Category: Kỹ Năng Mềm

  • BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bài tập lớn môn Đường lối Thời cơ trong CMT8-1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%80I-T%E1%BA%ACP-L%E1%BB%9AN-M%C3%94N-GI%E1%BA%A2I-T%C3%8DCH-2.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2 2019

     

    BÀI TẬP LỚN MÔN GIẢI TÍCH 2

     

    GVHD: NGUYỄN NGỌC QUỲNH NHƯ

     

    STT

    HỌ VÀ TÊN

    MSSV

    1

    LÊ HẢI HẬU( NT)

    41201037

    2

    HOÀNG HẢI TRIỀU

    21304310

    3

    TRƢƠNG QUỐC TUẤN

    61104030

    4

    PHẠM HOÀNG TRUNG

    31003674

    5

    LÊ HOÀNG QUÂN

    31303209

    6

    ĐÀO ĐỨC THẮNG

    20902537

     

     

    ĐỀ TÀI :

     

    Câu 1: Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm 3 biến f tại điểm M cho trước dưới dạng ma trận vuông

     

    Câu 2: Tìm cực trị của hàm đa thức f(x,y) thỏa điều kiện x 2y2 =1 với a,b>0 được nhập từ a 2 b2

    bàn phím

     

    Câu3: Tính òòò f (x, y , z ) dxdydz trong đó W là miền giới hạn bởi :

    W

     

    ( z = 1 – x 2y2 ; z=0; y=x ;  y = x )

     

    Câu 1:

     

    ·        Cơ sở lý thuyết:

     

    1.     Định nghĩa đạo hàm tại một điểm:

    Cho hàm số y = f(x) xác định trên khoảng (a,b) và x0     (

    )

       

    ( )

    (  )

       

    (

    (

    )

    (  ))

             
           

    Nếu hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x0 thì nó liên túc tại điểm đó.

     

    2.     Ý nghĩa của đạo hàm

    Ø Ý nghĩa hình học

    f’(x0)là hệ số góc tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,f(x0))

     

    Khi đó, phương trình tiếp tuyến của đồ thị hàm số y = f(x) tại M (x0,y0) là:

     

    y-y0 = f’(x0).(x-x0)

    • Ý nghĩa vật lý

    Vận tốc tức thời của chuyển động thẳng xác định bởi phương trình s = s(t) tại thời điểm t0 là v(t0) = s’(t0)

     

    Cường độ tức thời của điện lượng Q = Q(t) tại thời điểm t0 là I(t0) = Q’(t0)

     

    1. Quy tắc tính đạo hàm: C ‘ = 0

    (u ± v )   = u ‘+ v

     

    ( ku ) ‘ = ku

     

    x ‘ =1

     

    (uv ) ‘ = uv + uv

     

    æ 1

    ö

    v

    ç

     

    ÷

    = –

       
     

    v

    2

    è v

    ø

       

    ( x n )   = nx n 1 ( n Î

     

    æ u ö

    u v uv

    ç

     

    ÷

    =

       
     

    v

    2

    è v ø

       

    N , n >1)

     

    ( v ¹ 0)

     

    Đạo hàm của hàm số hợp: Nếu u = g(x) có đạo hàm tại x là u’x và hàm số y = f(u) có đạo hàm tại u là y’u thì hàm số hợp y = f(g(x)) có đạo hàm tại x là y’x = y’u.u’x

     

    Đạo hàm cấp cao:

     

    f ( x) = [f ( x)] ; f ”’ ( x) = [f ( x)] ; f ( n ) ( x) = [f ( n1) ( x)] ( n Î N , n ³ 4)

     

    3.     Các cách tính đạo hàm

    Ø Theo định nghĩa

    Để tính đạo hàm của hàm số y = f(x) tại điểm x0 bằng định nghĩa, ta thực hiện các bước

     

    B1: Giả sử         là số gia của đối số tại x0. Tính Dy = f (x0 + Dx ) – f (x0 )

     

    B2: Tính lim Dy

    Dx ®0 Dx

     

    ·        VÍ DỤ:

     

    Xuất kết quả vi phân cấp 2 của hàm  f = 5 x 3 + 2 y 3 + 3 z 3 – 10 x 2 y + 2 yz 2 + 4xz tại điểm

    (            ) dưới dạng ma trận vuông.

     

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f, ta có:

     

    f x  = 15 x 2 – 20 xy + 4z                                                            f z  = 9 z 2 + 4 yz + 4x

    f y  = 6 y 2 – 10 x 2 + 2z2

    f

    = 30 x – 20 y

     

    xx

     
       

    f yy  = 12 y -10

    f

     

    = 4

         

    xz

     

    f zz  = 18 z + 4 y

    f yz

    = 4z

    f

    = -20x

         
     

    xy

           

    Tính các tích phân bậc 2 của hàm f tại điểm M(0,1,1) ta có:

    fxx

    = 30 ´ 0 – 20 ´ 1 = -20

    f

    = -20 ´ 0 = 0

     
             

    xy

       

    f yy  = 12 ´ 1 – 10 = 2

    = 4

     
             

    fxz

     

    f

    = 18 ´ 1 + 4 ´ 1 = 22

    f

    = 4 ´ 1 = 4

     

    zz

             
             

    yz

       

    Từ kết quả trên, ta xuất ra kết quả vi phân cấp 2 của hàm đã cho tại điểm   (

    ) dưới

    dạng ma trận vuông là:

         
     

    é -20

    0

    2 ù

         

    A = ê

    0

    2

    2 ú

         
     

    ê

       

    ú

         
     

    ê

    2

    2

    22ú

         
     

    ë

       

    û

         

    · CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

    CÂU 2:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.         Mô hình bài toán tìm cực trị có điều kiện:

     

     

    Xét bài toán: tìm cực trị của hàm

    (         )( ) , trong đó x, y là các biến thỏa điều

     

     

    kiện

    (         )

    ( ).

     

     

    Nhận xét: mô hình bài toán có điều kiện chỉ xét với điều kiện (2) là 1 phương trình. Như vậy nếu điều kiện (2) có dạng: g(x,y) < 0 (hoặc g(x,y) > 0) (2′) thì được hiểu là tìm cực trị địa phương của hàm z = f(x,y), trong đó ta chỉ xét những điểm dừng nằm trong miền thỏa mãn điều kiện (2′).

     

    2.         Định nghĩa:

     

     

    Ta nói rằng hàm tồn tại một lân cận

    (

    (         ) với điều kiện

    )của M0 sao cho:

    (         )

    ) đạt

    cực tiểu tại

    (

    )

    nếu

     

    (

    )

    (

    )         (         )

    (

    thỏa: g(x,y) = 0

     

    Thông thường, phương trình f(x,y) = 0 là phương trình của đường cong (C). Như vậy, ta chỉ so sánh ( ) với ( ) khi M nằm trên (C).

     

    Tương tự, ta cũng có định nghĩa cực đại có điều kiện.

     

    Cực tiểu có điều kiện và cực đại có điều kiện được gọi chung là cực trị có điều kiện..

     

    3.     Các phƣơng pháp tìm cực trị có điều kiện:

     

    • Cách 1: Đƣa về bài toán tìm cực trị của hàm 1 biến

    Nếu từ điều kiện (2) ta giải tìm được y = y(x) thì khi thế vào hàm số f(x,y) ta có z là hàm

     

    theo 1 biến số x: ( ( )) . Như vậy, bài toán trở về bài toán tìm cực trị của hàm số 1 biến. —–> Quá quen thuộc!!!

     

    • Cách 2: Phương pháp Larrange

    Nếu từ pt (2) ta không giải tìm y theo x được. Khi đó, giả sử (2) xác định 1 hàm ẩn theo

     

    biến x:    . Để tồn tại hàm số ẩn, ta giả thiết:                 (*)

     

    Như vậy: hàm số ( ) , với y là hàm theo x chính là hình ảnh hàm số hợp của biến số x thông qua biến trung gian y.

     

    Với những giá trị của x làm cho z có thể có cực trị thì đạo hàm của z theo x phải triệt tiêu. Vậy lấy đạo hàm của (1) theo biến x với quy tắc hàm hợp (nhớ rằng y là hàm theo x) ta

    có:

    f

    +

    f

    ×

    y

    = 0 (3)

                 

    x

    y

    x

                 
                         

    Từ điều kiện (2), ta lấy đạo hàm 2 vế theo x. Ta có:

    g

    +

    g

    ×

    y

    = 0 (4)

     

    x

    y

    x

                         

    Đẳng thức (4) này được thỏa mãn với mọi x, y thỏa mãn phương trình (2).

     

    Như vậy, tại những điểm cực trị thỏa mãn điều kiện (2) thì sẽ thỏa mãn (3) và (4)

     

    Nhân các số hạng của (4) với hệ số chưa xác định  và cộng chúng với các số hạng tương

     

     

    æ

    f

     

    g ö

    æ

    f

     

    g ö

       

    ứng của (3), ta được:

    ç

     

    + g

     

    ÷

    + ç

     

    + g

     

    ÷

    = 0

    (5)

           
     

    è

    x

     

    x ø

    è

    y

     

    y ø

       

    Do đó, phương trình (5) cũng nghiệm đúng tại những điểm cực trị thỏa điều kiện (2). Từ (5), ta chọn hằng số l sao cho tại những điểm cực trị, hệ số của dydx sẽ triệt tiêu.

     

    æ

    f

    + g

    g ö

    = 0

     

    ç

       

    ÷

    (6)

    y

     

    Nghĩa là: è

     

    y ø

     

    Vì vậy, từ phương trình (5) và (6) ta có: những điểm cực trị có điều kiện sẽ là nghiệm của

     

    ì

    f

     

    ï

       

    x

     

    ï

    f

     

    ï

    hệ phương trình: í

       

    y

     

    ï

    ïïg (x , y)

    î

     

    +

    g

    g

    =

    0

       

    x

       
               

    +

    g

    g

    =

    0

    (I)

     

    y

               
         

    =

    0

       

    Bây giờ, ta xét hàm số Larrange:  F ( x, y , g ) = f ( x, y ) + g g ( x, y)

     

    Khi đó các điểm cực trị địa phương của hàm Larrange sẽ thỏa mãn hệ:

     

    ìF

    =

    f

    +

    g

    g

    = 0

     
         

    ï

    x

       

    x

       

    y

       

    ï

                 
         

    f

       

    g

       

    ï

    =

     

    +

    g

    = 0

     

    íFy

         

    (II)

     

    y

    y

    ï

                 
                     

    ïF

     

    =

    g (x , y)

       

    = 0

     

    ï

    g

                   

    î

                     

    Từ (I) và (II) ta nhận thấy: những điểm dừng của hàm Larrange có thể là cực trị của hàm z = f(x,y) với điều kiện (2).

     

    Như vậy, bài toán cực trị có điều kiện trở về bài toán cực trị địa phương của hàm Larrange. Ở đây chỉ đóng vai trò phụ và sau khi tìm được giá trị thì không cần đến.

     

    Điều kiện của cực trị có điều kiện liên quan đến việc khảo sát dấu của vi phân cấp 2 của hàm Larrange tại điểm ( ) :

     

    d 2 F = 2 F ( x0 , y0 ) dx 2 + 2 F ( x0 , y0 ) dxdy + 2 F ( x0 , y0 )dy2

    x 2                            ¶xy                                 ¶y2

     

    trong đó: dx, dy không phải là những giá trị bất kỳ mà phải thỏa điều kiện:

     

    gx (x0 , y0 )dx + gy (x0 , y0 ) dy = 0 với dx 2 + dy2  ¹ 0

     

    Nếu d 2 F kiện. Nếu điều kiện.

     

    • 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều d 2 F < 0 với mọi giá trị có thể có của dx, dy thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có

    Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc xét dấu vi phân cấp 2 hơi phức tạp. Khi đó, ta có thể áp dụng kết quả sau: Giả sử ( ) là 1 điểm dừng của hàm Larrange, ứng với giá trị và đặt

     

    A = Fxx ( x0 , y0 ); B = Fxy ( x0 , y0 ); C = Fyy ( x0 , y0 ); D = g x ( x0 , y0 ); E = g y ( x0 , y0 )

     

    Khi đó xét: D = –

    0

    D

    E

       

    D

    A

    B

       
     

    E

    B

    C

       

    Nếu D > 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực tiểu có điều kiện tại (

    )

    Nếu D < 0 thì hàm z = f(x,y) đạt cực đại có điều kiện tại (

    )

    ·        VÍ DỤ:

     

    Cho hàm số f(x,y) = x2 + y – 1. Tìm cực trị của hàm f sao cho thỏa điều kiện x2 – y2  = 1.

     

    Ta có x2 – y2 = 1

    x2 = y2 + 1 (*) (x2     1)

    Thay (*) vào f(x,y) ta được:

    f(y) = y2 + y (y

    R)

    Tập xác định: D = R

    Xét f’(y) = 2y + 1 = 0

    (

     

    )

         

    (

    )

       
           
                   
                   

    Xét

    (

     

    )

           
             

    Vậy M(          ,        ) là cực tiểu duy nhất của f(x,y) khi y =          và x =

     

    ·        CODE:

     

     

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     

     

     

     

     

     

    CÂU 3:

     

    ·        CƠ SỞ LÝ THUYẾT:

     

    1.     Địng nghĩa:

     

     

    Cho hàm số f(x,y,z) xác định trong miền đóng, giới nội V của không gian Oxyz.

     

    Chia miền V thành n miền nhỏ có thể tích là D V1, …, D Vn. Lấy tùy ý một điểm Mi-(xi,yi,zi) trong miền nhỏ thứ i.

     

    n

    Lập tổng: I n  = å f ( xi , yi , zi )DVi

    i=1

     

    Nếu giới hạn

    lim I n = n ®+¥

    lim I n = I max di ®0

    hữu hạn, không phụ thuộc vào cách chia miền V, và

     

    Mi thì f(x,y,z) gọi là khả tích trên miền V, và I gọi là tích phân bội 3 của hàm f trên V, ký

    hiệu:  I = òòò f ( x, y , z ) dV

    V

     

    Tương tự như tích phân kép, ta ký hiệu dxdydz thay cho dV và tích phân bội 3 thường viết: I = òòò f ( x , y , z ) dxdydz (thể tích của V)

    V

     

    Chú ý: Nếu f(x,y,z) = 1 thì  I = òòò f ( x, y , z ) dV (thể tích của V)

    V

     

    2.     Tính chất:

     

    Ø I = òòò Cf (x, y , z ) dV = C òòò f (x, y, z) dV

    V                                                  V

     

    • I = òòò [f (x, y , z ) + g(x, y, z)]dV = òòò f (x, y, z) dV + òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                                                     V                                         V

     

    • Nếu V = V1 È V2 ,V1 Ç V2 = Æ thì:
    • f ( x, y , z ) dV = òòò f ( x , y , z ) dV + òòò f ( x , y , z ) dV

    V

    V1

    V2

    • Nếu f ( x, y, z ) ³ g ( x, y , z ); “( x, y, z ) ÎV thì:
    • f (x, y, z) dV ³ òòò g ( x, y , z ) dV

    V                                             V

     

    • Nếu f(x,y,z) liên tục trong miền đóng, bị chặn V thì tồn tại điểm ( x0 , y0 , z0 ) ÎV sao

    cho:   f ( x0 , y0 , z 0 ) = V1 òòò f ( x, y , z ) dV (Đinh lý về giá trị trung bình)

    V

     

    3.     Cách tính tích phân bội ba

     

    Ø Tích phân bội ba trong hệ tọa độ Descartes

     

    Cho V giới hạn bởi: mặt trên z = j2 ( x, y) , mặt dưới z = j1 ( x, y)

     

    Xung quanh mặt trụ có đường sinh song song với trục Oz và đường chuẩn là biên của miền D thuộc mặt phẳng Oxy. (D là hình chiếu của V xuống mặt phẳng Oxy).

     

     

    éj 2

    ( x , y )

    ù

    Khi đó: òòò f ( x, y , z ) dxdydz = òò ê

    ò

    f ( x, y , z )dz ú dxdy

    V

    ë 1

     

    û

    ê j ( x , y )

    ú

    Nếu miền D = {( x, y ) : a £ x £ b, j1 ( x ) £ y £ j2 ( x)}thì:

     

    b       j 2 ( x )        j2 ( x , y )

    òòò f ( x, y , z ) dxdydz = ò dx         ò dy   ò  f (x , y , z ) dz

    V                                                     a        j1 ( x )        j1 ( x , y )

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ trụ:

     

     

    Tọa độ trụ của điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r , j, z) với của M xuống mặt phẳng Oxy (Hình vẽ)

     

    Ta luôn có: r ³ 0; 0 £ j £ 2p; -¥ < z < +¥

     

    ì x

    ï

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ trụ: í y ïî z

     

     

     

    ( r, j) là tọa độ cực của hình chiếu

     

    • r cosj
    • r sin j
    • z

    Ta có: òòò f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r cosj , r sin j ) rdrd jdz

    V                                                      V

     

    • Tính tích phân bội ba trong hệ tọa độ cầu:

     

    Tọa độ cầu của một điểm M(x,y,z) là bộ ba số ( r, q , j) với r = OM ,q là góc giữa trục Oz và OM , j là góc giữa trục Ox và OM , với M’ là hình chiếu của M xuống mặt phẳng Oxy.

     

    Ta có: Với mọi điểm M trong không gian thì r ³ 0; 0

     

    ì x

    ï

     

    Mối liên hệ giữa tọa độ Descartes và tọa độ cầu: í y ïî z

     

    Công thức tính tích phân trong hệ tọa độ cầu:

    • q £ p ; 0 £ j £ 2p
    • r sin q cos j
    • r sin q sin j
    • r cosq
    • f (x, y , z ) dxdydz = òòò f (r sinq cosj , r sinq sin j , r cosq ) r 2 sinq drdq d j

    V                                                   V

     

    ·        VÍ DỤ:

    • ( )         ∭
    • Trong đó miền giới hạn là:

    ·

           

    ; z = 0; y = x;

     

    ;

               

       
                     

    ·

    (

    )  ∫

                                   
                                   
                                   
                             
         

     

     

           

                   
                                           
    • = D1 + D2
    • Tính D1
             

    ∫∫ (

    )

         

    ·

             

    (

                                     

    )

                                                   
                                           
                                           
         

    ·

                                                         
                                                         
                                                         
    • ( )        (          )    (                )    (                )     √
    • Tính D2

    ·

                                     

                                                         
               

                         

       
                                     

    ·

                               

                                                         
                                     

    (

     

    )

                       
               

                                     
                           

    ·

                                                                                       
                         

    (

       

    )

                                                     

                                                                             
                                                         
                                                                             

    ·

                                                                                 

    (

     

    )

                                                                                   

                                       

                           

           
                                                           
                                                               

    ·

                                                                                             
                                                                                             
    • Tính d1
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         
                                                                                         

    ·

                                     

    )

                                                   

             

    (

                                                               
                                                                       
                                                       
                                                                     

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                         

    (

             

    )

                               

    (

         

    )

                                                                     
                                       
                   

    ·

               

    (

                           

    )

                                                   
                                                                                       
                                                                                     
    • Tính d2
    • Đặt x = sint , ( *           +) => {
    • {
    • Khi đó:

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               
                                                                                               

    ·

             

    (

                 

    )

                                                   
                                                                               
                                                                             
                                                           
                                                                             

    ·

                                                                                                     
                                                                                                     
                                                                                                     

    ·

                                             

    (

             

    )

                             

    (

         

    )

                                                                                 
                                                             
                                               

    ·

         

    (

                                   

    )

                                                     
                                                                                         
                                                                                         
    • Tính d3

    ·

           

             

    (

                     

    )

                                   
                                                 
                                                         

    ·

                                                                                             
                                                                                             
                                                                                             

    ·

     

    (

         

    )

                                       

    (

               

    )

       

    (

         

    )

                                                                   
                                                               
                                         

    ·

           

    (

           

    )

             

    (

           

    )

               
                                                   
                                         
    • Suy ra

    ·

    (

       

    )

       

    (

       

    )

       

                   

    (

           

    )

     

           

    (

     

    )

         

         
                             
                           
     

    (

         

    )

         

    (

         

    )

     
                                                                                                                               
                                                           
         

    (

     

    )

     

    (

     

    )

         
                         
                                         
               
                                                                                                             
                                                                                                               

    ·

    (

           

    )

     

    (

               

    )

         

    (

             

    )

           

    (

     

    )

                             

               
                                                                         
                             
                                                                                                                           
     

    (

             

    (

         

    )

     
           

    )

                           
               
         
             
                                                               
    •  
    • = 0.0887
    •  

    ·        CODE:

     

     

     

     

    ·        CHẠY THỬ:

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: TIỂU LUẬN LẬP DỰ ÁN KINH DOANH QUÁN KEM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-%C4%90%E1%BA%A3ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng

    Lời mở đầu.

           Giai cấp công Việt Nam thật sự đã hình thành từ đầu thế kỷ XX. Nhưng nếu dùng khái niệm chính trị-xã hội học mà Ăng-ghen dùng thì tuy đã thành giai cấp nhưng còn ở bước đầu, giai đoạn “tự mình” hay “tự phát”. Giai cấp công nhân có một sứ mệnh lịch sử vô cùng quan trọng. Ở nước ta, giai cấp công nhân trước hết phải làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Sứ mênh lịch sử của giai cấp công nhân là phải lãnh đạo cuộc cách mạng đó thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam, đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính dân chủ nhân dân. Vậy vì sao nói giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều liện lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX là gì và điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được Cách Mạng là gì? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua phần dưới đây.

     

     

    Nội dung.

    1.     Sự ra đời và đặc điểm của giai cấp công nhân.

    1.1.           Sự ra đời.

              Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam. Về chính sách cai trị kinh tế, chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, hạn chế sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Về chính sách cai trị chính trị: thực hiện chính sách chia để trị, bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam, đó là chính sách thực dân kiểu cũ. Về chính sách cai trị văn hoá xã hội: đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, mở trường học hạn chế và nhỏ giọt. Trước tình hình đó đã dẫn đến những hậu quả về xã hội và giai cấp.

    • Thay đổi tính chất xã hội Việt Nam biến nước ta từ một nước phong kiến đôc lập thành môt nước thuộc địa, bản chất là thay đổi chủ thể quyền lực chính trị, từ vua quan phong kiến chuyển sang tay thực dân Pháp.
    • Thay đổi mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngoài giữa nông dân với địa chủ phong kiến, đó là mâu thuẫn về giai cấp, xuất hiện thêm mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, đó là mâu thuẫn dân tộc. Phải nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này sẽ tạo động lực cho Việt Nam phát triển.
    • Thay đổi kết cấu giai cấp trong xã hội Việt Nam.Trong đó đặc biệt là sự ra đời 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam. Mỗi giai cấp có địa vị kinh tế và thái độ chính trị khác nhau do đó có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xã hội.

    1.2.           Đặc điểm.

    1. Cơ sở lý luận.

             Theo C.Mác và Ăng-ghen thì giai cấp công nhân mang 2 thuộc tính cơ bản là:

    • Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. C.Mác và Ăng-ghen đã nêu: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.
    • Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.
    1.  b) Đặc điểm chung của giai cấp công nhân.

            – Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            –  Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó). Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
            –  Là “giai cấp dân tộc” – vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
            –  Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình: đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân , đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin).
            Bất kỳ giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới cùa giai cấp công nhân.
             Từ những đặc điểm vốn có đó, giai cấp công nhân mới có ba tính chất cơ bản là:
    a) Tính tổ chức, kỷ luật cao. 
    b) Tính tiên phong (về phương thức sản xuất, về tư tưởng, về Đảng của nó).
    c) Tính triệt để cách mạng.

    2. Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

    2.1. Hoàn cảnh lịch sử.

           Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp xã hội ở Việt Nam bị phân hóa sâu sắc hơn. Cùng với sự phân hóa của lực lượng xã hội cũ, một số giai cấp mới ra đời và ngày càng phát triển. Mỗi giai cấp có địa vị và quyền lợi khác nhau nên cũng có thái độ, chính trị và khả năng khác nhau trước sự nghiệp giải phóng dân tộc:

    • Giai cấp địa chủ phong kiến:

    + Vốn là giai cấp thống trị cũ đã đầu hàng, được đế quốc nuôi dưỡng để làm tay sai, chúng ôm chân đế quốc, phản bội dân tộc là chỗ dựa của chủ nghĩa đế quốc, câu kết với đế quốc để cướp đoạt ruộng đất và đàn áp nông dân nên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, địa chủ phong kiến được tăng cường cả về thế và lực.

    + Bị phân hóa thành ba bộ phận rõ rệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ ( một số đồng thời là tư sản ). Sinh ra và lớn lên trong một dân tộc có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên một bộ phận không ít tiểu và trung địa chủ có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp và bọn tay sai phản động, khi có điều kiện có tham gia vào phong trào dân tộc.

    • Giai cấp nông dân Việt Nam là giai cấp của những người lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam, bị thực dân và phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giai cấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai, làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyền sống, tự do. Tuy nhiên họ là những người tư hữu nhỏ, tư hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do phương thức sản xuất phân tán nên nông dân không có sự liên kết chặt chẽ cả vê kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, không có tổ chức vững mạnh, ít học thức, sống tản mạn nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Nếu có một lực lượng tiên tiến dẫn dắt thì họ sẽ trở thành lực lượng chính của cách mạng.
    • Giai cấp tiểu tư sản thành thị:
      + Cũng tăng lên về số lượng sau chiến tranh. Họ bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức, dân nghèo thành thị,…
      + Do bị khinh miệt, bạc đãi, đời sống bấp bênh, họ rất hăng hái cách mạng nhưng dễ hoang mang dao động nên không thể lãnh đạo được cách mạng. Tuy vậy, nhờ được tiếp xúc với các tư tưởng mới nên họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận học sinh, sinh viên, trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên rất hăng hái tham gia vào các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
      – Giai cấp tư sản:
      + Ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phần đông là những tiểu chủ đứng trung gian thầu khoán, số lượng ít lại bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm nên thế lực kinh tế nhỏ yếu ( tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng 5 % số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ ).
      + Bị phân hóa làm hai bộ phận:
      Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân và là lực lượng cần phải đánh đổ.
      • Tư sản dân tộc có lòng yêu nước, muốn phát triển chủ nghĩa tư bản Việt Nam, có khuynh hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần chống đế quốc và phong kiến, tán thành độc lập dân tộc nhưng vì kinh tế quá nhỏ yếu, có thái độ không kiên định, dễ thỏa hiệp nên không lãnh đạo được cách mạng, chỉ là một lực lượng nhỏ trong cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta.
      => Nhìn chung, tư sản dân tộc Việt Nam là một giai cấp có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Họ là một lực lượng đóng vai trò đáng kể, một thành phần trong mặt trận đoàn kết dân tộc.
      – Giai cấp công nhân:

    + Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, giai cấp công nhân tập trung nhiều ở các thành phố và vùng nhỏ như: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Quảng Ninh.

    + Họ có số lượng hết sức đông đảo: trước chiến tranh thế giới thứ nhất, họ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, giai cấp công nhân có trên 2 vạn người.
    + Giai cấp công nhân Việt Nam bị ba tầng lớp áp bức bóc lột của đế quốc thực dân, phong kiến và tư bản xứ, chủ yếu là bọn đế quốc thực dân.Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhân của chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam. Vì vậy, giai cấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Họ có quan hệ gắn bó với giai cấp nông dân, có truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc, sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu cách mạng vô sản trên thế giới ( cách mạng tháng Mười Nga ). Chính vì vậy, chỉ có họ mới có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và nhanh chóng trở thành lực lượng chính trị độc lập, làm cơ sở vững chức cho phong trào dân tộc theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa.
    – Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, trên đất nước Việt Nam đã diễn ra những biến đổi quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và giai cấp. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Cuộc đấu tranh của nhân ta chống để quốc và tay sai diễn ra ngày càng gay gắt.
    – Sự phân hóa giai cấp, đặc biệt là sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới, đã tạo tiền đề cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới, làm cơ sở để hình thành và phát triển các khuynh hướng cách mạng mới ở Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.

    2.2. Quá trình vươn lên vị trí lãnh đạo của giai cấp công nhân.

          Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Ở giai cấp công nhân, nỗi nhục mất nước cộng với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên gấp bội.Giai cấp công nhân ra đời và hình thành trong không khí sôi sục của một loạt phong trào yêu nước và các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp liên tục nổ ra từ khi chủ nghĩa đế quốc Pháp đặt chân lên đất nước ta. Điều đó đã có tác dụng to lớn đối với việc cổ vũ tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và quyết tâm đập tan xiềng xích nô lệ của toàn thể nhân dân ta.

           Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Những phong trào tiêu biểu diễn ra trong thời kỳ này: phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng phong kiến không đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước.

           Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi. Mục tiêu của các phong trào đấu tranh ở thời kỳ này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc. Nhưng tất cả các phong trào ấy đều thất bại và sự nghiệp giải phóng dân tộc đều lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Một số tổ chức chính trị theo lập trường quốc gia tư sản ra đời và đã thể hiện vai trò của mình trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và dân chủ. Nhưng các phong trào và tổ chức trên, do những hạn chế về giai cấp, về đường lối chính trị, hệ thống tổ chức thiếu chặt chẽ, chưa tập hợp được rộng rãi lực lượng của dân tộc, nhất là chưa tập hợp được 2 lực lượng xã hội cơ bản (công nhân và nông dân), nên cuối cùng đã không thành công.

            Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc. Cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo.

            Vào lúc đó, phong trào cộng sản và công nhân thế giới phát triển, cuộc cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ, thắng lợi và ảnh hưởng đến phong trào dân tộc dân chủ ở nước khác, nhất là ở Trung Quốc, trong đó có phong trào cách mạng ở nước ta. Tấm gương cách mạng Nga và phong trào cách mạng ở nhiều nước khác đã cổ vũ giai cấp công nhân non trẻ Việt Nam đứng lên nhận lấy sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta và đồng thời cũng là chất xúc tác khích lệ nhân dân ta lựa chọn, tiếp nhận con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

    2.3. Giai cấp công nhân có đủ các tố chất để lãnh đạo cách mạng.

         Giai cấp công nhân là giai cấp tiến tiến nhất trong sức sản xuất, gánh trách nhiệm đánh đổ chủ nghĩa tư bản và đế quốc, để gây dựng một xã hội mới, giai cấp công nhân có thể thấm nhuần một tư tưởng cách mạng nhất, tức là chủ nghĩa Mác-Lênin.

    1. Giai cấp công nhân đại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ.

           Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất). Vì thế, giai cấp công nhân có vai trò quyết định nhất sự tồn tại và phát triển xã hội.
            Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

           Giai cấp công nhân, con đẻ của nền công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất tiến bộ, đoàn kết. Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Họ đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại. Đó là giai cấp được trang bị bởi lý luận khoa học cách mạng và luôn đi đầu trong phong trào cách mạng theo mục tiêu xoá bỏ xã hội cũ lạc hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ. Nhờ đó có thể tập hợp được đông đảo các giai cấp, tầng lớp khác vào phong trào cách mạng. Hơn nữa đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp lao động khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với đông đảo nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi bảo đảm cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta.

    1. Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức, tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.

          Vì là sản phẩm của nền đại công nghiệp nên giai cấp này được tôi luyện trong môi trường lao động công nghệ ngày càng hiện đại cũng như trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến trước đây cũng như chống giai cấp tư sản ngày nay. Chính điều kiện làm việc ở thành thị và các khu công nghiệp giúp cho giai cấp công nhân mở rộng các quan hệ xã hội, mở mang trí tuệ. Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao. Môi trường làm việc của giai cấp công nhân là sản xuất tập trung cao và có trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, có cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ, làm việc theo dây chuyền buộc giai cấp công nhân phải luôn tuân thủ nghiêm ngặt kỷ luật lao động. Do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp chống lại giai cấp tư sản – là một giai cấp có tiềm lực về kinh tế – kỹ thuật nên giai cấp công nhân phải đấu tranh bằng phẩm chất kỷ luật của mình.

            Giai cấp công nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và tất yếu khách quan sẽ dẫn đến quan hệ sản xuất cũ phải thay đổi để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển.

    1. Giai cấp công nhân ra đời trước tư sản Việt Nam.

            Đội ngũ công nhân Việt Nam ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) của thực dân Pháp. Khu công nghiệp trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh-Bến Thuỷ, Hòn Gai đã làm cho số công nhân tăng nhanh…Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 3 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người,… Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ I kết thúc, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ II (1919-1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột  nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khoáng, dệt, giao thông vận tải, chế biến…dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh

            Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề, ngay từ khi mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản.

    3.     Điều kiện quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo được cách mạng.

            Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm, trong điều kiện đất nước bị kẻ thù xâm lược, khiến cho ý chí và động cơ cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam được nâng lên gấp bội. Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân nước ta đã đã anh dũng, kiên cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Phong trào đấu tranh của công nhân từng bước trưởng thành, phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng lớn mạnh. Điều kiện cơ bản và quan trọng nhất để giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo cách mạng đó là giai cấp công nhân có Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, có tinh thần cách mạng triệt để. Giai cấp công nhân xuất thân từ giai cấp nông dân, họ sớm được tiếp thu ánh sáng cách mạng chủ nghĩa Mác-Lênin. Do vậy họ là tầng lớp đại diện cho giai cấp nông dân nhưng tiến bộ hơn về mặt tư duy cách mạng. Đồng thời họ là lực lượng sản xuất chính trong xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng và tin cậy nhất của nhân dân”.Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

     

     

    Kết luận.

          Tóm lại giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có đủ điều kiện lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Tuyệt đại bộ phận trong giai cấp là xuất thân từ nông dân lao động và những tầng lớp khác, nên có mối liên hệ tự nhiên với nhân dân lao động bị mất nước, sống nô lệ nên cũng là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân xây dựng nên khối liên minh công nông vững chắc và khối đoàn kết dân tộc rộng rãi đảm bảo cho sự lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta. Giai cấp công nhân Việt Nam sớm được giác ngộ cách mạng và thành lập Đảng tiên phong do Hồ Chí Minh – Người đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam. Đó là giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề kiểm tra môn: Quản lý nhà nước về kinh tế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Lu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%A5t-th%C3%A0nh-v%C4%83n-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-nh%C3%B3m.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm

    “Luật bất thành văn” trong việc
    quản lý hoạt động theo nhóm

    Hoạt động kinh doanh của các tập đoàn, công ty hiện nay không thể thiếu đi vai trò quan trọng của mô hình các nhóm. Với mô hình này, nhà quản lý sẽ dễ dàng đạt được tham vọng và mục đích của mình hơn. Vì vậy, bạn cần xây dựng và phát triển các nhóm trong công ty, để họ thực sự là những tập thể “bất khả chiến bại” trên thương trường. Muốn làm được điều này, cần phải chú ý đến những nguyên tắc sáng suốt sau đây.

    1. Giá trị của tập thể

    Ai trong chúng ta cũng đều có tham vọng chinh phục những mục đích to lớn, phần nhiều bị thúc đẩy bởi bản ngã, cái tôi bên trong, hoặc cũng vì chúng ta cảm thấy những điều mình đang có còn quá ít hay còn quá nhiều điều cần phải đạt được trong cuộc sống. Tuy nhiên, một người vẫn còn là quá nhỏ để đạt đến những mục đích lớn lao ấy.

    2. Tầm nhìn rộng

    Mục đích bao giờ cũng quan trọng hơn những nguyên tắc khuôn sáo. Bởi vậy, các thành viên trong nhóm phải biết kìm nén, thậm chí hạ thấp những nguyên tắc cá nhân, những kế hoạch, dự định riêng tư của mình vì tầm nhìn, mục đích và lợi ích chung của cả tập thể. Nếu người lãnh đạo nhận thức được viễn cảnh, họ phải biết cách truyền đạt viễn cảnh ấy đến các thành viên trong nhóm, đồng thời tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho mọi người và biết cách chọn đúng “người chơi” để hiện thực hóa những viễn cảnh ấy.

    3. Tìm thấy sở trường của mỗi cá nhân

    Mỗi thành viên trong nhóm đều có một sở trường, sở đoản riêng. Về cơ bản, nếu biết đặt đúng mỗi cá nhân trong nhóm vào vị trí phù hợp, giao đúng việc phát huy được thế mạnh của họ, bạn sẽ tận dụng được tối đa sức mạnh của mọi người và tạo nên sức mạnh của cả tập thể, khi đó con đường thành công của bạn sẽ mở rộng hơn. Bởi vậy nhà quản lý cần phải biết quan sát, phát hiện và đánh giá đúng năng lực, kỹ năng, thế mạnh cũng như những tiềm năng riêng của từng thành viên.

    4. Đối đầu với thách thức

    Mỗi khi phải đối mặt với những thách thức, dù là khó khăn đến mức độ nào đi chăng nữa, mỗi thành viên trong nhóm đều không được phép lùi bước. Tùy vào mức độ của mỗi khó khăn, thách thức mà bạn phải biết chọn những nhóm có phong cách riêng thích hợp. Chẳng hạn trước những thách thức hoàn toàn mới cần phải có những thành viên sáng tạo, với những khó khăn lặp lại thì phù hợp với một nhóm giàu kinh nghiệm, những biến cố khó lường trước đòi hỏi phải giao cho những con người linh hoạt và có tầm nhìn xa. Nhà quản lý phải thường xuyên cọ xát với các thành viên trong nhóm, luôn có những thay đổi phù hợp về nhân sự và cách lãnh đạo và để thích ứng với mỗi hoàn cảnh riêng.

    5. Vượt lên trên sự ganh ghét đố kị

    Một nhóm thống nhất và hoạt động có hiệu quả nhiều khi lại được kết nối bởi những “sợi chỉ” hết sức mong manh. Ví dụ như người mạnh không chịu giúp đỡ kẻ yếu, luôn tìm cách loại trừ nhau. Trong trường hợp này, năng lực lãnh đạo của nhà quản lý cần phải được xem xét lại.

    6. Những thành viên có vai trò làm “chất xúc tác” đặc biệt

    Họ là những cá nhân luôn làm được những điều ít ai nghĩ đến. Đó là những người tiên phong trong các hoạt động, để rồi chính thái độ hăng hái, niềm tin và ngọn lửa trong họ sẽ nhanh chóng lan tỏa đến các thành viên khác, thúc đẩy tính sáng tạo cũng như hâm nóng bầu không khí làm việc chung của cả nhóm.

    7. Sự suy thoái về đạo đức

    Nhà quản lý cần biết rằng nếu đạo đức bị ăn mòn, sẽ dẫn đến việc hoạt động của cả nhóm thối rữa theo. Hãy bắt đầu từ chính bản thân bạn. Liệu bạn có nghĩ rằng các thành viên trong nhóm không thể hòa thuận được với mình? Hay bạn cho rằng thành công đến từ cá nhân bạn là chính chứ không phải là của cả tập thể? Bạn có ghen tị không khi một thành viên khác trong nhóm được ngợi khen và biểu dương?…Hãy tự đặt ra cho mình những câu hỏi tương tự, nếu bạn trả lời “có” đối với phần lớn những câu hỏi ấy, hãy xem lại tư cách đạo đức của chính mình.

    8. Sự đánh giá khách quan giữa các cá nhân

    Các thành viên trong nhóm phải tự đánh giá lẫn nhau nhằm duy trì hoạt động bền vững, hay lớn hơn là sự sinh tồn của cả tập thể. Chẳng hạn, bản thân nhà lãnh đạo có đáng bị nghi ngờ về tính chính trực, liêm khiết? Hiệu quả hoạt động của mỗi cá nhân đã đạt được mức tốt chưa? Cống hiến của mỗi thành viên vào thành công của cả tập thể là như thế nào?

    9. Chấp nhận trả giá cho thành công

    Các thành viên trong nhóm phải nhận thức được rằng để đạt được thành công, mỗi người đều phải trả giá. Sự hy sinh những thú vui, lợi ích cá nhân, gạt bỏ tính ích kỷ, cống hiến thời gian và trí tuệ là những cái giá mà bạn phải trả.

    10. Tính đồng nhất

    Giá trị chung của cả nhóm sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và thành bại của nhóm ấy. Không những thế, những giá trị đó sẽ đi theo nhóm, được khách hàng ghi nhận, được giới truyền thông đánh giá như nét độc đáo riêng của công ty bạn. Bởi vậy, bạn cần không ngừng quan sát xem mọi người nhìn nhận hình ảnh của các nhóm trong công ty như thế nào. Nên nhớ, nguyên tắc hoạt động của mỗi nhóm không thể thiếu đi tính đồng nhất, rõ ràng trong thông tin, liên lạc. Hãy tạo nên bầu không khí dân chủ, trao đổi thông thoáng từ lãnh đạo xuống nhân viên, từ nhân viên lên lãnh đạo, và giữa các nhân viên với nhau.

    Cuối cùng, mỗi nhóm cần nhận thức được chỗ đứng của mình để có những điều chỉnh phù hợp trong hoạt động. Quy luật phát triển hợp lý vẫn là “tre già măng mọc”, một tổ chức tốt là tổ chức có tính kế thừa cao. Nhà quản lý thành công là người tìm ra nhân vật thay thế mình.

    Nhận thức được 10 nguyên tắc bất di bất dịch trên, bạn sẽ thành công nhiều hơn trong việc quản lý các nhóm trong công ty. Cho dù mục đích hay kế hoạch của công ty bạn có thay đổi thế nào đi chăng nữa, đừng quên đầu tư, chăm chút và bổ sung những giá trị mới, tích cực cho các nhóm.

     

    Luật bất thành văn nơi công sở

     

    Ngày đầu bạn đến trường, cùng với bản nội quy học sinh được phát đến tận tay và bị “ép buộc” đọc, bạn còn phải tự quan sát thêm và thích nghi với “luật lệ riêng” của từng thầy cô.

     

    Cũng vậy, khi lớn lên và đi làm, quy định cụ thể trong công ty có thể cũng chả nhiều nhặn gì, đâu đâu cũng na ná nhau, nhưng luật bất thành văn mới là thứ đáng lưu tâm nhiều nhất.

    Có thể chả đầy đủ đâu, nhưng những lưu ý sau đây có thể tiết kiệm cho bạn thời gian để quan sát (và cả hứng chịu rắc rối) trước khi nhận ra những quy tắc ngầm của nơi làm việc:

    Điện thoại di động:

     

    Tránh nghe hay gọi điện thoại cá nhân ngay tại bàn làm việc, cho dù nội dung điện thoại liên quan đến công việc vì có thể tiếng nói chuyện rì rầm của bạn làm phiền đến người kế bên. Hơn nữa, công sở là nơi tai vách mạch rừng, những gì thuộc về bạn thì nên giữ bí mật.

    Khi vào phòng họp, hãy tắt điện thoại, đừng mở nó cho dù bạn để ở chế độ rung chăng nữa. Vì khi cuộc gọi và tin nhắn xuất hiện, bạn sẽ khó cưỡng ý định nhấc chiếc điện thoại lên, hoặc chí ít cũng cố nhìn xem tin nhắn và cuộc gọi đến từ ai. Điều này không chỉ bất lịch sự mà còn khiến sếp cảm thấy bạn hay lo ra, không tập trung vào công việc.

     

    Đừng nghe điện thoại trong toilet, thứ nhất âm lượng của bạn trong toilet sẽ to hơn ở ngoài rất nhiều, và khả năng là cuộc đối thoại của bạn sẽ oang oang ra ngoài gây khó chịu cho người khác. Thứ hai, bạn cũng chả biết được ai đang ở buồng kế bên.

     

    Sử dụng Internet:

     

    Nếu chỗ làm của bạn cấm dùng Facebook thì không có gì phải bàn, nhưng nếu chính sách Internet của công ty thoải mái hơn thì bạn cũng đừng nên đi quá giới hạn. Bạn có thể lướt net một chút nếu cần thư giãn đầu óc, nhưng xong một vài phút bạn phải tắt ngay, nếu để ẩn dưới thanh công cụ, sếp hoặc đồng nghiệp đi ngang có thể nhìn thấy bạn đang mở cái gì, tất nhiên sẽ không hay cho bạn., và chính bạn cũng khó cưỡng lại sự cám dỗ cứ vài phút lại bật chúng lên một lần.

     

    Tế nhị khi ở bàn làm việc:

     

    Ví dụ như công việc của bạn thiên về sáng tạo, bạn có thể vừa đeo headphone nghe nhạc vừa làm việc mà chẳng có vấn đề gì, nhưng bạn sẽ gây bực mình cho người xung quanh nếu cứ hát ri rí theo bản nhạc hoặc huýt sao, gục gặc đầu…Những hành động nhỏ của bạn có thể khiến người khác ngứa mắt mặc cho có liên quan đến họ hay không. Vì thế khi ngồi trong phòng làm việc, bạn phải tinh ý quan sát không khí chung vài thái độ của mọi người để “nhập gia tùy tục”.

     

    Vấn đề liên quan đến con người là chuyện rắc rối nhất nơi công sở, và thật không may là mọi người lại thường không thẳng thắn với nhau. Vì vậy việc đầu tiên ngay khi bước vào một công ty là tìm hiểu luật lệ ngầm nơi đó, chấp nhận hay không tùy mỗi người, nhưng thực tế tương lai của bạn tại công ty có thể đặt nền tảng trên những thứ rất nhỏ nhặt.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Kỹ năng quản lý thời gian


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%90%E1%BB%A9c-Tr%E1%BB%8B-c%E1%BB%A7a-Kh%E1%BB%95ng-T%E1%BB%AD-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-trong-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận: Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay

    LỜI MỞ ĐẦU

    Kinh tế là một thế giới động luôn phát triển và không ngừng thay đổi, nhất là vào thời đại ngày nay khi chạm ngõ thế kỷ XXI, trên thế giới chu trình toàn cầu hoá là tất yếu khách quan của tăng trưởng, nó tạo ra những khó khăn và thách thức mới cho các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Việc quản lý tốt hay không, luôn là vấn đề có ảnh hưởng đến sự tồn vong của một doanh nghiệp. Nhưng để quản lý tốt cần phải có những yếu tố nào? yếu tố kinh doanh hiện đại hay yếu tố quản lý truyền thống. Quá trình phát triển các học thuyết quản lý trải qua hàng nghìn năm những gì tích luỹ của quá khứ là của cải cho tương lai. Đặc biệt với phong thái quản lý phương Đông – một phong thái gần gũi với Việt Nam vẫn đứng trong kinh doanh thời đại “viễn thông – tên lửa”. Nổi bật nhất là chính sách, vị đức, trung dung trong Đức trị – Khổng Tử. Người viết quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử và vận dụng trong quản lý doanh nghiệp hiện nay” nhằm mục đích giải thích, giới thiệu tìm hiểu liệu trong giai đoạn này nó còn đúng đắn hay không hay đã lỗi thời.

    Những khó khăn chồng chất do tư liệu ít, ít người đề cập hay quan tâm đến vấn đề này. Đề tài quá rộng người viết không đủ khả năng khái quát hoặc đưa ra nhận xét hợp lý khi kinh nghiệm thực tiễn không nhiều. Mặt khác do thời gian gấp rút đã làm cho người viết lúng túng khi trong nhận định phân giải. Vượt qua khó khăn, người viết quyết tâm theo đuổi đề tài này, những mong có thể góp một phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu.

    Xin chân thành cảm ơn.

     

    CHƯƠNG I

    TƯ TƯỞNG “ĐỨC TRỊ” CỦA KHỔNG TỬ

     

    I. Tư tưởng Đức Trị của Khổng Tử

    1. Khổng Tử – Nhà quản lý xuất sắc

    Khổng Tử là một nhân vật lớn có ảnh hưởng tới diện mạo và sự phát triển của một số dân tộc. Ở tổ quốc ông, Khổng học có lúc bị đánh giá là hệ tư tưởng bảo thủ của (những người chịu trách nhiệm rất nhiều về sự trì trệ về mặt xã hội của Trung Quốc”. Ở những nước khác trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapor… Khổng Giáo lại được xem xét như một nền tảng văn hoá tinh thần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hoá các quốc gia theo mô hình xã hội “ổn định, kỷ cương và phát triển”.

    Sự đánh giá về Khổng Tử rất khác nhau, trước hết là vì những mập mờ của lịch sử. Ông sống cách chúng ta hơn 2 nghìn năm trăm năm và sau ông có rất nhiều học trò, môn phái phát triển hệ tư tưởng nho giáo theo nhiều hướng khác nhau. Có khi trái ngược với tư tưởng của thầy. Ở Trung Quốc vai trò của ông đã nhiều lần thăng giáng theo quan điểm và xu hướng chính trị, song đến nay, ông vẫn lại được đánh giá cao, UNESCO đã thừa nhận ông là một “danh nhân văn hoá thế giới”.

    Việc tách riêng từng khía cạnh trong cái tài năng đa dạng và thống nhất của ông đã tìm ra một Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn về Triết học, chính trị học, đạo đức học và giáo dục học. Trong các lĩnh vực đó thật khó xác định đâu là đóng góp lớn nhất của ông. Có thể nhận định rằng, tầm vóc của Khổng Tử lớn hơn khía cạnh đó cộng lại, và sẽ là khiếm khuyết nếu không nghiên cứu ông như một nhà quản lý.

    Nếu thống nhất với quan niệm nhà quản lý là nhà lãnh đạo của một tổ chức, là người “thực hiện công việc của mình thông qua những người khác thì Khổng Tử đúng là người như vậy.

    2. Khổng Tử  – nhà tư tưởng quản lý của thuyết Đức trị

    Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên.

    Khác với Trang Tử coi đời như mộng, kiếp người phù du chỉ cốt “toàn sinh” cho bản thân, Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”.

    Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”.

    Dù sao thì ý tưởng trên cũng được cả hai giai cấp bóc lột và bị bóc lột thời đó dễ chấp nhận hơn, dễ thực hiện hơn so với hình mẫu xã hội vô chính phủ “ngu si hưởng thái bình” của Lão Tử và mẫu “quốc cường quân tôn” bằng hình phạt hà khắc và lạm dụng bạo lực của phái pháp gia.

    Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xaay dựng một xã hội nhân bản.

    2.1. Đạo nhân về quản lý

    Với vũ trụ quan “thiên, địa, nhân – vạn vật nhất thể”, trời và người tương hợp, Khổng Tử nhận thấy các sự vật của vạn vật tuân theo một quy luật khách quan mà ông gọi là trời “mệnh trời”. Con người theo Nho học “là cái đức của trời, sự giao hợp âm dương, sự hội tụ của quỷ thần, cái khí tinh tú của ngũ hành”. Con người sinh ra đều có bản chất Người (đức – nhân) nhưng do trời phú khác nhau về năng lực, tài năng và hoàn cảnh sống (môi trường) khác nhau cho nên đã trở thành những nhân cách không giống nhau. Bằng sự học tập, tu dưỡng không ngừng, con người dần dần hoàn thiện bản chất người của mình – trở thành người Nhân. Và những người hiền này có xứ mệnh giáo hoá xã hội, thực hiện nhân hoá mọi tầng lớp. Nhờ vậy, xã hội trở nên có nhân nghĩa và thịnh trị. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc đức trị: người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo.

    – Về đạo Nhân:

    “Nhân là yêu người” (Nhân là ái nhân). Nhân là giúp đỡ người khác thành công “Người thân, mình muốn thành công thì cũng giúp người khác thành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân”. Nhưng Khổng Tử không nói đến tính nhân chung chung ông coi nó như đức tính cơ bản của nhà quản lý. Nói cách khác, người có nhân luôn tìm mọi cách đủ thu lợi về mình, nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong quan hệ nhà quản lý với đối tượng bị quản lý) vưà là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý. Khổng Tử nâng tư tưởng nhân lên thành đạo (nguyên tắc sống chung cho xã hội) vì là một nhà tư tưởng quản lý sâu sắc, ông thấy đó là nguyên tắc chung gắn kết giữa chủ thể và khách thể quản lý đạt hiệu quả xã hội cao: “người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến” (Dương hoá).

    – Nhân và lễ:

    Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối: “Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm chi”.

    – Nhân và Nghĩa:

    Đúng lễ cũng là làm đúng nghĩa rồi. Nhân gắn liền với Nghĩa vì theo Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình. “Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải như vậy mới được, không nhất định như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”, làm hết mình không thành thì thôi.

    Tư tưởng nhân ái của Khổng Tử có thể so sánh với tình bác ái của chúa Giê su và Đức phật. Nhưng ông khác 2 vị kia ở chỗ, trong tình cảm, có sự phân biệt tuỳ theo các mối quan hệ: trước hết là ruột thịt, sau đến thân, quen và xa hơn là người ngoài.

    – Nhân và Trí

    Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình: “Trí giả lợi Nhân”. Rõ ràng là người Nhân không phải là người ngu, không được để cho kẻ xấu lạm dụng lòng tốt của mình. Trí có lợi cho Nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người Nhân – quân tử, bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng người của họ. Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét.

    – Nhân và Dũng

    Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân, là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân của loạn.

    Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân – Trí – Dũng là những phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó của Khổng Tử được Hồ Chsi Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối với sụ phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài lâu là môi trường chính trị – xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp.

    Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”. Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ: “Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã giàu rồi, lại làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử  nói: “Giáo dục họ”.

    Tư tưởng “làm cho dân giàu”, “tiên phú, hậu giáo” là tư tưởng duy vật của Khổng Tử, được các học giả của Nho gia và Mắc gia sau này phát triển thêm. Nhưng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử để lại cho hậu thế đã không bị mai một theo thời gian. Ngày nay, hệ thống học thuyết của Khổng Tử đã trở nên lạc hậu, trước hết là phần nội dung liên quan tới vấn đề thế giới quan, song nhiều triết lý của ông về đạo đức – đạo lý, giáo dục, cai trị – quản lý con người và xã hội… vẫn là những nguyên tắc và triết học chỉ đạo một số hoạt động. Ví dụ như:

    Khổng Tử nhấn mạnh tới quá trình tự tu dưỡng trong hoạt động quản lý: “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” (Đại học).

    Người Nhân thì phải hết lòng vì người, biết từ bụng ta suy ra bụng người: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Luận ngữ).

    Trong hoạt động kinh tế, không chỉ căn cứ vào lợi nhuận đơn thuần “Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu sang mà trái với đạo lý thì người quân tử không thèm”. Cứ làm việc tốt, phục vụ người tốt thì “bổng lộc tự khắc đến”.

    Ở đây có một điểm cần nói rõ hơn: “Chính” mà Khổng Tử nói ở đây là chính trị, chính sự. Và chính trị là chỉ mọi biện pháp được thi hành để quản lý đất nước, làm cho chính sự được quản lý chặt chẽ; chính sự là chỉ việc làm hành chính. Khổng Tử chủ trương tham gia chính trị nuôi dưỡng nhân tài “Tòng chính” có nghĩa là chấp chính. Lúc bấy giờ, chưa thể có quản lý xí nghiệp cũng như khái niệm về quản lý xí nghiệp. Thời bấy giờ, việc quản lý quốc gia là việc mọi người quan tâm nhất, đó cũng là chính sự. Do đó, Khổng Tử quan tâm đến “Chính”. Quan tâm và nghiên cứu việc quản lý quốc gia là rất tự nhiên. Nhưng quản lý quốc gia là quản lý! Còn về điểm quản lý con người, nó cũng có nét chung như bất cứ việc quản lý nào. Do đấy, tư tưởng quản lý của Khổng Tử có ý nghĩa phổ biến.

    Quản lý học phương Tây truyền thống cho rằng quản lý là quản lý, luân lý đạo đức là luân lý đạo đức, hai phạm trù đó không có liên quan với nhau. Nhưng quản lý là cái gì? Suy cho cùng, quản lý là quản lý con người. Trong quản lý, đối với con người thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức, là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết.

    Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là: Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng… Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện.

    So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị, nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử, nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu “vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có “thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của Khổng Tử.

    Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi.

    2.2. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp

    Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một hệ thống tuyển lựa nhân tài cho quốc gia. Căn cứ vào kết quả các kỳ thi, những người đỗ đạt, dù xuất thân từ giai cấp nào, đều được đề bạt các chức vụ quản lý, từ thấp đến cao. Chế độ tuyển chọn nhân tài này đã tạo ra một đẳng cấp các nhà quản lý ở nhiều nước phương Đông kiểu Khổng giáo.

    Thuyết chính danh của Khổng Tử đòi hỏi đặt tên đúng sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó, khiến danh đúng với thực chất sự vật. Trong quản lý, chính danh là phải làm việc xứng đáng với danh hiệu chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì thân phải chính (có nhân), không chấp nhận thói xảo trá, lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh là vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi. Khổng Tử có tư tưởng khi việc làm vượt quá trách nhiệm và danh vị, Khổng Tử gọi là “Việt vị”. Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc, bất ổn của quốc gia là các hành vi “việt vị”, “tiếm lễ” của tầng lớp cai trị.

    Ngày nay, nhìn lại, chúng ta thấy tư tưởng quản lý của Khổng Tử có nhiều điểm bảo thủ, thiếu dân chủ và ảo tưởng. Nhưng ở thời ông, luật pháp còn rất sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo, dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh như vậy, Khổng Tử muốn xây dựng xã hội lý tưởng bằng cách bắt đầu “từ trên xuống dưới”, ông phải kêu gọi lòng khoan dung, sự gương mẫu của các nhà quản lý.

     

    CHƯƠNG II

    VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI

    I. Vận dụng trong thực tiễn

    Trong thực tiễn cải cách quản lý doanh nghiệp liên quan đến hai đặc tính lớn là tính dân tộc và tính thời đại của quản lý, về khách quan cũng tồn tại hai thái độ cực đoan đối với hai đặc tính lớn này. Đó chính là: Hoặc là chủ nghĩa bảo thủ dân tộc chỉ nhấn mạnh tính dân tộc của quản lý mà coi nhẹ tính thời đaị, hoặc chủ nghĩa hư vô dân tộc chỉ nhấn mạnh tính thời đại của quản lý mà coi nhẹ tính dân tộc. Hai thái độ này, về nhận thức để phiến diện, trong thực tiễn đều là có hại. Noi gương kinh nghiệm của Nhật Bản, trong hai thái độ cực đoan này cũng nên tìm được “Trung đạo” và kiên trì “trung dung”. Đó chính là một mặt biểu hiện khác của đạo trung dung trong quản lý doanh nghiệp. “Trung đạo” này đòi hỏi sự thống nhất hoàn mỹ giữa tính dân tộc và tính thời đại hoá quản lý doanh nghiệp, thực hiện việc hiện đại hoá quản lý doanh nghiệp có bản sắc dân tộc, cũng tức là quản lý doanh nghiệp có đặc sắc của Trung Quốc.

    Từ góc độ quản lý hiện đại, tiến hành phân tích, giám định toàn diện một lượt đối với quản lý truyền thống của Trung Quốc, cũng chính là xem xét một cách hệ thống “hiện thực” quản lý doanh nghiệp. Đối với những tư tưởng, lý luận, chế độ, phương pháp quản lý doanh nghiệp được chứng minh qua thực tiễn lâu dài, đã có đặc điểm văn hoá dân tộc, lại phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, phải tiến hành khẳng định, kế thừa và phát triển một cách đầy đủ. Đối với những cái có đặc điểm văn hoá dân tộc, nhưng không hoàn toàn phù hợp với đặc trưng cơ bản của quản lý doanh nghiệp hiện đại, nên căn cứ  yêu cầu của quản lý hiện đại. Dưới tiền đề giữ gìn đặc tính cơ bản dân tộc, tiến hành cải tạo, loại bỏ, làm cho nó phù hợp với đòi hỏi của quản lý hiện đại. Chẳng hạn thực tiễn công tác giáo dục tư tưởng tiến hành mấy chục năm lại đây trong các xí nghiệp của Trung Quốc đại lục đã phù hợp với quan niệm nghĩa lợi trong truyền thống văn hoá dân tộc, lại nhất trí ở trình độ tương đối lớn với quản lý mềm, quản lý của thế giới ngày nay rất chú trọng đối với các doanh nghiệp.

    Về thực tiễn, quản lý đã có từ lâu. Nhưng quản lý trở thành một khoa học thì khởi đầu phải nói là phương Tây. Ở thế kỷ này, nhất là trước thập kỷ 70, quản lý học phát triển nhanh chóng, các học phái mọc ra như nấm, một cảnh tượng phát triển rực rỡ. Cần phải nói rằng, về mặt khoa học hoá, định lượng hoá về quản lý thì quản lý phương Tây có công đầu.

    Tóm lại: Quản lý doanh nghiệp kiểu Trung Quốc và Nhật Bản cần phải có nét khái quát lớn. Song nó không phải là trạng thái tĩnh, mà là trạng thái động. Nó dứt khoát không phải là một loại mô thức cứng nhắc cố định, hình thức cụ thể của nó phải tuỳ từng nơi mà chế định biện pháp thích hợp, tuỳ lúc mà chế định biện pháp thích hợp, từ đó mà là cái trăm ngàn dáng vẻ, phong phú, đa dạng.

    II. Những điểm lợi và hại của “Đức trị”

    Đường lối đức trị trong quản lý, chủ yếu là dựa vào xây dựng quan niệm giá trị chung của mọi người, dựa vào quyền lực phi chính thức của bản thân người lãnh đạo như phẩm chất đạo đức, tài năng, tình cảm…, dẫn dắt mọi người hoàn thiện cuộc sống tinh thần và tu dưỡng đạo đức, trên cơ sở đó, thực hiện khống chế bên trong của hành vi, khiến cho hành vi của mọi người tự giác đảm bảo nhất trí với mục tiêu tổ chức.

    Cái lợi và cái hại của quản lý đức trị, hầu như ngược lại với quản lý pháp trị, ưu điểm, khuyết điểm trái ngược nhau. Pháp trị dựa vào sức răn đe, luôn luôn có hiệu quả ngay. Đức trị dựa vào giáo hoá, dựa vào tư tưởng để giải quyết vấn đề. Như vậy, hiệu quả sẽ nhìn thấy chậm. Nhất là hình thành đạo đức nếp sống lí tưởng, xây dựng quan niệm giá trị chung thì mất thời gian, quyết không thể một sớm một chiều. Do vậy, dùng nó để ngăn cấm ác, giảm lan truyền thì tỏ ra lực bất tòng tâm. Nhất là trong khi quản lý xuất hiện hỗn loạn, đòi hỏi dẹp loạn để xây dựng lại trật tự, làm cho quản lý nhanh chóng từ không nền nếp chuyển biến thành có nền nếp thì đức trị tỏ ra mềm yếu đuối sức. Nhưng sau khi một loại tư tưởng, một loại quan niệm giá trị được mọi người tiếp nhận, thì thời gian phát huy tác dụng của nó tương đối dài, thậm chí là rất sâu xa. Điểm này quản lý pháp trị không sao bì kịp. Do vậy, có thể nói pháp trị theo đổi là hiệu quả thời gian ngắn, đức trị theo đổi là hiệu quả thời gian dài. Pháp trị là quản lý tính chiến thuật, đức trị là quản lý tính chiến lược.

    Còn chức năng đức trị ở chỗ “khuyên thiện”. Nó không phải là giảm lưu truyền, ngăn chặn “ác” một cách tiêu cực mà là tích cực tiêu diệt tận gốc cái “ác”, thực hiện “chặt đứt gốc rễ”, giải quyết vấn đề từ căn bản.

    III. Nhận xét

    Những phân tích ở trên cho thấy rằng, trong thực tiễn quản lý, hai đường lối quản lý đức trị và pháp trị phải có đủ cả và kết hợp sử dụng, rộng mạnh cùng thi hành. Kết luận của thực tiễn quản lý mấy ngàn năm của Trung Quốc đói với hôm nay phải có ý nghĩa răn bảo. Không chỉ Trung Quốc, ngay ở Nhật Bản, giới xí nghiệp trong tổng kết thực tiễn, cũng rút ra kết luận như vậy. Nhà xí nghiệp nổi tiếng đương đại Songxia nói: “Là một người lãnh đạo, đối với ân uy phải phối hợp vận dụng được”; “ân uy kiêm sử dụng, rộng nghiêm thoả đáng, mới có thể giúp nhau cùng hoàn thành thu được hiệu quả một công đôi việc”.

    Từ chức năng và đặc điểm của đức trị chúng ta có thể thấy nó phù hợp đòi hỏi tổ chức trị an lâu dài của xí nghiệp, có lợi cho phát triển ổn định lâu dài.

