Category: Kỹ Năng Mềm

  • Kinh nghiệm chuẩn bị và bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp

    Kinh nghiệm chuẩn bị và bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp

    Kinh nghiệm chuẩn bị và bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ án tốt nghiệp Thiết kế cung cấp điện cho nhà máy xi măng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/04/Kinh-nghi%E1%BB%87m-chu%E1%BA%A9n-b%E1%BB%8B-v%C3%A0-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-T%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kinh nghiệm chuẩn bị và bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp

     

     

    Kinh nghiệm chuẩn bị và bảo vệ Đồ án Tốt nghiệp

     

    Dương Minh Châu – BM Cầu Đường

    Đồ án Tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng trong khối lượng kiến thức đào tạo ở bậc đại học, đặc biệt là khối Xây dựng, Kiến Trúc. Cứ đến tháng 5 hàng năm, sinh viên năm cuối lại tất bật với công việc hoàn thành và bảo vệ đồ án, vừa tự hào, vừa lo lắng lại vừa vui mừng. Bảo vệ đồ án Tốt nghiệp là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời đi học của mỗi sinh viên. Mặc dù các bạn sinh viên đã trải qua 7-8 lần bảo vệ đồ án, tuy nhiên chúng tôi cũng đưa ra những lời khuyên giúp các bạn sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho buổi lễ trọng đại này.

    1.      Công tác chuẩn bị – càng nhiều càng tốt

    –         Nghiên cứu kĩ nội dung Đồ án, tốt nhất nên tóm tắt nội dung và tập trình bày sẵn (có thể cắt bớt từ nội dung thuyết minh.). Về nội dung nên trình bày các vấn đề cơ bản: các số liệu đầu vào, đầu ra của từng nội dung chính, nếu có thể thì trình bày sơ bộ các giải pháp.

    –         Cần phải có tập dượt trước ít nhất 1 đến 2 lần để đảm bảo nội dung trình bày được thông suốt, tự tin.

    –         Chuẩn bị về trang phục: quần áo, đầu tóc phải gọn gàng, Quy định phải mang áo sơ mi, quần tây, cà vạt.

    –         Bản vẽ: SV cần nghiên cứu phương án bố trí bản vẽ và sắp xếp theo đúng thứ tự trình bày của từng bản vẽ, đảm bảo khi bảo vệ sinh viên đi hết một vòng là kết thúc nội dung báo cáo (nhiều trường hợp bố trí không hợp lí, người báo cáo phải đi lui, đi tới nhiều lần gây phản cảm).

    –         Dùng băng keo dán các bản vẽ thành từng cuộn, để đảm bảo khi căng bản vẽ được nhanh chóng, gọn gàng.

    –         Trước khi bảo vệ, sinh viên cần đến trước để xem và rút kinh nghiệm cho mình; giúp đỡ các bạn khác trong việc chuẩn bị nội dung, treo bản vẽ và gấp bản vẽ.

    –         Chuẩn bị hồ sơ Thuyết minh, phụ lục, bản vẽ, tài liệu tham khảo

    –         Dụng cụ thuyết trình.

    2.      Triển khai thuyết trình – Tự tin thoải mái

    –         Sau khi được sự cho phép của chủ tịch HĐ chấm đồ án, sinh viên nên có một hoặc vài câu giới thiệu ban đầu (không nên dài quá!).

    –         Trình bày nội dung đồ án, khi trình bày, các kết quả của từng nội dung cơ bản đều được thể hiện trên bản vẽ, sinh viên nên sử dụng các phương tiện để giới thiệu (thước chỉ, bút la-de)

    –         Chú ý khi báo cáo nên sử dụng câu đơn giản, tránh sử dụng các chủ ngữ: ta, chúng ta…hoặc các đại từ sở hữu như “của em”…

    –         Sau khi trình bày thuyết minh xong, Chủ tịch (hoặc thư kí Hội đồng ) đọc câu hỏi, sinh viên nên ghi chép. Rất nhiều sinh viên sau khi nghe xong câu hỏi thứ nhất đã vội vàng trả lời ngay!!! hoặc ghi chép câu hỏi mà không cần suy nghĩ, trả lời hết cả mọi vấn đề. Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến kết quả bảo vệ, Hội đồng sẽ đặt nhiều câu hỏi khó hơn!

    –         Khi nhận được câu hỏi, nên tập trung để hiểu vấn đề của câu hỏi đặt ra trước, sau đó mới triển khai các ý chính. Nhiều sinh viên trả lời sai vấn đề của câu hỏi đặt ra. Nếu không rõ, có thể hỏi lại.

    –         Chuẩn bị câu trả lời (khoảng 5-10phút) và trả lời câu hỏi (không nhất thiết phải theo thứ tự của câu hỏi) nên trả lời theo các nhóm vấn đề.

    –         Những câu hỏi của các thành viên dự Hội đồng thường giúp làm rõ những ý mà sinh viên đề cập không rõ, khi được hỏi, cần phải suy nghĩ cẩn thận, không nhất thiết phải hoang mang vì các câu hỏi đều mang tính gợi ý, dẫn dắt các bạn đến câu trả lời tốt nhất.

    –         Những tồn tại thường mắc phải:

    o       Thừa nhận cái sai mà không cần suy nghĩ thêm. Tuyệt đối tránh! Việc bảo vệ đồ án là chứng minh sự phù hợp của giải pháp đề xuất (trong một trình độ, kiến thức nhất định), chỉ cần hợp lí là ổn, thông qua cái hợp lí đó thể hiện sự vận dụng kiến thức được đào tạo của mình.

    o       Không thừa nhận cái sai: Trường hợp này cũng thường xảy ra đối với những nội dung mà sinh viên chuẩn bị kĩ, tuy nhiên, các bạn nên cẩn thận hơn vì những kiến thức chủ yếu các bạn sử dụng làm đồ án TN là đứng trên phương diện lí thuyết, quan điểm cụ thể. Dù có đúng Quy trình, Tiêu chuẩn nhưng cũng có thể chưa phù hợp với điều kiện nhất định của công trình các bạn đang thiết kế.

    1. Kết thúc buổi bảo vệ – những kiến thức cuối cùng

    –         Sinh viên chú ý lắng nghe phần nhận xét của Cán bộ hướng dẫn, cán bộ chấm phản biện. Rất nhiều sinh viên sau khi trả lời xong câu hỏi là coi như hoàn tất công việc; hoặc lại có những sinh viên phản ứng rất gay gắt các vấn đề của cán bộ chấm sơ khảo góp ý. Điều đó không cải thiện hình ảnh của các bạn, do vậy chỉ có hại mà không mang lại điều gì! Nếu có những vấn đề khúc mắc, cán bộ hướng dẫn hoặc Chủ tịch Hội đồng sẽ có ý kiến để bảo vệ các bạn. Yên tâm.

    1. Sau khi bảo vệ – Trách nhiệm với bạn bè

    –         Cần bảo quản tốt bản vẽ, thuyết minh, phụ lục để nộp lại cho Khoa lưu trữ. Nếu các bạn làm mất, thất lạc, sẽ không được kí giấy thanh toán ra trường và do vậy không được nhận bằng tốt nghiệp.

    –         Dự thính, động viên bạn bè. Nhiều sinh viên sau khi bảo vệ xong là về luôn, các bạn sinh viên bảo vệ sau sẽ mất hết khí thế.

    Chúc các bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!

     

    HƯỚNG DẪN TRÌNH BÀY

    ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

    (trích từ phụ lục của quyết định số 673 ngày 29/12/2006 của Hiệu trưởng)

     

    1. Về bố cục

    Số chương của mỗi đồ án, khóa luận tùy thuộc vào từng chuyên nghành, đồ án, khóa luận cụ thể, nhưng thông thường bao gồm những phần và những chương sau:

    – MỞ ĐẦU: trình bày lí do chọn đồ án, khóa luận, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đồ án, khóa luận.

    – TỔNG QUAN: nêu cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến đồ án, khóa luận. Phân tích những công trình nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đền đồ án, khóa luận, nêu những vấn đề còn tồn tại, chỉ ra những vấn đề đồ án khoá luận cần nghiên cứu và giải quyết.

    – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: trình bày đối tượng nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đồ án, khóa luận.

    – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN: mô tả tóm tắt công việc nghiên cứu đã thực hiện, các số liệu nghiên cứu hoặc nghiệm thu được. Phần thảo luận phải dựa trên cơ sở dẫn liệu khoa học và công nghệ của đồ án, khóa luận thu được hoặc so sánh đối chiếu với kết quả nghiên cứu của tác giả khác thông qua tài liệu tham khảo để biện luận, đánh giá…

    – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: nêu những kết quả thu được của đồ án, khóa luận một cách ngắn gọn, không cần có những lời bình gì thêm.

    Nêu kiến nghị cần tiếp tục nghiên cứu hoặc chuyển sang hướng nghiên cứu khác.

    – DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: chỉ bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập để bàn luận trong đồ án, khóa luận.

    PHỤ LỤC

    1. Về trình bày

    II.1. Soạn thảo

    Đồ án khóa luận sử dụng chữ Time New Roman cỡ chữ 13 – 14 của hệ soạn thảo Winword hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1.5 lines; lề trên 3.5cm; lề dưới 3.0cm; lề trái 3.5 cm; lề phải 2.0 cm. Số trang được đánh ở giữa phía trên đầu mỗi trang giấy. Nếu có bảng biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang, nhưng nên hạn chế trình bày theo cách này.

    II.2. Tiêu mục

    Các tiêu mục của đồ án, khóa luận được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số. Nhiều nhất bao gồm 4 chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ 4.1.2.1: chỉ tiểu mục 1, nhóm tiểu mục 2, mục 1, chương 4). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà lại không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo.

    II.3. Bảng biểu, hình vẽ, phương trình

    Việc đánh số bảng biểu, hình vẽ, phương trình phải gắn với số chương: ví dụ Hình 3.4 có nghĩa là hình thứ 4 trong Chương 3. Mỗi đồ thị, biểu bảng lấy từ các nguồn khác nhau phải được trích dẫn đầy đủ. Ví dụ “ nguồn: Bộ Tài Chính 1996”, nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục tài liệu tham khảo. Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của Hình ghi phía dưới hình.

    Trong đồ án, khóa luận hình vẽ phải được vẽ sạch sẽ, có đánh số và ghi đầy đủ đầu đề; cỡ chữ phải bằng chữ sử dụng trong đồ án. Khi đề cập đến các bảng và hình phải nêu rõ số của hình, bảng đó, ví dụ “… được nêu trong Bảng 4.1” hoặc “( xem Hình 3.2” mà không được viết “… được nêu trong bảng dưới đây” hoặc “ trong đồ thị của X và Y sau”.

    Việc trình bày phương trình toán học trên một dòng đơn hay dòng kép là tùy ý, tuy nhiên phải thống nhất trong toàn đồ án, khóa luận. Khi ký hiệu xuất hiện lần đầu tiên thì phải được giải thích và đơn vị tính phải đi kèm ngay trong phương trình có ký hiệu đó. Nếu cần thiết, danh mục của tất cả các ký hiệu, chữ viết tắt và nghĩa của chúng cần được liệt kê và để ở trong ngoặc đơn đặt bên phía lề phải. Nếu một nhóm phương trình mang cùng một số thì những số này cũng được để trong ngoặc, hoặc mỗi phương trình trong nhóm phương trình (5.1) có thể được đánh số là (5.1.1), (5.1.2), (5.1.3).

    II.4. Viết tắt

    Không lạm dụng viết tắt trong đồ án, khóa luận. Chỉ viết tắt những từ, cụm từ hoặc thuật ngữ được sử dung nhiều lần trong đồ án. Không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề, không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện trong đồ án. Nếu cần viết tắt những  từ, thuật ngữ, tên các cơ quan, tổ chức.. thì được viết tắt sau lần viết thứ nhất cớ kèm theo chữ viết tắt trong ngoặc đơn. Nếu đồ án có nhiều chữ viết tắt thì phải có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu đồ án, khóa luận.

    II.5. Tài liệu tham khảo và các chỉ dẫn

    Mọi ý kiến, khái niệm có ý nghĩa, mang tính chất gợi ý không phải của riêng tác giả và mọi tham khảo khác phải được trích dẫn và chỉ rõ nguồn trong danh mục Tài liệu tham khảo của đồ án, khóa luận.

    Không trích dẫn những kiến thức phổ biến, mọi người đều biết cũng như không làm đồ án, khóa luận nặng nề với những tham khảo, trích dẫn. Việc trích dẫn, tham khảo chủ yếu nhằm thừa nhận nguồn của những ý tưởng có giá trị và giúp người đọc theo được mạch suy nghĩ của tác giả, không làm trở ngại việc đọc.

    Nếu không có điều kiện tiếp cận tài liệu gốc mà phải trích dẫn thông qua một tài liệu khác thì phải nêu rõ cách trình bày này, đồng thời tài liệu gốc đó không được liệt kê trong danh mục Tài liệu tham khảo của đồ án, khóa luận.

    Khi cần trích dẫn một đoạn ít hơn hai câu hoặc bốn dòng đánh máy thì có thể sử dụng dấu ngoặc kép để mở đầu và kết thúc phần trích dẫn. Nếu cần trích dẫn dài hơn thì phải tách phần này thành một đoạn riêng khỏi phần nội dung đang trình bày, với lề trái vào lùi thêm 2.0cm. Khi này mở đầu và kết thúc  đoạn trích này không phải sử dụng dấu ngoặc kép.

    Cách xếp danh mục tài liệu tham khảo sẽ xem trình bày ở phần dưới. Việc trích dẫn là theo số thứ tự của tài liệu ở danh mục Tài liệu tham khảo và được đặt trong ngoặc vuông, khi cần có cả số trang, ví dụ [15, tr. 32-35]. Đối với phần được trích dẫn từ nhiều tài liệu khác nhau, số của từng tài liệu được đặt độc lập trong từng ngoặc vuông, theo thứ tự tăng dần, ví dụ [15], [17], [29].

    Cách xếp danh mục Tài liệu tham khảo được xắp xếp riêng theo từng ngôn ngữ (Tiếng Việt, Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Đức, Tiếng Nga, Tiếng Trung, Tiếng Nhật…). Tài liệu nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, phiên dịch.

    Tài liệu tham khảo xếp theo thứ tự ABC theo hộ tên tác giả đồ án, luận văn, luận án theo thông lệ sau:

    • Tên tác giả người Việt Nam: Xếp theo thứ tự ABC theo tên
    • Tác giả là người nước ngoài: Xếp theo thứ tự ABC theo họ.
    • Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC, từ đầu của tên cơ quan ban hành, báo cáo hay ấn phẩm. Ví dụ: Tổng cục Thống kê, xếp theo vần T. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo xếp theo vần B…

    Tài liệu tham khảo là sách, luận án, luận văn, đồ án, khóa luận phải ghi đầy đủ các thông tin sau:

    • Tên tác giả và cơ quan ban hành (không có dấu ngăn cách)
    • (Năm xuất bản) đặt trong ngoạc đơn, dấu phẩy đặt sau ngoặc đơn.
    • Tên sách, luận án, luận văn đố án hoặc theo báo cáo dùng chữ in nghiêng, đặt dấu phẩy cuối tên sách.
    • Nhà xuất bản, dấu phẩy đặt cuối tên nhà xuất bản.
    • Nơi xuất bản, đặt dấu chấm kết thúc tài liệu tham khảo.

    Xem ví dụ 2, 3 bên dưới.

    Tài liệu tham khảo là bài báo cáo trong tạp chí, bài trong cuốn sách.. ghi đầy đủ thông tin sau:

    • Tên tác giả (không có dấu ngăn cách).
    • (Năm công bố), được đặt trong ngoặc đơn dấu phẩy đặt trong ngoặc đơn.
    • “Tên bài báo”, được đặt trong ngoặc kép, chữ không nghiêng, dấu phẩy cuối tên.
    • Tập, không có dấu ngăn cách.
    • (Số), đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy đặt trong ngoặc đơn.
    • Các số trang, gạch giữa 2 số, có dấu chấm kết thúc.

    Xem ví dụ 1, 4, 5 bên dưới.

    Ví dụ về cách trình bày trong phần Tài liệu tham khảo:

    Tiếng Việt

    1. Quách Ngọc Ân (1992), “Nhìn lại 2 năm phát triển lúa lai” , Di truyền học ứng dụng, 98 (1) tr. 10-116.
    2. Bộ Nông Nghiệp & PTNT (1966), Báo cáo tổng kết 5 năm (1992-1996) phát triển lúa lai,Hà Nội.
    3. Võ Thị Kim Huệ (2000), Nghiên cứu chuẩn đoán và điều trị bệnh…, Luận án Tiến sỹ Y Khoa, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.

    Tiếng Anh

    1. Buoding K.E (1955), Economics Analysis, haminton, London.
    2. Anderson, j.e.(1985), The relative Inefficiency ò Quota, The Cheese Case, American Economic Review, 75 (1), pp. 178 – 190.

     

    II.6. Phụ lục của đồ án, khóa luận

    Phụ lục được đánh số thứ tự bằng số Ả rập. Ví dụ: Phụ lục 1.

    Ghi chú: Xem ví dụ minh họa bố cục của đồ án, khóa luận qua trang Mục lục như sau:

    MỤC LỤC

     

    Trang bìa phụ                                                                                                              Trang

    Lời cam đoan

    Mục lục

    Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

    Danh mục các bảng

    Danh mục các hình

    MỞ ĐẦU

    Chương 1. TỔNG QUAN

    1.1………..

    1.2……………

    Chương 2. …………..

    2.1. …………….

    2.1.1. …………….

    2.1.2. …………

    2.2……………..

    Chương 4. KẾT LUẬN VÀ BÀN LUẬN

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    PHỤ LỤC

                               Hình II.1. Ví dụ về trang mục lục của một đồ án.

     

    II.7. Mẫu bìa luận án

    II.7.1. Mẫu trang chính Bìa đồ án: Khổ 210x 297 mm

     
     
    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

    TÊN CỦA KHOA QUẢN SINH VIÊN

     

    ————————-

    Họ và tên tác giả đồ án, khóa luận

    TÊN ĐỀ TÀI CỦA ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN

    ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    (Ghi ngành được đào tạo)

    Tên thành phố – năm

     

    II.7.1. Mẫu trang phụ Bìa đồ án:

     

     
     
    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

     

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

    TÊN CỦA KHOA QUẢN SINH VIÊN

     

    ————————-

    Họ và tên tác giả đồ án, khóa luận

    TÊN ĐỀ TÀI CỦA ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN

    ĐỒ ÁN, KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    (Ghi ngành được đào tạo)

    Cán bộ hướng dẫn:

    1.———

    2. ——–

    Tên thành phố – năm

    Ghi chú:

    • Ngành, chuyên ngành đào tạo thuộc khối kỹ thuật – Công nghiệp dùn tên gọi là: Đồ án tốt nghiệp đại học.
    • Ngành, chuyên ngành đào tạo thuộc khối Kinh Tế – Quản lý, Xã hội – Nhân văn, Ngoại ngữ, Tin học dùng tên gọi: Khóa luận tốt nghiệp đại học.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-tri%E1%BA%BFt-h%E1%BB%8Dc-%C3%9D-th%E1%BB%A9c-v%C3%A0-vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-tri-th%E1%BB%A9c-trong-%C4%91%E1%BB%9Di-s%E1%BB%91ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận triết học Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội

    Tiểu luận triết

    LỜI MỞ ĐẦU.

    [ [ [

    • thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có. ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo LêNin). Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà con là động lực thực tiễn. Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của
    • thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng.

    Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế-kỹ thuật yếu, trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại diễn ra rất nhanh, liệu nước ta có thể đạt đựoc những thành công mong muốn trong việc tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn hay không? Chung ta phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới? Câu hỏi này đặt ra cho chúng ta một vấn đề đó là sự lựa chọn bước đi và trật tự ưu tiên phát triển khoa học- công nghệ trong quan hệ với phát triển kinh tế trong các giai đoạn tới. Như vậy có nghĩa là ta cần phải có tri thức vì tri thức là khoa học. Chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người. Tuy nhiên nếu tri thức không biến thành niềm tin và ý chí thì tự nó cũng không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực cả.Chỉ chú trọng đến tri thức mà bỏ qua công tác văn hoá- tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh truyền thống của dân tộc. Chức năng của các giá trị văn hoá đã đem lại chủ nghĩa nhân đạo, tính đạo đức. Không có tính đạo đức thì tất cả các dạng giá trị ( giá trị vật chất và tinh thần) sẽ mất đi mọi ý

    Tiểu luận triết

    nghĩa.Còn cách mạng tư tưởng góp phần làm biến đổi đời sống tinh thần-xã hội, xây dựng mối quan hệ tư tưởng, tình cảm của con người với tư cách là chủ thể xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự phát triển tự do của con người.Mà có tự do thì con người mới có thể tham gia xây dựng đất nước.

    Như vậy, ý thức mà biểu hiện trong đời sống xã hội là các vấn đề khoa học- văn hoá- tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng. Tìm hiểu về

    • thức và tri thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện xã hội.

    Trong bài tiểu luận này em chọn đề tài: “Ý thức và vai trò của tri thức trong đời sống xã hội” do thời gian và trình độ còn hạn chế vì vậy bài viết này chắc chắn sẽ không tránh được những thiếu sót rất mong nhận được sự đóng góp chỉ dạy của các thầy cô.

    Lớp: K40 – 1107                                                         2

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG I

    LÝ LUẬN CHUNG CỦA TRIẾT HỌC

    VỀ Ý THỨC VÀ TRI THỨC

    1.1- Quan niệm của triết học Mác- Lênin về ý thức.

    1.1.1. Khái niệm về ý thức

    Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ lịch sử lâu dài,nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ,sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học.

    Ngay từ thời cổ xưa,từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Do chưa giải thích được giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ tình cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người. Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết.

    Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con người nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế giới, quan niệm về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn phổ biến không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong thế giới cõi người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới.

    Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm gíac và cho rằng cảm giác của con người chi phối thế giới…Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất ..

    Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể tách rời cơ thể và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành.

    Tiểu luận triết

    Khi khoa học tự nhiên phát triển, con người đã chứng minh được sự phụ thuộc của các hiện tượng tinh thần, ý thức vào bộ óc con người thì một bộ phận nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.

    Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan. Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội, của ý thức.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ. Theo triết học Mac-Lênin “ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ”

    Nói vấn đề này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến đi trong đó.

    • thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.

    Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện hướng về bản thân mình, tự khẳng định “cái tôi” riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng tự ý thức là ý thức hướng về bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt được mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận thức mình như là một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn đòi hỏi con người phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con người có thể đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    Tiểu luận triết

    Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình được làm gì? Làm như thế nào? Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là “gương soi” giúp con người tự ý thức được bản thân.

    Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước nhưng gần như đã trở thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể. .

    Tình cảm là những xúc động của con người trước thế giới xung quanh đối với bản thân mình. Cảm gíac yêu ghét một cái gì đó, một người nào đó hay một sự vật, hiện tượng xung quanh.

    Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Nói đến tri thức là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với qúa trình con người nhận biết và cải tạo thế giới tự nhiên. Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn. Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy ý chí của sự tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố tình cảm, ý chí. Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của con người hoạt đọng thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.

    Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm, ý chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hướng tới tri thức.

    1.1.2- Nguồn gốc của ý thức.

    1.1.2.1- Nguồn gốc tự nhiên

    Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng phát triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên cho

    Lớp: K40 – 1107                                                         5

    Tiểu luận triết

    tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người. Bộ não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.

    Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.

    chặt chẽ với nhau. Bộ não bị tổn thương thì hoạt động của của nhận thức sẽ bị rối loạn.

    Phản ánh cũng là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chát khác. Phản ánh quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ thụ động đến chủ động, có tổ chức, điều khiển và lựa chọn đối tượng phản ánh.

    Trong thế giới vô cơ có hình thức phản ánh cơ học,vật lý, hóa học. Đây là phản ánh đơn giản, thụ động không lựa chọn. Tất cả những biến đổi cơ lý hóa này tuy do những tác động bên ngoài khác nhau gây ra và phụ thuộc vào các vật phản ánh khác nhau, nhưng chúng đều là phản ánh của vật chất vô sinh.

    Giới hữu sinh có tổ chức cao hơn giới vô sinh. Song bản thân giới hữu sinh lại tồn tại những trình độ khác nhau tiến hóa từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp nên hình thức phản ánh sinh vật cũng thể hiện ở

    Lớp: K40 – 1107                                                         6

    Tiểu luận triết

    trình độ khác nhau tương ứng. Tính kích thích là hình thức phản ánh đặc trưng cho thế giới thực vật và các động vật bậc thấp chưa có hệ thần kinh. Tính cảm ứng hay là năng lực có cảm giác là hình thức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh. Nét đặc trưng cho phản ánh này là ngay trong quá trình hệ thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể và môi trường bên ngoài thông qua phản xạ bẩm sinh hay phản xạ riêng biệt. Do vậy, sinh vật phản ánh có tính lựa chọn đối với các tính chất riêng biệt của sự vật thành các cảm giác khác nhau rất đa dạng và phong phú.

    Phản ánh tâm lý là hình hức phản ánh của các động vật có hệ thần kinh trung ương. Đây là hình thức phản ánh cao nhất của thế giới động vật gắn liền với quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện. Phản ánh tâm lý đưa lại cho con vật thông tin về các thuộc tính, quan hệ của sự vật bên ngoài và về cả ý nghĩ của chúng đối với đời sống của con vật. Nhờ vậy mà nó có thể lường trước được tất cả những tình huống có thể xảy ra và chủ động điều chỉnh, lựa chọn đưa ra hành động thích hợp nhất. Phản ánh có ý thức là sự phản ánh cao nhất của sự phản ánh nó chỉ có khi xuất hiện con người và xã hội loài người. Sự phản ánh này không thể hiện ở cấp độ cảm tính như cảm gíac, tri giác, biểu tượng nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất mà còn thể hiện ở cấp độ lý tính: khái niệm, phán đoán, suy lý nhờ tín hiệu thứ hai (ngôn ngữ). Sự phản ánh của ý thức là sự phản ánh có mục đích, có kế hoạch, tự giác, chủ động tác động vào sự vật hiện tượng buộc sự vật bộc lộ ra những đặc điểm của chúng. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển xã hội.

    1.1.2.1- Nguồn gốc xã hội.

    • thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.

    Lớp: K40 – 1107                                                         7

    Tiểu luận triết

    Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà con người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.

    Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã sáng tạo ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến hóa thành con người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa để sinh hoạt và nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán ccầu não phát triển làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống khách quan. Mặt khác, lao động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục đích do đó mang tính chủ động.

    Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động của con người vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho con người hiểu biết thêm về thế giới xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chưa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác chưa từng có trong tự nhiên có thê mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trước đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới.

    Thêm vào đó lao động là qúa trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng của con người.

    Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói “Một kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi”, bởi.vì trứơc khi xây một ngôi nhà người kiến trúc sư đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con ong chỉ là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con người hình thành và hoàn thiện. Ăng ghen nói” Sau lao đọng và

    Lớp: K40 – 1107                                                         8

    Tiểu luận triết

    đồng thời với lao động là ngôn ngữ, nó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc người.”

    Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức. Ngôn ngữ được coi là ‘cái vỏ vật chất” của tư duy, khi mà con người có biểu hiện liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến nhu cầu ” cần nói với nhau một cái gì” đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành “hiện thực trực tiếp”, trở thành tín hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra cảm giác. Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội và ngược lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ mà phản ánh ý thức mới

    có thể thực hiện như là sự phản ánh gián tiếp, khái quát và sáng tạo. Vì vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa hay nói cách kháclà của quá trình hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà con người có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tượng? đồng thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người.

    1.1.3- Bản chất của ý thức.

    1.1.3.1- Bản tính phản ánh và sáng tạo.

    • thức mang bản tính phản ánh, ý thức mang thông tin về thế giới bên ngoài, từ vật gây tác động được truyền đi trong quá trình phản ánh. Bản tín phản ánh quy định tính khách quan của ý thức, túc là ý thức phải lấy tính khách quan làm tiền đề,bị cái khách quan quy định và có nội dung phản ánh thế giới khách quan.

    Lớp: K40 – 1107                                                         9

    Tiểu luận triết

    • thức có bản tính sáng tạo do ý thức gắn liền với lao động. Bản thân lao đọng là hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người.
    • thức không chụp lạc một cách nguyên si, thụ động sự vật mà đã có cải biến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin. Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng phản ánh gían tiếp khái quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động tác đọng vào thế giới để phản ánh thế giới đó. Bản tính sáng tạo quy định mặt chủ quan của ý thức.
    • thức chỉ có thể xuất hiện ở bộ óc người, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có chọn lọc tồn tại dưới hình thức chủ quan, là hình ảnh chủ quan phân biệt về nguyên tắc hiện thực khách quànva sự vật, hiện tượng, vật chất, cảm tính.

    Phản ánh và sáng tạo có liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hiện thực cho thấy: không có phản ánh thì không có sáng tạo, vì phản ánh là điểm xuất phát, là cơ sở của sáng tạo. Ngược lại không có sáng tạo thì không phải là sự phản ánh của ý thức. Đó là mối liên hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhận và xử lý thông tin, là sự thống nhất giữa các mặt khách quan và chủ quan trong ý thức. Vì vậy, Mac đã gọi ý thức, ý niệm là hiện thực khách quan ( hay là cái vật chất) đã được di chuyển vào bộ não người và được cải biến đi trong đó. Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Biểu hiện của sự phản ánh và sáng tạo, giữa chủ quan và khách quan của ý thức là quá trình thực hiện hóa tư tưởng. Đó là quá trình tư tưởng tìm cách tạo cho nó tính hiện thực trực tiếp dưới hình thức tính hiện thực bên ngoài, tạo ra những sự vật hiện tượng mới, tự nhiên “mới” tự nhiên “thứ hai” của con người.

    1.1.3.2- Bản tính xã hội.

    • thức được hình thành trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giới của con người. Trong quá trình đó con người nhận ra rằng cần có nhu cầu liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm và các nhu cầu khác. Do đó mà khái niệm hoạt đọng xã hội ra đời. ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm

    Lớp: K40 – 1107                                                        10

    Tiểu luận triết

    của xã hội, ý thức trước hết là tri thức của con người về xã hội, về thế giới khách quan đang diễn ra xung quanh, về mối liên hệ giữa người với người trong xã hội. Do đó ý thức xã hội được hình thành cùng ý thức cá nhân, ý thức xã hội không thể tách rời ý thức cá nhân, ý thức cá nhân vừa có cái chung của giai cấp của dân tộc và các mặt khác của xã hội vừa có những nét độc đáo riêng do những điều kiện, hoàn cảnh riêng của cá nhân đó quy định. Như vậy, con người suy nghĩ và hành động không chỉ bằng bàn tay khối óc của mình mà còn bị chi phối bởi khối óc bàn tay của người khác, của xã hội của nhân loại nói chung. Tự tách ra khỏi môi trường xã hội con người không thể có ý thức, tình cảm người thực sự. Mỗi cá nhân phải tự nhận rõ vai trò của mình đối với bản thân và xã hội. Ta phải học làm người qua môi trường xã hội lành mạnh.

    Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh và sáng tạo. Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng đọng chủ quan của ý thức,

    • quan hệ giữa vật chất và ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới của con người.

    1.1.4 – Sự tác động trở lại vật chất của ý thức

    Vật chát quyết định nội dung của ý thức bởi vì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan bên ngoài vào trong bộ óc của con người. Nhưng nếu chỉ thấy vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức mà không thấy được tính năng động tích cực của ý thức đối với vật chất thì sẽ mắc phải khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình.chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng :”ý thức của con người không phải là sự phản ánh giản đơn ,mà là sự phản ánh tích cực của thế giới vật chất “

    Cùng với sự phát triển của hoạt động biến đổi thế giới ý thức con người phát triển song song với quá trình đó và có tính độc lập tương đối tác động trở lại đối với vật chất.Sự tác động trở lại vật chất của ý thức có thể là thúc dẩy hoặc ở một điều kiện nào đó trong một phạm vi nào đó kìm hãm sự phát triển của các quá trình hiện thực.

    Lớp: K40 – 1107                                                        11

    Tiểu luận triết

    Khi con người có những kiến thức khoa học thì sự tác động trở lại vật chất là tích cực.Con người sẽ dựa vào những tri thức và những kiến thức khoa học để lập ra những mực tiêu ,những kế hoạch hoạt động đúng đắn để cải tạo thế giớ vật chất, thúc đẩy xã hội ngày một phát triển hơn.

    Những tri thức sai lầm phản khoa học hoặc lỗi thời lạc hậu có thể kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất.Do những tư tưởng ,đường lối sai lầm dẫn đến chiến , đến những chiến lược phát triển kinh tế không hiệu quả…No kéo lùi sự phát triển của xã hôị. ở một khía cạnh nào đó ta thấy những truyền thống ,những tâm tư tình cảm của con người không phụ thuộc vào vật chẩt .Dựa vào đặc tính này của vật chất con người có thể cố phấn đấu đi lên bắng lao động và học tập ,xây dựng đất nước và xã hội giàu mạnh hơn ,công bằng hơn.

    1.2.-Tri thức khoa học và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội.

    1.2.1- Khái niệm về khoa học

    Khoa học có nhiều định nghiã khác nhau. Với tính cách là một lĩnh vực đặc thù của con người khoa học bao gồm hoạt động tinh thần, hoạt động vật chất, hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn xã hội. Với tính cách là một hình thái xã hội, khoa học là một hệ thống tri thức khái quát, được hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trên cơ sở thực tiễn. Khoa học phản ánh một cách chân thực các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

    Từ đó thấy rằng: Khoa học khác tôn giáo ở chỗ phản ánh một cách chân thực hiện thực, sự hình thành, phát triển của thế giới khách quan và được kiểm nghiệm qua thực tiễn; còn tôn giáo phản ánh hiện thực một cách hư ảo với niềm tin mù quáng xa rời thực tiễn. Sự phản ánh của khoa học khác với các hình thái ý thức xã hội khác ở chỗ phản ánh đúng đắn, chân thực những gì đang diễn ra và đi sâu vào các mối liên hệ bản chất, tất nhiên, các quy luật vận động phát triển của hiện thực. Hình thức biểu hiện chủ yếu của khoa học là các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Tiểu luận triết

    Đối tượng nghiên cứu của khoa học bao hàm cả tự nhiên, xã hội và bản thân con người, các lĩnh vực vật chất, tinh thần và cả các hình thái ý thức xã hội.

    1.2.2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của xã hội. Khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt động

    thực tiễn. Vai trò của khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội.

    Ngày nay, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vai trò của nó thể hiện ở chỗ khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời, những nghành sản xuất mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới. Khoa học trở thành yếu tố tri thức không thể thiếu được của người lao động, biến người lao đọng thành người điều khiển kiểm tra quá trình sản xuất. Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông. Bản thân khoa học cũng trở thành một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn.

    Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, các khoa học xã hội như kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn giúp con người có đầu óc tư duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm được cơ sở khoa học thực tế thì mới hoạch định được chính sách, đường lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia.

    Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.

    Lớp: K40 – 1107                                                        13

    Tiểu luận triết

    CHƯƠNG 2

    VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

    NƯỚC TA HIÊN NAY

    2.1. Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt

    Nam.

    Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học được xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nước. Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hướng đúng đắn về đuường lối chính sách phát triển của đất nước; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp, Nông nghiệp, du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ…Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức Khoa học trong công cuộc đổi mới là nối đến con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở Khoa học và công nghệ, coi khoa học-công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp và hàng đầu. Quan điểm này cho tấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của đảng ta trong đổi mới tư duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phương thức phát triển phù hợp với những đòi hởi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.

    Nhìn lại thế kỷ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa học-công nghệ mang lại. Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nước mới công nghiệp hoá( NIC ) sau chiến tranh thế giới tthứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh hưởng lan toả của các thành tựu khoa học – công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nước NIC đã tận dụng được cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay đổi phương thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang aps dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra các giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế. Nhờ đi theo con đường

    công nghiệp hoá dự hẳn vào Khoa học-công nghệ mà một số nước đã rút ngán được thời gian cần thỉ\ết để làm tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người. Trước kia, nước Anh phải mất 58 năm, Mỹ mất 47 năm thì giờ đây Braxin chỉ mất 18 năm, Hàn Quốc 11 năm và Trung quốc chỉ trong vòng

    10 năm. Ta có thể so sánh Hàn Quốc và Gana vào những năm 60 và bây giờ. Điểm xuất phát hai nước đều có mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, đều là các quốc gia chậm phát triển. Vậy mà ngày nay, thu nhập đầu người của Hàn Quốc đã gấp 6 lần của Gana. vì sao có sự cách biệt lớn lao như vậy? Đó là do Hàn Quốc đã thu nhận và sử dụng trí thức Khoa học sáng tạo và phù hợp với thực tiễn hơn.

    Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy: ở đâu có sự sáng tạo trong công cuộc đổi mới các giải pháp về Khoa học-công nghệ thì

    • đó có sự tiến bộ vượt bậc. Thử hỏi nếu Việt Nam vẫn giữ nền kinh tế tập trung bao cấp chưa chuyển sang nền kinh ế hàng hoá nhiều thành phần thì hiện giờ đất nước chúng ta sẽ ra sao.

    Về Nông nghiệp sự sáng tạo của Đảng trong chính sách khoán áp dụng trong nông nghiệp những năm 80 là một ví dụ điển hình cho thấy vai trò của chính sách trong việc tạo ra mức tăng trưởng sản lượng kỷ lục về lương thực mà không có một yếu tố sản xuất thông thường nào như: vốn, lao động, vật tư có thể mang lại. Chính sách mới làm cho người lao động làm việc có trách nhiệm và năng nổ sáng tạo hơn. Đảng đẩy mạnh và khuyến khích nông dân đưa khoa học-công nghệ vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới, phân bón, máy móc sản xuất theo công nghệ cao của thế giới; nâng cấp hệ thống thuỷ lợi bằng cách đầu tư, cải tạo, nâng cấp hệ thống sông, đê ngăn chặn nước mặn lên biển. ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và vật liệu mới trong thiết kế và thi công công trình là cho việc thực hiện công trình xảy ra nhanh chóng đáp ứng kịp thời nhu cầu, lợi ích của bà con nông dân.

    Lớp: K40 – 1107                                                        15

    Tiểu luận triết

    Về công nghiệp qua trình sáng tạo và triển khai chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài đã dẫn tới sự ra đời của một khu vực kinh tế mới – Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài rất năng động đang góp phần tạo ra trên 10% GDP, 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các công ty, xí nghiệp nhờ đi thẳng vào công nghệ hiện đại mà đã đạt đước những thắng lợi ngoài cả sự mong đợi. Ví dụ điển hình là công ty chế biến sữa Vinamilk từ tình trạng vô cùng khó khăn đã vươn lên sản xuất ra được những sản phẩm cạnh tranh được với hàng nhập ngoại.

    Trong các ngành, Bưu chính viễn thông, khia thác dầu khí và các ngành nghề khác nhờ những quyết định táo bạo trong đầu tư vào Kỹ thuật công nghệ hiện đại mà đạt được mức tăng trưởng cao trong thời gian dài, ổn đinh. Văn hoá-giáo dục được nâng cấp, đầu tư cơ sở một cách thoả đáng.

    Thự tế cho thấy sau 15 năm đổi mới dựa vào tiềm năng của đất nước và sự trợ giúp của Khoa học-Công nghệ chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể.

    Về kinh tế tổng sản lượng trong nước năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và năng lực sản xuất tăng nhiều. Nền kinh tế từ tình trạng hàng hoá khan hiếm nghiêm trọng nay đã sản xuất đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định huqướng XHCN. Đời sống của nhân dân dần được cải thiện. Đất nước đã ra khỏi khủng hoanmgr kinh tế-xã hội, vượt qua được cơn chấn động chính trị và sự hụt hẫng về thị trường. kinh tế tăng trưởng tương đối cao: Tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% trong một năm; giá trị nông -lâm-ngư ngiệp tăng bình quân 5,7%/ năm. trong đó: Nông nghiệp tăng 5,6%, lâm nghiệp 0,4% và ngư nghiệp tăng 8,9%. Công nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhịp độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13,5%. Dầu tư sản xuất ra sản phẩm có triều sâu, đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu. dịch vụ

    Lớp: K40 – 1107                                                        16

    Tiểu luận triết

    phát triển vứi giá trị trung bình là 6,8%/ năm. Lạm phát giảm đáng kể: Năm 1986 là 587,2% thì năm 1990 chỉ còn 52,8%.

    Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn 1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Nhờ kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho quá trình chuẩn bị các văn kiện hội nghị trung ương khoá VIII, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội những năm sau và đonmgs góp cho việc chenr bị văn kiện Đại hội IX vừa qua. Khoa học xã hội còn đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá… Các vấn đề tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do vậy văn hoá phát triển lành mạnh với phương châm ” Hoà nhập nhưng không hoà tan “. Bên cạnh việc tiếp thu văn hoá thế giới chúng ta không quên giữ gìn và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Giáo dục ngày càng được chú trọng. Các quốc gia phát triển đã rút ra một điểm quan trọng là: Giáo dục là con đường ngắn nhất để phát triển để tiến tới nền kinh tế trí thức hay còn gọi là nền kinh tế chất xám. ở Việt Nam từ năm 1997 đến nay, nhân lực Khoa học-Công nghệ cả nước đã tăng 1,5 lần. Cán bộ Khoa học-Công nghệ có trình độ đại học đạt xấp xỉ 1,3 triệu và hàng năm bổ xung thêm khoảng

    • nghìn người. Cán bộ có trình độ tiến sĩ đã tăng lên gần 13 nghìn vào năm 2000. Trình độ, năng lực cán bộ trong một số lĩnh vực như nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, công trình điện, bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí đạt mức trung bình tiên tiến trong khu vực. Bắt đầu từ năm 2000 chính phủ đã bố trí khoản ngân sách riêng để

    Lớp: K40 – 1107                                                        17

    Tiểu luận triết

    hàng năm chủ động gửi sinh viên cán bộ Khoa học-Công nghệ có năng lực đi đào tạo dài hạn tại các nước có nền Khoa học tiên tiến.

    Khoa học-Công nghệ đã có khả năng làm chủ và thích nghi nhiều công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong các lĩnh vực như viễn thông, khai thác dầu khí, năng lượng…Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng đối với đất nước do thực tiễn đặt ra được các lực lượng Khoa học-Công nghệ nghiên cứu và giải quyết như: Cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai, các phương pháp sản xuất Vacxin phòng bệnh…

    Rõ ràng, quan niệm về vai trò nền tảng và động lức phát triển của Khoa học – Công nghệ đối với sự phát triển vừa có cơ sở thực tiễn trong nước vừa hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, khi lợi thế tương đối của các yếu tố lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đang chuyển dần sang các yếu tố tri thức Khoa học – Công nghệ.

    2.2. Những yếu kém và hạn chế của Khoa học-Công nghệ ở nước ta hiện nay.

    Bên cạnh những thành tựu đã đạt được hoạt động Khoa học-Công nghệ ở nước ta cũng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và chưa thực sự đóng vai trò động lực- nền tảng cho phát triển. Sau đây là một số biểu hiện:

    • Tiềm lực Khoa học-Công nghệ vẫn còn ở mức thấp so với thế giới và khu vực chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu câù phát triển. Tỉ lệ cán bộ Khoa học – Công nghệ trên tổng số dân chưa cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, còn thiếu rất nhiều chuyên gia đầu ngành, việc đào tạo và đào tạo lại tiến hành chậm, nguy cơ hụt hẫng trong đội ngũ rất lớn, nhất là trong những ngành mũi nhọn như công nghệ tin học, sinh học, cơ khí, chế tạo máy. Việc xếp loại các cơ quan Khoa học-Công nghệ còn lúng túng, việc sử dụng đội ngũ trí thức còn lãng phí cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học còn thấp xa so với nhu cầu thực tiễn.

    Lớp: K40 – 1107                                                        18

    Tiểu luận triết

    • Cơ chế quản lí kinh tế chưa thực sự gắn kết các hoạt động Khoa học-Công nghệ với kinh tế xã hội, tạo động lực thực sự và nguồn lực dồi dào cho hoạt động Khoa học-Công nghệ phát triển.
    • Cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ chậm và chưa được đổi mới một cách căn bản mặc dù tư tưởng đổi mới cơ chế quản lí đã xuất hiện từ rất sớm. Chưa có sự liên thông giữa cơ chế quản lí kinh tế và cơ chế quản lí Khoa học – Công nghệ. Chưa đảm bảo được quyền lợi vật chất và tôn vinh xứng đáng đối với các nhà khoa học có cống hiến lớn. Cơ chế hình thành, quản lí, đánh giá các đề tài Khoa học-Công nghệ vẫn còn nhiều khó khăn để có thể chuyển đổi theo tinh thần đổi mới của luật Khoa học-Công nghệ.
    • Thị trường Khoa học-Công nghệ còn manh nha chưa phát triển. Mặc dù giá trị các hợp đồng kí kết giữa các cơ quan Khoa học-Công nghệ với các tổ chức kinh tế xã hội, giữa trong nước và nước ngoài đang tăng lên nhưng vẫn chưa xứng đáng với tiềm năng.

    2.3. Những giải pháp cần thiết và cấp bách cho nền kinh tế Viêt Nam hiên nay.

    Việt Nam là nước đi sau có nhiều khả năng tiếp nhận những thành tựu Khoa học-Công nghệ của thế giới. Do đó có thể rút ngắn được quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước ở các nước công nghiệp phát triển, kinh tế tri thức đang có những bước phát triển mạnh. Việt Nam không chỉ phải tích cực chuẩn bị cho bước phát triển này, mà cần phải tiếp nhận kinh tế tri thức ở những ngành, lĩnh vực mà ta có khả năng, ưu thế. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực vừa đặt ra những thách thức song cũng cho ta nhiều cơ hội để nâng cao trình độ Khoa học – Công nghệ và xây dựng tiềm lực khoa học. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã vạch ra chiến lược:

    Phát triển đồng bộ các ngành khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để Khoa học-Công nghệ thực sự là động lực phát triển, vừa đảm bảo thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa tạo

    Lớp: K40 – 1107                                                        19

    Tiểu luận triết

    ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Đồng thời xây dựng tiềm lực Khoa học-Công nghệ, xây dựng cơ sở để từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. cụ thể là một số giải pháp sau.

    • Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nghị quyết đại hội IX của Đảng, nâng cao nhận thức toàn dân và các cấp, các ngành về vai trò nền tảng và động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Hai là, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lí kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh tế-xã hội theo hướng tạo điều kiện, vừa khuyến khích, vừa ràng buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao tính cạnh tranh thị trường trong nước và nước ngoài.
    • Ba là, đưa luật Khoa học-Công nghệ vào cuộc sống rộng rãi hơn. Tiến hành tổng kết thực tiễn hoạt động Khoa học-Công nghệ những năm qua và kịp thời thể chế hoá những mô hình tốt, cách làm hay đã được thực tiễn thử thách và chứng minh. Đồng thời tích cực đổi mới về cơ bản cơ chế quản lí Khoa học-Công nghệ ttheo tinh thần luật Khoa học-Công nghệ để nhanh chongs nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khoa học-Công nghệ.
    • Bốn là, tháo gỡ các khó khăn, các ách tắc để mở rộng và phát triển khai thông thị trường Khoa học-Công nghệ. đây là nhiệm vụ hết sức cấp bách, cơ bản và lâu dài, để phát huy hết vai trò động lực của Khoa học-Công nghệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.
    • Năm là, chú trọng và ưu tiên cho nghiên cứu và thực thi các chính sách sử dụng và đãi ngộ nhân tài tri thức khoa học bên cạnh các biện pháp chăm lo đào tạo nhân lực Khoa học-Công nghệ.
    • Sáu là, Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng Khoa học-Công nghệ để nhanh chóng hội nhập với thế giới và khu vực, đặc biệt là cơ sở hạ tầng

    Lớp: K40 – 1107                                                        20

    Tiểu luận triết

    về thông tin Khoa học – Công nghệ, trang thiết bị nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia.

