Category: Tài Chính – Ngân Hàng

  • Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN THANH TOÁN QUỐC TẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nghi%E1%BB%87p-v%E1%BB%A5-v%E1%BB%91n-b%E1%BA%B1ng-ti%E1%BB%81n-v%C3%A0-c%C3%A1c-kho%E1%BA%A3n-ph%E1%BA%A3i-thanh-to%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán

    LỜI MỞ  ĐẦU

    Sau khi được học xong phần lý thuyết về chuyên ngành kế toán, lãnh đạo nhà trường đã cho sinh viên thâm nhập thực tế nhằm củng cố vận dụng những lý luận đã học được vào sản xuất, vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn, vừa làm chủ được công việc sau này khi tốt nghiệp ra trường về công tác tại cơ quan, xí nghiệp có thể nhanh chóng hoà nhập và đảm đương các nhiệm vụ được phân công.

    Sau thời gian thực tập tại Công ty Cơ khí ôtô 3-2, em đã tìm hiểu, phân tích, đánh giá những kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, đồng thời so sánh với lý thuyết đã học được trong nhà trường để rút ra những kết luận cơ bản trong sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận. Muốn có lợi nhuận cao phải có phương án sản xuất hợp lý, phải có thị trường mở rộng, giá cả hợp lý và đặc biệt phải có vốn đầu tư bằng tiền phù hợp.

    Trên cơ sở đó em đã chọn đề tài “Kế toán nghiệp vụ vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán” cho báo cáo tốt nghiệp này.

    Nội dung của chuyên đề này ngoài Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề gồm 3 chương chính :

    Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ trong công ty xây lắp .

    Chương 2: Thực trạng công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.

    Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán “Vốn bằng tiền và các khoản phải thanh toán “ ở Công ty Cơ khí ôtô 3-2.

    Với thời gian thực tập có hạn và số liệu thực tế chưa nhiều, đặc biệt là kinh nghiệm phân tích đánh giá của em chưa được sâu sắc. Vì vậy trong báo cáo không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót, kính mong các thầy cô giáo và nhà trường góp ý sửa chữa để em hoàn thành công việc một cách tốt đẹp hơn.

    Nhân dịp này em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty. Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các bác, các cô, các chú, các anh chị trong Công ty Cơ khí ôtô 3-2 đã nhiệt tình giúp đỡ về mặt thực tiễn và cung cấp cho em những tài liệu quan trọng làm cơ sở nghiên cưú chuyên đề ,giúp em hoàn thành báo cáo này.

    1

     

    Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp 1 và đặc biệt là cô giáo Nguyễn Ngọc Lan đã tận tình hướng dẫn, dậy bảo, giúp đỡ em hoàn thành báo cáo chuyên đề này.

    2

     

    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VỐN BẰNG TIỀN

    VÀ CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    I. KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN

    1.     Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền :

    1. Khái niệm vốn bằng tiền:

    Vốn bằng tiền là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ bao gồm : Tiền mặt ( 111), TGNH( 112), Tiền đang chuyển (113). Cả ba loại trên đề có tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý. Mỗi loại vốn bằng tiền đều sử dụng vào những mục đích khác nhau và có yêu cầu quản lý từng loại nhằm quản lý chặt chẽ tình hình thu chi và đảm bảo an toàn cho từng loại sử dụng có hiệu quả tiết kiệm và đúng mục đích.

    1. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền:

    Kế toán phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

    • Phản ánh chính xác kịp thời những khoản thu chi và tình hình còn lại của từng loại vốn bằng tiền, kiểm tra và quản lý nghiêm ngặt việc quản lý các loại vốn bằng tiền nhằm đảm bảo an toàn cho tiền tệ, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng tham ô và lợi dụng tiền mặt trong kinh doanh.
    • Giám sát tình hình thực hiện kế toán thu chi các loại vốn bằng tiền, kiểm tra việc chấp hành nghiêm chỉnh chế độ quản lý vốn bằng tiền, đảm bảo chi tiêu tiết kiệm và có hiệu quả cao

    Vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các ngân hàng và các khoản tiền đang chuyển ( kể cả nội tệ, ngoại tệ, ngân phiếu, vàng bạc, kim khí quý, đá quý)

    Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

    • Kế toán vốn bằng tiền sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là đồng Việt Nam (

    VNĐ).

    • Các loại ngoại tệ phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua do ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán.

    Để phản ánh và giám sát chặt chẽ vốn bằng tiền, kế toán phải thực hiện các nghiệp vụ sau :

    • Phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời số hiện có , tình hình biến động và sử dụng tiền mặt , kiểm tra chặt chẽ việc chấp hành chế độ thu chi và quản lý tiền mặt.
    • Phản ánh chính xác đầy đủ kịp thời số hiện có, tình hình biến động tiền gửi, tiền đang chuyển, các loại kim khí quí và ngoại tệ, giám sát việc chấp hành các chế độ quy định về quản lý tiền và chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.

    2. Kế toán tiền mặt :

    2.1 Nguyên tắc chế độ lưu thông tiền mặt:

    Việc quản lý tiền mặt phải dựa trên nguyên tắc chế độ và thể lệ của nhà nước đã ban hành, phải quản lý chặt chẽ cả hai mặt thu và chi và tập trung nguồn tiền vào ngân hàng nhà nước nhằm điều hoà tiền tệ trong lưu thông, tránh lạm phát và bội chi ngân sách, kế toán đơn vị phải thực hiện các nguyên tắc sau:

    • Nhà nước quy định ngân hàng là cơ quan duy nhất để phụ trách quản lý tiền mặt. Các xí nghiệp cơ quan phải chấp hàng nghiêm chỉnh các chế độ thể lệ quản lý tiền mặt của nhà nước.
    • Các xí nghiệp, các tổ chức kế toán và các cơ quan đều phải mở tài khoản tại ngân hàng để gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng để hoạt động.
    • Mọi khoản thu bằng tiền mặt bất cứ từ nguồn thu nào đều phải nộp hết vào ngân hàng trừ trường hợp ngân hàng cho phép toạ chi như các đơn vị ở xa ngân hàng nhất thiết phải thông qua thanh toán ngân hàng. Nghiêm cấm các đơn vị cho thuê, cho mượn tài khoản.

    2.2 Kế toán tiền mặt.

    Mỗi doanh nghiệp đều có một số tiền mặt nhất định tại quỹ. Số tiền thường xuyên có tại quỹ được ấn định tuỳ thuộc vào quy mô tính chất hoạt động của doang nhiệp và được ngân hàng thoả thuận.

    Để quản lý và hạch toán chính xác, tiền mặt của doanh nghiệp được tập trung bảo quản tại quỹ. Mọi nghiệp vụ có liên quan đến thu, chi tiền mặt, quản lý và bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ chịu trách nhiệm thực hiện.

    Thủ quỹ do giám đốc doanh nghiệp chỉ định và chịu trách nhiệm gửi quỹ. Thủ quỹ không được nhờ người làm thay mình. Không được kiêm nhiệm công tác kế toán, không được làm công tác tiếp liệu, mua bán vật tư hàng hoá.

    Tất cả các khoản thu chi tiền mặt đều phải có các chứng từ thu chi hợp lệ, chứng từ phải có chữ ký của giám đốc doanh nghiệp và kế toán trưởng. Sau khi đã kiểm tra chứng từ hợp lê, thủ quỹ tiến hành thu vào hoặc chi ra các khoản tiền và gửi lại chứng từ đã có chữ ký của người nhận tiền hoặc nộp tiên. Cuối mỗi ngày căn cứu vào các chứng từ thu chi để ghi sổ quỹ và lập báo cáo quỹ kèm theo các chứng từ thu chi để ghi sổ kế toán. Thủ quỹ là người chịu trách nhiệm quản lý và nhập quỹ tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, đá quỹ tại quỹ. Hàng ngày thủ quỹ phải thường xuyên kiểm kê số tiền quỹ thực tế, tiến hành đối chiếu với sỗ liệu của sổ quỹ, sổ kế toán. nếu có chênh lệch, thủ quỹ và kế toán phải tự kiểm tra lại để xác định nguyên nhâ và kiến nghị biện pháp xử lý. Với vàng bac, đá quý nhận ký cược, ký quỹ trước khi nhập quỹ phải làm đầy đủ các thủ tục về cân, đo, đếm số lượng, trọng lượng, giám định chất lượng và tiến hành niêm phong có xác nhận của người ký cược, ký quỹ trên dấu niêm phong.

    Có thể sử dụng mẫu sổ quỹ kiêm báo cáo quỹ sau:

    SỔ QUỸ TIỀN MẶT ( KIÊM BÁO CÁO QUỸ)

          Ngày … tháng … năm
               
    Số hiệu chứng   Số hiệu Số tiền
    từ   Diễn giải    
      TK    
    Thu Chi   Thu Chi
       
        Số dư đầu ngày      
        FS trong ngày      
    . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    4

     

    Cộng FS

    Số dư cuối ngày

    Kèm theo . . . chứng từ thu.

    . . . chứng từ chi.

    Ngày . . . tháng . . .năm 2000

    Thủ quỹ ký

    Để phản ánh tình hình thu, chi tiền mặt kế toán sử dụng tài khoản 111 “Tiền mặt”.

    • Nội dung kết cấu TK 111:

    – Bên nợ :

    + Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhập

    quỹ.

    • Số tiền mặt thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê. – Bên có :
    • Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý xuất

    quỹ.

    • Số tiền mặt tại quỹ thiếu hụt.
    • Số dư bên nợ : Các khoản tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý hiện còn tồn ở quỹ tiền mặt.

    Tài khoản 111 gồm có 3 tài khoản cấp 2 :

    TK 1111 : Tiền Việt Nam

    TK 1112 : Ngoại tệ

    TK 1113 : Vàng bạc, kim khí quý, đá quý. Vàng bạc, kim khí quý, đá quý.

    • Trình tự kế toán tiền mặt :
    1. Kế toán các khoản phải thu, chi bằng tiền Việt Nam
    • Các nghiệp vụ tăng :

    Nợ TK 111 (1111) : Số tiền nhập quỹ.

    Có TK 511 : Thu tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp lao vụ, dịch vụ.

    Có TK 711 : Thu tiền từ hoạt động tài chính

    Có TK 721 : Thu tiền từ hoạt động bất thường

    Có TK 112 : Rút tiền từ ngân hàng

    Có TK 131,136,1111 : Thu hồi các khoản nợ phải thu

    Có TK 121, 128, 138,144,244 : Thu hồi các khoản vốn ĐTNH …

    Có TK 338 (3381) : Tiền thừa tại quỹ chưa xác định rõ nguyên nhân…

    • Các nghiệp vụ Giảm :

    Nợ TK 112 : Gửi tiền vào TK tại NH

    Nợ TK 121,221 : Xuất quỹ mua chứng khoán ngắn hạn, dài hạn

    Nợ TK 144,244 : Xuất tiền để thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn, dài hạn

    Nợ TK 211, 213: Xuất tiền mua TSCĐ để đưa vào sử dụng

    Nợ TK 241 : Xuất tiền dùng cho công tác ĐTXDCB tự làm

    5

     

    Nợ TK 152,153,156 : Xuất tiền mua vật tư hàng hóa để nhập kho (theo phương pháp kê khai thường xuyên).

    Nợ TK 611 : Xuất tiền mua vật tư, hàng hóa về nhập kho (theo phương pháp kiểm tra định kỳ)

    Nợ TK 311, 315 : Thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn

    Nợ TK 331 : Thanh toán cho người bán

    Nợ TK 333 : Nộp thuế và các khoản khác cho ngân sách

    Nợ TK 334 :Thanh toán lương và các khoản cho người lao động Có TK 111(1111) : Số tiền mặt thực xuất quỹ

    1. Kế toán các khoản thu, chi ngoại tệ :

    Đối với ngoại tệ, ngoài việc quy đổi ra đồng Việt Nam, kế toán còn phải theo dõi nguyên tệ trên TK 007-Nguyên tệ các loại.

    Việc quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam phải tuân theo các quy định sau đây:

    • Đối với các loại TK thuộc chi phí, thu nhập, vật tư, hàng hoá, TSCCĐ…dù doanh nghiệp có hay không sử dụng tỷ giá hạch toán. Khi có phát sinh các nghiệp vụ bằng ngoại tệ đều phải luôn luôn ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
    • Các doanh nghiệp có ít nghiệp vụ bằng ngoại tệ thì các tài khoản tiền, các tài khoản phải thu, phải trả được ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế. Các khoản chênh lệch tỷ giá (nếu có) của các nghiệp vụ kinh tế phát sinhđược hạch toánvào TK 1113-Chênh lệch tỷ giá.
    • Các doanh nghiệp có nhiều nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ có thể dụng tỷ giá hạch toán để ghi sổ các tài khoản tiền, phải thu, phải trả. Số chênh lệch giữa tỷ giá hạch toán và tỷ giá mua của ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào tài khoản 413-Chênh lệch tỷ giá.

    Tỷ giá hạch toán có thể là tỷ giá mua hoặc tỷ giá thống kê của ngân hàng và được sử dụng ổn định ít nhất trong một kỳ kế toán.

    Cuối kỳ hạch toán, kế toán phải đánh gía lại số dư ngoại tệ của các tài khoản tiền, cả khoản phải thu, các khoản nợ phải trả theo tỷ giá mua của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm cuối kỳ để ghi sổ kế toán.

    TK 413-Chênh lệch tỷ giá có kết cấu như sau :

    • Bên nợ :
    • Chênh lệch tỷ giá FS giảm của vốn bằng tiền, vật tư, hàng hóa và nợ phải thu có gốc ngoại tệ.
    • Chênh lệch tỷ giá FS tăng các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.
    • Xử lý chênh lệch tỷ giá.

    – Bên có :

    • Chênh lệch tỷ giá FS tăng của vốn bằng tiền, vật tư, hàng hoá và nợ phải thu có gốc ngoại tệ.
    • Xử lý chênh lệch tỷ giá.
    • Chênh lệch tỷ giá FS giảm các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ.

    Tài khoản này cuối kỳ có thể có số dư bên Có hoặc bên Nợ

    6

     

    Số dư bên Nợ : Chênh lệch tỷ giá cần phải được xử lý.

    Số dư bên Có : Chênh lệch tỷ giá còn lại.

    Số chênh lệch tỷ giá trên TK 413- Chênh lệch tỷ giá chỉ được xử lý (ghi tăng hoặc giảm vốn kinh doanh, hạch toán vào lãi hoặc lỗ). Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

    Riêng đối với đơn vị chuyên kinh doanh mua bán ngoại tệ thì các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua bán thực tế FS. Chênh lệch giữa giá thực tế mua vào và bán ra của ngoại tệ được hạch toán vào TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính hoặc TK 811-Chi phí hoạt động tài chính.

    Các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ được hạch toán như sau :

    • Trường hợp doanh nghiệp có sử dụng tỷ gía hạch toán – Khi nhập ngoại tệ vào quỹ tiền mặt ;
    • Doanh nghiệp thu bán hàng bằng ngoại tệ: Nợ TK 111-Tiền mặt (1112)(Tỷ giá hạch toán)

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng (tỷ giá thực tế)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ gía (số chênh lệch tỷ giá hạch toán lớn hơn tỷ gía

    thực tế).

    (Trường hợp tỷ giá hạch toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế thì số chênh lệch tỷ giá được ghi bên Nợ TK 413).

    • Khi xuất quỹ bằng ngoại tệ :
    • Mua vật tư, hàng hoá, tài sản cố định:

    Nợ TK 152-Nguyên liệu, vật liệu (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 153-Công cụ dụng cụ (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 156-Hàng hoá (tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 211-Tài sản cố định hữu hình (tỷ giá thực tế)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(tỷ giá hạch toán)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (số chênh lệch tỷ giá thực tế lớn hơn tỷ giá

    hạch toán).

    (Nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá hạch toán thì số chênh lệch được ghi bên Nợ TK

    413).

    • Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý phát sinh bằng ngoại tệ: cũng ghi sổ theo dõi nguyên tắc trên.
    • Xuất quỹ ngoại tệ trả nợ cho người bán ;
    • Trường hợp doanh nghiệp không áp dụng tỷ giá hạch toán : – Khi nhập quỹ ngoại tệ :

    + Thu tiền bán hàng bằng ngoại tệ :

    Nợ TK 111-Tiền mặt(1112)(theo tỷ giá thực tế) Nợ TK 131-PTCKH (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng (theo tỷ giá thực tế)

    + Thu các khoản nợ phải thu bằng ngoại tệ nhập quỹ : Nợ TK 111-Tiền mặt(1112) (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 131-PTCKH (tỷ giá bình quân thực tế nợ)

    7

     

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (số chênh lệch tỷ giá thực tế lớn hơn giá thực tế lớn hơn giá bình quân thực tế bên nợ).

    (Trường hợp tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá bình quân thực tế nợ thì số chênh lệch được ghi vào TK 413).

    • Khi xuất quỹ ngoại tệ :
    • Xuất ngoại tệ mua vật tư, hàng hoá, TSCĐ, chi trả các khoản chi phí:

    Nợ TK 152-Nguyên liệu, vật liệu (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 153-Công cụ dụng cụ (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 156-Hàng hoá (theo tỷ giá thực tế)

    Nợ TK 211-TSCĐHH (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 611-Mua hàng (đối với phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Nợ TK 627-Chi phí sản xuất chính (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 641-Chi phí mua hàng (theo tỷ giá thực tế )

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp (theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(tỷ giá thực tế bình quân)

    (Nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá thực tế bình quân thì số chênh lệch được ghi vào bên Nợ TK 413).

    +Xuất ngoại tệ trả nợ cho người bán :

    Nợ TK 331-PTCNB (tỷ giá nhận nợ)

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)(theo tỷ giá thực tế)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá (nhận nợ lớn hơn tỷ giá thực tế)

    (Nếu tỷ giá nhận nợ nhỏ hơn theo tỷ giá thực tế thì số chênh lệch được ghi vào bên Nợ TK413)

    Đến cuối năm, cuối quý nếu có biến động lớn về tỷ giáthì phải đánh giá lại số ngoại tệ hiện có tại quỹ theo tỷ giá thực tế tại thời điểm cuôí năm, cuối quý ;

    +Nếu chênh lệch giảm :

    Nợ TK 413-Chênh lệch tỷ giá

    Có TK 111-Tiền mặt(1112)

    +Nếu chênh lệch tăng :

    Nợ TK 111-Tiền mặt(1112)

    Có TK 413-Chênh lệch tỷ giá

    1. Kế toán nhập xuất vàng, bạc, kim loại quý, đá quý : Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, các nghiệp vụ liên quan đến vàng, bạc, kim loại quý được hạch toán ở TK 111-

    Các nghiệp vụ tăng vàng, bạc, kim loại quý, đá quý ghi :

    Nợ TK 111- : Giá thực tế tăng

    Có TK 111(1111), Có TK 112(1121) : số tiền chi mua thực tế Có TK 511-Doanh thu bán hàng (bán hàng thu bằng vàng, bạc…)

    Có TK 138,144-Thu hồi các khoản cho vay, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ.

    Có TK 411-NVKD :Nhận liên doanh, cấp phát bằng vàng, bạc,

    đá quý

    Các nghiệp vụ ghi giảm theo bút toán ngược lại.

    8

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TIỀN MẶT

    TK 511,711,721                                        TK 111-TM                                           TK 112,

    113

    Doanh thu bán hàng và thu

    nhập hoạt động khác

    TK 112

    Rút tiền từ ngân hàng

    TK 131,136,138,141,144,144

    Thu hồi các khoản nợ, các

    khoản ký cược, ký quỹ

    TK 121,128,221,222,228

    Thu hồi các khoản

    đầu tư tài chính

    TK 411,451,461

    Nhận vốn, nhận liên doanh

    liên kết, nhận kinh phí

    TK 338(3381)

    Thừa tiền tại quỹ

    chờ xử lý

    Gửi tiền vào ngân hàng tiền đang chuyển

    TK

    152,153,156,211,213 Mua vật tư,

    hàng hoá, tài sản

    TK141

    ,161,627,641,642,811,821 Sử dụng cho chi phí

    TK

    121,128,221,222,228

    đầu tư tài chính

    TK311,315,333,33 4,336,338,341,342

    Thanh toán nợ phải trả

    TK 138 (1381)

    Thiếu tiền tại quỹ

    chờ xử lý

    2.     Kế toán tiền gửi ngân hàng

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể và cần thiết phải gửi tiền vào ngân hàng kho bạc Nhà nước hoặc công ty tài chính để thực hiện các nghiệp thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định hiện hành của pháp luật.

    9

     

    Chứng từ để hạch toán TGNH là các giấy báo Có, báo Nợ hoặc bản sao kê của ngân hàng kèm theo các chứng từ gốc (uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi…)

    Khi nhận được chứng từ của ngân hàng gửi đến, kế toán đối chiếu với chứng từ gốc đính kèm, thông báo với ngân hàng để đối chiếu, xác minh và xử lý kịp thời các khoản chênh lệch (nếu có).

    Để theo dõi tình hình biến động các khoản tiền gửi của doanh nghiệp tại ngân hàng kho bạc hoặc công ty tài chính, kế toán sử dụng TK112-TGNH

    *Kết cấu tài khoản 112 :

    • Bên Nợ : Các tài khoản tiền gửi vào ngân hàng.
    • Bên Có : Cá khoản tiền rút ra từ ngân hàng.
    • Số dư bên Nợ : Số tiền hiện còn gửi tại ngân hàng TK 112-Có 3 tài khoản cấp 2

    TK 1121 : Tiền Việt Nam TK 1122-Ngoại tệ

    TK 1123-Vàng, bạc, lim loại quý

    * Phương pháp hạchv toán trên TK 112-TGNH :

    cũng tương tự như đối với TK 111-Tiền mặt. Đồng thời cần lưu ý một số nghiệp vụ

    sau :

    • Số lợi tức gửi được hưởng : Nợ TK 111, 112 : Nếu thu tiền

    Nợ TK 138 : Phải thu khác-nếu chưc thu được

    Có TK 711 : Thu nhập hoạt động tài chính

    • Số chênh lệch số liệu trên sổ của doanh nghiệp so với số liệu của ngân hàng vào cuối tháng chưa rõ nguyên nhân :

    + Trường hợp số liệu của ngân hàng lớn hơn số liệu trên sổ của doanh nghiệp:

    Nợ TK 112-TGNH

    Có TK 338-Phải trả, phải nộp khác (3388)

    Sang tháng sau, khi xác định được nguyên nhân sẽ ghi sổ theo từng trường hợp:

    Nợ TK 338 : Phải trả, phải nộp khác (3388)

    Có TK 112-TGNH (nếu ngân hàng ghi sổ nhầm lẫn)

    Hoặc Có TK 511-Doanh thu bán hàng ( nếu doanh nghiệp ghi thiếu

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính

    Có TK 721-Thu nhập bất thường

    • Trường hợp số liệu của ngân hàng nhỏ hơn số liệu trên sổ kế toán của đơn vị: Nợ TK 138-Phải thu khác (1388)

    Có TK 112-TGNH

    Sang tháng sau khi xác định được nguyên nhân ghi :

    Nợ TK 112 (nếu ngân hàng ghi thiếu )

    Nợ TK 511, 811, 812…(nếu do doanh nghiệp ghi thừa)

    Có TK138 (1388) : Số thừa đã xử lý

    10

     

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TGNH

    TK 511,711,721                                  TK 112-TGNH                                                  TK 111

    Doanh thu bán hàng và thu

    nhập hoạt động khác

    TK 111

    Gửi tiền vào ngân hàng

    TK 131,136,138,141,144,144

    Thu hồi các khoản nợ, các

    khoản ký cược, ký quỹ

    TK 121,128,221,222,228

    Thu hồi các khoản

    đầu tư tài chính

    TK 411,451,461

    Nhận vốn, quỹ

    nhận kinh phí

    TK 338(3383)

    Chênh lệch số liệu NH lớn

    hơn số liệu của DN

    3.     Kế toán đang chuyển :

    Rút tiền về

    quỹ tiền mặt

    TK

    152,153,156,211,213

    Mua vật tư,

    hàng hoá, tài sản

    TK

    627,641,642,

    Dùng cho chi phí

    TK

    121,128,221,222,228 đầu tư tài chính

    TK311,315,333,33 4,336,338,341,342

    Thanh toán các khoản

    nợ phải trả

    TK 138 (1388)

    Chênh lệch số liệu của NH

    nhỏ hơn số liệu của DN

    Tiền đang chuyển là các khoản tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng kho bạc Nhà nước hoặc đã gửi vào bưu điện để chuyển cho ngân hàng hoặc đã làm thủ tục chuyển từ TK tại ngân hàng để trả cho các đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo Nợ hay bản sao kê của ngân hàng.

    Tiền đang chuyển gồm tuền VN và ngoại tệ đang chuyển trong các trường hợp sau :

    • Thu tiền mặt hoặc séc nộp thẳng cho ngân hàng
    • Chuyển tiền qua bưu điện trả cho đơn vị khác

    11

     

    • Thu tiền bán hàng nộp thuế ngay vào kho bạc giao tiền tay ba giữa doanh nghiệp, khách hàng và kho bạc Nhà nước

    Kế toán tiền đang chuyển được thực hiện trên TK 113-Tiền đang chuyển

    • Kết cấu
    • Bên Nợ : Các khoản tiền nội tệ, ngoại tệ, séc đã nộp vào ngân hàng hoặc đã chuyển vào bưu điện để chuyển cho ngân hàng
    • Bên Có : Số kết chuyển vào tài khoản TGNH hoặc các khoản Nợ phải trả.
    • Số dư bên Nợ : Các khoản tiền đang chuyển.

    TK này có 2 tài khoản cấp 2 :

    TK 1131-Tiền Việt Nam

    TK 1132-Ngoại tệ

    * Phương pháp kế toán một số các nghiệp vụ chủ yếu sau :

    • Thu tiền bán hàng, thu nợ khách hàng bằng tiền mặt hoặc séc nộp thẳng vào ngân hàng (không qua quỹ) ghi :

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có 511-Doanh thu bán hàng Có 131-Phải thu khách hàng

    • Xuất quỹ tiền mặt gửi vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng (đến cuối tháng) :

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có TK 111 (1111, 1112)-Tiền mặt

    • Làm thủ tục chuyển tiền từ TK ở ngân hàng để trả cho chủ nợ, cuối tháng chưa nhận được giấy báo Có của ngân hàng.

    Nợ TK 113-Tiền đang chuyển

    Có TK 112-TGNH

    -Khách hàng ứng trước tiền mua hàng bằng séc, doanh nghiệp đã nộp séc vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo Có :

    Nợ TK 113- Tiền đang chuyển

    Có 131-Phải thu khách hàng

    • Ngân hàng báo trước các khoản tiền đang chuyển đã vào tài khoản của đơn vị:

    Nợ TK 112-TGNH

    Có TK 113-Tiền đang chuyển

    • Ngân hàng báo về số tiền đã chuyển cho người bán, người cung cấp dịch vụ, người cho vay.

    Nợ TK 331-Phải trả cho ngươì bán Nợ TK 311-Vay ngắn hạn

    Nợ TK 315-Vay dài hạn đến hạn Có TK 113-Tiền đang chuyển

    SƠ ĐỒ TỔNG QUÁT KẾ TOÁN TIỀN ĐANG CHUYỂN

    TK 111, 112                                TK 113-TĐC                                                  TK 112

    12

     

    Tiền đã nộp vào NH, tiền gửi đã làm thủ tục chuyển

    TK 111,138

    Nhận tiền ứng trước và thu nợ bằng séc nộp vào NH

    TK 155

    Thu tiền bán hàng bằng séc nộp

    vào ngân hàng

    Tiền chuyển đã vào tài

    khoản tiền gửi

    TK 331

    Tiền đã chuyển tới

    tài khoản người bán

    TK 311, 315, 341, 342…

    Tiền chuyển tới trả nợ ngươi cho vay

     

    II. CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    Các khoản phải thu trong doanh nghiệp bao gồm số phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác.

    1.     Kế toán các khoản phải thu của khách hàng

    Phải thu của khách hàng là các khoản doanh nghiệp phải thu khách gàng về tiền bán sản phẩm, hàng hoá cung cấp lao vụ và dịch vụ, hoặc phải thu của người nhận thầu xây dựng cơ bản về khối lượng công tác xây dựng cơ bản đã hoàn thành.

    Kế toán các khoản phải thu cần tôn trọng các quy định có dtính nguyên tắc sau:

    • Phải hạch định chi tiết nợ phải thu cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán.
    • Các khách hàng thanh toán bù trừ giữa nợ phải thu và nợ phải trả có sự thoả thuận giữa hai bên và lập chứng từ bù trừ cộng nợ phải thu khó đòi thưo các quy định tài chính hiện hành.

    Kế toán các khoản phải thu của khách hàng và thanh toán các khoản phải thu được theo dõi trên TK 131-Phải trả cho khách hàng.

    • Nội dung kết cấu của TK 131 như sau :

    – Bên Nợ :

    + Số tiền phải thu của khách hàng về sản phẩm, hàng hóa đã giao, lao vụ dịch vụ đã cung cấp và đã đựoc xác định là tiêu thụ.

    + Số tiền thừa đã trả lại cho khách hàng – Bên Có :

    + Số tiền khách hàng đã trả

    + Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng

    + Các khoản triết khấu giảm gía và doanh thu của hàng bán chưa thu tiền bị khách

    hàng trả lại

    • Số dư bên Nợ : Số tiền còn lại phải thu của khách hàng

    TK 131 có thể có số dư bên Có,phản ánh số tiền đã nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải thu của khách hàng.

    • Trình tự hạch toán :
    • Doanh thu bán hàng đã trả châm, đã được xác định là tiêu thụ :

    13

     

    Nợ TK 131-Phải thu của khách hàng

    Có TK 511-Doanh thu bán hàng

    • Các khoản triết khấu bán hàng (doanh nghiệp cho khách hàng được hưởng nếu có) Nợ TK 521-Triết khấu bán hàng

    Có TK 131-Phải trả cho khách hàng

    • Số tiền giảm giá cho khách hàng do hàng kém phẩm chất, không đúng quy cách hoặc giao hàng không đúng thời hạn trong hợp đồng :

    Nợ TK 532-Giảm gía hàng bán

    Có TK131- Phải thu của khách hàng

    • Doanh thu của khối lượng hàng đã bán chưa thu tiền bi khách hàng trả lại
    • Số tiền nhận ứng trước hoặc trả trước của khách hàng

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng

    • Nhận tiền do khách hàng trả lại (kể cả số lãi do trả chậm-nếu có) Nợ TK 111, 112

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng (phần nợ gốc)

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính (phần lãi)

    • Nếu khách hàng thanh toán theo phương thức đổi gàng, căn cứ giá trị vật tư, hàng hóa nhập kho tính theo giá trao đổi ghi trong hợp đồng kinh tế trừ vào số nợ phải thu, kế toán ghi :

    Nợ TK 152, 153, 156 (theo phương pháp kê khai thường xuyên)

    Nợ TK 611-Mua bán (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Có TK 131-Phải thu của khách hàng

    – Trường hợp thanh toán bù trừ (do khách hàng vừa là người mua , vừa là người

    bán)

    Nợ TK 331-Phải trả người bán

    Có TK 131-Phải trả cho khách hàng

    -Xoá sổ các khoản nợ phải thu khó đòi được :

    Nợ TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi

    Có TK 131- Phải trả cho khách hàng

    Đồng thời ghi đơn bên Nợ TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý (để có thể tiếp tục truy thu số nợ đó).

    14

     

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN PHẢI THU CỦA KHÁCH HÀNG

    TK 511                                            TK 131-PTCKH                          TK 521,531,532

                               
      Doanh thu bán hàng Triết khấu bánhàng,hàng bán      
      chưa thu tiền      
      bị trả lại,giảm gía hàng bán      
                     
                               
    TK 711,721 111,112,113     TK
                           
            Thu nhập khác Khách hàng ứng trước và      
            chưa thu tiện Thanh toán tiền      
                               
    TK111,331,112             TK 331
          Các khoản chi hộ Bù trừ nợ        
          cho khách hàng      
                         
                139         TK
                       
                             
                Xoá sổ nợ      
                không đòi được      

    2.     Kế toán khoản phải thu nội bộ

    Phải thu của nội bộ là các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên, cấp dưới, giữa các đơn vị cấp dưới với nhau trong đó đơn vị cấp trên là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị cấp dưới là các đơn vị thành viên phụ thuộc có tổ chức công tác kế toán riêng.

    Hạch toán phải thu nội bộ thực hiện trên TK 136

    • Nội dung và kết cấu của TK 136 :

    – Bên nợ :

    + Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị khác

    + Số tiền cấp trên phải thu về các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp

    + Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về, các khoản cấp trên phải cấp xuống + Số vốn kinh doanh đã cấp cho đơn vị cấp dưới

    – Bên Có :

    + Số tiền đã thu về các khoản phải thu trong nội bộ

    + Bù trừ phải thu với phải trả trong nội bộ của cùng một đối tượng

    15

     

    • Thu hồi vốn cũ ở các đơn vị thành viên quyết toán với các đơn vị thành viên về kinh phí sự nghiệp đã cấp đã sử dụng

    – Số dư bên nợ : Số còn phải thu ở các đơn vị nội bộ doanh nghiệp. TK 136 -Phải trả nội bộ có 2 TK cấp 2 :

    TK 1361-Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc (chỉ mở cho đơn vị cấp trên)

    TK 1368-Phải thu nội bộ khác

    • Trình tự hạch toán
    1. Hạch toán ở đơn vị cấp trên :
    • Cấp trên cấp hoặc giao vốn kinh doanh kinh phí sự nghiệp cho đơn vị cấp dưới

    Nợ TK 136-Phải thu nội bộ (1361)

    Có TK 111, 112

    • Cấp cho đơn vị cấp dưới bằng TSCĐ :

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)(theo gía trị còn lại)

    Có TK 214-HMTSCĐ (giá trị hao mòn)

    Có TK 211-TSCĐHH (nguyên giá)

    • Nếu đơn vị cấp dưới nhận vốn hoặc kinh phí trực tiếp từ ngân sách (theo uỷ quyền của đơn vị cấp trên)

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    Có TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    • Trường hợp đơn vị cấp dưới nhận hàng viện trợ không hoàn lại hoặc mua sắm TSCĐ bằng nhận vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quỹ đầu tư phát triển, khi nhận được báo cáo của đơn vị cấp dưới gửi lên.

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    Có TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    -Vốn kinh doanh của đơn vị cấp dưới được bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh theo sự phê duyệt của báo cáo tài chính của đơn vị cấp dưới.

    Nợ TK 136 (1361)

    Có TK 411

    -Khi đơn vị cấp dưới hoàn lại vốn kinh doanh cho đơn vị cấp trên

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 136 (1361)

    • Khi đơn vị cấp dưới hoàn lại vốn kinh doanh cho ngân sách theo uỷ quyền của đơn vị cấp trên

    Nợ TK 411-Nhận vốn kinh doanh

    Có TK 136-Phải trả nội bộ (1361)

    • Khoản phải thu ở các đơn vị phụ thuộc để lập quỹ quản lý cấp trên Nợ TK 136- Phải trả nội bộ (1368)

    16

     

    Có TK 451-Quỹ quản lý cấp trên

    • Khoản phải thu về lãi kinh doanh của các đơn vị cấp dưới
    • Khoản phải thu theo ở đơn vị cấp dưới về quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi:
    • Các khoản chi hổtả hộ các khoản cho đơn vị cấp dưới :
    • Tổng hợp duyệt quyết toán cho cấp dưới về các khoản kinh phí sự nghiệp.
    • Khi nhận được các khoản phải nộp theo nghĩa vụ của các đơn vụ cấp dưới hoặc thanh toán bù trừ
    • Khi nhận các khoản cấp dưới chuyển trả về các khoản đã chi trả hộ

    Nợ TK 161-Chi phí sự nghiệp

    Có TK 136 (1368)

    1. Hạch toán ở các đơn vị cấp dưới
    • Khi chi phí hộ, trả hộ các khoản chi phí cho đơn vị cấp trên và các đơn vị khác trong nội bộ :

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 111, 112

    • Phản ánh số quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng, phúc lợi sẽ được cấp trong kỳ “

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 414-Quỹ đầu tư phát triển

    Có TK 415-Quỹ dự phòng tài chính

    17

     

    Có TK 431-Quỹ khen thưởng, phúc lợi

    • Số lỗ về hoạt động sản xuất kinh doanh đã được cấp trên chấp nhận cấp bù Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 421-Lãi chưa phân phối

    -Doanh thu bán hàng nội bộ phải thu ở đơn vị cấp trên và các đơn vị nội bộ khác.

    Nợ TK 136-Phải trả nội bộ (1368)

    Có TK 512-Doanh thu bán hàng nội bộ

    • Khi được thanh toán bằng tiền, vật tư hoặc tài sản về các khoản phải thu nội bộ: Nợ TK 111, 112, 152, 153

    Có TK 136-Phải thu nội bộ (1368)

    • Bù trừ các khoản phải thu, phải trả nội bộ :

    Nợ TK 336- Phải trả nội bộ

    Có TK 136-Phải thu nội bộ (1368)

    18

     

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN PHẢI THU NỘI BỘ

    • Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc

    TK 111,112,152,153                            TK 136 (1361)                                                  TK 111, 112

    Cấp vốn cho cấp dưới

    bằng tiền, vật tư

    TK 211, 213

    Cấp vốn cho cấp dưới

    bằng tài sản cố định

    TK 214

    TK 411

    Vốn KD tăng ở đơn vị cấp

    dưới do ngân sách cấp

    trực tiếp, nhận viện trợ

    Thu hồi vốn kinh doanh ở cấp dưới

    TK 411

    Hoàn vốn kinh doanh cho Nhà nước từ cấp trên

    • Các khoản phải thu nội bộ khác

    TK 111, 112                                                  TK 136 (1368)                                                           TK 111, 112

    Số đã chi hộ

    TK 511, 711, 721

    Doanh thu bán hàng & thu

    Nhập khác nhờ thu hộ

    TK 414,415,431,451

    Phải thu về các quỹ

    TK 412

    Lãi phải thu

    Lỗ được cấp bù

    TK 512

    Doanh thu bán hàng nội bộ

    Đã nhận tiền thu

    thu hộ, chi hộ

    TK 336

    Bù trừ các khoản phải thu phải trả nội bộ

    19

     

    3.     Kế toán các khoản phải thu khác

     

    Các khoản phải thu khác bao gồm :

     

    – Giá trị tài sản thiếu chưa rõ nguyên nhân đang chờ xử lý

     

    – Các khoản phải thu về bồi thườn vật chất do cá nhân hoặc tập thể trong và ngoài

    đơn vị gây ra.

    • Các khoản cho vay, cho mượn vật tư, tiền vốn, TSCĐ có tính chất tạm thời không tính lãi
    • Các khoản thu nhập phải thu của hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
    • Các khoảnđã chi trả cho hoạt động sự nghiệp, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất kinh doanh nhưng không được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải thu hồi hoặc xử lý.
    • Các tài khoản tiền gửi vào tài khoản chuyên thu, chuyên chi để nhờ đơn vị uỷ thác xuất, nhập khẩu hoặc nhận đại lý bán hàng nộp hộ các loại thuế của đơn vị có hàng đại lý hoặc đơn vị uỷ thác.
    • Các khoản phải thu ở công nhân viên, phải thu về tiền nhà, điện nước, bảo hiểm y tế mà người lao động phải đóng góp, các khoản phải thu hộ ở người lao động cho toà án về các án quân sự…

    Kế toán các khoản phải thu khác được phản ánh trên TK 138 * Nội dung và kết cấu TK 138 như sau :

    • Bên Có :
    • Giá trị tài sản thiếu cần được xử lý
    • Số tiền đã thu được thuộc nợ phải thu khác

    – Bên Nợ :

    • Giá trị tài sản thiếu chờ giải quyết

    +Các khoản phải thu khác

    • Số dư bên Nợ : Các khoản nợ khác còn phải thu

    TK 138 có 2 tài khoản cấp II :

    TK 1381 : Tài sản thiếu chờ xử lý

    TK 1388 : Phải thu khác

    • Trình tự hach toán
    1. Kế toán Tài sản thiếu chờ xử lý :

    Chỉ hạch toán vào TK 1381- Tài sản thiếu chờ xử lý, các tài sản thiếu mất hoặc hư hỏng chưa xác định được nguyên nhân. Trường hợp đã xác định được nguyên nhân và có biên bản xử lý thì hạch toán ngay vào các TK liện quan. Không hạch toán qua TK1381

    • Nếu TSCĐHH thiếu, mất chưa rõ nguyên nhân : Nợ TK 138-Phải thu khác (1381) (giá trị còn lại) Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ (giá trị hao mòn)

    Có TK 211-TSCĐHH (nguyên giá)

    • Nếu vật tư hàng hoá và tiền mặt tồn quỹ …thiếu, mất chưa rõ nguyên nhân3 Nợ TK 138-Phải thu khác (1381)

    Có TK 111, 152, 153, 155, 156

    • Khi có quyết định xử lý của cấp có thẩm quyền :

    Nợ TK 411, 334, 441, 821, 627, 642, 641…

    20

     

    Có TK 138 (1381)

    1. Kế toán các khoản phải thu khác
    • Tài sản thiếu mất đã xác định được nguyên nhân và người chịu trách nhiệm bồi

    thường :

    Nợ TK 138

    Có TK 152, 153,155, 156, 111

    • Các khoản cho vay mượn vật tư, tiền vốn tam thời không trả lãi và các khoản phải thu khác

    Nợ TK 138 (1388)

    Có TK 152, 153

    • Các khoản thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thường phải thu (thu về cho thuê TSCĐ, lãi đầu tư tài chính, tiền được phạt, tiền được bồi thương…)

    Nợ TK 138-Phải thu khác (1388)

    Có TK 711-Thu nhập hoạt động tài chính Có TK 721- Thu nhập bất thường

    • Khi thu hồi các khoản nợ phải thu khác

    Nợ TK 111, 112

    Có TK138 (1388)

    4.     Kế toán dự phòng phải thu khó đòi :

    Lập dự phòng cho các khoản phải thu khi có những bằng chứng tin cậy về các

    khoản phải thu khó đòi khi khách hàng bị phá sản mất khả năng thanh toán…Việc lập dự

    phòng nợ phải thu khó đòi được thực hiện vào cuối niên độ kế toán, mức lập dự phòng

    và xử lý xóa nợ phải thưo quy định của chế độ tài chính của doanh nghiệp.

    Kế toán dự phòng phải thu khó đòi thực hiện trên TK 139:

    • Nội dung và kết cấu TK 139 như sau :

    – Bên nợ :

    + Các khoản nợ phải thu khó đòi phải xử lý xoá nợ

    + Hoà nhập dự phòng vào cuối niên độ -Bên có :

    + Trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi tính vào chi chí phí

    – Số dư bên có : Số dự phòng các khoản phải thu khó đòi còn lại cuối kỳ.

    • Trình tư hạch toán :
    • Khi xác định mức dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp (ghi vào cuối niên độ kế toán)

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp (6426)

    Có TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi

    • Trong niên độ tiếp theo hoàn nhập dự phòng cho các khoản nợ khó đòi đã đòi được (theo số đã lập dự phòng cho các khoản này)

    Nợ TK 139- Dự phòng phải thu khó đòi

    Có TK 721-Các khoản thu nhập bất thường

    • Trong niên độ tiếp theo xoá sổ các khoản nợ khó đòi được :

    Nợ TK 139- Dự phòng phải thu khó đòi

    21

     

    Có TK 131, 138

    Đồng thời ghi đơn Nợ TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý để tiếp tục theo dõi các khoản nợ này.

    • Nếu sau đó thu hồi được khoản nợ này (trong niên độ hoặc những kỳ sau) thì được xử lý như một khoản thu nhập bất thường của thời kỳ thu được tiền, kế toán ghi :

    Nợ TK 111, 112

    Có TK 721-Thu nhập bất thường

    Đồng thời ghi đơn Có TK 004-Nợ khó đòi đã xử lý

    • Cuối niên độ tiếp theo, căn cứ vào số dư TK 139 kỳ trước chuyển sang và số dự phòng cần lập niên độ sau để ghi :

    + Nếu số cần lập dự phòng nhỏ hơn số dự phòng còn lại ở TK 139 thì khoản chênh lệch được ghi :

    Nợ TK 139-Dự phòng nợ phải thu khó đòi Có TK 721-Thu nhập bất thường

    + Nếu như số dự phòng cần lập lớn hơn số dự phòng còn lại : Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK 139-Dự phòng phải thu khó đòi (phần chênh lệch)

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN PHẢI THU KHÁC

      TK111,112,152,153,156     TK 138-PTK     TK 111,331,334  
               
                Thu tiền, khấu                
          Tiền,vật tư,thành phẩm,hàng   trừ          
              hoá thiếu hụt chờ xử lý                          
        TK 211,213                 TK 411  
              TSCĐ thiếu chờ xử lý Xử lý   Giảm nguồn          
                        TK 214   tài sản   vốn KD          
                                thiếu   TK627,641,642,821  
    TK 111,112,152,153              
                tiền, vật tư tạm thời                        
          Cho vay       Tính vào CF          
              không tính lãi                              
                                       
                                                     
    TK 711, 721         Đã thu các   TK 111,112,152…  
            Thu nhập hoạt động khác                    
            khoản phải          
              chưa thu tiền       thu khác          
                                                     
    TK 161,241,641.642       Bù trừ phải thu hồi TK 338  
                           
            Các khoản chi phí không          
                     
            được duyệt, phải thu hồi                          
                                               
              SƠ ĐỒ KẾ TOÁN DỰ PHÒNG PHẢI THU KHÓ ĐÒI  
    TK 131, 138 TK 139         TK 642  

    22

     

        sổ các khoản nợ không        
      Xoá thể Lập dự phòng phải thu
      đòi được (trong niên độ tiếp khó đòi (cuối niên độ) (1)
        theo) (2)      
                 

    TK 721

    Hoàn nhập dự phòng   Lập tiếp dự phòng
    (cuối niên độ tiếp theo)(4b)   (cuối niên độ tiếp theo)(4)
         
      TK 111,112        
    Nợ khó đòi đã xoá sổ            
               
    nay đòi được (3)       TK 004
              (2) (3)  
                   

    5.     Kế toán các khoản ứng trước

    1. Kế toán các khoản tạm ứng : (141)

    Kế toán tạm ứng và thanh toán tạm ứng được là lhoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nận tạm ứng để được thực huện một công việc đã được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là người công nhân viên chức hoặc người lao động tại doanh nghiệp. Đối với người nhận tạm ứng thường xuyên (nhân viên cung ứng vật tư, hành chính quản trị…(phải được giám đốc doanh nghiệp chỉ định bằng văn bản)

    Muốn được tạm ứng tiền, người nhận tạm ứng phải lập “Giấy đề nghị tạm ứng” (mẫu số 03-TT) theo mẫu quy định. Giấy đề nghị tạm ứng sau khi được giám đốc phê duyệt là căn cứ để lập phiếu chi và thủ quỹ xuất tiền. Người nhận tạm ứng chỉ được sử dụng tạm ứng theo đúng mục đích và nội dung công việc đã được phê duyệt và không chuyển giao cho người khác.

    Khi kết thúc công việc người nhận tạm ứng phải lập “Giấy thanh toán tạm ứng (mẫu số 04-TT) kèm theo các chứng từ gốc để thanh quyết toán số đã nhận tạm ứng.

    Kế toán tạm ứng và thanh toán tạm ứng được theo doic trên TK 141-Tạm ứng

    • Nội dung và kết cấu TK 141 như sau :

    – Bên Nợ :

    + Các khoản tạm ứng cho người nhận tạm ứng

    – Bên Có :

    + Các khoản tạm ứng đã thanh toán

    + Số tạm ứng chi không hết nhập lại quỹ hoặc khấu trừ vào lương – Số dư bên Nợ : Số tiền tạm ứng chưa thanh toán

    Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng nhận tạm ứng, từng lần và

    khoản nhận tạm ứng, thanh toán tạm ứng.

    • Trình tự hạch toán
    • Khi giao tạm ứng cho người nhận tạm ứng : Nợ TK 141-Tạm ứng

    Có TK 111, 112

    • Khi thanh toán tạm ứng :

    23

     

    • Trường hợp số thực chi theo chứng từ gốc nhỏ hơn số đã tạm ứng, căn cứ số thực chi để ghi các TK liên quan :

    Nợ TK 142-Chi phí trả trước

    Nợ TK 151-Hàng mua đang đi đường Nợ TK 152, 153

    Nợ TK 156-Hàng hóa Nợ TK 211-TSCĐHH

    Nợ TK 213-TSCĐVH

    Nợ TK 331-PTNB

    Nợ TK 611-Mua hàng (nếu áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ)

    Nợ TK 627-Chi phí sản xuất chính

    Nợ TK 641-Chi phí bán hàng

    Nợ TK 642-Chi phí quản lý doanh nghiệp

    Có TK141-Tạm ứng

    • Xử lý các khoản, tạm ứng chi tiết hết : Nợ TK 111, 112

    Nợ TK 334-PTCNV (khấu trừ vào lương)

    Có TK 141-Tạm ứng

    • Nếu số thực chi theo chứng từ gốc đã được duyệt lớn hơn số đã tạm ứng ngoài các bút toán, phản ánh chi phí tạm ứng, kế toán lập phiếu chi thanh toán bổ sung cho người nhận tạm ứng :

    Nợ TK 141-Tạm ứng

    Có TK 111-Tiền mặt

    1. Kế toán chi phí trả trước (TK 142)

    Là khoản chi thực tế FS nhưng liên quan đến nhiều kỳ hạch toán nên phải được phân bố theo quy định hiện hành, chi phí trả trước gồm có :

    Œ Bảo hiểm trả trước, các loại lệ phí mua và trả một lần trong năm

     Trả trước về thuê tài sản, dịch vụ hoặc lao vụ cho hoạt động kinh doanh

    Ž Công cụ dụng cụ loại phân bổ dần và loại xuất dùng để trang bị lần đầu hoặc thay thế hàng loạt với giá trị lớn.

     Chi phí nghiên cứu thí nghiệm, FS sáng chế, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất kinh doanh (không đủ tiêu chuẩn TSCĐVH).

     Chi phí ngừng việc

    ‘ Chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí vật liệu vận chuyển

    (ván khuôn, cốt pha, giàn giáo…) dùng trong xây dựng cơ bản.

    ’ Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ FS một lần quá lớn.

    “ Chi phí trồng mới cây trồng một lần thu hoạch nhiều lần.

    ” Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển…

    Kế toán chi phí trả trước được thực hiện ở TK 142 * Nội dung và kết cấu TK 142

    – Bên Nợ :

    • Các khoản chi phí trả trước phát sinh thực tế
    • Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển.

    – Bên Có :

    24

     

    • Chi phí trả trước đã tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
    • Kết chuyển chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
    • Số dư Nợ :
    • Chi phí trả trước chưa tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
    • Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển.

    TK 142 có 2 TK cấp II

    TK 1421-Chi phí trả trước

    TK 1422-Chi phí chờ kết chuyển

    * Trình tự hạch toán :

    – Khi phát sinh các khoản chi phí trả trước :

    Nợ TK 142 : Chi phí trả trước (1421)

    Có TK 111, 112, 152, 153, 331, 334, 338, 214…

    – Định kỳ tính dần chi phí trả trước và chi phí sản xuất kinh doanh Nợ TK 241, 627, 641, 642

    Có TK 142 (1421)-Chi phí trả trước

    – Xác định chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp chờ kết chuyển (đối với

    các đơn vị có chu kỳ kinh doanh dài) vào cuối kỳ kế toán ghi :

    Nợ TK 142 (1422)

    • Khi tính toán kết chuyển Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ở kỳ kế toán sau ghi : Nợ TK 911
              Có TK 142 (1422)                      
              SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẠM ỨNG                  
      TK 111 TK 141   TK 121, 128
                    ĐTNHạn                  
                                       
                                       
              Tạm ứng       TK152,153,161,611
      TK 112                      
                               
                                       
                  Thanh toán TK211,213,221,222,241
                                   
                                   
                  tạm ứng     TK 627, 641, 642
                                   
                                       
                                       
                                       

    SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC

    TK111,112,152,153,331                         TK 142-CPTT                                   TK 627,641,642

    25

     

    Chi phí trả trước

    thực tế FS

    TK 241(2413)

    Kết chuyển

    TK 641,642

    CFBH,CFQLDN

    chờ kết chuyển

    Chi phí trả trước phân bổ dần cho các đối tượng

    TK 911

    Kết chuyển CFBH,

    CFQLDN

    PHẦN II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN

    VỐN BẰNG TIỀN VÀ CÁC KHOẢN THANH TOÁN

    TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/ 2

    I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/2.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.

    Nhà máy ô tô 3/2 được thành lập ngày 9/3/1964 taị quyết định số 185/QĐTC/ 9/3/1964 của Bộ Giao thông Vận tải do đồng chí Phạm Trọng Tuệ – cấp trên trực tiếp của nhà máy ký. Trước đây là Cục cơ khí Bộ GTVT nay là liên hiệp các xí nghiệp cơ khí GTVT – Bộ GTVT.

    Trụ sở chính đặt tại đường Giải Phóng – Phường Phương Mai – Quận Đống Đa – Hà nội.

    • Nhiệm vụ chủ yếu của nhà máy:

    Sửa chữa lớn (từ cấp phục hồi, đại tu trở xuống tất cả các loại xe du lịch và xe công tác)

    Sản xuất hàng loạt các loại phụ tùng của các loại xe con và xe tải cung cấp cho thị trường. Từ khi thành lập đến nay, nhà máy đã trải qua nhiều giai đoạn khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhà máy đã được nhà nước tặng một huân chương lao động hạng II và một huân chương lao động hạng

    • về thành tích sản xuất và chiến đấu trong những năm chống Mỹ cứu nước. Được Bác Hồ và Bác Tôn gửi lẵng hoa, thời kỳ đầu của nhà máy chỉ có dưới

    26

     

    200 cán bộ CNV với vài chục máy móc thô sơ chủ yếu được phục vụ việc sửa chữa vặt và đột xuất các xe công tác cho cơ quan trung ương đóng tại HN.

    Sau đó nhà máy dần dần phát triển toàn diện và khá đồng bộ mà đỉnh cao là những năm cuối thập kỷ 80, số cán bộ công nhân viên chức lên đến gần 700 người, trong số đó số CB KHKT có trình độ ĐH và trung cấp chiếm 10% số công nhân bậc cao thuộc đủ các ngành nghề cơ khí tính từ bậc 4 đến 7/7 chiếm 18%. Nhiều loại trong thiết bị mới tương đối hiện đại được nhà nước trang bị đưa điều kiện sản xuất công nghệ cao các mặt hàng cơ khí chính xác như bộ đôi bản cao áp, các loại xe IFA, W50L, máy 3D12, D2….chính xác cấp I tổng số thiết bị có trên 200 chiếc.

    Diện tích nhà xưởng được mở rộng, có hệ thống kho tàng và đường vận chuyển nội bộ hoàn chỉnh.

    Diện tích nhà sản xuất trên 8000 m2

    2

    Diện tích kho tàng trên 1500 m2

    Về chủng loại mặt hàng cũng tăng nhanh

    Đối với khâu sửa chữa ô tô trước đây, nhà máy chỉ chuyên sửa chữa các

    loại mác xe do các nước XHCN sản xuất như : Bắc Kinh, Gat 69, Volga…

    Đến nay ngoài các mác xe cũ nhà máy đã sửa chữa lớn (có công trình công nghệ ổn định tất cả các mác xe thuộc các nước tư bản sản xuất như: toyota, nissan, pozo…..chất lượng ngày càng cao cả về kỹ thuật và mỹ thuật.

    Về phụ tùng ngày nay nhà máy có đủ thiết bị và điều kiện công nghệ để sản xuất trên 30 loại phụ tùng, cung cấp cho thị trường như bộ đôi bản cao áp các loại xe, máy diezen, roăng đệm máy các loại, còi điện 12V, gương phản chiếu….có loại sản phẩm đạt huy chương vàng trong các cuộc triển lãm kinh

    tế toàn quốc và là sản phẩm duy nhất của ngành GTVT được cấp dấu chất lượng cấp I và đang phấn đấu đạt chất lượng cao.

    Các loại sản phẩm này đã giúp cho nhà nước hạn chế phần ngoại tệ để nhập vào nước ta. Sản lượng những năm trước đây đạt trên 40 tấn phụ tùng/năm. tuy nhiên, trong những năm 1989 đến năm 1991 do yếu tố tác động nên sản lượng có giảm.Đặc biệt do việc nhập hàng ngoại từ nhiều nguồn trong các năm qua nên số lượng phụ tùng do nhà maý sản xuất giảm đáng kể.

    Trước tình hình trên, cuối năm 1991 đến nay được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ và liên hiệp cộng với sự nỗ lực của nhà máy chúng ta đã dần khôi phục lại tín nhiệm với khách hàng và đưa công tác quản lý nhà máy vào nề nếp cụ thể là:

    27

     

    Tập trung mọi cố gắng nhằm nâng cao chất lượng sửa chữa xe các loại (kỹ thuật và mỹ thuật) để đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác. Trong sửa chữa xe, sẽ đi sâu vào các mác xe do Nhật, Pháp sản xuất vì thực tế số xe do Liên Xô cũ và các nước Đông Âu sẽ giảm dần.

    Về mặt công nghệ, nhà máy sẽ đầu tư thích đáng một bộ phận sơn xấy có chất lượng cao. Tiếp tục phát huy khả năng hiện có của phân xưởng sản xuất bộ đôi bản cao áp của xe ôtô, công ty cũng đã sản xuất được nhiều bộ đôi cho đầu máy xe lửa và máy tầu thuỷ loại 3Đ12, IFA, W50L, máy 1800CV cho vận tải biển và máy tầu Na uy của thuỷ sản Hải Phòng….

    2. Đặc điểm tổ chức hoạt động SXKD của công ty cơ khí ôtô 3/2.

    Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2000 của công ty đã kết thúc nhìn nhận đánh giá chung năm 2000 thực sự là năm khởi sắc của công ty cơ khí 3/2 sau hơn 10 năm khủng hoảng do không theo kịp sự chuyển biến của cơ chế để đi vào một thời kỳ mơí, thời kỳ phát triển toàn diện. Doanh thu của năm 2000 công ty đã đạt trên 10 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần năm 1999 và đạt cao nhất so với các năm khác. Nguồn công việc đã dồi dào hơn, đặc biệt là khu vực sản xuất cơ khí, thu nhập, đời sống của người lao động cũng được nâng lên rõ rệt, vượt qua các chỉ tiêu mà đại hội CNVC đầu năm đã đề ra các chỉ tiêu về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đều hoàn thành vượt mức. Đó là kết quả đoàn kết nhất trí, cùng sự năng động sáng tạo và quyết tâm phấn đấu của toàn thể cán bộ CNV công ty trong những năm vừa qua.

    Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2000 chúng ta có những thuận lợi khó khăn:

    • Thuận lợi: Đảng uỷ lãnh đạo công ty đoàn kết nhất trí đồng thời đề xuất những phương hướng đúng cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.

    + Ban lãnh đạo hoạt động tích cực, năng động sáng tạo

    • Bộ máy quản lý được sắp xếp lại và bổ sung tăng cường thêm đã phát huy được tốt trong công tác quản lý điều hành sản xuất kinh doanh.
    • Các cán bộ CNV trong công ty đều đồng tâm hiệp lực quyết tâm phấn đấu đưa công ty đi lên, khắc phục khó khăn.

    Được sự quan tâm giúp đỡ của ban lãnh đạo và các phòng ban nghiệp vụ của Tổng công ty Bộ GTVT và các đơn vị bạn, phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng kể cả lĩnh vực có liên quan đến xuất nhập khẩu.

    28

     

    • Khó khăn: cũng nằm trong khó khăn chung của ngành cơ khí đó là công việc ít, sản lượng thấp, không ổn định, về năng lực còn hạn chế, về con người kể cả cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật qua nhiều năm chưa được bổ sung kiến thức hay đào tạo lại, về trang thiết bị phục vụ sản xuất hầu hết thuộc chế độ cũ, đã lạc hậu và công nghệ kém chính xác.

    Các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2000 của công ty đã có nhiều cố gắng và đạt được một số chỉ tiêu, kết quả nhất định. Cụ thể của năm

    2000 so với năm 1999 :

    1. Giá trị sản lượng Năm 2000 So   với   năm  
    – Tổng doanh thu 11.027.232.000 1999  
    244 %  
    – Sản lượng hàng hoá thực hiện 10.207.312.000
    248 %  
     
    – Sản lượng hàng hoá  
    10.895.611.000 297 %  
     
       
           
    2. Tài chính 52.000.000 520 %  
    – Lãi thực hiện
         
    – Các khoản nộp ngân sách, trong 456.709.000 517 %  
    đó:      
    + Thuế VAT 245.705.000    
    + Thuế thu nhập 10.000.000    
    6.934.000    
    + Thuế vốn    
         
    – Các khoản nộp khác 197.070.000    
    + BHXH 156.000.000    
    + BHYT    
    26.900.000    
         
           
    3. Lao động tiền lương      
    – Tổng số lao động trong danh sách 248    
    – Tổng số lao động thực tế làm việc 177 123 %  
    – Thu nhập bình quân đầu người 810.000/ng/thang 157 %  
           

    Qua số liệu 2 năm, năm 2000 so với năm 1999 ta thấy quy mô hoạt động sản xuất của năm 2000 được mở rộng đáng kể, cụ thể: doanh thu tăng gấp 2 lần so với năm 1999 điều này chứng tỏ công ty có những nguồn hàng

    29

     

    ổn định và tổ chức tốt công tác bán hàng và mua hàng, tổ chức sản xuất nâng cao năng suất lao động, áp dụng tiến bộ KHKT cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng phù hợp với thị hiếu của khách hàng.

    • Thực hiện mọi cam kết trong hợp đồng kinh tế đã ký kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Mọi hoạt động sản xuất kinh doành của công ty đều được thực hiện theo các quy định, quy chế đã thông qua.
    • Về sản xuất cơ khí, năm 2000 công ty đã đầu tư trên 300 triệu đồng để mua các thiết bị hàn hiện đại gồm 14 máy hàn mác, một máy hàn TICT
    • Tổ chức sản xuất các loại khung xe máy khá đồng bộ với công nghệ hiện đại với các thiết bị thi công đồ gá, kiểm tra tự trang bị.
    • Thiết kế quy trình công, xây dựng định mức vật tư cho việc đóng mới xe ca và các loại xe hoán cải, theo yêu cầu của khách hàng.

    Phòng kỹ thuật đã phối hợp chặt chẽ với phân xưởng thiết kế quy trình công nghệ hàn khung xe Ware, Dream thiết kế các gá hàn càng, chân chống để đạt yêu cầu chất lượng và nâng cao năng suất.

    • Bán buôn, bán lẻ trên thị trường nội địa những mặt hàng thuộc phạm
    • công ty sản xuất kinh doanh.

    3. Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty.

    • Đứng đầu công ty là giám đốc do Bộ trưởng GTVT bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trước pháp luật, trước tập thể cán bộ CNVC của công ty về việc tồn tại và phát triển cũng như các hoạt động ký kết hợp đồng thế chấp, vay vốn, tuyển dụng nhân viên, bố trí, sắp xếp lao động. Giám đốc công ty có quyền tổ chức bộ máy quản lý mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhiệm vụ của công ty.

    Trong ban GĐ, giúp việc cho GĐ, có một đồng chí phó GĐ phụ trách sản xuất và giải quyết công việc khi GĐ đi vắng.

    Giúp GĐ có các phòng chức năng bao gồm:

    • Phòng kế hoạch vật tư làm tham mưu cho GĐ về xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, duyệt kế hoạch với cấp trên, đề xuất các biện pháp tổ chức thực hiện thắng lợi. Tham mưu về hướng phát triển sản xuất kinh doanh chuyển hướng sản xuất sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường về công tác tiêu thụ sản phẩm, mua sắm vật tư, phụ tùng phục vụ sản xuất và kinh doanh, luôn chăm lo tìm kiếm công việc, làm các hợp đồng kinh tế, quản lý kho vật tư phụ tùng, kho bán thành phẩm sử dụng vào khai thác.
    • Phòng kế toán, tài chính: tham mưu cho GĐ quản lý các mặt công tác tài chính, sử dụng nguồn vốn và khai thác khả năng vốn của nhà máy đạt hiệu

    30

     

    quả cao, biện pháp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đối với nhà nước và luôn luôn chủ động chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh.

    • Phòng kỹ thuật – KCS tham mưu cho GĐ trong công tác xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao, các sản phẩm chất lượng năng xuất lao động, tiết kiệm vật tư, hạ giá thành hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật và quản lý chặt chẽ các chỉ tiêu kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, duy trì và từng bước nâng cao uy tín của nhà máy đối với khách hàng để đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác.
    • Phòng nhân chính: làm công tác hành chính, tổ chức cán bộ, lập các phương án về tổ chức sản xuất phù hợp với từng giai đoạn sử dụng lao động, cân đối lao động, phục vụ sản xuất kinh doanh, tham mưu về thực hiện các chế độ chính sách, xã hội đối với công nhân viên, xây dựng và ban hành kịp thời các quy chế trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh của nhà máy phù hợp với từng thời kỳ và phù hợp với chế độ chính sách của nhà nước.

    Sơ đồ bộ máy quản lý tổ chức của công ty cơ khí ô tô 3/2

    Giám đốc

    Phó Giám đốc

     

    Phòng điều độ

    sn xut

          PX sửa chữa ô tô (1)
    Phân    
       
    xưởng    
      PX sửa chữa
    lắp ráp   đóng mới ô tô (2)
       
           
          PX cơ khí
           

    Phòng kinh doanh

    Phòng tổ chức

    Phòng kế toán

    Phòng KCS

     

    31

     

    4.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán và sổ sách kế toán

    4.1. Hình thức tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán tại công ty cơ khí ô tô 3/2

    1. Hình thức kế toán

    Tại Công ty cơ khí ô tô 3/2 việc tổ chức công tác kế toán công ty vận dụng theo hình thức kế toán tập trung. Theo hình thức này, công ty chỉ có một phòng kế toán chung duy nhất để tập trung thực hiện toàn bộ công việc kế toán ở công ty các phân xưởng viết bảng kê gửi lên phòng kế toán, nhân viên kế toán thu nhận, kiểm tra thứ tự ban đầu và ghi sổ. Phòng kế toán công ty thực hiện việc ghi sổ, kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để cung cấp đầy đủ, kịp thời toàn bộ các thông tin kinh tế tài chính

    Sơ đồ bộ máy tổ chức kế toán

    Kế toán trưởng

    Kế toán   Kế toán   Kế toán về    
    TSCĐ và     giá thành   Thủ quỹ
      tiền lương    
    NVL, CCDC     tiêu thụ sp    
             
                 

    Phòng kế toán của công ty gồm 5 người:

    Kế toán trưởng (trưởng phòng) phụ trách chung

    Một kế toán phụ trách về giá thành tiêu thụ sản xuất

    Một kế toán TSCĐ, vật liệu, công cụ dụng cụ

    Một kế toán tiền lương

    Một thủ quỹ

    Nhiệm vụ của phòng kế toán:

    Phòng kế toán thống kê tham mưu cho giám đốc quản lý các mặt công tác tài chính

    32

     

    Tham mưu cho giám đốc về sử dụng nguồn vốn và khai thác khả năng vốn của nhà máy đạt hiệu quả cao

    Tham mưu cho giám đốc về biện pháp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đối với nhà nước

    Luôn luôn chủ động chăm lo bằng mọi biện pháp để có đủ vốn phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh của công ty .

    Phòng kế toán đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc và chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của kế toán trưởng (trưởng phòng kế toán ). Phòng kế toán tài chính có chức năng quản lý chặt chẽ chế độ hạch toán và chế độ quản lý tài chính trong toàn nhà máy .

    1. Chức năng và nhiệm vụ của từng người trong phòng kế toán
    • Kế toán trưởng (là người phụ trách chung, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát mọi việc trên sổ sách kế toán) chịu trách nhiệm trước giám đốc về toàn bộ hoạt động công tác của nhà máy
    • Trực tiếp phụ trách khâu hạch toán sản xuất kinh doanh của toàn nhà

    máy

    • Lập báo cáo quyết toán quý, năm, theo chế độ quy định
    • Lập báo cáo tháng, quý, năm theo yêu cầu của cấp trên và toàn nhà nước
    • Ký toàn bộ các chứng từ giao dịch với ngân hàng, các chứng từ thu chi toàn nhà máy
    • Là thành viên hội đồng giá, hội đồng nâng lương, hội đồng kiểm kê tài sản của nhà máy hàng năm
    • Thực hiện các công tác đột xuất khi giám đốc giao
    • Kế toán thanh toán – giá thành – tiêu thụ sản phẩm.
    • Theo dõi các khoản tiền gửi, tiền vay ngân hàng, với ngân sách, với khách hàng mua hàng.
    • Ghi chép theo dõi lên nhật ký số 2, 4, 5 bảng kê số 2, 3
    • Ghi chép phản ánh tổng hợp hoá đơn tiêu thụ sản phẩm xác định lỗ lãi về tiêu thụ sản phẩm.
    • Lên báo giá cho khách hàng
    • Tham gia kiểm kê thành phẩm, hàng gửi đi bán
    • Kế toán vật liệu, TSCĐ và công cụ lao động
    • Ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất vật liệu công cụ lao động nhỏ, xác định số lượng và giá trị vật liệu tiêu hao thực tế của công cụ, phân bổ vật liệu

    33

     

    • Kiểm tra việc chấp hành bảo quản nhập xuất vật tư, phụ tùng. Phát hiện kịp thời những vật tư, phụ tùng kém phẩm chất, thừa thiếu báo cáo với trưởng phòng có biện pháp xử lý
    • Ghi chép theo dõi phản ánh tổng hợp về số lượng và giá trị tài sản cố định hiện có, tình hình tăng giảm TSCĐ, trích và phân bổ khấu hao hàng tháng theo chế độ quy định
    • Lên hoá đơn thanh toán với khách hàng
    • Tham gia kiểm kê vật tư tài sản theo quy định

    – Kế toán thanh toán với CNVC

    • Hàng tháng thanh toán lương sản phẩm cho các phân xưởng, lương thời gian cho các phòng ban, thanh toán bảo hiểm xã hội cho CNV và theo dõi các khoản khấu trừ qua lương
    • Quyết toán bảo hiểm XH, quý năm theo chế độ
    • Theo dõi trích khoản tạm ứng cho CNVC và các khoản phải thu, phải

    trả.

    • Viết phiếu thu, phiếu chi hàng tháng
    • Tham gia công tác kiểm kê vật tư, tài sản theo định kỳ
    • Thủ quỹ:
    • Lĩnh tiền mặt tại ngân hàng và thu các khoản thanh toán khác
    • Chi tiền mặt theo phiếu chi, kèm theo chứng từ gốc đã được giám đốc và trưởng phòng kế toán duyệt
    • Lập bảng kê và mở sổ theo dõi thu chi quỹ tiền mặt hàng ngày.
    • Tham gia kiểm kê vật tư tài sản theo định kỳ.

    4.2. Hình thức sổ kế toán.

    Là một dơn vị nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác kế toán hiện nay ở công ty được áp dụng theo chế độ kế toán do Bộ tài chính quy định.

    Về tình hình sổ sách kế toán công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ trong nhiều năm qua để ghi sổ kế toán. hình thức này hoàn toàn phù hợp với mô hình hoạt động kinh doanh và trình độ kế toán của nhân viên kế toán công ty. Hình thức này đã giúp kế toán công ty nâng cao hiệu quả của kế toán viên, rút ngắn thời gian hoàn thành quyết toán và cung cấp số liệu cho quản lý. Các hoạt động kinh tế tài chính được phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại để ghi vào các sổ nhật ký chứng từ. Cuối tháng tổng hợp số liệu từ các nhật ký chứng từ để ghi vào sổ cái các tài khoản.

