Category: Kỹ Năng Mềm

  • Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Xây dựng kế hoạch marketing cho công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ thống nhất (Vinawin)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-bi%E1%BB%87n-ph%C3%A1p-ho%C3%A0n-thi%E1%BB%87n-c%C3%B4ng-t%C3%A1c-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-%E1%BB%9F-C%C3%B4ng-ty-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-s%E1%BB%91-9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Luận văn tốt nghiệp Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9

    LỜI NÓI ĐẦU

    Để nước ta có thể thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì chúng ta phải chú trọng nhiều tới quản trị nhân lực, vì nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong quá trình phát triển đó.

    Một doanh nghiệp, hay một tổ chức, để có được một đội ngũ nhân viên đắc lực hay một lực lượng lao động hùng hậu, thì điều trước tiên doanh nghiệp đó hay tổ chức đó phải làm là phải có nghiệp vụ quản lý giỏi, phải có khoa học trong công tác quản trị nhân lực. Đó là nắm được yếu tố con người là đã nắm trong tay được hơn nửa thành công.

    Tổ chức và quản lý để tối ưu hoá, năng suất lao động và nghiệp vụ chủ yếu của quản trị nhân lực và đồng thời quản trị nhân lực còn tạo ra được động lực thúc đẩy nhân viên nâng cao năng suất lao động, sáng tạo trong công việc. Nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết phải đổi mới hơn nữa công tác quản trị nhân lực trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là trong các doanh nghiệp Nhà nước với mong muốn góp một phần nhỏ trong công tác quản trị nhân lực trong các doanh nghiệp nói chung và công tác quản trị nhân lực của Công ty xây dựng số 9, cùng với một số kinh nghiệm ít ỏi trong đợt thực tập em chọn đề tài: “Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân lực ở Công ty xây dựng số 9″ để viết luận văn tốt nghiệp.

    Luận văn của em ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 2 chương:

    Chương I: Thực trạng về công tác quản trị nhân lực tại Công ty xây dựng số 9

    Chương II: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty xây dựng số 9.

     

    PHẦN I

    THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

    TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

     

    I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    1. Sự ra đời và hoạt động của công ty

     

    Công ty xây dựng số 9 Hà Nội là doanh nghiệp Nhà nước hạng I (một) trực thuộc Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Nhà Hà Nội, thành lập từ tháng 3 năm 1976. Với trên 28 năm kinh nghiệm hoạt động trong các lĩnh vực Đầu tư và Xây dựng, Công ty đã và đang xây dựng nhiều loại công trình và dự án  đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Thủ Đô Hà Nội và các địa phương khác. Công ty đã từng bước tạo dựng cho mình truyền thống xây dựng vẻ vang, đảm bảo uy tín và chất lượng với bạn hàng trong, ngoài nước.

    • Công ty Xây dựng Đông Anh được thành lập theo Quyết định số 174/QĐ-UB ngày 01 tháng 3 năm 1976 của Uỷ Ban Hành Chính Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng Đông Anh được đổi tên thành Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội theo Quyết định số 3265/QĐ-UB ngày 17 tháng 12 năm 1992 của Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được thành lập lại theo Quyết định số 677/QĐ-UB ngày 13 tháng 02 năm 1993 của UBND Thành phố Hà Nội, giấy phép đăng ký kinh doanh số: 105713 cấp ngày 11 tháng 3 năm 1993 của Trọng tài kinh tế Thành phố.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được Xếp hạng Doanh nghiệp loại I (một) theo Quyết định sô 3509/QĐ-UB ngày 13 tháng 12 năm 1994 của UBND Thành phố Hà Nội.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội là doanh nghiệp thành viên trực thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội theo Quyết định số 78/1999/QĐ-UB ngày 21 tháng 9 năm 1999 của UBND Thành Phố Hà Nội.
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được Bổ sung nhiệm vụ theo Quyết định số 7644/QĐ-UB ngày 17 tháng 12 năm 2003 của UBND Thành phố Hà Nội
    • Công ty Xây dựng số 9 Hà Nội được đăng ký lại lần thứ nhất theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh doanh nghiệp nhà nước số: 0106000146 ngày 20 tháng 02 năm 2004 do sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp.
    1. Tên gọi đầy đủ của Công ty:

    CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9 HÀ NỘI

    1. Tên giao dịch quốc tế

    HANOI CONSTRUCTION COMPANY NO9

    1. Tên viết tắt: HANCO9
    2. Giám đốc công ty: KỸ SƯ NGUYỄN VĂN KHIÊU
    3. Trụ sở giao dịch chính: Tại số 560 Nguyễn Văn Cừ -Long Biên – Hà Nội
    • Điện thoại giao dịch: (04).8.271774 – (04)8.776752
    • Fax: (04)8.273730
    1. Mã số thuế: 0100105768 – 1
    2. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty : 7.965.638.647 đồng

    Trong đó:

    • Vốn kinh doanh: 7.080.073.682 đồng

    Theo bản xác nhận vốn kinh doanh hiện có đến ngày 30 tháng 6 năm 2003 của Chi cục Tài chính doanh nghiệp Thành phố Hà Nội.

    1. Tổng số Cán bộ công nhân viên của Công ty: trên 573 người

    Trong đó:

    • Trình độ đại học: 70 người.
    • Trình độ cao đẳng, trung cấp: 55 người.
    • Công nhân kỹ thuật : 268 người
    • Các lao động khác: 180 người
    • Độ tuổi bình quân là: 37

    2. Chức năng và nhiệm vụ:

     

    Chức năng và nhiệm vụ  của Công ty được ghi trong Quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh là:

    – Xây dựng các công trình công nghiệp, Xây dựng các công trình công cộng, Xây dựng các công trình nhà ở, xây dựng khác.

    – Xây dựng các dự án đầu tư, liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước  để thực hiện các dự án.

    – Kinh doanh nhà.

    – Xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, các công trình giao thông vừa và nhỏ

    – Thi công và xây lắp công trình: Điện lực (đường dây và trạm biến áp) đến 35KV, hệ thống điều hoà trung tâm.

    – Thi công xây lắp các công trình: Giao thông, thể dục thể thao và vui chơi giải trí, cấp – thoát nước, thủy lợi, cầu cảng, kè sông, hồ và kênh mương.

    – Sản xuất và gia công cấu kiện bê tông, sản xuất  gạch nung.

    – Trang trí nội thất, mộc xây dựng.

    – Kinh doanh và làm đại lý bán vật liệu xây dựng, thiết bị văn phòng

    Chuyển giao công nghệ xây lắp và vận hành lò tuy nen.

    3. Cơ cấu tổ chức  của công ty:

     

    3.1. Cơ cấu tổ chức của công ty.

    Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Bộ máy quản lý văn phòng Công ty bao gồm :

    • 01 Giám đốc
    • 03 Phó giám đốc:
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Quản lý kỹ thuật, chất lượng, an toàn lao động.
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Kế hoạch tổng hợp và Hành chính Quản trị.
    • 1 Phó giám đốc phụ trách công tác Dự án đầu tư.

    Công ty có 6 phòng chuyên môn, nghiệp vụ: 

    1. Phòng Kế hoạch – Tổng hợp: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong các khâu xây dựng kế hoạch, kiểm tra thực hiện kế hoạch tổng hợp báo cáo thống kê công tác hợp đồng kinh tế.
    2. Phòng Quản lý Dự án: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong các công tác tiếp thị và đấu thầu các công trình, các dự án phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, địa phương.
    3. Phòng Kỹ thuật – Chất lượng: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong lĩnh vực quản lý kỹ thuật quản lý chất lượng công trình an toàn lao động và các hoạt động khoa học kỹ thuật.
    4. Phòng Tài chính kế toán: có chức năng tổ chức bộ máy tài chính kế toán từ công ty đến các đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc. Đồng thời tổ chức và chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, thông tin kinh tế, hạch toán kế toán theo đúng điều lệ tổ chức kế toán, pháp lệnh kế toán thống kê của nhà nước và những quy định cụ thể của công ty về công tác tài chính.
    5. Phòng Tổ chức lao động: Có chức năng tham mưu giúp giám đốc công ty trong việc thực hiện các phương án sắp xếp và cải tiến tổ chức sản xuất công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng và tuyển dụng lao động đồng thời thực hiện các công tác thanh tra nhân dân trong toàn công ty.
    6. Phòng Hành chính quản trị: Có chức năng tiếp nhận thông tin, truyền tin truyền mệnh lệnh giúp giám đốc công ty trong việc quản lý điều hành đơn vị và trong quan hệ công tác với cấp trên, cấp dưới, khách hàng.

    3.2. Cơ cấu sản xuất của Công ty:

    Công ty trực tiếp điều hành sản xuất các Xí nghiệp, đội, bao gồm 7 Xí nghiệp và 1 đội xây dựng và trang trí nội thất trực thuộc:

    – Xí nghiệp xây dựng số 1.

    – Xí nghiệp xây dựng số 2.

    – Xí nghiệp xây dựng số 4.

    – Xí nghiệp xây dựng số 6.

    – Xí nghiệp xây dựng số 7

    – Xí nghiệp xây dựng số 8

    – Xí nghiệp xây dựng – Vật tư và xe máy

    – Đội xây dựng và trang trí nội thất.

    3.3. Trụ sở các đơn vị trực thuộc công ty:

    • Xí nghiệp xây dựng số 1.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.272071.- 5.564416.

    • Xí nghiệp xây dựng số 2.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.272562

    • Xí nghiệp xây dựng số 4.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.775.943

    • Xí nghiệp xây dựng số 6.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 8.775804.

    • Xí nghiệp xây dựng số 7.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 0903458198

    • Xí nghiệp xây dựng số 8.

    Trụ sở: 560/2 Phố Nguyễn Văn Cừ – Long Biên – Hà Nội.

    Tel: 0913564297

    • Xí nghiệp xây dựng – Vật tư xe máy.

    Trụ sở: Khối 6 Thị trấn Đông Anh – Hà Nội.

    Tel: 8.832650.

    • Đội xây dựng – Trang trí nội thất.

    Trụ sở: Khối 6 Thị trấn Đông Anh – Hà Nội.

    Tel: 8.832340.

     

    2. Lực lượng lao động của Công ty

    Ngay từ khi mới thành lập công tác tổ chức của Công ty được hình thành để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của nhà nước giao.

    Đội ngũ cán bộ của Công ty được tuyển lựa từ các trường đại học và cơ sở sản xuất, vừa giỏi về lý thuyết vừa giỏi về thực tế đã đáp ứng được mục tiêu kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển của Công ty.

    TT CHUYÊN MÔN ĐƠN VỊ SỐ LƯỢNG
      ĐẠI HỌC   70
    1 Kỹ sư Xây dựng Người 35
    2 Kỹ sư điện Người 2
    3 Kỹ sư Quy hoạch Người 2
    4 Cử nhân Kinh tế Người 10
    5 Cử nhân Tài chính Người 13
    6 Cử nhân Luật, ngoại ngữ Người 3
    7 Kỹ sư Giao thông Người 3
    8 Kỹ sư Thuỷ lợi Người 2
      TRUNG CẤP   55
    1 Trung cấp Xây dựng Người 38
    2 Trung cấp Điện Người 5
    3 Trung cấp Kinh tế Người 12
      CÔNG NHÂN KỸ THUẬT   268
    1 Công nhân thợ nề Người 135
    2 Công nhân thợ sắt, hàn Người 64
    3 Công nhân thợ mộc Người 25
    4 Công nhân thợ điện, nươc Người 32
    5 Lái xe, lái cẩu, vận hành máy Người 12
    6 Lao động phổ thông Người 180

    Qua số liệu của bảng ta thấy bộ phận lao động gián tiếp gồm đại học: 77 người và trung cấp là 55 người chiếm 22%. Còn tỷ lệ lao động trực tiếp gồm công nhân kỹ thuật là 268 người, lao động phổ thông là 180 người chiếm 78%. Xét về cơ cấu lao động trực tiếp của công ty là 78%  tương đối thấp. Đây cũng là tình trạng chung của các doanh nghiệp. Do đó công ty cũng cần xem xét và bố trí lại lực lượng lao động cho phù hợp.

    II. KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY

    1. Năng lực kinh nghiệm  của công ty:

    1. Số năm kinh qua làm tổng thầu hoặc thầu chính:
    • Trên địa bàn Hà Nội: 28 năm
    • Trên địa bàn các tỉnh, thành phố khác: 23 năm

     

    1. Số năm có kinh nghiệm xây dựng chuyên dụng:
    STT TÍNH CHẤT CÔNG VIỆC SỐ NĂM KINH NGHIỆM
    1 Các công trình công nghiệp 28 năm
    2 Xây dựng các công trình nhà ở 28 năm
    3 Xây dựng các công trình nhà cao tầng 17 năm
    4 Xây dựng các công trình nhà biệt thự 17 năm
    5 Xây dựng các công trình trường học, nhà trẻ 28 năm
    6 Xây dựng các công trình Văn hoá 17 năm
    7 Xây dựng các công trình Hạ tầng kỹ thuật 14 năm
    8 Xây dựng các công trình Thể dục thể thao 21 năm

     

    1. Một số công trình công ty đang tiến hành thi công
    TÊN HỢP ĐỒNG GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG TÊN CƠ QUAN

     

    KÝ HỢP ĐỒNG

    NGÀY H.THÀNH
    Trung tâm thương mại và dịch vụ 151 Yên phụ 12,7 tỷ Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch vụ Du Lịch Ba Đình 03/2006
    Khu nhà ở cho thuê và dịch vụ du lịch 16B Ngũ xã 3,9 tỷ Công ty Cổ phần Thương Mại Dịch vụ Du Lịch Ba Đình 03/2004
    Chung cư 17 tầng B6C Khu đô thị Nam Trung Yên 33 tỷ Ban QLDA xây dựng Nam Trung Yên 12 /2004
    Chung cư cao tầng CT4 khu đô thị mới Mỹ Đình – Mễ Trì 30 Tỷ Ban Quản lý các Dự án đô thị khu vực Hà Nội – Cty CPĐTPT Đô thị và KCN Sông Đà 04/2005
    Chung cư 9 tầng A3 Khu đô thị Nam Trung Yên 20 Tỷ Ban QLDA xây dựng Nam Trung Yên 12/2005
    Giảng đường 7 tầng Trường Đại học Thương Mại 16,5 tỷ Trường Đại Học Thương Mại 7/2005
    Thân nhà N2A Khu đô thị Trung hoà – Nhân chính 10,7 tỷ Công ty đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà nội 12/2004
    Tổng giá trị: 127,2 tỷ    

     

    1. Một số Công trình công ty Đã thực hiện trong 5 năm vừa qua

             

    TT TÊN/TÍNH CHẤT

     

    CÔNG TRÌNH

    TỔNG

     

    GIÁ TRỊ

    GIÁ TRỊ T.H THỜI  HẠN HỢP ĐỒNG CƠ QUAN CHỦ ĐẦU TƯ
    K.CÔNG H.THÀNH
    1 Khu nhà ở Đầm Trấu Hà Nội. 3 tỷ 3 tỷ 4/1998 8/1998 Ban QLDA Công ty Đầu tư Phát triển nhà Hà Nội
    2 Trung tâm giáo dục Quảng An – Tây Hồ 4,5 tỷ 4,5 tỷ 3/1999 8/1999 Ban QLDA Quận Tây Hồ  Hà Nội.
    3 Trường Thể thao thiếu niên học sinh nghiệp dư 10-10 HN 8,6 tỷ 1,8tỷ 10/1999 5/2000 Ban Quản lý dự án Trường Thể thao thiếu niên học sinh nghiệp dư 10-10.
    4  Khu nhà ở (lô số 2 và 3) 560 Nguyễn Văn Cừ  Gia Lâm Hà Nội 5,2 tỷ 5,2 tỷ 10/1999 12/2000 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    5  Khu nhà ở (lô số 1) 560 Nguyễn Văn Cừ  Gia lâm Hà Nội 9,1 tỷ 9,1 tỷ 12/1999 10/2001 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    6 Khu nhà ở 684 Nguyễn Văn Cừ  Gia lâm Hà Nội. 5,1 tỷ 5,1 tỷ 11/1999 11/2001 Ban quản lý dự án Công ty xây dựng số 9 Hà Nội.
    7 Kiên cố hoá kênh mương Đông Anh. 3,6 tỷ 2,5 tỷ 11/2000 1/2001 Ban quản lý dự án Huyện Đông Anh.
    8 Chung cư 6 tầng G3 Vĩnh phúc Cống vị – Ba đình. 6,4 tỷ 6,4 tỷ 12/2000 10/2001 Ban quản lý dự án Quận Ba Đình.
    9 Xưởng sản xuất thịt nguội Xuất nhập   chế biến Thực phẩm Hà Nội 3 tỷ 3 tỷ 10/2002 12/2002 Công ty SX -DV và XNK Nam Hà Nội
    10 Khu nhà ở N1,N2 xã Xuân Đỉnh – Từ Liêm – Hà Nội 7,7 tỷ 7,65 tỷ 10/2002 1/2003 Công ty Thiết kế xây dựng nhà.
    11 Xây dựng nhà xưởng Công ty Thiết bị điện Đông Anh 1,37 tỷ 1,37 tỷ 2/2003 5/2003 Công ty Thiết bị điện Đông Anh
    12 Phần mái trung tâm TDTT Tỉnh Yên Bái 4,8 tỷ 4,8 tỷ 10/2002 5/2003 Ban QLDA Tỉnh Yên Bái
    13 Phần móng  Nhà chung cư 9 tầng N2A  Trung Hòa – Nhân Chính  6 Tỷ 6 Tỷ 1/2003 5/2003 Công ty Đầu tư và Phát triển  nhà số 6 Hà Nội
    14 Chung cư 6 tầng N6B Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính 8,65 tỷ 8,65 tỷ 2/2003 9/2003 Công ty Đầu tư và Phát triển nhà số 6 Hà Nội
    15 Nhà luyện tập và thi đấu TDTT Gia lâm 37tỷ 22,578 tỷ 5/2001 9/2003 Ban quản lý dự án Huyện Gia Lâm.
    16 Chung cư 9 tầng N1A-N1B khu Đô thị Trung Hoà – Nhân Chính. 20,5 tỷ 20,35 tỷ 5/2002 10/2003 Công ty đầu tư và phát triển nhà số 6 Hà Nội
    17 Nhà chung cư 11 tầng tại 18 Yên Ninh – Ba Đình Hà Nội 17 tỷ 17 tỷ 6/2002 10/2003 Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Tây Hồ và Cty ĐTXDBa Đình.
    18 Khu chung cư  Nghĩa Đô – Dịch Vọng -Từ Liêm – Hà Nội 6 tỷ 6 tỷ 2/2003 2/2004 Công ty kinh doanh nhà số 3 Hà Nội
    19 Cải tạo kè đá hạ lưu sông Lừ 1,7 1,7 05/2003 02/2004 Ban Quản lý dự án công trình Giao thông Công chính
    20 Trường Phổ thông Trung học  Ninh Sơn 4,108 4,108 6/2003 3/2004 Công ty Phát triển Kỹ thuật xây dựng TDC
    21 Nhà khám đa khoa và nhà nghiệp vụ Bệnh Công ty Dung Quất 8,4 8,4 9/2003 4/2004 Công ty phát triển kỹ thuật xây dựng TDC
    22 Nhà điều hành đội vận tải Công ty truyền tải điện I 1,95 1,95 10/2003 4/2004 Công ty truyền tải điện I
    23 Phần móng chung cư  17 tầng B6C khu đô thị Nam Trung Yên 8,9 tỷ 8,9 tỷ 11/2003 04/2004 Ban QLDA Nam Trung Yên
    24 Xây dựng Hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan ngoài nhà ô đất N6 Khu đô thị Trung Hoà – Nhân Chính 1,5 1,5 04/2004 5/2004 Công ty Đầu tư và Phát triển nhà số 6 Hà Nội

     

    2. Năng lực thực hiện sản xuất vật liệu xây dựng

    1. Năng lực gia công cấu kiện bê tông đúc sẵn: Công ty đã tăng cường đầu tư chiều sâu mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất các loại cấu kiện cọc bê tông với các kích cỡ theo yêu cầu thiết kế, các cấu kiện bê tông định hình như cấu kiện Panen, ống cống BTCT, cọc BTCT….. để phục vụ các công trình chung cư cao tầng của công ty, các đơn vị thành viên trong Tổng công ty và tiêu thụ trên địa bàn Hà Nội, các tỉnh lân cận.
    2. Năng lực gia công sản phẩm mộc: Được tập trung tại xưởng có diện tích 3000m2 và phục vụ ở các công trình đang thi công. Có đội ngũ thợ mộc giỏi đủ khả năng hoàn thiện các công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, sản xuất hàng mộc đạt chất lượng tốt, kỹ mỹ thuật đẹp.

    3. Năng lực thực hiện dự án đầu tư

    Một số các dự án Công ty đang triển khai :

    – Dự án nhà ở Bồ Đề – Long Biên

    – Dự án nhà ở Tiên Dương – Đông Anh

    – Dự án nhà ở Xuân Nộn – Đông Anh

    – Dự án nhà ở Ninh Hiệp – Gia Lâm

    Các dự án trên Công ty đã và đang phối hợp với các cơ quan quản lý của Thành phố, chính quyền địa phương và phía đối tác  để hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục sớm đưa dự án vào khởi công trong năm 2004 và các năm tiếp theo.

    4. Các thành tích cơ bản của công ty:

    Trong 28 năm qua Công ty đã và đang xây dựng nhiều công trình đóng góp đáng kể vào các lĩnh vực Kinh tế, Chính trị, Văn hoá, Thể dục thể thao, Khoa học kỹ thuật của Thủ đô. Công ty đã từng bước tạo dựng cho mình một truyền thống xây dựng vẻ vang, đảm bảo uy tín chất lượng với bạn hàng trong và ngoài nước, với những thành tích đạt được, Công ty được Nhà nước tặng thưởng:

    Huân chương lao động hạng Ba ( năm 1990 )

    Huân chương lao động hạng Nhì ( năm 2000 ).

    Là một đơn vị tiêu biểu đạt chất lượng trong ngành xây dựng Việt nam. Đã được tặng thưởng 8 Huy chương vàng chất lượng cao cho các công trình tiêu biểu đạt chất lượng cao.

    MỘT SỐ CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CẤP HUY CHƯƠNG VÀNG VÀ BẰNG KHEN 

    CHẤT LƯỢNG CAO

    1. Nhà làm việc Công An huyện Đông Anh
    2. Công trình chợ Đồng Xuân – Bắc Qua
    3. Thư viện Công ty Hà Nội
    4. Nhà điều hành sản xuất Nhà máy Điện Cơ Trần Phú
    5. Cải tạo và mở rộng nhà khách UBND Thành phố Hà Nội
    6. Công trình lò nung Tuy – nel Nhà máy gạch Cầu Đuống
    7. Trường trung học cơ sở Quảng An Tây Hồ – Hà Nội
    8. Bể bơi Trường Thể Thao Thiếu Niên 10-10 Ba Đình – Hà Nội

    5. Năng lực nhóm xe máy xây dựng thi công của công ty

    Thiết bị máy của Công ty được trang bị ở các Xí nghiệp bao gồm nhiều chủng loại xe máy và chia làm hai nhóm:

              5.1. Nhóm máy thi công các loại máy: Cẩu tháp RAIMONDI, POTAIN, độ cao 50¸80m tầm với 30¸55m, Cần cẩu tải trọng 5¸12 tấn, máy khoan cọc nhồi, máy ép cọc, máy ủi, máy xúc, máy phát điện, máy  hàn, máy trộn bê tông, máy trộn vữa, đầm dùi, đầm bàn, máy khoan phá bê tông, máy mài, máy cưa, máy bơm nước, máy vận thăng đưa vật liệu lên cao 40¸70 mét, máy trắc địa đo đạc các loại. Các loại máy có đủ khả năng thi công cơ giới mọi công trình có quy mô lớn, địa hình phức tạp và chiều cao khác nhau.

              5.2. Nhóm ô tô và phương tiện vận tải: gồm các loại ô tô tải, sơ mi rơ mooc, xe ô tô các hạng khác phục vụ các dạng đường sá công trình.

    Ngoài năng lực thiết bị, xe máy của Công ty đơn vị có liên kết với một số đơn vị bạn trong Tổng công ty,Thành phố và các đơn vị thi công xây dựng trong nước để có khả năng cung cấp đáp ứng các loại máy thi công để phục vụ cho công tác thi công các công trình cao tầng và phức tạp

              5.3. Một số máy móc thiết bị của Công ty

    LOẠI THIẾT BỊ, MÁY MÓC NƯỚC SẢN XUẤT SỐ

     

    LƯỢNG

    SỞ HỮU C.TY THÔNG SỐ KỸ THUẬT
    Cần cẩu tháp POTAIN

     

    Cần cẩu tháp RAIMONDI

    Cẩu tự hành HITACHI

    Máy đào KOMASU

    Máy ép cọc

    Máy đóng cọc

    Máy bơm bê tông cố định

    Ôtô benzin

    Ôtô tự đổ HuynĐai

    Máy ủi HITACHI

    Xe lu SAKAI

    Máy cắt gạch

    Máy mài 2 đá

    Máy kinh vĩ

    Máy Thuỷ bình

    Máy vận thăng trụ vuông

    Máy trộn bê tông 500L

    Máy trộn bê tông 250L

    Máy trộn vữa 80L

    Máy đầm bê tông

    Máy đầm cóc MIKSA

    Máy hàn điện HQ 24

    Máy phát điện

    Máy phát điện nhỏ

    Máy bơm nước

    Máy khoan bê tông

    Cốt pha thép

    Giáo chống tổ hợp

    Máy cắt, uốn thép

    Nhật

     

    Nhật

    Nhật

    Đức

    Nga

    Nga

    Hàn Quốc

    Nhật

    Nhật

    Hàn Quốc

    Đức

    Nhật

    Nhật

    Nga

    Đức

    Đức

    Đức

    Đức

    Nhật

    Hàn Quốc

    Nhật

    Nhật

    Nhật – TQ

    Nhật, Đức

    Việt Nam

    Việt Nam

    T. Quốc

    02

     

    01

    02

    02

    02

    01

    02

    04

    04

    02

    02

    25

    04

    02

    08

    08

    12

    20

    10

    40

    08

    06

    01

    03

    12

    10

    5.000 M2

    42 bộ

    06

    x

     

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    x

    Qmax= 8T,    Rmax=55m

     

    Qmax= 5T,    Rmax=40m

    Qmax=12T,    Rmax=18m

    Qmax= 0,5 m3

    30 – 80 Tấn

    2,5 Tấn

    30m3/h

    7.5 Tấn

    10 Tấn

    150HP

    8-12 Tấn

    1 Kw

    2.7 Kw

    Độ chính xác: 0.001

    Độ chính xác: 0.001

    0,5 tấn

    4 Kw

    1 Kw

    0,45 Kw

    0.8 – 1.5 Kw

    1,5 – 3,0 Kw

    380V-24 Kw

    60 KVA

    15KVA

    2m3/h ¸ 50m3/h

    1,4 Kw¸2.8 Kw

    fi Ma x<= 40

    6. Nguồn lực tài chính của công ty

    Cơ cấu vốn của công ty qua các năm 2002-2004:

              Đơn vị: Triệu đồng

                                      Năm

     

    Chỉ tiêu

    2002 2003 2004
    Tổng vốn kinh doanh 32.320 33.133 46.264
    Vốn lưu động 25.790 26.283 38.757
     Vốn cố định 6.530 6.850 7.507

    Nhìn vào bảng ta thấy sự gia tăng về các chỉ tiêu không ngừng qua mỗi năm, năm sau luôn cao hơn năm trước. Đó là quá trình bảo toàn và phát triển vốn được trên giao, quá trình cố gắng của cả một tập thể công nhân viên trong công ty, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất, tiết kiệm mọi chi phí trong sản xuất, quản lý.

    Sản lượng tiêu thụ qua các năm tăng dần, chứng tỏ công tác tiêu thụ qua các năm  tăng dần và công tác marketing của công ty làm rất tốt.

     

    III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    1. Tình hình tuyển dụng lao động của Công ty

    Mọi tổ chức, doanh nghiệp đều muốn có một nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ, giàu kinh nghiệm trong tay mình, tại Công ty xây dựng số 9 cũng vậy. Đây chính là nội lực quan trọng cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển, vậy nên việc tuyển chọn và sử dụng lao động là rất cần thiết đối với sự phát triển ngày càng cao của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi người lao động phải có trình độ, nhanh nhạy tiếp thu cái mới và luôn tự hoàn thiện bản thân.

    – Từ năm 1990 đến nay với luồng không khí mới của nền kinh tế thị trường. Công ty đã có số lượng tuyển dụng như sau:

    Số lượng tuyển dụng:

      Đơn vị Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
    Số lượng lao động tăng trong năm Người 18 21 24
    Lao động gián tiếp Người 2 2 3
    Lao động trực tiếp Người 16 19 21

    Nhìn vào bảng biểu cho thấy số lượng Công ty tuyển vào phần nhiều là công nhân lao động trực tiếp. Vì xuất phát từ thực trạng của Công ty bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh. Bởi vậy nên số lao động gián tiếp không cần tuyển nhiều.

    – Công tác tuyển dụng của Công ty: Tuyển chọn con người vào làm việc phải gắn với đòi hỏi của công việc.

    – Tuyển chọn những người có tình độ chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạt tới năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt.

    – Tuyển những người có kỷ luật, trung thực, gắn bó với công việc.

    – Tuyển những người có sức khoẻ, làm việc lâu dài với Công ty, với các nhiệm vụ được giao.

    – Từ việc biết rõ nhu cầu lao động của Công ty.

    Công ty đã có những hướng tuyển dụng phù hợp với ngành nghề của Công ty qua việc chọn lựa phương hướng tuyển chọn:

    – Tuyển từ bên trong các trường Đại học, Cao Đẳng kỹ thuật trong nước.

    – Tuyển chọn bên ngoài, qua giới thiệu, qua sự phân bổ từ cấp trên đưa các chỉ tiêu lao động xuống, họ thường là những người có trình độ đã và đang làm việc ở các nghành khác chuyển tới.

    – Từ năm 1999 trở lại đây do sự giảm biên chế của nhà nước nên số lượng lao động tại Công ty đã không tăng nhiều so với trước, lao động chủ yếu tại Công ty được bố trí sắp xếp những công việc chủ yếu của Công ty.

    2. Công tác tuyển chọn của Công ty thường được tiến hành chặt chẽ

    – Căn cứ vào đơn xin việc, lý lịch, bằng cấp và giấy chứng chỉ về trình độ chuyên môn của người xin việc.

    – Căn cứ vào các hệ thống câu hỏi và trả lời để tìm hiểu người xin việc, các câu hỏi do Công ty đề ra.

    – Căn cứ vào tiếp xúc, gặp gỡ giữa Phòng tổ chức và người xin việc.

    – Căn cứ vào kiểm tra sức khoẻ, thử tay nghề, thử trình độ và khả năng chuyên môn. Do đó việc xem xét lại nguồn nhân lực hàng năm sẽ làm cho tổ chức thấy rõ chất lượng của nguồn nhân lực, chuẩn bị sẵn cho nhu cầu hiện tại và tương lai.

    – Trách nhiệm tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp người lao động thường được giao cho Phòng tổ chức, những người giám sát thi tuyển là những “Trưởng, Phòng, Ban  hoặc giao cho người đứng đầu của Bộ máy có nhu cầu và nhân lực.

    – Đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp nói chung và đối với Công ty xây dựng số 9 nói riêng thì việc xác định số lao động cần thiết ở từng bộ phận trực tiếp và gián tiếp có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề hoàn thành một cơ cấu lao động tối ưu. Vì vậy mà nếu thừa lao động thì gây khó khăn cho quỹ tiền lương và lãng phí sức lao động và nếu thiếu thì không đáp ứng được yêu cầu về công việc.

    Số lượng lao động.

    Chỉ tiêu 2002 2003 2004
    Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
    Lao động gián tiếp 66 22,2 68 21,5 70 20,7
    Lao động trực tiếp 231 77,8 247 78,5 268 79,3
    Tổng số lao động 297 100 315 100 338 100

    Qua số liệu của bảng trên ta thấy cơ cấu lao động trực tiếp và gián tiếp của Công ty đều tăng nhưng không đáng kể, cụ thể là qua 3 năm số lao động gián tiếp đang từ 66 người năm 2002 lên 70 người năm 2004, tương ứng từ 22,2% năm 2002 giảm còn 20,7%. Lao động trực tiếp tăng 37 người qua 3 năm, tương ứng với 77,8% năm 2002 lên 79,3% năm 2004.

    – Tại công ty sau khi một số cán bộ và công nhân về hưu sau những năm công tác cống hiến cho Công ty, nhưng sau đó Công ty đã kịp thời bổ sung từ những nguồn sinh viên mới ra trường, các cán bộ công nhân viên có chuyên ngành từ các Công ty khác chuyển đến v.v.. để thay thế và tạo ra động lực mới trong đội ngũ lao động của mình.

    Để làm rõ hơn về tình hình chất lượng tuyển dụng và sử dụng lao động ta hãy nghiên cứu thực trạng lao động trong bộ máy gián tiếp qua bảng biểu sau:

    Kết cấu theo trình độ, độ tuổi của bộ máy gián tiếp năm 2004

    TT Loại lao động Tổng số Trình độ học thức Độ tuổi
    ĐH TH S.C <35 35-50 >50
    1 Tổng số 70 31 24 15 33 35 2
    2 Nhân viên quản lý 23 9 8 6 8 14 1
    3 Nhân viên kỹ thuật 21 13 8 0 11 9 1
    4 Nhân viên khác 26 13 5 8 15 11 0
    5 Tỷ lệ % 100 44,2 34,4 21,4 47,1 50,0 2,9

    Ta thấy rằng trong số lượng lao động gián tiếp của Công ty có kết cấu tương đối hợp lý, những người có trình độ Đại học và cả trên Đại học chiếm 44,2% ở các vị trí nhân viên quản lý, nhân viên kỹ thuật, kỹ sư xây dựng v.v.. mọi lĩnh vực chiếm các vị trí chủ chốt của Công ty đó chính là tiềm lực thúc đẩy đưa Công ty phát triển cho tới ngày nay.

    – Còn xét độ tuổi thì ta thấy rằng đó là sự kết hợp sức trẻ và kinh nghiệm cụ thể độ tuổi dưới 33 chiếm 47,1; còn độ tuổi 35-50 chiếm 50,0%, nhờ vậy đã phát huy được những kinh nghiệm, sức trẻ trong công việc của Công ty.

    IV. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9.

    1. Sơ lược tình hình đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

    – Tính đến năm 2002 dân số nước ta khoảng 75 triệu người, trong đó 80% dân số nước ta sống ở nông thôn, số người trong độ tuổi lao động là 40 người, lao động trẻ là 50,1%, dân số dưới 18 tuổi là 35%. Vì vậy, nguồn dự trữ lao động là rất lớn và hàng năm phải bố trí khoảng 1,6 – 1,7 triệu chỗ làm thì mới phù hợp với số lao động trẻ.

    Mô hình tháp lao động của Việt Nam so với các nước khác.

    Việt Nam Nước khác
    Lao động không lành nghề 85% 35% hơn 2 lần
    Lao động lành nghề 5,5% 35% kém 7 lần
    Chuyên viên kỹ thuật 3,5% 24% kém 7 lần
    Kỹ sư 2,7% 5%  

    Thông qua con số đó cho thấy việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam là rất cần thiết có đào tạo thì mới theo kịp được tiến độ phát triển của khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới, đồng thời cũng đang phát triển ở Việt Nam.

    Để khắc phục chính sách đó Nhà nước cũng đã có những chính sách đó, định hướng cho công tác đào tạo và phát triển nguồn lao động ở Việt Namm, tạo điều kiện công ăn việc làm cho người lao động, mở các trường Trung cấp, cao đẳng dạy nghề, đào tạo v.v..