    Đó là những giải pháp cho nền kinh tế nước ta hiện nay.

    Lớp: K40 – 1107                                                        21

    Tiểu luận triết

    KẾT LUẬN

    Vật chất và ý thức ta thấy rằng chúng cũng có tính độc lâp và tác động qua lại với nhau.Nếu ta áp dụng những tri thức khoa học để cải biến thế giới nó sẽ cho ta những kết quả như ý muốn, những tri thức sai lầm luôn đưa ta đến thất bại.Vai trò của tri thức khoa học ngày càng quan trọng. Đứng trước thế kỉ 21 – thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc và phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là thử thách đồng thời là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các kỹ thuật Khoa học-Công nghệ của thế giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tế tri thức mà không qua kinh tế công nghiệp. Đó là sự lựa chọn hợp lí và đúng đắn. Vấn đề là phải hiểu biết và vận dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả các lĩnh vực hoạt động chứ không phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng biệt cho một khu vực nào đó. Kinh tế tri thức theo cách hiểu nào đó là của mọi người, nó phải được thẩm thấu vào trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội. Đất nước Việt Nam đã đi qua chiến tranh thắng lợi rất vẻ vang, vậy tại sao chúng ta không thể chiến thắng trong việc xây dựng và phát triển đất nước? Nhất định chúng ta sẽ làm được và làm tốt bởi mang trong mình sức mạnh đoàn kết dân tộc và bản tính thông minh lao động sáng tạo của con người Việt Nam. Những thắng lợi bước đầu của công cuộc đổi mới đã cho thấy rõ điều đó. Và bây giờ nhiệm vụ của chúng ta là:

    Tìm hiểu những tri thức mới, cập nhật và làm chủ những tiến bộ khoa học của loài người.

    Lớp: K40 – 1107                                                        22

    Tiểu luận triết

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mac-Lênin (Tập 2 ) Nhà xuất bản chính trị quốc gia
    2. Lí luận chính trị

    Số 11( 2001)

    Tạp chí nghiên cứu của học viện chính trị quốc gia HCM 3. Sinh hoạt lí luận

    Số 4( 47- 2001)

    Học viện chính trị quốc gia HCM- phân viện Đà Nẵng. 4. Tạp chí cộng sản

    Số 3( 2- 1999 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 10( 5-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 13( 7-2001 )

    1. Tạp chí cộng sản

    Số 19( 10-2001 )

    Lớp: K40 – 1107                                                        23

    Tiểu luận triết


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luật bất thành văn trong quản lý hoạt động nhóm


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-CHI%E1%BA%BEN-TRANH-NH%C3%82N-D%C3%82N-B%E1%BA%A2O-V%E1%BB%86-T%E1%BB%94-QU%E1%BB%90C-VI%E1%BB%86T-NAM-X%C3%83-H%E1%BB%98I-CH%E1%BB%A6-NGH%C4%A8A-TRONG-T%C3%8CNH-H%C3%8CNH-M%E1%BB%9AI..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

    Chuyên đề 1

    CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM

    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI.

    + Mục đích: Nhằm nâng cao trình độ nhận thức của cán bộ đảng viên ở cơ sở về âm mưu gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch và tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; những quan điểm, tư tưởng cơ bản trong đường lối quân sự, nghệ thuật quân sự của Đảng, trong lãnh đạo nhân dân thực hiện chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giành thắng lợi, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.

    + Yêu cầu: Mỗi cán bộ, đảng viên ở cơ sở cần nắm rõ tính chất, đặc điểm, nội dung; phương châm chỉ đạo, tư tưởng chiến lược, biện pháp tổ chức cuộc chiến tranh toàn dân bảo vệ Tổ quốc đồng thời thấy rõ được âm mưu thủ đoạn xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch để lật đổ Việt Nam.

    + Nội dung: toàn bài có 3 phần chính:

    -Phần I. Những vấn đề chung về chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    -Phần II. Nội dung cơ bản của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    -Phần III. Một số biện pháp chính.

    +Thời gian:           toàn bài 5 tiết.

    + Thời gian giải lao 01 lần mỗi lần 15 phút.

    + Tài liệu và phương pháp tổ chức:

    – Giáo trình giáo dục Quốc Phòng bồi dưỡng kiế thức quốc phòng-An ninh cho đảng viên và cán bộ chủ chốt thôn, làng ( đối tượng 4-5 ) do nhà nước xuất bản Quân đội nhân dân Việt Nam, xuất bản năm 2006.

    – Liên hệ ở cơ sở địa phương; tốc độ chậm.

    – Đối với người học, nghe, ghi tóm lược những ý chính để có cơ sở viết thu hoạch.

     

    MỞ ĐẦU

    Vũ trang toàn dân tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một trong những quan điểm, tư tưởng cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng, là nghệ thuật, đồng thời là quy luật ( vì chống ngoại xâm là chính nghĩa …) giành thắng lợi của dân tộc ta trong bảo vệ thành quả cách mạng, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

    Học tập chuyên đề này, người học cần nắm vững những vấn đề cơ bản nhất, gồm: tính chất, đặc điểm, nội dung của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, phương châm chỉ đạo, phương thức tiến hành chiến tranh, một số giải pháp chuẩn bị đất nước sẵn sàng tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

    1. Khái niệm:

    Chiến tranh nhân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh do toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    – Mục tiêu là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu đó đã được Đảng ta xác định:

    -“Một là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.

    -Hai là, bảo vệ Đảng, Nhà nước XHCN.

    -Ba là, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    -Bốn là, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

    -Năm là, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa.

    -Sáu là, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    – Lực lượng tiến hành chiến tranh là lực lượng toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, bao gồm lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

    – Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện ngày này là sự kế thừa tinh hoa quân sự của lịch sử nhân loại, kế thừa truyền thống quân sự của dân tộc, phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân lên một trình độ mới, với chất lượng cao hơn. Đó là nghệ thuật phát động toàn dân chung sức đánh giặc, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, đánh bằng mọi loại vũ khí kết hợp với đánh bằng các loại vũ khí, phương tiện hiện đại, đáp ứng với yêu cầu của chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao.

    – Phương pháp tiến hành chiến tranh là kết hợp chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp tác chiến bằng chiến tranh nhân dân địa phương với tác chiến của các binh đoàn chủ lực.

    2. Tính chất, đặc điểm:

    1. a) Tính chất của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Đây là cuộc chiến tranh mang tính chất tự vệ, hoàn toàn chính nghĩa, tính chất cách mạng triệt để, tính chất nhân dân thực sự và tính Quốc tế sâu sắc. Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là chính nghĩa. Vì đây là một cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại chiến trang xâm lược, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Đây là nguồn sức mạnh vô tận có ý nghĩa quyết định việc xây dựng tiền lực chính trị – tinh thần của nhân dân và quân đội trong chiến tranh, là cơ sở để huy động lực lượng tạo thành thức mạnh tổng hợp của cả nước đánh giặc; đồng thời giành được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất cách mạng triệt để. Vì đây là một cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lược của các lực lượng phản động, hiếu chiến để bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập dân tộc và công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. ( giống như đối tượng kẻ xấu đến nhà mình quậy phá gia đình, lớn hơn nữa là anh, em, họ hàng tập trung đánh đuổi ra khỏi nhà để bảo vệ gia đình…là cuộc chiến không mong muốn, là sự tự vệ phản kháng khi kẻ thù đến nhà mình đánh mình)

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc. Mục đích của chiến tranh là vì lợi ích của nhân dân lao động và chính quần chúng nhân dân tham gia một cách tự giác, tích cực vào sự nghiệp củng cố quốc phòng và tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đây là một trong những nguyên nhân quyết định thắng lợi của chiến tranh.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất quốc tế sâu sắc. Mục tiêu cuộc chiến tranh này thể hiện sự thống nhất lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự đóng góp tích cực của cách mạng nước ta đối với cách mạng thế giới trong điều hiện hiện nay, là cơ sở để xây dựng khối liên minh, đoàn kết quốc tế, là điều kiện để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới. Đây cũng là cơ sở để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    1. b) Đặc điểm của chiến tranh trong nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh mang đặc điểm toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và quyết liệt, phức tạp.

    Là cuộc chiến tranh toàn dân: Cuộc chiến tranh này phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, phải động viên, phát huy cao độ sức mạnh vật chất và tinh thần của toàn dân trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt mới có thể giành được thắng lợi trước cuộc tiến công của kẻ thù hung bạo.

    – Là cuộc chiến tranh toàn diện: Mục đích chiến tranh xâm lược của địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, buộc ta phải đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng đánh ta bằng mọi thủ đoạn, trên mọi lĩnh vực. Bởi vậy, chúng ta phải tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao … Thông qua các mặt đấu tranh đó mà toàn dân tham gia trực tiếp, gián tiếp vào cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Các mặt đấu tranh này đều diễn ra hết sức phức tạp, quyết liệt, đan xen nhau ngay từ đầu cũng như suốt quá trình chiến tranh, trong đó đấu tranh quân sự với địch trên chiến trường giữ vai trò chủ yếu, mang ý nghĩa quyết định.

    Là cuộc chiến tranh được tiến hành với tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường: Trong điều kiện mới của đất nước, chúng ta tiến hành cuộc chiến tranh có nhiều thuận lợi do công cuộc đổi mới đem lại. Nhưng chúng ta đang phải đối phó với kẻ thù xâm lược, có tiềm lực về kinh tế, quân sự, có vũ khí công nghệ cao, trong lúc nguồn viện trợ của các nước đối với ta như trong chiến tranh giải phóng trước đây không còn nữa. Bởi vậy, chúng ta phải dựa vào sức mình là chính, phải phát huy tính độc lập tự chủ, tự lực tự cường của toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của các cấp, các ngành, các địa phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng địch.

    Là cuộc chiến tranh quyết liệt và phức tạp: Nếu chiến tranh xảy ra thì ta vẫn là một nước nhỏ phải lấy vũ khí, trang bị kém hiện đại chống lại kẻ thù có vũ khí có công nghệ cao, vẫn phải lấy sức mạnh tổng hợp để đánh thẳng kẻ thù có sức mạnh về kinh tế, vũ khí, trang bị hiện đại. Điều cơ bản là phải phát huy truyền thống nghệ thuật quân sự của dân tộc ta: lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, lấy chất lượng cao, sức sức mạnh tổng hợp của toàn dân để đánh lại kẻ thù có quân số đông, vũ khí, trang bị hiện đại, có tiềm lực lớn về kinh tế và quân sự.

    Trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc hiện nay, chiến sự diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, khẩn trương ngay từ đầu; hình thái chiến tranh xen kẽ, không phân tuyến, không có sự phân biệt rõ ràng giữa hậu phương và tiền tuyến. Chúng ta vừa phải chống cuộc tiến công đường không, vừa chống cuộc tiến công đường bộ với sức mạnh của vũ khí công nghệ cao từ ngoài vào, đồng thời vừa phải đối phó với lực lượng phản động gây bạo loạn từ bên trong. Quy mô chiến tranh lớn diễn ra từ đầu thương vong về người, tiêu hao về vật chất kỹ thuật sẽ rất lớn, nhu cầu bảo đảm cho chiến tranh đòi hỏi rất cao và khẩn trương. Đặc điểm này của cuộc chiến tranh sẽ tác động rất mạnh đến tinh thần, tâm lý của quân và dân ta, đòi hỏi công tác chuẩn bị chính trị, tinh thần cho quân và dân ta phải rất chu đáo cùng các mặt chuẩn bị khác để giành và giữ quyền chủ động đánh địch ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình chiến tranh nhằm giành được thắng lợi cuối cùng.

    II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.

    1. Đối tượng tác chiến của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    1. a) Đối tượng tác chiến:

    Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã dự báo tình hình quốc tế, khu vực và trong nước là: “Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới. Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến bộ và công bằng xã hội sẽ có bước tiến mới”. Trong tình hình đó, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững đối tượng chiến lược của cách mạng và đối tượng tác chiến để khắc phục tư tưởng mơ hồ mất cảnh giác “để có phương án chủ động phòng ngừa, tránh bị động phòng ngừa, tránh bị động đối đầu, cô lập. Kiên quyết không để xảy ra những diễn biến xấu. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không để lâm vào bị động, đảm bảo đủ sức đối phó thắng lợi.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX của Đảng ta đã xác định: Đối tượng trực tiếp của cách mạng nước ta là tất cả những thế lực cản trở, xâm hại đến sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đối tượng tác chiến của quân và dân ta là những lực lượng gây bạo loạn lật đổ, gây xung đột vũ trang và gây chiến tranh xâm lược.

    1. b) Âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch:

    Xuất phát từ bản chất phản động, hiếu chiến, chủ nghĩa đế quốc đang lợi dụng “vấn đề khủng bố” và “chống khủng bố” để thi hành học thuyết “đánh đòn phủ đầu”, nhằm áp đặt các giá trị của chúng đối với các quốc gia, dân tộc. Âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta là mục tiêu nhất quán của của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ và khi điều kiện cho phép, chúng sẽ sẵn sàng tiến hành phát động chiến tranh với việc sử dụng vũ khí công nghệ cao để xâm lược nước ta. Hiện nay, chúng đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, để tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Cho nên, chúng ta phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, phải tỉnh táo, thận trọng trong xử lý các “điểm nóng” không thể để địch tạo nguyên cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta hoặc tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta.

    Nếu địch tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, chúng sẽ triệt để sử dụng ưu thế vũ khí công nghệ hiện đại để đánh phủ đầu, liên tục ngày đêm trong phạm vi cả nước với phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh, nhằm triệt phá tiềm lực kinh tế – quân sự, quốc phòng làm mất khả năng đề kháng của quân và dân ta, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh đánh chiếm những mục tiêu quan trọng.

    Tuy nhiên, cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù cũng bộc lộ những mặt yếu cơ bản không thể khắc phục được: Cuộc chiến tranh đó là phi nghĩa, phản cách mạng sẽ bị nhân dân trong nước và trên thể giới phản đối mạnh mẽ, phát sinh nhiều mâu thuẫn nội bộ, khó thực hiện được chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh, dễ bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp. Chúng buộc phải phân tán, đối phó khắp nơi, vấp phải mâu thuẫn khó giải quyết của chiến tranh xâm lược, dẫn đến bị động, lúng túng, tinh thần hoang mang dao động, giảm sút ý chí.

    Địa hình, thời tiết nước ta hiểm trở, phức tạp nên vũ khí hiện đại của địch không thể triển khai và phát huy hiệu quả. Mỗi loại vũ khí trang bị đều có nhược điểm của nó và nhất định quân và dân ta cũng sẽ tìm được cách đối phó thắng lợi trong thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp. Chi phí chiến tranh công nghệ cao rất lớn, bảo đảm vật chất kỹ thuật tốn kém và gặp nhiều khó khăn, nhất là khi chiến tranh kéo dài. Do đó, chúng ta nhất định bị thất bại.

    2. Phương châm chỉ đạo chiến tranh của nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện; đánh địch trên các chiến trường, tập trung sức đánh bại địch trên các hướng (khu vực) trọng điểm; thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian chiến tranh; vừa chiến đấu vừa xây dựng, dựa vào sức mình là chính, ra sức tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi trong hoàn cảnh mới, tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh bại ý chí xâm lược của địch, giành thắng lợi trong chiến tranh.

    1. a) Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện.

    Đây là nội dung chủ yếu của phương châm chỉ đạo, là nghệ thuật tạo sức mạnh tổng hợp, đồng thời cũng là quy luật giành thắng lợi trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

    * Quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công:

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất cách mạng, triệt để. Do vậy, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt là tiến công; tiến công kiên quyết, liên tục. Đây là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong quá trình chuẩn bị cũng như tiến hành chiến tranh.

    Ngày nay, trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc chúng ta càng có đầy đủ các điều kiện để tiến công và tiến công có hiệu quả, đánh bại kẻ thù xâm lược.

    * Tiến hành chiến tranh toàn dân:

    – Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính chất hoàn toàn chính nghĩa và tính chất nhân dân thực sự. Vì vậy, phải dựa vào sức mạnh của toàn dân, phải huy động được sức mạnh tinh thần và vật chất của mọi tầng lớp nhân dân, phải huy động mọi lực lượng tham gia chiến đấu tạo nên thế trận “thiên la địa võng” đẩy địch vào thế bị động, bị tiêu hao lớn về sinh lực, vật lực và cuối cùng nhất định địch phải chịu thất bại.

    – Thực hiện toàn dân đánh giặc phải lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

    – Phải kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương với tác chiến của các đơn vị chủ lực để thực hiện việc tiêu hao địch rộng rãi và thực hiện hững đòn tiêu diệt tập trung với quy mô vừa và lớn.

    * Tiến hành chiến tranh toàn diện:

    Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa và tư tưởng, trong đó lấy đấu tranh vũ trang là chủ yếu, lấy thắng lợi trên chiến trường là quyết định.

    – Về đấu tranh vũ trang:

    Đây là một hình thức đấu tranh cơ bản, giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân sự của địch. Đấu tranh vũ trang được tiến hành bởi lực lượng của toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt.

    – Về đấu tranh chính trị:

    Đây là một hình thức đấu tranh cơ bản, thông qua đó mà nêu cao được chính nghĩa của ta, vạch trần bản chất xâm lược, phi nghĩa và tội ác dã man của địch. Tiến hành đấu tranh chính trị sẽ góp phần đập tan mọi luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, lừa gạt và chia rẽ của địch, làm cho bọn hiếu chiến, xâm lược ngày càng bị cô lập và suy yếu về chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho các mặt trận đấu tranh khác. Nội dung đấu tranh về chính trị rất phong phú. Trong đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục làm cho toàn thể nhân dân hiểu rõ bản chất phi nghĩa của chiến tranh xâm lược do địch tiến hành, vạch trần bộ mặt “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” giả hiệu và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của chúng. Đồng thời, khẳng định tính đúng đắn của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khơi dậy trong nhân dân truyền thống quật cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm, ý chí độc lập, tự chủ, tự giác, tự cường, lòng căm thù giặc sâu sắc, làm cho mọi người đồng lòng chống giặc.

    – Về đấu tranh tư tưởng, văn hoá:

    Đây là cuộc đấu tranh nhằm “nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần làm thất bại một bước “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng; kiên định mục tiêu, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Nội dung đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa bao gồm nhiều vấn đề, trong đó cần phải chủ động tiến công làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch ngay tại địa phương, cơ sở. Phải đấu tranh chống địch xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phải nắm chắc mọi diễn biến, kịp thời xử trí những tình huống phức tạp, đề phòng nguy cơ “tự diễn biến” từ trong nội bộ. Đề cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng; đấu tranh loại trừ tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và đầy lùi các tệ nạn xã hội tại cường cơ sở địa phương, giữ gìn và phát huy những tinh hoa trong bản sắc văn hóa dân tộc.

    – Về đấu tranh kinh tế:

    Phải làm thất bại âm mưu và hành động phá hoại về kinh tế của địch, bảo vệ bằng được tiềm lực kinh tế của ta, bảo vệ các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất trước mọi thủ đoạn đánh phá của địch, bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống cho nhân dân, bảo vệ định hướng xã hội chủ nghĩa trong pháttriển kinh tế. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, phát triển sản xuất ở các địa phương, góp phần xây dựng tiềm lực kinh tế cho đất nước; đồng thời phải sử dụng tốt mọi nguồn viện trợ của các nước, các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

    – Về đấu tranh ngoại giao:

    Đây là mặt trận đấu tranh có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm phát huy thế mạnh của ta trên trường quốc tế. Phải vạch trần bản chất xâm lược phi nghĩa của địch, tính chất chính nghĩa của ta, triệt để lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngủ địch làm cho chúng ngày càng bị cô lập, lúng túng và bị động trên chiến trường, trong nước và trên thế giới.

    Phải thực hiện chính sách nhất quán thêm bạn bớt thù và nguyên tắc lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.

    1. b) Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt trên cả nước và từng khu vực, thu hẹp không gian và rút ngắn thời gian chiến tranh:

    * Chuẩn bị đầy đủ mọi mặt trên cả nước và từng khu vực.

    Đây là nhiệm vụ vừa là giải pháp trọng yếu, cấp bách và thường xuyên. Nó bao gồm mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành chuẩn bị nhằm tăng nhanh các tiềm lực của từng địa phương, của đất nước, bảo đảm đủ khả năng chủ động, tự lực đánh địch giành thắng lợi trong bất cứ tình huống nào, bảo vệ vững chắc địa phương, góp phần bảo vệ vững chắc đất nước. Nội dung chuẩn bị phải toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới.

    * Thu hẹp không gian chiến tranh:

    Chiến tranh xâm lược của địch nếu xảy ra có thể sẽ diễn ra cả trên bộ, trên biển, trên không, trên biên giới, trong đất liền, hải đảo. Chúng ta phải tạo được thế, tạo được lực, tạo thời cơ để thu hẹp không gian chiến tranh, không cho địch mở rộng chiến tranh ra phạm vi cả nước.

    Đối với từng địa phương cơ sở phải tự lực đánh địch, bảo vệ địa phương mình, thực hiện tỉnh giữ tỉnh, huyện giữ huyện, xã giữ xã; phải bám trụ kiên cường để chủ động đánh địch, kìm giữ địch, buộc địch phải đối phó mọi nơi, tạo điều kiện cho quân chủ lực đánh đòn quyết định.

    * Rút ngắn thời gian chiến tranh :

    Trong chiến tranh tương lai, địch vẫn dựa vào vũ khí trang bị hiện đại, tiềm lực kinh tế, quân sự hơn chúng ta để thực hiện chiến lược “đánh  nhanh, giải quyết nhanh” nhằm đạt mục đích chiến tranh xâm lược. Đối với ta, để đánh bại ý đồ đó, một mặt ta buộc chúng phải sa lầy kéo dài chiến tranh, mặt khác ta phải tập trung mọi nỗ lực tạo ra thời cơ có lợi, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi trong thời gian ngắn để hạn chế bớt tổn thất.

    Từng địa phương phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt từ thời bình. Khi chiến tranh xảy ra cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, của toàn dân, vận dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp đấu tranh với sự nỗ lực cao nhất, tạo ra điều kiện, thời cơ có lợi cho bộ đội chủ lực và cùng với bộ đội chủ lực khi thời cơ xuất hiện thì kịp thời nắm lấy thời cơ, tiến công kiên quyết và mạnh mẽ, đánh bại ý chí xâm lược của địch trong thời gian ngắn hoặc tương đối ngắn.

    1. c) Kết hợp tác chiến với xây dựng, vừa tác chiến vừa ra sức sản xuất thực hành tiết kiệm, giữ gìn và bồi dưỡng lực lượng của ta để càng đánh càng mạnh.

    Đây là quan điểm cơ bản của Đảng ta chỉ đạo xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng, thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ chống xâm lược để bảo vệ Tổ quốc với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay trong quá trình chiến tranh.

    Muốn duy trì được sức mạnh đánh thắng kẻ thù xâm lược, phải kiên cường trụ bám, củng cố và giữ vững hậu phương chiến lược và hậu phương trên từng hướng chiến trường, trên từng địa phương. Từng địa phương cũng như cả nước phải phát huy cao nhất nội lực vừa chiến đấu, vừa xây dựng, vừa tích cực đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, tích cực lấy vũ khí của địch để đánh địch. Vừa đánh địch vừa bồi dưỡng lực lượng của ta, thực hiện càng đánh càng mạnh.

    3. Phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tương lai vẫn thực hiện theo phương thức kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực.

    1. a) Tiến hành chiến tranh nhân dân địa phương:

    Chiến tranh nhân dân địa phương được thực hiện ở từng địa phương, bao gồm các hoạt động tác chiến của nhân dân, của các lực lượng vũ trang địa phương, có thể cả các đơn vị bộ đội chủ lực đang làm nhiệm vụ tác chiến ở địa phương.

    – Vị trí, tác dụng:

    Chiến tranh nhân dân địa phương có vị trí chiến lược quan trọng, có tác dụng đánh địch nhanh nhất, kịp thời nhất ở mọi nơi, mọi lúc. Mọi người đều tham gia đánh địch ngay tại địa phương mình, bằng mọi thứ vũ khí, với một hình thức, thủ đoạn tác chiến.

    Chiến tranh nhân dân địa phương có tác dụng kìm giữ địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó khắp nơi, tạo thế trận chiến tranh xen kẽ, đánh địch ở phía trước, ở bên sườn, sau lưng địch, làm rối loạn đội hình, phá thế bố trí hoàn chỉnh của địch.

    Chiến tranh nhân dân địa phương phát triển có tác dụng to lớn trong việc tổ chức động viên toàn dân đánh giặc trên từng địa phương cũng như trong cả nước; cho phép phát huy sức mạnh tại chỗ đánh địch kịp thời giành và giữ quyền chủ động trong mọi tình huống, đồng thời bảo vệ và duy trì, phát triển được tiềm lực mọi mặt trong quá trình chiến tranh.

    Chiến tranh nhân dân địa phương giữ vai trò chủ yếu quyết định trong việc đập tan bạo loạn lật đổ xảy ra tại địa phương; cùng với lực lượng an ninh, duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cơ quan Đảngm chính quyền các cấp ở địa phương. Đồng thời cùng với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực hình thành ệh thống phòng không rộng khắp, nhiều tầng trong khu vực phòng thủ, sẵn sàng đánh trẻ tiến công bằng hỏa lực của địch ngay từ đầu.

    – Lực lượng tiến hành:

    Là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt. Các lực lượng này được tổ chức, bố trí trên từng khu vực địa bàn chiến đấu, phòng thủ để thực hiện các nhiệm vụ được giao; khi cần thiết có thể điều động sang địa phương, khu vực khác tham gia tác chiến.

    Các địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng làng, xã vững mạnh toàn diện, xây dựng địa bàn an toàn làm chủ. Trên cơ sở đó, khi chiến tranh xảy ra, kịp thời triển khai xây dựng thành làng, xã chiến đấu theo phương án tác chiến phòng thủ. Đồng thời phải chuẩn bị các kế hoạch, trong đó chú ý đến kế hoạch phòng thủ dân sự, kế hoạch phòng tránh, đánh địch tiến công bằng hỏa lực, hạn chế tổ thất về người, trang bị vật chất kỹ thuật, kịp thời chuyển địa phương sang thời chiến, chủ động đánh địch.

    1. b) Tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực:

    Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực bao gồm các hoạt động tác chiến tập trung của các binh đoàn chủ lực cơ động của Bộ, của các quân khu, quân chủng, binh chủng tiến hành các trận đánh vừa và lớn, các chiến dịch trên các chiến trường cả nước hay trên từng hướng chiến lược quan trọng, nhằm tiêu diệt vừa và lớn lực lượng quân chủ lực địch, tạo bước ngoặt quyết định hoặc cục diện chiến trường có lợi trên từng chiến trường, trong từng giai đoạn chiến tranh hay cả cuộc chiến tranh.

    – Vị trí tác dụng:

    – Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực giữ vai trò quyết định trực tiếp tiêu diệt lực lượng vừa và lớn quân địch, tạo nên sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho ta, làm thất bại mọi âm mưu, kế hoạch chiến lược của chúng, bảo vệ vững chắc các mục tiêu chiến lược của quốc gia.

    Lực lượng tiến hành chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực được bố trí trên các địa bàn chiến lược, trên chiến trường cả nước hoặc trên một số hướng quan trọng, cùng với các khu vực phòng thủ hình thành thế trận vững chắc trên từng địa phương; khi cần cũng có thể bố trí và làm nhiệm vụ tác chiến trên từng địa phương.

    Khi bộ đội chủ lực hoạt động tác chiến trên địa phương, địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực và phối hợp hoạt động tác chiến với bộ đội chủ lực.

    1. c) Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các bình đoàn chủ lực.

    Trong việc kết hợp hai phương thức tiến hành chiến tranh tạo ra sức mạnh tổng hợp, thì chiến tranh nhân dân địa phương luôn luôn là cơ sở của chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Chiến tranh nhân dân địa phương lớn mạnh có khả năng đánh địch rộng khắp, kìm giữ, tiêu hao địch rộng rãi, buộc địch phải phân tán đối phó khắp nơi, thì khi đó các đơn vị bộ đội chủ lực mới có điều kiện thuận lợi tập trung lực lượng đánh tiêu diệt lớn lớn địch, phát huy sức mạnh của mình và không ngừng phát triển. Chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực tạo điều kiện cho chiến tranh nhân dân địa phương giữ vững và phát triển.

    Nội dung sự kết hợp đó là kết hợp giữa các lực lượng tại chỗ với lực lượng cơ động, các quy mô, các cách đánh, các loại vũ khí trang bị; kết hợp giữa đánh tập trung của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với đánh phân tán, rộng khắp của dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và lực lượng của toàn dân đánh giặc; là sự kết hợp giữa đánh tiêu hao với đánh tiêu diệt trên mọi chiến trường, mọi không gian và thời gian chiến tranh.

    Hai phương thức này kết hợo chặt chẽ với nau sẽ tạo ra địa bàn, thế trận, thời cơ, bổ sung lực lượng cho nhau, hỗ trợ cho nhau, phát huy được mặt hạnh, khắc phục được mặt yếu của nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong mọi lúc mọi nơi.

    4. Sự lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vì cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của ta là nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn lịch sử đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây.

    Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở việc đề ra đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, đủ khả năng để quy tụ sức mạnh của quốc gia, dân tộc và quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp và cụ thể hóa đường lối đó thành ý chí, quyết tâm và hành động cách mạng của toàn dân, toàn quân. Nó còn thể hiện ở vai trò tiền phong, gương mẫu của lớp lớp Đảng viên luôn nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, kiên định vững vàng, không ngại gian khổ, ác liệt hy sinh, bồi dưỡng và tổ chức nhân dân phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tạo nên sức mạnh chính trị tinh thần và vật chất to lớn để đánh thắng địch. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang trong chiến tranh là nhân tố bảo đãm cho lực lượng vũ trang thực sự là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước, làm nòng cốt  cho toàn dân đánh giặc, giành thắng lợi trong chiến tranh. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiện nay cần phải tập trung xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Phải tổ chức động viên được toàn dân, phát huy được sức mạnh toàn dân, của cả hệ thống chính trị ở địa phương, chuẩn bị đầy đủ mọi mặt và sẵn sàng đối phó có hiệu quả với mọi tình huống chiến tranh, giành thắng lợi. Phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo lựclượng vũ trang, nâng cao hiệu lực và hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang.

    III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHÍNH:

    1. Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt.

    Xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt là cách tốt nhất để bảo vệ đất nước, giữ vững hòa bình, ổn định lâu dài. Do đó:

    – Phải thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng chăm lo đến đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; thực hiện tốt chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Đây là nền tảng vững chắc để động viên sức mạnh của toàn dân đánh giặc. Đồng thời, phải chủ động đề phòng và kiên quyết đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, làm cho dân tin Đảng, tin chính quyền, tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng được “thế trện lòng dân”.

    – Phải tăng cường giáo dục quốc phòng làm cho mọi người dân nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mì nhtrong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhận thức được âm mưu, thủ đoạn của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng; có kiến thức nhất định về quốc phòng – an ninh, quân sự.

    – Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh ở tất cả các cấp, các ngành, ở mọi lĩnh vực.

    – Xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, phát huy được vai trò và hiệu lực điều hành của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân.

    – Hoàn thành các kế hoạch động viên thời chiến: Kế hoạch đồng viên kinh tế, động viên công nghiệp, động viên lực lượng vũ trang; tăng cường xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng các làng, xã vững mạnh toàn diện, khi chiến tranh xảy ra triển khai thành làng, xã chiến đấu.

    – Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đối với từng địa phương cơ sở phải hết sức chú ý xây dựng dân quân tự vệ, xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên mạnh về mọi mặt, đặc biệt chất lượng về chính trị.

    2. Chuẩn bị đất nước sẵn sàng chống xâm lược.

    1. a) Chuẩn bị về chính trị, tinh thần cho nhân dân.

    Việc chuẩn bị về chính trị, tinh thần cho nhân dân cần tập trung vào giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam, làm cho nhân dân thấy rõ tính chất chính nghĩa của ta, tính chất phi nghĩa của địch, các điểm yếu của vũ khí công nghệ cao, nâng cao lòng tin vào khả năng đánh thắng của ta để nhân dân sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh, bám trụ kiên cường, vừa chiến đấu vừa sản xuất. Đồng thời, huấn luyện cho nhân dân làm tốt công tác phòng thủ dân sự để nhân dân tự bảo vệ tính mạng, tài sản của mình. Trong thời bình hiện nay, cần gắn nội dung phòng tránh, sơ tán cho nhân dân, các ban, ngành, đoàn thể trong diễn tập tác chiến trị an của xã, phường, diễn tập khu vực phòng thủ của huyện, tỉnh.

    1. b) Chuẩn bị về kinh tế:

    Chuẩn bị kế hoạch sẵn sàng chuyển mọi hoạt động về kinh tế của địa phương theo yêu cầu của chiến tranh, duy trì phát triển sản xuất vừa bảo đảm ổn định đời sống cho nhân dân vừa đáp ứng theo yêu cầu cần chiến tranh. Có kế hoạch dự trữ các loại nguyên liệu, nhiêu liệu…

    1. c) Chuẩn bị lực lượng vũ trang:

    Phải chuẩn bị toàn diện nhưng đối với địa phương, cơ sở cần tập trung vào chuẩn bị phát triển lực lượng vũ trang (dân quân tự vệ) theo yêu cầu thời chiến, tổ chức quản lý chặt chẽ lực lượng dự bị động viên sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ động viên quân dự bị bảo đảm đúng, đủ, bí mật, an toàn; chuẩn bị vật chất kỹ thuật bảo đảm cho các lực lượng chiến đấu.

    3. Chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến:

    1. a) Yêu cầu:

    Phải nắm bắt âm mưu và diễn biến hành động của địch; chuyển đất nước, chuyển địa phương sang thời chiến chính xác, kịp thời, bảo đảm hạn chế thấp nhất tổn thất trong thời gian đầu chiến tranh, nhanh chóng tăng cường sức mạnh trên từng địa phương, góp phần tạo sức mạnh của cả nước để sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.

    Chuyển đất nước và địa phương sang thời chiến phải rất khẩn trương, bảo đảm bí mật, an toàn, trên cơ sở chuẩn bị tốt từ thời bình để trong một thời gian ngắn phải phát triển lực lượng, triển khai thế trận … Các địa phương phải hoàn thành các chỉ tiêu động viên trước khi chiến tranh xảy ra, có vậy mới đáp ứng yêu cầu chiến tranh.

    1. b) Nội dung chuyển đất nước, chuyển địa phương sang thời chiến:

    Chuyển toàn diện, chiến tranh cần cái gì phải chuyển cái đó, trọng tâm là:

    – Chuyển hoạt động của các tổ chức Đảng, chính quyền sang hoạt động ở trạng thái thời chiến để bảo đảm thường xuyên, liên tục lãnh đạo điều hành chiến tranh và mọi hoạt động của xã hội.

    – Chuyển lực lượng vũ trang sang thời chiến. Đối với địa phương, cơ sở là chuyển lực lượng dân quân tự vệ và phương tiện kỹ thuật bổ sung cho lực lượng bộ đội thường trực và mở rộng lực dân quân tự vệ sang trạng thái thời chiến, bảo đảm cho dân quan tự vệ kịp thời đánh địch bảo vệ xóm làng.

    – Chuyển mọi hoạt động về kinh tế sang thời chiến, bảo đảm cao nhất nhu cầu chiến đấu của nhân dân và lực lượng vũ trang, đồng thời bảo đảm ổn định đời sống cho nhân dân.

    1. c) Phương pháp chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến:

    Đối với cả nước, phải chuyển từng ngành, từng bộ phận, từng khu vực đến chuyển toàn bộ. Đối với từng địa phương cơ sở, chuyển toàn bộ cùng lúc. Trong quá trình chuyển sang thời chiến, cần phải có biện pháp lãnh đạo tốt đổ ổn định tinh thần, tâm lý và đời sống của nhân dân.

     

     

    KẾT LUẬN:

    Qua nghiên cứu bài học cho chúng ta rõ bản chất, âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn luôn nuôi dã tâm chống phá, xâm lược các nước Xã hội Chủ nghĩa, đặc biệt chúng lấy Việt Nam làm tâm điểm để chống phá, cũng qua nghiên cứu về lý luận, nguyên nhân, tính chất, đặc điểm, nội dung và các giải pháp để tiến cuộc chiến tranh nhân nhằm trang bị những kiến thức cơ bản bước đầu cho các đồng chí; trong tương lai nếu địch tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, để bảo vệ Tổ quốc chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh nhân dân. Tuy nhiên, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhằm đối phó với chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao là vấn đề còn mới mẻ. Bởi vậy, các cấp lãnh đạo, chỉ huy cần phải tiếp tục nghiên cứu, nắm vững âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, phương thức tiến hành chiến tranh để vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với điều kiện tác chiến mới, bảo đảm thắng lợi cho cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. / . Cảm ơn người học!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-quy-lu%E1%BA%ADt-gi%C3%A1-tr%E1%BB%8B-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị tại Việt Nam

    Đề án KTCT

    LỜI MỞ ĐẦU

     

    Một xã hội có những chính sách về phát triển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đòi sống tinh thần và vật chất của con người trong xã hôị dó ngáy một ổn dịnh phong phú ,nhưng để có được một xã hội như vậy không phảI tự nhiên mà có .Thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế là một việc vô cùng khó khăn ,đó là cuộc chạy đua sôi động giữa các nước trên thế giới nhằm đạt được một vị trí cao hơn trên truường quốc tế .Muốn thực hiện điều đó thì nhất quyết trong chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đòi hoỉ phảI được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế ,đặc biệt là quy luật giá trị .Vì sao lạu nói quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất ? và đối với nứơc ta hiện nay nền kinh tế thị trướng liệu có chịu ảnh hưởng của quy luật này ? Nếu trả lời được câu hỏi trên hay nói cách khác là nghiên cứu quy luật giá trị thì ta nhận định đươc thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay từ đó có được những lý luận chung về những tồn tại .những tiến bộ .cũng như hướng phát triển. Mặt khác tác dụng của quy luật giá trị tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản suất mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất XHCN và vào khả năng nhận thức vận dụng và tổ chức các hoạt động kinh tế thực tiễn của nhà nước. Hơn nữa tác dụng của quy luật giá trị là tác dụng khách quan ,khả năng con người nhận thức và vận dụng quy luật sẽ quy định tính chất tiêu cực hay tích cực mà việc vận dụng nó sẽ mang lại cho xã hội,vì vậy nghiên cứu để có thể áp dụng quy luật giá trị một cách khoa học hiệu quả tận dụng một cách tối ưu nhất những ưu điểm của nó khi tham gia vào nền kinh tế đất nước chính là mục đích của em khi chọn đề tài này – với vai trò là một thành viên tương lai của nền kinh tế việt nam.

    Đề án KTCT

    Về mặt lý thuyết , quy luật giá trị được phát biểu như sau : “sản xuất trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hoá hay thời gian lao động cần thiết “. Trên thực tế thì quy luật giá trị mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng do mang các tính chất sau :

    • Điều tiết và lưu thông hàng hoá: trong sản xuất quy luật giá trị điều tiết việc phân phối tư liệu sản xuất và sức lao động giưa các ngành sản xuất thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá
    • Kích thích lực lượng sản xuất phát triển :người sản xuất muốn đứng vững phải liên tục đổi mới kỹ thụât vì kỹ thuật tiên tiến thì giá trị cá biệt của hàng hoá sẽ thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá như vậy người sản xuất mới có lãi nhất
    • Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên :sự tác động của quy luật giá trị bên

    cạnh những tích cực kể trên còn dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá nhất là những người sản xuất nhỏ

    Vì nền kinh tế Việt Nam cung được xây dựng trên cơ sở của quy luật giá trị nên tất yếu các khía cạnh của nền kinh tế cũng mang dáng dấp của những đạc điểm trên và dù được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp nó cũng nói lên được một phần nào đó thực trạng của quá trình vận dụng ,thấy được những ưu khuyết điểm để từ đó có những phương pháp khắc phục ,nhằm đạt được nhưng hiệu quả tốt hơn trong quá trình phát triển

    “Quy luật giá trị và sự vận dụng quy luật giá trị ở Việt Nam”

    Trên đây là tất cả những vấn đề mà em sẽ tập trung nghiên cứu trong bài viết của mình, những nội dung đó sẽ được đề cập trong hai chương bao gồm :

    +Chương I: lý luận chung về quy luật giá trị

    +Chương II: thực tế vấn đề đó ở Việt Nam

    Đề án KTCT

    Cuối cùng em xin cám ơn thầy giáo đã ra đề tài và đã hướng dẫn cho em nghiên cứu đề tàI này một cách khoa học và nghiêm túc. Tuy nhiên đây là một đề tài hết sức bao quát và tổng hợp nhiều kiến thức vì vậy bà viết của em không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế .Em rất mong có được sự chỉ bảo và giúp đỡ của thầy cô .Em xin chân thành cám ơn .

    3

    Đề án KTCT

    CHƯƠNG I:

    1.1      TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ QUY LUẬT NGIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KTTT

    Thực tế lịch sử đã chứng minh , bất kỳ mợt sự vật hiện tượng nào ,từ vi mô đến vĩ mô ,tất cả khi tồn tại trong tự nhiên đều tuân theo nhưng quy luật nhất định .Những quy luật này chi phối tới cả quá trình hình thành và phát triển của mỗi sự vật hiện tượng

    Và tất nhiên nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật đó.Theo thời gian ,nền kinh tế không ngừng biến đổi nóliên tục phân chia và hình thành thêm nhiều thành phần tế mới có những định hướng khác ,có những đặc đIểm và quy định riêng biệt đối với các thành viên tham gia trong nền kinh tế đó

    .Chúng giống nhau là nhìn bề ngoài tưởng như sản xuất và trao đổi hàng hoá là việc riêng của mỗi thành viên họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào .Trên thực tế ,mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị .Đúng như Mac đã “ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có quy luật giá trị” (1) hay nói cách khác nó chính là quy luật thống soái của nền kinh tế thị trường.Các quy luật khác chịu sự chi phối của quy luật này và một phần cũng biểu hiện những yêu cầu của nó:

    Nền kinh tế hiện nay là nền kinh tế thị trường có tín hiệu nhạy bén nhất là giá cả mà giá cả lại chịu sư chi phối của quy luật giá trị vì thế nói quy luật giá trị có ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế là hoàn toàn phù hợp mang tính tất yếu.

    Hơn thế nữa việc vận dụng các phương pháp và chuẩn mực dựa trên cơ sở quy luật giá trị trong việc tính toán hao phí lao động xã hội cần thiết ta

    Đề án KTCT

    có thể định hướng được các kế hoạch kinh tế quốc dân .Nhờ đó mà ta có thể phân tích và có được những bước đi cụ thể cho nền kinh tế trong các thời kỳ tiếp theo

    (1):Tư bản quyển III STH 1978 Tr.309

    Bản thân quy luật giá trị biểu hiện sự ngang bằng giữa các tiêu chuẩn được dùng làm cơ sở để xây dựng quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá nó nói lên tính chất ngang giá cúa việc trao đổi giữa họ với nhau

    Từ những điểm trên cho thấy việc chi phối các mặt của nền kinh tế thị trường bởi quy luật giá trị là vấn đề cơ bản tất yếu ,đã được thực tế kiểm nghiệm chứng minh và khẳng đinhl.!

    1.2      CÁC QUAN ĐIỂM VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ

    Quy luật giá trị là quy luật của kinh tế của sản xuất hàng hoá , ở đâu có sản xuất hàng hoá thì ở đó tồn tại quy luật này , dù là xã hội tư bản hay xã hội xã hội chủ nghĩa .Nó sẽthể hiện những đặc điểm khác nhau tuy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh kinh tế chính trị của xã hội mà nó tồn tại .

    Trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hưu về tư liệu sản xuất , những ngưới sản xuất tách rời nhau mặc dầu được liên kết với nhau do sự phân công lao động xã hội – có sự đối kháng về lợi ích giữa họ với nhau , cũng như giữa họ với toàn xã hội ,trong đIũu kiện đó ,trao đổi những lượng lao động bằng nhau là phương thức duy nhất để thực hiện lợi ích kinh tế của người sản xuất . Còn trong nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa , chế độ công hữuvề tư liệu sản xuất và tính chất lao đôngj xã hội trực tiếp sinh ra từ chế độ sở huữu đó ,đã tạo sự nhất trí về lợi ích giữa mọi thành viên trong xã hội ,nhất trí về lợi ích cá nhân và tập thể những

    5

    Đề án KTCT

    người sản xuất ngay từ đầu đa ý thức rõ việc tiêu phí lao động riêng của mình với tư cách là mọt bộ phận của toàn bộ lao động xã hội .Quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội yêu cầu việc sản suất và trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết ,nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa các lợi ích : lợi ích xã hội ,lợi ích tập thể ,lợi ích cá nhân

    Sự thống nhất giữa các lợi ích này đã mang lại cho quy luật giá trị một nội dung đinh tính mới khacs với quy luật giá trị trước nó: đó là sự kết hợp các lợi ích trong lượng giá trị Theo yêu cầu cũa quy luật này việc xác định đúng đắn thời gian lao động xã hội cần thiết có tầm quan trọng đặc biệt. Trong các xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu lao đọng sản xuất , thời gian lao động xã hội cần thiết được hình thành một cách tự phát thông qua một con đường vòng xã hội trong trao đổi hàng hoá . Còn chủ nghĩa xã hội có thể kế hoạch hoá việc hình thành thời gian lao đọng xã hội cần thiết nó đưọc nhận thức và xác lập từ trong quá trình sản xuất , nó được tính toán đầy đủ mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị giữa các lợi ích kinh tế cuả cá nhân người lao động ,của xí nghiệp ,và của xã hội phù hợp với đIũu kiện kinh tế của xã hội trong từng thơ kỳ:

    “ Trong chủ nghĩa xã hội , dưới sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa tư liệu sản xuất , quy luật giá trị biểu hiện của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giưa người và người ,hoạt động trong hệ thống quy luật của chủ nghĩa xã hội ,trong mối liên hệ lẫn nhau giữa các quy luật đó và được sử dụng để quản lý có kế hoạch nền sản xuất “ (2)

    Quy luật giá trị là trừu tượng, Nó thể hiện sự vận động của giá cả mà giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiền của giá trị từ đó làm cho làm cho giá cả hàng hoá lên suống xung quanh giá trị của nó .Mac quan niệm đó là “ vẻ đẹp của quy luật giá trị “ (3)

    6

    Đề án KTCT

    Quy luật giá trị, với tư cách là quy luật cơ bản của sản xuất hàng hoá, đã tạo ra cho người mua và người bán những động lực cực kỳ quan trọng . Trên thị trường, người mua bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi ích sử dụng . Vì vậy người mua luôn luôn muốn ép giá thị trường với mức thấp nhất. Ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận và do đó muốn bán với giá cao Để tồn tại và phát triển, những người bán một mặt phảI phấn đấu giảm chi phí ( đặc biệt là ở giai đoạn trước khi đưa hàng hoá ra thị trường ) để chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bàng chi phí xã hội trung bình . Họ cố gắng dùng mọi thủ đoạn và biện pháp nhằm bán được hàng với giá cao nhất nhằm tối đa hoá lợi nhuận .Như vậy quy luật giá trị tác động tới người bán theo hướng thúc đẩy họ nâng cao giá thị trường lên và “ giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị . Gía trị là quy luật của giá cả . Gía cả cũng là phương thức vận động của quy luật giá trị có nghĩa là quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả để tác động đến nền kinh tế, do vậy giá cả là cơ chế chủ yếu để vận dụng quy luật giá trị “(4)

    Những quan đIểm trên đều cho thấytầm quan trọng của quy luật gia trị và tất cả đều xuất phát từ học thuyết của Mac xit :cơ chế thị trường là cơ chế tự vận động của hệ thống quy luật trước hết là quy luật giá trị đó là sự khác nhau giữahọc thuyết kinh tế mac với kinh tế hoạ hiện đại .Kinh tế học phương tây quá đề cao quy luật cung cầu họ

    • (3) Bài viết “những đặc trưng chủ yếu của cơ chế thị trường TB CN “của PTS Nguyễn Văn Ký – “một số lý luận về KTCT và thực tế kinh tếViệtNam“Tr29Họcviện chính trị quốc gia 1995(4) “Vai trò quản lý nhà nước về giá trong nền KTTTnước ta “ Tr9 của PGS.PTS. Trần Hởu Thự_ NXB chính trị quốc gia 1994

    7

    Đề án KTCT

    coi quy luật cung cầu là quy luật tạo thế cân bằng sản xuất , chi phối quyết định giá còn A.Smith lại quá đề cao tính tự do ,trật tự tự nhiên không thấy quy luật giá trị là trung tâm của cơ chế thị trường ngược lại Mac quan niệm quy luật cung cầu không quyết định về giá trị và giá cả hàng hoá được .Mac chứng minh rằng ngay cả khi cung cầu cân bằng nhau giá vẫn biến động.

