Category: Kế Toán – Kiểm Toán

  • ĐỒ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ “CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT” CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH NĂM 2011-2015

    ĐỒ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ “CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT” CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH NĂM 2011-2015

    ĐỒ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ “CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT” CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH NĂM 2011-2015

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Kinh Tế Vi Mô Lý Thuyết Và Bài Tập


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%92-%C3%81N-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-V%E1%BB%80-%E2%80%9CCH%C3%8DNH-S%C3%81CH-L%C3%83I-SU%E1%BA%A4T%E2%80%9D-C%E1%BB%A6A-NG%C3%82N-H%C3%80NG-TRUNG-%C6%AF%C6%A0NG-ANH-N%C4%82M-2011-2015.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỒ ÁN NGHIÊN CỨU VỀ “CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT” CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH NĂM 2011-2015

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    1. Khái niệm lãi suất và thước đo lãi suất

    1.1 Khái niệm lãi suất

    Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.

    1.2 Các thước đo lãi suất

    • Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán, trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
    • Lãi suất hiệu quả: tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho một năm.
    • Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của các khoản tiền nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu tư đó.

    1.3 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

    • Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
    • Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.

    2. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

    2.1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư

    Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể kinh tế. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích người ta hy sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại. Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

    2.2 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô

    Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được số lãi phải trả, và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập luận như vậy về việc đi vay để tiêu dùng. Những người tiêu dùng so sánh số lãi phải trả cho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng hay một sản phẩm như một căn nhà hay một chiếc ô tô chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng sự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm cả các thành phần như cầu đầu tư của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tư, dến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:

    • Lãi suất thấp → khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm so với ngoại tệ.
    • Lãi suất cao → hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng → giảm tổng cầu → sản lượng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.

    Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô nên lãi suất được Chính phủ các nước sử dùng làm một công cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia.

    2.3 Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.

    Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn. Đối với những dự án có mức độ rủi ro như nhau, dự án nào có lãi suất lớn hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa định nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khả năng thu hút được vốn. Như vậy, bằng cách đưa các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.

    Trong quan hệ vay vốn, người đi vay không chỉ phải hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn phải trả lãi vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích các người đi vay phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi.

    2.4 Là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế

    Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hương tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hướng giảm xuống.

    2.5 Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

    Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. NHTW sử dụng công cụ này dưới các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay, qua đó khống chế  lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.

    Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, NHTW sử dụng công cụ lãi suất gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.

     

    CHƯƠNG 2. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

    1.       Giới thiệu về Ngân hàng trung ương Anh

    1.1.          Lịch sử

    Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Ngân hàng được thành lập năm 1694 với một điều lệ thành lập mà mục đích của nó là để “thúc đẩy lợi ích chung và lợi ích của toàn thể dân chúng”.

    Ngày nay, Ngân hàng Trung ương Anh đã thể hiện được tầm nhìn chiến lược của nhà sáng lập. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng là để thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Được thành lập như một tổ chức tư nhân, Ngân hàng Anh đã được quốc hữu hóa sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng vẫn giữ lại quy mô của Ngân hàng với phần lớn thị phần là không chính thức.

    Điều này đã được thay đổi vào năm 1997, khi Quốc hội bỏ phiếu để cho phép các ngân hàng hoạt động độc lập với các quy định rõ ràng để theo đuổi sự ổn định giá cả, đã tạo ra thách thức lớn nhất đối với chính sách kinh tế vĩ mô trong hai thập kỷ trước.

    Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã chứng minh sự cần thiết cho một cách tiếp cận mới để quy định tài chính ở Anh. Điều này đã làm gia tăng thêm trách nhiệm cho Ngân hàng trung ương Anh.

    Xét trên một số khía cạnh, điều này thể hiện sự trở lại vai trò to lớn hơn mà Ngân hàng thực hiện trong quá khứ. Tuy nhiên, cam kết của Ngân hàng để phục vụ lợi ích công cộng sẽ được xác định rõ ràng bởi Quốc hội.

    1.2 Ban lãnh đạo

    Ngân hàng Anh được điều hành bởi hội đồng thống đốc bao gồm một Thống đốc, bốn phó Thống đốc và 14 giám đốc điều hành. Tất cả đều được bổ nhiệm bằng một sắc lệnh Hoàng gia sau khi đã được xem xét thông qua. Thống đốc và bốn phó Thống đốc có nhiệm kì là 5 năm và các thành viên khác có nhiệm kì là 3 năm. Và đều có thể được bổ nhiệm lại khi kết thức nhiệm kì.

    Các Thống đốc và Giám đốc điều hành của Ngân hàng hình thành đội điều hành có trách nhiệm cho việc quản lý điều hành của Ngân hàng.

    Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh là ông: Mark Carney (bổ nhiệm 1/7/2013-30/6/2021). Bốn phó thống đốc là: Ben Broadbent, Nemat Shafik, Sir Jon Cunliffe, Andrew Bailey lần lượt quản lí về Chính sách tiền tệ, Thị trường & Ngân hàng, Ổn định tài chính, Cơ quan giám sát Tài chính. Và các giám đốc điều hành: Charlotte Hogg, Ralph Coates, John Finch, Andrew Gracie, Jenny Scott, Andy Haldane, Joanna Place, Chris Salmon, Megan Butler, Lyndon Nelson, David Rule, John Footman, Graham Nicholson, Paul Fisher.

    Tất cả bốn đại diện cho Thống đốc Ngân hàng  bao gồm cả trong nước và nước ngoài sẽ xuất hiện trước Ủy ban Tài chính và quốc tế thông qua các thành viên của Ủy ban và các nhóm quốc tế quan trọng và thường xuyên nói chuyện công khai về các vấn đề bao gồm kinh tế, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính. Các Giám đốc điều hành (COO) chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh quản lý hàng ngày của Ngân hàng, bao gồm cả nguồn nhân lực, tài chính, tài sản, công nghệ thông tin và an ninh. Các Giám đốc điều hành có tư cách và thù lao tương đương với một Phó Thống đốc.

    1.3 Chức năng

    Ngân hàng Anh thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương. Quan trọng hơn cả là duy trì ổn đinh giá cả và hỗ trợ các chính sách kinh tế của Chính phủ Vương quốc Anh. Hai lĩnh vực chính được Ngân hàng đảm nhiệm là:

    • Ổn địnhtiền tệ: duy trì giá cả ổn định và lòng tin vào đồng bảng Anh. Giá cả ổn định được duy trì tuân thủ mục tiêu lạm phát của Chính phủ. Ngân hàng thực hiện chức năng này thông qua tỷ lệ lãi suất được ấn định bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ.
    • Ổn định tài chính: duy trì sự ổn định tài chính trước các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính. Những nguy cơ này được phát hiện bằng quan sát, theo dõi. Các nguy cơ phát sinh sẽ được ngăn chặn bằng các hành động tài chính và các biện pháp khác ở trong nước và ngoài nước. Trong những trường hợp hãn hữu,Ngân hàng Anh là ngân hàng cung cấp tín dụng cuối cùng.

    Các định chế khác cùng Ngân hàng Anh đảm bảo sự ổn định tài chính và tiền tệ như:

    • Ngân khố Chính phủ(Her Majesty’s Treasury), cơ quan của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế và tài chính
    • Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính(Financial Services Authority – FSA), tổ chức độc lập quản lý lĩnh vực dịch vụ tài chính.
    • Cácngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế khác với mức đích cải thiện hệ thống tài chính quốc tế.

    Bản điều luật năm 1997 quy định những nguyên tắc mà Ngân hàng Anh, Ngân khố chính phủ và FSA phối hợp để tăng cường sự ổn định tài chính.

    Với vai trò là ngân hàng của Chính phủ Anh, NHTW Anh quản lý tài khoản quỹ chung của chính phủ. Ngân hàng cũng quản lý thị trường ngoại hối và dự trữ vàng. Nó là ngân hàng của các ngân hàng, có nghĩa là cho vay sau cùng. Để duy trì năng lực nghiệp vụ, nó cũng cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng bán lẻ cho một số lượng hạn chế các cá nhân và tổ chức.

    Ngân hàng Anh có độc quyền phát hành giấy bạc tại Anh (England) và Wales. Các ngân hàng Scotland và Bắc Ireland vẫn giữ quyền phát hành giấy bạc ở địa phương nhưng họ phải ký quỹ đảm bảo toàn bộ tại Ngân hàng Anh trừ khoản vài triệu bảng giấy bạc phát hành năm 1845. Sau tháng 12 năm 2002, việc in ấn giấy bạc được giao cho công ty De La Rue theo tư vấn của Công ty tài chính Close Brothers (Close Brothers Corporate Finance Ltd).

    Từ năm 1997, Ủy ban Chính sách tiền tệ chịu trách nhiệm ấn định tỷ lệ lãi suất. Với quyết định cho phép Ngân hàng hoạt động độc lập, trách nhiệm quản lý nợ của chính phủ được chuyển cho Văn phòng Quản lý nợ nước Anh (UK Debt Management Office) năm 1998. Đến năm 2000, chức năng quản lý tiền mặt của chính phủ cũng chuyển giao cho văn phòng này. Và cuối năm 2004, công ty Computershare giành quyền cung cấp dịch vụ quản lý trái phiếu cho Chính phủ Anh.

    1.4 Mục tiêu chung

    Ngân hàng Trung ương Anh có nhiệm vụ là thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính. Như trong điều lệ ban đầu của Ngân hàng năm 1694, cho biết: ‘Now know ye, That we being desirous to promote the public good and benefitt of our people…’ (Như mọi người đều biết, mong muốn của chúng tôi là thúc đẩy lợi ích cộng đồng và lợi ích của toàn thể người dân…)

    Theo quyết định của Quốc hội, Ngân hàng sẽ thực hiện điều này bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng là bình ổn giá cả và hỗ trợ các mục tiêu kinh tế của Chính phủ bao gồm cả sự tăng trưởng và ổn định việc làm. Ổn định tiền tệ có nghĩa là giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ. Giá cả ổn định được xác định bởi mục tiêu lạm phát của Chính phủ, mà Ngân hàng tìm cách đáp ứng thông qua các quyết định giao cho Ủy ban Chính sách tiền tệ, giải thích những quyết định minh bạch và thực hiện chúng một cách hiệu quả trong thị trường tiền tệ.

    Ổn định tài chính đòi hỏi luồng hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế và sự tự tin trong các tổ chức tài chính. Điều này được thực hiện qua:

    • Hoạt động tài chính của Ngân hàng, bao gồm việc cho vay cuối cùng;
    • Quyết định của Ủy ban Chính sách tài chính;
    • Quy định bảo đảm an toàn của các tổ chức tài chính của PRA;
    • Vai trò của Ngân hàng là cơ quan giải quyết;
    • Giám sát ngân hàng và quy định về thanh toán chính, thanh toán bù trừ và cơ sở hạ tầng, giải quyết.

    Ủy ban Chính sách tài chính (FPC) có hành động chống lại những rủi ro mang tính hệ thống để bảo vệ và tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống tài chính Anh. Ủy ban có một mục tiêu thứ cấp để hỗ trợ cho chính sách kinh tế của Chính phủ.

    Cơ quan giám sát tài chính (PRA) chịu trách nhiệm giám sát của khoảng 1.700 ngân hàng, hiệp hội xây dựng, công đoàn tín dụng, công ty bảo hiểm và các công ty đầu tư lớn. PRA có một mục tiêu chung để thúc đẩy sự an toàn và lành mạnh của các doanh nghiệp và – đặc biệt cho các công ty bảo hiểm – góp phần vào sự bảo vệ của bảo hiểm.

    Tuy nhiên, sự ổn định tiền tệ và tài chính không phải là kết quả cuối cùng, nhưng trước tiên đó là điều kiện cần thiết để cung cấp các lợi ích chung. Vì lý do đó, cam kết của Ngân hàng với hai mục đích cốt lõi đã được viết lại thành một nhiệm vụ duy nhất bao trùm tất cả, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm theo luật định của Ngân hàng là làm cho đến mục tiêu cuối cùng: Nhiệm vụ của Ngân hàng Anh là để thúc đẩy lợi ích của người của Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    2.       Mục tiêu của Ngân hàng trung ương Anh trong giai đoạn hiện nay

    Mục tiêu chính của Ngân hàng trung ương Anh là duy trì sự ổn định và sức mua của đồng nội tệ thông qua việc kiểm soát lạm phát ở mức có thể chấp nhận được xấp xỉ là 2%. Giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ chính là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự ổn định tiền tệ. Và trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTW để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.

    3. Chính sách lãi suất của NHTW Anh

    3.1 Các công cụ điều hành

    Ngân hàng Anh điều hành lãi suất thị trường qua hai cộng cụ là lãi suất cơ bản và lãi suất Repo (lãi suất được sử dụng trong những hoạt động của thị trường mở).

    Lãi suất cơ bản

    Thay đổi lãi suất cơ bản chính là công cụ dễ thấy nhất được sử dụng bởi MPC, có đội ngũ các nhà kinh tế họp mỗi tháng để thảo luận về chính sách tiền tệ hiện tại và trong tương lai.

    Lãi suất Repo

    Repo là viết tắt của thỏa thuận mua lại, và tỷ lệ repo là mức độ mà Ngân hàng Anh mua lại chứng khoán đã bán trước đó trong các thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ bao gồm các ngân hàng, hiệp hội xây dựng và kinh doanh chứng khoán chuyên khoa. Thay đổi tỷ lệ repo ảnh hưởng đến thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống tiền tệ, mà nhanh chóng có tác dụng trên tất cả các tỷ lệ khác.

    Ngân hàng trung ương đã sử dụng các công cụ lãi suất để nhằm đảm bảo mục tiêu. Tuy nhiên, một mục tiêu 2% không có nghĩa là lạm phát sẽ được cố định tại tỷ lệ này liên tục. Điều đó sẽ là không thể và cũng nằm ngoài mong muốn của Ngân hàng. Lãi suất thay đổi theo thời gian, và với số lượng lớn, sẽ gây bất ổn không cần thiết và biến động trong nền kinh tế. Thậm chí sau đó nó sẽ không thể giữ lạm phát ở mức 2% mỗi tháng. Thay vào đó, mục đích của MPC là để thiết lập lãi suất để lạm phát có thể được đưa trở lại mục tiêu trong một khoảng thời gian hợp lý mà không tạo ra bất ổn không đáng có trong nền kinh tế.

    Ủy ban chính sách tiền tệ họp mỗi tháng để thiết lập lãi suất để đạt mục tiêu lạm phát 2% của Chính phủ. Thành viên của MPC bao gồm 9 người trong đó năm người là nhân viên cao cấp của ngân hàng Anh và bốn người là thành viên bên ngoài do Thủ tướng bổ nhiệm. Mỗi người có một phiếu để quyết định lãi suất được thiết lập.

    Sự thay đổi lãi suất sẽ mất khoảng 2 năm để có tác động đầy đủ đối với lạm phát. Vì vậy, Uỷ Ban chính sách tiền tệ đặt ra lãi suất dựa trên dự báo về lạm phát 2-3 năm tới.Nếu lạm phát được dự báo là sẽ vượt qua mục tiêu, Ủy ban chính sách tiền tệ có thể sẽ tăng lãi suất. Mọi người sẽ có xu hướng chi tiêu ít hơn và tiết kiệm hơn, đặt áp lực giảm lạm phát. Nếu lạm phát có khả năng giảm xuống dưới mục tiêu, MPC có thể sẽ cắt giảm lãi suất để kích thích chi tiêu và lạm phát.

    Hình 2.1. Mối quan hệ giữa lãi suất với cung tiền, đầu tư và thu nhập.

    Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu.

     

     

     

     

    Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản và lạm phát

    3.2 Lãi suất của NHTW Anh những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây, lãi suất đã được điều chỉnh thường xuyên để phản ánh thay đổi điều kiện kinh tế vĩ mô.

    Từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, Ủy ban chính sách tiền tệ của NHTW Anh liên tục cắt giảm lãi suất. Động thái này nhằm đề phòng kinh tế yếu kém sẽ khiến Anh rơi vào suy thoái kinh tế kéo dài. Thông báo của Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (MPC) cho biết tình trạng suy giảm của kinh tế Anh xuất hiện tại cả các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Cắt giảm lãi suất cho vay sẽ góp phần giảm bớt tình trạng khó khăn trên các thị trường tín dụng, và tạo điều kiện cho các ngân hàng giúp khách hàng của mình. Cho đến tháng 3 năm 2009, Anh đã giảm lãi suất xuống thấp kỷ lục trong 3 thế kỷ ở mức 0,5% và duy trì cho đến nay nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu.

    Biểu đồ 2.1. Lãi suất chính thức của Anh được công bố qua các năm

    (nguồn:www.economicsonline.co.uk)

    1999 – 2000 Tỷ lệ này là tương đối cao ở mức 6% để hạn chế nhu cầu.

    2000 – 2003 Lãi suất giảm nhanh chóng xuống mức thấp nhất trong 25 năm, giúp kích thích nhu cầu.

    2003-2007 Tỷ giá đã được đẩy lên thành một vùng trung tính vào khoảng 5%, nhưng đến năm 2007 họ đã đưa lên đối với khu vực hạn chế.

    2008 -2014 Để đối phó với suy thoái kinh tế sâu sắc, giá đã được cắt giảm đến mức chưa từng có trong thời hiện đại.

    3.3 Hiệu quả của việc giảm lãi suất

    Giả định nền kinh tế có một khoảng cách sản lượng sau đó giảm lãi suất của Ngân hàng Anh, với các yếu tố khác không đổi,sẽ làm tăng tổng cầu.

    Việc giảm lãi suất sẽ kích thích tổng cầu. Điều này tạo ra một hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng lại là áp lực tiềm năng lên lạm phát.

    MPC quyết định giữ nguyên mức lãi suất sau khi xem xét khả năng phục hồi kinh tế và chiều hướng lạm phát thấp ở Anh trong bối cảnh có nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới suy yếu.

    Theo MPC, việc giữ nguyên lãi suất trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả nhiều hơn mong đợi, khiến kinh tế Anh bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc. BoE đã duy trì lãi suất chủ chốt ở mức nửa phần trăm trong hơn 5 năm qua để hỗ trợ kinh tế phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Lãi suất ở Anh đã ở mức 0,5% kể từ năm 2009 và lãi suất có ảnh hưởng tới sự phát triển trong hoạt động kinh tế vĩ mô của Vương quốc Anh:

    • GDP thay đổi tỷ lệ đã tăng từ -5.2% trong năm 2009 lên 2,4% vào năm 2014
    • Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 7,5% trong năm 2014 từ 8,1% trong năm 2011 sau khi tăng mạnh vào đầu năm 2008-2009 do ảnh hưởng của suy thoái.

    Biểu đồ 2.2. Lạm phát, tăng trưởng, chênh lệch đầu ra và lãi suất ở Anh

    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Giảm lãi suất làm tăng tổng cầu. Lãi suất thấp hơn làm cho chi phí vay thấp hơn. Kích thích doanh nghiệp đầu tư và người tiêu dùng chi tiêu. Lãi suất thấp hơn cũng làm suy yếu đồng tiền của nước Anh, nên giảm đầu tư trong nước và tăng đầu tư nước ngoài. Điều này làm tăng kim ngạch xuất khẩu (như đã làm giữa năm 2012 và 2013 tăng 1,6%) và giảm nhập khẩu (1,2% giữa năm 2012 và 2013).

    Tổng cầu cao hơn nên làm tăng sản lượng quốc gia và do đó sẽ gia tăng GDP, tăng 1,3% giữa năm 2012 và năm 2013 sự gia tăng AD đã dẫn đến một sự gia tăng tỷ lệ lớn hơn trong sản lượng thực tế. Độ co giãn cao của tổng cung ngắn hạn là do số lượng lớn công suất dự phòng trong nền kinh tế Vương quốc Anh. Ví dụ như khoảng cách sản lượng được ước tính là -1,7% trong năm 2014.

    Như vậy rõ ràng là mức lãi suất thấp là nguyên nhân sự gia tăng GDP thực tế của Anh, và là một thành phần quan trọng của hoạt động kinh tế vĩ mô.

    Tác động đến chỉ số giá tiêu dùng CPI

    Biểu đồ 2.3. Chỉ số giá tiêu dùng CPI  ở Anh qua các năm

    Consumer Prices Index 2011 -2013 ( Nguồn: www3.hants.gov.uk)

    Year CPI % Change  
    2013 126.1 2.6  
    2012 123.0 2.8  
    2011 119.61 4.5  
    2010 114.48 3.3  
    2009 110.83 2.2  
    2008 108.48 3.6  

    Năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu, giá đã bắt đầu tăng với tốc độ hàng năm khoảng 5%. Tuy nhiên chưa đầy một năm sau đó, giá đã tăng khoảng 1% so với chỉ số CPI.

    Đến cuối năm 2011, giá đã tăng trở lại với mức tăng CPI 5,2%, phù hợp với các thiết lập mức cao kỷ lục trong tháng Chín năm 2008

    Kể từ đó chỉ số này đã giảm trở lại, với chỉ số CPI trên đây của Ngân hàng Anh là 2% tỷ lệ mục tiêu của nước Anh lần đầu tiên kể từ tháng 11 2009.

    Tuy nhiên, vào đầu năm 2009, giá dầu thô đã giảm mạnh, mất hai phần ba giá trị của nó chỉ trong sáu tháng, và suy thoái kinh tế toàn cầu đã thực hiện tổ chức. Tại Anh, thuế VAT cũng được cắt giảm từ 17,5% đến 15%, trong một nỗ lực để kích thích chi tiêu. Tất cả điều này góp phần vào tỷ lệ lạm phát giảm.

    Sau đó, thuế GTGT trở lại lên đến 17,5% vào đầu năm 2010, và đã được tăng thêm tới 20% vào năm sau. Tăng lớn trong hóa đơn khí đốt và điện, cùng với chi phí vận chuyển và giá cả thực phẩm, đẩy giá lên cao hơn nữa.

    Kể từ đó, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống như tác động của tăng thuế VAT và chi phí năng lượng cao hơn đã giảm đi.

    Trong năm 2014, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của lạm phát của Anh giảm hơn nữa so với dự kiến, giảm đến 1,2 phần trăm trong tháng Chín so với 1,5 phần trăm trong tháng trước, đánh một năm năm thấp.

    CPI được dự kiến ​​sẽ chậm nhẹ lên 1,4 phần trăm theo dự báo của giới phân tích. Tuy nhiên, sự sụt giảm này thậm chí còn thấp hơn nhiều so Ngân hàng Anh của hai phần trăm mục tiêu và đi kèm theo đó trong mục tiêu cho tháng thứ chín liên tiếp.

    Các biện pháp đã được đẩy hơn nữa bằng cách giảm chi phí vận chuyển và giá hàng hóa giải trí, theo Văn phòng Thống kê quốc gia, đặc biệt là vé máy bay và chi phí của máy tính bảng đã trở thành rẻ hơn.

    Các nhà kinh tế nói chung mong đợi Vương quốc Anh được hưởng lợi từ lạm phát dưới mức mục tiêu trong một thời gian. Jonathan Loynes, nhà tư vấn kinh tế tại Capital Economics cho rằng lạm phát CPI có thể giảm 1% trước khi kết thúc năm 2014.

    Đó được coi là tin tốt cho các hộ gia đình, nơi mà giá đã tăng nhanh hơn so với thu nhập trung bình kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính.

    Tác động đến thất nghiệp

    Biểu đồ 2.4.  Mối quan hệ giữa lãi suất và tỉ lệ thất  nghiệp tại Anh


                    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Lãi suất thấp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự gia tăng thất nghiệp. Nền kinh tế Anh có tỉ lệ thất nghiệp thiếu tính chu kỳ hoặc do hậu quả của suy thoái kinh tế. Kết quả của sự gia tăng AD đến sự gia tăng nhu cầu lao động và do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ. Kể từ khi cắt giảm lãi suất tỷ lệ thất nghiệp đã giảm 0,3% => phân tích cho rằng lãi suất thấp làm giảm thất nghiệp.

    Tỷ lệ thất nghiệp cấu trúc có thể được giải quyết hiệu quả hơn nhờ các chính sách tài chính như đào tạo lại người lao động, cải thiện giáo dục và việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Tương tự như vậy lãi suất có thể chỉ là một hiệu ứng nhỏ về tỷ lệ thất nghiệp lương thực tế, do mức lương tối thiểu là trên mức giá cân bằng. Mặc dù bằng cách kích thích lãi suất thấp có thể làm tăng nhu cầu cân bằng mức lương, dễ dàng để giảm tỷ lệ thất nghiệp cổ điển bằng cách giảm mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế đầy hứa hẹn của chính phủ Vương quốc Anh đã hứa sẽ tăng mức lương tối thiểu lên £ 6,50 từ £ 6,31.

    Vào đầu năm 2009 ở Anh, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng mạnh, doanh nghiệp và niềm tin tiêu dùng đã giảm nghiêm trọng và các ngân hàng đã nắm giữ các quỹ của họ.

    Sự kế thừa của cắt giảm chi phí vay đã đưa giá xuống mức thấp lịch sử, nhưng với nền kinh tế vẫn còn trong suy thoái kinh tế thì vẫn còn nhiều việc cần phải thực hiện để cố gắng khởi động phục hồi.

    Vì vậy, tháng 3 năm 2009, cùng với tỷ lệ lãi suất 0,5%, Ngân hàng cũng đã giới thiệu một chương trình nới lỏng định lượng (QE)

    Các ngân hàng tạo ra tiền mới và tiêm nó vào nền kinh tế để cố gắng thúc đẩy chi tiêu. Nó làm điều này bằng cách mua tài sản từ các công ty tài chính, bao gồm cả các ngân hàng High Street, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí

    Một cách nới lỏng tiền tệ có thể kích thích nhu cầu là nếu các công ty này chi tiêu số tiền họ nhận được tài sản của họ. Nếu họ mua cổ phiếu, ví dụ, các công ty mà họ đầu tư có thể quyết định mua thiết bị mới, giúp họ phát triển và thậm chí có nhân viên mới

    Theo QE, Ngân hàng Anh thường mua trái phiếu, một hình thức IOU do chính phủ vay tiền. Nhu cầu bổ sung có thể là hiệu quả cuối cùng của việc giảm chi phí vay rộng rãi hơn – giúp các doanh nghiệp và hộ gia đình.

