hoạch, tài chính kế toán, giám đốc là người quyết định mọi phương thức kinh doanh hoạt động của công ty.

    Các phòng chức năng thực hiện các chức năng chính của mình đồng thời là bộ phận tham mưu giúp ban giám đốc diều hành quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh.

    • Phòng hành chính: Có trách nhiệm tổ chức và quản lý về vấn đề nhân sự.
    • Phòng kỹ thuật: Có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ kỹ thuật để nghiệm thu công trình, cấp giấy xác nhận đủ diều kiện nghiệm thu chuyển giao cho cho phòng kế hoạch.
    • Phòng kế hoạch: Có nhiệm vụ lên kế hoạch công việc sao cho hợp lý, kịp

    thời.

    • Phòng tài chính, kế toán: Nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, phương hướng, kế hoạch và chuẩn bị kịp thời, chính xác cho các quyết định quản lý thuộc lĩnh vực tài chính kế toán cho giám đốc.
    Nguyễn Đức Hạnh – 15 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Tổ chức kiểm tra, giám sát hạch toán, quyết toán và phân tích kết quả thực hiện các quy định quản lý tài chính ké toán của giám đốc giao.

    Đảm bảo kịp thời các điều kiện về vốn, số liệu tài chính kế toán theo đúng trách nhiệm đã phân công dể đảm bảo phục vụ tốt nhất việc sản xuất kinh doanh.Kịp thời đề xuất các biện pháp quản lý tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.Báo cáo tổng kết rút kinh nghiệm công tác quản lý tài chính, kế toán.

    • Các tổ sản xuất: Tham gia vào hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị

    trường.

    Một số chỉ tiêu về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

            Đơn vị:nghìn đồng
               
    TT Chỉ tiêu 2004 2005   Chênh lệch
               
    1 Doanh thu thuần 63.226.893 84.779.695   21.552.802
               
    2 Lợi nhuận trước thuế 3.150.217 5.861.367   2.711.150
               
    3 Thuế thu nhập phải nộp 882.061 1.641.183   759.122
               
    4 Lợi nhuận sau thuế 2.268.156 4.220.184   1.952.028
               
    5 Thu  nhập  bình  quân 950 1.150   200
      1CNV/tháng        
               

    Các chỉ tiêu doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, chỉ tiêu tổng vốn kinh doanh được lấy từ bảng cân đối kế toán trong hai năm 2004, 2005, lưu tại phòng kế toán của công ty

    IV. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và công tác kế toán của công ty.

    1- Bộ máy kế toán (Sơ đồ 9 phần phụ lục)

    Công ty Tnhh nhất việt là một doanh nghiệp tư nhân, thực hiện chế độ kinh tế độc lập và áp dụng mô hình bộ máy kế toán tập chung.Trong số các phòng ban chức năng thuộc bộ máy quản lý của công ty, phòng tài chính kế toán có vị trí trung tâm quan trọng, nó đảm bảo tài chính, giám sát toàn bộ quá trình kinh doanh và tính toán kết quả kinh doanh, tham mưu cho giám đốc về mọi mặt của quá trình kinh

    Nguyễn Đức Hạnh – 16 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    doanh. Tất cả các công tác kế toán như thu nhận chứng từ, hạch toán, lập báo cáo kế toán, phân tích hoạt động kinh tế đều do phòng kế toán đảm nhận.

    *Đứng đầu bộ máy kế toán là kế toán trưởng: là người phụ trách và quản lý chung về toàn bộ tài chính, phân công công tác cho từng phần hành kế toán của công ty, có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về mọi mặt trong hoạt động quản lý tài chính

    • Kế toán tổng hợp kiêm kế toán thuế là người có trách nhiẹm giúp việc cho kế toán trưởng, có nhiệm vụ kiểm tra, đối chiếu làm báo cáo tổng hợp theo định kỳ theo yêu cầu quản lý mà bộ tài chính qui định, phản ánh giá thành tiêu thụ, lỗ, lãi và tổng kết tài sản, đổng thời theo dõi các khoản thu
    • Kế toán thanh toán kiêm kế toán tập tập hợp chi phí: Là người có nhiệm vụ ttheo dõi thu, chi tiền mặt, tiền gửi, thanh toán công nợ tạm ứng và phản ánh kịp thời chính xác theo từng đối tượng, từng khoản thanh toán.Đồng thời có nhiẹm vụ xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tưọng cụ thể.
    • Kế toán tiền lương kiêm kế toán vật tư, CCDC, TSCĐ:
    • Về tiền lương có nhiệm vụ chấm công, ghi rõ ngày công làm việc, nghỉ việc của từng cán bộ công nhân viên, đảm bảo chấp hành chế độ đối với lao động, cung cấp thông tin về sử dụng lao động, về chi phí tiền lương và các khoản trích nộp bảo hiểm.Cuối kỳ tổng hợp thời gian lao động và tính lương, thực hiện các khoản nộp bảo hiểm cho từng bộ phận tổng công ty.
    • Về vật tư: phản ánh tình hình hiện có, biến đọng từng loại vật liệu và toàn bộ vật liệu. Chấp hành dầy đủ thủ tục về nhập, xuất, bảo quản vật liệu.Nắm vững phương pháp tính giá vật liệu và phân bổ vật liệu cho các đối tượng sử dụng vật liệu.Hàng tháng lập bản kê tổng hợp nhập, xuất tồn vật liệu bảo đảm đúng khớp với chi tiết và tổng hợp với the kho, cuối kỳ lập báo cáo kiểm kê.
    • Về công cụ dụng cụ, TSCĐ: theo dõ vào sổ sách tình hình tải sản phát sinh trong tháng, quý năm.

    * Thủ quỹ kiêm kế toán ngân hàng: Có nhiệm vụ thu chi tiền mặt, vào sổ quỹ hàng tháng, cuối ngày phải báo cáo số tiền tồn két cho giám đốc.Đồng thời có nhiệm

    Nguyễn Đức Hạnh – 17 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    vụ giao dịch với ngân hàng theo dõi tiền mặt và tièn gửi ngân hàng làm thủ tục, lập phiếu chi, ghi séc, uỷ nhiệm chi. Công ty XD TNHH Nhất Việt hiện đang áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ. Trình tự ghi chép và xử lý số liệu được thực hiện như sau.

    2- Đặc điểm tổ chức hệ thống sổ kế toán

    Sổ kế toán là phương tiện vật chất cơ bản, cần thiết để người làm kế toán ghi chép phản ánh một cách có hệ thống các thông tin kế toán theo thời gian cũng như theo đối tượng. Việc lựa chọn hình thức sổ kế toán nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức quản lý và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.Đối với công ty TNHH Nhất Việt thì hình thức sổ sách được sử dụng là hình thức ” Chứng từ ghi sổ”, công tác kế toán được kết hợp vừa làm thủ công vừa đưọcc thực hiện bằng máy vi tính.1. Định khoản cho chứng từ gốc

    1. Từ chứng từ gốc vào sổ quỹ
    1. Từ chứng từ gốc vaò chứng từ ghi sổ
    1. Từ chứng từ gốc vào sổ chi tiết
    1. Từ chứng từ ghi sổ vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Từ chứng từ ghi sổ vào sổ cái
    • Từ sổ chi tiết lập bảng tổng hợp

    8.Đối chiếu giữa sổ cái và bảng tổng hợp

    • Lên báo cáo kế toán

    Trình tự hạch toán:(Sơ đồ 10 phần phụ lục)

    Các loại sổ kế toán sử dụng:

    • Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
    • Sổ cái
    • Các sổ kế toán chi tiết ( Sổ TK 112,111, 131, 133, 144, 156.1, 156.2, 155, 311, 331, 333.1, 333.3, 333.4, 334, 421, 211, 511, 632, 511, 642, 413, 711, 911, 142. )

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 18 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
         
      Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán  

    Tất cả các loại báo cáo tài chính đều được lập theo biểu mẫu và gửi đúng kỳ hạn quy định.

    • Bảng cân đối kế toán
    • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
    • Thuyết minh báo cáo tài chính
    • Bảng lưu chuyển tài sản
    • Bảng cân đối tài khoản
    • Báo cáo các khoản phải thu, phải trả, tình hình công nợ của công

    ty

    Báo cáo quỹ, thủ quỹ lập hàng ngày và gửi tới giám đốc.

    V.Thực trạng hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt:

    1. Đặc điểm Tài sản cố định tại công ty TNHH Nhất Việt :

    Qua nhiều năm hoạt động từ công ty nhỏ đến nay công ty đã có cơ ngơi khang trang, máy móc thiết bị tương đối hiện đại, cùng với quá trình hiện đại hóa sản xuất công ty đã sử dụng bộ máy kế toán của mình ngày càng hữu hiệu để quản lý chặt chẽ TSCĐ trên mọi mặt nâng cao hiệu quả sử dụng và cung cấp thông tin, để tiếp tục đổi mới TSCĐ, đưa công nghệ vào sản xuất.

    Mặc dù công ty TNHH Nhất Việt không phải là một công ty lớn, nhưng địa bàn hoạt động của công ty rộng, vì vậy khả năng quản lý tập trung TSCĐ là rất khó khăn. Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố quyết định đối với hiệu quả sử dụng TSCĐ mà điều quyết định là công ty có được biện pháp quản lý TSCĐ đúng đắn.

    Trước hết, TSCĐ được xác định đúng nguyên giá khi nhập về hoặc khi xây dựng cơ bản bàn giao. Đây là bước khởi đầu quan trọng để công ty hạch toán chính xác TSCĐ theo đúng giá trị của nó. Sau đó mọi TSCĐ được quản lý theo hồ sơ ghi chép trên sổ sách cả về số lượng và giá trị. TSCĐ không chỉ theo dõi trên tổng số mà còn được theo dõi riêng từng loại, không những thế mà còn được quản lý theo địa điểm sử

    Nguyễn Đức Hạnh – 19 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    dụng, thậm chí giao trực tiếp cho nhóm đội sản xuất. TSCĐ khi có sự điều chuyển trong nội bộ đều có biên bản giao nhận rõ ràng. Để sản xuất tốt hơn công ty luôn kịp thời tu bổ sửa chữa những tài sản đã xuống cấp.

    Trong thời gian sử dụng, một mặt TSCĐ được tính và trích khấu hao đưa vào giá thành theo tỷ lệ quy định của công ty, mặt khác lại được theo dõi xác định mức hao mòn giá trị còn lại thực tế để có kế hoạch đổi mới. Hàng năm công ty đều tổ chức kiểm kê vào cuối năm, vừa để kiểm tra TSCĐ, vừa để xử lý trách nhiệm vật chất với trách nhiệm hư hỏng, mất một cách kịp thời. Định kỳ công ty có tổ chức đánh giá lại TSCĐ.

    Tính đến thời điểm cuối tháng6 năm 2005, tài sản cố định của công ty đạt mức trên 3 tỷ đồng, về nguyên giá gồm nhiều loại do nhiều nước sản xuất như : Anh úc, Pháp. Trong đó thiết bị máy móc chủ yếu là của Việt Nam.

    Công ty có rất nhiều TSCĐ như thông qua bảng sau ta cũng thấy phần nào của công ty.

    Bảng tổng hợp khấu hao TSCĐ

          Đơn vị tính:nghìn đồng
           
      Loại tài sản Nguyên giá KH tb hàng năm
           
    Nhà cửa 621.895 77.737
           
    Vật kiến trúc 189.674 23.709
         
    – Phương tiện vận tải 756.165 94.520
         
    – Máy móc thiết bị 298.478 37.310
         
    – Dụng cụ quản lý 171.214 21.402
         
    – Tài sản chờ thanh lý 121.353 15.169
           
      Cộng 2.158.779 269.847
           

    2.Hạch toán tăng, giảm TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    2.1. Hạch toán tăng TSCĐ (Sơ đồ 1 phần phụ lục)

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 20 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    TSCĐ ở công ty TNHH Nhất việt nói chung có ít biên động các trường hợp tăng TSCĐ chủ yếu là do công ty mua sắm bằng nguồn vốn tự có. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết của các bộ phận, căn cứ vào kế hoạch đầu tư, tình hình TSCĐ hiện có của công ty, công ty đã có kế hoạch mua sắm TSCĐ cho mỗi năm mà công ty có quyết định mua sắm mới TSCĐ. Bộ phận có nhu cầu sử dụng TSCĐ và kế toán trưởng lập tờ trình gửi Giám Đốc xét duyệt và cho lập kế hoạch mua sắm khi tài sản mà bên bán giao cho công ty, căn cứ vào hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT và các chứng từ gốc cần thiết kế toán hạch toán nghiệp vụ mua sắm TSCĐ.

    Hồ sơ TSCĐ bao gồm :

    • Quyết định cấp phát hoặc điều chuyểnTSCĐ giữa các bộ phận trong công ty
    • các tài liệu kỹ thuật kèm theo.
    • Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản này được thành lập 3 bản:
    • 01 bản được lưu ở kế toán công ty để làm hồ sơ gốc để ghi sổ kế toán.
    • 01 bản được giao cho bên giao tài sản .
    • Phiếu thu của bên giao nhận tài sản giữ
    • Phiếu chi của đơn vị.
    • Phiếu bảo hành < nếu có>.
    • Ngày 24 tháng 4 năm 2005 công ty mua thêm 1 máy vi tính và 1 máy in Canon.theo hoá đơn GTGT .Hoá đơn chưa thuế là 16.350.000đ.Thuế GTGT 5%, thanh toán bằng tièn mặt (DN đã nộp thuế theo phương pháp khấu trừ)

    Căn cứ vào chứng từ trên kế toán phản ánh tăng TSCĐ và tiến hành ghi sổ, trước tiên kế toán lập chứng từ ghi sổ,vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và vào sổ cái ghi:

    Nợ TK 211: 16.350.000
    Nợ TK133: 817.500

    Có TK 111 : 17.167.500

    Đồng thời ghi bút toán kết chuyển nguồn vốn và kế toán tiến hành ghi sổ cái 411

    Nợ TK 414: 16.350.000

    Có TK 411: 16.350.000

    Nguyễn Đức Hạnh – 21 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.2. Trường hợp giảm TSCĐ  

    TSCĐ của công ty TNHHNhất Việt giảm có thể do nhượng bán thanh lý, đối với một TSCĐ đã cũ không dùng được không phù hợp với công việc thì bộ phận sử dụng với kế toán trưởng đề nghị với Giám Đốc nhượng bán thanh lýTSCĐ ,Giám Đốc công ty sẽ xét tình hình thực tế hiện trạng TSCĐ tại công ty. Từ đó cho phép nhượng bán thanh lý, thủ tục thanh lý bao gồm: Lập bản thanh lý TSCĐ để xem xét đánh giá hiện trạng của TSCĐ cần thanh lý và giá trị TSCĐ thanh lý cần thu hồi, lập biên bản thanh lý TSCĐ

    Ngày 18 tháng 6 năm 2005 công ty thanh lý xe cẩu KC2 biển số 29E-15-32 Biên bản thanh lýTSCĐ nhằm mục đích xác nhận việc thanh lý TSCĐvà làm

    căn cứ để kế toán ghi giảm TSCĐ trên sổ kế toán

    Biên bản này do ban thanh lý TSCĐ lập và có đầy đủ chữ ký ghi rõ họ tên của trưởng ban, kế toán trưởng, Giám đốc. Cùng với biên bản thanh lý còn có biên bản giao nhậnTSCĐ với bên muaTSCĐ , phiếu thu

    *Viêc xác định kết quả về thanh lýTSCĐ được tính như sau:

    • Sổ TSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK 821: 720.000 đ

    Nợ TK 214 :209.730.000 đ

    Có TK 211 : 210 450.000 đ

    • Toàn bộ số thu về thanh lýTSCĐ, kế toán ghi:

    Nợ TK111: 65.000.000 đ

    Có TK 721: 65.000.000 đ

    • Xác định kết quả thanh lý, kế toán ghi:

    Nợ TK 911: 64 .280.000 đ

    Có TK421: 64.280.000đ

    Trên cơ sở chứng từ kế toán gốc, kế toán TSCĐ cuối tháng và sổ chi tiếtTSCĐ tại công ty lập theo tháng và theo loại tài sản, đối với việc tăng ,giảmTSCĐ được hạch toán kịp thời chi tiết vào sổTSCĐ của đơn vị và được lập theo mẫu sổ

    Nguyễn Đức Hạnh – 22 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Báo cáo tăng ,giảmTSCĐở công ty được theo dõi cho tình hình biến động của TSCĐ trong tháng theo ngùôn hình thànhTSCĐ đó.

    Trong gần 160 đơn vị TSCĐ của công ty 35 máy móc đã cũ để thanh lý và có kế hoạch xử lý số máy móc này kế toán TSCĐ lập ( bảng kê thiết bị chờ xử lý ) số hiệu của bảng này được bổ xung thường xuyên năm.

    3.Hạch toán khấu hao TSCĐ (Sơ đồ 6 phần phụ lục)

    Trong quá trình sử dụngTSCĐ cùng với sự tác động của thiên nhiên và sự tiế bộ của khoa học kỹ thuật thì TSCĐ bị hao mòn dần về giá trị theo thời gian. Do vậy kế toán phải làm công tác khấu hao TSCĐ theo định kỳ, hàng tháng kế toánTSCĐ tại công ty phải tiến hành tính và khấu haoTSCĐ theo từng đói tượng sử dụng. Việc khấu hao TSCĐ là quá trình chuyển dần giá trịTSCĐ đang sử dụng vào chi phí kinh doanh , cụ thể là chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

    Việc xác định thời gian khấu haoTSCĐ dựa vào tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế đặc tính hao mòn của TSCĐ, đặc điểm nguồn vốn hình thànhTSCĐ và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.

    Phương pháp tính khấu hao: TSCĐ trong công ty được tinh khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng, việc tính khấu hao theo nguyên tắc tròn tháng, đối với TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng thì giá trị còn lại phải thu hồi một lần, đói với những TSCĐ đã khấu hao hết mà vẫn sử dụng được thì không trích khấu hao nữa.

    Nguyên giá TSCĐ

    Mức KH TB năm          =

    Thời gian sử dụng

    Mức KH TB năm

    Mức KH Tháng            =

    12

    Từ đây xác định được mức KH của mỗi tháng là :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 23 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Mức KH tháng này = mức KH tháng trước + mức KH tăng trong tháng từ mức KH giảm trong tháng. Việc tính và phân bổKH được xác định theo từng tháng, nó được thể hiện trên bảng tính và phân bổ KH.

    * VD trong tháng 3 năm 2005 thì việc thanh toán khấu hao như sau :

    Trong tháng 02: số TSCĐ tăng lên 31.932.248 đ làm cho số KH trong tháng 03 tăng là 530. 537đ. Số TSCĐ giảm 36.560.000đ làm số KH trong tháng 03 giảm 253.889đ. Từ bảng tính và phân bổ KH kế toán tiến hành ghi sổ và ghi nợ TK 009-nguòn vốn KH.

    Và ghi nợ TK 009 : 222.755.958đ

    Để cung cấp thông tin chi tiết cho nhà quản lý tại phòng kế toán của công ty mở sổ chi tiết TK 214, sổ chi tiết này mở chi tiết theo từng loại TSCĐ.

    Căn cứ vào số liệu trên sổ tổng hợp và sổ chi tiết TK 214 của từng tháng, kế toán tập hợp KH trích theo quý và lập ra bảng KH của mỗi quý để cung cấp cho nhà quản lý.

    4.Hạch toán sửa chữa TSCĐ.

    TSCĐ là tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài , vì vậy để TSCĐ của công ty hoạt động tốt, hoạt động kinh doanh diễn ra đều đặn thì phải luôn quan tâm đến sửa chữaTSCĐ. Việc sửa chữa TSCĐ tại công ty có thể sửa chữa lớn thường xuyên huặc sửa chữa lớn TSCĐ.

    4.1. Sửa chữa thường xuyên.

    Loại hình sửa chữa này có tính chất bảo quản, bảo dưởng thường xuyênTSCĐ, kỹ thuật sửa chữa đơn giản thường do công nhân của công ty làm, thời gian sửa chữa diễn ra ngắn,chi phí phát sinh chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp, chi phí này được đưa vào chiphí kinh doanh trong kỳ.

    *VD: tháng 3 quý I năm 2005 trong công ty có sửa chữa nhỏ như sau: tại công ty có sửa chữa nền nhà của một số phòng với tổng chi phí là: 4.342.000đ. nghiệp vụ này được hạch toán như sau :

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 24 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Căn cứ vào chứng từ có liên quan: hoá đơn xuất vật liệu, phiếu chi tiền mặt cho sửa chữa ,kế toán ghi

    NợTK 642: 4.341.500

    Có TK 152: 1.085 500

    Có TK 111: 3.256 .000

    Sau đó kế toán tiến hành ghi sổ

    4.2. Sửa chữa lớn TSCĐ:

    Tại công ty thì loại hình sửa chữa này có tính chất khôi phục năng lực hoạt dộng của TSCĐ, kỹ thuật sửa chữa phức tạp có thể do công nhân của công ty đảm nhận huặc thuê ngoài. thời gian sửa chữa thường kéo dài và phải ngừng hoạt động đối với TSCĐ. chi phí sửa chữa phát sinh thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của công ty

    Sửa chữa lớn TSCĐ tại công ty có thể ngoài kế hoạch hoặc theo kế hoạch.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch.

    Khi TSCĐ không thể hoạt động, hoặc hoạt động không hiệu quả mà cần sửa chữa thì bộ phận sử dụng đề nghị cần sửa chữaTSCĐ. Giám đốc công ty duyệt và cho tiến hành sửa chữa.

    Khi sửa chữa xong công ty tiến hành quyết toán công trình bộ phận sửa chữa xây dựng kế hoạch giải trình. Căn cứ vào bảng quyết toán công trình và các chứng từ liên quan kế toán tiến hành hạch toán, chi phí cuả nghiệp vụ này được tập hợp vào TK 142 và tiến hành phân bổ vào chi phí kinh doanh của các kỳ sau khi sửa chữa hoàn thành.

    • VD: trong tháng 2 năm 2005 công ty tiến hành SCL một số phương tiện vận tải theo phương thức tự làm với tổng chi phí : 17.794.872đ

    trong đó CP về vật tư là : 11.235.271đ , số công là : 1.534 ; tiền lương là : 5.594.200đ khi tiến hành sửa chữa các CP được tập hợp theo các chứng từ gốc ( chi phí khác : 965.401đ ).

    Kế toán tiến hành vào sổ cái TK241 , TK 142

    Nguyễn Đức Hạnh – 25 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Khi công trình được quyết toán, kế toán còn ghi sổ cái TK142

    Loại hình sửa chữa này ít xảy ra, phần lớn các nghiệp vụSCL xảy ra đã có kế hoạch định trước.

    *Sửa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch

    Tại công ty TNHH Nhất việt cùng với định kỳ kiểm kêTSCĐ là 6 tháng hoặc 1 năm thì bộ phận bảo dưỡngTSCĐ của công xem xét tình hình thực tế TSCĐ tại từng bộ phận sử dụng quản lý TSCĐ. Đến cuối mỗi năm, căn cứ rà soát những tài sản trang thiết bị cần sửa chữa, bảo dưỡng thay thế. Từ đây cùng với phòng kế toán lập văn bản và lập kế hoạch sửa chữa lớn TSCĐ trình lên Giám đốc

    VD: công ty có dự định sửa 1 chiếc ô tô biển số 29H 97.38 và xe cẩu biển số

    29H 61.38 kế toán có kế hoạch trích trong 3 tháng ( 1,2,3 ), khi trích trước kế toán hạch toán tại thời điểm tháng 01 năm 2005 và tháng 02.03 năm 2005 và tiến hành ghi sổ như sau:

    Nợ TK 642: 6.987.000đ

    Có TK 335: 6.987.000đ

    Đồng thời kế toán vào sổ cái TK355

    Nhưng thực tế nghiệp vụ này xảy ra đầu tháng 4 năm 2005,căn cứ vào các chứng tù như phiếu xuất kho vật tư, hoá đơn GTGT kế toán hạch toán bằng chứng từ ghi sổ số 86

    Khi cuối tháng 04 năm 2005 việc sửa chữa tài sản này kết thúc và giá trị sửa chữa được quyết toán là 20.960.000đ . Kế toán so sánh số liệu này với số liệu đã trích theo kế hoạch xác định, chênh lệch giữa số đã trích và thực tế phát sinh là: 3.880.348đ.Kế toán căn cứ vào bảng quyết toánSCL và các chứng từ liên quan hạch toán như sau :

    Nợ TK 335: 20.960.000

    Có TK 2413 : 20.960.000

    Số chênh lệch được hạch toán vào chi phí trả trước Nợ TK 142: 3.880.348

    Nguyễn Đức Hạnh – 26 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
      Có TK 2413 : 3.880.348

    5. Hạch toán kiểm kê TSCĐ:

    Tại công ty TNHH Nhất việt, công tác kiểm kê được tiến hành đều đặn mỗi năm hai lần vào cuối năm. Trước mỗi đợt kiểm kê, công ty lập ban chỉ đạo kiểm kê, ban này sẽ lập phương án kiểm kê, đánh giá TSCĐ, xác định phạm vi kiểm kê, xác định đói tượng chính xác , chẩn bị kiểu mẫu báo cáo, dự chù kinh phí. Phòng kế toán có nhiệm vụ cung cấp chứng từ , sổ sách và các tài liệu có liên quan để tổng hợp sau khi đã tiến hành kiểm kê đánh giá TSCĐ cùng hệ thống chỉ tiêu kiểu mẫu báo cáo. quá trình kiểm kê sử dụng phiếu kiểm kê hiện vật

    Sau khi kiểm kê kết thúc ngoài biên bản kiểm kê ban kiểm kê đánh giáTSCĐ còn lập bảng tổng hợp.

    Thực tế kết quả kiểm kê năm 2005 của công ty TNHH Nhất việt không thừa thiếu so với sổ sách. Nếu thấy thừa , thiếu so với chế độ sau :

    Nếuphát hiện thiếu : căn cứ vào biên bản kiểm kê và quyết định sử lý của Giám đốc, kế toán ghi:

    Nợ TK214 : Giá trị hao mòn

    Nợ TK 138 : giá trị cá nhân phải bồi thường

    Nợ TK 411: ghi giảm vốn

    Nợ TK 821 : tính vào chi phí bất thường

    Có TK 211: nguyên giá

    • Mặt khác phân tích đẻ phục vụ cho công tác quản lý
    • Phân tích TSCĐ đã kiểm kê theo các loại giá
    • Phân tích khấu hao và quỹ khấu hao, mức hao mòn
    • Phân tích hiệu quả kinh tế sử dụng TSCĐ qua các chỉ tiêu cơ bản

    Trên đây là công tác hạch toán các nghiệp vụ cơ bản về TSCĐ của công ty TNHH Nhất việt. Tuy nhiên công việc không chỉ dừng lại ở các bút toán định khoản mà kế toán TSCĐ còn có nhiệm vụ phản ánh các nghiệp vụ này và hệ thóng sổ kế toán thống nhất của công ty.

    Nguyễn Đức Hạnh – 27 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    CHƯƠNG III

    NHỮNG TỒN TẠI VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN TSCĐ TẠI CÔNG TY TNHH NHẤT VIỆT

    I. Đánh giá chung về công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất Việt

    Đến nay công ty TNHH Nhất việt đã có vai trò quan trọng trong việc cung cấp vật tư, các thiết bị cho ngành xây dựng lớn trên khắp các tỉnh miền Bắc. Công ty không ngừng lớn mạnh, sự lớn mạnh này thể hiện ở đội ngũ công nhân viên trình độ cao, cơ sở vật chất không ngừng được nâng cấp, cũng như trình độ quản lý đang từng bước được hoàn thiện.

    Hiện nay công ty không ngừng khẳng định tính độc lập , tự chủ trong kinh doanh khai thác nguồn hàng mới và mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nứơc. Công ty đã biết khai thác, phát huy và sử dụng có hiệu quả nội lực, tiềm năng sẵn có của mình, mà trong đó TSCĐ là yếu tố quan trọng. Nhận thức được điều này ban lãnh đạo Công ty đã có những biện pháp quan trọng, tích cực tới quản lý và sử dụng TSCĐ

    Công ty không ngừng tăng cường công tác quản lý , sử dụng TSCĐ như phân công, phân cấp quản lý, sửa chữa bảo dưỡng thường xuyên, sử dụng TSCĐ đúng công suất cố gắng đảm bảo hiệu quả sử dụng TSCĐ đạt mức cao nhất.

    Công ty đẫ đưa máy vi tính vào sử dụng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng, nhờ đó hiệu quả công việc được nâng lên rõ rệt, giảm bớt nhân lực.