    Mặt khác cũng theo Mac quy luật giá trị là quy luật của kinh tế hàng hoá nên quy luật giả trị vẫn tồn tại trong chủ nghĩa xã hội vì ở đó vẫn tồn tại kinh tế hàng hoá . Xét theo góc độ đó quy luật giá trị là một quy luật chung tồn tại trong nhiều phương thức .Vì là quy luật trung, quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội cũng sẽ có những nội dung chung giống với các quy luật giá trị trong trong các phương thức sản xuất trước nó . Đồng thời phép biện chứng về cái riêng là cái toàn thể ,cái chung là cái bộ phận

    • cái chung nằm trong cái riêng lại cho phép khẳng định rằng quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hôị lại là một toàn thể vừa chứa đựng những nội dung chung giống nhau của các quy luật trước nó vừa chứa đựng cả những nội dung riêng phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Như vậy rõ ràng quy luật giá trị tồn tại trong chủ nghĩa xã hội Không phải là sự tái hiện nguyên vẹn của quy luật giá trị trước đó mà là một quy luật khác , quy luật giá trị của kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa ,quy luật của chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Trên cơ sở những quan điểm đó áp dụng với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Đảng và nhà nước ta khẳng định :

    Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường vì vậy tồn tại quy luật gía trị là tất yếu và chỉ có học thuyết Mac xit mới đặt đúng địa vị quy luật giá trị trong cơ chế thị trường (chủ nghĩa Mac vạch rõ thực chất cơ

    8

    Đề án KTCT

    chế thị trường là cơ chế phân phối tư bản phân phối lợi nhuận để tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho giai cấp tư bản)

    Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa thế giới lớn mạnh sự phân công quốc tế xã hội chủ nghia là điều kiện kinh tế quan trọng để phát triển kinh tế môĩ nứơc , chúng ta cần thiết và có đầy đủ khả năng tham gia vào sự phân công quốc tế đó . Yêu cầu của sự tham gia này là phát huy thế mạnh của mỗi nước, bổ xung vào sự phát triển toàn diện của tất cả các nước .

    Với nền kinh tế sản xuất nhỏ là chủ yếu,khi tham gia vào sự phân công quốc tế này những mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá gay gắt thêm .Trong điều kiện hàng hoá có hạn chúng ta phải phân phối sao cho hợp lý nhu cầu hàng hoá tiêu dùng trong nước với nhu cầu hàng hoá xuất khẩu theo sự phân công quốc tế để đạt được cânđối tối ưu

    đó là một đòi hỏi khó khăn . Mặt khác sự giao lưu tăng tiến do phân công quốc tế mà có , tạo ra những nhu cầu ngày càng đổi mới và đa dạng , vượt quá khả năng đáp ứng được của nền sản xuất trong nước về mặt giá trị phát sinh mâu thuân giá cả hàng hoá trong nước với hàng hoá các nước thành viên .Vấn đề cần giải quyết để phát triển sản xuất hàng hoá nước ta nhằm đáp ứng quan hệ phân công hợp tác quốc tế này là phải quy hoạch lại ,sản xuất kế hoạch hoá chặt chẽ, tập trung vào nhưng trọng đIểm để tạo nguồn hàng tham gia vào sự phân công và giảI quyết nhu cầu trong nước . Sự hợp tác về mặt kế hoạch do vậy có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế hàng hoá ỏ nước ta:

    ”Phát huy tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế tác động của các quy luật giá trị trong kinh tế không xã hội chủ nghĩa là yêu cầu của chính sách giá cả và quản lý thị trường ở nước ta trong thời kỳ quá độ “ (5)

    9

    Đề án KTCT

    Đảng ta cũng chỉ rõ : trong thời kỳ tiến lên xã hộ chủ nghĩa do tồn tại ba loại quan hệ sản xuất hàng hoá nên quy luật giá trị tồn tại trong cả ba loại hình sản xuất đó , tuy nhiên cách thức biểu hiện lại khác nhau ,trong sản xuất hàng hoá giản đơn quy luật giá trị có yêu cầu là bảo đảm lợi ích cá nhân người lao đọng riêng biệt ,trong sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa quy luật giá trị có yêu cầu mang lại giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt cho nhà tư bản . Trong sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa quy luật giá trị bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa các loựi ích xã hội , lợi ích tập thể và lợi ích người lao động làm chủ ã hội . Gắn liền với cuộc đấu tranh giữa ba loại hình sản xuất hàng hoá có cuộc đấu tranh giữa các quy luật giá trị

    . Đó là cuộc đấu tranh về giá cả trên thị trường đã làm nảy sinh hai khuynh hướng phát triển :ổn định và rối loạn , có kế hoạch và vô chính phủ , xã hội chủ nghĩa và tư bảnchủ nghĩa.

    Vấn đề đặt ra cho nước ta hiện nay là phải vận dụng quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghiã , hạn chế và hướng dẫn quy luật giá trị trong hai thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa

    Đảng ta nêu rõ : “ trong giai đoạn hiện nay ở nước ta kinh tế xã hội chủ nghĩa không chỉ chịu tác động của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa mà còn chịu tác động của các

    • (6) BàI “vai trò quản lý của nhà nước về giá trong nền KTTT ở nước ta “Tr57 của PGS.PTS. TrầnHậu Thư NXBchính trị quốc gia 1994

    quy luật giá trị trong các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa thể hiện ở việc một số xí nghiệp chạy theo giá cả thị trường không tổ chức , bán sản phẩm của mình với giá cao hơn giá quy định để thu về chênh lệch giá ,cho lợi ích riêng của xí nghiệp”(6)

    10

    Đề án KTCT

    Điều đó cho thấy Đảng và nhà nước đã đánh giá được toàn bộ tầm quan trọng của quy luật giá trị trong nền kinh tế của nước ta hiện nay

    2.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ .

    • ó thể nói Liên Xô là nước đi đầu trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa về vấn đề công nghiệp hoá hiện đại hoá phát triển nền kinh tế và cũng là quốc gia đầu tiên hiểu rõ và áp dụngquy luật giá trị vào nền sản xuất , tuy không tránh khỏi những sai sót nhưng cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong nền kinh tế nước Nga nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Sau cách mạng tháng mười Nga thành công ,chính quyền xô viết đã tranh thủ giải quyết những vấn đề cụ thể ,cấp bách, củng cố chính quyền của giai cấp vô sản ,đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.Để làm được điều đó nhất thiết phải tìm ra con đường đổi mới quy cách của nền kinh tế Nga lúc bấy giờ, và Đảng Cộng Sản đã chỉ ra :hướng đi đúng đắn và cấn thiết lúc này là phát triển một nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa như thế cũng có nghĩa là phát triển một nền kinh tế tuân thủ theo những quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa mà dẫn đầu là quy luật giá trị

    Trong thời kỳ chiến tranh việc bao cấp quy định giá đã đóng góp một vị trí quan trọng trong việc chiến thắng và xây dựng một nền kinh tế tự lực tự cường và phát triển của Liên Xô.Để đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích của cả xã hội ,của mỗi tập thể và của từng cá nhân Liên Xô đã tiến hành xây dựng một nền kinh tế dựa trên nền tảng của mô hình hợp tác hoá : mọi người cùng làm việc và cùng hưởng thụ thành quả đạt được, nói cách khác tư liệu sản xuất được nắm giữ chung bởi mọi thành viên tham gia vào quá trình sản xuấtvà giá cả là do nhà nước quyết định ền kinh tế nước Nga lúc này trở thành nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo , sự

    11

    Đề án KTCT

    phát triển chủ yếu dựa vào sự nỗ lực chủ quan của nhân dân Liên Xô trong quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa .Và kết quả là : “cho đến năm 1940 giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã gấp 7,7 lần so với năm 1923 ,nhịp độ tăng hàng năm là14% . Đến lúc đó lịch sử thế giới chưa biết đến nhịp độ phát triển nào như vậy . Trong cơ cấu công nông nghiệp, sản lượng công nghiệp đã chiếm 77,4% , sản lượng công nghiệp Liên Xô chiếm 10% sản lượng công nghiệp thế giới “(8)

    • BàI “kinh tế Liên Xô “trong sách “Lịch sử kinh tế quốc dân “ Tr117 NXB giáo dục _Hà Nội 2001

    Sau khi phát xít Đức tấn công Liên Xô toàn bộ nền kinh tế chuyển sang phục vụ chiến tranh , trong thời gian này tuy công nông nghiệp có phần giảm sút nhưng vẫn đảm bảo cho nước Nga hoàn thành cuộc chiến bảo vệ tổ quốc và sau bốn năm chiến tranh nền kinh tế Liên Xô bị tàn phá rất nặng nề , nhà nước cộng sản và nhân dân Nga quyết định khôi phục và ổn định lại nền kinh tế. Đặc biệt chú trọng đến vấn đề giá cả và tiền tệ là những khía cạnh quan trọng của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa ( quy luật giá trị ) để khắc phục việc đồng rúp đang mất giá và giá cả hàng hoá biến động sau chiến tranh năm 1947 cải cách tền tệ được thực hiện (1 rúp mới ăn 10 rúp cũ ) do đó sức mua của đống rúp được nâng lên và bình ổn được thị trường giá cả.” Sau bao nhiêu nỗ lực tính đến năm 1955 thu nhập quốc đân tăng gấp 17 lần so với năm 1913 , tiền lương thực tế tăng lên 4 lần , đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt “(9).

    Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu , Liên xô cũng phạm phải những sai lầm đáng tiếc ,do các nhà lãnh đạo không nhanh nhạy nắm bắt thời cuộc

    12

    Đề án KTCT

    dẫn đến hiểu sai và áp dụng sai những nội dung của quy luật giá trị và kéo theo kết quả cuối cùng là sự sụp đổ của cường quốc thứ hai trên thế giới .

    Sau khi thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông Âu tan rã ,Việt Nam đã chuyển hướng buôn bán sang các nước Châu á , để có được mối quan hệ lâu dài và bền chặt thì cả hai phía phải hiểu rõ về nhau ,chính vì vậy trong phạm vi bài viết ngày hôm nay em xin được đề cập đến quá trình phát triển của một số nước châu á , đặc biệt là 3 nước : Nam Triều Tiên ,Nhật Bản , Singgapo ba “con rồng châu á”, để từ đó thấy được những thành công của họ đã đạt được như thế nào , liệu những kinh nghiệm của họ có phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Việt Nam hay không ?

    • (9) BàI “kinh tế Liên Xô “trong sách “Lịch sử kinh tế quốc dân “Tr119 NXB giáo dục –Hà Nội 2001

    Trước hết chúng ta đề cập đến đất nước Nam Triều Tiên :

    Đặc điểm nổi bật của đất nước này là “ phá vỡ nền kinh tế tự nhiên và mở rộng quan hệ hàng tiền tư bản chủ nghĩa “(10) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị theo định hướng tư bản chủ nghĩa tạo nên một nền kinh tế hàng hóa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất .

    Cho đến khi Đại chiến thế giới II kết thúc Nam Trỉều Tiên vẫn còn là thuộc địa của Nhật Bản và nền kinh tế bị phá huỷ nặng nề trong chiến tranh đến mức khó có thể gượng dậy được . Nhưng nền tảng cơ bản của nền kinh tế thị trường là khu vực kinh tế tư nhân và những quan hệ hàng hoá tiền tệ trong khu vực sản xuất đã xuất hiện trước đó , khi thực dân Nhật Bản xâm chiếm thuộc địa vùng này .

    • Nam Triều Tiên : “cho đến thế kỷ 19 , 84% nền kinh tế Triều Tiên vẫn còn nằm ở khu vực nông nghiệp và lâm nghiệp lạc hậu và quan hệ sản

    13

    Đề án KTCT

    xuất chủ đạo ở nông thôn là chủ nghĩa phong kiến trong đó dân cư chủ yếu là hai thành phần một bên là địa chủ cùng với các gia đình quý tộc trong vương triều với bên kia là tá điền . Phương thức bóc lột chủ yếu là phát canh thu tô .khái niệm tiền công còn xa lạ với các triều đại Triều Tiên cho đến khi Nhật áp đặt ách thống trị của họ vào năm 1910. ”(11)

    Chính sách thực dân hoá của Nhật Bản đã đặt dấu chấm hết cho triều đại phong kiến YI vốn suy tàn từ nhiều năm trước đó . Cùng với việc đưa kháI niệm đất đai là hànghoá Nhật còn đem đến cho người Triều Tiên biết đến kháI niệm tiền lương

    (10)(11) bài “Các nền kinh tế công nghiệp mới Châu á”của PGS.TSNguyễn Phú Trọng trên tạp chí Cọng Sản số 15 (8/2001) trang 4 Và giá cả của hàng hoá sức lao động. Chính sách thuộc địa của Nhật Bản trên thực tế đã thúc đẩy những quan hệ hàng hoá tiền vốn tồn tại yếu ớt và còn ở mức độ hạn hẹp trong nền kinh tế Triều Tiên . Nói cách khác nước này đã tiếp thu những lý thuyết về vai trò chức năng của nền kinh tế thị trường được khởi sướng từ A.Smith cũng như những bổ xung thêm từ các nhà kinh tế lỗi lạc phương tây như Ricacdo và Keynes . Họ đề cao sự quan trọngcủa cung cầu nhưng đồng thời cũng chú trọng đến tác dụng đIều tiết nền kinh tế hàng hoá của quy luật giá trị và ở đây là lấy sự bù đắp ngang giá làm chuẩn mực trong trao đổi , vì rằng sự trao đổi những lượng lao động bằng nhau là lợi ích cơ bản của chế độ sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ở nước này . Chính vì vậy:

    14

    Đề án KTCT

    Kinh tế tư nhân ở Triều Tiên chiếm một tỷ trọng lớn , mặt khác các nhà doanh nghiệp tư nhân này rất nhạy cảm với những biến động của thị trường và nhaỵ cảm nhận rõ vai trò đIều tiết của quy luật giá trị đối với quá trình sản xuất trong doanh nghiệp của họ đó là trao đổi những lượng lao động bằng nhau là phương thức duy nhất để thực hiện lợi ích kinh tế của người sản xuất , đIều đó đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế của Nam Triều Tiên tăng trưởng không ngừng : “ cho đến năm 1982 khu vực kinh tế tư nhân chiếm 96% tổng sản phẩm trong nước của Nam Triều Tiên , gần 96% giá trị sản lượng công nghiệp chế biến do khu vực kinh tế tư nhân đảm nhiệm “(12) . Thế nhưng bên cạnh những thành quả đạt được nền kinh tế của Nam Triều Tiên cũng vẫn còn những mặt tồn tại đó là sự gia tăng của những bất đồng xã hội hố sâu ngăn cách giữa giàu và nghèo ngày càng tăng tỷ lệ thất nghiệp cao , ô nhiễm môi trường . Tồn tại những hậu quả đó là do nước này đã áp dụng quy luật giá trị theo định hướng tư bản chủ nghĩa : không kết hợp lợi ích tư nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội

    Nền kinh tế thứ hai cần nghiên cứu là nền kinh tế của đất nước Nhật Bản

    . Có thể nói nèn kinh tế Nhật Bản là kết quả của những bước nhảy thần kỳ : phục hưng Minh Trị bắt đầu vào năm 1896 chuyển từ chính phủ Tokugaoa sang một chế độ hiện đại hoá với với một mục tiêu chính sách rõ ràng . Rút kinh nghiệm 250 năm khép kín và tự cô lập mình khiến nền kinh tế trì trệ lạc hậu đời sống thấp và bị các nước khác tiên tiến hơn đe doạ , chính phủ Minh Trị thấy không có cách nào khác hơn để phát Trion đất nước ngoàI viêc.mở cửa chọn lọc với thế giới bên ngoài , xây dựng một đất nước ,một nền kinh tế một xã hội theo mô hình của một xã hội dân chủ , một nền kinh tế thị trường , điều này tất nhiên phải kéo theo

    15

    Đề án KTCT

    viẹc nền kinh tế Nhật phải hoạt đọng hướng theo những quy luật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa .Sau chiến tranh thế giới thứ hai , từ kinh nghiệm cay đắng mà Nhật Bản phải gánh chịu trong chiến tranh do họ không thống nhất được mục tiêu quốc gia vào nhưng năm 1930và 1940.Nhật Bản đã đề ra nguyên tắc từ bỏ vĩnh viễn việc đuổi kịp các quốc gia khác .Do xác định được một mục tiêu quóc gia thống nhất ,Nhật Bản đã có thể huy động và hướng được nguồn lực vật chất và tinh thần của đất nước vào viềc thực hiện mục tiêu đó.

    (12)”các nền kinh tế công nghiệp mới châu á “ của PGS.TSNguyễn Phú Trọng trên tạp chí cộng sản số 15(8/2001)Tr6

    Thêm vào đó Nhật Bản đã phát triển một cơ sở hạ tầng toàn quốc như một cơ sở cho sụ tăng trưởng kinh tế .Điều này gồm việc xây dựng các hệ thống giao thông vận tải -đường sắt ,bưu điện và diện báo trong suốt thời kỳ Minh Trị ,và cả việc tập trung vào các nguồn tài nguyên con người ,tức là duy trì mộthệ thống giáo dục mạnh .Năn 1869, chínhphủ đã quyết định xây dựng đường sắt ,và chỉ 3 năm sau năm1872 ,tuyến đường sắt đầu tiên giưa Tôkyo và Yokohama đã đưa vào sử dụng .Những năm đó , tổng chiều dài đường sắt đã tăng khá nhanh, đường biểu cũng được hiện đại hoá bằng cách nhập khẩu các tàu chạy bằng hơI nước từ phương Tây .Mạng lưới thônh tin liên lạc cũng được hiện đại hoá bằng cách áp dựng các dịch vụ bưu đIện và địên báo. Từ giữa những năm 1880 ,mặc dù các xí nghiệp nhà nước đã được tư nhân hoá ,nhà nước không còn can thiểptực tiếp vào nền kinh tế ,song việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát Trion kinh tế xã hội vẫn là trọng điểm hoạt động của chính phủ .

    16

    Đề án KTCT

    Ngoài cơ sở hạ tầng ,Nhật Bản còn liên tục tập trung phát Triển hệ thống giáo dục nhằm nâng cao dân trí và tạo ra một ddọi ngũ công nhân làm nghề phục vụ cho phát Triển kinh tế .Sau Phục hưng Minh Trị ,nhà trường đã được ưu tiên mở khắp cả nước . Hệ thống giáo dục bắt buộc tới đầu thế kỷ 20 được kéo dài tời 6 năm và chiến tranh là 9 năm .Sách báo nước ngoài cần để truyền bá về chế độ mới rộng rãi ,nhiều học sinh được cử đi nước ngoài học tập bằng tiền nhà nước .Nhờ những nỗ lực đó ,hiện nay Nhật Bản được xắp xếp vào nước có học vấn hàng đầu thế giới .

    Gắn liền với các yếu tố trên mộtlĩnh vực quan trọng khác mà bất kỳ một quốc gia nào muốn phát Triển không thể bỏqua được đó là lĩnh vực công nghiệp. Chiến lược công nghiệp của nhật Bản bao gồm hai giai đoạn : một ,chính sách thay thế nhập khẩu hạn chế để bảo vệ các ngành công nghiệp còn non trẻ (chảng hạn ,ô tô và điện tử )thông qua những hảngào nhập khẩu ,sau đó phát triểnthành một chiến lược tập trung vào viêc xâu dụng những thị trường xuất khẩu hay chiến lược tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu dẫn dắt .Đó chính là thực tế sau chiến tranh ở Nhật Bản .Nó làm cho nền kinh tế Nhật Bản phát Triển không ngừng và đạt được những thành tựu to lớn “trong khoảng hơn 20 năm sau chiến tranh (1952-1973) ,nền kinh tế nhật Bản phát Triển với nhịp độ rất nhanh chóng .Nhiều nhà kinh tế thế giới coi đây là giai đoại phát Triển”thần kì “của nền kinh tế Nhập Bản .”Từ một nước bị chiến tranh bị tàn phá nghiêm trọng ,Nhật Bản đã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trong thế giới tư bản (sau Mĩ).Từ năm 1950 đến 1960,tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước trung bình hàng năm của Nhật Bản là 8.5%,trong khi tốc độ tăng của Anh là 2.4% ,Mĩ:2.9%,Pháp:4.6% ;từ 1960-1969,Nhật Bản :10.8%,Anh:2.7%,Mĩ:4.8%,CHLB Đức :5.2So với năm 1950đến 1973

    17

    Đề án KTCT

    giá trịtổng sản phaarm trong nước tăng hơn 20 lần ,từ 20tỉ đô la lên 402tỉ đo la , vượt Anh,Pháp ,CHLBĐức.

    Tốc độ phát Triển công nghiệp trung bình hàng năm thời kì 1950-1960:15.9%;1960-1969:13.5%/Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4.1tỉ đô la năm 1960lên 56.4tỉ đô la năm 1960.Đúng 100năm sau cảI cách Minh Trị (1868-1968),Nhật Bản đã dẫn đàu các nước tư bản về tàu biển ,xe máy ,máy khau ,máy ảnh ,vô tuyến truyền hình ;đứng thứ hai về sản lượng thép, ô tô ,xi măng ,sản phẩm hoá chát ,hàng dệt …”(13)

    • BàI “nền kinh tế NHật Bản “tr71 sách Lịch sử kinh tế quốc dân NXBgiáo dục-1999

    18

    Đề án KTCT

    CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

    Mác từng khảng định ở đâu có kinh tế sản xuất hàng hoá thì ở đó có quy luật giá tị hiện nay nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn hình thành và phát Trion cở chế thị trường cho nên việc vận dụng quy luật giá trị là một quan đIểm tất yếu không tránh khởi .Nền kinh tế Việt Nam đã trai qua nhiều giai đoạn khác nhau ,quy luật giá trị lai được phát hiện và áp dụng theo nhiều cách khau rất phong phú và đa dạngphù họp đặc đIún của từng thời kỳ .Với cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp mà đạc trưng là nhà nước tiếp

    đIều khiển nền kinh tế bằng hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh : chỉ tiêu về sản lượng ,về thu nhập ,về nộp ngân sách và tiêu thụ ,về vốn và lãI suất tín dụng ngân hàng … giá cả do nhà nước quy định thực chất cũng là một chỉ tiêu pháp lệnh mà giá cả lại là biểu hiện của quy luật giá trị. Chính vì vậy có thể nói trong thời kỳ này quy luật giá trị được áp dụng một cách cứng nhắc ,áp đặt này vào nền kinh tế thông qua việc định giá theo những chỉ tiêu có sẵn mà không để ý đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam .Cho đến những năm 1964, ở miền Bắc ,hệ thống giá chỉ đạo của Nhà nước đã được hìnhthành trếco sở lấy giá thóc sản xuất trong nước làm căn cứ xác định giá chuẩn và tỷlệ trao đổi hiện vật .Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 10 (khoáIII ) năm 1964 ,về công tác thương nghiệp và giá cả đã đánh giá : Hai hệ thống giá thu mua nốngản và giá bán lể hàng tiêu dùng đã được xây dụng tương đối hoàn chinhr và cơ bản họplý ,tỷ giá giữa hàng nông sản và hàng công nghiệp nói chung thể hiện được mối quan hệ lớn của nền kinh tế quốc dân.

    19

    Đề án KTCT

    Hệ thống giá này về cơ bản được thực hiện cho đến năm 1980 ,trong khi đIều kiện sản xuất ,lưu thông ,thị trường trong nước và quan hệ kinh tế đối ngoại đã có những thay đổi lớn .Hệ thóng giá chỉ đạo của nhà nước ngày càng thấp xa so với giá thị trường tự do .Việc duy trì giá mua nông sản thấp ,giá bán hàng công nghiệp cũng thấpnguyên nhân chủ yếu do kìm hãm sự phát Trion sản xuất nông nghiẹep ,sản xuất công nghiệp ,lầm rối loạn phân phố lưu thông gây khó khăn cho ngân sách Nhà nước

    .Việc duy trì hệ thống giá này chủ yếu là do chúng ta có được sự viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốcvà các nước Đông Âu trước đây.

    Có thể khái quát quá trinh diễn biến giá cả cho đên đầu năm 1991 như sau :Hầu hết hàng hoá và dịch vụ lưu thông trong xã hội đều theo chỉ đạo của Nhà nước ( ví dụ giá gạo 0.4đ/kg ,bán theo định lượng ). Suốt thời kỳ Nhà nước chỉ đạo giá cho đến trước cải cách giá năm1981 trên thị trường có hai hệ thống giá :giá chỉ đạo của Nhà nước áp dụng trên thị trường có tổ chức và giá thị trường tự do biến động theo quan hệ cung cầu .Đặc điểm của giá chỉ đạo là không chú ý đến quan hệ cung cầu và gần như bất biến.

    Cả giá chỉ đạo của Nhà nước và giá thị trườngtự do đều không có quan hệ với giá thị trường thế giới .Tỷ giá ở khu vực áp dụng Từ NĂM 1958-1980 vẫn là 5.644đ/rúp (tỷ giá kết toán nội bộ) .Đây chính là cơ sở quan trọng để an định toàn bộ giá nội địa mà thực chất là sự bao cấp qua giá tư liệu sản xuất.

    Các quan điểm cơ bản để chỉ đạo chính sách giá cả trong thời kỳ này:

    1)Hệ thông giá trong nền kinh tế phải được chỉ đạo tập trung ,do Nhà nước quy định và đưa vào cuộc sống như những chỉ tiêu pháp lệnh của kế hoạch Nhà nước.

    20

    Đề án KTCT

    2)Giá cả phải được an định và Nhà nước chủ trương phấn đấu tạo đIều kiện đẻ hạ giá .

    3)Quan hệ cung cầu chỉ có ảnh hưởng đến giá cả những hàng hoá không thiết yếu và không có vị trí quan trọng trong nền kinh tế .

    4)Giá cả được xây dựng trên cơ sở lấ giá thị trường trong nước làm căn cứ ,tách rời hệ thống giá quốc tế theo chử chương xây dụng hệ thống giá độc lập ,tự chủ.

    Thực tiễn phát Trion kinh tế qua mấy thập kỷ qua cho ta thấy,khi đánh giá chính sách giá cả cần phải xem trọng hai yếu tố :

    Một là mô hình cơ chế kinh tế và quản ký kinh tế kiểu cũ với những đặc trưng cơ bản của no liên quan mật thiết đến các chính sách, đến sự hình thành giá cả trong hơn hai thập kỷ .

    Hai là thực tiễn vận hành chính sách giá cả ,nhất là trong thời kỳ 1964-1975.

    Yừu tố thứ nhất đã quyết định tính kế hoạch caođộ ,tính tập trung ,pháp lệnh của chính sách giá cả.Yếu tố thứ hai có tác động nổi bật yêu cầu ổn định lâu dà i hệ thốnggiá.

    Song ,điều đáng chú ý là từ những năm 1975 ,sau ngày miền Nam được giải phóng ,cùng với quá trình thống nhất đất nước về chính trị và quân sự ,việc thống nhất về thể chế kinh tế cũng được xúc tiến và được khảng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lầnIV tháng 12năm 1976 .Quá trình thống nhất về thể chế kinh tế trong cả nước ,trên thực tế là sự dập khuôn gần như toàn bộ thể chế kinh tế đã tồn tại trước đó ở miềnBắc .Để thực hiện được thể chế kinh tế thống nhất đó ,đòi hởi phảI tiến hành ở miền Nam các cuộc cảI tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh với quy mô rộng khắp nhằm quốc hữu hoá các cơ sở công thương nghiệp tư nhân

    21

    Đề án KTCT

    ,xoá bỏ tư thương tổ chức lại thị trường theo hướng quốc doanh ,hợp tác xã và tổ hợp ,tiến hành hợp tác xá nông nghiệp với mức độ khác nhau .

    Như vậy ,lịch sử phát Triển kinh tế nước ta một lần nữa lại lặp lại thời kỳ trì trệ ,bảo thủ .Sự thống nhất đất nước ,đáng lẽ phảI mở ra một thời kỳ mới ,phát huy cao độ các động lục nền kinh tế hàng hoá và làm cho chúng trở thành đòn bảy mạnh mễ thúc đảy nền kinh tế đI lên .Song thực tế đã không diễn ra như vậy .Trong thời kỳ 1976-1980,khi chiến tranh đã chấm dứt ,cả nước chuyển sang nhiệm vụ xây dựng kinh tế làm

    trọng tâm thì cơ chế giá “thời chiến” không còn lý do tồn tại .

    Trước đây ,chúng ta đã mắc sai lầm khi cường điệu tínhhợp lý của hệ thống giá mua ,giá bán lẻ và giá tư kiệu sản xuất nhập khẩu vơI tỷ giá kết toán nội bộ 5.644đòng /rúp mậu dịch ,được định ra ngay sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi .

    Trong giai đoạn này ,cùng với việc thống nhất thể chế kinh tế ,nhiều vấn đề mới nảy sinh .

    Đất nước thống nhất đã tạo ra niềm phấn khởi lạc quan cả về chính xã hội và kinh tế .Tuy nhiên ,những khó khăn mới cũng xuất hiện .Trước hết là sự thiếu hụt nguồn tàI trợ ,sự bùng nổ về tiêu dùng ,về công ăn việc làm đã bị dồn nén qua nhiều năm chiến tranh .

    Cuộc cảI tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở các tỉnh phía Nam trên thực tế khong thu được k ết quả mong muốn .Một bộ phận của khu vực kinh tế này đã được quốc doanh hoá và tập thể hoá ,nhưng hiệu quả rất thấp .Một bộ phận khác tiếp tục tồn tại và phát Triển thông qua thị trường tự do ,trong đó một bộ phận đã chuyển thành kinh tế ngầm .Thị trường tiếp tục bị phân hoá mậnh ,hàng hoá ngày càng khan hiếm ,chủ nghĩa vị bản ,cục bộ phát Triển mạnh cùng với cơ chế cấp phát vật tư

    22

    Đề án KTCT

    ,tiền vốn theo chỉ tiêu kế hoạch đã kính thich các địa phương hình thành hàng loạt tổ chức kinh tế quốc doanh ,hoạt dộng bất chấp hiệu quả kinh tế ,nhằm bòn rút ,giành giật vốn liếng từ trung ương để kinh doanh ,mua đi bán lại ăn giá chênh lệch giá ,stăng thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương .Để bảo vệ lợi ích cục bộ ,chính quyền địa phương đã sử dụng các biện pháp hành chính nhằm “ngăn sông ,cấm chợ “ ,chia cắt thị trường theo địa giới hành chính ,làm cho hàng hoá ,tiền tệ bị ách tắc nghiêm trọng .”Theo số liệu thống kê thời kỳ này ,mức tăng trưởng bình quân của công nghiệp nói chung chỉ đạt 0.6%năm .Nền kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái nghiêm trọng ,lợi tức đầu tư giảm sút .Tổng giá trị đầu tư tăng bình quân 5.7%năm ,riêng đầu tư cho công nghiệp tăng 14%, nông nghiệp –0.9%, lâm nghiệp –11.8%; trong đó tổng sảm phẩn xã hội chỉ tăng bình quân –1.4% .tổng hàng háo bán lẻ giảm 3.5%năm ,xuất khẩu không đáng kể .Cơ cấu đầu tư vẫn thực hiện theo nguyên tắc cũ là yêu tiên phát Triển công nghiệp nặng ,mà chủ yếu là công nghiệp hướng nội .Tỷ trọng vốn đầu tư cho công nghiệp nặng chiếm 42-48%;nông nghiệp –19-20% ;công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến chỉ chiếm 10-11%” (14) .Cơ cấu đầu tư như vậy không tận dụng được tiềm lực tài nguyên và nguồn nhân lực phong phu của đất nước ,và cũng như kỹ thuật tiên tiến của thế giới ,do đó càng đầu tư thì hiệu quả càng giảm sút ,tình trạng thiếu vốn ,thiếu hàng hoa ,thiếu công ăn việc làm ngày càng gay gắt .

    Cùng với việc các tổ chức kinh tế quốc doanh địa phương mọc lên nhanh chóng ,bộ máy hành chinh kinh tế từ trung ương đến tỉnh ,huyện ,xã đã phình lên ,tạo ra tình trạng thừa người thiếu việc làm nghiêm trọng .Trong kinh tế quốc doanh và trong bộ máy Nhà nước hình thành hệ

    23

    Đề án KTCT

    thống quan liêu mà cho đến ngày nay vẫn còn là gánh nặng đối với toàn bộ nền kinh tế .

    Việc duy trì chính sách tàI chính ,tín dụng ,chính sách giá cả và tiền lương theo kiểu cấp phát ,giao nộp hiện vật bình quân của nền kinh tế thời chiến gây ra tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế .Đồng thời cũng xuất hiện mức chênh lệch ngày càng lớn giữa mặt bằng giá doNhà nước quy định và mặt bằng giá thị trương tự do ,trong đó giá thị trương tự do cao gấp 7-8lần giá do Nhà nước quy định.

    Trên thực tế ,sự đánh giá quá cao tiềm năng kinh tế của miền Nam sau ngày giảI phóng ,vận dụng một cách duy ý chi cơ chế kinh tế cũ trên phạm vi cả nước và những sai lầm trong chính sách đầu tư ,trong cảI tạo kinh tế tư nhân đã làm đảo làm đảo lộn kế hoạch phát Triển năm năm 1976-1980 .: “ chỉ tiêu về kế hoạch sản lượng lương thực dự định đến năm 1980 là 21 triệu tấn nhưng chỉ đạt 14triệu tấn ,băngd 69% than đạt 52% ,gỗ 455 ,đIện 72% ,xi măng 32% … các mục tiêu cải thiện đời sống và

    • cuốn “Vai trò của nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta “ của PGS.PTS Trần Hậu Thự Tr30 NXBchính trị quốc gia 1994

    nâng cao phúc lợi xã hội không thực hiện được tiềm lực phát Triển bị kìm hãm ,động lực kinh tế bị vô hiệu hoá “(15)

    Đời sống của nông dân ,công nhân viên chức lực lượng vũ trang giảm xút nghiêm trọng . Thực trạng kinh tế đó đã làm lung lay các các tư tưởng cổ đIển và làm xuất hiện những ý tưởng cải tạo đầu tiên trên một số lĩnh vực

    24

    Đề án KTCT

    kinh tế nóng bỏng nhất như chính sách giá cả ,cơ chế kế hoạch hoá chính sách tàI chính

    chính sách đầu tư và hiệu quả kinh tế quốc dân , Nhiều cuộc tranh luận đá diễn ra khá sôI động .Hai vấn đề trọng tâm đã được đề cập trong nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 là nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất và hạn chế một bước cơ chếquản lý hành chính tậ trung , chú

    • hơn đến sản xuất công nghiệp nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng ở các địa phương thừa nhận kinh tế tư nhân và thị trường tự do như một thành phần của nền kinh tế quốc dân và thị trường xã hội . Nhờ đó , kinh tế tư nhân , nhất là công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được phục hồi và phát Trion một bước , thị trường trở nên sôI động hơn . TUY nhiên trong khu vực kinh tế quốc doanh , tình hình vẫn còn khó khăn trì trệ , sản xuất tiếp tục giảm sút . cuối năm 1980 chính phủ đã đưa ra quyết định 96-cp về bãI bỏ chế độ giao nghĩa vụ nộp nông sản theo giá thấp và chuyển sang thu mua theo hợp đồng kinh tế hai chiều . Đồng thời cho phếp nông dân bán nông sản thừa theo giá thoả thuận thay thế việc mua theo giá khuyến khích . Tuy nhiên chính sách này chưa phát huy tác dụng ngay trong năm 2980 mà phảI sau đó một năm mới thực sự có tác động tốt

    Cần phải nói thêm rằng , những tư tưởng cải cách của nghị quyết hội nghị trung ương 6 ( 9/1970) chỉ mới là tiếng chuông thức tỉnh đầu tiên đối với nền kinh tế . Các biện pháp chưa đụng chạm đến thể chế kinh tế và về cơ bản vẫn như cũ . Kế hoạch nhà nước vẫn tiếp tục quy định hàng loạt các chỉ tiêu pháp lệnh về cung ứng vật tư kỹ thuật , cung ứng vốn và giao nộp sản phẩm , trong thu mua nông sản vẫn do nhà nước quy định với tỷ lệ thấp xa so với thị trường tự do

    Nói tóm lại , Nghị quyết trung ương 6 đã đánh dấu một bước chuyển căn bản về nhận thức và tư duy mới đối với công cuộc cải cách kinh tế ở

    25

    Đề án KTCT

    nước ta , vạch ra phương hướng thay đổi chính sách và cơ chế kinh tế , trong đó lấy việc thay đổi căn bản chính sách giá cả và tiền kương là bước đột phá .

    • cuốn “vai trò quản lý của nhà nước trong nền KTTTở nước ta “ Tr 32 của Trần Hậu Thự NXBchính trị quốc gia 1994

    Đây chính là bước đầu trong việc vận dụng một cách sáng tạo hơn quy luật giá trị để đạt được những hiệu quả cụ thể hơn mở đầu cho quá trình đổi mới đất nước.

    Tiếp tục những tư tưởng của hội nghị trung ương 6 , sau năm 1981 nước ta đã có hàng loạt những cuộc cải cách nhằm dduwa nền kinh tế phát Trion theo một hướng mới . Đảng ta đã thẳng thắn nhận biết và phê phán những sai lầm trong những chính sách kinh tế thời kỳ trước . , phê phán và yêu cầu sửa đổi chính sách và hệ thống giá hiện hành , phê phán tư tưởng kinh tế “ phi thị trường “ chỗ dựa lâu dàI và vững chác của hệ thống giá lúc đó . Việc đổi mới này đã bắt đầu tạo lập nền móng cho sự chuyển biến từ tư duy giá cả phi thị trường sang tư duy giá cả thị trường . Nó đã tiến hành đIều chỉnh giá để kích thích sản xuất , tiến tới cảI cách toàn bộ hệ thống giá của nhà nước theo hướng làm cho giá cả phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý về sản xuất và lưu thông , đảm bảo cho người sản uất có lợi nhuận thoả đáng . Gía cả phù hợp với sức mua của đồng tiền và có tính đến giá cả trên thị trường thế giới của hàng nhập , xoá bỏ những bù lỗ bất hợp lý của nhà nước và chấm dứt tình trạng xí nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ vốn do nhà nước quy định giá không chính xác . Tiếp tục xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế : nỗ lực phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế , vừa cạnh tranh vừa

    26

    Đề án KTCT

    hợp tác bổ xung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân . Để thực hiện được điều đó Đảng ta quyết định khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh phát Trion có hiêụ quả nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy hiệu quả trong nền kinh tế . Tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện , dân chủ ,bình đẳng phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và xã viên.

    Bên cạnh đó kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục phát Triển , đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất , theo sự quản lý của nhà nước .. hướng kinh tế tư bản tư nhân phát Triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức . Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng

    • tư liệu sản xuất , dịch vụ … tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước . Xây dựng các chính sách tài chính quốc gia và thực hiện cải cách cơ bản tài chính nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác tiềm năng tự nhiên của các tầng lớp nhân dân , vừa tích tụ vốn ở đơn vị kinh tế vừa đảm bảo nguồn vốn tập trung của nhà nước. Sau hàng loạt những công tác cải tiến trên nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể :

    “ Tính trung trong năm năm , GDP tăng hàng năm 5.2% (trong thời kỳ 1986-1990) và 8.2% ( 1991-1995) kế hoạch đề ra là 5.5-6.5% . Cũng trong 5 năm (1991-1995 ) hàng năm nông nghiệp tăng 4.5% , công nghiệp tăng 13.5% kim ngạch xuất khẩu tăng 20% . Trong sản xuất nông nghiệp có một kết quả nổi bật là sản lượng lương thực quy ra thóc đã tăng nhanh từ 21.5 triệu tấn (1990) lên 27.5 triệu tấn (1995) “ (16)

    “ tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP đã tăng từ 22.6% (1990) lên 30.3% (1995) tỷ trọng dịch vụ từ 38.6% lên 42.5% “(17)

    2.1.2 NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ CÁC MẶT CÒN TỒN TẠI

    27

    Đề án KTCT

    Trong quá trình phát Triển kinh tế tiến lên chủ nghĩa xã hội , nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thắng lợi bước đầu hết sức to lớn đó không chỉ biểu hiện ở những con số phản ánh quá trình tăng trưởng mà còn thể hiện ở sự khăcs phục được sự tách rời người lao động khỏi tư liệu sản xuất nên đảm bảo được tính tập thể của viẹec tổ chức nền sản xuất xã hội . Đó là do biết vận dụng chức năng tổ chức xã hội của quy luật giá trị

    .Bên cạnh đó do biết kết hợp giữa lợi ích của cá nhân với lợi ích kinh tế của tập thể và toàn xã hôị nên việc thực hiện công bằng xã hội kích thích nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lưọng công tác ., đời sống của nhân dân tiếp tục được cảI thiện và nâng cao

    Việc định hướng nền kinh tế và tiêu chuẩn hoá nền kinh tế đã chỉ ra những mục tiêu xác thực cụ thể cho từng bứoc tiến của nền kinh tế . Bên cạnh đó ta cũng phảI nhấn mạnh tới những thuận lợi trong quá trình cảI cách kinh tế ở Việt Nam hiện nay đó là cùng với xu thế phát Trion kinh tế thế giới Việt Nam tiến hành cảI cachs đồng thời với nhiều nước nằm trong một vùng tăng trưởng nhanh ( NICs ,A SEAN ,)nên có thể học hỏi được nhiều ưu đIúmột vấn đề nữa cần đề cập là sự nhanh nhạy của Đảng và nhà nước ta trong quá trình đổi mới cách thức quản lý và địng hướng nền kinh tế sao cho phú hợp với từng thời kỳ.

    28

    Đề án KTCT

    (16)(17) BàI “kinh tế Việt Nam thời kỳ cả nước cùng xây dựng XHCN1976-1995 “ tr332-333 trong sách lịch sử kinh tế quốc dân NXBgiáo dục 1999

    Tuy nhiên bên cạnh những thành công còn tồn tại những mặt hạn chế : đó lá sự vận dụng dập khuân những quy luật kinh tế , đôi khi cách nhìn nhận vấn đề còn lúng túng, quẩn quanh .Nền kinh tế nước ta vẫn còn mang nặng dấu ấn của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất , tiết kiệm trong tiêu dùng , nền kinh tế phát Triển khá nhưng chất lượng và hiệu quả còn thấp . Vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế còn yếu nên khả năng quản lý chưa được bao quát Nói tóm lại trong quá trình vận dụng quy luật giá tri vào nền kinh tế Việt Nam tuy còn có nhiều sơ suất nhưng cũng đã đạt được những hiệu quả nhất định ếu có thể hạn chế những thiếu sót , phát huy những thành quả đã đạt được thì chác chắn trong tương lai không xa nèn kinh tế Việt Nam sẽ phát Trion đuổi kịp các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

    2.2 NHỮNG GIẢI PHÁP CHO VIỆC VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRI VÀO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

    Để trong thời gian tới quá trình vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế Việt Nam không còn gặp những khó khăn trở ngại thì Đảng và nhà nước ta phảI thực hiện được những yêu cầu sau :

    Việc vận dụng bên cạnh kế thừa cũng phảI có sự sáng tao để thực sự phù hợp với hoàn cảnh và đIều kiện của nền kinh tế nước ta vốn là nước đI lên CNXHkhông qua trung gian là TBCN , nền kinh tế còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu .

    ĐIều cần thiết thứ hai là phảI tăng cường liên kết các quan hệ hàng hoá tiền tệ với các quan hệ xã hội . Nâng cao nhận thức và trình độ của con

    29

    Đề án KTCT

    người vì đội ngũ vận dụng quy luật giá trị vào sản xuất là ddiều quan trọng nhất . Nhận thức của con người mới quyết định vai trò và hiệu quả của quy luật giá trị đối với nền kinh tế thị trường

    Vấn đề đặt ra là phảI vận dụng quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa ,hạn chế và hướng dẫn quy luật giá trị trong hai thành phần kinnh tế phi xã hội chủ nghĩa

    Chính sách giá cả ,chính sách và biện pháp quản lý thị trường phảI nhằm tạo điều kiện phát huy cao độ tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội chủ nghĩa hạn chế tác dụng của quy luật giá trị trong hai thành phần kinh tế phii xã hội chủ nghĩa .

    Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta kinh tế xã hội chủ nghĩa không chỉ chịu ảnh hưởng của quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa ,mà cồn chịu tác động của các quy luật giá trị trong các thành phần kinh tế khong xã hội chủ nhgiã .Vì vậy hạn chế một số xí nghiệp chạy theogiá cả thị trường không tổ chức ,bán sản phẩm của xí nghiệp ra thị trường đó vơí giá cao hơn hoặt tìm mọi cách nâng giá cao hơn gía quy định để thu về chênh lệch giá cho lơI ích riêng của xí nghiệp cũng là một vấn đề cần thiết sớm phải thựchiện.

    III  KẾT LUẬN

    Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến sâu sắc từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước . Sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng và nhà nước ta thể hiện trong các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đã phát huy được những động lực to lớn của nền kinh tế mới đối với sự phát Trion của đất nước . Đặc biệt sự đổi mới về

    30

    Đề án KTCT

    cả nhận thức lý luận lẫn công tác đièu hành thực tiễn trên lĩnh vực áp dụng quy luật giá trị định hướng XHCN vào nền kinh tế đã góp phần đáng kể vào những thành quả kinh tế chung .

    Thực tiễn những năm qua chứng tỏ rằng quy luật giá trị với những biểu hiện của nó như giá cả , tiền tệ , giá trị hàng hoá .. là lĩnh vực tác động hết sức nhanh nhạy và lớn lao tới đời sống kinh tế xã hội của đất nước ảng và nhà nước ta đã nhận thức đúng đắn về vấn đề này và đã thực hiện nhiều cuộc cảI cách kinh tế tuân theo những nội dung của quy luật giá trị nhằm hình thành và phát Triển một nền kinh tế hàng hoá XHCN đa dạng và hiệu quả và đã đạt được những hiệu quả nhất định

    Bên cạnh đó việc xụp đổ của nền kinh tế Liên Xô và các nước Đông Âu cũng là một thực tế cho thấy quan niệm về giá trị giá cả mà các nước đó đã từng áp dụng có rất nhiều nhược đIểm và do đó không thể là cơ sở lý luận cho chính sách đIều tiết nền kinh tế ỏ nước ta . Nhưng những lý thuyết giá trị củakinh tế học phương tây mặc dù có những ưu đIểm nhất định nhưng cungsx có nhiều khiếm khuyết đặc biệt trong quan đIểm về cơ sở khách quan của giá cả . Cách duy nhất để có được cơ sở lý luận đúng đắn cho chính sách phát Trion kinh tế ở nước ta là dựa trên nguyên lý cơ bản của lý luận giá trị , tiếp tục phát Triển nó cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới , làm giàu nó bởi chính những thay đổi cho phù hợp với đIều kiện kinh tế của nước mình.