    Trong khi sự phục hồi kinh tế đã thực sự cải thiện đáng kể trong những tháng gần đây, Ngân hàng vẫn quan ngại về tính bền vững của sự phục hồi và tác động của nó đối với lạm phát trong dài hạn.

    Do đó, Ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì các chính sách này cho đến khi chắc chắn  rằng nước Anh là trên một con đường an toàn của tăng trưởng kinh tế.

     

    CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ SUẤT CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NHTW ANH. KINH NGHIỆM ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

    1. Những lợi thế trong chính sách lãi suất của BOE

    1.1 Ổn định nền kinh tế.

    Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế Anh đã giảm mạnh. Theo báo cáo của Cơ quan thống kê  quốc gia Anh(ONS) , tỷ lệ lạm phát trong tháng 8/2014 đã giảm chỉ còn 1.2%, mức thấp kỉ lục trong vòng 4 năm qua kể từ tháng 9/2009, thời điểm  tỉ lệ lạm phát đang ở mức 1.1%. Đây cũng là tháng thứ 9 liên tiếp tỉ lệ lạm phát thấp hơn mức 2% mà BOE đã đặt ra.

    Cũng theo IMF, Anh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế đang phát triển với mức dự báo tăng trưởng là 3.2% trong năm 2014, tốc độ này đủ mạnh để đưa nước Anh thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính.

    1.2 Độc lập.

    Ngân hàng của Ủy ban chính sách tiền tệ của nước Anh là độc lập với Chính phủ nên có thể đưa ra những quyết định mà không bị ràng buộc bởi sự can thiệp chính trị.

    1.3 Dễ thực hiện.

    Lãi suất có thể thay đổi trên cơ sở hàng tháng, trái ngược với những thay đổi không thể thực hiện được đều đặn như vậy trong chính sách tài khóa linh hoạt.

    2. Những bất lợi của chính sách lãi suất.

    2.1 Mạnh mẽ và trực tiếp.

    Thực tế đã chứng minh mức lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến chi tiêu hộ gia đình. Dù tỉ lệ lạm phát giảm nhưng vẫn ở mức cao hơn nhiều so với mức tăng lương bình quân của người dân Anh(khoảng 0.6% trong quý 2/2014) khiến các hộ gia đình chịu nhiều áp lực về chi tiêu.

    2.2.  Đầu tư giảm, trị trường nhà đất đi xuống.

    Chi đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất, và mức giá cao hơn làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư. Trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Nếu như tháng 8/2013, dòng vốn chảy vào Vương quốc Anh đạt tới 8.9 tỉ USD thì tới tháng 9/2014, các nhà đầu tư đã rút 27 tỉ USD đầu tư tài chính ra khỏi nước Anh.

    Thị trường nhà ở là rất nhạy cảm với thay đổi lãi suất. Giá nhà ở hầu hết các khu vực trên nước Anh vẫn đang tiếp tục tăng cao kỉ lục. Thị trường bất động sản đang gặp những vấn đề nghiêm trọng như nguy cơ “bong bóng” và có thể trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với tiến trình phục hồi nền kinh tế Anh.

    2.3. Các nền kinh tế kép

    Ngoài ra còn có các vấn đề của nền kinh tế kép. Có nên đấy giá cao để kiểm soát các khu vực dịch vụ, hoặc áp dụng mức lãi suất thấp đối với các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chậm phát triển? Không giống như các cuộc suy thoái trước, trong cuộc suy thoái hiện tại tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế đã phải chịu đựng trong một cách tương tự, vì vậy giá đã được thiết lập ở mức thấp lịch sử mà không có bất kỳ lo ngại lạm phát.

    2.4 Những cái bẫy thanh khoản

    Giảm lãi suất trong một cuộc suy thoái có thể không có hiệu quả vì cái gọi là “bẫy thanh khoản”. Lý thuyết này được kết hợp với Keynes, và phân tích của ông về “Đại suy thoái”. Trong một cuộc suy thoái lãi suất sẽ giảm đối với số không, như ở Anh trong năm 2009, sau cuộc khủng hoảng tài chính .

    Trong trường hợp này, các ngân hàng và các trung gian tài chính khác thích giữ tiền mặt hơn là cho vay. Vì vậy, trong khi vay có thể được kích thích, tính thanh khoản không được phát hành thông qua hệ thống – đó là ‘mắc kẹt’ và không có sẵn. Điều này làm sâu sắc thêm tình trạng suy thoái và làm suy yếu nền kinh tế thực. Trong trường hợp này, chính quyền có thể phải bơm tiền trực tiếp vào bàn tay của công chúng. Phân bổ chứng từ chi tiêu là một trong những cách này có thể đạt được. Chính thức hơn, quá trình này được gọi là “nới lỏng định lượng” .

    3.       Khuyến nghị chính sách

    Từ những thực trạng và phân tích trên, nhóm chúng em có đề xuất một số khuyến nghị về chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nói riêng đối với NHTW Anh.

    • Với nền kinh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế phát triển G7, tốc độ tăng trưởng là “hợp lý cân bằng giữa tiêu dùng và đầu tư”, lạm phát đã chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm và giá cổ phiếu tăng. Ngân hàng Anh cũng phải đối mặt với mức giảm căng thẳng của lạm phát, hiện tại là 1,2% dưới mức lạm phát mục tiêu 2%, tốc độ tăng lương chậm so với lạm phát, lương thực tế giảm, giá nhà tăng cao..trong thời gian dài duy trì mức lãi suất thấp 0,5%. Điều này dẫn đến đã có những dấu hiệu cho thấy chi phí đang tăng nhanh hơn so với năng suất, trong thời gian tới BOE có thể cần phải thắt chặt dần chính sách tiền tệ. Khi thời gian đến để thắt chặt chính sách thì trước tiên BOE nên tăng lãi suất Ngân hàng. Và lãi suất cần được tăng một cách dần dần để nền kinh tế thích ứng kịp thời và hạn chế rủi ro. Khi lãi suất tăng làm cho chi phí về các khoản thế chấp, vay tăng dẫn đến nhu cầu về nhà ở giảm, giá nhà đất giảm (ở Anh, người vay và thế chấp mua nhà chiếm tỷ lệ lớn).
    • Khi đưa ra các quyết định thay đổi lãi suất thì NHTW Anh cần phải dựa vào các chỉ tiêu khác nhau như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, công suất dự phòng…và yếu tố lạm phát chỉ là một phần, không nên chỉ chú trọng đến lạm phát. Bởi lãi suất như con dao hai lưỡi vì thế mà cần phải cân nhắc xem xét các chỉ tiêu để đưa ra các quyết định phù hợp.
    • Bên cạnh những tiến bộ đã được thực hiện trong việc nâng cao tính minh bạch của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Anh nên thiết lập hành lang hướng dẫn chính sách tương lai kịp thời rõ ràng hơn, sớm cung cấp rõ ràng về cơ chế hoạt động như cung cấp biểu đồ lãi suất của Ngân hàng trong tương lai. Tháng 8/2013, BOE đã đưa ra hướng dẫn chính sách: lãi suất ngân hàng sẽ ở mức thấp kỷ lục cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp xuống 7% và đến nay tỷ lệ thất nghiệp ở dưới 7% lãi suất vẫn không đổi 0.5%. Và khi mục tiêu đề ra đã đạt được thì BoE phải thực hiện những gì đã tuyên bố hoặc phải giải thích vì sao phải thay đổi điều đó, một tuyên bố sớm sẽ giúp cho nền kinh tế không bị bất ngờ trước sự thay đổi đột ngột của lãi suất, các doanh nghiệp hiểu được thông điệp của ngân hàng trung ương. Sự rõ ràng của chính sách giúp các doanh nghiệp lập kế hoạch, đầu tư và thuê, hỗ trợ các động lực kinh tế trong tương lai.

    4.       KINH NGHIỆM CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA BOE ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM.

    4.1.          Đánh giá chính sách lãi suất của NHTW Anh BOE

    • BOE đưa ra mức lãi suất chủ yếu dựa vào các biến số là: Lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tình trạng vốn khả dụng của NHTM, giá tài sản trên thị trường vốn và lãi suất thị trường quốc tế nhưng chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá là lạm phát.
    • Sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu của CSTT, diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụng của NHTM.
    • Việc công bố lãi suất chính thức của NHTW tác động đến nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau và không gây nên xáo trộn về lãi suất và giá tài sản (cổ phiếu và trái phiếu) trên thị trường vốn và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính kinh doanh thuận lợi, có hiệu quả.
    • Lãi suất ngắn hạn. trung hạn và dài hạn có sự ràng buộc và diễn biến theo nhau.
    • Bộ Tài chính và NHTW Anh có sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả.

    4.2.          Một vài thực trạng chính sách lãi suất của Việt Nam

    • Mối liên hệ giữa các loại lãi suất thị trường và lãi suất của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, lãi suất đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc, lãi suất tiền gửi của các TCTD tại NHNN) còn lỏng lẻo, nhiều khi tách rời nhau, biến động chưa phù hợp cơ chế lãi suất thị trường; vai trò điều tiết lãi suất thị trường của lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở còn rất hạn chế.
    • Còn quá nhiều lãi suất trong nền kinh tế, lãi suất VNIBOR(Đường cong lãi suất giới hạn chuẩn) chưa chính xác, chưa phản ánh đúng được cung cầu vốn trên thị trường vì thế tác dụng tham chiếu của nó còn bị hạn chế.
    • Việc công bố lãi suất cơ bản nhiều lúc chưa linh hoạt theo đúng diễn biến của thị trường.

    4.3.           Kinh nghiệm của NHTW Anh và giải pháp cho Việt Nam

    • Sớm cho phép NHNN có những quyền hạn rộng rãi hơn trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ.
    • Tạo điều kiện phối kết hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
    • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kiểm soát hữu hiệu được thị trường liên ngân hàng, theo dõi kịp thời diễn biến lãi suất của thị trường liên ngân hàng, làm cơ sở nghiên cứu và ban hàng lãi suất cơ bản.
    • Có sự ràng buộc chặt chẽ giữa thị trường ngắn hạn và thị trường dài hạn làm cho mức lãi suất ngắn hạn và dài hạn diễn biến theo nhau.
    • Phát triển các công cụ thị trường tiền tệ nhằm đa dạng hoá các công cụ trên thị trường, mở rộng áp dụng các công cụ mới nhất là các công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế.
    • Tăng cường vai trò của Hiệp hội ngân hàng trong việc ổn định, thống nhất chung về lãi suất giao dịch của các NHTM trên địa bàn, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh về lãi suất, gây bất lợi cho những ngân hàng nhỏ.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu Luận Kinh Tế Vĩ Mô Phân tích tình hình cung cầu Cà phê Việt Nam 2007-2017


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-Lu%E1%BA%ADn-Kinh-T%E1%BA%BF-Vi-M%C3%B4.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu Luận Kinh Tế Vi Mô

    Lời mở đầu

    Kinh tế học có hai bộ phận quan trọng đó là: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Kinh tế học vi mô là một môn khoa học quan tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế cụ thể của các tế bào kinh tế trong một nền kinh tế. Còn kinh tế học vĩ mô tìm hiểu để cải thiện kết quả hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Nó nghiên cứu cả một bức tranh lớn. Kinh tế vĩ mô quan tâm đến mục tiêu kinh tế của cả một quốc gia.

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lí doanh nghiệp trong các ngành kinh tế quốc dân nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản: Đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế, vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó, tuy nó khác với môn khoa học về kinh tế vĩ mô, về kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

    • Để trở thành môn khoa học về sự lựa chọn, kinh tế học vi mô nghiên cứu ba vấn đề cốt lõi trên, lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản, tính quy luật và xu hướng vận động của kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ.

    Kinh tế vi mô là một phân nghành chủ yếu của kinh tế học,chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các cá nhân ( gồm người tiêu dùng, nhà sản xuất, hay một ngành kinh tế nào đó), hay nói cách khác kinh tế vi mô là nền tảng cho nhiều nghành kinh tế học, là nền tảng trực tiếp cho các môn kinh tế học công cộng, địa lý kinh tế……

    Chính vì tầm quan trọng đó mà việc làm bài tập lớn có thể giúp em hiểu được rõ hơn về môn học kinh tế vi mô, cũng như những kiến thức của bài học và thực tiễn cuộc sống. Điều đó tạo nền tảng và cơ sở vững chắc cho kiến thức cũng như việc học tập các môn học của em sau này. Bài tập lớn gồm có 3 phần

    • Phần 1: Lý thuyết
    • Phần 2: Tính toán
    • Phần 3: Kết luận

    Bài tập lớn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hồng Thu

    Em xin chân thành cảm ơn cô!

    Phần 1: Lý thuyết

    I. Giới thiệu chung về môn học vi mô

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lý luận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lí doanh nghiệp trong các ngành kinh tế quốc dân nhằm giải quyết 3 vấn đề cơ bản: Đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào.

    Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế, vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết. Do đó, tuy nó khác với môn khoa học về kinh tế vĩ mô, về kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

    Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế vi mô là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả tương đối giữa các mặt hàng và dịch vụ. Kinh tế vi mô phân tích những thất bại của thị trường, khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như đề cập đến những điều kiện cần có trong lý thuyết của việc cạnh tranh hoàn hảo.

    Để trở thành môn khoa học về sự lựa chọn, kinh tế học vi mô nghiên cứu ba vấn đề cốt lõi trên, lựa chọn các vấn đề kinh tế cơ bản, tính quy luật và xu hướng vận động của kinh tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ. Đối tượng, nội dung cơ bản của kinh tế học vi mô bao gồm

    Chương I :Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp, lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần và hiệu qủa kinh tế.

    Chương II: Cung và cầu, nghiên cứu nội dung của cung cầu, sự thay đổi cung và cầu, quan hệ cung cầu ảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và ngược lại

    Chương III: Lý thuyết người tiêu dùng, nghiên cứu các vấn đề về nhu cầu và tiêu dùng, các yếu tố ảnh hưởng, đường cầu, hàm cầu, hàm tiêu dùng tối đa hoá lợi ích và tiêu dùng tối ưu. Lợi ích cận biên và hệ số co giãn của cầu.

    Chương IV: Thị trường các yếu tố sản xuất, nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn và đất đai.

    Chương V: Sản xuất, chi phí và lợi nhuận, nghiên cứu các vấn đề về nội dung, sản xuất và chi phí, các yếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần và tối đa hoá lợi nhuận.

    Chươgn VI: Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không hoàn hảo và độc quyền.

    Chương VII :Vai trò của chính phủ nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệp của chính phủ đối với hoạt động kinh tế

    Kinh tế học vi mô là một môn khoa học kinh tế, là khoa học về sự lựa chọn các hoạt động kinh tế vi mô tối ưu trong từng doanh nghiệp, từng tế bào kinh tế học. Việc nghiên cứu kinh tế vi mô cần căn cứ vào các luận điểm của Mác về kinh tế thị trường. Nó quan hệ chặt chẽ với môn khoa học kinh tế vĩ mô và kinh tế doanh nghiệp, cho nên cũng có phương pháp nghiên cứu chung, đồng thời có những phương pháp cụ thể khác nhau.

    • Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế học vi mô. Lựa chọn kinh tế tối ưu các hoạt động kinh tế vi mô là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt của kinh tế học vi mô, cho nên nghiên cứu các vấn đề cụ thể của kinh tế vi mô phải luôn nắm vững bản chất và phương pháp học.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận. phương pháp luận với thực hành trong quá trình học tập. Muốn vậy, phải tham gia thảo luận, tranh luận khoa học các đề tài, nghiên cứu về các chuyên đề, phân tích và giải thích các tình huống, xử lý các tình huống đó một cách tối ưu trong những điều kiện cho phép, đồng thời xây dựng các đồ thị để làm rõ hơn và sâu sắc hơn của các quyết định về lựa chọn kinh tế.
    • Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú, phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của các doanh nghiệp ở Việt Nam và các nước. Nhứng lý luận, phương pháp luận nghiên cứu trong kinh tế vi mô đều giới hạn bởi các giả thuyết đơn giản hơn với hoạt động thực tiễn khách quan và đang xảy ra trong thực tế. Vì vậy, cần sử dụng những lý luận, phương pháp luận có tính quy luật để lam cơ dở phân tích các hoạt động kinh tế vi mô, phát hiện những mâu thuẫn đang diễn ra trong thực tiễn , trên cơ sở đó xây dựng các đề án, đề ra những phương hướng, phát triển có hiệu quả hơn các hoạt động kinh tế vi mô.
    • Cần coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạt động của kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến trên thế giới. Chỉ bằng cách đó, ta mới làm phong phú thêm, sâu sắc thêm nhứng nhận thức lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô. Ví dụ, lý thuyết kinh tế vi mô về hành vi của người tiêu dùng, giả định có mối quan hệ ngược chiều với giá cả của hàng hoá và số lượng hàng hoá mà mọi người muốn mua, do đó khi giá cả tăng mọi người ít mua. Tuy nhiên, trong thực tế khi mua nhiều hàng hoá khi giá cả tăng, đặc biệt là giả cả cao đó tạo ra sự sang trọng nhất định hoặc là giá cả còn có thể tăng nữa… Hoạt động thực tiễn của kinh tế vi mô rất phong phú và đa dạng, mỗi một hoạt động kinh tế vi mô chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp. Còn lý thuyết của kinh tế vi mô đua ra những giới hạn của các giả thiết là khái quát hơn và đơn giản hơn, do đó các dự đoán có thể sai lệch so với thực tiễn cụ thể.
    • Phải đơn giản hóa việc nghiên cứu các mối quan hệ phức tạp. Áp dụng các phương pháp cân bằng nội bộ, xem xét từng đơn vị vi mô. đồgn thời cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình vi phân để lượng hoá các quan hệ kinh tế.

    Bằng các phương pháp nói trên, việc nghiên cứu kinh tế vi mô sẽ đạt hiệu quả và chất lượng cao,và nắm bắt được quy luật trong các tình huống kinh doanh khác nhau của doanh nghiệp.

    II. Giới thiệu chung về lý thuyết cung- cầu

    1. Cầu

    1. Các khái niệm

    Cầu: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định với các yếu tố khác không đổi.

    Nhu cầu: Là những mong muốn và nguyện vọng vô hạn của con người. Sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thoả mãn.

    VD: Bạn muốn mua một bộ quần áo đẹp (đó là nhu cầu), nhưng bạn không có đủ tiền ( khả năng mua), và cầu của bạn về bộ quần áo đó bằng không.

    Lượng cầu: Là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá đã cho trong những khoảng thời gian nhất định.

    Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá.

    Biểu cầu: Là bảng chỉ số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định.

    Mặt khác, ta có thể minh hoạ biểu cầu bằng đồ thị. Đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá gọi là đường cầu.Trục tung biểu diễn giá, trục hoành biểu diễn lượng cầu. Một điểm chung nữa của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới về phía phải. Khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống thì lượng cầu tăng lên. Mối quan hệ tỷ lệ nghịch này giữa giá và luật cầu là rất phổ biến. Các nhà kinh tế học gọi đó là luật cầu.

    Luật cầu: là số lượng hàng hoá hay dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống hoặc ngược lại ( với điều kiện các yếu tố khác không đổi).

    Số lượng hàng hoá hay dịch vụ được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hoá hay dịch vụ giảm xuống. Vì mỗi một hàng hoá có thể thay thế bởi một loại hàng hoá khác. Khi giá của một loại hàng hoá nào đó tăng lên thì người ta sẽ tìm mua các hàng hoá thay thế khác để sử dụng.

    VD: Khi giá thịt đắt lên, người tiêu dùng có thể mua cá, trứng để thay thế cho thịt.

    Cầu thị trường: Là tổng số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà mọi người có khả năng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong những khoảng thời gian nhất định. Cầu thị trường là tổng hợp của các cầu cá nhân.

    1. Các yếu tố xác định cầu và hàm số của cầu.

    Lương cầu hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng muốn mua và có khả năng mua còn phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau.

    • Thu nhập của người tiêu dùng.– Thu nhập là một yếu tố quan trọng để xác định cầu. Thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng lên thì người tiêu dùng cần nhiều hàng hoá hơn và ngược lại.

    – Mặc dù sự tăng lên của thu nhập dẫn đến sự tăng cầu đối với hầu hết các loại hàng hoá, nhưng nó không dẫn đến sự tăng cầu đối với tất cả các loại hàng hoá.

    . Những hàng hoá có nhu cầu tăng lên khi thu nhập tăng được gọi là hàng thông thường.

    . Những hàng hoá có nhu cầu giảm đi khi thu nhập tăng được gọi là hàng thứ cấp.

    • Giá cả của các loại hàng hoá liên quan.

    – Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân hàng hoá. Nó còn phụ thuộc vào giá của hàng hoá liên quan. Các hàng hoá liên quan này còn phụ thuộc vào hai loại.

    . Hàng hoá thay thế.

    . Hàng hoá bổ sung

    – Hàng hoá thay thế là hàng hoá cỏ thể sử dụng cho hàng hoá khác. VD, cà phê và chè là hai loại hàng hoá thay thế. Khi giá của một loại hàng hoá này thay đổi thì cầu đối với loại hàng hoá kia cũng thay đổi.

    – Hàng hoá bổ sung là hàng hóa được sử dụng đồng thời với các loại hàng hoá khác. Đối với hàng hoá bổ sung, khi giá của một hàng hoá tăng lên thì cầu đối với hàng hoá bổ sung kia sẽ giảm đi.

    • Số lương người tiêu dùng(dân số)(N).

    Khi số lượng về người tiêu dùng tăng lên thì nhu cầu về hàng hoá cũng tăng.

    • Thi hiếu người tiêu dùng.

    Thị hiếu có ảnh hưởng đến cầu của người tiêu dùng, thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của ngươi tiêu dùng đối với hàng hoá hay dịch vụ… Nếu hàng hoá mà được người tiêu dùng ưa thích thì cầu về hàng hoá đó sẽ tăng. Các nhà kinh tế thường giả định rằng thị hiếu không thay đổi hoặc thay đổi rất chậm và thị hiếu độc lập với các yếu tố khác của cầu.

    • Các kỳ vọng.

    Cầu đối với hàng hoá hay dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng(sự mong đợi)của người tiêu dùng. Các kỵ vọng cũng có thể về thu nhập, về thị hiếu, về số lượng người tiêu dùng… đều tác động đến cầu đối với hàng hoá. Tóm lại khi có sự thay đổi của các yếu tố trên sẽ làm cho lượng cầu thay đổi ở mọi mức giá. Chúng tạo nên hàm cầu, được thể hiện dưới dạng phương trình sau

    Q= f( PX,t , Yt , Pt,r , N, T, E )

    Trong đó: Q: Lượng cầu đối với hàng hoá x trong thời gian t

    PX,t : Giá của hàng hoá x trong thời gian t

    Yt    : Thu nhập của người tiêu dùng trong thời gian t

    Pr,t   : Giá của hàng hoá có liên quan trong thời gian t

    N   : Dân số( hay người tiêu dùng)

    T   : Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng

    E   : Các kỳ vọng

    1. Sự dịch chuyển của đường cầu.
      Lượng cầu tại một mức giá đã cho được biểu thị bằng một điểm trên đường cầu. Còn đường cầu  phản ánh cầu đối với hàng hoá hay dịch vụ nào đó. Do vậy, sự thay đổi của cầu là sự dịch chuyển toàn bộ sang trái hoặc sang phải. Còn lượng cầu dịch chuyển dọc theo đường cầu. Nếu giá cả giảm, các yếu tố khác không đổi thì cầu tăng. Nếu hàng hoá tăng, các yếu tố khác không đổi thì cầu giảm.

                                                                                                                                                                   

     

    Còn khi bất cứ một yếu tố nào ngoài giá của hàng hoá thay đổi sẽ làm cho đường cầu dịch chuyển hay có sự thay đổi của cầu.

    2. Cung

    1. Các khái niệm.

    Cung: Là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định.

    Lượng cung: Là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.

    Do đó, cung là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cung và giá.

    Nếu như cầu thể hiện mức mua sắm của người tiêu dùng, thì cung lại thể hiện mục đích bán hàng của nhà sản xuất.

    • Biểu cung: Là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn sàng bán ở mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.

    Do đó, đường cung có xu hướng dốc lên về phía phải.

    1. Các yếu tố xác định cung và hàm cung.
    • Công nghệ(TE): Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất giảm chi phí lao động trong quá trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên.
    • Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào(P).

    Giá của các yếu tố sản xuất giảm dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận tăng làm cho cung tăng. Do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên.

    • Chính sách thuế (t)

    Chính sách thuế của chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định sản xuất của các hãng, do đó ảnh hưởng đến việc cung cầu sản phẩm. Khi thuế tăng thì cung giảm. Khi thuế giảm thì cung tăng.

    • Số lương người sản xuất(N)

    Khi số lượng người sản xuất càng nhiều thì lượng cung của mỗi nhà sản xuất càng lớn.

    • Kỳ vọng(E)

    Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hoá, giá của các yếu tố sản xuất, chính sách thuế…. đều có ảnh hưởng đến cung hàng hoá và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng và ngược lại.

    Từ các yếu tố trên ta xác định hàm cung theo phương trình sau.

    Q = f(PX,t , Pi , T, Ns , E)

    Trong đó : Q: Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t

    PX,t  : Giá của hàng hoá x trong thời gian t

    Pi    : Giá của các yếu tố đầu vào

    T    : Công nghệ

    NS   :  Số người sản xuất

    E    : Các kỳ vọng

     

     

    1. Sự di chuyển và dịch chuyển ở đường cung.

    Lượng cung tại một mức giá đã cho được biểu diễn bằng một điểm trên đường cung. Toàn bộ đường cung cho biết cung về hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó. Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung. Sự thay đổi lượng cung là sự vận động dọc theo đường cung. Khi bất kỳ yếu tố nào khác giá của bản thân hàng hoá thay đổi, sẽ làm cho đường cung dịch chuyển, hay có sự thay đổi về cung.