    Công ty đã làm tốt công tác phân công, bố trí nhân lực ở các phân xưởng và phòng ban song song với việc tổ chức gọn nhẹ ở các bộ phận. ở phòng kế toán chỉ với

    • nhân viên nhưng đã tỏ ra làm việc rất hiệu quả. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình biến động tài sản, tính toán tập hợp đầy đủ chi phí phát sinh và kết quả kinh doanh cũng như quản lý các nguồn vốn của công ty Trong đó phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của kê toán TSCĐ, kế toán TSCĐ đã phản ánh tương đói đầy đủ, chính xác kịp thời tình hình biến động tăng , giảmTSCĐ, quá trình sử dụng quỹ khấu haoTSCĐ.

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 28 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Qua một thời gian thực tập tại công ty TNHH Nhất việt, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn công tác hạch toán TSCĐ, tôi rút ra một số nhận xét cụ thể về công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt như sau :

    1.                 Ưu điểm

     

    • 1- Sổ sách:

     

    Với đặc điểm kinh doanh và sản xuất của công ty TNHH Nhất việt, với khối lượng TSCĐ tương đối lớn. Do đó lượng thông tin cho người quản lý là rất nhiều và cần thiết. Vì vậy kế toán tổng hợp áp dụng hình thức chứng từ ghi sổ là phù hợp, sổ sách kế toán tổng hợp được thực hiện theo đúng quy định của Bộ tài chính và kế toán viên ghi đúng theo quy định.

     

    • 2-Về hệ thống quản lý của công ty và các yếu tố có ảnh hưởng tới công tác hạch toán TSCĐ: Hệ thống quản lý TSCĐ tập chung đã giúp công ty quản lý tương đối tốt TSCĐ. Từ công nhân, trưởng phòng kế toán, kế toán chi tiết TSCĐ, kế toán tổng hợp , Giám đốc đều có mối quan hệ chặt chẽ trong vấn đề quản lý sử dụng.

     

    • 3-Về hạch toán TSCĐ

     

    Về cơ bản kế toán TSCĐ đã theo dõi tình hinh tăng, giảm, khấu hao và sửa chữaTSCĐ theo đúng quy định, đảm bảo việc phản ánh đúng nguyên giá TSCĐ hiện có cũng như mức tính khấu hao.

    Các bước trong quá trình hạch toán đã tuân theo đúng quy định của Bộ tài chính. Hiện nay công ty tiến hành trích khấu haoTSCĐ theo đúng quyết định 166 / 1999/ QĐ- BTC ngày 30/ 12 /1999. Hàng tháng công ty lập tính và phân bổ khấu hao

     

    theo quy định.

     

    Qua việc phân tích những ưu điểm trên cho phép rút ra kết luận : nhìn chung công tác hạch toánTSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt được thực hiện khá tốt đảm bảo việc tuân thủ các quy định hiện hành của BTC về các nghiệp vụ hạch toán TSCĐ và việc ghi sổ sách kế toán. Tuy nhiên bên cạnh đó công ty vẫn còn một số tồn tại và thiếu sót

     

    2.                 Một số tồn tại

    Nguyễn Đức Hạnh – 29 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    2.1- Về kiểm kê đánh giá TSCĐ  

    Theo quy định 6 tháng hoặc 1 năm công ty tiến hành kiểm kê đánh giá lại TSCĐ xem xét hiện trạngTSCĐ. Nhưng tại công ty TNHH Nhất Việt chỉ diễn ra kiểm kê hoặc xem xét hiện trạng tình hình TSCĐ cần bảo dưỡng mà không đánh giá lại giá trị hiện thời của TSCĐ. Điều này dẫn tới việc xem xét giá trị của TSCĐ hiện có không đúng với thực tế mà chỉ theo sổ sách . Từ đây làm cho nhà quản lý đưa ra các quyết định không sát với thực tế, đầu tư và sử dụng TSCĐ kém hiệu quả hơn.

    2.2- Về việc áp dụng máy tính trong công tác kế toán

    Phòng kế toán đã áp dụng máy vi tính nhưng một số kế toán viên chưa có khả năng áp dụng, khai thác phần mềm hiện có, mặt khác số lượng người biết sử dụng máy vi tính vẫn ít ( 4/8 ). Do đó khối lượng công việc làm thủ công vẫn còn nhiều.

    2.3- Về việc sửa chữa TSCĐ

    Việc sủa chữa lớn TSCĐ theo kế hoạch khá chặt chẽ và chủ động còn việc sửa chữa lớn ngoài kế hoạch diễn ra chậm, điều này dẫn đến tình trạng bị động trong quá trình kinh doanh tại công ty

    2.4- Về việc khấu hao TSCĐ

    Hiện nay công ty thực hiện tính khấu hao nhanh nhằm đổi mới công nghệ mức khấu hao này đối với công ty còn quá cao làm tăng giá thành một cách giả tạo gây khó khăn cho công ty khi quyết toán nên công ty cũng phải bỏ ra 1 khoản chi phí để bù đắp thiếu sót. Như vậy việc tính khấu hao của công ty không những không chính xác mà còn không có cơ sở khoa học cho phương pháp tính.

    2.5 – Phương pháp đánh giá lại TSCĐ

    Chưa phù hợp với thực tế nên việc xác định giá trị còn lại của máy móc thiết bị cao hơn nhiều so với giá cả thực mà nó có thể làm được. Vì vậy công ty có nhiều máy móc thiết bị hư hỏng cần thanh lý nhưng không bán được vì bán không thu được vốn, vậy là cứ để đó, tiếp tục khấu hao mặc cho vốn không phát huy được hiệu quả.

    II. Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    Nguyễn Đức Hạnh – 30 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp ĐH Quản lý và kinh doanh HN
       
    Căn cứ vào những tồn tại và khó khăn hiện nay của công ty, căn cứ vào chế độ

    quy định của nhà nước và BTC em xin có 1 số ý kiến sau đây hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng TSCĐ tại công ty TNHH Nhất việt

    1.Về việc kiểm kê đánh giá lại TSCĐ

    Công việc kiểm kê đánh giálại TSCĐ của bất kỳ 1 doanh nghiệp nào cũng là việc làm cần thiết, qua đó xác định số lượng thừa thiếu TSCĐ, thực trạng TSCĐ cần sửa chữa bảo dưỡng cũng như đánh giá được giá trị hiện tại của TSCĐ thực tế của doanh nghiệp trên thị trường từ đó đưa ra các biện pháp thích hợp cho quá trình sử dụng và quản lý nên khi doanh nghiệp tiến hành kiểm kê thì cần đi đôi với đánh giá lại TSCĐ sẽ được thể hiện trên biên bản đánh giá lại TSCĐ *Biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Mục đích của biên bản này nhằm xác nhận việc đánh giá lại TSCĐ và làm căn cứ để ghi sổ kế toán và các tài liệu liên quan số chênh lệch ( tăng, giảm ) do đánh giá lại TSCĐ

    Sau đây là mẫu biên bản đánh giá lại (trang phụ lục 19)

    Sau khi đánh giá xong,Hội đồng có trách nhiệm lập biên bản ghi đầy đủ các nội dung và các thành viên trong hội đồng ký, ghi rõ họ tên và biên bản đánh giá lại TSCĐ

    Biên bản đánh giá lại TSCĐ được lập thành 2 bản, 1lưu lại phòng kế toán để ghi sổ kế toán, 1 bản lưu cùng với hồ sơ kỹ thuật của TSCĐ

    2.Về việc trang bị hiện đại cho phòng kế toán góp phần nâng cao năng lực TSCĐ

    Trong hạch toán kế toán cần áp dụng tin học hoá nhằm hoà nhập với sự phát triển KHCN kỹ thuật , hoà nhập với su hướng tiến bộ trên toàn thế giới. côg ty nên trang bị máy vi tính cho phòng kế toán đầy đủ hơn, đồng thời cần có chính sách thích hợp dể các kế toán viên đều có khả năng sử dụng máy vi tính thành thạo .Việc này ban đầu sẽ gặp khó khăn nhưng đảm bảo được tính nhất quán và chính xác trong công tác kế toán. Hơn nữa việc cập nhập thông tin diễn ra thường xuyên nhanh chóng đáp

    Nguyễn Đức Hạnh – 31 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    ứng kịp thời thông tin, phục vụ đắc lực trong công tác quản lý mọi mặt hoạt động của công ty cũng như góp phần giảm nhẹ khối lượng công tác kế toán trong đó có việc quản lý và hạch toán TSCĐ.

    3. Về việc hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ

    *Công việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch: Việc sửa chữa lớn TSCĐ ngoài kế hoạch trong công ty còn diễn ra chậm, mất nhiều thời gian

    • Biên bản giao nhận SCL hoàn thành: như đã trình bày phần hạch toán sửa chữa lớn TSCĐ, công ty không sử dụng biên bản này trong hạch toán , mà bộ phận SCL của côngty chỉ lập biên bản giao khối lượng công việc hoàn thành. Việc sử dụng chứng từ này sẽ không khoa học và không đúng quy định của BTC. Vì vậy đối với việc sửa chữa lớn TSCĐ hoàn thành thì cần lập biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lơns hoàn thành việc SCL giữa bên có TSCĐ sửa chữa và bên thực hiện sửa chữa. Đây là căn cứ ghi sổ kế toán và thanh toán chi phí sửa chữa TSCĐ

    Giả sử với ví dụ trong phần hạch toán SCL ngoài kế hoạch thì khi hoàn thành công việc quyết toán công trình và giao cho đơn vị sử dụng thì hội đồng giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành sẽ được lập (trang phụ lục20)

    * Phương pháp ghi chép:

    • Khi có TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành phải tiến hành lập ban giao nhận gồm đại diện bên thực hiện việc sửa chữa

    Nơi quản lý sử dụg TSCĐ và ghi rõ thời gian bắt đầu sửa chữa và hoàn thành việc sửa chữa TSCĐ

    Biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, lập thành 2 bản, 2 bên giao nhận cùng ký và mỗi bên giữ 1bản, sau dó chuyển cho kế toán trưởng của đơn vị mình duyệt và lưu tại phòng kế toán.

    4.Công tác thanh lý TSCĐ

    Tại thời điểm này công ty có sự lãng phí lớn về vốn gây ra bởi TSCĐ chờ thanh lý. Số tài sản này cần phải được giải quyết nhanh hơn, tốt hơn trên nguyên tắc cơ bản

    Nguyễn Đức Hạnh – 32 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    bảo tồn vốn, sử dụng vốn có hiệu quả cao hơn không nhằm mục đích mua đi bán lại tạo chênh lệch để ăn chia vào vốn, thời gian thanh lý công ty nên rút ngắn và hạn chế tối đa các chi phí trong quá trình này.

    KẾT LUẬN

    Tài sản cố định có vị trí quan trọng và cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó phản ánh năng lực trình độ tiến bộ KHKT và trang bị cơ sở vật chất của doanh nghiệp .Với vị trí như vậy mà nó được quản lý 1cách chặt chẽ và các doanh nghiệp luôn tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ .Việc tổ chức tố các công tác hạch toán TSCĐ có ý nghĩa quan trọng dối với việc hoạt động kinh doanh.

    Chương trình thực tập tại công ty TNHH Nhất việt đã giúp em vận dụng những kiến thức đã ddược trang bị ở nhà trường vào thực tiễn, đồng thời giúp em củng cố những kiến thức đã học. Thông quaviệc thực tập đã giúp cho sinh viên kế toán vững vàng, tự tin bước vào nghề, bởi vì thực tế và lý luận luôn có 1 khoảng cách nhất định.

    Báo cáo tốt nghiệp này được hoàn thành trên cơ sở những kiến thức được tiếp thu tại nhà trường và các hoạt động thực tiễn tại công ty TNHH Nhất việt. Do hạn chế về thời gian thục tập cũng như kiến thức, báo cáo của em không tránh khỏi những sai

    Nguyễn Đức Hạnh – 33 – Lớp 604

     

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    sót. Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo , cô giáo để báo áo của em được hoàn thiện hơn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa kế toán trường ĐHQLKD.

    • Cảm ơn thầy giáo Hà Đức Trụ và các anh, chị phòng kế toán và các cán bộ nhân viên của công ty TNHH Nhất việt đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.

    Sinh viên thực hiện

    Nguyễn Đức Hạnh

     

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 34 –                                                                         Lớp 604

    Luận văn tốt nghiệp                                                                               ĐH Quản lý và kinh doanh HN

    Nguyễn Đức Hạnh                                                        – 35 –                                                                         Lớp 604


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NG%C3%82N-H%C3%80NG-%C4%90I%E1%BB%86N-T%E1%BB%AC-T%E1%BA%A0I-VI%E1%BB%86T-NAM-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-V%C3%80-GI%E1%BA%A2I-PH%C3%81P.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    Lời nói đầu

     

    Trong những thập niên gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin và khoa học viễn thông đã làm một cuộc cách mạng trong thương mại. Các phương pháp kinh doanh truyền thống đã và đang dần dần được thay thế bằng một phương pháp mới. Đó chính là thương mại điện tử mà “xương sống” của nó là công nghệ thông tin và Internet.

    Thương mại điện tử đã đưa ra một giải pháp hữu hiệu, một hướng đi trực tiếp trong việc trao đổi thông tin , hàng hoá, dịch vụ và mở rộng quy mô thị trường, thị trường không biên giới. Chính cuộc cách mạng về quy mô thị trường này đã trở thành động lực cho một cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng hướng tới một hệ thống thanh toán phù hợp với yêu cầu của thị trường thương mại điện tử. Điều này đã tạo ra một dịch vụ ngân hàng mới, dịch vụ ngân hàng điện tử.

    Để hội nhập với các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC chuẩn bị cho tiến trình ra nhập WTO, việc tìm kiếm một giải pháp toàn diện chuyên nghiệp nhằm tiến hành thương mại điện tử, hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu là một điều hết sức bức thiết đối với đất nước ta. Đi đôi với xu hướng chiến lược toàn cầu của quốc gia, ngành ngân hàng Việt Nam  cũng đã có những bước đi đáng kể. Đầu tiên phải kể đến là sự xoá bỏ độc quyền nhà nước trong hệ thống ngân hàng. Tiếp đến là công cuộc đổi mới cải tiến hệ thống ngân hàng. Bên cạnh dịch vụ tín dụng truyền thống, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng đã xuất hiện và đạt được những thành công đáng kể. Dịch vụ tài chính cho cá nhân này rất đa dạng, bao gồm  rút tiền tự động, chuyển tiền, thanh toán thẻ, thanh toán qua mạng…Đó chính là bằng chứng của sự hình thành và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Trong bài khoá luận này, tôi xin trình bày một số khái niệm cơ bản về dịch vụ ngân hàng điện tử, hoạt động dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của cô giáo Lê Thị Thanh trong thời gian tôi thực hiện khoá luận.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương I: Tổng quan về ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược về ngân hàng điện tử

     

    1.         Sự thay đổi cơ bản trong ngành ngân hàng và khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    Công nghệ ngân hàng ngày nay đã và đang thay đổi với tốc độ chóng mặt. Rất nhiều nhân tố dẫn tới sự thay đổi này được đưa ra trong quá trình nghiên cứu thị trường ngân hàng thế giới.

    Ngày nay, một sợi cáp quang mảnh bằng sợi tóc trong một giây có thể truyền một lượng thông tin chứa đựng trong 90 nghìn cuốn từ điển bách khoa. Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế các quốc gia. Riêng về máy tính điện tử, cứ 18 tháng tổng công suất tính toán của các máy lại tăng gấp đôi. Ước tính toàn thế giới có khoảng 1 tỷ đường dây thuê bao điện thoại, 340 triệu người sử dụng điện thoại di động. Ở Mỹ hiện nay, 90% dân số sử dụng Internet.

    Nhân loại đang sống trong thời kỳ “tin học xã hội hoá”. Sự phát triển công nghệ thông tin đã gây một ảnh hưởng vô cùng lớn tới hệ thống ngân hàng, nhân viên ngân hàng và người sử dụng dịch vụ ngân hàng. Internet và máy tính đã mở ra cho chúng ta một hệ thống thanh toán rộng khắp toàn thế giới, tiến tới một thế giới thanh toán không dùng tiền mặt, nhanh gọn, an toàn và chính xác.

    Thuật ngữ “Ngân hàng điện tử” đối với nhiều người có vẻ khó hiểu và xa lạ. Thực ra rất nhiều ứng dụng của “Ngân hàng điện tử” đang phục vụ cho bạn. Bạn rút tiền từ một máy rút tiền tự động, trả tiền cho hàng hoá và dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiểm tra số dư tài khoản qua mạng hay điện thoại, công ty của bạn giao dịch với các đối tác qua thư điện tử, điện tín, fax, điện thoại…, tất cả những hoạt động tương tự như vậy đều có thể gọi là dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    Càng ngày, các ngân hàng và các tổ chức tài chính trên thế giới càng nhận thấy tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử” để củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường.

    Vậy “Ngân hàng điện tử” là gì và vì sao nó lại có tầm  quan trọng và được ứng dụng rộng khắp thế ?

    “Ngân hàng điện tử” tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là E- Banking. Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về “Ngân hàng điện tử”, song nhìn chung “Ngân hàng điện tử” được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng. Nói ngắn gọn, “Ngân hàng điện tử” là hình thức thực hiện các giao dịch tài chính ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử.

    Các nghiên cứu về thị trường ngân hàng còn cho thấy rằng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng truyền thống đang nhanh chóng được thay thế bởi một thế hệ khách hàng mới, có trình độ học vấn cao, và đòi hỏi cao về các dịch vụ tài chính ngân hàng.

    Bạn rất bận rộn với công việc kinh doanh của mình. Trong đó , phần lớn thời gian là để dành cho các công việc giao dịch và quản lý tài chính. Bạn rất ngại trước việc hoàn tất một lô giấy tờ thủ tục khi giao dịch với ngân hàng. Bao nhiêu rủi ro khi đi giao dịch với một số lượng lớn tiền mặt… Còn các ngân hàng thương mại trong quá trình cạnh tranh và mở rộng mạng lưới của họ thì phải đối mặt với vấn đề thuê văn phòng làm việc, thuê thêm nhiều nhân viên để làm các công việc đơn giản tẻ nhạt như đếm tiền hay trực điện thoại.

    “Ngân hàng điện tử” sẽ mang lại cho một hướng giải quyết hiệu quả cho cả người cung cấp lẫn người sử dụng dịch vụ ngân hàng.

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT CỦA GIAO DỊCH “NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ”

     

    2.         Các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”

    Ngân hàng điện tử là một ngành dịch vụ đòi hỏi một cơ sở công nghệ kỹ thuật cao, vốn lớn. Ngành dịch vụ này thường đi đôi với một nền kinh tế phát triển trình độ dân trí phát triển ở một mức độ nhất định.

     

    2.1     Điện thoại, điện thoại di động

    Điện thoại là một phương tiện phổ thông, dễ sử dụng, và thường mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại nói chung và ngân hàng nói riêng. Trong sự gia tăng của số lượng thuê bao điện thoại và điện thoại di động, ngân hàng thương mại  với trang thiết bị ” hộp thư trả lời tự động” kết nối với máy chủ ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng qua điện thoại như cung cấp số dư tài khoản, báo mất thẻ tín dụng…Với sự phát triển của điện thoại di động, liên lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên rộng rãi hơn. Tuy nhiên, công cụ điện thoại có mặt hạn chế là chỉ truyền tải được âm thanh, kết thúc giao dịch vẫn phải dùng nhiều giấy tờ. Ngoài ra, chi phí giao dịch điện thoại, nhất là điện thoại đường dài, quốc tế vẫn còn cao.

    Điện báo, Fax có thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh, lời văn. Nhưng chúng cũng có một số mặt hạn chế như không thể truyền tải được hình ảnh động, hình ảnh ba chiều và các hình ảnh phức tạp.

    2.2     Thiết bị thanh toán điện tử

    Một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta cũng như trên thế giới là nền kinh tế với hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt.

    Một thiết bị điện tử có đầu đọc dải điện tử được kết nối với mạng ngân hàng, mạng liên ngân hàng cho phép truyền tải, kiểm  tra các thông tin từ tấm thẻ nhựa của người mua hàng từ các địa điểm bán hàng, nơi lắp đặt máy, về các ngân hàng của chủ thẻ đó và thực hiện các giao dịch thanh toán. Với tấm thẻ nhựa (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thông minh…) bạn có thể mua hàng hoặc dịch vụ mà không cần tiền mặt. Ngân hàng sẽ thay mặt bạn thanh toán với nơi bán hàng.

    Một thiết bị điện tử quan trọng khác đó là máy rút tiền tự động. Nó cho phép bạn gửi tiền vào tài khoản, chuyển tiền và rút tiền tự động.

    2.3     Máy tính, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, mạng liên ngân hàng

    Mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một ngân hàng và các liên lạc mọi kiểu giữa các máy tính trong ngân hàng đó. Đó có thể gọi là mạng kết nối các máy tính gần nhau (mạng cục bộ – LAN) hoặc kết nối các máy tính trong khu vực diện rộng (mạnng miền rộng – WAN).

    Các ngân hàng và tổ chức tài chính liên hệ với nhau bằng mạng liên ngân hàng (Interbank, SWIFT…)

    2.4     Internet và Web

    Một cách tổng quát, Internet là một mạng diện rộng. Là tập hợp hàng ngàn các mạng máy tính trải khắp thế giới. Internet giúp cho hàng triệu người dùng trên trái đất có thể thông tin liên lạc với nhau. Nó là nguồn tài nguyên thông tin vô giá. Sự phát triển nhanh chóng của nó đã khiến cho nó có thêm một cái tên mới là “Siêu lộ thông tin”.

    Lịch sử ra đời của Internet có thể xem như được bắt đầu từ năm 1969 với dự án ARPANET của Bộ quốc phòng Mỹ. Mô hình này nhanh chóng được người Mỹ nhân rộng ra các lĩnh vực khác với quy mô ngày càng lớn. Và khi có sự liên kết các mạng máy tính thuộc các lĩnh vực khác nhau, khu vực và các quốc gia khác nhau thì mạng Internet  toàn cầu ra đời.

    Sự bùng nổ trong sử dụng Internet có lẽ nhờ một phần của cái gọi là dịch vụ tra cứu văn bản, dịch vụ thông tin toàn cầu goi là Web. Web được Tim Berners Lee triển khai lần đầu tiên vào năm 1989 tại phòng thí nghiệm vật lý hạt nhân Châu Âu (CERN) ỏ Geneva, Thuỵ sĩ. Các nhà phát triển tại CERN đã làm cho Web bao trùm hầu hết các hệ thống mạng trước đó. Cho đến 1993 Web mới bắt đầu được chấp nhận rộng rãi.

    Thương mại thế giới nói chung và “Ngân hàng điện tử”  nói riêng đang trong tiến trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá. Internet và Web là các phương tiện đã đạt được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao.

     

    3.         Những tiến bộ do dịch vụ Ngân hàng điện tử mang lại

    Sự ra đời và phát triển của dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội.  Vậy chúng ta hãy xem xét những tiến bộ do ngành dịch vụ này mang lại.

     

    3.1     Lợi ích cho ngân hàng

    Các tiến bộ của công nghệ thông tin đã nhanh chóng được áp dụng trong ngành ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngân hàng.

     

    3.1.1  Giảm chi phí tăng hiệu quả kinh doanh

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp giảm chi phí trước hết là chi phí văn phòng. Các văn phòng ít giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều. Mạng, máy chủ và các máy tính cá nhân giúp rút ngắn thời gian cho công việc làm thủ tục, tìm kiếm và chuyển giao tài liệu. Tiếp đến là chi phí nhân viên. Một máy rút tiền tự động có thể làm việc 24 trên 24 giờ và thay cho rất nhiều nhân viên.

    Bằng phương tiện Internet/Web Ngân hàng và khách hàng có thể tìm hiểu thông tin, giao dịch thường xuyên hơn, cập nhật hơn. mà do vậy làm giảm chi phí bán hàng và tiếp thị.

    Bảng 1: Tốc độ và chi phí truyền gửi

     (Dành cho một đơn vị bộ tài liệu 40 trang, khoảng 100g)

    ĐƯỜNG TRUYỀN THỜI GIAN CHI PHÍ (USD)
    New York đi Tokyo    
    Qua bưu điện thông thường 5 ngày 7,40
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 26,25
    Fax 31 phút 28,83
    Internet 2 phút 0,10
    New York đi Los Angeles    
    Qua bưu điện thông thường 2-3 ngày 3,00
    Chuyển phát nhanh 24 giờ 15,50
    Fax 31 phút 9,36
    Internet 2 phút 0,10

    (Nguồn: Ban thương mại điện tử, Bộ Thương Mại)

    Hệ thống mạng phá bỏ sự ràng buộc về không gian và thời gian. Các ngân hàng có thể mở nhiều chi nhánh ở các nước khác nhau mà không gặp khó khăn gì trong việc theo dõi quản lý tình hình hoạt động của các chi nhánh.

    3.1.2. Đa dạng hoá dịch vụ và sản phẩm

    Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta nghĩ ngay đến việc vay, cho vay, gửi tiền và các dịch vụ bán buôn khác như thanh toán xuất nhập khẩu và mua bán ngoại tệ. Do vậy mà sự khác biệt giữa dịch vụ ngân hàng này với ngân hàng khác là rất ít.

    Ngày nay, dịch vụ ngân hàng đang vươn tới từng người dân. Đó là dịch vụ ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ. Rõ ràng, lợi nhuận thu được từ dịch vụ bán lẻ không thể bằng bán buôn. Hơn thế nữa, chi phí cho việc cung cấp một dịch vụ tài khoản của một cá nhân cũng chẳng nhỏ hơn cho một công ty là bao. “Ngân hàng điện tử”, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độc cao và liên tục. Nếu như trước kia các ngân hàng chỉ phục vụ một số lượng nhất định các công ty, thì nay, một thị trường hàng tỷ dân đang mở ra trước mắt họ. Và thế là các ngân hàng đua nhau hiện đại hoá hệ thống tin học của họ, tung ra thị trường một loạt các dịch vụ mới như “phone banking”; “Internet banking”, chuyển và rút tiền tự động…làm  cho dịch vụ ngân hàng trở nên phong phú và phổ biến rộng rãi.

    3.1.3. Cạnh tranh và tồn tại

     

    “Ngân hàng điện tử” giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách hàng rộng rãi và bền vững. Bạn sẽ sẵn sàng từ bỏ một ngân hàng mà nơi đó bạn phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền để đi tới một máy rút tiền tự động của một ngân hàng khác và thực hiện nhiệm vụ này trong vài phút. Bạn sẽ tới một ngân hàng mà nơi đó sẵn sàng giúp bạn thực hiện các giao dịch với đối tác nhanh gọn và chính xác.

    3.2.    Lợi ích cho khách hàng

    Có thể nói hầu hết tất cả những gì tiến bộ hơn mà dịch vụ “Ngân hàng điện tử” mang lại chính là lợi ích cho khách hàng.

    “Ngân hàng điện tử” với công cụ chủ yếu là Internet/Web và các thiết bị điện tử, đem lại sự hiện diện toàn cầu cho người cung cấp và sự lựa chọn toàn cầu cho người tiêu dùng, bỏ qua khoảng cách địa lý giữa các quốc gia. Một ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ cho nhiều người ở bất cứ nơi nào trên thế giới tại bất cứ thời điểm nào. Một khách hàng có thể kiểm tra và quản lý tài chính của mình vào bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên chi phí cho dịch vụ này rất rẻ, không chỉ vì số tiền hợp lý phải trả cho dịch vụ mà còn vì tiết kiệm thời gian đi lại và hoàn tất các thủ tục giấy tờ mà các giao dịch vẫn được thực hiện an toàn và chính xác.

    Tuy nhiên những lợi ích này có lợi chủ yếu là đối với các nước phát triển. Đối với các nước đang và kém phát triển, giá dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có khi rất đắt so với thu nhập bình quân người tiêu dùng. Nguyên nhân là do vốn đầu tư lớn vào các trang thiết bị và công nghệ thông tin dẫn tới giá thành sản phẩm cao. Trong khi đó mức sống người dân các nước này lại rất thấp.

    3.3.    Lợi ích đối với toàn thể nền kinh tế

    Ngoài những lợi ích chính đối với các bên tham  gia “Ngân hàng điện tử” nói trên, “Ngân hàng điện tử” còn đem lại những lợi ích to lớn tiềm tàng đối với toàn thể nền kinh tế.