    Tóm lại quá trình phát Triển kinh tế là một quá trình lâu dàI , đòi hỏi gắt gao việc áp dụng đúng đắn các quy luật kinh tế , trong thời gian qua tuy đôI lúc sự vận dụng đó của nước ta còn chưa quán triệt nhiều khi là sự quẩn quanh ,dập khuân nhưng bên cạnh đó ta cũng đã đạt được nhữngtiếnbộ nhất định má nếu tiếp tục phát huy thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ có một nền kinh tế XHCNphát Triển và thịnh vượng

    31

    Đề án KTCT

    32

    Đề án KTCT

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Tạp chí cộng sản số 15(tháng 8-2001)
    1. Tư bản quyển 3, ST,H,1978
    1. Vai trò quản lý của nhà nước về giá trong nền kinh tế thị trường ở nước ta – Trần Hậu Thự
    2. Sách lịch sử kinh tế quốc dân – NXBGD 1999-
    1. Paul A.samuelson và William Dordhaus: Kinh tế học, Viện quan hệ quốc tế, 1990
    2. Nguyễn Tiến Hoàng: HDI – tiêu chí cho phát triển ; T/C “Quốc tế”, số 49/50(tháng 11/12)/1993
    3. Nguyễn Tiến Hoàng: Học thuyết giá trị của C.Mác trong thời đại hiện nay; Học viện CTQGHCM, Trung tâm TT-TL, H;1993

    33


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Biện pháp thi công từ móng đến hoàn thiện nhà dân dụng, nhà xưởng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Nh%E1%BB%AFng-n%E1%BB%99i-dung-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-duy-v%E1%BA%ADt-v%C3%A0-%C3%BD-ngh%C4%A9a-ph%C6%B0%C6%A1ng-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADn-c%E1%BB%A7a-n%C3%B3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp luận của nó

    Phép biện chứng duy vật: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triến
    1. Bản chất của phép biện chứng duy vật

    Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp. Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.

    Phép biện chứng duy vật bao gồm 2 nguyên lý cơ bản, những phạm trù và những nguyên lý cơ bản, vừa là lý luận duy vật biện chứng, vừa là lý luận nhận thức khoa học, vừa là logic của chủ nghĩa Mác.
    – Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật :
    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: khái quát bức tranh toàn cảnh những mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). PBCDV khẳng định rằng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối, mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau.
    * Ý nghĩa :
    + Phải xem xét toàn diện các mối liên hệ
    + Trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để thấu hiểu bản chất của sự vật.
    + Từ bản chất của sự vật quay lại hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề trong đời sống. Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình.
    Nguyên lý về phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới. Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
    PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ; tự nhiên, xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
    Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng và về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển.
    Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo của thế giới.
    * Ý nghĩa :

    Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cái mới và ủng hộ cái mới. Phát triển không loại trừ sự thụt lùi, tức sự thoái hóa, sự diệt vong của cái cũ, cái lạc hậu, cái lỗi thời. Thậm chí cái mới cũng phải trải qua những thất bại tạm thời. Tuy nhiên, thụt lùi là khuynh hướng không chủ đạo, chẳng những không ngăn cản sự phát triển, mà trái lại là tiền đề, là điều kiện cho sự phát triển
    Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Đó là 3 quy luật:
    + Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập: còn được gọi là quy luật mâu thuẫn. Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng, Nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật. Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng. linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
    + Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại: gọi là quy luật lượng – chất. Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
    > Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất. Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
    > Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ.
    > Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển.

    + Quy luật phủ định của phủ định: Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển.
    Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai.
    Các cặp phạm trù không cơ bản
    Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn bao gồm các cặp phạm trù không cơ bản:
    + cặp phạm trù cái riêng – cái chung
    + tất nhiên – ngẫu nhiên
    + nguyên nhân – kết quả
    + bản chất – hiện tượng
    + khả năng – hiện thực
    + nội dung – hình thức.
    Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng. Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng.
    2. Ý nghĩa của phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

    Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của PBCDV là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-cụ thể và nguyên tắc phát triển.
    a) Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
    Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
    – Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp.
    – Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng thời phải xác định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy.
    Đối lập với nguyên tắc toàn diện của PBC, quan điểm siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sự vật này tách rời sự vật khác.
    Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợp được với nhau. Thuật nguỵ biện thì cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.
    b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào?
    c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
    Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

    Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

    Ttrong triết học Mác – Lênin là các quy luật cơ bản trong phương pháp luận của triết học Mác – Lênin và được áp dụng để giải thích về sự phát triển của sư vật, hiện tượng, ba quy luật này hợp thành nguyên lý về sự phát triển. Ba quy luật cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, nó là một trong những nền tảng, cơ bản cấu thành phép biện chứng duy vật cũng như một trong những nội dung quan trọng của toàn bộ triết học Mác-Lenin.

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm hai nguyên lý cơ bản là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thể hiện qua sáu cặp phạm trù được sử dụng là Cái chung và cái riêngBản chất và hiện tượngNội dung và hình thứcTất nhiên và ngẫu nhiênNguyên nhân và kết quảKhả năng và hiện thực.

    Nguyên lý về sự phát triển bao gồm: Quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng – chất và quy luật phủ định. Trong đó:

    Ba quy luật cơ bản này còn có ý nghĩa trong nhận thức và hành động. Những kết luận về mặt phương pháp luận của nó luôn được coi là “kim chỉ nam” cho hoạt động cách mạng của những người cộng sản.

    Theo Các Mác: Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giao điếu của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái đang tồn tại, phép biện chứng cũng bao hàm cả quan niệm, sự phủ định cái đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó, vì mỗi hình thái đều được phép biện chứng xét trong sự vận động, tức xét cả mặt nhất thời của hình thái đó;… vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng.

    Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật chỉ ra hình thức chung nhất của sự vận động, phát triển của thế giới vật chất và nhận thức của con người về thế giới đó, đồng thời các quy luật này cũng tạo cơ sở cho phương pháp chung nhất của tư duy biện chứng.

    Trong phép biện chứng duy vật, nếu quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập chỉ ra nguyên nhân và động lực bên trong của sự vận động, quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức và tính chất của sự phát triển thì quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển đó.

    Các quy luật này định hướng cho việc nghiên cứu của những quy luật đặc thù và đến lượt mình, những quy luật cơ bản về sự phát triển của thế giới, của nhận thức và những hình thức cụ thể của chúng chỉ có tác dụng trên cơ sở và trong sự gắn bó với những quy luật đặc thù.

    Theo triết học Mác-Lênin thì mối quan hệ qua lại giữa các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật với các quy luật đặc thù của các khoa học chuyên ngành tạo nên cơ sở khách quan của mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với các khoa học chuyên ngành.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây  


  • Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Vai-tr%C3%B2-c%E1%BB%A7a-khoa-h%E1%BB%8Dc-v%C3%A0-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-trong-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-l%E1%BB%B1c-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất

    Lời mở đầu

    Tính cấp thiết của đề tài:

    Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khoa học và kỹ thuật đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu. Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia. Và điều nỗi bật rút ra ở các chiến lược, chính sách đó ở tất cả các nước trên thế giới từ những nước có nền kinh tế hiện đại đứng hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Pháp,…cho đến những nước có nền kinh tế chậm phát triển và lạc hậu như Việt Nam , Lào , Campuchia, một số nước Trung Đông

    …đó chính là quan điểm:”Sự phát triển khoa học và kỹ thuật là một phương hướng quan trọng mới , có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế quốc gia…”Bởi vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng các chính sách và chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật của các nước trên thế giới và trong khu vực để áp dụng và phát huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nước mình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước trên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá nói chung và đối với Việt Nam nói riêng hiện nay.

    Trong thời đại ngày nay, khi nền văn minh nông nghiệp dần dần nhường chỗ cho nền văn minh công nghiệp thì tương ứng với nó thuật ngữ ”công nghiệp hoá – hiện đại hoá” cũng ít được sử dụng mà thay thế vào đó là các thuật ngữ khoa học mang tính chất hiện đại ,phù hợp với xu thế của một thời đại mới “thời đại tri thức” như “tăng trưởng”, “phát triển”,” cất cánh theo lối hoá rồng”…Mặc dù vậy,chúng ta không thể phủ nhận công nghiệp hoá- hiện đại hoá luôn luôn là vấn đề hàng đầu trong các lí luận về sự phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới .Thật vậy ,lịch sử phát triển của nhân loại trong vài trăm năm trước đó đã cho thấy con đường mà các nước chậm tiến cần phải đi theo,không thể là cái gì khác ngoài việc biến đổi nền kinh tế theo cơ cấu hợp lý ,phát triển năng động

    1

    dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật hiện đại .Để đạt được mục đích đó,điều tất yếu là phải đưa đất nước đi lên con đường công nghiệp hoá- hiên đại hoá bởi đó là phương thức duy nhất để phát triển kinh tế thế giới, và bất kì một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá chậm , quá lạc hậu so với bước đi của thế giới.Có thể coi đó là quy luật Việt Nam không thể đứng ngoài.

    Chúng ta đều biết ,công nghiệp hoá được coi là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII, còn hiện đại hoá là sản phẩm tất yếu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX. Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá được xem là nấc thang đánh dấu trình độ phát triển mới của nền văn minh nhân loại. Chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu về khoa học cũng như nhiều lĩnh vực khác trong đời sống kinh tế xã hội .Chẳng hạn, việc sử dụng năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời đã làm giảm sự phụ thuộc của con người vào nguồn năng lượng khoáng sản, việc chế tạo ra các tên lửa với công suất cực lớn dùng nhiên liệu hoá học, hỗn hợp ở dạng lỏng hoặc rắn. Với hệ thống động lực mới này, con người đã tạo ra được tốc độ vũ trụ cấp một (7,9km/s),phóngvệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất (năm 1957), tốc độ vũ trụ cấp hai (11,2 km/s) phóng các tàu vũ trụ thám hiểm các hành tinh thuộc hệ mặt trời như mặt trăng, Sao hoả, Sao kim…(năm 1959) và đặc biệt là đưa con người đặt chân lên mặt trăng (năm 1981) mở ra kỷ nguyên chiến lược chinh phục vũ trụ. Sự ra đời của các vật liệu tổng hợp không những giúp con người giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được…Do đó vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia trên con đường thực hiện công nghiệp hoá- hiên đại hoá là ở chỗ cần nắm bắt xu thế phát triển tất yếu, khách quan của thời đại, khai thác tối đa những thời cơ, thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất mọi nguy cơ, bất lợi để thực hiện thành công nghiệp sự nghiệp đó.

    Đối vớiViệt Nam hiện nay, công nghiệp hoá- hiên đại hoá không chỉ là quá trình mang tính tất yếu mà đó còn là một đòi hỏi bức thiết. Đứng trước thực trạng đất nước từ một nền kimh tế tiểu nông đang phấn đấu vươn lên đạt đến mục tiêu:” Dân giàu ,nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ văn minh” lại vốn là một nước nghèo bị chiến tranh tàn phá nhiều năm, tình trạnh khủng khoảng kinh tế xã hội vẫn chưa chấm dứt, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định,

    bội chi ngân sách lớn, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (riêng ở thành thị chiếm tới 7%), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) tính theo đầu người thấp nhất thế giới: 220$ (tháng9/1993) thấp hơn cả Lào, Băngladesh, chỉ bằng 1/9 Thái Lan, bằng 1/4 của Malaixia, bằng 1/45 của Đài Loan…Gắn liền với nền kinh tế đó lại là lối làm ăn tản mạn, tuỳ tiện của sản xuất nhỏ; những thói quen cũ của thời kì bao cấp trong sản xuất, kinh doanh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, ảnh hưởng không nhỏ tới sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước trong quá trình toà cầu hoá. Vì vậy công nghiệp hoá- hiên đại hoá còn là quy luật tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân và cả dân tộc.

    Nhận thức rõ vai trò đó, Đảng và nhà nước, ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học – kỹ thuật và khẳng định: “Cùng với giáo dục, đào tạo khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, kỹ thuật” Như vậy, vai trò động lực, là lực lượng sản xuất hàng đầu của khoa học và kỹ thuật đã được Đảng ta nhất quán khẳng định và là điều tất yếu không thể thay đổi được. Song vấn đề đặt ra là làm sao để khoa học và kỹ thuật đảm nhận được vai trò đó? Hay nói cách khác, trong điều kiện đất nước ta hiện nay để phát triển khoa học và kỹ thuật phù hợp với vài trò “Là lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá- hiên đại hoá ” thì chúng ta phải làm gì? Đó là một vấn đề rất bức bách hiện nay trước thực trang khoa học – kỹ thuật của đất nước còn phát triển chậm và chưa đi vào cuộc sống mặc dù tiềm năng là không nhỏ.

    Nghiên cứu về vấn đề khoa học và kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ là công trình khoa học của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà còn là của toàn thể xã hội. Và cho tới nay, chúng ta cũng đã thu được nhiều kết quả không nhỏ trong việc nghiên cứu, góp phần giúp cho đất nước hoàn thành mục tiêu là một nước công nghiệp vào những năm 2020. Là một sinh viên, em cũng muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học của đất nước. Nghiên cứu về đề tài “Vai trò của khoa học và kỹ thuật trong sự phát triển lực lượng sản xuất” là một vấn đề lớn cần có thời gian và sự hiểu biết cũng như sự đầu tư nhiều. Mặc dù rất cố gắng nhưng em

    không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc thu thập thông tin . Song với sự giúp đỡ tận tình của thầy em đã hoàn thành bài viết này.

    Em xin chân thành cảm ơn thầy !

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    1. Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái kinh tế – xã hội của

    Mác:

    Xuất phát từ quan niệm cho rằng lịch sữ xã hội loài người là quá trình con người thường xuyên sản xuất và tái sản xuất, Mác đã xây dựng nên học thuyết về hình thái kinh tế -xã hội . Hoạt động sản xuất bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người là đặc trưng vốn có của xã hội loài người mà trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò cực kì quan trọng. Nó là động lực, là nền tảng của các hoạt động sản xuất còn lại của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người sử dụng các công cụ lao động thích hợp và tác động cải tạo giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của mình. Trong sản xuất, con người không chỉ quan hệ với giới tự nhiên mà giữa những con người cần phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, tức là việc sản xuất chỉ diễn ra trong khuôn khổ của những mỗi liên hệ và quan hệ xã hội. Có như vậy con người mới có thể biến đổi được giới tự nhiên, biến đổi đời sống xã hội đồng thời biến đổi chính bản thân con người.Trong biện chứng tự nhiên, Ănghen đã viết “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó ta phải nói :lao động đã sáng tạo ra bản thân con người “. Như vậy theo quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, trong lịch sử sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành nên mối quan hệ phổ biến đó là: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất. Trong đó lực lượng sản xuất “biểu hiện cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong qúa trình sản xuất ra của cải vật chất”. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động . Sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất. Và quan hệ sản xuất là “quan hệ giữa người với người trong qúa trình sản xuất”. Mỗi phương thức sản xuất đặc trưng cho một hình thái kinh tế -xã hội nhất định, nó là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng, đóng vai trò quyết

    định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. Và lịch sử xã hội loài người chẳng qua là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất cũ, lạc hậu được thay thế bằng phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động đóng vai trò quyết định. Lực lượng sản xuất là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, làm thay đổi mối quan hệ giữa người với người và từ đó dẫn tới sự thay đổi các mối quan hệ xã hội. Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác viết: ” Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thayđổi tất cả những mối quan hệ xã hội của mình”. Khi lực lượng sản xuất trước hết là tư liệu sản xuất thay đổi và phát triển thì quan hệ sản xuất tất yếu cũng thay đổi và phát triển theo, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội. Như vậy, lực lượng sản xuất không chỉ là yếu tố khách quan, năng động nhất của phương thức sản xuất mà còn là yếu tố cấu thành nền tảng vật chất của toàn thể nhân loại.

    Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Khi mà con người đã trải qua ba cuộc đại cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba thì khoa học trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất hàng đầu”, là yếu tố không thể thiếu được để làm cho lực lượng sản xuất có động lực để tạo nên những bước phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại. Có thể nói rằng :”khoa học và kỹ thuật hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại. CacMác đã từng dự báo: ” Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào số lượng lao động đã chi phí hơn vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng ( hiệu quả to lớn của chúng ) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa

    học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất …” và trong thời đại ngày nay đã khẳng định: phát triển xã hội hội không thể dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện đại.

    Theo quan niệm của Mác, mỗi hình thái kinh tế-xã hội được hình thành từ nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng…Các yếu tố, các mối quan hệ này luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực nội tại của sự phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Xuất phát từ quan niệm đó, CacMác đã cho rằng ngay trong cùng một hình thái kinh tế-xã hội thì không phải bất cứ lúc nào nó cũng được thể hiện dưới một hình thức giống nhau. Chính vì lẽ đó, Mác đòi hỏi phải vận dụng phương pháp phân tích lịch sử cụ thể khi sử dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào vệc xem xét, phân tích một xã hội cụ thể, phải làm rõ được vai trò, vị trí và sự tác động của những quan hệ xã hội đó trong đời sống xã hội. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể rút ra những kết luận có tính quy luật của một xã hội cụ thể khi áp dụng phạm trù hình thái kinh tế-xã hội vào việc nghiên cứu xã hội đó. Và xét cho đến cùng, thì sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực xã hội mới là yếu tố quyết định tiến trình phát lịch sử của nhân loại hàng nghìn năm qua. Ph.Anghen nói: ” Theo quan niệm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất đời sống hiện thực. Cả tôi lẫn Mác chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế…”. Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế xã hội nhất định, và sự tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng hoàn thiện dần của các hình thái kinh tế xã hội, là sự thay đổi hình thái kinh thái kinh tế lạc hậu lỗi thời bằng hình thái kinh tế xã hội tiến bộ, hiện đại hơn mà gốc rễ sâu xa của nó là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất. Nó là nền tảng, là cơ sở vật chất-kĩ thuật, là yếu tố quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế-xã hội. Mác viết: ”Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một qúa trình lịch sử tự nhiên” nhưng sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế-xã hội này lên hình thái kinh tế – xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế-xã hội nào đó trong những điều kiện khách quan và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

    Dựa trên những tư tưởng cụ thể của học thuyết Mác về hình thái kinh tế-xã hội với vai trò then chốt của lực lượng sản xuất là cơ sở lý luận cho phép chúng ta khẳng định sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển CNTB, là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc ta.

    2. Khoa học và kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu.

    Trong nửa thế kỷ qua, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ra công ăn việc làm luôn luôn đứng ở vị trí cao trong trong danh mục những ưu tiên hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho thấy rằng ít nhất một nửa mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu là nhờ những tiến bộ khoa học-kỹ thuật đem lại thông qua việc chúng góp phần làm tăng thêm hiệu quả đầu tư của các nguồn vốn và năng suất lao động xã hội cũng như tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Chính vì vậy khoa học và kỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong các chiến lược tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển va đang phát triển. Sự thành công của các nước trong việc đạt tới những mục tiêu về khoa học kỹ thuật để tạo ra tăng trưởng kinh tế đã tác động trực tiếp tới sức cạnh tranh và dẫn tới kết quả là làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nếu như trong thiên niên kỷ thứ nhất, than đá, sức gió, sức nước, sức mạnh cơ bắp của người và gia súc là nguồn năng lượng chủ yếu thì tới gần thiên niên kỷ thứ hai, đó là dầu khí, máy hơi nước, điện, năng lượng nguyên tử phân hạch. Hiện nay nhân loại đang tiến vào thiên niên kỷ thứ ba dựa trên nền tảng của các nghành công nghiệp cao như kỹ thuật thông tin, kỹ thuật năng lượng hạt nhân, tổng hợp nhiệt hạch, kỹ thuật nanô… Có thể nói rằng từ vị trí đi sau, tổng hợp các kinh nghiệm ở hai thiên niên kỷ đầu, khoa học và kỹ thuật đã trở thành động lực phát triển hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, là lực lượng dẫn đường và là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu hoá. Có thể nói đây là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trong khoa học tự nhiên, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại. Để làm rõ vai trò của khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế toàn cầu, ta cần tìm hiểu thế nào là khoa học, kỹ thuật, là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.

    Khoa học là một khái niệm thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: khoa học là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức; khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội; khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể các tri thức của tiến trình lịch sử xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học. Ngoài ra, khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng làm cho con người nắm được những quy luật của hiện thực khách quan ,ngày càng làm chủ được những điều kiện sinh hoạt tự nhiên và xã hội

    Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (Như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…được sử dụng theo một quy trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Kỹ thuật từ chỗ chỉ dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì giờ đây khái niệm đó được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người .

    Nếu như trong nhiều thế kỷ trước đây khoa học chỉ phát triển một cách độc lập riêng rẽ thì tới đầu thế kỷ 20 mối quan hệ mật thiết giữa khoa học- kỹ thuật đã tạo nên cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại của xã hội loài người, đánh dấu “quá trình khoa học kỹ thuật biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là điều kiện cần để đưa lực lượng sản xuất lên một bước phát triển mới”. Cho tới nay chưa có một công trình nào đưa ra định nghĩa cụ thể về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, song về đại thể ta có thể hiểu đó là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn. Ở nét khái quát nhất có thể định nghĩa cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dẫn đường của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ chu trình: “khoa học – kỹ thuật – sản xuất- con người – môi trường “. Có thể nói rằng sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa văn minh nhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về chất. Đó là kết

    quả của quá trình tích luỹ lâu dài các kiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất, và việc tăng quy mô sử dụng kỹ thuật mới. Trong đó sự phát triển có tính tiến hoá và các dịch chuyển có tính chất có tính cách mạng đã cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển. Trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong các ngành tri thức khoa học đều có thể quan sát thấy những sự luân phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnh vực như :

    Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, gió, than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử và hiện nay chính là năng lượng nhiệt hạch.

    Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công trường thủ công rồi tiến lên phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hoá tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy tự động, tự động hoá đồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt.

    Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ nguyên liệu nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng truyền thống ( như gỗ, gạch, đá…), sử dụng kim loại đen ( như sắt gang…) là chủ yếu sang sử dụng kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vật liệu kết cấu (omposite), vật liệu thông minh vật liệu siêu dẫn…

    Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuất thủ công, tiến lên bán tự động rồi tới kỹ thuật tự động hoá( tự động hoá thiết kế – chế tạo…), kỹ thuật thông tin ( tin học, viễn thông vũ trụ…) kỹ thuật nano, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật không gian, kỹ thuật vật liệu mới…

    Sự khởi đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã đưa con người tiến vào một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của tri thức. Đây là bước quá độ trong sự phát triển khoa học và kỹ thuật hoàn toàn chỉ dựa trên cơ sở khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành sản xuất vật chất, biến bản thân khoa học thành nền công nghiệp tri thức trong thời đại tri thức, nền kinh tế công nghiệp sẽ trở thành nền kinh tế thông tin (hay còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế tin học, nền kinh tế mạng…)

    Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc cách mạng vi điện tử diễn ra từ đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học kĩ thuật lớn nhất của thế kỉ XX thì đó là “bước quá độ dưới sự chỉ đạo với

    vai trò dẫn đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất, điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng, tổ chức lại tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội dựa trên cơ sở những ngành kỹ thuật cao mà các cuộc cách mạng trước đó chưa đủ điều kiện tạo ra một cách hoàn chỉnh như :Kỹ thuật thông tin, kỹ thuật sinh học, kỹ thuật vật liệu mới, kỹ thuật năng lượng mới kỹ thuật tự động hoá trên cơ sở kỉ thuật vì điện tử “. Thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo điều kiện tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực xã hội. Cho phép chi phối tương đối các phương tiện sản xuất để cùng tạo ra cùng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng. Kết quả là kéo theo sự thay đỗi cơ cấu của nền sản xuất xã hội ,làm thay đổi tận gốc lực lượng sản xuất mà khoa học kỹ thuật là yếu tố hàng đầu. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã tác động sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người,đưa con người tiến vào thời đại mới- thời đại của nền kinh tế tri thức.

    CHƯƠNG II

    CÔNG NGHIỆP HOÁ -HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I: Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá -hiện đại hoá ở Việt Nam.

    1.1 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là gì ?

    Lịch sử loài người trải qua 5 -6 ngàn năm (Trước thế kỷ XVIII) thời kỳ công trường thủ công, gần 300 năm thời kỳ đại công nghiệp cơ khí nhưng chỉ mất gần 120 năm để hoàn thành thời kỳ công nghiệp hoá đầu tiên, sau đó ở các nước Mỹ, Tây Âu chỉ tiến hành công nghiệp hoá trong vòng 80 năm, Nhật Bản 60 năm…và ngày nay Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đang tích cực rút ngắn khoảng cách, tiến dần tới nền văn minh nhân loại cũng chính bằng Công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Các nước đã đi qua giai đoạn phát triển TBCN đi vào thời kỳ quá độ lên CNXH tiến hành thực hiện quá trình tái công nghiệp nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu của chế độ xã hội hội mới. Các nước có nền kinh tế phát triển chậm nhất là các nước nông nghiệp lạc hậu thì tiến lên CNXH để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhất thiết phải công nghiệp hoá để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế-Xã hội.Vậy ta nên hiểu về phạm trù công nghiệp hoánhư thế nào ?

    Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng: “công nghiệp hoá đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…”.Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành dựa trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứu định nghĩa về phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh tế Liên Xô (cũ), Cuốn “Giáo khoa về kinh tế chính trị “của Liên Xô được dịch sang tiếng Việt đã định nghĩa: “công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến. Cuốn từ điển tiếng Việt đã giải thích: “Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân

    và đặc biệt công nghiệp nặng dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xâydựng và phát triển đại công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô (cũ) được chúng ta tiếp nhận, áp dụng vào Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá của đất nước ngay từ những năm 1960 với nội dung chủ đạo là “Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH”. Nhưng trên thực tế, chúng ta đã phải trả giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó khi áp đặt mô hình công nghiệp hoá XHCN ở Liên xô vào nước ta mà không xuất phát từ thực trạng đất nước là một nước nông nghiệp lạc hậu. Tuy nhiên, dù không đạt được mục tiêu đề ra trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá nhưng cũng nhờ đó mà chúng ta đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực mới về nhiều mặt đặc biệt là kinh tế, quốc phòng, văn hoá, chính trị…góp phần cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, bảo đảm được phần nào đời sống vật chất của nhân dân.

    Đến năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc đã đưa ra định nghĩa về Công nghiệp hoá là: “Công nghiệp hoá một quá trình phát triển kinh tế”. Trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là “có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội “.Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá được hiểu là quá trình rộng lớn và sâu sắc với nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm thực hiện một mục tiêu duy nhất là kinh tế kỹ thuật như trước kia. Dựa trên cơ sở kỹ thuật đó, chúng ta nhận thức rõ được sai lầm của mình trên con đường công nghiệp hoá XHCN theo kiểu cũ, cứng nhắc và kém hiệu quả. Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quá trình phát triển đầy khó khăn, thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế phát triển hiện đại không thể không tiến hành công nghiệp hoá và cùng với công nghiệp hoá là hiện đại hoá. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá và là hai quá trình nối tiếp và đan xen lẫn nhau. Trước đó, ở các nước Mỹ và Tây Âu, họ đã tiến hành công nghiệp hoá khá lâu rồi

    mới đi vào hiện đại hoá và cho tới nay, quá trình này vẫn còn đang tiếp tục. Ta có thể hiểu: Hiện đại hoá là quá trình chống lại sự tụt hậu củạ sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới. Như vậy, xét về mặt lịch sử quá trình công nghiệp hoá diễn ra trước quá trình hiện đại hoá. Kinh nghiệm của cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta cho thấy rằng: “công nghiệp hoá nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hoá “.Tại hội nghị Trung ương khoá VII (Tháng7/1994) và khoá VIII(Tháng 6/1995) Đảng ta đã khẳng định: “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với kỹ thuật và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của cồng nghiệp và tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao “(Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung Ương khoá VIII ).

    Với quan niệm này, về cơ bản đã phản ánh được phạm vi rộng của quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, chỉ ra được cái cốt lõi của nó là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng lao động tiên tiến, hiện đại để đạt được năng suất lao động cao, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, xác định rõ vai trò của công nghiệp, của khoa học – kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá. Như vậy về cơ bản công nghiệp hoá theo định hướng XHCN: “là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.”

    1.2 Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình tất yếu khách quan

    Ngay từ những năm 60, khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta đã nhận rõ tính quy luật và vai trò Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá trong tiến hành vận động, phát triển của các nước trên thế giới nói chung,Việt Nam nói riêng và xác định: “Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm thời kì quá độ lên CNXH”. Với đường lối công nghiệp hoá XHCN chủ trương phát triển công nghiệp nặng mà trọng tâm là ngành cơ khí chế tạo đã dẫn đến những sai lầm cơ bản về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Trong suốt hơn một phần tư thế kỉ, chúng ta đã đặt công nghiệp hoá XHCN ở vị trí đối lập hoàn toàn với “công nghiệp hoá TBCN”, coi việc phát triển công nghiệp là giải pháp đúng đắn

    để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH mà “quên” mất vai trò của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ trong nền kinh tế quốc dân. Chúng ta chỉ đơn giản coi công nghiệp hoá là “Một quá trình xây dựng nền sản xuất được cơ khí hóa trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân “. Quan niệm này bắt nguồn từ nhận thức giáo điều, máy móc của Đảng và nhà nước ta về mô hình công nghiệp hoá XHCN của Liên Xô mà không xuất phát từ thực trạng kinh tế xã hội của đất nước cũng như bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ. Trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá đất nước, tuy nền công nghiệp của nước ta đã được đầu tư khá lớn nhưng với quan niệm như vậy về công nghiệp hoá đã dẫn đến hiệu quả của quá trình công nghiệp hoá rất thấp ,thậm chí còn kéo theo cả nông nghiệp và công nghiệp nhẹ cũng rơi vào tình trạng đình trệ nghiêm trọng. Nhiều nhà máy, xí nghiệp quốc dân làm ăn thua lỗ kéo dài, tỷ trọng cuả ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân không đáng kể, nợ nước ngoài chồng chất, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Nghiêm trọng hơn, nền kinh tế lâm vào tình trạng thiếu hụt lớn, mất cân đối một cách căn bản, không có tích luỹ và rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế -xã hội kéo dài. Sự phát triển kinh tế chỉ chú trọng vào chiều rộng đã không tạo ra được những yếu tố cần thiết để phát triển theo chiều sâu, tính năng động và sáng tạo của cá nhân cũng như tập thể bị kìm hãm và không có cơ hội được thể hiện và điều tất yếu là chúng ta phải trả một giá quá đắt cho đường lối công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó .

    Nhận thức được hậu quả đó, Đảng và nhà nước ta đã kịp thời đưa ra chiến lược công nghiệp hoá mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Thế nhưng khi loại bỏ đường lối “công nghiệp hoáXHCN” theo lối cũ, người ta bỏ luôn cả công nghiệp hoá chỉ nhắc đến “phát triển “, “tăng trưởng”, “cất cánh “…chứ không đề cập tới công nghiệp hoá nữa. Nhưng thử hỏi những khái niệm đó đặt trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay sẽ là gì nếu không phải chính là công nghiệp hoá. Việc chúng ta từ bỏ một quan điểm sai lầm về công nghiệp hoá và cách thức tiến hành công nghiệp hoá theo lối chủ quan duy ý chí, kém hiệu quả hoàn toàn không có ý nghĩa là phủ nhận tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá. Mọi lý thuyết về phát triển trên thế giới hiện thời đều không bỏ qua một trong những nội dung chủ yếu không thể thiếu của nó là công nghiệp hoá. Đảng và nhà nước ta xác định: “Xây dựng đất nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,

    cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, an ninh quốc phòng vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hộ công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy đối với một nước nghèo như Việt Nam, không còn con đường phát triển nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngày nay trên thế giới, công nghiệp hoá vẫn được coi là phương hướng chủ đạo, là con đường tất yếu phải trải qua của các nước đang phát triển. Ở nước ta khi những tư tưởng cơ bản trong học thuyết của CacMác về hình thái kinh tế-xã hội được nhận thức lại một cách sâu sắc với tư cách là cơ sở lý luận cho công cuộc đổi mới đất nước. Công nghiệp hoá được xem là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội nhằm cải biến xã hội, gắn với việc hình thành bản chất ưu việt của chế độ mới. So với các nước trong khu vực có điểm xuất phát tương tự như nước ta hiện nay, chúng ta đang ở tình trạng tụt hậu xa hơn. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiên thời, chúng ta cần và có thể tiến hành “công nghiệp hoá đuổi kịp “, đồng thời “công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá ” đã mở ra con đường tắt, rút ngắn khoảng cách giữa các nước đang phát triển với các nước tiên tiến. Thực tế lịch sử đã cho thấy: Nhiều nước châu Á như: Singapo, Đài Loan, Hàn Quốc…chỉ trong một thời gian ngắn từ một nước kém phát triển đã trở thành một nước công nghiệp mới (NIC). Đó là những tấm gương kinh nghiệm cho chúng ta học hỏi và vươn lên

    .Công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá kết hợp những bước tiến tuần tự về kỹ thuật với việc tranh thủ những cơ hội đi tắt đón đầu hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiến tiến của khoa học – kỹ thuật thế giới. Một điều rõ ràng là chúng ta không thể thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá với nội dung căn bản là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành hiện đại hoá. Mặt khác khi thực hiện cơ khí hoá các ngành sản xuất, ta không thể dựa trên cơ sở sủ dụng máy móc lạc hậu mà phải sử dụng kỹ thuật và kỹ thuật sản xuất hiện đại .Với ý nghĩa đó, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong thời đại hiện nay, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta có nhiều đặc điểm khác với Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nhiều nước khác, nhưng xét về tổng thể nó là một quá trình rộng lớn, phức tạp bao hàm những nội dung cơ bản sau:

    Một là : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là qúa trình trang bị và trang bị lại kỹ thuật hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu. Lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới cho thấy rằng, quá trình công nghiệp hoá gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và kỹ thuật. Đến giữa thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại lại tạo ra những bước đột phá mới trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, đem lại tính chất hiện đại cho các tư liệu sản xuất, cho kĩ thuật, trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến vv…Đó là những yếu tố cấu thành nội dung kỹ thuật mà sự phát triển của nó là vấn đề cốt lõi của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Chính vì vậy trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn đòi hỏi phải trang bị và trang bị lại kỹ thuật cho các ngành kinh tế gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ở cả phần cứng lẫn phần mềm của kỹ thuật. Tuy nhiên, cách thức tiến hành ở các nước lại không giống nhau, có nước tiến hành bằng cách tự nghiên cứu , sáng chế, tự trang bị kỹ thuật mới cho các ngành kinh tế trong nước ,một số nước khác lại tiến hành thông qua chuyển giao kỹ thuật, có nước thì kết hợp giữa hai hình thức tự nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật. Như vậy có thể nói công nghiệp hoá- hiện đại hoá là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ kỹ thuật thấp lên trình độ kỹ thuật hiên đại cùng với sự dịch chuyển lao động thích ứng cơ cấu ngành, nghề.

    Hai là: Qúa trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá không chỉ liên quan tới phát triển công nghiệp mà là quá trình bao hàm tất cả các ngành ,các lĩnh vực hoạt động của một nước. Nó thúc đẩy việc hình thành một cơ cấu kinh tế mới, hợp lý cho phép khai thác tốt nhất nguồn lực và lợi thế của đất nước. Nền kinh tế của mỗi nước là một thể thống nhất các ngành, các lực lượng quan hệ biện chứng vơí nhau,sự thay đổi ở ngành kinh tế, sự thay đổi ở ngành kinh tế,

    • lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo sự thay đổi ở các ngành các lĩnh vực khác và ngược lại. Vì thế, quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội với những đặc điểm mang tính quy luật. Xét về tổng thể, cơ cấu kinh tế của mỗi nước được cấu thành bởi ở bộ phận nông nghiệp – công nghiệp và dịch vụ.

    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sự chuyển dịch các ngành diễn ra theo xu hướng từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ đến công nghiệp – nông nghiệp dịch vụ. Ở giai đoạn đầu nông nghiệp giữ vị trí then chốt nhưng

    đến một trình độ phát triển nhất định khi nhu cầu về lương thực, thực phẩm được bảo đảm thì công nghiệp sẽ được đẩy lên trên.Tuy công nghiệp hoá không đồng nhất với phát triển công nghiệp nhưng không thể tiến hành công nghiệp hoá nếu không phát triển công nghiệp vững mạnh , chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ còn là điều kiện để phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân

    Ba là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình kinh tế, kỹ thuật vừa quá trình kinh tế-xã hội.Trong quá trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá,quá trình kinh tế-xã hội có quan hệ biện chứng với nhau ở cả tầm vĩ mô lẫn

    • mô, và với cả qua trình kinh tế -kỹ thuật. Với ý nghĩa đó khi xem xét sự tác động và hiệu quả của công nghiệp hoá phải có quan điểm toàn diện không dừng lạỉ ở khía cạnh kinh tế-kỹ thuật mà phải xem xét khía cạnh kinh tế-xã hội của nó. Do đó xét cho đến cùng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là quá trình xây dựng và phát triển văn hoá, trong đó nguồn lực con người, gia tăng giá trị và vai trò con người là nội dung cốt lõi .

    Bốn là: Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá cũng đồng thời là quá trình mở rộng kinh tế quốc tế trong điều kiện hiện nay nền kinh tế nước ta không thể tăng trưởng và phát triển mạnh nếu không thiết lập mối quan hệ kinh tế với nước ngoài. Bởi vậy Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá theo hướng hội nhập quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật thị trường, kinh nghiệm của các nước đi trước đẩy mạnh chiến lược xuất khẩu, năng lực cạnh tranh đã trở thành một xu thế chung của thời đại. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới có tác động tương hỗ lẫn nhau và chịu sự biến động kinh tế-xã hội chung của thế giới. Vì thế, cần phải tính đến việc gắn Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với việc xây dựng hệ thống kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại, tích cực liên kết kinh tế quốc tế .

    Năm là: Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá không phải là mục đích tự thân mà là một phương thức có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu phát triển của mỗi nước. Bản thân công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một hiện tượng có tính phổ biến, nghĩa là từ kém phát triển trở thành phát triển, từ lạc hậu trở thành tiên tiến hiện đại, các nước đều phải tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá với những nét chung là quá trình trang bị kỹ thuật hiện đại cho các ngành

    kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của đất nước tạo ra năng suất lao động xã hội cao, bảo đảm nhịp độ phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững.

    Có thể nói rằng, Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống của xã hội, mà nhiêm vụ lớn lao của cuộc cách mạng đó là” tạo ra những điều kiện thiết yếu về vật chất-kỹ thuật, về con người và khoa học-kỹ thuật. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, không ngừng tăng năng suất lao động xã hội, làm tăng hiệu quả thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    2: Tính đặc thù của Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá ở nước ta.

    Trong những năm qua sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá về cơ bản đã làm thay đổi bộ mặt đất nước và cuộc sống nhân dân, cũng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên thị trường quốc tế. Nhưng bên cạnh đó ,nền kinh tế nước ta vẫn chưa có sự phát triển vững chắc,hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, các vấn đề về văn hoá-xã hội ngày càng trở nên bức xúc, gay gắt, cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo được động lực mạnh mẽ để phát triển…Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta vẫn kiên định thực hiện đường cối đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ để nhanh chóng đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại .

    Nhận định về tình hình phát triển của thế giới trong thế kỉ XXI. Nghị quyết đại hội của Đảng đã nêu rõ: “Thế kỉ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi ,khoa học và kỹ thuật sẽ có bước nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nỗi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan”. Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta. Trước mắt nhân dân ta có cả cơ hội lẫn thách thức lớn. Mặc dù chúng ta còn nhiều thiếu sót trong thực tiễn tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá mà chúng ta cần khắc phục và sữa chữa nhưng nhìn chung, cả thế và lực của nước ta đều có sự biến đổi rõ rệt về chất. Chúng ta đã thoát khỏi các cuộc khủng khoảng nghiêm trọng kéo dài, tạo ra được tiền đề cần thiết để chuyển sang giai đoạn mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá – Hiện đại

    hoá đất nước. Không những vậy đất nước còn có nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên cũng như nguồn lực con người, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, nhân dân đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, môi trường hoà bình sự hợp tác quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực, nguồn vốn, kỹ thuật mới, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường. Bên cạnh đó là những thách thức mà các nước đang tiến hành Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá như nước ta phải tính đến là ưu thế về nguồn lao động và nguyên liệu ngày càng giảm so với sự phát triển của kỹ thuật tự động hoá, chất lượng lao động ổn định đang làm giảm ưu thế về việc xuất khẩu lao động sang các nước phát triển .Mặt khác, kỹ thuật tiên tiến đã nâng tỷ trọng chất xám trong giá thành sản phẩm khiến cho giá thành của các nguồn nguyên liệu thô và nguyên liệu sơ chế có kèm theo lượng chất xám thấp giảm đi nhanh chóng. Điều này đã và đang đe doạ nghiêm trọng tới xu hướng xuất khẩu nguyên liệu ở các nước, trong đó có Việt Nam .Vì vậy việc lựa chọn đi theo con đường Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá tất yếu phải giải quyết những thách thức đó. Trước hết, khó khăn trong việc giải quyết những thách thức này là do đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ của chúng ta còn thiếu và yếu, bất cập với sự phát triển của khoa học -kỹ thuật. Ngoài ra Đảng ta còn phải xây dựng cơ vật chất kỹ thuật vững mạnh, kết cấu hạ tầng tương xứng để tiến hành các công trình nghiên cứu thực nghiệm, sử dụng kỹ thuật và một hệ thống thông tin cho việc định hướng, lựa chọn kỹ thuật. Việc này cần rất nhiều vốn trong khi đó tình hình ngân sách nước ta hết sức hạn hẹp, tình trạng thiếu vốn là phổ biến. Vì vậy trong điều kiện: “Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau. Chúng ta phải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển mạnh và vững mạnh, tạo ra các thế lực mới, đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ, kể cả nhữnh nguy cơ mới nảy sinh, đảm bảo phát triển đúng hướng.Việc nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới,đó là vấn có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta“.(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB chính trị quốc giaHà Nội năm 1996 , trang 79-80 và văn kiện đai hội đại biểu toàn quốc lần IX,. NXB chính trị quốc gia Hà Nội năm 2001 trang 67-68)

    Như vậy, đối với đất nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra là cần tiến hành Công nghiệp hoá – hiện đại hoá như thế nào cho thích hợp? Trong bối cảnh

    mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp (kết hợp giữa thay thế nhập khẩu với đẩy mạnh xuất khẩu) theo hướng hội nhập quốc tế là xu hướng có triển vọng rất lớn ở nước ta, về cơ bản Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cũng vận động theo hướng đó. Nhưng xét theo cụ thể, với phương châm “rút ngắn khoảng cách, vừa có những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt” công cuộc Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta không những khác các nước khác về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành mà khác cả về mục tiêu chiến lược. Chính sự khác biệt này đã làm nên tính đặc thù của sự nghiệp Công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở nước ta :

    Thứ nhất: Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Kết hợp kỹ thuật truyền thống với kỹ thuật hiện đại, tranh thủ đi sâu vào hiện đại hoá ở những khâu quyết định.Trong điều kiện cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại đang có những bước phát triển nhanh chóng với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế hiện nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Thực chất của quá trình hiện đại hoá nền kinh tế là không ngừng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo tiến trình phát triển của khoa học và kỹ thuật trên thế giới. Tuy nhiên, nếu ta không kịp thời sử dụng các kỹ thuật và kỹ thuật hiện đại để hiện đại hoá nền kinh tế thì nguy cơ tụt hậu sẽ rất cao. Nhưng nếu dồn mọi sự đầu tư cho việc trang bị kỹ thuật và kỹ thuật thì lại có nguy cơ lãng phí về tiền năng và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác. Để khắc phục nghịch lý này, chúng ta cần áp dụng đồng thời nhiều trình độ khoa học và kỹ thuật mà các nước đi trước đã thực hiện ở những thời điểm khác nhau. Có như vậy chúng ta mới có thể từng bước hiện đại hoá nền kinh tế vừa khai thác được các nguồn lực và lợi thế của đất nước. Cụ thể hơn, chúng ta cần biết kết hợp giữa nhảy vọt thủ công lên hiên đại, với bước đi tuần tự từ thủ công: Nửa cơ khí, cơ khí, tự động hoá…đồng thời phát huy tính ưu việt, hiện đại hoá nền kỹ thuật truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Ở nước ta việc tiếp nhận chuyển giao và phát triển kỹ thuật cho quá trình Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá là hết sức cần thiết song quan trọng hơn là phải có cơ chế chính sách hợp lý để việc chuyển giao kỹ thuật đạt được mục tiêu khai thác và sử dụng có hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ môi trường sinh thái. Có như vậy, chúng ta mới

    có được kỹ thuật mới, hiện đại có hàm lượng chất xám cao, kỹ thuật sạch kết hợp được các mục tiêu kinh tế và sinh thái.

    Thứ hai: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản. Trước đây, công nghiệp hoá được tiến hành theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp kế hoạch hoá cao độ thì giờ đây, công nghiệp hoá – hiện đại hoá được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Cơ chế thị trường tạo ra cơ hội và điều kiện thuận lợi cho con người tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội đa dạng, cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động, tạo cho con người có thể chủ động lựa chọn lao động và việc làm… Nói một cách khái quát, cơ chế thị trường có tác dụng làm chủ thể của quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá năng động, biết tính toán và luôn đề cao tính hiệu quả. Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có nhiều hạn chế của nó mà nếu không được chủ động khắc phục, điều tiết thì quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá sẽ không đạt được mục tiêu ổn định xã hội và bền vững của môi trường. Thực tế, khách quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế-xã hội .

    Công nghiệp hoá – hiện đại hoá theo định hướng XHCN phải hướng vào việc ưu tiên phát triển sự tăng trưởng và phát triển của các nghành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế … có khả năng đem lại tích luỹ nhanh, lớn và hiệu quả kinh tế cao để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh. Mặt khác, công nghiệp hoá – hiện đại hoá còn phải đảm bảo mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia và sự phát triển bền vững. Khi hiệu quả đạt được sẽ kéo theo hiệu quả xã hội và ngược lại đạt được hiệu quả xã hội sẽ tạo nên động lực thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, không phải mọi lúc mọi nơi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đều tỷ lệ và song hành với nhau mà ta phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo chủ yếu quyết định chính sách, phương hướng phát triển, phương hướng đầu tư và trang bị kỹ thuật cho từng ngành từng thành phần kinh tế, từng doanh nghiệp .