     
       

     

                                                                                                                     

    3. Cân bằng cung- cầu

    1. Trạng thái cân bằng cung – cầu

    Dựa vào việc phân tích cả cung và cầu. Ta thấy rằng tại một thời điểm nhất định ta xác định được giao điểm của đường cung và đường cầu. Tại đó lượng cung băng lương cầu( QD=QS). Nghĩa là người bán muốn mua một sản phẩm là Qs, còn người mua muốn mua một lượng là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng của thị trường. Mức giá cân bằng này không được xác định bởi từng các nhân riêng lẻ mà nó được hình thành bởi hoạt động tập thể của toàn bộ người mua và người bán.

    1. Trạng thái dư thừa và thiếu hụt của thị trường.

    Khi giá cả của thị trường không bằng với mức giá cân bằng chúng sẽ lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức giá đó

    • Khi mức giá thấp hơn mức giá cân bằng trên thị trường, mức lợi nhuận của các nhà sản xuất giảm, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có khả năng mua hàng hoá. Do đó khoảng cách giữa cung và cầu ngày càng lớn, gây nên hiện tượng thiếu hụt trên thị trường. Sự thiếu hụt này là kết quả của việc cầu lớn hơn cung ở một mức giá nào đó. Hay nói cách khác đó là thặng dư của cầu.
    • Khi mức giá cao hơn mức giá cân bằng trên thị trường người sản xuất sẽ mong muốn cung càng nhiều hàng hoá hơn. Tuy nhiên người tiêu dùng sẽ giảm bớt cầu của mình. Như vậy sẽ xuất hiện sự dư thừa trên thị trường. Sự dư thừa đó là kết quả của việc cung lớn hơn cầu ở một mức giá nào đó. Đó là sự thặng dư của cung.
    1. Kiểm soát giá
      • Giá trần: Là một mức giá tối đa mang tính pháp lý buộc người bán không được đòi hỏi giá cao hơn. Giá trần thường được áp dụng khi có sự thiếu hụt bất thường về các hàng hoá quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức. Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng.
      • Giá sàn : Chính phủ thưòng đặt ra mức giá tối thiểu đối với hàng hoá. Mức giá này thường được áp dụng cho hiện tượng dư thừa sản lượng. Mục tiêu đặt giá sàn nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất và cung ứng dịch vụ.
    1. Ảnh hưởng của chính sách thuế.

    Thuế đánh vào hàng hoá làm dịch chuyển đường cung lên trên (cung giảm) dẫn tới giá cân bằng tăng, sản lượng cân bằng giảm, nghĩa là sau khi đánh một lượng thuế sẽ làm giá sản phẩm tăng. Sự chênh lệch giữa hai mức giá, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều phải chịu.

    III. Giới thiệu chung về lý thuyết người tiêu dùng.

    1. Lý thuyết về lợi ích

    1. Các khái niệm.
    • Lợi ich(U): Là sự hài lòng và thoả mãn khi tiêu dùng một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thị trường.
    • Tổng lợi ích (TU): Là toàn bộ sự thoả mãn và hài lòng khi tiêu dùng nhiều hàng hoá và dịch vụ trên thị trường
    • Lợi ích cận biên (MU): Là lượng lợi ích tăng thêm khi ta sử dụng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ nào đó, tức là mức độ thoả mãn hay hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sản phẩm cuối cùng mang lại.
    Lợi ích cận biên = Sự thay đổi về tổng lợi ích
    Sự thay đổi về lượng
    1. Quy luật về lợi ích cận biên giảm dần

    MU =  == (TU)

    Lợi ích cận biên của một hàng hoá có xu hướng giảm đi khi lượng mặt hàng đó được tiêu dùng nhiều hơn ở trong một thời kỳ nhất định.

    Sở dĩ lợi ích cận biên ngày càng giảm đi là do giảm sự hài lòng hay thích thú của bạn đối với một mặt hàng khi tiêu dùng thêm mặt hàng đó. Quy luật lợi ích cận biên giảm dần nói lên khi ta tiêu dùng nhiều hơn một mặt hàng nào đó, tổng lợi ích sẽ tăng lên, tuy nhiên với tốc độ ngày càng chậm. Việc tăng chậm này là do lợi ích cận biên (lợi ích tăng thêm do tiêu dùng đơn vị sau cùng của một loại hàng hoá) giảm đi khi ta tiêu dùng thêm loại hàng hoá đó.

    Trong tiêu dùng, quy luật lợi ích cận biên giảm dần chỉ là quy luật trừu tượng và thực tế chúng ta không thể đo được lợi ích cận biên và nó chỉ thích hợp trong thời gian ngắn.

    1. Lợi ích cận biên và đường cầu

    Lợi ích là một khái niệm trừu tượng dùng trong kinh tế học để chỉ cảm giác thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc sự thoả mãn do tiêu dùng hàng hoá mà có. .

    Lợi ích cận biên MU và giá cả P có mối quan hệ qua lại với nhau. Lợi ích cận biên của hàng hoá hay dịch vụ tiêu dùng càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn. Còn khi MU giảm thì sự sẵn sàng chi trả  của người tiêu dùng cũng giảm theo.

    Vì vậy, có thể dùng giá cả để đo lợi ích cận biên MU của việc tiêu dùng một hàng hoá hay dịch vụ nào đó và dễ dàng nhận thấy dạng đường lợi ích cận biên giống với đường cầu. Điều này thể hiện đằng sau đường cầu chứa đựng lợi ích cận biên giảm dần của người tiêu dùng. Do vậy quy luật lợi ích cận biên giảm dần lại giải thích tại sao đường cầu lại nghiêng xuống dưới.

    1. Thặng dư tiêu dùng.

    Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một đơn vị hàng hoá nào đó (MU) với chi phí thực tế để thu được lợi ích đó (MC). Điều đó có nghĩa là sự khác nhau giữa giá mà người tiêu dùng muốn trả cho một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó và giá mà họ thực tế đã trả khi mua nó.

    2.Sự co giãn của cầu.

    Sự co giãn của cầu là sự tăng hay giảm phần trăm của lượng cầu so với sự tăng hay giảm phần trăm của các nhân tố ảnh hưởng đến lượng cầu với điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tuỳ theo dạng của biến ảnh hưởng, ta có các loại co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đó, co giãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hoá khác và co giãn của cầu đối với thu nhập.

    1. Các công thức về hệ số co giãn của cầu.
    • Sự co giãn của cầu đối với thu nhập.

    Gọi : Q  là lượng cầu của hàng hoá x

    I là thu nhập

    EI =

    Giả sử giá trị của các nhân tố khác không đổi hàng hoá sẽ được phân loại tuỳ thuộc vào hệ số co giãn của cầu đối với thu nhập.

    • Nếu EI < 0 : Hàng thứ cấp
    • Nếu EI > 0 : Hàng thông thường
    • Nếu 0 < E­I <1 : Hàng thiết yếu
    • Nếu EI > 1: Hàng cao cấp
    • Ý nghĩa EI : Khi thu nhập thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%
    • Sự co giãn chéo của cầu đối với giá cả hàng hoá liên quan.

    Gọi : Q     là lượng cầu của hàng hoá x

    Plà giá cả của hàng hoá liên quan

    Hệ số co giãn chéo của cầu đối với giá của hàng hoá liên quan

    E

    Giá trị của các nhân tố khác không đổi, hệ số co giãn chéo của cầu đối với giá cả của hàng hoá liên quan sẽ có giá trị âm, dương hoặc bằng 0, phụ thuộc vào hàng hoá bổ sung, độc lập hay thay thế.

    • Ý nghĩa của EPy: Khi giá của hàng hoá liên quan thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%
    • Sự co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đang xét

    Goi  Q : Là lượng cầu của hàng hoá x

    PX : Là giá cả của hàng hoa đang xét

    Hệ số co giãn của cầu đối với giá cả của hàng hoá đang xét

    EX =

    • Ý nghĩa của EX

    Khi giá của hàng hoá đang xét thay đổi 1% thì lượng tiêu thụ hàng hoá thay đổi EI%

    • Hệ số co giãn điểm

    Co giãn điểm là độ co giãn trên một điểm của đường cầu ( hoặc cung )

    EX=

    • Hệ số co giãn đoạn

    EX=                   P=                            Q=

    1. Phân loại hệ số co giãn của cầu

    Khi nghiên cứu về sự co giãn, chúng ta chia ra thành các trường hợp như sau

    • Nếu EP > 1: Cầu co giãn tương đối trong miền giá cả hiện thời.
    • Nếu EP < 1: Cầu không co giãn tương đối
    • Nếu EP = 1: Cầu co giãn đơn vị
    • Nếu EP =: Cầu co giãn hoàn toàn. Trong trường hợp này khi tăng giá lương cầu giảm tới 0, có nghĩa là không bán được một sản phẩm nào.
    • Nếu EP =0 : Cầu hoàn toàn không co giãn, dù giá tăng lượng cầu vẫn không thay đổi

    Các dạng đồ thị về hệ số co giãn của cầu

     
       
    Hình III.3
    Hình III.2

               
     
    Hình III.4
     
    Hình III.5
     
       
    Đồ thị về sự co giãn của cầu

    IV. Giới thiệu các phương pháp giải bài tóan lựa chọn tiêu dùng sản phẩm tối ưu

      4.1. Tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng

    Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thoả mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế. Việc chi ma của họ đều phải chấp nhận một chi phí cơ hội, vì vậy việc mua hàng này đồng thời sẽ làm giảm cơ hội mua nhiều hàng hoá khác. Vì vậy, cần phải quyết định như thế nào để đạt được sự thoả mãn.

    MU= = (TU)

    Nguyên tắc cân bằng lợi ích cận biên hay nguyên tắc tối đa hoá lợi ích được thể hiện như sau;

    • Việc lựa chọn tiêu dùng tối ưu các hàng hoá cho chúng ta đạt được tổng lợi ích cực đại với điều kiện lợi ích cận biên MU tính trên một đơn vị tiền tệ tiêu dùng vào việc mua sắm hàng hoá này phải bằng lợi ích cận biên tính trên một đơn vị tiền tệ dùng vào việc mua sắm một loại hàng hoá khác.

    Gọi MUX là lợi ích cận biên của hàng hoá X

    MUY là lợi ích cận biên của hàng hoá Y

    MUZ là lợi ích cận biên của hàng hoá Z

    PX, PY, PZ là giá của hàng hoá X,Y,Z

    • Điều kiện để tối đa hoá lợi ích cận biên là lợi ích cận biên trên một đồng hàng hoá này phải bằng lợi ích cận biên trên một đồng hàng hoá khác và phải bằng lợi ích cận biên tính trên một đồng của bất kỳ hàng hoá nào khác
    • Để tối đa hoá lợi ích(TUmax) thoả mãn điều kiện

    4.2. Đường ngân sách và đường bàng quan.

    Sự lựa chọn của người tiêu dùng được quyết định bởi nhân tố khách quan là thu nhập và gía cả và nhân tố chủ quan là sở thích của người tiêu dùng.

    1. Đường ngân sách

    Đương ngân sách thể hiện sự ràng buộc vào ngân sách và giá cả của người tiêu dùng.Nó chia không gian lựa chọn thành hai miền. Miền thứ nhất tập hợp các quyết định có thể đạt được và các quyết định không thể đạt được. Miền thứ 2 thể hiện sự kết hợp có thể có để lựa chọn hàng hoá X và Y. Do vậy, đường ngân sách còn gọi là đường giới hạn khả năng tiêu dùng.

    Độ dốc của đường ngân sách = –

    Gọi I là thu nhập của người tiêu dùng

    PXQX là giá và sản lượng của  sản phẩm X

    PYQY là giá và sản lượng của sản phẩm Y

    PXQX + PYQY = I

    1. Đường bàng quan

    Đường bàng quan thể hiện sự khác nhau của hàng hoá mà người tiêu dùng lựa chọn và có cùng một mức lợi ích. Mỗi mức lợi ích hay sở thích được đại diện bằng một đường bàng quan.

    Các mức lợi ích của người tiêu dung được thể hiện bằng tập hợp vô số các đường bàng quan và gọi là bản đồ hay họ các đường bàng quan.

    Một bản đồ bàng quan cần lưu ý các trường hợp sau

    Các đường bàng quan càng xa gốc toạ độ thì biểu thị các mức độ thoả mãn càng cao.

    Các đường bàng quan không thể cắt nhau

    Độ dốc của đường bàng quan được xác định dựa vào tỷ lệ thay thế cận biên của hàng hoá Y cho hàng hoá X. Trong đó tỷ lệ thay thế cận biên được định nghĩa là khi 1 đơn vị hàng hoá X cần tiêu dùng thêm thì sẽ phải giảm đi 1 đơn vị hàng hoá Y để đảm bảo vẫn đạt được mức lợi ích đã cho. Do đó, lợi ích cận biên của hàng hoá X sẽ giảm xuống theo quy luật lợi ích cận biên giảm dần, còn lợi ích cận biên của hàng hoá Y thì lại tăng lên. Điều đó thể hiện sự thay đổi cận biên như sau.

    MRSX/Y=-

    Độ dốc của đường bàng quan = MRSX/Y

     
       

    Hình IV.4

     

    4.3 Tối đa hoá lợi ích

    Để tối đa hoá lợi ích phải thỏa mãn điều kiện độ dốc của đường ngân sách phải bằng độ dốc của đường bàng quan

    Vậy để sử dụng hết thu nhập vào việc tiêu dùng nhiều sản phẩm phải thoả mãn điều kiên

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Phần 2: Tính toán

    I. Thông tin chung

    Một người tiêu dùng dành phần thu nhập của mình là 1.200.000đồng để mua hai hàng hoá X và Y với giá tương ứng:

    PX=100000đ/sp ;  PY=300000đ/sp

    Hàm lợi ích khi tiêu dùng sản phẩm X và Y được biểu diễn như sau: TUX= – X2/3+10X ;

    TUY= – Y2/2+20Y

    Y
    1. Viết phương trình đường ngân sách và vẽ đồ thị minh hoạ

    Gọi 100.000đ = 1đv  PX = 1 đv  ; PY = 3 đv ; I = 12 đv

    Đường ngân sách

    Ta có:  PXQX + PYQY = I

    4

    X + 3Y   =   12  (1)

    Y          =

    12

    Vậy phương trình đường ngân sách là: Y= 4 –

     
     
    X
    1. Viết phương trình ích lợi cận biên của hàng hoá X,Y

    Ta có: MUX= =

    1. Xác định tỷ lệ thay thế cận biên giữa hai hàng hóa X,Y. Cho biết ý nghĩa của kết quả đó

    Tỷ lệ thay thế cận biên của hai hàng hoá X và Y là

    MRS(X/Y)

    * Ý nghĩa: Khi ta sử dụng thêm một đơn vị hàng hoá X thì phải giảm đi một đơn vị hàng hoá Y đúng bằng

    1. Xác định số lượng sản phẩm X,Y mà người tiêu dùng đó sẽ lựa chọn để tối đa hoá tổng lợi ích. tính tổng lợi ích cực đại đó.

    Để tối đa hoá lợi ích phải thoã man điều kiện: độ dốc của đường ngân sách bằng độ dốc của đường bàng quan. Tức là

    ↔ 3MUX = MUY

    ↔ 3.(-2X/3 +10) = -Y + 20

    ↔  – 2X + 30 = -Y + 20

    ↔         2X – Y =10  (2)

    Từ phương trình (1) và (2) ta có hệ phương trình sau

    Vậy, để người tiêu dùng đó lựa chọn để tối đa hoá tổng lợi ích  cần 6 sản phẩm X và 2 sản phẩm Y

    Tổng lợi ích cực đại: TUmax= TUX + TUY = -62/3 + 10.6 – 22/2 + 20. 2 = 86

    1. Nếu thu nhập của người tiêu dùng này dành mua hai hàng hoá X, Y tăng lên là 1800.000

    đồng thì lựa chọn tiêu dùng tối ưu sẽ thay đổi ntn? Vẽ hình minh hoạ. ( Với các điều kiện khác không đổi)

    Ta có: I =18 đv  ; PX = 1đv  ; PY = 3đv

    Mà  PXQX + PYQY = I

    Do giá cả của hàng hoá tiêu dùng không thay đổi

    1. Nếu thu nhập tăng lên là 1.800.000 đồng và giá của hàng hoá X tăng lên PX=150.000đ/sp và giá của hàng hoá Y tăng PY= 320.000đ/sp thì quyết định tiêu dùng tối ưu sẽ ntn? Vẽ hình minh hoạ

    Ta có:

    Có : P­XQX + PYQY = I

    Do giá cả của hai hàng hoá X, Y thay đổi

    Ta có hệ phương trình sau

    1. Giả sử thu nhập và giá trị hàng hoá X,Y đều tăng gấp đôi thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưu là gì

    Khi thu nhập và giá cả của hai loại hàng hoá tăng gấp đôi thì

    Ta có : PXQX + PYQY = I

    (3)

    Mặt khác để tối đa hoá lợi ích thì

    ↔ 6MUX = 2MUY

    ↔ 6.(-2X/3 +10) = 2(-Y + 20)

    ↔ -4X + 60 = -2Y + 40

    ↔   4X – 2Y = 20                (4)

    Tư (3) và (4) ta có hệ phương trình

    Vậy khi thu nhập và giá trị hàng hoá tăng X, Y đều tăng gấp đôi thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưư sẽ không thay đổi.

    1. Giả sử với thu nhập 1.800.000 đồng và PX=120.000đ/sp ; PY=320.000đ/sp thì quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưu là gì? Vẽ hình minh hoạ

    Ta có                        Mà:   PXQX + PYQY = I

    (5)

    Mặt khác để tối đa hoá lợi ích thì

    Từ (5) và (6) ta có hệ phương trình

    1. Mô tả các kết quả trên bằng một đồ thị tổng hợp
     
       

    Phần 3: Kết luận

    Sau khi làm xong bài tập lớn kinh tế vi mô em có thể hiểu rõ hơn về tầm quan trọng cũng như nội dung và những kiến thức cơ bản về

    • Lý thuyết về cung cầu và cân bằng cung cầu
    • Lý thuyết về người tiêu dùng, lựa chọn tiêu dùng sản phẩm tối ưu.
    • Nguyên tắc cân bằng lợi ích cận biên hay tối đa hoá lợi ích. Việc lựa chọn tiêu dùng tối ưu các hàng hoá cho doanh nghiệp đạt được tổng lợi ích cực đại
    • Sự lựa chọn của người tiêu dùng được quyết định bởi các nhân tố khách quan là thu nhập và giá cả và nhân tố chủ quan là sở thích của người tiêu dùng. Điều đó được thể hiện rõ hơn trên hai đường ngân sách và đường bàng quan.

    Việc làm bài tập lớn kinh tế vi mô cũng giúp em hiểu rõ hơn vai trò của môn học đối với nền kinh tế, đồng thời tạo điều kiện và cơ sở để em học tập tốt hơn các môn học sau này.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng: Báo cáo nghiên cứu về “chính sách lãi suất” của ngân hàng Trung ương Anh

    Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng: Báo cáo nghiên cứu về “chính sách lãi suất” của ngân hàng Trung ương Anh

    Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng: Báo cáo nghiên cứu về “chính sách lãi suất” của ngân hàng Trung ương Anh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Bài tập lớn Thiết kế ôtô: Tính toán bền của bán trục giảm tải một nửa


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/B%C3%A0i-t%E1%BA%ADp-l%E1%BB%9Bn-Ti%E1%BB%81n-t%E1%BB%87-Ng%C3%A2n-h%C3%A0ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:Bài tập lớn Tiền tệ – Ngân hàng: Báo cáo nghiên cứu về “chính sách lãi suất” của ngân hàng Trung ương Anh

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

    1. Khái niệm lãi suất và thước đo lãi suất

    1.1 Khái niệm lãi suất

    Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó.

    1.2 Các thước đo lãi suất

    • Lãi suất kép: là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay. Nó thường được áp dụng cho các khoản đầu tư có nhiều kỳ hạn thanh toán, trong đó lãi của kỳ trước được nhập vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ sau.
    • Lãi suất hiệu quả: tương tự như lãi suất kép nhưng tính cho một năm.
    • Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của các khoản tiền nhận được trong tương lai từ một khoản đầu tư với giá trị hôm nay của khoản đầu tư đó.

    1.3 Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế

    • Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng.
    • Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.

    2. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế

    2.1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư

    Tiết kiệm là phần thu nhập còn lại sau khi tiêu dùng ở hiện tại của các chủ thể kinh tế. Với việc tạo thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố cơ bản điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm. Lãi suất cao khuyến khích người ta hy sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để có khoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại. Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm được thu hút triệt để qua các kênh tài chính trực tiếp và gián tiếp để tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

    2.2 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô

    Một sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm khả năng có được những thu nhập khá lớn để bù đắp được số lãi phải trả, và do đó số đầu tư chắc chắn sẽ giảm. Cũng có thể lập luận như vậy về việc đi vay để tiêu dùng. Những người tiêu dùng so sánh số lãi phải trả cho một khoản vay mượn với ý muốn có càng sớm càng hay một sản phẩm như một căn nhà hay một chiếc ô tô chẳng hạn. Những lãi suất cao hơn sẽ làm cho một số người tiêu dùng chờ đợi chứ không mua ngay, và số tiêu dùng sự định sẽ giảm xuống. Tổng cầu bao gồm cả các thành phần như cầu đầu tư của doanh nghiệp và cầu tiêu dùng của cá nhân, của hộ gia đình sẽ thay đổi theo. Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tư, dến tiêu dùng nên nó có tác động gián tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:

    • Lãi suất thấp → khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản lượng tăng, giá cả tăng, thất nghiệp giảm, nội tệ có xu hướng giảm so với ngoại tệ.
    • Lãi suất cao → hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng → giảm tổng cầu → sản lượng giảm, giá cả giảm, thất nghiệp tăng, nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ.

    Vì có khả năng tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô nên lãi suất được Chính phủ các nước sử dùng làm một công cụ có hiệu quả để điều tiết nền kinh tế quốc gia.

    2.3 Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.

    Lãi suất có tác dụng trong việc phân bổ vốn. Đối với những dự án có mức độ rủi ro như nhau, dự án nào có lãi suất lớn hơn thường thu hút được vốn nhanh hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa định nhiều rủi ro thì phải trả lãi suất cao mới có khả năng thu hút được vốn. Như vậy, bằng cách đưa các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ các luồng vốn theo mục đích mong muốn.

    Trong quan hệ vay vốn, người đi vay không chỉ phải hoàn trả gốc khi đến hạn mà còn phải trả lãi vay. Bằng việc buộc phải trả lãi đã kích thích các người đi vay phải sử dụng vốn có hiệu quả, vốn phải có tác dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập để bù đắp chi phí, có lợi nhuận, tạo cơ sở cho việc trả lãi.

    2.4 Là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế

    Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hương tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng lên, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngược lại, trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, lãi suất thường có xu hướng giảm xuống.

    2.5 Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

    Khả năng điều tiết nền kinh tế vĩ mô của lãi suất đã làm cho nó trở thành công cụ quan trọng để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cũng như thị trường tài chính chưa phát triển, lãi suất được sử dụng làm một công cụ trực tiếp để tác động tới mục tiêu trung gian và qua đó tới mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ. NHTW sử dụng công cụ này dưới các hình thức ấn định trực tiếp lãi suất kinh doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay hoặc trần lãi suất tiền vay, qua đó khống chế  lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ.

    Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, NHTW sử dụng công cụ lãi suất gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay cầm cố để tác động gián tiếp tới lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.

     

     

    CHƯƠNG 2. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ANH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY

    1.      Giới thiệu về Ngân hàng trung ương Anh

    1.1.           Lịch sử

    Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Ngân hàng được thành lập năm 1694 với một điều lệ thành lập mà mục đích của nó là để “thúc đẩy lợi ích chung và lợi ích của toàn thể dân chúng”.

    Ngày nay, Ngân hàng Trung ương Anh đã thể hiện được tầm nhìn chiến lược của nhà sáng lập. Nhiệm vụ chính của Ngân hàng là để thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Được thành lập như một tổ chức tư nhân, Ngân hàng Anh đã được quốc hữu hóa sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng vẫn giữ lại quy mô của Ngân hàng với phần lớn thị phần là không chính thức.

    Điều này đã được thay đổi vào năm 1997, khi Quốc hội bỏ phiếu để cho phép các ngân hàng hoạt động độc lập với các quy định rõ ràng để theo đuổi sự ổn định giá cả, đã tạo ra thách thức lớn nhất đối với chính sách kinh tế vĩ mô trong hai thập kỷ trước.

    Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính đã chứng minh sự cần thiết cho một cách tiếp cận mới để quy định tài chính ở Anh. Điều này đã làm gia tăng thêm trách nhiệm cho Ngân hàng trung ương Anh.

    Xét trên một số khía cạnh, điều này thể hiện sự trở lại vai trò to lớn hơn mà Ngân hàng thực hiện trong quá khứ. Tuy nhiên, cam kết của Ngân hàng để phục vụ lợi ích công cộng sẽ được xác định rõ ràng bởi Quốc hội.

    1.2 Ban lãnh đạo

    Ngân hàng Anh được điều hành bởi hội đồng thống đốc bao gồm một Thống đốc, bốn phó Thống đốc và 14 giám đốc điều hành. Tất cả đều được bổ nhiệm bằng một sắc lệnh Hoàng gia sau khi đã được xem xét thông qua. Thống đốc và bốn phó Thống đốc có nhiệm kì là 5 năm và các thành viên khác có nhiệm kì là 3 năm. Và đều có thể được bổ nhiệm lại khi kết thức nhiệm kì.

    Các Thống đốc và Giám đốc điều hành của Ngân hàng hình thành đội điều hành có trách nhiệm cho việc quản lý điều hành của Ngân hàng.