    Việc tiêu dùng chủ yếu bằng tiền mặt có rất nhiều điều hạn chế. Nhà nước phải bỏ ra một chi phí nhất định hàng năm trong việc in và quản lý số lượng tiền in ra cho thị trường. Việc khó xác định chính xác lượng tiền lưu hành trong dân khiến cho nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra các chính sách tài khoá nhằm đảm bảo một thị trường tài chính ổn định. “Ngân hàng điện tử” với sự phổ biến sử dụng tài khoản cá nhân và tiền điện tử sẽ góp phần không nhỏ trong việc tháo gỡ khó khăn này. Chính tiền điện tử và giao dịch tài khoản làm cải thiện khả năng thanh toán trong thị trường tài chính.

    “Ngân hàng điện tử” giúp cho nhà nước có thông tin đầy đủ về việc thực hiện thu nộp thuế một cách nhanh chóng và cập nhật.

    Cùng với xu hướng toàn cầu hoá và sự phát triển rộng khắp trên toàn thế giới của thương mại điện tử, “Ngân hàng điện tử” chính là chiếc cầu nối cho sự hội nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế mà không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực của chính phủ.

    II.        Đối tượng và những điều kiện tiên quyết tham gia dịch vụ

    ngân hàng điện tử

    Qua các phương tiện kỹ thuật của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”  đã được giới thiệu ở trên, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm và điều kiện của các bên tham gia dịch vụ này.

    Tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” có ba thành phần chính. Đó là hệ thống ngân hàng thương mại, người tiêu dùng và các quy định của nhà nước.

    1          Các ngân hàng thương mại

    1.1.    Vai trò của các ngân hàng thương mại

    Hệ thống ngân hàng thương mại là người cung cấp dịch vụ “Ngân hàng điện tử”. Do vậy họ giữ vai trò chính.

    Các nhà kinh tế đã coi dịch vụ “Ngân hàng điện tử” như là một cuộc cải cách tài chính do các ngân hàng tiến hành. Nó đã mang lại nhiều dịch vụ có khả năng sinh lời lớn.

    Rất nhiều các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã nhận ra rằng phương thức cũ mà họ đang sử dụng trong kinh doanh không còn có khả năng mang lại lợi nhuận cao. Các dịch vụ tài chính mà họ bán ra trên thị trường không còn hấp dẫn người tiêu dùng. Thêm vào đó, các quy định về thủ tục tài chính đã trở nên nặng nề. Để tồn tại trong môi trường tài chính mới, các ngân hàng đã phải tìm kiếm và phát triển những sản phẩm dịch vụ mới. Cải cách trong ngân hàng là tất yếu nhằm đáp lại sự thay đổi của nhu cầu khách hàng.

    Trong khi đó, sự phát triển công nghệ thông tin đang mang lại cho thương mại nói chung và ngành ngân hàng nói riêng những cơ hội lớn lao. Mạng và hệ thống máy tính không những giúp cho ngân hàng giảm chi phí giao dịch mà còn  tạo điều kiện cho họ có khả năng đưa ra những dịch vụ mới. Do vậy, cải cách ngân hàng cũng là sự đáp lại sự thay đổi của cung.

     

    1.2.    Điều kiện tiên quyết để tham gia hệ thống dịch vụ “Ngân hàng điện tử” của các ngân hàng thương mại

    Một trong những yếu tố dẫn đến thành công của “Ngân hàng điện tử” là phải xây dựng một cơ sở hạ tầng hiện đại ở  một mức nhất định. Cơ sở này dựa trên tiến bộ của công nghệ máy tính, công nghệ thông tin viễn thông. Điều này đòi hỏi vốn đầu tư lớn mà không phải ngân hàng nào cũng có khả năng đáp ứng. Dưới đây một số yêu cầu tối thiểu cho dịch vụ “Ngân hàng điện tử”:

     

    1.2.1  Hạ tầng cơ sở công nghệ

     

    “Ngân hàng điện tử” phát triển trên cơ sở kỹ thuật số hoá, công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành “Ngân hàng điện tử” hiệu quả khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc.

    Nó bao gồm hệ thống điện thoại, máy tính, máy chủ, modem, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, thiết bị thanh toán điện tử (POS, ATM, CDM), vv… và các dịch vụ truyền thông (thuê bao điện thoại, phí nối mạng, truy cập mạng).

    Chi phí phần cứng cho một hệ thống máy tính văn phòng, máy chủ, mạng nội bộ khoảng USD 100,000. Một máy đọc thẻ thanh toán đặt tại các điểm bán hàng giá khoảng USD50 một chiếc. Một máy rút tiền tự động giá khoảng USD40,000 một chiếc. Chi phí phần mềm cho hệ thống này khoảng USD 200,000 tới USD 300,000. Còn phải kể đến chi phí tham gia các tổ chức thanh toán quốc tế, chi phí bảo dưõng, nâng cấp  hệ thống. Ước tính tổng vốn đầu tư có thể lên tới USD 10 triệu cho một ngân hàng.

    Ngoài ra, hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin này chỉ có thể có và hoạt động tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng, bưu chính viễn thông đảm bảo cung cấp điện năng, thông tin liên lạc đầy đủ, ổn định với mức giá hợp lý. Thiết lập một nền công nghiệp như vậy năm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng. Nó đòi hỏi sự đầu tư cả về vốn lẫn thời gian của nhà nước. Điều này đặc biệt khó khăn với các nước đang và kém phát triển.

    1.2.2  Vấn đề an toàn và bảo mật

    Giao dịch bằng phương tiện điện tử đặt ra đòi hỏi rất cao về bảo mật và an toàn, nhất là hoạt động qua mạng. Nhiều người sợ không dám mua bán qua mạng, thanh toán bằng thẻ qua máy điện tử, máy rút tiền. Người mua thì lo các chi tiết của thẻ tín dụng của mình bị lộ, và kẻ xấu sẻ lợi dụng mà rút tiền, người bán thì lo người mua không thanh toán cho các hợp đồng hay giao dịch đã được “ký kết theo kiểu điện tử”.

    Điều lo sợ ấy là có căn cứ, vì số vụ tấn công vào Internet hay các vụ làm và sử dụng thẻ giả ngày càng gia tăng. “Giặc máy tính” dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ mật khẩu, tạo vi rút máy tính, giả mạo địa chỉ Internet, dập thẻ giả, móc nối với người bán hàng tao ra các giao dịch “ảo”…

    Kỹ thuật mã hoá hiện đại, với khoá dài tối thiểu 1024 bit thậm chí 2048 bit cộng với các công nghệ SSL (Secure Socket Layer), SET (Secure Electronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này. Các ngân hàng phát hành thẻ đang khuyến khích phát hành và sử dụng thẻ có các “chip” điện tử thay thế cho các dải từ. Một chiến lược về mã hoá và giải mã kèm theo các chương trình bảo vệ an toàn thông tin cho ngân hàng và khách hàng phải luôn được đặt ra và cập nhật.

    1.2.3  Hệ thống tuyên truyền giáo dục khách hàng

    Một nhân tố quan trọng khác dẫn đến thành công trong “Ngân hàng điện tử” hệ thống phân phối sản phẩm, tuyên truyền và giáo dục khách hàng.

    Điều này đòi hỏi một đội ngũ nhân viên tiếp thị chuyên nghiệp trang bị với các kiến thức nhất định về tin học.

    Với mục tiêu “giành lấy lòng tin của khách hàng”, các ngân hàng phải đặt ra một chiến lược tuyên truyền, quảng cáo, thực hiện, từng bước thuyết phục khách hàng về tính an toàn và tiện lợi của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Khách hàng

     

    2.1.    Đặc điểm chung hiện nay của người tiêu dùng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử

    “Ngân hàng điện tử” chủ yếu phục vụ cho hệ thống khách hàng cá nhân hay nói cách khác nó là hệ thống dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

    Những khảo sát gần đây cho thấy điển hình của khách hàng sử dụng dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là những người có trình độ học vấn cao, trẻ và có thu nhập tương đối cao.  Với kiến thức tin học cao, khả năng tiếp thu nhanh những vấn đề tiến bộ, họ là những người tham gia dịch vụ “Ngân hàng điện tử” đầu tiên. Đa phần trong số họ thuộc thành phần trí thức tự do, những người thành đạt trong sự nghiệp, những doanh nhân, tầng lớp trung lưu trong xã hội.

    Giao dịch với họ thường có giá trị tương đối cao, rủi ro ít vì họ có học và có thu nhập cao. Thứ nữa là cơ hội cung cấp dịch vụ trong một thời gian dài vì họ là những người trẻ tuổi. Cuối cùng là họ là những người năng động, giao dịch nhiều, cơ hội đi lại qua các quốc gia, nên ở điểm này, “Ngân hàng điện tử” có thể chứng minh tính ưu việt của nó đó là cung cấp dịch vụ liên tục và toàn cầu.

    2.2.    Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của người tiêu dùng

    Việc đưa vào thị trường một sản phẩm hay dịch vụ mới đòi hỏi nghiên cứu hành vi ứng xử người tiêu dùng. Người tiêu dùng phải trải qua các giai đoạn từ chỗ nhận thức sự sẵn có của sản phẩm, dịch vụ tới việc sử dụng thử và cuối cùng là chấp nhận sản phẩm và dịch vụ đó.

    Do tính chất cách mạng, “Ngân hàng điện tử” là một khái niệm rất mới đối với đại bộ phận người tiêu dùng. Không phải ai cũng có cái nhìn đầy đủ về “Ngân hàng điện tử”. Một trong những trở ngại lớn nhất của “Ngân hàng điện tử”  là thái độ hoài nghi, lưỡng lự khi chuyển đổi từ hình thức giao dịch cũ truyền thống sang hình thức mới. Chính vì vậy  việc quảng cáo, tuyên truyền và giáo dục khách hàng về dịch vụ “Ngân hàng điện tử” là một thách thức lớn đối với các ngân hàng thương mại.

    Xây dựng hệ thống khách hàng đã khó, duy trì nó còn khó hơn. Khách hàng sau khi đã nhận thức được “Ngân hàng điện tử” họ sẵn lòng dùng thử. Song, sẽ trở nên khó khăn cho họ khi hệ thống thanh toán “Ngân hàng điện tử” không ổn định và sẵn có. Một khách hàng sau khi mua thẻ tín dụng sẽ thấy nghi ngờ dịch vụ “Ngân hàng điện tử” nếu thẻ của họ thường xuyên bị từ chối vì lý do trục trặc kỹ thuật của thiết bị thanh toán điện tử hay chán nản vì không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị chấp nhận thẻ tín dụng. Bạn sẽ rất bực mình khi kiểm tra số dư tài khoản qua điện thoại mà điện thoại ngân hàng bị hỏng. Bạn sẽ vô cùng hoang mang số thẻ tín dụng của mình bị đánh cắp sau một lần mua hàng qua Internet.

    Đây là những vấn đề đặt ra cho các ngân hàng, đòi hỏi tính sẵn có của hệ thống thanh toán điện tử và các dịch vụ sau bán hàng như xử lý tranh chấp, bảo vệ khách hàng…

    3.         Các quy định của Nhà nước

    Nhà nước đóng vai trò thiết lập “luật chơi”. Do vậy, việc tạo ra một môi trường canh tranh lành mạnh, một hàng lang pháp lý và các quy định khung có ảnh hưởng lớn tới các thành viên tham gia dịch vụ này, từ đó quyết định sự phát triển nhanh và đúng hướng của dịch vụ “Ngân hàng điện tử”.

    “Ngân hàng điện tử” chỉ có thể thành công rực rỡ khi giới cần quyền ở tất cả các quốc gia đồng ý cho phép tạo điều kiện và bảo vệ loại hình dịch vụ này

    Trước hết chính phủ phải quyết định xem  xét thương mại điện tử nói chung và “Ngân hàng điện tử” nói riêng là cơ hội hay hiểm họa. Điều đó không dễ vì không phải quốc gia nào cũng đồng ý với ý tưởng ” toàn cầu hoá”. Ngay một nước hiện đại như Pháp cũng phải tới năm 97-98 mới quyết định tuyên bố Internet  là một cơ hội.

    Còn ở Việt Nam, do một số lý do  chính trị mà nền kinh tế nước ta chưa thực sự “mở”. Để bảo  hộ nền công nghiệp còn quá non trẻ trước sự cạnh tranh khốc liệt, để duy trì một môi trường tài chính ổn định, Chính phủ nước ta đã phải đưa ra các quy định về quản lý ngoại hối. Mà các quy định này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới “Ngân hàng điện tử” nơi diễn ra các hoạt động tài chính qua biên giới.

    Việc đầu tiên phải làm của Chính phủ đối với “Ngân hàng điện tử” là:

    • Thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch “Ngân hàng điện tử”

    –        Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (tức chữ ký dưới dạng số đặt vào một thông điệp dữ liệu), chữ ký số hoá ( tức biện pháp biến đổi nội dung một thông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mới thu được nội dung thật của thông điệp dữ liệu)  và có các thiết chế pháp lý, cơ quan pháp lý thích hợp cho việc xác nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá.

    –        Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả pháp chế hoá các tổ chức phát hành và chấp nhận các loại thẻ thanh toán).

    –        Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm, chống gian lận.

    Nhà nước sẽ phải định hình một chiến lược chung về hình thành phát triển “Ngân hàng điện tử”, tiếp đó là các chính sách, đạo luật và các quy định cụ thể tương ứng được phản ảnh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống luật.

     

    III.      Xu hướng và kinh nghiệm phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử trên thế giới

    1.         “Ngân hàng điện tử ” trên thế giới

    Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và khoa học viễn thông cùng với tiến trình toàn cầu hoá đã gây một ảnh hưởng lớn trong ngành tài chính ngân hàng. Ngành ngân hàng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cho ra đời một loạt các dịch vụ sản phẩm mới như tiền điện tử, “ví điện tử”. Đến lượt “Ngân hàng điện tử” lại giúp cho ngành ngân hàng vượt qua những hạn chế mà hình thức dịch vụ ngân hàng truyền thống không thể làm được. “Ngân hàng điện tử” là một xu hướng tất yếu nhằm tạo ra cho các ngân hàng một sức cạnh tranh trong kỷ nguyên bùng nổ công nghệ thông tin này. “Ngân hàng điện tử” chính là cuộc cách mạng trong ngành ngân hàng.

    “Ngân hàng điện tử”, đặc biệt là Internet banking, sản phẩm mới nhất gần đây được tung ra sẽ gây một ảnh hưởng đáng kể trong thị trường tài chính ngân hàng.

    Internet là  một công nghệ phát triển nhanh. Nó làm thay đổi hoàn toàn Cách sống và làm việc của tất cả mọi người.  Năm 1991 mới có 31 nước nối mạng Internet, tới năm 1997 đã có 171 nước; số trang Web vào giữa năm 1993 là 130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu; giữa năm 1996 có 12,9 triệu địa chỉ Internet với khoảng 67,5 triệu người sử dụng, giữa năm 1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng. Theo dự báo , số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người. Dịch vụ ngân hàng qua Internet bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 90. Tới nay, chủ yếu các giao dịch ngân hàng là qua Internet.

    “Ngân hàng điện tử” đã tìm ra thị trường đầy tiềm năng và tương lai rực rỡ của nó.  Dĩ nhiên là bởi những tiến bộ của nó mang lại. Ngày nay, mỗi người mua hàng hoá hay dịch vụ, nhận tiền lương thưởng chỉ cần ghi lại trong tài khoản của họ. Đồng tiền ngày nay đơn giản chỉ là những thông tin được truyền tự động. Sự thống trị của đồng tiền điện tử  trên thị trường thương mại điện tử thế giới chính là bằng chứng của sự phát triển “Ngân hàng điện tử”.

    Theo thống kê của International Data Corp (IDC), có tới 10 triệu người sử dụng “Ngân hàng điện tử”. Con số này dự tính lên tới 30 triệu người trong vòng vài năm tới. Doanh số trung bình dịch vụ “Ngân hàng điện tử” vào năm 1997 là USD 8 tỷ, 1998 là USD 14 tỷ, 1999 là USD 31 tỷ và tới 2002 là USD 90 tỷ.

    Tuy nhiên, do hoàn cảnh đặc thù về chính trị xã hội, một số nước vẫn còn có các hoạt động kiểm soát Internet. Do vậy làm hạn chế sự phát triển của “Ngân hàng điện tử”.

     

    2.         Dịch vụ “Ngân hàng điện tử” ở một số nước

     

    2.1     Trung Quốc

    Nỗ lực của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào xây dựng hạ tầng cơ sở cho công nghệ thông tin. Công suất sản xuất máy tính điện tử cá nhân năm 1998 đạt tới 8,5 triệu cái/năm. 4 công ty máy tính điện tử hàng đầu của Trung Quốc đều có sức cạnh tranh với IBM, COMPAQ, HP,  trên thị trường nội địa. Công nghệ phần cứng đạt tốc độ tăng khoảng 45%/năm. Công nghệ phần mềm tăng 20%/năm.

    Tuy vậy, Trung Quốc bước vào “Ngân hàng điện tử” rất chậm. Cuối năm 1997 mới chính thức ra nhập Internet. Trung Quốc đòi hỏi người sử dụng Internet phải đăng ký với công an.

     

    Do chính sách bảo hộ công nghiệp và kiểm soát ngoại tệ, các dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ ở Trung Quốc cũn bị hạn chế. Tỷ lệ thanh toán thẻ tăng 7,8%/năm.

    2.2     Các nước ASEAN

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước A SEAN phát triển hơn.

    2.2.1. Singapore

    Singapore, là một trong những nước áp dụng thanh toán điện tử đầu tiên trên thế giới. Tháng 12/1996, nhân phiên họp khai mạc cấp bộ trưởng WTO tổ chức ở Singapore, Singapore đã chính thức khai trương việc ứng dụng toàn diện các loại thẻ, thẻ ghi nợ, thẻ tiền mặt internet, thẻ thông minh, thẻ mua hàng diện tử, túi tiền  điện tử. Hệ thống giao dịch điện tử an toàn manh tính quốc tế (Network for Electronic Transfers) thành lập tháng 4/1997 đã được đưa  vào sử dụng toàn diện cuối năm 1998. Singapore đã đưa lên internet 30 chương trình phần mềm ứng dụng chuyên phục vụ thương mại điện tử.

    Có tới hơn 10,000 điểm bán hàng trên hòn đảo này được lắp đặt thiết bị thanh toán thẻ ghi nợ.

    Tuy nhiên, phát hành thẻ tín dụng lại hạn chế. Chính sách quản lý tiền tệ ở Singapore quy định cá nhân từ 21 tuổi trở lên và có thu nhập SGD 30,000 /năm mới được mua thẻ tín dụng. Hạn mức tín dụng tối đa là 2 tháng lương. Cho tới năm 2000, số lượng thẻ tín dụng phát hành là 2,5 triệu thẻ. Ngoài ra còn có các thẻ khác như thẻ thông minh, thẻ mua hàng…Thanh toán điện tử là một phần nằm trong “kế hoạch tổng thể về thương mại điện tử ở Singapore. Một loạt các văn kiện quan trọng có liên quan đã ra đời nhằm điều chỉnh hoạt động này như “Luật giao dịch điện tử, “luật chống lạm dụng máy tính điện tử… Luật bản quyền cũng được sửa đổi lại.

    2.2.2. Malaysia

    Thanh toán điện tử ở nước này rất phát triển. Đặc biệt là thanh toán thẻ. 3,5 triệu thẻ tín dụng dược phát hành. Ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 55% thị phần. Nhưng hệ thống dày đặc máy rút tiền tự động là của các ngân hàng trong nước.

    Tuy nhiên, tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở nước này được xếp vào lại cao trong khu vực Asia Pacific.

    2.2.3. Philippin

     

    Internet thâm nhập vào Philippin khá sớm: năm 1996, ở Philippin có 53,000 người sử dụng Internet, năm 1997 đã lên tới 85,000 người và 2001 có tới 0,7 triệu người sử dụng Internet.

    Các phương tiện truyền thông khác cũng phát triển.Ví dụ 1996 toàn quốc có 1,35 triệu thuê bao điện thoại, năm 1998 đã lên tới 5,49 triệu. Tỷ trọng người mua hàng bán lẻ qua Internet chiếm 1,8% với tổng giá  trị USD 151 triệu. 17 triệu thẻ được phát hành bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ…Hệ thống ATM và thiết bị chấp nhận thẻ rất phổ biến. Tuy nhiên hệ thống luật và một chiến lược đặc thù về ngân hàng điện tử thì chưa có một cách rõ ràng.

    “Ngân hàng điện tử” ở các nước ASEAN bắt đầu xuất hiện. Nhưng chỉ phát triển mạnh ở một số nước và chủ yếu vẫn còn trong lĩnh vực nội địa. Nhìn chung các nước thành viên còn đang đứng trước tìng trạng yếu kém về cơ sở hạ tầng thông tin, cơ sở hạ tầng pháp lý tài chính. “Ngân hàng điện tử” của ASEAN đang còn trong giai đoạn “nghiên cứu” để tìm đường phối hợp chuyển giao công nghệ và hợp tác kỹ thuật với nhau, thực sự tham  gia thanh toán điện tử với nhau và với các nước khác.

     

    Chương II:        Năng lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

     

    I.         Sơ lược hệ thống các ngân hàng Việt Nam

     

    1.         Cơ cấu và tổ chức của các ngân hàng Việt Nam

    Vào cuối những năm  80, trước khi có các chính sách “đổi mới”, ngân hàng nhà nước chiếm vai trò chủ đạo. Mọi giao dịch tài chính ngân hàng đều thực hiện bởi ngân hàng nhà nước. Qua quá trình “đổi mới”, nhằm thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã dần dần phát triển đi đôi với việc hình thành các quy định khung về tài chính ngân hàng.

    Năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt Nam chia thành hai cấp: Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng thương mại. Năm 1990, Chính phủ đã tiến hành nhiều các chính sách cải cách ngân hàng nhằm mở rộng cơ cấu hệ thống và nâng cao hoạt động hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cho tới nay, đã có 4 ngân hàng thương mại  quốc doanh, 43 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh, 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 53 văn phòng đại diện các ngân hàng nước ngoài và 153 quỹ tín dụng nhân dân đang hoạt động.

    Bốn ngân hàng quốc doanh đúng vai trò chủ đạo trong ngành ngân hàng, chiếm 74 % thị trường cho vay ( chủ yếu là cho các doanh nghiệp nhà nước vay). Các ngân hàng cổ phần, sau 3 năm hợp lý hoá theo hướng của ngân hàng nhà nước chiếm 15% thị trường cho vay ( chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân). Các ngân hàng khác và quỹ tín dụng nhân dân chỉ chiếm một thị phần nhỏ.

    Hệ thống ngân hàng quốc doanh chiếm ưu thế trên thị trường không chỉ bởi quy mô lớn mà còn bởi họ có những đặc quyền do chính phủ phân định. Họ được hưởng nhiều các chính sách ưu đãi, được sự đầu tư hỗ trợ của chính phủ. Điều này dẫn đến cơ cấu hiện nay là họ nắm giữ phần lớn  vốn đầu tư và các khoản tiền gửi lớn của doanh ngiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân.

    Năm 1992, Các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh hoạt động tại Việt Nam. Mặc dù vậy, sự tham  gia của ngân hàng nước ngoài vào thị trường tài chính Việt Nam còn bị hạn chế rất nhiều do các chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của chính phủ Việt Nam. Phần lớn các khoản vay đều dành cho các doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thời hạn đăng ký hoạt động tại Việt Nam  của các ngân hàng nước ngoài là 20 năm, của các ngân hàng liên doanh (vốn đầu tư nước ngoài chiếm tối đa là 50%) là 30 năm. Việc gia hạn giấy phép hoạt động kinh doanh sẽ do chính phủ xét duyệt trong từng trường hợp. Hiện nay, các chi nhánh ngân hàng nước ngòai không được phép huy động tiền gửi ngoại tệ từ cá nhân người Việt Nam. Kể từ tháng 11 năm 2001, các ngân hàng liên doanh được phép huy động tiền gửi ngoại tệ cá nhân người Việt Nam song không quá 50% vốn.

    Các ngân hàng thương mại cổ phần đang trong quá trình cơ cấu lại nhằm giải quyết một số vấn đề về tài chính như đọng vốn, nợ khó đòi…Một số các ngân hàng nhỏ được sáp nhập lại thành ngân hàng lớn hơn nhằm  nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong những năm qua, 8 ngân hàng thương mại cổ phần đã được sáp nhập làm tổng số ngân hàng cổ phần giảm từ 51 ngân hàng còn 43 ngân hàng. Chính phủ cũng đã tiến hành cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần. Ngoài các ngân hàng có số vốn từ 200 đến 300 tỷ đồng, Vốn trung bình của các ngân hàng ở thành thị là 100 tỷ đồng và các ngân hàng ở nông thôn là 5 tỷ đồng. Theo Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, số lượng các ngân hàng cổ phần trong những năm tới chỉ còn từ 25 đến 30 ngân hàng.          Việc này khuyến khích các ngân hàng nhỏ sáp nhập lại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

    Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng Việt Nam đang là một vấn đề hết sức bức thiết. Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đòi hỏi một sự hỗ trợ tạo ra một lực mới nhằm đáp ứng những thách thức mới trong quá trình tự do hoá thương mại.

    2.         Sơ  lược hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam

    Hoạt động hệ thống ngân hàng Việt Nam không lấy gì sáng sủa. Theo lời mời của chính phủ nước ta, phái đoàn FITCH đã đến thăm Việt Nam vào tháng 4 năm  2002. Theo đánh giá của FITCH, rất nhiều ngân hàng Việt Nam rơi vào loại yếu kém.

    Xếp loại E là ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển (BIDV)  và ngân hàng Công Thương Việt Nam (VIETINCOMBANK). Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) xếp loại D. Nghĩa là cao hơn hai ngân hàng kia một chút cả về năng lực tài chính lẫn quản lý. Loại D cũng đánh giá cho ngân hàng Sai Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) và VID Public bank. Ngân Hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không được đưa ra xếp loại vì nó chưa hoàn toàn tách khỏi ngân hàng dành cho người nghèo.

    Theo FITCH, loại A cho ngân hàng rất mạnh, loại B cho Ngân hàng mạnh, loại C cho ngân hàng trung bình, loại D cho ngân hàng yếu kém và loại E cho ngân hàng thực sự có những vấn đề nghiêm trọng đòi hỏi sự giúp đỡ hỗ trợ.

    Nguyên nhân của tình trạng hoạt động yếu kém của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là do khả năng quản lý kém, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, bộ máy hành chính cồng kềnh, hệ thống quản lý thông tin yếu kém, quy định lỏng lẻo.

    Trong nhiều năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp đổi mới. Một trong những vấn đề được đặt ra là thiếu vốn pháp định. Điều này gây cản trở rất nhiều cho các các ngân hàng trong việc cho vay các dự án lớn. Tổng vốn pháp định của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (chiếm 74 % thị truờng cho vay) là 3.300 tỷ đồng. Trong khi đó, quy định hiện hành chỉ cho  phép vay không quá 15% vốn pháp định. Rất nhiều các dự án cần vốn vay lớn như giao thông, bưu chính viễn thông, điện, xăng dầu và thép.

    Một vấn đề khác đó là vốn đầu tư thấp. Đặc biệt là đối với các ngân hàng cổ phần. Điều này không cho phép họ đầu tư vào các công nghệ hiện đại nhằm giảm chi phí và đa dạng hoá sản phẩm. Ví dụ như giá một chiếc máy rút tiền tự động là USD 30.000 (450 triệu đồng). Một ngân hàng với vốn pháp định 65 tỷ đồng thì không thể đầu tư cho một hệ thống ATM. Tuy nhiên tình hình này có phần được cải thiện từ sau khi nhà nước quyết định cơ cấu lại vốn cho các ngân hàng cổ phần.

    Mối lo ngại lớn nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam bây giờ là hoạt động cho vay kém hiệu quả. Hầu hết các khoản vay là của 4 ngân hàng quốc doanh. Những khoản vay này đều là cho các doanh nghiệp nhà nước và thường chẳng mang lại chút lợi nhuận nào. Một nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi là cơ cấu quản lý chồng chéo. Giám đốc ngân hàng thương mại không những chịu sự quản lý của ngân hàng trung ương mà còn bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa phương các cấp.

    Do vậy hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đôi khi đi theo hướng kinh tế địa phương. Còn các ngân hàng cổ phần thì vẫn tiếp tục bị áp đặt nhiều chính sách quản lý của ngân hàng nhà nước.

    Do chính sách hạn chế, các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh chỉ chiếm 10,6% tổng số tiền gửi và 9% thị trường cho vay. Ấy vậy mà lợi nhuận nhóm này thu được lại gấp đôi các ngân hàng trong nước.