     

    2. Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty xây dựng số 9

    – Đào tạo nhằm giúp cho người lao động có được các kỹ năng và kiến thức cần thiết cho sự nghiệp mà mình theo đuổi, từ đó mà phát huy được năng lực của họ, giúp họ ổn định công ăn việc làm, nâng cao địa vị kinh tế xã hội của người lao động góp phần cho sự phát triển của xã hội, có ích cho đất nước, mang lại hiệu quả cao.

    – Nền kinh tế xã hội hiện nay đã trải qua một bước tiến lớn, thông qua tiến bộ về công nghệ đang làm biến đổi cơ cấu công nghiệp phát triển nguồn nhân lực càng trở lên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Bởi vậy mà xây dựng một kế hoạch cụ thể cho đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực là cần thiết cho mọi doanh nghiệp, tổ chức, Công ty xây dựng số 9 cũng vậy. Công ty đã tổ chức công tác đào tạo nhân lực một cách có cụ thể:

    Những mục tiêu đào tạo của Công ty:

    + Trang bị những kỹ năng cần thiết, nâng cao được năng lực làm việc cho người lao động.

    + Đào tạo cho cán bộ, các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật

    + Nâng cao tay nghề, bồi dưỡng cho các bậc thợ cho công nhân

    – Từ những năm 1999 Công ty đã đổi mới cả đội ngũ nhân viên lẫn nâng cao công nghệ mới, tất cả những sự kiện trên cho thấy Công ty đã và đang có điều kiện hoàn thiện về chất lượng công trình, điều đó có lợi cho sự phát triển về hoạt động kinh doanh của Công ty.

    –  Về trình độ của lực lượng lao động trực tiếp tại Công ty hầu hết đã qua các trường đào tạo, nâng cao tay nghề.

    – Vấn đề hiện nay của Công ty đặt ra là Công ty phải nâng cao chất lượng công nhân viên, tiếp nhận những người có tay nghề cao, khuyến khích công nhân dự thi nâng bậc thợ, chú trọng việc đầu tư và nâng cao chất lượng của yếu tố con người, nó sẽ có hiệu quả lâu dài.

    – Để công tác đào tạo và phát triển nhân lực của Công ty mang lại hiệu quả cao thì việc lựa chọn phương pháp đào tạo phù hợp những điều kiện của Công ty phụ thuộc về vốn, tài chính, con người… Công ty cần đào tạo đúng đối tượng, đủ chứ không tràn lan. Từ những điều kiện vốn có của Công ty, Công ty đã lựa chọn cho mình phương pháp đào tạo riêng, Công ty đã đặt ra kế hoạch đào tạo theo chỉ tiêu hàng năm, có quỹ riêng chi phí khuyến khích đào tạo.

    – Thi lên bậc lương.

    – Những cán bộ cần phải có trình độ phù hợp với sự thay đổi của công việc hay nâng cao tay nghề, Công ty gửi đi đào tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau.

    – Với cán bộ bằng cách gửi đi học nâng cao trình độ

    – Đối với công nhân: Đào tạo tại nơi làm việc. v.v…

    Sơ đồ mô hình đào tạo và phát triển nhân lực ở doanh nghiệp

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Môi trường bên trong Doanh nghiệp

     

    3. Chế độ thù lao lao động tại Công ty xây dựng số 9.

    3.1. Mục tiêu và căn cứ đãi ngộ tại Công ty

    – Mục tiêu: Thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người lao động theo quy định của Nhà nước.

    – Người lao động cung cấp sức lao động của họ cho doanh nghiệp, sức lao động là nhân tố cấu thành nên các nguồn lực đầu vào của mọi doanh nghiệp và luôn luôn là nhân tố quyết định nhất ảnh hưởng tới kết quả vầ hiệu quả của mọi quá trình kinh doanh hay thành quả của tổ chức hay doanh nghiệp cũng như mọi hàng hoá khác sức lao động có giá trị, xét trên phương diện lý thuyết thì sức lao động, sức lao động được biểu hiện ở hình thức tiền lương. Bởi vậy mà Công ty đã có mục tiêu đãi ngộ cán bộ nhân viên của mình như sau:

    – Trả công xứng đáng cho đóng góp cống hiến của cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Đảm bảo tài sản sức lao động là nâng cao đời sống cho toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Động viên, khuyến khích thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công nhân viên để tạo ra nhiều thuận lợi, thành công của Công ty.

    – Khuyến khích lòng nhiệt tình, hăng say, tinh thần sáng tạo không ngừng, để thu hút lao động giỏi, có trình độ, có sức khỏe.

    – Tất cả các mục tiêu trên và chế độ thù lao tại Công ty đều hướng tới mục đích là sự phát triển không ngừng của Công ty, cải thiện đời sống của toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    3.2. Chế độ thù lao lao động tại Công ty.

    1. Chế độ tiền lương:

    – Tiền lương và vấn đề rất quan trọng trong xã hội, nếu chế độ thù lao, lao động là không phù hợp thì sẽ làm người lao động thất vọng. Bởi vậy mà Công ty  xây dựng số 9 đã cố gắng để có chế độ lương bổng phù hợp với quy định của nhà nước, phù hợp với sức lao động của công nhân viên, để kích thích lòng hăng hái trong công việc của công nhân viên, đảm bảo công bằng, bởi vậy Công ty đã có chế độ trả lương sau:

    + Phần 1: Lương cấp bậc của cán bộ công nhân viên theo nghị định 26/CP (gọi tắt là tiền lương T1).

    + Phần 2: Tiền lương theo kết quả kinh doanh cuối cùng của tập thể và cá nhân người lao động (gọi tắt là T2) được xác định theo công thức sau:

    T1 = Tli + T2i

    Với T1i : tiền lương cấp bậc của người thứ i

    T2i = tiền lương người nhận được theo công việc được gắn với độ phức tạp trách nhiệm, kết quả và ngày làm công thực tế.

    – Trong đó: T1i = Ni Ti

    Với Ni : số ngày công thực tế của người thứ i

    Ti : xuất lương ngày theo cấp bậc của người thứ i

    1. Chế độ tiền lương

    – Là con người ai cũng muốn nghe lời khen và muốn được công nhận về công việc mình đã hoàn thành tốt công việc đó mà mình đã cống hiến cho Công ty, Công ty hay doanh nghiệp.

    – Qua việc đánh giá, phân tích thành tích công tác chính xác, ban lãnh đạo của Công ty đã nắm được các thông tin về năng lực của từng nhân viên, biết được rõ những gì công nhân viên mang lại cho Công ty. Từ đó có những khen thưởng kỷ luật, duy trì sự công bằng về thưởng phạt của Công ty.

    – Tại Công ty xây dựng số 9 thông qua tiền thưởng cũng được coi là đòn bẩy kinh tế nhằm kích thích nhân viên và mang lại hiệu quả cao trong kinh tế.

    – Hàng năm Công ty không ngừng tăng cường quỹ khen thưởng và phúc lợi cho công nhân viên.

    – Việc phân chia quỹ tiền lương từ phúc lợi của Công ty hàng năm được phân chia theo nguyên tắc kết hợp giữa tiền lương cấp bậc T1 và kết quả của thành tích công việc được xếp hạng của từng quý và thời gian làm việc của mỗi người.

    1. Chế độ phúc lợi xã hội

    – Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, là một chính sách trợ cấp, hỗ trợ cho cán bộ công nhân viên đang công tác tại Công ty làm việc làm không thể thiếu được trong chế độ thù lao lao động. Ban lãnh đạo của Công ty luôn chú trọng tới.

    – Tình hình sử dụng các phúc lợi khác như thế nào? (Có những kỳ tham quan, nghỉ mát, dưỡng sức cho CBCNV không? có trợ cấp ốm đau? có sự quan tâm về tinh thần không?

    – Công ty đã tạo điều kiện môi trường làm việc cho cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Cải thiện đời sống, tinh thần cho người lao động

    – Tổ chức khám sức khoẻ hàng năm cho công nhân viên của Công ty

    – Có quà tặng cho những dịp lễ, tết, kỷ niệm hàng năm.

    – Hàng năm Công ty tổ chức các cuộc nghỉ mát, nghỉ dưỡng sức cho cán bộ công nhân viên, tại các điểm nghỉ mát, du lịch trong nước.

    – Công ty có đề ra một quĩ trợ cấp cho những cán bộ công nhân viên khi ốm, đau, v.v…

    – Tổ chức thăm hỏi thường xuyên, quan tâm đến đời sống tinh thần của toàn bộ công nhân viên của Công ty.

    – Khen thưởng, khuyến khích cán bộ công nhân viên tham gia các công tác, đoàn, Đảng v.v…

    – Bên cạnh những phương pháp hoàn thiện công tác quản trị, Công ty xây dựng số 9 vẫn còn có những khuyết điểm sau:

    – Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của Công ty, đặc biệt là công tác tuyển dụng thường xuyên chưa phát huy hết tác dụng, chưa có hệ thống hoàn chỉnh, vì vậy mà Công ty chưa tuyển được nhiều những cán bộ trẻ, có tài năng cho công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

     

    CHƯƠNG II

     MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

     

    I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9

    – Mục tiêu kế hoạch trong những năm tới được xây dựng trên cơ sở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của những năm trước.

    Thực hiện theo nguyên tắc, đảm bảo việc làm không những nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên chức, đời sống vật chất đầy đủ hơn, tạo điều kiện cho họ công tác tốt.

    – Nâng cao công nghệ kỹ thuật, trang bị, đầu tư một số máy móc hiện đại đổi mới khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ những công trình lớn đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

    – Xây dựng mức lương hoàn chỉnh hơn.

    – Tính toán chặt chẽ số người lao động, số công nhân viên để có thể tinh giảm bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng công việc.

    – Thường xuyên kế hoạch hoá và kiểm tra, kiểm soát chỉ tiêu tăng năng suất lao động cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là những lao động đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm.

    – Quan tâm thích đáng đến vấn đề bảo hộ và an toàn lao động, chú ý phát triển nghiên cứu kỹ các hình thức tiền lương, thưởng.

    – Tăng cường giáo dục ý thức tư tưởng cho người lao động, tư tưởng giáo dục và xuất phát điểm quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Người có ý thức tự giác lao động bao giờ cũng hăng say trong công việc, bao giờ cũng sáng tạo hơn, năng suất lao động cao hơn, ngược lại người có ý thức kém không những lao động thiếu nhiệt tình, năng suất lao động thấp, mà còn đôi lúc sẽ có những tư tưởng rã đám, lôi kéo người khác ảnh hưởng xấu tới công việc kinh doanh của Công ty. Vì vậy tăng cường kỷ luật lao động vầ một điểm quan trọng.

    – Hiện nay phần lớn công việc nhân viên của Công ty đều hăng hái nhiệt tình công tác, song bên cạnh đó vẫn còn một số kém. Bởi vậy Công ty cần phải có sự chấn chỉnh kịp thời, tháo gỡ những khúc mắc nhỏ.

    – Là một doanh nghiệp xây dựng mục tiêu của Công ty trước mắt vẫn là tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng công trình để cạnh tranh thị trường, xây dựng Công ty thành một doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên có trình độ giỏi, tay nghề cao, tạo hiêu quả tốt cho công tác của Công ty.

    – Công ty tiếp tục tăng cường đào tạo, sắp xếp bố trí, bổ sung những cán bộ, những nhân viên giỏi, đủ năng lực công tác vào những chỗ còn thiếu phù hợp với yêu cầu công việc của Công ty, Công ty sắp xếp hoàn thiện hơn các Phòng, ban…

    Áp dụng triển khai tiền lương, thưởng theo quyết định của Bộ lao động thương binh và xã hội, đồng thời áp dụng cơ chế khoán, nhằm khuyến khích người lao động tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả, đảm bảo thu nhập tương xứng với kết quả lao động.

    – Tăng cường kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý tài chính Nhà nước, tiết kiệm, sử dụng vốn, ngăn ngừa vi phạm gây thất thoát tiền của Nhà nước.

    – Đối với bộ phận quản lý, các Phòng ban tổ chức, thì tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ trước mắt, các Phòng ban lãnh đạo, bằng hình thức nâng cao tay nghề, chuyên môn.

    Công tác quản trị cần chú ý thực hiện:

    – Để  nâng cao chất lượng những công tác của Công ty trong những năm sắp tới và nâng cao, tính hiệu quả của tổ chức thì việc tuyển dụng người, có năng lực và trình độ là công việc luôn cấp thiết của Công ty.

    – Lựa chọn được những nhân tài cho công ty, phù hợp với yêu  cầu của công việc thì bên cạnh công tác tuyển dụng nội bộ, Công ty cần tăng cường tuyển từ các nguồn bên ngoài để tạo ra động lực mới, góp phần tạo dựng các mục tiêu kinh doanh của Công ty.

    – Do yêu cầu của Công ty cũng như của Tổng công ty trong lĩnh vực xây dựng, nên việc tuyển dụng chỉ cần những người có năng lực, trình độ là chủ yếu do vậy mà cần chất lượng chứ không cần số lượng, để đảm bảo việc làm cho người lao động, khắc phục tình trạng dư thừa lao động tại Công ty, Công ty xem xét khả năng kỹ càng, trước khi ký hợp đồng dài hạn những cán bộ, công nhân lành nghề, đồng thời tinh giảm những người không có năng lực trong công việc.

    – Vẫn duy trì công tác tuyển chọn thường xuyên để có cơ hội tìm ra được những cán bộ công nhân viên giỏi cho Công ty, những nhân tài cho đất nước.

    * Hoàn thiện cơ cấu quản lý: Việc hoàn thiện đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty là một tất yếu cần thiết  phù hợp với cơ chế quản lý mới, cơ cấu phải đó phải phát huy được vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong Công ty, Công ty đã đổi mới hoàn toàn cơ cấu quản lý gọn, nhẹ, chất lượng, từ đó giúp Công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiểu quả, lãnh đạo đưa Công ty thực hiện tốt những mục tiêu vừa qua và sắp tới của Công ty.

    * Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ làm vịêc cho cán bộ công nhân viên của Công ty qua các hình thức sau.

    – Cử những cán bộ có năng lực, tham gia học nâng cao tay nghề, tại các trung tâm đào tạo.

    – Tạo điều kiện cho các công nhân viên có tay nghề cao, nâng cao trình độ bằng cách nhập học các trường Đại học, Tại chức, dành cho cán bộ công nhân viên.

    – Mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ quản lý, nghiên cứu, thợ kỹ thuật v.v… nâng cao trình độ nghiệp vụ để giúp cho Công ty trưởng thực hiện những công tác của Công ty trong những năm tới, tạo điều kiện cho những cán bộ giỏi có cơ hội thăng tiến, đảm nhiệm các trọng trách quan trọng của Công ty.

    – Thực hiện các công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, để họ cảm thấy như sống trong một gia đình lớn đó là Công ty  do vậy họ sẽ chia sẻ gắn bó với công việc mình làm.

    – Xem xét lại chế độ thù lao, lao động tại Công ty, để có một phương pháp trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên một cách công bằng cho người lao động.

    – Đánh giá đúng mức độ đóng góp, hoàn thành công việc.

    * Những người được hưởng chế độ hệ số lương cao thì phải là người có trình độ, tay nghề cao, nắm bắt và áp dụng phương pháp lao động tiên tiến, có hiệu quả, ngày công lao động vượt mức năng suất lao động cá nhân.

    * Những người được hưởng hệ số trung bình là những người đảm bảo ngày, giờ công lao động, chấp hành chưa nghiêm những qui tắc của Công ty, những người này ngoài việc hưởng mức lương thấp còn có nguy cơ bị sa thải.

    * Về chính sách phúc lợi cho toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty.

    – Tăng cường đảm bảo an toàn lao động, đảm bảo sức khoẻ, chế độ làm việc cho người lao động.

    – Chú ý hơn các chế độ bảo hiểm xã hội, y tế v.v. cho người lao động (tạo cảm giác an toàn) thoải mái trong công việc, thưởng, phạt, kịp thời.

    – Đề bạt, nâng cao, tận dụng có hiệu quả, những sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

    II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 9.

     1. Về tuyển dụng

    Để Công ty ngày càng phát triển, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao thì việc tuyển dụng người có năng lực, trình độ là rất cần thiết. Hiện nay chính sách tuyển dụng của Công ty tương đối thích hợp và có hiệu quả.

    – Công ty tuyển những người đúng chuyên ngành, nghề phù hợp với công việc, khi cần tuyển dụng nhân viên, muốn có cơ hội chọn lựa thì Công ty cần tăng cường tuyển từ các nguồn bên ngoài.

    – Trong trường hợp cần lao động gấp thì Công ty nên Công ty sử dụng phương pháp nhờ giới thiệu đăng tin tuyển.

    – Do đặc thù công việc của Công ty là chuyên xây dựng những công trình dân dụng và công nghiệp nên thành phẩm sản xuất ra mặt hàng đáp ứng yêu cầu chất lượng của người tiêu dùng trong xã hội nên đảm bảo lực lượng lao động của Công ty đủ người, không thừa, không  thiếu.

    Về tuyển dụng cần phải làm ngay:

    • Thường xuyên tuyển dụng cả ở nguồn bên trong, lẫn bên ngoài, phát hiện những cán bộ công nhân viên giỏi, có tay nghề để tuyển lao động vào làm việc tại Công ty. Tránh chỉ tuyển lao động theo sự giới thiệu thân quen, mang tính chất gia đình.

    Nhất thiết Công ty nên áp dụng các bước tuyển chọn nhân lực sau:

    1. Phỏng vấn sơ bộ ứng viên
    2. Nghiên cứu đơn xin việc
    3. Trắc nghiệm các lĩnh vực
    4. Phỏng vấn chính thức
    5. Nghiên cứu điều tra hồ sơ xin việc
    6. Khám sức khoẻ
    7. Chính thức tuyển dụng

    2. Hoàn thiện cơ cấu quản lý.

    Thực tế hiện nay ở Công ty Xây dựng số 9 cơ cấu bộ máy còn chưa thực sự gọn nhẹ, sự bất lợi do việc giám đốc trực tiếp chỉ đạo điều hành, sự bất lợi này thể hiện ở chỗ các quyết định về hoạt động và kinh doanh của công ty chỉ tập chung duy nhất ở giám đốc. Do vậy  dẫn tới khó khăn cho các phòng ban, các đơn vị thành viên trong việc xin ý kiến chỉ đạo cũng như việc ra quyết định kịp thời của giám đốc. Để khắc phục tồn tại trên công ty cần thực hiện công việc cụ thể sau:

    – Thực hiện việc uỷ quyền giữa giám đốc và các phó giám đốc: Giám đốc công ty sẽ uỷ quyền một phần hoặc toàn bộ cho các phó giám đốc trong từng mảng công việc khi mình đi vắng. Trong quá trình điều hành các phó giám đốc phải thường xuyên liên hệ với giám đốc qua thư tín hoặc điện thoại để  báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo nếu có vấn đề đột xuất xảy ra. Các phong ban, các đơn vị thành viên phải có trách nhiệm giúp đỡ các phó giám đốc hoàn thành trách nhiệm được giao và khi thực hiện công việc phải xin ý kiến chỉ đạo của phó giám đốc.

    3.Về đào tạo và phát triển nhân lực.

    – Việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho người lao động phải căn cứ vào mục tiêu phát triển của Công ty. Từ đó đánh giá chính xác nhu cầu hiện tại và nhữgn mục tiêu của những năm tiếp theo.

    – Công ty mở lớp đào tạo, huấn luyện một số cán bộ quản lý của Công ty, cử đi học cán bộ khoá nâng cao chuyên ngành, thi lên bậc, nâng cao trình độ nghiệp vụ của phòng ban, học thêm ngoại ngữ, sử dụng thành thạo vi tính.

    – Đồng thời cũng tạo điều kiện cho các cán bộ quản lý giỏi có cơ hội thăng tiến.

    – Để có đội  ngũ cán bộ như mong muốn thì Công ty cần có kế hoạch đào tạo để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác quản trị.

    – Đối với những lao động có chuyên môn nghiệp vụ thì phải có kế hoạch, chương trình cụ thể đặt ra để bồi dưỡng cho cán bộ vào các kỳ đến niên hạn xét bậc lương.

    – Thực hiện công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức để họ có trách nhiệm, yêu thích công việc mình làm, để họ cố gắng hết sức mình vì sự nghiệp của Công ty.

    – Đề bạt những nhân viên, cán bộ có tài năng, có chế độ thưởng, phạt rõ ràng, công bằng, đó là yếu tố kích thích, sự cống hiến của mình đối với Công ty.

    – Nhân viên phải được đào tạo đúng ngành, đúng nghề.

    – Ngoài ra Công ty nên tổ chức lần giao lưu giữa các nhân viên với nhau.

    – Người công nhân có kinh nghiệp hướng dẫn cho những công nhân mới.

    4. Về chế độ thù lao lao động và chế độ khen thưởng

    – Để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty và để phát triển Công ty thành một công ty lớn có uy tín trong ngành xây dựng tại Hà Nội thì Công ty phải chú trọng tới nguồn nhân lực của mình, phải khuyến khích và có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với những nhân viên đã làm tốt phần việc của mình, có tay nghề cao.

    – Xây dựng một mức lương cơ bản, trả công xứng đáng với sức lao động mà người lao động bỏ ra. Từ đó sẽ thúc đẩy được nhân viên lao động với hiệu quả cao hơn.

    – Nhân viên sẽ được thưởng với mức thu nhập gia tăng nếu vượt mức kế hoạch.

    – Công ty đã trả lương theo (mức lương sản phẩm) đó là hình thức trả lương theo kết quả lao động đo bằng sản phẩm tạo ra, lương có thưởng.

    -Với hình thức trả lương có thưởng, không chỉ phải trả lương tăng thêm khi năng suất lao động tăng mà còn trả tăng thêm khi nâng cao chất lượng công việcd chẳng hạn như: giảm phế phẩm, tiết kiệm tiêu hao vật tư, có phát minh sáng kiến mới có lợi cho công việc đó là các khoản tiền.

    + Tiền thưởng năng suất.

    + Tiền thưởng chất lượng

    + Tiền thưởng tiết kiệm

    – Ngoài ra việc đánh giá mức độ đóng góp để hoàn thành công việc của người lao động thì phải phản ánh được chất lượng, số lượng lao động thực tế của người lao động do tập thể bàn bạc và quyết định một cách dân chủ, việc đưa các chỉ tiêu đánh giá bằng phương pháp cho điểm tuỳ theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nhưng phải phù hợp các nội dung cơ bản sau:

    – Những người hưởng hệ số lương cao thì phải là người có trình độ tay nghề cao và áp dụng phương pháp lao động tiên tiến, ngày công lao động đạt và vượt mức năng suất cá nhân.

    – Những người được hưởng hệ số trung bình là bảo đảm ngày, giờ, chấp hành sự phân công của người phụ trách, đạt năng suất cá nhân, đảm bảo an toàn lao động.

    – Những người hưởng hệ số thấp là những người không đảm bảo ngày công quy định, chấp hành chưa nghiêm sự phân công của người phụ trách, không được đưa năng suất lao động.

    + Về chính sách phúc lợi cho các cán bộ công nhân viên của Công ty, cho tới nay các hoạt động phúc lợi của Công ty đã có kết quả khá tốt, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tạo cảm giác an toàn trong công việc, đó là các hoạt động khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần cho người lao động đòi hỏi Công ty phải duy trì và phát triển nhiều hơn công tác này.

    – Bên cạnh các chế độ trả lương và phúc lợi xã hội, Công ty cần có các hình thức khác như thưởng phạt kịp thời đối với những người hoàn thành tốt công việc, nhiệm vụ được giao, có vậy mới khuyến khích được họ động viên được tinh thần tự giác cao của họ để kịp thời động viên khen thưởng những lao động có thành tích xuất sắc, sáng tạo trong công việc, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh của Công ty.

    – Công ty cần trích quỹ khen thưởng kịp thời còn đối với những người mắc lỗi lầm thì cần phải đưa ra những hình thức đáng để răn đe kịp  thời như kỷ luật, trừ lương.v.v…

    • Chế độ tiền thưởng nên áp dụng như sau:

    + Đối với  lao động gián tiếp tiền thưởng = 0.005% Tổng giá trị hợp đồng.

    + Đối với lao động trực tiếp tiền thưởng  = 0.1% Tổng giá trị hợp đồng.

    5. Một số các biện pháp khác.

    1. Về đãi ngộ thông qua công việc

    Tại mỗi đơn vị của Công ty, mỗi cán bộ công nhân viên đều được giao trách nhiệm hoàn thành công việc. Để nâng cao công việc và hiệu quả lao động, Công ty cần có biện pháp:

    + Sử dụng đúng khả năng lao động, bố trí công việc của họ phù hợp với nguyện vọng, năng lực tạo điều kiện cho họ nâng cao trình độ và phát huy hết năng lực của mình.

    + Phân công giao trách nhiệm về công việc cụ thể cho từng người, một mặt giúp các nhà lãnh đạo quản lý công nhân viên của mình, mặt khác nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công nhân viên.

    – Cán bộ lãnh đạo của Công ty cần nắm vững hoàn cảnh gia đình của mỗi công nhân viên, thường xuyên quan tâm và động viên cấp dưới để tạo bầu không khí thoải mái khi làm việc.

    – Kịp thời đánh giá những thành tích đạt được của công nhân viên và tổ chức khen thưởng động viên kịp thời để khích lệ tinh thần công nhân viên.

    – Đánh giá thành tích của công nhân viên Công ty bao gồm những điểm sau:

    + Đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả làm việc, chủ quan hay khách quan, những tiêu chuẩn này nên có sự thoả thuận giữa các cán bộ lãnh đạo và công nhân viên.

    + Trước khi đánh giá phải được thực hiện đều đặn trong thời gian đó hiệu quả làm việc của người lao động phải được thường xuyên theo dõi.

    + Định  mức hiệu quả làm việc do nhà quản trị ấn định, dựa trên cơ sở quan sát và nhìn nhận. Đôi khi cũng nên tham khảo ý kiến của công nhân viên.

    – Bên cạnh đó cũng có thể tổ chức cho cán bộ các bộ phận đánh giá lẫn nhau, tìm ra những cá nhân nổi bật để kịp thời biểu dương họ nhằm khuyến khích các nhân viên khác của Công ty đều tập trung phấn đấu.

    1. Điều kiện và môi trường làm việc.

    – Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi trong môi trường làm việc cho mọi nhân viên của Công ty.

    – Cải thiện cuộc sống, cảnh quan môi trường.

    – Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua sản xuất như nâng cao năng suất lao động, thi sáng tạo mới, thợ giỏi, bảo quản máy móc thiết bị.

    – Công ty đã đầu tư chiều sâu vào máy móc trang thiết bị mới đồng bộ để đem lại hiệu quả, chất lượng công việc và đảm bảo an toàn trong lao động.

    – Tạo môi trường tâm lý thoải mái như các giờ giải trí như:

    + Công ty tổ chức các buổi tham quan nghỉ mát.

    + Tổ chức các phong trào thể dục thể thao rèn luyện sức khoẻ, cùng giúp nhau tiến bộ.

    + Thông qua công tác quản trị nhân lực của Công ty, đã cho thấy Công ty ngày càng hoàn thiện hơn cả về con người lẫn bộ máy làm việc. Do vậy đã tạo điều kiện cho Công ty ngày càng phát triển hơn nữa.

     

    KẾT LUẬN

    Con người ngày càng có vai trò quan trọng trong một tổ chức. Con người được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức vì con người là nhân tố hạt nhân của tổ chức, quyết định sự thành công hay thất bại của tổ chức, làm cho tổ chức vận hành được. Vì vậy, vấn đề quản trị nhân lực trong tổ chức trở thành vấn đề cấp bách hiện nay. Ngày nay một tổ chức tồn tại và phát triển không phải bởi sự quyết định của vốn, công nghệ, hay thiết bị mà nó phụ thuộc rất nhiều vào sự lãnh đạo, tổ chức của con người đối với tổ chức đó, do vậy công tác đào tạo và phát triển phải được đặc biệt chú trọng.

    Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo phát triển và đứng trước những thách thức trong giai đoạn hiện nay. Công ty xây dựng số 9 đã và đang cố gắng hoàn thành nhiệm vụ mà Nhà nước và Tổng công ty giao cho, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, cố gắng đứng vững và phát triển trên thị trường. Song trước những biến đổi thời cuộc, Công ty còn gặp rất nhiều khó khăn, do vậy mà Công ty cần phải năng động hơn, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh, Công ty phải hoàn thiện hơn nữa công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên trong công ty để đáp ứng những nhiệm vụ khó khăn hơn trong tương lai, khẳng định được vai trò vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường.

    Với một thời gian ngắn tìm hiểu thực tế về công ty, em đã thấy được thực trạng công tác quản trị nhân lực của Công ty, có những thành công nhất định và những tồn tại nhất định. Trước thực trạng đó luận văn của em này có đưa ra một số biện pháp mong rằng có giúp ích cho Công ty có thể hoàn thiện hơn Công tác quản trị nhân lực của mình trong thời gian tới.

    Mặc dù đã có những cố gắng nhưng do trình độ, năng lực và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót nhất định. Kính mong được sự góp ý của thầy giáo để luận văn của được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    Hà Nội, tháng 4 năm 2005

    Sinh viên: Nguyễn Chí Dũng

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình quản trị nhân lực – Trường ĐHQLKD
    2. Các báo cáo kết quả của Công ty xây dựng số 9.
    3. Quản trị học của nhà xuất bản Văn hoá
    4. Hướng dẫn đầu tư và sử dụng nguồn lao động ở Việt Nam
    5. Các tài liệu tham khảo khác qua Báo, Tạp chí lao động.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Hướng dẫn  Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng số 4


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%B0%E1%BB%9Bng-d%E1%BA%ABn-X%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-D%E1%BB%B1-%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Hướng dẫn Xây dựng Dự án

    Xây dựng Dự án

    Hướng dẫn này nằm trong số các hướng dẫn được soạn thảo theo quan điểm của nhà tài trợ

    dành cho các tổ chức xã hội dân sự.

    Tài liệu này mang tính chất tham khảo và không phải là những hướng dẫn cứng nhắc.

    Tăng cường Năng lực tổ chức

    Xây dựng Dự án: Hướng dẫn xây dựng và thực hiện dự án và các câu hỏi chính cần đưa ra trong quá trình xây dựng và thực hiện.

    Hướng dẫn này bao

    gồm các phần về: mục đích của kế hoạch dự án, các mục đích và mục tiêu; và thiết lập một kế hoạch hành động.

    Lập ngân sách

    Hướng dẫn lập ngân

    sách, chú trọng vào

    mục đích, các bước

    tiến hành và các hợp

    phần.

    Hệ thống Tài chính Hướng dẫn thiết lập một hệ thống tài chính minh bạch và rõ ràng để xây dựng tính bền vững tài chính.

    Giám sát & Đánh giá Hướng dẫn rà soát và đánh giá tiến độ trong việc đạt được các mục tiêu, xác định các vấn đề và chiến lược và điều chỉnh kế hoạch.

    Huy động Nguồn lực

    Hướng dẫn huy động

    các nguồn lực, chủ

    yếu là nội lực, để tăng

    cường năng lực tổ

    chức và mang lại lợi

    ích cho cộng đồng.

    Viết Đề xuất xin tài trợ

    Hướng dẫn xây dựng và viết một đề xuất, bao gồm các yếu tố chính để giúp dự án thành công.

    Báo cáo lên các Nhà tài trợ

    Hướng dẫn duy trì và tăng cường quan hệ với các nhà tài trợ sau khi đã được tài trợ.

    MỤC ĐÍCH CỦA MỘT KẾ HOẠCH DỰ ÁN

    Với các nhà tài trợ, trọng tâm của một đề xuất xin tài trợ là một dự án cụ thể hoặc một loạt các hoạt động mà bạn đang tìm kiếm sự tài trợ và các yêu cầu về ngân sách cần có để hoàn thành tốt công việc. Ở đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn các yếu tố chính để xây dựng và thực hiện một dự án, và làm thế nào để liên kết các khái niệm này trong đề xuất của bạn. Trong hướng dẫn này, từ “dự án” được sử dụng để nói về một sự can thiệp hoặc một hành động cụ thể.

    Khi lập kế hoạch cho một dự án, bước đầu tiên là phải đảm bảo rằng có mối liên hệ mạnh mẽ giữa sứ mệnh của tổ chức bạn và sáng kiến mà bạn đang xem xét. Dự án mà bạn đang lập kế hoạch và tìm kiếm tài trợ phải là một phần trong chiến lược tổng thể của bạn để giải quyết các vấn đề. Khi xây dựng kế hoạch, bạn cần xem xét những điểm sau đây:

    • Dự án có liên quan như thế nào đến sứ mệnh của tổ chức bạn?
    • Bạn đang làm việc trong bối cảnh nào và bối cảnh này có tính đặc trưng như thế nào?
    • Dự án sẽ giúp thay đổi hoặc cải thiện điều kiện sống và phát triển của các thành viên cộng đồng hoặc những người hưởng lợi như thế nào?

    MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU

    Các nhà tài trợ thường đặc biệt quan tâm đến kết quả và lợi ích mà dự án sẽ mang lại cho

    cộng đồng hoặc nhóm người dân các bên có liên quan. Các nhà tài trợ cũng hiểu rằng trong một số trường hợp kết quả sẽ không thấy được rõ ràng trong khoảng thời gian ngắn và có những kết quả mang tính phi vật thể như xây dựng vốn xã hội kết quả hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường đánh giá cao quá trình tham vấn với các bên có liên quan trong quá trình thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án. Mỗi tổ chức xã hội dân sự sẽ tự quyết định chiến lược nào là phù hợp trong bối cảnh của mình. Khi kết hợp hiểu biết về bối cảnh và đánh giá các kỹ năng có sẵn của mình, mỗi tổ chức có thể đóng góp vào quá trình cải thiện hoặc mang lại các thay đổi cho cộng đồng.

    NHỮNG THUẬT NGỮ THÔNG THƯỜNG

    Dưới đây là một số thuật ngữ thông thường, định nghĩa và các câu hỏi chính để giúp xây dựng dự án. Các nhà tài trợ cũng thường đưa ra những câu hỏi tương tự khi quyết định liệu dự án có phù hợp với các ưu tiên của chương trình tài trợ không, liệu dự án có tính thực tế không hoặc liệu dự án có thể mang lại những thay đổi tích cực cho cộng đồng không.

    Mục đích:

    là các kết quả lâu dài và theo bề rộng mà dự án sẽ mang lại. Khi đưa ra mục đích, hãy tự hỏi: Bạn muốn đạt được kết quả gì với dự án này? Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?

    Mục tiêu:

    là các tác động (hoặc là đầu ra trong một số trường hợp) dự kiến sẽ mang lại lợi ích vật chất, tài chính, thể chế, xã hội, môi trường hoặc các lợi ích khác cho xã hội, cộng đồng hoặc một nhóm người thông qua một hoặc nhiều hoạt động phát triển. Khi xác định các mục tiêu, hãy tự hỏi: Các kết quả dự kiến cụ thể và có thể đo lường được của dự án là gì? Các mục đích phải :

    • (specific): cụ thể – dự án phải có các kết quả dự kiến cụ thể
    • (measurable): tính đo lường được – kết quả dự kiến phải đo lường được A (answer): trả lời được các câu hỏi ai, cái gì, khi nào, ở đâu và như thế nào

     

    R (realistic): tính thực tế khi đưa ra những kết quả dự kiến dự án có thể thực sự đạt

     

    được

     

    T (thời gian): có khung thời gian cụ thể cho quá trình thực hiện dự án

    Các hoạt động.