    Thống đốc Ngân hàng trung ương Anh là ông: Mark Carney (bổ nhiệm 1/7/2013-30/6/2021). Bốn phó thống đốc là: Ben Broadbent, Nemat Shafik, Sir Jon Cunliffe, Andrew Bailey lần lượt quản lí về Chính sách tiền tệ, Thị trường & Ngân hàng, Ổn định tài chính, Cơ quan giám sát Tài chính. Và các giám đốc điều hành: Charlotte Hogg, Ralph Coates, John Finch, Andrew Gracie, Jenny Scott, Andy Haldane, Joanna Place, Chris Salmon, Megan Butler, Lyndon Nelson, David Rule, John Footman, Graham Nicholson, Paul Fisher.

    Tất cả bốn đại diện cho Thống đốc Ngân hàng  bao gồm cả trong nước và nước ngoài sẽ xuất hiện trước Ủy ban Tài chính và quốc tế thông qua các thành viên của Ủy ban và các nhóm quốc tế quan trọng và thường xuyên nói chuyện công khai về các vấn đề bao gồm kinh tế, chính sách tiền tệ và ổn định tài chính. Các Giám đốc điều hành (COO) chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh quản lý hàng ngày của Ngân hàng, bao gồm cả nguồn nhân lực, tài chính, tài sản, công nghệ thông tin và an ninh. Các Giám đốc điều hành có tư cách và thù lao tương đương với một Phó Thống đốc.

    1.3 Chức năng

    Ngân hàng Anh thực hiện tất cả các chức năng của ngân hàng trung ương. Quan trọng hơn cả là duy trì ổn đinh giá cả và hỗ trợ các chính sách kinh tế của Chính phủ Vương quốc Anh. Hai lĩnh vực chính được Ngân hàng đảm nhiệm là:

    • Ổn định tiền tệ: duy trì giá cả ổn định và lòng tin vào đồng bảng Anh. Giá cả ổn định được duy trì tuân thủ mục tiêu lạm phát của Chính phủ. Ngân hàng thực hiện chức năng này thông qua tỷ lệ lãi suất được ấn định bởi Ủy ban Chính sách tiền tệ.
    • Ổn định tài chính: duy trì sự ổn định tài chính trước các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính. Những nguy cơ này được phát hiện bằng quan sát, theo dõi. Các nguy cơ phát sinh sẽ được ngăn chặn bằng các hành động tài chính và các biện pháp khác ở trong nước và ngoài nước. Trong những trường hợp hãn hữu,Ngân hàng Anh là ngân hàng cung cấp tín dụng cuối cùng.

    Các định chế khác cùng Ngân hàng Anh đảm bảo sự ổn định tài chính và tiền tệ như:

    • Ngân khố Chính phủ(Her Majesty’s Treasury), cơ quan của Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về chính sách kinh tế và tài chính
    • Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính(Financial Services Authority – FSA), tổ chức độc lập quản lý lĩnh vực dịch vụ tài chính.
    • Các ngân hàng trung ương và các tổ chức quốc tế khác với mức đích cải thiện hệ thống tài chính quốc tế.

    Bản điều luật năm 1997 quy định những nguyên tắc mà Ngân hàng Anh, Ngân khố chính phủ và FSA phối hợp để tăng cường sự ổn định tài chính.

    Với vai trò là ngân hàng của Chính phủ Anh, NHTW Anh quản lý tài khoản quỹ chung của chính phủ. Ngân hàng cũng quản lý thị trường ngoại hối và dự trữ vàng. Nó là ngân hàng của các ngân hàng, có nghĩa là cho vay sau cùng. Để duy trì năng lực nghiệp vụ, nó cũng cung cấp các dịch vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng bán lẻ cho một số lượng hạn chế các cá nhân và tổ chức.

    Ngân hàng Anh có độc quyền phát hành giấy bạc tại Anh (England) và Wales. Các ngân hàng Scotland và Bắc Ireland vẫn giữ quyền phát hành giấy bạc ở địa phương nhưng họ phải ký quỹ đảm bảo toàn bộ tại Ngân hàng Anh trừ khoản vài triệu bảng giấy bạc phát hành năm 1845. Sau tháng 12 năm 2002, việc in ấn giấy bạc được giao cho công ty De La Rue theo tư vấn của Công ty tài chính Close Brothers (Close Brothers Corporate Finance Ltd).

    Từ năm 1997, Ủy ban Chính sách tiền tệ chịu trách nhiệm ấn định tỷ lệ lãi suất. Với quyết định cho phép Ngân hàng hoạt động độc lập, trách nhiệm quản lý nợ của chính phủ được chuyển cho Văn phòng Quản lý nợ nước Anh (UK Debt Management Office) năm 1998. Đến năm 2000, chức năng quản lý tiền mặt của chính phủ cũng chuyển giao cho văn phòng này. Và cuối năm 2004, công ty Computershare giành quyền cung cấp dịch vụ quản lý trái phiếu cho Chính phủ Anh.

    1.4 Mục tiêu chung

    Ngân hàng Trung ương Anh có nhiệm vụ là thúc đẩy lợi ích của người dân Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính. Như trong điều lệ ban đầu của Ngân hàng năm 1694, cho biết: ‘Now know ye, That we being desirous to promote the public good and benefitt of our people…’ (Như mọi người đều biết, mong muốn của chúng tôi là thúc đẩy lợi ích cộng đồng và lợi ích của toàn thể người dân…)

    Theo quyết định của Quốc hội, Ngân hàng sẽ thực hiện điều này bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng là bình ổn giá cả và hỗ trợ các mục tiêu kinh tế của Chính phủ bao gồm cả sự tăng trưởng và ổn định việc làm. Ổn định tiền tệ có nghĩa là giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ. Giá cả ổn định được xác định bởi mục tiêu lạm phát của Chính phủ, mà Ngân hàng tìm cách đáp ứng thông qua các quyết định giao cho Ủy ban Chính sách tiền tệ, giải thích những quyết định minh bạch và thực hiện chúng một cách hiệu quả trong thị trường tiền tệ.

    Ổn định tài chính đòi hỏi luồng hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế và sự tự tin trong các tổ chức tài chính. Điều này được thực hiện qua:

    • Hoạt động tài chính của Ngân hàng, bao gồm việc cho vay cuối cùng;
    • Quyết định của Ủy ban Chính sách tài chính;
    • Quy định bảo đảm an toàn của các tổ chức tài chính của PRA;
    • Vai trò của Ngân hàng là cơ quan giải quyết;
    • Giám sát ngân hàng và quy định về thanh toán chính, thanh toán bù trừ và cơ sở hạ tầng, giải quyết.

    Ủy ban Chính sách tài chính (FPC) có hành động chống lại những rủi ro mang tính hệ thống để bảo vệ và tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống tài chính Anh. Ủy ban có một mục tiêu thứ cấp để hỗ trợ cho chính sách kinh tế của Chính phủ.

    Cơ quan giám sát tài chính (PRA) chịu trách nhiệm giám sát của khoảng 1.700 ngân hàng, hiệp hội xây dựng, công đoàn tín dụng, công ty bảo hiểm và các công ty đầu tư lớn. PRA có một mục tiêu chung để thúc đẩy sự an toàn và lành mạnh của các doanh nghiệp và – đặc biệt cho các công ty bảo hiểm – góp phần vào sự bảo vệ của bảo hiểm.

    Tuy nhiên, sự ổn định tiền tệ và tài chính không phải là kết quả cuối cùng, nhưng trước tiên đó là điều kiện cần thiết để cung cấp các lợi ích chung. Vì lý do đó, cam kết của Ngân hàng với hai mục đích cốt lõi đã được viết lại thành một nhiệm vụ duy nhất bao trùm tất cả, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm theo luật định của Ngân hàng là làm cho đến mục tiêu cuối cùng: Nhiệm vụ của Ngân hàng Anh là để thúc đẩy lợi ích của người của Vương quốc Anh bằng cách duy trì sự ổn định tiền tệ và tài chính.

    2.       Mục tiêu của Ngân hàng trung ương Anh trong giai đoạn hiện nay

    Mục tiêu chính của Ngân hàng trung ương Anh là duy trì sự ổn định và sức mua của đồng nội tệ thông qua việc kiểm soát lạm phát ở mức có thể chấp nhận được xấp xỉ là 2%. Giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ chính là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự ổn định tiền tệ. Và trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) của NHTW để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.

    3. Chính sách lãi suất của NHTW Anh

    3.1 Các công cụ điều hành

    Ngân hàng Anh điều hành lãi suất thị trường qua hai cộng cụ là lãi suất cơ bản và lãi suất Repo (lãi suất được sử dụng trong những hoạt động của thị trường mở).

    Lãi suất cơ bản

    Thay đổi lãi suất cơ bản chính là công cụ dễ thấy nhất được sử dụng bởi MPC, có đội ngũ các nhà kinh tế họp mỗi tháng để thảo luận về chính sách tiền tệ hiện tại và trong tương lai.

    Lãi suất Repo

    Repo là viết tắt của thỏa thuận mua lại, và tỷ lệ repo là mức độ mà Ngân hàng Anh mua lại chứng khoán đã bán trước đó trong các thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ bao gồm các ngân hàng, hiệp hội xây dựng và kinh doanh chứng khoán chuyên khoa. Thay đổi tỷ lệ repo ảnh hưởng đến thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống tiền tệ, mà nhanh chóng có tác dụng trên tất cả các tỷ lệ khác.

    Ngân hàng trung ương đã sử dụng các công cụ lãi suất để nhằm đảm bảo mục tiêu. Tuy nhiên, một mục tiêu 2% không có nghĩa là lạm phát sẽ được cố định tại tỷ lệ này liên tục. Điều đó sẽ là không thể và cũng nằm ngoài mong muốn của Ngân hàng. Lãi suất thay đổi theo thời gian, và với số lượng lớn, sẽ gây bất ổn không cần thiết và biến động trong nền kinh tế. Thậm chí sau đó nó sẽ không thể giữ lạm phát ở mức 2% mỗi tháng. Thay vào đó, mục đích của MPC là để thiết lập lãi suất để lạm phát có thể được đưa trở lại mục tiêu trong một khoảng thời gian hợp lý mà không tạo ra bất ổn không đáng có trong nền kinh tế.

    Ủy ban chính sách tiền tệ họp mỗi tháng để thiết lập lãi suất để đạt mục tiêu lạm phát 2% của Chính phủ. Thành viên của MPC bao gồm 9 người trong đó năm người là nhân viên cao cấp của ngân hàng Anh và bốn người là thành viên bên ngoài do Thủ tướng bổ nhiệm. Mỗi người có một phiếu để quyết định lãi suất được thiết lập.

    Sự thay đổi lãi suất sẽ mất khoảng 2 năm để có tác động đầy đủ đối với lạm phát. Vì vậy, Uỷ Ban chính sách tiền tệ đặt ra lãi suất dựa trên dự báo về lạm phát 2-3 năm tới.Nếu lạm phát được dự báo là sẽ vượt qua mục tiêu, Ủy ban chính sách tiền tệ có thể sẽ tăng lãi suất. Mọi người sẽ có xu hướng chi tiêu ít hơn và tiết kiệm hơn, đặt áp lực giảm lạm phát. Nếu lạm phát có khả năng giảm xuống dưới mục tiêu, MPC có thể sẽ cắt giảm lãi suất để kích thích chi tiêu và lạm phát.

    Hình 2.1. Mối quan hệ giữa lãi suất với cung tiền, đầu tư và thu nhập.

    Chính vì mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu.

     Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản và lạm phát

    3.2 Lãi suất của NHTW Anh những năm gần đây:

    Trong những năm gần đây, lãi suất đã được điều chỉnh thường xuyên để phản ánh thay đổi điều kiện kinh tế vĩ mô.

    Từ khi bùng nổ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, Ủy ban chính sách tiền tệ của NHTW Anh liên tục cắt giảm lãi suất. Động thái này nhằm đề phòng kinh tế yếu kém sẽ khiến Anh rơi vào suy thoái kinh tế kéo dài. Thông báo của Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương (MPC) cho biết tình trạng suy giảm của kinh tế Anh xuất hiện tại cả các hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Cắt giảm lãi suất cho vay sẽ góp phần giảm bớt tình trạng khó khăn trên các thị trường tín dụng, và tạo điều kiện cho các ngân hàng giúp khách hàng của mình. Cho đến tháng 3 năm 2009, Anh đã giảm lãi suất xuống thấp kỷ lục trong 3 thế kỷ ở mức 0,5% và duy trì cho đến nay nhằm hỗ trợ cho nền kinh tế thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu.

    Biểu đồ 2.1. Lãi suất chính thức của Anh được công bố qua các năm

    (nguồn:www.economicsonline.co.uk)

    1999 – 2000 Tỷ lệ này là tương đối cao ở mức 6% để hạn chế nhu cầu.

    2000 – 2003 Lãi suất giảm nhanh chóng xuống mức thấp nhất trong 25 năm, giúp kích thích nhu cầu.

    2003-2007 Tỷ giá đã được đẩy lên thành một vùng trung tính vào khoảng 5%, nhưng đến năm 2007 họ đã đưa lên đối với khu vực hạn chế.

    2008 -2014 Để đối phó với suy thoái kinh tế sâu sắc, giá đã được cắt giảm đến mức chưa từng có trong thời hiện đại.

    3.3 Hiệu quả của việc giảm lãi suất

    Giả định nền kinh tế có một khoảng cách sản lượng sau đó giảm lãi suất của Ngân hàng Anh, với các yếu tố khác không đổi,sẽ làm tăng tổng cầu.

    Việc giảm lãi suất sẽ kích thích tổng cầu. Điều này tạo ra một hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, nhưng lại là áp lực tiềm năng lên lạm phát.

    MPC quyết định giữ nguyên mức lãi suất sau khi xem xét khả năng phục hồi kinh tế và chiều hướng lạm phát thấp ở Anh trong bối cảnh có nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới suy yếu.

    Theo MPC, việc giữ nguyên lãi suất trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả nhiều hơn mong đợi, khiến kinh tế Anh bắt đầu có những dấu hiệu khởi sắc. BoE đã duy trì lãi suất chủ chốt ở mức nửa phần trăm trong hơn 5 năm qua để hỗ trợ kinh tế phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Lãi suất ở Anh đã ở mức 0,5% kể từ năm 2009 và lãi suất có ảnh hưởng tới sự phát triển trong hoạt động kinh tế vĩ mô của Vương quốc Anh:

    • GDP thay đổi tỷ lệ đã tăng từ -5.2% trong năm 2009 lên 2,4% vào năm 2014
    • Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống còn 7,5% trong năm 2014 từ 8,1% trong năm 2011 sau khi tăng mạnh vào đầu năm 2008-2009 do ảnh hưởng của suy thoái.

    Biểu đồ 2.2. Lạm phát, tăng trưởng, chênh lệch đầu ra và lãi suất ở Anh

    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Giảm lãi suất làm tăng tổng cầu. Lãi suất thấp hơn làm cho chi phí vay thấp hơn. Kích thích doanh nghiệp đầu tư và người tiêu dùng chi tiêu. Lãi suất thấp hơn cũng làm suy yếu đồng tiền của nước Anh, nên giảm đầu tư trong nước và tăng đầu tư nước ngoài. Điều này làm tăng kim ngạch xuất khẩu (như đã làm giữa năm 2012 và 2013 tăng 1,6%) và giảm nhập khẩu (1,2% giữa năm 2012 và 2013).

    Tổng cầu cao hơn nên làm tăng sản lượng quốc gia và do đó sẽ gia tăng GDP, tăng 1,3% giữa năm 2012 và năm 2013 sự gia tăng AD đã dẫn đến một sự gia tăng tỷ lệ lớn hơn trong sản lượng thực tế. Độ co giãn cao của tổng cung ngắn hạn là do số lượng lớn công suất dự phòng trong nền kinh tế Vương quốc Anh. Ví dụ như khoảng cách sản lượng được ước tính là -1,7% trong năm 2014.

    Như vậy rõ ràng là mức lãi suất thấp là nguyên nhân sự gia tăng GDP thực tế của Anh, và là một thành phần quan trọng của hoạt động kinh tế vĩ mô.

    Tác động đến chỉ số giá tiêu dùng CPI

    Biểu đồ 2.3. Chỉ số giá tiêu dùng CPI  ở Anh qua các năm

    Consumer Prices Index 2011 -2013 ( Nguồn: www3.hants.gov.uk)

    Year CPI % Change  
    2013 126.1 2.6  
    2012 123.0 2.8  
    2011 119.61 4.5  
    2010 114.48 3.3  
    2009 110.83 2.2  
    2008 108.48 3.6  

    Năm 2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu, giá đã bắt đầu tăng với tốc độ hàng năm khoảng 5%. Tuy nhiên chưa đầy một năm sau đó, giá đã tăng khoảng 1% so với chỉ số CPI.

    Đến cuối năm 2011, giá đã tăng trở lại với mức tăng CPI 5,2%, phù hợp với các thiết lập mức cao kỷ lục trong tháng Chín năm 2008

    Kể từ đó chỉ số này đã giảm trở lại, với chỉ số CPI trên đây của Ngân hàng Anh là 2% tỷ lệ mục tiêu của nước Anh lần đầu tiên kể từ tháng 11 2009.

    Tuy nhiên, vào đầu năm 2009, giá dầu thô đã giảm mạnh, mất hai phần ba giá trị của nó chỉ trong sáu tháng, và suy thoái kinh tế toàn cầu đã thực hiện tổ chức. Tại Anh, thuế VAT cũng được cắt giảm từ 17,5% đến 15%, trong một nỗ lực để kích thích chi tiêu. Tất cả điều này góp phần vào tỷ lệ lạm phát giảm.

    Sau đó, thuế GTGT trở lại lên đến 17,5% vào đầu năm 2010, và đã được tăng thêm tới 20% vào năm sau. Tăng lớn trong hóa đơn khí đốt và điện, cùng với chi phí vận chuyển và giá cả thực phẩm, đẩy giá lên cao hơn nữa.

    Kể từ đó, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống như tác động của tăng thuế VAT và chi phí năng lượng cao hơn đã giảm đi.

    Trong năm 2014, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của lạm phát của Anh giảm hơn nữa so với dự kiến, giảm đến 1,2 phần trăm trong tháng Chín so với 1,5 phần trăm trong tháng trước, đánh một năm năm thấp.

    CPI được dự kiến ​​sẽ chậm nhẹ lên 1,4 phần trăm theo dự báo của giới phân tích. Tuy nhiên, sự sụt giảm này thậm chí còn thấp hơn nhiều so Ngân hàng Anh của hai phần trăm mục tiêu và đi kèm theo đó trong mục tiêu cho tháng thứ chín liên tiếp.

    Các biện pháp đã được đẩy hơn nữa bằng cách giảm chi phí vận chuyển và giá hàng hóa giải trí, theo Văn phòng Thống kê quốc gia, đặc biệt là vé máy bay và chi phí của máy tính bảng đã trở thành rẻ hơn.

    Các nhà kinh tế nói chung mong đợi Vương quốc Anh được hưởng lợi từ lạm phát dưới mức mục tiêu trong một thời gian. Jonathan Loynes, nhà tư vấn kinh tế tại Capital Economics cho rằng lạm phát CPI có thể giảm 1% trước khi kết thúc năm 2014.

    Đó được coi là tin tốt cho các hộ gia đình, nơi mà giá đã tăng nhanh hơn so với thu nhập trung bình kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính.

    Tác động đến thất nghiệp

    Biểu đồ 2.4.  Mối quan hệ giữa lãi suất và tỉ lệ thất  nghiệp tại Anh


                    (nguồn: www.mrbrook.co.uk)

    Lãi suất thấp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự gia tăng thất nghiệp. Nền kinh tế Anh có tỉ lệ thất nghiệp thiếu tính chu kỳ hoặc do hậu quả của suy thoái kinh tế. Kết quả của sự gia tăng AD đến sự gia tăng nhu cầu lao động và do đó làm giảm tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ. Kể từ khi cắt giảm lãi suất tỷ lệ thất nghiệp đã giảm 0,3% => phân tích cho rằng lãi suất thấp làm giảm thất nghiệp.

    Tỷ lệ thất nghiệp cấu trúc có thể được giải quyết hiệu quả hơn nhờ các chính sách tài chính như đào tạo lại người lao động, cải thiện giáo dục và việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Tương tự như vậy lãi suất có thể chỉ là một hiệu ứng nhỏ về tỷ lệ thất nghiệp lương thực tế, do mức lương tối thiểu là trên mức giá cân bằng. Mặc dù bằng cách kích thích lãi suất thấp có thể làm tăng nhu cầu cân bằng mức lương, dễ dàng để giảm tỷ lệ thất nghiệp cổ điển bằng cách giảm mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình kinh tế đầy hứa hẹn của chính phủ Vương quốc Anh đã hứa sẽ tăng mức lương tối thiểu lên £ 6,50 từ £ 6,31.

    Vào đầu năm 2009 ở Anh, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng mạnh, doanh nghiệp và niềm tin tiêu dùng đã giảm nghiêm trọng và các ngân hàng đã nắm giữ các quỹ của họ.

    Sự kế thừa của cắt giảm chi phí vay đã đưa giá xuống mức thấp lịch sử, nhưng với nền kinh tế vẫn còn trong suy thoái kinh tế thì vẫn còn nhiều việc cần phải thực hiện để cố gắng khởi động phục hồi.

    Vì vậy, tháng 3 năm 2009, cùng với tỷ lệ lãi suất 0,5%, Ngân hàng cũng đã giới thiệu một chương trình nới lỏng định lượng (QE)

    Các ngân hàng tạo ra tiền mới và tiêm nó vào nền kinh tế để cố gắng thúc đẩy chi tiêu. Nó làm điều này bằng cách mua tài sản từ các công ty tài chính, bao gồm cả các ngân hàng High Street, các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí

    Một cách nới lỏng tiền tệ có thể kích thích nhu cầu là nếu các công ty này chi tiêu số tiền họ nhận được tài sản của họ. Nếu họ mua cổ phiếu, ví dụ, các công ty mà họ đầu tư có thể quyết định mua thiết bị mới, giúp họ phát triển và thậm chí có nhân viên mới

    Theo QE, Ngân hàng Anh thường mua trái phiếu, một hình thức IOU do chính phủ vay tiền. Nhu cầu bổ sung có thể là hiệu quả cuối cùng của việc giảm chi phí vay rộng rãi hơn – giúp các doanh nghiệp và hộ gia đình.

    Trong khi sự phục hồi kinh tế đã thực sự cải thiện đáng kể trong những tháng gần đây, Ngân hàng vẫn quan ngại về tính bền vững của sự phục hồi và tác động của nó đối với lạm phát trong dài hạn.

    Do đó, Ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì các chính sách này cho đến khi chắc chắn  rằng nước Anh là trên một con đường an toàn của tăng trưởng kinh tế.

    CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ SUẤT CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NHTW ANH. KINH NGHIỆM ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM

    1. Những lợi thế trong chính sách lãi suất của BOE

    1.1 Ổn định nền kinh tế.

    Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế Anh đã giảm mạnh. Theo báo cáo của Cơ quan thống kê  quốc gia Anh(ONS) , tỷ lệ lạm phát trong tháng 8/2014 đã giảm chỉ còn 1.2%, mức thấp kỉ lục trong vòng 4 năm qua kể từ tháng 9/2009, thời điểm  tỉ lệ lạm phát đang ở mức 1.1%. Đây cũng là tháng thứ 9 liên tiếp tỉ lệ lạm phát thấp hơn mức 2% mà BOE đã đặt ra.

    Cũng theo IMF, Anh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế đang phát triển với mức dự báo tăng trưởng là 3.2% trong năm 2014, tốc độ này đủ mạnh để đưa nước Anh thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính.

    1.2 Độc lập.

    Ngân hàng của Ủy ban chính sách tiền tệ của nước Anh là độc lập với Chính phủ nên có thể đưa ra những quyết định mà không bị ràng buộc bởi sự can thiệp chính trị.

    1.3 Dễ thực hiện.

    Lãi suất có thể thay đổi trên cơ sở hàng tháng, trái ngược với những thay đổi không thể thực hiện được đều đặn như vậy trong chính sách tài khóa linh hoạt.

    2. Những bất lợi của chính sách lãi suất.

    2.1 Mạnh mẽ và trực tiếp.

    Thực tế đã chứng minh mức lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến chi tiêu hộ gia đình. Dù tỉ lệ lạm phát giảm nhưng vẫn ở mức cao hơn nhiều so với mức tăng lương bình quân của người dân Anh(khoảng 0.6% trong quý 2/2014) khiến các hộ gia đình chịu nhiều áp lực về chi tiêu.

    2.2.  Đầu tư giảm, trị trường nhà đất đi xuống.

    Chi đầu tư tỷ lệ nghịch với lãi suất, và mức giá cao hơn làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư. Trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Nếu như tháng 8/2013, dòng vốn chảy vào Vương quốc Anh đạt tới 8.9 tỉ USD thì tới tháng 9/2014, các nhà đầu tư đã rút 27 tỉ USD đầu tư tài chính ra khỏi nước Anh.

    Thị trường nhà ở là rất nhạy cảm với thay đổi lãi suất. Giá nhà ở hầu hết các khu vực trên nước Anh vẫn đang tiếp tục tăng cao kỉ lục. Thị trường bất động sản đang gặp những vấn đề nghiêm trọng như nguy cơ “bong bóng” và có thể trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với tiến trình phục hồi nền kinh tế Anh.

    2.3. Các nền kinh tế kép

    Ngoài ra còn có các vấn đề của nền kinh tế kép. Có nên đấy giá cao để kiểm soát các khu vực dịch vụ, hoặc áp dụng mức lãi suất thấp đối với các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chậm phát triển? Không giống như các cuộc suy thoái trước, trong cuộc suy thoái hiện tại tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế đã phải chịu đựng trong một cách tương tự, vì vậy giá đã được thiết lập ở mức thấp lịch sử mà không có bất kỳ lo ngại lạm phát.

    2.3 Những cái bẫy thanh khoản

    Giảm lãi suất trong một cuộc suy thoái có thể không có hiệu quả vì cái gọi là “bẫy thanh khoản”. Lý thuyết này được kết hợp với Keynes, và phân tích của ông về “Đại suy thoái”. Trong một cuộc suy thoái lãi suất sẽ giảm đối với số không, như ở Anh trong năm 2009, sau cuộc khủng hoảng tài chính .