    Thứ ba: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan điểm này thể hiện ở chỗ, trước hết công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải xuất

    phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, đó là thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bên cạnh đó sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá là do nhân dân thực hiện bằng sức lao động, tài năng, sự sáng tạo, bằng cả tài sản toàn dân, phát huy sức mạnh và lợi thế so sánh của các thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Và, công nghiệp hoá – hiện đại hoá chỉ thực sự là sự nghiệp của nhân dân và do nhân dân khi xây dựng được và thực hiện tốt cơ chế phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia xây dựng đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá và kiểm tra quá trình thực hiện đường lối đó. Có thể nói rằng việc huy động mọi nguồn lực trong nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế xã hội là biện pháp quan trọng bảo đảm sự thành công của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    Thứ tư: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá gắn liền với việc ” xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế “. Mở cửa nền kinh tế là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy và quan điểm của Đảng và nhà nước. Mở cửa cả bên trong lẫn bên ngoài là điều kiện để kết hợp sứ mệnh của dân tộc với sứ mệnh của thời đại, khai thác tổng hợp nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “ giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở rộng, hội nhập với khu vực và thế giới”. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ tức là xây dựng nền kinh tế mở dựa trên cơ sở phát triển hợp tác đa phương hướng mạnh vào xuất khẩu và thay thế nhập khẩu nhằm tạo ra nguồn vốn cho công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Thứ năm: khoa học và kỹ thuật được xác định là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Về thực chất, công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật, kỹ thuật hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội ngày càng cao. Do đó, nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá là nói đến việc áp dụng những tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Trong thời đại ngày nay, khoa học và kỹ

    thuật thực sự là nền tảng và là động lực của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phát triển khoa học và kỹ thuật, gắn khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống chính là mẫu chốt đảm bảo sự thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhận thức được điều đó, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và kỹ thuật như: Tại hội nghị lần thứ VII, ban chấp hành TW khoá VII đã khẳng định : “Khoa học kỹ thuật là nền tảng của công nghiệp hoá hiện đại hoá ”: Hội nghị lần thứ II ban chấp hành TW khoá VIII một lần nữa nhấn mạnh: “Cùng với giáo dục-đào tạo, khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công XHCN. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học-kỹ thuật”; Và tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX quan điểm: Coi phát triển khoa học và kỹ thuật là quốc sách hàng đầu là nền tảng, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Muốn vậy chúng ta phải gắn hoạt động nghiêp cứu khoa học và kỹ thuật với thực tiễn, với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phải tăng cường vốn đầu tư và tìm ra động lực cho sự phát triển của bản thân nó. Động lực đó chính là lợi ích của những nhà nghiên cứu, phát minh, ứng dụng có hiệu quả của khoa học và kỹ thuật .

    Thứ sáu: Công nghiệp hoá – hiện đại hoá phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Sự phát triển như vũ bão của khoa học và kỹ thuật hiện đại ngày nay đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội. Nếu trước đây quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên thì bây giờ công nghiệp hoá – hiện đại hoá lại hướng vào việc khai thác con người, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ của con người làm yếu tố cơ bản. Mặt khác, công nghiệp hoá

    • hiện đại hoá không chỉ đơn thuần là đạt được mục tiêu tăng trưởng phát triển nhanh bền vững về lượng mà còn là về chất, trước hết là phúc lợi nhân dân. Do đó, quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá ngày nay đòi hỏi phải biết nuôi dưỡng, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn lực con người. Như vậy đối với nước ta, thực hiện đường lối công nghiệp hoá – hiện đại hoá đòi hỏi phải nỗ lực phát huy mọi lợi thế so sánh vốn có của đất nước, tận dụng mọi cơ hội để có thể nhanh chóng đạt được trình độ kỹ thuật tiên tiến, tranh thủ ứng dụng ở mức cao hơn, phổ biến hơn các thành tựu mới về khoa

    học và kỹ thuật; từng bước phát triển nền kinh tế tri thức, lấy phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và kỹ thuật làm nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    3.Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu.

    3.1> Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và đời sống xã hội không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học và kỹ thuật hiện đại. Khi chúng ta nói đến vai trò nền tảng và động lực của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá cũng là nói đến công nghiệp hoá – hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và kỹ thuật. Quan điểm này hơn một trăm năm trước CacMác đã từng dự báo: “ Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào sự ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất”,và ngày nay cũng được Đảng và nhà nước ta khẳng định rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong nghị quyết các hội nghị TW VII ( khoá VII), hội nghị TW II (khoá VIII) và kết luận Hội nghị TW VI (khoá IX) về phát triển khoa học kỹ thuật. Nhận định đó của CacMác ngày càng được thực tiễn phát triển khoa học và kỹ thuật xác nhận. Khoa học và kỹ thuật hiện đại không chỉ là yếu tố không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia mà còn là yếu tố then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, là yếu tố “quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của các quốc gia”. Đối với nước ta hiện nay, vai trò của khoa học và kỹ thuật lại càng trở lên đặc biệt quan trọng khi mà chúng ta đang trên con đường rút ngắn giai đoạn phát triển để sớm trở thành một xã hội hiện đại. Ngay từ khi mới bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước , Đảng ta đã xác định: khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng hàng đầu cho xã hội. Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu

    nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh phải dựa trên nền tảng và động lực của khoa học – kỹ thuật. Vai trò nền tảng chỉ được phát huy khi đất nước có một nền khoa học kỹ thuật phát triển, đủ khả năng giải quyết được những nhiệm vụ chủ yếu về khoa học và kỹ thuật do yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia đặt ra.Vai trò động lực của khoa học và kỹ thuật được thể hiện thông qua sự đổi mới không ngừng của kỹ thuật và sản phẩm,tạo ra năng suất, chất lượng,và sức cạnh tranh cao của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá đang là xu hướng của toàn nhân loại. Chỉ khi nào khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu thì vai trò nền tảng và động lực của nó mới trở nên vững chắc và mạnh mẽ. Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, muốn đẩy nhanh tiến trình đổi mới đất nước thì điều tất yếu là phải tiến hành song song cả hai qúa trình: vừa thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá vừa xây dựng và phát triển nền khoa học kỹ thuật trong hoàn cảnh tiềm lực kinh tế đất nược còn rất hạn hẹp và nhỏ bé. Điều này chỉ có thể thực hiện được một khi hoạt động khoa học và kỹ thuật gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội.

    Trong thế kỷ XX , chứng kiến những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia, và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người

    . Mặt khác, trên bản đồ kinh tế thế giới, xuất hiện nhóm các nước mới công nghiệp hoá (NIC) sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng và lan toả của các thành tựu khoa học và kỹ thuật thông qua quá trình chuyển giao và tiếp thu tri thức khoa học và kỹ thuật tiên tiến. Bằng việc thực hiện đường lối công nghiệp hoá dựa vào khoa học và kỹ thuật, biết tận dụng các cơ hội để tiếp nhận và làm chủ nhanh chóng các kỹ thuật mới, thay đổi phương thức sản xuất dựa trên lao động thủ công và khai thác tài nguyên thiên nhiên sang ứng dụng các kỹ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hướng tạo ra giá trị gia tăng cao,đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà các nước này nhanh chóng rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá đất nước,tăng nhanh thu nhập bình quân đầu người, đồng thời khẳng định tiềm năng, vị thế của mình trên trường quốc tế.

    Bước vào thế kỷ XXI, cả thế giới đang cuốn theo xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Các nước phát triển đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với đặc điểm là nền kinh tế biết khai thác, biết phát huy triệt để tiềm năng của chất xám, của những ý tưởng sáng tạo và đặc biệt là tri thức về khoa học và kỹ thuật phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của xã hội. Xu thế này mở ra nhiều cơ hội mới cho các nền kinh tế đang phát triển với điểm xuất phát thấp nhằm định hướng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế chung là thu hút và sử dụng tri thức khoa học và kỹ thuật để tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia nào xây dựng được khoa học và kỹ thuật đủ khả năng tiếp thu, làm chủ, thích nghi, sáng tạo và sử dụng nhiều tri thức, nhất là tri thức khoa học và kỹ thuật, tạo ra môi trường thể chế năng động thì mới có thể thu hút được nhiều vốn đầu tư, kỹ thuật hiện đại và lao động có trình độ cao từ các quốc gia khác vì mục tiêu phát triển toàn diện.

    Thực tế của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng nếu không có sự đầu tư thích đáng vào khoa học và kỹ thuật thì không thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Khoa học và kỹ thuật chính là chiếc chìa khoá thần kì để đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, trong đó điển hình là các nước công nghiệp hoá mới. Qua đó, ta càng thấy rõ vai trò quyết định của tri thức khoa học và kỹ thuật, tri thức của toàn xã hội . Có tri thức mới có sáng tạo và sáng tạo trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật là hoạt động ở trình độ cao. Bởi vậy cần phải có sự đầu tư công phu và tốn kém vào việc xã hội hoá tri thức khoa học và kỹ thuật nhằm trang bị những tri thức nghề nghiệp kết hợp với tay nghề cao của những người trực tiếp sản xuất, trang bị những tri thức tổng hợp kết hợp với nghệ thật điều hành của những người lãnh đạo và quản lý các cấp trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    3.2> Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế xã hội trong những năm đổi mới.

    Sinh thời, Ph.Ănghen đã từng nhấn mạnh rằng : “Sự phát sinh và phát triển của các nghành khoa học đã do sản xuất qui định” và nếu như các nghành khoa học có sự phát triển một cách nhanh chóng, một cách kỳ diệu thì sự kì diệu ấy cũng nhờ sản xuất mà có. Điều đó khẳng định rằng : Khoa học sẽ không thể phát triển nhanh được một khi nó không có môi trường thuận lợi, khi sản xuất và

    đời sống xã hội chưa có đòi hỏi bức bách đối với khoa học. Trước đây, khi nền kinh tế đi theo cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, giáo điều bao cấp, nền kinh tế hàng hoá không có điều kiện để phát triển, không có sự cạnh tranh trong nội bộ nghành cũng như giữa các nghành nên sản xuất không cần đến những thành tựu mới của khoa học. Vì vậy, động lực động lực quan trọng và bức thiết nhất để thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật gần như không có. Thậm chí nhiều thành tựu của các viện và các phòng nghiên cứu không thể đi vào đời sống, không đưa ra áp dụng được vào thực tế sản xuất. Hậu quả là khoa học và kỹ thuật và sản xuất không tìm được sự phối hợp hài hoà với nhau, hỗ trợ lẫn nhau phát triển. Phía sản xuất thì bằng lòng với cái cũ, cách làm cũ, trong khi đó khoa học và kỹ thuật lại thiếu một môi trường đầu tư đúng mức, hợp lý và mang lại hiệu quả cao.

    Sau mười lăm năm tiến hành công cuộc đổi mới cùng với việc chuyển nền kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường thì khoa học và kỹ thuật nước ta bước đầu có nhiều chuyển biến tích cực. Khoa học và kỹ thuật đã thực sự phát huy được vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá như Đảng và nhà nước ta đã khẳng định : “Công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và kỹ thuật “. Cho tới nay, nước ta đã có một tiềm lực khoa học và kỹ thuật đáng kể, lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật tương đối đông đảo với trên 1,1 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng ; 30 000 cán bộ có trình độ trên đại học ,trong đó có trên 10 000 thạc sĩ, khoảng 12 000 tiến sĩ và trên 600 tiến sĩ khoa học, hơn 45 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực nghiên cứu khoa học, 20 000 cán bộ giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng,

    • 000 cán bộ khoa học làm việc trong khu vực sản xuất và khoảng 2 triệu công nhân kỹ thuật. Bình quân, có 190 cán bộ khoa học trên 10 000 dân. Về trình độ chuyên môn, cơ cấu tỷ lệ cán bộ có trình độ như sau: 28,6 % cao đẳng, 68,92 % đại học, 1,49 % thạc sĩ, 0,93% tiến sĩ tức là có 1 tiến sĩ thì có 1,61 thạc sĩ, 74,4 đại học và 30,9 cao đẳng. Thực tế cho thấy rằng, với đội ngũ cán bộ này, khả năng tiếp thu là tương đối nhanh và làm chủ dược tri thức, kỹ thuật hiện đại trên một số nghành và lĩnh vực. Cùng với đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật đông đảo, chúng ta đã xây dựng được một mạng lưới với khoảng 1050 tổ chức khoa họcvà kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có hơn 450 tổ chức ngoài nhà nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các

    phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin khoa học và kỹ thuật, thư viện cũng được tăng cường và nâng cấp.

    Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật từng bước được đổi mới theo hướng mở rộng liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, kinh doanh; nhờ đó đã nâng cao được hiêụ quả hoạt động khoa học và kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay, nền khoa học và kỹ thuật nước ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, chưa đáp ứng được đúng và đủ nhu cầu của đất nước. Tuy số lượng cán bộ khoa học, kỷ thuật lớn nhưng tỷ lệ cán bộ nghiên cứu ứng dụng chỉ đạt tỷ lệ 4 người trên 1000 dân, xếp vào loại thấp nhất thế giới. Về cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật, do giáo dục nghề nghiệp kể cả trung học chuyên nghiệp và dạy nghề chưa được tập trung đẩy mạnh nên mối quan hệ của các lực lượng này vẫn còn chưa hợp lý, khoa học, do đó tạo nên xu thế bất lợi “nhiều thầy, ít thợ’’. Tỷ lệ giữa cán bộ khoa học kỹ thuật/ nhân viên kỹ thuật/ công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ có bằng hoặc chứng chỉ cũng chỉ là 1/ 1,04 / 8,86. Về cơ cấu lứa tuổi, tuổi bình quân của các cán bộ khoa học, kỹ thuật nước ta hiện nay là 40,2 ( trong đó nam 42,7 tuổi và nữ là 37,0 tuổi ). Trình độ càng cao, tuổi càng lớn đó là điều mang tính quy luật, tuy nhiên trong cơ cấu lứa tuổi của các loại hình trình độ, có thể quan sát thấy được một sự cách biệt đáng chú ý , đó là : Tuổi bình quân của các cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ cao đẳng là 38,2 tuổi ; Đại học là 40,9 tuổi ; Thạc sỹ là 42,6 tuổi và tiến sỹ là 52,6 tuổi; Số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ dưới tuổi 25 chỉ chiếm 9,06 % ; Trong khi số cán bộ khoa học và kỹ thuật ở độ tuổi trên 55 lên tới 13,55 %. Mặt khác, nhiều chính sách như chính sách thuế, chính sách tín dụng, chính sách xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế nói chung chưa khuyến khích cả khoa học và kỹ thuật lẫn sản xuất trong nước. Sự ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong nước không mang lại lợi ích cao hơn ngoại nhập. Thêm đó, nguồn vốn chi cho hoạt động khoa học và kỹ thuật của nước ta là quá thấp, chỉ đạt khoảng 1 % ngân sách nhà nước. Chi phí cho nghiên cứu triển khai bình quân hàng năm cho mỗi cán bộ khoa học và kỹ thuật của ta cũng rất thấp, khoảng dưới 1000 USD. Có thể nói về trình độ kỹ thuật – kỹ thuật, so với các nước tiên tiến trên thế giới , chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ.

    Với thực trạng đó, để khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế xã hội của đất nước trong những năm đổi mới thì việc phát triển khoa học và kỹ thuật không chỉ được coi là tất yếu khách quan mà còn là một đòi hỏi bức thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

    Về khoa học xã hội và nhân văn: trong thời kỳ đổi mới đã có những đóng góp tích cực vào việc phát triển lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng XHCN ở nước ta. Cùng với các nghiên cứu lý luận cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đóng góp cho việc chuẩn bị các văn kiện Đảng, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ… thì khoa học xã hội và nhân văn còn hướng vào việc giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như : vấn đề toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, tác động cảu cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đối với tăng trưởng của Việt Nam, các vấn đề về tôn giáo, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Khoa học tự nhiên phát huy được thế mạnh, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý thuyết mang tính ứng dụng cao, tiếp cận có hiệu quả một số bộ môn lý thuyết như toán, vật lý ứng dụng … ngang tầm với trình độ của thế giới. Cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học tự nhiên đem lại chất lượng cao khi mang vào ứng dụng như nghiên cứu thu và xử lý ảnh vệ tinh có độ phân giải cao để theo dõi tình trạng cháy rừng, kỹ thuật viễn thám, địa chất vật lý, thăm dò dầu khí …

    Khoa học và kỹ thuật đã có khả năng thích nghi và làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến ngoại nhập trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là viễn thông, năng lượng, dầu khí, cơ khí lắp ráp xe máy, ôtô và các loại hàng điện tử dân dụng, sản xuất vật liệu xây dựng … Nhiều vấn đề cấp bách, có ý nghĩa quan trọng với quốc kế dân sinh do thực tiễn đặt ra đã được lực lượng khoa học và kỹ thuật nước ta nghiên cứu và đưa ra giải pháp hữu hiệu như : cơ sở khoa học cho các phương án phòng chống thiên tai đặc biệt là phương án kiểm soát lũ ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long… Các giải pháp chống sa mạc hoá ở vùng ven biển miền Trung, sản xuất vắc xin phòng chống viêm gan B. Đặc biệt, trong các ngành nông nghiệp và thuỷ sản, khoa học và kỹ thuật góp phần lai tạo nhiều giống cây

    con có năng suất, chất lượng cao. Các giống lúa lai, ngô lai của Việt Nam chiếm lĩnh 65 % thị phần trong nước. Chúng ta còn nghiên cứu thành công kỹ thuật nuôi tôm sú nước mặn, nước lợ và nước ngọt, năng suất từ vài tạ trên một ha đã tăng lên 2 đến 3 tấn một ha. Nhờ có khoa học và kỹ thuật mà ngành nông nghiệp đã tạo ra mức tăng sản lượng lương thực từ 30,6 triệu tấn ( 1997 ) lên 34,7 triệu tấn ( năm 2000)…

    Những thành quả trên bước đầu đã cho thấy tiềm năng to lớn của khoa học và kỹ thuật nước ta có thể tạo ra động lực thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước .

    3.3> Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    Mục tiêu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đến những năm 2020 là về cơ bản, nước ta trở thành một nước công nghiệp. Khác với các nước đi đầu, công nghiệp hoá đòi hỏi phải kéo dài hàng thế kỷ thì công nghiệp hoá ở nước ta đòi hỏi phải thực hiện rút ngắn, “ đi tắt , đón đầu ’’. Có như vậy chúng ta mới có thể rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát triển. Công nghiệp hoá không chỉ là quá trình chuyển trạng thái kinh tế – xã hội của đất nước từ trạng thái năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chính sang trạng thái năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên phương pháp sản xuất công nghiệp, vận dụng những thành tựu mới của khoa học và những kỹ thuật tiên tiến mà ta còn có thể xem công nghiệp hoá là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các nghành có hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao, giá trị tăng cao. Vì thế nếu không đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật thì cũng không thể nói đến đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi hỏi chúng ta phải phát triển khoa học và kỹ thuật. Đây vừa là cơ hội, để tận dụng lợi thế của các nước phát triển sau, vừa là thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật đối với nước ta không chỉ bắt nguồn từ đòi hỏi bức xúc của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng XHCN mà về bản chất là một kiểu định hướng tổ chức nền kinh tế xã hội vừa dựa trên

    nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu của CNXH. Muốn đạt được điều đó, chúng ta cần có sự nỗ lực và sáng tạo rất cao, mà nếu không đủ trình độ trí tuệ, không đủ năng lực nội sinh thì khó có thể thành công. Do vậy, đẩy mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật trở nên rất quan trọng và bức thiết. Muốn vậy, chúng ta phải thực hiện một số phương pháp sau :

    Một là, tạo ra được động lực cho sự phát triển khoa học và kỹ thuật. Động lực phát triển khoa học và kỹ thuật luôn luôn vận động từ hai phía : khoa học và sản xuất. Do vậy, chúng ta cần phải khuyến khích người sản xuất tự tìm đến khoa học, coi khoa học và kỹ thuật là yếu tố sống còn và phát triển của doanh nghiệp. Chỉ có như vậy mới có thể thúc đẩy nhu cầu về khoa học và kỹ thuật, các nhà khoa học mới có cơ hội để phát huy triệt để năng lực của mình . Để tạo được năng lực này, chúng ta cần phải :

    • Hình thành cơ chế chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp làm việc có hiệu quả bằng cách ứng dụng khoa học, triển khai kỹ thuật.
    • Cho phép các doanh nghiệp dùng vốn của mình để sử dụng và phát triển khoa học.
    • Sớm sửa đổi và hoàn thiện các chính sách miễn và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật tiên tiến, đổi mới kỹ thuật, đổi mới sản phẩm. Đánh thuế cao đối với các doanh nghiệp sử dụng kỹ thuật lạc hậu, tiêu tốn nguyên liệu và nhiên liệu, gây ô nhiễm môi trường …

    Đối với những người làm khoa học, chúng ta cần phải đảm bảo cho có đựơc mức thu nhập tương ứng với giá trị lao động mà họ đã bỏ ra, trang bị cơ sở vật chất cần thiết để làm việc, khuyến khích tạo điều kiện để cán bộ khoa học và kỹ thuật là người Việt Nam sống ở nước ngoài chuyển giao tri thức , kỹ thuật về nước .

    Hai là, tạo vốn cho hoạt động khoa học và kỹ thuật .Vốn là nguồn lực để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không có hoặc thiếu vốn thì đều không có đủ điều kiện để thực hiện các mục tiêu khoa học và kỹ thuật. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy vấn đề phát triển khoa học và kỹ thuật thường được huy động từ hai phía nhà nước và khu vực doanh nghiệp, trong đó phần nhiều là từ các nhà

    doanh nghiệp. Tại hội nghị ban chấp hành TW khoá VIII lần hai, Đảng ta đưa ra chính sách đầu tư khuyến khích hỗ trợ phát triển khoa học và kỹ thuật, theo đó một phần vốn ở các doanh nghiệp được dành cho nghiên cứu, đổi mới kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực. Một phần vốn từ các chương trình kinh tế – xã hội và dự án được dành để đầu tư cho khoa học và kỹ thuật nhằm đẩy mạnh việc nghiên cứu, triển khai và đảm bảo hiệu quả của dự án. Tăng dần tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hàng năm cho khoa học và kỹ thuật đạt không dưới 2 % tổng chi ngân sách nhà nước .

    Ba là, mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Có thể nói, đây là điều kiện rất quan trọng để phát triển khoa học và kỹ thuật. Nếu không thực hiện có hiệu quả quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế về nghiên cứu – triển khai … thì không thể tiếp nhận được khoa học và kỹ thuật tiên tiến của nhân loại, không thể tranh thủ nhân tố ngoại sinh hết sức cần thiết để làm biến đổi các nhân tố nội sinh, thúc đẩy năng lực khoa học và kỹ thuật quốc gia. Chúng ta cần coi trọng hợp tác nhằm phát triển các nghành kỹ thuật cao, ưu tiên hợp tác đầu tư nước ngoài vào phát triển khoa học và kỹ thuật, chỉ nhập khẩu và tiếp nhận chuyển giao những kỹ thuật tiên tiến phù hợp với khả năng của chúng ta .

    Bốn là, tăng nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật. Nguồn nhân lực khoa học và kỹ thuật là lực lượng chủ yếu của công nghiệp hoá – hiện đại hoá và triển khai khoa học và kỹ thuật. Thiếu nguồn lực này thì không thể nói tới sự phát triển. Vì vậy, chúng ta cần đẩy nhanh việc đào tạo các cán bộ khoa học và kỹ thuật, nhất là cho các nghành kinh tế trọng yếu và các nghành kỹ thuật cao; trẻ hoá đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật trong các cơ sở nghiên cứu, các trường học và các cơ sở kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ phát triển thị trường nhân lực khoa học và kỹ thuật.

    Năm là, tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động khoa học – kỹ thuật. Hệ thống này đóng vai trò phân phối, tập trung và quản lý lực lượng cán bộ khoa học và kỹ thuật, đảm bảo tính hiệu quả của các mục tiêu phát triển. Một trong những nguyên nhân khiến cho khoa học và kỹ thuật quốc gia hiện nay còn thua kém các nước trên thế giới là do tổ chức quản lý khoa học và kỹ thuật còn kém hiệu quả. Vì vậy, việc tiếp tục đổi mới hệ thống này theo hướng nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động khoa học và kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược

    nhằm phát triển tiềm lực, đón đầu và phát triển những kỹ thuật mới có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ nền kinh tế.

    Những giải pháp này luôn có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Do vậy, việc thực hiện đồng bộ chúng sẽ mang lại hiệu quả cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

    4> Chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật.

    Việt Nam coi khoa học – kỹ thuật là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là “ lực lượng sản xuất hàng đầu’’ trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, phát triển nhanh, bền vững đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai, ban chấp hành TW khoá VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ngày 24 -12 – 1996 đã vạch ra định hướng chung của chiến lược phát triển khoa học – kỹ thuật đến năm 2020 là :

    • Vận dụng sáng tạo và phát triển Chủ nghĩa Mác- LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước. Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc XHCN.
    • Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học và kỹ thuật trong tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng an ninh, nhanh chóng nâng cao trình độ kỹ thuật của đất nước. Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến các kỹ thuật nhập từ bên ngoài tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều kỹ thuật mới ở những khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI.
    • Nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật của nhà nước: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có đủ đức, đủ tài, kiện toàn hệ thống tổ chức, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng các nguồn cung cấp thông

    tin, từng bước hình thành một nền khoa học và kỹ thuật hiện đại của Việt Nam có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá .

    Để thực hiện được mục tiêu chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật , đưa khoa học và kỹ thuật nước ta thực sự trở thành nền tảng và động lực cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá, trong giai đoạn tới chúng ta cần tập trung thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

    Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật để khoa học và kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, quan tâm tới hiệu quả khi lựa chọn kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi nỗ lực của các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các cá nhân tiếp cận, vận dụng, nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước .

    Đổi mới quản lý khoa học và kỹ thuật là ưu tiên phát triển kỹ thuật cao. Đây là một giải pháp có ý nghĩa đột phá. Trong giai đoạn tới, chúng ta cần chuyển đổi căn bản cơ chế quản lý khoa học và kỹ thuật hiện nay còn nặng về hành chính, bao cấp sang cơ chế mới dựa trên nguyên tắc hướng dẫn, phân cấp, hướng tới thị trường và phù hợp với đặc thù của hoạt động khoa học và kỹ thuật ; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật. Đặc biệt chú trọng chính sách đối với cán bộ khoa học và kỹ thuật trong đào tạo, tuyển dụng, đãi ngộ nhằm tạo động lực thu hút và khuyến khích nhân tài cống hiến cho sự nghiệp khoa học và kỹ thuật. Đồng thời cần sắp xếp lại các tổ chức khoa học và kỹ thuật phù hợp với từng loại hình hoạt động và định hướng ưu tiênvề phát triển khoa học và kỹ thuật.

    Xây dựng và phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật. Trước hết cần xây dựng năng lực đổi mới kỹ thuật và tạo nhu cầu mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp thông qua việc tăng cường hỗ trợ của nhà nước nhằm nâng cao năng lực đổi mới kỹ thuật của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm khoa học và kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống như : dành tỷ lệ thích đáng kinh phí khoa học và kỹ thuật của nhà nước cho việc hỗ trợ, hoàn thiện sản phẩm nghiên

    cứu có khả năng thương mại hoá, hoàn thiện quy trình, quy phạm giám định về độ tin cậy, chất lượng, an toàn và giá cả của kỹ thuật trước chuyển giao. Phát triển các dịch vụ môi giới về thị trường khoa học và kỹ thuật, kể cả nước ngoài. Phát triển các tổ chức tư vấn khoa học và kỹ thuật, dịch vụ môi giới về kỹ thuật, cung cấp thông tin thị trường khoa học và kỹ thuật. Xây dựng các chợ kỹ thuật ( techmart ) làm cầu nối giữa cung và cầu của kỹ thuật. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học và kỹ thuật, đặc biệt là các văn bản pháp luật về bảo vệ sở hữu trí tuệ.

    Phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật, tập trung đầu tư xây dựngcác lĩnh vực khoa học và kỹ thuật trọng điểm quốc gia. Có như vậy mới nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với khu vực và quốc tế, phục vụ có hiệu quả cho mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn tới. Thực hiện xã hội hoá đầu tư cho khoa học và kỹ thuật. Một mặt tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước để xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất kỷ thuật và các nguồn lực cho các hướng khoa học và kỹ thuật ưu tiên trọng điểm quốc gia. Mặt khác xoá bỏ bao cấp tràn lan, tạo môi trường thuận lợi để huy động nguồn lực xã hội nhằm gắn kết khoa học và kỹ thuật với sản xuất và đời sống.

    Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt với nước ta hiện nay. Định hướng giải pháp về hợp tác khoa học và kỹ thuật trong những năm tới là tạo ra cơ chế, chính sách thuận lợi để các tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và kỹ thuật được học tập, đào tạo, giao lưu, hợp tác nghiên cứu với thế giới và khu vực. Đồng thời khuyến khích, thu hút cán bộ khoa học Việt Nam ở nước ngoài đầu tư, liên kết, hợp tác phát triển khoa học và kỹ thuật tại Việt Nam . Chúng ta đang đứng trước những thách thức to lớn trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học và kỹ thuật cũng như nền kinh tế dựa trên tri thức. Nhưng điều này càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của khoa học và kỹ thuật trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Để cho khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá, chúng ta cần phải quán triệt quan điểm phát triển khoa học và kỹ thuật trong toàn Đảng, toàn dân.

    Kết luận.

    Công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hoá. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị lớn lao của học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở lý luận cho đường lối cách mạng của Đảng cộng sản, so sánh con đường cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN. Khi tiến hành phân tích hình thái kinh tế – xã hội TBCN, CácMác đã khẳng định: Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, song không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình thái đã có trong lịch sử. Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định, một quốc gia, một dân tộc có thể bỏ qua một hình thái kinh tế -xã hội nhất định nào đó. Với Việt Nam, con đường phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường phát triển tất yếu, khách quan hợp quy luật và về thực chất đó chính là quá trình thực hiện Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước theo phương thức “rút ngắn thời gian , vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” Nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực nhằm phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng nền kinh tế hiện đại. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc thậm chí nhảy vọt của lực lượng sản xuất .Tuy nhiên dù phát triển tuần tự hay phát triển rút ngắn thì cũng đều là sự phát triển liên tục của lực lượng sản xuất. Tại đại hội IX- đại hội đầu tiên trong thế kỷ XXI, dựa trên lý luận và thực tiển sau mười lăm năm đổi mới đất nước theo định hướng XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin Đảng ta đã khẳng định :”con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu , thừa kế những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN,đặc biệt về khoa học và kỹ thuật , để phát triển nhanh lực lượng sản xuất , xây dựng nền kinh tế hiện đại.”(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB chính trị quốc gia HN 2001, Trang 84) . Như vậy trong sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước không thể không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học- kỹ thuật hiện

    đại. Hơn nữa cần biết phát huy những lợi thế của đất nước và tận dụng được những khả năng vốn có , đồng thời tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và kỹ thuật. Có như vậy chúng ta mới có thể phát huy được nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần vốn có của Việt Nam để biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp như CacMác đã từng dự báo và làm cho khoa học, kỹ thuật trở thành nền tảng, động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước .

    DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin. NXB chính trị quốc gia- 2002
    1. Phân viện báo chí và tuyên truyền-Bộ môn khoa học luận. Danh từ, thuật ngữ khoa học, kỹ thuật và khoa học về khoa học. NXB khoa học kỹ thuật. Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây-2002
    1. 3. Khoa học và kỹ thuật thế giới. Kinh nghiệm và định hướng chiến lược. NXB bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường-2002. Trung tâm thông tin tư liệu khoa học và kỹ thuật quốc gia .
    1. Khoa học và kỹ thuật Việt Nam 1996-2000. NXB Bộ khoa học, kỹ thuật và môi trường -2001.
    1. GS,TS: Nguyển Trọng Chuẩn; PGS,TS: Nguyễn Thế Nghĩa; PGS,TS: Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biên). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam. lý luận và thực tiễn. NXB chính trị quốc gia Hà Nội- 2002
    1. PGS,TS: Đặng Hữu Toàn. Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc đổi mới

    Việt Nam

    1. Đỗ Đức Thịnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á. NXB chính trị quốc gia-1999
    1. Tạp chí cộng sản tháng 10-2003
    9.
    10.     Phần mở đầu

     

    MỤC LỤC

     

    ………………………………………………………….. 1

     

    Chương I : Nguồn gốc và cơ sở lý luận ………………………………. 4

     

    1 . Lực lượng sản xuất trong lý luận hình thái

     

    kinh tế xã hội của Mác ……………………………………………….. 4

     

    2 . Vai trò tất yếu của khoa học và kỹ thuật

     

    trong nền kinh tế toàn cầu ……………………………………………7

     

    Chương II : Công nghiệp hoá – hiện đại hoá Việt Nam ……………..11

     

    1. Sự hình thành và phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam. 1.1 Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là gì ?……………………………11

    1.2  Công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình tất yếu

    của đất nước ………………………………………………………13

    1. Tính đặc thù của công nghiệp hoá – hiện đại hoá ở Việt Nam …………18
    1. Khoa học và kỹ thuật là lực lượng sản xuất

    quan trọng hàng đầu …………………………………………………….23

    3.1 Khoa học và kỹ thuật là nền tảng và động lực của

    sự nghiệp Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá…………………………23 3.2 Khoa học và kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế – xã hội

    trong những năm đổi mới………………………………………….26 3.3 Để khoa học và kỹ thuật thực sự trở thành

    lực lượng sản xuất hàng đầu trong quá trình Công nghiệp hoá,

    hiện đại hoá đất nước ………………………………………………29

    1. Chiến lược phát triển khoa học và kỹ thuật ………………………….32

     

    Kết luận …………………………………………………………………36


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Kỹ thuật phân tích chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%81-c%C6%B0%C6%A1ng-nghi%C3%AAn-c%E1%BB%A9u-khoa-h%E1%BB%8Dc-%C4%90%C3%A1nh-gi%C3%A1-nh%E1%BA%ADn-th%E1%BB%A9c-c%E1%BB%A7a-sinh-vi%C3%AAn-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-%C4%90%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-S%C6%B0-ph%E1%BA%A1m-K%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-th%C3%A0nh-ph%E1%BB%91-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-s%E1%BB%91ng-th%E1%BB%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử

    Mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong xã hội phát triển ngày nay, con người dường như có xu hướng hiện đại hóa cả lối sống cũng như suy nghĩ của mình. Với một nên kinh tế hội nhập, cũng tạo điều kiện cho văn hóa các nước du nhập vào Việt Nam, đặc biệt văn hóa phương Tây đang dần đi sâu vào lối sống vào lối sống của giới trẻ làm mất dần bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam đồng thời cũng dẫn đến nhiều hệ lụy. Giới trẻ hiện tại có cách nghĩ và lối sống hiện đại hơn, quan niệm về giới tính “thoáng” hơn so với trước đây.

    Một vấn đề đang cấp thiết và gây nhức nhối trong xã hội lúc bấy giờ đó là tình yêu giới trẻ. Tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp, thiêng liêng nhất của lứa đôi nhưng kết quả của tình yêu chỉ được xã hội công nhận khi nó đi đến hôn nhân hợp pháp. Thế nhưng ngày nay, giới trẻ, đặc biệt là sinh viên , họ đang có xu hướng hiện đại trong tình yêu, yêu hết mình và vượt qua mọi giới hạn, rào cản. Từ “ tình yêu” đang dần mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Nhiều cặp thanh niên yêu nhau đã quyết định sống chung với nhau như vợ chồng trước hôn nhân, đó là tình trạng cộng đồng xã hội ngày nay gọi là “sống thử”.

    Sống thử hay còn được gọi là sống chung trước hôn nhân là tình trạng nam nữ thanh niên, sinh viên xa nhà tự đến sống với nhau như vợ chồng mà chưa được sự đồng ý của cha mẹ hai bên. Đây là hiện tượng đang tăng lên trong xã hội Việt Nam trong những năm gần đây, hiện tượng này không chỉ diễn ra tại các khu công nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp tại các thành phố, khu đô thị lớn như ở Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng… mà nó cũng đang xảy ra ở các trường chuyên nghiệp đóng trên các địa bàn khác trong cả nước.

    Trong xã hội truyền thống như ở Việt Nam việc mỗi cá nhân hoàn toàn tự quyết định hôn nhân là điều ít xảy ra. Hôn nhân là việc của gia đình, dòng tộc chứ không phải là chuyện riêng của mỗi cá nhân. Trong cuốn “Công trình góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam ” tác giả Nguyễn Văn Huyên đã viết: “Cha mẹ quyết định, con cái chỉ có nghe theo. Tình yêu giữa cô dâu và chú rể không quan trọng. Nếu người con không bằng lòng người chồng hay người vợ mà bố mẹ chọn cho thì chỉ có một cách hành động đó là bỏ nhà đi. Lúc đó người con bị xem là đứa con bội bạc, và cha mẹ có thể tước quyền thừa kế của anh ta”. Và để trở thành vợ chồng, được chung sống với nhau, nam nữ thanh niên phải trải qua nhiều nghi lễ khác nhau, các nghi lễ chính như lễ giạm hay lễ vấn danh, lễ hỏi hay là lễ nạp tệ, lễ rước dâu. Có thể nói, quan hệ hôn nhân trong thời kì này thường bị chi phối bởi gia đình, nam nữ thanh niên chỉ là vợ chồng và được phép chung sống khi họ thực hiện các nghi lễ hôn nhân trước sự chứng kiến của gia đình, dòng tộc và hàng xóm.

    Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã là thay đổi mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống vật chất, tinh thần của con người ngày càng được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa cũng là thay đổi hệ thống những giá trị, chuẩn mực và hành vi sống của các nhóm xã hội trong đó có giới trẻ.

    4

    Hiện nay, nhóm thanh niên được sinh ra trong khoảng thời gian từ 1980 trở lại đây đang hướng đến những quan niệm và hành vi mới về cuộc sống, tình bạn, tình yêu và hôn nhân. Thực tế cho thấy họ thể hiện quan hệ tình yêu của mình một cách công khai với mọi người xung quanh, với gia đình, họ hàng… Trong hoảng hơn 10 năm trở lại đây xuất hiện hiện tượng nam nữ thanh niên sống chung với nhau trước hôn nhân tại các khu công nghiệp, khu xóm trọ của sinh viên ở các trường chuyên nghiệp, các trường đại học,cao đẳng trong cả nước và phổ biến ở các khu đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh…và khái niệm “sống thử” được thường xuyên nhắc đến trong các nhóm đối tượng này.

    Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về việc sống thử, sống chung trước hôn nhân, có

    • kiến thì đồng tình, ủng hộ, có ý kiến thì phê phán, không chấp nhận nhưng cũng có những ý kiến mang tính trung lập không đồng tình cũng không phản đối. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận được là việc “sống thử” đã ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung ngày nay.

    Trong đề tài nhóm tôi chọn trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh là địa bàn nghiên cứu vì trường nằm trên địa bàn quận Thủ Đức TP.HCM, là một trường đại học đào tạo nguồn nhân lực chủ yếu cho TP.HCM và một số ít các tỉnh thành khác, đặc biệt nhóm ngành chuyên về kỹ thuật chiếm đến hơn 50% là sinh viên của trường. Trong các đề tài nghiên cứu đã thực hiện về nhận thức của sinh viên nói riêng và của giới trẻ nói chung về “sống thử” thường tập trung chủ yếu ở các vùng đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng… và cách nhìn nhận về sống thử chủ yếu do tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do sự du nhập lối sống phương Tây vào Việt Nam làm cho giới trẻ có những quan niệm mới về các mối quan hệ như tình bạn, tình yêu và tình dục.

    Xuất phát từ những vấn đề trên nên nhóm tôi chọn đề tài “Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử” để phần nào có thể khái quát về nhận thức của sinh viên ngày nay về sống thử. Vậy chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Việc sống thử của sinh viên đem lại những lợi ích gì? Tác hại ra sao? Câu trả lời không còn là vấn đề của các nhà chức trách mà đang trở thành một vấn đề rất nóng hổi của toàn xã hội. Để hiểu rõ hơn về vấn để “sống thử”, sau đây nhóm tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay. Từ đó đưa ra những mặt tiêu cực và tích cực của nó để có những cái nhìn đúng đắn về vấn đề này.

    1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
    • Đánh giá được thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay.
    • Đưa ra các nguyên nhân dẫn đến việc sống thử, hậu quả của việc sống thử.
    • Phân tích giúp chúng ta thấy được các mặt tồn tại của vấn đề đáng báo động này để từ

    đó xem xét các nguyên nhân, thực trạng cũng như nhằm đưa ra các giải pháp cho hiện tượng này.

    5

    2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được mục tiêu của đề tài, nhóm chúng tôi đề ra ba nhiệm vụ chính cần giải quyết như sau:

    • Thứ nhất là nghiên cứu tình trạng sống thử của sinh viên hiện nay.
    • Thứ hai là nhận thức, đánh giá thực trạng cũng như mức độ quan tâm của sinh viên đối với việc sống thử.
    • Cuối cùng là tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng sống thử cảu sinh viên hiện nay từ đó đưa ra các kiến nghị và biện pháp phù hợp.
    1. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
    • Sống thử đã xuất hiện ở các nước phương Tây từ khá lâu , nhưng mới xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 90 trở lại đây. Đây được xem là hiện tượng khá phổ biến ở Việt

    Nam cũng như các nước Châu hiện nay. Hiện tượng này càng ngày càng gia tăng ở giới trẻ nhất là đối với thanh niên và sinh viên.

    • Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử.
    • Khách thể nghiên cứu: sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh tuổi từ 18 đến 24.
    1. Giả thuyết nghiên cứu

    Sinh viên quan niệm sống thử là hiện tượng tất yếu trong xã hội hiện đại. Ngày nay, giới trẻ có xu hướng ngày càng nhiều trong việc lựa chọn hình thức sống thử vì giới trẻ (chủ yếu là sinh viên) là nhóm người tiếp cận nhanh với cuộc sống hiện đại, thích thử nghiệm cuộc sống của mình. Vì vậy, họ lựa chọn sống thử để trải nghiệm bản thân, để khẳng định mình và có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống gia đình sau này.

    Sự lựa chọn sống thử của sinh viên còn xuất phát từ bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý. Ngoài ra sự tác động từ bên ngoài như do sống xa gia đình, do lối sống hiện đại đem lại quan niệm yêu là phải dành trọn cho nhau, do tác động môi trường sống, của các phươg tiện thông tin truyền thông như Internet, phim ảnh thì phong tục tập quán cũng là một trong những yếu tố tác động đến quyết định sống thử hay sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên.

    1. Phƣơng pháp nghiên cứu

    Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thống kê để đưa ra các số liệu phân tích thực trạng sống thử của sinh viên hiện nay.

    Sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các nguyên nhân, hậu quả và kết quả của việc sống thử.

    1. Dàn ý của nội dung công trình nghiên cứu

     

    Gồm 3 phần:

    6

    Mở đầu

    Nội dung

    Kết luận và khuyến nghị

    Tài liệu tham khảo và phụ lục

    7

    Nội dung

    Chƣơng I:    Cơ sở lý luận

    1.  Tổng quan nghiên cứu về sống thử

    Sống thử hay sống chung trước hôn nhân không chỉ có ở Việt Nam mà còn xuất hiện

    • các nước phương Tây từ những năm 60-70 của thế kỉ trước. So với xã hội truyền thống thì quan niệm sống thử lại khá cởi mở trong việc quyết định chung sống của các cặp đôi. Đây cũng là một vấn đề mà xã hội cần quan tâm nghiên cứu.

    1.1 Nghiên cứu trên thế giới

    Các tranh luận và nghiên cứu chuyên sâu về đề tài sống chung trước hôn nhân ở các nước phương Tây và một số quốc gia khác trên thế giới trở thành những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm do sự gia tăng quá nhanh số cặp đôi sống chung trước hôn nhân. Các nghiên cứu này không chỉ đưa ra các khái niệm mà còn thống kê tỉ lệ sống chung trước hôn nhân như là một chỉ báo trong đời sống gia đình nhằm giải thích các lý do dẫn đến quyết định sống chung và đánh giá kết quả của việc sống chung trước hôn nhân của các cặp đôi.

    Trong xã hội phương Tây đại diện là Mỹ và Anh việc nghiên cứu về vấn đề sống chung trước hôn nhân chủ yếu tập trung vào tỉ lệ số cặp đôi sống chung qua các thời kỳ, theo số liệu thống kê tỉ lệ sống chung không kết hôn ngày càng cao và điều đó cho thấy tỉ lệ kết hôn ngày càng giảm xuống. Ví dụ ở Mỹ từ năm 1995 đến năm 2005 tỉ lệ các cặp sống chung không đăng ký kết hôn tăng từ 13% lên 53%.

    Tại Trung Quốc, các cuộc tranh luận của sinh viên trên một số báo điện tử về quyền được quan hệ tình dục, quyền được sống chung trước hôn nhân đã dấy lên phong trào sống chung và trở thành mốt của giới trẻ Trung Quốc, đặc biệt là trong sinh viên . Tỉ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng đáng kể và vấn đề này trở thành chủ đề chính cho những cuộc tranh luận. Các chuyên gia và giới lãnh đạo rất đau đầu về hiện tượng này và cho rằng đây là một hiện tượng không lành mạnh.

    Từ các cách nhìn nhận trên ta thấy rằng đây là hiện tượng xã hội mà các nhà nghiên cứu và giới lãnh đạo của các nước này rất quan tâm nghiên cứu là căn cứ cho các nhà hoạch định có cơ sở xây dựng chiến lược nhằm phát triển và ổn định xã hội.

    1.2 Các nghiên cứu trong nƣớc về sống thử

    Sống thử là một hiện tượng nảy sinh trong quá trình của nền kinh tế thị trường, do nhu nhập của văn hóa phương Tây tác động đến quan niệm sống, đến các giá trị mới trong xã hội hiện đại.

    Vấn đề sống thử, sống chung trước hôn nhân không còn là một hiện tượng mới trong cuộc sống của giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng. Đã từ lâu hiện tượng này đã được nhắc tới trên một số báo viết như: Phụ nữ Việt Nam, Gia đình, Thanh niên, Tuổi trẻ… và

    trên các báo điện tử như: Dân trí, Vnexpress, Vietnamnet, tienphong, thanhnien…và một số trang web khác.

    Có thể nói phần lớn các bài viết đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng sinh động mô tả hiện tượng sống thử, sống chung trước hôn nhân đang lan tràn trong giới sinh viên ngoại tỉnh sống và học tập tại các thành phố lớn ở nước ta hiện nay. Các gia đình của sinh viên đều ở các tỉnh xa, họ có thể công khai sống chung ở các phòng trọ gần các trường cao đẳng và đại học, không chịu sự kiểm soát của nhà trường và gia đình.

    Các bài viết cũng đã nêu lên được nguyên nhân xã hội dẫn đến sống chung như: để tiết kiệm chi tiêu, để chia sẻ tình cảm, chia sẻ công việc nội trợ và để thỏa mãn nhu cầu tình dục, do không có bố mẹ kiểm soát, để trải nghiệm hôn nhân… Các bài viết cũng chỉ ra tham gia sống chung cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và học tập. Nhưng bên cạnh đó có một số bài viết cũng cho rằng sống chung giúp cho họ trưởng thành hơn, biết cách chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, giúp nhau trong học tập và sinh hoạt hàng ngày.

    2. Một số khái niệm

    2.1 Khái niệm

     

    2.1.1  “Sống thử”

    Sống thử là một hiện tượng xã hội, theo đó các cặp nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không tổ chức hôn lễ, không đăng kí kết hôn.

    Dưới góc độ của bài nghiên cứu này có thể hiểu sống thử là quá trình sống chung của các cặp đôi nam nữ sinh viên khi chưa đăng kí kết hôn và cũng chưa tổ chức đám cưới. Trên phương diện pháp lý những cặp đôi này chưa được công nhận là vợ chồng nhưng trên thực tế học đã ở chung, ăn chung, ngủ chung sinh hoạt như một đôi vợ chồng thật. Đề tài này chúng tôi muốn dùng khái niệm sống thử để khu biệt nhóm đối tượng là sinh viên , trong thực tế còn có những hiện tượng sống chung thuộc nhiều đối tượng và độ tuổi khác.

    Có thể so sánh giữa sống thử và hôn nhân thực tế có những điểm giống và khác nhau như sau:

      Sống thử Hôn nhân thực tế
         
    Giống Chung sống với nhau như vợ chồng
         

    9

    • Không được sự đồng ý của gia đình, dòng họ, cộng đồng nơi họ sống
    • Mang tính chất thử nghiệm trước khi đi đến quyết định sống chung lâu dài
    Khác   Xuất hiện trong xã hội hiện đại, nơi
      tập  trung  nhiều  thanh  niên  (sinh
      viên)
    Không có sự chứng kiến của gia
      đình, họ hàng nên chia tay dễ dàng,
      khi có mâu thuẫn xảy ra thì tự giải
      quyết, không có sự can thiệp của
      gia đình, người thân
    • Được sự đồng ý của gia đình, dòng họ, cộng đồng
    • Một cuộc hôn nhân chính thức, phải thực hiện nghĩa vụ gia đình thực sự
    • Xuất hiện trong xã hội truyền thống, tồn tại ở nhiều vùng miền
    • Khi có mâu thuẫn xảy ra nếu không được giải quyết sẽ có sự can thiệp của gia đình, họ hàng…

    Từ những so sánh trên ta có thể thấy được sống thử chỉ xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hiện tượng này được xem xét ở ba khía cạnh: thực trạng, nguyên nhân và những yếu tố tác động đến nhận thức về vấn đề sống thử.