    Các hoạt động hoặc công việc đã được thực hiện. Các hoạt động này có thể được đưa vào một kế hoạch làm việc với khung thời gian cụ thể. Hãy tự đưa ra các câu hỏi như: Hành động hoặc nhiệm vụ nào là cần thiết để thực hiện các mục tiêu này?

    Ví dụ về Mục đích, Mục tiêu và các Hoạt động

    Mục đích của dự án là cải thiện sự tiếp cận của nông dân với các dịch vụ nông nghiệp công trong địa bản của tỉnh/thành phố/huyện

    Mục tiêu của dự án là: tăng 50% số người tiếp cận được với các dịch vụ có sẵn và triển khai hệ thống thẻ đánh giá của cộng đồng tại 5 làng để giúp đánh giá chất lượng các dịch vụ do cơ quan khuyến nông cung cấp.

    Các hoạt động trong hơn 1 năm bao gồm hoạt động quảng bá thông tin về tiếp cận dịch vụ thông qua đài phát thanh và 10 cuộc hội thảo về giám sát và trách nhiệm giải trình sử dụng phương pháp thẻ đánh giá của cộng đồng.

    Điều quan trọng là phải xem xét các quan điểm và nhu cầu của người hưởng lợi của dự án khi xây dựng các mục đích và mục tiêu cũng như khi thực hiện các hoạt động.

    Các nhà tài trợ thường quan tâm đến sự tham gia của người hưởng lợi vào quá trình đưa ra các quyết định chính của dự án. Trong những trường hợp khó khăn khi tổ chức của bạn đang làm việc với những đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương, hãy mô tả tình hình của những nhóm người này, những người có thể không phải là một phần của bất cứ cộng đồng nào.

    Khi xây dựng các mục đích và mục tiêu, bạn cũng cần luôn nghĩ đến phương thức giám sát và đánh giá dự án. Ví dụ như các nhà tài trợ có thể hỏi làm thế nào mà bạn biết là dự án đã mang lại các kết quả đã đề ra. Khi trình bày dự án với các nhà tài trợ, bạn có thể mô tả tình hình trước khi thực hiện dự án để có thể đánh giá được tiến độ của dự án hoặc so sánh tình hình trước và sau khi thực hiện dự án.

    Bạn cũng có thể cần phải xem xét về tính bền vững của dự án và các lợi ích của dự án sau khi được tài trợ hoặc khi dự án kết thúc. Hãy xem thêm hướng dẫn về “Huy động Nguồn lực” để suy nghĩ về tính bền vững.

    CÁC BƯỚC: Thiết lập một Kế hoạch Hành động

    Kế hoạch hành động là các bước của một quá trình mà tổ chức bạn sẽ tiến hành để đạt được các mục đích và mục tiêu của dự án. Quá trình này không nhất thiết phải bao gồm phần huy động nguồn tài trợ. Khi lập kế hoạch hoạt động cần có sự tham gia của các bên có liên quan để đảm bảo sự tham gia và tính sở hữu của họ trong dự án. Một kế hoạch hành động phải trả lời được các câu hỏi sau:

    1. Mục đích và mục tiêu của bạn là gì?
    1. Bạn sẽ tiến hành các bước hành động nào để đạt được các mục tiêu đó?
    1. Ai chịu trách nhiệm cho mỗi bước hoạt động?
    1. Có ai khác tham gia không? Họ tham gia như thế nào vào việc lập kế hoạch? Vai trò và trách nhiệm của họ là gì?
    2. Ai sẽ hưởng lợi từ dự án? Họ đã được tham vấn như thế nào? Họ sẽ được hưởng lợi như thế nào?
    3. Các kết quả dự kiến của bạn là gì? Các kết quả dự án sẽ dẫn đến những thay đổi

    nào?

    1. Có những chỉ số nào để theo dõi tiến độ dự án?
    2. Khung thời gian cho các bước hành động của bạn là gì? Khi nào thì các hoạt động đó sẽ diễn ra? Trong khoảng thời gian nào?
    3. Bạn sẽ cần các nguồn lực tài chính nào để hoàn thành kế hoạch hành động và bạn sẽ gây quỹ như thế nào?
    4. Bạn sẽ cần nguồn nhân lực nào? Nhóm của bạn có những điểm mạnh và điểm yếu gì để hoàn thành các hoạt động?
    5. Bạn có thể xây dựng quan hệ đối tác nào với các tổ chức tương tự hoặc với các cơ quan địa phương để tối đa hóa tác động, bổ sung cho các nỗ lực của bạn và học hỏi từ họ?
    1. Bạn có thể sẽ gặp phải những trở ngại hoặc khó khăn tiềm ẩn nào (ví dụ như điều kiện thời tiết hoặc điều kiện xã hội) và bạn đã có kế hoạch dự phòng nào chưa?

    Các bước trên đây về xây dựng một dự án đã giúp giải quyết một số câu hỏi mà các nhà tài trợ thường nêu ra khi xem xét một đề xuất. Một dự án được xây dựng thông qua quá trình tham vấn với các cơ sở, mục tiêu và kế hoạch hành động rõ ràng cũng sẽ giúp tổ chức của bạn có được nền tảng vững chắc để thành công.

    ThS. Hoàng Trọng Nghĩa

    (theo Yumi Sera và Susan Beaudry, 2007)


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bài tập lớn Tìm hiểu ứng dụng phương pháp lọc canny để phát hiện và tách biên cạnh,đánh giá thực nghiệm hiệu quả của lọc canny so với lọc sobel


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4n-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%E1%BB%91i-Th%E1%BB%9Di-c%C6%A1-trong-CMT8-1945-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-qu%C3%A1-tr%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%95i-m%E1%BB%9Bi-v%C3%A0-h%E1%BB%99i-nh%E1%BA%ADp-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF-c%E1%BB%A7a-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn môn Đường lối: Thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay

    Bài tập lớn môn Đường lối

    Đề tài: Bài học thời cơ trong CMT8/1945 đối với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay. Liên hệ vai trò của sinh viên trong việc vận dụng bài học này đối với quá trình đổi mới và hội nhập.

    Lời mở đầu

    Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi và việc khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng. Đây là kết hợp của khoa học và nghệ thuật chính trị dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng CSVN, trong đó nổi bật là khoa học, nghệ thuật  chuẩn bị lực lượng, nắm bắt mau lẹ và chớp thời cơ một cách quyết đoán và có hiệu quả. Thắng lợi này đã để lại những bài học to lớn trong nghệ thuật tạo và chớp  thời cơ không chỉ trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước mà còn trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng ta ko thể phủ nhận vai trò của SV_1 tầng lớp trí thức trong xã hội. Họ đã có nhg đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới và xây dựng đất nước.

    I.          Bài học thời cơ trong CMT8/1945.

    1. Thời cơ trong CMT8/1945.

    2.1.       Hoàn cảnh

    Một cuộc khởi nghĩa hoặc tổng khởi nghĩa muốn thắng lợi đòi hỏi phải hội đủ những điều kiện bên trong và bên ngoài (chủ quan và khách quan) mà chúng ta thường gọi là điều kiện chín muồi.

    Trong nước: Một là, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là cao trào kháng Nhật cứu nước từ tháng 3-1945 của dân tộc Việt Nam, diễn ra mạnh mẽ chưa từng có.

    Hai là, Đội tiền phong lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng sản thống nhất về ý chí và hành động, phát triển mạnh mẽ về tổ chức, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, chủ động đưa phong trào quần chúng đi tới cuộc tổng khởi nghĩa.

    Ba là, kẻ thù chính của cách mạng là quân Nhật và chính quyền phong kiến tay sai đã suy yếu và hoang mang cực điểm.

    Quốc tế: Phe Phát- xít có nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh thế giới II. Nhật gặp phải những cuộc tấn công ko ngừng của quân Đồng Minh.

    2.2.       Nghệ thuật tạo thời cơ trong CMT8/1945.

    Chuẩn bị để đón thời cơ: từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng, chuẩn bị, chờ thời cơ để làm một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.

    Để chuẩn bị về nhân lực, vật lực cho khởi nghĩa, các chiến khu được xây dựng ở các địa bàn hiểm trở, có lợi thế về phòng thủ và phát triển lực lượng, cơ sở vật chất, trong đó nổi bật nhất là hai chiến khu Cao-Bắc-Lạng và Thái-Hà-Tuyên.

    Về chính trị – tư tưởng: lấy nền tảng là CN M-LN, đưa ra mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập với tinh thần: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”, phát huy cao độ tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tập hợp quần chúng vào các tổ chức cách mạng.

    Về tổ chức: Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng họp vào tháng 5 – 1941 quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên: “Việt Nam độc lập đồng minh” (Gọi tắt là Việt Minh) và các tổ chức tập thể cứu quốc trên cả nước.

    Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, Đảng đã ra bản chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12-3-1945). Bản chị thị xác định kẻ thù mới của ta là phát xít Nhật, chuẩn bị cho toàn Đảng, toàn dân tộc tâm thế và tư thế để chủ động và sáng tạo

    2.3.       Nghệ thuật chớp thời cơ trong CMT8/1945.

    Về đoán định thời cơ: Ngay từ năm 1940, khi mà chủ nghĩa phát xít đang thắng thế cả ở châu Âu lẫn châu Á. Nguyễn Ái Quốc với tầm nhìn của thời đại đã nhận định: Liên Xô và Đồng minh sẽ thắng; Nhật – Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau; Việt Nam lúc đó sẽ có thời cơ để giành lại độc lập. dự báo hai khả năng làm xuất hiện thời cơ cho nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên cả nước. Một là, quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật;  hai là, Nhật đầu hàng Đồng minh.

    Tận dụng triệt để thời cơ: trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, thời cơ tồn tại một cách khách quan trong vòng 20 hôm, bắt đầu từ khi Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng (ngày 15-8) và kết thúc khi quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật trên đất nước ta theo Hiệp định Pốt-xđam (ngày 5-9). Nếu phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn quốc trước ngày 15-8 quân Nhật còn mạnh và sau ngày 5-9 trên đất nước có nhiều kẻ thù, cách mạng đều không có khả năng thành công. Đảng và nhân dân ta đã chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền thắng lợi trong ngưỡng thời gian khắc nghiệt đó.

    Đúng giữa trưa ngày 15-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh. Như vậy, thời cơ xuất hiện như khả năng thứ hai mà Đảng ta đã dự báo. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban ra Quân lệnh số 1: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đến! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam cùng giành lấy quyền độc lập của nước nhà. Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng! Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Tiếp đó, Hội nghị Đảng toàn quốc và Quốc dân Đại hội nhóm họp tại Tân Trào quyết định phát động cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Cuộc Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh nạn đói ở nước ta – hậu quả của chính sách cai trị tàn bạo của Nhật, Pháp – đang diễn ra trầm trọng. Đảng đã kịp thời nêu chủ trương phá kho thóc của Nhật để chia cho dân nghèo, tạo nên một sinh lực mới cho phong trào.

    2.4.       Kết quả

    Nhờ chủ động, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào cách mạng ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng; hiểu biết sâu sắc về thời cơ cách mạng; dự báo chính xác, nắm bắt kịp thời và chớp thời cơ mau lẹ, Đảng ta đã lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền, tuyên bố thành lập nước, thành lập Chính phủ lâm thời… mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc cho quốc gia dân tộc.

    Đó là sự vùng dậy của cả một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường, quyết đem sức ta mà tự giải phóng cho ta được sự dẫn dắt của đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong tổ chức Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là liên minh công nhân và nông dân. Đó là kết quả của tinh thần năng động, sáng tạo của hệ thống tổ chức đảng và Mặt trận từ Trung ương đến cơ sở trên tất cả các địa bàn của cả nước. Đó là sự chủ động chuẩn bị và phát triển thực lực cách mạng, chủ động nắm bắt thời cơ, quyết tâm giành thắng lợi.

    2. Bài học về thời cơ trong CMT8/1945.

    Bài học về nhận định đúng tình hình và yêu cầu phát triển của thực tiễn để có thể đề ra các quyết sách hợp lý.

    Thứ hai, xác định đúng thời cơ, thời điểm để đưa ra đường lối phát triển phù hợp.

    Thứ ba, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”,

    Thứ tư là thu phục lòng dân từ chính những quyết sách, định hướng phát triển đúng đắn, hợp lý đã được đề ra

    II.        Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    1.            Bối cảnh hội nhập quốc tế.

    • Thuận lợi:
    • Trong nước: Một đất nước ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố… tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối ngoại. TNTN đa dạng, phong phú; cơ cấu dân số trẻ cung cấp nguồn lao động dồi dào
    • Quốc tế: Việt Nam nằm giữa khu vực Đông Á và Đông Nam Á, khu vực năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất hiện nay.thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
    • Khó khăn:
    • Trong nước: Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống nhân dân còn túng thiếu. Đặc biệt, sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất nước đến những khó khăn mới, nền kinh tế – xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. thế lực phản động ko ngừng tác động nhằm lật đổ chế độ chính trị còn non trẻ của ta…
    • Quốc tế: tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của Việt Nam.

    2.            Thời cơ cho sự phát triển của VN hnay.

    2.1.    Vận dụng bài học thời cơ trong CMT8/1945 để tạo và chớp thời cơ trong hoàn cảnh hnay.

    Những thời cơ, thuận lợi lớn đã được Đảng và nhân dân nhận thức đầy đủ, kịp thời. Đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hoá đang tạo điều kiện chưa từng có cho các quốc gia xích lại gần nhau, tăng cường hội nhập, phát huy lợi thế; xu hướng dân chủ hoá đời sống xã hội, đời sống quốc tế đang tạo hành lang rộng mở cho các chủ thể, các quốc gia khẳng định vai trò, vị trí của mình.

    Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra. Vận dụng “bất biến” tức là không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ của tổ chức, cá nhân nào đó mà bất chấp nguyên tắc, làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, của tập thể. Phải tuyệt đối đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, vì sự phát triển của chủ nghĩa xã hội lên trên hết. Thực hiện phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế cũng phải luôn “ứng vạn biến”, biết phân tích, dự đoán và mau lẹ chớp lấy thời cơ, nắm chắc và tận dụng có hiệu quả thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là thước đo bản lĩnh cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.

    Chúng ta đã và còn phải chuẩn bị một cách đầy đủ nhất các yếu tố, những điều kiện để tận dụng được thời cơ, vượt qua được thách thức. Cụ thể là:

    – Về nhận thức và tư tưởng: Phát huy lòng yêu nước, ý thức tự tôn tự trọng của dân tộc để không cam chịu đói nghèo và lạc hậu, để đem sức ta mà xóa nghèo đi lên giàu mạnh – không ai làm thay và cũng chẳng có ai làm thay cho chúng ta cả

    – Về tổ chức, con người và nguồn lực:

    Tất cả các yếu tố cần phải được chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, nhất quán và được tập hợp trong một “thế trận” thống nhất hướng vào mục tiêu chung: Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    – Chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.

    Phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nắm vững nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng là đòi hỏi tất yếu để quá trình chuẩn bị cho việc tận dụng thời cơ cũng là quá trình hành động để biến thời cơ thành hiện thực.

    Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thể hiện trong trình độ tư duy lý luận, vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan để đề ra Cương lĩnh, đường lối thích hợp, tăng cường sức mạnh tổ chức, kỷ luật và năng lực tổ chức thực tiễn

    2.2.    Kết quả của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay.

    Chưa bao giờ thế và lực của đất nước lớn mạnh và có điều kiện phát triển nhanh như hiện nay. Là kết quả của sự phát triển qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 25 năm đổi mới đã tạo nên thế và lực mới cho đất nước. Chế độ chính trị, xã hội ổn định, sức mạnh quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển, tăng trưởng khá. Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7.3%,  GDP liên tục tăng( năm 2011 khoảng 100 tỷ $) Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 đạt trên 1.100 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lạm phát được kiểm soát và đẩy lùi . Xuất khẩu 6 triệu tấn gạo. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2006 là 15,5%, năm 2007 là 14,8%, năm 2008 là 13,1% và năm 2009 giảm xuống còn 12,4%.

    Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một cao. Việt Nam là thành viên của Liên hợp quốc, của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)… Những bước tiến thần kỳ của đất nước thời kỳ đổi mới có một phần là do Đảng ta nắm vững và vận dụng bài học thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

    3.            Những thách thức của Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt.

    Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu mới trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới những năm vừa qua nhưng chúng ta vẫn đang phải  đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức, đặc biệt là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới,tình trạng mất công bằng xã hội,lạm phát, thất nghiệp gia tăng, ô  nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng…  nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang ngày đêm ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta.

    Vì vậy, đòi hỏi cao nhất đối với Đảng, Nhà nước ta, đối với mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là tích cực nghiên cứu, vận dụng tốt những bài học lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nam từ 1986 đến nay.

    III.       Liên hệ vai trò của sinh viên trong quá trình vận dụng bài học thời cơ đối với quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay.

    Hiện nay tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, kém phát triển, kinh tế, khoa học, công nghệ còn lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục đói nghèo, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội đang là mục tiêu cháy bỏng của nhân dân ta. Vì thế, nếu như các thế hệ cha anh trước đây đã rửa được cái nhục mất nước, thì thanh niên hiện tại phải rửa được cái nhục nghèo nàn, lạc hậu, đưa Tổ quốc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới.

    Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế nước ta chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế mới này, tri thức trở thành yếu tố hàng đầu của sản xuất, là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất. Việc học tập trở thành vấn đề xã hội hoá, hình thành nên một “xã hội học tập”. Thế hệ trẻ muốn khỏi lạc hậu với khoa học, kỹ thuật và công nghệ, phải có thói quen và khả năng tự học suốt đời vì không phải ai, và bất cứ lúc nào cũng có điều kiện đến trường, đến lớp để học. Tất cả chúng ta đều biết một câu nói bất hủ của V. I. Lenin “Học, học nữa, học mãi”. Nếu phân tích bản chất của câu nói thì ý Lênin không phải là học nữa, học mãi ở trường, ở lớp mà là sau khi đã nắm bắt được một lượng kiến thức cơ bản ở trường thì học sinh, sinh viên phải đem kiến thức đó phục vụ cho cuộc sống, và trong lúc làm việc, chúng ta phải tranh thủ thời gian để đọc thêm sách báo, xem thêm phim ảnh có ích và bổ sung những kiến thức trên trường đời.

    Hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới. Để có thể đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình hội nhập và quá trình toàn cầu hoá thì mỗi thanh niên có trách nhiệm trang bị cho mình phương tiện không thể thiếu là ngoại ngữ. Phải thành thạo bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) ít nhất là một ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung… Nhờ vậy, chúng ta mới có khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu nước ngoài và có thể giao tiếp, học tập với nhiều hình thức khác nhau. Hơn nữa hầu hết các công việc đều ít nhiều gắn với ngoại ngữ. Thị trường lao động sẽ cần đến những người vừa tài về chuyên môn, vừa giỏi về ngoại ngữ. Bên cạnh đó, thanh niên còn phải có khả năng làm chủ công nghệ thông tin. Có trình độ tin học nhất định thì máy vi tính sẽ giúp chúng ta tự học tốt, giảm thời gian tra cứu tài liệu, thu thập thông tin cập nhật để xử lý công việc một cách nhanh chóng có hiệu quả. Thanh niên phải là lực lượng xung kích phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà, có khả năng chuyển giao, sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến và cũng là lực lượng truyền bá phổ biến khoa học công nghệ trong cộng đồng. Có làm được những điều này, tuổi trẻ chúng ta mới xứng đáng là những chủ nhân hôm nay và tương lai của đất nước. Đúng như nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã khẳng định trong buổi lễ phát động Năm Thanh niên 2000: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, tự hào về các bạn, về thế hệ thanh niên, học sinh, sinh viên hôm nay. Với lực lượng xung kích ấy và những lực lượng xung kích kế tiếp, cha truyền con nối, nhất định chúng ta sẽ hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Tổ quốc Việt Nam sẽ được bảo vệ vững chắc, dân tộc Việt Nam trường tồn, chủ nghĩa xã hội được xây dựng thắng lợi”.

    IV.       Kết luận.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học – Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    LỜI MỞ ĐẦU

    Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của con người. Trước Các Mác, vấn đề bản chất con người chưa được giải đáp một cách khoa học. Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người. Bằng sự phát triển sự phát triển toàn diện thì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ.

    Với quan điểm như vậy thì chủ nghĩa Mác đã kết luận: con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà nó còn là chủ thể của quá trình lịch sử, của tiến bộ xã hội. Đặc biệt khi xã hội loài người phát triển đến trình độ nền kinh tế tri thức thì vai trò của con người đặt biệt quan trọng, vì con người tạo ra tri thức mới, chứa dựng những tri thức mới.

    Ở nước ta, từ đại hội Đảng lần thứ III đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ.Muốn thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, nâng cao đời sống nhân dân…thì không còn con đường nào khác là chúng ta phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hóa. Để làm được như vậy thì một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu đó là vấn đề phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao kỹ thuật, công nghệ, và trong đó đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực.

    Đã có rất nhiều ngành, môn khoa học nghiên cứu về vấn đề con người đây được coi là vấn đề thiết thực nhất đòi hỏi sự phát triển toàn diện nhất trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết này chúng ta chỉ đề cập tới một khía cạnh đó là: “Vận dụng quan điểm triết học Mác về bản chất của con người để phân tích tầm quan trọng của nhân tố con người trong nền kinh tế tri thức

    I. QUAN ĐIỂM CỦA MÁC – LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    1.1.  Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội.

    Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.

    Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người”. Con người là một bộ phận của tự nhiên.

    Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy.

    Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất.

    C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”.

    Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên”.

    Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa…quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.

    Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần.

    Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội.

    1..2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội

    Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đén cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.

    Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.

    Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điêu kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.

    Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không thể là cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội.

    Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

    Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử – xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên. Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một cách có ý thức bấy nhiêu”.

    Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.

    Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.

    Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là “tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trung khắp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.

    Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp cận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.

    1.3 Sự phát triển xã hội loài người trong nền kinh tế tri thức

    Trong thời gian 150 năm, từ năm 1750 đến 1900 (thời kỳ của cách mạng công nghiệp), chủ nghĩa tư bản và công nghệ đã chinh phục toàn thế giới và tạo ra một nền văn minh thế giới mới. Nét mới quan trọng của tư bản và các phát triển công nghệ trong thời kỳ này là nhịp độ lan truyền và ảnh hưởng có tính toàn cầu của chúng đối với nhiều nền văn hóa, giai cấp và khu vực địa lý. Nhịp độ và phạm vi đó đã biến tư bản thành “chủ nghĩa tư bản”, và biến những tiến bộ về khoa học công nghệ thành cuộc “ Cách mạng công nghiệp”. Chủ nghĩa tư bản và Cách mạng công nghiệp – do nhịp độ và quy mô của chúng – đã tạo ra một nền văn minh thế giới mới.

    Sự chuyển đổi này đã được thúc đẩy bởi những thay đổi căn bản về ý nghĩa tri thức. ở cả phương Đông và phương Tây trước đây, tri thức được quan niệm là phục vụ cho chính nó. Nhưng sau một khoảng thời gian ngắn, tri thức đã được áp dụng vào tổ chức lao động, trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và trở thành một loại hàng hóa công cộng.

    Sự biến đổi ý nghĩa của tri thức trải qua 3 giai đoạn:

    Trong giai đoạn đầu (khoảng 100 năm), tri thức được áp dụng cho các công cụ sản xuất, phương pháp sản xuất và sản phẩm. Điều này tạo ra cuộc Cách mạng công nghiệp đồng thời cũng tạo ra điều mà Marx gọi là các giai cấp mới, các cuộc đấu tranh giai cấp và gắn liền với chúng là Chủ nghĩa cộng sản.

    Trong giai đoạn thứ hai, bắt đầu từ khoảng cuối thể kỷ 19 và kết thúc vào Chiến tranh thế giới thứ 2, tri thức được áp dụng cho tổ chức lao động. Giai đoạn này tạo ra cuộc Cách mạng năng suất trong 75 năm và chuyển những người vô sản trở thành tầng lớp trung lưu với thu nhập gần với tầng lớp thượng lưu.

    Giai đoạn cuối cùng thì tri thức đang được áp dụng cho chính bản thân tri thức. Đó là cuộc cách mạng quản lý. Tri thức trở thành một nhân tố sản xuất, làm giảm vai trò của cả vốn là lao động. Có thể là hấp tấp khi nói rằng chung ta hiện nay đang ở trong “xã hội tri thức”- hiện nay chúng ta mới chỉ có một nền kinh tế tri thức. Nhưng rõ ràng xã hội  của chúng ta hiện nay đã là “xã hội hậu tư bản”

    Các phát minh trong thời trước cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như kính mắt) cũng đã được lan truyền rất nhanh nhưng chúng ta chỉ gắn với một ngành, nghề thủ công hoặc một ứng dụng cụ thể nào đó. Những phát minh trong thời cách mạng công nghiệp (chẳng hạn như động cơ hơi nước) nhanh chóng được ứng dụng trên diện rộng và tác động đến tất cả các ngành, nghề thủ công.

    Chúng ta hiểu rằng những sự kiện lịch sử trọng đại bắt nguồn không chỉ từ một nguyên nhân duy nhất và một cách giải thích duy nhất mà thường là kết quả hội tụ của nhiều tiến triển riêng rẽ và độc lập. Có thể lấy ví dụ về việc phát triển máy tính phải dựa vào rất nhiều phát minh khoa học trước đó.

    Tuy nhiên, có một nhân tố rất quan trọng mà không có nó thì tư bản và tiến bộ kỹ thuật có lẽ không thể có tác động  lan truyền mang tính xã hội và rộng khắp đến thế trên thế giới. Đó là sự thay đổi căn bản ý nghĩa của tri thức vào những năm 1700 và một thời gian ngắn sau đó.

    Vào thời kỳ Plato (những năm 400 trước công nguyên) có 2 học thuyết ở phương Đông và 2 học thuyết ở phương Tây về ý nghĩa và chức năng của tri thức. Nhà hiền triết Socrates, người phát ngôn của phái triết học Plato, cho rằng chức năng của tri thức là vì chính tri thức: sự phát triển tri thức, đạo đức và tinh thần của cá nhân. Địch thủ của ông ta, nhà triết học Protagoras lại cho rằng mục đích của tri thức là làm cho người có tri thức có thể hiểu được những gì cần phải nói và làm thế nào để nói chúng. Theo Protagoras, tri thức có nghĩa là logich, ngữ pháp và hừng biện (tu từ).

    Ở phương Đông cũng có hai học thuyết tương tự về tri thức. Đối với Khổng giáo, tri thức là biết được những gì cần nói và làm thế nào để nói chúng là con đường dẫn tới tiến bộ và thành công trên trần thế. Theo Đạo Lão và phái Thiền (Phật giáo) thì tri thức là vi tri thức, và là con đường đi đến sự thông thái và khôn ngoan.

    Khác với những người đương thời của mình của mình ở phương Đông, tức là những người theo Khổng giáo ở Trung Quốc, những người coi thường bất cứ những gì không thuộc nghiên cứu sách vở, cả Socrates lẫn Protagoras đều coi trọng kỹ thuật (techne) mặc dù cả hai ông này đều cho rằng kỹ thuật không phải là tri thức dù nó có đáng khâm phục đến đâu. Kỹ thuật gắn với một ứng dụng cụ thể và không có tính nguyên tắc để áp dụng cho tất cả các trường hợp.

    Nền tảng tạo ra 3 giai đoạn của tri thức – Cách mạng công nghiệp, Cách mạng năng suất, và Cách mạng quản lý – là sự thay đổi về căn bản ý nghĩa của tri thức. Chúng ta đã chuyển từ chỗ tri thức là số ít lên tri thức là số nhiều.

    Tri thức theo kiểu truyền thống là một thức chung chung. Còn tri thức bây giờ là những kiến thức cần thiết cực kỳ chuyên sâu.

    Khác với cách hiểu về tri thức trong thời kỳ Plato như đã nói ở trên, tri thức bây giờ được hiểu là tri thức thông minh cho chính nó trong hoạt động. Cái mà bây giờ chúng ta hiểu về tri thức chính là thông tin thực tế đối với hoạt động, thông tin nhấn mạnh đến kết quả. Những kết quả này nằm ngoài một cá nhân- nằm trong một xã hội và một cộng đồng.

    Để có thể thực hiện được công việc, tri thức phải có tính chuyên môn hóa cao. Đây chính là lý do giải thích tại sao trước đây người ta lại coi tri thức chuyên sâu có vị trí tầm thường như kỹ thuật và kỹ xảo. Nó không học được cũng không dạy được; nó cũng không có một nguyên tắc chung nào. Nhưng ngày nay, chúng ta không gọi những tri thức chuyên sâu này là “bí quyết”, chúng ta nói đó là “những môn học”. Đây chính là một sự thay đổi lớn hơn bất cứ sự thay đổi nào trong lịch sử tri thức.

    Mỗi môn học sẽ chuyển một “bí quyết” thành một phương pháp luận, sẽ chuyển từng kinh nghiệm riêng lẻ thành một hệ thống và chuyển giai thoại thành thông tin. Mỗi môn học sẽ chuyển các kỹ năng thành các thứ có thể dậy và học được.

    Bước chuyển từ đơn tri thức lên đa tri thức đã làm cho tri thức có sức mạnh tạo ra một xã hội mới. Nhưng xã hội này phải được xây dựng trên những tri thức có tính chuyên sâu, và những con người có tri thức như là một chuyên gia. Nó cũng đặt ra những câu hỏi cơ bản – về giá trị, về nhân sinh quan, về niềm tin, về tất cả mọi thứ làm cho xã hội gắn kết với nhau và làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa.

    II. NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    2.1 Vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

    Sự thành công của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta  đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có những nguồn lực cần thiết như : nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý… Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhưng với mức độ khác nhau trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ.

    Ngày nay, đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật- công nghệ hiện đại  của các nước phát triển. Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người, còn nhớ rằng công nghệ tiên tiến của nước ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào hành vi của con người khi sử dụng chúng. Đó là một điều rất đáng lưu ý.

    Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi những lí do sau:

    Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng, chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt động có ý thức của con người. Bởi lẽ con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy có trí tuệ và có ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác và gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành một sức mạnh tổng hợp cùng tác động vào quá trình CNH-HĐH phát triển kinh tế. Các nguồn lực khác đều là khách thể chịu sự cải tạo và khai thác của con người, vì thế cho nên hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người nếu họ biết cách tác động và chi phối. Do đó trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại.

    –           Thứ hai,  các nguồn khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồn lực con người là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sinh sản về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lí. Đó là cơ sở làm làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực  tiễn của con người phát triển không ngừng, nhờ vậy con  người đã biết làm chủ  tự nhiên, khám phá ra nhiều nguồn tài nguyên mới, phát minh ra nhiều công cụ sản xuất hiện đại hơn, đưa xã hội chuyển từ thấp đến cao.

    –  Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được  vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển như vũ bão của   cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghiệp hiện đại đang dẫn nền kinh  tế của các nước công nghiệp phát triển và vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Gìơ đây sức  mạnh của trí tuệ đã  đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “ bắt chước’’ hay “phỏng theo’’ những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi thần kỳ trước cả quá trình phát triển của mình.

    –    Thứ tư, kinh nghiệm nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy sự thành công của phát triển kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chính sách cũng như cách tổ chức thực hiện của con người. Cơ cấu lao động cần cho quá trình phát triển kinh tế phải bao gồm : các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề…Nếu không có các nhà chính khách, các học giả thì khó có thể có được những chiến lược những chính sách phát triển đúng đắn. Nếu không có các nhà kinh doanh thì cũng sẽ không có những người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vốn nhân lực công nghệ. Sự thiếu vắng, kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên  sẽ có hại cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên đây, ta có thể đi đến kết luận rằng nguồn lực con người có vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình phát triển kinh tế đất nước. Do vậy, muốn phát trriển kinh tế thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hóa, y tế, giáo dục ở Việt Nam nhằm phát triển nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ lớn nhất và cũng được coi là  khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    2.2. Thực trạng của vấn đề đào tạo, sử dụng và phát triển con người ở Việt Nam.

    Xét về mặt tổng thể mà nói thì sau 10 năm thực hiện CNH-HĐH, chúng ta đã đi những bước vững chắc và quan trọng, tạo tiền đề cho quá trình phát triển sau này. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ hơn. Nhưng nhìn lại nguồn lực con người Việt Nam chúng ta không khỏi băn khơăn lực lượng lao động tuy dồi dào, cần cù, sáng tạo song chất lượng còn hạn chế, sự bất hợp lý về phân công lao động, khó khăn về phân bố dân cư. Theo thống kê năm 1989  cho thấy ; nguồn lao động phân bố không đồng đều giữa các ngành các vùng :80%ở nông thôn ,70%làm trong lĩnh vực nhà nước; 14% sống, làm việc trong khu vực nhà nhà nước ; 10% lao động tiểu thủ công nghiệp; 90% lao động thủ công.

    Do năng suất lao động thấp nên tình trạng thiếu việc làm vẫn diễn ra thường xuyên cả ở thành thị và nông thôn, cả số lao động trong khu vực nhà nước và quốc doanh.

    Theo một số nhận định thì trong những năm đầu của thế kỷ này tình trạng dư thừa lao động vẫn diễn ra. Lao động ở nước ta chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp công nhân phần biên chế… Song do nhu cầu CNH, HĐH yêu cầu con người lao động phải có tay nghề, có chuyên môn thì vấn đề việc làm một nan giải.

    Trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay đang cần nhiều lao động có trí tuệ, có thể coi đây là điều kiện để đảm bao cho sự phát triển bền vững, nhanh chóng nền kinh tế.

    Trong một số năm gần đây trí thức Việt Nam phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay cả nước có khoản trên 80 vạn trí thức đã đóng góp rất lớn trong quá trình xây dựng đất nước. Song so với yêu cầu thực tế của quá trình CNH, HĐH thì con số đó quả là khiêm tốn và chất lượng còn hạn chế.

    Không những thế, đội ngũ tri thức ở nước ta còn phân bố không đều phần lớn tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội… và một số trung tâm công nghiệp khác. Điều đó là do tác động của cơ chế thị trường đối với sự phân công lao động trong cả nước. Do chính sách đầu tư không đảm bảo cân đối giữa các ngành, giữa các vùng nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa. ở những vùng này rất ít trí thức mà nếu có thì chất lượng rất hạn chế do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan do yếu tố tâm lý của người dân tộc nên việc bồi dưỡng, nâng cao việc giáo dục đào tạo lại chưa được chú ý một cách thoả đáng.

    Trong khi số người được đào tạo giảm thì số sinh viên tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, không tìm được việc làm lại tăng lên theo thống kê chưa đầy đủ thì từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng ở khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% lên 35,38* đến nay khoảng 40%. Việc số sinh viên tốt nghiệp chưa tìm được việc làm là do một số ngành đào tạo chưa được cơ chế thị trường châps nhận.

    2.2.1. Ưu điểm.

    Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức. Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nhận định đội ngũ lao động của Việt Nam đang có bước phát triển mới: “lao động có trình độ cao đẳng trở lên tăng 17,2%/năm từ hơn 800.000 năm 1995 đến 1.300.000 năm 2000. Số lao động qua đào tạo chiếm gần 20% năm 2000”.

    Theo Bộ Lao động thương binh – xã hội thì số người trong độ tuổi lao động là 60-66% dân số (khoảng 48,5 triệu người). Có 40,7 triệu người  từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên (thành thị có 9,7 triệu người, nông thôn có 31 triệu người). Đặc biệt chúng ta có “mỗi năm ta có thêm 1,2 triệu việc làm mới”.

    Ngoài ra thì người lao động còn được các trung tâm xúc tiến và giới thiệu việc làm, trung tâm đào tạo và dạy nghề giúp mình tiếp cận việc làm hoặc tự tạo việc làm cho  mình.