    Thêm vào đó, Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt. Rất nhiều các tổ chức khác như bảo hiểm , bưu điện cũng tham gia vào việc huy động vốn. Rất nhiều tổ chức tín dụng sử dụng vốn đầu tư vào bất động sản, nguy cơ “đóng băng về vốn” là rất cao.

    Nhằm quản lý chặt chẽ toàn bộ ngành ngân hàng, Ngân Hàng Nhà Nước đang xét lại toàn bộ hệ thống báo cáo bắt buộc. Các báo cáo thường niên  phải được xuất trình Ngân Hàng Nhà Nước kể từ khi kết thúc năm tài khoá (31 tháng 12) trong vòng 90 ngày đối với ngân hàng trong nước và 180 ngày đối với ngân hàng nước ngoài. Thanh tra nội bộ và thanh tra chéo là bắt buộc.  Việc lựa chọn cơ quan kiểm toán là do Ngân Hàng Nhà Nước xét duyệt. Đi đôi với các hoạt động kiểm soát, Ngân Hàng Nhà Nước cho phép ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng cổ phần đăng ký và đưa vào sử dụng một số dịch vụ mới nhằm nâng cao nhận thức về dịch vụ ngân hàng trong dân.

    Như trên đã đề cập, hệ thống ngân hàng trung ương và thương mại Việt Nam mới thực sự hoạt động từ năm 1988. Cho tới nay, đó chỉ là một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với lịch sử phát triển ngành ngân hàng trên thế giới. Theo ông Nguyễn Thanh Toại, giám đốc ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu, một ngân hàng phát triển trên thế giới có thể cung cấp khoảng 6000 loại hình dịch vụ và sản phẩm. Trong khi đó hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chỉ cung cấp khoảng 200 sản phẩm và dịch vụ. Trong thời gian tới, hi vọng bằng các chính sách cứng rắn và linh hoạt của Chinh phủ và Ngân Hàng Nhà Nước, hẹ thống ngân hàng Việt Nam  sẽ từng bước được cải thiện và hoạt động có hiệu quả.

    II.        Thực trạng triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam

    1.         Quá trình phát triển hệ thống thanh toán của ngân hàng ở Việt Nam

    Thanh toán tài chính trực tuyến qua mạng (On-line) cho các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam còn vô cùng non trẻ. Đại bộ phận nhân viên ngân hàng trong những năm đầu thập niên 90 còn vô cùng bỡ ngỡ trước hệ thống mỏy tính điện tử. Cả người cung cấp và người sử dụng dịch vụ ngân hàng khó có thể bỏ qua một loạt giấy tờ để thay thế đó bằng một chiếc máy tính. Chữ ký điện tử là điều vô cùng xa lạ. Việc rút tiền từ một chiếc máy tự động mà không có sự chứng kiến của nhân viên ngân hàng thì cũng thấy khó yên tâm.

    Công nghệ tin học thông tin phát triển như một cơn bão làm thay đổi tất cả, và thanh toán trong hệ thống ngân hàng không nằm ngoài sự phát triển đó.

    Năm 1992:

     

    *        Giao dịch thanh toán qua máy tính điện tử đầu tiên ở Việt Nam là ở Ngân hàng Công Thương (Incombank)

    *        Tiếp theo là Vietcombank, các ngân hàng khác và Ngân Hàng Nhà Nước.

    *        Chính sách “mở cửa” làm xuất hiện chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng này mang theo một loạt công nghệ ngân hàng hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam. Trước nhu cầu đổi tiền và mua hàng hoá dịch vụ bằng thẻ tín dụng, các ngân hàng nước ngoài đã đi tiên phong trong lĩnh vực này. Kế đến là Vietcombank. Một loạt các đại lý ngân hàng chấp nhận thẻ tín dụng nhằm phục vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn, bán vé máy bay, quầy thu đổi ngoại tệ xuất hiện.

    Năm 1995:

    Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (Vietcombank, Incombank, BIDV và VBARD) và 2 ngân hàng cổ phần tham gia vào hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc tế – SWIFT. Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng và tín dụng thư trong thanh toán quốc tế được cải thiện đáng kể (giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian và chính xác).

    Năm 1996:

    *        Vietcombank phát hành tấm thẻ nhựa đầu tiên

    *        Ngân Hàng Hồng Kông và Thượng hải (HSBC) đưa vào sử dụng chiếc mát rút tiền tự động (ATM) đầu tiên tại Việt Nam

    Năm 1997:

     

    *        Vietcombank phát hành thẻ tín dụng

    *        Ban hành quy chế phát hành sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng

     

    Năm 2002:

    *        Ngân Hàng Cổ Phần Á Châu (ACB) giới thiệu về dịch vụ ngân hàng qua Internet

    *        Dự thảo Luật Thương Mại Điện Tử Việt Nam

    *        Quyết định 44 của Chính phủ công nhận chữ ký điện tử trong chuyển tiền điện tử

    *        Thị trường liên ngân hàng điện tử trung ương đi vào hoạt động

     

    2.         Các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử:

    Trong vòng một thời gian ngắn, từ 1992 đến nay, một loạt dịch vụ mới gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử đã rađời.

     
       

    2.1     Thanh toán thẻ

     
       

    Dịch vụ chấp nhận thẻ bắt đầu xuất hiện từ năm 1992. Xuất phát từ nhu cầu của khách du lịch tới Việt Nam. Họ mang theo thẻ tín dụng quốc tế: Visa, Mastercard, Amex, JCB, Diner Club…Các ngân hàng cung cấp dịch vụ rút tiền bằng thẻ tín dụng đầu tiên là Vietcombank, Incombank.

    Tiếp theo là sự xuất hiện các đại lý ngân hàng thanh toán thẻ. Là những địa điểm có liên quan tới  dịch vụ du lịch như sân bay, phòng vé máy bay, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngân hàng ký một hợp đồng thanh toán thẻ với các doanh nghiệp này. Ngân hàng tiến hành lắp đặt tại các đại lý thiết bị điện tử chấp nhận thanh toán thẻ. Nhờ vậy khách du lịch nước ngoài  có thể trả cho hàng hoá hoặc dịch vụ bằng thẻ tín dụng.

    Máy thanh toán thẻ điện tử là một thiết bị đọc từ được kết nối với mạng ngân hàng chấp nhận thẻ và các ngân hàng phát hành thẻ trên thế giới. Nó cho phép đọc và truyền các thông tin của chủ sở hữu thẻ về tới các ngân hàng phát hành thẻ. Các giao dịch tài chính nhờ vậy mà được thực hiện và ghi lại trên tài khoản chủ sở hữu thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ.

    Dưới đây là sơ đồ một giao dịch bằng thẻ:

     
       

    Toàn Việt Nam hiện có khoảng 7000 đại lý thanh toán thẻ với tổng doanh số bán hàng bằng thẻ là USD 90 triệu/năm. Trong đó 48% là đại lý cho Vietcombank, 20% là đại lý cho ngân hàng ANZ, 15% cho ngân hàng United Over Sea Singapore (UOB), 10% cho ngân hàng Á châu (ACB) và 7% là của các ngân hàng khác.

    Bảng 2: Sơ đồ thị phần thanh toán thẻ

     
       

    Các đại lý thanh toán thẻ chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vũng Tàu.

    Vietcombank chiếm ưu thế cả về số lượng đại lý và doanh thu bán hàng. ACB là ngân hàng cổ phần Việt Nam duy nhất tham  gia vào thị trường này, mặc dù chỉ chiếm một thị phần khiêm tốn. So với Việtcombank và một số ngân hàng khác được sự đầu tư rất lớn về trang thiết bị thanh toán thẻ, ACB quả là một ngân hàng hoạt động tương đối hiệu quả bằng chính sự nỗ lực của mình.

    Bảng 3: Số lượng đại lí

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 4,391 4,673 5,530 6,538 7,756 18,6%
    Khu Vực AP 5,855,840 6,419,088 7,600,832 9,414,793 12,271,272 30,3%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Bảng 4 : Doanh số chấp nhận thẻ (Triệu USD)

      3/98 3/99 3/00 3/01 3/02 Tỷ lệ tăng trưởng
    Việt Nam 133 130 155 160 192 32%
    Khu Vực AP 148,200 155,030 212,030 256,605 301,360 29%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Do bị hạn chế hơn về số lượng chi nhánh, các ngân hàng nước ngoài chủ yếu tập trung khai thác những đại lý có doanh thu lớn. Ví dụ như UOB chỉ ký kết đại lý với các khách sạn 4-5 sao hoặc các địa điểm có doanh thu bán hàng bằng thẻ trên USD 10.000/tháng.

    Do không phải đầu tư lớn ban đầu về công nghệ, với kinh nghiệm  nhiều năm của ngân hàng nước ngoài cộng thêm đội ngũ nhân viên trẻ năng động nhiệt tình, các ngân hàng nước ngoài vẫn hoạt động hiệu quả hơn ngân hàng trong nước. Số lượng đại lí ít, chi phí thấp nhưng doanh số cao và do vậy tỷ suất lợi nhuận vẫn cao hơn.

    Dịch vụ chấp nhận thẻ là dịch vụ bán lẻ, lợi nhuận không cao bằng dịch vụ tín dụng, song tỷ lệ rủi ro rất thấp. Dưới đây là tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ ở Việt Nam , khu vực và trên thế giới.

    Bảng 5: Tỷ lệ gian lận trong thanh toán thẻ

      1999 2000 2001 2002
    Việt Nam 0,03% 0,05% 0,01% 0,02%
    Khu vực Châu Á Thái Bình Dương 0,12% 0,13% 0,08% 0,10%
    Thế giới 0,12% 0,14% 0,10% 0,11%

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    Với lượng khách du lịch tới Việt Nam ngày càng tăng, đây vẫn đang là loại hình dịch vụ đáng để các ngân hàng khai thác.

     

    2.2     Dịch vụ phát hành thẻ

     
       

    Vietcombank vẫn là ngân hàng dẫn đầu trong lĩnh vực này. Cho tới nay, các loại hình thẻ do Vietcombank phát hành bao gồm thẻ Visa, thẻ MasterCard, thẻ thông minh, thẻ ghi nợ. Thẻ ghi nợ nội địa của Vietcombank có tên là VCB-ATM với cách sử dụng đơn giản và giá rất cạnh tranh.

    Bạn muốn mua một thẻ tín dụng quốc tế của Vietcombank ? Chỉ cần mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 500.000 đồng và trả một tiền phí phát hành là 100.000 đồng. Thẻ này cho phép bạn rút tiền bằng hệ thống máy ATM của Vietcombank trên toàn quốc. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã phát hành 20,000 thẻ VCB-ATM.

    Thẻ tín dụng của Vietcombank cũng chiếm  lĩnh thị trường trong nước. Các tổ chức  và cá nhân thường mua loại thẻ này khi đi công tác nước ngoài. Theo ông Vũ Viết Ngoạn, Tổng giám đốc Vietcombank, thì tổng giao dịch bằng thẻ tín dụng Vietcombank năm 2001 đạt USD 86,5 triệu tăng 22% so với năm trước. Số lượng thẻ tín dụng phát hành, tính đến hết 2000 là 3.060 thẻ tăng 130% so với năm trước.

    Một ngân hàng phát hành thẻ đáng nói đến, đó là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu (ACB).

    Bên cạnh hai loại thẻ tín dụng là Visa và MasterCard, ACB còn phát hành một số thẻ nội địa như thẻ SaiGon Tourist- thẻ thanh toán cho các hoạt động du lịch, thẻ Saigon Co-op – thẻ dùng để mua hàng hoá tại các siêu thị, thẻ Mai Linh – thẻ trả tiền taxi, thẻ Phước Lộc Thọ.

    Đặc biệt là từ tháng 6 năm 2002, ACB cho ra đời một loại thẻ mới có tên gọi ACB e-card. Loại này tương tự như VCB-ATM. Người mua loại thẻ này phải mở một tài khoản với số dư tối thiểu là 1 triệu đồng và phải trả phí thường niên là 100,000 đồng. Tuy nhiên chủ thẻ sẽ được trả tỷ lệ lãi là 0,2% trên số dư tiền gửi mà họ không sử dụng đến. Chủ thẻ được cú thể cho thêm tiền gửi vào tài khoản của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn. Loại thẻ này cho phép chủ thẻ mua hàng hoá hoặc rút tiền mà không mất phí.

    Cho đến cuối năm  2002, ACB đã phát hành 10.000 ACB  e- card. Nếu so sánh với các ngân hàng Việt Nam  khác, ACB vượt trội hơn hẳn về chất lượng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ sau bán hàng. Tháng 6 năm 2002, ACB mở hai quầy hoạt động ngoài giờ nhằm cung cấp dịch vụ trợ giúp và thông tin cho các khách hàng mua thẻ Visa, thẻ MasterCard và các loại thẻ khác của ACB.

    Tham gia vào thị trường phát hành thẻ còn có các ngân hàng khác như EXIMBANK, Sacombank, ANZ và Ngân Hàng Đông Á.

    Ngân Hàng Đông Á mới khai trương trung tâm thẻ vào tháng 7 năm 2002. Nhưng theo Bà Lý Thị Ngọc, Giám Đốc trung tâm thẻ, Ngân Hàng Đông Á dự tính sẽ phát hành 1000 thẻ vào cuối năm 2002. Điều này hoàn toàn dựa trên cơ sở hệ thống khách hàng mở tài khoản giao dịch và tài khoản tiết kiệm sẵn có của ngân hàng. Ngân Hàng Đông Á còn có một hệ thống chấp nhận thẻ tại 5 chi nhánh ngân hàng và 20 siêu thị trên toàn quốc.

    Là một ngân hàng 100% vốn nước ngoài, với rất nhiều kinh nghiệm trong thanh toán và phát hành thẻ, cộng thêm công nghệ ngân hàng hiện đại sẵn có, song ANZ chỉ tham gia phát hành thẻ ghi nợ nội địa và thẻ ghi nợ quốc tế.

    Thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ thẻ trả tiền hoặc rút tiền từ tài khoản tiết kiệm hoặc vãng lai của mình. Còn thẻ tín dụng có thể nói là loại thẻ tiêu trước trả sau. Người mua thẻ tín dụng sẽ được ngân hàng phát hành thẻ cấp cho một hạn mức tín dụng nhất định. Chủ thẻ tín dụng sẽ được tiêu dùng trong phạm vi hạn mức tín  dụng đó. Nếu vượt quá hạn mức này, chủ thẻ phải xin cấp phép của ngân hàng phát hành. Chủ thẻ phải thanh toán trả lại cho ngân hàng phát hành số dư có trong tài khoản thẻ vào một thời gian nhất định nào đó, tuỳ theo quy định của ngân hàng.

    Thẻ ghi nợ ít rủi ro hơn cho cả ngân hàng lẫn chủ thẻ. Song hạn chế của nó là; Nó chỉ có thể chấp nhận bởi các thiết bị thanh toán thẻ của chính ngân hàng phát hành hoặc một số rất hạn chế các ngân hàng khác. Trong khi đó thẻ tín dụng được chấp nhận phổ biến trên toàn thế giới.

    Cho tới nay ANZ đã phát hành khoảng 10.000 thẻ ghi nợ, cho phép mua hàng hoán tại các siêu thị và rút tiền ở các máy ATM trong và ngoài nước. ANZ đang có kế hoạch liên kết với một số các ngân hàng cổ phần Việt Nam trong việc giúp đỡ họ tham gia vào thị trường thanh toán và phát hành thẻ.

    Việc Đầu tư cho một hệ thống thanh toán thẻ đối với các ngân hàng cổ phần là rất khó khăn, thời gian thu hồi vốn lâu. Do vậy, đây chính là cơ hội của các ngân hàng cổ phần để tham gia vào “sân chơi chung” này.

    Nhìn chung việc sử dụng “tiền nhựa” ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây. Trong một thị trường với gần 80 triệu dân thì con số thẻ phát hành còn quá nhỏ bé. Việt Nam đang hướng tới thưong mại điện tử  và việc sử dụng thẻ sẽ trở nên phổ cập trong đại bộ phận dân chúng.

    Bảng 6: Số lượng thẻ phát hành và trị giá giao dịch

      12/1999 6/2000 12/2000 6/2001
    Số lượng thẻ phát hành (nghìn) 3 5 7 9
    Số lượng giao dịch (nghìn) 14 18 28 38
    Trị giá giao dịch (Triệu USD) 2 2 4 5

    (Nguồn: Báo cáo hàng quý Trung tâm Thẻ Visa & Mastercard)

    2.3     ATM và dịch vụ rút tiền tự động

     

      Chiếc máy ATM đầu tiên được lắp đặt bởi ngân hành Hồng Kông và Thượng Hải (HSBC) tại thành phố Hồ Chí Minh.

     

    Từ đó đến nay số lượng máy ATM tham gia vào thị trường tăng lên nhanh chóng.

    Sau năm 1996, trên thị trường chỉ hai ngân hàng có máy ATM. Đó là ANZ và HSBC. Ngân Hàng Citibank sau đó cũng lắp đặt ATM nhưng chỉ đọc được thẻ do Citibank phát hành. Do vậy có thể nói ANZ và HSBC là hai ngân hàng dẫn đầu trong mảng dịch vụ này. Tuy nhiên, do chính sách bảo hộ ngân hàng trong nước của Chính phủ, mà hai ngân hàng này không thể phát triển số lượng máy ATM lắp đặt của mình.

    ANZ chỉ có 2 máy lắp tại hai chi nhánh Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. HSBC cũng chỉ có hai máy tại thành phố Hồ Chí Minh.

    ATM thực chất chỉ là một công cụ rút tiền. Nó được kết nối mạng với các tổ chức thẻ quốc tế và các ngân hàng trên thế giới, cho phép đọc và chuyển tải thông tin của chủ thẻ tới ngân hàng phát hành thẻ. Nhờ vậy mà chủ thẻ có thể rút tiền từ tài khoản tín dụng, vãng lai hay tiết kiệm của họ vào bất cứ lúc nào họ muốn.

    Với số luợng khách du lịch nước ngoài ngày càng tăng. Mặt bằng giá hàng hoá và dịch vụ ở Việt Nam tương đối rẻ so với khách nước ngoài. Mà không phải địa điểm bán hàng nào cũng sẵn có thiết bị thanh toán thẻ cộng thêm thói quen bán hàng bằng tiền mặt của người Việt Nam. Do vậy khách nước ngoài thực sự có nhu cầu sử dụng tiền mặt. Các quầy thu đổi ngoại tệ không mở cửa 24/24. Đối với các ngân hàng nước ngoài, chi phí cho một nhân viên ngân hàng phục vụ khách rút/đổi tiền là không nhỏ. ATM chính là biện pháp hữu hiệu nhất.

    Tuy nhiên chi phí cho việc lắp đặt vận hành một hệ thống ATM là rất tốn kém mà không phải bất cứ ngân hàng Việt Nam nào cũng có khả năng đầu tư.

    Do vậy mà mãi đến tháng 5 năm 2002, cùng với việc ra mắt chính thức hệ thống nối mạng Vietcombank toàn quốc (Vietcombank – Online), Vietcombank cũng tung ra thị trường hệ thống ATM của mình. Cho tới cuối năm 2002, Vietcombank đã lắp đặt và đưa vào  sử dụng 70 máy ATM trên toàn quốc. Dự tính con số này sẽ lên tới 100 đến 150 máy nhằm phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng tiêu dùng nói riêng và dịch vụ ngân  hàng điện tử nói chung của Vietcombank.

    Các ngân hàng khác cũng tiến hành triển khai kế hoạch ATM của mình, nhưng rất khác nhau cả về phương hướng lẫn kết quả.

    BIDV chính thức khai trương hệ thống ATM vào tháng 6 năm 2002.  6 Máy ATM đầu tiên của BIDV được lắp đặt tại các chi nhánh ngân hàng ở Hà nội, 1 máy ở Đà Nẵng, 4 máy ở thành phố Hồ Chí Minh, 1 máy ở Bình Dương. BIDV đang tiến hành hoàn tất hệ thống nối mạng dự kiến cho đến hết 2003. Hiện nay ATM của BIDV mới chỉ dùng để nhân viên ngân hàng rút tiền lương bằng thẻ do BIDV phát hành.

    Tháng 10 năm 2001, Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Vietincombank) công bố đưa vào hoạt động hệ thống ATM. 30 máy ATM loại hiện đại nhất được lắp đặt tại tất cả chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc. Kế hoạch của Vietincombank là sẽ đưa con số này lên đến 100 vào cuối năm 2003.  Vietincombank đồng thời phát hành thẻ nội địa với giá cả hết sức hấp đẫn. Thẻ này cho phép rút tiền tại, xem số dư tài khoản, chuyển tiền từ tài khoản tiết kiệm sang tài khoản vãng lai tại các máy ATM của Vietincombank. Tuy nhiên kế hoạch này dường như không kết qủa cho lắm. Cho đến nay, số lượng thẻ phát hành vẫn rất khiêm tốn. Khách hàng trong nước thì vẫn đến xếp hàng gửi và rút tiền tại quầy. Khách nước ngoài thì chưa thể rút tiền từ ATM Vietincombank vì nó chưa được nối mạng quốc tế. Thế là các ATM Vietincombank hiện đang trong tình trạng “thất nghiệp”.

    Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn (VBARD) cũng có kế hoạch đầu tư vào hệ thống ATM. Máy thì mua rồi, song lắp đặt và kết nối mạng vẫn đang nằm trong kế hoạch. Việc triển khai hệ thống ATM của VBARD còn cần rất nhiều thời gian và sức lực.

    Các ngân hàng cổ phần, vốn ít, cơ sở kỹ thuật công nghệ kém nên chưa thể tham gia vào lĩnh vực này. Sacombank lại có cách đi của riêng mình. Đó là liên kết với ngân hàng ANZ. Cho tới nay, Sacombank đã phát hành thẻ nội địa và đưa vào hoạt động 3 máy ATM tại các chi nhánh. Con số này còn quá khiêm tốn. Song qua đó Sacombank có cơ hội để học tập và phát triển hệ thống ATM của mình mà không phải dò dẫm và đầu tư quá lớn.

     

    2.4     Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại và Internet

     
       

    Internet thâm nhập vào Việt Nam từ cuối năm 1997. Và đến năm 2000, Internet trở nên phổ biến. Phần lớn các ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam đều có các trang Web. Mục đích chủ yếu của các trang Web là giới thiệu và cung cấp thông tin về các sản phẩm và dịch vụ của các ngân hàng. Trong năm 2000, chưa có một giao dịch tài chính nào được thực hiện qua mạng.

    Tháng 10 năm 2000, Incombank, là ngân hàng đầu tiên giới thiệu dịch vụ tài chính qua internet đồng thời cung cấp dịch vụ hỏi đáp qua mạng cho khách hàng. Incombank là ngân hàng đầu tiên và duy nhất tham gia vào thanh toán qua mạng, nằm trong dự án Thương Mại Điện Tử Việt Nam do Bộ Thương Mại chủ trì.

    Bộ Thương Mại đánh giá rất cao những gì đạt được trong dự án này. Nó đóng vai trò nền tảng cho Internet-banking hay e-banking.

    Tháng 11 năm 2002, Incombank khai trương dịch vụ ngân hàng qua Internet hay còn gọi là Internet – banking. Dịch vụ này cho phép khách hàng tra soát, chuyển tiền, trả tiền dịch vụ qua trang chủ của Incombank vào bất cứ lúc nào.

    Năm 2001, lần lượt các ngân hàng tung ra thị trường dịch vụ Internet -banking. Đó là ACB, Vietcombank, Techcombank, BIDV.

    Cho tới nay Internet -banking của Vietcombank đã tiến vượt trội hơn hẳn các ngân hàng khác.

    ACB tiến hành dịch vụ ngân hàng qua điện thoại gọi là -phone-banking, cho phép khách hàng dùng điện thoại di động kết nối với hệ thống ngân hàng để nghe các thông tin về tài khoản như số dư, liệt kê giao dịch, hay các thông tin chứng khoán của công ty chứng khoán ACB.

    Tháng 9 năm  2002, Techcombank tiến hành dịch vụ phone-banking.

    Hiện đại hoá dịch vụ ngân hàng và hệ thống thanh toán đang từng bước cải thiện dịch vụ ngân hàng truyền thống, mang lại lợi ích không nhỏ cho cả ngân hàng lẫn khách hàng.

    Dưới đây là một số địa chỉ trang chủ của các ngân hàng:

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.vietcombank.com.vn

    –        http://www.bidv.com.vn

    –        http://www.acbbank.com.vn

    –        http://www.techcombank.com.vn

    –        http://www.sacombank.com.vn

    –        http://www.icb.com.vn

    –        http://www.anz.com.vn

    –        http://www.vpbank.com.vn

     

    Trang chủ Ngân hàng Vietcombank:

     

     
       

     

     
       

    Trang chủ của ngân hàng ACB

    Tuy nhiên trang chủ của các ngân hàng Việt Nam còn rất nghèo nàn cả về hình thức lẫn nội dung. Chủ yếu giống như một tờ quảng cáo và các thông tin về ngân hàng thì rất chung chung.

    Trang chủ của các ngân hàng liên doanh và nước ngoài vẫn hấp dẫn hơn. Một số ngân hàng như ANZ, HSBC, Citibank, Deutsche bank cung cấp dịch vụ tỷ giá hối đoái trực tuyến hay kết nối trang chủ của họ với các trang thông tin nổi tiếng như Yahoo nhằm thu hút khách hàng.

    Do ảnh hưởng của một số ngành có liên quan như, bưu chính viễn thông, điện: cước phí internet, điện thoại cao, nguồn điện không ổn định…Internet -banking hay phone -banking còn chưa phổ biến.

    2.5     Thị trường điện tử liên ngân hàng

    2.5.1  Hệ thống  liên ngân hàng trung ương – Interbank

     

    Trong một nỗ lực cải thiện hệ thống thanh toán, tháng 5 năm 2002, ngân hàng trung ương đã đưa vào hoạt động hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đó là hệ thống máy tính nằm trong dự án trị giá USD 13,1 triệu do Ngân Hàng Thế Giới tài trợ nhằm giúp Việt Nam hiện đại hoá hệ thống thanh toán thông tin ngân hàng.

    Một hệ thống thanh toán nối mạng trên toàn quốc mà trung tâm là Ngân Hàng Nhà Nước được lắp đặt. Nó cho phép kết nối 100 chi nhánh các ngân hàng trong cả nước. Hệ thống này có rất nhiều điểm tiến bộ so với hệ thống bù trừ giấy tờ trì trệ và cồng kềnh… Tốc độ giao dịch nhanh hơn, an toàn và thuận tiện hơn. Với hệ thống này, thời gian thực hiện cho một giao dịch rút ngắn chỉ còn 10 giây.

    Tuy nhiên còn nhiều khó khăn đặt ra. Đó là vẫn chưa có một quy định vận hành, nhằm đảm bảo cho hệ thống này hoạt động hoàn hảo. Hơn thế nữa, vấn đề thiếu nhân viên chuyên nghiệp vận hành hệ thống đang được đặt ra.

    2.5.2. Hệ thống  liên ngân hàng cục bộ – Intrabank

    Song song với hệ thống liên ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại cũng tiến hành cải tổ hệ thống liên ngân hàng cục bộ.

    BIDV tiến hành mở rộng hệ thống thanh toán của mình bao trùm  tất cả các chi nhánh ngân hàng này trên toàn quốc.

    VBARD tiến hành dự án trị giá USD 94 triệu do ngân hàng thế giới tài trợ. Trong đó có hạng mục hiện đại hoá hệ thống thanh toán trị giá USD 13,17 triệu.

    Vietcombank đã có Vietcombank – Online, cho phép khách hàng kiểm tra, thanh toán trên tài khoản của họ qua các chi nhánh Vietcombank khác nhau.

    2.5.3. Hệ thống liên ngân hàng quốc tế -S.W.I.F.T

    Đây là hệ thống, nơi diễn ra hàng ngàn trao đổi thông tin, hoạt động có liên quan đến chuyển tiền qua các quốc gia, mở thư tín dụng cho xuất nhập khẩu hàng hoá. Hiện tại có 36 ngân hàng (bao gồm 151 chi nhánh) tham gia S.W.I.F.T, trong đó có 15 ngân hàng Việt Nam và 21 ngân hàng nước ngoài.

    Bằng việc nâng các cấp hệ thống liên ngân hàng trong nước và quốc tế, thanh toán của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã, đang và sẽ được cải thiện theo chiếu hướng nhanh, gọn và hiệu quả hơn.

