Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-Kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Tiểu luận Kinh doanh ngoại tệ

    Kinh doanh ngoại tệ – Kiến thức căn bản

    ( Bình chọn: 8   —  Thảo luận: 8 —  Số lần đọc: 20578)

    Ngoại tệ đang là chủ đề nóng của giới ngân hàng hiện nay. Để những bạn có nhu cầu tìm hiểu về cách thức kinh doanh ngoại hối tôi xin tóm tắt một quy trình về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng đang áp dụng hiện nay.

    Trong thời gian gần đây thị trường tài chính tiền tệ luôn dậy sóng với những biến đổi thất thường của lãi suất liên ngân hàng, của tỷ giá đồng USD, ngay cả các ngân hàng cũng không lường hết được những thay đổi ấy. Để hiểu rõ cách thức kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng ra sao, theo tôi, cũng là vấn đề cần quan tâm của các bạn Saganors nói chung và các bạn đang làm trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Bằng những kinh nghiệm thực tế cũng như những tài liệu tham khảo của các ngân hàng tôi xin trình bày một quy trình cụ thể về kinh doanh ngoại tệ mà các ngân hàng trong nước hiện nay đang tiến hành.

     NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    1) Một số thuật ngữ liên quan khi giao dịch trên thị trường hối đoái

    Ngân hàng là Ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ. Trong bài này thì ngân hàng được hiểu như là ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại tệ với các tổ chức khác.

    Chi nhánh là phòng giao dịch, Chi nhánh cấp 1, 2 trực thuộc Ngân hàng

    Đối tác là các tổ chức tín dụng, tố chức tài chính, công ty ở nước ngoài có ký hợp đồng giao dịch ngoại hối với Ngân hàng hoặc có thỏa thuận bằng văn bản về hạn mức giao dịch ngoại hối với ngân hàng.

    Khách hàng là các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính, tổ chức khác và cá nhân ở trong nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ với Ngân hàng.

    Giao dịch hối đoái giao ngay (spot) là giao dịch mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỉ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán.

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward) là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỉ giá xác định, và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai xác định.

    Giao dịch hối đoái hoán đổi (swap) là giao dịch bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán dùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỉ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch quyền chọn (option) là giao dịch ngoại tệ trong đó bên mua có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết với bên bán, trong khi đó bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện giao dịch đã cam kết khi bên mua có yêu cầu theo tỉ giá đã thỏa thuận trước.

    Phí quyền chọn (premium) là mức phí mà bên mua quyền chọn phải trả cho bên bán quyền chọn khi mua quyền chọn

    Dealer là Giao dịch viên thuộc bộ phận nguồn vốn.

    Trạng thái mở (chưa cân bằng-open position) của ngoại tệ là trạng thái phát sinh trong giao dịch mua (hoặc bán) ngoại tệ nhưng chưa bán (hoặc mua) lại với số lượng tương ứng. Trạng thái phát sinh do mua gọi là dư thừa, còn phát sinh do bán gọi là dư thiếu.

    Trạng thái ngoại tệ chung của toàn ngân hàng là trạng thái ngoại tệ mở tối đa của toàn ngân hàng tại một thời điểm. Trạng thái này do Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.

    Mức dừng lỗ (stop loss) là chênh lệch giá bất lợi tối đa giữa giá của trạng thái mở và tỉ giá thị trường tại một thời điểm. Trong trường hợp Dealer đang có một trạng thái mở với giá bất lợi so với giá hiện tại thì phải chuẩn bị một mức dừng lỗ hợp lý để hạn chế lỗ nhiều một khi giá biến động mạnh.

    Hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng là hạn mức giao dịch mà Ngân hàng thỏa thuận được với đối tác và khách hàng. Bộ phận nguồn vốn và Chi nhánh chỉ được phép giao dịch với các đối tác và khách hàng trong hạn mức giao dịch này. Danh sách hạn mức giao dịch với đối tác và khách hàng sẽ phải được xem xét, cập nhật định kỳ hàng năm hoặc khi cần thiết (ngoại trừ các Giao dịch quyền chọn, trong đó đối tác hoặc khách hàng là người mua quyền chọn và các giao dịch ngoại tệ mà đối tác/ khách hàng có đặt cọc cho Ngân hàng).

    Tỉ giá hối đoái là giá của một đồng tiền quốc gia này so với đồng tiền của một quốc gia khác. Tỉ giá hối đoái bao gồm tỉ giá giao ngay, tỉ giá kỳ hạn và tỉ giá thực hiện trong quyền chọn.

    • T ỉ giá giao ngay (áp dụng đối với giao dịch hối đoái giao ngay) là tỉ giá do Ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá giao ngay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá kỳ hạn (áp dụng đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn) là tỉ giá do Ngân hàng và khách hàng hoặc đối tác tự tính toán và thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo phù hợp với thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định về tỉ giá kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm giao dịch.
    • Tỉ giá thực hiện (áp dụng đối với giao dịch quyền chọn) là tỉ giá do người mua quyền chọn yêu cầu người bán quyền chọn thực hiện.

    2) Các hoạt động giao dịch hối đoái và phạm vi giao dịch

    Hoạt động giao dịch hối đoái của Ngân hàng bao gồm:

    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác / khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu muốn mua và bán của đối tác/ khách hàng;
    • Mua và bán ngoại tệ với đối tác nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền đó của Ngân hàng để giảm thiểu rủi ro.
    • Mua và bán ngoại tệ giữa hội sở với Chi nhánh, phòng giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu muồn mua và bán của Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Phạm vi giao dịch :  Bộ phận nguồn vốn được thực hiện toàn bộ các họat động giao dịch hối đoái. Chi nhánh, phòng giao dịch chỉ thực hiện họat động giao dịch hối đoái trong hạn mức trạng thái ngoại tệ của đơn vị mình và trong quy trình kinh doanh ngoại tệ tại Chi nhánh, phòng giao dịch.

    Các loại hình giao dịch: Các loại hình giao dịch hối đoái được phép tiến hành bao gồm

    – Giao dịch hối đoái giao ngay

    – Giao dịch hối đoái kỳ hạn

    – Giao dịch hối đoái hoán đổi

    Đồng tiền giao dịch : Các giao dịch hối đoái được phép tiến hành giữa ngoại tệ với đồng Việt Nam hoặc giữa các loại ngoại tệ với nhau. Các loại ngoại tệ được phép giao dịch là các ngoại tệ được niêm yết trên Bảng tỉ giá công bố hàng ngày của Ngân hàng. Việc công bố loại ngoại tệ nào trên Bảng công bố tỉ giá hàng ngày do quy đinh của từng ngân hàng.

    Đặt cọc :   Để đảm bảo cho các giao dịch giao ngay, hoán đổi và kỳ hạn, Ngân hàng có thể  yêu cầu đối tác hoặc khách hàng đặt cọc cho Ngân hàng hoặc Ngân hàng có thể đặt cọc cho đối tác/ khách hàng. Quyền yêu cầu đặt cọc và thỏa thuận mức đặt cọc do quy đinh của từng ngân hàng. Số tiền đặt cọc và khoản lãi từ tiền cọc (nếu có) sẽ được hoàn trả lại cho đối tác hoặc khách hàng, hoặc Ngân hàng được nhận lại từ phía đối tác hoặc khách hàng khi các bên trong giao dịch đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình.

    CÁC KỸ THUẬT GIAO DỊCH CỤ THỂ

    1) Nguyên tắc niêm yết tỉ giá và phí quyền chọn.

    • Bộ phận nguồn vốn là nơi lập Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch hàng ngày áp dụng thống nhất cho toàn Ngân hàng. Tỷ giá niêm yết này được tính toán bằng các kỹ thuật sao cho vừa phù hợp với cung cầu thị trường vừa nằm trong biên độ giao động cho phép của ngân hàng nhà nước.
    • Bảng niêm yết tỉ giá đầu ngày phải được lập và cập  nhật vào hệ thống chương trình quản lý của Ngân hàng trên máy tính chậm nhất là đầu giờ làm việc của ngày làm việc. Tỷ giá cũng ngay lập tức phải chuyển đi các chi nhánh và phải nhập tỉ giá vào bảng điện tử của hội sở để các khách hàng có thể tham chiếu được ngay.
    • Trong ngày làm việc, nếu có phát sinh biến động lớn về tỉ giá của một loại ngoại tệ niêm yết nào đó thì phải lập  bảng niêm yết tỉ giá giao dịch mới và thực hiện công bố tỉ giá tương tự như việc công bố tỉ giá đầu ngày làm việc.
    • Chi nhánh khi nhận được Bảng niêm yết tỉ giá giao dịch phải cập nhật ngay vào Bảng niêm yết tỉ giá giao  tại quầy giao dịch trực tiếp với khách hàng và thông báo ngay cho các bộ phận có liên quan thuộc đơn vị mình.
    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi, có thể thực hiện giao dịch theo tỉ giá niêm yết hoặc tỉ giá thương lượng giữa Ngân hàng với khách hàng hoặc đối tác nhưng phải đảm bảo tỉ giá giao dịch phù hợp với tỉ giá của thị trường tại thời điểm giao dịch và quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về giao dịch về giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi.
    • Mức phí quyền chọn được thực hiện theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng

    hoặc đối tác khi thực hiện quyền chọn. Bộ phận nguồn vốn căn cứ vào mức phí quyền chọn trong giao dịch với đối tác trên thị trường quốc tế tại thời điểm giao dịch để quyết định phí quyền chọn cho khách hàng/ đối tác.

    2) Thực hiện giao dịch với đối tác hoặc khách hàng :

    Việc thực hiện giao dịch với đối tác /khách hàng do Dealer thực hiện. Các phương tiện được thực hiện trong giao dịch là: điện thoại, fax. Cần lưu ý rằng tất cả các giao dịch qua điện thoại được coi là hợp lệ khi giao dịch được thực hiện thông qua của Ngân hàng

    3) Tạo dữ liệu giao dịch:

    Sau khi hoàn tất việc thực hiện giao dịch  với đối tác/khách hàng.  Dealer phải nhập nội dung của giao dịch vào hệ thống quản lý giao dịch (trading system) và in ra  “Phiếu giao dịch” ngay lập tức để chuyển sang cho Bộ phận kiểm soát rủi ro.

    4) Kiểm soát giao dịch:

    Ngay sau khi nhận được giao dịch từ hệ thống quản lý giao dịch hoặc “Phiếu giao dịch cho Dealer chuyển sang, Bộ phận kiểm soát rủi ro phải thực hiện các bước sau:

    • Kiểm tra tỷ giá giao dịch có phải là tỷ giá công bố hoặc tỷ giá giao dịch của thị trường hay không;
    • Kiểm tra hạn mức của đối tác hoặc khách hàng;
    • Kiểm tra tiền cọc (nếu có);
    • Kiểm tra hạn mức giao dịch của Dealer.

    Trong trường hợp giao dịch không đảm bảo một trong các yêu cầu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro được quyền không duyệt, và phải tiến hành lập ngay biên bản vi phạm giao dịch, đồng thời báo cáo kịp thời cho cấp quản lý trực tiếp của bộ phận kiểm soát rủi ro để xử lý. Khi  giao dịch đảm bảo các điều kiện nêu trên thì nhân viên kiểm soát rủi ro tiến hành duyệt giao dịch trên hệ thống giao dịch hoặc ký tên trên “phiếu giao dịch” và chuyển sang cho bộ phận hỗ trợ giao dịch (back office)

    5) Xác nhận giao dịch:

    Việc thực hiện xác nhận do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện:

    • Đối với giao dịch hối đoái giao ngay (spot) chỉ cần xác nhận lại với đối  tác hoặc khách hàng bằng fax, văn bản hoặc điện xác nhận (swift);
    • Đối với giao dịch hối đoái kỳ hạn (forward), hoán đổi và quyền chọn thì ngân hàng và đối tác hoặc khách hàng phải ký kết hợp đồng chi tiết bằng văn bản hoặc điện xác nhận.

    Đối với các giao dịch được xác nhận bằng hợp đồng: ngân hàng và đối  tác/khách hàng phải ký hợp đồng ngay khi thực hiện giao dịch và hợp đồng phải được gửi đi trong ngày giao dịch (căn cứ vào dấu của bưu điện). Với các giao dịch được xác nhận bằng fax: hợp đồng phải gửi đi ngay sau khi Dealer tạo dữ liệu giao dịch hoặc sau khi nhận được hợp đồng do đối tác/khách hàng gửi đến. Tất cả giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày. Còn đối với các giao dịch được xác nhận bằng điện xác nhận: Xác nhận giao dịch phải gửi đi trong phiên kết nối vào hệ thống swift gần nhất. Tất cả các giao dịch trong ngày phải được xác nhận hoàn tất trong ngày.

    6) Thanh toán giao dịch:

    Việc thực hiện thanh toán giao dịch do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    Giao dịch giao ngay: Việc thanh toán theo thỏa thuận cụ thể về thời điểm chuyển tiền đối với đối tác/khách hàng nhưng phải thực hiện và kết thúc chậm nhất trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo sau ngày cam kết mua bán;

    Giao dịch kỳ hạn: Ngày thanh toán là ngày làm việc cuối cùng của kỳ hạn giao dịch và được ghi rõ trong hợp đồng đã đuợc ký kết.   Ngân hàng chỉ được phép chuyển tiền khi đến hạn thanh toán;

    Giao dịch hoán đổi:

    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch giao ngay thì việc  thanh toán dựa trên ngưyên tắc đã quy định  đối với giao dịch giao ngay.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn.
    • Trường hợp giao dịch hoán đổi gồm hai giao dịch kỳ hạn thì việc thanh toán dựa trên nguyên tắc đã quy định đối với giao dịch kỳ hạn.

    7) Thanh toán bù trừ: Thanh toán bù trừ là việc chỉ thanh toán phần chênh lệch giũa các giao dịch mua và các giao dịch bán có cùng cặp tiền tệ hoặc của một lọai tiền tệ  của nhiều cặp tiền tệ khác nhau, cùng ngày giá trị thanh toán giữa ngân hàng với đối tác/khách hàng. Để thực hiện thanh toán bù trừ, ngân hàng và đối tác khách hàng giao dịch phải có thỏa thuận thanh toán bù trừ bằng văn bản riêng.

    8) Theo dõi thanh toán đi và thanh toán đến : Việc theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi và thanh toán đến do nhân viên hỗ trợ giao dịch thực hiện.

    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đến: bao gồm theo dõi tất cả các   khoản tiền thanh toán đến trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã thực hiện với đối tác hoặc khách hàng; đối chiếu nội dung nhận tiền, số tiền thực nhận với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.
    • Theo dõi thực hiện các khoản tiền thanh toán đi: bao gồm theo dõi tất cả các khoản tiền phải thanh toán đi trong ngày căn cứ vào các hợp đồng giao dịch đã được thực hiện với đối tác/khách hàng; đối chiếu nội dung chuyển tiền, số tiền thực chuyển trên chứng từ thanh toán đi với nội dung, số tiền trên hợp đồng giao dịch.

    Quy trình nghiệp vụ cơ bản của kinh doanh ngoại tệ thì chỉ có như vậy. Tùy theo mỗi ngân hàng mà chia ra các phòng ban chức năng và nhân sự khác nhau. Tuy nhiên nói gì thì nói bộ phận kinh doanh ngoạiệ phải đảm bảo ba nhóm sau:

    • N hóm giao dịch kinh doanh (front office): gồm các Dealer kinh doanh được phép giũ  trạng thái ngoại tệ mở và các Dealer môi giới không được phép giũ trạng thái ngoại tệ mở;
    • Nhóm kiểm soát rủi ro (risk control): gồm các kiểm soát viên;
    • Nhóm nghiệp vụ (back office): gồm các nhân viên hỗ trợ giao dịch.

    Có điều cần chú ý là các ngân hàng luôn quy định phòng làm việc của bộ phận giao dịch phải tách biệt với bộ phận kiểm soát rủi ro và bộ phận hỗ trợ giao dịch và việc sử dụng các trang thiết bị thông tin cần phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt của mỗi ngân hàng.

    Quy trình này chưa đề cập đến công tác hạch toán trong kinh doanh ngoại tệ, cũng là một công việc khá phức tạp và khó trình bày. Tuy nhiên các bạn có thể tham khảo các văn bản sau để hiểu rõ cách thức hạch toán của các nghiệp vụ ngân hàng nói chung và nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ nói riêng:

    Quyết định 479/2004 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 29/04/2004

    Quyết định 29/2006 QĐ-NHNN của thống đốc ngân hàng nhà nước ban hành ngày 10/07/2006


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-3.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 3)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Sau khi có cái nhìn tổng quan về quyền chọn và thị trường quyền chọn, câu hỏi đặt ra là: Ở Việt Nam hiện nay, thị trường quyền chọn đã phát triển như thế nào? Bất kỳ thị trường nào muốn đi vào vận hành thị cũng cần có một hệ thống cơ sở pháp lý để chi phối, điều chỉnh và kiểm soát. Vậy hệ thống cơ sở pháp lý cho thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán đã phát triển như thế nào? Đã bao quát thị trường hết chưa hay vẫn còn thiếu hụt trầm trọng?

    1.Cơ sở pháp lý

     

     

    a. Đối với quyền chọn ngoại tệ

     

     

    • Cơ sở pháp lý liên quan chính sách quản lý ngoại hối

    Trong thời gian qua, thị trường ngoại hối phát triển với nhiều nghị định, quyết định, văn bản hướng dẫn… Trong đó, Nghị định 05/2001/NĐ-CP ngày 17/1/2001 về quản lý ngoại hối, quyết định 648/2002-2004/QĐ-NHNN về cơ chế thỏa thuận tỷ giá kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN về điều chỉnh giao dịch hối đoái của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Đặc biệt là pháp lệnh ngoại hối có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, pháp lệnh này như một khuôn khổ thống nhất về quản lý ngoại hối. Theo đó, NHNN nới lỏng kiểm soát ngoại tệ, tự do hóa các giao dịch, tăng quyền tự chủ cho

    các NHTM và TCTD, làm cho thị trường ngoại tệ diễn ra uyển chuyển và linh hoạt hơn.

    Cơ chế điều hành tỷ giá cũng đã có những thay đổi đáng kể. Vào tháng 5/2004,

    NHNN đã bãi bỏ các trần cố định về tỷ giá kỳ hạn để thay bằng chênh lệch lãi

    suất. Tháng 7/2006, NHNN bỏ biên độ giao dịch đô la Mỹ tiền mặt, cho Eximbank

    thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thỏa thuận.

    Biên độ giao dịch USD không ngừng được mở rộng, ngày 10/3/2008 biên độ được xác định là +/-1%, sau đó được nâng lên thành +/-2%, và gần đây nhất đã được nâng lên +/-3%. Việc nới lỏng biên độ tỷ giá góp phần phản ánh chính xác quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, đồng thời chính việc này đã làm rủi ro hối đoái không ngừng tăng lên.

    Giai đoạn năm 1998-2008, với sự thông thoáng hơn trong cơ chế chính sách, thị trường ngoại hối có nhiều khởi sắc với hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ sôi động hơn, tạo cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác giữa các ngân hàng trong nước và nước ngoài. Những chính sách này đã mở ra nhiều nghiệp vụ mới đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, …giúp doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn để bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đồng thời góp phần đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại các NHTM.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ

    Ngày 10/01/1998, trên cơ sở nhận thức sự cần thiết thúc đẩy giao dịch ngoại hối phát triển, thống đốc NHNN đã ký quyết định 17/1998/QĐ_NHNN ban hành quy chế giao dịch hối đoái (quyết định 17). Quy chế này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, tạo công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại

    hối. Tuy nhiên, với quyết định này thì giao dịch ngoại hối chỉ mới được thực hiện thông qua các công cụ giao ngay kỳ hạn và hoán đổi.

    Ngày 12/02/2003, công văn số 135/NHNN-QLNH về giao dịch quyền chọn ngoại tệ, trước tiên là quyền chọn giữa ngoại tệ với ngoại tệ chính thức ra đời. Eximbank là NHTM đầu tiên thực hiện thí điểm nghiệp vụ này. Trong đó, công văn này đã quy định cụ thể nhằm triển khai thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ ở các ngân hàng như về đối tượng tham gia, đồng tiền giao dịch, thời hạn giao dịch, giới hạn số dư…

    Sau 7 năm đi vào hoạt động, đến cuối năm 2004, quyết định 17/1998/QĐ-NHNN

    (quyết định 17) đã phát sinh những hạn chế. Vì vậy, ngày 10/11/2004, thống đốc

    NHNN đã ký quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái của các

    TCTD để thay thế quyết định 17 và khắc phục những hạn chế này. Quyết định này

    có những điểm mới như chính thức cho phép tất cả các TCTD được phép thực

    hiện các giao dịch hối đoái đều được quyền thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại

    tệ mà không cần phải xin phép NHNN. Qua đó, thời điểm này NHNN đã chấm dứt

    thời gian thí điểm nghiệp vụ này. Đồng thời, quy định kỳ hạn của giao dịch quyền

    chọn giữa các ngoại tệ với nhau do tổ chức tín dụng được phép và khách hàng tự

    thỏa thuận. Quy định này là một sự chuyển biến lớn trong cung cách quản lý các

    hoạt động giao dịch ngoại hối giúp thị trường quyền chọn nước ta ngày càng đa

    dạng hơn. Bên cạnh đó, quyết định này cho phép các cá nhân được phép tham gia

    ngoài các TCTD, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và NHNN. Đây thực sự là một cơ

    hội cho các nhà đầu tư cá nhân có thêm một sân chơi mới trên thị trường tiền tệ.

    * Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ

    Ngày 18/4/2005, NHNN đã có công văn số 326/NHNN_QLNH cho phép ACB triển khai thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ. Theo công văn

    này, NHNN đã đưa ra những quy định cụ thể về các loại ngoại tệ được giao dịch, cơ sở tính phí quyền chọn, thời hạn giao dịch, đối tượng giao dịch… những quy định này là cơ sở để triển khai thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ tại các NHTM khác dưới sự cho phép của NHNN.

    Ngày 29/8/2006, NHNN cũng đã ban hành công văn số 7404/NHNN-KTTC. Nội dung chính của công văn này gồm có các hướng dẫn cụ thể, chi tiết về nguyên tắc và nội dung kế toán đối với các nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn, nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ, nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ, để giải quyết vấn đề hạch toán kế toán nghiệp vụ phái sinh tiền tệ tại các NHTM.

    b. Đối với quyền chọn chứng khoán (Cụ thể là quyền chọn cổ phiếu)

    Từ khi thị trường chứng khoán ra đời ngày 20-7-2000, các văn bản pháp lý để tạo lập, vận hành và quản lý thị trường được các cơ quan nhà nước ban hành khá nhiều. Nhưng nhìn chung, những thiếu sót, bất cập vẩn còn rất lớn, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, đang trên con đường phát triển và trưởng thành. Ngày 29-6-2006, luật chứng khoán chính thức được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1-1-2007, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán Việt Nam, tạo một đường băng cất cánh cho thị trường.

    Đáng chú ý nhất là trong giai đoạn thị trường suy giảm mạnh từ khoảng cuối quí I đến thời gian gần đây, UBCK nhà nước đã lần lượt giảm biện độ dao động giá cổ phiếu, chứng chỉ quĩ xuống còn +/-1% đối với HOSE và +/-2% đối với HASTC.

    Sau một thời gian ngắn thị trường phục hồi nhẹ, UBCK đã cho phép nâng biên độ lên +/-2% đối HOSE và +/-3% đối với HASTC, sau đó lại tiếp tục được nâng lên +/-3% đối với HOSE và +/-4% đối với HASTC.

    Gần đây nhất, ngày 14/8/2008, UBCK nhà nước ban hành công văn số 1650/UBCK-PTTT về việc điều chỉnh biên độ giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ. Theo đó, biên độ giao dịch giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ là +/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC, điều này sẽ làm cho giá cả chứng khoán giao động mạnh hơn, phản ánh đúng cung cầu hơn, nhưng rủi ro cho các nhà đầu tư sẽ nhiều hơn, mở ra cơ hội cho việc sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro như quyền chọn cổ phiếu để bảo hiểm cho các nhà đầu tư.

    Thế nhưng, cho đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý chính thức nào qui định, hướng dẫn hay cho phép thực hiện về quyền chọn cổ phiếu tất cả chỉ mới ở giai đoạn dự thảo, ngoại trừ một số công văn cho phép một số tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như VCBS…

    c. Đánh giá chung về cơ sở pháp lý

    Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp lý liên quan đến chính sách quản lý ngoại hối và quyền chọn ngoại tệ được ban hành là khá nhiều nhưng chúng vẫn chưa quy định cụ thể và thúc đẩy được các giao dịch mua bán quyền chọn phát triển, nó chỉ mang tính tức thời bổ sung cho thị trường ngoại hối, cũng giống như chúng ta chỉ ban hành văn bản luật khi thị trường cần thực hiện các giao dịch này trong ngắn hạn, chứ chưa đưa ra các bộ luật chuẩn quy định cụ thể, thống nhất như luật công cụ bảo hiểm phái sinh chẳng hạn. Như vậy, sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư… trong việc hoạch định các chiến lược dài hạn để kinh doanh trên thị trường.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu chúng ta dường như chưa có văn bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện giao dịch quyền chọn trên thị trường chứng khoán, ngoại trừ một số công văn cho phép vài tổ chức thí điểm triển khai nghiệp vụ này như công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS)… Với yêu cầu cấp

    thiết hiện nay, những lúc thị trường chứng khoán giảm sâu, các nhà đầu tư hoang mang, bán đổ bán tháo cổ phiếu vì họ chưa thể áp dụng các công cụ để bảo vệ mình. Như vậy, việc ban hành các văn bản luật liên quan đến quyền chọn cổ phiếu và thành lập thị trường của chúng hiện nay đang là nhu cầu cấp thiết đòi hỏi các cơ quan chức năng sớm thực hiện .

    Nói tóm lại , cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các giao dịch quyền chọn ngoai tệ cũng như các quyền chọn cổ phiếu có một lỗ hổng lớn so với nhu cầu thực tế, mà không thể một sớm một chiều có thể khỏa lấp được. Các cơ quan chức năng cần tập trung nghiên cứu, tham khảo nhằm ban hành các văn bản pháp luật liên quan để dần xóa bỏ lỗ hổng pháp lý lớn này, đưa thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu vào đường băng của sự phát triển.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 4)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với sự hình thành bước đầu của thị trường quyền chọn, thì thực trạng triển khai quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Chúng đã trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro và đầu tư phổ biến cho thị trường hay chưa? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tuơng lai”).

    2.Thực trạng triển khai options ngoại tệ và options cổ phiếu của các tổ chức tài chính ở Việt Nam trong thời gian qua

    Thời gian qua ở Việt Nam, quyền chọn ngoại tệ dường như là công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh tỷ giá luôn ở trạng thái tăng giảm liên tục. Trong khi đó, quyền chọn cổ phiếu chỉ mới được thí điểm bước đầu ở VCBS.

    a.Quyền chọn ngoại tệ

    Gồm quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ và quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ

    Về phía ngân hàng tham gia

     

    Trong giai đoạn thí điểm, các ngân hàng thương mại (NHTM) muốn thực hiện giao dịch quyền chọn ngoại tệ phải là ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VNĐ kinh doanh ngoại tệ có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại tệ của năm trước tối thiểu là 1 tỷ USD. Ngoài ra, NHTM phải lập ra quy trình nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và trình cho thống đốc ngân hàng nhà nước (NHNN) chấp thuận bằng văn bản cho thực hiện thí điểm.

    Theo công văn số 135/NHNN-QLNH, cho phép Eximbank là ngân hàng đầu tiên trong cả nước được thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ. Sau Eximbank, NHNN cũng cho phép 7 ngân hàng khác thực hiện thí điểm nghiệp vụ này, gồm có hai ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Viet Nam là Citibank, HSBC chi nhánh TPHCM và 5 ngân hàng trong nước là BIDV, ACB, Vietcombank, ICB, và Argribank.

    Đặc điểm giao dịch

    Nguyên tắc chính của loại quyền chọn này là các doanh nghiệp và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu, trong đó:

    Người mua quyền chọn là các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.

    Người bán quyền chọn là các NHTM.

    Đồng tiền giao dịch: giao dịch bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.

    Kiểu quyền chọn: kiểu Mỹ hoặc Châu Âu.

    Về doanh số giao dịch

     

    Tính đến tháng 6/2004, mặc dù lợi ích trong việc sử dụng các công cụ bảo hiểm

    rủi ro đã thấy rõ như một nhu cầu cấp thiết, nhưng số lượng hợp đồng được ký kết chỉ dừng lại con số 50 hợp đồng quyền chọn với doanh số thực hiện hơn 50 triệu USD của Eximbank ký với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong thời gian thí điểm nghiệp vụ quyền chọn, còn 6 ngân hàng còn lại không ký được hợp đồng nào.

    Từ 2004 đến 2007, mặc dù không còn giới hạn về số lượng NHTM tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ nhưng thực tế cho thấy các hoạt động mua bán này chưa thực sự sôi động, chỉ tập trung vào chi nhánh các ngân hàng nước ngoài như HSBC hay Citibank và một số ít NHTM Việt Nam như Eximbank, Techcombank, còn lại các ngân hàng vẫn không có giao dịch.

    Với nghiệp vụ này, chắc chắn tương lai sẽ được mở rộng bởi khi đó VNĐ sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường tài chính thế giới. Vị thế của VNĐ và Việt Nam cũng qua đó mà tăng lên. Tuy nhiên, vì đang trong giai đoạn thí điểm nên các ngân hàng này bị giới hạn bởi thời gian thực hiện. Sau 4 năm hoạt động, công cụ phòng ngừa rủi ro đã có những bước phát triển nhưng vẫn chưa thu được kết quả như mong muốn, và hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa thiết tha với các nghiệp vụ này lắm. Dù gặp phải một số khó khăn trong việc áp dụng, song các công cụ này đang là nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp và là cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

    Quyền chọn ngoại tệ với nội tệ (VNĐ)

    Về phía ngân hàng tham gia giao dịch

    Tháng 4/2005 NHNN Việt Nam đã bắt đầu cho triển khai thực hiện thí điểm giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ với VNĐ. ACB là ngân hàng đầu tiên được thí điểm nghiệp vụ này, với mức tối đa giá trị hợp đồng là 10 triệu USD và mức tối thiểu là

    10.000 USD (quy đổi ngoại tệ khác tương đương mức này cho quyền chọn giao dịch giữa các ngoại tệ khác và VNĐ).

    Tiếp theo ACB là ngân hàng Techcombank với giá trị hợp đồng là 8 triệu USD-100.000 USD và chỉ được thực hiện với quyền chọn Châu Âu. BIDV được phép thí điểm từ ngày 22/8/2005 và kể từ đây không còn quy định giới hạn cho giá trị hợp đồng quyền chọn. Ngoài ra, còn có các ngân hàng như Eximbank, GPbank cũng tham gia nghiệp vụ này. Như vậy, tính đến tháng 5/2008, đã có 7 ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ.

    Đặc điểm giao dịch

    Cũng giống với giao dịch giữa quyền chọn ngoại tệ với ngoại tệ, quyền chọn ngoại tệ với VNĐ yêu cầu các NHTM muốn thực hiện nghiệp vụ này phải có đề án chi tiết quy trình nghiệp vụ, phương án phòng ngừa rủi ro, và được NHNN chấp nhận bằng văn bản. Quy định về tỉ giá thực hiện như sau:

    Đối với hợp đồng quyền chọn USD/VNĐ: tỷ giá này không vượt quá tỷ giá kỳ hạn USD/VNĐ cùng thời hạn.

    Đối với hợp đồng quyền chọn giữa ngoại tệ khác với VNĐ: tỷ giá do ngân hàng và khách hàng tự thỏa thuận.

    Doanh số giao dịch

    Mặc dù được triển khai từ năm 2005, nhưng doanh số mua bán thực tế của các NHTM không đáng kể, hầu hết các giao dịch đều được tiến hành theo kiểu Mỹ vì điều kiện thanh toán linh hoạt hơn. Qua kết quả thăm dò, các ngân hàng như ACB, Techcombank, BIDV, VIB dù là những ngân hàng tham gia các nghiệp vụ này từ rất sớm nhưng họ chỉ mới thực hiện được một số hợp đồng với doanh số không đáng kể.

    Riêng Vietcombank và Eximbank được xem là hai ngân hàng mạnh về lĩnh vực này nhưng doanh số hoạt động vẫn không cao. Tính trong năm 2006-2007 Vietcombank chỉ đạt khoảng 37,53 triệu USD (chiếm chưa đến 0,1% tổng doanh số giao dịch ngoại tệ), Eximbank đạt 128,12 triệu USD (chiếm khoảng 0,8% trong tổng số giao dịch ngoại tệ).

    Qua thực tế trên, chúng ta thấy rằng giao dịch quyền chọn giữa ngoại tệ và VNĐ chưa phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng với kết quả ban đầu trong giai đoạn thí điểm này là một dấu hiệu đáng mừng góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển sau này.

    b.Quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu)

    Trong giai đoạn thí điểm hiện nay, UBCK chỉ cho công ty chứng khoán VCBS thí điểm triển khai nghiệp vụ quyền chọn cổ phiếu, với đối tượng giao dịch là giữa VCBS và các nhà đầu tư (kể cả cá nhân và tổ chức). Thế nhưng, do là một nghiệp vụ mới nên rất ít các nhà đầu tư biết đến và sử dụng dịch vụ này, các con số về hợp đồng, doanh thu của tổ chức thực hiện VCBS hầu như là không đáng kể.

    c. Đánh giá chung về thực trạng sử dụng options ngoại tệ và cổ phiếu ở Việt

    Nam thời gian qua

    • Việt Nam, các nghiệp vụ phái sinh nói chung và options nói riêng mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên, các nghiệp vụ options này còn

    mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn:

    • Về quyền chọn ngoại tệ: NHNN đã cho phép thực hiện thí điểm đối với Eximbank, VIB, Vietcombank; ACB, BIDV, Techcombank, NHTMCP Quân đội, nhưng doanh số về hoạt động này vẫn không đáng kể so với doanh số các hoạt

    động truyền thống. Mặc dù thị trường các công cụ tài chính phái sinh, quyền chọn ngoại tệ đã hình thành ở Việt Nam, nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến.

    • Về quyền chọn cổ phiếu: Thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời được 8 năm, nó đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thăng trầm, thị trường lên xuống thất thường, rủi ro cho các nhà đầu tư là khá lớn, nhu cầu phòng ngừa rủi ro đã trở

    thành cấp thiết. Thế nhưng, quyền chọn cổ phiếu vẫn chưa chính thức được ra đời ở nước ta để hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chứng khoán. Thị trường vẫn mới ở trong giai đoạn chuẩn bị, thí điểm nhỏ lẻ, những kết quả thu được hầu như chỉ là con số không.

    Như vậy, điểm lại những mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ở Việt Nam, dễ nhận thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là một công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro. Theo báo cáo tại hội thảo khoa học về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam” năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giữa các ngân hàng với khách hàng ngày càng tăng lên: Năm 2004 tăng 30%, từ năm 2005-2007 trung bình tăng khoảng 20%/năm. Trong đó, các giao dịch giao ngay chiếm từ 90-95%, các giao dịch quyền chọn ngoại tệ chỉ chiếm từ 1-5%, một tỉ trọng rất nhỏ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam-hi%E1%BB%87n-nay-B%C3%A0i-5.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

    Thực trạng quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn

    chứng khoán ở Việt Nam hiện nay (Bài 5)

     

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Với những thực trạng hiện tại thì quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (cổ phiếu) sẽ phát triển ra sao trong tương lai? Vậy thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế cho sự phát triển của các thị trường như thế nào? (Bài viết thuộc loạt bài:”Quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán – Thực trạng và giải pháp cho sự phát triển trong tương lai”).

    3. Đánh giá triển vọng thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    a. Những thuận lợi của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam

    Đối với quyền chọn ngoại tệ

    Về phía ngân hàng

    Theo kết quả khảo sát của NHNN Việt Nam – chi nhánh TP HCM năm 2006 thì 100% các ngân hàng đều thừa nhận rằng hiện tại họ rất quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá. Qua cuộc khảo sát này chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng ngày càng chú trọng đến sự phát triển cung cấp các giao dịch ngoại hối mặc dù NHNN vẫn can thiệp và giữ tỷ giá tương đối ổn định. Việc phát triển các nghiệp vụ này ngoài mục đích giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn đồng thời áp dụng các công cụ options để quản lý rủi ro, đây còn là cơ hội cạnh tranh cho các NHTM đa dạng hóa

    sản phẩm cung cấp, đồng thời đón trước được nhu cầu cấp thiết trong việc sử dụng các công cụ này trong thời gian tới của doanh nghiệp.

    Về phía doanh nghiệp

    Theo kết quả của công trình nghiên cứu khoa học tháng 12/2006 của sở khoa học

    và công nghệ TPHCM kết hợp trường ĐH Kinh Tế TPHCM với đề tài “ Hoàn

    thiện các giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu

    vực và thế giới” đã cho thấy: Trong số các doanh nghiệp khảo sát, có khoảng 5,3%

    doanh nghiệp chưa hề biết đến và chưa nhận thức đầy đủ về rủi ro tỷ giá, khoảng

    24% có nghe và biết đến nhưng hầu như không quan tâm, gần 30% chưa nhận

    thức được tầm quan trọng của rủi ro tỷ giá, 70% có nhận thức được vấn đề rủi ro

    tỷ giá nhưng trong đó chỉ có khoảng 30% là thực sự lo lắng về rủi ro tỷ giá.

    Kết quả này đã phản ánh thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian trước đây, còn ỷ lại vào sự che chở của cơ quan nhà nước, do vậy các doanh nghiệp đã không quan tâm đến vấn đề rủi ro tỷ giá đúng mức, nhưng trong thời gian hiện tại với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái và những rủi ro trong quá trình hội nhập đã buộc các doanh nghiệp phải chú trọng quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro như options để tự bảo vệ mình.

    Báo cáo tại hội thảo khoa học 2007 về “giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam (bảng 2.1)” cũng đã chỉ ra rằng: Có đến gần 80% doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ chưa hoặc ít tham gia giao dịch quyền chọn ngoại tệ. Tỷ lệ doanh nghiệp có biết đến và sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ thường xuyên cũng vào khoảng 21%. Qua các con sổ trên, phần nào đã phản ánh chính xác về thực trạng sử dụng các giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam. Song song đó, điều này đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp bước đầu đã thấy được sự cần thiết trong việc áp dụng công cụ này.

    Bảng 2.1: Kết quả khảo sát về việc sử dụng công cụ options ngoại tệ

                 
      Doanh nghiệp   Doanh nghiệp ít Doanh nghiệp thường   Tổng
      chưa biết   sử dụng xuyên sử dụng   cộng
                 
               
    Quyền chọn 21%   58% 21%   100%
    ngoại tệ    
               
                 
                 

    Qua các khảo sát, có thể thấy rằng: Các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá và có nhu cầu sử dụng các sản phẩm phái sinh như quyền chọn ngoại tệ để bảo vệ chính mình. Bên cạnh đó, các NHTM cũng đang chuẩn bị mọi thứ có thể và sẵn sàng cạnh tranh đáp ứng nhu cầu sử dụng các cung cụ phái sinh của khách hàng, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn của nghiệp vụ này trong tương lai khi vấn đề tỷ giá ngày càng được tự do hóa.

    Đối với quyền chọn cổ phiếu

    Quyền chọn cổ phiếu hiện vẫn chưa được phép áp dụng chính thức ở Việt Nam, UBCK chỉ cho phép thí điểm ở một vài tổ chức như VCBS…Nhưng trong bối cảnh TTCK suy giảm mạnh mẽ như thời gian qua, khi mà các nhà đầu tư đòi hỏi một sự ổn định, giảm thiểu rủi ro cho thị trường chứng khoán, bộ trưởng Bộ Tài Chính đã ban hành quyết định số 745 về chương trình hành động thực hiện mục tiêu ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát năm 2008. Trong đó, Bộ Tài Chính cũng đã đưa 5 kế hoạch trọng tâm nhằm ổn định thị trường chứng khoán:

    Một là, thực thi các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán có tổ chức đồng thời với việc hạn chế rủi ro của thị trường tự do. Nghiên cứu ban hành quy định về phát hành chứng khoán riêng lẻ.

    Hai là, nghiên cứu để sửa đổi các quy định theo hướng nâng cao tiêu chuẩn đối với phát hành chào bán chứng khoán, cấp phép thành lập công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.

    Ba là, sửa đổi hoặc bổ sung các quy định liên quan đến nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán, quy chế hoạt động và cung cấp dịch vụ; thành lập công ty quản lý quỹ 100% vốn nước ngoài, các biện pháp kiểm soát dòng vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, xây dựng đề án giải pháp, phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán.

    Năm là, đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác, cơ chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam, tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh để báo cáo và đề xuất với thủ tướng chính phủ các biện pháp tăng cường quản lý và hướng dẫn hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của các tập đoàn kinh tế.

    Rõ ràng, qua nỗ lực nhằm vực dậy TTCK, chúng ta thấy rằng UBCK nhà nước và các cơ quan chính phủ đang có xu hướng quan tâm đến việc xây dựng đề án giải pháp phòng ngừa rủi ro và xử lý khủng hoảng trên thị trường chứng khoán, và phương án thành lập thị trường phái sinh chứng khoán. Đặc biệt, việc thành lập thị trường quyền chọn cổ phiếu trong giai đoạn hiện nay đang là một giải pháp khả thi. Hiện nay, các thị trường toàn cầu nói chung và thị trường Việt Nam nói riêng, mọi người đều lo ngại về vấn đề quản lý rủi ro, và đây cũng là thời điểm tốt để một thị trường chứng khoán non trẻ, với nhiều biến động về giá trong thời gian qua như Việt Nam có thể xem xét đến việc áp dụng những hình thức giao dịch

    quyền chọn này. Việc triển khai quyền chọn cổ phiếu sẽ tạo cơ hội cho TTCK vực dậy trong những giai đoạn khó khăn như thời gian vừa qua.

    Hơn nữa, TTCK Việt Nam đã phát triển đủ lớn và đáp ứng những yêu cầu cơ bản cho việc áp dụng quyền chọn cổ phiếu: Đó là tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán ngày càng cao; hàng hóa tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; đã xuất hiện nhiều công ty cổ phần đại chúng lớn, sắp tới đây sẽ tiến hành cổ phần hóa gắn kết niêm yết trên thị trường chứng khoán các công ty hàng đầu, các tổng công ty lớn như: các ngân hàng quốc doanh (Vietcombank, BIDV, Incombank…), tổng công ty bưu chính viễn thông (Vinaphone, Mobifone), tập đoàn dầu khí Petrolimex; biên độ giá đã được mở rộng trở lại (+/-5% đối với HOSE và +/-7% đối với HASTC), thị trường OTC dần được tập trung hóa, các dự thảo về việc “Cho phép một nhà đầu tư mở nhiều tài khoản giao dịch”, “Được mua bán nhiều lần một mã chứng khoán trong cùng một phiên”… đang được soạn thảo. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm và tham gia giao dịch rất lớn của các nhà đầu tư, các tổ chức lớn nước ngoài…

    Thiết nghĩ, đây là thời điểm chín muồi để triển khai quyền chọn cổ phiếu vào giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam, là cơ hội tốt để áp dụng và phát triển thị trường này với sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước và các bộ ngành có liên quan. Việc áp dụng này rất phù hợp với xu thế chung của thế giới, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường chứng khoán nói riêng và TTTC Việt Nam nói chung.

    Có thể thấy, các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối cũng như thị trường chứng khoán đã ngày càng nhận thức rõ hơn về lợi ích của các công cụ phái sinh nói chung, quyền chọn nói riêng và sẵn sàng đón nhận đón nhận sự ra đời của một thị trường options hỗ trợ cho việc kinh doanh cũng như đầu tư của riêng mình. Thêm vào đó là sự quan tâm, hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước ngày càng cao đối với thị trường quyền chọn. Đây có thể xem như là thuận lợi lớn nhất cho sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu trong tương lai.

    b. Những cơ hội của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ

    phiếu ở Việt Nam

    Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nền kinh tế đã có nhiều bước chuyển biến tích cực hơn, tiềm năng phát triển của nền kinh tế còn rất lớn. Để khai thác tiềm năng này, các yêu cầu về minh bạch, cơ chế, chính sách thông thoáng… ngày càng được chú trọng và thực hiện quyết liệt hơn.

    Các yêu cầu ngày càng cao về công khai và minh bạch hóa thông tin

    Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, tính cạnh tranh ngày càng cao, vấn đề công khai hóa, minh bạch hóa thông tin thị trường, nền kinh tế ngày càng được đòi hỏi, yêu cầu cao hơn. Việc thành lập thị trường options nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ giúp các hoạt động này diễn ra nhanh và mạnh mẽ hơn. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường một cách công bằng hơn so với trước đây, chúng ta sẽ giảm được độc quyền, sự phân biệt và các giao dịch bí mật trong thị trường, đồng thời nâng cao hiệu quả trong hoạt động quảng bá sản phẩm của các ngân hàng, công ty chứng khoán…

    Cơ chế, chính sách thông thoáng hơn khi Việt Nam đã tham gia vào WTO

    • Việt Nam, do chưa từng phải chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ. Do chính sách quản lý các giao dịch vốn những năm trước đây còn chủ yếu

    dựa vào cơ chế hành chính, tự phong toả là chính, mức độ tự do hoá rất hạn chế…, nên việc áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu còn chưa trở thành nhu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, hiện nay nền kinh tế Việt Nam đã và đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, đang có rất nhiều thay đổi về mặt chính sách.

    Mở cửa thị trường vào không gian WTO, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất đã được tự do hoá; lộ trình tự do hoá tài chính đã đi qua rất nhiều bước và

    trên thực tế, các luồng vốn đã tương đối tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam cả trực tiếp và gián tiếp với qui mô, tần suất ngày càng lớn; chính sách tỷ giá cũng từng bước linh hoạt theo tín hiệu thị trường… Những bối cảnh trên đã, đang là những nhân tố khách quan thúc đẩy các bên tham gia thị trường tài chính Việt Nam phải đổi mới tư duy, nhận thức về vai trò của thị trường phái sinh nói chung và thị trường options ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng trong công tác phòng ngừa rủi ro của mình.

    Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cả trong hiện

    tại và tương lai

    Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây và nhất là trong những năm hậu WTO, chỉ riêng các doanh nghiệp nước ngoài đã, đang và sẽ đưa vào Việt Nam một lượng vốn ngoại tệ khổng lồ để đầu tư, đặc biệt là trong trong giai đoạn 2007-2008. Trong số đó có không ít doanh nghiệp FDI chỉ bán hàng trong nước, thu tiền đồng. Họ phải bán ngoại tệ (chủ yếu vẫn là USD) thu VNĐ để thanh toán cho các chi phí, hoặc dùng lượng ngoại tệ này để nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Sau một thời gian, khi có lợi nhuận, họ được chuyển tiền về nước và cần dùng VNĐ mua ngoại tệ chuyển ra… Trong quá trình đó rủi ro tỉ giá là một điều luôn tiềm ẩn đối với các doanh nghiệp này. Khi đó, công cụ options ngoại tệ sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro tỷ giá nếu được sử dụng trong những trường hợp này, giúp các doanh nghiệp tránh được khoản thiệt hại do tăng hoặc giảm giá ngoại tệ (nếu có). Thế nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển thị trường option ngoại tệ chắc chắn sẽ tạo nhiều cơ hội cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, việc có một công cụ phòng ngừa rủi ro khi thị trường chứng khoán tăng giảm đột ngột sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạn hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Qua đó, việc hình thành và phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu sẽ thúc đẩy dòng vốn đầu tư gián tiếp

    nước ngoài chảy vào Việt Nam nhanh và mạnh hơn thông qua kênh chứng khoán, khi mà các nguồn vốn FII này đã và đang khởi động để tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

    Ngay NHNN Việt Nam cũng thường xuyên có một quĩ dự trữ ngoại hối khá lớn chưa được sử dụng hết, tăng trưởng tự nhiên và chủ yếu là dự trữ đồng USD đang yếu đi khá mạnh theo thời gian, nhưng chưa có một cơ chế đủ rõ ràng để trao quyền phán quyết cho nhà quản lý sử dụng thích ứng các công cụ options với các đối tác trong nước và nước ngoài trong quá trình quản lý và phát triển quĩ. Do đó, thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu sẽ là kênh đầu tư mới, tạo nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà đầu tư, ngay cả các cơ quan quản lý quỹ ngoại hối nhà nước.

    Tóm lại, Việt Nam đã tham gia vào sân chơi toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam ngày càng lớn, các yêu cầu, tiêu chuẩn về phát triển kinh tế ngày càng được đòi hỏi cao hơn, tự do hóa, sự công khai, minh bạch hóa ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu. Khi đó, yêu cầu đặt ra là phải cần những công cụ thị trường để thực hiện hóa, đẩy nhanh tiến trình theo yêu cầu từ bên ngoài và chính nội tại bên trong của nền kinh tế cũng như để ổn định hóa thị trường, nền kinh tế. Thị trường options, đặc biệt là options ngoại tệ và options cổ phiếu có lẻ là một trong những công cụ hiệu quả nhất để thực hiện, đón đầu các cơ hội này.

    c. Những khó khăn, hạn chế của việc phát triển thị trường options ngoại tệ và options cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay

    Đối với tầm quản lý vĩ mô

    Khó khăn trong việc điều chỉnh cũng như ban hành văn bản pháp luật phù hợp thị trường.

    Đối với cơ quan cấp vĩ mô nhà nước việc ban hành một văn bản pháp luật phù hợp và tạo tính thuận lợi dễ dàng khi thực hiện trong thực tế, để tạo sự yên tâm giao

    dịch cho các nhà đầu tư không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Song trong thời gian qua, chúng ta đã có thời gian thí điểm chuẩn bị, chúng ta biết chúng ta đang đứng ở đâu, và chúng ta đang gặp thách thức, khó khăn nào, vậy tại sao chúng ta lại không bắt tay vào khắc phục những nhược điểm trên.

    Khó khăn bước đầu của UBCK nhà nước và các cơ quan quản lý là việc nắm bắt và đưa ra các luật lệ phù hợp để phát triển thị trường options. Hiện nay chúng ta chỉ mới có luật chứng khoán và một số văn bản quyết định việc thực hiện các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, hoán đổi lãi suất, quyền chọn ngoại tệ… Các văn bản pháp luật này vẫn còn chưa đủ sức để quy định rõ và hướng dẫn các tổ chức tài chính và các nhà đầu tư thực hiện các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu.

    Đối với các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu (ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán…)

    Khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ

    Trong thời gian qua, vấn đề công nghệ áp dụng tại các công ty chứng khoán rất khác nhau, chúng ta chưa có sự đồng bộ về công nghệ. Ví dụ như việc UBCK nhà nước quy định các công ty chứng khoán phải liên kết với các ngân hàng để quản lý tiền của nhà đầu tư, việc thực hiện này cũng tương đối chậm, vì việc trang bị hệ thống công nghệ rất tốn kém và qui định mới cũng gây ra một số khó khăn trong công tác quản lý tài khoản khách hàng. Đối với nghiệp vụ options, việc trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ càng phức tạp và tốn kém hơn, đặc biệt là khi muốn kết nối với sàn giao dịch quyền chọn tập trung sau này, nếu doanh nghiệp không tính toán kỹ, có thể gây ra thua lỗ lớn.

    Tương tự đối với các NHTM, việc trang bị các hệ thống kết nối, thông tin đến khách hàng khá là phức tạp, các phần mềm định giá quyền chọn, phân tích thị trường… đều có giá rất cao, mà không phải ngân hàng nào cũng có thể trang bị

    được. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ.