    34

     

    Trình tự ghi sổ theo hình thức nhật ký chứng từ:

    Chứng từ gốc, bảng phân

    Bảng kê   Nhật ký chứng từ   Sổ chi tiết
             
      Sổ cái     Bảng tổng hợp chi
                 
                 

    Báo cáo tài chính

    Đối chiếu

    Ghi hàng ngày

    Ghi cuối tháng

    Hình thức nhật ký chứng từ có ưu điểm: giảm nhẹ khối lượng công việc ghi sổ kế toán do việc ghi theo quan hệ đối ứng ngay trên tờ sổ, kết hợp kế toán toán tổng hợp và kế toán đối chiếu tiến hành dễ dàng hơn, kịp thời cung cấp số liệu cho việc tổng hợp tài liệu để lập báo cáo tài chính, tuy nhiên hình thức này còn có nhược điểm mẫu sổ phức tạp nên đòi hỏi cán bộ CNV có trình độ chuyên môn vững vàng không thuận tiện cho cơ giới hoá, kế toán.

    II. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ HẠCH TOÁN VỐN BẰNG TIỀN

    A. Lý luận chung

    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền đến với các doanh nghiệp là loại vốn rất cần thiết không thể thiếu được, đặc biệt trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý và tự chủ về tài chính thì vốn bằng tiền càng có vị trí quan trọng. Thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao. Vốn bằng tiền là một loại vốn có tính lưu động nhah chóng vào mọi khâu của quá trình sản xuất. Trong điều kiện hiện nay doanh

    35

     

    nghiệp càng phải có kế hoạch hoá cao việc thu, chi tiền mặt, việc thanh toán qua ngân hàng, không những đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp mà còn tiết kiệm được vốn lưu động, tăng thu nhập cho hoạt động tài chính, góp phần quay vòng nhanh của vốn lưu động.

    Vốn bằng tiền bao gồm:

    • Tiền mặt: TK 111
    • Tiền gửi ngân hàng: TK 112
    • Tiền đang chuyển: TK 113

    Vốn bằng tiền là loại vốn được xác định có nhiều ưu điểm nhưng đây cũng là lĩnh vực mà kế toán thường mắc thiếu sót và để xảy ra tiêu cực cho nên cần phải tổ chức quản lý chặt chẽ và có hiệu quả loại vốn này.

    1. Nguyên tắc về kế toán vốn bằng tiền các nghiệp vụ thanh toán, vay ngân hàng
    • Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ:

     

    • Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định và chế độ quản lý, lưu thông tiền tệ hiện hành của Nhà nước.
    • Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số hiện có và tình hình thu chi toàn bộ các loại vốn bằng tiền của đơn vị hàng ngày.
    • Kế toán phải sử dụng thống nhất một đơn vị tiền tệ là đồng ngân hàng Việt nam.
    • Kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi từng loại vốn bằng tiền, từng loại ngoại tệ.
    • Hạch toán nguồn vốn tín dụng phải cần thuân thủ các nguyên tắc sau:

     

    • Mọi khoản vay ngoại tệ phải được phản ánh theo nguyên tắc tiền tệ và đồng Việt Nam. Trường hợp vay bằng vàng bạc, đá quý phải được phản ánh chi tiết theo từng loại về số lượng và giá trị.
    • Mọi khoản vay phải được theo dõi chi tiết theo các hình thức vay, vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn hoặc các đối tượng khác. Trong từng hình thức vay phải theo dõi cho từng loại vay.
    • Hạch toán các nghiệp vụ thanh toán phải tuân thủ các nguyên tắc:

     

    • Hạch toán các quan hệ kinh tế thuộc nghiệp vụ thanh toán phải chi tiết cho từng đối tượng có quan hệ tài chính vốn đơn vị. Đến cuối kỳ hạch toán phải tính số công nợ cho từng đối tượng.
    • Kế toán có nhiệm vụ tổ chức ghi chép và theo dõi chặt chẽ các khoản nợ phải thu, phải trả có biện pháp đôn đốc chi, trả và thu hồi kịp thời các khoản công nợ.
    • Nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật thanh toán và thu nộp ngân sách. Giải quyết dứt khoát công nợ dây dưa. Xử lý đúng đắn các khoản nợ không có khả năng đòi được hoặc không có ai đòi.
    1. Quá trình hạch toán nghiệp vụ

     

    36

     

    • Kế toán vốn bằng tiền và tiền vay

    Vốn bằng tiền là một phần của vốn lưu động và vốn khác bao gồm:

    Tiền mặt: TK 111

    Tiền gửi ngân hàng: TK 112

    Tiền đang chuyển: TK 113

    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp thường phát sinh các nghiệp vụ thanh toán giữa doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân, cung ứng vật tư, hàng hoá, quan hệ kinh tế vốn ngân hàng và các đối tượng khác ngoài ngân hàng như các tổ chức kinh tế quốc doanh và tập thể các khoản tiền vay và thanh toán tiền vay. Tất cả các quan hệ thanh toán nói trên đều thực hiện chủ yếu bằng tiền. Vốn bằng tiền của đơn vị nói chung đều được gửi tập trung ở ngân hàng, một phần nhỏ để lại ở đơn vị phục vụ các chi tiêu phát sinh trong quản lý sản xuất kinh doanh. Tiền mặt của công ty được tập trung tại quỹ. Mọi nghiệp vụ thu- chi tiền mặt đều căn cứ vào chứng từ thu, chi hợp lệ chứng minh tất cả các khoản thu- chi ngân phiếu, tiền mặt đều phản ánh vào tài khoản 111.

    N TK 111
       
    Các khon thu v tin Các khon chi v tin
    mt,  chng  t tín mt,  chng t  tín
    phiếu có giá tr vàng, phiếu có giá tr vàng,
    bc, đá quý   bc, đá quý  
         
        S dư: Phn ánh s
        tin hin có ca doanh
        nghip (đầu) hoc cui
        k.  
           

    QUÁ TRÌNH HẠCH TOÁN TK 111 THEO HÌNH THỨC NKCT

    NKCT 1   S cái TK 111
         
    Chng t gc S qu
    Bng kê s 1   Báo cáo kế
        toán
         

    37

     

    Hàng ngày hoặc định kỳ căn cứ vào các chứng từ thu- chi tiền mặt để lên sổ quỹ tiền mặt (kiêm báo cáo quỹ) kế toán tiền mặt làm nhiệm vụ:

    • Kiểm tra sổ quỹ về cách ghi và số dư
    • Phân loại chứng từ có TK 111, nợ các TK liên quan để ghi vào nhật ký chứng từ số 1. Đối ứng nợ TK 111 có các TK liên quan ghi vào bảng kê số 1. Trên bảng kê số 1 phản ánh số dư cuối tháng của bảng này tháng trước bằng số dư đầu tháng của bảng trong tháng này.

    Cuối tháng khoá sổ nhật ký chứng từ số 1 và bảng kê số 1 để đối chiếu với các NKCT và các bảng kê có liên quan.

    Tiền gửi ngân hàng là một bộ phận chủ yếu của vốn bằng tiền mà doanh nghiệp ký gửi tại ngân hàng. Doanh nghiệp phải gửi tất cả vốn bằng tiền vào ngân hàng (ngoài số tiền để lại doanh nghiệp). Việc gửi rút hoặc trích để chi trả bằng tiền ngân hàng phải có chứng từ nộp, lĩnh hoặc có chứng từ thanh toán thích hợp với các thể thức thanh toán và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được phản ánh vào TK 112. Tài khoản này phản ánh tình hình tăng giảm và còn lại của tất cả các khoản tiền của doanh nghiệp gửi tại ngân hàng gồm tiền gửi về vốn lưu động, tiền gửi về vốn đầu tư xây dựng cơ bản, tiền gửi về các quỹ xí nghiệp và các khoản kinh phí khác.

    Hàng ngày sau khi nhận được các bảng sao kê ngân hàng kèm theo các giấy báo nợ, báo có kế toán phải kiểm tra lại toàn bộ các chứng từ sau đó căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để định khoản trên các giấy báo nợ, có và các bảng sao kê. Đối với các tài khoản đối ứng có, có liên quan đến nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong bảng sao kê phải tiến hành phân loại và tổng hợp số liệu kết quả. Sau khi tổng hợp định khoản trên bảng sao kê được sử dụng để ghi vào NKCT số 2 và bảng kê số 2. Quá trình hạch toán TK 112 được phản ánh dưới sơ đồ sau:

    Chng t gc

    Bng kê s 2   S chi tiết   NKCT s 2
        tin gi    
             

    Báo cáo

    kế toán

    S cái

     

    38

     

    Ngoài 2 tài khoản 111 và tài khoản 112 còn có tài khoản 113 tiền đang chuyển: Là khoản tiền đã xuất khỏi quỹ của doanh nghiệp để chuyển vào ngân hàng nhưng chưa nhận được giấy báo có của ngân hàng. Tiền đang chuyển gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ được phản ánh vào NKCT số 3. ở công ty cơ khí ô tô 3/2 không hạch toán TK vì thực tế việc luân chuyển chứng từ (tiền đi trên đường) ảnh hưởng không lớn đối với chu kỳ sản xuất nên bỏ qua.

    Nguồn vốn tín dụng bao gồm

    • Vay ngắn hạn ngân hàng: TK 311, là loại tiền vay thời hạn không quá 9 tháng kể từ lúc nhận tiền vay đến lúc trả. Vay ngắn hạn ngân hàng nhằm mục đích mua vật tư, thiết bị cho quá trình xây dựng cơ bản. Mức lãi tiền vay phải căn cứ vào các quy định của ngân hàng Nhà nước. Mọi khoản vay ngân hàng phải được phản ánh riêng biệt các khoản vay khác nhau.
    • Vay đối tượng khác: TK 341

    Phản ánh tình hình vay và trả nợ tiền vay giữa công ty với các đối tượng khác ngoài ngân hàng như các tỏ chức kinh tế quốc doanh, tập thể và các cá nhân. Mức lãi tính theo sự thoả thuận.

    TK 311 và TK 341 đều được ghi vào NKCT số 4. Quá trình hạch toán vốn bằng tiền và tiền vay theo hình thức NKCT được thể hiện theo sơ đồ sau:

    Chng t gc

    Báo cáo qu   Bng sao kê ngân   Giy báo n
        hàng   ca ngân hàng
             
    NKCT   Bng   NKCT   Bng   NKCT   S chi
    s 1   kê 1   s 2   kê 2   s 4   tiết
                         

    S cái

    39

     

    • Kế toán các nghiệp vụ thanh toán

    Loại tài khoản này phản ánh các nghiệp vụ trong hoạt động kinh tế, quan hệ kinh tế giữa công ty và Nhà nước, với cấp trên, với bên ngoài, với các bộ phận và cá nhân trong nội bộ xí nghiệp.

    • Thanh toán với các tổ chức kinh tế và các đoàn thể xã hội.
    • Thanh toán với Nhà nước về các khoản nghĩa vụ phải nộp và các khoản được cấp trên cấp phát, trợ cấp.
    • Thanh toán với nội bộ trong công ty về các khoản cấp phát, thu nộp, tiền chuyển tài sản, vốn, vật tư.
    • Thanh toán với cán bộ công nhân viên chức về tiền lương, tiền thưởng và bảo hiểm xã hội, các khoản phảu thu phải trả.

    TRÌNH TỰ CHUNG GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC NKCT

    Chng t gc và

    các bng phân b

    Bng kê   NKCT   S kế toán chi tiết
             
    S cái   Bng tng hp
        chi tiết
         

    Báo cáo kế toán

    B. Thực tế thu hoạch tại công ty cơ khí ô tô 3/2

    1. Hạch toán quỹ tiền mặt

    40

     

    Trong công ty hàng ngày phát sinh các khoản thu, chi bằng tiền mặt tất cả các khoản đó phải có lệnh thu, chi do giám đốc và kế toán trưởng của công ty ký. Khi đó thủ quỹ xuất tiền, căn cứ vào các chứng từ thu, chi kế toán lên sổ quỹ tiền mặt. Trong quý I năm 2000 có rất nhiều nghiệp vụ thu, chi quỹ tiền mặt. Em xin nêu ví dụ sổ quỹ tiền mặt của thủ quỹ. Chứng từ ban đầu của sổ quỹ và phiếu thu, phiếu chi. Phiếu thu, chi là tập hợp của một chứng từ hoặc nhiều chứng từ. Riêng phiếu chi của thủ quỹ nộp ngân hàng là dựa trên bảng kê các loại tiền nộp viết làm 3 liên.

    • Giấy nộp tiền của thủ quỹ viết làm 2 liên, ngân hàng trả lại 1 liên. Bảng kê các loại có kèm theo chữ ký của người thu tiền. Những chứng từ chi tiêu đều được thủ trưởng công ty duyệt, những chứng từ chi tiền mặt trên 50.000 đồng phải có hoá đơn tài chính. Phiếu chi viết làm 2 liên, 1 liên ở sổ gốc, 1 liên để thủ quỹ chi tiêu.

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU THU

    Số 92

    Ngày 1 tháng 2 năm 2000

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nộp tiền: Lưu Thị Vân Nga

    Địa chỉ: Phòng kế toán công ty cơ khí ô tô 3/2

    Lý do nộp: Tiền vay ngân hàng

    Số tiền: 300.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Ba trăm triệu đồng chẵn

    Kèm theo: Chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 300.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Ba trăm triệu đồng chẵn

          Ngày 1 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    PHIẾU TẠM ỨNG

    Tên tôi là: Nguyễn Hoà Bình

    Bộ phận công tác: Phòng sản xuất kinh doanh

    Đề nghị tạm ứng: 10.000.000 đồng

    Lý do: Mua vật tư

    Thời hạn thanh toán: 17/4/2000

    41

     

      Ngày 13 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người xin tạm ứng
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Số:

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Hoà Bình

    Địa chỉ: Phòng sản xuất kinh doanh

    Lý do chi: Tạm ứng mua vật tư

    Số tiền: 10.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Mười triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: 1 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: (Viết bằng chữ: Mười triệu đồng chẵn)

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    HOÁ ĐƠN KIÊM PHIẾU NHẬP

    Ngày 15 tháng 2 năm 2000

    Nợ: 53

    Có 141

    Tên người nhận: Bình Phòng kinh doanh . CMT số:

    Tên và địa chỉ khách hàng:

    Theo hợp đồng số:                     ngày           tháng              năm

    42

     

    Phương thức bán: Nhập tại kho

    Hình thức thanh toán: Tiền mặt

    TT Tên, nhãn hiệu quy Đơn vị Số Đơn Thành tiền
      cách vật tư sản phẩm tính VTSP lượng giá  
                 
    1 Chấn lưu Việt Hung cái   4   100.000
    2 Bóng đèn 12   1   50.000
    3 Khởi động từ LX 40W   1   4.000.000
    4 Bộ bấm đảo chiều LX   1   1.000.000
    5 Công tắc 3 pha 25   1   350.000
    6 5m dây cứng bộ   1   500.000
                 
      Cộng         6.000.000

    Cộng thành tiền (bằng chữ): Sáu triệu đồng chẵn.

        Nhập ngày 15 tháng 2 năm 2000  
    Thủ trưởng đơn vị Phụ trách cung Kế toán trưởng Người nhập Thủ kho
    (Ký, đóng dấu) tiêu (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 19 tháng 2 năm 2000

    Số: 113

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Trí Dũng

    Địa chỉ: Phòng sản xuất kinh doanh

    Lý do chi: Tạm ứng trả tiền mua hộp xích (300 chiếc)

    Số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn) Ngày 19 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng  Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu)      
      43    
      (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    Kế toán định khoản:        
    Nợ TK 141: 5.000.000 đồng      
    Có TK 111: 5.000.000 đồng      
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ      
    Ô TÔ 3/2        
      PHIẾU CHI    
      Ngày 20 tháng 2 năm 2000    
      Số: 114    
        Nợ:    
        Có:    
    Họ tên người nhận tiền: Bùi Thị Sửu      
    Địa chỉ: Tổng công ty cơ khí GTVT      
    Lý do chi: Sơ kết công tác nữ công năm 1999 và giao lưu văn hoá  
    Số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)    
    Kèm theo: chứng từ gốc      
    Đã nhận đủ số tiền: 5.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Năm triệu đồng chẵn)  
        Ngày 20 tháng 2 năm 2000  
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Kế toán định khoản:

    Nợ TK 821: 5.000.000 đồng

    Có TK 111: 5.000.000 đồng

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    PHIẾU CHI

    Ngày 2 tháng 2 năm 2000

    Số: 115

    44

     

    Nợ:

    Có:

    Họ tên người nhận tiền: Nguyễn Hoà Bình

    Địa chỉ:

    Lý do chi: Tạm ứng mua vật tư

    Số tiền: 3.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba triệu đồng chẵn)

    Kèm theo: 01 chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 3.000.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba triệu đồng chẵn)

    Ngày 21 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nhận
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    Kế toán định khoản:

    Nợ TK 152: 3.000.000 đồng

    Có TK 111: 3.000.000 đồng

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ QUỸ TIỀN MẶT

    Ngày  tháng 2 năm 2000

    Đơn vị: đồng

    SHCT Diễn giải TK đối Số tiền  
    Thu Chi   ứng Thu   Chi
         
                 
        Tồn quỹ đầu tháng   2.282.470    
    92   Vay ngân hàng 311 3.000.000.000    
      110 Bình tạm ứng mua vật tư 141     10.000.000
      111 Bình nhập vật tư 141     6.000.000
      112 Anh Hưng xuất vật liệu 131 15.000.000    
      113 Dũng tạm ứng mua xích 141     5.000.000
      114 Sửu sơ kết công tác nữ công 811     5.000.000
        45        
      115 Bình tạm ứng mua vật tư 141   3.000.000
      116 Sửu thanh toán tiền lương cho 334   55.000.000
        các phân xưởng      
      117 Hiền tạm ứng đi công tác 141   14.000.000
      118 Thanh tạm ứng mua lốp xe ô 141   25.000.000
             
      119 Hoà tạm ứng mua sắt 141   25.000.000
      120 Bình tạm ứng mua khí CO2 141   30.000.000
               
        Cộng phát sinh   317.282.470 178.000.000
        Tồn cuối tháng   139.282.470  

    Đã kiểm tra đủ chứng từ

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 111- Tiền mặt

    Số dư đầu năm

    Nợ                    Có

    2.282.470

    Thủ quỹ

    (Ký, họ tên)

    Đơn vị: Đồng

    Ghi có các TK đối ứng, Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    nợ TK này        
    131   15.000.000    
    311   300.000.000    
             
    Cộng số phát sinh nợ   315.000.000    
    Tổng số phát sinh có        
             

    46

     

    Số dư   cuối Nợ   139.282.470    
    tháng        
             

    Ngày           tháng              năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Mỗi báo cáo quỹ được ghi 1 dòng trên NKCT số 1 theo thứ tự thời gian. Về phân chi (ghi có TK 111) hàng ngày ghi 1 dòng vào NKCT số 1 chi tiết cho từng cá nhân.

    • Căn cứ vào sổ quỹ tiền mặt (từ tờ kê chi tiết) về phần thu hàng ngày kế toán ghi 1 dòng vào bảng kê số 1. Trên bảng kê số 1 ngoài phần phản ánh số phát sinh bên nợ TK 111 đối ứng với các tài khoản ghi có còn phải phản ánh số dư đầu tháng, số dư cuối tháng và số dư cuối mỗi ngày.

    Đầu tháng khi mở bảng kê số 1 căn cứ vào số dư cuối tháng trước của TK 111 để ghi vào phần số dư đầu tháng này. Số dư cuối tháng được tính bằng số dư cuối tháng trước cộng với số phát sinh nợ trong tháng trên bảng kê số 1 trừ đi số phát sinh có trên NKCT số 1.

    1. Hạch toán tiền gửi ngân hàng

    Mhư phần lý luận thì hàng ngày sau khi nhận được các bảng sao kê ở ngân hàng kèm theo các giấy báo nợ, có. Kế toán có nhiệm vụ kiểm tra lại toàn bộ các chứng từ sau đó căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để định khoản trên các giấy báo nợ, có vào bảng thu, chi ngân hàng.

    GIẤY NỘP TIỀN

    Ngày 7 tháng 2 năm 2000

    Người nộp: Trịnh Hoài Anh    
    Địa chỉ: Công ty cơ khí ô tô 3/2    
       
    Người nhận: TK có  
    Địa chỉ:
    S: 710 A. 00023  
         
    Nộp tại: Ngân hàng công thương S tin:  
    Đống Đa
    36.000.000  
         

    Nội dung nộp: Trả nợ gửi

    Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu đồng chẵn.

    Ngân hàng B gửi ngày 12/2                                             Trả tiền 14/2/2000

    47

     

    Người nhận Thủ quỹ Kế toán Kiểm soát
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    UỶ NHIỆM CHI

    Ngày 14 tháng 2 năm 2000

    Tên đơn vị trả tiền: Ngân hàng công thương Đống Đa

    Số TK: 011B.00023                                                     TK N: 011B.00023

    TK Có: 710A.00023

    S tin bng s:

    Tại : NHCT Đống Đa

    Tên người nhận: Công ty cơ khí

    ô tô 3/2

    Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu đồng chẵn

    Đơn vị trả tiền Ngân hàng A Ngân hàng B
    Kế toán trưởng Ghi rõ 12/2/2000 Ghi rõ 14/2/2000
    (Ký, họ tên) Kế toán trưởng Kế toán trưởng
     
      (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG    
    VIỆT NAM    

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

    KHẾ ƯỚC NHẬN NỢ

    1. Họ và tên người nhận tiền vay: Nguyễn Trí Dũng
    1. CMND số 011348748. Cấp ngày 18/7/1995 Tại Hà Nội
    1. Tổng số tiền ngân hàng chấp thuận cho vay theo giấy đề nghị vay vốn ngày 10/2/1999.
    1. Dư nợ đến ngày xin vay: 70.000.000 đồng
    1. Số tiền nhận nợ lần này: 90.000.000 đồng

    (Chín mươi triệu đồng chẵn)

    Nhận bằng chuyển khoản

    48

     

    1. Mục đích sử dụng tiền vay
    1. Thời hạn trả nợ cuối cùng: 6 tháng
    1. Kế hoạch trả nợ cụ thể là: Từ 24/5/1999 – 29/2/2000
    1. Lãi suất vay vốn: 1,75%/ tháng
    1. Lãi nợ quá hạn: 2,625% /tháng
    Người nhận Cán bộ tín dụng Trưởng phòng Giám đốc
    tiền vay (Ký, họ tên) tín dụng ngân hàng
    (Ký, họ tên)   (Ký, họ tên) (Ký, đóng dấu)
       

    PHIẾU CHUYỂN KHOẢN

    Ngày29/2/2000

    Tên TK Nợ: Công ty cơ khí ô tô 3/2    
       
    Tên TK có: Vay ngắn hạn N: 011B.00023  
    Số tiền: Chín mươi triệu đồng
    STK: 710A.00023  
     
    Trích yếu: Thu nợ khế ước16/5/1999    
    Có:  
     
      STK: 011B.00023  
      S tin bng s:  
      90.000.000  
         
    Người lập phiếu Kiểm soát Kế toán trưởng Giám đốc
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) ngân hàng
          (Ký, đóng dấu)

    PHIẾU CHI

    Ngày 28/2/2000

    TK Ghi nợ: 642

    Xuất cho: Bưu điện Đống Đa

    Bộ phận công tác:

    Về khoản: Trả tiền cước phí điện thoại

    Số tiền: 449.695 đồng.               HĐ số:

    (Bốn trăm bốn chín nghìn sáu trăm chín lăm đồng)

    Kèm theo 1 chứng từ gốc

    49

     

    Số séc: 16579      
    Nhận ngày 29/2/2000      
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người nhận Thủ quỹ
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

    Chi nhánh: NHCT Đống Đa

    Số bảng kê:

    CHỨNG TỪ THANH TOÁN TIỀN HÀNG

    (PAYMENT DOCUMENT)

    Kiêm giấy báo nợ khách hàng

    Ngày 29/2/2000

    Đơn vị tại ngân hàng (customes of bank A): Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Số hiệu tài khoản tại ngân hàng A (the accont no in bank A): 710A.00023

    Đơn vị tại ngân hàng B (customes of bank B): Bưu điện Đống Đa

    Số hiệu tài khoản tại ngân hàng B (the accont no in bank B): 710A.00103

    Số tiền bằng số: (Volume in numerics ): 449.695

    Số tiền bằng chữ: (Volume in numerics ): Bốn trăm bốn chín ngàn sáu trăm chín lăm đồng.

    Nội dung: (explaination): 6M 16579 CK 28/2/2000

        Ngày 29/2/2000
    Thanh toán viên Kiểm soát Kế toán trưởng
    (account tant) (controller) (Head of accounding)
      UỶ NHIỆM THU  
      Ngày 29/2/2000  

    Số AH 1701

    Tên đơn vị mua hàng: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Số TK tại ngân hàng: 710A.00023

    Tại NHCT Đống Đa- Hà Nội

    Tên đơn vị bán hàng: Bưu điện Đống Đa

    50

     

    Số TK tại ngân hàng: 710A.00103

    Tại NHCT Đống Đa- Hà Nội

    Hợp đồng số: 16579     Ngày 26/4/1998

    Số lượng từng loại chứng từ kèm theo: 1/5

    Số tiền chuyển: 449.695

    Bằng chữ: Bốn trăm bốn chín nghìn sáu trăm chín lăm đồng.

    Tổng số tiền chuyển: 449.695

    Đơn vị bán:

    MS: 0219 x 27      
    Ngân hàng bên bán nhn chng t   Ngân hàng bên mua nhn ngày 29/2
     
    ngày 28/2 đã kim soát và gi đi   Thanh toán ngày 29/2/2000
      ngày 29/2   Th qu Kế toán trưởng
    Kế toán trưởng   (Ký, h tên) (Ký, h tên)
    (Ký, h tên)      
           
    Ngân hàng bên bán      
    Thanh toán ngày 29/2/2000      
    Th qu Kế toán trưởng      
    (Ký, h tên) (Ký, h tên)      
             

    Một tháng tiền lãi của công ty cơ khí ô tô 3/2

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐỐNG ĐA

    BẢNG KÊ TÍNH LÃI CHI TIẾT

    Từ ngày 26/1-  29/2/2000

    Số hiệu TK: 710.00023

    Tên TK: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Từ ngày Đến ngày Số ngày Tiền gửi Tiền lãi Lãi suất
               
    26/1 29/1 3 27.292.607 19.105,00 0,7
    29/1 30/1 1 26.710.707 6.232,00 0,7
    30/1 31/1 1 21.744.407 5.073,00 0,7
    31/1 3/2 3 13.227.407 9.259,00 0,7
    3/2 7/2 4 31.977.707 29.845,00 0,7
          51    
    7/2 10/2 3 83.273.407 58.291,00 0,7
    10/2 14/2 4 13.273.407 12.389,00 0,7
    14/2 28/2 14 49.273.407 100.960,00 0,7
    28/2 29/2 1 109.273.407 25.497,00 0,7
               
        Cộng 376.046.463 326.651,00  

    52

     

    Người lập bảng Kiểm soát Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký tên, đóng dấu)

    Số lãi

    phải trả

    =    Số nợ gốc      x      Lãi xuất tháng     x

    phải trả 30
     
    SỔ THEO DÕI CHI TIỀN GỬI NGÂN HÀNG
    Tháng 2 năm 2000  
    Ghi có TK 112  
    Ghi nợ các TK….  

    Số ngày sử

    dụng vốn vay

      TT Ngày Diễn giải Ghi có TK 112, ghi nợ các TK
              TK 311 TK642 ….. Cộng có
                    TK 112
      1 10/2 Ngân hàng CTĐĐ thu 70.000.000     70.000.000
          nợ khế ước 10/4/1999        
          (vay ngắn hạn)        
      2 29 NHCTĐĐ thu nợ khế 90.000.000     90.000.000
          ước (10/2/1999)        
      3   Bưu  điện  Đống  Đa   449.695   449.695
          (cước điện thoại)        
                     
          Cộng 160.000.000 449.695   160.449.695
          SỔ THEO DÕI THU TIỀN GỬI NGÂN HÀNG  
          Tháng 2 năm 2000      
          Ghi nợ TK 112,      
          Ghi có các TK…..      
          Số dư: 13.227.407      
               
      TT Ngày Diễn giải   Ghi nợ TK 112, ghi có các TK

    53

     

          TK 111 TK 131 TK 711 Cộng nợ
                TK 112
    1 3/2 XN T8 mua hàng   18.750.00   18.750.000
            0    
    2 7/2 NM Z133 mua hàng   1.296.000   1.296.000
        CTy nộp 50.000.000     50.000.000
        TGNHCTĐĐ        
    3 14/2 Cty nộp TM gửi 36.000.000     36.000.000
        NHCTĐĐ        
    4 28/2 Cty nộp TM gửi 60.000.000     60.000.000
        NHCTĐĐ        
    5 29/2 NHĐĐ trả lãi tiền     326.651 326.651
        gửi        
        Cộng 146.000.00 20.046.00 326.651 166.372.65
          0 0   1

    Số dư cuối kỳ: 19.150.363

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 131

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    13.227.407

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này        
    111   146.000.000    
    131   20.046.000    
    711   326.651    
             
    Cộng số phát sinh nợ   166.372.651    
             

    54

     

    Tổng số phát sinh có 440.170.279
    Số dư   cuối Nợ 19.150.363
         

    tháng

    Ngày 31 tháng 12 năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    Đối với các khoản đối ứng có, có liên quan đến nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong bảng sao kê, phải tiến hành phân loại và tổng hợp số liệu kết quả. Sau khi tổng hợp định khoản trên bảng sao kê được sử dụng để ghi vào NKCT số 2 và bảng kê số 2.

    Cơ sở để vào NKCT số 2 là bảng kê sao kê ngân hàng, hàng ngày bảng sao kê của ngân hàng có kèm theo chứng từ và giấy báo nợ, có (uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu). Giấy nộp tiền của công ty do thủ quỹ tự lập nộp ra ngân hàng.

    Bảng kê nộp séc của công ty kế toán dựa vào bảng sao kê ngân hàng kểm tra đối chiếu với chứng từ gốc và căn cứ vào nội dung của chứng từ tiến hành định khoản ngay trên bảng sao kê. Mỗi ngày bảng sao kê được ghi vào 1 dòng của NKCT số 2 và bảng kê số

    1. Trên bảng kê số 2 ngoài phần phản ánh số dư đầu tháng, cuối tháng còn phản ánh số phát sinh nợ TK 112. Cuối tháng sau khi phản ánh toàn bộ số phát sinh nợ và có vào NKCT từ bảng kê, kế toán tiên shành đối chiếu khớp tổng số phát sinh có, nợ TK 112 theo hàng ngang cột dọc và khớp với các NKCT và bảng kê có liên quan. Số liệu tổng cộng trên NKCT số 2 được sử dụng để ghi vào sổ cái (có TK 112, nợ các Tk khác).
    1. Hạch toán tiền vay

    Các nghiệp vụ vay được hạch toán vào TK 311 trên NKCT số 4. NKCT số 4 ngoài phần ghi có TK 311 nợ các TK liên quan. Phần theo dõi ghi nợ các TK tiền vay đối ứng có các TK liên quan. Có sổ để ghi NKCT số 4 đối vốn các khoản tiền vay ngân hàng TK 311 là các giấy báo nợ, có của ngân hàng. Ngoài phần phản ánh số phát sinh trên NKCT số 4 còn phản ánh số dư đầu tháng và số dư cuối tháng của các khoản tiền vay.

    Số liệu tổng cộng của NKCT số 4 cuối tháng được sử dụng để ghi vào sổ cái TK

    311.

    • Nội dung kết cấu TK 311

    Bên Nợ: Phản ánh số tiền đã trả về khoản vay ngắn hạn. Số tiền giảm nợ vay do tỷ giá hối đoái (Nợ ngoại tệ)

    Bên Có: Phản ánh số tiền vay ngắn hạn. Số tiền tăng nợ vay do tỷ giá hối đoái tăng.

    Số dư bên có: Phản ánh số tiền còn nợ về các khoản vay ngắn hạn chưa trả.

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    55

     

    PHIẾU THU

    Số 20

    Ngày 27 tháng 1 năm 2000

    TK ghi có: 311

    Họ tên người nộp tiền: Lương Hoà

    Địa chỉ: Phân xưởng cơ khí

    Lý do nộp: Mua thép

    Số tiền: 100.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Một trăm triệu đồng chẵn

    Kèm theo: 1 Chứng từ gốc

    Đã nhận đủ số tiền: 100.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Một trăm triệu đồng chẵn

    Số séc: 17269

    Ngày 1 tháng 2 năm 2000

    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ      
    Ô TÔ 3/2        
      PHIẾU THU    
        Số 21    
      Ngày 29 tháng 2 năm 2000    
      Tk ghi Có: 311    
    Họ tên người nộp tiền: Anh Thắng      
    Địa chỉ: Phòng kinh doanh      
    Lý do nộp: Trả tiền điện tháng 1/2000      
    Số tiền: 23.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Hai ba triệu đồng chẵn  
    Kèm theo: 1 Chứng từ gốc      
    Số séc: 17280        
    Đã nhận đủ số tiền: 23.000.000 đồng (Viết bằng chữ): Hai ba triệu đồng chẵn  
        Ngày 19 tháng 2 năm 2000
    Thủ trưởng đơn vị Kế toán trưởng Người lập phiếu Thủ quỹ Người nộp
    (Ký, đóng dấu) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)

    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG

    ĐỐNG ĐA

    PHIẾU CHUYỂN KHOẢN

    56

     

        Ngày 2/2/2000    
    Tên TK nợ: Vay ngắn hạn            
    Tên TK có: Công ty cơ khí ô tô 3/2          
    Số tiền bằng chữ: Một trăm   N:      
    triệu đồng     STK: 061B.00023    
               
        Có:      
    Lý do: Thu nợ khế ước          
        STK: 710A.00023    
    ngày 27/1/2000     S tin bng s:    
          100.000.000    
    Người lập phiếu Kiểm soát Kế toán trưởng Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký tên, đóng dấu)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG          
    ĐỐNG ĐA            
        GIẤY BÁO NỢ    
      Ngày tháng 2 năm 2000    
    Tên TK nợ: vay ngắn hạn            
    Tên TK có: Công ty cơ khí ô tô 3/2      
    Số tiền bằng số: 23.000.000          
    Lý do: Thu nợ khế ước 29/2/2000      
    Kế toán trưởng     Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên)       (Ký tên, đóng dấu)
    NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG          
    ĐỐNG ĐA            
        GIẤY BÁO CÓ    
        Ngày 10/2/2000    
    Tên TK nợ: Công ty cơ khí ô tô 3/2      
    Tên TK có: vay ngắn hạn            
    Số tiền bằng số: 70.000.000 đồng      
    Lý do: Thu khế ước 10/4/1999          
    Kế toán trưởng     Giám đốc ngân hàng
    (Ký, họ tên)       (Ký tên, đóng dấu)
        57      
    1. Hạch toán các khoản thanh toán với người mua

     

    • công ty thường có các khoản phải thu như tiền nhận gia công của các đơn vị, và tiêu thụ nội địa. Để theo dõi các khoản thanh toán với khách hàng về tiền bán sản phẩm, cung cấp lao vụ, dịch vụ, tài sản… kế toán sử dụng TK 131- Phải thu của khách hàng.

    Khi giao sản phẩm, hàng hoá cho người mua hay cung cấp các lao vụ, dịch vụ cho khách hàng, kế toán phản ánh doanh thu được người may chấp nhận: kế toán định khoản:

    Nợ TK 131 (chi tiết đối tượng): Tổng giá thanh toán

    Có TK 51: Giá bán chịu thuế

    Có TK 3331: Thuế VAT đầu ra phải nộp

    – Khi thu tiền nếu:

    • Trả bằng tiền Việt Nam

    Nợ TK 111, 1121

    Có TK 131

    • Trả bằng ngoại tệ
    • công ty không có TK theo dõi ngoại tệ nên công ty phải thông qua tổng công ty cơ khí GTVT. Khi có phát sinh ngoại tệ mà khách hàng trả cho công ty thì sẽ thông qua tổng công ty, tổng công ty sẽ tiến hành đổi ra đồng Việt Nam và gửi về cho công ty.

    Khi đó kế toán công ty định khoản

    Nợ TK 336

    Có TK 131

    Ví dụ: Ngày 13/2/2000 công ty xuất hàng cho công ty cơ khí Trần Hưng Đạo theo đơn đặt hàng số 010549: 20 bộ đôi bản cao áp, trị giá lô hàng 12.936.672 đồng, thuế VAT 10%, tiền hàng chưa thanh toán

    Nợ TK 131 (TMĐ): 14.230.339 đồng

    Có TK 5112: 12.936.672 đồng

    Có TK 3331: 1.293.667 đồng

    BẢNG KÊ BÁN LẺ HÀNG HOÁ- DỊCH VỤ

    Mẫu số: 05/GTGT

    Ngày 13 tháng 2 năm 2000

    Tên sơ sở kinh doanh:                                                                         Mã số:

    58

     

    Họ tên người bán hàng:

    Địa chỉ nơi bán hàng:

    TT Tên hàng hoá, dịch vụ Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
               
    1 Bộ đôi bản cao áp cái 20   12.936.672
               

    Tổng cộng tiền thanh toán: 12.936.672 đồng

    Tổng số tiền bằng chữ: Mười hai triệu chín trăm ba sáu ngàn sáu trăm bảy hai đồng.

    Người bán

    (Ký, ghi rõ họ tên)

    Ngày 19/2/2000 công ty cơ khí Trần Hưng Đạo thanh toán tiền hàng là 13.590.658 đồng bằng tiền gửi ngân hàng.

    Kế toán định khoản sau đó vào sổ

    Nợ TK 1121:     13.590.658 đồng

    Có TK 131 (THĐ) 13.590.658 đồng

    BẢNG KÊ HOÁ ĐƠN, CHỨNG TỪ HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ BÁN RA

    (Kèm theo tờ khai thuế GTGT)

    Mẫu số 2 /GTGT

    Tháng 2 năm 2000

    Mã số

    Tên cơ sở kinh doanh: Công ty cơ khí ô tô 3/2

    Địa chỉ

    Chứng từ Tên khách hàng Doanh số bán Thuế Ghi chú
    Số Ngày   (chưa có thuế) GTGT (Thành
              tiền)
               
    1 13 CTy cơ  khí  Trần Hưng 12.936.672 1.293.667 14.230.339
        Đạo      
    2 27 CTy cơ khí 1/5     82.736.729
               
        Tổng cộng      
        59      

    Người lập biểu

    Ký, họ tên)

    Bộ tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 131

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    1.324.787.251

    Ngày   tháng    năm Kế toán trưởng (Ký, họ tên)

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này          
    413     598.707    
               
    Cộng số phát sinh nợ   598.707    
               
    Tổng số phát sinh có   96.926.094    
                 
    Số dư   cuối   Nợ   639.681    
    tháng            
             
               
                 
            Ngày 31 tháng 12 năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán các khoản tạm ứng

    60

     

    Các khoản tạm ứng phát sinh ở công ty chủ yếu là tạm ứng để mua nguyên vật liệu, tiếp khách…. các khoản tạm ứng được kế toán theo dõi chi tiết cho từng đối tượng. Khi có giấy đề nghị tạm ứng kế toán tiến hành định khoản vào TK 141- Tạm ứng.

    Nợ TK 141

    Có TK 1111

    Khi có giấy thanh toán tạm ứng kế toán cũng tiến hành viết phiếu thu, từ các phiếu thu vào sổ kế toán liên quan:

    Nợ TK 1111

    Có TK 141

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    CHI TIẾT CÔNG NỢ

    Tài khoản 141

              Đơn vị tính: đồng  
    Nội dung   Phần ghi nợ TK     Phần ghi có TK
                         
      CT TK   Tiền   CT   TK   Tiền
                         
    Bình tạm ứng mua VL 110 111   10.000.000            
    Dũng tạm ứng mua xích 113 111   5.000.000            
    Bình mua vật tư 115 111   3.000.000            
    Hiền tạm ứng công tác 117 111   14.000.000            
    Thanh tạm ứng mua lốp 118 111   25.000.000            
    Hoà tạm ứng mua sắt 119 111   25.000.000            
    Bình tạm ứn mua CO2 120 111   30.000.000            
    Cuối tháng nộp tạm ứng           129   1111   25.000.000
    Cộng       112.000.000            
    Bộ, tổng cục:…..                    
    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ                    
    Ô TÔ 3/2                    
        SỔ CÁI              

    Tài khoản 141- Tạm ứng

    Số dư đầu năm

    61

     

    Nợ                
    15.000.000                    
                       
                     
    Ghi có các TK đối ứng,  nợ   Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này                
    1111       112.000.000        
                     
    Cộng số phát sinh nợ     112.000.000        
                     
    Tổng số phát sinh có     25.000.000        
                       
    Số dư   cuối   Nợ              
    tháng                  
                   
                       
                         
                Ngày   tháng năm 2000
                  Kế toán trưởng
                    (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người bán

    Quá trình hạch toán thanh toán với người bán phải phán ánh chính xác, kịp thời, chi tiết và rõ ràng từng khoản.

    Thông thường khi nhận được chứng từ gốc, giấy báo nợ, có của ngân hàng, các hoá đơn mua hàng, kế toán tiến hành kiểm tra xác định rõ số tiền thanh toán theo từng người. Kế toán thanh toán với người bán sử dụng TK 331. Hạch toán tổng hợp các nghiệp vụ thanh toán với người bán được thực hiện trên NKCT số 5 phản ánh các khoản mua TSCĐ, vật liệu, hàng hoá… NKCT số 5 mở mỗi tháng 1 lần, căn cứ để ghi NKCT số 5 là sổ chi tiết TK 331.

    62

     

    SỔ CHI TIẾT THEO DÕI TK 331

    Tháng 2/2000

    Đơn vị: đồng

    Tên Đ.vị Số dư Số PS có TK 331 Cộng có Số PS nợ Cộng Số dư
    hoặc ĐT           nợ CT
    người                    
    Nợ TK TK 152   111 112   Nợ
    bán    
                         
                         
    Bình       10.000.000 10.000.00          
              0          
    Bình       6.000.000 6.000.000          
    Dũng       5.000.000 5.000.000          
    Bình       3.000.000 3.000.000          
    Thanh       25.000.000 25.000.00          
              0          
    Hoà       25.000.000 25.000.00          
              0          
    Bình       30.000.000 30.000.00          
              0          
                         
    Cộng       104.000.00 104.000.0          
            0 00          

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 331- Phải trả người bán

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    63

     

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. ……….
    TK này          
    1121     104.000.000    
               
    Cộng số phát sinh nợ   104.000.000    
    Tổng số phát sinh có        
                 
    Số dư   cuối   Nợ   139.282.470    
    tháng            
             
               
            Ngày tháng năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Hạch toán các khoản phải trả nội bộ

    Kế toán xí nghiệp sử dụng TK 336- Phải trả nội bộ

    Hàng tháng kế toán lập sổ theo dõi chi tiết TK 336. Do công ty không có tài khoản theo dõi ngoại tệ nên khi khách hàng trả tiền công ty kế toán hạch toán:

    Nợ TK 336

    Có TK 131

    Khi công ty trả tiền cho các phân xưởng

    Nợ TK 1111,1121

    Có TK 336

    SỔ CHI TIẾT TK 336

    Tháng 2/2000

    Số dư Diễn giải Ghi nợ TK 336 Ghi có TK 336 Số dư CT
    ĐT              
    Nợ   TK Tiền TK Tiền Nợ
        Tiền hàng HN 131 444.164.321        
            64        
        Hà Tây   193.768.560        
        Thái Nguyên   88.504.482        
        Phí thanh toán     642 468.694    
                8      
        Khấu hao     641 1.500.000    
                4      
        Điện       641 135.890    
                7      
        CTy chuyển     112 600.000.000    
        tiền       1      
                       
          Cộng   726.437.363   602.104.584    

    Từ sổ chi tiết kế toán lập NKCT số 10

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    65

     

    NHẬT KÝ CHỨNG TỪ SỐ 10

    Ghi có TK 141, 336….

    Tháng 2/2000

    CT Diễn giải TK nợ 141 336 Cộng
      Tiền kỳ 1121     600.000.000    
    Sổ CT Tiền khấu hao 6414     1.500.000    
    TK 336 Tiền điện 6417     135.890    
      Phí thanh toán 6428     468.894    
                   
      Cộng       602.104.584    

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 336- Phải trả nội bộ

    Tháng 2 năm 2000

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    2.1145.256.161

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 ……. Tháng 12
    TK này        
    131   726.437.363    
             
    Cộng số phát sinh nợ   726.437.363    
             
    Tổng số phát sinh có   602.104.584    
             

    66

     

    Số dư   cuối Nợ        
    tháng        
             

    Ngày  tháng            năm 2000

    Kế toán trưởng

    (Ký, họ tên)

    1. Kế toán các khoản phải trả công nhân viên, các khoản phải trả, phải nộp khác, chi phí trả trước

    Để thực hiện hạch toán các khoản trên kế toán sử dụng các TK 334, 338 (3382, 3383, 3384, 3388), 142

    1. Kế toán hạch toán phải trả công nhân viên, phải trả phải nộp khác

    Hàng tháng căn cứ vào bảng tổng hợp thanh toán tiền lương ở các phân xưởng và các phòng ban do phòng tổ chức thực hiện, kế toán tiến hành tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ theo đối tượng sử dụng và tính toán trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định.

    Công ty thực hiện trích

    KPCĐ: 2%

    BHXH: 20%

    • Người sử dụng LĐ: 15%
    • Người LĐ: 5%

    BHYT: 3%

    • Người sử dụng LĐ: 2%
    • Người LĐ: 1%

    Từ bảng phân bổ lương và BHXH kế toán viết phiếu kế toán

    Ví dụ: Tháng 2 năm 2000 có

    CÔNG TY CƠ KHÍ Ô TÔ 3/2

    PHIẾU KẾ TOÁN

    Số 3/11

    Nội dung Nợ
         
    Nợ TK 627 (1) 55.000.000  
    Có TK 334   55.000.000
         

    Trích lương theo sản phẩm hàng tháng

    Lập phiếu

    67

     

    Hà nội ngày       tháng 2 năm 2000

    Cuối tháng căn cứ các phiếu kế toán, các phiếu thu, các NKCT và bảng kê liên quan lập NKCT số 7. Từ NKCT vào sổ cái

    Sổ cái TK 334- Thanh toán với CNV

    Số dư đầu năm

    N                        Có

    Đơn vị: đồng

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2 …….   Tháng 12
      TK này          
                   
      131          
                 
    Cộng số phát sinh nợ          
                 
    Tổng số phát sinh có   55.000.000      
                   
      Nợ          
    cuối kỳ              
               
                   
            Ngày tháng năm 2000
              Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)
    1. Kế toán chi phí trả trước

    Kế toán sử dụng TK 142 (1). Khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến trả trước ở công ty thường phát sinh nghiệp vụ:

    Nợ TK 142(1)

    Có TK 111(1)

    Phân bổ chi phí:

    Nợ TK 642 (8), 641(8), 627(3), 627(8)

    Có TK 142 (1)

    Kế toán vào sổ theo dõi chi tiết TK 142(1)

    SỔ CHI TIẾT TK 1421- CHI PHÍ TRẢ TRƯỚC

    Tháng 2 năm 2000

    Diễn giải Số dư Phần ghi nợ TK 1421 Phần ghi có TK 1421 Số dư
      đầu kỳ 111 TK Tiề Cộn 6428 TK Tiền Cộng cuối kỳ
         
        1   n g nợ        
                         
              68          
    Trang bị 574.280         0334.6     334.61 229.662
    PCCC           18     8  
    Lát nền 377.600         233.80     233.80 143.800
                0     0  
    SP đã ăn 60.646.                 60.646.
    lương 629                 629
    Mua tài 1.066.8         533.41     533.41 533.410
    liệu 28         8     8  
    Máy ép 8.427.0           627 602.0   7.825.0
      00           8 00   00
    Khám xe 789.889         429.62     429.62 360.269
                0     0  
    CC LĐ 135.199                 135.199
      .537                 .537
    Mua lịch 62.634         31.400     31.400 31.234
    Quét vôi 4.951.3         2.475.     2.475. 2.475.8
      66         500     500 66
    Thuế môn 141.550           641 70.85 70.850 70.700
    bài             8 0    
    Mua tủ hồ 45.000         45.000     45.000 0
                       
    Mua BH 12.118.         1.731.     1.731. 10.387.
    cháy 750         250     250 500
    Mua báo 1.458.4         729.23     729.23 729.236
    quý I 69         2     2  
    Cộng 225.859         6.553.   672.8 7.226. 218.632
      .532         838   50 688 .843
                         

    Bộ, tổng cục:…..

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    69

     

    SỔ CÁI

    Tài khoản 1421- Chi phí trả trước

    Số dư đầu năm              
    Nợ                
    281.842.279                    
                         
    Đơn vị: đồng                
    Ghi có các TK đối ứng,  nợ   Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này                
                     
    Cộng số phát sinh nợ              
                     
    Tổng số phát sinh có     7.226.688        
                       
    Số dư   cuối   Nợ     218.632.843        
    tháng                
                       
                       
                Ngày 31 tháng 2 năm 2000
                Kế toán trưởng
                  (Ký, họ tên)
    1. Kế toán các khoản phải tra phải nộp ngân sách

    Công ty cơ khí ô tô 3/2 phải nộp các loại thuế như thuế nhà đất, thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế môn bài (các loại thuế khác)

    Công ty áp dụng phương pháp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ. Hàng tháng trên cơ sở các bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ bán ra được mở từng tháng, ghi theo trình tự thời gian hoặc kết hợp theo từng nhóm, loại hàng hoá và dịch vụ và theo hàng mức thuế suất thuế GTGT lập tờ khai thuế GTGT sau đó kế toán lập NKCT số 10

    Bộ, tổng cục

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    70

     

    Ô TÔ 3/2

    NHẬT KÝ CHỨNG TỪ SỐ 10

    Ghi có TK 141, 3331, 336

    Tháng 2/2000

    TT Diễn giải TK Nợ 3331 TK   Tiền     Cộng
                         
    3 Thuế bán hàng 1111 11.999.280             11.999.28
                        0
    11 Thuế kho 1111 25.228             25.228
    12 Thuế bán hàng 1111 3.833.016             3.833.016
    15 Thuế kho 1111 91.168             91.168
    18 Thuế bán hàng 1111 1.124.467             1.124.467
                       
    7 K/T thuế T2 3331     1331   17.060.394   17.060.39
                        4
    8 K/T thuế T2 3331     1332   2.877.000   2.877.000
    10 Nộp thuế 3331     1121   5.511.140   5.511.140
                       
      Cộng   17.088.397       25.448.534   42.536.93
                        1
                       
      Người ghi sổ     Ngày   tháng năm 2000
      (Ký, họ tên)       Kế toán trưởng  
                  (Ký, họ tên)  

    Từ NKCT số 10 vào sổ cái TK 3331

    Bộ, tổng cục

    Đơn vị: CÔNG TY CƠ KHÍ

    Ô TÔ 3/2

    SỔ CÁI

    Tài khoản 3331- Thuế GTGT phải nộp

    Số dư đầu năm

    Nợ                           Có

    Đơn vị: đồng

    71

     

    Ghi có các TK đối ứng,  nợ Tháng 1 Tháng 2   …….   Tháng 12
    TK này              
    1331     17.060.394        
    1121     5.511.140        
    1332     2.877.000        
    Cộng số phát sinh nợ   25.448.534        
                   
    Tổng số phát sinh có   17.088.397        
                     
    Số dư   cuối   Nợ            
    tháng                
                 
                   
                   
            Ngày 31 tháng 2 năm 2000
            Kế toán trưởng
              (Ký, họ tên)

    72


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Chiến lược sản phẩm (dịch vụ) trong kinh doanh dịch vụ bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-%C4%91%E1%BA%B7c-%C4%91i%E1%BB%83m-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-c%E1%BB%A7a-m%E1%BB%99t-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-c%E1%BB%A5-th%E1%BB%83.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bài tập lớn Phân tích đặc điểm hoạt động của một công ty bảo hiểm cụ thể

    Đề tài số 2 :

    Phân tích đặc điểm hoạt động của công ty bảo hiểm? Đi sâu phân tích cụ thể một công ty.

    I.  KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1.1 Khái niệm và yêu cầu cần thiết của doanh nghiệp bảo hiểm

    1.1.1  Khái niệm

    Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đinh khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.

    1.1.2. Đặc trưng của doanh nghiệp bảo hiểm:

    ☺ Thứ nhất,doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh tài chính, chủ yếu thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm. Tính đặc thù của kinh doanh bảo hiểm được thể hiện:

    • Đây là dịch vụ tài chính đặc biệt, là hoạt động kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là dịch vụ có liên quan.
    • Chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra trước, doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí.

    ☺ Thứ hai: doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức, thành lập và hoạt động theo các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.

    ☺Thứ ba: doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính.

    Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định. Đây là đặc điềm giúp phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

    1.1.3 Yêu cầu cần thiết:

    – về mặt kỹ thuật

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt việc thống kê,lựa chọn rủi ro, tính phí bảo hiểm, giải quyết các khiếu nại khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm

    – về mặt pháp lý

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được thành lập và vận động đúng theo quy định của luật pháp địa phương hoặc quốc gia mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.

    – về mặt kinh doanh

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được tổ chức thành một bộ máy hoàn chỉnh để có thể vận hành, gồm các bộ phận chức năng như : quản lý, nghiệp vụ, kinh doanh, tài chính, kế toán, hành chính nhân sự…

    – về mặt tài chính

    Doanh nghiệp bảo hiểm tập trung huy động vốn từ số đông khách hàng nên phải có sự đảm bảo về mặt tài chính(ký quỹ, quỹ dự phòng, vốn chủ sở hữu, hiệu quả đầu tư…) để hoạt động và tạo sự tin tưởng đối với khách hàng. Những yêu cầu về tài chính phải được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan quản lý nhà nước.

    1.2 Nội dung, nguyên tắc hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm

    1.2.1. Nội dung:

    ☺Thứ nhất : kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm

    + Trong kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm dưới các hình thức sau: trực tiếp; thông qua các đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; thông qua đấu thầu; các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    + Trong kinh doanh tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền nhượng chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm.

    ☺Thứ hai: quản lý quỹ và đầu tư vốn:

    + Quản lý quỹ:

    Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã đóng góp không thấp hơn mức vốn pháp định đã quy định.

    + Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.

    + Đầu tư vốn:

    Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm : vốn diều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ dự trữ tự nguyện, các khoản lãi những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại của doanh nghiệp, nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi  từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm được sử dụng để đầu tư:

    – Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế.

    – Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.

    – Kinh doanh bất dộng sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính-tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm của doanh nghiệp.

    ☺Thứ ba : doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện các hoạt động khác như : đề phong, hạn chế rủi ro, tổn thât; giám định tổn thất; đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luât.

    1.2.2. Nguyên tắc hoạt động :

    – Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: chỉ bảo hiểm một sự rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra.

    – Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối.

    – Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm.

    Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan, gắn liền hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm.

    – Nguyên tắc bồi thường.

    Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vi trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.

    – Nguyên tắc thế quyền.

    Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 trách nhiệm bồi thường cho mình.

    – Nguyên tắc lấy số đông bù số ít.

    Dựa trên cơ sở nghiên cứu về quy luật số lớn, người ta có thể xác định được mức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định.

    Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì khả năng bù đắp rủi ro càng lớn, độ an toàn càng cao  và ngược lại.

    1.3 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Có nhiều tiêu chí để phân loại, mỗi cách phân loại có  ý nghĩa và mục đích riêng.

    ☺ Căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần đóng góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trọng phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    + Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở góp vốn giữa một bên nước Việt Nam với một bên nước ngoài( tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ)

    + Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam.

    ☺ Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm

    –  nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ: là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ của con người. Dấu hiệu đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ như sau: bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù.

    – nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ: là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    II. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    1. Đối tượng kinh doanh đa dạng.

    – Bảo hiểm tài sản: BH ô tô, xe máy, BH máy bay, BH tàu thủy, BH vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, BH đầu máy và toa xe, BH tài sản cá nhân và doanh nghiệp, BH tín dụng.

    – Bảo hiểm con người: BH nhân thọ, BH tai nạn lao động, BH tai nạn hành khách, BH tai nạn học sinh, sinh viên…

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: BH trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự chủ tàu, BH trách nhiệm dân sự chủ hãng hàng không…

    2. Bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn.

    Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn này các Công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.

    3. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng bảo   hiểm – là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

    Doanh nghiệp phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt qua trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục. Nếu không khôi phục được khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

    4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

    Doanh nghiệp bảo hiểm làm quen với hội nhập hợp tác quốc tế và tạo ra sự cạnh tranh để doanh nghiệp bảo hiểm tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm đem lại lợi ích tốt hơn cho người tham gia bảo hiểm.

    Trong quá trình phát triển thì các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải hợp tác để đưa đến thống nhất và đòi hỏi canh tranh lành mạnh.

    5. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân theo các quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan.

    Để các DN bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan đến hoạt động bảo hiểm

     

    III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

    3.1.Trước khi gia nhập WTO

    • Trước khi có nghị định 100/CP

    Ngày 17/12/1964 công ty bảo hiểm đầu tiên của VN được thành lập(Bảo Việt).

    Kể từ đó, đến tận năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được chính phủ thành lập. Ở giai đoạn này, lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể coi như sự phát triển của Bảo Việt.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam từ khi hình thành đến trước khi có nghị định 100/CP là thị trường độc quyền, “sân chơi chỉ có 1 người” nhưng đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước qua các giai đoạn cam go ác liệt của lịch sử.

    Sau khi có nghị định 100/CP,thực hiện chính sách mở cửa và cải cách kinh tế của đảng và nhà nước, ngày 18-6-1993, chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 100/CP của chính phủ ra đời khẳng định hướng phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều thành phần kinh tế tham gia, cụ thể:

    • Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
    • Doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần
    • Doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ
    • Doanh nghiệp liên doanh bảo hiểm
    • Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nước ngoài và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    3.2. Sau khi gia nhập WTO

    3.2.1 Những cơ hội của ngành bảo hiểm khi VN gia nhập WTO

    – Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao, hàng hóa của VN sẽ có một thị trường rộng lớn hơn đó là các thành viên WTO, đồng thời hàng hóa nước họ sẽ được xâm nhập vào thị trường VN  tạo tiền đề cho các ngành nghề phát triển như: giao thông vận tải đường bộ, hàng không, xuất nhập khẩu làm tiền đề cho BH phát triển.

    – Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước phát triển nhanh chóng

    Đây cũng là cơ sở để ngành BH phát triển, đồng thời cũng đòi hỏi ngành BH phải có sản phẩm BH đáp ứng nhu cầu của tăng trưởng đầu tư nước ngoài và trong nước, nhất là những cơ sở đầu tư ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay…

    – Lộ trình cổ phần hóa chuẩn bị hoàn thành

    Chế độ sở hữu tư nhân buộc người điều hành DN muốn bảo toàn vốn và tài sản trước mọi rủi ro cần phải có BH làm tăng nhu cầu BH để ngành BH phát triển. Khi các chủ DN coi trọng BH là lá chắn trước mọi rủi ro, tai nạn bất ngờ thì thị trường BH sẽ có nhiều cơ hội phát triển lành mạnh

    – Sự trợ cấp của Nhà nước ở một số lĩnh vực sẽ giảm dần

    Cùng với sự xã hội hóa hoạt động thể dục thể thao, y tế, văn hóa giáo dục đã kích thích nhu cầu tham gia BH. Sự trợ cấp của nhà nước càng giảm thì sự lo lắng thiên tai, tai nạn xảy ra bất ngờ dẫn đến người ta phải nghĩ tới BH.

    – Pháp luật ngày càng hoàn thiện và mang tính tương thích với nhau nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng của DN ngày một tốt hơn làm phát sinh theo nhu cầu BH như: BH trách nhiệm nghề nghiệp bác sĩ, luật sư, tư vấn thiết kế…; BH tài sản; BH rủi ro tài chính; BH trách nhiệm sản phẩm của các tổ chức sản xuất, kinh doanh; BH trách nhiệm dân sự của các chủ doanh nghiệp

    – Tầng lớp dân cư có thu nhập cao ngày càng đông đảo bao gồm giới chủ DN tư nhân, các chuyên gia giỏi trong DNVN và DN có vốn đầu tư nước ngoài, các chủ hộ kinh doanh, các chủ trang trại đều có nhu cầu BH Nhân thọ cho mình và người thân.

    – Nhận thức về nhu cầu, tác dụng của BH ngày một nâng cao thông qua công tác tuyên truyền của ngành BH,thông qua tập quán mua BH của giới chủ đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của những khách hàng tiềm năng có nhu cầu dẫn tới quyết định tham gia BH ngày một đông đảo hơn.

    3.2.2  Những thách thức lớn đối với ngành bảo hiểm cần vượt qua

    – Số lượng các DNBH được cấp phép hoạt động ngày một gia tăng

    Các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước nếu đủ điều kiện thao luật định đều có quyền xin phép thành lập DNBH, trong đó có các DNBH nước ngoài theo đúng cam kết WTO. Tuy nhiên, việc có nhiều DNBH ra đời làm cho sự cạnh tranh vốn đã gay gắt này càng gay gắt hơn.

    – DNBH hoạt động ở nước ngoài được cung cấp một số sản phẩm BH qua biên giới

    Đây là điều đáng lo ngại trong cuộc cạnh tranh không cân sức đối với các DNBH đang hoạt động tại VN.Trước hết, họ không thể biết được thông tin về đối thủ cạnh tranh của họ. Thứ hai, vũ khí của đối thủ đang sử dụng là loại gì không được biết rõ.Thứ ba, DNBH đang hoạt động tại VN phải đóng thuế cho ngân sách nhà nước trong khi đó đối thủ không bị đóng góp các khoản thuế trên.

    – Kênh phân phối sản phẩm BH đã bộc lộ nhiều yếu kém

    BH phi nhân thọ vẫn giữ cung cách khai thác chủ yếu từ cán bộ BH, cạnh tranh về phí BH, tăng hoa hồng, tăng hỗ trợ cho đại lý, chưa xây dựng được đội ngũ đại lý BH phi nhân thọ mang tính chuyên nghiệp và các công ty môi giới cạnh tranh lẫn nhau, làm việc thiếu chuyên nghiệp, … gây bất lợi cho DNBH và thị trường BH.

    – Đầu tư công nghệ thiếu đồng bộ, kém hiệu quả

    Hệ thống công nghệ thông tin của các DNBH chưa cập nhật được từng hợp đồng BH phát sinh, chưa phân loại được khách hàng, rủi ro BH, chưa phân tích đánh giá được nguyên nhân, mức độ rủi ro tổn thất, còn nhiều lỗ hổng để trục lợi BH.

    – Cạnh tranh gay gắt chủ yếu bằng con đường hạ phí BH, không chú trọng nhiều đến dịch vụ chăm sóc khách hàng

    Phí BH trên thị trường BHVN hiện nay được hình thành chủ yếu qua con đường cạnh tranh hạ phí phi kĩ thuật mà không quan tâm đến đối tượng BH như thế nào, mức độ rủi ro ra sao. Chính vì vậy, việc quan tâm chăm sóc khách hàng cung cấp dịch vụ gia tăng bổ sung cho khách hàng cũng bị hạn chế.

    – Việc giải quyết bồi thường còn nhiều vướng mắc

    Trước hết, tính công khai minh bạch về hồ sơ, thủ tục giải quyết bồi thường chưa được thực hiện.

    Thứ hai, việc đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục bồi thường giảm phiền phức cho khách hàng chưa được cải thiện rõ rệt.

    Thứ ba, còn nhiều vướng mắc trong việc thu thập hồ sơ chứng từ để giải quyết bồi thường cho nạn nhân khi những hồ sơ chứng từ này buộc phải lấy từ cơ quan có thẩm quyền như công an, bệnh viện.

    Thứ tư, việc tự quyết, tự chịu trách nhiệm của DNBH trong việc giám định bồi thường tổn thất chưa được phát huy và hay bị hình sự hóa.

    Thứ năm, các DN hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giám định và giải quyết bồi thường chưa hoạt động có hiệu quả và phán quyết của họ nhiều khi không được pháp luật công nhận.

    Cuối cùng là chưa có biện pháp xử phạt thích đáng DNBH trong việc chậm trễ bồi thường cũng như xử phạt thích đáng các hành vi trục lợi BH

    3.2.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm VN sau WTO

    – Xây dựng một hàng rào kỹ thuật về tiêu chuẩn thành lập DNBH và  hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    – Cần có sự biến đổi về chất của các DNBH nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng, phù hợp với mô hình phát triển DNBH theo chuẩn mực quốc tế.

    Trước hết, phải tập trung vào công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu quản lý BH từ khâu khai thác, theo dõi hợp đồng, khách hàng, tiếp nhận thông tin từ khách hàng, xử lý sự cố thiên tai, tai nạn, giám định bồi thường, tính phí, đánh giá rủi ro

    Thứ hai là tập trung cho công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực mang tính hệ thống, bài bản với những nội dung, chương trình đào tạo chuẩn mực quốc tế thay cho lối đào tạo truyền bá kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước dạy bảo người đi sau.

    Thứ ba là cần tạo ra thế mạnh hơn hẳn của để cạnh tranh với các DNBH nước ngoài không hoạt động tại VN.

    – Các DNBHVN cần có sự hợp tác hơn nữa

    Nói đến thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải là để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà trong cạnh tranh sẽ tạo tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương, đa phương thậm chí tiến tới việc mua bán, hợp nhất, sáp nhập DNBH để tạo nên một sức mạnh cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra, các DNBH càng cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý BH đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp thông tin về bồi thường, nguyên nhân tổn thất, phòng chống trục lợi BH.

    3.3. Các sản phẩm bảo hiểm mới trên thị trường Việt Nam

    + Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ:

    Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ vừa giới thiệu hai sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới là Bảo hiểm trợ cấp phẫu thuật & điều trị ngoại khoa và Bảo hiểm trợ cấp nằm viện. Điểm khác biệt của hai sản phẩm bổ trợ này so với những sản phẩm cùng loại trên thị trường là việc mang lại quyền lợi cho cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm.

    – Korea Life với sản phẩm bảo hiểm: AN KHANG LINH HOẠT TRỌN ĐỜI

    Ngày 30/11/2009, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Korea Life đã chính thức giới thiệu ra thị trường sản phẩm An Khang Linh Hoạt Trọn Đời – một sản phẩm thuộc dòng Bảo hiểm Liên kết chung. Với ưu thế là sự linh hoạt tối đa trong tích lũy và bảo vệ, sản phẩm mới này hứa hẹn sẽ đáp ứng được mong đợi của nhiều khách hàng Việt Nam

    – 3 sản phẩm mới của Grest Eastern

    +Đại an khôi nguyên- lên kế hoạch cho con bạn từ hôm nay

    Với sản phẩm này, bạn có thể bắt đầu lập kế hoạch cho tương lai giáo dục của con bạn ngay khi đứa con yêu quý của bạn mới chào đời.Với việc nộp phí bảo hiểm trong 8 năm, con bạn sẽ được bảo vệ tới 22 năm, sự hỗ trợ có đảm bảo về tài chính sẽ bằng 130% Số tiền Bảo hiểm ban đầu cộng với tất cả bảo tức tích lũy đi kèm.

    +Đại an định kỳ gia tăng- thắp sáng ước mơ của bạn

    Đại an định kỳ gia tăng của Great Eastern không những bảo vệ mà còn mang

    lại cho bạn một khoản tiết kiệm, nhờ vậy, bạn có thể tăng thêm của cải và có thêm tiền mặt trong tay để thực hiện các mục tiêu lâu dài trong cuộc đời của mình.

    +Đại an  minh tâm- lập kế hoạch cho việc mưu cầu hạnh phúc của bạn

    Đại an minh tâm là giải pháp tuyệt vời hỗ trợ bạn và những người thân yêu của bạn về mặt tài chính, và điều quan trọng nhất là giúp cho ước mơ và kế hoạch tài chính của bạn trở thành hiện thực.

    – Prudential Việt Nam với sản phẩm “3 trong 1”

    Mới đây nhất, bảo hiểm Prudential Việt Nam vừa giới thiệu sản phẩm bảo hiểm nhân thọ “3 trong 1” dành cho những khách hàng đã có gia đình; sản phẩm này cho phép một hợp đồng của một thành viên trong gia đình có giá trị bảo hiểm cho cả gia đình 3 người.

    + Sản phẩm BH phi nhân thọ

    – BIC bảo hiểm cho các hộ chung cư

    Từ ngày 05/04/2010, BIC chính thức triển khai sản phẩm Bảo hiểm cho hộ gia đình sinh sống trong các khu chung cư.

    – CHILDREN CARE – Sản phẩm mới của PJICO

    PJICO quyết định thiết kế ra PJICO Children Care – một sản phẩm bảo hiểm hoàn toàn mới cho thiếu nhi với mức trách nhiệm cao, phạm vi bảo hiểm rộng và đặc biệt là người tham gia bảo hiểm được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao.Điều này đã hạn chế các yếu tố : mức trách nhiệm bảo hiểm thấp, quyền lợi bảo hiểm hạn chế, …

    – Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI)

    Ngay sau khi Cục Cảnh sát giao thông đường bộ thông báo sẽ kiểm tra gắt gao việc mua bảo hiểm bắt buộc, Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI) đã nhanh chóng đưa ra thị trường sản phẩm “Phúc vạn dặm bảo hiểm vật chất cho xe ôtô”.

    – Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS)

    Công ty Cổ phần Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) thì cho ra mắt Bảo hiểm nhà tư nhân, bảo hiểm cấu trúc ngôi nhà,tài sản bên trong ngôi nhà nếu bị cháy, nổ, sét đánh, động đất, trộm cướp, hành động cố ý phá hoại hay hành động ác ý đều được bồi thường.

    IV. CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)

    Tìm hiểu tại: Văn phòng bảo hiểm khu vực II

    ĐC: 194 Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy-HN

    4.1 Quá trình hình thành và phát triển

    Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

    Tên giao dịch quốc tế : PETROLIMEX JOINT STOCK COMPANY

    Tên viết tắt                    :         PJICO

    Lôgô                     :

    Địa chỉ                  : Số 532 Đường Láng, Đống Đa, Hà Nội

    Điện thoại            : (04) 776 0865  – (04) 776 0926

    Fax                       : (04) 776 0868

    Thành lập                         : 15/6/1995

    Vốn điều lê:         –  6/1995 là 55 tỷ đồng

    –  4/2004 là 70 tỷ đồng

    –  31/3/2007 là 140 tỷ đồng

    2009 là      335,1 tỷ đồng

    Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) là Công ty cổ phần bảo hiểm đầu tiên tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập năm 1995 theo chính sách đổi mới phát triển kinh tế của Nhà nước, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín của các tổng công ty lớn của nhà nước như Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng Công ty thép Việt Nam, Tổng Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội HANEL….. Sau 13 năm phát triển, PJICO được đánh giá là một trong những công ty có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thị trường và hiện tại PJICO là một trong 4 nhà bảo hiểm hàng đầu trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

    – Hiện nay PJCO có 49 chi nhánh hoạt động tại tất cả các tỉnh thành trên cả nước với số lượng Đại lý là trên 4.500 đại lý. Tại thị trường quốc tế Công ty đã mở rộng và quan hệ với nhiều nhà Tái bảo hiểm quốc tế như Munich Re, Cologne Re, Hartford Re, Hannover Re, Willis Faber, LLoy’d …

    – Với những kết quả kinh doanh ấn tượng đã đạt được trong thời gian qua, PJICO đã vinh dự được nhận hàng loạt các giải thưởng, danh hiêu lớn: Huân chương lao động hạng III năm 2000, PJICO đã được bầu chọn Giải thưởng Sao đỏ năm 2003, Giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2004, Giải “Thương Hiệu Mạnh Việt Nam 2009” Vào ngày 4/4/2010.

     

    4.2. Mô hình tổ chức

    4.3. Vị thế của Công ty trong ngành:

    Công ty đứng thứ tư trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, cung cấp  hầu hết các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Lợi thế cạnh tranh của Công ty tập trung ở một số lĩnh vực bán lẻ như bảo hiểm ôtô, xe máy chiếm gần 50% tổng doanh số kinh doanh bảo hiểm hàng năm và một số lĩnh vực bảo hiểm khác như bảo hiểm con người, bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm xây dựng lắp đặt. Với các lĩnh vực bán lẻ, thương hiệu và uy tín của PJICO ngày càng cao, sau khi điểu chỉnh chiến lược kinh doanh, việc phục vụ khách hàng của PJICO ngày càng tốt hơn, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. PJICO đang ngày một khẳng định vị thế của mình trên thị trường.