     

    III.      Đánh giá tiềm năng thị trường dịch vụ ngân hàng điện tử

    Căn cứ tình hình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chỉ số tăng trưởng kinh tế qua các năm gần đây, và đặc biệt là tiến bộ đạt được trong lĩnh vực cải cách ngân hàng, có thể nói thị trường Việt Nam , thị trường của gần 80 triệu dân là một thị trường tiềm  năng cho dịch vụ ngân hàng điện tử. Vấn đề là tiềm năng đó như thế nào, khai thác nó ra sao. Trong khoá luận này tôi xin trình bày một số số liệu khảo sát có liên quan tới thị trường dịch vụ này. Qua đó có thể giúp chúng ta xem xét đánh giá thị trường

     

    1.         Khảo sát thị trường

    Chi tiết kết quả khảo sát bao gồm các mục sau:

     

    1.1     Độ tuổi

    Nhìn chung dân số Việt Nam là dân số trẻ trên thế giới. Việt Nam là nước đông dân thứ hai ở Nam Á và đứng thứ 14 trên toàn thế giới (80 triệu dân). Trong đó Phụ nữ chiếm 50,8 % và nam là 49,2%. Tỷ lệ sinh sản tăng 1,36% /năm. 32 % là từ 0 đến 14 tuổi, 62 % từ 15 đến 64 tuổi và 6% là lớn hơn 65 tuổi.

    Bảng 7: Độ tuổi

     

     

     

     

    1.2.    Trình độ học vấn

     

    Bảng 8: Trình độ học vấn

    Trình độ học vấn %
    Sau đại học 4%
    Đại học 34%
    Cao đẳng, trung cấp 10,5%
    Học nghề 16%
    Phổ thông trung học 23%
    Phổ thông trung học cơ sở 12,5%

    Nhìn chung trình độ học vấn của Việt Nam vào loại cao so với khu vực. Đây là một thế mạnh để Việt Nam tham gia tiếp thu và áp dụng kiến thức mới, công nghệ mới.

    1.3.    Nghề nghiệp

     

    Bảng 9: Nghề nghiệp

    Nghề nghiệp %
    Kinh doanh tự do 26%
    Nhân viên 20%
    Cán bộ 18%
    Chủ doanh nghiệp 11%
    Giao sư 8%
    Buôn bán nhỏ 8%
    Cán bộ chính phủ 4%
    Giảng viên/giáo viên 3%
    Nghệ sĩ 1%
    Nghệ nhân 1%

    Chiếm một tỷ lệ lớn – 26% là người kinh doanh tự do, 20% là nhân viên, 18% là cán bộ cấp trung và cao 11% là chủ doanh nghiệp, số còn lại là lao động kỹ năng cao như giáo sư, nghệ sĩ.

    Việc kiểm soát thu nhập người kinh doanh tự do là rất khó. Chưa kể đến các vấn đề bức bối khác như buôn lậu, trốn thuế.  Chính vì vậy tỷ lệ thanh toán tiền mặt khá cao.

     

    1.4     Tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, thói quen tiêu dùng và tiết kiệm

    Bảng 10: Mức tăng trưởng GDP

    GDP tính theo đầu người mỗi năm:

    Hà Nội:                                    USD 720/người/năm

    Đà Nẵng:                                 USD 530/người/năm

    Thành phố Hồ Chí Minh:                 USD 1460/người/năm

    Cần Thơ:                                 USD 353/người/năm

    Cơ cấu  GDP năm 2001:

    –        Nông, lâm, ngư nghiệp:  38,95%

    –        Công nghiệp:                 37,75%

    –        Dịch vụ:                         23,3%

    So với các năm trước, cơ cấu này đã thay đổi theo chiều hướng tiến bộ rất nhiều. Song tỷ lệ dịch vụ vẫn còn quá nhỏ cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng.

    Đại bộ phận dân số chiếm 75% có thu nhập bình quân USD35-USD 50/tháng, 13% có thu nhập USD 70/tháng, 10% có thu nhập USD100-USD200/tháng, 5% có thu nhập USD 300-USD500 và 2% có thu nhập trên USD600/tháng.

    Thu nhập bình quân đầu người thấp. Dẫn đến chỉ số tiêu dùng và dịch vụ thấp. Nói đến ngân hàng, thường người ta nghĩ ngay đến việc gửi tiền tiết kiệm và không nghĩ đến việc trả tiền cho các dịch vụ ngân hàng. Tiết kiệm chiếm 31% tổng thu nhập cá nhân.

    1.5.    Nhận thức về dịch vụ tài chính ngân hàng

    95% số người được hỏi trả lời là nhận tiền lương hay thu nhập bằng tiền mặt. Số còn lại nhận bằng chuyển khoản và séc. Sau đó 98% chi tiêu của họ được thanh toán bằng tiền. Điều này chứng tỏ sự “thống trị ” của tiền mặt trong hệ thống thanh toán.

    Thói quen dùng tiền mặt còn được phản ánh qua cách tiết kiệm. 64% người được hỏi nói rằng họ đâu có kế hoạch tiết kiệm. Chẳng qua là không tiêu tiền hoặc nghĩ rằng tiêu như thế là đủ rồi. 45% dân có thói quen giữ tiền mặt hoặc mua vàng hay ngoại tệ mạnh và cất đi một chỗ. Chỉ có 34% gửi tiền vào ngân hàng.

    Thói quen này là do mối quan hệ giữa các cá nhân người tiêu dùng và ngân hàng không tốt hoặc không có. Có người nghĩ ngân hàng là một nơi xa lạ, lạnh lùng rất khó tiếp xúc. Có người cho rằng gửi tiền ngân hàng không an toàn và mất thì giờ cho các thủ tục giấy tờ. Trong 10 năm trở lại đây, tình hình này có phần được cải thiện. Ngân hàng tự tìm đến với khách hàng bằng quảng cáo, nhân viên tiếp thị và nhiều hình thức khác.

    2.         Nhu cầu về dịch vụ ngân hàng điện tử

    Trên đây là nhận thức nói chung trong dân về dịch vụ ngân hàng. Còn đối với người đã từng sử dụng dịch vụ ngân hàng thì sao. Yêu cầu của họ về dịch vụ này như thế nào?

     

    2.1     Nhu cầu thiết yếu:

    Trong số những người gửi tiền ngân hàng: 50% vì muốn giữ tiền ở một nơi an toàn, 31 % vì muốn có lãi, 29% vì mục đích tiết kiệm.

    Trong số những người không gửi tiền ngân hàng: 65 % vì không có tiền hay có nhưng cần tiền mặt cho mục đích khác, 15% vì không tin tưởng ngân hàng và số còn lại là chưa hiểu về dịch vụ ngân hàng.

    Nhìn chung, nhận thức về sử dụng dịch vụ ngân hàng trong giao dịch là rất nhỏ.

    Bảng 11: Các loại hình giao dịch bán lẻ

    Loại hình dịch vụ Mô tả (%) Nhận thức về dịch vụ (%) Có hiểu biết tốt về dịch vụ (%) Tham gia sử dụng Tần số sử dụng
    Vay Vay để kinh doanh, mua nhà, mua xe 80% 20% 10% Hàng năm
    Giao dịch qua quầy Rút tiền, chyển tiền, đổi tiền, séc 65% 30% 20% Hàng tháng, hàng năm
    Giao dịch bằng thiết bị điện tử Internet, điện thoại, thẻ tín dụng, ATM 35% 15% 4%  

    Bảng 11 cho thấy phần đông dân, (80%) cho rằng ngân hàng liên quan đến việc vay và cho vay. Trong số biết đến dịch vụ vay, thì chỉ có 20% có kiến thức tương đối tốt về vay. Và trong số hiểu biết về vay cũng chỉ có 10% đi vay ngân hàng. Tần số giao dịch là năm/lần.

    Các dịch vụ qua quầy và dịch vụ điện tử được biết đến ít hơn. 70% dân biết đến dịch vụ ngân hàng qua quầy, nhưng gần một nửa trong số đó mơ hồ về thủ tục và quy định về chuyển tiền, rút tiền, mua , bán ngoại tệ. Tần số giao dịch là 3 hay 6 tháng/lần. Công nghệ hiện đại ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng cũng chỉ có 15% dân tham gia các dịch vụ ngân hàng điện tử. Các ngân hàng Việt Nam đã sao lãng trong việc tiếp cận và giáo dục khách hàng cá nhân. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến việc các dịch vụ  ngân hàng tiêu dùng không tồn tại ở Việt Nam.

    Khi được hỏi về chất luợng dịch vụ của ngân hàng trong nước và nước ngoài, người tiêu dùng đánh giá như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thiết yếu

     

     

    Ngân hàng

     

     nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    An toàn và bảo vệ khách hàng 8,85 8,60
    Độ tin cậy 8,49 8,46
    Bảo vệ thông tin cá nhân 8,91 8,43
    Tốc độ phục vụ 8,76 8,06
    Thủ tục 8,58 7,93
    Thái độ phục vụ 8,73 7,5
    Có kiến thức hiểu biết tốt 8,77 7,5

    Khách hàng yêu cầu cao nhất ở ngân hàng là sự an toàn và độ tin cậy. Nhìn chung chất lượng phục vụ các ngân hàng nước ngoài vẫn tốt hơn (8/10 điểm). Nhưng khoảng cách giữa ngân hàng nước ngoài và trong nước không quá lớn. Đó chính là dấu hiệu rất tốt cho các ngân hàng Việt Nam.

     

    2.2.    Nhu cầu thứ yếu

    Phát triển xã hội ngày một đi lên. Nhu cầu khách hàng ngày càng cao. Nhất là khi xuất hiện một số dịch vụ mới và sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài.

    Đánh giá về việc đáp ứng nhu cầu khách hàng còn được thể hiện như sau:

    Bảng 12: Đánh giá về chất lượng đáp ứng nhu cầu thứ yếu dịch vụ ngân hàng

    Nhu cầu thứ yếu

     

     

    Ngân hàng

     

    nước ngoài

    Ngân hàng

     

    trong nước

    Lãi suất tiền gửi cao 7,99 7,69
    Thời gian mở cửa 8,10 7,70
    Công nghệ hiện đại 8,80 7,71
    Thủ tục, điều kiện linh hoạt 8,26 7,69
    Lãi suất cho vay thấp 7,78 7,68
    Nhiều chi nhánh 7,66 8,08
    Dịch vụ 24/24 – ATM 8,47 6,85
    Phí ngân hàng thấp 7,59 7,82

    Công nghệ của các ngân hàng nước ngoài  cao hơn. Nhưng điểm mạnh của ngân hàng trong nước là có nhiều chi nhánh hơn, phí ngân hàng thấp hơn.

    3.         Đánh giá chung tình hình hiện tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

    3.1     Nhu cầu thị trường

    Kể từ năm 1996, có thể coi việc chiếc máy ATM đầu tiên do HSBC được lắp đặt là bằng chứng xuất hiện của dịch vụ ngân hàng điện tử. Cho tới nay, với số lượng máy ATM trên thị trường, số lượng thẻ phát hành, số lượng địa điểm chấp nhận thẻ, sự xuất hiện của các dịch vụ mới như phone-banking, internet-banking, chúng ta có thể khẳng định sự tồn tại và phát triển bước đầu của ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Rõ ràng nhu cầu cho ngân hàng điện tử là có và có tăng. Song, đại bộ phận nhu cầu đều tập trung ở các thành phố lớn, nơi có thu nhập tương đối cao và ổn định.

    Nhu cầu này cũng rất khác nhau và chưa thực sự chín muồi. Điều này thách thức các ngân hàng nỗ lực tuyên truyền giáo dục khách hàng.

    Chi phí cho loại hình dịch vụ này còn cao so với mặt bằng thu nhập. Đó chính là giải thích cho việc tuy nhận thức về ngân hàng điện tử tương đối tốt nhưng tỷ lệ tham gia thực sự không nhiều. Và nếu không tham gia dịch vụ này thì hiểu biết tường tận về dịch vụ này cũng không thể nâng cao.

    Thói quen tiêu tiền mặt, cộng thêm  tính sẵn có của dịch vụ ngân hàng điện tử chưa cao cũng là nguyên nhân dẫn đến việc dịch vụ này chưa phổ biến. Không phải bất cứ địa điểm nào cũng có mặt loại hình dịch vụ này.  Các ngân hàng đang sẵn sàng cho việc phát triển dịch vụ này. Nghĩa là cung đã có. Vậy việc khai thác và tăng cầu cho dịch vụ ngân hàng điện tử là một điều hết sức bức thiết.

    3.2     Kinh tế pháp lý và chính trị xã hội

    Tuy nhiên việc tăng cầu trong dân cho ngân hàng điện tử không chỉ cần nỗ lực của các ngân hàng mà còn đòi hỏi các chính sách vĩ mô của nhà nước.

    Cơ cấu kinh tế nước ta chưa thoát khỏi kinh tế nông ngiệp. Cơ cấu dịch vụ quá thấp chưa cho phép ngân hàng điện tử, một loại hình dịch vụ cao cấp của một nền kinh tế tương đối phát triển.

    Điều kiện chính trị hiện nay chưa cho phép nền kinh tế nước ta “mở” hoàn toàn. Do vậy cũng còn nhiều hạn chế đối với việc nhận thức của dân về các vấn đề tiến bộ, hạn chế phát triển một số ngành như thông tin viễn thông, điện, điện tử.

    Quá trình “đổi mới” mới diễn ra trong 10 năm  gần đây. Đó là một quãng thời gian quá ngắn, chưa đủ để làm thay đổi thói quen sống và làm việc của đại bộ phận dân chúng. Về mặt xã hội, cũng phải lưu ý tới nhận xét của nhiều học giả rằng, do lịch sử hàng nghìn năm sống trong nền “văn minh làng xã” đông đảo dân chúng Việt Nam chưa xây dựng được một tác phong “làm việc đồng đội” ở tầm toàn xã hội và tầm quốc tế, cũng như chưa có được lối sống theo pháp luật chặt chẽ, theo kỷ luật lao động công nghiệp tiêu chuẩn hoá, đều là những yếu tố mà thương mại điện tử nói chung hay ngân hàng điện tử nói riêng đòi hỏi một cách nghiêm ngặt.

    Hệ thống pháp lý liên quan đến thương mại điện tử và ngân hàng điện tử mới hình thành, chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ. Các quy định về tài chính nói riêng và các quy định chung khác có liên quan thay đổi trong một thời gian khá ngắn. Điều này khiến cho hoạt động của các ngân hàng còn dè dặt, lòng tin của dân đối với ngân hàng chưa cao.

    3.3.    Công nghệ và nhân lực

    Như trên đã trình bày, công nghệ thông tin và tin học phát triển chính là một trong những động lực chính tạo ra ngân hàng điện tử. Sự phát triển công nghệ thông tin là một điều không thể phủ nhận. Và càng không thể phủ nhận nỗ lực của các ngân hàng trong việc áp dụng công nghệ hiện đại.

    Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách kịp thời để khuyến khích sự  phát triển này:

    –        Thu thuế thấp nhất đối với hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin

    –        Đầu tư ngân sách nhà nước (hơn 5%) cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển công nghệ thông tin.

    –        Sửa đổi luật ngân hàng

    –        Chi 1 tỷ đồng cho dự án phát triển thương mại đIện tử. Gồm 14 tiểu dự án về hạ tầng cơ sở pháp lý.

    Đội ngũ nhân lực tin học và ngân hàng có thể nói khá mạnh: trẻ, thông minh, sánh tạo. Song, lực lượng này hiện nay chưa được tập hợp một cách có hệ thống và chưa được khai thác một cách đúng mức và có hiệu quả. Đa phần trong số họ làm việc cho các công ty nước ngoài. Trong khi các công ty trong nước thiếu một lực lượng chuyên nghiệp thực sự đủ năng lực để xử lý các hệ thống và phần mềm ứng dụng toàn quy mô lớn.

    Nhìn chung, trong vòng một thời gian ngắn, ngân hàng điện tử đã đi lên

    những thành công hôm nay từ con số không. Nó chứng tỏ sự phát triển tất yếu của ngành ngân hàng nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, để duy trì những thành công bước đầu và phát triển như mong đợi, dịch vụ ngân hàng điện tử còn đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam, các ngành có liên quan và Chính phủ.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Chương III:       Giải pháp nhằm thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    I.         Xu hướng phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    1.         Xu hướng trước mắt

    Theo báo cáo của ASEAN tháng 10 năm 2001, Việt Nam đã được xếp vào một trong số những quốc gia sẵn sàng cho thương mại điện tử.

    Bảng 13: Tình hình phát triển E – BANKING ở ASEAN

                       
       
     
       
    Việt Nam

     

    Cambodia

    Myanmar

    Lào

     
    Thailand

     

    Philippines

    Brunei

    Indonesia

     
    Malaysia
     
    Singapore

    Điều này có nghĩa là Việt Nam mới bắt đầu nhận ra sự tồn tại tất yếu của thương mại điện tử và có kế hoạch chuẩn bị cho việc tiến hành. Chính phủ Việt Nam đã có những cam  kết về thương mại điện tử trong lộ trình gia nhập AFTA, APEC và tiến tới là WTO. Bằng chứng là trong 5 năm  qua thương mại điện tử Việt Nam hay cụ thể là ngân hàng điện tử Việt Nam đã bước đi những bước đáng kể.

    Như đã phân tích ở trên, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn xa mới theo kịp các nước trong khu vực. Singapore có ATM từ năm 1979, Malaisia có ATM vào năm 1981, còn chúng ta, mới chỉ bắt đầu từ 1996.

    Kể từ cuối năm 2001, hệ thống ATM phát triển bùng nổ ở Việt Nam. Các ngân hàng đang trong một cuộc chạy đua về ATM. Xu thế này sẽ vẫn tiếp tục phát triển trong một vài năm tới. Bởi vì các ATM hiện nay mới chỉ tập trung nhiều ỏ Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả các ngân hàng đều có mong muốn hệ thống ATM của mình có mặt tại các tỉnh thành trong cả nước.

    Đi đôi với ATM là dịch vụ thẻ, bao gồm cả phát hành và chấp nhận thanh toán.

    Thẻ và ATM là mục tiêu trước mắt của các ngân hàng. Chủ trương phát triển dịch vụ ngân hàng tiêu dùng, ngân hàng bán lẻ buộc các ngân hàng phải nhanh chóng mở rộng hệ thống khách hàng cá nhân. Nhưng những ràng buộc như hạn chế về số lượng chi nhánh, số lượng nhân viên, thời gian phục vụ tại quầy đã khiến cho việc phục vụ một số lượng lớn khách hàng là vô cùng khó khăn. Chính vì vậy, thẻ và ATM là dịch vụ lợi thế nhất mang lại hiệu quả cho cả khách hàng và ngân hàng.

    Tuy nhiên việc lắp đặt chồng chéo ATM của các ngân hàng là không thể tránh khỏi. Chi phí quá lớn cho việc đầu tư lắp đặt hệ thống này có thể phải xem lại đối với một số ngân hàng vốn nhỏ. Tránh tình trạng đầu tư mua máy mà chưa đưa vào sử dụng trong thời gian dài, gây đọng vốn quá lâu.

    Dịch vụ phone-banking và internet-banking trong thời gian tới mới chỉ bước đầu đưa vào hoạt động hoặc thử nghiệm hoạt động. Nguyên nhân là các dịch vụ này đòi hỏi một cơ sở hạ tầng công nghệ cao. Cần có thời gian cho các ngân hàng thiết lập và nâng cấp hệ thống kỹ thuật cũng như cho người tiêu dùng nâng cao nhận thức và có một hiểu biết tương đối về dịch vụ có tính chất cách mạng trong lĩnh vực tài chính này.

     

    2          Xu hướng lâu dài

    Nền tảng của thương mại điện tử và ngân hàng điện tử  là Internet. Internet đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng dụng và chất lượng vận hành. Hiện nay, có khoảng 100 triệu người đang sử dụng Internet. Theo dự báo số người sử dụng Internet trên toàn thế giới năm 2005 sẽ lên tới 1 tỷ người.

    Tính đến cuối năm 2000, số thuê bao Internet ở Việt Nam là 113.000 và chưa đầy 1000 doanh nghiệp có trang chủ riêng. Tuy nhiên phải tính đến việc chúng ta mới chỉ ra nhập Internet từ cuối năm 1997.

    Không nằm ngoài xu hướng phát triển trong khu vực và trên toàn thế giới, Internet cũng sẽ bùng nổ ở Việt Nam trong những năm tới. Đó chính là cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử ở Việt Nam.

    Hiện nay Chính phủ đang xem  xét để thông qua kế hoạch tổng thể nằm thực hiện nghiêm túc chỉ thị 58/CT-TW  chỉ đạo về công nghệ thông tin trong tình hình mới.

    Đào tạo nguồn nhân lực để phát triển công nghệ thông tin. Trong mọi lĩnh vực, nguồn nhân lực là hết sức quan trọng. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin nước ta mới đang ở dạng tiềm năng chứ chưa phải ở dạng khả năng khai thác. Mục tiêu của chúng ta là khuyến khích nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, có những chính sách nhằm thu hút tài năng tin học, có những sản phẩm phần mềm thay thế được nhập khẩu.

    Ứng dụng công nghệ thông tin ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội. Điều này không những xây dựng một nền kinh tế mới mà còn nâng  cao nền kinh tế tri thức, làm nền tảng cho sự phát triển của các loại hình dịch vụ cao cấp.

    Xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet ở Việt Nam. Với quyết tâm cao của ngành bưu chính viễn thông, của đông đảo cộng đồng khoa học công nghệ, hạ tầng cơ sở viễn thông giai đoạn tới phải được nâng lên ngang bằng với khu vực. Mục tiêu là tạo ra sự bùng nổ đột biến Internet ở Việt Nam. Và chỉ có cách đó chúng ta mới hoà nhập, sử dụng thương mại điện tử, Chính Phủ điện tử như Chính phủ nước ta đã cam kết với chính phủ các nước Đông nam Á.

    Kế hoạch đồng bộ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Hoàn thiện nâng cấp kỹ thuật hệ thống mạng thông tin ngân hàng rộng khắp từ Trung ương đến tất cả các chi nhánh. Xây dựng cơ sở dữ liệu toàn ngành, phục vụ công tác quản lý của Ngân Hàng Nhà Nước. Ưu tiên phát triển hệ thống thanh toán Quốc gia. Phổ cập dịch vụ ngân hàng tiêu dùng trong dân. Hoàn thiện  hệ thống các văn bản pháp lý trong các nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp tới công nghệ ngân hàng hiện đại.

    II.        Một số kiến nghị giải pháp cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam

    Trong quá trình đương đầu với những thách thức mới trên thị trường, ngành ngân hàng thế giới  luôn theo đuổi hai mục tiêu chiến lược. Đó là cạnh tranh toàn cầu và không ngừng phát triển khoa học công nghệ. Ngành ngân hàng ngày nay đang dần thay thay thế phương thức hoạt động truyền thống bằng phương thức mới. Đó chính là ngân hàng điện tử. Khái niệm ngân hàng điện tử tuy còn mới mẻ đối với Việt Nam. Song, để phát triển thương mại điện tử thì việc tiến hàng ngân hàng điện tử là điều thiết yếu, giúp nền kinh tế Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu. Vấn đề chỉ còn là thời gian và những biện pháp cả ở tầm vĩ mô và vi mô để tạo ra một môi trường tốt cho ngân hàng điện tử phát triển.

    1.         Kiến nghị giải pháp vĩ mô

    Chính phủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện ngân hàng điện tử thông qua việc đưa ra các định hướng, xây dựng cơ sở hạ tầng pháp lý, triển khai cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như ban hành các chính sách phát triển một cách hợp lý. Chính phủ cần thể hiện rõ là người dẫn đầu cuộc chơi trong việc đem lại lợi ích quốc gia. Cụ thể có những việc cần làm  như sau:

    1.1.    Cải cách nâng cao hệ thống quản lý ngân hàng

    Một hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động hiệu quả là một trong số điều kiện tiên quyết sự ổn định và phát triển một nền kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Ngành ngân hàng Việt Nam mới chỉ chuyển đổi cơ cấu trong một thời gian ngắn. Khoảng thời gian này chưa để đủ tạo ra một hệ thống ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Quá trình đổi mới vẫn còn đang tiếp diễn. Ngoài những bước đi ban đầu, ngành ngân hàng Việt Nam  cần được củng cố thêm rất nhiều tạo cơ sở để phát triển ngân hàng điện tử.

    *        Hiện đại hoá tổ chức và hoạt động hành chính của các ngân hàng thương mại

    –        Cải thiện và củng cố lại các quy tắc quản lý kế toán của các ngân hàng thương mại theo tiêu chuẩn quốc tế

    –        Nâng cao năng lực quản lý trong ngành ngân hàng. Giảm bớt hệ thống quản lý, nhân viên cồng kềnh. Giảm bớt số lượng ngân hàng nhỏ, không hiệu qủa.

    –        Tiến hành kế hoạch tập trung xúc tiến và trao đổi các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng điện tử một cách nghiên túc.

    –        Tạo điều kiện đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

    –        Thông tin kịp thời về những tiến bộ công nghệ tới các cán bộ ngân hàng. Đầu tư thoả đáng cho việc xây dựng một nguồn nhân lực chuyên nghiệp.

    *        Tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng Việt Nam giao lưu với ngân hàng trong khu vực và trên thế giới

    Do chức năng và tính chất của hoạt động, hệ thống ngân hàng một nước luôn đòi hỏi một mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng thế giới.

    Chính  phủ cần:

    –        Dần dần dỡ bỏ chính sách quản lý và bảo hộ quá chặt chẽ đối với hệ thống ngân hàng bằng cách để các ngân hàng Việt Nam tham gia vào các tổ chức tài chính khu vực và thế giới, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính.

    –        Đưa các chương trình hợp tác xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư thương mại điện tử vào kế hoạch phát triển hàng năm.

    –        Hợp tác triển khai các dự án thương mại điện tử có quy mô quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế.

     

    1.2     Xây dựng và cải thiện hành lang pháp lý và các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    *        Xây dựng hệ thống luật, các quy định khung cho ngân hàng điện tử

    Hệ thống luật pháp liên quan tới ngân hàng điện tử hiện nay được tạo ra bởi rất nhiều cấp độ khác nhau như Quốc hội, Thủ tướng chính phủ, các Bộ, Ngân Hàng Nhà Nước, Uỷ ban nhân dân thành phố. Tất nhiên các văn bản phát hành cấp Quốc hội vẫn có hiệu lực cao nhất. Nhưng điều này tạo ra sự chồng chéo về quy định mà vẫn không đầy đủ, rất khó áp dụng.

    Hơn thế nữa, việc thi hành chậm trễ các văn bản luật và dưới luật diễn ra rất phổ biến. Ví dụ như trường hợp quyết định 44/2002QĐ-TTg về vấn đề sử dụng hoá đơn điện tử trong thanh toán các dịch vụ do chính phủ ban hành ngày 21/3/2002. Nhưng đến ngày 8/10/2002, Ngân Hàng Nhà Nước mới ban hành thông tư 1092/2002/QĐ-NHNN  hướng dẫn thực hiện quyết định này cho các ngân hàng thương mại.

    Cần có thêm các thông tư hướng dẫn thi hành các vấn đề như thanh toán điện tử, tiền điện tử, vấn đề an toàn và bảo mật…Tham khảo luật và các tiền lệ khu vực và thế giới để có chung “một tiếng nói” với các quốc gia khác.

    Việc ban hành và sửa đổi các quy chế ngân hàng phải căn cứ và xuất phát từ những hoạt động thương mại và công nghệ hiện đại.

    *        Ban hành các quy chế nhằm tạo ra hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt

    Hạn chế thanh toán tiền mặt, trước tiên là trong hệ thống ngân hàng. Tiến hành thanh toán qua tài khoản cho việc trả lương, thanh toán giữa các ngân hàng. Khuyến khích mở tài khoản cá nhân.

    1.3.    Đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin

    Nền tảng của ngân hàng điện tử là công nghệ thông tin, cần có sự đầu tư thoả đáng không chỉ từ các ngân hàng mà còn từ phía Chính phủ.

    *        Thiết lập một hệ thống thanh toán tiêu chuẩn

    Hệ thống thanh toán ở Việt Nam còn nhiều điều bất cập, chưa hoàn thiện, chưa nối mạng quốc tế và bị lấn át bởi hệ thống thanh toán bằng tiền mặt. Việc cải tổ lại hệ thống thanh toán không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn mang lại lợi ích quốc gia.

    Hệ thống liên ngân hàng điện tử mới đưa vào hoạt động gần đây như là một bước tiến căn bản tạo nền móng vững chắc cho hệ thống ngân hàng trên toàn quốc. Hệ thống này cần được duy trì và khai thác một cách có hiệu quả hơn.