    Khó khăn trong công tác đào tạo nguồn nhân lực

    Thị trường options Việt Nam hiện nay chưa phát triển, chúng ta chỉ đang cho phép áp dụng một số công cụ tài chính phái sinh như các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ tại ACB, Vietcombank, Sacombank…và quyền chọn vàng tại ACB. Vì vậy, nguồn nhân lực Việt Nam chưa được chuẩn bị kỹ về kiến thức và khả năng chuyên môn. Hầu hết các ngân hàng, công ty chứng khoán… chưa có đội ngũ nhân lực vững chuyên môn và kiến thức để phổ biến công cụ options đến các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Họ hầu như chỉ được thuyên chuyển qua từ các bộ phận khác.

    Hiện nay, số người biết, hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ phái sinh cũng như quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu là rất ít. Chúng ta chỉ tổ chức các buổi hội thảo khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và các nhà đầu tư chứng khoán áp dụng các công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu để tự bảo vệ mình, nhưng hầu như chưa tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quyền chọn và phòng ngừa rủi ro đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư.

    Đối với tâm lý của các doanh nghiệp Việt Nam

    Về phía các doanh nghiệp sử dụng quyền chọn, có một thực tế đáng lo ngại ở nước ta. Ví dụ, một doanh nghiệp thậm chí biết rõ là sẽ có rủi ro khi tỉ giá có thể tăng mạnh do lạm phát tăng cao và biết rõ nếu ký mua một hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ sẽ đỡ thiệt hơn nhiều. Nhưng chỉ vì tư duy và cách làm ăn truyền thống, các doanh nghiệp sợ rằng nếu đưa ra quyết định này, nhưng chẳng may có một điều kiện khách quan nào đó làm cho tỉ giá thị trường giảm xuống trái với xu hướng ban đầu, gây thiệt hại một khoản phí quyền chọn ban đầu, không những uy tín, mà địa vị của người ra quyết định đó cũng bị lung lay. Còn nếu mọi dự báo đúng như thực tế thì bản thân người quyết định đó cũng không được lợi lộc gì. Đa

    số các doanh nghiệp Việt Nam hiện không qui định rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi của lãnh đạo và nhân viên trong đơn vị. Trong khi trên thế giới, các công ty có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể, họ luôn qui định quyền phán quyết mức rủi ro tài chính rõ ràng với từng vị trí lãnh đạo và từng khu vực hay từng quốc gia nếu đó là công ty xuyên quốc gia. Chính điều này đã làm cho các giao dịch quyền chọn nói chung và các quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng còn rất hạn chế trong thực tế.

    Đối với các nhà đầu tư

    Là những rủi ro phải đối mặt trong việc dự đoán tỷ giá, giá cả chứng khoán và xu hướng thị trường. Các công cụ tài chính đều có hai mặt, một mặt các nhà đầu tư có thể phòng ngừa rủi ro, mặt khác đi kèm với nó là rủi ro.

    Ví dụ như mua một hợp đồng options ngoại tệ để bảo vệ đồng tiền thanh toán, hay mua quyền chọn một cổ phiếu, nhà đầu tư có thể gặp rủi ro lớn nếu không biết dự đoán tỷ giá, giá cổ phiếu đúng theo xu hướng thị trường. Thị trường chứng khoán vốn chẳng bao giờ dễ dự đoán, điều đó càng đúng với một thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn như hiện nay.

    Việc thiếu hiểu biết về quyền chọn và khả năng phân tích sẽ gây ra rất nhiều khó

    khăn và rủi ro khi sử dụng của các nhà đầu tư, khi nhiều nhà đẩu tư gặp rủi ro thì

    có thể gây ra những bất ổn cho thị trường. Đây cũng là một trong những trở ngại

    lớn làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ

    phiếu ở Việt Nam, khi trình độ cũng như khả năng phân tích của các nhà đầu tư và

    doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    4.Nguyên nhân của những hạn chế

     

    a. Nguyên nhân từ thị trường

     

    Nguyên nhân chủ yếu là do mức độ phát triển của thị trường tiền tệ, ngoại hối, chứng khoán…của nước ta còn thấp, đôi khi nó nằm ngoài các rủi ro từ tầm tác động của các “cơn gió lớn”, “cơn bão” tài chính quốc tế. Cùng với đó là tư duy kinh doanh truyền thống còn phổ biến. Trong thực tế, những biến động về tỷ giá, giá chứng khoán được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các đối tượng có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như tỷ giá, giá cả cổ phiếu.

    Việt Nam chưa phải chịu ảnh hướng lớn từ những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nên việc sử dụng các công cụ phái sinh chưa trở thành nhu cầu bức xúc. Tuy nhiên, nền kinh tế đang thực sự trở thành nền kinh tế thị trường đầy đủ, mở cửa thị trường, áp dụng các luật chơi chung với quốc tế, lãi suất được tự do hoá, các luồng vốn được tự do chảy vào và chảy ra khỏi Việt Nam… các nhà lập chính sách về TTTC Việt Nam cần sớm bày tỏ quan điểm để xây dựng và đề xuất hệ thống chính sách khuyến khích phát triển thị trường các công cụ tài chính phái sinh “ăn theo” như quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu bên cạnh thị trường chính thức như thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán…

    Thêm vào đó, do mức độ hiệu quả của thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán còn yếu nên các giao dịch quyền chọn nói chung không minh bạch và gây thiệt hại cho nhà đầu tư, doanh nghiệp nếu thiếu thông tin. Đây cũng là một trong những lý do chính khiến các nhà đầu tư còn dè dặt áp dụng đối với các công cụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    b. Nguyên nhân từ sự điều tiết tỉ giá USD/VNĐ

    Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VNĐ không dao động mạnh, do có sự điều tiết từ phía NHNN khiến cho tỷ giá ổn định theo chiều hướng đi lên để khuyến khích xuất khẩu. Với xu hướng tỷ giá này, các nhà đầu tư luôn muốn thực hiện quyền chọn mua ngoại tệ để kiếm lợi nhuận chứ không mua quyền chọn bán. Do

    đó, từ sự giao dịch một chiều này, sẽ tạo ra những rủi ro cho ngân hàng khi bán

    quyền chọn ngoại tệ. Để giảm rủi ro, ngân hàng phải tăng phí bán quyền chọn

    khiến cho quyền chọn càng không có điều kiện thực hiện và không còn muốn mua

    quyền chọn nữa. Vòng luẩn quẩn này gây khó khăn cho cả nhà đầu tư và phía

    ngân hàng.

    c. Nguyên nhân từ biên độ giao dịch USD, cổ phiếu

    Đối với các giao dịch mua bán USD, do chính sách neo VNĐ vào đồng USD nên biên độ giao động giá của USD được NHNN qui định là +/-0.5%. Ngày 20-3-2008, biên độ giao động giá của USD đã được NHNN cho phép nâng lên là +/-1%, và gần đây nâng lên +/-2%.

    Tương tự, đối với thị trường chứng khoán, chính sách quản lý có xu hướng tránh biến động mạnh của TTCK. Do đó, trên các sàn giao dịch chứng khoán tập trung, biên độ dao động của giá cổ phiếu được giới hạn ở một mức cố định. Cụ thể, các cổ phiếu niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) có biên độ được qui định là +/-5% và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) là +/-7%. Biên độ này đôi khi còn được điều chỉnh thấp hơn khi thị trường suy giảm mạnh.

    Biên độ dao động như vậy đồng nghĩa với rủi ro đối với tỉ giá và giá cổ phiếu giảm đi đáng kể, hạn chế phần nào tâm lý phòng ngừa rủi ro của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do đó, làm hạn chế sự phát triển của thị trường quyền chọn, đặc biệt là quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu.

    d. Nguyên nhân từ vấn đề hạch toán kế toán

    Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm.

    Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh, cụ thể là một hợp đồng quyền chọn trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

    Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, cũng như quyền chọn, không chỉ xét từ góc độ từ các NHTM hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của NHNN trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.

    e. Nguyên nhân từ cách tính phí quyền chọn

    Trên thị trường ngoại hối, đối với quyền chọn ngoại tệ, hiện nay hầu hết các ngân hàng ở Việt Nam do một số hạn chế, vẫn chưa thể tự mình đứng ra phát hành hay cung cấp các quyền chọn ngoại tệ trực tiếp cho khách hàng, mà chỉ đóng vai trò như một trung gian môi giới quyền chọn giữa các ngân hàng lớn khác và khách hàng. Thường là theo yêu cầu của khách hàng, các ngân hàng sẽ liên hệ với các ngân hàng đối tác ở nước ngoài (thường là các ngân hàng lớn), hoặc thậm chí là một ngân hàng lớn trong nước để mua một quyền chọn rồi bán lại cho khách hàng của mình. Qui trình này dẫn đến một hệ quả là các ngân hàng muốn có lợi nhuận thì tiền phí (giá) của quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng phải theo công thức sau:

    Giá (phí) quyền chọn ngoại tệ tính cho khách hàng = Giá phí quyền chọn ngoại tệ mua của các NH đối tác (trong và ngoài nước) + chi phí để phục vụ hợp đồng options ngoại tệ này + khoảng chênh lệch lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cách tính phí (giá) quyền chọn như trên đã làm đội chi phí thực hiện một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ của khách hàng, làm cho họ cảm thấy mua một hợp đồng quyền chọn ngoại tệ không còn có lợi do chi phí qua cao, không hiệu quả. Điều này cũng đã trở thành một lực càn cho các giao dịch quyền chọn ngoại tệ cũng như thị trường quyền chọn phát triển ở Việt Nam trong hiện tại.

    f.Nguyên nhân từ trình độ nhận thức của nhà đầu tư

    Theo các chuyên gia tài chính, do sản phẩm quyền chọn khá phức tạp nên hiện nay, các doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước vẫn ngại sử dụng. Thêm vào đó, hiểu biết của doanh nghiệp và nhà đầu tư về các sản phẩm này vẫn còn khá hạn chế.

    Trong khi đó, các tổ chức cung cấp, đặc biệt là ngân hàng, công ty chứng khoán vẫn còn yếu trong tuyên truyền, tiếp cận khách hàng. Lãnh đạo của một ngân hàng quốc doanh cho biết: “lý do một phần vì doanh thu của các sản phẩm quyền chọn ngoại tệ vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm.”

    Tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các doanh nghiệp và nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường options còn quá ít trên thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường chứng khoán Việt Nam nên chúng ta chưa thể thúc đẩy họ tham gia mạnh mẽ vào thị trường options.

    Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ options. Như ví dụ từ Ngân hàng HSBC mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã hơn 6 năm với trên 1.000 doanh nghiệp là khách hàng “ruột”, nhưng sau 2 năm được phép sử dụng các công cụ options, mới chỉ có một vài doanh nghiệp trong số hàng ngàn doanh nghiệp khách hàng đó dám ứng dụng nghiệp vụ

    này. Chỉ riêng việc thực hiện một giao dịch hoán đổi giữa hai đồng tiền, ngân hàng này cũng mất tới nửa năm để giải thích, thoả thuận. Các hợp đồng quyền chọn ngoại tệ cũng thường phải mất một vài tháng mới được ký kết.

    Theo HSBC, việc xúc tiến các dịch vụ phái sinh quản lý rủi ro cho khách hàng là doanh nghiêp vẫn đang được ngân hàng này tích cực khuyến khích. Với Techcombank, các nghiệp vụ options vẫn còn ít được khách hàng áp dụng, thậm chí có công cụ chưa có khách hàng nào giao dịch.

    Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch options trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

    KẾT LUẬN:

    Thị trường quyền chọn ở Việt Nam mới chỉ ở điểm khới đầu của sự phát triển. Quyền chọn ngoại tệ dù đã ra đời gần 8 năm nhưng phát triển rất chậm. Hoạt động cung cấp dịch vụ quyền chọn của các TCTC vẫn còn nhỏ bé, chưa được sự quan tâm đúng mức. Quyền chọn cổ phiếu thì đến giờ vẫn chỉ nằm trên giấy.

    Dù nền kinh tế đã phát triển đến mức độ phù hợp cho sự ra đời của thị trường quyền chọn, nhưng cơ sở pháp lý cho thị trường còn nhiều lỗ hổng, khiếm khuyết, hạ tầng công nghệ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu phát triển, nguồn nhân lực cho thị trường thì thiếu và yếu… Tuy nhiên, những thuận lợi cho việc phát triển thị trường này ở Việt Nam là rất lớn, khi nó nhận được sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các TCTC cũng như là của các ban ngành Trung Ương.

    Các cơ hội cũng ngày càng mở ra khi các cam kết về gia nhập WTO, hội nhập kinh tế thế giới đang dần được thực thi, tiềm năng phát triển kinh tế và TTTC vẫn

    rất lớn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, hạn chế từ chính sách, pháp luật nhà nước cũng như sự yếu kém của các đối tượng cung cấp và sử dụng quyền chọn, nhưng với những chính sách và giải pháp phù hợp, thị trường quyền chọn nói chung và quyền chọn ngoại tệ, cổ phiếu nói riêng ở Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vững chắc trong tương lai.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n-N%C3%A2ng-cao-hi%E1%BB%87u-qu%E1%BA%A3-ho%E1%BA%A1t-%C4%91%E1%BB%99ng-kinh-doanh-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-t%E1%BA%A1i-ng%C3%A2n-h%C3%A0ng-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-v%C3%A0-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển tại Việt Nam

    LỜI MỞ ĐẦU

    • Tính cấp thiết của đề tài

    Hiện nay, Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế một cách sâu sắc về các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng… Trong quá trình hội nhập, Việt Nam thu được những lợi ích to lớn, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức gay gắt từ các đối tác nước ngoài.

    Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đến nay đã được 4 năm, thị trường tài chính được mở cửa, theo đó ngân hàng nước ngoài được hoạt động bình đẳng với các ngân hàng trong nước… Các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế vượt trội của so với các ngân hàng trong nước về vốn, kinh nghiệm, công nghệ, đặc biệt là chất lượng và chủng loại về các dịch vụ. Nhằm rút ngắn khoảng cách, tiến tới hội nhập với thế giới, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã từng bước đổi mới, mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là phát triển các nghiệp vụ hiện đại như thẻ tín dụng, kinh doanh ngoại hối, hoán đổi lãi suất, internet banking…

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những Ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng nhà nước cấp phép kinh doanh ngoại hối. Đến nay, hoạt động kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu từ dịch vụ ròng của BIDV. Tuy nhiên, mặc dù đã chính thức triển khai cung cấp nhiều sản phẩm kinh doanh ngoại hối đa dạng cho khách hàng nhưng trên thực tế hoạt động, phần lớn doanh số mua bán ngoại tệ vẫn chủ yếu là các nghiệp vụ giản đơn, hiệu quả kinh doanh chưa thực sự cao. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các NHTM trong nước và đặc biệt là các Ngân hàng nước ngoài buộc Ngân hàng phải tìm các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng.

    Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là nội dung nghiên cứu của luận văn.

    • Tình hình nghiên cứu

    Cho đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại. Một số đề tài tìm giải pháp chung để phát triển

    2

    hoạt động KDNT của các NHTM tại Việt Nam, một số tác giả tìm giải pháp phát triển hoạt động KDNT tại ngân hàng của mình.

    Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có đặc thù riêng, có chiến lược phát triển riêng cho hoạt động KDNT của mình. Tại BIDV, đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Cụ thể, luận văn thạc sỹ kinh tế: “Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Thắng (2003) đã đề cập đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV nhưng lại nghiên cứu sâu về rủi ro và đưa ra các giải pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động KDNT của Ngân hàng.

    • Mục đích nghiên cứu của đề tài

    Với mong muốn tìm hiểu thực tế các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, góp phần cung cấp một số thông tin hữu ích cho các nhà quản lý của BIDV và những ai quan tâm đến vấn đề này, đề tài tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    • Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

     

    • Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kinh doanh ngoại tệ
    • Phạm vi nghiên cứu:
    • Tại Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam.
    • Thời gian từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Các giải pháp đề xuất đến năm 2015.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu

    Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

    • Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
    • Tìm hiểu thực trạng về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010.
    • Hệ thống hóa và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    3

    • Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

    Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

    • Nhóm phương pháp thực tiễn gồm: Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm.
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết.
    • Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp phụ trợ như phương pháp toán thống kê, phương pháp so sánh…
    • Kết cấu đề tài

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, và các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương sau đây:

    Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại

    Chƣơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Chƣơng III: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

    Do thời gian nghiên cứu và trình độ hiểu biết các vấn đề của đề tài còn hạn chế vì vậy luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy (Cô) và những ai quan tâm tới đề tài luận văn. Tác giả xin cảm ơn PGS,TS Đặng Thị Nhàn, các Thầy (Cô) Trường Đại học ngoại thương và đồng nghiệp đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức để tác giả hoàn thành khoá học Cao học tại Trường Đại học Ngoại thương và hoàn thành luận văn này.

    Tác giả

    Nguyễn Thị Tuyết Mai

     

    4

    CHƢƠNG I

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    I.                   HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NHTM

    1.     Một số khái niệm liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    1.1    Ngoại hối và ngoại tệ

    Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, khái niệm ngoại hối được đề cập trong khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội:

    Ngoại hối bao gồm:

    • Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
    • Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác.
    • Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
    • Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
    • Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ.

    5

    • Khái niệm ngoại tệ được đề cập tại điểm a khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005 của Ủy ban thường vụ quốc hội, theo đó ngoại tệ là “đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đông tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực”.

    Như vậy, ngoại tệ là một loại ngoại hối và có thể hiểu ngoại tệ là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và quyền rút vốn đặc biệt SDR). Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền.

    1.2    Thị trường ngoại hối

    1.2.1    Khái niệm thị trường ngoại hối

    Trong hoạt động ngoại thương quốc tế, thanh toán là khâu cuối cùng của giao dịch. Việc thanh toán thường liên quan đến 2 loại tiền, một của bên bán và một của bên mua với tên gọi và trị giá khác nhau. Các thương gia phải tính toán để chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền mà bên đối tác yêu cầu thanh toán. Thị trường ngoại hối chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các đồng tiền khác nhau phục vụ cho nhu cầu này của các thương gia.

    Như vậy, một cách tổng quát “thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau“. (Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), nên theo nghĩa hẹp thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức là thị trường Interbank.

    Như vậy, thị trường ngoại hối là nơi thực hiện các giao dịch mua, bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ và phương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ trong đó giá cả mỗi đồng được quyết định bởi nhiều yếu tố. Có sự tồn tại của thị trường ngoại hối là do các quốc gia độc lập đều muốn giữ chủ quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền của mình. Một khi các quốc gia còn muốn duy trì độc lập về kinh tế của mình thì thị trường hối đoái còn tồn tại và phát triển. Nếu trên toàn thế giới chỉ sử dụng một đồng tiền chung thì hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau sẽ bị triệt tiêu và theo đó, thị trường ngoại hối sẽ không tồn tại.

    6

    1.2.2    Chức năng của thị trường ngoại hối

    • Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là cung cấp dịch vụ cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế.
    • Thị trường ngoại hối giúp luân chuyển các khoản đầu tư, tín dụng quốc tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác cũng như giao lưu giữa các quốc gia.
    • Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường.
    • Thị trường ngoại hối là nơi kinh doanh và cũng cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn, tương lai.

    Thị trường ngoại hối là nơi NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3    Tỷ giá

    1.3.1    Khái niệm

    Các doanh nghiệp tham gia thương mại, đầu tư quốc tế… phải thanh toán với nhau bằng việc phải mua bán các đồng tiền khác nhau, đổi đồng tiền này để lấy đồng tiền khác. Hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định được gọi là tỷ giá. Như vậy, có thể định nghĩa tỷ giá như sau:

    Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác. Ví dụ 1 USD = 19.500 VND.

    Trong tỷ giá có 2 đồng tiền, một đồng tiền có số đơn vị cố định bằng 1 gọi là đồng tiền yết giá, đồng tiền còn lại có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu thị trường là đồng tiền định giá. (Nguyễn Văn Tiến 2010)

    1.3.2    Phân loại tỷ giá

    • Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá bao gồm các loại:
    • Tỷ giá mua vào (Bid Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.
    • Tỷ giá bán ra (Ask Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.

    7

    • Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): Là tỷ giá được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu thị trường, luôn có sẵn, được thỏa thuận ngày hôm nay, việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
    • Tỷ giá phái sinh: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    • Tỷ giá chéo: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba.

    Ngoài ra còn có các tỷ giá mở cửa, tỷ giá đóng cửa, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản…

    • Căc cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, bao gồm:
    • Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Ở Việt Nam là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
    • Tỷ giá chợ đen: Là tỷ giá hình hành ngoài hệ thống ngân hàng.
    • Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ

    dao động hẹp

    • Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan

    hệ cung cầu thị trường, NHTW không can thiệp vào thị trường.

    • Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.

    1.3.3    Các phương pháp yết tỷ giá

    Trên thị trường có hai cách để yết tỷ giá đó là:

    • Yết tỷ giá trực tiếp
    • Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp

    Yết tỷ giá trực tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá cuả một đơn vị ngoại tệ bằng một số lượng tiền tệ trong nước.

    VD:  ngày  19/09/2008  tỷ  giá      của  Vietcombank  được  niêm  yết  như  sau:

    E(VND/USD) = 16,665 ó 1 USD = 16,665 VND

    8

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1. Nội tệ là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    Tại Việt Nam, tất cả các NHTM đều áp dụng phương pháp yết tỷ giá này đối với việc niêm yết tỷ giá hàng ngày tại ngân hàng.

    Yết tỷ giá gián tiếp

    Yết tỷ giá gián tiếp là phương pháp thể hiện tỷ giá của một đơn vị trong nước bằng một số ngoại tệ. Cách niêm yết này thường dùng ở một số ít nước có đồng nội tệ manh như Mỹ, Anh, Canada…

    VD: E(USD/VND) = 0.00006.

    Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và thường bằng 1 (hoặc có thể bằng 100, 1000).

    Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.

    1.4    Các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối

    1.4.1    Các Ngân hàng thương mại

    NHTM tham gia vào thị trường ngoại hối với 2 tư cách:

    • Thứ nhất: thực hiện các nghiệp vụ KDNT theo yêu cầu của khách hàng.
    • Thứ hai: thực hiện các nghiệp vụ KDNT cho chính ngân hàng nhằm đảm bảo ổn định số dư ngoại tệ trên tài khoản, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong kinh doanh.

    Để thực hiện các nghiệp vụ này đòi hỏi các ngân hàng phải có Phòng Kinh doanh Ngoại tệ được trang bị các phương tiện và thiết bị chuyên dùng hiện đại cùng với đội ngũ chuyên viên am hiểu thị trường và có khả năng nắm bắt, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá và dự đoán tỷ giá trong tương lai.

    1.4.2    Các nhà môi giới

    Nhà môi giới (Broker) là những người được pháp luật quy định kinh doanh hợp pháp thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch ngoại tệ giữa các đối tượng tham gia trên thị trường ngoại hối mà chủ yếu là ngân hàng, doanh nghiệp, công chúng với

    9

    nhau, bản thân ngân hàng cũng là nhà môi giới.

    Các nhà môi giới tạo điều kiện cho cung cầu tiếp cận nhau, đóng góp tích cực cho hoạt động thị trường ngoại hối như cung cấp thông tin thị trường, khả năng tìm bạn hàng nhanh chóng, đảm bảo sự vận hành tốt của thị trường thông qua liên lạc giữa người mua, người bán cho đến khi thỏa thuận được giao dịch. Các nhà môi giới được trả công cho từng giao dịch được gọi là phí hoa hồng môi giới.

    1.4.3    Ngân hàng Trung ương

    Ngân hàng Trung ương (Centre Bank) tham gia vào thị trường hối đoái với tư cách là cơ quan quản lý của Nhà nước nhằm giám sát và điều tiết thị trường trong khuôn khổ pháp luật quy định.Theo dõi sự biến động tỷ giá, khi cần thiết Ngân hàng Trung ương sẽ can thiệp vào thị trường để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng ổn định nền kinh tế.

    NHTW mua bán, chuyển đổi tiền tệ nhằm đảm bảo an toàn và gia tăng giá trị dự trữ ngoại hối quốc gia.

    Ngoài ra, NHTW còn là đại lý trong việc mua hộ, bán hộ ngoại tệ cho chính

    phủ.

    1.4.4    Nhóm khách hàng mua bán lẻ

    Các khách hàng mua bán lẻ gồm các công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà đầu tư quốc tế và tất cả những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích:

    • Thứ nhất, chuyển đổi tiền tệ
    • Thứ hai, phòng ngừa rủi ro tỷ giá

    Theo đó, nhóm khách hàng mua bán lẻ có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho mục đích hoạt động của chính mình chứ không nhằm mục đích kinh doanh ngoại hối. Thông thường, nhóm khách hàng mua bán lẻ không giao dịch trực tiếp với nhau mà thường mua bán thông qua các Ngân hàng Thương mại.

    (GS. TS Lê Văn Tư 2003)

    1.5    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM ra đời từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa các vùng, lãnh thổ và giữa các quốc gia. Trong từng lãnh thổ, từng quốc gia lưu hành một loại đồng tiền riêng đã gây trở ngại khó khăn cho việc mua bán,

    10

    thanh toán, đồng thời rất phức tạp trong việc chuyển đổi tiền tệ. Quá trình đó thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức chuyên đảm nhiệm các chức năng riêng biệt thực hiện nhận đổi tiền, giữ hộ tiền và thanh toán.

    Chính từ đó mới phát sinh những vụ mua bán ngoại tệ kiếm lời, còn gọi là KDNT hay đầu cơ ngoại tệ. Trước những năm 1980, thị trường hối đoái chủ yếu phục vụ các nhà xuất nhập khẩu. Từ những năm 1980 trở về sau, các giao dịch trên thị trường hối đoái ngoài việc phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu còn phục vụ cho mục đích đầu cơ và mục đích khác.

    Nói tóm lại, hầu hết các hoạt động buôn bán quốc tế đều kéo theo các giao dịch ngoại tệ và ngược lại, rất nhiều sự kiện liên quan đến ngoại tệ đều có tác động đến ngoại thương. Các giao dịch ngoại tệ quốc tế được thực hiện thông qua ngân hàng vì thế nghiệp vụ KDNT của ngân hàng chính là chất xúc tác, là điều kiện đảm bảo an toàn cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu cũng như tài trợ cho họ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Hoạt động KDNT theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động mua bán ngoại tệ, đầu tư, đi vay, cho vay, bảo lãnh và các giao dịch khác liên quan đến ngoại tệ.

    Theo nghĩa hẹp, người ta hiểu khái niệm hoạt động KDNT đơn thuần là việc mua bán số dư ngoại tệ trên tài khoản. (PGS. TS Nguyễn Văn Tiến, 2010)

    Cùng với sự phát triển của ngoại thương và nhu cầu phòng tránh rủi ro tỷ giá trong thanh toán quốc tế, nghiệp vụ KDNT cũng không ngừng được hoàn thiện. Từ nghiệp vụ ban đầu là mua bán giao ngay (Spot), đến nay các nghiệp vụ KDNT đã phát triển đa dạng, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng như thanh toán, bảo hiểm rủi ro tỷ giá, đầu cơ.

    2.     Chức năng và vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    2.1        Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Hoạt động KDNT có các chức năng sau:

    • Đảm bảo việc thực hiện thanh toán cho các khách hàng của ngân hàng giữa các quốc gia với nhau.
    • Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng hay tài trợ của Ngân hàng nước ngoài.
    • Thực hiện nghiệp vụ tiền gửi bằng ngoại tệ của khách hàng tại ngân hàng

    trong nước.

    • Tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lêch tỷ giá giữa các

    11

    thị trường ngoại hối khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận.

    • Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế trong hoạt động ngoại thương thông qua đồng nội tệ.

    2.2    Vai trò của hoạt động kinh doanh tiền tệ

    Hoạt động KDNT có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn đối với cả khách hàng bởi các mục đích sau:

    • Thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
    • Điều chỉnh trạng thái ngoại hối.
    • Hạn chế rủi ro trong thanh toán bằng ngoại tệ.
    • Kinh doanh kiếm lời.

    Ngoài ra, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ KDNT nhằm mục đích đa dạng các sản phẩm phục vụ khách hàng, thu hút khách hàng thông qua các tiện ích ngân hàng từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

    3.     Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại

    Các nghiệp vụ KDNT trên thị trường hối đoái ngày càng đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia trên thị trường. Hiện nay, trên thị trường hối đoái có 5 nghiệp vụ KDNT phổ biến là nghiệp vụ giao ngay, nghiệp vụ kỳ hạn, nghiệp vụ tương lai, nghiệp vụ hoán đổi và nghiệp vụ quyền chọn. Trong đó, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ cơ sở bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường, 4 nghiệp vụ còn lại được gọi là các nghiệp vụ KDNT phái sinh bởi tỷ giá áp dụng cho các hợp đồng này không hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường mà hình thành từ tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền. Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết về từng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.

    3.1    Nghiệp vụ giao ngay (Spot)

    3.1.1     Khái niệm

    Nghiệp vụ KDNT giao ngay là nghiệp vụ trong đó việc thực hiện mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 2 (hai) ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua, bán. Đây chính là điểm đặc trưng để phân biệt giữa thị trường giao ngay và các

    12

    thị trường khác.

    Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do NHTM niêm yết tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định của NHNN công bố trong từng thời kỳ (nếu có).

    3.1.2    Đặc điểm

    Theo nghĩa rộng, thị trường giao ngay bao gồm thị trường bán buôn (Interbank) và thị trường bán lẻ (mua bán giữa ngân hàng và khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp…). Tuy nhiên, doanh số giao dịch trên interbank là chủ yếu nên theo nghĩa hẹp có thể coi thị trường giao ngay chính là thị trường liên ngân hàng.

    Thị trường giao ngay là thị trường tài chính lớn nhất toàn cầu. Thuật ngữ “Spot” phát xuất từ các giao dịch được thực hiện ngay. nhưng thực tế việc chuyển giao ngoại tệ cho phép diễn ra sau đó hai ngày làm việc theo thông lệ quốc tế (đây là thời gian cần thiết để các ngân hàng thực hiện bút toán chuyển tiền). Ví dụ: Việc mua bán ngoại tệ được cam kết tại thời điểm giao dịch (trade date) nhưng việc chuyển giao ngoại tệ được phép tiến hành sau đó 2 ngày làm việc tiếp theo (Banking day). Ngày mà hai đồng tiền được trao đổi gọi là ngày thanh toán hay ngày giá trị (Value date). Cho đến nay, mặc dù hệ thống thanh toán rất tiến bộ nhưng phần lớn việc chuyển giao ngoại tệ giao ngay vẫn được thực hiện sau 2 ngày kể từ ngày giao dịch.

    Thị trường ngoại hối giao ngay là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), các thành viên bao gồm các NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại hối và cả NHTW, trong đó cá NHTM đóng vai trò chủ chốt. Các thành viên tham gia trên thị trường liên hệ với nhau bằng điện thoại, telex, mạng vi tính và hệ thống SWIFT.

    Thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao. Nghiệp vụ giao ngay có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ giao ngay không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán (chênh lệch này được gọi là spread) mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu

    13

    ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.1.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ giao ngay đối với các NHTM

    Thứ nhất, chênh lệch tỷ giá mua, bán rất hẹp thông thường nhỏ hơn 0,1% nên thị trường giao ngay có tính thanh khoản rất cao, khối lượng mua bán lớn. Do đó, các NHTM có thể thu được lợi nhuận lớn từ việc tăng doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay.

    Thứ hai, do tốc độ truyền tin nhanh chóng cho nên những thay đổi của thị trường ảnh hưởng tức thời lên tỷ giá tức là tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn biến động để phản ánh những thay đổi của thị trường.

    Thứ ba, đây là thị trường có tính thanh khoản rất cao vì:

    • Luôn sẵn có số tiền cần thiết.
    • Tại địa điểm cần có.
    • Tại thời điểm có nhu cầu.
    • Bằng đồng tiền cần có.
    • Với giá cả hợp lý.

    Những nhà kinh doanh không thể bỏ qua những thay đổi có tính đột biến trên một thị trường rất sôi động và có tính toàn cầu như thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối giao ngay có hai cấp, đó là: thị trường liên ngân hàng trực tiếp và thị trường kiên ngân hàng gián tiếp thông qua môi giới.

    Trên thị trường liên ngân hàng trực tiếp, các ngân hàng giao dịch trực tiếp với nhau không thông qua nhà môi giới. Tất cả các ngân hàng tham gia thị trường đều là nhà tạo lập thị trường. Ngân hàng này yết giá mua vào và bán ra cho ngân hàng kia và ngược lại. Vì giao dịch giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng không diễn ra trên sở giao dịch và các giao dịch được thực hiện một cách liên tục nên thị trường này được biết đến như là thị trường: Phi tập trung, liên tục, đấu giá mở cửa và giao dịch hai chiều.

    Trên thị trường liên ngân hàng gián tiếp, các ngân hàng đặt các lệnh giới hạn một chiều cho các nhà môi giới. Nhà môi giới ghi lệnh này vào sổ và tìm cách đối chiếu lệnh mua với các lệnh bán đồng tiền đó từ các ngân hàng khác. Trong khi các

    14

    ngân hàng tiến hành các giao dịch, một mặt cho chính mình, mặt khác cho khách hàng, thì những nhà môi giới chỉ giao dịch duy nhất cho khách hàng. Trong giao dịch nhà môi giới sẽ đưa ra tỷ giá tốt nhất cho khách hàng. Tỷ giá này gọi là tỷ giá tay trong. Thông qua hoạt động môi giới, nhà môi giới sẽ thu hoa hồng từ ngân hàng mua và ngân hàng bán. Do tính chất hoạt động thị trường ngoại hối thông qua nhà môi giới được biết đến như là thị trường: Bán tập trung, liên tục, đặt lệnh có giới hạn và thông qua phương thức đấu giá một chiều.

    Nghiệp vụ Spot có tác dụng đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng khi cần mua hoặc cần bán ngoại tệ đồng thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc di chuyển vốn giữa các quốc gia với nhau.

    Nghiệp vụ Spot không chỉ tạo điều kiện cho ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá mà còn đáp ứng kịp thời giao dịch trên thị trường để cân đối ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong thanh toán, đảm bảo kiểm soát được trạng thái ngoại hối theo quy định của NHNN.

    3.2    Nghiệp vụ kỳ hạn

    Khi thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, kim nghạch XNK các nước đều tăng lên đáng kể, nhu cầu mua bán ngoại tệ đáp ứng các hợp đồng thanh toán xuất nhập khẩu do đó cũng phát triển mạnh mẽ. Trong khi đó, thị trường tài chính ngày càng biến động, làm phát sinh rủi ro tỷ giá đối với các nhà kinh doanh XNK bởi thông thường, trong ngoại thương, giữa thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm thanh toán có độ lệch về thời gian. Đối với nhà nhập khẩu, chi phí nhập khẩu tính bằng nội tệ sẽ tăng nếu giá ngoại tệ tăng.

    Đáp ứng nhu cầu của các nhà kinh doanh XNK, các NHTM đã cung cấp các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh bao gồm kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn. Trước hết, chúng ta sẽ nghiên cứu về nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ kỳ hạn.

    3.2.1    Khái niệm

    • Giao dịch kỳ hạn là một giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ trao đổi một số lượng ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào một thời điểm được thỏa thuận trong tương lai (sau ngày giá trị giao ngay).

    Như vậy, có thể định nghĩa “những giao dịch có ngày giá trị xa hơn ngày giá

     

    15

    trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kỳ hạn”.1

    • Tỷ giá kỳ hạn: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay.
    • Điểm kỳ hạn: là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay

    (Forward points).

    Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn được tiến hành tại một thời điểm theo tỷ giá xác định do hai bên thỏa thuận, nhưng việc giao nhận ngoại tệ được thực hiện trong tương lai. Điều này có nghĩa hợp đồng có kỳ hạn được ký vào ngày J là ngày giao dịch (trade date) và ngày đến hạn là ngày J + n (maturity date) theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký hợp đồng (tỷ giá kỳ hạn) nhưng thực tế việc giao ngoại tệ có thể là ngày J + n + 2 (ngày giá trị của giao dịch kỳ hạn – Value date).

    3.2.2    Đặc điểm

    • Giá trị một hợp đồng không được tiêu chuẩn hóa và là một giá trị tùy ý phụ thuộc vào thỏa thuận giữa người mua và người bán.
    • Mua bán tất cả các đồng tiền.
    • Hàng ngày giá cả biến động theo cung cầu thị trường, không có giới hạn, trừ khi có can thiệp của Ngân hàng Trung ương.
    • Ngày đến hạn phụ thuộc vào thỏa thuận của người mua và người bán.
    • Không hạn chế về thời hạn tối đa của hợp đồng.
    • Rủi ro tín dụng phụ thuộc vào bên đối tác. Rủi ro được phòng ngừa bằng các hạn mức tín dụng và ký quỹ.
    • Luồng tiền không phát sinh cho đến khi hợp đồng hết hạn.
    • Giao dịch 24h/ngày.
    • Không hạn chế tư cách thành viên.

    3.2.3    Tỷ giá kỳ hạn

    Xác định tỷ giá kỳ hạn thực chất là xác định giá trị của ngoại tệ trong tương lai, hai đồng tiền trong quan hệ tỷ giá có thể đầu tư (với lãi suất của mỗi đồng tiền) trong

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, trang 130-131, nhà xuất bản Thống kê

    16

    cùng một thời gian như nhau.

    Ta ký hiệu:

    FVT: Giá trị tương lai của đồng tiền định giá

    FVC : Giá trị tương lai của đồng tiền yết giá

    S: Tỷ giá giao ngay, F: Tỷ giá kỳ hạn

    RT: Lãi suất/năm của đồng tiền định giá

    RC: Lãi suất/năm của đồng tiền yết giá

    t: Thời hạn hợp đồng, tính theo năm

    Trong quan hệ đầu tư, 2 đồng tiền phải có tỷ suất đầu tư ngang nhau. Giả sử đầu tư 1 C, tương đương với đầu tư S đồng T, ta có:

    F * FVC  = FVT

    F * (1 + RC * t )= S * (1+RT * t)

    F = S * (1.1)
    F = S *

    Thông thường, thời hạn của các hợp đồng ngoại hối là tương đối ngắn so với 1 năm và các mức lãi suất %/năm của các đồng tiền là các số nhỏ so với 1 đơn vị. Do đó mẫu số của công thức (1.1) xấp xỉ 1, do đó chúng ta có thể viết lại công thức trên như sau:

          (1.2)
      F = S + S* (RT – R C) * t  
           

    Công thức (1.1) và (1.2) là các công thức tổng quát để tính tỷ giá kỳ hạn. Tuy nhiên, trên thực tế khi ký kết hợp đồng kỳ hạn, các NHTM cần phải xác định tỷ giá kỳ hạn mua vào và bán ra.

    Trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, lãi suất của mỗi đồng tiền và mỗi tỷ giá đều được niêm yết theo hai chiều như sau:

    • Đối với lãi suất bao gồm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
    • Đối với tỷ giá có tỷ giá mua và tỷ giá bán.

    Theo đó, tỷ giá mua kỳ hạn và tỷ giá bán kỳ hạn được tính theo công thức sau:

    Tỷ giá mua kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Tg – RC Cv) (1.3)
       

    Trong đó:

    17

    RT Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền định giá, RC Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền yết giá.

    Tỷ giá bán kỳ hạn:

    F = S + S* (RT Cv – RC Tg) (1.4)
     
       

    Trong đó:

    RT Cv là lãi suất cho vay của đồng tiền định giá, RC Tg là lãi suất tiền gửi của đồng tiền yết giá.

    3.2.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ kỳ hạn đối với các NHTM

    Mặt tích cực:

    • Giao dịch hối đoái kỳ hạn là một trong những công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá cho những đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái.
    • Cho phép các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư dự đoán tỷ giá ngoại tệ tăng hay giảm trong tương lai thì quyết định nên mua kỳ hạn hoặc bán kỳ hạn để ngăn chặn sự thiệt hại về thu nhập và tài sản khi tỷ giá biến động.
    • Cho phép những người tham gia mua bán ngoại tệ có thể xác định được thu nhập, chi phí cũng như lợi nhuận trước khi lựa chọn quyết định kinh doanh của

    mình.

    Mặt hạn chế:

    • Khách hàng phải ký quỹ khi ký hợp đồng kỳ hạn.
    • Hợp đồng kỳ hạn không thể bị huỷ bỏ đơn phương mà không có sự thoả thuận của hai đối tác.
    • Nghĩa vụ của hai bên không thể chuyển giao cho bên thứ ba nên hợp đồng kỳ hạn có tính thanh khoản không cao.

    3.3    Nghiệp vụ tương lai (Future)

    3.3.1    Khái niệm giao dịch ngoại tệ tương lai

    Giao dịch ngoại tệ tương lai (giao dịch giao sau) là một thoả thuận mua bán số lượng ngoại tệ theo tỷ giá được xác định do hai bên thỏa thuận tại thời điểm hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày xác định trong tương lai thông qua Sở giao dịch hối đoái.

    18

    Giao dịch ngoại tệ tương lai được sử dụng để phòng tránh rủi ro tỷ giá tương tự như giao dịch kỳ hạn. Giao dịch tương lai lần đầu tiên được giới thiệu trên thị trường tiền tệ quốc tế (IMM – International Monetary Market) vào năm 1972 tại Chicago (Chicago Mercantile Exchange), cho đến nay nghiệp vụ Future đều có mặt trên các thị trường tài chính nổi tiếng trên thế giới.

    3.3.2    Đặc điểm

    • Các hợp đồng giao dịch tiền tệ tương lai là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được thực hiện trên sàn giao dịch của Sở giao dịch tiền tệ tương lai.
    • Các công ty, cá nhân và các ngân hàng gửi các lệnh đặt mua hay đặt bán một số lượng cố định ngoại hối cho các nhà môi giới hay các thành viên của Sở giao dịch. Trên cơ sở đó, các lệnh đặt mua được đối chiếu với các lệnh bán và một công ty thanh toán bù trừ của Sở giao dịch đảm bảo cho cả hai bên mua và bán sau khi đã được đối chiếu và khớp với nhau chắc chắn sẽ được thực hiện.
    • Cung cầu về các hợp đồng tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác sẵn sàng mua hay bán các hợp đồng, làm cho giá cả các hợp đồng biến động theo giá của các lệnh đặt mua hay đặt bán.
    • Trên thị trường tương lai chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị nhất định. VD tại Sở giao dịch Chicago, chỉ có 4 ngày giá trị là thứ 4 của tuần thứ 3 trong các tháng ba, sáu, chín và mười hai.
    • Các hợp đồng tương lai chỉ thực hiện với 6 loại ngoại tệ theo quy định số lượng từng loại ngoại tệ cho mỗi giao dịch trên thị trường như sau:

    19

    Bảng 1.1 Đơn vị giao dịch của các đồng tiền trên

    sở giao dịch tiền tệ tƣơng lai

    Giao dịch tƣơng lai đối với USD Mỗi đơn vị giao dịch
       
    Pound Sterling GBP 62.500
       
    Canada Dollar CAD 100.000
       
    Japanese Yen JPY 12.500.000
       
    Swiss Franc CHF 125.000
       
    Euro EUR 125.000
       
    Autralian Dollar AUD 100.000
       
    • Khi bắt đầu tham gia nghiệp vụ này, khách hàng phải thực hiện ký quỹ ban đầu (Initial Margin) được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hợp đồng tại Phòng thanh toán bù trừ (Clearing House). Số tiền ký quỹ này sẽ được tính toán và điều

    chỉnh hàng ngày để thực hiện thanh toán giữa một bên lời và lỗ nếu có chênh lệch tỷ giá thị trường với tỷ giá thỏa thuận khi ký hợp đồng tương lai.

    • Hợp đồng tương lai có tính thanh khoản khá cao, bởi khi tham gia vào hợp đồng kỳ hạn khách hàng bắt buộc phải thực hiện hợp đồng còn đối với hợp đồng tương lai các bên có quyền đảo hợp đồng khi một bên yêu cầu (thường khi tỷ giá diễn biến bất lợi) bằng cách Phòng giao dịch sẽ thực hiện một giao dịch ngược trên cùng với một số lượng ngoại tệ như nhau. Khi đảo hợp đồng thì hợp đồng cũ bị xoá bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá trị tại thời điểm đảo hợp đồng. Chính vì có khả năng đảo hợp đồng mà chỉ không quá 2% số lượng hợp đồng tương lai được thực hiện khi đáo hạn, còn lại đa số hợp đồng được tất toán với hình thức đảo hợp đồng. Các hợp đồng được duy trì đến ngày đáo hạn sẽ được thanh toán giống như các hợp đồng kỳ hạn.

    Nghiệp vụ KDNT tương lai chưa được áp dụng tại Việt Nam do một số nguyên nhân về nhận thức giao dịch, mức độ hiệu quả của thị trường và cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ giao dịch chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra.

    20

    3.3.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ tương lai đối với các NHTM

    Hợp đồng tương lai cho phép giao dịch ngoại tệ có giá trị nhỏ nên dễ dàng và thuận lợi trong giao dịch.

    Hợp đồng tương lai cung cấp cho những nhà đầu cơ một phương tiện kinh doanh và cho những người ngại rủi ro một công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá tốt.

    Tuy nhiên hợp đồng tương lai có những hạn chế là chỉ giao dịch giới hạn trong một số ngoại tệ nhất định, việc chuyển giao ngoại tệ chỉ thực hiện ở một số ngày trong năm và đây là loại hợp đồng không cho khách hàng quyền chọn như trong hợp đồng quyền chọn.

    3.4    Nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ (Swap)

    Để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hợp đồng kỳ hạn được sử dụng rất phổ biến trong hoạt động kinh doanh XNK. Tuy nhiên, trên thực tế, thời điểm mà nhà XNK phát sinh nhu cầu thu chi ngoại tệ lại có thể xảy ra trước hoặc sau thời điểm hợp đồng kỳ hạn đến hạn. Để khắc phục nhược điểm này của hợp đồng kỳ hạn, các NHTM đã cung cấp các hợp đồng hoán đổi cho phép các nhà kinh doanh XNK kéo dài hay rút ngắn thời hạn hợp đồng kỳ hạn cho phù hợp với nhu cầu thu chi ngoại tệ thực tế.

    3.4.1     Khái niệm

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    3.4.2    Đặc điểm

    • Một hợp đồng hoán đổi hối đoái gồm hai vế là mua vào và bán ra, cùng được ký kết vào ngày hôm nay, nhưng có ngày giá trị khác nhau.
    • Nếu không có thỏa thuận khác thì khi nói mua đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá, và bán ra một đồng tiền nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá.
    • Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền yết giá là bằng nhau trong cả hai vế của hợp đồng hoán đổi.
    • Căn cứ đặc điểm ngày giá trị, giao dịch hoán đổi gồm hai loại:
    • Spot – Forward Swap: Bao gồm 1 vế giao ngay và một vế kỳ hạn

    21

    • Forward – Forward Swap: Bao gồm cả 2 vế đều là kỳ hạn với ngày giá trị

    khác nhau.

    Trên thực tế, giao dịch hoán đổi dạng Forward – Forward ít được sử dụng và các hợp đồng hoán đổi chủ yếu là Spot – Forward Swap.

    3.4.3    Xác định tỷ giá trong giao dịch hoán đổi

    Trong nghiệp vụ hoán đổi thường công bố điểm hoán đổi (swap point).

    Điểm swap được tính toán như sau:

    Swap point  =  Forward rate   –      Spot rate

    (1.5)

    Swap point = S *

    Trong đó: S là tỷ giá giao ngay, RT là lãi suất đồng tiền định, RC là lãi suất đồng tiền yết giá, t là thời gian (tính theo ngày).

    Ví dụ giao dịch hoán đổi tiền tệ tại BIDV:

    Khách hàng là Công ty A muốn bán giao ngay USD và mua kỳ hạn 3 tháng

    USD.

    Ngày 15/11/2010, tỷ giá giao ngay và lãi suất kỳ hạn 3 tháng tại BIDV như

    sau:

    • Tỷ giá USD/VND: 19.495 – 19.500
    • Lãi suất USD (%/năm) : 3 – 6
    • Lãi suất VND (%/năm): 12 – 14

    Ta có điểm Swap 3 tháng của USD/VND áp dụng đối với công ty A là:

    SWP3 = 19.500 x (14 – 6) x 92/(100 x 360) = 399 điểm

    Như vậy, giao dịch Swap USD/VND 3 tháng sẽ được thực hiện như sau:

    Vào ngày 15/11/2010, BIDV sẽ mua USD/VND với tỷ giá giao ngay USD/VND là 19.495 đồng thời cam kết bán lại số USD đó để lấy VND sau 3 tháng

    22

    với tỷ giá USD/VND là 19.500 + 399 =19.899 (đây chính là tỷ giá bán Forward 3 tháng).

    3.4.4    Ý nghĩa của nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ đối với các NHTM

    Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được phổ biến trên thị trường hối đoái với mục đích là phòng tránh rủi ro tỷ giá hoặc đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn. Khối lượng giao dịch này vượt hẳn khối lượng giao dịch giao ngay hoặc kỳ hạn một chiều. Giao dịch hoán đổi ngoại tệ được tiến hành với cùng một khách hàng.

    Giao dịch Swap giúp các ngân hàng cân bằng trạng thái vốn giữa hai thời điểm khác nhau, giải quyết nhu cầu ngoại tệ, vốn trong kinh doanh và nâng cao thu nhập cho ngân hàng.

    Các NHTM có thể kết hợp nghiệp vụ Swap ngoại tệ với Swap lãi suất như sau:

    • Swap lãi suất:

    Là nghiệp vụ tìm những vốn nguồn vốn với lãi suất cố định, phí tổn thấp hơn. Người đi vay có thể so sánh lãi suất trên các thị trường khác nhau để có những quyết định phù hợp với mục đích giao dịch.

    • Swap lãi suất hai ngoại tệ: cam kết của hai bên giao dịch vào một ngày nhất định đổi một lượng cố định ngoại tệ này để nhận một lượng biến đổi ngoại tệ khác với thời hạn xác định khi đến hạn. Phí tổn của giao dịch phụ thuộc vào chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền tính theo số ngày trên cơ sở tỷ giá giao ngay (điểm Swap). Trên cơ sở điểm Swap được các ngân hàng thông báo khách hàng sẽ lựa chọn giữa đi vay ngoại tệ hay giao dịch Swap thông qua vay ngoại tệ đối ứng.
    • Swap lãi suất đối với một đồng tiền: ứng dụng hoán đổi lãi suất để tìm lãi suất rẻ khi đổi lãi cố định với lãi thả nổi. Đó là các giao dịch chuyển đổi nghĩa vụ trả lãi suất theo các hình thức khác nhau như lãi suất cố định với lãi suất biến đổi dựa trên cùng một loại tiền tệ. Trong một hợp đồng hoán đổi lãi suất một bên trả lãi suất cố định từ thời điểm giao dịch, trong khi bên kia trả lãi suất thả nổi theo thỏa thuận trong suốt thời gian của hợp đồng Swap lãi suất cho hai bên.ngân hàng sẽ đứng trung gian thực hiện hợp đồng Swap cho hai bên.
    • Ứng dụng Swap xác định lãi suất đồng tiền chào trên thị trường

    Thông qua các điểm kỳ hạn của các đồng tiền được báo trên thị trường, các nhà

    23

    kinh doanh ngoại hối luôn tìm cách phát hiện những chênh lệch về lãi suất giữa lời chào của ngân hàng thể hiện bằng điểm kỳ hạn với lãi suất trên thị trường để tìm kiếm những đồng tiền cần thiết có lợi nhất, khi biết trước lãi suất của đồng tiền này từ đó tính ra lãi suất được chào của đồng tiền kia. Người ta áp dụng hình thức tính toán theo điểm kỳ hạn hay còn gọi là thị trường Swap.Trong chừng mực nào đó, chênh lệch lãi suất nẩy sinh giữa các điều kiện của Swap với lãi suất thị trường có thể được coi như là giá phải trả khi người giao dịch muốn có được đồng tiền cần thiết mà không phải đi vay.