    Trong trường hợp này, các ngân hàng và các trung gian tài chính khác thích giữ tiền mặt hơn là cho vay. Vì vậy, trong khi vay có thể được kích thích, tính thanh khoản không được phát hành thông qua hệ thống – đó là ‘mắc kẹt’ và không có sẵn. Điều này làm sâu sắc thêm tình trạng suy thoái và làm suy yếu nền kinh tế thực. Trong trường hợp này, chính quyền có thể phải bơm tiền trực tiếp vào bàn tay của công chúng. Phân bổ chứng từ chi tiêu là một trong những cách này có thể đạt được. Chính thức hơn, quá trình này được gọi là “nới lỏng định lượng” .

    1. Khuyến nghị chính sách

    Từ những thực trạng và phân tích trên, nhóm chúng em có đề xuất một số khuyến nghị về chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nói riêng đối với NHTW Anh.

    • Với nền kinh tăng trưởng nhanh nhất trong các nền kinh tế phát triển G7, tốc độ tăng trưởng là “hợp lý cân bằng giữa tiêu dùng và đầu tư”, lạm phát đã chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm và giá cổ phiếu tăng. Ngân hàng Anh cũng phải đối mặt với mức giảm căng thẳng của lạm phát, hiện tại là 1,2% dưới mức lạm phát mục tiêu 2%, tốc độ tăng lương chậm so với lạm phát, lương thực tế giảm, giá nhà tăng cao..trong thời gian dài duy trì mức lãi suất thấp 0,5%. Điều này dẫn đến đã có những dấu hiệu cho thấy chi phí đang tăng nhanh hơn so với năng suất, trong thời gian tới BOE có thể cần phải thắt chặt dần chính sách tiền tệ. Khi thời gian đến để thắt chặt chính sách thì trước tiên BOE nên tăng lãi suất Ngân hàng. Và lãi suất cần được tăng một cách dần dần để nền kinh tế thích ứng kịp thời và hạn chế rủi ro. Khi lãi suất tăng làm cho chi phí về các khoản thế chấp, vay tăng dẫn đến nhu cầu về nhà ở giảm, giá nhà đất giảm (ở Anh, người vay và thế chấp mua nhà chiếm tỷ lệ lớn).
    • Khi đưa ra các quyết định thay đổi lãi suất thì NHTW Anh cần phải dựa vào các chỉ tiêu khác nhau như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, công suất dự phòng…và yếu tố lạm phát chỉ là một phần, không nên chỉ chú trọng đến lạm phát. Bởi lãi suất như con dao hai lưỡi vì thế mà cần phải cân nhắc xem xét các chỉ tiêu để đưa ra các quyết định phù hợp.
    • Bên cạnh những tiến bộ đã được thực hiện trong việc nâng cao tính minh bạch của chính sách tiền tệ, Ngân hàng Anh nên thiết lập hành lang hướng dẫn chính sách tương lai kịp thời rõ ràng hơn, sớm cung cấp rõ ràng về cơ chế hoạt động như cung cấp biểu đồ lãi suất của Ngân hàng trong tương lai. Tháng 8/2013, BOE đã đưa ra hướng dẫn chính sách: lãi suất ngân hàng sẽ ở mức thấp kỷ lục cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp xuống 7% và đến nay tỷ lệ thất nghiệp ở dưới 7% lãi suất vẫn không đổi 0.5%. Và khi mục tiêu đề ra đã đạt được thì BoE phải thực hiện những gì đã tuyên bố hoặc phải giải thích vì sao phải thay đổi điều đó, một tuyên bố sớm sẽ giúp cho nền kinh tế không bị bất ngờ trước sự thay đổi đột ngột của lãi suất, các doanh nghiệp hiểu được thông điệp của ngân hàng trung ương. Sự rõ ràng của chính sách giúp các doanh nghiệp lập kế hoạch, đầu tư và thuê, hỗ trợ các động lực kinh tế trong tương lai.
    1. KINH NGHIỆM CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA BOE ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM.
      • Đánh giá chính sách lãi suất của NHTW Anh BOE
    • BOE đưa ra mức lãi suất chủ yếu dựa vào các biến số là: Lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tình trạng vốn khả dụng của NHTM, giá tài sản trên thị trường vốn và lãi suất thị trường quốc tế nhưng chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá là lạm phát.
    • Sự thay đổi lãi suất chính thức phụ thuộc vào sự lựa chọn mục tiêu của CSTT, diễn biến kinh tế vĩ mô, tình trạng vốn khả dụng của NHTM.
    • Việc công bố lãi suất chính thức của NHTW tác động đến nền kinh tế theo nhiều kênh khác nhau và không gây nên xáo trộn về lãi suất và giá tài sản (cổ phiếu và trái phiếu) trên thị trường vốn và tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tạo điều kiện cho các trung gian tài chính kinh doanh thuận lợi, có hiệu quả.
    • Lãi suất ngắn hạn. trung hạn và dài hạn có sự ràng buộc và diễn biến theo nhau.
    • Bộ Tài chính và NHTW Anh có sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả.
      • Một vài thực trạng chính sách lãi suất của Việt Nam
    • Mối liên hệ giữa các loại lãi suất thị trường và lãi suất của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, lãi suất đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc, lãi suất tiền gửi của các TCTD tại NHNN) còn lỏng lẻo, nhiều khi tách rời nhau, biến động chưa phù hợp cơ chế lãi suất thị trường; vai trò điều tiết lãi suất thị trường của lãi suất trên nghiệp vụ thị trường mở còn rất hạn chế.
    • Còn quá nhiều lãi suất trong nền kinh tế, lãi suất VNIBOR(Đường cong lãi suất giới hạn chuẩn) chưa chính xác, chưa phản ánh đúng được cung cầu vốn trên thị trường vì thế tác dụng tham chiếu của nó còn bị hạn chế.
    • Việc công bố lãi suất cơ bản nhiều lúc chưa linh hoạt theo đúng diễn biến của thị trường.
      • Kinh nghiệm của NHTW Anh và giải pháp cho Việt Nam
    • Sớm cho phép NHNN có những quyền hạn rộng rãi hơn trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ.
    • Tạo điều kiện phối kết hợp giữa Bộ Tài chính và NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ.
    • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu kiểm soát hữu hiệu được thị trường liên ngân hàng, theo dõi kịp thời diễn biến lãi suất của thị trường liên ngân hàng, làm cơ sở nghiên cứu và ban hàng lãi suất cơ bản.
    • Có sự ràng buộc chặt chẽ giữa thị trường ngắn hạn và thị trường dài hạn làm cho mức lãi suất ngắn hạn và dài hạn diễn biến theo nhau.
    • Phát triển các công cụ thị trường tiền tệ nhằm đa dạng hoá các công cụ trên thị trường, mở rộng áp dụng các công cụ mới nhất là các công cụ phòng ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế.
    • Tăng cường vai trò của Hiệp hội ngân hàng trong việc ổn định, thống nhất chung về lãi suất giao dịch của các NHTM trên địa bàn, tránh sự cạnh tranh không lành mạnh về lãi suất, gây bất lợi cho những ngân hàng nhỏ.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″]

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
    ” target=”_blank” rel=”noopener noreferrer”>Tải Xuống Tại Đây
    [/sociallocker]
  • Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

          Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2019


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/02/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-M%C3%B4n-H%E1%BB%8Dc-Ph%C3%A2n-T%C3%ADch-Ho%E1%BA%A1t-%C4%90%E1%BB%99ng-Kinh-T%E1%BA%BF-2019.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây:   Đồ Án Môn Học Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế 2019

    LỜI MỞ ĐẦU

    Nước ta đang bước lên thềm của sự đổi mới về kinh tế; đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng là thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Để có một chiến lược sản xuất phù hợp với khả năng của từng doanh nghiệp, vừa phát huy được nội lực vừa tranh thủ được thời cơ do thị trường mang lại thì bất kỳ một nhà sản xuất kinh doanh nào cũng cần có những thông tinh cần thiết về tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của công ty mình. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

    Nội dung của bài thiết kế môn học “Phân tích hoạt động kinh tế” về đề tài “Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục của công ty vận tải biển”

     

    PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

    Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là quá trình phân chia, phân giải các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thnàh rồi sử dụng các phương pháp liên hệ, so sánh đối chiếu và tổng hợp lại để rút ra tính quy luật, xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng nghiên cứu.

    Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với mọi hoạt động sản suất kinh doanh của các doanh nghiệp

    I. Mục đích, ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.

      1. Mục đích:

    – Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế.

    – Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.

    – Phân tích chi tiết các trọng tâm trọng điểm để xác định tiềm năng của doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức quản lý, điều hành, sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất, các điều kiện sản xuất.

    – Đề xuất các biện pháp về kỹ thuật tổ chức để khai thác tốt nhất những tiềm năng của doanh nghiệp để áp dụng trong thời gian tới nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả, đảm bảo các lợi ích của doanh nghiệp, của nhà nước, của người lao động.

    – Làm cơ sở cho những kế hoạch, chiến lược về phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho các kỳ kế tiếp.

    Như vậy, mục đích của hoạt động phân tích hoạt động kinh tế là nhằm xác định tiềm năng doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tốt những tiềm năng ấy.

       2. Ý nghĩa:

    – Là nhà quản lý doanh nghiệp bao giờ bạn cũng muốn doanh nghiệp của mình hoạt động một cách thường xuyên liên tục, hiệu quả và không ngừng phát triển, muốn vậy bạn phải thường xuyên đưa ra những quyết định về chiến lược phát triển, quản lý, đều hành với chất lượng cao. Để có thể đưa ra những quyết định có chất lượng cao ấy thì những người quản lý doanh nghiệp cần phải có nhận thức đúng đắn sâu sắc về những vấn đề quản lý kỹ thuật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người ta thấy rằng bộ ba biện chứng trong các hoạt động nói chung, hoạt động kinh tế nói riêng là nhận thức, quyết định, hành động thì nhận thức đóng vai trò quyết định.

    Vậy có thể phát biểu về ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế như sau:

    “ Phân tích hoạt động kinh tế với một vị trí là công cụ quan trọng của nhận thức, nó trở thành một công cụ quan trọng của quản lý khoa học có hiệu quả các hoạt động kinh tế. Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước.”

    II. Các phương pháp phân tích:

       1. Nhóm phương pháp phản ánh biến động của chỉ tiêu và các thành phần bộ phận:

         1.1  Phương pháp so sánh tuyệt đối:

    Phương pháp này được thực hiện bằng cách lấy mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) ở kỳ nghiên cứu trừ đi mức độ của chỉ tiêu (nhân tố) tương ứng ở kỳ gốc, kết quả so sánh được gọi là chênh lệch tuyệt đối, trong phân tích gọi tắt là chênh lệch.

    Mô hình:

    DA = A1 – A0

    DA : Chênh lệch của chỉ tiêu (nhân tố) A.

    A1, A0 : Trị số của chỉ tiêu (nhân tố) A ở kì nghiên cứu và kì gốc

    Ý nghĩa: là chỉ tiêu phản ánh xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu, của nhân tố. Mức biến động tuyệt đối phản ánh trung thực, mộc mạc sự thật khách quan về biến động của chỉ tiêu, nhân tố.

         1.2. Phương pháp so sánh tương đối :

    So sánh bằng số tương đối: phản ánh kết cấu, mối quan hệ tổng thể, tốc độ phát triển, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến của chỉ tiêu kinh tế. Trong phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

    – Số tương đối kế hoạch: Dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch của chỉ tiêu nào đó.

    • Dạng đơn giản:

    ,  là mức độ của hiện tượng nghiên cứu kỳ thực hiện và kỳ kế hoạch.

    • Dạng liên hệ:
    • Dạng kết hợp

    Mức biến động tương đối = y­1 – yKH x hệ số tính chuyển

    – Số tương đối động thái: Dùng để xác định tốc độ phát triển, xu hướng biến đổi của hiện tượng qua thời gian.

    – Số tương đối kết cấu: Dùng để xác định tỷ trọng của bộ phận chiếm trong tổng thể.

    1. Nhóm các phương pháp phản ánh hay tính toán mức độ ảnh hưởng của các thành phần bộ phận nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

      2.1. Phương pháp thay thế liên hoàn:

              Phương pháp này được vận dụng trong trường hợp các nhân tố có mối quan hệ tích, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế.

    • Trình tự và nội dung :

    – Phải xác định số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu nghiên cứu từ đó xác định công thức  biểu thị mối liên hệ giữa các nhân tố với chỉ tiêu phân tích .

    – Cần sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định, nhân tố số lượng đứng trước, nhân tố chất lượng đứng sau . Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng, chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau hoặc theo mối quan hệ nhân quả không được đảo lộn trật tự này.

    – Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên. Nhân tố nào được thay thế rồi thì lấy giá trị thực tế từ đó. Nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch. Thay thế xong một nhân tố phải tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó. Sau đó lấy kết quả này so với kết quả của bước trước. Chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố được thay thế.

    – Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần. Cuối cùng ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố so với chênh lệch của chỉ tiêu nghiên cứu.

    – Ưu điểm của phương pháp này: tính toán nhanh.

    – Nhược điểm của phương pháp này: sắp xếp chỉ tiêu khi xét ảnh hưởng của của nhân tố vào thì chỉ có nhân tố đó thay đổi.

    • Khái quát :

    Chỉ tiêu tổng thể: y

    Chỉ tiêu riêng biệt: a,b,c

    + Phương trình kinh tế: y = abc

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc : yo = a0b0c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ n/c  : y1 = a1b1c1

    + Xác định đối tượng phân tích : Dy = y1– y0 = a1b1c1– a0b0c0

    + Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích:

    * Ảnh hưởng của nhân tố a đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dya = a1b0c0– a0b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dya =

    * Ảnh hưởng của nhân tố b đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyb = a1b1c0– a1b0c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyb =

    * Ảnh hưởng của nhân tố c đến y:

    Ảnh hưởng tuyệt đối  :  Dyc = a1b1c1– a1b1c0

    Ảnh hưởng tương đối :  dyc =

    Tổng ảnh hưởng của các nhân tố :

    Dya+ Dyb+ Dyc =  Dy

    dya+ dyb+ dyc    =  dy =

    Lập bảng phân tích loại 1: Quan hệ tích số

    TT Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị Kỳ gốc Kỳ ng/c So sánh (%) Chênh lệch MĐAH®Sy
    Tuyệt đối Tương đối (%)
    1 Nhân tố thứ 1 A   a0 a1 da Da Dya dya
    2 Nhân tố thứ 2 B   b0 b1 db Db Dyb dya
    3 Nhân tố thứ 3 C   c0 c1 dc Dc Dyc dya
    Tổng thể Y   y0 y1 dy Dy
     
    2.2. Phương pháp số chênh lệch

    Điều kiện vận dụng: dùng để xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tích số, thương số hoặc tích số với thương số kết hợp với tổng số, hiệu số. Khi xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích thi dùng ngay số chênh lệch giữa giá trị kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc của nhân tố đó và nhân với các nhân tố còn lại.

    Giả sử chỉ tiêu nghiên cứu là y, được cấu thành bởi 3 nhân tố A, B, C

    y = A.B.C

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ gốc             :   y0  = A0.B0.C0

    Giá trị chỉ tiêu ở kỳ nghiên cứu       :   y1  = A1.B1.C1

    Xác định đối tượng phân tích  :   Dy = y1 – y0

    Xác định ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích

    ya      =       A1.B0.C0

    yb          =       A1.B1.C0

    yc           =       A1.B1.C1

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = (A1 A0).B0.C0

    Dyb   = A1.(B1 – B0).C0

    Dyc   = A1.B1.(C1 – C0)

    Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

              Tổng ảnh hưởng của các nhân tố
     (%)
    3.3. Phương pháp cân đối

    – Điều kiện vận dụng: dùng để tính mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của các thành phần, bộ phận đến các chỉ tiêu phân tích khi giữa chúng có mối quan hệ tổng số.

    – Phương trình kinh tế                   y =  a + b – c

    Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc                  y0   = a0        + b0 – c0

    Giá trị chỉ tiêu kỳ nghiên cứu     y1   = a1        + b1 – c1

    – Xác định đối tượng phân tích     Dy = y1 – y0

    – Ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích:

    Dya   = a1   a0

    Dyb   = b1 – b0

    Dyc   = c0 – c1

    Ảnh hưởng tương đối của các nhân tố chỉ tiêu đến chỉ tiêu phân tích:

    (%)

    (%)

    (%)

                        

     

     

     

     

     

     

     

     

                            Lập bảng phân tích loại 2: Quan hệ tổng số

    TT Chỉ

     

    Tiêu

    Kỳ gốc Kỳ N/C So sánh

     

    (%)

    Chênh lệch MĐAH ®

     

    Sy (%)

    Quy mô Tỷ trọng(%) Quy mô Tỷ trọng

     

    (%)

    1

    Nhân tố 1

    a0 da0 a1 da1     Dya
    2 Nhân tố 2 b0 db0 b1 db1     Dyb
    3 Nhân tố 3 c0 dc0 c1 dc1     Dyc
    Chỉ tiêu phân tích y yo 100 y1 100    

                                  PHẦN II: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

    CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU SẢN              LƯỢNG THEO MẶT HÀNG

    1. Mục đích, ý nghĩa.
    2. Mục đích

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp vận tải nhằm các mục đích sau:

    + Đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu sản lượng, thể hiện bằng mức độ thực hiện kế hoạch sản lượng hoặc mức tăng trưởng về chỉ tiêu sản lượng thực hiện.

    + Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo các mặt và ở mỗi mặt cần chỉ ra những ưu, khuyết điểm, những nguyên nhân chủ quan, khách quan chủ yếu đã tác động đến tình hình thực hiện này.

    + Nghiên cứu năng lực của doanh nghiệp, xác định mức độ lợi dụng khả năng, phát hiện những tiềm năng chưa được khai thác.

    + Đề xuất những biện pháp về tổ chức, kỹ thuật để khai thác những tiềm năng của doanh nghiệp, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng phục vụ, thay đổi cơ cấu sản xuất ….Từ đó xác định con đường  phát triển của doanh nghiệp trong tương lai về cả quy mô và cơ cấu sản xuất.

    1. Ý nghĩa

    Việc phân tích chỉ tiêu sản lượng rất cần thiết và quan trọng. Kết quả phân tích chỉ tiêu sản lượng là cơ sở để phân tích các chỉ tiêu khác. Nếu việc phân tích đạt yêu cầu: đầy đủ, khách quan, triệt để và thực hiện được các mục đích trên sẽ tạo điều kiện xác định được nguyên nhân gây ra tình hình thực hiện chỉ tiêu kết quả cuối cùng của sản xuất- kinh doanh. Tạo điều kiện để người quản ký doanh nghiệp thấy được tình hình thực tế cũng như những tiềm năng của doanh nghiệp. Từ đó có những quyết định đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp.

    Nếu không phân tích hoặc phân tích không đạt yêu cầu thì không thấy được tình trạng thực tế của doanh nghiệp, nên không thể có những quyết định có căn cứ khoa học, như vậy khó có thể đạt được hiệu quả kinh tế cao, trong tương lai của doanh nghiệp.

    1. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố
    2. Lập PTKT, xác định đối tượng phân tích, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích, lập bảng phân tích.

    – Phương trình kinh tế như sau :

    åQ  =  Q1 + Q2 + Q3+…+ Qn  = åQi    (T)

    åQl =  Q1l1+ Q2l2 + Q3l3+…+ Qnln = å (Ql)i    (T.km)

    Trong đó

    Qi  : Khối lượng hàng hoá vận chuyển của mặt hàng i  (T).

    (Ql)i : Khối lượng hàng hóa luân chuyển mặt hàng i (TKm).

    li : Cự ly vận chuyển của mặt hàng thứ i (Km).

    n : Số lượng mặt hàng vận chuyển.

    – Đối tượng phân tích   DåQl = åQ1l1 – åQ0l0

    1. Đánh giá chung

    Nhìn vào bảng phân tích ta thấy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của kỳ gốc là 1.136.052.864 T.km, kỳ nghiên cứu là 1.537.120 T.km. Như vậy lượng hàng luân chuyển tăng 1.537.120 TKm đạt 100,14% so với kỳ gốc. Sự biến động của tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là do sự biến động của khối lượng luân chuyển của các mặt hàng. Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển của hầu hết các mặt hàng đều tăng chỉ duy nhất có mặt hàng khác giảm mạnh trong đó hàng lương thực là tăng nhiều nhất và cũng làm cho åQl tăng nhiều nhất. Sự biến động này là do tác động của 2 của hai nhân tố: tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân.

    Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển trong kỳ giảm xuống 19.234 T, tương ứng giảm 2,97 % so với kỳ gốc. Mặt hàng phân bón và  mặt hàng khác đều có biến động tăng, trong đó mặt hàng khác là tăng nhiều nhất  ( tăng 12,95% ). Các mặt hàng có biến động giảm là lương thực và xi măng, trong đó mặt hàng xi măng là giảm nhiều nhất ( giảm 18,85% ).

    Tổng cự ly vận chuyển bình quân của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 56 km, hay tăng 3,2% so với kỳ gốc. Cự ly vận chuyển  của hầu hết các mặt hàng như lương thực, phân bón, xi măng đều tăng trong đó tăng mạnh nhất là mặt hàng xi măng ( tăng 26,24% so với kỳ gốc ). Chỉ có duy nhất mặt hàng khác là có cự ly vận chuyển bình quân giảm ( giảm 37,11% so với kỳ gốc )

    Để thấy rõ sự biến động của từng mặt hàng và ảnh hưởng của chúng đến tổng sản lượng, chúng ta đi vào phân tích chi tiết từng mặt hàng.

    3. Phân tích chi tiết

    3.1 Hàng lương thực

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng lương thực ở kỳ gốc là 343.655.991 TKm chiếm tỷ trọng 30,25%, kỳ nghiên cứu là 389.738.329 T.km chiếm tỷ trọng 34,26%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 13,41% so với kỳ gốc. Sự biến động này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng lên là 46.082.338 TKm tương ứng tăng 4,06% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng lương thực tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực ở kỳ gốc là 203.154 T chiếm tỷ trọng 31,33%, kỳ nghiên cứu là 191.654 T chiếm tỷ trọng 30,46%. Như vậy lượng hàng lương thực  giảm 11.500 T hay giảm 5,66 % so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này ảnh hưởng đến khối lượng hàng lương thực luân chuyển làm nó giảm tuyệt đối là 19.458.000 TKm tương ứng giảm 1,71% so với kỳ gốc.

    Khối lượng vận chuyển của mặt hàng lương thực giảm do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp chủ động nhận vận chuyển lương thực trên các tuyến xa
    • Tình hình thời tiết, sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.
    • Nhu cầu vận chuyển hàng lương thực đối với doanh nghiệp giảm
    • Hiềm khích chính trị giữa nước ta với các nước là bạn hàng nhập khẩu lương thực lớn.

    Trong các nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ 2

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu, do doanh nghiệp đã nhận được một số đơn đặt hàng trên những tuyến xa nên các tàu phải vận chuyển trên các tuyến đó làm cho thời gian chuyến đi tăng lên và làm cho số chuyến vận chuyển bị giảm xuống. Do vậy làm cho khối lượng hàng vận chuyển giảm. Tuy là vận chuyển trên tuyến xa nên cước vận chuyển tăng lên những tốc độ tăng không bằng tốc độ giảm của khối lượng hàng hoá vận chuyển nên lợi nhuận sẽ giảm. Dù vậy doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận vì nếu không thì tàu sẽ không có hàng vận chuyển, lao động thất nghiệp và doanh nghiệp sẽ phải chịu lỗ nhiều hơn. Như vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Trong kỳ nghiên cứu trong nước thường xuyên có mưa to gió lớn, hơn nữa lại do có dịch sâu bệnh, chuột phá hoại mùa màng làm bà con nông dân bị mất mùa đặc biệt ở hai vựa lúa lớn nhất của nước ta là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Điều này làm lượng lương thực là lúa gạo xuất khẩu giảm mạnh. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu, do thị trường vận chuyển cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đặc biệt là về mặt hàng lương thực. Đội tàu nước ngoài cạnh tranh với ta như Inđônêsia, Trung Quốc, Hàn Quốc…ngày càng lớn mạnh, chất lượng dịch vụ ngày càng cao trong khi giá cước thì thấp hơn. Điều này gây bất lợi cho việc vận chuyển hàng lương thực các tuyến trong và ngoài nước. Do vậy làm giảm nhu cầu thuê vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do hiềm khích chính trị tranh chấp nhau nên nước bạn hàng nhập khẩu lượng hàng lương thực lớn của ta tuyên bố cấm cảng với các tàu thuyền của ta, không cho ra vào cảng của họ. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình xuất nhập khẩu hàng và dĩ nhiên làm giảm lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng lương thực ở kỳ gốc là 1.691,60 Km, kỳ nghiên cứu là 2.033,55 Km, tăng 341,95 Km tức là tăng 20,21% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm sản lượng luân chuyển lương thực tăng 65.540.338 TKm tương ứng tăng 5,77% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển bình quân lương thực tăng do các nguyên nhân sau:

    • Doanh nghiệp kí kết được các hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn
    • Doanh nghiệp mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn
    • Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực sang hỗ trợ các nước Châu Phi.
    • Đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã tiến hành sửa chữa bảo dưỡng nâng cấp tàu nên nó có thể chạy tuyến đường dài hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Doanh nghiệp ở kỳ gốc chỉ vận chuyển nội địa và vận chuyển các tuyến Đông Nam Á với khoảng cách gần. Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp tích cực làm công tác marketing xây dựng mức cước cạnh tranh nên nhận được những đơn hàng vận chuyển đi xa. Tuy rằng nó làm giảm khối lượng hàng có thể vận chuyển của doanh nghiệp trong kỳ do thời gian chuyến đi lớn nhưng lại là biện pháp cứu vãn cho doanh nghiệp lúc này bởi lượng hàng vận chuyển dần khan hiếm. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

              Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp nhận thấy việc mở tuyến mới này là rất tiềm năng, có thể khai thác nguồn hàng lương thực trên tuyến rất tốt. Sau 1 thời gian dài nghiên cứu quảng bá và chuẩn bị, đến kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chính thức cho tàu chạy trên các tuyến này. Điều này làm tăng cự ly vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

              Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp nhận được nhiệm vụ do nhà nước giao là vận chuyển lương thực sang hỗ trợ các nước châu Phi nghèo đói, có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao và nhiều người chết đói do thiếu ăn bởi các nước này đa phần là sa mạc, tình hình khí hậu trái đất biến đổi, sa mạc hóa ngày càng tăng nên họ không thể trồng được cây lương thực. Nước ta do cũng gặp nhiều khó khăn vì mất mùa nhưng trong kho của nhà nước vẫn còn nhiều lương thực dự trữ, do vậy vẫn có thể hỗ trợ 1 ít cho họ. Điều này thể hiện tính nhân đạo rất lớn. Mà khoảng cách giữa nước ta và châu Phi là khá xa nên làm tăng cự ly vận chuyển hàng bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Ở kỳ gốc tàu của doanh nghiệp còn chưa được bảo dưỡng sửa chữa tốt nên không dám cho chạy các tuyến xa. Kì nghiên cứu này tàu đã được hoán cải sửa chữa mọi mặt bảo dưỡng một cách tốt nhất nên doanh nghiệp sẵn sàng cho tàu chạy các tuyến dài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.2 Hàng phân bón

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển phân bón ở kỳ gốc là 218.803.782 TKm chiếm tỷ trọng 19,26%, kỳ nghiên cứu là 241.624.113 TKm chiếm tỷ trọng 21,24%, tăng 22.820.331 TKm tương ứng tăng 10,43% so với kì gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên một lượng tuyệt đối là 22.820.331 TKm tương ứng tăng 2,01 % so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng phân bón tăng là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này.