    Ngân Hàng Nhà Nước cần có các chính sách hỗ trợ khuyến khích các ngân hàng thương mại tự đầu tư cho hạ tầng cơ sở thanh toán điện tử. Xoá bỏ một số quy định cản trở các ngân hàng thương mại trong việc thiết lập kế hoạch chiến lược lâu dài đầu tư hiên đại hoá cơ sở hạ tầng.

    *        Xúc tiến ngành công nghệ tin học ngân hàng

    Công nghệ tin học ngân hàng đang phải đối mặt với rất nhiều rào cản như trình độ quản lý kỹ thuật yếu kém, phát triển không đồng đều, thiếu vốn… Chính phủ có thể cho phép các công ty tài chính nước ngoài đầu tư một phần trong lĩnh vực thông tin viễn thông nhưng không cho họ liên quan tới các hoạt động điều hành nhằm thu hút vốn và kinh nghiệm kỹ thuật của họ mà vẫn kiểm soát được lĩnh vực này.

    *        Phổ cập công nghệ thông tin trong dân, xây dựng nguồn nhân lực tin học chuyên nghiệp

    Với cơ sở vật chất thiếu thốn như hiện nay, chúng ta không có hi vọng

    làm cho cả gần 80 triệu dân Việt Nam hiểu đầy đủ về Internet, song ít nhất chúng ta có thể đưa tin học tới mọi nơi có thể đến được. Đó là các công sở đã có hệ thống máy tính nối mạng Internet, là việc giảng dạy ở các cấp trường học, là việc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Cần đưa báo chí, trung tâm thông tin lên mạng. Bằng cách tra cứu này, biến internet thành thứ công cụ gần gũi phổ biến cho các công ty và cá nhân.

    Cần đẩy mạnh kinh doanh thông tin trên internet nhằm lôi kéo các doanh nghiệp nối mạng. Các nội dung thông tin phải cập nhật, chính xác và bao trùm cả nước. Hoàn thiện các kỹ năng nghiệp vụ sử dụng internet.

    Phát triển internet là trước hết phải phát triển các nhà cung cấp dịch vụ internet. Bằng cách này mới mong tăng số lượng thuê bao internet.

    Các cơ quan quản lý nhà nước tích cực tham gia nối mạng để cung cấp các thông tin về chế độ chính sách, luật pháp, từ đó tạo thói quen dùng internet trong đời thường. Lựa chọn các doanh nghiệp để tham gia vào mạng.

    Khuyến khích tổ chức các hoạt động nghiên cứu sáng tạo tin học như cuộc thi “Trang Web ấn tượng năm 2000” do tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam  tổ chức.

    Chúng ta đang thiếu một nguồn  nhân lực công nghệ thông tin chuyên nghiệp. Việc sử dụng máy tính ngày càng phổ biến nhưng ít nhiều vẫn mang tính tự phát. Đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm. Chúng ta chưa có một lực lượng chuyên gia lập trình có khả năng xử lý ứng dụng hệ thống tầm cỡ quốc gia. Đây là vấn đề đặt ra cho Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường và Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

    Điều đáng nói tới là phương pháp đào tạo giáo dục. Hiện nay, nhiều sinh viên tin học tài năng lại không được hoặc không thể sử dụng trong các lĩnh vực ngân hàng. Nguyên nhân là họ không có chút kiến thức tối thiểu về ngành tài chính ngân hàng. Việc khuyến khích các sinh viên tin học tham gia sáng tạo ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng còn rất ít.

    II.        Kiến nghị giải pháp vi mô

    Sau đây là một số giải pháp từ phía các ngân hàng thương mại, bộ phận đóng vai trò chính trong việc tiến hành và phát triển ngân hàng điện tử.

    1.         Chiến lược phát triển và quản lý hệ thống khách hàng

    Dịch vụ ngân hàng tiêu dùng ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu xuất hiện. Nhìn ở tầm dân chúng rộng rãi, nhận thức và hiểu biết về ngân hàng chưa rõ ràng và đầy đủ. Về phía các ngân hàng, phần lớn các ngân hàng cho tới nay vẫn còn sao lãng việc phát triển hệ thống khách hàng cá nhân.

    Các ngân hàng thương mại quốc doanh dựa dẫm vào nhà nước mà bỏ qua sự cần thiết trong việc tìm đến với khách hàng. Còn các ngân hàng cổ phần thì còn quá nhỏ và thiếu kinh nghiệm. Trong nền kinh tế thị trường, việc xây dựng hệ thống khách hàng là vô cùng quan trọng. Khách hàng chính là sự tồn tại của doanh nghiệp. Phương thức cung cấp dịch vụ truyền thống của các ngân hàng Việt Nam không còn có đủ khả năng tồn tại trước thách thức của cơ cấu kinh tế thị trường.

    Trong xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển công nghệ thông tin cho phép các đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường không chỉ trong phạm vị một nước mà là trên toàn thế giới. Nó tạo ra cho các ngân hàng có chiến lược marketing mạnh nhiều cơ hội và thách thức những ngân hàng có quy mô khách hàng nhỏ. Hơn bao giờ hết, đẩy mạnh marketing phát triển hệ thống khách hàng là nhiệm vụ đầu tiên của các ngân hàng.

    Ngày nay, sự khác biệt của các dịch vụ tài chính giữa các ngân hàng không còn là bao. Ngân hàng nào cũng có các dịch vụ như nhau Rất khó khăn để trở nên nổi trội trên thị trường. Do vậy cần phải duy trì một mối quan hệ tốt đối với khách hàng. Duy trì chất lượng dịch vụ, xây dựng kế hoạnh giữ vững thị phần và quy mô khách hàng. Nghiên cứu tìm hiểu kể cả nhu cầu nhỏ của khách hàng nhằm mang lại cho khách hàng dịch vụ cần thiết đúng lúc. Phưong châm là “đúng người, đúng sản phẩm, đúng lúc” Một số yêu cầu cụ thể đối với ngân hàng:

    *        Hiểu khách hàng

    Xây dựng cơ sở dữ liệu về khách hàng, các sở thích, nhu cầu thiết yếu, thứ yếu. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông qua việc phát triển dịch vụ, sản phẩm và xây dựng giá cho mỗi loại khách hàng

    *        Luồng phân phối sản phẩm

    Các luồng sản phẩm  mới phải thường xuyên đuợc tung ra xen kẽ luồng sản phẩm cũ. Giúp khách hàng luôn có nhiều sự lựa chọn. Đi đôi với việc này là các chiến dịch quảng bá khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm mới. Từ đó dần thay thế sản phẩm cũ đã hết tuổi thọ trên thị truờng.

    *        Tạo ra khách hàng

    Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên marketing chuyên nghiệp, chủ động biến nhu cầu tiềm  năng của khách hành thành nhu cầu thực sự, xoá bỏ định kiến của khách hàng, tăng cuờng dịch vụ sau bán hàng để nhanh chóng lấp đầy các “khe hở” hiểu biết chưa đầy đủ về dịch vụ của khách.

    2.         Xây dựng chiến lược đầu tư thực hiện ngân hàng điện tử

    Mỗi ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược công nghệ thông tin cho ngân hàng mình nhằm thực hiện chiến lược tổng thể của ngân hàng, có tính đến nội lực. Tránh tình trạng đầu tư tràn lan, mất cân đối, thời gian hoàn thiện kéo dài. Với 15% trong số các ngân hàng thể hiện quan tâm đối với ngân hàng điện tử hiện nay thì qủa là đáng ngại. Thực tế, đầu tư cho ngân hàng điện tử yêu cầu một lượng vốn quá cao mà không phải ngân hàng nào cũng đáp ứng nổi.

    Lãnh đạo các ngân hàng phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao. Với tầm nhìn của mình, lãnh đạo ngân hàng có thể thấy một bức tranh toàn cảnh, từ đó mà cân đối giữa ngân hàng điện tử và các phần dich vụ khác.

    Các ngân hàng đã tham gia thực hiện ngân hàng điện tử cần thực hiện triệt để hệ thống ngân hàng điện tử đã xây dựng, tránh tình trạng lãng phí về người và của.

    Cuối cùng, các ngân hàng không quên phối kết với các nhà hoạch định kinh tế vĩ mô, các ngành có liên quan để có thể từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách nhất là cơ sở hạ tầng truyền thông, chi phí giao dịch điện tử.

     

    3.         Vấn đề an toàn và bảo mật

    Vấn đề an toàn và bảo mật là vấn đề quan trọng đối với ngân hàng đặc biệt là ngân hàng điện tử. Để dẫn tới thành công trong phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng mới này, điều đầu tiên là ngân hàng phải chiếm được lòng tin của khách hàng.

    *        Áp dụng các biện pháp an toàn cần thiết

    Về mặt kỹ thuật, hiện nay một số các ngân hàng các hê thống an toàn như Secure Sockets Layer (SSL) hay Secure Electronic Transaction (SET). Ngoài ra các ngân hàng cần thiết lập một chính sách quản lý rủi ro nội bộ. Cuốn “Nguyên tắc quản lý rủi ro cho các hoạt động ngân hàng điện tử” do BASEL phát hành là một tài liệu tham khảo rất tốt.

    *        Giáo dục khách hàng

    Thực tế, những sơ xuất của khách hàng do thiếu hiểu biết đã dẫn đến những rủi ro đáng tiếc. Khách hàng dường như phó mặc cho ngân hàng và không nghĩ rằng mình cũng phải có trách nhiệm tự bảo vệ.

    Ví dụ như một người để cho người thân của mình biết mã số bí mật và sử dụng thẻ tín dụng của mình một vài lần. Điều này rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa ông ta với ngân hàng. Ông ta có thể từ chối các giao dịch xảy ra tại các địa điểm mà ông ta chứng minh là mình không thể có mặt ở đó.

    Ngân hàng có thể giáo dục hoặc cảnh báo nguy cơ cho khách hàng bằng các thông báo in trên bản sao kê tài khoản, thư, đơn đăng ký dịch vụ. Và luôn nhắc nhở khách hàng tuân theo các quy dịnh đảm  bảo an toàn.

    4.         Thiết kế trang chủ và tận dụng tiến bộ của trang chủ

     

    Trang chủ, tiếng Anh là Web site có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Đối với ngân hàng thì nó là một thị trường thông tin trên mạng. Nó cho phép xúc tiến các hoạt động quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Trang chủ là cở sở của Internet-banking.

    Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần lưu tâm hơn dến vấn đề thiết kế trang chủ, sao cho dẹp mắt, hấp dẫn hơn, thông tin cập nhật, phong phú hơn nhằm thu hút chú ý của khách hàng.

    Các ngân hàng cần cân nhắc đến việc tổ chức nhiều các giao dịch thực sự trên các trang chủ hơn nhằm  chiếm lòng tin khách hàng, xoá bỏ mối e ngại ban đầu của khách hàng về Internet-banking, làm Internet-banking trở nên phổ biến.

     

     

     

     

     

     

     

    Kết luận

    Ngân hàng điện tử là một phương thức mới của các hoạt động tài chính ngân hàng. Sự ảnh hưởng lớn lao của nó không chỉ ở những gì mà người ta dễ nhận ra như tăng số lượng khách hàng và dịch vụ ngân hàng, giảm bớt chi phí, giảm bớt khâu trung gian, tào điều kiện thuận lợi cho khách hàng…mà còn ở những điều khó nhận thấy hơn như mô hình thanh toán, hiệu quả hoạt động tài chính, cấu trúc thị trường, luật pháp, chính sách,.., từ đó ảnh hưởng sâu rộng tới toàn bộ nền kinh tế xã hội của các nước và trên toàn thế giới.

    Ngân hàng điện tử là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Nó không chỉ mở ra cơ hội phát triển cho ngành tài chính ngân hàng mà còn cho  các ngành khác như công nghệ thông tin, du lịch, sản phẩm và dịch vụ tiêu dùng… Ngân hàng điện tử là một phần của thương mại điện tử và tiến trình “toàn cầu hoá”.

    Trong vòng 10 năm, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đưa ngân hàng điện tử Việt Nam  đi lên từ con số không và đạt được những thành tích đáng kể. Ngân hàng điện tử mang tính chất xúc tác thúc đẩy nhanh chóng quá trình cải tổ làm thay đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung, góp phần thực hiện các cam kết của nước ta trên lộ trình gia nhập ASEAN, AFTA, APEC và tương lai là WTO.

    Tuy còn nhiều vấn đề phải nghiên cứu và hoàn thiện trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, pháp luật và xã hội để có thể thúc đẩy ngân hàng điện tử phát triển ở Việt Nam, nhưng nhìn vào xu hướng phát triển ngân hàng điện tử trên thế giới và bước đi ban đầu của Việt Nam trong lĩnh vực này, ta có thể khẳng định rằng Việt Nam tất yếu sẽ triển khai thành công ngân hàng điện tử.

    Vì thời gian hạn chế nên bài khóa luận này không tránh khỏi có những thiếu sót về nội dung cũng như hình thức. Rất mong sự góp ý của các thầy cô để tôi có thể hoàn thiện thêm.

    Xin chân thành cảm ơn.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giới thiệu hệ thống phun xăng điện tử EFI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-v%E1%BB%81-d%E1%BB%8Bch-v%E1%BB%A5-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%91i%E1%BB%87n-t%E1%BB%AD-E-Banking.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking)

     

    Đề tài: Một số vấn đề nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng  điện tử (E-banking ) tại Techcombank ( hoặc NHTMCP Kỹ thương Việt Nam)

    Nội dung chính:

    phần 1.

    1. Một số vấn đề chung về E-banking.
    2. Đánh giá chung về E-banking trên thế giới

    phần 2.

    1. E- banking tai VN
    2. E – banking tại Techcombank
      • Techcombank với chiến lược và sản phẩm E-banking
      • Sản phẩm Home-banking của Techcombank.
      • thiets lập các điều kiện để mở rộng e – banking tại Tech

    phần 3. ưu điểm và nhược điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử tại VN

    BẢN NHÁP.

    Phần 1:

    1. Kn:

    Nghiệp vụ ( dịch vụ ) Ngân hàng điện tử được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây… Hiện nay, dịch vụ  ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này.

    2 . Mục đích / lợi ích

    -Hướng đến người tiêu dùng

    -Tiết kiệm chi phí đầu tư và vận hành

    -Xây dựng hệ thống có thể tạo ra các sản phẩm mới 1 cách dễ dàng

    -Xây dựng hệ thống có thể đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau của khách hàng

    -Tích hợp với các kênh phân phối sẵn có

    -Hoạt động liên tục 365 X 24.

    1. Các hình thức của dịch vụ ngân hàng điện tử.

    Ngân hàng điện tử được định nghĩa như là một phương thức cung cấp các sản phẩm mới và sản phẩm truyền thống đến người  tiêu dùng thông qua con đường điện tử và các kênh truyền thông tương tác

    Dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) gồm:

    • Internet banking (or online banking)
    • Telephone banking
    • TV-based banking
    • Mobile phone banking
    • PC banking (or offline banking)
    • ATM (Automated Teller Machine) channel

    4 . Đánh giá chung v ề E-banking tại 1 số nước trên thế giới

    4.1. Tại Philippines.

    Một quan chức cao cấp của Ngân hàng United Coconut Planters Bank (UCPB) ở Philippines cho biết giá trị và số lượng các giao dịch ngân hàng điện tử (e-banking) ở nước này đã gia tăng đều đặn trong vòng ba năm qua, mặc dù vẫn còn nhiều quan ngại về vấn đề an ninh và truy cập của phương thức giao dịch này.

    Về phía các ngân hàng, e-banking mang lại cho họ hiệu quả phục vụ cao hơn và tăng trưởng mạnh hơn nhờ giảm được chi phí thông tin và chi phí giao dịch.

    Phó tổng giám đốc UCPB Margarita Lopez nhận định sự tăng trưởng này chứng tỏ khách hàng ngày càng chấp nhận e-banking như là một kênh giao dịch an toàn, đáng tin cậy và tiện lợi.

    Theo số liệu thống kê của Ngân hàng trung ương Bangko Sentral ng Pilipinas (BSP), trong quý đầu năm 2004, đã có 42 ngân hàng sử dụng hệ thống e-banking, tăng 40% so với năm trước. Trong số này có 27 ngân hàng cung cấp các dịch vụ qua Internet, bao gồm 24 ngân hàng thương mại và quốc tế và ba ngân hàng tiết kiệm.

    Tổng giá trị giao dịch qua e-banking trong chín tháng đầu năm 2004 tăng 66% so với năm 2003, đạt 5,32 tỷ peso (khoảng 95 triệu đô la Mỹ).

    Telebanking, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại của UCPB, đã đạt mức kỷ lục trong chín tháng đầu năm 2004 với 1,1 triệu giao dịch trị giá hơn 73 triệu đô la Mỹ.

    Tương tự, điện thoại di động cũng đang trở thành một công cụ chi trả cạnh tranh với thẻ tín dụng và thẻ rút tiền. Những cuộc điều tra gần đây của Hãng ACNielsen cũng cho thấy rằng, trong số một triệu người sử dụng Internet thường xuyên tại Philippines, có 23% hiện đang thực hiện các giao dịch ngân hàng qua e-banking.

    Giám đốc thông tin Elena “Bing” Van Tooren của ACNielsen ở Philippines nói : “Một khi người ta cảm thấy thuận lợi trong giao dịch ngân hàng trực tuyến, các hoạt động Internet khác như mua hàng trên mạng sẽ mau chóng phát triển

    4.2. Tại Mỹ

     

    Theo một nghiên cứu của Stegman chi phí trung bình cho việc thực hiện một giao dịch ngân hàng bất kỳ theo kênh truyền thống qua quầy giao dịch tại Mỹ là 1.07 USD.  Với việc áp dụng công nghệ, chi phí của một giao dịch tương tự thực hiện qua các kênh ngân hàng tự động động khác nhau lần lượt là: 0.04 USD đối với một giao dịch thực hiện qua trung tâm liên lạc khách hàng (call/contact center); 0.27 USD qua ATM; và 0.01 USD thông qua dịch vụ Internet Banking thực hiện trên một máy tính cá nhân bình thường. Điều này hiển nhiên chứng tỏ rằng các giao dịch dựa trên công nghệ Internet đã trở nên kinh tế và hiệu quả cho ngành ngân hàng Mỹ trong việc giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cho các khách hàng hiện tại và tiềm năng của ngân hàng ở phạm vi toàn cầu.

    • Internet Banking tại Anh và các nước châu Âu khác

    Phần lớn khách hàng tại Anh và châu Âu sử dụng Internet Banking để xem số dư tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, kiểm tra giao dịch hàng ngày, đối chiếu số dư. Sử dụng dịch vụ Internet Banking giúp các ngân hàng giảm chi phí hoạt động và thời gian làm việc của nhân viên tại các trung tâm liên lạc khách hàng (call center), các chi nhánh để trả lời khách hàng và thực hiện các giao dịch lặp đi lặp lại. Khách hàng cũng được hưởng lợi nhờ dịch vụ nhanh, chính xác, đảm bảo sự riêng tư, tiết kiệm thời gian đi lại…

     

    4.4. Internet Banking tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

    Tại khu vực này, Internet Banking đã được triển khai tại nhiều nước như Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và Thái Lan. Tại Trung Quốc, Ngân hàng Trung Ương đã khuyến khích các dịch vụ Internet Banking từ năm 2000. Tại Hong Kong, ngân hàng HSBC bắt đầu cung cấp dịch vụ Internet Banking vào 1/8/2000. Với dịch vụ Internet Banking của HSBC, khách hàng có thể gửi tiết kiệm, đầu tư chứng khoán, thanh toán hoá đơn dịch vụ và giao dịch ngoại hối. Tại Singapore, dịch vụ Internet Banking đầu tiên đã xuất hiện từ năm 1997. Hiện tại các ngân hàng lớn tại Singapore đều cung cấp dịch vụ này như Oversea Union Bank (OUB), DBS Bank, Citibank, Hong Kong’s Bank of East Asia, Oversea-Chinese Banking Corp. (OCBC). Tại Thái Lan, dịch vụ Internet Banking được cung cấp từ năm 1995. Đặc biệt sau cuộc khủng khoảng tài chính năm 1997, các ngân hàng Thái chịu sức ép phải cắt giảm chi phí đã chuyển hướng sang đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ Internet Banking, coi đây là một giải pháp để giảm chi phí nhân công và tăng độ thoả mãn của khách hàng.

    E-Banking toàn cầu – Xu thế hiện nay

     

    • Xu thế chung trong ngành ngân hàng là sự hội tụ về mọi mặt, bao gồm: kênh phân phối, văn hoá bán hàng, các quy trình Back-office và cơ sở hạ tầng quản lý tri thức đều được tích hợp thông qua môi trường điện tử.
    • Sự tích hợp thành công giúp ngân hàng phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm liền mạch trong suốt đối với khách hàng.
    • Ngân hàng dịch chuyển sự tập trung: từ chú trọng sản phẩm thành chú trọng khách hàng.
    • Kết nối khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức tài chính kích thích/ thúc đẩy sự tin cậy của khách hàng, và đóng vai trò trung gian đảm bảo nhà cung cấp được thanh toán đầy đủ và khách hàng thoả mãn với dịch vụ.

    Kết quả cuối cùng: Phát triển, duy trì khách hàng với quy mô lớn, tiết kiệm chi phí và gia tăng lợi nhuận

    Phần 2.

    1. E-Banking tại VN.

    1.1. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, ngân hàng điện tử tại Việt Nam cũng đã có được những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, do tính chất còn quá mới mẻ và do khách hàng cũng chưa thực sự quan tâm lắm tới những dịch vụ này, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam vẫn đang thận trọng và dè dặt khi tung ra những sản phẩm dịch vụ mới. Cụ thể, đối với dịch vụ PC-banking, trên thị trường mới chỉ có vài ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ ngân hàng tại nhà “home-banking” (Vietcombank, Incombank, ACB, Eximbank …) và 2 ngân hàng nước ngoài là ANZ và Citibank cung cấp. Dịch vụ Phone-banking, có các ngân hàng cung cấp là VCB, ACB, Techcombank, HSBC, ANZ và Citibank… Dịch vụ Mobile-banking thì có ngân hàng Incombank, ACB và Techcombank…, ngoài ra, các ngân hàng khác chỉ mới dừng lại ở việc thiết lập các trang web chủ yếu để giới thiệu ngân hàng và cung cấp thông tin dịch vụ. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và PTNTVN đang triển khai thử nghiệm dự án E-banking.

     

    -Các ngân hàng áp dụng dịch vụ cơ bản của ngân hàng điện tử (Truy vấn) :  TECHCOMBANK, VCB, và một số ngân hàng khác

    -Các kênh giao dịch phi truyền thông như ATM, POS cũng được các ngân hàng đầu tư và khách hàng sử dụng ngày càng phổ biến

    -Một số ngân hàng NN tại việt Nam cung cấp dịch vụ NHĐT thực thụ: Citibanking (Citibank), Hexagon (HSBC), DB-Direct (Deutsch Bank), ANZ-link (ANZ bank). Tuy nhiên mới dừng lại ở việc cung cấp cho KH là doanh nghiệp

    -Techcombank là ngân hàng TMCP đầu tiên được NHNN cấp phép cho cung cấp dịch vụ E-banking thực thụ theo các tiêu chuẩn quốc tế ra thị trường và đặc biệt là khách hàng bán lẻ.

    1.2.  E-Banking tại Việt Nam-Cơ sở pháp lý  và kỹ thuật

     

    Việc cung cấp các dịch vụ giao dịch điện tử trong đó có Internet Banking được thực hiện trên cơ sở Luật Giao dịch Điện tử của Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 51/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005. Đây là cơ sở pháp lý mới nhất để thực hiện các giao dịch điện tử. Luật này đã được hướng dẫn cụ thể bằng nghị định của Chính phủ số 57/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2006 về Thương mại Điện tử.

    Một số văn bản luật khác như:

    -Quyết định số 04/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy chế an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng.

    -Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN ban hành Quy định về các nguyên tắc  quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử.

    -Quyết định số 376/2003/QĐ-NHNN Quy định về bảo quản, lưu trữ chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.

    -Quyết định của 308-QĐ/NH2 ban hành Quy chế về lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý, bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử của các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng.

    -Hệ thống thanh toán điện tử bắt đầu có sự tham gia của hệ thống SWIFT (Tháng 3 năm 1995)

    -Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (T5/2002) cho phép phát triển ngân hàng bán lẻ và bán buôn

    1. Techcombank với dịch vụ E-banking.
    • Mục tiêu.

    -Trở thành Ngân hàng hàng đầu VN trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử và thương mại điện tử

    -Chiến lược ngân hàng điện tử được phát triển thông qua chiến lược kênh phân phối điện tử nhằm thu hút và duy trì số lượng khách hàng có hiểu biết ngày càng tăng thông qua việc cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng, thân thiện dễ sử dụng tiết kiệm thời gian và chi phí.

    -Định hướng các kênh phân phối điện tử sẽ mang đến các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng ngay được nhu cầu khách hàng ngay từ sự tiếp cận ban đầu.

    -Duy trì và phát triển các kênh phân phối điện tử đảm bảo không còn là dịch vụ không sinh lời.

    -Tích hợp và hỗ trợ các hoạt động ngân hàng truyền thống.

    -Tập trung vào khách hàng nội địa với sự thu hút trên phạm vi rộng

    -Chuyển hướng từ định hướng sản phẩm sang định hướng khách hàng.

    -Đầu tư theo lộ trình từng bước thích hợp vào hệ thống ngân hàng điện tử tích hợp hoàn chỉnh và có tính tiêu chuẩn quốc tế.

    -Quảng bá và truyền thông các kênh phân phối điện tử thông qua hợp tác với một số các cung cấp dịch vụ, các hãng bán lẻ , bán buôn lớn có uy tín trên thị trường.

    -Hợp tác, liên kết với các tổ chức: bán chéo sản phẩm, tăng độ tin cậy và lòng tin của ngân hàng đối với khách hàng

    • Các sản phẩm:

    Sản phẩm Home Banking, F@st I-Bank, F@st MobiPay

    E-Banking cho khách hàng cá nhân

    -Quản lý tài khoản

    -Thanh toán hoá đơn

    -Mở tài khoản mới

    -Chuyển tiền điện tử

    -Dịch vụ đầu tư, môi giới

    -Xin cấp/phê duyệt khoản vay

    -Quản lý tổng hợp tình trạng tài chính cá nhân

    -Khả năng tự thiết kế theo nhu cầu

    -Môi trường sử dụng: Internet, Mobile, Phone, Email

    Sản phẩm TeleB@nk, F@st I-Bank

    E-Banking cho doanh nghiệp

     

    Quản lý tài khoản

    Quản lý quỹ tiền mặt

    Hồ sơ xin vay, phê duyệt, ứng trước cho doanh nghiệp quy mô nhỏ

    Chuyển tiền điện tử.

    Các dịch vụ thanh toán quốc tế

    Thanh toán giữa các doanh nghiệp

    Quản trị thu nhập/ lương hưu nhân viên

    Khả năng tự thiết kế theo nhu cầu

    Môi trường sử dụng: Internet, PC

    Sản phẩm F@st PayGate, F@st MobiPay

    Giải pháp, dịch vụ cổng thanh toán điện tử cho nhà cung ứng dịch vụ và bán hàng 

     

    -Cổng thanh toán điện tử PayGate là giải pháp và dịch vụ thanh toán bảo mật cao được cung cấp cho các tổ chức bán hàng hoá dịch vụ (Merchant) để giúp cho người mua hàng có thể thanh toán cho người bán hàng nhằm hoàn tất một giao dịch mua bán và giao nhận hàng hoá dịch vụ thông qua môi trường thương mại điện tử E-commerce.

    – Dịch vụ tích hợp, đa dạng: Đa kênh thanh toán, Đa tiền tệ, Đa ngôn ngữ, Đa kênh giao tiếp…

    -Chấp nhận các loại tài khoản, thẻ quốc tế phổ biến

    +VISA/MasterCard (bao gồm cả thể Credit & Debit)

    + Amex, JCB, Diner Club, CUP, Domestic Debit

    -Môi trường sử dụng: Internet, Mobile

    2.3. Sản phẩm Home-banking của Techcombank.

    • Tính năng và lợi ích:

    – Dù ở bất kỳ đâu, Quý khách cũng có thể cập nhật thông tin về tài khoản ngay khi có giao dịch mới phát sinh thông qua các phương tiện truy vấn: thư điện tử, điện thoại di động hay điện thoại cố định.
    – Ngoài các thông tin do Ngân hàng cung cấp tự động cho khách hàng qua tin nhắn di động và e-mail, Quý khách có thể chủ động cập nhật các thông tin Ngân hàng về lãi suất, tỷ giá …nhanh chóng, chính xác bằng cách nhắn tin hoặc gọi điện thoại đến số 19001590.
    – Các thông tin cung cấp qua HomeBanking có độ chính xác, an toàn, bảo mật cao.
    – Với bất kỳ loại tài khoản nào (tài khoản cá nhân, tài khoản tiết kiệm…) mở tại Techcombank, Quý khách cũng có thể đăng ký sử dụng dịch vụ Homebanking để truy vấn các giao dịch và số dư tài khoản.