    3.5    Nghiệp vụ quyền chọn (Option)

    Quyền chọn là một công cụ của các thị trường giao dịch trên thế giới. Quyền chọn được áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, lãi suất, chứng khoán, hàng hoá… Mặc dù vào thế kỷ 19 khái niệm về quyền chọn đã được hình thành tại London, tuy nhiên do đặc tính của quyền chọn nên chưa được hình thành trong giai đoạn này. Mãi đến năm 1973 nghiệp vụ quyền chọn mới được giao dịch mạnh mẽ tại thị trường hàng hoá Chicago (Chicago Board Options Exchange – CBOE) và chỉ một thời gian ngắn quyền chọn được phép giao dịch trên tất cả các thị trường lớn như American Stock Exchange, Philadelphia Stock Exchange, Monep…

    3.5.1    Khái niệm quyền chọn

    Các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và tương lai luôn phải được thanh lý có thể trước hoặc sau hay tại thời điểm hợp đồng đến hạn. Không giống như các hợp đồng này, hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua trong tương lai có quyền mua hoặc bán (không phải nghĩa vụ) một đồng tiền nhất định tại một mức tỷ giá cố định được thỏa thuận trước.

    Như vậy, có thể định nghĩa về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ như sau:

    Quyền chọn ngoại tệ (quyền chọn mua hoặc bán ngoại tệ) là một hợp đồng giữa người mua và người bán, theo đó người bán trao cho người mua quyền chứ không phải nghĩa vụ mua (call) hoặc bán (put) một số lượng nhất định ngoại tệ trong một khoảng thời gian được xác định với tỷ giá nhất định (tỷ giá thực hiện). Đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí (gọi là phí Option). Người bán quyền chọn được hưởng khoản phí đó cho dù người mua có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn của mình.

    24

    3.5.2    Đặc điểm quyền chọn tiền tệ

    • Quyền chọn mua và quyền chọn bán tiền tệ:

    Hợp đồng quyền chọn cho phép người mua hợp đồng quyền: hoặc là thực hiện quyền chọn (mua hoặc bán) theo tỷ giá đã thỏa thuận cố định từ trước, hoặc là mặc nhiên để hợp đồng tự động hết hạn mà không tiến hành bất cứ một giao dịch nào. Đối với người bán quyền chọn không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc luôn sẵn sàng tiến hành giao dịch khi người mua thực hiện quyền chọn.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền mua một đồng tiền nhất định. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ là hợp đồng trong đó người mua hợp đồng có quyền bán một đồng tiền nhất định. Trong mỗi giao dịch quyền chọn bao gồm cả quyền chọn mua và quyền chọn bán.

    Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ bao hàm nội dung: mua đồng tiền yết giá tức bán đồng tiền định giá. Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ bao hàm nội dung bán đồng tiền yết giá tức mua đồng tiền định giá.

    • Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ:

    Các bên tham gia giao dịch quyền chọn tiền tệ: gồm người bán hợp đồng và người mua hợp đồng. Mua một hợp đồng quyền chọn có thể là mua quyền chọn bán hoặc mua quyền chọn mua. Người mua hợp đồng sau khi đã trả phí có quyền tiến hành quyền chọn nếu thấy có lợi hoặc là không tiến hành quyền chọn nếu thấy bất lợi. Người bán hợp đồng quyền chọn có thể là bán quyền chọn bán hoặc bán quyền chọn mua. Người bán hợp đồng sau khi đã thu phí có nghĩa vụ sẵn sàng giao dịch tại mức tỷ giá đã thỏa thuận nếu người mua thực hiện quyền chọn của mình.

    • Thực hiện quyền chọn:

    Người mua hợp đồng quyền chọn có quyền quyết định thực hiện hay không thực hiện quyền chọn tiền tệ. Một hợp đồng quyền chọn được tiến hành giao dịch có nghĩa là có sự thanh toán thực sự giữa người mua và người bán và các luồng tiền trao đổi xảy ra thực sự.

    Thời điểm các bên đối tác ký kết hợp đồng gọi là thời điểm ký kết hợp đồng.

    Thời điểm tiến hành thanh toán gọi là thời điểm thực hiện quyền chọn.

    25

    • Tỷ giá quyền chọn:

    Tỷ giá áp dụng trong giao dịch quyền chọn gọi là tỷ giá quyền chọn. Tỷ giá quyền chọn ngoài yếu tố cung cầu còn phụ thuộc vào mức phí quyền chọn là cao hay thấp do đó tỷ giá quyền chọn có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với tỷ giá giao ngay, giao kỳ hạn hay giao tương lai. Nghĩa là tỷ giá quyền chọn có thể bất cứ như thế nào miễn sao người mua chấp nhận, bởi vì giữa tỷ giá quyền chọn và phí mua quyền chọn luôn có mối quan hệ với nhau, do đó người bán thường sẵn sàng chấp nhận mọi tỷ giá quyền chọn mà người mua đề nghị nhưng áp dụng mức phí quyền chọn hợp lý để có lãi.

    • Giá hợp đồng quyền chọn

    Giá hợp đồng quyền chọn hay phí quyền chọn là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán hợp đồng quyền chọn. Giá hợp đồng quyền chọn phải là lượng tiền hợp lý sao cho đủ để bù đắp rủi ro xét từ góc độ của người bán và không bị quá đắt xét từ góc độ người mua. Phí quyền chọn là khoản tiền không truy đòi và thông thường được thanh toán một lần tại thời điểm ký kết hợp đồng. Tuy nhiên trong một số trường hợp thì việc thanh toán có thể xảy ra tại thời điểm hợp đồng đến hạn nếu như người bán có thiện chí cấp tín dụng cho người mua.

    • Các nhân tố ảnh hưởng đến phí quyền chọn
    • Tỷ giá giao ngay: tại mỗi mức tỷ giá giao dịch nếu tỷ giá giao ngay càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn mua càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.
    • Tỷ giá quyền chọn: Tại mỗi mức tỷ giá giao ngay, nếu tỷ giá quyền chọn của hợp đồng quyền chọn mua càng cao thì xác suất xảy ra thực hiện quyền chọn càng thấp do đó phí quyền chọn mua càng thấp.
    • Thời gian đến hạn: thời gian đến hạn của hợp đồng quyền chọn càng dài thì càng có nhiều khả năng tỷ giá thị trường biến động trên mức tỷ giá quyền chọn mua; do đó phí quyền chọn mua càng cao.
    • Sự biến động của tỷ giá: Tỷ giá trên thị trường biến động càng mạnh thì xác suất tỷ giá giao ngay vượt tỷ giá quyền chọn tại thời điểm hợp đồng đến hạn càng lớn do đó phí quyền chọn càng cao.

    26

    • Lãi suất của đồng tiền yết giá: nếu lãi suất của đồng tiền yết giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đồng tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên kém hấp dẫn do đó làm cho phí quyền chọn mua giảm xuống.
    • Lãi suất của đồng tiền định giá: lãi suất đồng tiền định giá tăng làm cho giá trị hiện tại của đông tiền này giảm, dẫn đến các hợp đồng quyền chọn mua trở nên hấp dẫn, làm cho phí quyền chọn mua tăng lên.
    • Giá trị hiện tại và giá trị thời gian:

    Phí quyền chọn bao gồm hai phần thành phần: giá trị nội tại và giá trị thời gian. Giá trị nội tại là khoản lãi có thể thu được nếu thực hiện quyền chọn ngay lập tức tại một thời điểm nhất định.

    • Đối với hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá giao ngay – Tỷ giá quyền chọn

    • Đối với hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ:

    Giá trị nội tại = Tỷ giá quyền chọn – Tỷ giá giao ngay

    Nếu giá trị nội tại > 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là được giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại < 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là giảm giá quyền chọn.

    Nếu giá trị nội tại = 0 thì hợp đồng quyền chọn được gọi là ngang giá quyền chọn.

    Giá trị thời gian của hợp đồng quyền chọn là hiệu số giữa phí quyền chọn và giá trị nội tại. Nó phản ánh một hợp đồng quyền chọn có thể có giá trị lớn hơn giá trị nội tại. Nghĩa là, do sự biến động của tỷ giá giao ngay trong tương lai làm cho giá trị của hợp đồng quyền chọn thay đổi tức có giá trị thời gian.

    3.5.3    Ý nghĩa của nghiệp vụ quyền chọn đối với các NHTM

    Quyền chọn được sử dụng như là công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá hiệu quả đồng thời là công cụ được sử dụng để đầu cơ mạnh mẽ trên thị trường hối đoái quốc tế.

    Đối với các NHTM, quyền chọn không chỉ được sử dụng để đầu cơ, kiếm lợi nhuận trên thị trường liên ngân hàng mà còn giúp các NHTM thu được khoản phí đáng kể khi cung cấp quyền chọn cho khách hàng của mình.

    27

    3.6    Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage)

    3.6.1    Khái niệm

    Arbitrage là nghiệp vụ kết hợp việc mua (bán) ngoại tệ và thực hiện bán (mua) ngoại tệ lại nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường.

    Nguyên tắc

    • Arbitrage áp dụng nguyên tắc mua ngoại tệ ở nơi tỷ giá thấp và bán ngoại tệ ở nơi tỷ giá cao.
    • Giao dịch mua và bán ngoại tệ đều được thanh toán qua hệ thống ngânhàng nên phát sinh chi phí môi giới, chuyển tiền, điện phí… Các nhà đầu tư so sánh lợi nhuận thu được do chênh lệch tỷ giá phải bù đắp được chi phí phát sinh và đảm bảo có lời thì nghiệp vụ Arbitrage mới được thực hiện.

    3.6.2    Đặc điểm và ý nghĩa của nghiệp vụ Arbitrage đối với các NHTM

    • Lợi nhuận từ kinh doanh chênh lệch giá tuy không lớn nhưng kiếm được trong thời gian ngắn và hầu như không có rủi ro nên rất hấp dẫn. Cơ hội kinh doanh chênh lệch giá là rất ngắn vì khi có nhiều người tham gia sẽ nhường cho sự bình quân tỷ giá giữa các khu vực.
    • Với nghiệp vụ Arbitrage, ngân hàng hoàn toàn chủ động mua/bán ngoại tệ nhằm kiếm chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường. Chính đặc điểm của Arbitrage là cơ hội kinh doanh ngắn đòi hỏi ngân hàng phải có chương trình hỗ trợ tính thu nhập khi thực hiện giao dịch thì mới có thể đáp ứng nhu cầu ra quyết định trong thời gian rất ngắn. Hiện tại, BIDV không giao dịch Arbitrage.

    II.               CÁC TIÊU CHÍ ĐO LƢỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

     

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của mỗi ngân hàng là khác nhau, phụ

    thuộc vào quy mô ngân hàng lớn hay nhỏ, lĩnh vực hoạt động chính, khả năng tài chính của ngân hàng …Qua nghiên cứu, tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của BIDV và một số NHTM, để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của NHTM, tác giả xin trình bày một số tiêu chí như sau:

    28

    1.     Doanh số mua bán ngoại tệ

    Doanh số mua bán ngoại tệ của một Ngân hàng thương mại trong một thời kỳ được tính bằng tổng doanh số ngoại tệ mua vào và bán ra với khách hàng trong thời kỳ đó.

    Doanh số MBNT = Doanh số mua + doanh số bán (ngoại tệ)

    Hiện nay, khi thị trường ngoại hối phát triển, đồng nghĩa với việc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, nếu ngân hàng mở rộng chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán (spread) thì sẽ không hấp dẫn khách hàng, dẫn đến doanh số mua bán ngoại tệ thấp. Do đó, một ngân hàng muốn tăng lợi nhuận thì trong cạnh tranh các ngân hàng thường có xu hướng thu hẹp spread nhằm tăng doanh số mua bán ngoại tệ của mình.

    Như vậy, spread là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến doanh số mua bán ngoại tệ của một ngân hàng. Một ngân hàng muốn tăng doanh số giao dịch thì cần thu hẹp spread và ngược lại muốn giảm doanh số giao dịch thì mở rộng spread.

    Để đánh giá hoạt động kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng có chuyên nghiệp và hiệu quả hay không, cần xem xét một số yếu tố sau:

    • Tương quan giữa doanh số mua bán ngoại tệ của ngân hàng và tổng

    doanh số XNK của các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đó. T = doanh số mua bán ngoại tệ/tổng doanh số xuất nhập khẩu

    • Tương quan giữa doanh số mua vào của ngân hàng và các khoản thu từ

    hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp XNK.

    Tm = doanh số mua ngoại tệ/doanh số xuất khẩu của Doanh nghiệp

    – Tương quan giữa doanh số bán ra của ngân hàng và các khoản chi cho Tb = doanh số bán ngoại tệ/doanh số nhập khẩu của Doanh nghiệp

    hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    2.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ bao gồm:

    29

    • Lãi thu được do chênh lệch giữa giá bán và giá mua ngoại tệ.Trên thị trường ngoại hối có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao

    ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá.

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Ta có công thức tính như sau:

    Lãi KDNT = Doanh số MBNT * spread

    Trong đó: Spread = Tỷ giá bán – tỷ giá mua

    • Phí thu được từ các giao dịch ngoại tệ (Phí từ cung cấp các sản phẩm ngoại hối phái sinh).

    Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một ngân hàng thương mại.

    3.     Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên tổng thu nhập

    Thu nhập hay lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh ngoại tệ của một NHTM. Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập của NHTM đó. Một ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ thấp hơn nhưng sẽ được đánh giá hiệu quả cao hơn nếu thu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại trên tổng thu nhập cao.

    Đối với các ngân hàng lớn (đặc biệt là các ngân hàng nước ngoài) đều có xu hướng giảm dần các nghiệp vụ truyền thống như tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại, trong dó trong cơ cấu lợi nhuận của các ngân hàng này, thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ chiếm tỷ trọng rất lớn, thường trên 40%.

    30

    4.     Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Ngày nay hoạt động KDNT của NHTM ngày càng đa dạng, phong phú đi kèm với nó là các rủi ro, trong hoạt động KDNT có các loại rủi ro sau:

    • Các rủi ro cơ bản: Rủi do tỉ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán.
    • Rủi ro trong hồ sơ mua bán ngoại tệ: Hồ sơ mua bán ngoại tệ chưa rõ ràng, hợp pháp, hợp lệ, đầy đủ. Thông tin khách hàng không chính xác, rõ ràng, Không cập nhật thông tin khách hàng kịp thời khi có thay đổi…,
    • Rủi ro trong hợp đồng mua bán ngoại tệ: Hợp đồng không đầy đủ, ko chặt chẽ hoặc không đúng với các quy định về quản lý ngoại hối, thanh toán và pháp luật, không thực hiện đúng các điều khoản cam kết, không thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro biến động tỉ giá với các hợp đồng kỳ hạn mua bán ngoại tệ, thu phí qua hợp đồng dịch vụ (hoa hồng, chi phí tiền mặt) làm tăng tỉ giá thực tế vượ trần quy định;
    • Rủi ro khi hạch toán: Hạch toán sai số tiền, loại tiền, tỷ giá, nhầm đối tác

    giao dịch…

    Sau đây chúng ta đi sâu vào xem xét 1 số rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

    4.1    Rủi ro tỷ giá

    4.1.1    Khái niệm rủi ro tỷ giá

    Về bản chất kinh doanh ngoại hối tự bản thân nó chứa đựng rủi ro rất cao. Ngoài các rủi ro thông thường mà các hoạt động khác phải đối mặt như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro kỹ thuật…thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một rủi ro đặc biệt đó là rủi ro tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường nên rủi ro tỷ giá được xem là rủi ro thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thương mại.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng mua vào một lượng ngoại tệ mà đồng tiền đó đang bị mất giá (giá hiện nay thấp hơn giá mua vào) hoặc bán ra ngoại tệ mà đồng tiền đã bán đang tăng giá.

    Đối với khách hàng, rủi ro tỷ giá xuất hiện khi các doanh nghiệp đã ký hợp đồng ngoại thương theo đó họ sẽ phải thanh toán một số lượng ngoại tệ nhất định trong tương lai khi đối tác giao hàng. Từ khi ký kết hợp đồng đến khi thanh toán là một

    31

    khoảng thời gian khá dài cho sự biến động của tỷ giá, nếu chúng ta biết rằng tỷ giá luôn biến động hàng ngày, hàng giờ và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chính trị, kinh tế của đất nước.

    Mỗi ngân hàng tham gia hoạt động KDNT đều quan tâm đến rủi ro tỷ giá và một trong những cách quản lý rủi ro tỷ giá có hiệu quả là quản lý trạng thái ngoại hối.

    4.1.2    Nguồn phát sinh rủi ro tỷ giá

    Như phân tích tại mục 2, có ba phương pháp cơ bản để thu lãi. Ví dụ, trên thị trường giao ngay, đó là:

    Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối: Nhà kinh doanh có thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.

    Lãi thu được từ kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá trị cao hơn để ăn chênh lệch tỷ giá. Vì hành vi mua bán diễn ra tại cùng một thời điểm với số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu rủi ro tỷ giá (vì không tạo ra trạng thái) và không phải bỏ vốn

    Lãi thu được từ chênh lệch tỷ giá mua vào bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra nên chênh lệch tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng. Về thực chất, trong giao dịch này, ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng nên không chịu rủi ro tỷ giá và không cần bỏ vốn.

    Từ trên chúng ta có thể thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu rủi ro tỷ giá khi duy trì trạng thái ngoại hối mở. Trạng thái ngoại hối mở của ngoại hối mở của một ngoại tệ là chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ của một ngoại tệ tại một thời điểm. Tất cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng thái ngoại tệ trong đó thông qua giao dịch mua bán là chủ yếu. Chính vì vậy, trong thực tế chỉ cần quản lý tốt trạng thái mua bán ngoại tệ cũng đủ ngăn ngừa rủi ro tỷ giá phát sinh.

    Đối với mỗi ngoại tệ, tại một thời điểm nếu tổng tài sản có lớn hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó trạng thái trường. Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ làm phát sinh lỗ ngoại hối. nếu tổng tài

    32

    sản có nhỏ hơn tổng tài sản nợ thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản. khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối và ngược lại khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại hối.

    Nếu không duy trì trạng thái ngoại hối mở thì nhà kinh doanh không chịu rủi ro tỷ giá hoặc duy trì trạng thái ngoại hối mở nhưng không biến động thì rủi ro tỷ giá cũng không phát sinh. Tuy nhiên là nhà kinh doanh ngoại hối thì động cơ chủ yếu là thông qua việc tạo trạng thái và tỷ giá biến động càng nhanh, càng mạnh, càng khó dự đoán thì cơ hội kiếm lãi dành cho họ càng nhiều. (Nguyễn Văn Tiến, 2005)

    4.1.3    Đo lường  rủi ro tỷ giá

    Như trên đã trình bày, rủi ro tỷ giá của một loại ngoại tệ phụ thuộc vào việc duy trì trạng thái ròng ngoại tệ và mức độ biến động của tỷ giá:

    Lãi/lỗ đối với ngoại tệ I = trạng thái ngoại hối ròng ngoại tệ I x mức độ biến động tỷ giá ngoại tệ I

    Đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh:

    Nếu việc phân tích rủi ro ngoại hối chỉ được tiến hành đối với từng ngoại tệ riêng biệt, tức là tiến hành xem trạng thái ngoại hối mở của từng loại ngoại tệ độc lập thì tổng rủi ro ngoại hối đối với ngân hàng sẽ bị cường điệu lên rất nhiều. Nhìn chung, rủi ro ngoại hối của một danh mục ngoại tệ nhỏ hơn tổng các rủi ro của từng loại ngoại tệ riêng biệt vì sự thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền này với nhau có mối tương quan nghịch nên lợi nhuận thu được từ duy trì trạng thái ngoại hối đối với đồng tiền này có thể bù đắp cho sự thua lỗ do duy trì trạng thái ngoại hối đối với ngoại tệ khác.

    Trên thế giới có rất nhiều chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động KDNT đối với một danh mục ngoại tệ kinh doanh. Trong phần này, tác giả xin trình bày hai chỉ số đo lường rủi ro của một danh mục ngoại tệ , đó là độ lệch chuẩn và chỉ số VaR (Value at Risk).

    • Phương pháp tính độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ σ2 =

    33

    Trong đó: i ≠ j

    σ: Độ lệch chuẩn của danh mục ngoại tệ kinh doanh. σ càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn.

    Xi : Trạng thái ngoại hối ròng của ngoại tệ i

    Độ lệch chuẩn của tỷ giá giữa ngoại tệ i và VND

    Ρij: Hệ số tương quan giữa tỷ giá của ngoại tệ i và j với VND (PGS.TS Nguyễn Văn Tiến 2005)

    • VaR và phương pháp tính VaR ( Value at Risk)

    Khi đầu tư, các nhà đầu tư phải tính toán suất sinh lợi kỳ vọng (expectation), mức rủi ro cao nhất của mỗi tài sản/danh mục đầu tư của mình. Có một cách cơ bản và được sử dụng phổ biến để ước tính trường hợp xấu nhất đối với danh mục tài sản của mình – thua lỗ lớn nhất trong một thời gian nhất định, đó là Value at Risk, hay còn gọi là VaR.

    Value at Risk là số tiền tối đa mà một tài sản hay một danh mục đầu tư có thể mất với một xác suất nào đó trong một đơn vị thời gian. Mục đích của phân tích VaR là để trả lời câu hỏi: Với độ tin cậy là 95% (hoặc 99%) thì trong tháng tới (quý tới/năm tới), khả năng thua lỗ lớn nhất của danh mục là bao nhiêu % (tương ứng với bao nhiêu VND trên khoản đầu tư ban đầu vào danh mục ).

    Phương pháp tính VaR:

    Sau đây, tác giả xin trình bày 2 phương pháp thông dụng nhất để tính VaR:

    • Phân tích quá khứ (historical method)

    Theo phương pháp này, VaR được xác định như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư
    1. Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số rủi ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, vv).
    1. Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất.
    1. tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ.

    34

    • Phương sai – hiệp phương sai (variance-covariance method)

    Theo phương pháp này, VaR được tính cụ thể như sau:

    1. Tính giá trị hiện tại V0 của danh mục đầutư
    1. Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng m và độ lệch chuẩn suất sinh lợi σ của danh mục đầu tư
    1. VaR được xác định theo biểu thức sau đây:

    VaR = V0×(−m + zqσ)

    4.2    Rủi ro thanh toán

    Rủi ro này phát sinh khi việc thanh toán không đúng hạn như đã thỏa thuận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro về thanh toán, thường do cân đối nguồn tiền vào và ra không khớp trong khi dự trữ ngoại tệ của NHTM không đủ nên không thể chuyển tiền như cam kết.

    Rủi ro về thanh toán còn xuất hiện khi ngân hàng đã thanh toán nhưng khách hàng không chuyển tiền đối ứng.

    Việc thanh toán chậm sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Ngân hàng và lợi nhuận sẽ giảm do phải chịu lãi phạt. Về lâu dài, việc thanh toán chậm sẽ đặt ngân hàng vào thế yếu trong những giao dịch sau này.

    4.3    Rủi ro  tín dụng

    Rủi ro này liên quan tới tình hình tài chính của đối tác như mất khả năng chi trả do thua lỗ, phá sản, bị kiện cáo khiến đối tác không thể thanh toán như đã thỏa thuận. Hậu quả của nó rất nghiêm trọng trên thị trường hối đoái nơi mà các giao dịch mang tính dây chuyền vì một khi giao dịch ngoại tệ được thực hiện sẽ phát sinh một loạt các giao dịch với các đối tác.

    Ngoài ra, hoạt động KDNT còn có các rủi ro khác như rủi ro hệ thống (Telex, điện thoại, hệ thống thanh toán, hệ thống bù trừ), rủi ro lãi suất (đối với các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi…), rủi ro thanh khoản, rủi ro pháp lý…

    35

    Chính vì hoạt động KDNT mang tính rủi ro cao nên các nước thường đưa ra các quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn, ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng. Công cụ để quản lý rủi ro ngoại tệ là việc giới hạn trạng thái ngoại tệ. Với công cụ này, các ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro ngoại tệ, đồng thời kiểm soát hiệu quả các hoạt động đầu cơ ngoại tệ, đảm bảo cung cầu ngoại tệ được phản ánh chính xác, bình ổn tỷ giá và góp phần làm lành mạnh thị trường hối đoái.

    Một ngân hàng được đánh giá là hoạt động hiệu quả trong kinh doanh ngoại tệ là ngân hàng phát triển tốt các nghiệp vụ phái sinh phòng ngừa rủi ro tỷ giá, đồng thời có biện pháp kiểm soát tốt trạng thái ngoại tệ.

    4.                 Khả năng hỗ trợ của nghiệp vụ KDNT tới các nghiệp vụ khác của ngân hàng

    Ta có thể thấy chức năng đầu tiên của hoạt động KDNT là mua bán ngoại tệ phục vụ nhu cầu XNK. Thương mại quốc tế phát triển là tiền đề và động lực thúc đẩy sự phát triển của hoạt động KDNT. Vì vậy, hiệu quả kinh doanh ngoại tệ không chỉ thể hiện từ nội tại hoạt động đó mà còn thể hiện ở việc hoạt động này hỗ trợ ra sao đối với các hoạt động thanh toán, tài trợ thương mại…

    36

    CHƢƠNG II

    THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ

    HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1 Quá trình hình thành và phát triển

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng qua các thời kỳ như sau:

    Thời kỳ từ 1957- 1980

    Ngày 26/4/1957, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của Ngân hàng ĐT&PTVN – được thành lập theo quyết định 177/TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng Chính phủ trực thuộc Bộ Tài Chính với qui mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách cho tất các các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

    Thời kỳ 1981- 1989

    Ngày 24/6/1981, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước.

    Thời kỳ 1990 – nay

    Từ năm 1990 đến 1994: Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

    Đây là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Do vậy, nhiệm vụ của BIDV được thay đổi cơ bản: Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nước; Huy động các nguồn vốn trung dài hạn để

    37

    cho vay đầu tư phát triển; kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển

    Từ năm 1995 đến 1996: Đây là mốc đánh dấu sự chuyển đổi cơ bản của BIDV: Được phép kinh doanh đa năng tổng hợp như một ngân hàng thương mại, phục vụ chủ yếu cho đầu tư phát triển của đất nước.

    Từ năm 1996 đến nay: Đây là thời kỳ được ghi nhận là thời kỳ “chuyển mình, đổi mới, lớn lên cùng đất nước”; chuẩn bị nền móng vững chắc và tạo đà cho sự “cất cánh” của BIDV.

    Ghi nhận những đóng góp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng I, Huân chương Lao động hạng I, Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Huân chương Hồ Chí Minh,…

    38

    • Cơ cấu tổ chức

    Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hệ thống BIDV

    NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

     

    KHỐI

    CÔNG TY

    CÔNG TY

    CHO THUÊ

    TÀI CHÍNH

    CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II

    CÔNG TY

    CHỨNG

    KHOÁN

    CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN

    CÔNG TY BẢO

    HIỂM BIDV

    KHỐI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN

    TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

    TRUNG TÂM

    ĐÀO TẠO

    VĂN PHÕNG ĐẠI

    DIỆN MIỀN TRUNG

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN MIỀN NAM

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI CAMBODIA

    VĂN PHÕNG ĐẠI DIỆN TẠI MYANMAR

    KHỐI

    NGÂN HÀNG

    SỞ GIAO DỊCH,

    CHI NHÁNH

    SỞ GIAO DỊCH

    III

    107 CHI NHÁNH

    KHỐI LIÊN DOANH GÓP VỐN CỔ PHẦN

    NGÂN HÀNG

    LIÊN DOANH

    VID-PUBLIC

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH LÀO-VIỆT

    NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT – NGA

    CTY LIÊN DOANH QUẢN LÝ ĐẦU TƢ

    CTY LIÊN DOANH THÁP BIDV

    CÁC ĐƠN VỊ CÓ VỐN GÓP CỔ PHẦN CỦA BIDV(*)

     

    39

    (*): Các công ty do BIDV là cổ đông sáng lập hoặc nắm cổ phần chi phối như:

    • Công ty CP cho thuê máy bay (VALC)
    • Công ty Đầu tư Phát triển Campuchia (DCC)
    • Ngân hàng Đầu tư Phát triển (BIDC)
    • Công ty bảo hiểm (CVI)
    • Công ty CP phát triển đường cao tốc BIDV (BEDC)
    • Công ty Đầu tư tài chính (BFI)

    Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức của Hội Sở Chính

    BAN KIỂM SOÁT

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    HỘI ĐỒNG

    QUẢN TRỊ

    BAN TỔNG

    GIÁM ĐỐC

    CÁC ỦY BAN

    HỘI ĐỒNG

    TRỰC THUỘC

    HỘI ĐỒNG

    TÍN DỤNG

     

    HỘI ĐỒNG ALCO

    CÁC ỦY BAN,

    CÁC ỦY BAN,

    HỘI ĐỒNG

    THEO YÊU CẦU

    QUẢN TRỊ

    QUẢN TRỊ

                                           
                                           
                                        KHỐI HỖ
    KHỐI NGÂN     KHỐI VỐN     KHỐI TÁC      
    HÀNG BÁN     VÀ KINH       NGHIỆP       TRỢ
      BUÔN     DOANH VỐN                      
                               
                                           
                                           
                                           
    KHỐI BÁN KHỐI QUẢN LÝ KHỐI TÀI
    LẺ VÀ RỦI RO CHÍNH KẾ
    Ghi chú: MẠNG LƢỚI   TOÁN
    • Khối bán buôn gồm các ban:

    40

    • Ban Quan hệ khách hàng doanh nghiệp

     

    • Ban Đầu tư

     

    • Ban Định chế tài chính

     

    • Ban Phát triển sản phẩm và Tài trợ thương mại

     

    • Khối bán lẻ và mạng lưới bao gồm:
      • Ban phát triển sản phẩm bán lẻ và Marketing

     

    • Ban Quản lý chi nhánh

     

    • Trung tâm thẻ

     

    • Khối vốn và kinh doanh vốn gồm Ban Vốn và kinh doanh vốn
    • Khối quản lý rủi ro gồm:
      • Ban Quản lý rủi ro tín dụng

     

    • Ban Quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp

     

    • Ban Quản lý tín dụng

     

    • Khối tác nghiệp gồm:
      • Trung tâm thanh toán

     

    • Trung tâm dịch vụ khách hàng

     

    • Trung tâm tác nghiệp và tài trợ thương mại

     

    • Khối tài chính kế toán gồm:
      • Ban Kế toán

     

    • Ban Tài chính

     

    • Ban thông tin quản lý và hỗ trợ Alco

     

    • Khối hỗ trợ gồm:
      • Văn phòng

     

    • Ban tổ chức cán bộ

     

    • Ban kế hoạch phát triển

     

    • Ban pháp chế

     

    • Ban kiểm tra nội bộ

     

    • Ban quản lý tài sản nội ngành

     

    • Ban Quản lý công trình

     

    • Ban công nghệ

     

    • Ban thương hiệu và quan hệ công chúng

     

    • Văn phòng công đoàn

     

    • Văn phòng đảng ủy

     

    • Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh

     

    • Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng

     

    41

    • Ban quản lý Dự án cổ phần hóa

    3.                 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV

    Hoạt động của BIDV có đầy đủ chức năng của một ngân hàng thương mại được phép kinh doanh đa năng tổng hợp về tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng và phi ngân hàng, làm ngân hàng đại lý, phục vụ các dự án từ các nguồn vốn, các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. BIDV đặc biệt cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực đầu tư các dự án trọng yếu của Nhà nước. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của BIDV cụ thể bao gồm:

    • Sản phẩm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân, tổ chức
    • Sản phẩm tín dụng bao gồm cho vay cá nhân (cho vay lương đối với cán bộ công nhân viên, vay thấu chi, cho vay tiêu dùng…); cho vay các tổ chức kinh tế (cho vay theo món, cho vay vốn lưu động theo hạn mức tín dụng, cho vay tài trợ xuất khẩu, cho vay tài trợ dự án, cho vay thi công xây lắp…)
    • Sản phẩm và dịch vụ kinh doanh tiền tệ gồm:

    Nghiệp vụ giao ngay

    • Mô tả:

    Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng 02 (hai) ngày làm việc tiếp theo. Tuy nhiên, tại BIDV khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ngay trong ngày thì BIDV sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng vì đây cũng là tập quán ở thị trường Việt Nam. Khi thực hiện giao dịch giao ngay, khách hàng sẽ không phải trả phí giao dịch

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Lợi nhuận kỳ vọng lớn
    • Giao dịch đơn giản

    Nghiệp vụ kỳ hạn

    • Mô tả:

    42

    Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại ngày giao dịch và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai. Khách hàng có nhu cầu giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thì có thể liên hệ với các chi nhánh của BIDV để được tư vấn và có thể thỏa thuận tỷ giá, kỳ hạn, số lượng, ngày thanh toán, phương thức thanh toán, ký quỹ đảm bảo thực hiện hợp đồng và ký hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn. Mức ký quỹ hiện nay phụ thuộc vào từng đối tượng khách hàng. Khách hàng không phải trả phí đối với giao dịch kỳ hạn

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Cố định giá ngay từ thời điểm giao dịch để bảo hiểm rủi ro tỷ giá
    • Thấy trước lợi nhuận của phương án kinh doanh.

    Nghiệp vụ quyền chọn

    • Mô tả

    Giao dịch quyền lựa chọn tiền tệ là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước.

    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng
    • Chọn giá theo nhu cầu
    • Rủi ro hạn chế, chi phí biết trước
    • Không hạn chế tiềm năng thu lợi
    • Đặc biệt phù hợp cho các luồng tiền chưa rõ ràng

    43

    • Quyền chọn tiền tệ cho phép khách hàng chủ động lựa chọn phương án mua bán có lợi nhất cho mình: hoặc lựa chọn thực hiện quyền nếu tỷ giá trên thị trường biến động bất lợi, hoặc không thực hiện quyền và thực hiện mua bán theo tỷ giá thị trường nếu tỷ giá thị trường tốt hơn tỷ giá thực hiện trong hợp đồng Quyền chọn.

    Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ

    • Mô tả

    Giao dịch hoán đổi tiền tệ là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    Giao dịch hoán đổi có thể là:

    • 1 giao dịch giao ngay + 1 giao dịch kỳ hạn
    • 1 giao dịch kỳ hạn + 1 giao dịch kỳ hạn
    • Khách hàng:

    Các tổ chức kinh tế, các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối trên thị trường liên Ngân hàng.

    • Lợi ích khách hàng:
    • Công cụ phòng chống rủi ro hiệu quả
    • Linh hoạt hóa nguồn vốn, giúp cho khách hàng chuyển đổi nguồn vốn từ đồng tiền này sang đồng tiền khác
    • Tận dụng cơ hội kinh doanh chênh lệch lãi suất, sử dụng dòng tiền của khách hàng một cách hiệu quả nhất.
    • Sản phẩm tài trợ thương mại: gồm dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu, dịch vụ bảo lãnh…

    44

    • Dịch vụ chuyển tiền: Gồm các dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước cho cá nhân và doanh nghiệp
    • Dịch vụ ngân hàng điện tử gồm: Dịch vụ BIDV Directbanking, dịch vụ gửi tin nhắn ngân hàng qua điện thoại di động (BSMS), dịch vụ nạp tiền qua điện thoại di động…
    • Dịch vụ ngân quỹ
    • Các dịch vụ khác: Dịch vụ trả lương tự động dành cho doanh nghiệp, dịch vụ thu tiền đại lý, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ tư vấn bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, dịch vụ đầu tư chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm…

    III.            THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    1.     Cơ sở pháp lý cho hoạt động KDNT tại BIDV

    1.1    Cơ sở pháp lý chung (của NHNN)

    Thị trường ngoại hối Việt Nam có thể nói được ra đời vào năm 1991, đánh dấu bằng việc Thống đốc NHNN ra quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16/8/1991 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT). Trên cơ cở Quy chế này, hai Trung tâm giao dịch Ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần lượt ra đời vào tháng 8 và 11 năm 1991. Theo đó các NHTM, các tổ chức XNK kinh doanh trực tiếp với nước ngoài, NHTW có thể mua bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của mình. Các giao dịch được đấu giá vào 14h thứ ba và thứ sáu hàng tuần. Việc các NHTM và các tổ chức kinh tế có hoạt động ngoại tệ lớn giao dịch tại hai Trung tâm là bước tập dượt đầu tiên trong giao dịch mua bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường.

    1.1.1    Quy định chung về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Việt Nam

    Văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quản lý ngoại hối tại Việt Nam là điều lệ quản lý ngoại hối ban hành theo Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963 của Hội đồng Chính phủ.

    Cho đến nay, để phù hợp với tình hình thực tế, chính phủ đã liên tục có những quy định thay thế quy định cũ nhằm mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn hoá với nước ngoài, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện Cán cân

    45

    thanh toán quốc tế, từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong các Hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam. Ngày 18/10/1988, nghị định 161/1988/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định số 102-CP ngày 6/7/1963. Ngày 02/09/1998, Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ra đời thay thế nghị định 161/1988/NĐ-CP ngày 18/10/1988.

    Trước nhu cầu cấp thiết của việc thực hiện các cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngày 13/12/2005, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, gồm 10 chương, 46 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2006.

    Ngày 28 tháng 12 năm 2006 Chính phủ ban hành nghị định số 160/2006/NĐ CP qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó, việc quản lý ngoại hối theo hướng từng bước hạn chế đô la hóa, tiến tới thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam, nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân. Hạn chế đến chấm dứt việc các tổ chức được bán hàng, cung cấp dịch vụ thu ngoại tệ…Tất cả các giao dịch thanh toán và chuyển tiền đối với giao dịch vãng lai giữa người cư trú và không cư trú được tự do thực hiện…

    Ngoài quy định được mang ngoại tệ trị giá 7.000 USD khi xuất cảnh không phải khai báo còn được chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để chi phí cho việc học hành, chữa bệnh, du lịch…theo yêu cầu…

    Người cư trú được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ cho các nhu cầu hợp pháp. Pháp lệnh còn quy định rõ ngoại tệ của người cư trú là cá nhân ở VN thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều được sử dụng cho mục đích cất giữ, mang theo người, gửi vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng hoặc bán cho tổ chức tín dụng được phép. Trường hợp là công dân VN thì được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép…

    1.1.2    Quy định về hoạt động của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Tháng 10 năm 1994, trước nhu cầu bức thiết trong quan hệ giao dịch, thanh toán ngoại tệ của nền kinh tế như một tổng thể, nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hệ thống NHTM đã phát triển cao về số lượng cũng như chất lượng, các điều kiện về kỹ thuật, trang thiết bị cho phép trình độ giao dịch của các ngân hàng được

    46

    nâng cao, đặc biệt nguồn ngoại tệ của nền kinh tế dồi dào, thúc đẩy sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam. Trước tình hình đó, Thống đốc NHNN ban hành quy định số 203/QĐ-NH ngày 20/10/1994 thành lập Thị Trường ngoại tệ liên ngân hàng và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế.

    Kể từ khi TTNTLNH được thành lập, NHNN là người mua bán cuối cùng khi cung cầu ngoại tệ mất cân đối lớn, NHNN chỉ mua bán với các NHTM và các NHTM mua bán trực tiếp với khách hàng. Nếu để TTGD tồn tại song song với TTNTLNH thì việc thực hiện chính sách tỷ giá sẽ không đồng bộ giữa Trung tâm và TTNTLNH. Do đó, ngày 01/12/1994, Thống đốc NHNN đã quyết định chấm dứt hoạt động của hai trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và TP.HCM.

    Sau một thời gian hoạt động của TTNTLNH, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường này ở trình độ cao hơn, chặt chẽ hơn, ngày 26/03/1999, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 về Quy chế tổ chức và hoạt động của TTNTLNH thay thế cho Quyết định số 203/QĐ-NH13 ngày 20/09/1994.

    Ngày, 11/7/2000 NHNN ra Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999.

    1.1.3    Quy định về quy chế  hoạt động KDNT của NHTM

    Sau khi Nghị định 161 ngày 18/10/1988 ban hành, NHNN đã cấp giấy phép hoạt động ngoại hối cho hầu hết các NHTM. Đối với các NHTM, nghiệp vụ KDNT được xem là sản phẩm mới, do đó bước đầu còn hạn chế, các NHTM chỉ đơn thuần cung cấp các dịch vụ mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng để hưởng phí, chưa triển khai các nghiệp vụ kinh doanh để thu lợi nhuận từ chênh lệch tỷ giá.

    Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM, thống đốc NHNN đã ra quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998 ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái. Đây là một quyết định quan trọng, tạo nền tảng pháp lý để các NHTM thực hiện kinh doanh ngoại tệ, đồng thời tăng cường sự quản lý và giám sát của NHNN về lĩnh vực ngoại hối.

    Ngày 8/12/2004, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN

    47

    điều chỉnh giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối đã chính thức có hiệu lực thi hành và thay thế Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 về Quy chế giao dịch hối đoái năm 1998.

    So với quy định cũ, đây là một quyết định hết sức táo bạo của NHNN nhằm mở rộng đối tượng khách hàng của các tổ chức tính dụng, tăng cường năng lực và phạm vi hoạt động cho các thành viên trên thị trường ngoại hối, cung cấp thêm cho các đối tượng này công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, thông qua đó khuyến khích khách hàng bán ngoại tệ cho ngân hàng với mức tỷ giá kỳ hạn linh hoạt hơn. Theo quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN, mọi tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối theo giấy phép của NHNN đều được phép thực hiện mọi loại hình giao dịch hối đoái hiện có trên thị trường, bao gồm giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền lựa chọn, chứ không cần phải xin các giấy phép cho từng loại hình giao dịch cụ thể như trước đây.

    Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN không chỉ nới lỏng những quy định về kiểm soát trên thị trường mà còn cung cấp cho thị trường thêm một công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất mới, hứa hẹn có hiệu quả thiết thực cao, đó là Quyền lựa chọn tiền tệ (Option).

    Để tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại triển khai áp dụng nghiệp vụ mới nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày một cao của khách hàng và phù hợp với nhu cầu hội nhập của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chấp thuận cho một số Ngân hàng thương mại được thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng. Thông qua việc thực hiện thí điểm nghiệp vụ này của các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước tiến hành tổng hợp tình hình và có những đánh giá cả mặt được, mặt chưa được, những thuận lợi và vướng mắc, khó khăn, từ đó nghiên cứu, xây dựng và ban hành quy chế áp dụng đối với nghiệp vụ này để các ngân hàng thương mại triển khai, thực hiện.

    Theo văn bản vừa ban hành, hiện Ngân hàng Nhà nước đã dự thảo Thông tư về giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối hướng dẫn Nghị định 160/2006/NĐ-CP và thay thế Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN về giao dịch hối đoái.

    Do đó, Ngày 18/03/2009, NHNN ra công văn số 1820/NHNN-QLNH về dừng

    thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng yêu cầu các Ngân hàng thương mại đã được

    Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền chọn giữa đồng

    48

    Việt Nam và ngoại tệ chấm dứt việc thực hiện nghiệp vụ này kể từ ngày 23/3/2009.

    Các hợp đồng quyền chọn giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ đã ký trước ngày 23/3/2009 vẫn được thực hiện như đã ký kết.

    1.1.4    Quy định về cơ chế tỷ giá

    NHNN cũng không ngừng đổi mới điều hành tỷ giá theo hướng tăng tính thị trường của tỷ giá, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ. Ngày 26/02/1999 được coi là ngày quan trọng trong điều hành chính sách tỷ giá, thời điểm NHNN thay đổi cách xác định tỷ giá hối đoái chính thức USD/VND.

    Nếu trước ngày 26/02/1999 cơ chế điều hành tỷ giá là hàng ngày NHNN công bố tỷ giá chính thức USD/VND, trên cơ sở đó các NHTM được chủ động quy định tỷ giá mua bán ngoại tệ của mình trong biên độ nhất định thì ngày 26/02/1999 với Quyết định 65/1999/QĐ-NHNN7, NHNN đã bãi bỏ việc công bố tỷ giá chính thức nói trên và thay vào đó là công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, các NHTM căn cứ vào đó được phép xác định tỷ giá mua vào và bán ra đối với USD không được vượt quá biên độ do NHNN công bố từng thời kỳ. Có thể nói đây là một bước đổi mới rất quan trọng, không những trong quan niệm, trong tư duy mà cả trong thực tiễn quản lý, với cơ chế này làm cho tỷ giá trên thị trường vận động một cách khách quan, phản ánh đúng hơn các quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường đồng thời cũng phù hợp với cơ chế điều hành tỷ giá của nhiều nước trên thế giới.

    Biên độ tỷ giá các NHTM được phép cộng/trừ khi thương lượng với khách hàng cũng không ngừng đổi mới. Nếu như trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế này, NHNN còn quy định quá chi tiết các mức biên độ và biên độ quá hẹp, được coi là vẫn can thiệp quá sâu vào công việc kinh doanh của NHTM thì nó cũng dần được chỉnh sửa theo hướng nới rộng hơn (hiện nay biên độ tỷ giá USD/VND được phép thoả thuận là +-3% theo Quyết định 2666/QĐ-NHNN ngày 25/11/2009, riêng các loại ngoại tệ khác USD do Tổng Giám Đốc ngân hàng quyết định).

    1.2    Các văn bản quy định của BIDV

    Trên cơ sở các quy định của NHNN, BIDV cụ thể hóa bằng văn bản cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng mình.

    49

    Một số văn bản quy định về hoạt động KDNT bao gồm:

    • Công văn số 7565/CV-KDV2 ngày 31/12/2009 quy định về mua bán ngoại tệ tại chi nhánh.
    • Quyết định số 780/QĐ-NVKD3 ngày 21/03/2003 Quyết định giao trạng thái ngoại tệ trong ngày cho các chi nhánh.
    • Quyết định số 4414/QĐ-NVKD3 ngày 18/8/2005 Quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ.
    • Công văn số 0515/QĐ-NVKD3 ngày 10/02/2006 Quy định về giao dịch mua bán ngoại tệ trực tuyến.

    2.     Giới thiệu về bộ phận kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập từ rất sớm, tuy nhiên, đến năm 1996 BIDV mới được NHNN cấp phép hoạt động kinh doanh đa năng với tư cách là một NHTM, trong đó có hoạt động kinh doanh ngoại hối.

    Bộ phận KDNT tại BIDV thuộc ban Vốn và Kinh doanh vốn (gồm 4 phòng). Trong đó, có 3 nhóm thuộc 3 phòng khác nhau thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ, bao gồm:

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ (thuộc phòng phục vụ khách hàng): gồm 7 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ phục vụ khách hàng của toàn hệ thống thông qua việc mua bán ngoại tệ với các chi nhánh và qua thị trường liên ngân hàng. Nhóm kinh doanh ngoại tệ chủ yếu chỉ thực hiện kinh doanh ngoại tệ giao ngay.
    • Nhóm phái sinh tài chính: gồm 4 cán bộ thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển các sản phẩm phái sinh để hướng dẫn, đào tạo các chi nhánh. Đồng thời giới thiệu và marketing khách hàng tiềm năng sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại tệ nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá.

    Đối với các khách hàng có nhu cầu mua bán ngoại tệ phái sinh, nhóm phái sinh tài chính sẽ hỗ trợ một chi nhánh đầu mối thực hiện hợp đồng với khách hàng, đồng thời giữa chi nhánh đó và hội sở chính sẽ ký một hợp đồng phái sinh đối ứng.

    • Nhóm kinh doanh ngoại tệ tự doanh: gồm 3 cán bộ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận của BIDV.

    3.     Hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    Về lợi thế, BIDV có được nguồn ngoại tệ dồi dào từ các nguồn ODA thực hiện giải ngân từ ngân hàng, chính vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV tăng rất nhanh, cụ thể như sau:

    50

    Bảng 2.1 Doanh số mua bán ngoại tệ tại BIDV

    Đơn vị: Triệu USD

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng đầu  
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                             
                                       
      Tổng doanh số mua bán   19.586   22.969   85.746   74.223   65.139  
                             
      Doanh số mua   9.799   11.493   42.882   37.117   32.575  
                             
      Doanh số bán   9.787   11.476   42.864   37.106   32.564  
                                       
      Doanh số mua bán với khách   15.864   17.686   54.877   51.213   42.340  
      hàng            
                                     
                                       
      Doanh  số  mua  bán  trên   3.722   5.283   30.869   23.010   22.799  
      TTLNH            
                                     
                             
      Doanhsố MBNT phái sinh   979   2.985   23.151   15.587   14.331  
                             
      Doanh số MBNT giao ngay   18.607   19.984   62.595   58.636   50.808  
                                       

    (Nguồn: Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009 và báo cáo tài chính BIDV quý III năm 2010)

    Qua bảng trên có thể thấy doanh số mua bán ngoại tệ trong giai đoạn 2006-2009 tăng lên rất nhanh (cụ thể, sau 3 năm, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,8 lần). Năm 2007, doanh số mua bán ngoại tệ chỉ tăng 17% so với nhăm 2006. Tuy nhiên, đến năm 2008, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 3,7 lần so với năm 2007, và đến năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ tuy có giảm so với năm 2008 nhưng so với năm 2007, con số này đã tăng 3,2 lần. Năm 2009 và 2010, tốc độ tăng trưởng của doanh số mua bán ngoại tệ thấp hơn các năm trước do tình hình cung cầu trên thị trường biến động, hoạt động KDNT của các NHTM nói chung và của BIDV nói riêng đều gặp khó khăn. Cụ thể, năm 2009, doanh số mua bán ngoại tệ của BIDV giảm 13% so với năm 2008, và 9 tháng đầu năm 2010, doanh số MBNT của BIDV chỉ tăng 17% so với cùng kỳ năm 2009.

    KDNT vừa là thế mạnh, vừa là nghiệp vụ truyền thống của BIDV.Thông qua nghiệp vụ này, BIDV đã phát triển mạnh các nghiệp vụ khác như thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán phi mậu dịch, kiều hối nhằm thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến

    51

    giao dịch với BIDV. Doanh số mua bán ngoại tệ tăng phần lớn là nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế và một phần là nhờ vào vai trò là ngân hàng đại lý và ủy thác cho các nguồn vốn ODA. Nhờ vào hoạt động này mà BIDV có được nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ việc chuyển đổi ngoại tệ để phục vụ các nhu cầu chi tiêu của các Ban quản lý dự án ODA.

    Biểu 2.2 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo thị trường

    60000

    50000

    40000

    30000

                                                              Doanh số mua
                                                             
    20000                                                         bán với KH
                                                           
    10000                                                         Doanh số mua
                                                           
                                                           
                                                           
                                                             
                                                             
    0                                                         bán trên TT
                                                           
        Năm 2006   Năm 2007   Năm 2008   Năm 2009   9 tháng đầu liên NH
           
                                                năm 2010  

    Tương ứng với tổng doanh số mua bán ngoại tệ, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng, với các ngân hàng khác cũng tăng lên đáng kể, cụ thể giai đoạn 2006-2009, doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng tăng 3,2 lần, doanh số mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng tăng tới 6,2 lần.