    Chức năng của quản lý đức trị dựa vào giáo hoá để hình thành khống chế bên trong của mọi người. Cũng tức là biến mục tiêu, tôn chỉ, quan niệm giá trị của xí nghiệp thành mục tiêu, tôn chỉ quan niệm giá trị của bản thân toàn thể thành viên.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]

  • Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Kỹ năng quản lý thời gian

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam: Nhìn từ góc độ thể chế


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-th%E1%BB%9Di-gian.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ năng quản lý thời gian

     

    Kỹ năng quản lý thời gian

     

    Thời gian là quý báu cho nhà lãnh đạo. dù ở trong công việc nào, bạn vẫn phải biết quản lý thời gian của mình. không có khác biệt nào giữa các cấp lãnh đạo. làm quản lý thường là giao việc cho người khác. dù vậy, bạn không thể tổ chức giao việc hiệu quả nếu bạn không tự mình tổ chức cho mình. thời gian là tài nguyên hiếm hoi. tự tổ chức và sắp xếp trách nhiệm có ý nghĩa là tổ chức và sử dụng quỹ thời gian của bạn cho cá nhân hay trong công việc, bạn cần xây dựng cho mình một chương trình làm việc xác định rõ quỹ thời gian nào dành cho việc nhỏ, ít quan trọng và dành nhiều thời gian hơn cho việc lớn, quan trọng hơn.

    tính chất phức tạp trong tổ chức ngày nay khiến cho bạn phải thực sự quan tâm đến việc sắp xếp chương trình sao cho tận dụng thời gian tốt nhất để đạt hiệu quả cao nhất.

    cần phải thích ứng để xác định đúng đắn, thận trọng những điều quan trọng thật sự cho dù cá nhân hay trong công việc. bạn phải suy tính như vậy trước khi bắt đầu chương trình hành động nào để tận dụng tối đa thời gian có được.

    bạn cần xác định và phân tích việc sử dụng của bạn hiện nay. chúng tôi đề nghị hãy giảm thiểu những điều ngăn trở thời gian của bạn và đây là vài ý kiến thực tế có thể giúp bạn khắc phục. sau cùng, đề nghị bạn lập ra một phương án riêng, trong đó bạn sẽ quản lý thời gian của mình một cách đều đặn.

    quản lý thời gian

    quản lý nghĩa là làm việc và tổ chức cùng với người khác. phần lớn thời gian bạn đã dùng để giao tiếp, tổ chức công việc với nhân viên. muốn tổ chức với người khác, bạn phải biết tự tổ chức và quản lý thời gian của chính mình.

    quản lý thời gian hiệu quả đem lại nhiều lợi ích thuyết phục

    • làm cho cuộc sống dễ dàng hơn
    • giảm căng thẳng (stress)
    • tăng hiệu quả
    • tăng niềm vui trong công việc
    • tăng năng suất của cá nhân và tập thể
    • tăng “thời gian riêng tư ” cho bạn dùng

    quản lý thời gian hiệu quả sẽ giúp bạn suy nghĩ thêm cho công việc quan trọng và thì giờ giải trí.

    năm chữ << a >> trong quản lý thời gian hiệu quả

    sơ đồ 1

    sơ đồ để quản lý thời gian tốt hơn

    1. aware : nhận biết : để đề ra mục tiêu cho cá nhân & công việc. sau đó sắp xếp ưu tiên
    2. analyse : điều cần làm
    3. attack : ăn cắp thời gian ® loại bỏ kẻ ăn cắp thời gian của mình.
    4. assign : lập thứ tự ưu tiên
    5. arrange : hoàn thiện kỷ năng, lập kế hoạch
    6. save time, better use : tiết kiệm thời gian, sử dụng thời gian tốt hơn
    1. awareness : nhận biết

    nhận biết đâu là điều quan trọng cho cá nhân và công việc. giai đoạn đầu tiên này giúp xác định mục tiêu cụ thể các yếu tố trên. bạn phải coi trọng các yếu tố liên quan đến cách thức sử dụng thời gian, thói quen, tác phong, giao tiếp và trách nhiệm công việc của bạn.

    1. analysis : phân tích điều cần làm.

    để cải thiện sử dụng thời gian bạn cần đào sâu chi tiết về cách sử dụng thời gian hiện tại / những điều làm mất thời gian. phân tích như vậy giúp bạn sẽ xác định được cần làm gì để tốt hơn.

    1. attack : ăn cắp thời gian (tg)

    có nhiều điều làm mất thời gian của bạn. những “kẻ cắp thời gian” cần phải loại bỏ khi bạn chú tâm vào những điều cần yếu.

    1. asignment : lập trật tự ưu tiên

    khi loại trừ “kẻ cắp thời gian”, bạn nhớ lập trật tự ưu tiên cho công việc đang dang dở.

    cần làm những việc này một cách đều đặn.

    1. arrangement : sắp đặt kế hoạch

    giai đoạn cuối cùng là bạn phải sắp xếp thời gian có mục đích rõ ràng. nhớ đều đặn hoàn thiện các kỹ năng “nhỏ bé” kể trên để phục hồi thời gian đã mất. bạn cần phải có kế hoạch thông minh.

    bây giờ chúng ta cùng xem kỹ hơn năm giai đoạn này :

    1. aware : nhận biết

    trước hết cần phải hiểu rõ chính bạn để có thể hoàn thiện việc quản lý thời gian. một, bạn nghiêm túc xác định mục đích cá nhân và công việc (hay các trọng điểm) : sẽ đi đâu và muốn thế nào. hãy viết các mục tiêu ra để thấy rõ mức độ quan trọng ở đó.

    hiệu quả quản lý thời gian có được từ hai cách kiểm soát : tự kiểm soát và kiểm soát công việc. tự kiểm soát là do hiểu biết chính mình : ưu điểm, khuyết điểm, nhân cách, cách nhìn sự việc theo tổng quan hay chi tiết. kiểm soát công việc là hiểu rõ công việc tức là tổ chức và vai trò trong tổ chức ấy. vì là lãnh đạo, bạn cần hiểu rõ mục đích chính của cơ quan. người ta sẽ đánh giá bạn qua sự hiểu biết này.

    khi đề ra mục đích và trọng tâm, bạn đã thấy đâu là điều quan trọng thật sự. hãy nghĩ về con người bạn muốn tạo nên. bạn hướng sự nghiệp về đâu ? cơ quan bạn cần đạt được điều gì ?

    để làm rõ mục đích không phải là chuyện dễ dàng. bạn biết sơ qua những liên quan đến mục tiêu. nhưng còn phải đưa ý tưởng mình ra ánh sáng. hãy làm như sau :

    • quan trong / ưu tiên :

    hãy tách riêng mục tiêu của gia đình với mục đích cá nhân và công việc (sự nghiệp / kinh doanh). nhớ phải giữ thế cân bằng. nếu bạn quyết định lấy bằng đại học, cùng lúc muốn dạy con bạn bơi lội và chơi lướt ván buồm tất cả các thứ một lúc thì xin bạn hãy suy xét lại. mọi mục tiêu đều quan trọng nhưng phải xác định cái nào quan trọng hơn trong thời điểm hiên tại :

    mức độ quan trọng tạm thời có thể hoán chuyển khi một vài trọng điểm đã hoàn tất / các ưu tiên có thay đổi.

    • kinh nghiệm quá khứ :

    hãy nhớ lại những chuyện đã làm hoặc xảy ra mà bạn cảm thấy “hài lòng” : lúc nào bạn đã thành công. có lẽ bạn mừng cho sự thăng chức trong vị trí hiện nay.

    về cá nhân, khi mua nhà mới hoặc đi nghỉ hè với bạn thân đều đem lại niềm sung sướng. nếu cảm nhận sự hài lòng ở đâu thì điều quan trọng cũng ở ngay đó vậy.

    • thực tế : (khi xác định mục tiêu)

    mục đích phải thực tế. nếu chỉ cao 1,45 m mà ước mong là ngôi sao trong đội bóng rổ chuyên nghiệp thì bạn viễn vông lắm đấy.

    • rõ ràng :

    mục đích cần rõ ràng, hợp lý và có hạn định. hãy nghĩ làm thế nào đạt mục đích và lên kế hoạch thực hiện.

    • viết ra giấy : (để hệ thống hóa, tránh sai sót)

    hãy viết ra giấy những ý tưởng của bạn. đừng lừa dối chính mình khi cho là có thể nhớ trong đầu các mục đích đa dạng của bạn.

    chúng ta đang nói đến những mục tiêu dài lâu cả đời người.

    hơn nữa, khi ghi chép các mục đích, bạn sẽ chú tâm đến những điều mình tin tưởng. khi viết ra giấy, các mục tiêu thường khác đi so với khi chúng còn nằm trong trí não.

    bảng sau đây sẽ cho bạn biết về các điều trên. bạn sẽ học cách thiết lập, sắp xếp ưu tiên, làm việc tích cực, hướng về mục đích đề ra.

    còn những điều khác ảnh hưởng đến quỹ thời gian của bạn : tư cách, thói quen và giao tiếp nếu bạn hay truyền miệng để liên lạc với nhân viên thì có ảnh hưởng đến thời gian của bạn là : bạn có thể đã nói đi nói lại mười lần cùng một thứ cho mười người khác nhau. thực ra chỉ cần một lời nhắn ngắn gọn là đủ.

    khó làm thay đổi thói quen nhưng làm vẫn được. còn có trách nhiệm công việc liên quan đến thời gian của bạn. những trách nhiệm này không hằn là điều bạn phải tin là quan trọng. có khi là những yêu cầu đòi hỏi trong công việc mà chúng ta không thích lắm nhưng phải chịu đựng. đó là những điều không quan trọng lắm nhưng lại không thể tránh được. bạn hãy giữ cho quân bình giữa điều quan trọng trong công việc và những bổn phận áp đặt lên bạn. hãy làm rõ trách nhiệm của bạn.

     

    trách nhiệm của bạn :

    • chịu trách nhiệm về những ai ?
    • mức độ trách nhiệm đối với họ ?
    • tôi có nắm nguồn lực và kinh phí riêng ?
    • tôi làm việc trong môi trường chính yếu nào ?
    • tôi chịu trách nhiệm hành chính nào ?
    • tôi có phải tiếp xúc với khách hàng bên ngoài ?
    • tôi có phải phát huy sáng kiến ?
    • tôi được quyền hạn gì ?
    • nhân viên của tôi trách nhiệm ra sao ?
    • đồng nghiệp của tôi có trách nhiệm nào ?
    • nhiệm vụ của cơ quan tôi là gì ?
    • trong công việc, có nguyện vọng gì tôi chưa đưa ra ?

    có thể liệt kê thêm nữa nhưng khi trả lời những câu hỏi trên sẽ giúp bạn định hình được trách nhiệm của mình.

    1. analyse : phân tích

    khi đã đề ra mục tiêu rồi, bạn phải làm một bước thực tế phân tích cách thức sử dụng thời gian. để kiểm soát được thời gian của mình, bạn phải biết dùng nó thế nào ?

    có vẻ như đơn giản, nhưng phần lớn các lãnh đạo lại không thể nói cho bạn biết chi tiết họ đã dùng thời gian trong ngày hay trong tuần như thế nào.

    bạn cần sử dụng thời gian của mình. cần phân tích rõ cách sử dụng sau khi biết rõ mình phải làm gì. hãy mổ xẻ thì giờ trong ngày và xem xét, tự hỏi : tôi dành thời gian bao lâu để họp hành ? tôi đã làm công việc của người khác mất bao lâu ? hãy biết rõ thực sự bạn đang làm điều gì ?

    nhật ký / tự đánh giá :

    phương pháp này, để bạn tự đánh giá theo mẫu “ngày của dũng” như ở đây / có mẫu khác rõ ràng hơn. hãy sắp xếp công đoạn làm việc theo từng 5, 10, 15 / 30 phút.

    mẫu tự đánh giá : (một thí dụ)

     

    thứ hai

    giờ                                                        công việc

    7h30 – 8h00         …………………………………………………………………………………………….

    8h00 – 8h30        …………………………………………………………………………………………….

    8h30 – 9h00        …………………………………………………………………………………………….

    9h00 – 9h30        …………………………………………………………………………………………….

    9h30 – 10h00      …………………………………………………………………………………………….

    10h00 – 10h30    …………………………………………………………………………………………….

    10h30 – 11h00    …………………………………………………………………………………………….

    11h00 – 11h30    …………………………………………………………………………………………….

    11h30 – 12h00    …………………………………………………………………………………………….

    12h00 – 12h30    …………………………………………………………………………………………….

    12h30 – 13h00    …………………………………………………………………………………………….

    13h00 – 13h30    …………………………………………………………………………………………….

    13h30 – 14h00    …………………………………………………………………………………………….

    14h00 – 14h30    …………………………………………………………………………………………….

    14h30 – 15h00    …………………………………………………………………………………………….

    15h00 – 15h30    …………………………………………………………………………………………….

    15h30 – 16h00    …………………………………………………………………………………………….

    16h00 – 16h30    …………………………………………………………………………………………….

    16h30 – 17h00    …………………………………………………………………………………………….

    17h00 – 17h30    …………………………………………………………………………………………….

    17h30 – 18h00    …………………………………………………………………………………………….

     

    khoảng thời gian dự tính tùy theo bạn sắp đặt. cần nhất là bạn phải biết mình đang thực sự làm điều gì lúc này. đề nghị bạn theo dõi thời gian biểu trong vài ngày liền ít nhất 3 lần trong năm. bạn hãy tập ghi chép lại công việc của mình. làm như thế, bạn sẽ biết rõ mình đang làm gì và đặt điều quan trọng nhất bạn muốn làm để hướng gần đến mục tiêu.

    tự xem xét xong, bạn hãy sang phần phân tích. để có ích lợi hơn, chúng ta hãy thực hiện một khoảng thời gian biểu trọn ngày. bạn càng chi tiết càng tốt và liệt kê công việc và thời gian thực hiện.

    thí dụ :  ngày của dũng” là một mẫu tham khảo như sau :

    ngày của dũng

    ngày thứ ba, 23/3

    giờ

    công việc

    tham gia

    7.30-7.41

    uống cà phê, đọc báo

    tôi

    7.41-7.44

    điện thoại từ chi nhánh số 5, đòi số liệu cho báo cáo

    7.44-7.50

    đến phòng thư ký tìm tư liệu

    tôi

    7.50-7.53

    hiền (thư ký) đến tìm tư liệu

    hiền

    7.53-7.56

    sơn ghé vào xác nhận cuộc họp

    sơn

    7.56-8.00

    giải thích xong cho hiền điều cần thiết

    hiền

    8.00-8.02

    điện thoại từ nhà gọi đến

    lan (vợ tôi)

    8.02-8.16

    làm việc về bản báo cáo năm

    tôi

    8.16-8.18

    điện thoại từ chi nhánh số 5. nhắc lấy dữ liệu.

    nhắc hiền đưa dữ liệu cho lý

     

    8.18-8.23

    nhận điện thoại từ hiền

    hiền

    8.23-8.29

    làm tiếp bản báo cáo

    tôi

    8.29-8.47

    tuấn ghé vào mời mọi người dùng cơm trưa

    tuấn

    8.47-8.49

    điện thoại yêu cầu của bộ

    bộ

    8.49-8.54

    hai gặp tuấn và đề nghị dùng cơm trưa ở số 94.

    hai, tuấn

    8.54-9.01

    làm tiếp bản báo cáo

    tôi

    9.01-9.07

    minh (ông chủ) gọi điện báo thay đổi lịch

    minh

    9.07-9.21

    xem lại kế hoạch cho năm sau

    tôi

    9.21-9.23

    phòng máy tính gọi đến đề nghị nâng cấp trang thiết bị

    phúc

    9.23-9.30

    lập chương trình họp

    tôi

    9.30-9.34

    hùng ghé vào để kiểm tra số ngày nghỉ còn tồn đọng và than phiền về cấp trên. buổi gặp mặt được sắp xếp với anh ta cho buổi chiều.

    hùng

    9.34-9.52

    nghỉ giải lao và dùng cà phê

    những người khác

    9.52-l0.01

    chuẩn bị lịch trình cho buổi họp

    tôi

    10.01-10.20

    đi đến phòng họp, ngừng lại tán chuyện với đồng nghiệp

    những người khác

    l0.20-10.25

    chờ mọi người đến dự họp

    những người khác

    10.25-11.32

    điều hành cuộc họp về kế hoạch phát triển năm tới

    những người khác

    11.32-13.05

    ăn trưa

    những người khác

    13.05-13.20

    đi dạo tán gẫu với các đồng nghiệp

     

    13.20-13.30

    chuẩn bị cho cuộc họp với hùng

    tôi

    13.30-13.37

    hùng đến, buổi họp bắt đầu

    hùng

    13.37-13.41

    thư ký của phó chủ tịch hội đồng điện thoại về việc chậm trễ trả lời thư.

    thư ký phó chủ tịch hội đồng

    13.41-13.44

    gọi điện cho kim nhắc đến lá thư.

    kim

    13.44-13.52

    tiếp tục cuộc thảo luận với hùng

    hùng

    13.52-13.55

    điện thoại từ phân xưởng báo thắng đang cãi nhau với người quản đốc.

    người khác

    tôi

    13.55-14.00

    bảo hùng quay trở lại sau và đi xuống phân xưởng

    hùng

    14.00-14.24

    nói chuyện với thắng và với quản đốc của anh ta để giúp họ giải quyết vấn đề. sắp xếp buổi gặp mặt.

    thắng và người quản đốc

    14.24-14.35

    ký, các lá thư cho hiền và đọc đánh máy bản thông báo nội bộ.

    hiền

    14.35-14.39

    điện thoại của con hỏi xin tiền

    hiếu

    14.39-14.47

    chấm dứt việc đọc đánh máy, ký vài lá thư

    hiền

    14.47-15.15

    dùng cà phê giải lao

    người khác

    15.15-15.36

    thảo luận về những số liệu cho năm tới với các quản đốc.

    các quản đốc

    15.36-15.38

    hai gọi điện báo cô ấy phải về nhà vì bệnh

    hai

    15.38-15.46

    tiếp tục cuộc thảo luận

    các quản đốc

    15.46-15.49

    ở nhà gọi điện bảo lúc về đón con gái mai ở trường

    lan (vợ)

    15.49-16.07

    phi ghé vào nói về việc đề bạt thăng chức

    dời phần còn lại của cuộc thảo luận cho đến ngày mai

    phi

    các quản đốc

    16.07-16.20

    thảo luận việc đề bạt thăng chức với phi

    phi

    16.20-16.22

    lan gọi điện hẹn gặp ngày mai

    lan

    16.22-16.32

    thu dọn đồ: số liệu năm sau, bản báo cáo và dụng cụ chơi tennis.

     

    bài tập :

    bạn là đồng nghiệp và là một người bạn thân của ông dũng. ông dũng rất không hài lòng với một ngày làm việc như vậy. không may là những ngày làm việc lộn xộn như vậy lại xảy ra rất thường xuyên. ông ta yêu cầu bạn cho một vài lời khuyên nhằm cải thiện việc sắp xếp thời gian của ông ta. bước đầu bạn nên phân tích việc ông dũng đã sử dụng thời gian của mình như thế nào và tại sao lại như vậy. sau đó, bạn hãy đề nghị phương pháp để quản lí thời gian tốt hơn. bạn có thể đặt vài câu hỏi quan trọng với ông dũng để giúp ông ta.

    khi phân tích thời gian biểu hãy nhớ những điểm sau :

    • công việc ích lợi nào chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc vô bổ chiếm nhiều thời gian nhất ?
    • công việc ích lợi nào không đáng dành nhiều thời gian ?
    • công việc nào cần thời gian nhiều hơn ?
    • lúc nào trong ngày thì bận rộn nhất ?

    sơ đồ 2

    ngày của dũng

    (sau khi phân tích)

    loại công việc

    động tác

    thời lượng (phút)

    % tổng số thời gian

    chuyên môn

    7

    139

    27,5%

    cấp bách

    5

    41

    8,1%

    thường xuyên

    25

    165

    32,6%

    cá nhân

    11

    161

    31,8%

    dũng sắp xếp công việc của mình như sau :

    chuyên môn (c) : công việc nghiệp vụ như lên kế hoạch lâu dài, viết hồ sơ nhân viên, xem xét báo cáo.

    cấp bách (không dự báo trước được) (cb) : việc cần làm ngay như bất đồng cá nhân, quyết định cấp bách.

    thường xuyên (t) : việc hành chánh giấy tờ, thư từ, điện thoại, nhắc nhở nhân viên.

    cá nhân (cn) : việc riêng như gia đình, giải lao.

    trong mỗi phần, dung ghi rõ c, cb, t, cn. sau đó cộng hết thảy động tác của từng loại.

    nhìn chung sẽ thấy dũng mất nhiều thời gian cho những việc không quan trọng. việc hành chánh và cá nhân chiếm quá nhiều thời gian trong một ngày làm việc. nếu bạn cũng thế thì hãy biết còn nhiều người cũng vậy lắm. các nghiên cứu cho thấy người lãnh đạo thường bị lôi cuốn vào những chuyện lung tung, nhất thời và giai đoạn hoặc mất liên tục trong công việc.

    nói thực, bạn sẽ khó tìm được cách giải quyết thỏa đáng cho những điều quan trọng. có khi bạn bận rộn (hay cảm thấy như vậy) vì cứ phải trả lời điện thoại, khách không hẹn trước hoặc giải quyết bất đồng cá nhân. có nhiều người lãnh đạo và tổ chức cho “sự bận rộn” là đồng nghĩa với hiệu suất và cho như vậy là làm việc siêng năng. không phải thế đâu nếu như có ai đó cứ loay hoay bận bịu, lúc nào cũng căng thẳng, ấy là vì họ đã có thể không biết cách sắp xếp thời gian hợp lý.

    nếu bạn giống như họ, bạn sẽ mất nhiều thời gian lệ thuộc vào tác động của người khác thay vì đã có thể lên chương trình làm việc chú tâm vào những điểm cần thiết quan trọng hơn. bạn đang mất nhiều thời gian cho những điều ít hiệu quả.

    1. assign : lập trật tự ưu tiên

    lập thời gian biểu xong, bạn cần biết phân loại như sau :

    • kiểm soát được / chủ động
    • quan trọng
    • khẩn trương
    • giao cho ai khác
    • kiểm soát được / chủ động :

    hãy tự hỏi mình có thể tự kiểm soát được bao nhiêu công việc ? cần bổ sung gì cho công việc. nếu bạn chú tâm vào những việc không liên quan trực tiếp hoặc của người khác đang làm tốt hơn thì bạn đã mất thời gian.

    công việc nào tự bạn làm lấy ? việc nào do người khác đề nghị ? hãy xem lại khung thời gian biểu của mình và chọn ra. tính điểm khả năng chủ động của bạn theo cách sau :

    (điểm 0 đến 6)

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    3 : bạn có kiểm soát một phần trong công việc

    6 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra bạn ở mức độ kiểm soát thế nào trong khung thời gian của mình.

    cũng tính như vậy cho “chủ động

    0 : bạn bị động hoàn toàn trong công việc

    3 : bạn có linh động trong công việc

    6 : chủ động hoàn toàn trong công việc

    từ đó suy ra khả năng chủ động của bạn

    • sự quan trọng :

    hãy sắp xếp công việc theo mức độ quan trọng “có” và “không”. nghĩa là phải nghỉ đến hậu quả của các quyết định và hành động. sẽ phí thời gian nếu bị kẹt vào những điều không quan trọng so với mục tiêu đề ratrách nhiệm chính.

    theo pareto’s law, còn gọi là “luật 80/20” thì người lãnh đạo chỉ dành được 20% thời gian cho kết quả tốt. còn lại 80% là chuyện “bỏ đi”.

    • sự khẩn trương :

    công việc có khẩn trương và cần làm ngay không ?

    cần điều kiện thời gian đủ để hoàn tất công việc ngay. liệu có thể để lúc khác được không ?

    hãy phân biệt rõ việc “khẩn” và việc “quan trọng”.

    việc “khẩn” nhiều thì không quan trọng nhưng lại chiếm chỗ trước việc “quan trọng”. việc quan trọng gắn liền với kết quả phải có. việc “khẩn” thường do người khác tác động. bạn hãy kiểm soát lượng thời gian dành cho việc “khẩn”. cũng phải biết xếp thứ tự công việc. đó là sự ưu tiên.

    nhớ chú ý tới hai ảnh quan trọng và khẩn trương được trình bày trong sơ đồ sau đây :

    • khi thật quan trọng và thật khẩn, hãy làm ngay đi. không thể do dự vì đúng là công việc quá quan trọng.
    • khi thật quan trọng nhưng chưa thật khẩn trương thì bạn vẫn còn thời gian sắp xếp và giao phó cho ai một phần để bắt đầu công việc. dù sao cũng đừng để lâu quá. bởi vì đó là việc quan trọng liên quan đến kết quả.

    thí dụ : khi phải báo cáo trong hai tháng tới với ban giám đốc, bạn phải làm nghiêm túc vì có ảnh hưởng đến vị trí công tác và phòng ban trong cơ quan.

    • nếu thật khẩn nhưng không mấy quan trọng, bạn có hai giải pháp :
      • làm liền nhưng đừng kéo dài thời gian, chấm dứt sớm.
      • chuyển giao cho ai khác

    thí dụ : giám đốc cần danh sách nhân viên nghỉ phép trong một giờ tới. hãy làm cho xong vì đó chỉ là hành chánh.

    • nếu chẳng khẩn cũng chẳng quan trọng lắm, bạn hãy tự hỏi có nên làm không ? loại việc này có thể bỏ qua, quên đi hoặc giao cho ai khác.

    thí dụ : người trợ lý hỏi bạn màu xanh hay màu đỏ thì hợp cho bìa bản báo cáo.

    1. attack : kẻ cắp thời gian

    có nhiều thứ làm tiêu hao thời gian. cần phải biết rõ chúng để loại trừ. có hai loại bạn phải thanh toán. một là kẻ cắp bên ngoài : điện thoại nói chuyện lê thê, khách dai dẳng, hội họp thiếu tổ chức, bất hòa cá nhân và chuyện phiếm. hai là kẻ cắp bên trong : chẳng biết nói ”không”, do dự, dời lại công việc, lỗi lầm, không kế hoạch, không biết giao việc.

    bạn chắc đã gặp các thứ này rồi.

    kẻ cắp thời gian tiêu biểu :

    • không biết nói “không”
    • nói chuyện điện thoại lâu quá
    • khách thăm thình nịnh
    • nơi làm việc kém tổ chức
    • dời việc lại sau ® thường sảy ra khi gặp việc khó khăn ® nên : xé nhỏ công việc & bắt tay làm ngay để tránh tress.
    • cầu toàn
    • giấy tờ nhiều quá
    • giao tiếp kém
    • không biết giao việc (không chịu ủy quyền cho người khác)
    • không biết tổ chức buổi họp

    kẻ cắp 1 : không biết nói “không”

    chúng ta khó mà nói “không” với ai đó vì muốn giúp họ hơn là làm buồn lòng họ. có khi bạn khó nói “không” vì đã tham gia nhiều dự án hiệu quả làm cho bạn cảm thấy quan trọng và cần thiết. nói “có”  dễ làm bạn cảm thấy bận rộn và được yêu thích. hãy coi chừng ! nếu bạn cứ nhận đại mọi thứ mọi lúc thì người ta sẽ coi như bạn chắc chắn trả lời “có” bất cứ khi nào.

    • đối phó : sắp xếp ưu tiên cho công việc

    xem xét mọi đề nghị dựa trên mức độ quan trọng đối với bạn và đối với cơ quan. nếu không thấy quan trọng và không liên quan đến trách nhiệm của bạn, hãy từ chối nhẹ nhàng. nếu ai đó nhờ bạn làm một phần việc của họ, chẳng có lợi lộc gì khi bạn nói “có”.

    để ngày mai”, “lúc khác thuận tiện hơn” là một cách để nói “không”.

    tóm tắt

    để nói “không”

    Ø      sắp xếp ưu tiên công việc

    Ø      nói “không” khi việc chẳng quan trọng lắm

    Ø      nói “không” khi chẳng phải trách nhiệm của bạn

    Ø      hãy bắt đầu nói “không” với các đề nghị nhỏ

    Ø      hãy hỏi “có ai khác làm được việc đó không ?”

    Ø      tìm cách nói “không” một cách lịch sự

    kẻ cắp 2 : nói lâu trên điện thoại

    bạn nói chuyện điện thoại bao lâu ? thời gian cần thiết là bao lâu ? chúng ta thường nói lâu hơn cần thiết.

    có nhiều lý do giải thích như sau :

    • kéo dài câu chuyện
    • kể lể chuyện này chuyện kia
    • không chịu dừng đúng lúc
    • trả lời mọi cuộc điện thoại
    • không sử dụng đúng thư ký / không có thư ký
    • đối phó : hãy tách riêng chuyện phiếm với công việc.

    lời chào “thật tốt khi nói chuyện với bạn, các con bạn thế nào ?” thì vô hại nếu không kéo dài sang chuyện khác. hãy viết ra giấy trước những gì bạn cần bàn qua điện thoại. chú tâm vào đó và đừng lạc đề. có nhiều lãnh đạo không làm sao biết dừng một cuộc điện.

    có 2 cách thức liên quan tới nhau. nếu tự trả lời điện thoại hoặc “tự do mở cửa” cho mọi cuộc điện thoại thì bạn đang mất thời gian của mình. nếu có thư ký, hãy dặn dò họ sàng lọc hoặc giới hạn điện thoại. chỉ nên nhận những cuộc điện thoại thật sự quan trọng. hãy sắp xếp những mức độ ưu tiên với thư ký. nếu không có thư ký, bạn cần nhấc ống nghe ra hoặc chuyển tự động sang máy khác để dễ tập trung làm việc.

    sẽ mà làm việc nếu để điện thoại kiểm soát ngày làm việc của bạn.

    tóm tắt

    giải quyết nói chuyện điện thoại lâu

    Ø      phân biệt chuyện phiếm với công việc

    Ø      sắp xếp các ý tưởng cần bàn

    Ø      học cách dùng cuộc điện thoại

    Ø      lấy ống nghe ra khỏi máy

    kẻ cắp 3 : bận rộn vì khách thăm dai dẳng

    “tôi chỉ ghé qua chào bạn. tôi hơi làm biếng. liệu tôi có làm phiền khi xin một tách cà phê không ?”  chuyện như vậy cứ hay xảy đến với mỗi chúng ta, chắc chắn là vậy.

    nhất là khi bạn đang chú tâm vào một việc quan trọng. đôi khi chính là lỗi của bạn. có nhiều lãnh đạo thích “mở cửa tự do”. họ cho phép nhân viên gặp họ bất cứ khi nào muốn nói chuyện chơi hoặc khi có khó khăn bất kỳ. dường như họ nói : “thời gian của tôi không quan trọng lắm, hãy cứ đến mà lấy đi”.

    cho dù bạn không “mở cửa tự do”, bạn vẫn cứ gặp khách thăm dai dẳng với nhiều kiểu lý do khác nhau. nhiều người chẳng làm gì để hạn chế sự việc này.

    người khác lại chẳng biết chấm dứt một câu chuyện vì sợ bị cho là cộc cằn.

    • đối phó :

    1- cho nhân viên biết khi nào bạn tiếp khách được. hãy lập một chính sách “mở cửa” giới hạn. thí dụ : mỗi trưa thứ tư từ 14.00 – 17.00. tuy nhiên, nên đề nghị gặp gỡ chỉ khi thật sự cần thiết kể cả việc riêng tư. hãy dành cho mình các khối thời gian để làm việc quan trọng hơn.

    2- cùng soạn với thư ký một mẫu sàng lọc để lựa chọn cho đúng người cần gặp. không có thư ký thì bạn phải đề nghị hẹn trước để sắp xếp.

    3- nếu khách đến bất chợt không hẹn thì bạn đứng dậy hoặc ngồi trên bàn làm việc tiếp họ và nói rằng “hiện tôi khá bận rộn ?”. hãy giới hạn thời gian và đề nghị họ sớm chấm dứt. hãy nghiêm túc, nhưng đừng cộc cằn. nếu được, bạn hãy ở văn phòng người khác để cho bạn chấm dứt câu chuyện và đi ra. phương pháp trên cũng được dùng được với cấp trên.

    4- nghiêm khắc với thời gian biểu của bạn nhưng từ tốn với các bạn đồng nghiệp. đó là điều tốt vì bạn còn làm việc cùng nhau. nhờ vậy cũng tránh được xáo trộn ngoài ý muốn có khi lại còn chiếm dụng thời gian nhiều hơn. nếu có ai xông vào văn phòng bạn, hãy nhớ những cách xử sự sau :

    • không tỏ vẻ bối rối
    • lắng nghe cẩn thận
    • đừng ngắt lời
    • vào thẳng vấn đề và nói “không” khi cần thiết
    • làm tiếp công việc dở dang sau khi gián đoạn

    tóm tắt

    giải quyết gián đoạn :

    Ø      giới hạn thời gian tiếp khách

    Ø      cho mọi người biết khi nào bạn tiếp khách được

    Ø      đưa ra một phương cách chọn lọc

    Ø      đừng làm phật lòng khách không mời

    Ø      làm chủ tình hình gián đoạn nhưng hãy từ tốn

    kẻ cắp 4 : văn phòng bừa bộn

    văn phòng bừa bộn, bàn làm việc bừa bãi chúng tỏ bạn không có tổ chức.

    • đối phó :
      1. chỉ để ít đồ trên bàn thôi. dành chỗ cho đồ dùng cần thiết như điện thoại, khay hồ sơ “đi”, “đến”, bút viết. như vậy, bạn sẽ có chỗ để làm việc. chỉ nên để việc đang làm trên bàn. đừng chồng chất giấy tờ hồ sơ, làm choáng chỗ và phân tâm trong công việc.
      2. hãy để mọi thứ trong tầm tay : hồ sơ, tủ hồ sơ, vi tính, máy tính… mọi thứ bạn hay thường dùng.
      3. đặt mỗi thứ theo một chỗ nhất định. sẽ tránh được những lúc bực mình chỉ vì không tìm được những thứ mình cần ngay lúc mình cần nó nhất.
      4. nên có một cách sắp xếp hồ sơ hợp lý. có thể dùng nhiều cách : đánh số thứ tự, dùng màu làm dấu, thứ tự a, b, c…soạn lại thường xuyên để lọc bớt dư thừa. ngay lúc này, bạn có dọn sạch một nửa tủ hồ sơ của bạn nếu chịu loại bỏ đi những thứ dư thừa.

    tóm tắt

    giải quyết văn phòng bừa bộn

    Ø      chỉ để thứ cần dùng trên bàn

    Ø      để mọi thứ cần thiết trong tầm tay

    Ø      chỉ định chỗ cho từng vật dụng

    Ø      hồ sơ sắp xếp hợp lý

    Ø      tìm cho bạn cách quản lý thích hợp

    kẻ cắp 5 : dời việc lại

    kẻ cắp này quá quen thuộc, nhất là lúc chúng ta cần giải quyết việc quan trọng hoặc phải làm điều không thích hoặc cần quyết định ngay việc chi. nó ít khi xuất hiện khi chúng ta chỉ có việc lặt vặt tầm thường không quan trọng trước mắt.

    có thể thấy kẻ cắp này trong những chuyện phiếm, đọc thư lại 2-3 lần, xếp tài liệu hoặc dọn bàn làm việc. thời gian của bạn bị gặm nhấm dần dần.

    đã bao nhiêu lần bạn nghĩ : “tôi sẽ làm ngày mai, hôm nay không có thì giờ”.

    • đối phó :
      1. nếu phải làm một việc tẻ nhạt, không thích thú, bạn hãy làm chút ít thôi. hãy chia nhỏ nó ra và làm từng chút một. dù chỉ có 10 phút, cứ làm cho xong.
      2. đừng đặt ưu tiên thấp lên trên ưu tiên cao. thường chúng ta thích làm việc dễ trước. dù sao nó làm cho bạn có vẻ như bận rộn để từ chối những việc cần thiết hơn.
      3. tự dạy cho mình “cần làm ngay”. khi không muốn, hãy nhắc nhở chính mình. làm ngay và quên đi. cố gắng ìấy thái độ “cần làm ngay” thay vào thói quen dời việc.
      4. ghi nhớ và lập lại những mục đích đề ra để tránh sự dời việc. chú tâm vào mục đích để thấy các mức độ quan trọng của từng việc.
      5. hãy chuẩn bị thì giờ bắt đầu công việc, đừng chờ đến cuối mới lo. hãy ghi nhớ giờ “bắt đầu” cùng với giờ “kết thúc”.

    tóm tắt

    giải quyết thói quen dời việc

    Ø      làm từng chút một

    Ø      làm việc quan trọng trước

    Ø      làm ngay đi

    Ø      tự nhắc nhở mục đích đề ra

    Ø      đặt giờ “bắt đầu” và giờ “kết thúc”

    kẻ cắp 6 : tính cầu toàn

    ai cũng thích một việc làm hoàn hảo. nhưng có lãnh đạo quá lo lắng hoàn thiện công tác nên mất thời gian vô ích. khi hướng tới sự quá hoàn mỹ, bạn sẽ quên đi sự giao việc ủy quyền vì sẽ nghĩ rằng không có việc làm tốt nếu không giám sát chặt chẽ. bạn cũng không biết nhờ giúp đỡ vì sợ phạm sai lầm. có lẽ bạn sẽ có ý nghĩ lùi thời hạn lại để bảo đảm mọi việc được hoàn hảo hơn.

    nếu cứ lục soát hồ sơ xem xét cái hoàn mỹ, thì liệu bạn còn thời gian cho việc quan trọng khác không ? có nhà lãnh đạo kia tự hào về khả năng soi mói được cả những lỗi nhỏ nhất trong các giấy tờ : lỗi văn phạm, từ vựng, đánh máy.

    • đối phó :

    hãy sắp đặt ưu tiên cho từng việc. đừng phí thời gian làm quá tốt những việc thứ yếu. bạn hãy tự hỏi : “liệu thời gian bỏ ra có xứng đáng cho chất lượng đạt được không ?”

    để ý chi tiết cũng tốt nhưng sẽ không tốt nếu điều đó làm cho chúng ta không nhìn toàn cảnh : bạn làm gì trong công việc này. hãy ghi nhớ đến các ưu tiên. tốc độ cũng hiệu lực như sự chuẩn xác. hãy sắp xếp ưu tiên cho công việc.

    tóm tắt

    giải quyết sự cầu toàn

    ü      sắp xếp ưu tiên cho từng việc

    ü      đừng mất thời gian cho việc thứ yếu

    ü      ghi nhớ “toàn cảnh”

    ü      không để phân tâm vì những việc lặt vặt

    ü      hãy tin cậy giao việc cho người khác

     

    kẻ cắp 7 : giấy tờ nhiều quá

    trong thời đại vi tính ngày nay, chúng ta vẫn gặp vấn đề với hàng đống giấy tờ hồ sơ, báo cáo, ghi chú, thư từ, quảng cáo, đơn xin…không kể hết. bạn làm gì với hàng đống giấy tờ trên mỗi ngày ?

    bạn xếp chúng thành đống rồi chờ chúng tự biến mất ? hay bạn cất hết chờ khi có lúc

    dùng đến ?

    ngoài việc nhận hàng đống giấy tờ, các nhà lãnh đạo cũng sản sinh ra chúng nữa. có một vị hiệu trưởng kia thích liên hệ với đồng sự và các trưởng khoa bằng tờ ghi chú có khi 2 tờ mỗi ngày. vậy mà phòng hiệu phó chỉ ngay sát bên ! có nhiều lý do khiến chúng ta hay viết như sau :

    1. tự bảo vệ nếu có điều bất trắc
    2. để cho người ta chú ý
    3. để giám đốc chú ý
    4. để cho biết mình hiện hữu
    5. để cho vui

    bạn có thích một trong các lý do kể trên không ? nếu có thì bạn đã gây ra hàng đống giấy tờ vô ích mà không có lý do chính đáng. quá nhiều giấy tờ có 2 ý nghĩa : mình nhận quá nhiều và cũng sản sinh ra thừa thải.

    • đối phó :

    khi nhận hồ sơ, thư từ hãy dành thời gian xử lý trong ngày. nhớ để giỏ rác gần bạn. và bắt đầu xem xét. lướt qua những gì đã nhận và thực hiện ngay một trong các động tác sau đây :

    1. vứt bỏ
    2. chuyển giao
    3. làm theo
    4. lưu : a) dài hạn
    5. b) chờ

    cần biết rằng 80% thư từ có thể xử lý tức thời. khi sàng lọc xong, giỏ rác của bạn chắc phải đầy ắp. hãy cố gắng xử lý một lần đủ cả. sau khi xử lý xong thứ nào thì vứt bỏ đi. có hồ sơ cần lưu lâu hơn hoặc tạm thời. nhớ xác định thời hạn lưu giữ. ghi chú hạn định trên hồ sơ đó để đến lúc cần loại bỏ thì có thể làm ngay.

    hồ sơ lưu phải dễ lấy và ghi chép đầy đủ. xem lại mỗi chu kỳ 6 tháng để loại bớt những hồ sơ không cần thiết nữa.

    bạn đừng sản sinh ra số lượng giấy tờ quá mức cần thiết. truyền miệng tiết kiệm thời gian và có lợi khi làm công việc thứ yếu. nếu phải viết, hãy viết đơn giản. dùng mẫu có sẵn và vào đề ngay. để sắp xếp lại giấy tờ, hãy phân loại theo đề tài đã có trước.

    tóm tắt

    giải quyết đống giấy tờ

    ü      dành thời gian mỗi ngày để xử lý

    ü      sắp xếp ưu tiên và phân loại

    ü      chỉ trả lời trên giấy khi cần thiết

    ü      dùng điện thoại khi tiện lợi

    ü      chỉ xử lý một lần đủ cả

    ü      thông tin bằng truyền miệng

    ü      nếu phải viết, hãy viết đơn giản và thẳng thắn

    kẻ cắp 8 : giao tiếp kém

    thời gian lãng phí cũng có thể do thông tin giao tiếp nội bộ còn kém. nếu nhân viên không hiểu rõ công việc, họ sẽ liên tục làm phiền bạn để làm rõ hoặc tệ hơn, họ chẳng chịu làm công việc cần làm. nhiều khi chúng ta giao tiếp với nhân viên bằng những cách không thích hợp.

    nếu viết ghi chú cho đồng nghiệp ở ngay phòng bên thì thật là vô bổ trừ khi việc cần hồ sơ lưu lại. trách nhiệm lãnh đạo yêu cầu bạn phải tổ chức thông tin giao tiếp nội bộ xuyên suốt để khỏi phải lặp đi lặp lại mãi chỉ một chỉ thị.

    • đối phó :

    hãy nghĩ về điều cần thông báo và chọn phương tiện thích hợp nhất: : họp, điện thoại, bảng biểu, ghi chú… nhớ đưa thông tin sao cho thích nghi với từng cá nhân chịu trách nhiệm. coi chừng thông tin dư thừa. nếu muốn ai làm việc gì cụ thể, chỉ cần đưa yêu cầu cần thiết cho họ mà thôi.

    hãy đảm bảo mọi thông tin đều được hiểu rõ ràng. bạn phải biết truyền đạt qua hệ thống thông tin nội bộ nhanh gọn dễ dàng để người nhận có được thông tin rõ ràng nhất. chỉ nên viết hoặc gặp mặt khi trao đổi các nhóm. ngôn ngữ phải dễ hiểu và được mọi tiếp nhận dễ dàng.

    tóm tắt

    giải quyết giao tiếp kém

    ü      tìm phương tiện truyền đạt thích hợp

    ü      thông tin thích hợp với mức độ phức tạp

    ü      đừng thông tin dư thừẵ

    ü      đảm bảo thông kênh truyền đạt nội bộ

    ü      dùng ngôn ngữ đơn giản

    1. arrange : lập kế hoạch

    không thu xếp thời gian thì mọi thứ kể trên đều vô ích. cần phải biết mình muốn gì và thời điểm thực hiện các công việc. sau đây là hai mẫu kế hoạch thời gian. kế hoạch của cả năm và kế hoạch ngày / tuần.

    kế hoạch cho cả năm :

    bản kế hoạch phải được gắn trên tường và dễ dàng xếp lại mang đi. cần ghi chép nhiều thứ trên đó. hãy dùng các loại màu để đánh dấu. màu xanh lục để cho ngày phép, điều bạn mong chờ. màu đỏ để nhắc nhở về các báo cáo quan trọng đến hạn, các báo cáo thường niên, hai năm, quảng cáo. đánh dấu khung các buổi họp thường lệ và chuyến đi công tác định sẵn.

    bảng biểu này cần được sao lại để treo ở phòng thư ký cho nhân viên đều biết và lịch làm việc của bạn cũng vậy để họ xin hẹn gặp. như vậy, có hai điều ích lợi. mọi người biết bạn đang làm gì và lúc nào bạn rảnh hoặc không rảnh để tiếp khách. nhớ cập nhật thường xuyên. nếu bất tiện, bạn có thể lập lịch làm việc chung cho mỗi tháng một lần.

    kế hoạch ngày / tuần :

    hãy xác định điều cần làm trong tuần và sắp xếp ưu tiên. truởc đó bạn nhớ đem một số chi tiết sang từ bảng kế hoạch năm. bởi vậy, có thể lịch làm việc trong tuần đã khá đầy đủ rồi.

    sơ đồ 3

    kế hoạch tuần / ngày :

    ngày :

     

    tuần :

    tên :

     

    thứ hai

    thứ ba

    thứ tư

    thứ năm

    thứ sáu

    9.00

    9.30

    10.00

             

    10.30

    11.00

    11.30

    12.00

             

    12.30

    13.00

    ăntrưa

    13.30

    14.00

    14.30

    15.00

             

    15.30

    16.00

    16.30

    17.00

    17.30

    18.00

             

    giờ phụ trội

    thứ bảy

           

    chủ nhật

    công việc

    thư từ

    hẹn

    điều khác

    việc cần làm trong tuần :

    1.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    2.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    3.                                                                           xong ngày :                               báo cáo :

    ghi chú : (đem qua tuần sau)

    bây giờ hãy liệt kê thêm những việc phải làm trong tuần. thí dụ :

    • họp với tuyết
    • xem xét yêu cầu thêm nhân viên
    • kiểm tra khu vực mỗi ngày
    • gặp lan hỏi về thương lượng dự án quốc tế
    • kiểm tra máy móc thiết bị lần 2
    • gặp doanh bàn chuyện ánh sáng văn phòng
    • đề ra kế hoạch cung cấp năm tới
    • kiểm tra hoá đơn cho việc thanh tra hàng năm
    • mời hương dự tiệc chia tay
    • trả lời thư dũng và vân
    • chuẩn bị họp với giám đốc
    • mời trưởng phòng đi họp ngày 12
    • xem xét bồi dưỡng đào tạo nhân viên
    • sinh nhật thanh 16.00 – thứ năm.

    lịch đã có, bây giờ sắp xếp ưu tiên các công việc và nhiệm vụ. xem xét từng việc một để sắp xếp ưu tiên theo mẫu ở phần (3). lập trật tự ưu tiên. công việc quan trọng, khẩn trương thế nào ? có thể đánh số thứ tự hoặc phân loại 3 nhóm : thật quan trọng, quan trọng, không quan trọng. (thật khẩn trương, khẩn trương, không khẩn trương).

    bây giờ hãy ghi công việc vào bảng kế hoạch ngày / tuần. nhớ tính thời gian rộng rãi để không bị hụt hẩng. nếu bạn tính 20 phút thì hãy cho 30 phút để khi làm xong sớm hơn, bạn coi như được thưởng.

    đừng ghi chép lung tung. bạn đang sắp xếp ưu tiên cho công việc chứ không chỉ ghi ra việc cần làm. hãy, suy nghĩ kỹ. những việc quan trọng nhất, cần suy nghĩ nhiều nhất phải ghi vào thời gian “riêng tư”. ghi thư từ và điện thoại vào chỗ thích hợp như khoảng thời gian linh động được giữa hai phần công việc. nếu quan trọng thì đặt vào thời gian đặc biệt.

    cũng vậy, hãy ghi các cuộc hẹn và việc bình thường khác vào chỗ thích hợp dưới bảng biểu. sau đó đặt thời hạn tùy theo mức độ quan trọng và khẩn trương. cuộc hẹn với nhân viên có thể xếp vào khoảng thời gian thích hợp dành cho cuộc gặp đồng nghiệp. hãy thông báo các khoảng thời gian này và từ chối gặp gc’ vào các khoảng thời gian khác nếu nhân viên không cần thì có thể dùng các khoảng thời gian này dể làm những việc bình thường như sắp xếp hồ sơ không lo gián đoạn coi như được lợi.

    có thể dùng bảng này để sắp xếp đời sống riêng tư hàng ngày. công việc không phải là tất cả. phải có sự công bằng giữa công việc và đời sống riêng tư, gia đình, sức khỏe.

    cần dành thời gian mỗi ngày cho những sự kiện đột xuất bất thường nhưng không cần quá nhiều. những khó khăn có thể xảy ra và bạn có thể tạm gác qua mọi sự để giải quyết đây cũng là một phần trọng công việc. bạn cần phải linh động. hãy cố gắng theo sát mục tiêu đề ra, nhưng chớ lo lắng, bối rối hoặc quá căng thẳng nếu có điều bất thường ngăn trở kế hoạch của bạn. nhờ đã chuẩn bị kế hoạch kỹ lưỡng, bạn đã giảm đi nhiều căng thẳng. hãy dành 5 phút mỗi ngày để điều chỉnh những kế hoạch trong ngày. luôn tự nhắc nhở về những ưu tiên và mục tiêu đề ra.

    nhớ lên kế hoạch và soạn thảo thời gian biểu, (gắn liền với mục tiêu và trách nhiệm của bạn), bạn đã khẳng định mức độ quan trọng của thời gian đối với bạn.

    luôn luôn nhắm mục tiêu đề ra, những điều cần thiết nhất trong suốt quá trình lập kế hoạch.

    nhờ đó, bạn có động lực để sử dụng thời gian hiệu quả. khi lên kế hoạch thời gian, bạn sẽ có thể phân tích, nghiên cứu bảng kế hoạch năm và tuần / ngày một cách đều đặn. nhờ vậy, mới thắng hơn những “kẻ cắp thời gian”. cuối ngày, hãy vào những việc thêm vào đột xuất.  giữ bảng kế hoạch từng tháng hoặc 6 tuần và nghiên cứu nội dung như một thời gian biểu. nếu bạn thấy lãng phí nhiều thời gian cho điện thoại thì bạn phải giải quyết ngay một cách nghiêm chỉnh.

     

    kết luận

    10 bí quyết quản lý thời gian :

    1. hãy bắt đầu dự án ở phần quan trọng nhất. đôi khi không cần phải làm phần còn lại.
    2. kiên trì và nhẫn nại ® tiến hành công việc từ đầu đến cuối.
    3. chỉ xử lý thư từ, giấy tờ một lần đủ cả ® chỉ đọc và giải quyết 1 lần.
    4. dọn bàn sạch sẽ và để thứ cần thiết ngay giữa.
    5. sắp xếp chỗ cho từng vật dụng.
    6. gom những vặt’vãnh cho những kỳ họp 3 giờ trong tháng. ® giành 1 khoảng thời gian trong tháng để sắp xếp lại công việc.
    7. tự thưởng một cách đặc biệt khi làm công việc quan trọng.
    8. nhận biết có lúc mất kiểm soát thời gian vô ích ® đừng sợ.
    9. trả lời thư từ càng sớm càng tốt sau khi nhận.
    10. luôn tự hỏi : ngay bây giờ, làm gì thì tốt nhất ?

     

     

     

    phần 3

    nghiên cứu tình huống

    một ngày làm việc của giám đốc huy

    như mọi hôm, huy rời khỏi nhà từ 7g15 sáng để đến nhà máy hóa chất bình hòa, nơi anh làm giám đốc từ hai năm nay. đoạn đường này huy đi chỉ mất khoảng 15 phút, nên anh có thể bắt đầu ngày làm việc của mình từ 7g30, sớm hơn giờ làm việc chính thức là nửa giờ. khoảng thời gian nửa giờ này thường được anh dành để suy nghĩ về những việc cần làm trong ngày mà không ngại bị ngắt quãng bởi những việc bất chợt khác cần phải giải quyết. thật ra, huy cũng có thể tìm được một căn nhà khác ở gần nhà máy hơn, nhưng với rlgôi thà hiện anh đang ở, huy nghĩ rằng mình đã có một sự lựa chọn tốt nhất khi vẫn đáp ứng được những nhu cầu của gia đình (khung cảnh sống, láng giềng, trường học cho con, chợ gần nhà, v.v…), và yêu cầu của bản thân anh cần phải tốn thời gian ít nhất cho việc đi đến chỗ làm mỗi ngày.

    nhà máy bình hòa là một đơn vị thuộc ngành thuốc nhuộm của công ty anh quân chuyên sản xuất và kinh doanh trong lãnh vực hóa chất. những lăm gần đây, việc mất đi một số thị trường lớn đã làm giảm hẳn một số hoạt động của công ty và dẫn tới việc tinh giản lao động trong một số đơn vị. chính huy khi vừa nhận chức giám đốc nhà máy bình hòa cũng đã phải giảm hẳn số lượng nhân viên từ 200 còn 150 người.

    việc cắt giảm số lượng nhân viên vừa qua đã gặp không ít khó khăn, và huy đã tỏ ra linh hoạt nhưng kiên quyết. do đó, anh đã giảm thiểu đến mức tối đa những xáo trộn trong nội bộ nhà máy. sự kiện này diễn ra cũng đã được sáu tháng, và hiện nay, huy đang cố gắng xây dựng lại trong nhà máy một  tinh thần làm việc mang tính đồng đội và tập thể cao.

    bối cảnh này làm huy nghĩ đến những việc cần làm trong ngày. ưu tiên số một cần giải quyết của anh là tổ chức lại phân xưởng số 4 vì đó là vấn đề sống còn của nhà máy. huy nhớ là tuần truớc, anh có đề cập đến đề tài này với một trong những giám đốc chuyên môn của công ty. ông này hỏi thăm việc tiến hành công tác cải tổ hiện đến đâu và nhấn mạnh cần phải hoàn thành việc sắp xếp lại trước cuối năm. thời gian chỉ còn chín tháng để hoàn tất công việc cải tổ hầu đạt đến những kết quả khả quan bắt đầu từ năm sau.

    thật ra, huy đã có ý định tổ chức lại phân xưởng này từ những tháng đầu tiên sau khi nhận chức giám đốc nhà máy. nhưng những khó khăn nảy sinh từ việc tinh giản bộ máy đã gây cho anh không ít vấn đề phải giải quyết. hơn nữa, việc xây dựng những mối quan hệ cá nhân với các nhân viên nhằm tạo ra một tinh thần đồng đội gắn bó đã chiếm rất nhiều thời gian của anh. đương nhiên là vẫn còn công việc hằng ngày cần phải giải quyết. do đó mà huy vẫn còn ngần ngừ chưa tiến hành bước thứ hai trong việc cải tổ bộ máy, vì việc này đòi hỏi phải suy nghĩ thật thấu đáo, phải dự báo nhân sự cần điều động, phải thay đổi thói quen làm việc của nhiều người, v.v….

    hôm nay thì huy cho rằng đã đến lúc anh phải xem xét vấn đề một cách nghiêm túc và thấu đáo nhưng vừa bước vào cửa tòa nhà dành cho bộ phận hành chánh, huy đã gặp bạch, quản đốc phân xưởng số 2, với vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt.

    chào anh bạch, hôm nay tình hình thếnào ?” huy hỏi.

    “không tốt lắm”,  bạch trả lời : “tôi có một máy trộn hóa chất bị hư từ tối qua mà các anh bên bảo trì còn chưa thấy tới. ngoài ra, sáng nay khi thay ca, tôi phát hiện ra là mình thiếu một công nhân”.

    “thếcái máy trộn hóa chất của anh có vấn dề gì ?”

    “ồ, anh biết đấy, đây không phải là lần đầu tiên nó bị hư. loại máy này dược thiết kế để chạy ban ngày mà thôi. từ khi chúng ta chuyển sang sản xuất liên tục, kể cả buổi tối, thì chúng thường xuyên bị trục trặc”.

    vậy anh hãy hỏi ý kiến các anh bên bảo trì”

    tôi mới vừa đặt một phiếu sửa chữa lên bàn của bộ phận bảo trì, nhưng tôi biết hiện họ còn đang bận rộn sửa máy phân xưởng số 3 và không dễ gì họ cử một anh đến chỗ chúng tôi trước ngày mai hoặc ngày mốt”.

    “nếu vậy thì anh để tôi giải quyết dùm cho, và anh sẽ thấy là sự việc sẽ không kéo dài đâu !”.

    “tôi còn thiếu một công nhân, và anh cũng biết là việc tinh giản bộ máy không làm công việc của chúng tôi nhẹ hơn để mà choàng việc cho nhau !”.

    “thôi được rồi, anh bạch, anh thế nào cũng tìm ra được cách giải quyết mà ! đây đâu phải lần đầu tiên anh gặp chuyện này đâu !”.  huy nói với bạch và bắt đầu cảm thấy bực bội.

    “chính vì không phải là lần đầu nên tôi lại càng phải báo cho anh biết”, bạch trả lời, nhưng lúc này thì huy đã vào tới phòng của anh rồi.

    vào phòng làm việc, huy nhìn lướt qua xấp giấy tờ cô thư ký của anh đã chuẩn bị sẵn trên khay. sau đó, anh đọc lại bản báo cáo anh vừa soạn tối qua để gửi cho ban giám đốc ngành thuốc nhuộm của công ty. lúc thảo xong thì đã 20 giờ nên huy muốn đọc lại lần nữa, vì bản báo cáo này khá quan trọng…

    huy vẫn còn đang sửa bản báo cáo thì lúc 8g05, cô thư ký bước vào phòng để hỏi xem anh có cần cô giúp gì không. chuông điện thoại reo và huy phải nhấc máy vì không có thư ký trực tổng đài để chọn lọc. trong điện thoại là ông ân, trưởng phòng nhân sự, cần có ý kiến của anh về một đơn xin thuyên chuyển. huy trả lời ông ân và sẳn dịp cũng đề cập đến vấn đề thiếu nhân sự tại phân xưởng 2. sau đó huy kết thúc giao việc cho cô thư ký và anh gọi điện cho trưởng bộ phận bảo trì để yêu cầu cử người sang sửa chữa máy ở phân xưởng 2. lại một lần nữa, anh này tỏ vẻ khó khăn :

    “nhưng anh cũng biết là phân xưởng 3 cũng có máy đang hư”

    “nghe này, anh nên tự thu xếp lấy. dù sao đi nữa, bảo trì phải phục vụ sản xuất chứ không phải là ngược lại”, và huy giận dữ cúp máy.

    đây không phải là lần đầu tiên trưởng bộ phận bảo trì gây khó khăn cho công việc chung. có lẽ vì ngay từ khi mới nhậm chức, huy đã tinh giản bộ máy trước tiên là ở bộ phận này.

    sau đó, huy bắt đầu đọc và giải quyết các công văn. anh yêu cầu cô thư ký cung cấp thông tin để trả lời một số thư, và chừa lại những công văn quan trọng để có thời gian suy nghĩ và trả lời sau. một trong số các công văn này từ ban giám đốc ngành thuốc nhuộm, yêu cầu nộp kế hoạch sản xuất. vì thế huy gọi điện thoại cho trưởng phòng sản xuất để biết kết quả sản xuất tối hôm trước và nhờ anh này mời kỹ sư phụ trách ca tối cùng đến làm việc chung. trong khi chờ đợi, huy lợi dụng chút thời gian rỗi để sấp xếp thứ tự các hồ sơ, vừa suy nghĩ về những khó khăn trong công tác lãnh đạo :

    “vấn đề của một giám đốc là lúc nào cũng phải giải quyết những khó khăn của những người khác mà không còn thời gian để suy nghĩ về công việc của chính mình, cụ thể là sự phát triển trong dài hạn”.

    sau đó, huy có một cuộc họp ngắn trong vòng 15 phút với trưởng phòng sản xuất và kỹ sư trưởng ca đêm. cuộc họp này giúp anh nắm rõ những con số thực hiện bởi ca đêm, nhấn mạnh một số điểm yếu xảy ra tối qua. một lần nữa, huy nhận thấy rằng phần điện tiêu thụ là quá cao, và điều này khiến anh phải thảo luận với các cộng sự về biện pháp điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    đến 8g45, huy đi một vòng nhà máy như mọi hôm. anh cố gắng dành thời gian thực hiện việc này, nhằm mục đích thiết lập những mối quan hệ trục tiếp với nhân viên, lắm bắt những mối quan tâm lo lắng của họ. trên đường đi, huy dừng lại trò chuyện với một kỹ sư phòng phương pháp mà anh đánh giá là rất có triển vọng và muốn động viên. huy đề cập với anh này việc điều chỉnh đường dẫn hơi nước ở phân xưởng 4.

    ngoài ra, huy còn gặp người phụ trách bộ phận giao hàng và hỏi ông này về những khó khăn gặp phải. sau cùng, anh còn gặp và nghe ông đại diện công đoàn than phiền rằng công nhân không hài lòng về cách mà các quản đốc giải quyết vấn đề thay người. do cách trình bày của vị đại diện công đoàn đầy ý chỉ trích, huy chuyển ông ta đến làm việc với trưởng phòng nhân sự.

    quay về phòng làm việc của mình, huy có một cuộc họp hàng tuần với các cán bộ chủ chốt của nhà máy. anh tóm lược kết quả làm việc với ban giám đốc ngành thuốc nhuộm vào thứ sáu tuần trước ở trụ sở công ty. huy cũng nhấn mạnh mục tiêu lợi nhuận cần đạt được của ngành, và nhất là của nhà máy bình hòa. sau đó, anh trả lời các câu hỏi thắc mắc của trướng phòng thí nghiệm. một câu hỏi của trưởng bộ phận bảo trì kế đó dẫn đến cuộc thảo luận về sự cần thiết áp dụng một hệ thống phiếu đăng ký sửa chữa mới. đúng lúc đó thì cô thư ký bước vào đưa công văn và báo có điện thoại của giám đốc ngành.

    huy chấm dứt cuộc họp bằng cách đề nghị trưởng phòng sản xuất lập một nhóm làm việc bao gồm hai bộ phận sản xuất và bảo trì.

    giám đốc ngành là thủ trưởng của huy. ông báo cho anh biết sắp tới sẽ có đợt làm việc với một nhóm kiểm toán do công ty cử xuống và họ cùng bàn luận về cách trình bày kết quả đạt được ở nhà máy bình hòa. cùng lúc, họ cũng thảo luận về chiến lược phát triển của công ty và sau cùng, họ thống nhất gặp nhau vào cuối tuần để chuẩn bị đón đoàn kiểm toán. cuộc hẹn này không thuận tiện lắm cho huy vì buộc anh phải đi xuống trung tâm thành phố hai lần trong tuần này, nhưng ông giám đốc ngành không còn ngày nào khác sau khi nói chuyện với cấp trên xong, huy gọi cô thư ký vào để nhờ dời lại các cuộc hẹn trùng giờ. anh nhìn lướt qua xấp thư từ công văn và nhận thấy không có ai khẩn cấp.

    và thế là anh đi ăn trưa cùng với ông trưởng phòng nhân sự. hai người thảo luận về không khí làm việc trong nhà máy và những ảnh hưởng có thể xảy ra từ việc tổ chức lại phân xưởng 4 sẽ thực hiện sắp tới.

    sau khi ăn trưa về, huy hướng dẫn cô thư ký trả lời một số thư nhận được ban sáng và thận được cú điện thoại từ trưởng phòng kinh doanh. ông này đề nghị anh cho phép giao hàng sớm hơn để có thời gian thực hiện một hợp đồng khác quan trọng hơn. điều này khiến huy phải gọi trưởng phòng sản xuất lên gặp để thay đổi kế hoạch sản xuất. sau đó, anh lợi dụng chút thời gian rỗi để sang gặp phòng phương pháp. anh trưởng phòng này nhân dịp đó đã trình bày một số trục trặc với những người nhận gia công, và các khó khăn từ việc tái lập cơ chế gọi thầu từ một tháng lay. cuộc họp ban sáng kết thúc quá sớm làm trưởng phòng phương pháp đã không kịp báo cáo các vấn đề trên.

    cuộc trao đổi này kéo dài gần một giờ nhưng cho phép huy giải quyết một số vấn đề quan trọng, và nhất là giữ được mối quan hệ trực tiếp với trưởng phòng phương pháp là người đã lâu huy không gặp. anh trưởng phòng này cũng lợi dụng cơ hội để trình bày những nguyện vọng thăng tiến cá nhân trong vòng 45 phút. huy cũng cố gắng nghe nhưng không nói gì nhiều vì anh trưởng phòng này đã đạt đến chức vụ cao nhất trong qui trình thăng tiến của anh ta tại công ty. dù sao, việc huy lắng nghe những nguyện vọng cá nhân của cộng sự đã chứng tỏ anh quan tâm đến họ. sau cùng thì anh trưởng phòng phương pháp lại tỏ vẻ hài lòng về cuộc nói chuyện này, dù huy không muốn cũng như không thể hứa hẹn điều gì với anh.

    huy trở về phòng làm việc. anh có một ít thời gian riêng và dùng để đọc một nghiên cứu về thị trường thuốc nhuộm ở các nước vùng asean và về chiến lược của công ty trong vòng năm năm tới. anh có một số ý kiến về kết luận của nghiên cứu và định gửi đến cho ông giám đốc ngành, nhưng cô thư ký của anh đã ra về và huy dời việc này lại vào ngày hôm sau.

    đồng hồ chỉ 18g30, toàn bộ nhân viên hành chánh đã ra về từ 17g. huy nghĩ đến việc nghiên cứu kế hoạch thực hiện cải tổ ở phân xưởng 4. nhưng trời đã tối và anh cảm thấy mệt. thế là huy quyết định về nhà đúng giờ chứ không trễ như mọi hôm. anh xếp vào cặp hai hồ sơ mà anh chưa có thời gian đọc và hướng về chỗ để xe. trên đường đi, huy gặp một quản đốc than phiền về những đoạn đang sửa chữa trên đường dẫn đến nhà máy.

    trên đường về, vừa chú ý lái xe, huy vừa suy nghĩ về ngày làm việc vừa xong. “tôi đã làm được những việc có ích”, anh tự nhủ, “nhưng thật là khó suy nghĩ cặn kẽ và nhìn toàn cảnh các vấn đề khi ở một chức vụ như thế này”.

    câu hỏi

    1. anh (chị) có ý kiến gì về việc sử dụng thời gian của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây ?
    2. anh (chị) hãy phân tích các công việc của giám đốc huy trong ngày làm việc được mô tả trên đây theo mẫu sau ?