    4.4. Các sản phẩm bảo hiểm:

    4.4.1    Bảo hiểm xe cơ giới:

    Bao gồm các loại hình:

    • Bảo hiểm bắt buộc TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm tự nguyện TNDS của Chủ xe cơ giới
    • Bảo hiểm TNDS của Chủ xe cơ giới đối với hàng hoá trên xe.
    • Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe và lái, phụ xe.
    • Bảo hiểm vật chất xe.

    4.4.2   Bảo hiểm con người

    4.4.3   Bảo hiểm hàng hóa

    – Bảo hiểm hàng xuất nhập khẩu: Hàng hóa xuất nhập ra vào lãnh thổ Việt Nam

    – Bảo hiểm hàng vận chuyển trong nước: Hàng hóa vận chuyển nội địa bằng các loại phương tiện được phép tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam

    4.4.4  Bảo hiểm tàu thủy

    – Bảo hiểm thân, vỏ tàu: Các cấu trúc nổi có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển, sông hồ và các vùng nước có liên quan.

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu: Là trách nhiệm dân sự của chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không phải là người thuê tàu chuyến)… phải bồi thường theo luật định.

    4.4.5  Tài sản & Trách nhiệm

    –  Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản

    – Hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

    – Gián đoạn kinh doanh

    – Trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm

    – Trách nhiệm nghề nghiệp

    – Bảo hiểm khác:

    • Bảo hiểm tiền (trong két và vận chuyển)
    • Bảo hiểm trộm cắp
    • Bảo hiểm lòng trung thành (của nhân viên, người làm thuê …)

    4.4.6 Bảo hiểm kỹ thuật

    – Bảo hiểm kỹ thuật

    • CAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng
    • EAR      : Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt
    • M          : Bảo hiểm máy móc
    • EE         : Bảo hiểm thiết bị điện tử
    • DOS      : Hàng trong kho lạnh
    • MLOP    : Mất tổn thất do thiệt hại đối với máy móc
    • CECR    :Bảo hiểm mọi rủi ro công trình kỹ thuật dân dụng đã hoàn thành

    – Bảo hiểm xây dựng:

    • Công việc xây dựng
    • Trang thiết bị xây dựng
    • Máy móc xây dựng
    • Chi phí dọn dẹp hiện trường
    • Trách nhiệm đối với bên thứ ba

    4.5. Hoạt động của công ty

    4.5.1. Huy động vốn:

    + Vốn từ các cổ đông:

    TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM :Petrolimex là cổ đông lớn nhất của Công ty PJICO với tỷ lệ góp vốn là: 51%.

    NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 10%

    TỔNG CÔNG TY CP TÁI BẢO HIỂM QUỐC GIA VIỆT NAM:Tỷ lệ vốn góp trong PJICO: 8%

    TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 6%.

    CÔNG TY VẬT TƯ VÀ THIẾT BỊ TOÀN BỘ :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 3%

    CÔNG TY ĐIỆN TỬ HANEL:Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 2%.

    CÔNG TY THIẾT BỊ AN TOÀN :Tỷ lệ góp vốn trong PJICO: 0,5%.

    + Vốn huy động từ phát hành cổ phiếu :

    Số vốn điều lệ đang lưu hành đầu năm 2007 của PJICO mới đạt 137,2 tỷ đồng là quá nhỏ so với quy mô và tầm hoạt động của chính PJICO và so với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trên thị trường.  Do đó, công ty đã chào bán cổ phiếu vào cuối năm 2007 với  số lượng: 19.884.033 cổ phiếu

    Cuối năm 2009, sau khi được bộ tài chính và ủy ban chứng khoán chấp nhận, ĐHCĐ của CTCP Bảo hiểm Petrolimex thông qua phương án phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng. Cụ thể, PJICO phát hành 16.490.099 cổ phiếu với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị phát hành theo mệnh giá là 164,9 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Đại hội còn thông qua việc niêm yết toàn bộ 50 triệu cổ phiếu trên Sở GDCK TP. HCM (HOSE) và ủy quyền cho HĐQT thực hiện.

    4.5.2 Quản lý quỹ:

    Trích lập các Quỹ

    PJICO thực hiện trích lập và sử dụng các quỹ tại doanh nghiệp như sau:

    • Quỹ dự trữ bắt buộc được trích từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 5% cho tới khi bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp.
    • Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuế với tỷ lệ 10 %.
    • Quỹ trợ cấp mất việc làm được trích theo quy định của pháp luật
    • Quỹ khen, thưởng phúc lợi được trích từ lợi nhuận sau thuế thông thường bằng 1 đến 1,5 tháng lương thực tế.

    Dự phòng nghiệp vụ.

    • Dự phòng phí chưa được hưởng: mức trích lập dự phòng phí đối với các loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hóa được tính bằng 25% mức phí giữ lại trong năm và bằng 50% mức phí giữ lại trong năm đối với các loại hình bảo hiểm khác.
    • Dự phòng dao động lớn: được áp dụng thống nhất đối với tất cả các loại hình nghiệp vụ là 5% phí giữ lại trong năm và được trích cho đến khi bằng 100% phí giữ lại.
    • Dự phòng bồi thường: được Công ty thực hiện trích lập theo phương pháp từng hồ sơ đối với các tổn thất thuộc phạm vị bảo hiểm khách hàng đã khiếu nại nhưng chưa giải quyết. Mức trích lập dựa trên ước tính tổn thất phát sinh và phần trách nhiệm giữ lại của Công ty.

    4.5.3 Hoạt động đầu tư:

    Không chỉ theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, PJICO còn quan tâm tới nhiệm vụ quản lý rủi ro, bảo toàn đồng vốn thông qua việc quản lý đầu tư tài chính khoa học, sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi, huy động tối đa tiền vào đầu tư sinh lợi, đồng thời vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu thường xuyên của các đơn vị trong Công ty.

    PJICO đã triển khai đầu tư vào nhiều dự án có hiệu quả như đầu tư góp vốn vào Công ty cổ phần vận tải xăng dầu Vipco, góp vốn cổ phần vào Tổng công ty CP tái bảo hiểm Quốc Gia Việt Nam (Vinare), Công ty cổ phần Xây lắp I Petrolimex.; Công ty cổ phần Bất động sản Petrolimex (Pland), Công ty cổ phần Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco)….., ngoài ra PJICO còn thường xuyên theo dõi sự biến động của Thị trường chứng khoán để lựa chọn danh mục đầu tư cổ phiếu hợp lý.

    Bảng 1: Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm 31/12/2009

    Đơn vị tính: đồng

    STT Tên dự án Hình thức tham gia Tỷ lệ góp vốn Số tiền góp vốn  
     
    1 Công ty CP Vận tải Vipco Góp vốn cổ phần 6,94% 24.350.000.000  
    2 Tổng Công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam Góp vốn cổ phần 3,5% 12.005.000.000  
    3 Công ty CP Xây lắp I Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 1.000.000.000  
    4 Công ty CP Bất động sản Petrolimex Góp vốn cổ phần 10% 10.000.000.000  
    5 Công ty CP Lương thực và Công nghệ thực phẩm (Foodinco) Góp vốn quỹ 7,57% 2.500.000.000  
    6 Công ty liên doanh kho xăng dầu Vân phong Góp vốn liên kết KD 15% 12.800.000.000  
               
      Tổng cộng     62.655.000.000  

    (Nguồn: Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex)

    4.5.4. Công tác dịch vụ khách hàng

    Với một mạng lưới dịch vụ trải dài rộng khắp, PJICO nhận bảo hiểm ở mọi nơi, mọi rủi ro trong cả nước. Hiện nay, PJICO đang nhận bảo hiểm hàng nghìn công trình lớn nhỏ với tổng giá trị lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, trong đó có rất nhiều công trình mà giá trị bảo hiểm đã lên tới hàng trăm triệu Dollar Mỹ như toà nhà Daewoo, cao ốc Diamond Praha, cảng xăng dầu B12, trung tâm HITC, Cầu Bãi Cháy, Nhà máy Xi măng Hải Phòng….
    PJICO cũng nhận bảo hiểm cho hàng vạn xe cộ, hàng triệu người lao động, học sinh,mang lại niềm tin trong sản xuất, lao động và học tập. Đó chính là mục tiêu, là mong muốn mà PJICO có được ở khách hàng. Để đạt được điều đó PJICO đã phải có những nỗ lực vượt bậc trong quá trình phát triển, lập ra một quỹ dự trữ bồi thường gắn với một chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện, đúng đủ.

    Sau những năm hoạt động, PJICO đã bồi thường, trợ giúp hàng trăm ngàn vụ tổn thất, điển hình:

    • Đợt bão số 5 mang tên Linđa tràn vào Nam Trung bộ và Nam bộ (1997) gây thiệt hại nghiêm trọng, PJICO đã bồi thường hàng tỷ đồng để ổn định cuộc sống người dân.
    • Vụ cháy kho xăng dầu K131 trị giá 22 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất tàu và hàng trong vụ đâm va 2 tàu dầu Petrolimex 01 và Formosa One tại Vũng Tàu năm 2001 với giá trị tổn thất là 18 tỷ đồng
    • Các tổn thất trên Đường Hồ Chí Minh trị giá 5,8 tỷ đồng, tổn thất Cầu Kỳ Lam, Cầu Đà Rằng-Sông Cái
    • Vụ tổn thất của Công ty Xi măng Hoàng Mai trị giá 5,79 tỷ đồng
    • Vụ tổn thất toàn bộ 11.000 tấn phân lân do đắm tàu MaritmeFelelity tại Singapore trị giá 1.4 triệu USD.
    • Hàng loạt các tổn thất cầu, đường, kho, hàng, tàu thuyền sau trận lụt miền Trung tháng 10/1999
    • PJICO thực hiện chế độ bồi thường hợp tình, hợp pháp, chi trả cho khách hàng nhanh, thuận tiện thể hiện rõ trong vụ lốc xoáy làm bung chân đế và đổ sập 3 cẩu rót than tại Công ty Tuyển than Cửa Ông
    • PJICO chỉ cung cấp dịch vụ Bảo hiểm thân tàu và không phải chịu trách nhiệm đối với các thuyền viên bị nạn, nhưng Công ty vẫn trợ cấp thăm hỏi gia đình nạn nhân có người thiệt mạng sự cố chìm tàu Đức Trí ngày 03/03/2008 tại Bình Thuận mức 2 triệu đồng/người…

    Từ khi thành lập tới nay PJICO đã chi bồi thường hàng trăm tỷ đồng để khắc phục những rủi ro, thiệt hại đã xảy ra với khách hàng. Ngày nay, PJICO đã trở thành một địa chỉ đáng tin cậy, một sự lựa chọn tốt nhất của bạn cho bản thân, gia đình bạn gửi gắm niềm tin, sự an tâm trong cuộc sống.

    4.5.5. Hoạt động cộng đồng

    Sự kiện chìm đò trên sông Gianh ngày 25/01/2009 làm 42 người chết gây chấn động dư luận. Chia sẻ mất mát đau thương với người dân Quảng Bình và trách nhiệm đối với cộng đồng, ngày 04/02/2009 Công ty Bảo hiểm PJICO đã đến thăm hỏi và tặng quà hỗ trợ đến gia đình các nạn nhân tổng số tiền 21.000.000 đồng

    Đầu tháng 11 năm 2009, thay mặt toàn thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO, đoàn cán bộ PJICO đã đến Văn phòng Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tại số 82 – Nguyễn Du – Hà Nội để trao quà ủng hộ đồng bào Miền Trung – Tây Nguyên ( 20.000.000 VND tiền mặt và 100kg quần áo, 100 cuốn sách giáo khoa )

    Nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân , 25/12/2009 công ty bảo hiểm PJICO đã tổ chức cho các cựu chiến binh hiện đang công tác tại văn phòng công ty và Hội sở PJICO Hà Nội chuyến đi du lịch về nguồn, thăm lại chiến khu xưa

    Công ty Bảo hiểm PJICO hân hạnh là Nhà Tài Trợ cho Giải Tennis Khối Doanh nghiệp TW lần I – 2010 do Đoàn khối Doanh nghiệp TW tổ chức nhằm thiết thực chào mừng 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam và 79 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    Chào mừng Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng tỉnh Kon Tum(31/3/2010), PJICO hân hạnh là Nhà tài trợ Giải quần vợt tranh Cúp Bảo hiểm PJICO lần thứ nhất năm 2010 do Liên đoàn quần vợt tỉnh Kon Tum tổ chức

    4.6. Chiến lược kinh doanh trong thời gian sắp tới

    Trong mấy năm vừa qua, bảo hiểm Petrolimex có mức tăng trưởng cao nhất trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Mạng lưới kinh doanh bảo hiểm của Petrolimex trải rộng trên toàn quốc và được bảo đảm tài chính bởi các nhà tái bảo hiểm chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như: Munich Re, Swiss Re, Hannover Re, Harfort Re, Aon Re… Năm 2004 là năm đầu tiên Bảo hiểm Petrolimex hướng sự hoạt động ra thị trường quốc tế và đã thu được khoản lợi nhuận trên 1 triệu USD. Chiến lược của Bảo hiểm Petrolimex trong thời gian tới là phát triển thành tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Namvề chất lượng và hiệu quả , khẳng định thương hiệu “PJICO – Nhà bảo hiểm chuyên nghiệp”; , đồng thời mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.

    Để thực hiện mục tiêu phát triển này PJICO có những chiến lược :

    1. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm đồng bộ, đa dạng và có chất lượng cao định hướng vào khách hàng.

    –  Xây dựng hệ thống các chính sách để thực hiện tốt nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

    –  Tiếp tục hoàn thiện sản phẩm PJICO- Children-Care thiết kế dành riêng cho trẻ em lứa tuổi từ 1-16 tuổi, theo đó trẻ em được chăm sóc y tế chất lượng cao trong các trường hợp tai nạn, ốm đau, bệnh tật phải điều trị nội trú  Sản phẩm này bảo vệ cho trẻ em 24/24 trong thời gian ở trường , ở nhà và mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam

    1. Tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, năng động và thân thiện để nhân viên phát huy tài năng và sáng tạo.

    Với mục tiêu phát triển một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, luôn quan tâm sâu sắc tới lợi ích của khách hàng…nên bảo hiểm PJICO áp dụng quy trình chặt chẽ ngay từ đầu vào để tuyển dụng những người có tố chất này, và sau đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi giúp họ phát triển sự nghiệp. Chính chất lượng và thái độ của đội ngũ nhân viên bảo hiểm sẽ tạo nên sự khác biệt của một công ty bảo hiểm.

    1. Hợp tác hiệu quả với các đối tác để cùng phát triển và đóng góp xây dựng cộng đồng

    – Liên kết với ngân hàng: phát triển cho tương lai

    Cùng với việc tập trung phát triển và xây dựng kênh bán hàng qua đại lý thật vững mạnh và hiệu quả tại Việt Nam, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm và ngân hàng kinh doanh sản phẩm ban-cassurance trong những năm qua đã đem lại lợi ích đáng kể cho các bên. Chính vì thế, liên kết với ngân hàng đang được bảo hiểm PJICO tận dụng triệt để. Bảo hiểm PJICO đang bắt tay với một số ngân hàng trong và ngoài nước để bán sản phẩm bảo hiểm. Để chuẩn bị cho tương lai PJICO đang âm thầm tìm kiếm những ngân hàng uy tín để ‘bắt tay”

    • Ưu đãi tối đa cho hệ thống đại lý

    PJICO vẫn luôn coi trọng việc bán sản phẩm thông qua các đại diện kinh doanh. Để phát triển mạng lưới đại lý của mình PJICO áp nhiều chế độ đãi ngộ hợp lý . Ngoài lợi nhuận của công ty thì quyền lợi của khách hàng  được PJICO coi trọng hàng đầu

    1. Phát triển bền vững để gia tăng giá trị cho các cổ đông thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính.
    1. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Giáo trình nguyên lý bảo hiểm- NXB thống kê

    – Thị trường bảo hiểm Việt Nam –cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập   NXB lý luận chính trị

    – Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm – đại học kinh tế quốc dân

    Website :

    http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/08/27/3695/

    www.pjico.com.vn

    www.petrolimex.com.vn

    www.webbaohiem.net/


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

    LỜI NÓI ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu

    • chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

    PHẦN I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH

    I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương

    trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    • Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường,

    mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    • Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).
    • Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
    • Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.
    • Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
    • Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
    • Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.
    • Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

     

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

     

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.
    • Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
    • Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.
    • Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
    • Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.
    1. Tính chất của BHXH.
    • Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.
    • BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.
    • BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    • BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
    • Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
    • Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.
    • Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.
    • Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    • Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.
    • Ngành nghề công tác của người lao động
    • Thời gian công tác và tiền lương của người lao động
    • Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp
    • Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.
    • Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.
    • Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ

    BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    • Người lao động đóng góp
    • Người sử dụng đóng góp
    • Nhà nước bù thiếu
    • Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    • Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.
    • Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.
    • Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

     

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    • Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.
    • Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    1. Trợ cấp ốm đau
    1. Trợ cấp thất nghiệp
    1. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    1. Trợ cấp tuổi già
    1. Trợ cấp gia đình
    1. Trợ cấp sinh đẻ
    1. Trợ cấp khi tàn phế.
    1. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    • Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
    • Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.
    • Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.
    • Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
    • Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.
    • Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
    • Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
    • Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

    PHẦN II. QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

    I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    • Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ

    trang.

    • Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.
    • Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.
    • Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân

    xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    • Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.
    • Chính sách này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.
    • Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực

    tế.

    • Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

     

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    • Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao

    động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    • Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.
    • Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.
    • Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.
    • Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. THỰC TRẠNG QUỸ BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.

     

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm

    • chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà

    nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    • Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.
    • Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.
    • Nhà nước hỗ trợ thêm.
    • Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    • Chi quản lý hành chính sự nghiệp
    • Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    • BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.
    • Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.
    • Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ
            (NS/NT)
             
    1995 2.275.998   788.486  
             
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
             
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
             
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
             
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%
             

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    • Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)
    • Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.
    • Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.
    • Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    • Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.
    • Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
       
    1995 11,3
       
    1996 8,3
       
    1997 11,2
       
    1998 10,0
       
    1999 9,0
       

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như

    sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
         
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
         
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
         
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%
         

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    • Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.
    • Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.
    • Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.
    • Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.
    • Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
         
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
         
    CH Pháp 11,82 19,68
         
    Malayxia 9,5 12,75
         

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
               
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
               
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
               
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
               
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
               
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
               
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5
               

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới

    đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    • Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.
    • Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.
    • Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    • Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    • Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH
    • Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ, thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người

    lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    • Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.
    • Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc

    tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    • Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CÂN ĐỐI QUỸ BHXH VIỆT NAM.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.
    • Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.
    • Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.
    • Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ

    BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    • Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là 35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.
    1. Với các khoản thu khác.
    • Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.
    • Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.
    • Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.
    • Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    • Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.
    • Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.
    • Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện mới.
    • Ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)
    • Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)
    • Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn
    • Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000
    • Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993
    • Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995
    • Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án Bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm thất nghiệp

    Đề án môn học

    LỜI MỞ ĐẦU

    Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người lao động. Trong quá trình thực hiện, chế độ BHXH không ngừng được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển nhằm đảm bảo quyền lợi đối với người lao động .

    Trong các chế độ của hệ thống BHXH có chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Mục đích của chế độ này là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để họ có những cơ hội mới về việc làm.

    Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ khá rõ, đặc biệt là tình trạng thất nghiệp. Nhà nước đã giải quyết vấn đề này bằng nhiều biện pháp như chính sách dân số, kinh tế, …

    Mặc dù hiện nay nước ta chưa triển khai BHTN song những năm vừa qua Nhà nước, ngành lao động- thương binh xã hội đã có nhiều đề án và đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này để chuẩn bị triển khai trong những năm sắp tới. Đây là vấn đề bức xúc và tất yếu, là trách nhiệm của cả Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động.

    Để triển khai BHTN, phải xây dựng được chính sách hay pháp lệnh về BHTN, tạo hành trang pháp lý trong quá trình tổ chức thực hiện. Hy vọng rằng BHTN sẽ sớm được triển khai ở Việt Nam góp phần giải quyết căn bệnh cố hữu do cơ chế thị trường đẻ ra, đó là thất nghiệp.

    Mục tiêu đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận , thực tiễn Thất nghiệp , các chính sách BHTN trên cơ sở tống hợp thông tin.

    Kết cấu của đề tài : Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 phần chính :

    1. Một số vấn đề về thất nghiệp.
    1. Bảo hiểm Thất nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    III. Chính sách Bảo hiểm Thất nghiệp của Việt Nam hiện tại và tương

    lai.

    Bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong sự chỉ bảo của cô.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    NỘI DUNG

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THẤT NGHIỆP

    1.Khái niệm về thất nghiệp

    Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều tổ chức,nhiều nhà khoa học bàn luận.Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp.Luật Bảo hiểm thất nghiệp (viết tắt BHTN)cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.

    Tại Pháp người ta cho rằng,thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.

    Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.

    Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm”.

    Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ,”Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền lương thịnh hành”.

    Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra định nghĩa:”Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:

    • Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
    • Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn ) hoặc đã thôi việc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.
    • Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương. Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất

    việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

    • Có khả năng lao động.
    • Đang không có việc làm
    • Đang đi tìm việc làm.
    • Việt Nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kỳ chuyển đồi nền kinh tế cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường.Vì vậy, tuy chưa có văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đề có liên quan đến thất nghiệp, nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.

    Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.

    Định nghĩa thất nghiệp ở Việt Nam : “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.

    2. Các nguyên nhân gây thất nghiệp

    Có 3 nguyên nhân gây thất nghiệp

    – Do chu kỳ sản xuất kinh doanh thay đổi:

    Theo chu kỳ phát triển kinh tế , sau hưng thịnh đến suy thoáim khủng hoảng. Ở thời kỳ được mở rộng, nguồn nhân lực xã hội được huy động vào sản xuất, nhu cầu về sức lao động tăng nhanh nên thu hút nhiều lao động.Ngược lại thời kỳ suy thoái sản xuất đình trệ , cầu lao động giảm không những không tuyển thêm lao động mà còn một số lao động bị dôi dư gây nên tình trạng thất nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nhà kinh tế nếu năng lực sản xuất xã hội giảm 1% so với khả năng , thất nghiệp sẽ tăng lên 2%.

    – Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đặc biệt quá trình tự động hóa quá trình sản xuất.Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tự động hóa quá trình sản xuất sẽ tiết kiệm được chi phí, năng suất lao động tăng cao , chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá thành lại rẻ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Chính vì thế, các nhà sản xuất luôn tìm cách đổi mới công nghệ, sử dụng những dây truyền tự động vào sản xuất, máy móc được sử dụng nhiều, lao động sẽ dôi dư. Số lao động này sẽ bổ sung vào đội quân thất nghiệp.

    • Sự gia tăng dân số và nhuồn lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm. Điều này thường xảy ra đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển. Ở đây, nguồn lực dồi dào nhưng do kinh tế hạn chế nên không có điều kiện đào tạo và sử dụng hết nguồn lao động hiện có.

    3. Phân loại thất nghiệp

    Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để hiểu rõ về nó. Căn cứ vào từng chỉ tiêu đánh giá, ta có thể chia thất nghiệp thành các loại sau:

    a.Phân theo đặc trưng của người thất nghiệp.

    Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư nào, ngành nghề nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ tác hại… của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây:

    • Thất nghiệp theo giới tính.
    • Thất nghiệp theo lứa tuổi.
    • Thất nghiệp chia theo vùng, lãnh thổ.
    • Thất nghiệp chia theo ngành nghề.
    • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
    1. b. Phân loại theo lý do thất nghiệp .

    Trong khái niệm thất nghiệp , cần phải phân biệt rõ thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Nói khác đi là những người lao động tự nguyện xin thôi việc và những người lao động buộc phải thôi việc.Trong

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    nền kinh tế thị trường năng động, lao động ở các nhóm, các ngành, các công ty được trả tiền công lao động khác nhau (mức lương không thống nhất trong các ngành nghề , cấp bậc). Việc đi làm hay nghỉ việc là quyền của mỗi người. Cho nên, người lao động có sự so sánh, chỗ nào lương cao thì làm, chỗ nào lương thấp (không phù hợp) thì nghỉ. Vì thế xảy ra hiện tượng:

    Thất nghiệp tự nguyện :Là loại thất nghiệp mà ở một mức tiền công nào đó người lao động không muốn làm việc hoặc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển, sinh con…).Thất nghiệp loại này thường tạm thời.

    Thất nghiệp không tự nguyện là: Thất nghiệp mà ở mức tiền công nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không được làm việc do kinh tế suy thoái , cung lớn hơn cầu về lao động…

    Thất nghiệp trá hình (còn gọi là hiện tượng khiếm dụng lao động) là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng dưới mức khả năng mà bình thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động.

    Kết cục của những người thất nghiệp không phải là vĩnh viễn . Có những người ( bỏ việc, mất việc…) sau một thời gian nào đó sẽ được trở lại làm việc . Nhưng cũng có một số người không có khả năng đó và họ phải ra khỏi lực lượng lao động do không có điều kiện bản thân phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động hoặc do mất khả năng hứng thú làm việc ( hay còn có thể có những nguyên nhân khác).

    Như vậy, con số thất nghiệp là con số mang tính thời điểm . Nó luôn biến động theo thời gian. Thất nghiệp xuất phát từ nhu cầu cần việc làm, có việc rồi lại mất việc, từ không thất nghiệp trở lên thất nghiệp rồi ra khỏi trạng thái đó. Vì thế việc nghiên cứu dòng lưu chuyển thất nghiệp là rất có ý nghĩa.

    1. c. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp.

    Tìm hiểu nguồn gốc thất có ý nghĩa phân tích sâu sắc về thực trạng thất nghiệp , từ đó tìm ta hướng giải quyết. Có thể chia thành 4 loại:

    Thất nghiệp tạm thời là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của người lao động giữa các vùng, các loại công việc hoặc giữa các

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    giai đoạn khác nhau của cuộc sống.Thậm chí trong một nền kinh tế có đủ việc làm vẫn luôn có sự chuyển động nào đó như một số người tìm việc làm sau khi tốt nghiệp hoặc di chuyển chỗ ở từ nơi này đến nơi khác ; phụ nữ có thể quay lại lực lượng lao động sau khi sinh con…

    Thất nghiệp có tính cơ cấu : Xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung – cầu lao động ( giữa các ngành nghề , khu vực…). Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và gây ra do sự suy thoái của một ngành nào đó hoặc là sự thay đổi công nghệ dẫn đến đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn, ai không đáp ứng được sẽ bị sa thải. Chính vì vậy , thất nghiệp loại này còn gọi là thất nghiệp công nghệ. Trong nền kinh tế hiện đại, thất nghiệp loại này thường xuyên xảy ra. Khi sự biến động này là mạnh và kéo dài , nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và chuyển sang thất nghiệp dài hạn. Nếu tiền lương rất linh hoạt thì sự mất cân đối trong thị trường lao động sẽ mất đi khi tiền lương trong những khu vực có nguồn cung lao động hạ xuống, và ở trong khu vực có mức cầu lao động cao tăng lên.

    Thất nghiệp do thiếu cầu : Loại thất nghiệp này xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm xuống . Nguồn gốc chính là sự suy giảm tổng cầu . Loại này còn được gọi là thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái của chu kỳ kinh doanh. Dấu hiệu chứng tỏ sự xuất hiện của loại này là tình trạng thất nghiệp xảy ra tràn lan ở khắp mọi nơi, mọi nghề.

    Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Loại thất nghiệp này còn được gọi theo lý thuyết cổ điển. Nó xảy ra khi tiền lương được ấn định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động. Vì tiền lương không chỉ quan hệ đến sự phân phối thu nhập gắn với kết quả lao động mà còn quan hệ với mức sống tối thiểu nên nhiều quốc gia ( Chính phủ hoặc công đoàn ) có quy định cứng nhắc về mức lương tối thiểu, sự không linh hoạt của tiền lương (ngược với sự năng động của thị trường lao động), dẫn đến một bộ phận mất việc làm hoặc khó tìm việc làm.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Tóm lại, thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu xảy ra trong một bộ phận riêng biệt của thị trường lao động ( có thể diễn ra ngay cả khi thị trường lao động đang cân bằng). Thất nghiệp do thiếu cầu xảy ra khi nền kinh tế đi xuống, toàn bộ thi trường lao động bị mất cân bằng. Còn thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển do các yếu tố xã hội, chính trị tác động. Sự phân biệt đó là then chốt để nắm bắt tình hình chung của thị trường lao động.

    4. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội, do tác động của nhiều yếu tố kinh tế –xã hội, trong đó có những yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là kết quả. Ngược lại, thất nghiệp có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy , cần phân tích rõ tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế –xã hội đối với thất nghiệp và ngược lại, ảnh hưởng của thất nghiệp đến sự phát triển kinh tế –xã hội; hạn chế những tác động đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    a.Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

    Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế – xã hội. Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa là nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư ( vì vốn ngân sách vị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến ( bờ vực) của lạm phát.

    Mối quan hệ nghịch lý 3 chiều giữa tăng trưởng kinh tế – thất nghiệp và lạm phát luôn luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) mà giảm thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm, kéo theo tỷ lệ lạm phát phát cũng giảm. Mối quan hệ này cần được quan tâm khi tác động vào các nhân tố kích thích phát triển kinh tế – xã hội.

    b.Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập. Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ se khó khăn. Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ gặp khó khăn khi đến trường; sức khỏe họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chán nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…

    1. Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội, an toàn xã hội.

    Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống…tăng lên; hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm…Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị.

    Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội khó khăn và nan giải của quốc gia, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt đời sống kinh tế – xã hội.

    Giải quyết tình trạng thất nghiệp không phải “một sớm, một chiều”, không chỉ bằng một chính sách hay một biện pháp mà phải là một hệ thống các chính sách đồng bộ, phải luôn coi trọng trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi lẽ, thất nghiệp luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và tăng (giảm) theo chu kỳ phát triển của nền kinh tế thị trường.

    Trong hàng loạt các chính sách và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp, Bảo hiểm thất nghiệp có vị trí quan trọng.

    II. BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

    1.Một số khái niệm.

    1.1 .Bảo hiểm xã hội

    Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm xã hội, nhưng có thể khái niệm như sau: bảo hiểm xã hội là sự vảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối cới người lao động khi họ gặp phải những biến

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo sự an toàn đời sống cho người lao động, và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

    Vai trò của Bảo hiểm xã hội: trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm xã hội là một lĩnh vực không thể thiếu được đối với người lao động, người sử dụng lao động nói chung, còn phía Nhà nước đây là một chính sách xã hội rộng lớn mà quốc gia nào cũng phải có bởi vì:

    Thứ nhất, đối với người lao động:

    Bảo hiểm xã hội giúp người lao động và gia đình họ ổn định cuộc sống. Khi chưa có bảo hiểm xã hội thì bản thân người lao động cũng như gia đình họ gặp khó khăn khi xảy ra rủi ro như : tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau hay không còn khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống…Nhờ có bảo hiểm xã hội sẽ bù đắp phần thu nhập bị mất của người lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động.

    –  Thứ hai, đối với người sử dụng lao động:

    Bảo hiểm xã hội là tấm lá chắn giúp họ trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất và thu hút được lao động, vì bảo hiểm xã hội đảm bảo chi trả những khoản tiền lớn khi người lao động không may gặp những rủi ro hoặc khi hết tuổi lao động.Bảo hiểm xã hội không ảnh hưởng lớn đến tài chính của đơn vị.

    Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội:

    Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động , nên về lâu dài nó góp phần nâng cao năng suất lao động vì cuộc sống của người lao động được đảm bảo hơn, do đó họ quan tâm hơn trong lao động sản xuất và cảm thấy phấn khởi, từ đó thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển .Đồng thời đảm bảo an toàn xã hội và văn minh xã hội.

    Ngoài ra, nguồn quỹ của bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi rất lớn, trong khi đó nó luôn được bổ sung liên tục, vì vậy phần quỹ nhàn rỗi chưa sử dụng

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được đầu tư để tăng trưởng, nên đã tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân phát triển, giảm bớt khó khăn về vốn đầu tư cho nhà nước.

    Vì vậy bảo hiểm xã hội có vai trò là gắn với lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước với nhau, tạo thành một mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy xã hội phát triển.

    1.2. Bảo hiểm thất nghiệp.

    a.Lịch sử hình thành BHTN.

    BHTN xuất hiện lần đầu ở Châu Âu, trong một nghề khá phổ biến và phát triển: nghề sản xuất các nặt hàng thủy tinh ở Thụy Sĩ. Nghề này rất cần thợ lành nghề và được tổ chức trong một phạm vi nhỏ hẹp khoảng 20 đến 30 công nhân. Để giữ được những công nhân có tay nghề cao gắn bó với mình, năm 1893 các chủ doanh nghiệp ở Thụy Sĩ đã lập ra quỹ doanh nghiệp để rẹơ cấp cho những người thợ phải nghỉ việc vì lý do thời vụ sảm xuất. Sau đó, nhiều nghiệp đoàn ở Châu Âu cũng đã lập ra quỹ công đoàn để trợ cấp cho đoàn viên trong những trường hợp phải nghỉ việc , mất việc. Tiền trợ cấp ccược tính vào giá thành sản phẩm và người dụng hàng hóa phải gánh chịu. Khi thấy rõ vai trò và tác dụng của trợ cấp nghỉ việc, mất việc đối với công nhân, nhiều cấp chính quyền địa phương đã tổ chức liên kết các doanh nghiệp, các nghiệp đoàn lao động để hình thành quỹ trợ cấp, thực chất đó là quỹ BHTN. Qũy BHTN tự nguyện đầu tiên ra đời tại Bécnơ (ThụySĩ) vào năm1893. Tham gia đóng góp cho quỹ lúc này không chỉ có giới chủ nà cả những người lao động có công việclàm không ỏn định. Để tăng mức trợ cấp thất nghiệp đòi hỏi quy mô của quỹ phải lớn, cho nên đã có sự tham gia đóng góp của chính quyền địa phương và trung ương.

    Năm 1900 và 1910, Nauy và Đan Mạch ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước.

    Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc và tiếp sau đó là một số nước khác ở Châu Âu như :Thụy Điển, Cộng hòa Liên bang Đức…

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Sau cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) một số nước

    Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN, chẳng hạn :

    • Mỹ năm 1935,Canađa vào năm 1939.

    Sau chiến tranh thế giới lần thứ II ,đặc biệt là sau khi có Công ứơc số102, năm 1952 của Tỏ chức lao động quốc tế (ILO) thì một loạt nước trên thế giới đã triển khai BHTN và trợ cấp thất nghiệp. Tính đến năm 1981, có 30 nước thực hiện BHTN bắt buộc và 7 nước thực hiện BHTN tự nguyện, đến năm 1992 những con số trên là 39 và 12 nước. Ở Châu Á , các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…đều đã thực hiện BHTN.

    b.Khái niệm

    BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp – được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm. Mặt khác, trợ cấp thất nghiệp của Nhà nước và trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khác với việc hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp là một quá trình thường xuyên, liên tục, và có sự tham gia đóng góp của cả người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính cho mộ bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp; mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau.

    1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.

    Là một bộ phận của BHXH, BHTN là bảo hiểm bổi thường cho người lao động bị thiệt hạivề thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thi trương lao động.

    Như vậy, mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    những cơ hội mới về việc làm. Vì thế, một số nhà kinh tế học còn cho rằng BHTN là hạt nhân của thị trường lao động và nằm trong chính sách kinh tế – xã hội của quốc gia. Chính sách này trước hết vì lợi ích của người lao động và người cử dụng lao động sau nữa là vì lợi ích xã hội.

    BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người , song nó có một số đặc điểm khác như : Không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là một, không có việc chuyển rủi ro của ngững người bị thất nghiệp sang những người khác có khả năng thất nghiệp. BHTN khộng có dự báo chính xác về số lượng và phạm vi và có thể bị thiệt hại về kinh tế rất lớn , đặc biệt là trọng những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng.

    Mặc dù nhiều nước triển khai BHTN độc lập với BHXH, song đối tượng của BHTN cũng giống đối tượng của BHXH ,đó là thu nhập của người lao động.Còn đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người sử dụng lao động, song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước.Đại đa số các nước đều quy định đối tượng tham gia BHTN là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động. Bao gồm:

    • Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng một số lượng lao động nhất định.
    • Những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhất định ( thường là một năm trở lên ) trong các doanh nghiệp , các cơ quan đoàn thể, các đơn vị hành chính sự nghiệp ( nhưng không phải là viên chức và công chức).

    Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ ; những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Bởi vì , hoặc là họ được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việc không ổn định , thời gian đóng phí bảo hiểm không đủ . Về

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    phía người sử dụng lao động, họ cũng có trách nhiệm đóng góp BHTN cho người lao động mà họ sử dụng .Vì rủi ro việc làm trong một chừng mực nào đó xuất phát từ phía người sử dụng lao động. Như vậy , đối tượng tham gia BHTN hẹp hơn rất nhiều so với BHXH.

    • Rủi ro thuộc phạm vi BHTN là rủi ro nghề nghiệp , rủi ro việc làm. Người lao động tham gia BHTN bị mất việc làm họ sẽ được hưởng trợ cấp BHTN. Điều kiện để được hưởng trợ cấp BHTN khá chặt chẽ:
    • Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định
    • Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động;
    • Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm kiếm việc làm tại Cơ quan lao động có thẩm quyền do Nhà nước quy định;
    • Phải sẵn sàng làm việc;
    • Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng phí BHTN đủ thời hạn quy định.

    Những người thất nghiệp nặc dù có đóng BHTN nhưng không được hưởng trợ cấp khi họ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật , bị sa thải do vi phạm kỷ luật lao động hoặc từ chối không đi làm việc do cơ quan lao động việc làm giới thiệu…Để được hưởng trợ cấp BHTN , người lao động phải có một thời gian nhất định đã tham gia đóng góp vào quỹ BHTN – thời gian dự bị. Việc đặt ra thời gian dự bị có nhiều tác dụng. Một mặt nó đảm bảo rằng, chỉ có những người thường xuyên tham gia hoạt động kinh tế mới được xem như bị mất thu nhập thực sự do bị thất nghiệp, còn đối với những người chưa từng có việc làm, chưa có thu nhập , không được coi họ là những người bị thiệt hại về thu nhập. Mặt khác, thông qua thời gian dự bị , quỹ BHTN có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người lao động đạt tới một mức tối thiểu trước khi xảy ra thất nghiệp. Điều này sẽ tích cực góp phần cân đối quỹ tài chính BHTN.

    1. d. Qũy BHTN và mức trợ cấp BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qũy Bảo hiểm thất nghiệp.

    Là một quỹ tài chính độc lập tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước.

    Qũy được hình thành chủ yếu từ nguồn sau đây:

    • Người sử dụng đóng góp.
    • Người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng góp.
    • Nhà nước bù thiếu.

    Ngoài ra còn đươc bổ sung bởi lãi suất đầu tư đem lại từ phần quỹ nhàn rỗi ( vì quỹ BHTN thường được cân đối thu chi trong năm kế hoạch ). Cũng như BHXH , người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và người sử dụng lao động đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương và tổng quỹ lương.

    Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp trong hoạt động tài chính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động.

    Qũy BHTN nhiều hay ít phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia và số người tham gia BHTN. Tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phụ thuộc chủ yếu vào tủ lệ thất nghiệp, mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng như nội dung sử dụng quỹ.

    Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượng lao động. Lực lượng lao động phải được xác định thống nhất với nội dung của đối tượng và phạm vi bảo hiểm. Còn số người thất nghiệp được xác định thông qua điều tra hay dựa vào số liệu thống kê những người đã đăng ký thất nghiệp. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp thường xuyên biến động, vì thế nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đóng góp của các bên tham gia BHTN cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước. Sự hỗ trợ của nhà nướccho quỹ BHTN là không thể thiếu, bởi vì thất nghiệp là một vấn đề mang tính xã hội rộng lớn. Nhà nước không chỉ ban hành chính sách , mà còn phải quan tâm đến việc thực hiện chính sách, bằng cách trích một khoản ngân sách đáng kể hỗ trợ quỹ BHTN. Mặc dù chỉ hỗ trợ một phần nhưng Nhà nước có một nguồn quỹ rất lớn để khắc phục tình trạng thất nghiệp , từ đó góp phần ổn định xã hội. Mặt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khác, nhiều khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh , lao động bị thất nghiệp nhiều không hẳn tại doanh nghiệp hay người lao động mà tại nhà nước, do nhà nước thay đổi chính sách kinh tế , do quản lý thị trường yếu kém và tiền vốn cấp phát không kịp thời v.v…Vì vậy, Nhà nước cũng phải tham gia đóng góp vào quỹ BHTN . Nhà nước có thể tham gia theo một trong hai hình thức sau:

    • Thứ nhất, đóng góp thường xuyên thông qua việc trích ngân sách hỗ trợ qũy BHTN.
    • Thứ hai là, Nhà nước chỉ tham gia với tư cách là người bảo hộ khi đóng góp của người lao động và người lao động và người sử dụng lao động không đủ bù đắp các khoản chi hoặc khi quỹ BHTN có những biến động lớn do lạm phát…

    Mức độ tham gia đóng góp vào quỹ BHTN trong những năm gần đây của một số nước thực hiện BHTN cũng rất khác nhau. Có nước quy định người lao động , người sử dụng lao động và Nhà nước đóng góp như nhau. Ngoài ra còn có những nước quy định người sử dụng lao động đóng gấp đôi người lao động, nhà nước chỉ tiến hành bù thiếu.

    Qũy BHTN được sử dụng chủ yếu để chi trả trợ cấp BHTN . Ngoài ra nó còn được sử dụng cho các hoạt động nhằm đưa người thất nghiệp mau chóng trở lại vị trí làm việc ( như : đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho người lao động; chi phí tìm kiếm và môi giới việc làm,…); Chi cho tổ chức hoạt động BHTN…

    • Mức trợ cấp BHTN.

    Về nguyên tắc mức trợ cấp thất nghiệp phải thấp hơn thu nhập của người lao động khi đang làm việc. Việc xác định mức trợ cấp phải dựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời sao cho họ không thể lạm dụng để muốn hưởng trợ cấp hơn là đi làm. Vì vậy, hầu hết các nước đã triển khai BHTN , đều dựa trên những cơ sở sau đây để xác định mức trợ cấp thất nghiệp .

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Mức lương tối thiểu ;
    • Mức lương bình quân cá nhân;
    • Mức lương tháng cuối cùng trước khi bị thất nghiệp.

    Dựa vào mức lương nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, nhưng mức lương nào dùng để xác định mức trợ cấp thất nghiệp cũng là mức lương làm căn cứ đóng phí BHTN . Theo ILO , mức trợ cấp BHTN tối thiểu bằng 45% thu nhập trước khi thất nghiệp.

    • Thời gian hưởng trợ cấp BHTN

    Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN , ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế – xã hội. Trong các thời kỳ mà tỷ lệ thất nghiệp thấp, người lao động có khả năng tìm kiếm được việc làm và có nhiều ngành nghề, mức cầu về lao động còn có khả năng thu hút dễ hơn, thì thời hạn hưởng trợ cấp sẽ hạ thấp xuống. Ngược lại, vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế, số người thất nghiệp gia tăng thì thời hạn hưởng được kéo dài, nhưng cũng chỉ có thể kéo dài trong phạm vi quỹ BHTN có thể chịu được.

    Cụ thể, người lao động thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong một thời gian ngắn, sau đó có việc làm sẽ ngừng hưởng trợ cấp vì họ đã có lương. Thời hạn hưởng trợ cấp tối đa phải được quy định cụ thể, nếu quá thời hạn tối đa mà người thất nghiệp chưa có việc làm vẫn phải ngừng trợ cấp và khi đó họ có thể được trợ giúp từ phía xã hội.Nhìn chung, các nước thường quy định thời hạn trợ cấp tối đa từ 12 đến 52 tuần ( từ 3 tháng đến 1 năm).Thời hạn tạm chờ từ 3 đến 7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp. Điều này làm giảm nhẹ tài chính cho quỹ bảo hiểm và đơn giản hóa khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày.

    Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội, là vấn đề nan giải đối với mỗi quốc gia. Để khắc phục và đẩy lùi hiện tượng thất nghiệp các nước đã có nhiều biện pháp và chính sách cụ thể. Song BHTN vẫn luôn được coi là chính

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    sách hữu hiệu mang tính chiến lược lâu dài. Việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách này phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước.

    2. Thất nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay

    Phát triển kinh tế là nhân tố quan trọng để phát triển các ngành kinh tế lên trình độ sản xuất hiện đại , nâng cao tốc độ tăng trưởng , tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh ở nước ta. Hàng năm nền kinh tế thị trường tạo ra khoảng 1,3-1,45 triệu việc làm , trong đó số việc làm từ nông nghiệp chiếm 38%. Bên cạnh những mặt tích cực , quá trình chuyển dịch kinh tế ở góc độ nhất định cũng làm nảy sinh thất nghiệp. Có thể xem xét vấn đề này ở các giác độ sau:

     

    Tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với đầu tư và tạo thêm việc làm.Hệ số co giãn việc làm theo GDP của nền kinh tế nước ta giai đoạn 1991-2000 là 0,33% , đây là con số tương đối thấp, trong khi đó Đài Loan là 0,67% giai đoạn 1958-1972. Các nước như: Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Singapore… giai đoạn đầu công nghiệp hóa, cơ cấu lại kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm rất cao và duy trì được tủ lệ thất nghiệp dưới 3%(các năm 1976-1986 tăng trưởng kinh tế bình quân /năm của Malaixia là 15,54%, Thái Lan 21,59%…).Có thể nói, đảm bảo kích thích tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng kinh tế để nâng cao mức cầu lao động, đặc biệt là cầu lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ là một trong những yếu tố rất cơ bản để khống chế tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Ở nước ta , thất nghiệp xảy ra phổ biến hơn ở khu vực thành thị và trở thành vấn đề xã hội khá bức xúc của các thành phố lớn.

     

    Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị qua các năm

    Năm 1996 1998 1999 2000 2001 2002 2003
                   
    Tỷ   lệ 5,88 6,85 7,4 6,42 6,28 6,01 5,6

    (%)

    (Nguồn : Bộ lao động thương binh – xã hội )

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    • Qúa trình cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, với việc thực hiện các hình thức cổ phần hóa, giao, khoán, bán, cho thuê, giải thể nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, khả năng cạnh tranh, đã dẫn đến đổi mới lao động trong DN thuộc các ngành nghề. Các năm 1999-2000 lao động thất nghiệp trong khu vực DN nhà nước chiếm khoảng 7,2% tổng số lao động của khu vực này, bao gồm lao động của các DN bị phá sản, giải thể, DN chuyển đổi sở hữu, cơ cấu lại. Đồng thời , phần lớn hợp tác xã kiểu cũ chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc giải thể và xã viên mất việc làm, bổ sung bào đội ngũ thất nghiệp, tác động đến quan hệ cung- cầu lao động trên thị trường lao động.
    • Để tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, DN, các thành phần kinh tế đã thực hiện các giải pháp như : đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động, cơ cấu lại sản phẩm và tổ chức lại sản xuất , nâng cao trình độ quản lý , kết quả dẫn đến biến động lao động, một bộ phận bị đưa ra khỏi dây chuyền sản xuất kinh doanh, trở thành thất nghiệp. Số liệu khảo sát thị trường lao động gần đây cho thấy, tại Bình Dương các năm gần đây tỷ lệ lao động rời DN là 18,68%, con số tương tự này tại Cần Thơ : 8,97%, Đồng Nai : 12,92%, TP.HCM: 22,66%, Hải Phòng 9,4%. Xu hướng thất nghiệp này xảy ra thường xuyên, với biên độ cao hơn trong giai đoạn đầu tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự do hóa thương mại, toàn cầu hóa kinh tế.
    • Trong các năm phát triển kinh tế thị trường, tốc độ tăng lực lượng lao động của nước ta khoảng 2,7-2,8%/năm trong khi tốc độ tăng việc làm là 2,3-2,4%/năm. Ở khu vực thành thị, với nức cung lao động cao hơn so với cầu lao động là nguyên nhân của một bộ phận lao động không tìm kiếm được việc làm trên thị trường lao động và trở thành thất nghiệp. Trong đó, đại bộ phận là lao động lần đầu bước vào tuổi lao động, chưa qua đào tạo, không có kỹ năng nghề nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế với xu hướng tất yếu là thu hẹp dần số việc làm giản đơn và phát triển số việc làm kỹ thuật, việc làm có năng suất lao động cao. Các ngành : công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, du lịch,

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    tài chính, ngân hàng, công nghiệp chế biến…và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất có nhu cầu lao động kỹ năng lớn, nhưng thực tế gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động. Nguyên nhân là do tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành thị thấp, năm2002 là34,03% (nông thôn 5,74%) và bất cập về chất lượng đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động. Do đó, đa số lao động thất nghiệp trên thị trường lao động thành thị là lao động giản đơn.

    Thất nghiệp cơ cấu : chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy một bộ phận lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, trong thời gian đổi nghề đã xảy ra tình trạng thất nghiệp cơ cấu. Lao động thất nghiệp do cơ cấu thuộc loại này có xu hướng tìm việc làm mới tốt hơn, mức tiền công cao hơn trên thị trường lao động kể cả việc di chuyển đến các vùng khác và đặc biệt là dòng di chuyển lao động nông thôn ra thành thị. Các năm 1990-1998 qui mô di chuyển lao động nông thôn- thành thị phạm vi toàn quốc 70-90 nghìn người / năm. Di chuyển lao động nông thôn – thành thị có vai trò quan trọng trọng trong cung ứng lao động rút ra khỏi ngành nông nghiệp cho sự phát triển của các ngành nghề có hàm lượng kỹ thuật cao, các ngành nghề mới và sự phát triển của các khu vực kinh tế tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, kích thích sự hoạt động sôi động của thị trường lao động. Các năm qua , khoảng hơn 22% lao động nông thôn thay đổi nghề, có mức thu nhập bình quân tăng 30-50% so với các hoạt động trước đó. Một số khu chế suất, khu công nghiệp tập trung thu hút trên 70% lao động di chuyển từ nông thôn đến ( khu công nghiệp Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh,…) nhưng bên cạnh đó là tình trạng thất nghiệp cơ cấu diễn ra phổ biến.

    Thất nghiệp tự nguyện: bao gồm những người không muốn làm các công việc có mức lương thấp và những người ẩn náu trong các công việc nội trợ gia đình do các mức tiền công thấp không đủ sống. Thất nghiệp tự nguyện có khuynh hướng gia tăng , năm 1998 khoảng 4.8 triệu người và năm 2003 có

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    khoảng 2,547 triệu người làm nội trợ và 4,414 triệu người không có nhu cầu làm việc chiếm hơn 7% lao động từ 15 tuổi trở lên. Số liệu điều tra cho thấy, có tới 40-50% số lao động này muốn tìm việc làm , nhưng không tìm được việc làm phù hợp, đây cũng là nguồn cung lao động tiềm năng cho thị trường lao động.

    Ngoài ra, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn tồn tại thất nghiệp do nguyên nhân bất cập của hệ thống đào tạo.Đó là việc đào tạo theo ngành nghề chưa phù hợp với nhu cầu , tín hiệu của thị trường lao động.

    III.CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

    1.Thực trạng hỗ trợ người thất nghiệp

     

    Một mặt Nhà nước ban hành nhiều chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế nhiều thành phần : chính sách đất đai, thuế, tài chính tiền tệ, tín dụng, tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế hộ gia đình, trang trại hộ gia đình, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất…hướng vào tạo ra bầu không khí đầu tư lành mạnh cho toàn xã hội phát triển kinh tế, tạo mở việc làm, sử dụng tốt các tiềm năng lao động xã hội.

    Bộ luật lao động được ban hành và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã quy định cụ thể những chế độ liên quan tới lao động bị mất việc làm bao gồm:

    • Điều 17 quy định: Do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ làm cho người lao động làm việc thường xuyên trong các doanh nghiệp từ 1 năm trở lên bị mất việc thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đào tạo lại để họ có thể tiếp tục làm việc thì doanh nghiệp phải trợ cấp mất việc làm, mỗi năm làm việc trả một tháng lương, thấp nhất là hai tháng lương.
    • Điều 42 quy định: Đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan tổ chức từ một năm trở lên người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo. Trong đó, Chính phủ quy định những biện pháp cụ thể nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và cơ hội có việc làm nhiều hơn cho những người thất nghiệp hoặc người đến tuổi lao động nhưng chưa tìm thấy việc làm. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự thay đổi mới căn bản trong lĩnh vực lao động việc làm phù hợp với cơ chế thị trường và lần đầu tiên Qũy quốc gia về giải quyết việc làm đã được thành lập với nhiều nguồn quỹ khác nhau ( từ ngân sách nhà nước, từ Hợp tác quốc tế và sự đóng góp củă dân), cùng với hệ thống trunh tâm xúc tiến việc làm cũng ra đời và phát triển nhanh chóng. Nghị quyết 120/HĐBT thực sự trở thành bà đỡ trong cơ chế thị trường giúp người thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn và nhóm xã hội yếu thế có cơ hội tìm kiếm việc làm trong cơ chế thị trường.

    Những chính sách và biện pháp thực hiện trong những năm qua đã góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tìm hoặc tạo việc làm mới, hòa nhập trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên trong thực tế còn một số lượng khá lớn người lao động sau khi thôi việc họ cũng không tìm được việc làm.Do vậy đây là áp lực rất lớn cho xã hội.

    Trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp và đạt được thành tựu lớn như Trung Quốc,Mông Cổ…Nhận thức rõ về tác hại về tình trạng thất nghiệp và những nhược điểm của những chính sách đã thực thi, Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

    2.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong tương lai

    Theo dự thảo mới nhất Luật BHXH, chế độ bảo hiểm thất nghiệp sẽ được đưa vào một mục thuộc chương 1 về BHXH bắt buộc.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên hoặc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

    Khi người lao động đã đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên và mất việc 30 ngày trở lên mà chưa có việc làm nếu có đơn sữ được cấp một khoản trợ cấp thất nghiệp. Cùng với khoản trợ cấp được hưởng, người lao động sẽ được giới thiệu việc làm, đào tạo lại nghề phù hợp nếu có yêu cầu. Chế độ này không áp dụng đối với các công chức nhà nước, sỹ quan, quân nhân phục vụ quân đội.

    Theo ông Đặng Anh Duệ, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH ( Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội )qua khảo sát ý kiến của các chuyên gia và phân tích tỷ lệ đóng BHXH, mức đóng BHTN được đưa ra là 3% tiền lương tháng của người lao động, trong đó doanh nghiệp sẽ đóng 2% còn người lao động đóng1%.

    Về mức hưởng BHTN có hai quan điểm, thứ nhất là tỷ lệ hưởng của người lao động phụ thuộc vào thời gian đóng quỹ. Quan điểm thứ hai cho rằng nên quy định số tiền cụ thể để chi trả cho tất cả những người lao động. Mức này cao nhất là tiền lương tối thiểu hiện hành.Theo ông Bùi Văn Rự – Vụ chính sách lao động việc làm – Bộ LĐ-TB-XH: với mức hưởng là 60% lương, trong khoảng từ 6 đến 18 tháng thì tỷ lệ đóng là 3,6%.Nếu người sử dụng lao động và người lao động đóng bằng nhau thì tỷ lệ đóng là 1,8%.Nếu người sử dụng lao động đóng 2/3 thì tỷ lệ này sẽ là 2,4% và 1,2%.

    Việc thi hành chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả hay không còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố: xác định chính xác người được hưởng, sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động, quy mô quỹ BHTN…

    Hiện nay, BHTN đang được thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai.

    3. Một số vấn đề bàn cãi về việc thi hành chính sách BHTN.

    • Thực hiện thống kê nguồn lao động : Để có thể thực hiện được công tác giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm thì trước tiên cần thiết là phải nắm bắt

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    được vấn đề cần phải giải quyết( cả về số lượng và chất lượng ). Đó là nhiệm vụ của công tác kiểm kê, kiểm soát nguồn lao động. Vì nó là điều kiện tiên quyết trong công tác giải quyết thất nghiệp và việc làm hay thiết lập chính sách BHTN.

    Vấn đề quản lý được lao động thất nghiệp, xác định số người thất nghiệp/năm. Vì hiện nay thực chất chưa có con số chính xác về lao động thất nghiệp và chưa có cơ quan quản lý hiệu quả vì các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thì có số lượng công nhân làm theo mùa vụ và nghỉ việc nhiều nhất.

    Chính sách BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển, cho nền kinh tế tăng trưởng bền vững.

    Vì vậy việc xác định số lượng người thất nghiệp ở nước ta vẫn chưa chính xác, do đó việc thi hành chính sách BHTN còn rất khó khăn.

    • Đối với người lao động , BHTN là một phần hỗ trợ khi họ gặp rủi ro mất việc làm. Nhưng để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì họ phải đóng phí BHTN trong một thời gian nhất định, mà người lao động không hưởng ứng vấn đề này lắm. Mặt khác thì việc đóng phí BHTN thường xuyên trong một thời gian đối với người lao động mùa vụ là rất khó khăn , mà đây là đối tượng có khả năng thất nghiệp cao nhất

    Việc xác định đối tượng hưởng BHTN, thời gian hưởng BHTN, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cần phải chính xác nếu không sẽ gây ra tình trạng người lao động sẽ dựa vào đó mà không tích cực làm việc và đi tìm việc. Điều đó sẽ gây khó khăn cho việc quản lý của Nhà nước.

    • Đối với người sử dụng lao động , việc thi hành BHTN thì họ phải bỏ ra một khoản tiền để đóng vào quỹ BHTN , do đó sẽ thêm một phần chi phí sản xuất kinh doanh mà họ không muốn một chút nào. Do đó nếu việc quản lý không chặt sẽ có nhiều doanh nghiệp sẽ chốn khoản đóng góp này.
    • Đối với Nhà nước thì phải chi một phần ngân sách cho hoạt động BHTN nhưng cũng phần nào khắc phục được tình trạng thất nghiệp.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    Vì vậy phải cân nhắc giữa những mặt tốt và hạn chế của việc thi hành chính sách BHTN.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    KẾT LUẬN

    Hiện nay,dưới tác động của khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa nên tình trạng thất nghiệp đang có xu hướng trầm trọng, vì vậy cần có những chính sách giải quyết vấn đề này. Việc xây dựng một chế độ bảo hiểm đang có nhiều khả thi và đang được nhiều nước áp dụng.Tuy nhiên việc ban hành chính sách này còn nhiều vấn đề bàn cãi, nhất là đối với Việt Nam có một lực lượng lao động khó kiểm soát.Vì vậy việc ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam là cần đến khi thời điểm thích hợp thực hiện, để đảm bảo cuộc sống cho người lao động trước rủi ro thất nghiệp, giúp họ yên tâm sản xuất đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời cũng góp phần đảm bảo an toàn xã hội, thể hiện vai trò của Nhà nước đối với người lao động. Do vậy việc nghiên cứu để ban hành chính sách Bảo hiểm thất nghiệp là rất quan trọng, nhất là trong thời kỳ nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển dịch,lao động trong nền kinh tế đang không ổn định,

    Việc đưa BHTN vào hệ thống BHXH là một bước hoàn thiện mới trong vấn đề xử lý tình trạng thất nghiệp và cũng đưa nước ta hòa nhập với các nước trên thế giới , tiếp tục sự nghiệp toàn cầu hóa nền kinh tế.

    Mặc dù hiện nay vẫn chưa thi hành chính sách BHTN , cùng với việc thí điểm tại TP.HCM và Đồng Nai , tôi mong rằng bài viết của mình sẽ được tham khảo để chính sách BHTN sớm được thi hành.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44

    Đề án môn học

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Văn Định : Giáo trình kinh tế Bảo Hiểm – NXB Thống Kê 2004
    2. Giáo trình Kinh tế Lao Động ( Khoa Lao Động và Dân số -ĐHKTQD )
    1. Bùi Văn Rự- Bộ Lao động TB- XH : Định hướng Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
    2. Tạp chí :

    -Lao động xã hội – số 228+229 (12/2003)

    • KT&PT- số 48/2001
    • TTLĐ số 04/2001
    • BHXH số 02/2001
    1. http:// VNECONOMY.com.vn cập nhật ngày 05/05/2004
    1. Tác giả: Nguyễn Trần Quế : Chuyển dịch cơ cấu Kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21

    NXB : Khoa học xã hội.

    1. Ngành Bảo hiểm VN trước thềm hội nhập 2/2003
    1. Bộ luật lao động Việt Nam được bổ sung sửa đổi 1994
    1. Các nghị định chính phủ.

    Nguyễn Thị Thuỳ Dương- Lớp: Kinh tế Lao động 44


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Đồ án Bảo hiểm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                A IA –              
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%    
        12%                    
                   
                             
                             
                               
    c«ng ty                    
    kh¸c-               Prudential-
    18,2%                 34%    
                               

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu

    chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tổng quan về Bảo hiểm nhân thọ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%C3%AAp-Tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-h%E1%BA%A1n-ch%E1%BA%BF-t%C3%ACnh-h%C3%ACnh-tr%E1%BB%A5c-l%E1%BB%A3i-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-xe-c%C6%A1-gi%E1%BB%9Bi-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-PJICO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiêp Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty PJICO

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    I.                   THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH XE CƠ GIỚI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Xe cơ giới:

    Là tấ t cả các loại xe tham gia giao thông trên đường bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, trừ xe đạp máy.

    Theo Luật giao thông đường bộ: tại Điều 3, Mục 13, 15.

    • Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm: xe ôtô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dành cho người tàn tật.
    • Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp có tham gia giao thông đường bộ.

    1.                 Đặc điểm hoạt động của xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay.

    Trong quá trình hoạt động xe cơ giới có một số đặc điểm sau liên quan đến quá trình bảo hiểm:

    • Số lượng đầu xe tham gia giao thông đường bộ ngày càng tăng và có những thời kỳ tăng đột biến làm cho tai nạn có những thời kỳ xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng. Năm 1995 số lượng ôtô là 340.779 chiếc, xe máy 3.578.156 chiếc nhưng đến năm 2004 (chỉ 10 năm sau) số lượng ôtô đã là 735.000 chiếc và xe máy 12.859.000 chiếc. Vậy chỉ trong 10 năm số lượng ôtô đã tăng 2,2 lần và số lượng xe máy đã tăng 3,6 lần.
    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy xác xuất rủi ro là rất lớn.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phụ thuộc rất lớn vào cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu, địa hình … Năm 1995 có 112.996 km đường bộ, nhưng chỉ có 19,8% đường rải nhựa và bê tông. Cho đến năm 2004 có 127.678 km, trong đó 38% là đường rải nhựa và bê tông. Hiện nay nước ta có 109 đèo dốc nguy hiểm các loại.
    • Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ chịu sự chi phối của một số bộ luật của quốc gia.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do nh ững đặc điểm trên có tính đặc thù nên ở tất cả các nước khi đã có bảo hiểm thì bao giờ cũng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới. Và ở Việt Nam thì nghiệp vụ này cũng đã được triển khai phổ biến và rộng rãi.

    Để biết cụ thể số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay xem ở bảng

    sau:

    Bảng 1: Số lượng xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay.

    Chỉ Tổng số ôtô + xe Ôtô   Xe máy
    tiêu máy            
    Năm Số lượng   Tốc độ Số lượng   Tốc độ Số lượng Tốc độ
        tăng     tăng   tăng
          (%)     (%)   (%)
    1995 3.918.935   17,6 340.779   03,3 3.578.156 19,3
    1996 4.494.250   14,7 386.976   13,5 4.208.274 17,6
    1997 5.244.978   16,7 417.768   07,9 4.827.210 14,7
    1998 5.643.000   07,6 443.000   06,0 5.200.000 07,7
    1999 6.051.000   07,2 465.000   04,9 5.586.000 07,4
    2000 6.965.562   15,1 486.608   04,6 6.478.954 15,9
    2001 8.916.134   28,0 557.092   14,5 8.389.042 29,5
    2002 10.880.401   22,0 607.401   09,0 10.273.000 22,4
    2003 12.054.000   10,8 675.000   11,1 11.379.000 10,7
    2004 13.594.000   12,7 735.000   08,8 12.859.000 13,0
                  (Nguồn:   công   ty
                Pjico).  

    2. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ tại Việt Nam.

    Tai nạn giao thông nói chung và tai nạn giao thông đường bộ nói riêng đang là thách thức đối với tất cả các quốc gia trên thế gới. Hiện nay tai nạn giao thông ở Việt Nam đ ang gia tăng rất đ áng lo ngại và cũng là mối quan tâm hàng đầu của dư luận Xã hội, của Đảng và của Chính Phủ.

    Tai nạn giao thông xảy ra thườ ng để lại hậu quả rất nặng lề và hiện này nó đang là bài toán không có lời giải đối với mạng lưới giao thông ở nước ta. Qua số liệu thống kê cho thấy số v ụ tai nạn giao thông ngày một tăng cả về số lượng và quy mô. Đòi hỏi tất cả các ngành các cấp có liên quan phải sớm vào cuộc tìm ra lời giải cho bài toán này vì tai nạn giao thông làm mất đi củ a cải của xã hội, mất ổn định xã hội, nghiêm trọng hơn là hậu quả của nó để lại.

    Số vụ tai nạn giao thông ở nước ta có chi ều hướng ngày một tăng cao, năm 1995 xảy ra 15.376 vụ, đến n ăm 2002 s ố vụ tai nạn xảy ra đã gấp 1,8 lần số vụ năm 1995 (xảy ra 27.134 vụ ). Riêng 2 năm tr ở lại đ ây số vụ tai nạn có chiều hướng chững lại do sự đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và ý thức

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chấp hành luật lệ an toàn giao thông của người dân đã được nâng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2003 tốc độ tăng tai nạn giao thông mang dấu âm (-28,2%) đây là dấu hiệu đáng mừng cũng do trong năm này các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm hạn chế tình hình tai nạn giao thông như: giải toả chỗ lấn chiếm lòng đườ ng vỉa hè, họp chợ trái phép… cho tới những biện pháp mạnh tay nh ư: bắn tốc độ, kiểm tra nồ ng độ cồ n… cũng trong n ăm này r ất nhiều dự án an toàn giao thông đã được đưa vào hoạt động và có tác dụng tích cực.

    Tai nạn giao thông không chỉ gia tăng về số lượ ng mà nguy hiểm hơn đó là quy mô của tai nạn. Từ n ăm 1995 số người chết do tai nạn giao thông là 5.431 đến nă m 2004 con số này đã gấp 2,3 lần (số ng ười ch ết do tai nạn giao thông năm 2004 là 12.644 người) trong đó không ít người là những lao động chính trong gia đình, tr ụ cột trong gia đình mà sự ra đi quá đột ngộ t của họ là một cú sốc lớn đố i với gia đình đó và ngày hôm sau con em họ sẽ sống ra sao? Nguy hiểm h ơn trong số những nạn nhân đó có không ít những thanh niên tr ẻ tuổ i (ngu ồn lao động tương lai của đất nước) họ vừa là nạn nhân nhưng cũ ng đồ ng thời là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn chỉ vì một phút thi ếu suy nghĩ, bồng b ột, đây là điều đáng tiếc nhất mà chúng ta phải lên án và phải có những biện pháp can thiệp thích hợp ngay từ đầu trước khi tai nạn đáng tiếc xảy ra.

    Quy mô của tai nạn còn được thể hiện qua số người b ị thương do tai nạn giao thông. Năm 1995 có 16.921 người b ị thương do tai nạn giao thông đến năm 2004 con số này đã là 21.728 người. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng quá tải ở các bệnh viện t ừ TW đến địa phương và trong số những ngườ i bị thương sẽ có không ít người trở thành tàn tật vĩnh viễn (người thực vật) sống dựa vào thu nhập và khả năng chăm sóc củ a người khác. Thiệt hại về người trong tai nạn giao thông là thiệt hại vô giá mà không ai muốn gặp phải do vậy, để hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra phụ thuộc vào ý thức và hành động của tất cả mọi người.

    Để bi ết cụ thể tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam qua các năm xem ở bảng sau:

    Bảng 2:Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 1995-2004.

    Chỉ Số vụ tai nạn Số người chết Số người bị Tỷ lệ số
    tiêu         thương ngườ i
                  chết
                  trên
      Số vụ (vụ) Tốc độ Số Tốc độ Số Tốc độ 10.000
    Năm   tăng người tăng người tăng xe cơ
      (%) (người) (%) (người) (%) giới

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.       Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                     
    1995 15.376 +17,2 5.431 +19,3   16.921 +29,5 13,8
    1996 19.075 +24,0 5.581 +2,7   21.556 +27,3 12,1
    1997 19.159 +0,4 5.681 +1,8   21.905 +1,6 10,8
    1998 19.975 +4,3 6.067 +6,8   22.723 +3,7 10,7
    1999 20.773 +3,8 6.671 +9,9   23.911 +5,2 10,9
    2000 22.486 +8,5 7.501 +12,4   25.401 +6,2 10,7
    2001 25.041 +11,3 10.477 +39,6   29.188 +14,9 11,7
    2002 27.134 +8,3 12.801 +22,2   30.733 +5,3 11,8
    2003 19.852 -28,2 11.319 -9,4   20.401 -35,2 9,4
    2004 20.944 +5,5 12.644 +11,7   21.728 +6,5 9,3

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Tình hình tai nạn giao thông tăng một cách đáng lo ngại như vậy là bởi các nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Xuất pháp từ đặc điểm của xe cơ giới là có tính động cơ cao và tham gia triệt để vào quá trình vận chuyển vì vậy, xác xuất rủi ro lớn hơn các loại hình giao thông vận tải khác.
    • Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, thường xuyên gặp phải hạn hán, lũ lụt, địa hình hiểm trở 3/4 diện tích là đồi núi gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Do nhu cầu vận chuyển, đi lại cộng với giá thành xe cơ giới ngày càng hạ làm cho số lượng xe cơ giới tham gia giao thông tăng đột biến. Hiện nay cả nước có 735.000 xe ôtô và 12.859.000 xe máy. Trong đó tốc độ gia tăng của xe ôtô hàng năm là 8-9% (khoảng 50.000 chiếc/năm) còn tốc độ gia tăng của xe máy là 20-30% (khoảng 1,5- 2 triệu chiếc/năm). Sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện cơ giới trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp làm cho mật độ các phương tiện trên đường tăng lên cũng đồng nghĩa với việc tăng xác xuất gây tai nạn giao thông.
    • Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông đường bộ trong những năm qua đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được với tốc độ gia tăng của các phương tiện nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp. HCM.
    • Nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông xuất phát từ người điều khiển phương tiện trong đó, ý thức của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính. Thống kê nguyên nhân gây tai nạn giao thông của nhiều năm qua đều cho thấy từ 70- 80% các vụ tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông không chấp hành đúng các quy định về trật tự an toàn giao thông (vi phạm tốc độ chiếm 30%, trách vượt sai quy định

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chiếm 21%, say rượu bia chi ếm 7,3%…). Tổng số xe cơ giới đường bộ là 13.594.000 xe nhưng chỉ có 5.863.857 người có giấy phép lái xe chiếm 43,1%. Điều này cho thấy còn nhiều người không cần họ c luật, không cần thi giấy phép lái xe nhưng vẫn ngang nhiên điều khiển phương tiện, coi thường pháp luật.

    • Ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông của người dân Việt Nam còn kém. Hiện tượng lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm nơi buôn bán, kinh doanh, họp chợ… xảy ra phổ biến, hiện tượng coi đường quốc lộ là sân phơi, nơi tập kết vật liệu xây dựng, nơi chơi thể thao… tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến mất an toàn giao thông.

    II.               SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ TÁC DỤNG CỦA BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1.                 Ưu điểm của loại hình giao thông đường bộ tại Việt Nam.

     

    • Xe cơ giới có tính động cơ cao, linh hoạt với sự tham gia đông đảo của các loại xe: xe tải, xe khách, xe con, xe máy… hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa hình phức tạp, có thể vận chuyển người và hàng hoá tới những nơi mà các loại hình vận tải khác không thể đến được.
    • Tốc độ vận chuyển của loại hình vận tải này nhanh với chi phí vừa phải. Tiền vốn đầu tư mua sắm phương tiện, xây dựng bến bãi ít tốn kém hơn các hình thức khác, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thu nhập của người dân Việt Nam.
    • Việc sử dụng các phương xe cơ giới cũng đơn giản và thuận tiện hơn các loại phương tiện khác.