    Nếu chia theo các nghiệp vụ KDNT thì doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay và doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh cũng đều có bước tăng trưởng vượt bậc. Cụ thể:

    Biểu 2.3 Doanh số mua bán ngoại tệ chia theo nghiệp vụ

     

    52

    70000

    60000

    50000

    40000

    30000

    20000

    10000

    0

    Năm            Năm             Năm            Năm          9 T đầu

    2006            2007            2008            2009             năm

    2010

    Doanh số mua bán giao ngay

    Doanh số mua bán ngoại tệ phái sinh

    Bên cạnh sự tăng trưởng vượt bậc của doanh số mua bán ngoại tệ thì thu nhập từ hoạt động KDNT cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ, cụ thể chúng ta xem xét bảng thu nhập sau:

    Bảng 2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ 2

            Đơn vị: Tỷ VND
               
    Chỉ tiêu Năm Năm Năm Năm 9 tháng đầu
      2006 2007 2008 2009 năm 2010
               
    Thu nhập KDNT 91,8 112,3 790,8 752,6 620,9
               
    Tổng thu nhập 650 2.103 2.142 3.196 2822
               

    Biểu đồ 2.5 Thu nhập KDNT trên tổng thu nhập

    2 Báo cáo tài chính BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009

    53

    Thu nhập KDNT/Tổng thu nhập

    0.4

    0.35

    0.3

    0.25

    0.2

    0.15

    0.1

    0.05

    0

    Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

    Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ giai đoạn 2006-2009 tăng 6,7 lần và đạt mức cao nhất vào năm 2008 (790,8 tỷ VND). Cũng trong năm 2008, tỷ trọng thu nhập KDNT trong tổng thu nhập là khoảng 36% (gần bằng với mức tỷ trọng của các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam). Năm 2009, chỉ tiêu thu nhập KDNT/ tổng thu nhập giảm xuống còn 23% và 9 tháng đầu năm 2010 còn 22% do tình hình thị trường biến động, hoạt động KDNT gặp khó khăn nên thu nhập tự hoạt động KDNT cũng giảm sút.

    Biểu đồ 2.6 Thu nhập KDNT theo nghiệp vụ

     

            54      
    700            
                   
    600            
    500            
    400            
    300           Thu nhập
              KDNT giao
             
             
                  ngay
    200           Thu nhập
                  KDNT phái
    100           sinh
    0            
      Năm Năm Năm Năm 9 T đầu
    2006 2007 2008 2009 năm 2010

    Trên đây là tình hình kinh doanh ngoại tệ tại BIDV giai đoạn 2006-2010. Sau đây chúng ta sẽ phân tích hiệu quả về hoạt động KDNT tại BIDV để tìm ra các kết quả đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này.

    4.     Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại BIDV

    4.1    Về hiệu quả kinh doanh ngoại tệ

    Qua các số liệu tại mục 2, chúng ta có thể thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV đã đạt được kết quả rất tốt về cả doanh số và lợi nhuận.

    Năm 2006 là một năm BIDV có bước đột phá trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ cả về doanh số giao dịch và thu ròng, là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay. Hoạt động mua bán ngoại tệ luôn đáp ứng kịp thời, đầy đủ với giá cạnh tranh và phương thức giao dịrch linh hoạt như giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn cho toàn bộ nhu cầu giao dịch của khách hàng trên toàn hệ thống BIDV, hỗ trợ tích cực cho các hoạt động nghiệp vụ khác như tín dụng, thanh toán quốc tế, hoạt động tiền gửi USD. Nhờ đó, doanh số mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng của BIDV đứng thứ hai trên thị trường Việt Nam.

    55

    Đến năm 2007, BIDV là Ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiện giao dịch Hoán đổi tiền tệ chéo – một loại hình của Hoán đổi lãi suất – với ngân hàng đối tác Standard Chartered Bank tại London cho cặp tiền EUR/USD.

    Cũng trong năm 2007, lần đầu tiên BIDV được bình chọn là Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ FX tốt nhất năm 2007 – do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney.

    Năm 2008 là năm BIDV có bước đột phá về tăng trưởng doanh số cũng như lợi nhuận từ KDNT, cả 2 con số này đều đạt mức cao nhất từ trước tới nay(doanh số MBNT tăng 3,7 lần và lợi nhuận thu được từ KDNT tăng tới hơn 7 lần). Về sản phẩm phái sinh, lãi thuần từ hoạt động phái sinh năm 2008 cũng đạt mức cao nhất từ trước tới nay với kết quả là 237,03 tỷ đồng, cao gấp 26 lần so với năn 2007.

    Năm 2008, BIDV được tạp chí AsiaMoney trao tặng giải ngân hàng cung ứng dịch vụ FX tốt nhất.

    Năm 2009, tuy doanh thu và lợi nhuận về KDNT của BIDV có giảm đôi chút so với năm 2008 do thị trường ngoại tệ biến động khó khăn. Nhưng với nỗ lực của mình trong việc hướng tới khách hàng, BIDV lần thứ 3 liên tiếp được nhận giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm 2009” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney. Kết quả này thể hiện sự đánh giá cao của các định chế tài chính trong và ngoài nước đối với quá trình thay đổi của BIDV để tiếp cận với chuẩn mực quốc tế và mô hình tổ chức, trình đội quản lý và đặc biệt là hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ của BIDV.

    Để có được những thành quả như vậy, BIDV có được một số lợi thế sau:

    Ban lãnh đạo BIDV luôn nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động KDNT đối với hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Do đó, Hoạt động KDNT của BIDV luôn nhận được sự quan tâm của Ban Lãnh đạo BIDV và NHNN. BIDV bổ nhiệm một Phó Tổng Giám Đốc chuyên quản lý hoạt động KDNT tại ngân hàng. BIDV luôn chú trọng áp dụng các sản phẩm KDNT mới kết hợp với các dịch vụ kèm theo như dịch vụ tư vấn tiền tệ.

    Hiện tại, ngoại trừ giao dịch Arbitrage và Future (chưa được phép thực hiện),

    56

    BIDV đã thực hiện tất cả các nghiệp vụ KDNT bao gồm Spot, Forward, Swap, Option. Với các nghiệp vụ này, khách hàng của BIDV có nhiều công cụ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    BIDV cũng luôn nhận được sự quan tâm và tin tưởng của NHNN, thể hiện ở việc BIDV là ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm một số nghiệp vụ như Option, mua bán ngoại tệ mặt theo tỷ giá thoả thuận.

    Nghiệp vụ quyền chọn tại BIDV được NHNN cho phép triển khai thí điểm lần đầu trong khối các ngân hàng TMCP Việt Nam vào năm 2006. Nghiệp vụ quyền chọn giúp các nhà đầu tư giải quyết mâu thuẫn giữa lợi nhuận và rủi ro và khách hàng có thể biết trước được mức rủi ro tối đa (lỗ) có thể phải gánh chịu, đó chỉ là phần phí quyền chọn mà khách hàng trả cho BIDV khi mua hợp đồng quyền chọn.

    Nghiệp vụ quyền chọn đã mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp nhờ việc hạn chế rủi ro tỷ giá, nhất là đối với một số ngoại tệ có diễn biến phức tạp và có mức độ biến động lớn. Với các nghiệp vụ đang thực hiện, BIDV là ngân hàng có các hoạt động KDNT mạnh và đầy đủ các nghiệp vụ phục vụ khách hàng.

    Ngoài ra, công tác tư vấn tài chính luôn được chú trọng. Từ cuối năm 2005 khi hoạt động KDNT tại BIDV nói riêng cũng như tại Việt Nam nói chung diễn ra ngày một sôi động, bản tin tư vấn đầu tiên của BIDV đã ra đời cùng với dịch vụ «Tư vấn đầu tư Tài chính – tiền tệ ». Dịch vụ tư vấn tài chính của BIDV chủ yếu hướng tới phục vụ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, những cá nhân có nhu cầu mua bán ngoại tệ giúp họ nắm bắt thông tin và phòng tránh rủi ro tỷ giá, đảm bảo lợi nhuận thông qua các công cụ phòng tránh rủi ro mà BIDV có thể cung cấp như Forward, Swap, Option. Ngoài ra thông tin tư vấn của BIDV giờ đây cũng trở thành nguồn tin tham khảo đáng tin cậy của một số đơn vị thông tin đại chúng khi nghiên cứu về biến động tỷ giá ngoại tệ. Ban Lãnh đạo BIDV vẫn coi trọng duy trì bản tin cũng như không ngừng mở rộng dịch vụ tư vấn tài chính nhờ đó bản tin tư vấn cũng không ngừng được cải tiến cả về nội dung và hình thức với mục đích không gì khác là hướng tới phục vụ tốt nhất cho khách hàng của BIDV. Dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa số khách hàng giao dịch với BIDV tăng lên, đồng thời giúp duy trì thế mạnh của BIDV trong hoạt động KDNT và

    57

    thanh toán quốc tế.

    BIDV đã có mối quan hệ quốc tế rộng lớn với các ngân hàng, đại lý ngân hàng trên thế giới, BIDV nhận được hạn mức KDNT khá thuận lợi từ nhiều ngân hàng lớn. Bên cạnh đó, BIDV đã thiết lập quy trình KDNT và xây dựng hệ thống quản lý hoạt động KDNT bằng công nghệ vào giao dịch và các dịch vụ kèm theo của Reuters, quản lý rủi ro thông qua việc kiểm soát chặt chẽ các trạng thái ngoại tệ và thực hiện báo cáo kinh doanh hàng ngày.

    Cuối năm 2009 BIDV đã tiến hành các bước chuẩn bị để triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT của mình.

    Ngày 7/1/2010, Thomson Reuters đã ra thông báo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam đã lựa chọn và triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử của Thomson Reuters trên nền Internet để tự động hoá các giao dịch Ngoại tệ tức thời giữa Hội sở với hơn 100 chi nhánh của Ngân hàng BIDV trên lãnh thổ Việt nam.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử – RET được xây dựng trên công nghệ hiện đại tiêu chuẩn quốc tế đã được kiểm chứng, được triển khai và áp dụng cho nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ tại hơn 120 ngân hàng, thể chế tài chính tại 48 quốc gia trên thế giới, sử dụng 15 loại ngôn ngữ khác nhau.

    Với số lượng giao dịch ngoại tệ ngày càng tăng cùng áp lực lợi nhuận, giao dịch điện tử là một lựa chọn ít tốn kém đối với các ngân hàng. BIDV là ngân hàng tiên phong trong việc cải tiến hiệu quả hoạt động của bộ phận kinh doanh vốn và tiền tệ.

    Việc tự động hoá số lượng lớn giao dịch ngoại hối hàng ngày, hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động RET sẽ giúp giải phóng thời gian cho các giao dịch viên ngoại hối tại BIDV, giúp họ tập trung ưu tiên chăm sóc và phục vụ khách hàng, phát triển các sản phẩm mới cũng như giảm thiểu các sai sót và thời gian xử lý giao dịch.

    Hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Tự động – RET cũng hỗ trợ Qui trình xử lý và hạnh toán tự động kết nối với hệ thống thanh toán của ngân hàng để quản lý rủi ro và kiểm soát trạng thái ngoại hối tức thì.

    58

    4.2    Đánh giá về hiệu quả phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    tại BIDV

    Như phân tích tại chương I, NHTM kinh doanh trên thị trường ngoại hối sẽ gặp phải một số rủi ro như Rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng….Trong đó rủi

    ro tỷ giá là rủi ro cơ bản nhất và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng.

    Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà giá trị của các công cụ tài chính bị thay đổi xuất phát từ những thay đổi về tỷ giá. Trong năm vừa qua, tỷ giá giữa VND và USD có dao động trong biên độ hẹp. Các khoản cho vay và ứng trước khách hàng của ngân hàng chủ yếu bằng VND, một phần bằng USD.

    Một số tài sản khác của ngân hàng lại bằng các đồng tiền khác ngoài VND và USD (như EUR, JPY…) nhưng số lượng không lớn. Như vậy, sự biến động tỷ giá không gây ra ảnh hưởng bất lợi nhiều cho hoạt động ngân hàng.

    Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn và hiệu quả hoạt động cho hệ thống, BIDV đã chính thức hoàn thành nghiệm thu và đi vào vận hành Chương trình Quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) từ tháng 1/2007.

    Chương trình quản lý giá trị chịu rủi ro ngoại hối tại BIDV tính toán VaR dựa trên các dữ liệu đầu vào lịch sử của từng loại ngoại tệ (chủ yếu là USD, EUR và JPY) theo phương pháp phân tích quá khứ.

    Ban Quản lý rủi ro trong ngân hàng đã đề xuất hạn mức VaR ngoại hối cho 3 đồng tiền chủ yếu trong báo cáo đánh giá rủi ro thị trường ngày 08/1/2007, cụ thể: VaR USD là 2.245 triệu VND, VaR EUR là 1.453 triệu VND và VaR JPY là 148 triệu VND. Tuy nhiên, do chưa được ALCO phê duyệt nên đây là những hạn mức tạm thời để quản lý VaR ngoại hối trong 9 tháng đầu năm.

    Ngày 02/10/2007 hội đồng ALCO đã ra nghị quyết phê duyệt hạn mức VaR áp dụng cho 3tháng cuối năm là: VaR USD 2.800 triệu VND, VaR EUR 1.000 triệu VND và VaR JPY 148 triệu VND. Trạng thái đồng tiền được quản lý trên cơ sở hàng ngày và chiếnlược phòng ngừa rủi ro được ngân hàng sử dụng để đảm bảo rằng trạng thái của các đồng tiền được duy trì trong hạn mức đã thiết lập.

    59

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của từng đồng tiền trong năm 2007:

    Theo số liệu thống kê giá trị chịu rủi ro hàng ngày đối với từng loại ngoại tệ năm 2007, với trạng thái nắm giữ tại thời điểm nghiên cứu trong điều kiện biến động tỷ giá của 250 ngày trước đó và độ tin cậy 99% thì dự đoán khả năng tổn thất cụ thể như sau:

    Giá trị chịu rủi ro đối với USD

    Cùng với sự biến động của USD trong năm 2007 thì VaR USD cũng có sự biến động tương đối lớn. Mức tổn thất dự tính trong kinh doanh USD năm 2007 cao nhất là 3.342 triệu VND (ngày 1/10/2007), thấp nhất là 18 triệu VND (ngày 28/12/2007), trung bình là 2.153 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với EUR

    Mức độ tổn thất dự tính từ việc kinh doanh EUR của BIDV là tương đối thấp, VaR EUR luôn nhỏ hơn hạn mức VaR đã được phê duyệt. Tổn thất thực tế có thể xảy ra trong kinh doanh EUR tại BIDV trong năm 2007 cao nhất là 762 triệu VND (ngày 21/06/2007), thấp nhất là 8,9 triệu VND (ngày 3/1/2007) bình quân là 161,2 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro đối với JPY

    Trong tháng 3 và tháng 5 có một số thời điểm VaR JPY vượt hạn mức đã đề ra.

    Tuy nhiên, giá trị VaR thực tế của JPY chưa lớn (cao nhất là ngày 14/5: 795 triệu

    VND, trung bình là 60,6 triệu VND).

    Trong năm 2007, thông qua việc tính toán, theo dõi giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (EUR, USD, JPY), mức tổn thất cao nhất dự tính cho cả giỏ ngoại tệ là 3.346 triệu VND vào ngày 1/10/2007, thấp nhất là 98,2 triệu VND vào ngày 29/12/2007. Mức tổn thất dự tính bình quân cho cả giỏ ngoại tệ là 2.187 triệu VND.

    Giá trị chịu rủi ro ngoại hối của giỏ tiền tệ trong năm 2008,2009:

    Năm 2008 và 2009 tỷ giá trên thị trường có những biến động tương đối mạnh, BIDV đã chủ động xây dựng và giám sát hạn mức VAR ngoại hối nhằm hạn chế tối đa tổn thất trong kinh doanh.

    Hội đồng ALCO phê duyệt giá trị chịu rủi ro ngoại hối (VAR) đối với 3 đồng tiền chủ yếu là USD, EUR và JPY, đồng thời cũng theo dõi VAR cho cả giỏ ngoại tệ gồm 3 loại đồng tiền này.

    Trong năm 2008, thông qua việc tính toán, giá trị chịu rủi ro ngoại hối thực tế cho cả giỏ ngoại tệ (gồm 3 ngoại tệ BIDV nắm giữ nhiều nhất là USD, EUR; JPY) cho

    60

    thấy: Mức tổn thất dự tính (có khả năng xảy ra) trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ cao nhất là 18.199 triệu đồng vào ngày 24/10/2008, thấp nhất là 56,8 triệu đồng vào ngày04/04/2008. Mức tổn thất dự tính bình quân trong 1 ngày cho cả giỏ ngoại tệ là 2.912 triệu đồng.

    Về cơ bản, hạn mức VAR đã được BIDV tuân thủ, một số ngày vượt hạn mức do sự biến động lớn về tỷ giá ngoại hối trên thị trường tiền tệ và biến động về trạng thái (âm ở mức cao) đều được ALCO phê duyệt.

    Như vậy, đối với rủi ro tỷ giá, BIDV đã có một công cụ chuyên nghiệp và hiệu quả để kiểm soát, hạn chế tối đa được những tổn thất phát sinh do thị trường ngoại hối biến động mạnh

    4.3    Đánh giá về khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới một số hoạt động kinh doanh khác tại BIDV

    Hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại.

    Với thế mạnh về công nghệ, BIDV luôn đẩy mạnh hoạt động thanh toán và tài trợ thương mại, coi đây là một trong những dịch vụ then chốt của ngân hàng.

    Bên cạnh đó, nhờ có nguồn cung ngoại tệ khá lớn từ việc chuyển đổi ngoại tệ phục vụ nhu cầu của các Ban quản lý dự án ODA nên trước tình hình thị trường ngoại tệ căng thẳng trong năm 2008-2009, BIDV có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, thông qua sự hỗ trợ từ hoạt động mua bán ngoại tệ, BIDV không ngừng tăng trưởng về doanh số cũng như thu phí trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại.

    Năm 2007, doanh số chuyển tiền thanh toán trong nước và doanh số chuyển tiền quốc tế đều tăng so với năm 2006; hoạt động tài trợ thương mại cũng có những bước phát triển tích cực với việc ký kết các thoả thuận hợp tác, triển khai nhiều giao dịch tài trợ thương mại với các ngân hàng đại lý, cùng với việc chú trọng cung cấp các dịch vụ cho các định chế tài chính. Tổng doanh số xuất nhập khẩu trong năm đạt 5,15 tỷ USD, tăng trưởng 61% so với năm 2006.

    Thu dịch vụ ròng từ hoạt động thanh toán đến 31/12/2007 đạt 301 tỷ VND, tăng trưởng 40,6% so với năm 2006, chiếm tỷ trọng 48,2% trong tổng thu dịch vụ ròng của khối ngân hàng.

    Năm 2008, Hoạt động chuyển tiền quốc tế: tăng trưởng tương đối tốt cả về doanh số chuyển tiền đi và chuyển tiền đến. Hiện tại BIDV đang thực hiện giao dịch

    61

    chuyển tiền quốc tế thông qua hệ thống Swift, dịch vụ Western Union, thanh toán séc quốc tế, phát hành Bank draft. Các hợp đồng kiều hối được triển khai từ năm 2007 cũng có sự tăng trưởng tốt. Cụ thể:

    –   Chuyển tiền quốc tế đi: đạt 199.143 tỷ đồng, tăng trưởng 200% so với

    năm 2007.

    • Chuyển tiền quốc tế đến: đạt 186.975 tỷ đồng, tăng trưởng 156% so với

    năm 2007.

    • Dịch vụ chuyển tiền ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union: Giao dịch nhận tiền tăng trưởng 59% về doanh số và 48% về thu phí dịch vụ. Giao dịch gửi tiền tăng 110% về doanh số, 116% về phí thu dịch vụ.
    • Dịch vụ kiều hối khác: Bên cạnh các giao dịch kiều hối vãng lai, BIDV đã triển khai dịch vụ kiếu hối thông qua các hợp đồng với các đối tác như Metrobank (Đài Loan), Korean Exchange Bank, VID Public Bank, Hanabank.
    • Dịch vụ séc quốc tế và Bankdraft: Doanh số thanh toán séc năm 2008 đạt 17.892 tỷ đồng. Hoạt động mua séc du lịch có dấu hiệu giảm sút (-10,8) do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế dẫn tới sự giảm lượng khách du lịch đến Việt Nam.

    Năm 2009, doanh số chuyển tiền quốc tế tiếp tục tăng trưởng mạnh đạt gần 450 ngan tỷ đồng (quy đổi), tăng trưởng 87% so với năm 2008.Trong đo, riêng dịch vụ Western Union co doanh số chuyển tiền đạt 70 triệu USD, tăng trưởng 13% so với năm 2008.

    Đối với hoạt động tài trợ thương mại: doanh số tài trợ xuất khẩu đạt khoảng 1.200 triệu USD, doanh số tai trợ nhập khẩu đạt khoảng 5.100 triệu USD. Thu ròng từ hoạt động nay đạt hơn 230 tỷ đồng, tăng trưởng 51% so với năm 2008.

    Hoạt động tín dụng

    Hoạt động kinh doanh ngoại tệ không chỉ hỗ trợ hoạt động thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại mà còn hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động tín dụng tại BIDV. Đối với các khách hàng vay vốn tại BIDV, BIDV nghiên cứu, triển khai các sản phẩm hoán đổi tiền tệ chéo, hoán đổi lãi suất phù hợp với nhu cầu riêng của từng khách hàng giúp khách hàng phòng ngừa rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất vay vốn.

    Ví dụ về một trường hợp cụ thể:

    62

    Khách hàng là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có khoản vay bằng đồng tiền VND nhưng lại có nguồn thu ngoại tệ (USD) trong tương lai (giả sử sau 3 tháng). Lãi suất vay vốn VND hiện tại là 17%/năm, lãi suất vay vốn USD là 6%/năm.

    Phương án dành cho khách hàng như sau:

    Tiền gốc USD                                                       Tiền gốc USD

    CN trả lãi suất

      USD     KH trả lãi suất    
             
    BIDV H.O Chi nhánh   USD   Khách hàng
         
               
      CN nhận lãi suất   KH nhận lãi suất VND
      VND          
      Tiền gốc VND     Tiền gốc VND  

    Như vậy trong trường hợp này, khách hàng sẽ ký với một chi nhánh của BIDV một hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo theo sơ đồ trên, đồng thời ký một hợp đồng mua bán ngoại tệ để bán lại USD cho chi nhánh BID (tỷ giá bằng tỷ giá thực hiện hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo) sau khi thực hiện trao đổi số tiền gốc của hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo. Theo đó, khách hàng sẽ được nhận lại số tiền VND để thực hiện các mục đích vay vốn như trong hợp đồng tín dụng. Đồng thời, sau 3 tháng khi có nguồn thu bằng USD, khách hàng và chi nhánh BIDV thực hiện tất toán hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo.

    Khi khách hàng thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền USD và VND với chi nhánh BIDV khách hàng sẽ được nhận lãi suất VND cố định là 17%/năm và trả lãi suất USD cố định là 6%/năm. Luồng tiền gốc, tiền lãi của giao dịch hoán đổi sẽ được thiết kế phù hợp với luồng tiền của Hợp đồng tín dụng tương ứng.

    Như vậy, lợi ích của khách hàng thu được là nhờ ký hợp đồng hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền nên khách hàng vẫn có vốn VND thực hiện mục đích chi tiêu trong nước nhưng chỉ phải trả lãi suất USD thấp hơn nhiều so với lãi suất vay VND, nhờ đó khách hàng có thể giảm được chi phí vốn.

    63

    Qua phân tích, chúng ta có thể thấy, giai đoạn 2006-2009, hoạt động KDNT của BIDV đã đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên hiệu quả KDNT vẫn chưa đạt được những mục tiêu đề ra. Sau đây, chúng ta phân tích các hạn chế để tìm ra nguyên nhân dẫn đến hoạt động KDNT chưa đạt được hiệu quả cao.

    4.4    Một số chỉ tiêu chưa hiệu quả trong hoạt động KDNT tại BIDV và nguyên

    nhân

    4.4.1    Về cơ cấu doanh thu trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Trước hết chúng ta sẽ xem xét cơ cấu doanh số MBNT chia theo thị trường qua các năm:

    Bảng 2.7 Cơ cấu doanh thu KDNT tại BIDV

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9 T năm  
                             
          2006   2007   2008   2009   2010  
                             
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   81%   77%   64%   69%   65%  
      với khách hàng            
                           
                             
      Tỷ lệ doanh số MBNT   19%   23%   36%   31%   35%  
      trên TTLNH            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên, chúng ta thấy, doanh số giao dịch trên TTLNH của BIDV thấp hơn nhiều so với doanh số giao dịch với khách hàng (trong khi trên thế giới, mức doanh số bình quân các NHTM giao dịch trên TTLNH là trên 85%). Điều đó có nghĩa là hoạt động MBNT của BIDV chủ yếu là “ tự cung tự cấp”, số ngoại tệ mua được của khách hàng trước hết để bán lại cho khách hàng của BIDV.

    Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là do trong những thời điểm thị trường ngoại tệ căng thẳng, rất khó có thể mua được ngoại tệ trên TTLNH để phục vụ nhu cầu thanh toán XNK của khách hàng. Chính vì thế, không chỉ BIDV mà hầu hết các Ngân hàng thương mại đều có xu hướng tích trữ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng của mình.

    Thứ hai, chúng ta xem xét cơ cấu doanh số MBNT của BIDV chia theo nghiệp

    vụ:

    Bảng 2.8 Tỷ trọng doanh thu MBNT chia theo nghiệp vụ

     

    64

      Chỉ tiêu   Năm   Năm   Năm   Năm   9Tnăm  
          2006   2007   2008   2009   2010  
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 95%   87%   73%   79%   78%  
      giao ngay            
                           
                             
      Tỷ  lệ  doanh  số MBNT 5%   13%   27%   21%   22%  
      phái sinh            
                           
                   
          (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)

    Qua bảng trên ta có thể thấy giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có bước thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động KDNT, trọng doanh số MBNT phái sinh đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên vẫn còn rất thấp so với doanh số mua bán ngoại tệ giao ngay.

    Một số nguyên nhân có thể kể đến đó là:

    • Thứ nhất từ phía khách hàng:

    Nhằm tránh rủi ro tỷ giá, việc cần làm của các doanh nghiệp là tự bảo vệ mình bằng công cụ bảo hiểm tỷ giá (trong đó Option vốn được coi là chìa khóa vàng của các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia) nhưng tại Việt Nam các doanh nghiệp lại ít sử dụng các nghiệp vụ phái sinh này mặc dù các nghiệp vụ này ra đời đã lâu.

    Sự tăng hay giảm tỷ giá ngoại tệ đều ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Trong thời gian qua, giá trị USD trên thị trường thế giới liên tục giảm, làm cho các ngoại tệ mạnh khác như Euro, Bảng Anh, Yên Nhật… tăng giá. Điều này làm cho những doanh nghiệp mua vật tư, thiết bị trả chậm bằng các ngoại tệ mạnh khác ngoài USD bị thiệt hại. Muốn giảm thiểu rủi ro tỷ giá, chỉ có thực hiện các nghiệp vụ phái sinh. Thế nhưng hầu hết Khách hàng tìm hiểu chứ không mua.

    Đối với nghiệp vụ Swap:

    Các khách hàng vẫn thích vay USD hơn sau đó bán lại cho ngân hàng USD

    đó khi thu được ngoại tệ từ xuất khẩu để trả nợ ngân hàng. Với đặc điểm này thì

    nghiệp vụ Swap với khách hàng tại BIDV đạt được chưa cao.

    Đối với nghiệp vụ option:

    Để có quyền chọn ngoại tệ, doanh nghiệp phải trả một mức phí nhất định. Mức phí này phụ thuộc vào từng thời kỳ, xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ, thời gian thực hiện hợp đồng. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam thường không muốn bị mất

    65

    phí trong các giao dịch ngay khi ký hợp đồng nên khách hàng thường đắn đo trước khi thực hiện giao dịch.

    Mặt khác, kỳ hạn của hợp đồng option theo quy định còn hạn chế, ngắn hơn nhiều so với thời hạn doanh nghiệp có nhu cầu.

    Bên cạnh đó, chế độ tài chính chưa quy định hạch toán phí option, do đó doanh nghiệp không biết hạch toán phí option vào đâu.

    Vì những lý do đó nên số lượng khách hàng đến mua quyền chọn ngoại tệ tại BIDV còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của nghiệp vụ này.

    • Thứ hai, về phía BIDV:

    Trong hoạt động KDNT, BIDV chưa mạnh trong phân tích biến động tỷ giá. Không chỉ các khách hàng của BIDV (các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu) mà cả chính BIDV thường chú ý nhiều đến việc mua bán ngoại tệ vì mục đích thanh toán mà quên đi yếu tố bảo hiểm tỷ giá nên hầu như các nghiệp vụ KDNT chủ yếu đóng vai trò trung gian giao dịch hơn là những nhà tạo lập thị trường. Đó cũng là lý do tại sao BIDV không mạnh về hoạt động đầu cơ mà chủ yếu là kinh doanh cho khách hàng.

    Về mạng lưới chi nhánh của BIDV, hiện tại, mạng lưới giao dịch của BIDV gồm Hội sở, hơn 120 chi nhánh/phòng giao dịch. Các chi nhánh thực hiện mua bán ngoại tệ chủ yếu là nghiệp vụ Spot để phục vụ khách hàng khi có yêu cầu hoặc mua bán với Hội sở. Bên cạnh đó, các chi nhánh chưa được trang bị thiết bị và cán bộ đủ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ KDNT (một số chi nhánh nhân viên giao dịch ngoại tệ kiêm kế toán viên, một số chi nhánh mới thành lập chưa có bộ phận KDNT).

    • Thứ ba, về các quy định của NHNN:

    Mặc dù NHNN cho phép các NHTM được phép cộng/trừ biên độ tỷ giá USD/VND khi giao dịch với khách hàng là 3% so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng nhưng tỷ giá này vẫn chưa tỏ ra hoàn toàn hợp lý đối với các NHTM. Lý do là hiện nay, NHNN công bố tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng trong suốt một thời gian dài không thay đổi. Khi thị trường ngoại tệ căng thẳng, các NHTM cũng liên tục niêm yết tỷ giá ở mức kịch trần và trong suốt thời gian đó, giá mua niêm yết bằng hoặc chỉ thấp hơn 2 điểm so với giá bán niêm yết. Trong trường

    66

    hợp này, tỷ giá không phản ánh đúng cung cầu thị trường và làm hạn chế hoạt động KDNT của các NHTM. Thị trường hối đoái là thị trường có tính chất động, luôn thay đổi, giới hạn như vậy tuy có được nới rộng hơn trước nhưng vẫn là tương đối chặt đối với hoạt động KDNT.

    Chính vì hoạt động KDNT của các ngân hàng TMCP bị hạn chế do những hạn chế từ phía tỷ giá nên tình trạng mua bán ngầm diễn ra ở mức độ lớn, nhiều doanh nghiệp XNK không thể mua được ngoại tệ ở ngân hàng nên đã phải mua ngoại tệ trên thị trường tự do để đáp ứng nhu cầu thanh toán của mình. Như vậy, một lượng đáng kể ngoại tệ vẫn lưu thông và sử dụng trong thanh thanh toán ngoài tầm kiểm soát của hệ thống ngân hàng nên có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động KDNT của các NHTM.

    Các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động KDNT của NHNN có thay đổi thường xuyên nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của thị trường. Vì vậy, đôi khi trở thành rào cản đối với sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và hoạt động KDNT của BIDV nói riêng.

    Các quy định của NHNN về một số nghiệp vụ còn quá chặt chẽ nên ảnh hưởng đến hoạt động KDNT của BIDV và giao dịch của khách hàng với BIDV. Ví dụ hiện nay để thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNN, NHTM phải giải trình nhu cầu vốn cho NHNN, tuy nhiên thực hiện Swap với NHNNg thì không cần phải giải trình nhu cầu vốn, điều đó lý giải tại sao nghiệp vụ Swap tại BIDV chủ yếu thực hiện với NHNNg.

    Đối với nghiệp vụ Option, năm 2006, BIDV là một trong số các ngân hàng được NHNN cho phép thí điểm nghiệp vụ option giữa VND và ngoại tệ, theo đó khách hàng của BIDV có thêm một công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Đây là sản phẩm có tính hiệu quả và khả năng áp dụng cao đối với các doanh nghiệp XNK, tuy nhiên, đến năm 2009 NHNN đã ra quyết định số 1820/NHNN-QLNH quy định về việc dừng thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng của các Ngân hàng Thương mại.

    Như vậy, đối với nghiệp vụ Option, các NHTM hiện tại chỉ được thực hiện mua bán option giữa các ngoại tệ, sản phẩm này rất khó áp dụng đối với các doanh nghiệp XNK tại Việt Nam.

    67

    4.4.2     Lợi nhuận trong hoạt động KDNT tại BIDV

    • Cơ cấu lợi nhuận:

    Cũng giống như cơ cấu trong doanh thu mua bán ngoại tệ, lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của BIDV chủ yếu từ hoạt động KDNT giao ngay (lãi từ chênh lệch tỷ giá mua vào và bán ra), phí thu được từ các giao dịch MBNT phái sinh còn rất hạn chế, cụ thể như sau:

    Bảng 2.9 Cơ cấu thu nhập KDNT chia theo nghiệp vụ

      Chỉ tiêu     Năm     Năm     Năm     Năm     9 tháng  
                           
            2006     2007     2008     2009     năm 2010  
                                       
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   93%   92.1%   69.9%   89.2%   87%  
      giao ngay                                
                             
      Tỷ lệ lợi nhuận MBNT   7%   7.9%   30.1%   10.8%   13%  
      phái sinh                                
                       
            (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ báo cáo tài chính BIDV)  

    Nguyên nhân có sự chênh lệch trên cũng xuất phát từ những hạn chế từ phía khách hàng, ngân hàng và những quy định của NHNN như đã trình bày tại mục 3.2.1.

    • Về thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV

    Trong năm 2009, cùng với việc mở rộng mạng lưới , các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa , đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận , họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa vớ i các ngân hàng cổ phần.

    Năm 2009, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) TPHCM, các ngân hàng nước ngoài có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với

    năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008). Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉcó 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

    Các ngân hàng cổ phần liên tục nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm 2009 tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần tăng lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng . Còn các ngân hàng nước ngoài dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay . Kết quả là

    68

    tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm – 0,66%. Vậy điều gìđã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài ? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn , trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái p hiếu; thu phíthanh toán xuất nhập khẩu và các phíkhác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại . Ở một số ngân hàng nước ngoài khác , lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

    Đối với BIDV, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập giai đoạn 2006-2010 đạt mức trung bình là 20,4%/năm, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các ngân hàng nước ngoài và mục tiêu đặt ra của BIDV (30%).

    Như vậy, trong giai đoạn 2006-2010, BIDV đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ trong hoạt động KDNT về cả doanh thu và lợi nhuận nhờ áp dụng công nghệ hiện đại và có các biện pháp phòng ngừa rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn hạn chế và gặp khó khăn. Đây chính là cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV trong chương III.

    69

    CHƢƠNG III

    GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

    NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

    PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

    Chương II chúng ta đã phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, phân tích đánh giá hiệu quả KDNT của BIDV qua một số chỉ tiêu để thấy được những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động này. Sau đây, để tài sẽ xem xét các mục tiêu, phương hướng cho hoạt động KDNT của BIDV trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV như sau:

    I.                   MỤC TIÊU VÀ PHƢƠNG HƢỚNG CHO HOẠT ĐỘNG KDNT TẠI

    BIDV TRONG THỜI GIAN TỚI

    Căn cứ vào yêu cầu của thị trường, sự phát triển của nghiệp vụ KDNT và điều kiện cụ thể của BIDV mà đề ra mục tiêu và phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT trong thời gian tới như sau:

    • Nâng cao năng lực hoạt động KDNT và khả năng cạnh tranh trên thị trường hối đoái quốc tế.
    • Đảm bảo đủ nguồn ngoại tệ phục vụ nhu cầu của khách hàng đến giao dịch với BIDV.
    • Nâng cao hơn nữa doanh số mua bán ngoại tệ, lợi nhuận hoạt động KDNT, tăng tỷ trọng thu về hoạt động KDNT trên tổng thu nhập của BIDV, sao cho tỷ trọng này đạt từ 35-40%.
    • Thúc đẩy mạnh các nghiệp vụ KDNT phái sinh, khi có điều kiện thì triển khai, áp dụng các nghiệp vụ mới như Future, option bên cạnh việc duy trì và phát triển nghiệp vụ KDNT truyền thống.
    • Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế à tranh thủ sự giúp đỡ của NHNNg qua đó mở rộng phạm vi giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế.
    • Phát triển hơn nữa công tác quản trị rủi ro trong hoạt động KDNT

    II.               ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KDNT TẠI BIDV

    Trên cơ sở phân tích thực trạng hoa động KDNT tại BIDV, trong đó xác định các nguyên nhân tác động đến hiệu quả hoạt động KDNT và dựa vào các mục tiêu, phương hướng phát triển nghiệp vụ KDNT, để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT, xin đề xuất một số giải pháp sau:

    70

    1.     Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ

    Đa dạng hoá các nghiệp vụ KDNT sẽ giúp BIDV mở rộng quy mô kinh doanh, tạo sự tăng trưởng cả về lượng và chất trong hoạt động KDNT, đồng thời hỗ trợ các nghiệp vụ khác, góp phần vào sự phát triển chung của BIDV.

    Không chỉ riêng các NHTM mà các doanh nghiệp cũng còn rất bỡ ngỡ bởi chưa được sử dụng rộng rãi, tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Vì vậy, các BIDV cần kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn cho các doanh nghiệp nếu cần thiết để giúp họ bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong giao dịch và cũng tạo niềm tin cũng như phát triển các công cụ phái sinh tiền tệ trong hệ thống NHTM tại Việt Nam.

    Qua phân tích thực trạng hoạt động KDNT tại BIDV, ta thấy nhìn chung tại BIDV các nghiệp vụ Spot, Forward, Swap và nghiệp vụ Option thường được thực hiện

    • Hội sở. Đối với các chi nhánh trong hệ thống BIDV chưa thực hiện nhiều nghiệp vụ KDNT phái sinh, chủ yếu vẫn là mua bán giao ngay phục vụ nhu cầu của khách hàng, ngoại trừ một số chi nhánh lớn như Sở giao dịch I, II, III.

    Để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT thông qua giải pháp đa dạng hóa và hoàn thiện các nghiệp vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện tốt các công việc sau:

    1.1    Tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các

    nghiệp vụ KDNT phái sinh

    Như chúng ta đã thấy, mặc dù BIDV đã triển khai các nghiệp vụ KDNT phái sinh từ nhiều năm nay, tuy nhiên doanh số cũng như thu nhập từ các sản phẩm này còn rất khiêm tốn so với tiềm năng thị trường ngoại tệ của Việt Nam. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ chế và tăng cường marketing khách hàng sử dụng các nghiệp vụ KDNT phái sinh là việc làm cần thiết và cần được tiến hành ngay, đồng bộ.

    Tại BIDV, rất ít DN xuất nhập khẩu chủ động tìm hiểu, nghiên cứu những dịch vụ, sản phẩm mới để xem xét nên sử dụng dịch vụ nào và vận dụng như thế nào cho nhu cầu mới phát sinh của mình. Vì vậy, khi triển khai đưa ra thị trường sản phẩm KDNT mới, ngoài việc chuẩn bị đầy đủ về vật chất, kỹ thuật và nhân lực, BIDV cần

    71

    tuyên truyền, quảng cáo và tổ chức các hội thảo với khách hàng để giới thiệu nghiệp vụ mới và các tiện ích kèm theo. Những buổi hội thảo sẽ đóng vai trò xúc tiến bước đầu để khách hàng biết được BIDV và khách hàng cần làm gì để phối hợp với nhau trong việc thực hiện nghiệp vụ đó cũng như giảm thiểu những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải. Cũng qua buổi hội thảo khách hàng có dịp trình bày những vướng mắc haynhu cầu mới của mình phát sinh trong quá trình giao dịch với BIDV, qua đó BIDV nắm bắt được những nhu cầu của khách hàng và có giải pháp hỗ trợ cụ thể.

    Tuy nhiên, các buổi hội thảo bị hạn chế nhiều ở khâu tổ chức và thời gian tiến hành. Để đảm bảo kế hoạch được thực hiện tốt và có hiệu quả, bộ phận KDNT cần phối hợp với bộ phận Marketing. Tiếp thị và chăm sóc khách hàng được xem là khâu trọng yếu nhất trong công tác Marketing. Một, hai ngày hội thảo nghiệp vụ KDNT mới chỉ tạo cho khách hàng khái niệm ban đầu về sản phẩm mới, còn việc thực hiện các nghiệp vụ như thế nào, chi tiết ra sao phải thông qua khâu tư vấn và tiếp thị. Tiếp thị giúp khách hàng cập nhật thông tin mới nhất về sản phẩm, xu hướng thị trường và cách thực hiện nghiệp vụ mới … cũng như nắm bắt kịp thời nhu cầu, nguyện vọng hay vướng mắc của khách hàng.

    Trong tình hình tỷ giá hối đoái ngoại tệ biến động như hiện nay, rủi ro trong giao dịch bằng đồng ngoại tệ có chiều hướng tăng đặc biệt trong những hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

    Vì vậy vai trò của các NHTM nói chung và BIDV nói riêng là rất quan trọng trong việc kết hợp triển khai các sản phẩm dịch vụ hỗ trợ và từng bước tư vấn, hướng dẫn cụ thể cho các doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong việc đầu tư của mình.

    Xét về mặt khách quan thì về phía ngân hàng có lợi, mặt khác lại bảo vệ được rủi ro cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Tuy nhiên, trong thị trường giao dịch hiện nay, việc ứng dụng các công cụ phái sinh vẫn còn rất mới, chưa được sử dụng rộng rãi bởi tập quán trong giao dịch của các doanh nghiệp với các NHTM vẫn còn nằm trong phạm vi hạn hẹp.

    Hiểu được, ứng dụng được các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các NHTM thì việc mang những dịch vụ này đến các doanh nghiệp cần một chặng đường khá dài trong việc tiếp cận các doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến

    72

    giao dịch ngoại hối, các NHTM cần tổ chức những buổi hội thảo để giới thiệu và tư vấn loại hình dịch vụ mới này nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về rủi ro tỷ giá vừa giúp cho các doanh nghiệp hiểu biết và quen dần về các công cụ phái sinh ngoại hối.

    Cũng như đối với các doanh nghiệp, những quyền lợi và tính ưu việt trong việc lựa chọn các loại hình giao dịch hối đoái trong giao dịch kinh doanh và sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn về tỷ giá mong muốn sẽ thu hút được sự quan tâm từ các doanh nghiệp hơn.

    Mặt khác, BIDV cũng cần có chính sách đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường hối đoái quốc tế về các công cụ phái sinh nói chung và phái sinh ngoại hối nói riêng, vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng.

    Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường ngoại hối và thị trường tiền tệ quốc tế, kỹ năng phân tích kỹ thuật nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất.

    Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho các doanh nghiệp hiểu biết hơn về thị trường ngoại hối, cán bộ giao dịch phải có khả năng vận dụng linh hoạt các công cụ phòng chống rủi ro tỷ giá đối với danh mục đầu tư bằng ngoại tệ của bản thân ngân hàng. Ngoài ra họ còn phải có khả năng phát triển (hay bán) các sản phẩm phái sinh tới các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế.

    Bên cạnh điều kiện về trình độ cán bộ thì vấn đề công nghệ ngân hàng cũng là điều kiện cần thiết để ứng dụng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối. Vì các công cụ phái sinh nói chung và công cụ phái sinh ngoại hối nói riêng được xây dựng trên cơ sở sử dụng các thuật toán phức tạp để dự đoán về các khả năng biến động của tỷ giá hối đoái trong tương lai.

    1.2    Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng các nghiệp vụ KDNT mới

    Hiện nay, đối với hoạt động KDNT, BIDV mới thực hiện 4 nghiệp vụ là Spot, Forward, Swap, Option. Nghiệp vụ Future đã triển khai nhưng mới thực hiện đối với

    73

    mặt hàng café. Do đó, BIDV phải luôn nghiên cứu và tìm hiểu các nghiệp vụ mới, đưa ra quy trình triển khai cụ thể để khi có nhu cầu thì triển khai thực hiện hiệu quả.

    Riêng nghiệp vụ Future, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế phát triển như hiện nay thì nghiệp vụ Future có thể được áp dụng trong thời gian tới. Do đó, BIDV phải chuẩn bị nhân lực đủ trình độ, kỹ năng và điều kiện cần thiết để triển khai các nghiệp vụ này khi NHNN cho phép.

    Ngoài ra, nghiên cứu và phát triển dịch vụ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận công nghệ mới, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế., mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường ngoại hối quốc tế để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về tài chính và kỹ thuật để hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ quyền chọn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối nói riêng.

    BIDV cũng cần nhận thức được rằng thách thức trong quá trình hội nhập là rất lớn và ngày càng phức tạp nhưng nếu đẩy nhanh việc ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ sẽ giúp ngành ngân hàng phòng ngừa rủi ro về tỷ giá và tận dụng được cơ hội để phát triển, qua đó nâng cao vị thế, sức cạnh tranh của ngân hàng và của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Như vậy, lợi ích nổi bật của các công cụ phái sinh là phòng ngừa hiệu quả các rủi ro về tỷ giá cũng như lãi suất cho các NHTM, ngoài ra những công cụ tài chính hiện đại này còn giúp doanh nghiệp cân đối luồng tiền, cơ cấu lại tài sản nợ và giảm bớt các chi phí trên cơ sở nhận định đúng diễn biến thị trường.

    Bên cạnh đó, với tính đa dạng vốn có, chúng cũng có thể được ứng dụng phù hợp với nhu cầu và mức độ chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, việc sử dụng và phát triển các sản phẩm mới này trên thị trường vẫn còn nhiều hạn chế cả về phía các doanh nghiệp và NHTM, thể hiện ở doanh số giao dịch rất thấp.

    Vì vậy, Lãnh đạo ngành Ngân hàng cần tìm hiểu những điều kiện cần và đủ để xây dựng phát triển một thị trường công cụ phái sinh, áp dụng và phương hướng phát triển các công cụ phái sinh ngoại hối ở Việt Nam trong thời gian tới và phát huy những ưu điểm để ứng dụng các công cụ phái sinh tiền tệ trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá một cách an toàn, hiệu quả.

    74

    • Cung cấp miễn phí các dịch vụ kèm theo trong hoạt động KDNT

    Ngân hàng có thể cung cấp một số các dịch vụ kèm theo như tư vấn tài chính – tiền tệ, tỷ giá, phương thức thanh toán, áp dụng chính sách tỷ giá, phí mang tính cạnh tranh cao.

    Đối với nghiệp vụ Swap: Hiện nay, BIDV chủ yếu thực hiện nghiệp vụ Swap với NHNNg để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, riêng các doanh nghiệp vẫn có xu hướng thích vay USD sau đó doanh nghiệp bán lại USD cho chính ngân hàng khi có nguồn thu USD từ xuất khẩu. Đây là đặc điểm BIDV cần có giải pháp để khuyến khích khách hàng thực hiện Swap với BIDV thông qua công tác tư vấn cho khách hàng, chính sách ưu đãi về tỷ giá.

    Trong quá trình thực hiện giao dịch, có thể phát sinh những nhu cầu mà do hạn chế, một nghiệp vụ KDNT không thể đáp ứng được, khi đó cần phải kết hợp các nghiệp vụ khác nhằm đưa đến cho khách hàng những lựa chọn tốt nhất.

    Ví dụ để hạn chế rủi ro tỷ giá, ngay khi ký hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp có thể tiến hành ký hợp đồng bán ngoại tệ kỳ hạn với BIDV. Thực tế có nhiều tình huống xảy ra, trường hợp ký hợp đồng bán USD lấy VND kỳ hạn 3 tháng nhưng sau 2 tháng DN đã thu được ngoại tệ do giao hàng sớm và doanh nghiệp cần tiền đồng để trả lương cho người lao động. Khi đó DN có thể thực hiện nghiệp vụ Swap 1 tháng với BIDV với hình thức bán USD giao ngay cho BIDV và mua lại USD này kỳ hạn 1 tháng. Như vậy, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, BIDV cần thực hiện 2 nghiệp vụ là Forward và Swap.

    Bên cạnh đó, vấn đề lựa chọn tỷ giá để thanh toán cần sự tư vấn của BIDV do Doanh nghiệp không thể tự nắm được xu hướng biến động của mỗi loại tỷ giá vì doanh nghiệp không chuyên về KDNT và không đủ phương tiện, thông tin cần thiết. BIDV cần xác định vai trò then chốt và không thể thiếu công tác tư vấn cho khách hàng nhằm giúp khách hàng nắm vững phương thức thực hiện, xu hướng biến động tỷ giá … sao cho tất cả những thông tin này trở thành yếu tố hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng ngoại thương. Mục đích cuối cùng của giải pháp này là làm cho khách hàng cảm thấy không thể thiếu những thông tin tư vấn hữu ích từ BIDV trong hoạt động kinh doanh của mình, qua đó khách hàng sẽ ngày càng gắn bó hơn với ngân hàng.

    75

    2.     Mở rộng hoạt động KDNT trên thị trƣờng liên ngân hàng và thị trƣờng quốc tế

    Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ quốc tế, BIDV mới chỉ thực hiện các giao dịch ngoại tệ khi có nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá hoặc khi có nhu cầu thực hiện đối ứng khi mua hoặc bán ngoại tệ cho khách hàng mà ít có nghiệp vụ kinh doanh thực sự.

    Trong hoạt động KDNT, BIDV cần triển khai mở rộng hoạt động này trên thị trường liên ngân hàng và thị trường quốc tế. Đây là thị trường có tiềm năng rất lớn không chỉ về khối lượng giao dịch và còn về sự đa dạng trong sản phẩm.

    Tuy nhiên, việc tham gia vào thị trường này còn phụ thuộc vào cơ chế, quy định của NHNN và năng lực của BIDV.

    Tham gia trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế có một số đặc điểm:

    • Sự biến động tỷ giá nhanh.
    • Doanh số giao dịch lớn.
    • Đối tác trên thị trường là các ngân hàng đủ điều kiện, có uy tín.
    • Các loại hình nghiệp vụ phong phú, đa dạng.

    Với các đặc điểm đó, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường quốc tế là nơi mà BIDV đầu tư kiếm lời trên sự biến động tỷ giá. BIDV cần hiện đại hoá công nghệ, đầu tư máy móc thiết bị chuyên dùng, bên cạnh đó cần tiến hành thu thập, phân tích và đưa ra dự báo để có những quyết định chính xác thì mới biến những cơ hội biến động tỷ giá thành lời.

    Đối với hoạt động KDNT với ngân hàng nước ngoài: Cần tăng cường nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt thông tin về tình hình tài chính tiền tệ thế giới, xu thế mới về thị trường hối đoái quốc tế để đưa ra các quyết định phù hợp.

    Để thực hiện giải pháp này cần tiến hành làm các công việc như sau:

    • Thông qua quan hệ với các Ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế để tranh thủ được kinh nghiệm quản lý, kỹ năng giao dịch

    NHNNg là nơi BIDV có thể thực hiện các giao dịch phòng tránh rủi ro tỷ giá, VD nghiệp vụ Option, khi BIDV ký hợp đồng với khách hàng thì đồng thời sẽ ký hợp

    76

    đồng với NHNNg nhưng với chiều ngược lại để tránh rủi ro tỷ giá (thay vì tự chịu rủi ro tỷ giá nếu không giao dịch với NHNNg).