    để thuận tiện cho việc điền vào khung, chúng ta quy định như sau :

    về mức độ “quan trọng” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “khẩn trương” bạn theo cách chia làm thành hai cấp : nhiều ít

    về mức độ “kiểm soát” bạn theo cách sau :

    0 : không kiểm soát được trong công việc

    1 : kiểm soát một phần trong công việc

    2 : kiểm soát hoàn toàn trong công việc

    về mức độ “chủ động” bạn theo cách sau :

    0 : bị động hoàn toàn trong công việc

    1 : linh động một phần trong công việc

    2 : chủ động hoàn toàn trong công việc

     

    công việc

    quan trọng

    khẩn trương

    chủ động

    kiểm soát

    ủy quyền

    các hành động phải tiến hành

    ưu tiên

    khi nào

                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     
                     

    bài tập

    quản lý thời gian

    nội dung

    không

    1. tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú

       

    2. tôi chẳng bỏ tài liệu lào vì biết đâu có lúc cầrl đến sau này

       

    3. tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê

       

    4. tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.

       

    5. tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ

       

    6. tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất

       

    7. trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.

       

    8. tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.

       

    9. tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.

       

    10. hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.

       

    11. bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý

       

    12. tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.

       

    13. tôi không quyết định ngay mà dành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       

    14. tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !

       

    15. nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc

       

    16. tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì

       

    17. tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu

       

    18. tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả

       

    19. tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo

       

    20. tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.

       

    kết quả : các câu : 8, 9, 10, 18, 19, 20 nếu được đánh dấu “có” Þ tốt

     

    bài tập 1 : những điều quan tâm

    tt

    nội dung

    không

    1

    tôi có trí nhớ tốt, không cần ghi chú

       

    2

    tôi chẳng bỏ tài liệu nào vì biết đâu có lúc cần đến sau này

       

    3

    tôi khó chấm dứt một cuộc gọi điện thoại. nó cứ kéo dài lê thê.

       

    4

    tôi ít luyện tập thể dục. quá bận.

       

    5

    tôi thích dành thời gian với các đồng sự. cửa phòng tôi luôn mở, đón chào họ

       

    6

    tôi không giao việc khó cho nhân viên. dù sao tôi vẫn tự làm thì tốt nhất

       

    7

    trong buổi họp, mọi người đều được phép phát biểu bất kể thời gian.

       

    8

    tôi có thời gian biểu để biết mình phải làm gì, ở đâu, bao lâu.

       

    9

    tôi hay dồn việc vào lúc cuối. hình như tôi làm tốt hơn nếu chịu sức ép.

       

    10

    hàng tuần, tôi có để chút thời gian suy nghĩ về những điều quan trọng trong công việc.

       

    11

    bạn khó nhìn thấy tôi vì bàn làm việc của tôi ngập đầy hồ sơ đang xử lý

       

    12

    tôi hãnh diện vì công việc tôi làm được thực hiện đến mức hoàn hảo.

       

    13

    tôi không quyết định ngay mà đành thêm thời gian để suy nghĩ.

    tôi không muốn sai lầm vì hối thúc cho nhanh chóng xong công việc.

       

    14

    tôi bận đến nỗi không còn thời gian gặp bạn bè, người thân. cái giá của thành công mà !

       

    15

    nếu không thích tôi sẽ bỏ trôi công việc.

       

    16

    tôi thường ôm đồm quá nhiều việc nên khó làm xong một chuyện gì.

       

    17

    tôi hay lang thang trong cơ quan và nghỉ giải lao lâu.

       

    18

    tôi cố giải quyết thư từ đầy đủ cả

       

    19

    tôi có ấn định thời hạn và tuân thủ theo

       

    20

    tôi có thời gian cho gia đình và bạn bè.

       

    cách tính điểm :

    – nếu trả lời “có” cho câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 và “không” cho tất cả những câu còn lại thì bạn đã sắp xếp thời gian của mình tương đối khá hợp lý.

    – nếu trả lời “không” cho các câu 8, 9, 10, 18, 19, 20 hoặc trả lời “có” cho các câu còn lại thì bạn làm mất thời gian quý báu của mình.

     

    bài tập 2 : mục tiêu của bạn

    1. liệt kê trên giấy những điều bạn muốn thực hiện trong hai, ba năm tới : cá nhân, công việc (kinh doanh và sự nghiệp), gia đình.

    hãy viết ra bao nhiêu mục tiêu tùy thích.

    1. hãy để danh sách một bên khoảng vài ngày nếu được. sau đó xem lại danh sách, thay đổi, sửa chữa, hoàn thiện. rồi hãy sắp xếp ưu tiên trong từng lãnh vực : cá nhân, công việc, gia đình. hãy tìm ra 5 điểm quan trọng trong từng lãnh vực. hãy viết theo thứ rự ưu tiên dựa trên mẫu sau đây :

    hãy làm ngay : mục tiêu của tôi

    1. hãy xét kỹ từng mục đích một và xem xét đâu là điểm thực sự quan trọng nhất. sắp xếp theo số từ 1. nếu bạn không thích mức độ chi tiết theo mẫu thì hãy làm như sau :
    2. rất quan trọng
    • quan trọng
    1. không quan trọng lắm
    2. đặt hạn định thử (khi nào xong ?). có mục tiêu ngắn hạn, có cái kéo dài hai năm.

    bạn hãy tự quyết định.

    1. liệt kê vài phương pháp bạn dùng để đạt mục tiêu. bạn có thể làm gì để thực hiện mục tiêu của mình ?

    cá nhân

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    công việc

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    gia đình

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

     

    1

    2

    3

    4

    5

         

    đây là một thí dụ :

    ưu tiên trên hết

    lãnh vực ưu tiên

    mục tiêu

    khi nào

    cách nào ?

    3

    2

    đạt danh hiệu người bán hàng giỏi nhất trong năm

    6/1993

    liên hệ với hai khách hàng mỗi tuần. giữ liên lạc với khách. tăng thêm đơn đặt hàng

     

    bài tập 3 : ảnh hưởng đối với thời gian – các yếu tố khác

    đây là một phương án làm việc có đánh giá về ảnh hưởng đối với thời gian của lãnh đạo.

    thí dụ :

    mô tả

    ảnh hưởng đối với thời gian

    cửa luôn mở tiếp nhân viên không cần lý do.

    gián đoạn công việc luôn. không thể theo dự án dài hạn. không thể tập trung.

    1

    2

    3

    thói quen

    1

    2

    3

    tác phong

    1

    2

    3

    giao tiếp

    bài tập 4 : kiểm soát và chủ động

    hãy đánh dấu x vào điểm gặp nhau của “kiểm soát” và “chủ động”. nếu bạn đánh giá càng cao thì công việc càng quan trọng đối với bạn. khả năng kiểm soát và chủ động của bạn là động lực chính của bạn.

     

    đây chỉ là một thí dụ nhỏ của một công việc. nếu bạn xem xét hết công việc trong ngày/tuần, bạn sẽ thấy mình rơi vào khu vực (1). có nghĩa là bạn đang bị tác động của người khác thay vì kiểm soát được thời gian của mình. thật ra cũng có những việc bạn không có quyền gì mà chỉ phải làm theo. đó là thực tế nơi làm việc. trong nhiều trường hợp khác, bạn có thể đã bị người khác tác động lên thời gian của mình do những việc họ đề xuất khởi xướng mà chính bạn không cần phải làm theo. thí dụ, một người quen cứ mỗi thứ hai lại ghé văn phòng bàn chuyện bóng đá cuối tuần.

    anh ta bắt đầu câu chuyện và kéo bạn vào theo. nếu cứ để xảy ra, thì bạn mất kiểm soát hoàn toàn trong thời gian bàn luận cả tiếng đồng hồ.

    vậy hãy cố dành thời gian cho khu vực (4). không thể bỏ qua những trách nhiệm khó chịu. nhưng bạn vẫn có thể kiểm soát tình hình ở nhiều cơ hội khác. thí dụ có thể bàn chuyện bóng đá lúc giải lao.

    kiểm soát và chủ động còn có nghĩa “tích cực” và “tiêu cực”.

    công việc tích cực là điều cần làm để đạt mục tiêu.

    công việc tiêu cực là điều ngăn trở xuất hiện tại văn phòng mỗi ngày cần được giải quyết ngay để công việc chạy đều.

    từ ngữ không phải là ý chính. nhưng cần hiểu làm thế nào phân loại trách nhiệm công việc để có thể tập trung thời gian cho điều ích lợi quan trọng hơn.

     

    bài tập 5 : quan trọng và khẩn trương

    hãy xem xét vài việc trong thời gian biểu của bạn. việc nào quan trọng? việc nào khẩn? đánh giá theo khung sau đây.

    bạn sẽ hình dung ra được cần phải ưu tiên việc nào.

    • giao phó :

    hãy tự hỏi xem bạn có cần tự làm hay có thể giao việc cho người khác. nếu giao phó được, vì quyền lợi của cơ quan hay đồng nghiệp, bạn cần gì phải tự làm mất thời gian của mình.

     

    bài tập 6 : kẻ cắp thời gian của tôi

    dời việc lại

     

    do dự

     

    lo lắng

     

    họp kém hiệu quả

     

    thiếu tự tin

     

    không giao quyền đủ

     

    hội họp không tổ chức

     

    mệt mỏi

     

    lỗi lầm

     

    cầu toàn

     

    chuyện phiếm

     

    mục đích không rõ ràng

     

    thiếu hướng dẫn

     

    kiểm tra kém cõi

     

    kế hoạch thiếu sót

     

    viết văn kém

     

    nói điện thoại lâu

     

    làm việc của người

     

    không lắng nghe

     

    không dùng thì giờ thuận tiện

     

    không ghi ra giấy các mục tiêu

     

    giao tiếp không rõ ràng

     

    dựa vào ghi chú trên giấy nhỏ

     

    ăn trưa lâu

     

    không dùng mẫu có sẵn

     

    không tiết kiệm thời gian

     

    rình mò nhân viên

     

    không liên tục

     

    không xác định thời hạn

     

    không biết nói “không”

     

    bài tập 7 :

    nội dung

    không

    1. bạn có cần quá 5 phút để tìm thấy một vật trên bàn ?

       

    2. bạn có thường bối rối khi phải tìm một vật gì trên bàn ?

       

    3. bạn có đống hồ sơ tồn tại quá lâu trên bàn ?

       

    4. bạn có đọc và hay lưu thư từ quá nhiều ?

       

    5. bạn có phải lục tung giấy tờ trên bàn để tìm tài liệu ?

       

    6. bạn có khó tìm một tài liệu trong tủ hồ sơ ?

       

    7. bạn có phải rời bàn làm việc mỗi khi lấy vật gì ?

       

    8. bạn có hồ sơ nào tồn đọng cả tuần ?

       

    9. bạn có nghĩ sẽ tốt hơn nếu có bàn rộng hơn ?

       

    10. bạn có để hồ sơ trên bàn mà không ghi chú thời hạn xử lý ?

       

    nếu bạn trả lời “có” cho hơn nửa số câu hỏi thì bạn đang bị mất thời gian vì văn phòng bừa bộn quá. cho dù chỉ có một trả lời “có” bạn cũng nên tìm cách khắc phục. nếu trả lời “không” thì chúc mừng bạn có một nơi gọn gàng ít làm tốn thời gian của bạn.

    nhiều người mất nhiều thời gian hồ sơ thất lạc ngay trên đóng tài liệu lộn xộn trên bàn làm việc.

    hãy giữ sạch sẽ gọn gàng và ghi nhớ chỗ của mỗi thứ trên bàn làm việc.

     

    bài tập 8 : tôi có cầu toàn ?

    khoanh tròn câu thích hợp với bạn

    không thích hợp :              1

    thích hợp chút ít :              2

    hoàn toàn thích hợp :        3

    nội dung

    khoanh tròn câu thích hợp

    1. nếu muốn hoàn hảo, tôi phải tự làm lấy mới được

    1

    2

    3

    2. yêu cầu cao đối với bản thân. không bao giờ bỏ cuộc

    1

    2

    3

    3. tôi sửa nháp 3 lần cho một lá thư

    1

    2

    3

    4. tôi sẽ gia hạn nếu không bằng lòng kết quả. tôi luôn làm thế

    1

    2

    3

    5. phê bình người khác ở văn phòng cũng như ở nhà

    1

    2

    3

    6. càng đọc các văn bản do tôi viết, tôi càng thấy khó bằng lòng với công việc

    1

    2

    3

    7. khi làm việc tôi hay lưu ý những chi tiết nhỏ

    1

    2

    3

    8. tôi sợ phạm sai lầm . tôi không vui và người khác cũng thế

    1

    2

    3

    9. nhân viên góp ý rằng tôi khó. nhưng tôi chỉ muốn mọi điều tốt

    1

    2

    3

    10. tôi không thích nhờ ai giúp đỡ

    1

    2

    3

    11. tôi ít ủy quyền vì tôi phải mất thời gian giám sát luôn

    1

    2

    3

    12. nếu không tin chắc, tôi không bắt tay vào làm công việc

    1

    2

    3

     

    tổng số điểm :

    cộng điểm lại và ghi vào ô. nếu :

    > 24 điểm, bạn quá cầu toàn. bạn bị ám ảnh phải làm mọi việc cho bằng được luôn luôn. rất ít việc nào làm như ý bạn muốn. cần phải chấp nhận như vậy nếu không thì bạn lãng phí quá nhiều thời gian.

    hãy tin tưởng người chung quanh để giao việc và chú tâm vào việc quan trọng hơn hết mà thôi.

     

    bài tập 9 : loại trừ kẻ cắp thời gian

    kẻ cắp 1 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 2 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    kẻ cắp 3 :

    1. làm gì để giải quyết vấn đề ?
    2. người khác giúp đỡ tôi thế nào ?
    3. lập kế hoạch giải quyết vấn đề. đặt ra hạn định

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected] 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Mẫu Nhật ký thi công xây dựng công trình


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-g%C3%B3p-ph%E1%BA%A7n-n%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-tuy%E1%BB%83n-d%E1%BB%A5ng-nh%C3%A2n-s%E1%BB%B1-t%E1%BA%A1i-C%C3%B4ng-Ty-C%E1%BB%95-Ph%E1%BA%A7n-T%C6%B0-V%E1%BA%A5n-v%C3%A0-X%C3%A2y-D%E1%BB%B1ng-C%C3%B4ng-Tr%C3%ACnh-Nam-Long.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long

    LỜI CẢM ƠN

    Trong thời gian  2 tháng (8 tuần) thực tập tại Công ty CPTV & XD Công Trình Nam Long  em đã nhân được sự giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuân lợi  của Giám Đốc Công ty và đặc biệt là sự chỉ bảo nhiệt tình của các anh, các chị trong phòng Quản Trị Nhân Sự và phòng Kế Toán Tài Chính. Chính sự giúp đỡ và chỉ bảo đó đã giúp em nắm bắt được những kiến thức thực và kỹ năng phân tích,đánh giá công tác tuyển dụng nhân sự của Công ty. Những kiến thức thực tế này sẽ là hành trang ban đầu giúp ích cho em trong quá trình ra công tác xin việc  sau này rất nhiều.

    Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Công ty CP Nam Long, tới toàn thể cán bộ nhân viên trong Công ty về sự giúp đỡ của các cô, các chú, các anh chị trong thời gian thực tập(8 tuần) vừa qua. Em cũng xin kính chúc Công ty CP Nam Long  ngày càng phát triển lớn mạnh và đươc nhiều Công ty khác trong ngành biết đến,kính chúc các cô, các chú và các anh chị luôn thành đạt trên cương vị công tác của mình. Và em kính chúc các cô, các chú và các anh chị luôn khỏe mạnh và vui vẻ để hoàn thành tốt công việc của mình.

    Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn những tình cảm và sự truyền thụ kiến thức của Ths.Thái Vĩnh Ngân trong suốt quá trình em học tập và nghiên cứu. Em cảm ơn sự nhiệt tình và tâm huyết của thầy đã giúp em hoàn thành tốt báo cáo thực tập tốt nghiệp này.

    Em xin chân thành cảm ơn!

     

     

     

     

     

     

    LỜI CAM KẾT

     

    Trong thời gian thực hiện đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp ,tôi xin cam đoan rằng tôi đã hoàn thành đúng quy định và thời gian mà nhà trường dề ra.Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong báo cáo là trung thực do cơ quan nơi tôi thực tập cung cấp cho và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ bài bào cáo nào trước đây.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

                                        CỘNG HÒA – XÃ HỘI – CHỦ NGHĨA – VIỆT NAM

    ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC

    ——-o ——-

    XÁC NHẬN , ĐÁNH GIÁ CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP

    Công ty : …………………………………………có trụ sở tại : ……………………………………..

    Số : ………………………Đường : …………………………………Phường : …………………………

    Quận (thị xã ,TP) : …………………………………………………Số Fax : ……………………………

    Trang web : …………………………………………………………………………………………………

    Địa chỉ e-mail : ……………………………………………………………………………………………..

                                                                          XÁC NHẬN

    Anh (chị) : ………………………………………………………Sinh ngày : …………………………….

    Là sinh viên lớp : …………………………………………………………………………………………..

    Có thực tập tại công ty trong khoảng thời gian từ ngày …………….đến ngày …………………

    Đơn vị nhận xét về SV trong thời gian thực tập ở đơn vị :

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    ………………………………………………………………………………………………………………..

    Ngày ……..tháng ………năm 2011

                        Xác nhận của công ty                         

     

     

     

    NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1.Lý do chọn đề tài

    • Tuyển dụng nhân sự là khâu đầu tiên và là khâu quan trọng của họat động quản trị nhân lực. Tuyển dụng nhân sự không chỉ thu hút người lao động, người sử dụng lao động mà còn cả các cấp, các ngành và các tổ chức cùng quan tâm. Bởi chất lượng lao động quyết định sự thành bại của một tổ chức. Trong một tổ chức thì dù có cơ sở vật chất hiện đại, nguồn tài chính dồi dào mà chất lượng lao động kém thì sản xuất kinh doanh cũng sẽ không hiệu quả.
    • Hiện nay thị trường lao động thể hiện ở cung lao động và cầu lao động luôn biến đổi không ngừng và đang diễn ra hết sức sôi nổi mỗi ngày, mỗi giờ, khiến nhiều người lao động có nhu cầu tìm kiếm việc làm, người sử dụng lao động có nhu cầu tìm được nhân viên có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu công việc và còn có cả sự tham gia tác động vào sự biến động lao động của các đơn vị, các tổ chức trung gian.
    • Là sinh viên sắp ra trường nên có nhu cầu về việc làm cho bản thân, qua việc nghiên cứu và phân tích các vấn đề của đề tài thực tập nhằm có được sự định hướng cho bản thân và củng cố kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết để có thể chủ động và vững vàng bước vào thị trường lao động việc làm sau khi tốt nghiệp và có một thời gian được đào tạo tại trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành.
    • Qua thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long _TP: Vũng Tàu với mong muốn tìm hiểu vấn đề công tác tuyển dụng nhân sự, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long“.

         2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • Bài viết tập trung vào các vấn đề nhân sự và đặc biệt là công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty thời kỳ trước, hiện tại và kế hoạch tương lai.
    • Tuyển dụng nhân sự nhìn từ góc độ nhà quản trị của công ty và từ góc độ người có nhu cầu tuyển dụng.
    • Bao gồm những đối tượng có nhu cầu về việc làm.

     

    3.Mục đích nghiên cứu

    • Qua quá trình thực tập, tìm hiểu và phân tích thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty bài viết đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác tuyển dụng nhân sự trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị nhằm khắc phục những khó khăn phát huy thế mạnh của Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    4.Phương pháp nghiên cứu

    • Bài viết sử dụng phương pháp thống kê các số liệu thu thập được từ tài liệu sơ cấp và thứ cấp của Công ty Nam Long. Phỏng vấn các cán bộ trực tiếp tham gia công tác tuyển dụng lao động gia sư thuộc Phòng tổ chức hành chính và các nhân viên trong Hội đồng tuyển dụng. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá dựa trên các nguồn số liệu trên sách báo và số liệu thực tế đã thu thập được tại Công ty.

    5.Kết cấu nội dung  của đề tài gồm:

    Phần mở đầu:

    1.Lý do chọn đề tài

    2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    3.Mục đích nghiên cứu

    4.Phương pháp nghiên cứu.

    Phần nội dung:

    • Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân sự.
    • Chương 2 : Thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.
    • Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    Phần kết luận và kiến nghị:

    I.Kết luận

    II.Kiến nghị

     

     

    PHẦN NỘI DUNG

    Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân sự.

    I.Khái niệm về tuyển dụng nhân sự:

    1.Định nghĩa:

    • Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau những nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển.
    • Tuyển dụng nhân sự không chỉ là nhiệm vụ của phòng tổ chức nhân sự, và cũng không chỉ là công việc đơn giản bổ sung người lao động cho doanh nghiệp, mà đó thực sự là quá trình tìm kiếm và lựa chọn cẩn thận. Nó đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa các bộ phận trong doanh nghiệp với nhau, phải có sự định hướng rõ ràng, phù hợp của lãnh đạo doanh nghiệp.
    • Tuyển dụng nhân sự là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức. Mọi tổ chức đều phải có đầy đủ khả năng để thu hút đủ số lượng và chất lượng lao động để nhằm đạt được các mục tiêu của mình. Quá trình tuyển dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn. trong thực tế sẽ có người lao động có trình độ cao nhưng họ không được tuyển chọn vì họ không được biết các thông tin tuyển dụng, hoặc không có cơ hội nộp đơn xin việc.
    • Chất lượng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt được nhưng yêu cầu mong muốn hay hiệu quả thấp nếu số lượng nộp đơn xin việc bằng hoặc ít hơn số nhu cầu cần tuyển chọn. Công tác tuyển dụng nhân sự có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức. Tuyển dụng không chỉ ảnh hưởng tới việc tuyển chọn, mà còn ảnh hưởng tới các chức năng khác của quản trị nguồn nhân lực như: Đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các mối quan hệ lao động …
    • Tuyển dụng nhân sự là quá trình kiểm tra ,trắc nghiệm phỏng vấn và quyết định tuyển 1 người vào làm việc theo đúng yêu cầu của tổ chức đã đề ra,các tiêu chuẩn tuyển chọn bao gồm:
    • Kỹ năng(skill)
    • Nhân cách(personality)
    • Kinh nghiệm(experience)
    • Kiến thức(back ground)

     

    2.Trình tự tuyển dụng

    • Chuẩn bị tuyển chọn
    • Thông báo tuyển chọn
    • Phỏng vấn sơ bộ
    • Kiểm tra trắc nghiệm
    • Phỏng vấn lần 2
    • Xác minh điều tra
    • Khám sức khỏe
    • Thử việc
    • Ra quyết định bố trí công việc

    II.Nhiệm vụ và chức năng cùa tuyển dụng nhân sự:

    1.Chức năng:

    • Thực hiện công tác tuyển dụng nhận sự đảm bảo chất lượng theo yêu cầu, chiến lược của công ty.
    • Tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện quản lý nhân sự, đào tạo và tái đào tạo.
    • Tổ chưc việc quản lý nhân sự toàn công ty.
    • Xây dựng quy chế lương thưởng, các biện pháp khuyến khích – kích thức người lao động làm việc, thực hiện các chế độ cho người lao động.
    • Chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, qui định, chỉ thị của Ban Giám đốc .
    • Nghiên cứu, soạn thảo và trình duyệt các qui định áp dụng trong Công ty, xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty – các bộ phận và tổ chức thực hiện.
    • Phục vụ các công tác hành chánh để BGĐ thuận tiện trong chỉ đạo – điều hành, phục vụ hành chánh để các bộ phận khác có điều kiện hoạt động tốt.
    • Quản lý việc sử dụng và bảo vệ các loại tài sản của Công ty, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.
    • Tham mưu đề xuất cho BGĐ để xử lý các vấn đề thuộc lãnh vực Tổ chức-Hành chánh-Nhân sự.
    • Hỗ trợ Bộ phận khác trong việc quản lý nhân sự và làcầu nối giửa BGĐ và Người lao động trong Công ty.

    2.Nhiệm vụ:

    –         Thực hiện chức năng 1.1

    • Lập kế hoạch tuyển dụng hàng năm, hàng tháng theo yêu cầu của công ty và các bộ phận liên quan.
    • Lên chương trình tuyển dụng cho mỗi đợt tuyển dụng và tổ chức thực hiện.
    • Tổ chức tuyển dụng theo chương trình đã được phê duyệt.
    • Tổ chức ký hợp đồng lao động thử việc cho người lao động.
    • Quản lý hồ sơ, lý lịch của CNV toàn Công ty.
    • Thực hiện công tác tuyển dụng, điều động nhân sự, theo dõi số lượng CNV Công ty nghỉ việc.
    • Đánh giá, phân tích tình hình chất lượng, số lương đội ngũ CNV lập các báo cáo định kỳ, đột xuất theo yêu cầu cụ thể của Ban Giám đốc.
    • Làm cầu nối giữa Lãnh đạo Công ty và tập thể người lao động.

    –         Thực hiện chức năng 1.2

    • Lập chương trình đào tạo định kỳ tháng, năm.
    • Tổ chức thực hiện việc đào tạo trong công ty.
    • Đánh giá kết quả đào tạo.
    • Trực tiếp tổ chức, tham gia việc huấn luyện cho người lao động mới vào công ty về lịch sử hình thành, chính sách, nội quy lao động…
    • Xây dựng chương trình phát triển nghề nghiệp cho CNV công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.3

    • Điều động nhận sự theo yêu cầu sản xuất kinh doanh.
    • Lập quyết định bổ nhiệm, bãi nhiệm cán bộ quản lý điều hành.
    • Quản lý nghỉ việc riêng, nghỉ phép, nghỉ việc của CNV
    • Xây dựng chính sách thăng tiến và thay thế nhân sự.
    • Lập ngân sách nhân sự
    • Hoạch định nguồn nhân lực nhằm phục vụ tốt cho sản xuất kinh doanh và chiến lược của công ty.
    • Giải quyết khiếu nại kỷ luật của CNV Công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.4

    • Bảo vệ lợi ích hợp pháp của Công ty và của người lao động.
    • Xây dựng và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động.
    • Thực hiện việc kiểm tra xếp bậc lương, điều chỉnh mức lương theo đúng qui định của công ty.
    • Tham gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện phương pháp hình thức trả lương, thưởng, phụ cấp làm việc tại Công ty.
    • Theo dõi thực hiện các chế độ cho người lao động theo qui định của Công ty.
    • Tổ chức theo dõi, lập danh sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và thực hiện các chế độ liên quan đến bảo hiểm y tế cho người lao động theo chỉ đạo của BGĐ.
    • Lập danh sách lao động định kỳ theo qui định của cơ quan nhà nước.
    • Theo dõi việc nghỉ phép, nghỉ việc riêng để thực hiện chế độ phép năm cho người lao động.
    • Tổ chức, trình kế hoạch và thực hiện đối với các chế độ lễ tết.
    • Giao dịch với các cơ quan nhà nước để thực hiện chế độ cho người lao động.
    • Đánh giá thực hiện công việc.

    –         Thực hiện chức năng 1.5

    • Lập phương án, tổ chức thực hiện các Quyết định, Quy định của BGĐ.
    • Giám sát việc thực hiện theo các phương án đã được duyệt, báo cáo đầy đủ, kịp thời và trung thực tình hình diễn biến và kết quả công việc khi thực hiện nhiệm vụ BGĐ giao.

    –         Thực hiện chức năng 1.6

    • Đề xuất cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành của Công ty.
    • Xây dựng hệ thống các qui chế, qui trình, qui định cho Công ty và giám sát việc chấp hành các nội qui đó.

    –         Thực hiện chức năng 1.7

    • Xây dựng, tổ chức và quản lý hệ thống thông tin.
    • Nghiên cứu và nắm vững qui định pháùp luật liên quan đến hoạt động của Công ty, đảm bảo cho hoạt động của Công ty luôn phù hợp pháp luật.
    • Phục vụ hành chánh, phục vụ một số mặt hậu cần cho sản xuất kinh doanh.
    • Xây dựng, gìn giử và phát triễn mối quan hệ tốt với cộng đồng xã hội xung quanh.
    • Tổ chức cuộc họp theo yêu cầu của Côngty.
    • Tổ chức lể tân, tiếp khách hàng, đối tác trong, ngoài nước. Xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, từng bước xây dựng văn hóa riêng của Công ty tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
    • Tổ chức thu thập, phân tích, xử lý, lưu trử và phổ biến các thông tin kinh tế, xã hội, thương mại, pháp luật, công nghệ và kịp thời báo cáo BGĐ để có quyết định kịp thời.
    • Phục vụ tốt nhất các điều kiện pháp lý hành chánh, hậu cần, an sinh để sản xuất thông suốt.
    • Lưu giữ, bảo mật tài liệu, bảo vệ tài sản Công ty.
    • Thực hiện các công tác pháp lý, bảo vệ lợi ích pháp lý cho Công ty, giữ các hồ sơ pháp lý của Công ty.
    • Phối hợp với các đơn vị khác bảo vệ bản quyền nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, xuất xứ, phát minh, sáng chế… của Công ty.
    • Tiếp nhận các loại công văn vào sổ công văn đi và đến.
    • Phân loại và phân phối công văn cho các bộ phận, tra cứu, cung cấp tài liệu hồ sơ theo yêu cầu.
    • Chuyển giao công văn tài liệu, báo chí, báo cáo đến các bộ phận liên quan.
    • Đánh máy, photocopy các văn bản, công văn giấy tờ thuộc phần việc được giao.
    • Sắp xếp hồ sơ, tài liệu để lưu trữ vào sổ sách, theo dõi luân chuyển hồ sơ.
    • Giữ bí mật nội dung các công văn giấy tờ, tài liệu…
    • Quản lý tổng đài, máy fax theo qui định của Công ty.

    Giao nhận hàng hoá, công văn tài liệu đến các bộ phận liên quan.

    –         Thực hiện chức năng 1.8

    • Quản lý hồ sơ các loại tài sản của công ty.
    • Theo dõi, giám sát, kiểm tra việc quản lý và sử dụng các loại tài sản công ty của các bộ phận.
    • Phối hợp nhà cung cấp tổ chức việc lắp đặt tài sản.
    • Phối hợp đơn vị bảo trì thực hiện việc bảo trì thường xuyên và bảo trì đột xuất.
    • Xử lý kịp thời những công việc liên quan đến công tác bảo vệ.
    • Thực hiện công tac an ninh trật tự, an toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ trong công ty.
    • Kiểm tra giấy tờ, hướng dẫn người, phương tiện ra vào cổng, trông giữ xe cho khách đến liên hệ công tác, CBCNV Công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.9

    • Tham mưu cho BGĐ về việc xây dựng cơ cấu tổ chức, điều hành của công ty.
    • Tham mưu cho BGĐ về công tác đào tạo tuyển dụng trong công ty.
    • Tham mưu cho BGĐ về xây dựng các phương án về lương bổng, khen thưởng các chế độ phúc lợi cho người lao động.
    • Tham mưu cho BGĐ về công tác hành chánh của công ty.

    –         Thực hiện chức năng 1.10

    • Hỗ trợ cho các bộ phận liên quan về công tác đào tạo nhân viên,cách thưc tuyển dụng nhân sự…
    • Hỗ trợ các bộ phận liên quan về công tác hành chánh.

    III.Các phương thức tìm kiếm ứng cử viên:

    1. Các mối quan hệ quen biết
    • Tìm kiếm ứng cử viên thông qua những người đã biết:

    –  Nhân viên công ty

    –  Người quen

    –  Khách hàng

    –  Đối thủ cạnh tranh

    • Ưu điểm:

    – Tiết kiệm chi phí: không mất phí quảng cáo, chi phí cho công ty tư vấn tuyển dụng

    –  Tiết kiệm thời gian: dễ dàng kiểm tra, chọn lọc ứng cử viên

    –  Nâng chất lượng ứng cử viên: do uy tín của người giới thiệu

    –  Tăng khả năng lưu giữ nhân viên; ứng cử viên được đề cử sẽ có kiến thức sâu về công ty

    • Hạn chế:

    – Người giới thiệu mong muốn có sự đối xử đặc biệt với người được đề cử

    – Thường tạo thành một nhóm những người giống nhau trong doanh nghiệp

    1. Nội bộ công ty

    Tuyển dụng từ bên trong doanh nghiệp của bạn đòi hỏi sự quan tâm tới chi tiết           và tính nhất quán giống như việc tuyển dụng từ các nơi khác.

    • Ưu điểm:

    –    Khuyến khích nhân viên vì họ thấy rằng có nhiều cơ hội tốt hơn trong doanh nghiệp để họ cần cố gắng vươn lên.

    –    Doanh nghiệp có thể đánh giá năng lực từ quá trình thực hiện công việc trước đó

    –   Tuyển dụng từ nội bộ ít tốn kém hơn

    • Hạn chế:

    –  Cần đưa ra những tiêu chí thông báo rõ ràng. Các ứng viên không thành công sẽ có cơ hội thảo luận lý do tại sao họ không được chọn và họ có thể làm gì để trúng tuyển vào lần sau.

    –  Cần bàn bạc với phụ trách và các bên liên quan của ứng cử viên nội bộ.

    3.Trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm

    • Ưu điểm:

    -Trung tâm giới thiệu viêc làm và hội chợ việc làm thường có rất nhiều ứng viên đến nộp hồ sơ.

    – Phù hợp với nhu cầu tuyển dụng nhân viên không đòi hỏi chất lượng quá cao, những công việc phổ thông, đơn giản.

    • Hạn chế

    – Ở Việt Nam hiện nay, chất lượng ứng cử của các trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm không đồng đều, số ứng viên có chất lượng cao rất ít

    4.Công ty tư vấn tuyển dụng

    Hiện nay, các công ty này chuyên cung cấp các dịch vụ tìm kiếm các vị trí quản lý cao cấp, khó tìm người (dịch vụ headhuntes).

    • Ưu thế:

    – Dịch vụ chuyên nghiệp, nhanh, thuận tiện

    – Có ngân hàng ứng viên ở nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau và có chất lượng

    –  Doanh nghiệp có thể tìm được những nhân viên cao cấp phù hợp

    • Hạn chế:

    –  Chi phí thường rất cao

    –  Đôi khi đòi hỏi phải có thời gian

    –  Dễ bị chính các công ty này lấy mất nhân sự cấp cao khi có một nhà tuyển dụng khác chào với những ưu đãi hấp dẫn hơn.

    1. Quảng cáo

    Quảng cáo trên qua các phương tiện truyền thông truyền thống như: báo chí, truyền thanh, truyền hình…

    • Ưu điểm:

    – Thu hút số lượng lớn ứng cử viên

    • Hạn chế:

    – Chất lượng ứng viên không đồng đều

    –  Mất thời gian để sơ tuyển, phân loại ứng viên

    –  Phải nghiên cứu thị trường để lựa chọn phương tiện truyền thông quảng cáo có hiệu quả nhất

    –  Lời lẽ quảng cáo phải làm nổi bật được tiêu chí của doanh nghiệp

    – Phải sử dụng lời lẽ quảng cáo có tính cổ động và ấn tượng sâu sắc

    – Chi phí có thể lên cao.

    6.Internet

    Phương thức này ngày càng trở nên phổ biến vì hiện nay trên thị trường có rất nhiều công ty kinh doanh dịch vụ tuyển dụng trực tuyến có uy tín

    • Ưu điểm:

    –  Nhanh chóng, dễ dàng tiếp cận với một số lượng lớn các ứng cử viên

    –    Chi phí thấp

    –   Phân loại nhanh chóng các ứng cử viên

    –  Các ứng cử viên hầu hết có khả năng sử dụng các công cụ làm việc tiên tiến trong thời đại công nghệ mới hiện nay: khả năng sử dụng máy vi tính cũng như các tiện ích kèm theo, khả năng tìm kiếm khai thác dữ liệu qua Internet, …

    –    Đây được đánh giá là phương thức hữu hiệu nhất trong các phương thức tìm kiếm nguồn ứng cử viên hiện nay.

    • Hạn chế:

    –    Có nhiều hơ sơ gửi tới

    –   Có thể bỏ qua những ứng cử viên thích hợp không có điều kiện tiếp cận Internet.

    7.Trường học

    Trường học ở đây cụ thể là các trường cao đẳng, đạo học, các trường dạy nghề…Đây là một phương thức tìm nguồn tuyển dụng truyền thống, hàng năm theo định kỳ một số doanh nghiệp tới các cơ sở trên để tuyên truyền việc tìm kiếm nhân viên, tiến hành phỏng vấn đối với các sinh viên mới tốt nghiệp. Một số doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài với các cơ sở này như tài trợ học bổng cho sinh viên, tạo điều kiện để sinh viên thực tập, lấy số liệu, học nghề…để thu hút họ tới làm việc tại doanh nghiệp mình.

    • Ưu điểm:

    –     Đây là nguồn ứng viên có chất lượng tương đối cao, trẻ trung, năng động, có tiềm năng

    –    Có thể gắn bó lâu dài và cho kết quả công việc tốt

    • Hạn chế:

    Tốn nhiều thời gian và cần phải đào tạo.

    Chương 2 : Thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công Ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    I.Tổng quan về công ty CPTV và XD Công Trình Nam Long

    1.Quá trình hình thành và phát triển công ty Nam Long

    1.1. Giới thiệu Công ty :

    • Tên giao dịch:Nam Long Construction and Consultant Joint – Stock
    • Tên viết tắt:Công ty Cổ Phần Nam Long
    • Địa chỉ công ty:Lô G3, Khu dân cư Bình Minh, phường 8,Tp.VT,Tỉnh:BRVT
    • Điện thoại:(0643)521416 – 521417
    • Fax:0643-521417
    • Email:[email protected]
    • Công ty được thành lập vào Ngày 08 tháng 03 năm 2006.
    • Vốn diều lệ:12.000.000 đồng (Mười hai tỷ đồng)

    1.2.Danh sách cổ đông sáng lập Công ty:

    Tên cổ

     

    đông

    Hộ khẩu

     

    thường trú

    Loại cổ

     

    phần

    Số cổ

     

    phần

    Giá trị

     

    cổ phần

    (triệu đồng)

    Tỉ lệ góp vốn(%) Số

     

    CMND

    Lê Xuân

     

    Tình

    17/7 Nguyễn Bỉnh Khiêm, p3,TPVT Phổ

     

    thông

    96.000 9.6 80 273360739
    Đỗ Thanh

     

    Quang

    3/85 Bạch Đằng , p TRần

     

    Hưng Đạo,TP Hải Dương

    Phổ

     

    thông

    12.000 1.2 10 142021997
    Lê Xuân

     

    Hữu

    Thôn 3 xã Định Công,

     

    Huyện Yên Định,Tỉnh Thanh Hóa

    Phổ

     

    thông

    12.000 1.2 10 173393256

    (Nguồn:Phòng Quản Trị Nhân sự – 2008)

    1.3. Các nghành nghề kinh doanh

    • Thiết kế xây dựng công trình giao thông.
    • Thiết kế xây dựng công trình dân dụng và công ngiệp đến cấp III
    • Thiết kế xây dựng công trình cấp thoát nước , vệ sinh môi trường , công trình xử lí chất thải chất rắn .
    • Giám sát thi công xây dựng công trình giao thông , hạ tầng, công nghiệp , dân dụng
    • Tư vấn  đầu tư , tư vấn lập hồ sơ mời thầu .
    • Lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình , dư án đầu tư xây dựng công trình, lập báo cáo kinh tế – kĩ thuật xây dựng công trình và dự toán công trình
    • Khảo sát , lập dự án , thiết kế kĩ thuật – dự toán công trình đo đạc và bản đồ
    • Quản lý dự án đầu tư .
    • Xây dựng công trình kĩ thuật : xây dựng công trình dân dụng , công nghiệp , giao thông (cầu , đường, cống…) thủy lợi , đường ống cấp thoát nước, trạm bơm…
    • Xây dựng công trình điện đến 35KW.
    • Tạo mặt bằng xây dựng, dọn dẹp,san lấp mặt bằng.
    • Mua bán máy móc, thiết bị khai thác khí đốt,lọc dầu,khai thác dầu,giàn khoan,thiết bị khoan dầu mỏ.
    • Mua bán vật liệu xây dựng,dồ ngũ kim,thiết bị cấp nước trong nhà,thiết bị nhiệt và các phụ tùng thay thế.
    • Mô giới thương mại.
    • Tư vấn về quản lý kinh doanh.
    • Đầu tư tạo lập nhà công trình để bán,cho thuê,mua.
    • Thuê vá cho thuê cơ sở hạ tầng viễn thông ,tin học,các công trình điện,điện tử tin học,giao thông thủy lợi.
    • Sản xuất,mua bán,lắp đặt,bảo dưỡng các loại máy móc,thiết bị,vật tư phục vụ ngành điện,điện tử tin học,viễn thông,công nghệ thông tin,công nghiệp,giao thông thủy lợi .
    • Sản xuất mua ban máy móc,thiết bị phục vụ cho việc báo cháy,chữa cháy,phòng cháy nổ,chống sét,phòng chóng đột nhập.
    • Dịch vụ lắp dặt bảo dưỡng,sửa chữa hệ thống báo cháy,chữa cháy,phòng chống cháy nổ,chống sét.
    • Đại lý kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông.

     

    1. Cơ cấu tổ chức nhân sự của Công ty

    2.1. Giám dốc và bộ máy điều hành

    • Giám đốc Công ty : Ông Lê Xuân Hữu
    • Phó giám đốc : Ông Đỗ Thanh Quang
    • Trưởng phòng Tài Chính – Hành Chính : Ông Trần Quốc Toàn
    • Trưởng phòng Kế Hoạch-Kĩ Thuật : Ông Đỗ Lê Cường
    • Trưởng phòng Tư Vấn Thiết Kế – Giám Sát thi công: Ông Phạm Tiến Minh
    • Tổng số cán bộ công nhân viên : 30 người

    Trong đó :

    Kỹ sư các người        :15 người

    Cử nhân                     : 03 người

    Trung cấp                  : 02 người

    Công nhân kĩ thuật   : 07 người

    Lái xe                         : 03 người

    2.2.Sơ đồ tổ chức của Công ty:

        

     
       

     

     

     

     

                                                                                           

           
         
       
     

     

     

                                       

    (Nguồn:Phòng Tổ Chức Hành Chính – 2008)

    2.3. Danh sách các cán bộ chủ chốt

    STT Họ và Tên Trình Độ Chức Vụ CC

     

    Hành Nghề

    1 Lê Xuân Hữu  Kỹ sư Xây Dựng Giám Đốc  
    2 Đỗ Thanh Quang Cử nhân Kinh Tế P. Giám Đốc  
    3 Trần Quốc Toàn Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng TC-HC
    4 Đỗ Lê Cường Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng Giám sát
    5 Phạm Tiến Minh Kỹ sư Xây Dựng Trưởng Phòng CC TK
    6 Nguyễn Quảng Bình Kỹ sư điện tử

     

    viễn thông

    Đội Trưởng CC TK
    7 Trịnh Đăng Ninh Kỹ sư Xây Dựng Đội Trưởng CC Giám Sát
    8 Nguyễn Huấn Kỹ sư Xây Dựng Đội Trưởng CC Giám Sát
    9 Nguyễn Cao Thượng Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK
    10 Trần Thế Dũng Kỹ sư Giao Thông Nhân Viên CC Giám Sát
    11 Tô Văn Sự Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    12 Đỗ Xuân Hợp Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    13 Nguyễn Thanh Nam Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK , CC

     

    Giám Sát

    14 Nguyễn Cảnh Toàn Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    15 Nguyễn Hữu Vinh Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    16 Lê Văn Tuấn Kiến Trúc Sư Nhân Viên CC TK,CC

     

    Giám Sát

    17 Đinh Công Tâm Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát
    18 Lê Quốc Huy Kỹ sư Xây Dựng Nhân Viên CC Giám Sát

    (Nguồn:Phòng Quản Trị Nhân sự – 2008)

     

    3.Kết quả hoạt dộng kinh doanh:

    Các công trình đã và đang thi công từ năm 2007-2009:

    STT Tên công trình Tổng giá trị

     

    HĐ (VNĐ)

    Khởi công Tên đơn vị

     

    kí hợp đồng

    1 Thi công XD công trình

     

    “Đường dây trung thế, hạ thế

    và trạm biến áp tuyến nhánh

    tổ 4,5,6 và 7 ấp 3 xã Hắc Dịch,

    huyện Tân Thành”

    422.500.000 30/7/2007 Ban QLDA

     

    huyện Tân

    Thành

    2 Thi công xây lắp và cung cấp

     

    lắp đặt thiết bị công trình”XD

    đường ống cấp nước cầu cảng”

    791.800.000 05/04/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí-PTSC

    3 Thi công “sửa chữa dường

     

    xưởng khu vực cơ khí xí nghiệp khoan”

    326.300.000 02/8/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí -PTSC

    4 Thi công XDCT “Kho chứa

     

    hóa chất  Cty Trường Sơn JOC”

    22.300.000 01/8/2007 Cty TNHH

     

    Cảng Dịch Vụ

    Dầu Khí -PTSC

    5 Thi công XDCT “trạm BTS cho trung tâm IV Mobifone thuê

     

    tại Vĩnh Long”

    8.850.000.000 20/8/2008 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    6 Thi công XDCT”trạm BTS tại

     

    Đồng Nai và Vũng Tàu đợt 1”

    2.930.000.000 15/5/2008 Cty CPTV và

     

    Đt phát triển

    Công nghệ

    7 Thi công XDCT”trạm BTS tại

     

    Đồng Nai và Vũng Tàu đợt 2”

    3.451.000.000 19/6/2008 Cty CPTV và

     

    Đt phát triển

    Công nghệ

    8 Hợp Đồng thuê cơ sở hạ tầng

     

    09 trạm BTS ở tt Huế

    96.326256

     

    /Tháng

    15/7/2009 TTDĐ Khu vực

     

    III

    9 Hợp Đồng thuê cơ sở hạ tầng

     

    10 trạm BTS ở tt Huế

    99.247.805

     

    /Tháng

    15/10/2009 TTDĐ Khu vực

     

    III

    10 Sản Xuất và Lắp Dựng Cột

     

    Angten 3 Móng Neo –cao 42m tại Cần Thơ

    1.472.980.000 10/7/2009 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    11 Sản Xuất và Lắp Dựng Cột

     

    Angten 3 Móng Neo –cao 42m tại Củ Chi

    1.841.225.000 10/11/2009 Chi nhánh phía

     

    Nam Cty CPTV

    và ĐT phát triển

    Công nghệ

    (Nguồn:phòng Kế Toán Tài Chính – 2008)

    II.Phân tích thực trạng công tác tuyển dụng tại Công ty

    1.Thực trạng công tác tuyển dụng tại Công ty

    • Do đặc thù của Công ty là cổ phần quy mô vừa và nhỏ và hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên công tác tuyển dụng được tiến hành tương đối đơn giản, tiêu chuẩn công việc không đòi hỏi quá cao. Công tác tuyển dụng do phòng tổ chức hành chính của Công ty phụ trách.
    • Khi Công ty xuất hiện nhu cầu và kế hoạch nhân sự trong từng giai đoạn, Công ty có kế hoạch tuyển dụng và hoàn thiện công tác tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng lao động trong doanh nghiệp.
    • Công tác tuyển dụng được giao cho các bộ phận tự đề xuất nhu cầu và tiêu chuẩn công việc lên phòng Tổ chức hành chính xem xét và đề nghị lên lãnh đạo Công ty. Công tác tuyển dụng của Công ty được phân thành hai cấp:
    • Hội đồng quản trị tuyển dụng những lao động do chính mình trực tiếp quản lý. Đó là giám đốc công ty, các phó giám đốc, các trưởng và phó phòng ban, trên cơ sở đề nghị của Hội đồng cơ sở và Giám đốc Công ty. Quyết định tuyển dụng sẽ do Hội đồng quản trị ra quyết định.
    • Giám đốc Công ty tuyển các đối tượng còn lại. Giám đốc Công ty có thể uỷ quyền cho các Giám đốc Kỹ sư, Trưởng các phòng ban tiến hành tuyển dụng. Những đối tượng này sau khi được tuyển dụng sẽ được Giám đốc Công ty ký quyết định tuyển dụng.
    • Hợp đồng được sử dụng tại Công ty bao gồm:

    – Hợp đồng thời vụ dưới một năm

    – Hợp đồng có thời hạn từ một đến ba năm

    – Hợp đồng không xác định thời hạn.

    • Điều kiện để ký hợp đồng:

    – Có trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ vững vàng đảm bảo hoàn thành định mức lao động và khối lượng công việc được giao.

    – ý thức tổ chức kỷ luật tốt, không vi phạm các nội quy, qui chế, các qui định của Công ty.

    Có sức khoẻ tốt.

    • Quy trình bổ sung và tiếp nhận lao động trong Công ty:

    – Đối với tổ xây dựng, Công trường: Công ty định biên mỗi tổ xây dựng hiện nay khi đủ công nhân là từ 20 lao động trở lên có mặt thường xuyên (kể cả ban quản lý ,giám sát,công nhân..). Căn cứ vào kế hoạch xây dựng và tình hình trang thiết bị hiện có, thực trạng của tổ nếu thấy thiếu lao động thì các tổ xin bổ sung lao động theo trình tự sau:

    + Tổ trưởng xây dựng, giám sát công trường lập phiếu xin bổ sung lao động, nói rõ lý do, yêu cầu về số lượng lao động, khả năng chuyên môn cần bổ sung.

    + Trường hợp có nguồn lao động các tổ sản xuất chưa đủ định biên lao động thì phòng tổ chức hành chính cân đối và bố trí lao động về công trường, giám sát công trường  sẽ bố trí về các tổ sản xuất.

    – Đối với phòng chuyên môn: Căn cứ vào yêu cầu công việc và tình hình lao động hiện có của đơn vị để lập phiếu xin bổ sung lao động, cần nói rõ lý do, yêu cầu bổ sung về số lượng lao động, chất lượng lao động cũng như thời gian cần bổ sung lao động.

    – Đối với lao động phòng tổ chức hành chính:

    + Nhận phiếu yêu cầu bổ sung của các bộ phận

    + Tổng hợp nhu cầu lao động của các bộ phận

    + Kiểm tra và cân đối nguồn lực lao động trong công ty, cụ thể cần tiến hành các công việc sau:

    • Lập danh sách dự kiến người lao động nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hàng năm ( lập ngay từ đầu năm)
    • Lập danh sách theo dõi lao động nữ thực hiện chế độ thai sản, nghỉ đẻ (06 tháng một lần), nghỉ cho con bú, nghỉ dưỡng thai (định kỳ hàng tháng và thông báo cho các bộ phận có liên quan).
    • Lập danh sách theo dõi nghỉ việc riêng không lương dài hạn (theo quý), ngắn hạn (theo tháng khi kết thúc tháng làm việc)

    + Đề xuất phương án bổ sung, điều động và báo cáo lãnh đạo Công ty quyết định.

    + Sau khi thống nhất, làm thủ tục điều động và ký hợp đồng lao động cho người lao động hoặc cho thực tập tại phân xưởng.

    • Nguyên tắc tuyển dụng

    – Xuất phát từ lợi ích chung của Công ty.

    – Căn cứ vào khối lượng công việc và yêu cầu cụ thể của công việc qua từng giai đoạn, thời kỳ của Công ty.

    – Căn cứ vào phẩm chất và năng lực cá nhân nhân viên.

    Khi một bộ phận nào đó trong Công ty có nhu cầu về nhân lực ở một vị trí nào đó thì trưởng phòng hoặc Giám sát công trường sẽ xem xét, lựa chọn trong số các nhân viên của mình ai có đủ khả năng và phù hợp với công việc thì sẽ báo cáo với phòng tổ chức hành chính và giám đốc Công ty. Trong trường hợp ở bộ phận đó không có ai có thể đảm nhận được vị trí đó thì trưởng phòng hoặc giám sát sẽ gửi phiếu yêu cầu lên phòng tổ chức hành chính, phòng tổ chức hành chính sẽ căn cứ vào phiếu yêu cầu đó để xem xét thực tế nhu cầu có đúng và cần thiết không. Khi xác nhận rằng yêu cầu đó chưa cần thiết phải thay đổi hay không phù hợp hoặc không đúng thì phòng tổ chức hành chính sẽ có giải thích cho bộ phận đó lý do tại sao lại không thể đáp ứng yêu cầu đó. Khi xác định yêu cầu nhân lực đó là cần thiết thì trưởng phòng tổ chức hành chính sẽ báo cáo với Giám đốc Công ty về nhu cầu nhân sự tại bộ phận đó cùng phương án bố trí, sắp xếp nhân sự cho bộ phận đó. Phòng tổ chức hành chính sẽ thông báo với các công trình, bộ phận, phòng ban xem xét những cá nhân có khả năng để lập danh sách ứng cử viên để có thể lựa chọn người phù hợp nhất với vị trí công việc đang yêu cầu.

    • Nhận xét: Từ tất cảc các hoạt động quản trị nhân sự ta đều thấy gắn với mục tiêu làm cho tổ chức có được hệ thống nhân sự đảm bảo chất lượng và số lượng. Qua những thông tin về chính sách hoặch định nhân sự cùng với kế hoạch sản xuất kinh doanh, qua những đánh giá về tình hình thực hiện công việc… Sẽ giúp cho đơn vị đưa ra được kế hoạch tuyển dụng nhân sự, tuyển chọn cụ thể và hợp lý nhất.

    2.Phân tích quá trình tuyển dụng nhân sự tại Công ty:

    2.1.Khái quát quá trình tuyển dụng tại Công ty:

    Các hoạt động tuyển dụng của Công ty chịu tác động của nhiều yếu tố. Bao gồm:

    • Các yêu tố thuộc về tổ chức

    – Uy tín của Công ty.

    Quảng cáo và các mối quan hệ xã hội.

    Các quan hệ với công đoàn, các chính sách nhân sự và bầu

    không khí tâm lý trong tập thể lao động.

    Chi phí.

    • Các yếu tố thuộc về môi trường

    Các điều kiện về thị trường lao động (cung, cầu lao động).

    Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác.

    Các xu hướng kinh tế.

    Thái độ của xã hội đối với một số nghề nhất định.

    Để đạt được thắng lợi, quá trình tuyển mộ cần được tiến hành có kế

    hoạch và mang tính chiến lược rõ ràng.

    2.2.Quy trình tuyển dụng tại Công ty:gồm 9 bước

    • Bước 1: Tiếp đón ban đầu và phỏng vấn sơ bộ

    _ Đây là bước đầu tiên trong quá trình tuyển chọn, là buổi gặp gỡ đầu tiên giữa các nhà tuyển chọn với các ứng viên. Bước này nhằm xác lập mối quan hệ giữa người xin việc và người sử dụng lao động, đồng thời bước này cũng xác định được những cá nhân có những tố chất và những khả năng phù hợp với công việc hay không để từ đó ra những quyết định có tiếp tục mối quan hệ với các ứng viên đó hay không. Quá trình phỏng vấn ở bước này nếu phát hiện được những cá nhân không có khả năng phù hợp với công việc cần tuyển thì loại bỏ ngay, tuy nhiên để đưa ra được quyết định này thi các tiêu chuẩn cần phải đưa ra một cách kỹ lưỡng. _ Bởi vì khi phỏng vấn thì ý chủ quan của người phỏng vấn là có tính chất quyết định nhất do đó các tiêu chuẩn có tính độc đoán thì không nên dùng nó để loại người xin việc. Đặc biệt không dùng ác yếu tố về tuổi, giới, chủng tộc, tôn giáo, đan tộc, và các khuyết tật bẩm sinh để loại bỏ những người nộp hồ sơ xin việc.

    _ Nhũng lý do chính đẻ loại bỏ các ứng viên ở bước đầu tiên là họ chưa đáp ứng được các yêu cầu về giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm cần thiết để thực hiện công việc nhưng không có các kỹ năng như đã thông báo, trái nghề, không đầy đủ các văn bằng chứng chỉ, kết quả phỏng vấn cho thấy quá yếu về nghiệp vụ, nhận thức nghề nghiệp chưa đạt yêu cầu …

    • Bước 2: Sàng lọc qua đơn xin việc

    _ Trong các tổ chức, các ứng viên muốn có việc làm thì đều phải nộp đơn xin việc. Đơn xin việc la nội dung quan trọng trong quá trình tuyển chọn

    _ Đơn xin việc thường được các tổ chức thiết kế theo mẫu, người xin việc có trách nhiệm điền vào đơn xin việc theo yêu cầu mà các nhà sử dụng lao động đề ra. Các mẫu đơn xin việc được thiết kế một cách khoa học hợp lý có thể coi là một công cụ quan trọng để tuyển chọn một cách chính xác người xin việc, vì đơn xin việc giúp cho ta các thông tin đáng tin cậy về các hành vi hoạt động trong quá khứ cũng như các kỹ năng, kinh nghiệm và kiến thức hiện tại, các đặc điểm về tâm lý cá nhân, các kỳ vọng, ước muốn và khả năng đặc biệt khác. Đơn xin việc là cơ sở cho các phương pháp tuyển chọn khác như phương pháp phỏng vấn, đơn xin việc cung cấp tên, nơi làm việc, các hố sơ nhân sự khác.

    _ Khi thiết kế các mẫu đơn xin việc ta nên cân nhắc kỹ lưỡng các thông tin cần phải có , nội dung các thông tin cần thu thập đảm bảo được tính toàn diện, tính chính xác và làm sao cho người xin việc trả lời được đúng các yêu cầu đề ra.

    Ví dụ: Trong đơn xin việc thường bao gồm 4 loại thông tin điển hình

    Các thông tin thiết yếu như họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ nơi ở, hộ khẩu…

    Các thông tin về quá trình học tập, đào tạo, các văn bằng chứng chỉ đã đạt được, trình độ học vấn khác

    Lích sử quá trình làm việc (5 năm hoặc 10 năm) những công việc đã làm, tiền lương và thu nhập, lý do bỏ việc hoặc chưa có việc làm

    Các thông tin về kinh nghiệm đã có, các thói quen sở thích, các đặc điểm tâm lý cá nhân, các vấn đè thuộc công dân và các vấn đề xã hội khác

    _ Ngoài ra các mẫu đơn xin việc còn có các câu hỏi mở, xét mẫu chữ viết …Mẫu đơn xin việc mặc dù có nhiều ưu điểm song cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đơn xin việc là thủ tục khách quan nó không thể thay thế cho việc gặp gỡ trực tiếp giữa người xin việc và người đại diện cho công ty, mặt khác đơn xin việc chỉ hỏi được hạn chế một số vấn đề do vậy nó mất đi tính đa dạng và phong phú của quá trình làm việc, kinh nghiệm của người xin việc, họ không thể lý giải được kỹ lưỡng những vấn đề mà họ đã làm trong quá khứ. Trong đơn, người xin việc chỉ luôn nói tốt về mình, chỉ nói cái lợi cho bản thân họ. Trong đơn xin việc chỉ cho chúng ta thấy hiện trạng theo kiểu mô tả mà nó chưa cho chúng ta biết được “như thé nào” hoặc “tại sao” … thông qua nội dung của mẫu đơn xin việc các nhà tuyển chọn sẽ có chứng cớ của mình để tuyển chọn tiếp các bước sau hay chấm dứt quá trình tuyển chọn.

    • Bước 3: Các trắc nghiệm nhân sự trong tuyển chọn

    _ Để giúp các nhà tuyển chọn nắm được các tố chất tâm lý, những khả năng, kỹ năng và các khả năng đặc biệt khác của các ứng viên khi mà các thông tin về nhân sự khác không cho ta biết được một cách chính xác và đầy đủ. Các trắc nghiệm nhân sự mang lại cho ta những kết quả khách quan về các đặc trưng tâm lý của con người như khả năng bẩm sinh, sở thích, cá tính của cá nhân này so với cá nhân khác . Các trắc nghiệm giúp cho việc tìm hiểu được các đặc trưng đặc biệt trong thực hiện công việc của từng cá nhân, các công việc có tính đặc thù.

    _  Khi dùng phương pháp trắc nghiệm để tuyển chọn ta cũng nên chọn các phương pháp thích hợp thì mới dự đoán được các thành tích thực hiện công việc. Muốn thế thì khi xây dựng các bài trắc nghiệm cần phải có những người am hiểu về công việc hoặc đã nghiên cứu kỹ về công việc nhất là bản mô tả công việc, bản yêu cầu của công việc đói với người thực hiện. Hiện nay trong thực tế có rất nhiều loại trắc nghiệm do đó việc lựa chọn để sử dụng loại trắc nghiệm nào là một vấn đề khó khăn. Để đánh giá các khía cạnh của các ứng viên người ta dùng các bài trắc nghiệm bằng chính công việc mà sau này các ứng viên phải làm, hoặc là bài trắc nghiệm mẫu

    _ Trong trắc nghiệm nhân sự có nhiều loại trắc nghiệm và có nhiều cách trắc nghiệm và có nhiều cách phân loại khác nhau. Người ta có thể phân loại theo nhóm hay cá nhân, dựa vào cơ cấu, hay dựa vào kết quả đánh giá phân loại. Thông thường người ta chia trắc nghiệm nhân sự ra nhiều loại trắc nghiệm sau đây:

    Trắc nghiệm thành tích

    _ Trắc nghiệm về thành tích là loại trắc nghiệm được áp dụng rông rãi trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, thực hiện công việc …, đánh giá xem các cá nhân nắm vững nghề nghiệp, hiểu biết nghề đến mức nào, thành tích họ đạt cao hay thấp như thời gian hoan thành công việc, điểm bài thi, bài kiểm tra … Tuỳ theo từng nghề và từng công việc mà xây dựng các bài trắc nghiệm cho phù hợp

    Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng

    _ Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng được dùng chủ yếu để chỉ ra xem cá nhân nào đã học tốt trong đào tạo, sẽ thực hiện tốt công việc trong tương lai, tiếp thu tốt các kiến thức mới. Loại trắc nghiệm này được nhóm thành 3 loại là khả năng thần kinh, khả năng thuộc bản năng, khả năng vận động tâm lý

    _  Khả năng thần kinh là trắc nghiệm về trí thông minh nó được thể hiện thông qua sự tranh luận bằng lời, sự nói năng lưu loát, tốc độ nhận biết và một số đặc trưng khác

    _ Khả năng bản năng là trắc nghiệm liên quan đến khả năng nhận biết của cá nhân liên quan đến sự nhận biết các mối quan hệ thuộc bản năng

    _ Khả năng vận động tâm lý là trắc nghiệm liên quan đến các kỹ năng cá nhân trong việc thực hiện các hoạt động khác nhau của cơ thể con người như kiểm soát sự chính xác, điều phối các cảm nhận thời gian của các phản ứn, tốc độ các hoạt động của tay, sự khéo léo của tay

    _Trắc nghiệm về năng khiếu và khả năng thường được kết hợp thành một loạt các trắc nghiệm và sau đó được sử dụng để dự đoán các công việc trong tổ chức

             Trắc nghiệm về tính cách và sở thích

    _ Đây là loại trắc nghiệm nhằm phát hiện ra các đắc điểm tâm lý cá nhân người lao động như các loại khí chất, những ước mơ, nguyện vọng của các ứng viên, những ước muốn đề nghị … Trong thực tế có nhiều loại người có khí chất khác nhau như: Khí chất sôi nổi, khí chất linh hoạt, khí chất ưu tư, khí chất điềm tĩnh, tương ứng với các khí chất này sẽ có các thuộc tính tâm lý khác nhau như tốc độ của phản ứng, tính kích thích, tính thăng bằng, tính xúc cảm, tính cứng rắn, tính kiên trì, quá trình hưng phấn hay ức chế. Đây là nhưng tính cách cần thiết cho mỗi công việc, do đó phương pháp trắc nghiệm này sẽ cho chúng ta có thể nắm rõ được trạng thái tâm sinh lý của từng người để sử dụng vào công việc cho hợp lý.

    Trắc nghiệm về tính trung thực

    _ Tính trung thực là rất cần thiểt trong việc sử dụng lao động và trong tất cả các công việc của công tác nhân sự. Người ta thường dùng các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá tính trung thực. Những trắc nghiệm này thường gồm những câu hỏi đề cập đến nhiều khía cạnh như là việc chấp hành kỷ luật lao động khi không có sự giám sát của các nhà quản trị, thái độ của cá nhân đối với các vấn đề ăn cắp, sự tham ô tiền bạc, sự không thật thà trong công việc … Tất cả các trắc nghiệm này giúp ta dự đoán được các hành vi không trung thực trong tương lai của người dự tuyển.

    Trắc nghiệm y học

    _ Trong một số trường hợp đặc biệt để đánh giá các phẩm chất sinh lý của các ứng viên chúng ta có thể dùng các trắc nghiệm y học để phát hiện các bệnh xã hội như HIV … Hiện nay các trắc nghiệm này thường sử dụng phân tích mẫu nước tiểu, phân tích mẫu máu.

    • Bước 4: Phỏng vấn tuyển chọn:

    _ Phỏng vấn tuyển chọn là quá trình giao tiếp bằng lời (thông qua các câu hỏi và các câu trả lời) giữa những người tuyển chọn và người xin việc, đay là một trong những phương pháp thu nhập thông tin cho việc ra quyết định tuyển chọn. Phương pháp phỏng vấn trong quá trình tuyển chpnjgiúp ta khắc phục được nhược điểm mà quá trình nghiên cứu đơn xin việc không nắm được, hoặc các văn bằng chứng chỉ không nêu hết được

    Mục tiêu của các cuộc phỏng vấn trong tuyển chọn

    Để thu thập thông tin về người xin việc . Bởi vì các thông tin thu thập được từ các công cụ tuyển chọn khác có thể chưa đủ, chưa rõ ràng, quá trình phỏng vấn tạo cơ hội cho thông tin được rõ ràng hơn, được giải thích cặn kỹ hơn

    –  Đề cao công ty – Qua phỏng ván giúp cho các nhà tuyển chọn giới thiệu về công ty của mình, làm cho người xin việc hiểu rõ về những mặt mạnh, ưu thế của công ty. Đây là hình thức quảng cáo tốt nhất.