    2.1.2   Sinh viên tham gia sống thử

    Trong nghiên cứu này nói đến hiện tượng sinh viên tham gia sống thử có nghĩa là chỉ những cặp một nam và một nữ sinh viên tham gia sống chung với nhau, ăn, ở, ngủ chung với nhau trọng một phòng trọ. Họ cùng nhau chia sẻ tài chính, việc nội trợ, học tập và có quan hệ tình dục… hình thức sống chung của họ chưa được gia đình biết, cộng đồng và pháp luật không thừa nhận.

    2.1.3   Nhận thức

    Nhân thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình do con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó.

    Trong nghiên cứu này có thể hiểu khái niệm nhận thức là cách nhìn nhận, đánh giá của sinh viên về sống thử. Là quá trình phản ánh của một hiện tượng xã hội thông qua một số đối tượng mà cụ thể trong nghiên cứu này là sự nhìn nhận, là việc đánh giá, sự thể hiện thái độ của sinh viên với vấn đề sống thử.

    2.1.4     “Kết thúc có hậu”

    Khái niệm “kết thúc có hậu” ở trong bài nghiên cứu này được hiểu là đi đến cuối cùng của tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc.

    2.1.5    Thời kỳ giải phóng tình dục

    10

    Nền văn minh phương Tây đi qua thời kì cách mạng tình dục vào thập niên 1960-1970, thời kì mà người ta đã phản ứng ngược lại với những giá trị đạo đức, xã hội, khi đó

    quan hệ tình dục dự do, phóng khoán.

    2.1.6    Cái tuổi “chẳng thể dừng đƣợc”

    Lứa tuổi mà mọi ham muốn về tình cảm đều mới lạ, sự tò mò kích thích sự đòi hỏi tìm hiểu lẫn nhau.

    2.2 Quan niệm về sống thử trong xã hội

    2.2.1    Tình yêu và hôn nhân trong xã hội Việt Nam

    • Trong xã hội truyền thống

    Trong giai đoạn từ trước năm 1945 trở về trước, theo các tư liệu văn hóa dân tộc học cho thấy trong truyền thống người Việt (người Kinh) đã coi quan hệ tình yêu, tình dục trước hôn nhân là một hoạt động cấm kị. Thể hiện là các bài gia huấn do các nhà nho đã soạn ra cho họ tộc của mình trong việc răn dạy con gái và phụ nữ phải đứng đắn, đoan trang, giữ gìn tiết hạnh. Tình yêu nam nữ trước hôn nhân hầu hết là không có, tình yêu chỉ xuất hiện sau hôn nhân.

    Về quyền quyết định hôn nhân trong thời kỳ này không coi trọng tình yêu nam nữ mà đề cao vai trò của cha mẹ, ông bà. Hôn nhân của mỗi cá nhân có vị trí cực kì quan trọng đối với gia đình và dòng họ. Chính vì vậy, hôn nhân không được coi là vấn đề riêng của mỗi đôi thanh niên nam nữ mà chủ yếu là kết quả sắp xếp bàn bạc giữa hai gia đình. Trong các cuộc hôn nhân đó lợi ích của người con thường không được coi trọng và những mục tiêu riêng của các bậc cha mẹ thường được đưa lên hàng đầu.

    Giai đoạn từ năm 1945 đến 1985, đây là giai đoạn hình thành một nhà nước Việt Nam mới – Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở đầu một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và bắt đầu công cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Bối cảnh xã hội đó đã tạo điều kiện cho quan hệ tình yêu và hôn nhân của người Việt phát triển theo hướng mới.

    Bối cảnh xã hội thời kì này có vẻ như rất thuận lợi cho quan hệ tình yêu và hôn nhân tự do. Xuất hiện phong trào phản đối các quan niệm cũ về phân biệt nam nữ, về hôn nhân sắp đặt, về quyền uy tuyệt đối của quyền gia trưởng… Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ban hành năm 1946 nhấn mạnh quyền bình đẳng nam nữ, đã khuyến khích người phụ nữ tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. Tiếp đó Luật Hôn nhân và gia đình năm 1960 công nhận quyền tự do yêu đương và lựa chọn của con cái càng có ý nghĩa quan trọng trong sự biến đổi của tình yêu, hôn nhân.

    11

    Nhưng trên thức tế quan hệ tình yêu, hôn nhân trong giai đoạn này không thể phát triển theo hướng cá nhân. Người ta cho rằng đó không phải là lúc để nghĩ đến những tình cảm cá nhân mềm yếu mà cần phải tập trung đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này viết về tình yêu lãng mạn không được cổ vũ mà thậm chí còn phê phán, lên án mạnh mẽ. Trong xã hội bấy giờ đấu tranh cho tình yêu nam nữ tự do nhưng đồng thời phải lên án gay gắt những quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, coi đó là một tội lỗi hết sức nghiêm trọng. Những người vi phạm nếu bị phát hiện sẽ phải chịu những hình thức kỉ luật nặng nề mà từ đó địa vị và nhân phẩm của họ trong mắt người khác có thể sẽ không bao giờ phục hồi được nữa.

    Còn đối với bậc cha mẹ, quan hệ tình yêu mà có quan hệ tình dục trước hôn nhân của con gái là một việc làm không thể tha thứ vì nó là một nổi nhục của cả dòng họ. Vì vậy, gia đình phải giám sát mối quan hệ bạn bè khác giới của cô gái rất chặt chẽ. Mặc dù có sự kiểm soát nghiêm ngặt của gia đình và xã hội nhưng quan hệ tình yêu và quan hệ tình dục vẫn xảy ra nhưng không nhiều, chủ yếu tập trung vào các đối tượng công nhân ngoại tỉnh sống xa nhà và nhóm sinh viên học tại các trường đại học, cao đẳng. Do sống xa nhà được tự do yêu đương nên một số người đã vượt quá giới hạn. Những vi phạm này nếu bị phát hiện sẽ bị buộc thôi học, thôi việc hoặc phải cưới sớm. Nhìn chung trong thời kì này, quan hệ tình dục trước hôn nhân có nhưng không nhiều.

    • Trong xã hội hiện đại

    Việc mở rộng và đa dạng hóa thành phần kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tiền đề thúc đẩy sản xuất phát triển và đặt ra nhu cầu đạo tạo nguồn nhân lực lớn phục vụ cho việc xây dựng đất nước. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã tạo tiền đề phát triển các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Bên cạnh đổi mới thì quá trình hội nhập kinh tế và văn hóa quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng. Thực tế này tất yếu dẫn đến sự biến đổi trong xã hội về quan niệm tình yêu và hôn nhân. Quyền tự do của cá nhân trong quan hệ tình yêu được khẳng định, địa vị của người phụ nữ được cải thiện rõ rệt do có cơ hội nâng cao thu nhập và độc lập về kinh tế. Những biến đổi văn hóa xã hội là cơ hội để người dân, điển hình là giới trẻ có điều kiện tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phim ảnh, sách báo và internet. Những biến đổi trong quan hệ tình yêu giới trẻ đang diễn ra mạnh mẽ nhất là

    • các thành phố lớn.

    2.2.2   Quan hệ tình yêu, hôn nhân và tình dục trong giới trẻ

    Quan hệ tình yêu hôn và hôn nhân trong giai đoạn này bắt đầu có sự biến đổi rõ rệt. Tình bạn, tình yêu trong giới trẻ được thể hiện công khai với gia đình, bạn bè… thậm chí trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo giấy, báo mạng có riêng một chuyên mục viết về tình bạn, tình yêu dành cho giới trẻ.

    12

    Sự tràn ngập của các chủ đề này trên các phương tiện thông tin có thể ảnh hưởng đến thanh thiếu niên vì các bài báo hay phim ảnh còn có tác dụng phụ là kích thích và khuyến khích lớp trẻ sống thoải mái, bất chấp hậu quả.

    2.2.3    Sự xuất hiện của hiện tƣợng sống thử

    Qua thông tin trên báo chí trong những năm gần đây có thể thấy rằng quan niệm của người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ với vấn đề tình yêu, tinh dục và hôn nhân thay đổi nhiều. Nếu trong những năm 90 của thế kỉ trước dư luận xã hội sôi nổi đề cập đến vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân như một biểu hiện của nền đạo đức bị đi xuống thì ngày nay người ta chỉ xem nó là chuyện bình thường.

    Từ những phân tích trên ta thấy hiện tượng sống thử chỉ xuất hiện trong xã hội hiện đại. Hiện tượng sống chung, sống thử không chỉ xuất hiện ở các đô thị lớn mà nó cũng đã xuất hiện ở trường đại học, cao đẳng trong khắp cả nước.

    Chƣơng II: Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên về sống thử và xu hƣớng sống thử

    1.  Những yếu tố tác động đến nhận thức của sinh viên về sống thử

    1.1 Yếu tố cá nhân

    Sinh viên Số lượng %  
    Mức độ
         
           
    Tốt 7 23,3  
           
    Bình thường 10 33,3  
           
    Xấu 13 43,3  
           

    Theo kết quả đánh giá, tổng số những bạn cho rằng sống thử là xấu trong tổng số 30 trường hợp thì có đến 13 trường hợp (tỉ lệ 43,3%), đánh giá ở mức độ bình thường có 10 trường hợp (tỉ lệ 33,3%) và 7 trường hợp còn lại cho là tốt (tỉ lệ 23,3%).

    Qua đó ta thấy các bạn có nhận thức khá đa dạng về sống thử, đa phần các bạn cho là xấu nhưng cũng có một số bạn đã có nhận thức thoáng hơn về vấn đề sống thử nói chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân nói riêng.

    13

    1.2 Yếu tố xã hội

    Truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò quan trọng và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Đối tượng truyền thông đại chúng bao gồm tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, từ tầng lớp tri thức đến người nông dân, từ già đến trẻ đều là đối tượng của truyền thông đại chúng. Một lực lượng xã hội chịu tác động lớn của truyền thông đại chúng là sinh viên, là những người chủ tương lai của đất nước. Truyền thông đại chúng trong xu thế toàn cầu đang có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến nhận thức, đến lối sống của sinh viên hiện nay. Các thông tin của phương tiện truyền thông đại chúng tác động vào sinh viên, hình thành nên thái độ nhận thức, cách nhìn nhận mới. Sự thay đổi về nhận thức tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hành vi, lối sống. Trong nghiên cứu này chúng tôi muốn xem xét tác động của truyền thông đại chúng tác động đến sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử để biết được nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử.

    Để tìm hiểu sự tiếp cận của sinh viên tới các nguồn thông tin về sống thử, các sinh viên tham gia điều tra được hỏi về các nguồn thông tin họ đã tiếp cận theo một danh sách gồm 3 kênh cung cấp thông tin về lĩnh vực này, gồm: qua sách báo, tivi, Internet; qua bạn bè; qua quan sát cuộc sống xung quanh.

      Số lượng %  
           
    Qua sách báo, tivi, 26 86,7  
    internet
         
           
    Qua bạn bè 22 73,3  
           
    Qua quan sát cuộc 28 93,3  
    sống xung quanh
         
           

    Kết quả cho thấy truyền thông trực tiếp đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên trong việc tiếp nhận thông tin về vấn đề sống thử, số liệu bảng trên cho chúng ta thấy hầu hết đa số sinh viên được sống thử qua quan sát cuộc sống xung quanh với 93,3% và thông qua bạn bè với 73,3%. Đối với sách báo, tivi, internet cũng góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên với 86,7%.

    1.3 Yếu tố gia đình

    Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của mỗi cá nhân, tất cả những vấn đề ngoài xã hội được cá nhân tiếp nhận thông qua chất xúc tác đầu tiên là gia đình. Trong hệ thống cấu trúc xã hội, gia đình là một bộ phận, có những chức năng riêng, thỏa mãn những nhu

    14

    cầu nhất định của xã hội đó là thực hiện các chức năng kinh tế, sinh sản, xã hội hóa cá nhân và thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý. Gia đình là một tập hợp nhiều cá nhân. Mỗi cá nhân là một yếu tố cấu thành nên gia đình và có vai trò và chức năng riêng như vai trò của người cha, người mẹ và người con… trong gia đình. Trong xã hội truyền thống hay hiện đại gia đình đều có những nguyên tắc tồn tại độc lập, riêng biệt thông qua những quy định gọi là gia phong hay nề nếp, truyền thống gia đình. Giữa các loại gia đình khác nhau (gia đình hai thế hệ, gia đình nhiều thế hệ…) cũng có những khác biệt, điều đó tác động đến từng cá nhân. Do vậy, gia đình luôn có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về các vấn đề xã hội, trong đó có sống thử.

    2.  Xu hƣớng sống thử của sinh viên thông qua nhận thức của họ về sống thử

    Ngày nay có thể nói sống thử bắt đầu trở thành một hiện tượng tương đối phổ biến trong giới trẻ ở Việt Nam nói chung và trong giới sinh viên nói riêng. Về khía cạnh nhân khẩu học, sống thử nói riêng và đời sống tình dục nói chung là một phần của kết quả nam, nữ kết hôn muộn, tuổi kết hôn trung bình của dân số cao hơn so với tuổi trưởng thành về giới tính.

    Trong cuộc phỏng vấn, các bạn đều cho rằng sống thử ngày càng trở nên phổ biến và đa dạng hóa hơn. Nếu như sống thử ban đầu chỉ xuất hiện ở nhóm sinh viên năm cuối hoặc năm thứ ba thì hiện nay ngay cả các bạn sinh viên năm nhất cũng đã tha giam sống thử. Xét theo thuyết sự lựa chọn hợpp lý, các sinh viên sẽ tìm đến sống thử như sự kết hợp hợp lý kinh tế (thử nghiệm đời sống vật chất của gia đình, cân đối chi phí khi sống chung) và hợp lý văn hóa (thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý của cá nhân khi chuẩn mực xã hội thay đổi). Quan niệm của sinh viên nói riêng và giới trẻ nói chung về sống thử có thể chia làm ba nhóm đồng tình (tốt), phản đối (không tốt) và không đồng tình cũng không phản đối (bình thường). Tuy nhiên trong nghiên cứu này cho thấy sự ủng hộ cũng có hai khía cạnh đối lập. Một nhóm là sự hùa theo xu hướng cho rằng sống thử để sau này khỏi nhầm khi sống thật và nhóm thứ hai cho rằng sống thử là để trải nghiệm cuộc sống gia đình, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ… khi trinh tiết của người phụ nữ không phải là tuyệt đối, là thang đo để đánh giá phẩm chất người con gái. Chính sự tương phản này dẫn đến những hệ quả khác nhau và cùng làm cho quan niệm xã hội về sống thử dao động theo con lắc giữa đồng tình và phản đối.

    Hiện nay, theo các bạn sinh viên cho biết còn nhiều lối sống thử theo kiểu “biến hóa” để tránh dư luận của xã hội, không bị mang tiếng và không bị phê phán. Ví dụ, thuê 2 phòng cạnh nhau, hoặc nam đến phòng nữ một vài ngày hoặc ngược lại. Có trường hợp là thuê các phòng nghỉ nhằm những ngày nghỉ lễ hoặc cuối tuần sống cùng nhau “như vợ chồng” hết thời gian nghỉ ai lại về nhà đấy.

    15

    Với bản chất của sinh viên là luôn tìm hiểu, áp dụng những kiểu sống để làm sao cho phù hợp với hoàn cảnh, thời gian và không gian vì vậy trong lối sống của họ vô cùng đa dạng. Để có sự thay đổi, yếu tố quan trọng nhất là tự bản thân mỗi sinh viên và bắt nguồn từ nhận thức cá nhân của mỗi người. Gia đình, nhà trường và cộng đồng đều có những ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của sinh viên về vấn đề này và để cùng tác động một cách tích cực đến nhận thức của sinh viên, để là sao cho sinh viên nhận thức một cách đúng đắn nhất khi quyết định tham gia sống chung, sống thử.

    Chƣơng III: Thực trạng và nguyên nhân sống thử của sinh viên Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh

    1.  Giới thiệu vài nét về địa bàn nghiên cứu

    Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên cơ sở Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật – thành lập ngày 05/10/1962. Ngày 21/09/1972, Trường được đổi tên thành Trung tâm Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ Thủ Đức và được nâng cấp thành Trường đại học Giáo dục Thủ Đức vào năm 1974. Năm 1984, Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức hợp nhất với Trường trung học Công nghiệp Thủ Đức và đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh. Năm 1991, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh sát nhập thêm Trường Sư phạm Kỹ thuật 5 và phát triển cho đến ngày nay.

    Nằm ở cửa ngõ phía bắc Tp.Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km, tọa lạc tại số 1 Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh tập hợp được các ưu điểm của một cơ sở học tập rộng rãi, khang trang, an toàn, nằm ở ngoại ô nhưng giao thông bằng xe buyết vào các khu vực của thành phố, đến sân bay và các vùng lân cận rất thuận tiện.

    Chức năng và nhiệm vụ:

    • Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, các trường phổ thông trung học.
    • Đào tạo đội ngũ kỹ sư công nghệ và bồi dưỡng nguồn nhân lực lao động kỹ thuật thích ứng với thị trường lao động.
    • Nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất trên các lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp và khoa học công nghệ.
    • Quan hệ hợp tác với các cơ sở khoa học và đào tạo giáo viên kỹ thuật ở nước ngoài.

    2.  Đặc điểm và khách thể nghiên cứu

    16

    Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu toán học, với tổng mẫu nghiên cứu là 30 sinh viên thuộc khối sư phạm. Tỉ lệ sinh viên theo năm học: 30,8% năm thứ hai, 50,2% năm thứ ba, 19% năm thứ tư. Trong nhóm sinh viên nghiên cứu, có 63,5% sinh viên đã có người yêu, trong số thời gian quen nhau duới 3 tháng là 7,4%, từ 3 tháng đến dưới 6 tháng là 11,2%, từ 6 tháng đến dưới 1 năm là 16,0% và từ 1 năm trở lên chiếm 65,4%.

    Nơi ở hiện nay của sinh viên cũng khá đa dạng. Số sinh viên thuê bên ngoài ở một mình chiếm tỷ lệ cao nhất 30,3%. Tiếp theo đó là ở ký túc xá 28,3%, ở trọ với bạn bè 16,7%, ở cùng với bố mẹ là 12,3% và ở cùng với họ hàng là 2,7%.Và có 0% sinh viên thuê ở cùng với người yêu.

    3.  Quan niệm của sinh viên về vấn đề sống thử

    Ngày nay hiện tượng sống thử trong giới trẻ nói chung và trong giới sinh viên nói riêng không còn là vấn đề mới mẻ nữa, hiện tượng này xảy ra ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên cả nước, hiện tượng này cũng đang diễn ra tại các khu nhà trọ của sinh viên các trường đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói chung, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh nói riêng. Vậy thực trạng nhận thức của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử thông qua việc nhận biết, đánh giá của sinh viên về hiện tượng sống thử, lợi ích và những bất cập trong quá trình tham gia sống thử.

    Khi được hỏi bạn có biết về hiện tượng sống thử và hiện tượng đó có xảy ở Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh không, thì điều đáng ngạc nhiên là 100% số sinh viên được hỏi đều biết về hiện tượng đó và 99,7% thừa nhận ở trường có hiện tượng các sinh viên sống thử. Khi hỏi suy nghĩ của họ về hiện hiện tượng sống thử của sinh viên, có 23,3% sinh viên cho rằng sống thử là tốt, 33,3% là bình thường và 43,3% là không tốt.

    Từ kết quả trên ta thấy rằng, sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay đã có cái nhìn thoáng hơn trong việc đánh giá về sống thử. Với số sinh viên cho rằng sống thử là tốt chiếm tỉ lệ không nhiều (23,3%) nhưng ta cũng thấy có một vấn đề cần chú ý ở đây đó là cách nhìn nhận, đánh giá về lối sống của họ liệu có quá dễ dãi, thoáng không? Ở đây cũng cần đánh giá theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Nếu các bạn cho rằng sống thử là do các bạn tò mò, muốn thử để biết, để “thể hiện” hoặc thả mình theo kiểu sống “Tây hóa”… thì đó là cách nhìn nhận, cách sống theo chiều hướng tiêu cực. Nhưng nếu xuất phát từ sự nhận thức khá chín chắn, như một số sinh viên cho rằng “sống chung là một thử nghiệm hội nhập vợ chồng, là sự trải nghiệm và học cách hòa nhập trong các mối quan hệ của nhau, cùng quyết định chi tiêu, cùng nhượng bộ, chấp nhận lẫn nhau và bày tỏ mong muốn của mình trong quá trình sống chung” nếu hiểu theo chiều cạnh này thì sống thử không phải là vấn đề đáng chê trách mà còn có các khía

    17

    cạnh tốt và tình dục ở đây chỉ là một phần nhỏ trong đời sống tâm lý, tình cảm dù là rất quan trọng nhưng không phải là tất cả trong sự lựa chọn cách sống thử, điều này càng có

    • nghĩa hơn khi ta nhìn nhận được rằng đó là một hành động có ý thức, bao hàm cả việc giữ gìn cái vô giá của tình yêu – sự hi sinh và sự tự chủ của bản thân chứ không chứ không phải là một sự thỏa mãn lợi dụng nhau trong quá trình sống thử.

    Với 33,3% số sinh viên được hỏi cho rằng hiện tượng sống thử là một hiện tượng xã hội bình thường trong xã hội hiện đại, điều đó cho thấy rằng quan niệm về tình bạn, tình yêu và hôn nhân của sinh viên – đại diện cho thế hệ trẻ đã khác rất nhiều so với các quan niệm trước đây. Họ không phản đối cũng không đồng tình. Nếu như trước đây quan hệ

    tình yêu nếu vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ bị các tổ chức đoàn thể phê bình, lên án, thậm chí là kỉ luật, bạn bè thì khinh bỉ, tẩy chay… còn trong xã hội hiện nay tất cả những việc đó thuộc về cá nhân họ phải tự chịu trách nhiệm về các quyết định của bản thân. Từ

    những suy nghĩ như vậy mới tạo ra cách đánh giá, nhìn nhận về hiện tượng sống thử một cách chung chung, không phản đối cũng không đồng tình, có thể trong số này về một khía cạnh nào đấy họ cũng ủng hộ lối sống này nhưng trong tâm lý người Việt Nam nhiều khi ngại nói thật, chính vì vậy mới tạo ra cách đánh giá chung chung như vậy.

    Mặc dù 100% số sinh viên được hỏi cho rằng biết có hiện tượng sống thử và 99,7% biết hiện tượng đó có xảy ra ở trường nhưng trong số đó có 43,3% cho rằng sống thử là không tốt, điều đó cho thấy một bộ phận không nhỏ sinh Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay vẫn có cách nhìn về tình bạn, tình yêu nghiêng về truyền thống. Họ cho rằng, nên giữ cho tình bạn, tình yêu một khoảng cách vì tình yêu sinh viên thường là tình cảm đầu đời, nếu không tiến đến được hôn nhân thì vẫn có cái nhìn trong sáng về nhau, không phải hối hận khi đã từng là người bạn tâm tình, là người yêu một thời trong quãng đời sinh viên tươi đẹp.

    Với câu hỏi theo bạn sống thử là như thế nào hầu hết các bạn sinh viên đều trả lời

    sống thử là sống chung như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, không có sự

    chứng kiến của hai bên gia đình chiếm 91%, 35,3% trả lời câu hỏi sống chung với nhau và có quan hệ tình dục 3,3% trả lời sống chung với nhau và không có quan hệ tình dục và 7,3% trả lời chỉ có quan hệ tình dục nhưng không sống chung với nhau. Hầu hết sinh viên trong mẫu điều tra đều nhận thức được đầy đủ về hiện tượng sống thử.

    4.  Các nguyên nhân dẫn đến sống thử

    4.1.1    Lý do cá nhân

    Trong nghiên cứu này chỉ ra rằng nguyên nhân đầu tiên qua đánh giá của các bạn sinh viên về vấn đề sống thử là nhằm thỏa mãn tân lý, tình yêu, tình dục. Có thể giải thích điều này như sau.

    18

    Nếu như, trong xã hội Việt Nam ngày xưa, việc dựng vợ ngả chồng là rất sớm , còn có câu thành ngữ “gái thập tam, nam thập lục”, có nghĩa là con gái đến mười ba tuổi là bắt đầu “dậy thì” cũng là lúc bắt đầu gả chồng được, nam giới thì “dậy thì” nuộn hơn, bước vào tuổi mười sáu cũng là độ tuổi trưởng thành về mặt thể chất và tâm sinh lý. Gia đình có con trai ở độ tuổi này cũng bắt đầu nhờ mai mối để cưới vợ cho con. Từ việc lấy vợ, gả chồng cho con trước tiên là để có người làm, có người sinh con để duy trì nòi giống thì nhìn ở khía cạnh khác có thể thấy rằng nam nữ đến tuổi trưởng thành (trong độ tuổi 13 đối với nữ, 16 đối với nam) cũng đã được giải quyết về vấn đề thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, về quan hệ tình dục.

    Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, điều kiện kinh tế, đời sống của người dân ngày càng tăng cao, do vậy việc chăm lo sức khỏe cả về đời sống tinh thần và vật chất cho mọi người nhất là trẻ em được gia đình và xã hội ngày càng quan tâm. Do ăn uống đủ chất nên cơ thể của trẻ em ngày nay phát triển sớm hơn trẻ em ngày xưa. Về mặt sinh học, trẻ em ngày nay dậy thì sớm hơn, bên cạnh đó sự tác động của một số phương tiện truyền thông đại chúng như phi ảnh về đề tài tình yêu, một số trang mạng xã hội trên Internet nói về chủ đề tình yêu, tình dục biến các em tò mò tìm hiểu. Ở một phía cạnh khác, do độ tuổi xây dựng gia đình kéo dài hơn so với trước đây, việc học phổ thông kéo dài 12 năm cộng với một số năm học ngành nghề và đều quan trọng nhất là do quan niệm của xã hội không còn có cách nhìn khắt khe như ngày trước nữa, mọi quyết định đều tự cá nhân và do cá nhân.

    Như phần trình bày trong phần tổng quan, nghiên cứu ở một số nước phương Tây chỉ ra rằng việc cá nhân đi đến quyết định tham gia sống thử với người bạn tình khác giới trong một căn phòng riêng thường bị chi phối bởi các lý do như là kinh tế, chia sẻ công việc nội trợ và có quan hệ tình dục dễ dàng… Việc lựa chọn sống thử hay sống chung của một số nam nữ sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh cũng xuất phát từ thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, có nhiều thời gian ở bên nhau hơn, được chia sẻ tình cảm, có thời gian chăm sóc nhau, và một lý do thứ yếu nữa là sống chung để tiết kiệm. Những lý do trên cũng phản ánh sự lựa chọn cái “được” hay cái “lợi” của sống thử. Đây cũng là lý do việc vận dụng lý thuyết trao đổi và sự lựa chọn hợp lý, tác giả muốn lý giải hiện tượng của nhóm sinh viên quyết định lựa chọn cách sống chung, sống thử.

    Kết hợp với câu hỏi “nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sống thử là do đâu?” hầu hết các bạn sinh viên tham gia trong mẫu điều tra đều tích vào câu “sống thử để trải nghiệm cuộc sống gia đình” (19/30 phiếu) chiếm 64% sau đó mới đến các nguyên nhân khác như do tác động từ phiá người yêu (13/30 phiếu) chiếm 43,7%, do thiếu thốn tình cảm, sống thử để có nhiều điều kiện quan tâm chăm sóc nhau nhiều hơn (8/30 phiếu) chiếm 26,7%.

    19

    Những lý do dẫn đến quyết định sống chung, sống thử:

    • Lý do tình cảm là chính, khi yêu nhau rồi mình muốn có nhiều thời gian bên nhau để quan tâm và được chăm sóc nhau nhiều hơn. Đặc biệt khi đã yêu một người con gái nào rồi người nam luôn muốn người con gái đó luôn ở bên mình để thường xuyên

    được nghe giọng nói, nhìn thấy nụ cười của họ. Lý do kinh tế chỉ là phụ thôi vì khi đi học cả hai đều được gia đình chu cấp tiền cho khá đầy đủ rồi .

    • Lý do mình quyết định chung sống với bạn trai là để có người cùng chia sẻ học tập và đặc biệt là mình có thể chia sẻ tình cảm với người bạn trai của mình.

    Qua những thông tin phỏng vấn sâu chúng tôi đã biết được các lý do chi phối động cơ tham gia sống thử của nam, nữ sinh viên ở Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh hiện nay. Chúng tôi nhận thấy rằng mỗi trường hợp, mỗi hoàn cảnh và động cơ đi đến sống thử, sống chung của họ cũng không hoàn toàn giống nhau. Nhưng đa số trường hợp tham sinh viên gia sống chung, sống thử để “được” chia sẻ tình cảm, chăm sóc cho nhau, và thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Trong số sinh viên chọn sống thử để được người sống cùng che chở, bảo vệ an toàn, có người gíup đỡ, phục vụ việc nội trợ hàng ngày; có trường hợp để “được” chia sẻ học tập, hỗ trợ kinh tế. Qua câu hỏi lợi ích của sống thử là gì ta thấy nhóm ý kiến cho rằng để thỏa mãn nhu cầu tình cảm , tình yêu, tình dục chiếm 70,3%, sau đó mới đến các lựa chọn khác như sống thử để có thời gian bên nhau nhiều hơn (66%) sống thử trước hôn nhân giúp tiết kiệm (50,3%). Theo một số nghiên cứu trước thì cho rằng sống chung giúp các bạn tiết kiệm hơn như trước thì phải trả tiền 2 phòng trọ thì giờ chỉ phải trả một phòng,không mất thời gian đi lại,được sinh hoạt cùng nhau… nhưng trong nghiên cứu này thì lý do tiết kiệm chỉ là một trong những lý do các bạn chọn còn lý do chính được các bạn chọn nhiều nhất là thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình yêu, tình dục. Qua một số dẫn chứng và phân tích trên chúng ta thấy mỗi sinh viên với hoàn cảnh và lý do của mỗi người khác nhau.Chúng tôi cho rằng quyết định tham gia sống thử của sinh viên cũng phản ánh một sự tính toán, lựa chọn của các bên tham gia. Có khác biệt giới rõ rệt vì lý do sống chung, sống thử. Sinh viên nam tìm đến hình thức sống chung vì mong muốn có người chăm sóc phục vụ hàng ngày, có cả mong muốn thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý chứ không phải chỉ vì lợi ích của cả hai. Trong khi sinh viên nữ tham gia sống thử vì muốn được động viên, an ủi, che chở, bảo vệ thậm chí có cả việc hỗ trợ về mặt kinh tế. Trong quan hệ này sinh viên nam đảm nhận sự che chở, bảo đảm an toàn, chu cấp kinh tế, tiền bạc cho các khoản chi tiêu riêng tư của cả hai để đổi lấy việc sinh viên nữ chấp nhận việc ở cùng và chấp nhận vai trò nguời phục vụ, việc nội trợ ,cơm nước, giặt giũ hay nói cách khác là chăm sóc bạn trai. Điều này cho thấy mỗi cá nhân có lựa chọn và mong đợi khác nhau từ việc lựa chọn sống thử.

    4.1.2    Lý do xã hội

    20

    Trong các nguyên nhân dẫn đến sống thử qua mẫu điều tra chúng tôi thấy rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến quyết định sống thử của nam nữ sinh viên là do thấy bạn bè sống thử nên muốn thử cho biết chiếm đến 64%. Tỉ lệ này nói lên hiện tượng thể hiện, đua đòi theo bè bạn, thấy bạn sống thử mình cũng muốn thử theo. Có thể thấy rằng khái niệm sống thử không còn xa lạ với sinh viên. Do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, do điều kiện, hoàn cảnh… sinh viên là đối tượng rất dễ bị tác động bởi bạn bè vì phần đông các bạn ở tỉnh khác, ở huyện về trọ học, sống xa gia đình, ít chịu sự kiểm soát của bố mẹ, người thân…Từ dẫn chứng trên có thể thấy rằng sinh viên sống xa nhà không chịu sự kiểm soát của bố mẹ, người thân nên các bạn sinh viên có thể tự do quyết định cuộc sống của chính mình. Điều này đã tạo cơ hội cho sinh viên lựa chọn cuộc sống cho riêng mình, thể hiện quan hệ tình yêu theo ý muốn của bản thân và trái với những mong đợi của gia đình. Nhiều bạn sinh viên có quan niệm rất đơn giản là đã yêu thì phải dành trọn tình yêu cho người mình yêu vì họ quan niệm đã yêu thì phải lấy được nhau chính vì vậy họ chung sống với nhau.

    Tóm lại, từ những dẫn chứng và phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc nhận thức về sống thử của sinh viên đều bị chi phối bởi lý do xã hội hay nói cách khác là cơ chế kiểm soát ở bên ngoài cá nhân. Cụ thể là sự suy yếu của thiết chế hôn nhân, của gia đình truyền thống, nhà trường và cộng đồng. Mặc dù sống thử không được các thế hệ cha mẹ chấp nhận nhưng hiện nay nó đã được thế hệ con cái cho là bình thường. Sự kiện con cái thoát li gia đình đến các trường chuyên nghiệp để học tập khiến cha mẹ không thể kiểm soát suy nghĩ, lối sống và các quan hệ xã hội mới, trong đó có quan hệ tình yêu của sinh viên.

    Do sinh viên có quyền lựa chọn nơi sống của mình, nếu sinh viên lựa chọn sống ở nhà trọ bên ngoài nhà trường thì nhà trường không thể bao quát và kiểm soát sinh hoạt của cá nhân. Cơ chế kiểm soát của cộng đồng, đặc biệt là dư luận xã hội về sống thử của những người khác giới khi chưa là vợ chồng cũng suy yếu. Chính điều này cũng là cơ hội cho nam, nữ sinh viên dễ dàng quyết định tham gia chung sống cùng nhau. Hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến tại các trường đại học, cao đẳng trên cả nước.

    Cơ chế và biện pháp kiểm soát của thiết chế phi chính thức như gia đình, bạn bè, cộng đồng, chủ nhà trọ và các thiết chế chính thức như nhà trường, cán bộ quản lý sinh viên , chính quyền sở tại đối với hiện tượng sống thử của sinh viên còn lỏng lẻo, thực tế này đã chi phối gián tiếp đến quá trình nhận thức và quyết định lựa chọn hình thức sống của sinh viên. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản của thuyết kiểm soát xã hội.

    5.  Đánh giá về lợi ích và bất lợi của sống thử

    Qua đánh giá về lợi ích của sống thử trước hôn nhân 50,3% ý kiến cho rằng sống thử trước hôn nhân giúp tiết kiệm; 66,0% ý kiến cho rằng sống thử để có thời gian bên nhau

    21

    nhiều hơn, giúp đỡ nhau trong học tập; 70,3% ý kiến cho rằng sống thử là để thỏa mãn nhu cầu, tình yêu tình dục.

    Về đánh giá lợi ích của sống thử đa số sinh viên cho rằng sống thử là là để thỏa mãn nhu cầu, tình yêu tình dục. Khi đã có tình cảm với nhau thì nhu cầu được ở bên nhau là điều dễ hiểu. Số sinh viên cho rằng sống thử sẽ giúp cho họ có thể có nhiều thời gian ở bên nhau, giúp đỡ nhau trong học tập chiếm 66,0%. Tuy nhiều khi các cặp đôi dành cho nhau quá nhiều thời gian và họ lại có sự đồng cảm với nhau khi chia sẻ tình cảm cho nhau thì những nhu cầu tâm sinh lý có thể sẽ nảy sinh. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tỉ lệ đánh giá của sinh viên về vấn đề sống thử phần lớn là để nhằm thỏa mãn tình dục khá cao (70,3%). Bên cạnh đó việc sống thử cũng giúp cho họ có thể tiết kiệm được tiền (50,3%) như tiết kiệm được tiền phòng, tiết kiệm chi phí đi lại, quà cáp… Nếu như trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Chiện khi nghiên cứu về chung sống trước hôn nhân của nam nữ sinh viên trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội không nhằm mục đích tiết kiệm trong chi tiêu, khi tác giả so sánh giữa các cặp sinh viên nam, sinh viên nữ và cặp đôi nam nữ chung sống với nhau thì cho thấy kết quả cặp đôi nam nữ chi phối cho sống chung cao hơn (13 khoản) so với cặp sinh viên nam và cặp sinh viên nữ sống cùng nhau (11 khoản). Điều này cho thấy rằng việc sống chung trước hôn nhân của cặp đôi nam nữ sinh viên trường Đại học nông nghiệp I Hà Nội không nhằm mục đích tiết kiệm chi phí sinh hoạt hàng ngày mà ngược lại chi phí còn tốn kém hơn so với việc không sống chung. Điều này có thể cũng phù hợp vì sinh viên sống và học tập tại thủ đô và các thành phố lớn và cũng là nơi có nhiều địa điểm du lịch, các khu vui chơi giả trí vì vậy khi đã tham gia sống chung với nhau và nhu cầu giải trí nhiều hơn. Chính vì vậy việc sống chung của các cặp đôi nam nữ sinh viên tất yếu sẽ tốn kém hơn những sinh viên không tham gia sống chung.

    Đánh giá về những bất cập khi tham gia sống thử, các bạn lại cho rằng sống thử sẽ không có thời gian cho học tập và tham gia các hoạt động của trường chiếm 69%, còn các bất cập bị ràng buộc, ảnh hưởng đến sức khỏe chiếm 50,3%, số sinh viên cho rằng sống thử không có bất cập gì chiếm 5,6%.

    Nhìn chung khi hỏi về những bất cập khi tham gia sống thử thì phần lớn cho rằng khi tha gia sống thử thì thời gian giành cho học tập nghiên cứu sẽ không có nhiều vì thời gian dành cho những việc như đi chợ , nấu nướng, giặt giũ… chiếm thời gian hơn nhiều. Còn những ảnh hưởng khác như không có thời gian cho hoạt động tập thể, bị ràng buộc, hạn chế giao tiếp với bạn bè… Trong số này thì có 5,6% cho rằng không có bất cập gì. Khi kiểm định lại số sinh viên cho rằng số thử không có bất cập gì, nhận thấy phần lớn những sinh viên đó là người đánh giá , nhìn nhận cho rằng hiện tượng sống thử là tốt.

    22

    Kết luận và khuyến nghị

    1.  Kết luận

    Trong nhận thức của sinh viên sống thử không hẳn là một hiện tượng xấu, đáng lên án. Các cặp đôi sống thử họ chọn cách sống này như là một sự lựa chọn hợp lý với các yếu tố như tình cảm, tâm sinh lý và chứa đựng trong đó cả vấn đề kinh tế nữa. Khi xem xét trên những phía cạnh đó ta thấy nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử khá toàn diện. Qua điều tra, khảo sát và phân tích, nhóm chúng tôi xin đưa ra một vài kết luận như sau:

    1.1 Phần lớn sinh viên có suy nghĩ chấp nhận sống thử vì cho rằng đó là một lối sống mới, một hệ quả tất yếu trong quá trình xã hội Việt Nam giao thoa với nền văn hóa phương Tây. Ảnh hưởng đó tác động đến xã hội Việt Nam từ chính các nước Châu đã chịu ảnh hưởng từ trước đó.

    1.2 Trong các nguyên nhân dẫn đến sống thử, các sinh viên cho rằng yếu tố thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình yêu, tình dục là nguyên nhân lớn nhất ảnh hưởng đến quyết định tham gia sống thử. Sự khác biệt giữa xã hội truyền thống và xã hội hiện đại là nhóm các bạn trẻ này dám bước qua bức ngăn của chuẩn mực đạo đức xã hội và họ muốn tạo dựng lên lối sống mới.

    1.3 Yếu tố phong tục tập quán, quan niệm cởi mở, phóng khoáng trong tình yêu của các bạn trẻ là một trong những nhân tố tác động dẫn đến quyết định tham gia sống thử của sinh viên Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM.

    1.4 Sự biến đổi toàn diện môi trường kinh tế – văn hóa – xã hội đã tác động vào mọi mặt đời sống xã hội. Trong các yếu tố đó, sự cạnh tranh về văn hóa giữa một phương Tây hiện đại và một phương Đông truyền thống đã tạo nên sự khác biệt trong nhận thức của các nhóm sinh viên. Sự can thiệp sâu sắc nhất thể hiện gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và sự tác động qua thực tế cuộc sống của chính các nhóm sinh viên tham gia sống thử đến quá trình nhận thức của sinh viên nói chung.

    1.5    Một số vấn đề đặt ra cho những nghiên cứu sau này:

    Do hạn chế của nghiên cứu mới chỉ đánh giá, nhìn nhận về thực trạng nhận thức của sinh viên và các nguyên nhân dẫn đến sống thử. Các yếu tố tác động cũng mới chỉ xem xét trên một vài khía cạnh nhỏ cá nhân, gia đình và xã hội (truyền thống, phong tục tập quán). Qua đây cũng gợi mở ra một số vấn đề nghiên cứu sâu hơn:

    • Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến hôn nhân của giới trẻ sinh viên thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    23

    • Nhận thức của sinh viên về giá trị văn hóa truyền thống trong tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại.
    • Hiểu biết về sức khỏe sinh sản với sống thử trong sinh viên.

    2.  Khuyến nghị

    2.1 Cần coi sống thử như một hiện tượng xã hội mới trong xã hội Việt Nam. Vì vậy cần phải có những định hướng cho giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng có một cách đánh giá, nhìn nhận đúng đắn về nó để từ đó mỗi sinh viên khi tham gia vào đó phải tự chịu trách nhiệm với những hậu quả nó để lại.

    2.2 Trong các chương trình giáo dục sức khỏe giới tính trong trường phổ thông và trường đại học, cao đẳng cần thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, ngoại khóa về giáo dục sức khỏe giới tính, an toàn tình dục, riêng với các trường đại học, cao đẳng và các trường chuyên nghiệp Đoàn trường kết hợp với Hội sinh viên tổ chức những hội nghị, hội thảo, ngoại khóa… hoặc tuyên truyền trên đài phát thanh, mạng nội bộ của trường các chương trình, bài viết bàn về sống thử, sống chung trước hôn nhân để sinh viên có nhận thức đúng đắn về hiện tượng xã hội này và giúp cho những đôi có quyết định tham gia sống thử chuẩn bị được tâm lý, biết cách phòng tránh những hậu quả do sống thử để lại như có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bạo lực…

    2.3 Cần có sự gắn kết giữa gia đình, nhà trường và địa phương nơi cư trú để kiểm tra, giám sát tình hình của con em mình trong quá trình học tập cũng như trong các mối quan hệ xã hội khác.

    2.4 Cần có những nghiên cứu, điều tra về sống thử sâu rộng hơn về không gian, thời gian để thấy được kết quả của quá trình sống thử để lại. Để từ đó có những dẫn chứng cần thiết trong công tác tuyên truyền hiểu biết về vấn đề sống thử làm cho sinh viên nhận thức đúng đắn và đi đến quyết định riêng cho mình nên hay không nên sống thử.

    2.5 Về phía Nhà nước nên có những quy định là cơ sở pháp lý cho cuộc sống thử nói riêng và chung sống trước hôn nhân nói chung để là căn cứ xử lý trong những trường hợp có xung đột, bạo lực, tranh chấp tài sản, con cái…

    2.6 Để thực hiện được những giải pháp trên cần có sự đồng thuận, quan tâm một cách có hệ thống và mang tính chiến lược giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và tự bản thân của mỗi người.

    24

    Tài liệu tham khảo và phụ lục

    1. Tài liệu tham khảo
    • Báo tuổi trẻ,sức khỏe và đời sống
    • Website: www.dantri.com
    • Website: www.vnexpress.net
    • Các sách báo nói về sức khỏe giới tính và hôn nhân.

    –     Sách Chung , Nguyễn Đình Tấn. Nghiên cứu xã hội học. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

    • Sách Vũ Tuấn Huy (chủ biên). Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệp tại Hải Dương). NXB Khoa học xã hội, 2004.
    • Sách Lê Ngọc Văn. Gia đình và biến đổi gia đình Việt Nam ngày nay. NXB Khoa học xã hội, 2012.
    • Sách Nguyễn Thu Nguyệt. Vấn đề hôn nhân – gia đình và trẻ em qua góc nhìn báo chí NXB Khoa học xã hội, 2007.
    • Bùi Vân Anh (2006) “Bước đầu tìm hiểu thái độ của nữ sinh viên về sống thử” Tạp chí Tâm lý học số 2.
    • Nguyễn Đức Chiện (2011) “Sống chung trước hôn nhân của nam nữ sinh viên hiện nay (nghiên cứu trường hợp trường đại học Nông nghiệp Hà Nội)”, Luận án tiến sĩ xã hội học, Thư viện Xã hội học.
    • Nguyễn Đức Chiện (2004), “Lựa chọn bạn đời của thanh niên nông thôn hiện nay”, tạp chí nghiên cứu Phụ nữ, số 2.
    • Thu Hòe. “Giật mình với tỉ lệ nạo phá thai của học sinh, sinh viên ”, nguồn: http://giaoduc.net.vn , ngày 26/12/2011.
    • Vương Linh. “Các đôi sống thử dễ li hôn sau cưới”, nguồn: http://www.baomoi.com ngày 27/6/2012.
    • Đào Thị Tuyết Mai (2009) “Nhận thức của sinh viên đại học về sống thử”, luận văn thạc sĩ xã hội học, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội.
    • Phương Thảo. “Chung sống như vợ chồng sẽ được luật hóa”. Nguồn:www.baomoi.com ngày 29/7/2012.
    • Linh Vũ. Indonesia có thể bỏ tù các cặp đôi sống thử. Nguồn: http://Vietnamplus.vn, ngày 09/3/2013.

    25


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN PHÂN CẤP QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ CHẾ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-M%E1%BB%90I-QUAN-H%E1%BB%86-GI%E1%BB%AEA-V%E1%BA%ACT-CH%E1%BA%A4T-V%C3%80-%C3%9D-TH%E1%BB%A8C-TRONG-VI%E1%BB%86C-X%C3%82Y-D%E1%BB%B0NG-N%E1%BB%80N-KINH-T%E1%BA%BE-M%E1%BB%9AI-HI%E1%BB%86N-NAY-%E1%BB%9E-N%C6%AF%E1%BB%9AC-TA-1.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

    ĐỀ TÀI: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ MỚI HIỆN NAY Ở NƯỚC TA ————————

    LỜI NÓI ĐẦU

    Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo ra một thế lực mới để nước ta bước vào một thời kì phát triển mới

    .Nhiều tiền đề cần thiết về cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã được tạo ra, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng .Khả năng giữ vững độc lập trong hội nhập với cộng đồng thế giới được tăng thêm. Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội .

    Các nước đều có cơ hội phát triển. Tuy nhiên,do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nuớc chậm phát triển đứng trước một thách thức to lớn. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao ,mà điểm xuất phát của nước ta quá thấp, lại phải đi lên từ môi trường cạnh tranh quyết liệt .

    Trước tình hình đó ,cũng với xu thế phát triển của thời đại ,Đảng và nhà nước cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước,trong đó đổi mới kinh tế đóng vai trò then chốt ,giữ vai trò chủ đạo

    .Đồng thời đổi mới kinh tế là một vấn đề cấp bách ,bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng vào mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ,giúp cho công cuộc đổi mới của đất nước ngày càng giàu mạnh .

    Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong nền kinh tế nước ta hiện nay”.

    2

    Tiểu luận triết học

    NỘI DUNG

    I.                   LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

    2.1.Vật chất

    1. Định nghĩa vật chất

    Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó .Nhưng theo Lênin định nghĩa :”vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác ,được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “.