    Đây là cầu nối để BIDV vươn hoạt động KDNT ra thị trường hối đoái quốc tế, vừa là người ủy thác, đại lý, vừa là người nhận ủy thác của các NHNNg.

    Do BIDV có mạng lưới các ngân hàng đại lý rộng khắp thế giới nên BIDV sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về dịch vụ ngân hàng trên phạm vi toàn cầu. BIDV phải có chiến lược mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường quốc tế với nhiều hình thức.

    • Triển khai các nghiệp vụ KDNT cho các chi nhánh BIDV

    Phòng Kinh doanh Ngoại tệ tại các chi nhánh cần được bổ sung nhân sự bộ phận KDNT cho chi nhánh. Phòng Kinh doanh Ngoại tệ phải được trang bị cơ sở vật chất thỏa mãn một số yêu cầu về cung cấp thông tin lãi suất, tỷ giá …,có các máy tính giao dịch nối mạng, lắp đặt phần mềm tính toán thống kê, dự báo tỷ giá các giao dịch, hệ thống thiết bị thông tin cần thiết khác như điện thoại, fax, telex, … để có thể liên lạc trực tiếp với các ngân hàng trong cùng hệ thống.

    Mở rộng mạng lưới chi nhánh là yếu tố rất quan trọng đối với mọi hoạt động KDNT. Nhờ có mạng lưới rộng khắp, các chi nhánh sẽ cung cấp sản phẩm, dịch vụ của BIDV cho khách hàng một cách thuận lợi nhất để thu hút nguồn ngoại tệ vào BIDV.

    3.     Tăng cƣờng công tác quản trị trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ

    Quản trị hoạt động KDNT có vai trò quan trọng nhằm sắp xếp một cách khoa học giữa các bộ phận, công việc trong ngân hàng, đồng thời là sự phối hợp, giúp đỡ và kiểm tra giữa các bộ phận nhằm tăng hiệu quả công việc và hạn chế rủi ro nghiệp vụ. Việc tăng cường công tác quản trị hoạt động KDNT được thực hiện qua các giải pháp:

    • Xây dựng quy chế phối hợp giữa các Phòng/Ban liên quan đến hoạt động KDNT nhằm phục vụ nhanh chóng, hiệu quả các giao dịch với khách hàng đồngthời nắm bắt kịp thời nhu cầu cũng như phản ánh từ phía khách hàng.

    Thực tế hoạt động KDNT có liên quan đến nhiều Phòng/Ban như Trung tâm thanh toán, Ban tác nghiệp và tài trợ thương mại, Ban Tín dụng, Ban Kế toán, Phòng Ngân quỹ…

    77

    • Xây dựng hệ thống thu nhập, xử lý thông tin có hiệu quả, kịp thời để phục vụ cho việc ra quyết định có độ chính xác cao.
    • Xây dựng chế độ khen thưởng hợp lý và kịp thời đối với giao dịch viên nhằm khuyến khích tinh thần làm việc và gắn bó trách nhiệm của họ với công việc.

    KDNT trên thị trường quốc tế diễn ra 24/24h hàng ngày, giá cả biến động liên tục và rất phức tạp cho nên cần khuyến khích giao dịch viên sao cho họ quan tâm tới hiệu quả công việc, bám sát thị trường.

    • Quy định cụ thể, rõ ràng về quy trình giao dịch, về phương tiện và cách thức sử dụng các phương tiện trong giao dịch ngoại tệ.
    • Thiết lập chế độ kiểm tra chéo giữa bộ phận Back-office và Front-office. Đảm bảo việc hạch toán chính xác các giao dịch đã thực hiện, giúp Ban Lãnh đạo nắm bắt và có hướng xử lý các giao dịch bất thường

    4.     Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cho hoạt động KDNT

    Nguồn nhân lực được xác định là khâu then chốt, quyết định sự thành công của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu con người có những quyết định đúng đắn, phù hợp với từng hoàn cảnh thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

    KDNT là một lĩnh vực đòi hỏi phải có nguồn nhân lực trình độ cao. Giao dịch viên phải có khả năng phân tích tổng hợp, phản xạ nhạy bén với mọi tình huống và sự kiện xảy ra trên thị trường, đặc biệt là thị trường ngoại hối quốc tế. Với đòi hỏi như trên, BIDV phải đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này, các biện pháp cụ thể cần thực hiện như sau:

    Chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản là:

    • Có khả năng nhận biết, phân tích và đánh giá tình hình kinh tế, chính trị xã hội có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động KDNT như thế nào, từ đó có thể đề xuất các giải pháp cho tình huống cụ thể.
    • Có kiến thức về lĩnh vực tài chính, ngân hàng đặc biệt là vững vàng về hoạt động KDNT.
    • Có trình độ ngoại ngữ tốt đủ khả năng giao dịch với nước ngoài.
    • Chú trọng công tác đào tạo, tự đào tạo và huấn luyện thường xuyên

    78

    nghiệp vụ nhất là đối với nhân viên giao dịch trên thị trường ngoại hối quốc tế. Cách thức làm là mời các chuyên gia hoặc đối tác nước ngoài sang huấn luyện tại chỗ hay cửcán bộ có liên quan trực tiếp tham dự hội thảo do NHNN, NHNNg tổ chức để nắm bắt kịp thời các nghiệp vụ KDNT trên thị trường quốc tế và tích luỹ thêm kinh nghiệm thực tế.

    • Có chính sách thu hút và giữ nhân sự có chuyên môn cao thông qua các chế độ như lương, thưởng, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến trong công việc.

    Hiện tại, công tác tuyển chọn và đào tạo nhân lực cho bộ phận KDNT của Hội sở chính đã được quan tâm tốt, tuy nhiên tại các chi nhánh của BIDV, cán bộ KDNT thường kiêm một số công tác khác và chưa được trang bị đầy đủ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn để có thể đảm nhiệm công tác KDNT. Vì vậy, để hoạt động KDNT đạt được hiệu quả cao, không chỉ Hội sở chính, mà các chi nhánh cần phải chú trọng công tác tuyển chọn nhân sự đầu vào có trình độ chuyên môn phù hợp với công việc được giao và phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản, có chính sách đào tạo, chính sách thu hút và giữ nhân sự như được nêu trên đây.

    5.     Phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động KDNT tại BIDV

    Như đã trình bày tại chương II, hoạt động KDNT tiềm ẩn rủi ro cao, nhất là kinh doanh trên thị trường ngoại hối quốc tế. Chính vì vậy việc giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT có ý nghĩa quan trọng. Để giảm thiểu rủi ro đối với hoạt động KDNT, BIDV cần thực hiện các giải pháp sau:

    Đối với rủi ro tỷ giá:

    Đây là loại rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNT. Các rủi ro ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do biến động kinh tế, chính trị của một đất nước. Việc ngân hàng nắm giữ một loại ngoại tệ nào đó quá nhiều sẽ là mạo hiểm khi tỷ giá biến động bất lợi. Do đó, BIDV cần phải tuân thủ nghiêm ngặt công cụ phòng tránh rủi ro tỷ giá là hệ thống hạn mức (Position limits), bao gồm:

    • Hạn mức trạng thái tiền tệ (hạn mức qua đêm và hạn mức giao dịch trong ngày): là giới hạn trạng thái ngoại tệ tối đa mà BIDV được để qua đêm (đối với hạn mức qua đêm) hoặc giao dịch trong ngày nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng khi thị trường biến động quá nhanh khiến nhân viên KDNT không phản ứng kịp. Tùy theo khối lượng giao dịch, tính thanh khoản cao hay thấp, biến động tỷ giá nhiều hay ít, các

    79

    quy định của NHNN và kinh nghiệm, trình độ, mục tiêu kinh doanh, năng lực tài chính của BIDV mà Ban Lãnh đạo thiết lập hạn mức trên.

    • Hạn mức dừng lỗ: Là mức lỗ tối đa cho một giao dịch và mức lỗ tối đa trong ngày, mục đích của hạn mức này là nhằm khống chế mức lỗ của BIDV trong một giới hạn có thể chấp nhận được.

    Trong hoạt động KDNT, rủi ro về tỷ giá có nguyên nhân từ trạng thái ngoại hối. Khi ngoại tệ lên giá thì trạng thái ngoại tệ dương sẽ có lợi, còn trạng thái âm sẽ bị lỗ.

    Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ luôn thay đổi nên BIDV luôn có khả năng gặp rủi ro tỷ giá. Nhưng BIDV cũng cần linh hoạt điều chỉnh trạng thái ngoại tệ vì ở thời điểm cân bằng trạng thái, có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh khi không có ngoại tệ cho nhu cầu đột xuất của khách hàng.

    Việc giảm thiểu rủi ro tỷ giá được thực hiện thông qua quản lý trạng thái ngoại hối và BIDV phải xây dựng một hệ thống kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đối với trạng thái ngoại hối.

    Đối với rủi ro thanh toán, rủi ro tín dụng:

    BIDV, đặc biệt là các chi nhánh của BIDV giao dịch trực tiếp với các khách hàng cần tiến hành phân loại, đánh giá khách hàng theo các mức cụ thể để đưa ra hạn mức giao dịch cho từng khách hàng cho phù hợp.

    BIDV nên áp dụng hạn mức khách hàng như sau:

    Quy định hạn mức cho từng khách hàng tuỳ theo tình hình tài chính của khách hàng đó, bao gồm:

    • Hạn mức thanh toán (quy định số tiền tối đa mà ngân hàng thanh toán cho một khách hàng trong một ngày)
    • Hạn mức kỳ hạn (tổng giá trị các hợp đồng kỳ hạn đang còn hiệu lực không được vượt quá).

    III.            Một số kiến nghị

    Có môi trường kinh doanh thuận lợi cùng với sự nỗ lực của BIDV thì hoạt động

    80

    KDNT sẽ ngày càng mở rộng và hiệu quả. Để có được một môi trường kinh doanh thuận lợi thì phải có những giải pháp và sự phối hợp thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước – mà ở đây là NHNN.

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại các ngân hàng nói chung và BIDV nói riêng thì kiến nghị NHNN cần có những thay đổi sau:

    1.     Đối với Ngân hàng nhà nƣớc

    1.1       NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt

    Cơ chế điều hành tỷ giá cần kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    Những quy định về biên độ được phép cộng/trừ thêm vào tỷ giá USD/VND do NHNN công bố (hiện nay là +-3%) đã làm cho các NHTM gặp khó khăn trong việc thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ vì tỷ giá giao dịch thực tế thường vượt quá trần tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do NHNN quy định. Vì vậy, để hoạt động KDNT của các NHTM được chủ động, NHNN nên nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Có như vậy, các NHTM mới có cơ hội cạnh tranh, cũng như đưa ra mức tỷ giá phù hợp phản ánh cung cầu thị trường trong từng thời điểm, đảm bảo hoạt động KDNT có lãi. Khi thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh, dự trữ quốc gia đủ mạnh, NHNN nên xoá bỏ quy định giới hạn tỷ giá giao ngay giữa USD/VND NHNN do NHNN công bố.

    Khi đó, NHNN nên cho các NHTM áp dụng cơ chế thoả thuận tỷ giá bởi việc thực hiện cơ chế thoả thuận tỷ giá giúp BIDV linh hoạt hơn khi chào giá cho khách và điều chỉnh kịp thời khi nhu cầu của thị trường thay đổi. Vì vậy, NHNN cần chính thức cho phép áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong mua bán ngoại tệ mặt, đồng thời tiến tới cho thí điểm cơ chế mua bán ngoại tệ chuyển khoản theo tỷ giá thoả thuận.

    Việc xoá bỏ biên độ và áp dụng cơ chế tỷ giá thoả thuận sẽ giúp các ngân hàng thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ theo sát tỷ giá thị trường hơn.

    Như vậy, NHNN cần có cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, kết hợp với các giải pháp nới rộng biên độ dao động so với tỷ giá bình quân, nhằm hình thành một thị

    81

    trường ngoại hối phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại tệ phù hợp với thị trường giao dịch.

    NHNN cũng cần tăng cường vai trò trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN tổ chức, giám sát và điều hành nhằm hình thành một thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các tổ chức tín dụng là thành viên thị trường.

    Quan trọng hơn, NHNN cần nghiên cứu ban hành những quy tắc cơ bản nhất trong giao dịch phái sinh, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với điều kiện thị trường của Việt Nam hiện nay, để có hành lang pháp lý chung cho hoạt động của các NHTM. Tránh để các NHTM thực hiện nghiệp vụ mới một cách riêng lẻ, dẫn đến tình trạng không thống nhất, dễ gây ra tranh chấp khi có sự cố xảy ra, cũng như hạn chế những rủi ro có thể cho các NHTM và cho cả doanh nghiệp.

    Hoàn thiện quy định về nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ

    Theo đánh giá của các chuyên gia tiền tệ trong nước cũng như trên thế giới, trong các nghiệp vụ phái sinh, đứng cả về phía khách hàng cũng như ngân hàng, nghiệp vụ quyền chọn là có nhiều hấp dẫn hơn cả. Về nghiệp vụ quyền chọn, BIDV cũng gặp một số khó khăn xuất phát từ những quy định của NHNN.

    Trong thời gian qua, BIDV với tư cách là người phát hành các hợp đồng quyền chọn, nguồn thu từ nghiệp vụ này rất ít vì phí quyền chọn phải đóng cho đối

    tác nước ngoài nhận “tái bảo hiểm” các hợp đồng quyền chọn này. BIDV phải ký lại các hợp đồng quyền chọn với đối tác nước ngoài dưới dạng tái bảo hiểm vì hiện nay số lượng ngân hàng được phép thực hiện giao dịch quyền chọn chưa nhiều nên BIDV không thể làm trung gian cân đối hay điều hòa rủi ro giữa những người ký hợp đồng quyền chọn với ngân hàng cũng như không có nhiều cơ hội giao dịch, ký kết hoán đổi các hợp đồng quyền chọn với các ngân hàng khác trong nước.

    Tuy nhiên, trên thị trường ngoại hối quốc tế nhất là ở các nước phát triển, nghiệp vụ quyền chọn không những được sử dụng để bảo hiểm rủi ro tỷ giá mà còn là cơ sở để các ngân hàng hình thành nên các chiến lược quyền chọn nhằm mục đích kiếm lời theo những dự đoán riêng của mình về sự biến động của tỷ giá trong tương lai.

    Để có thể sử dụng được chiến lược này, ngoài khả năng của BIDV, cần phải có một thị trường quyền chọn phát triển với đầy đủ các yếu tố của thị trường như tỷ giá

    82

    phải được xác định bởi cung cầu của thị trường, chính sách quản lý ngoại hối phải tạo điều kiện thông thoáng cho hoạt động KDNT và khung pháp luật đảm bảo quyền lợi của nhà kinh doanh.

    Đối với các NHTM tại Việt Nam, việc triển khai và áp dụng sản phẩm quyền chọn ngoại tệ và VND sẽ thu hút khách hàng hơn một số sản phẩm phái sinh khác. Vì vậy, NHNN nên cho các NHTM tiếp tục triển khai sản phẩm này.

    1.2    Hoàn thiện và phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

    Hiện nay, hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn hạn chế như tính linh hoạt chưa cao, các ngân hàng còn hoạt động kinh doanh chủ yếu theo phương thức “tự cấp, tự túc”, thị trường hoạt động theo xu hướng một chiều (mua vào không đủ đáp ứng nhu cầu bán ra), các công cụ đơn điệu, chủ yếu là các giao dịch giao ngay Spot.

    Để đảm bảo cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động có hiệu quả và ngày càng giữ vai trò trung tâm quan trọng của thị trường ngoại hối Việt Nam, trong thời gian tới NHNN cần phải hoàn thiện hơn nữa các vấn đề như sau:

    • NHNN phải thực hiện đúng chức năng là người mua bán cuối cùng trên thị trường. Chính do đặc điểm của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian qua có giai đoạn các ngân hàng đều đặt lệnh mua ngoại tệ nhưng không được thỏa mãn do đó mất niềm tin vào thị trường. Để có thể khắc phục tình trạng này, NHNN cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.
    • NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.
    • Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.
    • Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ

    83

    liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    1.3    Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối

    Nhìn chung cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam đã thông thoáng hơn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần phải hoàn thiện như cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái trong dài hạn, lộ trình và phương thức điều chỉnh tỷ giá… Cơ chế quản lý tỷ giá phải thực hiện được 2 mục tiêu chính: tiến tới lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam;

    Nới lỏng kiểm soát đối với các giao dịch vãng lai để đồng Việt Nam trở thành đồng tiền chuyển đổi nhằm chống lại hiện tượng Đôla hoá. Trên cơ sở đó, NHNN có thể kiểm soát hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ, thu hút ngoại tệ để tăng nguồn dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia.

    Để phát triển thị trường ngoại hối, tăng khả năng tự bảo hiểm của doanh nghiệp thông qua các công cụ của thị trường, các quy định về quản lý ngoại hối cần phải thỏa mãn các nhu cầu mua/bán ngoại tệ hợp lý của thị trường và kịp thời can

    thiệp một cách hữu hiệu vào tỷ giá.

    NHNN phải có dự trữ ngoại tệ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả

    nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu dầu thô, các mặt hàng xuất khẩu chiến lược của quốc gia.

    Thiết lập thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại tệ liên ngân hàng trực tiếp các ngân hàng và thị trường gián tiếp qua môi giới, đồng thời hoàn thiện quy chế giao dịch, hiện đại hoá khâu thanh toán, trang bị công nghệ tiên tiến cho hoạt động thanh toán bù trừ của NHNN.

    Mặt khác, NHNN cần kiểm soát và tiến tới loại bỏ thị trường ngoại tệ tự do vì hoạt động của thị trường này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Về lâu dài cần phải có biện pháp, chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, tiến tới xoá bỏ thị trường ngoại tệ tự do.

    Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc triển khai áp dụng vào thực tế một số công cụ ngoại hối bảo hiểm rủi ro như hoán đổi giá cả hàng hoá (Commodity Price

    84

    Swap), mua bán tương lai hàng hoá (Commodity Future), hoán đổi lãi suất (Interest Swap)… tất nhiên điều kiện đảm bảo và phát triển thị trường vẫn là chính sách tỷ giá thích hợp, gắn thị trường và các điều kiện giao dịch thuận lợi.

    1.4      Kiến nghị khác

    NHNN cũng cần ban hành những quy chế hợp lý hơn như việc xác lập tỷ giá hoán đổi, phí hoán đổi tiền tệ hoàn toàn theo nguyên tắc thị trường.

    Hiện nay NHNN đã cho phép cá nhân, NHTM thực hiện Option ngoại tệ với ngoại tệ mà không cần phải chứng minh mục đích sử dụng vốn, điều này cho thấy NHNN cho phép cá nhân, NHTM được đầu cơ ngoại tệ. Qua thực tế tại Phòng kinh

    doanh Tiền tệ thì nghiệp vụ trên tuy phù hợp với khẩu vị thích rủi ro của nhà đầu tư nhưng chưa được thực hiện nhiều do quy định về số lượng ngoại tệ tối thiểu trong mỗi giao dịch. NHNN cần xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu này để khách hàng có thể thực hiện giao dịch theo nhu cầu.

    2.     Một số kiến nghị với khách hàng

    Việc phân tích và dự đoán biến động tỷ giá ngoại tệ không phải là chuyên môn của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng.

    Do đó, để tránh rủi ro tỷ giá, các doanh nghiệp nên tham khảo ý kiến tư vấn của ngân hàng trước và sau khi ký hợp đồng để chọn những biện pháp phòng tránh rủi ro tỷ giá thích hợp đồng thời tạo thói quen sử dụng các công cụ phái sinh ngoại tệ tron g môi trường kinh doanh đầy biến động hiện nay.

    Trong quá trình lựa chọn đối tác, ký hợp đồng, các doanh nghiệp phải lựa chọn đối tác có tiềm năng và có uy tín đồng thời phải tìm hiểu kỹ các phương thức thanh toán, đồng tiền giao dịch để có kế hoạch nguồn vốn cho phù hợp.

    Phải tìm hiểu kỹ các tiện ích ngân hàng dành cho doanh nghiệp, trường hợp không thu xếp kịp các nguồn tiền vào, ra thì có thể sử dụng các nguồn vốn như vay, ký hợp đồng hoán đổi, kỳ hạn … để thanh toán đúng thời gian đã ký kết với đối tác. Việc lựa chọn loại ngoại tệ nào trong thanh toán ngoại thương cũng là vấn đề mà DN cần quan tâm. Các DN xuất nhập khẩu vẫn có thói quen sử dụng đồng USD trong thanh

    85

    toán cho dù đối tác ở bất kỳ đâu trên thế giới, điều này có 2 lý do: một là DN Việt Nam không có quyền quyết định đồng tiền thanh toán; hai là, đối với nhiều nước, đồng USD vẫn có vị thế riêng. Thực tế nhiều DN bỏ qua cơ hội làm tăng lợi nhuận cho mình khi chỉ sử dụng đồng USD trong thanh toán trong khi sử dụng các đồng tiền khác thì DN có thể làm tăng lợi nhuận khi tỷ giá biến động có lợi. Thậm chí có DN phải dừng dự án cũng như gánh thêm các khoản nợ khổng lồ do việc biến động liên tục của đồng USD. Đối với loại ngoại tệ khác (EUR chẳng hạn), việc sử dụng để thanh toán được cho là phương thức thuận lợi, giúp giảm thời gian giao dịch, chi phí giao dịch, chi phí chuyển đổi tiền tệ và không lo xảy ra khan hiếm ngoại tệ như đồng USD và dịp cuối năm, mặc dù nguy cơ biến động tỷ giá này không loại trừ nhưng với tính ổn định của mình, nếu DN cân đối việc sử dụng ngoại tệ chắc chắn sẽ có lợi nhưng dường như điều này chưa được nhiều DN quan tâm.

    Việc lựa chọn bất kỳ loại ngoại tệ mạnh nào để thanh toán có thể thực hiện được do các đồng tiền này có khả năng chuyển đổi cao, giúp DN và đối tác yên tâm chấp nhận thanh toán bằng đồng tiền của chính nước đó.

    Thị trường xuất khẩu Việt Nam ngày càng đa dạng, việc giao dịch bằng ngoại tệ là tất yếu và đòi hỏi DN Việt Nam phải rèn cho mình kỹ năng trong việc vận dụng ngoại tệ một cách cân bằng, kỹ năng phòng tránh rủi ro tỷ giá nhằm giảm thiểu rủi ro tiền tệ và nếu có thể sẽ đưa lại những lợi ích nhất định.

    86

    KẾT LUẬN

    Sau khi nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

    1. Về mặt lý luận hoạt động kinh doanh ngoại tệ liên quan đến các vấn đề về ngoại hối, ngoại tệ, thị trường ngoại hối, tỷ giá, các thành viên tham gia trên thị trường ngoại hối. Trong đó các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ chính của ngân hàng thương mại bao gồm: Nghiệp vụ giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn.
    1. Để đánh giá hiệu quả hoạt động KDNT của các ngân hàng thương mại có thể dựa trên nhiều tiêu chí. Trong đó có một số tiêu chí cơ bản như doanh thu MBNT, thu

    nhập từ hoạt động KDNT, thu nhập từ hoạt động KDNT trên tổng thu nhập, rủi ro trong hoạt động KDNT và khả năng hỗ trợ của hoạt động KDNT tới sự phát triển của các hoạt động khác.

    1. Hoạt động KDNT tại BIDV được đánh giá dựa trên số liệu từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2010. Đây là giai đoạn thị trường ngoại hối Việt Nam phát triển mạnh mẽ và thường xuyên biến động. BIDV đã không ngừng hoàn thiện và phát triển các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu khách hàng, đồng thời liên tục đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động KDNT để có thể cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Nhờ đó, trong giai đoạn 2006-2010, hoạt động KDNT đã có những bước tăng trưởng vượt bậc về cả doanh số và thu nhập. BIDV đã được khách hàng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của mình với giải thưởng “Ngân hàng nội địa cung ứng dịch vụ kinh doanh ngoại tệ (FX) tốt nhất năm” do các ngân hàng và định chế tài chính bình chọn trên tạp chí AsiaMoney trong 3 năm liên tiếp từ năm 2007 đến năm 2009.

    Tuy nhiên, do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan nên hoạt động KDNT của BIDV vẫn còn một số hạn chế và chưa đạt được kết quả như mục tiêu mà BIDV đặt ra: doanh số mua bán ngoại tệ với khách hàng chiếm tỷ trọng cao thể hiện hoạt động KDNT của BIDV vẫn chủ yếu là “tự cung, tự cấp”, hoạt động KDNT trên thị trường liên ngân hàng chưa được chú trọng; KDNT chủ yếu thực hiện nghiệp vụ giao ngay, các nghiệp vụ KDNT phái sinh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có; tại các chi nhánh của BIDV, hoạt động KDNT vẫn chưa được chú trọng, chưa có các cán bộ có đầy đủ nghiệp vụ chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh này…

    87

    1. Từ những nguyên nhân được đề cập, các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động KDNT tại BIDV có thể kể đến là: Hoàn thiện và phát triển các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại BIDV, trong đó cần tập trung marketing, giới thiệu khách hàng sử dụng các sản phẩm ngoại hối phái sinh tại ngân hàng; mở rộng hoạt động KDNT trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng và thị trường quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực….Ngoài ra luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị đối với NHNN và các

    doanh nghiệp XNK nhằm mở rộng môi trường kinh doanh và tiềm năng hoạt động KDNT cho các NHTM nói chung và BIDV nói riêng.

    Hoạt động KDNT rất đa dạng và phong phú nên còn nhiều vấn đề cần phải đề cập và nghiên cứu nhưng do khuôn khổ của đề tài có giới hạn vì vậy chắc chắn đề tài không thể trình bày trọn vẹn về lĩnh vực này. Một lần nữa Tác giả mong nhận được sự thông cảm và ý kiến đóng góp của các thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề được đề cập trong luận văn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.

    88

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • TS Lê Văn Tư, Thị trường hối đoái, NXB Thống kê, 2003.
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB

    Thống kê, 2005.

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Cẩm nang thị trường ngoại hối và các giao dịch kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê, 2006
    • TS Nguyễn Văn Tiến, Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh,

    NXB Thống kê, 2010

    • TS Nguyễn Văn Tiến, Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, 2009
    • Simon Benninga and Zvi Wiener, value at risk, Mathematica in Education and Research, 1998.
    • Pháp lệnh ngoại hối 2005  do ủy ban thường vụ quốc  hội ban  hành ngày

    13/12/2005

    • Nghị định 160/2006/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối
    • Thông tư 03/2008/77-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 11/04/2008 về hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ của TCTD
    • Quyết định 101/1999/QĐ-NHNN do ngân hàng nhà nước ban hành ngày 26/03/1999 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
    • Quyết định số 206/2000/QĐ-NHNN13 của NHNN ngày 11/07/2000 sửa đổi khoản 2 điều 9 “Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng” ban hành kèm theo QĐ số 101/1999/QĐ-NHNN ngày 26/3/1999
    • Quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN của NHNN ngày 10/11/2004 về các giao dịch hối đoái của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
    • Công văn 1820/NHNN-QLNH của NHNN ngày 18/03/2009 về dừng thí điểm nghiệp vụ option tiền đồng

    89

    • Quyết định 2666/QĐ-NHNN của NHNN ngày 25/11/2009 về biên độ tỷ giá
    • Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN của NHNN ngày 07/10/2002 về trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín dụng đuợc phép hoạt động ngoại hối
    • Báo cáo thường niên BIDV các năm 2006, 2007, 2008, 2009
    • Peter S.Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính
    • bidv.com.vn, lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức BIDV, BIDV triển khai thành công hệ thống Giao dịch Ngoại tệ Điện tử.
    • vneconomy.vn, Lợi nhuận ngân hàng không nhìn từ tín dụng; Các ngân

    hàng Hà Nội đẩy mạnh kinh doanh ngoại hối.

    • sbv.gov.vn, Khánh Hưng, Ngân hàng thương mại dừng thực hiện thí điểm nghiệp vụ Option tiền đồng

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/TI%E1%BB%82U-LU%E1%BA%ACN-TH%E1%BB%B0C-TR%E1%BA%A0NG-KINH-DOANH-NGO%E1%BA%A0I-T%E1%BB%86-%E1%BB%9E-VI%E1%BB%86T-NAM.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

    Chương I

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI

    I / KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    1/ Giải thích các thuật ngữ

    1.1 / NGOẠI HỐI:

    Ngoại hối là những công cụ được sử dụng trong các quan hệ thanh toán quốc tế được các quốc gia quản lý và quy định cụ thể trong luật  quản lý ngoại hối.

    Ngoại hối bao gồm:

    1. a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
    2. b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
    3. c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
    4. d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

    đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

    1.2 /  THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI:

    Thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các loại ngoại tệ và các hoạt động kinh doanh có liên quan đến ngoại tệ.

    1.3 / TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI:

    Tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang một đồng tiền khác theo một tỷ lệ nhất định.

    Hay cách khác: Tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền tệ nước ngoài.

    Ví dụ: USD / VND = X hay 1 USD = X VND

    1.4 / TRẠNG THÁI NGOẠI TỆ:

    Các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền sở hữu về ngoại tệ làm phát sinh trạng thái ngoại tệ. Trạng thái ngoại tệ trường và trạng thái ngoại tệ đoản.

    Các giao dịch làm phát sinh trạng thái ngoại tệ trường:

    • Mua một ngoại tệ ( giao ngay, kỳ hạn)
    • Thu lãi cho vay bằng ngoại tệ
    • Thu phí dịch vụ bằng ngoại tệ
    • Nhận quà biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
    • Tiền lương thưởng bằng ngoại tệ

    Các giao dịch làm phát sinh trạng thái ngoại tệ đoản

    • Bán một ngoại tệ ( giao ngay, kỳ hạn)
    • Trả lãi huy động bằng ngoại tệ
    • Trả phí dịch vụ bằng ngoại tệ
    • Cho tặng, biếu, viện trợ bằng ngoại tệ
    • Ngoại tệ bị mất, rách nát, hư hỏng

    µ Trạng thái ngoại tệ trường ròng:

    • Lãi khi tỷ giá tăng
    • Lỗ khi tỷ giá giảm

    µ Trạng thái ngoại tệ đoản ròng:

    • Lãi khi tỷ giá giảm
    • Lỗ khi tỷ giá tăng

    µ Trạng thái ngoại tệ cân bằng: không chịu rủi ro tỷ giá.

    2/  ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI:

    • Hoạt động liên tục 24/24 bởi vì do sự chênh lệch múi giờ ( trừ những ngày nghỉ cuối tuần).
    • Thị trường mang tính quốc tế.
    • Tỷ giá thị trường được xác định trên cơ sở cọ xát của cung và cầu ngoại tệ trên thị trường quyết định.
    • Những đồng tiền mạnh như USD, EUR, JPY, CHF, GBP, AUD,..giữ vị trí quan trọng của thị trường, đặc biệt là đồng đôla Mỹ (USD).
    • Thị trường hối đoái phần lớn được mua bán qua thị trường OTC, thị trường vô hình, mua bán qua điện thoại, telex, mạng vi tính…

    3/. PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    3.1 Căn cứ vào tính chất hoạt động :

    Thị trường giao ngay: là nơi thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ theo tỷ giá tại thời điểm giao dịch.

    Thị trường tiền gửi: là nơi tiến hành giao dịch vay và cho vay ngoại tệ với những thời gian và lãi suất đã được xác định.

    3.2 Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh

    – Thị trường giao ngay:( Spots Market) còn gọi là thị trường thực hiện việc mua bán giao ngay tại một thời điểm nhất định, theo giá cả trên thị trường.

    – Thị trường kỳ hạn: (Forwards Market) ra đời từ thị trường giao ngay, do những biến động trong nền kinh tế mà giá cả thay đổi lên xuống khó có thể lường trước được nên bất kỳ một nhà giao dịch nào muốn thành đạt trong kinh doanh cần phải tính toán và đưa ra những biện pháp tự bảo vệ chống lại sự biến động của giá cả trên thị trường. Như vậy để đảm bảo chống lại sự biến động giá cả ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình mà người bán và người mua đi đến thỏa thuận mua bán ngoại tệ có kỳ hạn thực hiện trên các hợp đồng kỳ hạn.

    – Thị trường hoán đổi tiền tệ: ( Swaps Market) là thị trường thực hiện việc trao đổi một khoản nợ bằng một đồng tiền khác.

    – Thị trường quyền  chọn: ( Options Market) là thị trường thực hiện các hợp đồng ký kết dưới dạng các quyền chọn. Tuy nhiên, khác với thị trường giao ngay và kỳ hạn, thị trường lựa chọn không phải mua bán ngoại tệ, các công cụ tài chính mà  mua hay bán quyền chọn mua, quyền chọn bán của các hàng hóa nêu trên với giá cả xác định tại một thời điểm và được quyền lựa chọn thực hiện hợp đồng hoặc từ bỏ hợp đồng.

    – Thị trường tương lai: (Futures Market) (hay thị trường giao sau) là thị trường thực hiện các giao dịch của các hợp đồng tương lai về mua sắm ngoại tệ theo kích thước quy định từng loại ngoại tệ trên thị trường và theo tỷ giá đã được thỏa thuận tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực trong tương lai. Các giao dịch ngoại tệ được thực hiện thông qua các sở giao dịch hối đoái.

    3.3 Căn cứ theo phạm vi hoạt động:

    –  Thị trường nội địa

    –  Thị trường quốc tế

    4/. CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    • Phục vụ thương mại quốc tế.
    • Phục vụ luân chuyển quốc tế
    • Nơi hình thành tỷ giá
    • Nơi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ
    • Nơi kinh doanh và phòng ngừa rủi ro

    5/.  CÁC THÀNH PHẦN THAM GIA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    6/. HÀNG HÓA CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    Hàng hóa của thị trường  ngoại hối là Tiền. Giao dịch ngoại hối là hoạt động giao dịch mua một số lượng tiền này và bán một số lượng tiền khác diễn ra cùng thời điểm. Tiền được giao dịch thông qua người môi giới hoặc trực tiếp theo từng cặp, ví dụ cặp EUR/USD hay GBP/JPY. Không như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối cũng không có một trung tâm tài chính hay giao dịch nào cả. Thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng và dựa trên giao dịch điện tử giữa hệ thống nối kết các ngân hàng với nhau, và hoạt động suốt 24 giờ trong ngày.

    II /  CÁC NGHIỆP VỤ TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

    1/ Sơ lược về thị trường ngoại hối Việt Nam:

    1.1. thành lập:

    1.1 / – 16/8/1991: Thành lập Trung tâm giao dịch ngoại tệ.

    – Năm 1994: Trung tâm chấm dứt hoạt động.

    • Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng năm 1994

    Được thiết lập theo quyết định số 203/NH-QĐ ngày 20/09/1994 của thống đốc ngân hàng Nhà nước nhằm xây dựng một thị trường có tổ chức cho giao dịch ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại và tạo cơ sở hình thành thị trường ngoại hối hoàn chỉnh trong tương lai. Ngoài ra, thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp một cách hữu hiệu vào thị trường nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.

    Trước năm 1998 các giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại hối Việt Nam chủ yếu là giao dịch giao ngay. Năm 1998 giao dịch ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi mới chính thức được đưa vào giao dịch.

    • Sự ra đời của giao dịch kỳ hạn và hoán đổi năm 1998

    Giao dịch ngoại tệ kỳ hạnvà hoán đổi chính thức ra đời từ khi ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 ngày 10/01/1998.

    1.4 Sự ra đời của giao dịch quyền chọn ( Options) năm 2002

    Năm 2002 được sự cho phép của Ngân hàng Nhà nước , ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu (EXIMBANK) đã thí điểm đưa ra giao dịch quyền chọn các loại ngoại tệ mạnh như EUR, AUD, SGD, so với USD. Sau sự thí điểm thành công này các ngân hàng thương mại khác như ACB, VAB và Techcombank cũng xin phép ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện giao dịch quyền chọn. Đến nay giao dịch quyền chọn không chỉ mở rộng ra nhiều ngân hàng tham gia giao dịch mà còn mở rộng ra giao dịch quyền chọn dựa trên tỷ giá EUR/USD hay AUD/USD như lúc mới thí điểm.

    2. Tổ chức hoạt động của thị trường ngoại hối

    Thị trường ngoại hối Việt Nam chính thức hình thành vào năm 1991 khi chúng ta bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trải qua 18 năm đến nay thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại trong và ngoài nước.

    Về tổ chức và hoạt động thị trường ngoại hối Việt Nam có thể mô tả như hình vẽ dưới đây:

    Khách hàng A,…
    Khách hàng C,…
    Ngân hàng ACB,…
    Ngân  hàng VCB,…
    Khách hàng D,…
    Khách hàng B,…
    Thị trường quốc tế
    Thị trường quốc tế

    Hình 1.1: Tổ chức thị trường ngoại hối ở Việt Nam

    Hình 1.1 cho thấy ngân hàng thương mại đóng vai trò nòng cốt trên thị trường ngoại hối và đóng vai trò trung gian trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng là các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty xuất nhập khẩu. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại còn mua bán ngoại tệ với nhau trên thị trường quốc tế nhằm mục tiêu lợi nhuận và đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại tệ khi cần để giảm thiểu rủi ro.

    3. Các nghiệp vụ trên thị trường ngoại hối

    3.1 NGHIỆP VỤ HỐI ĐOÁI GIAO NGAY: ( Sport Transaction )

    3.1.1 Khái niệm:

    Nghiệp vụ hối đoái giao ngay là nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại tệ mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện ngay hoặc chậm nhất là trong hai ngày làm việc kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán.

    Ví dụ minh họa:

    Nội dung giao dịch Ngày thỏa thuận Ngày chuyển giao Tỷ giá áp dụng
    Công ty Gidomex bán 100.000 USD cho ngân hàng VCB 24/01 26/01 Tỷ giá mua USD / VND
    Công ty Import Co. mua 200.000 EUR từ ngân hàng ACB 02/02 04/02 Tỷ giá bán EUR / VND
    Tổng quát T T + 2 Tỷ giá giao ngay
    • Tỷ giá giao ngay:

    Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chức tín dụng yêt giá tại thời điểm giao dịch hoặc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo trong biên độ quy định hiện hành của ngân hàng Nhà nước.

    • Phương pháp yết giá:
    • Dành cho khách hàng là ngân hàng khác trên thị trường liên ngân hàng:
    • Yết giá theo kiểu Mỹ ( American term): là cách niêm yết tỷ giá bằng số USD trên đơn vị ngoại tệ.
    • Yết giá theo kiểu Châu Âu ( European term): là cách niêm yết tỷ giá bằng số ngoại tệ trên 1 đơn vị USD.
    • Dành cho khách hàng thông thường:
    • Yết giá trực tiếp ( direct quotation): là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị ngoại tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.
    • Yết giá gián tiếp ( indirect quotation): là phương pháp biểu thị giá trị 1 đơn vị nội tệ thông qua một số lượng ngoại tệ nhất định.
      • Ví dụ minh họa giao dịch hối đoái giao ngay:
    Khách hàng Giao dịch Khách hàng Giao dịch
    A Mua 20.000 GBP bằng CHF C Bán 20.000 GBP lấy CHF
    B Mua 28.000 EUR bằng VND D Bán 28.000 EUR lấy VND

    USD / CHF: 1,2541 – 11; GBP/USD : 1,7561 – 91

    USD / EUR : 0,8131 – 65; USD / VND : 15.888 – 90

    Khách hàng A và C giao dịch 20.000 CHF

    – Khách hàng dùng CHF mua USD theo tỷ giá bán USD / CHF = 1,2552

    – Khách hàng dùng USD vừa có được mua GBP theo tỷ giá bán GBP / USD = 1,7591

    =>TG bán GBP / CHF = ( TG bán GBP / USD) x (TG bán USD / CHF) = 1,7591 x 1,2552 = 2,2080

    Đối khoản CHF khi khách hàng mua 20.000 GBP sẽ là :

    20.000 GBP = 20.000 x 2, 2080 = 44.160 CHF

    – Lý luận tương tự, việc bán 20.000 GBP của khách hàng C cũng gồm 2 giao dịch:

    Bán GBP lấy USD theo tỷ giá  mua GBP / USD = 1,7561

    Bán USD vừa có được lấy CHF theo tỷ giá mua USD / CHF = 1,2541

    => TG mua GBP / CHF = (TG mua GBP / USD) x (TG mua USD / CHF) = 1, 7651 x 1,2541 = 2,2136

    Đối khoản EUR khi khách hàng bán 20.000 GBP sẽ là:

    20.000 GBP = 20.000 x 2, 2136 = 44.272 CHF

    – Khách hàng B và D: giao dịch 28.000 EUR :  giao dịch giữa 2 đồng tiền yết giá trực tiếp

    Khách hàng mua USD bằng VND

    TG bán EUR / VND = (TG bán USD / VND) / TG mua USD / EUR) = 15.890 / 0,8131 = 19.542

    Đối khoản khách hàng cần mua:

    28.000 EUR=28.000x 19.542 = 547.176.000 VND

    Khách hàng bán EUR lấy VND

    *) TG mua EUR / VND = (TG mua USD / VND ) / ( TG bán USD / EUR ) = 15.888 / 0,8165 = 15.459

    Đối khoản VND khi khách hàng D bán 28.000 EUR là

    28.000EUR = 28.000 x 19.459 = 544.852.000 VND

    • KINH DOANH CHÊNH LỆCH TỶ GIÁ : Arbitrages

    Mua ngoại tệ ở một thị trường và bán lại ở một thị trường khác nhằm tìm kiếm lợi nhuận.

    • Arbitrages giản đơn: mua bán diễn ra trên hai thị trường
    • Arbitrages phức tạp: việc mua bán diễn ra ở nhiều hơn 2 thị trường

    3.1.4 Ưu nhược điểm :

    • Ưu điểm:
    • Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngoại tệ của các đối tượng tham gia trên thị trường khi cần mua bán ngoại tệ.
    • Tạo điều kiện cho các ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá
    • Nhược điểm:

    Không đáp ứng được nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ của những khách hàng nào cần mua hoặc cần bán ngoại tệ nhưng việc chuyển giao ngoại tệ chưa thực hiện ngay ở hiện tại mà sẽ được thực hiện trong tương lai.

    • NGHIỆP VỤ HỐI ĐOÁI KỲ HẠN: (Forward Transaction)

    3.2.1 Khái niệm

    Giao dịch hối đoái có kỳ hạn là giao dịch trong đó 2 bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện trong tương lai.

    Ngày giá trị giao dịch kỳ hạn = ngày thỏa thuận + kỳ hạn + 2 ngày

    3.2.2 Tỷ giá kỳ hạn

    Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá áp dụng trong tương lai nhưng được xác định ở hiện tại. Tỷ giá này áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn và được xác định dựa trên cơ sở tỷ giá giao  ngay và lãi suất trên thị trường tiền tệ.

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định bởi công thức:

    F

    Trong đó:

    F: tỷ giá có kỳ hạn

    S: tỷ giá giao ngay

    rd: lãi suất của đồng định giá

    ry: lãi suất của đồng yết giá

    Dựa vào công thức trên ta có nhận xét như sau:

    Nếu lãi suất đồng tiền định giá lớn hơn lãi suất đồng tiền yết giá:

    rd>ry à 1+rd > 1+ry à (1+rd)/(1+ry)>1 à F>S khi đó người ta nói có điểm gia tăng tỷ giá kỳ hạn, còn ngược lại có điểm khấu trừ tỷ giá có kỳ hạn.

    Kết hợp hai trường hợp này chúng ta có thể tóm tắt tỷ giá có kỳ hạn như sau: F=S+ điểm kỳ hạn, trong đó điểm kỳ hạn có thể dương hoặc âm được xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền định giá và yết giá.

    Tỷ giá mua có kỳ hạn:

    Tỷ giá bán có kỳ hạn:

    Fm, Sm lần lượt là tỷ giá mua có kỳ hạn và tỷ giá mua giao ngay.

    Fb, Sb lần lượt là tỷ giá bán có kỳ hạn và tỷ giá bán giao ngay.

    Ltg (VND), Lcv (VND) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay đồng Việt Nam.

    Ltg (NT), Lcv (NT) lần lượt là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay ngoại tệ.

    n là số ngày hợp đồng kỳ hạn.

    • Ví dụ minh họa

    Ngày 04/08 tại ngân hàng  ACB có 2 khách hàng liên hệ giao dịch ngoại tệ kỳ hạn:

    Công ty Saigonimex bán 90.000 EUR kỳ hạn 6 tháng

    Công ty Cholimex mua 100.000 EUR kỳ hạn 3 tháng

    Thông tin:

    Tỷ giá giao ngay USD/VND: 15.888 – 15.890

    Tỷ giá giao ngay EUR/USD: 1, 2248 – 1, 2298

    Lãi suất kỳ hạn 3 tháng và kỳ hạn 6 tháng của VND và EUR như sau:

    Kỳ hạn EUR (%/ năm) VND (%/ tháng)
    Tiền gửi Cho vay Tiền gửi Cho vay
    3 tháng 4,5 6,2 0,65 0,96
    6 tháng 4,8 6,5 0,68 0,98

    Vào ngày thỏa thuận, dựa vào thông tin tỷ giá và lãi suất trên đây ACB sẽ xác định và chào tỷ giá kỳ hạn cho khách hàng như sau:

    Đối với Saigonimex, ACB chào tỷ giá mua EUR / VND kỳ hạn 6 tháng.

    Tỷ giá mua giao ngay:

    EUR / VND = EUR / USD x USD / VND = 1,2248 x 15.888 =  19.459

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức :

    Đối với Cholimex, ACB chào tỷ giá bán EUR / VND kỳ hạn 3 tháng.

    Tỷ giá bán giao ngay:

    EUR / VND = EUR / USD x USD / VND = 1,2298 x 15.890 = 19.542

    Tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức:

    Nếu ngân hàng và khách hàng đồng ý giao dịch thì vào ngày đáo hạn  sẽ thực hiện chuyển giao ngoại tệ như sau:

    Saigonimex giao cho ngân hàng 90.000 EUR, ngân hàng thanh toán cho Saigonimex số tiền VND bằng: 90.000 x 19.6221 = 1.765.890.000 VND

    Cholimex nhận 100.000 EUR và thanh toán cho ngân hàng số tiền bằng:

    • 00 x 19.885 = 1.988.500.000 VND

    3.2.4 Ưu, nhược điểm

    • Ưu điểm:
    • Giao dịch hối đoái có kỳ hạn được coi như là một công cụ phòng chống rủi ro do biến động của tỷ giá hối đoái cho các đối tượng tham gia trên thị trường hối đoái
    • Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư khảo sát biến động tỷ giá trên thị trường, nế dự đoán ngoại tệ tăng giá trong tương lai thì quyết định nên mua kỳ hạn và ngược lại dự đoán ngoại tệ có xu hướng giảm thì tốt nhất nên bán kỳ hạn nhằm hạn chế sự thiệt hại vể thu nhập khi tỷ giá biến động.
    • Nhược điểm:
    • Giao dịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng.
    • Hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng cần mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại thì không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ.
    • Giao dịch kỳ hạn cũng trở thành công cụ đầu cơ trên thị trường hối đoái nhằm để kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá.
      • NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI (Swaps Transaction)

    3.3.1 Khái niệm:

    Giao dịch hoán đổi ngoại hối là thỏa thuận giữa ngân hàng với một chủ thể khác về việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và bán ra là khác nhau.

    • Trong giao dịch hoán đổi hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau một số nội dung sau:
    • Thời hạn giao dịch: thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng, nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày lễ và chủ nhật thì hai bên sẽ thỏa thuận chọn một ngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế.
    • Điều kiện thực hiện: giao dịch hoán đổi áp dụng với những khách hàng có đủ các điều kiện sau: có giấy phép kinh doanh, xuất trình chứng từ liên quan chứng minh nhu cầu mua ngoại tệ, mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, trả phí giao dịch theo quy định, duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng, ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với ngân hàng.
    • Ngày thanh toán: bao gồm 2 loại ngày khác nhau, ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay , ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn.
    • Xác định tỷ giá hoán đổi: một hợp đồng hoán đổi liên quan đến 2 tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn.
    • Quy trình thực hiện:
    • Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng.
    • Căn cứ vào cung cầu mua bán ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụ thể cho khách hàng.
    • Nếu khách hàng đồng ý thì hai bên sẽ ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ.
      • Ví dụ minh họa

    Saigonimex có nhu cầu giao dịch:

    • Bán 90.000 USD giao ngay để lấy VND chi tiêu ở thời điểm hiện tại.
    • Mua 80.000 USD kỳ hạn để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn sau 3 tháng nữa.

    Giả sử Saigonimex chọn VCB để thực hiện giao dịch hoán đổi. Vào ngày hiệu lực VCB có thông tin tỷ giá USD / VND : 15.805 – 15.810 và lãi suất USD : 4,6 – 5,2; VND: 7,8 – 10,6. Hai bên thỏa thuận giao dịch hoán đổi với thời hạn 3 tháng và trị giá 80.000 USD ( hoặc 90.000 USD) như sau:

    Vào ngày hiệu lực:

    • Ngân hàng mua giao ngay 80.000 USD của Saigonimex theo tỷ giá mua

    USD/VND = 15.805 và  nhận 80.000 USD.

    • Saigonimex nhận được:

    80.000 x 15.805 = 1.264.400.000 VND và chi ra 80.000 USD.

    Ngân hàng xác định và chào tỷ giá bán kỳ hạn ( Fb) cho Saigonimex.

    Tỷ giá này bằng:

    15.810(10,6 – 5,2)x90

    = 15.810 +                                                   = 16.023

    100 x 360

    Vào ngày đáo hạn ( 3 tháng sau):

    • Ngân hàng giao lại 80.000 USD cho Saigonimex và nhận số VND bằng:

    80.000 x 16.023 = 1.281.840.000 VND.

    • Saigonimex nhận lại 80.000 USD và chi ra số VND bằng:

    80.000 x 16.023 = 1.281.840.000 VND.

    3.3.3 Ưu, nhược điểm

    • Ưu điểm:
    • Đối với khách hàng:
    • Thỏa mãn được nhu cầu ngoại tệ hoặc nội tệ của mình ở thời điểm hiện tại
    • Tránh được rủi ro biến động tỷ giá
    • Đối với ngân hàng:
    • Đáp ứng được nhu cầu của khách hàng góp phần nâng cao uy tín và gia tăng giá trị thương hiệu của mình
    • Kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giá mua và bán ngoại tệ.
    • Nhược điểm:
    • Đánh mất đi cơ hội kinh doanh nếu như tỷ giá biến động trái với dự đoán của khách hàng.
    • Nó chỉ quan tâm đến tỷ giá ở hai thời điểm: thời điểm hiệu lực và thời điểm đáo hạn, mà không quan tâm đến sự biến động tỷ giá trong suốt quảng thời gian giữa 2 thời điểm đó.
    • NGHIỆP VỤ GIAO DỊCH TƯƠNG LAI ( Futures Transaction)

    3.4.1 Khái niệm:

    Giao dịch ngoại tệ tương lai là giao dịch mua hoặc bán số lượng ngoại tệ theo tỷ giá xác định do 2 bên thỏa thuận, việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện trong tương lai thông qua Sở giao dịch hối đoái

    • Đặc điểm:
    • Có tính thanh khoản cao hơn hợp đồng kỳ hạn bởi vì phòng giao hoán sẵn sàng đứng ra “ đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu.
    • Là công cụ thích hợp cho các nhà đầu cơ.
      • Ví dụ minh họa:

    Nhà đầu cơ thị trường giao sau dự báo vài ngày tới CHF sẽ lên giá so với USD. Nhằm kiếm tiền từ cơ hội này, vào sáng ngày thứ 3, một nhà đầu tư trên thị trường giao sau Chicago mua một hợp đồng giao sau trị giá 125.000 CHF với tỷ giá 0,75 USD cho 1 CHF. Hợp đồng này sẽ đến hạn vào chiều ngày thứ năm. Để bắt đầu, trước tiên nhà đầu tư phải bỏ 2.565 USD ( bảng 2) vào tài khoản ký quỹ ban đầu. Biết rằng mức ký quỹ tối thiểu nhà đầu cơ phải duy trì đối với hợp đồng giao sau CHF là 1.900 USD, nhà đầu cơ phải sẵn sàng thêm tiền vào nếu mức ký quỹ của mình xuống đến dưới mức 1.900 USD. Sau khi mua hợp đồng giao sau, nhà đầu cơ sốt ruột theo dõi diễn biến tình hình thị trường. Bởi vì việc thanh toán diễn ra hàng ngày, có 3 điều sẽ xảy ra:

    Thứ nhất, hàng ngày nhà đầu cơ sẽ nhận được tiền hoặc sẽ chi tiền ra tùy theo hợp đồng lời hay lỗ.