    – Để cung cấp các thông tin về tổ chức cho người xin việc trong khi phỏng vấn nên giải thích cho các ứng viên biết rõ về tình hình công ty như mục tiêu của công ty, cơ cấu bộ mát quản lý, các chính sách về nhân sự, các cơ hội thăng tiến, việc làm…

    Thiết lập quan hệ bạn bè, tăng cường khả năng giao tiếp

    Các loại phỏng vấn. Hiện nay người ta thường áp dụng nhiều loại phỏng vấn để thu thập thông tin

    • Phỏng vấn theo mẫu

    Phỏng vấn theo mẫu là hình thức phỏng vấn mà các câu hỏi được thiết kế sẵn từ trước theo yêu cầu của công việc, phỏng vấn theo mẫu là hình thức các câu hỏi được chuẩn bị kỹ để người đi phỏng vấn hỏi và các câu trả lời của người xin việc. Quá trình phỏng vấn: Người phỏng vấn đọc to các câu hỏi và các câu trả lời để người xin việc lựa chọn và xác định câu trả lời đúng nhất của mình

    Phỏng vấn theo mẫu có ưu điểm là xác định được các nội dung chủ yếu các thông tin cần nắm nhưng nhược điểm của nó là tính phong phú của thông tin bị hạn chế. Khi người hỏi cần biết thêm chi tiết hoặc người trả lời muốn hỏi thêm đều bị giới hạn do vậy phỏng vấn theo mẫu giống như các cuộc nói truyện với máy ghi âm hay trả lời theo phiếu hỏi

    • Phỏng vấn theo tình huống:

    _Là quá trình người hỏi yêu cầu các ứng viên phải trả lời về ứng xử hay cách thực hiện, xử lý các công việc theo các tình huống giả định hoặc các tình huống có thật trên thực tế mà những người phỏng vấn đặt ra

    _Đối với phương pháp này thì vấn đề quan trọng là đưa ra được các tình huống đại diện và điển hình, các tình huống này phải dựa trên cơ sở phân tích công việc một cách chi tiết để xác định các đặc trưng cơ bản và các kỹ năng chủ yếu khi thực hiện công việc

    • Phỏng vấn theo mục tiêu:

    _Phỏng vấn theo loại này là cuộc phỏng vấn dựa vào công việc cụ thể mà yêu cầu các ứng viên phải trả lời theo những mục tiêu xác định từ trước. Các câu hỏi cũng dựa vào sự phân tích công việc một cách kỹ lưỡng để xác định các mục tiêu cho vị trí làm việc. Phương pháp phỏng vấn theo mục tiêu là phương pháp cho ta độ tin cậy cao và đúng dắn nhất

    • Phỏng vấn không có hướng dẫn:

    _Phỏng vấn không có hướng dẫn là cuộc phỏng vấn mà người đi phỏng vấn không chuẩn bị trước nội dung các câu hỏi, mà để cho các ứng viên trao đổi một cách thoải mái xung quanh công việc, người hỏi chỉ có định hướng cho cuộc thảo luận

    _Hình thức phỏng vấn này giúp cho việc thu thập thông tin đa dạng, và ở nhiều lĩnh vực, xong muốn cho đạt hiệu quả cao thì cần phải chú ý môt số vấn đề sau đây:

    – Người đi phỏng vấn phải là người nắm chắc và hiểu công việc của các vị trí cần tuyển người một cách chi tiết

    – Người đi phỏng vấn phải là người nắm chắc kỹ thuật phỏng vấn

    Quá trình phỏng vấn nên chú ý nghe, không được cắt ngang câu trả lời, không thay đổi chủ đè một cách đột ngột, không đi vào lĩnh vực quá xa vời của công việc cần tuyển

    • Phỏng vấn căng thẳng:

    _Phỏng vấn căng thẳng là hình thức phỏng vấn mà trong đó người phỏng vấn đưa ra các câu hỏi có tính chất nặng nề, mang nhiều nét của sự cật vấn, hoặc cường độ hỏi dồn dập, cách phỏng vấn này mong tìm kiếm ở các ứng viên lòng vị tha, sự ứng xử công việc trong thời gian eo hẹp, Nó giúp chúng tìm ra được những người bố trí vào những công việc căng thẳng

    • Phỏng vấn theo nhóm:

    _Phỏng vấn theo nhóm là hình thức phỏng vấn mà một người hỏi cùng lúc đối với nhiều người. Loại phỏng vấn này giúp ta có thể thu thập được nhiều thông tin hay tránh được các thông tin trùng lặp mà các ứng viên đều có, ma không cần hỏi riêng từng người một

    • Phỏng vấn hội đồng:

    _Là hình thức phỏng vấn của nhiều người đối với một ứng viên. Loại phỏng vấn này thích hợp trong trường hợp bố trí các ứng viên vào các vị trí quan trọng mà cần nhiều người tán đồng. Nó tránh được tính chủ quan khi chỉ có một người phỏng vấn và nó tạo ra tính linh hoạt và khả năng phản ứng đồng thời của các ứng viên

    • Bước 5: Khám sức khỏe và đánh giá thể lực của các ứng viên

    _ Để đảm bảo cho các ứng viên có sức làm việc lâu dài trong các tổ chức và tránh được những đòi hỏi không chính đáng của những người được tuyển về đảm bảo sức khỏe thì bước quan trọng tiếp theo là tiến hành khám sức khỏe và đánh giá thể lực của các ứng viên . Bước này do các chuyên gia y tế đảm nhận, phòng nguồn nhân lực cung cấp các tiêu chuẩn về thể lực cho các vị trí làm việc để các chuyên gia y tế dựa váo đó để tuyển chọn. Bước này cần phải được xem xét và đánh giá một cách khách quan, tránh hình thức, qua loa

    • Bước 6: Phỏng vấn bởi người lãnh đạo trực tiếp

    _ Để đảm bảo sự thống nhất từ hội đồng tuyển chọn đén người phụ trách trực tiếp và sử dụng lao động thì cần phải có sự phỏng vấn trực tiếp của người phụ trách để có được đánh giá cụ thể hơn về các ứng viên, đây là một bước nhằm xác định vai trò của các cấp cơ sở. Nó giúp ta khắc phục được sự không đồng nhất giữa bộ phận tuyển chọn và nơi sử dụng lao động

    • Bước 7: Thẩm tra các thông tin thu được trong quá trình tuyển chọn

    _ Để xác định độ tin cậy của các thông tin thu được qua các bước tuyển chọn ta phải thực hiện bước thẩm tra lại xem mức độ chính xác của các thông tin. Có nhiều cách để thẩm tra các thông tin như trao đổi với các tổ chức cũ mà người lao động đã làm việc, đã khai trong đơn xin việc, hoặc là nơi đã cấp các văn băng chứng chỉ… Các thông tin thẩm tra lại là những căn cứ chính xác để các nhà tuyển dụng ra quyết định cuối cùng

    • Bước 8: Tham quan công việc

    _Những người xin việc luôn có kỳ vọng về sự thỏa mán do đó nếu ta tạo ra sự thất vọng đối với công việc do không có đầy đủ các thông tin thì sẽ gây rất nhiều bất lợi cho người mới đến nhận công việc. Do đó để tạo điều kiện cho những người xin việc đưa ra quyết đinh cuối cùng về việc làm thì tổ chức có thể cho những ứng viên tham quan hoặc nghe giải thích đầy đủ về các công việc mà sau khi tuyenr dụng họ sẽ phải làm. Điều này giúp cho người lao dộng biết được 1 cách khá chi tiết về công việc như: mức độ phức tạp của công việc, tình hình thu nhập … Qua đó người tham gia dự tuyển sẽ nắm được những gì họ phải thực hiện trong tương lai đẻ khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp những điều không phù hợp với suy nghĩ của họ

    • Bước 9: Ra quyết định tuyển chọn (tuyển dụng):

    ­_ Sau khi đã thực hiện đầy đủ các bước trên đây và các thông tin  tuyển dụng đã đảm bảo theo đúng yêu cầu tuyển chọn đề ra thì hội đồng tuyển chọn sẽ ra quyết định tuyển dụng đối với người xin việc. Cơ sở của việc ra quyết định này là dựa vào phương pháp đánh giá chủ quan theo thủ tục loại trừ dần và theo kết quả đánh giá của phỏng vấn và trắc nghiệm. Khi đã có quyết định tuyển dụng thì người sử dụng lao động và người lao động cần tiến hành ký kết hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động. Những cơ sở pháp lý của hợp đồng lao động là Bộ luật lao động mà nhà nước ban hành. Trong hợp đồng lao động nên chú ý một số điều khoản sau đây: thời gian thử việc, tiền công, thời gian làm thêm…

    2.3. Phân tích quá trình tuyển dụng nhân sự tại Công ty:

    Hiện tại Công ty đang áp dụng quy trình dưới đây để tuyển dụng nhân sự cho Công ty:

    STT Các bước Nội dung
    1 Lập kế hoạch

     

    tuyển dụng

    Doanh nghiệp cần xác định: số lượng nhân viên cần tuyển,

     

    các vị trí cần tuyển và các tiêu chuẩn đặt ra đối với ứng viên

    2 Xác định phương

     

    pháp và các

    nguồn tuyển dụng

    Doanh nghiệp cần xác định vị trí nào nên tuyển người ở

     

    trong, và vị trí nào nên tuyển người ở ngoài doanh nghiệp.

    Các hình thức tuyển dụng sẽ được áp dụng là gì

    3 Xác định địa điểm,

     

    thời gian tuyển

    dụng

    Doanh nghiệp cần xác định được những địa điểm cung cấp

     

    nguồn lao động thích hợp cho mình. Chẳng hạn lao động

    phổ thông, tập trung ở các vùng nông thông, còn lao động

    đòi hỏi tay nghề, chuyên môn sẽ tập trung trong các trường

    đại học, dạy nghề… Doanh nghiệp cũng phải lên được thời

    gian tuyển dụng dài hạn, ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu

    4 Tìm kiếm, lựa

     

    chọn ứng viên

    Dùng nhiều hình thức đa dạng để thu hút các ứng viên, đặc

     

    biệt là phải xây dựng được hình ảnh tốt đẹp, và đúng với

    thực tế của doanh nghiệp. Tổ chức các vòng tuyển chọn và

    các buổi gặp gỡ, phỏng vấn cởi mở với các ứng viên. Công

    việc này liên quan trực itếto tới cán bộ tuyển dụng, vì vậy

    cán bộ tuyển dụng đòi hỏi phải là người có chuyên môn tốt

    5 Đánh giá quá trình tuyển dụng Doanh nghiệp cần phải đánh giá xem quá trình tuyển dụng

     

    có gì sai sót không và kết quả tuyển dụng có đáp ứng được

    nhu cầu nhân sự của doanh nghiệp hay không. Phải xem

    xét các chi phí cho quá trình tuyển dụng, tiêu chuẩn,

    phương pháp và các nguồn tuyển dụng…có hợp lý không.

    6 Hướng dẫn nhân

     

    viên mới hòa

    nhập

    Để giúp nhân viên mới nhanh chóng nắm bắt được công

     

    việc, hòa nhập với môi trường của doanh nghiệp, bạn cần

    áp dụng những chương trình đào tạo, huấn luyện đối với

    nhân viên mới.

    • Xây dựng chiến lược tuyển dụng nhân sự:

     

    Tuyển dụng nhân sự là chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực. Phòng nguồn nhân lực có chức năng quảng cáo và thông báo tuyển người, sàng lọc người xin việc. Phòng nguồn nhân lực là cơ quan tham mưu cho các cấp lãnh do trong tổ chức (Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Giám đốc công ty,Tổng công ty . . . ) về việc hoạch định các chính sách tuyển dụng nhân sự như:

    Xác định nhu cầu tuyển dụng nhân sự xác định địa chỉ tuyển dụng nhân sự, kinh phí tuyển dụng nhân sự, các mục tiêu tuyển dụng nhân sự cụ thể. Phòng nhân lực chịu trách nhiệm hầu hết các hoạt động tuyển dụng nhân sự của tổ chức, khuyến nghị các chính sách lên các cấp lãnh đạo và quản lý các cấp về xây dựng chiến lược và các quy trình quảng cáo tìm người xin việc, thu thập các thông tin từ người xin việc, lựa chọn và sàng lọc các thông tin này, để đưa ra được những người có đủ các phẩm chất đáp ứng được các yêu cầu do công việc đòi hỏi, để có khả năng được lựa chọn. Phòng nhân lực cũng chịu trách nhiệm việc đánh giá quá trình tuyển dụng nhân sự, nghiên cứu để đưa ra được những qui trình tuyển dụng nhân sự có hiệu quả nhất.

    Các “Bản mô tả công việc” và “Bản xác định yêu cầu của công việc đối với người thực hiện” có vai trò rất quan trọng trong quá trình tuyển dụng nhân sự. Phòng Nhân lực phải lấy “Bản mô tả công việc” và “Bản yêu cầu công việc với người thực hiện” làm căn cứ để quảng cáo, thông báo tuyển dụng nhân sự, để xác định các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết mà người xin việc cần phải có nếu như họ muốn làm việc tại các vị trí cần tuyển dụng nhân sự. “Bản xác định yêu cầu của công việc đối với người thực hiện” giúp cho những người xin việc quyết định xem họ có nên nộp đơn hay không.

    • Nội dung của chiến lược tuyển dụng nhân sự bao gồm:

    a, Lập kê hoạch tuyển dụng nhân sự

     

    Trong hoạt động tuyển dụng nhân sự, một tổ chức cần xác định xem cần tuyển dụng nhân sự bao nhiêu người cho từng vị trí cần tuyển. Do có một số người nộp đơn không đủ điều kiện hoặc một số người khác không chấp nhận các điều kiện về công việc nên tổ chức cần tuyển dụng nhân sự , số người nộp đơn nhiều hơn số người họ cần thuê mướn. Các tỷ lệ sàng lọc giúp cho các tổ chức quyết định được bao nhiêu người cần tuyển dụng nhân sự cho từng vị trí cần tuyển. Các tỷ lệ sang lọc thể hiện mối quan hệ về số lượng các ứng viên còn lại ở từng bước trong quá trình tuyển chọn và số người sẽ được chấp nhận vào bước tiếp theo.

    Trong kế hoạch tuyển dụng nhân sự, chúng ta phải xác định được các tỷ lệ sàng lọc chính xác và hợp lý.

    Tỷ lệ sàng lọc có ảnh hưởng tới chi phí tài chính, tâm lý của người dự 1 tuyển và kỳ vọng của người xin việc. Tỷ lệ sàng lọc ở các tổ chức của nước ta hiện nay được xấp định tuỳ theo ý định chủ quan của người lãnh đạo mà chưa có những căn cứ xác đáng trên cơ sở khoa học. Các tỷ lệ sàng lọc phần lớn do tính đặc thù của công việc, tâm lý xã hội của người xin việc quyết định trong đó yếu tố thu nhập có ý nghĩa quan trọng nhất. Do đó khi xác định tỷ lệ sàng lọc ta cần phải căn cứ vào các yếu tố như:

    Căn cứ vào thị trường lao động (cung – cầu lao động);

    Căn cứ vào chất lượng của nguồn lao động;

    Căn cứ vào mức độ phức tạp của công việc;

    Căn cứ tâm lý chọn nghề của tập thể người lao động;

    Kinh nghiệm của tổ chức trong công tác tuyển dụng nhân sự

    • Chúng ta có thể tham khảo ví dụ sau:

    Tỷ lệ sàng lọc ở Công ty Da giày X:

    Tỷ lệ giữa số người được phỏng vấn và số người được mời đến ở vòng tiếp theo là 6/1 .

    Tỷ lệ số người được mời đến và số người được đề xuất tuyển là 5/1.

    Tỷ lệ giữa số người được đề xuất và số người được chấp nhận là

    Như vậy tỷ lệ chung cho cả quá trình tuyển dụng nhân sự là 60/1, điều này có nghĩa là cứ 60 người được mời đến phỏng vấn thì có 1 người được chấp nhận vào làm việc.

    Khi lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự cần phải chú ý tới cơ hội có việc làm công bằng cho người lao động, không nên có các biểu hiện thiên vị, định kiến khi tuyển . Khi đã xác định được số lượng người cụ thể cần tuyển dụng nhân sự thì vấn đề còn lại là phải xác định được các nguồn tuyển dụng nhân sự, thời gian và phương pháp tuyển dụng nhân sự

    b, Xác định nguồn và phương pháp tuyển dụng nhân sự

     

    Để tuyển dụng nhân sự được đủ số lượng và chất lượng người lao động vào các vị

    trí việc làm còn thiếu người, tổ chức cần cân nhắc, lựa chọn xem ở vị trí công việc nào nên lấy người từ bên trong tổ chức và vị trí nào nên lấy người từ bên ngoài tổ chức và đi kèm với nó là phương pháp tuyển phù hợp. Tuyển dụng nhân sự từ bên ngoài hay đề bạt người lao động từ vị trí công việc thấp hơn lên vị trí công việc cao hơn là một vấn đề phải xem xét kỹ vì các lýdo sau:

    Nguồn nhân lực bên trong tổ chức, bao gồm những người đang làm việc cho tổ chức đó.

    Đối với những người đang làm việc trong tổ chức, khi ta tuyển dụng nhân sự những người này vào làm tại các vị trí cao hơn vị trí mà họ đang đảm nhận là ta đã tạo ra được động cơ tết cho tất cả những người làm việc trong tổ chức.

    Vì khi họ biết sẽ có cơ hội được đề bạt họ sẽ làm việc với động lực mới và họ sẽ thúc đẩy quá trình làm việc tết hơn, sẽ làm tăng sự thoả mãn đối với công việc, sẽ tăng được tình cảm, sự trung thành của mọi người đối với tổ chức.

    • Ưu điểm của nguồn này là:

    Đây là những người đã quen với công việc trong tổ chức, họ đã qua thử            thách về lòng trung thành. Cái được lớn nhất khi đề bạt nguồn này là tiết kiệm được thời gian làm quen với công việc, quá trình thực hiện công việc diễn ra liên tục không bị gián đoạn, hạn chế được một cách tối đa ra các quyết định sai trong đề bạt và thuyên chuyển lao động.

     

     

    • Nhược điểm của nguồn này là:

    Khi đề bạt những người đang làm việc trong tổ chức chúng ta phải đề phòng sự hình thành nhóm “ứng cử viên không thành công”

    (đây là những người không được bổ nhiệm) nhóm này thường có biểu hiện như không phục lãnh đạo, không hợp tác với lãnh đạo v.v.

    Những nhược điểm này thường tạo ra những xung đột về tâm lý như chia bè phái, gây mâu thuẫn nội bộ.

    – Đối với các tổ chức có quy mô vừa và nhỏ, nếu chúng ta chỉ sử dụng nguồn trong nội bộ thì sẽ không thay đổi được chất lượng laođộng.

    Khi xây dựng chính sách đề bạt trong tổ chức cần phải có một chương trình phát triển lâu dài với cách nhìn tổng quát hơn, toàn diện hơn và phải có quy hoạch rõ ràng.

    Đối với nguồn tuyển dụng nhân sự từ bên ngoài tổ chức, đây là những người mới đến xin việc, những người này bao gồm:Những sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề (Bao gồm cả những người được đào tạo trong nước và ở nước ngoài); Những người đang trong thời gian thất nghiệp, bỏ việc cũ;

    Những người đang làm việc tại các tổ chức khác.

    • ưu điểm của nguồn này là:

     Đây là những người được trang bị những kiến thức tiên tiến và có hệ thống;

    Những người này thường có cách nhìn mới đối với tổ chức;

     Họ có khả năng làm thay đổi cách làm cũ của tổ chức mà không sợ những người trong tổ chức phản ứng;

    • Nhược điểm của nguồn này là:

    Tuyển người ở ngoài tổ chức chúng ta sẽ phải mất thời gian để  hướng dẫn họ làm quen voi công việc.

     Nếu chúng ta thường xuyên tuyển người ở bên ngoài tổ chức (nhất là trong việc đề bạt, thăng chức) thì sẽ gây tâm lý thất vọng cho những người trong tổ chức vì họ nghĩ rằng họ sẽ không có cơ hội được thăng tiến, và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp khi thực hiện các mục tiêu của tổ chức.

    Nếu chúng ta tuyển mộ những người đã làm việc ở các đối thủ cạnh tranh thì phải chú ý tới các điều bí mật của đối thủ cạnh tranh, nếu không họ sẽ kiện. Vì xưa nay còn tồn tại ý kiến cho rằng người lao động khi chạy sang với chủ mới thường hay lộ bí mật về cácthông tin kinh doanh của họ.

    Khi tuyển nguồn từ bên ngoài tổ chức chúng ta cần chú ý tới một số rủi ro có thể xảy ra bởi vì những kỹ năng của các ứng viên này mới chỉ dừng ở dạng tiềm năng nó chưa được thể hiện trực tiếp ra bên ngoài do đó người được tuyển mộ sẽ không đáp ứng được ngay cho công việc.

    Phòng Nguồn nhân lực cũng cần quyết định xem sẽ sử dựng những phương pháp nào để có thể tìm được những người nộp đơn xin việc. Các trung tâm giới thiệu việc làm, các áp phích, quảng cáo trên báo chí là những phương pháp hay được sử dụng nhất để thu hút người xin việc.

    c Xác định nơi tuyển dụng nhân sự và thời gian tuyển dụng nhân sự

    Các tổ chức cần phải lựa chọn các vùng để tuyển dụng nhân sự, vì đây là những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình tuyển. ở nước ta hiện nay thị trường lao động nông nghiệp là nơi tập trung chủ yếu lao động có chất lượng rất thấp, do vậy khi tuyển dụng nhân sự lao động phổ thông với số lượng lớn thì ta chú ý vào thị trường này. Đối với các loại lao động cần chất lượng cao thì chúng ta tập trung vào các địa chỉ sau:

    Thị trường lao động đô thị nơi tập trung hầu hết các loại lao động có chất lượng cao của tất cả các ngành nghề như kỹ thuật, kinh tế quản lý và nhất là các nghề đặc biệt.

    Các trường đại học, cao đẳng, trung học, dạy nghề.

    Các trung tâm công nghiệp và dịch vụ, các khu chế xuất và có vốn đầu tư nước ngoài.

    Khi xác định các địa chỉ tuyển dụng nhân sự chúng ta cần phải chú ý tới một số vấn đề sau đây:

         Các tổ chức cần xác định rõ thị trường lao động quan trọng nhất của mình, mà ở đó có nhiều đối tượng thích hợp nhất cho công việc trong tương lai.

    Phân tích lực lượng lao động hiện có để từ đó xác định nguồn gốc của những người lao động tết nhất. Ví dụ, cùng đào tạo trong khối ngành kinh tế, nhưng sẽ có một số trường đại học cho ta những sinh viên thích ứng được với mọi công việc và luôn đạt được hiệu

    quả cao.

    Nhưng nếu ta lạm dụng quá nhiều vào một nguồn cụ thể khi tuyển dụng nhân sự thì sẽ làm tăng khả năng phân biệt đối xử, làm mất đi tính đa dạng, phong phú của nguồn tuyển dụng nhân sự.

    Khi các địa chỉ tuyển dụng nhân sự đã được khẳng định thì vấn đề tiếp theo của các tổ chức là xác định thời gian và thời điểm tuyển dụng nhân sự. Để xác định thời gian và thời điểm trong chiến lược tuyển dụng nhân sự ta cần lập kế hoạch cho thời gian trước mắt và lâu dài (< 1 năm, 3 năm, 5 năm). Kế hoạch thời gian tuyển mộ phải căn cứ vào mục tiêu của các tổ chức đã xây dựng tương ứng (qui mô kinh doanh, tốc độ tăng trưởng, tính chất công nghệ).

     

    • Tìm kiêm người xin việc

    Khi đã xây dựng xong chiến lược tuyển dụng nhân sự và đã lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự  thì các hoạt động tuyển dụng nhân sự được tiến hành. Quá trình tìm kiếm người xin việc có vị trí quan trọng, nó được quyết định bởi các phương pháp thu hút người xin việc.. ở nước ta hiện nay có nhiều phương pháp thu hút người xin việc, các phương pháp này phụ thuộc vào các nguồn tuyển dụng nhân sự mà tổ chức dự định sẽ thu hút.

    Trong quá trình tuyển dụng nhân sự các tổ chức sẽ gặp khó khăn khi thu hút những người lao động có trình độ cao trong những thị trường cạnh tranh gay gắt. Trong các điều kiện như thế thì các tổ chức phải đưa ra được các hình thức kích thích hấp dẫn để tuyển được những người phù hợp với yêu cầu của công việc với mục tiêu là tuyển được người tài và đảm bảo họ sẽ làm việc lâu dài trong tổ chức.

    Hình thức gây sự chú ý đầu tiên đối với người lao động là hình ảnh về tổ chức. Để có một ấn tượng mạnh về tổ chức ta nên truyền tải các hình ảnh đẹp có lợi cho tổ chức và phải vẽ ra được những viễn cảnh tương lai của tổ chức. Tuy vậy, khi giải quyết vấn đề này các nhà tuyển dụng nhân sự thường có tâm lý sợ rằng nếu nói sự thật thì các ứng viên sẽ không nộp đơn còn quá tô hồng sẽ gây những cú sốc cho những người được nhận vào làm việc, sẽ làm cho họ vỡ mộng, thiếu tin tưởng và các cảm giác khác khi chưa được chuẩn bị kỹ về trạng thái tâm lý. Kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy rằng:

    Khi người lao động được cung cấp các thông tin đúng với thực tế của công việc thì số người nộp đơn xin việc không giảm và tỷ lệ người bỏ việc giảm rõ rệt so với việc cung cấp thông tin tô hồng.

    Khi các tổ chức cung cấp cho người xin việc các thông tin trung thực thì sẽ ngăn chặn được các cú sốc do kỳ vọng của người lao động tạo nên bởi họ đã nắm được các thông tin chính xác tại nơi làm việc nên họ sẵn sàng đón nhận các tình huống được coi là xấu nhất.

    Trong chiến lược thu hút nguồn nhân lực của mình các tổ chức cần phải cân nhắc các hình thức kích thích để đưa ra khi công bố trên các phương tiện quảng cáo. Trong thực tế những người nộp đơn xin việc thường bị thu hút bởi mức lương và mức tiền thưởng cao. Đây là hình thức hấp dẫn nhất, còn trong trường hợp những người này từ chối tiền lương cao thì tổ chức phải xem xét đưa ra các hình thức thích hợp nhất.

    Vấn đề tiếp theo là xác định các cán bộ tuyển mộ có hiệu quả bởi vì năng lực của người tuyển dụng nhân sự có tính chất quyết định nhất đến chất lượng của tuyển dụng nhân sự Trong quá trình tuyển dụng nhân sự những nhân viên và các cán bộ tuyển dụng nhân sự là người đại diện duy nhất cho tổ chức, vì vậy những người xin việc coi những người này là hình mẫu của họ, do đó cán bộ tuyển mộ cần như đảm bảo các yêu cầu sau: xin việc, các phương pháp này phụ thuộc vào các nguồn tuyển mộ mà tổ chức dự định sẽ thu hút.

    Trong quá trình tuyển dụng nhân sự các tổ chức sẽ gặp khó khăn khi thu hút những người lao động có trình độ cao trong những thị trường cạnh tranh gay gắt. Trong các điều kiện như thế thì các tổ chức phải đưa ra được các hình thức kích thích hấp dẫn để tuyển được những người phù hợp với yêu cầu của công việc với mục tiêu là tuyển được người tài và đảm bảo họ sẽ làm việc lâu dài trong tổ chức.

    Hình thức gây sự chú ý đầu tiên đối với người lao động là hình ảnh về tổ chức. Để có một ấn tượng mạnh về tổ chức ta nên truyền tải các hình ảnh đẹp có lợi cho tổ chức và phải vẽ ra được những viễn cảnh tương lai của tổ chức. Tuy vậy, khi giải quyết vấn đề này các nhà tuyển mộ thường có tâm lý sợ rằng nếu nói sự thật thì các ứng viên sẽ không nộp đơn còn quá tô hồng sẽ gây những cú sốc cho những người được nhận vào làm việc, sẽ làm cho họ vỡ mộng, thiếu tin tưởng và các cảm giác khác khi chưa được chuẩn bị kỹ về trạng thái tâm lý. Kinh nghiệm thực tế đã cho chúng ta thấy rằng:

    Khi người lao động được cung cấp các thông tin đúng với thực tế của công việc thì số người nộp đơn xin việc không giảm và tỷ lệ người bỏ việc giảm rõ rệt so với việc cung cấp thông tin tô hồng.

    Khi các tổ chức cung cấp cho người xin việc các thông tin trung thực thì sẽ ngăn chặn được các cú sốc do kỳ vọng của người lao động tạo nên bởi họ đã nắm được các thông tin chính xác tại nơi làm việc nên họ sẵn sàng đón nhận các tình huống được coi là xấu nhất.

    Trong chiến lược thu hút nguồn nhân lực của mình các tổ chức cần phải cân nhắc các hình thức kích thích để đưa ra khi công bố trên các phương tiện quảng cáo. Trong thực tế những người nộp đơn xin việc thường bị thu hút bởi mức lương và mức tiền thưởng cao. Đây là hình thức hấp dẫn nhất, còn trong trường hợp những người này từ chối tiền lương cao thì tổ chức phải xem xét đưa ra các hình thức thích hợp nhất.

    Vấn đề tiếp theo là xác định các cán bộ tuyển dụng nhân sự có hiệu quả bởi vì năng lực của người tuyển dụng nhân sự có tính chất quyết định nhất đến chất lượng của tuyển dụng nhân sự. Trong quá trình tuyển dụng nhân sự những nhân viên và các cán bộ tuyển dụng nhân sự là người đại diện duy nhất cho tổ chức, vì vậy những người xin việc coi những người này là hình mẫu của họ

     

    3. Đánh giá thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty trong thời gian qua:

              3.1. Ưu điểm:

    Công tác tuyển chọn nhân sự đã thực sự là điểm mạnh của Ccông ty trong những năm hoạt động vừa qua. Công ty đã có một qui trình tuyển chọn nhân viên bài bản, khoa học và chặt chẽ; giúp cho công ty luôn chọn lọc các nhân viên có trình độ cao, phù hợp với yêu cầu của công việc và nhờ quá trình tuyển dụng tốt mà trong những năm qua, lúc nào nguồn nhân lực trong công ty cũng đảm bảo nhờ đó mà mọi công việc của Công ty không bị gián đoạn và đem lại hiệu quả cao trong công việc, cho các dự án lớn

    Xác định nhu cầu tuyển chọn, Công ty luôn căn cứ vào bản mô tả chi tiết công việc, xác định những công việc thừa người, thiếu người, thông qua trưởng bộ phận để xác định về số lượng , tiêu chuẩn cần tuyển … do vậy luôn có những tác động nhanh chóng, kịp thời với thực tế, đảm bảo mọi công việc của công ty được thông suốt.

    Để giúp cho công tác tuyển dụng tuyển chọn được những nhân viên tốt nhất, phù hợp với công việc nhất, ngay từ khi tiép nhận và nghiên cứu hồ sơ, công ty đã tiến hành một cách khoa học, có trình tự để có thể loại đi những hồ sơ không đúng yêu cầu, loại những hồ sơ còn thiếu kinh nghiệm, thiếu thủ tục và nhập nhằng khó hiểu. Công tác tuyển dụng của công ty đã được giao toàn bộ cho bộ phận Tổ chức – Hành chính đảm đương cho thấy sự chú trọng đến công tác này của công ty.

    Để có được những nhân viên đầy đủ năng lực, đạo đức nhất, phù hợp với yêu cầu công việc công ty đã lựa chọn phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Để quá trình này diễn ra có khoa học, có quy củ công ty đã lập ra Hội đồng phỏng vấn bao gồm  những người có thẩm quyền lớn bao gồm như Giám đốc công ty, trưởng bộ phận đề nghị tăng nhân sự, trưởng bộ phận Tổ chức – Hành chính (tuỳ từng chức vụ mà có Hội đồng phỏng vấn khác nhau). Và tién hành phỏng vấn một cách chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng thông qua quá trình phỏng vấn có quy mô; tiến hành phỏng vấn sơ bộ rồi phỏng vấn chuyên môn trước khi phỏng vấn về đạo đức, tác phong của nhân viên đề tập hợp, đánh giá và có thể ra quyết định lựa chọn một cách chính xác nhất.

    Hội đồng phỏng vấn tiến hành chấm điểm cho từng cử chỉ, tác phong , từng cách ứng sử trong mỗi vòng phỏng vấn để có thể nhận được những thông tin chi tiết, chính xác nhất về ứng viên giúp cho việc lựa chọn có nhiều cơ sở hơn.

    Ngoài ra trong công tác đánh giá và thử việc, công ty đã thực hiện tương đối tốt việc đánh giá ứng viên công ty đã căn cứ vào phiếu điểm được chấm cho mỗi ứng viên để lựa chọn được những ứng viên tốt nhát cho bước đầu tuyển chọn ứng viên làm nhân viên.

       3.2. Nhược điểm:

    Khi đăng thông tin tuyển dụng,Công ty mới chỉ dừng lại ở báo chí và các Công ty giới thiệu việc làm chưa đăng tin thông báo lên đài, ti vi do vậy nguồn ứng viên đến nộp đơn tuyển chọn cũn bị hạn chế.

    Công ty chưa quan tâm nhiều đến một số nguồn như nhân viên cũ hay nhân viên tại các trường đại học, cao đẳng do vậy nguồn tuyển chọn cũn bị hạn chế

    Trong công tác tuyển chọn công ty chưa áp dụng công tác trắc nghiệm vào làm cho hiệu quả của tuyển chọn chưa được cao.

    Công ty còn có điểm hạn chế khi chưa quan tâm đúng mức tới nhân viên thử việc, thường những người được bố trí kèm , chỉ bảo nhân viên mới lại rất bận với công việc nên chưa nhiệt tình chỉ bảo cho họ dẫn đến tình trạng hay làm hỏng việc của các nhân viên mới dẫn đến tình trạng chán nản và không thực hiện tốt công việc mà công ty giao cho

    4.Đánh giá hiệu quả hoạt dộng tuyển dụng tại công ty:

    • Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động:

     

    • Số người nộp đơn xin việc(càng cao càng tốt)
    • Số người được tuyển dụng trên tổng số người nộp đơn xin việc
    • Năng suất lao động chung của công ty, sau khi tuyển dụng
    • Số người thành đạt sau 5 năm tuyển dung (càng cao càng tốt)
    • Chi phí tuyển dụng trên 1 đầu người (càng thấp càng tốt)
    • Thời gian tuyển dụng (càng rút ngắn càng tốt)
    • Số lượng và chất lượng của hồ sơ xin tuyển dụng
    • Tỷ lệ giữa nhân viên dược tuyển với số lượng dự định tuyển dụng
    • Kết quả thực hiện công việc của nhân viên mới
    • Số lượng nhân viên mới bỏ việc
    • Số lần tổ chức tuyển dụng trong năm của công ty
    • Chi phí tuyển dụng cho 1 lần tổ chức
    • Ý kiến của nhân viên về tổ chức tuyển dụng của công ty
    • Thời gian tuyển dụng
    • Số lượng ứng viên chấp nhận và từ chối nhận công việc ở mức lương nhất định

     

    • Trong quá trình tuyển dụng có 4 khả năng có thể xảy ra cho mỗi ứng viên:

     

    Năng lực hoàn thành

     

    Công việc của ứng viên

    Quyết định tuyển chọn
               Loại bỏ        Tuyển dụng
    Tốt                 (2)

     

    sai lầm

    (Đánh giá quá thấp)

                   (1)

     

    chính xác

    Không tốt                 (3)

     

    chính xác

                   (4)

     

    sai lầm

    (Đánh giá quá thấp)

    Ô (1) và ô (3) chỉ ra các quyết định tuyển dụng chính xác : tuyển ứng viên có khả năng thực hiện tốt công viêc và loại bỏ những ứng viên không có khả năng thực hiện tốt công việc .

    Trong ô (2) nhà quản trị đã đánh giá ứng viên thấp hơn thực tế có thể vì 1 số sơ xuất nào đó của nhà quản trị không hài lòng và ứng viên bị loại. Nhìn chung trong thực tế sai lầm này ít khi được phát hiện và cũng rất khó đo lường được sự thiệt hại của doanh nghiệp do để mất ứng viên giỏi nêu sau này ứng viên đó nổi tiếng .

    Ngược lại trong ô (4) nhà quàn trị đã đánh giá nhân viên quá cao thu nhận vào tổ chức doanh nghiệp những ứng viên không phù hợp , thực hiện công việc ở mức yếu kém . Điều này thường xảy ra khi thái độ tác phong diện mạo sở thích hoặc 1 yếu tố nào đó đã gây ấn tượng tốt cho nhà quản trị .

    • .Ưu điểm:

    Bộ máy quản trị nhân sự của công ty nhỏ gọn nhưng có sự phân công và hiệp tác lao động chặt chẽ nên hoạt động hiệu quả. Công tác phân tích công việc được đầu tư đáng kể và đã đạt được nhiều kết quả.Vấn đề bảo hộ lao động rất được quan tâm và đầu tư nên hiếm khi xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Việc phổ biến luật lao động được thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật đang ngày càng nâng cao hiểu biết của người lao động về quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình.

    • Nhược điểm:

    Công tác phân tích công việc, “xương sống của hoạt động quản trị nhân lực” mặc dù đã được đầu tư đạt nhiều kết quả song vẫn còn hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện để đưa ra các bản tiêu chuẩn đánh giá công việc 1 cách chính xác. Công tác tuyển dụng nhiều khi không tuân theo quy trình chuẩn. Công tác đánh giá thực hiện công việc còn nhiều điểm chưa phù hợp, không thu hút được người lao động tham gia, kết quả đánh giá chưa được sử dụng vào các quyết định nhân sự

     

     

     

     

    Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Tư Vấn và Xây Dựng Công Trình Nam Long.

    I.Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tuyển dụng tại Công ty

    Chìa khóa giúp xây dựng thành công một chương trình tuyển dụng là tuân thủ một quy trình đã được công nhận cho từng vị trí mà doanh nghiệp cần tuyển dụng. Thông thường, một trình tự tuyển dụng có hiệu quả phải bao gồm những bước sau:

    1.Xây dựng các bản mô tả công việc rõ ràng.

    Các bản mô tả công việc phải có những nhiệm vụ đặt ra cho từng vị trí, kỹ năng chuyên môn mà ứng viên phải có, cá tính, phẩm chất quan trọng ứng viên cần có để hoàn thành nhiệm vụ và những kinh nghiệm riêng có của một ứng viên so với các ứng viên khác.

    2.Soạn ra một mẫu hồ sơ thành công điển hình.

    Ngoài việc xây dựng các bản mô tả công việc, doanh nghiệp phải soạn ra một mẫu hồ sơ của một nhân viên thành công điển hình cho các vị trí chủ chốt – những vị trí vốn có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp bạn hiện có 20 nhân viên bán hàng. Trong số này, 4 người (20%) có thành tích tốt nhất, 12 có thành tích trung bình, còn lại là không có thành tích gì nổi bật. Nếu số nhân viên có thành tích nổi bật có thể tăng từ 20% lên 33% thì rất có ý nghĩa đối với kết quả hoạt động kinh doanh.

    Để đạt được mục tiêu nói trên, bạn cần phải lập hồ sơ của tất cả các nhân viên trong phòng kinh doanh để xác định xem những người thuộc hàng “top” khác với các nhân viên bình thường ở những điểm nào. Với những thông tin này, bạn có thể xây dựng được một hồ sơ mẫu thành công điển hình để tuyển dụng những người có khả năng thành công cao nhất ở một vị trí nào đó.

    3.Phác thảo quảng cáo tuyển dụng, mô tả vị trí cần tuyển dụng và các yêu cầu đặt ra cho ứng viên.

    Mặc dù trên thực tế có nhiều ứng viên bỏ qua những thông tin này, cứ “tự nhiên” nộp đơn xin việc không cần suy nghĩ, thì việc mô tả công việc và yêu cầu đặt ra cho ứng viên trên quảng cáo tuyển dụng sẽ giúp giảm bớt số hồ sơ xin việc không đặt yêu cầu gửi đến doanh nghiệp.

    4.Đăng quảng cáo tuyển dụng trên các phương tiện có khả năng tiếp cận với các ứng viên tiềm năng nhiều nhất.

    Theo khuynh hướng hiện nay, Internet đang trở thành công cụ mạnh nhất cho các quảng cáo tuyển dụng. Tuy nhiên, quảng cáo trên các ấn bản chuyên ngành và các tờ báo địa phương đôi khi cũng có tác dụng rất tốt.

    5.Xây dựng những câu hỏi sơ tuyển qua điện thoại.

    Việc soạn ra những câu hỏi sơ tuyển qua điện thoại giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định được các ứng viên đạt yêu cầu và loại bỏ những ứng viên không đạt yêu cầu.

    6.Xem xét các lý lịch (resume, C.V)

    Ứng viên và xác định các ứng viên tốt nhất. Số hồ sơ xin việc nhận được đôi khi vượt qua ước tính của doanh nghiệp. Trong quá trình xem xét các hồ sơ này, hãy xác định đâu là những điểm doanh nghiệp cần tìm xét về kinh nghiệm, trình độ học vấn, kỹ năng làm việc. Việc làm này sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định được các ứng viên tiềm năng.

    7.Sơ vấn các ứng viên qua điện thoại.

    Sau khi đã rút ngắn danh sách những ứng viên tiềm năng thông qua việc xem xét hồ sơ, việc làm tiếp theo là bạn nên gọi điện thoại để sơ vấn các ứng viên này nhằm rút ngắn hơn nữa số ứng viên đã đạt yêu cầu qua việc xem xét hồ sơ. Các bảng câu hỏi cần phải nhất quán, kể cả trong giai đoạn này lẫn giai đoạn phỏng vấn trực tiếp, nhằm bảo đảm tính công bằng trong cách đánh giá ứng viên.

    8.Chọn ứng viên để đánh giá.

    Dựa trên các câu trả lời của ứng viên thông qua các cuộc sơ vấn bằng điện thoại, doanh nghiệp có thể chọn ra những ứng viên đạt yêu cầu tốt nhất cho bước tiếp theo của quá trình tuyển dụng.

    9.Đánh giá kỹ năng và phẩm chất của các ứng viên tiềm năng

    Thông qua các công cụ đánh giá đã được công nhận. Ở các bước trên, doanh nghiệp chưa thể hiểu nhiều về ứng viên. Vì vậy, cần phải có một công cụ đánh giá đáng tin cậy nhằm phân tích những điểm mạnh thuộc về tư duy và cách ứng xử của ứng viên.

    Chẳng hạn, thông qua một bài kiểm tra, doanh nghiệp có thể biết được ứng viên là người cẩn thận hay cẩu thả, hướng nội hay hướng ngoại, dễ chịu hay khó nhượng bộ, cởi mở với các ý tưởng mới hay là người bảo thủ… Thông qua hồ sơ mẫu thành công điển hình, doanh nghiệp có thể xác định những phẩm chất nào là quan trọng đối với một vị trí nào đó. Những bài kiểm tra có thể được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua Internet. Kết quả của các bài kiểm tra này sẽ là căn cứ mời các ứng viên đạt yêu cầu tham dự phỏng vấn.

    10.Lên các cuộc hẹn phỏng vấn và thực hiện phỏng vấn.

    Trong bước này, doanh nghiệp nên dựa trên một bảng câu hỏi gồm từ 10-12 câu hỏi thống nhất làm cơ sở để đánh giá các ứng viên.

    11.Lựa chọn ứng viên.

    Việc chọn lựa thường được dựa trên các hồ sơ mẫu của các cá nhân thành công điển hình.

    12.Thực hiện kiểm tra quá trình làm việc hoặc học tập trước đây của ứng viên

    Nhằm phát hiện ra những vấn đề mà ứng viên chưa bộc lộ ra trong các cuộc phỏng vấn và thi tuyển.

    13.Gửi thư chào việc (offer) cho ứng viên.

    Những thông tin thu thập được trong quá trình phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp có những cơ sở để xác định mức lương bổng cũng như các chương trình đào tạo cần thiết cho ứng viên được tuyển dụng.

    II.Giải pháp hoàn thiện hiệu quả hoạt động tuyển dụng tại Công ty

    Công ty Cổ phần xây dựng Nam Long là Công ty chuyên nhận thiết kế,lắp đặt xây dựng công trình xây dựng, vì vậy nhu cầu về số lượng cán bộ quản lý rất ít, chủ yếu là nhu cầu tuyển dụng lao động xây dựng trực tiếp. Do quá trình tuyển dụng công nhân lao dộng không phức tạp và yêu cầu, đòi hỏi đối với đối tượng này không cao nên công tác tuyển dụng tương đối đơn giản.

    Trong thời gian qua, Công ty đã tiến hành công tác tuyển dụng khá hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nhân lực để thực hiện tốt hoạt động  phù hợp với tình hình thực tế của Công ty. Công ty đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác tuyển dụng đối, do đó công tác tuyển dụng luôn được Công ty quan tâm và thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ. Phòng tổ chức hành chính tiến hành theo dõi danh sách công nhân viên thực hiện chế độ hưu trí, đặc biệt là danh sách lao động thực hiện chế độ thai sản do phần lớn lao động trong Công ty là lao động nữ để lập kế hoạch nhân sự một cách kịp thời và chính xác, kế hoạch về nhân lực cũng được lập dựa trên kế hoạch sản xuất kinh doanh trong năm của Công ty.

    Mặc dù kết quả công tác tuyển dụng của Công ty hoàn toàn đáng ghi nhận  và công tác này đã thực sự được Công ty xác định đúng đắn vai trò của nó, thực hiện tương đối hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả của Công ty trong thời gian qua. Nhưng bên cạnh những điểm mạnh đó, công tác tuyển dụng của Công ty vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác tuyển dụng và hoàn thiện công tác này tại Công ty Cổ phần Xây Dựng Nam Long, dưới đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện công tác tuyển dụng tại Công ty:

    1. Thiết lập bộ phận tuyển dụng nhân sự độc lập để tập trung mọi nỗ lực vào công tác quản trị nhân sự nói chung và công tác tuyển dụng nói riêng:

    Do hiện nay, Công ty chưa có phòng nhân sự  phụ trách toàn bộ hoạt động quản trị nhân sự mà do phòng tổ chức hành chính kiêm tất cả công việc. Với sự phát triển của nền kinh tế, sức cạnh tranh khốc liệt của thị trường kéo theo sự biến động phức tạp trong công tác quản lý và sử dụng nguồn lực. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ, thống nhất, linh hoạt trong mọi hoạt động của tổ chức. Sự ra đời của bộ phận chuyên môn phụ trách lĩnh vực quản trị nhân sự sẽ giải quyết được các vấn đề đó không những với riêng công tác tuyển dụng hay hoạt động quản trị nhân sự nói chung mà là với toàn bộ hoạt động của Công ty. Công tác tuyển dụng từ đây cũng thu được hiệu quả tối đa với chi phí thấp nhấp.

    Phòng nhân sự bao gồm: Trưởng phòng nhân sự có thể là cán bộ trực tuyến chuyển từ một lĩnh vực khác của Công ty cũng có thể là người được tuyển từ bên ngoài. Người đó phải có kiến thức rộng và được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ. Các nhân viên chuyên môn phòng nhân sự là những người chuyên nghiệp, có kinh nghiệm trong lĩnh vực may mặc, phải nắm được các phương tiện, kỹ thuật quản lý hiện đại, năng động trong công việc. Nhân viên trợ giúp như tiếp tân, đánh máy, thư ký quản lý hồ sơ, thu thập và báo cáo dữ liệu.

    Sự tách ra độc lập của phòng nhân sự sẽ giảm bớt gánh nặng cho phòng tổ chức hành chính cũ, cán bộ quản lý cũng được giảm thiểu số lượng công việc vừa tăng nỗ lực tập trung vào công việc của họ vừa phát huy đựơc hiêu quả trong quản lý nguồn nhân sự của Công ty. Đồng thời, các nội dung của hoạt động quản trị nhân sự cũng được thực hiện một cách đầy đủ hơn và hiệu quả, khoa học hơn.

    1. Xây dựng kế hoạch nhân sự linh hoạt, khoa học cụ thể cho từng giai đoạn, từng thời kỳ biến công tác tuyển dụng từ thế bị động sang thế chủ động.

    Hoạch định nhu cầu nhân sự là quá trình là xác định một cách có hiệu quả những yêu cầu về số lượng, chất lượng lao động theo cơ cấu ngành nghề đáp ứng nhu cầu của các tổ chức trong doanh nghiệp ở mỗi thời kỳ.

    Kế hoạch nhân sự phải dựa căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của Công ty, định mức gia công xây dựng công trình theo kế hoạch được duyệt và định hướng chiến lược của Công ty trong từng thời kỳ kinh doanh. Kế hoạch nhân sự cũng phải căn cứ vào dự báo về tình hình tăng trưởng phát triển của ngành Xây dựng qua từng thời kỳ và vào dự báo biến động nhân sự trong nội bộ Công ty, trên thị trường lao động nói chung. Việc xác định được đúng căn cứ lập kế hoạch sẽ giúp cho kế hoạch mà Công ty lập khoa học và hiệu quả hơn đồng thời linh hoạt đáp ứng được sự thay đổi trong tuyển dụng nhân sự. Khi có xây dựng.

    Hoạch định nhân sự phải bao gồm các bước:

    • Xác định nhu cầu và khả năng nhân sự
    • Cân đối nhu cầu và khả năng nhân sự
    • Đề ra chính sách và kế hoạch thực hiện
    • Kiểm soát và đánh giá

    Kế hoạch nhân sự đảm bảo trên các căn cứ và thực hiện theo quy trình giúp Công ty có được một kế hoạch nhân sự khoa học, linh hoạt. Khi đó Công ty không phải ở thế bị động vì chỉ khi có nhu cầu nhân sự mới có kế hoạch tuyển dụng mà chuyển sang thế chủ động. Từ nghiên cứu tình hình biến động thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh cùng các căn cứ kế hoạch từ đó kế hoạch nhân sự được đưa ra có yếu tố dự phòng biến động bên ngoài giúp Công ty chủ động trong công tác tuyển dụng. Công tác tuyển dụng không những ở thế chủ động, tăng hiệu quả tuyển dụng mà còn giúp Công ty giảm thiểu chi phí tuyển dụng, như vậy hiệu quả hoạt động của Công ty được nâng cao và chi phí hoạt động của Công ty được hạn chế một cách tốt nhất.

    1. Nâng cao trình độ chuyên môn, phát triển toàn diện vai trò của cán bộ làm công tác tuyển dụng nói riêng, công tác quản trị nhân sự nói chung.

    Chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả công tác tuyển dụng phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác tuyển dụng cũng như trình độ, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản trị nhân sự. Khi cán bộ quản trị có trình độ chuyên môn kịp thời nắm bắt được nhu cầu nhân sự từ đó có kế hoạch tuyển dụng cụ thể cho từng thời kỳ. Năng lực của cán bộ chuyên môn tốt vừa tiết kiệm thời gian và chi phí cho công tác tuyển dụng, công tác quản trị nhân sự vừa góp phần tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.

    Một đội ngũ cán bộ tuyển dụng làm việc hiệu quả, đội ngũ cán bộ phòng nhân sự phải hiểu rõ được tầm quan trọng của công việc lập kế hoạch tuyển dụng trong hoạt động quản trị nhân sự, thành thạo trong công việc lập kế hoạch và vận dụng nó một cách linh hoạt.

    Là người đại diện cho Công ty quản lý về mặt nhân sự, cán bộ quản trị nhân sự phải là người hiểu rõ và nắm bắt được định hướng phát triển của Công ty qua các thời kỳ đồng thời cũng là người đại diện cho người lao động nói lên nhu cầu cá nhân như nhu cầu được thăng tiến, được đào tạo và phát triển, nhu cầu về an toàn lao động, thù lao lao động và quan hệ, môi trường lao động. Người cán bộ nhân sự phải hiểu được đặc điểm của cá nhân trong Công ty mình, năng động và sáng tạo trong công việc. Sự phát triển toàn diện của đội ngũ cán bộ quản lý nhân sự, tính chuyên nghiệp của đội ngũ này sẽ là hình ảnh của Công ty với chính những người lao động bên trong và bên ngoài Cty.

    1. Đa dạng nguồn tuyển dụng và phương pháp tuyển dụng:

    Nguồn tuyển dụng bên trong và bên ngoài đều có những điểm mạnh và điểm hạn chế riêng, thực tế áp dụng không thể thiên vào nguồn tuyển dụng nhân sự nào mà phải căn cứ vào tính chất đặc điểm của công việc lúc bấy giờ để có xác nhận nguồn lao động cụ thể là nguồn nào hay kết hợp cả hai nguồn này khi tuyển dụng. Khi xác định được nguồn tuyển dụng có thể đáp ứng công việc đề ra từ đó có lựa chọn phương pháp tuyển dụng thích hợp.

    Công ty nên mở rộng nguồn tuyển dụng, phương pháp tuyển dụng như: các nhân viên cũ của Công ty, các trường đào tạo – dạy nghề . Hiện nay có rất nhiều trường dạy nghề trong đó có chứng chỉ nghề để có thể tuyển dụng được những người có tay nghề cao có thể đáp ứng được yêu cầu công việc mà không phải tốn thêm chi phí cho việc quảng cáo, thông báo tuyển dụng. Công ty cũng có thể sử dụng một số phương pháp, cách thức khác để tuyển dụng như: Công ty có thể liên hệ trực tiếp với uỷ ban nhan dân các xã, phương trong địa bàn trong việc tìm kiếm và thu hút lao động, Công ty cũng có thể thuê mướn lao động của các Cty Xây Dựng khác khi Công ty có nhu cầu trong ngắn hạn với điều kiện trong thời gian đó các doanh nghiệp khác có thể cho công ty thuê lao động.

    Đối với công tác điều động nội bộ, khi có một vị trí nào đó còn trống cần bổ nhiệm, Công ty nên tiến hành thông báo rộng rãi tới toàn bộ công nhân viên trong Công ty để họ được biết như vậy những người nào có khả năng sẽ tự ứng cử. Điều này sẽ tạo ra sự công bằng trong việc bổ nhiệm, tạo ra tâm lý thoải mái cho cán bộ công nhân viên trong công ty, từ đó kích thích họ nhiệt tình, sáng tạo và có trách nhiệm hơn trong công việc, làm tăng năng suất lao động của Công ty.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    I.Kiến nghị

    v Các kiến nghị đối với Công ty:

    Công ty cần phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của bộ máy quản trị nhân lực, đào tạo nâng cao trình độ của người lao động. Công tác bảo hộ lao động cũng cần được duy trì và phát huy nhằm hạn chế tối đa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đây là những điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty và uy tín của mình trên thị trường, góp phần tích cực vào sự phát triển của Công ty.

    Theo em để nâng cao hiệu quả hoạt dộng tuyển dụng trong công ty thì 1 quy trình tuyển dụng phải đáp ứng đầy đủ các công tác dưới đây:

    • Quy trình phỏng vấn

    Có 2 quy trình phỏng vấn dành cho 2 nhóm ứng viên: ứng viên ở cấp nhân viên (junior) và ứng viên cấp quản lý (senior).

    Ứng viên cấp nhân viên sẽ trải qua 2 vòng tuyển dụng:

    1. Kiểm tra trắc nghiệm khả năng (Ability test)
    2. Phỏng vấn với đại diện phòng Nhân sự và người quản lý trực tiếp (line manager).

    ¢Ứng viên sẽ làm bài trắc nghiệm khả năng trong khoảng một tiếng rưỡi, bằng các bài trắc nghiệm kỹ năng lập luận lôgic (numerical reasoning and verbal reasoning skills).

    Quy trình tuyển dụng dành cho ứng viên cấp quản lý – manager sẽ gồm nhiều bước hơn:

    1. Phỏng vấn với phòng HR, (human resources)
    2. Phỏng vấn với quản lý trực tiếp (line manager),
    3. Đánh giá năng lực của ứng viên (Accessment Center, thường kéo dài khoảng nửa ngày), Kiểm tra trắc nghiệm khả năng của ứng viên (Ability test).

    ¢Dĩ nhiên, trong cả 2 quy trình phỏng vấn trên, các bước chính có thể linh động thay đổi cho nhau, không nhất thiết bước này có trước bước kia, nghĩa là bạn có thể làm trắc nghiệm khả năng trước khi dự phỏng vấn với phòng HR.

    v Các kiến nghị đối với nhà nước:

    Nhà nước Việt nam là một Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, một Nhà nước bảo vệ quyền công dân, bảo vệ những người lao động. Tuy nhiên trên thực tế kinh doanh, mối quan hệ giữa người lao động và người chủ lao động rất phức tạp và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến lợi ích của hai bên. Do vậy, Quốc hội và Nhà Nước nên lắng nghe ý kiến của những người lao động và những người sử dụng lao động để tiến hành sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn luật lao động để đảm bảo công bằng hơn nữa. Quốc hội và Nhà Nước hoàn thiện hơn các chính sách về lương bổng, thuế thu nhập để đảm bảo công bằng hơn.

    Quốc hội và Nhà Nước cũng nên hoàn thiện hơn nữa về hệ thống Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao dân trí, nâng cao hơn nữa về ý thức xã hội, đảm bảo những người được đào tạo cả về chuyên môn lẫn kiến thức, cho học sinh, sinh viên đi nhiều vào thực tế đời sống, thực tế kinh doanh để đảm bảo hoàn thiện cả về lý thuyết lẫn thực hành để khi đi vào thực tế công việc, họ không còn quá bỡ ngỡ và tiếp thu công việc dễ dàng hơn.

    Các tổ chức thi hành pháp luật cũng nên tạo điều kiện về các thủ tục giấy tờ, hướng về đích “một cửa một dấu” để các doanh nghiệp, các công ty hoạt động thuận tiện hơn, tránh việc bỏ lỡ thời cơ, cơ hội.

    Quốc hội và Nhà Nước cũng nên hoàn thiện hơn bộ luật Thương mại để cho các doanh nghiệp yên tâm hoạt động kinh doanh trên thị trường cạnh tranh lành mạnh, ít những kẻ phá hoại để đạt được những kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

     

     

     

    II.Kết luận

    Tuyển dụng nhân sự là hoạt động không thể thiếu được trong hoạt động của các Công ty ở mỗi một Công ty khác nhau sự vận dụng các nội dung của hoạt động tuyển dụng nhân sự có sự khác nhau phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của từng Công ty cũng khác nhau. Việc thực hiện các nội dung của công tác tuyển dụng nhân sự hoặc do khách quan hoặc do chủ quan mà vẫn chưa đúng và chưa mang lại hiệu quả thực sự trong khi thực hiện của các Công ty. Vì vậy, nâng cao hiệu quả các công tác thuộc hoạt động tuyển dụng để hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân sự là việc vô cùng có ý nghĩa đối với các Công ty.

    Mỗi Công ty, tuỳ thuộc vào điều kiện tình hình thực tế cũng như đặc thù riêng của mình để tổ chức công tác tuyển dụng lao động một các phù hợp nhưng tựu chung lại đều nhằm tuyển dụng được những nhân viên tốt nhất, thích hợp với công việc nhất để có thể tiến hành thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất. Nói như vậy không có nghĩa là để tuyển dụng hiệu quả chỉ cần làm tốt công tác tuyển dụng mà cần phải phối kết hợp công tác tuyển dụng với các công tác khác trong Công ty như phân tích công việc, đánh giá thực hiện công việc, kế hoạch hoá nguồn nhân lực…Bởi vì trong Công ty, các hoạt động có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Ngoài ra, Công ty cần phải không ngừng nghiên cứu, cải tiến công tác tuyển dụng tuỳ theo từng thời điểm, từng hoản cảnh cụ thể của doanh nghiệp, có như vậy thì công tác tuyển dụng lao động nói riêng và công tác quản trị nhân lực nói chung mới đảm bảo hiệu quả, góp phần vào hiệu quả công việc chung của Công ty.

    Các Công ty hoạt động Xây Dựng  trong nền kinh tế thị trường đang phát triển luôn luôn phải đối mặt với rất nhiều những thách thức cũng như những khó khăn khi sự cạnh tranh đang ngày một gay gắt và khốc liệt. Nhân sự – luôn là yếu tố quan trọng, sống còn của một Công ty. Công ty muốn tồn tại được thì Công ty đó phải có một đội ngũ nhân sự có chất lượng, có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao. Như vậy công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp là rất cần thiết, là rất quan trọng vì nó là “nền tảng” cho các hoạt động khác. Công tác tuyển dụng nhân  sự chính là “đầu vào”, là nền tảng nhằm cung cấp một đội ngũ nhân sự đủ về số lượng, tốt về chất lượng cho công tác quản trị nhân sự trong Công ty. Tuy nhiên, không phải bất cứ một Công ty nào cũng có thể làm tốt công tác tuyển dụng nhân sự và nguồn lực con người chưa phát huy hết được khả năng vốn có của nó. Do vậy, Công ty phải có những giải pháp để nâng cao chất lương công tác tuyển dụng nhằm có được nguồn lực đó và sử dụng có hiệu quả nhất.

    Trong đề tài này, em đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề tuyển dụng nhân sự tại Công ty Cổ Phần Nam Long để thấy được những ưu điểm, cũng như những tồn tại trong quá trình tuyển dụng và sử dụng nhân sự tại đây và trên cơ sở đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hơn nữa chất lượng công tác tuyển dụng nhằm nâng cao chất lượng lao động cũng như định hướng mới trong tương lai.

    Công tác tuyển dụng là một hoạt động quan trọng của quản trị nhân lực, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với chất lượng và số lượng người lao động của một doanh nghiệp hay một tổ chức. Trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay, công tác tuyển dụng sẽ đảm bảo tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan:Bài tập lớn môn học Tin học văn phòng (Số 02)


    [toc]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Bí quyết để các bài tập lớn thực sự hiệu quả

    Việc thực hiện các bài tập lớn không chỉ giúp học sinh nâng cao điểm số mà còn dạy cho các em những bài học quý giá về tự giám sát bản thân, tính bền bỉ và cách phân bổ thời gian hợp lý. Thông qua những bài tập lớn, các em có thể học được cách bắt đầu một nhiệm vụ học tập, hoàn thành và chịu trách nhiệm về kết quả thu được.

    Tuy nhiên, giáo viên cần cân nhắc kỹ lưỡng khi giao bài tập lớn cho học sinh đặc biệt là các em mới ở bậc tiểu học. Ở bậc học này, bài tập lớn có những tác động còn khá hạn chế tới sự tiến bộ của các em. Bên cạnh đó, bài tập lớn chỉ có tác dụng tích cực với số lượng và yêu cầu hợp lý. Trái lại, khi số lượng bài tập lớn trở nên quá tải, chúng sẽ khiến học sinh có những thái độ tiêu cực đối với việc học và ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập của các em. Các bài tập lớn nên có nội dung yêu cầu ngắn gọn, lý thú và phù hợp với khả năng hiện tại của học sinh. Bạn có thể “để dành” những phần khó khăn hơn cho những giờ lên lớp.

    Để những bài tập lớn trở thành hoạt động học tập hấp dẫn, mỗi lần thầy cô có thể cho học sinh ít nhất hai bài tập lớn khác nhau để các em có thể lựa chọn. Hãy kiểm tra để đảm bảo rằng học sinh của bạn hiểu được mục tiêu

    của những bài tập lớn đó. Ngoài ra, bạn nên tổ chức định kỳ những buổi thảo luận ngắn về lợi ích học sinh thu được từ việc thực hiện những bài tập lớn. Trong những buổi thảo luận ấy, thầy cô có thể nêu rõ những gì mà mình mong muốn học sinh sẽ đạt được thông qua những bài tập lớn và trò đưa ra những đề xuất, ý kiến để thực hiện việc đó.

    Điểm thứ hai khiến bài tập lớn trở nên hấp dẫn là có trọng tâm . Ví dụ: thay vì yêu cầu học sinh viết về một chủ đề mở của một cuốn tiểu thuyết đang học trên lớp, bạn có thể yêu cầu các em chọn một nhân vật và giải thích tại sao nhân vật lại cư xử như vậy trong câu chuyện.

    Tuy nhiên, cách giao bài tập lớn cũng có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả chúng mang lại. Yêu cầu học sinh đọc trước ở nhà một chương sách trước khi học chương đó trên lớp không phải là một ý kiến hay. Việc làm bài tập lớn chỉ có tác dụng nếu học sinh hiểu rõ những bài tập đó được đưa ra để giải quyết vấn đề gì. Điều này là hoàn toàn khả thi nếu bạn dựng trước “khung” cho bài tập lớn. Cũng như những chiếc dàn giáo được dựng trước khi những người thợ xây bắt tay vào xây dựng một công trình kiến trúc nào đó, “khung” cho bài tập lớn sẽ giúp học sinh đọc có mục đích và định hướng rõ ràng. Bạn có thể làm việc này bằng cách cung cấp những gợi ý để học sinh có thể khám phá được nội dung chính của chương hay tìm thấy những câu trả lời cho những vấn đề bạn nêu ra trong yêu cầu của bài tập. Khi đó, học sinh của bạn sẽ có cơ hội khám phá bí ẩn và tận hưởng cảm giác thoả mãn khi thành công.

    Một cách khác giúp việc giao bài tập lớn trở nên hiệu quả là dạy học sinh cách tìm hiểu tổng quát một chương sách trước khi đọc. Việc tìm hiểu này bao gồm đọc tiêu đề, đề mục, những phần in đậm hay in nghiêng, tóm tắt chương, tranh ảnh minh hoạ, mục đích của tác giả khi viết chương đó, những thuật ngữ được nêu.