    Với ưu điểm trên số lượng xe cơ giới tại Việt Nam hiện nay đang phát triển như vũ bão.

    2.                 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xe cơ giới.

    Tình trạng tai nạn giao thông ngày càng tăng cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng. Mặt khác, có tới 70% số ngườ i đi trên các phương tiện giao thông là người chủ, người trụ cột trong gia đình cũng như ở các doanh nghiệp nên khi tai nạn giao thông xảy ra thì thiệt hại không chỉ bó hẹp trong phạm vi vụ tai nạn mà còn làm mất thu nhập cho cả gia đình, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và hậu quả cho nền Kinh tế quố c dân. Bên cạnh đó, có những chủ xe gây tai nạn rồ i bổ trốn. Việc giải quyết bồ i thường trở nên khó khăn, lợi ích của người bị nạn không được b ảo đảm, gây ảnh hưởng tiêu cực trong dư luận xã hội. Bởi vậy, nhu cầu lập quỹ chung để bù

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đắp tổn thất là một yếu tố khách quan. Đó là lý do cơ bản cho thấy sự cần thiết khách quan cho sự ra đời của bảo hiểm xe cơ giới.

    Khi tai nạn giao thông xảy ra, ngườ i có lỗi phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do anh ta gây ra bao gồm:

    • Thiệt hại về người và tài sản của người thứ ba và hành khách vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe.
    • Thiệt hại về người và tài sản cũng như thiệt hại do gián đoạn kinh doanh của chính chủ xe.

    Trên thực tế việc giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn giao thông thường rất phức tạp và mất nhiều thời gian vì một số lý do:

    • Sau khi gây tai nạn một phần do hoảng sợ, một phần do thiếu trách nhiệm, lái xe đã bỏ trốn để mặc cho nạn nhân phải chịu hậu quả.
    • Lái xe quá nghèo, không đủ khả năng tài chính để bồi thường thiệt hại cho người thứ ba cũng như cho chủ xe và hàng hoá trên xe.
    • Sau tai nạn lái xe bị thiệt mạng không thể bồi thường cho nạn nhân

    được.

    Vậy để đảm bảo bù đắp những thiệt hại sau những vụ tai nạn, thì việc tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hoàn toàn cần thiết. Nhà bảo hiểm sẽ bù đắp các thiệt hại của chính chủ xe cũng như thay mặt chủ xe bồi thường cho người thứ ba, giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả tai nạn và sớm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.

    3.                 Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.

    Hoạt động của nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã đem lại cho cá nhân, tổ chức, xã hội những tác dụng to lớn sau:

    – Đối với cá nhân:

    Rủ i ro là yếu tố ngẫu nhiên không lường trước được, có thể xảy ra cho bất cứ cá nhân, bất cứ phương tiện giao thông nào và hoàn toàn nằm ngoài ý muố n chủ quan của con ng ười. Thêm vào đó xe cơ giới dù là xe máy cũng là một tài sản có giá trị lớn. Do v ậy b ảo hiểm xe cơ gi ới ra đời góp phần ổn định tài chính, khắc phục những hậu qu ả khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho ngườ i bị nạn, giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn. Đồng thời, nó cũng giúp ch ủ phương tiện trách được những khoản chi phí bất thường làm mất cân đố i tài chính, đảm b ảo cho người bị thiệt hại được thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự của chủ trách nhiệm.

    Nh ờ có quỹ t ập chung của nhà bảo hiểm, khi có tai nạn xảy ra nhà bảo hiểm giải quyết bồi thường nhanh chóng, kịp thời góp phần xoa dịu bớt căng thẳng giữa chủ xe và nạn nhân.

    – Đối với xã hội:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Việc triển khai nghiệp vụ b ảo hiểm xe cơ giới đã góp phần đảm bảo an ninh và an toàn xã hội. Thông qua công tác thương lượng, hoà giải làm giảm bớt bức súc căng thẳng giữa chủ xe và người bị thiệt hại trong vụ tai nạn. Nó c ũng giúp lái xe luôn có ý thức chấp hành luật lệ an toàn giao thông góp phần ngăn ngừa tổn thất.

    – Đối với Nhà Nước:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe c ơ giớ i ra đời cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà Nước đồ ng thời làm tăng thu cho ngân sách Nhà Nước, tăng thu ngoại tệ cho Nhà Nước. Phí bảo hiểm là nguồn tài chính đáng kể, ngoài việc được dùng để bồi thường thiệt hại và đề phòng hạn chế tổn thất, nó còn được dùng để nâng c ấp và xây dựng cơ sở h ạ tầng giao thông, một mặt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mặt khác hạn ch ế tai nạn giao thông xảy ra và tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.

    III. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

    Bảo hiể m TNDS của chủ xe cơ gi ới đối với ngườ i th ứ ba đây là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với tất cả các chủ xe cơ giới, bởi vì:

    • Xe cơ giới là một nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây tai nạn bất cứ lúc nào mà con người không thể lường trước được. Đất nước ngày càng phát triển, mạng lưới giao thông ngày càng dày đặc thì tai nạn do xe cơ giới gây ra ngày càng nhiều.
    • Bảo hiểm TNDS của xe cơ giới là một biện pháp kinh tế mà các chủ xe có trách nhiệm đóng góp về mặt tài chính để hình thành nên quỹ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm quản lý. Quỹ này nhằm đảm bảo bồi thường nhanh chóng, khắc phục hậu quả kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của những người bị thiệt hại về thân thể và tài sản do xe cơ giới gây ra. Đặc biệt là trong trường hợp người gây tai nạn không có khả năng về kinh tế để đền bù thiệt hại hoặc người đó cũng đã tử vong trong chính vụ tai nạn đó.
    • Thông qua quỹ này, các doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc bồi thường, bù đắp cho chủ xe khi gặp phải rủi ro sự cố tai nạn xảy ra, giúp chủ xe khắc phục được hậu quả tài chính, ổn định sản xuất, góp phần ổn định kinh tế xã hội.
    • Ngoài ra quỹ này còn được sửa dụng một phần vào việc đề phòng và hạn chế tổn thất thông qua việc đóng góp xây dựng những công trình phục vụ an toàn giao thông như các đường thoát nạn, các biển báo nguy hiểm…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    và tổ chức các chiến d ịch tuyên truyền rộ ng rãi về luật giao thông, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của mọi người khi tham gia giao thông.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhân hay đại diện cho một tập thể. Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiể m cho phần TNDS củ a chủ xe phát sinh do s ự hoạt độ ng và đi ều khiển xe cơ giới của ng ười lái xe. Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là phần TNDS của chủ xe cơ giới đố i với người thứ ba. Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ gi ới đối với người thứ ba là trách nhiệm hay nghĩa vụ bồ i thường ngoài hợp đồng của chủ xe hay lái xe cho người thứ ba do việc lưu hành xe gây nên.

    Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước. Chỉ khi nào việc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba thì đối t ượ ng này mới được xác định cụ thể. Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:

    • Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khoẻ của bên thứ ba.
    • Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái phát luật. Có thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước…
    • Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái phát luật của chủ xe (lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
    • Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.

    Thực tế chỉ cần đồng thời x ảy ra ba điều ki ện thứ nhất, thứ hai, th ứ ba là phát sinh TNDS đối với người thứ ba củ a chủ xe (lái xe) . Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên TNDS của ch ủ xe s ẽ không phát sinh, và do đó không phát sinh trách nhiệm củ a b ảo hiểm. Điều kiện th ứ tư có thể có hoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của ch ủ xe (lái xe). Ví dụ: Xe đang chạy bị nổ lốp, lái xe mất khả năng đi ều khiển nên đã gây ra tai n ạn. Trong trường hợp này, TNDS vẫn có thể phát sinh nếu có đủ ba điều kiện đầu tiên.

    Chú ý rằng, bên thứ ba trong bảo hi ểm TNDS chủ xe cơ giới là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loại trừ:

    • Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe.
    • Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, con

    cái…

    – Hành khách, những người có mặt trên xe.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Người bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường trước gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Cụ thể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm bao gồm:

    – Tai nạn gây thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của bên thứ

    ba;

    – Tai nạn gây thiệt hại về tài sản, hàng hoá… của bên thứ ba;

    – Tai nạn gây thiệt tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm thu nhập;

    – Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quan bảo hiểm (kể cả biện pháp không đem lại hiệu quả).

    – Những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của những người tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.

    • Các rủi ro được loại trừ:

    Ngườ i b ảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp sau:

    • Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe và người bị thiệt hại.
    • Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để tham gia giao thông theo quy định của điều lệ trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ.
    • Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng trật tự an toàn giao thông đường bộ như:
      • Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường.
    • Lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái bị tịch thu, bằng

    không hợp lệ.

    • Lái xe bị ảnh hưởng của các chất khích thích như: rượu, bia,

    ma tuý…

    • Xe chở chất cháy, nổ trái phép.
    • Xe sử dụng để tập lái, đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa.
    • Xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, xe đi đêm không có đèn chiếu sáng hoặc chỉ có đèn bên phải.
    • Xe không có hệ thống lái bên phải.
    • Thiệt hại do chiến tranh, bạo động.
    • Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản xuất kinh doanh.
    • Thiệt hại đối với tài sản bị cướp, bị mất cắp trong tai nạn.
    • Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia (trừ khi có thoả thuận khác). Ngoài ra, người bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường

    thiệt hại đối với những tài sản đặc biệt như:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Vàng bạc, đá quý.
    • Tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền.
    • Đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm.
    • Thi hài, hài cốt.
    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình. Mặt khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác xuất gây ra tai nạn khác nhau. Do đó, phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện) tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.

    Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:

    P = f + d

    Trong đó:

    P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện f – Phí thuần

    d – Phụ phí

    Phí thuần được tính theo công thức: n

    • Si x Ti

    i = 1

    f=            n Ci

    i=1

    Trong đó:

    Si – Số vụ tai nạn x ảy ra có phát sinh TNDS của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm thứ i.

    Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn trong năm

    thứ i.

    Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm

    thứ i.

    n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1,n).

    Như vậy, “f” thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n

    năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.

    Đối với các phươ ng tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệ ph ụ phí so với mức phí cơ bản. Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm 30% mức phí cơ bản.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Đối với các phương ti ện hoạt động ngắn hạn (dưới một năm), thời gian tham gia bảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác định như sau:

    Pngắn hạn = P năm x Tỷ lệ phí ngắn hạn theo tháng

    Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào một thời đi ểm nào đó phương tiện không ho ạt động nữa hoặc chuyển sở hữu mà không chuy ển quyền b ảo hiểm thì chủ phương tiện s ẽ được hoàn phí bảo hiể m tương ứng với số thời gian còn lại của n ăm (làm tròn tháng) n ếu trước đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồi thường.

    Số phí hoàn lại được xác định như sau:

    Pnăm x Số tháng xe không hoạt động

    • hoàn lại =

    12 tháng

    Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện. Tuỳ theo số lượ ng phương tiện, người b ảo hiểm sẽ quy đị nh thời gian, số lần nộ p và mức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo số lượng phươ ng ti ện tham gia bảo hiểm (tối đa thường là 20%). Nếu không thực hiện đúng quy định này sẽ bị phạt.

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Về người: 30 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách).

    Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba).

    Phí bảo hiểm (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển

    hành khách).

    Xe taxi:

    – Dưới 6 chỗ tính bằng 150% của phí xe kinh doanh dưới 6 chỗ quy định tại mục

    IV.A.

    – Xe trên 6 chỗ tính bằng phí xe kinh doanh cùng số chỗ ngồi quy định tại mục

    IV.A.

    Xe buýt: Tính bằng phí bảo hiểm của xe không kinh doanh cùng số chỗ ngồi theo quy định tại mục III.

    Xe ôtô chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải cùng trọng tải quy định tại mục III.B.

    Xe máy chuyên dùng: Tính bằng phí bảo hiểm của xe chở hàng không kinh doanh vận tải dưới 3 tấn quy định tại mục III.B.

    Xe rơ moóc: Tính bằng 30% phí bảo hiểm của xe kéo rơ moóc đó.

    Bảng 3: Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Pjico.

    STT LOẠI XE PHÍ BẢO HIỂM NĂM (Đồng)
    I MÔ TÔ 2 BÁNH:  
    1 Từ 50cc trở xuống 50,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập. Phạm Minh Nguyên- BH43a.
           
    2 Trên 50 cc   55,000
         
    II XE LAM, XE MÔ TÔ BA BÁNH, XÍCH LÔ MÁY, XE LÔI 140,000
           
    III XE Ô TÔ KHÔNG KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Loại xe dưới 6 chỗ ngồi   200,000
    2 Loại xe từ 6 đến 11 chỗ ngồi   400,000
    3 Loại xe từ 12 đén 24 chỗ ngồi   640,000
    4 Loại xe trên 24 chỗ   920,000
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   340,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   670,000
    3 Trên 8 tấn   930,000
    C Xe vừa chở người vừa chở hàng (pickup)   470,000
           
    IV XE Ô TÔ KINH DOANH VẬN TẢI    
    A Xe ô tô chở người    
    1 Dưới 6 chỗ ngồi theo đăng ký   350,000
    2 6 chỗ ngồi theo đăng ký   430,000
    3 7 chỗ ngồi theo đăng ký   500,000
    4 8 chỗ ngồi theo đăng ký   580,000
    5 9 chỗ ngồi theo đăng ký   650,000
    6 10 chỗ ngồi theo đăng ký   730,000
    7 11 chỗ ngồi theo đăng ký   800,000
    8 12 chỗ ngồi theo đăng ký   880,000
    9 13 chỗ ngồi theo đăng ký   950,000
    10 14 chỗ ngồi theo đăng ký   1,030,000
    11 15 chỗ ngồi theo đăng ký   1,110,000
    12 16 chỗ ngồi theo đăng ký   1,180,000
    13 17 chỗ ngồi theo đăng ký   1,360,000
    14 18 chỗ ngồi theo đăng ký   1,330,000
    15 19 chỗ ngồi theo đăng ký   1,410,000
    16 20 chỗ ngồi theo đăng ký   1,480,000
    17 21 chỗ ngồi theo đăng ký   1,560,000
    18 22 chỗ ngồi theo đăng ký   1,630,000
    19 23 chỗ ngồi theo đăng ký   1,710,000
    20 24 chỗ ngồi theo đăng ký   1,790,000
    21 25 chỗ ngồi theo đăng ký   1,860,000
    22 Trên 25 chỗ ngồi   1.860.000 + 20.000 x (Số chỗ – 25 chỗ)
    B Xe ô tô chở hàng (xe tải)    
    1 Dưới 3 tấn   380,000
    2 Từ 3 đến 8 tấn   740,000
    3 Trên 8 tấn   1,020,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    (Nguồn: công ty Pjico)

    (Lưu ý: Phí bảo hiểm trên chưa bao gồm 10% thuế GTGT).

    3.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách.

    Đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc với mục đích:

    • Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị tai nạn và gia đình họ.
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn khắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng.
    • Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông. Tăng thu ngân sách cho Nhà nước để từ đó có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông.
    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Là tính mạng và tình tr ạng sức khoẻ của tất cả hành khách đi trên các phương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách. Những người này không phân biệt lứa tuổi, nghề nghi ệp, miễn là họ có vé hoặc miễn giảm vé theo quy định. Người được bảo hiểm bao gồm cả những hành khách đượ c ưu tiên đặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé.

    Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa củ a hành khách mang theo, các lái phụ xe và những người đ ang làm việc trên các phương tiện vận chuyển hành khách (ôtô, tàu hoả, tàu thuỷ , thuyền phà và máy bay) không thuộc đối tượng bảo hi ểm. Nghiệp vụ này ở nước ta được tri ển khai dưới hình th ức bắt buộc, vì vậy phí b ảo hi ểm được tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên mỗi tấm vé là một giấy chứng nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm:

    Là các rủ i ro do thiên tai, tai nạn bất ng ờ xảy ra trong suốt hành trình của hành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm.

    • Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt lở đất đá… gây thiệt hại cho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khoẻ của hành khách.
    • Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của chính phương tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do phương tiện khác đâm vào…
    • Các rủi ro loại trừ:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông, vi phạm pháp luật (nhảy tàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe, đứng ngồi không đúng chỗ quy định, hành hung, ăn cắp…).
    • Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình vận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khoẻ của hành khách gây ra (ngộ độc thức ăn, trúng gió, ốm đau…).
      • Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:
    • Là thời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ lúc hành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời khỏi phương tiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi trên vé. Thời gian tạm ngừng hợp lý (lấy nhiên liệu, ăn uống…) vẫn được tính vào thời hạn bảo hiểm. Nếu đi liên vận, hành khách phải thay đổi phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương tiện tiếp theo vẫn được bảo hiểm.
    • Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình, rời bỏ hay lạc mất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    S ố tiền bảo hiểm đượ c ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại phương ti ện hay một số loại phương tiện. Chẳng hạn, nếu hành khách đi trên máy bay, số tiền bảo hiểm là 20.000 USD/hành khách. Nếu đi trên tàu hoả, tàu thuỷ, ôtô số tiền bảo hiểm là 12.000.000 VNĐ/hành khách. Vì nghiệp vụ được thực hiện dưới hình thức bắt buộc nên ngườ i tham gia bảo hiểm không có quyền lựa chọn số ti ền bảo hiể m. Trẻ em mua n ửa vé hoặc được miễn vé thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số tiền bảo hiểm của người lớn.

    1. Phí bảo hiểm:

    Vì thực hi ện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá vé. Cơ quan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

    • Số tiền bảo hiểm.
    • Loại phương tiện vận chuyển.
    • Độ dài tuyến đường chuyên chở.
    • Đặc điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất lượng đường xá, địa hình).

    Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:

    • Phí bảo hiểm tính trên 1km/ hành khách, cho từng loại phương tiện với giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Công thức:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    P= f1+ f2+ f3+ f4

    ∑Ci+ ∑Ti

    f1=

    • m∑Lij Kij

    Trong đó:

    f1– Phí thuần

    f2– Phí đề phòng hạn chế tổn thất

    f3– Phí dự phòng

    f4– Phí quản lý và lãi dự kiến

    (f2, f3, và f 4 th ường được quy định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tổng số phí thu).

    Ci- Số tiền chi trả cho những hành khách bị chết năm thứ i.

    Ti- Số tiền chi trả cho những hành khách phải điều trị, phẫu thuật năm thứ i.

    Lij- Độ dài quãng đường j năm thứ i.

    Kij- Số hành khách đi trên quãng đường j năm thứ i.

    n- Số năm khảo sát (n= 5 năm).

    m- Số quãng đường của từng loại hình giao thông vận tải.

    Ph ương pháp này có ưu điểm chính là chính xác và độc lập với giá cướ i vận tải, song lại có nhược điể m mức phí tính ra rất lẻ và đôi khi quá nhỏ nên đã ảnh hưởng đến khâu bán vé và quản lý của cơ quan vận chuyển.

    • Phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ trên giá cước vận tải của từng loại phương tiện.

    f= R x Gv

      ∑Qi
    R=   x 100
     
      ∑ Di

    Trong đó:

    f- Phí thuần

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    Gv- Giá cước vận tải

    Qi- Tổng chi phí chi trả cho tai nạn bảo hiểm năm th ứ i Di- Tổng doanh thu cước phí của ngành vận tải năm i

    Ph ương pháp này tuy đơn giản, dễ tính toán, song phụ thuộ c nhiều vào giá cước vận t ải. Khi tính toán cũng phải giả thiết 100% hành khách đều được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm cho trước.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ngoài ra, đối với các công ty tư nhân kinh doanh vận tải hành khách, công ty bảo hiểm thu phí theo phương thức khoán. Cụ thể, số phí một công ty vận tải phải nộp hàng tháng.

    Phí bảo hiểm     Số chỗ ngồi         Số phương           Số lượt phương         Số ngày

    P = bình quân 1    x      BQ một             x     tiện hoạt        x      tiện hoạt động x hoạt

    động

    hành khách           phương tiện            động                        BQ một ngày           BQ một

    tháng

    1. Trả tiền bảo hiểm:
    • Nếu tai nạn chết người: Số tiền chi trả cho 1 hành khách bằng số tiền bảo hiểm.
    • Nếu bị tai nạn thương tật: Số tiền chi trả bằng tỷ lệ thương tật nhân với số tiền bảo hiểm (tỷ lệ thương tật được giám định thông qua giám định y khoa).
    • Nếu hành khách bị tai nạn nhẹ, tạm thời: Số tiền chi trả có thể tính theo chi phí thực tế (nằm viện, điều trị…) hoặc cũng có thể bằng số tiền chi trả bình quân một ngày nhân với số ngày nằm viện. Số tiền chi trả 1 ngày và số ngày nằm viện được quy định thống nhất căn cứ vào số tiền bảo hiểm. Nhưng số tiền chi trả tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm.

    3.                 Bảo hiểm vật chất thân xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm: Bao gồm tất cả những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnh thổ của quốc gia.

     

    – Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường cho những thiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.

    – Đối với xe ôtô các loại có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất xe cũng có thể tham gia bảo hiểm từng bộ phận của chiếc xe. Tuy nhiên nếu tham gia từng bộ phận thì phải theo 7 tổng thành sau:

    • Tổng thành động cơ.
    • Tổng thành hộp số (chính, phụ).
    • Hệ thống lái.
    • Tổng thành thân vỏ.
    • Tổng thành trục trước.
    • Tổng thành cầu sau.
    • Tổng thành lốp.

    Ngoài ra có một số loại xe còn có tổng thành thứ 8 như xe cứu thương, xe cứu hoả, móc cần cẩu, móc kéo…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Còn đối với xe môtô và xe máy chỉ tiến hành bảo hiểm toàn bộ xe. Đây là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy được thực hiện dưới hình thức

    tự nguyện. Khi tham gia bảo hiểm chủ xe phải lưu ý 4 vấn đề sau:

    • Trong mọi trường hợp không bao giờ bảo hiểm bồi thường vượt quá số tiền ghi trong đơn bảo hiểm, hay nói cách khác đó là giới hạn tối đa để bồi thường.
    • Nếu chủ xe cũ đã mua bảo hiểm, sau đó chuyển quyền sở hữu cho người khác thì chủ xe mới vẫn được hưởng quyền bảo hiểm đó cho đến hết hợp đồng, nhưng chủ xe phải báo cho công ty bảo hiểm.
    • Bảo hiểm không chịu phần hao mòn tự nhiên của chiếc xe. Chủ xe phải chịu các khoản miễn thường, hao mòn, trục trặc máy móc, hỏng lốp xe do sử dụng thành bị cắt hay nổ.
    1. Phạm vi bảo hiểm:
    • Các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm: – Tai nạn do đâm va, lật đổ;

    – Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá; – Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên;

    Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc

    xe được bảo hi ểm trong những trườ ng hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

    • Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm;
    • Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;
    • Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

    Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồ i thường của công ty bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm.

    • Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:

    – Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.

    – Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng mà không do tai nạn gây ra.

    – Mất cắp bộ phận xe.

    – Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba.

    1. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Giá trị bảo hiểm củ a xe cơ giới là giá trị th ực tế trên th ị trường của xe tại thời điể m người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việ c xác định đ úng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường chính xác thiệt h ại thực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm. Tuy nhiên, giá trị xe trên thị trường luôn bi ến độ ng và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó khăn cho việc xác định đúng giá trị xe.

    Trong th ực t ế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các yếu tố sau để xác định giá trị xe:

    • Loại xe;
    • Năm sản xuất;
    • Mức độ cũ, mới của xe;
    • Thể tích làm việc của xi lanh…

    Một phươ ng pháp xác định giá trị b ảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:

    Giá trị bảo hiểm= Giá trị ban đầu – Khấu hao.

    Ví dụ: Ch ủ mộ t chiếc xe ôtô TYOTA mua ngày 01 tháng 01 n ăm 1998 với giá 600 triệu đồng; mua bảo hiể m vật chất xe vào ngày 10 tháng 03 năm 2000. Công ty bảo hiểm đánh giá t ỷ lệ khấu hao là 12% năm. Mức khấu hao được tính cho từng tháng, nếu mua bảo hi ểm trước ngày 16 thì tháng đó không phải tính khấu hao, còn từ ngày 16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao. Trong trường hợp này giá trị bảo hiểm sẽ được tính như sau:

    Giá trị ban đầu        600.000.000 VNĐ

    KH năm 1998: (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 1999:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Năm 2000:    (0,12) X 600.000.000 = 72.000.000

    Tổng: 156.000.000 VNĐ

    Như vậy giá trị bảo hiểm sẽ là:

    600.000.000 – 156.000.000 = 444.000.000 VNĐ

    1. Phí bảo hiểm:

    Khi xác định phí b ảo hiểm cho từng đối tượ ng tham gia bảo hi ểm cụ thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:

    • Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành các nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng. Đối với các xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    moóc, xe chở hàng n ặng… do có mức độ rủi ro cao nên phí b ảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.

    Giống nh ư cách tính phí b ảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:

    P = f + d

    Trong đó:      P – Phí thu mỗi đầu xe

    d – Phụ phí

    f – Phí bồi thường

    Theo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào những nhân tố sau:

    – Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí bồi thường “f” cho mỗi đầu xe như sau:

    • Si x Ti

    f =    ∑ Ci

    (Với i = 1, 2, … , n)

    Trong đó: Si – Số vụ tai nạn xảy ra trong năm thứ i

    Ti – Thiệt hại bình quân một vụ trong n ăm thứ i Ci – Số xe hoạt động thực tế trong năm thứ i

    • Các chi phí khác hay còn gọi là phần phụ phí (d), bao gồm các chi phí như chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý …

    + Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào cũng quan tâm đến nhân tố này. Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ.

    + Mục đích sửa dụng: Đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí bảo hiểm. Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Ví dụ, xe do một người về hưu sử dụng cho mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong những khu vực rộng lớn. Rõ ràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tai nạn càng lớn.

    + Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55 tuổi, do kinh nghiệm cho thấy số người này gặp ít tai nạn hơn so với các lái xe trẻ tuổi. Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi (thường từ 65 tuổi trở lên) thường phải xuất trình giấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảo hiểm th ường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe (hày còn gọi là mức miễn th ường). Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thường cao hơn so với những lái xe lớn tuổi.

    • Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỷ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới.

    Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một số ngày trong một năm, thì chủ xe phải đóng phí bảo hiểm cho những ngày hoạt động đó theo công thức sau:

    Phí Mức phí Số tháng xe hoạt động trong năm
    bảo hiểm = cả năm  ế   12 tháng  
    • Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó. Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính biểu phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:

    – Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;

    – Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng

    • những năm trước đó;

    – Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty;

    Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt. Còn nếu mứ c phí đặc biệt tính được là cao hơn (hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình t ổn thất của khách hàng cao hơn (hoặc bằng) mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung.

    • Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó, ví dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe. Trong trường hợp này thông thường công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính như sau:
    Phí Phí Số tháng không hoạt động Tỉ lệ
    hoàn lại = cả năm ế         hoàn lại phí
      12 tháng Х
                 

    Mỗ i công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau. Nhưng thông thường tỷ lệ hoàn này là 80%.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Nếu chủ xe mu ốn hu ỷ bỏ h ợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hi ểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.

    1. Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe.

     

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Đối tượ ng bảo hiểm là thiệt hại về thân thể xe, phụ xe và những người khác được chở trên xe đang tham gia giao thông.

    và tính mạng đối với lái gây ra do tai nạn khi xe

    1. Phạm vi bảo hiểm:

    Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi th ường thiệt hại về thân thể của lái xe và những người khác được chở trên xe. Những người này bị tai nạn khi đang ở trên xe, lên xuống xe hay trong quá trình xe đang tham gia giao thông.

    Các trường hợp loại trừ:

    • Đối tượng được bảo hiểm cố ý gây tai nạn.
    • Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đây là nghiệp vụ bảo hiểm con ngườ i nên các công ty bảo hiểm sử dụng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường và các công ty thường đưa ra nhiều mức gi ới hạn cho từng loại xe để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng tài chính của mình.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm của nghiệp vụ này được tính theo công thức sau: P = S x R x N

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm S- Số tiền bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm N- Số chỗ ngồi trên xe

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico đang áp dụng kể từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảng 4: Biểu phí bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe tại Pjico.     (Đơn

    vị: Đồng)

    Loại xe Số người Phí bảo hiểm
    I. Xe không kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 40,000
    Xe 5 chỗ 5 50,000
    Xe 6 chỗ 6 60,000
    Xe 7 chỗ 7 70,000
    Xe 11 chỗ 11 110,000
    Xe 12 chỗ 12 120,000
    Xe 16 chỗ 16 160,000
    Xe 24 chỗ 24 240,000
    Xe 25 chỗ 25 250,000
    Xe 32 chỗ 32 320,000
    Xe 48 chỗ 48 480,000
    II. Xe buýt.    
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    III. Xe kinh doanh vận tải.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Xe 6 chỗ 6 90,000
    Xe 7 chỗ 7 105,000
    Xe 8 chỗ 8 120,000
    Xe 9 chỗ 9 135,000
    Xe 10 chỗ 10 150,000
    Xe 11 chỗ 11 165,000
    Xe 12 chỗ 12 180,000
    Xe 13 chỗ 13 195,000
    Xe 14 chỗ 14 210,000
    Xe 15 chỗ 15 225,000
    Xe 16 chỗ 16 240,000
    Xe 17 chỗ 17 255,000
    Xe 18 chỗ 18 270,000
    Xe 19 chỗ 19 285,000
    Xe 20 chỗ 20 300,000
    Xe 21 chỗ 21 315,000

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.   Phạm Minh Nguyên- BH43a.
         
    Xe 22 chỗ 22 330,000
    Xe 23 chỗ 23 345,000
    Xe 24 chỗ 24 360,000
    Xe 25 chỗ 25 375,000
    Xe 26 chỗ 26 390,000
    Xe 32 chỗ 32 480,000
    Xe 36 chỗ 36 540,000
    Xe 42 chỗ 42 630,000
    Xe 48 chỗ 48 720,000
    IV. Xe taxi.    
    Xe 4 chỗ 4 60,000
    Xe 5 chỗ 5 75,000
    Trên 6 chỗ Tính phí bh bằng phí bh xe kd vận tải cùng số chỗ ngồi
    Pjico)   (Nguồn:  Công  ty
       

    4.                 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hoá chuyên chở trên xe.

    1. Đối tượng bảo hiểm:

    Loại hình bảo hiểm này chỉ áp dụ ng cho những xe có giấy phép kinh doanh vận tải hàng hoá. Khi nhận hàng hoá để chuyên trở, chủ xe phải có ngh ĩa vụ đưa hàng hoá đến điểm giao cu ối cùng một cách đầy đủ và nguyên vẹn do v ậy chủ xe ph ải chịu trách nhiệm về những thiệt hại của hàng hoá mà họ nhận chuyên chở xảy ra do lỗi của họ hoặc người làm công cho họ. Vì vậy, đối tượng đượ c bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới đối với thiệt hại củ a hàng hoá được v ận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển giữa chủ xe và ch ủ hàng, được pháp luật quy định tại thể lệ vận chuyển hàng hoá bằng ôtô ban hành kèm theo Quyết định số 1690/QĐ- VT ngày 15/09/1990 của Bộ giao thông vận tải và Bưu điện.

    Hàng hoá ở đ ây là hàng hoá thông thường không thuộc nhóm hàng cấm kinh doanh, v ận chuyển theo quy định của pháp lu ật. Còn đối với nh ững hàng hoá đặc bi ệt như vàng bạc, đ á quý, đồ cổ, tranh cổ , hài cố, tiền… chỉ được bảo hiểm khi có thoả thuận riêng giữa chủ hàng với bên nhận bảo hiểm.

    1. Phạm vi bảo hiểm:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Phạm vi bảo hi ểm ở đây là TNDS của chủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe; là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm b ồi th ờng cho chủ hàng khi có tai nạn làm thiệt hại về hàng hoá vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển.

    Ngoài ra, nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe các chi phí hợp lý và cần thiết nhằm:

    • Ngăn ngừa, giảm nhẹ tổn thất cho hàng hoá.
    • Bảo quản, xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi hàng hoá trong quá trình vận chuyển do hậu quả của tai nạn.
    • Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Các điều khoản loại trừ:

    Nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm và bồi thường cho những thiệt hại hàng hoá trong những trường hợp sau:

    • Vi phạm các điều khoản loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
    • Hàng hoá lưu thông trái phép.
    • Tiền, các loại ấn chỉ, hóa đơn có giá trị như tiền, đồ cổ, trang ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt, vàng bạc, đá quý …
    • Mất cắp, trộm cướp.
    • Tổn thất hàng hóa do bắt giữ của cơ quan chức năng Nhà Nước.
    • Tổn thất hàng hóa do bị xô lệch, va đập trong quá trình vận chuyển mà không phải do va đập, lật đổ.
    • Xe ôtô không thích hợp với loại hàng hoá chuyên chở.
    1. Số tiền bảo hiểm:

    Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đố i với hàng hoá chuyên chở trên xe, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình đối với một tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm trong một vụ tai nạn. Cụ thể:

    Số tiền bảo hiểm = Mức trách nhiệm x Số tấn trọng tải đăng ký bảo

    hiểm.

    1. Phí bảo hiểm:
    • Phí bảo hiểm trong bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyển trên xe được tính theo công thức sau:

    P = R x M x G

    Trong đó:

    P- Phí bảo hiểm

    R- Tỷ lệ phí bảo hiểm

    M- Mức trách nhiệm bảo hiểm / tấn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    G- Số tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm

    • Biểu phí cụ thể công ty Pjico áp dụng từ ngày 18/04/2003 như sau:

    Bảng 5: Biểu phí bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe tại Pjico.

    (Đơn vị: Đồng)   Phí bảo    
    Loại xe Tấn VAT  
    hiểm
    Xe chở hàng kinh doanh vận tải, xe chở hàng        
    đông lạnh.        
    Tải 0,5 tấn 0,5 27.273 2.727  
    Tải 1 tấn 1 54.545 5.455  
    Tải 1,5 tấn 1,5 81.818 8.182  
    Tải 2 tấn 2 109.091 10.909  
    Tải 2,5 tấn 2,5 136.364 13.636  
    Tải 3 tấn 3 163.636 16.364  
    Tải 5 tấn 5 272.727 27.273  
    Tải 7 tấn 7 381.818 38.182  
    Tải 8 tấn 8 436.364 43.636  
    Tải 9 tấn 9 490.909 49.091  
    Tải 10 tấn 10 545.455 54.545  
    Pjico)   (Nguồn: Công ty  
           

    IV. VẤN ĐỀ TRỤC LỢI TRONG BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI.

    1. Khái niệm trục lợi bảo hiểm.

    Cùng v ới sự l ớn mạnh của thị trường bảo hiểm, số lượng người tham gia b ảo hi ểm xe cơ giới ngày càng nhiều, thị trường bảo hiể m xe cơ giới ngày càng mở rộng. Bên cạnh những người thực s ự mu ốn tham gia bảo hiểm để bảo vệ, ổn định cuộc số ng của mình khi không may gặp rủ i ro, thì đã xuất hiện không ít khách hàng lợi d ụng bảo hiể m để làm lợi cho bản thân mình một cách phi pháp. Đó chính là hành vi trục lợi bảo hiểm.

    Vậy: “Tr ục lợi bảo hiểm là tất cả các hành vi cố tình gian dối, l ừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia b ảo hiể m hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro cho đối tượng được bảo hiểm nh ằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng”.

    Tr ục lợi bảo hiểm còn được quan niệm là gian lận trong b ảo hi ểm. Trên th ế giới, hiện tượng này được biết đến như là một vấn đề nhức nh ối đối với các doanh nghiệp b ảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đ ã phải b ỏ ra khá nhiều tiền để khắc phục vấn đề trục lợi bảo hiểm, song số vụ gian lận

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    vẫn tăng theo thời gian và hình th ức ngày càng tinh vi, thủ đoạn ngày càng sắc sảo. Trục lợi bảo hiểm diễn ra hầu h ết các nghiệp v ụ b ảo hiể m và bất cứ nước nào đã triển khai bảo hiể m thương mại thì ở nước đó s ẽ có trục lợi b ảo hiểm. Theo Hiệp hội các hãng bảo hiểm châu Âu, hàng năm họ bị thiệt hại vì trục l ợi bảo hiểm không d ướ i 10 tỷ USD, chiếm gần 2,5% số phí bảo hiểm, trong đó trục lợi bảo hiểm xe cơ giới là nhiều nhất.

    2.                 Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước trên thế giới.

    Từ khi ra đời cho đến nay, hoạt động của ngành bảo hiểm đã và đang tiếp tục phát triển và khẳng định vị trí quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế của m ỗi quốc gia. Đồng th ời cùng v ới xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế gi ới, thị trườ ng bảo hiểm thế giới cũng ngày một phát triển và hình thành nên những tập đoàn bảo hiểm lớn về quy mô cũng như tiề m lực kinh tế với số vốn khổng lồ như thị trường bảo hiểm Lloyd’, thị trường bảo hiểm Bermula … Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của thị trườ ng bảo hiểm thì hiện t ượng gian lận, lừa đảo củ a khách hàng trên thế giới cũng ngày một tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng.

    Theo thông tin của hi ệp hội bảo hiểm Anh quốc (ABT), n ăm 2003 số tiền chi phí cho các vụ bồi thường gian lận lên tới 1,1 tỷ USD tăng 8% so với năm 2002. Trong đó:

    – Bảo hiểm xe cơ giới là 481 triệu USD, tăng 10 lần so với năm

    2002.

    • Bảo hiểm tai nạn con người, du lịch là 287 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.
    • Bảo hiểm tài sản (trong lĩnh vực kinh doanh) là 74 triệu USD, tăng 20% so với năm 2002.

    Còn tại Mỹ, Công ty Infoglige bang Texas đưa ra số liệu về lừa đảo bảo hiểm đối với xe cơ giới “đạt” 16 tỷ USD/năm.

    Tại Pháp chỉ riêng các yêu cầu gian lận về cháy, mất cắp xe hơi và mất trộm tại nhà, các hãng bảo hiểm Pháp đã phải trả gần 12 tỷ FR. Còn số này ở Canada là 1,3 – 2 tỷ USD. (Theo tạp chí : “Tài chính quốc tế năm 2004).

    3.                 Các hình thức của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở Việt Nam.

    Trục l ợi bảo hiểm đã tr ở thành một hiện tượng phổ biến, nó có ở tất cả các công ty bảo hiểm trong nhiều nghiệp vụ nhưng phổ biến nhất vẫn là trong bảo hiểm xe cơ giới. Mức độ và cách thức trục lợi trong nghiệp vụ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    ngày càng tinh vi và đa dạng hơn. Các biểu hiện của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới th ường gặp là:

    1. Hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Có thể do vô tình hay cố ý, chủ xe đã không mua b ảo hiểm và khi tai nạn xảy ra, chủ xe phải đối mặt với khó khăn về tài chính nên đã hình thành

    • đồ gian lận để được nhận tiền bồi thường. Tai nạn xảy ra nằm ngoài thời hạn bảo hiểm, người trục lợi sẽ tìm mọi cách để hợp lý hoá ngày tai nạn và hiệu lực bảo hiểm. Có hai cách để thực hiện:
    • Ghi lại ngày tai nạn:
    • Bị tai nạn rồi mới mua hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày thực tế.
    • Bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng hoặc tìm mọi cách mua chuộc nhân viên cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    • Ghi lùi ngày trên giấy chứng nhận bảo hiểm:

    Là hành vi người trục lợi bảo hiểm thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm về trước trên giấy chứng nhận bảo hiểm, do đó quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính.

    1. Thay đổi tình tiết vụ tai nạn:
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không có hiệu lực).
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    1. Tạo hiện trường giả:
    • Đưa xe từ nơi xảy ra tai nạn đến nơi khác lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn không mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Số tiền nhằm trục lợi ở hình thức này thường lớn.

    1. Khai tăng số tiền tổn thất:
    • Đối với bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hóa hư hỏng (đối với bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường tai nạn hoặc biên bản tai nạn.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Đối với bảo hiểm vật chất thân xe:
    • Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với thực tế, thúc ép công ty bảo hiểm chấp nhận phương án khắc phục hậu quả bất hợp lý như thiệt hại bộ phận xe nhẹ nhưng đòi thay mới.
    • Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai đưa vào hợp đồng sửa chữa.
    • Sửa chữa, thay thế ngay cả những bộ phận hư hang không do tai nạn hoặc bị tai nạn từ trước khi bảo hiểm.
    • Thay thế những vật tư cũ, chế lại, … nhưng kê khai thay mới.
    • Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đồ đã hư hỏng.
    1. Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

     

    • Khách hàng mua bảo hiểm trùng để có thể thu được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị thiệt hại.
    • Hai xe đâm va với nhau, chủ xe đã được chủ xe có lỗi bồi thường nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại đòi bồi thường.
    • Hai xe cùng có lỗi gây thiệt hại cho người thứ ba, cả hai chủ xe đều lập hồ sơ và cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.
    1. Cố ý gây tai nạn:

    Hình thức này thường xảy ra v ới các chủ xe đang trong thời kỳ khó khăn về tài chính, họ lập ra màn kịch thu tiền b ồi thường để chi trả nợ nần hay lấy số tiền đầu tư vào một phương thức kinh doanh khác.

    Ví dụ: tự đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay mới …

    4. Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm.

    1. Nguyên nhân:

    Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hành vi gian lận bảo hiểm là xuất phát từ lòng tham của con người, họ có th ể tìm mọ i cách để kiếm lợi cho mình kể cả những hành vi vi phạm pháp luật. Sở dĩ họ có thể thành công là do có một số nguyên nhân sau:

    • Nguyên nhân khách quan:
    • Nguyên nhân khách quan đầu tiên phải kể đến là sự thiếu của hệ thống hành lang pháp lý đã khiến các cơ quan chức năng trong việc ngăn chặn các hành vi gian lận bảo hiểm, do chưa có

    chặt chẽ nơi lỏng một quy

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    định rõ ràng, đầy đủ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc do trong quá trình thực hiện chưa được nghiêm minh, chủ xe sẽ thực hiện hành vi gian lận của mình nếu họ biết đượ c rằng có thể lách qua kẽ hở củ a pháp luật cũng như họ nghĩ rằng nếu bị phát hiện cũng không bị sự trừng trị của pháp luật.

    • Do sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý. Theo nguyên tắc các xe đang lưu hành bắt buộc phải có giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba, nhưng không mấy khi cảnh sát giao thông hỏi tới giấy tờ này do đó sẽ tạo ra sự yên tâm cho chủ xe khi không tham gia bảo hiểm, đây cũng là cơ hội giúp cho các chủ xe tiến hành trục lợi bảo hiểm.
    • Không gian địa lý cũng là một nguyên nhân phát sinh hành vi gian lận bảo hiểm. Như ta đã biết xe cơ giới có tính cơ động cao tham gia hoạt động trên nhiều địa bàn, nhiều khu vực trong cả nước. Do đó đối với những vụ tai nạn xảy ra ở xa, hoang vắng, ít người qua lại khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết hiện trường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là dễ xảy ra. Mà để giám định kịp thời thường phải nhờ các công ty khác giám định hoặc phải nhờ vào biên bản của công an, cảnh sát khu vực, mà trong những biên bản này vì nhiều lý do có thể không chính xác, không trung thực …
    • Trình độ lái xe rất cao họ am hiểu về xe cộ, địa hình đi lại … họ có thể tạo ra những vụ tai nạn đánh lạc hướng cơ quan bảo hiểm để lấy tiền bồi thường của công ty bảo hiểm.
    • Do giá trị của xe cơ giới là rất lớn do đó khi xảy ra tai nạn sẽ làm cho chủ xe bị kiệt quệ về tài chính, giảm hoặc thậm chí mất khả năng kinh doanh tiếp, vì vậy đây là động cơ lớn dẫn đến hiện tượng các chủ xe trục lợi bảo hiểm.
    • Bên cạnh những nguyên nhân không nằm trong tầm kiểm soát của con người thì còn có những nguyên nhân có thể phát sinh từ ý chí của con người nhưng vẫn không thể ngăn chặn được triệt để.
    • Nguyên nhân chủ quan:
    • Nguyên nhân chủ quan đầu tiên phải kể đến đó là hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bằng đủ mọi thủ đoạn. Trong vòng một năm, mức phí bảo hiểm bình quân đã hạ tới 40%, đặc biệt có những mặt hàng phí bảo hiểm giảm tới 70-80%. Trong khi đó hoa hồng đã tăng gấp từ 3- 4 lần mức quy định của Bộ tài chính. Một số công ty bảo hiểm đã mở rộng điều kiện một cách thoái quá, trái với thông lệ bảo hiểm quốc tế mà những rủi ro này thuộc về người bán bảo hiểm. (Thời báo kinh tế Việt Nam số 209- thứ Hai- 13/12/2004).
    • Do các doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt nên các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải giữ bí mật thông

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    tin. Việc trao đổ i những thông tin cần thiết về khách hàng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hầu như không có. Vì vậy, khi có tai n ạn x ảy ra các công ty bảo hi ểm cũng tiến hành bồi th ường mà không xem xét tình hình ở các doanh nghiệp khác d ẫn đến chủ xe có thể được hưởng nhiều l ần tiền bồi thường ở các công ty khác nhau do h ọ bảo hi ểm trùng, mà theo nguyên tắc không được bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản.

    • Cũng do điều kiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, để nâng cao doanh thu phí các công ty đã đơn giản hoá nhiều thủ tục khi ký kết hợp đồng cũng như khi xảy ra tổn thất hoặc khi đánh giá rủi ro xét nhận bảo hiểm, đơn giản thủ tục xét bồi thường … đã tạo nhiều điều kiện cho các chủ xe lợi dụng.
    • Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất là những văn bản pháp quy về bảo hiểm. Nhiều người dân nhận thức rất mơ hồ về bảo hiểm và họ cho rằng quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi. Cho nên đã có những trường hợp nói sai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo hiểm …
    • Đối với những trường hợp khiếu nại gian lận bị công ty bảo hiểm phát hiện, các công ty chưa có biện pháp sử lý đích đáng mà chỉ mới dừng lại ở mức độ từ chối bồi thường, điều này sẽ làm cho các chủ xe suy nghĩ theo một hướng tiêu cực là cứ lập hồ sơ khiếu nại nếu qua được thì nhận tiền bồi thường còn nếu không được thì cũng không phải nộp phạt …
    • Trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm các đại lý khai thác và nhân viên giám định có một vai trò hết sức quan trọng. Công việc của hai chức danh này ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận cả khi ký kết hợp đồng cũng như khi giải quyết bồi thường. Do đó những người làm trong hai bộ phận này phải là những người có tâm huyết với nghề, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực thực sự … Tuy nhiên một thực tế hiện nay là việc tuyển dụng đại lý còn tương đối dễ dàng, qua loa, chủ yếu là do quen biết … do đó nhiều nhân viên đại lý cũng có hành vi gian lận bảo hiểm cùng với khách hàng… nếu điều này xảy ra thì sẽ gây hậu quả nghiêm thọng cho công ty bảo hiểm.
    • Trình độ của nhân viên bảo hiểm còn hạn chế. Đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam thì đây còn là một điều trăn trở, vì thị trương bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đào tạo cho nhân viên chưa được coi trọng, các nhân viên còn ít kinh nghiệm trong công tác phòng và chống gian lận bảo hiểm. Do nhiều nhân viên chạy theo mức doanh thu phí mà quên mất điều quan trọng là khi tổn thất xảy ra thì số tiền bồi thường sẽ rất lớn so với mức phí thu được nếu như khi ký hợp đồng họ coi nhẹ khâu đánh giá rủi ro để dễ dàng ký được hợp đồng. Đây là một điều tốt cho các chủ xe làm lợi bất chính…

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Do tư cách phẩm chất của một số bộ phận nhân viên trong công ty bị thoái hoá, coi trọng đồng tiền hơn cả trách nhiệm nghề nghiệp. Họ có thể đánh giá cao mức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách hàng lợi dụng các kẽ hở về giấy tờ, về thủ tục giám định, bồi thường để trục lợi … Những người này dễ bị các chủ xe lợi dụng, mua chuộc để tiếp tay cho hành
    • gian lận của chủ xe. Nếu chủ xe được bồi thường họ sẽ được hưởng một số tiền nhất định, sự việc này cứ diễn ra thì các chủ xe trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và do đó công ty bảo hiểm cũng ngày càng phải chi những khoản bất thường làm cho doanh thu giảm đáng kể.
    • Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vi gian lận với những người có liên quan như: y, bác sỹ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất … Ví dụ, mua chuộc bác sỹ để dựng lên bệnh, làm giả hoặc kê những đơn thuốc đắt tiền để đòi được số tiền bảo hiểm nhiều hơn.
    1. Hậu quả của trục lợi bảo hiểm:

    Hậu quả trụ c lợi bảo hiể m xe cơ giới ngày càng trở lên phổ biến với mức độ ngày càng tinh vi, hình thức ngày càng đa dạng. Chính vì thế mà hậu quả của trục lợi bảo hiểm để lại có xu hướng ngày càng nặng nề và trầm trọng, không chỉ đối với các công ty bảo hiểm mà còn đối với cả xã hội.

    • Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
    • Ta có thể nhận thấy nếu không ngăn chặn được hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty bảo hiểm. Mà mục tiêu quan trọng nhất của hầu hết các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là lợi nhuận.

    Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi.

    Trong đó: Tổng chi = Chi bồi thường + Chi quản lý + Chi khác.

    • Nếu hành vi trục lợi bảo hiểm không bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi bồi thường. Nếu các hành vi đó bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi quản lý bởi lẽ chi phí cho một cuộc điều tra trục lợi thường rất lớn. Thậm chí có trường hợp nghi ngờ công ty tổ chức điều tra nhưng không đủ cơ sở từ chối bồi thường. Như vậy cả chi bồi thường và chi quản lý đều làm tăng chi phí điều này làm giảm lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm bị hạn chế.
    • Do hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng nên công ty bảo hiểm phải tăng cường công tác giám định, điều tra, kiểm tra, thanh tra. Điều này làm tăng thời gian giải quyết bồi thường, ảnh hưởng đến quá trình phục hồi tài chính, sản xuất kinh doanh của khách hàng. Do đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm, làm giảm tính cạnh tranh sản phẩm của công ty trên thị trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Có nhiều hành vi gian lận với hiệu quả hoà giải thấp dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết trang chấp, ảnh hưởng xấu đến uy tín của công ty.
    • Trục lợi bảo hiểm còn làm giảm số lượng khách hàng hiện tại cũng như thu hút, hấp dẫn các khách hàng mới. Bởi bản chất của bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một rủi ro nào đó đóng góp tạo nên và hoạt động dựa trên nguyên tắc “số đông bù số ít”. Vì vậy, hành vi trục lợi bảo hiểm được thực hiện thì không ai khác chính là các khách hàng trung thực sẽ phải gánh chịu hậu quả, do đó không ai dại gì tiếp tục tham gia hoặc có ý định tham gia bảo hiểm. Đó là lý do làm cho lượng khách hàng giảm đi.
      • Đối với Nhà Nước và xã hội:
    • Khi lợi nhuận của công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho Ngân sách Nhà Nước cũng giảm. Điều này kéo theo sự đầu tư cho xã hội cũng giảm và lợi ích chung của xã hội bị mất đi là không nhỏ.
    • Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nếu các hành vi gian lận tiếp diễn sẽ làm rối loạn an ninh xã hội, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lành mạnh và thiếu sự công bằng. Sự hoạt động kém hiệu quả của một số công ty bảo hiểm kéo theo đó là nguồn vốn đầu tư giảm, làm giảm các hoạt động đầu tư ở một số lĩnh vực.
    • Đảng và Nhà Nước ta đang hướng tới việc xây dựng Nhà Nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng vẫn tồn tại

    những con ng ười tha hoá đạo đức, biến chất, thiếu ý th ức chấp hàng pháp luật, chỉ nghĩ tới lợi ích riêng của cá nhân mình bằng các hành vi gian d ối sẽ tạo ra sự bất công. Từ đó dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật gây rối trật tự an ninh xã hội.

    • Trục lợi bảo hiểm còn gây ảnh xấu tới đạo đức xã hội, kỷ cương pháp luật. Tính chất phát triển và quy mô tổ chức của những vụ trục lợi sẽ kéo theo sự tha hoá, biến chất của các cán bộ, nhân viên trong ngành có liên quan. Những hành vi tiêu cực, thông đồng với nhau gian lận tiền của công ty bảo hiểm sẽ tạo tiền đề cho hành vi tham nhũng phát triển ở cả những ngành khác trong nền kinh tế.
    • Nền kinh tế nước ta đang phát triển, thị trường bảo hiểm còn non trẻ nên những hành vi gian lận cũng mới chỉ ở dạng bộc phát, lẻ tẻ. Nhưng nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời thì các hành vi này sẽ pháp triển thành các hành vi tội phạm có tổ chức. Đồng thời sẽ tạo ra tâm lý coi thường kỷ cương pháp luật.
    • Đối với khách hàng:

    Khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Bởi vì, phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để chi trả cho những khoản tiền gian lận không được phát hiện ra. Do vậy, những doanh nghiệp bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nào có nhiều vụ gian l ận sẽ có mức phí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên quyết chống và loại trừ những kẻ trục lợi bảo hiểm.

    Tóm lại, hành vi tr ục lợi bảo hi ểm đã gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ hoạt động kinh doanh củ a công ty mà còn ảnh hưở ng tới đạo đức xã hội và pháp luật của Nhà Nước. Cuộc chiến chống lại các hành vi gian lận này đang gặp rất nhiều khó khăn. Đây không ch ỉ là v ấn đề riêng của ngành bảo hiểm nước ta mà của tất cả các nước trên thế giới.

    5. Sự cần thiết phải phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới:

    Gắn liền với sự phát triển của xã hội là sự phát triển của ngành Bảo hiểm với s ố người tham gia bảo hiểm ngày càng gia tăng và thị trường bảo hiểm ngày càng được mở r ộng. Nhưng có một thực tế đáng buồn là số vụ bảo hiểm cũng như mức độ nghiêm tr ọng củ a mỗi v ụ ngày một t ăng đặc biệt trong b ảo hiể m xe cơ giới. Đấu tranh chống trục lợi bảo hiểm là sự cần thiết đối với tất cả các nước trên thế giới.

    Tình trạng trục lợi bảo hiểm xe c ơ gi ới ở Việt Nam cũng ngày càng trở lên phức t ạp. Việc phòng chố ng gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới cũ ng trở thành một vấn đề cần thiết có tính chất khách quan vì một số lý do sau:

    • Số vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng:

    Đến nă m 1998 trướ c tình hình gian lận bảo hi ểm trong cả nước ngày càng lớn, đặc biệt là trong bảo hiểm xe c ơ giới. Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã yêu cầu các công ty thành viên của mình làm báo cáo về tình hình khiếu nạn gian lận bảo hi ểm xe cơ giới kết quả cho thấy chỉ tính riêng năm 1997, trong hệ thống của Bảo Vi ệt đã phát hiện 224 vụ gian lận số tiền ước tính bị trục lợi là 1 tỷ đồng. Hiện nay trên thị tr ường Việt Nam không chỉ có Bảo Việt hoạt động mà có Bả o Minh, Pjico… Do đ ó, không thể biết trong một năm con số các vụ trục lợi bảo hiểm bị phát hiện là bao nhiêu.

    Chỉ tính riêng Pjico trong năm 2000 phát hiện ra 32 vụ gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới, năm 2001 phát hiện 48 vụ , năm 2002 phát hiện 53 vụ nhưng đến năm 2004 thì số vụ gian lận phát hiện được là 75 vụ.

    • Tính chất nghiêm trọng trong mỗi vụ ngày càng phức tạp:
    • Hành vi gian lận ban đầu mang tính chất cơ hội thường hay gặp trong những vụ có thiệt hại nhỏ. Theo pháp luật của Việt Nam thì các hành
    • này chưa đủ để cấu thành tội phạm nhưng nó cũng ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới.
    • Sau đó đến các hành vi mang tính lợi dụng, tức là các hành vi gian dối dân sự. Theo Bộ Luật Dân Sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trong điều 142: “ Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”.
      • đây người gian lận dùng các hình thức khác nhau để cho nhà bảo hiểm hiểu rằng tổn thất họ gặp phải là lớn hơn thực tế, nhằm đòi được số tiền bồi thường lớn hơn. Bao gồm các hành vi sau đây:
        • Lập hồ sơ đòi bồi thường khai tăng giá trị tổn thất.
        • Khai báo sai chất lượng thực tế của hạng mục tổn thất trước

    tai nạn

    • Khai thêm hạng mục tổn thất không do tai nạn gây ra.
    • Khai báo sai giá trị sử dụng của đối tượng, thành phần bị tổn

    thất.

    • Cho đến các hành vi gian lận mang tính chất “chiếm đoạt”, cấu thành tội phạm hình sự.

    Theo luật hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam:

    Điều 134: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản XHCN thì bị phạt tù…”.

    Điều 157: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù…”

    • đây người gian lận đã cố tình gian dối để chiếm đoạt một số tiền từ nhà bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng. Đó là các trường hợp rủi ro gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm không thuộc trách nhiệm của nhà bảo hiểm (ngoài phạm vi bảo hiểm, ngoài thời hạn bảo hiểm) nhưng cố ý tạo lập hồ sơ giả để đòi bồi thường:
    • Lập hồ sơ tai nạn giả cho trường hợp xe có giấy chứng nhận bảo hiểm có hiệu lực để thu lợi bất chính.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm ghi lùi ngày hiệu lực cho xe bị tai nạn trước đó.
    • Lập giấy chứng nhận bảo hiểm cho xe bị tai nạn trước đó rồi làm hồ sơ tai nạn ghi lùi ngày tai nạn.
    • Lập hồ sơ giả mạo về nguyên nhân tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm để đòi bồi thường cho một thiệt hại không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
    • Hiện tượng trục lợi bảo hiểm nó làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cũng như hình ảnh của Công ty trên thị trường. Nó làm tha hóa biến chất về đạo đức của một số cán bộ, làm rối ren kỷ cương pháp luật và mất công bằng xã hội.

    Vì vậy, phòng chống gian lận trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng là hoàn toàn cần thiết và mang tính tất yếu khách quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    5.                 Các biện pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới ở một số nước.

    Trên thế giới, việc phòng ch ống gian lận bảo hi ểm được các doanh nghiệp b ảo hiểm hết sức coi trọng. Ở Châu Âu, các tổ chức bảo hiểm cho biết việc chống gian lận bảo hiểm là một cuộc đấu tranh khá tốn kém. Theo số liệu thống kê cho thấy rằng việc kiểm tra thụ động hoặc chủ động làm tiêu tốn của họ t ừ 1 – 3% tổng số tiền chi trả bảo hiểm nhưng họ vẫn cương quy ết ti ến hành. Do v ậy, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã thành lập các đội, các ban phòng chống trục lợi bảo hiểm của riêng mình và các biện pháp sau đây được áp d ụng ở rất nhiều nước trong đó phải kể đến một số nước tiêu biểu như Anh, Pháp, Mỹ, Canada.

    • Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm. Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mà pháp luật quy định bắt buộc khách hàng phải tham gia cần có sự phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra theo dõi và đưa ra những mức tiền phạt thích đáng cao hơn mức phí bảo hiểm mà họ phải nộp. Tiêu biểu như tại Anh Quốc, Hiệp hội bảo hiểm Anh (ABI) đã và đang phát động một chiến dịch phối hợp tất cả các thành viên cơ quan có liên quan nhằm ngăn chặn, vạch mặt những kẻ gian lận lừa đảo bảo hiểm. Hàng năm ABI đã cùng với lực lượng Cảnh sát West Middland tổ chức các cuộc hội thảo về tội phạm và chống tội phạm. Năm 1998 đã thống nhất triển khai một chiến dịch rộng rãi chống lại việc gian lận bảo hiểm trên toàn nước Anh. Lập một đường dây nóng để tố cáo những kẻ gian lận, lừa đảo bảo hiểm. Còn tại Mỹ, nhằm mục đích ngăn chặt tội phạm bảo hiểm, Hội đồng thành phố Washingtơn DC đã ban hành một đạo luật đấu tranh chống tệ nạn lừa đảo bảo hiểm, trong đó đặc biệt kẻ gian lận sẽ bị phạt 50.000 USD và kèm theo 15 năm tù giam, ngoài ra còn phải bồi thường khoản tiền chiếm đoạt do lừa đảo. Các nhà bảo hiểm được yêu cầu phải thiết lập những chương trình cụ thể nhằm bảo vệ và chống lừa đảo bảo hiểm. Những công ty không thực hiện chương trình này sẽ bị phạt. Đồng thời cố gắng động viên khuyến khích cơ quan Cảnh sát tham gia tích cực vào công việc này.
    • Doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi và kiểm tra chặt chẽ các cán bộ, đại lý và các cộng tác viên khai thác bảo hiểm. Một mặt, phải nhắc nhở họ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mặt khác phải đề ra những cơ chế quản lý phù hợp như: Phí bảo hiểm thu được trong ngày, cuối ngày phải nộp; giấy chứng nhận bảo hiểm cấp trong ngày phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm vào cuối ngày; khi khách hàng tham gia bảo hiểm với số tiền lớn thì phải báo cáo về doanh nghiệp bảo hiểm kiểm tra, theo dõi… tiêu biểu như tại Cana da: Cuộc đấu tranh chống gian lận bảo hiểm ở Canada do văn phòng bảo hiểm Canada (IBC) đứng đầu.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    IBC tổ chức đánh giá, tổ ng kết kinh nghiệ m ch ống gian lận bảo hiểm của tất cả các công ty bảo hiểm và soạ n thảo một giáo trình đặc biệt h ướng dẫn hoạt động chống gian lận b ảo hiểm. Tổ chức “ngăn chặn tội phạm” của Canada tự nguyện đứng ra ngăn chặn và đi ều tra mọ i tội phạm, trong đó có tội phạm gian lận bảo hiểm. IBC cung cấp cho cảnh sát và lực lượ ng chữa cháy sổ ghi nhớ các dấu hiệu nghi vấn gian lận bảo hiểm để họ lưu ý. Tổng giá trị gian lận b ảo hiểm tài sản và các trường hợp rủi ro khoảng 1,3 tỷ USD/ năm (10-15% số tiền đóng bảo hiểm).

    Liên đoàn chống gian lận bảo hiểm thành lập tháng 6/1994 ở Canada bao g ồm đại diện của các công ty Bảo hiểm, Cảnh sát, Lu ật sư đoàn và ngườ i tiêu dùng. Liên đoàn đã ra bản tuyên bố được tất cả các hãng bảo hiểm ký và cam kết th ực hiện, đồng thời đưa ra định nghĩa: “gian lận bảo hiểm là mọi hành động tiến hành với mục đích nhận tiền bảo hiểm phi pháp từ yêu cầu giả mạo đến tăng hay giảm các yêu cầu hợp pháp, từ yêu cầu giả đến gian lận nội bộ”.

    Đối với thẻ bảo hiểm liên đoàn hướng dẫn như sau:

    • Thẻ bảo hiểm phải được viết bằng ngôn ngữ đơn giản.
    • Các yêu cầu trong thẻ phải được điền đầy đủ.
    • Trong đơn xin trả bảo hiểm người viết phải chứng minh rõ ràng tất cả những khía cạnh yêu cầu của mình.
    • Khi ký lại hợp đồng bảo hiểm phải lưu ý thông báo tất cả những thay đổi vật chất và các thay đổi đáng kể khác của đối tượng bảo hiểm.
    • Thêm vào điều kiện: người bảo hiểm có quyền yêu cầu người được bảo hiểm giải thích rõ ràng sau khi xảy ra thiệt hại.

    Bảo hiểm ôtô phải tuân thủ trình tự kiểm tra toàn bộ trước khi nhận bảo hiểm. Để tránh gian lận trong bảo hiểm các đối tượng thương mại cần phải phân tích tình hình tài chính của người được bảo hiểm. Mỗi khi nhận được đơn bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có quyền xem xét “lịch sử yêu cầu bảo hiểm “ của đối tượng (tần số và khối lượng bảo hiểm) từ các trung tâm tư liệu.

    Về phía Công ty bảo hiểm, khi làm giấy tờ bảo hiểm phải:

    • Chuẩn bị và áp dụng các biện pháp đặc biệt để xác định và làm hồ sơ các thiệt hại đáng nghi ngờ.
    • Tiến hành điều tra tất cả các trường hợp khả nghi và nếu có thể thì áp dụng tất cả các biện pháp để khôi phục các khoản chi trả bất hợp pháp.
    • Thành lập ban điều tra hoặc bắt buộc các công ty bảo hiểm hợp tác với cơ quan điều tra đặc biệt của các hãng bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Hợp tác với chính quyền về các yêu cầu bảo hiểm không được thanh toán gian lận.

    Muốn từ chối trả tiền bảo hiểm, Công ty bảo hiểm phải chứng minh được “tam giác tội phạm” gồm động cơ gian lận, khả năng thực hiện và hậu quả của nó. Công việc này có thể được công ty bảo hiểm tiến hành, có trườ ng hợp có cả sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài. Thêm vào đó một số mạng lưới các công ty đặc biệt được cấp giấy phép hoạt động như đơn vị điều tra độc lập theo yều cầu của công ty bảo hiểm.

    Trường hợp thiệt hại trên 25.000 đôla Canada bắt buộc phải điều tra, còn dưới 25.000 đôla Canada thì chỉ điều tra khi đặc biệt nghi vấn. Điều tra của Công ty bảo hiểm là nhằm quyết định trả hay không trả bảo hiểm, còn của Cảnh sát là xem xét có dấu hiệu phạm tội hình sự hay không?

    Ngoài gian lận từ phía người được bảo hiểm còn có những gian lận nội bộ từ phía trung gian như đại lý, môi giới hay nhân viên bảo hiểm. Để chống lại loại này, trước hết phải làm rõ chức năng của các chuyên gia xác định quy mô thiệt hại với các chuyên gia thực hiện trả tiền cho các thiệt hại (kể cả bố trí họ ở các văn phòng khác nhau). Công ty bảo hiểm nên thường xuyên luân chuyển cán bộ, thay đổi hệ thống, kiểm tra định kỳ tại chỗ và sử dụng các bộ phận độc lập. Người ta cho rằng, việc thay đổi thường xuyên các nhân viên quản lý thiệt hại đã giảm đáng kể khả năng móc ngoặc giữa những người mưu toan gian lận trong thời gian dài

    • Quá trình giám định– bồi thường, chi trả tiền bảo hiểm phải được thực hiện đúng nguyên tắc và trình tự mỗi khâu. nếu thấy nghi ngờ một loại giấy tờ nào đó hoặc không rõ về thời gian, không gian trong các vụ tổn thất cần xác minh lại ngay. Nếu thấy cần thiết phải báo ngay để doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức điều tra xác, minh cho rõ. Ngoài phương án điều tra độc lập, cần tranh thủ sự giúp đỡ của các bên có liên quan như: công an, y bác sỹ và những người làm chứng… Tiêu biểu như tại Pháp: Tất cả các hãng bảo hiểm của Pháp đều có danh sách những kẻ lừa đảo bảo hiểm đã bị toà án kết tội để không ký các hợp đồng bảo hiểm đối với các đối tượng này, qua đó nghiên cứu kỹ hồ sơ các vụ gian lận để tìm các biện pháp phòng chống. Ở nước này, theo ước tính của các công ty bảo hiểm, chi phí cho việc điều tra gian lận bảo hiểm tiêu tốn khoảng 1,5% tổng phí thu. Mặc dù vậy, các công ty bảo hiểm này vẫn tiến hành các chiến dịch chống gian lận bảo hiểm. Tiêu biểu trong số đó là công ty bảo hiểm Pháp – UAP. Từ năm 1980, trong bộ phận điều chỉnh thua lỗ của hãng có nhóm chống gian lận với nhiệm vụ: phân tích tài liệu của các trường hợp bảo hiểm khác nhau, kiểm tra tính hợp pháp của chúng, lưu ý những thông tin trái ngược và những sự kiện không phù hợp với từng trường hợp:
    • Những người tham gia vào nhiều loại bảo hiểm khác nhau.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trường hợp phải trả tiền bảo hiểm ngay sau khi ký hợp đồng bảo hiểm hay sau khi tăng tiền bảo hiểm.
    • Trường hợp tăng số vụ tai nạn ngay cùng một chỗ.
    • Giấy yêu cầu bảo hiểm không phải do chính người được bảo hiểm hoặc người thừa hưởng đề nghị.

    Để công tác điều tra có hiệu quả, hãng UAP thường cộng tác với các cơ quan bên ngoài, đặc biệt là sự tham gia của Cảnh sát.

    Để có được những biện pháp như trên, các Công ty bảo hiểm ở Pháp đã có sự thống nhất trong hàng động, xử lý thông tin kịp thời và quản lý khách hàng rất chặt chẽ.

    Đặc biệt ở Pháp còn hình thành những tổ chức đặc biệt để đối phó với những hành vi trục lợi bảo hiểm mang tính chất nguy hiểm, xảo trá và hãng ALFA là một trrong những tổ chức như vậy. Tổ chức ALFA được thành lập năm 1989 có trụ sở chính tại Paris. Với sự tập trung các thám tử trong lĩnh vực bảo hiểm có trình độ, trí thông minh và khả năng phá án tốt, ALFA đã trở thành cánh tay đắc lực cho các hãng bảo hiểm Pháp trong việc truy tìm tội phạm trục lợi bảo hiểm, ALFA có 80 thám tử tư làm việc trong phạm vi khắp nước Pháp, dưới sự chỉ đạo của ban tham mưu gồm 15 người, nhân viên ALFA có tuổi trung bình 50 tuổi và đều có kinh nghiệm qua thời gian trong ngành cảnh sát điều này là một nguyên nhân khiến công việc của tổ chức này luôn thuận lợi.

    Các cuộc điều tra mất khá nhiều thời gian và tiền bạc nhưng những chi phí đó không phải là vô ích.

    Trên đây là một số các phương pháp, mô hình tổ chức phòng chống ngăn chặn gian lận bảo hiểm ở một số nước tiêu biểu trên thế giới mà phương pháp của họ đã được cả thế giới tham khảo vận dụng. Việc vận dụng, học hỏi các nước đi trước để tìm ra cho mình một giải pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn là điều rất cần thiết đối với các nước đi sau trong đó có Việt Nam.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương II. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ BIỆN PHÁP HẠN CHẾ TẠI CÔNG TY PJICO.

    I.                   SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY PJICO.

    1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty Pjico.

    1. Lịch sử hình thành công ty:
    • Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sau hơn 30 năm chỉ có một mình Bảo Việt “đơn thương độc mã” hoạt động thì đến nay ngoài Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam đã xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm khác với các hình thức sở hữu khác nhau, có thể kể đến các công ty sau:

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO);

    – Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long);

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Công ty bảo hiểm Thành Phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh);
    • Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam (PVIC);
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện (PTI);
    • Công ty liên doanh bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA);
    • Việc thị trường bảo hiểm nước ta được mở rộng là xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế đa thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, mà nổi bật là chủ trương cổ phần hoá và phát triển các công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 vì thế sau năm 1994 một loạt các công ty cổ phần bảo hiểm đã ra đời trong đó có Pjico.
    • Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex với tên gọi tiếng anh là Petrolimex Joint- Stock Insurance Company, viết tắt là PJICO đã ra đời và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 15 tháng 6 năm 1995. Công ty là sự hội tụ của 8 cổ đông lớn trong đó có 7 thành viên sáng lập và một thành viên tham gia. Các thành viên này đã và đang có những đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh của Pjico. Dưới đây là các cổ đông sáng lập:
    • Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex);
    • Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank);
    • Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare);
    • Tổng công ty thép Việt Nam (VSC);
    • Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ (Matexim);
    • Công ty điện tử Hà Nội (Hanel);
    • Công ty TNHH thiết bị an toàn (AT);

    Công ty Pjico là cổ phần đầu tiên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân th ọ, do vậy, Pjico đã phải trải qua không ít những khó khăn của những ngày đầu hoạt động (Vạn sự khởi đầu nan), đặc biệt khi các điều ki ện v ề cơ chế pháp luật còn chưa đầy đủ, khách hàng còn ít lòng tin. Nhưng với sự chỉ đạo của hội đồng qu ản trị , của các ban ngành liên quan, đồng thời cùng với sự ủng hộ hợp tác giúp đỡ nhiệt tình của các cổ đông sáng lập, khách hàng và đặc biệt là sự nỗ l ực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên, công ty đã từng bước phát triển và tạo dựng được chỗ đứng trên th ị trường bảo hiểm Việt Nam.