    Lênin chỉ rõ rằng, để định nghĩa vật chất không thể theo cách thông thường vì khái niệm vật chất là khái niệm rộng nhất.Để định nghĩa vật chất Lênin đã đối lập vật chất với ý thức ,hiểu vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,vật chất tồn tại độc lập với cảm giác ,ý thức, còn cảm giác ,ý thức phụ thuộc vào vật chất ,phản ánh khách quan.

    Khi định nghĩa vật chất là phạm trù triết học ,Lênin một mặt muốn chỉ rõ vật chất là khái niệm rộng nhất ,muốn phân biệt tư cách là phạm tù triết học ,là kết quả của sự khái quát và trừu tượng với những dạng vật chất cụ thể ,với những” hạt nhân cảm tính”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học không có những đặc tính cụ thể có thể cảm thụ được .Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó.

    Lênin cho rằng vật chất vốn tự nó có ,không thể tiêu diệt được ,nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác ,ý thức con người, vật chất là một thực tại khách quan.Khác với quan niệm ý niêm tuyệt đối của CNDTKQ ,”thượng đế”của tôn giáo …Vật chất không phải là lực lượng

    3

    Tiểu luận triết học

    siêu tự nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó ,trái lại phạm trù vật chất là kết quả của sự khái quát sự vật ,hiện tượng cụ thể ,và do đó các các đối tượng vật chất có thật ,hiện thực đó có khả năng tác động vào giác quan để gây ra cảm giác ,và nhờ đó mà ta có thể biết được ,hiểu được và nắm bắt sự vật này .Định nghĩa của Lênin đã khẳng định được câu trả lời về hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học .

    Hơn thế nữa Lênin còn khẳng định cảm giác chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.Khẳng định như vậy một mặt muốn nhấn mạnh tính thứ nhất của vật chất ,vai trò quyết định của nó với vật chất ,và mặt khác khẳng định khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người .Nó không chỉ phân biệt CNDV với CNDT, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt CNDV với nhị nguyên luận.

    Như vậy ,chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là hoàn toàn triệt để,nó giúp chúng ta xác định được nhân tố vật chất trong đời sống xã hội ,có ý nghĩa trực tiếp định hướng cho nghiên cứu khoa học tự nhiên giúp ngày càng đi sâu vào vào các dạng các dạng cụ thể của vật chất trong giới

    • mô .Nó giúp chúng ta có thái độ khách quan trong suy nghĩ và hành động.
    1. Các đặc tính của vật chất

    *Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian

    .Ăngghen cho rằng vận động là một phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau ,một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình

    4

    Tiểu luận triết học

    thức vận động khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.

    Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh khổng lồ.

    Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động vật chất là tự thân vận động.

    Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật chất .Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.

    Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân hoá thế giới vật chất thành các sự vật ,hiện tượng phong phú và đa dạng .Ăngghen khẳng định rằng khả năng đứng im tượng đối của các vật thể ,khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất. Nếu vận động là biến đổi của các sự vật hiện tượng thì đứng im là sự ổn định ,là sự bảo toàn tính quy định sự vật hiện tượng .Đứng im chỉ một trạng thái vận động ,vận động trong thăng bằng ,trong sự ổn định tương đối .Trạng thái đứng im còn được biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi sự vật ổn định ,chưa biến đổi ,chỉ là

    5

    Tiểu luận triết học

    tạm thời vì nó chỉ xẩy ra trong một thời gian nhất định .Vận động riêng biệt có xu hương phá hoại sự cân bằng còn vận động toàn thể lại phá hoại sự cân bằng riêng biệt làm cho các sự vật luôn biến đổi ,chuyển hoá nhau .

    *Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

    Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí ,có hình thức kết cấu ,có độ dài ngắn cao thấp .Không gian biểu hiện sự tồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau ,biểu hiện qua tính chất và trật tự của chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các qúa trình vật chất diễn ra nhanh hay chậm ,kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định .Thời gian biểu hiện trình độ tốc độ của quá trình vật chất ,tính tách biệt giữa các giai đoạn khác nhau của qúa trình đó ,trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật hiện tượng.

    Không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của vật chất đang vận động ,Lênin đã chỉ ra trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động .Không gian và thời gian tồn tại khách quan ,nó không phải bất biến ,không thể đứng ngoài vật chất ,không có không gian trống rỗng ,mà nó có sự biến đổi phụ thuộc vào vật chất vận động .

    Tính thống nhất vật chất của thế giới

    CNDT coi ý thức,tinh thần có trước ,quyết đinh vật chất ,còn duy vật thì ngược lại .Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất đồng thời còn khẳng định rằng thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất ,có liên hệ vật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức ,lịch sử phát triển và đều phải tuân thủ theo quy luật khách quan của thế giới vật chất ,do đó nó tồn tại vĩnh cửu ,không do a sinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó ,không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi là chuyển hoá lẫn nhau ,là nguyên nhân và kết quả của nhau.

    Tiểu luận triết học

    2. ý thức

    1. kết cấu của ý thức

    Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thưc theo các trường phái khác nhau . Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật chất ,là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động và ngôn ngữ .Mác nhấn mạnh rằng tinh thần

    • thức là chẳng qua chỉ là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc con người và được cải biến trong đó .ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp gồm ý thức tri thức ,tình cảm ,ý chí trong đó tri thức là quan trọng nhất ,là phương thức tồn tại của ý thức,vì sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên.Tri thức càng được tích luỹ con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn .Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm ,niềm tin …Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý chí của niềm tin mù quáng

    .Tuy nhiên việc nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận coi nhẹ yếu tố vai trò tình cảm ý chí.

    Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân ,biểu hiện xu hướng về bản thân mình ,tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội .Trái lại CNDVBC tự ý thức là

    • thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài .Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình ,đối lập mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động ,có cảm giác ,tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội .Mặt khác sự giao tiếp xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

    7

    Tiểu luận triết học

    .Ngoài ra văn hoá cũng đóng vai trò cái gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .

    Vô thức là một hiện tượng tâm lý ,nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức .Có 2 loại vô thức: loại thứ nhất liên quan đến các hành vi chưa được con người ý thức ,loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nên trở thàmh thói quen ,có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của ý thức.Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người .Trong những hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động

    .Việc tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen ,có vai trò quan trọng trong đời sống .

    1. Nguồn gốc của ý thức

    Nguồn gốc tự nhiên

    • thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc .Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người ,rằng hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người .Không thể tách rời ý thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não ,bộ não là khí quản của ý thức .Sự phụ thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn .Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lý bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh .Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính phản ánh ,nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên .Sự xuất hiện của xã hộ loài người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh ,đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hộ

    Nguồn gốc xã hội

     

    8

    Tiểu luận triết học

    Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.

    Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người .Nhờ nó mà con người và xã hội loài người mới hình thành và phát triển

    .Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu tiên của con người ,đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người với nhau trong mối quan hệ khách quan ,tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổ chức lao động ,nhu cầu”cần phải nói với nhau một cái gì”. Và kết quả là ngôn ngữ ra đời.Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy ,với sự xuất hiện của ngôn ngữ ,tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp ,trở thành tín hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác .Nhờ có nó mà con người có thể giao tiếp ,trao đổi ,truyền đạt kinh nghiệm cho nhau ,thông qua đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội ,và ngược lại. Chính nhờ trừu tượng hoá và khái quát hoá tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức ,chính nhờ nó mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật ,hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử.

    1. Bản chất của ý thức

    Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức ,có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh ,sáng tạo và bản tính xã hội .

    Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài ,là biểu thị nội dung được từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy đinh mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy kháh quan làm tiền đề ,bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.

    • thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động ,trong hoạt động sáng tạo cải biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể

    9

    Tiểu luận triết học

    thiếu của hoạt động đó .Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà gắn liền với cải biến ,quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lý thông tin .Tính sáng tạo của

    • thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp kháI quát thế giới khách quan ở quá trình chủ động ,tác động vào thế giới đó.

    Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau ,không thể tách rời ,không có phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sáng tạo .Đó là MQHBC giữa thu nhận xử lý thông tin ,là sự thống nhất mặt khách quan chủ quan của ý thức.

    • thức chỉ được nảy sinh trong lao động ,hoạt động cải tạo thế giới của con người.Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội. ý thức trước hết là thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong quan hệ xã hội.Do đó ý thức xã hội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó …ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội ,Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo.Sự thống nhất đó thể hiện
    • tính năng động chủ quan của ý thức ,ở qaun hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.

    3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

    Lênin đã chỉ ra rằng,sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi hạn chế:trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì là cái có trước ,cái gì là cái có sau . Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó chỉ là tương đối .Như vậy để phân ranh giới giữa CNDV và CNDT ,để xác định bản tính và sự thống nhất của thế giới cần có sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức trong khi trả lời cái nào có trước cái nào quyết định .Không như vậy sẽ lẫn lộn 2 đường lối cơ bản trong triết học ,lẫn giữa

    10

    Tiểu luận triết học

    vật chất và ý thức và cuối cùng sẽ xa rời quan điểm duy vật .Song sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là sự tương đối như là những nhân tố ,những mặt không thể thiếu được trong hoạt động của con người ,đặc biệt là hoạt động thực tiễn con người ,ý thức có thức có thể cải biến được tự nhiên ,thâm nhập vào sự vật , không có khả năng tự biến thành hiện thực,nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của con người,ý thức có thể cải tiến được ,thâm nhập vào sự vật ,hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình.Điều này bắt nguồn từ chính ngay bản tính phản ánh,sáng tạo và xã hội của ý thức và chính nhờ bản tính đó mà chỉ có con người có ý thức mới có khả năng cải biến và thống trị tự nhiên ,bắt nó phục vụ con người. Như vậy tính tương đối trong sự đối lập giữa vật chất và ý thức thể hiện ở tính độc lập tương đôí,tính năng động của ý thức. Mặt khác đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sôngs tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá.Khẳng định tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và ý thức không có nghĩa là khẳng định cả hai yếu tố có vai trò như nhau trong đời sống và hoạt động của con người .Trái lại, Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng,trong hoạt động của con người những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại ,song sự tác động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai cuả ý thức.

    Trong hoạt động của con người ,những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định ,chi phối và quy định mục đích hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo đIều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sữa chữa bổ bổ sung cụ thể hoá mục đích chủ trương biện pháp đó . Hoạt động nhận thức của con người bao giờ cũng

    11

    Tiểu luận triết học

    hướng đến mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống . Hơn nữa,cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có .khẳng định vai trò cơ sở ,quyết định trực tiếp nhân tố vật chất, triết học Mác-Lênin đồng thời cũng không coi nhẹ vai trò của nhân tố tinh thần ,tính năng động chủ quan. Nhân tố ý thức có tác động trở lại quan trọng đối với nhân tố vật chất. Hơn nữa ,trong hoạt động của mình ,con người không thể tạo ra các đối tượng vật chất ,cũng không thể thay đổi được những quy luật vận động của nó . Do đó ,trong quá trình hoạt động của mình con người phải tuân theo quy luật khách quan và chỉ có thể đề ra những mục đích,chủ trương trong phạm vi vật chất cho phép .

    II.               Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việc xây dựng nền kinh tế nước ta hiện nay .

    1.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị :

    Như chúng ta đã biết, giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau .Nhân tố vật chất giữ vai trò quyết định còn nhân tố ý thức có tác động trở lại nhân tố ý thức. Nhân tố vật chất trong nhiều trường hợp

    • thức có tác dụng quyết định đến sự thành bại của con người.Điều này thể hiện rõ trong các đường lối chủ trường,chính sách đổi mới kinh tế của Đảng .Vai trò tích cực của ý thức chỉ được trong một thời gian nhất định và điều kiện cụ thể vì thế giới vẫn tồn tại khách quan và vận động ,theo đó ý thức phải biến đổi phù hợp với nó ,nếu tiêu cực thì sớm muộn cũng bị đào thải ,nhưng xét đén cùng thì ý thức vẫn là nhân tố thứ hai quyết định .Và ta thấy nếu kinh tế của một nước giàu ,xã hội phát triển cao nhưng chính trị mất ổn định ,luôn đấu tranh giai cấp …thì đất nước đó không thể yên ấm hoà bình được và cuộc sống người dân tuy đầy đủ ,sung túc nhưng sẽ luôn

    12

    Tiểu luận triết học

    lo âu .Do đó nếu chính trị ổn định thì dân mới yên tâm làm ăn và xây dựng một xã hội phát triển ,đất nước giàu mạnh.

    Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thay đổi theo từng hình thái kinh tế CXNT-CHNL-PK-TBCN-CNXH .Trình độ tổ tổ chức quản lý và tính chất hiện đại của nền sản xuất sẽ là nhân tố quy định trình độ và mức sống của xã hội ,bởi sản xuất vật chất là nền tảng hình thành tất cả các quan hệ xã hội đời sống tinh thần của xã hội .hiện thực lịch sử đã chỉ ra rằng mọi quan hệ của đời sống xã hội bao gồm quan hệ chính trị ,nhà nước pháp quyền,đạo đức ,khoa học ,tôn giáo…đều hình thành biến đổi gắn liền với kinh tế và sản xuất nhất định .Trong đó theo Mác quan hệ sản xuất giữa người với người là cơ bản quyết định tất cả các quan hệ khác .

    Sản xuất vật chất hay kinh tế là cơ sở đầu tiên quan trọng nhất khi tham gia vào quá trình phân hoá và hoàn thiện các chức năng của con người ,thoả mãn các nhu cầu của con người và xã hội . Sản xuất vật chất môi trường tự nhiên ,điều kiện xã hội…đòi hỏi thể lực ,trí tuệ và nhân cách con người phải phát triển thích ứng với nó .Yêu cầu khách quan của việc phát triển kinh tế ,sản xuất cho khoa học kĩ thuật và điều kiện sinh hoạt xã hội ngày càng phát triển hoàn thiện .Đó chính là cơ sở quyết định sự hoàn thiện của con người ,chính trị ,xã hội ,là nhân tố qaun trọng hàng đầu của LLSX

    .Sự phong phú đa dạng của vật chất sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và đời sống tinh thần trong quá trình sản xuất là cơ sở nảy sinh sự phát triển năng lực tinh thần của con người .Nói cho cùng nhu cầu của con người về vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định vì con người trước hết phải ăn mặc ,ở rồi đến vui chơi giải trí .Hoạt động nhận thức của con người trước hết hướng tới mục tiêu cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu sống và cuộc sống của con nguươì phụ thuộc vào nhu cầu vật chất và những điều kiện hiện có.

    13

    Tiểu luận triết học

    Nền kinh tế của một nước là nền tảng để cho nước đó tiếp tục phát triển các chủ trương biện pháp trong việc phát triển kinh tế vào công cuộc bảo vệ xây dựng đất nước .Căn cứ vào tình hình kinh tế mà có những chính sách phù hợp nhằm đem lại lợi ích cao cho xã hội và cho nhân dân .Tác dụng ngược lại thể chế chính trị ,ý thức của một nước rất quan trọng trong việc xây dựng đất nước. Chính trị ổn định chính là điều kiện phát triển kinh tế ,mọi doanh nghiệp cũng như nhân dân ,các công ty các tổ chức đem hết sức mình tạo lợi ích cho bản thân và xã hội.

    Nguyên lý triết học Mác-Lênin về mối QHBC giữa vật chất và ý thức đòi hỏi chúng ta phải xem xét các sự vật từ thực tế khách

    quan ,tránh chủ nghĩa chủ quan duy ý động sáng tạo của ý thức ,phát huy nỗ người .

    chí,đồng thời phát huy vai trò năng lực chủ quan và hoạt động của con

    2.Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức rtong việc xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta hiện nay.

    Như chúng ta đã biết sau khi giải phóng miền nam thống nhất đất nước ,nền kinh tế miến bắc bị suy giảm nghiêm trọng.Cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém,cơ cấu kinh tế mất cân đối ,năng suất lao động thấp…sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ lương thực cho dân ,nguyên liệu cho công nghiệp ,hàng hoá cho xuất khẩu ,ngoài ra còn bị tàn phá nặng nề bởi đế quốc Mĩ .ở miền nam sau 20 năm chiến tranh nền kinh tế bị đảo lộn ,nông nghiệp bị hoang hoá ở nhiều vùng…

    Trước tình hình đó đại hội Đảng ta lần thứ IV đã đề ra chỉ tiêu và kế hoạch 5 năm 1976-1980 về xây dựng và phát triển vượt quá khả năng kinh tế 1975 phấn đấu dạt 21tr tấn lương thực 1tr tấn cá biển ,1tr ha khai hoang , 1tr200ha rừng mới 10tr tấn than sạch …ngoài ra còn đề xuất xây dựng thêm các cơ sở mới về công nghiệp như cơ khí và đặc biệt là phải cải tạo XHCN ở miền nam .Những chủ trương chính sách sai lầm đó đã gây tổn

    14

    Tiểu luận triết học

    hại đến nền kinh tế cuộc sóng nhân dân…đến hết 1980 ,nhiều chỉ tiêu đề ra chỉ đạt được 50-60%, nền kinh tế tăng trưởng chậm ,tổng sản phẩm xã hội bình quân là 1,5% công nghiệp tăng 2,6% nông nghiêp giảm 0,15% .

    Đại hội Đảng lần V vẫn chưa tìm ra nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,đồng thời cũng chưa đề ra các chính sách mới cho nền kinh tế 1981-1985 . Chúng ta chưa khắc phục chủ quan trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế ,cảI tạo XHCN và quản lý kinh tế lại phạm những sai lầm mới rong lĩnh vực phân phối lưu thông .Nhìn chung vẫn chưa đạt được mục tiêu đại hội V đề ra .

    Tất nhiên ngoài những yếu tố chủ quan còn có yếu tố khách quan dẫn đến sự trì trệ của nền kinh tế do chiến tranh ,bối cảnh quốc tế … song chúng ta vẫn mắc sai lầm chủ quan trong việc quản lý cán bộ ,phát triển LLSX .

    Nhắc lại thấy rõ tác động tiêu cực của ý thức đối với vật chất ,thấy rõ tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị trước khi có công cuộc đổi mới

    .Phép BCDV khẳng định rằng nếu ý thức là tiêu cực thì sớm muộn sẽ bị đào thải .

    Trước tình hình kinh tế đó ,Đảng và nhà nước đã đi sâu nghiên cứu ,phân tích tình hình ,lấy ý kiến của nhân dân và đặc biệt là đổi mới tư duy về kinh tế .Đại hội Đảng VI đã rút ra kinh nghiệm lớn trong đó có:phải luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan .Đảng đã đề ra đường lối đổi mới ,mở ra bước ngoặt trong sự việc xây dựng CNXH ở nước ta .

    Tại đại hội VI Đảng đã nghiêm khắc tự phê bình ,tìm ra đúng nguyên nhân khủng hoảng kinh tế xã hội và đã đề ra nhiều phương hướng nhiệm vụ trong việc đổi mới ,nhất là về kinh tế ,thực hiện chương trình kinh tế với 3 mục tiêu : lương thực -thực phẩm ,hàng tiêu dùng ,xuất khẩu ,hình thành nền kinh tế nhiêu thành phần ,thừa nhận kinh tế tư sản sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân ,đổi mới cơ chế quản lý .Trong quá trình thực hiện

    15

    Tiểu luận triết học

    nghị quyết của Đảng ,những diễn biến quốc tế đã ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nước ta nhưng Đảng ,nhà nước và nhân dân đã nỗ lực khắc phục những khó khăn và tìm tòi khai phá ra đường lối đổi mới . Tại đại hội VII ta đã đánh giá tình hình kinh tế chính trị của nước ta sau hơn nhiều năm thực hiện đổi mới đã đạt được các bước tiến quan trọng .Tình hình hình chính trị ổn định nên nền kinh tế có điều kiện phát triển bươc đầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo sự quản lý của nhà nước ,LLSX huy động tốt hơn ,tránh được lạm phát ,đời sống của người dân được cải thiện ,cuộc khủng hoảng đã giảm bớt ,sinh hoạt dân chủ ngày càng phát huy .

    Qua các dẫn chứng trên ta thấy sự tác động qua lại giữa vật chất và ý thức ,giữa kinh tế và chính trị ,nhờ có đường lối đổi mới ,nền kinh tế ngày càng phát triển ,cuộc sống của người dân ngày càng ổn định đã góp phần to lớn trong việc phát huy dân chủ trong xã hội . Ngoài mặt tích cực còn có tiêu cực như : lạm phát vẫn còn cao ,nhiều cơ sở đình đốn kéo dài ,lao động thiếu việc làm tăng lên ,và rong quản lý còn nhiều lúng túng sơ hở… đặc biệt đại hội cũng xác định “về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế đáp ứng được nhu cầu cấp bách của nhân dân về việc làm ,và các nhu cầu xã hội khác ,xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ,coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị.”

    Đảng ta đã vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào công cuộc đổi mới đất nước cả về kinh tế lẫn chính trị .Đại hội VIII đã chỉ ra các mục tiêu cần đạt được ,cụ thể là phương châm chỉ đạo trong 5 năm 1991-1995 ,trong đó nổi cộm nhất là phương châm kết hợp động lực kinh tế và động lực chính trị ,phương châm tiếp tục đổi mới đã đI vào chiều sâu với bước đi vững chắc ,lấy đổi mới làm nền để thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển.

    16

    Tiểu luận triết học

    Trong báo cáo của Đảng về công cuộc đổi mới đã nhận xét :”nét nổi bật là trong Đảng đã có sự đổi mới tư duy về kinh tế với tinh thần độc lập sáng tạo. Đảng ta cụ thể hoá và phát triển nghị quyết đại hội VII ,bước đầu hình thành hệ thống các quan điểm ,nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới ở nước ta “.

    Sau đại hội ban chấp hành TƯ Đảng đã đề ra các nghị quyết giải quyết các vấn đề đối nội đối ngoại . Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì đã đánh giá cao trong trong quá trình khắc phục khủng hoảng kinh tế … khắc phục được nhiều tồn tại trong 3 năm qua .Lạm phát được đẩy lùi .Tổng sản phẩm GDP tăng bình quân 8.2% so với mức đề ra năm 91-95 là 5,5-5,6%.Sản xuất nông nghiệp tương đối toàn diện sản lượng lương thực 26% so với 5 năm trước đó ,tạo đIều kiện thuận lợi để cuộc sống đầy đủ ,phát triển được nhiều ngành nghề .Vấn đề lương thực đã được giải quyết tốt

    .Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng theo hướng đa dạng hoá ,thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng , nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ,tăng kim ngạch xuất khẩu 91-95 là 17 tỉ USD so với kế hoạch là 12-

    • tỉ USD. Khoa học công nghệ có bước phát triển lớn phục vụ cho việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng ,lĩnh vực văn hoá tinh thần được nâng cao ,đời sống nhân dân được cải thiện ,quốc phòng an ninh được giữ vững.

    Hội nghị đại biểu toàn quốc chỉ nêu lên thành tựu tiếp tục giữ vững và củng cố ổn định chính trị ,mở rộng quan hệ đối ngoại ,tạo đIều kiện cho công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc .

    Như vậy , cũng thấy rõ tác động của kinh tế với chính trị và xã hội ,đối với công tác đối ngoại ,quốc phòng ,an ninh…đổi mới kinh tế nhưng các nhân tố chính trị xã hội ,đối ngoại…cũng tác động tích cực trở lại đối với kinh tế .Vận dụn đúng đắn các mối quan hệ biện chứng duy vật . tại hội nghị đại biểu toàn quốc đã vạch ra những điểm yếu kém ,vấn đề kinh tế

    17

    Tiểu luận triết học

    như “nền kinh tế vẫn còn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu ,công nghiệp nhỏ bé ,kết cấu hạ tầng kém phát triển,kinh tế tuy tăng trưởng khá nhưng năng suất chất lượng hiệu quả còn kém …” và vẫn còn những tồn tại về mặt văn hoá ,xã hội…để có những thay đổi tốt hơn ,Đảng đã đề ra những nhiệm vụ chủ yếu thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,chăm lo đến các vấn đề văn hoá xã hội , đảm bảo an ninh -quốc phòng, xây dựng nhà nước văn hoá của dân ,do dân và vì dân đổi mới chỉnh đốn đảng và củng cố mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân .

    Sau đại hội TƯ Đảng (khoá VII) ra nghị quyết phát triển công nghiệp mới đến 2000 theo hướng công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nước.Cải cách nền hành chính nhà nước với nội dung của hội nghị TƯ lần thứ VIII ,có thể coi đã cụ thể hoá một bước cương lĩnh và chiến lược phát triển khoa học xã hội mà đại hộiVIII đã thông qua.

    Với thành công trong những năm qua ta thấy đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước là hoàn toàn đúng đắn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trước đây ta đã phủ nhận đẻ hướng tới CNXH bỏ qua CNTB . Đảng đã phạm sai lầm đó là vội cải tạo CNXH xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần duy trì lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.Có nhiều sai sót việc quản lý tiền tệ cũng như quản lý về giai cấp lãnh đạo. Nước ta đã nghiên cứu các mặt mạnh và hạn chế của CNTB để tận dụng một cách tổng hợp vào tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay để đưa Việt Nam theo hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Các bước phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.

    Trên tinh thần đó cùng với các kinh nghiệm đại hội VIII lần này đã đánh giá được khó khăn chung để chủ động nắm lấy thời cơ để vươn lên đẩy lùi và khắc phục các nguy cơ xuất phát từ tình hình trên . Đảng đã đề ra cương lĩnh cần tiếp tục nắm vững 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc. Từ nay đến 2000 ra sức để trở thành nước công nghiệp.

    18

    Tiểu luận triết học

    Với những chính sách phát triển thích hợp chúng ta đã được một số bước tiến quan trọng ,bình thường hoá quan hệ Việt -Mĩ ,là thành viên của khối Asean ,đặc biệt 1998 nước ta đã trở thành thành viên của khối APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dương)… Từ chỗ bị bao vây cấm vận đến nay nước ta đã quan hệ ngoại giao với 167 nước ,quan hệ thương mại với 120 nước ,phát triển quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng .Đó là ý nghĩa to lớn trong việc giữ vững môI trường hoà bình ổn định ,là nền tảng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    Tăng trưởng GDP tiếp tục tăng cao ,1996 là 9,3%,1997 là 8,2% 1998 là 5,8% ,lạm phát chiếm dưới 10%.Tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn là hai con số…đời sống nhân dân càng ổn định tăng cao .

    Công cuộc đổi mới ở Việt Nam ngày càng đúng đắn ,chính vì Đảng ngày càng nắm vững và vận dụng đúng đắn phương pháp luận triết học toàn diện Mác-Lênin .Mối quan hệ kinh tế biện chứng giữa kinh tế và chính trị ngày càng rõ nét ,đơn cử từ việc thiếu ăn bây giờ Việt Nam trở thành nước thứ 3 xuất khẩu gạo trên thế giới. Lòng tin của nhân dân ngày càng tăng cao .Ngoài ra còn tăng truởng về tổng sản phẩm quốc dân ,về tốc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài ,về xuất khẩu …

    Đổi mới là khó khăn nhưng nhờ có chính sách và đường lối đúng đắn và có sự tìm tòi học hỏi từ nền kinh tế tư bản của nhiều nước ,cùng các diễn biến phức tạp của tình hình thế giới,những biến dộng nhiều mặt của đất nước càng đòi hỏi lòng kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn để thích ứng kịp thời với sự biến đổi từng ngày từng giờ.

    Người cán bộ kinh tế phảI quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin ,tư tưởng Hồ Chi Minh là phải nghiên cứu đề xuất và áp dụng đúng đắn các chủ trương và chính sách kinh tế để đưa nền kinh tế nước ta vượt qua tình trạng nghèo đói và kém phát triển ,tránh khỏi nguy cơ tụt hậu so với kinh tế thế giới .Trong việc xoá bỏ quan liêu bao cấp

    19

    Tiểu luận triết học

    nghĩa là đòi hỏi người làm công tác quản lý phải sáng tạo ,năng động nắm bắt được thực tế để vận dụng và phát triển nó .Từ kinh nghiệm thực tế chỉ cần không nhận định đúng một vấn đề ,1 chủ trương ,1 thông tin ,1 từ ngữ trong bản hợp đồng kinh tế ,1 hành động chậm trễ hay vội vã là có thể lớn về nền kinh tế .Ngược lại nếu biết nắm bắt kịp thời 1 thông tin dù nhỏ vẫn có thể dẫn tới một thắng lợi lớn.Nên sự kết hợp giữa thực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan ,kết hợp giữa tình cảm và trí tuệ phải thật nhuần nhuyễn ,các bộ quản lý phải có phẩm chất tốt đẹp,phải trung thực ,chính xác kịp thời ,phải biết nắm bắt và đề ra giải pháp dúng đắn cho mọi tình huống .Cần đấu tranh chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí ,tư tưởng nóng vội phưu lưu ,bất chấp mọi quy luật .Ngoài ra cần rèn luyện tính kiên nhẫn chăm chỉ ,dám nghĩ dám làm ,chủ động sáng tạo ,giành lấy thời cơ .Rèn luyện được các phẩm chất ấy người quản lý sẽ đứng vững trên vị trí lãnh đạo của mình , ngoài ra còn có thể vươn lên cao hơn để trở thành nhà kinh doanh giỏi.

    20

    Tiểu luận triết học

    Kết luận

    Xây dựng CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp rất khó khăn ,phức tạp ,nó như cuộc chiến đấu kháng chiến trường kì của Đảng và nhà nước.

    Với những bién động trước tình hình kinh tế của nhiều nước trên thế giới đòi hỏi Đảng và nhà nước phảI kiên trì ,giữ vững lòng tin ,quyết tâm khắc phục khó khăn ,đồng thời phải tỉnh táo ,nhạy bén thích ứng kịp thời với thực tế biến đổi từng ngày từng giờ.

    Quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ,vận dụng thành thạo phép BCDV vào việc nghiên cứu và quản lý kinh tế ,phát huy mạnh mẽ quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới nhằm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân ,nhất định chúng ta sẽ trở thành những nhà quản lý giỏi góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của đất nước,tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam phát triển cao ,từ đó nâng cao vị trí Việt Nam trên chính trường quốc tế ,góp phần củng cố sự ổn định về chính trị của đất nước .Đó là lương tâm của những người làm công tác quản lý kinh tế chính trị.

    21

    Tiểu luận triết học

    Tài liệu tham khảo

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin tập 2 CNXB chính trị quốc gia 1997

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VI

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VII

     

    1. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VIII

     

    1. Kinh tế 1998 -1999 Việt Nam và thế giới(thời báo kinh tế Việt Nam )

     

    1. Thời báo kinh tế Việt Nam

     

    1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế.

     

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề Cương Ôn Tập Động Cơ Điện


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/B%C3%A1o-c%C3%A1o-th%E1%BB%B1c-t%E1%BA%ADp-cu%E1%BB%91i-kh%C3%B3a-Qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-h%E1%BB%8Dc-sinh-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-c%E1%BA%A5p-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo thực tập cuối khóa Quản lý học sinh trường cấp 3

    Lời nói đầu

    Công nghệ thông tin là một trong những ngành khoa học ngày càng được quan tâm và sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Với những ưu điểm mạnh có thể ứng dụng được nhiều trong cuộc sống thì công nghệ thông tin đã giúp cho công việc quản lý được dễ dàng hơn. Để quản lý một công việc cụ thể của một cơ quan nào đó thì người quản lý cần thực hiện rất nhiều công việc. Nhờ có các phần mềm thì công việc đó trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

    Ví dụ như để quản lý được điểm của học sinh thì người quản lý cần liên tục cập nhật điểm của học sinh. Thông tin về học sinh như: mã học sinh, giới tính, năm sinh, quê quán, điểm thi.… Công việc đó làm người quản lý rất vất vả. Với phần mềm quản lý

    điểm mà chúng em nghiên cứu và xây dựng trong bài tập sau đây sẽ phần nào giúp ích cho người quản lý. Đây là một đề tài nhỏ của chúng em. Vì sự hiểu biết và kinh nghiệm còn hạn chế nên chắc chắn phần mềm của chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy và các bạn.

    Chúng em xin chân thành cảm ơn !

    Giới Thiệu Chung

    1 , Giới Thiệu

    Chương trình : Quản lí học sinh cấp 3 (Trường THPT Nghĩa Hưng C ) với một số chức năng cơ bản giúp bộ phận giáo vụ của trường thực hiện nghiệp vụ của mình dễ dàng và nhanh chóng hơn

    Chương trình được viết ra với mục đích quản lí các học sinh về thông tin cơ bản ( tên , tuổi , địa chỉ ….) , điểm của các môn trong 2 kì học , điểm thi tốt nghiệp, học phí . Người quản trị có thể thêm , sửa , xóa thông tin về học sinh và điểm của các học sinh

    2 , Khảo sát thực trạng

    Hiện nay, quản lí điểm là một công việc hết sức quan trọng đối với các trường học. Công việc đó hiện còn đang làm rất thủ công tại một số trường và chính vì thế mà nó mang lại hiệu quả không cao. Nguồn khảo sát mà chúng tôi thực tế là trường THPT Nghĩa Hưng C . Công việc hàng ngày bao gồm:

    Nhập điểm cho học sinh, sửa chữa thông tin về điểm.

    Cập Nhật các khoản tiền học phí .

    In bảng điểm, in danh sách Học sinh các lớp , các học sinh đỗ, trượt tốt nghiệp … Lưu trữ thông tin của các bảng điểm của Học sinh…

    Công việc quản lí còn hết sức thủ công và đòi hỏi nhiều kỹ năng của người quản lí.

    Ví dụ: hàng ngày, khi người quản lí nhập điểm cho học sinh, tính toán, in danh sách theo yêu cầu của nhà trường: những học sinh đỗ trượt, đạt học bổng… thời gian nhập thông tin mất nhiều, việc theo dõi, thống kê, tổng hợp dễ bị nhầm lẫn, khó đảm bảo độ tin cậy…

    2 , Yêu cầu đề tài

    Bộ phân : Giáo Vụ lập được danh sách lớp từ kết quả thi đầu vào của các học sinh ( Ở đây chương trình đã nhập từ năm 2006 – Người quản trị có thể thêm vào các năm trước hoặc các năm sau để quản lý) .

    Các giáo viên các bộ môn : tổng hợp điểm trung bình môn và điểm thi(nếu có) . hạnh kiểm , tiền học…. . sau đó nộp về phòng giáo vụ để tính điểm trung bình và đưa ra

    xếp loại học lực cho các học sinh , xếp loại hạnh kiểm , quản lí những học sinh đã và chưa nộp học phí….

    Bảng các công việc của người quản trị

    Công Việc Ghi Chú
    Tiếp nhận hồ sơ học sinh Lấy từ kết quả thi đầu vào
       
    Lập danh sách lớp Gồm các giá trị : mã học
      sinh , tên sv , ngày sinh ,
      địa chỉ , năm học ….
    Tra cứu học sinh Tra cứu theo mã sv , tên
      sv , năm học , lớp
    Nhận bảng điểm các môn Theo học kì
       
    Nhập bảng điểm thi tốt nghiệp  
       
    Tra cứu điểm  
       
    Xếp loai học sinh Theo cả năm học
    Nhập danh sách các khoản tiền cho học  
    sinh  
    In Thống kê , báo cáo  

    4 , Cơ sở dữ liệu của hệ thống.

    Để nắm được yêu cầu của bài toán, chúng ta cần hiểu rõ những thông tin về cơ sở dữ liệu mà bài toán cần. Ở đây, chúng tôi xin đưa ra những thông tin mà phần mềm quản lí học sinh cần có như sau:

    Thông tin của học sinh:

    MaHS (Mã Học sinh), HotenSV (họ tên học sinh), ngaysinh (Ngày sinh ) , diachi (địa chỉ) , gioitinh (giới tính ) , Malop (mã lớp), namhoc (năm học ) , dantoc (dân tộc ) , tongiao(tôn giáo ) , tencha(tên cha) , nghenghiepcha(nghề nghiệp cha) , ngaysinhcha(ngày sinh cha) , tenme(tên mẹ) , nghenghiepme(nghề nghiệp mẹ) , ngaysinhme (ngày sinh mẹ) , hanhkiem (hạnh kiểm) ,Ghichu (ghi chú)…

    Thông tin về Điểm học kì :

    Mahs(mã học sinh), namhoc(năm học ), toan_tk(toán tổng kết ), toan_thi(toán thi), vatly_tk (vật lí tổng kết), vatly_thi (vật lý thi) , anh_tk(anh tổng kết) , anh_thi (anh thi), van_tk (văn tổng kết), van_thi (văn thi), sinhhoc(sinh học), hoa (hóa học), dialy (địa lý), cd(công dân), cn (công nghệ), tin (tin học), lsu (lịch sử), theduc(thể dục)

    Thông tin điểm tốt nghiệp

    Sobd(số báo danh) , mahs (mã học sinh ) , namthi (năm thi ), lop (lớp ), toan ( điểm toán ), vatly (điểm vật lý ), anh (điểm anh ), van (điểm văn ), monphu1 ( môn phụ 1 ), monphu2 (môn phụ 2 )

    Thông tin các khoản tiền

    Mahs(mã học sinh ) , namhoc(năm học ) , lop(lớp học) , hocphi(học phí tháng) ,

    baohiem( tiền bảo hiểm ) , xaydung(xây dựng) , sachgiaokhoa(sách giáo khoa ) , dongphuc(đồng phục) , doanphi( đoàn phí)

    Thông tin năm học

    Namhoc( năm học)

    Thông tin lớp học

    Malop (mã lớp ) , siso (sĩ số ) , khoi ( khối ) , namhoc (năm học ) , gvcn (giáo viên chủ nhiệm )

    Mã lớp học

    Malop (mã lớp ) , tenlop ( tên lớp học )

    Thông tin các giáo viên

    Magv ( mã giáo viên ) , tengv ( tên giáo viên ) , lopchunhiem ( lớp chủ nhiệm ) , Monday (môn dạy )

    Thông tin các môn học

    Mamon ( mã môn học ) , tenmon ( tên môn học )

    Thông tin đăng nhập

    Taikhoan ( tài khoản ) , matkhau ( mật khẩu )

    Các thông tin khác:

    Yêu cầu của hệ thống

    Để thực hiện những mục tiêu trên chúng tôi thấy phần mềm cần phải đạt những yêu cần sau:

    Việc đăng nhập thông tin và truy nhập thông tin phải hết sức đơn giản và nhanh chóng.

    Đưa ra những danh sách học sinh , danh sách  điểm một cách chính xác và đầy đủ.

    Việc thao tác trên máy tính phải đơn giản và dễ sử dụng.

    Các thông tin đưa ra phải dễ hiểu và thuận tiệc cho người quản lí sử dụng được thuận lợi và an toàn.

    3 , Mô tả hệ thống

    Sơ đồ phân cấp chức năng

    Quản lý học sinh cấp 3

     

    1.Quản

    lý học

    sinh

    1.1 QL

    DS học

    sinh

    1.2 QL

    chuyển

    lớp

    1.3 QL

    học phí

    2.Quản

    lý điểm

    1. 1QL Điểm Học kì 1

    2.2 QL Điểm

    học kì 2

    2.3 QL Điểm

    cả năm

    2.4 QL Điểm

    Thi Tốt

    nghiệp

    3.Tra

    cứu

    3.1 Tra

    cứu TT

    học sinh

    3.2 Tra

    cứu Điểm

    học kì 1

    3.3Tra

    cứu Điểm

    học kì 2

    3.4 Tra

    cứu Điểm

    cả năm

    3.5Tra

    cứu Điểm

    Thi tốt

    nghiệp

    3.6 Tra

    cứu tổng

    hợp

    4.Báo cáo

    4.1 BC

    Danh Sách

    Học sinh

    4.2BC

    điểm Hk1

    4.3 BC

    điểm Hk2

    4.4 BC

    điểm cả

    năm

    4.5 BC

    điểm TN

    4.6 BC DS

    Lớp học

    4.7 BC DS

    Nộp tiền

    4.8 BC

    tổng hợp

    Ds học sinh ở lại lớp

    Ds học sinh lên lớp

    Trả lời  yêu cầu chuyển lớp

    Yêu cầu chuyển lớp

    Tiền học phí

    Phiếu Xác nhận tiền học phí

    Bằng ( chứng chỉ ) Tốt nghiệp

    Học bạ

    Giấy khen

    Học Sinh

    Sổ liên lạc

    Hồ sơ học sinh

    Thẻ học sinh

    Thời khóa biểu

    DS HS rèn luyện đạo đức trong hè

    Ds điểm HK1

    Ds điểm HK2

    Ds điểm cả năm

    Ds điểm thi TN

    Sơ đồ luồng mức ngữ cảnh

    Quản

    Học

    Sinh

    DS KQ tra cứu    
    Người  
     
    Báo cáo Quản  
     

    Yêu cầu báo cáo

    Yêu cầu tra cứu

    Người Quản Lí

    Yêu cầu báo cáo BC Tổng hợp

    Báo cáo

    4.Báo Cáo

    DS HS rèn luyện đạo đức trong hè

    Thời khóa biểu

    Trả lời yêu cầu chuyển lớp

    Yêu cầu chuyển lớp

    Tiền học phí

    Phiếu Xác nhận tiền học Ds các  
    khoản tiền  
     
    Thẻ học sinh    
       
      Học bạ
      Sổ liên lạc
       
    Học Sinh Hồ sơ học sinh
       

    DS Lớp

    1.Quản Lý

    Học Sinh

    DS nộp Tiền

    DS             Hồ sơ HS     TT HS  
    điểm DS   Bằng        
    hk2 điểm DS DS ở (chứng                    
                       
    hk1   lên chỉ )                    
      lớp lại Tốt                    
      lớp Giấy                  
        nghiệp DS                
                         
            khen điểm   DS          
                         
              cả   điểm          
              năm   thi          
        2.Quản lí       TN       DS khen
                        thưởng
        điểm                    
                           

    DS điểm cả năm

    DS điểm Hk1 DS điểm Hk2      
      DS điểm thi TN
           
               

    3.Tra cứu

    DSKQ tra

    cứu                   Yêu cầu tra cứu

    Sơ đồ luồng dữ liệu mức đỉnh                               Tra cứu tổng hợp

    Sơ đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh

    1 , Quản lí học sinh

    DS rèn luyện đạo đức              
    Sổ liên lạc     1.1 QL DS
    Thời       học sinh
    Hồ sơ              
    khóa Thẻ            
    biểu HS             Hồ sơ HS
      HS          
                   
                     
          Học bạ
    Học sinh    
                       
        Trả lời yêu TT Học sinh  
         
               
             
       
        cầu chuyển
    Yêu cầu   lớp              
                     
    chuyển lớp                  
    Tiền Phiếu  
    Xác  
    Học
    nhận  
    Phí
    tiền học  
      phí  

    1.2 QL

    chuyển lớp

    1.3 QL học DS lớp
     
    phí  

    Ds các khoản tiền

    DS nộp tiền

    2 , Quản lí điểm

    Ds điểm Hk2

              Ds điểm       2.1 QL điểm         2.2 QL điểm
                    hk1               hk2
              Hk1                            
                                                 
                                                 
                          DS điểm hk1                  
                                 
                                               
                                             
    Học     Ds điểm cả năm               DS điểm hk2
                                                   
                                                 
      sinh       Ds hs DS lớp                  
                                 
              Giấy lên lớp                      
                                                 
                                                 
              khen                                    
            Ds hs ở     2.3 QL         2.4 QL điểm
                điểm cả         Thi TN
            lại lớp            
                  năm                      
                                           
                                           
                                       
                                       
          DS khen thưởng                      
                            DS điểm
                    DS điểm cả năm                  
                                     
                                      thi tn
                                               
          Bằng (chứng chỉ) TN                  
                               
                               
                                           
                Ds điểm thi TN                      

    3, Tra cứu

      Tra cứu tổng hợp      
      Người quản lí  
           
          Yêu    
          cầu DS  
          tra
    DS tra cứu HS
    KQ  
    cứu
          tra  
           
            cứu  
              3.6 Tra             3.2 Tra
      3.1 Tra cứu tổng   DS điểm hk1   cứu điểm
        cứu   hợp             Hk1
        DS Học                    
        sinh                    
                                 
                    DS tra cứu điểm hk1    
        DSHS                   3.3 Tra
                               
                    DS tra cứu điểm hk2  
                      cứu
      DS tra cứu điểm thi TN  
                  điểm Hk2
                               
                         
                DS tra cứu điểm cả năm    
        3.5 Tra         3.4 Tra cứu    
        cứu         DS điểm hk2
                điểm cả
        điểm thi            
                năm    
                         
          DS điểm TN     DS điểm cả năm

    4, Báo cáo

            Người quản lí       DS điểm hk1
      DSHS                
                     
        Yêu Báo Báo cáo 4.2 BC
           
          BCDS HS cáo
          cầu tổng hợp điểm
             
            báo         Hk1
      4.1 BC   cáo            
    Danh 4.8 Báo BC bảng  
    Sách Học  
    cáo tổng  
    điểm Hk1  
    sinh  
    hợp  
       
         
    BCDS lớp   BC bảng 4.3 BC
      điểm Hk2
        điểm
    4.6 BC    
        Hk2
    ds lớp    
         
        BC DS  
    BC bảng BC điểmNộp tiền  
    điểm thi cả năm DS điểm hk2
     

    DS lớp

      BC DS khen 4.4 BC  
    4.5 BC thưởng  
    điểm cả  
    điểm thi   4.7 BC
      năm
    TN   DS nộp
       
      DS khen thưởng tiền  
         
    DS điểm TN DS điểm cả năm DS nộp tiền  
     
         
               
    DS Thuộc tính   1NF   2NF   3NF  
                   
    Mã học sinh   Mã học sinh   Mã học sinh   Mã học sinh    
    Tên học sinh   Tên học sinh   Tên học sinh   Tên học sinh  
    Ngày sinh   Ngày sinh   Ngày sinh   Ngày sinh  
    Địa chỉ   Địa chỉ   Địa chỉ   Địa chỉ  
    Giới tính   Giới tính   Giới tính   Giới tính  
    Mã lớp   Mã lớp   Mã lớp   Mã lớp    
    Năm học   Năm học   Năm học   Năm học    
    Dân tộc   Dân tộc   Dân tộc   Dân tộc  
    Tôn giáo   Tôn giáo   Tôn giáo   Tôn giáo  
    Tên cha   Tên cha   Tên cha   Tên cha  
    Ngày sinh cha   Ngày sinh cha   Ngày sinh cha   Ngày sinh cha  
    Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha   Nghề nghiêp cha  
    Tên mẹ   Tên mẹ   Tên mẹ   Tên mẹ  
    Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ   Ngày sinh mẹ  
    Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ   Nghề nghiệp mẹ  
    Hạnh kiểm   Hạnh kiểm   Hạnh kiểm   Hạnh kiểm  
    Ghi chú   Ghi chú   Ghi chú   Ghi chú  
    Tổng kết toán   Tổng kết toán   Tổng kết toán                
    Tổng kết anh   Tổng kết anh   Tổng kết anh   Mã học sinh    
    Tổng kết văn   Tổng kết văn   Tổng kết văn   Năm học  
    Tổng kết lý   Tổng kết lý   Tổng kết lý                
    Tổng kết toán  
    ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán  
          Tổng kết anh  
    Điểm Thi anh   Điểm Thi anh   Điểm Thi anh  
          Tổng kết văn  
    Điểm Thi văn   Điểm Thi văn   Điểm Thi văn  
          Tổng kết lý  
    Điểm Thi lý   Điểm Thi lý   Điểm Thi lý  
          ĐiểmThi toán  
    Sinh học   Sinh học   Sinh học  
          Điểm Thi anh  
    Hóa học   Hóa học   Hóa học  
          Điểm Thi văn  
    Địa lý   Địa lý   Địa lý  
          Điểm Thi lý  
    Công dân   Công dân   Công dân  
          Sinh học  
    Công nghệ   Công nghệ   Công nghệ  
          Hóa học  
    Tin học   Tin học   Tin học  
          Địa lý  
    Thể dục   Thể dục   Thể dục  
          Công dân  
                       