    Vì cách dạy tốt nhất là dạy điều bạn biết cho người khác nên hãy tạo cơ hội cho học sinh thành những “trợ giảng” trên lớp cho bạn. Ví dụ, trước khi chữa lỗi cho một bài luận, hãy tạo điều kiện để cho ít nhất hai em học sinh khác chữa bài đó cho bạn của mình. Sau khi đã được bạn chữa, bài luận nộp cho bạn chắc chắn sẽ chất lượng hơn nhiều. Thêm vào đó, khi nhận bài luận của các em, bạn đừng đưa ngay phương án đúng cho những lỗi sai của chúng. Thay vào đó, hãy ghi những nhận xét mang tính chất gợi ý như “You have a spelling error in this paragraph.” (Có một lỗi chính tả trong bài luận này) hay “Check for noun-verb agreement in this sentence.” (Câu này cần kiểm tra lại cách hợp thì của động từ). Bạn có thể sử dụng các ký hiệu viết tắt đã quy ước trước với học sinh để tiết kiệm thời gian. Cách chữa bài này không chỉ tiết kiệm thời gian chữa bài cho giáo viên mà còn khuyến khích học sinh tự chữa lỗi và tự đánh giá bài viết của chính mình. Điều này sẽ rất tốt cho việc tự học của các em.

    Diệu


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Link Tải Bị Lỗi, Xin Bạn Tải Xuống Lần Sau  


  • Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận văn Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Kh%C3%B3a-lu%E1%BA%ADn-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-Nh%E1%BB%AFng-r%C3%A0o-c%E1%BA%A3n-v%C4%83n-h%C3%B3a-Vi%E1%BB%87t-Nam-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-nh%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ngo%C3%A0i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Khóa luận tốt nghiệp Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài

    LỜI NÓI ĐẦU

    Có thể nói rằng, mười năm trở lại đây là một khoảng thời gian đáng nhớ đối với Việt Nam. Chúng ta đã thực sự để lại những dấu ấn trên trường quốc tế qua một loạt các sự kiện kinh tế-xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển mọi mặt của quốc gia. Tiêu biểu phải nói đến là sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, tổ chức thành công tuần lễ cấp cao APEC và Hội nghị APEC CEO Summit năm 2006, là ứng cử viên duy nhất đại diện cho châu Á, hoàn thành tốt trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2008-2009 và cương vị Chủ tịch Hội đồng bảo an LHQ tháng 7 và tháng 10 năm 2009. Những sự kiện lớn này là minh chứng xác đáng cho nỗ lực hội nhập quốc tế của Việt Nam hòa vào xu thế chung tất yếu của sự phát triển kinh tế toàn cầu.

    Hội nhập kinh tế thực sự đã mở ra cơ hội cho nước ta tiếp cận với công nghệ mới, kỹ thuật mới và đáng kể nhất là thiết lập các mối quan hệ hợp tác đầu tư nước ngoài. Để thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cản gây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết. Bên cạnh những rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp còn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là một trong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa. Hệ quả của nó không chỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là nước ta mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam và khiến họ tìm đến những thị trường khác, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra mạnh mẽ ở các đang phát triển như hiện nay.

    Nhận thấy tính cấp bách của vấn đề, người viết chọn đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài” với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn cái nhìn về những rào cản văn hóa nhằm hạn chế tác động của nó đến việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

    Mục đích nghiên cứu

    1

    Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là xây dựng một cách nhìn đầy đủ hơn về những rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị giải pháp hạn chế rào cản này, góp phần hoàn thiện hình ảnh một Việt Nam thân thiện và tiến bộ, trở thành điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu là những khó khăn mà các nhà đầu tư nước ngoài gặp phải do sự khác biệt về văn hóa. Phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư nước ngoài vì mục tiêu lợi nhuận, đang được tiến hành trên cả ba miền đất nước, trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây ở Việt Nam.

    Phương pháp nghiên cứu

    Để giải quyết các vấn đề đặt ra, người viết vận dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với kiến thức nền tảng rút ra từ những đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành trong những năm qua. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu còn được hỗ trợ bởi việc tiến hành phỏng vấn gián tiếp qua e-mail đối với một số nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhận đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên một số địa phương tiêu biểu đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho những đánh giá được rút ra trong luận văn này.

    Bố cục đề tài

    Phù hợp với mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu trên, khóa luận ngoài Lời mở đầu gồm Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu còn có những chương sau:

    Chương I: Lí luận cơ bản về rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương II: Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Chương III: Một số giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    2

    Những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu là điều không thể tránh khỏi đối với một đề tài còn khá mới này. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô giáo và các bạn.

    3

    CHƢƠNG I

    LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RÀO CẢN VĂN HÓA ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I.                   Lý luận về văn hóa

     

    1. Khái niệm văn hóa

    Nghị trưởng Pháp Edouard Herriot đã phát biểu rằng: Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên hết cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học đủ cả. Lời phát biểu trên đã phản ánh tính trừu tượng của khái niệm này. Nói cách khác, việc xác định nội hàm và ngoại diên của khái niệm văn hóa có thể thay đổi theo thời gian và theo các tiêu chí lựa chọn khác nhau.

    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [ 5,431]. Như vậy, văn hóa là tất cả những yếu tố do con người tạo nên, văn hóa sinh ra từ con người và cho con người.

    Chính vì văn hóa phản ánh mọi phương diện làm nên “phần hồn của một quốc gia” nên nó được dùng làm thước đo giá trị của một dân tộc. Nói đến văn hóa của một cộng đồng cũng tức là đề cập đến tư tưởng, tình cảm, cách tư duy, ứng xử trong phạm vi cộng đồng ấy. Các đặc trưng và biểu hiện của văn hóa vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù. Tức là, chúng ta có thể chỉ ra điểm tương đồng của hai nền văn hóa nhưng cũng đồng thời xác định được những khác biệt, những nét riêng có của mỗi dân tộc. Cho nên, bất kì một sự tiếp xúc văn hóa nào cũng nảy sinh đồng thời hai khả năng: thông hiểu và bất đồng. Sự thông hiểu xuất phát từ cái phổ quát, sự bất đồng xuất phát từ những đặc thù.

    Xét trong lĩnh vực kinh tế, bất đồng văn hóa chính là cội nguồn của những rào cản lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài phải đối mặt khi đặt chân đến một thị trường hoàn toàn mới mẻ.

    4

    2. Các yếu tố văn hóa trong hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài

    Văn hóa là một phạm trù rộng lớn được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau. Sự tác động của từng yếu tố lên từng lĩnh vực trong đời sống xã hội thể hiện ở những mức độ đậm nhạt khác nhau. Xét riêng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ, nghệ thuật, phong tục – tập quán, giáo dục, tôn giáo, thái độ và các giá trị được đề cao là những yếu tố văn hóa có sự tác động đậm nét hơn cả.

    2.1. Ngôn ngữ

    Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có thể biểu đạt tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình với người khác. Đồng thời, ngôn ngữ là một phương tiện của tư duy. Những hình thức cơ bản của tư duy như khái niệm, phán đoán hay suy lí đều tồn tại dưới hình thức biểu đạt là ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người cố kết cộng đồng, liên kết cá nhân với cá nhân, thiết lập các mối quan hệ xã hội và là phương tiện để con người truyền đi những thông điệp đến các thế hệ tương lai.

    Ngôn ngữ, do đó, mang dấu ấn văn hóa của cộng đồng người bản ngữ. Đặc điểm này dẫn đến một hệ quả là, muốn giao tiếp thành công, người giao tiếp phải có những hiểu biết nhất định về những dấu ấn văn hóa được thể hiện trong các phương tiện giao tiếp, bao gồm cả các yếu tố ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cử chỉ và các yếu tố kèm lời như tốc độ lời nói, các yếu tố xen âm v.v.).

    Sự hiểu lầm có thể xảy ra trong giao tiếp giữa những người đến từ các quốc gia khác nhau do giữa họ có sự khác biệt về phương pháp tư duy; quan niệm giá trị; óc thẩm mỹ; đặc trưng tâm lý; phong tục, tập quán. Cung cách chào hỏi, cách gợi mở vấn đề v.v. có thể chỉ là những thao tác, kĩ năng đơn giản nhưng trong kinh doanh, chúng có khả năng quyết định sự thành công hay thất bại của một dự án. Riêng ở lĩnh vực này, có thể khẳng định rằng, hiểu một ngôn ngữ và các dấu ấn văn hóa được bảo lưu trong nó là tiền đề tạo nên thành công bước đầu cho cuộc thương lượng, đàm phán ở giai đoạn đầu của quá trình hợp tác.

    5

    2.2. Nghệ thuật

    Nghệ thuật là nơi hội tụ của cái đẹp từ tất cả các lĩnh vực: thơ văn, âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ẩm thực, điện ảnh v.v. và là nơi con người thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của mình. Tư tưởng thẩm mỹ chính là sự cảm nhận về Cái đẹp. Nhưng sự cảm nhận ấy hoàn toàn không giống nhau ở những nền văn hóa khác nhau; do đó, nghệ thuật có khả năng bộc lộ phong cách riêng của từng nghệ sĩ, nhưng đồng thời, thông qua những đặc trưng cá thể ấy, đặc trưng của một dân tộc được khẳng định.

    Ví dụ như khi nói đến ẩm thực của đất nước được coi là xứ sở của hoa anh đào, người ta nói đến “Bản hợp xướng của cả năm giác quan”, bởi ở đó mỗi món ăn được chế biến một cách tinh tế, với những hình dáng, màu sắc phong phú mà vẫn giữ được hương vị tự nhiên vốn có của nguyên liệu làm nên món ăn. Những chi tiết dù nhỏ cũng được trau chuốt cẩn thận và mang những ý nghĩa riêng của nó. Phải nói rằng, hiếm có một dân tộc nào coi trọng sự hoàn mỹ và chất lượng như Nhật Bản. Họ không chỉ làm việc với trách nhiệm mà còn bằng cả niềm đam mê. Do đó, khi cộng tác với người Nhật, nếu chúng ta thiếu một trong hai yếu tố ấy thì cũng đồng thời chúng ta đánh mất sự thừa nhận cũng như sự tin cẩn từ phía họ.

    Xét về không gian kiến trúc, có thể thấy sự cần thiết khi vận dụng các kiến thức về nghệ thuật bài trí để xây dựng một môi trường làm việc phù hợp với hoạt động kinh doanh, đặc biệt là ở cấp độ đa quốc gia. Môi trường được nói đến ở đây là không gian vật lí, nơi các đối tác đến từ các quốc gia khác nhau gặp gỡ, trao đổi và thậm chí là „không gian sống‟ của những người làm việc cả ngày trong đó. „Không gian sống‟ ấy có khả năng tạo nên sự hứng khởi, khơi gợi ý tưởng, giảm căng thẳng trong công việc nếu nó được bài trí phù hợp với óc thẩm mỹ của những thành viên làm việc bên trong nó. Chẳng hạn, người Châu Á yêu thích không gian có chiều sâu tạo cảm giác ấm áp, với nhiều đường nét uốn lượn, nhiều màu sắc; trong khi đó, người Châu Âu thích sự thanh nhã, đường nét đơn giản, rõ ràng, hướng đến sự khoáng đạt, thoải mái như chính tính cách của họ. Ý thức được điều

    6

    này để chủ động tạo một không gian làm việc phù hợp văn hóa sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

    2.3. Phong tục tập quán

    1. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đã đưa ra khái niệm về phong tục như sau: Phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng) [ 9,256]. Như vậy, phong tục tập quán là những hoạt động sống được hình thành từ lâu đời và trở thành nề nếp, thói quen được cộng đồng thừa nhận và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục tập quán thể hiện ngay trong những thể thức giao tiếp đời thường như cách chào hỏi, cách xưng hô v.v. đến cả những thể thức gói trọn cả vòng đời con người từ khi sinh ra, trưởng thành, cưới xin, cho đến mừng thọ, lên lão v.v. hay những thể thức mang tính cộng đồng như lễ, tết, hội.

    Có sự khác biệt lớn của những quy ước, những thể thức giữa các cộng đồng buộc những người tham gia giao tiếp phải đặc biệt chú trọng. Chỉ đơn giản, khi nói đến nghi thức chào hỏi, mỗi dân tộc có một quy ước riêng. Chẳng hạn, người Pháp và người Nga chấp nhận hành động bắt tay bất cứ lúc nào trong quá trình giao tiếp. Thế nhưng ở Anh và Mỹ, người ta chỉ bắt tay ở lần đầu gặp gỡ mà thôi. Hay, người Ba Lan và người Ý coi việc hôn tay phụ nữ là một cử chỉ chào hỏi rất lịch sự. Trong khi đó, ở một số nước Châu Á như Nhật Bản và Hàn Quốc, hành động bắt tay hay hôn tay đều không được sử dụng nhằm mục đích này. Thay vào đó, họ sẽ nghiêng mình cúi đầu chào nhau. Còn người Ấn Độ chào nhau bằng cách chắp hai tay vào nhau như cầu nguyện trong khi người Ả Rập và một số nước Hồi giáo thì dùng lòng bàn tay phải đặt lên tim rồi đưa ra ngoài để thể hiện hành vi chào hỏi.

    Quan niệm “nhập gia tùy tục” của người Việt Nam đã phản ánh „hiệu lực‟ của những phong tục tập quán trong mỗi cộng đồng người bản ngữ. Nó như những ràng buộc vô hình buộc con người, dù là người bản xứ hay người ngoại quốc, phải tôn trọng và hành xử theo đúng những giá trị được truyền từ đời này sang đời khác ấy. Chính vì thế, để có cách cư xử đúng đắn, được lòng người thì nhất thiết phải có những hiểu biết nhất định về phong tục tập quán của nơi ta đến.

    7

    2.4. Giáo dục

    Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng tầm tri thức và hoàn thiện nhân cách của các thành viên trong xã hội. Thông qua giáo dục, con người được tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng cần thiết, góp phần vào quá trình định hình thái độ, quan điểm sống cũng như nhân cách sống.

    Cách thức giáo dục của mỗi quốc gia quy định đặc trưng của nguồn lao động, nguồn nhân lực của chính quốc gia ấy. Chính vì vậy, có thể lấy sự khác biệt giữa các hệ thống giáo dục Châu Á và Châu Âu để lí giải cho sự khác biệt giữa lực lượng lao động từ các nước phương Tây với lực lượng lao động từ các nước phương Đông. Giáo dục phương Tây thường hướng đến mục tiêu thúc đẩy ở mỗi cá nhân khả năng bàn luận, phê phán và sáng tạo, từ đó phát hiện và khuyến khích người học nâng cao năng lực vốn có của mình. Chính vì vậy, trong quá trình làm việc, người phương Tây luôn thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong việc xử lý các tình huống thực tế với ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm cao. Trong khi đó, do giáo dục phương Đông chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên những con người được đào tạo trong hệ thống giáo dục ấy nổi bật về đức tính cần cù, chịu khó và đối với họ, những kiến thức được truyền đạt từ người thầy luôn được đề cao, trân trọng (“nhất tự vi sư, bán tự vi sư”). Điều này giải thích tại sao lao động ở các nước phương Đông luôn được đánh giá cao ở khả năng đương đầu với những khó khăn trong công việc; khả năng thích nghi khi tiếp cận với những phương pháp làm việc mới; đặc biệt, họ rất phù hợp với những công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và tính công phu, tỉ mỉ.

    Có thể thấy, giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Hơn nữa, trình độ học vấn mà nền giáo dục mang lại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chiến lược tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

    2.5. Tôn giáo

    8

    Tôn giáo là nơi con người tìm đến để cứu rỗi linh hồn và xoa dịu những bất lực và bế tắc trong cuộc sống. Tìm đến tôn giáo đồng nghĩa với việc tìm đến một đức tin. Đức tin ấy có sức mạnh đặc biệt đến mức nó có khả năng chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành động của con người.

    Schaefer Richard T, trong cuốn Xã hội học đã nhận định: Tôn giáo, dẫu đó Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho con người ta ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ. Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau [8]. Phát biểu trên cho thấy, mỗi tôn giáo có những đặc trưng riêng, do đó, tín đồ của các giáo phái khác nhau có những quan điểm sống và tuân theo những nghi lễ thờ cúng không giống nhau. Cho nên, đức tin là thứ tôn chỉ tối thượng, có giá trị như động lực của những hành động, suy nghĩ của các tín đồ.

    Tôn giáo ở Châu Âu như Đạo tin lành xem nhiệm vụ của giáo dân là làm rạng danh Chúa bằng cách làm việc chăm chỉ và cần kiệm. Vì thế họ không cho phép mình được lười biếng, coi thái độ làm việc như một phẩm chất đạo đức của con người. Tôn giáo Châu Á như Ấn Độ giáo chú trọng đến tinh thần “làm việc thiện” bởi sự chi phối của niềm tin về một cõi “vĩnh hằng” hay sự tồn tại của “quả báo”. Phật giáo luôn nhắc nhở chúng sinh không được “tham lam” mới có thể thoát khỏi “bể khổ cuộc đời”.

    Xét về hệ thống lễ nghi, nếu đạo Shinto ở Nhật Bản giản đơn về hệ thống giáo lí cũng như nghi lễ bao nhiêu thì Hồi giáo có những quy định phức tạp bấy nhiêu. Chẳng hạn, các tín đồ Hồi giáo phải cầu kinh ngày năm lần, hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng, theo đó các tín đồ không được ăn uống khi còn ánh sáng Mặt trời. Ngoài ra còn rất nhiều điều cấm kị. Nhiều nước ở Châu Phi và Mỹ Latin coi Đạo Tâm Linh là Tôn giáo chính. Người theo đạo này luôn tin vào sự tồn tại của người chết trên dương gian và họ cho rằng, những linh hồn này sẽ rất hài lòng nếu người sống làm theo tổ tiên mình. Vì vậy sự đổi mới là khó được chấp nhận đối với những công dân theo đạo này. Có thể nói, đối với sản xuất kinh doanh,

    9

    sự phức tạp về hệ thống lễ nghi, quan niệm có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ cũng như kế hoạch sản xuất. Nếu không cùng chia sẻ, tôn trọng các giá trị tinh thần ấy hay không có sự linh hoạt trong điều phối kinh doanh giữa các đối tác có tôn giáo khác nhau, những trở ngại trong hợp tác là điều khó tránh khỏi.

    2.6. Thái độ và giá trị

    Theo quan điểm của nhà Xã hội học Macionis và J. John, giá trị là thước đo, là thang đánh giá được các thành viên của một nền văn hóa sử dụng để phân biệt tốt/ xấu, đẹp/ xấu, đáng mong muốn/ không mong muốn v.v. nhằm xây dựng cho mình hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan phù hợp. Còn thái độ là sự phản ánh của những suy nghĩ, tình cảm biểu hiện qua sắc thái hay hành động trước một sự vật hay hiện tượng nào đó.

    Từ quan niệm trên, có thể thấy rõ mối quan hệ giữa giá trị và thái độ. Một khi một giá trị được hình thành, tức là hệ thống quan điểm của các thành viên trong một cộng đồng xã hội được xác lập thì cùng lúc đó, phản ứng tương ứng xuất phát từ quan điểm ấy được định hình. Nói cách khác, thái độ là hệ quả của giá trị. Chẳng hạn, có một thời gian, người Nhật Bản quan niệm việc tiêu dùng hàng ngoại là không yêu nước. Trong trường hợp này, tiêu chí để xác định giá trị của lòng yêu nước là không dùng hàng ngoại; cho nên, giá trị này đã gây ra một thái độ tương ứng ở những người ủng hộ cho quan điểm ấy là bài trừ toàn bộ hàng hóa có xuất xứ ngoại quốc trên thị trường Nhật Bản.

    Từ đây, có thể suy ra rằng, việc xây dựng hệ thống giá trị theo hướng có lợi cho hoạt động hợp tác – đầu tư để tạo ra những phản ứng tích cực giữa các đối tác có ý nghĩa như hộp cộng hưởng, góp phần thúc đẩy kinh doanh phát triển.

    1. Mô hình của Geert Hofstede

    Bất kì một sự so sánh nào cũng cần căn cứ vào một hệ thống các tiêu chí có giá trị xác lập ranh giói giữa các đối tượng được so sánh. Đối với một khái niệm trừu tượng như văn hóa, việc chỉ ra sự khác biệt của đối tượng này giữa các dân tộc càng đòi hỏi phải có những căn cứ xác đáng. Mô hình năm chiều văn hóa do giáo sư

    10

    Geert Hofstede nghiên cứu là công trình nổi tiếng đầu tiên trên thế giới tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh quốc tế. Đây được xem là những chiều văn hóa cơ bản, góp phần làm giảm sự cảm tính trong việc đánh giá những khác biệt giữa các nền văn hóa và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Năm chiều văn hóa ấy được xác định như sau:

    Khoảng cách quyền lực: Thước đo văn hóa này đánh giá mức độ bình đẳng giữa những người có địa vị khác nhau trong xã hội. Ở những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao thì sự bất bình đẳng này được chấp nhận và duy trì, biểu hiện cụ thể là dù đúng hay sai, cấp dưới phải luôn tuân lệnh cấp trên, con cái luôn vâng lời bố mẹ bởi họ coi đó là bổn phận, là điều đương nhiên. Ngược lại, trong xã hội có khoảng cách quyền lực thấp, nhân viên có thể trao đổi ý kiến một cách bình thường với lãnh đạo, con cái được phép bày tỏ quan điểm của mình với bố mẹ; ở đây, bình đẳng được xem như mục đích chung của xã hội. Ví dụ: Úc, Bắc Âu, Mỹ, Anh, v.v. là các quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp; còn Malaysia, Slovakia, Việt Nam, v.v. là những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao.

    Chủ nghĩa cá nhân: Đây là tiêu chí có ý nghĩa xác định tính tập thể hay tính cá nhân mà xã hội hướng tới. Một quốc gia có điểm chủ nghĩa cá nhân cao có nghĩa là mỗi cá nhân và các quyền của họ được tôn trọng; họ có thể tham gia vào bất cứ cộng đồng nào và từ bỏ nếu cảm thấy không cần thiết và phù hợp nữa, họ cũng đồng thời không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ cộng đồng. Ngoài gia đình và người thân, mối quan hệ giữa các cá nhân khá lỏng lẻo, họ sống độc lập và luôn chủ động trong cuộc sống riêng của mình. Các nước có nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân cao nhất là Anh, Mỹ, Úc. Trái lại với những nền văn hóa này là những nền văn hóa mang tính tập thể với điểm chủ nghĩa cá nhân thấp. Ở đó, con người từ khi sinh ra đã phải hòa nhập vào một cộng đồng rộng lớn. Họ luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết, trung thành với ý chí của cộng đồng và luôn gánh trên vai trách nhiệm đối với cộng đồng. Đổi lại, mỗi cá nhân sẽ nhận được sự hỗ trợ của tập thể khi họ gặp khó khăn. Châu Mỹ Latin là khu vực có tính tập thể mạnh nhất.

    11

    Tránh rủi ro: Thước đo này nói lên mức chấp nhận những thay đổi của một cộng đồng. Một quốc gia có điểm tránh rủi ro thấp sẽ sẵn sàng chấp nhận thay đổi mà họ chưa từng trải nghiệm. Họ thường không quan tâm nhiều đến những nguy cơ có thể xảy ra, tư tưởng đổi mới và sự tự tin vào cuộc sống khiến họ không ngại ngần tiếp nhận những điều mới lạ. Trong những xã hội như thế, các giá trị truyền thống có khuynh hướng thay đổi thường xuyên, con người không bị gò bó bởi những giá trị đã có trước đó. Còn ở những quốc gia có chỉ số này cao, các thành viên trong xã hội không sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi. Họ sống bằng truyền thống, kế thừa những tư tưởng của người xưa. Vì vậy các tư tưởng mới khó có thể xâm nhập vào xã hội này. Châu Mỹ Latin, đứng đầu là Hy Lạp, có điểm số tránh rủi ro cao nhất, tiếp theo là các nước Châu Á tiêu biểu là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.

    Nam tính: Chiều văn hóa này phản ánh mức độ bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội. Một nước có điểm nam tính cao thì vai trò của người đàn ông là rất lớn, thể hiện ở chỗ, họ có xu hướng thống trị trong cấu trúc quyền lực gia đình cũng như xã hội. Còn trong môi trường nữ tính, tức là điểm nam tính thấp, người phụ nữ được đối xử bình đẳng trên mọi phương diện so với người đàn ông. Nước có điểm nam tính thấp nhất là Thụy Điển và Na Uy, các nước Châu Á có điểm số này rất khác nhau, cao nhất là Nhật Bản, đến Philippines, Hồng Kông.

    Định hướng dài hạn: Đây là thước đo được giáo sư Hofstede bổ sung thêm vào công trình của mình sau khi nghiên cứu công trình của Michael Harris Bond với nội dung tương tự được tiến hành sau đó. Thước đo này là thành quả của quá trình nghiên cứu về khác biệt văn hóa trên lập trường văn các nước Châu Á, thay vì dưới góc nhìn của văn hóa Châu Âu như công trình của Giáo sư. Ông nhận thấy đây là điểm giúp phân biệt sự khác nhau giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, cần được bổ sung để khắc phục những thiếu sót vốn tồn tại trong mô hình trước đó.

    Trong xã hội có điểm định hướng dài hạn cao, con người có xu hướng quý trọng sự bền bỉ, đánh giá cao sự tiết kiệm và luôn cố gắng sắp xếp các mối quan hệ theo thân phận hay đẳng cấp xã hội; đặc biệt, họ rất coi trọng danh dự. Nói cách khác, xã hội định hướng dài hạn luôn lo lắng về tương lai của mình về sau, trông

    12

    đợi vào thành quả tương lai từ sự kiên nhẫn, tiết kiệm của ngày hôm nay. Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Á đạt điểm rất cao ở thước đo này. Ngược lại, xã hội định hướng dài hạn thấp thường thích hưởng thụ hơn là dành dụm. Họ nghĩ đến kết quả tức thời thay vì trông đợi vào sự dài lâu. Quan hệ xã hội vì thế mà mang tính sòng phẳng, ngang hàng, không phụ thuộc vào thân phận hay đẳng cấp. Mỹ và các nước Châu Âu là những nền văn hóa có điểm Định hướng dài hạn thấp nhất.

    Năm chiều văn hóa đưa ra trong mô hình của giáo sư Hofstede đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cho các nhà kinh doanh những khác biệt căn bản về văn hóa khi tiến hành xâm nhập vào một thị trường mới. Những hiểu biết này giúp họ đưa ra quyết định phù hợp để tránh những cản trở trong quá trình kinh doanh. Ví dụ: ở một nền văn hóa có khoảng cách quyền lực cao, thái độ trên dưới rõ ràng là điều hết sức quan trọng, hay trong nền văn hóa đề cao nam tính, việc đề bạt nữ giới lên quản lý là một điều không nên. Tương tự đối với quốc gia có tính rủi ro cao, cần cân nhắc kĩ lưỡng và có những lý do thuyết phục nếu muốn đưa những quy định hay cách thức kinh doanh mới mẻ. Tuy còn một số hạn chế, mô hình này vẫn được xem là bước khởi đầu cho các nhà kinh doanh quốc tế trong việc tìm hiểu văn hóa của thị trường mới mà họ quyết định đầu tư.

    II. Tổng quan về đầu tƣ nƣớc ngoài

     1. Khái niệm

     

    1.1. Đầu tƣ

    Hiện nay, đầu tư đã trở thành một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế của mọi quốc gia. PTS Vũ Chí Lộc đã định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội [4,5]. Như vậy, thông qua việc cung cấp các nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư đã góp phần mang đến những lợi ích thiết thực cho bản thân và xã hội.

    13

    Tương tự với quan điểm này Giáo trình Đầu tư nước ngoài Trường Đại học Ngoại Thương có định nghĩa về đầu tư như sau: Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội [11]. Như vậy, không chỉ dừng lại ở mục tiêu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, khái niệm này đã phát biểu một cách toàn diện hơn mục đích của hoạt động đầu tư đó là thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.

    Nếu phân loại theo nguồn vốn thì đầu tư bao gồm hai bộ phận chính, đó là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Tỉ trọng hai bộ phận này trong tổng giá trị đầu tư tùy thuộc vào mục tiêu, chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.

    1.2. Đầu tƣ nƣớc ngoài

    Nếu nói thương mại quốc tế là một tất yếu khách quan của sự phát triển thì đầu tư nước ngoài là một yếu tố chính trong dòng chảy ấy. Sự khác biệt giữa các quốc gia về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn; mức độ phù hợp và tiềm năng thị trường; các lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như chính trị, xã hội là những điều kiện cần thiết, thúc đẩy việc tạo dựng cho đầu tư nước ngoài một vị trí trọng yếu trong định hướng phát triển của mỗi một nền kinh tế.

    Vậy đầu tư nước ngoài là gì?

    Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường Đại học Ngoại Thương đã chỉ rõ: Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội [11].

    Nói cách khác, đầu tư nước ngoài chính là quá trình trong đó nhà đầu tư tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận trên đất nước khác bằng chính tài sản vốn có của mình. Từ đây, có thể suy ra rằng, về mặt bản chất, đầu tư nước ngoài là một hình thức xuất khẩu tư bản. Hình thức này, trong tương quan với hình thức xuất khẩu hàng hóa, đang không ngừng phát triển, chiếm ưu thế và ngày càng hỗ trợ mạnh mẽ hình thức xuất khẩu hàng hóa.

    14

    Thực tế cho thấy, việc tiến hành đầu tư sang một quốc gia khác diễn ra trong sự hợp tác chặt chẽ giữa hai bên – bên đầu tư và bên nhận đầu tư. Trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế như hiện nay, có thể ví sự hợp tác này như „những đợt sóng ngầm‟ bởi bên trong nó luôn tiềm ẩn một sự cạnh tranh gay gắt. Thách thức này đòi hỏi hai bên phải biết cách dung hòa lợi ích để vừa đảm bảo lợi nhuận cho chủ đầu tư, vừa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân nước nhận đầu tư.

    2.                 Đặc điểm đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Vốn đầu tƣ

    Vốn đầu tư bao gồm tiền, đất đai, máy móc, nhà xưởng, bằng phát minh sáng chế v.v. có thể được dùng để huy động và sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự di chuyển nguồn vốn (hoặc vận hành trong nước, hoặc ra khỏi biên giới quốc gia) làm nên điểm khác biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Vận động này đồng thời mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ, trình độ quản lý cũng như cải thiện cơ sở vật chất của mình.

    2.2. Tính sinh lợi

    Đầu tư nước ngoài mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho nước nhận đầu tư. Đây chính là nguyên nhân sâu xa và là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển của hoạt động đầu tư giữa các quốc gia.

    2.3. Tính mạo hiểm

    Cũng như các hoạt động đầu tư nói chung, đầu tư nước ngoài chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư có thể khác so với dự tính ban đầu, lợi nhuận thu được có thể ít hơn chỉ tiêu đặt ra hoặc thậm chí là thua lỗ. Thậm chí, đầu tư nước ngoài còn chịu nhiều áp lực hơn so với đầu tư trong nước. Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư khi kinh doanh ngoài biên giới quốc gia phải đối mặt với những bất lợi không chỉ do khoảng cách địa lý, khác biệt về pháp luật v.v. mang lại mà thường trực hơn cả là do những bất đồng về văn hóa như ngôn ngữ, cách thức làm việc, thị hiếu tiêu dùng v.v. gây ra. Dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất

    15

    bại, do đó, trở thành một trong những “phẩm chất” của những nhà đầu tư ra nước ngoài.

    3. Phân loại đầu tƣ nƣớc ngoài

    Dựa trên tiêu chí phương thức sử dụng vốn, đầu tư nước ngoài được phân thành hai loại là đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.

    3.1. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Theo điều 3 Luật đầu tư Việt Nam thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ tháng 7 năm 2006, hoạt động Đầu tư gián tiếp được định nghĩa như sau: Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo cách hiểu này, hoạt động đầu tư gián tiếp do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện được tiến hành thông qua các hình thức sau:

    • Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của Chính phủ và của các tổ chức tự trị được phép phát hành trên thị trường tài chính.
    • Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính.

    Về cơ bản, có thể thấy, quan điểm trên rất gần với định nghĩa sau của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu) được phát hành bởi một Công ty hoặc cơ quan Chính phủ của một nước khác trên thị trường tài chính trong nước hoặc nước ngoài.

    Từ đây, có thể khái quát về hai đặc trưng chính của FII như sau:

    • Nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp phát hành chứng khoán hoặc các hoạt động quản lý nói chung của cơ quan phát hành chứng khoán.

    16

    • Nhà đầu tư không kèm cam kết chuyển giao tài sản vật chất, công nghệ, đào tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong Đầu tư trực tiếp nước ngoài, FII là hoạt động tài chính thuần túy trên thị trường tài chính.

    Những đặc trưng trên tạo nên các ưu điểm cho hình thức đầu tư gián tiếp như sau: tăng khả năng tự chủ về vốn kinh doanh cho bên tiếp nhận đầu tư và giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư khi kinh doanh gặp sự cố (vì vốn đầu tư được phân tán trong số đông những người tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu). Tuy nhiên, nhược điểm lớn của hình thức này là việc khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa của bên chủ đầu tư làm giảm khả năng thu hút vốn kỹ thuật, công nghệ từ nước ngoài. Hơn nữa, hiệu quả sử dụng vốn theo hình thức này thường thấp do phía nước ngoài không trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn đầu tư.

    3.2. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI)

    FDI phân biệt với FII ở quyền kiểm soát đối với đối tượng mà nhà đầu tư bỏ vốn. Theo IMF, FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp . Giáo trình Đầu tư nước ngoài – Trường đại học Ngoại Thương cũng thống nhất cách với hiểu này khi cho rằng: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn số vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó. Như vậy, với số vốn nhất định được bỏ ra, nhà đầu tư được quyền tự mình điều hành việc sản xuất kinh doanh và chấp nhận mọi rủi ro xảy ra trong quá trình điều hành ấy; nói cách khác, trong trường hợp này, quyền sở hữu vốn thống nhất với quyền sử dụng vốn. Từ đây, có thể khái quát một số đặc điểm của FDI như sau:

    Mục đích hàng đầu của FDI là tìm kiếm lợi nhuận. Các nhà đầu tư tiến hành đưa vốn sang một thị trường khác với mong muốn tận dụng được những lợi thế của nơi tiếp nhận vốn để nâng cao hiệu quả và tỉ suất lợi nhuận của khoản đầu tư. Nước tiếp nhận vốn FDI này cần phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh

    17

    để dung hòa lợi ích của cả hai bên, hướng FDI vào việc phát triển kinh tế, xã hội của nước mình.

    Để dành được quyền kiểm soát, chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định pháp luật từng nước. Theo luật Mỹ, tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%. Tỷ lệ vốn góp của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ cũng như sự phân chia lợi nhuận của mỗi bên.

    Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh nên họ sẽ lựa chọn phương án có lợi nhất cho việc đầu tư, tạo cơ hội cho nước nhận đầu tư tiếp thu công nghệ, máy móc thiết bị, bí quyết kĩ thuật, trình độ quản lý v.v. do vậy mức độ khả thi của dự án là khá cao. Việc nắm quyền kiểm soát và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi khiến dự án ít bị ràng buộc về chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế.

    4. Vai trò của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với nền kinh tế quốc gia

    Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra trên cơ sở hợp tác giữa hai bên vì mục tiêu cùng có lợi, vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp đến cả nước nhận đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, hoạt động này không chỉ tác động đến kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính trị, xã hội của các bên.

    4.1. Từ góc độ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ

    Có thể nói rằng, dòng vốn đầu tư nước ngoài mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế cho quốc gia tiếp nhận.

    Đầu tiên phải nói đến là việc giải quyết vấn đề thiếu vốn đặc biệt ở các nước chậm phát triển. Với mức tích lũy nội bộ thấp, tình trạng thiếu vốn thường xuyên ở các nước này gây hạn chế quy mô đầu tư, giảm năng lực đổi mới kĩ thuật, mất cân bằng cán cân xuất nhập khẩu v.v. Do đó, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp cần thiết giúp các quốc gia này giải quyết những khó khăn trên.

    18

    Đầu tư nước ngoài mang đến cho nước nhận đầu tư cơ hội tiếp thu công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của phía chủ đầu tư. ở các nước kém phát triển, phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được là kết quả của các kênh viện trợ, trao đổi công nghệ và đặc biệt là đầu tư nước ngoài. Ngay cả một quốc gia giàu mạnh như Mỹ, việc thu hút đầu tư từ Nhật Bản và các nước tiên tiến khác nhằm mục đích chuyển giao công nghệ cũng rất được chú trọng.

    Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng dần mức đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào tổng giá trị nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo của quốc gia như công nghiệp điện, công nghiệp phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế tạo v.v. Đây là những ngành có quy mô lớn, đòi hỏi vốn và trình độ kĩ thuật cao, vì thế, nguồn lực huy động được từ nước ngoài là vô cùng cần thiết.

    Hơn nữa, sự có mặt của các doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường nội địa còn được coi là nguồn động lực thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương cải tiến mọi mặt để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

    Bên cạnh những tác động đến kinh tế, đầu tư nước ngoài cũng mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực về mặt xã hội.

    Như một điều tất yếu, khi nguồn vốn nước ngoài đổ vào nền kinh tế, các ngành sản xuất mà nó hướng tới sẽ có sự mở rộng quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, kéo theo đó là sự gia tăng nhu cầu nhân lực, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Hơn nữa, nhờ sự tiếp xúc với trình độ kỹ thuật tiên tiến mà chủ đầu tư mang lại, lao động nước nhận đầu tư sẽ có cơ hội được đào tạo và nâng cao tay nghề, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng lao động.

    Thực tế cho thấy, người lao động làm việc cho các công ty, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường nhận được mức lương cao hơn, môi trường làm việc tốt hơn, các chế độ đãi ngộ cũng như phúc lợi xã hội cũng được quan tâm hơn so với các doanh nghiệp địa phương. Nhờ đó, chất lượng cuộc sống của người lao động

    19

    nhìn chung được nâng cao. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu lớn mà các quốc gia hướng tới khi tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài.

    Không những thế, sự thừa hưởng các giá trị từ nền công nghệ tiên tiến và cách thức quản lý hiệu quả của các chủ đầu tư nước ngoài giúp cải thiện phần nào các vấn đề về môi trường ở nước tiếp nhận đầu tư. Cụ thể là, ở những nước chậm phát triển, tình trạng khai thác bất hợp lý và việc sử dụng kĩ thuật lạc hậu đã gây nên những tác động tiêu cực đến môi trường. Chính sự tiếp thu công nghệ mới và việc vận dụng có hiệu quả cách thức quản lý đã tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững ở các quốc gia này.

    Đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ ngoại giao, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế.

    Nhận thức được những lợi ích kinh tế, xã hội mà các dự án đầu tư mang lại, các quốc gia không ngừng tạo điều kiện để thu hút đầu tư. Đến lượt mình, các dự án đầu tư cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước; thúc đẩy hội nhập, tự do hóa toàn cầu. Thực tế cho thấy, ngày càng có nhiều khối nước, các tổ chức thế giới ra đời vì lợi ích chung và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Có thể coi đó là minh chứng của quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia.

    4.2. Từ góc độ nƣớc chủ đầu tƣ

    Kinh doanh ở nước ngoài tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, thế nhưng trên thực tế, trên thế giới, hình thức kinh doanh này đang có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Nguyên nhân chính là ở chỗ các nhà đầu tư tìm thấy ở những các thị trường nước ngoài tiềm năng lớn để kinh doanh, đó là những yếu tố về độ lớn thị trường, giá cả lao động, sự phong phú về tài nguyên, các chính sách ưu đãi của Nhà nước v.v. Những thuận lợi này khiến họ bất chấp khó khăn và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình.

    Phần lớn những nước đi đầu tư là những nước công nghiệp phát triển. Thông qua việc đầu tư, họ có thể giải quyết được tình trạng dư thừa tương đối của tư bản

    20

    trong nước, kéo dài vòng đời sản phẩm, từ đó tận dụng triệt để hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Họ có thể tìm thấy những thị trường ổn định để cung cấp nguyên vật liệu với giá cả có lợi; chẳng hạn, các nước chậm phát triển – nơi công nghệ còn lạc hậu, tích lũy thấp gây cản trở việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có có thể trở thành thị trường tiềm năng của các nhà đầu tư.

    Đầu tư nước ngoài giúp chủ đầu tư tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín trên thị trường. Việc các doanh nghiệp xây dựng các nhà máy sản xuất ở nước ngoài trong hoạt động đầu tư có thể giúp họ vừa mở rộng được thị trường tiêu thụ, vừa tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nước. Đối với những dự án cho vay vốn ở quy mô lớn với lãi suất ưu đãi, các chủ đầu tư có thể có những lợi ích nhất định về chính trị cũng như khả năng chi phối các nước nhận đầu tư.

    III. Lý luận về rào cản văn hóa

    1. Khái niệm rào cản và rào cản văn hóa

    Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: với tư cách là những động từ, rào có nghĩa là ngăn hẳn lối đi, thường là để bảo vệ một khu vực, không cho ra vào tự do [7,792]; còn cản ngăn giữ lại, không cho tiếp tục vận động hoặc hoạt động theo một hướng nào đó [7,105]. Hai thành tố trên kết hợp với nhau tạo ra từ ghép rào cản. Tuy từ ghép này không có mặt trong từ điển nhưng có thể hiểu nghĩa của đơn vị từ vựng này từ nghĩa hợp thành của hai thành tố trên, hoặc có thể thấy sự tương đương về mặt ý nghĩa của nó với từ cản trở, nghĩa là gây trở ngại, làm cho không tiến hành được dễ dàng [7,105], có thể dùng như một động từ hoặc một danh từ.

    Với tư cách là một thuật ngữ dùng trong hoạt động đầu tư nước ngoài, rào cản được dùng để chỉ những trở ngại làm cho một hoạt động kinh doanh nào đó không được tiến hành một cách suôn sẻ, thuận lợi. Trở ngại này có thể xuất phát từ những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Nếu đặt hoạt động kinh doanh trong điều kiện giao lưu kinh tế sôi động như hiện nay, những trở ngại do sự khác biệt về văn hóa luôn đặt các nhà đầu tư trước những thách thức lớn. Vậy rào cản văn hóa là gì?

    21

    Trước hết, cần khẳng định rằng, rào cản văn hóa là những khó khăn, cản trở gây ra bởi sự khác biệt về văn hóa, nhất là khi có sự tiếp xúc, va chạm giữa những nền văn hóa khác nhau. Những khó khăn này nảy sinh từ sự bất đồng về cách tư duy, phong tục, tập quán, tín ngưỡng – tôn giáo, quan điểm thẩm mĩ, v.v. dẫn đến việc hiểu lầm hay không hiểu, làm đôi bên thấy bối rối, khó chịu, thậm chí còn thấy bị xúc phạm. Đây rõ ràng là những điều nằm ngoài ý muốn của các bên, có tác động tiêu cực đến việc xây dựng các mối quan hệ, đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Tuy vậy, sự phong phú và phức tạp của phạm trù văn hóa giữa các quốc gia khiến cho những bất đồng này trở nên ngày càng phổ biến. Do đó, việc tìm hiểu văn hóa nước sở tại là điều nhà đầu tư không thể coi nhẹ khi thâm nhập vào một thị trường mới.

    2. Rào cản văn hóa đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Xét trên góc độ hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài thường gặp phải những rào cản văn hóa do khác biệt về các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, cách tư duy, thị hiếu thị trường, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động. Các rào cản này ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài trên hai khía cạnh:

    Về công tác quản lý: Bao gồm tất cả quá trình quản lý như cách thức tổ chức phân công trách nhiệm và giải quyết công việc, quá trình lên kế hoạch và chiến lược phát triển, quản lý nhân sự ở các khâu: tuyển dụng, chế độ lương thưởng và phúc lợi xã hội…

    Về hoạt động kinh doanh: Bao gồm tất cả quá trình từ lựa chọn thị trường, lựa chọn hình thức đầu tư, đàm phán kí kết hợp đồng, đưa dự án vào hoạt động, các chiến lược marketing…

    2.1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa những con người đến từ các nền văn hóa khác nhau. Là một phương tiện giao tiếp trọng yếu, ngôn ngữ luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên bởi các đối tác sử dụng các thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau. Thực tế đã ghi nhận không ít bất đồng xảy ra trong quá trình trao đổi, tiếp xúc khi

    22

    với cùng một lời nói hay cử chỉ nhưng ở các nước khác nhau người ta có những cách lý giải khác nhau.

    Hiện nay trên thế giới có đến hàng nghìn ngôn ngữ chính thức được sử dụng. Không chỉ ở các quốc gia khác nhau mà ngay cả trong cùng một quốc gia cũng tồn tại nhiều thứ tiếng khác nhau. Bất đồng ngôn ngữ này khiến cho việc truyền tải thông tin giữa các chủ thể bị cản trở đáng kể. Các quốc gia nói tiếng Anh có lợi thế lớn bởi gần 2 tỉ người trên Thế giới hiểu ngôn ngữ của họ. Tuy nhiên, ngay cả người Anh và người Mỹ cũng không tránh khỏi những bất đồng dù cùng sử dụng một ngôn ngữ chung. Bên cạnh sự khác biệt về hệ thống từ ngữ do tiếng nói quy định, cách thức giao tiếp cũng là một vấn đề trong các cuộc giao tiếp xuyên văn hóa. Người Latin coi việc cắt ngang lời đối phương là một cách thể hiện sự thích thú của mình đối với những gì người kia đang nói, nhưng điều này lại bị coi là bất lịch sự đối với một số dân tộc. Tương tự, kiểu giao tiếp im lặng của người phương Đông thường khiến người phương Tây khó chịu, vì họ coi khoảnh khắc im lặng là một thất bại trong giao tiếp. Với ngữ điệu lên xuống, người Latin cảm thấy mình đang tỏ ra tâm huyết với vấn đề. Trong khi đó, xã hội phương Đông lại có xu hướng giữ nguyên âm điệu để kìm chế cảm xúc và thể hiện sự tôn trọng với người nghe.

    Chẳng hạn, cử chỉ giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện hay hành động trao, nhận danh thiếp được các cộng đồng ngôn ngữ quy ước theo những cách khác nhau. Nếu người Phần Lan và người Pháp coi việc nhìn thẳng vào mắt đối tác là biểu hiện của sự chân thật thì người Nhật và người Hàn Quốc lại cho đó là một cử chỉ suồng sã, bất lịch sự. Ở Châu Phi cũng như các nước Mỹ Latin, người có địa vị thấp hơn nhìn thẳng vào mắt của người có địa vị cao hơn sẽ bị cho là bất kính. Còn trong trường hợp trao và nhận danh thiếp, người Mỹ cho rằng, người tặng danh thiếp quan trọng hơn tấm danh thiếp, nên khi nhận, họ sẽ chỉ nhìn lướt qua danh thiếp được tặng hoặc thậm chí không nhìn trước khi cất đi hay bỏ vào túi. Tuy nhiên hành động này sẽ khiến người Nhật cho là thiếu tôn trọng bởi họ xem danh thiếp cũng giống như là sự hiện diện của bản thân, trao và nhận danh thiếp phải bằng hai tay, nhận rồi

    23

    thì phải đọc qua chứ không được cất ngay và hành động gấp lại hay làm nhàu tấm danh thiếp sẽ không khác gì một sự sỉ nhục.

    Tặng quà cũng là một thông điệp đặc biệt của ngôn ngữ. Tuy nhiên không phải món quà nào, thời điểm tặng nào cũng nhận được sự hoan nghênh. Ví dụ: ở Anh, người ta hiếm khi tặng quần áo vì họ cho rằng quần áo là một điều gì đó rất riêng tư; người Trung Quốc và Đài Loan lại ít tặng nhau đồng hồ báo thức vì đồng hồ phát ra âm giống như từ “chấm dứt” với ý nghĩa “kết thúc tất cả” hay “đi đến chỗ chết”. Còn ở Ý, Thái Lan hay Brazil, người ta không bao giờ tặng khăn mùi xoa vì theo họ, đó là vật lau nước mắt, việc tặng khăn là một điềm báo báo hiệu một thảm kịch nào đó sắp xảy ra với người nhận. Các nước Châu Âu thường tặng quà chỉ sau một vài lần hợp tác với nhau và chỉ khi mối quan hệ đã được phát triển. Trong khi đó, Nhật Bản lại chú trọng đến việc tặng quà ngay lần gặp đầu tiên. Ở những nước có nạn tham nhũng lớn như Malaysia và Paraguay, những món quà có thể bị hiểu nhầm là hối lộ.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đối với công tác quản lý: Rào cản do khác biệt ngôn ngữ làm giảm hiệu quả công tác quản lý. Cụ thể như sau:

    Ngôn ngữ là chiếc cầu nối để tiếp cận các nền văn hóa khác nhau. Một khi có sự bất đồng về ngôn ngữ thì khoảng cách do khác biệt văn hóa trở nên khó rút ngắn hơn. Điều này cản trở các nhà quản lý trong việc tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp ngoại quốc của mình.

    Khi có sự bất đồng về ngôn ngữ, khả năng trao đổi thông tin giữa các bên trở nên hạn chế. Nhân viên không hiểu hết hoặc có thể hiểu nhầm mệnh lệnh của ông chủ, ngược lại, ông chủ không thể nắm bắt được vấn đề của nhân viên. Tình trạng này gây ra sự phối hợp thiếu ăn ý trong nội bộ doanh nghiệp, trầm trọng hơn có thể gây trì trệ hoạt động của doanh nghiệp đó.

    Ảnh hưởng của rào cản ngôn ngữ đến hoạt động kinh doanh

    24

    Kinh doanh ở một môi trường khác biệt về ngôn ngữ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Sự khác biệt này có thể là rào cản đối với hầu hết các hoạt động kinh doanh, từ giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng, đến tiến hành hoạt động marketing cho sản phẩm.

    Quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi hay không không chỉ phụ thuộc vào khả năng thuyết phục, thương lượng của người đàm phán mà còn tùy thuộc vào mức độ am hiểu ngôn ngữ đối phương. Trong đàm phán, dùng từ ngữ chính xác là điều rất quan trọng. Bất đồng ngôn ngữ dễ dẫn đến tình trạng dùng sai từ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả đàm phán. Việc hiểu sai hoặc không hiểu ngôn ngữ không lời của đối tác cũng dẫn đến những kết quả không mong đợi.

    Trong trường hợp bản hợp đồng được diễn giải bằng một ngôn ngữ chung cho hai bên thì cũng không thể chắc chắn đôi bên sẽ cùng chung một cách hiểu. Khác biệt ngôn ngữ có thể dẫn đến những cách lý giải khác nhau, là nguyên nhân của những tranh chấp sau này.

    Bất đồng ngôn ngữ gây khó khăn cho việc hoạch định chiến lược marketing ngay từ khâu điều tra thị trường. Nhà quản lý không chỉ khó khăn trong việc soạn thảo một bảng câu hỏi và dịch sang các thứ tiếng sao cho chuẩn xác, mà còn mất nhiều công sức để luận ý các câu trả lời. Tương tự, khâu quảng cáo giới thiệu về sản phẩm cũng gặp nhiều trở ngại vì những bất đồng ngôn ngữ. Cùng một cụm từ, nhưng mỗi nền văn hóa khác nhau lại có những cách hiểu khác nhau.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Về mặt lí thuyết, tư duy mang tính phổ quát cho toàn nhân loại. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhìn nhận tư duy ở sự khác biệt được thể hiện trong các nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt này thường tạo ra những bất đồng trong cách suy nghĩ và cách giải quyết vấn đề đặc trưng cho từng dân tộc ở hai nền văn hóa Đông, Tây.

    Tư duy phương Tây tuân thủ các nguyên tắc logic. Ví dụ: nếu ta có 2 nhóm A và B, thì chắc chắn, một vật sẽ không thể vừa thuộc nhóm A, vừa thuộc nhóm B vì như vậy là phản logic, không có ích lợi cho tư duy khoa học. Có thể nói, tư duy

    25

    phương Tây là tư duy kiểu “trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám” (Theo cuốn “The Geography of Thought” của giáo sư Richard Nisbet) [17]. Kiểu tư duy này khá cứng nhắc và dễ dẫn đến những hành động cực đoan bởi nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Điều này giải thích tại sao người phương Tây có xu hướng đi thẳng vào vấn đề khi đàm phán, sẵn sàng trả lời “không”, rất coi trọng giá trị của hợp đồng và không ngại kiện ra tòa nếu đối tác vi phạm. Trong khi đó, truyền thống tư duy của phương Đông lại cho rằng bản chất của thực tại là luôn thay đổi và mọi vật không tồn tại bất biến mà luôn trong quá trình chuyển hóa thành một trạng thái khác tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Do đó, người phương Đông có xu hướng tìm cách dung hòa xung đột, trong cách nói năng thường ít bộc lộ rõ ràng ý kiến. Với họ, bản hợp đồng không phải là duy nhất và hiển nhiên có thể thay đổi khi cần và sự can thiệp của pháp luật chỉ được tính đến khi mọi nỗ lực thương lượng không phát huy tác dụng.

    Cách tư duy về thời gian cũng rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Một số nước như Mỹ, Thụy Điển, Hà Lan, thời gian được nhận thức là trôi qua theo một đường thẳng, một tiếp nối của những sự kiện riêng rẽ. Còn ở một số nền văn hóa khác thì thời gian giống như một vòng quay, quá khứ, hiện tại và tương lai có mối quan hệ chặt chẽ. Điều này tạo nên sự khác biệt đáng kể trong việc lên kế hoạch hay chiến lược đầu tư của từng nền văn hóa.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến công tác quản lý

    Bất đồng về cách tư duy dẫn đến những khác biệt về cách nói cũng như hành động, cản trở quá trình giao tiếp từ đó ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cá nhân. Tư duy kiểu phương Tây quy định cách suy nghĩ đơn giản, rõ ràng, thẳng thắn, vì thế, cách nói của họ cũng mang nét đặc trưng này. Người Châu Á lại có lối tư duy mềm dẻo hơn nên họ tin rằng luôn có cách ổn thỏa để giải quyết vấn đề, trong giao tiếp họ giữ gìn hòa khí và đề cao sự ý tứ. Vì thế, lối nói của người phương Tây khiến họ thấy thiếu tế nhị, đôi khi quá thẳng thắn thành ra thô lỗ.

    26

    Cách tư duy khác nhau về thời gian tạo nên sự khác biệt trong việc lên kế hoạch dài hạn. Người Mỹ tư duy thời gian như một chuỗi các sự kiện liên tục, dài hạn đối với họ chỉ là mấy tháng, nhiều nhất là 2 năm. Trong khi đó, các quốc gia coi thời gian là một vòng luân hồi giữa quá khứ, hiện tại, tương lai thì lập kế hoạch cho 10,20, thậm chí hàng trăm năm.

    Ảnh hưởng của rào cản tư duy đến hoạt động kinh doanh

    Quá trình đàm phán, thương lượng diễn ra giữa đối tác người phương Tây và phương Đông chịu ảnh hưởng đáng kể do khác biệt tư duy. Người phương Tây sẽ gây khó chịu cho đối tác Châu Á nếu họ giữ thái độ tranh thủ thời gian mọi lúc mọi nơi để tiếp cận vấn đề, sẵn sàng nói “không” khi cảm thấy chưa thỏa mãn và không ngần ngại kiện ra tòa nếu bị xâm phạm quyền lợi. Người Châu Á thường bỏ qua vấn đề thời gian chỉ để tìm hiểu đối tác của mình. Nếu không đồng ý, họ thường diễn đạt vòng vo, rườm rà thay vì nói thẳng là “không”. Nếu có tranh chấp xảy ra, họ tìm cách để hòa giải, tòa án chỉ được lưu ý đến khi nỗ lực thương lượng không phát huy hiệu quả.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Một sản phẩm muốn được thị trường tiếp nhận thì nhất thiết phải thỏa mãn sở thích, phong cách hay mong muốn của người tiêu dùng ở thị trường đó. Nắm được các tiêu chí này cũng là một thách thức lớn đối với nhà sản xuất bởi thị hiếu tiêu dùng luôn biến đổi dưới sự chi phối của các nền văn hóa khác nhau. Nhà đầu tư không còn cách nào khác phải đa dạng hóa sản phẩm của mình sao cho phù hợp với mỗi thị trường đầu tư. Ví dụ như sản phẩm ô tô Nhật Bản. Theo đặc điểm văn hóa mỗi nước, các chức năng ban đầu của sản phẩm phải có những thay đổi cần thiết về màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng, bao bì.

    • Về màu sắc, màu đen là màu sang trọng ở nhiều nước Tây Âu, Bắc Mỹ nhưng lại là màu tang tóc ở Nhật Bản; màu xanh lá cây lại bị coi là màu ốm yếu ở Malaysia.

    27

    • Về kích cỡ, hãng Toyota năm 1991 đã phải tăng kích cỡ ô tô Camry của mình thêm 3 inch khi thâm nhập vào thị trường Mỹ để cạnh tranh với hãng Ford và General Motors hiện có ở đất nước này.
    • Về kiểu dáng, nhiều hãng ô tô Nhật Bản, Bắc Mỹ và Tây Âu đã phải chuyển đổi hệ thống tay lái từ bên phải sang bên trái khi thâm nhập vào Việt Nam và nhiều nước thuộc hệ thống chủ nghĩa xã hội (cũ).

    Sự thay đổi trên là một nỗ lực của hãng Toyota trong chiến lược toàn cầu hóa sản phẩm của mình. Nhà sản xuất phải bỏ ra không ít công sức, tiền của để tìm hiểu thị trường, thiết kế lại mẫu mã, thậm chí đầu tư thêm dây chuyền sản xuất để có được sự điều chỉnh đúng đắn đó.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt thị hiếu tiêu dùng đối với hoạt động kinh

    doanh

    Rào cản này ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Những khác biệt về thị hiếu của người tiêu dùng ở các nền văn hóa khác nhau gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc nghiên cứu thị trường, xác định điều chỉnh sản phẩm sao cho phù hợp. Bởi công việc này đòi hỏi chi phí lớn về cả công sức, thời gian và tiền của.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của mình.

    Những khác biệt về văn hóa kinh doanh được xem là một trong những rào cản lớn nhất đối với các nhà đầu tư đến từ các nền văn hóa khác nhau. Hoạt động kinh doanh quốc tế buộc các thành viên tham gia phải làm việc trong những môi trường mới với vô số những khác biệt về cách thức kinh doanh, thái độ đối với việc phát triển quan hệ kinh doanh, quan niệm về giá trị nghề nghiệp, thái độ đối với sự đúng giờ giấc hay cách đàm phán, kể cả phong tục tặng quà, cách thức ăn mặc, ý

    28

    nghĩa về màu sắc và con số, quan niệm về tước hiệu, v.v. Tất cả những yếu tố này góp phần tạo nên một môi trường kinh doanh đặc thù mà bản thân nhà quản lý cũng như nhân viên của họ vừa là những chủ thể quyết định cũng vừa là chủ thể bị chi phối.

    Ảnh hưởng của rào cản do khác biệt văn hóa kinh doanh đến công tác quản lý

    Khác biệt văn hóa kinh doanh gây khó khăn trong việc xây dựng một mô hình quản lý doanh nghiệp. Một nhà đầu tư đến từ Mỹ sẽ gặp rất nhiều cản trở khi làm việc ở một công ty Nhật. Bởi mô hình văn hóa kinh doanh của họ rất khác nhau. Người Mỹ có cách quản lý phân quyền rõ ràng, các cấp bậc cao thể hiện chức năng điều hành cấp bậc thấp hơn, nhân viên tuân lệnh ông chủ và mối quan hệ giữa họ chỉ dừng lại ở mức độ công việc. Người Nhật lại có cách quản lý công ty theo kiểu “gia đình”. Người lãnh đạo được xem như là người cha, nắm giữ quyền lực theo hướng ôn hòa, không có tính đe dọa. Các thành viên gắn bó thân thiết với nhau, sự hài lòng trong các mối quan hệ gia đình tạo ra động cơ làm việc, năng suất lao động cao và giải quyết các mâu thuẫn.

    Khác biệt văn hóa kinh doanh còn gây khó khăn cho nhà quản lý trong việc quản lý nhân sự. Đầu tiên là khâu tuyển dụng. Mô hình văn hóa theo hướng gia đình đặc biệt coi trọng mối quan hệ. Những cá nhân có quan hệ họ hàng hoặc gắn bó thân thiết với thành viên nào đó trong công ty sẽ được ưu tiên. Vấn đề năng lực không phải là quan trọng nhất như ở mô hình văn hóa kinh doanh phân bậc rõ ràng. Tiếp đến là việc khen thưởng, tăng lương cho nhân viên. Ở các nền văn hóa đề cao chủ nghĩa cá nhân, việc áp dụng phương pháp trả lương theo hiệu quả công việc có thể phát huy hiệu quả. Thế nhưng, phương pháp này lại không mang đến kết quả tương tự, thậm chí còn thất bại thảm hại ở các nền văn hóa giàu tính cộng đồng hơn.

    2.5. Rào cản do khác biệt văn hóa ngƣời lao động

    Văn hóa người lao động là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến cách thức làm việc, chất lượng công việc, mối quan hệ giữa người lao động với nhau và người lao động với người quản lý nói chung. Tổng thể ấy bao gồm trình độ, kỹ năng của

    29

    người lao động, hay là thói quen, quan niệm của họ đối với công việc cũng như thái độ đối với cấp trên và những người xung quanh.

    Mỗi nền văn hóa khác nhau tất yếu có những nét khác nhau về văn hóa người lao động và sự hòa hợp giữa những khác biệt này là điều rất cần thiết để duy trì một mối quan hệ tốt đẹp giữa những đồng nghiệp với nhau. Điều này sẽ quyết định sự thống nhất trong hoạt động của một tập thể bao gồm những cá nhân đến từ các nền văn hóa khác nhau với cùng mục đích là làm việc vì một sự thịnh vượng chung.

    Ảnh hưởng của rào cản đối với công tác quản lý

    Chênh lệch trình độ lao động là một cản trở đối với nhà đầu tư trong việc tuyển dụng nhân sự. Để tìm được một cá nhân đáp ứng được nhu cầu công việc, nhà quản lý phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ cho công tác tuyển dụng này. Ở các quốc gia nghèo, giáo dục chưa được đầu tư thích đáng, vấn đề về kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng của lao động là một thách thức đối với các nhà đầu tư.

    30

    CHƢƠNG II

    NHỮNG RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM ĐỐI VỚI

    CÁC NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Tổng quan về hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Trong vòng hơn hai mươi năm trở lại đây, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những chuyển biến không ngừng. Trong khi FDI đã trải qua những mốc thăng trầm lịch sử thì FII vẫn còn khá mới mẻ đối với nước ta. Tuy nhiên, cả hai hoạt động đầu tư này đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, hứa hẹn những bước tiến mới trong những năm tới khi mà vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang ngày càng được khẳng định.

    1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

    1.1. Tình hình vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài từ năm 1988 đến nay

    (Theo số liệu của Tổng Cục thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

    Trong 3 năm 1988-1990: Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam mới được ban hành không lâu nên hiệu quả thu hút FDI chưa có gì đáng kể, con số dự án FDI vẫn còn rất khiêm tốn (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD).

    Thời kỳ 1991-1996: Đây được coi là thời kỳ bùng nổ FDI tại Việt Nam với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký 28.3 tỷ USD. Con số này chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh tại nước ta đã bắt đầu lôi cuốn nhà đầu tư bởi những điểm hấp dẫn như nhân lực dồi dào, giá rẻ, thị trường mới… Nguồn vốn FDI mang lại đã ảnh hưởng lan rộng đến các thành phần kinh tế, đóng góp đáng kể cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đất nước.

    Thời kỳ 1997-1999: Có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD. Như vậy FDI cũng trên đà tăng trưởng tuy các dự án này chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, vốn đăng ký năm sau ít hơn năm trước và cũng có nhiều dự án được cấp phép phải tạm dừng triển khai do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông).

    Thời kỳ 2000-2005: Nguồn vốn FDI thu được trong giai đoạn này là 20,8 tỷ USD, vượt 73% kế hoạch đưa ra tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001

    31

    của Chính phủ. Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2 lần năm 1990, GDP giai đoạn này đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%; dịch vụ tăng 7%).

    Thời kỳ 2006-2007: Dòng vốn FDI tiếp tục gia tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án có quy mô lớn, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao…) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch dịch vụ cao cấp…). Sự gia tăng này cũng góp phần làm tăng GDP các năm. Năm 2006, GDP đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,29%). Năm 2007, GDP đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%; dịch vụ tăng 8,6%).

    Năm 2008: Nếu đến năm 2007, tổng vốn FDI đạt 21,3 tỷ USD đã được coi là đạt kỷ lục cho đến thời điểm đó thì năm 2008 có thể xem là điểm nhấn đánh dấu thành công lớn nhất của dòng FDI. Tính đến 19/12, tổng vốn đăng ký đã đạt hơn 64 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2007 và gấp 2 lần con số của hai năm 2006, 2007 cộng lại. Những siêu dự án, những kỷ lục về quy mô vốn liên tục được phá, điển hình là dự án Khu liên hợp Thép Cà Ná tại Ninh Thuận với tổng vốn đăng kí đạt tới 20,3 tỷ USD. Theo quan điểm của ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thì chỉ tiêu này chứng tỏ “sự nhìn nhận lạc quan của quốc tế đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn”.