    Thứ hai, hợp đồng giao sau với giá 0,75 USD / CHF sẽ bị hủy bỏ vào cuối ngày giao dịch.

    Thứ ba, nhà đầu cơ sẽ nhận được hợp đồng giao sau theo giá mới được thiết lập vào cuối ngày giao dịch.

    Thời gian Hoạt động Thanh toán
    Sáng ngày thứ ba ·        Nhà đầu tư mua hợp đồng giao sau, đến hạn vào chiều ngày thứ năm với tỷ giá 0,75 USD / CHF

     

    ·        Nhà đầu tư ký quỹ 2.565 USD

    Chưa xảy ra
    Cuối ngày thứ ba Giá CHF tăng đến 0,755 USD, vị trí của nhà đầu tư được ghi nhận trên thị trường Nhà đầu tư nhận:

     

    125.000 x ( 0,755 – 0,75) = 625 USD

    Cuối ngày thứ tư Giá CHF giảm còn 0,752 USD, vị trí mới của nhà đầu tư được ghi nhận Nhà đầu tư phải trả:

     

    125.000 x (0,755 – 0,722)

    = 375 USD

    Cuối ngày thứ năm Giá CHF giảm còn 0,74 USD

     

    ·        Hợp đồng đến hạn thanh toán

    ·        Nhà đầu tư nhận ngoại tệ chuyển giao

    Nhà đầu tư phải trả:

     

    1)     125.000 x (0,752 – 0,74)

    = 1.500 USD

    2)     125.000 x 0,74

    = 92.500 USD

    • Ưu nhược điểm:
    • Ưu điểm:
    • Sẵn sàng cung cấp những hợp đồng có giá trị giá nhỏ.
    • Cho phép các bên tham gia có thể sang nhượng lại hợp đồng ở bất kỳ thời điểm nào trước khi hợp đồng hết hạn.
    • Nhược điểm:
    • Chỉ cung cấp giới hạn cho một vài ngoại tệ mạnh và môt vài ngày chuyển giao ngoại tệ trong năm.
    • Hợp đồng giao sau là hợp đồng bắt buộc phải thực hiện khi đến hạn chứ không cho người ta quyền được chọn như trong hợp đồng quyền chọn. ( Khi thị trường biến động bất lợi nhà đầu cơ không có quyền tự ý rút khỏi thị trường).
      • NGHIỆP VỤ QUYỀN CHỌN (Options Transaction)

    3.5.1 Khái niệm:

    Quyền chọn là một công cụ tài chính mà cho phép người mua nó có quyền, nhưng không bắt buộc, được mua hay bán một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn được xác định trước.

    Để có thể hiểu rõ khái niệm quyền chọn, giải thích một số thuật ngữ liên quan:

    • Người mua quyền( holder): Người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và có quyền yêu cầu người bán có nghĩa vụ thực hiện quyền chọn theo ý mình.
    • Người bán quyền ( writer): Người nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, do đó, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua quyền.
    • Tỷ giá thực hiện: tỷ giá sẽ được áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyền chọn.
    • Thời hạn của quyền chọn: thời hạn hiệu lực của quyền chọn. Quá thời hạn này quyền chọn không còn giá trị.
      • Đặc điểm:

    Trong nghiệp vụ này người mua đóng vai trò chủ động, có thể không  thực hiện quyền chọn khi biến động giá cả trên thị trường bất lợi cho mình.

    Tương tự như giao dịch kỳ hạn thì giao dịch option cũng có hai tạp quán:

    • Option theo kiểu Châu Âu: thì ngày thực hiện hợp đồng chính là ngày đến hạn, ngày hiệu lực của hợp đồng.
    • Option theo kiểu Mỹ: thì ngày thực hiện hợp đồng là ngày đến hạn hiệu lực của hợp đồng hoặc trước đó.
    • Các loại quyền chọn:
      • Quyền chọn mua:

    Người mua quyền chọn mua ngoại tệ vào một kỳ hạn trong tương lai, phải trả một khoản chi phí cho mỗi quyền chọn mua để được quyền chọn mua một số ngoại tệ nhất định theo tỷ giá quy định, nhưng không bắt buộc vào ngày đến hạn thanh toán.

    Ví dụ : Một nhà đầu tư cần USD trong 3 tháng tới, để thanh toán nợ đúng hạn. Trong điều kiện dự đoán USD có khả năng tăng giá, thì ngay từ bây giờ nhà nhập khẩu có thể mua quyền chọn mua USD trên thị trường với chi phí quyền chọn là 0.0050 SGD cho mỗi USD, tỷ giá thực hiện là 1.5850.

    • Đối với người mua quyền chọn mua:

    Có thể biểu thị qua biểu đồ sau:                                        tỷ giá th hiện =1.5850

    lãi, lỗ

     

     

                                                                                                                                                                                              tỷ giá giao ngay

    1.5800                1.5850        1.5900         1.5950

    lỗ

    lỗ tối đa = phí

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5900 Lợi nhuận gia tăng và không có giới hạn khi tỷ giá giao ngay tăng lên.
    Rs = 1.5900 Điểm hòa vốn
    1.5850 – 1.5900 Lỗ giảm dần khi tỷ giá giao ngay gia tăng.
    Rs < 1.5850 Lỗ có giới hạn tối đa và bằng phí.
    • Đối với người bán quyền chọn mua:

    profit

    tỷ giá giao ngay

    1.5800         1.5850         1.5900          1.5950

    loss

    Điểm hòa vốn = 1.5850 + 0.0050 = 1.5900

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5900 Lỗ gia tăng khi tỷ giá giao ngay tăng và không có giới hạn.
    Rs = 1.5900 Điểm hòa vốn
    1.5850 – 1.5900 Lợi nhuận gia tăng khi tỷ giá giao ngay giảm.
    Rs < 1.5900 Lợi nhuận gia tăng và tối đa và bằng phí
    • Quyền chọn bán:

    Người mua quyền chọn bán ngoại tệ được quyền bán một số lượng ngoại tệ nhất định theo giá cả quy định ( tại thời điểm ký kết hợp đồng) vào ngày đến hạn thanh toán nhưng không bắt buộc.

    Ví dụ : Một nhà xuất khẩu sẽ thu được USD trong 3 tháng tới. Để tránh sự biến động USD giảm giá, ngay từ bây giờ anh ta quyết định mua quyền bán ngoại tệ với tỷ giá USD/SGD 1.5850, đồng thời phải trả phí là  0.0050 SGD cho quyền chọn bán mỗi USD trên thị trường.

    • Đối với người mua quyền chọn bán:

    Có thể biểu thị qua sơ đồ sau

    profit                                                                                      Tỷ giá thực hiện

    tỷ giá giao ngay

    1.5750          1.5800        1.5850       1.5900          1.5950

    Điểm hòa vốn = 1.5850 – 0.0050

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5850 Lỗ tối đa cho đến khi bằng phí
    1.5800 – 1.5850 Lỗ gia tăng dần khi tỷ giá giao ngay gia tăng
    Rs = 1.5800 Điểm hòa vốn
    Rs < 1.5800 Lợi nhuận gia tăng và không có giới hạn khi tỷ giá giao ngay giảm dần.
    • Đối với người bán quyền chọn bán:

    Lọi nhuận tối đa = phí

    profit                      tỷ giá thực hiện

    tỷ giá giao ngay

    1.5750        1.5800        1.5850         1.5900         1.5950

    loss                                            điểm hòa vốn

    Ở thời điểm thực hiện hợp đồng có các trường hợp xảy ra:

    Tỷ giá giao ngay Kết quả
    Rs > 1.5850 Lợi nhuận tối đa bằng phí
    1.5800 – 1.5850 Lợi nhuận gia tăng khi tỷ giá giao ngay gia tăng
    Rs = 1.5800 Điểm hòa vốn
    Rs < 1.5800 Lỗ gia tăng khi tỷ giá giao ngay giảm và không có giới hạn
    • Ưu, nhược điểm:
    • Ưu điểm:
    • Kiểm soát được rủi ro ngoại hối.
    • Tận dụng được cơ hội đầu cơ nếu như tỷ giá biến động thuận lợi.
    • Nhược điểm:

    Tốn chi phí mua quyền chọn cho dù có thực hiện hay không thực hiện quyền chọn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    CHƯƠNG II

    THỰC TRẠNG KINH DOANH NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM

     

    1.     Những con số và sự kiện đã xảy ra ở Việt Nam những năm gần đây:

    Năm 2008, thị trường ngoại hối từng có những đợt biến động mạnh và căng thẳng, tỷ giá USD / VND trên thị trường tự do có lúc lên sát 19.000 VND. Những diễn biến này được đặt trong những áp lực cơ bản: nhập siêu tăng kỷ lục và lạm phát tăng rất mạnh.

    Theo phản ánh của các ngân hàng, có một thực trạng chung là nhiều doanh nghiệp xuất khẩu khi thu ngoại tệ về không chịu bán lại. Đây là một lựa chọn  có mục đích chính là để dự phòng rủi ro tỷ giá trong tương lai, bởi chính các doanh nghiệp cũng cần ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu hàng hóa phục vụ cho sản xuất để xuất khẩu, một mục đích khác là gắm giữ có kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, hay nói cách khác mức giá các ngân hàng trả theo quy định hiện nay tỏ ra chưa hấp dẫn doanh nghiệp.

    Một nguyên nhân khác của việc doanh nghiệp không chịu bán ngoại tệ là do “ tác dụng phụ” của chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn VND. Lãi suất vay VND sau hỗ trợ chỉ khoảng 5% – 6%/ năm, trong khi vay USD cũng có lãi suất gần tương ứng  và còn phải chịu rủi ro tỷ giá khi mua ngoại tệ trả nợ trong tương lai. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp tìm mua USD thay vì vay USD.

    .

    Trước tình hình ngoại tệ của những thành viên trong hệ thống, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện vai trò bán ra hỗ trợ. Nhưng dường như đây vẫn chưa phải là một cách giải quyết có tính căn bản, khi sự ách tắc nguồn ngoại tệ găm giữ tại các doanh nghệp xuất khẩu vẫn chưa thực sự được tháo gỡ.

    Đáp ứng được yêu cầu hợp lý của thị trường là linh hồn của chính sách. Điều này còn thiếu ở chính sách tỷ giá trong thời gian qua, khi doanh nghiệp có ngoại tệ không chịu bán, doanh nghiệp mua ngoại tệ tìm kiếm khó khăn. Cơ chế trần tỷ giá hiện nay vân chưa tạo được điều kiện để họ hài lòng đến với nhau.

    Tỷ giá bình quân liên ngân hàng liên tục tăng cao, giá USD niêm yết của các ngân hàng thương mại đã lên mức cao nhất trong lịch sử. Từ cuối tháng 8, tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố liên tục tăng. Ngày 9/9, sau hơn 8 tháng, tỷ giá này chính thức vượt mốc 16.980 VND và ở mức 16.981 VND. Ngày 10/9, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tiếp tục tăng lên mức 16.983 VND.

    Giá USD mua vào – bán ra của các ngân hàng thương mại niêm yết cũng đồng loạt lên mức cao nhất từ trước tới nay, kịch trần 5% biên độ cho phép theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cùng áp ở mức 17.832 VND.

    Trong lịch sử, tỷ giá bình quân liên ngân hàng cao nhất ghi nhận ở mức 16.989 VND của ngày 25/12/2008 – ngày mà lần đầu tiên ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng một bước 3%, từ mức 16.494 VND. Từ thời điểm đó đến trung tuần tháng 2/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được áp dụng quanh mốc 16.980 VND. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, biên độ tỷ giá quy định ở mức +/-3% nên giá USD của các ngân hàng thương mại phổ biến chỉ ở duới 17.500 VND.

    Từ cuối tháng 3/2009, tỷ giá bình quân liên ngân hàng bắt đầu giảm mạnh, có ngày giảm gần 10 VND. Đây được xem là một sự điều chỉnh cân đối với chính sách biên độ mới, khi từ ngày 24/3/2009 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu nới niên độ từ +/- 3% lên +/-5%. Từ cuối tháng 7 trở lại đây, tỷ giá bình quân liên ngân hàng  bắt đầu tăng trở lại, hiện vẫn thấp hơn so với những ngày cuối năm 2008, nhưng do có biên độ lớn hơn nên giá USD của các ngân hàng đã lên mức cao nhất từ trước tới nay.

    Những tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối cũng căng thẳng nhưng những áp lực trên đã không còn quá lớn.

    7 tháng đầu năm, nhập siêu chỉ mới ở mức 3,38 tỷ USD, và theo mục tiêu Bộ Công Thương đặt ra , năm nay nhập siêu sẽ dưới 20% kim ngạch xuất khẩu, cả năm sẽ khoảng 8 – 10 tỷ USD, rất thấp so với sự đột biến 18 tỷ USD năm 2008.

    Cũng trong 7 tháng đầu năm, theo số liệu của Cục Thống Kê, chỉ số giá tiêu dùng ( CPI) chỉ tăng 3,22% so với cuối năm 2008, trong khi đó tỷ giá USD / VND tăng 6,22%. Mức tăng của hai chỉ số này vẫn đang đảm bảo yếu tố có lợi và hỗ trợ cho xuất khẩu. Áp lực lạm phát đối với tỷ giá cũng không quá lớn khi nhiều dự báo tin tưởng khả năng chỉ tăng dưới 10%, thậm chí chỉ khoảng 7% – 8% trong năm này.

    Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khẳng định có đủ khả năng để can thiệp thị trường khi cần thiết với nguồn ngoại tệ đủ mạnh. Hiện dự trữ ngoại tệ ở khoảng trên dưới 22 tỷ USD. Tuy nhiên, nhà điều hành không thể dùng phương pháp tưởng như đơn giản là tung một nguồn ngoại tệ lớn cho thị trường để xoa dịu sự căng thẳng của cầu, bởi theo giải thích của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, điều hành chính sách tỷ giá con phải đảm bảo hài hòa các lợi ích, yêu cầu khác của nề kinh tế, về việc tung một nguồn ngoại tệ lớn ra thị trường còn có những hệ lụy…

    Vừa qua, với gợi ý của ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm mạnh lãi suất cho vay USD xuống phổ biến dưới 3%/năm để có thể tạo hấp dẫn đối với doanh nghiệp vay vốn.

    Ở một giải pháp khác, theo thông tin tại cuộc đối thoại với doanh nghiệp hồi trung tuần tháng 5/2009, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tổ chức đàm phán với một số doanh nghiệp lớn với mục đích thúc đẩy việc bán lại USD, vay USD cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây chỉ là một giải pháp tình thế và cục bộ

    Ngày 5/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 16.944 VND/USD, tăng 2 đồng so với hôm qua.

    Theo đó, tỷ giá giao dịch của khối ngân hàng thương mại cũng tăng 2 đồng, lên mức 17.789 VND / USD (mua vào) – 17.791 VND/USD (bán ra). Đây vẫn là mức rất cao và cho thấy tình hình thị trường USD chưa thực sự hết căng thẳng.

    Trong tình hình đó, những con số mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho thấy, chỉ sau 2 tháng, từ xuất siêu hơn 1,6 tỷ USD, Việt Nam đã chuyển sang nhập siêu ở mức tương đương, đạt 1,5 tỷ USD.

    Trong suốt những biến động từ đầu năm, hầu hết ở các thời điểm tỷ giá USD / VND của các ngân hàng thương mại đều ở sát trần biên độ cho phép, việc đẩy giá mua vào bằng đúng giá bán ra cũng đã kéo dài kể từ ngày 11/6/2009 trở lại đây.

    Trong tháng 7 và tháng 8, tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ ( chủ yếu bằng USD) đã tăng khá nhanh, lần lượt tăng 1,2% và 1,52%. Lãi suất huy động USD từ cuối tháng 8 đến nay cũng tăng khá mạnh, một số ngân hàng đã đẩy mức cao nhất lên đến 4% – 4,15%/ năm.

    Theo số liệu của Tổng cục thống kê, chỉ số giá USD tháng 8/2009 đã tăng 6,36% so với tháng 12/2008, tăng 8,95% so với cùng kỳ năm 2008.

    Trong 6 tháng đầu năm 2010: Dư nợ cho vay ngoại tệ của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam 6 tháng đầu năm nay tăng khá lớn so với cuối năm ngoái. Các khoản vay 3-6 tháng bắt đầu đến hạn trả nợ dần từ nay đến cuối năm. Do vậy, giá USD nhích lên, phổ biến ở mức 19.100 USD tại các ngân hàng

    6 tháng đầu năm cán cân thanh toán quốc tế tổng thể được cải thiện qua từng tháng (thặng dư trong tháng 4), đồng thời Ngân hàng Nhà nước đã mua được một lượng ngoại tệ đáng kể trong quý II để tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối. Trong 6 tháng đầu năm 2010, cán cân vãng lai thâm hụt 3,6 tỷ USD nhưng cán cân vốn thặng dư khoảng 7 tỷ USD.

    Từ ngày 23/6 đến ngày 2/7/2010, tỷ giá bán USD / VND trên thị trường tự do tăng từ 18.890 VND / USD lên 19.140 VND/USD, tỷ giá bán USD / VND của ngân hàng thương mại niêm yết tăng từ 18.990 VND / USD lên mức kịch trần 19.100 VND / USD.

    2.     Hạn chế trong kinh doanh ngoại tệ:

    Mất cân đối giữa khách hàng nhập khẩu và khách hàng xuất khẩu nên cân đối ngoại tệ chưa ổn định và vững chắc.

    Lượng ngoại tệ mua từ khách hàng xuất khẩu (XK) có nguồn thu ngoại tệ bình quân mới chỉ đạt 7-8% kim ngạch XK nên chưa đảm bảo khả năng đáp ứng đủ 100% nhu cầu về ngoại tệ trong mọi thời điểm.

    Điều kiện kỹ thuật của hệ thống INCAS chưa hoàn thiện nên chưa triển khai được đầy đủ các loại hình sản phẩm giao dịch hối đoái mà NHNN cho phép.

    Các sản phẩm giao dịch hối đoái là những sản phẩm có điều kiện, gắn chặt với các quy định cụ thể về quản lý ngoại hối, đối tượng và mục đích sử dụng sản phẩm bị hạn chế trong một phạm vi nhất định.

    Trên thực tế, một bộ phận cán bộ KDNT còn chưa nắm vững các quy định nghiệp vụ nên khi tác nghiệp còn lúng túng. Cá biệt, có cán bộ đã cố ý làm trái quy định, quy trình nghiệp vụ gây thua lỗ lớn.

    Ngoài ra, các quy định, cơ chế quản lý, kiểm soát rủi ro trong lĩnh vực KDNT còn chưa đồng bộ nên khả năng phát hiện kịp thời sai phạm và ngăn chặn rủi ro chưa tốt.

    3.Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong KDNT 

    a. Đẩy mạnh mua bán ngoại tệ có kỳ hạn:

    Nghiệp vụ này giúp tránh được rủi ro kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá thay đổi theo chiều hướng bất lợi. Giao dịch hối đoái kỳ hạn là giao dịch hai bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một mức tỷ giá xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.

    b. Thực hiện hoán đổi trong mua bán ngoại tệ:

    Nghiệp vụ bao gồm hai hoạt động giao ngay và kỳ hạn theo hướng ngược lại với giao ngay. Mua ngoại tệ theo giao ngay và bán ngoại tệ đó theo kỳ hạn hoặc ngược lại. Mục đích của nghiệp vụ này là cân đối trạng thái tại một thời điểm, tránh được sự mất cân đối ngoại tệ tại một thời điểm nhất định, đáp ứng nhu cầu khách hàng và thu lợi nhuận. Swap không làm thay đổi trạng thái thực của một ngân hàng nhưng Swap có thể kéo dài vị thế của đồng tiền muốn đầu cơ. Tất nhiên sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn nếu không đặt lệnh giới hạn lỗ. Thời hạn để Swap một giao dịch trong đầu cơ không nên quá 6 tháng.

    c. Tăng quyền lựa chọn hối đoái phù hợp cho các NHTMCP:

    Người mua có thể mua (quyền mua) hay bán (quyền bán) một khối lượng ngoại tệ nhất định tại một thời điểm theo giá đã ấn định. Điểm khác biệt với nghiệp vụ kỳ hạn là người mua quyền này phải trả một khoản phí mua quyền và có thể không thực hiện hợp đồng khi đến ngày giá trị. Mua quyền chọn sẽ tránh được rủi ro tỷ giá khi giá biến động theo hướng bất lợi, biết trước khoản lỗ tối đa (là phí mua quyền) và có thể duy trì được khả năng tạo ra lợi nhuận khi tỷ giá biến động theo đúng hướng đã dự đoán.

    d. Cần đa dạng hóa các loại tiền tệ: 

    Đa dạng hóa tiền tệ cũng là cách phòng tránh rủi ro trong hoạt động KDNT Đầu cơ chỉ một loại ngoại tệ với một số lượng quá lớn có thể sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn nếu đi đúng với xu hướng biến động của tỷ giá. Bên cạnh đó, tiềm ẩn một rủi ro rất lớn và cũng sẽ không lường hết hậu quả. Người ta nói “không nên để tất cả quả trứng trong cùng một rổ” quả thật không sai.

    đ. Xây dựng chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể:

    Ngày nay bất cứ ngân hàng nào cũng có chiến lược kinh doanh cụ thể trong một giai đoạn nhất định. Do dó nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ cũng cần có hoạch định chiến lược rõ ràng kể cả thị trường ngoài nước và trong nước. Sự biến động của tỷ giá thường không theo một chu kỳ nào nhất định đôi khi dao động chỉ vì một tin đồn hay là lòng tin của dân chúng bị giảm sút về nền kinh tế, về chính phủ. Tuy vậy, sự biến động này cũng có những chu kỳ theo sự phát triển của nền kinh tế khu vực, giai đoạn phát triển, khả năng phục hồi, kỳ vọng hay là thời điểm kết sổ của quốc gia như ngày 31.3 là ngày kết thúc năm tài chính của Nhật, các công ty sẽ chuyển lợi nhuận về nước. Chính vì thế, NH cần có kế hoạch kinh doanh trong từng giai đoạn. Tùy theo thời điểm có thể thay đổi phù hợp.

    e. Xây dựng các hạn mức kinh doanh ngoại tệ, khối lượng giao dịch, giới hạn loại tiền kinh doanh một cách hợp lý và linh hoạt.

    Một biện pháp hạn chế rủi ro hữu hiệu là sử dụng hạn mức trong hoạt động KDNT. Hạn mức là công cụ để quản lý rủi ro. Hạn mức do mỗi ngân hàng đặt ra tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng phải xây dựng và duy trì một hạn mức chi tiết và rõ ràng.

    g. Tăng vốn tự có để tăng hạn mức kinh doanh cũng như khả năng trong thanh toán quốc tế và các nghiệp vụ khác.

    h. Nâng mức vốn điều lệ tối thiểu của các NHTMCP.

    Để tăng vốn điều lệ tối thiểu, các NHTMCP có thể tự chọn các phương pháp như tự phát hành cổ phiếu trong thời hạn quy định; hoặc sáp nhập với một hoặc một số NHTMCP khác; hoặc nếu không thể thực hiện được các cách trên thì sẽ phải tự giải thể. Nhìn chung, việc tăng vốn điều lệ tối thiểu có một số ưu điểm khác như xóa sổ bớt một số NH hoạt động yếu kém vốn là mối đe dọa chung của cả hệ thống ngân hàng. Đồng thời nâng cao sức mạnh tài chính của từng NH, tạo sự vững chắc chung cho toàn hệ thống.

    i. Nâng cao hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh, nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng.

    Một ngân hàng có uy tín không chỉ thể hiện qua cơ cấu tổ chức, trình độ kinh nghiệm làm việc, lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có, thanh toán đúng hạn mà còn được đánh giá qua vốn hoạt động. Mức vốn thấp sẽ hạn chế NH trong việc mở rộng nghiệp vụ như option hay thành lập các công ty trực thuộc như công ty kiều hối, công ty chứng khoán.

    Tăng vốn tự có sẽ giúp tăng hạn mức trong các giao dịch của NH từ hạn mức trong KDNT đến mức bảo lãnh trong L/C (tín dụng thư).

    1. Nâng cao trình độ và kỹ năng của đội ngũ cán bộ nhân viên hoạt động trong các ngân hàng TMCP.

    Để NH ngày càng vững mạnh đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường nội địa và quốc tế đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân viên giỏi nghiệp vụ, năng động, tìm tòi học hỏi, tuân thủ đúng qui định của NH và có đạo đức kinh doanh. Để đạt được mục tiêu trên các ngân hàng phải quan tâm đến công tác quản trị và đào tạo nhân viên về nghiệp vụ, ngoại ngữ, thực hiện tốt công tác tuyển dụng, chế độ khen thưởng, thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn cho nhân viên KDNT đồng thời hỗ trợ của các phòng nghiên cứu và quan hệ khách hàng trong hoạch định chiến lược.

    l. Xây dựng mô hình kiểm soát và quản lý hoạt động KDNT hiệu quả.

    Hoạt động kiểm soát thật sự chưa được quan tâm đúng mức trong các ngân hàng. Bổ nhiệm người đúng tiêu chuẩn, đào tạo cán bộ kiểm soát tương xứng với nhiệm vụ chính là việc cần phải làm ngay nhằm đảm bảo kiểm soát đúng và dự báo kịp thời rủi ro phát sinh.

    1. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ và chuyên môn hóa công tác xử lý rủi ro.

    Về cơ cấu quản lý rủi ro, các NH thường không có phòng chuyên trách để quản lý rủi ro. Nhiệm vụ này đang được phòng kiểm soát nội bộ quản lý. Trách nhiệm của phòng kiểm soát nội bộ là giám sát việc thực hiện các qui định kinh doanh của ngân hàng chứ không phải là thực hiện công tác quản lý rủi ro. Hiện nay các NH còn thiếu cơ chế giám sát, vì thế các NH cần xây dựng bộ máy quản lý rủi ro. Ngoài yếu tố về nhân sự, các NH cần phải xây dựng các qui trình, qui chế hoạt động, chỉ tiêu định lượng giá trị rủi ro và kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động nhất là trạng thái mở trong KDNT.

    1. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra kiểm soát. Thực hiện sáp nhập hoặc mạnh dạn xóa sổ những ngân hàng hoạt động yếu kém.

    Công tác thanh tra kiểm tra được tiến hành từ phía NHNN có ý nghĩa rất quan trọng, qua đó vì những NH hoạt động kém luôn là mối lo không những của các khách hàng gửi tiền mà còn là nguy cơ chung cho cả hệ thống NH do tác động dây chuyền của những biến động có thể xảy ra. Vì vậy, xác định các NH hoạt động kém, có nguy cơ thất bại cao để chuẩn bị các biện pháp xử lý thích hợp là việc rất cần thiết. để chấn chỉnh hoạt động của các NH TMCP nhưng cần phải thực hiện nghiêm túc và tích cực hơn nữa trong thời gian tới.

    1. Xác định hạn mức hợp lý cho từng khách hàng và thực hiện hoạt động tư vấn cho khách hàng trong họat động KDNT.

    v. Trích lập Quỹ rủi ro.

    Ngoài một số phương pháp nhằm hạn chế rủi ro, NH cần trích một phần lợi nhuận để dành làm quỹ rủi ro về KDNT. Cũng giống như, hoạt động tín dụng, hàng năm đều phải trích một phần lợi nhuận để bù đắp và phòng ngừa cho những khoản nợ khó đòi hay tiểm ẩn nguy cơ khó thu hồi nợ. Trong KDNT, rủi ro luôn luôn xuất hiện đồng thời với giao dịch mở nghĩa là trạng thái ngoại tệ không cần bằng. Trích lập quĩ rủi ro có thể là 10% -20% lợi nhuận của năm đó về KDNT.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Luận văn Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-B%C3%A0i-8.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán (Bài 8)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại

    tệ và chứng khoán (Bài 8)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Bên cạnh các giải pháp vĩ mô và vi mô, nhà nước và các tổ chức cung cấp dịch vụ quyền chọn cần thực hiện một số giải pháp khác không kém phần quan trọng.

    Giải pháp kỹ thuật

    Bên cạnh các giải pháp nêu trên làm tiền đề cho sự phát triển của thị trường options, thì việc giải quyết các vấn đề về hệ thống hạ tầng-kỹ thuật đóng vai trò không kém phần quan trọng. Vì giao dịch quyền chọn là một quy trình giao dịch phức tạp, nên rất cần sự hỗ trợ từ các hệ thống kỹ thuật để các giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ và khách hàng. Giải pháp cho vấn đề này có thể thực hiện như sau:

    Các NHTM, công ty chứng khoán cần trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho hoạt động kinh doanh quyền chọn. Thị trường quyền chọn là thị trường dựa vào các thị trường cơ sở khác (ngoại tệ, chứng khoán, vàng, lãi suất…). Các thị trường này hầu hết đều có độ rủi ro rất cao. Do đó, thông tin về các thị trường tài sản cơ sở như thị trường ngoại hối, thông tin chứng khoán…đóng một vai trò rất quan trọng trong các quyết định giao dịch quyền chọn của khách hàng. Vì vậy, đòi hỏi các tổ chức cung cấp dịch vụ phải có một hệ thống cung cấp thông tin thật hiệu quả, tức thời.

    Các NHTM, công ty chứng khoán… cần thiết lập hệ thống nối mạng với các hãng truyền thông tài chính nổi tiếng trên thế giới như Reuters, Bloomberg…để đáp ứng

    nhu cầu thông tin cho khách hàng. Số lượng máy nối mạng cần gia tăng, hiện đại dần theo thời gian khi đội ngũ nhân viên đã được đào tạo chuyên sâu và thuần thục trong việc sử dụng.

    Bên cạnh đó, việc định giá quyền chọn và phân tích thị trường cũng là một khâu

    khá quan trọng và phức tạp. Do đó, các tổ chức cung cấp quyền chọn cần ứng

    dụng công nghệ thông tin như các phần mềm chuyên dùng cho việc định giá, tính

    phí quyền chọn, hỗ trợ cho việc theo dõi hạn mức giao dịch của các nhân viên kinh

    doanh và hạn mức khách hàng; cũng như các phần mềm kỹ thuật hiện đại cho việc

    phân tích, dự đoán xu hướng tỷ giá, giá cổ phiếu để giúp đơn giản hóa các khâu

    trung gian như xử lý số liệu theo cách truyền thống và tiết kiệm thời gian làm việc;

    đồng thời mang lại hiệu quả, độ chính xác cao. Nhưng hiện nay, để tiếp cận được

    với các công nghệ tiên tiến này đòi hỏi các tổ phải có nguồn kinh phí mạnh, cũng

    như một đội ngũ nhân viên, chuyên gia nắm vững cả kiến thức chuyên môn và kỹ

    năng sử dụng các phần mềm. Đó cũng là một trong những lý do khiến một số các

    ngân hàng, công ty chứng khoán nhỏ khó tiếp cận với những tiện ích này.

    Ngay cả đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp kinh doanh quyền chọn, ngoại hối,

    chứng khoán, vàng…thì việc phân tích, dự đoán các xu thế biến động của thị

    trường cũng cần phải thiết lập hệ thống công nghệ tiên tiến như một yêu cầu cơ

    bản. Nhưng hiện nay chỉ một số ít các đại gia mới có khả năng ứng dụng các công

    nghệ này. Đó cũng là những khó khăn đối với việc phát triển thị trường quyền

    chọn trong thời gian sắp tới.

    Có thể nói, vấn đề hạ tầng kỹ thuật công nghệ luôn là vấn đề phức tạp, tốn kém. Việc áp dụng công nghệ nào còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường quyền chọn, cũng như khả năng của từng TCTC cung cấp dịch vụ.

    Giải pháp để tiến tới thành lập một sàn giao dịch options niêm yết tập trung.

     

    Ngoài các giải pháp cho sự phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu phi tập trung ở trên, để thị trường quyền chọn thực sự phát triển và trở thành một trong những trụ cột của thị trường tài chính, khi thị trường quyền chọn và các giao dịch quyền chọn đạt đến độ chín mùi cần thiết, bên cạnh một thị trường quyền chọn phi tập trung (OTC) vẫn đang tồn tại, nhà nước cần tiến hành tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các sàn giao dịch quyền chọn lớn trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, để thành lập một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức (giống như một sàn giao dịch chứng khoán niêm yết tập trung) như ở các nước có TTTC phát triển, với các tài sản cơ sở ở đây có thể là cổ phiếu, trái phiếu, ngoại tệ, chỉ số chứng khoán, vàng, lãi suất… Điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản, khối lượng giao dịch trên thị trường quyền chọn cũng như thị trường các tài sản cơ sở, đặc biệt là thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán; dần dần tiến đến chuyên nghiệp hóa, tạo thuận tiện, phổ biến và đưa thị trường quyền chọn trở thành một một trong những thị trường thiết yếu trên TTTC.

    Việc xây dựng hệ thống kỹ thuật công nghệ cho sàn giao dịch quyền chọn tập trung đòi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ. Các nhà quản lý có thể dựa vào kinh nghiệm xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật công nghệ cho sở giao dịch chứng khoán và tham khảo từ các sàn giao dịch quyền chọn tập trung ở các nước, kết hợp với khả năng, tình hình thị trường hiện tại để trang bị hệ thống kỹ thuật công nghệ phù hợp với điều kiện nước ta. Các hệ thống lưu ký, giao dịch, thanh toán bù trừ, hệ thống kết nối với các thành viên (NHTM, công ty chứng khoán môi giới quyền chọn)… cần được trang bị đồng bộ, thống nhất, giúp đơn giản hóa các qui trình giao dịch, đồng thời tăng tính chính xác, thanh khoản và độ an toàn cho các nhà đầu tư tham gia thị trường.

    Về phía các TCTC như ngân hàng, công ty chứng khoán: ngoài các giải pháp đã nêu ở trên, khi một sàn giao dịch quyền chọn tập trung được thành lập, cũng giống như thị trường chứng khoán; các hoạt động giao dịch, chuyển nhượng quyền chọn

    sẽ diễn ra. Các TCTC như NHTM, công ty chứng khoán…sẽ đóng vai trò là thành viên của sở giao dịch options, đứng ra môi giới và thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền chọn đối với khách hàng. Khi đó, phí môi giới options cần được các TCTC môi giới tính toán kỹ lưỡng để có thể bù đắp được các khoảng chi phí đầu tư đã bỏ ra, đảm bảo khả năng cạnh tranh và bước đầu thu lợi nhuận. Trong điều kiện các giao dịch chuyển nhượng options mới bắt đầu hình thành, các TCTC môi giới nên chào một mức phí cạnh tranh, để bước đầu thu hút được khách hàng, giúp cho nhà đầu tư làm quen cũng như hứng thú hơn với việc tham gia giao dịch các quyền chọn tập trung, đóng vai trò tích cực trong việc phát triển một thị trường giao dịch quyền chọn tập trung chính thức.

    Tiến hành các bước thử nghiệm ban đầu

    Các cơ quan nhà nước có liên quan, đặc biệt là Bộ Tài Chính và UBCKNN cần phối hợp cùng các ngân hàng, công ty chứng khoán bước đầu tiến hành các thử nghiệm ban đầu để tạo lập thị trường.

    Cụ thể, đối với quyền chọn chứng khoáncó thể chọn ra khoảng 15-20 cổ phiếu tốt nhất ban đầu, đảm bảo một số yêu cầu về tính thanh khoản, mức vốn hóa, khối lượng giao dịch bình quân…(VNM, STB, ACB, REE, FPT, PVF, DPM, SSI…) để phát hành và niêm yết các quyền chọn dựa trên các cổ phiếu này. Người phát hành các quyền chọn này là các công ty chứng khoán. Nhà đầu tư sẽ giao dịch các quyền chọn này với công ty chứng khoán hoặc chuyển nhượng chúng thông qua công ty chứng khoán. UBCK sẽ đóng vai trò giám sát, quản lý, chấp thuận cho việc phát hành các quyền chọn này từ các công ty chứng khoán dựa trên một số tiêu chuẩn như trên. Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ quản lý, giám sát về các giao dịch và công bố thông tin giao dịch. Qua thời gian, các cổ phiếu nào đáp ứng được các tiêu chuẩn đặc ra sẽ được đưa vào danh sách có thể được phát hành quyền chọn.

    Tương tự, đối với quyền chọn ngoại tệ, có thể lựa chọn các ngoại tệ được giao

    dịch nhiều như USD, EUR, JPY… để có thể được phát hành và niêm yết các

    quyền chọn dựa trên chúng. Người phát hành các quyền chọn này là các ngân hàng

    hoặc công ty chứng khoán. Các nhà đầu tư và những nhà xuất nhập khẩu có nhu

    cầu cũng sẽ giao dịch thông qua ngân hàng hoặc công ty chứng khoán. Cơ quan

    giám sát, quản lý bao gồm cục quản lý ngoại hối và UBCK, sẽ là người ra quyết

    định cho việc chấp thuận hay không các quyền chọn ngoại tệ này. Sở Giao Dịch và

    Trung Tâm Giao dịch cũng sẽ đóng vai trò giám sát, quản lý và công bố thông tin

    giao dịch như trên.

    Tóm lại, việc ra đời một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải hội đủ nhiều điều kiện thiết yếu phức tạp, khi mà thị trường quyền chọn phi tập trung đã tương đối phát triển ở Việt Nam. Đề tài chỉ phác họa sơ bộ các giải phát cho vấn đề này. Việc ra đời một sàn giao dịch quyền chọn tập trung chính thức sẽ đánh dấu một bước phát triển mới của TTTC Việt Nam.

    KẾT LUẬN:

    Với những thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, hạn chế, chúng ta cần đề ra

    các mục tiêu, định hướng phát triển nhằm phát huy tối đa các tiềm năng, cơ hội từ

    chính sách nhà nước và thị trường; cũng như khắc phục được những khó khăn, hạn

    chế trong hiện tại và tương lai. Để đi đúng các mục tiêu, định hướng đề ra, các giải

    pháp đề xuất, thực hiện cần cụ thể, thiết thực, phù hợp với các điều kiện ở Việt

    Nam và đứng từ góc độ vĩ mô của các cơ quan nhà nước (về chính sách, pháp

    luật…) cũng như góc độ vi mô từ các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ

    và quyền chọn cổ phiếu. Để thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, rất cần sự phối

    hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng và các chủ thể tham gia thị trường. Đặc

    biệt, cần có thời gian để thực hiện theo lộ trình, khả năng ở từng giai đoạn, tránh

    tư tưởng gấp gáp, nôn nóng, có thể dẫn đến những sai lầm thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng cho thị trường tài chính và nền kinh tế.

    Danh mục tài liệu tham khảo

    1. Jeff Madura (năm 2006), “International Financial Management”, biên tập lần thứ 8, NXB Thomson South-Western.
    1. John C.Hull (2003), Fundamental of Futures and Options, NXB Prenctice Hall.

    3.David A.Dubofsky &Thomas W.Miller,Jr (2003), Derivaties-valuation and risk management”, NXB Oxford University Press

    1. TS Nguyễn Ninh Kiều (1998), “Thị trường ngoại hối”, NXB Tài chính
    1. Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giải pháp

    phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam”, NXB Văn hóa-Thông tin

    1. Trần Thị Phương Dung, Đại học Ngoại Thương (2008), Luận văn tốt nghiệp

    “Giải pháp phát triển giao dịch quyền chọn ngoại tệ tại Việt Nam (2008-2020), nghiên cứu điển hình tại ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank)”

    1. Nguyễn Ninh Kiều (2006), công trình nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện các

    giải pháp phòng nghừa rủi ro tỷ giá nhằm chuẩn bị hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.

    1. Đào Lê Minh (chủ biên) (2008), “Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán”, NXB Chính Trị Quốc Gia

    9.ThS.Phạm Thị Hoàng Anh, “Rủi ro của các nghiệp vụ tài chính phái sinh trog hoạt động kinh doanh của NHTM”, Tạp chí ngân hàng, số 22/2007, trang 50-53, 64.

    1. Việt Bảo, “Phát triển nghiệp vụ tài chính phái sinh ở Việt Nam”, Tạp chí ngân

    hàng, số 22/2007, trang 37-39

    1. Lê Thị Đào Anh, “Sử dụng hợp đồn quyền chọn”, Tạp chí Công nghệ ngân

    hàng, số 5/2005, trang 23-25.

    1. Trần Quốc Tuấn (2008), “Cần hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay”
    1. NHNN, công văn số 135/NHNN-QLNH ngày 29-32006 về việc thí điểm

    nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ/VNĐ tại Eximbank

    1. Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Công văn số 1650/UBCK-PTTT về việc điều

    chỉnh biên độ giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ.

    1. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2-8-2007), quyết định số 128/2007/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt Đề án phát triển thị trường Vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” theo đề nghị của Bộ Tài chính tại Tờ

    trình số 22/TTr-BTC ngày 28/3/2007

    * Website

    1. http://www.saga.vn/view.aspx?id=8846

    17.http://www.tapchiketoan.com/content/view/154/179/

    18.http://www.vneconomy.com.vn/

    1. http:/vietlaw.com: “Luật Chứng Khoán”
    1. http://www.asset.vn
    1. http://www.cbot.com
    1. http://www.nyse.com

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu PHÂN TÍCH CHINH PHỤ NGÂM


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/Gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ngo%E1%BA%A1i-t%E1%BB%87-v%C3%A0-quy%E1%BB%81n-ch%E1%BB%8Dn-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n-B%C3%A0i-7.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn ngoại

    tệ và quyền chọn chứng khoán (Bài 7)

    Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Thực trạng thị trường quyền chọn ngoại tệ và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay

    Bên cạnh các giải pháp vĩ mô của nhà nước, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các NHTM, công ty chứng khoán…, dưới góc độ là người trực tiếp tham gia cung ứng, môi giới sản phẩm quyền chọn cho thị trường, cần tuân thủ theo các qui định của nhà nước và thực hiện một số giải pháp vi mô sau để góp phần vào sự hình thành và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu trên thị trường phi tập trung ở Việt Nam.

    1. Chủ động giới thiệu, quảng bá thông tin về các sản phẩm, dịch vụ quyền

    chọn đến khách hàng

    Ngày nay, thị trường tài chính cạnh tranh ngày một gay gắt. Các định chế tài chính chuyên nghiệp như NHTM, công ty chứng khoán xuất hiện ngày càng nhiều. Việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ cơ bản của mỗi tổ chức tài chính là cần thiết để có thể thu hút các đối tượng khách hàng. Đối với công cụ options ngoại tệ và options cổ phiếu, một trong những loại hình dịch vụ mới, khá phức tạp đối với khách hàng, việc làm này càng trở nên cần thiết, thiết thực hơn, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng, lợi ích và cách thức sử dụng các công cụ options, từ đó phát triển nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ options này.

    Để thực hiện điều đó, các ngân hàng, công ty chứng khoán cần rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán các sản phẩm phái sinh nói chung và quyền chọn

    nói riêng, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị, bán hàng cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng. Ngoài ra, về lâu dài, các NHTM, công ty chứng khoán…cần lập ra bộ phận chuyên phân tích, tư vấn và hỗ trợ cho khách hàng tìm kiếm thông tin, cách thức sử dụng các công cụ options cho cả hai mục tiêu kinh doanh và hạn chế rủi ro.

    Phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Tài Chính, Giáo Dục, Truyền Thông, NHNN, UBCK…để tăng cường hơn nữa công tác quảng bá và giới thiệu sản phẩm quyền chọn đến các khách hàng doanh nghiệp và nhà đầu tư, trong đó chú trọng đầu tư cho hình thức quảng bá trên các website của các NHTM, công ty chứng khoán…

    Tổ chức các buổi tư vấn hướng dẫn thực hành tham gia vào giao dịch quyền chọn ngoại tệ và cổ phiếu cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư. Trong đó đưa ra cho các tình huống mẫu để khách hàng thử ứng dụng. Từ đó, phân tích cho các khách hàng thấy lợi ích của việc sử dụng công cụ quyền chọn trong bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giá cả chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trong các hoạt động đầu tư của mình.

    2.Không ngừng cải tiến chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ

    quyền chọn tới khách hàng

    Theo thực trạng hiện nay tại các NHTM như Eximbank, Techcombank, BIDV…, các NHTM này chỉ mới đóng vai trò là nhà môi giới trung gian giữa các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng hợp đồng quyền chọn ngoại tệ với các ngân hàng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Do đó, cần phải xem xét đến việc nghiên cứu ứng dụng các chiến lược kinh doanh như đứng tự đứng ra phát hành các quyền chọn thích hợp tới khách hàng nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở hoạt động môi giới.

    Để đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu, các NHTM, công ty chứng khoán…cần nhanh chóng chuẩn hóa tổ chức các phòng, ban kinh doanh liên quan đến quyền chọn của mình. Tăng thẩm quyền trực tiếp kinh doanh và thẩm quyền quyết định cho các cán bộ kinh doanh quyền chọn.

    Ngoài ra, các NHTM, công ty chứng khoán nên tìm hiểu, nghiên cứu sâu các mô hình chiến lược liên quan đến giao dịch quyền chọn, cùng sự hỗ trợ từ những công cụ kỹ thuật như các phần mềm tiên tiến, cũng như bám sát diễn biến của thị trường để dự báo xu hướng biến động tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi suất trong tương lai. Từ đó, vận dụng các chiến lược một cách chính xác trong từng trường hợp, để tư vấn, hỗ trợ khách hàng, giúp các khách hàng hiện tại ngày càng tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng options, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới tham gia giao dịch.

    Bên cạnh đó, song song với việc triển khai các sản phẩm quyền chọn thuần nhất, các TCTC nên có những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp, đặc biệt là lai tạp với quyền chọn như: quyền chọn hợp đồng hoán đổi ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock swaptions), quyền chọn hợp đồng kỳ hạn, tương lai ngoại tệ, cổ phiếu (currency, stock forwards options, futures options)… Từ đó, sẽ là cơ sở để có thể định giá các sản phẩm quyền chọn hiệu quả nhất.

    3. Thay đổi cách tính phí quyền chọn

    Như đã đề cập ở trên, đối với quyền chọn ngoại tệ, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ quyền chọn với tư cách là nhà môi giới, làm đại lý cho các ngân hàng nước ngoài, thực hiện tái bảo hiểm trên thị trường quốc tế, chỉ sử dụng phí quyền chọn của ngân hàng nước ngoài, cộng với phí dịch vụ để tính phí cho khách hàng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam và cả

    các ngân hàng vì việc này đẩy phí quyền chọn lên cao ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng và ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng. Do đó, việc thay đổi cách tính phí quyền chọn là cần thiết.

    Dựa vào các điều kiện, khả năng của mình, các ngân hàng, công ty chứng khoán nên tự đứng ra cung cấp và phát hành quyền chọn trực tiếp cho khách hàng, tìm hiểu và vận dụng mô hình Black-Scholes để tính phí quyền chọn cho khách hàng một cách hợp lý. Nhanh chóng triển khai ứng dụng các mô hình chiến lược kinh doanh quyền chọn, từ đó tạo nền tảng đề ra một mức phí mang tính cạnh tranh hơn.

    Trong tình hình hiện tại, rất cần một số ngân hàng có thế mạnh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ đi tiên phong thử nghiệp các mô hình tính phí mới, từ đó giúp các ngân hàng, công ty chứng khoán khác đi sau học hỏi kinh nghiệm và tiến tới triển khai nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có hiệu quả hơn.

    4.Nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ

    kinh doanh quyền chọn

    Trong mọi hoạt động dịch vụ, nhân tố con người đóng vai trò rất quan trọng. Do

    bản chất của nghiệp vụ kinh doanh quyền chọn vốn là một công việc phức tạp,

    căng thẳng, chứa đựng nhiều rủi ro…Do đó, đòi hỏi cán bộ kinh doanh quyền

    chọn ngoại tệ, quyền chọn cổ phiếu tại các tổ chức không chỉ có chuyên môn về

    các nghiệp vụ mà còn phải năng động, nhạy bén, am hiểu thị trường tài chính, có

    khả năng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá, giá cả chứng khoán, lãi

    suất…; đồng thời phải là những người có đạo đức nghề nghiệp, trung thực trong

    kinh doanh.

    Vì vậy, các TCTC cung cấp dịch vụ quyền chọn (NHTM, công ty chứng khoán…)

    nên thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và ngoại ngữ

    chuyên ngành cho nhân viên của mình, thông qua các khóa học đào tạo ngắn hạn ở

    trong nước và nước ngoài để vừa nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa

    tạo cơ hội làm quen với môi trường kinh doanh sôi động và hiện đại của thị trường

    quyền chọn quốc tế. Ngoài ra, cần có những chính sách đãi ngộ thích đáng để thu

    hút và giữ chân nhân tài, tránh để xảy ra tình trạng chảy máu chất xám trong tổ

    chức của mình.

    5. Tăng cường hợp tác quốc tế với các tổ chức tài chính khu vực và thế giới

    Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan… có các điều kiện kinh tế xã hội khá tương đồng với Việt Nam hay các nước như Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông…. thì có điều kiện phát triển vượt bậc so với chúng ta. Do đó, các NHTM,

    công ty chứng khoán và các TCTC khác cần mở rộng hợp tác, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm về trang bị hạ tầng kỹ thuật, công tác điều hành, quản lý thị trường quyền chọn, cũng như kiến thức chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về lĩnh vực này với các ngân hàng, công ty chứng khoán lớn trong khu vực và thế giới trong quá trình tạo lập và phát triển thị trường quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu ở Việt Nam.

    Nói tóm lại , trên đây có thể xem như là một số giải pháp cơ bản và thiết yếu mà các nhà cung cấp dịch vụ quyền chọn ngoại tệ và quyền chọn cổ phiếu có thể thực hiện để góp phần vào sự phát triển thị trường quyền chọn phi tập trung ở Việt Nam. Tùy thuộc khả năng, chiến lược kinh doanh riêng của mỗi NHTM, công ty chứng khoán… mà họ có thể ưu tiên thực hiện những giải pháp nào, chú trọng vào giải pháp nào hơn các giải pháp còn lại.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy

    Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A1o-c%C3%A1o-t%E1%BB%91t-nghi%E1%BB%87p-K%E1%BA%BF-to%C3%A1n-nguy%C3%AAn-v%E1%BA%ADt-li%E1%BB%87u-c%C3%B4ng-c%E1%BB%A5-d%E1%BB%A5ng-c%E1%BB%A5-t%E1%BA%A1i-c%C3%B4ng-ty-c%C3%B4ng-tr%C3%ACnh-%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng-Th%E1%BB%A7y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Báo cáo tốt nghiệp Kế toán nguyên vật liệu – công cụ dụng cụ tại công ty công trình Đường Thủy

    LỜI MỞ ĐẦU|.