    Không để sự hụt hẫng về thế hệ thì Nhà nước đã quan tâm đến vấn đề giáo dục các cấp, chúng ta đã có những thành công: “Hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học trong cả nước, bắt đầu phổ cập trung học cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng, một số thành phố, số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 6 lần. “Năm học 1999 – 2000 so với năm 1994 – 1995 số học sinh mẫu giáo gấp 1,2 lần. Trung học cơ sở gấp 1,6 lần. Trung học phổ thông gấp 2,3 lần. Đào tạo đại học gấp 3 lần.Đào tạo nghề gấp 1,8 lần”. Ở bậc đào tạo đại học Nhà nước không chỉ quan tâm đến số lượng học sinh vào đại học mà còn quan tâm đến ngành nghề đào tạo để phục vụ cho nhu cầu của đất nước. “Đặc biệt chú trọng đào tạo chất lượng cao một số ngành công nghệ, kinh tế và quản lý Nhà nước để đáp ứng nhu cầu nhân lực và nhân tài của đất nước.

    Vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng được quan tâm điều này thể hiện qua kết quả. Một số bệnh viện được ânước ngoài cấp cải tạo và xây dựng mới. Trung tâm y tế chuyên sâu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng được hình thành. Nhiều nơi triển khai tốt chính sách khám, chữa bệnh cho người nghèo, gia đình có công với cách mạng.

    2.2.2. Hạn chế.

    Tuy đạt được một số thành công bước đầu nhưng chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng đã có sự chênh lệch giữa lao động nông thôn và thành thị cả về số lượng và chất lượng. Số lao động ở nông thôn là 31 triệu người thì ở thành phố là 9,7 triệu người nhưng số lao động chưa biết chữ ở nông thôn cao gấp 6 lần ở thành thị. Số lao động qua đào tạo ở nông thôn là 11,98% còn ở thành thị là 44,6%

    Cũng như vậy, cơ cấu đào tạo đội ngũ lao động tính theo tỷ lệ giữa lao động có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1:1,75: 2,3 vẫn là cơ cấu bất hợp lý dẫn đến tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, kỹ sư phải đi làm việc của công nhân kỹ thuật

    Hiện nay chúng ta có hơn 1 triệu cán bộ các ngành có trình độ đại học với tỷ lệ sư phạm 33,3%; khoa học kỹ thuật 25,5%; nông nghiệp 8,1%; khoa học tự nhiên 6,8% ta thấy nước ta đang còn là một nước nông nghiệp mà chỉ có 8,1% cán bộ nông nghiệp được đào tạo qua đại học một con số quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hoá – hiện đại hoá, bên cạnh đó còn phần lớn sinh viên sau khi ra trường không có việc làm, nếu có thì không đúng với chuyên ngành mà mình được đào tạo dẫn đến lãng phí trong đào tạo.

    Việc học tập ở mọi cấp bị chi phối bởi nhiều tâm lý lấy số lượng đào tạo, lấy bằng cấp. Chưa quan tâm đến chất lượng đào tạo tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan

    Công tác bồi đưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức, chưa có những chính sách đối với những cán bộ khoa học và công nghệ. Cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao ở nước ta là rất ít. “Vào cuối năm 2002 chúng ta có 1032 giáo sư và 4563 phó giáo sư”. Trong khi đó các cán bộ này đã cao tuổi, ít có những cán bộ trẻ kế cận. Sự hụt hẫng về cán bộ khoa học nếu không được quan tâm thì sảy ra là điều tất yếu.

    Chế độ khen thưởng và tiền lương cho giáo dục đào tạo chưa hợp lý, còn tồn tại chế độ tiền lương của những giáo viên, giảng viên còn thấp so với người lao động bình thường.

    2.2.3. Nguyên nhân

    1. Về mặt ưu điểm

    Do Nhà nước đã quan tâm đến vấn  đề giáo dục, nhận thức được vấn đề con người và nguồn  nhân lực với sự phát triển của đất nước. Có mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ ngoài có trình độ khoa học, kinh tế, quản lý còn chú ý xây dựng tư tưởng cạnh tranh, tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình. Có lý tưởng XHCN tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học và chí tiến thủ.

    Do đặc điểm của lao động Việt Nam: số lượng lao động lớn đa số là lao động trẻ có thể lực, trí lực dồi dào. Các lao động của thế hệ trước thì cũng nhanh chóng thay đổi được nếp cũ chấp nhận sự năng động, chấp nhận đào tạo lại. Thế hệ trẻ thích nghi nhanh với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

    b.Về mặt nhược điểm

    Chưa có một cơ quan tổ chức cụ thể phát triển và đào tạo nguồn nhân lực. Buông lỏng quản lý cơ cấu đào tạo để phát triển tự phát theo nhu cầu của người dân, còn nặng tâm lý khoa cử chưa quan tâm đến thực nghiệm. Việc đào tạo chưa bám sát cơ cấu lao động, một bộ phận xã hội nhận thức chưa đúng với sứ mệnh đào tạo nghề của giáo dục đại học.

    Mặt khách quan: thị trường lao động chủ mới hình thành làm cho đào tạo của nước ta chưa bám sát vào cơ cấu lao động. Chưa có một chiến lược đào tạ và quản lý nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thị trường lao động nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.

    III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG THỜI ĐẠI MỚI Ở VIỆT NAM

    3.1. Đào tạo trước đòi hỏi của kinh tế tri thức

    Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại với đặc trưng là cách mạng tri thức, cách mạng thông tin phát triển như vũ bão, đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong mọi hoạt động của xã hội loài người, từ cách sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đến quan hệ xã hội, văn hóa, lối sống, làm thay đổi cả những khái niệm và phương pháp tư duy. Xã hội thông tin, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển, loài người đang bước vào nền văn minh trí tuệ. Con người phải có đủ năng lực để thích nghi và thúc đẩy xu thế phát triển đó. Nước nào không có nguồn nhân lực tài năng sẽ bị gạt ra ngoài lề. Trên phạm vi toàn thế giới đang diễn ra một cuộc cải cách giáo dục sâu rộng để thích ứng với sự phát triển mới.

    Nhân tố cơ bản nhất để phát triển nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên nền giáo dục tiên tiến. Kinh tế tri thức có  nhiều khác biệt cơ bản so với kinh tế công nghiệp, do đó đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền giáo dục. Bởi vì, thứ nhất, trong nền kinh tế tri thức vốn tri thức trở thành yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên; giáo dục – đào tạo với chức năng tạo ra và nhân lên vốn tri thức trở thành ngành sản xuất cơ bản nhất. Do đó, vị trí, vai trò của giáo dục thay đổi cơ bản. Thứ hai, sáng tạo đã trở thành động lực quan trọng nhất. Nếu như trong nền kinh tế công nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh và việc tạo ra giá trị mới chủ yếu là do hoàn thiện, tối ưu hóa cái đã có, thì trong nền kinh tế tri thức việc nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là do sáng tạo ra cái mới. Cái có giá trị nhất là cái chưa biết, cái đã biết thì dần sẽ mất đi. Con người không có năng lực thì không có chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Thứ ba tốc độ đổi mới rất nhanh. Trong nền kinh tế công nghiệp, sản phẩm có thể tính bằng thập kỷ, con trong nền kinh tế tri thức, chu kỳ tính bằng năm, thậm chí bằng tháng. Sản phẩm mới tăng lên không ngừng, vòng đời công nghệ và sản phẩm rút ngắn, tốc độ đổi mới ngày càng tăng nhanh trong tất cả các ngành, các doanh nghiệp. Tốc độ trở thành cái trên hết, người ta làm việc theo tốc độ của tư duy. Các doanh nghiệp buộc phải đổi mới, doanh nghiệp nào không kịp thời đổi mới sẽ bị tiêu vong. Cứ mỗi sáng chế mới ra đời là xuất hiện một doanh nghiệp mới, đó là những doanh nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp khoa học.

    Hoạt động chính trong nền kinh tế tri thức là tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức. Tạo ra tri thức là mục đích của các hoạt động nghiên cứu sáng tạo do những người được đào tạo tốt tiến hành. Truyền bá tri thức tức là nhân lên vốn tri thức, làm cho vốn tri thức xã hội tăng lên nhanh chóng, đó chính là nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục. Giáo dục góp phần vào việc tạo ra tri thức đồng thời góp phần quảng bá tri thức. Vì vậy, người ta coi giáo dục là ngành sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tri thức. Sử dụng tri thức là quá trình đổi mới, biến tri thức thành giá trị, đưa tri thức vào trong hoạt động xã hội của con người. Đó cũng là nhiệm vụ của giáo dục đặc biệt là giáo dục thường xuyên. Trong thời đại cách mạng thông tin, cách mạng tri thức quá trình tạo ra tri thức, truyền bá tri thức và sử dụng tri thức không còn là quá trình kế tiếp nhau mà trở thành đan xen nhau, tương tác nhau; và cái quan trọng nhất là sử dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Giáo dục phải tạo ra con người có tri thức và biết sử dụng tri thức trong hoạt động thực tiễn để tạo ra nhiều giá trị mới.

    3.2. Cải cách giáo dục để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

    Đảng ta từ rất sớm đã quan tâm đến sự nghiệp giáo dục – đào tạo, coi giáo dục – đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đến nay đã có hơn 20% số người lao động qua đào tạo trong số đó có khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp đại học và cao đẳng: 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ. Trình độ học vấn của đội ngũ công nghiệp kỹ thuật được nâng cao khá nhanh. Nguồn nhân lực ấy đã góp phần lớn cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế tri thức toàn cầu hóa, yêu cầu “đi tắt đón đầu”, đẩy nhanh và rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn nhân lực hiện có của nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. So với các nước trong khu vực, nguồn nhân lực của nước ta còn thua kém về số lượng, cơ cấu cũng như về trình độ, năng lực.

    Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, trước hết Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực (khoa học – công nghệ, quản lý kinh doanh, văn học – nghệ thuật, các nghệ nhân…). Thực hiện việc đánh giá đúng và trả thù lao xứng đáng với kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ tri thức, không để lẫn lộn người có tài với kẻ bất tài; có chính sách tích cực để khuyến khích cán bộ khoa học tiến thân bằng những cống hiến do năng lực chuyên môn của mình. Xây dựng và thực hiện cơ chế đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, sàng lọc hợp lý; thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức, không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ trí thức. Có sử dụng tốt thì mới có giáo dục tốt. Có trọng dụng người tài thì mới có nhiều người tài.

    Nền giáo dục nước ta phải thực sự đổi mới để đảm bảo đào tạo được một thế hệ trẻ có đủ năng lực làm chủ đất nước. Không có nền giáo dục tốt thì không tạo dựng được nội sinh về khoa học – công nghệ để trụ vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay nhằm phát triển nhanh đất nước. Ai đó còn nghĩ rằng nếu có nhiều vốn thì có thể mua tri thức được tri thức, mua công nghệ của nước ngoài để phát triển, thì hãy nhìn lại bài học không thành công ở một số nước giàu tài nguyên mà không có năng lực nội sinh về khoa học – công nghệ. Truy cập vào kho tri thức toàn cầu, mua công nghệ là việc nhất thiết phải làm đối với những nước đi sau, nhưng nếu không có đủ năng lực tri thức nội sinh thì chỉ có được tăng trưởng nhất thời, sau đó là sự tụt hậu và lệ thuộc.

    Nền giáo dục phải thực hiện được ba nhiệm vụ cơ bản.

    Một là, nâng cao mặt bằng dân trí, mỗi người dân đều có khả năng nắm bắt và vận dụng những tri thức mới cần thiết cho công việc của mình. Mặt bằng dân trí phải theo kịp mức các nước tiên tiến trong khu vực.

    Hai là, phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao thích nghi với sự đổi mới và phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa vào tri thức.

    Ba là, phải chăm lo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nhân tài. Nếu đến năm 2010 nước ta không có được ít nhất một vạn các chuyên giỏi, đầu đàn trong tất cả các lĩnh vực thì khó tạo được bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế theo hướng dựa vào tri thức.

    Đi đôi với việc nâng cao chất lượng giáo dục, cần phát triển nhanh quy mô giáo dục. Đẩy nhanh phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào trước năm 2010, phổ cập giáo dục trung học vào năm 2015, nâng số năm đi học bình quân của người trong độ tuổi lao động lên 9 năm vào năm 2010, lên 12 năm vào năm 2020. Nâng tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân ngang với các nước xung quanh. Tuy số người đi học hiện nay so với số dân khá cao, số người đi học đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp tăng khá nhanh, nhưng so với yêu cầu hiện đại hóa dựa vào tri thức cũng như so với yêu cầu của các nước đang phát triển thì còn thấp. Xét về tỷ lệ đi học trong độ tuổiở bậc trung học, số sinh viên đại học, cao đẳng trên một vạn dân, nước ta kém xa Thái Lan, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a. Hiện nay, có hiện tượng sinh viên học xong ra trường không có việc làm, nhưng đó chỉ là tạm thời, do sản xuất, kinh doanh chưa bùng phát; và cũng do chất lượng đào tạo thấp nên nhiều người không tìm được việc làm bởi họ không đủ năng lực, tiêu chuẩn của nhà tuyển dụng yêu cầu. Nếu đào tạo tốt, người học ra trường có nhiều khả năng sáng tạo, biết tổ chức ra việc làm mới, thì các doanh nghiệp mới sẽ phát triển và thu hút nhiều việc làm. Các doanh nghiệp nếu biết đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm nhanh thì cũng sẽ thu hút đựơc nhiều lao động có tay nghề cao. Một trong những mục tiêu của giáo dục ở nhà trường là đào tạo cho các học sinh, sinh viên khả năng tự tạo việc làm. Như vậy chúng ta phải phát triển nhanh giáo dục phổ thông và giáo dục cho mọi người. Cần hết sức quan tâm giáo dục trẻ thơ vì đó là nền tảng cho cho phát triển nền giáo dục sau này. Đầu tư vào đây nhiều thì sẽ bớt được chi phí cho sự khắc phục những khiếm khuyết về chất lượng giáo dục trong tương lai.

    Phát triển hệ thống học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để bồi dưỡng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn dựa trên tri thức. Trong một nền kinh tế dựa vào tri thức thì mọi người đều phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để có thể thích nghi với sự phát triển và đổi mới nhanh của khoa học – công nghệ, sản xuất, kinh doanh. Xã hội học tập và xã hội thông tin là tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Hệ thống giáo dục có trách nhiệm tạo điều kiện cho mọi người ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể tham gia học tập nâng cao trình độ để theo kịp sự phát triển của thời đại. Thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục. Huy động sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi tổ chức cá nhân tham gia phát triển giáo dục; đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong việc hình thành xã hội học tập và chế độ học tập suốt đời. Thực hiện chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân và nhân dân tham gia phát triển hệ thống giáo dục ngoài công lập; khuyến khích các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo ở nước ta. Đa dạng hóa phải đi đôi với chuẩn hóa. Coi trọng cả giáo dục cơ bản và giáo dục đại học; cả giáo dục cho mọi người và giáo dục tinh hoa. Nhiệm vụ cấp bách là phải tiến hành ngay một cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục, cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy, hệ thống giáo dục và phương thức tổ chức quản lý giáo dục – đào tạo.

    Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con người có đủ khả năng, bản lĩnh thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện: dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Học là để xây dựng nhân cách, xây dựng năng lực cho con người; học để có thể làm việc trong cộng đồng, cống hiến cho xã hội, để có thể tự khẳng định mình. Kiên quyết khắc phục tình trạng đi học chỉ để lấy bằng cấp, mà không quan tâm đến xây dựng năng lực. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển.Kiên quyết khắc phục phương pháp giảng dạy cũ kỹ, lac hậu, thầy giảng trò ghi, thụ động một chiều. Nội dung chương trình phải hiện đại nhưng tinh giản. Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản nhất, và giúp người học biết nhân lên vốn tri thức của mình, hướng dẫn người học cách tiếp thu tri thức mới, bồi dưỡng cho họ những kỹ năng cần thiết, phương pháp tư duy, trí sáng tạo…, thông qua các trường hợp điển hình để bồi dưỡng phương pháp và năng lực giải quyết vấn đề. Tăng cường sự tương tác giữa thầy giáo và sinh viên, sử dụng công nghệ mới nhất là công nghệ thông tin trong giảng dạy. Tăng cường dạy công nghệ thông tin trong tất cả các bậc học. Giáo dục đại học đi theo xu thế đào tạo theo diện rộng; đào tạo chuyên ngành hẹp không cònphù hợp với sự thay đổi ngành nghề, thay đổi việc làm đang diễn ra ngày càng nhanh hiện nay.

    Chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống – đào tạo kỹ năng để ra làm việc cho đến nghỉ hưu, sang mô hình giáo dục mới: học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp liên tục, theo đó nhà trường đào tạo những kỹ năng cơ bản để người học ra trường vừa học tập, vừa làm việc suốt đời. Theo mô hình này, khi kết thúc mỗi bậc học, người học có hai khả năng lựa chọn: hoặc là học tiếp hoặc là ra trường vừa lao động vừa tiếp tục học tập.

    Đổi mới mạnh mẽ hệ thống quản lý giáo dục, tập trung vào vấn đề quản lý chất lượng. Xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo, tăng cường thanh tra kiểm tra, thay đổi cách tổ chức thi cử, tuyển sinh, khắc phục tình trạng nặng về quản lý đầu vào, nhẹ quản lý đầu ra; kiên quyết chống bệnh thành tích. Tăng quyền chủ động cho các trường công lập cũng như các trường ngoài công lập. Bộ và các Sở Giáo dục – Đào tạo tăng cường chức năng quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra chất lượng giáo dục đối với tất cả các trường, không làm thay các công việc của trường, xóa bỏ cơ chế xin – cho. Các trường chủ động thực hiện quá trình đào tạo và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo. Trong nền kinh tế thị trường, có thị trường lao động, thì sản phẩm của giáo dục cũng là một thứ hàng hóa, là hàng hóa đặc biệt, là dịch vụ công, phải được thị trường đánh giá, lựa chọn, chấp nhận. Không cho phép thương mại hóa giáo dục, biến trường thành chợ, vì lợi nhuận tối đa; nhưng cần vận dụng cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực và tạo thêm động lực cho phát triển giáo dục. Trong một xã hội có hệ thống đánh giá , sử dụng, đãi ngộ đúng đắn thì sự cạnh tranh giữa các trường sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. Nhà nước vừa chăm lo xây dựng một số trường trọng điểm chất lượng cao, ngang tầm quốc tế; vừa thực hiện chính sách công bằng xã hội, tạo điều kiện để những người nghèo, những đối tượng chính sách, có hoàn cảnh khó khăn đều có cơ hội học tập để phát huy hết khả năng của mình.

    Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục – đào tạo với nước ngoài. Cần mở rộng giao lưu về giáo dục với các nước, tiếp cận với những mô hình giáo dục tiên tiến nhất, để vận dụng sáng tạo vào nước ta. Có chính sách tuyển cử đông đảo giáo viên, sinh viên đi học tập , nghiên cứu ở các nước phát triển và thu hút nhiều giáo sư, chuyên gia nước ngoài vào nước ta giảng dạy, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm. Mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết các trường đại học ở nước ta với các trường đại học ở nước ngoài để đào tạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế; đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các đại học quốc tế ở nước ta, được các trương uy tín trên thế giới cấp bằng.

    Cải cách giáo dục là cuộc cách mạng sâu sắc không chỉ trong ngành giáo dục mà còn trong cẩ xã hội, bắt nguồn từ sự đổi mới tư duy về giáo dục. Ngành giáo dục đã cố gắng xử lý rất nhiều vấn đề, nhưng hầu như mới chỉ là những vấn đề ngọn, cắt gọt được cái này thì phát sinh cái khác, đối phó, giải quyết từng vụ việc, chưa thay đổi tận gốc, có thể do còn vướng mắc trong tư duy. Nếu không có quyết tâm cao trong cải cách giáo dục, không có bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng giáo dục thì sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước, trước hết là các nước ASEAN. Muốn chấn hưng đất nước cần phải cải cách giáo dục, nhanh chóng đưa nền giáo dục nước ta lên ngang mức tiên tiến các nước trong khu vực.

    KẾT LUẬN

    Trong các ký đại hội VI, VII, VIII của Đảng ta đã chủ trương xã hội nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt bởi chủ trương đó xuất phát từ trình độ và hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta về các mặt. Chúng ta, thực hiện quá trình CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đã khơi dậy năng lực sáng tạo, tính chủ động của con người phát triển. Do đó, mà nền kinh tế của chúng ta đã thực sự được đổi mới và đạt được những thành tựu to lớn. Từ một nước nghèo nàn về cơ sở vật chất, lạc hậu về khoa học kỹ thuật, đói kém, thì nay ta đã đảm bảo cho dân được ăn no, và còn có sp dư thừa để xuất khẩu.

    Mặc dù vậy, chúng ta vẫn còn rất nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi nhà nước phải có chính sách, biện pháp khắc phục để cho sự nghiệp CNH, HĐH phát triển kinh tế đất nước đạt được kết quả.

    Hơn nữa, chúng ta phải đặt vấn đề nhân lực con người lên hàng đầu phát triển đồng bộ giữa các ngành, giữa các vùng, đảm bảo nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo công cuộc CNH, HĐH phát triển nhanh. Phải đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về kinh tế có trình độ, năng lực quản lý, có tư cách đạo đức tốt điều đó đòi hỏi ta phải có sự giáo dục đào tạo thế hệ trẻ ngay từ khi còn là học sinh, sinh viên đó là nguồn lực quý giá cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Triết học Mác_Lênin.
    2. Đảng CSVN – Cương lĩnh XH Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. NXB Sự thật, Hà Nội 1991
    3. Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII.
    4. Một số nhận thức mới về con đường XHCN của Việt Nam – Tg: PTS. Đào Duy Quát- Cao Thái- NXB Tư tưởng Văn hoá 1992
    5. Môi trường kinh doanh – Đạo đức kinh doanh – NXB-Hà Nội 1997
    6. Kinh tế tri thức- Xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI – NXB Chính trị quốc gia 2000.
  • Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Thoái hóa đất do xói mòn, hậu quả và giải pháp


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội

    LỜI NÓI ĐẦU

     

     

    Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta. Bước vào thời kỳ tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Học tập, quán triệt những quan điểm cơ bản và vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống xã hội toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là nhân tố quyết định thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

    Em chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong việc xây dựng đạo đức lối sống của sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội” để nghiên cứu. Lí do em chọn đề tài này là em nhận thấy trong di sản của Người tư tưởng về đạo đức chứa đựng những nét đặc sắc ngang tầm thời đại, là kim chỉ nam xây dựng nền văn hóa mới, con người mới trong giai đoạn đất nước ta đang đổi mới. Đặc biệt khi em đang là sinh viên đang học tập tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, em sẽ phải rèn luyện và tu dưỡng đạo đức rất nhiều.

    Trong quá trình làm tiểu luận có nhiều sai sót em kính mong sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo trong Khoa. Em xin chân thành cảm ơn!

    NỘI DUNG

     

    I.                   TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC

     

    Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội.

    Hồ Chí Minh là lãnh tụ bàn nhiều nhất về đạo đức, nhưng Người thực hành về đạo đức nhiều hơn những điều Người đã nói và viết về đạo đức. Vì thế muốn nghiên cứu đạo đức Hồ Chí Minh thì không thể chỉ dừng lại ở những bài viết, bài nói mà phải thâm nhập vào toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người và những tiếng nói tâm huyết của các học trò và bạn bè quốc tế về Người.

    1. Nguồn gốc đạo đức Hồ Chí Minh

    1.1. Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam

    Bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã xây dựng được một hệ giá trị đạo đức độc đáo đặc sắc, đó là: Lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng độc lập tự do hạnh phúc. Thấy được sức mạnh của đoàn kết, lấy dân làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo. Thủy chung gắn bó cá nhân, gia đình, làng xã, nếp sống nghĩa tình đạo đức, trung hiếu, cần kiệm liêm chính,….

    Từ hệ giá trị đạo đức dân tộc này Hồ Chí Minh tiếp thu, khai thác, và nâng cao những giá trị đó lên trình độ mới.

    1.2. Hồ Chí Minh tiếp thu các giá trị đạo đức nhân loại

    – Giá trị đạo đức phương đông, trước hết là nho giáo

    • Xuất thân từ gia đình tri thức uyên bác nho học, Người thấy những giá trị đạo đức của Nho giáo, coi Nho giáo như khoa học về tu thân dưỡng tính, khắc kỹ, phục lễ, vi nhân, kính trọng người lao động, dân là gốc của nước (dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ chi), tứ hải giai huynh đệ, nhân nghĩa, trung hiếu, cần kiệm, liêm chính.
    • Người viết: Đạo đức Khổng tử, học vấn của ông, những kiến thức của ông làm những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục… Chúng ta hãy tự hoàn thiện đạo đức của mình bằng cách đọc các tác phẩm của ông.
    • Người chỉ ra những hạn chế của Nho giáo: Tư tưởng đẳng cấp, coi khinh lao động chân tay, phụ nữ, KHKT, tài năng, dùng học thuyết chính danh quân tử, tiểu nhân để chuyên chế xã hội làm cho xã hội trì trệ, chậm phát triển.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị đạo đức của tôn giáo:

    Đó là tư tưởng từ bi, cứu nạn cứu khổ, thiện chí, bình đẳng, an lạc, hạnh phúc, sống hòa hợp với môi trường, tôn trọng sự sống dưới mọi hình thức của Phật Giáo.

    Tư tưởng bao dung nhân ái, hy sinh cao cả của Thiên chúa.

    Tư tưởng tự do bình đẳng bác ái, coi trọng con người trong văn hóa phương Tây, trong tuyên ngôn độc lập Pháp, Mỹ.

    1.3. Đến với đạo đức Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức

    Đến với CN Mac-LêNin, Hồ Chí Minh đã khám phá ra kho tàng đạo đức MacXit, đó là thứ đạo đức đích thực, cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xã hội, mang lại tự do, ấm no, bình đẳng, hạnh phúc thật sự cho con người, vì sự tiến bộ, phát triển xã hội, đưa nhân loại từ chỗ bị tha hóa đến vương quốc tự do, vương quốc đích thực, chủ nghĩa nhân đạo đích thực.

    Hồ Chí Minh còn thấy được ở Mac, Aghen, LêNin là những tấm gương đạo đức sáng ngời, họ không chỉ là những lãnh tụ thiên tài về chính trị mà còn là những lãnh tụ giản dị, khiêm tốn, coi khinh xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng… là hiện thân của tình anh em bốn bể. Họ dạy chúng ta phải cần kiệm, liêm chính.

    Hồ Chí Minh chỉ rõ đạo đức cũ và đạo đức Mac-Lê Nin đối lập nhau. Đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, dân tộc, nhân loại, nó đòi hỏi phải phá tan xiềng xích nô lệ, xây dựng xã hội mới bình đẳng tốt đẹp cho mọi người.

    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng vô sản, mang bản chất cách mạng và khoa học, đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợp tinh hoa giữa nhân loại, là 1 hệ thống mở phát triển cùng với thực tiễn Việt Nam, góp phần tạo dựng bộ mặt văn hóa Việt Nam, là vũ khí tinh thần trong công cuộc xây dựng đất nước theo con đường XHCN.

    1. Những đặc trưng bản chất của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

    2.1. Sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị

    Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, là đạo đức Vô sản, là đạo đức cách mạng nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người phục vụ tổ quốc, nhân dân, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Các quan điểm đạo đức của người luôn thấm nhuần những tư tưởng chính trị và ngược lại, nhiều quan điểm vừa là chính trị vừa là đạo đức (trung với nước hiếu với dân).

    2.2. Thống nhất giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, lý luận và thực tiễn

    Hồ Chí Minh nói, viết, giáo dục đạo đức luôn gắn với hành động thiết thực, thể hiện bằng kết quả công việc, lý luận đạo đức luôn gắn với đời sống. Mỗi hành vi của Người đều chứa đựng tư tưởng đạo đức cao thượng, đẹp đẽ.

    Người thường nhắc nhở: Nói thì phải làm, nói ít làm nhiều, lấy hiệu quả công việc để đo đạo đức, quyết tâm không phải ở hội trường, ở lời nói mà phải thể hiện trong hành động, nói trung với nước hiếu với dân thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

    2.3. Thống nhất giữa đức và tài

    Đức và tài gắn chặt nhau, vì có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì vô dụng, thậm chí còn có hại.

    Giữa đức và tài thì đức là gốc, trong đức có tài và trong tài có đức, tài càng cao thì đức càng lớn, con người phải có tài và đức thì mới làm tròn nhiệm vụ.

    2.4. Thống nhất giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, giữa việc nhỏ và việc lớn

    Người cách mạng phải rèn luyện đạo đức cách mạng và đạo đức đời thuờng, trong đó phải đặt đạo đức cách mạng trên hết, hi sinh phấn đấu vì tổ quốc, vì nhân dân, không quên rèn luyện đạo đức trong những việc nhỏ.

    Rèn luyện đạo đức trong mọi môi trường, mọi phạm vi từ gia đình đến môi truờng đến xã hội, nơi sinh hoạt, công tác và cần phải có sự phối hợp giữa các môi trường để giáo dục đạo đức toàn diện cho con người, rèn luyện đạo đức trong mọi mối quan hệ

    2.5. Đạo đức cần cho mọi người nhất là cho những người cách mạng, cho cán bộ, đảng viên

    Bác không để lại 1 tác phẩm chuyên về đạo đức, nhưng đạo đức Người đề cập liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân, lứa tuổi, ngành nghề.

    • Quân đội: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
    •   Công an: Đối với tự mình cần kiệm liêm chính, đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng lễ phép, đối với công việc phải tận tụy, đối với kẻ địch phải kiên quyết và khôn khéo, đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ.
    •  Thanh niên: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, có chí ắt làm nên.
    • Phụ nữ: Trung hậu, đảm đang.
    • Thiếu niên: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, giữ gìn vệ sinh thật tốt, khiêm tốn thật thà dũng cảm.

    Người luôn nhấn mạnh phải rèn luyện đạo đức trong điều kiện Đảng cầm quyền .

    Người cầm quyền có sức mạnh để bảo vệ thành quả của cách mạng. Nhưng nếu tha hóa đạo đức, người cầm quyền trở thành sâu mọt, tham quyền cố vị, đe dọa sự sống còn của Đảng.

    2.6. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có vai trò to lớn đối với dân tộc và nhân loại

    Những đức tính như khiêm tốn, độ lượng, giản dị, thật thà, tự nhiên, tình yêu nhân loại, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư đã để lại dấu ấn không phai mờ trong lòng dân tộc Việt Nam mà cả với nhân loại tiến bộ trên thế giới hôm nay và mai sau.

     

    1. Quan điểm về vai trò của đạo đức cách mạng

     

              Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa – cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, toàn diện nhất, chúng ta phải đem hết tinh thần và lực lượng ra phấn đấu; phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.  Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Một trong những bài giảng đầu tiên cho lớp thanh niên trí thức yêu nước đầu tiên của Việt Nam từ những năm 1920 là bài giảng về “tư cách của một người cách mạng”. Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về vấn đề đạo đức, yêu cầu mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, Đảng phải quan tâm chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, Người để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên. Cũng như V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình.

    Khi đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1.

    Người so sánh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”2.

    Đạo đức là gốc, là nền tảng vì liên quan tới Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh trăn trở với nguy cơ của Đảng cầm quyền, đó là sự sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội, lãnh đạo Nhà nước, nếu cán bộ, đảng viên của Đảng không tu dưỡng về đạo đức cách mạng thì mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân yêu, dân phục thì không phải “viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.

    Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

    Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức không phải một chiều phụ thuộc vào tồn tại xã hội, vào những điều kiện vật chất kinh tế. Nó có khả năng tác động tích cực trở lại, cải biến tồn tại xã hội. Giá trị đạo đức tinh thần một khi được con người tiếp nhận sẽ biến thành một sức mạnh vật chất.

    Có  đạo  đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại cũng không lùi bước, chán nản…; khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, v.v..

    Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân. Mặt khác, phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức – tài là nhằm phục vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi.

    1. Nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng HCM

    4.1 Tu dưỡng đạo đức cách mạng bền bỉ suốt đời

    Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà củng cố và phát triển cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì thế phải gian nan rèn luyện mới thành công. Rèn luyện phải tự nguyện tự giác.

    4.2 Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm

    Nói nhưng không làm, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo là đặc trưng của giai cấp bốc lột. Nêu gương đạo đức mới, nói đi đôi với làm, ở phương đông một tấm gương sống về đạo đức còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền.

    Trong rèn luyện thực hành đạo đức phải chú trọng đạo “làm gương”. Muốn hướng dẫn nhân dân thì mình phải mực thước, khiến cho người ta bắt chước. Hô hào tiết kiệm mình phải tiết kiệm trước làm trước, Đảng viên đi trước làng nước đi sau…

    4.3 Xây dựng đạo đức mới đi đôi với chống những hiện tượng phi đạo đức

    Chống cái xấu, sai, ác phải đi đôi với xây dựng cái tốt đẹp, cái thiện, trong đó xây là chính.

    Cách mạng là nhiệm vụ nặng nề, luôn có 3 kẻ thù chống phá là CNĐQ, chủ nghĩa cá nhân, những thói quen & tập quán lạc hậu. Đạo đức cách mạng vô luận là lúc nào cũng phải chống 3 kẻ thù trên.

    II.                VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

     

    1. Đặt vấn đề

    Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng người, một nước, một khu vực nhất định. Trong cuộc sống chung như thế, người ta buộc phải tuân thủ những qui tắc nhất định, thành văn hoặc bất thành văn. Những qui tắc này bao trùm tất cả các lĩnh vực: đạo đức, thẩm mỹ… Trong số đó, có những qui tắc dần dần được cá nhân thừa nhận và trở thành thói quen. Đó là lối sống cá nhân. Có những qui tắc được thừa nhận rộng rãi trong nội bộ một cộng đồng nào đó. Chúng được người ta tuân thủ gần như vô điều kiện, gần như một lẽ đương nhiên. Đó là lối sống cộng đồng. Lối sống là một thói quen có định hướng, có chất lượng lý tưởng. Lối sống là phương cách thể hiện tổng hợp tất cả các cấu trúc, nền văn hoá, đặc trưng văn hoá của một con người hay một cộng đồng. Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người. Lối sống không chỉ là hành vi như cách đi lại, ăn nói, nó là hành vi hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tư duy, làm việc và phương cách xử lý các mối quan hệ.

    1. Thực trạng

    Hiện nay, Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nước theo công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là một quá trình khó khăn, đầy thử thách mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt được một số thành tựu khả quan: Tỷ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mức cao nhất so với các năm trước – 7,24%, nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng như mặt lượng. Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là Sinh viên – thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinh viên cũng biến chuyển theo: Có rất nhiều Sinh viên đã trưởng thành và phát huy mọi khả năng của mình để góp một phần sức lực trong việc đổi mới đất nước, cũng có nhiều sinh viên đã biết vượt qua số phận nghiệt ngã của chính mình để học tập. Đồng thời đó cũng không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt các tệ nạn như: đua xe, ma tuý, cờ bạc, rượu chè… ngày càng xâm nhập sâu vào giảng dường. Tất cả những điều đó trở thành điều nhức nhối cho toàn xã hội. Sinh viên trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà theo Mác là “tổng hoà của các quan hệ xã hội”. Nhưng họ còn mang những đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, thường từ 18 đến 25 dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức đang được đào tạo chuyên môn. Sinh viên vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo. Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.

    Đối với Sinh viên trường ta, một thực tế là trong số họ hiện nay đang diễn ra quá trình phân hoá, với hai nguyên nhân cơ bản: Tác động của cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo; sự mở rộng quy mô đào tạo khiến trình độ SV chênh lệch lớn ngay từ đầu vào. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây.

    • Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường, thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. v… Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
    • Tính năng động: Nhiều Sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh, muốn tự mình lập công ty ngay khi đang còn là Sinh viên), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện). Nhiều Sinh viên cùng một lúc học hai trường.
    • Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là: Sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
    • Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong Sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
    • Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là Sinh viên. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh vŕ quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận Sinh viên.

    Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.

    Em có đọc được bài viết này và nhận thấy rằng thực trạng đó rất giống với Sinh viên trường ta:

    “THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN THỜI NAY
    Trương Hiệu
    Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay.

    60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội!
    Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ!
    Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này.

    10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!
    Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới…”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập…”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ…”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng “sành điệu”. Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về!

    30% sinh viên say mê học tập?
    Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập.

    Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh.”

    (Nguồn: chungta.com)

    1. Giải pháp

    Dưới đây là ý kiến chủ quan của riêng em:

    * Ở nhà trường, cần dạy Sinh viên những giá trị đạo đức cơ bản của con người thay cho quá nhiều kiến thức triết học, hàn lâm, thiếu vắng việc hình thành những thói quen đạo đức và kỹ năng sống đúng đắn. Phương pháp giáo dục đạo đức theo kiểu lạc hậu không còn phù hợp, cần phải đưa Sinh viên vào các xử lý tình huống thực tế. Giáo dục đạo đức trong trường cần giảm thiểu những vấn đề cao xa, lớn lao, thay vào đó cần kiên trì bồi đắp lòng nhân ái, tính trung thực, lòng tự trọng, nếp nghĩ và lối sống lành mạnh, trọng đạo lý, sống có kỷ luật. Cần thay đổi cách đánh giá sinh viên thay cách đánh giá đơn thuần bằng điểm số. Nên có quy định khi đánh giá xếp loại hạnh kiểm sinh viên hàng năm, giáo viên phải ghi rõ những mặt mạnh, yếu, mặt nào cần rèn luyện, những biểu hiện sai lệch để học sinh cố gắng trong năm sau. Cần đưa ra những tiêu chí định hướng cho sinh viên rèn luyện cũng như những điều cần nhận xét như: năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, sở trường, cá tính, ý thức tập thể, chuyên cần, thái độ với mọi người.

    * Ở gia đình, các bậc phụ huynh nên dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con lòng khoan dung, sự độ lượng vị tha và những chuẩn mực, giá trị đạo đức mà con người phải sống theo, dạy con điều hay lẽ phải. Nhưng để làm được điều đó, trước hết cha mẹ phải là tấm gương cho con cái noi theo. Trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thì những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm, nhưng nếu các bậc cha mẹ đã không đóng đúng vai trò của mình thì đừng đòi hỏi những đứa con ở nhà sẽ trở thành một công dân tốt. “Môi trường tạo nên tính cách”, vì thế nếu cha mẹ rượu chè, cờ bạc, vi phạm pháp luật thì hình ảnh của họ sẽ như thế nào trong mắt con cái ?

    * Ra ngoài xã hội, Sinh viên cần được quan tâm nhiều hơn nữa từ các ban ngành, đoàn thể mà cụ thể trước nhất là Đoàn thanh niên. Các tổ chức Đoàn hiện nay chưa có sự quan tâm đúng mức đến vấn đề giáo dục đạo đức làm người cho thanh niên, cụ thể là trong những chương trình trọng điểm ở Đại hội Đoàn các cấp đưa ra chưa nhận thấy được diễn biến phức tạp trong tâm lý, đời sống lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay, không có nhiều chương trình & kế hoạch quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho thanh niên, không có sự phối hợp chặt chẽ với gia đình & nhà trường trong việc quản lý, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Lẽ nào những hành vi, lối sống phi chuẩn của thanh niên trong thời gian qua chưa đủ để xã hội quan tâm ?

    Khi chúng ta mở cửa giao lưu với thế giới thì những luồng văn hóa, những giá trị khác lạ chắc chắn cũng sẽ tràn vào. Vấn đề ở đây là không phải và cũng không thể ngăn chặn các luồng văn hóa ấy, mà phải tạo cho từng thành viên trong xã hội, nhất là giới trẻ, sức đề kháng trước các luồng văn hóa, lối sống ấy. Đừng để giới trẻ hiện nay bị tha hóa về đạo đức. Muốn vậy hãy cùng chung tay tạo sức đề kháng cho thế hệ trẻ để tránh những cạm bẫy của xã hội, sống tốt hơn để góp sức mình trong công cuộc sây dựng đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN

     

    Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với sinh viên- chúng em, những ngày ngồi trên ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát tốt, chúng em sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn.

    Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nêu cao khẩu hiệu “Sinh viên Bách Khoa năng động, sáng tạo, kỷ luật và thanh lịch” – Tuổi trẻ Bách Khoa nguyện phát huy truyền thống anh hùng, chăm chỉ rèn đức luyện tài vì Thủ đô phát triển, vì đất nước phồn vinh, khẳng định vai trò, vị thế của sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, sinh viên Thủ đô ngàn năm văn hiến, tạo dựng hình ảnh người sinh viên Việt Nam trong thời đại mới có hoài bão, có lí tưởng và có trách nhiệm với xã hội và đất nước.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Sự năng động của các bạn tình nguyện ĐH Bách Khoa Hà Nội

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tác giả: Nhiều Tác giả

    Nhà xuất bản: NXB Chính trị Quốc gia

    Ngày xuất bản: 06 – 2009.

    1. Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức

    Tác Giả: GS.TS Trần Văn Bính

    Năm xuất bản: 2010.

     

     

    1. Sách, báo, tạp chí và Internet.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

  • Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Kinh tế vĩ mô Việc sử dụng vốn FDI ở Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-M%C3%A2u-thu%E1%BA%ABn-m%E1%BA%B9-ch%E1%BB%93ng-%E2%80%93-n%C3%A0ng-d%C3%A2u-trong-gia-%C4%91%C3%ACnh-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình Việt Nam hiện đại

    I. Lý do chọ n đề tài

    Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu trong gia đình là một quan hệ rất nhạy cảm. Dướ i thờ i phong kiế n, nàng dâu thườ ng về nhà chồ ng vớ i tư cách là “gả bán”, nên họ về nhà chồ ng có quyề n uy tuyệ t đố i. Nên làm trái ý bà, bà có thể tống nàng dâu ra khỏi cửa hoặc cưới vợ khác cho con. Ngày nay tư thế người làm dâu về nhà chồng đã khác hẳn. Hầu hết người con gái bước lên xe hoa khi đã trưởng thành, nhiều người có học vấn, có việc làm, có tài sản riêng. Họ về làm dâu cũng không phải do “gả bán” mà yêu nhau thì tự nguyện về chung sống với nhau, chứ không phải cốt bám vào gia đình nhà chồng mới tồn tại được. Cho nên, cảnh đi làm dâu thời nay đã khác hẳn xưa. Xã hội ngày nay đã thay đổi cơ bản, vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội đã khác xưa và do đó vai trò làm dâu cũng khác. Ngày nay, các cô gái trẻ may mắn và hạnh phúc hơn nhiều so với các thế hệ phụ nữ trước đây khi bước vào hôn nhân. Khoảng cách giữa hai thế hệ đã dần dần được

           
    Nhóm sinh viên: K53 Công tác xã hội  
    Khoa : Xã hội học Page 1

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    thu hẹp lại, mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng được cải thiên một cách rõ rệt: mẹ chồng coi con dâu như con ruột và ngược lại con dâu chăm sóc cho mẹ chồng và gia đình bên chồng một cách tận tụy, chu đáo, mẹ chồng, con dâu làm tròn bổn phận và vai trò của mình trong gia đình…

    Tuy nhiên dù có khác thế nào đi chăng nữa, nàng dâu vẫn là một thành viên mới của gia đình nhà chồng. Người con dâu có tìm được hạnh phúc hay không một phần cũng dựa trên mối quan hệ tốt đẹp với gia đình nhà chồng. Không phải gia đình nào cũng có hoàn cảnh giống nhau, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn tồn tại một số hạn chế như những mâu thuẫn, những xung đột vẫn còn xảy ra, tồn tại

    • một số gia đình Việt Nam thời hiện đại. Sự bất hòa trong mối quan hệ mẹ chồng và nàng dâu là một trong những vấn đề nổi bật đang được quan tâm. Bởi qua thực tế, chúng ta đã nhận thấy các nàng dâu hiện đại đã thoát khỏi phận “ăn

    gửi, ở nhờ”, nhiều khi giống như “người làm mướn không công” của thời phong kiến nhưng họ lại vấp phải những khó khăn mới mà không phải ai cũng vượt qua được. Số vụ ly hôn gần đây có nguyên nhân không phải do mâu thuẫn vợ chồng mà do nàng dâu mầu thuẫn với mẹ chồng hoặc cả gia đình chồng chiếm một tỷ lệ không nhỏ.

    Mâu thuẫn mẹ chồng – nàng dâu là rất khó tránh khỏi và thường gay gắt khi một bên là quyền uy và sự đòi hỏi quá cao, còn một bên là tình cảm, lòng tự trọng bị tổn thương, khả năng đáp ứng cũng như sức lực và sự chịu đựng của con người chỉ có hạn. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu một thứ luật pháp không thành văn đã đổi thay về chất. Quan hệ này không mất đi nhưng nó được chuyển từ quan hệ quyền uy sang quan hê tình cảm.

    Trước tiên để tìm hiểu những mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu, chúng ta cần tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới những mâu thuẫn này.

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 2

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    II. Nội dung chính:

    1. Các công cụ khái niệm và lý thuyế t ứng dụng:

    1.1 Khái niệm gia đình:

    Gia đình là mộ t cộng đồ ng ngườ i số ng chung và gắn bó vớ i nhau bởi các mối quan hệ tình cả m, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống,[1] quan hệ nuôi dưỡng và/hoặ c quan hệ giáo dục. Gia đình có lị ch sử từ rấ t sớ m và đã trả i qua một quá trình phát triển lâu dài.( Gia đình học, Lê Thị Quý- Đặ ng Cải Khanh,

    NXBĐHQGHN,)

    1.2. Lý thuyết xung đột:

    1.2.1. Nộ i dung lý thuyết.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc.

    Thuyết xung được xem như một bước phát triển của thuyết cấu trúc – chức năng

    Thuyết xung đột có nhiều nguồn gốc khác nhau như thuyết Marx, tác phẩm của Simmel về xung đột xã hội…

    Trong những năm 1950-1960 nó đã thay thế cho thuyết chức năng- cấu trúc

    1.2.2. Gia đình tiếp cận dướ i góc độ lý thuyết xung đột:

    Gia đình là một nhóm xã hội gồm nhiều cá nhân có nhân cách, lý tưởng, giá trị, sở thích, mục đích… khác nhau.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 3
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Xung độ t là mộ t bộ phậ n tự nhiên trong đờ i số ng gia đình. Mỗi cá nhân không phải bao giờ cũng hòa hợp với nhau. Các gia đình thường có bất đồng từ nhỏ đến lớn. Họ chỉ khác nhau về tần số, mức độ, tính chất, biểu hiện và cách giải quyết xung đột.

    1.2.3 Cơ sở xung độ t của gia đình.

    • Cá nhân nào nắm được quyền lực sẽ đạt được mục đích của mình trong xung đột

    Trong các gia đình thời xưa cũng như gia đình hiện đại thì mâu thuẩn giữa mẹ chồng và nàng dâu cũng rất phổ biến. Chính việc xác định được cơ sở của mâu thuẩn đã tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẩn mẹ chồng nàng dâu được tốt hơn.

    1.3. Lý thuyết tương tác biểu trưng:

    Khái niệm lý thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm cho rằng các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với các hành động trực tiếp của người khác mà đọc và lý giải chúng. Tất cả các nhà tương tác biểu trưng đều nhất trí về vai trò trung tâm của con người là khả năng tạo nên và sử dụng những biểu trưng.

    Theo Steven L. Nock (1978), một cách tiếp cận đặc biệt thành công của các nhà tương tác biểu trưng là nghiên cứu về gia đình như một hệ thống các vai trò.

    Vận dụng lý thuyết này vào xử lý các vấn đề gia đình, các nhà xã hôi học thấy rằng sẽ rất có ý nghĩa nếu ta coi gia đình như một màn kịch, trong đó các thành

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 4
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    viên đóng vai trò nhấ t định. Như vậ y mỗ i thành viên đều phụ thuộc vào thành viên kjacs khi đóng vao trò của mình. Khi đó:

    Mỗ i thành viên phả i xác định vai trò của mình

    Những đòi hỏ i chức năng của gia đình

    Khi các thành viên được nhận định trong các vị trí nhất định, sẽ biểu hiện sự thỏa hiệp của họ, để tránh đi sự phá vỡ vai trò.

    Muốn tạo nên sự bình đẳng thì sự đòi hỏi của vai trò nên đặt trong sự phù hợp giữa các tài năng và kỹ năng. Không có sự ngang bằng nhau ở mọi sự vật (hiện tượng) có vai trò dễ dẫn tới uy tín và thành công, có vai trò dễ thực hiện hơn vai trò khác. Như vậy các vai trò nhận được những phần thưởng không ngang nhau, khi đó gia đình phải mặc cả, thỏa thuận.

    Các vai trò trong gia đình là sự mặc cả và luôn luôn phát triển.

    Như vậy, khi áp dụng vào xử lý vấn đề mâu thuẫn giữa mẹ chồng – nàng dâu ta có thể để hai bên xác định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ bổn phận của mình trong gia đình. Hơn nữa, mối quan hệ này ngày nay đã không còn là mối quan hệ quyền uy nữa mà là mối quan hệ tình cảm nên việc điều chỉnh tâm lý, tình cảm của mỗi người là cần thiết. Dưới đây là những việc mọi người trong gia đinh nên làm, đặc biệt là mẹ chồng – nàng dâu cần thực hiện với vai trò của mình để tránh mâu thuẫn, cải thiện mối quan hệ.

    Việc xác định được nguyên nhân gây ra xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu là điều kiện để giải quyết những bất hòa trong gia đình được tốt hơn.

    2. Nguyên nhân gây ra mâu thuẩn giữ a mẹ chồng và nàng dâu.

    Các nguyên nhân chính dẫn đến các mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ – chồng nàng dâu:

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 5
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    • Trong đời sống hôn nhân luôn tồn tại hai phía của tình yêu: Vợ chồng yêu nhau là một phía; Còn một phía khác của tình yêu mà các cặp vợ chồng ít nhìn thấy, đó là mẹ yêu con trai.

    Trong tình yêu luôn có yếu tố sở hữu: Anh là của em, con là của mẹ. Người mẹ mang nặng đẻ đau, vất vả nuôi con suốt hai, ba chục năm trời nên tình yêu mẹ dành cho con lớn như biển cả và không thể lấy tình yêu của người con gái dành

    cho người con trai mà so sánh được. Vậy mà chỉ sau một lễ cưới, tình yêu của con trai lại nghiêng hẳn về phía một người con gái trước đây rất xa lạ. Đó là sự mất mát lớn lao đầu tiên của người mẹ khi con trai họ lấy vợ.

    Đã là tình yêu ắt sẽ có ghen tuông. Tình yêu người mẹ dành cho con trai cũng là một phía tình yêu và cũng có ghen tuông. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới những xung đột gay gắt giữa mẹ chồng và nàng dâu. Có những người mẹ rất hiền từ nhưng khi có con dâu thì trở nên đáo để, xét nét, bắt lỗi con dâu đủ điều. Đó không phải là bản tính quá quắt của các bà mẹ chồng, cũng không phải do “khác máu tanh lòng” mà do bị sự ghen tuông thúc đẩy. Tâm lý người của người mẹ khi có con dâu thường tìm cách bới móc con dâu vì thấy con trai yêu vợ hơn mình. Với tư tưởng con dâu cướp tình yêu thương, sự quan tâm mà vốn dĩ trước đây con trai luôn dành cho mẹ. Đây là xung đột ngầm ít thể hiện ra bên ngoài

    Xung đột giữa mẹ chồng và nàng dâu diễn ra gay gắt nhất trong thời gian đầu con trai lấy vợ. Trai yêu vợ mới, đó là những ngày nồng nàn nhất, anh chồng yêu chiều vợ nhiều nhất. Anh ta nói với vợ những lời ngọt ngào nhất, mua quà cho vợ, luôn tranh thủ đỡ đần vợ. Tất cả những hành động đó không lọt qua mắt của một phía tình yêu khác, đó là người mẹ. “Tại sao nó mua quà cho vợ nó mà không mua quà cho mình, vì một đứa con gái mà nó có thể quên mình được ư? Cả đời nó chưa hề giặt quần áo hộ mẹ, vậy mà bây giờ nó giặt cả quần con cho vợ nó”. Những ý nghĩ âm thầm đó nung nấu tâm can của một người phụ nữ tự nhận rằng mình đã bị bỏ rơi. Và ngứa ghẻ hờn ghen, người chịu đòn là cô con dâu. Tình trạng “ghen ăn tức ở” này sẽ giảm dần theo thời gian nếu nàng dâu biết nhịn và biết quan tâm đến

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 6
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    mẹ chồ ng. Nếu không, sự ghen tuông sẽ ngày càng nặng nề hơn, mâu thuẫn nàng dâu mẹ chồng cũng ngày mộ t quyết liệt hơn. Hơn nữa, ngườ i chồng là cầu nối của mẹ và vợ, nếu anh ta bất lực trong việc hòa giải thì mâu thuẫn ngày càng tăng lên hoặc là anh ta hướng về phía mẹ hay là vợ mình thì mâu thuẫn càng lên đến đỉnh điểm.

    • Hai con người khác nhau về tư duy và lối sống. Mẹ chồng luôn có tư tưởng mà con dâu cho ràng là “cổ hủ”. Các bà mẹ chồng vẫn giữ tư tưởng của thế hệ cũ, còn con dâu thế hệ ngày nay lại có suy nghĩ và hành động khác. Do sự khác biệt về
    • thức, thói quen dẫn đến khoảng cách và sự bất hòa giữa mẹ chồng nàng dâu.
    • Bất đồng về quan điểm sống và hoàn cảnh sống. mẹ chồng hay lấy cớ bắt lỗi con dâu. Mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu còn xảy ra khi nàng dâu không biết làm việc nhà nhất là nội trợ. Có thể người con dâu này xuất thân trong một gia đình giàu sang không phải làm gì, nên khi phải làm gì người con dâu đó không biết làm được.

    Ví dụ: mẹ chồng muốn việc chăm sóc con cháu phải theo ý bà nhưng con dâu lại tỏ ra không thích như thấy tay mẹ chồng bẩn không đảm bảo vệ sinh khi cho cháu ăn. Điều này thường xảy ra ở nông thôn khi mẹ chồng làm nghề nông trong khi con dâu làm ở nhà nước.

    • Cách cư xử của các nàng dâu thời hiện đại có học vấn thường muốn độc lập về kinh tế là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn với mẹ chồng. Đối với họ tư tưởng

    ăn bám luôn len lỏi trong đầu óc. Khi họ sống cùng gia đình nhà chồng, họ không muốn dựa dẫm vào nhà chồng đẻ mang tiếng là ăn bám. Ngược lại học vấn cũng gây mâu thuẫn khi đồng lương chênh lệch nhau. Ví dụ như lương của mẹ chồng thấp hơn của con dâu mà lại sống chung trong một gia đình, mức đóng góp vào

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 7
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    trong sinh hoạ t cũng khác nên họ mâu thuẫn với nhau. Nhất là khi hoàn cảnh gia đình nghèo thì càng nả y sinh mâu thuẫ n,căng thẳ ng. Nhưng cũng có khi mâu thuẫn xảy ra là vì ngườ i mẹ chồ ng cư xử không công bằ ng về kinh tế vớ i các con, chỉ đem tiền cho con gái mà không để ý tới vợ chồng con trai, khiến nàng dâu thấy bất bình.

    Ví dụ: Bước chân về làm dâu, Vân (Hoàn Kiếm, Hà Nội) đã biết ngoài ngôi nhà đang ở, Tú_ chồng cô còn đứng tên một mảnh đất khác ở vùng ngoại ô. Bố chồng mất sớm, cô em chồng cũng đã yên bề gia thất nên trong nhà chỉ còn vợ chồng Vân sống chung với mẹ chồng.

    Do làm ăn thua lỗ nên cô em dâu và mẹ chồng ngấm ngầm bán đất. Mẹ chồng Vân đưa lại cho con trai ¼ số tiền bán đất được mà không nói với con dâu nửa lời. Vân cảm thấy bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng. Dù gì từ hồi về làm dâu, Vân luôn cố gắng chu toàn mọi chuyện bên nhà chồng. Mỗi tháng một lần vào dịp lĩnh lương, Vân không quên mua biếu mẹ chồng khi thì hộp sữa giàu canxi, lúc thì chiếc áo mới… Thế mà, mẹ chồng Vân vẫn coi con dâu như người dưng, tự quyết định bán đất mà không thèm bàn bạc với cô một câu.

    Bất mãn vì cách cư xử của mẹ chồng, lại hậm hực với anh chồng nhu nhược, Vân đưa ý kiến xin mẹ chồng để vợ chồng cô được ăn riêng. Từ giờ, Vân quyết không “phục vụ” không công cho mẹ chồng nữa vì bản thân con dâu có tốt mà không được mẹ chồng đền đáp lại thì tách riêng cho đôi bên khỏi ức chế.

    • Con dâu bất hoà với gia đình, ví dụ giữa nàng dâu với em gái của chồng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xảy ra xung đột, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu. Hoặc là do nghe lời bàn tán, châm chọc của những người xung quanh (hàng xóm hoặc họ hàng) mẹ chồng với con dâu cũng rất dễ xảy ra xung đột.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 8
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    3. Nhữ ng mâu thuẫn trong mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu

    Trạ ng thái quan hệ mẹ chồ ng nàng dâu phản ánh trạng thái quan hệ tổng thể của mộ t gia đình. Mẹ chồng và nàng dâu thường có sự bất hòa về:

    2.1 Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày:

    • Nhiề u việ c tưở ng chừng như nhỏ nhấ t những đó cũng chính là lý do khiến mẹ chồng nàng dâu bất hòa, ví dụ như trong chuyện ăn uống, không hợp khẩu vị hay cách thức nấu ăn khác nhau cũng khiến mẹ chồng nàng dâu xích mích. Từ xa xưa người ta đã coi phụ nữ trong nhà là người “giữ lửa”, nghĩa là người phụ nữ ấy phải biết nấu bát cơm ngon canh ngọt cho chồng, cho con. Chính bữa ăn ấy là nơi

    cả nhà đoàn tụ, quây quần, chia sẻ với nhau sau một ngày làm việc, học tập vất vả.

    Nhịp sống hiện đại, những công việc xã hội bận bịu kéo theo hệ quả là nhiều nàng dâu trẻ không biết hoặc không muốn vào bếp – lí do cơ bản dẫn đến xung đột với mẹ chồng.

    • Không chỉ ăn uống mà nhiều bà mẹ chồng còn xét nét con dâu từ cách ăn mặc đến ứng xử lối sống. Nhiều bà mẹ than phiền con dâu của mình ăn mặc “Tây quá!”, có khi là nói bóng gió trước mặt con dâu. Tuy nhiên cũng có trường hợp cô con dâu quá hiện đại, phóng khoáng, vô tư, nhiều khi thành vô ý tứ khiến không chỉ mẹ chồng mà mọi người xung quanh cũng thấy khó chịu.
    • Trong sự lựa chọn vui chơi giải trí của mẹ chồng nàng dâu cũng khác biệt

    nhau rõ rang, ví dụ như con dâu trẻ thích hát karaoke, nghe nhạc trẻ sôi động còn mẹ chồng chỉ thích tuồng chèo, cải lương. Việc bắt đối phương phải thay đổi sở thích, quan điểm theo người kia là rất khó khăn, chính vì thế mâu thuẫn là điều khó tránh khỏi.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 9
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Ví dụ: Khi con dâu mặ c váy ngắ n đi làm mẹ chồ ng lạ i có ý kiến làm con dâu khó chịu. Nhưng các nàng đau lại cho rằng phải ăn mặc hợp mốt. Chính vì cách nhìn nhận mỗi thời mỗi khác nhau nên có sự đối lập nhau.

    Hoặc là mâu thuẫn vì mẹ chồng mê tín, như: Khi chị An có mang vào năm Hợi, bà nhất định bắt chị bỏ con vì không hợp tuổi. Dĩ nhiên, chị và chồng không đồng

    • Thế là từ khi cấn bầu đến ngày sinh, chị phải chịu tiếp cảnh cúng bái trong nhà.Không chỉ vậy, bà còn cắm bốn cành dong ở bốn góc nôi của con chị, nhờ một ông thầy tay này đốt nhúm vàng mã, tay kia cầm lá bùa nhảy loi choi khắp căn phòng. Đứa trẻ khóc thét vì ngộp mùi nhang khói và ồn ào.Tức giận, chồng chị quát ầm ĩ lên và đuổi thầy ra khỏi nhà. Sau vụ đó, bà giận hai vợ chồng chị đến hơn tháng trời. Hết giận, bà lại lao vào… cúng giải hạn.Dù rất phiền lòng nhưng

    thương bà, chị cố nín nhịn cho qua. Thế nhưng, có một sự việc quả thật đã là giọt nước là tràn ly. Đứa nhỏ cảm vặt đã mấy hôm. Chiều hôm đó, vợ chồng chị xin về sớm để đưa con đi bác sĩ. Bước vào nhà, chị hoảng vía khi thấy con khóc ngằn ngặt trên tay bà. Mẹ chồng đang cố đổ nước gì đó vào miệng cháu. Chị hốt hoảng: “Mẹ cho cháu uống gì vậy?”. Bà hồ hởi: “Nước phép đó con, có pha tro và một ít đất thiêng của cô Ba. Thằng nhỏ uống vào là hết bệnh ngay”.Quá tức giận, chị giằng lấy con trên tay bà, thu dọn quần áo về nhà mẹ ruột, mặc kệ chồng năn nỉ hết lời.

    • Điều kiện nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng của mẹ chồng nàng dâu cũng cõ thể là một trong những yếu tố gây ra mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu. Con dâu đi làm về, ngày hè nóng nực, mệt mỏi chỉ muốn bật điều hòa, trong khi đó mẹ chồng vì

    tiết kiệm hoặc không thích không khí của điều hòa nên chỉ muốn mở cửa số hặc dùng quạt điện. Mỗi người một ý kiến, một sở thích, và đều có lí lẽ của riêng mình nên rất khó để dung hòa cả hai.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 10
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.2. Tranh dành quyền lự c và ảnh hưởng trong việc nuôi dạy con cháu:

    -Giữa những cặp vợ chồng trẻ, lần đầu có con, dễ xảy ra xung đột, song cũng dễ hàn gắn, bởi họ vừa có chung một “tài sản” vô giá. Song cuộc chiến giữa các bà mẹ chồng và con dâu mới đích thực là gian nan. Ai cũng tìm cách chứng tỏ mình giữ vai trò quan trọng đối với đứa bé.

    Bà mẹ chồng thì dựa vào kinh nghiệm nuôi trẻ còn cô con dâu ỷ vào thế sanh ra đứa trẻ và đang cập nhật các phương pháp nuôi dưỡng trẻ hiện đại.

    Có vẻ như mâu thuẫn này là tất-lẽ-dĩ-ngẫu vì cứ theo Triết học mà nói, có sở hữu cá nhân là ắt nảy sinh mâu thuẫn. “Hòa bình” có vẻ như rất quý hiếm khi hai người cùng “sở hữu” một tài sản, nhất là khi chủ sở hữu lại là… hai người đàn bà.

    Nếu như câu cửa miệng của “chủ sở hữu 1” là: “Ngày xưa, mẹ toàn thế này, thế kia, có sao đâu…”, thì “chủ sở hữu 2” lại “bật”: “Bây giờ khác rồi, khoa học hiện đại thế này, thế kia…” .

    Ví dụ: Từ hồi về làm dâu đến khi chưa sinh con, chị Quỳnh Hoa (Khu TT Thanh Xuân Bắc, Hà Nội) với mẹ chồng rất hoà hợp. Nhưng từ khi bé Kitty ra đời, mẹ chồng nàng dâu thành ra lục đục. Chung quy cũng chỉ vì quan điểm nuôi dưỡng trẻ.

    Bà vì có kinh nghiệm nên rất tin vào cách nuôi con của mình, còn chị, với trình độ sau đại học chị cũng tin vào những kiến thức tiên tiến mình “update” được. Vậy là cuộc chiến giữa hai thế hệ xoay quanh một cục cưng bắt đầu.

    Thoạt đầu là việc hễ cháu khóc là bà dỗ bằng cách bật tivi, bật đĩa. Con bé dần dà nghiện, im bặt. Chị Hoa sợ hại mắt con góp ý với bà, lại mang cả sách ra đọc cho mẹ chồng nghe. Ai dè, bà nổi đóa rồi hờn mát, nói xa nói gần chuyện nàng dâu nhiều chữ về bắt bẻ mẹ chồng.

    Việc cho bé ngủ cũng không đơn giản. Trẻ con cần ngủ rất nhiều, nhưng bà lại chẳng quan trọng đến việc nó ngủ. Hôm nào bà cũng thức đến 12h lướt đủ các

           
    Nhóm sinh viên:  K53 Công tác xã hội  
    Khoa :  Xã hội  học Page 11

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    kênh, đến khi cô phát thanh viên chúc ngủ ngon, bà mới chịu cho nhà đài nghỉ và cũng mớ i cho cháu ngủ. Chị Hoa xót con thì bà gắt: “Nó muốn ngủ bao nhiêu nó ngủ, không việc gì phải lo. Trẻ buồ n ngủ, khắc ngủ, không nên ép”.

    Chưa kể đến chuyệ n chị Hoa quán triệ t quan điể m là không bế con nhiều kể cả lúc đi ngủ, cho bé quen, nhưng bà nộ i thì lúc nào cũng khư khư bế cháu. Nói ra thì bà trách là không muố n cho bà bế cháu. Kinh nhấ t là trong vố n kiến thức của bà luôn có cả mớ những bài thuốc dân gian, mỗ i lần cháu ốm là bà lập tức ra tay.Cháu mọc răng, số t, đau bụng, đi ngoài, viêm họng… là bà bôi, giã, đắ p hết lá nọ, lá kia. Bà nhấ t đị nh không cho cháu uống kháng sinh vớ i lý do sẽ cọ c ngườ i đi, không lớn được. Trong khi nàng dâu như ngồi đống lửa vì muốn cho con đi khám để xem bệnh tình thế nào cho an tâm. Có những bài thuốc của các bà khiến y học bó tay, nhưng với bà vẫn đúng vì bà “đã nuôi thằng bố nó khỏe mạnh, lực lưỡng đấy thôi”!

    -Một tâm lý bình thường của người phụ nữ sau sinh là hay cáu gắt và khó nhẫn nhịn. Chính vì vậy, những bất đồng giữa mẹ chồng và con dâu về mọi việc, đặc biệt là trong phương pháp chăm sóc trẻ, hơn thế nếu lại không có được sự hậu thuẫn cũng như cảm thông của chồng thì rất dễ xảy ra những hệ lụy không tốt đẹp.

    • Khoảng cách thế hệ là một trong những nguyên do dẫn đến những xung khắc này. Mẹ chồng thường dựa vào kinh nghiệm bản thân, theo truyền thống để chăm cháu, còn nàng dâu lại muốn vận dụng kiến thức khoa học trong cách nuôi dạy con. Có bà mẹ chồng cứ bắt hai mẹ con mới sinh nằm trên lò than cho ấm, nhất quyết không nghe con dâu giải thích khí carbon có thể gây độc hại cho trẻ và mẹ bé còn yếu

    Bên cạnh đó, cùng là phụ nữ và luôn muốn được giữ vai trò là người chủ gia đình, cả mẹ chồng và nàng dâu đều muốn mình có “tiếng nói” trong việc nuôi dạy

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 12
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    con cháu. Nhưng nhiề u khi, hai tiếng nói ấ y lạ i không thố ng nhấ t, thậm chí mâu thuẫn ra mặt với nhau. Và khi ấy đứa trẻ sẽ không định hướng được thế nào là đúng, là sai.

    Ví dụ: Chị Quách Thu Nga (Bán hàng, 42 tuổi):

    Vợ chồng tôi đã 3 lần viết đơn li dị, không phải vì chồng tôi có bồ hay tôi không đảm đang, xấu xí, mà tất cả là do… mẹ chồng tôi. Ai đời con tôi đứt ruột đẻ ra mà bà hiển nhiên coi đó là tài sản riêng của mình. Việc ăn, ngủ, học hành của cháu bà giành quản lí hết.

    Bà thương cháu là điều đáng mừng, nhưng tôi không an tâm về cách giáo dục của bà. Con tôi thích bất cứ cái gì bà cũng chiều. Cơm dọn ra nó kêu thức ăn chán bà vội vàng mang tô đi mua phở. Tối ngồi vào bàn học nó kêu ồn ào, bà bắt cả nhà “nhịn” xem ti vi cho cháu tập trung. Thậm chí bà còn có “tài khoản riêng” để cháu chơi điện tử!