    Năm 2009 đến nay: Đặt trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế Thế giới và khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế do các điểm yếu cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, vốn đăng ký FDI năm 2009 chỉ đạt 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008. Tuy vậy, dòng vốn này có dấu hiệu phục hồi trong những tháng đầu năm

    1. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giải ngân vốn FDI đạt khoảng 900 triệu USD trong tháng 4, nâng tổng số vốn FDI giải ngân 4 tháng đầu năm lên 3,4 tỷ USD, tăng tới 36% so với cùng kỳ 2009.

    1.2. Hình thức đầu tƣ

    32

    Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp FDI thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 6.685 dự án, tổng vốn đăng ký 21,2 tỷ USD. Tiếp theo là hình thức liên doanh với 1.619 dự án, tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD. Hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD, số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO. Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư được thống kê như sau:

    FDI theo hình thức đầu tư 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

    Hình thức đầu tƣ Số dự án Vốn đầu tƣ Vốn điều lệ   ĐT thực
      hiện
             
    100% vốn nước ngoài 77.65% 61.65% 59.84%   38.74%
               
    Liên doanh 18.89% 28.89% 25.89%   38.12%
               
    Hợp đồng hợp tác KD 2.60% 5.38% 11.50%   19.36%
               
    Hợp đồng BOT,BT,BTO 0.09% 2.01% 1.27%   2.49%
               
    Công ty cổ phần 0.76% 1.95% 1.26%   1.24%
               
    Công ty Mẹ – Con 0.01% 0.12% 0.23%   0.05%
               
    Tổng số 100.00% 100.00% 100.00%   100.00%
               
    Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư  

    1.3. Lĩnh vực đầu tƣ

    Đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất trên tổng các lĩnh vực đầu tư với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm tỉ lệ về số dự án, tổng vốn đăng ký và vốn thực hiện lần lượt là 67,1%; 60,44%; 68,57%. Sang năm 2008, vốn FDI vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực này. Các dự án như thăm dò khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện tử và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may… đang giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ. Thông qua các dự án này, FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, đặc biệt

    33

    là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD cho dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech…)

    Không chỉ dừng lại ở đó, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1.982 tỷ USD năm 2008 và giá trị xuất khẩu đạt 24,465 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, được xem là một kỷ lục của FDI. Sang năm 2009, lĩnh vực đầu tư có phần đổi mới. Dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài, tiếp đến là lĩnh vực bất động sản và sau đó là lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

    1.4. Địa bàn đầu tƣ

    Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nhất trong cả nước. Với môi trường kinh doanh năng động, hệ thống giao thông khá thuận lợi, trình độ lao động nhìn chung cao, thị trường rộng lớn, nhiều khu công nghiệp tập trung đã và đang được xây dựng… khiến cho FDI của Thành phố lớn mạnh không ngừng và đang thực sự trở thành nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển của cả nước. Tính đến hết năm 2007, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 27,63% về số dự án, 21,71% về vốn thực hiện, tiếp đến là Hà Nội với 11,64% về số dự án và 12,28% về vốn thực hiện. Bình Dương cũng là một địa phương có mức FDI cao, chiếm 18,21% về số dự án và 7,11% về vốn thực hiện, sau đó là các địa bàn khác như Đồng Nai, Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Dương…

    FDI theo địa phương năm 1988-2007 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

            Đơnvị: tỷ USD
             
    Địa phương Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ Vốn thực hiện
             
    TP Hồ Chí Minh 2399 17,013 7,100 6,347
             
    Hà Nội 1011 12,664 5.661 3,589
             
    Đồng Nai 917 11,665 4,655 4,152
             
    Bình Dương 1581 8,516 3,452 2,078
             
    Hải Phòng 270 2,729 1,148 1,273
             

    34

    Bà Rịa-Vũng Tàu 159 6,111 2,397 1,267
             
    Hải Dương 278 1,830 0,703 0,439
             
    Vĩnh Phúc 151 2,034 0,647 0,438
             

    Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

    Năm 2009, Bà Rịa-Vũng Tàu lại là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất, với 6,73 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm, tiếp theo là Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên với quy mô đăng ký vốn lần lượt là 4,1 tỷ USD; 2,5 tỷ USD; 2,36 tỷ USD và 1,7 tỷ USD.

    1.5. Đối tác đầu tƣ

    Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong vòng 20 năm kể từ năm 1988 đến 2007, đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, Châu Âu chiếm 24%, Châu Mỹ chiếm 5%. Các chủ đầu tư Châu Á vẫn giữ vị trí chủ đạo cho đến hết năm 2008. Trong số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, Malaysia đứng đầu bảng với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD, chiếm 4,7% về số dự án và 24% về vốn đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2, có 132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD, Nhật Bản xếp thứ 3 với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD. Tuy nhiên, đến năm 2009 bộ mặt các nhà đầu tư có phần thay đổi so với trước. Có 43 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ (tổng vốn đăng ký 9,8 tỷ USD chiếm 45,6%), Cayman Islands đứng thứ 2 (tổng vốn đăng ký 2,02 tỷ USD chiếm 9,4%), thứ 3 là Samoa (vốn đăng ký là 1,7 tỷ USD chiếm 7,9%), Hàn Quốc đứng thứ 4 (vốn đăng ký là 1,66 tỷ USD, chiếm 7,7%).

    Nguồn vốn FDI không những đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn tạo nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1.615 triệu việc làm được tạo ra của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1.467 triệu người. Tuy vậy, vẫn rất cần những chính sách hợp lý từ phía Nhà nước để hạn chế những bất cập của dòng vốn này như sự mất cân đối về ngành nghề và

    35

    địa bàn đầu tư, bất cập trong chuyển giao công nghệ không đạt tiêu chuẩn hay tranh chấp lao động phát sinh trong khu vực có vốn FDI…

    2. Đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài (FII)

    Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một kênh dẫn vốn cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhân tố chính tác động mạnh mẽ đến hoạt động này là: chất lượng các loại chứng khoán, sự vận hành của các định chế tài chính trung gian (Quỹ đầu tư, công ty đầu tư tài chính các loại), hệ thống thông tin và dịch vụ chứng khoán, việc gia tăng cổ phần hóa các doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả trong nước…Hơn 20 năm kể từ khi xuất hiện, dòng vốn FII Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Tuy những gì dòng vốn này mang lại còn khá khiêm tốn nhưng đã có những ảnh hưởng tích cực đến thị trường tài chính còn khá non trẻ của Việt Nam. Có thể nhìn nhận sự đổi thay của dòng vốn FII vào nước ta qua các giai đoạn như sau:

    Giai đoạn 1988-1997: Dòng vốn FII bắt đầu có những bước phát triển kể từ những chính sách đổi mới để thu hút đầu tư vào Việt Nam, kết quả sau mười năm là sự thành lập của 7 Quỹ đầu tư nước ngoài. Đây được xem là làn sóng FII thứ nhất vào Việt Nam.

    Giai đoạn 1998-2002: Thời kỳ này dòng vốn FII vào nước ta có sự suy giảm đáng kể, 5 quỹ đầu tư thành lập ở giai đoạn đầu rút lui,1 quỹ thu hẹp trên 90% quy mô, chỉ còn duy nhất quỹ Vietnam Enterprise Investment Fund thành lập tháng 7-1995 với quy mô vốn 35 triệu USD (nhỏ nhất trong 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự giảm sút này, trong đó nổi trội nhất vẫn là do sự thiếu đồng bộ cũng như bất cập trong chính sách kinh tế đối ngoại nước ta, thêm vào đó là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á diễn ra năm 1997 làm cho dòng vốn đầu tư đổ vào Châu Á nói chung bị chững lại.

    Giai đoạn 2003-2005: Làn sóng thứ hai khởi động với sự xuất hiện của Mekong Enterprise Fund, ngay sau đó là VinaCapital và một số công ty quản lý khác với việc công bố thành lập các quỹ mới và hướng mục tiêu đầu tư vào nhiều

    36

    lĩnh vực đa dạng. Tuy vậy, hoạt động đầu tư của các quỹ này khá thầm lặng do tâm lý còn e ngại của các nhà đầu tư. Họ chỉ đưa vào thị trường những khoản đầu tư nhỏ với mục đích thăm dò là chính. Theo bài nghiên cứu tổng hợp về tình hình Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam đăng trên website Bộ Ngoại Giao ngày 06-03-2010 thì sau khủng hoảng 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam tăng lên nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ hạn chế. Một số quỹ hoạt động ở Việt Nam từ năm 2001 (quy mô vốn bình quân từ 5 triệu USD đến 20 triệu USD mỗi quỹ) chiếm 1,2% vốn FDI năm 2001, tăng lên 3,7% vốn FDI vào năm 2004, so với các nước trong khu vực thì tỷ lệ này còn quá thấp (FDI/FII trong khoảng 30-40%). Cho đến năm 2005, nguồn vốn này mới chỉ đạt khoảng 1% so với FDI.

    Giai đoạn 2006-2007: Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán năm 2006, làn sóng FII vào Việt Nam giai đoạn này được hình thành và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bộ Tài Chính cho biết, vốn FII được công bố qua các quỹ đầu tư chính thức vào khoảng 2 tỷ USD, cao điểm là vào giữa năm 2006 khi công ty quản lý quỹ VinaCapital khai trương quỹ bất động sản Vinaland với số tiền đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài lên tới 65 triệu USD, vượt qua mức dự kiến ban đầu là 15 triệu USD. Theo nhận định của nhiều quỹ đầu tư nước ngoài tại Hội nghị “Funds World Vietnam 2007” diễn ra ở Thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 4-5 tỷ USD vốn FII đang chờ để vào thị trường Việt Nam, phần lớn là đổ vào các đợt IPO của những doanh nghiệp lớn như: Vietcombank, BIDV, MHB, Incombank, MobiFone…Ngoài ra, các quỹ đầu tư vào địa ốc và thị trường chứng khoán cũng ngày càng gia tăng đưa số vốn FII lên tới 6,3 tỷ USD năm 2007 (Thông tin từ Thống đốc Ngân hàng nhà nước).

    Năm 2008 đến nay: Ngược lại với những thuận lợi trong năm 2007, năm 2008 chứng kiến sự sụt giảm đáng kể của dòng FII vào Việt Nam. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội đã nhận định con số giảm sút là 587 triệu USD. Tình hình cũng không mấy khả quan vào năm 2009 khi lượng vốn đầu tư gián tiếp này đã rút khoảng 500 triệu USD.

    37

    Có thể nói rằng, việc phát triển thị trường vốn FII vào Việt Nam sẽ mang lại cơ hội mới cho các doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện thể chế và cơ chế thị trường nói chung. Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này là nguy cơ làm tăng mức nhạy cảm và bất ổn về kinh tế do nguồn vốn đầu tư được thực hiện dưới dạng đầu tư tài chính thuần túy nên chủ đầu tư có thể dễ dàng và nhanh chóng mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí đột ngột rút vốn của mình về nước hay chuyển sang đầu tư ở lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, nguy cơ các doanh nghiệp và tổ chức phát hành chứng khoán bị mua lại, sát nhập, khống chế hay tình trạng tội phạm kinh tế quốc tế cũng là một mối đe dọa thị trường Việt Nam. Như vậy, việc chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý kinh tế theo nguyên tắc thị trường của Chính phủ và các cơ quan Trung ương là hết sức cần thiết để vừa hạn chế những nguy cơ này, vừa đảm bảo thu hút và khai thác có hiệu quả các tác động tích cực của dòng vốn FII.

    II. Vài nét về văn hóa Việt Nam

    1. Lịch sử hình thành văn hóa Việt Nam

    Sự hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam gắn liền với lịch sử dân tộc trong suốt quá trình đấu tranh với thiên nhiên, chống xâm lược ngoại bang và xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập. Cùng với chiều dài lịch sử, nền văn hóa Việt đã chứng kiến không ít đổi thay và đang ngày càng trở nên đặc sắc, phong phú, mang đậm dấu ấn riêng của mình.

    Văn hóa thời Tiền sử: Là nền văn hóa đặc trưng cho thời đại đá cũ và hậu đá cũ thô sơ, thời kì nguyên đá mới và đá mới, thời kì hậu đá mới. Khởi đầu của thời kì này là những di vật tìm thấy cách đây hàng chục vạn năm của người nguyên thủy ở núi Đọ (Thanh Hóa), tiếp đến là nền văn hóa Sơn Vi (Vĩnh Phú) với những nhóm cư dân sinh sống bằng nghề săn bắt, hái lượm. Thời kỳ nguyên đá mới và đá mới cách đây trên dưới một vạn năm của nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn bắt đầu đánh dấu bước tiến quan trọng của con người với việc trồng trọt. Từ nền tảng này, nền văn minh lúa nước kết hợp với chăn nuôi và các nghề thủ công phát triển ở thời kỳ hậu đá mới (cách đây 4-5 nghìn năm) đã dần đưa cuộc sống con người vào giai đoạn ổn định hơn với những xóm làng định cư dựa trên quan hệ thị tộc mẫu hệ.

    38

    Văn hóa thời Sơ sử: Ba trung tâm lớn trên ba miền Bắc, Trung, Nam tương ứng với các nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

    Nền văn hóa Đông Sơn khu vực sông Hồng, sông Cả, sông Mã gắn với việc tìm thấy vật liệu đồng thau đã tác động lớn lao đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Những dấu ấn sâu đậm thời kì này để lại là các sản phẩm tinh xảo đã trở thành biểu tượng văn hóa dân tộc như chiếc trống đồng Đông Sơn, ngoài ra còn nhiều loại nhạc cụ độc đáo, những huyền thoại, thần thoại mang tính sử thi…Người dân bấy giờ còn biết thờ thần Mặt trời nhằm cầu may cho mùa màng tốt tươi để đời sống được no ấm.

    Văn hóa Sa Huỳnh kéo dài từ Bình Trị Thiên đến lưu vực sông Đồng Nai lại không lấy đồng làm nguyên liệu chính như văn hóa Đông Sơn mà thay vào đó, họ lấy sắt làm nguyên liệu chủ yếu để phục vụ hiệu quả việc sản xuất nông nghiệp. Cư dân Sa Huỳnh còn biết dệt vải, đúc đồ gốm, làm trang sức bằng các vật liệu thiên nhiên, tạo ra một nền văn hóa tiến bộ.

    Văn hóa Đồng Nai đặc trưng cho cư dân vùng Nam Bộ vốn gắn với sông nước và những miệt vườn. Nền văn hóa này coi đá là nguyên liệu chính để chế tác ra những công cụ sản xuất và cả đồ trang sức. Đời sống tín ngưỡng tuy chỉ dừng lại ở cấp độ “Bái vật giáo”, nhưng người dân vẫn tin vào thế giới khác ngoài thế giới hiện thực của con người. Họ sống vô tư, phóng khoáng, thẳng thắn và ít suy tư như các vùng miền khác.

    Văn hóa Bắc thuộc: Sau 10 thế kỷ mất nước (179 trước CN-938), nhân dân ta dành lại độc lập mà vẫn không bị đồng hóa dân tộc. Thành công này có được là bởi sự cố kết cộng đồng bền chặt thành một thực thể quốc gia đạt đến trình độ văn minh, biết gìn giữ và phát huy vốn văn hóa cổ truyền đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hóa bên ngoài. Trong suốt thời kỳ này, Nho giáo, Đạo giáo, chữ Hán, nghề làm giấy, một số kỹ thuật nông nghiệp từ Trung Quốc cũng như Phật giáo và các kỹ thuật chế biến thủy tinh, hương liệu từ Ấn Độ đã truyền vào Việt Nam, góp phần đa dạng và phong phú hơn nền văn hóa dân tộc.

    39

    Văn hóa Thăng Long: Đất nước bắt đầu thời kỳ độc lập, phát triển, nền văn hóa dân tộc cũng bước vào thời kỳ phục hưng với những thành tựu rực rỡ. Trong giai đoạn này, các di sản văn hóa cổ truyền được kế thừa và nâng cao một cách sáng tạo, điển hình là những hoạt động văn hóa dân gian như múa rối, đua thuyền, chọi vật, hát tuồng, hát chèo… đều phát triển mạnh mẽ. Giáo dục được chú trọng hơn, đặc biệt là sự ra đời của chữ Nôm đã để lại nhiều tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhiều danh nhân văn hóa lớn của dân tộc.

    Thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX : Thời kỳ này Nho giáo vẫn được các vương triều coi là hệ tư tưởng chính thống nhưng Phật giáo cũng có phần phục hưng và Kito giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam. Nét đặc sắc văn hóa giai đoạn này là sự trỗi dậy của văn hóa dân gian trong văn học, nghệ thuật và sinh hoạt làng xã. Tranh dân gian được coi là một sáng tạo độc đáo và nghệ thuật kiến trúc tạo hình cũng đóng góp cho di sản văn hóa dân tộc nhiều công trình giá trị. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ.

    Thời kỳ đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân: Nửa sau thế kỷ XIX, thực dân Pháp chính thức thống trị nước ta. Ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa phương Tây đã khiến bản sắc văn hóa Việt Nam có phần phai nhạt, đặc biệt là ở khu vực thành thị.

    Năm 1945, cách mạng Tháng 8 thành công: Sự kiện này đã đánh dấu một mốc son vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước vào kỷ nguyên xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng đến năm 1955, đất nước bị chia cắt hai miền Nam- Bắc, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống lại Đế quốc Mỹ, văn hóa miền Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi lối sống của văn hóa phương Tây.

    Năm 1975 đến nay: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất và cùng phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước vẫn kiên định mục tiêu “Xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Xu hướng hội nhập toàn cầu ngày càng rõ nét

    40

    cùng với sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia đang đặt đất nước trước thách thức giữ gìn và tiếp thu có chọn lọc nền văn minh của các nước bạn [6].

    2.                 Đặc trƣng văn hóa Việt Nam

     

    1. Tín ngƣỡng – Tôn giáo

    Nói đến tín ngưỡng của người Việt Nam, đầu tiên phải kể đến đạo thờ cúng tổ tiên được hình thành từ rất lâu đời và càng thêm sâu sắc sau 1000 năm Bắc thuộc. Tuy vậy, việc thờ cúng tổ tiên của người Việt không mang tính huyết thống như người Hán mà thể hiện việc ghi nhớ ơn nghĩa của người xưa, đúng như tinh thần của câu tục ngữ: “uống nước nhớ nguồn” từ bao đời nay ông cha vẫn thường nhắc nhở. Nét đặc biệt của tín ngưỡng này được thể hiện ở chỗ, mỗi làng Việt đều có đình Thờ Thành Hoàng để thờ các Thiên thần (các hiện tượng tự nhiên liên quan đến nông nghiệp như mây, mưa, đất nước…) và Nhân thần (những người anh hùng dân tộc, có công khai cơ lập ấp).

    Tôn giáo ở Việt Nam khá phong phú. Ngoài ba Tôn giáo chính là Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, ở Việt Nam còn có một số giáo phái khác như Công giáo Rôma, Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành, Hồi giáo. Đặc điểm của Tôn giáo ở Việt Nam có khác so với ở các nước khác. Những vị Thần hay Phật mà người Việt thờ cúng không ở cao xa như một “lý trí tuyệt đối” siêu nhiên sinh ra loài người, cứu vớt loài người mà “sống” bên cạnh con người, làm nhiệm vụ “hộ quốc”, “bảo dân”. Người ta thờ Thần, thờ Phật trước hết vì cuộc sống trước mắt chứ không phải để cứu vớt linh hồn lên với chúa trời hay chính là vì hiện thế chứ không phải vì lai thế.

    Người Việt không cuồng tín Tôn giáo như ở các nước khác. Các lớp tôn giáo và tín ngưỡng của gia đình, dòng họ cũng như làng xã, quốc gia hòa hợp nhau. Trường hợp một người hay một gia đình thờ tổ tiên, Thành Hoàng, cả Phật, Khổng Tử là không hiếm. Đây là điểm thể hiện sự hòa nhập Tôn giáo và tính hiện thực của tín ngưỡng tôn giáo người Việt xưa và nay, là sắc thái riêng chứng tỏ sự tiếp thu có chọn lọc của văn hóa dân tộc dưới tác động của các nền văn hóa nước ngoài.

    2.2. Ngôn ngữ

    41

    Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp trọng yếu của người Việt kể từ thời kì dựng nước. Có thể nói, sự phát triển của tiếng Việt đã phản ánh một cách trung thực các thời kì lịch sử Việt Nam với những biến đổi về cả ba phương diện ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. Tiếng Việt ngày nay vẫn không ngừng biến đổi nhằm thích ứng với sự phát triển của thời đại mới. Có thể thấy rõ điều này qua ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Những thuật ngữ về khoa học – công nghệ ngày càng được sử dụng một cách phổ biến, phản ánh sự hòa nhịp của thế hệ trẻ với những đổi thay trong thời hiện đại.

    Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Trong mối quan hệ này, ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt, còn tư duy là cái được biểu đạt. Cho nên, trong giao tiếp với người Việt, nếu người ngoại quốc không hiểu văn hóa giao tiếp của người Việt (phản ánh tư duy của người Việt) thì chắc chắn sẽ gặp những khó khăn rất lớn để hiểu đúng và đầy đủ vấn đề nêu ra thông qua cái biểu đạt là tiếng Việt ấy. Văn hóa giao tiếp của người Việt có những đặc điểm sau:

    Người Việt thích giao tiếp và coi trọng việc giao tiếp: Đặc điểm này hình thành từ chính văn hóa nông nghiệp của nước ta. Cuộc sống phụ thuộc vào tự nhiên đã gắn bó các thành viên trong cộng đồng, khiến họ luôn có ý thức quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Họ hỏi han nhau khi gặp gỡ và lúc rảnh rỗi thì đến thăm nhau với sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp nghĩa tình. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với người lạ, nhất là người nước ngoài, người Việt thường dè dặt, giữ kẽ hơn. Điều này có thể quy cho nếp sống khép kín trong cộng đồng, quen gắn bó với làng xã và những người thân quen từ xưa đến nay của người Việt.

    Người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử. Trong các mối quan hệ xã hội, người Việt Nam thường rất coi trọng hai chữ “tình nghĩa”, sống có trước có sau. Đối với người Việt, “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, cho nên, trong công việc, yếu tố tình cảm thường có khả năng chi phối mạnh mẽ. Đây là một điểm khó thích nghi đối với những đồng nghiệp người nước ngoài, đặc biệt là người phương Tây vì họ vốn quen sống tách bạch tình cảm và công việc.

    42

    Người Việt vốn trọng danh dự. Đối với người Việt, danh dự là kim chỉ nam của mọi hành động: “đói cho sạch, rách cho thơm”. Tuy nhiên, việc quá coi trọng danh dự có thể khiến người Việt trở nên “sĩ diện”, không dám thừa nhận sự thiếu sót của mình và đặc biệt, rất sợ dư luận xã hội. Vì thế, sự thẳng thắn của người phương Tây nhiều khi khiến người Việt cảm thấy không thoải mái, thậm chí còn bị coi như một sự xúc phạm nếu những góp ý thẳng thừng đe dọa thể diện của họ trước những người khác. Hơn nữa, người Việt vốn ý tứ và tế nhị trong giao tiếp, cộng thêm tâm lý ưa hòa thuận nên thường nhường nhịn, đôi khi vì thế mà thiếu tính quyết đoán.

    2.3. Nghệ thuật

    Người Việt Nam từ xưa đã quen với lối sống cộng đồng, gắn bó với thiên nhiên và luôn xem mình như một phần không thể tách rời của tự nhiên. Cách suy nghĩ này đã ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật Việt Nam, từ ẩm thực đến kiến trúc hay âm nhạc.

    Ẩm thực Việt Nam rất phong phú, không chỉ thay đổi theo mùa mà mỗi vùng cũng có những hương vị đặc trưng riêng. Nguyên liệu chế biến là các sản phẩm từ nông nghiệp trong đó rau quả chiếm vị trí ưu tiên nhất. Hương vị món ăn Việt khá hài hòa, không quá cay nóng như món ăn Thái, cũng không cầu kỳ như món ăn Trung Hoa. Việc phối hợp các loại gia vị và bố trí bữa ăn gia đình ấm cúng theo nguyên lý âm dương không chỉ tạo cảm giác ngon miệng mà còn ảnh hưởng tốt đến sức khỏe của mỗi người. Đây cũng là nét thú vị đối với người nước ngoài khi sang Việt Nam, tìm hiểu và thưởng thức những món ăn Việt với hương vị hòa quyện trong sự ấm áp của tình người.

    Các công trình kiến trúc Việt Nam từ vật liệu đến phong cách, đều thể hiện sự thống nhất về triết lý hòa hợp với thiên nhiên. Những vật liệu sẵn có của tự nhiên như mây, tre, nứa, gỗ, đá… đã làm nên những nếp nhà dân gian mộc mạc, những cung đình đẹp đẽ hay các công trình tín ngưỡng tâm linh. Kiến trúc Việt không đồ sộ, nguy nga như các công trình kiến trúc Trung Hoa, cũng không phải là kiểu kiến trúc đóng như ở các nước phương Tây mà khiêm tốn, chừng mực – lối kiến trúc mở,

    43

    ưa sự thông thoáng, hòa lẫn với cây xanh, mặt nước, hướng đến sự cân bằng sinh thái khoa học. Trong kiến trúc Việt Nam, phong thủy được đặc biệt coi trọng. Đó là sự hài hòa giữa thế đất, thế núi, nguồn nước, long mạch… Vì thế mà khi xây nhà ở, người Việt luôn chú ý về mặt địa lý, địa thế, thường chọn hướng nam thoáng mát, tránh hướng tây nóng, bắc lạnh. Các ngôi nhà thôn quê thường có vườn cây, ao nước hay hàng cau trước nhà. Các công trình lớn như đền, chùa, lăng tẩm…thì thường được đặt ở những nơi có đồi, núi, sông, hồ, cao trên thấp dưới, nhiều tầng sinh thái, là nơi hội tụ khí thiêng đất trời. Còn biểu trưng của làng quê Việt là những Đình làng thì bao giờ cũng được đặt ở những vị trí thoáng rộng, với cây đa, bến nước, sân đình, tiêu biểu cho lối sống cộng đồng hòa hợp thiên nhiên vốn đã đi vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam.

    2.4. Phong tục tập quán

    • dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam cấu thành nên một nền văn hóa đa dạng với những phong tục tập quán đặc sắc. Những phong tục tập quán này hiện diện ngay trong chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người, từ giao thiệp

    đến lễ tết, cưới hỏi, tang lễ, cúng giỗ…

    Người Việt rất coi trọng những phong tục tập quán của mình. Thái độ “kính trên nhường dưới” là một phép tắc lớn được chú trọng trong giao tiếp của người Việt. Các sự kiện lớn của đời người như cưới hỏi, ma chay luôn được tổ chức trang trọng theo những thể thức có từ ngàn xưa. Một thời điểm nữa rất quan trọng trong năm đó là Tết Nguyên Đán. Đây là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, là dịp để mọi người Việt Nam đoàn tụ gia đình, tri âm tổ tiên, thăm hỏi bạn bè khắp nơi để thắt chặt thêm tình cảm… Ngoài ra còn rất nhiều ngày lễ, hội khác làm nên sự phong phú trong đời sống tinh thần người Việt Nam.

    Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần hiểu nét phong tục này để có sự thông cảm và sắp xếp hợp lý, sao cho không ảnh hưởng đến công việc kinh doanh đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với văn hóa Việt.

    2.5. Giáo dục

    44

    Một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự tồn tại và thịnh vượng của một quốc gia chính là ở tiềm lực con người mà yếu tố quyết định tiềm lực ấy chính là giáo dục – giáo dục của gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Việt Nam được nhiều người biết đến với một nguồn nhân lực dồi dào, có tinh thần ham học và tư chất thông minh. Điều đáng mừng là đa phần các bậc phụ huynh đều nhận thức được sự quan trọng của việc nâng cao kiến thức cho con em mình, họ luôn nỗ lực để đem đến cho con em mình những điều kiện học tập tốt nhất. Không ít học sinh, sinh viên Việt Nam đạt được những thành tích xuất sắc ở các trường trong nước cũng như ở nước ngoài. Đó là một thực tế đáng tự hào.

    Tuy vậy, những vấn đề bất cập trong giáo dục Việt Nam đang trở thành tâm điểm của xã hội những năm gần đây. Các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đã gặp không ít thách thức trong việc tìm kiếm những lao động có kiến thức và kĩ năng

    • đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công việc. Thực tế này khiến người ta không khỏi nghĩ đến phương pháp đào tạo của Giáo dục Việt Nam. Hiện nay, rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đang không tìm được việc làm. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho biết: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”, theo ý kiến của bà Lệ, chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt là các kỹ năng mềm như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc nhóm…[19]. Điều này giải thích tại sao các nhà tuyển dụng ở Việt Nam phải bỏ ra không ít thời gian và công sức để tìm lao động thích hợp và đào tạo họ mọi mặt về chuyên môn.

    III. Những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Nhìn nhận chung về ảnh hƣởng của văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Để có những kết luận chính xác về những ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, cần nhìn nhận vấn đề này từ cả hai góc độ: các nhà đầu từ nước ngoài và những người Việt có kinh nghiệm làm việc với các nhà

    45

    đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Qua quá trình khảo sát, người viết đề xuất một số đánh giá chung về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài như sau:

    1.1. Từ góc độ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều nhìn nhận rằng Việt Nam là một thị trường tiềm năng, hứa hẹn mang lại những cơ hội đầu tư lớn. Tuy vậy, họ cũng thừa nhận sự tồn tại của nhiều nhân tố gây cản trở quá trình đầu tư, trong đó những bất đồng về văn hóa là một rào cản đáng kể bên cạnh những khó khăn về cơ sở hạ tầng hay hệ thống pháp luật.

    Trong số những trở ngại về văn hóa thì ngôn ngữ được xem là yếu tố gây nhiều khó khăn nhất, đặc biệt là với những nhà đầu tư Châu Á như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Do người lao động Việt Nam chưa có trang bị tốt về tiếng Hàn cũng như tiếng Nhật, trong khi đó các nhà đầu tư đến từ các quốc gia này lại không thành thạo tiếng Anh và hầu như không biết tiếng Việt nên việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn. Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ trung gian giữa người Việt Nam với các nhà đầu tư nước ngoài nhưng do cả hai bên đều chưa “hoàn toàn làm chủ” ngôn ngữ thứ hai này nên những bất đồng, gây nên sự hiểu lầm hay không hiểu là điều khó tránh.

    Sau rào cản về ngôn ngữ là những cản trở đáng kể về khác biệt văn hóa doanh nghiệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và lối tư duy. Một số nhà đầu tư Hàn Quốc phàn nàn về thái độ làm việc thiếu nhiệt tình, thiếu nhất quán của lao động Việt, cũng có nhà đầu tư phương Tây gặp khó khăn vì lao động thiếu sự sáng tạo và khả năng làm việc độc lập, tính trọng mối quan hệ trong công việc cũng là một thách thức đối với họ.

    1.2. Từ góc độ ngƣời Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam

    Người viết đã tiến hành điều tra ý kiến của 40 cá nhân có kinh nghiệm làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài trên cả ba miền đất nước và nhận được 73% câu

    46

    trả lời xác nhận sự có mặt của rào cản này văn hóa trong số các rào cản thường gặp khác đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện đang làm việc tại Việt Nam. Tuy số lượng điều tra không nhiều, nhưng những thông tin thu thập được cũng phần nào khẳng định được tác động của những khác biệt văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế ở Việt Nam.[Phụ lục]

    Cũng từ khảo sát này, người viết thu được ý kiến đánh giá về các yếu tố rào cản văn hóa, trong đó yếu tố rào cản do khác biệt về tư duy được đề cập đến nhiều nhất, tiếp đến là rào cản do khác biệt về văn hóa doanh nghi

    ệp, văn hóa người lao động, thị hiếu tiêu dùng và ngôn ngữ.

    Møc ¶nh h-ëng cña mét sè rµo c¶n

    v¨n hãa ViÖt Nam

    90.00%

    80.00%

    70.00%

    60.00%

    50.00%

    40.00%

    30.00%

    20.00%

    10.00%

    0.00%

    Rµo c¶n vÒ ng«n

    ng÷

    Rµo c¶n vÒ t- duy

    Rµo c¶n vÒ thÞ hiÕu Rµo c¶n vÒ v¨n hãa Rµo c¶n vÒ v¨n hãa

    tiªu dïng              doanh nghiÖp      ng-êi lao ®éng

    Trong những năm gần đây, các công ty Việt Nam thường đưa ra tiêu chí tuyển dụng khắt khe, yêu cầu ứng viên phải sử dụng tiếng Anh để viết đơn xin việc, thông tin bản thân và trả lời các cuộc phỏng vấn. Vì thế, người lao động ý thức cao hơn về vai trò của việc học ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ nhìn chung cũng được cải thiện. Điều này lý giải tại sao trên quan điểm người Việt Nam, rào cản ngôn ngữ không phải là cản trở lớn nhất. Theo điều tra này, cách tư duy mới là trở ngại đáng kể. Cách tư duy là yếu tố khó thay đổi và khác nhau sẽ dẫn đến những hành động khác nhau.

    Các đối tượng điều tra có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư đến từ Châu Á (chiếm đa số – 83.8%), Châu Âu (40.5%), Châu Mỹ (37.8%) và một số Châu lục

    47

    khác (2.7%). Một điều ngạc nhiên là đến 72.2% trong số đối tượng điều tra cho biết họ thực sự thích làm việc với các đối tác đến từ Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ chiếm 58.3% trong khi Châu Á chỉ chiếm 27.8%%. Phần lớn người được hỏi đều đưa ra lý do là những đối tác Châu Âu và Châu Mỹ thường cởi mở, lịch sự, môi trường làm việc thông thoáng, chuyên nghiệp và chế độ đãi ngộ tốt. Một số thích làm việc với người Châu Á vì sự cách biệt văn hóa có phần ít hơn, do đó, họ biết thông cảm hơn cho các đồng nghiệp của mình, nhất là những đồng nghiệp nữ.

    2.Một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

     

    1. Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Bất đồng ngôn ngữ lời nói

    Khó khăn trong sử dụng từ ngữ: Tiếng Anh là phương tiện chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp giữa người Việt Nam và các đối tác nước ngoài hiện nay.Bên cạnh đó, tiếng Nhật, Trung, Hàn cũng đang ngày càng phổ biến. Phần lớn nhà đầu tư nước ngoài sang Việt Nam đều gặp những khó khăn trong việc trao đổi thông tin với người Việt do không hiểu tiếng nói của nhau. Trong một cuộc hội đàm về chính sách giữa Bộ Thông Tin và Truyền thông với các doanh nghiệp Công nghệ thông tin hai nước Việt Nam – Nhật Bản diễn ra cuối năm 2007, đông đảo đại diện các doanh nghiệp nhận định tiềm năng hợp tác Công nghệ thông tin Việt – Nhật là rất lớn nhưng các doanh nghiệp lại đang trong tình trạng khan hiếm về nhân lực biết ngoại ngữ. Tổng Giám đốc công ty FCG Việt Nam cho rằng, có tới 80% nhân lực gia công phần mềm Nhật Bản là người Trung Quốc, ngay cả khi đang hoạt động tại Việt Nam [20].

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân đầu tiên là do trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn khá thấp. Trong khi đó, các quốc gia sử dụng tiếng Anh lại có xu hướng không học thêm một ngoại ngữ nào khác.

    Bên cạnh tiếng Anh, trình độ tiếng Nhật, Trung, Hàn và các thứ tiếng khác của lao động Việt Nam cũng chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Giao dịch bằng

    48

    tiếng Anh với nhà đầu tư Nhật Bản và Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn vì họ ít sử dụng tiếng Anh, thường đòi hỏi nhân viên phải biết sử dụng ngôn ngữ quốc gia mình.

    Khác biệt về phong cách giao tiếp: Không chỉ ngôn ngữ bất đồng vản trở giao tiếp mà những khác biệt về phong cách giao tiếp cũng gây ra những hiểu lầm. Người Việt thường cho rằng người phương Tây nói nhiều trong khi đó người phương Tây lại thấy người Việt quá kín đáo, như thể đang che dấu điều gì. Nhiều trường hợp người Việt làm họ ngạc nhiên và khó hiểu với kiểu nói một đường nhưng lại nghĩ hay làm một nẻo. Người phương Tây đưa ra một số lý giải từ kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt như sau: Khi người Việt Nam nói “Thật là một ý tưởng thú vị”, thì nên nghĩ câu này có nghĩa “Tôi không đồng tình lắm”/ “Chúng ta cần thảo luận thêm”/ “Bạn nhầm rồi”/ “Tôi không thích ý tưởng này lắm”. Hoặc khi nghe câu “Lời đề nghị này xứng đáng được xem xét kĩ hơn” thì phải hiểu là “Xin hãy đưa ra một đề nghị khác”/ “Tôi là một chuyên gia về lĩnh vực này nhưng vì lịch sự mà tôi không nói ra thôi” [16].

    Nguyên nhân:

    Việt Nam được xếp vào nhóm những nền văn hóa “Ngữ cảnh cao” [15], là nền văn hóa mà ở đó, con người thường chú ý đến ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm người đối diện hay hoàn cảnh diễn ra giao tiếp) hơn là những từ ngữ trực tiếp và rõ ràng để truyền đạt thông tin. Vì vậy phần lớn nội dung muốn diễn đạt thường ẩn sau lời nói và thái độ chứ không phải thuần túy ở từ ngữ như ở các nước phương Tây vốn thuộc nền văn hóa “Ngữ cảnh thấp”.

    Bất đồng trong cách thể hiện tình cảm và phép lịch sự: Người Việt thường tỏ ra nghi ngại sự thật lòng của người Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Úc bởi họ luôn sẵn sàng lời khen ngợi cũng như câu nói “xin lỗi” và “cảm ơn”, Trong khi đó, nhiều trường hợp người phương Tây đánh giá người Việt bất lịch sự vì hiếm khi họ khen ngợi điều gì hay nói lời “Cảm ơn” hay “Xin lỗi”.

    Nguyên nhân:

    49

    Lý do đầu tiên là người phương Tây được giáo dục từ nhỏ về cách thể hiện tình cảm và thái độ lịch sự qua lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”. Đối với họ, khen ngợi là một cách bày tỏ sự quan tâm của mình đến người được khen.

    Thứ hai, người Việt Nam coi trọng sự tế nhị trong giao tiếp và ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng. Thay vì nói lời “cảm ơn” hay “xin lỗi”, họ biểu hiện bằng ngôn ngữ không lời như ánh mắt, nụ cười. Họ e dè khi khen ngợi để tránh trường hợp đối phương hiểu lầm ý tốt của mình.

    Khác biệt trong chào hỏi và đưa ra lời khuyên: Văn hóa mỗi vùng miền thể hiện trong từng cử chỉ giao tiếp hàng ngày, từ lời chào đến câu khuyên nhủ. Người Việt hay chào nhau bằng những câu như “Anh đi đâu đấy”, “Chị ăn cơm chưa”. Nếu mối quan hệ thân thiết họ thường dặn dò nhau “Nhớ ăn uống cẩn thận, đi chơi về sớm”, “Đừng…” hay “Nên…”. Trong khi đó, người phương Tây thường chào hỏi bằng những câu rất chung như “chào buổi sáng” “chúc ngủ ngon” và đưa ra lời khuyên trong sự giả định “Nếu là tôi thì tôi sẽ…”, “Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu…”. Cách chào của người Việt khiến người phương Tây cảm thấy như đang bị xâm phạm đời tư và những lời khuyên có thể được hiểu thành sự ép buộc, tệ hơn có thể mang nghĩa “giáo huấn” hay “lên lớp”.

    Nguyên nhân:

    Người Việt Nam có nếp sống tập thể, gắn bó cộng đồng, vì vậy họ thường thể hiện sự quan tâm đến nhau bằng những câu hỏi hay dặn dò thân mật. Nhiều trường hợp câu hỏi chỉ đơn giản là một lời chào, không cần câu trả lời của đối phương.

    Trái lại, người phương Tây coi trọng chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề riêng tư của họ là bất khả xâm phạm. Những câu chào của người Việt chỉ thuần túy xã giao thế nhưng người phương Tây coi đó là những câu hỏi, vì thế họ rất không thoải mái khi phải trả lời.

    Bất đồng ngôn ngữ không lời

    Hệ thống các phương tiện phi ngôn ngữ của người Việt rất phong phú và ý nghĩa của nó thay đổi theo ngữ cảnh người thể hiện. Nhiều người nước ngoài đến

    50

    Việt Nam đã không thể lý giải nổi sự đa nghĩa của hệ thống ngôn ngữ đặc biệt này. Neil Jamieson trong cuốn “Understanding Vietnam” đã kể một câu chuyện như sau: Một nhà quản lý người Mỹ đang quát mắng một lao động Việt Nam vì anh ta đã gây ra một lỗi lầm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Người lao động này im lặng và lắng nghe một cách kiên nhẫn. Khi người quản lý kết thúc, anh ấy đã mỉm cười thật tươi. Hành động này khiến người quản lý hết sức sửng sốt. Ông ta mong đợi một lời thừa nhận lỗi lầm hoặc một sự phản kháng, bào chữa nào đó chứ không phải là sự im lặng tuyệt đối và nụ cười này. Ông không kìm được cơn giận và quay đi với suy nghĩ rằng người lao động kia đang chế giễu ông, coi thường ông [17,90].

    Nguyên nhân:

    • Việt Nam, một nụ cười có thể mang rất nhiều ý nghĩa. Nụ cười thể hiện sự đồng ý, đôi khi thay cho lời chào, câu xin lỗi hay lời cảm ơn, cũng có khi để che đậy sự

    bối rối, mất tự tin và cũng có trường hợp thể hiện sự không đồng tình hoặc nhằm dấu đi sự giận dữ… Trong khi đó, với đa số các nước phương Tây thì nó chỉ là cách thể hiện niềm vui, sự hài lòng, đôi khi là sự giễu cợt. Chính sự khác biệt này đã dẫn đến hiểu lầm trong câu truyện trên. Nụ cười của người lao động là nụ cười che dấu sự bối rối, biết lỗi, và chấp nhận sửa lỗi, hoàn toàn không có ý giễu cợt hay coi thường người quản lý.

    2.2. Rào cản do khác biệt về tƣ duy

    Khác biệt trong cách giải quyết vấn đề: Cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi lối tư duy. Nhiều người nước ngoài cho rằng, cách giải quyết vấn đề của người Việt nhiều khi rất phiến diện, chỉ dựa vào cảm giác hay đánh giá chủ quan cũng có thể đưa ra quyết định, dẫn đến không tránh khỏi sai lầm. Người Việt lại cho rằng cách ứng xử của người phương Tây quá cứng nhắc, nhiều khi không cân nhắc đến hoàn cảnh riêng của các đồng nghiệp Việt Nam.

    Nguyên nhân:

    Nguyên nhân lý giải sự khác biệt trong cách suy nghĩ, hành động này chính là lối tư duy. Tư duy phương Tây là lối tư duy logic, các đánh giá đều dựa trên số liệu

    51

    khách quan hoặc những nghiên cứu khoa học thực tiễn, ít khi cân nhắc đến tình cảm cá nhân.

    Ngược lại, tư duy truyền thống Việt Nam lại coi trọng tình cảm. Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh doanh, chữ “tình” bao giờ cũng được đặt lên trên hết. Nếu như ở phương Tây, “tình” phải phục tùng “lý” hoặc ít nhất cũng không thể trái ngược với “lý”, thì đối với người Việt, đặc biệt trong mối quan hệ đối tác làm ăn với nhau, “lý” sẽ không đủ tin hay chẳng còn bao nhiêu ý nghĩa nữa nếu tiêu chuẩn “tình” không được đảm bảo.

    Bất đồng do lối tư duy nông nghiệp: Người Việt có tầm nhìn ngắn hạn, đôi khi chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không có những hoạch định lâu dài, thích ổn định và rất e ngại rủi ro. Điều này cũng được phản ánh qua chỉ số về tính cẩn trọng cao trong mô hình nghiên cứu của Hofstede. Đây là một trở ngại đáng kể trong việc lên những kế hoạch hoặc sách lược lâu dài cho một dự án kinh doanh.

    Nguyên nhân:

    Lối tư duy nông nghiệp này bắt nguồn từ truyền thống nông nghiệp từ lâu đời cùng với lối sống định canh định cư của người Việt Nam. Cuộc sống của họ phụ thuộc các mùa vụ, được sắp xếp theo trình tự thời gian. Nếu trời cho “mưa nắng thuận hòa” thì cuộc sống sẽ được no ấm. Chính bởi cuộc sống phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, nên người Việt có tâm lý “được đến đâu hay đến đấy”, ít khi có kế hoạch cho tương lai lâu dài. Lối sống định cư khiến người Việt quen với sự ổn định, rất e ngại thay đổi và sợ rủi ro.

    2.3. Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Khó khăn do thị hiếu thị trương đa dạng: Sự phong phú về thị hiếu tiêu dùng giữa các bộ phận dân cư ở Việt Nam khiến cho các nhà đầu tư phải không ngừng cập nhật thị trường và điều chỉnh các chính sách sản phẩm sao cho phù hợp từng địa phương và từng thời kì để chinh phục thị trường đa dạng và dễ thay đổi về thị hiếu tiêu dùng này.

    52

    Công ty nghiên cứu thị trường Neilsen Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu sự khác biệt vùng miền của người tiêu dùng miền Bắc (tiêu điểm là Hà Nội) và người tiêu dùng miền Nam (tiêu điểm là Tp Hồ Chí Minh). Kết quả được đưa ra trong cuộc hội thảo diễn ra ngày 19-06-2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự có mặt của gần 350 đại diện các doanh nghiệp đã cho thấy rằng, văn hóa khác nhau cùng với một số yếu tố riêng về lịch sử và kinh tế đã gây ra sự khác biệt trong thái độ đối với thương hiệu, thói quen, phong cách và sự tự tin trong tiêu dùng của người dân ở hai miền, từ đó quyết định hành vi tiêu dùng của họ [23].

    Nghiên cứu của Nielsen thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 2009 ở hai thành phố lớn nhất Việt Nam đã chỉ ra đặc tính chi phối thị hiếu tiêu dùng chủ yếu ở hai miền đó là Tính cá nhân – cái Tôi và Tính tập thể – chúng ta. Thiên hướng „Tôi” chiếm đa số ở Tp Hồ Chí Minh, thể hiện ở việc quyết định tiêu dùng dựa trên nhu cầu và mong muốn của bản thân và ít bị tác động bởi ý kiến của người khác, không chạy theo số đông. Ngược lại, xu hướng “chúng ta” lại chiếm đa số ở Hà Nội. Người tiêu dùng ở thị trường này thường lắng nghe ý kiến của bạn bè và những người xung quanh, định kiến xã hội cũng chi phối họ trong việc đưa ra quyết định tiêu dùng. Tuy vậy, họ lại là đối tượng khá phức tạp, vừa muốn gây sự chú ý và nổi bật giữa đám đông, vừa không muốn phá vỡ những quy tắc chuẩn mực xã hội. Một nét khác biệt đáng kể nữa là quan điểm đối với nguồn chi tiêu của người dân hai miền. Người tiêu dùng Tp Hồ Chí Minh có thể tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được, và để đắp bù cho khoản vượt trội này, họ sẵn sàng vay mượn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính khác. Họ là những người sống cho hiện tại và ít lo cho tương lai. Trong khi đó, 57% người Hà Nội cho biết họ sẽ không đi vay ở tổ chức tài chính nào cho mục đích chi tiêu của mình, đa số họ coi việc vay mượn tiền hay bị phụ thuộc tài chính là một sự “mất mặt”. Tuy nhiên, một điều gần như là trái ngược với tư tưởng tiết kiệm này là sở thích sắm hàng hiệu, hàng cao cấp chủ yếu là các mặt hàng như điện thoại di động hay mỹ phẩm. Phần đông người Hà Nội cho rằng những sản phẩm này sẽ có tính bền cao hơn chứ không chỉ để khẳng định đẳng cấp của người dùng. Điểm này lại khác với xu hướng “tiêu dùng nhanh” của người dân Tp Hồ Chí Minh, họ sẽ mua cái họ thấy cần lúc đó và dù họ vẫn thích hàng cao cấp

    53

    nhưng đến 48% cho rằng những thứ đó chỉ dành cho người thích khoe khoang và gây sự chú ý. Với họ, việc mua những thứ cần mới là điều quan trọng.

    Nguyên nhân:

    Với điều kiện kinh tế nghèo nàn trước đây, người dân Việt Nam rất đề cao lối sống tiết kiệm và tư tưởng “ăn chắc, mặc bền”, dẫn đến yêu cầu về mẫu mã hàng hóa đơn giản, chi tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu lớn nhất là ăn, tiếp đến mới là mặc và ở, việc đi lại và các nhu cầu khác hầu như không được chú ý tới. Thị trường Việt Nam thời gian này không phải là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhưng trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, điều kiện vật chất được cải thiện khiến cho nhu cầu cũng như thị hiếu tiêu dùng của người dân thay đổi đáng kể. Thêm vào đó là sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với xã hội bên ngoài đã hình thành những nét mới trong phong cách cũng như sở thích tiêu dùng của người dân.

    Người Việt lại có tâm lý cộng đồng, đa phần quyết định của họ bị chi phối bởi ý kiến của người xung quanh. Trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa hai thành phố lớn lại có nhiều điểm khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, địa lý…từ đó quy định những nét đặc trưng về con người mỗi địa phương.

    2.4. Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Bất đồng về phong cách kinh doanh: Một trong những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh Việt Nam là sự coi trọng các mối quan hệ, đặc điểm này khá tương đồng với các nước Châu Á khác nhưng lại là một bất đồng đối với các nước phương Tây. Một cuộc điều tra về văn hóa doanh nghiệp Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Ánh tiến hành trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số B99-21 đã đưa ra số liệu thống kê như sau: có đến 53% doanh nghiệp chọn cách làm quen đối tác qua sự giới thiệu của bên thứ ba, 51,22% qua phòng Thương mại, sau đó là các hình thức khác như qua Hội chợ triển lãm, quảng cáo, thương vụ, internet. Nhưng thứ tự này ngược lại ở Mỹ, hình thức qua phòng Thương mại chiếm 76,19% còn qua người thứ ba chỉ chiếm 57,14% [1,122].

    Nguyên nhân:

    54

    Người Việt có lối sống cộng đồng, rất coi trọng mối quan hệ. Tâm lý này đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách cư xử hàng ngày cũng như trong công việc của người Việt Nam. Nếu không có được sự tin tưởng lẫn nhau thì họ khó đi đến việc hợp tác làm ăn. Vì vậy,sự giới thiệu của một bên thứ ba nào đó sẽ giúp họ loại bỏ những lo ngại về đối tác.

    Rào cản văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công: Nhà đầu tư nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm thủ tục, xin giấy phép cho dự án do hệ thống thủ tục giấy tờ rườm rà, phức tạp, thêm vào đó là thái độ thiếu hợp tác của nhân viên.

    Báo Đại Đoàn kết số ra ngày 25-12-2009 đã trích lời ông Ichikawa Kazuya, Giám đốc công ty Chubu-Rika bức xúc: “Việc khai thuế hải quan mất nhiều thời gian, nhanh nhất là 2 ngày, nếu có sự cố gì thì hàng hóa của chúng tôi phải chôn chân hơn 1 tuần. So với chính sách thủ tục hải quan của Singapore thì Việt Nam cần phải đơn giản hóa thủ tục rất nhiều, vì Singapore làm thủ tục hải quan chỉ mất 10 phút”. Chỉ đơn cử là việc xin giấy phép, mỗi lĩnh vực có quy định những loại giấy phép riêng, có lĩnh vực phải xin 4 – 5 giấy phép khác nhau từ các cơ quan khác nhau, nhà đầu tư phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi. Nhiều dự án kinh doanh bị hủy bỏ vì vướng mắc trong khâu thủ tục này.

    Nguyên nhân:

    Có thể nói rằng, hệ thống thủ tục hành chính của Việt Nam còn quá rườm rà so với các nước trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung, nhiều địa phương tự đặt ra những loại giấy phép không thực sự cần thiết khiến cho quy trình hành chính trở nên phức tạp hơn.

    Bên cạnh đó, chất lượng nhân sự khu vực hành chính còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho công tác kiểm tra thủ tục, cấp phép cũng chưa được quan tâm nhiều. Vì vậy, khâu xử lý còn chậm.

    Khác biệt về văn hóa đàm phán: Nhiều đối tác phương Tây cho rằng, trong đàm phán, người Việt Nam hay rườm rà, vòng vo, khó hiểu, ít đi thẳng vào vấn đề, chậm đưa ra quyết định và thường che dấu cảm xúc. Người Việt Nam thì nhận xét, các đối tác phương Tây đôi khi thiếu tế nhị, luôn muốn đi thẳng vào vấn đề và thường tỏ ra thiếu kiên nhẫn.

    55

    Người Việt Nam rất cẩn trọng khi nói “có” hoặc “không”. Một số người nước ngoài có kinh nghiệm tiếp xúc với người Việt đã nhận định rằng: khi người Việt nói “vâng” thì chỉ nên hiểu là “vâng, tôi đang nghe”, đừng nhầm tưởng đó là sự đồng ý. Và họ hiếm khi nói “không” mà thay vào đó là các câu kiểu như “vấn đề này khá phức tạp” hay “việc này hơi khó”, “chúng tôi sẽ cân nhắc vấn đề này”. Một điểm khác biệt nữa là người Âu – Mỹ thường không ngại bộc lộ cảm xúc ra bên ngoài trong khi người Việt có xu hướng kiềm chế cảm xúc, che dấu sự bối rối hay không hài lòng của mình bằng các cử chỉ im lặng hay cười. Một thương nhân Việt Nam có kinh nghiệm lâu năm trong đàm phán thương mại quốc tế đã đưa ra những đặc điểm khác biệt cơ bản trong đàm phán giữa người Việt Nam và người phương Tây như sau [17,118]:

    Người Việt Nam Người phương Tây
       
    Chú trọng mối quan hệ Chú trọng các quy tắc, điều luật
    Hợp đồng có thể thay đổi Hợp đồng có tính luật pháp bắt buộc
    Tin tưởng vào đối tác và mong đợi vào Tin tưởng vào hợp đồng hoặc lời nói
    sự thay đổi thỏa thuận khi cần của đối phương
    Có nhiều quan điểm trên một vấn đề Chỉ có một sự thật duy nhất
    Quyết định mang tính tập thể Quyết định mang tính cá nhân
    Đưa ra quyết định được đưa ra bởi tổ Quyết định được đưa ra ngay lập tức
    chức hay một người khác  
    Thành tích là của tập thể Thành tích là của cá nhân
    Các cá nhân không thể hiện suy nghĩ Các cá nhân bày tỏ suy nghĩ và cảm
    hay cảm xúc của mình xúc bằng ngôn ngữ lời hoặc không lời
    Chỉ thể hiện sự căng thẳng qua thái độ Dễ dàng tỏ ra căng thẳng
    một cách vô tình Những cuộc thảo luận sôi nổi hoặc
    Cảm xúc được kiềm chế nóng nảy là bình thường
    Xã hội ngữ cảnh cao Xã hội ngữ cảnh thấp
    Tính cẩn trọng cao Tính cẩn trọng thấp
    Hệ thống pháp luật thiếu ổn định, không Hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng
    rõ ràng  
       

    56

    Nguyên nhân:

    Người Việt coi trọng mối quan hệ, họ sẽ chỉ đi đến thỏa thuận khi có niềm tin vào đối tác. Trong khi đó đối tác phương Tây coi hiệu quả công việc mới là điều quan trọng. Tình cảm riêng tư không có chỗ trong công việc.

    Một lý do nữa đó là sự ưa chuộng hòa khí trong lối sống của người Việt. Họ luôn tránh nói những từ mang nghĩa phủ định hay từ chối thẳng thừng vì sợ làm đối phương mất mặt, cuộc tiếp xúc có thể trở nên căng thẳng. Do vậy, họ lựa chọn lối nói vòng vo và biểu hiện nhiều qua ngôn ngữ không lời. Trái lại, người phương Tây tư duy thẳng, nghĩ sao nói vậy, ít che đậy cảm xúc. Nhiều khi họ ít quan tâm đến thái độ người đối diện và gặp khó khăn trong việc tìm hiểu ý nghĩa ngôn ngữ không lời đó.

    Đặc điểm về cách quản lý của người Việt cũng có nhiều khác biệt. Đại diện được cử đi đàm phán bên phía Việt Nam thường không nắm toàn quyền quyết định, vì thế, họ phải thông báo cho người quản lý để xin ý kiến cuối cùng. Ngược lại, phía đối tác nước ngoài một khi đã cử đại diện đàm phán thì họ cũng giao cho người đó toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan.

    Bất đồng trong quan niệm về giờ giấc: Người Việt Nam thường đến chậm trong các cuộc hẹn, giờ làm, và cả trong việc giao hàng. Trong khi đó, người nước ngoài thường đến đúng giờ.

    Nguyên nhân:

    Đầu tiên là do cách tư duy khác nhau: Người Việt coi giờ hẹn là giờ xuất phát còn người nước ngoài coi giờ hẹn là giờ đến nơi.

    Bên cạnh sự khác nhau về tư duy, tác phong làm việc của có nhiều điểm khác biệt: Người Việt có tác phong nông nghiệp còn người nước ngoài có tác phong công nghiệp.

    2.5. Rào cản do khác biệt về văn hóa ngƣời lao động

    57

    Khó khăn do trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn của người lao động Việt Nam hiện nay còn thấp so với các nước trong khu vực, khả năng sáng tạo và độc lập trong công việc cũng có nhiều hạn chế. Đặc biệt, các kỹ năng mềm như thuyết trình, làm việc nhóm của người lao động Việt Nam rất kém. Nhiều ý kiến cho rằng, người Việt làm việc một mình thì hiệu quả, hai người thì bắt đầu kém hiệu quả và ba người thì hỏng việc. Trong khi đó, nhiều công việc hiện nay yêu cầu sự hợp tác rất cao. Các cá nhân hoạt động riêng rẽ tốt nhưng hợp tác kém hiệu quả thì rất khó để hoàn thành tốt công việc.

    Nguyên nhân:

    Chương trình giáo dục Việt Nam hiện nay chưa thực sự chú trọng phát triển kỹ năng nghiệp vụ cho học viên. Số lượng các trường đại học được trang bị tốt về điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác giảng dạy còn rất ít ỏi.

    Thêm vào đó, mức sống của người dân trên cả nước đã được cải thiện nhưng chưa thật đồng đều. Một bộ phận lớn người dân còn nghèo, đã hạn chế cơ hội được học tập tốt của thế hệ trẻ trong những gia đình đó.

    Thái độ làm việc chưa đúng đắn: Tâm lý “nhảy việc” phổ biến trong lao động trẻ hiện nay đang là một thách thức đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả khảo sát của Báo Người Lao động triển khai từ tháng 4 năm 2008 với sự tham gia của 655 người đang đi tìm việc, trong đó có 445 ứng viên đã từng đi làm cho thấy, 35 % trong 445 ứng viên nghỉ việc chuyển đổi nơi làm chỉ sau dưới một năm, 39% nghỉ việc sau từ một đến hai năm và 26% sau ba năm.

    Nguyên nhân:

    Do môi trường làm việc của doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu người lao động (lương, thưởng, các chế độ phúc lợi xã hội) khiến cho họ có xu hướng đi tìm một việc làm mới sau một thời gian ngắn.

    Hơn nữa, khá nhiều người lao động trẻ hiện nay chưa có định hướng nghề nghiệp đúng đắn ngay từ đầu, chưa tìm thấy điểm mạnh của mình để phát huy, họ

    58

    muốn đi làm nhanh chóng để có thu nhập nên nhiều khi lựa chọn công việc không phù hợp.

    Một nguyên nhân sâu xa nữa là vấn đề nhận thức của người lao động. Họ vẫn chưa nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với công việc cũng như cộng đồng mà họ đang gắn bó. Tâm lý sẵn sàng đổi việc vì thế cũng rất phổ biến.

    Tình cảm chi phối công việc: Người lao động Việt Nam nhiều khi vì tình cảm mà họ che dấu sai phạm của nhau,“chín bỏ làm mười” và rất ít người có ý thức phê bình và tự phê bình. Ngay cả khi người quản lý khuyến khích phát biểu ý kiến thì cũng phần đông họ vẫn dấu những khúc mắc hay không đồng tình trong lòng, vì lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tình cảm nội bộ cũng như quyền lợi riêng tư. Vẫn còn nhiều trường hợp phân chia, phe cánh trong nội bộ nhân viên khiến cho sự phối hợp công việc gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn bị trì trệ.

    Nguyên nhân:

    Lối sống quá coi trọng tình cảm khiến cho họ e ngại nói ra những khiếm khuyết của đồng nghiệp. Và lòng tự trọng cao cũng hạn chế sự tự phê của mỗi người. Điều này giải thích vì sao người Việt ít hỏi, ngay cả khi không hiểu hoặc mơ hồ về một vấn đề nào đó.

    Phong cách làm việc chưa chuyên nghiệp cũng là một yếu tố chi phối hiệu quả công việc của lao động Việt Nam.

    IV. Một số trƣờng hợp khó khăn và thất bại của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam do rào cản văn hóa gây ra

    1. Bất đồng ngôn ngữ giữa quản lý ngƣời Hàn Quốc và công nhân Việt Nam

    Như đã phân tích ở trên, bất đồng ngôn ngữ là một rào cản lớn trong quá trình giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau. Người ta có thể khắc phục rào cản này bằng việc học ngoại ngữ hoặc sử dụng người phiên dịch. Ở các nhà máy xí nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, trình độ ngoại ngữ của công nhân còn rất hạn chế, các đốc công hay quản lý dây chuyền là người nước ngoài hầu như không thạo tiếng Việt và người phiên dịch thì lại không túc trực ở đó. Vì vậy, khi có vấn đề nảy sinh

    59

    giữa quản lý và công nhân thì rất khó để hai bên có thể trao đổi, bày tỏ ý kiến với nhau, dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc.

    Về vấn đề này, người viết đưa ra một sự việc có thật diễn ra ở nhà máy sửa chữa tàu biển Hyundai Vinashin (Khánh Hòa). Ông Choi Gyu Ha, người Hàn Quốc, giữ chức Phó phòng Tổng vụ, đã quyết định sa thải 2 công nhân vì lý do thiếu nghiêm túc trong quá trình làm việc. Thực tế sự việc này diễn ra như sau. Trong quá trình làm việc, nhận thấy máy bị hỏng, 4 công nhân phải ngưng làm và chờ sửa chữa. Trong thời gian này, họ đã trao đổi qua lại và cười với nhau. Người quản lý Hàn Quốc coi đó là hành động không nghiêm chỉnh trong giờ làm việc, kết hợp với việc 2 công nhân trong số đó đã từng bị khiển trách năm trước vì ngủ trưa dậy muộn

    • phút (dù sau đó họ đã rút kinh nghiệm và phấn đấu được loại A về kỉ luật làm việc) và đi đến quyết định sa thải 2 người này. Xét trong nền văn hóa Việt Nam thì việc nói, cười trong trường hợp này là hoàn toàn bình thường thế nhưng sẽ bị coi là không nghiêm túc đối với một nền văn hóa khá nghiêm khắc trong công việc như

    Hàn Quốc. Thêm vào đó, hai bên lại không hiểu tiếng nói nhau nên lại càng khoét sâu hơn sự bất đồng. Người công nhân không thể giải thích cho quản lý Hàn Quốc hiểu sự tình và người quản lý cũng không thể thông cảm được khi họ đứng trên quan điểm văn hóa nước họ. Quyết định này của người quản lý đã dẫn đến sự khiếu nại của công nhân.

    Từ ví dụ này có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa có thể rất nhỏ nhưng hậu quả thì nhiều khi không thể lường được. Nếu người quản lý Hàn Quốc hiểu được văn hóa giao tiếp đơn giản này của người Việt thì ông sẽ không đưa ra hình thức phạt nặng như thế. Ngược lại, nếu người công nhân Việt Nam có chút hiểu biết về văn hóa làm việc cũng như ngôn ngữcủa người Hàn Quốc thì nhiều khả năng họ có thể giải thích cho người quản lý hiểu vấn đề và tránh được sự hiểu nhầm không đáng có này.

    2. Thất bại của sản phẩm dầu gội Feather thuộc Tập đoàn Kao

    Như một quy luật từ xưa đến nay, khi một sản phẩm mới ra mắt thị trường muốn chiếm được sự hưởng ứng của khách hàng thì phải có được những đặc tính

    60

    phù hợp với tâm lý thị trường đó. Đó có thể là thói quen tiêu dùng, thị hiếu tiêu dùng cũng như nhu cầu tiêu dùng của thị trường. Thế giới đã ghi nhận không ít thất bại của nhà đầu tư do không nghiên cứu kĩ thị trường trước khi tung ra sản phẩm. Dầu gội Feather của tập đoàn Kao là một ví dụ.

    Nói đến tập đoàn Kao là nói đến một tập đoàn hóa mỹ phẩm Nhật Bản có danh tiếng ở Châu Á, bao phủ đến cả các nước Châu Âu và Bắc Mỹ. Năm 2007, doanh thu của Kao trên toàn cầu lên đến 1,3 tỷ Yên cho dù phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của không ít hãng mỹ phẩm lớn khác trên thế giới như P&G và Unilever. Sản phẩm của Kao ở Việt Nam gắn liền với những nhãn hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Biore, Laurier… nhưng thành công đã không mỉm cười với dầu gội Feather. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của sản phẩm này ở Việt Nam, trong đó, việc không am hiểu thị trường đóng vai trò chủ yếu nhất. Điều này lý giải tại sao sản phẩm vẫn dành được thành công ở những thị trường khác.