    2.3.2. Các dịch vụ của Techcombank Homebanking

    – Techcombank Mail Access
    Chỉ cần có địa chỉ e-mail và đăng ký sử dụng dịch vụ với Ngân hàng. Qúy khách sẽ nhận được thông tin về tài khoản của mình qua e-mail mỗi khi tài khoản của Quý khách phát sinh giao dịch.
    – Techcombank Mobile Access
    Hệ thống cung cấp thông tin số dư và giao dịch của tài khoản khách hàng (hai chiều: tự động hoặc theo yêu cầu) vào điện thoại di động của Quý khách bằng tin nhắn SMS.
    Tự động: Khi tài khoản của Quý khách phát sinh giao dịch, hệ thống sẽ tự động gửi tin nhắn về giao dịch phát sinh và số dư hiện tại vào điện thoại di động của Quý khách.
    Theo yêu cầu: Quý khách cũng có thể chủ động gửi tin nhắn SMS tới hệ thống Techcombank để được nhận tin nhắn phản hồi về số dư tài khoản của mình, tỷ giá, lãi suất…
    – Techcombank Voice Access (gọi tắt là Vocaly)
    Mọi thông tin về số dư và hai giao dịch tài khoản gần nhất của Quý khách, thông tin về tỷ giá, lãi suất …sẽ được cung cấp qua Tổng đài tự động khi bạn quay số 19001590.

    2.3.3. Điều kiện sử dụng dịch vụ:

    *  Techcombank Mail Access:
    – Có địa chỉ email.
    – Đăng ký sử dụng vụ Techcombank Mail Access.
    *  Techcombank Mobile Access:
    – Có điện thoại di động.
    – Đăng ký sử dụng dịch vụ Techcombank Mobile Access.
    *  Techcombank Voice Access:
    – Có điện thoại cố định.
    – Đăng ký sử dụng dịch vụ Voice Access.

    2.3.4. Thẻ FastAccess.

    FastAccess cho phép thanh toán và rút tiền, chi vượt số tiền trong tài khoản thẻ, đăng ký tự động chuyển một số tiền nhất định trên tài khoản thẻ vào tài khoản tiết kiệm, truy vấn thông tin tài khoản… FastAccess-i là thẻ ghi nợ nội địa phát hành ngay, khách hàng nhận thẻ ngay khi đăng ký. Dịch vụ trả lương qua tài khoản cho phép các doanh nghiệp trả lương cho cán bộ, nhân viên có tài khoản tại Techcombank. Gói dịch vụ ngân hàng toàn diện của Techcombank còn có module “Nhà mới & ô tô xịn” giúp khách hàng mua nhà và ô tô trong lúc chưa đủ tiền chi cho việc đó.

    Khi có giao dịch bằng thẻ FastAccess khách hàng sẽ nhận đc thông báo của ngân hàng qua email, điện thoại:

    Ví dụ qua email:

    THÔNG BÁO GIAO DỊCH QUA TÀI KHOẢN

    Kính gửi ông/bà:            TRINH THI LUYEN

    Số tài khoản:                  10821026004014

    Loại tiền:                        VIETNAM DONG

    Chúng tôi xin trân trọng thông báo tới ông/bà số dư tài khoản hiện thời và các giao dịch phát sinh đến ngày 20/02/2009:

    Ngày

     

    giao dịch

    Phát sinh nợ (VIETNAM DONG) Phát sinh có (VIETNAM DONG) Diễn giải
    20/02/2009 50,000.00   Muc dich
    20/02/2009 50,000.00   Aa
    Tổng cộng 100,000.00    

       Số dư cuối kỳ (20h30′ ngày 20/02/2009):   160,154.00   VIETNAM DONG

    Xin cám ơn Quý khách đã sử dụng dịch vụ !

     – Sáng tạo giá trị, Chia sẻ thành công !

     

    • Thiết lập các điều kiện để mở rộng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Techcombank.

     

    • Tăng cường sự thuận tiện: cần mở rộng liên kết để có sự tương thích về công nghệ để gia tăng yếu tố thuận tiện cho khách hàng; chuyển giao công nghệ bắt kịp với hệ thống e-banking trên thế giới; xây dựng hệ thống dự phòng, nâng cao hiệu suất khai thác công nghệ. Đồng thời có biện pháp bảo mật, dự phòng, kiện toàn cơ sở hạ tầng, kiểm soát hội nhập.
    • Cần có hỗ trợ từ phía chính phủ và các tổ chức liên quan nhằm khuyến khích người dân học tin học, ngoại ngữ…; tổ chức diễn đàn, hội thảo, báo chí… tăng nhận thức của người dân về tiện ích của dịch vụ ngân hàng điện tử.
    • Chính phủ cũng cần hỗ trợ trong hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng trung tâm quản lý dữ liệu trung ương…
    • Lập giao diện tiếng Việt, bộ phận tư vấn hỗ trợ cho người sử dụng cảm thấy thuận tiện và thân thiện giữ vai trò hết sức quan trọng.
    • Đẩy mạnh marketing về ngân hàng điện tử, đào tạo nhân viên chuyên nghiệp, nghiên cứu phát triển trung tâm khách hàng.
    • Tạo nhu cầu thanh toán điện tử, tin học hóa các tổ chức, nâng cao tốc độ đường truyền internet, giảm thiểu các cước phí…

     

     

    Phần 3: Ưu điểm và nhược điểm của e-banking tại VN.

     

    1. Ưu điểm :- Về phía khách hàng: Ưu điểm lớn nhất của dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng chính là sự tiện nghi và luôn sẵn sàng của dịch vụ ngân hàng. Bây giờ, khách hàng chỉ cần gửi một tin nhắn lúc nửa đêm thay vì phải xin phép sếp ra ngoài trong giờ làm việc chỉ để đóng tiền điện thoại cho vợ là một ưu thế rõ rệt nhất của ngân hàng điện tử. Khách hàng có thể tiếp cận với ngân hàng điện tử mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó, dịch vụ ngân hàng điện tử với công nghệ hiện đại đã tiết kiệm được thời gian và giảm chi phí dịch vụ cho khách hàng. Ngoài ra, khách hàng được ngân hàng phục vụ tận nơi với những thông tin nóng hổi nhất như biến động tỷ giá, tra cứu thông tin tài chính của đối tác … Và hơn nữa, với những tiêu chuẩn chuẩn hoá, khách hàng được phục vụ tận tuỵ và chính xác thay vì phải tuỳ thuộc vào thái độ phục vụ khác nhau của các nhân viên ngân hàng.- Về phía ngân hàng : Các giao dịch ngân hàng được tự động hoá không chỉ mang lại lợi ích cho khách hàng mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho ngân hàng. Thông qua những dịch vụ mới, những kênh phân phối mới, ngân hàng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, phát triển thị phần, giảm chi phí, thu hút nguồn vốn huy động từ tiền gởi thanh toán của khách hàng, tăng thêm lợi nhuận … bên cạnh đó, ứng dụng và phát triển những công nghệ ngân hàng hiện đại cũng giúp cho các ngân hàng luôn tự đổi mới, hoà nhập và phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng tới thị trường nước ngoài.

      2. Nhược điểm :

      Tại Việt Nam, tiến trình phát triển ngân hàng điện tử đã đạt được những thành công nhất định, tuy nhiên bên cạnh đó còn có những hạn chế như:

      – Chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử còn chưa thoả mãn khách hàng ở những cấp độ cao hơn như việc gửi tiền mặt vào tài khoản, việc đăng ký sử dụng dịch vụ… còn phải tới trực tiếp giao dịch tại chi nhánh ngân hàng, hoặc các dịch vụ ngân hàng điện tử chất lượng cao hơn còn chưa được phát triển như dịch vụ quản lý quỹ đầu tư, dịch vụ địa ốc, cho thuê tài chính…

      – Cơ sở hạ tầng còn yếu kém như chất lượng mạng, tốc độ đường truyền, lỗi kỹ thuật hoặc thiết bị đầu cuối không đảm bảo chất lượng dẫn tới chất lượng dịch vụ chưa cao. Bên cạnh đó, các hệ thống ngân hàng điện tử của các ngân hàng còn phát triển tương đối độc lập, chưa có sự phối hợp, liên thông cần thiết nhằm phát huy cao nhất hiệu quả của dịch vụ mới này.

      – Giao dịch ngân hàng điện tử còn phụ thuộc nhiều vào chứng từ lưu trữ truyền thống, chưa thể điện tử hoá mọi chứng từ giao dịch. Ngoài ra, việc sử dụng chữ ký điện tử, chứng nhận điện tử chưa được phổ biến rộng rãi và chưa thể hiện được ưu thế so với chữ ký thông thường.

      – Bên cạnh đó, những rủi ro mới như hacker (tin tặc), virus máy tính có thể có những tác hại rất lớn không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với khách hàng, gây mất lòng tin của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng.

      – Một lý do quan trọng nữa đó là quy mô và chất lượng của TMĐT còn rất thấp và phát triển chậm, cần có một hệ thống TMĐT đủ mạnh để cung cấp tất cả hàng hoá dịch vụ trên mạng, tạo tiền đề cho dịch vụ ngân hàng điện tử phát triển.

      Trong tương lai, với trình độ và tốc độ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng như hiện nay, các ngân hàng Việt Nam đang nỗ lực ứng dụng công nghệ mới, phát triển dịch vụ mới để tăng sức cạnh tranh, nhanh chóng hoà nhập với khu vực và thế giới. Từ những webpage giới thiệu dịch vụ ngân hàng (Giai đoạn Brochure-ware), tới website cung cấp dịch vụ ngân hàng (Giai đoạn E-commerce), các ngân hàng Việt Nam đang hướng tới việc cung cấp những dịch vụ ở cấp độ cao hơn, tăng sự chia sẻ thông tin giữa các ngân hàng, đối tác (Giai đoạn E-business) và tiến tới xây dựng mô hình ngân hàng điện tử (E-bank hay E-enterprise) thực sự , tận dụng được sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu và cá nhân hoá dịch vụ ngân hàng cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án Phân tích hoạt động kinh doanh ngân hàng Eximbank


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Lãi suất là một trong những vấn đề hết sức phức tạp, nó vừa là công cụ hết sức quan trọng và nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ,vừa là giá cả sử dụng vốn của hoạt động tín dụng. Vì vậy, nó có tác động to lớn đối với việc tăng hay giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng.Vai trò của lãi suất ngày càng trở nên quan trọng trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường,đặc biệt trong giai đoạn đất nước tiến hành công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Đối với Việt Nam,lãi suất luôn luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia kinh tế,các nhà quản lý kinh tế và các tầng lớp dân cư.trên cơ sở những kiến thức đã học và những tài liệu thu thập được cũng như những hiểu biết thực tế cuả mình,em chọn nghiên cứu đè tài: “Lãi suất tín dụng và sự điều hành lãi suất tín dụng của Ngân hàng Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”.

    Do hiểu biết còn hạn hẹp,chắc rằng bài viết của em không tránh khỏi những khiếm khuyết.

    Em rất mong được sự góp ý phê bình của thầy cô.Em xin chân thành cảm ơn.

    1

    I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT

     1.Nguồn gốc và bản chất của lợi tức

    Những người có vốn tiền tệ nhàn rỗi nhưng chưa có nhu cầu tiêu dùng ,đầu tư thì họ có thể cho người khác vay sử dụng số vốn này.tất nhiên họ vẫn là người sở hữu số vốn này.Những ngườiđi vay sau khi chấp nhận một cơ chế nào đó của người cho vay đặt ra,thì họ đợc vay vốn. người đi vay có toàn quyền sử dụng số vốn này trong thời gian đã thoả thuận.tuy nhiên họ không phải là người sở hữu số vốn trên.Như vậy, trong quan hệ tín dụng,quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã tách rời với nhau.Do đó để đảm bảo an toàn vốn của mình,người cho vay phải “ràng buộc” người đi vay bằng những cơ chế tín dụng hết sức nghiêm ngặt.

    Người đi vay sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh-sản suất,lợi nhuận được tạo ra trong quá trình nàytất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đánggiữa ngươì đi vay và người cho vay,tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản suất kinh doanh.Phần lợi nhuận dành cho người cho vay được gọi là lợi tức.

    Như vậy về bản chất ,lợi tức làmột phần của lợi nhuận được tạo ra trong quá trình sản suất mà người đi vay phải nhượng lại cho người cho vay theo tỷ lệ vốn đã được sử dụng.

    Về số lượng lợi tức được xem xét từ hai phía

    • Về phía người đi vay ,lợi tức là số tiền ngoài phàn vốn,mà người đi vay phải trả cho người cho vay sau một thời gian sử dụng tiền vay
    • Về phía người cho vay,lợi tức là khoản chênh lệch tăng thêm giữa số tiền thu về và số tiền phát ra ban đầu,mà người sở hữu vốn thu được sau một thời gian cho vay nhất định.

    2

    Nếu vốn được coi như là một loại hàng hoá,có thể mua bán trên thị trường vốn,thì lợi tức chính là giá cả đượchình thành trong quá trình mua bán vốn trên thị trường.giá cả này cũng lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn,nhưng khác với giá cả của các loại hàng hoá thông thường :phản ánh và xoay xung quanh giá trị của chúng.Giá cả của vốn hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn.Nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá trị của vốn.Chính vì thếgiá cả của vốn được coi là một loại giá cả đậc biệt

    Trên thực tế,nếu chỉ xem xétvề số lượng,thì lợi tức chưa phản ánh đượchiệu quả của số vốn cho vayphát ra.Vì vậy,trong kinh doanh tiền tệ,lơi tức luôn luôn được so sánh với số vốn cho vay để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn cho vay trên thị trường.chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng.

    2.Khái niệm về lãi suất tín dụng

    Một trong những đặc trưng của tín dụng là sau một thời gian nhất định người sử dụng phải hoàn trả cho người chuyển nhượng một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. phàn giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng.Lợi tức tín dụng chính là phần người đi vay phải trả cho người cho vay.Lợi tức tín dụng được coi như là một hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay,vì nó phải trả cho giá trị sử dụng của vốn vay(đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng).Lợi tức tín dụng cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá cả hàng hoá thông thường. Nhưng lợi tức tín dụngchỉ là hình thái bí ẩn của giá cả vốnvay mà theo mức đó là hình thái giá cả phi lý,vì nó chỉ phải trả cho giá trị sử dụng mà không phải là quyền sở hữu cũng không phỉ quyền sử dụng vĩnh viễnmà chỉ là trong một thời gian nhất định hơn nữa lợi tức tín dụng cũng không phải là biểu hiện bằng tiền của giá trị

    3

    vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường mà nó độc lập tương đối hay nhỏ hơnnhiều so với giá trị vốn vay. Lợi tức tín dụng là số tuyệt đối nên để biểu hiện một cách tổng quát về lợi tức tín dụng người ta sử dụng chỉ tiêu tương đối là lãi suất tín dụng .

    Lãi suất tín dụng là tỷ lệ %giữa số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay (lợi tức) trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định sử dụng số tiền vay đó.Lãi suất tín dụng có thể được tính theo tháng hoặc năm ( ở việt năm thường công bố theo tháng còn hầu hết các nước công bố theo năm)

    Tuỳ theo từng hình thức tín dụng mà người ta phân biệt lãi suất tín dụng thành các loại khác nhau với những qui địng cụ thể khác nhau.

    Lãi suất tín dụng thương mại tính trên cơ sở giá giữa việc trả tiền ngay với việc kéo dài thời gian trả tiền. người ta thông báo cho người mua biết có thể mua chịu hoặc trả tiền ngay và néu trả tiền ngay có thể giảm giá 2%.

    Lãi suất tín dụng nhà nước chính là lãi suất các trái phiếu,tín phiếu theo công bố khi nhà nước phát hành trái phiếu tín phiếu.lãi suất này có thể cố định trong suốt thời gian vay.

    Ví dụ: loại tín phiếu có thời hạn 3 năm lãi suất 6% thì trong suốt thời hạn 3 nămngười mua tín phiếu đực hưởng lãi suất 6%/năm.lãi suất cũng có thể biến đổi.ví dụ cũng loại tín phiếu 3 năm năm đàu công bố hay ghi trên mặt phiếu còn năm thứ 2 năm thứ 3 sẽ đièu chỉnh theo tình hình cụ thể của những năm đó (có thể lên hoặc xuống theo thị trường).

    Trong thực tế lãi suất được quan niệm thống nhất là :”Lãi suất tín dụng là tỷ lệ phần trăm so sánh giữa số lợi tức thu được với số tiền bỏ ra cho vay trong một thời kỳ nhất định”.

    số lợi tức thu được trong kỳ

    4

    Lãi suất tín dụng = ——————————–  × 100 (%)
    số tiền vay phát ra trong kỳ

    Trong đó lợi tức tín dụng là số tiền người đi vay phải trả cho người cho vayngoài phần vốn gốc sau một thời gian sử dụng tiền vay,hay nói cách khácđó chính là phần giá trị tăng thêm so với phần vốn gốc mà người cho vay thu được sau một thời gian nhất định.

    Lãi suất tín dụng là một chỉ tiêu đặc biệt đánh giá mức độ lợi tức coa hay thấp khác nhau.

    3.Nguyên tắc xác định lãi suất

    Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường:

    3.1.Căn cứ vào quan hệ cung-cầu tiền vay:

    • Cung tiền vay chịu tác động của các yếu tố:
    • Mức thu nhập:sự gia tăng thu nhập trong nền kinh tế sẽ làm tăng các khoản tiền dư thừa ngoài chi tiêu dẫn đến sự tăng lêncủa cung tiền vay qua đó kéo lãi suất hạ xuống.
    • Mức lạm phát: sự gia tăng lạm phát làm cho giá trị thực tế của các khoản tiền giảm xuống làm cho giá trị các khoản tiền thu về khi cho vay giảm,cung tiền giảm , đảy lãi suất tăng lên.
    • Mức rủi ro của việc cho vay: khi mức rủi ro trong cho vay tăng lên,làm giảm bớt việc cho vay,cung về tiền vay giảm đẩy lãi suất lên cao.
    • Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
    • Mức lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư: Khi mức lợi tức này tăng làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư,cầu tiền vay tăng đẩy lãi lên suất lên cao.

    5

    +Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc sử dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.

    +Mức bội chi ngân sách nhà nước: ngân sách nhà nước bội chi làm tăng cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.

    Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngược lại.Khi cung tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.

    3.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:

    Lãi suất                               Lãi suất                        Lãi suất

    tín dụng          <                 tín dụng    <              tín dụng

    ngắn hạn                            trung hạn                      dài hạn

    3.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương:

    Tỷ lệ                                                                Lãi suất                                                           Lãi suất

    Tỷ suất

    lạm phát         <                         huy động                    <                cho vay                               ≤

    lợi nhuận  bình quân                                     vốn bình quân                         bình quân

    bình quân.

    4.Các loại lãi suất tín dụng:

    Trên thị trường vốn ở các nước ,thông thường có các loại lãi suất sau đây:

    4.1. Lãi suất cơ bản:Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.

    4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi suất nào đó,mà NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do các NHTM qui định trong hệ thống của nó,nhằm thống nhất các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.

    6

    4.3. Lãi suất tái chiết khấu:là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành cho các NHTM,trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá.Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.

    4.4.Lãi suất tái cấp vốn: Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.

    4.5.Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất mà người cho vay được hưởng,không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ

    4.6.Lãi suất thực:Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ ,như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ.

    4.7. Lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng:là lãi suất mua bán vốn giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.

    Các loại lãi suất tín dụng được hình thành một cách đa dạng trong nền kinh tế thị trường.Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống chế.Xu hướng chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản.Hiện nay,ở các nước chậm phát triển lãi suất tín dụng còn cao.Còn

    • các nước có nền kinh tế phát triển lãi suất thường hạ.Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa các quốc gia,cho nên mặt bằng lãi suất có cơ hội được thiết lập giữa nhiều nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới.

    7

    5.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng:

    5.1.Cung và cầu về tiền vay

    Như phần trên đã đè cập,cung-cầu tiền vay có ảnh hưởng đến sự biến động lãi suất

    5.2.Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:

    Khi mức độ rủi ro càng cao thì người ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngược lại.do vậy,tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.

    5.3.Số lượng vay và thời hạn vay:

    Thông thường số lượng lớn và thời hạn vay dài sẽ được tính lãi suất cao hơn số lượng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thường cao hơn.

    5.4.Mức sinh lời của nền kinh tế:

    Mức lãi suất cho vay chỉ được chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của nền kinh tế đẻ đảm bảo cho người vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá trình sản suất kinh doanh.Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngược lại.

    5.5 Thu – chi ngân sách:

    Khi ngân sách nhà nước bội chi,chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát hành và bán tín phiếu,trái phiếu chính phủ,làm tăng nhu cầu vay tiền và tăng lãi suất.

    Ngược lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm cho lãi suất giảm.

    5.6.Chi phí hoạt động ngân hàng:

    Vì lãi suất cho vay = lãi suất huy động + chi phí hoạt động ngân hàng. Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí hoạt động giảm sẽ làm lãi suất giảm.

    8

    Như vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải ,thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì các ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng như thu hẹp các bộ phận cán bộ dư thừa hay cán bộ kém năng lực,tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay.

    5.7.Lạm phát:

    Khi lạm phát cao thì người cho vay sẽ không muốn cho vay,cung tiền vay giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay giảm đi) đẩy lãi suất tăng cao.

    Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây dựng một chính sách lãi suất hợp lý,các nhà quản lý,các cơ quan chức năng có liên quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có những quyết định đúng đắn đem lại lợi ích cho người đi vay cũng như đảm bảo quyền lợi của người cho vay, bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các NHTM ,tổ chức tín dụng kinh doanh có lãi và cao hơn nữa là ổn định giá trị đồng tiền,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

    6.Ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường

    Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường .Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói chung .tác dụng của lãi suất được thể hiện ở những nội dung sau đây:

    6.1.Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:

    Tăng hay giảm lãi suất cho vay,sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống hay tăng lên.Như vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất.Tình trạng này sẽ dẫn đến số lượng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm xuống.Điều đó có nghĩa rằng,lãi suất tín dụng đã có

    9

    ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội

    Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi,đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng ngoại tệ đi vào trong nước

    .do đó sẽ ảnh hưởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ.

    Như vậy,có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ

    mô.

    6.2.Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.

    Trong nền kinh tế,thường xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lường trước được. khi xảy ra những hiện tượng như vậy chính phủ thường sử dụng nhữnh công cụ kinh tế trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho kinh tế khu vực,ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển .Chẳng hạn,trong điều kiện lạm phát,chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lưu thông về, hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực

    • để điều hoà lưu thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lưu thông hàng hoá phát triển.

    Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải được xử lý kịp thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông tin kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực hiện chính sách lãi suất.

    6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

     

    10

    Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lượng nguồn vốn huy động đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay . Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lượng tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của ngaan hàng ra thị trường. Để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thương mại đều có chiến lược khách hàng của mình.Chiến lược này được thực hiện bằng lãi suất ưu đãi. Muốn vậy các ngân hàng thương mại đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    6.4.Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đưa ra một phương trình đơn giản về thu nhập.

    Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm

    Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử , trong điều kiện của mộy nền kinh tế bình thường, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý. Để tăng tỷ lệ tiết kiệm,khuyến đầu tư,tức là tăng khả năng tài chính cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân,thì biện pháp có hiệu quả nhất là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất huy động vốn tăng lên, thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét lại các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên,có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi này , để tăng thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn hướng đầu tư : Gửi vào ngân hàng , vào quĩ bảo hiểm , hay đầu tư vào thị trường chứng khoán… khi thấy có lợi hơn.

    11

    Như vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm.Nhưng nâng lãi suất huy động vốn đến mức độ nào,thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân.

    II. THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM – ƯU NHƯỢC ĐIỂM & TÁC DỤNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

    1.Thực trạng về lãi suất tín dụng của Việt nam

    Kể từ năm 1998 đến naylà giai đoạn chuyển biến chung của nền kinh tế từ kế hoạch cứng nhắc sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa cơ chế lãi suất đã được ngân hàng nghiên cứu sử dụng như một công cụ quan trọng nhất, dể tác động đến quá trình huy động vốn và cho vay có hiệu quả.Chính sách lãi suất đã được thay đổi rất cơ bản: lãi suất tiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá ; nâng lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay của các tổ chức kinh tế gần với lãi suất huy động tiết kiệm.

    Lãi suất huy động vốn từ tháng 04/1989 – 06/1989 đối với loại tiết kiệm có kỳ hạn là 12 % / tháng, không kỳ hạn là 9% / tháng. lãi suất huy động chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, của các tổ chức kinh tế là 13 – 14% / tháng.với sự hấp dẫn đặc biệt của mức lãi suất trên, các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư đã ồ ạt kéo đến gửi tiền vào ngân hàng. các NHTM ,các trung tâm tín dụng đã huy động được nguồn vốn to lớn ,đẫ góp phần chặn đứng cơn sốt lạm phát cao từ mức 14,2% / tháng xuống còn 2,9% / tháng năm 1989 . thậm chí chỉ số lạm phát tháng 05/1989 xuống còn – 0,2% ; tháng 06/1989 xuống còn – 2,9% ; tháng 07/ xuống còn – 2,5% / tháng.

    12

    Có thể nói đây là bài học thành công về góc độ sử dụng lãi suất huy động vốn để kiềm chế lạm phát. Song ảnht hưởng của chính sách lãi suất đối với nền kinh tế và bản thân ngân hàng như thế nào?

    1.1 Giai đoạn từ 1981 tới 1990

    Thời kỳ 1981 – 1991 nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng trì trệ về kinh tế nghiêm trọng nhất có nguy cơ dẫn đến mất ổn định về chính trị xã hội.Trong giai đoạn này cần phải mở rộng đầu tư là biện pháp hữu hiệu nhất để chống đình trệ, để phục hồi và phát triển nền kinh tế thoát ra khỏi cơn khủng hoảng.Nhưng trên thực tế, vì liều thuốc lãi suất huy động vốn quá cao để chống lạm phát nhằm ổn dịnh tiền tệ chúng ta đã bị thất bại trong chính sách đầu tư không những tăng mà còn giảm sút nghiêm trọng do lãi suất huy động vốn quá cao và chậm được điều chỉnh so với hệ số lạm phát, thực tế không có sản suất kinh doanh gì lãi bằng gửi tiền vào ngân hàng, nên người ta không bỏ vốn vào sản suất kinh doanh, thậm chí còn bán cả tài sản cố định đi để gửi vào ngân hàng

    . Các ngân hàng đã huy động được nguồn vốn rất lớn với đầu vào rất cao ( 12 – 15% / tháng ). Với lãi suất cho vay này, không một nhà sản suất kinh doanh chân chính nào có thể chịu đựng nổi nên họ không dám vay ngân hàng. Để giải phóng nguồn vốn, chống thua lỗ, ngân hàng phải cho vay bằng mọi giá. Kết quả là những người buôn gian bán lận hàng ngoại, những người vay tiền ngân hàng để chơi đề , chơi hụi, gửi vào các trung tâm tín dụng, gửi vào các trung tâm lừa đảo như nước hoa thanh hương, đại thành, xacogiva… Hậu quả là nguồn vốn ngân hàng không đi vào sản suất – kinh doanh mà để vào các sòng bạc, khi đến hạn phần lớn người vay không trả được nợ, hệ thống hợp tác xã tín dụng bị phá sản, các tổ chức huy động vốn vỡ nợ ngân hàng thương mại thực chất đã bị phá sản nếu không được nhà nưóc khoanh nợ hàng ngàn tỷ đồng đến nay vẫn không thu hồi được. Mãi đến hiện nay chưa ai tính

    13

    được hiệu quả của chống lạm phát và mức thiệt hại to lớn của nền kinh tế do chính sách lãi suất “siêu thực tế “ trong giai đoạn 1989 – 1990.