    Nhiều lúc không chịu được, tôi góp ý với bà thì bà nổi cáu, thế là không xảy ra “chiến tranh nóng” cũng có “chiến tranh lạnh”. Dĩ nhiên, sau đó chồng tôi được nghe rất nhiều điều xấu về tôi. Chồng tôi là người tốt, nhưng lại sợ mẹ. Hậu quả là chúng tôi suốt ngày dọa đưa nhau ra tòa. Đến nay thì “bộ sưu tập” đơn li dị đã lên đến con số 3

    • Ngày nay, nhiều bậc cha mẹ do bận công tác xã hội hay mải bươn chải làm ăn mà đành phải gửi con về quê cho ông bà “nuôi hộ”, hoặc “khoán trắng” việc

    chăm sóc, dạy dỗ con cho ông bà. Từ đó, hình thành nên tình trạng giáo dục cách thế hệ. Phương thức giáo dục gia đình này thường ảnh hưởng tiêu cực đến sự hình thành nhân cách của trẻ, làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 13
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    2.3. Quan điểm giá trị củ a mỗi cá nhân:

    • Sự cách biệt về thói quen sinh hoạ t, hai môi trườ ng khác nhau, thờ i đại khác nhau, bố i cả nh cuộc số ng khác nhau,khi hai thế hệ sống chung vớ i nhau sẽ s ảy ra những mâu thuẫn trong các vấn đề về quan niệ m ăn uố ng, nghỉ ngơ i, vui chơ i giải trí…
    • Trong vấn đề ăn uố ng: khi cùng nhau ngồ i cùng mộ t mâm thì sẽ sinh ra vấn đề. Cả hai lớ p ngườ i đều muốn cả i biến đố i phươ ng, dẫ n đến quan hệ mẹ chồng

    nàng dâu trở nên căng thẳng: mẹ chồng và con dâu không hợp khẩu vị, con dâu nấu ăn không ngon, quan ni ệm v ề chất dinh d ưỡng trong mỗi bữa ăn của mỗi người khác nhau, không thống nhất…

    +Trong vấn đề sinh con và nuôi dạy con cái:có sự sai biệt về sinh con đẻ cái và việc quản lý giáo dục con cái. Mẹ chồng nào cũng muốn sớm có cháu để bế, nếu con dâu về nhà chồng một thời gian dài mà không đẻ, hoặc là mẹ chồng có quan miệm rất nặng nề về trọng nam khinh nữ, mà con dâu lại sinh con gái, thì mẹ chồng khó tránh khỏi có chuyện.. Còn yêu cầu về mặt quản lý giáo dục con cái, mẹ chồng không mạnh mẽ và nghiêm khắc như con dâu, do đó mà về phương diện giáo dục nuôi dưỡng con cái, giữa mẹ chồng nàng dâu rất dễ nảy sinh những ý kiến khác nhau: Mẹ chồng thường nuông chiều cháu, nhiều khi lại kể tội mẹ nó. Còn con dâu thường qu ản lý con mình khắt khe hơn, không nuông chiều như mẹ chồng vì nghĩ nuông chiều sẽ làm con thêm hư, hay bắt con cái mình học thêm nhiều môn học ngoài giờ…

    + Trong vấn đề đối nhân xử thế:( quan hệ họ hàng, làng xóm, công việc..):

    – Quan hệ họ hàng ruộ t thịt, hàng xóm: mẹ chồng luôn mong muốn con dâu đối xử tốt với những người trong họ hàng gia đình bên ch ồng, luôn có những đòi hỏi khắt khe và mong muốn con dâu mình sẽ thực hiện và thực hiện tốt. Người con dâu làm tròn bổn phận và đối nhân xử thế cho h p lý nhưng vẫn bị trách m óc,

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 14
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chỉ trích, soi x ét, tạ o ra áp lực lớn cho họ. Con dâu bấ t hoà vớ i gia đình, ví dụ giữa nàng dâu vớ i em gái của chồ ng, nàng dâu với em trai của chồng, hoặc với em dâu của chồng xả y ra xung độ t, làm cho mẹ chồng không vui, trách tội con dâu…

    • Trong công việ c: mẹ chồng luôn muốn con dâu chăm lo cho gia đình mình được chu đáo do vậy họ luôn có tư t ưởng muốn con d âu c ủa m ình ngh ỉ việc ở cơ quan về nh à làm nội trợ vừa giúp gia đình, vừa nuôi dạy con cái được tốt hơn. Con dâu muốn khẳng định vị thế của mình trong xã h ôi trong công việc nên hăng say làm việc có thể bỏ quên gia đình…

    2.4 Trong lĩnh vực kinh tế:

    Sự tranh chấp về quyền lực, nói chung tiêu điểm tranh chấp của vấn đề mẹ chồng nàng dâu thường là quyền quyết sách và quyền kinh tế của gia đình:

    • Vì công sức đóng góp cho gia đình hoặc sự thống nhất của các thành viên trong gia đình mà vị trí người mẹ luôn được đề cao và ủng hộ. Người mẹ luôn thấy được “chủ quyền” của mình trong nhà nói chung và với cậu con trai yêu quý

    nói riêng sau bao năm chăm bẵm và kỳ vọng của mình.Nhưng sau khi đã có con dâu, tình hình đã thay đổi, vai diễn ấy đã bị con dâu thay thế, quyền lực bị tước mất, địa vị cũng bị thay đổi. Mẹ chồng sinh ra bất mãn, không có cách nào thích ứng được với sự chuyển biến này. Đối với mẹ chồng: “Chủ quyền” tầm ảnh hưởng và tình cảm với người con trai bị san sẻ. Các quyết định trong ăn uống, sinh hoạt… của gia đình sẽ không còn được các thành viên trong gia đình nhất nhất ủng hộ như trước. Và người mẹ sẽ cảm thấy cần phải thể hiện, khẳng định hoặc tìm cách để giữ được vị thế của mình trong gia đình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Quá khứ là của mẹ chồng còn hiện tại và tương lai là của mình. Mong muốn ban đầu là ít nhất giữ được “chủ quyền” và ảnh hưởng đối với người chồng. Sau nữa là với con mình khi sinh ra. Do sống lâu với mẹ đẻ, được chăm sóc chiều chuộng vô điều kiện nên trong thâm tâm khi về làm dâu cũng đòi hỏi ở mẹ

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 15
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    chồng như vậy. Mặt khác do đời sống hiện đại khi tự chủ được về kinh tế con dâu cũng đủ tự tin để tự quyết định nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống riêng của mình. Khi không được như ý sẽ nảy sinh mâu thuẫn.

    • Lợi ích kinh tế, về mặt tiền nong, mẹ chồng thường đóng vai trò là người ban phát; con dâu đóng vai trò tiếp nhận. Phía tiếp nhận thì cho rằng tiền chi không đủ, chê là cho không công bằng. Giữa mẹ chồng nàng dâu nếu lấy tiền tài làm sợi dây níu kéo, thì gia đình sẽ biến thành thị trường, quan hệ mẹ chồng nàng dâu sẽ vĩnh viễn lắc lư trên cái cân mua bán.Ngược lại, nếu con dâu làm ra nhiều tiền của, giữ vai trò là người ban phát có thể khinh rẻ mẹ chồng, cho rằng họ ăn bám không làm ra tiền.

    Chuyện mẹ chồng, nàng dâu xung quanh chuyện tiêu tiền giống như nghìn lẻ một chuyện… vụn vặt. Nhưng từ những vụn vặt ấy là mầm mống ung nhọt của gia đình. Không dễ bằng đôi ba câu khuyên giải là ổn. Có một người, hình như cũng nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình với vô vàn những chuyện… vụn vặt không đâu đã tìm đến một con đường ngắn nhất.

    Ngay cả khi mâu thuẫn đã tích tụ thành ung nhọt lớn, cảnh báo một nguy cơ đổ vỡ, vẫn có thể cứu vãn được bằng sự cởi mở và thiện chí. Lời nhà tư vấn gia đình khuyên, có lẽ là chí lý. Tôi chỉ xin được góp thêm một ý nho nhỏ: Các cụ ta đã dạy, “Nhập gia tùy tục”. Khi mẹ chồng vốn tằn tiện, chi tiêu có cân nhắc thì cô con dâu dù có khấm khát tiền nong đến đâu cũng phải ý tứ một chút.

    Không hẳn chỉ bận tâm tiêu tiền đó cho ai, nhằm mục đích gì, mà phải quan tâm đến mức độ mình tiêu tiền để người khác khỏi xót, dù không phải tiền của mình, khỏi tủi thân vì một đời tằn tiện, khỏi tức tối vì thấy ỷ nhiều tiền mà phung phí, khinh khi thiên hạ. Đồng tiền đem lại nhiều lợi ích lắm, ai cũng rõ, nhưng quá vô tư trong chi tiêu, đôi khi cũng gặp nhiều phiền lụy.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 16
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4. Hướng giải quyết

    Xử lý mố i quan hệ mẹ chồ ng – nàng dâu tố t hay xấu, có ý nghĩa đặc biệt với quan hệ gia đình. Bở i vì trong các gia đình hiện đại, vai trò của phụ nữ nặng hơn nam giớ i nhiều, thu nhậ p của phụ nữ đủ để nuôi số ng bả n thân họ, hoặc ngang bằng, có khi còn hơn của nam giới.

    Nhưng có rấ t nhiều quan hệ có liên quan đến gia đình, mà đa phần là quan hệ đến giớ i nữ chứ không phả i vớ i giớ i nam. Cho nên trạ ng thái quan hệ mẹ chồng nàng dâu phả n ánh trạ ng thái quan hệ tổ ng thể của một gia đình. Nguyên tắ c xử lý mố i quan hệ mẹ chồng nàng dâu, kỳ thực chính là nguyên tắc xử lý mố i quan hệ gia đình. Do vậy ở mỗi người cần có những thái độ hợp lý để giải quyết mâu thuẩn:

    4.1 Đố i vớ i nàng dâu cần làm gì?

    • Có một điểm quan trọng nhất là phải hiếu kính mẹ chồng, phải coi trọng sự tồn tại của mẹ chồng và giá trị địa vị của bà.
    • Phải sống chan hoà với em gái của chồng, phải hoà mình vào gia đình nhà

    chồng.

    • Phải trau dồi hứng thú và sở thích giống như mẹ chồng.
    • Nếu có sai lầm thì phải dũng cảm thừa nhận và phải phục tùng, phải nhẫn

    nhịn.

    • Phải quan tâm đến sức khoẻ mẹ chồng, phải biết phương thức tính cách, hứng thú, sinh hoạt của mẹ chồng, không thể ép mẹ chồng thay đổi thói quen đã nhiều năm.
    • Nếu mẹ chồng có quá nuông chiều cháu, thì nên khéo léo dùng lời khuyên ngăn, không được dùng lời ác độc để cãi lại mẹ chồng, làm phương hại đến tình
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 17
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cả m toàn gia đình. Phả i biết sống yên ổ n, giữ gìn kỷ cươ ng, cần cù tiế t kiệm, thường xuyên xin ý kiến mẹ chồ ng về công việc gia đình.

    • Về lợi ích kinh tế không nên đòi hỏi sự công bằng, cũng không nên so đo kỳ kèo. Nếu quyền kinh tế ở trong tay bạn thì đừng quên hàng tháng biếu mẹ tiền tiêu vặt.
    • Không nên chỉ mua quần áo mới cho mình, cũng cần làm đẹp cho mẹ chồng, phải biết giữ thể diện cho mẹ chồng, đó cũng là điều vẻ vang của con dâu.
    • Ðôi khi cũng phải để cho mọi người được thưởng thức những khẩu vị mới, nhưng không nên bắt cả gia đình phải ăn theo khẩu vị của mình.
    • Phải biết lo liệu công việc gia đình, không thể không làm gì, cũng không thể tự tiện làm tất cả mà phải nghĩ đến mẹ chồng. Không để cho mẹ chồng cảm thấy phải gánh vác nhiều quá hoặc cảm thấy không có đất dụng võ, phải tôn trọng bà mẹ chồng có kinh nghiệm phong phú.
    • Phải giữ thái độ lễ phép với mẹ chồng, phải ca ngợi mẹ chồng đúng nơi, đúng lúc, phải quan tâm đến mẹ chồng và phải vui vẻ tiếp thu sự giúp đỡ có thiện chí của mẹ chồng.
    • Không nên nói nhiều đến chuyện nhà mẹ mình, đặc biệt là không nên luôn luôn gửi tiền về nhà mẹ đẻ.
    • Vợ chồng không nên quá thân mật trước mặt mẹ chồng, nhất là mẹ chồng đã goá bụa, rất dễ gặp cảnh sinh tình, sinh ra ý ghen tuông, do đó mà không ngăn được căm ghét nàng dâu.
    • Không được cãi cọ với chồng trước mặt mẹ chồng.
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 18
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    4.2 Đố i vớ i mẹ chồng:

    Mẹ chồ ng vớ i tư cách là mộ t ngườ i mẹ mẫ u mực để con cháu noi theo. Cần có thái độ hợp lý để giữ mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu không quá căng thẳng để tạo mối hòa hợp trong gia đình.

    4.3 Đố i vớ i ngườ i đàn ông cần làm gì?

    Cụ thể, khi mẹ chồng và nàng dâu có mâu thuẫn thì các anh nên :

    Trước hết, các anh cần tránh im lặng bởi im lặng chỉ khiến mâu thuẫn thêm căng thẳng. Sự im lặng của các anh lúc này sẽ thể hiện thái độ vô trách nhiệm hoặc bất lực của mình trước xung đột gia đình đồng thời khiến mẹ và vợ thấy khó chịu.

    Thứ hai, không giữ im lặng không có nghĩa các anh phải chọn cách bênh mẹ hoặc bênh vợ. Cần tránh thiên về một bên nào hay đứng hẳn về một phía nào. Việc bênh người này hơn sẽ khiến người còn lại thấy bị tổn thương, bị bỏ rơi và sinh ác cảm với nhau hơn.

    Nhiều anh có người chủ trương phải bênh mẹ vì mẹ chỉ có một mà vợ thì có thể mất người này, lấy người khác. Những người này vì bênh mẹ mà sẵn sàng trách mắng vợ bất kể mẹ sai hay đúng. Như thế là không nên bởi vì vợ chính là mẹ của các con mình, người sẽ vai trò và tác động lớn đến sự khôn lớn của các con anh.

    Thứ ba, thay vào đó, các anh hãy trở thành cầu nối giữa mẹ và vợ để hóa giải mâu thuẫn giữa hai người phụ nữ này. Và thật ra, cũng chỉ có các anh mới là người có thể hóa giải mâu thuẫn đó mà thôi. Chính cách xử sự của người chồng sẽ quyết định mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu được cải thiện hay tiếp tục xuống dốc.

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 19
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    Vì thế , hãy thậ t khách quan và công bằ ng. Các anh phả i có quan điểm riêng và phả i biết phân biệ t đúng, sai. Những điều đó sẽ khiến cả hai càng thêm quý trọng và nể phục các anh. Cũng vì thế mà họ sẽ nhường nhịn và cả m thông với nhau hơn.

    Thứ tư, hãy họ c cách lắng nghe. Phụ nữ có nhu cầ u tâm sự rấ t lớn. Khi mẹ và vợ có mâu thuẫn và họ tìm đến anh để tâm sự, các anh nên cố gắng lắng nghe cả hai.

    Khi mẹ tâm sự, thật ra bà cũng chỉ muốn các anh biết “dạy vợ” và phải chia sẻ tình cảm cho bà nhiều hơn cho vợ. Vì thế, để mẹ vui lòng, các anh hãy nói với mẹ đại ý là con sẽ bảo lại vợ con.

    Còn với vợ, khi họ kể cho các anh nghe những mâu thuẫn với vợ, không hẳn là họ muốn các anh phải bênh họ đâu mà đôi khi chỉ để xả, để giải tỏa và tìm sự thông cảm, sẻ chia. Những lời an ủi, động viên của các anh sẽ khiến họ cảm thấy đỡ buồn hơn rất nhiều.

    Hãy cư xử khéo léo để làm sao cả mẹ và vợ đều thấy các anh tôn trọng họ và yêu thương họ.

    Đồng thời, sự lắng nghe sẽ giúp các anh có dầy đủ thông tin hai chiều để phân tích và có cách giải quyết hợp tình, hợp lý.

    Thứ năm, khi đã nghe mẹ và vợ tâm sự, các anh hãy suy xét thật kỹ để tìm ra nguyên nhân và biết được ai đúng ai sai để có cách giải quyết hợp lý. Đừng vì bênh mẹ mà bất chấp sai trái mắng mỏ vợ, cũng không nên vì bênh vợ mà có những lời không hay với mẹ. Vì như thế chỉ như đổ thêm dầu vào lửa.

    Thứ sáu, trong trường hợp mẹ và vợ đôi co trực tiếp thì người chồng nên đứa giữa không nghiêng bên nào mà cố gắng tìm cách xoa dịu mâu thuẫn lúc đó như tìm

    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 20
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    cách để mẹ và vợ tách nhau ra, đi đâu đó một lúc, rồi khi không có mẹ, bạn hãy dạy bảo vợ, còn khi không có vợ, bạn hãy lựa lời để khuyên mẹ.

    IV. Kế t luận

    Dù ở thời đại nào gia đình cũng phải có nền tảng nguồn cội của nó, có lễ nghĩa, phép tắc và tôn ti trật tự, nề nếp gia phong đàng hoàng, kể cả cách đối nhân xử thế, giữa cha mẹ, con cái trong gia đình. Người phụ nữ là người giữ lửa trong gia đình. Quan hệ mẹ chồng – nàng dâu hòa thuân thì gia đình êm ấm, mẹ chồng – nàng dâu mâu thuẫn dẫn đến xung đột, cãi vã, đôi khi làm hạnh phúc gia đình tan vỡ. Vì vậy mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu không chỉ là vấn đề trong gia đình mà còn là vấn đề xã hội. Việc mẹ chồng đối xử cay nghiệt với nàng dâu và nàng dâu luôn đối phó với mẹ chồng không thể tồn tạ mãi và thưc tế đang có những thay đổi theo bước phát triển, nhịp sống văn minh của xã hội, ở đất nước ta.

    NGUỒ N TÀI LIỆ U THAM KHẢO:  
       
       
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 21
    Khoa : Xã hội học

    Simpo ĐPDFềtài:MergeMâuandthuSplitẫnmUnregisteredẹchồng–nàngVersiondâutronghttp://wwwgiađình.simpopdfViệt.comNam hiệ n đại

    1. Gia đình họ c, Đặ ng Cảnh Khang – Lê Thị Quý, Nhà xuấ t bản Chính trị – Hành chính.
    1. Bài giả ng môn Gia đình học
    1. vn
    1. net
    Nhómsinh viên: K53 Công tác xã hội Page 22
    Khoa : Xã hội học

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Marketing phân tích SWOT công ty bánh kẹo Bibica


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/H%C6%AF%E1%BB%9ANG-D%E1%BA%AAN-L%C3%80M-TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN

    PHƯƠNG PHÁP LÀM TIỂU LUẬN

    Phần I:

    YÊU CẦU CỦA TIỂU LUẬN

    _Làm tiểu luận là một trong những công việc mà người sinh viên phải thực hiện trong quá trình học tập tại trường đại học. Để làm tốt tiểu luận, cần phải nắm được các yêu cầu của tiểu luận. Phần này sẽ trình bày vắn tắt các yêu cầu đó, bao gồm : Yêu cầu về nội dung, yêu cầu về hình thức, yêu cầu về phương pháp.

    I.1: Yêu cầu về nội dung

    _Tiểu luận là một bài tập nghiên cứu khoa học sau khi học xong một môn học nào đó. Nội dung của tiểu luận phải có liên quan đến môn học, góp phần giải đáp, mở rộng hoặc nâng cao kiến thức về một vấn đề khoa học thuộc môn học. Người làm cần phải đưa ra những nghiên cứu riêng, ý kiến riêng của mình về vấn đề khoa học được đề cập tới trong tiểu luận. Không nên dừng ở mức độ chỉ tổng hợp các tài liệu và ý kiến có sẵn.

    I.2: Yêu cầu về hình thức

    _Tiểu luận cần được soạn thảo bằng máy tính, trình bày đúng qui cách, bao gồm các điểm chính :

    +Tiểu luận được làm trên khổ giấy A4.

    +In kiểu chữ Times, cỡ chữ 13, nên in 1 mặt.

    +Số dòng in trong một trang là 26-27 dòng (dãn cách dòng 1,5 lines).

    +Không nên lạm dụng các tính năng trình bày của máy tính, chỉ nên trình bày rõ ràng, sáng sủa. Tiểu luận cần được viết với văn phong giản dị, trong sáng, sử dụng chính xác các thuật ngữ chuyên môn, đặc biệt, không được mắc các lỗi chính tả và ngữ pháp. Muốn vậy, sau khi hoàn thành xong về nội dung, trước khi in, cần phải đọc lại và sửa chữa kỹ lưỡng về chính tả, ngữ pháp, câu văn và cách trình bày trang in.

    _Về hình thức, tiểu luận bao gồm các thành phần chính sau :

    +Bìa : Ngoài cùng của tiểu luận là bìa tiểu luận. Bìa được làm bằng giấy cứng, phía trên cùng đề tên trường và khoa, giữa trang đề tên đề tài bằng khổ chữ to, góc phải cuối trang đề họ tên người hướng dẫn, người thực hiện đề tài, lớp và năm học. Trang bìa có thể đóng khung cho đẹp.

    +Trang bìa : Là bản chụp của bìa, in trên giấy bình thường.

    +Lời cảm ơn (nếu cần)

    +Mục lục

    +Phần nội dung chính: Đây là phần trình bày kết quả nghiên cứu của tiểu luận. Phần này gồm nhiều phần nhỏ, được trình bày chi tiết ở mục sau (xem mục II.3).

    +Danh mục tài liệu tham khảo

    +Phụ lục (nếu cần)

    I.3: Yêu cầu về phương pháp

    _Viết tiểu luận là tập nghiên cứu khoa học, tiểu luận có thể được coi là một công trình khoa học nho nhỏ. Do vậy cần phải xác định rõ phương pháp thực hiện tiểu luận bao gồm các phương pháp nghiên cứu của ngành học cùng với các phương pháp hỗ trợ khác, trong đó phương pháp sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản.

    Phần II:

    CÁC BƯỚC THỰC HIỆN TIỂU LUẬN

    _Sau khi xác định được các yêu cầu của tiểu luận, cần phải phân chia việc thực hiện tiểu luận thành các công việc nhỏ hơn và đơn giản hơn, định rõ thứ tự thực hiện các công việc đó, thời gian cần thiết cho từng công việc. Tức là phải xác định các bước thực hiện tiểu luận. Kết quả của việc này là một bản kế hoạch thực hiện tiểu luận được giáo viên hướng dẫn chấp thuận.

    _Phần này trình bày các bước chính để thực hiện một tiểu luận (*), bao gồm các bước :

    +Xác định đề tài

    +Tập hợp thông tin,

    +Lập đề cương

    +Giải quyết từng mục trong nội dung nghiên cứu

    +Hoàn thiện tiểu luận

    (*) Tất nhiên, tùy theo môn học và đề tài mà có thể phải có thêm bớt các bước.

    II.1: Xác định đề tài

    _Trước tiên cần tìm kiếm và lựa chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài có thể do người hướng dẫn nêu ra nhưng cũng có khi sinh viên phải tự tìm kiếm. Có thể tìm kiếm đề tài trong chương trình học hoặc trong thực tiễn liên quan tới ngành hoặc môn học.

    _Cần phải xác định rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài như giới hạn về nội dung, về mức độ nghiên cứu, đối với một số ngành còn phải giới hạn về thời gian, không gian của sự kiện, điều kiện thực hiện…. Vì thời gian làm tiểu luận có hạn nên cần chọn những đề tài vừa sức và phải đưa ra những giới hạn phù hợp, đừng nên chọn những đề tài quá khó, quá rộng.

    _Khi trình bày với giáo viên hướng dẫn, cần phải nói rõ nội dung đề tài, lý do chọn đề tài, phương pháp nghiên cứu đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu và cuối cùng là tên đề tài (tên đề tài ngắn gọn, chính xác với nội dung và giới hạn của đề tài).

    II.2: Tập hợp thông tin

    _Sau khi đã xác định được đề tài nghiên cứu của tiểu luận, cần phải tập hợp các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, ví dụ như :

    _Các nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí, kỷ yếu khoa học… được lưu trữ trong các thư viện hoặc trên Internet.

    _Các kết quả có được từ các thí nghiệm, thực nghiệm, thực địa, thực tập, điều tra,…

    v.v

    _Kết quả của việc tập hợp thông tin là một bản danh mục các tài liệu tham khảo, trong đó các tài liệu được sắp thứ tự theo tên tác giả hoặc tên tài liệu…

    II.3: Lập đề cương

    _Đề cương là cái khung của tiểu luận. Đề cương là các nét chính về phương cách giải quyết vấn đề nghiên cứu được nêu ra. Ở bước này, cần nêu ra được nội dung tiểu luận sẽ gồm bao nhiêu phần, chương, mục; cách bố trí ra sao, nội dung chủ yếu của mỗi mục là gì. Tất nhiên đây chỉ là những dự kiến, sau này có thể còn thay đổi.

    _Nói chung, nội dung tiểu luận gồm các phần chính sau:

    _Phần mở đầu : Trong phần này cần nêu rõ nội dung đề tài nghiên cứu, lý do và mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.

    _Phần thân : Phần này bao gồm nhiều phần nhỏ (chương) I, II, III…. Đây là nội dung chủ yếu của tiểu luận, thuộc chuyên môn ngành học. Mỗi phần nhỏ có thể gồm nhiều mục, thể hiện quá trình giải quyết vấn đề nêu trong đề tài, các kết quả trong quá trình nghiên cứu, các nhận định, đánh giá… Phần này có thể được viết nhiều lần, sửa chữa, bổ sung trong suốt quá trình nghiên cứu. Đây là phần chủ yếu thể hiện công sức và trình độ nghiên cứu của người thực hiện tiểu luận.

    _Phần kết luận : Trong phần này cần tóm tắt quá trình giải quyết vấn đề các kết quả nghiên cứu. Nêu lên được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của kết quả nghiên cứu. Cuối cùng, Nêu ra những vấn đề chưa giải quyết được và hướng phát triển của đề tài.

    II.4: Giải quyết nội dung nghiên cứu

    _Đây là bước chiếm nhiều công sức nhất trong quá trình làm tiểu luận. Người thực hiện tiểu luận cần phải tiến hành:

    +Nghiên cứu

    +Làm thí nghiệm

    +Thực nghiệm

    +Điều tra

    +Phỏng vấn, tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích dữ liệu, suy nghĩ và đưa ra những nhận xét, đánh giá, … cho từng mục trong tiểu luận. Sau đó viết những kết quả nghiên cứu của mình vào tiểu luận.

    _Trước hết nên viết dưới dạng bản thảo tất cả những thông tin, những kết quả có được, những ý tưởng đã có cho đề tài cho dù còn lộn xộn, chưa chắc chắn. Trong các bước tiếp theo sẽ sửa chữa, sàng lọc, sắp xếp, hoàn chỉnh lại.

    II.5: Hoàn thiện tiểu luận

    _Sau khi đã viết được hầu hết nội dung tiểu luận, cần phải đọc lại và hoàn thiện tiểu luận. Chính trong phần này, việc soạn thảo tiểu luận bằng máy tính sẽ phát huy tác dụng rất tốt. Với máy tính, ta có thể thêm, bớt, xóa, sửa văn bản tiểu luận một cách hết sức tự do, có thể chèn các hình ảnh, biểu bảng, sơ đồ, công thức, … rất tiện lợi.

    _Trong bước này, cần phải :

    +Điều chỉnh nội dung và bố cục tiểu luận cho phù hợp với quá trình và kết quả nghiên cứu, đồng thời khiến các phần được liên kết với nhau một cách mạch lạc, rõ ràng. Lược bỏ những phần, những ý chưa thật chắc chắn hoặc quá lan man.

    +Sửa chữa lỗi chính tả, câu văn và ý tứ sao cho tiểu luận được trình bày một cách chính xác, dễ hiểu và trong sáng.

    +Chỉnh sửa nội dung và hình thức các bảng, biểu, hình ảnh…. Nhập Danh mục tài liệu tham khảo.

    +Điều chỉnh định dạng các phần của văn bản tiểu luận như các tiêu đề, chú thích, tham chiếu, …. Tạo các phần cần thiết cho văn bản tiểu luận như : Trang bìa, Mục lục, Header/Footer,…

     

    HƯỚNG DẪN LÀM TIỂU LUẬN MÔN HỌC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn

    – Lí do lí luận: khái quát tính chất, tầm quan trọng của vấn đề (đối tượng) nghiên cứu trong đề tài;

    – Lí do thực tiễn: khái quát những yếu kém, bất cập trong thực tiễn so với vị trí, yêu cầu nêu trên.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Mục đích nghiên cứu là cơ sở để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu, thường thể hiện 2 vấn đề cơ bản sau:

    • Mô tả và phân tích thực trạng;
    • Đề xuất biện pháp.

    3. Đối tượng nghiên cứu

    Là tiêu điểm mà đề tài cần tập trung giải quyết. Đối tượng nghiên cứu của một đề tài có thể là thực trạng, biện pháp, giải pháp, v.v.

    4.  Phạm vi nghiên cứu

    Là sự xác định (khu biệt, giới hạn, cụ thể hoá) đối tượng nghiên cứu của đề tài. Sự xác định phạm vi nghiên cứu thường thể hiện ở các mặt: không gian – nội dung; thời gian.

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu

    – Hệ thống hoá những vấn đề lí luận liên quan tới đề tài;

    – Mô tả thực trạng;

    – Phân tích, đánh giá thực trạng;

    – Đề xuất biện pháp, khuyến nghị.

    5.  Phương pháp nghiên cứu

    – Phương pháp nghiên cứu là công cụ nghiên cứu khoa học trong thực hiện nhiệm vụ đề tài. Tổng kết quả của các phương pháp nghiên cứu khoa học phải đủ thực hiện tổng nhiệm vụ đề tài.

    Mỗi phương pháp nghiên cứu nên phân tích thành:

    • Mục đích của phương pháp: nhằm thực hiện nhiệm vụ gì của đề tài
    • Đối tượng của phương pháp: được chứa đựng ở khách thể nghiên cứu của cơ sở nghiên cứu (cần phân biệt đối tượng của phương pháp nghiên cứu với đối tượng của đề tài)
    • Nội dung phương pháp (kĩ thuật sử dụng phương pháp): nên đưa vào phụ lục (thường sử dụng cho phương pháp điều tra, phỏng vấn)

    Phần thứ hai

    – Thực trạng vấn đề cần nghiên cứu:

    * Mô tả, phân tích thực trạng vấn đề cần trình bày

    * Đánh giá môi liên hệ, tác động của vấn đề nghiên cứu

    –  Đề xuất các giải pháp cho vấn đề nghiên cứu

    Kết luận, kiến nghị

    + Tóm tắt vấn đề nghiên cứu

    + Đánh giá quá trình nghiên cứu

    + Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo.

    • Tài liệu tham khảo
    • Phụ lục

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-kh%C3%A1i-ni%E1%BB%87m-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-%C4%91%E1%BB%83-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-%C4%91%E1%BA%A5u-tranh-%C4%91%E1%BB%83-ch%E1%BB%91ng-l%E1%BA%A1i-c%C3%A1c-quan-%C4%91i%E1%BB%83m-xuy%C3%AAn-t%E1%BA%A1c-c%E1%BB%A7a-k%E1%BA%BB-th%C3%B9.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù

    CHỦ ĐỀ 1:

    Phân tích khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức và đấu tranh để chống lại các quan điểm xuyên tạc của kẻ thù.

    1. Quá trình nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh…”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) có điểm mới là “nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”, và khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta”. Cương lĩnh 1991 khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.

    Sau 10 năm, với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

    2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

    Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

    Nội hàm của khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Nó không phải là một tập hợp đơn giản những ý tưởng, suy nghĩ cụ thể của Hồ Chí Minh trong những giai đoạn cụ thể.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái niệm khoa học, vì thế hết sức cô đọng, chặt chẽ, có nội hàm lý luận cao, có sức sống mãnh liệt và giá trị lý luận, thực tiễn rất to lớn không những với cách mạng Việt Nam mà còn đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng loài người trên phạm vi toàn thế giới.

    3. Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc

    1. Nhận thức kẻ thù

    – Loại 1: Ác ý: Cho rằng người Việt Nam không có tư tưởng mà đó chỉ là sự bắt chước như vẹt của đông tây chứ bản thân không tạo ra tư tưởng.

    – Loại 2: Cho rằng trong cách mạng và kháng chiến Việt Nam thì có nhà lý luận và nhà tư tưởng nhưng đó là Võ Nguyên Giáp và Lê Duẫn chứ không phải Hồ Chí Minh.

    – Loại 3: Hồ Chính Minh không phải nhà tư tưởng vì hầu như Người không có tác phẩm lý luận nào.

    1. Mục đích xuyên tạc

    Từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

    – Muốn “hạ bệ thần tượng”

    – Từ sự bất mãn của một số cá nhân.

    1. Đấu tranh chống xuyên tạc chống phá

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

    b1. Trước hết phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

    “Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” là nhiều quan điểm liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ tính liên tục, nhất quán. “Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực. Đó là tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quân sự, ngoại giao…

    Đại hội đồng UNESCO khẳng định Hồ Chí Minh “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại…; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

    “Toàn diện nhưng sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và CNXH; về mục đích cách mạng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, đoàn kết quốc tế; về nền tảng lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: động viên toàn dân, tổ chức toàn dân; v.v.. Tóm lại, đó là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

    à Nhận thức như vậy tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

    Đáng phê phán nhất là các quan điểm hết sức nguy hiểm. Họ thừa nhận những vấn đề nêu trên (sau khi không đủ khả năng bác bỏ), nhưng lại cho rằng hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không có trong cách mạng XHCN.

    Để phê phán quan điểm này, cần nhận thức rõ trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh có nói “từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN”. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là trở lại cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần nêu mấy điểm chính.

    Một là, Hồ Chí Minh khẳng định cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tức là giành được độc lập dân tộc rồi phải đi tới CNXH.

    Hai là, trong di sản để lại, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải đi tới cách mạng XHCN thì mới thắng lợi triệt để. Người có trên hai mươi lần nêu quan điểm của mình như là những định nghĩa về CNXH.

    Ba là, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh cho ta một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam.

    b2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

    Một số ý kiến cho rằng những vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản như mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo, phương pháp, đoàn kết, nền tảng lý luận, v.v… đều đã được đề cập trong học thuyết Mác-Lênin; thậm chí đã được Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, ông cha ta trong lịch sử hàng nghìn năm bàn tới.

    Chúng ta không phủ nhận nhiều vấn đề đã được Mác, Ăngghen, Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, cha ông ta đề cập. Nhưng chúng ta phải phủ nhận quan điểm cho rằng hễ đã có người đi trước đề cập thì người sau chỉ là nói theo, nói lại.

    Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh nói rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Rõ ràng là khái niệm cho ta biết Hồ Chí Minh nắm chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và hiểu rõ điều kiện nước ta. Điểm chốt ở đây là “điều kiện cụ thể của nước ta”. Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”. Điều kiện nước ta không giống các nước khác, ít nhất trên hai điểm: Truyền thống lịch sử, văn hóa, con người và nước thuộc địa thời cận đại. Hai điểm này không hoàn toàn tách bạch, mà có sự tiếp nối. Nhưng cũng có nội dung chỉ có trong thời kỳ thuộc địa. Nhận thức như vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh không viết lại, nói lại các bậc thầy và những gì trong truyền thống dân tộc; ngược lại, Người đã khắc phục những hạn chế của truyền thống và thiếu hụt trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

    Hạn chế lớn nhất của giá trị truyền thống là lý luận khoa học. Thiếu hụt lớn nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin là những tư liệu lịch sử của các nước thuộc địa phương Đông. Hồ Chí Minh đã lấp đầy những khoảng trống đó. Chỉ cần nêu một số điểm tiêu biểu cũng thấy rõ rằng, nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta thì không thể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

    Thứ nhất, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Còn ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với bọn đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.

    Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng ở Việt Nam trước hết nhằm mục đích giải phóng dân tộc. Vấn đề này ở các nước tư bản châu Âu cơ bản đã được giai cấp tư sản làm. Vì vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin bàn trước hết tới đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp.

    Thứ ba, quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng ở các nước thuộc địa cũng không giống ở các nước tư bản châu Âu. Đảng Cộng sản ra đời ở nước Việt Nam thuộc địa phải có thêm yếu tố phong trào yêu nước và ngay từ đầu Đảng đã cắm rễ sâu trong lòng dân tộc.

    Thứ tư, quan điểm về đoàn kết theo Mác “Giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, và Lênin “Giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam, nơi phải đoàn kết “đồng bào”, toàn dân tộc, mọi con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng.

    Thứ năm, ở nước Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là thực hành dân chủ và đạo đức.

    Thứ sáu, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, kinh tế và tư duy nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển không thể làm theo cách mà các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản như ở châu Âu. v.v…

    Vì không nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên nên có người nghĩ rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng giống Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong lúc đó sự khác nhau là rõ rệt. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cách mạng vô sản: đánh đổ giai cấp tư sản, mục đích là thiết lập nền chuyên chính vô sản, lực lượng công-nông là chủ yếu, quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội… Còn cách mạng Việt Nam tháng 8-1945 là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản: đánh đổ bọn đế quốc xâm lược, mục đích là giành độc lập dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, quá độ gián tiếp lên CNXH…

    Nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng hệ thống lý luận cách mạng soi đường cho cách mạng Việt Nam thì làm sao chúng ta có thắng lợi nhanh gọn trong thời gian chưa đầy hai tuần của Tháng Tám năm 1945? Và tiếp theo là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quá độ lên CNXH khi cả nước có chiến tranh với tư duy “chủ nghĩa xã hội thời chiến”.