    Năm 2004, nhãn hiệu dầu gội Feather được tung vào thị trường Việt Nam, với niềm tin gần như tuyệt đối của ban quản trị Tập đoàn về sự thành công của nó. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng sản phẩm đã không đánh trúng tâm lý người tiêu dùng để khẳng định vị trí của mình trên thị trường Việt Nam so với các dòng sản phẩm cùng loại của những “đại gia” khác như Sunsilk, Pantene hay Clear… Theo ý kiến của các chuyên gia marketing, nếu một thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường thì phải tạo ra được những lý do thuyết phục người tiêu dùng chấp nhận nó – bao gồm cả lý do cảm tính và lý do lý tính. Nếu cả hai lý do này không cùng mạnh thì một trong hai phải đủ sức vượt lên nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của khách hàng. Feather đã không đáp ứng được cả hai lý do này. Feather được định vị là dầu gội chức năng với công dụng giúp tóc bóng mượt, trong khi đó trên thị trường đã có quá nhiều loại dầu gội cùng được định vị như thế. Vì vậy ấn tượng cảm tính mà sản phẩm mang lại hoàn toàn không có gì đặc biệt. Trong khi đó, đã có rất nhiều nhãn hiệu mang dấu ấn đậm nét trong lòng người tiêu dùng như Enchanteur được nhắc đến với mùi hương quyến rũ, Dove giúp dưỡng ẩm cho tóc hư tổn hay Sunsilk đặc tính trị gàu… Vậy lý do lý tính mà Feather mang lại có đủ

    61

    sức cứu vãn hình ảnh của nó ? Thông điệp mà Feather gửi đến khách hàng là: Nguyên liệu được chiết xuất từ nha đam và hoa đậu biếc. Có thể nói rằng với người tiêu dùng Việt Nam, khái niệm về hoa đậu biếc là hoàn toàn rất lạ lẫm, không mấy ai biết về loài cây này, còn Nha đam giúp tóc bóng mượt và khỏe cũng không đáng tin cậy. Từ xa xưa, người Việt đã biết về một loại cây có chức năng làm tóc khỏe và mượt đó là bồ kết. Đối thủ cạnh tranh của Feather là Sunsilk đã sử dụng hình ảnh loại cây này và hoàn toàn chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Còn Pantene thì đánh vào tâm lý dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến những người xung quanh của người Việt nên đã trưng ra bằng chứng có bao nhiêu người phụ nữ tin dùng sản phẩm của họ. Đây thực sự là những chiêu thức có tác dụng đối với tâm lý thị trường Việt Nam. Tuy vậy, vẫn chưa phải là hết phương cách để lấy lại sự quan tâm của người tiêu dùng đối với Feather. Ông Nguyễn Nam Trung – Chủ tịch công ty Stormeye nhận định rằng: “Khi lý do cảm tính và lý tính không đủ mạnh so với đối thủ, điều cuối cùng thương hiệu có thể cạnh tranh chính là giá”. Vậy nhưng đáng tiếc là Feather đã không chú ý đến phương cách này. Sản phẩm được định giá ngang ngửa so với hai thương hiệu Sunsilk và Pantene đã được thị trường chấp nhận trước đó, điều này không những khiến khách hàng khó lựa chọn và có xu hướng chọn sản phẩm quen thuộc do đặc điểm Tính cẩn trọng cao, mà còn bỏ qua tâm lý “tiền nào của nấy” của đại đa số người tiêu dùng Việt Nam.

    Ví dụ trên đã cho thấy, khi nhà đầu tư không có những hiểu biết nhất định về thị trường hướng đến thì những khác biệt về thị hiếu tiêu dùng hay tập quán, thói quen của thị trường đó sẽ trở thành rào cản đối với nhà đầu tư. Họ sẽ gặp khó khăn và thậm chí là thất bại trong chiến lược mở rộng kinh doanh của mình.

    3. Khó khăn do bất đồng văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công

    Một rào cản đáng kể trong văn hóa kinh doanh khu vực hành chính công của Việt Nam đó là sự rườm rà, chậm trễ, cứng nhắc về thủ tục và thái độ chưa đúng mực của nhân viên. Những câu chuyện liên quan đến vấn đề này có vô vàn, người viết xin đưa ra một số trường hợp gần đây nhất để phần nào hình dung được một trong những khó khăn lớn mà các nhà đầu tư vào Việt Nam đang gặp phải.

    62

    Đó là câu chuyện về công ty may mặc Two J Vina (Hàn Quốc), trụ sở tại Đồng Nai, được đăng trên báo TuoitreOnline số ra ngày 26-3-2009. Trong một cuộc gặp mặt giữa lãnh đạo Tỉnh Đồng Nai với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra vào giữa tháng 3 năm 2009, phó Chủ tịch công ty là ông Dean Park đã phát biểu như kêu cứu rằng: “Xin cấp giấy phép kịp thời để chúng tôi không sa thải thêm công nhân”. Theo chia sẻ của ông Dean Park, công ty được cấp giấy phép thành lập năm 2006 tại xã Suối Tre, Long Khánh, Đồng Nai, chuyên may túi xách, balô để xuất khẩu. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm gần đây đã đặt công ty trước muôn vàn thách thức, có nguy cơ phải thu hẹp sản xuất và sa thải hàng trăm nhân công. Nhà máy có sức chứa trên 600 công nhân của công ty giờ trở nên trống vắng, hai dây chuyền may không có bóng một công nhân nào. Nhưng thật may mắn là công ty đã tìm được đối tác nhập khẩu mới ở Nhật Bản, đặt mua các loại mũ nón. Tuy nhiên, theo giấy phép cũ thì Two J Vina không có chức năng làm mũ nón xuất khẩu nên tháng 9-2008, công ty đã làm đơn xin tăng vốn đầu tư mở rộng thêm chức năng này với hy vọng sẽ cải thiện đáng kể tình hình khó khăn của công ty. Nhưng thật trớ trêu, Sở KH-ĐT Đồng Nai đã không chấp nhận đơn và đề nghị chờ hướng dẫn của Bộ KH-ĐT. Cho đến tận tháng 3 năm 2009, công ty vẫn không nhận được thông tin nào từ Sở, ông Dean Park không khỏi lo âu “Do thị trường túi xách suy giảm, hàng hóa không bán được, chúng tôi đã dự định sa thải công nhân nhưng nhờ hợp đồng mới, hơn 100 công nhân sẽ được chuyển sang dây chuyền sản xuất mũ nón nên chúng tôi phải nấn ná duy trì. Tuy nhiên, đợi giấy phép lâu quá đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của công ty, chưa kể phía đối tác dọa bỏ hợp đồng”.

    Trao đổi với phóng viên báo Tuổi trẻ ngày 24-3 [24], bà Bồ Ngọc Thu – Giám đốc Sở KH-ĐT xác nhận lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đã đồng ý chủ trương cho Two J Vina được bổ sung chức năng may mũ nón xuất khẩu: “Tỉnh vừa ký quyết định và công văn đang trên đường gửi tới doanh nghiệp” nhưng đại diện Công ty cho biết vẫn chưa nhận được quyết định bổ sung giấy phép. Bà Ngọc Thu không cho rằng Sở KH-ĐT Đồng Nai làm khó doanh nghiệp và giải thích: “Theo nghị định

    • năm 2006, tất cả những nhà đầu tư được cấp giấy phép theo Luật đầu tư nước ngoài cũ đều phải đăng ký lại hoạt động. Nếu không đăng ký lại sẽ không được bổ

    63

    sung chức năng mới. Two J Vina đã không đăng ký lại trước cuối tháng 6-2008 – thời điểm hết hạn đăng ký – nên việc xin bổ sung chức năng luật không cho phép”. Bà Thu còn cho rằng, việc Tỉnh giải quyết cho Two J Vina được bổ sung chức năng là cách làm linh động để giúp doanh nghiệp, giúp người lao động trong lúc khó khăn chung. Tuy nhiên, trường hợp công ty Two J Vina không phải là duy nhất, trên thực tế nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương đều từng vướng quy định này, một số nhà đầu tư đã mất cơ hội kinh doanh vì thời hạn đăng ký lại để mở rộng chức năng đã hết. Rõ ràng quy định này là quá cứng nhắc, bởi vì không phải doanh nghiệp nào cũng có thể lường trước được sự thay đổi tình hình kinh doanh trong khoảng thời hạn đăng ký để kịp thời đăng ký. Ông Dean Park chia sẻ rằng, doanh nghiệp đã mải lo chuyện làm ăn nên không để ý đến thời điểm hết hạn. Mặt khác, thời điểm đó doanh nghiệp không có nhu cầu mở rộng thêm chức năng vì hoạt động xuất khẩu rất tốt. Đến 50% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn không đăng kí lại, và tính riêng Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp trên tổng hơn 6000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cấp phép thành lập trước năm 2007 tiến hành đăng ký lại (Thống kê của Cục đầu Tư nước ngoài Thành phố năm 2008). Ông Phạm Mạnh Dũng, vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ KH-ĐT đã thừa nhận sự bất cập này và cho biết “Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi cho phù hợp với thực tế, tức là bỏ quy định này không áp dụng nữa”. Nhưng thực sự từ đây cho đến lúc có quyết định, không biết còn bao nhiêu doanh nghiệp phải bỏ lỡ cơ hội đầu tư và đứng trước bờ vực phá sản vì điều kiện kinh tế khó khăn này.

    Cũng trong cuộc gặp gỡ cùng ngày giữa gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn Cần Thơ, bà Nguyễn Mỹ Thuận – tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Cần Thơ phản ánh về thái độ làm việc của nhân viên Nhà nước với nhiều bức xúc như sau. Hiện hầu hết các sở ngành ở Thành phố Cần Thơ đều có những website trên cổng thông tin điện tử Thành phố để hướng dẫn các thủ tục cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp khi làm đúng theo hướng dẫn thủ tục trên website nhưng khi nộp lên các sở thì các nhân viên thừa hành lại từ chối vì cho rằng doanh nghiệp

    64

    chưa thực hiện đủ bộ hồ sơ và chứng từ. Đến khi doanh nghiệp trưng ra các nội dung phổ biến có trên website và phản hồi lại thì họ lại nói là do website chưa được cập nhật. “Hệ quả của vấn đề trên làm cho doanh nghiệp tốn rất nhiều thời gian, chi phí và làm giảm sự hài lòng về cách đối xử của nhân viên nhà nước”. Đóng góp thêm vào vấn đề này là rất nhiều kiến nghị của các kiều bào Việt Nam ở nước ngoài

    • Rất nhiều người muốn về quê hương đầu tư nhưng gặp nhiều khó khăn, nhất là công tác tìm hiểu về những thủ tục, chính sách, đến công sở hỏi thì không được hướng dẫn tận tình “Thay vì các viên chức hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp thì ngược lại, họ lại làm cho doanh nghiệp mất nhiều thời gian, công sức hơn” – ý kiến của ông Nguyễn Đức Ấn, Giám đốc công ty Kim cương Kita tại Tp Hồ Chí Minh. Còn theo ông Hiroshi Hồ, ở nước ngoài, cơ quan hành chính là nơi cung cấp dịch vụ, chứ không phải là nơi để xin – cho. Tuy nhiên, tại Việt Nam nhiều công chức cho mình là “bề trên” và có quyền “ban phát” cho những người đến liên hệ. Họ làm rất mệnh lệnh, hành chính. Chính sách của Chính phủ thì rất tốt nhưng một số người thực hiện lại lệch lạc.

    Có thể thấy rằng, văn hóa kinh doanh ở bộ phận hành chính công của nước ta thực sự cần phải có những thay đổi. Tình trạng như trên đang diễn ra ngày càng phổ biến và gây nhiều bức xúc cho các doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước ở Việt Nam. Thủ tục rườm rà, thái độ nhân viên thiếu hợp tác đã làm trì hoãn biết bao dự án đầu tư, không những tiêu tốn thời gian, tiền của, công sức của nhà đầu tư mà còn hạn chế cơ hội tiếp nhận dự án đầu tư của đất nước.

    V. Đánh giá về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    Qua quá trình phân tích những ảnh hưởng cũng như nguyên nhân của các rào cản văn hóa Việt Nam đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, người viết xin đưa ra một số ý kiến đánh giá như sau:

    Có thể nói rằng, ngôn ngữ chính là phương tiện, là chiếc cầu nối để rút ngắn khoảng cách giữa các nền văn hóa khác nhau. Bằng ngôn ngữ, con người tiến hành trao đổi thông tin, truyền đạt những ý tưởng hay tình cảm của mình, từ đó mối quan

    65

    hệ giữa người với người trở nên gần gũi hơn. Trong môi trường kinh doanh quốc tế, sự am hiểu ngôn ngữ địa phương sẽ là chất dầu bôi trơn những mắt xích của quá trình kinh doanh, khiến cho hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi, từ khâu quản lý đến khâu tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức được vai trò quan trọng của ngôn ngữ, người viết cho rằng, bất đồng ngôn ngữ là rào cản lớn nhất trong các rào cản về văn hóa, cản trở sự thâm nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi không có những hiểu biết về ngôn ngữ địa phương, các nhà đầu tư sẽ gặp một trở ngại đáng trong việc tìm hiểu đặc điểm thị trường. Hiếm có một tài nào về văn hóa địa phương toàn diện hơn tài liệu viết nên từ những con người thật, những câu chuyện thật được thu thập và lưu giữ bằng chính ngôn ngữ của địa phương đó. Nhà đầu tư hiểu được ngôn ngữ của thị trường mình hướng đến nghĩa là đã bước được một bước đến thành công.

    Ngôn ngữ là một yếu tố rất phức tạp nên những rào cản của nó đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng vô cùng phong phú. Trong giới hạn của khóa luận này, người viết chỉ đưa ra một số rào cản tiêu biểu thuộc rào cản ngôn ngữ, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý cũng như hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Trong xu thế phát triển hiện nay, những rào cản về ngôn ngữ đang có xu hướng giảm dần thông qua việc toàn cầu hóa một số ngôn ngữ như tiếng Anh. Với chiếc cầu nối ngôn ngữ này, những người đến từ các nền văn hóa khác nhau sẽ có cơ hội hiểu biết nhau hơn, từ đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ bản địa cũng dễ dàng hơn. Các nhà đầu tư nước ngoài cần trau dồi vốn ngoại ngữ của mình để có nhiều cơ hội hơn khi thâm nhập một thị trường mới.

    Nếu như ngôn ngữ là sự biểu hiện bên ngoài của những suy nghĩ, hành động, thì tư duy chính là động cơ bên trong dẫn đến những suy nghĩ, hành động này. Tư duy là yếu tố tương đối tĩnh, khó thay đổi, nên một khi đã có sự khác biệt giữa cách tư duy của các nền văn hóa thì con người chỉ còn cách tìm hiểu và chấp nhận sự khác biệt đó mà thôi. Vì vậy, rào cản do khác biệt tư duy cũng ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động đầu tư quốc tế về phương diện quản lý cũng như kinh doanh.

    66

    Môi trường văn hóa kinh doanh là nơi nhà đầu tư có nhiều va chạm văn hóa, ảnh hưởng đến cách quản lý công việc kinh doanh của họ. Làm sao để có cách quản lý phù hợp là băn khoăn lớn của các nhà lãnh đạo trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay. Hiện nay, những bất cập trong khu vực hành chính công đang được Nhà nước phối hợp các ban ngành, đoàn thể, tiến hành rà soát và cắt giảm những thủ tục không cần thiết. Những kế hoạch cắt giảm này đang cho thấy những hiệu quả đáng khích lệ.

    Dù là công việc kinh doanh gì và trong hoàn cảnh nào thì nguồn nhân lực cũng luôn đóng một vai trò quan trọng. Chất lượng nhân lực sẽ quyết định đáng kể sự thành bại của một tổ chức kinh doanh. Do đó, khác biệt về văn hóa người lao động cũng là một thách thức không nhỏ đối với các nhà đầu tư.

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu thị trường sẽ hạn chế khả năng thích nghi của sản phẩm ở thị trường đó. Rào cản này bao gồm toàn bộ những yếu tố thuộc nhu cầu thị trường. Do đó, có một chiến lược sâu sát, kĩ lưỡng từ những nghiên cứu thị trường đáng tin cậy sẽ giúp nhà đầu tư vượt qua cản trở này.

    Tổng hợp những ảnh hưởng của các rào cản đã phân tích, người viết đưa ra bảng tổng kết tác động của các rào cản văn hóa đối với công tác quản lý và hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

      Rào cản văn hóa Công tác quản lý Hoạt động kinh doanh
         
             
    Khác   Ngôn ngữ lời nói Phối hợp công việc thiếu Cản trở tìm hiểu thị
    biệt   (từ ngữ,cách nói,lịch ăn ý trường
    ngôn   sự, tình cảm) Hạn chế xây dựng mối Chi phối các chiến lược
    ngữ     quan hệ tốt đẹp với nhau sản phẩm
             
        Ngôn ngữ không lời Cản trở việc xây dựng Ít nhiÒu ¶nh h-ëng ®Õn
        (một cử chỉ có nhiều mối quan hệ tốt đẹp với chiÕn l-îc s¶n phÈm
        ý nghĩa) nhau  
             

    67

    Khác Cách giải quyết vấn Khó khăn để đưa ra cách Quảng cáo sản phẩm
    biệt tư đề (lí tính-cảm tính) quản lý mềm dẻo dựa vào tư duy cảm tính
    duy      
           
      Tư duy nông nghiệp Khó khăn trong việc
        hoạch định chiến lược dài
         
        hạn  
           
    Khác Thị hiếu thị trường Khó khăn trong việc
    biệt thị đa dạng   nắm bắt thị trường
    hiếu tiêu     Chi phí điều chỉnh sản
    dùng     phẩm cao
           
    Khác Bất đồng về phong Khó khăn để quản lý mềm
    biệt văn cách kinh doanh dẻo  
    hóa kinh (mối quan hệ-năng Quản lý nhân lực (tuyển  
    doanh lực) dụng, lương thưởng)  
           
      Rào cản văn hóa Khó khăn trong quá
      khu vực hành chính   trình làm thủ tục, giấy
      công   phép
           
      Khác biệt về văn hóa Hạn chế hiệu quả đảm
      đàm phán (mối quan   phán
      hệ-hiệu quả)    
           
      Bất đồng trong quan Ảnh h-ëng tiÕn tr×nh c«ng C¶n trë c«ng viÖc kinh
      niệm giờ giấc(giờ viÖc chung doanh do giao hµng
      xuất phát-giờ đến   muén
      nơi)    
           
    Khác Khó khăn do trình Khó khăn trong tuyển
    biệt văn độ chuyên môn dụng  
    hóa   Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶  
    người   c«ng viÖc  
           

    68

    lao động Thái độ làm việc Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      chưa đúng đắn (tâm c«ng viÖc  
      lý nhảy việc)    
           
      Tình cảm chi phối Ảnh h-ëng ®Õn hiÖu qu¶
      công việc c«ng viÖc (thiÕu ý thøc  
        x©y dùng tËp thÓ, néi bé  
        bÊt hßa)  
           

    69

    CHƢƠNG III

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RÀO CẢN VĂN HÓA VIỆT NAM

    ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI

    I. Triển vọng đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam trong những năm tới

    1. Đánh giá triển vọng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam năm 2010

    Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và sự phát triển kinh tế toàn cầu nói chung. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia quốc tế thì kinh tế Thế giới đang dần hồi phục, kéo theo đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng sẽ có chuyển biến tích cực hơn. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cho rằng, đầu tư quốc tế giai đoạn 2009-2011 sẽ được phục hồi với tốc độ chậm vào năm 2010 và sẽ tăng mạnh vào năm 2011. Cụ thể là ở mức 1200 tỷ USD năm 2009 lên 1400 tỷ USD năm 2010 và đạt mức 1800 tỷ USD năm 2011 ( theo “Triển vọng đầu tư toàn cầu 2009-2012” của WIPS). Tốc độ thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào việc khôi phục sự tín nhiệm và ổn định hệ thống tài chính thông qua các giải pháp ứng phó với cuộc khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Các chuyên gia cũng nhìn nhận 4 nhân tố được xem là nền tảng cho cuộc khôi phục này đó là: Suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ chấm dứt vào năm 2010; Môi trường đầu tư toàn cầu sẽ được cải thiện dần qua các năm, biểu hiện qua sự tăng lên của mức tin tưởng vào đầu tư nước ngoài từ 22% (2009) lên 33% (2010) và 50% (2011); Hoạt động mua bán và sáp nhập sẽ bị hạn chế do giá cổ phiếu giữ ở mức thấp; Xu hướng quốc tế hóa các công ty chỉ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn trung hạn về các mặt như số lượng sản xuất, số lượng việc làm, đầu tư và bán hàng ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia… Các nhân tố này được xem là chất xúc tác cho sự phục hồi hoàn toàn dòng vốn đầu tư nước ngoài vào năm 2011 [27].

    Trong xu hướng đi lên của Thế giới, Việt Nam cũng có những chuyển biến tích cực về môi trường đầu tư 2010, hứa hẹn nhiều bước tiến mới về mọi mặt của nền kinh tế. Một số tổ chức Quốc tế dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010 ở mức khá cao. Dự báo của IMF và ADB lần lượt là 6% và 6,5%. HSBC

    70

    cũng đưa ra dự báo khả quan với mức tăng trưởng 6,8%. Thậm chí, Goldmen Sachs còn cho rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng đến 8,2% năm 2010. Viện nghiên cứu kinh tế LG (LGERI) Hàn Quốc đã công bố bản báo cáo về triển vọng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam với nhận xét: “Việt Nam chắc chắn là mảnh đất nhiều cơ hội với tài nguyên thiên nhiên giàu có và tiềm năng phát triển lớn”. Những dấu hiệu tốt về kinh tế Việt Nam còn thể hiện khá rõ qua tâm lý người tiêu dùng. Theo khảo sát của Tập đoàn quốc tế MasterCard tiến hành tháng 10-11 năm 2009, trên 24 nền kinh tế toàn cầu (14 nước châu Á-Thái Bình Dương, 6 nước Trung Đông, 4 nước châu Phi) thì chỉ số niềm tin tiêu dùng (ICC) của Việt Nam dẫn đầu trong 24 quốc gia với mức 90%, bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. Cụ thể, ICC ở Hà Nội là 94,6% và Tp Hồ Chí Minh là 85,4%.Những đánh giá đầy lạc quan này đã chứng tỏ hình ảnh Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Khủng hoảng là một thách thức nhưng cũng là cơ hội cho Việt Nam tiến lên gặt hái những thành công.

    Các chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng có những nhìn nhận tốt về môi trường đầu tư Việt Nam thời gian sau khủng hoảng và dự báo phát triển những năm tới. Họ tin tưởng rằng, với những kinh nghiệm giải quyết hậu quả hai cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, đất nước đang kỳ vọng vào sự điều hành của Chính phủ năm 2010 sẽ có nhiều bước phát triển đầy khởi sắc. Những dự báo này dựa trên một số cơ sở là: Sự ổn định về chính trị – xã hội và triển vọng kinh tế tăng trưởng 6,5%; Chênh lệch giữa vốn cam kết và vốn thực hiện sẽ được rút ngắn, các nhà đầu tư sẽ đẩy mạnh thực hiện các dự án đã cam kết, đồng thời các doanh nghiệp FDI sẽ mở rộng hoạt động với nhiều dự án mới; Việc thực hiện cam kết quốc tế trong khuôn khổ WTO, AFTA và hướng tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015 cùng với quan hệ song phương với một số nước đã nâng tầm chiến lược, tạo ra thế và lực mới của đất nước trong khu vực và trên Thế giới [12]. Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có những thuận lợi đang chờ đón Việt Nam mà cũng phải nhìn vào thực tế là quốc gia vẫn còn rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết, đòi hỏi sự phối hợp một cách chủ động và hiệu quả giữa các đoàn thể, tổ chức và cả cá nhân doanh nghiệp để không bỏ lỡ thời cơ đang đến này.

    71

    2. Mục tiêu và định hƣớng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài trong thời gian tới

    Căn cứ vào những số liệu về nền kinh tế năm 2008 và 2009 cũng như tình hình trong nước và Thế giới gần đây, Hội nghị ngành diễn ra vào tháng 11 năm 2009 đã đề ra những mục tiêu và định hướng kinh tế nói chung và lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài nói riên vào những năm tới như sau.

    Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài năm 2010:

    Với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, Chính phủ tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 6,5-7% năm 2010, huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 39,6% GDP. Chủ trương đối với khu vực Đầu tư nước ngoài là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết, có định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên. Dự kiến các chỉ tiêu chủ yếu về Đầu tư nước ngoài như sau:

    Về thu hút vốn đầu tư vào (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) đạt từ 22-

    • tỷ USD, tăng 10% sơ với thực hiện năm 2009 với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh. Trong đó, vốn đăng ký mới dự kiến khoảng 19 tỷ USD và vốn tăng thêm dự kiến khoảng 3 tỷ USD.

    Về vốn thực hiện năm 2010 dự kiến sẽ tăng hơn năm 2009 do dòng vốn đăng ký của các năm trước đều ở mức cao và trong điều kiện nền kinh tế Thế giới có xu hướng phục hồi. Dự kiến vốn thực hiện sẽ đạt ở mức 10-11 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009, trong đó, vốn của phía nước ngoài dự kiến là 8-9 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2009.

    Định hướng thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới

    Định hướng ngành:

    Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đến năm 2010 và định hướng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: Thúc đẩy

    72

    chuyển giao công nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn; gia tăng xuất khẩu, tạo việc lam, phát triển công nghiệp phụ trợ, các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh, các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Cụ thể như sau:

    Ngành công nghiệp-xây dựng: Khuyến khích đầu tư về công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…Chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, hết sức coi trọng thu hút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Công nghiệp phụ trợ cũng là lĩnh vực cần quan tâm nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.

    Ngành dịch vụ: Từng bước mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác như dịch vụ ngân hàng, tài chính, vận tải, bưu chính-viễn thông, y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo…

    Ngành Nông-lâm-ngư nghiệp: Khuyến khích các dự án đầu tư về công nghệ sinh học tạo giống cây trồng, công nghệ chế biến thực phẩm, bảo quản sau thu hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật như các công trình thủy lợi, sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống giao thông nội đồng…

    Định hướng vùng:

    Trong những năm tới, dự báo vốn FDI vẫn sẽ tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm. Cần tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, điện, nước. Tập trung thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu công nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt, góp phần đẩy nhanh thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

    Định hướng đối tác:

    Chú trọng thu hút FDI từ các tập đoàn đa quốc gia (TNCs) theo hai hướng: Thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu, tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, phát triển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

    73

    Ba đối tác chính đó là Nhật Bản, Hoa Kỳ, các nước EU. Một số đối tác truyền thống là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore…

    II.               Giải pháp hạn chế rào cản văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài

    1. Về phía Nhà nƣớc

    Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn dành một sự quan tâm thích đáng đến văn hóa dân tộc. Việc xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, đậm đà bản sắc trở thành mục tiêu lớn mà đất nước theo đuổi bấy lâu. Tuy vậy, trong một nền văn hóa, không chỉ có những điều tốt đẹp có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế mà song song với những điều tốt đẹp ấy là cả những yếu tố tiêu cực, có thể trở thành rào cản đối với sự đi lên của quốc gia. Nhận thức được những yếu tố này và hạn chế nó là một điều không dễ dàng nhưng cũng không phải là không làm được nếu có sự chỉ đạo sáng suốt từ phía Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân. Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, đưa ra các chiến lược và chính sách phát triển cho cả đất nước theo từng thời kỳ cụ thể. Vì vậy, vai trò của Nhà nước phải được nhắc đến đầu tiên trong việc hạn chế các rào cản văn hóa đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

    Thứ nhất, chú trọng công tác giới thiệu văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài

    Qua quá trình phân tích một số rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài, người viết nhận thấy rằng, những khó khăn mà nhà đầu tư gặp phải chủ yếu do họ chưa hiểu về Việt Nam, chưa có những kiến thức về văn hóa và con người Việt Nam. Chính vì vậy, điều quan trọng nhất là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến các nhà đầu tư, để họ có thể ý thức được sự khác biệt và có cách để hòa hợp sự khác biệt ấy. Công tác giới thiệu này có thể tiến hành bằng cách:

    Xây dựng một số trung tâm trên các vùng miền, địa phương, chuyên nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ với hoạt động kinh doanh quốc tế. Đây sẽ là nơi thu thập, cập nhật và lưu giữ những tài liệu liên quan đến văn hóa, con

    74

    người, pháp luật, các chủ trương chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam được dịch sang nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Nhà đầu tư đến đây sẽ có cơ hội được tư vấn và hỗ trợ các thông tin liên quan đến môi trường cũng như cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các trung tâm này có thể tồn tại độc lập hoặc trực thuộc các ban ngành liên quan.

    Khuyến khích ra đời các ấn phẩm giới thiệu về văn hóa Việt Nam trên mọi miền đất nước, được dịch sang các thứ tiếng thông dụng và quảng bá trên các trang website liên quan đến hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư không chỉ tìm hiểu thông tin trên các website này mà còn được đưa ý kiến đóng góp, thắc mắc về những điều chưa hiểu về văn hóa Việt Nam.

    Phối hợp với các địa phương tổ chức những buổi giao lưu, học hỏi giữa các nhà đầu tư và doanh nghiệp trên địa bàn, mở rộng cơ hội để họ tiếp xúc và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhau. Những thông tin chi tiết về các cuôc giao lưu này sẽ được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Thứ hai, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

    Hiện nay, Nhà nước đã có nhiều chương trình cải cách thủ tục hành chính trên khắp các địa phương và kết quả đạt được cũng rất khả quan. Những chương trình, kế hoạch tương tự cần được đẩy mạnh hơn nữa, triệt để hơn nữa để sớm cải thiện tình hình bất cập về thủ tục hành chính như hiện nay. Nhà nước cũng cần khuyến khích các địa phương độc lập trong quá trình cải cách thủ tục này bằng cách cho phép họ tự cắt bỏ những thủ tục họ cho là không cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh từng nơi.

    Công tác giám sát kết quả cuộc cải cách này cần được tiến hành minh bạch, thường xuyên, cho phép sự tham gia của giới truyền thông để hạn chế tối đa những bất cập có thể phát sinh như bệnh thành tích, hoặc việc gây khó dễ của cơ quan, cá nhân liên quan.

    75

    Thứ ba, đào tạo những cán bộ, lãnh đạo có khả năng tham gia vào các hoạt động liên quan đến đầu tư nước ngoài

    Tăng cường tuyển chọn một cách lành mạnh những cá nhân có năng lực trong kinh doanh quốc tế nói riêng và kinh doanh nói chung để tham gia vào các cơ quan ban ngành liên quan.

    Đẩy mạnh đào tạo các khả năng mềm cho lãnh đạo cũng như nhân viên trong các cơ quan, ban ngành liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Các kỹ năng quan trọng về ngoại ngữ, tin học, đặc biệt là đàm phán, thương lượng.

    Thứ tư, quan tâm hơn đến công tác đào tạo kiến thức và kỹ năng mềm cho lớp trẻ để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện nay

    Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là phát hiện và định hướng điểm mạnh của những học viên. Từ đó đào tạo họ để những thế mạnh đó ngày càng phát huy. Muốn thực hiện được điều này, cần có sự cải cách về nội dung cũng như phương pháp dạy học. Mô hình học tín chỉ như hiện nay là một trong những cách làm thiết thực, nhưng cần nhân rộng mô hình này hơn nữa, để sinh viên có cơ hội phát hiện và bồi dưỡng năng lực bản thân mình

    Nhà nước cần đầu tư thích đáng hơn cho việc giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp học. Điều quan trọng là giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, sau đó là tạo điều kiện để các em có thể học tập tốt bằng việc đầu tư chất lượng giáo trình, giáo viên và phương tiện học tập.

    Các cấp học hiện nay cũng cần bắt đầu đưa vào nội dung giảng dạy các kỹ năng mềm, đặc biệt là cấp đại học. Sinh viên cần có những kiến thức về thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế… Đó là những kỹ năng đang thiếu hụt trầm trọng ở những người lao động Việt Nam hiện nay.

    Thứ năm, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật

    Hiện nay công tác tuyên truyền pháp luật vẫn chưa thực sự gặt hái được hiệu quả. Bằng chứng là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng giá trị hợp đồng được ký kết, tình trạng soạn thảo hợp đồng còn nhiều bất cập, nhiều vụ

    76

    kiện tụng xảy ra và người thua cuộc đa phần là phía Việt Nam. Việc tuyên truyền pháp luật có thể thực hiện bằng cách:

    Thông qua các kênh thông tin đại chúng như sách, tạp chí, báo chí, các kênh truyền hình để đưa dẫn chứng về những thiệt hại trong kinh doanh do không có kiến thức về pháp luật. Trích dẫn trực tiếp những điều luật thông dụng liên quan đến kinh doanh để người dân, đặc biệt là giới kinh doanh ý thức được tầm quan trọng của luật pháp và hiểu hơn về luật pháp.

    Đưa vào chương trình giảng dạy một cách bài bản hơn cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, có biện pháp để thúc đẩy ý thức tự tìm hiểu của sinh viên bằng cách đưa ra các tình huống bắt buộc học sinh phải tự tìm hiểu qua các tạp chí pháp luật và các địa chỉ cung cấp thông tin về pháp luật Việt Nam cũng như nước ngoài.

    Khuyến khích tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về luật pháp cho giới trẻ, nhằm tuyên truyền cũng như bổ sung kiến thức về luật pháp cho người tham gia.

    2. Về phía doanh nghiệp

    Giải pháp chung cho các doanh nghiệp trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài là phải ý thức về sự khác biệt văn hóa, tôn trọng sự khác biệt văn hóahòa hợp với sự khác biệt văn hóa đó.

    Bất đồng văn hóa là một thực tế khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc liên văn hóa. Vì vậy, ý thức tìm hiểu về những nét văn hóa đặc trưng của đối tác nước ngoài trước khi gặp gỡ là điều vô cùng quan trọng. Cũng cần nhận thức được rằng, những thông tin tìm được không phải là tất cả nên cần phải đặt mình trong tình trạng cảnh báo về những hành động khó hiểu có thể có ở đối phương, điều này cũng đồng nghĩa với việc chuẩn bị tâm lý trước cho đôi bên trong những tình huống không thể lường trước được. Sau khi ý thức được điều này, cần có thái độ tôn trọng thay vì cảm thấy khó chịu hay lảng tránh. Bởi nếu ở vị trí của đối tác thì những hành động của bản thân mình cũng có thể là điều kì lạ, cần chấp nhận thực tế rằng những nền văn hóa khác nhau sẽ có những cách suy nghĩ và hành động không giống nhau. Tinh thần học hỏi và tôn trọng là những bước cần thiết cho sự phát triển khả năng trau

    77

    dồi vốn văn hóa, vậy nhưng hai yếu tố này vẫn là chưa đủ, cần có sự hòa hợp những khác biệt văn hóa để giải quyết các tình huống khó xử của đôi bên. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phân tích xem trong tình huống đó, ở góc nhìn của nền văn hóa nước bạn thì hành động ấy có nghĩa là gì thay vì vội vàng đánh giá điều đó một cách tiêu cực theo quan điểm của cá nhân mình.

    2.1. Doanh nghiệp Việt Nam

    Thứ nhất, chú trọng việc đào tạo cho người lao động kiến thức về văn hóa kinh doanh các nước đối tác

    Tổ chức các buổi tìm hiểu về văn hóa kinh doanh các nước bạn hàng để có những điều chỉnh nhất định về cách thức kinh doanh với từng đối tượng sao cho thích hợp.Những hiểu về văn hóa con người và thị trường đối tác càng nhiều thì khả năng thành công càng nhân lên.

    Đặc biệt, trước những cuộc gặp gỡ đối tác nước ngoài, phải nghiên cứu kĩ về văn hóa của họ để có sự chuẩn bị về tinh thần cũng như vật chất cho cuộc gặp gỡ. Đó là những đặc điểm đặc trưng nhất về con người, cách suy nghĩ, cách ứng xử, những điều cấm kị, sở thích, thị hiếu, những mối quan tâm… Nếu không sử dụng tốt ngôn ngữ đối tác thì phải tìm một phiên dịch thích hợp, có sự am hiểu về văn hóa đôi bên, nên trao đổi trước với người này nội dung sắp tới để họ chuẩn bị vốn từ cũng như cách ứng xử phù hợp.

    Khuyến khích người lao động mở rộng kiến thức chuyên môn cũng như những hiểu biết văn hóa thông qua các chuyến công tác hay học tập ngắn ngày ở nước ngoài.

    Tích cực tham gia các cuộc gặp gỡ, giao lưu văn hóa do các cơ quan, đoàn thể tổ chức. Bản thân doanh nghiệp cũng có thể đứng ra tổ chức và kêu gọi sự tham gia của các doanh nghiệp khác trên địa bàn.

    Thứ hai, nâng cao kiến thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật ở các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp

    78

    Tổ chức những khóa học ngắn hạn trong nội bộ doanh nghiệp để người lao động ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững luật pháp, từ đó, chủ động củng cố kiến thức cho bản thân mình.

    Phổ biến những kiến thức pháp luật có được vào môi trường làm việc, để các cá nhân quen với phong cách làm việc theo pháp luật. Nhất là ở khâu soạn thảo hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giải quyết những tranh chấp có thể phát sinh.

    Thứ ba, xây dựng văn hóa kinh doanh cho doanh nghiệp

    Không nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có được những quan điểm đúng đắn về văn hóa kinh doanh. Đa phần doanh nhân không ý thức được rằng, xây dựng cho mình một nét văn hóa riêng bền vững cũng đồng nghĩa với việc khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Một nền văn hóa kinh doanh đặc thù, tiên tiến sẽ củng cố niềm tin cho đối tác và góp phần làm giảm những rào cản văn hóa khi có sự hợp tác với nước ngoài. Có thể xây dựng văn hóa kinh doanh bằng cách:

    Cá nhân người lãnh đạo phải xây dựng cho mình nét văn hóa riêng. Nét văn hóa này hội tụ tất cả các yếu tố thuộc năng lực, đạo đức kinh doanh, tư tưởng kinh doanh, phong cách quản lý, thái độ đối với đồng nghiệp, cách xây dựng mối quan hệ… Nét văn hóa này quyết định văn hóa chung của cả doanh nghiệp.

    Mỗi thành viên trong doanh nghiệp cần đoàn kết, tích cực hợp lực để xây dựng văn hóa riêng cho doanh nghiệp mình. Đầu tiên là phải trau dồi kiến thức cần thiết cho chuyên môn. Sau đó phải định hướng tư tưởng đúng đắn về công việc, xác định phong cách làm việc, cách trao đổi và xây dựng mối quan hệ với nhau. Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra những chương trình, kế hoạch hoạt động chung trong đó ghi rõ vai trò, nhiệm vụ của các thành viên. Đặc biệt, định hướng quan điểm kinh doanh rõ ràng để cả tập thể cùng hướng tới.

    2.2. Doanh nghiệp nƣớc ngoài

    Thứ nhất, tìm hiểu về văn hóa Việt:

    Điều đầu tiên nhà đầu tư nước ngoài phải làm sau khi quyết định đầu tư sang Việt Nam là dành thời gian tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Đây là một việc rất cần

    79

    thiết, quyết định phần lớn công việc kinh doanh của họ ở nước ngoài. Họ có thể nghiên cứu về con người, những phong tục tập quán, văn hóa kinh doanh, văn hóa người lao động hay những sở thích và cả những điều kiêng kị qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, tạp chí, phim ảnh, website.

    Tham khảo ý kiến của những người có hiều biết về văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, nếu có những người bạn có kinh nghiệm sống và làm việc ở đây thì lời khuyên của họ là những điều thực sự quý giá. Bởi đó là những người đã trải qua thành công hay thất bại ở đất nước này, họ hiểu hơn ai hết nền văn hóa của họ và sự khác biệt giữa nền văn hóa đó với nền văn hóa của đất nước họ đang sống.

    Thứ hai, những lưu ý khi đàm phán với người Việt Nam

    Cũng như phía Việt Nam, nhà đầu tư cần chuẩn bị kĩ các kiến thức về văn hóa kinh doanh trong đàm phán của người Việt. Đó là cách họ đàm phán, ý nghĩa của những ngôn ngữ không lời, quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng. Những hiểu biết này sẽ giúp nhà đầu tư tránh được những bất đồng văn hóa có thể nảy sinh.

    Dù có kiến thức về ngôn ngữ Việt, nhà đầu tư vẫn nên tìm một người phiên dịch am hiểu cả ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam để đảm bảo sự chính xác trong quá trình phiên dịch.

    Thứ ba, học tiếng Việt hiểu biết hơn về văn hóa Việt Nam

    Dành thời gian tiếp xúc với người Việt và học cách họ nói với nhau từ những từ ngữ đơn giản nhất. Đôi khi, chỉ một chào bằng tiếng Việt cũng có thể khiến cho khoảng cách khác biệt văn hóa được rút ngắn.

    Kết bạn với những người Việt Nam là cơ hội nâng cao trình độ tiếng Việt cũng như những hiểu biết quý giá về văn hóa địa phương.

    3. Về phía ngƣời lao động

    Thứ nhất, sớm phát hiện năng lực của bản thân để có định hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực đó ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Định hướng này giúp người lao động đưa ra quyết định đúng đắn cho công việc tương lai của mình,

    80

    mở rộng cơ hội thành công và hạn chế được phần nào tình trạng nhảy việc đang diễn ra phổ biến hiện nay.

    Thứ hai, nâng cao trình độ ngoại ngữ và những kỹ năng mềm

    Cần ý thức được vai trò của ngoại ngữ trong thời đại hiện nay để có những động cơ học tập đúng đắn, nghiêm túc, mang lại hiệu quả trong học tập.

    Chủ động tìm hiểu về văn hóa của quốc gia sử dụng ngoại ngữ đó để hiểu sâu hơn và sử dụng chính xác hơn ngôn ngữ đang học. Cần ý thức được rằng, ngôn ngữ là sự biểu hiện của văn hóa, văn hóa chi phối ngôn ngữ, học một ngôn ngữ đòi hỏi phải học cả văn hóa quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó.

    Rèn luyện những kỹ năng mềm cho bản thân như thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết tình huống thực tế, trên tinh thần tự giác, chủ động.

    Thứ ba, có thái độ đúng đắn đối với công việc

    Người lao động cần ý thức được vai trò của mình trong tập thể. Nếu cả công ty là một dây chuyền thì mỗi cá nhân là một mắt xích trong dây chuyền đó. Mỗi người đảm nhận một chức năng, nhiệm vụ riêng, có những đóng góp nhất định cho tập thể. Với vai trò này, họ phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng công việc mình đang làm cũng như đóng góp của những người xung quanh.

    Người lao động cần phát huy cao tinh thần xây dựng đối với bản thân cũng như tập thể. Thẳng thắn nhận khuyết điểm và sửa chữa khuyết điểm là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng tập thể vững mạnh, bền vững, từ đó bảo đảm được lợi ích cho từng cá nhân.

    81

    KẾT LUẬN

    Rào cản văn hóa là những cản trở khó tránh khỏi khi có sự tiếp xúc giữa những nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là trong thời kì hội nhập đang ngày càng mở rộng như hiện nay. Khắc phục những cản trở này không phải là chuyện một sớm một chiều, mà là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự chủ động hợp tác giữa cả hai phía – phía Việt Nam cũng như các đối tác đến từ quốc gia khác. Một khi cả hai bên đều xây dựng ý thức về những khác biệt này và có sự tôn trọng, hòa hợp sự khác biệt thì những bất đồng văn hóa sẽ giảm đi và việc thiết lập các mối quan hệ hợp tác đôi bên không còn là vấn đề quá khó khăn nữa. Cũng phải thừa nhận rằng, đồng hành với việc hạn chế những rào cản về văn hóa này, Việt Nam đang tiếp thu những nét đẹp văn hóa của các nước bên ngoài và khắc phục dần những vấn đề chưa tốt của bản thân, các nước cũng nhìn nhận được những điểm đáng trân trọng của văn hóa, con người Việt Nam – những truyền thống tích cực đáng được gìn giữ và phát huy trong thời đại toàn cầu hóa này.

    82

    PHỤ LỤC

    PHIẾU ĐIỀU TRA

    Về rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Dành cho người Việt Nam có kinh nghiệm làm việc với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

    Phiếu điều tra này được sử dụng nhằm mục đích tìm hiểu về những rào cản văn hóa Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong một công trình nghiên cứu của trường Đại học Ngoại Thương, ngoài ra không dùng cho bất cứ mục đích nào khác. Chúng tôi rất mong các bạn bớt chút thời gian để trả lời một số câu hỏi sau đây. Sự hợp tác của các bạn sẽ giúp chúng rồi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn.

    Họ và tên ngƣời trả lời:

    Nơi công tác hiện nay tại Việt Nam:

    Xin vui lòng chọn phương án mà bạn cho là thích hợp.

    Câu hỏi 1. Bạn có kinh nghiệm làm việc với các đối tác nƣớc ngoài trong thời gian:

    <= 1 năm                                        > 1 năm,< 2 năm                                      > 2 năm

    Câu hỏi 2. Đối tác của bạn phần lớn là ngƣời thuộc Châu lục:

     

    Châu Á

    Châu Âu

    Châu Mỹ

    Khác ( vui lòng ghi

    rõ)

    Câu hỏi 3. Bạn thực sự muốn làm việc với đối tác nƣớc ngoài đến từ Châu lục nào sau đây:

    Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Khác ( vui lòng ghi rõ )

    83

    Câu hỏi 4.Xin vui lòng cho biết lý do khiến bạn muốn làm việc với họ:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Câu hỏi 5. Theo bạn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sang Việt Nam thƣờng gặp những khó khăn do:

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Khác (xin vui lòng nêu rõ)

    Câu hỏi 6. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (xin vui lòng nêu rõ).

    Khác biệt về văn hóa

    Khác biệt về pháp luật

    Cơ sở hạ tầng còn hạn chế

    Thủ tục hành chính còn phức tạp

    Thiếu nhân lực

    Câu hỏi 7. Nếu xét riêng về rào cản văn hóa, theo bạn có thể có những yếu tố nào thuộc văn hóa có thể là rào cản khi đầu tƣ sang Việt Nam

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    84

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Câu hỏi 8. Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn về mức độ ảnh hƣởng của các rào cản thƣờng gặp sau bằng cách đánh số thứ tự: (1 – không ảnh hƣởng; 2 – ít ảnh hƣởng; 3 – ảnh hƣởng khá nhiều; 4 – ảnh hƣởng rất nhiều)

    Khác (vui lòng ghi rõ)

    Rào cản do khác biệt về ngôn ngữ

    Rào cản do khác biệt về tư duy

    Rào cản do khác biệt về thị hiếu tiêu dùng

    Rào cản do khác biệt về văn hóa kinh doanh

    Rào cản do khác biệt về văn hóa người lao động

    Câu hỏi 9. Bạn có biết trƣờng hợp thất bại nào của nhà đầu tƣ khi đầu tƣ sang Việt Nam do rào cản văn hóa gây nên? Xin hãy chia sẻ với chúng tôi

    Không

    Có (xin vui lòng cho biết thông tin ngắn gọn về dự án đó)

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    Câu hỏi 10.Từ kinh nghiệm thực tiễn và bản thân, bạn có cách khắc phục nào để hạn chế tối đa sự ảnh hƣởng do rào cản văn hóa Việt Nam gây ra? Xin vui lòng ghi rõ

    ……………………………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………………………………

    ………………………………………………………………………………………

    ……………………………………………………………………………………….

    85

    Xin chân thành cảm ơn bạn đã hợp tác với chúng tôi hoàn thành phiếu điều tra này

    Questionnaire on Vietnamese cultural barriers that impact on foreign investors (For Foreign investors in Vietnam)

    This questionnaire is part of research project monitored by the Hanoi Foreign Trade University. It is designed to investigate how aspects of Vietnamese culture impact on foreign investments in this country. I would be very grateful if you could spend some time to complete this questionnaire. Your cooperation is very much appreciated. All responses will remain confidential.

    Company’s Country of origin:

    Location in Vietnam:

    Kind of business:

    Please answer these questions and feel free to add any comments if appropriate.

    Q1. How long have you been doing business in Vietnam?

    <= 1 year                              > 1 year                             < 2 years                          > 2 years

    Q2. Apart from Vietnam, is your company represented in any other foreign country?

    Yes                                            No

    If yes, please specify:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q3. What do you believe were the main factors that attracted your company to Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    86

    87

    Q4. Please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult: (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3-sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Local administration

    Cultural differences

    Availability of suitable human resources

    Local infrastructure

    Local legal system

    Others (please give details)

    Q5. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q6. In terms of specific cultural differences, please comment on the degree to which the following make doing business in Vietnam difficult:

    (1- not at all difficult; 2- occasionally a little difficult; 3- sometimes quite difficult; 4- usually very difficult)

    Language

    Dealing with problems

    Local consumer tastes

    Business culture

    Employees working culture

    Others (please give details)

    Q7. For those elements above which you marked 3 (sometimes quite difficult)

    or 4 (usually very difficult) please explain further:

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    88

    Q8. Are you aware of any unsuccessful investments in Vietnam which could be directly attributed to problems of cross-cultural barriers?

    No

    Yes (Please share briefly some details about that project – no names necessary)

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Q9. What would you suggest are the three most important things that foreign investors should be aware of before setting up business in Vietnam?

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    ……………………………………………………………………………………..

    Thank you

    89

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tài liệu tiếng Việt

    • Nguyễn Hoàng Ánh – Luận án tiến sĩ, 2004, Vai trò của văn hóa trong kinh doanh quốc tế và vẫn đề xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, Tr.120
    • PTS Ngô Xuân Dân, PTS Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Quan hệ kinh tế Quốc tế, NXB Hà Nội.
    • Fons Trompenaars with Charles Hampden-Tuner, 2009, Chinh phục các đợt sóng văn hóa, Công ty sách Anpha.
    • Vũ Chí Lộc, 1997, Giáo trình Đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục.
    • Hồ Chí Minh, 1995, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
    • Trần Nhâm (chủ biên), 1995, Có một Việt Nam như thế – Such is Vietnam, NXB Chính trị Quốc gia (Việt Nam) – Công ty Truyền thông và xuất bản Ishou (Singapore).
    • Hoàng Phê (chủ biên), 1997, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
    • Schaefer Richard T, 2005, Xã hội học, NXB Thống kê.
    • Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, 1995, sở văn hóa Việt Nam, Trường ĐH TH TP Hồ Chí Minh.
    • Nguyễn Thị Ngọc Thủy, 2007, Những tác động của môi trường văn hóa đến Thương mại Quốc tế, Trường ĐH Ngoại Thương.
    • Giáo trình Đầu tư nước ngoài, 2006, Trường Đại học Ngoại Thương.
    • Vũ Quang Tuấn, Bộ KH-ĐT, 2010, Kỳ vọng đổi mới và những vấn đề cần lưu ý, Tạp chí Tài chính.
    • Trần Quốc Vượng,2008, sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục.

    Văn bản pháp luật

    • Luật Đầu tư nước ngoài năm 2005.
    • Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001-2005.

    Tài liệu tiếng Anh

    90

    • Hall And Hall, 1996, Understanding Cultural Difference.
    • Ashwill with Thai Ngoc Diep, 2005, Vietnam Today – A Guide to a Nation at a Crossroads, A Nicholas Btraley Publishing Company.
    • The Peace Corps – Cross-Culture workbook, Culture Matters, US Government printing office, Tr. 242

    Websites

    [19]http://vietbao.vn/Giao-duc/37-sinh-vien-tot-nghiep-khong-tim-duoc-viec/10972914/202/

    [20]http://www.amnet.com.vn/tin-tuc/gia-cong/Gia-cong-phan-mem-tai-thi-truong-Nhat-Ban-Rao-can-lon-nhat-la-nhan-luc-ngon-ngu.aspx,

    [21]http://www.marketingchienluoc.com/index.php?option=com_content&task=vie w&id=1760

     

    [25]http://www.tinmoi.vn/DN-kieu-bao-lsquochun-tayrsquo-vi-thu-tuc-hanh-chinh-

    1177879.html

    [26]http://danluan.org/node/267

    [27]http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30066 &cn_id=393467#m3twggaZcDNM

    [29]http://fia.mpi.gov.vn/Default.aspx?ctl=Article2&TabID=4&mID=274&aID=84

    7

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Cảm nghĩ về bản sắc văn hóa Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-h%C3%A0nh-vi-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-m%E1%BB%91i-quan-h%E1%BB%87-gi%E1%BB%AFa-phong-c%C3%A1ch-l%C3%A3nh-%C4%91%E1%BA%A1o-v%C3%A0-k%E1%BA%BFt-qu%E1%BA%A3-th%E1%BB%B1c-hi%E1%BB%87n-nhi%E1%BB%87m-v%E1%BB%A5-trong-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận hành vi tổ chức: Phân tích mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức

    1. PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO TRONG TỔCHỨC

    “Sếp mình thật khó khăn

    ông ta làm cho công ty mình ai nấy đ ều sống trong áp lực trong khi kết quả công việc lại không cao” Đức than vãn. Như đụng phải nỗi lòng của mình Việt nói như phủ đầu Đức “Công ty ông làm sao bằng công ty tôi, giám đốc thì độc đoán bảo thủ, chẳng ai muốn nêu một kiến mới nào

     

    nữa”, trong khi đó Tùng cười mỉm rất tâm đắc’ còn tôi thì thật may mắn, sếp rất tinh ý và hiểu lòng nhân viên nên chúng tôi làm việc rất hăng hái”. Đây là mẩu chuy ện tôi nghe được từ 3 người bạn, nghe như một cuộc nói xấu cấp trên vậy nhưng sâu xa hơn tôi nhận thấy họ đan g nhận xét và phản ứng về phong cách lãn h đạo của cấp trên mình- một người đứng đầu tổ chức.

     

    Phong cách lãnh đạo là gì và thực sự nó có ảnh hưởng đến các hoạt động trong tổ chức? Nó ảnh hưởng như thế nào? Như câu chuyện kể trên thì ba người bạn này vừa đề cập đến sếp mình với tính cách và cách điều hành của họ thì đi ngay sau là hệ quả cho tổ chức đó. Phong cách lãnh đạo chính là hành vi của một cá nhân mà nó có t ác động đến các thành viên trong một tổ chức. Sự tác động này là kết quả tương tác trong hệ thống quản lý của tổ chức. Phong cách lãnh đạo của một ngưởi đứng đầu thường mang tính hướng vào một mục tiêu rõ r àng, tập trung vào kết quả chu ng của tổ chức, tuy nhiên trên con đường hướng các thành viên trong tổ chức đến cùng một mục tiêu thì mỗi nhà lãnh đạo đều có cách riêng, sự ảnh hưởng riêng cũng như t ác động riêng dựa trên phong cách lãnh đạo của họ. Chính phong cách của mỗi người tạo nên những tác động, ảnh hưởng khác nhau đến các thành viên khác trong tổ chức, tác động đến tâm lý, đến phương cách thực hiện nhiệm vụ của một tổ chức và cuối cùng là tác động trực t iếp đến kết quả của công việc trong tổ chức đó.

     

    Các phong cách lãnh đạo rất đa dạng và mang màu sắc kết hợp giữa các phương pháp của các nhà đứng đầu tổ chức. Ở đây chú ng ta sẽ tìm hiểu 3 phong cách lãnh đạo

     

    cơ bản để thấy sự tác động của mỗi phương ph áp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức.

     

    II.MỐI QUAN HỆ C ỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ TRONG TỔ CHỨC

     

    1. Phong cách lãnh đạo độc tài

    1.1 Khái niệm

     

    Phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng được hiểu là sự áp đặt công việc với sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ. Nhà lãnh đạo độc tài thường lấy mình làm thước đo giá trị. Họ không quan tâm đến ý kiến của người khác, dù là đồng đội hay nhân viên, mà chỉ hoàn toàn

     

    dựa vào kiến thức kinh nghiệm của mình. Hình thức này thường phù hợp với lối quản lý cổ điển hoặc khi tổ chức đang trong tình trạng canh tân nội bộ để loại trừ những phần tử làm lũng đoạn sinh hoạt chung. Nhất là khi tinh thần kỉ luật và trật tự tổ chức

    lỏng lẻo cần sửa đổi.

     

    1.2. Đặc điểm của phong cách lãnh đạo độc tài

     

    Kiểu lãnh đạo độc tài được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào tay một người lãnh đạo.Lãnh đạo bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể.

     

    M ột người quản lý có phong cách làm việc độc đoán sẽ điều hành với tư tưởng nhân viên phải làm những gì họ nói, hoàn thành công việc theo định hướng được các ông chủ vạch ra và đã được xác định bởi mong muốn của việc sản xuất. Các nhà quản lý độc tài thường gọi cho các nhà quản lý cấp dưới và đưa cho họ chỉ thị cũng như lời khuyên với tư tưởng nhân viên sẽ tuân theo. Họ cảm thấy nhân viên cần sự chỉ đạo nghiêm ngặt hơn, các biện pháp kiên quyết và quyết định mạnh mẽ hơn. Điều này tạo nên các kỹ năng quản lý. Phong cách quản lý này cho phép nhân viên biết những gì họ cần phải làm, họ sẽ làm như thế nào và lúc nào các nhiệm vụ phải hoàn thành.

     

    Các nhà lãnh đạo chuyên quyền cao độ, ít có lòng tin vào cấp dưới.Nhà lãnh đạo thúc đẩy nhân viên bằng đe dọa.

     

    Quá trình quản lý thông tin từ trên xuống và giới hạn ở việc ra quy ết định ở cấp cao nhất, không cho phép nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định.

     

    Nhân viên thường ít thích người lãnh đạo.Hiệu quả công việc cao chỉ khi có mặt người lãnh đạo, thấp khí không có người lãnh đạo.

    Không khí trong tổ chức thường nặng nề, gây hấn, tạo áp lực, chủ yếu phụ thuộc vào định hướng cá nhân của người quản lý.

     

    1.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo độc tài và kết quả thực hiện nhiệm vụ trong tổ chức.

     

    Tạo tính ổn định, trật tự cao trong tổ chức nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ. Chính phong cách độc tài, quyền lực nằm trong tay một người này thì làm cho các mệnh lệnh đến các n hân viên, các thành viên trong tổ chức sẽ mang một áp lực thực hiện cao.

    Nhà lãnh đạo sẽ trở thành

     

    1 huấn luyện viên tốt với đầy đủ năng lực và trình độ cho các nhân viên mới giúp họ thực hiện nhiệm vụ một nhanh chóng.

    Nâng cao tính hiệu lực trong quản lý chính là p hon g cách lãnh đạo này mang lại. Chính điều này làm cho nhiệm vụ trong tổ chức được thực hiện tốt hơn nhờ t ính quản lý tốt.

     

    Trong những tính huống bất ngờ,bất chắc trong khi thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi phải đưa ra quy ết định xử lý ngay, hoặc những bất đồng trong trong tập thể hay những tình gây hoang mang, thì việc sử dụng phong cách lãnh đạo này sẽ đem lại hiệu quả rất cao. Chính vì thế mà nhiệm vụ được thực hiện nhanh chóng và đồng nhất ý kiến

     

    Tuy nhiên không phải lúc nào p hon g cách lãnh đạo này cũng mang lại những kết quả tốt cho tập thể. Đôi khi hiệu quả công việc không cao, chính là do phong cách lãnh đạo này mang tính độc đoán làm cho các thành viên khác thực hiện công việc như

     

    4

     

    một trách nhiệm phải làm thiếu đi sự nhiệt tình hăng say, và hiệu quả không được cao. Phong cách lãnh đạo này gây tâm lý lo sợ trong nhân viên. Họ sợ chứ không phục ngư ời lãnh đạo cho nên làm việc k hông hết tâm dẫn đến những hạn chế năng lực

     

    làm việc. Kết quả công việc không cao là điều khó tránh khỏi.

     

    Tuy nhiên trong nhiều tình huống hay tổ chức thì chính phong các lãnh đạo n ày là nhân tố kìm hãm, thậm chí dập tắt tính năng động và sáng tạo của nhân viên. Từ đó mà kết quả nhiệm vụ của tố chức cũng không có sự đa dạng sự s áng tạo nên kết quả khó đạt được mỹ mãn.

     

    M ôi trường làm việc căng thẳng ngột ngạt do chính phong cách lãnh đ ạo này mang lại dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả công việc.

    Phong cách lãnh đạo này không tập trung được nhiều ý kiến, sáng kiến tốt .Các quyết định quản lý mang tính chủ quan duy ý chí nên tính khả thi công việc không cao.

     

    Người lãnh đạo dễ nảy sinh tâm lý chuyên quyền, hách dịch, ảnh hưởng không tốt đến tổ chức đạc biệt là hoạt động của tổ chức.

     

    1.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo độc đoán

     

    M ột  trường

     

    hợp sử dụng thành công phong cách lãnh đạo này còn phải kể đến ông chủ tập đoàn APPLE là Steve Jobs với câu nói nổi tiếng: “Dân chủ không tạo nên

     

    những sản phẩm tuyệt vời. Để làm được điều đó, anh cần 1 nhà độc tài thông thái.”

     

    Bên cạnh những tên tuổi thành công với phong cách lãnh đạo độc tài, gia trưởng, cũng không ít người thất bại khi sử dụng phong cách này. Chắc hẳn chúng ta vẫn còn nhớ đến sự cố của tập đoàn VINASHIN ở Việt Nam. nhiều năm liền Vinashin báo cáo không trung thực về sử dụng vốn, về đầu tư và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2009 tập đoàn lỗ 1.600 tỷ đồng, nhưng lại báo cáo lãi 750 tỷ đồng,

     

    5

     

    quý 1 năm 2010 thua lỗ, vẫn báo cáo lãi gần 100 tỷ đồng. Đến tháng 6/2010, tổng số nợ của tập đoàn đã là 86 nghìn tỷ đồng. Đề cập khía cạnh này, Chính phủ cho rằng, mô hình tập đoàn đang triển khai thí điểm, nhưng ở Vinashin trong thời gian dài, tập trung các chức danh Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng giám đốc vào một người. Những năm gần đây, người nắm nhiều quyền lực này đã “trở nên độc đoán, gia trưởng”. Trong khi đó, Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, các phó tổng giám đốc y ếu kém, không thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được giao về lãnh đạo, quản lý, kiểm tra, giám sát, ngược lại còn đồng tình với những việc làm sai trái của người đứng đầu tập đoàn.Đó là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Vinashin.

     

    2.                 Phong cách lãnh đạo dân chủ

     

    2.1 Khái niệm

     

    Là phong cách mà theo đó nhà quản trị chủ yếu sử dụng uy tín cá nhân để đưa ra những tác động đến những người

     

    dưới quyền.

     

    2.2.Đặc điểm

     

    Ít sử dụng quyền lực trước mọi người, không đòi hỏi cấp dưới phục tùng tuyệt đối

     

    M ọi người được tham gia, trao đổi, bàn bạc. Thường thu thập ý kiến của những người dưới quyền,

     

    thu hút, lôi cuốn cả tập thể vào việc ra quyết định, thực hiện quyết định.

     

    Thông qua biểu quyết, thường sử dụng hình thức động viên khuyến khích. Thông tin di chuyển theo 2 chiều: thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và

     

    ngược lại

     

    2.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo dân chủ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

     

    Quyết định của nhà quản trị thường được cấp dưới chấp n hận, ủng hộ và làm theo. Phương pháp lãnh đạo này kh ích lệ để đưa ra ý kiến, khích lệ tranh luận phát huy được năng lực tập thể, trí tuệ, tính sáng tạo của tập thể chính vì thế mà hiệu quả của công việc khá cao, nhiệm vụ của tổ chức được thực hiện tốt.

     

    Phương pháp dân chủ tạo cho cấp dưới sự chủ động cần thiết và thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp. dẫn đến năng suất cao kể cả khi không có mặt của lãnh đạo.

     

    6

     

    Nhân viên thích lãnh đạo hơn, không khí thân thiện, định hướng nhóm, định hướng nhiệm vụ tốt hơn. Chính phong cách làm việc này t ạo cho các thành viên trong tổ chức có được sự thoải mái cần thiết tạo tiền đề cho sự phát huy sáng tạo giúp cho kết quả thực hiện công việc có hiệu quả hơn.

     

    Tuy nhiên, chính phương pháp lãnh đạo này cũng mang lại những y ếu điểm làm cho tiến trình nhiệm vụ không đ ược nhanh do sự thoải mái ít áp lực cho nhiệm vụ nên đôi khi quyết định chậm, bỏ lỡ thời cơ.

     

    Nếu thiếu sự quyết đoán, nhà quản trị có thể trở thành người theo đuôi cấp dưới, ba phải.Nếu không có tài năng thực sự sẽ không dám chịu trách nhiệm cá nhân.Xảy ra tình trạng “dân chủ giả h iệu”. Khi đó thì công việc nhiệm vụ có thể đi theo nhiều hướng mà không đến được cái đích cuồi cùng của nó do sự thiếu quyết đoán của lãnh đạo.

     

    Khi sử dụng phương pháp lãnh đạo này dễ gây tranh chấp tro ng quátrình thảo luận ý kiến của thiểu số thường được không được bảo vệ.