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng vận chuyển phân bón ở kỳ gốc là 116.329 T chiếm tỷ trọng 17,94%, kỳ nghiên cứu là 125.714 T chiếm tỷ trọng 19,98%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 9.385 T tương ứng tăng 8,07%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng phân bón luân chuyển tăng 17.653.185 TKm tương ứng tăng 1,55% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng phân bón vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Nhu cầu về phân bón trong nước tăng.
    • Các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng sản phẩm không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.
    • Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao.
    • Kinh nghiệm kỹ thuật chất xếp hàng tốt

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do nhu cầu về phân bón trong nước lớn, đặc biệt là ở 2 vựa lúa lớn nhất cả nước là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Nền kinh tế nước ta với tỷ trọng ngành nông nghiệp còn chiếm rất cao, do đó phân bón là nguồn không thể thiếu được đối với cây trồng, nhu cầu về mặt hàng này là quanh năm, liên tục. Đặc biệt là trong kỳ nghiên cứu này người nông dân tiến hành thay đổi cơ cấu cây trồng, gieo trồng những loại cây cối tiêu hao nhiều phân bón hơn 1 chút nhưng có giá trị kinh tế cao. Đây là một trong những nguyên nhân khách quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Sản phẩm của các nhà sản xuất phân bón trong nước có chất lượng không cao bằng nhập khẩu từ nước ngoài mà giá cả lại đắt hơn do họ chưa có 1 quy trình sản xuất hợp lý, nguyên liệu nhập khẩu làm đội chi phí lên. Các nhà kinh doanh phân phối phân bón là khách hàng của doanh nghiệp nhận thấy rằng ngay cả giá nhập khẩu cộng với chi phí vận chuyển và các loại thuế liên quan vẫn rẻ hơn rất nhiều nếu mua của các công ty trong nước. Do vậy để tăng lợi nhuận họ quyết định đi nhập khẩu về dẫn đến tăng lượng hàng vận chuyển cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Uy tín của doanh nghiệp được nâng cao do chất lượng phục vụ tốt làm hài lòng khách hàng, doanh nghiệp có riêng 1 bộ phận chăm sóc và giải đáp mọi thắc mắc kiến nghị cho khách hàng. Không những vậy đối với khách hàng lâu năm doanh nghiệp còn có những ưu tiên ưu đãi về cước phí, còn khách hàng mới thì tích cực marketing thực hiện giá cả cạnh tranh… Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

        Nguyên nhân thứ 4: Thuyền viên của tàu đặc biệt là đại phó là người giàu kinh nghiệm, chất xếp hàng và chèn lót bảo quản tốt với hàng phân bao nên tàu chuyên chở được nhiều hàng hơn, tận dụng được tối đa trọng tải thực chở của tàu mà vẫn đảm bảo tàu an toàn đi biển. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển phân bón tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Sản xuất phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.
    • Đội tàu của công ty tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng và trang bị tốt nên có thể vận chuyển hàng trong điều kiện thời tiết không tốt.
    • Công ty ký kết được các hợp đồng vận chuyển dài hạn với cự ly vận chuyển xa hơn.
    • Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc dường để cung ứng nguyên nhiên vật liệu cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất.

    Nguyên nhân thứ 1: Sản xuất phân bón còn hạn chế, giá thành cao hơn mức bình quân của nước ngoài. Hơn nữa cũng chưa sản xuất được một số loại phân bón có nhiều yếu tố vi lượng tốt cho một số loại cây trồng đặc biệt. Do vậy buộc phải nhập từ nước ngoài về làm tăng cự ly vận chuyển bình quân. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Công ty đã bỏ 1 số tiền lớn để đầu tư cho đội tàu để không những chống chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệp ngoài biển khơi mà còn bảo vệ tốt cho hàng hóa. Do vậy nếu không phải bão gió lốc xoáy thì tàu vẫn có thể khởi hành bình thường. Do vậy làm tăng cự ly vận chuyển bình quân của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 3: Công ty ký kết được hợp đồng vận chuyển dài hạn với tuyến đường vận chuyển xa hơn. Điều này có được nhờ nỗ lực của doanh nghiệp trong công tác marketing. Nó không những tạo cho công ty doanh thu trong dài hạn mà còn tạo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân trong công ty. Vì vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do các tàu thường xuyên phải chạy trên những tuyến xa mà nếu dự trữ nhiều nguyên nhiên vật liệu thì không đảm bảo khối lượng hàng chuyên chở. Vì vậy tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để tiếp thêm nhiên liệu làm cho cự ly vận chuyển tăng lên. Tuy nhiên điều này đã làm cho thời gian chuyến đi bị kéo dài làm giảm số chuyến trong năm khiến lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống. Như vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    3.3 Xi măng

    Qua bảng ta thấy khối lượng luân chuyển hàng xi măng kỳ gốc là 312.868.959 TKm chiếm tỷ trọng 27,54%, kỳ nghiên cứu là 321.027.893 TKm chiếm tỷ trọng 28,22%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng xi măng tăng 8.158.934 TKm tương ứng tăng 2,61% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng này làm tổng sản lượng luân chuyển tăng lên 8.158.934 TKm tức là tăng 0,72% so với kỳ gốc. Khối lượng hàng xi măng luân chuyển tăng do sự biến động của 2 nhân tố là: khối lượng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Sau đây ta đi phân tích chi tiết từng nhân tố

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển ở kỳ gốc là 187.786 T chiếm tỷ trọng 28,96%, kỳ nghiên cứu là 152.392 T chiếm tỷ trọng 24,22%. Như vậy khối lượng vận chuyển giảm 35.394 T tương ứng giảm 18,85% so với kì gốc. Sự biến động giảm này làm khối lượng luân chuyển hàng xi măng giảm 58.966.404 TKm tức là giảm 5,19% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng xi măng vận chuyển có thể do các nguyên nhân sau:

    • Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn nóng như trong kỳ gốc nữa.
    • Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá cả mặt hàng xi măng trong nước giảm
    • Ở cả 3 miền của nước ta đều có chi nhánh công ty xi măng.
    • Doanh nghiệp tăng giá vận chuyển xi măng

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Ngành bất động sản của các nước trong khu vực và cả Việt Nam sau một thời gian tăng trưởng nóng đã có tốc độ tăng chậm lại. Mà bất động sản liên quan chặt chẽ tới ngành xây dựng. Do vậy nhu cầu về xi măng không còn cao như ở kỳ gốc nữa. Điều này làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển bằng đường biển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình kinh tế khó khăn hơn do suy thoái kinh tế, những tòa nhà xây ra trong kỳ gốc không có người mua hoặc ai thuê mà để trống gây lãng phí. Người dân cũng không mặn mà với việc xây dựng nhà cửa do tình hình tài chính công việc chưa ổn định. Do đó cầu về xi măng giảm kéo theo giá của nó cũng giảm theo bắt buộc nhà sản xuất phải thu hẹp quy mô. Vì vậy doanh nghiệp vận chuyển cũng không có nhiều cơ hội để vận chuyển hàng. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Cả 3 miền bắc trung nam của nước ta đều có nhà máy xi măng nên ít cần vận chuyển xi măng nội địa bằng đường biển. Thay vào đó các công ty sẽ chọn phương thức vận chuyển bằng đường bộ đường sắt nhiều hơn. Điều này làm giảm khối lượng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Do vậy đây là nguyên tố khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp tăng cước vận chuyển xi măng. Trong khi nguồn hàng khan hiếm, giá cước vận chuyển buộc phải tăng để bù đắp chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra, điều này làm cho các chủ hàng hạn chế xuất khẩu hay nhập khẩu hàng xi măng bằng đường biển. Thay vào đó các chủ hàng tìm đến các nguồn cung xi măng trong nước. Do đó làm giảm khối lượng hàng xi măng vận chuyển của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    1. b) Cự ly vận chuyển bình quân

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng phân bón ở kỳ gốc là 1.880,90 Km, kỳ nghiên cứu là 1.922,01 Km tăng 41,11 Km tương ứng tăng 2,19% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển xi măng tăng 5.167.146 TKm tức là tăng 0,45% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Có các đơn hàng yêu cầu vận chuyển đi xa.
    • Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.
    • Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.
    • Giá xi măng trong nước thấp hơn nhiều so với giá xi măng ở các thị trường như Châu Âu, Mỹ.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng vận chuyển đi xa hơn sang các thị trường mới như Châu Âu, châu Mỹ. Do các công ty xi măng tiến hành đàm phán và mở rộng thị trường của mình tránh hàng hóa tồn kho quá nhiều. Những đơn chào hàng này được các nhà nhập khẩu của châu Âu, Mỹ đồng ý vì có giá cả hấp dẫn và chất lượng tốt. Do vậy doanh nghiệp có hàng để vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tình hình thời tiết khi tàu đang hành trình diễn biến bất thường, theo dự báo của đất liền là sắp có bão và lốc xoáy trên chính tuyến đường vận chuyển của tàu nên tàu phải ngay lập tức ghé vào cảng gần nhất để tránh bão. Điều này làm tăng quãng đường vận chuyển có hàng của tàu nhưng không được hưởng cước nên làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: khả năng khai thác nguồn hàng của doanh nghiệp  chưa thực sự tốt bởi lẽ doanh nghiệp mới chạy trên các tuyến mới này và chưa có nhiều nguồn hàng vận chuyển trên chiều về làm tàu thường xuyên chạy không đầy tải nhiều khi là không tải trên 1 số chặng. Điều này làm cho cự ly vận chuyển bình quân tăng nhưng lại tốn kém nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Giá cả hàng xi măng thấp hơn ở các thị trường như châu Âu, châu Mỹ. Do trong nước ít có nhu cầu tiêu thụ nên các nhà sản xuất đã tìm đến thị trường đầy tiềm năng này bằng các đơn chào hàng và được họ chấp nhận vì giá cả rẻ hơn ở họ rất nhiều và chất lượng cũng tương đối tốt. Các nhà nhập khẩu này nhận thấy đây là 1 cơ hội kiếm lời và họ tiến hành kí kết hợp đồng ngay. Do vậy doanh nghiệp có cơ hội vận chuyển loạt hàng này. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tích cực.

    3.3.4 Hàng khác

    Qua bảng phân tích ta thấy khối lượng luân chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 260.724.132 T.km chiếm tỷ trọng 22,95%, kỳ nghiên cứu là 185.199.649 T.km chiếm tỷ trọng 16,28%. Như vậy khối lượng luân chuyển hàng lương thực giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 28,97% so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này đã làm tổng sản lượng luân chuyển của doanh nghiệp tăng giảm là 75.524.483 T.km tương ứng giảm 6,65% so với kỳ gốc. Khối lượng luân chuyển hàng khác giảm là do ảnh hưởng của 2 nhân tố: khối lượng hàng vận chuyển và cự ly vận chuyển bình quân. Ta đi sâu vào phân tích chi tiết 2 nhân tố này:

    1. a) Khối lượng hàng vận chuyển

    Khối lượng vận chuyển hàng khác ở kỳ gốc là 141.163 T chiếm tỷ trọng  21,77%, kỳ nghiên cứu là 159.438 T chiếm tỷ trọng 25,43%. Như vậy lượng hàng vận chuyển tăng 18.275 T tương ứng tăng 12,95%. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng hàng khác luân chuyển tăng 33.753.925 TKm tương ứng tăng 2,97% so với kỳ gốc.

    Khối lượng hàng khác vận chuyển tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    • Đời sống nhân dân ngày một nâng cao và nhu cầu về các loại hàng càng ngày càng phong phú.
    • Do doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.
    • Theo xu hướng container hóa nhiều khách hàng muốn vận chuyển hàng đóng trong container hơn.
    • Doanh nghiệp cải tiến 1 tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân chính là nguyên nhân thứ nhất

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu mức sống của người dân cao hơn, do vậy nhu cầu của họ cũng cao hơn trước. Không chỉ là 3 loại hàng ở trên mà còn nhiều loại hàng bách hóa, thủ công mĩ nghệ, hàng gỗ, quần áo thời trang…Nhận thức được điều này doanh nghiệp cũng đã nhanh chóng đưa tàu phù hợp vào khai thác để thu lợi nhuận Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Việc các mặt hàng truyền thống có xu hướng giảm trong kỳ nghiên cứu, để tăng doanh thu doanh nghiệp đã quyết đinh chủ động tìm kiếm các mặt hàng khác, những nguồn hàng mới để vận chuyển bằng cách liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất. Điều này làm tăng khối lượng vận chuyển cho mặt hàng khác của doanh nghiệp, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

        Nguyên nhân thứ 3: Để bắt kịp xu hướng trong và ngoài nước và nhu cầu vận chuyển hàng trong container doanh nghiệp đã tiến hành thuê định hạn con tàu chuyên chở container chạy định tuyến. Như vậy doanh nghiệp sẽ không phải tốn chi phí cho thuyền viên trên tàu và chi phí rất lớn để mua tàu. Doanh nghiệp sẽ có tàu đưa vào khai thác ngay để thu được lợi nhuận mà không tốn quá nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Trước nhu cầu vận chuyển hàng bách hóa tăng doanh nghiệp quyết định dùng một số con tàu chở hàng khô trong đội tàu của mình cải tiến để chở hàng bách hoa đóng trong hòm bao kiện. Do vậy mà doanh nghiệp không bỏ lỡ bất cứ hợp đồng vận chuyển nào mà lại đa năng hóa đội tàu của mình. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    1. b) Cự ly vận chuyển

    Cự ly vận chuyển bình quân hàng khác ở kỳ gốc là 1.846,94 Km, kỳ nghiên cứu là 1.161,57 Km, giảm 685,39 Km tương ứng giảm 37,11% so với kỳ gốc. Sự biến động tăng của nhân tố này làm khối lượng luân chuyển hàng khác giảm 109.278.408 TKm tức là giảm 9,62% so với kỳ gốc.

    Cự ly vận chuyển giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    • Số lượng tuyến có khoảng cách gần tăng lên do doanh nghiệp chủ yếu kí kết vận chuyển trong nước
    • Do trình độ vận hành, điều khiển của thuyền viên cao hơn.
    • Một số tuyến đường xa vận chuyển hàng khác ở thời kỳ nghiên cứu thường xuyên xảy ra cướp biển
    • Hợp đồng vận chuyển dầu từ Trung Đông của doanh nghiệp bị trì hoãn do các nước này đang xảy ra bất ổn chính trị.

    Trong những nguyên nhân trên, giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ nhất: Do công ty chú trọng đến việc vận chuyển mặt hàng  khác  trên tuyến nội địa. Ngay từ đầu kỳ, thấy nhu cầu của người tiêu dùng trong nước về mặt hàng khác có dấu hiệu tăng, công ty đã chủ động đẩy mạnh  việc khai thác nguồn  hàng và vận chuyển các mặt hàng này trên các tuyến trong nước. Đây là tuyến vận chuyển tương đối gần do vậy mà cự ly vận chuyển bình quân của mặt hàng này đã giảm hơn kỳ trước. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ hai: Doanh nghiệp mở lớp đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ đội ngũ thuyền viên. Điều này giúp cho trình độ vận hành và điểu khiển của thuyền viên trong kỳ được nâng cao hơn. Do đó mà trong các chuyến vận chuyển tàu hạn chế việc đi vòng, giảm cự ly vận chuyển của tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ ba: Cướp biển là mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngành hàng hải toàn cầu trên các đại dương và các vùng biển trên thế giới như Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Biển Đỏ, Địa Trung Hải và những eo biển có mật độ hàng hải lớn như là Malacca, Singapore nhất là vùng vịnh Aden và bờ biển Sômali thường xuyên xảy ra cướp biển. Trong kỳ nghiên cứu cướp biển càng hoành hành hơn và doanh nghiệp đang chạy trên các tuyến này để vận chuyển hàng khác nhận thấy tình hình như vậy nên không nhận vận chuyển trên tuyến này nữa để đảm bảo an toàn cho người và tài sản. Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do tình hình chính trị của Trung Đông bất ổn, doanh nghiệp đã kí kết được các hợp đồng vận chuyển dầu từ các nước này nhưng bị trì hoãn không thể tiến hành được. Các nước Trung Đông này thường xảy ra chiến tranh bạo loạn, cấm biên cấm cảng. Tàu không thể thực hiện hợp đồng tuy không bị phạt hợp đồng do đây là nguyên nhân khách quan nhưng làm mất một số lợi nhuận tương đối lớn. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    III. Kết luận – kiến nghị

    1. Kết luận:

    Qua phân tích ta thấy rằng tổng sản lượng hàng hoá luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ gốc là 1.136.052.864 TKm và trong kỳ nghiên cứu là 1.537.120 TKm. Như vậy tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển của doanh nghiệp trong kỳ nghiên cứu tăng 1.537.120 T.Km hay tăng 0,14 % so với kỳ gốc tức là tăng không đáng kể. Biến động này là kết quả biến động giảm của nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển và biến động tăng của nhân tố cự ly vận chuyển bình quân.

    Nhân tố tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển trong kỳ nghiên cứu giảm 19.234 T hay giảm 2,97% so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng giảm tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 33.697.968 TKm, giảm tương đối là 2,97% so với kỳ gốc.

    Nhân tố cự ly vận chuyển bình quân trong kỳ nghiên cứu tăng 56 Km hay tăng 3,2 % so với kỳ gốc. Làm ảnh hưởng tăng tuyệt đối đến tổng sản lượng hàng hóa luân chuyển là 35.235.088 TKm, tăng tương đối là 3,1% so với kỳ gốc.

    Như vậy ta thấy tốc độ tăng của nhân tố cự ly vận chuyển lớn hơn tốc độ giảm của tổng khối lượng vận chuyển nhưng lớn hơn không nhiều do vậy nó vẫn làm tổng sản lượng tăng nhưng tăng không đáng kể như vậy.

    Ta có thể thấy rằng hoạt động của doanh nghiệp đang có chiều hướng phát triển. Biến động này của các chỉ tiêu sản lượng là do các nguyên nhân chính sau: Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực

    – Doanh nghiệp chủ động nhận hàng  lương thực vận chuyển trên các tuyến xa, kí kết hợp đồng vận chuyển với tuyến đường dài hơn.

    – Mở tuyến đường vận chuyển mới dài hơn.

    – Đầu kỳ nghiên cứu tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tàu nên tàu có thể chạy tuyến xa hơn.

    – Uy tín của doanh nghiệp tăng.

    – Kinh nghiệm kỹ thuật chất hàng của thuyền viên tốt.

    – Đội tàu của công ty hiện đại lại được tiến hành sửa chữa bảo dưỡng tốt nên có thể vận chuyển hàng trong tình trạng thời tiết không thuận lợi lắm.

    – Công ty chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Doanh nghiệp cải tiến tàu hàng khô thành tàu bách hóa.

    – Doanh nghiệp chủ động kí kết vận chuyển nội địa với hàng khác.

    1. b) Tiêu cực.

    – Doanh nghiệp tăng giá thành vận chuyển xi măng với tuyến nội địa.

    – Khả năng khai thác tàu, khai thác hàng của doanh nghiệp chưa tốt.

     Nguyên nhân khách quan

    1. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Chất lượng sản phẩm phân bón trong nước không tốt bằng nhập khẩu mà giá cả lại đắt hơn.

    – Sản phẩm phân bón trong nước còn hạn chế không đáp ứng được nhu cầu trong nước.

    – Giá xi măng trong nước rẻ hơn giá xi măng ở các thị trường Âu, Mỹ.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình kinh tế khó khăn, cầu và giá xi ăng trong nước giảm

    – Ở cả 3 miền đều có chi nhánh của công ty xi măng.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    2. Kiến nghị.

    Để khắc phục những hạn chế, phát huy tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp trong thời gian tới doanh nghiệp cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

    -Tiến hành thanh lý những tàu cũ khả năng khai thác xuống cấp vừa tốn chi phí sửa chữa vừa không thể chạy tuyến xa mà lại tốn chi phí nhiên liệu. Có thể thuê tài chính hoặc định hạn những tàu mới vừa hiện đại, nếu có năng lực tài chính thì có thể mua tàu phù hợp với nhu cầu vận chuyển mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng và làm tăng khả năng vận chuyển của đội tàu doanh nghiệp, tăng doanh thu, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường vận tải. Biện pháp này phải được tiến hành trên cơ sở phù hợp với nhu cầu vận chuyển của thị trường cũng như khả năng tài chính của doanh nghiệp.

    – Sửa chữa, bảo dưỡng , đầu tư thay thế một số bộ phận, thiết bị mới hiện đại  cho những con tàu con tàu vẫn còn có thể khai thác an toàn, chưa cần thiết phải thay thế bằng tàu mới nhằm làm tăng khả năng vận chuyển của chúng, phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp.

    – Tăng cường hoạt động khai thác thị trường mở rộng sự hoạt động của các đại lý đến các nước trên thế giới nhằm tìm kiếm thu hút được nhiều nguồn hàng mới. Phát triển hơn nữa những bộ phận marketting chuyên môn tìm kiếm nguồn hàng đối với từng loại mặt hàng cụ thể, những khu vực cụ thể nhằm giải quyết vấn đề khan hiếm nguồn hàng vận chuyển trên 1 chiều, giảm khả năng chạy rỗng trên tuyến của tàu

    – Hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp vận tải trên thế giới, tham gia các Công hội vận tải quốc tế nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp và ngày càng có nhiều chủ hàng, các nhà môi giới đại lý trên thế giới biết đến doanh nghiệp để tăng nguồn hàng  vận chuyển cho doanh nghiệp.

    – Tiết kiệm chi phí, tìm cách giảm các khoản chi sao cho hợp lý để có thể hạ giá thành sản phẩm tạo điều kiện đưa ra được một giá cước cạnh tranh , thu hút khách hàng không chỉ đối với mặt hàng xi măng mà cần phải tiến hành với tất cả các mặt hàng. Việc hạ giá cước vận chuyển nàycần phải mang lại hiệu quả hữu ích cho doanh nghiệp, tránh trường hợp sản lượng vận tải thì tăng nhưng lợi nhuận lại giảm.

    –  Mở lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho thuyền viên hơn nữa, tăng trình độ chất xếp, chèn lót và bảo quản hàng để làm tăng khối lượng vận chuyển, cự ly vận chuyển bình quân cũng như tạo uy tín với khách hàng.

    – Tổ chức lại việc phân công lao động, đánh giá đúng trình độ của các thuyền viên để xếp họ vào những công việc những vị trí làm việc phù hợp với năng lực. Bên cạnh đó cần phải có biện pháp giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như tạo ra một không khí làm việc tốt, có các khu vui chơi giải trí thể thao lành mạnh trên tàu cho cán bộ thuyền viên.

    – Tiến hành áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng do Hiệp hội Hàng hải quốc tế đề ra, phải có đầy đủ các chứng chỉ cho tàu đi biển để cho các tàu có thể ra vào các cảng biển mà không bị phạt hoặc cấm cảng hoặc bị lưu giữ tàu biển tại các cảng đặc biệt là các cảng có yêu cầu về tàu biển ghé cảng như ở Châu Âu, Mỹ.

    – Tổ chức tốt tăng cường hơn nữa công tác khai thác thị trường vận tải nội địa để có thể phát huy thế mạnh của doanh nghiệp là thông hiểu tập quán điạ phương, được sự ưu đãi của Nhà nước đối với lĩnh vực vận tải nội địa để có thể đánh bật được các doanh nghiệp nước ngoài đang vận chuyển trên tuyến bằng cách đưa ra cước vận chuyển cạnh tranh và chất lượng dịch vụ tốt, đúng hẹn ngày giờ vận chuyển.

     CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ                     THÀNH THEO KHOẢN MỤC

    I. Mục đích, ý nghĩa

    1. Khái niệm giá thành.

    Giá thành là biểu hiện bằng tiền của các hao phí bằng tiền về lao động sống và  lao động vật hoá có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định.

     2. Mục đích.

    – Đánh giá tình hình chỉ tiêu giá thành qua đó xác định xu hướng và mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích cũng như cơ cấu giá thành.

    – Qua phân tích chi tiết chỉ tiêu giá thành ở những trọng tâm phân tích ở những góc độ phân tích khác nhau để xác định những nguyên nhân và nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng tới từng thành phần chi phí giá thành. Xác định những chi phí không hợp lý và lãng phí.

    – Đề xuất các biện pháp và phương hướng nhằm cải tổ công tác tổ chức quản lí đầu tư cũng như việc sử dụng tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh nhằm tiết kiệm các hao phí khi sản suất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm, phấn đấu cho một giá thành hợp lý hơn.