    1. Cơ cấu tổ chức của công ty:

    Là một công ty cổ ph ần có tư cách pháp nhân, tự chủ về mặt tài chính và hạch toán độ c lập, Pjico r ất chú trọng tới việc xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty sao cho chặt chẽ đồ ng thời vẫn tuân thủ theo trật tự cơ cấu của một công ty cổ phần. Hiện nay, bộ máy tổ chức của Pjico bao gồm các bộ phận sau:

    • Hội đồng quản trị;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tổng giám đốc;
    • Các phó giám đốc;
    • Các phòng ban nghiệp vụ:
    • Phòng tổ chức cán bộ;
    • Phòng tổng hợp;
    • Phòng thị trường và quản lý nghiệp vụ;
    • Ban thanh tra pháp chế;
    • Phòng bảo hiểm hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm phi hàng hải;
    • Phòng bảo hiểm tài sản hoả hoạn;
    • Phòng tái bảo hiểm;
    • Phòng kế toán;
    • Phòng đầu tư tín dụng và thị trường chứng khoán;
    • Phòng giám định bồi thường;
    • Bộ phận quản lý đại lý;
    • Các văn phòng bảo hiểm tại Hà Nội: KV1, KV2, KV3, KV4, KV5, KV6 và KV7.
    • Các chi nhánh trực thuộc tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc.
    1. Các nghiệp vụ bảo hiểm triển khai:

    So với những ngày đầu mới thành lập, các nghiệp vụ bảo hiểm mà công ty triển khai đã đượ c đ a dạng hoá và hoàn thiện lên rất nhiều. Điề u đó đã đ áp ứng được nhu c ầu v ề bảo hi ểm ngày một tă ng lên không ch ỉ của mỗi mộ t cá nhân mà còn cả các tổ chức đang hoạt động kinh doanh, sản xuất trên đất nước Việt Nam. Hiện nay công ty đang triển khai một số các nghiệp vụ chính sau:

    • Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải:
    • Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không;
    • Bảo hiểm thân tàu;
    • Bảo hiểm TNDS của chủ tàu;
    • Bảo hiểm nhà thầu đóng tàu;
    • Bảo hiểm tàu sông, tàu cá;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải:
    • Bảo hiểm xe cơ giới;
    • Bảo hiểm kết hợp con người;
    • Bảo hiểm học sinh, sinh viên, giáo viên;
    • Bảo hiểm bồi thường cho người lao động;
    • Bảo hiểm khách du lịch;

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm hành khách;
    • Nghiệp vụ bảo hiểm Kỹ thuật và Tài sản:
    • Bảo hiểm mọi rủi ro về xây dựng lắp đặt;
    • Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt;
    • Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp;
    • Bảo hiểm máy móc;
    • Bảo hiểm trách nhiệm;
    • Bảo hiểm hỗn hợp tài sản cho thuê mướn;
    • Nghiệp vụ tái bảo hiểm: bao gồm nhượng và nhận các nghiệp vụ bảo

    hiểm.

    • Các hoạt động khác:
    • Thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới bảo hiểm như: Giám định, điều tra, tính toán phân bổ tổn thất, đại lý giám định tổn thất, đại lý xét giải quyết bồi thường và yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
    • Hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, tín dụng, liên doanh liên kết với các bạn hàng trong và ngoài nước.

    2.                 Tình hình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Công tác triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico:

    Với phươ ng châm “Pjico luôn cùng bạn v ững tay lái”, nghiệp v ụ bảo hiểm xe cơ giới đ ã được công ty triển khai ngay từ khi mới thành lập. Theo thời gian, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đã từng bước đứng vững và trở thành nghiệp vụ chủ đạo của công ty. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát tri ển của nền kinh tế nhiều thành phần đã làm bùng nổ các phương tiện vận tải chuyên dụng. Đây là đ iều cần cho quy luật “s ố đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm. Do vậy, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới có nhiều thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng.

    Hiện nay công ty đang triển khai tất cả các loại hình của bảo hiểm xe cơ giới, bao gồm:

    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới bắt buộc:
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba nghiệp vụ này gồm: Bảo hiểm TNDS của chủ xe ôtô đối với người thứ ba và bảo hiểm TNDS của chủ xe máy đối với người thứ ba.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hành khách trên xe.
    • Các loại hình bảo hiểm xe cơ giới tự nguyện:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá chuyên chở

    trên xe.

    • Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại

    Pjico ta xem xét những mục cụ thể sau:

    • Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác:

    Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là mộ t trong những sản phẩm truyền thống, có tính cạnh tranh cao, có thế mạnh tạo ra uy tín cho Pjico đồng thời là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo.

    Để chứng minh đây là nghiệp vụ có doanh thu chủ đạo ta xem xét bảng sau:

    Bảng 6: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện Tốc độ tăng Mức đạt kế
    Năm (Tr.đ) (Tr.đ) trưởng (%) hoạch (%)
             
    2000 23.150 28.400 37,4 122,7
    2001 32.600 42.436 49,4 129,9
    2002 53.894 60.981 43,7 113,1
    2003 55.941 66.669 9,32 119,1
    2004 64.978 77.568 16,34 119,4

    (Nguồn:    Công    ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới liên tục tăng năm sau cao hơn năm trước. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu chỉ đạt 28.400 triệu đồng nhưng đến năm 2004 doanh thu đã đạt 77.568 triệu đồng) điều này có được là nhờ công ty luôn coi sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới là một trong những sản phẩm chủ đạo.
    • Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 31% điều này nói lên sự nỗi lực rất lớn của đội ngũ nhân viên khai thác của công ty. Đặc biệt trong 3 năm 2000, 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng rất cao (2000 đạt 37,4%; năm 2001 đạt 49,4%; năm 2002 đạt 43,7%) đó là nhờ sự hoàn thiện dần về cơ chế, tổ chức của công ty và cũng là những năm Pjico nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình trên thị trường. Đáng chú ý là năm 2001 năm có sự tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay đó cũng là năm đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Pjico với 64 chi nhánh trên khắp tỉnh, thành trong cả nước. Trong hai năm trở lại đây 2003 và 2004 tốc độ tăng trưởng có giám sút điều này được giải thích đó là

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm cùng loại trên thị trường của những công ty bảo hiểm khác.

    • Tình hình khai thác từng nghiệp vụ cụ thể:

    Trong bảo hiểm xe cơ gi ới có rất nhiều nghiệp vụ và mỗi nghiệp v ụ lại có tính đặc thù riêng điều này giải thích tại sao độ i ng ũ nhân viên khai thác phải luôn hoàn thiện mình để đ áp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao thu nhập cho bản thân và doanh thu cho công ty.

    Để biết cụ thể tình hình khai thác của từng nghiệp vụ ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 7: Doanh thu phí các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-

    2004.(Đơn vị: Tr. đ)

    STT Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
                 
    1 TNDS ôtô 9.054 13.900 19.974 21.731 25.299
                 
    2 TNDS xe 557 1.705 2.450 2.673 3.178
      máy          
                 
    3 TNDS đối 137 132 190 204 229
      với hành          
      khách          
    4 TNDS đối 752 712 1.023 1.078 1.208
      với hàng hoá          
                 
    5 Vật chất ôtô 15.742 22.802 32.766 36.096 42.017
                 
    6 Vật chất xe 153 44 63 83 89
      máy          
                 
    7 Tai nạn lái phụ 1.958 3.141 4.515 4.804 5.548
      xe và người ngồi          
      trên xe          
    8 Cộng: 28.400 42.436 60.981 66.669 77.568
                 
              (Nguồn: Công  ty
            Pjico)  

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm đều tăng năm sau cao hơn năm trước. Riêng đối với nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe máy doanh thu là không đáng kể theo tôi nên loại bỏ nghiệp vụ bảo hiểm này để đỡ tốn chi phí.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS và vật chất của ôtô là hai nghiệp vụ chủ đạo. Tổng doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 85% tổng phí thu của nghiệp vụ xe cơ giới. Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây doanh thu phí của hai nghiệp vụ này luôn chiếm trên 86,5% tổng phí thu, điều này cho thấy công ty luôn xác định đây là hai nghiệp vụ hàng đầu và hết sức quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và Pjico luôn nỗ lực xây dựng quan hệ bền chặt với những khách hàng truyền thống, cũng như luôn xác định hai sản phẩm này luôn đi cùng với những chiếc xe của những doanh nhân thành đạt.
    • Bảo hiểm vật chất ôtô là nghiệp vụ có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ của bảo hiểm xe cơ giới. Nghiệp vụ này chiếm tới 55% trong tổng doanh thu vào năm 2000, năm 2004 con số này là 54,2% điều này cho thấy đây là nghiệp vụ Pjico luôn coi là thế mạnh của mình và các chủ xe luôn ý thức được đây là nghiệp vụ bảo hiểm rất cần thiết cho chiếc xe của mình. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 43% trong giai đoạn 2000- 2004. Trong đó, giai đoạn 2000- 2002 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (năm 2000 tốc độ tăng trưởng đạt 35,9%; năm 2001 đạt 44,8%; năm 2002 đạt 43,7%) đặc biệt, năm 2001 tốc độ tăng trưởng đạt kỷ lục từ trước tới nay do trong giai đoạn này công ty đang nỗ lực xây dựng thương hiệu của mình trên thị trường. Trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng có giảm do sự lớn mạnh của các đối thủ cạnh tranh nhưng doanh thu phí vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu.
    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS ôtô là một trong những nghiệp vụ quan trọng và có doanh thu đáng kể chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí bảo hiểm đã tăng 2,8 lần (năm 2000 doanh thu đạt 9.054 triệu đồng đến năm 2004 đạt 25.299 triệu đồng) và nghiệp vụ này có tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao 33,5% trong đó, có những thời kỳ tăng đột biến đó là giai đoạn 2000 đến 2002 (năm 2000 đạt 45%; năm 2001 đạt 53,52%; năm 2002 đạt 43,69%) trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nghiệp vụ này không cao cho dù đây là nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc (từ năm 2003) nói lên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường của những sản phẩm cùng loại của những doanh nghiệp khác.
    • Sản phẩm bảo hiểm TNDS của chủ xe máy trong 4 năm gần đây đã được chú trọng nhất là từ năm 2003 khi nghiệp vụ này là nghiệp vụ bắt buộc đối với các chủ phương tiện. Chỉ trong vòng 5 năm doanh thu phí của nghiệp vụ này đã tăng 5,5 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 577 triệu đồng thì đến năm 2004 đạt 3.178 triệu đồng). Tốc độ tăng trưởng bình quân của nghiệp vụ này đạt 69,4% trong đó, có thời kỳ nghiệp vụ này tăng trưởng không được như mong muốn vào năm 2000 do lúc này lòng tin của khách hàng với Pjico chưa nhiều và Bảo Việt còn đang chiếm ưu thế. Nhưng cũng từ đó

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Pjico th ực hiện cơ chế khoán doanh thu tới từng phòng KV làm cho doanh thu của nghiệp vụ này không ngừng tăng cao đ iển hình nă m 2001 tốc độ tăng trưởng đạt con số kỷ lục 206,1%. Trong hai năm trở lại đây do sự cạnh tranh khốc liệt với những doanh nghiệp b ảo hiểm khác là cho tốc độ tăng trưởng có giảm sút, năm 2004 t ốc độ tăng trưởng đạt 18,89% và doanh thu của nghiệp vụ này đã chiếm 4% trong tổng doanh thu.

    1. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất:

    Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, kiểm soát tổn thất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp bảo hiểm, nhất là các doanh nghi ệp bảo hiểm phi nhân thọ . Kiểm soát tổn thất có tác dụng làm giảm tần xuất hoặc mức độ trầm trọng củ a các tổ n thất, vì thế nó không chỉ là chức năng củ a doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu bức xúc của ngườ i tham gia bảo hiểm. Ngày nay các nhà chuyên môn của ngành bảo hiểm đều th ống nhất rằng, kiểm soát tổn thất là sự k ết hợp chặt ch ẽ giữa hai yếu tố: Đề phòng tổn thất và h ạn chế tổn thất. Đề phòng tổn thất là các biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần su ất tổn th ất, hay nói cách khác là để ngăn ngừa các tổn thất xảy ra. Còn hạn ch ế tổ n thất là các biện pháp s ử dụng nhằm làm giảm mức đọ trầm trọng của các tổn th ất khi rủ i ro x ảy ra. Đố i với các doanh nghi ệp bảo hi ểm, hoạt động kiểm soát tổn thất cũng đáp ứng được t ất cả các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra, đó là: Giảm chi bồi thường, tăng lợi nhu ận, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, thực hiện được nhu cầu pháp lý và các công tác xã hội, nhân đạo của doanh nghiệp bảo hiểm.

    Công ty Pjico luôn coi ho ạt động kiểm soát tổn thất là một trong những khâu quan trọng nhất trong chu kỳ của sản phẩm bảo hi ểm xe cơ giới. Công ty luôn xác định n ếu có làm tốt khâu này thì: chất lượng của sản phẩm mới đượ c bảo đảm, tạo đượ c lòng tin cho khách hàng vì chẳng ai mua bảo hiểm lại muốn mình gặp rủi ro cũng như thực hiện được những mục tiêu mà công ty đề ra.

    Do vậy trong hoạt độ ng ki ểm soát tổn thất của mình công ty luôn áp dụng triệt để 3 khâu chuyên môn:

    • Một là, khảo sát điều tra thực tế, công việc chủ yếu của khâu này là điều tra, thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đến đặc điểm của rủi ro và liên quan đến chính bản thân khách hàng.
    • Hai là, phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi ro. Sau khi nắm bắt được những thông tin cơ bản ở khâu điều tra khảo sát, kiểm soát viên tổn thất sẽ phân tích những tổn thất trong quá khứ của khách hàng và tư vấn cho họ những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác quản lý rủi ro.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Ba là, thực hiện chương trình quản lý rủi ro. Đây là công việc chủ yếu thuộc về phía người tham gia bảo hiểm. Họ có trách nhiệm trực tiếp thực hiện chương trình và sau khi thực hiện doanh nghiệp bảo hiểm của các kiểm soát viên tổn thất kiểm tra xem chương trình có phù hợp với điều kiện thực tế hay không và tư vấn thêm những dịch vụ tư vấn phù hợp.

    Bên cạnh đó, công ty còn sử dụng biện pháp tăng cường quản lý thông tin như thông tin về khách hàng, về các doanh nghiệp bảo hiểm khác, về đại lý… để có thể tìm ra những sai xót, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho tốt hơn.

    Như vậy, để đảm bảo thực hiện được công tác đề phòng và hạn chế tổn thất thì hàng năm công ty cũng phải chi ra một khoản tiền nhất định trong tổng phí bảo hiểm thu được. Tại Pjico, khoản chi này được tính vào chi phí quản lý nghiệp vụ.

    Cụ thể ta có bảng chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004 như sau:

    Bảng 8: Tình hình chi quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Chỉ tiêu Số vụ tổn thất Chi quản lý Doanh thu   Chi qu ản lý
    Năm (vụ) nghiệp vụ (Tr.đ) nghiệp vụ / doanh
      thu phí (%)
        (Tr.đ)      
    2000 2.358 3.726 28.400   13,1
    2001 2.948 5.814 42.436   13,7
    2002 3.861 10.123 60.981   16,6
    2003 3.856 10.607 66.669   15,9
    2004 4.216 12.531 77.568   16,1
          (Nguồ n: Công  ty
          Pjico)    

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Công ty rất chú trọng đến công tác đề phòng và hạn chế tổn thất và coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm. Ta nhận thấy rằng giai đoạn 2000- 2004 cho dù doanh thu phí đã tăng 2,7 lần (năm 2000 doanh thu phí đạt 28.400 triệu đồng; năm 2004 doanh thu phí đạt 77.568 triệu đồng) nhưng số tiền doanh nghiệp bỏ ra để chi quản lý nghiệp vụ lại tăng tới 3,3 lần (chi quản lý nghiệp vụ năm 2000 là 3.726 triệu đồng; năm 2004 chi quản lý nghiệp vụ là 12.531 triệu đồng).
    • Để đảm bảo được các mục tiêu công ty đã đề ra thì công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải luôn được tăng cường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của công ty. Bằng chứng là tỷ lệ giữa số tiền chi quản lý nghiệp vụ / doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước và trong những năm gần đây thì công tác này càng được coi trọng, hai năm trở lại đây tỷ lệ này

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    dần đ i vào ổn định (dao độ ng khoảng 16% tổng doanh thu của nghiệp vụ) do cơ sở hạ tầng đã được Nhà Nước đầu tư tốt hơn trước rất nhiều.

    1. Công tác giám định- bồi thường:

    Công tác giám định- bồi thường là những công việc thuộ c dị ch v ụ sau bán hàng, có tác động đến sự c ạnh tranh và uy tín của Công ty. Do vậy công ty Pjico rất chú trọng đến công tác này.

    • Công tác giám định tổn thất: Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định. Ở những nước pháp triển, chuyên viên giám định do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp chỉ định và lựa chọn. Nhưng phần lớn các nước chuyên viên giám định lại chính là nhân viên của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy chuyên viên giám định phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

    – Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan và trung thực. Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt hại, mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại. Công việc giám định chỉ được tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu. Để đảm bảo tính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình giám định phải có sự chứng kiến của các bên có liên quan.

    – Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời và đúng quyền hạn, khi rủi ro tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có nghĩa vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia tăng thiệt hại. Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên viên giám định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm đã uỷ nhiệm mình làm người giám định.

    – Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm dù là tự nguyện, nhưng nội dung của nó là tất cả những chi tiết về những sự kiện đã xảy ra và các vấn đề liên qua như: Thực trạng hiện trường nơi xảy ra tai nạn, tình trạng mất cắp, các quy định của cơ quan công an và chính quyền địa phương… Những thông tin này sẽ không có giá trị nếu được cung cấp quá muộn, bởi vì nó không được đưa ra thảo luận và làm bằng chứng khi lập biên bản giám định tổn thất.

    • Công tác bồi thường: Bồi thường và chi trả bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trả tiền cho các sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường một cách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất. Chính vào thời điểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn về tinh thần, đặc biệt là trong những trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn. Vào lúc này thì năng lực, sự trung thực, tính hiệu quả, sự tế nhị và tính nhân đạo của doanh

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nghiệp bảo hiểm đượ c thừa nhận qua cách xử s ự của mình với các nạn nhân và sự ki ện được bảo hiểm. Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốt nhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm. Do vậy, công ty Pjico luôn quan niệm “Những cam kết được bảo đảm bằng vàng”.

    Cụ thể ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty trong giai đoạn 2000- 2004 như sau:

    Bảng9: Tình hình chi bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại công ty

    Pjico.(ĐV: Tr.đồng)

    Stt Nghiệp vụ 2000 2001 2002 2003 2004
    1 TNDS ôtô 5.623 10.441 16.037 17.063 20.035
    2 TNDS xe máy 105 176 270 265 301
    3 TNDS đối với hành khách 125 273 419 443 523
    4 Vật chất ôtô 9.045 14.334 22.017 24.258 28.615
    5 Vật chất xe máy 141 41 63 76 78
    6 TNDS đối với hàng hoá 229 256 393 375 410
    7 Tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe 486 1.122 1.719 1.722 1.990
    8 Cộng: 16.654 26.643 40.918 44.202 51.952
    9 Tỷ lệ bồi thường (%) (∑chi 58,64 62,78 67,1 66,3 66,97
      / ∑thu)

    (Nguồn:    công       ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên ta thấy:

    • Bảo hiểm vật chất ôtô có số tiền bồi thường cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ, đây cũng là điều dễ hiểu vì nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có doanh thu cao nhất trong tất cả các nghiệp vụ. Trong khi doanh thu phí của nghiệp vụ bảo hiểm vật chất ôtô có tốc độ tăng trưởng trung bình 43% thì tốc độ tăng trưởng trung bình chi bồi thường vật chất ôtô là 36% (giai đoạn 200-2004) điều này cho thấy nghiệp vụ này đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty và đóng vai trò chủ đạo.
    • Nghiệp vụ TNDS ôtô là nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng doanh thu phí hàng năm khá cao đạt 33,5% nhưng đi đôi với nó là số tiền bồi thường cũng tăng lên một cách chóng mặt, tăng tới 3,6 lần và tốc độ tăng trưởng bình quân của số tiền bồi thường là 40,8% (giai đoạn 200-2004) cho thấy rằng nghiệp vụ này có xác xuất rủi ro là rất cao do vậy công tác đề phòng và hạn chế tổn thất phải được coi trọng. Đặc biệt, năm 2001 và 2002 tốc độ tăng trưởng của số tiền bồi thường rất cao (năm 2001 đạt kỷ lục 85,6%; năm 2002 đạt 55,5%) do trong những năm này có hiện tượng bùng nổ số lượng phương tiện xe cơ giới trong đó có xe máy Trung quốc và hai năm trở lại

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    đây tốc độ này có giảm do Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp bảo hiểm TNDS bắt buộc.

    • Nghiệp vụ bảo hiểm TNDS đối với xe máy có số tiền bồi thường rất khiêm tốn do đặc điểm của nghiệp vụ là bắt buộc nên chủ xe chỉ mua để đối phó với cơ quan chức năng (CSGT) có người bị tai nạn xong mới biết trong túi mình có mua bảo hiểm do vậy, những vụ va chạm nhỏ thường các chủ xe tự giải quyết theo thoả thuận không báo cho công ty bảo hiểm biết còn những vụ nghiêm trọng thì công ty mới biết và tiến hành bồi thường. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải tổ chức tuyên truyền cho mọi người dân hiểu mua bảo hiểm không phải là bắt buộc mà còn mang nhiều ý nghĩa to lớn khác.

    Như vậy, công tác giám định tổn thất tại công ty Pjico đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần làm cho công tác bồi thường chính xác và đạt hiệu quả cao.

    Để biết về công tác giám định- bồi thường tại Pjico ta xem xét bảng

    sau:

    Bảng 10:Tình hình giám định- bồi thường tại công ty Pjico giai đoạn 2000- 2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004  
    vị
                   
    1 Số vụ khiếu nại đòi giải quyết bồi thường Vụ 2.358 2.948 3.861 3.856 4.217  
    2 Số vụ giải quyết bồi thường Vụ 2.287 2.858 3.762 3.741 4.087  
    3 Số vụ phát hiện trục lợi bảo Vụ 32 48 53 64 75  
      hiểm  
    4 Số tiền bồi thường thực tế Tr.đ 16.654 26.643 40.918 44.379 52.128  
    5 Số vụ tồn đọng Vụ 39 42 46 51 55  
    6 Tỷ lệ tồn đọng (5/1) % 1,65 1,42 1,19 1,32 1,3  
    7 Tỷ lệ giải quyết bồi thường (2/1) % 97,0 97 97,4 97 97  
    8 Số tiền bồi thường thực tế/vụ Tr.đ 7,28 9,32 10,88 11,86 12,75  
      (4/2)  
    9 Chi quản lý nghiệp vụ Tr.đ 3.726 5.814 10.123 10.607 12.531  
    10 Tổng chi nghiệp vụ (4+9) Tr.đ 20.380 32.457 51.041 54.986 64.659  
    11 Tỷ lệ chi bồi thường (4/10) % 81,7 82,1 80,2 80,7 80,6  

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích số liệu bảng trên ta thấy:

    • Số vụ giải quyết bồi thường và số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm năm sau đều cao hơn năm trước. Điều này cho thấy công tác giám định- bồi thường của công ty ngày càng chính xác, khách quan và trung thực hơn. Riêng năm 2003 có số vụ tổn thất đòi giải quyết bồi thường khá khiêm tốn

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    điều này được giải thích do năm 2003 Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 23/2003/QĐ- BTC về thực hiện bảo hiểm TNDS bắt buộc và cũng trong năm này Chính phủ chọn là năm phát động chiến dịch xoá “điểm đen” trên tuyến quốc lộ.

    • Tỷ lệ tồn đọng hàng năm của công ty ở mức rất thấp và tỷ lệ giải quyết bồi thường luôn đạt trên 97% điều này cho thấy công tác chi trả bảo hiểm của công ty Pjico được thực hiện rất nhanh chóng và kịp thời góp phần xoa dịu sự mất mát của khách hàng cũng như nâng cao uy tín của công ty. Riêng năm 2000 là năm có số vụ tồn đọng cao nhất từ trước đến nay (chỉ 1,65%) do những vụ tai nạn vào năm này xảy ra quá sát tết.
    • Số tiền bồi thường thực tế trên vụ năm sau luôn cao hơn năm trước điều này cho thấy tổn thất ngày càng xảy ra với mức độ trầm trọng hơn đòi hỏi, công ty phải có những biện pháp thiết thực hơn nữa nhằm hạn chế tổn thất xảy ra.
    • Tỷ lệ chi bồi thường= Số tiền bồi thường thực tế/ tổng chi nghiệp vụ. Tỷ lệ này luôn đạt trên 80% cho thấy rằng công ty rất chú trọng đến công tác bồi thường, mục tiêu đặt ra trong những năm tới là công ty phải giảm số tiền bồi thường thực tế và tăng tổng chi nghiệp vụ muốn làm được điều này công ty phải kết hợp với ngành công an hạn chế tới mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra đặc biệt tai nạn xảy ra trên những đoạn đường đèo dốc nguy hiểm vì tai nạn xảy ra trên những đoạn đường này thường để lại hậu quả hết sức nặng lề.

    Tóm lại, các khoản chi bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chủ yếu xuất phát từ ba nghiệp vụ: bảo hiểm TNDS ôtô; vật chất ôtô; tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe. Chi bồi thường của nghiệp vu bảo hiểm xe cơ giới tại Pjico có xu hướng tăng do tình hình tai nạn giao thông ngày một nghiêm trọng bên cạnh đó cũng phải xét đến yếu tố gian lận trong bảo hiểm vì hiện tượng gian lận ngày càng trở lên phổ biến; nếu ngăn chặn được tình trạng gian lận bảo hiểm sẽ làm giảm thất thoát do bồi thường không hợp lý; qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh của công ty nói chung và của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    II.               TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Bảo hiểm là ngành dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới là ngành được mệnh danh là “gà đẻ chứng vàng” vì nhưng lợi ích của bảo hiểm mang lại thì không ai có thể phủ nhận. Nhưng nó cũng đang ph ải đối mặt v ới nhiều nhân tố cản trở trên con đườ ng phát triển của mình, một trong số đó là việc gian lận củ a ng ười được bảo hiểm. Có thể khẳng định r ằng tất cả các công ty bảo hiểm trên thế giới và ở Việt Nam đều đã, đang và sẽ tiếp tục gánh chịu hậu quả của những hành vi tr ục lợi bảo hi ểm. Theo thống kê của hi ệp hộ i bảo hiểm Châu Âu, hàng năm các công ty bảo hiểm thiệt hại không dưới 10 tỷ USD do s ự gian lận của khách hàng và chiếm khoảng 2,5% doanh thu của các Công ty bảo hiểm.

    Cũng như các công ty b ảo hiểm khác, Pjico đang phải đố i mặ t với sự gia tăng về số lượ ng cũ ng như tính chất nghiêm trọng của các vụ trục lợi. Cụ thể ta xem xét bảng sau:

    Bảng 11:Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico giai đoạn 2000-2004.

    Stt Chỉ tiêu Đơn 2000 2001 2002 2003 2004
    vị
    1 Số vụ khiếu nại đòi   2358 2948 3861 3856 4217
      giải quyết bồi thường Vụ
    2              
      Số vụ nghi ngờ Vụ 105 164 193 214 243
    3 Tổng số vụ chấp nhận            
        2326 2900 3808 3792 4142
      bồi thường (1- 4) Tr.đ
    4 Số vụ phát hiện trục            
      Vụ 32 48 53 64 75
      lợi
    5 Tổng số tiền từ chối            
      bồi thường do gian Tr.đ 270 450 903 926 1106
      lận
    6 Số tiền từ chối bồi            
      thường bình quân/vụ   8,4 9,4 17 15,4 16,6
      (5/4) Tr.đ
    7 Số tiền bồi thường            
        16654 26643 40918 44379 52128
      thực tế Tr.đ
    8 Số vụ nghi ngờ/hồ sơ            
      % 4,5 3,9 3,4 5,5 5,8
      khiếu nại (2/1)
    9 Số vụ phát hiện/số vụ            
      % 30,5 29,1 27,4 29,9 30,86
      nghi ngờ (4/2)_

    (Nguồn:   Công      ty

    Pjico)

    Phân tích bảng số liệu trên cho ta thấy:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Số vụ khiếu nại đòi bồi thường tăng mạnh trong các năm từ 2000 đến 2004 (từ 2358 vụ lên 4216 vụ) nên số tiền bồi thường hàng năm của Pjico cũng tăng (từ 16654 triệu đồng đến 52128 triệu đồng).
    • Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm liên tục tăng: Năm 2000 là 32 vụ đến năm 2001 là 48, năm 2002 là 53, năm 2003 là 64 và năm 2004 là 75. Điều này cho thấy số lượng những vụ trục lợi bảo hiểm ngày càng nhiều và hoạt động của ban thanh tra ngày càng mang lại hiệu quả to lớn.
    • Tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm tăng lên nhanh chóng qua các năm, năm 2000 và 2001, lần lượt là 270tr.đ/vụ, 450tr.đ/vụ, ba năm trở lại đây 2002, 2003 và 2004 tổng số tiền từ chối bồi thường do gian lận bảo hiểm lần lượt là 903 triệu đồng; 926 triệu đồng và 1106 triệu đồng. Điều này cho thấy chiều hướng trục lợi bảo hiểm gia tăng, cả về số lượng và quy mô trục lợi bảo hiểm với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Ở đây chúng ta phải mạnh dạn đặt ra câu hỏi có sự tiếp tay của các nhân viên trong ngành bảo hiểm hay không?
    • Thêm vào đó, tỷ lệ phát hiện trục lợi / số vụ nghi ngờ năm 2000, 2003, 2004 lần lượt là 30,5%; 29,9%; 30,86%. Tỷ lệ này giảm xuống trong hai năm 2001 và 2002 (năm 2001 là 29,1%; năm 2002 là 27,4%) và ngày càng có chiều hướng ổn định. Chứng tỏ là hành vi trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng tinh vi hơn, đa dạng hơn và đặc biệt trục lợi bảo hiểm ngày càng có tổ chức hơn.

    Trong các hình thức trục lợi bảo hiểm thì đối tượng chỉ nhắm vào những hình thức phổ biến mà công ty thường hay sơ hở cũng như ít nghi ngờ.

    Cụ thể ta xem xét bảng số vụ trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức:

    Bảng 12: Số vụ phát hiện trục lợi bảo hiểm chia theo hình thức tại Pjico giai đoạn 2000-2004 (Đơn
    Vị: Vụ)              
    STT Các hình thức trục lợi 2000 2001 2002 2003   2004
      bảo hiểm            
    1 Hợp lý hoá ngày giờ tai 15 22 26 30   34
      nạn và hiệu lực bảo hiểm            
                   
    2 Thay đổi tình tiết vụ 7 11 12 14   16
      tai nạn            
    3 Lập hồ sơ hiện 3 5 5 7   9
      trường giả            
    4 Khai tăng số tiền tổn 6 9 10 12   15
      thất            
                   
    5 Lập hồ sơ khiếu nại 1 1 1   1
      nhiều lần            

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.     Phạm Minh Nguyên- BH43a.
                       
    6 Cố ý gây tai nạn      
                       
    7 Cộng: 32 48   53   64   75
                       
              (Nguồn: công ty
              Pjico)      

    Nhìn vào số liệu b ảng trên ta thấy, trong 6 hình thức trục lợi b ảo hi ểm cơ b ản thường thì khách hàng của công ty sử dụng 4 hình th ức phổ biến là: hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu l ực bảo hiểm; thay đổi tình tiết vụ tai nạn; lập hồ s ơ hiện trường giả và khai tăng số tiền tổ n thất; hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần có được sử d ụng nhưng rất ít; còn hình thức cố ý gây tai nạn chưa từng xuất hiện tại công ty Pjico.

    III.            BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ XỬ LÝ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    1. Những dấu hiệu nghi vấn có gian lận bảo hiểm xe cơ giới.

    Cũng như các vụ án hình sự, các v ụ gian lận bảo hiểm xe cơ giới dù được chuẩ n bị công phu đến đâu cũ ng để lại những sơ hở gây nghi vấn. Và ngườ i làm bảo hiểm nếu nắm vững được các biểu hiện nghi vấn này sẽ dễ dàng hơn trong việc điều tra. Sau đây là những dấu hiệu cần đặt nghi vấn đã được tổng kết qua thực tiễn tại công ty Pjico:

    • Tai nạn xảy ra trong vòng 01 tháng kể từ ngày hết hạn hoặc bắt đầu có hiệu lực bảo hiểm.
    • Tai nạn xảy ra, giải quyết xong mới thông báo cho công ty bảo hiểm

    biết.

    • Tai nạn xảy ra ban đêm, nơi hoang vắng, không có người chứng kiến hoặc dân xung quanh.
    • Xe tư nhân, xe của chủ xe có nhiều xe chưa tham gia bảo hiểm thân xe, xe đăng ký từ tỉnh khác đến yêu cầu bảo hiểm thân xe với giá trị cao.
    • Xe được bảo hiểm thân xe riêng ngoài giấy chứng nhận bảo hiểm

    TNDS.

    • Chủ xe đến tham gia bảo hiểm vật chất xe nhưng không mang theo xe, không có giấy chứng nhận bảo hiểm cũ hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm cũ không tham gia bảo hiểm vật chất thân xe.
    • Hồ sơ tai nạn có hiện tượng tẩy xoá ngày tai nạn, ngày hiệu lực của bằng lái, giấy phép lưu hành, giấy phép lái xe, nguyên nhân tai nạn, tổn thất, số tiền đền bù …

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Trong hồ sơ tai nạn, có ghi hoặc có biểu hiện có xe thứ ba liên quan nhưng không để lại việc giải quyết liên quan, không để lại địa chỉ của xe khác.
    • Xe bị thiệt hại nặng hoặc toàn bộ tham gia bảo hiểm cao hơn giá trị thực tế thị trường.
    • Xe bị thiệt hại nặng (cháy xe, đổ xe xuống vực…) nhưng người lái xe hoặc người trên xe không bị thương.
    • Chủ xe đề nghị người bán bảo hiểm ghi giúp họ lùi ngày cấp ấn chỉ vì những lý do mà họ đưa ra như tránh bị Công an phạt, hợp lý hoá giấy tờ lưu hành, để chứng minh với chủ hàng là trước đó đã tham gia bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá chuyên chở trên xe…

    2.                 Các hình thức gian lận và biện pháp phát hiện, xử lý trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

    1. Hình thức hợp lý hoá ngày giờ tai nạn và hiệu lực bảo hiểm:

    Để hợp lý hoá ngày hiệu lực của gi ấy chứng nhận bảo hiểm, người khiếu nại gian lận thường làm theo hai cách sau:

    Cách thứ nhất: Ghi lùi ngày hoặc tiến ngày xảy ra tai nạn.

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi:

    • Trường hợp bị tai nạn rồi mới tham gia bảo hiểm: Trong hồ sơ ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi sau so với ngày bị tai nạn thực tế.
    • Trường thợp bị tai nạn khi đã hết hạn hợp đồng bảo hiểm: Trong hồ sơ tai nạn, ngày xảy ra tai nạn sẽ được ghi trước so với ngày bị tai nạn thực tế.

    Trong cả hai trường hợp trên người trục lợi bảo hiểm thường thông đồng với nhân viên của các cơ quan chức năng để ghi sai ngày xảy ra tai nạn trong các biên bản tai nạn.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ hi ện tượng trên thì phải kiểm tra lại giấy chứng nhận bảo hi ểm xem có h ợp lý không. Nếu đã hợp lý thì việc giám định chủ yếu dựa vào việc xác minh hiện trường cùng lời khai của nhân ch ứng để xác định đúng ngày xảy ra tai nạn bao gồm các công việc cụ thể sau:

    • Xác minh hiện trường: xem xét dấu vết trên địa bàn và nơi xảy ra tai nạn có phù hợp vời lời khai của lái xe, chủ xe hay không?

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Xác minh dựa trên lời khai của nhân chứng, người dân xung quanh nơi xảy ra tai nạn.
    • Xác minh qua các đối tượng liên quan trong vụ tai nạn: người trên xe bị thương đến mức độ nào, người thứ ba bị thiệt hại (được đưa đi cấp cứu ở đâu, vào lúc nào, tại bệnh viện nào…).
    • Xác minh lại hành trình của xe: ngày đi, các điểm dừng xe, đã dừng để bốc dỡ hay chở hàng ở đâu …

    Sau đó phải đặt các chi tiết xác minh được xem có lôgic, hợp lý về mặt thời gian cũng như lời khai của chủ xe để đưa ra nhận định cuối cùng.

    Nếu phát hiện ra hành vi trục lợi bảo hiểm này thì trước hết người được bảo hiểm sẽ không được nhận được tiền bồi thường; tuỳ theo số tiền có

    • định chiếm đoạt mà công ty bảo hiểm có biện pháp xửa lý thích hợp; nhẹ thì hoà giải; nặng có thể bị truy tố trước pháp luật. Còn nhân viên bảo hiểm do lỗi vô tình hay cố ý ghi sai mà phải chịu trách nhiệm trước hành vi của mình; nhẹ thì bị kiểm điểm, khiển trách; nặng thì bị thôi việc và kết tội đồng phạm.

    Cách thứ hai: Ghi lùi ngày bảo hiểm.

    Hành vi: Người khiếu nạn gian lận thông đồng với người bán bảo hiểm ghi lùi ngày bán bảo hiểm trở về trước so với ngày đến mua và làm thủ tục bảo hiểm.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý: Lỗi này thuộc lỗi chủ quan, quản lý nội bộ của công ty đối với người bán bảo hiểm như nhân viên khai thác, đại lý, cộng tác viên, do vậy việc quản lý người bán bảo hiểm là nhiệm vụ chính. Muốn vậy:

    • Phải tổ chức đầu mối quản lý, theo dõi kiểm tra các đại lý thường xuyên, luôn nhắc nhở đại lý tuân thủ quy trình nghiệp vụ, lưu ý người bán bảo hiểm người khiếu lại gian lận thường tìm nhiều lý do để lừa người bán bảo hiểm chấp nhận ghi lùi ngày bảo hiểm (như lý do để hợp thức hoá giấy tờ lưu hành, tránh bị Công an phạt …).
    • Khi có người yêu cầu ghi lùi ngày bảo hiểm thì nhân viên khai thác phải tìm cách ghi lại số xe, báo về công ty để có biện pháp ngăn chặn trên toàn tuyến (thông báo cho các điểm bán bảo hiểm khác, thông báo cho bảo hiểm tỉnh bạn, chú ý khi xét duyệt bồi thường …).
    • Khi đã xảy ra việc bán bảo hiểm ghì lùi ngày bảo hiểm, cán bộ quản

    lý phải:

    . Kiểm tra kỹ giấy chứng nhận, cuống lưu, hoá đơn (nếu có).

    . Yêu cầu người bán bảo hiểm tường trình lại sự việc.

    . Có biện pháp xử lý ngay đối với người bán bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Nếu phát hiện ra trường hợp này thì người được bảo hiểm sẽ không được bồi thường đồng thời người bán bảo hiểm có thể bị kết tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà Nước tại Điều 144 BộLuật Hình Sự nước Cộng hoà xã hội củ nghĩa Việt Nam.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe ôtô mang biển kiểm soát 35M – 5556 ngày 17/11/1998 bị đâm vào dải phân cách km 9 + 824 quốc lộ 5A, giấy chứng nhận bảo hiểm được mua tại Pjico vào ngày 13/11/1998. Cán bộ công ty đã đặt dấu hiệu nghi ngờ chiếc xe này vừa tham gia bảo hiểm nên ngay lập tức cử cán bộ xuống hiện trường điều tra. Sự việc được làm sáng tỏ thì ra chiếc xe này đã bị tai nạn từ ngày 11/11/1998, công ty đã từ chối trả tiền bồi thường 20,75 triệu đồng với lý do tai nạn nằm ngoài thời hạn bảo hiểm.

     

    • Hoặc vụ tai nạn của ôtô mang biển kiểm soát 22A – 8899 xảy ra lúc 9 giờ 45 phút ngày 09/08/1997 thiệt hại 44 triệu đồng nhưng đến 14 giờ cùng ngày mới mua bảo hiểm tại Pjico. Hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông khám nghiệm hiện trường ghi lùi vào ngày 12/08/1997.
    • Gần đây nhất là vụ tai nạn của xe ôtô mang biển số 29M-3344 của công ty TNHH Tân Hoàng Yến thiệt hại 43 triệu đồng, tai nạn xảy ra vào ngày 7/12/2004 và tai nạn xảy ra mới mua bảo hiểm tại Pjico hồ sơ tai nạn được cảnh sát giao thông ghi lùi vào ngày 11/02/2002.
    1. Hình thức thay đổi tình tiết trong vụ tai nạn:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Thay đổi lỗi, thay đổi nguyên nhân trong vụ tai nạn.
    • Sửa chữa hiệu lực bằng lái (do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái).
    • Sửa chữa hiệu lực giấy phép lưu hành xe (do hết hạn).
    • Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp lệ (tai nạn do người lái xe không có bằng lái hoặc bằng lái không hợp lệ).

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Đọc kỹ lời khai của lái xe, biên bản khám nghiệm hiện trường, hồ sơ hiện trường để phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Đối chiếu bản gốc của các loại giấy tờ trên như giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành xe …
    • Trường hợp hồ sơ không có dấu hiệu sửa chữa thì có thể tìm cách đối chiếu bản gốc hồ sơ tai nạn tại cơ quan chức năng lập biên bản nếu khó khăn có thể nhờ sự giúp đỡ của cơ quan cấp trên.
    • Trường hợp này nếu bị phát hiện thì trước hết người được bảo hiểm cũng không được nhận tiền bồi thường. Tuỳ theo số tiền định chiếm đoạt mà sẽ bị truy tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp xe ôtô 15 chỗ ngồi mang biển số 19M- 4455 do lái xe Hoàng Mạnh Tân điều khiển gây tai nạn ngày 18/11/1999 gây thiệt hại cho người thứ ba lên đến 60 triệu đồng. Sau khi chủ xe có khiếu nại, công ty Pjico đã thụ lý hồ sơ và xác định lái xe không có giấy phép lái xe hợp lệ, chỉ có giấy phép lái xe loại xe ôtô chở tối đa 9 chỗ ngồi nhưng anh ta đã lợi dụng giấy phép lái xe có mặt trước mang tên Hoàng Mạnh Tân còn mặt sau ghi loại xe được phép lái là ôtô chở từ 25 đến 30 chỗ. Sau khi giám định, Pjico đã từ chối bồi thường với lý do tổn thất nằm ngoài phạm vi bảo hiểm.

    Hành vi gian lận rất khó phát hiện trong trường hợp người gian lận không trung thực đã thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn hay thay đổi người lái xe hợp lệ. Vì khi tham gia giao thông thì chỉ những người trên xe mới biết điều gì xảy ra với chiếc xe của mình. Khi tai nạn xảy ra họ khai báo những gì không đúng thực tế thì khó mà biết được.

    • Xe máy 29K- 4576 đến khiếu nại bồi thường bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội vào ngày 16/08/2003 nhưng qua xác minh của công ty Pjico thì nạn nhân bị tai nạn không phải là người điều khiển xe máy trên.
    1. Hình thức lập hồ sơ hiện trường giả:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Đưa xe từ nơi tai nạn đến nơi khác để lập biên bản.
    • Thay đổi biển số xe không bị tai nạn đã mua bảo hiểm vào xe bị tai nạn chưa mua bảo hiểm để chụp ảnh, khám nghiệm, lập biên bản.

    Các biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Bằng giác quan để điều tra các vết tích trên hiện trường xem có phải là lái xe đã bị tai nạn ở đó hay không.
    • Đối chiếu biển số xe với số khung, số máy để xác định xem xe đang nằm trên hiện trường có phải đã được tham gia bảo hiểm hay không.
    • Hình thức này muốn làm được phải có sự “giúp đỡ” của các cơ quan chức năng do vậy rất khó phát hiện. Nếu bị pháp hiện thì người được bảo hiểm sẽ không nhận được một đồng tiền bồi thường nào mà còn bị cáo buộc liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức tại Điều 139 Bộ Luật Hình S ự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Hình thức khai tăng số tiền tổn thất:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Bảo hiểm TNDS: Khai tăng số tiền tổn thất hoặc số tiền phải bồi thường cho người thứ ba, đưa tài sản hoặc hàng hoá hư hỏng (bảo hiểm TNDS đối với hàng hoá) không do tai nạn vào hiện trường.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    – Bảo hiểm vật chất thân xe:

    . Đưa báo giá sửa chữa cao hơn so với th ực tế, thúc ép Pjico chấp nhận phương án khắc phục hậu quả tai nạn bất hợp lý (thiệt hại bộ phận nhẹ nhưng đòi thay mới).

    . Không thiệt hại, không sửa chữa nhưng cũng kê khai, đưa vào hợp đồng sửa chữa.

    . S ửa chữa thay th ế cả những bộ phận hư hỏng không do tai nạn, hoặc bị tai nạn từ trước khi tham gia bảo hiểm.

    . Thay thế những vật tư cũ, chế lại… nhưng kê khai thay vật tư

    mới.

    . Lấy cắp phụ tùng xe (kính, gương…), tài sản, hàng hoá chở trên xe thay vào đó đồ đã hư hỏng.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải giám định trực tiếp trong thời gian sớm nhất (giám định sơ bộ, giám định chi tiết).
    • Phải theo dõi thường xuyên trong quá trình sửa chữa.
    • Chú ý công tác nghiệm thu sửa chữa (bộ phận hư hỏng thực tế đã sửa chữa, thay thế đúng chủng loại, chất lượng…).
    • Những bộ phận thay thế, thu hồi phải được quản lý chặt chẽ, tránh hiện tượng quay vòng sửa chữa đòi tiền bồi thường.
    • Hợp tác tốt với xưởng sửa chữa nhưng phải có thái độ độc lập, kiên

    quyết.

    • Hình thức này rất dễ thực hiện vì thế rất dễ phát hiện. Công ty nên có sẵn những bảng báo giá cụ thể, từng loại thiết bị, cho từng loại xe của từng hãng đồng thời trong đội ngũ giám định nên có một thợ máy.
    • Nếu phát hiện ra hình thức gian lận này có thể giải quyết theo nguyên tắc hoà giải, êm thấm, khi có những bằng chứng, chứng minh khách hành trục lợi để giữa khách hàng tránh chuyện bé xé ra to. Nhưng khách hàng một mực không chịu nhận thì phải áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cho khách hàng thấy được hành vi gian lận của mình và không chấp nhận bồi thường.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Xe 29N- 5338 của công ty TNHH Song Ánh Nguyệt, lúc 8 giờ 30 ngày 13/06/2002 khi xe đang đi trên đường vào khu Nghĩa Tân thì bị va vào bức tường do trách người qua đường gây thiệt hại: vỡ đèn xi nhan bên phải, sước sơn cửa sau xe bên phải, rơi nẹp cửa sau xe và xây xát hông bên phải, bồi thường thực tế là 11.812.000 đồng nhưng chủ xe đã làm hồ sơ yêu cầu bồi thường đến công ty Pjico Hà Nội với số tiền lên tới 30 triệu đồng.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Bên cạnh đó, việc khai tăng số tiền tổn thất bằng cách thông đồng với bác sĩ để khai tăng bệnh án hay nội dung trong đơn thuốc thì rất khó phát hiện.
    • Trường hợp tai nạn ở Đông Anh Hà Nội là một ví dụ điển hình. Chiếc xe môtô mang biển kiểm soát 29K-1122 do chủ xe Nguyễn Trọng Ân điều khiển tham gia bảo hiểm người ngồi trên xe tại Pjico Hà Nội với mức trách nhiệm 10 triệu đồng/ vụ. Ngày 14/5/2002 do phóng nhanh ông Ân đã không làm chủ được tốc độ đã đâm vào người đi phía trước làm xe đổ lên người, ông Ân đã được đưa vào Bệnh Viện Giao Thông Vận Tải để điều trị. Nghiên cứu hồ sơ, cán bộ Pjico Hà Nội được biết ông Ân bị gãy xương bàn chân và sương sườn nằm điều trị hai đợt. Để làm rõ Pjico Hà Nội đã kiểm tra bằng cách đưa ông Ân đi chụp X- quang tại Bệnh Viện Việt Đức. Kết quả cho thấy ông Thư chỉ bị thương nhẹ và cuối cùng sự việc được làm sáng tỏ thì ra ông Ân đã thông đồng với nhân viên Bệnh Viện để có tấm phim X-quang bị gãy xương bàn chân và xương sườn mang tên ông Nguyễn Trọng Ân. Pjico Hà Nội đã từ chối bồi thường phần gãy xương bàn chân và xương sườn và chỉ bồi thường 3.7 triệu đồng theo chế độ bồi thường của người ngồi trên xe.
    1. Hình thức lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần:

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau:

    • Chủ xe mua bảo hiểm trùng (mua từ 2 Công ty trở lên), khi xảy ra tai nạn xe đó đã được một công ty bảo hiểm bồi thường nhưng vẫn tiếp tục đòi bồi thường ở công ty bảo hiểm khác mà xe đó cũng tham gia bảo hiểm.
    • Hai xe đâm nhau, chủ xe đã được xe khác bồi thường nhưng vấn tiếp tục khiếu nại bồi thường về tai nạn dân sự đối với công ty bảo hiểm.
    • Hai xe cùng có lỗi gây ra tai nạn cho người thứ ba, cả hai xe đều thông đồng với cảnh sát lập hồ sơ cùng quy lỗi toàn bộ thuộc về mỗi xe để được bồi thường về TNDS.

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

    • Phải tìm bằng được xe liên quan trong vụ tai nạn để xác định được việc bồi thường của xe khác đối với người thứ ba hoặc bồi thường cho xe được bảo hiểm.
    • Khi xe được đăng ký tại tỉnh khác thì nhất thiết phải thông báo với công ty bảo hiểm tại tỉnh xe đó đăng ký và chỉ giải quyết bồi thường khi đã có thông tin xác nhận của đơn vị bạn.
    • Hình thức này rất dễ phát hiện nếu như các công ty có những thông tin về nhau, nhưng do cạnh tranh các công ty phải bảo mật thông tin đây là kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. Vì thế, để hạn chế được hình thức này các công ty cố gắng xây dựng quan hệ hoà hữu tốt đẹp, canh tranh lành mạnh ít

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    nh ất cũng công khai những thông tin về số vụ tổn thất đã bồi thường để công ty bạn biết và xử lý.

    • Nếu phát hiện ra hình thức trục lợi này thì phải cương quyết không bồi thường và tìm ra những bằng chứng, chứng minh hành vi gian dối của khách hàng để khách hàng thấy được hoạt động bảo hiểm rất quy mô và chặt chẽ.

    Dưới đây là một vài ví dụ điển hình:

    • Trường hợp có sự tiếp tay của cán bộ Pjico Tuyên Quang trong vụ tai nạn xảy ra ngày 24/01/2003 tại km 8+ 277 Tuyên Quang- Thái Nguyên. Chiếc xe ôtô mang biển kiểm soát 29LD- 1002 của công ty thức ăn chăn nuôi gia súc Con Cò đã tham gia bảo hiểm vật chất và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại công ty Pjico Hà Nội, còn xe ôtô 22H-4344 tham gia bảo hiểm vật chất tại Pjico Tuyên Quang. Ngày 24/01/2001 do không làm chủ được tốc độ xe 29LD- 1002 đã quyệt vào xe đi ngược chiều làm thiệt hại vật chất ước tính 13.876.000 đồng.

    Theo bản kết luận điều tra của cảnh sát giao thông thì lỗi 100% thuộc về xe 29LD- 1002. Sau tai nạn, chủ xe đã báo cho Pjico tỉnh Tuyên Quang tiến hành giám định. Vì lỗi 100% thuộc về xe 29LD-1002 nên sau khi giám định, Pjico Tuyên Quang phải thông báo bằng văn bản cho Pjico Hà Nội để tiến hành giải quyết bồi thường TNDS của chủ xe 29LD-1002 và Pjico Tuyên Quang không được phép bồi thường bất kỳ một khoản nào, trừ khi có yêu cầu chi hộ của Pjico Hà Nội. Nhưng do có sự thông đồng giữa chủ xe 22H- 4344 với cán bộ Pjico Tuyên Quang nên Pjico Tuyên Quang đã tiến hành bồi thường vật chất cho chủ xe 22H- 4344 với số tiền 13.876.000 đồng. Sau đó chủ xe mang hồ sơ về Pjico Hà Nội để đòi bồi thường TNDS.

    Như vậy, nếu Pjico Hà Nội tiếp tục bồi thường về TNDS cho chủ xe 29LD- 1002 thì xe 22H- 4344 sẽ nhận được hai lần số tiền bồi thường (bồi thường về TNDS và bồi thường về vật chất xe) tức là nhận được số tiền bồi thường lớn hơn số tổn thất thực tế, điều này nằm ngoài nguyên tắc của bảo hiểm.

    1. Hình thức cố ý gây tai nạn: Nếu cán bộ bảo hiểm nghi ngờ có hiện tượng cố ý gây tai nạn thì cần phải có biện pháp xử lý thích hợp vì đây là hiện tượng gian lận ít gặp nhưng lại nghiêm trọng nhất và cũng khó phát hiện nhất.

     

    Trường hợp này thường được thể hiện qua các hành vi sau: Đốt xe, cho xe lao xuống vực, huỷ toàn bộ xe, khi xe đã bị tai nạn thì phá huỷ một số bộ phận khác để được thay thế mới.

     

    Biện pháp ngăn chặn và xử lý:

     

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Lập phương án điều tra tỉ mỉ, nhiều hướng, đặc biệt chú ý đến công việc lấy lời khai nhân chứng, người biết sự việc liên quan và phân tích tình huống xảy ra tai nạn.
    • Ngoài phương án điều tra độc lập cần tranh thủ và huy động sự giúp đỡ của cơ quan điều tra chuyên môn như cảnh sát điều tra, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Viện khoa học hình sự…
    • Nhiều trường hợp cố ý gian lận xuất phát từ việc được bảo hiểm với giá trị cao nên việc xác định đúng giá trị thực tế của xe trước khi tham gia bảo hiểm là điều hết sức cần thiết: xác định qua nguồn gốc xe, hồ sơ gốc khi đăng ký xe (có đánh giá giá trị khi nộp thuế trước bạ…), xác định nơi sửa chữa qua các lần sửa chữa, nâng cấp… để xác định giá trị tăng thêm.
    • Trong quá trình điều tra các nghi ngờ trục lợi bảo hiểm cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

    . Khẩn trương nhanh chóng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết tai nạn.

    . Không để khách hàng biết kế hoạch, phương án điều tra vì công việc điều tra là do sự nghi ngờ của người làm bảo hiểm. Do vậy, nếu nghi ngờ sai sẽ làm mất lòng khách hàng có thể xảy ra tranh chấp không đáng có. Còn nếu nghi ngờ đúng thì sẽ dẫn đến hiện tượng “đánh rắn động cỏ”, “bứt dây động rừng”, khách hàng sẽ có điều kiện để chuẩn bị cho các tình tiết mới làm cho công việc điều tra trở lên khó khăn.

    . Kết quả điều tra phải được ghi nhận bằng những biên bản xác nhận hoặc các tài liệu làm chứng cứ đấu tranh với người trục lợi bảo hiểm.

    • Hình thức này được xử lý theo Điều 578 Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Luật có ghi rõ:

    . “Bên được bảo hiểm có nghĩa vụ tuân thủ các điều kiện ghi trong hợp đồng, các quy định pháp luật có liên quan và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại”.

    . “Trong trường hợp bên được bảo hiểm có lỗi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại đã ghi trong hợp đồng, thì bên bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn mà các biện pháp phòng ngừa vẫn không được thực hiện, thì bên bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc không trả tiền bảo hiểm khi thiệt hại xảy ra do các biện pháp phòng ngừa không được thực”.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Chương III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY PJICO.

    Để đối phó v ới tình trạng trục lợi bảo hiểm nói chung, trục lợi bảo hiểm xe c ơ giới nói riêng đang gia tăng, ngày một tinh vi hơn dẫn đến nguy cơ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp cũng như đối với xã hội. Công ty Pjico đã có những biện pháp phòng chống thiết thực, huy độ ng nguồn nội lực cũng như sự giúp đỡ của các ngành, các cấp và đã thu được một số kết quả nh ất đị nh. Tuy nhiên để công tác này thực sự đem lại hi ệu quả cao hơn trong thời gian tới, Công ty cần phải tiếp tục tăng cường các biện pháp đồng bộ mang tính khả thi cao.

    Qua thời gian thực tậ p tại Công ty, nghiên cứu thực tế vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    I. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC.

    1.     Cần sớm hoàn chỉnh hành lang pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

    Xuất phát từ đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp b ảo hiểm thương mại và luôn gắn liền với các trách nhiệm b ảo vệ hàng ngàn tổ chức, hàng triệu cá nhân trước các rủi ro và thiệt hại kinh tế cũng nh ư các cơ hội tiết kiệm và đầu tư. Vì thế sự bảo đảm kh ả năng tài chính của công ty bảo hiểm có ý nghĩa hết s ức quan trọng đối với nhiều cá nhân, tổ chức. Cùng với s ự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội, công ty bảo hiểm ngày càng đóng một vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ l ợi ích cộng đồng. Mà trục lợi bảo hiểm lại ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động tài chính của công ty.

    Mỗi quốc gia đều thiết lập một cơ quan chuyên trách của Nhà n ước quản lý hoạt độ ng kinh doanh bảo hiể m, có thể gọi là cơ quan giám sát bảo hiểm Nhà nước hoặ c cơ quan Qu ản lý bảo hiể m. Cơ quan này có trách nhiện bảo đảm hoạt động củ a các công ty bảo hiểm tuân thủ theo đúng nh ững quy định của pháp luật và các quy định khác có liên quan của quốc gia. Đố i với Việt Nam, quản lý Nhà Nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua:

    • Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.
    • Bộ tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý Nhà Nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000, song việc áp dụng vào thực tế rất chậm chạm, chưa tạo được môi trường pháp lý toàn diện, đầy đủ, vững chắc, chưa tương ứng với tầm vóc và tiềm năng của thị trường. Do vậy, để lành mạnh hoá thị trường, đảm bảo cạnh tranh công bằng đòi hỏi, các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm phải ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm và có vai trò tích cực trong việc điều tiết thị trường. Nhưng luật kinh doanh bảo hiểm có tới IX chương, 129 điều nhưng lại chưa có chương nào, điều nào đề cập tới vấn đề trục lợi bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    Do vậy, một vấn bức xúc đặt ra là khi các doanh nghiệp bảo hiể m phát hiện ra tr ục lợi thì cũng không biết xử lý thế nào ngoài việc t ừ chối bồi thườ ng. Bởi lẽ, trong các v ăn bản dướ i luật từ trước đến nay củ a Chính ph ủ, Bộ tài chính, Bộ công an cũng chưa có văn bản nào quy định về việc xử phạt đối với các đối tượng gian lận bảo hiểm. Vì v ậy trong thời gian tới, Chính Phủ cần phải ban hành một văn bản dưới luật quy định về tội danh này. Trong văn bản đó phải quy định chi tiết số ti ền gian lận bao nhiêu là bị xử phạt hành chính, bao nhiêu là bị xử tù. Đồng thời phải có thông tư hướng dẫn các Bộ, các ngành có liên quan trong việc thực hiện nhằm bảo đảm tính thực thi của văn bản đó.

    2.     Bộ tài chính cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện các quy tắc về bảo hiểm nói chung và vấn đề trục lợi bảo hiểm xe cơ giới nói riêng.

    Bộ tài chính và các cơ quan chức năng phải có h ướng triển khai triệt để, ngăn chặn khiếu nại gian lận trong bảo hiểm ở nước ta. B ộ tài chính cần thành lập một ban thanh tra độc lập để ngăn chặn hành vi tiêu cực củ a các cơ quan thực hiện pháp luật như cảnh sát giao thông, Viện ki ểm sát… để đảm bảo quyền lợi của các đơn vị cá nhân trong hoạt động b ảo hiểm. Ban thanh tra còn có th ể trợ giúp các công ty bảo hiểm trong những vụ gian lận có thiệt hại lớn, tính chất, mức độ phạm pháp nguy hiểm có tính tổ chức. Đồ ng thời tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn hay dài hạn cả trong việc hợp tác với các n ước phát triển để đào tạo nâng cao trình độ, khả năng của các thanh tra viên, giám định viên cũng như truyền đạt các thông tin nhanh chóng trong các công ty trên phạm vi toàn quốc.

    Bộ tài chính cần có văn bản yêu cầu sự giúp đỡ của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với cơ quan bảo hiểm để hạn chế việc gian lận bảo hi ểm, xử lý nghiêm những nhân viên tiếp tay cho hành vi gian lận (Ví dụ: Bộ y tế cần có biện pháp xử lý đối với trường h ợp bác sỹ thông đồng với ng ười tham gia bảo hiểm để kê tăng bệnh án cũ ng như đơn thu ốc…) hay cần có biện pháp để kiể m tra xử lý đối v ới tr ường h ợp xe tham gia giao thông nhưng không tham gia bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới.

    3.     Bộ Công an phải đi tiên phong trong việc tấn công các đối tượng phạm tội trong ngành bảo hiểm.

     

    Bộ Công an là cơ quan có hoạt động g ắn bó bảo hiểm nhất. Bộ cần phối hợp với Bộ Tài chính

    mật thiết với các cơ quan để giảm bớt các hành vi

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    gian l ận bảo hiểm. Cụ thể, Bộ phải nhắc nhở các chiến sĩ Cảnh sát giao thông tăng cường ki ểm tra các giấy bảo hiểm bắt buộc của xe cơ giới như bảo hiểm TNDS của chủ xe, b ảo hiểm tai nạn hành khách. Việc tham gia đầy đủ các loại hình bảo hiểm bắt buộ c cũng sẽ hạn chế được tình trạng trục lợi. Bên cạnh đó, Bộ cần tăng cường nhắc nh ở phổ biến các hình thức trục lợi bảo hiểm đối với các nhân viên điều tra. Ngoài ra trong thời gian tới, Bộ Công an nên đưa công tác qu ản lý xe cơ giới và mạng vi tính toàn quốc. Điều này sẽ giúp cho các nhà bảo hiểm thu ận tiện h ơn khi kiểm tra lý lịch của chiếc xe tham gia bảo hi ểm. Đồng thời Bộ cũng nên lập danh sách các đối tượng đã có tiền sự trong việc trục lợi bảo hiểm gửi tới các Công ty bảo hiểm để đề phòng.

    Trong công tác đấu tranh chống tội phạm và trật tự an toàn xã hội chúng ta đã có số điện thoại nóng 113 (CSCĐ) được cả xã hội ủng hộ. Vậy tại sao trong công tác chống tham nhũng, mua chuộc cán b ộ và gian lận kinh tế chúng ta không thành lập mộ t đường dây nóng tương tự mà khi gọi đến số này chỉ vài phút sau lực lượng chuyên môn đã có mặt bắt quả tang và giải quyết kịp th ời nh ững hành vi gian dối lừa đảo. Điều này giải thích tại sao trong những năm v ừa qua chúng ta liên tục tuyên truy ền, phát động tuần lễ an toàn giao thông, tháng an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông lại cứ tăng, điều chớ trêu thay trong những tháng phát động tai nạn giao thông lại cao hơn những tháng không phát động.

    Một điều n ữa mà chúng ta không thể không nói đến hi ện nay, bên cạnh những chiến sỹ công an hết lòng với công việc để canh giữ sự bình yên cho xã hội là tình trạng tha hoá, biến chất về đạo đức củ a một bộ phận cán bộ trong ngành Công an. Ngành Công an là ngành dọc lại có công việc chính là điều tra, thanh tra, kiể m tra những ngành khác, cũng như mọi hoạt động trong xã hội. Chính vì lý do đó mà một b ộ phận cán bộ trong ngành cứ nghĩ một tay có thể che cả bầu trời chạy theo đồng tiền làm những việc tày tr ời. Bằng chứng trong những n ăm vừa qua chúng ta liên tục phát hiện những vụ cán bộ công an có chức có quyền buôn bán ma tuý mà nếu không ph ải do ăn chia không đều tố giác lẫn nhau thì chúng ta có thể phát hiện được không? Giả sử , chúng không tố giác lẫn nhau thì đến bao giờ chúng ta mới phát hiện được? và sẽ có bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu con ngườ i bị huỷ hoại tương lai dưới bàn tay của những kẻ mặt người dạ quỷ. Đó là chưa k ể đến hàng năm có bao nhiêu con em cháu cha trong ngành Công an “vượt qua” được cánh cửa các trường đại học, học viện trong ngành như: Đại học an ninh; Học viện kiểm sát; Đạ i học cảnh sát nhân dân… mà đ ó là nh ững trườ ng mơ ứơc của những học sinh nghèo học giỏi ở nh ững miền quê xa xôi, hẻo lánh, để rồi vài năm sau đó, khi ra trường chúng lại là bản sao của bố mẹ

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    chúng. Còn những học sinh nghèo kia chỉ giám nhìn qua cánh cổng trường đại học mà đặt ra những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.

    Một điều mắt thấy tai nghe nữa, chúng ta hãy một lần đi trên những chuyến xe khách về các tỉnh lẻ thì biết. Tại sao, khi công an thổi còi xe dừ ng lại phụ xe ch ạy xuống rồi chạy lên ngay như một phản xạ tự nhiên. Hỏi ra mới biết tiền đã kẹp trong đống giấy tờ đó rồi và công an đâu có quan tâm đến đi ều gì ngoài điều đó. Những ngày thường thì (20.000- 30.000 đồng) những dị p lễ tết xe đ ông thì sẽ cao hơn (50-100.000 đồng) những cán bộ này đang coi mạng sống của những người đi trên xe chỉ đáng giá bằng ấy tiền. Thế mới có chuyện một chiếc xe khách ở Bắc Ninh chở ch ất cháy, nổ trái phép từ Lạng Sơn về t ận Bắc Ninh mà không bị phát hiện cho tới khi xe cháy thì mọi người mới ngã ngửa ra trên xe có ch ất nổ . Ai dám chắc rằ ng đó là l ần đầu tiên chiếc xe đó chở nh ững chất cấm. Vậy một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao lại có những hành vi trên? Nếu không phải do tham ô, tham nhũ ng, tha hoá, biến ch ất từ trên xuống dưới thì một cá nhân có thể giám làm những điều trên hay không?

    Mà ngành bảo hiểm lại phải giải quyết tất cả những hậu quả trên. Đôi khi những h ậu quả đó có lỗi trực tiếp của nh ững cán bộ ngành công an sau đó họ lại là những người lập biên bản, giám định hiện trường (quyền sinh, quyền sát nằm trong tay) liệu họ có giám nh ận lỗi thu ộc về mình hay lại quy hết lỗi thuộc về lái xe và nhà xe thì nhà bảo hiểm chỉ biết bồi thường không giám kêu ai và nhờ ai đi ều tra. Đây là một điều bất cập và cũng là một nguyên nhân gia tăng tình trạng trục lợi bảo hiểm.

    Theo tôi, để giải quyết mâu thuẫn này ngành bảo hiểm phả i liên kết với ngành công an như tay phải và tay trái. Khi có tai nạn, biên bản về vụ tai nạn để bồi thường bảo hiểm phải có xác nhận của đại diện ngành bảo hiểm thì mới có hiệu lực. Muốn nh ư vậy, thì đại diịen ngành bảo hiểm phải có mặt đồng th ời với đại diện ngành công an trong quá trình giám định tai n ạn. Như vậy, tất cả những hành vi gian dối nhằm tr ục lợi bảo hi ểm như: thay đổi tình tiết vụ tai nạn có lợi cho khách hành, khai tăng số tiền tổn thất … sẽ bị phát hiện và ngăn chặm kịp thời.

    II. KIẾN NGHỊ VỚI HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    Từ 10 doanh nghiệp b ảo hi ểm hội viên sáng lập ban đầu khi thành lập năm 1999 gồ m: Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo Long, PV insurance, PJICO, VinaRe, VIA, UIC, PTI và Việt Úc đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã là ngôi nhà chung, thể hiện sự hợp tác liên kết của 21 doanh nghiệp bảo hiểm, cùng với các hội viên tán trợ là các doanh nghiệp môi gi ới bảo hiểm, doanh nghiệp tư vấn giám định bảo hiểm, văn phòng đại diện công ty bảo

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    hiểm nước ngoài và các trườ ng đại học có b ộ môn bảo hi ểm. Nhưng cho đến này hoạt động của Hiệp hội vẫn chưa đ em l ại hiệu quả thiết thực. Do v ậy, trong thời gian tới Hiệp hộ i ph ải phát huy vai trò đoàn kết các Công ty chống lại hiện tượng trục lợi bảo hiểm. Cụ thể là:

    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào việc soạn thảo các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà Nước về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan; góp ý kiến với cơ quan quản lý Nhà nước trong việc nghiên cứu xây dựng chiến lược pháp triển ngành bảo hiểm Việt Nam; thu thập và phản ánh với các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền ý kiến của các hội viên về các vấn đề chính sách, chế độ áp dụng với ngành bảo hiểm; đặc biệt Hiệp hội phải nhanh chóng soạn thảo nột chương trình phòng chống trục lợi bảo hiểm cho tất cả các công ty thành viên trong hội góp phần phát triển bền vững ngành bảo hiểm.
    • Tổ chức diễn đàn phổ cập pháp luật và chủ trương chính sách của Nhà Nước, đặc biệt chú trọng những diễn đàn phổ biến kinh nghiệm phát hiện gian lận bảo hiểm qua thực tiễn thực hiện, góp ý kiến nhằm hoàn thiện các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm và các vấn đề có liên quan.
    • Xây dựng và thông qua nguyên tắc chung và nội dung phối hợp hoạt động giữa các hội viên, chú ý đến công tác phối hợp chống trục lợi bảo hiểm giữa các thành viên; quy chế tự quản nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
    • Đại diện các hội viên tham gia ý kiến vào các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm do Bộ tài chính ban hành. Đặc biệt, là biểu phí bảo hiểm xe cơ giới vì nghiệp vụ này thay đổi theo tốc độ tăng của số lượng xe và tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra. Tổ chức nghiên cứu xây dựng quy tắc, điều khoản, biểu phí của các nghiệp vụ bảo hiểm theo yêu cầu của hội viên dưới hình thức đề tài nghiên cứu khoa học câ.
    • Tổ chức trung tâm thông tin của Hiệp hội theo quy định của pháp luật hiện hành; tiến hành thống kê nghiệp vụ bảo hiểm trong khuôn khổ của Hiệp hội từ đó đề ra các giải pháp cụ thể cho từng nghiệp vụ cũng như đề xuất các biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng trục lợi bảo hiểm từ phía khách hàng.
    • Đánh giá kết quả hoạt động của ngành bảo hiểm; phân tích tác hại của trục lợi bảo hiểm đối với cá nhân, doanh nghiệp và xã hội; đề ra những phương hướng hoạt động của ngành bảo hiểm.
    • Phối hợp hoạt động giữa các hội viên trong việc đào tạo bồi dưỡng tập huấn nghiệp vụ bảo hiểm chú trọng đội ngũ giám định- bồi thường, đào tạo đại lý, cộng tác viên.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    • Tư vấn cho hội viên về tổ chức hoạt động, phát triển kinh doanh cũng như giúp đỡ hội viên trong việc xử lý những trường hợp trục lợi bảo hiểm và các vấn đề khác có liên quan.
    • Nghiên cứu, đề xuất hoặc tham gia ý kiến về các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất chung có liên quan chú ý, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đến các doanh nghiệp bảo hiểm hội viên, phối hợp các hội viên và các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyên truyền hoạt động bảo hiểm trong cả nước để mọi người dân hiểu quỹ bảo hiểm dùng để bồi thường cho những người có khả năng gặp phải cùng một rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi.
    • Hoà giải tranh chấp giữa các hội viên; kiến nghị với các cơ quan chức năng của Nhà Nước về việc xử lý các trường hợp vi phạm phát luật trong lĩnh vực bảo hiểm.
    • Thiết lập các mối quan hệ với các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các đoàn thể có liên quan đến hoạt động của hội xây dựng quan hệ tốt đẹp với ngành có liên quan hệ mật thiết với bảo hiểm như: công an, thanh tra, đầu tư … Quan hệ hợp tác với Hiệp Hội bảo hiểm các nước và tham gia các tổ chức quốc tế theo quy địng của Nhà nứơc.