    Trong “khái niệm” có nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này cần được hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà trên nền dân tộc. Điều cần nhấn mạnh là dưới ánh sáng cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng cao các giá trị truyền thống lên một chất mới, trình độ mới, tạo nên sức mạnh mới trong thời đại mới. Hồ Chí Minh cũng tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại. Người đã làm giàu trí tuệ của mình và trí tuệ dân tộc bằng những giá trị văn hóa phương Đông như đạo đức, chủ nghĩa tập thể, lòng từ bi hỷ xả…

    Hiện nay, có một số lực lượng thù địch đang cố tình đưa ra những quan điểm thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ và cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh song cũng lại có một số quan điểm sai trái, lệch lạc do không nghiên cứu thấu đáo dẫn tới không hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này – hoặc vô tình hay hữu ý – đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch. Để phê phán và chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần hiểu đúng, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người. Phải coi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là chìa khóa mở cửa đi vào nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

    4. Biện pháp

    Đẩy mạnh việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh

    – Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

    – Nâng cao ý thức cảnh giác và tăng cường đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc.

    5. Tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác

    – TTHCM soi đường cho Đảng và nhân dân VN trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.

    – Thông qua việc học tập, nghiên cứu TTHCM để bồi dưỡng, củng cố cho sinh viên, thanh niên lập trường, quan điểm CM trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, TTHCM; kiên định mục tiêu ĐLDT gắn liền với CNXH; tích cực đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, bảo vệ CN Mác – Lênin và TTHCM.

    1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị

    – TTHCM giáo dục đạo đức, tư cách, phẩm chất CM cho cán bộ, đv và toàn dân.

    – Trên cơ sở đã được học, SV vận dụng vào cuộc sống, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, hoàn thành tốt chức trách của mình, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng theo con đường mà HCM và Đảng ta đã lựa chọn.

     

     

     

    CHỦ ĐỀ 2:  Phân tích  cơ sở khách quan hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

    – Chính quyền triều Nguyễn đã từng bước khuất phục trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp, lần lượt ký kết các hiệp ước đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

    – Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa, giai cấp công nhân, tầng lớp tiểu tư sản và tư sản bắt đầu xuất hiện tạo ra những tiền đề bên trong cho phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc.

    – Ảnh hưởng của các “tân văn”, “tân thư”, “tân báo” và trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam, trào lưu yêu nước chuyển dần sang xu hướng tiểu tư sản.

    – Các sĩ phu Nho học có tư tưởng tiến bộ, thức thời, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã cố gắng tổ chức và vận động cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp với mục tiêu và phương pháp mới, nhưng tất cả đều thất bại.

    Vì vậy, phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, phải đi theo một con đường mới.

    b. Bối cảnh thời đại

    – Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.

    – Nhiều cuộc đấu tranh sôi nổi của công nhân các nước tư bản diễn ra, đỉnh cao là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã làm “thức tỉnh các dân tộc châu Á”, lật đổ nhà nước tư sản, thiết lập chính quyền Xô Viết mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử loài người.

    – Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (3/1919), phong trào công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông càng có quan hệ mật thiết với nhau hơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc.

    2.  Tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    a. Giá trị truyền thống dân tộc

    Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc và cao quý của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng – lý luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Đó là truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên, vượt qua mọi khó khăn thử thách, thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài…

    – Trong các giá trị đó, chủ nghĩa yêu nước truyền thống là tư tưởng, tình cảm cao quý, thiêng liêng nhất, là cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của người Việt Nam, cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức, vào ý chí và hành động của mỗi con người. Chính chủ nghĩa yêu nước đã thúc giục Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.

    b. Tinh hoa văn hóa nhân loại

    Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây – chính là nét đặc sắc trong qua trình hình thành nhân cách và văn hóa Hồ Chí Minh.

    – Tinh hoa văn hóa phương Đông

    + Nho giáo: Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực của Nho giáo, đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.

    + Phật giáo: Hồ Chí Minh tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp; đề cao lao động, chống lười biếng; chủ trương sống không xa lánh đời mà gắn bó với nhân dân, tham gia vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc.

    + Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Hồ Chí Minh tìm thấy trong đó “những điều thích hợp với điều kiện của nước ta”, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

    – Tinh hoa văn hóa Phương Tây

    + Hồ Chí Minh nghiên cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.

    + Tiếp thu các giá trị của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1791; các giá trị về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776.

    c. Chủ nghĩa Mác – Lênin

    Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi khắp các châu lục, tiếp xúc, tìm hiểu văn minh phương Đông và phương Tây. Nhưng bước ngoặt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ xẩy ra khi Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin:

    – Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy được chắt lọc, hấp thụ và một vốn chính trị, vốn hiểu biết phong phú, được tích lũy qua thực tiễn hoạt động vì mục tiêu cứu nước và giải phóng dân tộc.

    – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin một cách chọn lọc, theo phương pháp macxit, nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất. Vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở.

    – Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường cứu nước: “Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin vừa làm công tác thực tế dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới; “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”.

    – 7/1920: Hồ Chí Minh đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Tác động của “Luận cương” đối với Hồ Chí Minh rất mạnh mẽ và to lớn, sâu sắc, mở ra cho Hồ Chí Minh một chân trời mới, nhận thức mới về cách mạng giải phóng dân tộc, từ đó Hồ Chí Minh lựa chọn “tán thành quốc tế III và hoàn toàn tin theo Lênin”.

    – Luận cương của Lênin không chỉ tạo ra bước ngoặt trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn có ý nghĩa mở đầu một thời kỳ mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam: Đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng tháng Mười Nga – Con đường cách mạng vô sản do Đảng cộng sản lãnh đạo.

    – Qua nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, từ giữa những năm 20 của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã đi đến một sự lựa chọn và khẳng định dứt khoát: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

    – Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin không những chỉ chân chính nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất mà còn khoa học nhất, vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Người. Đây là nguyên nhân căn bản khiến Hồ Chí Minh không một phút xa rời học thuyết Mác – Lênin. Kể cả trong những thời khắc cam go nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tắc bất di bất dịch và lòng trung thành vô hạn đối với chủ nghĩa Mác – Lênin. Vì vậy trong ứng xử, Người giữ vững nguyên tắc, mục tiêu chiến lược đi đôi với sách lược linh hoạt mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biết, ứng vạn biến”.

    – Đối với Hồ Chí Minh, việc “học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận” nhằm nắm vững phép biện chứng, bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những vận dụng sáng tạo mà còn góp phần bổ sung và phát triển những nội dung mới làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin có sức sống mãnh liệt và đưa cách mạng Việt Nam đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt là cách mạng giải phóng thuộc địa.

     

    Trình bày các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và hãy cho biết tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò như thế nào đối với cách mạng Việt Nam?

    Đáp án:

    Các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

    1. Thời kỳ 1890 – 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước, được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân, sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp, băn khoăn trước thất bại của sĩ  phu yêu nước chống Pháp, ham học, muốn tìm hiểu những tinh hoa văn hoá tiên tiến của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Châu Âu.

    –  Trong thời kỳ này ở Hồ Chí Minh đã hình thành tư tưởng yêu nước thương dân tha thiết, bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, ham muốn học hỏi những tư tưởng tiến bộ của nhân loại.

    1. Thời kỳ 1911 – 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

    Nơi Hồ Chí Minh đến đầu tiên trong công cuộc đi tìm đường cứu nước là Pháp – nơi đã sản sinh ra tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái. Người còn đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, sống và hoạt động với những người dân bị áp bức ở Phương Đông và những người làm thuê ở phương Tây. Tham gia Đảng Xã hội Pháp, tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga, học tập và tìm hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin.

    – Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng: từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân phát triển thành chiến sĩ Cộng sản Việt Nam. Đây là bước chuyển biến cơ bản về tư tưởng cứu nước của Hồ Chí Minh: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. Thời kỳ 1921 – 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.

    Là thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động thực tiễn sôi nổi, phong phú. Trong thời kỳ này tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản. Người đã nghiên cứu xây dựng lý luận kết hợp với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

    1. Thời kỳ 1930 – 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.

    – Trong những năm đầu của những năm 1930, Hồ Chí Minh đã kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, Ban chấp hành trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do, dẫn đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Với bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng công bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

    – Đây là mốc lịch sử quan trọng không chỉ mở ra kỷ nguyên tự do, độc lập mà còn là bước phát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tư sản thành quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới.

    1. Thời kỳ 1945 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.

    Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thời kỳ này có những nội dung lớn sau:

    – Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc.

    – Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

    – Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    – Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền.

    Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí, vai trò:

    * Thân thế và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh luôn gắn với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có vai trò, vị trí vô cùng to lớn, không thể thiếu và là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng Việt Nam. Tài sản vô giá trong kho tàng lý luận của cách mạng Việt Nam và thế giới tiến bộ.

    * Vạch ra con đường và dẫn dắt đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn: Từ cách mạng giải phóng dân tộc đến cách mạng XHCN, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    * Đảng ta khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Nó được biểu hiện trên một số mặt chủ yếu:

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam, vì vậy, vạch rõ những quy luật của cách mạng Việt Nam: Đó là con đường từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng CNXH, vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó chặt chẽ với toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam, là cơ sở nhận thức cho việc xây dựng lòng tin vào sự tất thắng của cách mạng Việt Nam, dù nó phải kinh qua nhiều gian khổ, thử thách cam go của lịch sử.

    – Với bản chất khoa học và cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần to lớn vào việc hình thành thế giới quan phương pháp luận, nhân sinh quan đúng đắn cho mỗi con người Việt Nam trong mọi tình huống. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng và nhân dân ta nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nên đã cơ bản vượt qua khủng hoảng, vững bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    – Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, tinh thần ấy có vai trò to lớn trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

     

    Câu 32: Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh?

    Trả lời:

    Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời của Người – cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho giải phóng nhân loại và từng con người. Tư tưởng đó thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:

    * Con người là vốn quý nhất – nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.

    – Có lòng thương yêu vô hạn đối với con người, thông cảm sâu sắc với mọi đau khổ của con người. Từ đó tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc gây ra cho con người.

    – Ra đi tìm đường cứu nước, nhìn thấy nỗi đau của các dân tộc thuộc địa. Và vì thế lòng thương yêu người Việt đã trở thành lòng yêu thương nhân dân bị áp bức toàn thế giới. Khát vọng giải phóng dân tộc đã trở thành khát vọng giải phóng loài người.

    Người chỉ ra rằng, dù màu da có khác nhau, nhưng trên đời này chỉ có 2 giống người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Và chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân gây ra mọi đau khổ cho các dân tộc.

    – Có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người.

    – Có ý chí đấu tranh để giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người.

    * Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng:

    – Hồ Chí Minh đưa ra một khái niệm về con người rất cụ thể, con người trong các mối quan hệ xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể. Đó là gia đình, họ hàng, anh em, bầu bạn; là đồng bào cả nước.

    – Con người, với tư cách là mục tiêu của cách mạng: mọi chủ trương, đường lối, chính sách… của Đảng đều là vì con người, luôn luôn tin ở sức mạng của con người trong cách mạng và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng là vì con người.

    – Con người – động lực của cách mạng: Đây là sự cụ thể hoá tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”. Tuy nhiên, sức mạnh của con người phải được tổ chức, giáo dục và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    * Trồng người là chiến lược hàng đầu của cách mạng.

    – Hồ Chí Minh đã xuất phát từ vai trò của yếu tố con người.

    – Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa” và “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.

    – Chiến lược “trồng người” của Hồ Chí Minh phải là “vừa hồng, vừa chuyên”. Có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn và có phẩm chất chính trị vững vàng.

    Tóm lai, Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra các nội dung rất sâu sắc, cụ thể mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn cao cho Đảng và cách mạng Việt Nam ngày nay trong thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà vấn đề có ý nghĩa quyết định đó là yếu tố con người – mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới.

    Câu 33: là sinh viên đại học An Giang bạn nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào trong sự nghiệp xây dựng con người mới XHCN ở nước ta?

    Trả lời:

    * Những di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh để lại cho Đảng, dân tộc và nhân dân ta không chỉ có giá trị to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn có ý nghĩa thời sự trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt là việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Về tư tưởng, đạo đức, lối sống:

    – Việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ vị trí, vai trò của thế giới quan, phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc hình thành và xây dựng nhân cách và bản lĩnh của người Việt Nam nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà chủ nghĩa xã hội đang gặp nhiều khó khăn trước sức công phá của chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” của chủ nghĩa đế quốc.

    – Xây dựng, bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên chiến thắng đói nghèo và lạc hậu. Không chỉ dừng lại yêu nước chung chung mà phải gắn với yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng và bằng ý chí quyết tâm, nghị lực và khả năng của mình, vươn lên chiếm lĩnh các đỉnh cao khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    – Giữ gìn đạo đức, nhân phẩm, lương tâm, danh dự; sống giản dị, ít ham muốn vật chất. Đây là một yêu cầu cao trong việc xây dựng và rèn luyện con người mới. Vì vậy phải tích cực gắn giữa xây với chống, lý luận với thực tiễn để sàng lọc, xây dựng các điển hình tiên tiến; đặc biệt là trong cơ chế thị trường hiện nay.

    Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh

    Lòng nhân ái, khoan dung Hồ Chí Minh là sự kết tinh của nhân ái, khoan dung Việt Nam trong thời đại mới. Làm cơ sở cho ta mở cửa, hội nhập, hướng tới tương lai trong việc thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

    * Rèn luyện thói quen tự học, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ và thông tin, giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu hội nhập với thế giới.

    Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay, nếu ta thụ động trong việc tự học và tiếp cận công nghệ thông tin hoặc không chú trọng việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, chúng ta sẽ bị các nền văn hoá ngoại lai thôn tính, bị tụt hậu trên mọi lĩnh vực, và vì thế không thể xây dựng xã hội chủ nghĩa và không thể thực hiện xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận phân tích chiến lược kinh doanh của toyota


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-v%C3%A0o-x%C3%A2y-d%E1%BB%B1ng-%C4%91%E1%BA%A1o-%C4%91%E1%BB%A9c-c%C3%A1ch-m%E1%BA%A1ng-cho-%C4%91%E1%BB%99i-ng%C5%A9-c%C3%A1n-b%E1%BB%99-%C4%91%E1%BA%A3ng-vi%C3%AAn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây:Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên

    A. PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

     

    I. LỜI NÓI ĐẦU:

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bàn một cách sâu sắc, cô đọng, thấm thía về vấn đề đạo đức mà chính bản thân Người, trong suốt cuộc đời, đã thực hiện một cách mẫu mực những tư tưởng và khát vọng đạo đức do mình đặt ra.

    Rất nhiều điều Bác nói về đạo đức đã qua hàng bốn, năm mươi năm hay lâu hơn nữa, nhưng nay vẫn còn nóng hổi tính thời sự. Bác nói về những trường hợp cụ thể, cho những đối tượng cụ thể song ai nghe cũng cảm nhận đó là lời dạy cho mình. Nhìn lại và nhớ tới từng cử chỉ, từng hành động, từng lời nói và việc làm của Bác trong đời sống thường ngày, lúc sinh thời, ai mà không xúc động? Ai mà không cảm thấy có một cái gì đó không phải khi làm sai những điều Bác dạy.

    Trong giai đoan hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đã luôn ghi nhớ và thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà yếu tố hàng đầu là nâng cao đạo đức cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Đa số cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, năng động, sáng tạo, giữ gìn phẩm chất đạo đức”. Đó là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong hơn 20 năm qua.

    Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước nhiều thách thức, yếu kém cần phải vượt qua. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định một trong những thách thức đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng”. Những suy thoái này còn kéo theo những suy thoái về đạo đức trong gia đình, nhà trường và trong xã hội. Những sự suy thoái đó đang là “nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”.

    Là một đảng viên công tác và sinh hoạt chính trị trong môi trường y tế, tôi nhận thức toàn diện những vấn đề cấp bách nói trên đặc biệt là trong ngành Y tế. Trên nền tảng kiến thức đã được học tập, nghiên cứu trong học phần I.4: Tư tưởng Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm thực tiễn nơi mình công tác cùng với sự tâm đắc về ý nghĩa thiết thực của đề tài, Tôi đã mạnh dạng chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và vận dụng vào xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng trong thời kỳ mới 2010-2015” để viết Tiểu luận tốt nghiệp Lớp trung cấp lý luận Chính trị – Hành chính tại chức khoá 33.

    Xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô khoa Lịch sử Đảng – Xây dựng Đảng, cám ơn các đồng chí trong Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã giúp đỡ tôi hoàn thành tiểu luận này.

    II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Tác giả của tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp tổng hợp, điều tra, thống kê có phân tích và dự báo để hoàn thành đề tài.

    III. MỤC TIÊU ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI:

    – Tiểu luận nêu lên được một cách khái quát nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, sự cần thiết phải nâng cao nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

    – Đánh giá được thực trạng quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong nhiệm vụ xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên tại Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú. Phân tích nguyên nhân và đề ra những giải pháp giúp cho Chi uỷ Trung tâm y tế nói riêng và Đảng uỷ y tế Long Phú nói chung nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

    – Thông qua tiểu luận tốt nghiệp, tác giả muốn bày tỏ lòng kính yêu vô hạn của mình đến lãnh tụ Hồ Chí Minh, một bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam. Là một hành động thiết thực của tác giả hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    – Tác giả cũng hy vọng rằng đề tài này sẽ là tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các khoá học sau.

    IV. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:

    1. Đối tượng nghiên cứu:

    Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình quá trình giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng và thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ đảng viên thuộc Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

    2. Thời gian nghiên cứu:

    Giới hạn thời gian từ khi Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, từ năm 2007 đến năm 2009 và định hướng 2010-2015.

    B. PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

     

    I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

    1. Đạo đức cộng sản trong học thuyết Mác-Lênin

    Theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

    Đạo đức là một hình thái cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển lịch sử. Nó nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội mà trước hết là nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong phân phối sản phẩm đề tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, của các quan hệ xã hội, hệ thống đạo đức cũng theo đó mà ngày càng được nâng cao, mở rộng, phong phú, phức tạp.

    Đạo đức và pháp luật cùng tác động đến hành vi con người, nhưng pháp luật thực hiện dựa vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, còn đạo đức thực hiện dựa vào sức mạnh của dư luận xã hội, của tập quán phong tục truyền thống, niềm tin. Uy tín đạo đức của mỗi người không gắn với bất cứ quyền lực, cấp bậc, chức vụ… cũng như bất cứ quyền hạn chính thức nào. Đạo đức là sản phẩm của lịch sử. Mỗi hoạt động, những nhu cầu của con người khi thay đổi, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong đánh giá các giá trị đạo đức để phù hợp với sự phát triển của lịch sử.

    Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp có những lợi ích riêng và do đó cũng có những quan niệm đạo đức, có nền đạo đức riêng. Tuy nhiên, nền đạo đức được áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là nền đạo đức của giai cấp thống trị, mặc dù trong cuộc sống hàng ngày mỗi giai cấp vẫn ứng xử theo những lợi ích trực tiếp của mình.

    Cũng theo quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, các giá trị đạo đức phổ biến của nhân loại sẽ không ngừng được sáng tạo và phát triển qua mọi thời đại và được kế thừa trong đạo đức cộng sản – một nền đạo đức mang tính nhân loại phổ biến của xã hội tương lai.

    Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức của giai cấp công nhân. Các tiêu chuẩn đạo đức hướng tới chân, thiện, mỹ thực chất là hướng tới cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng tới phục vụ Đảng, phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Đó là một nền đạo đức đối lập về chất so với nền đạo đức phong kiến và đạo đức tư sản.

    2. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cách mạng nước ta

    Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của đạo đức cách mạng, coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.

    Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.

    Do đó, đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc và là phẩm chất mỗi con người.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cho con người, trước hết là cho cán bộ đảng viên. Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Từ một người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới – con đường giải phóng dân tộc theo quỹ đạo cách mạng vô sản. Bằng những hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã bền bỉ, dẻo dai và kiên nhẫn trong việc tìm kiếm con đường, biện pháp để thực hiện mục tiêu: “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi”.

    Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, Đảng ta chính thức bắt đầu kêu gọi “toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong, đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch” và chỉ ra rằng “sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, lần đầu tiên Đảng ta đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh đó là: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta” và khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

    Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII thông qua tại Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng năm 2001, ghi rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

    Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

    Học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, điều làm cho tôi nhiều cảm xúc và tâm đắc nhất chính là những tư tưởng của Người về về đạo đức cách mạng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê  trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Người.

    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    3.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về những chuẩn mực và những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới khác về chất so với nền đạo đức cũ, nhằm phát triển toàn diện con người trong thời đại mới. Hồ Chí Minh xây dựng nền đạo đức cách mạng với hai nội dung cơ bản:

    Một là, xây dựng hệ thống những chuẩn mực của nền đạo đức mới. Tổng hợp những chuẩn mực đó thành phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân, tập thể…

    Hai là, xây dựng những nguyên tắc trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức mới. Hai nội dung này nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện, hướng tới các giá trị cao đẹp Chân – Thiện – Mỹ.

    3.2. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại, đạo đức cộng sản Mác-Lênin và sự tu dưỡng, rèn luyện không mệt mỏi của Hồ Chí Minh.

    1. Truyền thống đạo đức dân tộc

    Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên cơ sở của chủ nghĩa yêu nước. Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống… Tất cả những giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước.

    1. Tinh hoa đạo đức nhân loại

    Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc gia…  Người viết “học thuyết của Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”. Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp; trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp… Hồ Chí Minh còn kế thừa mặt tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản… để xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta.

    Hồ Chí Minh viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách “tam dân” thích hợp với điều kiện nước ta… tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

    1. Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết Mác-Lênin và phong trào cộng sản quốc tế

    Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng đạo đức mới là đạo đức học Mác-Lênin – đạo đức của giai cấp vô sản.

    Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ. Hồ Chí Minh đã nhận rõ điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng ở nước ta.

    1. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí Minh

    Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm… của thế kỷ XX, khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo.

    Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam, mà còn thương yêu thương yêu nhân loại. Người không chỉ muốn cứu nước Việt Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác. Chính quyền Pháp nhiều lần dụ dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng thêm quyết tâm hoạt động cách mạng. Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”.

    3.3. Những đặc điểm của đạo đức cách mạng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh

    Nền đạo đức mới – đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của nhân loại trong lịch sử, cơ bản là đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin – đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong hệ thống các tiêu chuẩn đạo đức của Người về hình thức chúng ta thấy có nhiều khái niệm, phạm trù, mệnh đề của đạo đức truyền thống, nhưng nội dung là của nền đạo đức mới.

    Các tiêu chuẩn đạo đức của Hồ Chí Minh rất toàn diện nhưng không chung chung trừu tượng mà rất cụ thể, dễ thực hiện; có cả những tiêu chuẩn đạo đức chung, nhưng cũng có cả những tiêu chuẩn thích ứng cho mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, mỗi tổ chức… Trong đó, Người đặc biệt chú ý tới đạo đức của cán bộ đảng viên và nói về vấn đề này nhiều nhất.

    Hồ Chí Minh là người xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức mới, nhưng cũng là người thực hiện những tiêu chuẩn đó một cách mẫu mực nhất, có sự thống nhất cao giữa lời nói với việc làm. Đặc điểm này làm cho Hồ Chí Minh tỏa sáng và trở thành tấm gương đạo đức vĩ đại.

    4. Nội dung chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

    Những chuẩn mực đạo đức cần phải thường xuyên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người, trước hết là của cán bộ, đảng viên:

    1. Trung với nước hiếu với dân

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tận trung với nước là chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là lẽ phải, là chân lý. Nước mất thì nhà tan, mỗi người dân sẽ thành nô lệ. Do đó, là người công dân thì phải tận trung với nước, tận lực phụng sự Tổ quốc: suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; không phản bội, quy hàng kẻ địch… Tận trung với nước cũng chính là tận trung với Đảng, quyết tâm đưa đất nước phát triển theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, Đảng là người đại diện cho nước, cho dân, “ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.

    Trong tư tưởng Hồ Chí Minh trung với nước, với Đảng và hiếu với dân là hai mặt thống nhất của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đã tận trung với nước thì phải tận hiếu với dân. Tận hiếu với dân nghĩa là thấy rõ sức mạnh, vai trò thực sự của nhân dân. Phải làm hết sức mình để nhân dân hiểu được quyền cũng như trách nhiệm của người chủ đất nước.

    Từ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành tận trung với nước tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.

    1. Yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa, có tình

    Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể, sâu sắc và bao dung. Hồ Chí Minh chẳng những thương yêu tất cả những người lao động, mà còn đặc biệt thương yêu những người bị áp bức, bóc lột, bị đọa đầy đau khổ, bị nô dịch giai cấp và dân tộc Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng “trắc ẩn”, mà còn được nâng lên ở tầm cao của nhận thức tư tưởng.

    Sống có nghĩa, có tình, giúp người, cứu người, hướng tới giải phóng triệt để con người là động cơ mạnh mẽ, là mục tiêu lý tưởng cao cả của Hồ Chí Minh. Người nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Do đó, để giải phóng triệt để con người thì  không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, giải phóng dân tộc mà còn xoá bỏ tình trạng người bóc lột người. Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện được mục tiêu đó thì “không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

    1. c. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

    Cần là thường xuyên cố gắng, luôn chăm chỉ, trong suốt cả cuộc đời. Cần còn là biết chủ động và sắp xếp công việc có kế hoạch, có sáng tạo, biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để có thể làm việc lâu dài, đạt kết quả cao. Cần còn được hiểu là tăng năng suất trong công tác. Cần là phải chống bệnh chây lười biếng nhác, ỷ lại, thụ động, vô kỷ luật…

    Kiệm là tiết kiệm công sức, tiền của và thời gian, sử dụng chúng sao cho có ích nhất, hiệu quả nhất. Kiệm cũng có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi trong sản xuất và đời sống. Tiết kiệm theo Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngược với bủn xỉn. Người nói: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.

    Theo Hồ Chí Minh, liêm là “Không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Người nói: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chỉnh phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc khoét đục nhân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng”. Vì vậy cán bộ, công chức trong các công sở trước hết phải giữ lấy chữ liêm làm đầu.

    Chính là không tà, là thẳng thắn và đứng đắn. Theo Hồ Chí Minh: trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia ra làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH là người THIỆN, làm việc Tà là người ÁC. Cán bộ, công chức là những người làm việc công cho nên chính còn là sự công tâm, công đức khi giải quyết công việc. Hồ Chí Minh nói: chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Người còn nhấn mạnh, cán bộ, công chức phải tự mình “chính” trước mới giúp được người khác “chính”, nếu mình không “chính” mà muốn người khác “chính” là vô lý.

    Chí công vô tư: cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Người nhấn mạnh, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.

    1. Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

    Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc trưng của đạo đức cộng sản, bắt nguồn từ vai trò của giai cấp công nhân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế chính là quan hệ hữu nghị, hợp tác, giúp đỡ, tương trợ với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người yêu hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới. Chủ nghĩa quốc tế chỉ có thể tốt đẹp khi mỗi quốc gia phải phát huy tinh thần chủ động, tự lực tự cường và phải hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nước lớn. Đó là tinh thần quốc tế cao đẹp mà Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần và rèn luyện trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển và tiến bộ trên toàn thế giới.

    Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng lâu dài cho việc bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng ở mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5. Học tập quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong tổ chức Đảng các cấp

    Ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Mục đích của cuộc vận động là: “làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức… đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng”.

    Tỉnh uỷ Sóc Trăng rất quan tâm đến công tác xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho toàn Đảng bộ. Thông tri số 07-TT/TU ngày 09/01/2007 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Sóc Trăng và Kế hoạch số 11-KH/TG ngày 29/01/2007 của Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ về việc Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.

    Ngày 08/05/2007 Đảng uỷ Y tế huyện Long Phú triển khai Kế hoạch số 07-KH/ĐUYT, bắt đầu thực hiện cuộc vận động, tạo được phong trào thi đua hành động các mạng sôi nổi trong cán bộ, đảng viên toàn ngành y tế. Đặc biệt là tinh thần tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của tập thể Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Từ những lý luận khoa học về đạo đức cách mạng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, giúp cho tác giả đề tài quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về rèn luyện đạo đức cách mạng, là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận trong vận dụng thực tiễn khi nghiên cứu đề tài.

    II. THỰC TRẠNG

    1. Đặc điểm tình hình:

    1.1. Đặc điểm chung:

    Trung tâm y tế huyện Long Phú là đơn vị trực thuộc Sở y tế tỉnh Sóc Trăng, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế; xây dựng kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở; phòng và chống các bệnh gây thành dịch, các bệnh xã hội và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn huyện Long Phú. Sau khi tách 04 xã thuộc huyện Trần Đề theo Nghị quyết số 64/NQ-CP, ngày 23/12/2009 của Chính phủ, huyện Long Phú còn lại 26.372,12 ha diện tích tự nhiên và 110.952 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Long Phú và các xã: Long Phú, Tân Hưng, Tân Thạnh, Trường Khánh, Hậu Thạnh, Đại Ngãi, Song Phụng, Long Đức, Châu Khánh, Phú Hữu. Dân số gồm 03 dân tộc chính: Kinh, Khơ-me, Hoa, sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Trình độ dân trí, kiến thức y tế nhìn chung còn tương đối thấp. Tình hình tổ chức nhân lực của Trung tâm như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số cán bộ 30 30 31
    Số cán bộ nữ 14 14 14
    Số cán bộ người dân tộc Khơ-me 9 9 9
    Số cán bộ có trình độ sau đại học 0 2 3
    Số cán bộ có trình độ đại học 3 1 2
    Số cán bộ có trình độ trung cấp 26 24 22

    Bảng 1: Tổng hợp tình hình cán bộ viên chức của Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú trực thuộc Đảng bộ Y tế được thành lập ngày 14-11-2005, đến nay đã qua 2 kỳ Đại hội. Có nhiệm vụ chính trị là lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tình hình đảng viên trong Chi bộ như sau:

    Nội dung Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
    Tổng số đảng viên trong chi bộ 9 10 14
    Phát triển đảng viên mới 3 2 1
    Đảng viên chuyển đến 0 0 3
    Đảng viên chuyển đi 1 1 1
    Số đảng viên nữ 3 4 6
    Số đảng viên người dân tộc Khơ-me 0 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị đại học 1 1 1
    Số đảng viên có trình độ lý luận CT trung cấp 0 1 2
    Số đảng viên có trình độ lý luận chính trị sơ cấp 3 5 5
    Tuổi đời trung bình của đảng viên trong chi bộ 38 38 42

    Bảng 2: Tổng hợp tình hình đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú.

    1.2. Thuận lợi:

    Qua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng viên Đảng bộ Y tế huyện, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của Chi bộ Trung tâm y tế có những thuận lợi cơ bản do tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, chính trị huyện nhà tiếp tục chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên một bước.

    Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ và đầu tư. Chủ trương xã hội hóa Y tế từng bước được tăng cường và nhân rộng. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã tạo ra nền tảng tư tưởng quan trọng, nâng cao nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị về công tác Y tế. Từ đó toàn ngành đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, đầu tư kịp thời của các cấp Uỷ, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng của ban ngành, đoàn thể địa phương.

    Bên cạnh đó, còn có sự nỗ lực phấn đấu, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức của tập thể cán bộ, đảng viên trong ngành, cùng với việc thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/NĐ-CP; mạng lưới Y tế cơ sở được củng cố và phát triển; cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, nâng cấp, trang thiết bị được bổ sung; tinh thần phục vụ, Y đức và trình độ chuyên môn từng bước được nâng cao.

    1.3. Khó khăn:

    – Mặt bằng dân trí chưa đồng đều, ý thức phòng chống bệnh tật trong cộng đồng chưa cao; thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước; tình trạng ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải chậm cải thiện; nguy cơ bùng phát dịch bệnh luôn tiềm ẩn.

    – Tỷ lệ giường bệnh, số lượng cán bộ Y tế, nhất là bác sỹ trên dân số khá thấp; chế độ, chính sách đối với ngành Y tế tuy được bổ sung, điều chỉnh nhưng chưa thật sự thỏa đáng; tình trạng thiếu nhân lực kéo dài, cơ cấu trình độ chưa cân đối, thiếu một số cán bộ chuyên môn có tay nghề và cán bộ làm công tác dự phòng.

    – Ngân sách cấp chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; đời sống của phần lớn cán bộ, công chức, viên chức Y tế chậm cải thiện; công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình có từng lúc chưa được quan tâm đúng mức; cơ chế khám chữa bệnh bảo hiểm y tế còn một số bất cập, chậm được hướng dẫn một cách thống nhất mặc dù Luật bảo hiểm y tế đã được ban hành.

    2. Thành tựu và hạn chế:

    2.1. Thành tựu:

    1. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    – Công tác tổ chức, nhân sự và phát triển mạng lưới Y tế: Đến cuối năm 2009, có 12/15 xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế xã; 10/15 xã có bác sỹ. Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành nghề y dược tư nhân: 90 cơ sở trên địa bàn.

    – Công tác khám chữa bệnh: Chất lượng điều trị, tinh thần thái độ phục vụ, sự tín nhiệm của người bệnh từng bước được nâng lên; không xảy ra sai sót chuyên môn, tai biến điều trị do thiếu tinh thần trách nhiệm. Thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế, trung tâm y tế huyện đã phối hợp với Bệnh viện Đa khoa cử 05 bác sỹ hỗ trợ 04 trạm Y tế chưa có bác sỹ.

    – Công tác phòng bệnh: Được BCH Chi uỷ xác định là nhiệm vụ hàng đầu và tập trung chỉ đạo mọi nguồn lực thực hiện.

    + Quản lý và chăm sóc sức khỏe trên 90% đối tượng chính sách, học sinh, người cao tuổi và tàn tật.

    + Năm 2009, tình hình các bệnh truyền nhiễm như thương hàn, tiêu chảy, lỵ trực trùng, quai bị, sởi… có xu hướng gia tăng; bệnh sốt xuất huyết diễn biến phức tạp với 942 cas mắc, tử vong 01; đặc biệt là dịch cúm A H1N1 bùng phát với 248. Toàn ngành đã huy động mọi nguồn lực triển khai thực hiện các biện pháp chuyên môn đã kịp thời khống chế, dập tắt dịch.

    + Hàng năm duy trì việc tạo miễn dịch đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi 98% số đối tượng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 6 tuổi cuối năm 2009 còn 16,64%.

    + Thực hiện đạt yêu cầu chỉ tiêu các dự án mục tiêu Y tế quốc gia: quản lý và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên 95% cơ sở chế biến, kinh kinh doanh, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm; kiểm tra vệ sinh môi trường 100% cơ sở cung cấp nước, trường học và cơ sở Y tế công và tư nhân, lập hồ sơ vệ sinh lao động cho 100% cơ sở; khám thai, khám và điều trị phụ khoa đạt trên 93%, tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 135,3%;

    – Công tác khác: Hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ Y học ngày càng chuyển biến rõ nét. Kết hợp chặt chẽ giữa quân và dân y trong diễn tập, phòng chống dịch, khám tuyển nghĩa vụ quân sự và sỹ quan dự bị. Hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú và đạt được một số thành tích trong Hội thao, Hội thi do huyện, tỉnh tổ chức.

    Từ những thành tích đạt được trong nhiệm kỳ qua, Trung tâm Y tế huyện được UBND tỉnh tặng 01 Cờ Thi đua đơn vị xuất sắc năm 2009 và nhiều Bằng khen, Giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong ngành đạt thành tích tốt. Ngoài ra, còn có 01 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”; trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sức khỏe nhân dân” cho 6 cá nhân.

    1. Về xây dựng hệ thống chính trị:

    – Công tác xây dựng Đảng:

    Quy chế làm việc của BCH Chi uỷ được điều chỉnh, bổ sung kịp thời, giúp các Chi uỷ viên, đảng viên trong Chi bộ nắm rõ và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ đó góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo.

    Đảng bộ luôn quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức học tập quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành. BCH chi uỷ chú trọng giáo dục nâng cao Y đức, kỹ năng giao tiếp, thực hành tiết kiệm, xây dựng nếp sống văn minh, tinh thần đoàn kết, đấu tranh chống hiện tượng tiêu cực, bè phái, cục bộ… gắn liền với sinh hoạt Chi bộ.

    Thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2), Chi bộ từng bước đổi mới nội dung sinh hoạt, thường xuyên phê bình và tự phê bình gắn liền với đánh giá thực hiện nhiệm vụ đảng viên, những điều Đảng viên không được làm, các tiêu chí “xây” và “chống” trong ngành Y tế. Nhất là từ năm 2007 đến nay, với xác định ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chi uỷ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, thực hiện tốt các chuyên đề theo đúng tinh thần chỉ đạo của Huyện uỷ. Qua cuộc vận động này, 100% đảng viên, người lao động viết bản cam kết phấn đấu thực hiện những nội dung cụ thể, phù hợp vị trí đang công tác; đồng thời củng cố nhận thức chính trị, có lập trường quan điểm vững vàng, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao, có hành động thiết thực trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, sửa đổi lề lối làm việc. Nhìn chung, Cuộc vận động đã đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công việc.

    Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, kịp thời phát hiện đảng viên có biểu hiện sai phạm, chưa làm tốt nhiệm vụ đảng viên để có biện pháp giáo dục, uốn nắn. Nhiệm kỳ qua không có đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật Đảng.

    Trong 3 năm qua, kết nạp mới 05 đảng viên. Ngoài ra còn 04 hồ sơ phát triển đảng đang chờ Huyện uỷ xem xét. Lập thủ tục chuyển sinh hoạt 03 đồng chí, tiếp nhận công tác 04 đồng chí, phát thẻ đảng viên cho 06 đồng chí.

    Bảng 3: Biểu đồ phát triển đảng viên từ năm 2007-2009.

    Qua đánh giá phân loại đảng viên cuối năm 2009, 3/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 9/14 đồng chí xếp loại đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ và 2 đồng chí đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ; không có đảng viên xếp loại yếu kém.

    Bảng 4: Biểu đồ tỷ lệ xếp loại đảng viên cuối năm 2009.

    – Công tác xây dựng chính quyền:

    BCH Chi uỷ luôn quan tâm và trực tiếp lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ, phát triển mạng lưới… nhằm xây dựng bộ máy quản lý ngày càng vững mạnh, đủ năng lực điều hành mọi hoạt động. Kiến thức, kỹ năng module IV, V được chú trọng áp dụng trong việc quản lý các lĩnh vực công tác, nhất là quản lý kế hoạch và giám sát Y tế cơ sở. Thực hiện nghiêm túc chế độ thủ trưởng, quy định của ngành và quy chế chi tiêu nội bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng, đã ngăn ngừa tiêu cực một cách hiệu quả.

    – Công tác xây dựng đoàn thể:

    Quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện hoạt động Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban “Vì sự tiến bộ Phụ nữ” theo Quy chế làm việc toàn khóa, thông qua việc ban hành nghị quyết, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát hoạt động. Đồng thời, thường xuyên cùng với Ban lãnh đạo đơn vị, Ban Chấp hành đoàn thể trao đổi, bàn bạc tìm biện pháp chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần, thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, phát động phong trào thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, vận động đóng góp nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa…

    – Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ:

    Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, chính quyền kết hợp các đoàn thể thường xuyên tiếp thu ý kiến xây dựng. Hàng quý, công khai tình hình sử dụng ngân sách, các nguồn quỹ. Các vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự, đào tạo được Ban chấp hành bàn bạc thống nhất trước khi đưa ra chi bộ xem xét quyết định.

    2.2 Hạn chế, tồn tại:

    – Hạn chế trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:

    + Mạng lưới Y tế cơ sở tuy phát triển, hoàn thành chỉ tiêu xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế nhưng chất lượng hoạt động và tính bền vững chưa cao, Bác sỹ về công tác tại trạm Y tế chỉ đạt 76,9% chỉ tiêu. Một số bộ phận tuyến huyện thiếu cán bộ kéo dài, việc bố trí nhân lực còn mang tính tình thế.

    + Trình độ cán bộ và kiến thức Y học của người dân còn thấp và chưa đồng đều; tình hình vệ sinh môi trường chậm cải thiện.

    + Chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, song nhìn chung sức thu hút người bệnh tại trạm Y tế chưa cao. Việc sử dụng trang thiết bị được cung cấp còn hạn chế.

    – Hạn chế trong xây dựng hệ thống chính trị:

    Đây là một trong những nội dung quan trọng trong đề tài, là cơ sở cho việc đưa ra nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể và hiệu quả cho công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong thời gian tới.

    + Công tác xây dựng, phát triển số lượng đảng viên của chi bộ còn tương đối chậm, Trong 3 năm phát triển được 5 đảng viên, hiện tại Chi bộ có 14 đảng viên trên 31 cán bộ là tương đối ít. Số lượng đảng viên nữ còn hạn chế. Đặc biệt chỉ có 01 đảng viên người dân tộc Khơ-me trong chi bộ.

    Bảng 5: Biểu đồ tình hình phát triển đảng viên

    + Trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong chi bộ còn tương đối thấp, chưa tương xứng với quy mô và trình độ chuyên môn của đảng viên trong Chi bộ, điều này cho thấy công tác cán bộ còn hạn chế, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị tại Chi bộ chưa được quan tâm đúng mức.

    Bảng 6: Biểu đồ thống kê trình độ lý luận chính trị của đảng viên trong Chi bộ.

    + Đạo đức cách mạng, tác phong gương mẫu trong đảng viên còn những vấn đề cần phải quan tâm. Một số ít cán bộ, đảng viên ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa gương mẫu trong công tác và trong rèn luyện đạo đức, tác phong. Còn hiện tượng nói nhiều, làm ít, làm qua loa, trong việc làm còn mang nặng tính hình thức.

    + Thực hiện chế độ phê bình và tự phê bình của một số đảng viên chưa nghiêm túc, còn nể nang, cầu an… cho nên tinh thần đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực trong một số hiện tượng chưa thật sự triệt để.

    + Ý thức thực hành tiết kiệm trong dự phòng và điều trị bệnh chưa triệt để thực hiện. Sử dụng các nguồn kinh phí cho phòng bệnh mang lại hiệu quả chưa cao. Trong điều trị việc kê đơn thuốc đôi lúc chưa chưa hợp lý, chưa giảm được chi phí thấp nhất cho người bệnh.

    + Còn một số ít cán bộ, đảng viên chưa đặt nặng trách nhiệm với công việc, với nhân dân; thiếu chủ động, còn ngán ngại với khó khăn; thiếu tự giác nhìn nhận và chậm khắc phục khuyết điểm của bản thân.

    2.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế:

    1. Nguyên nhân thành tựu:

    Đạt được kết quả trên, trước hết nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng; sự quan tâm lãnh đạo,.chỉ đạo của Huyện uỷ, UBND huyện, Sở Y tế và các chuyên khoa đầu ngành tuyến tỉnh; sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền, ban ngành, đoàn thể cơ sở; tinh thần đoàn kết, quyết tâm, phát huy nội lực của tập thể cán bộ, đảng viên ngành Y tế; sự năng động trong lãnh đạo, chỉ đạo của BCH Đảng uỷ; sự điều hành tập trung của Ban lãnh đạo các đơn vị; những thành quả tích lũy từ nhiệm kỳ qua… đã tạo ra động lực thúc đẩy toàn ngành phát triển khá toàn diện.

    1. Nguyên nhân tồn tại:

    Về khách quan có nhiều nguyên nhân như:

    – Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Y tế chậm đổi mới, chưa có chế độ thu hút bác sỹ về phục vụ ở cơ sở; xuất phát điểm của ngành còn thấp so với các tỉnh lân cận, còn thiếu nhiều cán bộ có tay nghề và trang thiết bị kỹ thuật cao; nguồn đầu tư của trên còn chậm, một số lĩnh vực chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển; thời tiết diễn biến phức tạp, nguy cơ dịch bệnh luôn tiềm ẩn, có khả năng bùng phát trên diện rộng…

    – Hạn chế của đảng viên về đạo đức cách mạng còn do những nguyên nhân khách quan thuộc mặt trái của nền kinh tế thị trường; là sự bùng nổ thiếu kiểm soát thông tin trên mạng intemet và giao lưu quốc tế đã tạo điều kiện cho những mặt tiêu cực của văn hóa và lối sống bên ngoài du nhập vào nước ta; là trong xã hội ta hiện nay vẫn còn những tàn dư của đạo đức phong kiến, thực dân và âm mưu “diễn biến hòa bình” của kẻ thù.

    Song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, đó là:

    – Tư duy đổi mới của không ít cán bộ, đảng viên chưa theo kịp với yêu cầu của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;

    – Năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ chuyên môn của một vài cán bộ chủ chốt còn hạn chế; còn một số đảng viên nói nhiều, làm ít, ngại khó, sợ va chạm, thiếu gương mẫu, tự thỏa mãn với bản thân;

    – Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của tập thể BCH Chi uỷ về công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, kiểm tra. . . và trong một vài tình huống còn lúng túng, thiếu cương quyết;

    – Bước vào thời kỳ mới, ngành Y tế nước ta có nhiều điều kiện phát triển, đội ngũ cán bộ y tế có nhiều tiến bộ và cống hiến to lớn, nhưng cũng đứng trước những thách thức mới, trong đó có sự xuống cấp về y đức.

    – Riêng về công tác giáo dục chính trị, đạo đức thì có những nguyên nhân chủ quan, trước hết là có biểu hiện buông lỏng việc giáo dục đạo đức, lối sống cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong một thời gian khá dài do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của đạo đức cách mạng. Thêm vào đó là những hiện tượng xử lý không nghiêm minh đối với những cán bộ xa rời đạo đức cách mạng…

    III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1. Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào công tác rèn luyện đạo đức cách mạng ở Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú trong giai đoạn mới 2010-2015:

    * Những nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng

    1. Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, chủ yếu trong thực tiễn cách mạng

    Theo Hồ Chi Minh, đã tham gia vào đời sống cộng đồng thì mỗi người – không phải là thánh nhân – ít nhiều đều mắc sai lầm, khuyết điểm. Người nói: “người nào không mắc khuyết điểm mới là lạ”. Người so sánh sự tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như người trồng lúa, phải có công chăm bón, diệt cỏ, trừ sâu lúa mới tốt; còn cái ác giống như cỏ dại, nếu không diệt thì nó mọc tràn lan, sinh sôi nảy nở. Do đó, phải phấn đấu, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời, sao cho phần thiện ngày càng nảy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng ít đi.

    Tu dưỡng đạo đức cách mạng tốt nhất là trong hoạt động thực tiễn. Chỉ trong thực tiễn cách mạng mới hiện rõ thiện, ác, tốt, xấu. Nhờ đó mới biết rõ phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hành động đạo đức như thế nào? Đấu tranh chống phi đạo đức ra sao? đấu tranh chống các hiện tượng phi đạo đức cũng là tu dưỡng đạo đức. Hồ Chí Minh kết luận: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

    Chỉ có trong thực tế công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, người cán bộ y tế mới có đầy đủ điều kiện rèn luyện mình một cách toàn diện.

    1. Nêu gương đạo đức, nói đi đôi với làm

    Hồ Chí Minh coi trọng sự gương mẫu trong thực hành đạo đức, nói đi đôi với làm, nói được phải làm được. Đó là một nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới. Người nhấn mạnh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã”.

    Đạo làm gương, nói đi đôi với làm phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực: từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội… Trong lĩnh vực y tế cũng thế, phải tôn trọng nhân dân, bệnh nhân. Phải mẫu mực trong lời nói, cử chỉ và hành động, tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân. Trong chuyên môn khi phát ngôn phải dựa trên trình độ và khả năng của mình, chức năng của đơn vị mình… tránh hiện tượng đề cao cá nhân, khoe tài, địa vị…

    1. Luôn đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân

    Xây dựng đạo đức cách mạng là để giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Thế nhưng, như Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Chúng ta sinh trưởng trong xã hội cũ, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình vết tích xấu xa của xã hội cũ về tư tưởng, nhất là những tiêu chuẩn đạo đức cũ đã lỗi thời và cả cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức. Chúng đang là “kẻ địch ở trong lòng” ngăn trở to lớn đến việc xây dựng nền đạo đức mới. Nguyên nhân sâu xa của những cái ác, cái xấu, cái phi đạo đức chính là chủ nghĩa cá nhân.

    Chủ nghĩa cá nhân là tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, việc gì cũng chỉ đặt lợi ích cá nhân lên trên hết, trước hết; chỉ muốn mọi người vì mình, “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan tham ô, lãng phí, óc hẹp hòi, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội chủ nghĩa”… “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ  nghĩa cá nhân”.

    Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có lợi ích của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu. Hồ chí Minh khẳng định, chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình.

    Đạo đức cách mạng chứa đựng nội dung lớn, căn bản và hoàn toàn có thể thực hiện tốt nếu mỗi người chú trọng tu dưỡng rèn luyện. Tuân theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng ta trong công cuộc đổi mới. Từ những phân tích đánh giá về thực trạng, Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú ngoài mục tiêu, nhiệm vụ về chăm sóc sức khỏe nhân dân, cần đặc biệt quan tâm thực  những nhiệm vụ và các giải pháp rèn đạo đức cách mạng tại Chi bộ trên mấy điểm chính sau đây:

    2. Nhiệm vụ:

    – Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết sức mình cho sự thắng lợi, sự phát triển của công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hết lòng, hết sức phục vụ sự nghiệp của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân, trung với nước, hiếu với dân, đặt lợi ích của cách mạng, của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích của cá nhân.

    Nhiệm vụ của người cán bộ Y tế xã hội chủ nghĩa là chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người, đó là một nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ: Lương y phải như Từ mẫu. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

    – Thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Không tham nhũng, xâm phạm tài sản của Nhà nước và nhân dân, không lãng phí. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, cương lĩnh, kỷ luật của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

    Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

    – Ra sức học tập, rèn luyện không ngừng nâng cao trình độ, năng lực công tác, giữ gìn lối sống trong sạch, lành mạnh. Đề cao tự phê bình và phê bình nhằm góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

    Rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước.

    – Gương mẫu trong mọi việc, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, đoàn kết, thân ái, nêu cao tinh thần thương yêu đồng chí, thương yêu nhân dân.

    Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

    3. Các giải pháp:

    Để không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên, chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú cần phải tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu:

    Thứ nhất, phải coi trọng nhiệm vụ giáo dục cho cán bộ, đảng viên về đạo đức, phẩm chất, lối sống.

    Cần tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên qua sinh hoạt ở tổ chức đảng. Trong sinh hoạt chi bộ và cấp ủy không chỉ có phần đánh giá công việc, mà còn phải kiểm điểm, đánh giá về đạo đức cán bộ. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, nhấn mạnh: Các tổ chức đảng phải thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra cán bộ, đảng viên về đạo đức, lối sống. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng nêu rõ, cần làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên.

    Đối với cán bộ y tế, rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức đặc biệt: Từ tấm lòng lương y như từ mẫu mà nảy sinh ra những đức tính cần thiết của người cán bộ y tế như niềm nở, dịu dàng trong tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo khi chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ lúc dặn dò và trong những trường hợp khó khăn, nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh, quên mình để làm tròn phận sự cứu người. Có tình thương của người mẹ hiền thì người thầy thuốc tránh được những thói xấu như cầu lợi, kể công, phân biệt đối xử giữa giàu, nghèo, sang, hèn, hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc, qua loa, tắc trách trong phục vụ, đố kỵ, kèn cựa với đồng nghiệp… “Thầy thuốc như mẹ hiền” là cốt lõi của đạo đức ngành y. Do đó rất cần những cán bộ đảng viên không những có kiến thức y học tốt mà còn có tư tưởng đạo đức cách mạng cao, có tấm lòng yêu hòa bình, yêu thương nhân loại, yêu thương tất cả loài người, có tinh thần chí công vô tư, dành tình thương cho tất cả người bệnh, có tinh thần quốc tế, đoàn kết hợp tác với nền y học các nước vì sự phát triển của y học thế giới. Có như thế mục tiêu phát triển con người của Đảng và nhân dân ta chắc chắn sẽ thành công.

    Kết hợp sáng tạo và khoa học giữa giáo dục đạo đức, lối sống với thực hiện nhiệm vụ chính trị của Chi bộ là bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. Chú trọng đến mặt chất lượng trong xây dựng Đảng, trong phát triển Đảng. Đặc biệt tổ chức thực hiện tốt 12 điều Y đức – Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế – (Ban hành kèm theo quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Phấn đấu giữ vững danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

    Thứ hai, tăng cường vai trò, hiệu lực của kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả.

    Nhà nước đã ban hành pháp lệnh và phát triển thành luật phòng ngừa và chống tham nhũng, lập ra các cơ quan chống tham nhũng. Cấp ủy đảng và Ban Giám đốc Trung tâm y tế phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở đơn vị. Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở đơn vị thì tùy theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp ủy và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm đúng pháp luật. Đó là những biện pháp rất cần thiết và mạnh mẽ cần được thực hiện triệt để.

    Tăng cường hoạt động của Ủy ban kiểm tra Đảng, ban Thanh tra nhân dân tại đơn vị, nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ y tế, hết lòng hết sức phục vụ sức khỏe nhân dân. Xây dựng được ý thức đấu tranh chống tiêu cực, tạo sự bình đẳng trong khám và điều trị bệnh, tạo điều kiện cho mọi người dân ai cũng có thể tiếp cận được với những kỹ thuật y tế tiên tiến trong nhu cầu chăn sóc sức khỏe.

    Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

    Bác Hồ là một con người giản dị, Người đã từng sống bên cạnh chúng ta, chân thật, gần gũi như một người bình thường. Những điều Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, công chức về đạo đức cách mạng là những điều được rút ra từ thực tiễn cuộc đời Người đã sống và hoạt động cách mạng. Do đó, công tác tuyên truyền cần tập trung làm cho mọi người hiểu được và nhận thức một cách chân thực về tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là việc làm sung sướng nhất, vẻ vang nhất như lời căn dặn của Người. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng chỉ rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm chất đạo đức và khí phách của dân tộc ta, Đảng ta. Giáo dục đạo đức, xây dựng lối sống tốt đẹp theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh vừa là yêu cầu cấp bách hiện nay, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài”.

    Từ nội dung của giải pháp này, Chi bộ xây dựng triển khai thực hiện các chuyên đề của cuộc vận động, nhất là Chuyên đề năm 2010: “Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”. Chú ý gắn với các hoạt động chuyên môn, gắn với nhiệm vụ của ngành y tế sao cho thật cụ thể có chiều sâu, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức tư tưởng và hành động của cán bộ ngành Y tế.

    Tích cực nâng cao y đức trong công việc hàng ngày như: Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cũng như phương pháp điều trị cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục bệnh. Thường xuyên giáo dục sức khỏe nâng cao kiến thức phòng bệnh cho nhân dân.

    Thứ tư, cần tăng cường tuyên truyền, học tập những tấm gương về đạo đức cách mạng, xây dựng, bồi đắp cái tốt, cái đúng trong hành vi đạo đức, biểu dương người tốt, việc tốt, lên án cái xấu, cái ác một cách cụ thể.

    Nhiều tấm gương trong sáng về đạo đức cách mạng của các đồng chí lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng qua các thời kỳ cần được tuyên truyền học tập. Đó là bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người Bộ trưởng Y tế đáng kính, chỗ nào có dịch, có bệnh là ông tìm đến. Phạm Ngọc Thạch đã vượt qua bom đạn, rừng núi vào tận chiến trường với quyết tâm tìm ra phương thức, cách chữa đạt hiệu quả cao đối với đồng bào, chiến sĩ miền Nam và ông đã hy sinh trên chiến trường trong khi thực hiện sứ mệnh cao cả đó. Đó là Giáo sư Tôn Thất Tùng với hai “bàn tay vàng” đã cứu sống biết bao nhiêu người, bằng phương pháp mổ gan không chảy máu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là Giáo sư Đặng Văn Ngữ, người thầy thuốc có công to lớn trong công cuộc chống sốt rét ở nước ta thời chống Pháp và chống Mỹ. Đó là tấm gương Bác sỹ Đặng Thùy Trâm và biết bao đồng chí khác là biểu hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng và đạo đức cao đẹp. Trong ngành Y tế hiện nay cũng xuất hiện ngày càng nhiều cán bộ, đảng viên tiêu biểu, nêu cao y đức, đạo đức, thật sự vì sự nghiệp Y tế. Cần phải tập trung nêu gương, động viên, cổ vũ cái tốt, cái đúng, cái cao thượng để đẩy lùi cái xấu, cái sai, cái thấp hèn.

    C. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

     

    I. KẾT LUẬN

    Năm 1927, trong tác phẩm Đường cách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đề lên trang đầu Tư cách một người cách mệnh, và nhấn mạnh sự: cần kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng tham muốn về vật chất… Trải qua 30 năm Đảng ta lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng ta là đạo đức, là văn minh. Trước khi đi xa, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Về nâng cao chất lượng đảng viên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng yêu cầu: “lấy đạo đức làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trong các lĩnh vực công tác được giao”. Như vậy, một lần nữa khẳng định rằng: giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

    Những di sản tinh thần của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là cực kỳ to lớn và quý báu. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã xuất hiện những điều kiện thuận lợi và cả những vấn đề mới, thách thức mới. Vấn đề cốt lõi là các cấp ủy đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: bất kỳ việc gì cũng vì hạnh phúc nhân dân. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động là đợt sinh hoạt chính trị lớn có nhiều ý nghĩa quan trọng, trong đó việc quán triệt về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, tác phong và những lời dạy của Người về đạo đức cách mạng của người đảng viên càng có ý nghĩa thiết thực. Điều này cũng khẳng định rằng: Làm tốt công tác xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên chính là góp phần giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của Đảng.

    Cán bộ đảng viên ngành y cần phải nhận thức rằng, đạo đức của Bác không phải là cái gì cao siêu, xa vời, chỉ để chiêm ngưỡng, ca ngợi, mà đạo đức đó rất thiết thực, cụ thể, mọi người đều có thể học tập và làm theo. Bác không chỉ nói nhiều về đạo đức của người cách mạng mà bản thân cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng và cao đẹp. Tuy nhiên đạo đức cách mạng của người đảng viên không thể có được trong một sớm một chiều mà phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ lâu dài trong hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, Nghề Y là một nghề cao quý, được xã hội tôn vinh, những người thầy thuốc phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức mới thực hiện được lời dạy của Bác. Đối với cán bộ y tế tư tưởng của Bác về y đức vừa là hệ thống lý luận gắn liền với thực tiễn dễ đi vào lòng người, rất dễ nhớ, dễ làm đồng thời còn là những lời dạy bảo thân thương, chân tình mà mỗi người đều thấm nhuần. Vì vậy, trong thời kỳ kinh tế thị trường như hiện nay, mỗi cán bộ y tế cần phải nghiên cứu vận dụng y đức, đạo đức cách mạng vào từng vị trí công tác của mình một cách thường xuyên liên tục để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, đó chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, thực hiện lời dạy bảo đồng thời cũng là mệnh lệnh thiêng liêng xuất phát từ trái tim, từ tấm lòng tôn kính đối với Bác Hồ, vị Cha già muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam.

    II. KIẾN NGHỊ

    – Ban Tuyên giáo Trung ương – cơ quan thường trực giúp Ban Chỉ đạo Trung ương ban hành Nghị quyết, Chỉ thị chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành và địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    – Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy vận dụng vào thực tế tỉnh nhà xây dựng chương trình hành động cụ thể, có kế hoạch đào tạo lâu dài trình độ lý luận chính trị cho cán bộ trẻ. Thường xuyên chỉ đạo các cơ quan liên quan như Sở Văn hoá – Thông tin thể thao, Đài truyền thanh, truyền hình tiếp tục tuyên truyền về những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sức lan toả, thúc đẩy cuộc vận động cả chiều rộng và chiều sâu.

    – Thường trực Huyện uỷ và Ban tuyện giáo Huyện ủy tăng cường vai trò của các cấp ủy, trưởng các đơn vị trong việc triển khai cuộc vận động tại đơn vị trực thuộc của mình. Các thành viên Ban chỉ đạo cấp huyện phụ trách các cơ sở Đảng cần tăng cường công tác nắm tình hình, kiểm tra, chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời các nội dung có liên quan.

    – Đảng ủy Y tế huyện Long Phú cần ban hành hướng dẫn cụ thể về việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức cách nạng theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt chính trị của các chi bộ phù hợp với đặc thù của ngành Y tế.

    – Ban chấp hành Chi bộ trung tâm y tế huyện Long Phú cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về cuộc vận động. Tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các đơn vị khoa, phòng. Lồng ghép triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với các phong trào thi đua khác của ngành y tế. Trên cơ sở đó, xây dựng các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn bình chọn các cá nhân, tập thể điển hình thực hiện tốt cuộc vận động.

    – Mỗi năm, Chi bộ cần tổ chức hội nghị sơ kết nhằm đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm trong triển khai thực hiện và tuyên dương các tập thể, cá nhân điển hình thực hiện tốt cuộc vận động./.

     

     

     

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

     

    1. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Tư tưởng Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    2. Giáo trình Trung cấp Lý luận Chính trị-Hành chính, môn Triết học Mác-Lênin.  Nhà xuất bản Chính trị-Hành chính – năm 2009.
    3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2002.
    4. Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia – năm 1993.
    5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
    6. Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
    7. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia – năm 2006.
    8. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
    9. Đẩy mạnh Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, năm 2007.
    10. Website Đảng Cộng sản Việt Nam: http://www.cpv.org.vn
    11. Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng: http://www.soctrang.gov.vn
    12. Văn kiện Đại hội Đảng viên Chi bộ Trung tâm y tế huyện Long Phú lần thứ II (nhiệm kỳ 2006-2008); lần thứ III (nhiệm kỳ 2008-2010); lần thứ IV (nhiệm kỳ 2010-2012).

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Tiểu luận Triết học Vận dụng quan điểm triết học Mác xit về qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển những thành tựu, hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới đến nay


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/T%C3%80I-LI%E1%BB%86U-H%C6%AF%E1%BB%9ANG-D%E1%BA%AAN-TR%C3%8CNH-B%C3%80Y-TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY TIỂU LUẬN

    (Tham khảo)

    Tiểu luận là một bài viết ngắn để trình bày quan điểm, nghiên cứu phát hiện về một chủ đề nào đó mà bạn tâm đắt. Nó có độ dài thông thường từ 5 đến 15 trang. Dù viết về một vấn đề gì thì nhiệm vụ của mộ t bài tiểu luận phải: (1) nêu lên đượ c vấn đề; (2) phân tích vấn đề; và (3) trình bày những kết quả mới mà bạn phát hiện được hay ý kiến, quan điểm, kết luận của bạn về vấn đề đó.

    Một bài tiểu luận khoa học không thể trình bày (format) một cách ngẫu hứng theo sở thích củ a bạn mà phải theo những tiêu chuẩn qui định. Chẳng hạn theo tiêu chuẩn của Modern Language Association (MLA), American Psychology Association (APA), Chicago … các chu ẩn này có nhữ ng qui định chặc chẽ v ề size ch ữ, khoảng cách giữa các dòng, canh lề, kiểu chữ, tiêu đề, trình bày lời cảm ơn, ghi chú, trích dẫn, tài liệu tham khảo …

    Các bài tiểu luận ở l ớp họ c thường được đơn giả n hoá đi nhiều nhưng cũng phải tuân theo một số c ấu trúc bắt buộc để đảm bảo tính khoa học của bài viết. Phần dưới s ẽ trình bày cấu trúc mộ t bài viết thông thường, định dạng bài viết, cách ghi chú, nguồn số li ệu và phần không thể thiếu là tài liệu tham khảo. Ví dụ sau đây như là một hướng dẫn gợi ý cách trình bày một bài tiểu luận thông thuờng cho các môn học ở Trường Fulbright.

    A. Định dạng chung (theo Fulbright School)

    Paper size A4 (8.17 x 11.69 inches) 21.0 x 29.7 cm
    Top margin 1.25 inches 3.17 cm
    Bottom margin 1.25 inches 3.17 cm
    Left margin 1.25 inches 3.17 cm
    Right margin 1.0 inches 2.54 cm
    Header 0.5 inches 1.27 cm
    Footer 0.5 inches 1.27 cm

    Nguyễn Hoài Bảo                                                                                                                                                          1

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright                     Kinh tế Phát triển                                                 Tài liệu hướng dẫn …

    Niên khóa 2007-2008                                                Bài đọc tham khảo

    B. Cấu trúc một bài viết thông thường ( theo APA)

    [Trang bìa]

    Tựa đề bài viết

    Tên của bạn

    Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

    Tóm tắt

    [Trang 1]

    Tựa đề bài viết

    Nội dung bài viết …

    [Trang mới sau khi kết thúc bài viết chính]

    Tài liệu tham khảo

    [Trang mới sau khi kết thúc mục tài liệu tham khảo] Phụ lục (nếu có)

    C. Trình bày Footnote/Endnote

    Trong bài viết, đ ôi lúc phải sử dụng đến các ghi chú cuối chân trang (footnote) hoặc ghi chú ở trang cuối cùng (endnote). Mục đích là nói rõ thêm hoặc gợi ý các vấn đề có liên quan mà người viết muốn giải thích thêm cho nội dung chính. Ví dụ:

    1Baer, Miles và Moran (1999) vẫn bảo lư u ý kiến cho r ằng, chính sách công nghiệp có hại cho các nước Đông Á và là gốc rễ gây ra khủng hoảng.

    Hoặc:

    2Xem Ngân hàng Thế giới (1998) để có phần tổng kết đầy đủ nhiều vấn đề có liên quan về giá công nghiệp.

    Cũng nên nhớ r ằng, những tài liệu được ghi chú này phải có mặt ở phần “Tài liệu tham khảo”, việc này giúp người đọc tra cứu được các tài liệu gốc khi cần.

    D. Trích dẫn

    Tài liệu trích dẫn (works cited) là những câu văn, công thức, định lý rõ ràng mà chủ quyền tác giả thuộ c về người viết gốc và tác giả dùng nó vào việc chứng minh. Khi có trích dẫn trong bài viết, bạn phải ghi rõ ngu ồn gốc trích dẫn đó là từ đâu. Có nhiều cách trích dẫn, chẳng hạn như trích dẫn một quan điểm, một câu ngắn được để trong dấu ngoặc kép, hoặc trích dẫn một đoạn dài.

    Ví dụ 1: Trích dẫn ngắn trong ngoặc kép:

    “Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nhân loại, việc học của con người rất khác nhau.” (Lam, 2004, tr. 6)

    Ví dụ 2: Nếu trích một đoạn dài:

    Trong các giai đoạn phát triển khác nhau củ a nhân lo ại, việc học củ a con người rất khác nhau. Tuy nhiên, đứng trước quá trình toàn cầu hoá ngày nay, khi khối lượng kiến thức bùng nỗ với cấp số nhân thì năng lực sáng tạo, làm việc độ c lập, làm việc nhóm, năng lực tự học, năng lực thích ứng, sự nhạy cảm … lại trở nên quyết định. (Lam, 2004, tr.6)

    Trong ngoặ c đơn sau mỗi trích dẫn là tên tác giả, nă m xuất bản và trang được trích dẫn. Tên tác giả này được ghi l ại trong phần tài liệu tham khảo. N ếu là trích dẫn một đoạn dài như ví dụ 2 thì toàn bộ nội dung này phải đẩy vô 1 inche (hay 1 tap) so với lề trái.

    E. Nguồn số liệu

    Bảng: Số liệu Việt Nam

      1820 1998
    Dân số (triệu người) 6.3 76.2
    GDP trên đầu người ($US, PPP1990) 546 1,677
    Nguồn: Agus Maddision, 2001    

    Sau một số li ệu, bảng số liệu hay biểu đồ, hình ảnh bạn phải ghi thậ t rõ ràng nguồn để đảm bảo mức tin cậy. Đó có thể là báo cáo của một cơ quan thống kê, trích lại của tác giả khác hoặc điều tra của chính bạn. Nếu không có điều này thì mọi lập luận của bạn dựa vào số liệu, hình ảnh đó sẽ không có gía trị gì.

    F. Danh mục tài liệu tham khảo ( theo APA)

    Cũng như tài liệu trích dẫn, danh mục tài li ệu tham khảo (reference) phải được ghi lại ở cuối bài viết. Đây là những tài liệu mà tác giả mượn ý để làm tiền đề cho sáng tác của mình. Có các loại tài liệu tham khảo khác nhau, chẳng hạn sách, một bài viế t trong một tập sách gồm nhiều tác giả, tạp chí, tài liệu từ internet …ứng với mỗi tài liệu này đều có cách ghi khác nhau. Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày một số cách ghi tài liệu tham khảo cơ bản.

    • Tài liệu là báo chí

    Doe, J. Q. (1999, 12 August). “Tên bài báo”. Tên tạp chí, 212, 23.

    Nguyễn Hữu Lam. (2004). “Điểm xuất phát của đổi mới giáo dục đại học”. Tuổi trẻ Chủ

    Nhật, 31-2004, 6.

    • Tài liệu là tạp chí khoa học chuyên ngành

    Doe, J. R. (1987). “Tên bài nghiên cứu”. Tên tạp chí khoa học, 35, 112-128.

    Bùi Tất Thắng. (2004). “Toàn cầu hoá và cơ may rút của công nghiệp hoá rút ngắn Việt

    Nam” . Nghiên cứu Kinh tế, 314, 40-51.

    • Tài liệu là sách:

    Lastname, F. (1998). Tên sách. Nơi xuất bản (City): Nhà Xuất bản.

    World Bank. (1993). The East Asian Miracle: Economic Growth and Public, New York:

    Oxford University Press.

    • Tài liệu lấy từ Internet.

    Maner, M. (1999, 14 April). Tựa đề tài liệu tham khảo lấy từ Internet. Được lấy về từ:

    http://www.dianahacker.com/resdoc/

     

    David Dapice, t.g.k. (2004). Lịch sử hay chính sách: tại sao các tỉnh phía Bắc không

    tăng trưởng nhanh hơn. Được lấy về từ :

    http://www.fetp.edu.vn/Research_casestudy/display.cfm?fid=84

    Như vậy có một trật tự như sau: Tên tác giả, thời gian xuất bản, tự a đề của tài liệu (tên bài nghiên cứu hoặc sách), số của tạp chí, nhà xuất bản (nếu là sách), số trang.

    Lưu ý r ằng, theo phong cách của APA thì họ (last name) của tác giả được viết trước và tên viết sau. Thứ tự củ a danh mục tài liệu tham khảo được xếp theo chữ cái abc. Tuy vậy có thể không tiện lắm trong trường hợp tác giả là người phương Tây và phương Đông. Vì thế ngày nay ngườ i ta thường tôn trọng tên nguyên thuỷ của tác giả nhưng vẫn xếp thứ tự abc dựa theo họ từ trên xuống dưới.

    Danh mục tài liệu tham khảo bắt đầu một trang mới. Dòng thứ hai của một tài liệu tham khảo phải cách lề trái 0.5 inche (5 spaces). Nếu một tài liệu tham khảo nào có nhi ều tác giả thì chỉ viết tác giả đầu và sau đó viết tắt “tác giả khác” , t.g.k (đồng nghĩa với et. al. trong tiếng Anh).

    Để biết chi tiết hơn bạn có thể tham khảo:

    Anthony C. Winkler và Jo Ray McCuenm. (1989). Writing the Research Paper, Harcourt Brace Jovanovich Publishers.

    Có rất nhiều hướng dẫn và mẫu về cách trình bày một bài nghiên cứu trên Internet, bạn có thể tham khảo thêm một số địa chỉ sau:

    http://webster.commnet.edu/apa/index.htm http://owl.english.purdue.edu/handouts/research/r_mla.html#General http://www.dianahacker.com/resdoc/

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]