    – Làm cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như là việc lựa chọn các phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp. Làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch về tài chính doanh nghiệp.

    – Đánh giá trình độ kế hoạch hoá giá thành.

     3. Ý nghĩa.

    Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp. Nó cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh đồng thời nhiều quá trình của vấn đề của quá trình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Trước hết nó phản ánh trình độ trong việc đầu tư quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, các tài sản cố định vốn và nguồn vốn, đồng thời nó phản ánh chất lượng của công tác tổ chức, quản lý và sử dụng lao động cũng như các công tác liên quan tới việc tổ chức quản lý, định mức, cấp phát sử dụng, tiêu hao các yếu tố các điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Giá thành là một trong những chỉ tiêu ảnh hưởng trực tiếp và cơ bản tới lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó mà ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà Nước, ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như với việc tái sản xuất, tái sản xuất mở rộng của doanh nghiêp, tiết kiệm các chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm, là một nhiệm vụ kinh tế chính trị quan trọng của các doanh nghiệp.

    Từ ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành thì việc phân tích chỉ tiêu giá thành cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp. Đây là nội dung phân tích thường xuyên được tiến hành phân tích ở các doanh nghiệp. Là một trong các trọng tâm phân tích khi phân tích kinh tế doanh nghiệp. Chỉ có thông qua phân tích chỉ tiêu này mà doanh nghiệp mới có điều kiện để nhìn nhận một cách xuyên suốt việc quản lý và tiêu hao các yếu tố, các điều kiện sản suất kinh doanh của mình, qua đó phát hiện những bất hợp lý, lãng phí để rút ra những bài học kinh nghiệm, xây dựng những biện pháp phương hướng trong thời gian tới.

    II. Phân tích: Lập biểu và phân tích chi tiết các nhân tố

     1.Phương trình kinh tế và lập bảng tính các chỉ tiêu kinh tế

     1.1 Phương trình kinh tế.

    åC = CL + CBHXH + CNL + CVL + CKH + CSC + CLP + C+ CQL + C#    (103 đ)

    Trong đó:

    åC              : Giá thành sản lượng   (103 đ)

    CL                   : Chi phí tiền lương (103 đ)

    CBHXH                         : Chi phí bảo hiểm xã hội (103 đ)

    CNL             : Chi phí nhiên liệu (103 đ)

    CVL                      : Chi phí vật liệu (103 đ)

    CKH               : Chi phí khấu hao (103 đ)

    CSC             : Chi phí sửa chữa (103 đ)

    CLP              : Chi phí lệ phí, phí (103 đ)

    CTĂ                      : Chi phí tiền ăn (103 đ)

    CQL              : chi phí quản lý (103 đ)

    C#               : Chi khác (103 đ)

    Đối tượng phân tích là : chênh lệch tuyệt đối giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc của chỉ tiêu giá thành sản lượng theo khoản mục chi phí trong doanh nghiệp vận chuyển.

    Ta có :

    Giá thành sản lượng ở kỳ gốc là :

    åC0 = CL0 + CBHXH0 + CNL0 + CVL0 + CKH0 + CSC0 + CLP0 + CTĂ0 + CQL0+ C#0  

    (103 đ)

    Giá thành sản lượng ở kỳ nghiên cứu là :

    åC1 = CL1 + CBHXH1 + CNL1 + CVL1 + CKH1 + CSC1 + CLP1 + CTĂ1 + CQL1 + C#1  (103 đ)

    DåC = åC–     åC =  (103 đ)

    1.2 Xác định mức độ ảnh hưởng tuyệt đối và mức độ ảnh hưởng tương đối của các nhân tố.

    1.2.1.MĐAH tuyệt đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : DåCCl = CL1 – CL0 = -3.285.646  (103 đ)
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: DåCCbhxh = CBHXH1 – CBHXH0 = -758.106 (103 đ)
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl = CNL1 – CNL0 = -9.467.845 (103 đ)
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl= CVL1 – CVL0 = 910.809 (103 đ)
    5. Nhân tố khấu hao: Då CKH= CKH1 – CKH0 = 4.569.917 (103 đ)
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CSC= CSC1 – CSC0 = 1.747.070 (103 đ)
    7. Nhân tố lệ phí, phí: Då CClp= CLP1 – CLP0 = 3.542.115 (103 đ)
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă= CTĂ1 – CTĂ0 = -1.152.489   (103 đ)
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql= CQL1 – CQL0 = -828.926 (103 đ)
    10. Nhân tố chi khác: Då CC# = C#1 – C#0 = 3.520.713

    àTổng ảnh hưởng tuyệt đối của các nhân tố :

    DåC = -1.202.388 (103 đ)

    1.2.2 Bội chi ( tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : Då CCl=  CTL1  – CTL0 * ISL
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: Då CCbhxh =  CBHXH1  – CBHXH0 * ISL
    3. Nhân tố nhiên liệu: Då CCnl     = CNL1  – CNL0 * ISL
    4. Nhân tố vật liệu: Då CCvl; = CVL1  – CVL0 * ISL
    5. Nhân tố khấu hao: Då CCkh = CKH1  – CKH0 * ISL
    6. Nhân tố sửa chữa: Då CCsc = CSC1  – CSC0 * ISL
    7. Nhân tố lệ phí: Då CClp          = CLP1  – CLP0 * ISL
    8. Nhân tố tiền ăn: Då CCtă = CTA1  – CTA0 * ISL
    9. Nhân tố quản lý phí: Då CCql = CQL1  – CQL0 * ISL
    10. Nhân tố chi khác: Då CC#            = C#1  – C#0 * ISL

    à Tổng bội chi (tiết kiệm) tương đối của các nhân tố:

    Då C’ = å C1 – åC0*ISL

    1.2.3.MĐAH tương đối của các nhân tố:

    1. Nhân tố tiền lương : δå CCl = – 0,55 %
    2. Nhân tố bảo hiểm xã hội: δå CCbhxh = – 0,13 %
    3. Nhân tố nhiên liệu: δå CCnl = – 1,57 %
    4. Nhân tố vật liệu: δå CCvl = – 0,15 %
    5. Nhân tố khấu hao: δå CCkh = 0,76 %
    6. Nhân tố sửa chữa: δå CCsc= 0,29 %
    7. Nhân tố lệ phí, phí: δå CClp = 0,59 %
    8. Nhân tố tiền ăn: δå CCtă = -0,19 %
    9. Nhân tố quản lý phí: δå CCql = – 0,14 %
    10. Nhân tố chi khác : δå CC# = 0,59 %

    2. Đánh giá chung

    Qua bảng phân tích ta thấy giá thành sản lượng giảm từ 601.194.072 (103 đ) xuống còn 599.991.684 (103 đ) tức là giảm 1.202.388 (103 đ) so với kì gốc tương ứng giảm 0,2%. Tiết kiệm tương đối là 2.044.060 (103 đ) cho thấy sự biến động giảm này là có lợi cho doanh nghiệp bởi lẽ chi giảm mà sản lượng vẫn tăng. Giá thành sản lượng giảm là do các nhân tố tác động có sự biến đổi tăng giảm giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc. Qua bảng phân tích ta thấy có 5 nhân tố biến động giảm, 5 nhân tố biến động tăng cụ thể như sau:

    – Chi phí lương, nhiên liệu và khấu hao chiếm tỷ trọng lớn ở cả 2 kỳ phân tích, kỳ gốc so với kỳ nghiên cứu chi phí tiền lương chiếm 13,78% và 13,26%, khấu hao chiếm 19,13% và 19,93% trong tổng chi phí, đặc biệt là chi phí nhiên liệu (chiếm 28,94% và 27,42%). Đây cũng chính là đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp vận tải. Trong khi đó tỷ lệ tiền ăn chiếm tỷ trọng nhỏ nhất (1,04% và 0,85%), bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng nhỏ thứ 2 (2,5% và 2,38%)

    • Nhóm nhân tố giảm là: tiền lương giảm 3,97%, bảo hiểm xã hội giảm 5,03%, nhiên liệu giảm 5,44%, tiền ăn giảm 18,43%, quản lý phí giảm 1,52%. Trong đó tiền ăn giảm nhiều nhất nhưng vì chiếm tỷ trọng bé nhất nên nó chỉ tiết kiệm được chi phí về mặt tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ), tương đối là 1.143.736 (103 đ). Nhân tố nhiên liệu giảm làm tiết kiệm được nhiều chi phí nhất: tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ), tương đối là 9.224.265 (103 đ) và làm giá thành giảm nhiều nhất 1,57%. Sau đó mới đến chi phí tiền lương ( làm giá thành giảm 0,55%), tiền ăn ( làm giảm 0,19%), quản lý phí ( làm giảm 0,14%) và BHXH ( làm giảm 0,13%)

    –  Nhóm nhân tố chi phí tăng là: vật liệu (tăng 3,70%), khấu hao (tăng 3,97%), sửa chữa (tăng 6,60%), phí lệ phí (tăng 12,25%), chi khác (tăng 4,78%). Trong đó chi phí sửa chữa tăng nhiều nhất nhưng do chiếm tỷ trọng nhỏ nên chỉ làm giá thành sản lượng tăng 0,29%. Nhân tố chi khấu hao làm giá thành sản lượng tăng nhiều nhất 0,76%, sau đó đến lệ phí phí và chi khác cùng làm tăng 0,59% , cuối cùng là sửa chữa làm tăng 0,29% và vật liệu làm tăng ít nhất là 0,15%.

    3. Phân tích chi tiết các nhân tố

    3.1 Tiền lương

    Chí phí lương giảm từ 82.844.543 (103 đ) xuống còn 79.558.897 (103 đ) tương ứng giảm 3.285.646 (103 đ) tức là giảm 3,97%. Tốc độ giảm của chi tiền lương (3,97%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm một khoản tương đối là 3.401.628 (103 đ). Vậy chi phí lương là khoản giảm hợp lý của doanh nghiệp. Tiền lương giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm 0,55%.

    Lương giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Số thuyền viên định biên trên tàu giảm.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển thay đổi.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Số thuyền viên định biên trên tàu giảm. Trước xu hướng tàu ngày càng hiện đại hoá và tự động hoá, số lượng thuyền viên trên tàu ngày càng tinh gọn, do đó vào đầu kì nghiên cứu công ty buộc phải định biên lại đội ngũ thuyền viên trên tàu để phù hợp hơn với tình hình mới. Mặc dù công ty cũng không muốn việc này vì như vậy sẽ có một đội ngũ thuyền viên buộc phải nghỉ việc, nhưng điều này sẽ giúp công ty tiết kiệm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh hơn với các đối thủ tạo tiền để cho sự phát triển trong thời gian tới của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Tại kỳ nghiên cứu doanh nghiệp kí kết được ít các hợp đồng vận chuyển dầu ( nằm trong hạng mục mặt hàng khác của doanh nghiệp) trên các tuyến dài chẳng hạn như Việt Nam – Trung Đông với khối lượng lớn. Do vậy thời gian khai thác tàu dầu giảm. Mà như ta đã biết lương tàu dầu bao giờ cũng cao hơn lương của các loại hàng khác do nó có lương phụ cấp cao hơn. Vì vậy làm giảm tiền lương của bộ phận này dẫn đến giảm chi lương chung cho toàn doanh nghiệp. Mặt khác các loại hàng vận chuyển chủ yếu của doanh nghiệp như lương thực xi măng cũng giảm làm lương sản phẩm của bộ phận tàu hàng khô cũng giảm theo. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Một số thuyền trưởng sĩ quan làm việc lâu năm với cấp bậc lương cao nay đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc lên bờ tìm việc khác buộc doanh nghiệp phải thuê thêm lao động mới bổ sung cho những vị trí không quá quan trọng. Những người mới tuyển này có trình độ chuyên môn, cấp bậc, kinh nghiệm thấp hơn nên tiền lương tính theo cấp bậc kinh nghiệm của họ cũng ít hơn. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp quyết định cho một số thuyền viên sỹ quan đi học để nâng cao trình độ bằng cấp đáp ứng nhu cầu cấp thiết là thiếu các lao động ở những vị trí quan trọng. Các thuyền viên sau khi đi học về sẽ có khả năng khai thác điều hành tàu tốt hơn. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

    3.2. Bảo hiểm xã hội

    BHXH giảm từ 15.057.852 (103 đ) xuống còn 14.299.746 (103 đ) tương ứng giảm 5.03% so với kỳ gốc tức là tiết kiệm tuyệt đối được là 758.106 (103 đ) . Tốc độ giảm của chi phí BHXH (5,03%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0.14 %) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối được một khoản là 779.187 (103 đ). Vậy chi phí BHXH giảm là hợp lý.  Chi phí BHXH giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,13%.

    Chi BHXH giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Tình hình kinh tế khó khăn, lượng hàng vận chuyển của doanh nghiệp ngày càng khan hiếm, doanh nghiệp quyết định tinh chế lại đội ngũ cán bộ công nhân viên của mình ở cả 2 khối trên bờ và trên tàu, sa thải bớt những vị trí không cần thiết hoặc thường xuyên vi phạm kỷ luật lao động. Do vậy làm giảm tiền lương trả cho những người này kéo theo giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Lao động có chức vụ cao bằng cấp xin nghỉ việc như là các thuyền trưởng máy trưởng sỹ quan nhiều năm kinh nghiệm lành nghề. Do đặc điểm của lao động ngành vận tải biển là lao động xa tổ quốc xa vợ con làm việc trong cả ngày lễ tết chủ nhật và làm việc trong môi trường nặng nhọc độc hại. Những người này sau 1 thời gian dài làm việc đã có một số vốn tương đối lớn nên họ xin nghỉ việc để lên bờ làm việc và gần vợ con. Điều này làm giảm tiền lương cho doanh nghiệp nhưng cũng là 1 tổn thất rất lớn bởi trên thị trường lao động vận tải còn đang rất thiếu các lao động có năng lực như vậy. Giảm lương dẫn đến làm giảm chi phí bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ thứ 3: Do các lao động có kinh nghiệm làm việc lâu năm trên xin nghỉ mà doanh nghiệp phải bố trí bổ sung ngay lao động vào những vị trí còn thiếu, những lao động này không có nhiều năm kinh nghiệm và bậc lương cao như những người trước nhưng cũng phải đủ khả năng và kiến thức chuyên môn hàng hải nên vẫn đáp ứng được yêu cầu của công ty. Điều này làm giảm lương cơ bản dẫn đến giảm chi bảo hiểm xã hội. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Lương tính theo sản phẩm của doanh nghiệp giảm do vào kỳ nghiên cứu doanh nghiệp vận chuyển được ít khối lượng hàng hơn tuy rằng cự ly bình quân có tăng nhưng không tăng đáng kể và vẫn không làm cho doanh nghiệp thu được nhiều như kỳ gốc. Lương sản phẩm tính theo hệ số lương doanh thu do vậy nó giảm hơn so với kỳ gốc dẫn đến lương cơ bản giảm làm cho chi bảo hiểm xã hội giảm. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.

    3.3. Nhiên liệu

    Chi phí nhiên liệu ở kì gốc là 173.985.564 (103 đ) chiếm tỷ trọng 28,94%, kì nghiên cứu là 164.517.720 (103 đ) chiếm tỷ trọng 27,42%. Như vậy tiết kiệm về mặt tuyệt đối là 9.467.845 (103 đ) tương ứng giảm 5,44% so với kì gốc. Tốc độ giảm của chi phí nhiên liệu (5,44%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 9.711.425 (103 đ). Vậy chi phí nhiên liệu giảm là hợp lý. Chi nhiên liệu giảm ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó giảm nhiều nhất 1,57%.

    Nhiên liệu giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 3 là nguyên nhân chính

    Nguyên nhân thứ 1: Ở đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp cho tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu hoặc thay thế những máy móc thiết bị đã cũ trên tàu bằng loại mới và hiện đại. Điều này không những làm cho tàu có thể vận hành tốt và an toàn hơn còn làm giảm mức nhiên liệu tiêu hao của máy móc thiết bị đó. Do vậy làm giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Thuyền viên trên tàu hiểu rõ về máy móc thiết, sử dụng nhiên liệu một cách hợp lí không gây lãng phí. Điều này có được do doanh nghiệp ở đầu kỳ nghiên cứu đã mở lớp hướng dẫn ngắn hạn cho thuyền viên của mình hiểu hết về máy móc thiết bị cũng như là cách sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp. Do vậy mà làm giảm mức tiêu hao nhiên liệu không cần thiết tức là giảm chi phí nhiên liệu. Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp sau nhiều nỗ lực tìm hiểu về giá cả của các nơi cung cấp xăng dầu đã tìm được nguồn cung cấp dầu mới chất lượng tốt mà giá cả thấp hơn so với kỳ gốc. Nó là một thuận lợi cho công ty, bởi trong điều kiện phải tiêu thụ một lượng lớn xăng và dầu thì riêng khoản chi cho xăng dầu đã chiểm tỷ trọng không nhỏ trong chi phí của công ty. Đây là nguyên nhân mang tính chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác định mức tiêu hao nhiên liệu của doanh nghiệp tương đối chặt chẽ và sát với mức thực tế sử dụng. Do vậy giúp thuyền viên trên tàu phải có ý thức sử dụng nhiên liệu sao cho phù hợp tránh lãng phí và cũng giảm khả năng trộm cắp nhiên liệu trên tàu. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.4. Vật liệu

    Chi phí vật liệu kỳ gốc là 24.588.838 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,09%, kỳ nghiên cứu là 25.499.647 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,25 %. Như vậy chi vật liệu tăng tuyệt đối là 910.809 (103 đ) tương ứng tăng 3,70 %. Tốc độ tăng của chi phí vật liệu (3,7%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 876.385 (103 đ). Vậy chi phí vật liệu là khoản tăng không hợp lý. Chi vật liệu tăng ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó tăng không đáng kể 0,15%.

    Chi vật liệu tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Giá cả vật liệu tăng.

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 2 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên chưa tốt, sử dụng vật liệu chèn lót một cách bừa bãi không khoa học gây lãng phí vật liệu. Nhiều loại vật liệu cũ vẫn có thể dùng được nhưng không tận dụng mà bỏ đi mua cái mới làm chi phí vật liệu tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Giá cả vật liệu ở kì kế hoạch tăng cao hơn so với kỳ gốc. Tình hình biến động giá cả bất thường có thể do vật liệu trên thị trường đột nhiên khan hiếm mà nhu cầu mua lại cao đẩy giá thành lên cao hoặc do lạm phát cao làm các loại hàng đều tăng giá. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do kết cấu vận chuyển hàng của doanh nghiệp có sự thay đổi. Những loại hàng cần ít vật liệu chèn lót như hàng rời đổ đống hay hàng container có ít hợp đồng vận chuyển hơn. Thay vào đó tỷ trọng chở hàng bách hoá hoặc hàng đóng bao kiện tăng do kí được nhiều hợp đồng vận chuyển loại hàng này hơn nên phải dùng nhiều vật liệu chèn lót. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Công tác quản lý vật liệu không được tốt. Vào cuối kì nghiên cứu, qua kiểm tra sổ sách công ty phát hiện ra có một số lượng lớn vật liệu bị thất thoát trong quá trình sử dụng mà không rõ nguyên nhân. Chính từ việc quản lý yếu kém này mà công ty đã mất một khoản chi phí vật liệu khá lớn. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tiêu cực.

    3.5 Khấu hao

    Chi phí khấu hao ở kỳ gốc là 115.008.426 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,13%, kỳ nghiên cứu là 119.578.343 (103 đ) chiếm tỷ trọng 19,93% . Như vậy chi khấu hao tăng tuyệt đối là 4.569.917 (103 đ) tương ứng tăng 3,97% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí khấu hao (9,11%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 4.408.905 (103 đ). Vậy chi phí khấu hao là khoản tăng không hợp lý. Chi khấu hao tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,76%.

    Chi khấu hao tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 4 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1:  Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao: ở kỳ nghiên cứu doanh nghiệp chuyển từ phương pháp tính khấu hao đường thẳng sang phương pháp khấu hao nhanh để thu hồi vốn nhanh hơn, giảm bớt tổn thất do hao mòn vô hình và cũng là biện pháp hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là phương pháp chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đánh giá lại tài sản của mình và cho kết quả nguyên giá các loại tài sản của doanh nghiệp tăng lên do vậy số tiền khấu hao của các loại tài sản đó cũng tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do quyết định rút ngắn thời gian tính khấu hao được Nhà nước đưa ra trong kỳ nghiên cứu. Tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại nên các tàu hiện tại của doanh nghiệp sẽ trở lên lỗi thời hơn rất nhiều trong thời gian tới. Nó sẽ không còn đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa trong tương lai. Vì vậy việc rút ngắn thời gian tính khấu hao sẽ giúp cho công ty nhanh chóng thu hồi được vốn và có thể quay vòng vốn  nhanh chóng. Đây là nguyên nhân khách quan, tích cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức khai thác. Các tàu của công ty hiện nay được trang bị các thiết bị hiện đại như hệ thống điện đài, hệ thống định vị toàn cầu,…giúp cho việc kiểm soát, điều động tàu được linh hoạt, nhờ đó nâng cao hiệu quả khai thác. Công tác tính và trích khấu hao được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.6. Sửa chữa

    Chi phí sửa chữa ở kỳ gốc là 26.452.539 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,4%, kỳ nghiên cứu là 28.199.609 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,7%. Như vậy chi phí sửa chữa tăng tuyệt đối là 1.747.070 (103 đ) tương ứng tăng 6,60% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí sửa chữa (6,6%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 1.710.036 (103 đ). Vậy chi phí sửa chữa là khoản tăng không hợp lý. Chi sửa chữa tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0,29%.

    Chi phí sửa chữa tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Một vài con tàu của doanh nghiệp đến hạn sửa chữa lớn.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá thành sửa chữa tàu tăng.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ 1 là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Kỳ nghiên cứu là thời gian đến hạn phải sửa chữa lớn của một vài con tàu của doanh nghiệp và kiểm tra tàu do cơ quan đăng kiểm. Những tàu này phải lên đà sửa chữa dưới sự kiểm soát của đăng kiểm và khi đạt yêu cầu mới được cấp giấy phép an toàn đi biển. Vì thế làm chi phí sửa chữa tăng nhưng khi tàu đã được lên đà sửa chữa xong thì sẽ có lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong dài hạn. Do đó đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do tình hình thời tiết không tốt, tàu đang hành trình thì gặp nhiều mưa to gió lớn, sương mù làm giảm tầm nhìn xa của tàu khiến thuyền viên điều khiển tàu đâm vào đá ngầm gây tai nạn thủng vỏ tàu phải vứt bớt hàng xuống biển và chạy hết công suất để tới cảng gần nhất sửa chữa. Vì thế làm tăng chi phí sửa chữa tàu. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Do giá thành của đơn vị sửa chữa cho tàu tăng. Sự biến động giá cả các loại mặt hàng máy móc vật liệu cần thiết sửa chữa thay thế cho tàu tăng do vậy các đơn vị sửa chữa cũng phải tăng giá để tránh bị lỗ vốn. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: Do doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa để đảm bảo khi khai thác và yên tâm hơn khi để tàu chạy những tuyến hành trình xa. Doanh nghiệp cũng thường xuyên bảo dưỡng máy móc thiết bị để chúng có thể hoạt động trong trạng thái tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    3.7. Lệ phí, phí

    Chi phí lệ phí, phí ở kì gốc là 28.917.435 (103 đ) chiếm tỷ trọng 4,81%, kỳ nghiên cứu là 32.459.550 (103 đ) chiếm tỷ trọng 5,41%. Như vậy chi phí lệ phí, phí tăng tuyệt đối là 3.542.115  (103 đ) tức là tăng 12,25% so với kỳ gốc. Tốc độ tăng của chi phí lệ phí, phí  (12,25%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi tương đối một khoản là 3.501.631 (103 đ). Vậy chi phí này là khoản tăng không hợp lý. Chi phí lệ phí tăng ảnh hưởng đến giá thành sản lượng làm nó tăng 0.59%.

    Chi phí lệ phí, phí tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Phí, lệ phí cảng biển tăng.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của IACS

    – Doanh nghiệp vận chuyển một số mặt hàng phải đi qua kênh đào.

    – Tốn thêm chi phí giám định hàng.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do cảng phí tại nơi tàu ghé vào tăng lên: Cảng phí tại các cảng lớn như Rottecdam, Kobe, Pusan … – những nơi mà tàu phải ghé vào nhiều trong kỳ nghiên cứu tăng lên do các cảng đó mới đầu tư thiết bị xếp dỡ mới đã làm cho chi lệ phí, phí của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Còn cảng nội địa thì theo thông tư nghị định của chính phủ tăng mức cước phí các loại dịch vụ. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

             Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp cho một số con tàu của mình được phân cấp bởi một trong các thành viên của tổ chức đăng kiểm quốc tế ( IACS) để chứng tỏ rằng tàu mình an toàn để vận chuyển hàng hóa và có đầy đủ khả năng đi biển. Việc có giấy chứng nhận phân cấp của các tổ chức này sẽ khiến đội tàu của doanh nghiệp thu hút nhiều hàng quốc tế để vận chuyển hơn. Mặc dù là chi phí đăng kiểm của thành viên trong IACS không hề rẻ 1 chút nào. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã kí kết vận chuyển một số mặt hàng đi xa hơn như Châu Âu, Mỹ, Phi phải đi qua nhiều kênh đào. Tàu đi qua đây phải đóng một khoản phí nhất định tùy theo từng loại kênh đào quy định gọi là phí qua kênh. Do vậy làm tăng khoản mục chi phí lệ phí, phí của doanh nghiệp. Qua đó làm tăng tổng chi và giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4:  Kỳ nghiên cứu tốn thêm chi phí giám định hàng, chất lượng hàng do tàu gặp tai nạn bị thủng tàu, nước tràn vào làm hư hại ít nhiều về chất lượng hàng hóa. Doanh nghiệp phải thuê giám định viên và trả phí cho họ để tiến hành giám định và phân chia mức đóng góp tổn thất chung giữa các bên. Có như vậy mới có sự công bằng giữa các bên và các bên sẽ phải thực hiện theo kết quả này mà không bị thiệt thòi do gian lận. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.8. Tiền ăn

    Chi phí tiền ăn ở kì gốc là 6.252.418 (103 đ) chiếm tỷ trọng 1.04%, kỳ nghiên cứu là 5.099.929 (103 đ) chiếm tỷ trọng 0,85%. Như vậy chi phí tiền ăn giảm tuyệt đối là 1.152.489 (103 đ) tương ứng giảm 18,43% so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của chi phí tiền ăn ( 18,43%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng ( 0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 1.161.242 (103 đ). Vậy chi phí tiền ăn là khoản giảm hợp lý.  Chi phí tiền ăn giảm ảnh hưởng tới giá thành sản lượng làm nó giảm 0,19 %.