    1.2. Giai đoạn từ 1990 tới 1993.

    Từ khi có pháp lệnh ngân hàng 05/ 1990, chính sách lãi suất liên ngân hàng dược đổi mới thêm một bước quan trọng. Cơ chế lãi suất tiến dần với lãi suất bình quân dương, bảo toàn được vốn cho cả người gửi và người vay. Cơ cấu lãi suất bao gồm: Lãi suất huy động vốn gồm lãi suất cơ bản ( lãi suất thực) và chỉ số giá cả của thị trường xã hội, lãi suất cho vay bình quân bằng lãi suất huy động vốn bình quân cộng thêm tỷ lệ chi phí và lãi hợp lý cho ngành ngân hàng. lãi suất được điều chỉnh lại hàng tháng hàng quí theo sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường xã hội. Thủ tướng chính phủ quyết định khung lãi suất cơ bản và giá cả thị trường. Trong phạm vi khung lãi suất đó, thống đốc ngân hàng nhà nước được công bố mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suât cho vay được điều chỉnh dần hướng tới áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế, giảm dàn số lượng quá nhiều mức lãi suất cho vay như thời kỳ trước .

    Kết quả thực tiễn cho thấy rằng : Chính sách lãi suất mới đã khuyến khích được gửi tiền yên tâm hơn do không sợ giá trị đồng tiền mất đi do trượt giá, mà còn có lãi, nhười ta thấy gửi tiền vào ngân hàng có lợi hơn nhiều so với mua vàng. chính vì vậy nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại tăng lên coa và ổn định. Chỉ riêng lĩnh vực ngân hàng công thương nhuồn vốn huy đọng năm 1991 là 2.828 tỷ tăng hơn năm 1990 là 0,8 tỷ ; năm 1992 là 4.126 tỷ tăng hơn so với năm 1991 là 1.300 tỷ ; sáu tháng đầu năm 1993 4.341 tỷ tăng hơn đầu năm 0,125 tỷ.

    Đứng trên tổng thể toàn nghành, lãi suất cho vay đã thoát khỏi tình trạng lãi suất âm, tác động tích cực buộc người vay phải sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế . Dư nợ tín dụng được mở rộng và tăng

    14

    lên đáng kể, chất lượng tín dụng cao hơn trước , nợ quá hạn từ 25% giảm xuống dưới 10% năm . Hệ thống ngân hàng chuyên doanh đã trở nên năng động hơn trong kinh doanh, tình trạng thua lỗ từng bước được khắc phục, nhiều ngân hàng đã bắt đầu kinh doanh có lãi thực.

    Tuy vậy, chính sách lãi suất hiện tại vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần phải giải quyết sau đây:

    Cơ chế lãi suất chưa thực sự phù hợp với bản chất của nó là căn cứ vào cung – cầu của thị trường vốn. Chín sách lãi suất vẫn còn bị chi phối bởi nhiệm vụ chính trị chủ yếu là chống lạm phát và là công cụ của Nhà nước để tài trợ cho các nghành sản suất kinh doanh yếu kém. Do đó, lãi suất còn mang nặng chính sách bao cấp nhằm bảo vệ lợi ích cho người gửi tiền tiết kiệm. Lãi suất thực của người gửi tiền tiết kiệm lớn hơn lãi suất thực của người cho vay, lái suất cho vay quá cao, lớn hơn mức sinh lời bình quân của nền kinh tế

    So sánh lãi suất huy động vốn tiết kiệm 3 tháng, lãi suất cho vay với kinh tế ngoài quốc doanh với chỉ số trượt giá hàng tháng thấy rằng : Năm 1990, lãi suất huy động vốn là 53%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 53%/năm.Như vậy người gửi tiền bảo tồn giá trị được gửi nhưng không có lãi. Ngân hàng cho vay với lãi suất âm -19,07%/năm.Năm 1991,lãi suất huy động tiết kiệm 45%/năm;chỉ số trượt giá bình quân 43,4%/năm;lãi suất cho vay 40,2%/năm. Người gửi đã bảo tồn được vốn cho vay và có lãi 1,6%/năm. Nhưng nhìn chung ngân hàngvẫn bị lỗ vốn do lạm phát-3,2%/năm; lỗ vốn do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất tiền ghi-4,8%/năm. Năm 1992,lãi suất huy động tiết kiệm 33,6%/năm,chỉ số trượt giá bình quân 16,47%/năm ; tỉ suất cho vay 43,2%/năm.Người gửi tiền và ngân hàng không những bảo tồn được giá trị cho vay mà còn có lãi rất lớn16,9%/năm.Ngân hàng cho vay cũng có

    15

    lãi suất tiền gửi 43,1% -33,6% = 9,5%/năm.Sáu tháng đầu năm 1993, lãi suất tiền gửi 15,75%,tỉ lệ trượt giá 4,12%.Người gửi tiền sau khi đã trừ tỉ lệ trượt giá còn lãi :11,1% -4.12% =6,98%.Vấn đề nổi cộm lên rất rõ là từ năm 1992 đến 30/6/1993,người gửi tiền có lãi suất rất lớn,ngân hàng cho vay có lãi suất không đáng kể ,người đi vay phải chịu lãi suất quá cao . Mâu thuẫn về lợi ích giữa người cho vay và người gửi chưa được giải quyết .Hậu quả là ngân hàng không mở rộng được đầu tư ,vốn bị ứ đọng,ngân hàng kinh doanh chưa có lãi ,nhiều chi nhánh tỉnh,thành phố bị thua lỗ .Các thành phần kinh tế không dám vay vốn đầu tư vào sản xuất vì chu kì đầu tư dài ,trả lãi lớn sẽ thua lỗ ,vốn vay chủ yếu đi vào mục đích lưu thông,kinh doanh, dịch vụ vòng quay nhanh mới đủ trả lãi ngân hàng.Với lãi suất 2,6%/tháng nên chu kì sản xuất 3 tháng thì giá thành phải chịu là: 2,6.3 = 7,8%,lãi suất ngân hàng tính trên giá vốn

    .Với lãi suất cho vay bình quân 3,58%/tháng thì tỉ lệ lãi suất phải trả ngân hàng với sản phẩm có chu kì 3 thánglà: 3,59%.3 = 10,77%.

    Lãi suất cho vay quá cao sẽ làm hạn chế đàu tư gây ra trì trệ trong nền kinh tế,tăng thất nghiệp .Vì vậy chính sách lãi suất trên chỉ kiềm chế tạm thờiđược cơn sốt lạm phát ,nhưng lại hạn chế sự tăng trưởng của nền kinh tế.Chắc chắn sẽ làm cho lạm phát bùng nổ với tốc độ lớn hơn. Mặt tồn tại cơ bản của chính sách lãi suất trên mới là việc chỉ tạo khung lãi suất của chính phủ và điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN vẫn chưa linh hoạt và phù hợp với cơ chế thị trường .

    Mặt khác cơ sở để Chính phủ và Thống đốc NHNN điề chỉnh lãi suất chỉ căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường mà chưa căn cứ vào “giá cả” của hàng hoá tiền tệ trên thị trường vốn vì vốn ở nước ta còn sơ khai và thực chất là chưa có.do vậy không thể xác định một tỉ lệ

    16

    lãi suất phù hợp với cơ chế thị trường được.Một thị trường vốn hoàn hảo là căn cứ để xác định lãi suất hợp lý.

    chính sách lãi suất hiện hành nổi lên mâu thuẫn giữa nhiện vụ chính trị đối với nền kinh tế và nhiệm vụ hạch toán kinh doanh tiền tệ tín dụng của ngân hàng . Xét về góc độ hạch toán kinh doanh các khoản cho vay món nhỏ thì chi phí đầu vào của ngân hàng lón,hệ số rủi ro cao,do đó lãi suất cho vay phải cao hơn các khoản tín dụng thời gian ngắn .Nhưng thực tế lãi suất cho vay dài và trung hạn thấphơn lãi suất cho vay ngắn hạn ,lãi suất cho vay ngành sản xuất có chu kì sản xuất dài từ 3 đến 9 tháng thấp hơn các ngành thương nghiệp dịch vụ có thời hạn ngắn dưới

    • tháng .Vấn đề là điều kiện kinh tế của từng ngành ,từng địa phương mà ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn chịu ảnh hưởnh trực tiếp của chính sách lãi suất nói trên ,phải hạch toán như thế nào để phục vụ được nhiệm vụ chính trị và kinh doanh.

    Như vậy cơ chế lãi suất hiện hành tuy có nhiều đổi mới nhưmg vẫn bị động chưa giải quyết được mâu thuẫn nan giải là kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế ,nhiệm vụ hạch toán kinh doanh và nhiệm vụ chính trị của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng thương mại vẫn chưa thoát khỏi bao cấp vềlãi suất huy động vốn và cho vay ,không phát huy tính tự chủ độc lập trong kinh doanh.các nguồn vốn chưa đáp ứng yêu cầu chi tiêu ngân sách ,chống lạm phát cũng như các biện pháp tài chính-ngân hàng trong chính sách lãi suất.

    Trong hệ thống quản lý lãi suất được coi là công cụ quản lý có ảnh hưởnh trực tiếp lớn nhất ,đặc biệt là việc chuyển sang lãi suất thực dương.Việc sử dụng phải bảo đảm tính linh hoạt mềm dẻo,phù hợp với chỉ số lạm phát thực tế.

    17

    theo hướng đó NHNN khống chế tối đa mức độ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi

    nhằm đảm bảo có lợi cho cả người gửi và người cho vay,bù đắp chi phí thuế và một phần rủi ro đồng thời có múc lãi hợp lý.Mở rộng thêm quyền tự do cho các ngân hàng tronh việc ấn định khung lãi suất đối với tiền gửi và tiền cho vay,tổ chức các hoạt động:dịch vụ chuyển tiền thanh toán bằng các loại thẻ tín dụng.Nhà nước chủ động can thiệp lãi suất thị trường để giữ mức lãi suất chỉ đạo .Trên tổng thể vẫn đảm bảo lãi suất vận động theo cơ chế thực dương.

    Để có thể chỉ đạo lãi suất trên thị trường cần tiếp tục hoàn chỉnh khung lãi suất nhất là lãi suất tái cấp vốn.Việc điều hành khung lãi suất phải đảm bảo nguyên tắc không cản trở xu hướng tự do hoá lãi suất bắt đầu hình thành khi nền kinh tế nước ta vận động theo cơ chế thị trườngvới quá trình tự do hoá giá cả gần như là phổ biến.Việc sử dụng công cụ lãi suất nội tệđặt trong tương quan hợp lý với sử dụng công cụ lãi suất ngoaị tệ,xác lập tương quan giữa cho vay bằng ngoại tệ với cho vay bằng tiền đồng.

    Thông qua việc tạo tiền đề đẩy nhanh xu hướng tự do hoá lãi suất nâng cao dần trình độ kinh tế tiền tệ của nền kinh tế.Việc tự do hoá lãi suất không mâu thuẫn với can thiệp của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ mà là cách thức để thực thi tốt hơn chính sách tiền tệ.

    Một biểu hiện của tự do hoá lãi suất là: các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ được quyền tham gia ấn định mức lãi suất.Họ là người có khả năng tìm phương án sử dụng vốn tốt nhất,hạn chế bớt rủi ro.Đồng thời mức lãi suất hình thành trong hoàn cảnh đó sẽ phù hợp nhấtvới cơ chế thị trường,đam bảo quan hệ giữa các loại tín dụng.Trong điều kiện bình thường tỉ lệ lạm phát và tỉ lệ lợi nhuận là khung của lãi suất tiết kiệm

    18

    và lãi suất cho vay.Về lý thuyết,đó chính là giá trị chênh lệch do việc sử dụng vốn tạo ra và được phân chia cho các chủ thể tham gia:người có tiền gửi,ngân hàng,tổ chứctín dụng, các nhà sản xuất kinh doanh.Khi nền kinh tế suy thoái ,tỉ suất lợi nhuận bình quân có thể thấp hơn tỉ lệ lạm phát,cơ chế tự điều chỉnh của thị trường sẽ thực hiện một cơ chế phân bố rủi ro giữa các chủ thể tham gia.Sử dụng công cụ lãi suất để có sự tác động thích hợp đến việc thực hiên các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô .

    Tự do hoá lãi suất không đồng nghĩa với việc xoá bỏ toàn bộ các khoản vay ưu đãi.Chính phủ tuỳ theo khả năng có thể dùng vốn của mình thực hiện các chương trình ,dự án phát triển mang tính chất ưu đãi với lãi suất thấp hơn thông qua các tổ chức tài chính,NHTM nhưng cần áp dụng cơ chế kiểm tra chặt chẽ hơn tránh nhữmg tiêu cực có thể xảy ra.

    Sử dụng tốt công cụ lãi suất cần nhấn mạnh nỗ lực tạo tiền đề để sử dụng tốt hơn công cụ lãi suất chiết khấuvà tái chiết khấu.Đó là con đường tác động đến khối lượng tiền tệ và khối lượng tín dụng lưu thông.Cần tạo môi trường thuận lợi cho cổ phiếu thương mại ra đời ,lưu hành rộng rãi để tín dụng thương mại trở thành hoạt động bình thường của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp .Phải từng bước tạo lập môi trường kinh tế và môi trường pháp lý cho sự lưu thông tự do các chứng từ có giá nói chung, chứng từ thương phiếu nói riêng .

    Bên cạnh sự tác động gián tiếp lên khối lượng tiền tệ và tín dụng lưu thông,NHNNcó thể tác động vào biến thái lãi suất thị trường thông qua ngiệpvụ thị trường mở.Để có thể vận dụng công cụ này thì cùng một lúc phải thực thi hai phần việc:

    Một là: xúc tiến tổ chức thị trường,vốn thị trường tiền tệ .

    Hai là :xây dựng cơ chế thực thi nghiệp vụ thị trường mở.

    19

    Để tạo tiền đề mở rộng phạm vi hoạt động của thị trường giấy có giá cần xúc tiến tổ chức thí điểm xây dựng thị trường vốn ở một số tụ điểm giao dịch kinh tế thương mại lớn như :thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội , Hải Phòng.Trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệmđể mở rộng dần ,đáp ứng yêu cầugiao lưu vốn ,phát triển kinh tế.Cần tổ chức nghiên cứu công phu các nghiệp vụ thị trường mở .Để việc tổ chức và vận hành thị trường vốn diễn ra an toàn đòi hỏi phải ban hành những văn bản luật đủ hiệu lực pháp lý như: Luật phát hành chứng khoán và công tác thực thi pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh,thống nhất tránh tuỳ tiện.

    Suy cho cùng nghiệp vụ thị trường mở cũng chính là hoạt động tổ chức thực hiện các mua bán chứng khoán ngắn và dài hạn trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn củaNHTƯ.Do đó hoạt động của NHTƯ ở lĩnh vực cũng phải tuân theo các quy luật chung của thị trường vốn.

    III.MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

    1.Định hướng

    1.1. Lãi suất cơ bản

    Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng(TCTD) ấn định lãi suất kinh doanh . Lãi suất cơ bản vẫn là mức lãi suất dược NHNN ấn hành một cách hành chính, chứ không phải tự hình thành trên thị trường tiền tệ và các TCTD buộc phải căn cứ vào mức lãi suất này để xác định các mức lãi suất kinh doanh.

    Cũng từ định nghĩa này cần phân biệt rõ lãi suất lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn hiện hành của NHNN. Thực tế lãi suất tái cấp vốn của NHNN cũn có ảnh hưởng toàn diện tới hệ thống lãi suất trong nền kinh tế thị trường và cũng do NHNN xác định. tuy nhiên, hoạt động tái cấp vốn lại không phải là hoạt động bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng –

    20

    thực tế, nó được thực hiện một cách tự nguyện theo nhu cầu của mỗi TCTD. Nói cách khác, lãi suất tái cấp vốn(mặc dù là một mức lãi sất nhất định trong một thời gian nào đấy) không phải là mức lãi suất bắt buộc đói với các TCTD (nếu TCTD không có nhu cầu tái cấp vốn thì nó không trực tiếp liên quan tới lãi suất tái cấp vốn).cũng vì lý do này, luật NHNN đã tách bạch hai loại lãi suất trên cơ sở qui định:” NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn”.

    2. Một số ý kiến hoàn thiện chính sách lãi suất theo định hướng lãi suất cơ bản

    2.1. Về các quan điểm hiện nay

    Gần đây đã và đang xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc NHNN bỏ qui định lãi suất “trần”, để chuyển sang ấn định và điều hành linh hoạt bằng một lãi suất cơ bả, theo như tinh thần qui định tại điều 18 và khoản 12 điều 9 Luật NHNN hiện hành. Quan điểm tập trung nhất chứa đựng các nội dung sau: về xu hướng chung là bỏ “trần” lãi suất vì cứng nhắc lâu nay (vẫn còn 3 loại trần lãi suất). Trên cơ sở lãi suất tái cấp vốn hiện hành sẽ cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bảnhoặc dựa vào lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến cộng thêm một biên độ ước định để hình thành lãi suất cơ bản.

    Nhìn chung, cách lập luận cho loại quan điểm này mới dừng ở định tính, còn bỏ ngỏ nhiều khía cạnh khoa học và pháp lý liên quan đến việc cải tiến chính sách lãi suất hiện nay.

    Một là: Cần định dạng đúng đắn lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cơ bản để tránh áp dụng máy móc qui định tại diều 18 và khoản 12 điều 9 luật NHNN (liên quan):

    • Lãi suất tái cấp vốn, chủ yếu hướng tới 3mục đích: (1) NHTW cho vay lại với tư cách nhười cho vay cuối cùng đối với nền kinh tế căn

    21

    cứ vào những khoản tín dụng đã cấp của NHTM (cho vay lưu phiếu, thế chấp khế ước tín dụng, chứng từ liên quan) ; (2) NHTƯ tái chiết khấu các thương phiếu dược NHTM cho vay; (3) NHTƯ sử dụng nguồn vốn dự trữ (DTBB, nguồn dự trữ khác) cho vay hỗ trợ knả năng thanh toán tạm thời của các NHTM (thông qua cầm cố, thế chấp các chứng từ có giá khác nhau).

    Lâu nay, ta dùng khái niệm tái cấp vốn (refinancing) là gọi chung cho các nội dung trên.Khi tăng tỷ trọng cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu – còn gọi là cửa sổ tái chiết khấu (resdiscount window) – thì mới có nghiệp vụ tái chiết khấu , nói khác đi khái niệm tái chiết khấu được sử dụng phổ biến hơn.

    • Lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu thường được ấn định chủ quan bởi NHTƯ. Tuy nhiên, mức độ chủ quánẽ giảm khi các nghiệp vụ tái chiết khấu có cơ sở hơn, có hàng hoá đủtiêu chuẩn hơn cho việc cấp tín dụng dưới hình thức tái chiết khấu thay vì tái cấp vốn theo kiểu giản đơn như cách làm của Việt Nam lâu nay. Khi thị trường tiền tệ đã khá phát triển , các nghiệp vụ mua bán vốn theo hợp đồng giao ngay, hợp đồng kỳ hạn – ngắn hạn… giữa các lực lượng thị trường trở nên phổ biến, theo đó lãi suất giao dịch liên ngân hàng (interbank interest rate), lãi suất chiết khấu giấy tờ có giá (lãi suất Lombardy), hay lãi suất mua bán hợp đồng xoay vòng kỳ hạn (lãi suất Repo) được hình thành … Đó là điều kiện thị trường hết sức quan trọng để NHTƯ điều hành đúng đắn lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu.

    Trước mắt, do chưa đủ diều kiện về công cụ giao dịch như đã nêu, việc hình thành lãi suất tái cấp vốn chủ yếu dựa vào lãi suất “trần” yheo sự ấn định chủ quan của NHTƯ như lâu nay. Qua đây, cần khẳng định mặc dầu lãi suất tái cấp vốn đang đóng vai trò nhất định, nhưng

     

    22

    chưa đến mức độ đủ để có thể dựa vào đó hình thành lãi suất cơ bản. Đây mới chỉ là dấu mốc còn khá mờ nhạt để tiến tới lãi suất tái chiết khấu nay mai.

    • Lãi suất cơ bản hướng vào hai mục đích: (i) làm tiêu chuẩn hình thành lãi suất kinh doanh của các NHTM; (ii) làm công cụ để NHTƯ can thiệp vào thị trường tiền tệ một cách uyển chuyển hơn là khống chế bởi lãi suất “trần” , dù ở mức nào vẫn mang tính cứng nhắc.
    • nghãi “định chuẩn” của lãi suất cơ bản biểu hiện như một loại giá vốn phản ánh điểm hoà vốn bình quân của các NHTM. NHTM nào huy động vốn với lãi suất thấp hơn và cho vay tối thiểu bằng mức lãi suất cơ bản có cơ chí ít là hoà vốn.Còn huy động với lãi suát cao hơn là bắt đầu khó khăn. sự can thiệp của NHTƯ thông qua lãi suất cơ bản trở nên đơn giản ở chỗ không cần khống chế trần (cứng nhắc dễ bị phản ứng) và khách quan hơn, tạo sự tin cậy đối với các NHTM. Vấn đề là xác định đúng và ấn định cho linh hoạt. Xét trên nhiều mặt, thực chất lãi suất cơ bản đã là một bước thả nổi lãi suất.

    +Lãi suất cơ bản có cơ sở xác định tương đối ggiống lãi suất trần sàn, nghĩa là cũng chủ yếu dựa vào quan hệ cung cầu vốn phổ biến, được phản ánh bởi các lực lượng thị trường chiếm thị phần chủ yếu (hiện nay vẫn là các NHTM quốc doanh). thế hnưng về mặt tính toán có khác: lãi suất trần, sàn thường lấy con số tham chiếu “ chặn trên”, “chặn dưới” còn lãi suất cơ bản thì bình quân hoá gia quyền các tham số chọn mẫu, nên thường chuẩn xác khách quan hơn. lãi suất cơ bản được xác định như vậy khiến khoảng cách bất bình đẳng về cạnh tranh lãi suất giưã các NHTM mạnh, yêua khác nhau được giảm thiểu . Tất nhiên, việc tính toán chính xác lãi suất cơ bản phức tạp nơn lãi suất trần. Bởi vậy , khi mới áp dụng thường chưa đủ căn cứ để ấn định chính xác phải sử dụng một biên độ nhỏ để điều chỉnh . Cách xác định biên độ cũng

    23

    không tuỳ tiẹn được mà phải căc cứ vào dung sai – còn gọi là độ lệch tiêu chuẩnbình quân giữa các mức lãi suất khác nhau và lãi suất trung bình chọn mẫu.

    Hai là: Cần làm rõ ưu nhược điểm của lãi suất tái cấp vốn , cũng như bản thân trần lãi suất hiện nay làm căn cứ cho việc cải tiến lãi suất. Qua mấy lần NHNN kịp thời điều chỉnh trần, lãi suất đă bớt cứng nhắc gần với quan hệ cung cầu hơn ( từ nhiều trần xuống còn 3 loại trần, đồng thời mức lãi suất giảm đáng kể so với động thái giảm phát). Tuy nhiên, tình hình mâu thuẫn hiện nay là ở chỗ: áp lực giảm tiếp lãi suất vẫn đặt ra trong lúc bản thân việc hạ “trần “ lãi suất đã ở vào giới hạn khá thấp đang gây khó khăn cho các NHTM trong việc chủ động linh họat hoá các mức lãi suất thực tế cho vayvà khắc phục nguy cơ thua lỗ, thiếu khả năng tài chính do chênh lệchgiữa lãi suất huy động và cho vay cũng bị thu hẹp lớn. Như vậy, khi việc điều hành theo lãi suất “trần còn nhiều tồn tại thì bản thân cách ấn định lãi suất tái cấp vốn cũng thiếu cơ sở khách quan, không thể lấy lãi suất tái cấp vốn hiện nay làm cơ sở tính toán lãi suất cơ bản. Mặt khác, lãi suát “trần” hiện nay còn bất cập, thì trước mắt nên chăng là kế thừa hoàn thiện nó hơn là bỏ hẳn để thay bằng lãi suất cơ bản trong lúc chưa đủ điều kiện.

    Ba là: Cần có sự phân biệt thứ bậc thấp cao, đơn giản và phức tạp giữa hai loại lãi suất ; lãi suất cơ bản là bước đệm tiến tới và được thay thế bởi lãi suất tái chiết khấu sau này hay ngược lại cùng tồn tại lãi suất tái cấp vốn / lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản?. Về lâu dài, hình thành lãi suất cơ bản là tạo lộ trình thuận lợi cho hoàn thiện chính sách lãi suất theo hướng từng bước thả nổi. Bản thân lãi suất cơ bản cũng được coi là một bước thả nổi vì nó tiến bộ hơn lãi suất “trần” với cách ấn định hoàn toàn tuỳ thuộc vào quan hệ cung cầu, lấy cơ sở tính toán là các mức lãi suất thực. Tuy nhiên, bỏ lãi suất “trần” để chuyển

    24

    sang lãi suất cơ bản cũng phải có những bước chuyển nhỏ, không thể máy móc gây sốc. Thực chất qui định tại các điều18, điều 9 khoản 12 Luật NHNN không nên hiểu phải có ngay lãi suất cơ bản khi chưa có đủ điều kiện, mà vấn đề là NHNN phải qui định lãi suất như thế nào để các TCTD dễ dàng ấn định lãi suất kinh doanh. Thành thử loại lãi suất nào mà NHTƯ đưa ra đáp ứng được các yêu cầu đặt ra cũng đã là mang dáng dấp hay tính chất như lãi suất cơ bản. ở đâycó thể nhấn mạnh là hoàn thiện lãi suất “trần” hiện nay và nâng cấp lãi suất tái cấp vốn theo sát hơn lãi suất thị trường và tạo điều kiện cho nó được sử dụng thường xuyên hơn phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN mới là thiết thực.

    LỜI KẾT

    Như đã nói, lãi suất là giá mua bán vốn trên thị trường. Cơ sở kinh tế của lãi suất là do các hiện tượng tạm thời “ thừa “ và tạm thời “thiếu

    “ vốn tiền tệ trong nền kinh tế hàng hoá và gắn với nó là vai trò trung gian của ngân hàng trong việc tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. Lãi suất cao hay thấp do quan hệ cung – cầu về vốn quyết định, khi cung lớn hơn cầuvề vốn thì lãi suất giảm , khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng .

    Lãi suất rất nhạy cảm trong nền kinh tế thị trường, đó là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ để quản ký và điều tiết nền kinh tế. Đối với Việt nam, đổi mới nền kinh tế , xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu để luôn có một chính sách lãi suất phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay là hết sức

    25

    cần thiết. Lãi suất đã trở thành một công cụ quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta.

    Trên thực tế, từ năm 1990 chúng ta đã từng bước chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang lãi suất dương , và từ tháng 06/ 1991, đã thực hiện triệt để chính sách lãi suất dương trong hoạt động tín dụng. Lãi suất vượt trên chỉ số lạm phát và được điều chỉnh theo sự biến động của thị trường, có tham khảo lãi suất trên các thị trường khu vực và quốc tế. Chính sách lãi suất đẫ từng bước xử lý hài hoà lợi ích người gửi tiền, các TCTD và người vay tiền, cũng tức là giữa yêu cầu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế.Chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và tiền vay từ 1986 đến 1995 như sau:

    1986 1991 1992 1993 1994 1995
    1990
    lãi suất tiền gửi 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
    BQ tháng (%)
    lãi suất tiền vay 4,3 3,5 2,5 1,8 1,5 1,7
    BQ tháng (%)

    ( nguồn : NH Việt Nam 45 năm xây dựng và trưởng thành)

    Từ đầu năm 1996 , chính sách lãi suất của NHNN có sự thay đổi theo hướng tự do hoá,hủy bỏ các quy định về lãi suất tiền gửi ,điều chỉnh giảm mức lãi suất trần cho vay ,chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng . Để ấn định mức lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn trên thị trường và từ tháng 11 năm 1997 Nghị quyết của Quốc hội đẫ không quy định về mức chênh lệch lãi suất là 0,35% đối với hoạt động tín dụng ngân hàng.Chính sách lãi suất đã đảm bảo được yêu cầu của lãi suất vay trung và dài hạn cao hơn lãi suất

    26

    cho vay ngắn hạn, rút ngắn khoảng cách giữa lãi suất tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp. Mức chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn không còn bị khống chế mà phụ thuộcvào thị trường và hiệu quả kinh doanh của từng TCTD.Những giải pháp đó đã được thị trưòng chấp nhận và góp phần rất lớn vào việc thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1.Thị Trường Tài chính Tiền Tệ tháng 6. 1999

    2.Tạp Chí Ngân Hàng số 14.1999

    1. Tạp chí Ngân hàng số 15 .19 .2001
    1. Giáo trình lý thuyết tiền tệ Ngân hàng – Học viện Ngân hàng
    1. Lý Thuyết Tiền Tệ (Sgk Trường Đại học Tài chính – Kế toán)

    27