    Nguyên vật liệu và Công cụ dụng cụ là đối tượng lao động và là phương tiện sản suất của Công ty , vì vậy hiểu và quản lý sử dụng có hiệu quả chúng giúp cho Công ty tiết kiệm được nhiều chi phí. Mặt khác quản lý nguyên vật liệu con giúp cho công ty sử dụng nguyên vật liệu tốt trong thi công và trong sản xuất bảo đảm sản phẩm mà công ty làm ra đúng tiêu chuẩn chất lượng, kỹ thuật của nhà chủ công trình. Công cụ dụng cụ là phương tiên tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm nó tác động đến chất lượng tốt sấu của sản phẩm, nếu công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất thi công đầy đủ và đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng giúp người công nhân nâng cao năng suất lao động đảm bảo đúng tiến độ yêu cầu của nhà quản lý

    Trong những năm gần đây do sự biến động của nền kinh tế đặc biệt là sự biến động của giá cả thị trường thường là tăng cao không lường. Vì vậy mà chi phí về nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tăng cao làm ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn vốn lưu động của Công ty vì vậy việc quản lý và hạch toán chặt chẽ nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ giúp cho Công ty năng động hơn trong việc giảm chi phí giá thành các hợp đồng , nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Chuyên đề thực tập của em tại được trình bầy thành 3 phần

              Phần 1: Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của Công ty công trình đường thuỷ

              Phần 2: Thực trạng công tác hạch toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại Công ty công trình đường thuỷ

              Phần 3: Đánh giá công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại Công ty công trình đường thủy 

    Thời gian thực tập tại Công ty căn cứ vào lý thuyết với sự vận dụng thực tế tại Công ty công trình đường thủy em đã trình bầy một số hoạt động lao động sản xuất và quản lý tại Công ty. Nhưng do yếu tổ chủ quan về nhận thức và cách nhìn nhận của một sinh viên thực tập vì vậy chuyên đề của em sẽ có những thiếu sót nhất định vậy em mong muốn nhận được sự chỉ bảo của thầy cô hướng dẫn cùng các cô các chú trong phòng kế toán tại Công ty giúp bài viết của em được hoàn thiện

            Em xin chân thành cảm ơn !

                                                                                                                   SINH VIÊN.

    Nguyễn Anh Tuấn

     

     

     

     

     

    PHẦN I.

    ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY XD CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG THỦY

     

    1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty

    Công ty công trình đường thủy là Doanh nghiệp Nhà nước, được tổ chức sản xuất kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu riêng, được phép mở tài khoản tại Ngân hàng, có quyền quyết định các vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam và quy định của Tổng công ty,.là đơn vị trực thuộc Tổng công ty Xây dựng đường thủy.

    Tên giao dịch quốc tế : WACO

    Trụ sở chính : 159 Thái Hà – Đống Đa – Hà Nội

    Chi nhánh : 14B8 – Ngô Tất Tố – TP Hồ Chí Minh

    Công ty công trình tường thủy tiền thân là Công ty công trình đường sông 01 thuộc Cục đường sông – Bộ giao thông vận tải, thành lập ngày 01/07/1972 theo quyết định 288/QĐ-TCCB của Bộ giao thông vận tải.

    Năm 1983 Công ty công trình đường sông số 1 đổi tên thành Xí nghiệp cầu cảng 204 trực thuộc Liên hiệp các xí nghiệp giao thông 2 Bộ giao thông vận tải.

    Năm 1986 , Xí nghiệp cầu cảng 204 được đổi tên thành Xí nghiệp công trình đường thủy trực thuộc Liên hiệp các Xí nghiệp quản lý giao thông đường thủy 1.

    Tháng 1 năm 1990, Xí nghiệp công trình đường thủy 1 được đổi tên thành Công ty công trình đường thủy trực thuộc Tổng công ty Xây dựng đường thủy theo quyết định số 601/QĐ/TCCB_LĐ ngày 05/04/1993 của Bộ Giao Thông Vận Tải về việc thành lập lại và quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức lại của Công ty công trình đường thuỷ.

    Có thể nói rằng sau hơn 30 năm hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công trình thuỷ, Công ty công trình thuỷ đã có rất nhiều biến đổi về tên, quy mô hoạt động, hình thức hoạt động. Sự thay đổi này là một tất yếu và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế nói chung và của ngành xây dựng nói riêng. Kết quả đạt được sau hơn 30 năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ Công ty đã và đang đi đúng hướng.

    Hiện nay tổ chức bộ máy sản xuất của Công ty có quy mô khá lớn với 8 đơn vị trong cả nước, với 1124 cán bộ công nhân viên trong đó có 213 kỹ sư, 129 người có trình độ từ trung cấp trở lên, 782 công nhân các ngành và một số lượng lớn công nhân làm hợp đồng ngắn hạn. Hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất của Công ty cũng rất đa dạng và hiện đại, đáp ứng được yêu cầu của ngành với hơn 500 chủng loại thiết bị thi công cơ giới, phương tiện vận tải thuỷ bộ. Với sự nỗ lực không ngừng của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty nên từ ngày thành lập cho đến nay, đặc biệt sau khi Nhà nước chuyển nền kinh tế từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, Công ty luôn phát triển một cách vững chắc trong quá trình sản xuất kinh doanh, hoàn thành các kế hoạch đặt ra và kế hoạch của cấp trên giao cho. Vì vậy, Công ty đã tạo được uy tín trên thị trường với bạn hàng và các tổ chức tín dụng

    Qua sự phát triển trên cho thấy hướng đi hoàn toàn đúng đắn và có lợi. Để  đạt được mục tiêu đề ra năm 2005 Công ty sẽ tiếp tục đầu tư chiều sâu mua sắm mới tài sản cố định nhằm đổi mới công nghệ, tăng ngân sách lao động đáp ứng nhu cầu của thị trường. Cũng trong năm 2005 Công ty sẽ nỗ lực sản xuất kinh doanh như tìm hiểu thị trường, tiếp cận công nghệ mới, tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng và trình độ cán bộ công nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm truyền thống, mở rộng thị trường tiêu thụ để phấn đấu đạt kế hoạch sản xuất kinh doanh đề ra cho năm nay.

    Như vậy, qua quá trình hình thành và phát triển của mình, Công ty công trình đường thuỷ đã khẳng định ưu thế trong hoạt động sản xuất kinh doanh.  Công ty sẽ là một trong những nhân tố giúp ngành xây dựng công trình đường thuỷ nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

    2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty

    Công ty công trình đường thủy là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập, là thành viên của Tổng công ty Xây dựng đường thủy hoạt động theo phân cấp của điều lệ Tổng công ty và điều lệ Công ty.

    Công ty được quản lý và điều hành bởi Giám đốc công ty, chịu sự quản lý trực  tiếp của Tổng công ty. Ngoài ra còn có các Phó giám đốc phụ trách giúp việc cho Giám đốc, có các phòng ban nghiệp vụ trong Công ty thực hiện các nhiệm vụ chung của Công ty, các Xí nghiệp trực thuộc hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán phụ thuộc, tất cả các hoạt động kinh tế đều phải thông qua Công ty. Mỗi xí nghiệp đều có một Chỉ huy trưởng và hai Chỉ huy phó do Công ty bổ nhiệm quản lý chung và chịu trách nhiệm trước Công ty. Bộ máy tổ chức của Công ty công trình đường thủy được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, được khái quát theo sơ đồ sau:

    Trong đó:

    Giám đốc: có các nhiệm vụ sau:

    • Quyết định phương hướng kế hoạch, dự án sản xuất – kinh doanh và các chủ trương lớn của Công ty.
    • Quyết định việc hợp tác đầu tư, liên doanh kinh tế của Công ty, kế hoạch mở rộng kinh doanh trên cơ sở sử dụng tối ưu mọi nguồn lực mà Công ty có và tự huy động phù hợp với nhu cầu thị trường. Quyết định các vấn đề tổ chức điều hành để đảm bảo hiệu quả cao, quyết định việc phân chia lợi nhuận, phân phối lợi nhuận vào các quỹ của Công ty. Là chủ tài khoản của Công ty, trực tiếp ký các hợp đồng kinh tế với khách hàng, phê chuẩn quyết toán của các đơn vị trực thuộc và duyệt tổng quyết toán của Công ty. Quyết định việc chuyển nhượng, mua bán, cầm cố các loại tài sản chung của Công ty theo quy định của Nhà nước, quyết định việc thành lập mới, sáp nhập giải thể các đơn vị sản xuất – kinh doanh thuộc nguồn vốn đầu tư của Công ty.
    • Quyết định việc đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm Phó Giám đốc Công ty, Giám đốc các Xí nghiệp trực thuộc, chi nhánh, kế toán trưởng Công ty và các chức danh khách trong Công ty. Tổ chức thanh tra và xử lý các vi phạm điều lệ Công ty, báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty và thực hiện nộp Ngân sách hàng năm. Giám đốc Công ty có thể chỉ định trực tiếp các phòng, cá nhân thực hiện nhiệm vụ mà không thông qua các phó Giám đốc phụ trách các lĩnh vực đó.

    Các phó giám đốc Công ty: là người giúp việc cho Giám đốc, được Giám đốc uỷ quyền hoặc chịu trách nhiệm trong một số lĩnh vực chuyên môn, chịu trách nhiệm trực tiếp với Giám đốc về phần viêc được phân công. Trong từng thời kỳ có thể được Giám đốc uỷ nhiệm trực tiếp quyết định một số vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc.

    Phòng kế hoạch – thị trường: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

    – Bám sát, tìm hiểu thị trường, xử lý thông tin, tham mưu cho Giám đốc về công tác tiếp thị thị trường, xây dựng hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Công ty xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn hạn trên cơ sở các hợp đồng kinh tế đã và sẽ được kí kết, năng lực của Công ty và từng đơn vị.

    – Chuẩn bị các thủ tục cho Giám đốc Công ty giao kế hoạch cho các đợn vị trực thuộc Công ty. Kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện kế hoạch, thực hiện các thủ tục XDCB, cùng các đơn vị giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thi công đảm bảo nguyên tắc tiến độ, chất lượng, uy tín với khách hàng, giúp Giám đốc kiểm tra và tổng hợp tình hình trong quá trình thực hiện kế hoạch.

    – Lập kế hoạch sản xuất, giao kế hoạch cho các Xí nghiệp, các đội trực thuộc và đôn đốc việc thực hiên kế hoạch theo tuần, tháng, quý, năm. Công tác định mức, đơn giá phục vụ công tác đấu thầu công trình, ký kết hợp đồng kinh tế.

                Phòng kỹ thuật – thi công: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

                – Tham mưu cho lãnh đạo Công ty trong công tác quản lý kỹ thuật và quản lý chất lượng, an toàn thi công công trình, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả, nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, cùng phòng nghiệp vụ tham mưu trong công tác đầu tư, mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá các sản phẩm xây dựng.

    – Lập thiết kế tổ chức thi công ở dạng sơ đồ công nghệ cho các công trình có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên, phục vụ công tác đấu thầu và thi công công trình có tính khả thi cao được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đề xuất các giải pháp thi công đẩy nhanh tiến độ công trình, nâng cao chất lượng công trình thi công.

    – Quản lý kỹ thuật các công trình, lập phương án thi công, theo dõi khối lượng thực hiện và chất lượng công trình. Lập biên bản xử lý sự cố công trình và biện pháp đảm bảo an toàn lao động. Kiểm tra, ký xác nhận khối lượng theo giai đoạn, giúp Công ty ứng vốn cho các đơn vị thi công kịp thời, chính xác.

                Phòng thiết bị vật tư: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

    * Quản lý thiết bị.

    – Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc quản lý, khai thác các thiết bị đúng quy trình, quy phạm. Nghiên cứu cải tiến các trang thiết bị, dụng cụ sản xuất, ứng dụng vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, tăng thời gian sử dụng trang thiết bị, phù hợp với điều kiện thi công hiện trường, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cho phép.

    – Lập kế hoạch, phương án sửa chữa định kỳ các thiết bị, theo dõi, đôn đốc kiểm tra chất lượng công tác bảo dưỡng sửa chữa định kỳ các thiết bị tại các đơn vị, nghiên cứu tính năng kỹ thuật của các thiết bị mới, lập quy trình và hướng dẫn đơn vị quản lý sử dụng và khai thác các thiết bị. Tham mưu cho ban Giám đốc Công ty về khai thác thiết bị, kế hoạch đầu tư thiết bị, thanh lý thiết bị cũ hỏng hoặc sử dụng kém hiệu quả, điều động các thiết bị trong Công ty phục vụ sản xuất và tổ chức thực hiện.

    – Tham mưu cho ban lãnh đạo Công ty về việc khen thưởng những cá nhân và đơn vị quản lý khai thác thiết bị tốt và sử lý kỷ luật những cá nhân đơn vị quản lý khai thác thiết bị không đúng hướng dẫn, quy trình, quy phạm để xảy ra mất an toàn, gây thiệt hại cho sản xuất và con người, tổng hợp báo cáo công tác khai thác, sửa chữa thiết bị của các đơn vị và toàn Công ty, báo cáo Giám đốc và cơ quan cấp trên theo quy định.

    * Quản lý vật tư.

    – Nắm vững thông tin giá cả vật tư tại thời điểm theo khu vực thi công phục vụ cho công tác đấu thầu công trình và khoán công trình cho các đơn vị thi công, nắm vững kế hoạch thi công của từng công trình theo dự toán và các khối lượng phát sinh khác phục vụ cho việc quản lý hạn mức vật tư thi công và quyết toán công trình hoàn thành.

    – Cung ứng vật tư cho các công trình theo lệnh của ban Giám đốc như các loại vật tư đặc chủng, các loại vật tư trong nước không sản xuất phải hợp đồng mua của nước ngoài, các công trình có khối lượng vật tư lớn tập trung, nắm chắc tình hình vật tư tồn đọng của các đơn vị, công trình, tham mưu cho Giám đốc điều chuyển vật tư nội bộ giữa các đơn vị trong Công ty, làm trọng tài giữa các đơn vị về giá cả vật tư điều chuyển, đề xuất phương án khai thác vật tư sử dụng luân chuyển nhiều lần trong thi công.

    – Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành các quy định trong công tác cung ứng, quản lý, sử dụng vật tư của các đơn vị, có quyền đình chỉ việc cung ứng vật tư đối với các chủng loại vật tư có chất lượng kém, không đúng quy định, giá thành cao trong thời điểm hiện tại của thị trường. Đề nghị khen thưởng các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt các quy định về cung ứng, quản lý vật tư và ngược lại, hướng dẫn đôn đốc các đơn vị thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và thực hiện kiểm kê tồn kho 6 tháng hoặc 1 năm, tham gia phân tích hoạt động kinh tế, xét quyết toán các công trình đã hoàn thành hoàn thành kế hoạch năm của đơn vị.

    – Lập kế hoạch cung ứng vật tư theo kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty. Tìm kiếm nguồn hàng, mua bán vật tư, phụ tùng đảm bảo tốt rẻ, góp phần hạ giá thành.

    – Xây dựng phương án quản lý, sử dụng tiết kiệm vật tư đảm bảo hiệu quả, Kiểm tra chất lượng vật tư đưa vào các công trình do các đơn vị cơ sở tự mua.

    Phòng tổ chức lao động và tiền lương: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

    – Tham mưu cho Giám đốc công ty về tổ chức bộ máy SX – KD và bố chí nhân sự phù hợp với yêu cầu sản xuất và phát triển của Công ty, quản lý hồ sơ lí lịch nhân viên toàn Công ty, giải quyết thủ tục về chế độ tuyển dụng, thôi việc, bổ nhiệm, bãi miễn, kỷ luật, khen thưởng, nâng lương, nghỉ chế độ, BHXH, là thành viên của hội đồng thi đua và hội đồng kỉ luật của Công ty, quy hoạch cán bộ, tham mưu cho Giám đốc quyết định việc đề bạt và phân công cán bộ lãnh đạo và quản lý của Công ty và các đơn vị trực thuộc.

    – Xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, thi tay nghề cho cán bộ công nhân viên toàn Công ty, quản lý lao động tiền lương, xây dựng đơn giá tiền lương  và xét duyệt chi phí tiền lương. Cùng các phòng nghiệp vụ nghiên cứu việc tổ chức lao động khoa học, xây dựng định mức lao động, chi phí tiền lương trên đơn vị sản phẩm cho các đơn vị trực thuộc. Hướng dẫn các đơn vị lập sổ sách thống kê, báo cáo về lao động – tiền lương theo pháp lệnh thống kê và thực hiện chức năng kiểm tra việc thực hiện công tác lao động – tiền lương.

    – Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc thực hiện công tác an toàn lao động và vệ sinh lao động theo quy định của bộ luật lao động, công tác phòng chống bão lũ, cháy nổ, công tác an ninh, bảo vệ, quân sự địa phương, quản lý hộ khẩu tập thể, trong từng trường hợp được Giám đốc Công ty uỷ quyền đại diện cho người sử dụng lao động giải quyết các tranh chấp khiếu lại về lao động, chế độ chính sách, thoả ước lao động và hợp đồng lao động.

    – Công tác tổ chức, quản lý nhân lực, đào tạo, lao động tiền lương, nâng lương, nâng bậc, thi đua khen thưởng, giải quyết chế độ chính sách với người lao động.

                Phòng tài chính kế toán: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

    – Chịu sự điều hành trực tiếp của Giám đốc Công ty và các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức hạch toán kế toán về các hoạt động của Công ty theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà nước. Quản lý toàn bộ vốn, nguồn vốn, quỹ trong toàn Công ty, ghi chép phản ánh chính xác, kịp thời và có hệ thống diễn biến các nguồn vốn, làm chức năng của ngân hàng cho vay và là thung tâm thanh toán của các đơn vị trong nội bộ Công ty, tổng hợp báo cáo tài chính, kết quả kinh doanh, lập báo cáo thống kê, phân tích hoạt động SX-KD để phục vụ cho việc kiểm tra thực hiện kế hoạch của Công ty.

    – Giám đốc kế toán tài vụ đối với các đơn vị trực thuộc, kiểm soát và điều hành mọi hoạt động liên quan đến công tác quản lý tài chính, thống kê kế toán của các đơn vị thành viên, theo dõi và hướng dẫn các đơn vị trong việc lập kế hoạch thực hiện kế hoạch các loại vốn. Theo dõi các đơn vị hạch toán kế toán, hướng dẫn lập các báo cáo về các nguồn vốn cấp, vốn vay nhận được, thực hiện thống kê – kế toán theo pháp lệnh thống kê – kế toán, tham mưu cho ban Giám đốc trong Công ty trong việc đấu thầu và giao khoán cho các đơn vị thi công từng công trình, cơ chế phân phối lợi nhuận, chỉ đạo các đơn vị thực hiện các chế độ quản lý tài chính, tiền tệ theo quy định của Bộ Tài chính và các cơ quan quản lý tài chính cấp trên.

    – Lập và quản lý kế hoạch tài chính kế toán theo kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm của Công ty. Phản ánh chính xác, kịp thời kết quả sản xuất kinh doanh hàng quý để giúp Giám đốc nắm được tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, chỉ ra những mặt còn yếu kém trong công tác quản lý kinh tế cho Công ty.

                Phòng hành chính y tế

                – Tổ chức công tác lễ tân, đón tiếp, bố chí ăn ở đi lại cho khách của Công ty và cán bộ công nhân viên đơn vị về công tác tại văn phòng Công ty. Tham mưu cho lãnh đạo Công ty duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan địa phương, quản lý xây dựng cơ bản nội bộ Công ty và các đơn vị trực thuộc nếu có yêu cầu, quản lý lưu trữ  công văn giấy tờ, sổ sách hành chính, con dấu, đảm bảo trang thiết bị làm việc, phương tiện phục vụ công tác và tổ chức các hội nghị thường kỳ và đột xuất của Công ty.

    – Đảm bảo cảnh quan môi trường Công ty luôn sạch đẹp, quản lý hồ sơ đất đai toàn Công ty, tham mưu cho lãnh đạo Công ty sắp xếp ổn định về nơi ở cho cán bộ công nhân viên, thực hiện chế độ thuế nhà đất, kết hợp với phòng tổ chức lao động – tiền lương về công tác y tế, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, mua bảo hiểm y tế cho cán bộ công nhân viên Công ty, tham gia bảo vệ môi sinh môi trường, an ninh chật tự, phòng cháy chữa cháy của Công ty và các đơn vị trực thuộc.

                Phòng quản lý dự án: có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

                – Chủ trì, phối hợp với các phòng ban, đơn vị trực thuộc Công ty lập hồ sơ dự thầu và đấu thầu công trình, khi công trình trúng thầu, bóc tách các chi phí đầu vào gửi các phòng có liên quan theo dõi thực hiện, chuẩn bị các thủ tục tham mưu cho Giám đốc hợp đồng khoán gọn toàn bộ công trình hoặc hạng mục công trình đối với các đợn vị trực thuộc, quyết toán thanh lý các hợp đồng khi công trình hoàn thành.

    – Kiểm tra, hướng dẫn đôn đốc các đơn vị thực hiện đầy đủ các thủ tục đúng trình tự xây dựng cơ bản, đúng với quy định của Nhà nước và Công ty, cùng các đơn vị hoàn thành hồ sơ nghiệm thu công trình, hồ sơ hoàn công, thanh quyết toán công trình. Kết hợp với phòng kế toán tài chính và các đơn vị thu hồi vốn công trình, quản lý toàn bộ các hợp đồng kinh tế tại Công ty (kể cả các hợp đồng kinh tế đã được Giám đốc Công ty uỷ quyền cho Giám đốc chi nhánh, Giám đốc các đơn vị trực thuộc ký với khách hàng).

                Các xí nghiệp trực thuộc có trách nhiệm hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm do Công ty giao, đặc biệt là kế hoạch giá trị về doanh thu.

    Mặc dù trong mỗi phòng ban trong Công ty đảm nhận một lĩnh vực riêng nhưng trong quá trình làm việc giữa các phòng ban có mối quan hệ mật thiết với nhau. Phòng kế hoạch thị trường lập hồ sơ dự thầu. Nếu trúng thầu hồ sơ dự thầu sẽ được chuyển cho phòng dự án. Phòng dự án tiến hành làm bài thầu lập dự toán. Phòng tài chính trên cơ sở dự toán đã lâp tiến hành bóc dự toán, vay vốn cấp cho đơn vị thi công. Phòng kỹ thuật thi công thì dựa trên hồ sơ dự thầu do phòng kế hoạch thị trường chuyển sang để thiết kế bản vẽ kỹthuật, đưa ra biện pháp kỹ thuật thi công.

    Như vậy bộ máy quản lý của Công ty công trình đường thuỷ được chia thành các phòng ban, các chi nhánh, các xí nghiệp trực thuộc với chức năng và nhiệm vụ rất rõ ràng. Chính vì thế công tác quản lý của Công ty đã rất có hiệu quả, Công ty ngày càng lớn mạnh, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá , hiện đại hoá, đưa nước ta từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Mô hình quản lý như vậy giúp cho việc quản lý có hiệu quả hơn, sự phân công lao động hợp lý hơn, tránh được sự chồng chéo trong quản lý.

     3 Tổ chức hoạt dộng kinh doanh

     3.1. Địa bàn hoạt động

    Là một Công ty trực thuộc Tổng công ty Xây dựng đường thuỷ nhưng Công  ty công trình đường thuỷ lại có nhiều Xí nghiệp thành viên. Địa bàn hoạt động của Công ty từ Bắc vào Nam. Các xí nghiệp thành viên của công ty tập trung ở :

    Hà Nội : Văn phòng công ty

    Các Xí nghiệp 8, 12, 18, 20

    Hải Phòng : Xí nghiệp 4

    Nam Định : Xí nghiệp 75

    Thành Phố Hồ Chí Minh: Xí nghiệp 6, 10

    Vì các Xí nghiệp của Công ty trải dài khắp đất nước nên việc tham gia đấu thầu và tiến hành thi công các công trình trong cả nước hết sức thuận tiện, điều đó giúp Công ty có thể tiết kiệm chi phí trong thi công, hạ giá thành dự thầu và Công ty có được nhiều hợp đồng thi công hơn. Vì vậy đã tạo điều kiện cho lao động trong Công ty có nhiều việc làm, thu nhập của người lao động ổn định đồng thời doanh thu và lợi nhuận của Công ty tăng đáng kể.

    3.2. Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh

    Công ty Công trình đường thuỷ thuộc ngành xây dựng cơ bản nên hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty mang những nét đặc thù riêng. Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là thi công các công trình giao thông trong và ngoài ngành bao gồm:

    • Thi công các công trình giao thông.
    • Sản xuất các cấu kiện bê tông đúc sẵn.
    • Sản xuất vật liệu xây dựng.
    • Xây dựng các công trình công nghiệp.
    • Xây dựng các công trình dân dụng.
    • Xây dựng trạm điện và đường dây điện.
    • Xây dựng các công trình cầu cống, kênh mương, đê, kè, trạm bơm nước, chỉnh trị dòng chảy…

    – Nhận gia công cơ khí các loại phao neo sông, biển, sửa chữa đại tu các loại máy móc thiết bị, tham gia đấu thầu và nhận đấu thầu các công trình trong và ngoài nước.

    – Làm đại lý và cho thuê các loại phương tiện thiết bị: Cần cẩu, Xà lan, đầu kéo ôtô, máy thi công và mua bán các loại vật liệu xây dựng.

    – Thực hiện liên doanh, liên kết với các cơ quan, Xí nghiệp, Công ty, cá nhân.

    3.3. Đặc điểm sản phẩm của Công ty

    Sản phẩm có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất lâu dài. Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp nhất thiết phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công). Quá trình sản xuất xây lắp cũng nhất thiết phải lập dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi do phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.

    Sản phẩm của Công ty hoàn thành không nhập kho mà được tiêu thụ ngay theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu).

    Sản phẩm của Công ty lại cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất (máy móc, thiết bị thi công, người lao động) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời gian thi công.

    Sản phẩm từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của công trình. Quá trình thi công lại chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn  lại chia thành nhiều công việc khác nhau, công việc lại thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường. Đặc điểm này thường đòi hỏi việc tổ chức quản lý giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình (chủ đầu tư thường giữ lại một phần giá trị công trình để bảo hành công trình, hết thời hạn mới thanh toán cho đơn vị xây lắp).

    3.4. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất

    Quy trình công nghệ sản xuất là dây chuyền sản xuất sản phẩm của các doanh nghiệp. Mỗi loại doanh nghiệp có một loại sản phẩm thì sẽ có quy trình công nghệ của riêng loại sản phẩm đó. Công ty công trình đường thuỷ là đơn vị xản xuất các sản phẩm xây dựng, các dịch vụ sửa chữa, chùng tu các loại máy móc thiết bị. Hơn nữa, các công trình mà Công ty xây dựng thường có quy mô lớn, rộng khắp lại mang tính trọng điểm, liên hoàn nên quy trình công nghệ sản xuất của Công ty không phải là những máy móc thiết bị hay dây chuyền sản xuất tự động mà là quy trình đấu thầu, thi công, bàn giao các công trình xây dựng, máy móc sửa chữa một cách liên hoàn.

    Có thể khái quát quy trình công nghệ sản xuất của Công ty công trình đường thuỷ như sau:

    * Giai đoạn đấu thầu công trình      

    Giai đoạn dự thầu: chủ đầu tư thông báo đấu thầu hoặc gửi thư mời thầu tới Công ty, Công ty sẽ mua hồ sơ dự thầu mà chủ đầu tư đã bán. Căn cứ vào biện pháp thi công hồ sơ kỹ thuật, lao động, tiền lương của hồ sơ mời thầu và các điều kiện khác Công ty phải  làm các thủ tục sau:

    +  Lập biện pháp thi công và tiến độ thi công.

    +  Lập dự toán và xác định giá bỏ thầu.

    +  Giấy bảo lãnh dự thầu của Ngân hàng.

    +  Cam kết cung ứng tín dụng.

    * Giai đoạn trúng thầu công trình

    Khi trúng thầu công trình, chủ đầu tư có quyết định phê duyệt kết quả mà Công ty đã trúng.

    + Công ty cùng chủ đầu tư thương thảo hợp đồng.

    + Lập hợp đồng giao nhận thầu và ký kết.

    + Thực hiện bảo lãnh – thực hiện hợp đồng của Ngân hàng.

    + Tạm ứng vốn theo hợp đồng và luật xây dựng quy định.

    * Giai đoạn thi công công trình

    + Lập và báo cáo biện pháp tổ chức thi công, trình bày tiến độ thi công trước chủ đầu tư và được chủ đầu tư chấp thuận.

    + Bàn giao và nhận tim mốc mặt bằng.

    + Thi công công trình theo biện pháp tiến độ đã lập.

    * Giai đoạn nghiệm thu công trình

    + Giai đoạn nghiệm thu từng phần: Công trình xây dựng thường có nhiều giai đoạn thi công và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết. Vì vậy Công ty và chủ đầu tư thường quy định nghiệm thu công trình theo từng giai đoạn. Công ty cùng chủ đầu tư xác định giá trị công trình đã hoàn thành và ký vào văn bản nghiệm thu công trình theo từng giai đoạn đã ký trong hợp đồng. Thường thì khi nghiệm thu hoàn thành, từng giai đoạn chủ đầu tư lại ứng một phần giá trị của giai đoạn tiếp theo của công trình.

    +Tổng nghiệm thu và bàn giao: Lúc này công trình đã hoàn thành theo đúng tiến độ và giá trị khối lượng trong hợp đồng, Công ty sẽ thực hiện các thủ tục sau:

    – Lập dự toán và trình chủ đầu tư phê duyệt.

    – Chủ đầu tư phê duyệt và thanh toán tới 95% giá trị công trình cho Công ty, giữ lại 5% giá trị bảo hành công trình (hoặc thông qua Ngân hàng bảo lãnh cho Công ty).

    * Giai đoạn thanh lý hợp đồng.

    Là thời gian bảo hành công trình đã hết, công trình đảm bảo giá trị hợp đồng đã thoả thuận giữa hai bên. Lúc này Công ty nhận 5% giá trị công trình còn lại và hai bên là chủ đầu tư và Công ty ký vào văn bản thanh lý hợp đồng đã ký theo quy định của pháp luật, chấm dứt quan hệ kinh tế giữa chủ đầu tư và Công ty tại thời điểm văn bản thanh lý có hiệu lực.

    4 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty

    4.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán, chức năng và nhiệm vụ

    Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, hạch toán vừa tập trung vừa phân tán.

    Phòng kế toán Công ty có chức năng tham mưu cho Ban giám đốc tổ chức triển khai toàn bộ công tác tài chính, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế theo điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty, đồng thời kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế tài chính của Công ty theo đúng pháp luật. Phòng kế toán của Công ty bao gồm 5 người gồm 1 kế toán trưởng và 4 kế toán viên.

                Trong đó:

    * Kế toán trưởng (Trưởng phòng kế toán): Chịu trách nhiệm trước cấp trên và Giám đốc về mọi mặt hoạt động kinh tế của Công ty, có nhiệm vụ tổ chức và kiểm tra công tác hạch toán ở đơn vị. Đồng thời, kế toán trưởng có nhiệm vụ thiết kế phương án tự chủ tài chính, đảm bảo khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn của Công ty như việc tính toán chính xác mức vốn cần thiết, tìm mọi biện pháp giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho Công ty.

    * Kế toán tổng hợp kiêm chi phí giá thành: Chịu trách nhiệm toàn bộ trong việc nhập số liệu từ các chứng từ vào sổ sách và máy tính. Theo dõi trên sổ tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng tài khoản. Hạch toán chi tiết và tổng hợp chi phí phát sinh, tính giá thành cho từng công trình. Thực hiện phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức lưu chữ tài liệu kế toán và lập báo cáo tài chính kế toán. Đồng thời phụ trách việc thanh toán với đối tác và vay vốn của các tổ chức tín dụng. Ngoài ra còn thay mặt cho kế toán trưởng trong những trường hợp đặc biệt.

    * Kế toán vật tư kiêm TSCĐ: Theo dõi sự biến động, tình hình nhập, xuất, tồn của các loại vật tư. Đề ra các biện pháp tiết kiệm vật tư dùng vào thi công, khắc phục và hạn chế các trường hợp hao hụt, mất mát. Đồng thời theo dõi tình hình biến động của tài sản cố định, tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định cho các đối tượng sử dụng theo đúng chế độ.

    * Kế toán ngân hàng kiêm thủ quỹ: Theo dõi sự biến động, tình hình nhập, xuất, tồn của các loại vật tư. Đề ra các biện pháp tiết kiệm vật tư dùng vào thi công, khắc phục và hạn chế các trường hợp hao hụt, mất mát. Đồng thời theo dõi tình hình biến động của tài sản cố định, tính và phân bổ khấu hao tài sản cố định cho các đối tượng sử dụng theo đúng chế độ.

    * Kế toán tiền lương kiêm thanh toán: Kiểm tra việc tính lương của các xí nghiệp theo đúng phương pháp và thời gian làm việc thực tế. Theo dõi và trả lương cho bộ phận lao động gián tiếp tại Công ty, theo dõi các khoản trích theo lương cho cán bộ công nhân viên theo đúng chế độ cũng như việc thanh toán các khoản trợ cấp, bảo hiểm xã hội cho người lao động trong Công ty. Đồng thời chịu trách nhiệm theo dõi việc thanh toán các khoản công nợ cũng như theo dõi việc sử dụng các nguồn lực của công ty, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu, rà soát các dự chù chi tiêu đảm bảo đúng mục đích, đúng yêu cầu và chính xác, đảm bảo độ tin cậy cho các quyết định, các báo cáo thanh toán.

    * Kế toán các xí nghiệp: Phòng kế toán xí nghiệp do Giám đốc xí nghiệp trực tiếp chỉ đạo, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của phòng tài chính kế toán Công ty, có nhiệm vụ hạch toán kế toán phần chi phí được giao cho từng công trình và của toàn xí nghiệp.

    Phòng kế toán xí nghiệp gồm 3 người:

    * Phụ trách phòng kế toán: Do giám đốc Công ty chỉ định để thuận lợi cho việc giám sát công tác kế toán tại Xí nghiệp.

    Chịu trách nhiệm xử lý toàn bộ chứng từ liên quan đến các mặt hoạt động của xí nghiệp như: thanh toán với các đội, tính lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ công nhân viên, theo dõi tài sản cố định… Tổ chức lưu giữ sổ sách chứng từ, đồng thời kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của xí nghiệp theo đúng pháp luật và quy định của Công ty.

    * Kế toán máy kiêm kế toán tiền mặt:

    Chịu trách nhiệm nhập số liệu từ chứng từ vào máy tính, đồng thời theo dõi việc thu, chi tiền mặt và vay vốn với Công ty.

    Thủ quỹ:

    Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn quỹ của Xí nghiệp.

    Ngoài ra, ở các Xí nghiệp còn phân ra nhiều đội xây dựng với các chức năng cụ thể.

    Kế toán đội phải theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh ở công trình, hạch toán các nghiệp vụ kinh tế xảy ra ở công trình, tính lương và các khoản trích theo lương cho người lao động, tổ chức tập hợp chứng từ chi phí phát sinh để báo với Xí nghiệp. Nếu không có kế toán, đội trưởng trực tiếp thực hiện phần việc này.

    4.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty công trình đường thuỷ

    Công ty công trình đường thuỷ là doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xây lắp và chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. Do vậy, công tác kế toán ở công ty được thực hiện theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành do Bộ Tài chính ban hành. Cụ thể như sau:

            Niên độ kế toán: bắt đầu từ 01/01 hàng năm và kết thúc vào ngày 31/12

    hàng năm.

            Phương pháp tính thuế GTGT: công ty sử dụng phương pháp khấu trừ.

    Phương pháp hạch toán hàng tồn kho: công ty áp dụng theo phương pháp kê

    khai thường xuyên.

            Phương pháp tính khấu hao TSCĐ: công ty sử dụng phương pháp khấu hao

    đường thẳng.

            Phương pháp xác định giá trị nguyên vật liệu xuất: công ty tính giá nguyên

    vật liệu xuất theo phương pháp giá thực tế đích danh.

    4.3 Hệ thống chứng từ kế toán

    Hiện nay, công ty áp dụng hệ thống chứng từ kế toán được ban hành theo quyết định số 1864/1995/QĐ-BTC ngày26 tháng 12 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

    Công ty sử dụng đầy đủ các loại chứng từ bắt buộc và lựa chọn một số chứng từ măng tính hướng dẫn để phục vụ cho việc hạch toán ban đầu. Quy trình luân chuyển chứng từ được thực hiện chặt chẽ và đầy đủ.

                Danh mục các chứng từ kế toán mà công ty sử dụng.

     

    Stt Tên chứng từ Số hiệu chứng từ
    1 – Lao động và tiền lương
    1 Bảng chấm công 01- LĐTL
    2 Bảng thanh toán tiền lương 02- LĐTL
    3 Phiếu nghỉ hưởng BHXH 03- LĐTL
    4 Bảng thanh toán BHXH 04- LĐTL
    5 Bảng thanh toán tiền thưởng 05- LĐTL
    6 Phiếu xác nhận SP huặc công trình hoàn thành 06- LĐTL
    7 Phiếu báo làm thêm giờ 07- LĐTL
    8 Hợp đồng giao khoán 08- LĐTL
    9 Biên bản điều tra tai nạn lao động 09- LĐTL
    2 – Hàng tồn kho
    10 Phiếu nhập kho 01-VT
    11 Phiếu xuất kho 02- VT
    12 Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ 03/VT-3LL
    13 Phiếu xuất vật tư theo hạn mức 04- VT
    14 Biên bản kiểm nghiện 05- VT
    15 Thẻ kho 06- VT
    16 Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ 07- VT
    17 Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá 08- VT
    3 – Bán hàng
    18 Hoá đơn (GTGT) 01/GTKT- 3LL
    19 Hoá đơn (GTGT) 01/GTKT-2LL
    20 Phiếu kê mua hàng 13HDBH
    4 – Tiền tệ
    23 Phiếu thu 01 – TT
    24 Phiếu chi 02 – TT
    25 Giấy đề nghị tạm ứng 03 – TT
    26 Thanh toán tiền tạm ứng 04 – TT
    27 Biên lai thu tiền 05 – TT
    29 Bảng kiểm kê quỹ 07a – TT
    30 Bảng kiểm kê quỹ 07b – TT
    5 – TSCĐ
    31 Biên bản giao nhận TSCĐ 01 – TSCĐ
    32 Thẻ TSCĐ 02 – TSCĐ
    33 Biên bản thanh lý TSCĐ 03 – TSCĐ
    34 Biên bản giao nhân TSCĐ sửa chữa 04 – TSCĐ
    35 Biên bản đánh giá lại TSCĐ 05 – TSCĐ
    6 – Sản xuất
    36 Phiếu theo dõi ca máy thi công 01 –  SX

     

    Biểu 01 – Chứng từ sử dụng tại công ty.

    Tài khoản:

    Loại 1 : Tài sản lưu động

    – Bổ sung tài khoản 136 “Phải thu nội bộ”: 1362 “Phải thu khối lượng xây lắp giao khoán nội bộ”.

    – Bổ sung các tiểu khoản của tài khoản 141, bao gồm:

    + 1411 “Tạm ứng lương và các khoản trích theo lương”.

    + 1412 “Tạm ứng mua vật tư, hàng hoá”.

    + 1413 “Tạm ứng chi phí giao khoán xây lắp nội bộ”.

    + 1418 “Tạm ứng khác”.

    – Bổ sung các tiểu khoản của tài khoản 152, bao gồm:

    + 1521 “Nguyên liệu, vật liệu chính”.

    + 1522 “Vật liệu phụ”.

    + 1523 “Nhiên liệu”.

    + 1524 “Phụ tùng thay thế”.

    + 1526 “Thiết bị XDCB”.

    + 1528 “Vật liệu khác”

    – Bổ sung các tiểu khoản của tài khoản 154, bao gồm:

    + 1541 “Xây lắp”.

    + 1542 “Sản phẩm khác”.

    + 1543 “Dịch vụ”.

    + 1544 “Chi phí bảo hành xây lắp”.

    Loại 2: Tài sản cố định

    – Bổ sung thêm tiểu khoản 2117 “Giàn giáo, cốp pha”.

    Loại 3: Nợ phải trả

    Bổ sung thêm một số tài khoản sau:

    – Tài khoản 315 “Nợ dài hạn đến hạn trả”, chi tiết:

    + TK 3151 “Nợ dài hạn đến hạn trả Ngân hàng”.

    + TK 3152 “Nợ dài hạn đến hạn trả đối tượng khác”.

    – Tài khoản 331 “Phả trả cho người bán”, chi tiết:

    + 3311 “Phải trả cho đối tượng khác”.

    + 3312 “Phải trả cho bên nhận thầu, nhận thầu phụ”.

    – Tài khoản 334 “Phải trả công nhân viên”, chi tiết:

    + 3341 “Phải trả công nhân viên”.

    + 3342 “Phải trả lao động thuê ngoài”.

    – Tài khoản 335 “Chi phí phải trả”, chi tiết:

    + 3351 “Trích trước chi phí bảo hành”.

    + 3352 “Chi phí phải trả”.

    – Tài khoản 336 “Phải trả nội bộ”, chi tiết:

    + 3362 “Phải trả về khối lượng xây lắp nhận khoán nội bộ”.

    + 3368 “Phải trả nội bộ khác”.

    Loại 5: Doanh thu.

    – Bổ sung vào tài khoản “Doanh thu bán hàng” : TK 5112 “Doanh thu bán các thành phẩm, sản phẩm xây lắp hoàn thành, chi tiết TK 51121 “Doanh thu sản phẩm xây lắp”, TK 51122 “Doanh thu bán thành phẩm khác”.

    – Bổ sung vào tài khoản “Doanh thu bán hàng nội bộ” : TK 5122 “Doanh thu bán các thành phẩm, sản phẩm xây lắp hoàn thành, chi tiết Tk 51221 “Doanh thu sản phẩm xây lắp”, TK 51222 “Doanh thu bán thành phẩm khác”.

    Loại 6: Chi phí sản xuất – kinh doanh.

    – Bỏ và bổ sung các tài khoản sau:

    – Bỏ tài khoản 611 “Mua hàng”.

    – Bổ sung tài khoản 623 “Chi phí sử dụng máy thi công”, Chi tiết:

    + 6231 “Chi phí nhân công”.

    + 6232 “Chi phí vật liệu”.

    + 6231 “Chi phí dụng cụ sản xuất”.

    + 6231 “Chi phí khấu hao máy thi công”.

    + 6231 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”.

    + 6231 “Chi phí bằng tiền khác”.

    – Bỏ tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”.

    Loại 0: Tài khoản ngoài bảng.

    – Bổ sung tài khoản 005 “Nguồn vốn vay bằng ngoại tệ”.

    4.4 Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán

    Tại Công ty công Trình Đường Thuỷ áp dụng hình thức sổ kế toán: Chứng từ ghi sổ.

    Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:

    + Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ.

    + Ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ Cái.

    Chứng từ ghi sổ: do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại có cùng nội dung kinh tế.

    Đặc điểm của hình thức này là mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại theo các chứng từ cùng nội dung, tính chất nghiệp vụ để lập chứng từ ghi sổ trước khi ghi vào sổ kế toán tổng hợp. Từ 2 đến 5 ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc, kế toán lập chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào sổ cái. Các chứng từ gốc sau khi được dùng làm chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết. Cuối quý đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ kế toán chi tiết) được dùng để lập các báo cáo tài chính.

    Theo hình thức này kế toán sử dụng hai loại sổ tổng hợp là Sổ đăng ký  chứng từ ghi sổ và Sổ Cái:

    + Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian (nhật ký). Sổ này vừa dùng để đăng ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ, vừa để kiểm tra, đối chiếu số liệu với Bảng Cân đối số phát sinh.

    + Sổ Cái là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo tài khoản kinh tế được quy định trong chế độ tài khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp. Sổ Cái của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ được mở riêng cho từng tài khoản. Mỗi tài khoản được mở một trang hoặc tuỳ theo số lượng ghi cho từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều hay ít của từng tài khoản. Số liệu ghi trên Sổ Cái dùng để kiểm tra đối chiếu với số liệu ghi trên Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết, dùng để lập các báo cáo tài chính.

    Các sổ kế toán chi tiết được mở bao gồm:

    + Sổ TSCĐ;

    + Sổ chi tiết vật tư, sản phẩm, hàng hoá;

    + Thẻ kho;

    + Sổ chi phí sản xuất, kinh doanh;

    +Thẻ tính giá thành sản phẩm, dịch vụ;

    + Sổ chi tiết chi phí trả trước, chi phí phải trả;

    + Sổ chi tiết chi phí sử dụng xe, máy thi công;

    + Sổ chi tiết chi phí sản xuất chung;

    + Sổ chi tiết chi phí bán hàng;

    + Sổ chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp;

    + Sổ giá thành công trình, hạng mục công trình xây lắp;

    + Sổ chi tiết tiền vay, tiền gửi;

    + Sổ chi tiết thanh toán với người bán, người mua, với Ngân sách Nhà nước, thanh toán nội bộ…;

    + Sổ chi tiết các khoản đầu tư chứng khoán;

    + Sổ chi tiết nguồn vốn kinh doanh.

    Mỗi đối tượng kế toán có yêu cầu quản lý và phân tích khác nhau, do đó nội dung kết cấu các loại sổ và thẻ kế toán chi tiết được quy định mang tính hướng dẫn. Căn cứ để ghi sổ, thẻ kế toán chi tiết là chứng từ gốc sau khi sử dụng để lập chứng từ ghi sổ và ghi vào các sổ kế toán tổng hợp.

    Cuối tháng hoặc cuối quý phải lập Bảng tổng hợp chi tiết trên cơ sở các sổ và thẻ kế toán chi tiết để làm căn cứ đối chiếu với Sổ Cái.

    Kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ được thực hiện theo mô hình sau:

    Hiện nay, Công ty sử dụng phần mềm kế toán máy FAST ACCOUNTING để hạch toán. Tuy nhiên việc thực hiện ghi chép sổ sách bằng phương pháp thủ công vẫn thông dụng trong công ty.

    4.5 Tổ chức hệ thống báo cáo tài chính

    Hiện nay công ty Công Ty Công Trình Đường Thủy áp dụng hệ thống báo cáo theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ Tài chính. Định kỳ lập báo cáo là theo quý.

    Người chịu trách nhiệm lập báo cáo là kế toán trưởng và kế toán tổng hợp của phòng kế toán. Các kế toán viên trong phòng kế toán cung cấp các sổ chi tiết để kế toán trưởng và kế toán tổng hợp lập các báo cáo tài chính.

    Hiện nay đơn vị lập những báo cáo tài chính theo quy định cho các doanh nghiệp xây lắp đó là gồm 3 biểu mẫu báo cáo:

    – Bảng cân đối kế toán                           Mẫu số B 01 – DNXL

    – Kết quả hoạt động kinh doanh             Mẫu số B 02 – DNXL

    – Lưu chuyển tiền tệ                                       Mẫu số B 03 – DNXL

    Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập cho từng Xí nghiệp và Công ty còn báo cáo lưu chuyển tiền tệ thì chỉ lập cho cả Công ty.

    Báo cáo tài chính của Công ty phải lập và gửi vào cuối quý, cuối năm tài chính cho các cơ quan sau:

    • Cơ quan thuế mà Công ty đăng ký kê khai nộp thuế.
    • Tổng công ty Xây dựng đường thuỷ.
    • Cục thống kê.

    Ngoài ra để phục vụ cho công tác sản xuất kinh doanh đôi khi báo cáo tài chính còn được nộp cho sở kế hoạch đầu tư, ngân hàng mà Công ty thường giao dịch (Ngân hàng Công thương Đống Đa)… để xin vay vốn, đầu tư sản xuất.

    Về thuế, cũng như nhiều công ty khác Công ty Công Trình Đường Thuỷ nộp khá nhiều loại thuế như: Thuế GTGT, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế tài nguyên, thuế đất đai, thuế môn bài,…nhưng Thuế tiêu thụ đặc biệt và Thuế xuất nhập khẩu thì rất ít khi có vì sản phẩm cuả Công ty là sản phẩm xây lắp.

    Công ty không lập báo cáo quản trị trong nội bộ Công ty, có thể là do loại hình sản xuất kinh doanh là xây lắp, sản phẩm của công ty là các công trình xây dựng. Thị trường ít biến động và giá cả thường được xác định trước khi sản xuất nên ít nhu cầu dùng đến báo cáo quản trị.

     

     

     

     

    PHẦN II.

     THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NVL-CCDC TẠI CÔNG TY CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG THỦY

     

    1 Khái quát chung NVL và CCDC tại Công ty công trình đường thủy

    1.1 Đặc điểm , vai trò, phân loại  nvl và ccdc tại công ty

                Công ty công trình đường thuỷ là một công ty trực thuộc Tổng công ty xây dựng đường thủy vì vậy NVL và CCDC tại công ty chiếm một tỷ trọng rất lớn, mà ta đã biết một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao động. NVL là đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hoá như: sắt, thép, si măng, vôi, cát, gạch … các loại vật liệu sử dụng trong quá trình thi công, chế biến, sản xuất… Khác với tư liệu lao động, NVL chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất nhất định và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái của sản phẩm.

    Tại công ty công trình đường thuỷ NVL không chỉ được mua mà còn được bán, đi vay mượn của công ty khác và cho vay, vì vậy cho nên NVL và CCDC tại công ty rất đa dạng và phong phú cả về chủng loại và số lượng, mặt khác các kho và bến bãi để cất trữ và bảo quản NVL và CCDC là rất quan trong nếu không NVL và CCDC sẽ thất thoát, hỏng hóc không thể sử dụng được gây mất mát và lãng phí tiền của một cách đáng trách.

    Do hoạt động tại địa bàn khá rộng lớn thi công các công trình dải khắp mọi nơi cho nên NVL và CCDC thường được mua sắm tại chỗ phục vụ cho công tác thi công điều mày giúp cho Công ty giảm được chi phí vận chuyển và hao hụt trong khi vận chuyển, giảm thiểu hỏng hóc trong quá trình vận chuyển. Tuy nhiên do điều kiện như vậy Công ty thiếu kho bãi để bảo quản và cất trữ NVL và CCDC vì vậy chúng bị hỏng hóc và mất mát là điều khó chánh khỏi.

    Tuỳ theo đặc thù của NVL và CCDC mà công ty phân loại chúng ra thành từng nhóm để tiện cho quá trình quản lý và công tác hạch toán  VNL , phân bổ chi phí đối với CCDC

    Đối với NVL công ty căn cứ theo vai trò của chúng và phân loại như sau :

    Nguyên vật liệu chính: Là những NVL  trực tiếp cấu thành hình thái căn bản của sản phẩm trong quá trình sản xuất

    Nguyên vật liệu phụ: là những NVL tham gia vào quá trình hoàn thiện sản phẩm.

    Nhiên liệu: Những loại dùng trợ giúp cho các hoạt động của công cụ dụng cụ như : Xăng , Dầu, khí ga, bình oxy …

    Phụ tùng thay thế:  gồm các loại phụ tùng  dùng trong trình sửa chữa máy móc, công cụ .

    Thiết bị xây dựng cơ bản: Là những hoá chất chuyên dụng dùng trong thi công và xây dựng các công trình kiên cố.

    Các loại vật liệu khác: Là các thiết bị đặc chủng của máy móc thi công dùng trong quá trình sửa chữa thay thế không có trong nước huặc không phổ biến trên thị trường khó có thể mua được phải đặt nhà cung cấp.

    Đối với CCDC  công ty phân thành 2 loại là công cụ dùng cho công việc sản xuất và thi công và công cụ dùng trong công tác quản lý.