    Với những biện pháp trên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam sẽ không những nâng cao vai trò, uy tín của mình mà còn tạo cho các công ty thành viên mối quan hệ đoàn kết, sự đồng lòng trong việc chống gian lận bảo hiểm xe cơ giới, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    IV.             KIẾN NGHỊ VỚI CÔNG TY PJICO.

    • Công ty cần tiếp tục mở rộng, tăng cường quan hệ, liên kết với các công ty bảo hiểm khác một cách chặt chẽ, đồng bộ ít nhất là ở công tác ngăn chặn, khiếu nại gian lận không để khách hàng lợi dụng yếu điểm của tình trạng cạnh tranh giành giật khách hàng giữa các công ty mà tiếp tục làm gia tăng khiếu nại gian lận. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Cơ quan Công an, Y tế, các cơ quan giám định trong nước và quốc tế.
    • Thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn các phòng kinh doanh, phòng giám định- bồi thường tuân thủ chặt chẽ quy trình nghiệp vụ. Xử lý nghiêm những cá nhân, tập thể mắc sai phạm trong chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến việc khách hàng lợi dụng nghiệp vụ để trục lợi bảo hiểm. Đặc biệt, Công ty cần thẳng tay xa thải những cán bộ có hành vi tiếp tay cho gian lận.
    • Công ty cần ban hành một quy chế khen thưởng cụ thể đối với nhưng người có công pháp hiện ra trục lợi. Nên chăng trong quy chế này cần quy định cụ thể về tỷ lệ số tiền khen thưởng trên số tiền hòng trục lợi của

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    khách hàng. Việc này sẽ là một động lực khuyết khích tinh thần làm việc của cán bộ giám định. Ngoài ra cũng có thể áp dụng quy chế này đối với những cảnh sát điều tra.

    • Công ty nên có những phòng tiếp khách hàng, lắng nghe ý kiến khách hàng đồng thời giải thích rõ các quy định, quy tắc của Nhà Nước, của công ty cho khách hàng và đối tượng quan tâm về tính nhân đạo, tính chặt chẽ trong hoạt động bảo hiểm, lợi ích của bảo hiểm đối với cá nhân cũng như cộng đồng, giải thích cho họ hiểu quỹ bảo hiểm là quỹ để bồi thường rủi ro chứ không phải là quỹ phúc lợi, để nâng cao nhận thức của họ nhằm hạn chế bớt sự phát sinh tính gian lận nhằm trục lợi từ trong ý nghĩ.

    Đi đôi với biện pháp trên, Công ty cần phải tiếp tục hoàn thiện các khâu củ a quá trình kinh doanh như:

    • Đối với công tác quản lý ấn chỉ:

    . Toàn bộ ấn chỉ các phòng nhận từ công ty đều ph ải vào sổ theo dõi. Riêng đố i với số đem sử dụng phải theo dõi được đối tượ ng sử dụng, thời gian sử dụng và phải có quyết toán. Ấn chỉ xuất dùng sử dụng không hết phải nhập lại kho.

    . Phòng phải cử cán bộ theo dõi và quản lý ấn chỉ, đôn đốc kiểm tra và quyết toán ấn chỉ với đại lý và với công ty.

    . Chỉ được giao cho đại lý nh ững lo ại ấn chỉ được phép giao theo quy định của công ty. Đối v ới những ấn ch ỉ có số tiền lớn thườ ng dễ gây trục lợi, công ty cần hạn chế và quản lý tập chung tại phòng bảo hiểm khu vực hay công ty.

    . Số lượng ấn chỉ giao cho đại lý phải căn cứ theo từng loại ấn ch ỉ và đối tượng làm đại lý. Trong các trườ ng hợp số l ượng lớn hơn 1 công ty cần có các quy định chặt chẽ để tránh các hiện tượng tiêu cực xảy ra.

    . Thời gian quyết toán phải gắn liền v ới việc nộp phí bảo hiểm. Trong thời gian chưa nộp được phí về phòng, đại lý phải thông báo số phí, số đơn bảo hiểm để vào sổ theo dõi tại phòng.

    . Phương thức quyết toán từng tờ. Khi quyết toán ph ải kiểm tra thời gián ghi trên ấn chỉ, tu ần tự thời gian trong một quyển, đối chiếu thời gian ghi trên ấn chỉ với thời gian đại lý báo về của những ấn chỉ không quyết toán trong ngày, đối chiếu xác nhận số tiền ghi trên ấn chỉ với số phí thực tế đã thu.

    . Kiểm tra việc sử d ụng ấn chỉ của đại lý định kỳ hoặc khi nghi ngờ các hiện tượng trụ c lợi bảo hiểm công ty phải ti ến hành kiểm tra việc ghi chép và pháp hành hoá đơn của đại lý, đối chiếu thời gian và nội dung ghi trên liên gốc và liên giao cho khách hàng.

    – Đối với công tác nâng cao chất lượng đại lý:

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    . Đại lý ph ải tuân thủ trình tự kiểm tra tất cả các xe trước khi nhận bảo hiểm đặc bi ệt đố i với xe mua bảo hiểm lẻ, xe t ư nhân, xe đăng ký tỉnh khác. Nhân viên phải đặc biệt chú ý tới nguyên tắc này, phải mắt thấy tai nghe về chiếc xe trước khi bán b ảo hiểm. Nếu sợ bắt chủ xe đưa xe tới có nhiều rầy rà mất th ời gian thì nhân viên làm bảo hiểm có thể đi kiểm tra sơ bộ rồi mới bán bảo hiểm.

    . Nhân viên nên kiểm tra lý lị ch quá trình hoạt động của xe, nếu đối tượng nhiều lần rủi ro hoặc chủ xe có tiền án, ti ền sự thì trong quá trình làm việc đại lý phải linh hoạt, khéo léo trong việc từ chối bán bảo hiểm.

    . Công ty phải tăng cường khâu tuyển chọn và đào tạo đại lý, cộng tác viên. Tuy ển l ựa đại lý, cộng tác viên có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, tổ ch ức cho họ tham gia các lớp đào tạo, h ướng dẫn về khai thác nghiệp vụ. Theo tôi, trong khâu tuyển chọn đại lý nên chăng Pjico nên tuyển chọ n ngay từ gốc bằng cách đến các trường đại học có khoa bảo hi ểm chọn lấy những sinh viên năm th ứ 3, thứ 4 có học lực tốt, phẩm chất tốt, tâm huy ết với nghề phổ biến cho họ cách khai thác bảo hiểm cách viết ấn chỉ và dựa vào sức tr ẻ s ự sáng tạo của họ cho họ đi khai thác một, mặt quảng bá hình ảnh công ty mặt khác tạo cho họ những kinh nghiệm thức tế họ còn thiếu và qua đây có thể tuyển chọn được mộ t vài đại lý đạt tiêu chuẩn cũng như sau khi họ ra trường có thể tuyển thành nhân viên chính thức cho công ty. Có thể nói đây là cách làm mới mẻ nhưng hiệu quả rất cao và có một vài công ty đ ã áp dụng, nên Pjico phải nghiên cứu và coi đây như là một chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho công ty sau này.

    . Định kỳ tổ ch ức các lớp tập huấn, đồ ng thời cũng cần tổ chức thườ ng xuyên các đợt kiểm tra công việc, trình độ của các đại lý, cộng tác viên để nắm bắt được nh ững hạn chế của họ từ đó có những biện pháp điều chỉnh, uốn nắm kịp thời. Hệ thống đại lý như mạng chân rết rất quan trọ ng đối với sự sống còn củ a công ty h ọ không chỉ đem lại doanh thu cho công ty mà còn là bộ mặt của công ty vì vậy, công ty luôn phải h ướng dẫn đào tạo cho nhân viên bán bảo hiểm nh ững ki ến thức cần thiết để có thể tư vấn cho khách hàng chứ không phải đơn thuần là bán bảo hiểm.

    . Một đ iều quan trọng nữa là hiện nay đại lý không thuộc biên chế của công ty nên có tâm lý làm việc không tích cực, nhanh chán nản, dễ pháp sinh tiêu cực. Vì vậy công ty cần có nh ững biện pháp khắc ph ục tình trạng này nh ư: bổ nhiệm các đại lý giỏi vào các chức v ụ tổ trưở ng đại lý, tuyển những đại lý xu ất sắc làm nhân viên thuộc biên chế của công ty… điều này chắc chắn sẽ tăng động cơ làm việc cho mỗi đại lý.

    – Đối với khâu giám định bồi thường:

    Giám định- bồi thườ ng là vấn đề lớn hàng ngày, hàng giờ ảnh h ưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới. Chính vì vậy để nâng

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao ch ất lượng phòng chống gian lận bảo hiểm thì phải nâng cao chất lượng khâu giám định- bồi thường. Để thực hiện được điều này, công ty cần phải quan tâm giải quyết một số vần đề sau:

    . Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, tranh thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác giám định.

    . Không nên đợi chờ các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ của công ty mà phải chủ động nâng cao trình độ của các giám định viên thông qua việc gửi các giám định viên theo học các lớp ngắn ngày tại các trường kỹ thuật, hoặc mời các chuyên gia điều tra bên Bộ Công an về nói chuyện chuyên đề, phổ biến kinh nghiệm.

    . Giám định viên sẽ được phân thành nhiều bậc từ thấp đến cao, mỗi bậc có chức năng, nhiệm v ụ, quyền lợi riêng để đáp ứng nhu cầu của công việc, giải quyết các vụ tai nạn tuỳ theo mức độ phức tạp. Giám định viên phải điều tra trên số vụ đã bồi thườ ng hoặc số vụ cần ph ải điều tra tối thiểu cho phòng trong một tháng (hoặc 1 tuần). Trên cơ sở đó, phòng sẽ chủ động phối h ợp với các phòng, ban chức năng để tiến hành hoạt động và báo cáo định kỳ với Ban Giám Đốc.

    . Công ty nên th ực hiện chế độ khoán chi cho phòng giống như các phòng kinh doanh. Việc này sẽ c ải thiện được mức thu nhập của nhân viên trong phòng, giúp họ yên tâm tập trung vào công việc.

    Việc phòng chống trục lợi bảo hiểm xe cơ giới yêu cầu mang tính liên tục, nhanh chóng nhưng không đượ c đốt cháy giai đoạn. Trong quá trình công ty tiến hành các biện pháp trên đòi hỏi phải có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa Ban Giám Đốc và các phòng trực thuộc, giữa các phòng ban với nhau, giữa các nhân viên khai thác, giám định- bồi thường và thanh tra. Có như vậy, công tác này mới thực sự đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như xã hội.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    KẾT LUẬN

    Thực ti ễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới t ại công ty Pjico cho thấy kinh doanh nghiệp vụ này không những đạt kết quả khá cao mà còn nâng cao được trách nhiệm của người tham gia bảo hi ểm hạn chế đượ c tình hình tai nạn giao thông hiện nay, đóng góp chung vào sự bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

    Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồ n tại hành vi trục lợi bảo hiểm. Hành vi này rất nguy hi ểm đối với tất cả các Công ty bảo hiểm, bởi vì nó không chỉ gây thiệt hại về mặt tài chính của các Công ty bảo hiểm mà kéo theo đó là sự tha hoá biến chất của mộ t số cán bộ viên chức, ảnh hưởng đến uy tín cũng như chất lượng hoạt động của các Công ty bảo hiểm.

    Vì vậy các Công ty bảo hiểm nói chung và công ty Pjico nói riêng cần phải có những biên pháp hữu hiệu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời hành vi trục lợi bảo hiểm đồng thời phối hợp với các cơ quan có chức năng tiến hành xử phạt một cách nghiêm minh đối với hành vi này để bảo hiểm hoạt động ngày càng hiệu quả hơn.

    Chuyên đề: “Trụ c lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico”.

    Là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hi ểu tình hình trục lợi bảo hiể m xe cơ gi ới tại công ty Pjico. Em hy vọng rằng các giả i pháp này sẽ có ích trong việc hạn chế tình hình trục lợi b ảo hi ểm xe cơ giới tại công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên chuyên đề mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các hiện tượ ng trục lợi trong bảo hiểm xe cơ gi ới. Trên thực tế cho thấy hiện tượng trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra ở tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm. V ậy nên để có cái nhìn tổng quát hơn về hiện tượng trục lợi b ảo hiểm xe cơ giới cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện trên tất cả các loại hình bảo hiểm.

    Một l ần nữa em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Vũ Quỳnh Anh cùng các anh chị tại văn phòng VII, đặc biệt là anh Nguyễn Tiến Hải đã tận tình chỉ bảo em trong thời gian thực tập và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

    1. Giáo trình Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Chủ biên: PGS.TS. Hồ Sĩ Sà.

    Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2000.

    1. Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo Hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

    Chủ biên: TS. Nguyễn Văn Định. Nhà xuất bản Thống kê- Năm 2003.

    1. Quy tắc bảo hiểm xe ôtô – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn khai thác bảo hiểm xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Hướng dẫn công tác giám định bồi thường xe cơ giới – Công ty Pjico.
    1. Tài liệu đào tạo đại lý – Công ty Pjico.
    1. Bản tin nôi bộ – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác năm 2001 và phương hướng hoạt động 2002 – Công ty Pjico.
    1. Báo cáo tổng kết công tác hoạt động 2002 và phương hướng hoạt động 2003 – Công ty Pjico.
    1. Tạp chí bảo hiểm.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.

     

    Chuyên đề thực tập.                                                                               Phạm Minh Nguyên- BH43a.

    1. Tạp chí giao thông vận tải.
    1. Luật kinh doanh bảo hiểm.
    1. Một số tài liệu của uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia.
    1. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
    1. Các tài liệu khác có liên quan.

    Trục lợi bảo hiểm và giải pháp nhằm hạn chế tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Pjico.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-B%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-cho-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-lao-%C4%91%E1%BB%99ng-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Bảo hiểm xã hội cho người lao động ở Việt Nam

    LỜI GIỚI THIỆU

    Giao thừa thế kỉ XXI của Việt Nam là thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.Mọi người, mọi nhà ấm no hạnh phúc.Để thực hiện được mục tiêu trên và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của người lao động trong sự nghiệp phát triển ngay từ khi thống nhất đất nước Đangr và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm tới người lao động trong đó có chính sách Bảo hiểm xã hội.

    Chính sách Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã được thực hiện từ những năm sáu mươi của thế kỉ

    1. Trải qua hơn bốn mươi năm thực hiện với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm xã hội đã góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị- xã hội của đất nước. Đến nay Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện cho công chức nhà nước, lực lượng vũ trang và người lao động trong các thành phần kinh tế ở những nơi có quan hệ lao động, có sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên…và sẽ còn tiếp tục mở rộng cho các đối tượng khác. Với năm chế độ về Bảo hiểm xã hội đang được thực hiện ở nước ta là: Chế độ trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất chính sách Bảo hiểm xã hội đã khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đổi mới.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước chính sách bảo hiểm xã hội cần phải luôn luôn được thay đổi cho phù hợp.

    Xuất phát từ vai trò Bảo hiểm xã hội đối với người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung đồng thời qua thực tế nghiên cứu tìm hiểu em xin mạnh dạn trọn đề tài: “Bảo Hiểm Xã Hội Cho Người Lao Động Việt Nam” với mong muốn có thể đưa ra những vấn đề tổng quát nhất về bảo hiểm xã hội, thực trạng hệ thống Bảo hiểm xã hội ngày nay và đề xuất một

    số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Bảo hiểm xã hội xứng đáng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển đất nước.

    Bài viết của em nghiên cứu về BHXH gồm hai phần chính sau: Phần I: Những vấn đề lí luận chung về BHXH Phần II: Thực trạng BHXH ở nước ta.

    Những phương hướng và giải pháp.

    Số liệu sử dụng trong đề án là nguồn số liệu thứ cấp.

    NỘI DUNG

    PHẦN I

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI.

    I.Quá trình phát triển bảo hiểm xã hội.

    1.Sơ lược lịch sử phát triển Bảo hiểm xã hội

    Nguồn gốc Bảo hiểm xã hội bắt nguồn từ rất sớm. Trong xà hội công xã nguyên thuỷ, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất, mọi người cùng hái lượm ,săn bắt sản phẩm thu được phân phối bình quân nên rất khó khăn, bất lợi của mỗi người được cả xã hội, cả cộng đồng san sẻ, gánh chịu.Trong xã hội phong kiến, quan lại thì dựa vào chế độ bổng, lộc của nhà vua; dân cư thì dựa vào sự đùm bọc lẫn nhau trong họ hàng, cộng đồng làng, xã, hoặc sự giúp đỡ của những người hảo tâm và của Nhà nước. Ngoài ra, họ còn có thể đi vay hoặc đi xin. Với những cách này, người gặp khó khăn hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự hảo tâm từ phía giúp đỡ. Do vậy, sự giúp đỡ mới chỉ là khả năng, có thể có, có thể không, có thể nhiều hoặc ít, không hoàn toàn chắc chắn.

    Từ khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, xuất hiện việc thuê mướn nhân công , lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động. Dần dần về sau, phải cam kết đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang traỉ những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị ốm đau, tại nạn, thai sản, tuổi già… Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền nào. Nhưng củng có khi lại xảy ra dồn dập buộc người chủ phải bỏ ra một lúc phải ra nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, giới thợ phải liên kết với nhau để đấu tranh buộc gới chủ phải thực hiện những điều đac cam kết cuộc tranh chấp này diễn ra ngày càng rộng lớn và đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Dần dần trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện cam kết giữa giới chủ và giới thợ bằng các hoạt động thích hợp của nó. Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi thực tiếp một khoản tiền lớn

    khi người lao động bị ốm đau tại nạn, giới chủ chỉ phải trích ra những khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ dựa trên những cơ sở sắc xuất những biến cố của tâp hợp người lao động làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ ba tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ. Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn thì cứ như theo cam kết chi trả, không phụ thuộc vào giới chủ có muốn tri trả hay không . Làm như thế một mặt, giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế do không phải một lúc tri những khoản tiền lớn. Mặt khác, người lao đông làm thuê được đảm bảo chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn. Song trên thực tế, vấn đề lợi ích vẫn luôn luôn vận động. Giới thợ luôn luôn đòi hỏi được bảo đảm nhiều hơn trước tình hình kinh tế xã hội phát triển, còn giới chủ thì lại mong muốn chi ít hơn, lên tranh chấp chủ thợ lại tiếp diễn. Trước tình hình như vậy, nhà nước phải can thiệp điền chỉnh. BHXH xuất hiện từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu.Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 đó là luật nhà máy. Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật bảo hiểm y tế. Một số nước Châu âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối những năm hai mươimới có đạo luật về BHXH. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm dành quyền bảo hiểm trong các trường hợp ốm đau, tai nạn lao động, thất nghiệp, hưu trí…

    1. Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.

     

    • Giai đoạn từ tháng 8/1945 đến 1960.

    Ngay từ năm đầu kháng chiến chống Pháp chính phủ đã áp dụng chế độ hưu chí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp sau đó đi theo kháng chiêns nay đã già yếu. Đến năm 1950, Hồ Chủ Tịch dã kí sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân.

    Nhìn lại các chế độ ban hành ở giai đoạn nay cho thấy: Các chính sách được ban hành ngay sau khi giàng được độc lập, trong tình trạng kinh tế còn nhiều thiếu thốn nên chưa đầy đủ chỉ đảm bảo được mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức Nhà nước. Mức hưởng mang tính bình quân, đồng cam cộng khổ, chưa có tính lâu dài. Các khoản chi còn lẫn lộn với tiền lương, chính sách BHXH chưa có quỹ riêng để thực hiện. Tuy nhiên, chính sách

    BHXH có ý nghĩa giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động.

    2.2. Giai đoạn từ 1961 đến 1/1995.

    Trong giai đoạn này kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi số đông lực lượng lao động. Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành điều lệ tạm thời theo nghị định số 218/Chính phủ về các chế độ BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Đối tượng tham gia BHXH là công nhân viên chức lực lượng vũ trang. Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ BHXH trong ngân sách nhà nước trên cơ sở đóng góp của xí nghiệp (4,7% so với tổng quỹ lương) và nhà nước cấp. Áp dụng 6 chế độ BHXH là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức. Ngày 18/9/1985 Hội đồng bộ trưởng ban hành nghị định 236/HĐBT về việc bổ xung, sửa đổi chế độ BHXH.

    Như vậy qua hơn 35 năm thực hiện hnàg triệu người đã được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH, nên đã có tác dụng làm cho đội ngũ công nhân viên chức gắn bó với cách mạng với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong lao động sản xuất xây dựng đất nước. Chính sách BHXH này đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và tinh thần cho người lao động trong trường hợp gặp rủi ro không làm việc được góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, các chính sách BHXH đã ban hành cũng bộc lộ một số mặt tồn tại như: phạm vi đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, quyền lợi trách nhiệm các bên tham gia chưa được thiết lập đầy đủ…

    2.3. Giai đoạn từ 1995 đến nay.

    Bộ luật lao động đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ V Quốc hội khoá IX ngày 28/6/1994, qui định tại chương XII về BHXH áp dụng cho người lao động cho mọi thành phần kinh tế. Chính phủ ban hành điều lệ BHXH kèm theo nghị định số 12/CP hướng dẫn qui định thi hành.

    Chính sách BHXH trong giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đối tượng tham gia đối với lao động làm công hưởng lương ở các đơn vị, tổ chức kinh

    tế sử dụng 10 lao động trở lên thuộc mọi thành phần kinh tế. Thực tế trước nghị định số 12/CP số lao động tham gia BHXH là 3,4 triệu người thì hiện nay đã có 4,1 triệu người trong đó có 517 nghìn người ngoài quốc doanh( kể cả doanh liên doanh). Quỹ BHXH chủ yếu từ người sử dụng lao động đóng ( 15% quĩ lương) và người lao động đóng(5% tiền lương) độc lập với ngân sách nhà nước. Qui định rã trách nhiệm của người sử dụng lao động khi thuê mướn lao động phải đóng BHXH cho người lao động. Qui định rõ nghĩa vụ của người lao động trong việc đóng góp. Nguồn thu BHXH hàng năm tăng lên.

    BẢNG 1 : THU BHXH

    Năm 1996 1998 2000 2001
    Thu(Tỉ đồng) 2569 3875 5800 5718

    Nguồn: Tổng cục thống kê.

    Việc tăng nguồn thu này đã giúp cho việc thực hiện chế độ BHXH trước hết là người nghỉ hưu được tốt hơn. Chế độ BHXH có tác dụng tích cực làm ổn định đời sống người lao động từ đó có tác dụng tích cực động viên mọi người an tâm lao động sản xuất, với năng suất cao, hiệu quả cao. Đã thể hiện được sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ đồng thời mang tính chất cộng đồng xã hội để chia sẻ rủi ro.Tuy nhiên,về đối tượng tham gia BHXH chủ yếu vẫn là ở khu vực Nhà nước, lao động làm việc ở cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả liên doanh cồn thấp, chỉ có 15% lực lượng lao động xã hội thuộc đối tượng BHXH bắt buộc.Hiện nay, loại hình BHXH tự nguyện chưa được ban hành. Do đó, nhiều người lao động không thuộc diện làm công ăn lương, có nguỵện vọng tham gia BHXH thì chưa thực hiện được nguyện vọng của mình, chưa có chế độ bảo hiểm thất nghiệp để ổn định cuộc sống người lao động bị mất việc làm. Công tác giáo dục tuyên truyền còn rất hạn chế nên nhiều doanh nghiệp không đống BHXH. Một số qui định trong chính sách chế độ BHXH hiện hành trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc.

    II. Bản chất của BHXH

     

    1.Khái niệm

     

    Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH, tuỳ theo góc đọ nghiên cứu, cách tiếp cận mà người ta đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau. Có thể xác định khái niệm BHXH như sau:

    Khái niệm chung: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quĩ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Khái niệm BHXH(theo ILO): BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

    1. Ý nghĩa và tác dụng của BHXH

    2.1. Đối với người lao động đóng BHXH.

    Người lao động đóng BHXH bằng khoản tiền của mình để sẽ được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hoặc sự biến theo loại chế độ bảo hiểm. Khoản trợ cấp thường là xấp xỉ với giá trị của khoản đã đóng góp BHXH, thậm chí còn cao hơn. Việc đóng góp BHXH có tầm quan trọng về tâm lí rất đáng kể: nhắc nhở ý thức trách nhiệm và bảo vệ nhân phẩm của người lao động, xác lập quyền của người lao động được hưởng trợ cấp, chưa kể là cồn có quyền tham gia quản lí BHXH.

    Tuy nhiên, việc dành dụm này không như gửi tiền vào quĩ tiết kiệm để rồi khi cần, thậm chí bất cứ lúc nào muốn thì tự do rút toàn bộ cả gốc lẫn lãi. Xung quanh người lao động còn có cộng đồng người trẻ, người già, người khoẻ, người ốm yếu… có thể nói một cách hình tượng là người “may mắn”, người”rủi ro”. Cùng đóng góp nhưng người rủi ro được hưởng trự cấp trong khi người may mắn chưa hưởng. Nhưng đến một lúc nào đó, người may mắn cũng sẽ trở thành người rủi ro bên cạnh những người may mắn khác. Đó là sự chuyển giao xã hội giữa hai hoàn cảnh rủi ro và may mắn của đời người, là một phần của phương châm xử thế “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Với ý nghĩa trên, điều lệ BHXH mới ban hành kèm theo nghị định

    12/CP ngày 26/1/1995 đã qui định, người lao động đóng bằng 5% tiền lượng tháng để chi các chế độ hưu chí và tử tuất.

    2.2. Đối với người sử dụng lao động đóng BHXH

    Đóng BHXH cũng là để phục vụ lợi ích của người sử dụng lao động vì nó góp phần duy trì hoà bình và ổn định trong lao động.NGười sử dụng lao động trả lương cho người lao động để dáp ứng nhu cầu của người lao động khi làm việc cho người sử dụng lao động, nhưng cả khi họ không còn đủ sức để được hưởng lương. Chính là thông qua cơ ckế BHXH mà sự chuyển giao tiền lương giữa hai hoàn cảnh đó được thực hiện.

    Điều lệ BHXH mới của nước ta cũng quy định người sử dụng lao động phải đóng 15% so với tổng quỹ lương của nhữnh người lao động được hưởng bảo hiển trong đơn vị.

    2.3. Đối với nhà nước.

    Thực hiện chéc năng xã hội, nhà nước của dân, do dân và vì dân, lấy những lợi ích, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu và động lực hoạt động. Công bằng xã hội là hạt nhân của chính sách xã hội, là cái đích mà chính xã hội cần đạt đến. Sự can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các vấn đề xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, của xã hội công nghiệp hiện đại càng cần thiết mở rộng. Như đã nói ở phần trên, việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên thì do cá nhân và xã hội, nằm ngoài phạm vi của nhà nước. Nhưng cành về sau đó, nhất là ngày nay, nhu câu bảo vệ những quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nườo lao động, trong đó cơ chế BHXH đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định.

    Tóm lại, BHXH cho người lao động đối với nhà nước là giảm bớt gánh nặng xã hội cho việc nhăm sóc người lao động khi họ gặp rủi ro.

    III. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    BHXH là nhu cầu khách quan của người lao động, ý tưởng của BHXH là nhằm thực hiện một phần công bằng xã hội, phát huy truyền thốnh đoàn kết cộng đồng và tinh thần nhân ái. Theo lẽ công bằng xã hôị và vì đoàn kết cộng đồng thì BHXH phải được áp dụng với toàn bộ thành viên của cộng đồng.

    Tuy nhiên trong điều kiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong các thành viên cộng đồng có nhóm người là công chức, có nhóm người làm công ăn lương trong một đơn vị, một tập thể ổn định, có nhóm tuy cũng làm công ăn lương nhưng công việc và nơi sử dụng không ổn định, có nhóm người lao động đập lập, không có quan hệ lao động… Mỗi nhóm người gặp rủi ro khác nhau như: rủi ro tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, ốm đau tuổi già. Như vâỵ vấn đề đặt ra là phải có nhiều hình thức, nhiều cơ chế bảo vệ rất đa dạng…

    Quan điểm về bảo hiểm xã hội tuy chưa thống nhất giữa các nước nhưng các nước vẫn chưa xây dựng cho mình một hệ thống BHXH. Cũng như vậy, đối tượng của BHXHvẫn chưa được thống nhất. Tuy vậy các nước thực hiện BHXH thường theo hai khuynh hướng:

    Đối tượng BHXH là tất cả người lao động.

    Đối tượng BHXH chỉ có viên chức nhà nước, người làm công ăn lương.

    Hầu hết các nước trong trong buổi sơ khai của BHXH đều theo khuynh hướng thứ hai tức chỉ thực hiên BHXH cho công nhân viên chức nhà nước. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi quan điểm đó, mặc dù như vậy là không bình đẳng giữa những người lao động.

    IV. Các chế độ BHXH.

    • Việt Nam hiện nay BHXH gồm 5 chế độ sau:
    1. Chế độ trợ cấp ốm đau.

    Chế độ này giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất đi do không làm việc khi bị ốm đau. Việc thiết kế chế độ nay như hiêện hành đã tránh được những hiện tượng lạm dụng và bình quân hoá thong khi xét trợ cấp. Đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng BHXH, đồng thời có tính đến yếu tố san sẻ cộng đồng giữa những người tham gia BHXH. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn một số vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu xem xét như: không qui định thời gian dự bị trước khi hưởng BHXH; thời hạn hưởng tối đa chưa rõ; thủ tục, danh mục các bệnh dài hạn qui định đã lâu, cần phải bổ xung một số bệnh mới.

    1. Chế độ trợ cấp thai sản.

     

    Thiết kế chế độ này như hiện nay đã giúp lao động nữ có được khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việc vì sinh con. Hơn nữa, việc qui định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc nhóm lao động khác nhau. Qua thực tiễn, chế độ này còn có một số điểm phải khắc phục như: còn đan xen giữa chính sách BHXH với chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình; thời gian dự bị trước khi được hưởng cũng chưa có…

    3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

    Thực tiễn triển khai chế độ này ở nước ta trong những năm vừa qua đã góp phần không nhỏ đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời chế độ này còn qui định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là hợp lí. Tuy vậy, cần phải xác định rõ hơn tai nạn lao động xảy ra trên đường từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại, danh mục bệnh nghề nghiệp cần phải được bổ xung vì có một số loại bệnh mới phát sinh nhưng chưa được xếp vào bệnh nghề nghiệp…

    1. Chế độ hưu trí

    Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không được nhận nữa từ nghề nghiệp không được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Nội dung chế độ này đã khắc phục được những hạn chế trước đây như: Việc qui đổi thời gian công tác; bóc tách được phần lớn những chế độ ưu đãi xã hội ra khỏi ché độ hưu trí…vì thế đã đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa đóng và hưởng BHXH; giữa các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm cần khắc phục như: tuổi đời vè hưu giữa các ngành, nhóm lao động; những người hưởng trợ cấp một lần đưa vào chế độ là chưa hợp lí, vì những người này vẫn chưa đủ tuổi, vừa không đủ tích luỹ cần thiết để hưởng trợ cấp. Đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho người lao động khi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quĩ BHXH đảm nhận.

    5.Chế độ tử tuất.

    Một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất đó là chế độ tử tuất. Chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được khoản thợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết; khi xây dựng chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố xã hội giữa người sống và người chết. Đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân của người chết. Song, việc quy định đối tượng được hưởng bao gồm cả bố mẹ bên vợ, bên chồng là chưa hợp lí. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có thân nhân của cả hai bên chịu trách nhiệm. Điều này phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để thống nhất qui định.

    V. Chức năng của BHXH.

    BHXH có những chức năng cụ thể sau:

    1.Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các qui định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mắt thu nhập, người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng qui định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động của BHXH.

    2.Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào qũi BHXH. Quĩ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đống góp. Như vậy, theo qui luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc…Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    3.Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động người lao động được chủ sử dụng lao động trả lượng hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất.Vì thế, cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc.Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích lao động nâng cao năng suất lao động cá nhânvà kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    4.Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động…Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó, làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, Chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn phải giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển an toàn hơn.

    VI. Các nguyên tắc Bảo hiểm xã hội.

    1. Mọi người laođộng trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm đều có quyền được hưởng BHXH.

    Quyền được hưởng BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người. Biểu hiện cụ thể quyền được hưởng BHXH của người lao động là việc họ được hưởng chế độ trợ cấp BHXH theo các chế độ xác định. Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đố có thể có rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên. Về nguyên lí thì mội trường hợp như thế, người lao động đều phải được BHXH. Nhưng giữa nguyên lí và thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa. Khoảng cách đó do các biểu hiện kịnh tế xã hội qui định. Bởi vậy trên giác độ điều hành vĩ mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn

    phát triển về tổ chức và hoàn thiện dần việc BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động nói trên.

    2.Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXH đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự đóng BHXH cho mình.

    Đây là quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước phải có vai trò quản lí vĩ mô mọi hoạt động kinh tế- xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh cũng tương tự như trên nhưng chỉ trong phạm vi một ssố doanh nghiệp, ở đó, giữa người lao động và người sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sưe dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh không chỉ chăm lo đầu tư máy móc thiết bị mà còn phải chăm lo tay nghề và đời sống người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương cho họ còn khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động…mà có gắn với quá trình lao động thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên râm công tác góp phần tăng năng xuất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.Đối với người lao động, khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì mình cũng phải đống BHXH. Điều đó cho thâấy bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.

    3.Bảo hiểm xã hội phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để tự hình thành quỹ BHXH độc lập và tập trung.

    Sự đóng góp của ba bên như trên nếu không được đóng góp cho bên thứ ba- cơ quan BHXH chuyên nghiệp và được tồn tích dần thành một quĩ tài chính độc lập và tập trung như cách làm đặc trưng của BHXH th nó sẽ biến thành một cách làm khác với BHXH về chất, đó là phương thức tiết kiệm. Như vậy, mục đích, bản chất và yêu cầu của BHXH sẽ không thể thực hiện được.

    1. Phải lấy số đông bù số ít.

    Cách làm riêng có của BHXH là mọi người tham gia BHXH đóng góp nho bên nhận BHXH và tồn tích dần thành một qũi tài chính độc lập dung để chi trả trợ cấp cho người lao động khi và chỉ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập then các chế độ đã xá định.Số trợ cấp của họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền đóng góp của họ. Muốn làm được việc này thì không có cách nào khác là phải lấy kết quả đóng góp của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng trợ cấp.

    5.Phải kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu BHXH.

    Trong BHXH cả ba bên tham gia, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được không phải luôn luôn như nhau, thống nhất với nhau, mà trái lại có lợi ích có lúcd mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời gian nghỉ làm việc và hưởng trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại gặp khó khăn cho người chủ sử dụng lao động nêú giảm hậu quả cho người chủ sử dụng lao động thì Nhà nước phải gánh chịu.

    Nguồn cơ bản để hình thành quĩ BHXH là sự đóng góp của ba bên như đã nói ở trên. Muốn phát triển BHXH thì phải tăng quĩ,muốn vậy thì phải tăng nguồn thu, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có giới hạn không cho phép vượt(làm giảm thu nhập hiện thời của người lao động và làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh). Vì vậy, phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổ sung như đầu tư vốn nhàn rỗi tương đối của quĩ BHXH vào các hoạt động sinh lời, hợp tác quốc tế… Ngoài ra có thể tìm tòi các phương cách BHXH khác mà nền kinh tế thụ trường đã tạo ra môi trường thuận lợi để áp dụng.

    6.Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải bảo đảm mức sống tối thiểu.

    Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như: trợ cấp ốm đau, thai sản, hưu trí…Như đã biết tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình

    thường và thực hiện được công việc nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn, tuổi già… không thực hiện được công việc nhất định hoặc không có việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao động tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm đau, thai sản… để nhận được trợ cấp. Hơn nỡa, cách lập quĩ theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH băằng tiền lương lúc đang đi làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro đem rủi ro của mình danf trải hết cho người khác. Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lú đang đi làm, tuynhiên, do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hằng ngày. Chỉ khi đó trợ cấp BHXH mới có ý nghĩa an sinh.

    1. Kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện.

    Cho đến nay ở nước ta việc tham gia BHXH vẫn chưa trở thành tập quán, hơn nữa trong BHXH lợi ích của các bên tham gia và lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài của ngươì lao động vẫn có những mâu thuẫn. Bởi vậy, cần có sự kết hợp giữa bắt buộc với tự nguyện trong việc tham gia BHXH. Sự bắt buộc nên thực hiện đối với các bên tham gia BHXH ở khu vực có quan hệ lao động và với mức thu nhập cơ bản. Đối với những người có nhu cầu BHXH ở mức cao hoặc với người lao động độc lập thì nên để họ tham gia tự nguyện.

    1. Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cà nước đồng thời phải phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành.

    Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và nhng người lao động thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Ở nước ta do những điều kiện kinh tế- xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thữh hiện BHXH mà chỉ có BHXH của NHà nước.

    Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ, cát

    cứ, hoặc những mâu thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau.

    1. BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể.

    BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế- xã hội, với cơ chế và trình độ quản lí, đặc biệt là với sự đồng bộ, sự hoàn chỉnh của nền pháp chế của nước đó. Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế- xã hội đang chuyển động mạnh. Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải đảm bảo tính chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp mới có thể đạt hiệu quả mong muốn.

    VII. Tính chất của BHXH .

    BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đã đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển BHXH gắn liền với đời sống người lao động vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau :

    Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội: Sản xuất càng phát triển những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động ngày càng nhiều và trở lên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hàon toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.

    BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian.

    BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ: Quỹ BHXH muốn được hình thành bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lí chặt chẽ sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tímh toán rất cụ thể dựa trên sác xuất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện BHXH. Thực chất phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể

    nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà chính mình sử dụng. Xét dưới mức độ kinh tế họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với nhà nước BHXH góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.

    BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao.

    VIII. BHXH Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường.

    Sau Cách mạng tháng tám thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một số sách lệnh quy định về chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức nhà nước. Cơ sở pháp lí tiếp theo của BHXH được thể hiện trong hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước.

    Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi mới về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối

    với người lao động”. Trong văn kiện đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến văn kiện đại hội Đảng lần VIII cũng đã nêu lên “Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế “. Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước.

    PHẦN II.

    THỰC TRẠNG CỦA BHXH Ở NƯỚC TA.NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG

    VÀ GIẢI PHÁP.

    I. Đánh giá tổng quát về kết quả công tác BHXH qua các năm.

    BHXH là một chính sách lớn của Đảng và nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao hiệu quả bảo đảm vật chất, góp phần ôổn định đời sống cho ngưòi lao động khi gặp rủi ro như tai nạn, ốm đau , bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, chết…

    Chính sách BHXH đã được Đảng và Nhà nứơc ta quan tâm đề từ khi mới thành lập nước, trải qua quá trình dành độc lập, xây dựng đất nước hoà bình, phát triển đi lên, chính sách BHXH luôn được cải tiến, hoàn thiện phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước từng thời kỳ nên đã đáp ứng được nguyện vọng của người lao động, góp phần động viên chiến sĩ đồng bào cả nứơc trong đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nứơc cũng như trong xây dựng CNXH đưa đất nước tiến lên.

    Thời kỳ đổi mới với những kết quả quan trọng trên mặt trận kinh tế đã tạo tiền đề vững chắc cho những đổi mới tương ứng về chính sách XH nói chung và chính sách BHXH nói riêng. BHXH đã trở thành một lĩnh vực quan trọng hàng đầu của hệ thống an ninh XH ở nước ta. Hiến pháp năm 1992 đã xác định: Nhà nước thực hiện BHXH đối với công chức nhà nước, ngưòi làm công ưan lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động. Đại hội VIII đã chỉ rõ: Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Đứng trước sự chỉ đạo này của chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH mới kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 . Nội dung cơ bản của sự đổi mới thể hiện trên các mặt:

    BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng. Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH.

    II. Nguồn quỹ bảo hiển.

    1.Tổ chức thu BHXH.

    Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường chính phủ đã ban hành nghị định 43/CP ngày 26/6/1993 và điều lệ bảo hiểm ban hành kèm theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 trong các văn bản này đều qui định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn quỹ sau:

    Người sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH.

    Người lao động đóng 5% tiền lương tháng.

    Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động.

    BẢNG 2: MỨC ĐÓNG GÓP BHXH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.

    Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp Tỷ lệ đóng góp
        của người lao của người sử
        động so với dụng lao động so
        tiền lương (%) với quỹ lương
          (%)
    CHLB Đức Bù thiếu 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
    Inđônêxia   Bù thiếu 3,0   6,5
    Philipin   Bù thiếu 2,85 – 9,25   6,85 – 8,05
    Malaixia   Chi toàn bộ chế độ 9,5   12,75
        ốm đau, thai sản      
      Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới  

    Ngoài ba nguồn trên còn có một số nguồn thu khác như: lãi từ hoạt động đầu tư.

    Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quĩ BHXH. Vì vậy, qũi này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. KHi tính phí BHXH, có thể có căn cứ tính toán khác nhau như: dựa vào tiền lương, thang lương, dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động.

    Trong những năm qua mặc dù BHXH còn rất nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện công việc rất mới mẻ nhưng BHXH Việt nam đã hình thành được quĩ độc lập với ngân sách Nhà nước chủ động chi trả cho ngươì lao động góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách. Đạt được kết quả này là nhờ công tác quản lí thu chi BHXH đi vào nề nếp, người lao động

    • thức được trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia BHXH. Công tác thu BHXH của các tỉnh thành phố ngày một hoàn thiện.

    BẢNG 3 :THU BHXH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

    Năm Thu (tỷ VNĐ) Chi (tỷ đồng)
    6 tháng năm 1995 99 596
    Năm 1997 298 642
    Năm1998 382 778
    Năm 1999 415 797
    Năm2000 554 1030
    Năm2001 670 1300

    Nguồn :Tổng cục thống kê

    Qua 6 năm thực hiện, về cơ bản trên địa bàn Hà Nội đã đi vào nề nếp. Hiện nay trên địa bàn Hà Nội có 65 vạn người thuộc diện đóng BHXH, chiếm 1/4 dân số trong đó trên 42 vạn người tham gia đóng và hưởng BHXH thường xuyên, trên 23 vạn người hưởng hưu trí và trợ cấp hàng tháng.

    1. Sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH dùng để chi trả cho các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, tử tuất. Ý thức được thực hiện tốt các chế độ chính sách BHXH đối với người lao động là đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động theo qui định của pháp luật mặt khác là nhiệm vụ hàng ngày là trách nhiệm của cơ quan BHXH. Vì vậy toàn ngành đã rất chú trọng đến các công tác này. Kết quả trong 5 năm BHXH các tỉnh thành phố đã chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn 24076089 triệu đồng trong đó có chi từ ngân sách nhà nước 20838016 triệu đồng chi từ quỹ BHXH 3238073 triệu đồng. Ngoài ra mỗi năm còn chi trả khoảng 200 tỷ đồng cho hàng triệu người hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Tuy nhiên trong thời gian qua một số địa phương chưa nắm chắc tình hình tăng giảm đối tượng, nhất là khi đối tượng hết hạn hưởng chế độ hoặc là chết. Các trường hợp hưởng sai, hưởng không đúng chế độ nhiều nơi không bị phát hiện điều chỉnh kịp thời.

    Chi cho sự nghiệp quản lí BHXH: Theo quyết định số 20/1998/QĐ-TTG ngày 26/1/1998 của thủ tướng chính phủ thì chi phí quản lí bộ máy của hệ thống BHXH Việt Nam lấy từ quỹ BHXH và được trích không quá 6% trên tổng số thực thu BHXH.

    1. Tổ chức quản lí BHXH.

    Ngày nay việc quản lí quỹ BHXH gặp rất nhiều khó khăn từ tình hình thực tế là việc nợ đọng quỹ rất nhiều cho nên công tác quản lí thu nợ đọng phải tập trung vào khối nào có mức độ chiếm dụng cao. Bên cạnh đó thực tế cũng cho thấy số nợ đọng ở các tỉnh thành phố cũng có mức độ ít nhiều khác nhau những đơn vị có mất chiếm dụng lớn cần phải được nắm chắc thường xuyên theo dõi đôn đốc thu nộp. Nhằm thu hồi dần tìm mọi cách ngăn chặn phát sinh thêm rút mức nợ xuống giới hạn có thể chấp nhận được.

    Như vậy, để có thể tổ chức quản lí BHXH được tốt nước ta cần phải có biện pháp thích hợp. Đó là:

    BHXH cần phải được quản lí tập trung thống nhất sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí cho xã hội quản lí và sự dụng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn. Do quỹ BHXH quản lí tập trung nên hình thành được quỹ tiền tệ lớn có thời gian nhàn rỗi dài. Đây là một nguồn vốn nội lực vô cùng quan trọng để tham gia đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Từ đặc điểm hoạt động bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng mang tính hỗ trợ lẫn nhau giữa những người tham gia theo nguyên tắc dùng tiền đóng góp của số đông bù cho số ít người được hưởng hay là sự chia sẻ rủi ro của một số ít người cho đại đa số những người cùng gánh chịu tổn thất sẽ xảy ra tình trạng nếu hạch toán chi tiết thu để chi đối với từng chế độ, từng đơn vị, từng ngành từng lĩnh vực thì chắc chắn sẽ mất cân đối khác nhau thậm chí thu không đủ chi. Để khắc phục tình trạng đó quĩ BHXH nhất thiết phải được quản lí tập trung thống nhất kịp thời điều tiết đảm bảo đủ nguồn lực tài chính thực hiện đầy đủ thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động dù cho họ làm việc ở bất kì đâu, ở đơn vị nào, ngành nghề nào, lĩnh vực nào trên đất nước.

    Tăng cường quản lí thu BHXH: Trong thời gian vừa qua nhất là khi hệ thống BHXH Việt Nam ra đời việc tăng cường quản lí thu BHXH đã và đang là vấn đề được mọi người quan tâm. Để quản lí thu BHXH được tốt cần nghiên cứu xác địng rõ nguyên nhân của việc nợ quỹ để có biên pháp nhằm hạn chế không để lợi dụng tiền BHXH dùng vào việc khác gây khó khăn cho cơ quan BHXH, gây thiệt thòi cho người lao động. Ngoài ra cần đề ra chuẩn mực và biện pháp tiến hành đối với việc đánh giá mức đọ công nợ và đánh giá kết quả công tác quản lí tác động vào việc làm phát sinh tiền nợ BHXH. Trong tổng quĩ BHXH nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất là thu BHXH từ các doanh nghiệp. Vì vậy cần tăng cường biện pháp quản lí thu BHXH từ nguồn này giữ một vai trò hết sức quan trọng. Trước hết đối với người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp đay là một khảon thu bắt buộc. Hiện nay, mức thu, thời hạn thu nộp và trách nhiệm của người sử dụng lao động đã được qui định trong khoản 2 diều 44 nghị định 12/CPcủa chính phủ và nhiều văn bản pháp qui khác về BHXH.

    III. Phương hướng.

     

    Định hướng phát triển cho ngành BHXH Việt Nam trong thời gian tới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Sau đây xin đưa ra một số phương hướng nhằm thúc đẩy hoạt động BHXH ở nước ta được tốt hơn.

    1.Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đai hoá hoạt động ngành BHXH

    Một trong những nội dung trọng yếu của chiến lược cán bộ trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại háo đất nước mà nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh là công tác qui hoạch cán bộ và chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qui hoạch cán bộ để:”bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài”. Đối với hệ thống BHXH Việt Nam, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức đặt ra như một yêu cầu khách quan và thực sự cần thiết. Phương hướng đào tạo,bồi dưỡng cán bộ công chức ngành BHXH VIệt Nam như sau:

    Nội dung chương trình đào tạo một mặt đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng trong thời kì phát triển mặt khác phải phản ánh kịp thời những phát hiện mới của lí luận và thực tiễn về BHXH.

    Tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất để thực hiện công tác đào tạo. Đối với BHXH Việt Nam, nhu cầu đào tạo là hết sức cần thiết vì vậy cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác này. Mặt khác cần sớm xúc tiến viẹc thành lập một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của ngành BHXH Việt nam tương xứng thực hiện công tác đào tạo nhằm thực hiện qui hoạch phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhằm tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

    1. Bảo toàn và tăng trưởng quĩ BHXH Việt Nam.

    Tăng trưởng quĩ BHXH là việc bắt buộc phải thực hiện trong công tác đầu tư tăng trưởng quĩ để đạt được mục tiêu an sinh xã hội, ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy BHXH cần phải ddược bảo toàn và tăng trưởng.Phương hướng đặt ra là:

    Đối với hoạt động thu: Việc tăng số thu cho quĩ BHXH được xem là một trong những hoạt động bảo toàn và tăng trưởng quĩ.Tuy iên việc tăng qui mô quĩ không có nghĩa là tăng có tính cơ học mức thu của các bên tham gia bảo hiểm mà là trên cơ sở huy động số đối tượng tham gia quĩ ngày càng đông,

    với thơì gian đóng góp ngày càng dài. Đi đôi với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH thì nhu cầu chi trả trong tương lai sẽ tăng lên. Do đó,việc tăng thu choquĩ BHXH dư thực sự có ý nghĩa với bảo toàn và tăng trưởng quĩ khi nó được gắn liền với hoạt động đầu tư quĩ BHXH. Việc thiết lập hệ thống kiểm soát thu giúp phát hiện những sai lầm dấu hiệu không an toàn cho quĩ trong việc quản lí đối tượng thu, đôn đốc thu nộp, quản lí tiền thu cũng góp phần bảo toàn quĩ.

    Đối với hoạt động chi: Việc tính toán khoa học và hợp lí mức chi trả và phương thức chi trả vừa góp phần đảm bảo đời sống của người hưởng thụ, vưừa đảm bảo khả năng chi trả của quĩ có số dư ngày càng lớn tạo tiền đề cho hoạt động đầu tư. Quản lí đối tượng hưởng thụ và tổ chức chi trả chặt chẽ an toàn sẽđảm bảo cho nguồn vốn quĩ không bị thất thoát. Các khoản chi cho quản lí tài chính cần phải sử dụng tiết kiệm hiệu quả và từ đó góp phần tăng khả năng tự tích luỹ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư. Từ năm1996 đến nay, quĩ BHXH đã tồn tích một khối lượng tiền tệ tạm thời nhàn rỗi tương đối lớn, khoảng 20.000 tỷ đồng.íố tiền này được chính phủ cho phép đầu tư tăng trưởng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang thiếu vốn nghiêm trọng, cung về vốn trên thi trường không đủ đáp ứng nhu cầu.Rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều doanh nghiệp đang cần vốn. Vì vậy, việc đầu tư quĩ vào đâu, cho đối tượng nào vay vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho quĩ BHXH, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cho đơn vị được đầu tư là một vấn đề phức tạp, cần phải được cân nhắc. Trên thực tế, đó là xem xét danh mục đầu tư của quĩ. Hiện nay ở hầu hết các nước, Chính phủ đều qui định danh mục đầu tư, hoặc phân cấp rõ ràng danh mục đầu tư gắn liền với trách nhiệm của các cấp, các ngành để hạn chế rủi ro của quĩ. Đối với nước ta đây là vấn đề cần được ngiên cứu kĩ trong thời gian tới.Bên cạnh đó không thể quên việc thiết lập hệ thống kiểm soát góp phần ngăn ngừa và hạn chế các khuyết điểm và sai phạm có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu, xét duyệt hồ sơ nhằm đảm bảo an toàn quĩ, giữ nghiêm kỉ luật nâng cao năng lực và uy tín hoạt động của BHXH.

    II. Giải pháp.

    Chính sách BHXH đã trở thành một trong những chính sách xã hôi quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an toàn đời sống của

    cán bộ, công chức người lao động và gia đình họ góp phần tích cực vào cuộc sống bảo vệ và xây dựng đất nước. Nghị quyết đại hôi đảng toàn quốc làn thứ IXđã nêu rõ:”Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và an sinh xã hội. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ…” Những chủ trương của Đảng nhằm mang lại hạnh phúc cho mọi người lao động khi gặp hoàn cảnh khó khăn ốm đau, tai nạn, già yếu… nhằm đảm bảo cho xã hội công bằng, văn minh tiến bộ.Tuy nhiên, để thực hiện được chủ trương của Đảng thì cần có nhiều công việc phải làm. Xin đưa ra một số giải pháp sau nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống BHXH:

    1.Về đối tượng và loại hình BHXH .

    Cần xác định đối tượng loại hình áp dụng BHXH bắt buộc là hìmh thức cưỡng chế theo pháp luật. Còn đối tượng áp dụng BHXH tự nguyện là hình thức vận động thuyết phục thực hiện theo qui định của pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH và quyền lợi hưởng các chế độ BHXH chỉ có một qui định thống nhất cho cả hai bên, có như vậy mới đảm bảo tính thống nhất trong tổ chức, quản lí cũng như trong qua trình chuyển đổi giữa hai loại hình BHXH mà không gây trở ngại cho ngươì lao động và cơ quan quản lí. Giữ vững quan hệ ba bên.

    Mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Từ khi thực hiện chính sách và cơ chế quản lí mới về BHXH, BHYT, phạm vi, đôi tượng tham gia đã được mở rộng (diện tham gia BHXH chiếm 10% lực lượng lao động) góp phần đảm bảo quyền và lợi ích cho hàng chục triệu lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiệu quả hoạt động của BHXH đã góp phần từng bước giảm dần gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước tạo nên hệ thống an sinh cho con người. Tuy nhiên để từng bước thu hút 80% dân số còn lại tham gia, cần có chính sách mở rộng đối tượng tham gia BHXH, không chỉ với lao động thuộc khu vực nhà nước mà cả ở các thành phần kinh tế khác. Khi đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tỉ lệ thu BHXH 15% để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong những năm tới( từ 10 đến 12 năm) được giữ nguyên sau đó tăng dần tỉ lệ đóng. Nghiên cứu qui định lại cách tính lương hưu. Qui định thêm mức đóng khi thực hiện thêm chế độ trợ cấp thất nghiệp.

    1. Về các chế độ của BHXH.

     

    Cần mở rộng thêm các chế độ BHXH sau:

    Chế độ Chế độ Chế độ Chế độ

    trợ cấp thất nghiệp

    chăm sóc y tế

    trợ cấp tàn tật

    trợ cấp gia đình

    Cần sửa chữa bổ xung một số chế độ BHXH qui định tại các điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định 12/CP và 45/CP để khắc phục một số tồn tại như:

    Nâng độ tuổi nghỉ hưu của một số lao động đặc thù như những người làm công tác khoa học, giáo dục, lao động nữ làm công tác hành chính sự nghiệp khi đến tuổi theo qui định chung nhưng còn khả năng làm việc và cơ quan, đơn vị có nhu cầu sử dụng tiếp.

    Giảm bớt tỉ lệ trừ lương hưu của những người về hưu trước tuổi để cải thiện lương hưu và giải toả tâm lí thiệt thòi khi nghỉ hưu trước tuổi dẫn đến tình trạng ùn tắc lực lượng lao động ở các đơn vị, doanh nghiệp.

    Giảm độ tuổi nghỉ hưu của những người làm việc nặng nhọc độc hại phù hợp với mức độ suy giảm khả năng lao động.

    Đối với chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp cần bổ xung thêm vào danh mục bệnh nghề nghiệp những bệnh mới xuất hiện nhưng chưa được đưa vào danh mục bệnh nghề nghiệp gây thiệt thòi cho người lao động…

    1. Tăng cường tính pháp lí của các qui phạm pháp luật về BHXH.

    Nhanh chóng hoàn thiện và ban hành luật BHXH trong đó chú trọng đến các hình thức sử phạt nghiêm minh đối với các doanh nghiệp trốn đóng BHXH.

    Đưa các điều khoản qui định về thu nộp BHXH vào nội dung của luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp. Các điều khoản này qui định rõ về thứ tự ưu tiên thanh toán nộp BHXH trong hệ thống các khoản thanh toán của doanh nghiệp để đảm bảo giải quyết các quyền lợi hưởng BHXH của người lao động trong doanh nghiệp.

    • các địa phương cần có sự kết hợp đồng bộ và hiệu quả giữa Sở lao động thương binh xã hội với ngành BHXH. Liên đoàn lao động và các cơ quan pháp luật trong việc sử lí các doanh nghiệp nợ đọng BHXH.

    Có cơ chế khuyến khích cán bộ BHXH phát hiện và truy thu BHXH. Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thu BHXH để đáp ứng nhu cầu công việc.

    1. Quản lí BHXH

    Tăng cường công tác kiểm tra thanh tra việc thực hiện chính sách BHXH nhằm quản lí mọi người lao động, phổ biến qui định và nguyên tắc của ngành và những qui định có liên quan dược thực hiện đầy đủ, đúng qui định, kịp thời.

    Cơ quan BHXH các cấp tăng cường phối kết hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn như: ngành LĐ-TB-XH, liên đoàn Lao động, Kế hoạch đầu tư, Thuế, Công an, Thanh tra nhà nước trong công tác kiểm tra các doanh nghiệp về thực hiện Bộ luật lao động, nghĩa vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đóng BHXH đối với người lao động.

    Không ngừng mở rộng cả phạm vi, hình thức và nội dung thông tin, tuyên truyền nêu gương các doanh nghiệp làm tốt, phê phán các doanh nghiệp trốn đóng BHXH. Thông tin tuyên truyền phải sát cơ sở, sát người lao động đêr chủ sử dụng lao động và người lao động hiểu được chế độ, chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước và tự giác tham gia BHXH.

    Cơ chế quản lí và chi trả quỹ BHXH được tập trung ở cấp tỉnh, thành phố được đầu tư sinh lợi theo pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, chính phủ cần qui định rõ việc đầu tư này.

    Tổ chức hội đồng quản lí quỹ BHXH cấp tỉnh, thành phố gồm các thành phần: đại diện cơ quan quản lí nhà nước về lao động và tài chính, đại diện cơ quan quản lí BHXH và đại diện người lao động.

    1. Xúc tiến việc thiết lập và mở rộng quan hệ của BHXH Việt Nam với BHXH của các nước khác.

    Công tác này nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của các nước khác giúp cho qúa trình hội nhập với hệ thống bảo hiểm quốc tế mà gần nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Các lĩnh vực về BHXH cần trao đổi như: kinh nghiệm của các ngành, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác bảo hiểm, gia nhập các hiệp hội nhằm hỗ trợ lẫn nhau…

    III. Một số kiến nghị của bản thân.

     

    Cần xây dựng hệ thống BHXH đổi mới độc lập và tập trung với cơ cấu và hoạt động, các chế độ trợ cấp phù hợp .

    Cơ chế quản lí BHXH sớm xây dựng hệ thống tổ chức quản lí riêng biệt và đồng bộ.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên nghiên cứu ban hành mẫu “Thông báo nộp BHXH” với nội dung rõ ràng, cụ thể từ đó giúp cho việc quan lí thuận tiện hơn.

    Nhà nước nên chú trọng và đưa ra BHXH đối với người nông thôn lao động sản xuất trong nông nghiệp.

    Trên đây là một số kiến nghị của bản thân em nhằm giúp cho hệ thống BHXH được hoàn thiện hơn.

    KẾT LUẬN

    Như vậy để có của cải vật chất con người phải lao động, để lao động con người phải có sức khoẻ và khả năng lao động nhất định. Trong thực tế cuộc sống không phảo người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ và khả năng lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại không mấy ai tránh khỏi những rủi ro bất hạnh như: ốm đau, tai nạn hay già yếu…do ảnh hưởng của tự nhiên, của điều kiện sốngvà sinh hoạt cũng như các nhân tố xã hội khác. Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết để khắc phục những rủi ro bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên chỉ đến khi có sự ra đời của bảo hiểm xã hội thì những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thoả và có hiệu quả nhất. Vì vậy Bảo hiểm xã hội đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan, một trong những quyền lợi của con người như trong bản tuyên ngôn nhân quyền của Đại hội đồng Liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu:”Tất cả mọi người vơí tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng Bảo hiểm xã hội

    “ Một lần nữa xin khẳng định lại vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và xã hội. Thực tiễn chuyển đổi cơ chế và phát triển kinh tế ở nước ta đòi hỏi Bảo hiểm xã hội phải thích nghi với cơ chế mới, phải luôn phát triển. Trong những năm, qua mặc dù Bảo hiểm xã hội có nhữnh bước tiến khả quan bắt đầu khẳng định vai trò của nó nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ.

    Qua thực tế tìm hiểu và thực hiện đề tài này em không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được sự góp ý của thầy cô để đề án của em hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cám ơn!

    LOI CÁM ƠN !

    Để thực hiện được đề tài này là nhờ sự chỉ bảo không nhỏ của thầy cô phụ trách. Em xin chân thành cám ơn cô Nguyễn Bích Ngọc đã giúp em thực hiện đề tài này. Em cũng xin cám ơn khoa Kinh tế lao động và dân số đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng em thực hiện đề án môn học chuyên ngành.

    DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ BẢNG BIỂU

    1. Danh mục chữ viết tắt

     

    1. Bảo hiểm xã hội: BHXH

     

    1. Cộng hoà xã hội: CHXH

     

    1. Doanh nghiêp: DN

     

    1. Bảo hiểm y tế: BHYT

     

    1. Chính phủ: CP

     

    1. Cộng hoà liên bang: CHLB

     

    1. Cộng hoà: CH

     

    1. Lao động- Thương binh- xã hội: LĐ- TB- XH

     

    II.Danh mục bảng biểu

     

    1. Bảng 1: Thu BHXH

     

    1. Bảng 2: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới

     

    1. Bảng 3: Thu BHXH trên địa bàn Hà Nội

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Bảo hiểm – Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2000
    1. Giáo trình Quản trị nhân lực – Trươờng ĐHKTQD
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 1998
    1. Bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam
    1. Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Hà Nội 2002
    1. Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết / Bộ LĐ- TB- XH
    1. Nhà xuất bản thống kê – Hà Nội 2001
    1. Nguyễn Hữu Thân- Quản trị nhân sự
      1. Nhà xuất bản thống kê – Tp. HCM 2001
    2. Tạp chí BHXH tháng 1/2003
    3. Tạp chí BHXH tháng 3/2003
    4. Tạp chí BHXH tháng 4/2003
    5. Tạp chí BHXH tháng 5/2003
    6. Tạp chí BHXH tháng 6/2003
    7. Tạp chí BHXH tháng 7/2003
    8. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề II/1999
    9. Tạp chí lao động xã hội chuyên đề IV/1999
    10. Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 7/2003

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập môn Nguyên lý bảo hiểm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-qu%E1%BB%B9-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận văn Quản lý quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

    Lời nói đầu

     

    Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sẩy, hết tuổi lao động, qua đời.

    Cùng với sự  đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua , chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyển đổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động.

    Quỹ BHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động BHXH. Việc quản lý sử dụng quỹ BHXH (thu – chi quỹ BHXH) nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH. Vậy vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao được hiệu quả trong việc thu -chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động BHXH.

    Là sinh viên Khoa Bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân, để đóng góp một phần sức lực của mình cho việc phát triển các chính sách BHXH và sự ổn định  Quỹ BHXH mà cụ thể là việc nâng cao hiệu quả của công tác thu – chi quỹ BHXH. Qua bài viết này em xin nêu lên và đóng góp một số ý kiến, một số suy nghĩ của mình trong việc quản lý thu chi quỹ BHXH. Do còn hạn chế về trình độ kiến thức cũng như các tài liệu tham khảo nên chắc chắn còn có nhiều thiếu sót, hạn chế. Em rất mong các thầy côđóng góp ý kiến chỉ bảo những thiếu sót trong bài viết này để các lần viết sau co điều kiện nâng cao chất lượng của bài viết.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo Tô Thị Thiên Hương đã tận tình giúp đỡ em trong việc hoàn thành bài viết này đồng thời em xin cảm ơn các thầy cô giáo khác trong các kiến thức cho em trong khi giảng dạy để có thể hoàn thành bài viết này.

    Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô.

     

    Phần I. Lý luận chung về BHXH và Quỹ BHXH

    I. Lý luận chung về BHXH.

    Bảo hiểm xã hội (BHXH)là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, nó là một trong ba bộ phận của chính sách bảo đảm xã hội ở mỗi quốc gia. Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người lao động trong xã hội. Chính vì vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc điểm khác biệt về đối tượng, chức năng, tính chất so với các loại hình bảo hiểm khác do tính chất của nó quyết định.

    1. Bản chất của Bảo hiểm xã hội

    Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại… Đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ… Khi cuộc sống càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn được nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra. Vậy khả năng lao động quyết định đến nhu cầu sống và phát triển                    của con người.

    Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.

    Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chăm sóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn đi xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà nước. Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

    Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người thuê lao động). Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền công từ giới chủ. Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của người lao động. Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chi trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chi trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giải quyết điều hoà mâu thuẫn này. Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động. Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chi trả cho việc này. Theo thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này. Mặt khác cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chất lượng của việc bảo đảm cho người lao động cũng ngày càng được tốt hơn.

    Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

    Từ đây ta có thể nêu ra bản chất của Bảo hiểm xã hội đó là:

    – Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.

    – Mối quan hệ giữa các bên trong Bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH (người lao động và người sử dụng lao động), bên BHXH (cơ quan nhận nhiệm vụ BHXH), bên được BHXH (người lao động và gia đình họ).

    – Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong Bảo hiểm xã hội có thể là rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hoặc không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.

    – Phần thu nhập bị mất đi bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ nguồn quỹ BHXH. Nguồn này do bên tham gia đóng góp là chủ yếu còn lại do nhà nước bù thiếu.

    – Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

    + Đền bù cho người lao động những khoảng thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu  sinh sống thiết yếu của họ.

    + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật.

    + Xây dựng điều kiện  sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật & trẻ em.

    Với những mục tiêu trên BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thừa nhận ghi vào tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/48 rằng: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được hưởng BHXH, quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người”.

    2. Đối tượng, chức năng và tính chất của Bảo hiểm xã hội.

    1. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội.

    Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH.

    Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của người lao động do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai nạn, tuổi già… vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.

    Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể là tất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác.

    1. Chức năng của BHXH.

    – Bảo đảm ổn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp khó khăn do mất việc làm, mất hoặc giảm thu nhập. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.

    – Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mất thu nhập, quá trình này đã tiến hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu – người nghèo, người khoẻ mạnh – người ốm đau, người trẻ – người già… Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội.

    – Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lo lắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bất kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập trung vào việc lao động sản xuất. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

    – Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước góp phần đảm bảo an toàn cho xã hội. Do giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an toàn lao động… BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ. Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho mọi người lao động, ổn định xã hội.

    1. Tính chất của BHXH.

    – Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như đã phân tích ở trên rủi ro xây đến với cuộc sống của người lao động không hoàn toàn do người lao động gánh chịu mà nó ảnh hưởng tới người sử dụng lao động, tới toàn xã hội, nó gây ra mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động làm giảm năng suất lao động, mất ổn định xã hội. Buộc nhà nước phải can thiệp thông qua BHXH vì vậy BHXH ra đời mang tính tất yếu khách quan.

    – BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh không đều theo không gian và và thời gian. Điều này này thể hiện rõ trong nội dung  cơ bản của BHXH, từ thời điểm triển khai BHXH, người tham gia BHXH, mức đóng góp. Từ việc rủi ro phát sinh theo không gian, thời gian đến mức trợ cấp cho từng chế độ, từng đối tượng.

    – BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội đồng thời có tính dịch vụ, tính kinh tế được thể hiện qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH sao cho hợp lý, có hiệu quả nhất. Tính xã hội được thể hiện BHXH được sử dụng nhằm bảo đảm ổn định cho những người lao động và gia đình họ. BHXH thể hiện tính dịch vụ của nó thông qua hoạt động dịch vụ tài chính. (Thông qua nguồn vốn nhàn rỗi).

    3. Những quan điểm cơ bản về BHXH.

    Hiện nay có 5 quan điểm về BHXH như sau:

    – BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.

    – Mọi người lao động trong xã hội đều có quyền bình đẳng trước BHXH không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.

    – Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH đối với người mà họ sử dụng.

    + Họ phải đóng góp vào quỹ BHXH 1 khoản tiền nhất định so với tổng quỹ lương.

    + Họ phải thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với những người lao động mà mình sử dụng.

    – Các mức hưởng BHXH phụ thuộc vào 5 yếu tố sau:

    + Tình trạng sức khoẻ, thương tật thông qua giám định y khoa.

    + Ngành nghề công tác của người lao động

    + Thời gian công tác và tiền lương của người lao động

    + Mức đóng góp BHXH và thời gian đóng góp

    + Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia.

    + Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước qua từng thời kỳ.

    – Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp BHXH từ việc ban hành các chính sách và tổ chức bộ máy thực hiện các chính sách BHXH.

    II. Quỹ bảo hiểm xã hội, nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH.

    1. Nguồn hình thành quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây:

    – Người lao động đóng góp

    – Người sử dụng đóng góp

    – Nhà nước bù thiếu

    – Các nguồn thu khác (từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

    – Người lao động đóng góp một phần vào quỹ BHXH biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp   rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ.

    – Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ BHXH cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ.

    – Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội. Do mối quan hệ giữa chủ – thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được. Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật. Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt động BHXH được ổn định.

    Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm.

    Quan điểm thứ nhất: là phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.

    Quan điểm thứ hai: Phải căn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế để xác định mức đóng góp BHXH.

    Mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động. Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau.

    Một số nước khác lại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH…

    2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:

    – Chi trả vào trợ cấp cho các chế độ BHXH.

    – Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp các ngành.

    Trong công ước quốc tế Giơ nevơ số 102 tháng 6 năm 1952 BHXH bao gồm một hệ thống 9 chế độ sau:

    1. Chăm sóc y tế (thực chất là BHYT)
    2. Trợ cấp ốm đau
    3. Trợ cấp thất nghiệp
    4. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
    5. Trợ cấp tuổi già
    6. Trợ cấp gia đình
    7. Trợ cấp sinh đẻ
    8. Trợ cấp khi tàn phế.
    9. Trợ cấp cho người còn sống.

    Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu vào việc trợ cấp cho các chế độ trên.

    Tuỳ theo điều kiện kinh tế – xã hội mà các nước tham gia công ước quốc tế Giơnevơ có tham gia đầy đủ các chế độ nêu trên hay không. Theo số liệu thống kê năm 1996. Trên thế giới có 34 nước thực hiện đủ 9 chế độ, 34 nước còn thiếu chế độ 3, 62 nước chưa thực hiện chế độ 3 và 6. Tuy nhiên trong đó có một số chế độ quan trọng mà khi xây dựng các chính sách BHXH các quốc gia đều phải đề cập tới đó là: trợ cấp thai sản, trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp cho người còn sống.

    Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

    + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.

    + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia xẻ rủi ro, chia xẻ tài chính.

    + Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.

    + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.

    + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyểt toán.

    + Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

    + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

    + Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội.

    Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH quỹ BHXH còn được chi cho quản lý như: tiền lương cho cán bộ công nhân viên làm việc trong hệ thống BHXH. Khấu hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác. Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư phải đảm bảo nguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội.

     

    Phần II. Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam thực trạng và giải pháp

    I. Khái quát tình hình BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Bảo hiểm xã hội Việt Nam trước NĐ 43CP – 1993.

    Nhìn lại lịch sử BHXH Việt Nam, ở nước ta BHXH đã có từ trước cách mạng tháng 8 – 1945. Khi đó để củng cố địa vị của mình thực dân Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việt Nam làm việc trong bộ máy cai trị của họ.