    Chi phí tiền ăn giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm

    Trong các nguyên nhân trên ta giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm. Vào đầu kì nghiên cứu công ty đã giảm mức tiền ăn cho mỗi thuyền viên làm chi phí tiền ăn giảm. Do khi tính toán lại định mức tiền ăn, công ty nhận thấy công tác định mức lúc trước đã mắc nhiều sai sót, vì vậy mà đưa ra một định mức không hợp lí dẫn đến tiền ăn định mức quá cao khiến cho chi phí tiền ăn của công ty quá lớn, làm giảm đáng kể lợi nhuận của công ty. Việc định mức lại tiền ăn không những không làm ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn cho thuyền viên mà còn giảm cho công ty một khoản chi phí đáng kể. Đây là một nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 2: Do doanh nghiệp đã định biên lại số thuyền viên trên tàu, cắt giảm lượng thuyền viên thừa không cần thiết vì đội tàu của công ty đã hiện đại hơn. Điều này làm giảm các loại chi phí cho những lao đông đó trong đó có cả chi phí tiền ăn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Doanh nghiệp tìm được nơi cung cấp thành phẩm cho các tàu của mình rẻ hơn kỳ gốc. Giá cả là nhân tố quyết định đến mọi chi phí ,chỉ cần giá thành các liệu thực phẩm nước ngọt ở nơi cung cấp mới rẻ hơn một chút cũng làm doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

          Nguyên nhân thứ 4: Doanh nghiệp giảm mức tiền tiêu vặt cho thuyền viên do doanh nghiệp nhận thấy kỳ gốc đã định biên quá cao làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận, hơn nữa căn cứ vào mức sống và mức chi bình quân khoản này của các doanh nghiệp vận chuyển khác mà thấy rằng việc giảm là hợp lý. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.

    3.9. Quản lý phí

    Chi phí quản lý ở kỳ gốc là 54.468.183 (103 đ) chiếm tỷ trọng 9,06%, kỳ nghiên cứu là 53.639.257 (103 đ) chiếm tỷ trọng 8,94 %. Như vậy phí quản lý giảm tuyệt đối là 828.926 (103 đ) tương ứng giảm 1,52% so với kỳ gốc.  Tốc độ giảm của quản lý phí (1,52%) nhỏ hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 905.181 (103 đ). Vậy quản lý phí là khoản giảm hợp lý. Quản lý phí giảm làm giá thành sản lượng giảm 0,14%.

    Chi phí quản lý giảm có thể do các nguyên nhân sau:

    – Tinh giảm bộ máy quản lý.

    – Giảm mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo.

    – Hạn chế việc sử dụng điện thoại cố định của công ty vào mục đích riêng.

    – Ý thức sử dụng tài sản trong khu vực quản lý của nhân viên.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Tinh giảm bộ máy quản lý. Công ty đã tiến hành cắt giảm bộ máy quản lý hành chính khá cồng kềnh trước đây. Nhờ đó, việc trang bị thiết bị cho bộ máy này để tiến hành công tác quản lý, điều hành hoạt động của công ty tiết kiệm được khá nhiều vốn đầu tư cũng như chi phí vận hành. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực

    Nguyên nhân thứ 2: Giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng phẩm sách báo chuyên ngành. Công ty giảm việc mua sắm các thiết bị văn phòng do bộ máy quản lý hành chính đã được tinh giảm. đồng thời công ty tận dụng những trang thiết bị đã khấu hao hết nhưng vẫn còn tốt để giảm giá thành, tăng thu lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của công ty. Đây là nguyên nhân chủ quan mang tính tích cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Hạn chế việc dùng điện thoại cố định trong công ty. Trong kì nghiên cứu công ty đã áp dụng quản lý chặt chẽ việc sử dụng điện thoại của công ty bằng cách đăng ký với bưu điện để quản lý các cuộc gọi theo số điện thoại của từng phòng ban, đề ra mức tối đa mà một phòng được phép dùng, khiến cho nhân viên không thể sử dụng điện thoại công ty vào mục đích riêng, từ đó làm giảm chi phí cho quản lí. Đây là nguyên nhân chủ quan và mang tính tích cực.

         Nguyên nhân thứ 4: Ý thức sử dụng tài sản của nhân viên tốt, biết giữ gìn bảo vệ và sử dụng đúng cách các loại tài sản cố định làm giảm khả năng hỏng hóc phải sửa chữa, dùng tiết kiệm các loại dụng cụ văn phòng phẩm không gây lãng phí. Tất cả đều làm giảm chi phí quản lý của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

    3.10 Chi khác

    Chi khác ở kì gốc là 73.618.274 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12,25 %, kỳ nghiên cứu là 77.138.987 (103 đ) chiếm tỷ trọng 12.86 %. Như vậy chi khác tăng lên tuyệt đối là 3.520.713 (103 đ) tương ứng tăng 4,78%. Tốc độ tăng của chi phí khác (4,78%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp bội chi một khoản là 3.417.646 (103 đ). Vậy chi phí khác là khoản tăng không hợp lý.  Chi khác tăng làm giá thành sản lượng tăng lên 0,59%.

    Chi khác tăng có thể do các nguyên nhân sau:

    – Doanh nghiệp mở lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho thuyền viên.

    – Tiền thưởng phạt do thực hiện hợp đồng, đóng góp tổn thất chung.

    – Chi phí tiếp khách, hội thảo hội nghị, hoa hồng môi giới.

    – Phát sinh thêm nhiều các chi phí bất thường.

    Trong các nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất là nguyên nhân chính.

    Nguyên nhân thứ 1: Do yêu cầu thiết thực hiện nay của công ty với thực trạng thiếu các sỹ quan thuyền trưởng lành nghề kinh nghiệm vì họ đã nghỉ hưu hoặc xin nghỉ việc để tìm công việc trên bờ, công ty phải đào tạo lớp thuyền viên mới thay thế họ để họ có đầy đủ kiến thức hàng hải an toàn, sử dụng khai thác tàu tốt. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực .

    Nguyên nhân thứ 2: Doanh nghiệp không hoàn thành đúng hạn một số hợp đồng vận chuyển đã ký kết có thể do tình hình thời tiết khắc nghiệt mưa to gió lớn khiến tàu phải tránh nạn không thể khởi hành được và hàng hóa bị hỏng một phần do nguyên  nhân trên phải đóng góp chi phí bồi thường tổn thất chung. Do vậy đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 3: Các loại chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo tăng do doanh nghiệp phải chi ra để tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tăng cường quảng cáo marketing để có được những hợp đồng vận chuyển dài hạn trong tương lai. Công ty cũng thường xuyên tiến hành hội nghị rút kinh nghiệm, tiến hành hội thảo khoa học cho cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên khoản chi này tăng đột biến như vậy mà sản lượng vận chuyển của công ty vẫn giảm chứng tỏ đã có sự chi tiêu không hợp lý, biển thủ công quỹ và có các khoản chi mờ ám. Do vậy đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

    Nguyên nhân thứ 4: do trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp phát sinh thêm nhiều các khoản chi bất thường như tiền thăm hỏi, cưới xin, ma chay… Từ đó làm doanh nghiệp tăng chi phí cho khoản mục chi khác này, giảm lợi nhuận. Đây là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.

    III. Kết luận-Kiến nghị

    1. Kết luận

    Tóm lại, qua phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành sản lượng theo các khoản mục chi phí của doanh nghiệp vận chuyển ta thấy trong kỳ nghiên cứu chỉ tiêu giá thành sản lượng có biến động giảm từ 601.194.072 ( 103 đ ) ở kỳ gốc xuống còn 599.991.684 (103 đ) ở kỳ nghiên cứu, tiết kiệm tuyệt đối là 1.202.388 (103 đ) tức là giảm 0,2 % so với kỳ gốc. Tốc độ giảm của giá thành sản lượng (0,2%) lớn hơn tốc độ tăng của sản lượng (0,14%) làm cho doanh nghiệp tiết kiệm tương đối một khoản là 2.044.060 (103 đ). Vậy giá thành sản lượng giảm là hoàn toàn hợp lý. Sự biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do tác động tăng giảm của rất nhiều các khoản mục chi phí phát sinh trong kỳ.

    Trong đó nhóm nhân tố có biến động tăng gồm các nhân tố vật liệu, khấu hao, sửa chữa, lệ phí, phí và chi khác. Cụ thể, nhân tố có biến động tăng nhiều nhất là nhân tố lệ phí, phí tăng 12,25% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng tăng nhiều nhất lại là khấu hao . Nhân tố có biến động tăng ít nhất là nhân tố vật liệu, tăng 3,7% so với kỳ gốc.

    Mặt khác nhóm nhân tố có biến động giảm là những nhân tố sau: tiền lương, bảo hiểm xã hội, nhiên liệu, tiền ăn và quản lý phí. Trong đó tiền ăn là nhân tố có biến động giảm nhiều nhất, giảm 18,43% so với kỳ gốc, nhưng nhân tố làm chỉ tiêu giá thành sản lượng biến động giảm nhiều nhất lại là nhiên liệu. Nhân tố quản lý phí là nhân tố có mức giảm ít nhất, giảm 1,52% so với kỳ gốc.

    Vậy biến động giảm của chỉ tiêu giá thành sản lượng là do các nguyên nhân chủ quan khách quan tiêu cực và tích cực sau đây:

    1.1 Nguyên nhân chủ quan

    1. a) Tích cực.

    – Cho lao động đi học nâng cao trình độ chuyên môn bằng cấp.

    –  Do có sự thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp.

    –  Doanh nghiệp định biên giảm số lượng lao động

    – Doanh nghiệp tăng cường sửa chữa bảo dưỡng tàu.

    – Doanh nghiệp mở các lớp hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị ngắn hạn cho thuyền viên.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Doanh nghiệp thay đổi phương pháp tính khấu hao.

    – Doanh nghiệp tiến hành đánh giá lại tài sản cố định.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị phục vụ công tác tổ chức.

    – Doanh nghiệp tăng các hạng mục sửa chữa cho tàu.

    – Mức tiền ăn quy định cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp định biên lại số thuyền viên.

    – Tìm được nơi cung cấp thành phẩm rẻ hơn.

    – Mức tiền tiêu vặt cho mỗi thuyền viên giảm.

    – Doanh nghiệp cho một số tàu của mình được phân cấp bởi thành viên của tổ chức phân cấp quốc tế IACS.

    – Chi phí giám định hàng.

    – Định biên giảm số thuyền viên trên tàu.

    1. b) Tiêu cực.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1.2 Nguyên nhân khách quan.

    1. a) Tích cực

    – Kết cấu hàng vận chuyển của doanh nghiệp có sự thay đổi.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi.

    1. b) Tiêu cực

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng.

    – Nhà nước quy định rút ngắn thời gian khấu hao.

    – Tình hình thời tiết.

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí lệ phí bến cảng tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    2.Kiến nghị

    Để giúp công ty ngày càng phát triển, ta có thể đưa ra các biện pháp sau để khắc phục các nguyên nhân chủ quan tiêu cực, hạn chế tối đa tác động của một số nguyên nhân khách quan có thể và phát huy những chủ quan tích cực doanh nghiệp đã đạt được

    1. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng, ghi cụ thể dùng vào những việc gì để phục vụ cho công tác quản lý thật tốt, tránh việc bị lấy trộm hay mất vật liệu. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Những vật liệu đã cũ nhưng có thể sử dụng được thì nên tận dụng không nên vứt bỏ mua đồ mới. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả bởi nhiều khi không phải họ có tình lãng phí mà là chưa biết sắp xếp sao cho hợp lý.
    2. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động cũng như là bố trí các khu vui chơi thể thao giải trí lành mạnh trên tàu để họ xua bớt đi nỗi nhớ quê nhà. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền. Có như vậy mới giữ chân được họ làm việc tích cực cho doanh nghiệp.
    3. Công ty cần duy trì áp dụng việc quản lý đối với cả việc sử dụng nhiên liệu ở trên tàu để đảm bảo cấp phát bao nhiêu, dùng đúng bấy nhiêu. Sau khi tàu đã được sửa chữa bảo dưỡng tốt rồi cần phải định mức lại sự tiêu hao nhiên liệu của tàu một lần nữa để đảm bảo không bị định mức dôi dư gây lãng phí cho doanh nghiệp.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    6. Thời gian tới công ty nên đẩy mạnh việc giao dịch với một số thị trường mới tích cực marketting để khai thác tốt hơn các nguồn hàng mới vì thị trường cũ của công ty đang bị thu hẹp dần vì có quá nhiều đối thủ cạnh tranh. Từ đó ký kết được nhiều hợp đồng vận chuyển hơn và làm tăng khối lượng vận chuyển tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    7.Công ty nên mở rộng việc tính toán định mức ra các lĩnh vực khác, để có thể thay đổi lại những định mức không hợp lý do việc tính toán trước đây để lại nhằm làm giảm thất thoát lãng phí, giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    1. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.
    2. Doanh nghiệp nên cử một số cán bộ nhân viên tham gia vào một số cuộc hội thảo khoa học chuyên về ngành hàng hải để nắm bắt được những đổi mới, xu hướng phát triển của ngành cũng như học hỏi nâng cao trình độ kinh nghiệm thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm bài học của các doanh nghiệp khác. Từ đó sẽ về và phổ biến cho doanh nghiệp mình để có những thay đổi phù hợp xu hướng tránh bị tụt hậu so với thế giới nói chung và trong nước nói riêng.

                                                

     

     

     

                                                       PHẦN 3

                                       KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    I.Kết luận:

    Từ việc nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh của công ty thông qua việc phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo mặt hàng và tình hình thực hiện chỉ tiêu giá thành theo khoản mục ta thấy :

    Do tình hình khai thác nguồn hàng cũng như là biến động chung của cả nền kinh tế thế giới mà  tổng khối lượng hàng vận chuyển giảm (giảm 2,97% so với kỳ gốc). Cự ly vận chuyển bình quân tăng (tăng 3,2% so với kỳ gốc) nhưng không nhiều hơn sự giảm của khối lượng vận chuyển là bao đã làm cho tổng khối lượng hàng luân chuyển tăng lên không đáng kể so với kì gốc (tăng 0,14%  tức là tăng 1.537.120 TKm so với kỳ gốc).

    Về chỉ tiêu giá thành sản lượng giảm 0,2 % tức là giảm 1.202.388 ( 103 đ) so với kỳ gốc. Sự biến động giảm này là do sự biến động tăng giảm của các nhân tố chi phí. Có 5 chi phí giảm trong đó ảnh hưởng nhiều nhất tới việc giảm giá thành sản lượng là việc giảm của nhân tố nhiên liệu, 5 chi phí tăng trong đó tăng nhiều nhất là nhân tố chi khấu hao.

    Ta thấy rằng tốc độ tăng của sản lượng luân chuyển lớn hơn tốc độ giảm của chỉ tiêu giá thành. Điều này là hoàn toàn phù hợp và cho thấy công ty đã biết tiết kiệm chi phí để hạ giá thành, từ đó hạ giá cước vận chuyển để có thể cạnh tranh tốt hơn trong thị trường vận tải biển khắc nghiệt hiện nay.

    Sở dĩ có sự biến động trên là do các nguyên nhân sau

    1. Nguyên nhân chủ quan
    2. a) Tích cực

    – Ký kết được nhiều hơn hợp đồng vận chuyển đi xa.

    – Doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn hàng mới để vận chuyển.

    – Đội tàu của doanh nghiệp tương đối hiện đại lại được sửa chữa bảo dưỡng tốt.

    – Trình độ vận hành điều khiển tàu của thuyền viên tương đối tốt.

    – Doanh nghiệp cho lao động đi học nâng cao chuyên môn bằng cấp.

    – Tìm được nguồn cung nhiên liệu mới có giá thấp hơn.

    – Định mức tiêu hao nhiên liệu chặt chẽ hơn.

    – Đầu tư thêm trang thiết bị trên tàu phục vụ công tác tổ chức tốt hơn.

    -Doanh nghiệp tiến hành định biên lại số lượng lao động.

    1. b) Tiêu cực

    – Doanh nghiệp tăng giá cước vận chuyển xi măng trong nội đia.

    – Khả năng khai thác tàu, nguồn hàng trên tuyến mới mở của doanh nghiệp chưa thực sự tốt.

    –  Lao động có chức vụ cao, năng lực bằng cấp xin nghỉ việc.

    –  Lương tính theo sản phẩm vận chuyển của doanh nghiệp giảm

    – Ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên.

    – Công tác quản lý vật liệu.

    – Chi phí tiếp khách, hội nghị hội thảo, hoa hồng môi giới.

    1. Nguyên nhân khách quan
    2. a) Tích cực.

    – Nhận nhiệm vụ vận chuyển hàng lương thực hỗ trợ cho Châu Phi.

    – Nhu cầu phân bón trong nước tăng.

    – Đời sống nhân dân nâng cao và nhu cầu về các loại mặt hàng càng ngày càng phong phú.

    – Theo xu hướng container hóa khách hàng muốn thuê vận chuyển hàng đóng trong container nhiều hơn.

    – Tàu đến hạn sửa chữa lớn.

    – Kết cấu mặt hàng vận chuyển của doanh nghiệp thay đổi

    1. b) Tiêu cực.

    – Tình hình thời tiết sâu bệnh làm lương thực bị mất mùa.

    – Nhu cầu của người dân đối với việc vận chuyển hàng lương thực do doanh nghiệp cung cấp giảm.

    – Hiềm khích chính trị giữa nước ta và nước bạn hàng nhập khẩu lượng  lương thực lớn của ta.

    –  Tàu phải thường xuyên ghé vào các cảng dọc đường để nhận cung ứng nguyên vật liệu cho tàu.

    – Ngành bất động sản của các nước trong khu vực không còn phát triển nóng như trong kỳ gốc.

    – Tình hình thời tiết có mưa bão lốc xoáy.

    – Một số tuyến đường vận chuyển hàng khác của doanh nghiệp đi nước ngoài xảy ra nạn cướp biển hoành hành.

    – Người lao động lành nghề đến tuổi nghỉ hưu hoặc chuyển lên bờ làm việc.

    – Giá cả cả vật liệu tăng

    – Giá cả sửa chữa tàu tăng.

    – Phí kênh đào tăng do đi qua nhiều kênh đào hơn, lệ phí cảng biển tăng.

    – Phát sinh các khoản chi bất thường.

    II. Kiến nghị:

    1.   Việc đầu tư thêm tàu hoặc thuê định hạn thuê tài chính là rất cần thiết để đáp ứng ngay nhu cầu vận chuyển sản phẩm đa dạng của khách hàng nhưng bên cạnh đó, công ty cần đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường nhằm đảm bảo có nguồn hàng ổn định. Một công việc mà công ty cũng cần phải quan tâm đó là công tác bảo dưỡng định kỳ, duy trì phương tiện trong tình trạng tốt nhằm thực hiện tốt hơn các đơn hợp đồng. Có như vậy thì công ty mới tăng được uy tín trên thị trường, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.

    2.Với một đội tàu mạnh đó có thể coi là thế mạnh của công ty để cạnh tranh với các công ty khác. Công ty cũng cần có biện pháp để duy trì ưu điểm này  bên cạnh đó thường xuyên có công tác bảo dưỡng tàu định kỳ để đội tàu luôn trong tình trạng tốt, đội tàu của công ty không những là một đội tàu đông về số lượng mà còn mạnh về chất lượng.

    1. Công ty đạt được kết quả trên một phần là do mới khai thác trên tuyến mới chưa có nhiều kinh nghiệm khai thác hàng sao cho hiệu quả. Sắp tới, để duy trì và làm ăn hiệu quả hơn nữa thì công ty cần phát huy và tiếp tục làm tốt công tác khai thác thị trường, khai thác nguồn hàng trên tuyến, tăng cường quảng bá về hình ảnh và chất lượng của công ty tới các khách hàng tiềm năng trên tuyến, có những điều kiện và ưu đãi hơn nhằm thu hút thêm bạn hàng mới. Điều này công ty có một chút lợi thế bởi uy tín của công ty đã được tạo dựng tương đối vững chắc từ trước tới nay.
    2. Cần có sự ưu đãi đối với một số bạn hàng có ý định cộng tác lâu dài đồng thời có những ưu đãi về cước phí đối với các khách hàng lâu năm. Tăng cường quan hệ với khách hàng nâng cao chất lượng dịch vụ chuyên chở bên cạnh việc hạ giá thành chung để  khách hàng thấy được việc lựa chọ doanh nghiệp là đúng đắn.
    3. Về ý thức sử dụng vật liệu của thuyền viên, công tác quản lý vật liệu: Doanh nghiệp cần tăng cường quản lý hơn nữa về việc sử dụng vật liệu của thuyền viên, phải tính toán chi tiết và đề ra định mức chi phí vật rẻ cho mỗi chuyến đi để giảm bớt việc sử dụng lãng phí của thuyền viên. Quản lý chặt chẽ ghi chép việc nhập xuất kho vật liệu một cách rõ ràng. Cần đưa ra định mức sử dụng cụ thể sát với mức thực tế để tránh việc sử dụng lãng phí. Doanh nghiệp cũng cần phải hướng dẫn tuyên truyền cho thuyền viên biết cách sử dụng vật liệu chèn lót sao cho tiết kiệm mà vẫn có hiệu quả.
    4. Công ty cũng cần nghiên cứu thị trường vật liệu, chịu khó tìm hiểu về các đơn vị cung cấp vật liệu để tìm được nguồn cung rẻ hơn có địa điểm phù hợp với tuyến đường vận chuyển của tàu để có thể lấy thêm khi chở hàng qua nhằm tiết kiệm chi phí vật liệu cho doanh nghiệp.
    5. Doanh nghiệp cần quan tâm hơn đến đời sống vật chất tinh thần của lao động hơn nữa đặc biệt là khối lao động trên biển bởi họ phải lao động trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn rất nhiều. Doanh nghiệp cần bố trí cho họ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý đảm bảo khôi phục sức lao động. Vào các dịp lễ tết hay sinh nhật của họ cần có lời động viên món quà nhỏ động viên khích lệ tinh thần cho họ. Doanh nghiệp cũng nên tiến tới xây dựng thêm nhà trẻ để giúp cho CBCNV có thể yên tâm về con em mình từ đó làm tốt công tác đặc biệt là đối với các thuyền viên đi tàu xa đất liền.
    6. Cần duy trì việc đào tạo cho cán bộ công nhân viên đồng thời để có thể giảm chi phí đào tạo thì nên khuyến khích lao động tự học tập nâng cao trình độ tay nghề bằng cấp bằng cách kết hợp trả lương theo cấp bậc và theo sản phẩm. Hoặc công ty có thể kết hợp với nhà trường để tiến hành đào tạo đối với những sinh viên tiềm năng đang học để khi ra trường có thể làm việc cho doanh nghiệp ngay mà không cần phải tốn chi phí đào tạo lạiđi tàu ngay và tránh được những lỗi thường gặp khi chưa qua đào tạo.
    7. Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ hơn nữa về khoản chi phí tiếp khách hội nghị. Doanh nghiệp căn cứ vào thực tế và định mức thật xác đáng chi cho mỗi lần tiếp khách để tránh việc nhân viên chi tiêu tràn lan hoặc lợi dụng biển thủ. Những khoản chi sai mục đích phải quy trách nhiệm cho từng cá nhân, tập thể tự chịu trách nhiệm và chi trả, không cho phép tính vào chi phí tiếp khách của công ty. Về các khoản chi hội nghị cũng cần định mức phù hợp hoặc có thể nếu thấy không quá cần thiết thì ghi thông báo chung và phát về các phòng ban để mọi người tự xem.

    Qua việc phân tích và đề ra các biện pháp giải quyết trên, ta có thể thấy được       phương hướng phát triển trong thời gian sắp tới của công ty như sau:

    • Ngày càng chuyên môn hoá và hiện đại hoá đội tàu.
    • Mở rộng quy mô sản xuất của công ty ra các thị trường mới đặc biệt là trên các tuyến xa.
    • Giảm chi phí nhiên liệu, vật liệu lãng phí thấp nhất có thể.
    • Đào tạo đội ngũ CBCNV có trình độ chuyên môn ngày càng cao.
    • Tinh gọn lại bộ máy tổ chức.
    • Quan tâm hơn nữa đến đời sống CBCNV.
    • Trong đối ngoại: Giao lưu và hợp tác ngày càng sâu rộng.

     

                                               

    KẾT LUẬN

    Trong quá trình thực hiện thiết kế em đã sáng tỏ và hiểu sâu sắc hơn việc phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên và vị trí rất thuận lợi để phát triển ngành vận tải biển trong đó cảng biển giữ vai trò rất quan trọng. Để ngành vận tải biển Việt Nam khai thác hiệu quả tiềm năng của ngành, khẳng định vị trí của mình thì ngoài việc đầu tư về cơ sở hạ tầng thì việc quản lý và khai thác hiệu là một yêu cầu bức thiết. Việc phân tích những số liệu và chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp để từ đó tìm ra mặt tích cực, tiêu cực và từ đó đề ra biện pháp để khắc phục và phát huy những mặt đó là một công việc không đơn giản và cần thiết với mọi doanh nghiệp.

    Em xin cảm ơn các thầy cô đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về ngành kinh tế vận tải nói chung, phân tích hoạt động kinh tế nói riêng và sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Trương Thị Như Hà đã giúp em hoàn thành bài thiết kế này.

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]