    1.2 Quản lý NVL,CCDC tại Công ty.

    Nhận thấy tầm quan trọng của NVL, CCDC đối với quá trình sản xuất và kinh doanh nên Công ty rất chú trọng đến công tác bảo quản và cất trữ NVL, CCDC . Tại các kho của Công ty luôn có đầy đủ các trang thiết bị phục vụ công tác quản lý và bảo vệ NVL, CCDC và các thủ tục xuất – nhập cũng được quản lý chặt chẽ và liên hoàn

    Do điều kiện thi công các công trình ở xa nên Công ty thường thuê các kho bãi tại những nơi Công ty xây dựng và tại đó nhưng Công ty cũng tiến hành cử người trông coi và quản lý chúng, có bảo vệ thường trực canh dữ, trông coi, có người chịu trách nhiệm nhập xuất NVL và CCDC.

    Tại đây mọi thủ tục tiến hành nhập và xuất kho cũng được thực hiện đầy đủ như tại kho của Công ty, thủ kho tại đây cũng thực hiện ghi thẻ kho, sổ số dư, bảng tổng hợp nhập xuất tồn và hàng tuần sẽ được chuển lên phòng vật tư tại công ty. Kế toán và các phòng có liên quan theo dõi NVL, CCDC chi tiết thông qua phòng vật tư.

     

    1.3 Tính giá NVL tại Công ty

             Tại Công ty công trình đường thuỷ NVL được tính theo phương pháp giá thực tế đích danh. Theo phương pháp này giá trị NVL xuất kho đúng theo giá NVL nhập kho của chúng vì vậy kế toán phải luôn theo dõi chặt chẽ giá của từng lô hàng để tính giá vốn hàng xuất huặc bán và giá trị vật tư xuất dùng.

    Ví dụ: Theo hoá đơn GTGT của công ty, Ngày 02 tháng 01 năm 2005 Công ty công trình đường thủy mua của Công ty xây dựng và kinh doanh vật tư 204,1 tấn cọc ván thép 400x170x15,5 với đơn giá 4523809,52đ/tấn

    Giá chưa có thuế : 923309523

    Tiền thuế GTGT 5% : 46165477

    Tổng cộng tiền thanh toán là : 969475000

    Vậy giá nhập kho và giá xuất kho của lô hàng cọc ván thép ngày 02 /01 / 2005  là 969475000

    Đối với NVL tự gia công chế biến thì giá nhập kho và xuất kho được tính như sau : Giá thực tế bao gồm giá xuất vật liệu đem đi gia công  cộng với chi phí gia công chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ

     Ví Dụ: Ngày  05 / 01 / 2005  công ty nhập kho 1000 cọc bê tông đúc sẵn vậy giá nhập kho và xuất kho của 1000 cọc bê tông này được tính như sau:

    Khối lượng sắt: 30 tấn x  đơn giá 4825000đ/tấn = 144750000

    10 tấn x  đơn giá 1247500 đ/tấn = 124750000

    Xi măng  50 tấn x đơn giá 675000đ/tấn = 33750000

    Đá : 100 m­­­3 x = 36325000

    Cát : 150m3­­­ x  =  45480000

    Nhân công : 200 công x 40.000(vnđ) =  8.000.000(vnđ)

    Điện, nước : 3.000.000 (vnđ)

    Chi phí vận chuyển , bốc dỡ : 6.000.000(vnđ)

    Tổng giá nhập kho của 1000 cọc bê tông : 402055000

    1.4 Phương pháp phân bổ giá trị CCDC xuất dùng

     

    Phương pháp phân bổ 1 lần: Theo phương pháp này khi xuất dùng CCDC

    giá trị của nó được chuyển toàn

    bộ vào chi phí sản xuất – kinh doanh của kỳ xuất dùng nó thường được áp dụng cho các công cụ dụng cụ có giá trị thấp và thời gian sử dụng ngắn và thường được áp dụng cho các thiết bị văn phòng:

    Phương pháp phân bổ 50%: Khi CCDC được xuất dùng thì kế toán tiến

    hành phân bổ 50% giá trị của chúng vào chi phí của kỳ xuất dùng. Khi bộ phận sử dụng báo hỏng CCDC thì kế toán tiến hành phân bổ chúng vào chi phí sản xuất kinh doanh của kỳ báo hỏng : chi phí bao gồm 1/2 giá trị của CCDC báo hỏng trừ đi giá trị phế liệu thu hồi trừ tiền bồi thường vật chất( nếu có )

    Phương pháp phân bổ nhiều lần: Phương pháp này  căn cứ vào giá trị

    của CCDC và thời gian dử dụng của chúng kế toán tiến hành tính mức phân bổ cho một kỳ huặc cho một lần sử dụng

    Bảng phân bổ CCDC quý 1 năm 2005 cho các công trình

    Đơn vị tính: đồng

    stt Công trình Số tiền Ghi chú
      TK 627    
    1 Cảng Chân Mây giai đoạn 2 20. 672.584  
    2 Đập Thảo Long 22.642.567  
    3 Cảng Khuyến Lương 16.782.944  
    4 Cảng Hòn La 18.942.563  
    5 Cảng tổng Hợp Mường La 62.255.000  
    6 Cảng Sa Đéc 82.955.781  
    7 Cầu tầu X51 12.653.844  
      Cộng 236905283  

       Người lập bảng                                                                           Kế toán trưởng          

    ( ký, ghi rõ họ tên)                                                                      ( ký, ghi rõ họ tên)

    Trần Mạnh Hùng                                                                          Nguyễn thanh Hải

     

    2.1 Chứng từ và thủ tục nhập kho

    Mua NVL nhập kho: Quy trình luân chuyển phiếu nhập kho : Phòng kế hoạch thị trường có nhiệm vụ lên kế hoạch sản xuất, xây dựng định mức tiêu hao NVL và định mức dự trữ NVL. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, phòng thiết bị vật tư cử cán bộ vật tư đi thu mua NVL. Khi NVL về đến Công ty, thủ kho cùng hội đồng kiểm nhập của Công ty tiến hành kiểm tra về chất lượng vật liệu, số lượng, quy cách, đơn giá vật liệu, nguồn mua và tiến độ thực hiện hợp đồng rồi lập Biên bản kiểm nghiệm. Sau đó, phòng thiết bị vật tư lập Phiếu nhập kho, cán bộ phụ trách cung ứng vật tư ký vào phiếu nhập kho, chuyển cho thủ kho nhập NVL, ghi thẻ kho rồi chuyển lên cho kế toán vật tư ghi sổ và bảo quản.

    Mỗi phiếu nhập kho được lập thành 3 liên:

    –    Một liên được lưu ở tập hồ sơ chứng từ gốc ở phòng thiết bị vật tư.

    • Một liên được dùng để thanh toán.

    –    Một liên chuyển cho kế toán NVL hạch toán.

    Phiếu nhập kho tại phòng vật tư được lập thành 3 liên

    • Liên 1 Lưu tại phòng vật tư
    • Liên 2 Giao cho thủ kho để vào thẻ kho
    • Liên 3 Giao cho kế toán

    Định kỳ thủ kho sẽ chuyển phiếu nhập kho  (liên 2) cho kế toán vật tư, phiếu nhập kho ghi đầy đủ các thông tin theo quy định. Căn cứ vào phiếu nhập kho kế toán có thể biết được tình hình NVL hiện có và các thông tin như số lượng, chủng loại, giá thành, ngày tháng nhập kho ..

    Ví dụ: Ngày 16 tháng 02 năm 2005 Công ty đã mua NVL của Công ty Cung ứng vật tư Đại Hoàng Minh . Căn cứ theo hoá đơn của Công ty Đại Hoàng Minh phòng vật tư của Công ty lập phiếu nhập kho, kiểm tra hàng hoá trước khi nhập vào kho như chủng loại, mẫu mã, số lượng, chất lượng đúng theo thoả thuận theo hoá đơn GTGT

    Hoá đơn(GTGT)             Mẫu số :01GTKT – 3LL

    Liên 2 : giao khách hàng

    Ngày 16 tháng 01 Năm 2005

    Đơn vị bán hàng : Công ty cung ứng vật tư Đại Hoàng Minh

    Địa chỉ : 156 Trần Quang Diệu – Đống Đa – Hà Nội

    Số tài khoản

    Điện thoại :                                              MST

    Họ tên người mua hàng : Trần huy Liệu

    Tên đơn vị : Công ty công trình đường thủy

    Đị chỉ : 159 Thái Hà – Đống Đa – Hà Nội

    Số tài khoản

    Hình thức thanh toán : Tiền Mặt

    stt Tên hàng hoá, dịch vụ đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    A B C 1 2 3
    1 Giàn giáo Chiếc 500 167500 83750000
    Cộng tiền hàng : 83750000
    Thuế suất GTGT : 5%                                                 tiền thuế GTGT :4187500
    Tổng tiền thanh toán :87937500
    Stviết bằng chữ: Tám mươI bẩy triệu chín trăm ba mươi bẩy nghìn năm trăm đồng

    Người mua hàng                        Người bán hàng               Thủ trưởng đơn vị                                                                                       

    (Ký,ghi rõ họ tên )                       ( Ký, ghi rõ họ tên)          (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)                                                                                                                                                                                                                 Trần Huy Liệu                                 Hoàng Thanh Huy                Nguyễn anh Văn

    Đơn vị : Công ty công trình đường thủy                                                                                                                                           

    Địa chỉ : 159 Thái Hà – Đống Đa – Hà Nội                                                                                                                                                                                                                                                                                                 

    Phiếu nhập kho

    Ngày16  tháng 01  năm 2005

    Họ và tên người giao hàng : Hoàng Thanh Huy

    Theo hoá đơn GGTG số 156 ngày 16 tháng 02 năm 2005

    Nhập tại kho: Thái Hà

    stt Tên nhãn hiệu quy cách vật tư( sản phẩm, hàng hoá) Mã số Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Theo  CT Thực nhập
    A B C 1 2 3 4 5
    1 Giàn giáo   Chiếc 500 500 160000 80000000
      Cộng tiền hàng           80000000
      Thuế GTGT           4000000
      Tổng cộng           84000000

    Phụ trách cung tiêu      Kế toán trưởng       gười giao hàng     thủ kho   thủ trưởng đơn vị

    (ký, ghi rõ họ tên)     (ký, họ tên)          (ký, họ tên)     (ký, họ tên)   (ký, họ tên)

    Mai Văn Hoá            Nguyễn Thanh Hải    Hoàng Thanh Huy  Nguyễn thị Hạnh  Mai văn Hoạt

     

    Chứng từ và thủ tục xuất kho:

            Quy trình luân chuyển phiếu xuất kho là: Khi có nhu cầu sử dụng NVL, các xí nghiệp lập phiếu yêu cầu xin lĩnh vật tư gửi lên phòng kế hoạch thị trường. Phòng kế hoạch thị trường xem xét kế hoạch sản xuất và định mức tiêu hao NVL của mỗi loại sản phẩm duyệt phiếu yêu cầu xin lĩnh vật tư. Nếu vật liệu có giá trị lớn thì phải qua ban giám đốc công ty xét duyệt. Nếu là vật liệu xuất theo định kỳ thì không cần qua kiểm duyệt của lãnh đạo công ty. Sau đó, phòng thiết bị vật tư sẽ lập Phiếu xuất kho chuyển cho thủ kho. Thủ kho xuất NVL, ghi thẻ kho, ký phiếu xuất kho, chuyển cho kế toán NVL ghi sổ, bảo quản và lưu trữ.

    Mỗi phiếu xuất kho được lập thành 3 liên:

    – Một liên lưu ở phòng sản xuất.

    – Một liên giao cho người lĩnh NVL mang xuống kho để lĩnh NVL.

    – Một liên giao cho kế toán NVL để hạch toán.

    Ví dụ: Ngày 26 tháng 01 năm 2005 Công ty tiến hành xuất NVL cho công trường thi công đường mòn Hồ Chí Minh tại tỉnh  Ninh Bình

    Đơn vị : Công ty công trình đường thuỷ

    Địa chỉ :Kho Ninh Bình

    Phiếu xuất kho

    Ngày  26 tháng 01  năm 2005

    Họ và tên người nhận hàng : Trần Anh Linh

    Lý do xuất kho : Phục vụ thi công công trình đường mòn Hồ Chí Minh

    Xuất tại kho : Ninh Bình

    stt Tên nhãn hiệu quy cách sản phẩm Mã số Đơn vị tính Số lượng Đơn giá Thành tiền
    Yêu cầu Thực xuất
    1 Xi Măng   kg 5000 5000    
    2 Thép   kg 8000 8000    
                   
      Tổng cộng            

    Phụ trách cung tiêu      Kế toán trưởng    Người nhận hàng    Thủ kho    Thủ trưởng đơn vị

    Võ thanh Hà                 Nguyễn thanh Hải     Trần anh Linh     Bùi cao Chanh    Mai Văn Hoạt

    (Ký, ghi rõ họ tên)

    Đã ký

    Ví dụ:  Ngày 28 tháng 01 năm 2005 do công trình đang thi công tại Tỉnh Ninh Bình thiếu NVL để thi công , Công ty điều chuyển NVL từ kho Tại Hà Nam do vậy Công ty đã sử dụng phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ.

    Đơn vị : Công ty công trình đường thuỷ

    Địa chỉ :  Kho Hà Nam

    Phiếu xuất kho

    (Kiêm vận chuyển nội bộ)

    ngày 28 tháng 01 năm 2005

    Liên 2 : Dùng để vận chuyển

    Họ và tên người vận chuyển: Hà chí Hiếu               Hợp đồng số : 11

    Phương thức vận chuyển : Ôtô

    Xuất tại kho : Hà Nam

    Nhập tại kho : Ninh Bình

    stt Tên nhãn hiệu quy cách( sản phẩm, hàng hoá) Mã số Đơn vị tính Số lượng đơn giá Thành tiền
    Thực xuất Thực nhập
    1 Thép   Kg 7000 7000    
    2 Que hàn   Kg 200 200    
                   
      Tổng cộng            

    Người lập phiếu                 Thủ kho xuất           Người vận chuyển     Thủ kho nhập

    Đã ký                                  Đã ký                           Đã ký                    Đã ký

    2.2 Hạch toán chi tiết NVL và CCDC

    2.2.1 Hạch toán chi tiết NVL

    Công ty sử dụng phương pháp thẻ song song để hạch toán chi tiết NVL . Theo đó việc hạch toán chi tiết nhập, xuất, tồn kho NVL được theo dõi cả ở phòng kế toán và ở kho.

    * Tại kho:

                Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép, phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn của từng thứ vật liệu theo chỉ tiêu số lượng. Số liệu của lấy từ các chứng từ nhập, xuất hàng ngày. Mỗi chứng từ được ghi trên một dòng và được thủ kho sắp xếp theo từng loại để tiện cho việc sử dụng thẻ kho trong công tác kiểm tra, đối chiếu số liệu và phục vụ cho yêu cầu quản lý.

    Hàng ngày, khi nhận các chứng từ kế toán về nhập, xuất, tồn kho vật liệu, thủ kho kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ rồi tiến hành ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào các thẻ kho. Sau khi sử dụng các chứng từ để ghi vào thẻ kho, thủ kho sắp xếp lại chứng từ, chuyển chứng từ đó cho phòng kế toán.

    * Tại phòng kế toán:

                Hàng tuần, thủ kho lập phiếu giao nhận chứng từ nhập, xuất và chuyển các chứng từ nhập, xuất cho kế toán NVL, thủ kho và kế toán NVL cùng ký vào phiếu giao nhận này. Khi nhận được các chứng từ nhập, xuất, sau khi kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ, kế toán NVL ghi sổ chi tiết NVL. Sổ chi tiết NVL theo dõi NVL cả về số lượng và giá trị. Cuối kỳ, kế toán NVL đối chiếu số liệu trên sổ kế toán chi tiết NVL với thẻ kho, từ đó lấy số liệu lập Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho.

    Có thể khái quát quy trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song tại công ty như sau:

    Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ vật tư, kế toán ghi vào chứng từ ghi sổ

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Đơn vị : Công ty công trình đường thuỷ

    Địa chỉ : Kho tại Ninh Bình

    Thẻ kho

    Ngày lập thẻ: 01 /02 /2005

    Tờ số: 01

    Tên nhãn hiệu quy cách vật tư : Xi măng

    Đơn vị tính : Kg

    stt Chứng từ Diễn giải Số lượng
    SH NT Nhập Xuất Tồn
    A B C D 1 2 3
          Tồn đầu kỳ     100.000
    1 2 01/01 Xuất đúc cọc bê tông   50.000 50.000
    2 4 02/01 Mua nhập kho 150.000   200.000
    3 7 05/01 Xuất thi công   20.000 180.000
    4 8 08/01 Xuất thi công   30.000 150.000
    5 10 12/01 Xuất thi công   50.000 100.000
    6 13 16/01 Xuất đúc Rầm Cầu   80.000 20.000
    7 19 22/01 Mua nhập kho 100.000   120.000
    8 22 23/01 Xuất kho thi công   62.000 58.000
          Cộng 250.000 292.000  
          Tồn cuối kỳ     58.000

    Tổng Công ty Xây dựng đường thuỷ

    Công ty công trình đường thuỷ

    Bảng tổng hợp nhập – xuất –  tồn

    Tháng 01 năm 2005

    Tài khoản :152

    Kho : Ninh Bình

    stt Diễn giải Đơn vị tính Tồn đầu kỳ Nhập Xuất Tồn cuối kỳ
    sl Tiền sl Tiền sl Tiền sl Tiền
    1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
    I Nhiên liệu                  
    1 Mỡ L4 Kg 30 750000 76 1900000 45 1125000 61 1525000
    2 Dầu diezel Lít 600 180000 1000 3000000 800 2400000 800 2400000
    3 Nhớt Lít 120 5160000 200 8600000 150 6450000 170 7310000
      .. .. ..                  
    II Xi măng                  
    1   Tấn 100 32500000 250 81250000 292 94900000 58 18850000
                         
    III Thép                  
    1 Thép Kg 9500 52250000 15000 82500000 12000 66000000 12500 68750000
    2 Thép Kg 5000 16500000 8000 26400000 7000 23100000 6000 19800000
      .. .. ..                  
                         

    2.2.2 Hạch toán chi tiết CCDC

    Tại Công ty công trình đường thuỷ việc sử dụng CCDC thường xuyên, khi có việc mới phát sinh mua sắm mới CCDC ,vì vậy theo dõi giá trị và phân bổ chi phí được thực hiện mỗi quý mà CCDC phát sinh. CCDC là những tài sản thường không đủ điều kiện để xếp vào là TSCĐ vì vậy giá trị của CCDC là tương đối nhỏ. Do vậy việc hạch toán chi tiết CCDC thông qua bảng phân bổ giá trị và chi phí .

    2.3 Hạch toán tổng hợp NVL và CCDC

    2.3.1 TK sử dụng để hạch toán:

     

    Với TK 152 –  “Nguyên vật liệu” được chi tiết

    + 1521 “Nguyên liệu, vật liệu chính ”.

    + 1522 “Vật liệu phụ”.

    + 1523 “Nhiên liệu”.

    + 1524 “Phụ tùng thay thế”.

    + 1526 “Thiết bị XDCB”.

    + 1528 “Vật liệu khác”

    Bên nợ :

    • Giá trị thực tế NVL nhập kho do mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia công, huặc nhập từ các nguồn khác.
    • Trị giá NVL thừa phát hiện khi kiểm kê

    Bên có :

    • Giá thực tế NVL xuất kho để sản xuất, để bán, để gia công chế biến.
    • Trị giá NVL được giảm giá huặc trả lại người bán
    • Trị giá NVL phát hiện thiếu hụt khi kiểm kê

    Với TK 151 “ Hàng mua đang đi đường”

    Bên nợ :

    • Giá trị hàng hoá, vật tư đang đi đường

    Bên có :

    • Giá trị hàng hoá , vật tư nhập kho hay chuển giao cho các đối tượng sử dụng như hay khách hàng, hay các công trường.

    Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản có liên quan như sau:

    • TK 111 : tiền mặt
    • TK 112 : tiền gửi ngân hàng
    • TK 133 : Thuế GTGT được khấu trừ
    • TK 333 : Thuế và các khonả phảI nộp cho nhà nước
    • TK 331 : phải trả người bán
    • TK 621 : Chi phí NVL trực tiếp
    • TK 627 : Chi phí sản xuất chung
    • TK 642 : Chi phí quản lý doanh nghiệp

    2.3.2 Kế toán tổng hợp nhập kho NVL

    Trong việc nhập kho NVL doanh nghệp sử dụng 2 loại chứng từ bắt buộc “ Hoá đơn giá trị gia tăng” và phiếu nhâph kho. Hoá đơn GTGT do bên bán gửi cho công ty, phiếu nhập kho do kế toán vật tư của Công ty lập. Ngoài ra trong trương hợp đặc biệt Công ty còn phải lập các chứng từ như biên bản kiểm nghiệm vật tư, biên bản xử lý vật tư thiếu .

    • Căn cứ vào hoá đơn, phiếu nhập, chứng từ có liên quan kế toán ghi khi hàn

    hàng mua về cùng hoá đơn:

    Nợ TK 152 : Giá trị NVL nhập kho

    Nợ TK 133 : Thuế GTGT được khấu trừ

    Có TK 331 : Chưa thanh toán với người bán

    Có TK 111, 112, 311 : Thanh toán với người bán

    • Khi hàng mua đang đi đường : Kế toán chỉ nhận hoá đơn mà chưa nhận

    được phiếu nhập kho thì lưu hoá đơn vào hồ sơ hàng hoá đang đi đường, nều trong tháng hàng về thì ghi như trên nếu cuối tháng hàng chưa về thì căn cứ và hoá đơn và các chứng từ có liên quan kế toán ghi :

    Nợ TK 151 : Hàng mua đang đi đường

    Nợ TK 133 : Thuế GTGT được khấu trừ

    Có TK 331: Chưa thanh toán với người bán

    Có TK 111, 112 , 311 thanh toán với người bán

    • Khi hàng về kế toán ghi theo phiếu nhập kho

    Nợ TK 152 : Nguyên liệu nhập kho

    Có TK : 151

    • Trường hợp hàng về chưa có hoá đơn

    Nợ TK 152 : Giá trị NVL nhập kho

    Có TK 331 Chưa thanh toán với nguòi bán

    • Khi có hoá đơn kế toán ghi

    Nợ TK 331 : Tổng giá thanh toán với người bán

    Có TK 111, 112 : Tổng giá thanh toán

    Ví dụ: Ngày 02 tháng 01 năm 2005 Công ty công trình đường thủy mua của Công ty xây dựng và kinh doanh vật tư 204,1 tấn cọc ván thép 400x170x15,5 với đơn giá 4523809,52đ/tấn

    Giá chưa có thuế : 923309523

    Tiền thuế GTGT 5% : 46165477

    Tổng cộng tiền thanh toán là : 969475000

    Theo ví dụ trên khi có hoá đơn và hàng đã nhập kho kế toán ghi :

    Nợ TK 152 : 923309523

    Nợ TK 133 : 46165477

    Có TK 111 :  969475000

    Nếu như chưa có hoá đơn mà hàng đã nhập kho kế toán ghi :

    Nợ TK 152 : 923309523

    Nợ TK 133 : 46165477

    Có TK 331 : 969475000

    Nếu như có hoá đơn mà hàng chưa về kho kế toán ghi :

    Nợ TK 151: 923309523

    Nợ TK 133:  46165477

    Có TK 111 :  969475000

    Khi hàng nhập kho kế toán ghi :

    Nợ TK  152 : 923309523

    Có TK 151 : 923309523

    Cuối quý kế toán lập chứng từ ghi sổ như sau

    chứng từ ghi sổ

    ngày 30 tháng 03 năm 2005

    số CTGS: 05

    trích yếu Tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
    Nguyên vật liệu chính 152   923309523  
    Thuế GTGT 133   46165477  
    Phải trả người bán   111   969475000
             
    Cộng     969475000 969475000

    Kèm theo các chứng từ gốc                                           ngày 30 tháng 03  năm 2005

      Người lập                                                                                     Kế toán trưởng

    2.3.3 Kế toán tổng hợp xuất NVL

    NVL tại Công ty công trình đường thuỷ xuất kho để sản xuất, thi công , bán , cho vay, trả lại . Khi nhận được giấy tờ hợp lệ thủ kho làm thủ tục xuất kho NVL theo yêu cầu, rồi chuyển các chứng từ về cho kế toán vật tư, kế toán vật tư phân loại theo từng đối tượng cuối quý định khoản và lập chứng từ ghi sổ.

    Khi xuất kho NVL để  xản suất kế toán ghi :

    Nợ TK 621 : giá thực tế

    Có TK 152 : Giá thực tế NVL xuất kho

    Khi xuất kho NVL để  phục vụ cho bộ phận sản xuất kế toán ghi :

    Nợ TK 627 : Giá thực tế NVL dùng cho thi công

    Có TK 152 : Giá thực tế NVL xuất kho

    Khi xuất kho NVL dùng cho bộ phận bán hàng kế toán ghi:

    Nợ TK 642 : Giá thực tế

    Có TK 152 : Giá thực tễ NVL xuất kho

    Khi xuất kho NVL dùng cho sản xuất các sản phẩm trước khi đưa vào sử dụng kế toán phải tập hợp chi phí:

    Nợ TK 154: Giá thực tế NVL xuất kho

    Có TK 152 : Giá thực tế NVL xuất kho

    Tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình gia công, huặc tự chế NVL kế toán ghi :

    Nợ TK 154

    Nợ TK 133 :Nếu có

    Có TK 334, 338 : chi phí nhân viên

    Có TK 331 : Tiền thuê gia công

    Khi xuất kho NVL để bán thi căn cứ vào giá thực tế kế toán ghi :

    Nợ TK 632 : Giá vốn hàng bán

    Có TK 152 :  Giá thực tế NVL xuất kho

    Tiền thu được từ việc bán NVL kế toán ghi :

    Nợ TK 111,112,131 : Số tiền thực thu

    Nợ TK 721 : Thu nhập bất thường

    Có TK 333 : Thuế GTGT phải nộp

    Khi NVL xuất kho để tra lại người bán do chất lượng kém thì căn cứ vào hoá đơn kế toán ghi :

    Nợ TK 111, 112, 331

    Có TK 152 : Giá thực tế mua

    Có TK 133 :  Thuế GTGT được khấu trừ

    Ví dụ: Khi xuất kho NVL theo phiếu xuất kho của Công ty Ngày 06 /01 /2005 tại kho Quảng Bình Xuất 100 cọc ván thép loại 400x170x15,5 theo đơn giá là 4121417đ/cọc

    Nếu xuất kho để thi công công trình

    Nợ TK 621 : 412141700

    Có Tk 152 : 412141700

    Nếu xuất kho để dùng cho bộ phân sản xuất

    Nợ TK 627 : 412141700

    Có TK 152 : 412141700

    Nếu xuất kho dùng cho quản lý doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp

    Nợ TK 642 : 412141700

    Có TK 152 : 412141700

    Nếu xuất kho NVL để bán

    NV 1

    Nợ TK 632 : 412141700

    Có TK : 152 :412141700

    NV 2

    Nợ TK 111: số tiền thực thu

    Có TK 721 : Thu nhập bất thường

    Có TK  333: Thuế GTGT phải nộp

    Nếu xuất kho NVL để trả lại

    Nợ TK 111 : 432748785

    Có TK 152 : 412141700

    Có  TK 133 : 20607085

    Mẫu chứng từ ghi sổ nghiệp vụ xuất NVL dùng cho tho công công trình

    Chứng từ ghi sổ

    Ngày 30 tháng 03 năm 2005

    Số CTGS : 12

    trích yếu Tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
    Chi phí NVL trực tiếp 621   412141700  
    Nguyên liệu chính   152   412141700
             
             
    Cộng     412141700 412141700

    2.3.4 Kế toán NVL thừa , thiếu khi kiểm kê tại công ty

    Định kỳ một năm một lần Công ty công trình đường thủy tổ chức kiểm kê kho để kiểm tra tình hình tồn kho NVL kịp thời phát hiện và xử lý những chênh lệch tại tại kho , trên sổ sách và trên thực tế . Khi có lệnh kiểm kê của cấp trên thì phòng vật tư của Công ty cùng phòng kế huạch thành lập ban kiểm kê gồm 01 trưởng ban và các uỷ viên và làm việc theo chuẩn mực kế toán hiện hành khi phát hiện các trờng hợp thừa và thiếu trong kiểm kê.

    Kiểm kê khi phát hiện thấy thiếu NVL thì căn cứ vào biên bản kiểm kê và biên bản sử lý kế toán ghi :

    Nợ TK 138 : Chờ sử lý

    Nợ TK 111, 138 , 334 : Yêu cầu bồi thường

    Có TK 642 :Thiếu trong định mức

    Có TK 152 : Giá thực tế của NVL thiếu

    Kiểm kê khi phát hiện thừa NVL so với sổ sách nếu la thừa của Công ty thì kế toán ghi :

    Nợ TK 152 : Giá thực tế NVL thừa

    Có TK 721 : Thu nhập bất thường

    Nếu phát hiện thừa của Công tu khác thi kế toán ghi :

    Nợ TK 152 : Giá thực theo hoá đơn

    Có TK 338 : Phải trả khác

    Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

    Năm 2004

    đơn vị tính:đồng

    Chứng từ ghi sổ Số tiền Chứng từ ghi sổ Số tiền
    SH NT SH NT
    1 2 3 1 2 3
    .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..  .. .. .. .. .. ..
    2 30/06 46564000      
    .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. . .
    5 30/6 27652000      
    . . . . . . . .  . . . . .  . . . . . .  . . .  . . . . . . . .  . . . . . . .  . .  . . .  . .
      Cộng        

                                                                            

                                                                               ngày 30  tháng 6 năm 2004

    Người lập                                                                 Kế toán trưởng

    Đã ký                                                                              Đã ký

     

    Mẫu sổ cái tài khoản 152

    Sổ Cái

    Năm 2004

    Tên tài khoản : Nguyên Vật Liệu

    Số hiệu : TK 152

    Ngày tháng

     

    ghi sổ

    Chứng từ

     

    ghi sổ

    Diễn giải Tài khoản đối ứng Số tiền
    SH NT Nợ
          Số dư đầu    . . . . . . . . . ..
          Số phát sinh trong tháng 6      
           . . . . . . . . . .  . . . . . .  . . . . .  . . . . . . .
    02/6 11 30/6 Xuất kho NVL 627   21672500
           . . . . . . . . . .  . . .. . . . . . . .. . . . . . . .
    05/6 16 30/6 Xuất kho NVL 642   12513900
           . . . . . . . . . . .  . . .  . . . .  . . ..
          Cộng phát sinh trong tháng      
          Số dư cuối tháng      
          Cộng luỹ kế từ đầu kỳ      

    ngày 30 tháng 6  năm 2004

       Người ghi sổ                                                                       Kế toán trưởng                                                         

    Đã ký                                                                                    Đã ký

    2.4 Hạch toán tổng hợp CCDC

    Tài khoản sử dụng 153 : “Công cụ, Dụng cụ “

    Bên có : Giá thực tế của CCDC tăng trong kỳ

    Bên nợ : Giá thực tế của CCDC giảm trong kỳ

    Dư nợ : Giá thực tế của CCDC tồn kho

    Các tài khoản chi tiết của TK 152

    TK 1531  “ Công cụ, Dụng cụ”  : Giá trị CCDC dự trữ để sử dụng tại công ty

    TK 2532 : Bao bì luân chuyển

    TK 1533 : Đồ dùng cho thuê

    Khi xuất dùng CCDC và phân bổ một lần thì căn cứ vào giá trị thực tế của CCDC

    Nợ TK 627 : Dùng cho các bộ phận Sản xuất

    Nợ TK 641 : Dùng cho bộ phận bán hàng

    Nợ TK 642 : Dùng cho bộ phận quản lý doanh nghiệp

    Có TK 153 : Giá thực tế của CCDC xuất kho

    Khi xuất dùng CCDC và phân bổ 50% thì kế toán ghi

    Nợ TK 142 : Giá thực tế của CCDC xuất kho

    Có TK 153 : Giá thực tế của CCDC xuất kho

    Phân bổ 50% giá trị của CCDC xuất dùng vào chi phí

    Nợ TK 627 : Dùng cho các bộ phận Sản xuất(50%giá ccdc)

    Nợ TK 641 : Dùng cho bộ phận bán hàng(50% giá ccdc)

    Nợ TK 642 : Dùng cho bộ phận quản lý doanh nghiệp(50% giá ccdc)

    Có TK 142 : 50% Giá trị thực tế CCDC  xuất dùng

    Khi xuất dùng CCDC và phân bổ nhiều lần kế toán ghi :

    Nợ TK 142 : Chờ phân bổ

    Có TK 153 : Giá trị thực tế CCDC xuất dùng

    Phản ánh mức phân bổ

    Nợ TK 627, 641, 642 : giá trị phân bổ

    Có TK 142 : giá trị phân bổ

    Ví dụ: Trong quý 1 năm 2005 Công ty phát mua CCDC để sử dụng có các định khoản sau :

    Nợ TK 153 : 80.000.000

    Có TK 111 : 80.000.000

    Nợ TK 142 : 80.000.000

    Có TK : 80.000.000

    Phân bổ 50% giá trị CCDC :

    Nợ TK 627 : 40.000.000 (Nếu dùng cho bộ phận sản xuất)

    Nợ TK 641 : 40.000.000 (Nếu dùng cho bộ phận bán hàng)

    Nợ TK 642 : 40.000.000 (Nếu dùng cho quản lý doanh nghiệp)

    Có TK 142 : 40.000.000

    Công cụ dụng cụ thường được sử dụng nhiều nhưng tại Công ty nhưng lại không dự trữ CCDC do khó quản lý vì vậy khi phát sinh công việc cần dùng thi Công ty mua và đưa vào sử dụng ngay nên TK 153 cuối kỳ thường không có số dư. Cuối kỳ kế toán dựa vào giá trị CCDC xuất dùng và áp dụng phương pháp phân bổ

    Phân bổ giá trị CCDC vào chi phí:

    Nợ TK 627 : 152.063.000

    Có TK 142 : 152.063.000

    Chứng từ ghi sổ

    Ngày 31 tháng 3 năm 2005

    Trích yếu Tài khoản Số tiền
    Nợ Nợ
    Trích chi phí CCDC quý 1 năm 2005 627   152.063.000  
      142   152.063.000
             
             
    Cộng     152.063.000 152.063.000

    Kèm theo: Chứng từ gốc

    Ngày 31 tháng 3 năm 2005

       Người lập                                                                          Kế toán trưởng

    (Đã ký)                                                                                   (Đã ký)

     

    PHẦN III.

    MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN NVL-CCDC TẠI CÔNG TY CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG THỦY.

     

    1. Nhận xét chung

                Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình phân tán. Phòng kế toán thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và báo cáo tổng hợp của công ty, tại các nhà máy và trung tâm trực thuộc công ty không mở sổ sách và không hình thành bộ máy kế toán riêng mà chỉ có những nhân viên tập hợp số liệu ban đầu gửi lên phòng kế toán tài chính – thống kê.  Mô hình kế toán tập trung này phù hợp với cơ chế quản lý của công ty vì nó không tạo ra sự phân tán quyền lực trong sản xuất kinh doanh cũng như trong hoạt động tài chính tạo ra một bộ máy quản lý  gọn nhẹ và thống nhất.

    Mặt khác, do số lượng sản phẩm sản xuất ra rất đa dạng, phong phú, khối lượng công việc hạch toán lớn nên lao động kế toán được phân công theo các phần hành kế toán. Việc phân công lao động kế toán như vậy cũng rất phù hợp, tạo điều kiện cho kế toán viên chuyên môn hoá trong công việc, tích luỹ kinh nghiệm, giải quyết các công việc thuộc phần hành của mình một cách nhanh chóng. Hơn nữa, giữa các kế toán viên luôn có quan hệ tác nghiệp trong công việc nên việc cung cấp, trao đổi thông tin giữa các phần hành rất nhanh chóng, kịp thời tạo điều kiện cung cấp số liệu, các báo cáo cho ban lãnh đạo công ty khi cần thiết.

    Có thể nói, mô hình kế toán mà công ty đang áp dụng đã phát huy vai trò của nó, góp phần quan trọng vào việc phân công lao động một cách hợp lý, cung cấp thông tin chính xác, nhanh chóng, hỗ trợ đắc lực cho ban lãnh đạo công ty trong việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

    1.1. Những ưu điểm.

                Công ty công trình đường thủy trong thời gian qua đã có nhiều biện pháp nhằm hoàn thiện, đổi mới trong công tác tổ chức hạch toán kế toán tại đơn vị mình. Vì vậy, công tác tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty đã đạt được những thành tựu, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của Công ty trong thời kỳ mới.

    * Về hệ thống chứng từ và luân chuyển chứng từ: Công ty đã sử dụng đầy đủ các chứng từ bắt buộc theo quy định và thực hiện nghiêm túc các bước trong quy trình luân chuyển chứng từ, tạo điều kiện cho công tác hạch toán ban đầu được chính xác và công tác hạch toán sau này thuận lợi hơn. Việc tổ chức, bảo quản, lưu trữ chứng từ khoa học, đầy đủ, dễ kiểm tra, kiểm soát, tạo điều kiện cung cấp thông tin kịp thời, chính xác khi cần đến.

    * Về hệ thống tài khoản: Công ty đã xây dựng hệ thống tài khoản khá chi tiết, cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng hạch toán của công ty, tạo điều kiện vừa theo dõi tổng hợp, vừa theo dõi chi tiết các đối tượng hạch toán một cách chính xác.

    * Về việc vận dụng hình thức sổ CTGS: Hiện nay, Công ty đang áp dụng ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ. Hình thức ghi sổ này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và quy mô của Công ty. Nó giúp giảm bớt công việc ghi chép, thuận lợi cho việc làm báo cáo tài chính và rút ngắn thời gian quyết toán. Bên cạnh hệ thống sổ tổng hợp theo quy định của Bộ tài chính, Công ty còn mở hệ thống sổ chi tiết để theo dõi chi tiết, lập các bảng biểu theo yêu cầu quản lý, giúp kế toán dễ theo dõi, tìm và cung cấp thông tin một cách kịp thời.

    * Về việc lập và thời gian lập các báo cáo tài chính: Công ty thực hiện theo đúng chế độ quy định ( thường là 06 tháng một lần ). Các báo cáo tài chính được nộp cho cơ quan thuế, ngân hàng, và Tổng công ty Công trình đường thủy. Ngoài các báo cáo tài chính, Công ty còn lập các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý giúp ban Giám đốc Công ty có thể đưa ra những quyết định kịp thời, chính xác.

    * Về công tác tổ chức các phần hành kế toán: Công ty tổ chức công tác kế toán theo các phần hành là phù hợp với quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh và phương thức quản lý của Công ty. Việc áp dụng hạch toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song giúp cho việc ghi chép đơn giản, dễ đối chiếu, kiểm tra giữa kế toán và thủ kho, phát hiện sai sót sớm, đồng thời cung cấp thông tin về nhập, xuất, tồn kho của từng mã vật tư kịp thời, chính xác. Hơn nữa, việc tổ chức nhân viên kế toán theo các phần hành giúp cho kế toán có thể chuyên sâu về công việc của mình. Đội ngũ kế toán đều có trình độ đại học trở lên và là  những người nhiệt tình với công việc.

    * Về áp dụng phần mềm kế toán: Hiện nay, công ty đang áp dụng kế toán máy cho tất cả các phần hành kế toán, vì vậy giảm nhẹ công việc ghi chép.

    * Về việc hạch toán các phần hành kế toán chủ yếu: hiện nay, công ty đang áp dụng tính giá NVL xuất kho theo giá thực tế đích danh. Tuy nhiên, với số lượng NVL đa dạng, số lần nhập xuất nhiều thì việc tính giá theo phương pháp này là chưa hợp lý vì không phản ánh chính xác tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, nhất là khi giá NVL trên thị trường luôn có những biến động.

    1.2. Những tồn tại.

    Trong những năm qua, mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác kế toán tuy nhiên không phải công tác tổ chức hạch toán kế toán tại Công ty không có những điểm hạn chế.

    * Về phân công lao động kế toán: Hiện nay, do số lượng nhân viên kế toán còn ít nên một nhân viên kế toán thường đảm nhận hai hoặc ba phần hành. Hơn nữa, trong quá trình công tác vì một lý do nào đó nhân viên phải nghỉ làm một thời gian, người thay thế sẽ phải tìm hiểu từ đầu về phần hành đó. Điều đó có thể làm cho áp lực công việc dồn lên những người còn lại. Việc luân chuyển công việc sang vị trí khác đôi khi gây khó khăn cho cả người đến và người đi vì chưa chuẩn bị kỹ về việc bàn giao công việc nên không thể không có sai sót.

    * Về việc luân chuyển chứng từ: việc luân chuyển chứng từ của Công ty được áp dụng theo đúng quy định. Tuy nhiên, do Công ty hoạt động trên địa bàn cách xa nhau mà công tác kế toán lại tập trung ở một nơi nên việc kiểm tra là rất khó khăn, thông tin được cập nhật hàng ngày là chưa đầy đủ, vì vậy việc luân chuyển chứng từ còn chậm trễ. Nhiều khi chứng từ ở các xí nghiệp được luân chuyển dồn dập vào cuối niên độ hoặc cuối quý, một cách không hợp lý .

    2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện  công tác hạch toán NVL-CCDC tại công ty công trình đường thủy.

    2.1 Nhận xét về công quản lý và kế toán NVL , CCDC

    • Vấn đề quản lý nguyên vật liệu : Do Công ty thi công các công trình ở

    xa vì vậy kho bãi cất trữ và bảo quản VNL, CCDC thường không bảo đảm yêu cầu, vì vậy rất khó quản lý và bảo vệ NVL

    • Vấn đề theo dõi quản lý CCDC chưa được chú trọng không phản ánh

    được những hỏng hóc , mất mát CCDC trong quá trình sử dụng

    • Công ty thực hiện lập sổ danh điểm vật tư trong công tác quản lý NVL và

    CCDC

    2.2 Một số kiến nghị

     

     

     

     

     

    KẾT LUẬN.

    Sau hơn 30 năm tồn tại và phát triển, Công ty công trình đường thuỷ đang từng bước lớn mạnh và khẳng định ưu thế của mình trong lĩnh vực xây dựng, thi công các hạng mục công trình thuỷ. Những kết quả đạt được trong những năm qua đã chứng tỏ hướng đi mà Công ty đã và đang lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. Trong thời gian tới Công ty sẽ chú trọng hơn nữa vào trang bị thiết bị, máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và nâng cao chất lượng sản phẩm để Công ty trở thành một doanh nghiệp Nhà nước hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh xây lắp.

    Để đạt được những thành tựu đó, Công ty đã thực hiện nhiều cải cách trong tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán. Bộ máy kế toán của Công ty trong nhiều năm qua đã góp phần tích cực vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, đặc biệt trong thời điểm chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Có thể nói, tổ chức bộ máy kế toán hiện nay đã giúp cho hoạt động tài chính của Công ty rõ ràng, minh bạch, phản ánh một cách chính xác và kịp thời tình hình hoạt động của Công ty, cung cấp thông tin đáng tin cậy cho ban lãnh đạo Công ty từ đó giúo cho ban lãnh đạo Công ty có những quyết định kịp thời trong tổ chức sản xuất và kinh doanh.

    Trong thời gian thực tập tại Công ty công trình đường thuỷ, em đã đi sâu tìm hiểu công tác hạch toán kế toán NVL và CCDC . Đợt thực tập đã giúp em nhận thức  rõ ràng hơn về công tác hạch toán NVL và CCDC tại Công ty tuy nhiên, do thời gian thực tập chưa lâu và kiến thức còn hạn chế nên dù đã có nhiều cố gắng chuên đề thực tập của em vẫn còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các cô chú phòng tài chính kế toán Công ty công trình đường thuỷ để chuyên đề cuả em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của cô giáo ThS. Lê Kim Ngọc và các cô chú phòng tài chính kế toán của Công ty đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.

    Em xin chân thành cảm ơn!    


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC THỦY VĂN CÔNG TRÌNH


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/05/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-m%C3%B4-h%C3%ACnh-Kinh-t%E1%BA%BF-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng 2019

    Bài tập lớn mô hình Kinh tế lượng

    I.                   ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhất là đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam thì ngành Nông nghiệp lại càng có vị trí quan trọng hơn nữa. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực, cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp, bảo vệ môi trường… và quan trọng hơn là tạo việc làm cho hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và làm nông nghiệp ở nước ta.

    Trong ngành nông nghiệp thì trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng chiếm vị trí rất quan trọng. Để trồng lúa đạt năng suất cao thì một trong các yếu tố quan trọng là có nguồn phân bón tốt, nhất là phân NPK, là loại phân được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng phân NPK của các hộ lại không giống nhau, phụ thuộc vào thu nhập của hộ, giá phân, diện tích trồng lúa.

    Vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố thu nhập của hộ nông dân, giá phân NPK, diện tích trồng lúa đến cầu của phân NPK.

    II.               PHƯƠNG PHÁP

    1.1. Phương pháp thu thập số liệu

    – Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn

    – Thông tin điều tra:

    Cầu và giá phân NPK cho lúa, thu nhập hộ nông dân, diện tích trồng lúa của hộ điều tra.

    • Chọn hộ điều tra:

    Trong xã có tỷ lệ hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá- giàu như sau: hộ nghèo: 16.2 %, hộ trung bình: 52.1 %, hộ khá – giàu: 31.7 % nên tôi chọn số hộ điều tra là 25 hộ, gồm 4 hộ nghèo, 13 hộ trung bình, 8 hộ khá- giàu.

    1.2. Phương pháp phân tích:

    Tôi sử dụng mô hình hồi quy để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đến cầu phân NPK.

    Gọi:      Yi là cầu về phân NPK của các hộ điều tra ( kg)

    X1 là thu nhập của hộ điều tra ( triệu đồng / năm)

    X2 là giá phân NPK ( nghìn đồng / kg)

    X3 là diện tích trồng lúa của hộ điều tra ( sào)

    Ta có mô hình tổng quát:

    Yi = β0 + β1 X1 + β X2 + β3 X3 + Ui

    III.            KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    1.1.          Tình hình chung

    Sau khi trực tiếp điều tra, nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy:

    Cầu về phân NPK trung bình là 14.32 kg, thu nhập trung bình của các hộ nghiên cứu là 8.132 triệu đồng/ năm, giá phân NPK trung bình là 3.5 nghìn đồng/ kg.

    1.2.          Kết quả và giải thích mô hình

    Bảng 3.1 Các thông tin điều tra được

    STT Yi X1 X2 X3
    1 9.4 4.3 4.7 4.2
    2 9.7 5.2 4.5 4.6
    3 10.3 5.6 4.6 5.2
    4 10.5 4.9 4.4 5.5
    5 10.9 6.4 4.3 5.8
    6 11.7 6.8 4 6
    7 12.1 6.5 4.1 6.2
    8 12.4 7 4.2 6.3
    9 12.2 7.2 3.9 6.1
    10 12.9 7.5 3.6 6.4
    11 13.4 7.8 3.8 6.9
    12 13.7 7.6 3.7 7
    13 13.9 8.1 3.5 7.2
    14 14.9 8.3 3.4 7.6
    15 14.2 8.6 3.3 7.4
    16 15.3 8.9 3.1 7.9
    17 15.8 9.3 3.2 8.2
    18 16.3 9.7 2.9 8.6
    19 17.5 9.5 3 9.1
    20 16.9 9.8 2.8 8.9
    21 18.7 10.2 2.3 9.5
    22 18.1 10.5 2.6 9.1
    23 18.6 10.8 2.5 9.4
    24 18.9 11.2 2.7 9.8
    25 19.7 11.6 2.4 10.2

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      
      Coefficients Standard Error t Stat P-value Lower 95% Upper 95% Lower 95.0% Upper 95.0%
    Intercept 6.9449215 2.711499803 2.561284161 0.0181912 1.306048988 12.58379401 1.306048988 12.58379401
    X1 0.0532633 0.187956968 0.283380083 0.7796603 -0.33761465 0.444141173 -0.33761465 0.444141173
    X2 -0.9242324 0.413411223 -2.23562481 0.0363651 -1.783968087 -0.064496687 -1.78396809 -0.06449669
    X3 1.3895078 0.229648716 6.050579381 5.272E-06 0.911927138 1.867088432 0.911927138 1.867088432

    Sau khi chạy mô hình trên phần mềm excel ta có kết quả sau:

    SUMMARY OUTPUT

    Regression Statistics
    Multiple R 0.9957504
    R Square 0.9915188
    Adjusted R Square 0.9903072
    Standard Error 0.3095768
    Observations 25

    ANOVA

      df SS MS F Significance F
    Regression 3 235.2874062 78.4291354 818.35283 6.68667E-22
    Residual 21 2.012593808 0.0958378    
    Total 24 237.3      

    Nhìn vào kết quả chạy mô hình trên excel ta có mô hình:

    Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    * Thống kê hồi quy

    – Hệ số tương quan của mô hình: R2 = 0.9915188 dần tiến tới + 1 ta có thể nói mô hình có độ chặt chẽ cao.

    – Sai số chuẩn của mô hình: Se = 0.3095768 là nhỏ, chứng tỏ sự tác động của các yếu tố khác ngoài các biến của mô hình tới cầu phân NPK là nhỏ.

    * Bảng phân tích phương sai

    –           Giả thuyết H0 : mô hình không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Giả thuyết H1 : mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %

    Ta có Fqs = 818.35283

    F= 3.072

    Ta có Fqs > Fc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, mô hình có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Kiểm định các hệ số của mô hình

    – Kiểm định β0

    Giả thuyết H0 : hệ số β0  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β0 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 2.561

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β0 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β1

    Giả thuyết H0 : hệ số β1  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β1 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 0.283

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd < Tc chấp nhận giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1

    Vậy, β1 không có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β2

    Giả thuyết H0 : hệ số β2  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β2 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = | – 2.236| = 2.236

    T0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β2 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    – Kiểm định β3

    Giả thuyết H0 : hệ số β3  không có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Giả thuyết H1 : hệ số β3 có ý nghĩa tại α = 5 %.

    Tkd = 6.051

    0.025, 21 = 2.08

    Ta có Tkd > Tc chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0

    Vậy, β3 có ý nghĩa thống kê tại α = 5 %.

    * Giải thích ý nghĩa các tham số của mô hình

    Mô hình hồi quy: Yi = 6.945 + 0.053 X1 – 0.924 X2 + 1.389 X3

    Ta có   β0 = 6.945 nghĩa là các yếu tố bên ngoài không được đưa vào mô hình có ảnh hưởng tới mức cầu phân NPK.

    β 2 = – 0.924 nghĩa là khi giá phân NPK tăng lên 1 nghìn đồng/ kg thì cầu về phân NPK của hộ giảm đi 0.924 kg.

    β 3 = 1.389 nghĩa là khi diện tích trồng lúa của hộ điều tra tăng lên 1 sào thì cầu về phân NPK của hộ tăng lên 1.389 kg.

    IV.             KẾT LUẬN

    Qua kết quả nghiên cứu đề tài ta thấy diện tích trồng lúa của hộ nông dân là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất, thu nhập của hộ là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến cầu về phân NPK. Hộ nào có diện tích trồng lúa càng nhiều thì cầu về phân NPK sẽ càng cao, tuy nhiên, hộ có thu nhập cao thì cầu về phân NPK cũng không tăng hơn nhiều so với hộ có thu nhập thấp hơn.

    Tuy nhiên, khi sử dụng phân NPK cần chú ý sử dụng hợp lý, tránh sử dụng lãng phí phân bón, vừa làm tăng chi phí sản xuất vừa làm ô nhiễm môi trường.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]