     

    2.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo dân chủ

     

    Phong cách quản lý Nhật Bản được thừa nhận là độc đáo ở chỗ: Người lãnh đạo luôn ý thức rằng, họ phải thiết lập các quan hệ không chính thức với những người dưới quyền bằng thái độ ứng xử chân tình, gần gũi, chan hoà, sự thiện cảm và đồng cảm ở người dưới quyền. Đối với các nhà quản lý Nhật Bản, quan hệ gần gũi, thân mật với người dưới quyền không phải là mục đích tự thân mà là một nhiệm vụ để qua

    đó tạo được bầu không khí cởi mở, chân tình, tin cậy lẫn nhau trong tập thể. Hơn thế nữa, nó là động lực khuyến khích mọi người đóng góp trí tuệ, tài năng, sức lực vào công việc chung.

     

    Phong cách quản lý Nhật Bản còn độc đáo ở cách thức khen thưởng và kỷ luật. 7

     

    Khen thưởng không chỉ dành cho những ai có sáng kiến, đạt năng suất lao động cao, mà cả những người làm việc chăm chỉ, cần mẫn, dù năng lực của họ như thế nào. Khen thưởng phải có tác dụng khích lệ những người dưới quyền dám làm những gì họ cho là đúng và hợp lý, không ngồi chờ thụ động chỉ thị cấp trên. Nếu có điều gì không tốt xảy ra thì ban quản trị cũng không mất công truy tìm, điều tra người phạm lỗi (điều này khác hẳn so với phương pháp quản lý theo phương Tây).

     

    3. Phong cách lãnh đạo tự do

    3.1.Khái Niệm

    Nhà lãnh đạo theo phong cách tự do chỉ là người cung cấp t hông tin, rất ít tham gia vào các hoạt động tập thể. Sự có mặt của người lãnh đạo chủ yếu là để truyền đạt các thông tin và dữ kiện. Quyền hành của người lãnh đạo rất ít được sử

     

    dụng. Với phong cách lãnh đạo này, nhà lãnh đạo sẽ cho phép các nhân viên được

     

    quyền tham gia ra quyết định, nhưng nhà lãnh đạo vẫn chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra.

     

    3.2. Đặc điểm

     

    Các thành viên ít thích lãnh đạo.

     

    Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm, định hướng vui chơi.

     

    Năng suất thấp, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên.

     

    3.3. Mối quan hệ của phong cách lãnh đạo t ự do và kết quả thực hiện nhiệm vụtrong tổ chức.

     

    M ỗi thành viên trong nhóm đều có khuynh hướng trở thành chủ thể cung cấp những tư tưởng, ý kiến để giải q uyết những vấn đề cốt lõi do thực tiễn đặt ra. Do đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ các ý k iến được tận dụng triệt để làm cho nhiệm vụ được thực hiện tốt hơn và có hiệu quả cao hơn.

     

    Các thành viên có quyền tham gia v ào quyết định các việc lớn của tổ chứcnên

     

    khai thác được tính sáng tạo của các thành viên, và vì vậy có n hiều phương án để lựa chọn khi giải quyết 1 vấn đề nhiệm vụ được thực hiện một cách tốt nhất.

     

    Phong cách này tạo cho nhân viên sự thoải mái trong công việc, không bị gò bó dẫn đến hiệu quả công việc có thể sẽ cao hơn.

     

    Phong cách này phù hợp với các nhà quản trị không có khả năng quyết đoán cao và chính xác, mọi việc được đưa ra bàn bạc và giảm được các sai lầm do quyết định của nhà quản trị.

     

    Đôi khi tạo ra dân chủ quá trớn, mỗi người 1 ý kiến, dẫn đến không thống nhất được, và có thể dẫn đến mục tiêu chung không hoàn thành.

     

    Dễ tạo ra tâm lý buồn chán cho người lãnh đạo, dẫn tới tình cảm cô đơn , tùy tiện, lơ là công việc cho dù bản thân rất phù hợp với công việc đó.

     

    3.4. Ví dụ về phong cách lãnh đạo tự do

     

    Bill Gates là một nhà lãnh đạo

     

    điển hình của sự pha trộn nhiều phong cách: độcđoán, dân chủ và tự do. Trong từng trường hợp, từng tình huống mà Bill Gates thể hiện các loại phong cách lãnh đạo khác nhau. Nó vừa tạo ra được sự uy quyền quyết đoán nhất định của 1 nhà quản trị tài ba có nguyên tắc, vừa tham khảo ý

     

    kiến của các thành viên khác, phát huy được khả năng và tính sáng tạo của họ. Tuy phong cách độc đoán chuyên quyền được ông thể hiện nhiều hơn cả nhưng phong cách tự do cũng được ông thể hiện khá độc đáo. Điều này được thể hiện thông qua các cách quản lý của ông trong công ty.Ở Microsoft, sáng thứ bẩy hàng tuần, Bill thường dành ít nhất một tiếng mời các vị phó chủ tịch đến, nghe trình bày và “thọc” vào các chi tiết của từng dự án. Billđặc biệt rất quan tâm về các hiệu suất công việc. Bill giữ được kiểm soát tới từng bộ phận thông qua các phó chủ tịch công ty. Điều này chứng tỏ ông luôn lắngnghe ý kiến của mọi người giúp cho công việc quản lý được dễ dàng hơn.Bill Gates và các giám đốc điều hành đều để để xe ở bãi chung, ăn trong nhà ănchung hoặc trong phòng làm việc, tự làm những công việc đáng ra dành cho cácthư ký như xem thư, soạn thư, chuyển thư… Nhờ đó, họ huỷ bỏ được những “tầngnhân

     

    9

     

    tạo” làm chậm lại các việc giao dịch và ra quyết định.Từ những ngày đầu thành lập công ty, Bill Gates và Paul Alen đã đưa tác phonglàm việc của chính mình thành “chuẩn mực” của Microsoft. Họ muốn làm cho các nhân viên của mình thật là thoải mái, hiệu suất và s ung sướng nhất có thể trong công việc. “Chuẩn mực” đó là tất cả mọi người đều có không gian riêng tư của mình. Đó là của họ. Họ có thể đóng cửa lại, bật nhạc lên, điều chỉnh ánh sáng và làm việc.Không có luật quy định về ăn mặc tại M icrosoft. Thaycho các bộ comlê và carvat mà ta thấy ở các công ty khác, ở Microsoft, trong mùa hè, ra lại thấy các kiểu áo cộc, áo phông và m ọi thứ khác. Ở Microsoft không có việc quy định giờ làm việc với các nhà lập trình và điều hành. Các nhân viên có thể chọn giờ làm việc của mình nhưng phải có những khoảng thời gian xác định hàng ngày. Mọi người có thể bắt đầu vào những thời gian khác nhau và làm việc theo những giờ khác nhau mỗi ngày. Điều này thể hiện rất rõ phong cách quản lý theo kiểu tự do của Bill Gates. Ông luôn biết cách tạo cho nhânviên sự thoái cần thiết để họ phát huy được khả năng và sức sáng tạo đóng góp chung vào thành công cho công ty.

     

    II. SỰ ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘN G NGƯỢC LẠI TỪ KẾT Q UẢ HOẠT ĐỘNG ĐẾN CÁC PHON G CÁCH LÃNH ĐẠO.

     

    Người biết đánh giá kết quả và thay đổi thích ứng phong cách lãnh đạo mới cho phù hợp với tổ chức thì đó mới chính là một lãnh đạo tài năng. Không có một cô ng thức lãnh đạo, hay một chuẩn mực nhất định cho các tổ chức, mà cần phải có sự ling

     

    hoạt thích ứng kịp thời và kết hợp để tạo ra một phương pháp lãnh đạo tốt nhất cho một tổ chức, đó mới chính là một n gười tài- một người biết nhìn vào hiệu quả, hiệu xuất, đặc điểm của từng công việc từng tổ chức để đưa ra phong các lãng đạo phù hợp.

     

    M ột người chơi golf mang một túi golf có rất nhiều gậy… Cái thì dùng cho khoảng cách đánh ngắn; cái dùng cho cú đánh xa; sử dụng cây nêm cắm đất khi banh golf nằm trên nền cỏ; cây nêm xuống cát để lấy banh golf ra khỏi hố cát sâu; gậy ngắn dùng để đánh nhẹ trên cỏ… Mỗi gậy được chọn sử dụng theo những mục đích khác nhau nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất.

     

    Tương tự như vậy, phong cách người lãnh đạo có thể thay đổi tùy theo công việc và hoạt động kinh doanh. Bạn có thể là một người lãnh đạo khôn ngoan khi áp dụng phong cách dân chủ nếu bạn muốn xây dựng tinh thần đoàn kết hoặc kêu gọi sự đồng tâm hiệp lực, lấy ý kiến quý báu từ mỗi nhân viên. Trong hoàn cảnh này, sử dụng phong cách quyết đoán – áp đặt cho nhân viên làm theo những gì bạn nói ra, không cho

     

    10

     

    họ cơ hội đóng góp ý kiến, suy nghĩ và sự đồng ý của họ – rất có thể chẳng mang lại kết quả gì.

     

    Khác với cách hành xử của nhà lãnh đạo trong câu chuy ện trên, nếu bạn là đội trưởng đội cứu hỏa và nhiệm vụ của bạn là cứu 1 căn nhà đang bùng cháy dữ dội, liệu bạn sẽ triệu tập một cuộc họp để bàn về các phương cách cứu ngôi nhà và những người trong nhà đó không? Tình huống cấp bách này buộc bạn phải đưa ra chỉ đạo chính xác và chuy ên nghiệp cho đội. Thành công trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc này hoàn toàn đến từ hành động quyết đoán của bạn.

     

    Khi tổ chức trong tình trạng khủng hoảng và cần có những biện pháp tức thời, nghiêm khắc thì việc dùng phong cách quyết đoán sẽ giúp bạn nhanh chóng đạt được sự đồng thuận từ nhân viên, thay vì đi vòng vòng hỏi xem họ đang nghĩ gì, tại sao chúng ta không thử phong cách này hoặc phong cách khác…

    Tất cả đều dực vào sự nhanh nh ạy và quyết đo án của người lãnh đạo, khi phân tích tính hiệu quả nhiệm vụ mà cần đưa ra phong cách lãnh đạo nào

     

    • Như cần độc đoán:
    • Khi tổ chức mới được hình thành, cần có kỷ luật cao
    • Khi tổ chức coì sự bất đồng
    • Với những người có ý chống đối
    • Không có tính tự chủ.
    • Thiếu nghị lực
    • Kém tính sáng tạo
    • Nhân viên mới, chưa có ý thức.
    • Cần dân chủ;
    • Khi tổ chức đang ổn định
    • Với những người có tính thần hợp tác, nhân viên coì thâm niên
    • Có lối sống tập thể.

    11

     

    • Nên tự do;
    • Khi tổ Khi tổ chức đang ổn định
    • Với những người không thích giao thiệp.
    • Hay có đầu óc cá nhân chủ nghĩa

    IV . KẾT LUẬN

     

     

    Để có những kết quả tốt trong thực hiện nhiệm vụ trong một tổ chức thì theo chúng tôi thì một phong cách lãnh đạo phù hợp với các đặc điểm đặc thù cho mỗi tổ chức sẽ là phong cách lãnh đạo mà ở đó người lãnh đạo phải có tính quyết đoán thể hiện qua các phẩm chất dám nghe dám làm, dám chịu trách nhiệm, tự tin, ra được những quyết đính kịp thời trong những tình huống khó khăn phong cách lãnh đạo cần có sự đa dạng không cứng nhắc mà uyển ch uyển giúp tạo ra những điều kiện cũng như môi trường tốt nhất cho việc thực h iện nhiệm vụ trong tổ chức. Bên cạnh đó, người lãnh đạo phải nhìn được sự phản ánh của kết quả nhiệm vụ để đưa ra phong cách lãnh đạo p hù hợp và tạo ra được nhiều điều kiện thuận lợi để cấp dưới phát huy hết năng lực, trí lực, óc sáng tạo, lòng nhiệt tình vào công việc, có hệ thống chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật kịp thời, thích đáng nhằm động viên người lao động phát huy mọi tiềm năng, ổn định tinh thần và đảm bảo được cuộc sống.

     

    Các luồng thông tin trong quản lý phải luôn được đảm bảo theo các kênh từ trên xuống dưới, từ cấp dưới lên trên. Đó cũng chính là sự kết hợp hài hòa của phong cách độc tài gia trưởng và phong cách lãnh đạo tự do, dân chủ, thích ứng với từng hoàn cảnh tình huồn quản lý cụ thể. Và một đặc điểm quan trọng trong phong cách quản lý này đó là phải tính tới những đặc điểm dân tộc, đạo đức, văn hoá của người Việt Nam.

     

    Tóm lại,có thể nói rằng, một phong cách lãnh đạo tốt là một sản phẩm mang tính trí tuệ cao của người lãnh đạo, thể hiện sự nhuần nhuyễn trong cách sử dụng các phong cách lãnh đạo khác nhau vào các tình huống khác nhau, đồng thời phù hợp với

    12

     

    các đặc điểm văn hóa Việt Nam. Chỉ có như thế tổ chức mới đạt được hiệu quả trong giải quyết công việc một cách cao nhất, phát huy được sức mạnh tập thể và tinh thần sáng tạo của nhân viên. Đúng như một câu danh ngôn đã nói:“ M ột nhà quản lý phải đồng thời là: M ột viên đại tướng biết cách chỉ huy, một quan tòa biết cách xét xử, một nhà giáo dục khéo dạy dỗ, một nhà tâm lý biết cách khích lệ cổ vũ”.

     

     

     

     

     

     

     

     

    13

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay

    Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay

    Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-C%C3%B4ng-t%C3%A1c-%C4%91%C3%A0o-t%E1%BA%A1o-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-trong-t%E1%BB%95-ch%E1%BB%A9c-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đồ án Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay

    A. LỜI NÓI ĐẦU

    Đối với mỗi quốc gia con người luôn là nguồn lực cơ bản và quan trọng nhất quyết định sự tồn tại, phát triển cũng như vị thế của quốc gia đó trên thế giới. Trước đây đã có một thời người ta chỉ coi trọng máy móc thiết bị, coi công nghệ là trung tâm của sự phát triển cho nên chỉ hướng vào hiện đại hoá máy móc công nghệ mà xem nhẹ vai trò của con người, không chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực dẫn tới chất lượng nguồn nhân lực không tương xứng với sự phát triển. Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự ra đời của nền kinh tế tri thức đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động nói riêng. Khả năng phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn lực con người, tri thức khoa học công nghệ. Nếu như trước đây sự dư thừa lao động phổ thông là một lợi thế thì ngày nay vốn nhân lực có chất lượng cao của mỗi quốc gia sẽ là lợi thế, là vũ khí hiệu quả nhất để đạt được thành công một cách bền vững. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong mọi lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực kinh tế ngày càng quyết liệt hơn, gay gắt hơn thì lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực nói chung, lao động kỹ thuật có chất lượng cao nói riêng đang thực sự trở thành yếu tố cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.

    Nguồn nhân lực trong tổ chức cũng giống như nguồn nhân lực của một quốc gia. Chất lượng nguồn nhân lực cũng quyết định đến sự thành bại cũng như lợi thế canh tranh của tổ chức đó trên thị trường. Do đó công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức đang là vấn đề được các tổ chức quan tâm hàng đầu hiện nay. Nước ta đang từng bước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao, nhu cầu về lao động kỹ thuật đặc biệt là lao động trình độ cao cho các khu công nghiệp và các ngành kinh tế mũi nhọn rất lớn vì vậy các tổ chức rất chú trọng đến vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu em xin đưa ra một số vấn đề cơ bản về “Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức ở nước ta hiện nay.”

    1

    • Ò ¸n m«n häc

    Nội dung đề án gồm 3 phần:

    1. Những vấn đề chung về đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức
    1. Vấn đề phát triển và đào tạo nguồn nhân lực trong thực tế hiện nay
    • Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực hiện nay

     

    Đề án được hoàn thành dựa trên những kiến thức đã được học cũng như

    quá trình nghiên cứu tham khảo tài liệu và sự hướng dẫn tận tình của thầy Lương Văn Úc.

    Do khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên trong quá thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót em mong thầy góp ý để đề án của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    2

    • Ò ¸n m«n häc

    B. NỘI DUNG

    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC

    1.Khái niệm chung

     

    Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Theo nghĩa rộng nguồn nhân lực gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực được xem xét trên hai giác độ là số lượng và chất lượng vì vậy phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cả hai khía cạnh đó. Tuy nhiên hiện nay đối với thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng thì chất lượng nguồn nhân lực đang là mối quan tâm hàng đầu do đó hoạt động phát triển nguồn nhân lực chủ yếu hướng vào chất lượng nguồn nhân lực tức là nhấn mạnh đến nguồn vốn nhân lực. Hướng phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực con người

     

    Phát triển nguồn nhân lực xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động, có kỹ năng và sử dụng một cách hiệu quả. Xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. Để nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực trước tiên chúng ta cần phải có một khái niệm chính xác về phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức diễn ra trong những khoảng thời gian xác định nhằm làm thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Như vậy trước hết phát triển nguồn nhân lực phải là các hoạt động học tập do doanh nghiệp tổ chức và cung cấp cho người lao động. Các hoạt động này có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày thậm chí vài năm tuỳ thuộc vào mục tiêu học tập. Mục đích của hoạt động này nhằm cung cấp cho ta một đội ngũ lao động có kỹ năng và trình độ lành nghề cao, từ đó làm thay đổi hành vi của họ theo hướng đi lên. Người lao động sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn việc làm cho mình.

    3

    • Ò ¸n m«n häc

    Trong thực tế hoạt động phát triển nguồn nhân lực có thể được xem xét trên 3 nội dung là giáo dục đào tạo và phát triển.

    Giáo dục là những hoạt động học tập giúp cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề khác thích hợp hơn trong tương lai. Hoạt động này sẽ hướng vào từng cá nhân, thông qua công tác hướng nghiệp mỗi cá nhân sẽ lựa chọn cho mình một nghề nghiệp phù hợp. Hoạt động giáo dục được thực hiện dần dần nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức phổ thông về một nghề nào đó. Giáo dục sẽ trang bị cho người lao động hành trang nghề nghiệp cơ bản để hướng tới tương lai.

    Đào tạo là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề nhằm giúp người lao động thực hiện công việc hiện tại của họ tốt hơn. Hoạt động đào tạo sẽ trang bị những kiến thức thông qua đào tạo mới áp dụng đối với những người chưa có nghề, đào tạo lại áp dụng đối với những người đã có nghề nhưng vì lý do nào đó nghề của họ không phù hợp nữa và đào tạo nâng cao trình độ lành nghề. Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thể hiện mặt chất lượng của sức lao động, nó có liên quan chặt chẽ với lao động phức tạp và biểu hiện ở sự hiểu biết về lý thuyết về kỹ thuật sản xuất và kỹ năng lao động, cho phép người lao độnghoàn thành được những công việc phức tạp. Hoạt động đào tạo sẽ hướng vào cá nhân cụ thể và cần tiến hành ngay để đáp ứng nhu cầu hiện tại, thực tế công việc đòi hỏi.

    Phát triển đó là những hoạt động học tập nhằm định hướng và chuẩn bị cho người lao động tiếp cận với sự thay đổi của tổ chức và bắt kịp với nhịp độ thay đổi đó khi tổ chức thay đổi và phát triển hoặc nhằm phát triển sâu hơn kỹ năng làm việc của người lao động. Phát triển sẽ chuẩn bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển của tổ chức trong tương lai.

    Như vậy tất cả các hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đều nhằm một mục tiêu là sử dụng tối đa nguồn lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động nắm rõ hơn chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao trình độ tay nghề. Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ tổ chức nào cũng như với cá nhân người lao động. Do đó hoạt động này cần phải được quan tâm đúng

    4

    • Ò ¸n m«n häc

    mức để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    2.                 Các hình thức và phương pháp đào tạo

     

    • 1 Hình thức đào tạo

     

    Sau khi đã hiểu rõ khái niệm đào tạo phát triển nguồn nhân lực và nhận thức được tầm quan trọng của công tác này tổ chức cần trang bị cho mình những kiến thức về các hình thức và phương pháp đào tạo.

     

    Như chúng ta đã biết nguồn lao động trong tổ chức bao gồm hai mảng chính là công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn (hay lao động trực tiếp và lao động gián tiếp). Đối với mỗi loại lao động sẽ có những hình thức đào tạo khác nhau. Với công nhân kỹ thuật hình thức đào tạo có thể là đào tạo tại nơi làm việc, tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp hay thông qua các trường chính quy… Còn cán bộ chuyên môn có thể tiến hành dưới nhiều hình thức như đào tạo chính quy dài hạn, đào tạo tại chức dài hạn, đào tạo từ xa… Tuy nhiên xét một cách tổng thể có thể chia ra hai hình thức đào tạo chính là đào tạo trong công việc và đào tạo ngoài công việc.

    1. Đào tạo trong công việc

     

    Đào tạo trong công việc là hình thức đào tạo người học ngay tại nơi làm

    việc. Trong hình thức đào tạo này người học sẽ học được các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua thực tế làm việc dưới sự chỉ bảo hướng dẫn của người lao động lành nghề, thường là người trong tổ chức.

    Nhóm hình thức đào tạo này gồm:

    Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc áp dụng chủ yếu với công nhân sản xuất ngoài ra còn áp dụng với một số công việc quản lý. Quá trình đào tạo gồm hai giai đoạn là dạy lý thuyết và thực hành. Trong khi dạy lý thuyết người chỉ dẫn công việc sẽ chỉ rõ những bước thực hiện công việc và giải thích về quy trình công nghệ cho người học hiểu rõ. Sau khi nắm vững lý thuyết người học sẽ được thực hành bước đầu là làm thử sau đó làm toàn bộ công việc dưới sự chỉ dẫn của người dạy kết hợp với việc quan sát người dạy làm và trao đổi khi có vấn đề khúc mắc. Đến khi người học thành thạo toàn bộ quy trình thực hiện công việc thì việc chỉ dẫn công việc sẽ kết thúc.

    Đào tạo theo kiểu học nghề áp dụng với toàn bộ công nhân sản xuất và áp dụng đối với những nghề mang tính truyền thống, công nghệ không cao. Quá

    5

    • Ò ¸n m«n häc

    trình thực hiện cũng gồm hai giai đoạn là học lý thuyết và thực hành. Lý thuyết sẽ được học tập trung trên lớp do những kỹ sư hoặc công nhân lành nghề đảm nhận. Sau đó người học sẽ được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn trong vòng từ 1 đến 3 năm. Người học sẽ thực hiện những khâu có kỹ năng từ đơn giản đến phức tạp cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề.

    Kèm cặp và chỉ bảo áp dụng đối với lao động quản lý tức lao động gián tiếp. Quá trình thực hiện cũng gồm có học lý thuyết và thực hành thông qua sự kèm cặp, chỉ bảo của những người quản lý giỏi hơn nhằm giúp người học học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc trước mắt và công việc cho tương lai. Kèm cặp và chỉ bảo được tiếp cận theo ba cách là kèm cặp bởi người quản lý trực tiếp thường các doanh nghiệp hay dùng, kèm cặp bởi một người đồng nghiệp có kinh nghiệm hơn và kèm cặp bởi một người cố vấn (người lao động trong công ty đã về hưu) cách kèm cặp này có ưu điểm là không ảnh hưởng đến công việc của người đương chức, có nhiều thời gian và kinh nghiệm.

    Luân chuyển và thuyên chuyển công việc đối tượng áp dụng là lao động quản lý và những người này được coi là cán bộ nguồn của tổ chức. Người quản lý sẽ được chuyển từ công việc này sang công việc khác để nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong tổ chức. Hình thức này cũng được tiếp cận theo ba cách: thứ nhất chuyển người quản lý đến nhận một cương vị quản lý ở một bộ phận khác trong tổ chức với chức năng và quyền hạn như cũ. Cách tiếp cận thứ hai là chuyển người quản lý đến nhận một cương vị làm việc ngoài lĩnh vực chuyên môn. Thứ ba là luân chưyến người học trong phạm vi nội bộ một nghề nghiệp chuyên môn, một lĩnh vực nhất định.

    Mỗi một hình thức đào tạo có những ưu nhược điểm riêng song ưu điểm nói chung của hình thức đào tạo trong công việc là tiết kiệm được chi phí do thời gian đào tạo ngắn, không phải thuê người dạy và phương tiện giảng dạy. Hình thức này có thể tiếp cận trực tiếp giúp người học nắm bắt nhanh kỹ năng công việc và phát triển văn hoá làm việc theo nhóm. Ngoài ra đào tạo trong công việc còn có ý nghĩa thiết thực vì người học được làm việc và có thu nhập trong khi học. Tuy nhiên đào tạo trong công việc cũng có nhược điểm là quá

    6

    • Ò ¸n m«n häc

    trình học không theo một hệ thống nên không thể áp dụng với những nghề có công nghệ hiện đại, người học bắt chước cả những thói quen không tốt của người dạy.

    Để áp dụng hình thức đào tạo trong công việc tổ chức cần đáp ứng được hai điều kiện là lựa chọn được những người dạy có kỹ năng, kinh nghiệm, tâm huyết với công việc và phải xây dựng kế hoạch đào tạo chặt chẽ nhằm kiểm soát về chi phí và thời gian cho đào tạo.

    1. Đào tạo ngoài công việc

     

    Đào tạo ngoài công việc là hình thức đào tạo mà người học tách khỏi hoàn

    toàn sự thực hiện công việc trên thực tế nhưng có thể diễn ra ở trong hoặc ngoài doanh nghiệp.

    Đào tạo ngoài công việc gồm các hình thức:

    Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp áp dụng đối với công nhân sản xuất, với những nghề tương đối phức tạp mà nếu tiếp cận theo kiểu chỉ dẫn công việc có thể gây hại cho người lao động hoặc tổ chức. Quá trình đào tạo gồm hai giai đoạn dạy lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách còn phần thực hành thì được tiến hành

    • các xưởng thực tập chuyên dụng do các kỹ sư và công nhân lành nghề hướng dẫn. Hình thức này giúp người học học có hệ thống hơn, không gây ra sự xáo trộn hoặc gián đoạn trong sản xuất, an toàn cho người lao động trong sản xuất và đảm bảo cơ sở sản xuất của doanh nghiệp.

    Cử đi học ở các trường chính quy áp dụng với mọi đối tượng lao động, tính hệ thống cao và đặc biệt áp dụng với những nghề có tính chất hiện đại. Người học sẽ được trang bị đầy đủ cả kiến thức lý thuyết lẫn kỹ năng thực hành. Tuy nhiên phải xem xét đến vấn đề chi phí và kỹ năng đào tạo.

    Đào tạo sử dụng các bài giảng hoặc các cuộc hội thảo áp dụng cho cả lao

    động quản lý và công nhân sản xuất. Các buổi giảng bài hay hội nghị có thể được tổ chức ở doanh nghiệp hoặc ở một hội nghị bên ngoài. Được tiếp cận theo hai cách là tổ chức riêng hoặc kết hợp với các chương trình đào tạo khác. Người học sẽ được thảo luận theo từng chủ đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm từ đó học được các kiến thức và kinh nghiệm cần thiết.

    Đào tạo theo kiểu chương trình hoá với sự trợ giúp của máy tính áp dụng

    đối với lao động quản lý. Đây là phương pháp đào tạo kỹ năng hiện đại nên

    7

    • Ò ¸n m«n häc

    đòi hỏi người học phải thành thạo kỹ năng sử dụng máy vi tính và phải tự thao tác theo các chỉ dẫn của chương trình. Chương trình đào tạo sẽ được viết sẵn trên đĩa mềm của máy tính và gồm ba chức năng cơ bản: Đưa ra các câu hỏi tình huống để người học suy nghĩ và tìm cách giải quyết, có bộ nhớ để lưu những thông tin người học có thể cập nhật để xử lý và cho kết quả, cho người học những thông tin phản hồi. Hình thức này có thể sử dụng để đào tạo rất nhiều kỹ năng mà không cần có người dạy.

    Đào tạo theo phương thức từ xa bằng cách sử dụng sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn. Người học và người dạy không ở một địa điểm và cùng một thời gian mà người học học các kỹ năng kiến thức thông qua các phương tiện như băng, đĩa casset, truyền hình… Với hình thức đào tạo này người học có thể chủ động bố trí thời gian học tập cho phù hợp với kế hoạch của mình và những người học ở các địa điểm xa trung tâm vẫn có thể tham gia các khoá học, chương trình đào tạo có chất lượng cao. Tuy nhiên hình thức đào tạo này đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải có tính chuyên môn hoá cao, chuẩn bị bài giảng và chương trình đào tạo phải có sự đầu tư lớn.

    Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm áp dụng với lao động quản lý. Hình thức này tiếp cận thông qua các bài tập tình huống, trò chơi kinh doanh, diễn kịch ,mô phỏng trên máy tính hoặc là các bài tập giải quyết vấn đề nhằm giúp người học thực tập giải quyết các tình huống giống như trên thực tế.

    Mô hình hoá hành vi cũng tương tự như hình thức diễn kịch nhưng có kịch bản sẵn để người học tham khảo trước khi tiến hành.

    Đào tạo kỹ năng xử lý công văn giấy tờ áp dụng với lao động quản lý chủ yếu là những người ở bộ phận hành chính, thư ký, quản lý… Mục đích giúp người học nâng cao sự thành thạo trong việc xử lý công văn giấy tờ lập kế hoạch làm việc.

    Hình thức đào tạo ngoài công việc có ưu điểm việc học không bị tác động bởi môi trường làm việc do đó người học có thể tập trung suy nghĩ hơn, việc học không làm gián đoạn quá trình sản xuất, tính hệ thống cao hơn nên có thể dùng để dạy cả nghề hiện đại. Thông tin được tiếp cận rộng hơn, cập nhật hơn do đó mở rộng tầm nhìn giúp thay đổi những tư duy và quan điểm lạc hậu. Tuy nhiên chi phí đào tạo cao, thời gian học dài và chi phí cơ hội cao.

    8

    • Ò ¸n m«n häc

    2.2 Phương pháp đào tạo

    Phương pháp đào tạo là cách thức mà người dạy sử dụng để truyền đạt kiến thức cho người học. Việc lựa chọn đúng phương pháp đào tạo cho từng đối tượng sẽ giúp quá trình học đạt hiệu quả và chất lượng. Hiện nay có rất nhiều phương pháp đào tạo nhưng chúng ta có thể tiếp cận trên hai phương diện là các phương pháp dạy lý thuyết và các phương pháp dạy thực hành tay nghề.

    1. Dạy lý thuyết

     

    Để dạy lý thuyết cho người học người dạy có thể sử dụng các phương pháp

    sau:

    Phương pháp giảng giải đây là phương pháp mà người dạy sẽ dùng kiến thức của mình giảng giải cho người học hiểu được bản chất của vấn đề. Có thể giảng giải bằng lời nói thuần tuý hoặc lời nói kết hợp với hình ảnh minh hoạ, lời nói kết hợp với mô hình để người học dễ hình dung.

    Phương pháp đối thoại là phương pháp thầy trò cùng nêu vấn đề cùng tranh luận để đi đến thống nhất cách hiểu bản chất vấn đề. Phương pháp này giúp người học phát huy tính năng động sáng tạo, ý thức độc lập trong tư duy.

    Phương pháp nghiên cứu tình huống là phương pháp đặt ra tình huống như trong thực tế để người học và người dạy cùng nghiên cứu tìm ra giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề. Phương pháp này vừa tạo ra sự hiểu biết sâu sắc về lý thuyết vừa tạo ra kỹ năng xử lý tình huống.

    Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp vận dụng các lý thuyết đã học để nghiên cứu một vấn đề cụ thể trong thực tế và giải quyết vấn đề đặt ra một cách bài bản khoa học. Phương pháp giúp người học có năng lực giải quyết vấn đề thực tế thực sự, tạo cho họ tính độc lập tự chủ trong học tập và nghiên cứu.

    1. Các phương pháp dạy thực hành tay nghề

     

    Phương pháp dạy theo đối tượng là phương pháp  người học được thực

    hành trên một đối tượng cụ thể theo một trật tự xác định. Ưu điểm của phương pháp này là tạo ra hứng thú cao nhưng có nhược điểm là không tạo ra được các thao tác động tác lao động tiên tiến, đôi khi còn hợp thức hoá các thao tác động tác lao động lạc hậu.

    Phương pháp dạy theo các thao tác là phương pháp người học chỉ thực hiện một thao tác hoặc một số động tác lao động tiên tiến, chuẩn mực đến khi

    9

    • Ò ¸n m«n häc

    thuần thục cao và chính xác theo quy định. Phương pháp này có ưu điểm tạo ra các thao tác động tác lao động tiên tiến và các hoạt động tối ưu. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là khi cứ thực hiện mãi một thao tác sẽ gây sự nhàm chán không tạo được hứng thú cho người học.

    Phương pháp tổng hợp vừa theo đối tượng vừa theo thao tác là phương pháp dạy theo đối tượng nhưng đến các thao tác cơ bản, chủ yếu, quan trọng và tốn nhiều thời gian thì dừng lại để sử dụng phương pháp dạy theo thao tác. Phương pháp này phát huy được ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên.

    Phương pháp tự học là phương pháp người học dựa vào sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh và các giải thích hướng dẫn để tự thực hiện theo nhằm đạt được cách thức làm việc cụ thể.

    4.                 Nhu cầu đào tạo

     

    Nhu cầu đào tạo của tổ chức được xuất phát từ nhu cầu về lao động của tổ

    chức. Những tổ chức khác nhau sẽ có nhu cầu đào tạo khác nhau vì vậy cần căn cứ vào tình hình thực tế của tổ chức để xác định nhu cầu đào tạo. Tại sao cần đầu tư cho đào tạo và phát triển, phải tiến hành loại chương trình đào tạo và phát triển nào, ai cần được đào tạo là những vấn đề tổ chức cần quan tâm khi xem xét nhu cầu đào tạo. Để xác định nhu cầu đào tạo cần phải phân tích tổ chức, phân tích con người và phân tích nhiệm vụ. Phân tích tổ chức xem xét sự hợp lý của hoạt động đào tạo trong mối liên hệ với chiến lược kinh doanh, nguồn lực sẵn có (thời gian, tài chính, chuyên gia) của tổ chức, cũng như sự ủng hộ của những người lãnh đạo đối với hoạt động đào tạo trong tổ chức. Phân tích con người là việc xem xét liệu có phải những yếu kém của kết quả thực hiện công việc là do sự thiếu hụt những kỹ năng, kiến thức và khả năng của người lao động hay là do những vấn đề liên quan đến động lực làm việc của người lao động, thiết kế công việc không hợp lý…, ai là đối tượng cần được đào tạo, sự sẵn sàng của người lao động đối với hoạt động đào tạo. Phân tích nhiệm vụ bao gồm việc xác định các nhiệm vụ quan trọngvà kiến thức, kỹ năng, hành vi cần phải được chú trọng để đào tạo cho người lao động nhằm giúp họ hoàn thành công việc tốt hơn.

    Mỗi loại lao động khác nhau sẽ có nhu cầu đào tạo khác nhau. Với công nhân kỹ thuật việc xác định nhu cầu đào tạo là cơ sở để lập kế hoạch đào tạo.

    10

    • Ò ¸n m«n häc

    Xác định nhu cầu không chính xác sẽ dẫn đến sự mất cân đối giữa yêu cầu và đào tạo, giữa đào tạo và sử dụng vì vậy tổ chức cần quan tâm đến việc xác định nhu cầu đào tạo. Nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật gồm hai loại chủ yêú là đào tạo mới và đào tạo lại.

    Để xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật chúng ta có thể sử dụng một số phương pháp được sau (Theo giáo trình quản trị nhân lực – NXB lao động xã hội)

    Phương pháp tính toán căn cứ vào tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật cần thiết cho từng loại sản phẩm và quỹ thời gian lao động của loại (công) nhân viên kỹ thuật tương ứng

    KTi =     Ti

    Qi.Hi

    KTi: Nhu cầu(công) nhân viên thuộc nghề(chuyên môn)i

    Ti: Tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật thuộc nghề(chuyên môn)i cần thiết để sản xuất.

    Qi: Quỹ thời gian lao động của một(công) nhân viên kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i

    Hi: Khả năng hoàn thành vượt mức ở kỳ triển vọng của (công) nhân viên kỹ thuật thuộc nghề(chuyên môn)i

    Phương pháp tính toán căn cứ vào số lượng máy móc, thiết bị kỹ thuật cần thiết cho quá trình sản xuất, mức đảm nhiệm của một (công) nhân viên kỹ thuật và hệ số ca làm việc của máy móc thiết bị.

    KT = SM .Hca

    N

    SM: Số lượng máy móc trang thiết bị cần thiết ở kỳ triển vọng

    Hca: Hệ số ca làm việc của máy móc trang thiết bị

    • Số lượng máy móc trang thiết bị do công nhân viên kỹ thuật phải tính Phương pháp chỉ số

    IKT = Isp.It

    I w

    IKT: Chỉ số tăng công nhân viên kỹ thuật

    Isp: Chỉ số tăng sản phẩm

    It: Chỉ số tăng tỷ trọng công nhân viên kỹ thuật trên tổng số

    I w : Chỉ số tăng năng suất lao động

    11

    • Ò ¸n m«n häc

    Ngoài ba phương pháp trên còn có rất nhiều các phương pháp khác để xác định nhu cầu công nhân kỹ thuật tổ chức sẽ căn cứ từng tình hình cụ thể để lựa chọn cách xác định phù hợp.

    4. Xây dựng chương trình đào tạo

    Để công tác đào tạo đạt hiệu quả và chất lượng tổ chức cần phải xây dựng cho mình một chương trình đào tạo phù hợp. Quá trình xây dựng chương trình đào tạo gồm 7 bước:

    4.1 Xác định nhu cầu đào tạo

    Đây là khâu rất quan trọng, tổ chức sẽ căn cứ vào bản phân tích công việc và việc đánh giá tình hình thực hiện công việc, căn cứ vào cơ cấu tổ chức để xác định số lượng, loại lao động và loại kiến thức kỹ năng cần đào tạo của tổ chức mình.

    4.2 Xác định mục tiêu đào tạo

    Tổ chức phải xác định kết quả cần đạt được của chương trình đào tạo bao gồm: những kỹ năng cụ thể cần được đào tạo và trình độ kỹ năng có được sau đào tạo, số lượng và cơ cấu nhân viên và thời gian đào tạo.

    4.3 Lựa chọn đối tượng đào tạo

    Là việc lựa chọn người cụ thể để đào tạo, ai cần được đào tạo và đào tạo loại kỹ năng nào. Tổ chức cần phải xác định căn cứ vào việc xác định nhu cầu và động cơ đào tạo của người lao động, tác dụng của đào tạo đối với người lao động và khả năng nghề nghiệp của từng người.

    4.4 Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo

    Tổ chức dựa trên chương trình đào tạo là hệ thống các môn học, bài học, loại kiến thức và loại kỹ năng cần đào tạo từ đó lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp.

    4.5 Dự tính chi phí đào tạo

    Khi xây dựng chương trình đào tạo tổ chức cần phải tính đến chi phí cho việc đào tạo bao gồm chi phí cho việc học, chi phí cho giảng dạy và chi phí cơ hội.

    4.6 Lựa chọn và đào tạo giáo viên

     

    Giáo kết hợp huấn để

    viên có thể là người của doanh nghiệp hoặc thuê giáo viên bên ngoài với những người có kinh nghiệm lâu năm. Các giáo viên cần được tập nắm vững mục tiêu và cơ cấu của chương trình đào tạo.

    12

    • Ò ¸n m«n häc

    4.7 Đánh giá chương trình và kết quả đào tạo

    Chương trình đào tạo được đánh giá căn cứ trên các tiêu thức như mục tiêu đào tạo có đạt được hay không? điểm yếu, điểm mạnh của chương trình đào tạo và tính hiệu quả kinh tế của việc đào tạo đánh giá thông qua chi phí và kết quả của chương trình.

    Kết quả chương trình đào tạo bao gồm kết quả nhận thức, sự thoả mãn của người học đối với chương trình đào tạo khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế… Các phương pháp đánh giá kết quả đào tạo có thẻ sử dụng phương pháp phỏng vấn, điều tra thông qua bảng hỏi, quan sát…

    II. VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỰC TẾ HIỆN NAY

    1.     Chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo nguồn nhân lực

    1.1 Chất lượng đào tạo

    Nhận thức được vai trò quan trọng của con người đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong nhưng năm gần đây công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm đúng mức. Chất lượng đào tạo nhân lực đã được nâng cao rõ rệt.

    Khái niệm chất lượng đào tạo có thể được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau. Ở đây chúng ta chỉ tiếp cận chất lượng đào tạo từ sản phẩm của đào tạo đó là các kiến thức và kỹ năng mà người học có được sau các khoá đào tạo. Kiến thức và kỹ năng là những tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng của quá trình đào tạo người lao động. Tuy nhiên có thể đánh giá những tiêu chí này thông qua một số chỉ tiêu như kết quả học tập các môn lý thuyết và thực hành nghề: Về kiến thức chuyên môn tỷ lệ học viên có điểm lý thuyết đạt khá giỏi trở lên chiếm gần 40% và có xu hướng ngày càng tăng lên. Chẳng hạn năm học 1998-1999 số học viên đạt loại giỏi và xuất sắc về lý thuyết nghề chiếm khoảng 12% thì đến năm học 2002-2003 tỷ lệ này là gần 15%. Số học viên đạt điểm yếu kém về lý thuyết chỉ chiếm khoảng 3% và có xu hướng giảm dần qua các năm. Sau các khoá đào tạo người lao động được trang bị đầy đủ các kiến thức chuyên môn nghề nghiệp.

    13

    • Ò ¸n m«n häc

    Biểu 1: Kết quả thi lý thuyết nghề

              §¬n vÞ: %
               
      1998-1999 1999-2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003
               
    Tổng số 100 100 100 100 100
               
    Xuất sắc 2,46 2,41 3,31 3,65 3,26
               
    Giỏi 9,62 8,96 10,56 11,67 11,60
               
    Khá 23,92 22,41 25,09 25,64 25,80
               
    Trung bình Khá 31,44 31,28 30,52 29,80 30,15
               
    Trung bình 29,92 32,14 27,77 26,36 26,77
               
    Yếu 2,17 2,23 2,15 2,44 2,02
               
    Kém 0,47 0,57 0,60 0,44 0,40
               

    Về kỹ năng thực hành nghề của học sinh cũng được nâng cao rõ rệt. Qua các kỳ thi thực hành tỷ lệ học viên có điểm thực hành đạt loại khá và giỏi trở lên ngày càng tăng. Năm 1998-1999, số học sinh đạt loại khá và giỏi về thực hành chiếm trên 13%, đến năm học 2002-2003 tỷ lệ này đã tăng trên 18%.

    Biểu 2: Kết quả thi thực hành nghề

              §¬n vÞ: %
               
      1998-1999 1999-2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003
               
    Tổng số 100 100 100 100 100
               
    Xuất sắc 2,63 3,17 3,54 3,70 3,73
               
    Giỏi 11,15 11,24 13,40 15,19 15,17
               
    Khá 26,67 26,79 27,36 28,4129,32  
               
    Trung bình khá 33,15 30,11 30,27 28,51 29,38
               
    Trung bình 25,15 27,46 24,00 22,99 20,99
               
    Yếu 0,89 0,92 0,85 1,00 1,26
               
    Kém 0,36 0,31 0,58 0,19 0,17
               

    (Theo tạp chí th«ng tin thị trường lao động) Chất lượng đào tạo còn thể hiện qua đánh giá của các doanh nghiệp.

    Theo các doanh nghiệp thì khoảng 1/3 số sinh viên có kiến thức và năng lực khá và tốt trong một số tiêu chí như kiến thức chuyên môn nghề; kỹ năng thực hành nghề; kỹ năng làm việc độc lập; năng lực phân tích và giải quyết vấn đề;

    14

    • Ò ¸n m«n häc

    năng lực phân tích và giải quyết vấn đề; năng lực thích ứng và tự giải quyết trong công việc; năng lực làm việc theo tổ nhóm; tác phong lao động công nghiệp; năng lực giao tiếp xã hội… Đại đa số doanh nghiệp đánh giá học sinh học nghề đạt mức trung bình trở lên.

    Như vậy chất lượng đào tạo nghề về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp sản xuất với công nghệ hiện đại. Một số cơ sở đào tạo đã có đủ điều kiện đào tạo được những công nhân kỹ thuật tương đương trình độ khu vực. Với số lượng và chất lượng kiến thức kỹ năng ngày càng được nâng lên, đa số người lao động đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và có thể tiếp cận làm chủ máy móc,thiết bị hiện đại.

    1.2 Hiệu quả đào tạo

    Hiệu quả của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng được xem xét trên hai giác độ đó là hiệu quả ngoài và hiệu quả trong. Hiệu quả trong thể hiện ở kết quả và tỷ lệ tốt nghiệp còn hiệu quả ngoài được đánh giá căn cứ vào tỷ lệ người lao động có việc làm sau đào tạo, tỷ lệ làm đúng nghề được đào tạo và tỷ lệ đáp ứng được yêu cầu công việc… Hiện nay ở nước ta tỷ lệ lao động được đào tạo lớn, tỷ lệ tốt nghiệp khá giỏi cao và hầu hết số người tốt nghiệp tìm được việc làm. Đào tạo nghề đã gắn với thực tiễn sản xuất và gắn với giải quyết việc làm.

    Biểu 3: Tỷ lệ học sinh có việc có việc làm

              Đơn vị:%
               
    Năm 1998-1999 1999-2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003
               
    Số có việc làm 66,25 67,58 71,62 71,79 69,63
    trong vòng 6-12          
    tháng          
    Trong đó có việc 49,23 50,77 55,37 53,96 54,20
    làm ngay sau khi          
    tôt nghiệp          

    (Theo tạp chí th«ng tin thị trường lao động) Kết quả tên cho thấy công tác đào tạo nghề đã gắn với giải quyết việc làm.

    Tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm đạt trên 70%. Một số cơ sở đào tạo đặc biệt là các trường nghề trong doanh nghiệp tỷ lệ học viên sau khi tốt nghiệp có việc làm rất cao, có nơ đạt trên 90%. Đào tạo nghề đã góp phần

    15

    • Ò ¸n m«n häc

    giúp người lao động nâng cao trình độ tay nghề và kiến thức chuyên môn tăng cơ hội tìm việc làm cho họ. Người lao động sau đào tạo có nhiều cơ hội tìm được những việc làm tốt và có thu nhập cao góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.

    Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước ta đã đạt được chất lượng và hiệu quả đáng kể là nâng cao tay nghề cho người lao động, cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình độ cao đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chất lượng lao động nước ta đã theo kịp khu vực và thế giới.

    2.                 Những bất cập trong thực tế đào tạo nguồn nhân lực hiện nay

     

    • 1 Bức xúc trong việc gắn đào tạo với sử dụng

     

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được về chất lượng và hiệu quả, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần khắc phục. Một trong những vấn đề cơ bản đó là thiếu sự gắn kết giữa công tác đào tạo và nhu cầu thực tế về sử dụng nhuồn nhân lực. Trong đó có nhiều vấn đề bức xúc còn tồn tại như: Cơ cấu đào tạo bất hợp lý; thiếu sự gắn kết giữa đào tạo và sử dụng; chất lượng đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng…

     

    Cơ cấu đào tạo bất hợp lý thể hiện trên cả ba mặt: Cơ cấu cấp đào tạo, cơ cấu ngành nghề đào tạo và cơ cấu vùng miền trong đào tạo.

     

    Cơ cấu cấp đào tạo: Trong cơ cấu nguồn nhân lực nhu cầu phát triển của bất cứ nước nào cũng phải đảm bảo một cơ cấu hình tháp, tức là tỷ trọng công nhân kỹ thuật là lớn nhất, kế đó là tỷ trọng những người có trình độ đại học và cao đẳng. Theo chuẩn quốc tế hiện nay về quy mô đào tạo, cứ 10 học viên công nhân kỹ thuật thì có 4 người học trung học chuyên nghiệp và một người học cao đẳng, đại học. Nhưng thực tế ở nước ta hiện nay nếu chỉ tính đào tạo dài hạn thì cứ 1 học viên công nhân kỹ thuật có 1,1 người học trung học chuyên nghiệp và có tới 4,3 người học cao đẳng, đại học. Như vậy ở nước ta dù đã được cảnh báo từ rất lâu nhưng cơ cấu đào tạo vẫn rất bất hợp lý, đó là cơ cấu hình tháp ngược, có sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nguồn nhân lực.

    Cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng thể hiện sự bất hợp lý, có sự mất cân đối khá lớn về ngành nghề đào tạo. Hiện nay trong cơ cấu đào tạo đại học của

    16

    • Ò ¸n m«n häc

    Việt Nam số học viên theo học các khối ngành luật, kinh tế rất lớn, ít chú trọng đến các ngành điện tử, kỹ thuật, các lĩnh vực công nghệ mới trong khi nhu cầu kỹ sư của các ngành này cũng rất lớn. Các trường dạy nghề đa số đều có xu hướng tập trung đào tạo các ngành nghề phổ biến như kế toán, tin học ứng dụng, ngoại ngữ mà ít chú trọng việc đào tạo công nhân kỹ thuật, công nhân cơ khí, sửa chữa… Điều này dẫn tới có những ngành thừa rất nhiều lao động nhưng có những ngành lại thiếu trầm trọng.

    Cơ cấu vùng miền cũng thể hiện sự bất hợp lý. Sự khác nhau về điều kiện phát triển kinh tế xã hội là ngưyên nhân dẫn tới sự bất hợp lý của cơ cấu đào tạo theo vùng miền. Hiện nay các cơ sở giáo dục đại học và dạy nghề chỉ mới tập trung ở một số trung tâm văn hoá kinh tế lớn chưa phát triển ở các tỉnh, địa phương. Điều này gây nên sự thiếu hụt nghiêm trọng về lao động có tay nghề ở những vùng kinh tế kém phát triển.

    Cùng với cơ cấu đào tạo bất hợp lý thì sự tách dời giữa đào tạo và sử dụng cũng là một vấn đề cần quan tâm. Có một thực tế lớn hiện nay là lao động cần việc làm nhưng khó xin việc vì tay nghề chuyên môn yếu. Doanh nghiệp cần lao động nhưng không tuyển dụng được vì có qúa ít lao động có nghề. Điều này là do thiếu sự hợp tác giữa các cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng. Trên thế giới ở những nước phát triển, các trường dạy nghề đa số đều nằm trong các doanh nghiệp và mang lại hiệu quả rất cao. Tuy nhiên mô hình cơ sở đào tạo trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay mới chỉ dừng lại ở những con số hạn chế, quy mô nhỏ hẹp, chủ yếu đào tạo công nhân để làm việc cho doanh nghiệp. Ngoài ra, mô hình doanh nghiệp cử người đi đào tạo tại các cơ sở đào tạo hoặc liên kết với các cơ sở này trong việc đào tạo nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay là ít xảy ra, một phần do năng lực đào tạo của các cơ sở còn hạn chế, chưa tạo được lòng tin với các doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lao động đã qua đào tạo nhưng thiếu kiến thức thực tế, năng lực hành nghề không cao. Người học chủ yếu chỉ học trên lý thuyết mà ít được tiếp xúc với các công cụ thực hành, không có sự kèm cặp chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm của các “giáo viên thực hành” là đội ngũ thợ lành nghề.

    Cũng do sự thiếu hợp tác giữa các cơ sở đào tạo với các đơn vị sử dụng dẫn tới tình trạng lao động làm việc ở các lĩnh vực trái với chuyên ngành đào tạo

    17

    • Ò ¸n m«n häc

    diễn ra phổ biến. Việc này có thể lý giải có nguyên nhân từ việc cơ cấu đào tạo của chúng ta chưa gắn với nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể thấy các kiến thức đào tạo trong các ngành là khá chung chung nên việc chuyển đổi từ công việc này sang công việc khác cũng là chuyện thường xảy ra.

    Sự tách dời giữa đào tạo và sử dụng còn do chương trình, nội dung đào tạo mang tính áp đặt, không gắn với nhu cầu thực tế. Đây là một trong những vấn đề nổi cộm và bức xúc nhất trong giáo dục đại học của chúng ta hiện nay. Với quy định về khung chương trình đào tạo, trong đó quy định số lượng các học phần bắt buộc gồm các môn học về chính trị, tư tưởng chiếm một tỷ trọng khá lớn ở tất cả các ngành đào tạo đại học. Điều này cũng làm giảm khả năng trang bị các kiến thức vần thiết, khiến chất lượng sinh viên ra trường bị giảm sút, thiếu khả năng thực hành, thiếu gắn kết với yêu cầu về sử dụng.

    Chất lượng đào tạo không đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Ở nước ta hiện nay chất lượng đào tạo nói chung đang ở mức thấp trong khu vực và rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới. Là một nước có nền kinh tế được xếp vào hàng các nước đang phát triển, Việt Nam luôn coi nguồn nhân lực rẻ là một lợi thế quan trọng trong việc tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế trên sẽ chẳng là gì nếu chúng ta không có được nguồn nhân lực có chất lượng, tay nghề cao. Trong các đánh giá xếp hạng của các tổ chức quốc tế về chất lượng đào tạo của các trường đại học hầu như không có tên các trường Đại học của chúng ta. Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiêp, các đơn vị tuyển dụng lao động. Đa số người lao động sau khi tốt nghiệp các trường đào tạo, dạy nghề đều không thể thích ứng được ngay với yêu cầu công việc mà phải qua các lớp đào tạo bổ sung. Ngoài ra còn phải kể đến một số lượng đáng kể người lao động sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp cũng tự đi học thêm các chuyên môn khác cho phù hợp với công việc của họ.

    2.2 Những khiếm khuyết trong công tác đào tạo nguồn nhân lực

    Công tác đào tạo nguồn nhân lực hiện nay cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu về hình thức đào tạo, phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại rất nhiều những khiếm khuyết. Việc xác định nhu cầu đào tạo gặp rất nhiều khó khăn do người học vẫn chưa

    18

    • Ò ¸n m«n häc

    nhận thức đúng tầm quan trọng của học nghề. Học nghề vẫn chưa vượt qua định kiến về khoa cử bằng cấp, danh vị xã hội, do đó nhu cầu về công nhân kỹ thuật rất lớn, nhưng số lượng tuyển sinh học nghề lại thấp. Mặt khác, nhu cầu đào tạo hiện nay không xuất phát từ nhu cầu thực tế mà từ nhu cầu lên lương, lên chức dẫn đến người đáng được đi đào tạo thì không được mà bộ phận đi đào tạo về lại không sử dụng. Tình trạng trên dẫn đến hiện tượng thiếu tuyệt đối công nhân kỹ thuật nhưng lại thừa tương đối những người có qua đào tạo nhưng trình độ chuyên môn yếu. Trong quá trình tổ chức các lớp đào tạo các phương pháp khoa học mang tính khách quan để đánh giá nhu cầu đào tạo rất ít được sử dụng. Phần lớn nhu cầu đào tạo đều do kinh nghiệm chủ quan của bộ phận phụ trách đào tạo của tổ chức nêu ra. Việc thu hút và mời các nhà cung cấp các chương trình đào tạo đánh giá nhu cấu đào tạo thực sự rất ít khi được thực hiện. Nhiều khi đào tạo không phải là giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề của tổ chức, nhưng những lớp học vẫn được tổ chức thực hiện.

    Hình thức đào tạo phổ biến và hiệu quả trên thế giới hiện nay được rất nhiều các nước phát triển áp dụng là mô hình trường nghề thuộc doanh nghiệp. Ở nước ta hình thức đào tạo này vẫn chưa được chú trọng đúng mức, thời gian gần đây mới bước đầu được xem xét và thử nghiệm ở một số doanh nghiệp. Việc lựa chọn hình thức đào tạo không phù hợp đã dẫn tới tốn kém về chi phí, chất lượng đào tạo không cao.

    Phương pháp giảng dạy đóng vai trò vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đào tạo. Nó không chỉ bao gồm phương pháp truyền đạt mà còn bao gồm cả quá trình phát triển tư duy, cách phát hiện và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên hiện nay việc lựa chọn phương pháp đào tạo, cách thức giảng dạy vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Có một thực tế là phương pháp giảng dạy truyền thống với những đặc trưng: quy mô lớp lớn, chủ yếu là thông tin một chiều giữa giảng viên và học viên… Điều này đã hạn chế tính tính cực và sáng tạo của học viên. Phương pháp đào tạo hiện đại với đặc trưng là sử dụng các bài giảng ngắn kết hợp với các bài tập tình huống, thảo luận nhóm, bài tập mô phỏng, bài tập đóng vai nhằm khuyến khích tính chủ động sáng tạo của học viên ít được sử dụng hoặc nếu sử dụng thì tính thuần thục và hiệu quả chưa cao.

    19

    • Ò ¸n m«n häc

    Một vấn đề nữa hiện nay là việc thực hiện các chương trình đào tạo và đánh giá chương trình đào tạo. Số lượng các doanh nghiệp, tổ chức mạnh dạn đầu tư vào các chương trình đào tạo có chi phí lớn, chất lượng cao là rất ít. Trên thực tế có một nghịch lý là doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu nhưng vẫn không sử dụng hết kinh phí đào tạo. Bên cạnh việc đầu tư cho đào tạo còn hạn chế thì việc đánh giá các chương trình đào tạo cũng thể hiện sự bất cập. Đánh giá các chương trình đào tạo sử dụng các chỉ tiêu như: Số lượng người được đào tạo, số lượng ngày, giờ đào tạo, số lượng chương trình đào tạo được thực hiện. Về thực chất, các chỉ tiêu này mới chỉ dừng ở mức độ thống kê khối lượng công việc được thực hiên mà chưa phản ánh được hiệu quả thực hiện công việc cũng như tác động của đào tạo đối với cá nhân và tổ chức. Việc đánh giá dựa vào mức độ phản ứng của học viên đối với các khoá học đôi khi được thực hiện. Các chỉ tiêu phản ánh mức độ thích hợp của các chương trình này về nội dung, phương pháp, hình tức tổ chức, cũng như tác động của các chương trình đào tạo đối với việc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý hầu như chưa bao giờ được thực hiện.

    II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC HIỆN NAY.

     

    1.     Xác định đúng nhu cầu đào tạo

     

    Các tổ chức cần chủ động trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn

    nhân lực. Khi xây dựng chương trình đào tạo việc xác định nhu cầu đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu thực tế. Bộ phận phụ trách công tác đào tạo nên coi lãnh đạo các bộ phận khác, đặc biệt là bộ phận có nhân viên được đào tạo là “khách hàng” của mình trong việc thiết kế và thực hiện các chương trình đào tạo. Việc trao đổi và thu thập thông tin từ các “khách hàng” này có một vai trò rất quan trọng trong việc thiết kế, thực hiện chương trình và đặc biệt là khi tổ chức áp dụng các kiến thức này vào trong thực tế.

    Việc tổ chức các chương trình đào tạo chỉ nên đựơc tiến hành khi doanh nghiệp có đủ cơ sở để kết luận là hiệu quả làm việc của doanh nghiệp và cá nhân chưa cao là do các cán bộ của họ thiếu kiến thức, kỹ năng hoặc có thái độ chưa thích hợp với công việc. Chỉ trong những tình huống này thì đào tạo mới phát huy được tác dụng. Trong các tình huống khác thì đào tạo không

    20

    • Ò ¸n m«n häc

    phải là giải pháp hữu hiệu nhất. Tổ chức cần làm cho các cán bộ quản lý nhận thức rõ được vai trò của đào tạo đối với sự phát triển của cá nhân và tổ chức.

    2.     Hoàn thiện phương pháp đào tạo

     

    Tổ chức nên kiểm soát chặt chẽ việc thiết kế khoá học của các cơ sở đào

    tạo nhất là phương pháp mà cơ sở cung cấp chương trình đào tạo sử dụng để giảng dạy. Đặc biệt nên yêu cầu các cơ sở này đưa ra các bài tập tình huống, các chủ đề thảo luận gắn với thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Đồng thời cũng nên duy trì một tỷ lệ nhỏ các bài tập tình huống về lĩnh vực hoạt động của các tổ chức khác trong khu vực và trên thế giới. Sử dụng phương pháp đào tạo hiện đại với quy mô lớp nhỏ để nâng cao chất lượng đào tạo. Phương pháp đào tạo cần khuyến khích tính chủ động phát huy tính năng động sabf tạo của người học. Tổ chức và các cơ sở cung cấp các chương trình đào tạo nên xây dựng, hoàn thiện và sử dụng những phương pháp giảng dạy sao cho có thể kết hợp giữa lý thuyết và thực hành để người học được trang bị kiến thức một cách đầy đủ nhất và không bỡ ngỡ khi đem áp dụng những kiến thức đó vào thực tế sản xuất.

    3.     Xây dựng tốt chương trình đào tạo

     

    Khi thiết kế và tổ chức các chương trình đào tạo tổ chức cần thực hiện tốt

    các bước để xây dựng một chương trình đào tạo. Xác định đúng nhu cầu đào tạo, đối tượng đào tạo và nội dung cần đào tạo. Để chương trình đào tạo đạt chất lượng và hiệu quả là cung cấp cho đất nước một đội ngũ lao động có chất lượng cao cần phải đổi mới nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp với mục tiêu đào tạo, thích ứng với cơ chế thị trường và sự phát triển của khoa học công nghệ. Cần bổ sung vào chương trình đào tạo những kiến thức mới, những phần học mang tính thực hành để khi ra trường có thể vận dụng ngay được kiến thức đào tạo. Lựa chọn đội ngũ giáo viên giảng dạy cũng là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo. Hiện nay, bên cạnh những mặt mạnh, đội ngũ cán bộ giảng dạy còn nhiều hạn chế. Vì vậy cần đánh giá và có biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, phát triển đội ngũ giáo viên có chất lượng giảng dạy cao. Để thấy được chất lượng hiệu quả của những chương trình đào tạo cũng như những hạn chế cần khắc phục thì một công việc không thể thiếu là đánh giá chương trình đào tạo. Khi đánh giá các chương trình đào tạo, cần sử dụng các bảng hỏi để thể hiện mức

    21

    • Ò ¸n m«n häc

    độ hài lòng của các học viên khi tham dự lớp học ngay sau khi khoá học kết thúc. Các cơ sở đào tạo cần thực hiện việc kiểm tra quá trình học của học viên, đánh giá lượng kiến thức mà họ thu được. Đặc biệt là khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế của người lao động. Đánh giá chương trình đào tạo sẽ cho tổ chức thấy được những chi phí cũng như lợi ích mà chương trình đào tạo thu được từ đó nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả đào tạo.

    4.     Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất trang thiết bị học tập

     

    Như chúng ta đã biết chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố,

    trong đó cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy có vị trí quan trọng. Bởi trên thực tế đây là cầu nối giữa khoa học giáo dục và thực tế sản xuất, là yếu tố căn bản tạo nên môi trường tiếp cận dần đến sản xuất, giúp học sinh có cái nhìn trực quan hơn về nghề nghiệp mình đang theo học… Trang thiết bị giảng dạy là một trong những yếu tố quyết định hình thành kỹ năng thực hành nghề, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của người học… Trang thiết bị học tập bao gồm phòng, lớp, xưởng, thiết bị dạy học và các cơ sở hạ tầng khác. Để công tác giảng dạy đạt chất lượng cần phải trang bị các trang thiết bị chuyên dụng hiện đại. Để làm được điều này cần tăng ngân sách đầu tư cho đào tạo, đây là nguồn lực chủ yếu để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị học tập. Tổ chức cần tận dụng tối đa mọi nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn vốn của tổ chức. Các cơ sở dạy nghề cần tự bổ sung kinh phí để có thể tự mua sắm trang thiết bị. Cần từng bước tiến hành thay thế trang thiết bị cũ lạc hậu bằng những thiết bị hiện đại đa năng, ứng dụng công nghệ tin học trong giảng dạy và học tập thông qua hệ thống trang thiết bị phù hợp. Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang htiết bị học tập sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hiệu quả công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

    22

    • Ò ¸n m«n häc

    C. KẾT LUẬN

    Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Hiện nay với xu thế toàn cầu hoá chất lượng nguồn nhân lực chính là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao chính là một lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó trên thị trường thế giới. Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao thì công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cần được chú trọng và đầu tư đúng mức. Với đề tài nghiên cứu là công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức ở nước ta hiện nay, đề án đã trình bày những vấn đề chung nhất về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như: thế nào là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hình thức và phương pháp đào tạo, cách xác định nhu cầu đào tạo và tổ chức cần làm gì để xây dựng một chương trình đào tạo đạt hiệu quả và chất lượng. Từ những vấn đề chung nhất đó giúp ta có một cái nhìn tổng quan về thực tế công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. Trong những năm gần đây công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đã đạt được rất nhiều thành tựu nhưng bên cạnh đó còn không ít hạn chế cần khắc phục. Do đó để đào tạo phát huy được vai trò quan trọng là nâng cao lợi thế cạnh tranh của nước ta. Để phát huy được tiềm năng và thế mạnh về nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta cần đầu tư hơn nữa cho việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đưa chất nguồn nhân lực nước ta đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

    23

    • Ò ¸n m«n häc

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình Quản trị nhân lực – TH.S Nguyễn Vân Điềm và PGS, TS Nguyễn Ngọc Quân (NXB Lao động- xã hội năm 2004)
    1. Giáo trình Tâm lý học lao động của TH.S Lương Văn Úc
    1. Giáo trình Kinh tế lao động – PGS, PTS Phạm Đức Thành và PTS Mai Quốc Chánh (NXB Giáo dục)
    2. Tạp chí Lao động-xã hội
    1. Tạp chí Kinh tế và phát triển
    1. Tạp chí Thông tin thị trường lao động
    1. Tạp chí Phát triển kinh tế

    24


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]