    Sau cách mạng tháng 8, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật về BHXH có thể nêu một số    văn bản sau:

    Sắc lệnh 54/SL ngày 1/11/1945 quy định một số điều kiện cho công chức nghỉ hưu.

    Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 quy định việc cấp hưu bổng cho công chức. Hai sắc lệnh này chỉ rõ để được hưởng hưu bổng, công chức nhà nước phải đóng vào quỹ hưu đồng thời Nhà nước cũng phải có trách nhiệm đóng thêm cho công chức trong quỹ hưu bổng.

    Sắc lệnh 76/8L ngày 20/5/1950 Ngoài chế độ trợ cấp hưu trí đã quy định cụ thể hơn chế độ thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và chế độ tử tuất đối với công chức. Có thể nói đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa nhất về BHXH ở nước ta sau ngày độc lập và là cơ sở để ban hành điều lệ BHXH sau này.

    Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, các sắc lệnh trên không được thực hiện đầy đủ, nhưng có thể nói qua các văn bản này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với người lao động. Về mặt văn bản pháp luật thì đây là những văn bản đầu tiên về BHXH ở nước ta.

    Sau giải phóng miền Bắc, trên cơ sở hiến pháp 1959 cùng với các chính sách khác, Nhà nước đã ban hành điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo nghị định 218/CP ngày 27/12/1961. Theo điều lệ này, trong hệ thống BHXH ở nước ta có 6 chế độ đó là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất. Đây là văn bản pháp luật hoàn chỉnh nhất ở nước ta về BHXH lúc bấy giờ. Hệ thống BHXH có những đặc điểm sau đây:

    + Đối tượng được hưởng BHXH và CNVC Nhà nước và lực lượng vũ trang.

    + Đối tượng hưởng BHXH không phải đóng phí BHXH. Chi BHXH chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo một số phần do sự nộp nghĩa vụ của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH nằm ngoài ngân sách nhà nước.

    + Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với các chính sách xã hội khác.

    + Nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ Lao động, công đoàn, Bộ Tài chính…).

    Chính sách BHXH thực hiện trong thời kỳ đã phù hợp với cơ chế tập trung bao cấp trong điều kiện đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ và đã phát huy được tác dụng. Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược, chính sách BHXH đã góp phần  ổn định đời sống  cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ góp phần động viên sức người, sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống  quân xâm lược vào thống nhất đất nước.

    Chúng ta đã xét trợ cấp cho hàng triệu lượt người được hưởng các chính sách BHXH dưới nhiều hình thức khác nhau và tất cả các chế độ BHXH khác nhau. Từ đó giúp họ  yên tâm lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động, gắn bó những người lao động với cơ quan doanh nghiệp, với nhà nước .

    BHXH Việt Nam còn góp phần giải phóng lực lượng lao động nữ giúp chị em  ổn định việc làm, nuôi dạy con cái, phát huy sáng tạo trong sản xuất và kinh doanh.

    Chính sách BHXH của Việt Nam thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội góp phần thực hiện một loạt những công ước quốc tế đối với người lao động.

    Tuy vậy trong thơi gian này BHXH Việt Nam còn một số điểm tồn tại rất lớn đó là:

    – Nhận thức về BHXH có những lúc những nơi là thiếu đúng đắn chưa thấy hết được vai trò của nó.

    – Chính sách  này được tổ chức quản lý và thực hiện ở các cấp các ngành thiếu sự phối hợp, chồng chéo, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đã dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực.

    – Nội dung các chế độ còn nhiều vấn đề bất cập không phù hợp với thực tế.

    – Quỹ BHXH trên thực tế là không có vì vậy BHXH là gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    Khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH theo cơ chế này không còn phù hợp đòi hỏi phải có sự đổi mới BHXH Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới.

    2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam sau Nghị định 43/CP/1993.

    Hiến pháp 1992 nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ”Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các loại hình BHXH khác đối với người lao động”.

    Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII chỉ rõ cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách nhà nước… Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu lên “mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế”.

    Trên cơ sở của các văn bản pháp lý của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính sách BHXH cho phù hợp với cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng một văn bản quan trọng đó là Nghị định 43/CP ra đời ngày 22/6/1993. Nghị định 43/CP quy định tạm thời về chế độ BHXH mà theo đó, đối tượng tham gia  BHXH là mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Người tham gia BHXH phải đóng phí bảo hiểm, người sử dụng lao động cũng phải đóng phí BHXH cho người lao động mfa mình sử dụng, thuê mướn.

    Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện BHXH theo Nghị định 43/CP và cụ thể hoá Bộ luật lao động được quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995. Điều lệ BHXH mới được coi là một cuộc cách mạng về BHXH ở nước ta, đã làm thay đổi toàn diện chất lượng trong BHXH.

    Sự thay đổi được thể hiện ở một số điểm sau đây:

    – Đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng hơn so với trước đây. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ bao gồm công nhân viên chức nhà nước. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước, các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể,lực lượng vũ trang. Những người giữ chức vụ dân cử, dân bầu làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp:… mà còn mở rộng cho người lao động thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên.

    – Các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng có sự thay đổi theo Điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. So với trước đây chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ do không phù hợp, khó quản lý và dễ bị lợi dụng.

    – Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập nằm ngoài ngân sách nhà nước. Được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng sự hỗ trợ của nhà nước  và từ các nguồn khác. Như vậy các quan hệ tài chính trong BHXH được thể hiện rõ ràng. Các nguồn thu và các khoản chi BHXH phải được cân đối một cách tổng thể trong BHXH, sự đóng góp BHXH của các bên còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của họ trong BHXH.

    – Về mặt tổ chức quản lý chính sách: Đã giảm dần sự đan xen các chính sách BHXH với các chính sách xã hội khác góp phần tạo ra sự bình đẳng giữa các nhóm lao động, bình đẳng giữa làm và hưởng.

    – Các chức năng quản lý Nhà nước về BHXH đã tách khỏi các chức năng hoạt động sự nghiệp BHXH. Bộ Lao động thương binh và xã hội được chính sách giao trách nhiệm quản lý Nhà nước BHXH. Hoạt động  sự nghiệp BHXH là do cơ quan BHXH Việt Nam đảm nhận sự phân định chức năng và thống nhất quản lý này đã làm giảm bớt sự quản lý chồng chéo trước đây nâng cao hiệu quả hoạt động của BHXH.

    Với việc thực hiện theo cơ chế mới BHXH Việt Nam đã góp phần tích cực  vào việc lành mạnh hoá thị trường lao động ở nước ta; góp phần thực hiện bình đẳng xã hôi và ổn định xã hội.

    Tuy nhiên do BHXH ở nước ta không phải là xây dựng mới hoàn toàn mà có sự kế thừa nên còn nhiều vấn đề tồn tại, cần phải điều chỉnh và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới.

    II. Thực trạng quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua.

    1. Trước Nghị định 43/CP/1993.

    Như chúng ta đã biết trong giai đoạn này BHXH Việt Nam được hoạt động dựa trên các sắc lệnh của Nhà nước và điều lệ BHXH cho công nhân viên chức kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 vì vậy việc thu, chi và quản lý Quỹ BHXH cũng phải dựa trên các văn bản này.

    Các văn bản này ra đời trong hoàn cảnh nước ta đang tiến hành một cuộc kháng chiến chống bọn giặc ngoại xâm và thực hiện một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Vì vậy nó quy định tính chất và đặc điểm của hệ thống văn bản về BHXH nói chung và các quy định về tổ chức thu chi và quản lý quỹ BHXH nói riêng.

    Trong thời gian này quỹ BHXH hầu như có thể nói là tồn tại  trên danh nghĩa, nó nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo hộ hoàn toàn. Điều này có thể khẳng định bởi nguồn thu chủ yếu của quỹ đó là từ các doanh nghiệp và nhà nước đóng góp, người lao động không phải đóng góp. Tuy nhiên, đây là thời kỳ bao cấp nên các doanh nghiệp này đều là doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước bao cấp hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, vì vậy nhìn chung mà nói quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhà nước được ngân sách nhà nước bảo trợ hoàn toàn.

    Việc sử dụng quỹ BHXH dùng cho hai mục đích đó là chỉ trợ cấp các chế độ và chi quản lý hành chính sự nghiệp. Theo Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 thì hệ thống BHXH của nước ta bao gồm 6 chế độ, đó là: Thai sản, ốm đau, tai nạn lao động và bênh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất. Chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lương và đan xen với nhiều chính sách xã hội khác, chính vì vậy việc chi BHXH cho các chế độ này có nhiều tiêu cực và bất hợp lý, đặc biệt là chế độ mất sức lao động và hưu trí (có những người về hưu ở tuổi 40 hay những người nghỉ mất sức lao động lại khoẻ hơn nhiều người lao động khác). Do có nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH (Bộ lao động, công đoàn, Bộ tài chính) nên việc quản lý được tiến hành chồng chéo lên nhau, kém hiệu quả, chi phí quản lý bị đẩy lùi lên cao. Do bộ máy quản lý cồng kềnh, kém năng lực. Điều này khiến cho chi BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Khi nước ta bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986). Các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cả nước không còn được bao cấp, phải tiến hành hạch toán độc lập. Lúc này hệ thống BHXH Việt Nam nói chung và việc quản lý quỹ BHXH nói riêng đã bộc lộ ra nhiều khuyết điểm lớn. Thu BHXH từ các doanh nghiệp trong cả nước là không đáng kể. Việc chi BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm nhận. (năm 1987 97,23% do ngân sách nhà nước đảm nhận chỉ thu được 2,77%) điều này đòi hỏi một nhu cầu rất bức thiết đó là phải đổi mới các chính sách về BHXH nói chung và việc tổ chức thu, chi và quản lý quỹ BHXH nói chung nhằm đảm bảo được tính kinh tế và tính xã hội của BHXH.

    1. Sau nghị định 43CP/1993

    Nhằm phù hợp với điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường và khắc phục dần các nhược điểm còn tồn tại trong việc thực hiện các chính sách BHXH. Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đổi các chính sách BHXH mà sự thay đổi đầu tiên bắt đầu từ nghị định 43/CP ra ngày 22/6/1993. Tiếp đó một sự thay đổi lớn đó là sự ra đời của Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định 12/CP ra ngày 26/1/1995.

    Cùng với sự thay đổi này thì việc thu, chi quản lý quỹ BHXH cũng được thay đổi theo.

    Theo điều lệ BHXH hiện hành: Quỹ BHXHViệt Nam được hình thành từ các nguồn sau đây:

    – Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, trong đó 10% để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất, 5% chi cho các chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản.

    – Nguồn lao động đóng góp bằng 5% tiền lương để chi cho chế độ hưu trí và tử tuất.

    – Nhà nước hỗ trợ thêm.

    – Các nguồn thu khác (các cá nhân, tổ chức từ thiện giúp đỡ lãi đầu tư vốn nhàn rỗi).

    Quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích.

    – Chi quản lý hành chính sự nghiệp

    – Chi trợ cấp cho các chế độ

    Hiện nay quỹ BHXH Việt Nam thực hiện chi cho 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, vậy chế độ mất sức lao động đã bị loại bỏ.

    Việc quản lý quỹ theo điều lệ BHXH hiện hành thống nhất giao cho hệ thống BHXH Việt Nam thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội. Với sự thay đổi này việc thu chi và quản lý quỹ đã được tiến hành một cách ổn định, giảm bớt sự chồng chéo, gánh nặng về BHXH cho ngân sách nhà nước cũng ngày một giảm đi, đời sống của người lao động cũng được ổn định hơn và an toàn xã hội được đảm bảo.

    2. Tình hình thu BHXH trong thời gian qua.

    1. Thu từ người sử dụng lao động và người lao động.

    Theo chương XII Bộ Lao động và điều lệ BHXH ban hành kèm theo nghị định  12/CP ngày 26/1/1995 thì sự thay đổi về BHXH nhìn chung được thể hiện qua các mặt.

    – BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng mới được hưởng.

    – Thành lập quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

    – Thành lập cơ quan chuyên trách về BHXH (BHXH Việt Nam)

    Trên cơ sở nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH đã đặt ra yêu cầu rất quyết định đối với công tác thu nộp BHXH vì nếu không thu được BHXH  thì quỹ BHXH không có quỹ BHXH hạch toán độc lập để giảm bớt gánh nặng bao cấp của ngân sách nhà nước.

    Thấm nhuần nguyên tắc ngay từ khi mới thành lập, BHXH Việt Nam đã rất coi trọng công tác thu, luôn đặt công tác thu ở vị trí hàng đầu.

    Theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 quy định việc đóng góp BHXH đối với người sử dụng lao động là 15% tổng quỹ lương của doanh nghiệp, người lao động đóng góp 5% tiền lương.

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp BHXH cho cơ quan BHXH địa phương. Tiền lương làm căn cứ đóng góp là lương theo ngạch bậc, chức vụ thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

    Trong những năm qua mặc dù ngành BHXH còn gặp nhiều khó khăn như điều kiện vật chất, điều kiện làm việc, công việc còn mới mẻ… song công tác thu BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Nếu so sánh kết quả thu BHXH với thời điểm trước khi BHXH Việt Nam được thành lập thì kết quả thu BHXH trong những năm qua cho chúng ta thấy: Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định làm tiền đề cho công tác thu BHXH rất được quan tâm, chú trọng.

    Kết quả đạt được trong những năm vừa qua đã khẳng định phần nào sự trưởng thành của hoạt động thu BHXH cụ thể:

    Năm Lao động(người) Tỉ lệ (NS/NT) Số thu(triệu) Tỉ lệ (NS/NT)
    1995 2.275.998   788.486  
    1996 2.961.444 128,4% 2569733  
    1997 3.162.352 108,2% 3.445.611 134,1%
    1998 3.355.589 106,1% 3875956 112,5%
    1999 3579427 106,6% 4188382 108,1%

    Bảng số liệuu trên cho thấy các chỉ tiêu công tác thu BHXH qua các năm đều gia tăng, năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt số lao động năm tham gia BHXH năm 1999 so với 1995 tăng 1303439 lao động (tăng 57,3%) BHXH 1999 thu được 4.188382 triệu đạt 106,9% kế hoạch năm.

    Với kết quả trên, BHXH Việt Nam đã hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán đôc lập với ngân sách nhà nước chủ động chi trả cho người lao động, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc  chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH (bình quân hiện nay mỗi năm 3% nhưng mức giảm này sẽ ngày càng cao). Mặt khác quỹ BHXH có số tích luỹ sẽ ngày một tăng bảo đảm chi trả ổn định lâu dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đạt được kết quả trên là do các nguyên nhân sau:

    – Đối tượng tham gia đã được mở rộng hơn so với trước đây (doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 10 lao động trở lên phải tham gia đóng BHXH…)

    – Công tác quản lý thu BHXH từng bước đi vào nề nếp, người lao động và người sử dụng lao động đã ý thức được trách nhiệm quyền lợi của họ khi tham gia BHXH.

    – Công tác thu BHXH của các tỉnh, thành phố ngày một hoàn thiện, tuyên truyền vận động phối hợp với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác BHXH được đảm bảo. Một mặt tích cực rà soát, tuyên truyền vận động để tăng thêm đối tượng tham gia đóng BHXH đối với đơn vị sử dụng lao động và người lao động thuộc diện phải tham gia BHXH nhưng chưa tham gia BHXH. Đồng thời đôn đốc, kiểm tra, đối chiếu thường xuyên để thu đúng, thu đủ kịp thời số tiền BHXH phát sinh theo quỹ lương hàng tháng, hàng năm. Bên cạnh đó, là công tác  truy thu nợ đọng để ngăn chặn không để có công nợ phát sinh.

    – Trình độ cán bộ không ngừng được nâng cao, BHXH các tỉnh thành phố từng bước áp dụng công nghệ tin học vào quản lý hoạt động BHXH. Nói chung và quản lý thu BHXH nói riêng…

    Mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhưng công tác quản lý thu BHXH còn có những nhược điểm cần khắc phục nhằm ổn định tăng trưởng quỹ. Các nhược điểm đó là:

    – Đối tượng tham gia BHXH còn chưa mở rộng, hiện nay ở nước ta đối tượng tham gia BHXH theo hình thức bắt buộc chỉ chiếm 14% lực lượng lao động xã hội, còn trên 86% chưa tham gia BHXH. Điều này cho thấy chúng ta đã để lãng phí một nguồn thu rất lớn từ lực lượng lao động chưa tham gia BHXH này không đảm bảo được quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng, chưa đáp ứng được khuyến cáo của tổ chức lao động thế giới  ILO. Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thì không đáng kể. Mặt khác một số đơn vị sử dụng lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH, nhất là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa thực hiện đăng ký nộp BHXH, nói chính xác hơn thì phần lớn các đơn vị này cố tình trốn tránh việc tham gia đóng BHXH cho người lao động mà họ sử dụng thông qua việc lợi dụng các khe hở của pháp luật.

    – Tình trạng nộp thiếu, nợ đọng quỹ BHXH của số lao động tham gia BHXH trong các đơn vị đã đăng ký nộp BHXH, trong đó có một số không ít các doanh nghiệp nhà nước còn nợ BHXH với một số tiền lớn làm ảnh hưởng đến nguồn thu quỹ BHXH.

    Mức nợ quỹ BHXH qua các năm.

    Năm Nợ đọng (%)
    1995 11,3
    1996 8,3
    1997 11,2
    1998 10,0
    1999 9,0

    Riêng năm 1999 tình trạng nợ quỹ BHXH điển hình ở một số tỉnh như sau:

    BHXH tỉnh Phó Thọ 18 tỉ /73 tỉ Chiếm 24%
    BHXH tỉnh Hoà Bình 13 tỉ/120 tỉ Chiếm 20%
    BHXH tỉnh Thái Bình 7,7/38 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Thanh hoá 6,6 tỉ/44 tỉ Chiếm 15%
    BHXH tỉnh Gia Lai 46,6 tỉ/102 tỉ Chiếm 16%

    Điều này là do các nguyên nhân sau:

    + Do những khó khăn của đơn vị sử dụng lao động và người lao động vừa thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống quá khó khăn dẫn tới việc không thực hiện nộp BHXH đúng kỳ đúng số.

    + Do chủ sử dụng lao động thiếu ý thức chưa thực sự quan tâm tới việc nộp BHXH.

    + Do một số tồn tại nợ trước đây dồn tính lại, đơn vị sử dụng lao động chưa có nguồn hoặc chưa đủ cơ sở để xử lý hoặc là nộp hoặc là giải **** xử lý xoá nợ, nên vẫn theo nợ trên sổ sách.

    + Mặt khác trong việc quản lý thu còn có một số công việc chưa thực hiện kịp thời đầy đủ theo quy định như việc kiểm tra, đối chiếu, đôn đốc tiến độ nộp BHXH.

    – Tỉ lệ đóng góp và cơ cấu đóng góp vào quỹ hiện nay chưa hợp lý. Thực ra để đưa ra tỉ lệ  đóng góp là 20% (người sử dụng lao động 15%, người lao động 5%) chưa dựa vào cơ sở khoa học vững chắc, so với một số nước trên thế giới và khu vực thì tỉ lệ đóng góp của chúng ta còn thấp.

    Tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH ở một số nước đóng góp trên thế giới.

      Người LĐ so với lương Người SDLĐ so với quỹ lương (%)
    CHLB Đức 14,8 – 18,8 16,3 – 22,6
    CH Pháp 11,82 19,68
    Malayxia 9,5 12,75

    Và với tỉ lệ thu như thế này thì theo dự báo  của chuyên gia ILO tình hình quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian tới như sau:

      1997 2000 2010 2020 2030
    Số người đóng BHXH (ngàn) 3110 3271 4406 5233 58057
    Số người hưởng BHXH (ngàn) 1792 1802 1739 1808 1867
    Trong đó:          
    Thưởng trước 1995 1732 1635 1195 706 290
    Thưởng sau 1995 60 167 549 1102 1577
    Thu BHXH (ngàn tỉ) 7,9 11,6 23,4 35,1 49,6
    Chi BHXH (ngàn tỉ) 5,9 8,7 17,9 33,4 63,0
    Chênh lệch thu chi (ngàn tỉ) +2,0 +2,8 +5,5 +1,8 -13,5

    Vậy theo dự báo của các chuyên gia ILO thì tới năm 2030 quỹ BHXH Việt Nam sẽ bị thâm hụt trầm trọng.

    Với những ưu nhược điểm  vừa nêu trên trong công tác thu BHXH của nước ta trong thời gian đòi hỏi chúng ta cần phải có những giải pháp thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thu BHXH trong thời gian tới đảm bảo sự tăng trưởng ổn đinh của quỹ BHXH nói riêng và ổn định hoạt động BHXH nói chung.

    1. Thu từ ngân sách nhà nước đóng góp và các khoản thu khác.

    Quỹ BHXH Việt Nam được ngân sách nhà nước đóng góp dưới dạng chuyển cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng được thưởng BHXH từ 1/1/1995 trở về trước.

    Ngoài ra quỹ BHXH Việt Nam còn được ngân sách nhà nước trợ giúp chi trả cho các chế độ cho những người được hưởng BHXH sau ngày 1/1/1995. Trước đây do khâu thu, chi BHXH còn yếu kém nên BHXH là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay sau những năm đổi mới BHXH đã dần thoát khỏi bao cấp nặng nề từ ngân sách nhà nước, ngân sách cấp cho BHXH được giảm dần (mỗi năm giảm bình quân khoảng 3% nhưng mức giảm ngày càng cao).

    Đối với các khoản thu khác: từ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức từ thiện, từ đầu tư vốn nhàn rỗi… cũng đã góp phần gia tăng quy mô của quỹ BHXH. Đặc biệt đối với hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH có vai trò vô cùng quan trọng, bởi hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm hoạt động tài chính, thông qua việc đầu tư, sử dụng vốn nhàn rỗi để sinh lời, có hoạt động đầu tư vốn mới đảm bảo được việc chi trả quỹ BHXH trong tương lai. Cuối năm 1999 số vốn tạm thời nhàn rỗi của BHXH là 12000 tỉ đồng. Số tiền này BHXH được chính phủ cho phép đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế xã hội của đất nước, mua trái phiếu, công trái và gửi ngân hàng của nhà nước để phát triển giá trị của quỹ. (đợt mua công trái vừa qua BHXH đã mua 500 tỉ đồng). Tổng số tiền sinh lời là 631 tỉ đồng.

    Kết quả trên đạt được là do các nguyên nhân:

    – Thứ nhất là do hiệu quả ngày càng cao trong công tác thu phí BHXH từ người sử dụng lao động và người lao động như nêu ở trên.

    – Nhà nước quyết định đưa quỹ BHXH ra hạch toán độc lập điều này khiến cho các cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH tự hoàn thiện, nâng cao trách nhiệm của mình trong việc quản lý hệ thống BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng nâng cao hiệu quả trong quản lý quỹ.

    – Bước vào cơ chế thị trường, được nhà nước giao cho toàn quyền srư dụng quỹ BHXH, các cán bộ quản lý BHXH nói chung và quỹ BHXH nói riêng đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế mới, tích luỹ kiến thức mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực vừa có hiệu quả kinh tế vừa an toàn góp phần tăng nguồn thu của quỹ.

    Mặc dù đã đạt được một số hiệu quả ở công tác này trong thời gian qua, tuy nhiên cũng ở công tác này trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục.

    Mặc dù có giảm nhưng ngân sách nhà nước cấp cho BHXH còn tương đối lớn nó bao gồm tất cả chi phí trợ cấp BHXHcho những người được hưởng chế độ BHXH trước 1/1/1995 và một phần chi phí các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH sau 1/1/1995 mà số lượng những người này hiện nay còn rất đông và do hậu quả của các chính sách, chế độ trước đây để lại nêu đây vẫn còn là một gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

    – Trong vấn đề đầu tư vốn nhàn rỗi do quỹ BHXH là một quỹ đặc biệt, liên quan đến đời sống của hàng triệu người  lao động trong xã hội nên hoạt động đầu tư chỉ được sử dụng một phần vốn nhàn rỗi và phải hết sức cẩn trọng.

    Vì vậy hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi có hiệu quả chưa cao bởi tính cẩn trọng khiđầu tư vốn (theo quy luật rủi ro càng lớn, lợi nhuận càng cao) đồng thời do thị trường chứng khoán của chúng ta mới hình thành còn nhiều vướng mắc, các cán bộ quản lý quỹ BHXH kinh nghiệm chưa nhiều với đầu tư chủ yếu là gửi ngân hàng, mua trái phiếu kho bạc, muc công trái… nên lãi suất còn thấp.

    Từ các vấn đề đã nêu trong công tác thu BHXH cho chúng ta thấy được mặc dù công tác thu BHXH đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, dần dần góp phần đưa BHXH thoát khỏi sự bao cấp nặng nề của nhà nước. Tuy nhiên nó vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục trong thời gian tới nhằm tạo điều kiện cho việc tăng trưởng, phát triển nguồn quỹ BHXH góp phần ổn định đời sống người lao động, giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách, ổn định kinh tế – xã hội.

    3. Tình hình chi BHXH trong thời gian qua.

    Như đã nêu ở trên quỹ BHXH được sử dụng cho hai mục đích đó là:

    + Chi trả trợ cấp các chế độ BHXH

    + Chi quản lý quỹ BHXH

    Quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH. Hiện nay BHXH Việt Nam bao gồm 5 chế độ đó là: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và cuối cùng là chế độ tử tuất.

    Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác quản lý thu BHXH nói riêng thì công tác quản lý chi BHXH trong thời gian qua cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt.

    Trong những năm qua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc đổi mới quy trình, thủ tục hồ sơ xét hưởng chế độ BHXH công việc này là một trong những khâu cải cách hành chính nhằm đem lại sự phục vụ thuận lợi nhất cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động. Trước đây việc giải quyết ốm đau thường kéo dài từ một đến hai tháng vì cần nhiều loại giấy tờ làm căn cứ để trả trợ cấp. Đến nay toàn ngành thực hiện trong thời hạn từ 5 đến 25 ngày được hầu hết các đơn vị sử dụng lao động hoan nghênh.

    Từ năm 1995 đến nay đã giải quyết hơn 3 triệu lượt người nghỉ ốm, 7 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn 30 vạn lượt người nghỉ thai sản, 51 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ.

    Cùng với việc giải quyết các chế độ BHXHlà việc tổ chức chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH cũng hết sức tiến bộ. Công tác tổ chức đem tiền đến trả cho đối tượng kịp thời, đầy đủ,  thuận tiện luôn là mục tiêu phấn đấu của BHXH Việt Nam.

    BHXH Việt Nam cũng đã quy định BHXH các cấp chi trả trực tiếp cho những người được hưởng chế độ hưu một lần hoặc trợ cấp một lần nhằm mục đích tăng cường sự tiếp cận với người hưởng BHXH. Trên cơ sở đó nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng kiến nghị của đối tượng về giải quyết chính sách, chế độ BHXH có đúng và kịp thời không? Việc tiếp cận trực tiếp với người lao động cũng giúp cơ quan BHXH quản lý đối tượng tốt hơn xác thực hơn: Đồng thời tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền mở rộng đối tượng cho công tác tham gia BHXH ngày càng nhiều hơn, tác động tích cực đến công tác thu BHXH.

    Bình quân số tiền chi trả lương lương hưu và các loại trợ cấp cho hơn 6 triệu người lao động là 6000 tỉ đồng một năm nhưng BHXH đã thực hiện chi trả kịp thời, đầy đủ theo chế độ, tất cả những người được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hàng tháng đều được nhận một lần trước ngày 15. Đặc biệt ngày 24/6/1999 BHXH Việt Nam đã ban hành văn bản số 860/BHXH – QLC có hiệu lực từ 1/7/1999 về việc chi trả lương cho đối tượng tạm vẵng đến nơi tạm trú. Theo văn bản này thì các  đối tượng đến ở nơi tạm trú từ 3 tháng trở lên có thể nhận lương hưu tại nơi tạm trú một cách thuận lợi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa làm được.

    Công tác chi trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đã làm cho đối tượng yên tâm và yêu mến những người làm công tác BHXH.

    Hệ thống biểu mẫu, sổ sách  được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước, nhằm phục vụ đăc lực cho công tác chi trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình hiện nay. Với việc ra đời của sổ BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ dàng, chính xác, kịp thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

    BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý của ngành góp phần nâng cao  hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

    Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác quản lý chi vẫn còn phải đặt ra nhiều vốn cần tiếp tục củng cố trong thời gian tới, cụ thể là:

    – Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp cho người lao động, thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của người lao động cũng như gia đình họ.

    – Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm. Việc tổ chức vận chuyển tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chi trả chưa đảm bảo dễ xảy ra mất mát, thiếu hụt. Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

    – Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

    Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai đảm bảo việc tăng trưởng và ổn định quỹ, ổn định xã hội.

    III. Các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHXH Việt Nam.

    1. Biện pháp tăng thu BHXH.

    1. Đối với khoản thu từ người lao động và người sử dụng lao động.

    – Trước hết về phía quản lý vĩ mô của nhà nước cần phải có được hệ thống văn bản pháp lý ổn định, thoả đáng trong hoạt động BHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng (Như việc nhanh chóng cho ra đời luật BHXH) đưa công tác thu BHXH đi vào nề nếp và có hiệu quả.

    – Cần có các biện pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH ra các lực lượng lao động trong xã hội (nước ta mới chỉ có 14% lực lượng lao động xã hội tham gia BHXH) theo đúng tôn chỉ của tổ chức lao động thế giới (ILO) “Mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH”, điều này sẽ góp phần mở rộng tăng trưởng quỹ BHXH và thoả mãn quy luật vốn có của bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng là lấy số đông bù số ít.

    – Tăng cường hơn nữa việc kiểm tra, rà soát số lao động thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo luật định, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, thường xuyên đôn đốc, đối chiếu số thu BHXH của các đơn vị sử dụng lao động, phối hợp chặt chẽ với các ban ngành liên quan trong việc thực hiện công tác thu BHXH tại các tỉnh, thành phố, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo về thu BHXH, tăng cường tuyên truyền về chính sách, chế độ BHXH qua các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp xuống các đơn vị sử dụng lao động, tuyên truyền vận động cho sử dụng lao động, người lao động hiểu biết và nhận thức đúng về quyền lợi trách nhiệm trong việc tham gia BHXH.

    – Cần phải xác định lại tỉ lệ đóng góp vào quỹ BHXH một cách chính xác hơn trên cơ sở khoa học. Để tương ứng với mức hưởng trợ cấp BHXH nhằm đảm bảo sự chi trả của quỹ BHXH, tránh vỡ quỹ (theo dự đoán của ILO với mức đóng góp và mức hưởng hiện nay đến năm 2030 quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt, ILO khuyên nên đưa tỉ lệ đóng góp quỹ BHXH lên là 30% lương, một số tính toán của các nhà nghiên cứu trong nước  thì để được hưởng 75% lương thì mức đóng góp phải là  35% quỹ lương còn nếu đóng góp 20% thì chỉ nên được hưởng 45% lương.

    1. Với các khoản thu khác.

    – Cần tích cực khai thác các khoản viện trợ, đóng góp từ các tổ chức từ trong nước và ngoài nước.

    – Mạnh dạn sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi đi đầu tư sinh lời vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước vừa tăng việc làm cho xã hội, mở rộng đối tượng tham gia BHXH, vừa tránh để nguồn vốn chết để tăng thu từ lãi đầu tư.

    – Tăng cường đào tạo cán bộ đầu tư quỹ vừa đảm bảo tăng trưởng quỹ vừa đảm bảo ổn định quỹ.

    – Cần có những chính sách mới trong việc sử dụng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH cho phù hợp với điều kiện nước ta bước vào nền kinh tế thị trường và sự ra đời thị trường chứng khoán.

    2. Các biện pháp giảm chi BHXH.

    – Tổ chức ở các cấp, các ngành thực hiện việc chi trả các chế độ đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.

    – Tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động chi BHXH theo từng chế độ, từng địa phương, ngành nghề tránh các hiện tượng tiêu cực trong chi BHXH và có những biện pháp xử lý thích đáng vơí những trường hợp vi phạm.

    – Tăng cường, tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nâng cao năng lực của các cán bộ nhằm tăng hiệu quả quản lý của các cán bộ này cho thích nghi vơí điều kiện  mới.

    – ứng dụng công nghệ tin học vào quá trình quản lý hoạt động BHXH nói chung, quản lý thu – chi nói riêng nhằm tăng hiệu quả quản lý các hoạt động này.

    Tài liệu tham khảo

     

    – Giáo trình Lý thuyết tiền tệ ngân hàng (Học viện Ngân hàng)

    – Giáo trình Bảo hiểm (Trường Đại học KTQD)

    Chủ biên PGS. TS Hồ Sĩ Sà

    – Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số: 1, 3, 5, 6/2000 xuân canh thìn

    – Tạp chí Lao động & Xã hội các số 4/1997; 8,9,12/1998; 3/1999; 3/2000

    – Nghị định 43CP ra ngày 22/6/1993

    – Nghị định 12CP ra ngày 26/11/1995

    – Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam chương 12


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-VN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án Thực trạng bảo hiểm VN

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    KHÁI NIỆM BẢO HIỂM: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông qua đó một cá nhân hay tổ chức (người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (người bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.

    Bảo hiểm ngày nay được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc một người thứ ba (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm) được nhận số tiền chi trả hay bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định người hợp đồng.

    TÍNH CẦN THIẾT CỦA CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM:

    + SỞ LÝ LUẬN: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu của nhu cầu được bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện vọng của con người muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tương lai được đảm bảo. Theo thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn bản nhất của con người nhưng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi người ta lầm tưởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhưng quyết định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I. Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu dùng và tiết kiệm. Người ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn. Chính vì vậy con người ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các dịch vụ bảo hiểm là một tất yếu.

    + SỞ THỰC TIỄN: Tai nạn gây ra nhiều tổn thất về tài chính, tinh thần thậm chí là cả tính mạng cho chính bản thân và gia đình của những người không may gặp

    rủi ro. Hiện nay, trên thế giới có hơn 700000 người chết, hơn 10.000.000 người bị thương do tai nạn giao thông, thiệt hại kinh tế toàn cầu là 5000 tỷ đô la. Hiện nay nguy cơ chiến tranh và nguy cơ khủng bố, nội chiến sắc tộc

    • các nước châu Phi, tranh chấp lãnh thổ giữa một số quốc gia vùng trung và nam châu Á,…vẫn luôn thường trực xảy ra, đe doạ sự an toàn của tất cả mọi người. Vẫn đang từng ngày cướp đi sinh mạng, tiền của của rất nhiều người, thiên tai như lũ lụt, bão, động đất ngày càng hoành hành dữ dội tại nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp… Sự ổn định cuộc sống của mỗi con người đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong khi đó, thu nhập của họ đang được nâng lên đáng kể, nhu cầu tiết kiệm để đảm bảo cuộc sống trong tương lai rất được chú trọng. Những năm gần đây, thị trường các lĩnh vực đầu tư khác rất bất ổn. Các thị trường chứng khoán New York , London, Paris…

    luôn chao đảo bởi sự kiện khủng bố ngày 11.9.2001, sự kiện phá sản của các tập đoàn Enron, bê bối tài chính của Worldcom, thảm hoạ tài chính của Vivendi… Do vậy các hoạt động bảo hiểm lại là sự lựa chọn an toàn của những người tham bảo hiểm. Đó chính là những đòi hỏi khách quan cho sự ra đời,tồn tại và phát triển của các loại hình dịch vụ bảo hiểm trên thế giới.

    • Việt Nam cũng có rất nhiều nguy cơ có thể ảnh hưởng tới cuộc sống ổn định của con người. Theo thống kê, năm 2000 xảy ra 22.486 vụ tai nạn, tăng 8,5% so với năm 1999. Trong đó làm chết 7500 người, tăng 12.4% so với năm trước, số người bị thương là 25.400 người, tăng 6.2%. Đặc biệt tỷ lệ tai nạn giao thông đang tăng ở mức độ báo động do số lượng các phương tiện giao thông vận hành trên các đường phố ngày càng nhiều. Tai nạn do những người điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn, do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phương tiện còn lại gây ra khoảng 11,4%. Các hiện tượng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thường xuyên

    hơn, mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi người luôn luôn lo lắng cho cuộc sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những người xung quanh. Chính nhu cầu được bảo hiểm của con người là cơ sở cho sự ra đời của bảo hiểm.

    PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Trong bài viết này em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

    Phương pháp phân tích: Dựa vào các bài báo sưu tầm được, em phân tích để thấy được các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.

    Phương pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này được tổng hợp từ nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.

    Phương pháp thống kê: nhờ có phương pháp thống kê, em có thể tổng kết được các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.

    Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phương pháp khác: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp mô hình hóa…

    NỘI DUNG: Đề án bao gồm các nội dung sau:

    Chương 1: Lý luận chung.

    Chương 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.

    Chương 3: Giải pháp.

    II.NỘI DUNG:

    CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

    1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ RA ĐỜI CỦA BẢO HIỂM:

    Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro bất trắc có thể xảy ra. Sau này con người nhận thấy dự trữ có tổ chức hoặc dự trữ theo nhóm có hiệu quả hơn dự trữ cá nhân. Vào những năm 2.500 TCN ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn. Khi thương nghiệp phát triển, các thương gia, thay vì tự tích cóp, người ta có thể vay tiền để đủ tiền cho một chuyến hàng. Vay cũng là một hình thức tự bảo hiểm khi họ cần những khoản chi tiêu đột suất. Ở Babylon (năm 1700 năm TCN) và ở Athen (năm

    • TCN) đã xuất hiện hệ thống vay mượn lãi suất cao. Tuy nhiên hình thức này có thể dẫn tới những khoản nợ chồng chất do lãi suất cao. Vì vậy, sau này đã xuất hiện hình thức góp cổ phần. Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho một người vì nó được chia cho nhiều người cùng gánh chịu. Tuy nhiên những người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian để tìm đối tác, phải dàn xếp, thoả thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. Những hạn chế của các biện pháp tự bảo hiểm đã tạo điều kiện cho hình thức bảo hiểm ra đời. Những thoả thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán bằng đường biển. Bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa- Italia vào năm 1347. Như vậy bảo hiểm hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm.

    Khi xã hội phát triển, các hình thức cổ truyền không còn đảm bảo an toàn cho cuộc sống cá nhân và cộng đồng nữa do vậy các loại bảo hiểm khác đã ra đời. Năm 1667 công ty bảo hiểm hoả hoạn đầu tiên ra đời tại Anh. Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công bảo hiểm nhân thọ đầu

    tiên ra đời tại Anh. Cuối thế kỷ 19 hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã ra đời như: bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự…

    1.2 NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

    1.2.1 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM

    Bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông: Quy luật này giúp các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và quản lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.

    Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.

    Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

    Thứ nhất, là đối với người tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.

    Đối với người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.

    Nguyên tắc “nguyên nhân gần”: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân thuộc trách nhiệm bảo hiểm.

    Nguyên tắc bồi thường và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thường: Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc một phần theo mức độ thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    Nguyên tắc khoán: Người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi

    thường. Nguyên tắc này được áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba gây ra.

    Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty cùng bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm bị tổn thất có nghĩa vụ đóng góp bồi thường theo tỷ lệ phần trăm trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    1.2.2) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM CƠ BẢN

    Căn cứ vào tính chất hoạt động, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thương mại (BHTM).

    a)bảo hiểm xã hội: BHXH là loại hình bảo hiểm được thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. BHXH là chính sách xã hội của nhà nước nhằm tạo lập quỹ tài chính tập trung nhằm tài trợ cho người lao động gặp rủi ro. BHXH có 5 chế độ chi trả sau: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất. BHXH đã mở rộng quyền cho người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, trợ giúp các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, đảm bảo cho quản lý và an ninh lâu dài của nhà nước. Tuy vậy BHXH vẫn còn nhiều tồn tại: thứ nhất, BHXH chỉ áp dụng đối với các đối tượng là người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan hành chính sự nghiệp. Thứ hai, bảo hiểm chỉ giới hạn trong 5 chế độ chi trả đã kể trên, và trong mỗi chế độ đó còn hạn chế phạm vi được bảo hiểm.. Thứ ba, mức độ chi trả BHXH hiện nay vẫn còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu mong đợi của người lao động. Thứ tư, thủ tục chi trả chế độ

    BHXH còn mang tính quan liêu, hành chính … gây khó khăn cho người lao động.

    b)Bảo hiểm y tế: Cũng giống như bảo BHXH, BHYT hoạt động không vì mục đích kinh doanh. BHYT là chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh. Quyền lợi được bảo hiểm của BHYT áp dụng cho 2 trường hợp: khám bệnh và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những người tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục được hạn chế của BHXH là: BHYT được áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Tuy nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi phí khám bệnh, 20% còn lại người bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý BHYT vẫn còn rườm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh ngoại trú và chữa bệnh nội trú.

    c)Bảo hiểm thương mại: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của nhiều người thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn đầu tư đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):

    *) bảo hiểm nhân thọ: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến tính mạng và sức khoẻ của con người. BHNT chi trả trong các trường hợp sau: chi trả cho người thừa hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm không may qua đời, chi trả cho người bảo được bảo hiểm khi hết hạn hợp

    đồng, chi trả cho người bảo hiểm khi họ bị thương tật. Phí của một hợp đồng BHNT thường căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định về số lãi mà công ty bảo hiểm thu được nhờ đầu tư khoản phí tạm thời nhàn rỗi vào các lĩnh vực đầu tư khác), các chi phí hoạt động khác của công ty

    *) bảo hiểm phi nhân thọ: BHPNT là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không phải là BHNT. BHPNT được chia thành ba loại hình cơ bản sau:Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người.

    Ngoài các đặc trưng giống như BHTM nói chung (xem 1.2.2), BHPNT còn có các đặc trưng chủ yếu sau:Hoạt động BHPNT là một hợp đồng có thời hạn ngắn: thường là một năm hoặc ngắn hơn. BHPNT chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra.

    CHƯƠ NG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH BẢO HIỂM XHVN:

    2.1.1) NGUỒN THU:

    BHXH Việt nam là một quỹ BHXH được quản lý thống nhất và sử dụng để chi trả 5 chế độ BHXH (xem phần 1.2.4). Trong quá trình phát triển, BHXH Việt Nam đã từng thực hiện cả theo 2 mô hình: nhà nước thực hiện toàn bộ (bao cấp) và nhà nước tổ chức có sự tham gia của giới chủ và giới. Theo nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của chính phủ về việc ban hành điều lệ quy định: đối tượng tham gia BHXH được mở rộng cho cả những người lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng từ

    • lao động trở lên. Cũng theo quy định này, quỹ BHXH được hình thành

    từ: sự đóng góp của người lao động 5% tiền lương, người sử dụng lao động 15% quỹ lương. Số dư BHXH năm 2002 là 25.000 tỷ đồng. Số người tham gia BHXH năm 2002 là 4,8 triệu người. Ngoài ra, BHXH còn có nguồn thu từ lợi nhuận đầu tư. Lãi thu từ đầu tư của quỹ BHXH năm 2002 là 1.100 tỷ đồng.

    2.1.2)CHI:

    Từ nguồn thu nói trên quỹ BHXH Việt Nam đã sử dụng để chi trả các loại chi phí. Số người được hưởng chế độ BHXH năm 2002 khoảng 190.950 người. Đó là chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH từ sau 1/1/1995, vì những đối tượngvề hưu. Trong nhiều năm gần đây, BHXH Việt Nam đã cố gắng tự cân đối thu chi để giảm nguồn trợ cấp từ Ngân sách nhà nước. Tuy vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ BHXH tồn tích của những năm trước để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm 2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.

    Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp được sử dụng để chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hưu trí và tử tuất. Nâng cao mức sống của những người lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục tiêu trọng yếu.

    Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng trưởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.

    2.2) THỰC TRẠNG NGÀNH BHYT:

    Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)

    chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau:

    • Số người tham gia bảo hiểm tuy có xu hướng tăng nhanh:

    Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả rất quan trọng . Số người tham gia BHYT tăng nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu người tham gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nước. Ngoài khu vực BHYT

    Sè ng−êi tham gia BHYT ®Õn n¨m 2002

    15       12.7
        9.7  
    10      
      3.8    
          Sè ng−êi (triÖu)
    5 0    
         
           
    0 1992 1993 1998 2002
     

    bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu người đang tham gia các chương trình BHYT xã hội tự nguyện

    • sử dụng quỹ BHYT

    Nhiều năm qua, nguồn thu BHYT đã gần bằng 1/3 Ngân Sách Nhà nước dành cho ngành y tế và 50% Ngân sách dành cho lĩnh vực điều trị. Trên 90% bệnh nhân chạy thận chu kỳ tại các trung tâm lọc máu là người có thẻ BHYT.

    Hàng năm thanh toán quỹ BHYT cho hàng ngàn người mắc bệnh, với chi phí tới hàng chục triệu đồng một người. Ngoài những dịch vụ y tế thiết yếu ,người có bảo hiểm BHYT còn được quỹ BHYT thanh toán chi phí cho các dịch vụ y tế kỹ thuật cao như các kỹ thuật chuẩn đoán hình ảnh hiện đại (siêu âm màu ,chụp ảnh cắt lớp vi tính CT Scaner, cộng hưởng từ hạt nhân MRI…các phương pháp điều trị chi phí cao (thận nhân tạo ,điều trị ung th-ư,mổ tim…)

    Hệ thống BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh đã phối hợp để tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT, đảm bảo cho bệnh nhân BHYT được chăm sóc sức khoẻ ngay tại y tế tuyến xã. Đến cuối năm 2002, khoảng 50% trạm y tế xã trong toàn quốc đã tổ chức khám chữa bệnh thông thường cho người có thẻ BHYT.

    BHYT và các bệnh viện ở một số thành phố lớn đã triển khai thí điểm cải cách thủ tục hành chính trong tiếp nhận và khám bệnh, kê đơn cấp thuốc cho bệnh nhân BHYT. Quyền lợi bệnh nhân BHYT ngày càng được tăng cường và đảm bảo hơn.

    2.3) BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI:

    2.3.1 VIỆC HÌNH THÀNH NGÀNH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

     

    Công ty hiểm Việt ngày nay.

    bảo hiểm đầu tiên được Nam (Bảo Việt)-tiền thân Bảo Việt được thành

    thành lập của tổng lập theo

    • Việt Nam là công ty bảo công ty bảo hiểm Việt Nam quy định số 179/CP ngày

    17/45/1964 của chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá thành công trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.

    2.3.2) HỆ THỐNG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM.

    1. a) các công ty bảo hiểm nhà nước:

    Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nước, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nước ngoài. Dưới đây là một số công ty điển hình.

    *) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nước. Số vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng chiếm trên 2200 tỷ đồng.

    *) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

    Bảo Minh được thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày 28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh được thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.

    1. b) các công ty bảo hiểm cổ phần:

    *) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO): công ty bảo hiểm Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm được thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.

    1. c) các công ty bảo hiểm liên doanh: Gồm 5 công ty:

    *) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA: Công ty này chính thức đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi

    • công ty: Bảo Việt- Việt Nam, commercial union-UK và Tokyo Marine and Fire insurance Co.-Nhật Bản. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 6000.000 đô la Mỹ. Trong đó Bảo Việt góp 51% vốn, 49% còn lại chia đều

    cho cả hai công ty nước ngoài. Tính đến năm 2000 thị phần bảo hiểm của công ty chiếm 2%. Công ty VIA chỉ tham gia bảo hiểm phi nhân thọ.

    *)công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG: Đây là công Ty liên doanh giữa tập đoàn CMG (Úc) và công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 12/11/1999 với thời hạn hoạt động 30 năm. Số vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 USD.

    1. d) Các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài:

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Chinfon-Manulife: đây là công ty 100% vốn nước ngoài liên doanh giữa tập đoàn Chinhfon-Đài Loan và tập đoàn Manulife-Canađa. Công ty liên doanh này chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/6/1999, có thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn đăng ký kinh doanh của công ty là 10.000.000 đô la Mỹ. Lĩnh vực hoạt động là thị trường BHNT.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential: Đây là một công ty 100% vốn nước ngoài của Anh Quốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 29/10/1999. Vốn đăng ký kinh doanh 14.000.000 đô la Mỹ, hoạt động trong thời hạn 50 năm. Prudential có tốc độ khai thác tương đối tốt, chủ trương khuyến khích đại lý đi về các địa phương khai thác và tuyên truyền quảng cáo.

    *) Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ (AIA): là một công ty 100% vốn nước ngoài của Mỹ, đi vào hoạt động từ ngày 22/2/2000 với số vốn đăng ký kinh doanh là 14.000.000 đô la Mỹ, có thời hạn hoạt động 50 năm.

    Ngoài ra còn một số công ty bảo hiểm mới được cấp giấy phép kinh doanh như: công ty liên hiệp bảo hiểm UIC, công ty bảo hiểm Việt-Úc công ty bảo hiểm dầu khí, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Bưu, công ty môi giới bảo hiểm Bảo Việt-Inchcape, công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Long, công ty

    Allianz, công ty 100% vốn nước ngoài Groupama-Gan hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp (cấp cuối năm 2001), công ty liên doanh bảo hiểm giữa ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam với một đối tác của Ôxtraylia đang chờ giấy phép thành lập…

    2.3.3) MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM.

    1. a) Việt Nam là một thị trường bảo hiểm tiềm năng:

    Thứ nhất, Việt Nam là một con số các quốc gia đông dân trên thế giới, năm 1999 dân số Việt Nam vào khoảng 76 triệu dân. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển của bảo hiểm. Thêm vào đó, mỗi người khác nhau ở những độ tuổi khác nhau, giới tính khác nhau… lại có những nhu cầu bảo hiểm khác nhau nên thị trường bảo hiểm sẽ không ngừng thay đổi và phát triển.

    Thứ hai, nguồn tiền do dân nắm giữ chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn khoảng 6-

    • tỷ đô la, trong đó có khoảng 64% là nắm giữ dưới dạng bất động sản. Do đó nhu cầu bảo hiểm tài sản lại nhiều.

    Thứ ba, nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh được thành lập. Vì điều này nên tài sản của con người sở hữu sẽ tăng lên, các nguy cơ rủi ro đối với con người và tài sản của họ cũng tăng lên. Từ đó nhu cầu bảo hiểm cũng tăng.

    Thứ tư, Việt Nam là dân tộc có truyền thống “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần tương thân tương ái cũng chính là nội dung của bảo hiểm, vì vậy nét văn hoá Việt Nam chính là một thuận lợi của bảo hiểm.

    1. bảo hiểm Việt Nam đã có 1 hiệp hội riêng:

     

    Các công ty bảo hiểm Việt Nam thống nhất thành lập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam từ ngày 9/7/1999 theo quy định của bộ trưởng. Hiệp hội có 13 công ty thành viên gồm 7 công ty bảo hiểm Việt Nam, 3 công ty liên doanh,

    • công ty 100% vốn nước ngoài. Hiệp hội bảo hiểm thực hiện chức năng cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thực hiện quy chế tự quản, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hợp tác trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
    1. BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ RIÊNG:

     

    Nhà nước Việt Nam đã có các thông tư hướng dẫn thi hành luật kinh

    doanh bảo hiểm bảo vệ lợi ích của người được bảo hiểm, người kinh doanh bảo hiểm và công chúng. Một số các luật và văn bản dưới luật về kinh doanh các loại hình bảo hiểm có thể được kể đến là:

    Luật dân sự ngày 9/11/1995 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm ( mục 11, chương 2 từ điều 271 đến điều 584).

    Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12/11/1996 (bổ sung, sửa đổi ngày 9/6/2000) liên quan đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bảo hiểm tài sản và trách nhiệm với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam ( điều 28 chương 4)

    Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý khác như nghị định số 72/1998/NĐ-CP, nghị định số 92/1998/NĐ-CP, thông tư số 71/2001/TT-BTC, thông tư số 72/2002/TT-BTC … Đó chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.

    2.3.4) HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM:

    Các công ty BHTM là các công ty tài chính phi ngân hàng, do vậy nghiên cứu hoạt động của các công ty này chính là nghiên cứu hoạt động thu chi ngân quỹ của chúng.

    1. nghiệp vụ thu: phần lớn nguồn thu của các công ty BHTM được hình thành từ thu phí bảo hiểm, và một phần từ lợi nhuận từ đầu tư.

    *) Lĩnh vực BHNT:

    Trên thị trường BHNT có sự đua tranh sôi động của 5 công ty lớn đó là: công ty bảo hiểm Bảo Việt, Manulife, Prudential, Bảo Minh-CMG và AIA. Doanh thu phí bảo hiểm của các công ty BHNT đã tăng lên đáng kể. Năm 2001 đạt 2.775 tỷ đồng chiếm 55% phí bảo hiểm toàn thị trường, đạt 0.55% GDP, năm 2002 đạt khoảng 4.500 tỷ đồng, năm 2001 tăng trưởng115.6% so với năm 2000, năm 2002 tăng trưởng 67,6% so với năm 2001. Như vậy, doanh thu phí BHNT chiếm 58,6% tổng doanh thu phí toàn thị trường, đạt gần 1% GDP, phấn đấu đến năm 2005 đạt 2% GDP. Theo đánh giá, doanh thu phí BHNT có khả năng đạt 18.000 tỷ đồng vào năm 2007. Nếu tính theo số hợp đồng BHNT thì các con số cũng phản ánh tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh trong năm 2001 chỉ có khoảng 387.500 hợp đồng BHNT được ký kết và duy trì thì tính đến ngày cuối 2002 trên toàn thị trường có khoảng 2.346.700 hợp đồng BHNT đang có hiệu lực, đạt tốc độ tăng trưởng 19,41%.. Riêng công ty BHNT 100% vốn nước ngoài Prudential đã đạt được 1000000 hợp đồng vào cuối tháng 12 năm 2002. Bình quân cứ 25 người dân lại có 1 hợp đồng BHNT. Tuy nhiên những con số đạt được vẫn còn là khá khiêm tốn đối với một thị trường BHNT đầy tiềm năng như Việt Nam.

    *)Lĩnh vực BHPNT:

    Tốc độ tăng trưởng của BHPNT phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan: đó là tỷ lệ rủi ro và mức độ khốc liệt của nó. Năm 2002, tổng doanh thu ước đạt 3.180 tỷ đồng. Đánh giá hoạt động của ngành bảo hiểm Việt Nam người ta có thể đánh giá theo thị phần hoạt động của các công ty bảo hiểm. Trong năm 2002, trật tự của các công ty trên thị trường đã có sự thay đổi đáng kể. Nhóm thứ nhất gồm 4 công ty bảo hiểm đứng đầu về thị phần, nói chung không có sự thay đổi về vị trí nhưng thị phần của Bảo Việt đã giảm khoảng 9,5%, thị phần của PVIC tăng 7%. Nhóm 2 gồm 3 công ty bảo hiểm tiếp theo. Trong nhóm này đã có sự thay đổi vị trí Allianz đã bứt phá vị trí từ thứ 7 lên thứ 5, đẩy PTI và UIC xuống thứ 6 và thứ 7. Thị phần của

    các công ty bảo hiểm Việt Nam trong năm 2002 được thể hiện trong biểu đồ sau:

                AIA –                    
                        B¶o Minh-    
           
        Manulife-       4.7%    
                      1.8%      
        12%                      
                     
                                   
                                   
                                     
    c«ng ty                          
    kh¸c-                          
                           
                      Prudential-  
    18,2%                         34%      
                                     
                                     

    B¶o ViÖt-

    39%

    PVJC-

    15,4%

    B¶o ViÖt-

    47.5%

    B¶o Minh-

    27,4%

     

    Thị phần của các công ty BHPNT

    năm 2002

    Thị phần của các công ty BHNT

    năm 2002

    Ngoài nguồn thu từ phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn có thể thu từ các hoạt động đầu tư. Tỷ suất lợi nhuận ở thị trường Việt Nam thấp, nhưng với số lượng vốn nhàn rỗi tương đối lớn, nên lợi nhuận thu từ đầu tư của các công ty bảo hiểm cũng tương đối lớn.

    b)Sử dụng vốn:

    Các công ty bảo hiểm huy động vốn bằng các bán các hợp đồng bảo hiểm và phải thực hiện thanh toán cho những người được bảo hiểm khi những điều quy định trong hợp đồng xảy ra. Vì vậy việc sử dụng vốn của các công ty bảo hiểm tương đối đa dạng và phức tạp:

    *) Nghiệp vụ chi trả bảo hiểm: để tạo được chữ tín trong kinh doanh bảo hiểm việc chi trả bảo hiểm đúng chế độ, đúng thời hạn luôn là yếu tố hàng đầu. Đối với các công ty BHNT việc chi trả có tính chất dài hạn và tương đối ổn định, ngoại trừ 1 số rủi ro phát sinh. Trong năm 2002 đã có nhiều hợp đồng BHNT đáo hạn cộng với những rủi ro đối với khách hàng,

    tổng số tiền chi trả của các công ty BHNT Bảo Việt là 150 tỷ đồng. Đối với lĩnh vực BHPNT, việc chi trả diễn ra khá thường xuyên và không ổn định. Tình hình tổn thất xảy ra trong năm 2002 không có biến động lớn so với năm 2001, tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1.200 tỷ đồng, chiếm 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm.

    *) Nghiệp vụ đầu tư:

    Các công ty bảo hiểm là 1 kênh huy động vốn không thể thiếu của nền kinh tế và hiện đang được khai thác một cách hiệu quả ở nhiều nước. Tổng kết năm 2002 cho thấy cơ cấu đầu tư của các công ty bảo hiểm khá đa dạng và đảm bảo các nguyên tắc đầu tư là: đảm bảo an toàn cho quỹ dự phòng, danh mục đầu tư có khả năng sinh lời, công cụ đầu tư phải có khả năng thanh khoản cao. Danh mục đầu tư cho thấy tại Việt Nam mối quan hệ giữa ngân hàng và các công ty bảo hiểm rất gắn bó vì có đến 52,9% số vốn nhàn rỗi của các công ty được gửi tại các ngân hàng. Các khoản mục đầu tư khác là: góp vốn liên doanh: 7.2%, đầu tư bất động sản 6.8%, cho vay trực tiếp 4.7%, đầu tư trái phiếu 29.2%.

    Cùng với Bảo Việt, sự tham gia đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm đã góp phần đáng kể vào việc sớm hình thành thị trường vốn ở Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các công ty bảo hiểm khá nhanh, trong giai đoạn từ 1996-2002 khoảng 125,3%/ năm làm cho thị trường vốn thêm sôi động:

    512.1 Tốc độ tăng vốn đầu tư trở lại nền kinh  
    tế của các doanh nghiệp bảo hiểm(%)  
     
         
    112.16 45.578 67.834 64.012 65.775
       

    9.6491

    1996          1997           1998            1999         2000           2001            2002

    Hoạt động đầu tư tài chính đã tạo nên phần lớn lợi nhuận cho các doanh nghiệp bảo hiểm và trở thành xương sống nâng đỡ cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Năm 2002, Bảo Việt tham gia đầu tư vào dự án nhà máy xi măng Thăng Long tại Hoành Bồ, Quảng Ninh với tổng số vốn đầu tư xấp xỉ 350 triệu USD với tư cách là cổ đông sáng lập góp 30% vốn chủ sở hữu. Ngoài ra có thể kể tới một số hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm khác như góp vốn vào quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, khu vui chơi giải trí dưới nước Hồ Tây. Hiện nay, tổng nguồn dự phòng của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thể đầu tư 6000 tỷ đồng.

    Đánh giá một cách tổng quan, BHTM Việt Nam trong năm 2002 có mức tăng trưởng khoảng 48,5%. Năm 2003, mức tăng BHNT dự kiến khoảng 50%, mức tăng chung của thị trường bảo hiểm Việt Nam dự kiến ở mức 38% so với tổng phí với tổng phí bảo hiểm trên 10.590 tỷ đồng (băng 1,8% GDP năm 2003).

    2.3.5) NHỮNG TỒN TẠI CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

     

    Bên cạnh những tiến bộ của ngành bảo hiểm Việt Nam, chúng ta còn có thể nhận thấy những tồn tại của bảo hiểm Việt Nam.

    Thứ nhất, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu được khai thác, tỷ lệ doanh thu phí chiếm tỷ trọng trong GDP còn thấp, số người tham gia bảo hiểm còn ít. Số phí BHNT chỉ chiếm 1% GDP năm 2002 (rất nhỏ so với 4-5% GDP của các nước trong khu vực và 13-15% GDP ở các nước phát triển). Tỷ lệ người tham gia BHNT mới là 3% (trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 100%). Phần đông dân chúng chưa hiểu rõ về nghiệp vụ bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm còn ở dạng sơ khai, một số sản phẩm bảo hiểm mới đang ở giai đoạn thí điểm, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và dân cư.

    Thứ hai, thị trường bảo hiểm mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhưng lại không chứa đựng nhiều yếu tố hiệu qủa và bền vững. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều sản phẩm mang tính tiết kiệm cao, được tính phí với lãi suất kỹ thuật cao trong khi lãi suất đầu tư thực tế có thể thấp hơn lãi suất đã đưa vào tính phí nên có thể các công ty bảo hiểm không đảm bảo khả năng thanh toán trong tương lai.

    Thứ ba, thị trường đầu tư Việt Nam mới ở giai đoạn hình thành trong còn thiếu công cụ đầu tư dài hạn, gây khó khăn cho vấn đề tái đầu tư mở rộng vốn của các công ty bảo hiểm dẫn đến cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm còn ít nhiều bất hợp pháp hợp lý đem lại tỷ suất sinh lời không cao, khả năng mở rộng nguồn quỹ còn hạn chế.

    Thứ tư, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn chưa đồng bộ, một số quy định cần thiết còn thiếu, một số quy định chưa rõ rang, chưa tạo ra sự linh động lớn nhất có thể cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu lực thực thi các quy định pháp luật của các cơ quan chức năng còn chưa cao.

    Thứ năm, những hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh như thông tin thất thiệt, kinh doanh theo kiểu “chộp giật”, đại lý chiếm đoạt, chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, đại lý vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng…Đặc biệt là hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang trở thành

    một loại tội phạm mới ở Việt Nam. Ví dụ như khai bảo không trung thực khi mua bảo hiểm, tai nạn rồi mới mua bảo hiểm. Công ty PJC đầu năm 2003 đang phải đối đầu với 2 vụ trục lợi bảo hiểm, đó là: vụ tại nạn tại đèo gió-Bắc Kạn và vụ đắm tàu cá Nam Hải tại Nam Định. Hai vụ việc này hiện đang được cơ quan công an làm rõ.

    Thứ sáu, hoạt động môi giới bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm còn ít sôi động: hai công ty môi giới bảo hiểm chưa thực hiện đúng chức năng của mình. Trong khi công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare mới chỉ bước đầu giúp các công ty bảo hiểm gốc đàm phán và thu xếp các hoạt động tái bảo hiểm trong năm 2002 cho các hoạt động bảo hiểm về năng lượng và hàng không. Hoạt động tái bảo hiểm mới chỉ chú trọng thu xếp các hợp đồng nhượng tái bảo hiểm bắt buộc mà chưa quan tâm nhiều đến hoạt động nhận tái bảo hiểm từ thị trường ngoài về Việt Nam, và chưa quan tâm đến việc khai thác và nhận tái bảo hiểm tự nguyện.

    Thứ bảy, trình độ cán bộ quản lý, cán bộ đại lý bảo hiểm còn thấp, uy tín và trách nhiệm nghề nghiệp chưa cao. Thậm chí, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều cán bộ bảo hiểm câu kết với người tham gia bảo hiểm khai tăng tổn thất, khai sai lệch nguyên nhân gây ra tai nạn để rút tiền từ quỹ bảo hiểm, nhiều cán bộ còn có thái độ làm việc hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm, làm mất lòng tin của nhân dân.

    Trên đây mới chỉ là một số vấn đề nổi cộm còn tồn tại trong hệ thống BHTM Việt Nam. Để khắc phục các yếu kém này, cần phải có những cố gắng từ phía nhà nước và từ phía các công ty bảo hiểm.

    CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHO BHTM VIỆT NAM.

    3.1 NHỮNG GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC:

    3.1.1) NHÀ NƯỚC CẦN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CƠ QUAN QUẢN LÝ KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp luật cho hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Đồng thời tiến hành quản lý giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp phát triển ổn định nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh… Trên cơ sở các luật đã đề ra, nhà nước cần tăng cường và bổ sung lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ phận này cần phải có đầy đủ các phòng ban chức năng chuyên giám sát và quản lý từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể.

    3.1.2) TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM:

    . Trong những năm trước mắt, tối thiểu hiệp hội phải có 10 cán bộ chuyên trách giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ. Để thu hút được nhân tài thì cơ chế tài chính phải hợp lý, tiền lương của cán bộ công nhân viên hiệp hội tối thiểu phải bằng tiền lương bình quân của cán bộ các công ty thành viên. Đi liền với cơ chế tài chính, trách nhiệm và quyền hạn của hiệp hội phải đủ mạnh để xử phạt các thành viên vi phạm. Mặt khác, các công ty là hội viên phải được hưởng một số ưu đãi từ chính sách quản lý của nhà nước để thu hút thành viên tham gia hiệp hội, đẩy lùi các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

    3.1.3) CẦN CÓ CÁC CHÍNH SÁCH NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH HIỂM

    Trước hết, đó là chính là chính sách hội nhập cho các doanh nghiệp bảo hiểm:

    Nói chung, mức độ mở cửa của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài còn ít. Việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm cũng có rất nhiều ích lợi đến sự phát triển của ngành bảo hiểm. Nhà nước khi xây dựng chính sách mở cửa cần phải đảm bảo một số nguyên tắc như: mở cửa để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng vẫn phải bảo vệ và phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, giữ ổn định về môi trường chính sách để tạo niềm tin cho các doanh nghiệp đầu tư, đặt quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm trong khuôn khổ hội nhập tài chính quốc tế Việt Nam.

    Thứ hai, nhà nước nên có các chính sách phát triển các đại lý bảo hiểm:

    Việt Nam cần có thêm những quy định chặt chẽ và cụ thể hơn về tiêu chuẩn, điều kiện, đào tạo, sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề đại lý nhằm tiêu chuẩn hoá đội ngũ đại lý bảo hiểm Việt Nam ngang tầm với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Khi quy định mức hoa hồng tối đa áp dụng cho toàn thị trường, nhà nước cần xác định mức hoa hồng của các nghiệp vụ sao cho đảm bảo tính hợp lý và công bằng đồng thời tạo sự linh hoạt tối đa cho các doanh nghiệp trong việc chi trả hoa hồng.

    Thứ ba, nhà nước cần quan tâm đến lãi suất kỹ thuật của các công ty bảo hiểm: Nhà nước có thể đưa ra một mức lãi suất tham khảo để giúp các doanh nghiệp xác định được lãi suất kỹ thuật thích hợp đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai tránh trường hợp lãi suất kỹ thuật đưa vào quá cao, dẫn tới không cân đối được thu chi trong dài hạn.

    Thứ tư, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích đầu tư: Các chính sách như thực hiện ưu đãi thuế thu nhập từ hoạt động đầu tư của doanh bảo hiểm đối với một lĩnh vực đầu tư cần khuyến khích như đầu tư vào thị trường chứng khoán, tham gia bảo lãnh phát hành và kinh doanh chứng khoán, mua trái phiếu chính phủ… Nhà nước có thể chủ trương phát hành thêm các loại trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài 15 năm, 20 năm, 25

    năm…để các doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều cơ hội lựa chọn trong chiến lược đầu tư dài hạn.

    3.1.4) SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM:

    Người ta đã chứng minh được hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách thuế nếu có thể giảm thuế thu nhập một cách hợp lý. Người đầu tiên thực hiện thành công chủ trương này là cố tổng thống Mỹ, Kennedy. Năm 1964, ông thực hiện giảm thuế thu nhập . Hiệu quả kinh tế xã hội ngay lập tức đã thể hiện sau đó: GDP tăng từ 5,3% từ năm 1964 lên 6% vào năm 1965, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5,7% năm 1963 xuống 4,5% năm 1965. Do vậy, để phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, nhà nước ta có thể miễn giảm một phần thu nhập đối với những cá nhân tham gia bảo hiểm nhân thọ trước khi tính thu nhập chịu thuế cá nhân. Khi miễn giảm một phần thu nhập trước thuế khi tính thu nhập chịu thuế sẽ tác động mạnh đến tâm lý của người có thu nhập cao. Do đó, nhu cầu thực tế về bảo hiểm sẽ tăng, các công ty bảo hiểm có thêm nguồn thu phí. Từ đó sẽ tăng đầu tư trở lại nền kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển lâu dài.

    Nhà nước cũng nên thay đổi cả thuế thu nhập của đại lý bảo hiểm. Hiện nay quy định đánh thuế 5% trên hoa hồng của các đại lý dù hoa hồng. Thậm chí một số đại lý không đạt mức lương tối thiểu vẫn bị khấu trừ 5%. Thêm vào đó, để đạt được hoa hồng, đại lý bảo hiểm phải bỏ ra khá nhiều chi phí như chi phí đi lại, tiếp thị… nên khi xác định thuế thu nhập cho đại lý cũng phải có cách xác định phù hợp.

    3.1.5) NHÀ NƯỚ C CẦN CÓ BIỆ N PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MÔI GIỚI.

    Hiện tại, thị trường bảo hiểm Việt Nam có 2 công ty môi giới là AON-Inchinbrok và VIETQUOC. Song cả hai đều chưa thực hiện tốt được chức năng tư vấn cho các cá nhân và những doanh nghiệp tham gia bảo hiểm. Các công ty môi giới bảo hiểm Việt Nam thiên về sử dụng mối quan hệ với

    khách hàng ở góc độ này, góc độ khác để giới thiệu cho doanh nghiệp bảo hiểm trả phí môi giới cao hơn. Do vậy, nhà nước tạo ra sự cạnh tranh giữa các công ty môi giới, quy định mức phí môi giới tương đối ngang bằng cho các công ty áp dụng. Hiệp hội bảo hiểm cũng phải tham gia quản lý các công ty môi giới để công ty môi giới là một địa chỉ đáng tin cậy của khách hàng.

    3.2) GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP :

    3.2.1) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ:

    Các công ty bảo hiểm phải phát triển và cung cấp dịch vụ theo hướng cung cấp dịch vụ tổng hợp. Tức là, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm kèm theo các dịch vụ khác như dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn đầu tư, dịch vụ tư vấn tiêu dùng, tư vấn y tế, tư vấn luật… Đồng thời, các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các loại sản phẩm dịch vụ, đưa ra nhiều mức phí bảo hiểm hợp lý phù hợp với các mức thu nhập.

    Các doanh nghiệp phải đa dạng hoá các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm, khi cung cấp sản phẩm phải làm cho khách hàng thấy được ý nghĩa thực sự của sản phẩm, giúp họ thấy rõ sự khác nhau giữa bảo hiểm và các hình thức tiết kiệm khác như tiền gửi ngân hàng… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng các kênh phân phối như: phân phối qua các tổ chức ngân hàng, các tổ chức tài chính, bán hàng qua internet, qua thư trực tiếp… Đặc biệt là sử dụng các đại lý. Đại lý bảo hiểm là một nghề mà thu nhập hoàn toàn phụ thuộc vào hoa hồng của những hợp đồng bán được. Các công ty bảo hiểm cần có các biện pháp để phát triển hệ thống đại lý, tạo điều kiện để các đại lý hoạt động có hiệu quả như: quy định mức phí phù hợp, phân bố mạng lưới các đại lý phù hợp, tránh chồng chéo thị trường, đào tạo nghiệp vụ cho các đại lý…

    3.2.2) CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ:

    Cán bộ bảo hiểm là người xây dựng uy tín, tên tuổi cho các doanh nghiệp bảo hiểm vì vậy các doanh nghiệp phải đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục vụ, dạo đức nghề nghiệp, thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, đại lý, kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhằm xoá bỏ hoàn toàn các hiện tượng tiêu cực như ăn chặn tiền bảo hiểm của khách hàng, đồng loã với khách hàng để trục lợi bảo hiểm, vì lợi ích của bản thân mà tư vấn bất lợi cho khách hàng… Để bảo hiểm có thể cung cấp cho thị trường những dịch vụ với chất lượng tốt, nâng cao uy tín của ngành.