    Mã giáo viên   Mã giáo viên     Mã giáo viên     Công nghệ  
              Tin học  
    Tên giáo viên   Tên giáo viên   Tên giáo viên   Thể dục  
    Lớp chủ nhiệm   Lớp chủ nhiệm   Môn dạy                
    Môn dạy   Môn dạy           Mã giáo viên  
                Số báo danh   Tên giáo viên    
    Số báo danh   Số báo danh         Địa chỉ  
        ĐiểmThi toán  
              Điểm Thi anh   Số điện thoại  
    ĐiểmThi toán   ĐiểmThi toán    
    Điểm Thi anh   Điểm Thi anh   Điểm Thi văn   Môn dạy  
    Điểm Thi văn   Điểm Thi văn   Điểm Thi lý                
    Điểm Thi lý   Điểm Thi lý   Điểm môn phụ 1   Số báo danh  
    Điểm môn phụ 1   Điểm môn phụ 1   Điểm môn phụ 2  
          Mã học sinh    
                       
                                     
    Điểm môn phụ 2 Điểm môn phụ 2         ĐiểmThi toán
    Sĩ số Sĩ số   Mã lớp     Điểm Thi anh
      Sĩ số   Điểm Thi văn
    Khối Khối   Khối   Điểm Thi lý
    Giáo viên CN Địa chỉ   Địa chỉ   Điểm môn phụ 1
      Số điện thoại   Số điện thoại   Điểm môn phụ 2
                   
    Học phí Giáo viên CN   Giáo viên CN   Mã lớp
    Sách Giáo khoa          
              Sĩ số  
    Đồng phục Học phí   Học phí  
        Khối
    Đoàn phí Sách Giáo khoa   Sách Giáo khoa  
        Năm học  
    Bảo hiểm Đồng phục   Đồng phục  
        Giáo viên CN
    Xây dựng Đoàn phí   Đoàn phí  
                 
    Điểm trung bình Bảo hiểm   Bảo hiểm   Mã học sinh  
    Xây dựng   Xây dựng  
    Tổng điểm     Năm học  
             
              Mã lớp  
               
    Tổng tiền           Học phí
              Sách Giáo khoa
               
                Đồng phục
                Đoàn phí
                Bảo hiểm
                Xây dựng

    Sơ đồ thực thể liên kết

     

                                                  1                       Chủ                     n   Lớp học
                    Giáo viên chủ nhiệm                                                                    
                                                  nhiệm                                              
                                                                                               
            Mã Lớp  
            Sĩ số
                    Mã giáo viên               1                                                          
                    Tên giáo viên                                                                                 Khối
      Địa chỉ   1   Năm học  
                    Số điện thoại                                                                           Giáo viên CN
                                                                      Thuộc              
                    Môn dạy                                                                                          
              n      
             
         
      Dạy     1   Nộp  
                                                                                                                               
                                                        Học sinh                                    
                                                                                                 
                                                                                                               
             
                                                          n     Mã học sinh                                              
                                                              Tên học sinh                     Bảng Điểm HK2      
        Bảng Điểm HK1                                      
                                        Ngày sinh                                              
                                                                                     
                                                                                                               
                                                                  Địa chỉ                   Mã học sinh          
        Mã học sinh                                                          
                                                Giới tính                   Năm học            
          Năm học                                                          
                                                                        Tổng kết toán      
                                                    Mã lớp                        
        Tổng kết toán                                                      
                                                              Tổng kết anh      
                                                                                           
                                          Năm học                  
        Tổng kết anh                                                       Tổng kết văn      
                                            Dân tộc                          
        Tổng kết văn                                                       Tổng kết lý      
                                            Tôn giáo                        
        Tổng kết lý                                                       ĐiểmThi toán      
                                            Tên cha                        
        ĐiểmThi toán                                                       Điểm Thi anh      
        Điểm Thi anh                                     Ngày sinh cha                   Điểm Thi văn      
        Điểm Thi văn                                     Nghề nghiêp cha           Điểm Thi lý      
        Điểm Thi lý                                     Tên mẹ                   Sinh học      
        Sinh học                                     Ngày sinh mẹ                   Hóa học      
        Hóa học                                     Nghề nghiệp mẹ                   Địa lý                    
        Địa lý  * *                                   Hạnh kiểm                   Công dân      
        Công dân                                     Ghi chú                   Công nghệ      
        Công nghệ                                                       Tin học                    
                                        1                                                          
        Tin học       1                                         1     Thể dục                    
        Thể dục                                                                                    
                                                                                       
               
             
             
                                                                                          Điểm thi TN                    
                                                                                                             
                                              Học phí kì 1         1                          
                                                                                                         
                                                  Số báo danh                    
                                                                                           
            Học phí kì 2                 Mã học sinh                                    
                                                                             
                                                                             
                                                          Mã học sinh                            
                                                                                                       
                                                                                                       
                  Năm học              
            Mã học sinh                                   Năm học                                  
                            Lớp                                                                
                                                                      Lớp                                    
                       
            Năm học                                                                                            
                            Tiền xây dựng                                                              
                                                                                                     
                                                      ĐiểmThi toán                    
                                                                                             
            Lớp                                                                
                            Tiền học phí                             Điểm Thi anh                    
                                                                                             
            Tiền xây dựng                                                                
                            Tiền bảo hiểm                             Điểm Thi văn                    
            Tiền học phí                                                                
                            Tiền sách GK                             Điểm Thi lý                            
            Tiền bảo hiểm                                                                        
                            Tiền đồng phục                             Điểm môn phụ 1                    
            Tiền sách GK                                                                
                            Đoàn phí                             Điểm môn phụ 2                    
            Tiền đồng phục                         1                                    
                                                                                                             
        Đoàn phí   1        
             
         
         
         

    Các Form chương trình

    1. Màn hình đăng nhập

    Sau khi người dùng đăng nhập thành công bằng tài khoản đã được cung cấp sẵn (user : admin / password : admin)

    thì mới được quyền quản trị hệ thống

    1. Màn hình chính

    -Menu :

    +Trang chủ (phím tắt Ctrl + H)

    • Đăng nhập (phím tắt Ctrl + L)
    • Đăng Xuất (phím tắt Ctrl + Q)
    • Hướng Dẫn sử dụng (phím tắt F1 )
    • Đóng hết các tab ( Ctrl + shift + A) +Tác Giả

    +Thoát

    • quản lí học sinh
      • thông tin học sinh
      • thêm học sinh

    +sửa học sinh

    • Xóa học sinh
    • tìm kiếm hs

    -Quản lí điểm

    • Bảng điểm Hk
    • Tra cứu điểm HK
    • Bảng điểm TN
    • Tra cứu điểm TN

    -Quản lí học phí

    • DS nộp tiền Hk1
    • DS nộp tiền Hk2

    -Quản lí khác

    • Giáo viên CN
    • Lớp học
      • xếp lớp
    • Các lớp học +Năm học

    -Thống kê

    • Học sinh
    • hạnh kiểm yếu *học lực kém
    • điểm tốt nghiệp

    *đỗ TN

    * trượt TN

    -Báo cáo

    • Học sinh
    • Bảng điểm +DS lớp
    • DS khen thưởng
    • DS nộp tiền

    -Tiện ích

    • Nhập dữ liệu +Hướng dẫn sử dụng
    • Thông tin tác giả

    -Giao diện

    +Animal

    +windows 8

    +life

    • vista +valentine +christmas +summer +my book
    • phong cảnh
    1. Các chức năng chính

    Quản lí thông tin học sinh

    STT Chức năng   Ý nghĩa   Ghi chú
           
    1 Button thu nhỏ Thu  nhỏ  các  giá  trị  trong  
        datagridview      
      Button phóng to          
        Phóng  to  các  giá  trị  trong  
        datagridview      
    2 Các button đầu , cuối , Để di chuyển đến các bản ghi  
      sau , trước tương ứng trong datagridview  
           
    3 Button xóa Dùng để xóa 1 học sinh nào đó  
           
    4 Group box thông tin Để  hiện  thị  các  học  sinh  khi  
        người  dùng  click  chọn  vào  1  
        học sinh bên lưới  
        (datagridview)      
    5 Button cập nhật Để thay đổi các thông tin của sau khi sửa xong click button cập
        học sinh       nhật để lưu lại thông tin
             
    6 Button thêm Thêm thông tin học sinh   để thêm thông tin học sinh vào
                csdl
                . để xóa các giá trị nhập trong
                groupbox thông tin các giá trị bạn
                click vào button làm mới
    7 Thoát Đóng form quản lí học sinh    
                 

    Quản lí điểm

    Gồm điểm của học kì 1 + hk2 , điểm thi tốt nghiệp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa điểm của 1 học sinh nào  
        đó  
           
    2 Group box thông Để  hiện  thị  các  học  sinh  khi  người  
      tin dùng click chọn vào 1 học sinh bên  
        lưới (datagridview)  
    3 Button sửa Để thay đổi các thông tin điểm của Khi bạn click vào button sửa sẽ
        học sinh hiện ra button Thực hiện cho
          phép bạn lưu lại các thông tin
          đã được sửa bên group box
          thông tin, sau khi sửa xong
          click button Back để quay lại
           
    4 Button thêm Thêm điểm cho học sinh Tương tự như button sửa . sau
          khi nhập các giá trị cần thêm .
          lúc này button Thực hiện sẽ để
          lưu thông tin học sinh vào csdl
    6 Thoát Đóng form quản lí học sinh  
           

    Điểm thi tốt nghiệp

     

    Quản lí Lớp

    Lớp học

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 lớp học  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin lớp học Thay đổi về số học sinh , năm
          học …
           
    3 Button thêm Thêm lớp mới (nếu có)  
           
    4 Button chi tiết Hiện  lên  bảng  thông  tin  chi  tiết  về  
      gv giáo viên đó  
    5 Thoát Đóng form quản lí các lớp học  
           

    Quản lí năm học

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 năm học  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin năm học  
           
    3 Button thêm Thêm năm học mới  
           
    4 Thoát Đóng form quản lí năm học  
           

    Quản lí giáo viên

     

    Quản lí thông tin giáo viên chủ nhiệm các lớp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button xóa Dùng để xóa 1 giáo viên  
           
    2 Button sửa Để thay đổi các thông tin giáo viên  
           
    3 Button thêm Thêm giáo viên mới  
           
    4 Thoát Đóng form quản lí giáo viên  
           

    Tra cứu Thông tin

    Tra cứu thông tin học sinh

    Cho phép tra cứu thông tin theo các giá trị : mã học sinh , tên học sinh

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Button tìm Tìm kiếm học sinh theo mã hoặc tên  
      kiếm khi giá trị được nhập vào textbox  
           
    2 Radio button Tra cứu các học sinh mã  
      mã học sinh    
           
    3 Radio button Tra cứu các học sinh theo tên  
      tên học sinh    
           
    • Button thoátĐóng form tìm kiếm học sinh

    Tra cứu điểm

    Cho phép tra cứu điểm của các học sinh và hiện thị thông tin cơ bản của các học sinh học kì 1 + 2 + xếp loại cả năm , điểm tốt nghiệp

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Textbox nhập Tra cứu các học sinh theo mã  
      mã hs    
           
    2 Texbox  thông Hiện thị số học sinh có mã đã nhập  
      tin HS sau khi tìm  
           
    3 Button Tìm Tra cứu thông tin điểm của học sinh Bạn cần phải chọn cả năm học và
        theo năm học và lớp học lớp cần tra cứu
           
    4 Button thoát Đóng form  
           

    In Báo Cáo



    Form cho phép người dùng xuất ra các dạng xls , pdf .và chức năng in ấn . Người dùng có thể in ra , hay xuất ra các định dạng về học sinh , bảng điểm …. Đã được chọn từ các button và combobox

    STT Chức năng Ý nghĩa Ghi chú
           
    1 Menu Cho phép người dùng chọn cách tra  
        cứu học sinh , điểm  
           
    2 ReportViewer Hiện thị các thông tin đã tra cứu  
           
    3 Comboxbox Cho phép chọn năm hoặc lớp cần tra  
        cứu để in ấn  
           
    4 Các điều khiển Cho phép người dùng in thông tin  
      bên trên vừa tìm được , xuất ra các định dạng  
      ReportViewer khác . trỏ tới các trang khác trong  
        ReportViewer ……  
           

    Các Hàm chính trong chương trình

    Class kết nối đến csdl dùng chung cho tất cả các form Ở đây dùng csdl là access nên ta cần khai báo 2 namespace sau

    using System.Data;

    using System.Data.OleDb;

    // khai báo đường dẫn đến data

    public OleDbConnection taoketnoi()

    {

    return new OleDbConnection(“Provider=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0;Data Source=csdl.mdb”);

    }

    // tạo truy vấn đến data

    public DataTable taobang(string sql)

    {

    OleDbConnection con = taoketnoi();

    OleDbDataAdapter ad = new OleDbDataAdapter(sql, con); DataTable dt = new DataTable(); ad.Fill(dt);

    return dt;

    }

    • thực hiện truy vấn

    public void ExcuteNonQuery(string sql)

    {

    OleDbConnection con = taoketnoi(); OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(sql, con); con.Open();

    cmd.ExecuteNonQuery();

    con.Close();

    cmd.Dispose();

    }

    Sau khi đã có class kết nối đến data , chúng ta dùng khai báo trong các form cần kết nối đến data như sau :

    Tên class (dấu cách) tên viết tắt = new tên class

    ketnoi ac = new ketnoi();

    Hàm đăng nhập

    OleDbConnection con = ac.taoketnoi();

    con.Open();

    OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(“Select matkhau from dangnhap where taikhoan =’” + txtDangnhap.Text + “’”, con);

    OleDbDataReader reader = cmd.ExecuteReader();

    reader.Read();

    Trong đó : matkhau và taikhoan là 2 trường được lấy trong bảng dangnhap ở csdl

    Ta dùng OleDbDataReader để đọc giá trị cần lấy

    Hàm load giá trị từ csdl vào combobox

    private void load_lop()

    {

    // truy vấn bằng câu lệnh select

    string sql = “select * from malop order by malop asc “;

    comboBox2.DataSource = ac.taobang(sql);

    comboBox2.ValueMember = “malop”;

    comboBox2.DisplayMember = “tenlop”;

    }

    private void load_nam()

    {string sql = “select * from namhoc order by namhoc asc “; comboBox3.DataSource = ac.taobang(sql); comboBox3.ValueMember = “namhoc”; comboBox3.DisplayMember = “namhoc”;

    }

    Tương tự với nhưng combobox khác

    Load data vào lưới

    // khai báo 1 chuỗi truy vấn đến bảng

    string sql = “select * from sinhvien”;

    • Đổ dữ liệu vào lưới DataSource = ac.taobang(sql);

    Thêm 1 bản ghi vào csdl

    //truy vấn bằng câu lệnh insert into tên bảng value (các giá trị cần thêm )

    string sql = “insert into sinhvien values(‘” + textBox1.Text + “‘ ,’” + textBox2.Text + “‘,’” + textBox4.Text + “‘ , ‘” + dateTimePicker1.Text + “‘, ‘” + textBox3.Text + “‘, ‘” + comboBox1.Text + “‘, ‘” + comboBox2.Text + “‘, ‘” + comboBox3.Text + “‘)”;

    • thực thi câu lệnh sql ExcuteNonQuery(sql);

    Xóa 1 bản ghi

    //truy vấn bằng câu lệnh delete from tên bảng where điều kiện

    string sql = “delete from sinhvien where masv=’” + textBox1.Text + “‘”; ac.ExcuteNonQuery(sql);

    Cập nhật

    //truy vấn bằng câu lệnh  update tên bảng set các giá trị where điều kiện

    string sql = “update sinhvien set hosv =’” + textBox2.Text + “‘ ,tensv =’” + textBox4.Text + “‘ , malop=’” + comboBox2.Text + “‘,namhoc=’” + comboBox3.Text + “‘,gioitinh =’” + comboBox1.Text + “‘, diachi=’” + textBox3.Text + “‘, ngaysinh=’”

    • Text + “‘ where masv=’” + textBox1.Text + “‘”; ac.ExcuteNonQuery(sql);

    Tìm kiếm

    // truy vấn bằng câu lệnh select các giá trị trong bảng from tên bảng where điều kiện

    dataGridView1.DataSource = ac.taobang(“select * from sinhvien where malop=’” + comboBox4.Text + “‘ order by tensv asc”);

    Bắt lỗi

    Trong trường hợp trùng với khóa chính hoặc tên đăng nhập không đúng ,… thì chúng ta có thể sử dụng

    Try

    {

    • câu lệnh truy vấn

    }

    Catch

    {

    • hiện thị thông báo lỗi

    }

    Để bắt lỗi

    Import data từ file excel

    Code mẫu với bảng namhoc

    • mở file dùng open filedialog

    OpenFileDialog dlg = new OpenFileDialog();

    dlg.Filter = “Excel files 2003 (*.xls)|*.xls|All files (*.*)|*.*”; //tạo kết nối

    if (dlg.ShowDialog() == DialogResult.OK)

    {

    System.Data.OleDb.OleDbConnection oleCnn = new System.Data.OleDb.OleDbConnection();

    OleDbConnection sqlCnn = ac.taoketnoi();

    try

    {

    //load file excel

    string sConnectionString = “Provider=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0; Data Source= ” + dlg.FileName + “;” + “Extended Properties=Excel 8.0;”;

    oleCnn.ConnectionString = sConnectionString; System.Data.OleDb.OleDbDataAdapter oleDa = new

    System.Data.OleDb.OleDbDataAdapter(); oleDa.SelectCommand = new

    System.Data.OleDb.OleDbCommand(“Select * from [Sheet1$] , [Sheet2$] ,[Sheet3$]”, oleCnn);

    DataTable dtExcel = new DataTable();

    oleDa.Fill(dtExcel);

    //END

    //load bảng cần import trong csdl

    OleDbDataAdapter sqlDa = new OleDbDataAdapter(); sqlDa.SelectCommand = new OleDbCommand(“Select * from namhoc”,

    sqlCnn);

    DataTable dtSql = new DataTable();

    sqlDa.Fill(dtSql);

    dtSql.PrimaryKey = new DataColumn[] { dtSql.Columns[“namhoc”] }; // kiểm tra khóa chính

    // bắt đầu chèn vào csdl

    OleDbCommand cmd = new OleDbCommand(“Insert into namhoc values(@namhoc)”, sqlCnn);

    cmd.Parameters.Add(“@namhoc”, OleDbType.VarChar, 50);

    sqlCnn.Open();

    cmd.Prepare();

    int dem = 0;

    foreach (DataRow row in dtExcel.Rows)

    {

    if (dtSql.Rows.Find(row[“namhoc”]) != null)

    {

    MessageBox.Show(“Row with namhoc is ” + row[“namhoc”] +

    ” already exists.”);

    }

    else

    {

    cmd.Parameters[“@namhoc”].Value =

    row[“namhoc”].ToString();

    cmd.ExecuteNonQuery();

    //end

    dem++;

    }

    }

    MessageBox.Show(“There are ” + dem.ToString() + ” added

    row(s).”);

    }

    catch (Exception ex)

    {

    MessageBox.Show(ex.Message);

    }

    finally

    {

    if (oleCnn.State == ConnectionState.Open)

    sqlCnn.Close();

    if (oleCnn.State == ConnectionState.Open)

    oleCnn.Close();

    }

    }

    Tổng Kết

    1.                 Khả thi về kĩ thuật:

     

    • Thành viên tham gia dự án: 4 thành viên
    • Thời gian thực hiện: 4 tuần
    • Kích thước hệ thống: trung bình

    2.                 Công cụ phát triển:

     

    • Hệ điều hành windows 2007
    • Công cụ lập trình: Microsoft Visual Studio 2005 (ngôn ngữ C sharp)
    • Cơ sở dữ liệu : Microsoft access 2003
    • Công cụ khác : photoshop cs2 , Microsoft office 2007 ….

    3.                 Bảng tổng hợp về rủi ro hệ thống:

    STT Rủi ro Mức độ Mô tả đánh giá Chú thích
             
    1 Tâm lý người dùng Cao Nhân viên nơi làm Tổ chức đào tạo huấn luyện
      chưa quen với hệ   việc đều có khả cho người sử dụng hệ hống.
      thống mới.   năng sử dụng máy Hỗ trợ trực tiếp người dùng
          vi tính. trong thời gian đầu.
            Tiến hành triển khai thử từng
            bước.
             
    2 Kích thước hệ thống Trung Thời gian triển  
        bình khai hệ thống là 1  
          tuần  
             
    3 Chuyển từ cách hoạt Bình Nhân viên sẽ Đào tạo một lớp sử dụng phần
      động từ thủ công sang thường nhanh chóng thích mềm trước khi sử dụng.
      sử dụng phần mềm   nghi với việc sử  
          dụng hệ thống  
          mới.  
             
    4 Dữ liệu không thể Cao Chọn chức năng Có cảnh báo.
      phục hồi khi xóa   xóa.  
             
    5 Nhập dữ liệu sai Khá cao Trong quá trinh Có cảnh báo.
          nhập không tránh  
          khỏi khả năng  
          nhập sai.  
             
    6 Mở thêm tính năng Thấp Khi muốn mở tính Nhóm phát triển phải chi cho
      cho phần mềm.   năng mới cho phần phép người dùng hoạt động
          mềm. trên những model có sẵn
             

    4.Yêu cầu bảo mật:

    Chỉ người có user + password của hệ thống mới có quyền truy cập quản trị hệ thống

    5 , Ngôn ngữ viết

    Chương trình sử dụng ngôn ngữ C # :

    • Phát triển tại Microsoft, đội nghiên cứu do Anders Hejlsberg và Scott Wiltamuth lãnh đạo

     

    • Điều khiển sự kiện, hướng đối tượng, ngôn ngữ lập trình trực quan

     

    • Dựa trên nền tảng C, C++ và Java

     

    • Hợp nhất trong nền .NET platform

     

    • Có thể phân phối các ứng dụng Web

     

    • Các thiết bị và máy tính để bàn

     

    • Các chương trình cho phép mọi người truy cập qua bất cứ thiết bị nào

     

    • Cho phép giao tiếp với các ngôn ngữ máy khác.

     

    • Integrated Design Environment (IDE)-Môi trường tích hợp phát triển phần mềm

     

    • Dễ dàng hoá việc lập trình và gỡ lỗi.

     

    • Phát triển ứng dụng nhanh- Rapid Application Development (RAD)

    6 , Cơ sở dữ liệu

     

    Chương trình sử dụng cơ sở dữ liệu access      vì :

    • Tiện lợi , dễ dùng

     

    • Các form, query, report đều chung 1 chỗ nên nên phát triển và xây dựng nhanh.

     

    • Chi phí mua bản quyền rẻ hơn sql server

    KẾT LUẬN

    • Ưu điểm:
      • Các chức năng cơ bản của chương trình đã hoàn thành.

     

    • Giao diện thân thiện, dễ sử dụng.

     

    • Cài đặt trên nhiều hệ điều hành

     

    • Có trợ giúp hướng dẫn sử dụng

     

    • Nhược điểm
      • Dữ liệu cập nhật hơi chậm.

     

    • Nếu mở rộng chức năng quản lí ( quản lí nhiều lớp – nhiều năm ) thì cơ sở dữ liệu access không đáp ứng được yêu cầu truy vấn vì thế cần chạy trên csdl khác như sql , oracle …

     

    • Phần mềm được viết trên bộ visual studio 2005 vì thế để chạy được chương trình cần phải cài netframe work 2.0

     

    • Độ bảo mật ko cao

     

    • Thời gian hạn chế và nhóm chỉ có 4 thành viên cho nên trong quá trình xây dựng phần mềm còn gặp nhiều khó khăn.

     

    • Chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc xây dựng một chương trình quản lý với quy mô lớn.

     

    • Hầu hết các chức năng hệ thống đã hoàn chỉnh , nhưng còn chức năng chuyển lớp cho các học sinh chúng em chưa làm được ( chuyển các học sinh từ lớp dưới lên lớp trên sau 1 năm học , chuyển các lớp trong khối và chuyển xuống lớp dưới – nếu học lực yếu )

     

    • Kinh nghiệm thu được:
      • Hiểu được nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp cũng như công việc thực tế

     

    • Có cơ hội để vận dụng kiến thức lý thuyết trong nhà trường áp dụng vào thực tiễn.

     

    • Củng cố các kiến thức về các môn học: công cụ phần mềm, phân tích thiết kế hệ thống thông tin, ngôn ngữ lập trình…
    • Hướng giải quyết :

    Phần mềm được viết với các chức năng cơ bản và có thể dựa vào nó để nâng cấp lên quản trị thêm nhiều chức năng hơn , như chức năng quản lí các điểm kiểm tra các môn ( điểm 15 phút , điểm 1 tiết ….) giúp giáo viên không cần mất nhiều thời gian để tính điểm , quản lí các giáo viên trong trường , quản lí hạnh kiểm học sinh ( số buổi vắng , các vi phạm ) , quản lí điểm tổng kết 3 năm và điểm thi tốt nghiệp để xét loại tốt nghiệp cho học sinh , quản lí học sinh diện con nhà nghèo , …..


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

    Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Nhập môn tài chính tiền tệ


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-T%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-S%E1%BB%B1-v%E1%BA%ADn-d%E1%BB%A5ng-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-H%E1%BB%93-Ch%C3%AD-Minh-v%E1%BB%81-%C4%91%E1%BA%A1i-%C4%91o%C3%A0n-k%E1%BA%BFt-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-c%E1%BB%A7a-%C4%90%E1%BA%A3ng-ta-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-hi%E1%BB%87n-nay.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

    MỞ ĐẦU

    Dân tộc Việt Nam ta với bốn nghìn năm văn hiến đã có biết bao nhiêu truyền thống tốt đẹp. Một trong những truyền thống đó đá góp phần tạo nên những chiến thắng vang dội cho dân tộc – đó chính là tinh thần đoàn kết của nhân dân. Và sau này chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết thành quan điểm về đại đoàn kết dân tộc trong hệ thống những quan điểm về vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Bác đã nhìn nhận, đánh giá tất cả các dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam dù lớn hay nhỏ đều có truyền thống đoàn kết, yêu nước và tinh thần cách mạng như nhau Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt, là chiến lược tập hợp lực lượng đấu tranh với kẻ thù dân tộc và giai cấp trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng. Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân đông đảo, mà không phải là công việc của một số người, của riêng Đảng Cộng Sản. Đảng lãng đạo để nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạng của cả dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Điều này đã được Hồ Chí Minh nói khá cặn kẽ, theo quan điểm của Người, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

    Thành công, thành công, đại thành công” là một chiến lược, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam.

    Hồ Chí minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng cộng sản Việt nam. Toàn bộ cuộc đời của Người dành cho sự nghiệp cách mạng Việt nam. Trong số các di sản Người để lại cho dân tộc ta có đại đoàn kết – một tư tưởng nổi bật, bao trùm, xuyên suốt, nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn của Người.

    Tư tưởng Đại đoàn kết đã trở thành tình cảm, suy nghĩ của mọi người Việt nam yêu nước, là sợi dây liên kết cả dân tộc và tạo nên sức mạnh to lớn, đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam độc lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam thống nhất trọn vẹn năm 1975.

    Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh, minh chứng rõ rằng : khi nào Đảng ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện triệt để tư tưởng Đại đoàn kết của Người, thì cách mạng lúc đó thuận lợi, thu được nhiều thắng lợi. Ngược lại lúc nào, nơi nào dân ta vi phạm đoàn kết, xa rời tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, thì lúc đó nơi đó cách mạng gặp nhiều khó khăn, thậm chí tổn thất.

    Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Cách mạng nước ta đang trên đường đổi mới , với nhiều thách thức đặt ra. Chỉ có thể huy động sức mạnh đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta mới đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh, dân chủ. Vì vậy, việc hiểu rõ và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn. Đó là lý do em chọn đề tài : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc”

    Ngoài ra em chọn đề tài về Đại đoàn kết bởi trong khá nhiều đề tài về Tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu vì thực sự em cảm thấy xuyên suốt những nội dung trong tư tưởng của Bác thì Đại đoàn kết dân tộc là một trong những vấn đề  được Bác đề cập và nhắc đến khá nhiều. Đặc biệt hơn nữa là trong bối cảnh hiện nay, dân tộc ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn, với những hiểm họa mà một số nước lớn đang gây sức ép lên chúng ta mà điển hình là vấn đề Biển Đông, thì hơn bao giờ hết tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm gắn kết toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thành một khối ý chí thống nhất vượt qua mọi âm mưu của kẻ thù lại càng phải phát huy hơn nữa. Do đó việc tìm hiểu rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này là hết sức cần thiết để mỗi chúng ta hiểu rõ hơn vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc sống, đối với mọi người, với đất nước. Từ đó, giúp chúng ta xác định một cái nhìn đúng đắn về lòng đoàn kết, nhân nghĩa trong mỗi con người để tự hoàn thiện mình, sống tốt hơn và có ý nghĩa hơn.

    Bài tiểu luận bao gồm các nội dung:

    1. Phần mở đầu
    2. Phần nội dung
    3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
    4. Sự vận dụng của Đảng ta về đại đoàn kết dân tộc theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
    5. Thực trạng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta trong thời gian qua
    6. Giải pháp cho việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
    7. Phần kết luận

    Với khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận và sự hạn chế của cá nhân nên chắc chắn bài viết sẽ không thể tránh khỏi những sơ suất và thiếu sót. Nhưng cá nhân em cũng rất mong muốn bài tiểu luận này như là một sự thể hiện tình yêu của bản thân đối với tư tưởng vĩ đại của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh. Và đây cũng lời cảm ơn tới Thạc sĩ Nguyễn Văn Tuân – giảng viên bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh của Trường Đại học Lao động – Xã hội đã hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình, cụ thể để em hoàn thành bài tiểu luận này. Xin chân thành cảm ơn!

     

    NỘI DUNG

    I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

    1.1.  Những cơ sở hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết:

    Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố và được hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển biện chứng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin đã được vận dụng và phát triển sáng tạo, phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn cách mạng.

    1.1.1.  Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt

    Nam.

    Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết:”Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.  Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững.

    Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, chúng làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắn chặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc. Chúng là cơ sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗi con người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêu nườc, đoàn kết của dân tộc. Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta. Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin coi cách mạng là sự nghiệp quần chúng

    Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng.

    Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. Lên nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản. Rằng nếu không có sự đồng tình và ửng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được.

    Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

    1.1.3. Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách

    mạng Việt Nam và thế giới.

    Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngòai của Hồ Chí Minh.-Thực tiễn cách mạng Việt Nam. Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước”. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình.

    Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho thời kỳ cai trị và áp bức của chúng đối với dân tộc ta trong suốt gần 80 năm trời ròng rã. Nhưng cũng chính trong vòng gần 80 năm đó, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đoàn kết của dân tộc lại sôi nổi hơn bao giờ hết. Nó kết thành một làn sóng vô cùng to lớn, mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn thông qua các xu hướng khác nhau để cứu nước dù cuối cùng tất cả các xu hướng đó đều bị thất bại.

    Hồ Chí Minh đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này. Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước nơi bến cảng Nhà Rồng.

    – Thực tiễn cách mạng thế giới từ năm 1911 đến năm 1941 Hồ Chí Minh đã đi hầu hết các châu lục. Cuộc khảo nghiệm thực tiễn rộng lớn và công phu đã giúp Người nhận thức một sự thực: “Các dân tộc thuộc địa tiềm ẩn một sức mạnh vĩ đại, song cuộc đấu tranh của họ chưa đi đến thắng lợi bởi vì các dân tộc bị áp bức chưa biết tập hợp lại, chưa có sự liên kết chặt chẽ với giai cấp công nhân ở các nước tư bản, đế quốc, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức…”

    CMT10 Nga 1917 đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, dân chủ cho nhân dân. Từ chỗ chi tiết đến CMT10 một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường CMT10 và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phong trào cách mạng thế giới đặc biệt là bài học cho sự huy động, tập hợp, đoàn kết lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng. Điều này giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi” để chuẩn bị lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đừơng cách mạng những năm sau này.

    1.2. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết:

    Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh: là một hệ thống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tập hợp và tổ chức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai đoạn, giải phóng con người.

    1.2.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng.

    Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân ta. Người cho rằng: “ muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng vô sản.

    Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người nhân thức là vấn đề sống còn của cách mạng.

    – Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà tư tưởng đoàn kết là tư

    tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.

    – Đoàn kết quyết định thành công cách mạng vì: đoàn kết tạo nên sức mạnh, là then chốt của thành công. Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc vào một mối thống nhất.Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui mô, mức độ của thành công.

    – Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng.

    Ví dụ:

    Tại sao Pháp – một đất nước có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranh hiện đại lại phải thua một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâm lược? Đó là vì đồng bào Việt Nam đã đoàn kết như chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

    “Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ. Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước. Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc. Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Để thấy rõ hơn vị trí của sức mạnh lực lượng toàn dân đoàn kết trong thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám, chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra: “Vì sao có cuộc thắng lợi đó?

    Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta. Nhất là vì lực lượng của toàn dân đoàn kết.Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, các tôn giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

    Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. Không ai thắng được lực lượng đó”

    Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “Sử dạy cho ta bài học này:

    Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào

    dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Và Người khuyên dân ta rằng: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do.

    1.2.2. Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng

    Hồ Chí Minh cho rằng “đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc”. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người.

    1.2.3. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.

    Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồng cháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo. Nói dến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nói rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ”

    Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, trí thức. Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân.

    Người cho rằng: liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.

    1.2.4. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận

    dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng:

    Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắc:

    • Trên nền tảng liên minh công nông (sau thêm lao động trí óc) dưới sự lãnh đạo của Đảng.
    • Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy việc thống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng.
    • Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

    Phương châm đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” – lấy cái chung, đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.

    Đầu năm 1951, tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên – Việt toàn quốc, Bác nói: “Đại

    đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Bác chỉ rõ: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Bác còn nhấn mạnh:”Đoàn kết rộng rại, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố. Nền có vững, nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính sách đoàn kết phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc”. Cũng tại đại hội đó, Bác còn phát biểu: “Tôi rất sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc của Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt.

    Lòng sung sướng ấy là của chung toàn dân, của cả Đại hội, nhưng riêng cho tôi là một sự sung sướng không thể tả, một người đã cùng các vị tranh đấu trong bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết toàn dân. Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ của nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai “trường xuân bất lão”. Vì vậy cho nên lòng tôi sung sướng vô cùng.”

    Người đã nói lên không chỉ niềm vui vô hạn trước sự lớn mạnh của Mặt trận dân tộc thống nhất, mà còn là sự cần thiết phải mở rộng và củng cố Mặt trận cũng như niềm tin vào sự phát triển bền vững của khối đại đoàn kết dân tộc lâu dài về sau. Điều này được thể hiện trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, khi Hồ Chí Minh còn sống cũng như sau khi Người đã mất.

    II. SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

    2.1. Thực trạng việc việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong những năm qua:

    2.1.1. Mặt tích cực:

    Đã hơn 60 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhưng bài học về tinh thần đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với nhiều chủ trương lớn của đảng, chính sách của nhà nước hợp lòng dân, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Các hình thức tập hợp nhân dân đa dạng hơn và có bước phát triển mới, dân chủ xã hội được phát huy; bước đầu đã hình thành không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội. Có thể khẳng định: chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng đã thực sự là một bộ phận của đường lối đổi mới và góp phần to lớn vào những thành quả của đất nước.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển.

    Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp độ cao so với các nước khác trong khu vực. Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định. Tình hình xã hội có tiến bộ. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nôi lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững, trước mắt phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao.

    Mặt khác, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn đan xen nhau. Sự nghiệp đổi mới của nước ta trong những năm tới, có cơ hội để phát triển của đất nước. Đó là lợi thế so sánh để phát triển do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố nội lực là hết sức quan trọng. Những cơ hội tạo cho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới. Mặt khác, chúng ta rút ra được nhiều bài học từ cả những thành công và yếu kém của gần hai chục năm tiến hành sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa nội lực.

    2.1.2.  Khó khăn:

    Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăn lớn trên con đường phát triển của đất nước. Ví như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân. Các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết của nhân dân ta, luôn kích động cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng ly gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

    Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đang đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc ở chiều sâu. Đặc biệt, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    Hiện nay, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mối quan hệ giữa đảng, nhà nước và nhân dân đang đứng trước những thách thức mới như:

    • Lòng tin vào Đảng, nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa vững chắc, tâm trạng của nhân dân có những diễn biến phức tạp, lo lắng về sự phân hoá giàu nghèo, về việc làm và đời sống.
    • Nhân dân bất bình trước những bất công xã hội, trước tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí, v.v…
    • Đảng ta chưa kịp thời phân tích và dự báo đầy đủ những biến đổi trong cơ cấu giai cấp;
    • Xã hội trong quá trình đổi mới đất nước và những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân để kịp thời có chủ trương, chính sách phù hợp;
    • Có tổ chức đảng, chính quyền còn coi thường dân, coi nhẹ công tác dân vận – mặt trận;
    • Ở không ít nơi còn tư tưởng định kiến, hẹp hòi làm cản trở cho việc thực hiện chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng; một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên thoái hoá, biến chất, v.v… không thực hiện được vai trò tiên phong gương mẫu.
    • Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết của nhân dân ta, luôn kích động cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng li gián, chia rẽ nội bộ đảng, nhà nước và nhân dân ta.

    2.2. Một số giải pháp cho việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay:

    2.2.1. Vì mục tiêu chung phải coi Đại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị mà hạt nhân là tổ chức Đảng:

    Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi đảng, nhà nước phải xây dựng và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phải coi Đại đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của toàn dân, toàn hệ thống chính trị mà hạt nhân là tổ chức Đảng. Với chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong Dự thảo Cương lĩnh, trước hết cần nhận thức rõ đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sự hô hào, kêu gọi chung chung mà là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng có ý nghĩa khoa học, lý luận và chính trị – thực tiễn sâu sắc. Muốn tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng hùng mạnh, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối chính trị, đề ra mục tiêu chiến lược lâu dài phản ánh quy luật phát triển của cách mạng, đồng thời đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng giai đoạn. Đảng chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng, lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp và phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác của các tầng lớp nhân dân. Đảng coi trọng và không ngừng đổi mới công tác vận động quần chúng, củng cố sự gắn bó mật thiết với nhân dân, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân.Từ những nhận định trên mà Đảng, trong các kỳ Đại hội đã đề ra những mục tiêu:

    Đại hội IX của Đảng đã lấy chủ đề là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội X của Đảng (4-2006) đã phát triển hoàn chỉnh quan điểm và hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nhấn mạnh, đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng lớp nhân dân ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và đồng thuận xã hội”.

    Đại hội XI của Đảng (01-2011) phát huy hơn nữa sức mạnh Đại đoàn kết dân tộc: Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội.

    2.2.2. Tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo, xã hội, hoàn thiện chính sách dân tộc, chính sách với kiều bào và chính sách trọng dụng nhân tài:

    Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Với quan điểm, đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước.

    Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

    Mặt khác, với chủ trương “Thu hút được nhân tài cũng là một tài năng”. Nhận thức được sâu sắc rằng tài nguyên lớn nhất cho mọi quốc gia chính là tài nguyên con người. Nếu qui tụ được sức người, thì nhiều nguồn lực khác cũng có thể được qui tụ. Con người mà không qui tụ thì mọi nguồn lực khác cũng rơi rụng. Trong thế giới ngày nay, nguồn lực hàng đầu là trí thức. Nói như thế không có nghĩa là đề cao những con người trí thức cụ thể, mà nói đến một điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển: Trong cuộc đua tranh để phát triển, không thể chỉ dựa vào nhiệt tình và ý chí, mà phải dựa vào kiến thức, học vấn, sự nhận thức các qui luật của thiên nhiên và của xã hội. Theo kinh nghiệm lịch sử của thế giới và bản thân nước ta, nhất là qua những kinh nghiệm của Bác Hồ, thấy rằng trí thức tận tụy hay không là tùy thuộc vào chúng ta có tin dùng trí thức hay không, có giao cho họ đảm nhiệm những trọng trách mà họ xứng đáng được đảm nhiệm hay không. Điều đó không tùy thuộc vào bản thân trí thức, mà vào lãnh đạo: có đủ khả năng thu phục nhân tâm và nhân tài hay không.

    2.2.3. Phải thông suốt quan điểm Đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp đổi mới:

    Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trách nhiệm xã hội cao. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc.

    2.2.4. Mục tiêu chung của dân tộc là xóa bỏ mọi thành kiến phân biệt đối xử do quá khứ đem lại:

    Từ ngày Đảng ta có chủ trương đổi mới, tư tưởng hòa hợp dân tộc lại được phục hưng và ứng nghiệm với nhiều kết quả khả quan. Quan điểm kinh tế nhiều thành phần, quan điểm kinh tế mở, tư tưởng VN làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, khép lại quá khứ, hướng về tương lai… đã giúp cho nước ta khai thác được cả nội lực và ngoại lực để vượt khỏi khủng hoảng, liên tiếp thu được những thành quả về mọi mặt.

    Ngày nay chúng ta đã có một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và đang trên đường tiến tới thực hiện lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Chúng ta đã từng bước nâng cao uy tín quốc tế. Do đó, chúng ta càng có sức cảm hóa nhiều hơn. Những kinh nghiệm quốc tế vừa qua càng chỉ rõ thêm rằng nếu chỉ dùng đối đầu và bạo lực để giải quyết những thù hận thì chỉ đẻ ra thù hận. Nếu dùng cách cảm hóa để giải quyết thù hận thì có thể triệt tiêu được thù hận và tạo ra sức mạnh càng ngày càng dồi dào hơn. Nếu cứ còn chia rẽ do hận vì bại, kiêu vì thắng, thì có ích gì cho bản thân, cho đất nước, cho hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế?

    2.2.5 Cần nhân rộng những tích cực, điển hình của những cá nhân, tập thể thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc:

    Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:

    • Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn, thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.
    • Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung. Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời.
    • Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh. Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổchứckhông tách rời nhau.
    • Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ. Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân. – Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai. – Lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết là nhiệm vụ của đảng, là biện pháp phát huy sức mạnh của đảng, của toàn dân tộc.
    • Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải thực sự đoàn kết trong đảng.
    • Thực hiện đồng bộ đoàn kết trong Đảng- đoàn kết toàn dân – đoàn kết quốc tế.
    • Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của Đảngvà nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế.

    2. Thực trạng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta trong thời gian qua:

    2.1. Thuận lợi:

    2.2 Khó khăn thách thức:

    3. Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết dân tộc của Đảng trong giai đoạn hiện nay:

    Từ những bài học có giá trị lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng và phất triển đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tám phương hướng cơ bản được đưa ra tại Dự thảo cương lĩnh, trong đó nội dung thứ sáu là “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất”. Nói về hệ thống chính trị, Dự thảo Cương lĩnh nhấn mạnh, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    Cương lĩnh là văn kiện cơ bản của Đảng nên chỉ có thể nêu lên những quan điểm và phương hướng lớn, không thể đề cập những chủ trương, chính sách, biện pháp cụ thể. Do đó, các kỳ Đại hội đều cần bổ sung những giải pháp để thực hiện hiệu quả. Với chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong Dự thảo Cương lĩnh, trước hết cần nhận thức rõ đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là sự hô hào, kêu gọi chung chung mà là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng có ý nghĩa khoa học, lý luận và chính trị – thực tiễn sâu sắc. Muốn tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng hùng mạnh, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải chú trọng xây dựng, hoàn thiện và bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực của Cương lĩnh, đường lối chính trị, đề ra mục tiêu chiến lược lâu dài phản ánh quy luật phát triển của cách mạng, đồng thời đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể phù hợp với từng giai đoạn. Đảng chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển các tổ chức quần chúng, lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp và phát huy vai trò tích cực, chủ động, tự giác của các tầng lớp nhân dân. Đảng coi trọng và không ngừng đổi mới công tác vận động quần chúng, củng cố sự gắn bó mật thiết với nhân dân, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân.

    Trong công cuộc đổi mới, trong đó có 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng hoàn thiện các quan điểm và chủ trương, chính sách để thực hiện ngày càng có hiệu quả chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Đối với các giai tầng xã hội: Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trách nhiệm xã hội cao. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ cho thế hệ trẻ. Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân của cựu chiến binh. Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc.

    Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    .

    Đồng bào định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách để hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước.

    Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hoá, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

    4. nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh:

     

    PHẦN KẾT LUẬN

    Qua những phân tích trên ta có thể thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết có một vai trò cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ là lời giải đáp đúng đắn cho những bài toán của cách mạng vào thời điểm đó mà trong suốt chiều dài lịch sử nó vẫn giữ nguyên giá trị. Thực tiễn cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua đã chứng minh hùng hồn sức sống kỳ diệu và sức mạnh vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc, từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam yêu nước và biến nó thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Lịch sử cách mạng Việt Nam hon nửa thế kỷ qua cho thấy, lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện đúng, thì khi đó, nơi đó cách mạng phát triển mạnh mẽ và giành được thăng lợi, nơi nào, lúc nào rời xa tư tưởng đó thì khi đó, nơi đó cách mạng bị trở ngại và tổn thất.

    Trong mỗi trái tim của những người con đất Việt dù ở trong hay ngoài nước thì họ luôn luôn ý thức và tiềm ẩn tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đến đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ của con người Việt Nam, xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng dân tộc bằng nội dung và hình thức tổ chức thích hợp với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức làm nòng cốt do Đảng cộng sản lãnh đạo, phấn đấu vì độc lập của tổ quốc, tự do, hạnh phúc của của toàn dân là một bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị bền vững lâu dài, đặc biệt có ý nghĩa chính trị quan trọng trong sự nghiệp thực thi đường lối đổi mới, thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay.

    Cách mạng nước ta đã bước sang giai đoạn mới có sự khác biệt về chất so với thời kỳ đấu tranh bảo vệ tổ quốc và giải phóng đất nước, thậm chí cũng đã khác rất nhiều so với 20 năm trước. Trải qua ba kỳ Đại hội IX, X và XI, Đảng ta đã xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là một động lực chủ yếu của sự phát triển đất nước. Do vậy, công tác cán bộ phải quán triệt hơn nữa quan điểm và bài học kinh nghiệm của Đảng và Bác Hồ về việc kết hợp quan điểm giai cấp và phát huy truyền thống Đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ thực tiễn lịch sử chứng minh rằng giữa giai cấp công nhân và đại đoàn kết dân tộc có quan hệ biện chứng, không hề đối lập nhau: nếu là công nhân (và chỉ có công nhân thực sự) thì mới thực hiện được đại đoàn kết toàn dân tộc. Đứng trên lập trường khác không thể đại đoàn kết toàn dân tộc thực sự được. Ngược lại, thực hiện đại đoàn kết dân tộc chính là thực hiện quan điểm của giai cấp công nhân, phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân. Theo quan điểm này, làm thế nào tận dụng được hết tất cả tài năng không phân biệt giai cấp, nguồn gốc xuất thân, là người Việt Nam trong nước hay người Việt Namở nước ngoài, chính là thể hiện quan điểm giai cấp công nhân của Đảng ta. Lựa chọn cán bộ phải căn cứ chủ yếu vào nhận thức và hành động thực tiễn của mỗi người chứng tỏ rằng đang phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Ở thời điểm dân tộc ta đã bước sang thế kỷ XXI những thời cơ và thách thức đan xen nhau đang thường xuyên tác động đến khối đại đoàn kết dân tộc. Hơn lúc nào hết, thực tiễn đất nước đòi hỏi chúng ta phải quán triệt những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển những quan điểm ấy, phù hợp với những biến đổi của tình hình mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc sẽ ngày càng phát triển, hoàn thiện cùng với thực tiễn biến đổi của đất nước. Tư tưởng ấy vẫn là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam để đi tới thắng lợi hoàn toàn và triệt để của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1]. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2006)

    [2].  Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ, IX, X, XI.

    [3]. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003.

    [4]. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Một số trang web điện tử:

    [5]. Website Đảng cộng sản Việt Nam http://www.cpv.org.vn

    [6]. Website Bách khoa toàn thư mở http://vi.wikipedia.org

    [7]. Website Báo Đại đoàn kết http://daidoanket.vn/


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]