    3.2.3) CÁC DOANH NGHIỆP PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ HỢP LÝ, DANH MỤC ĐẦU TƯ PHÙ HỢP:

    Một chiến lược đầu tư đúng đắn sẽ có tác dụng làm tăng khả năng mang lại lợi nhuận của đồng vốn bỏ ra, tăng khả năng chi trả cho người được bảo hiểm, nâng cao phúc lợi cho toàn xã hội. Các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược đầu tư tài chính trong mỗi giai đoạn cho từng loại tài sản đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư một cách linh hoạt trong các tài sản đầu tư.

    Các doanh nghiệp cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư. Các doanh nghiệp cần có 1 đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu về thị trường tài chính và đầu tư tài chính để thực hiện hoạt động đầu tư. Thêm vào đó, các doanh nghiệp nên thành lập các định chế đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hay nắm giữ số cổ phần chi phối hay mua cổ phần trong những tổ chức đầu tư khác.

    Trong đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm cũng cần xác định rõ nguồn vốn đầu tư cơ cấu lượng tiền tạm thời của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ là khác nhau, luôn tồn tại 2 luồng tiền: ngắn hạn (phi nhân thọ) và dài hạn (nhân thọ), cần phải xác định rõ 2 luồng tiền này để có kế

    hoạch đầu tư đúng thời hạn, tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn luồng tiền ngắn hạn đầu tư dài hạn và ngược lại.

    3.2.4) HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM:

    Các doanh nghiệp bảo hiểm cần nhanh chóng nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình khai thác quản lý hoạt động kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ thấp phí bảo hiểm, tăng cường khả năng cạnh tranh, chuẩn bị tốt các điều kiện để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh mới, hội nhập vào tiến trình toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức. Bởi vì, chỉ bằng cách này các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mới có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.

    3.2.5)CÁC DOANH NGHIỆP CẦN TĂNG CƯỜ NG HỢP TÁC GIÚP ĐỠ LẪN NHAU, TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC LĨNH VỰC KHÁC.

    Việc tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm để cùng phát triển và khai thác thị trường. Sự hợp tác này có thể thực hiện trên các mặt: hợp tác đào tạo thị trường, phòng chống trục lợi bảo hiểm, tạo nguồn cán bộ đại lý, xây dựng uy tín, hình ảnh tốt đẹp của ngành, tạo lập và duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường…Các doanh nghiệp bảo hiểm cùng hợp tác phát triển.

    Tăng cường mối quan hệ giữa bảo hiểm với các ngân hàng thương mại và thị trường chứng khoán: bảo hiểm và các ngân hàng thương mại (NHTM) đều là các tổ chức tài chính. Thực tế, trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng phát triển càng sự phát triển của bảo hiểm. Việc đầu tư của các NHTM chỉ có thể có hiệu quả và an toàn khi có sự tham gia của bảo hiểm. Vì vậy, nhà nước có quy định ở một số lĩnh vực như cho vay đóng tàu, mua sắm phương tiện vận tải.. thì người đi vay phải mua bảo hiểm. Để thúc đẩy phát triển mối quan hệ hợp tác này, cần phải phát triển thị trường tiền tệ, tạo sự thâm nhập sâu hơn của các tổ chức bảo hiểm vào hoạt động ngân hàng và

    ngược lại, mở rộng việc các NHTM làm đại lý bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm (hiện nay có: NHTM cổ phần Á Châu làm đại lý cho Prudential)

    Thị trường chứng khoán Việt Nam mới được hình thành nhưng sự phát triển của nó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bảo hiểm cũng chịu ảnh hưởng của tác động này. Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo ra cho bảo hiểm những cơ hội đầu tư vừa có lợi nhuận cao, mức độ an toàn cao mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản.

    Ngoài ra còn cần tăng cường mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm nhằm san sẻ bớt rủi ro.

    III. KẾT LUẬN:

    Hiện nay, bảo hiểm Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Xu hướng phát triển hiện nay là các công tăng cường liên kết với nhau để hình thành những tập đoàn có sức cạnh tranh lớn. Bảo hiểm cũng ngày càng lấn sân sâu vào lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng như cho vay các công ty, cho vay tiêu dùng, cung cấp các dịch vụ khác… Bảo hiểm Việt Nam đã có đóng góp lớn vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

    Do thời gian hạn hẹp, trình độ còn non kém nên khi viết đề án này em không tránh khỏi những thiếu sót, phần bố cục còn thiếu cân đối, còn thiếu số liệu trong các lĩnh vực bảo hiểm. Em mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo trong bộ môn.

    Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo và các thầy cô trong bộ môn lý thuyết tiền tệ đã giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề án.

    CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí bảo hiểm
    2. Tạp chí ngân hàng
    3. Tạp chí tài chính
    4. Thời báo tài chính
    5. Báo thông tin tài chính
    6. Tập san của tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ án tốt nghiệp Thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam – Cơ hội và thách thức


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-nh%E1%BA%B1m-n%C3%A2ng-cao-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-PR-cho-c%C3%B4ng-ty-b%E1%BA%A3o-hi%E1%BB%83m-nh%C3%A2n-th%E1%BB%8D-Prudential.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án tốt nghiệp Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR (Public Relations_Quan hệ cộng đồng) cho công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong bối cảnh nền kinh tế Việt nam đang trên đà hội nhập cùng các tổ chức kinh tế thế giới người ta thấy rằng sự tồn tại của một thị trường Bảo hiểm lành mạnh là một yếu tố cấu thành cơ bản cho bất cứ nền kinh tế thành công nào. Nắm bắt được tầm quan trọng đó, chính phủ Việt nam mở cửa cho một ngành mới đó là Ngành Dịch vụ bảo hiểm

    Với mong muốn đáp ứng nhu cầu của thị trường mang lại sự an toàn về tài chính cho khách hàng, tạo sự an tâm trong cuộc sống của người dân Việt Nam,Công ty bảo hiểm PRUDENTIAL đã cung cấp cho thị trường các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp với điều kiện sống, phong cách sống và văn hoá của người Việt nam. Bên cạnh đó mục tiêu xây dựng một đội ngũ đại lý hùng hậu, chuyên nghiệp, có đạo đức nghề nghiệp, luôn biết đề cao quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu là một trong những mục tiêu của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL

    Một trong những hoạt động quan trọng để tạo nên sự thành công của công ty bảo hiểm đó là hoạt động ” PR (PUBLIC RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” Vì PR là quá trình quản lý về truyên thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của tổ chức cá nhân đó.

    Cho đến nay khái niệm về PR còn khá mới mẻ với mỗi chúng ta cũng như với mỗi doanh nghiệp và khách hàng của họ. Vì thế khi nghiên cứu về đề tài một góc nhìn về ” PR (PUBLIC

     

    RELATIONS_QUAN HỆ CỘNG ĐỒNG” của công ty bảo hiểm PRUDENTIAL trong thị trường bảo hiểm ở việt nam. Do hạn chế về lý luận, về kinh nghiệm thực tế, các mối quan hệ nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy cô giáo và bạn đọc

    Nội dung của đề tài:

    Chương 1. Tổng quan về PR

    Chương 2. Tổng quan về bảo hiểm.

    Chương 3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR của công ty bảo hiểm nhân thọ PRUDENTIAL

     

    2

    Chương 1:TỔNG QUAN VỀ PR

    1.1 KHÁI NIỆM PR

    PR theo tiếng Anh là PUBLIC RELATIONS tuy nhiên dịch sang tiếng việt thì chưa có sự thống nhất, có thể dịch là quan hệ cộng đồng, quan hệ công chúng, giao tế nhân sự…

    Nếu ta gọi PR là quan hệ công chúng thì chưa đủ vì PR còn bao gồm các nghiệp vụ trong đó có Government relations (Government affair), industry relation… Trong các nghiệp vụ này không thể coi các nhóm cộng đồng đồng nghiệp hay các nhóm quan chức chính trị là các nhóm công chúng. Cụm từ giao tế nhân sự thì không ổn vì bản chất của PR là để giải quyết vấn đề thông tin giữa người với người chứ không phải để giải quyết vấn đề nhân sự vốn là nghiệp vụ của ngành nhân sự. Như vậy có lẽ cụm từ quan hệ cộng đồng là thích hợp hơn cả. Và khắc phục điểm yếu của các cách dịch khác .

    Vậy PR là gì?

    Theo Rex Halow một trong những học giả hàng đầu về PR cho rằng có đến hơn 100 định nghĩa khác nhau về PR. Nhưng các định nghĩa đều đi đến sự thống nhất với nhau. PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy trì những quan hệ hữu ích giưã một tổ chức cá nhân với một cộng đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp đến sự thành bại của cá nhân đó”

    PR ra đời khi nào và ở đâu?

    PR ra đời vào cuối thế kỷ 19 xuất hiện ở Mỹ bởi một số nhà báo tiến bộ. Sau này nó được phổ biến ở các nước Châu Âu và gần đây nhất là ở Châu á khi các khái niệm và nội dung của nó gần được hoàn chỉnh.

    • Việt nam khái niệm này chỉ được biết đến trong một vài năm gần đây. nó còn khá mới mẻ và chưa thực sự trở thành một công cụ

    3

    quan trọng, hiệu quả trong quá trình hoạt động và kinh doanh của doanh nghiệp.

    Ngày nay người ta coi PR là bạn đồng hành của quảng cáo trong quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu. PR,cũng như quảng cáo, là một trong những nội dung của hoạt động truyền thông marketing. Nhưng trong khi quảng cáo trực tiếp giới thiệu về một tổ chức ,một sản phẩm cụ thể,thì PR có thể đi từ việc gây dựng nhận thức của cộng đồng về tổ chức hoặc sản phẩm đó,từ đó mà tạo nên hình ảnh,uy tín và hiệu quả cần thiết .PR vì vậy xét trên bình diện chung,có tác dụng lâu bền và hiệu quả hơn so với quảng cáo. 2/3 các vị giám đốc Marketing và giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá danh hiệu (” Nguồn marketing report 1999″).

    • Việt Nam ,PR được biết đến sau quảng cáo một thời gian khá dài,do đó trong khi chưa hiểu hết về PR,có nhiều người đã luôn
    • ánh đồng hai khái niệm đó thành một.Xét về chức năng,PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và xử lí thông tin đầu ra.PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt là quảng bá cho hình ảnh của tổ chức (đôi khi người ta sử dụng cụm từ”đánh bóng thương hiệu”là chưa chính xác,vì PR khong chỉ
    • ánh bóng mà còn là một trong những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu).Tuy nhiên ,những việc mà PR

    làm cũng như mục tiêu ,tính chất ,cách thức…của những việc đó cũng không hề giống quảng cáo nên không thể nói PR là quảng cáo hay một phần của quảng cáo.Điểm được coi là khác biệt lớn nhất giữa PR và quảng cáo đó là:quảng cáo bắt buộc phải trả tiền về địa

    • iểm hay thời gian của các phương tiện truyền tin còn PR thì không.

    Giám đốc một công ty quảng cáo(trước kia cũng làm về PR )đã từng nói: làm quảng cáo dễ hơn vì khái niệm quảng cáo đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam quen thuộc hơn rất nhiều.Tìm kiếm ngân

    4

    sách cho quảng cáo cũng thông thoáng hơn.Thực tế là có rất ít các doanh nghiệp Việt Nam làm PR hay có những bộ phận chuyên làm các hoạt động PR mà trong khi ngân sách dành cho quảng cáo thì ngày càng tăng.

    Vì sao?

    Theo tôi,điều này cũng là dễ hiểu vì ba lí do sau:thứ nhất, quảng cáo xuất hiện đã khá lâu rồi nên ai cũng có thể thấy và công nhận hiệu quả mà quảng cáo đem lại trong khi đó PR có quá ít thời gian để chứng tỏ điều đó;thứ hai ,nội dung về PR chưa được phổ biến và hoàn chỉnh ở Việt Nam ;thứ ba ,do nguồn ngân sách của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế.

    Thực ra công việc quan hệ với giới báo chí cũng là một hoạt động của PR, ngoài ra còn rất nhiều các hoạt động khác. Xét về nguồn gốc xuất xứ, người ta cho rằng PR bắt nguồn từ báo chí. Cho đến nay, các trường dạy báo chí phương Tây cũng chính là nơi đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho ngành PR. Học viên học các môn cơ sở như nhau, sau đó người học PR sẽ được đào tạo chuyên sâu thêm những nghiệp vụ của ngành đó để làm việc chuyên môn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có một trường nào đào tạo chính thức và riêng rẽ về PR.Các cuốn sách viết về PR cũng chưa được xuất bản.Có thể nói chúng ta đang vừa học vừa làm PR. Trong thời gian sắp tới sẽ rất khó khăn cho các doanh nghiệp đi tiên phong xây dựng nền tảng cho hoạt động PR ở Việt Nam.

    5

    1.2 VAI TRÒ CỦA PR

    Bằng những công việc cụ thể của mình, vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu.Ví dụ như tã lót Huggies đang tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ”Bé huggies năng động”, hoặc Unilever vận động chương trình “Gởi tặng đồng phục đi học mà bạn không dùng nữa cho bột giặt OMO” gửi cho các nữ sinh ở các vùng xa. Chương trình này có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên đã tranh thủ được thiện cảm của công chúng. Hơn nữa, thông điệp PR ít mang tính thương mại do sử dụng các phương tiện trung gian như các hoạt động tài trợ, từ thiện, hoặc các bài viết trên báo, vì chứa đựng lượng thông tin phong phú nên dễ gây cảm tình và dễ được công chúng chấp nhận. Ví dụ các trường đại học trong và ngoài nước tham gia triển lãm “Ngày hội đào tạo và việc làm” tại khách sạn New World, do sứ quán Pháp tài trợ kinh phí nhằm mục đích tiếp cận với các đối tượng, quảng bá các chương trình đào tạo của họ. Tại triển lãm này, chính hoạt động PR đã giúp cho trường đại học chuyển tải nhiều thông tin cụ thể đến các đối tượng có liên quan.

    PR đặc biệt hữu hiệu trong các trường hợp:

    -Tung ra sản phẩm mới

    -Làm mới sản phẩm cũ

    -Nâng cao uy tín

    -Doanh nghiệp có ngân sách hạn chế

    -Doanh nghiệp gặp khủng hoảng

    Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có thể kể ngay ra sau đây ba lợi ích chính của hoạt động PR:

    • PR là phương cách tốt nhất để chuẩn bị và tạo những dư luận tốt. Quảng cáo không làm được việc này. Marketing cũng vậy. PR làm rất tốt công việc

    6

    này.PR giúp doanh nghiệp tạo dư luận tốt thông qua sự ủng hộ của giới truyền thông và các chuyên gia phân tích thương mại. Giữa hoạt động PR và Quảng cáo, phương pháp nào hiệu quả hơn-lựa chọn một mẫu quảng cáo về sản phẩm mới hay một bài báo hay viết về sản phẩm đó? Quảng cáo tuy dễ gây ấn tượng nhưng không dễ dàng thuyết phục công chúng tin. Về mặt này thì không chỉ đúng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà nó luôn đúng với bất kì doanh nghiệp nào.

    • Chi phí cho hoạt động PR thấp hơn các loại hình khuyến mãi khác. Khi so sánh chi phí cho chiến dịch tiếp thị trực tiếp hoặc đăng một mẫu quảng cáo với chi phí cho một thông cáo báo chí, đương nhiên mẫu thông cáo báo chí sẽ có chi phí thấp hơn khá nhiều trong khi lại thu hút được lượng công chúng rộng rãi hơn.

    Vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ không còn phải quá lo về chuyện ngân sách dành cho PR trong khi vẫn có thể từng bước xây dựng chỗ đứng của công ty trên thị trường

    • PR giúp doanh nghiệp tuyển dụng nhân lực tài giỏi. Thông thường người lao động thích được làm việc cho những công ty nổi tiếng vì họ tin tưởng là công ty đó rất vững chắc và họ có thể có nhiều cơ hội thăng tiến.

    Hơn nữa, làm PR sẽ giúp cho doanh nghiệp vượt qua những sóng gió và những cơn bão táp. Khi có khủng hoảng, doanh nghiệp đó sẽ tìm được sự ủng hộ,bênh vực, hỗ trợ từ phía cộng đồng(đây là điều kì diệu mà không thể mua được bằng tiền) trong việc cứu vãn uy tín và giữ gìn nguyên vẹn hình ảnh của doanh nghiệp.

    1.3 KHÍA CẠNH XÃ HỘI CỦA PR

    Hoạt động PR chính là việc tạo ra một nhịp cầu thông tin ,tạo ra sự hiểu biết và thông cảm trong một xã hội đầy phức tạp như hiện nay

    Mỗi xẵ hội thì đều được cấu tạo nên từ rất nhiều cá nhân, mỗi cá nhân lại là những cá thể khác biệt,không cá nhân nào giống cá nhân nào về nhận thức,trình

    7

    độ ,lối sống,ý niệm….Vậy nên việc thống nhất suy nghĩ của xã hội về một vấn đề

    nào đó là vô cùng khó khăn.

    Chúng ta cùng quay trở lại với chiến dịch quyên góp áo trắng đi học của Unilever. Đây cũng chỉ là cách mà công ty lựa chọn để gắn hình ảnh bột giặt Omo với những chiếc áo trắng nhưng cái cách mà Omo quyên góp cho các học sinh nghèo đã tác động tới tình nhân ái, lòng trắc ẩn, sự yêu thương của con người đối với con người.Thông điệp mà Unilever sử dụng đã thuyết phục được mọi người, thúc giục mọi người hưởng ứng,chiếm trọn lòng tin yêu của cả xã hội.

    Các chiến dịch tranh cử tổng thống thuộc loại rầm rộ nhất như ở Mỹ cũng chính là các chiến dịch PR tổng lực với sự vận dụng các kĩ năng, các loại hình hoạt động PR cho mục tiêu chính trị. Qua đó công chúng sẽ có được những nhận thức công bằng và chính xác hơn cả về những ứng cử viên, ngược lại các ứng cử viên cũng có thể truyền đạt những thông điệp của mình một cách nhanh chóng và rộng rãi nhất.Lợi ích xã hội trong trường hợp này rất được đề cao khi mà công chúng có thể ‘chọn mặt gửi vàng ‘, chọn ra được người xứng đáng nhất, người sẽ đem lại lợi ích cho chính họ và cho cả xã hội. Kể cả sau khi được trúng cử, PR vẫn được xem trọng. Những cuộc họp báo chớp nhoáng ngay sau mỗi cuộc họp, hội đàm ở Vườn hồng của tổng thống Mỹ cũng chính là một ví dụ. Không chỉ các quĩ, hội, các chính trị gia mà ngay cả cảnh sát, nhà thờ, trường học…cũng cần PR cho những mục tiêu của mình và vì sự thông hiểu với cộng đồng nói chung.

    Ví như WWF (World Wild Fund_Quĩ quốc tế vè bảo vệ thiên nhiên)có tới

    • triệu hội viên trên toàn cầu và mỗi hội viên đó chỉ cần đóng góp 1 USD thì trong nháy mắt,WWF đã có một số tiền khổng lồ là 47 triệu USD. Nhưng các hội viên này đâu có góp tiền một cách dễ dàng. Họ phải được biết số tiền mình góp đã và sẽ được dùng làm gì ? Đem lại hiệu quả ra sao? Ở đâu và khi nào? Như vậy trong việc này nhất thiết phải có sự góp mặt của PR. PR sẽ tạo ra một

    8

    sự thông hiểu toàn diện sâu sắc và đúng đắn nhất giữa hội viên_tổ chức và cộng đồng nói chung nhằm làm cho các dự án ngày một phát triển.

    Có thể nói rằng PR hoạt động nhờ xã hội và hoạt động vì xã hội.

    1.4 PR SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

    • Các mối Quan hệ báo chí, các hoạt động hỗ trợ, các hoạt động khuyến mại tài trợ , triển lãm hội chợ, các mối quan hệ với các cơ quan chức năng, xử lý thông tin khủng hoảng và các hoạt động hỗ trợ khác

    *Các hoạt động hỗ trợ

     

    Bao gồm việc tổ chức các lễ kỉ niệm hay các buổi giới thiệu sản phẩm dịch vụ hay ra mắt các công ty mới.

     

    Công cụ nay đòi hỏi một chi phí cao hơn và sự chuẩn bị kĩ lưỡng hơn. Hiện nay đã xuất hiện một số công ty chuyên làm về PR ở Việt Nam. Các công ty, doanh nghiệp thiếu nhân lực, thiếu kinh nghiệm hay ý tưởng thì có thể thuê các công ty này, và hãy tin tưởng vào tính chuyên nghiệp của họ. Công ty ACV communications là một ví dụ. Ngoài ra, có thể kể đến Thiên Ngân, Max communications, Starlit…Cũng còn có rất nhiều công ty tuy không chuyên hẳn về PR nhưng vẫn có thể làm PR khi có khách hàng. Đối với các công ty này, PR chỉ là một dịch vụ hỗ trợ bên cạnh những dịch vụ khác mà họ cung cấp cho khách hàng. Hầu hết các công ty này kinh doanh trong nghề quảng cáo, in ấn hoặc tư vấn đầu tư. Trên thực tế, đã có rất nhiều công ty PR mở ra hoạt động được một thời gian ngắn rồi nhanh chóng chuyển sang làm công việc khác. Một thực tế cũng đáng lưu tâm là, tại Việt Nam, dù đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn,nhưng điểm mặt các anh tài của ngành PR thế giới cũng chỉ có vài công ty như Ogilvy & Mather hay Batey Bum.Giải thích về việc này ,Bùi Quang Huy, một nhân viên PR lâu năm nay làm việc tại một công ty quảng cáo cho rằng:lí do là vì thị trường của ngành PR ở Việt Nam còn rất nhỏ bé và công việc PR không ngon ăn như nhiều người vẫn lầm tưởng. Thị trường nhỏ bé như vậy, nên mặc dù số lượng không lớn, nhưng các công ty PR phải đối mặt với sự cạnh tranh khá quyết liệt. Do đặc thù của công việc PR, nên cạnh tranh về giá chưa

    9

    phải là tất cả, bởi những công ty đã bỏ tiền ra để thuê PR, điều mà họ quan tâm trước hết là chất lượng dịch vụ và hiệu quả của công việc. Không ở nghành kinh doanh nào mà ý nghĩa của câu “Thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi” lại đúng như vậy. Công ty PR có thể nhanh chóng gây dựng được uy tín sau một vài lần tổ chức thành công chương trình PR cho khách hàng nhưng cũng có thể mất uy tín với tốc độ tương đương .Tuy nhiên Việt Nam vẫn là một thị trường tiềm năng đối với ngành PR. Mặc dù đầu tư nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây không tăng , nhưng nhiều công ty PR vẫn tìm thay lượng khách hàng tương đối ổn định. Một phần vì lượng kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn, phần khác vì họ ngày càng nhận thức được giá trị của PR trong công việc kinh doanh .

    Như vậy các công ty PR chỉ tập trung tìm kiếm khách hàng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) và một số ít doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Tuy nhiên các doanh nghiệp này thường chọn mặt gửi vàng, hoặc là sử dụng các công ty PR nước ngoài, hoặc là dùng các công ty PR đã thành danh trên thị trường. Do vậy để bắt đầu kinh doanh trong ngành PR ,những sáng lập viên của các công ty thường là các cựu nhân viên PR của các công ty PR hoặc nhân viên PR từ các công ty nước ngoài

    .Với các mối quan hệ sẵn có, cộng với kinh nghiệm làm việc,họ sẽ dần dần tạo dựng được danh tiếng và thị phần cho mình.

    Quay trở lại công ty Pepsi – IBC, với mục đích giới thiệu sản phẩm mới Aquafina, họ đã khẳng định mình bằng một ‘bữa tiệc’ văn hoá, nghệ thuật rất quy mô, hoành tráng và hoàn hảo cả về khâu tổ chức lẫn chất lượng chương trình. Có thể coi đây là một bước ngoặt về hoạt động PR tại Việt Nam .Ngoài các buổi lễ kỉ niệm ,ra mắt sản phẩm mới, còn có các buổi lễ đón nhận huân chương, bằng khen ,chứng nhận hay chứng chỉ về tiêu chuẩn chất lượng. Tất cả đều mang đến cho các doanh nghiệp những ‘điểm tốt’, tạo uy tín và hình ảnh cho các doanh nghiệp này trong tương lai.

    * Quan hệ báo chí

    10

    Quan hệ báo chí bao gồm nhiều hoạt động khác nhau từ việc viết thông cáo báo chí, đặt bài viết đăng báo hay tạp chí cho tới việc tổ chức các cuộc phỏng vấn với phóng viên báo, đài phát thanh, truyền hình cũng như tổ chức các cuộc họp báo để đưa ra các thông báo đặc biệt.

    Chi phí cho hoạt động này được coi là thấp so với các hoạt động khác của PR và cho quảng cáo. Trong khi tác dụng của nó lại rất đáng kể và có mức độ bao phủ rất lớn. Ngày nay báo, đài, truyền hình là những phương tiện truyền tin thông dụng, phổ biến và hiệu quả nhất ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác.

    Đa phần các doanh nghiệp khi bước đầu làm PR thì đều thực hiện quan hệ báo chí trước tiên vì rất dễ thành công với chi phí thấp.Nói chung với hoạt động này, các doanh nghiệp có thể tự mình thực hiện, ít khi phải thuê ngoài. Đó cũng là cái cách mà doanh nghiệp được tự thể hiện mình và thuyết phục lòng tin của đối tượng mục tiêu.

    Công ty Pepsi-ICB đã làm rất tốt việc này khi cho ra mắt sản phẩm mới nước tinh khiết Aquafina. Đồng thời tiến hành với buổi trình diễn ra mắt hoành tráng, một bài trò chuyện phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Phạm Phú Ngọc Trai _giám đốc công ty cũng được đăng tải trên Thời báo kinh tế Sài Gòn. Những ưu điểm, khác biệt và một hình ảnh mới trên thị trường nước tinh khiết được nhắc đến và khuyến dụ công chúng hãy cảm nhận. Qua bài báo này, những thông tin về tăng trưởng, thị phần, những chỉ số về thành phần, tiêu chuẩn chất lượng…được công bố cụ thể và rõ ràng đã tạo nên cảm giác tin tưởng,mong đợi , kì vọng đối với công chúng nhận tin và ai cũng sẵn sàng đón nhận “âm thanh của sự tinh khiết”.

    Không chỉ đối với lĩnh vực kinh tế, người ta còn sử dụng công cụ này trong cả các lĩnh vực khác như ca nhạc, phim ảnh, các hoạt động xã hội, chính trị nữa. Và nó đều phát huy được tác dụng của mình.

    *Khuyến mãi

    11

    Tổ chức và thực hiện các cuộc khuyến mãi và cạnh tranh- thường là trên báo chí hay trên bao bì các sản phẩm, hoặc trực tiếp qua thư từ. Tất cả nhằm giới thiệu tên của một tổ chức và các thông tin kèm theo nó.

    Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp cần phải kích thích tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn nữa, và nhắc nhở, khuấy động lại tâm trí của công chúng về sản phẩm cũng. Như công ty , doanh nghiệp .

    12

    *Tổ chức triển lãm, hội chợ

    Đó là việc thiết kế và xây dựng các gian hàng trưng bày tại các cuộc triển lãm. Ngoài việc phải làm thật bắt mắt,các doanh nghiệp cũng cần phải thổi được cái hồn, triết lí kinh doanh cũng như thông điệp của mình tới khách hàng.

    Trong một vài năm gần đây, người dân Việt Nam đã dần có được cái thói quen đi tới các cuộc triển lãm, họ không những xem mà còn dùng thử và mua một lượng hàng hoá khá lớn tại đây. Như vậy công cụ này đang có một điều kiện rất thuận lợi để thành công,các doanh nghiệp Việt Nam cần chớp ngay cơ hội sẵn có này.

    *Tài trợ

    Tức là phải làm các công việc đánh giá các chương trình tài trợ, chuẩn bị hợp đồng và các lễ kí, đảm bảo việc thực hiện hợp đồng đồng thời thông báo rộng rãi về hoạt động tài trợ.

    Các hoạt động tài trợ thu hút được đông đảo công chúng thường là tài trợ cho các chương trình giải trí trên truyền hình,radio,các quĩ học bổng, quĩ cho người nghèo,các cuộc thi mang tính cộng đồng cao…

    Trên truyền hình, OMO khá nhanh chân khi giành phần tài trợ cho chương trình “Chiếc nón kì diệu”một chương trình giải trí được coi là ăn khách nhất hiện nay thể hiện bằng số lượng người tham gia và số lượng người xem chương trình.

    Công cụ này cũng đòi hỏi công ty, doanh nghiệp phải có nguồn tài chính khá dư dật vì công việc này không thể làm một vài lần rồi thôi mà phải liên tục, lâu dài thì mới phát huy được hiệu quả của nó.

    *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Bao gồm việc thiết kế, viết và làm các tờ rơi các bản tin và các vật liệu quảng cáo đặc biệt.

    Công việc này công ty nên thuê ngoài do sự cần thiết của tính chính xác,chuyên nghiệp và chi phí cho nó không lớn lắm.

    13

    • trên, tôi đã có nói tới một tổng công ty tự mình làm công việc PR(in sách giới thiệu ) và kết quả là không thu được hiệu quả do lỗi kĩ thuật. Công ty tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công việc này nhưng do quá chủ quan vì nghĩ rằng quá dễ để làm nên mới phải chịu thiệt hại (cả về vật chất,thời gian,công sức cũng như uy tín của công ty ) như vậy .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Làm việc với các bộ, ban, ngành, các tổ chức thương mại và môi trường, đảng phái chính trị để giới thiệu về một số tổ chức và quan điểm của tổ chức đó nhằm tác động đến phản ứng của các tổ chức và cơ quan này. Hoạt động này rất quan trọng đối với những thị trường bị điều tiết nhiều như ở Việt Nam .

    *Xử lý thông tin khủng hoảng

    Chuẩn bị phương án dự phòng cho trường hợp xảy ra rủi ro và khủng hoảng. Chuẩn bị những sổ tay đề phòng rủi ro- những biện pháp đối phó khi có rủi ro và khủng hoảng,tổ chức các khoá học cho các nhà quản lý. Đặc biệt đưa ra những hỗ trợ cần thiết trong trường hợp khẩn cấp.

    14

    Chương 2: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM

    2.1.THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

    2.1.1 Khái niệm về công ty bảo hiểm.

    Sự tồn tại tất yếu của các rủi ro trong cuộc sống là nguồn gốc của hoạt động bảo hiểm. Thoạt đầu các hoạt động bảo hiểm ra đời do nhu cầu ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống với chức năng chủ yếu là phòng ngừa khắc phục các rủi ro và tai nạn bất ngờ. Nhưng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường các tổ chức bảo hiểm tồn tại không chỉ với tính chất là bảo hiểm rủi ro mà còn là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường tài chính.

    Công ty bảo hiểm là một tổ chức tài chính mà hoạt động chủ yếu là nhằm bảo vệ cho những người có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro về tử vong, thương tật, tuổi già, tài sản hoặc các rủi ro khác

    Sự tồn tại và phát triển của các tổ chức bảo hiểm là tất yếu khi con người hàng ngày phải đối mặt với những lĩnh vực làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính cá nhân. Đó có thể là một tai nạn, vụ cháy, mất mát tài sản, căn bệnh hiểm nghèo. Để chống đỡ những rủi ro người ta tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm.

    Dựa vào nguyên tắc phân tán rủi ro theo quy luật số lớn, các tổ chức bảo hiểm có khả năng bù đắp rủi ro tài chính cho các khách hàng. Các hoạt động bảo hiểm có thể do các công ty bảo hiểm nhân thọ cung cấp hoặc do các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản cung cấp.

    Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của người bảo hiểm – người bán dịch vụ đối với người mua – người tham gia,về việc bồi thường hay trả tiền bảo hiểm cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, lời cam kết là sản phẩm vô hình mà cả người bán lẫn người mua không thể cảm nhận được hình dáng, kích thước, màu sắc…Tuy nhiên người mua tin vào lời hứa,sự cam kết của người bán vì nhờ vào sự hoạt động marketing của người bán.

    Người tham gia bảo hiểm không mong đợi sự cố bảo hiểm xảy ra đối với mình để được bồi thường hay trả tiền bảo hiểm trừ bảo hiểm ngân thọ, bảo hiểm

    15

    hưu trí. Hơn nữa, “Giá trị sử dụng “của sản phẩm bảo hiểm không phát huy tác dụng ngay sau khi người mua bảo hiểm trả tiền, trả phí mà phải qua thời gian dài, có khi khá dài (bảo hiểm nhân thọ). Vì vậy, người mua bảo hiểm không “mong đợi “sản phẩm bảo hiểm phát huy tác dụng đối với mình .

    Người mua sản phẩm bảo hiểm thu được phí bảo hiểm từ người mua nhưng “anh ta” có thể bồi thường và cũng có thể không ; có thể bồi thường ngay sau khi bán cũng có thể sau thời gian dài, nhất là trong bảo hiểm nhân thọ .Vì vậy, có thể nói rất khó xác định hiệu quả kinh doanh trong thời kỳ nhất định ( thường là 1 năm ).

    Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không được bảo hộ bản quyền

    Đặc điểm này dẫn đến hiện tượng sao chép các dạng sản phẩm của các nước, thậm chí của đối thủ cạnh tranh một cách máy móc ( trừ tên của mình ).

    Chính những đặc điểm này khẳng định lại một điều: sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm rất khó bán. Một bài toán khó đặt ra cho các công ty bảo hiểm là làm cách nào để có thể đẩy mạnh được việc tiêu thụ sản phẩm ‘khó bán’ này trên thị trường .

    2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

    Tăng trưởng nhanh, cạnh tranh quyết liệt ” đó là thực tiễn ngắn gọn chính xác nhưng đầy đủ để nói về thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay.

    Năm Doanh thu phí (tỷ VNĐ) % so với năm trước
         
    1994 741 100%
         
    1995 1026 138%
         
    1996 1253 122%
         
    1997 1450 123%
         
    1998 1715 118%
         

    Nghị định 100/NĐ – CP/ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm đã chấm dứt thời kỳ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm ở Việt nam . Một thời kỳ

    16

    bảo hiểm với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá về loại hình công ty bảo hiểm đã được hình thành. Tính đến nay, trên thị trường bảo hiểm ở Việt nam đã có 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có 4 DNNN, 3 Công ty cổ phần, 5 công ty liên doanh, 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 2 công ty môi giới bảo hiểm, 1 công ty tái bảo hiểm Quốc gia). Và trên 40 văn phòng đại diện của các công ty đại diện quốc tế đặt tại Việt nam cùng cung cấp 90sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

    Trong 2 -3 năm trở lại đây trên thị trường bảo hiểm Việt nam phát triển với tốc độ nhanh chóng. Nếu như năm 1994 doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường chỉ đạt 741 tỷ VNĐ thì đến năm 2002 con số này đã lên tới 4600 tỷ VNĐ xấp xỉ bằng 1,93% GDP trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 2500 tỷ VNĐ chiếm 58,6% tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 3180tỷ VNĐ. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ở Việt Nam so với GDP bằng 0,6%, các nứoc khác là 2,4% GDP.

    Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những tháng đầu năm 2001 đã có bước tăng trưởng vượt bậc so với cùng kì này năm trước. Tổng doanh thu phí bảo hiểm ( nhân thọ và phi nhân thọ ) toàn thị trường trong 6 tháng đầu năm đạt 2.264 tỷ VND tăng 67,5% so với 6 tháng đầu năm 2000,trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 1.014 tỷ VND tăng trên 19% cùng kỳ năm 2000. Đáng chú ý là lần đầu tiên trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đã vượt qua doanh thu phi bảo hiểm phi nhân thọ về giá trị tuyệt đối và chắc chắn trong thời gian tới sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh.Điều này đã được dự đoán trước, khi mà bước sang năm 2000, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngoài Bảo Việt được phép triển khai hoạt động bảo hiểm nhân thọ theo quyết định số 281/TC/TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ Tài Chính, đã có thêm một số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động. Đó là: Chinfon Manulife từ tháng 6/1999 ; Prudential; Bảo Minh – CMG từ tháng 10/1999 và AIA từ tháng 2/2000. Như vậy, trong năm 2000, thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng ở Việt Nam đã ‘nóng’ lên.

    17

    • Tính đến 31/12/2000, lực lượng cán bộ làm việc trong các công ty bảo hiểm nhân thọ, đại lý tư vấn và khai thác bảo hiểm là gần 15.000 người, tăng lên gấp trên 3 lần so với trước năm 1999.Như vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ đã thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, giải quyết lao động xã hội và gánh nặng về việc làm cho xã hội .

    2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ

    • Doanh thu phí bảo hiểm Việt nam trong 10 năm qua.

    Ra đời năm 1997 nhưng hai năm trở lại đây thị trường bảo hiểm nhân thọ đặc biệt sôi động với sự đua tranh của 5 công ty bảo hiểm dẫn đầu là Bảo Việt, kế đến là Prudential, Manulife, AIA, & cuối cùng là Bảo Minh CMG. Trong 9 tháng năm 2002 tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 3261tỷ đồng tăng 89,93% so với cùng kỳ năm 2001. Cũng trong 9 tháng năm 2002, số bản hợp đồng khai thác mới của toàn thị trường đạt 913309 hợp đồng tăng 23,93% so với cùng kỳ năm 2001; số bản hợp đồng đang có hiệu lực tính đến 30/9/2002 đạt 2853484 hợp đồng tăng 59,56% so với cùng kỳ năm trước.

    Xếp về thị phần Bảo Việt vẫn dẫn đầu thị trường với 48,28%, tiếp đến là Prudential là 34,12%, Manulife 11,47%, AIA 4,49%, cuối cùng là Bảo Minh 1,64%. Về tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm thì AIA đạt tốc độ cao nhất 121,95% thứ 2 là Bảo Minh 106,31%, Prudential là 103,28% Manulife 91,54% cuối cùng là Bảo Việt 78,42%

    Số đại lý bảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường tăng 77,81%. Tính đến hết ngày 30/9/2002 tổng số đại lý nhân thọ là 63084 người. Trong đó cùng kỳ năm 2001 mới chỉ có 35479 người. Ngoài kênh phân phối chính là các đại lý, các công ty bảo hiểm còn bán bảo hiểm qua mạng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, tung ra nhiều sản phẩm mới với thủ tục đơn giản tạo được niềm tin với khách hàng.

    -Khách hàng đã nhận thức đầy đủ hơn về lợi ích của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ .Bằng chứng là đã có khoảng 800.000 hợp đồng bảo hiểm được ký kết và đang có hiệu lực. Tương ứng với số lượng hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tích luỹ đến ngày 31/12/2000 đã vượt

    18

    qua con số 2000 tỷ đồng.Với doanh thu phí bảo hiểm như vậy, có thể bước đầu khẳng định, bảo hiểm nhân thọ là một trong những công cụ taì chính vô cùng quan trọng và có hiệu quả nhằm “hút ” vốn trong dân cư, để “bơm ” trở lại các dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội trong nước. Đây chính là lý do tại các nước có nền kinh tế phát triển ,chính sách phát triển hoạt động bảo hiểm của các cy bảo hiểm trong nước luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế đất nước và được chính phủ rất quan tâm .

    -Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã tiến hành các hoạt động xã hội như:hỗ trợ cho các vùng bị thiên tai lũ lụt và nhằm khuyến khích phát triển tài năng ngày một nhiều hơn…

    Đồng thời với sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ, nhận thức về bảo hiểm trong dân cư đã nâng lên rõ rệt. Thay vì thói quen lảng tránh sự thật ” Cuộc sống luôn phải đối mặt với những rủi ro “, người dân Việt Nam đã dần dần thừa nhận rủi ro trong cuộc sống là điều không ai muốn nhưng vẫn có thể xảy ra. Chính vì vậy,đã có gần 1 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho cá nhân và gia đình họ. Sự sôi động của thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng đã thúc đẩy tiết kiệm trong dân cư.Bởi lẽ sẽ không có ai đi gửi tiết kiệm 50.000 hay 100.000 đồng ,nhưng người dân đã tiết kiệm được số tiền này từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

    Nhìn chung các hoạt động của các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt nam đã đạt được một số các thành công xong điều đó còn quá nhỏ so với nước 80 triệu dân và so với các nước trong khu vực và thế giới. Yếu tố hàng đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt nam thời gian qua làm mức thu nhập của dân cư đã tăng lên rõ rệt, thêm vào đó là sự nhìn nhận về công ty bảo hiểm của dân chúng đã tích cực hơn nhiều. Với tính tích cự

    • như vậy hy vọng trong tương lai các công ty bảo hiểm nhân thọ còn phát triển hơn nữa.

    * Bảo hiểm phi nhân thọ

    Trong 9 tháng năm 2002 nhờ những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế tổng mức doanh thu phí toàn thị trường đạt 2217591,06 triệu đồng tăng 44,39%

    19

    so với cùng kỳ năm 2001 (1535799,06 triệu đồng ) xét về tốc độ tăng trưởng PVinsurance đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất là 191,91% Allianz đứng thứ 2 92,39% Bảo Minh 59,14%, Bảo Việt PJICO, PTI, Việt úc duy trì mức khá, còn UIC đạt mức tăng trưởng hơi thấp 3,88%. Doanh thu phí Bảo Việt vẫn đứng đầu trong 9tháng đạt 859620 triệu đồng. Doanh thu phí của PVinsurance tiếp tục tăng do phí bảo hiểm dầu khí của thị trường thế giới tiếp tục biến động từ quý 2 năm 2002. Về thị phần, Bảo Việt vẫn đứng đầu thị trường với 38,16% Tiếp đến là Bảo Minh. Việc Bảo Minh giảm tỷ lệ thị phần không có gì ngạc nhiên bởi chịu sự ảnh hưởng của việc tăng mạnh thị phần của PVinsurance, mặc dù doanh thu phí của Bảo Minh vẫn tương đương so với quý 2 năm 2002.

    Tình hình tổn thất xảy ra trong 2002 không có gì biến động lớn so với 2001. ước tổng số tiền bồi thường cả năm 2002 khoảng 1200 tỷ VNĐ = 37% tổng doanh thu phí bảo hiểm. Tuy nhiên trước đây chưa từng được quan tâm nhưng tổn thất xảy ra lại rất lớn như vụ cháy toà nhà ITC ( Thành phố HCM ) ngày 29/10, tình hình tai nạn giao thông đã đến hồi báo động. Đó chính là những lĩnh vực đòi hỏi các công ty bảo hiểm phi nhân thọ cần triển khai mạnh hơn và có những biện pháp phòng ngữa hữu hiệu hơn.

        Bảo     Bảo hiểm Bảo Bảo Bảo
        hiểm Bảo Bảo hiểm hiểm
        gián đọan hiểm tài
    TT Doanh nghiệp sức hiểm xe hiểm hàng hoá thân tàu
        khoẻ và cơ giới cháy nổ kinh vận và TNDS sản và
        doanh thiệt hại
        TNCN       chuyển chủ tàu  
                     
    1 Allianz/ AGF 0,28% 0,11 0,63 12,62 0,58 0,00 12,54
                     
    2 Bảo Long 0,84 1,69 2,36 0 3,82 0,8 0,17
                     
    3 Bảo Minh 13,16 30,73 25,91 36,57 21,92 22,26 38,27
                     
    4 Bảo việt 74,28 52,44 49,56 23,62 41,37 41,28 14,54
                     
    5 PJICO 4,4 9,14 7,59 0,24 12,73 9,93 2,13
                     
    6 PTI 1,89 3,12 2,24 0 2,96 0 7,41
                     
    7 PVinsurance 2,74 1,18 1,07 0 8,41 25,01 22,07
                     
    8 UIC 1,04 0,76 8,75 12,71 4,19 0,51 0,73
                     
    9 VIA 1,32 0,75 1,26 10,09 2,79 0,22 1,36
                     

    20

    10 Việt úc 0,07 0,07 0,64 4,16 1,21 0 0,78
                     

    21

    Trong số các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tới 40% so với 6 tháng đầu năm 2000. Sở dĩ nghiệp vụ này tăng trưởng mạnh vì những hoạt động sôi nổi trở lại trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.trên thềm lục địa Việt Nam. Nghiệp vụ hàng không cũng tăng trung bình 25%,chủ yếu là do xu hướng tăng phí đồng loạt trên thị trường thế giới để bù đắp cho những tổn thất trong một vài năm gần đây.Hãng hàng không Việt Nam cũng có tỷ lệ tổn thất tới 200% ,do đó việc tăng phí trong năm 2001 là tất yếu..

    Trong khai thác bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ đã có nhiều cố gắng tăng cường tiếp cận các khách hàng mới, đặc biệt như trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá XNK,kim ngạch bảo hiểm hàng hoá trong 6 tháng đầu năm đạt 3,55 tỷ USD, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kỳ năm 1999 và tăng 26% so với cùng kỳ năm2000. Đây là một nỗ lực đáng kể của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hoá nhằm nâng cao tỷ lệ kim nghạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước. Tuy nhiên, do tình hình cạnh tranh quyết liệt của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam mà thủ thuật chủ yếu là dúng biện pháp giảm tỉ lệ phí, vì vậy kim nghạch hàng hoá XNK được bảo hiểm tăng 26% nhưng doanh thu phí bảo hiểm hàng hoá XNK chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

    Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy, nếu như trong các năm trước đây các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ chỉ chú trọng khai thác ở lĩnh vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đến đầu năm nay, họ tích cực hơn nhiều trong việc khai thác mở rộng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Tuy nhiên, do tỷ lệ phí ở thị trường trong nước giảm mạnh so với năm trước(có những dịch vụ phí giảm 40%) nên doanh thu phí từ nghiệp vụ này chỉ tăng 4%.

    Nếu như hầu hết doanh thu của các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đều tăng nhiều hoặc ít thì riêng nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật lại có doanh thu phí giảm 14% so cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên các nhà bảo hiểm kỹ thuật Việt

    22

    Nam đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện bảo hiểm nhằm bảo hiểm cho những dự án lớn chuẩn bị cho được triển khai như khu liên hợp thể thao, một số gói thầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy phân đạm… do vậy dư đoán nghiệp vụ này sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn trong 6 tháng cuối năm .

    Trong 6 thang đầu năm 2001 đã xảy ra một số tổn thất lớn, như thiệt hại hệ thống neo của Phao CALM tại mỏ Đại Hùng ngày15-2-2001với số tiền dự phòng bồi thường lên đến 3,2 triệu USD; thiệt hại đối với máy phát điện AMAN trên giàn CTP-2 cháy ngày 11-5-2001 ước bồi thường 900.000USD; tổn thất toàn bộ của máy bay trực thăng MI17VN-8415, trong đó số tiền bồi thường thân máy bay là 1.140.000USD và bồi thường trách nhiệm ước tính hơn 500.000USD; tổn thất hàng hoá trên tàu “GOSELLA” từ Inđônêsia về cảng Quy Nhơn trị giá hơn 800.000USD; tổ thất toàn bộ của tàu Lục Nam tại Ấn Độ với giá trị thân hơn 1 triệu USD; tổn thất P&I do tàu “VINH” đâm va tàu cá tại Hàn Quốc ngày 29-4-2001 với số tiền bảo lãnh để giải phóng tàu lên tới 927.000USD; vụ cháy nhà máy Vissing Pack với tổng bồi thường lên tới 1,5 triệu USD.

    Trong 6 tháng đầu năm tuy không có thêm công ty bảo hiểm nhân thọ mới ra đời, song sự hoạt động mạnh mẽ của 5 công ty hiện nay đã khiến thị trường này thực sự sội động. Doanh thu phí nhân thọ toàn thị trường Việt Nam đạt 1.250 tỷ VND, tăng gấp 2,4 lần so với cùng kì năm trước.

    Để hỗ trợ công tác khai thác, hoạt động quảng cáo tiếp thị bảo hiểm nhân thọ vẫn diễn ra rầm rộ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, báo chí, thông qua các hình thức khuyến mại và các hoạt động từ thiện, tài trợ. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang tích cực, tăng cường mở rộng đại lý nhân thọ, tổng số đại lý nhân thọ của thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt con số gần 30.000 người. Tuy nhiên việc mở rộng cũng như chất lượng của đại lý nhân thọ trong thời gian qua vừa nảy sinh nhiều vấn đề cần nhanh chóng giải quyết ngay cả tại các công ty bảo hiểm nhân thọ lẫn các co quan quản lý Nhà Nước về bảo hiểm. Tổng số tiền bồi thường của bảo hiểm nhân thọ trong quí I-2001 là hơn 19 tỷ VND. Khi các hợp đồng nhân thọ phát huy tác

    23

    dụng bồi thường thì cũng đồng thời làm nảy sinh một số tranh chấp do sự thiếu hiểu biết của người tham gia bảo hiểm cũng như thiếu kinh nghiệm của đại lý.Đây là điều khó tránh khỏi trong một thị trường còn hết sức non trẻ, song cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong việc hướng dẫn khách hàng khai báo các thông tin khi tham gia bảo hiểm.

    Trong 6 tháng vừa qua, Bộ Tài Chính đã cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm cho một công ty 100% vốn nước ngoài là Groupama-Gan.Công ty Groupama-Gan dự kiến sẽ phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp phục vụ cho nông dân.Đây là công ty 100% vốn nước ngoài thứ 2 trong lĩnh vực phi nhân thọ được cấp giấy phép hoạt đông tại Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm gốc trên thị trường lên 16 doanh nghiệp, trong đó 11 doanh nghiệp phi nhân thọ và 5 doanh nghiệp nhân thọ.

    Nghị định hướng dẫn luật kinh doanh bảo hiểm và nghị định hướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    24

    • DN bảo hiểm
    • DN BHNN
    • CTCPBH
    • DN BH liên doanh
    • DN100% vốn đầu tư nước ngoài

    Quy trình thành lập theo luật KDBH.

    Hồ sơ xin cấp giấy

    phép thành lập

    Gửi

    Bộ tài chính

    Từ chối cấp

    60 ngày đồng

    ý cấp

    Cấp giấy phép cho

    DN

    Nộp lệ phí cấp giấy

    phép

    Công bố nội dung

    hoạt động

    25

    2.3 ĐÔI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM

    2.3.1 Đôi nét về công ty

    Prudential là tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Vương Quốc Anh và cũng là một trong những tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất trên thế giới, quản lý trên 250 tỷ đô la Mỹ, với bề dày hoạt động bảo hiểm trên 150 năm. Sự ổn định và vững mạnh về tài chính của tập đoàn Prudential được công ty chuyên đánh giá “Standard and Poor’s” xếp hạng AAA- thứ hạng cao nhất.Đó là nền tảng vững chắc khiến hơn 11 triệu khách hàng trên toàn thế giới đã “chọn mặt gửi vàng”, đặt niềm tin vào Prudential.

    Từ năm 1923 Prudential dẫn đầu cung cấp sản phẩm dịch vụ khách hàng Với hơn 80 năm kinh nghiệm tại châu Á Prudential hiện đang hoạt động

    tại 12 thị trường:Singapore, Malaysia, HongKong, Indonesia, Thailand, Philippines, Ấ Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

    Có mặt tại Việt Nam từ năm 1994 với hai văn phòng đại diện tại Hà Nội( khai trương năm 1995) và thành phố Hồ Chí Minh(1997), Prudential đã được Chính Phủ Việt Nam cấp giấy phép đầu tư vào tháng 10 năm 1999. Với phương châm ” Luôn luôn lăng nghe. Luôn luôn thấu hiểu”, Prudential đang nhanh chóng phát triển và trở thanh công ty bảo hiểm nhân thọ có uy tín và lớn mạnh nhất Việt Nam với nhiều văn phòng tại các thành phố lớn. Ngoài hai trụ sở chính tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Prudential còn có các trung tâm phục vụ khách hàng tại Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Vinh và Đồng Nai.

    Sau gần hai năm hoạt động, đến cuối tháng9 năm 2001, Prudential đã bảo hiểm cho 285.291 khách hàng, và đã nhanh chóng giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho 92 trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm với số tiền gần 7,8 tỷ đồng và miễn nộp phí cho 43 hợp đồng với tổng số tiền bảo hiểm trên 1,6 tỷ đồng. Trong việc giải quyết đền bù bảo hiểm cũng như trong mọi hoạt động kinh doanh khác của mình, Prudential luôn luôn tuân thủ nguyên tắc: “Chính trực, Công bằng và Dịch vụ hoàn hảo”

    26

    Hiện nay, với một đội ngũ nhân viên trên 1014 người, Prudential đã phát triển, đào tạo một mạng lưới với hơn 32472 đại lý chuyên nghiệp, trong đó đa số đại lý có trình độ đại học và gần 2%có trính độ cao học. Với mục tiêu phát triển mạnh hơn, lớn hơn cùng xã hội, Prudential khẳng định con người là vốn quý nhất. Do đó ưu tiên hàng đầu của Prudential là đầu tư vào con người, tạo điều kiện cho mỗi nhân viên và đại lý phát huy khả năng chuyên môn để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn.

    Với cam kết hoạt động lâu dài tại Việt Nam, tin tưởng vào tiềm năng phát triển của kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường bảo hiểm nhân thọ nói riêng, và để phát huy hơn nữa những thành công trong thời gian qua, vào cuối tháng 10 năm 2002, Bộ Tài Chính Việt Nam vừa cho phép công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam tăng vốn đầu tư lên 61 triệu đô la Mỹ.

    Như vậy, với số vốn ban đầu là 15 triệu đô la Mỹ, Prudential đã lần lượt tăng lên 40 triệu đô la Mỹ( tháng6 năm 2001) và lần này là 61 triệu đô la Mỹ. Với số vốn gần 1.000 tỷ đồng này, công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential trở thành nhà đầu tư lớn nhất trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và tài chính.

    Với số vốn tăng thêm này, Prudential sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới phục vụ khách hàng,đa dạng hoá sản phẩm…

    nhằm phục vụ khách hàng ngày một hoàn hảo hơn. Đồng thời, Prudential cũng sẽ đẩy mạnh các chương trình đầu tư tài chính một cách có hiệu quả, nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng và góp phần xây dựng kinh tế Việt Nam.

    Việc tăng vốn lần này, một lần nữa khăng định lời cam kết của Prudential đối với khách hàng Việt Nam đối với cam kết hoạt đông lâu dài và hiệu quả của Prudential.

    27

    Kết quả kinh doanh sau 3 năm hoạt động của công ty

    (từ 11/1999 đến 11/2000 )

      1999 2000 2001 2002
             
    Tổng số nhân viên 80 352 675 1014
    (người )        
             
    Tổng số đại lý 281 5687 17201 32472
             
    Tổng số trung tâm phục vụ 2 5 12 19
    khách hàng        
             
    Tổng số trường hợp giải 0 21 162 308
    quyết quyền lợi bảo hiểm        
             
    Tổng số khách hàng 0 124249 453242 911743
    (người )        
             
    Tổng số tiền đền bù bảo hiểm 0 2,8 11 16,2
    ( tỷ đồng)        
             
    Doanh thu phí bảo hiểm 0 257 830 1295
    (tỷ đồng)        
             
    Tổng vốn đầu tư 15 40 40 61
    (tỷ đồng)        
             

    2.3.2 Quá trình hoạt động PR của công ty bảo hiểm Prudential.

    * Tài trợ

    Các hoạt động tài trợ mà công ty đã thực hiện bao gồm 4 hoạt động chủ yếu sau:

    Hoạt động từ thiện xã hội

    Hoạt động từ thiện PR trao học cụ cho học sinh nhận học bổng Nguyễn Hữu Cảnh tại Thành phố HCM.

    28

    Ngày 9/8/2003 Prudential trao học bổng cho 350 học sinh là con em của công nhân viên chức đang công tác trong khối. Ngày 25/7/2003 trao 60 suất học bổng cho con em đoàn viên công đoàn quận 1 Vượt khó học giỏi.

    Trao quà cho học sinh dân tộc ít người.

    Sáng 04/08 văn phòng đại diện tặng quà cho 100 học sinh trường tiểu học Phúc Thọ Lâm Đồng.

    • Để góp phần chia sẻ nỗi khó khăn của đồng bào vùng lũ lụt tại Nghệ An & Hà Tĩnh, trong 2 ngày 26&27 /9/2002, đại diện công ty
    • ã đến thăm ,trao tặng hỗ trợ 10 tấn gạo và 74 thùng mỳ tôm cho bà con gặp nạ
    • Ngày 3/4/2001 ,Prudential đã trao tặng quà cho trẻ em khuyết tật huyện Hóc Môn ,thông qua Hội bảo trợ người tàn tật , trẻ mồ côi Thành phố
    • Prudential đã giúp đỡ 230 bệnh nhân nghèo bị mù được mổ mắt miễn phí
    • Ngày 27/4/2001 ,Prudential đã trao tặng nhà tình nghĩa & tình thương tại huyện Củ
    • Ngày 4/1/2001,Prudential đã trao tặng 125 xe lăn cho người nghèo tàn tậ

    Hoạt động thể dục thể thao

    -Từ ngày 24/11/2002 đến 2/12/2002 tại thành phố Đà Nẵng,Prudential đã tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 2002 ” do Sở Thể dục Thể thao Đà Nẵng tổ chức.

    -Prudential đã tài trợ cuộc thi chạy marathon “Charity” gây quĩ ủng hộ giúp đỡ người tàn tật.

    Hoạt động giáo dục ,đào tạo

    -Ngày 28/10/2002, Prudential đã phối hợp cùng báo Sài Gòn Giải Phóng tổ chứ lễ trao tặng học bổng cho 300 em học sinh nghèo hiếu học ở 13 trường và các trung tâm giảng dạy Hoa Văn trên địa bàn thành phố HCM.

    29

    • Ngày 8/11/2002, tại xã Kỳ Xuân ,Kỳ Anh Tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra lễ khánh thành trường mẫu giáo mầm non do Prudential tài trợ kinh phí xây dựVới chính sách luôn chú trọng đến công tác đào tạo giáo dục ,Prudential sẽ tiếp tục ủng hộ các hoạt động xây trường mở lớp để các em học sinh có nơi học tập ,vui chơi.

    -Phối hợp với báo Sài Gòn Giải Phóng cùng Sở GD&DDT thành phố HCM , Prudential đã tài trợ tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt “.

    -Một hoạt động thường niên của Prudential vào mỗi dịp 20/11 là tài trợ giải thưởng ” Võ Trường Toản “_trao tặng cho 24 thầy cô xuất sắc nhất của thành phố HCM.

    -Để hỗ trợ kinh phí học tập cho các em sinh viên xuất sắc & sinh viên

    nghèo học giỏi của các trường CĐ – DDH tại các tỉnh thành có mức thu nhập thấp,công ty đã tài trợ 1 chương trình học bổng tổng cộng 134 suất trong 4 năm liên tục từ niên học 2002-2003 đến niên học 2005-2006.

    -Ngày 10/9/2001,Prudential kết hợp với Đài tiếng nói Việt Nam ,tặng 2000 bộ sách nói (băng cassette ) tới Hội người mù Việt Nam ,học sinh trường khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu.

    -Trao tặng ngân phiếu tài trợ xây dựng sân chơi cho lớp mẫu giáo tại phường Hoà Hải ,Quận Ngũ Hành Sơn ,Đà Nẵng.

    Hoạt động vui chơi giải trí

    -Nối tiếp truyền thống hàng năm Prudential đã tổ chức chương trình “Pru_Giáng sinh” phục vụ các em thiếu nhi bắt đầu từ ngày 21/12 tại Hà Nội và được nối tiếp tại các tỉnh thành có đặt văn phòng của công ty vào các ngày 22&23/12.

    -Ngày 30/7/2001,ông Mark Tucker đã thay mặt cho Prudential trao tặng học bổng “Chevening 2001”.

    -Nhân ngày lễ quốc tế thiếu nhi 1/6/2000 Prudential đã tài trợ cho cuộc thi vẽ tranh mang chủ đề “Ước mơ thần tiên “.

    30

    -Tài trợ liên hoan văn nghệ và ẩm thực “Mặt trời tuổi thơ “tổ chức tại Đầm Sen trong 3 ngày 1,2,3/6/2000.Tại đây ,các em thiếu nhi đã được phục vụ vui chơi ẩm thực miễn phí và xem chương trình văn nghệ đặc sắc.

    31

    * Quan hệ báo chí

    _ Prudential có quan mối quan hệ rất tốt với báo Sài Gòn Giải Phóng trong việc phối hợp tổ chức và tài trợ các hoạt động như: trao tặng học bổng cho học sinh nghèo ,tổ chức cuộc thi “Prudential -Văn hay chữ tốt”.

    _ Bài báo “Prudential _Ba năm , một triệu khách hàng ” trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn(số 48/2002) ,đăng tải cuộc phỏng vấn giữa phóng viên báo với ông Huỳnh Thanh Phong _Tổng giám đốc Prudential Việt Nam đã thuyết phục công chúng bởi các chỉ số tăng lên rõ rệt và đáng nể mà công ty đã đạt được sau 3 năm hoạt động .

    Công ty đã rất chú trọng trong việc đăng bài trên các báo như Thời báo KTSG, hay Sài Gòn giải phóng một cách thường xuyên và họ đã rất thành công.

    * Quan hệ với các cơ quan chứ năng

    Tại mỗi tỉnh có đặt văn phòng đai diện ,Prudential thường có quan hệ rất tốt với chính quyền nơi đó thông qua việc phối hợp hoạt động ,tổ chức các chương trình tài trợ,các hoạt động từ thiện xã hội …Ví dụ như:

    -Tài trợ cho “Giải bóng đá Đà Nẵng mở rộng tranh cúp Prudential năm 20002” do sở TDTT Đà nẵng tổ chức.

    -Phối hợp với sở GD-ĐT thành phố HCM tổ chức cuộc thi “Prudential _Văn hay chữ tốt”.

    *Các hoạt động hỗ trợ

    Chiến dịch “Pru tình nguyện” trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 3 Ngay từ sáng sớm ngày 17/11/2002,đồng loạt tại 12 tỉnh thành trên

    cả nước, hàng ngàn nhân viên & đại lý trong trang phục nón trắng với logo đỏ và dòng chữ Pru tình nguyện trên áo,đã khởi động cho chương trình Pru tình nguyện _một chương trình đầy ý nghĩa và thiết thực đối với cộng đồng và xã hội.

    Các công tác tình nguyện được tiến hành như :

    32

    -Tặng quà ,giao lưu ,động viên các em ở trường mù Nguyễn Đình Chiểu và trẻ em mồ côi.

    -Thăm hỏi tăng quà các thương binh ,các bà mẹ Việt Nam anh hùng,các cán bộ hưu trí.

    -Thăm trại người già ,khám bệnh phát thuốc miễn phí cho họ.

    -Quét dọn đường phố.

    -Thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo tại buôn Dlaya.

    -Cứu trợ đồng bào lũ lụt.

    Tặng quà trẻ em nghèo ở TP Buôn Ma Thuột 6/9/2000 Vùng lũ lụt Tiên Giang ngày 5/9/2001

    Khám bệnh phát thuốc dân tộc EACuorlap TP BMT 1/6/2002 Tham gia hội chữ thập đỏ 20/10/2001 TP.HCM.

    Tặng quà cho đồng bào lũ lụt tỉnh Tiên Giang 18/1/2001 *Các hoạt động hỗ trợ khác

    Prudential luôn cho ra đời các sản phẩm in ấn như catalog,tạp chí phát hành nội bộ hàng năm vào những dịp đặc biệt .Chúng được phát miễn phí cho khách hàng ,nhân viên và đại lý của công ty .Qua những ấn phẩm này ,chúng ta có thể biết thêm về những ngày đầu thành lập ,những thành viên trong hội đồng quản trị ,những hoạt động thiết thực ,những bài hát ,bài thơ,câu chuyện viết về công ty ,…Chúng luôn làm cho khách hàng cảm thấy tin tưởng và thân thiện với Prudential .Và quả thực bằng cách này Prudential đã đạt được mục đích chính của mình.

    * Khuyến mãi

    -TRong năm 2002,Prudential đã tặng cho khách hàng một quyển sổ nhỏ có chức năng giảm giá (từ 5 đến 15 % giá trị ) của rất nhiều mặt hàng khi khách

    33

    hàng mua chúng .Với cách này Prudential đã khích lệ được rất nhiều người mua và tiếp tục mua sản phẩm .

    -Hàng năm , vào mỗi dịp năm mới,Prudential luôn có quà tặng cho các khách hàng và nhân viên trong công ty ,đó là những tờ lịch treo tường rất đẹp và bắt mắt. Nó không những hữu ích cho khách hàng , đồng thời lại có tác dụng quảng bá thêm cho tên tuổi của công ty .

    Trên đây là một số hoạt động PR của Prudential đã và đang được thực hiện mà tôi đã sưu tầm được. Do hạn chế về thời gian thực hiện đề án ,có thể nó chưa hoàn toàn đầy đủ ,mong các thầy cô và quí độc giả thông cảm , giúp đỡ hoàn thiện thêm.

    34

    Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PR CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM

    PRUDENTIAL.

    Luật kinh doanh bảo hiểm đã được quốc hội thông qua 12/2000 tạo hành lang pháp lý cơ bản giúp cho thị trường bảo hiểm phát triển ổn định và tăng trưởng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản

    hướng dẫn tiến hành đã thể hiện được tính minh bạch và lộ trình

    cũng như các yêu cầu cho hội nhập kinh tế.

    Cần đa dạng hoá các loại hình nghiệp vụ mở rộng phạm vi và

    địa bàn hoạt động.

    Xây dựng một cơ chế quản lý giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động trong kinh doanh.

    Việc quản lý giám sát sẽ thông qua một hệ thống chỉ tiêu đánh gía, qua đó kịp thời phát hiện đề xuất giải pháp pháp củng cố và phát triển

    *Quan hệ báo chí

    Tiếp tục duy trì mối quan hệ với các báo như trước đây,xây dựng mối quan hệ mới với các báo mang tính xã hội ,cộng đồng cao,có số lượng độc giả lớn,rộng khắp cả nước.

    Ngoài các cách đã làm trước đây như đăng bài định kì ,trả lời phỏng vấn với phóng viên các báo ,phối hợp tổ chức các chương trình với các báo,Prudential nên khai thác nguồn lợi từ mối quan hệ với truyền hình.Vì truyền hình ở Việt Nam được coi là công cụ truyền tin đắc lực nhất,và vẫn là sản phẩm độc quyền nên mức độ bao phủ luôn là lớn nhất .

    35

    Các hoạt động hỗ trợ

    Trên thực tế,trong thời gian vừa qua,chương trình Pru tình nguyện được coi là sự kiện lớn nhất của công ty từ khi hoạt động đến nay,và đây cũng là sự kiện được nhiều người biết đến nhất.Việc cho ra mắt sản phẩm mới là Phú_Hoàn mỹ vào dịp 8/3/2003 vừa qua sẽ được công chúng chú ý đến hơn nếu công ty tổ chức một buổi lễ ra mắt cho sản phẩm .Trong buổi lễ đó có thể mời những người phụ nữ tiêu biểu của Việt Nam ,những người phụ nữ có tiếng nói trong xã hội .

    Vì để cho ra đời một sản phẩm được coi là mới trong lĩnh vực bảo hiểm là vô cùng khó khăn ,mặt khác sản phẩm đó lại không được bảo vệ về mặt bản quyền,nên công ty cần phải chú trọng rất nhiều đến công cụ này,một công cụ cho phép tạo được mức độ khác biệt lớn giữa các sản phẩm cũng như tên tuổi của các công ty .

    *Tài trợ

    Kể từ khi thành lập đến nay,các hoạt động tài trợ đã được Prudential thực hiện rất tốt,phong phú ,đa dạng,và ghi được dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng như một công ty bảo hiểm hàng đầu mang tính nhân bản là tấm lòng nhân ái cao .Tổng giá trị tài trợ từ năm 1994 đến nay đã lên đến hơn 8 tỷ đồng,thông qua nhiều chương trình hoạt động về xã hội ,từ thiện ,văn hoá,thể thao,y tế,giáo dục…

    Công ty nên tiếp tục duy trì các hoạt động mang tài trợ mang tính thường niên,hay nhân các dịp kỉ niệm,lễ Tết,các sự kiện lớn trong nước và quốc tế .

    *Quan hệ với các cơ quan chức năng

    Công ty muốn hoạt động kinh doanh hay tổ chức các hoạt động xã hội suôn sẻ ,đạt kết quả tốt thì cần phải có sự ungr hộ cũng như cho phép của các cơ quan chức năng .Vậy việc đặt mối quan hệ tốt với các cơ quan chức năng ở các tỉnh có văn phòng đại diện của công ty cũng như trên toàn quốc là việc khó khăn nhưng rất cần

    36

    thiết. Khi công ty đã thuyết phục được  các cơ quan chức năng thì

    • ệc chiếm trọn lòng tin của công chúng sẽ dễ dàng hơn nhiều. *Khuyến mãi

    Khuyến mãi là khía cạnh ít gặp nhất trong hoạt động của các công ty bảo hiểm ,do sản phẩm của nó không giống các loại sản phẩm thông thường khác.Tuy nhiên Prudential cũng đã thực hiện và thực hiện rất tốt.Khuyến mãi sẽ khuyến khích công chúng ra quyết định mua bảo hiểm Prudential dễ dàng hơn vì ít ra họ cũng có thể nhìn thấy những lợi ích trước mắt khi có được sản phẩm ,cái mà các công ty bảo hiểm khác không chỉ ra được.

    * Một số hoạt động hỗ trợ khác:

    Ngoài một số tờ rơi, tờ gấp, catalog, tạp chí nội bộ đã được phát hành trước đây, công ty nên có thêm những ấn phẩm thường kì với thời hạn ngắn hơn( trước đây một năm một lần ) để tổng kết hoạt động của công ty , báo cáo kết quả đạt được cho toàn thể khách hàng cũng như nhân viên công ty được biết. Đồng thời cũng nên có một chuyên mục”Khách hàng hỏi _ Prudential trả lời”, ở đó thường xuyên giải thích, trả lời những khúc mắc của khách hàng và nó sẽ tạo ra mối đồng cảm và thân thiện giữa khách hàng với công ty.

    * Tổ chức triển lãm:

    Do số lượng cũng như số năm hoạt động của Prudential ở Việt Nam còn hạn chế nên viậc tổ chức một cuộc triển lãm là rất khó khăn. Công việc này cố thể thực hiện trong thời gian tới, có thể là vào dịp kỉ niệm 10 năm hoạt động của Prudential tại Việt Nam.

    *Tổ chức toạ đàm:

    • ây là công cụ mà ở Việt Nam người ta ít dùng nhất, do đó công chúng cũng chưa quen với việc này. Trong lĩnh vực bảo hiểm

    37

    thì chưa từng được ứng dụng. Cũng có thể sau này sẽ thay đổi nhưng công cụ này hoàn toàn không quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

    *Xử lí thông tin khủng hoảng:

    Bảo hiểm là ngành khá nhạy cảm với các cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Vì ngoài phần nổi là việc đảm bảo cuộc sống bình an, hạnh phúc cho con người, thì phần chìm lại là việc “kinh doanh tiền tệ”. Về thực chất công việc mà các công ty bảo hiểm làm chính là “đi vay” và cho vay tiền. Do đó nếu gặp khủng hoảng thì các công ty sẽ phải chịu những hậu quả rất nặng nề.

    38

    KẾT LUẬN

    Công ty bảo hiểm Prudential là một công ty bảo hiểm lớn mạnh có bề dày lịch sử đang không ngừng phát triển và lớn mạnh có kết quả kinh doanh khả quan. Sự phát triển chính là hệ quả tất yếu của năng lực phát triển không ngừng góp phần phát triển thị trường bảo hiểm và thị trường tài chính.

    Trong nền kinh tế mở xuất hiện hàng loạt các công ty bảo hiểm đòi hỏi sự cạnh tranh gay gắt. Do đó sự tồn tại và phát triển của công ty bảo hiểm Prudential còn nhiều thách thức.

    Trên đây chỉ là một góc nhìn về một khía cạnh của quá trình hoạt động của công ty bảo hiểm Prudential do đó có nhiều hạn chế về lý luận và thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong được sự giúp đỡ của thầy cô giáo và nhiều bạn đọc

    39


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]